HOA DẠI VEN ĐƯỜNG - Lm. Nguyễn Thiên Cung

Thứ bảy - 10/08/2019 06:40
HOA DẠI VEN ĐƯỜNG - Lm. Nguyễn Thiên Cung
HOA DẠI VEN ĐƯỜNG - Lm. Nguyễn Thiên Cung
HOA DẠI VEN ĐƯỜNG
Vụn vặt một vài suy tư thần học
Lm. Phêrô Nguyễn Thiên Cung

MỤC LỤC:
01. THỬ ĐỌC KHÁI NIỆM “GIÁO HỘI” QUA LĂNG KÍNH.. 3
02. ĐỨC TIN, ÂN HUỆ THIÊN CHÚA BAN CHO CON NGƯỜI CÁCH NHƯNG KHÔNG.. 33
03. SỨ MẠNG LOAN BÁO TIN MỪNG KITÔ.. 43
04. ĐỨC GIÊSU-KITÔ, TRƯỚC VÀ SAU BIẾN CỐ PHỤC SINH.. 51
05. VỀ BA “NGUỒN CHỨNG CỨ PHỤC SINH”. 73
06. NGUYÊN NHÂN VÀ NHỮNG HIỆU QUẢ CỦA “ƠN CỨU ĐỘ”. 76
07. THẬP GIÁ VÀ PHỤC SINH.. 79
08. LINH MỤC THỪA TÁC, NGÀI LÀ AI?. 84
09. THẦN HỌC VÀ THI CA.. 101
10. GIÁO HỘI KITÔ, BÍ TÍCH CỦA ƠN SIÊU ĐỘ.. 103
11. TÌM HIỂU THÔNG ĐIỆP “THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU”. 116
12. THẦN KHÍ NHƯ MỘT NGÔI VỊ VÀ NHƯ ÂN HUỆ.. 119
13. VỀ BẢN DỊCH CÁC TÍN BIỂU TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY.. 146
14. SỐNG SỨ MẠNG CHỨNG NHÂN.. 152
15. CANH TÂN BẢN THÂN.. 154
16. DẤN THÂN PHỤC VỤ.. 157
17. GÓP PHẦN XÂY DỰNG MỘT XÃ HỘI CÔNG BẰNG.. 158
18. VAI TRÒ CỦA GIÁO XỨ.. 160
19. VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH.. 163
20. VAI TRÒ CỦA LINH MỤC VÀ TU SĨ TRONG VIỆC CỔ VŨ VIỆC SỐNG ĐẠO.. 166
21. GIÁO DỤC KITÔ : KẾ ĐỒ CỦA THIÊN CHÚA-BA NGÔI 168
22. MỤC ĐÍCH CỦA GIÁO DỤC KITÔ.. 170
23. GIÁO HỘI VÀ SỨ MẠNG GIÁO DỤC KITÔ.. 173
24. NHỮNG DẤU HIỆU LẠC QUAN.. 175
25. NHỮNG MỐI LO NGẠI 177
26. GIÁO DỤC KITÔ, MỘT SỨ MẠNG PHỔ CẬP. 180
27. TẤT CẢ MỌI KITÔ-HỮU ĐỀU LÀ GIÁO LÝ VIÊN.. 182
28. CÁC ĐỐI TƯỢNG ƯU TIÊN.. 184
29. THIÊN CHÚA-BA NGÔI, MẦU NHIỆM TÌNH YÊU.. 186
30 . BÍ TÍCH THÁNH TẨY KITÔ.. 200
31. TÌNH YÊU HÔN NHÂN KITÔ, HỌA ẢNH TÌNH YÊU HIỆP NHẤT CỦA THIÊN CHÚA – BA NGÔI. 222
32. CHÚA THÁNH THẦN, VỪA LÀ NGÔI VỊ,  VỪA LÀ THỰC TẠI CỦA MỌI SỰ HIỆP THÔNG.. 239
33. CÁC THỪA TÁC VIÊN CỦA LÒNG THƯƠNG XÓT, CÁCH RIÊNG QUA BÍ TÍCH GIAO HÒA.. 256
34. CHIA SẺ CỦA MỘT LINH MỤC TUỔI ĐÃ XẾ CHIỀU…... 269
35. MỘT VÀI NHẬN ĐỊNH LIÊN QUAN ĐẾN HIỆN TƯỢNG SỨ ĐIỆP TỪ TRỜI” CỦA “MARIA DIVINE MERCY”, QUA LĂNG KÍNH THẦN HỌC  TÍN LÝ.. 275
36. MỘT CÁCH ĐỌC TÔNG HUẤN “NIỀM VUI TIN MỪNG” CỦA ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ.. 281

Chủng Viện Thánh Nicôla - 2018
Lời ngỏ
Cuộc đời vốn là một hành trình. Và, lữ khách chính là thân phận và số kiếp của con người. Mỗi con người chỉ có một đời người, một thời gian để sống, để yêu, để ghét, để suy tư, để hành động, một không gian để tiếp xúc, để đi lại, và để chết…
Những suy tư trong tập sách nầy là những dấu ấn ghi lại của những khoảnh khắc mà tác giả có, khi đối diện với Thiên Chúa, với những con người, những biến cố, những vấn đề, những trăn trở, những thao thức, những dằn vặt, những ưu tư…, vì thế, ít nhiều mang tính chủ quan…
Những suy tư nầy cũng là cách mà tác giả muốn níu kéo thời gian để những khoảnh khắc sống và suy tư của mình luôn là cái “hiện tại”, không mất đi, với hy vọng mong manh có thể giúp mình và ai đó một chút động cơ để sống và để yêu con người, để yêu Thiên Chúa, yêu Đức Giêsu-Kitô, và Giáo Hội-Thân Mình của Ngài…
Chỉ thế thôi ! Và vì thế, những suy tư nầy chỉ dám ví như những bông hoa dại ven đường, với mong ước nhỏ bé giúp được cho người lữ khách đường xa nào đó mỏi mệt ngồi bệt bên vệ đường một chút thơ thới tâm hồn, lấy lại sức để tiếp tục cuộc hành trình dài, gần như vô tận, trước mắt…
Và, nếu được thế, thì tác giả những suy tư nầy đã mãn nguyện lắm rồi.   
                            Linh mục Phêrô Nguyễn Thiên Cung
 
 

01. THỬ ĐỌC KHÁI NIỆM “GIÁO HỘI” QUA LĂNG KÍNH

KHÁI NIỆM “NƯỚC THIÊN CHÚA”
Liên quan đến nỗ lực suy tư về  GIÁO HỘI, có một nghịch lý là có một đề tài mà lúc còn sống cuộc sống xác thể, Đức Giêsu có vẻ như quan tâm nhiều nhất và nhấn mạnh nhiều nhất, nếu không muốn nói đó là trọng tâm của nỗ lực loan báo Tin Mừng của Ngài, qua trên dưới 44 dụ ngôn, và rải rác đó đây trong toàn bộ Sách Tin Mừng Tân Ước, nhưng Giáo Hội Công giáo thì lại không mấy quan tâm : đó là khái niệm “NƯỚC THIÊN CHÚA”, hay “NƯỚC TRỜI”…
Thật vậy, có thể nói rằng hầu như Bốn sách Tin Mừng rất ít khi sử dụng hạn từ hay khái niệm “GIÁO HỘI” (chỉ 3 lần nơi Mt 16,18; 18,17); hạn từ nầy chỉ thấy xuất hiện nhiều trong Sách Công vụ (19 lần), các thư Tân Ước (5 lần trong Rm; 14 lần trong 1Cr; 10 lần trong 2Cr; 3 lần trong Gl; 9 lần trong Ep; 2 lần trong Pl; 4 lần trong Cl; 2 lần trong 1Tx; 2 lần trong 2 Tx; 3 lần trong 1Tm; 1 lần Plm; 1 lần trong Gc; 3 lần trong 3 Ga), và trong Sách Khải huyền (20 lần)…
Tình trạng lúng  túng của các nhà thần học bao nhiêu thế kỷ qua khi cố gắng đưa ra một “định nghĩa” về Giáo Hội và xác định thời điểm Đức Giêsu thành lập Giáo Hội “lúc nào ?”, thậm chí cả nơi Công đồng VATICAN II, trên thực tế, phản ảnh cho thấy hình như nỗ lực suy tư thần học về Giáo Hội, một đàng, đã có một khởi điểm “có vấn đề”; đàng khác, kể cả suy tư về bản chất, căn tính của Giáo Hội cũng “có vấn đề” ! Điều nầy được phản ảnh khá rõ ràng và mang nhiều ý nghĩa trong một công thức rất tuyệt vời của “Công đồng Giêrusalem” đã ngày càng bị cắt cụt đi: từ “Thánh Thần và chúng tôi quyết định…” (Cv 15,28), dần dần chỉ còn “Chúng tôi quyết định…”, và rồi cuối cùng chỉ còn “Magister dixit…” !
Vì thế, có lẽ đã đến lúc chúng ta cần phải suy tư lại về những vấn đề liên quan đến căn tính của thực tại vốn vẫn thường được gọi là “Giáo Hội” nầy.
Ở đây, như một bước đầu mò mẫm, chúng tôi mạo muội đề xuất một lối đọc khái niệm Giáo hội qua lăng kính khái niệm Nước Thiên Chúa.
Những khái niệm “Vương quyền của Thiên Chúa” (Règne de Dieu ou Règne des cieux) [Cựu Ước sử dụng 7 lần; Tân Ước sử dụng 42 lần], hay “Nước Thiên Chúa” (Royaume de Dieu) [Tân Ước sử dụng 36 lần], hay “Nước Trời” (Royaume des Cieux) [Tân Ước sử dụng 28 lần, chủ yếu bởi Mt, vì kiêng húy Danh Thiên Chúa]…, trong Cựu Ước cũng như trong Tân Ước, nói chung, đều ám chỉ “Tương quan Tình yêu giữa Thiên Chúa với nhau và với các thụ tạo của Ngài”.
Khi nói “Tương quan Tình yêu”, điều nầy hàm chứa những yếu tố sau đây:
1) Các “đối tác” (les “partenaires”) trong tình yêu: một bên là Thiên Chúa (Cha, Con và Thánh Thần) và một bên là các thụ tạo của Ngài (các thiên thần, Satan, Ma quỉ, con người, thiên nhiên-vũ trụ…);
2) Thực tại, kết quả của chính những tương quan Tình yêu đó…

I.       CÁC “ĐỐI TÁC”:

A.      TƯƠNG QUAN GIỮA BA NGÔI THIÊN CHÚA:
Trong Cựu Ước (CƯ), khái niệm “Ba Ngôi” (Cha, Con và Thánh Thần) đã tồn tại, nhưng, chưa mấy rõ ràng và cụ thể, chỉ mới dưới dạng: Thiên Chúa, Lời hay Sự Khôn Ngoan và Thần Khí…
Trong ngôn ngữ Tân Ước (TƯ), dung mạo Ba Ngôi Vị Thiên Chúa (Cha, Con và Thánh Thần) đã được mặc khải cách rõ ràng hơn, có tính ngôi vị hơn và có tính hiện sinh hơn…
Trên cơ sở “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1Ga 4,8; xem Is 54,8; Hs 11,1-9; Gr 31,3,20), thần học kitô-giáo suốt hơn 20 thế kỷ qua đã suy tư, và đã hiểu sự hiện diện của Ba Ngôi Vị Thiên Chúa qua lăng kính các mối tương quan tình yêu: Cha “Yêu” nhiệm sinh ra Con, bởi vì khi nói yêu thì phải là yêu “Ai đó”, vừa khác mình vừa giống với mình (Lc 3,22; Cv 13,33; Dt 1,5; 5,5; 1Ga 5,18); Cha và Con yêu nhau “ái xuất” (spiration active) Thần Khí (spiration passive), vừa là của Cha (Mt 3,16; 10,20; 12,28; Ga 14,26; 15,26; 1Cr 6,11; v.v…), vừa là của Con (Ga 7,39; 14,26; Cv 2,33; 5,9; Rm 8,9; v.v…)…

B.      TƯƠNG QUAN GIỮA THIÊN CHÚA-BA NGÔI VÀ CÁC THỤ TẠO CỦA NGÀI:
1.      Tương quan giữa Thiên Chúa-Ba Ngôi và các thụ tạo thiên thần (lành và dữ):
Trong ngôn ngữ CƯ, tương quan giữa Thiên Chúa và các thiên thần (lành và dữ) được quan niệm như khá thân mật, gần gũi.
Các thiên thần lành chủ yếu được coi như là những đấng được Thiên Chúa sai đi, vừa loan tin vừa thực thi các mệnh lệnh của Ngài (St 24,7; Xh 23,20; Ds 20,16; Tv 91,11; Đn 3,28; 6,23; v.v…):
“Vì ngươi, Ngài ra lệnh cho các thiên thần. để gìn giữ ngươi trên mọi lối ngươi đi…” (Tv 91,11 tt).
“Thiên Chúa sai một thần sứ đến Giêrusalem để tàn sát thành; trong khi ngài tàn sát, thì Giavê thấy và Ngài đã hối tiếc về tai họa xảy ra và Ngài phán với thần sứ tàn sát: ‘Đủ rồi! Bây giờ hãy nới tay!’.” (1 Sb 21,15; xem Đn 6,23).
Còn Satan, thiên thần sa ngã, được coi như là “kẻ thử thách” con người:
 Ở đây, câu truyện Gióp (G) cung cấp cho chúng ta một số ý nghĩa đặc trưng khá độc đáo: a) Satan được hành xử với sự cho phép của Thiên Chúa (G 1,12); b) công việc diễn tiến được coi như một vụ thách thức giữa Thiên Chúa và Satan (G 1,8-12); c) Thiên Chúa chấp nhận thách thức với niềm tin chắc chắn Ngài sẽ chiến thắng và con người cũng sẽ chiến thắng (G 2,3; 42,2.10-17); d) những khí cụ đề Gióp chiến thắng là: liêm khiết và chính trực, kính sợ Thiên Chúa và xa điều gian ác (G 1,8).
“Một ngày kia, các con cái của Thiên Chúa đến ra mắt Giavê và Satan cũng có mặt giữa họ. Giavê phán hỏi Satan: ‘Ngươi từ đâu đến?’ Satan thưa với Giavê: ‘Đi lởn vởn và lang thang trên đất’. Giavê lại phán hỏi Satan: ‘ Ngươi có lưu ý gến Gióp, tôi tớ của Ta chăng? Trên đất, chẳng có ai như nó: Một người liêm khiết và chính trực, kính sợ Thiên Chúa và xa điều gian ác.” (G 1,6-12).
Trong ngôn ngữ TƯ, trước tiên, tương quan giữa Thiên Chúa và các thiên thần lành vẫn vậy, nghĩa là  các thiên thần lành vẫn là những thần sứ của Thiên Chúa, được Thiên Chúa sai đi loan báo và thực thi các mệnh lệnh của Ngải (Mt 1,20; 13,41; 16,27; Lc 1,26; 12,8-9; 15,10; Ga 1,51; v.v…):
“Và Ngài nói với ông: ‘Quả thật, quả thật, Ta bảo các ngươi, các ngươi sẽ thấy trời mở ra, và các thiên thần của Thiên Chúa lên xuống trên Con Người’.” (Ga 1,51).
Còn tương quan giữa Thiên Chúa và các thiên thần dữ, trong ngôn ngữ TƯ, có vẻ phức tạp hơn.
 Satan, trước tiên, là kẻ thách thức Thiên Chúa và thử thách con người, những con cái của Thiên Chúa: Ba cám dỗ mà Satan đã dùng để thử thách Đức Giêsu  (Mt 4,1; Mc 1,13; Lc 4,2) liên quan đến những vấn đề cơm bánh, quyền lực và muốn thách thức Thiên Chúa.
Và để chiến thắng, ngoài những khí cụ truyền thống, Đức Giêsu còn cung cấp thêm một khí cụ mới đó là Lời Thiên Chúa mà Ngài chính là hiện thân.
Thứ đến, Satan còn là kẻ phá đám công trình của Thiên Chúa đối với loài người (Mt 13,25.28.39; Mc 4,14; Lc 8,12)!
“Bấy giờ, Ngài bỏ dân chúng mà về nhà. Môn đồ đến gặp Ngài mà rằng: ‘Xin nói rõ cho chúng tôi hiểu ví dụ cỏ lùng trong ruộng!’ Đáp lại, Ngài nói: ‘Kẻ gieo giống tốt tức là Con Người; ruộng là thế gian; giống tốt là con cái của Nước; cỏ lùng là con cái Quỉ dữ; kẻ thù gieo cỏ lùng là ma quỉ; mùa gặt là thời tận thế; và thợ gặt là các thiên thần.” (Mt 13,36-39).
Tuy nhiên, mọi thách thức và thử thách của Satan đối với Đức Giêsu, Con và là Ngôi Lời của Thiên Chúa đều thất bại:
“Rồi sẽ là cùng tận, lúc Đức Giêsu-Kitô trao trả vương quyền cho Thiên Chúa và là Cha, sau khi đã hủy ra không, mọi thiên phủ, mọi uy thế và quyền năng. Vì Ngài phải giữ quyền vua cho đến khi Ngài đặt mọi địch thù dưới chân Ngài. Địch thù cuối cùng bị hủy ra không là sự chết. Vì: muôn sự Ngài đã bắt phục cả dưới chân Ngài. Khi nói: muôn sự phải phục quyền, thì đã rõ là chỉ trừ Đấng đã bắt muôn sự phục quyền Đức Giêsu-Kitô. Vì khi mọi sự đã phục quyền mình, thì bấy giờ Con cũng sẽ phục quyền Đấng đã bắt mọi sự phục quyền mình, ngõ hầu Thiên Chúa là tất cả trong mọi sự.” (1Cr 15,24-28).

2.      Tương quan giữa Thiên Chúa-Ba Ngôi và nhân loại:
Liên quan đến tương quan giũa Thiên Chúa và con người, ngôn ngữ CƯ thường nhấn mạnh tương quan giữa Đấng Sáng tạo và Thụ tạo (Gr 51,19; 2 Mcb 7,23), và trong tương quan với dân Israen, Thiên Chúa tỏ ra như là Mục Tử [vừa là người lãnh đạo, vừa là bạn đồng hành] (1 Sm 17,34-37; Cn 27,23; St 33,13tt; Is 40,11; 2 Sm 12,3; v.v.), như là Cha (Đnl 14,1; 32,6; Hs 2,1) và như là vị Hôn Phu (Hs 2,20tt; Gr 2,2; 31,3; Ed 16,1-43.59-63; Is 54,4-8; v.v.)…
Nếu trong CƯ, khía cạnh “Cha-con” thường chỉ được hiểu theo nghĩa tương quan giữa Thiên Chúa và tập thể dân Israen, hơn là một cá nhân nào đó cụ thể (Đnl 14,1; 32,6; Hs 2,1), và thường có kèm theo những điều kiện, đôi khi có vẻ như mang tính vụ lợi (?) (Đnl 29,19; Ed 35,11-15;v.v.), thì trong TÂN ƯỚC, tương quan tình yêu nầy luôn mang tính vô điều kiện, vô vị lợi và vô biên giới…
“Mọi điều đã viết xưa kia, thì đã được viết để dạy dỗ ta, ngõ hầu nhờ sự kiên  nhẫn và an ủi của Kinh Thánh, ta được có hy vọng. Nguyện xin Thiên Chúa, nguồn kiên nhẫn và an ủi, ban cho anh em được ý hợp tâm đồng với nhau rập theo Đức Kitô Giêsu, ngõ hầu anh em được cùng một lòng trí, một miệng lưỡi, mà tôn vinh Thiên Chúa và là Cha của Chúa chúng ta, Đức Giêsu-Kitô.
Bởi đó, anh em hãy chấp nhận lẫn nhau, như Đức Kitô đã chấp nhận anh em, vì vinh quang Thiên Chúa.
Tôi muốn nói: Đức Kitô đã phục vụ giới cắt bì, để (chứng thực) lòng chân thành của Thiên Chúa, làm cho các lời hứa trên cha ông được nên kiến hiệu. Còn dân ngoại (đã được chấp nhận) vì lòng nhân nghĩa, để họ tôn vinh Thiên Chúa, như đã viết: …” (Rm 15,4-9).
Ngoài ra, cần lưu ý rằng, trong ngôn ngữ TƯ, tương quan tình yêu giữa Thiên Chúa và các thụ tạo, vừa có tính liên ngôi vị hơn, vừa có tính không lệ thuộc nguyên lý nhân-quả…
a.       Những tương quan liên ngôi vị:
Trong thực tại thần linh, cũng như trong kế đồ tế thế (économie): đó là những tương quan giữa Cha, Con và Thánh thần (Ga 3,35; 5,20; 15,9; Mt 28,19; 1Cr 6,11; Tt 3,4-6; v.v.).
Trong tương quan vói con người, đó là những tương quan giữa từng Ngôi Vị với từng cá thể (Ga 16,27; Rm 15,15-16) vừa vì lợi ích cá thể, vừa vì lợi ích của tập thể (1Cr 12,4-6.11; 2Cr 13,13; Ep 4,4-6; Ga 17,22).

i.       Tương quan Cha-con trong Đức Giêsu-Kitô:
Trong TƯ, tương quan Cha-con giữa Thiên Chúa và con người được nhấn mạnh và làm sáng tỏ nhiều hơn trong CƯ (Mt: 21 lần; Mc: 1 lần; Lc: 3 lần; Ga: 2 lần; Rm: 2 lần; 1Cr: 1 lần; Gl: 2 lần; Ep: 3 lần; Pl: 2 lần; Cl: 2 lần; 1Tx: 2 lần; Plm: 1 lần; v.v…).
Tuy nhiên, chúng ta chỉ có được “tư cách con” và được tháp nhập vào Thân Mình của Đức Giêsu-Kitô qua và trong Đức Giêsu-Kitô mà thôi:
“Chúc tụng Thiên Chúa, và là Cha của Chúa chúng ta, Đức Giêsu-Kitô, Đấng đã chúc lành cho ta bằng mọi chúc lành Thần Khí, chốn hoằng thiên, trong Đức Kitô.
Bởi chưng, Thiên Chúa-Cha đã chọn ta trong Đức Giêsu-Kitô, từ trước tạo thiên lập địa, để ta được nên thánh và vô tì tích trước mặt Ngài.
Bởi lòng yêu mến, Thiên Chúa-Cha đã tiền định cho ta được phúc làm con, nhờ Đức Giêsu-Kitô, và vì Ngài, chiếu theo nhã ý của thánh chỉ Ngài…” (Ep 1,3-5)
“Mỗi người chúng ta đã được ân sủng ban xuống tùy theo lường ân lộc của Đức Kitô. Bởi thế có nói:
Ngài đã lên cao, dẫn tù một đám tù binh,
Ngài đã ban ân lộc cho nhân loại.
Tiếng ‘Ngài lên’ là gì nếu không phải là Ngài đã xuống dưới thấp cõi đất? Đấng đã xuống cũng chính là Đấng đã lên, trên mọi tầng trời, để làm viên mãn mọi sự. Và chính Ngài đã ‘ban cho’: kẻ thì làm tông đồ, kẻ thì làm tiên tri, người thì làm giảng viên, kẻ thì làm vị chăn chiên, làm thầy dạy, cốt để chuẩn bị các thánh, cho họ sung vào công cuộc phục vụ, mà xây dựng Thân Mình Đức Kitô, cho đến khi chúng ta hết thảy đạt thấu được sự duy nhất trong kính tin và am tường về Con Thiên Chúa, mà nên người thành toàn, đạt đến tầm vóc xứng với sự viên mãn của Đức Kitô…” (Ep 4,7-13). 
 
ii.      Tương quan Cha-con trong Thần Khí của Cha và của Con:
Trước tiên, chính Thần Khí của Cha làm cho chúng ta trở thành con cái hay những nghĩa tử của Thiên Chúa:
“Vì chưng phàm ai được Thần Khí Thiên Chúa dẫn đưa, thì họ là con cái Thiên Chúa. Quả thế, không phải thứ thần khí của hàng nô lệ là điều anh em đả chịu lấy, để mà sợ hãi. Nhưng anh em đã chịu lấy Thần Khí của hàng nghĩa tử; nhờ đó, ta kêu lên: Abba, lạy Cha! Chính Thần Khí chứng thực cho thần hồn ta rằng: ta là con cái Thiên Chúa…” (Rm  8,14-16).
Thứ đến, ngay cả tiếng kêu “Lạy Cha!” của chúng ta đối với Thiên Chúa, tự mình chúng ta cũng không thể làm được, nếu không nhờ Thần Khí của Con trong chúng ta kêu lên:
“…Mà bởi vì anh em là con cái, thì Thiên Chúa đã sai Thần Khí Con của Ngài vào lòng anh em, (Thần Khí) kêu lên: Abba, lạy Cha. Cho nên người không còn là nô lệ, nhưng là con, mà nếu là con, thì cũng là kẻ thừa tự thể theo (ý của) Thiên Chúa.” (Gl 4,6-7).
Như vậy, cùng với Gl 2,20, Gl 4,6-7 cho chúng ta thấy được có một sự hiệp nhất trên cơ sở “ngôi vị” nào đó giữa những kẻ được gọi là con cái Thiên Chúa với Thiên Chúa-Ba Ngôi, từ đó con người mới có thể sống được sự sống vĩnh hằng, điều mà ngay từ lúc tạo dựng Thiên Chúa đã muốn chia sẽ cho mọi thụ tạo của Ngài (xem thêm Ep 4,7-13). Việc nghiên cứu tương quan giữa Thần Khí Thiên Chúa và các thụ tạo, đặc biệt con người sẽ cho phép chúng ta khám phá ra được nhiều điều thú vị và ý nghĩa hơn nữa (xem Mc 1,8; 12,36; 13,11; Lc 1,41.67; 2,26-27; Ga 3,6-8; 6,63; 7,39; Cv 1,5; 2,4.17-18.38; 4,8.31; 5,32; 6,3.5; 8,17.29.39; 9,17.31; 10,19.44; 11,12.24; 13,2.4.9; 15,58; 16,6-7; 20,22-23.28; 21,4.11; Rm 8,11-27; 15,13.16.19.30; 1Cr  2,4.10.13; v.v…).

b.      Những tương quan không dựa trên nguyên lý    nhân - quả:
Những tương quan thuộc thế giới “tự nhiên” thông thường lệ thuộc “phạm trù không-thời gian” (catégorie spatio-temporelle). Tương quan giữa Thiên Chúa với nhau và với các thụ tạo của Ngài, vừa không lệ thuộc những phạm trù không-thời gian mà siêu vượt chúng, vừa vượt quá khái niệm công bằng của CƯ (kiểu “mắt đền mắt, răng đền răng”, hay làm nhiều thì phải được hưởng nhiều), bởi vì đó là những tương quan tình yêu, và vì thế lý trí không thể nào lý hội được hoàn toàn theo kiểu thông thường, mà cần phải có sự can dự của trái tim (Ga 3,16; Lc 6,27-36; Mt 5,43-48; 20,1-16; Lc 8,20-21; 15,11-32; 18,9-14; v.v.)…
Hai đặc tính trên đây chính là những yếu tố thuộc yếu tính của khái niệm “mầu nhiệm”. Thật vậy, mầu nhiệm chính là thực tại siêu việt thực tại “tự nhiên”, vốn vẫn hằng bị chi phối, cách chặt chẽ, bởi nguyên lý nhân-quả: chính đặc tính qui luật nầy khiến cho lý trí, chỉ dựa trên khả năng tự nhiên của mình vẫn có thể nắm bắt được thực tại tự nhiên nầy, và có thể trình bày chúng cách chính xác, rõ ràng và cụ thể qua những khái niệm, những hình ảnh và những biểu tượng…Còn khi đối diện với những gì liên quan đến mầu nhiệm, lý trí con người thường tỏ ra hụt hẫng, lúng túng, bối rối, từ đó có những phản ứng khác nhau: hoặc là khiêm tốn nhận ra giới hạn của lý trí, hoặc là nổi loạn, phủ nhận, từ chối mầu nhiệm trên cơ sở bởi vì lý trí không nắm bắt được! Mầu nhiệm không phi tự nhiên mà là siêu việt lên trên tự nhiên…

3.      Tương quan giữa Thiên Chúa-Ba Ngôi  và Thế giới (= Thế gian):
Trong ngôn ngữ CƯ, tất cả gì Thiên Chúa tạo dựng nên đều tốt đẹp cả:
“Và Thiên Chúa đã thấy mọi sự Ngài đã làm ra: và nầy tốt lành quá đỗi…” (St 1,1-31).
Và, tất cả được tạo dựng nên là vì con người:
“Và Thiên Chúa đã dựng nên người theo hình ảnh mình. Theo hình ảnh của Thiên Chúa, Ngài đã dựng nên nó. Là nam là nữ, Ngài đã dựng nên chúng. Và Thiên Chúa đã chúc phúc cho chúng, và Thiên Chúa đã phán bảo chúng: ‘Hãy sinh sôi nẫy nở và hãy đầy dẫy trên đất. Và hãy bá chủ nó! Hãy trị trên cá biển và chim trời và mọi loài sinh vật nhung nhúc trên đất’.
Và, Thiên Chúa đã phán: ‘Này, Ta ban cho các ngươi mọi thứ cỏ lả sinh hạt giống có trên cả mặt đất, và mọi thứ cây có quả sinh hạt giống, chúng sẽ làm của ăn cho các ngươi.
Và cho mọi loài sinh vật trên đất và mọi thứ chim trời, và mọi loài nhung nhúc trên đất, loài có sinh khí nơi mình, Ta ban các thứ cây cỏ xanh tươi làm của ăn’.” (St 1,27-30).
Trong ngôn ngữ TƯ, Thiên Chúa đã yêu thế giới đến nỗi đã thí ban Người Con Một của Ngài (Ga 3,16).
Ở đây, qui luật “tự hủy mình ra không” (kénose) có vẻ như là một qui luật phổ quát, vốn không chỉ được áp dụng nơi biến cố Nhập thể của Ngôi Lời, Con Thiên Chúa, Đức Giêus-Kitô,  mà còn áp dụng cho cả con người và vũ trụ:
“Tạo thành những ngong ngóng trông đợi thấy con cái Thiên Chúa được hiển dương. Tạo thành đã phải lụy phục sự hư luống – dẫu không muốn – nhưng, vì Đấng đã bắt nó phải lụy phục, với hy vọng là chính tạo thành cũng sẽ được tự do khỏi cảnh làm tôi mục nát, mà vào địa vị tự do trong vinh quang thuộc hàng con cái Thiên Chúa. Bởi chưng, ta biết: tất cả tạo thành cùng nhau rên siết, cùng nhau quằn quại ở cữ cho đến bây giờ. Nhưng, không chỉ có nó, song cả ta nữa, những kẻ hưởng khai ân của Thần Khí, ta cũng rên siết nơi mình ta, trông đợi [phúc nghĩa tử], sự cứu chuộc thân xác ta.” (Rm 8,19-23).
Rm 8,19-23, một đàng, cho chúng ta hiểu được vai trò quan trọng của vũ trụ vật chất, của thân xác trong công trình siêu độ của Thiên Chúa; đàng khác cũng cho chúng ta biết rằng cả vũ trụ vật chất, cả thể xác cũng nằm trong kế đồ siêu độ của Thiên Chúa: để trở thành Trời mới, Đất mới và Con người mới (Kh 21,1-8).
 
II.      THỰC TẠI ĐƯỢC TẠO RA DO HỆ QUẢ CỦA TƯƠNG QUAN TÌNH YÊU GIỮA THIÊN  CHÚA-BA NGÔI VÀ CÁC THỤ TẠO CỦA NGÀI:
Để biểu hiện Thực tại mầu nhiệm nầy, Thánh Kinh sử dụng nhiều hạn từ, hình ảnh khác nhau, nhằm bổ sung cho nhau, bởi vì mỗi hạn từ hay mỗi hình ảnh chỉ phản ảnh được một khía cạnh hay một yếu tố nào đó của Thực tại đó mà thôi…
Để diễn tả khía cạnh đó là một Thực thể sống, Thánh Kinh sử dụng những khái niệm như: Cây nho và cành nho, hạt giống nẫy mầm, men
Để diễn tả khía cạnh đó là một Thực thể có chủ thể tính, ngôi vị tính, Thánh Kinh sử dụng những khái niệm: Thân Mình hay Thân Thể, là Hình ảnh Thiên Chúa…
Để diễn tả khía cạnh đó là những tương quan sống với nhau, Thánh Kinh sử dụng những khái niệm: Nước Thiên Chúa, Nước Trời…
Để diễn tả khía cạnh đó là một cơ cấu có tổ chức, được phân công phân nhiệm rõ ràng, Thánh Kinh sử dụng những khái niệm: Thân Mình (có đầu và các chi thể khác biệt nhau), Giáo hội…
Để diễn tả đặc tính phổ quát của Tinh yêu của Thiên Chúa và của con người, Thánh Kinh sử dụng hình ảnh: Lưới bắt được mọi thứ cá…
Tóm lại, có thể nói rằng, trong ngôn ngữ TƯ, nếu nhìn từ góc độ những mối tương quan, được gọi là “Nước Thiên Chúa”, “Nước Trời”; nếu nhìn từ góc độ cơ cấu tổ chức, được gọi là “Giáo hội”; còn nếu nhìn từ góc độ thực tại sống động, được gọi là Thân Mình Đức Giêsu-Kitô.
 Nếu nhìn từ góc độ “Nước Thiên Chúa”, có ba vấn đề cần phải được xem xét:

1) Tương quan giữa Cha và “Nước Thiên Chúa”;
2) Tương quan giữa Con và “Nước Thiên Chúa”;
3) Tương quan giữa Thần Khí và “Nước Thiên Chúa”.
Nếu nhìn từ góc độ “Thân Mình Đức Giêsu-Kitô”, kể cả góc độ “Cơ cấu tổ chức”, có hai vấn đề cần được xem xét:
1) Chiều kích vĩ mô của Nước Thiên Chúa: Giáo hội như Thân Mình của Đức Giêsu-Kitô;

2) Chiều kích vi mô của Nước Thiên Chúa: con người như hình ảnh của Thiên Chúa.
Ở đây, chúng tôi sẽ chọn lựa phương án tổng hợp hai góc độ nhìn nầy với nhau.

A.      CHIỀU KÍCH VĨ MÔ CỦA NƯỚC THIÊN CHÚA: GIÁO HỘI NHƯ THÂN MÌNH ĐỨC GIÊSU-KITÔ:
Ở đây, có ba vấn đề sẽ được lần lượt xem xét:
1) Nguồn cội tam vị của Nước Thiên Chúa (hay Giáo hội);
2) Sự phát triển của Nước Thiên Chúa hay của Giáo hội.
3) Giáo hội, Thân Mình của Đức Giêsu-Kitô, Ngôi Lời và Con Thiên Chúa…
1.      Nguồn cội Tam Vị của Nước Thiên Chúa (hay Giáo Hội):
Như phần trên chúng tôi đã khái quát phân tích, nguồn cội tam vị của Nước Thiên Chúa hay Giáo hội phải được tìm kiếm ngay trong chính những “nhiệm xuất’ của Mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi.
Thật vậy, trước tiên, nếu Con, Ngôi Lời là nguyên lý của công trình Tạo dựng (x. Ga 1,3), thì hành vi nhiệm sinh ra Con cũng chính là hình ảnh và là nguồn gốc của hành vi sinh ra Nước Thiên Chúa hay Giáo hội. Điều đó có nghĩa là: Cũng như Cha “Yêu Con” “sinh ra” Con, và Con là Hình Ảnh của Cha và giống như Cha, cũng vậy, qua Tình yêu đối với Con và trong Con, Cha “Yêu” các thụ tạo và các thụ tạo bắt đầu hiện hữu:
“Cha yêu mến Con, và đã ban cho mọi sự trong tay Ngài” (Ga 3,35).
“Quả vì Thiên Chúa đã yêu thế gian như thế đó, đến nỗi đã thí ban Người Con một…” (Ga 3,16).
“Thiên Chúa nhân lành và khôn ngoan đã muốn mặc khải chính Mình và tỏ cho mọi người biết mầu nhiệm thánh ý Ngài (x.Ep 1,9), nhờ đó, loài người có thể đến cùng Chúa Cha, nhờ Chúa Kitô, Ngôi Lời Nhập thể, trong Chúa Thánh Thần, và được thông phần bản tính của Thiên Chúa (x. Ep 2,18; 2 Pr 1,4).” (DV 2).
Cách đặc biệt, con người được tạo dựng “theo Hình Ảnh Thiên Chúa và giống như Thiên Chúa (x. St 1,26-27). Thế mà, Đức Giêsu-Kitô chính là Hình Ảnh của Thiên Chúa vô hình:
“Đức Giêsu-Kitô chính là Hình Ảnh của Thiên Chúa vô hình.” (Cl 1,15; xem thêm  1Cr 11,7; 2Cr 4,4).
Điều nầy, trước tiên, có nghĩa mô hình chuẩn của con người chính là Con, Ngôi Lời của Thiên Chúa nhập thể, là Đức Giêsu-Kitô. Điều nầy liên quan không chỉ đến hành động mà cả đến chính hữu thể của con người:
“Tôi sống, nhưng không còn là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20; x. Gl 4,6-7).
Điều nầy chính là cơ sở của những hành vi nhận là của mình (appropriations) và thông ban cho (communications), trong ngôn ngữ kitô-học.
Thứ đến, cũng như hành vi Cha và Con Yêu nhau “ái xuất” ra Thần Khí như một Ngôi Vị và như Ân huệ, cũng vậy, hành vi Cha và Con, cùng yêu các Thụ tạo “ái xuất” ra Thần Khí của Nước Thiên Chúa hay của Giáo hội, Thần Khí mà vốn là Nguyên lý hiệp nhất của mọi Thụ tạo. Đó chính là cơ sở của tương quan giữa Thần Khí và Nước Thiên Chúa hay Giáo hội.
“Cha yêu mến Con, và đã ban cho mọi sự trong tay Ngài.” (Ga 3,35).
“Ai khát thì hãy đến cùng Ta mà uống. Kẻ tin vào Ta thì như Thánh Kinh đã nói:  Tự lòng Ngài có những sông tuôn chảy nước sinh sống. Điều ấy, Ngài nói về Thần Khí các kẻ tin vào Ngài sẽ lĩnh lấy, vì Thần Khí chưa có, bởi Đức Kitô chưa được tôn vinh.” (Ga 7,37-39).
Ga 7,37-39 cho thấy có sự phân biệt giữa Thần Khí của Cha và Thần Khí của Con Nhập thể (xem Mt 10,20; 12,18; Ga 14,26; Cv 2,17-18; 8,39; Rm 8,9.11; v.v…).
Ngoài ra, tuy cũng cùng một Thần Khí, nhưng mỗi người sẽ được ban cho cách riêng và khác nhau, vì mục đích chung:
“Đặc sủng chia làm nhiều, nhưng cũng là một Thần Khí. Phục vụ chia làm nhiều, nhưng cũng là một Chúa. Kỳ công chia làm nhiều , nhưng cũng là một Thiên Chúa, Đấng ra uy làm nên mọi sự nơi mọi người. Thần Khí hiển thị (như vậy) được ban xuống cho mỗi người để mưu lợi ích chung.” (1Cr 12,4-7).
Sau cùng, cũng như Tinh yêu làm cho các Ngôi Vị tương ngụ và hiện diện trong nhau, cũng vậy, chỉ có tình yêu mới làm cho các Thụ tạo, đặc biệt con người vốn được tạo dựng nên theo Hình ảnh Thiên Chúa và giống như Thiên Chúa, tương ngụ và hiện diện trong Mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi và trong nhau.
“Vậy, bây giờ án phạt không có nữa cho những ai ở trong Đức Kitô Giêsu. Vì luật Thần Khí ban sự sống trong Đức Kitô Giêsu cho ngươi được tự do thoát luật của sự tội và sự chết […]. Vì chưng, hứng theo xác thịt là làm nghịch với Thiên Chúa. Nhưng, anh em không theo xác thịt, mà là Thần Khí, nếu thực có Thần Khí Thiên Chúa cư ngụ trong anh em.Không có Thần Khí Đức Kitô, kẻ ấy không thuộc về Ngài. Nhưng, nếu Đức Kitô ở trong anh em, thì tuy thân xác vẫn là đồ chết, vì tội, nhưng Thần Khí là sự sống vì Đức công chính. Nếu Thần Khí của Đấng đã cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết cư ngụ trong anh em, thì Đấng đã cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết cũng sẽ tác sinh thân xác chết dỡ của anh em, nhờ bởi Thần Khí của Ngài cư ngụ trong anh em.” (Rm 8,1-11).
Nếu Ba Ngôi Thiên Chúa là tác giả của Công trình Nước Thiên Chúa, thì sứ mạng xây dựng Nước Thiên Chúa cũng là sứ mạng của các Ngài.
Trước tiên, đó là sứ mạng của Cha:
“Quả vì Thiên Chúa đã yêu thế gian như thế đó, đến nỗi đã thí ban Người Con một…” (Ga 3,16).
Thứ đến, ý nghĩa và mục đích của cả cuộc đời trần thế của Đức Giêsu chẳng là gì khác hơn ngoài những công việc nầy:
“Lạy Cha chúng con ở trên trời,
Chúng con nguyện Danh Cha cả sáng,
Nước Cha trị đến,
Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như ở trên trời…” (Mt 6,9-10)
(Bản Pháp ngữ của TOB:
“Notre Père qui est aux cieux,
fais connaître  à tous qui tu es
fais venir ton Règne,
fais se réaliser ta volonté
sur la terre à l’image du ciel”).
Trong ngôn ngữ của Thánh Phaolô, điều nầy được trình bày như sau:
“Rồi sẽ là cùng tận, lúc Đức Giêsu-Kitô trao trả vương quyền cho Thiên Chúa và là Cha, sau khi đã hủy ra không, mọi thiên phủ, mọi uy thế và quyền năng. Vì Ngài phải giữ quyền vua cho đến khi Ngài đặt mọi địch thù dưới chân Ngài. Địch thù cuối cùng bị hủy ra không là sự chết. Vì: muôn sự Ngài đã bắt phục cả dưới chân Ngài. Khi nói: muôn sự phải phục quyền, thì đã rõ là chỉ trừ Đấng đã bắt muôn sự phục quyền Đức Giêsu-Kitô. Vì khi mọi sự đã phục quyền mình, thì bấy giờ Con cũng sẽ phục quyền Đấng đã bắt mọi sự phục quyền mình, ngõ hầu Thiên Chúa là tất cả trong mọi sự.” (1Cr 15,24-28).
Đó cũng chính là Ý Nghĩa và Mục Đích của Lịch Sử, của Các Công trình Sáng Tạo, Mặc Khải và Siêu Độ…(x. DV số 1).
Sau cùng, đó là sứ mạng của Thần Khí. Nếu trong Mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi, Thần Khí Tình Yêu là Đấng nối kết Tinh yêu giữa Cha và Con, cũng vậy, trong tương quan tình yêu giữa Thiên Chúa-Ba Ngôi với các Thụ tạo của Ngài, chính Thần Khí Tình yêu là Đấng liên kết giữa các “đối tác” nầy lại với nhau. Không có Thần Khí Tình yêu, không thể diễn ra bất cứ hành vi yêu thương nào…
Thần Khí Tình yêu không chỉ hiện diện trong nội thân Mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi, và khiến cho Tình yêu vận hành giữa Ba Ngôi với nhau mà còn cả trong Kế đồ Tế thế (Économie du Salut) nữa: trong Công trình sáng tạo (St 1,2.26-27), trong Công trình Nhập Thể, Làm Người và Siêu độ của Con-Ngôi Lời (Lc 1,35; Mt 1,20; 3,22; 4,1.17-21; Mc 1,10.12; Ga 1,32; v.v…).
Sự hiện diện của Thần Khí đối với Đức Giêsu-Kitô cũng phải trãi qua một quá trình tiệm tiến, hay nói theo ngôn ngữ triết học hiện sinh, trong suốt hành trình trần thế của Đức Giêsu, Thần Khí của Cha vẫn “hiện hữu” nơi Ngài (existe en Lui), nhưng chưa hoàn toàn “hiện diện” đối với Ngài (Lui est présent), hay nói cách khác, chưa là “của riêng Ngài” (son propre):
“…Điều ấy, Ngài nói về Thần Khí các kẻ tin vào Ngài sẽ lĩnh lấy, vì Thần Khí chưa có, bởi Đức Giêsu chưa được tôn vinh.” (Ga 7,39).
Khi nói “vì Thần Khí chưa có”, điều nầy muốn ám chỉ rằng Thần Khí của Cha chỉ trở thành Thần Khí của Con trong giây phút mà Đức Giêsu-Kitô đã hoàn toàn tận hiến tất cả những gì Ngài “có”, thậm chí cả đến Thần Khí của Cha trong Ngài:
“Khi đã nếm dấm rồi, Đức Giêsu nói: ‘Đã hoàn tất’. Đoạn, gục đầu xuống, Ngài phó thác Thần Khí” (Ga 19,30).
Chính qua hành vi tận hiến tất cả cho Cha trên Thập giá đó mà Cha đáp trả lại bằng cách cho Con tất cả gì Cha có, trừ cương vị là Cha:
“Đức Giêsu đó, Thiên Chúa đã cho sống lại; chúng tôi hết thảy xin làm chứng về điều ấy. Vậy, được nhắc lên bên hữu Thiên Chúa, Ngài đã lĩnh nơi Cha ơn đã hứa là Thánh Thần mà đổ xuống, đó là điều các ông thấy được và nghe được.” (Cv 2,32-33).
Chính nơi khoảnh khắc đó mà Thần Khí của Cha trở thành Thần Khí của Con, hay nói cách khác, mà Thần Khí hoàn toàn hiện diện đối với Con.
Và cũng chính khoảnh khắc đó nhân tính của Đức Giêsu mới thực sự trở thành nhân tính của Con, của Ngôi Lời Thiên Chúa, và hoàn toàn hiệp nhất với Ngôi Vị Con: chính trên cơ sở nầy mà Đức Giêsu-Kitô trở thành hiện thân của Nước Thiên Chúa; hay nói cách khác, đó chính là tình trạng “Viên Mãn” và  “Thái Hòa” giữa ba yếu tố “Thiên-Địa-Nhân”, cơ sở nền tảng của Trời mới, Đất mới và Con Người mới (x. Kh 21,1-8).
Đó chính là ý nghĩa của hành vi nhận Thần Khí của Cha là của Mình của Đức Giêsu-Kitô (appropriation de l’Esprit).

2.      Sự phát triển của Nước Thiên Chúa hay Giáo Hội:
Sách Khải Huyền (Kh) cho chúng ta bằng chứng về quá trình phát triển mang chiều kích vĩ mô của Trời, Đất và Người:
 “Và tôi đã thấy một trời mới và một đất mới, vì trời cũ, đất cũ đã qua, và biển không còn nữa. Và Thành thánh, Giêrusalem mới, tôi đã thấy tự trời xuống từ nơi Thiên Chúa, chỉnh tề như tân nương trang sức trang sức chờ đón đức lang quân.” (Kh 21,1-2).
Như trên đây chúng tôi đã phân tích, cũng như tương quan Tình Yêu trong nội thân Mầu nhiệm Thiên Chúa đã làm nẫy sinh các Ngôi Vị, cũng vậy, tương quan tình yêu giữa Thiên Chúa-Ba Ngôi và các Thụ tạo của Ngài, cách tương tự, cũng làm nẫy sinh một Thực Tại có tính ngôi vị, có tính chủ thể, đó là Thân Mình của Đức Giêsu-Kitô, tức là Giáo hội hay là Nuớc Thiên Chúa.
Khi nói Giáo hội là Thân Mình của Đức Giêsu-Kitô, điều nầy không chỉ nhằm ám chỉ một chủ thể thống nhất, sống động, bao gồm những cá thể như những chi thể, mà hơn thế nữa có lẽ còn ám chỉ đó là một ‘ngôi vị” cánh chung mang chiều kích phổ quát. Ngôi vị hay Chủ thể hay Thân mình nầy, vì ở trong phạm trù không-thời gian, nên có một quá trinh phát triển lịch sử tiệm tiến như bất cứ thụ tạo nào.
“Nhưng, kể từ nay, trong Đức Giêsu-Kitô, anh em xưa kia vốn là những kẻ ở xa, thì nay trở thành gần, nhờ bửu huyết của Đức Kitô. Thật vậy, chính Đức Kitô là sự bình an của chúng ta : từ cái vốn chia cắt ra, Ngài đã làm thành một. Trong xác thịt của Ngài, Đức Kitô đã phá hủy bức tường tạo ra ngăn cách : đó là sự hận thù…Như vậy, khởi đi từ Do thái và dân ngoại, Đức Kitô đã muốn tạo ra trong Ngài chỉ còn một con người mới, nhằm thiết lập sự hòa bình, và muốn hòa giải cả hai lại với Thiên Chúa, thành chỉ còn một thân mình, mà công cụ là chính Thập Giá : nơi mà Ngài đã tiêu diệt hết hận thù.” (Ep 2, 13-16).
Trong các dụ ngôn về Nước Thiên Chúa, Đức Giêsu đã ví Nước Thiên Chúa, trước tiên, như một “Hạt giống Lời” phải trãi qua những bước phát triển của nó: hạt giống phải tự hủy mình đi, nẫy mầm, lớn lên, cho bông hạt, và chim trời có thể đến và đậu lại trên đó…(x. Mt 4,14; 13,3132).
Quá trình phát triển của Nước Thiên Chúa cũng được ví với sự phát triển của nắm “Men bột”: men phải hòa mình vào với thúng bột thế gian để làm cho thúng bột đó dậy lên men tình yêu (x. Mt 13,33).
Quá trình đó cũng còn được ví như quá trình của “Ngọn lửa”: lúc ban đầu chỉ là một đốm lửa nhỏ, và rồi dần dần sẽ cháy sáng lên thành ngọn lửa lớn tình yêu thắp sáng và giữ ấm cho thế gian (x. Lc 12,49).
Quá trình phát triển nầy không chỉ là công việc của thụ tạo mà còn là và chủ yếu là công việc của Thiên Chúa-Ba Ngôi:
“Ngài nói: ‘Về Nước Thiên Chúa, thì thế nầy: như khi người kia gieo giống xuống đất, thì dù người ấy ngủ hay thức, ban đêm hay ban ngày, hạt giống cứ` nẫy mầm, lên đõn, mà người ấy không biết. Tự dưng, đất cho đậu; trước tiên thành mạ, rồi thành đòng đòng, rồi thành lúa chắc nơi gié. Và khi mùa màng cho phép tức thì liềm hái tra tay, vì mùa gặt đã đến.” (Mc 4,26-29; xem thêm 1Cr 15,24-28).
“Kẻ gieo giống tốt tức là Con Người; ruộng là thế gian; giống tốt là con cái của Nước; cỏ lùng là con cái Quỉ dữ; kẻ thù gieo cỏ lùng là ma quỉ…” (Mt 13,37-39).
Như vậy, kẻ gieo giống cũng như hạt giống chính là Ngôi Lời, Con Thiên Chúa, Đức Giêsu-Kitô:
“…Người gieo giống là gieo Lời.” (Mc 4,14).
Đó chính là lý do tại sao Thánh Phaolô gọi Giáo hội hay Nước Thiên Chúa là Thân Mình của Đức Giêsu-Kitô, hay nói cách khác, Đức Giêsu-Kitô chính là “hiện thân” của Nước Thiên Chúa (Cl 1,24).
Thật vậy, trong tương quan giữa Đức Giêsu-Kitô và Nước Thiên Chúa, có vẻ như ngôn ngữ TƯ không chỉ muốn ám chỉ một sự nhận làm của mình (appropriation) không thôi, mà thậm chí còn cả một sự “ngôi hiệp cánh chung” (union hypostatique eschatologique) nào đó nữa, sự hiệp nhất giữa các chi thể và cái đầu của Thân thể để trở thành một Ngôi vị, một Chủ thể duy nhất:
“Anh em thân mến, hiện giờ ta là con cái Thiên Chúa;
ta sẽ là gì, thì chưa được tỏ hiện,
ta biết rằng một khi điều ấy tỏ hiện,
thì ta sẽ được giống như Ngài,
vì Ngài thế nào, ta sẽ được thấy như vậy…” (1Ga 3,2; xem thêm Cl 1,18; Ep 1,22; 5,23; St 1,26-27).
Sự “ngôi hiệp cánh chung” nầy giữa các thụ tạo, cách đặc biệt con người, và Đức Giêsu-Kitô, Con và là Ngôi Lời của Thiên Chúa, có cơ sở là sự ngôi hiệp giữa thần tính và nhân tính của Đức Giêsu-Kitô, vốn đạt đến tình trạng thành toàn và viên mãn nơi Biến cố Thập giá và Phục sinh của Ngài.
Về phía các thụ tạo, đặc biệt con người, đây là một quá trình “được thần linh hóa”, vừa mang tinh Kitô vừa mang tính Thần Khí.
Đặc tính là một thực thể sống nầy còn được diễn tả qua hình ảnh Cây Nho:
“Cây nho đích thực chính là Ta, và Cha Ta là người canh tác. […]. Cây nho chính là Ta, các ngươi là nhánh. Ai lưu lại trong ta và Ta trong kẻ ấy, thì nó sinh nhiều quả, vì ngoài Ta các ngươi không thể làm gỉ.” (Ga 15,1.5).
Cũng như mỗi một chi thể trong thân thể không thể là thân thể, mà tất cả các chi thể phối hợp lại với nhau mới làm thành thân thể, cũng vậy, cả gốc, cả cây, cả các cành nho mới làm thành thân nho, và mới đâm hoa, kết trái được.
“Nay tôi vui sướng trong các nỗi thống khổ chịu vì anh em; và trong thân xác tôi, tôi bù đắp những gì còn thiếu nơi các nỗi quẫn bách Đức Kitô phải chịu vì Thân Mình Ngài, tức là Hội Thánh, mà tôi đã trở thành người phục vụ, thể theo sự an bài của Thiên Chúa trao phó cho tôi, để lo cho anh em: viên thành (công việc của) Lời Thiên Chúa…” (Cl 1,24-25).
Cl 1,24-25, như vậy, một đàng, cho chúng ta thấy vừa chiều kích vĩ mô vừa chiều kích vi mô của Thân Mình Đức Giêsu-Kitô là chính Giáo Hội; đàng khác nhằm muốn ám chỉ có một sự “đồng hóa cánh chung” (identification eschatologique) nào đó giữa thụ tạo và Đức Giêsu-Kitô, Con và là Ngôi Lời của Thiên Chúa, đến nỗi nơi Ngài là hiện thân của Trời mới, Đất mới và Người mới (Kh 21,1-3).
Trong ngôn ngữ dụ ngôn, Lời Thiên Chúa đã được gieo vào, hay đúng hơn, đã tiềm ẩn trong  “thế gian” (= thế giới) (Is 7,14; Mt 1,23; 13,38), như hạt giống, như ngọn lửa, và lớn lên, bề ngoài, theo một quá trình “tự nhiên”…
Nói theo ngôn ngữ triết học, trong nhãn quan tam tài “Thiên-Địa-Nhân hòa”, Ngôi Lời (=Thiên) vốn thuộc về cấu trúc hữu thể học của mọi Thụ Tạo. Và chính yếu tố “Thiên” hay Ngôi Lời nầy bảo đảm cho sự tồn tại của quá trình tiến hóa theo nghĩa vật chất (matériel, charnel) cũng như theo nghĩa thuộc linh (spirituel):
“Ngôi Lời đã trở thành xác phàm, và đã cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1,14).
Trên bình diện vĩ mô, có thể nói rằng Thân Mình của Đức Giêsu-Kitô sẽ được thành toàn khi đạt được tình trạng “Thái hòa” giữa ba yếu tố “Thiên-Địa-Nhân”. Tình trạng “Thái hòa” nầy đã trở thành hiện thực viên toàn nơi Đức Giêsu-Kitô trong Biến cố Thập giá và Phục sinh: đó chính là tình trạng “Trời mới, Đất mới và Người mới” mà sách Khải huyền đã đề cập tới (Kh 21,1-27; 22,1-5; xem thêm Ep 2, 13-16).
Vì thế, chỉ qua lăng kính Đức Giêsu-Kitô Phục sinh người ta mới có thể hiểu được phần nào dung mạo cánh chung của Thân Mình của Đức Giêsu-Kitô hay Giáo hội hay Nước Thiên Chúa, điều mà Cha Teilhard de Chardin gọi là “Đức Kitô vũ trụ” hay “Đức Kitô Toàn thể”:
“…Nhưng, đối với ta, thì chỉ có một Thiên Chúa là Cha, do tự Ngài mà có mọi sự, và vì Ngài mà ta được có. Và chỉ có một Chúa, Đức Giêsu-Kitô, nhờ Ngài mà có mọi sự, và cũng nhờ Ngài mà ta (được có).” (1Cr 8,6).

3.      Giáo Hội, Thân Mình Đức Giêsu-Kitô:
Như trên đây chúng tôi đã có lưu ý, nói theo ngôn ngữ của Tertullien, nhân tính hay xác thể của Đức Giêsu-Kitô là “hiện thân” của toàn thể thụ tạo có vật chất, vì thế, nơi Biến cố Thập giá và Phục sinh, khi nhân tính của Ngài hoàn toàn tương hợp với Ngôi Lời và được thần linh hóa, hay được siêu độ và sống được sự sống vĩnh hằng, thì có nghĩa là toàn thể Thụ tạo, trong Ngài, cũng được thần linh hóa, hay được siêu độ. Đó chính là lý do tại sao Giáo hội trước sau như một vẫn hằng khẳng định rằng Đức Giêsu-Kitô là Đấng Trung gian siêu độ duy nhất và phổ quát. Sự hài hòa giữa thần tính và nhân tính của Đức Giêsu-Kitô trên đỉnh Thập giá chính là biểu hiện và hiện thân của tình trạng “Thái hòa” của toàn thể Thụ Tạo trong tương quan tình yêu giữa Ba Ngôi Thiên Chúa với nhau, giữa các Ngài với Thụ tạo, và giữa các thụ tạo với nhau (xem Ep 2, 13-16)…
Thánh IRÉNÉE, trong chiều hướng nầy, cho rằng Đức Giêsu-Kitô thâu tóm lại nơi xác thể của Ngài mọi xác thể vốn sinh xuất từ AĐAM, mang dấu ấn sự chết, chia phân và rãi rác đó đây (x. Contre les Hérésies)…
“Chúng ta chẳng phải là có chỉ một Thiên Chúa, chỉ một Đức Kitô, chỉ một Thần Khí ân sủng đã được tuôn tràn trên chúng ta, và chỉ một ơn gọi trong Đức Kitô sao? Tại sao lại cắt xé ra những chi thể của Đức Kitô? ” (Clément de Rome, Épître aux Cor 46,6-7; bản Pháp ngữ của A. Jaubert, S.C. 107).
Vì thế, theo thiển ý, không nên đặt vấn đề “Ở ngoài Giáo hội có có ơn cứu độ hay không ?”, mà đúng hơn, vấn đề chính là “Thiên Chúa siêu độ lương dân như thế nào ?”:
“Mọi điều đã viết xưa kia, thì đã được viết để dạy dỗ ta, ngõ hầu nhờ sự kiên  nhẫn và an ủi của Kinh Thánh, ta được có hy vọng. Nguyện xin Thiên Chúa, nguồn kiên nhẫn và an ủi, ban cho anh em được ý hợp tâm đồng với nhau rập theo Đức Kitô Giêsu, ngõ hầu anh em được cùng một lòng trí, một miệng lưỡi, mà tôn vinh Thiên Chúa và là Cha của Chúa chúng ta, Đức Giêsu-Kitô.
 Bởi đó, anh em hãy chấp nhận lẫn nhau, như Đức Kitô đã chấp nhận anh em, vì vinh quang Thiên Chúa.
Tôi muốn nói: Đức Kitô đã phục vụ giới cắt bì, để (chứng thực) lòng chân thành của Thiên Chúa, làm cho các lời hứa trên cha ông được nên kiến hiệu. Còn dân ngoại (đã được chấp nhận) vì lòng nhân nghĩa, để họ tôn vinh Thiên Chúa, như đã viết: …” (Rm 15,4-9; xem thêm Ep 2, 13-16).
Như vậy, trong chiều kích vĩ mô, khi nói Giáo hội là Thân Mình Đức Giêsu-Kitô không đơn giản chỉ có nghĩa “Đức Kitô vũ trụ” hay “Đức Kitô toàn thể”, vốn là những khái niệm khá hàm hồ, thiếu tính “ngôi vị”, thiếu tính “chủ thể”, như trong ngôn ngữ của Cha Teilhard de Chardin, mà đúng hơn đó chính là “Ngôi Lời trở thành xác phàm và ở giữa chúng ta”:
“Và Lời đã thành xác phàm,
và đã lưu trú nơi chúng tôi,
và chúng tôi đã được ngắm vinh quang của Ngài,
vinh quang như của Con Một tự nơi Cha, tràn đầy ân nghĩa và sự thật.” (Ga 1,14).
Khái niệm “thế gian” (= thế giới) trong dụ ngôn Cỏ lùng (Mt 13,37-38), trước tiên, cho chúng ta thấy thế gian (= thế giới) có tương quan liên đới tích cực với lịch sử siêu độ:
“Quả vậy, thế giới mà từ đó cội nguồn xác thể của nhân loại được hình thành (St 2,7; 3,19), vẫn chưa được thành tựu: con người còn phải hoàn thiện thế giới qua lao động của mình, bằng cách làm chủ được thế giới (1,28) và bằng cách ghi lên đó dấu ấn của mình.” (xem Colomban LESQUIVIT et Pierre GRELOT, hạn từ “Monde” trong Vocabulaire de Théologie Biblique, Nhiều tác giả, Nxb. Du Cerf, Paris 1991, trg. 786).
Trong Biến cố Thập giá và Phục sinh, Đức Giêsu-Kitô, khi đã “làm chủ được nhân tính” của Ngài và “ghi được dấu ấn của Ngài trên nhân tính” đó, một cách dứt điểm, Ngài đã ghi được dấu ấn thần linh của Ngài trên toàn thể Thụ tạo, và trở thành “Vua” của Vũ trụ (1Cr 15,24-28), là “Đầu” của Hội thánh (Ep 1, 22; Cl 1,18)…
Cũng như nơi một thân thể nhân loại, “đầu” không tách riêng mà liên kết với toàn thể chi thể để thành một chủ thể, một ngôi vị, cũng vậy, trên chiều kích vĩ mô, Thân Mình của Đức Giêsu-Kitô cũng vậy.
Ở đây, lại một lần nữa cần lưu ý, quá trình phát triển nầy không hề là một quá trình mang tính tất yếu, tự động, máy móc, theo kiểu con người hay nói cách khác dựa trên nguyên lý nhân-quả: đối với Vị Thiên Chúa tuyệt đối tự do, toàn năng và chí ái, vốn có thể biến những cục đá thành con cái Abraham (Mt 3,9), thì mọi qui định từ bất cứ ai trong loài người chúng ta, đều chỉ mang tính tương đối mà thôi, bởi vì mọi sự đều có thể xãy ra, ngoài cả những dự đoán tài tình nhất của loài người chúng ta!
Thật vậy, quá trình phát triển từ Thụ tạo nguyên sơ để trở thành Trời mời, Đất mới và Người mới cũng vậy: sự “đóng góp” của Thụ tạo ở đây quả là khá khiêm tốn so với Công trình Tình yêu của Thiên Chúa-Ba Ngôi! Đó chính là Mầu nhiệm Tình yêu!
“Anh em thân mến, hiện giờ ta là con cái Thiên Chúa;
ta sẽ là gì, thì chưa được tỏ hiện,
ta biết rằng một khi điều ấy tỏ hiện,
thì ta sẽ được giống như Ngài,
vì Ngài thế nào, ta sẽ được thấy như vậy…” (1Ga 3,2; xem thêm Cl 1,18; Ep 1,22; 5,23; St 1,26-27).
Đó chính là lúc Thân Mình Đức Giêsu-Kitô (= Giáo hội = Nước Thiên Chúa) “tỏ hiện” trong vinh quang rực rỡ của “Ngài”, như Trời mới, Đất mới và Người mới, điều mà ngôn ngữ phụng vụ của chúng ta thường gọi một cách mơ hồ, khó hiểu là “Ngày Quang lâm”, “Ngày Ngài lại đến”, “Ngày Ngài đến lần thứ hai”…!
Hay nói cách khác, theo ngôn ngữ kitô-học, cũng  như nhân tính và thần tính của Đức Giêsu hợp nhất với nhau trên cơ sở ngôi vị, cũng vậy, toàn thể thụ tạo và Ngôi Lời, trên bình diện vĩ mô, cũng hợp nhất với nhau trên cơ sở “Ngôi vị cánh chung” (Personne eschatologique) (xem Gl 2,20)…

B.      CHIỀU KÍCH VI MÔ CỦA NƯỚC THIÊN CHÚA: CON NGƯỜI NHƯ HÌNH ẢNH CỦA THIÊN CHÚA:
1.      Để dễ hiểu và được cụ thể, chúng tôi sẽ suy tư vấn đề nầy khởi từ câu truyện của Người trộm lành và Đức Giêsu trên Thập giá:
“Một người trong các kẻ gian phi bị treo đó mắng nhiếc Ngài:’Phải chăng mày là Kitô? Hãy cứu lấy mình cùng chúng ta với!’. Nhưng, tên kia lên tiếng mắng bảo nó: ‘Mày không kính sợ Thiên Chúa sao, ngay lúc mày cùng cũng mắc đồng một án? Phần ta, thực là phải lẽ, ta chuốc lấy đáng tội đã làm; nhưng ông nầy, ông không hề làm điều gì trái!’. Và, hắn nói: ‘Lạy Đức Giêsu, xin nhớ đến tôi, khi Ngài đến trong Nước của Ngài!’. Và Ngài đã nói với hắn: ‘Quả thật, Ta bảo ngươi: Hôm nay, ngươi sẽ ở trên thiên đàng làm một với Ta!’.” (Lc 23,39-43).
Bản dịch TOB bằng Pháp ngữ, Nxb. Du Cerf 2004, trang 2549, trong chú thích “f” diễn giải câu “khi Ngài đến trong Nước Ngài”:
“Littéralement ‘dans ta royauté’. Plusieurs témoins lisent: (pour entrer) dans ton Royaume. Mais il s’agit plutôt ici de la dignité royale dont Jésus apparaîtra revêtu à son retour (cf. 19,12; 24,26).”
Theo thiển ý, cách hiểu của bản Việt ngữ của Cha Nguyễn Thế Thuấn mà chúng tôi sử dụng ở đây hợp lý hơn.
Người ta sẽ hiểu được điều đó khi hiểu được tính chất mâu thuẫn khó hiểu giữa trạng từ chỉ thời gian “Hôm nay” và thì tương lai “sẽ” của động từ ở câu 43!
 Khi nói câu nầy với “người trộm lành”, Đức Giêsu chưa “sinh thì” hay chưa chết, vì thế động từ ở thì tương lai (“…aujourd’hui, tu seras avec moi dans le paradis.”). Thì tương lai nầy không phải được qui chiếu về “Ngày trở lại của Đức Giêsu-Kitô” như TOB quan niệm, mà đúng hơn, qui chiếu về Chiến thắng vinh quang của Ngài ngay trên Thập giá, cuộc chiến thắng của sự sống theo Thẩn Khí trên sự sống theo xác thịt (Rm 8,1-11), cuộc chiến thắng của sự sống trên sự chết, cuộc chiến thắng của tình yêu vị tha trên những tính toán ích kỷ, hẹp hòi, v.v… Tóm lại, đó chính là chiến thắng của Tình Yêu, chiến thắng và là Vinh quang của chính Thiên Chúa!
Trong ngôn ngữ của Ga, Thập giá được hiểu như là “Giờ”, “Giờ Vinh quang” của Đức Giêsu-Kitô:
“Giờ đã đến, cho Con Người được tôn vinh!
Quả thật, quả thật, Ta bảo các ngươi: giả như hạt lúa gieo xuống đất không chết đi, thì nó trơ trọi một mình; nhưng, nếu nó chết đi, nó mới sai hoa lắm quả!” (Ga 12,24).
“Trước lễ Vượt qua, Đức Giêsu biết rằng đã đến Giờ Ngài qua khỏi thế gian nầy  để đến cùng Cha, - đã yêu mến các kẻ thuộc về Ngài còn trong thế gian – thì Ngài đã yêu mến họ đến cùng.” (Ga 13,1; x. 2,4; 7,30; 8,20).
Và, “Giờ Vinh quang” đó cũng chính là “Giờ Siêu độ” bởi Tình Yêu dâng hiến đã đạt đến đỉnh tột cùng của sự tự hủy ra không: khi đã hiến dâng lên Cha tất cả những gì mình có và những gì mình là, và của lễ cuối cùng chính là Thần Khí của Cha (Ga 19,30), Đức Giêsu-Kitô đã nhận lại được, từ Cha, tất cả những gì mà Cha là và Cha có, trừ cương vị là Cha của Cha, và chính lúc đó, trên Thập giá, Thần Khí của Cha trở thành Thần Khí của Con. Đây mới chính là lúc trở thành hiện thực viên mãn điều mà Đức Giêsu đã khẳng định:
“Ta và Cha, chúng ta là một.” (Ga 10,30).
Và đó là “Sự sống vĩnh hằng”, là Thiên đàng:
“Sự sống vĩnh hằng tức là: chứng nhận biết Cha, Thiên Chúa độc nhất và chân thật, và Đấng Cha đã sai, Giêsu-Kitô.” (Ga 17,3).
 Đó chính là những gì mà “Người trộm lành” đã tuyên xưng trong Lc 23,39-43.
Như vậy, “Hôm nay”, tức là ngay trong Ngày Thứ Sáu Tuần thánh đó, sau khi (“sẽ”) “đã sống” và “đã chết” cùng với và trong Đức Giêsu-Kitô, Người trộm lành cũng được “sống” với Ngài trong Thiên đàng!
Một vấn đề nan giải được đặt ra ở đây: đó là khi nói “Hôm nay”, mà người trộm lành và cả Đức Giêsu sẽ chết ngay sau đó, và theo giáo lý của Giáo hội dạy thì phải đến ngày Tận thế xác con người trần mới sống lại để chịu phán xét chung, còn cái xác của Đức Giêsu thì phải đến ngày thứ ba sau khi chết mới phục sinh! Liệu một ngôi vị, một chủ thể nhân loại có thể hiện hữu và hiện diện mà không cần xác thể? Sự hợp nhất giữa “xác” và “hồn” phải được hiểu như thế nào đây? Và liệu điều mà chúng ta thường hiểu về “xác” và “hồn” có nhất thiết là phải như vậy hay không? Và khi Thánh Phaolô nói: “sống theo xác thịt” và “sống theo Thần Khí” (Rm 8,1-11), điều đó có liên can gì đến xác thể của con người?
Hình như tình trạng hàm hồ nầy liên can đến tình trạng hàm hồ trong ngôn ngữ Thánh Kinh liên quan đến các khái niệm: sống và chết.
Trong ngôn ngữ Thánh Kinh, có ba khái niệm khác nhau về sự sống: a) sự sống xác thể [Bios] (Mc 12,44); b) sự sống thuộc linh [Psuchè] (Ga 10,11.15.17; 15,13); c) sự sống vĩnh hằng [Zoé] (Ga 12,25).
Ga không sử dụng khái niệm Bios, - bởi vì đối với Ga, sự sống không bao giờ thuần túy là vật chất, - mà chỉ sử dụng hai khái niệm Psuché và Zoé (55 lần).
“Ai yêu mạng sống mình (psuchè) thì làm mất nó, và ai ghét bỏ mạng sống mình (psuchè) trong thế gian nầy sẽ giữ được nó trong sự sống (zoè) vĩnh hằng” (Ga 12,25).
Vì thế, trong ngôn ngữ Thánh Kinh, chỉ có hai khái niệm sự chết: a) sự chết thể xác [tương ứng với sự sống theo nghĩa bios] (xem Lc 7,11-12; Ga 11,14); b) sự chết thuộc linh vì sống theo xác thịt, chứ không theo Thần Khí [tương ứng với sự sống theo kiểu psuchè] (Lc 15,24.32).
Sự sống vĩnh hằng (zoé) thì không ai và cái gì có thể động chạm tới được, kể cả sự chết (Mt 10,28)!
Có vẻ như sự chết thể xác, với quyền năng của Thiên Chúa, có thể thay đổi được để được sống lại, như trường hợp đứa con trai của bà góa thành Naim hay Lazarô.
Đối với sự sống thuộc linh (psuchè), có thể xãy ra trường hợp thể xác vẫn sống (bios) nhưng đã chết sự sống thuộc linh (psuchè):
“…vì nầy con ta đây: nó đã chết là lại hoàn sinh, đã mất đi mà lại tìm thấy được. […] vì em con đó, nó đã chết mà lại sống, đã mất đi mà lại tìm thấy được.” (Lc 15,24.32).
Và ngược lại, đã chết sự sống thể xác (bios), nhưng vẫn sống sự sống thuộc linh trong Thần Khí:
“…hôm nay, ngươi sẽ ở trên thiên đàng làm một với Ta!” (Lc 23,43).
Từ những phân tích trên đây, tạm thời chúng ta có thể rút ra được một số hệ luận nầy:
a.       Quá trình từ sự chết thể xác qua sự phục sinh thể xác hoàn toàn nằm trong quyền hạn của Thiên Chúa và chỉ một mình Ngài mà thôi;
b.      Quá trình từ sự chết thuộc linh qua sự sống thuộc linh theo Thần Khí có thể tùy thuộc vào con người;
c.       Con người có thể vẫn đang sống sự sống thể xác (bios), nhưng đã chết sự sống thuộc linh;
d.      Con người có thể đã chết sự sống thể xác, nhưng vẫn đang sống sự sống thuộc linh theo Thần Khí hay sự sống vĩnh hằng.
Nếu vấn đề là như vậy, có lẽ cần phải quan niệm lại những khái niệm “chủ thể” (sujet) hay “ngôi vị” (personne humaine) nơi con người.
Khi Đức Giêsu nói với người trộm lành “hôm nay, ngươi (tu)… sẽ ở trên thiên đàng với Ta (Moi)”, cả “ngươi” (tu) và “Ta” (Moi) đều ở trong tình trạng xác thể đã chết! Liệu phải chăng điều đó có nghĩa là “chủ thể” hay “ngôi vị” nhân loại có thể hiện hữu mà không cần đến thể xác, như các Ngôi Vị thần linh? Phải chăng đó là ý nghĩa của câu nói của Đức Giêsu: “Quả vậy, thời phục sinh, người ta không còn cưới vợ lấy chồng, nhưng người ta như thiên thần ở trên trời.” (Mt 22,30; Mc 12,25)?
So với Mt và Mc, Lc ghi nhận thêm một số yếu tố mới:
“Và Đức Giêsu nói với họ: ‘Con cái đời nầy thì cưới vợ lấy chồng. Còn những ai đã được xét là đáng hưởng đời sau, cùng sự sống lại từ cõi chết, thì sẽ không cưới vợ lấy chồng! Vì chưng họ không thể chết nữa, bởi họ được như thiên thần và nên con cái Thiên Chúa, một khi đã là con cái của sự sống lại…’.” (Lc 20,34-36).
Lc 20,34-36 có vẻ như cho chúng ta thấy, nói theo ngôn ngữ kitô-học, trên bình diện vi mô cũng vậy, cũng như nơi Đức Giêsu-Kitô nhân tính và thần tính hợp nhất với nhau trên cơ sở ngôi vị, cũng vậy, hữu thể nhân loại sống sự sống theo Thần Khí, cùng với Con Thiên Chúa, Ngôi Lời nhập thể hợp nhất với nhau trên cơ sở “ngôi vị cánh chung” (personne eschatologique), đến nỗi có thể nói như Thánh Phaolô:
“Tôi sống, nhưng không còn là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi.” (Gl 2,20).
“…Vì không phải các ngươi nói, mà là Thần Khí của Cha các ngươi sẽ nói trong các ngươi.” (Mt 10,20; x. Ga 15,26; Cv 4,8-31).
Chính lúc bấy giờ, con người mới thực sự là hình ảnh của Thiên Chúa, và giống như Thiên Chúa (St 1,26-27; 1Ga 3,2), hay nói cách khác là hoàn toàn hiệp nhất với Đức Kitô, Con và là Ngôi Lời của Thiên Chúa Tình yêu.

2.      Câu truyện cuộc gặp gỡ giữa Đức Giêsu và Giakêu:
Lc 19,1-10 có lẽ cũng sẽ giúp cho chúng ta hiểu được phần nào điều gì khiến cho con người được siêu độ:
“…Đức Giêsu nói cùng Giakêu: ‘Hôm nay, ơn siêu độ đã đến cho nhà nầy, bởi chưng người nầy cũng là con cái của Abraham. Vì Con Người đã đến để tìm cứu sự đã hư đi’.” (Lc 19,9-10).
Trạng từ chỉ thời gian “Hôm nay” của Lc 19,10 và của Lc 23,43 là một: điều đó có nghĩa điều khiến cho con người được siêu độ hay được sống sự sống vĩnh hằng cốt yếu ở nơi việc con người tương quan với Đức Giêsu và qua Ngài với tha nhân như thế nào (đứng về phía Ngài hay là chống lại Ngài).
“…Giả như tôi được ơn tiên tri, và biết mọi sự nhiệm mầu, tòan cả trí tri; và giả như tôi được tất cả lòng tin, khiến chuyển được đồi núi, mà tôi lại không có lòng mến, thì tôi vẫn là không! […].” (1Cr 13,1-3).
Vấn đề ở đây không phải là  “ở trong” hay “ở ngoài” Đức Giêsu-Kitô (hay Giáo hội), mà là vấn đề Đức Giêsu-Kitô “là gì?” “là Ai?” đối với tôi! Thật vậy, cũng như tất cả mọi người (giáo cũng như lương) đều chỉ sống được nhờ không khí, nhưng ý thức được sự hiện hữu của không khí không phải ai cũng có được, cũng vậy, tất cả mọi thụ tạo đều chỉ có thể hiện hữu trong Thiên Chúa, nhưng việc ý thức được sự hiện hữu (existence) và sự hiện diện (présence) của Thiên Chúa không phải ai cũng có được, và có được như nhau! Người ta có thể hiện hữu bên nhau mà không hiện diện đối với nhau!
“…Vì chưng, trong Thiên Chúa, ta sống, ta cử động, ta có.” (Cv 17,28).
Chỉ có Tình yêu mới làm cho người ta hiện diện đối với nhau. Đó chính là điều đã diễn ra nơi cuộc gặp gỡ giữa Giakêu và Đức Giêsu. Và đó cũng chính là ơn siêu độ hay sự sống vĩnh hằng mà Giakêu “hôm nay” có được.
Tất cả điều đó có vẻ như chứng tỏ rằng xác thể của con người vốn “trung tính” trong vấn đề nầy! Vấn đề quan trọng ở đây có lẽ là sống theo Thần Khí Tình yêu hay không…Và khi sống theo Thần Khí tình yêu của Cha và của Con, con người mới thực sự là “hình ảnh” của Thiên Chúa và giống như Thiên Chúa…

3.      Những hạt giống “không nẫy mầm”…:
Một đàng, Thánh Kinh, đặc biệt TƯ,  cho chúng ta hiểu rằng Tinh yêu của Thiên Chúa vốn vô điều kiện, vô vị lợi và vô biên giới (Mt 5,44.46; Lc 6,27.32.35; Ga 3,16; v.v…).
Is 55,10-11 còn cho chúng ta thấy tính hiệu quả tuyệt đối của Lời Thiên Chúa:
“…Vì cũng như mưa với tuyết từ trời sa xuống, tất không lùi lại về trời, nếu đã không thấm nhuận đất đai, nếu không làm cho đất sinh sản, nảy chồi, và cho người gieo có giống, cùng bánh cho người ta ăn. Cũng vậy, lời của Ta, một khi đã xuất tự miệng Ta, sẽ không về lại với Ta, hư luống, nếu không thực hiện điều Ta muốn, nếu không đạt được sự Ta sai làm.” (Is 55,10-11).
Thế nhưng, đàng khác, Thánh Kinh cũng lại cho chúng ta biết rằng có những hạt giống không nẫy mầm, những hạt giống bị chim trời ăn mất, những cỏ lùng phải bị đốt cháy hủy diệt, những nhánh cây phải tỉa bỏ đi, những con cá phải ném ra ngoài, v.v…!
Ngoài ra, tỉ lệ con số “những kẻ tin” so với con số những lương dân của mọi thời có vẻ như muốn chứng tỏ cho thấy Thiên Chúa không thành công lắm, nếu không muốn nói là “thất bại” đối với công trình của mình! Thêm vào đó, với những qui định khá khắt khe của các Giáo hội kitô để được cứu độ hay được vào Thiên đàng, con số những kẻ được cứu có lẽ khá ít ỏi so với những kẻ “không được cứu”!
Một Vị Thiên Chúa chí ái và Toàn năng, có thể biến những cục đá thành con cái của Abraham, chẳng lẽ lại phải thất bại như thế chăng?
Phải hiểu điều đó thế nào đây?
Một số đông các nhà thần học kitô-giáo thường tìm cách giải quyết vấn đề nầy dựa trên tự do của con ngưòi và tự do của Thiên Chúa, với ý đồ qui trách nhiệm cho con người!
Một số thần học gia nghiên cứu về các tôn giáo, với mong muốn giải quyết được vấn đề nầy, thì lại đặt vấn đề: “Có có ơn cứu độ nơi các tôn giáo ngoài kitô-giáo hay không?”, như kiểu liệu lương dân có được cứu độ hay không, hoặc Thiên Chúa có cứu độ họ hay không?
Giáo hội Công giáo, trước sau như một, vẫn khẳng định rằng: Đức Giêsu-Kitô là Đấng Trung gian Siêu độ duy nhất và phổ quát:
“Xin chư vị hết thảy cùng toàn dân Israel biết rằng: chính là nhân Danh Giêsu-Kitô người Nazareth, người các ông đã cho đóng đinh thập giá, nhưng Thiên Chúa đã cho sống lại từ cõi chết, chính nhân Danh ấy mà người nầy được đứng trước mặt các ông an lành mạnh khỏe.[…].Và hẳn không có ơn cứu độ nơi một người nào khác nữa. Vì dưới gầm trời nầy, không có một Danh nào khác đã được ban xuống cho nhân loại để phải nhờ vào đó mà chúng ta trông được cứu thoát.” (Cv 4,10-12).
Khi khẳng định Đức Giêsu-Kitô là Đấng Trung gian Siêu độ duy nhất và phổ quát, Giáo hội muốn chúng ta phải hiểu rằng Ngài là Đấng siêu độ toàn thề thụ tạo mọi nơi và mọi thời. Thế nhưng, điều đó diễn ra thế nào được khi mà Đức Giêsu chỉ sống và chết trong một khoảng không gian nhất định là nước Israel và một khoảng thời gian nhất định khoảng 36 năm trần thế?
Thế nên, điều mà Thánh kinh TƯ (Cv 4,10-12) và Giáo hội khẳng định chỉ có thể hiện thực trong những điều kiện sau đây:
 
Về phía Đức Giêsu-Kitô:

a.       Ngài phải vừa là Thiên Chúa thật vừa là người thật và không hoàn toàn lệ thuộc phạm trù không-thời gian;
b.      Để có thể không hoàn toàn lệ thuộc phạm trù không-thời gian, Đức Giêsu phải là Thiên Chúa;
c.       Và Nhân tính của Đức Giêsu phải là hiện thân của toàn thể thụ tạo, đặc biệt là loài người;
d.      Được siêu độ có nghĩa là được sống sự sống vĩnh hằng tình yêu của Thiên Chúa, hay nói cách khác được sát nhập vào trong tương quan với Thiên Chúa-Ba Ngôi, v.v…
 
Về phía các Thụ tạo:
a.       Phải được ban cho những điều kiện cần và đủ;
b.      Phải có tự do để chọn lựa, v.v…
      Đối với những vấn đề liên quan đến Thiên Chúa và Đức Giêsu-Kitô, phần lớn chúng tôi đã cố gắng chứng tỏ trong những trang trên đây.
Vấn đề thứ hai liên quan đến thần tính của Đức Giêsu-Kitô, nói chung, đã được đề cập khá nhiều trong các tác phẩm thần học. Ở đây, chúng tôi chi muốn lưu ý điều nầy: Đức Giêsu đã là Thiên Chúa thật ngay từ trong lòng mẹ. Thật vậy, Đấng mà Mẹ Maria sinh ra bé bỏng trong hang bò lừa đó vừa là người thật, vừa là Thiên Chúa thật. Những hạn từ “hôm nay” mà Ngài sử dụng chứng tỏ cho thấy Ngài phải đích thị là Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Vì thế, ngay khi Ngài còn sống cuộc sống xác thể, gặp được Ngài là đã gặp được chính Thiên Chúa.
Tuy nhiên, có vẻ như đặc tính không hoàn toàn lệ thuộc phạm trù không-thời gian, Đức Giêsu chỉ sở đắc được cách trọn vẹn trong “Giờ vinh quang” trên Thập giá, đặc biệt trong Biến cố Phục sinh.
“Lạy Cha, giờ đã đến! Xin hãy tôn vinh Con Cha, ngõ hầu Con Cha tôn vinh Cha! Như Cha đã ban cho Ngài quyền trên mọi xác phàm, ngõ hầu toàn thể những gì Cha đã ban cho Ngài, thì được Ngài ban cho sự sống vĩnh hằng. Sự sống vĩnh hằng tức là: chúng nhận biết Cha, Thiên Chúa độc nhất và chân thật, và Đấng Cha đã sai, Giêsu-Kitô. Con đã tôn vinh Cha dưới đất, và đã chu toàn công việc Cha giao phó cho Con làm. Và bây giờ xin Cha tôn vinh Con nơi Cha, trong vinh quang Con đã có nơi Cha trước khi có thế gian.” (Ga 17,1-5).
Ở nơi Ga 17,1-5, có hai ý tưởng độc đáo và khó hiểu:
(a)     Bản Việt ngữ không được rõ ràng lắm, vì thế chúng tôi mạo muội sử dụng bản Pháp ngữ của TOB: “…Père, l’heure est venue, glorifie ton Fils, afin que ton Fils te glorifie et que, selon le pouvoir sur toute chair que tu lui a donné, il donne la vie éternelle à tous ceux que tu lui a donné…” (Jn 17,1-2).
Vấn đề đặt ra ở đây, đó là trong câu văn, Đức Giêsu không sử dụng ngôi thứ nhất (je, me, moi…) để thưa với Cha, mà lại sử dụng ngôi thứ ba (lui, il)! Tại sao vậy? Ở đây, phải chăng có hai “ngôi vị” khác nhau? Theo thiển ý, theo văn mạch, khi sử dụng như vậy, có lẽ Đức Giêsu muốn ám chỉ có một sự khác biệt giữa hai tình trạng: Con nhập thể và Con trước khi tạo dựng thế gian (Ga 17,5)… Như vậy, “quyền trên mọi xác phàm” và “sự sống vĩnh hằng mà Cha hứa ban cho những kẻ mà Cha đã ban cho Con” đã được Cha ban cho Con cả “trước khi có thế gian”. Ở đây, không có vấn đề hai ngôi vị khác nhau, mà là vấn đề “tự hủy” (kénose) của Con khi nhập thể. Và Thập giá chính là “Giờ” Con trở về lại với tình trạng nguyên thủy của Ngài, cách mới mẻ, tức là trong tư cách vừa là Thiên Chúa thật, vừa là người thật.
(b)     “…Con đã tôn vinh Cha dưới đất và đã chu toàn công việc Cha giao phó cho Con làm.” (Ga 17,4; x. Ga 19,30): Thời gian vẫn chưa đến hồi viên mãn, công trình siêu độ có vẻ như vẫn còn dỡ dang đó, làm sao Đức Giêsu lại có thể nói “Con đã chu toàn công việc mà Cha giao phó”?
Theo thiển ý, trước tiên, “Giờ Thập giá” chính là giờ chiến thắng của Tình yêu, Tình yêu dâng hiến, chiến thắng một cách tuyệt đối, một lần thay cho tất cả; “Giờ” mà vĩnh hằng và thời gian hòa nhập vào nhau cách kỳ diệu; “Giờ” mà nơi Đức Giêsu-Kitô hội tụ quá khứ, hiện tại và tương lai; hay nói cách khác đó là “Giờ” mà Đức Giêsu-Kitô siêu việt phạm trù không-thời gian…
Đó là “Giờ” mà Đức Giêsu-Kitô, - nơi nhân tính của Mình, vốn là hiện thân của toàn thể Thụ tạo, đặc biệt là toàn thể nhân loại, mọi nơi và mọi thời, và mà Ngài đã nhận là của Mình (appropriation), qua Tình yếu dâng hiến của Mình đối với Cha và toàn thể Thụ tạo, - đã đánh bại và chiến thắng khải hoàn cách tuyệt đối, một lần thay cho tất cả, trên tội lỗi, satan, ma quỉ, sự chết, quyền lực thiên phủ, địa phủ, âm phủ, v.v… (Ga 12,32).
Chính nơi giây phút khi mà trên Thập giá Đức Giêsu dâng hiến tất cả những gì Ngài có và những gì Ngài là cho Cha của Ngài và “vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta”, đó chính là khoảnh khắc của chiến thắng, của vinh quang của Tình yêu, tức là của chính Thiên Chúa, bởi vì Thiên Chúa là Tình yêu (1Ga 4,16; 15,13). Hay nói theo ngôn ngữ kitô-học, đó chính là “giờ” mà nhân tính của Đức Giêsu-Kitô hiệp nhất cách hoàn hảo nhất với thần tính của Ngài. Còn nói theo ngôn ngữ Đông phương, đó là “giờ” mà thực tại tam tài “Thiên-Địa-Nhân” được hòa hợp cách trọn vẹn. Đó là “giờ” mà con người, trong nhân tính của Đức Giêsu-Kitô, giao hòa lại với Thiên Chúa nơi thần tính của Đức Giêsu-Kitô, với tha nhân, với thiên nhiên vũ trụ, và với chính cả bản thân mình (con người tìm lại được căn tính của mình: son identité): những tương quan nguyên thủy của “vườn địa đàng”…
Đó là khoảnh khắc của “THÁI HÒA” (Grande Harmonie).
  Và hiệu quả từ Chiến Thắng nầy của Đức Giêsu-Kitô là một Ân huệ phổ quát vĩnh viễn và nhưng không…
 Phổ quát, bởi vì hiệu quả đó tác động lên toàn thể Lịch sử của Thụ tạo, mọi nơi và mọi thời (quá khứ, hiện tại và tương lai):
Trong tương quan với Quá khứ, điều nầy được diễn tả qua việc Đức Giêsu-Kitô xuống “Ngục Tổ tông”:
“Bởi chưng, Đức Kitô đã chết một lần vì tội lỗi, Đấng công chính vì những kẻ bất nhân, để đem ta đến cùng Thiên Chúa. Ngài đã bị giết chết về xác thịt, nhưng đã được tác sinh bởi Thần Khí. Trong Thần Khí nầy, Ngài đã đi loan báo Tin Mừng cho các thần khí đang trong ngục tù, cho những kẻ phản loạn xưa kia…” (1Pr 3,18-20).
Trong tương quan với Hiện tại, điều nầy được diễn tả qua những trạng từ “Hôm nay” và Danh xưng “Emmanuel” của Thánh Kinh.
Trong tương quan với Tương lai, điều nầy được diễn tả bởi 1 Cr 15,24-28.
Vĩnh viễn, bởi vì hành vi siêu độ của Đức Giêsu-Kitô diễn ra một lần là đủ, không cần phải được lặp đi lặp lại nhiều lần, và có giá trị tuyệt đối, vĩnh viễn (Dt 10,11-14)…
Nhưng không, bởi vì Ân huệ nầy được ban cho tất cả mọi Thụ tạo không kèm theo bất cứ điều kiện nào ngoài Tình yêu (Rm 6,23; Lc 18,9-14)…

      Về phía các Thụ tạo:
Một số chi tiết cũng đã được đề cập đến trên dây. Ở đây, chúng tôi chỉ muốn lưu ý một số điểm quan trọng nầy:
Trước tiên, có thể nói rằng trong những biến cố Sáng tạo, Mặc khải, Nhập thể và Siêu độ, vĩnh hằng đã đi vào thời gian, hay nói theo ngôn ngữ tam tài của Đông phương, Thiên-Địa-Nhân hòa. Điều nầy có nghĩa cấu trúc hữu thể của các Thụ tạo là cấu trúc “Thiên-Địa-Nhân hòa” (structure cosmothéandrique).
Cách chung, tất cả mọi thụ tạo, theo Thánh ý của Thiên Chúa, đều đã “được định hướng” để tiến về cùng đích tối hậu của mình (Rm 16,26; xem DV, số 1). Để đạt mục đích nầy, Thiên Chúa đã trang bị cho các thụ tạo, đặc biệt loài người, vốn là người quản lý công trình nầy, những điều kiện cần và đủ: a) cấu trúc hữu thể học “Thiên-Địa-Nhân hòa” (St 1,26-27; 2,7); b) luơng tâm, lương tri để biết và muốn điều tốt, điều thiện (1Cr 4,4; Dt 10,16); c) trí khôn để biết điều tốt, điều xấu (St 3,4-5.7); d) tự do để tự mình quyết định chọn lựa điều tốt hay điều xấu (2Cr 3,17; 1Cr 10,29); đ) ân sủng (2Cr 12,9); v.v…
Và, cách đặc biệt, sau Biến cố Thập giá và Phục sinh của Đức Giêsu-Kitô, cùng với nhân tính của Ngài, trong Ngài và nhờ Ngài, toàn thể Thụ tạo mọi nơi, mọi thời (quá khứ, hiện tại và tương lai) đã được siêu độ để trở thành (devenir) Trời mới và Đất mới, và đặc biệt loài người đã được phục hồi tư cách-con của Thiên Chúa, và được sống trong tình trạng mà tất cả mọi kẻ thù đã bị đánh bại, kể cả sự chết, dù có ý thức hay không.
Khi nói “trở thành” (devenir) có nghĩa là ơn siêu độ vốn như một hạt giống cần phải kinh qua quá trình phát triển của nó, như chúng tôi đã phân tích trên đây.
Ngoài ra, yếu tố tạo ra sự khác biệt giữa các Thụ tạo có lẽ là có ý thức nhiều hay ít về sự hiện hữu và hiện diện của ơn siêu độ nầy của Thiên Chúa-Ba Ngôi, chứ không phải ở trong hay ở ngoài Thiên Chúa hay Giáo hội, như trường hợp không ai sống được mà không nhờ không khí, nhưng không phải ai cũng ý thức được về sự hiện hữu và hiện diện của không khí! Vì thế, trách nhiệm chính của Giáo hội, theo gương Đức Giêsu, là rao giảng Tin Mừng về Nước Thiên Chúa:
“Vì nếu tôi rao giảng Tin Mừng, thì đó không phải là lý để mà vinh vang, vì đó là sự khẩn thiết giáng xuống trên tôi. Khốn cho tôi, nếu tôi không loan báo Tin Mừng!” (1Cr 9,16).
Và mục đích của việc rao giảng Tin Mừng là để mọi người cùng sống Sự sống tình yêu vĩnh hằng, tức là sống mà biết mình sống cho Ai và vì Ai:
“Thế mà sự sống vĩnh hằng đó là họ nhận biết Cha, duy nhất là Thiên Chúa thật, và Đấng mà Cha đã sai, Đức Giêsu-Kitô.” (Ga 17,3).
Sứ mạng chính của Giáo hội, vì thế, trước tiên, có lẽ là loan báo Tin Mừng, là chứng tá, là công cụ của ơn siêu độ của Thiên Chúa, hơn là người mang lại ơn siêu độ đó (xem Mt 5,43-48). Giáo hội chỉ hoàn thành được sứ mạng của mình trong chừng mực mà Giáo hội “là” Thân Mình của Đức Giêsu-Kitô. Thân phận của Giáo hội trong tương quan với Lương dân có lẽ không khác mấy thân phận của dân Israel vốn được Thiên Chúa lựa chọn trong tương quan với Dân ngoại trước đây!
Thứ đến, cũng như việc dân Israel “được tuyển chọn” giữa muôn dân, không hẳn là một “đặc ân” (privilège) để mà độc quyền hưởng thụ, đòi hỏi, hạch sách và tự hào, cho bằng đó là một điều kiện để yêu và để phục vụ nhiều hơn, cũng vậy, “Giáo hội” nếu có được chọn lựa để làm công cụ, làm chứng tá của Tình yêu nhưng không của Thiên Chúa, thì đó cũng không phải là một “đặc ân” để mà độc quyền hưởng thụ, đòi hỏi, hạch sách và tự hào, mà đúng hơn đó là những điều kiện để có thể yêu thương và phục vụ nhiều hơn…
Về những vấn đề nầy, Thư gửi Tin hữu Roma có những suy tư rất độc đáo, đáng để chúng ta suy gẫm:
“Hỡi anh em, tôi không muốn để anh em không hay biết mầu nhiệm nầy, để anh em đừng tự phụ mình là khôn: Israel đã ra chai đá phần nào, cho đến khi toàn thể dân ngoại đã gia nhập, và như thế tất cả Israel cũng sẽ được cứu, như đã viết:
Từ Sion, vì Cứu tinh sẽ đến,
Người sẽ khử trừ tội ác khỏi Giacóp.
Và này là Giao ước của Ta với chúng:
Ta sẽ tẩy xóa các tội lỗi chúng làm.
Xét theo Tin Mừng, họ là thù nghịch, vì cớ anh em; nhưng theo sự lựa chọn, họ là chí ái, vì cớ cha ông. Vì ơn đã ban, lời đã gọi, Thiên Chúa không hề hối tiếc.
Vì cũng như anh em, xưa kia bất tuân đối với Thiên Chúa, mà nay đã được thương xót, nhân vì họ bất tuân, thì họ cũng thế, nay bất tuân, bởi anh em được thương xót, ngõ hầu rồi đây họ cũng sẽ được thương xót. Vì chưng, Thiên Chúa đã dồn mọi người hết thảy vào đàng bất tuân, ngõ hầu Ngài dũ lòng thương hết mọi người.
Ôi! thẳm sâu thay sự giàu có, khôn ngoan, thượng trí của Thiên Chúa!
Những phán quyết của Ngài vô phương dò thấu, đường lối của Ngài không kế dõi theo!” (Rm 11,25-33)
Nếu, theo như lời của Thánh Phaolô, “chính Thiên Chúa đã dồn mọi người hết thảy vào đàng bất tuân, ngõ hầu Ngài dũ lòng thương hết mọi người”, thì, một đàng, có nghĩa tất cả đều nằm trong kế đồ mầu nhiệm của Thiên Chúa cả; đàng khác, vấn đề trách nhiệm của con người và, vì thế, cả vấn đề phán xét về con người cũng cần phải được xem xét lại…
Thật vậy, trước tiên, liên quan đến vấn đề trách nhiệm, liệu con người có thể có được một tình trạng tự do tuyệt đối hay không, để mà phạm một tội trọng “đáng sa hỏa ngục” theo quan điểm của các nhà thần học luân lý, khi mà con người vốn bị điều kiện hóa bởi cơ man nào là những yếu tố khách quan bên ngoài (hoàn cảnh gia đình, tổ tiên, ông bà cha mẹ, bạn bè, giáo hội, xã hội, v.v…)? Có lẽ chính vì thế mà Đức Giêsu đã tha thứ, và dạy ta phải tha thứ và yêu thương ngay cả những kẻ thù của mình:
“Bấy giờ, Đức Giêsu nói: ‘Lạy Cha, xin tha thứ cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm’.” (Lc 23,34; x. Mt 5,44; Cv 3,17).
Nếu tội “giết Thiên Chúa” là tội nặng nhất trong những tội con người có thể phạm mà còn được chính Thiên Chúa thứ tha một cách nhưng không, liệu còn có tội nào nặng hơn nữa chăng?
Vì thế, chúng tôi nghĩ rằng những khái niệm liên quan đến những “hình phạt” những “khổ đau” trong ngôn ngữ Thánh Kinh, có lẽ không nên hiểu chỉ đến từ Thiên Chúa mà chủ yếu đến từ chính bản thân của mỗi thụ tạo, khi nhận ra được Tình yêu vô điều kiện, vô vị lợi và vô cùng của chính Thiên Chúa đối với mình (xem Mt 20,20,1-16; Lc 12,47-48)…
Trên cơ sở những phân tích trên đây, trước tiên, chúng tôi nghĩ rằng điều mà Đức Giêsu rao giảng và muốn xây dựng chính là NƯỚC THIÊN CHÚA hay NƯỚC TRỜI mà nội hàm của nó bao gồm toàn thể Thụ tạo trong tương quan với Thiên Chúa-Ba Ngôi và với nhau; thứ đến, khái niệm “Giáo hội” mà chúng ta vẫn thường quan niệm như hiện nay, một đàng, không tương ứng được với khái niệm “Nước Thiên Chúa” mà Đức Giêsu-Kitô nhằm muốn ám chỉ và rao giảng, đàng khác, có vẻ như ngày càng có nguy cơ trở thành điều mà Dân “được chọn” Israel đã từng là trong quá khứ (xem Mt 21,33-43; Lc 9,49-50.51-56); sau cùng, Giáo hội chỉ là Thân Mình của Đức Giêsu-Kitô khi Giáo hội là Nước Thiên Chúa, và Giáo hội chỉ là Nước Thiên Chúa khi Giáo hội là Phản ảnh trung thành của Tình yêu Thiên Chúa-Ba Ngôi (xem Lc 6,27-36 ss)…
Vì thế, theo thiển ý, hình ảnh thích hợp hơn cả để diễn tả mối tương quan giữa các Thụ tạo (cá nhân, tập thể, các tôn giáo, các giáo hội) với Thiên Chúa-Ba Ngôi và với nhau đó là “các vòng tròn đồng tâm” mà trong đó trung tâm điểm chính là Thiên Chúa-Ba Ngôi, và khoảng cách giữa các “vòng tròn” với tâm điểm và với nhau phản ảnh cho thấy mối tương quan của chúng với Thiên Chúa-Ba Ngôi và với nhau, qua trung gian Đức Giêsu-Kitô…      
 
 

02. ĐỨC TIN, ÂN HUỆ THIÊN CHÚA BAN CHO CON NGƯỜI CÁCH NHƯNG KHÔNG

Trước tiên, xin phép được lưu ý ngay niềm tin nói ở đây là niềm tin tôn giáo hay còn gọi là Đức tin, vốn liên quan đến những tương quan giữa Thiên Chúa và con người, và ngược lại, giữa con người và Thiên Chúa, bởi vì khi nói đến niềm tin hay đức tin, cũng như trong tình yêu, là nói đến tương quan giữa các đối tác (les partenaires) : tôi tin “có” Thiên Chúa, tôi tin Ai “là” Thiên Chúa, tôi tin Thiên Chúa “là” Ai, tôi tin “vào” Thiên Chúa, và chúng tôi tin nhau…
Thế nhưng, không như tương quan giữa các đối tác bình thường là các thụ tạo hữu hình có thể tiếp cận được cách dễ dàng và cụ thể, đối tác Thiên Chúa hoàn toàn khác biệt (absolument Autre), rất gần gũi nhưng cũng rất xa vời và siêu việt, vì thế, ngay cả khả năng có thể biết “có” Thiên Chúa, biết Ai “là” Thiên Chúa và biết Thiên Chúa “là” Ai, và tin “vào” Ngài cũng là một ân huệ nhưng không của Thiên Chúa ban cho loài người qua và trong Đức Giêsu-Kitô, Con và Ngôi Lời làm người của Ngài. Trong tương quan với vị Thiên Chúa như thế, tất cả những gì con người “có” và “là” đều là hồng ân nhận được từ Thiên Chúa. Thậy vậy, cũng như căn tính hữu thể của Đức Giêsu-Kitô, Con và Ngôi Lời làm người là sự “đón nhận hoàn toàn từ Cha”, trong tâm tình tri ân và cảm tạ, căn tính hữu thể của các thụ tạo nói chung, và đặc biệt con người vốn được tạo dựng “theo hình ảnh Thiên Chúa” (vốn là chính Đức Giêsu-Kitô : xem 1 Cr 11, 7; 2 Cr 4, 4; Cl 1, 15), và “giống như Thiên Chúa” (xem St 1, 26-27), cũng vậy, chỉ được xác lập do tư thế “đón nhận tình yêu” của Thiên Chúa-Ba Ngôi, trong tâm tình tri ân và cảm tạ như vậy.
Vì thế, có hai vấn đề sẽ được đề cập đến trong bài suy tư nầy :
1) Tính nhưng không của ân huệ Đức tin (nhìn từ phía Thiên Chúa);
2) Tri ân và cảm tạ (nhìn từ phía thụ tạo và con người)...

I.       TÍNH NHƯNG KHÔNG CỦA ÂN HUỆ ĐỨC TIN:
“Tình yêu cốt ở điều nầy : không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Ngài đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Ngài đến làm của lễ đền tội cho chúng ta.” (1 Ga 4, 10).
“Tin chỉ có thể là một ân huệ của Thiên Chúa, bởi vì chỉ mình Thiên Chúa mới có thể nói cho chúng ta về Thiên Chúa.”
Khi khẳng định : “Chính Thầy là Con Đường , là Sự Thật và là Sự Sống. Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy.” (Ga 14, 6), hẳn Đức Giêsu muốn nói với chúng ta : a) Ngài là Đường hay là Đạo (Logos) hay là Nguyên Lý của mọi thụ tạo, hay nói cách khác chính “trong” Ngài và “bởi” Ngài mà tất cả mọi thụ tạo, đặc biệt con người mới có thể bắt đầu hiện hữu; b) Ngài, trong tư cách vừa là Thiên Chúa thật vừa là người thật, là hiện thân của Sự Thật về Thiên Chúa và về con người, hay nói cách khác, Ngài chính là mặc khải về Thiên Chúa và về con người; c) Ngài vì vừa là Thiên Chúa vừa là người, nên cũng chính là hiện thân của Tình Yêu, tình yêu đối với Thiên Chúa và tình yêu đối với con người, và sự sống tình yêu đó chính là sự sống vĩnh hằng…
Như vậy, có nghĩa là toàn bộ các Công trình Tạo dựng, Mặc khải và Siêu độ, vì thế, kể cả Đức tin của con người đều được thực hiện duy chỉ bởi, qua và trong Đức Giêsu-Kitô, Con và Ngôi Lời làm người của Thiên Chúa mà thôi…
Nếu như Thiên Chúa tạo thành, Thiên Chúa mặc khải và Thiên Chúa siêu độ  cũng là một, thì không thể có sự đối kháng giữa việc Ngài thông ban sự sống và hữu thể lúc ban đầu và việc được tham dự vào bản tính của Ngài và biết Ngài sẽ được ban cho ‘lúc thời gian viên mãn’.
Tương quan giữa Thiên Chúa và con người và ngược lại, như vậy, vốn nằm ngay trong chính cấu trúc hữu thể của các thụ tạo nói chung, đặc biệt là con người, hay nói cách khác, là đã được ban cho cách nhưng không từ khi con người bắt đầu hiện hữu, điều mà ngôn ngữ Tây phương gọi con người là một hữu thể có tính tôn giáo (être religieux) và ngôn ngữ Đông phương gọi con người là tổng thể “tam tài” (“Thiên-Địa-Nhân hòa”) (xem St 2, 7 : “Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật.”)…
Khi nói tình yêu của Thiên Chúa là một tình yêu nhưng không, điều nầy có nghĩa đây là một tình yêu vô điều kiện, vô vị lợi và vô biên giới… Hay nói cách khác, không phải vì con người thế nầy thế kia mà Thiên Chúa yêu thương nó và tỏ mình ra cho nó, trong tất cả mọi sự, Thiên Chúa bao giờ cũng đi bước trước, tức là tất cả đều do sáng kiến tình yêu tự do của Ngài…Thần học cổ điển ít quan tâm đến khía cạnh nầy. Điển hình của quan niệm cổ điển nầy và ngày nay vẫn còn tổn tại trong một số lý giải thần học và giáo lý, như việc người ta cho rằng nguyên nhân của việc Đức Giêsu-Kitô, Con và Ngôi Lời của Thiên Chúa làm người là vì con người đã phạm tội ! Người ta lý luận như kiểu giả như nếu con người không phạm tội thì Thiên Chúa không mất công gì mà phải xuống thế làm người !

1.      Công trình TẠO DỰNG, ân huệ nhưng không :
a.       Ngôn ngữ Thánh Kinh :
Công trình tạo dựng nói chung, đặc biệt con người, được thực hiện “trong” và “bởi” Đức Giêsu-Kitô, Con và Ngôi Lời làm người của Thiên Chúa :
-        Ga 1, 3 : “Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Ngài, thì chẳng có gì được tạo thành. Điều đã được tạo thành ở nơi Ngài là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại.”
-        Cl 1, 15-16-17.19-20a : “Thánh Tử là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thụ tạo, vì trong Ngài, muôn vật được tạo thành, trên trời cùng dưới đất, hữu hình với vô hình. Dẫu là hàng dũng lực thần thiêng hay là bậc quyền năng thượng giới, tất cả đều do Thiên Chúa tạo dựng nhờ Ngài và cho Ngài. Ngài có trước muôn loài muôn vật, tất cả đều tồn tại trong Ngài…Vì Thiên Chúa đã muốn làm cho tất cả sự viên mãn hiện diện ở nơi Ngài, cũng như muốn nhờ Ngài mà làm cho muôn vật được hòa giải với mình...”
Riêng con người, cách đặc biệt, được tạo dựng “theo hình ảnh Thiên Chúa” :
-        St 1, 26-27 : “Thiên Chúa phán : ‘Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta…Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa’…
Thế mà, Đức Giêsu-Kitô chính là Hình ảnh hữu hình của Thiên Chúa vô hình :
-        Cl 1, 15 : “Đức Giêsu-Kitô là Hình Ảnh của Thiên Chúa vô hình.” (xem thêm 1 Cr 11, 7; 2 Cr 4, 4)…
Như vậy, con người là một tổng thể “thiên-địa-nhân hòa”, điều mà nhà thần học Dòng Tên Raimon Panikkar gọi là “cosmothéandrique”.
-        St 2, 7 : “Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật.”
b.      Ngôn ngữ thần học :
-        “Thiên Chúa chẳng có động cơ nào khác để tạo dựng, ngoài tình yêu của Ngài. Từ không không, thụ tạo đã được gọi đi vào hiện hữu. Không phải bởi vì thụ tạo hiện hữu mới được yêu thương, mà chính bởi vì thụ tạo được yêu thương nên mới hiện hữu. Ipso amore creatur : Mọi sự được tạo thành đều nhờ tình yêu mà Ngài hằng yêu!”
-        “Là nguồn suối vĩnh hằng của thực tại thần linh, Cha đồng thời cũng là nguồn suối phát sinh sự sống thụ tạo. Đó là sự trào vọt của tình yêu của Ngài, là sự cho không tuyệt đối của Ngài, mà vốn hằng khiến Cha là ‘Đấng hằng sinh xuất’ ra Đấng hằng được sinh xuất, Đấng hằng yêu thương Đấng hằng được thương yêu. Nguồn suối đó là sự nhưng không thuần túy mà, trong sự tự do hoàn toàn nhất, khiến cho Cha trao ban hữu thể, sáng tạo ra những đối tượng cho tình yêu của Ngài, đó là  những thụ tạo.”
-        “Sự tương ứng giữa hành động nhiệm xuất bên trong mầu nhiệm thần linh (= sự sinh ra Con) và hành động tạo thành để lộ cho thấy căn tính hữu thể của thụ tạo…Nơi thụ tạo, mọi sự đều được ban cho, bắt đầu từ hữu thể của nó…Tất cả mọi sự - hiện hữu, sự sống, những khả thể vật chất và tinh thần diễn ra trong thời gian và trong không gian – đều là ân huệ…Cấu trúc của thụ tạo là ‘hiện hữu được đón nhận’, là sự đón nhận tình yêu, tình yêu mà khi yêu thụ tạo làm cho thụ tạo hiện hữu. Chính lúc bấy giờ, người ta mới hiểu được làm thế nào mà mọi sự đều đã được tạo thành ‘bởi Đức Kitô và cho Đức Kitô’, Đấng vốn có ‘trước mọi sự’ và nơi Ngài ‘mọi sự được lập hữu’ (x. Cl 1, 16 tt).”
-        “Chính trong Thần Khí mà mọi sự được tạo thành (x. St 1, 2) và chính trong Thần Khí mà mọi sự được duy trì hiện hữu (x. thí dụ Tv 104, 29). Cũng như trong sự sống thần linh, Thần Khí vẫn hằng hiệp nhất Cha với Con, trong tư cách tình yêu tạo ra hiệp nhất giữa Đấng hằng yêu thương và Đấng hằng được thương yêu, cũng vậy, Thần Khí tạo ra sự hiệp nhất giữa thụ tạo  với Đấng tạo thành, bảo đảm sự hiệp nhất nguyên thủy và thuộc cấu trúc hữu thể giữa thụ tạo với Thiên Chúa, và như vậy, bảo đảm tính bản  thiện của mọi cái hiện hữu, tức là hữu thể thụ tạo được cắm rễ sâu và được thiết lập trong nền tảng tình yêu : ‘Và Thiên Chúa thấy rằng điều đó quả là tốt lành’ (St 1, 4.10.12.18.21.25.31).”
Như vậy, chính ở nơi đầu nguồn của Đức tin, tức là chính sự hiện hữu của chủ thể tin đã là một ân huệ nhưng không của Thiên Chúa ban cho ! Và dấu ấn tương quan Tạo Hóa-Thụ tạo, Cha-con giữa Thiên Chúa và con người vốn nằm trong cấu trúc hữu thể của tất cả mọi thụ tạo, đặc biệt, con người…
2.      Công trình MẶC KHẢI, ân huệ nhưng không :
Triết học và Thần học Tây phương, bị ảnh hưởng nặng nề bởi quan điểm “nhị nguyên” Hy lạp, nên thường có khuynh hướng phân biệt rạch ròi giữa cái “tự nhiên” và cái “siêu nhiên”, vì thế, phân biệt nào là “mặc khải tự nhiên” (révélation naturelle) hay “mặc khải vũ trụ” (révélation cosmique) và “mặc khải siêu nhiên” (révélation surnaturelle)…
Triết học Đông phương nói chung ưa thích thể thống nhất và cái tổng thể của thực tại hơn, nên ưa thích triển khai khái niệm “HÒA”, như được phản ảnh trong quan niệm “tam tài” (Thiên-Địa-Nhân hòa), và khái niệm “có nhau” hay “ở trong nhau”, như được phản ảnh trong nguyên lý “ÂM-DƯƠNG” (trong ÂM luôn có DƯƠNG và trong DƯƠNG luôn có ÂM)…
Thật vậy, khi khẳng định “Thầy là Sự Thật”, Đức Giêsu, trong tư cách vừa là Thiên Chúa thật vừa là người thật mặc khải cho chúng ta chính Ngài là hiện thân của Sự Thật của tất cả mọi sự thật, hay nói cách khác, chính Đức Giêsu-Kitô, Con và Ngôi Lời làm người của Thiên Chúa mặc khải cho chúng ta biết Thiên Chúa là Ai, thụ tạo là gì và con người là ai, và tương quan giữa Thiên Chúa và con người và ngược lại, điều mà mầu nhiệm ngôi hiệp sẽ hé lộ cho chúng ta một cách hết sức sâu sắc.
Thật vậy, mầu nhiệm ngôi hiệp nơi Đức Giêsu-Kitô, Con và Ngôi Lời làm người của Thiên Chúa cho chúng ta hiểu được, một đàng, tương quan giữa Thiên Chúa và con người và giữa con người và Thiên Chúa, đàng khác, và đây là điều quan trong, mặc khải cho chúng ta cung cách mà Thiên Chúa mặc khải cho con người và cung cách mà con người có thể nhận ra được Thiên Chúa như thế nào, điều mà chúng ta sẽ đề cập đến trong phần sau… 
“Thiên Chúa nhân lành và khôn ngoan đã muốn mặc khải chính mình và tỏ cho mọi người biết mầu nhiệm thánh ý Ngài (x. Ep 1, 9). Nhờ đó, loài người có thể đến cùng Chúa Cha, nhờ Chúa Kitô, Ngôi Lời nhập thể, trong Thánh Thần, và được thông phần bản tính của Thiên Chúa (x. Ep 2, 18; 2 P 1, 4).” (DV, số 2)...
Công trình Mặc khải, như vậy, cũng là ân huệ nhưng không Thiên Chúa ban cho con người. Đó hoàn toàn là sáng kiến tình yêu của Thiên Chúa.
a.       Ngôn ngữ Thánh Kinh :
-        Ep 1, 9 : “Ngài (Thiên Chúa-Cha) cho ta được biết thiên ý nhiệm mầu : thiên ý nầy là kế hoạch yêu thương Ngài đã định từ trước trong Đức Kitô...”
-        Dt 1, 1 : “Thưở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết nầy, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử của Ngài.”
b.      Ngôn ngữ thần học :
“…Vì thế, chính Ngài (=Đức Giêsu-Kitô), Đấng mà hễ ai thấy được Ngài cũng là thấy được Chúa Cha (x. Ga 14, 9), - qua toàn bộ sự hiện diện và toàn bộ sự bày tỏ mình ra của Ngài, qua những lời và qua những công việc của Ngài, qua những dấu chỉ và qua những phép lạ của Ngài, và nhất là qua sự chết và sự phục sinh vinh hiển của Ngài từ giữa những kẻ chết, và cuối cùng qua việc sai phái Thần Khí sự thật đến, - đã chấm dứt công trình mặc khải khi hoàn tất công trình đó và qua chứng tích thần linh, xác nhận rằng Thiên Chúa vẫn hằng ở với chúng ta để giải thoát chúng ta khỏi bóng tối tội lỗi và sự chết và làm cho chúng ta được phục sinh để sống sự sống vĩnh hằng.”  (DV., số 4).
“Mặc khải bằng sự hiện diện” là một đóng góp mới của thần học hiện đại, dù chưa được đào sâu cách thấu đáo. Ở đây, Công đồng Vatican II có vẻ thích hạn từ “hiện diện” (“présence”)  hơn hạn từ “ngôi vị” (“personne”). Hạn từ “hiện diện” cụ thể hơn và có nền tảng Kinh Thánh hơn, vì yếu tố số một ở đây là hữu thể của Đức Giêsu, tức là “một Ai đó” chứ không phải một giáo lý hay một chương trình. Toàn bộ hiện sinh của Đức Giêsu-Kitô là mặc khải, là chứng tá.
Thế mà, St 1, 26-27 cho thấy con người được tạo dựng nên “theo hình ảnh Thiên Chúa” và “giống như Thiên Chúa”, và hình ảnh của Thiên Chúa lại chính là Đức Giêsu-Kitô, Con và Ngôi Lời làm người của Ngài (1 Cr 11, 7; 2 Cr 4, 4; Cl 1, 15)…
Điều đó có nghĩa ngay trong cấu trúc hữu thể của con người, Đức Giêsu-Kitô hiện diện trong cùng lúc vừa như là nguyên lý, vừa như là trung gian, vừa như là cùng đích của con người…
Như là nguyên lý, bởi vì chính do Ngài mà con người được hiện hữu. Như là trung gian, bởi vì chính qua trung gian của Ngài, hay nói đúng hơn, khi “ở trong” Ngài mà con người được làm con Thiên Chúa. Như là cùng đích, bởi vì Ngài là hình ảnh của Thiên Chúa, mà theo đó con người đã được tạo dựng nên…Đây chính là cơ sở để người ta tin là trong cấu trúc hữu thể của con người ngay từ đầu đã có một tư thế nguyên sơ (disposition originelle) để nhờ đó con người có thể luôn luôn “tiếp cận được” với Thiên Chúa, để “biết được” Thiên Chúa và để “sống với” Thiên Chúa, vốn là Đấng Tạo Hóa và là Cha của tất cả mọi người (l’homme, capable de Dieu), mà ngôn ngữ thần học gọi là “mặc khải tự nguyên sơ” (révélation originelle) hay là mặc khải “do tự bản tình tự nhiên” (révélation naturelle). Mặc khải tự nguyên sơ hay do tự bản tính tự nhiên nầy là một mặc khải thường hằng và là cơ sở của mặc khải mà ngôn ngữ thần học cổ điển thường gọi là “mặc khải do tự siêu nhiên” (révélation surnaturelle).
“Nhưng, Thiên Chúa không dừng lại ở đó. Ngày từ buổi ban sơ của lịch sử nhân loại, Thiên Chúa đã tự tỏ bày mình ra như một ngôi vị-đối tác ngay trong cung lòng lương tâm của con người để mở ra cho con người con đường siêu độ. Hình thức mặc khải nầy đã được gọi là “do tự siêu nhiên”, bởi vì mặc khải siêu nhiên đó vốn là biểu trưng của sự Thiên Chúa muốn tự thông ban chính mình Ngài cho nhân looại. Từ đầu cho đến cuối lịch sử, Thiên Chúa không chỉ ghi trong trái tim con người dấu ấn một ơn gọi, mà Ngài còn muốn ban cho con người những ân huệ cần thiết để con người có thể hoàn tất ơn gọi đó.”
Ngoài ra, cần lưu ý khi nói Đức tin là ân huệ nhưng không (don gratuit), điều đó không có nghĩa Đức tin là một đặc ân (privilège) chỉ được ban cho một thiểu số nào đó thôi, mà là ân huệ được ban cho tất cả mọi người, không phân biệt.
Ngôn ngữ triết học gọi con người là một hữu thể tôn giáo là vì thế. Vì nằm trong cấu trúc hữu thể của con người, nên cảm thức tôn giáo là một cảm thức đức tin nguyên thủy và có tính phổ quát. Khi nói cảm thức tôn giáo là một cảm thức nguyên thủy và có tính phổ quát là muốn nói rằng, tự trong cấu trúc hữu thể, con người đã “ở trong” tương quan với Thiên Chúa và với các thụ tạo khác. Ở đây, cái nhìn “tam tài” (Thiên-Địa-Nhân hòa) của Đông phương và cái nhìn của Kinh Thánh do thái-kitô rất gần gũi với nhau.
“Vì tự cấu trúc hữu thể vốn có tương quan với Mầu nhiệm Thánh Thiên Chúa-Ba Ngôi, con người là hình ảnh của Thiên Chúa Cha, qua Con, trong Thần Khí. Nơi con người, phản ảnh Tình Yêu hằng yêu thương, trên cơ sở từ nguyên thủy con người vốn được yêu thương trong tình yêu hiệp nhất và tự do. Thiên Chúa Tam Vị, khi thông ban hữu thể cho thụ tạo, cũng ghi khắc nơi nó một sự gì đó thuộc vận động sự sống vĩnh hằng của Ngài, và như vậy khiến nó trở thành hình ảnh của lịch sử tình yêu vĩnh hằng.”
3.      Công trình SIÊU ĐỘ, ân huệ nhưng không :
Nếu “được siêu độ”, cách tích cực, đồng nghĩa với việc “được trở thành con Thiên Chúa”, “được sống sự sống vĩnh hằng” , “được tham dự bản tính thần linh”, và cách tiêu cực, với “được tha thứ mọi tội lỗi”, thì việc con người được siêu độ cũng là một ân huệ nhưng không của Thiên Chúa ban cho loài người, bởi vì những điều đó chúng ta chỉ “có” được khi chúng ta được “ở trong” Đức Giêsu-Kitô”, Con và Ngôi Lời làm người của Thiên Chúa mà thôi.
a.       Ngôn ngữ Thánh Kinh :
-        Ep 1, 3-6 : “Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giêsu-Kitô, Chúa chúng ta, từ cõi trời, Ngài đã thi ân giáng phúc cho ta hưởng muôn vàn ơn phúc của Thánh Thần. Trong Đức Kitô, Ngài đã chọn ta, trước cả khi tạo thành vũ trụ, để trước thánh nhan Ngài, ta trở nên tinh tuyền thánh thiện, nhờ tình thương của Ngài. Theo ý muốn, và lòng nhân ái của Ngài, Ngài đã tiền định cho ta làm nghĩa tử nhờ Đức Giêsu-Kitô, để ta hằng ngợi khen ân sủng rạng ngời, ân sủng Ngài ban tặng cho ta trong Thánh Tử yêu dấu…”
-        Ga 1, 3 : “Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Ngài, thì chẳng có  gì được tạo thành. Điều đã được tạo thành ở nơi Ngài là sự sống, và sự sống là ánh sáng ch nhân loại.”
-        Ga 17, 3 : “Thế mà sự sống vĩnh hằng đó là họ nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Đấng Cha đã sai đến là Giêsu-Kitô”.
b.      Ngôn ngữ thần học :
Có một điều cần lưu ý ngay đó là việc Đức Giêsu-Kitô là Đấng Trung Gian duy nhất và phổ quát trong Mặc Khải và trong Siêu Độ hoàn toàn không đồng nghĩa với việc Thiên Chúa chỉ có một cách mặc khải và siêu độ duy nhất nào đó trong lịch sử mà thôi. Chính lầm lẫn chết người nầy đã khiến một số nhà thần học về các tôn giáo trong gần nữa thế kỷ qua cách độc đoán chỉ biết đặt câu hỏi là liệu có ơn siêu độ nơi những tôn giáo “ngoài kitô” (!?) hay không, thay vì đặt vấn đề Thiên Chúa siêu độ anh chị em “lương dân” như thế nào…
Thần học kinh viện mà não trạng vốn nặng tính cơ cấu, duy luật, dựa trên “công trạng”, hẳn là ít quan tâm đến đặc tính nhưng không (vô điều kiện, vô vị lợi và vô biên giới) của tình yêu của Thiên Chúa, vốn là một yếu tố nền tảng và hết sức quan trọng trong nỗ lực suy tư thần học…
Thật vậy, nếu tình yêu của Thiên Chúa là nhưng không, vô điều kiện, vô vị lợi và vô biên, thì ơn siêu độ của Ngài cũng vậy. Sự khác biệt giữa “kẻ tin” và “người không tin” cũng gần giống như sự khác biệt giữa những kẻ biết cha mẹ mình là ai và những kẻ biết chắc rằng mình vẫn có cha có mẹ như ai, nhưng không biết đó là những ai. Một thí dụ khác : không ai sống được mà không nhờ sự hiện hữu và hiện diện của không khí, giáo cũng như lương, nhưng sự khác biệt nằm ở chỗ người nầy biết có sự hiện hữu của không khí và mình sống được là nhờ đó, còn một số người khác vẫn sống nhờ không khí, nhưng lại không biết và không ý thức được những điều nầy !
Sứ mạng loan báo Tin Mừng của những người kitô-hữu, mọi nơi và mọi thời, vì thế, có thể nói cũng giống như sứ mạng của Phaolô ở Athêna :
“Kính thưa quí vị người Athêna,, xét về mọi mặt, tôi nhận thấy các ngài rất mực sùng tín. Vì ngang qua, tôi ngước mắt nhìn các đồ thờ của các ngài, tôi đã gặp cả một tế đàn trên có khắc : KÍNH THẦN VÔ DANH. Vậy, Đấng các ngài không biết nhưng có thờ kính, thì này tôi xin loan báo về Ngài cho các ngài :…” (Cv 17, 22-23).

II.      TÂM TÌNH TRI ÂN VÀ CẢM TẠ :
Đức Tin, nếu nhìn từ phía Thiên Chúa-Ba Ngôi, là ân huệ nhưng không, còn khi nhìn từ phía đối tác là con người thì đó là những tâm tình tri ân và cảm tạ, vốn là hai tâm tình luôn đi đôi với nhau. Thế nhưng, tâm tình tri ân và cảm tạ chỉ có thể có thực khi người ta biết rõ mình phải tri ân và cảm tạ ai và về cái gì.
1.      Tri ân và cảm tạ “Ai ?” :
Từ tận đáy lòng, vì là hữu thể tôn giáo, từ thưở xa xưa, con người, dù mông muội, cách khá phổ biến, cũng đã có những hình thái tri ân và cảm tạ trời, giàng, thần đất, thần sông, thần núi, v.v…
Có lẽ, không như một số triết gia vô thần, cách đơn giản, cho rằng nguồn gốc của những hiện tượng tôn giáo (niềm tin, tín ngưỡng dân gian, v.v…) là do sự ngu dốt của con người khi chưa có những kiến thức khoa học, mà trái lại, đúng hơn, chính những cảm thức tôn giáo vốn nằm trong cấu trúc hữu thể của con người mới là nguồn gốc của những hiện tượng tôn giáo. Một cách nào đó, con người trực giác được mình không phải là nguồn gốc cho mình và là nguyên lý của mình. Nguồn gốc đó, nguyên lý đó, là một “Ai đó” : đó có thể là đấng hóa công, là ông trời, là giàng, là cái trứng nguyên thủy, v.v… Thật vậy, khi nghiên cứu các câu truyện cổ tích, thần thoại của các dân tộc trên thế giới, kể cả những dân tộc man di, người ta có thể khám phá ra điều đó, đặc biệt, nơi Kinh Thánh của người Do Thái, các Kinh Rig-Veda, Upanisah của người Ấn Độ…
Những tâm tình tri ân và cảm tạ đó của con người, ngay từ thưở sơ khai, được diễn đạt qua những cử chỉ thô thiển, bên ngoài có vẻ như mê tín dị đoan, nhưng thực chất nói lên “niềm tin” của con người vào một Đấng nào đó, vốn là nguồn gốc của nó, có khả năng che chở, phù trì hay trừng phạt nó, nguồn gốc của mọi ơn lành cũng như sự dữ, và là những hiện tượng có thể nói là phổ biến…
Người ta có thể trách cứ và phê bình sự “mê tín” (tin sai, tin đấng không đáng tin, v.v…) của anh chi em lương dân, nhưng liệu chính chúng ta, những kitô-hữu, chúng ta có dám cho mình là tin chắc và tin đúng vị Thiên Chúa của Đức Kitô hay không, hay lại như nhận xét của Bruno Forte :
“Thiên Chúa của những người kitô-hữu liệu có phải là vị Thiên Chúa của Đức Kitô không ?
Vấn nạn nầy, thoạt tiên, có vẻ nghịch lý, nhưng nảy sinh cách tự nhiên, nếu như người ta xem xét cách thức mà nhiều kitô-hữu tự trình bày cho mình vị Thiên Chúa của họ. Trong diễn từ diễn tả, họ nói về Ngài như về một “ngôi vị” thần linh nào đó mơ hồ, nhiều hay ít đồng hóa với Đức Giêsu của các sách Tin Mừng, hay như một hữu thể cao vời nào đó, cũng không chính xác gì hơn. Trong kinh nguyện, họ nói với vị Thiên Chúa bất định nầy, trong khi công thức mà phụng vụ  dùng để nói với Cha qua Đức Kitô trong Thần Khí thì lại bị họ coi như là kỳ quặc, nếu không muốn nói là tối tăm khó hiểu : người ta cầu nguyện Thiên Chúa, nhưng không biết cầu nguyện trong Thiên Chúa ! Có một tình trạng không thể chối cãi là nhiều kitô-hữu, “mặc dù trong những tuyên xưng đức tin về Thiên Chúa-Ba Ngôi hoàn toàn là chính thống, nhưng trong cụ thể đời sống tôn giáo thì lại hầu như theo khuynh hướng “độc vị” (“monothéistes”).
Có thể nói rằng một trong những nét chủ yếu làm nên căn tính của con người và làm cho con người khác với con vật, đó là tâm tình tri ân và cảm tạ kẻ hay đấng đã làm ơn cho mình. Sở dĩ thế, bởi vì qua kinh nghiệm tích lũy từ hàng ngàn đời, con người lần hồi khám phá ra nguyên lý nhân-quả, vốn chi phối các mối tương quan giữa các thụ tạo với nhau và với một “Ai đó” : đó có thể là Trời, là Giàng, là Thượng Đế, là Ngọc Hoàng, là Thần, là Đức Chúa, là Thiên Chúa, v.v…
Từ khi con người bắt đầu biết suy tư, khởi điểm của mọi thứ triết học, có ba vấn nạn lớn vẫn là những nỗi ám ảnh khôn nguôi của con người : 1. “Nhân sinh hà tại ?” (Hiện sinh nầy của con người bởi đâu mà có ?); 2. “Tại thế hà như ?”  (Ý nghĩa của hiện sinh trần thế nầy là gì ?); 3. “Hậu thế như hà ?” (Sau hiện sinh trần thế nầy sẽ là gì ?).
Đây là ba vấn nạn mà Hubert Reeves, nhà vật lý thiên thể gốc Canada đã gọi là : “Les questions sont universelles, les réponses sont culturelles” (Các vấn nạn mang tính phổ quát, các đáp án phản ảnh cho thấy các nền văn hóa) . Thật vậy, ba vấn nạn đó là những vấn nạn muôn thưở của loài người, và các nền văn hóa, tín ngưỡng của tất cả các dân tộc, các vùng, miền, nói cho cùng, đều chỉ là phản ảnh những câu giải đáp mà con người nghĩ tưởng là có thể trả lời được cho những vấn nạn nầy.
Và, nếu, “Mọi sự đều đã được Cha Ta trao phó cho Ta, và không ai biết được Con trừ phi có Cha; và cũng không ai biết được Cha trừ phi có Con và kẻ được Con khấng mặc khải ra cho.” (Mt 11, 27), thì ngay cả những tâm tình tri ân và cảm tạ của con người đối với Thiên Chúa cũng lại là những hồng ân nhưng không của Thiên Chúa ban cho con người :
“Lạy Chúa là Cha chí thánh, là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con tạ ơn Chúa mọi nơi mọi lúc, thật là chính đáng, phải đạo và đem lại ơn cứu độ cho chúng con.
Tuy Chúa không cần chúng con ca tụng, nhưng việc chúng con cảm tạ Chúa lại là  một hồng ân Chúa ban, vì những lời chúng con ca tụng chẳng thêm gì cho Chúa, nhưng đem lại cho chúng con ơn cứu độ, nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con…” (Kinh Tiền Tụng chung IV).
Vì thế, Đức Giêsu đã tuyên bố :
“Mà sự sống vĩnh hằng đó là họ nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Đấng Cha đã sai đến, là Giêsu Kitô.” (Ga 17, 3).
Có thể nói rằng nét độc đáo làm nên căn tính của mặc khải kitô đó là mặc khải Thiên Chúa như là Cha của Con là Đức Giêsu-Kitô, Đấng được Cha sai đến trần gian, và là Cha của tất cả mọi người vốn đã được tạo dựng nên trong Con, bởi Con và giống như Con.
Như vậy, Đấng mà tất cả mọi người phải tri ân và cảm tạ đó Vị Thiên Chúa của Đức Kitô, vốn vừa là Đấng tạo dựng nên tất cả mọi thụ tạo, và là Cha của tất cả mọi người, không phân biệt giáo hay lương.

2.      Tri ân và cảm tạ “về điều gì ?” :
Trong cái nhìn kitô, nói chung, tất cả những gì con người “là” và “có” đều là hồng ân của Thiên Chúa ban cho cách nhưng không. Vì thế, hiện sinh của con người là hiện sinh luôn trong tư thế và tâm tình tri ân và cảm tạ Thiên Chúa chí ái, toàn tri và toàn năng.
Có thể nói rằng tuy dưới những hình thái khác nhau, đối với những đối tượng khác nhau, về những nhu cầu tinh thần, vật chất khác nhau, đôi khi bề ngoài có vẻ như “mê tín”, con người từ thưở hồng hoang vẫn đã có những tâm tình tri ân và cảm tạ về những gì họ đã nhận được từ các thần thánh hay từ thiên nhiên, thí dụ như nghi lễ cúng “Giàng” lúa mới nơi các anh chị em dân tộc thiểu số…
Tạm kết:
Đức tin tôn giáo, như vậy, từ đầu chí cuối, vẫn là ân huệ nhưng không Thiên Chúa ban cho con người. Và bởi vì là ân huệ nhưng không, nên không phải phát xuất từ phía con người, mà là do Thiên Chúa ban cho. Thế mà, tình yêu của Thiên Chúa là một tình yêu vô bờ vô bến, và toàn thể thụ tạo đều là đối tượng của tình yêu nầy của Thiên Chúa-Ba Ngôi. Một trong những sứ mạng quan trọng và cao cả của người kitô-hữu, vì thế, chính là chia sẻ và loan báo Tin Mừng đó cho tất cả mọi người…
 
 

03. SỨ MẠNG LOAN BÁO TIN MỪNG KITÔ

Dẫn nhập
 Giữa những lối gọi khác nhau nhằm diễn tả cùng một nội dung (truyền giáo, truyền đạo, rao giảng tin mừng, phúc âm hóa, v.v…), chúng tôi chủ ý chọn lối gọi “loan báo Tin Mừng Kitô”, vì những lý do sau đây :
1) Đây là một nỗ lực chia sẽ kinh nghiệm tương quan của mỗi người với một “ngôi vị” (personne) là chính Đức Giêsu-Kitô cho người khác, chứ không phải chỉ là thông truyền hay chia sẻ một số kiến thức giáo lý về Ngài…
2) Vì thế, hiện sinh chứng tá cá nhân và tập thể đóng vai trò hết sức quan trọng, đôi khi còn hơn cả những kiến thức lý thuyết…
3) Tiêu chí để đánh giá các vấn đề, các biến cố ở đây là tương quan “với” hơn là những hiểu biết “về” Đức Giêsu-Kitô…

I.       ĐỨC GIÊSU-KITÔ VÀ VIỆC LOAN BÁO TIN MỪNG :
Bởi vì Ba Ngôi Thiên Chúa hiệp nhất với nhau như một, vì thế, khi loan báo tin mừng về Cha, về Chúa Thánh Thần cũng có nghĩa Ngài đang loan báo về chính Mình  và đang tự làm chứng cho chính Mình…

1.      “Thiên Chúa-làm người” tự làm chứng về Mình
Tất cả 4 sách Tin Mừng đều cho thấy Đức Giêsu-Kitô, bằng lời nói và bằng hành động, bằng sự sống và cả cái chết, đã loan báo Tin Mừng về Nước Thiên Chúa hay, nói đúng hơn, về chính Mình, bởi vì Ngài, trong cùng lúc vừa là Tin Mừng đó vừa chính là Nước Thiên Chúa. Tin Mừng mà Đức Giêsu-Kitô loan báo cho chúng ta đó là Tin mừng vừa về tương quan giữa Ngài với Thiên Chúa (Chúa Cha và Chúa Thánh Thần) vừa về tương quan giữa Thiên Chúa và các thụ tạo của Ngài : trong Đức Giêsu-Kitô, Con và Ngôi Lời của Thiên Chúa, tất cả chúng ta đều là thụ tạo và là con của Thiên Chúa, và vì thế giữa chúng ta với nhau và với Đức Giêsu-Kitô là anh chị em với nhau. Và trên cơ sở Đức Giêsu-Kitô chính là hiện thân toàn vẹn của những mối tương quan đó, vì thế, Ngài cũng chính là hiện thân của Nước Thiên Chúa, tức là nơi Ngài Thiên Chúa là tất cả, kể cả những ai và những gì mà Thiên Chúa yêu thương (xem ĐGH. Bênêđictô XVI, DEUS CARITAS EST)…

2.      …bằng lời nói
Suốt những ngày tháng cuộc đời “công khai”, Đức Giêsu không bao giờ ngơi nghỉ công việc rao giảng về Thiên Chúa và về tình yêu của Thiên Chúa qua Ngài. Ngài sử dụng tất cả mọi cơ hội, mọi tiếp xúc với tha nhân để làm chứng về Thiên Chúa, về Nước Thiên Chúa, về tình yêu của Thiên Chúa và về chính Ngài, thí dụ : những cuộc tiếp xúc với người phụ nữ Samaritanô, với Nicôđêmô, với Giakêu, và, đặc biệt khả năng “nâng tầm” của Ngài ngay dù khởi đi từ nhữg thực tại rất đỗi bình thường và tầm thường, v.v…Thật vậy, với tài năng kể chuyện tuyệt vời (thí dụ, các dụ ngôn về Nước Thiên Chúa), với tài qua những cái bình thường, thậm chí tầm thường của cuộc sống, nhìn thấy cái phi thường và giúp con người nâng cao lên tới những chiều kích cao siêu (thí dụ, từ nước uống bình thường, lương thực bình thường, giúp con người nâng lên chiều kích nước và bánh hằng sống)…

3.      …bằng hành động
Tất cả các tiếp xúc, các phép lạ của Đức Giêsu-Kitô đều không ngoài mục đích làm chứng cho tình yêu nhưng không của Thiên Chúa, qua Ngài… Toàn bộ cuộc sống và kể cả cái chết của Ngài cũng đều là những chứng tá cụ thể về tình yêu …
Trên đây là ba yếu tố chủ yếu không thể thiếu trong bất cứ nỗ lực loan báo Tin mừng nào : bằng lời nói và hành động, mỗi người phải trở thành chứng tá về tình yêu của Thiên Chúa và sự hiện diện cụ thể của Ngài trong hiện sinh cuộc sống thường ngày…

II.      GIÁO HỘI KITÔ VÀ VIỆC LOAN BÁO TIN MỪNG :

A.      MỘT THOÁNG LỊCH SỬ :
1.      Nỗ lực loan báo Tin mừng kitô 3 thế kỷ đầu công nguyên :
a.       Phạm vi : trong ranh giới của Đế quốc Roma : Tây phương (chủ yếu là Thủ đô Roma và một số vùng phụ cận) và Đông phương (chủ yếu là vùng Tiều Á)…
b.      Nhân sự : ban đầu chủ yếu là nỗ lực của các cá nhân (đặc biệt các ngôn sứ, hay tiên tri), sau đó được điều phối bởi các cộng đoàn (đặc biệt, các giám mục)…
c.       Hoàn cảnh khách quan vô cùng khó khăn (sự chống đối của những người Do Thái, nền văn minh đỉnh cao của Hy lạp, các hoàng đế Roma, v.v…)…
d.      Kết quả : thành công hết sức ngoạn mục : vào cuối thế kỷ III, niềm tin kitô trên thực tế đã xâm nhập được vào trong tất cả các giai tầng xã hội, bình dân và thượng lưu của Đế quốc Roma…
e.       Nguyên nhân : “Ngay bây giờ, tôi muốn chứng tỏ cho thấy hạn chế của lối tiếp cận dựa trên lịch sử như vậy… Giới hạn nầy, vốn nằm nơi chính phương pháp lịch sử, đó là do người ta quá chú trọng đến chủ thể hơn là đối tượng của nỗ lực truyền giáo, đến những người loan báo tin mừng và những điều kiện trong đó nỗ lực truyền giáo diễn ra hơn là đến chính nội dung của nỗ lực nầy.” (xem  Raniero Cantalamessa, ofmcap., Bài Giảng số 1 cho Giáo triều Mùa Vọng 2011)… Xem dụ ngôn hạt giống được gieo trong Mc 4, 26-29.

2.      Nỗ lực loan báo Tin mừng kitô từ thế kỷ VI đến thế kỷ IX :
a.       Phạm vi : sau khi đế quốc Roma sụp đổ (khoảng năm 476), xuất hiện ở châu Âu cơ man nào là những vương quốc “man di”, và đây chính là phạm vi địa bàn loan báo tin mừng mới của Giáo hội kitô (các sắc dân “man di” ở châu Âu)…
b.      Nhân sự : tất cả mọi thành viên trong Giáo hội (đặc biệt, các hoàng hậu, phi tần trong các cung vua, phủ chúa…), nhung chủ yếu là các đan sĩ (moines) dưới sự điều động của các giáo hoàng; thí dụ : thánh Boniface với nước Đức, hai thánh anh em Cyrille và Méthode với các sắc dân Slaves…
c.       Hoàn cảnh : những khó khăn mới, thí dụ tình trạng thiếu văn hóa và văn minh nơi các sắc dân man di, vì thế, ngoài nỗ lực loan báo tin mừng còn phải có nỗ lực nâng cao trinh độ văn hóa và văn minh nữa…
d.      Kết quả : i) hầu như toàn bộ châu Âu đã được kitô-giáo hóa (nguồn gốc kitô của châu Âu); ii) cả một chuỗi những đan viện được xây dựng trên toàn châu Âu và sẽ trở thành cơ sở cốt lõi của sự phát triển châu Âu về mặt tôn giáo, văn hóa, chính trị và kinh tế; iii) sự hình thành các giáo phận và các nghị hội. Thống kê 2009 : 283.433.000 người Công Giáo trên tổng dân số 709.109.000, tỷ lệ 39, 97 %...
e.       Nguyên nhân : dù phải đối diện với những hoàn cảnh mới (đế quốc Roma sụp đổ, sự xâm nhập ồ ạt và đôi khi man rợ của các sắc dân “man di” kém trình độ học thức, văn hóa, văn minh…), nhưng Giáo hội kitô đã sớm biết thích nghi với hoàn cảnh,  và biết đổi mới chính bản thân mình, không để cho những hệ thống và quan điểm chính trị chóng qua khống chế và cản bước chân của mình trong nỗ lực làm chứng tá và rao giảng tin mừng… 

3.      Nỗ lực loan báo Tin mừng kitô cho lục địa mới châu Mỹ :
a.       Phạm vi : a) Bắc Mỹ : vấn đề truyền giáo không được đặt ra cách đúng nghĩa ở đây, bởi vì dân Bắc Mỹ phần lớn gốc kitô-hữu châu Âu vốn chia rẽ thành hai khối (Bắc Âu phần lớn là Tin lành; Nam Âu phần lớn là Công giáo), vì thế,   khi di dân qua Bắc Mỹ cũng tiếp tục tồn tại hai khối đó, tức là Tin lành và Công giáo; b) Nam Mỹ  :  địa bàn truyền giáo, với nhiều tai tiếng vì bị lẫn lộn với hành vi thực dân Tây ban nha…
b.      Nhân sự : các tu sĩ là những diễn viên chính (dòng thánh Phanxicô-Assisi, dòng thánh Đaminh, dòng thánh Augustinô, dòng Tên)…
c.       Hoàn cảnh : a) khó khăn gây ra từ phía các quan chức và binh lính Tây Ban Nha thực dân thời đó : lẫn lộn giữa việc chiếm thuộc địa và thực dân về cho nước Tây Ban Nha với việc đưa các anh em lương dân về cho Thiên Chúa và cho Giáo hội; b) khó khăn từ phía các Tu sĩ loan báo Tin mừng : do cách hiểu một chiều và cứng ngắc châm ngôn “Extra Ecclesiam, nulla salus” (“Ngoài Giáo Hội, không có ơn cứu độ”), vì thế, vì tình yêu (!), bằng bất cứ giá nào, tìm cách rửa tội cho càng nhiều người càng tốt, kể cả cưỡng ép…
d.      Kết quả : hầu như toàn bộ Nam Mỹ đều được kitô-giáo hóa. Thống kê 2009 : 576.149.000 người Công Giáo trên tổng dân số 913.080.000, tỷ lệ 63, 10 %...
e.       Nguyên nhân : nhiệt tình mang chiều kích quốc gia và Giáo hội của những người Tây Ban Nha thời đó…

4.      Nỗ lực loan báo Tin Mừng ở Vùng Đông Á  hay Viễn Đông : (Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam) :
Cho đến bây giờ, chưa có một đúc kết hay tổng kết nào chính thức cả. Sau đây, chỉ là một vài chia sẻ rời rạc mang tính gợi ý chủ quan của người viết mà thôi, với hy vọng nó có thể trở thành như đề tài thảo luận trong dịp nầy mà thôi…
a.       Phạm vi : vì khả năng han chế (chủ quan và khách quan) của mình, nên ở đây chỉ đề cập đến việc loan báo Tin Mừng ở ba quốc gia : Trung Hoa, Nhật Bản và Việt Nam mà thôi…
b.      Nhân sự : cũng là các tu sĩ thuộc các dòng thánh Phanxicô Assisi, thánh Đaminh, thánh Augustinô, dòng Tên, M.E.P…
c.       Hoàn cảnh : Tin mừng kitô đối diện với một vùng đất có một nền văn hóa đỉnh cao lâu đời, cùng với những mặc cảm tự tôn và tự ti lẫn lộn., vì thế rất dễ xẫy ra những đụng chạm giữa hai nền văn hóa đỉnh cao nầy (và trên thực tế, cách đáng tiếc, đã xẫy ra một cuộc đụng độ mang tính lịch sử liên quan đến việc sùng kính tổ tiên của người Đông Á)…
d.      Kết quả : i) Thống kê 2011 ở Trung Quốc : khoảng 12 triệu người Công Giáo trên tổng dân số gần 1, 34 tỷ, tỷ lệ 0, 9 %; ii) Thống kê 2010 ở Nhật Bản : khoảng 450.000 người Công Giáo trên tổng dân số khoảng 127 triệu, tỷ lệ 0, 35 %; iii) Thống kê 2009 ở Việt Nam : khoảng 6.281.151 người Công Giáo trên tổng dân số khoảng 92. 156.249, tỷ lệ 6, 8 %. [Thống kê 2009 toàn châu Á : khoảng 124.046.000 người Công Giáo trên tổng dân số 4.067.884.000, tỷ lệ 3,05 %].
e.       Nguyên nhân : có nhiều nguyên nhân phức tạp (địa lý, chính trị, tôn giáo, đặc biệt văn hóa [thí dụ, vụ tranh cãi liên quan đến tập tục thờ kính tổ tiên của người Đông Á])...

B.      NGƯỜI TA CÓ THỂ RÚT RA ĐƯỢC GÌ TỪ QUÁ KHỨ ?
Linh mục Ranierô Cantalamessa, ofmcap., đã có một nhận định hết sức tổng quát và sâu sắc về những lối nhìn phiến diện, đầy tinh thần thế tục trong cung cách phân tích đánh giá nỗ lực tin mừng hóa của Giáo Hội kitô trong suốt 20 thế kỷ qua :
“Ngay bây giờ, tôi muốn chứng tỏ cho thấy hạn chế của lối tiếp cận dựa trên lịch sử như vậy… Giới hạn nầy, vốn nằm nơi chính phương pháp lịch sử, đó là do người ta quá chú trọng đến chủ thể hơn là đối tượng của nỗ lực truyền giáo, đến những người loan báo tin mừng và những điều kiện trong đó nỗ lực truyền giáo diễn ra hơn là đến chính nội dung của nỗ lực nầy.” (xem  Raniero Cantalamessa, ofmcap., Bài Giảng số 1 cho Giáo triều Mùa Vọng 2011)...

1.      Đây là Công trình của Thiên Chúa, chứ không phải là của loài người :
Là công trình của Thiên Chúa, vì thế, Đức Giêsu-Kitô không chỉ là đối tượng được loan báo, mà còn chính là Đấng đang loan báo Tin mừng đó : điều nầy chỉ có thể có được khi Đức Giêsu-Kitô vẫn luôn là Đấng hằng sống hay luôn là Đấng “đương thời với loài người chúng ta”, hay nói cách chính xác hơn, Đức Kitô, Con và Ngôi Lời của Thiên Chúa chính là Đấng mà trong Ngài, nhờ Ngài và bởi Ngài mà tất cả mọi thụ tạo (không phân biệt lương hay giáo) hiện hữu, tồn tại và sống...
Tương quan hiện hữu, tồn tại và sống “trong Đức Kitô” nầy là cơ sở hết sức quan trọng, vốn là điều quả thật hết sức đáng tiếc đã bị thần học, đặc biệt, bộ môn cứu độ học và truyền giáo học gần 20 thế kỷ qua lơ là không coi trọng :  trước tiên, như được phản ảnh nơi câu nói để diễn tả một tình trạng đặc thù của một giáo hội nào đó “Extra Ecclesiam, nulla salus” của thánh Cyprianô, đã khiến cho các nhà thần học suốt gần 17 thế kỷ qua, vì coi đó như là chân lý tuyệt đối, bí lối, lúng ta lúng túng, xoay xở không ra; thứ đến, thái độ lúng ta lúng túng của các Nghị phụ Công đồng Vatican II đối với việc anh em lương dân, không được rửa tội, có được cứu độ hay không !
Để phần nào hiểu được điều nầy, chúng ta cần nhìn vào cấu trúc hữu thể học và những tương quan giữa các thụ tạo và Thiên Chúa-Đấng Sáng Tạo.
Trong ngôn ngữ Đông Phương, con người là tổng thể “tam tài” (“thiên-địa-nhân hòa” = cosmothéandrique). Nói cách tiêu cực, dù con người có tìm đủ cách để phủ nhận, khước từ hay đơn giản có vẻ như không biết gì về Thiên Chúa, nhưng trong thực tế, con người không thể nào hiện hữu, tồn tại, dù chỉ một giây, nếu không có hay “ở trong” Thiên Chúa, như trường hợp, con người, trong những điều kiện hiện tại, dù có biết hay không biết về sự hiện hữu, tồn tại của không khí, nhưng không thể nào sống và hiện hữu mà không nhờ đến không khí ! Ơn cứu độ của Đức Giêsu-Kitô, cũng vậy, vì vừa là phổ quát vừa là duy nhất, nên không ai có thể được cứu độ mà không nhờ đến Đức Giêsu-Kitô. Tương quan nầy nằm trong chính cấu trúc hữu thể học của con người, vì thế, đây là mối tương quan riêng rẽ, cá nhân, đặc thù giữa mỗi cá thể người và Thiên Chúa qua Đức Giêsu-Kitô, không thể chia sẻ được với ai và cũng không thể nào chia sẻ được. Thiên Chúa là Đấng chí ái, toàn tri và toàn năng, Ngài có vô vàn vô số cung cách và phương thức tiếp cận, gặp gỡ con người, và cứu độ con người...
Chính điều nầy cho chúng ta thấy hạn chế của những cung cách đánh giá công cuộc loan báo tin mừng kitô và việc xây dựng Nước Thiên Chúa chỉ dựa trên những lối tiếp cận lịch sử và những con số thống kê…

2.      Công việc của con người là gieo giống, gieo xong, hãy cứ đi ngủ thoải mái, những gì còn lại chủ yếu là việc của Thiên Chúa :
Điều, trước tiên, cần lưu ý ở đây đó là hạt giống mà người ta gieo. Người ta không thể là người gieo giống thực sự, khi người ta không có hạt giống để gieo, hay khi người ta chỉ là người “nói về” một ai đó hay một điều gì đó, ở ngoài mình, mà thôi. Người gieo giống thực sự đó là người “ở trong” Đức Giêsu-Kitô và có Đức Giêsu-Kitô “ở trong”, cùng “đồng hành”, “đương thời”. Chỉ hạt giống đó  mới có thể thay đổi, hoán cải được lòng người mà thôi, bởi vì đó là hạt giống tác động từ bên trong...
Thật vậy, như người ta thường nói “Giang sơn dễ đổi, bản tính khó chừa”. Như một cây cổ thụ bám rễ sâu trong một vùng đất nào đó lâu dài, một con người sinh ra và lớn lên trong một môi trường văn hóa, lịch sử lâu đời, sẽ rất khó khăn để bị bứng ra khỏi những truyền thống niềm tin, tín ngưỡng lâu đời, thâm căn cố đế của họ để có thể đón nhận một truyền thông niềm tin mới và khác (việc đón nhận khá dễ dàng và nhanh chóng của các sắc dân “man di” xâm nhập châu Âu những thế kỷ VI và IX, và tình trạng khó khăn đón nhận của các sắc dân có những nền văn hóa truyền thống lâu đời ở phương Đông chứng tỏ cho thấy điều đó)...
Vấn đề tòng giáo không đơn giản chỉ là cưa đứt gốc cây cắm sang mãnh đất khác, mà là phải giữ được cả phần rễ cây khi đưa qua trồng ở vùng đất mới, cây mới có thể sống được, và mới cho hoa trái...
Hoàn cảnh “di dân” ngày nay, vì thế, là một cơ hội rất lớn cho Giáo hội kitô trong nỗ lực tin mừng hóa, vì đó là những cây đã bị nhỗ ra khỏi môi trường sống lâu đời, với đủ thứ dây ràng buộc (những áp lực của gia đình, họ hàng, bạn bè, đồng đạo, v. v...).
Vì thế, vấn đề hội nhập văn hóa và thích nghi cần phải được đặt ra và nghiên cứu cách nghiêm túc, đặc biệt bởi các nhà văn hóa học và thần học, để tìm cho ra được những gì đã nuôi sống cả bộ rễ và cả cây đó, cái gì độc hại và cái gì không độc hại...
Ngoài ra, vì đối tượng của nỗ lực loan báo tin mừng kitô chính là Đức Giêsu-Kitô,  Ngôi Vị hằng sống và “đang” sống bên cạnh chúng ta và cùng với chúng ta, dù là cách vô hình, vì thế, việc loan báo tin mừng kitô, trước tiên, và chủ yếu là chứng tá của chủ thể loan báo về sự hiện diện của Ngài, về tương quan đời sống của họ với Ngài, hay nói theo ngôn ngữ của Cha Raniero Cantalamessa, “tính đương thời của Đức Kitô” (la comtemporalité de Jésus-Christ)...
Việc loan báo tin mừng đúng nghĩa, vì thế, sẽ là chia sẻ kinh nghiệm của mình về sự hiện hữu,  hiện diện và tình yêu của Thiên Chúa trong cuộc đời mình hơn là thông tin hay truyền đạt một số kiến thức rỗng tuếch, những điều mà chính mình đôi khi cũng chẳng hiểu gì, và thậm chí chẳng “liên can” gì tới mình cả...
Những ý niệm “vì loài người chúng ta” (“propter nos homines”) và “để cứu độ chúng ta” (“proter nostram salutem”), như được ghi trong những Bản Tuyên Tín thưở ban đầu của Giáo Hội sơ khai, vốn rất quan trọng, nhưng lại thường bị bỏ qua. Linh mục Raniero Cantalamessa trong loạt bài về Công cuộc loan báo tin mừng kitô của Giáo Hội đã có lý khi nhắc nhở chúng ta điều đó. Ích gì việc Con Thiên Chúa làm người, sinh ra, thụ nạn và chết trên thập tự, nếu tất cả những điều đó chẳng mảy may liên can gì đến tôi, hic et nunc !
Thứ đến, sau vấn đề hạt giống, một điều cũng quan trọng, đó là người ta phải “ra đi” khỏi nơi mình đang ở và “tiếp cận” với mãnh đất mà mình cần gieo hạt giống xuống. Người ta thường nói mà có lẽ không phải là oan, đó là người công giáo Việt Nam “giữ đạo” rất tốt, “sống đạo” ít tốt hơn, còn “truyền đạo” thì rất kém ! Không tiếp cận,  làm sao người ta có thể “nói với”, làm sao người ta có thể trao đổi với nhau, chia sẻ với nhau ?
Sau cùng, sau khi đã tiếp cận, người ta còn phải dám nói về, dám chia sẻ về Thiên Chúa, về Đức Giêsu-Kitô, về Giáo Hội kitô và nói chung về những vấn đề tối hậu liên quan đến Thiên Chúa và con người...

3.      Sau khi gieo giống, điều duy nhất mà con người còn có thể làm được đó là cầu nguyện với Thiên Chúa và cho nhau :
Trong kinh “Lạy Cha”, Đức Giêsu dạy chúng ta phải cầu nguyện : “Lạy Cha chúng con ở trên trời ! Chúng con nguyện Danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến, Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như ở trên trời !”...
“Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít, các con hãy xin chủ ruộng sai thêm thợ  đến gặt lúa đem về...”
Tại sao vậy ?
Trước tiên, có lẽ bởi vì những lời cầu nguyện đó sẽ khiến cho những tương quan giữa chúng ta với Thiên Chúa và với nhau trở thành thân mật hơn và gần gũi nhau hơn, và vì thế, đó cũng là một trong những phương thức xây dựng Nước Thiên Chúa. Khi người ta thường xuyên cầu nguyện với Thiên Chúa và cho tha nhân, cho những người không cùng niềm tin với chúng ta, đặc biệt các kẻ thù của mình, chí ít, điều có thể xẫy ra ở đây là người ta sẽ từng bước thay đổi cái nhìn của mình về Thiên Chúa, về tha nhân và rồi về nhau, trong tình yêu...Và trong nỗ lực loan báo tin mừng kitô, đây là điều hết sức quan trọng.
Tạm kết luận
Kinh nghiệm loan báo tin mừng kitô của Giáo Hội hơn 20 thế kỷ qua cho chúng ta rất nhiều bài học quí giá :
1.      Thành quả thực sự của công cuộc loan báo tin mừng kitô luôn liên quan đến các vị thánh, những con người của Thiên Chúa, tức là những con người ngập tràn Thần Khí của Đức Giêsu-Kitô...
2.      Sự hiệp nhất kitô đích thực, có lẽ không xây dựng trên một hay bất cứ giáo hội kitô nào mà là trên Thiên Chúa-Tình Yêu, khi mà Thiên Chúa là tất cả nơi tất cả mọi sự, trong Đức Giêsu-Kitô...
3.      Điều trước tiên cần loan báo và nói với muôn dân, vì thế, là Thiên Chúa-Tình Yêu như được phản ảnh nơi con người và cuộc đời của Đức Giêsu-Kitô, chứ không phải là giáo hội kitô nào đó...
 
 

04. ĐỨC GIÊSU-KITÔ, TRƯỚC VÀ SAU BIẾN CỐ PHỤC SINH

Đối tượng của nỗ lực thăm dò của chúng tôi ở đây là “cái khoảng thời gian và không gian” thâm u, đầy bí hiểm và mầu nhiệm giữa Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh và Ngày Chúa Nhật Phục Sinh mà Đức Giêsu-Kitô đã trãi qua, với hy vọng qua đó khám phá ra được chút gì về căn tính của Đức Giêsu-Kitô trước và sau Biến cố Phục Sinh, để rồi nhờ đó hiểu được chút gì về căn tính cánh chung (identité eschatologique) của con người chúng ta, đặc biệt, những con người Kitô hữu, bởi vì con người vốn được tạo dựng nên “theo Hình Ảnh của Thiên Chúa” (St 1, 26-27; Rm 8, 29; 2 Cr 3, 18); thế mà, Hình Ảnh của Thiên Chúa lại chính là Đức Giêsu-Kitô (2 Cr 4, 4; Cl 1, 15)…
Nếu “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1 Ga 4, 8.16), điều đó có nghĩa căn tính của Thiên Chúa, của các Ngôi Vị Thiên Chúa, của Đức Giêsu-Kitô, Ngôi Lời Nhập thể, cả của con người vốn được tạo dựng nên “theo Hình Ảnh Thiên Chúa và giống như Thiên Chúa” (St 1, 26-27) sẽ không thể nào hiểu được cách đầy đủ và trọn vẹn nếu như chỉ được xem xét trên cơ sở những khái niệm tĩnh tại (statique) như bản thể, bản tính và yếu tính của khuynh hướng Triết học của Aristote, mà còn cần phải dựa trên cơ sở của những mối tương quan sống động giữa các “đối tác”, bởi vì Tình Yêu hay Sự Sống Tình Yêu vĩnh hằng không phải là một “sự vật” (une chose) mà là tương quan giữa các “đối tác” (partenaires) với nhau trong Tình Yêu…
Đàng khác, nếu con người được tạo dựng nên “theo Hình Ảnh của Thiên Chúa” mà vốn là chính Đức Giêsu-Kitô, thì giữa căn tính của Đức Giêsu-Kitô trước và sau biến cố Phục Sinh và căn tính cánh chung của con người hẳn phải có những tương quan mật thiết với nhau, và là trung gian lẫn cho nhau, nghĩa là càng hiểu về căn tính đích thực của Đức Giêsu-Kitô, người ta sẽ càng hiểu được chính xác hơn về căn tính cánh chung (hay đã được cứu độ) của con người, và ngưọc lại…

I.       CĂN TÍNH CỦA ĐỨC GIÊSU-KITÔ :
Đức Giêsu-Kitô, trong ngôn ngữ thần học tín lý, vừa là Thiên Chúa thật vừa là con người thật. Thần tính và nhân tính của Ngài hợp nhất với nhau trên cơ sở bản vị hay ngôi vị của Ngài: và thần học gọi đó là mầu nhiệm ngôi hiệp (union hypostatique). Vì thế, trong thân phận “tự hủy” (Kénose), có thể nói rằng tất cả mọi tương quan giữa Đức Giêsu-Kitô với Mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi đều phải được nhìn qua lăng kính mầu nhiệm ngôi hiệp nầy…
“Sở dĩ có được như vậy đối với sự siêu độ chúng ta, chính bởi vì Đức Kitô đã thực sự mang vào mình điều mà Ngài đã đến để siêu độ và đã chết cho (tức là nhân tính = toàn thể nhân loại : chú thích của tác giả [ctctg]). Ngài đã siêu độ điều mà Ngài đã tự hủy mình vào trong đó (nhân tính = nhân loại toàn thể : ctctg), tự hủy mình đến chết và chết trên thập giá. Ngài đã siêu độ điều mà chính Ngài đã nhận lấy như là của mình : Ngài đã siêu độ tất cả gì Ngài đã nhận lấy như là của mình; Ngài đã chỉ siêu độ điều mà Ngài đã nhận lấy như là của mình.”
Công trình siêu độ diễn ra nơi Đức Giêsu-Kitô, Ngôi Lời nhập thể nầy, trên thực tế, là công trình chung của cả Ba Ngôi Thiên Chúa. Và, có thể nói rằng toàn bộ hiện sinh của Đức Giêsu-Kitô đều mang tính cứu độ, bởi vì toàn bộ hiện sinh của Ngài đều thấm đẫm sự hiện diện của Mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi, hay nói cách khác đều “thuộc linh”, đặc biệt nơi biến cố “thụ nạn”, chết và phục sinh…
Tuy nhiên, nói như vậy, không có nghĩa hiện sinh trần thế của Ngài không phải trãi qua những cám dỗ, những thử thách cam go. Suốt cuộc hiện sinh trần thế của mình, Đức Giêsu-Kitô cũng đã phải đối diện với những cám dỗ, những thử thánh : tương quan giữa “thần tính” và “nhân tính” vốn là một cuộc chiến đấu trường kỳ cho đến tận cái “giờ” của thập giá (Lc 4, 1-13; Mt 4, 1-11; Mc 1, 12-13; Lc 22, 42; Mt 26, 39; Mc 14, 35-36; Mt 27, 46), Và, cuộc chiến đấu nầy chỉ chấm dứt trên thập giá, khi mà Đức Giêsu-Kitô, cách trọn vẹn, dâng hiến cho Cha tất cả, chẳng trừ lại gì cho mình, vì Tình Yêu tuyệt đối của Ngài đối với Cha và với loài người chúng ta (Ga 19, 30) : đó chính là “giờ” chiến thắng khải hoàn của Tình Yêu dâng hiến, “giờ” Con Người được tôn vinh (Ga 12, 23; 13, 31; v.v…), “giờ” Con Người được nhận ra như là Thiên Chúa (Ga 8, 28),  “giờ” Thiên Chúa được tôn vinh, “giờ” nhân tính của Đức Giêsu-Kitô hoàn toàn hợp nhất với thần tính của Ngài, “giờ” con người và Thiên Chúa giao hòa lại với nhau trong Đức Kitô, “giờ” con người được khôi phục lại dung mạo “là Hình ảnh của Thiên Chúa” trong Đức Giêsu-Kitô, “giờ” cái chết của Sự Chết, “giờ” tội lỗi bị đánh bại, “giờ” toàn thể nhân loại được siêu độ…

1.      Trong tương quan với Cha :
Trong thực tại nội tại của Mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi, tương quan giữa Con với Cha là ngang hàng, bình đẳng, đồng bản thể, đồng bản tính, v.v… Nhưng trong thân phận Thiên Chúa Nhập thể và tự hủy “vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta”, dù Đức Giêsu-Kitô, Ngôi Lời nhập thể, vốn được Cha sai đi, tự nguyện sống trong thân phận lụy phục Cha, tuân theo Thánh Ý của Cha, không toàn năng, không toàn tri, hoàn toàn như mọi người trong chúng ta, ngoại trừ tội lỗi (Pl 2, 6-8; Dt 4, 15), Ngài vẫn không khi nào thôi là Thiên Chúa, không khi nào thôi quan hệ mật thiết với Cha và với Thần Khí  :
“Ta và Cha, chúng ta là Một” [= “Moi et le Père nous sommes un”] (Ga 10, 30).
“Nhưng Ngài đáp lại : ‘Thì tại sao tìm con ? Lại còn không biết là con phải ở nơi nhà Cha con sao ?’.” (Lc 2, 49).
“Quả thật, quả thật, Ta bảo các ngươi : trước khi có Abraham, Ta chính là Ta” (Ga 8, 58).
Nhưng, trong thân phận nhập thể và tự hủy, Đức Giêsu-Kitô, Ngôi Lời Nhập thể đã chấp nhận “tình trạng mình phải trở thành” như thân phận loài người chúng ta:
“Cũng như Cha, Đấng hằng sống đã sai ta, và Ta sống bởi Cha…” (Ga 6, 57).
“Còn Hài nhi thì lớn dần và nên dũng mạnh, tràn đầy khôn ngoan. Và ân sủng của Thiên Chúa đậu trên Ngài.” (Lc 2, 40).
“Khi các ngươi nhắc Con Người lên cao, bấy giờ các ngươi sẽ biết : Chính là Ta, và tự Ta, Ta không làm gì; nhưng Cha đã dạy Ta làm sao, Ta nói vậy, và Đấng đã sai Ta ở với Ta; Ngài đã không bỏ Ta một mình, vì Ta hằng làm những sự đẹp  lòng Ngài.” (Ga 8, 28-29).
“Ngài, phận là phận của một vì Thiên Chúa, nhưng đã không nghĩ phải giằng cho được chức vị đồng hàng cùng Thiên Chúa. Song Ngài đã hủy mình ra không, là lĩnh lấy thân phận tôi đòi, trở thành giống hẳn người ta; đem thân đội lốt người phàm, Ngài đã hạ mình thấp hèn, trở thành vâng phục cho đến chết, và là cái chết thập giá ! Bởi vậy, Thiên Chúa đã siêu tôn Ngài !...” (Pl 2, 6-9).
“Dẫu là Con, Ngài đã phải đau khổ dãi dầu, mà học cho biết vâng phục. Và một khi thành toàn, Ngài đã nên nguyên nhân cứu rỗi đời đời cho những ai vâng phục Ngài…” (Dt 5, 8-9).
“Và vì chúng, Con xin hiến thánh mình Con, ngõ hầu chúng được tác thánh cách chân thật” (Ga 17, 19).
Mầu nhiệm Nhập thể và Tự hủy (Kénose), biến cố thụ nạn, sự tuân phục, cái chết, v.v…, tự chúng, không phải là mục đích, mà chỉ là phương tiện, công cụ để bày tỏ tình yêu của Đức Giêsu-Kitô đối với Cha và đối với loài người chúng ta : chính trong Tình Yêu mà tất cả hiện sinh của Đức Giêsu-Kitô mới mang tính siêu độ…
Tương quan giữa Đức Giêsu-Kitô, Ngôi Lời  Nhập thể và Cha của Ngài mật thiết đến độ Ngài đã có thể khẳng định : “Ta sống bởi Cha” (Ga 6, 57; xem thêm Gl 2, 20). Thật vậy, Đức Giêsu-Kitô đã sống “bởi” và “theo” Thần Khí của Cha đến độ Ý của Cha trở thành Ý của Con, và Thần Khí của Cha trở thành Thần Khí của Con, và ngược lại…

2.      Trong tương quan với Thần Khí Sự Sống :
Cũng như trong thực tại nội tại của Mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi, trong hiện sinh trần thế của Đức Giêsu-Kitô, Ngôi Lời Nhập thể, Thần Khí luôn hiện diện và đồng hành với Ngài, hướng dẫn Ngài, trong tư cách là Thần Khí của Cha, ngay từ khoảnh khắc nhập thể (Lc 1, 35) cho đến “giờ” của thập giá và phục sinh (Ga 19, 30): Ngài đã vâng Ý Cha hoàn hảo đến độ mà Ý Cha cũng đã trở nên là Ý của Con, và đã vâng theo Thần Khí của Cha đến độ Thần Khí của Cha cũng là Thần Khí của Con (Ga 4, 34; 5, 30; 6, 38-40). Và, trong tư cách là Thần Khí của Con, sau khi đã “giao nộp” tất cả, Thần Khí chính là “sở hữu” cuối cùng mà Con dâng hiến, giao nộp cho Cha, trong “giờ” của Thập giá. Đó chính là lúc mà Con, trong thân phận nhập thể, hoàn toàn sống sự sống mà Cha và Thần Khí trao ban : sự Sống Tình Yêu vĩnh hằng (Ga 6, 57), sự Sống Phục sinh, sự Sống cánh chung :
“Nếu chúng ta đi cho đến tận cùng những gì mà Ngôi Lời thông ban cho nhân tính của Ngài nơi việc tôn vinh mà Ngài đã dành cho xác thể của Ngài, chúng ta hẳn phải xoay ngược lại 180° công thức vốn gây gai chướng liên can đến các hành vi nhận làm của mình của các thầy dòng  Scythes “Chính một Đấng trong Ba Ngôi Vị Thiên Chúa đã phải đau khổ trong xác thể của mình” (“Unus de Trinitate passus est carne”) thành ‘một trong chúng ta đang ngự tòa bên hữu Cha’. Đây qủa là hạn từ diễn tả được sự trao đổi diệu kỳ, Ngôi Lời nhập thể và được vinh thăng, anh cả của bầy em đông đúc, khi ngự tòa bên hữu Cha đã cùng dẫn vào với mình trong sự sống Thiên Chúa-Ba Ngôi cả một bầy con đông đúc. Do những tương quan đã được Ngôi Lời dệt nên giữa Ngài và chúng ta trên cơ sở nhân tính của Ngài vốn đồng bản thể với chúng ta, nơi Ngài, như chỉ một Đấng duy nhất mà thôi, chúng ta tiếp cận với Sự Sống Mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi rất thánh.”
Trong ngôn ngữ Thánh Kinh, nói chung, giữa các khái niệm về “sự sống”, hay về “sự chết”, hay về sự phục sinh và sống lại không hoàn toàn giống nhau, và vì thế không đồng nghĩa với nhau.
a.       Thật vậy, trong Thánh Kinh bản Hy ngữ, có ba từ được sử dụng để chỉ về Sự Sống :
-        BIOS : từ nầy được Mc 12, 44 sử dụng nhằm diễn tả sự sống của con người xét như một cấu trúc sinh vật thể (vie du corps physique), bị khống chế bởi những qui luật vật lý, hoá học và không-thời gian (spatio-temporelles); theo ngôn ngữ của sách Sáng Thế : đó là con người “ađam” do từ bụi đất mà ra (xem St 2, 7); còn theo ngôn ngữ “tam tài” Đông phương: đó là yếu tố “Địa” (đất) nơi con người…
 “…Vì mọi người đều lấy của dư bỏ vào, còn bà ấy thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để có thể tiếp tục sống còn.”
-        PSUCHÈ : được Ga 10, 11.15.17 và 15, 13 dùng để chỉ về sự sống của con người xét như hữu thể có tự do để có thể chọn lựa nguyên lý sống cho mình, hoặc là “thuộc về Thần Khí” hoặc là “thuộc về xác thịt”, không hoặc ít bị khống chế bởi những qui luật vật lý, hóa học và không-thời gian; theo ngôn ngữ sách Sáng Thế : đó là con người “ađam” đã được Thiên Chúa hà hơi sống vào mũi nó và đã thành mạng sống (xem St 2, 7), vì thế, đó là một ân huệ Thiên Chúa ban cho; còn theo ngôn ngữ “tam tài” Đông phương : đó là yếu tố “Nhân” của con người…
    “Vì những ai theo xác thịt, thì hứng về những điều thuộc xác thịt; còn những ai theo Thần Khí, thì (hứng về) những điều thuộc Thần Khí. Nhưng, hứng theo xác thịt là chết; còn hứng theo Thần Khí là sống và bình an. Vì chưng, hứng theo xác thịt là làm nghịch với Thiên Chúa, vì không phục tùng luật của Thiên Chúa, vả lại cũng vô phương làm thế.” (Rm 8, 5-7 tt).
“Không có tình yêu nào vĩ đại hơn là tình yêu của kẻ dám thí mạng sống mình vì người mình yêu mến.” (Ga 15, 13).
-        ZOÉ : được Ga sử dụng ít nhất là 55 lần để chỉ về sự sống mà cái chết không thể nào đụng chạm tới được, vì theo Ga, đó chính là Sự Sống Thiên Chúa Tình Yêu, và Sự Sống đó chẳng có gì có thể làm cho biến dạng đi được hay hoàn toàn không thể bị khồng chế bởi những qui luật vật lý, hóa học và không-thời gian; theo ngôn ngữ sách Sáng Thế : đó là con người được tạo dựng nên “theo Hình Ảnh của Thiên Chúa”  (St 1, 26-27); còn theo ngôn ngữ “tam tài” Đông phương : đó là yếu tố “Thiên” nơi con người…
“Ai yêu mạng sống mình (psuchè) thì mất, và ai ghét mạng sống mình (psuchè) ở đời nầy thì sẽ giữ được nó cho sự sống vĩnh hằng (zoé).” (Ga 12, 25).
b.      Tương quan giữa ba “dạng thức sự sống” (bios, psuchè và zoé) :
Như vậy, lối nhìn của Thánh Kinh bản Hy ngữ có vẻ như khá tương đồng với cách nhìn “tam tài” của những người Đông Phương cổ : đối với những người Đông Phương cổ, con người cánh chung (thành nhân = quân tử) là tổng thể của những tương quan “Thiên-Địa-Nhân hòa” (hay nói theo ngôn ngữ của Raimon Panikkar SJ là “cosmothéandrique” ), và đó cũng là cái nhìn của 11 chương đầu của Sách Sáng Thế của Do Thái giáo.
Tuy nhiên, ở đây, cần lưu ý rằng lối nhìn “tam tài” vốn là biến thể của lối nhìn “âm-dương”. Thế mà, trong triết lý âm-dương của người Đông Phương cổ, có hai qui luật cơ bản :
-        Qui luật “thành tố” : không có gì hoàn toàn âm hoặc hoàn toàn dương, trong âm có dương và trong dương có âm.
-        Qui luật về “quan hệ” : Âm và dương luôn gắn bó mật thiết với nhau và chuyển hóa cho nhau : âm cực sinh dương, dương cực sinh âm .
Vì thế, nếu nói theo ngôn ngữ “tam tài” và “âm-dương”, phải chăng cũng có thể nói rằng trong “nhân” (psuchè) luôn luôn có “thiên” (zoé) và “địa” (bios), và trong “địa” (bios) luôn có “thiên” (zoé) và “nhân” (psuchè), và trong “thiên” (zoé) (trong thân phận nhập thể) cũng có “nhân” (psuchè) và “địa” (bios)… ? (xem Ga 1, 3; Cv 17, 28).
Trên cơ sở đó, chúng tôi cho rằng Ngôi vị của Đức Giêsu-Kitô, vì trong thân phận Ngôi Lời Nhập Thể, là một Ngôi vị cánh chung (Personne eschatologique), nên mang trong mình ba dạng thức sự sống (bios, psuchè, zoé), hoàn toàn giống như loài người chúng ta, ngoại trừ tội lỗi (Dt 4, 15), và ba dạng thức sự sống nầy dù tương quan mật thiết với nhau, nhưng vẫn có thể “trụ tồn ” (subsistent) cách riêng rẽ (xem Lc 23, 43; Ga 15, 13)…
Ở đây, như một thử nghiệm, chúng tôi mạo muội đề xuất một lối nhìn về căn tính của Đức Giêsu-Kitô, Ngôi Lời Nhập Thể, và kể cả căn tính cánh chung của con người và vũ trụ, trên cơ sở của triết lý “tam tài” vốn là gia sản của các tiền nhân của chúng ta, như một đóng góp nhỏ mọn nhằm đáp ứng lời kêu gọi của Hội Đồng Giám Mục Á Châu và kể cả của Hội Đồng Giám mục Việt Nam đã gửi đi từ khá lâu là hội nhập Tin Mừng vào nền Văn hoá bản địa…
c.       Ba “dạng thức sự sống” nơi Đức Giêsu-Kitô :
Trong tư cách là Ngôi Lời Thiên Chúa Nhập thể, trở thành người hoàn toàn như tất cả chúng ta, ngoại trừ tội lỗi (Dt 4, 15), Đức Giêsu-Kitô hẳn cũng mang trong mình ba dạng thức sự sống : sự sống của con người xét như cấu trúc sinh vật thể (Bios), sự sống của con người xét như hữu thể có tự do có thể chọn lựa sống theo Thần Khí hay sống theo xác thịt (Psuchè), và sự sống vĩnh hằng của con người sống Tình yêu của Thiên Chúa (Zoé).
Tuy nhiên, khác với chúng ta, vốn luôn mang trong mình khả năng phạm tội và cả những hành vi tội lỗi (Rm 5, 12-14), ở nơi Đức Giêsu-Kitô, dù trong thân phận Ngôi Lời Nhập Thể, vẫn không bao giờ phạm tội (Rm 5, 15-17; Dt 4, 15), ba dạng thức sự sống nầy hòa hợp được với nhau như là một để làm nên căn tính cánh chung của Ngài (identité). Trong toàn thể nhân loại, có lẽ chỉ có Đức Giêsu-Kitô và Mẹ của Ngài, Đức Maria là có được tình trạng hòa hợp trọn vẹn và hoàn hảo nầy ngay trong hiện sinh trần thế. Trong ngôn ngữ “tam tài” Đông Phương, vì thế, có thể nói rằng, nơi Đức Giêsu-Kitô và Đức Maria, Mẹ của Ngài, tình trạng “Thiên (Zoé)-Địa (Bios)-Nhân (Psuchè) hòa” đã đạt được tình trạng viên mãn ngay trong hiện sinh trần thế của các Ngài : tình trạng “thái hòa”. Đó là tình trạng mà trong ngôn ngữ Thánh Kinh được gọi là “luôn luôn tuân theo Thánh Ý Thiên Chúa” hay luôn luôn sống theo Thần Khí của Cha (xem Mt 6, 10; 26, 39; Ga 4, 34; Lc 1, 38; v.v…)…
Hay nói cách khác, đó là lúc lời ước nguyện của Kinh “Lạy Cha” trở thành hiện thực :
“Nguyện Danh Cha cả sáng; Nước Cha trị đến; Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên Trời” (Mt 6, 9-10).
Vì thế, có thể nói rằng Đức Giêsu-Kitô Phục Sinh chính là hiện thân của thực tại “tam tài” “Thiên-Địa-Nhân hòa” nầy, và cả Đức Maria nữa, trên cơ sở được “hưởng nhờ” (par participation) ơn cứu độ của Con Ngài là chính Đức Giêsu-Kitô. Đó có lẽ chính là lý do giải thích tại sao không cần phải đợi chờ đến ngày Quang Lâm, thân xác của Đức Giêsu-Kitô phục sinh và của Mẹ Maria đã được đưa ngay về trời một ít thời gian ngay sau khi “chết”…
d.      Hai “dạng thức chết” :
Trong ngôn ngữ Thánh Kinh, có hai “dạng thức chết” : sự chết của con người sống theo xác thịt (psuchè) và sự chết của con người xét như cấu trúc sinh vật thể  (bios).
-        Sự chết của con người sống theo xác thịt :
“…vì nầy con ta đây đã chết mà nay lại hoàn sinh, đã mất đi mà lại tìm thấy được” (Lc 15, 24.32).
Đứa con út trong dụ ngôn nầy (Lc 15, 11-32), trên cơ sở con người thể lý vật chất, rõ ràng là vẫn còn sống, nhưng đã chết, đã mất đi, trên cơ sở con người sống theo xác thịt. Và, nay nó hoàn sinh, được tìm thấy, vì đã từ bỏ cuộc sống cũ “xa cha”, “xa nhà”, “xa quê hương”, để quay trở về với cha mình, với anh em mình…
Như vậy, hậu quả chính của sự chết của con người sống theo xác thịt là sự xa cách trong tinh thần, trong tình yêu : xa cách Thiên Chúa, xa cách tha nhân, xa cách thiên nhiên vũ trụ và xa cách cả đối với bản thân mình…Có thể cùng chung sống bên nhau, cùng tồn tại bên nhau, nhưng vẫn không là gì đối với nhau, không hiện diện đối với nhau…
“Nhưng hứng theo xác thịt là chết; còn hứng theo Thần Khí là sống và bình an. Vì chưng, hứng theo xác thịt là làm nghịch với Thiên Chúa, vì không phục tùng luật của Thiên Chúa, vả lại cũng vô phương làm thế. Những ai theo xác thịt không thể làm hài lòng Thiên Chúa. Nhưng, anh em không theo xác thịt, mà là Thần Khí, nếu thực có Thần Khí Thiên Chúa cư ngụ trong anh em. Ai không có Thần Khí Đức Kitô, kẻ ấy không thuộc về Ngài. Nhưng, nếu Đức Kitô ở trong anh em, thì tuy thân xác vẫn là đồ chết, vì tội, nhưng Thần Khí là sự sống vì đức công chính. Nếu Thần Khí của Đấng đã cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết cư ngụ trong anh em, thì Đấng đã cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết cũng sẽ tác sinh thân xác chết dỡ của anh em, nhờ bởi Thần Khí của Ngài cư ngụ trong anh em.” (Rm 8, 6-11).
-        Sự chết của con người xét như cấu trúc sinh vật thể:
“…sau đó, Ngài lại bảo họ : ‘Lazarô, người bạn của chúng ta đã nghỉ yên; Ta phải đi đánh thức dậy !’ […]. Đức Giêsu có ý nói ông ấy đã chết, nhưng họ tưởng Ngài nói ông ấy đã ngủ được một giấc yên. Bấy giờ, Ngài nói trắng ra với họ : ‘Lazarô đã chết…’.” (Ga 11, 11.13-14).
Hậu quả của cái chết của con người thể lý vật chất, đã hẳn, cũng là những sự xa cách, nhưng trên cơ sở không-thời gian : không còn được nhìn thấy nhau, được sống chung với nhau, được yêu nhau, được bày tỏ với nhau, v.v… Trên cơ sở “thuộc linh” thì không hẳn vậy, bởi vì có trường hợp chết về mặt thể lý vật chất, nhưng trên cơ sở “thuộc linh”, vẫn còn đang sống (Mt 22, 31-32; Mc 12, 26-27; Lc 20, 37-38; 23, 43) :
“Còn về sự kẻ chết sống lại, các ông đã không đọc lời Thiên Chúa đã phán cùng các ông sao ? : Ta là Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaac, và Thiên Chúa của Giacóp ! Ngài không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, mà là của người sống !” (Mt 22, 31-32).

Ở đây, cũng có thể hiểu rằng Abraham, Isaac, Giacóp, tuy đã chết về mặt thể lý vật chất, nhưng trên cơ sở thuộc linh, vẫn còn đang sống…
“Quả thật, Ta bảo ngươi : Hôm nay, ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta !” (Lc 23, 43).
Điều lạ lùng ở đây, là Đức Giêsu tuyên bố cả hai “ngay hôm nay sẽ ở trên thiên đàng”, thế nhưng trong khi đó thì thân xác của cả hai ngay ngày hôm đó sẽ chết: thân xác của Đức Giêsu thì ngày thứ ba sẽ được phục sinh, còn thân xác của người “trộm lành” thì có lẽ còn phải đợi cho đến Ngày Quang Lâm (!)…Điều nầy cho thấy dù trong thân phận là người hoàn toàn như chúng ta, Đức Giêsu (và cả con người nơi dung mạo người trộm lành), dù thân xác đã chết (bios), vẫn có thể “sống” Sự Sống Tình Yêu vĩnh hằng trong tương quan của Mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi (psuchè và zoé).
e.       Nơi Đức Giêsu-Kitô, có ba “dạng thức sống”, nhưng chỉ có một “dạng thức chết” :
Như đã trình bày ở trên, nơi Đức Giêsu-Kitô, Ngôi Lời Nhập Thể, có ba dạng thức sống : sự sống của con người xét như cấu trúc sinh vật thể (bios), sự sống của con người xét như hữu thể có tự do có thể chọn lựa sống theo Thần Khí hay theo xác thịt (psuchè), sự sống vĩnh hằng của Tình Yêu Thiên Chúa (zoé)…
Trên cơ sở  sự sống Tình Yêu vĩnh hằng (Zoé), Đức Giêsu-Kitô không thể nào chết được, vì Ngài chính là Thiên Chúa-Tình Yêu. Trên cơ sở sự sống “thuộc linh” của con người mang trong mình xác thịt (Psuchè), Đức Giêsu-Kitô cũng không thể nào chết, bởi vì Ngài không bao giờ phạm tội, thế mà tội mới là nguyên nhân của sự chết “thuộc linh” (Rm 5, 12-21). Đức Giêsu-Kitô sống trong xác thịt, nhưng không sống theo xác thịt…
Như vậy, Đức Giêsu-Kitô chỉ có thể đã chết trên cơ sở con người xét như là cấu trúc sinh vật thể (la mort du corps physico-chimique), và đây là một sự chết thực sự của con người sống sự sống của sinh vật thể (Bios). Vì thế, vấn đề phục sinh Đức Giêsu-Kitô sẽ được đề cập đến bắt đầu từ hiện trường cái chết nầy…

3.      Sự Phục sinh Đức Giêsu-Kitô :
Trên cơ sở bởi vì, nơi Đức Giêsu-Kitô, Ngôi Lời Nhập thể, và cả nơi con người, vốn được tạo dựng nên “theo Hình Ảnh của Thiên Chúa và giống như Thiên Chúa”, có những dạng thức sống và chết khác nhau, nên việc xác định trên thập giá : “Ai chết ?” và rồi sau đó : “Ai sống lại ?” là những vấn đề hết sức phức tạp.
Thật vậy, khi đặt những vấn đề : “Ai chết ?” và “Ai sống”, trong ngôn ngữ triết học và thần học truyền thống, người ta thường hay nghĩ ngay tới vấn đề “bản ngã”, theo nghĩa là “cái Tôi được xác định bởi khái niệm bản thể” (le Moi substantif), hay “cái Tôi theo nghĩa như một cá thể người” (le Moi humano-corporel)…
Thế nhưng, khi nghiên cứu kỹ Thánh Kinh, người ta nhận ra rằng căn tính của Đức Giêsu-Kitô, Ngôi Lời Nhập thể và căn tính của con người là những căn tính có tính cánh chung, tương quan (relationnelle), “tam tài” (Thiên-Địa-Nhân hòa”)…Sở dĩ như thế, bởi vì cái làm nên căn tính các ngôi vị hay ngã vị (personnes) là Tình Yêu, tức là tương quan giữa các “đối tác” (partenaires) trong Tình yêu. Một thực tại “sống” và “động” như thế không thể nào có thể phản ảnh hết được chỉ bởi những khái niệm tĩnh tại, danh tính (substantif) như bản thể, bản tính hay yếu tính, mà phải được phản ảnh, chí ít, qua những khái niệm ngôi vị hay ngã vị (personne), bởi vì, cũng như trong Thần học về Mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi, những khái niệm ngôi vị trong cùng lúc có thể vừa bao hàm những khái niệm bản thể, bản tính, yếu tính, vừa bao hàm những khái niệm tương quan, mà theo chúng tôi ở đây là những tương quan tam tài “Thiên-Địa-Nhân hoà”, xét như là “Ngã vị  tam tài” (le Je “cosmothéandrique”)…
Đàng khác, trong ngôn ngữ Thánh Kinh, nội hàm ý nghĩa của các khái niệm “phục sinh”, “tái sinh”, “sống lại” và “trỗi dậy hay chỗi dậy”, v.v… không phải bao giờ cũng đồng nghĩa với nhau. Thật vậy,  thí dụ : sự phục sinh hay sống lại của Đức Giêsu-Kitô không hoàn toàn giống với sự sống lại của Lazarô (Ga 11, 1-44), hay của đứa con trai của bà góa thành Naim (Lc 7, 11-17), vì sự Phục sinh hay sống lại nơi Đức Giêsu-Kitô khiến cho Ngài “đã lên ngự mãi mãi bên hữu Thiên Chúa” (Dt 10, 12), còn Lazarô và đứa con trai của bà góa thành Naim dù đã được cho sống lại, nhưng sau đó rồi cũng phải chết như mọi người trong chúng ta…
Vậy thì vấn đề được đặt ra ở đây là từ Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh cho đến Ngày Chúa Nhật Phục Sinh, nơi Đức Giêsu, đã xãy ra những gì ?
a.       “Giờ Thập giá”, “Giờ” Thiên Chúa và con người được tôn vinh :
“Lạy Cha, giờ đã đến ! xin hãy tôn vinh Con Cha, ngõ hầu Con Cha tôn vinh Cha ! Như Cha đã ban cho Ngài quyền trên mọi xác phàm, ngõ hầu toàn thể những gì Cha đã ban cho Ngài, thì được Ngài ban cho sự sống vĩnh hằng. Sự sống vĩnh hằng tức là : chúng nhận biết Cha, Thiên Chúa độc nhất và chân thật, và Đấng Cha đã sai, Giêsu-Kitô. Con đã tôn vinh Cha dưới đất, đã chu toàn công việc Cha giao phó cho Con làm. Và bây giờ xin Cha tôn vinh Con nơi Cha, trong vinh quang Con đã có nơi Cha trước khi có thế gian.” (Ga 17, 1-5).
“Khi các ngươi nhắc Con Người lên cao, bấy giờ các ngươi sẽ biết : Chính là Ta, và tự Ta, Ta không làm gì; nhưng Cha đã dạy Ta làm sao, Ta nói vậy, và Đấng đã sai Ta ở với Ta; Ngài đã không bỏ Ta một mình, vì Ta hằng làm những sự đẹp  lòng Ngài.” (Ga 8, 28-29).
Tại sao “giờ” của Thập giá, của đau thương, khổ nhục, của thất bại, của chềt chóc lại được gọi là “giờ” của vinh quang, của chiến thắng, khải hoàn ? Bởi vì đó là “giờ chiến thắng” của Tình Yêu, Tình Yêu dâng hiến, chiến thắng một cách tuyệt đối, trọn vẹn, một lần thay cho tất cả.
Thật vậy, nơi nhân tính của Ngài mà vốn là hiện thân của toàn thể nhân loại mọi nơi và mọi thời, và mà Ngài đã nhận là của mình (appropriation), tội lỗi, sự chết, satan, ma qủi…đã bị đánh bại, đã bị tiêu diệt bởi Tình Yêu dâng hiến (Ga 12, 32). Và, điều đó có nghĩa là ở nơi nhân tính của Ngài, tội lỗi, satan, ma qủi, sự chết bị đánh bại, vì thế, đó là cái chết của Sự Chết, chứ không phải là sự chết của nhân tính của Ngài (xem Dt 10, 11-14)…
Chính nơi giây phút khi mà trên Thập giá Đức Giêsu dâng hiến tất cả những gì Ngài có và những gì Ngài là cho Cha của Ngài và “vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta”, đó chính là khoảnh khắc của chiến thắng, của vinh quang của Tình Yêu, tức cũng là của chính Thiên Chúa, bởi vì Thiên Chúa là Tình Yêu (1 Ga 4, 16; 15, 13). Đó chính là “giờ” chiến thắng của con người sống theo Thần Khí đối với con người ưa thích chiều theo xác thịt, hay nói cách khác, đó chính là “giờ chết” của Sự Chết (xem Rm 7, 14-23; 8, 5-11; 1 Pr 3, 18). Hay, nói theo ngôn ngữ Kitô học, đó chính là “giờ” mà nhân tính của Đức Giêsu-Kitô hòa hợp cách hoàn hảo nhất với thần tính của Ngài. Còn nói theo ngôn ngữ Đông phương, đó là “giờ” mà thực tại tam tài “Thiên-Địa-Nhân” được hòa hợp một cách trọn vẹn. Đó là “giờ” mà con người, trong nhân tính của Đức Giêsu-Kitô, giao hòa lại với Thiên Chúa nơi thần tính của Đức Giêsu-Kitô, với tha nhân, với thiên nhiên vũ trụ, và với cả chính bản thân mình (con người tìm lại được căn tính của mình : identité) : những tương quan nguyên thuỷ của “vườn địa đàng”…
Tóm lại, đối với Đức Giêsu-Kitô, “giờ thập giá” đó chính là khoảnh khắc mà sau khi đã dâng hiến tất cả (kénose), Ngài đã nhận lại được tất cả tử Cha (xem Ga 17, 1-5.10)…
b.      Đức Giêsu-Kitô trong khoảng thời gian từ “giờ Thập giá” đến Ngày Chúa Nhật Phục sinh :
Trong ngữ cảnh của câu chuyện Lazarô được làm cho sống lại (Ga 11, 1-44), khi Đức Giêsu nói : “Phục sinh và Sự Sống, chính là Ta !” (Ga 11, 25), điều đó, một đàng, có nghĩa có một sự phân biệt giữa hai khái niệm “sống lại” và “sự sống” và, đàng khác, có nghĩa nơi Đức Giêsu-Kitô trong cùng lúc có thể tồn tại tình trạng nghịch thường vừa “chết” mà lại vừa “sống”. Thật vậy, như chúng tôi đã có lưu ý trên đây, trong khoảng thời gian từ cái chết ở trên thập giá cho đến khi được phục sinh, một đàng,  trong tư cách con người xét như sinh vật thể, Ngài đã chết, và cái xác thể  mà Ngài đã nhận như là của mình (appropriation) đó vẫn nằm trong mộ đá, cho đến “ngày thứ ba” mới được phục sinh; đàng khác, trong tư cách con người luôn sống theo Thần Khí, Đức Giêsu-Kitô, dù thân xác chết, nhưng vẫn sống sự sống vĩnh hằng (xem Mt 22, 31-32 và ss; Rm 8, 1-4), và chính vì thế, trong khoảng thời gian đó, Đức Giêsu-Kitô mới có thể “nhân cơ hội, đã đi rao giảng cho các vong linh trong ngục” được (1 Pr 3, 19). Đây là điều không thể nào hiểu được trong chân trời khái niệm “bản ngã” tĩnh tại (statique) của triết học và thần học Kinh viện vốn lập căn trên triết học của Aristote và được coi như là “cái Tôi trên cơ sở bản thể” (le Moi substantif), đã được xác định sẵn, đã “hoàn tất”, không có gì phải biến đổi, không có gì để trở thành, phi lịch sử… Nơi Đức Giêsu-Kitô, Ngôi Lời Nhập Thể, căn tính của Ngài là một thứ căn tính cánh chung, căn tính “tam tài” (Thiên-Địa-Nhân hòa = “cosmothéandrique”), và vì thế là một căn tính “động” và “hằng sống”, vừa “đã hoàn tất” (déjà) [nơi chính Ngài] vừa “đang đang bắt đầu” (pas encore) [nơi nhân loại được hiểu vừa theo nghĩa cá thể vừa theo nghĩa tập thể]. Vì thế, khái niệm “cái Tôi trên cơ sở bản thể” hay “bản ngã” của triết học mang màu sắc Kinh viện không đủ khả năng “cáng đáng” được căn tính cánh chung và “tam tài” nầy. Cần phải sử dụng một khái niệm khác có tính năng động và “mở” hơn, như “Ngôi Vị hay Ngã vị tam tài”, chẳng hạn, khi liên quan đến Đức Giêsu-Kitô, Ngôi Lời Nhập thể…
Cái kinh nghiệm thuộc linh mà Thánh Phaolô đã cảm nghiệm được : “Tôi sống, nhưng không còn là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2, 20) có lẽ sẽ có thể giúp chúng ta hiểu được phần nào vấn đề căn tính hay ngã vị tam tài nầy. Tình trạng “vừa là tôi”, “vừa là Đức Kitô” chỉ có thể hiểu được trong chân trời hai ngã vị nầy hợp nhất với nhau nên một, như khi Đức Giêsu khằng định :
 
“Ta với Cha là một” (Ga 10, 30).
“…Ai đón nhận kẻ Ta sai đến, là đón nhận Ta, và ai đón nhận Ta, tức là đón nhận Đấng đã sai Ta” (Ga 13, 20).
“Ta sống bởi Cha” (Ga 6, 57)…
Ở đây, sự phân biệt giữa những ý niệm “Tôi” (Je), “Anh” (Tu) và “Nó” (Il) cõ lẽ chỉ là tương đối (notions relatives), bởi vì đó vốn là những ý niệm ám chỉ những tương quan (notions relationnelles)…
Những hình ảnh “Thân nho và nhánh nho” (Ga 15, 5) hay “Thân mình của Đức Kitô : Đức Kitô và các chi thể” (Rm 12, 4.5; 1 Cr 10, 17; 12, 12.14-27) nhằm để diễn tả những tương quan giữa Đức Giêsu-Kitô và con người, cũng đi theo chiều hướng ý nghĩa đó…
Chính vì thế, theo thiển ý, nơi Đức Giêsu-Kitô, không nên đặt vấn đề cách chung chung và theo kiểu thông thường như từ trước đến nay người ta vẫn thường làm : “Ai chết ?” và “Ai sống lại hay Ai phục sinh ?”, mà là : “Sự sống nào chết và được phục sinh ?”; hay “Cái chết của Sự Chết nào ?” và “Sự phục sinh cho sự sống nào ?”, v.v… 
c.       Đức Giêsu-Kitô phục sinh :
Trong biến cố Thập giá và Phục sinh, sự sống nào của Đức Giêsu đã chết và đã được phục sinh ?
i.       Trước tiên, nơi Đức Giêsu-Kitô phục sinh, sự sống của con người “psuchè” và sự sống của con người “zoé” hợp nhất với nhau nên một và tràn ngập Thần Khí, vì thế, không thể nào “chết” được. Và chính trong nhân tính khải hoàn đó của Đức Giêsu-Kitô mà toàn thể nhân loại chúng ta mọi nơi và mọi thời cũng được phục sinh (Dt 10, 12-14; 11, 39-40). Hay nói theo ngôn ngữ Kitô học, nhân tính của Ngài hòa hợp cách trọn vẹn với thần tính của Ngài, tức là được thần linh hoá, được thánh hoá bởi Thần Khí của Ngài và được tham dự vào sự sống mới của Mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi, hay nói cách khác, được khôi phục lại là “Hình Ảnh của Thiên Chúa” : theo ngôn ngữ kinh điển, đó là “được siêu độ”…

ii.      Thứ đến, liên quan đến con người “ađam” (bios) nơi Đức Giêsu-Kitô. Hầu như tất cả các tường thuật của Tân Ước về biến cố Phục sinh đều cho chúng ta có cảm tưởng là có cái gì đó vừa giống vừa không giống nơi Đức Giêsu phục sinh so với Đức Giêsu tiền phục sinh…
-        Thật vậy, thân xác của Đức Giêsu-Kitô phục sinh bề ngoài vẫn như trước, cùng với những dấu đinh đâm thâu qua và vẫn ăn vẫn uống như người thường (xem Ga 20, 27; Lc 24, 36-43), nhưng tự bên trong đã được biến đổi một cách sâu xa, để cùng với thân xác đó từ nay, vượt ra ngoài sự khống chế của những qui luật vật lý và không-thời gian, Ngài có thể hiện diện trong cùng lúc khắp mọi nơi và mọi thời, và để “ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28, 20; xem thêm Pl 2, 8-11; Ga 20, 19.26; Lc 24, 31.36.51).
Nhưng, ở đây, cũng cần lưu ý rằng tình trạng không bị khống chế bởi những qui luật vật lý và không-thời gian nầy đã có nơi Đức Giêsu tiền phục sinh (Ga 6, 19; Mc 7, 49-50; Mt 14, 25-26). Và, các Tông đồ và các môn đệ của Đức Giêsu-Kitô, sau khi Ngài đã phục sinh và thăng thiên, ngoài khả năng thoát khỏi sự không chế của những định luật vật lý và không-thời gian (Cv 8, 39-40), họ còn có cả những quyền năng gần giống như Thầy của họ khi còn “tại thế” (Ga 14, 12-14; Cv 5, 12-16; 9, 32-42; v.v…).  Có vẻ như tất cả quyền năng mà Đức Giêsu-Kitô có đều do Thần Khí của Cha, và tất cả quyền năng mà các Tông đồ và các môn đệ của Ngài có đều do Thần Khí của chính Ngài, tức là Thần Khí của Con (xem Ga 6, 57)…
Điều đó có nghĩa là Đức Giêsu-Kitô sống trong xác thịt, nhưng không sống theo xác thịt, như kiểu sống trong thế gian mà không thuộc về thế gian (Ga 17, 14.16). Đó chính là cơ sở nền tảng của những chiều kích vũ trụ (Địa), chiều kích nhân loại (Nhân) và chiều kích thuộc thiên (Thiên) của Đức Giêsu-Kitô Phục sinh : điều nầy chứng tỏ cho thấy Đức Giêsu-Kitô phục sinh cùng với nhân tính của Ngài vẫn chính là Ngôi Lời vĩnh hằng của Thiên Chúa, Đấng mà từ Ngài, toàn bộ công trình tạo dựng đã được hoàn tất :
“Mọi sự đã nhờ Ngài (=Ngôi Lời) mà thành sự, và không Ngài thì không gì đã thành sự. Điều đã thành sự nơi Ngài là sự Sống và sự Sống là sự Sáng cho nhân loại, và sự Sáng rạng trong tối tăm, và tối tăm đã không triệt được sáng.” (Ga 13-5).
-        Không thể được nhận ra ngay tức khắc : có thể có hai nguyên nhân để Đức Giêsu-Kitô phục sinh không được nhận ra ngay tức khắc : nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan :
Nguyên nhân khách quan : ở nơi Đức Giêsu-Kitô phục sinh, đã có một cái gì đó khang khác so với tình trạng tiền phục sinh của Ngài, như đã được ghi nhận nơi phần b.1 trên đây. Ngoài ra, nếu nói theo ngôn ngữ của Mc, “với một hình dạng khác, Ngài đã tỏ mình ra cho…” (Mc 16, 12), có khi như “người làm vườn” (Ga 20, 15), có khi như người hành hương dự lễ Vượt qua nào đó đang quay trở về nhà mình (Lc 24, 15-18), thậm chí có khi còn như là “ma” (Lc 24, 37)…
Nguyên nhân chủ quan : việc Đức Giêsu-Kitô phục sinh không được các môn đệ của Ngài nhận ra ngay tức khắc, một phần có lẽ cũng phát xuất từ những thành kiến hay tiên kiến của họ : không hoàn toàn tin có sự sống lại, không tin nên quên những gì Đức Giêsu đã loan báo trước về những biến cố nầy, tóm lại, chưa thực sự tin nơi Đức Giêsu-Kitô (xem Lc 24, 25-27; Mc 16, 11.13.14). Với những tình trạng “thiếu lòng tin” như thế, cộng thêm với những tâm trạng hụt hẫng, buồn bả, thất vọng, chán nản, lo âu, sợ hãi, v.v…, làm sao họ có thể đủ tỉnh táo và sáng suốt để nhận ra ngay được kẻ mà mình gặp đó chính là Thầy mình? Họ cần phải được “nhắc nhở lại” những kỷ niệm ngày xưa của những tương quan giữa Thầy và trò, như giọng nói đầy thân thương của Đức Giêsu với Maria thành Magđala (Ga 20,16), như cái cách thức “Ngài cầm lấy bánh, chúc tụng, đoạn bẻ ra và trao cho họ…” đối với hai môn đệ trên đường về Emmau (Lc 24, 30-31), như cái cách thức hành xử của Đức Giêsu đối với người môn đệ được Đức Giêsu yêu mến (Ga 21,7; Ga 20,8)…; họ cần phải được “nhắc nhở lại” và “giải thích lại” những gì đã được loan báo trước cho họ bởi Đức Giêsu và bởi Thánh Kinh (Lc 24,8.27.44-46; Ga 20,9)…  
Tóm lại, nơi Đức Giêsu-Kitô Phục sinh, nếu nói theo ngôn ngữ ngôi hiệp, nhân tính của Ngài hoàn toàn được hợp nhất với thần tính của Ngài như một; còn nếu nói theo ngôn ngữ “tam tài” Đông phương, nơi Đức Giêsu-Kitô Phục sinh, Thiên-Địa-Nhân hoàn toàn hòa hợp với nhau nên một, hay còn được gọi là tình trạng “thái hòa” (cosmothéandrique)…
Và, bởi vì con người vốn được tạo thành nên “theo Hình Ảnh của Thiên Chúa” (St 1, 26-27), hay nói cách khác, theo hình ảnh của Đức Giêsu-Kitô, vì Đức Giêsu-Kitô chính là Hình ảnh hữu hình của Thiên Chúa vô hình (Cl 1, 15), nên căn tính của con người cánh chung cũng phải được xem xét qua lăng kính căn tính của Đức Giêsu-Kitô Phục sinh, như là nguyên mẫu (prototype)…

II.      CĂN TÍNH CÁNH CHUNG CỦA CON NGƯỜI:
Khi nói căn tính của con người là căn tính cánh chung (identité eschatologique), điều nầy nhằm muốn nói lên rằng: căn tính của con người, tự căn cơ, vốn là một căn tính đã được siêu độ, đã được thần linh hoá, là căn tính mà trong đó mọi kẻ thù của con người (tội lỗi, satan, sự chết…) đã bị Đức Giêsu-Kitô đánh thắng và tiêu diệt nơi nhân tính “phục sinh” của Ngài, một lần và vĩnh viễn...
Ngoài ra, Thánh kinh cũng chứng tỏ cho thấy căn tính cánh chung của con người vừa mang chiều kích cá nhân vừa mang chiều kích tập thể nhân loại (Dt 10, 12-14; 11, 40; 1 Cr 15, 22-28) :

1.      Chiều kích cá nhân :
“…Vì bởi việc tiến dâng độc nhất, Ngài đã làm cho những kẻ được tác thánh nên thành toàn mãi mãi…” (Dt 10, 14).
Nền thần học và triết học kinh điển của chúng ta thường quá bị ám ảnh bởi những khái niệm triết học của Aristote như những khái niệm “bản thể”, “yếu tính” và “bản tính”, vốn là những khái niệm “tĩnh”, nên thường cũng có những khái niệm quá “tĩnh” về những khái niệm “ngôi vị”, “ngã vị”, v.v…, vốn là những thực tại sống và năng động. Trong khi, quan niệm “sắc sắc, không không” của Phật giáo hàn lâm có vẻ như hoàn toàn ngược lại, chỉ quan tâm đến khía cạnh động và biến dịch không ngừng, nên lơ là với những khái niệm ngôi vị và ngã vị…
Trong các Danh xưng Thiên Chúa, ngôn ngữ Thánh Kinh luôn luôn là một thứ ngôn ngữ “động” và “sống” (dynamique et vivant), ngôn ngữ của các động từ, của các tính từ, ngôn ngữ của các tương quan, và vì thế, luôn mang chiều kích lịch sử : “Thiên Chúa của Abraham, của Isaac, của Giacop…” (Xh 3, 6),  “Ta là Đấng hằng hữu” [“Je suis qui je suis”] (Xh 3, 14), “Emmanuel” [“Thiên Chúa ở cùng chúng ta” = Dieu avec nous] (Is 7, 14; 8, 8; Mt 1, 23), Giêsu = Thiên Chúa là Đấng cứu [“Dieu qui sauve”] (Mt 1, 21-25). Thậm chí, cả cái danh xưng “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1 Ga 4, 16) cũng là một thứ ngôn ngữ “động”, bởi vì khi nói “yêu” có nghĩa là phải có tương quan với “ai đó” hay với “cái gì đó” : Tình yêu, thật vậy, nói theo ngôn ngữ của Rabindranat Tagore, chính là nơi hò hẹn, không chỉ giữa Thiên Chúa-Ba Ngôi với nhau, mà còn là nơi hò hẹn giữa Mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi và con người, giữa vĩnh hằng và thời gian…
 Và, điều đó có nghĩa người ta không thể đặt vấn đề Thiên Chúa “là gì ?”, trước khi đặt vấn đề Thiên Chúa “là Ai ?”. Một thứ ngôn ngữ “tĩnh” với những khái niệm như kiểu bản thể, yếu tính, bản tính, v.v…, không thể nào tát cạn hết được Mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi với các Ngôi Vị hằng sống được, kể cả đối với con người, vốn được tạo dựng nên “theo Hình Ảnh của Thiên Chúa và giống như Thiên Chúa” (St 1, 26-27).
Từ trước đến nay, có vẻ như khi nhìn về căn tính của con người cánh chung, người ta thường nhìn nó qua lăng kính một thứ bản ngã cá vị như đã được xác định sẵn. Và, khái niệm “bản ngã” hay “cái tôi” nầy thường được nhìn qua lăng kính của một thứ khái niệm tĩnh tại về con người xét như là một bản thể có xác thể mà người ta cho là đã biết là nó phải thế, và thường được “khoanh vùng” hay “định nghĩa” trong vòng đai của sự sống theo nghĩa “bios” và sự sống theo nghĩa “psuchè”. Một cái nhìn đầy đủ về con người và về căn tính cánh chung của con người có lẽ sẽ đầy đủ hơn và tốt hơn nếu như được nhìn qua lăng kính “tam tài” “Thiên-Địa-Nhân hoà” của Đông phương và của 11 Chương đầu của Sách sáng thế.
Căn tính “tam tài” của con người trước tiên mang chiều kích cá thể. Và bởi vì vừa trong tư cách là một sinh vật thể (bios), vừa trong tư cách là một hữu thể có tự do (psuchè), dìm mình trong thế giới vật chất, thế giới hoá học và vật lý, vốn bị không chế bởi những qui luật không-thời gian, và những qui luật xã hội, căn tính của con người luôn là một cái gì đó “đang trở thành” (xem Lc 2, 52), và lệ thuộc những môi trường vật chất và xã hội vốn luôn có thể đồi thay đó, và chỉ hoàn tất trong ngày Quang lâm, khi thời gian “viên mãn” (Ga 6, 44.54). Những dụ ngôn về Nước Trời của Đức Giêsu phản ảnh cho chúng ta những khía cạnh nầy của căn tính cánh chung của con người, cách hoàn hảo nhất.
“Ai ăn thịt và uống máu Ta thì có sự sống vĩnh hằng, và Ta sẽ cho nó sống lại trong ngày sau hết.” (Ga 6, 54).
Ga 6, 54 có vẻ như cho chúng ta thấy “sự sống vĩnh hằng” là điều mà chúng ta có thể sở đắc được ngay trong cuộc sống trần thế nầy : thì hiện tại của động từ chứng tỏ điều đó. Còn “sự sống lại” thì phải đợi chờ cho đến “ngày sau hết” hay là ngày Quang lâm : thì tương lai của động từ cho phép hiểu như thế. Điều đó có nghĩa dù thân xác chết của con người phải đợi chờ cho đến “ngày sau hết”, nhưng “con người” vẫn có thể sống được sự sống vĩnh hằng hay sự sống Tình yêu của Thiên Chúa, ngay khi còn “tại thế” và cả sau khi thân xác chết.
Chiều kích cánh chung chính là chiều kích con người được sống sự sống vĩnh hằng, sự sống Tình yêu của Thiên Chúa-Ba Ngôi. Như chúng tôi đã có lưu ý trên đây, Tình Yêu chính là nơi hò hẹn, không chỉ của Ba Ngôi Thiên Chúa với nhau, mà còn là nơi hò hẹn của Mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi với loài người, của vĩnh hằng với thời gian…Tình Yêu chính là cái “Hôm Nay” trong tương quan giữa Thiên Chúa và con người…
“Sự sống vĩnh hằng tức là : chúng nhận biết Cha, Thiên Chúa độc nhất và chân thật, và Đấng Cha đã sai, Giêsu-Kitô.” (Ga 17, 3).
Chính vì thế, Đức Giêsu trên thập giá đã có thể nói với người trộm “lành” :
“Và Ngài đã nói với hắn : ‘Quả thật, Ta bảo ngươi : Hôm nay, “ngươi” sẽ ở trên thiên đàng làm một với Ta !’,” (Lc 23, 43).
Dĩ nhiên, ngay “hôm nay”, anh ta (người trộm “lành”) sẽ ở trên Thiên Đàng với Đức Giêsu-Kitô, nhưng xác thân của anh ta và cả của Đức Giêsu vẫn sẽ còn nằm đó trong các mộ phần. Điều đó có nghĩa là các khái niệm mà chúng thường dùng để diễn tả căn tính của con người như “bản ngã”, “cái tôi”, v.v…, như một thứ bản thể cứng ngắc, ổn định cả rồi và luôn phải có xác thể, có cái gì đó chưa ổn. Những hạn từ mà Đức Giêsu đã dùng như “ngươi” (Tu) và “Ta” (Je) trong Lc 23, 43 sẽ không thể nào hiểu được nếu được xem xét qua lăng kính khái niệm “bản ngã bản thể” của nền thần học kinh điển của chúng ta.
Như vậy, sự sống vĩnh hằng không phải là một điều gì đó sẽ chỉ hiện diện sau khi chết, hay chỉ trong Ngày Quang lâm, mà nó đã hiện diện ngay trong thời gian của chúng ta, cùng với sự hiện diện của Đức Giêsu-Kitô. Chính Đức Giêsu-Kitô là cái “Hôm nay” đó (Lc 4, 21; Ga 6, 54-56), là hiện thân của Vương quốc Thiên Chúa, là hiện thân của chính Thiên Chúa…
“Đức Giêsu-Kitô hôm qua và hôm nay vẫn là một, và cho đến muôn đời” (Dt 13, 8).
“…Ai không có Thần Khí của Đức Kitô, kẻ ấy không thuộc về Ngài. Nhưng, nếu Đức Kitô ở trong anh em, thì dầu thân xác anh em có phải chết vì tội đã phạm, Thần Khí cũng ban cho anh em được sống, vì anh em đã được trở nên công chính.” (Rm 8, 9-10).
“…Ai tin vào Ta thì dẫu chết cũng sẽ sống; và mọi kẻ sống cùng tin vào Ta sẽ không phải chết bao giờ…” (Ga 11, 25-26).
“Và nầy Ta sẽ ở với các ngươi mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28, 20).
“Ai ăn thịt và uống máu Ta thì có sự sống vĩnh hằng, và Ta sẽ cho nó sống lại trong ngày sau hết.” (Ga 6, 54).
Về vấn đề thân xác của “con người” sẽ được sống lại trong “ngày sau hết”, tác giả của Thư gửi tín hữu Côrinthô đã cho biết quan điểm của mình như sau:
“…Nhưng, có người nói, kẻ chết sống lại thế nào ? Họ sẽ lấy thân xác nào mà về lại ? Đồ ngu ! Cái ngươi gieo có sống được không, nếu không chết đã? Và, cái ngươi gieo, hẳn không phải là hình thể sẽ hóa ra sau mà người gieo, nhưng là một hạt trơ trụi, tỉ như hạt lúa hay thứ giống nào khác. Nhưng, Thiên Chúa cho nó một hình thể như Ngài đã muốn, giống nào có hình thể nấy. Không phải xác nào xác nấy như nhau cả ! Nhưng, xác người ta khác, xác súc vật khác, […]. Cũng vậy, về sự kẻ chết sống lại : gieo xuống trong hư hoại, sống lại trong bất hoại; gieo xuống trong ô nhục, sống lại trong vinh quang; gieo xuống trong yếu đuối, sống lại trong quyền năng; gieo xuống là xác khí huyết, sống lại là xác thần thiêng ! Nếu có xác khí huyết, thì cũng có xác thần thiêng. Ađam-người thứ nhất đã thành sinh khí sống động; còn Ađam cuối cùng đã nên thần khí tác sinh. Nhưng, không phải thần thiêng có trước mà là khí huyết, rồi mới đến thần thiêng. Người thứ nhất do tự đất, là người trần ai; người thứ hai do tự trời. Người trần ai kia sao, các người trần ai khác cũng vậy. Người thiên thai kia sao, các người thiên thai khác cũng vậy. Và, cũng như ta đã mang hình ảnh người trần ai, ta cũng hãy mang lấy hình ảnh của người thiên thai !...Nầy đây mầu nhiệm tôi xin nói với anh em  : Ta sẽ không chết hết thảy, nhưng hết thảy ta sẽ được biến đổi…Vì chưng, cái hư hoại nầy sẽ mặc lấy bất hoại, đồ chết dỡ nầy sẽ mặc lấy trường sinh bất tử.” (1 Cr 15, 35-53). 
Như chúng tôi đã lưu ý trên đây, nguyên mẫu của tình trạng nầy chính là Đức Giêsu-Kitô Phục sinh, và Đức Maria, Mẹ của Ngài. Nhưng, vấn đề đặt ra là tại sao thân xác của Đức Giêsu và của Đức Maria thì được hưởng ngay những đặc tính bất hoại và trường sinh bất tử ngay sau khi chết với một khoảng thời gian ngắn ngủi, còn thân xác của loài người chúng ta thì không, và phải đợi chờ mãi cho đến Ngày Cánh chung mới được sống lại ?  Theo thiển ý, bởi vì căn tính cánh chung của con người còn mang chiều kích tập thể nhân loại và lịch sử…

2.      Chiều kích tập thể nhân loại :
Trong thân phận thụ tạo của mình, dù đã được siêu độ, căn tính cánh chung của con người cũng không thể nào so sánh được với căn tính của Đức Giêsu-Kitô Phục sinh hay với tình trạng “thái hòa” nguyên mẫu nơi Đức Giêsu-Kitô Phục sinh, bởi vì, một đàng, căn tính cánh chung của chúng ta vốn là căn tính cánh chung “được tham dự” và mang tính lịch sử, vừa cá thể vừa tập thể…
Là căn tính cánh chung được tham dự, vì thế, nói theo ngôn ngữ thần học kinh điển, luôn bao hàm hai khía cạnh bề ngoài có vẻ nghịch lý : vừa là “cái đã có” (le “déjà là”) vừa là “cái chưa hoàn tất” (le “pas encore”); hay, nói theo ngôn ngữ triết học, là điều đã có đó, đã hiện hữu đó, nhưng chưa hiện diện đối với…
Vì thế, căn tính cánh chung được tham dự luôn bao hàm chiều kích lịch sử, chiều kích “đang trở thành” như tác giả của Thư gửi tín hữu Do thái hé lộ cho chúng ta thấy được một phần nào khía cạnh đó…
Thật vậy, tác giả của Thư gửi tín hữu Do thái ngoài việc để lộ cho thấy chiều kích cá thể còn hé lộ cho chúng ta thấy chiều kích tập thể nhân loại nầy :
“…thì sau khi đã dâng  lễ tế độc nhất của Ngài vì tội lỗi, Ngài đã lên ngự mãi mãi bên hữu Thiên Chúa, từ nay đợi cho quân thù  của Ngài phải đặt làm bệ chân Ngài. Vì bởi việc tiến dâng độc nhất, Ngài đã làm cho những kẻ được tác thánh nên thành toàn mãi mãi.” (Dt 10, 12-14).
“Thiên Chúa, vì dự liệu cho ta một cái gì hoàn hảo hơn, (thì đã không để) họ (những người đã chết trước công trình cứu độ của Đức Giêsu-Kitô) đạt thấu thành toàn mà lại không có chúng ta.” (Dt 11, 40).
Còn tác giả của Thư thứ nhất gửi tín hữu Côrinthô thì giải thích như sau :
“…Quả thế, cũng như nơi Ađam, mọi người đều phải chết, thì trong Đức Kitô, mọi người cũng sẽ được tác sinh. Nhưng ai theo thứ tự nấy, tiên thường là Đức Kitô, rồi đến các kẻ thuộc về Đức Kitô, vào buổi Quang lâm của Ngài. Rồi sẽ là cùng tận, lúc Ngài trao trả  vương quyền cho Thiên Chúa và là Cha, sau khi đã hủy ra không, mọi thiên phủ, mọi uy thế và quyền năng. Vì Ngài phải giữ quyền vua cho đến khi Ngài đặt mọi địch thù dưới chân Ngài. Địch thù cuối cùng bị hủy ra không là sự chết…Khi nói : muôn sự đều phải phục quyền, thì đã rõ là chỉ trừ Đấng đã bắt muôn sự phục quyền Ngài. Vì khi mọi sự đã phục quyền Ngài, thì bấy giờ Con cũng sẽ phục quyền Đấng đã bắt mọi sự phục quyền mình, ngõ hầu Thiên Chúa là tất cả trong mọi sự.” (1 Cr 15, 22-28).
Điều đó chứng tỏ cho thấy rằng vận mạng của con người không phải chỉ là vấn đề cá nhân mà luôn liên quan đến toàn thể nhân loại. Thật vậy, vận mạng của toàn thể nhân loại vốn liên đới với nhau : liên đới trong hiện hữu, liên đới trong sự sống, liên đới trong tội lỗi, liên đới trong sự chết, liên đới trong khổ đau, liên đới trong hạnh phúc, liên đới trong sự sống lại, liên đới trong Phục sinh, liên đới trong vinh quang, và liên đới trong việc thành toàn nhân tính, v.v…
Chiều kích cánh chung chính là chiều kích con người được sống sự sống vĩnh hằng, sự sống Tình yêu của Thiên Chúa-Ba Ngôi. Như chúng tôi đã có lưu ý trên đây, Tình Yêu chính là nơi hò hẹn, không chỉ của Ba Ngôi Thiên Chúa với nhau, mà còn là nơi hò hẹn của Mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi với loài người, của vĩnh hằng với thời gian…Tình Yêu chính là cái “Hôm Nay” trong tương quan giữa Thiên Chúa và con người và là cái ”Hôm nay” của toàn thể nhân loại hay nói cách khác là của toàn thể Giáo hội…
Như vậy, “trong thời gian : Hôm nay”, liệu con người vẫn có thể “sống” (zoé) mà không cần có sự hiện hữu của thân xác của mình chăng ? Chúng tôi cho rằng không phải hoàn toàn không cần xác thể, mà khi “sống” sự sống vĩnh hằng, trong thời gian, hoặc cả sau khi đã chết cách thể lý, con người “sống” trong nhân tính đã hợp nhất với thần tính của Đức Giêsu-Kitô mà đỉnh cao là trên thập giá (thí dụ trường hợp người trộm “lành”), như chúng tôi đã phân tích trên đây, và đặc biệt, trong thân xác phục sinh của Ngài (đối với tất cả loài người chúng ta) :
“Ngay hôm nay, ngươi sẽ ở trên thiên đàng làm một với Ta” (Lc 23, 43; xem thêm Mt 28, 20; Rm 14, 7-9).
“Ai ăn thịt và uống máu Ta thì có sự sống vĩnh hằng, và Ta sẽ cho nó sống lại trong ngày sau hết.” (Ga 6, 54).
Chính vì thế, thánh Phaolô đã có thể khẳng định : “Tôi sống, nhưng không còn là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi.” (Gl 2, 20). Gl 2, 20 không chỉ có nghĩa là căn tính “ngã vị” của con người cánh chung cắm rễ sâu trong căn tính “ngôi vị ngôi hiệp” của Đức Giêsu-Kitô phục sinh, mà còn có nghĩa ngã vị của con người có thể hợp nhất (chứ không đồng hoá đến độ biến tan đi như giọt nước hoà tan trong biển cả) nên một với Ngôi Vị ngôi hiệp của Đức Giêsu-Kitô phục sinh, hay nói cách khác, căn tính ngã vị cánh chung của con người là một căn tính “được tham dự” (une identité participée).
Để diễn tả sư hiệp nhất và liên đới giữa ngã vị cánh chung của con người và Ngôi Vị ngôi hiệp của mình, Đức Giêsu đã dùng hình ảnh mối tương quan giữa “cây nho” và “nhánh nho” :
“Cây nho chính là Ta, các ngươi là nhánh. Ai lưu lại trong Ta và Ta trong kẻ ấy, thì nó sinh nhiều quả, vì ngoài Ta, các ngươi không thể làm gì” (Ga 15, 5).
Thánh Phaolô thì sử dụng hình ảnh “thân mình” và “các bộ phận” hay “các chi thể” :
“Vì cũng như thân mình chỉ là một, nhưng lại có nhiều bộ phận, và hết thảy các bộ phận nầy tuy là nhiều cũng chỉ là một thân mình, thì Đức Kitô cũng vậy.” (1 Cr 12, 12 tt).
Hai hình ảnh nầy cho thấy, một đàng, giữa Đức Kitô và nhân loại toàn thể nói chung hợp nhất với nhau thành chỉ còn là một “thân mình chung” không thể chia cắt hay tách rời ra; và đàng khác, đây là một “thân mình” sống chung cùng một “sự sống”,  hay sống nhờ cùng một thứ nhựa sống duy nhất chung cho toàn thể : ở đây, khái niệm “bản ngã bản thể” lẻ loi, đơn độc của khuynh hướng triết học và thần học kinh điển nói chung không thể nào có khả năng diễn tả được căn tính của “ngã vị cánh chung” nầy của con người trong tương quan với Đức Giêsu-Kitô !
Đó chính là nền tảng của mầu nhiệm Giáo Hội là Thân Mình của Đức Giêsu-Kitô :
“Thiên Chúa đã đặt tất cả dưới chân Đức Kitô và đã ban cho Đức Kitô đứng trên vạn vật, làm Đầu Hội Thánh, vốn là chính Thân Mình Ngài, sự viên mãn của Đấng viên thành vạn sự trong mọi người.” (Ep 1, 22-23).
Và, đó cũng chính là cơ sở nền tảng của những đặc tính mầu nhiệm, hiệp thông và sứ vụ của Giáo Hội.
Như trên đây đã có lưu ý, nếu nhân tính của Đức Giêsu-Kitô là “hiện thân” của toàn thể nhân loại, và nếu nhân tính của Ngài, qua việc sống trọn vẹn tình yêu dâng hiến trên thập giá, đã hiệp nhất nên một với thần tính của Ngài, hay nói cách khác, là được thánh hoá, được thần linh hoá, thì điều đó cũng có nghĩa là nhân loại toàn thể, trong Ngài và cùng với Ngài, cũng đã được thánh hoá, được thần linh hoá, được siêu độ, được tái sinh, được phục hồi lại dung mạo nguyên thủy của mình là Hình Ảnh của Thiên Chúa và giống như Thiên Chúa, được phục hồi lại các tương quan với Thiên Chúa, với tha nhân, với thiên nhiên vũ trụ và cuối cùng với chính bản thân mình…
Hay nói cách khác, căn tính cánh chung của nhân loại toàn thể là căn tính mà trong đó tất cả mọi kẻ thù của nhân loại (tội lỗi, sự chết, sa tan, ma qủi…) đều đã bị Đức Giêsu-Kitô đánh bại và khử trừ vĩnh viễn (xem Rm 8, 3; 2 Cr 5, 21; Dt 2, 14-18). Vấn đề gai góc đặt ra ở đây là nếu với một căn tính cánh chung như vậy, tại sao con người vẫn còn bị sa ngã, phạm tội và chết ? Ở đây, trước khi giải quyết vấn nạn nầy, có hai vấn đề cần phải xem xét : yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan.
 Yếu tố khách quan : Phía khách quan, tức là từ phía Đức Giêsu-Kitô, vấn đề đã được giải quyết cách dứt khoát, trọn vẹn, một lần thay cho tất cả…Nghĩa là nơi nhân tính của Ngài tất cả mọi “kẻ thù” (tội lỗi, sự chết, satan, ma qủi…) đều đã hoàn toàn bị đánh bại và tiêu diệt trên đỉnh thập giá (xem Dt 10, 14; Pl 2, 8-11). Vì thế, trong Đức Giêsu-Kitô và cùng với Ngài, toàn thể nhân loại đều đã được “giải phóng” thoát khỏi mọi thứ ách nô lệ.
Có một điều cần lưu ý ở đây là bản thân Đức Giêsu-Kitô thì không bao giờ phạm tội (Dt 4, 15), nên tội lỗi bị tiêu diệt nói ở đây là tội lỗi của toàn thể loài người mà Ngài trong mầu nhiệm ngôi hiệp đã nhận là của mình (appropriation), khi trong biến cố Nhập Thể Ngài nhận nhân tính là của mình. Khi nhận nhân tính là của mình, đồng thời Ngài cũng nhận tất cả những hệ lụy có thể có kèm theo với nhân tính (như những thử thách, những cám dỗ, tội lỗi, những vui buồn sướng khổ, sự chết, v.v…).
 Yếu tố chủ quan : Ơn siêu độ, như vậy, là đã được trao ban cho tất cả mọi người, không phân biệt, và một cách tràn đầy, một lần thay cho tất cả (communication). Vấn đề ở đây là con người, trong tư cách cá vị, có nhận “cái đó” là của mình hay không (appropriation), bởi vì con người vốn tự do ? Ơn siêu độ đã hiện hữu ở đấy (“déjà”) nơi tất cả mọi người, nhưng chưa hiện diện (“pas encore”) đối với  tất cả mọi người, và vì thế, con người chưa nhận ra được Tình yêu của Thiên Chúa và tỉnh trạng tội lỗi của mình, như người thu thuế trong dụ ngôn “Người biệt phái và người thu thuế” (Lc 18, 10-14)…
Nguyên nhân của tình trạng nghịch lý nầy vốn đa dạng và phức tạp : vì không biết đến, hoặc có biết mà quá ít, hoặc có biết mà vẫn cố tình chối từ…Vì thế, nỗ lực loan báo Tin Mừng, giảng dạy và thánh hoá  phải là những sứ vụ hàng đầu của Giáo Hội…
Thật vậy, một khi biết được, nhận ra được và ý thức được về căn tính cánh chung hay là đã được “siêu độ” đó, trong cùng lúc người ta sẽ vừa nhận ra được Cha đã yêu thương thế gian đến độ đã thí người Con duy nhất của Ngài (xem Ga 3, 16), vừa được đặt mình vào trong sự sống tình yêu vĩnh hằng của chính Thiên Chúa-Tình Yêu, và đó chính là sự sống vĩnh hằng (Ga 17,3; 1Ga 3,6.9.10).
“Quả vậy, anh em đã chết và sự sống của anh em đã được ẩn tàng nơi Thiên Chúa, làm một với Đức Kitô; khi nào Đức Kitô, sự sống của ta tỏ hiện, thì khi ấy cả anh em nữa, anh em cũng sẽ được tỏ hiện làm một với Ngài trong vinh quang.” (Cl 3, 3-4).
“Quả thế, hiện giờ ta thấy, như ở trong gương, cách mường tượng. Bấy giờ thì tận mắt, diện đối diện. Hiện giờ ta biết một cách khuy khuyết, nhưng bấy giờ ta sẽ biết, cũng như (Thiên Chúa) biết ta.” (1Cr 13,12).
Sự thành toàn của Giáo hội, Thân Mình của Đức Giêsu-Kitô, vì thế, được lập căn trên sự thành toàn của mỗi một con người :
“Mà anh em là thân mình của Đức Kitô, và ai theo phận nấy mà làm chi thể.” (1 Cr 12, 27).
Ở đây, cũng cần lưu ý rằng sự sống vĩnh hằng hay sự siêu độ không đến từ chỉ con người, từ “bên dưới” (do những hành vi, do những công phúc mình làm cho mình…), mà chủ yếu đến từ “bên trên”, từ Thiên Chúa (Lc 18, 9-14; Ga 3, 7)… Điều đó, bởi vì sự sống vĩnh hằng không phải là một “sự vật” (une chose) mà là một Tình Yêu (un Amour). Thế mà, Tình Yêu luôn luôn bao hàm những tương quan giữa các đối tác (partenaires), ở đây, giữa Ba Ngôi Vị Thiên Chúa và con người, và giữa con người với nhau…

TẠM KẾT :
Như vậy là chúng ta đã rão qua các vấn đề căn tính của Đức Giêsu-Kitô trước và sau biến cố Phục sinh, và căn tính cánh chung của loài người (cá nhân và tập thể) và tương quan giữa hai căn tính nầy với nhau, qua lăng kính tư tưởng “tam tài” của Đông phương (“Thiên-Địa-Nhân hòa”); và trên cơ sở những khác biệt giữa các khái niệm về sự sống và sự chết, trong ngôn ngữ Thánh Kinh, chúng ta cũng có đề cập sơ qua sự hoàn tất cánh chung vừa mang tính cá thể vừa mang tính tập thể nhân loại và Giáo hội; chúng ta cũng đã xem xét cách khái quát và sơ bộ những khái niệm về : ngã vị cánh chung, ngã vị cá thể, ngã vị tập thể, và bản ngã “bản thể”, v.v…, về sự tồn hữu của chúng, và tương quan giữa chúng với nhau; chúng ta cũng đã có đề cập đến một số vấn đề như : sự gặp gỡ tương phùng trong thời gian giữa Thiên Chúa-Ba Ngôi và loài người (theo nghĩa cá nhân và tập thể), giữa vĩnh hằng và thời gian…
Trên những cơ sở đó, chúng tôi cũng đã mạo muội đề xuất một số giải pháp cho một số vấn đề thần học từ trước tới nay vốn rất nhạy cảm, với mong ước sẽ tạo ra được một diễn đàn trao đổi thần học lành mạnh, đáp ứng được niềm mong mỏi của các vị lãnh đạo trong Giáo Hội Châu Á và Việt Nam của chúng ta là đem Tin Mừng hội nhập vào trong các nền văn hoá bản địa…
 
 

05. VỀ BA “NGUỒN CHỨNG CỨ PHỤC SINH”

Theo Thánh Kinh, đặc biệt các tường thuật Tin Mừng sau Phục sinh, có ít nhất là ba “nguồn chứng cứ liên can đến sự Phục Sinh” :
1) Từ “các lời đã báo trước”;
2) Từ dữ kiện “ngôi mộ trống”;
3) Từ các nhân chứng đã mục thị Đức Giêsu đã chết nay vẫn sống…
Các tường thuật Phục sinh cũng còn chứng tỏ cho thấy rằng ba nguồn chứng cứ nầy, một đàng, vốn liên đới với nhau và bổ sung cho nhau, đàng khác, liên đới và tùy thuộc vào thái độ “tin-cậy-mến” của mỗi người…

I.       TỪ “CÁC LỜI ĐÃ BÁO TRƯỚC” :

1.      Các dữ kiện :
Các lời đã báo trước bao gồm các Ý định đã trù liệu trước của chính Thiên Chúa (Cv 2, 23-24), các lời của chính Đức Giêsu trước khi “chết” (Mc 8, 31; 9, 31; 10, 33-34; Mt 16, 21; 17, 22-23; 20, 18-19; Lc 9, 22; 9, 44-45; 18, 31-34; v.v…) và các lời tiên tri trong Cựu Ước (xem Lc 24, 25-27; Cv 3, 21-28; 8, 31-35; 1 Pr 1, 11; v.v…):
 
“…thể theo ý định đã vạch sẵn và sự dự tri của Thiên Chúa…” (Cv 2, 23).
“Và Ngài bắt đầu giảng dạy họ rằng : ‘Con người phải chịu nhiều đau khổ, và bị hàng niên trưởng và các thượng tế cùng ký lục phế thải, bị giết đi, và sau ba ngày sẽ sống lại’.” (Mc 8, 31)
“Bấy giờ, Ngài mới nói cùng họ : ‘Hỡi những kẻ ngu độn và trí lòng chậm tin vào mọi điều các tiên tri đã nói ! Thế thì Đức Kitô lại không phải chịu khổ nạn như thế đã, rồi mới vào vinh quang của Ngài sao ?’ Và, khởi từ Môsê và hết thảy các tiên tri, Ngài dẫn giải cho họ các điều đã viết về Ngài trong toàn bộ Kinh Thánh” (Lc 24, 25-27).

2.      Các phản ứng :
 Nói chung, phản ứng của các Tông đồ và các môn đệ của Chúa Giêsu là không tin, không hiểu và vì thế không mấy quan tâm và để ý đến các lời loan báo trước nầy (xem Lc 24, 25; Mc 9, 32; Mt 16, 22; 17, 23; Lc 9, 45; 18, 34; v.v…)…Vì thế, phản ứng chung ban đầu của các Tông đồ và các môn đệ của Chúa Giêsu sau khi Ngài “chết” là hoang mang, lo âu, sợ hãi và thất vọng…
Nhưng, một khi đã nhớ lại được và hiểu được những lời loan báo trước đó, cùng với sự “gặp gỡ được chính Đức Giêsu Phục sinh”, niềm tin, tỉnh yêu và niềm hy vọng sẽ tràn ngập cõi lòng họ, và có khả năng thay đổi hoàn toàn con người của họ : đó chính là Thần Khí Tình Yêu của Đức Giêsu-Kitô Phục sinh đang hiện diện trong con người và hiện sinh của họ…(xem Lc 24, 6-8.31-35; ).

II.      TỪ DỮ KIỆN “NGÔI MỘ TRỐNG” :

1.      Dữ kiện :
Cả bốn tác giả các Sách Tin Mừng đều có nói tới dữ kiện nầy (Mc 16,1-9; Mt 28,1-10; Lc 24,1-12; Ga 20,1-2) :
“Ngày thứ nhất trong tuần, vừa tang tảng bình minh, các bà đến mồ, có mang theo hương liệu họ đã dọn sẵn. Và họ thấy viên đá đã lăn ra khỏi mồ, nhưng khi vào trong, họ không gặp thấy xác Chúa Giêsu.” (Lc 24, 1-2)
2.      Các phản ứng :
Đối diện với dữ kiện “ngôi mộ trống”, có nhiều phản ứng khác nhau :
a.       Các thượng tế và hàng niên trưởng, vì một cách tiên thiên đã không tin, nên đã “phao tin thất thiệt”:
“Các thượng tế hội cùng hàng niên trưởng, và sau khi đã bàn bạc, thì họ cho lính tráng một số tiền lớn, mà rằng : ‘Các anh hãy nói : Môn đồ hắn đã đến ban đêm trộm hắn, đang lúc chúng tôi ngủ” (Mt 28, 12-13).
b.      Phêrô, các Tông đồ và các môn đệ khác : Thái độ chủ yếu của Phêrô và của họ là “kinh ngạc” vì “chậm hiểu” các lời đã báo trước, và vì thế không mấy tha thiết với dữ kiện “mồ trống” nầy (Lc 24, 11-12; Ga 20, 6-7.9-10) :
“Nhưng Phêrô chỗi dậy chạy đến mồ. Cúi mình nhìn vào, ông thấy chỉ có những dải vải mà thôi. Và ông lui về nhà, kinh ngạc về sự xãy ra” (Lc 24, 12).
c.       “Người môn đệ kia (?)” : Cùng với Phêrô, cả hai cùng thấy những dữ kiện như nhau, nhưng “người môn đệ kia” “đã thấy và đã tin” (Ga 20, 8). Có vẻ như ở đây, Thánh Kinh chứng tỏ cho thấy có một tương quan mật thiết và hỗ tương giữa lòng mến, niềm tin và sự nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc đời nầy: càng được yêu mến nhiều và càng yêu nhiều càng dễ tin, tin nhiều và nhanh chóng nhận ra được sự hiện diện của Đức Kitô phục sinh…Chẳng phải “người môn đệ kia” cũng là người đã đuợc Chúa Giêsu yếu mến nhiều và ngài cũng yêu mến Thầy mình nhiều đó sao ? (xem Ga 13, 23; 19, 25; 21, 7). Chỉ có Tình Yêu mới có đôi con mắt nhìn ra chân tướng của mọi sự và mọi người và cả chính sự hiện diện tình yêu của Thiên Chúa giữa lòng lịch sử. Trong ngôn ngữ nhà Phật, cái nhìn đó được gọi là “tâm nhãn”…
d.      Maria thành Magđala và một số người phụ nữ khác từng đi theo Chúa Giêsu (xem Lc 24, 10) : Có vẻ như đối diện với dữ kiện “ngôi mộ trống”, những người phụ nữ nầy cũng chẳng hiểu gì nhiều hơn so với các Tông đồ và môn đệ khác của Chúa Giêsu (xem Ga 20, 13.15). Nhưng, bù lại, họ có trái tim : họ yêu mến Đức Giêsu khi “còn sống” cũng như “sau khi Ngài đã chết”. Những người phụ nữ nầy không nhìn con người Đức Giêsu và các biến cố liên quan đến Ngài qua lăng kính lý trí, toan tính hơn thiệt, mà bằng cả trái tim, tức là nhìn qua “tâm nhãn”…(xem Ga 20, 1.11; Mt 28, 1; Mc 16, 1-3; Lc 24, 1). Và, liệu phải chăng chính bằng cái nhìn “tâm nhãn” đó mà Maria thành Magđala và những người phụ nữ đã từng đi theo Chúa Giêsu đó là những người “đầu tiên” đã được gặp gỡ Đức Giêsu Phục Sinh và chính họ là những người “đầu tiên” loan báo Tin Mừng Phục Sinh thậm chí cho cả các Tông đồ ? (xem Lc 24, 10; Ga 20, 18)…
Thật vậy, có thể các phụ nữ nầy đã không tin Đức Giêsu, Thầy mình, sẽ sống lại, và cũng không hy vọng thế:
“…Bà nói : ‘Người ta đã cất Chúa tôi đi, mà tôi không biết họ đã đặt Ngài ở đâu ? …Thưa ông, nếu chính ông đã đem Ngài đi, xin nói cho tôi biết : ông đã đặt Ngài ở đâu, tôi sẽ đến cất lấy Ngài’.” (Ga 20, 13.15).
 Nhưng, có một điều chắc chắn là họ đã yêu mến Ngài khi Ngài còn sống cũng như khi Ngài “đã chết”: cần lưu ý Maria thành Magđala trong Ga 20,13.15 không nói người ta cất hay đem “xác Chúa tôi” mà là “cất Chúa tôi đi” và “đem Ngài đi” (x. Ga 20,11.13.15.17). Và, đó chính mới là điều quan trọng : Tình Yêu. Và, chính trong Tình Yêu đối với Đức Giêsu-Kitô đã mặc nhiên bao hàm Niềm Tin và Niềm Hy vọng (xem 1 Cr 13,13; 1 Ga 4, 16)…
III.    TỪ CÁC NHÂN CHỨNG… :
“…Chúng tôi là chứng nhân về mọi điều Ngài đã làm trong vùng  người Do Thái và ở Giêrusalem , Ngài mà họ đã treo trên súc gỗ mà giết đi. Chính Ngài, Thiên Chúa đã làm cho sống lại ngày thứ ba, và đã cho hiện tỏ, không phải cho toàn dân, nhưng là cho những nhân chứng Thiên Chúa đã chọn trước, tức là chúng tôi, những kẻ đã được cùng ăn cùng uống với Ngài, sau khi Ngài đã sống lại từ cõi chết…” (Cv 10, 39-41).
“Vậy, trong hàng những người đã cùng đi với chúng tôi, suốt cả thời gian Chúa Giêsu đã ra vào giữa chúng tôi, khởi từ lúc Gioan thanh tẩy, cho đến ngày Đức Giêsu bị cất khỏi chúng tôi, phải chọn thêm một người để cùng với chúng tôi làm chứng cho sự sống lại của Ngài” (Cv 1, 21-22).
1.      Nhân chứng là những kẻ đã được Thiên Chúa tuyển chọn : Không phải bất cứ ai cũng có thể là nhân chứng, mà chỉ những ai đã được Thiên Chúa tuyển chọn. Vì thế, đó là một ơn gọi có tính liên vị (une vocation interpersonnelle), tức là giữa các ngã vị với nhau, chứ không phải là một ơn gọi chung chung, trừu tượng, trung tính. Điều đó đòi hỏi phải có những tương quan mật thiết với nhau, tương quan tình yêu : có những mời gọi và có những đáp trả, có những chung sống và cùng có những kỷ niệm chung với nhau (xem Ga 20, 14-16; Lc 24, 30-31)…
2.      Nhân chứng Phục sinh phải là những kẻ đã từng mục thị và chung sống với Đức Giêsu trước và sau Biến cố Phục Sinh : có nghĩa đó phải là những con người “trong cuộc”, nhờ đó niềm xác tín mới đủ mạnh mẽ để có thể từ đó thay đổi cả một đời còn lại: từ những kẻ đầy tham vọng, đầy toan tính nhỏ mọn, cá nhân, nhút nhát, sợ hãi, tham sống, sợ chết của Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, họ trờ thành những chứng nhân suốt đời cho Đức Kitô Phục Sinh, cho Giáo hội của Ngài và cho tha nhân, đến độ hy sinh cả tính mạng của mình vì Tình Yêu, như chính Đức Giêsu-Kitô, Thầy của họ…
Và, chính vì thế, họ mới trở thành những chứng nhân khả tín cho chúng ta và cho mọi người, mọi nơi và mọi thời đại…
Và, đến lượt chúng ta, cũng vậy, chỉ có một tình yêu dâng hiến tột cùng như thế, đến độ dám hy sinh cả mạng sống mình vì tình yêu đối với Thiên Chúa, với Đức Giêsu-Kitô, với Giáo hội của Ngài và với mọi người, mà chúng ta và Giáo hội chúng ta mới có thể trở thành những chứng nhân “khả tín” trong một thế giới, như thế giới chúng ta đang sống, vốn tin vào những chứng nhân hơn là những thầy dạy…
 
 

06. NGUYÊN NHÂN VÀ NHỮNG HIỆU QUẢ CỦA “ƠN CỨU ĐỘ”

Trong ngôn ngữ “nhà đạo” của chúng ta, khi đề cập đến những vấn đề nầy, thường có một tình trạng thiếu rõ ràng và phiến diện. Thật vậy, thí dụ, khi nói về  nguyên nhân của việc Thiên Chúa “đến”, người ta trả lời ngay là vì con người đã phạm tội, nên Thiên Chúa “đến” để “cứu”; vì thế, khi đề cập đến những “hiệu quả” của “ơn cứu độ” người ta cũng thường chỉ để ý đến “nội hàm tiêu cực” của khái niệm cứu độ là cứu, là giải thoát ra khỏi một hoàn cảnh nguy hiểm, xấu hay không như mong ước, và gần như lãng quên “nội hàm tích cực” của nó là có lại sự sống, và là sự sống vĩnh hằng, sự sống Tình yêu của Thiên Chúa … Cũng như, khi đề cập Bí tích Thánh tẩy, thường người ta cũng chỉ nhấn mạnh “nội hàm tiêu cực” là “thanh tẩy” mà ít quan tâm đến “nội hàm tích cực” của Bí tích nầy là “được trở nên con của Thiên Chúa”… Các lối nói “cứu độ”, “cứu chuộc” và “phép rửa” hay “bí tích thanh tẩy” phản ánh cho chúng ta tình trạng đáng buồn đó… Đã hẳn, những lối nói và những cách nhìn như vậy không có gì sai trái cả, mà chỉ là không đủ thôi.
Nguyên nhân của lối nhìn như thế, vốn rất phức tạp, mà phạm vi hạn hẹp của bài nầy không cho phép đào sâu hơn. Ở đây, chúng tôi mạn phép chia sẻ một vài gợi ý chủ quan của mỉnh, như một đóng góp nhỏ bé trong Tuần Thánh nầy, đồng thời cũng như một câu trả lời mang tính gợi ý cho một người bạn của chúng tôi là linh mục H.T, thuộc Tu hội Xuân Bích Việt Nam, đang dọn Luận án Tiến sĩ về Thần học hệ thống, với chủ đề “VỀ CÁI CHẾT CỦA ĐỨC GIÊSU”, tại Institut Catholique de Paris, và đã có nhã ý nhờ chúng tôi góp ý với ngài về đề tài nầy, nhưng cho đến nay, chúng tôi vẫn chưa đáp ứng được.
I.       MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN
1.      Một số cách nhìn cũ thường thiếu sự liên kết giữa mầu nhiệm Sáng tạo, mầu nhiệm Mặc khải và mầu nhiệm Cứu độ : điều nầy vốn đã được Công đồng Vatican II nhấn mạnh trong Hiến chế tín lý DEI VERBUM (DV n° 2). Giữa ba hành vi nầy có một sự hiệp nhất, liên đới với nhau cách chặt chẽ và đồng thời với nhau : vì Tình Yêu dạt dào, Thiên Chúa đã sáng tạo nên con người nhằm mặc khải cho con người được biết Ngài là Ai và chia sẻ cho con người hạnh phúc được sống sự sống Tình yêu của Ngài. Khởi điểm của Thần học nói chung và của Thần học về “Ơn Cứu độ” nói riêng, vì thế, nên khởi đi từ dung mạo  “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1 Ga 4, 16). Và, Tình Yêu của Thiên Chúa vốn là một Tình Yêu hoàn toàn “nhưng không” tức là hoàn toàn “vô điều kiện”, “vô vị lợi” và “vô biên giới” (Rm 5, 6 tt; Tt 3, 5; 1 Ga 4, 10-19; Lc 6, 36; v.v…). Trong điều kiện như thế, những lối suy nghĩ và nói như kiểu “Thiên Chúa đến với con người” bởi vì con người đã phạm tội, vì thế, để cứu con người…, đều mang ý nghĩa “điều kiện hóa” Tình Yêu nhưng không của Thiên Chúa, và vì thế, đều không chấp nhận được… Và, người ta sẽ trả lời như thế nào đây cho một câu hỏi như thế nầy : Nếu con người không phạm tội, liệu Thiên Chúa có “đến” với con người không ?
2.      Ngoài ra, phần đông các khuynh hướng thần học từ Kinh viện đến Công đồng chung Vatican II, có vẻ như ít để ý đến chiều kích “ngôi vị’ trong “ơn cứu độ” : Đức Giêsu-Kitô chính là biến cố cứu độ và là ơn cứu độ . Nghĩa là hiệu quả của “ơn cứu độ” không đơn giản chỉ là “cứu” hay “rửa sạch” mà là đặt con người vào lại trong sự sống trong tương quan với Mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi : “…Nhưng, phải ăn khao mà mừng chứ, vì em con đó, nó đã chết  mà lại sống, đã mất đi mà lại tìm thấy được” (Lc 15, 32). “Ơn cứu độ”, vì thế, chỉ có thể hiểu được cách trọn vẹn và đầy đủ qua lăng kính Tình Yêu mà thôi…
II.      ƠN CỨU ĐỘ VÀ TÌNH YÊU THIÊN CHÚA
Thật vậy, nếu Origène đã có thể khẳng định rằng chính Đức Giêsu là Tin Mừng và rằng đích thân Đức Giêsu là Vương quốc , thì cũng có thể nói rằng chính Đức Giêsu là ‘Ơn cứu độ”. Lịch sử của “ơn cứu độ”, vì thế, là lịch sử của các ngôi vị tự do, hay nói theo ngôn ngữ của Bernard Sesboüé, “lịch sử ơn cứu độ được đan dệt nên bởi những phản ứng tương tác giữa tự do của Thiên Chúa và các tự do của con người” .
Những “hiệu quả” của ơn Cứu độ, như vậy, cũng mang dung mạo của tương quan giữa các ngôi vị. Thật vậy, “được ơn cứu độ”, trước tiên, có nghĩa là “được đi vào trong tương quan với chính Đức Giêsu-Kitô”, qua đó, “được đi vào trong tương quan với mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi”, “được phục hồi tư cách là con của Thiên Chúa” hay nói cách khác “được sống sự sống Tình Yêu Phụ-tử của Thiên Chúa” (Lc 15, 22-24). Đó chính là lý do tại sao trong Tin Mừng thứ tư đã có những khẳng định như thế nầy : “Ai tin Con có sự sống vĩnh hằng” (Ga 3, 16.36) và “Ai tin vào Đấng đã sai Thầy có sự sống vĩnh hằng” (Ga 5, 24). Và, ngược lại, tin cũng đồng nghĩa với “được ơn cứu độ” (xem 1 Cr 1, 21).
Thứ đến, “được ơn cứu độ” có nghĩa là “đã tạo ra được một bước Vượt qua” từ tình trạng cũ qua tình trạng mới (Lc 15, 20 : “Và nó đã chỗi dậy mà về cùng cha nó”) : từ tình trạng sống mà vẫn như chết ( tức là sống mà không có tương quan yêu thương) qua tình trạng sống sự sống yêu thương như Thiên Chúa; từ tình trạng bị đánh mất mình (tình trạng vong thân, tha hoá) qua tình trạng tìm lại được mình và tha nhân (Lc 15, 32).
Tiếp đến, “được ơn cứu độ” cũng có nghĩa là “cảm nhận được nhu cầu cần được cứu độ, cần quay trở về” (Lc 15, 17-19). Điều nầy, dĩ nhiên, đòi hỏi người ta phải nhận ra được hoàn cảnh “bi đát” hiện tại của mình (Lc 15, 14-17), cảm nhận ra được tình trạng “bệnh hoạn” của mình (Lc 5, 31-32; Lc 14, 10-14).
Sau cùng, “được ơn cứu độ” còn có nghĩa là “cảm nhận ra được mình còn có một quê hương, một mái nhà, một gia đình êm ấm, hạnh phúc để mà trở về và một người cha đầy yêu thương đang đợi chờ mình để cùng sống với” (Lc 15, 17-24). Hay nói cách khác, “được cứu độ” là nhận thức được rằng đã có một thời mình đã có một cuộc sống hạnh phúc bên cha và trong nhà cha. Hạnh phúc hay là bất hạnh là do cái trò chơi của tự do : tự do của Thiên Chúa-Cha và tự do của con người, như là những ngôi vị (Lc 15, 11-13). Chính tự do được ban cho đó làm nên căn tính của con người. Tự do là yếu tính của Tình Yêu. Chính vì thế, Đức Giêsu đã khẳng định : “Không có tình yêu nào vĩ đại hơn tình yêu của kẻ thí mạng mình vì người mình yêu mến” (Ga 15, 13).
III.    THẬP GIÁ VÀ TÌNH YÊU “CỨU ĐỘ”
Trước tiên, cần phải nói ngay rằng, tự nó, Thập Giá (khổ đau và cái chết) không phải là mục đích, mà chỉ là công cụ, phương tiện để bày tỏ tình yêu. Hay nói cách khác, nếu không vì tình yêu, không vì sự sống đích thực, không có sự phục sinh, Thập Giá là phi lý, vô nghĩa…
Chính vì thế, trong ngôn ngữ của Gioan, “giờ Thập Giá” chính là “Giờ vinh quang” (Ga 12, 23; 13, 31-32; v.v…). Tại sao vậy ? Tại vì, ở nơi Thập Giá chính là lúc mà Tình Yêu dâng hiến và vị tha (“vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta”) đạt đến đỉnh điểm của nó : chính ở nơi hành vi dâng hiến tất cả trên Thập Giá (hành vi dâng hiến cuối cùng là giao nộp Thần Khí của Con cho Cha) là lúc mà sự cứu độ diễn ra (Ga 19, 30), tức là lúc mà nhân tính của Đức Giêsu-Kitô hoàn toàn được thần linh hoá, được siêu độ, hay được trở về lại tình trạng nguyên thủy của Vuờn Địa đàng ngày xưa…Hay nói cách khác, đó chính là lúc các mối tương giao nguyên thủy được phục hồi lại nguyên vẹn trong Đức Giêsu-Kitô : tương quan giữa con người với Thiên Chúa, với tha nhân, với thiên nhiên vũ trụ và với chính bản thân mình… Con người “trong Đức Giêsu-Kitô” được quay trở về với “nhà của cha mình”, “nhà của anh em mình” và “nhà của mình”…Đó chính là lý do tại sao Đức Giêsu đã nói : “Vì kẻ nào muốn cứu lấy sự sống mình, thì sẽ mất; còn kẻ nào mất sự sống mình vì Thầy, và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu nó” (Mc 8, 35). Giá trị “cứu độ” của cái chết của Đức Giêsu cũng phải được hiểu qua lăng kính và chân trời đó…
Tóm lại, Tình Yêu, tự do và Thập Giá, vì thế, là ba khái niệm-chìa khóa để có thể hiểu được mầu nhiệm “ơn cứu độ”…Và có thể nói rằng dụ ngôn “Người cha nhân từ” của Lc  15, 11-32 chính là nguyên mẫu (proto-type) của “ơn cứu độ”…
 
 

07. THẬP GIÁ VÀ PHỤC SINH

Nơi Đức Giêsu-Kitô, Ngôi Lời Nhập Thể, Thập Giá và Phục Sinh là hai mặt của chỉ một Thực tại duy nhất là Tình Yêu của Thiên Chúa. Chúng ta sẽ hiểu được điều đó khi hiểu được “những nghịch lý” trong Tình Yêu và trong Tin Mừng của Đức Giêsu-Kitô : chết đi-sống lại, mất-còn, mất-tìm lại được, cho đi-nhận lại, tự hủy-tồn tại, đau khổ-hạnh phúc, ra đi-trở về, v.v… (Mc 8, 35; Mt 10, 39; Lc 17, 33; Ga 12, 24-25; Lc 15, 24.32); hay nói theo ngôn ngữ Đông phương : Âm và Dương luôn gắn bó mật thiết với nhau và chuyển hóa cho nhau : âm cực sinh dương, dương cực sinh âm…
I.       Ở NƠI MẦU NHIỆM THIÊN CHÚA-BA NGÔI
Có thể nói rằng những “đối nghịch” (oppositions) trong tương quan giữa Ba Ngôi Vị (Cha-Con-Thánh Thần) là hình ảnh phản ảnh chính xác nhất của Tình Yêu và những nghịch lý của Tin Mừng : sự đối nghịch vừa mang tính chất “tình yêu và đau khổ”. Thật vậy, khi Thiên Chúa yêu đến cùng cực đó chính là lúc Thiên Chúa “ra khỏi chính mình” : đây là nguồn gốc của hành vi nhiệm sinh Con, hoàn toàn như Cha, chỉ trừ cương vị là Cha; và khi Con yêu Cha đến cùng cực là Con hiệp nhất cùng cực với Cha. Và khi Cha và Con yêu nhau đến cùng cực là lúc Hai Đấng “cùng đi ra khỏi chính mình” : đây là nguồn gốc của hành vi nhiệm xuất ra Thần Khí…Đó chính là điều mà các sách Tin Mừng gọi là những nghịch lý  “đánh mất mình để là mình” (Lc 15, 24.32; Mc 8, 35 và song song); hay nói theo ngôn ngữ Đông phương : âm cực sinh dương, dương cực sinh âm…
II.      Ở NƠI MẦU NHIỆM SÁNG TẠO
Và, khi Ba Ngôi Thiên Chúa yêu nhau đến cùng cực, thì “trong Con-Ngôi Lời”, Hình Ảnh hữu hình của Thiên Chúa vô hình (Cl 1, 15; 1 Cr 11, 7; 2 Cr 4, 4), tức là “trong Thiên Chúa”, vì Tình Yêu, công trình Sáng tạo diễn ra…(xem Hiến chế tín lý MK, số 2)… Có vẻ như qui trình “nghịch lý Tin Mừng” vẫn là một, dù đó là nơi Kết đồ tế thế diễn ra trong lịch sử (Economie) hay bên trong Thực tại nội thân của Mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi : ban cho-đón nhận, ra đi-trở về, hiện hữu cho (pro-existence)-hiện hữu (existence), đánh mất-tìm lại được, chết-sống, v.v…
III.    Ở NƠI MẦU NHIỆM NHẬP THỂ CỦA NGÔI LỜI
Những nghịch lý của Tin Mừng sẽ được bày tỏ cách rõ ràng nơi Mầu nhiệm Nhập Thể của Ngôi Lời, cách đặc biệt qua ngôn ngữ của Thánh Phaolô :
“Ngài, phận là phận của một vì Thiên Chúa, nhưng Ngài đã không nghĩ phải giằng cho được chức vị đồng hàng cùng Thiên Chúa.
Song Ngài đã hủy mình ra không, là lĩnh lấy thân phận tôi đòi, trở thành giống hẳn người ta; đem thân đội lố người phàm,
Ngài đã hạ mình thấp hèn, trở thành vâng phục cho đến chết, và là cái chết thập giá !
Bởi vậy, Thiên Chúa đã siêu tôn Ngài !
Và ban cho Ngài Danh hiệu, vuợt quá mọi danh hiệu, …” (Pl 2, 6-9).
Người ta gọi đó là mầu nhiệm “tự hủy” (kénose) : mất đi để mà được lại, chết đi để mà được sống, âm cực thì sinh dương… (xem Ga 10, 17-18; Rm 5, 8; 8, 32; 1 Ga 3, 1; Gl 4, 4-7).
IV.    THẬP GIÁ VÀ PHỤC SINH
Như trong bài viết “Nguyên nhân và những Hiệu quả của Ơn Cứu độ”, chúng tôi đã có lưu ý, Thập giá, tự nó, không phải là mục đích hay cứu cánh, mà chỉ là phương tiện, công cụ để bày tỏ Tình Yêu, bởi vì chỉ có Tình Yêu dâng hiến và vị tha mới có khả năng làm thay đổi, canh tân thế giới và “cứu độ” con người; và, chúng tôi cũng đã có lưu ý rằng Tình Yêu, Tự do, Thập giá (đau khổ, chết chóc, sự dữ…) là ba khái niệm-chìa khóa để có thể hiểu được cách đúng đáng mầu nhiệm Ơn cứu độ trong Đức Giêsu-Kitô…
Trước tiên, bởi vì một Tình Yêu đích thực bao giờ cũng mang tính vị tha, dâng hiến, cho đi (xem Ga 15, 13). Và, ở nơi Thiên Chúa, Tình Yêu đó luôn luôn là tuyệt đối tự do, nhưng không (Rm 5, 6 tt; Tt 3, 5; 1 Ga 4, 10-19). Vì thế, hiện sinh của Đức Giêsu-Kitô được định nghĩa như là một “hiện sinh-cho…” (une pro-existence); hay nói theo ngôn ngữ của nhà Phật là “vô ngã” (hiểu theo nghĩa tích cực) và theo ngôn ngữ của Kim Dung là “thân vô kỷ”…
Thứ đến, Thánh Kinh cũng chứng thực cho chúng ta biết công trình cứu độ là sáng kiến tự do và là công trình tự nguyện của cả Ba Ngôi Thiên Chúa, là công trình của Tình Yêu… (Ga 3, 16; Rm 8, 32; 1 Ga 4, 10; 1 Ga 4, 8.16; v.v…).
Một cái nhìn lướt nhanh và tóm lược về ý nghĩa của Cái chết của Đức Giêsu-Kitô sẽ giúp chúng hiểu được những nội hàm cứu độ nầy.
1.      Cái chết trong Thiên Chúa :
Trước khi là cái chết “của” Thiên Chúa, cái chết của Đức Giêsu-Kitô là cái chết “trong” Thiên Chúa. Tại sao vậy? Lý do là bởi vì trong tư cách vừa là Thiên Chúa thật vừa là con người thật, Đức Giêsu-Kitô vừa không phải chết vừa phải chết. Trong ngôn ngữ “ngôi hiệp” (union hypostatique) qua đó thần tính và nhân tính của Đức Kitô hiệp nhất với nhau trên cơ sở cùng chung bản vị hay ngôi vị, và tuy hiệp nhất nên một, nhưng thần tính vẫn giữ nguyên là mình (đặc biệt đặc tính bất hoại và không thể nào chết) và nhân tính vẫn là nhân tính với những yếu tố đặc thù của mình (như có thể bị hủy hoại và phải chết), một vấn đề sẽ phải được đặt ra : trên Thập giá, “Ai” chết ? Trong tư cách là Thiên Chúa thật, Đức Giêsu-Kitô không thể nào chết được. Còn, nếu trong tư cách là con người thật, Đức Giêsu hẳn phải chết như bất cứ ai trong chúng ta. Làm sao dung hòa được hai yếu tố hoàn toàn mâu thuẩn nầy ? Một số nhà thần học, dựa trên những khái niệm “nhận là của mình” (appropriations) và “thông ban cho” (communications), giải thích rằng bởi vì thần tính của Đức Giêsu-Kitô đã hiệp nhất nên một với nhân tính của Ngài và đã nhận nhân tính đó là của mình nên thần tính đó cũng nhận cái chết của nhân tính như là của mình. Nhưng, giữa việc nhận cái chết đó là của mình với việc chết thực sự là hai việc có thể không hoàn toàn đồng nghĩa với nhau. Vì thế, có lẽ nên hiểu cái chết của Đức Giêsu-Kitô, bởi vì là cái chết “trong” Thiên Chúa, chính là cái chết của Sự Chết, tức là chết để mà sống…Và chỉ trong chân trời đó, người ta mới có thể nói được về cái chết “của” Thiên Chúa nơi Đức Giêsu-Kitô : Thiên Chúa chết để con người được sống với Ngài…Tức là Thiên Chúa “chết” để được phục sinh và để con người cũng được phục sinh và sống sự sống tình yêu vĩnh hằng trong Ngài và như Ngài…
2.      Cái chết của Sự Chết :
Như đã có lưu ý trong bài “Nguyên nhân và những hiệu quả của Ơn cứu độ”, ở trên Thập giá, hành vi cứu độ - hay nói đúng hơn là hành vi khiến cho nhân tính của Đức Giêsu-Kitô (vốn là hiện thân của toàn thể nhân loại) được thần linh hoá, được tham dự vào sự sống tình yêu vĩnh hằng của Thiên Chúa, được phục hồi lại như là “hình ảnh của Thiên Chúa” (hay nói cách khác giống như Đức Kitô), được giao hoà lại với Thiên Chúa, với anh em mình, với chính bản thân mình và với thiên nhiên vũ trụ (Thiên-Địa-Nhân hoà) - được diễn ra khi nhân tính của Đức Giêsu-Kitô sống cách trọn vẹn Tình Yêu dâng hiến của mình trong tương quan với Cha, với Thánh Thần và với thụ tạo : chính ở nơi hành vi dâng hiến tất cả nầy (Ga 19, 30; 15, 13) mà Cha đã trao ban lại cho Con tất cả, và trong Con và qua Con, con người được trở thành đích thật là con của Thiên Chúa, là anh chị em với nhau, là mình (căn tính của mỗi người được thực hiện), tức là “được siêu độ” (Ga 17, 10; Lc 15, 31). Chính trên cơ sở nhân tính của Đức Giêsu-Kitô là hiện thân của toàn thể nhân loại mọi nơi và mọi thời nầy, - và khi nhân tính nầy được thánh hóa, được tôn vinh, được hiệp nhất trọn vẹn với thần tính, với Thiên Chúa và qua đó với tất cả thụ tạo, thì toàn thể nhân loại mọi nơi và mọi thời đều được hưởng những ân phúc đó trong Đức Giêsu-Kitô – mà Giáo Hội trước sau như một vẫn luôn khẳng định rằng Đức Giêsu-Kitô là Đấng Siêu độ duy nhất và phổ quát…
Cái chết vì tình yêu của nhân tính cũng có nghĩa là cái chết của Sự Chết (tức là Tội lỗi : kiêu căng, thù hận, ghét ghen, ích kỷ, v.v…) nơi nhân tính, và điều đó có nghĩa là “sinh thì” (thời gian của sự sống), là sự phục sinh, sự tái sinh, sự được thần linh hoá, được trở nên con Thiên Chúa “trong” Đức Giêsu-Kitô, Con Thiên Chúa…
3.      Cái chết và sự phục sinh của Đức Giêsu-Kitô :
Khoảnh khắc diễn ra cái chết trên Thập giá, cách lạ lùng, được ngôn ngữ nhà đạo cổ điển Việt Nam gọi là “lúc sinh thì” của Đức Giêsu. Điều đó chứng tỏ rằng đã từ rất lâu, người công giáo Việt Nam đã hiểu được cái chết của Đức Giêsu không có nghĩa là chấm hết, là bị hủy diệt, mà là “bắt đầu thời gian sống” (sinh thì) của Ngài. Trong cái chết đã bao hàm sự phục sinh, hay đúng hơn, tiếp nối hành vi tự hủy hoàn toàn chính bản thân mình là hành vi sở đắc hoàn toàn bản thân mình (âm cực sinh dương). Phục sinh là sự tiếp nối cái chết trong Thiên Chúa và vì Thiên Chúa.
Vì thế, không được coi sự Phục sinh đơn giản như chỉ là sự sống lại của con người chỉ về mặt thể lý (như trường hợp của Lazarô, của người con trai của bà goá thành Naim, v.v…). Sự Phục sinh trọn vẹn bao hàm không chỉ sự phục sinh về mặt thể lý, mà trước hết và trên hết là sự phục sinh thuộc linh. Có những trường hợp, về mặt thể lý, người ta vẫn “sống”  nhưng vẫn được coi như “đã chết” (xem Lc 15, 24.32). Có những trường hợp người đã chết vẫn được coi như đang sống (xem Mc 12, 26-27 và ss). Thật vậy, con người chỉ có thể được coi như là “sống” khi “ở trong” Đức Giêsu-Kitô,  hay khi “ở trong Tình Yêu”, “ở trong Thiên Chúa”…
Chính vì ở nơi Đức Giêsu-Kitô, trên Thập giá, đó là cái chết của Sự Chết (đã đành cùng với những đặc tính đau thương, khổ nhục như của bất cứ cái chết nào của con cái loài người), được thực hiện bởi Thần Khí sự sống (1 Pr 3, 18) và Cha Ngài, nên, “nhân cơ hội” (1 Pr 3, 19) Ngài đã có thể “đi vào ngục tổ tông” và “loan báo Tin Mừng cho cả kẻ chết” (1 Pr 4, 6). Ở đây, phải chăng người ta có thể nói rằng về mặt thuộc linh (vì Ngài không bao giờ phạm tội), Đức Giêsu-Kitô không bao giờ chết, nhưng Ngài chết về mặt thể lý như chúng ta ? Nếu như thế, thì về mặt thể lý, Đức Giêsu-Kitô đã chết thật, và chính Cha Ngài và Thần Khí Sự Sống của Cha Ngài và cả của Ngài đã phục sinh Ngài từ giữa các kẻ chết (Ga 2, 19 tt; Mc 8, 31; 9, 31; 10, 34; Cv 26, 23; Cl 1, 18; Kh 1, 5; 1 Cr 15, 20).
Tóm lại, sự Phục Sinh Đức Giêsu-Kitô là một sự Phục Sinh trọn vẹn, bao hàm cả khía cạnh thể lý cả khía cạnh thuộc linh : toàn thể nhân loại kể từ đó trong nhân tính đã được thánh hoá và thần linh hoá của Ngài được thần linh hoá, được thánh hoá, được “cứu độ”, v.v… “Ơn cứu độ” đã hiện hữu ở đấy, “ở nơi” và “cho” con người của tất cả mọi thời và mọi nơi. Vấn đề là con người có mở lòng mình ra để đón nhận “ơn cứu độ” đó hay không, con người có để cho Thiên Chúa cứu độ mình hay không, con người có cảm nhận mình cần được cứu độ hay không, con người có nhận ra mình đang bệnh hoạn hay không, con người có biết mình đang chết về mặt thuộc linh hay không…? Không ai có thể trả lời những câu hỏi đó thay cho mình cả. Mỗi người phải có câu trả lời của riêng mình, vì con người vốn tự do… Đã đành, ở một góc độ nào đó, vốn yếu đuối, mỏng dòn, con người vẫn luôn cần sự giúp đỡ của Giáo hội, của các cộng đoàn và của tha nhân…










 
 

08. LINH MỤC THỪA TÁC, NGÀI LÀ AI?

Dẫn nhập
Đã có nhiều cách, nhiều con đường để tiếp cận với vấn đề nầy: Linh mục thừa tác, ngài là ai? Ở đây, nhân Năm Thánh Linh mục, chúng tôi mạo muội đề xuất một cách hiểu về căn tính của vị Linh mục thừa tác (sacerdoce ministériel) qua lăng kính mầu nhiệm ngôi hiệp (union hypostatique)…
Qua lăng kính mầu nhiệm ngôi hiệp, chúng tôi sẽ lần lượt đào sâu những vấn đề sau đây:
1.      Tương quan giữa Đức Kitô và vị Linh mục thừa tác;
2.      Tương quan giữa vị Linh mục thừa tác và Bí tích Thánh Thể;
3.      Tương quan giữa vị Linh mục thừa tác và Bí tích Hòa giải;
4.      Linh mục thừa tác, ngài là ai?
A.      TƯƠNG QUAN GIỮA ĐỨC KITÔ VÀ VỊ LINH MỤC THỪA TÁC QUA LĂNG KÍNH MẦU NHIỆM NGÔI HIỆP
Trong ngôn ngữ “nhà đạo” thông thường người ta hay gọi vị Linh mục thừa tác (sacerdoce ministériel)  là “Alter Christus”, là “in personna Christi”… “Alter Christus” thường được chuyển ngữ là “Đức Kitô khác” hay “Đức Kitô thứ hai”. “In personna Christi” thường được chuyển ngữ là “nhân danh Đức Kitô”, “đại diện Đức Kitô”, “đồng hình đồng dạng với Đức Kitô”, v.v… Cả hai cách chuyển ngữ nầy đều vừa thừa vừa thiếu. Thừa vì có vẻ như có hai “ngôi vị”. Thiếu vì thiếu tình trạng hiệp nhất giữa Đức Kitô và con người Linh mục…
1.      Mầu nhiệm ngôi hiệp (union hypostatique)
Trong ngôn ngữ kitô-học, mầu nhiệm thần tính và nhân tính của Đức Kitô hiệp nhất với nhau trên cơ sở chỉ có một Ngôi Vị duy nhất là Đức Kitô thường được gọi tắt là Mầu nhiệm ngôi hiệp. Nghĩa là thần tính nhận nhân tính cùng với những thụ cảm làm của mình hay “là” mình (appropriation) và thông ban (communication) cho nhân tính đó một số yếu tố đặc thù mà thần tính vốn có “vì loài người chúng ta” và “để cứu độ chúng ta”... Tuy mỗi bản tính vẫn là mình, không hòa lẫn (như nước biển với nước ngọt), nhưng cũng không hoàn toàn tách biệt (như dầu hôi với nước lã)… Một số giáo phụ so sánh sự hiệp nhất giữa thần tính và nhân tính với sự hiệp nhất giữa hồn và xác trên cơ sở ngôi vị của một cá thể… Chúng tôi thích hơn hình ảnh hai người yêu nhau, dù vẫn còn một số yếu tố bất toàn: khi yêu nhau, người ta trở nên một (cái “chúng ta”), dù mỗi người vẫn là mình…
2.      Tương quan giữa Đức Kitô và vị Linh mục thừa tác qua lăng kính mầu nhiệm ngôi hiệp
Để có thể hiểu được vị Linh mục thừa tác là ai và là gì, ở đây, chúng tôi mạo muội đề nghị một lối hiểu qua lăng kính mầu nhiệm ngôi hiệp. Nghĩa là: Qua Bí tích truyền chức, dưới quyền năng và tác động của Chúa Thánh Thần, Đức Kitô nhận con người Linh mục mà Ngài đã gọi và chọn đó, cùng với những sở trường và sở đoản, “là” Mình hay “là” Ngài (appropriation), đồng thời thông ban cho vị Linh mục đó một số yếu tố đặc thù thần linh mà vốn là sở hữu của Ngài (communication) và cả hai hiệp nhất nên một trên cơ sở Ngôi Vị Đức Kitô (in personna Christi)…
3.      Cơ sở Thánh Kinh của những hành vi “nhận làm của mình” hay “nhận là mình” (appropriations)
= Mt 25,31-46: “[…]. ‘Quả thật, Ta bảo các ngươi: những gì các ngươi đã làm cho một người trong các anh em hèn mọn nhất nầy của Ta, là các ngươi đã làm cho chính mình Ta’.[…]. ‘Quả thật, Ta bảo các ngươi, những gì các ngươi đã không làm cho một người nào trong các kẻ hèn mọn nhất nầy, là các ngươi đã không làm cho chính mình Ta’.”
= Mt 10,40: “Kẻ tiếp đón các ngươi là tiếp đón Ta; và kẻ tiếp đón Ta, là tiếp đón Đấng đã sai Ta”.
= Mt 18,5: “Và kẻ nào tiếp đón một trẻ nhỏ nầy vì danh Ta, tức là tiếp đón Ta”.
= Mc 9,37: “Kẻ nào tiếp đón một trẻ nhỏ  thế nầy vì danh Ta, tức là tiếp đón Ta; kẻ nào tiếp đón Ta, thì không phải người ấy tiếp đón Ta, mà là Đấng đã sai Ta”.
= Lc 9,48: “Kẻ nào đón tiếp  trẻ nhỏ nầy vì danh Ta, tức là tiếp đón Ta; và kẻ tiếp đón Ta là tiếp đón Đấng đã sai Ta…”
= Lc 10,16: “Ai nghe các ngươi là nghe Ta, và ai thảy bỏ các ngươi là thảy bỏ Ta, mà ai thảy bỏ Ta là thảy bỏ Đấng đã sai Ta”.
= Ga 23,20: “Quả thật, qủa thật, Ta bảo các ngươi: ai chịu lấy kẻ Ta sai đến, là chịu lấy Ta, mà ai chịu lấy Ta, tức là chịu lấy Đấng đã sai Ta”.
= Cv 9,1-5: “[…], ‘Saul, Saul, tại sao ngươi bắt bớ Ta?’ […]. ‘Ta là Giêsu, người đang bắt bớ’.”
4.      Cơ sở Thánh Kinh của những hành vi thông ban những yếu tố đặc thù cho nhau (communications): Một số quyền năng Đức Kitô thông ban cho con người Linh mục:
a.       Quyền tha tội trong Ngôi Vị Đức Kitô: Mt 9,1-7; Mc 2,1-12; Lc 5,17-26; Mt 16,19; Cv 10,43; Mt 28,18-20; v.v…
b.      “Quyền năng trên các thần ô uế khiến họ có thể xua đuổi chúng và chữa mọi tật nguyền, bệnh hoạn” trong Ngôi Vị Đức Kitô: Mt 10,1; Mc 3,14; 6, 7; Lc 9,1; v.v…
c.       Quyền năng thực hiện hành vi “nhận làm của mình” và “là mình” (appropriation) và hành vi thông ban một số đặc ân mình có (communication) trong Ngôi Vị Đức Kitô, đặc biệt nơi Bí tích Thánh Thể: Lc 22, 19-20; 1 Cr 11, 23-27; v.v…; và quyền tha tội trong Bí tích Hòa giải (Ga 20,23)…
5.      Một vài suy tư  thần học:
Trên cơ sở những điều trên đây, có thể nói được rằng mầu nhiệm Nhập Thể của Ngôi Lời và mầu nhiệm Ngôi hiệp nơi Đức Kitô có mối quan hệ hết sức mật thiết với nhau, có tính phổ quát và với nhiều cấp độ khác nhau:
a.       Tương quan giữa Đức Kitô và Thụ Tạo nói chung:
Có thể nói rằng nhân tính nơi Đức Kitô chính là tượng trưng cho toàn thể thụ tạo và toàn thể nhân loại nói chung:
“Lúc khởi nguyên đã có Lời…và Lời là Thiên Chúa…Mọi sự nhờ Ngài mà thành sự và không Ngài thì không gì đã thành sự. Điều đã thành sự nơi Ngài là sự Sống và sự Sống là sự Sáng cho nhân loại.” (Ga 1,1-3).
“Ngài (Đức Kitô) là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử giữa mọi thụ sinh, vì trong Ngài vạn vật đã được tạo thành, chốn trời cao và nơi dương thế, vật hữu hình, vật vô hình, dù là thiên tòa hay thiên chủ, dù là thiên phủ hay là uy linh: mọi sự đã được tạo thành nhờ Ngài và cho Ngài ! Và Ngài có ưu thắng trên mọi sự, và mọi sự đều tồn tại trong Ngài.” (Cl 1,15-17).
b.      Tương quan giữa Đức Kitô và nhân loại nói chung:
Bởi vì con người đã được tạo dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa (St 1,26-27), mà hình ảnh Thiên Chúa chính là Đức Kitô (1Cr  11,7; 2Cr 4,4; Cl 1,15), cho nên có thể nói rằng nhân tính của Đức Kitô cũng chính là toàn thể nhân loại, hiểu theo nghĩa cá thể cũng như tập thể. Chính vì thế, khi Đức Kitô cứu độ, thánh hóa nhân tính của Ngài và nhận nhân tính đó là của mình và là mình, điều đó có nghĩa  là Ngài, trong chỉ một hành vi, một lần là đủ, đã cứu độ và thánh hóa toàn thể nhân loại, mọi nơi và mọi thời… Như thế, chúng ta hiểu vì sao Giáo hội trước sau như một luôn khẳng định Đức Kitô là Đấng Trung gian và là Đấng Cứu độ duy nhất và phổ quát, ngoài Ngài ra chẳng có ai khác cả (Ep 2,13-18; Rm 11,25-29).
“Nhưng nay, trong Đức Kitô Giêsu, anh em, những kẻ xưa kia ở xa, thì đã nên gần nhờ bửu huyết của Đức Kitô. Vì chính Ngài là sự bình an của ta, Đấng đã làm cho đôi bên nên một, triệt hạ tường ngăn thành chắn, (tiêu biểu cho) mối hằn thù – nhờ thân xác Ngài, - thủ tiêu Lề luật nguyên những điều răn lệnh chỉ, ngõ hầu trong Ngài, Ngài tạo dựng hai loại người ấy nên một người mới; đem lại bình an, và giảng hòa hai dân – trong một Thân mình – với Thiên Chúa, nhờ Thập giá, giết chết hằn thù – nơi mình Ngài. Và Ngài đã đến loan báo Tin Mừng bình an cho anh em những kẻ ở xa, và bình an cho những kẻ ở gần. Vì chính nhờ Ngài, chúng ta đôi bên, trong một Thần khí, được đến chùng Cha.” (Ep 2,13-18). 
“Hỡi anh em, tôi không muốn để anh em không hay biết mầu nhiệm nầy, để anh em đừng tự phụ mình khôn: Israel đã ra chai đá phần nào, cho đến khi toàn thể dân ngoại đã gia nhập, và như thế tất cả Israel cũng sẽ được cứu. […]. Vì chưng cũng như anh em, xưa kia bất tuân đối với Thiên Chúa, mà nay đã được thương xót, nhân vì họ bất tuân, thì họ cũng thế, nay bất tuân, bởi anh em được thương xót. Vì chưng Thiên Chúa đã dồn mọi người hết thảy vào đàng bất tuân, ngõ hầu Ngài dũ lòng thương hết mọi người.” (Rm 11,25-26.30-32).
c.       Tương quan giữa Đức Kitô và Giáo hội hay là các kitô-hữu nói chung:
Giáo hội, trước tiên, là “Thân Mình” của Đức Kitô (Cl 1,15-24; 1Cr 12,27; 1Ga 3,2; Rm 12,5; v.v…), thứ đến, là cộng đoàn những kẻ tin vào Đức Kitô và được tập hợp lại để lắng nghe Lời của Thiên Chúa (Xh 19, 3-8.25; Gs  8,32-35; 24,1-28; v.v…)  và cử hành các Bí tích của Đức Kitô (Cv 2,42) …
“Nay tôi vui sướng trong các nỗi thống khổ chịu vì anh em; và trong thân xác tôi, tôi bù đắp những gì còn thiếu nơi các nỗi quẫn bách Đức Kitô phải chịu vì Thân Mình Ngài, tức là Hội Thánh…” (Cl 1,24).
“Mà anh em là Thân Mình của Đức Kitô, và ai theo phận nấy mà làm chi thể” (1 Cr 12,27).
“Anh em thân mến, hiện giờ ta là con cái Thiên Chúa; ta sẽ là gi, thì chưa được tỏ hiện, ta biết rằng một khi điều ấy (hay là Đức Kitô “quang lâm” hay là Thân Mình mầu nhiệm của Đức Kitô là Giáo hội [ctctg]) tỏ hiện, thì ta sẽ được giống như Ngài (Đức Kitô “quang lâm” [ctctg]), vì Ngài thế nào, ta sẽ được thấy như vậy.” (1Ga 3,2).
“Họ chuyên cần với giáo huấn của các tông đồ và sự hiệp thông, việc bẻ bánh và kinh nguyện.” (Cv  2,42).
d.      Tương quan giữa Đức Kitô và vị Linh mục thừa tác:
Vị Linh mục thừa tác hiệp nhất với Đức Kitô trên cơ sở Ngôi Vị của Ngài, như nhân tính hiệp nhất với thần tính của Đức Kitô trên cơ sở Ngôi Vị của Đức Kitô. Cũng như Đức Kitô, trong tư cách vừa là Thiên Chúa thật vừa là con người thật, khi thì Ngài nói và cư xử như là con người, có khi Ngài nói và cư xử như là Thiên Chúa, con người Linh mục trong Ngôi Vị Đức Kitô (in personna Christi) cũng nói và hành xử như vậy.
“Lạy Cha ! nếu Cha muốn, xin cất chén nầy đi khỏi con ! (Đức Giêsu nói trong tư cách là con người bình thường như chúng ta: chú thích của tác giả [ctctg]). Song đừng cho ý của con, mà là ý của Cha được thành sự ! (Ở đây, Đức Giêsu nói trong tư cách là Thiên Chúa [ctctg])” (Lc 22,42; tham chiếu  Ga 12,27-29; Lc 2,49; Ga 8,58; 10,30; v.v…).
“Tất cả các con hãy nhận lấy mà ăn: vì nầy là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì các con. […]. Tất cả các con hãy nhận lấy mà uống: vì nầy là chén máu Thầy, máu giao ước mới và vĩnh cửu, sẽ đổ ra cho các con và nhiều người được tha tội. Các con hãy làm việc nầy mà nhớ đến Thầy”. (Những lời nầy chỉ thành sự và hữu hiệu khi được vị Linh mục thừa tác nói trong ngôi vị Đức Kitô, chứ không phải trong tư cách con người bình thường như mọi người).
“[…]. Vậy, Cha tha tội cho con nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.” (Những lời nầy chỉ thành sự và hữu hiệu khi được vị Linh mục nói trong ngôi vị Đức Kitô mà thôi, vì chỉ có Thiên Chúa và Con Người mới có quyền tha tội [Mc 2,3-12]…).
Vì thế, có thể nói rằng không có Bí tích Thánh Thể và Bí tích Hòa Giải thì cũng không có chức Linh mục thừa tác và ngược lại. Đó chính là cơ sở chính yếu để phân biệt giữa chức Linh mục chung của mọi kitô-hữu (sacerdoce commun) và chức Linh mục thừa tác của một số người được gọi chọn bởi Thiên Chúa qua trung gian Giáo hội (sacerdoce ministériel). Và đó cũng chính là một trong những cơ sở nói lên sự khác biệt căn bản giữa Giáo hội công giáo và các giáo hội thệ phản và Anh giáo liên quan các Bí tích, chức Linh mục thừa tác, và các vấn đề giáo hội học, v.v…
B.      TƯƠNG QUAN GIỮA VỊ LINH MỤC THỪA TÁC VÀ BÍ TÍCH THÁNH THỂ QUA LĂNG KÍNH MẦU NHIỆM NGÔI HIỆP
Giáo hội, hằng năm, vào Ngày Thứ Năm Tuần Thánh, cử hành tưởng nhớ vừa việc Chúa Giêsu lập Bí tích Thánh Thể vừa việc Chúa Giêsu thiết lập Chức Linh mục thừa tác. Điều đó có nghĩa là trong truyền thống xưa nay của Giáo hội, chức Linh mục thừa tác và Bí tích Thánh Thể luôn có tương quan mật thiết đối với nhau, đến độ người ta có thể nói rằng sẽ không có chức Linh mục thừa tác nếu không có Bí tích Thánh Thể và ngược lại…
Việc phân tích những công thức “truyền phép” sẽ cho ta thấy được những điều đó.
1.      “… Vì nầy là Mình Thầy…” và “… vì nầy là Chén Máu Thầy…”:
Trong Thánh Lễ, khi được đọc lên hay nói lên bởi vị Linh mục thừa tác, công thức nầy vốn mang hai tầng ý nghĩa:
a.       Khi được nói lên hay đọc lên cách nguyên thủy bởi Đức Kitô, công thức nầy có ý nghĩa: qua hành vi “nhận làm của mình” hay “nhận là mình’ (appropriation), tấm bánh đó hay chén rượu đó được Đức Kitô nhận “là của mình” và “là Mình” và thực sự đó chính là Đức Kitô; đồng thời, trong Ngôi Vị Mình, Đức Kitô thông ban cho Tấm bánh đó và Chén rượu đó một số thuộc tính thần linh của Ngài, như  kiểu thần tính ban cho nhân tính một số thuộc tính thần linh mà chỉ thần tính mới có… Ở đây, nói theo ngôn ngữ mầu nhiệm ngôi hiệp, Đức Kitô và Tấm bánh và Chén rượu đó hiệp nhất với nhau trở thành một trên cơ sở Ngôi Vị Đức Kitô (in personna Christi). Những khái niệm “nhận là Mình” (appropriation) và “thông ban cho nhau” (communication), như vậy, có vẻ như thích hợp hơn và năng động hơn là khái niệm “biến bản thể” (transsubstantiation) của thần học kinh viện… Thích hợp hơn, bởi vì gần gũi với ngôn ngữ Thánh Kinh hơn (xem Ga 6,32-58; Mt 3,9). Năng động hơn, bởi vì những khái niệm “nhận là Mình” và “thông ban cho nhau” bao hàm một qúa trình tiến hóa và tương quan qua lại giữa nhau, tạo cho tự do của con người và của Thiên Chúa có khoảng không gian và thời gian để chọn lựa, vì đó chính là điều làm nên căn tính của con người và Thiên Chúa…
b.      Khi được nói lên hay đọc lên bởi vị Linh mục thừa tác hiệp nhất với Đức Kitô trong Ngôi Vị của Ngài, công thức nầy còn có ý nghĩa: qua hành vi “nhận làm của mình” và “là Mình”, vị Linh mục trong ngôi vị Đức Kitô nhận Tấm bánh đó và Chén rượu đó “là của mình” và “là mình”. Vì thế, có thể nói rằng, không giây phút nào mà giữa vị Linh mục thừa tác và Đức Kitô có được sự hiệp nhất sâu xa và lớn lao cho bằng chính nơi giây phút mà vị Linh mục đó đọc “lời truyền phép”! Bánh đó và Rượu đó đồng thời cũng là Mình và Máu của vị Linh mục đang đọc lời truyền phép đó trong ngôi vị Đức Kitô…
2.      “… sẽ bị nộp vì các con…” và “… sẽ đổ ra cho các con và nhiều người được tha tội…”:
Những lời nầy diễn tả chiều kích tình yêu dâng hiến và cứu độ của Bí tích Thánh Thể và Hiện sinh của con người Linh mục.
a.       Chiều kích tình yêu dâng hiến: Các nhà thần học ngày nay dùng hạn từ “hiện hữu cho và vì…” (“pro-existence”) để diễn tả một hiện sinh không hiện hữu chỉ cho mình mà còn cho tha nhân. Hiện sinh của Đức Kitô là mẫu mực của thứ “hiện hữu cho và vì tha thể…” nầy (“propter nos homines et propter nostram salutem”):
“Không có tình yêu nào lớn hơn là tình yêu dám thí cả mạng sống mình vì người mình thương mến” (Ga 15,14).
“Ai yêu sự sống mình thì sẽ mất, ai ghét sự sống mình nơi thế gian nầy, thì sẽ giữ nó cho sự sống vĩnh hằng !” (Ga 12,25; Mt 16,25; Mc 8,35; Lc 9,23tt).
“Quả thật, quả thật, Ta bảo các ngươi: giả như hạt lúa gieo xuống đất không chết đi, thì nó trơ trọi một mình; nhưng nếu nó chết đi, nó mới sai hoa lắm quả !” (Ga 12,24).
Cũng như Mầu nhiệm Nhập thể (bao gồm mầu nhiệm Sáng tạo, Mặc khải và Siêu độ) tự nó đã là sáng kiến và hành vi dâng hiến tự do và nhưng không của Thiên Chúa Ba Ngôi vì tình yêu đối với loài người chúng ta, Bí tích Thánh Thể và hiện sinh Linh mục thừa tác cũng vậy là sáng kiến tình yêu “để ở với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20), vì Thiên Chúa là Emmanuel (Thiên Chúa ở cùng chúng ta, Mt 1,23)…
b.      Chiều kích tình yêu siêu độ: Hành vi siêu độ của Đức Kitô diễn ra trên đỉnh Thập giá chính nơi giây phút mà Tình yêu dâng hiến đạt đến đỉnh điểm của nó, khi mà Đức Giêsu Kitô dâng hiến cho Cha cái còn lại cuối cùng là Thần Khí của Cha (Ga 19,30), và chính lúc Đức Giêsu Kitô đã dâng hiến tất cả, Ngài đã được Cha ban cho lại tất cả: “Đã hoàn tất !”. Vì thế, tác giả Sách Tin Mừng thứ 4 gọi “Giờ Thập giá” cũng chính là “Giờ vinh quang” (Ga 12,23: “Giờ đã đến ! cho Con Người được tôn vinh!”). Hành vi siêu độ trên đỉnh Thập giá, như vậy, diễn ra khi mà Tình Yêu dâng hiến của Thiên Chúa chiến thắng tất cả, cả những toan tính nhỏ nhen, cả những nỗi sợ hãi, cả nỗi sợ hãi cái chết và chính cả Sự Chết…
3.      “Tất cả các con hãy nhận lấy mà ăn…” và “Tất cả các con hãy nhận lấy mà uống…”:
Những lời nầy diễn tả chiều kích Bữa tiệc bày tỏ tình yêu hiệp thông và hiệp nhất (Cv 2,42-47). Bí tích Thánh Thể và Hiện sinh Linh mục thừa tác, như vậy, chính là nguyên lý của sự Hiệp nhất của cộng đoàn, trên cơ sở việc cử hành Lời Chúa, cử hành các Bí tích và tình yêu dâng hiến…
“Họ chuyên cần với giáo huấn của các tông đồ và sự hiệp thông, việc bẻ bánh và kinh nguyện. […]. Các kẻ tin hết thảy đều coi mọi sự là của chung: đất đai của cải, thì họ bán đi mà phân phát cho mọi người, ai nấy tùy theo nhu cầu của mình.” (Cv 2,42.44).
4.      “…Các con hãy làm việc nầy mà nhớ đến Thầy”:
Những lời nầy mang một nội dung ý nghĩa kép: một đàng, vừa có nghĩa hành vi “nhận làm của mình hay là mình” (appropriation) và hành vi “thông ban cho nhau” (communication) nguyên thủy được thực hiện bởi Đức Giêsu-Kitô trong Ngày Thứ Năm  và Thứ Sáu Tuần Thánh chỉ diễn ra một lần trong không gian và thời gian nhưng mang hiệu quả và hiệu năng có tính quyết định và phổ quát cho mọi người và mọi thời (Dt 9,11-28); đàng khác, vừa có nghĩa, khi cử hành Bí tích Thánh Thể, vị Linh mục thừa tác không phải “làm lại” hay “tái diễn lại” hành vi “nhận Bánh và Rượu là Thân Mình và Máu của Đức Kitô”  trên chiều kích dâng hiến lẫn chiều kích siêu độ, để tạo ra những hiệu năng và hiệu quả như vậy một lần nữa trong thời gian và không gian, mà đúng hơn là “làm cho hiệu quả vốn đã có và đang hiện hữu hiện diện đối với…” (le rendre présent pour…), hay nói cách khác, vị Linh mục thừa tác trong ngôi vị Đức Kitô, khi cử hành Bí tích Thánh Thể trong không gian và thời gian là làm cho chính “Đức Kitô ‘là’ Bánh và Rượu” hiện diện trong không gian và thời gian nơi Bánh và Rượu đang được “truyền phép” trên Bàn thờ và cả nơi chính con người của vị Linh mục trong ngôi vị Đức Kitô đang cử hành đó, đối với những ai tin và muốn tin…(khái niệm “le mémorial”: xem Xh 3,15; 12,14; 13,9; Tl 16,3). Điều đó cho thấy tương quan giữa vị Linh mục thừa tác trong ngôi vị Đức Kitô và Bí tích Thánh Thể cũng như đối với những kẻ tin vào Bí tích nầy không đơn giản chỉ có tính tĩnh tại (statique), máy móc, phi ngôi vị, hoàn toàn có tính khách quan, mà là quan hệ tình yêu, năng động và có tính tương quan ngôi vị… Bởi vì chỉ trong quan hệ tình yêu người ta mới có thể, dù không hiện hữu bên nhau, không nhìn thấy nhau, nhưng người ta vẫn luôn có thể ở trong nhau, có nhau và hiện diện đối với nhau (xem Pl 3,10-11)…
Như vậy, khi cử hành Bí tích Thánh Thể, vị Linh mục thừa tác trong ngôi vị Đức Kitô, nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần, làm cho Đức Kitô hiện diện cách hữu hình, qua việc ngài, trong ngôi vị Đức Kitô, nhận Tấm bánh và Chén rượu đang hiện diện trên Bàn thờ đó “là của mình” và “là mình” và thực sự là thế, Và như vậy, là để Đức Kitô luôn luôn “hiện diện” đối với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế…
5.      Cơ sở Thánh Kinh của việc Đức Kitô nhận Mình là lương thực (Bánh và Thức uống [rượu và nước]) cho con người:
Hầu như cả bốn Sách Tin Mừng đều chứng tỏ cho thấy Đức Giêsu bao giờ cũng chỉ nói và khuyên người khác làm điều mà chính Ngài đã, đang và sẽ làm và thực hiện (xem thí dụ Mt  5,1-12a; Lc 14,25-33; Ga 15,13; 6,51-58; v.v…). Trong ngôn ngữ Thánh Kinh Cựu Ước, trung tín, trung thành với Giao ước, với lời thề hứa là một trong những đặc trưng của Thiên Chúa (Xh 34,6; Tv 25,10; Ga 18,37; Kh 3,14; v.v…)…
a.       “… Bánh hằng sống bởi trời xuống, chính là Ta ! Ai ăn bánh nầy, thì sẽ được sống đời đời. Và bánh Ta sẽ ban, ấy là thịt mình Ta vì sự sống thế gian.” (Ga 6,51) và “…Bánh sự sống, chính là Ta ! […]. Vì thịt Ta thật là của ăn và máu Ta là thật của uống. Kẻ ăn thịt Ta và uống máu Ta thì lưu lại trong Ta, và Ta ở trong kẻ ấy.” (Ga 6,48.55-56): Phản ứng của một số kẻ nghe lúc đó (Ga 6,60) cho thấy ngôn ngữ của Đức Giêsu có lẽ khá rõ ràng và cụ thể, chứ không theo nghĩa tượng trưng hay ẩn dụ gì cả: “ăn” (manducare, manger) thịt và “uống” (bibere, boire) máu ! Có thể bởi vì họ chưa biết việc Đức Giêsu, trong Bí tích Thánh Thể, nhận tấm bánh ăn và chén rượu uống trong bữa tiệc hiệp thông là Thịt Mình và Máu Mình (appropriation) và khi ăn “tấm bánh” đó và uống “chén rượu” đó chính là “ăn” và “uống” Thịt và Máu của Đức Giêsu-Kitô !
b.      “…thì sẽ được sống đời đời.” (Ga 6,51) và “…thì lưu lại trong Ta và Ta ở trong kẻ ấy.” (Ga 6,56): những lời nầy diễn tả tương quan giữa chiều kích tình yêu dâng hiến và chiều kích tình yêu siêu độ, tức là sự sống vĩnh hằng, sự sống Tình Yêu Thiên Chúa-Ba Ngôi, luôn tương tại và tương ngụ trong nhau, luôn sống cho nhau và vì nhau…
6.      Một vài suy tư thần học
Trên cơ sở những phân tích trên đây, có thể nói rằng:
a.       Cũng như trong Mầu nhiệm Nhập thể, chỉ có vấn đề Thiên Chúa tự hủy làm người (“Et Verbum caro factum est” nơi Ga 1,14) chứ không có vấn đề ngược lại là con người tự mình làm Thiên Chúa, nơi Bí tích Thánh Thể, cũng vậy, chỉ có vấn đề Đức Kitô và vị Linh mục thừa tác trong ngôi vị của Ngài tự hủy nhận Bánh đó và Rượu đó là Mình (et Christus panis factus est, et Christus vinum factus est), chứ không có vấn đề ngược lại là Bánh và Rượu có thể tự mình làm thành mình và máu Đức Kitô. Đây là vấn liên quan tình yêu nhưng không, tự do và ân sủng của Thiên Chúa…
b.      Tương quan giữa vị Linh mục thừa tác trong ngôi vị Đức Kitô và Bí tích Thánh Thể là tương quan có tính hữu thể (relation ontologique): điều nầy có nghĩa cũng như nơi Bí tích truyền chức thánh, qua quyền năng và tác động của Chúa Thánh Thần, Đức Kitô tự hủy nhận con người vị Linh mục thừa tác làm là mình và cả hai hiệp nhất với nhau trên cơ sở ngôi vị Đức Kitô qua cấu trúc cấu thể hữu thể như nơi mầu nhiệm ngôi hiệp, ở đây, cũng vậy, khi vị Linh mục thừa tác trong ngôi vị Đức Kitô “truyền phép”, nhờ quyền năng và tác động của Chúa Thánh Thần, vị Linh mục thừa tác đang tế lễ đó hiệp nhất với bánh và rượu trên bàn thờ nên một trên cơ sở ngôi vị Đức Kitô…
c.       Tương quan giữa vị Linh mục thừa tác trong ngôi vị Đức Kitô với Bí tích Thánh Thể và Giáo hội: bởi vì Giáo hội vốn được gọi là “Thân Mình mầu nhiệm của Đức Kitô”, vì thế cho nên, vị Linh mục thừa tác chỉ ở trong ngôi vị Đức Kitô khi ngài hiện hữu trong, bởi, cho và vì Đức Kitô, Giáo hội và Bí tích Thánh Thể…
Đó chính là cơ sở của Khoản Giáo luật 1378, § 2, 1°: “… Những người sau đây bị phạt vạ cấm chế tiền kết và bị vạ huyền chức, nếu là giáo sĩ: người nào không phải là tư tế mà dám cử hành phụng vụ Hiến Tế Thánh Thể…” 
C.      TƯƠNG QUAN GIỮA VỊ LINH MỤC THỪA TÁC VÀ BÍ TÍCH HÒA GIẢI QUA LĂNG KÍNH MẦU NHIỆM NGÔI HIỆP
Bí tích Hòa giải, trước tiên, có hiệu năng khôi phục lại những tương quan vốn có giữa con người với Thiên Chúa, với tha nhân, với chính bản thân mình và với thiên nhiên vũ trụ đã bị phá vỡ do ích kỷ, kiêu căng, ghen ghét, hận thù, bất tuân và mù quáng, v.v…, hay nói chung là do tội lỗi (xem St 3,1-24).
1.      Việc phân tích Công thức tha tội của Giáo hội sẽ giúp chúng ta hiễu rõ hơn hiệu năng của Bí tích nầy và tương quan giữa vị Linh mục thừa tác với Bí tích Hòa giải:
a.       “Thiên Chúa là Cha hay thương xót, đã nhờ sự chết và sống lại của Con Chúa mà giao hòa thế gian với Chúa…”:
Sự Hòa giải nguyên thủy, hoàn hảo, vẹn toàn, tuyệt đối, một lần thay cho tất cả hay sự Hòa giải của tất cả mọi hòa giải đã được thể hiện nơi Đức Giêsu-Kitô vốn vừa là Thiên Chúa thật vừa là con người thật nơi mầu nhiệm Ngôi hiệp, tức là nơi việc thần tính và nhân tính của Đức Kitô hiệp nhất trên cơ sở Ngôi Vị của Ngài “vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta” (propter nos homines et propter nostram salutem).
Và, bởi vì  nhân tính của Đức Kitô cũng chính là nhân loại toàn thể (xem Ga 1,3; Tv 33,6; Cl 1,15-20; Kh 3,14; 1Cr 8,6), cho nên khi nhân tính của Đức Kitô hoàn toàn hiệp nhất với thần tính của Ngài trên cơ sở Ngôi Vị của Ngài trong hành vi tình yêu dâng hiến hoàn toàn trên đỉnh thập giá cũng chính là lúc toàn thể nhân loại mọi nơi và mọi thời được thần linh hoá, được thánh hiến, được siêu độ, được tha thứ và được tái hòa giải lại với Thiên Chúa, với tha nhân, với thiên nhiên vũ trụ và với chính bản thân mình…
b.      “… và ban Thánh Thần để tha tội…”:
Theo ngôn ngữ Thánh Kinh, chỉ có Thiên Chúa và Con Người hay là Đức Kitô mới có quyền tha tội (xem Mc 2,3-12). Vậy, khi nói “ban Thánh Thần để tha tội”, điều nầy hẳn có nghĩa là Thánh Thần của Đức Kitô cũng là Thánh Thần của Thiên Chúa hay là chính Đức Kitô, chính Ngôi Vị Đức Kitô tha tội… Đó chính là Thần Khí của Đức Kitô Phục Sinh hằng ở với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế (xem Ga 14,16-31; 20,23; Mt  28,19-20).
c.       “…Xin Chúa dùng thừa tác vụ của Hội Thánh mà ban cho […] ơn tha thứ và bình an…”:
Ơn tha thứ và bình an, như đã phân tích ở trên, chỉ có thể có “trong”, “bởi” và “với” Đức Kitô cách uyên nguyên  và “Thân Mình mầu nhiệm” của Ngài là Giáo Hội nhờ ân sủng được ban cho (hay “thừa tác”) - tức là do được Đức Kitô nhận “là” Mình - mà thôi. Tác vụ hòa giải và tha tội đích thực và toàn vẹn, như vậy, chỉ có thể được thực hiện bởi vị Linh mục thừa tác trong ngôi vị Đức Kitô và trong Giáo Hội là Thân Mình mầu nhiệm của Ngài mà thôi…
 
d.      “…Vậy, tôi tha tội cho […] nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần.”:
Cũng như trong mầu nhiệm ngôi hiệp, tuy là hai bản tính (thần tính và nhân tính), nhưng ở nơi Đức Kitô chỉ là một Ngôi Vị hay chỉ có một cái “TÔI” mà thôi, cũng vậy, cái “tôi” ở đây chỉ có thể là cái “tôi” trong ngôi vị Đức Kitô, cái “tôi” được nhận là “cái tôi thiên chúa”: chỉ trong điều kiện cái tôi thiên chúa như vậy (nghĩa là thuộc về cấu trúc hữu thể học)  mới có thể có quyền tha tội (xem Mc 2,3-12).
Và, trên cơ sở mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi cùng tương ngụ trong nhau (inhabitation trinitaire), hành vi tha tội và hòa giải trong ngôi vị Đức Kitô hẳn đồng thời cũng phải là hành vi trong và bởi Mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi: được tha thứ bởi Thiên Chúa-Ba Ngôi và được hòa giải với Thiên Chúa-Ba Ngôi…
2.      Cơ sở Thánh Kinh của việc tha tội bởi Thiên Chúa, bởi Con Người và của việc hòa giải với Thiên Chúa, với tha nhân, với thiên nhiên vũ trụ và với chính bản thân mình:
a.       Mc 2,3-12: “…[…]. ‘Ai nào có thể tha tội được, trừ phi là một mìmh Thiên Chúa?’.[…]. ‘Song để các ông biết Con Người có quyền tha tội dưới đất’.”
b.      Mt 16,19: “…Ta sẽ trao cho ngươi chìa khóa Nước Trời, và điều gì dưới đất ngươi cầm buộc, thì cũng sẽ bị cầm buộc trên trời, và điều gì dưới đất ngươi tháo cởi thì cũng sẽ được tháo cởi trên trời.”
Quyền năng tha tội không chỉ được ban cho Phêrô thôi mà còn cho toàn thể tông đồ đoàn (collège apostolique): “Quả thật, Ta bảo các ngươi: mọi điều dưới đất các ngươi cầm buộc, thì cũng sẽ bị cầm buộc trên trời , và mọi  điều dưới đất các ngươi tháo cởi, thì cũng sẽ được tháo cởi trên trời.” ( xem Mt 18,18); và cho các môn đệ được qui tụ lại với nhau như một tập thể, một cộng đoàn: “… Nói thế rồi, Ngài thổi hơi trên họ và nói với họ: ‘Hãy chịu lấy Thánh thần. Các ngươi tha tội cho ai, thì tội họ được tha; các ngươi cầm giữ tội ai, thì tội họ bị cầm giữ!’.” (Ga 20,23).
c.       Lc 15,11-32: “[…]. Hồi tâm lại, nó nói: Biết bao nhiêu người làm công cho cha tôi có dư thừa bánh ăn, còn tôi thì phải chết đói ở đây ! Thôi dậy ! tôi sẽ về cùng cha tôi, tôi sẽ nói với người: ‘Thưa cha, con đã trót  phạm tội nghịch với Trời và với cha; con không còn đáng gọi là con cha nữa, xin xử với con như một người làm công của cha thôi’ (đối chiếu với St 3,1-24). […]. ‘Ta phải ăn khao mới được ! vì nầy con  ta đây: nó đã chết mà lại hoàn sinh, đã mất đi mà lại tìm thấy được’.”
d.      Cl 1,18-20: “Ngài là đầu của Thân mình, tức là Hội thánh. Ngài là khởi nguyên, là trưởng tử giữa các vong nhân, ngõ hầu trong muôn sự Ngài là đệ nhất vô song! Vì chưng, Thiên Chúa đã quyết ý cho tất cả Viên mãn  đậu lại trong Ngài. Và đã giảng hòa cả vạn vật nhờ Ngài và cho Ngài, đã ban lại bình an nhờ  bửu huyết đổ ra nơi Thập giá của Ngài, cho mọi vật dù ở dưới đất hay ở trên trời !”
3.      Một vài suy tư thần học
a.       Sự tha thứ “bởi” con người và sự tha thứ “bởi” Thiên Chúa:
Sự phân biệt và so sánh nầy thực ra chỉ có tính tương đối và vạn bất đắc dĩ mà thôi, cốt là để cho dễ hiểu và dễ nắm bắt hơn, bởi vì, nói theo ngôn ngữ thần học, tất cả mọi hiện hữu, mọi hành vi thánh thiện của con người đều chỉ có thể có được “trong” Thiên Chúa mà thôi (xem Rm 11,36; 1Cr 8,6; Cl 1,16tt). Khi nói tha thứ  “bởi” con người là có ý nhấn mạnh khía cạnh hành vi tha thứ giữa con người với con người nói chung dù hành vi đó trên thực tế diễn ra trong Thiên Chúa. Còn khi nói tha thứ “bởi Thiên Chúa” là có ý nhấn mạnh sự tha thứ bởi vị Linh mục thừa tác trong ngôi vị Đức Kitô vừa là Thiên Chúa thật vừa là con người thật.
Trong ngôn ngữ Thánh Kinh có vẻ như có sự khác biệt giữa sự tha thứ nói chung giữa con người với nhau và với sự “tha tội” chỉ bởi Thiên Chúa mà thôi: tha thứ thì tất cả mọi người đều có bổn phận phải tha thứ (Mt 18,21; Lc 17,4; 11,4; v.v…), nhưng “tha tội” (quyền “cởi trói” và “cầm buộc”) thì có vẻ như chỉ những ai được ban cho “thẩm quyền tha tội” mới được tha tội (xem Mt 9, 6; Mc 2,10; Lc 5,24; Mt 12,31). Ngoài ra, việc con người có được Thiên Chúa tha tội như thế nào có phần còn tuỳ thuộc vào việc con người có tha thứ cho nhau hay không và như thế nào (xem  Mt 6,12-15; 18,35; Mc 11,25-26).
b.      Thẩm quyền tha tội (quyền “cởi trói” và “cầm buộc”) của vị Linh mục thừa tác trong ngôi vị Đức Kitô:
Như đã lưu ý ở trên, mục 2b, chỉ có Thiên Chúa và Con Người, tức là chính Đức Kitô, vừa là Thiên Chúa thật vừa là con người thật mới có quyền tha tội: đó là Thẩm quyền nguyên thủy, do căn… Các thừa tác viên có chức thánh khác (trừ phó tế), kể từ Giáo hoàng, Hồng y, Giám mục, và Linh mục thừa tác chỉ có quyền tha tội trong ngôi vị Đức Kitô mà thôi, tức là do ân sủng được ban cho: “Chỉ có tư tế là thừa tác viên của bí tích Sám Hối” (GL. Khoản 965)…
Tuy nhiên, bởi vì Phêrô, vị Giáo hoàng tiên khởi và tông đồ đoàn (các hồng y và giám mục?) vốn được ban cho thẩm quyền nầy có lẽ không phải cách đầy đủ hơn và trọn vẹn hơn mà đúng hơn là vì phạm vi phục vụ của các ngài rộng lớn hơn và bao quát hơn (xem Mt 18,18; Ga 20,23), nên thẩm quyền của các ngài mang tính phổ quát hơn là các Linh mục thừa tác  mà phạm vi phục vụ vốn là những cộng đoàn nhỏ bé hơn: điều nầy được phản ánh trong Bộ Giáo luật 1983 bao gồm các Khoản từ 965 đến hết 973… Đàng khác, có lẽ bởi vì một đàng để đề cao tầm quan trọng của Bí tích nầy và đàng khác để tránh những lạm dụng có thể xãy ra, Giáo luật  Khoản 973 qui định: “Năng quyền giải tội thường xuyên phải được ban bằng văn bản”.
Ở đây, cần lưu ý là thẩm quyền tha tội  mà vị Linh mục thừa tác có được là vì  vị Linh mục thừa tác đó được hiệp nhất với Đức Kitô trong ngôi vị của Ngài và vì thế “trong cương vị của Đức Kitô” (“en raison d’être le Christ”) chứ không vì bất cứ lý do ngoại tại nào khác cả, thì dụ như những kiểu nói không thích hợp như: “vì thay mặt hay đại diện Đức Kitô” hoặc “vì được ủy quyền”, thậm chí cả những kiểu nói “đồng hình đồng dạng” hay “alter Christus”, v.v…
D.      LINH MỤC THỪA TÁC, NGÀI LÀ AI?
Có thể nói rằng dung mạo của vị Linh mục thừa tác đã lộ rõ ra khá rõ ràng khi chúng ta phân tích về những tương quan giữa ngài với Đức Kitô, với Bí tích Thánh Thể và với Bí tích Hòa Giải…
Như một đúc kết tạm thời và sơ lược, bài nầy cố gắng rút ra một số hệ luận từ những phân tích trên đây:
1) Linh mục thừa tác, ngài là ai?
2) Vai trò và vị trí của ngài trong tương quan với Giáo Hội và các Cộng đoàn…
1.      Linh mục thừa tác, ngài là ai?
Ngài là “con người trong ngôi vị Đức Kitô” hay “con người được Đức Kitô nhận là Mình”: điều nầy khác xa với những khái niệm “Alter Christus” (Đức Kitô khác hay Đức Kitô thứ hai…), hay “Đại diện Đức Kitô” hay “Đồng hình đồng dạng với Đức Kitô”…
a.       Điều đó, nói theo ngôn ngữ mầu nhiệm ngôi hiệp, trước tiên, có nghĩa vị Linh mục thừa tác vừa là Đức Kitô thật vừa là con người thật với những yếu đuối, những bất toàn và với cả tội lỗi, v.v…Bởi vì, con người “thánh” không đồng nghĩa với con người “hoàn hảo” hay “hoàn thiện” (perfection) mà đơn giản có nghĩa là con người được Thiên Chúa yêu thương và tha thứ…Chúng ta hãy nhớ đến các Tông đồ của Đức Giêsu: những Phêrô yếu đuối, những Giacôbê và Gioan đầy tham vọng trần tục, những Giuđa Iscariôt tham tiền và phản bội, v.v… Là chính Đức Kitô, nên ngài mới có thể “truyền phép Bánh và Rượu” và “nói”: “Nầy là Mình Thầy…” và “Nầy là chén Máu Thầy…”, để chính Đức Kitô và ngài “là” Bánh đó và Rượu đó (xem GL Kk. 899 § 2 và 900 § 1)…Là chính Đức Kitô, nên ngài mới có thể tha tội, và “nói”: “Và Tôi, Tôi tha tội cho Ông (Bà, Anh, Chị…) nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần…”. Nhưng, đồng thời, ngài cũng là con người với những bất toàn, những yếu đuối, những sa ngã, những tội lỗi, v.v…, cần được thông cảm, được thứ tha và được xây dựng…Như thế, nói theo ngôn ngữ của Thánh Phaolô, là vì: “Nhưng chính những điều thế gian coi là điên rồ, thì Thiên Chúa đã chọn để bêu nhuốc hạng khôn ngoan; và những điều thế gian coi là yếu đuối, thì Thiên Chúa đã chọn để bêu nhuốc những gì là mạnh mẽ. Những điều thế gian cho là ti tiện, là không đáng kể, thì Thiên Chúa đã chọn, những điều không không, để hủy ra không những điều có, ngõ hầu đừng có xác phàm nào dám vinh vang trước mặt Thiên Chúa.” (1Cr 1,27-29).
b.      Thứ đến, cương vị “là Đức Kitô” hay “trong ngôi vị của Đức Kitô” đó của vị Linh mục thừa tác, vốn vĩnh hằng (Ep 1, 4) và, sau khi đã được một vị giám mục hợp pháp của Giáo hội, dưới quyền năng Chúa Thánh thần, truyền ban, là vĩnh viễn, không ai và không gì có thể tước đi được (xem Dt 5,1-10; 7,24-28; Ga 15,14-16; 17,6-26; v.v…): người ta chỉ có thể cấm đoán hay tước đi quyền cử hành một số Bí tích và quyền thi hành mục vụ của ngài trong một thời gian nào đó, đối với một số đối tượng nào đó, v.v…, chứ không thể tước đi cương vị hay tư cách là “con người trong ngôi vị của Đức Kitô” của ngài được. Lý do, bởi vì cương vị “là Đức Kitô” đó vốn nằm trong cấu trúc hữu thể học của vị Linh mục thừa tác (xem Ga 13,20), chứ không phải là yếu tố ngoại tại. Đó chính là lý do giải thích tại sao Giáo luật của Giáo hội chủ trương rằng trong một số tình huống khẩn cấp và đặc biệt (như chiến tranh, bom đạn), một vị Linh mục thừa tác trước đó vốn bị cấm đoán có thể tự động được ban Bí tích Hòa giải cho giáo dân, “propter nos homines” và “propter nostram salutem” (xem GL, Kk. 976 và 986 § 2).
Ngày 15-12-2009 vùa qua, qua Tự Sắc “OMNIUM IN MENTEM”, Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI đã cho thêm vào Khoản Giáo Luật 1009 một triệt 3 qui định: “Những người được tấn phong chức giám mục hoặc Linh mục nhận lãnh sứ mạng và năng quyền hành động trong ngôi vị Đức Kitô Thủ lãnh, nhưng các phó tế thì được ban cho năng quyền phục vụ dân Chúa trong vai trò phụ việc trong cử hành phụng vụ, Lời Chúa và bác ái” (1009  § 3: “Ceux qui sont constitués dans l’ordre de l’épiscopat  ou du presbytérat  reçoivent la mission et la faculté d’agir en la personne du Christ tête, mais les diacres sont habilités à servir le peuple de Dieu dans la diaconie de la liturgie, de la parole et de la charité”).
c.       Khi nói “cương vị là Đức Kitô” thuộc về cấu trúc hữu thể học của vị Linh mục thừa tác, điều nầy không có nghĩa, giống như Đức Giêsu-Kitô vốn là Ngôi Lời Thiên Chúa và là Thiên Chúa và Đức Maria vốn được những đặc ân như vô nhiễm nguyên tội, thánh thiện không tì vết, mặc dụ vẫn phải đối diện với những cám dỗ, những thử thách trong cuộc đời trấn thế, mà chỉ muốn nói rằng, cũng như nơi các Tông đồ của Đức Kitô, “cương vị là Đức Kitô” mà vị Linh mục thừa tác nhận được trong ngày lễ Phong chức vốn bắt đầu như một “hiện hữu ở đó” (“être en lui”) và sẽ từ từ qua quá trình cuộc sống trở thành “hiện diện đối với ngài” (“être présent pour lui…”), và trong quá trình đó, hẳn ngài sẽ phải đối diện với những thử thách, cám dỗ và thậm chí những sa ngã…(xem 1Tm  4,6-16; 2Tm 3,10-17; 1Cr 3,18-23; 4,1-5; 2Cr 4,1-11, v.v…).
Quá trình đi từ “hiện hữu nơi ngài” (“être en lui”) đến “hiện diện đối với ngài” (“être présent pour lui”) chỉ có thể là qúa trình tình yêu được sống, qúa trình tương quan ngày càng mật thiết, sống động và cá vị giữa vị Linh mục thừa tác với Đức Giêsu Kitô, với Thân Mình mầu nhiệm của Ngài là chính Giáo Hội và với tha nhân, đặc biệt “những con người bé nhỏ”… Đó là một tương quan có tính năng động, hỗ tương và biện chứng, tức là vị Linh mục thừa tác càng yêu thương Thiên Chúa và con người bao nhiêu bằng một tinh yêu vị tha, dâng hiến, Đức Kitô càng hiện diện đối với ngài và trong ngài bấy nhiêu, và ngược lại, Đức Kitô càng hiện diện bao nhiêu đối với vị Linh mục thừa tác, ngài sẽ càng yêu thương nhiều bấy nhiêu và ngài càng “là mình” (identité) bấy nhiêu… Người ta sẽ hiểu được căn tính (identité) của vị Linh mục thừa tác cách rõ ràng hơn khi nghiên cứu vai trò, vị trí của ngài trong tương quan với Giáo hội-Thân Mình mầu nhiệm của Đức Kitô…
2.      Vai trò và vị trí của vị Linh mục thừa tác trong tương quan với Giáo Hội và các Cộng đoàn…
Có thể nói rằng Ep 4,11-13, một cách tổng quát, cho chúng ta thấy rõ vai trò, chức năng và vị trí của vị Linh mục thừa tác trong Giáo hội và các cộng đoàn:
“Đức Kitô đã ban ơn cho kẻ nầy làm Tông Đồ, người nọ làm ngôn sứ, kẻ khác làm người loan báo Tin Mừng, kẻ khác nữa làm người coi sóc và dạy dỗ. Nhờ đó, dân thánh được chuẩn bị để làm công việc phục vụ, là xây dựng thân thể Đức Kitô, cho đến khi tất cả chúng ta đạt tới sự hiệp nhất trong đức tin và trong sự nhận biết Con Thiên Chúa, tới tình trạng con người trưởng thành, tới tầm vóc viên mãn của Đức Kitô” (Ep 4,11-13).
Còn Cv 2,42 thì lại cho chúng ta thấy Hiện sinh đời sống của Giáo hội thời sơ khai và mọi thời được lập căn trên 4 yếu tố nền tảng: “Họ chuyên cần với giáo huấn của các tông đồ và sự hiệp thông, việc bẻ bánh và kinh nguyện”. Việc phân tích Cv 2,42 sẽ cho chúng ta thấy rõ được vai trò và chức năng và sứ mạng cụ thể của vị Linh mục thừa tác…
a.       “Họ chuyên cần với giáo huấn của các tông đồ”: Giáo hội, trước tiên, là một tập thể những người qui tụ lại với nhau để lắng nghe Lời Chúa (Assemblée du Seigneur). Vị Linh mục thừa tác chính là người mang trách nhiệm qui tụ, công bố, rao giảng và giải thích Lời Chúa nhân danh Giáo Hội, Thân Mình mầu nhiệm của Đức Kitô, tiếp nối truyền thống giáo huấn của các tông đồ.
b.      “…và sự hiệp thông”: Thứ đến, Giáo Hội là một tập thể những con người có cùng chung xác tín tất cả mọi người đều là anh chị em với nhau vì cùng có chung một Cha là Thiên Chúa, Đấng Tạo Thành mọi sự; hay nói cách khác, là tập thể những con người có cùng chung một Niềm Tin, một Niềm Hy Vọng và một Tình Yêu. Chính ở đây, vị Linh mục thừa tác là nguyên lý của sự hiệp nhất của cộng đoàn…
c.       “…việc Bẻ Bánh”: Sự hiệp thông luôn đòi hỏi tình yêu dâng hiến: cả hai điều nầy được thể hiện cách cụ thể nơi Bí Tích Thánh Thể. Vì thế việc tuyên xưng, cử hành và sống Bí Tích Thánh Thể chính là một trong những yếu tố làm nên nguyên lý, phương tiện và mục đích của hiện sinh của Giáo hội và làm nên chính căn tính của Giáo hội và cả của vị Linh mục thừa tác…
c.1. Bí Tích Thánh Thể và Căn tính của Giáo Hội:
Bí tích Thánh Thể, trước tiên, là nguyên lý của Căn tính của Giáo hội như là Thân Thể nhiệm mầu của Đức Kitô. Là nguyên lý, bởi vì, chính Bí tích Thánh Thể là nguyên lý khai sinh ra căn tính của Giáo hội, hay nói cách khác, chính Bí tích Thánh Thể làm cho Giáo hội là Thịt và là Máu của Đức Kitô, như là Bí tích của Đức Kitô giữa lòng thế giới…
Thứ đến, Bí tích Thánh Thể là phương tiện (moyen) xây dựng Căn tính của Giáo hội. Điều đó có nghĩa là Bí tích Thánh Thể vừa khai sinh ra vừa nuôi dưỡng Giáo Hội như là Thân Thể của Đức Kitô được trao ban cho nhân loại mọi nơi và mọi thời…
Sau cùng, Bí tích Thánh Thể chính là điều mà Giáo Hội phải và đang trở thành: “Nầy là Mình Thầy !” (Mc 14,22.24 và ss) và “Anh em thân mến, hiện giờ ta là con cái Thiên Chúa; ta sẽ là gì, thì chưa được tỏ hiện, ta biết rằng một khi điều ấy tỏ hiện, thì ta sẽ được giống như Người, vì Người thế nào, ta sẽ được thấy như vậy” (1Ga 3,2). Hay nói cách khác, Bí tích Thánh Thể cũng chính là cùng đích của Giáo Hội…
c.2. Bí tích Thánh Thể và Căn tính của vị Linh mục thừa tác:
Cũng như trong tương quan với Giáo hội-Thân Mình mầu nhiệm của Đức Kitô, Bí tích Thánh Thể cũng là một trong những yếu tố căn bản làm nên nguyên lý, phương tiện và cùng đích của Căn tính của vị Linh mục thừa tác.
Trước tiên, là nguyên lý của Căn tính của chức Linh mục thừa tác, bởi vì, giữa Chức thánh Linh mục thừa tác và Bí tích Thánh Thể có mối tương quan mật thiết và hỗ tương với nhau. Tương quan mật thiết, vì chính Đức Kitô đã thiết lập cùng lúc hai Bí tích nầy (Truyền chức thánh và Thánh Thể) trong Bữa Tiện Ly Ngày Thứ Năm Tuần Thánh. Và như đã lưu ý trước đây, có lẽ sẽ không có Chức thánh Linh mục thừa tác nếu không có Bí tích Thánh Thể và ngược lại…Tương quan hỗ tương, bởi vì hai Bí tích nầy tác động hỗ tương đối với nhau: vị Linh mục thừa tác càng “sống” căn tính của mình càng “nầy là Mình Thầy”  hơn và vì thế càng trở nên “Bí tích Thánh Thể” hơn, và ngược lại…
Thứ đến, là phương tiện không thể thiếu giúp vị Linh mục sống và thể hiện Căn tính đặc thù của mình là tình yêu hiệp thông và hiến tế: vị Linh mục thừa tác chỉ trở thành “lương thực” và “thức uống” cho mọi người ăn và uống khi thực sự “sống” Bí tích Thánh Thể hay nói cách khác, khi ngài cũng  là chính Bí tích Thánh Thể…
Sau cùng, là cùng đích của Căn tính của chức Linh mục thừa tác, nghĩa là chức thánh Linh mục thừa tác vốn là một “hữu thể đang trở thành” (être en devenir) của hành vi “Nầy là Mình Thầy” và “Nầy là Chén Máu Thầy” và cùng đích của quá trình nầy chính là Bí tích Thánh Thể (xem  1 Ga 3,2)…
d.      “…và kinh nguyện”: kinh nguyện cá nhân cũng như tập thể là cơ hội và là môi trường để con người “tiếp cận” với Thiên Chúa, với tha nhân và với chính cả bản thân mình… Và đó cũng chính là lúc và là nơi mà dung mạo của Giáo hội được bày tỏ và thể hiện cách hết sức đặc thù. Ở đây, vai trò chính của vị Linh mục thừa tác là “qui tụ” Dân Chúa lại với nhau, cùng đồng hành với họ và là “cầu nối” (pontifex) giữa con người và Thiên Chúa và ngược lại, trong ngôi vị Đức Kitô là Đầu…
3.      Sự Hiện diện có tính bí tích của vị Linh mục thừa tác giữa lòng Giáo hội …
Trên cơ sơ những phân tích và suy tư trên đây, hé lộ cho chúng ta thấy một chiều kích huyền nhiệm nữa nơi Căn tính đặc thù của vị Linh mục thừa tác đó là Hiện diện của ngài giữa lòng thế giới và Giáo hội là một Hiện diện có tính bí tích (Présence sacramentelle) (xem Mt 28,20; Lc 22,19).
Là sự hiện diện có tính bí tích, trước tiên, bởi vì đó là sự hiện diện trong ngôi vị Đức Kitô: dù hèn yếu, tội lỗi, bất xứng, v.v…, nhưng, vì tình yêu nhưng không và có thể nói không ai hiểu được, Đức Kitô đã nhận vị Linh mục thừa tác đó là Mình (appropriation) và qua ngài, Đức Kitô hiện diện với những người bạn của Ngài giữa lòng lịch sử…
Thứ đến, cùng với “Mình Thánh” và “Máu Thánh”, vị Linh mục thừa tác trong ngôi vị Đức Kitô, cách bí tích, vẫn “nuôi sống” và “làm đã cơn khát”  nhân loại đang “đói” và “khát” cách thể xác cũng như tinh thần…
Sau cùng, trong ngôi vị Đức Kitô là Đầu của Thân Thể mầu nhiệm là Giáo Hội, có thể nói vị Linh mục thừa tác chính là “linh hồn” của các cộng đoàn… Không có ngài, cộng đoàn sẽ trở nên trống vắng, như ngôi nhà không có chủ, như thế giới vắng bóng Thiên Chúa…
 
 

09. THẦN HỌC VÀ THI CA

Thành thật mà nói đề tài được Ban Tổ chức đề nghị trình bày “THẦN HỌC VÀ THI CA”  là qúa bao quát, rất khó có thể gói gọn trong một khoảng thời gian qúa ít ỏi là từ 30 cho đến 40 phút như thế nầy. Vì thế, tác giả xin mạo muội tự cho phép mình chỉ gói gọn đề tài trong vấn đề “Thử tìm hiểu nguyên nhân sự vắng bóng Thi ca trong đời sống và các phương tiện truyền thông ngày nay.”
Để tiếp cận vấn đề nầy, tôi sẽ thử, trước tiên, thông qua những quan hệ của con người ngày nay với thiên nhiên, với tha nhân, với bản thân mình và nhất là với Thiên Chúa và, sau đo, qua tình trạng lẫn lộn giữa ngôn ngữ thi ca và ngôn ngữ tín lý. Lý do là bởi vì, một đàng, Thần học (Theologia) vốn được định nghĩa như là những lời của con người nói “về” và nói “với’ Thiên Chúa trên cơ sở Lời của Thiên Chúa nói “về” và nói “với” con người và, bởi vì con người vốn là một tổng thể “Thiên-Địa-Nhân” (cosmothéandrique) ; và, đàng khác, bởi vì Thi ca cũng vốn được coi như “tiếng lòng” hay “tiếng đàn lòng” của con người  ngõ lời “về” và “với” con người, với bản thân mình, với thiên nhiên và với Thiên Chúa mà vốn vẫn đang “thì thầm” khôn nguôi bên trong và cả bên ngoài con người…
I.       QUAN HỆ CỦA CON NGƯỜI NGÀY NAY VỚI  THIÊN NHIÊN, VỚI THA NHÂN, VỚI CHÍNH MÌNH VÀ VỚI THIÊN CHÚA
Thật vậy, có lẽ một trong những nguyên nhân chính của sự vắng bóng thi ca trong đời sống và trong các phương tiện truyên thông (báo chí, truyền thanh, truyền hình, v.v…) đó chính là do con người ngày càng xa cách thiên nhiên, xa cách con người, xa cách chính bản thân mình và xa cách chính Thiên Chúa (xem St các chương 1-3).
1.      Xa cách thiên nhiên
Các hiện tượng đô thị hóa, phá hoại thiên nhiên, v.v…, đã từng bước khiến cho con người xa cách với thiên nhiên. Tuy nhiên, từ đáy sâu của mỗi con người khát vọng sống hài hòa với thiên nhiên vẫn còn đó, vẫn âm ỷ không nguôi : điều nầy được thể hiện cách tiềm tàng nơi những thú vui chơi non bộ, cây cảnh, cá cảnh, thú cảnh… Và bởi vì con người là một tổng thể “Thiên –Địa-Nhân”, cho nên sự vắng bóng thiên nhiên đã hẳn phải khiến cho thực tại đời sống con người cũng phải nghèo nàn đi, thậm chí cả què quặt đi…Và, như vậy, tiếng nói của thi ca cũng khó mà cất lời. (Thí dụ : vầng trăng trên đất Mỹ).
2.      Xa cách tha nhân
Có một nghịch lý đáng được quan tâm : con người ngày nay tuy đang sống trong một thế giới mà các phương tiện giao thông liên lạc tiện lợi và cực kỳ nhanh, nhưng vẫn không vì thế mà gần nhau hơn…Chính lối sống vị kỷ, cá nhân chủ nghĩa vốn được đề cao đã khiến cho người ta nhìn nhau không còn như là những “mầu nhiệm” cần được trân trọng và kiếm tìm mà có vẻ như chỉ còn là những công cụ mà mình cần tranh thủ để mang lại lợi ích cho mình hay như đối thủ hoặc kẻ thù mà mình cần phải khử trừ tiêu diệt…Ngôn ngữ “về nhau” và “với nhau” của con người với nhau vì thế cũng mất đi luôn “tính thi ca” của nó… (Vd: cách nam nữ yêu nhau ngày hôm nay; ngôn ngữ vợ chồng nói với nhau sau những tháng năm chung sống…).
3.      Xa cách chính mình
Không chỉ xa cách nhau mà con người ngày nay còn xa cách chính cả bản thân mình. Con người ngày nay không còn là chính mình mà thường bị “tha hóa” : sống như người khác sống, làm như người khác làm, nói như người khác nói, nghĩ như người khác nghĩ, yêu như người khác yêu, v.v… Trong những điều kiện vong thân như vậy, và nếu như Thi ca chính là “tiếng lòng mình”, thì làm thế nào tiếng nói của thi ca mới có thể lên tiếng ! Khi chính mình không nghe được “tiếng lòng’ mình thì làm sao có thể nói lên được “về” và “với” tiếng lòng mình…Tiếng nói của Thi ca vì thế chắc hẳn sớm muộn cũng sẽ vỗ cánh bay đi…(Thí dụ : con người sợ hãi chính bản thân mình, trốn chạy chính bản thân mình…).
4.      Xa cách Thiên Chúa
Khi con người không gặp gỡ được chính mình và tha nhân, con người cũng sẽ không thể nào gặp gỡ được chính Thiên Chúa, Cội Nguồn đích thực của Thi Ca. Cây có cội, nước có nguồn, con người vắng bóng Thiên Chúa cũng sẽ vắng bóng luôn Thi Ca đích thực, bởi vì Thiên Chúa chính là Tình Yêu (1 Ga 4, 16).
Việc nghiên cứu các Thánh vịnh , các tác phẩm Ngôn sứ, và đặc biệt sách Nhã ca trong CƯ cho chúng ta cảm nghiệm được rằng không có mối quan hệ mật thiết với Thiên Chúa khó mà có thể có được một nền Thi ca Kitô giáo đích thực. Tuy nhiên, ở đây, cần phân biệt giữa ngôn ngữ thi ca và ngôn ngữ thần học…
II.      NGÔN NGỮ THI CA VÀ NGÔN NGỮ THẦN HỌC
Nếu như trong cung cách bày tỏ tình cảm, mỗi nền văn hóa, mỗi dân tộc, thậm chí mỗi một người đều có những cung cách khác biệt nhau, với những kiểu cách khác biệt nhau, trong lãnh vực ngôn ngữ cũng vậy. Ngôn ngữ thần học tín lý phải ngắn gọn, rõ ràng, khúc chiết và để được hiểu bằng lý trí. Còn ngôn ngữ thi ca là ngôn ngữ của trực giác, được diễn tả qua những hình ảnh, biểu tượng so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, loại suy, v.v…, và để mà cảm nghiệm và trực giác chứ không để mà hiểu theo kiểu luận lý thông thường.
Trong Thi ca, vấn đề quan trọng là “cảm nghiệm với” chứ không phải chỉ là “biết hay hiểu về”… Đó chính là lý do tại sao phần lớn các Thánh Vịnh mà vốn là những bài thơ lại đồng thời cũng là những lời kinh. Quả thật, nếu người ta dùng ngôn ngữ thần học tín lý để “đọc” và “hiểu” các Thánh Vịnh, sách Diễm ca hay các sách Ngôn sứ của CƯ, điều đó cũng gần như đồng nghĩa với việc người ta phải giết chết chúng…Giáo hội vẫn sử dụng để cầu nguyện cả những Thánh Vịnh mà nội dung và ngôn ngữ xét về mặt thần học tín lý không thể nào chấp nhận được (Thí dụ Tv 9,6-7: “Người đã quát mắng dân ngoại đạo, diệt phường ác nhân, tên tuổi chúng, Người đã xóa đi đời đời kiếp kiếp. Địch thù đã tận tuyệt, cảnh thê lương muôn thưở, thành trì chúng, Người nhổ tận gốc, ký ức chúng đã tiêu ma”). Còn Sách Diễm ca chẳng hiểu sao chẳng có ai kết án là “hoa tình tục tỉu” với những câu như thế nầy mà trái lại còn được dùng cả trong Phụng vụ : “Chân em tuyệt đẹp trong những chiếc hài! Hỡi công nương! Đường cong cặp đùi những chiếc vòng, công trình do tay khéo léo. Rốn em tròn xoay như chung. Sao cho đừng thiếu rượu nồng! Bụng em, một đống miến mì, có huệ rào quanh. Đôi nhũ hoa như cặp nai tơ, con sinh đôi của linh dương mẹ. Cổ em như tháp ngà. Mắt em là những hồ nước Khesbôn, bên cổng Bat-Rabbim. Mũi em như tháp Liban, dõi về phía Đama,…” (Dc 7, 2-6).
Điều đó có nghĩa gì nếu không phải Giáo hội đã không “hiểu” và “đọc” các Thánh vịnh và sách Diễm ca bằng ngôn ngữ thần học tín lý mà bằng ngôn ngữ thi ca, ngôn ngữ của lời kinh … Ở Viêt Nam một số bài thơ tôn giáo của Hàn Mặc Tử vốn được coi như là những vần thơ tôn giáo bất hủ nhưng nếu xét qua lăng kính ngôn ngữ thần học thì ngôn ngữ và biểu tượng được sử dụng trong những bài thơ nầy là “lai căng” (ảnh hưởng Phật giáo, Lão giáo…) và không thích hợp…
Như một kết thúc cho những chia sẽ ngắn gọn nầy, tôi cũng muốn chia sẽ với các bạn một câu hỏi mà bao nhiêu lần tôi đã tự đặt ra cho mình đó là: Tại sao nền văn chương nghệ thuật “đời” ở Việt Nam phát triển như vũ bão trong những thế kỷ qua, còn trong Giáo hội Công giáo VN, khu vườn văn học nghệ thuật sao mà đìu hiu đến thế ! Liệu phải chăng, ở VN, người ta vẫn còn lẫn lộn giữa hai thứ ngôn ngữ thi ca và ngôn ngữ thần học và vì thế bao giờ thi ca cũng dễ dàng bị “phán xét” qua lăng kính thần học khiến thi ca và nghệ thuật khó có đủ dưỡng khí để mà tồn tại và phát triển ?

 
 

10. GIÁO HỘI KITÔ, BÍ TÍCH CỦA ƠN SIÊU ĐỘ

Để có thể nắm bắt được vấn đề nầy, có 3 vấn đề cần phải giải quyết :
1) Về hạn từ và khái niệm “Bí Tích”;
2) Về khái niệm “Siêu Độ”;
3) Giáo Hội, Thân Mình của Đức Kitô, Bí Tích của Ơn Siêu Độ.
I.       VỀ HẠN TỪ VÀ KHÁI NIỆM BÍ TÍCH :
Từ Điển của Paulus Huỳnh Tịnh Của, xuất bản năm 1896, định nghĩa hạn từ Bí Tích là “DẤU NHIỆM”, nhằm phản ảnh hạn từ Hy ngữ “mysterion” mà đã được La ngữ chuyển dịch ra thành hai hạn từ : a) “sacramentum” (= serment), để được gia nhập vào một tổ chức hay một hội kín nào đó, người ta phải có lời cam kết thề nguyền qua một nghi thức nào đó với những cử chỉ được qui định nào đó ; b) “mysterium”, là một mầu nhiệm tôn giáo (“mysterium”), tức là một dấu chỉ linh thánh dẫn đưa người ta đến được một thực tại ẩn dấu nào đó…
Trong Tân Ước, trong cùng lúc vừa có nghĩa đó là hành vi tiết lộ một bí mật (mysterium) [“Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết người Con là ai, trừ Chúa Cha, cũng như không ai biết Chúa Cha là ai, trừ người Con, và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho.” (Lc 10, 22)]; vừa có nghĩa đó là kế đồ bí mật của Thiên Chúa (sacramentum) [“Đức Giêsu đáp : ‘Bởi vì anh em thì được ơn hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời, còn họ thì không.” (Mt 13, 11)].
Nơi Phaolô, Bí Tích được hiểu như là mặc khải một mầu nhiệm. Khái niệm bí tích ở đây đề cao sự hiểu biết và, vì thế, đề cao sự hiện thực hóa, sự hoàn tất kế đồ của Thiên Chúa.
-        Ep 1, 9 : “Ngài cho ta được biết thiên ý nhiệm mầu : thiên ý nầy là kế hoạch yêu thương Ngài đã định từ trước trong Đức Kitô.”
-        Ep  3, 9  : “… và soi sáng cho mọi người được thấy đâu là mầu nhiệm Thiên Chúa đã an bài. Mầu nhiệm nầy đã được giữ kín từ muôn thưở nơi Thiên Chúa là Đấng tạo thành vạn vật.”
Khởi đi từ thế kỷ IV scn, cùng với Justinô và Augustinô, cả hai từ đó đều nhằm để diễn đạt một thực tại mà thôi :
“Kế đồ vĩnh hằng và thần linh được tỏ bày và được hiện thực nơi chính ngôi vị Đức Giêsu” (Justinô); “mầu nhiệm của Thiên Chúa không là gì khác ngoài Đức Kitô” (Thánh Augustinô).
Thế kỷ XII, Hugues de Saint Victor ghi dấu ấn của mình trong lịch sử thần học bí tích với việc ấn định ba yếu tố cấu thành bí tích : “Bí tích phải có đặc tính là một dấu chỉ, được thiết lập bởi Đức Kitô, thánh hóa qua ân sủng mà nó mang trong mình”.
“Việc sử dụng từ bí tích để chỉ “bảy” bí tích chỉ mới xuất hiện ở thế kỷ XII. Từ bí tích ngày càng được dành để chỉ riêng 7 thực tại liên quan đến bảy bí tích mà thôi,  đến độ làm lu mờ đi chính sự kiện tạo ra nền tảng cho bảy bí tích nầy, đó là vai trò mang tính bí tích của Ngôi Lời nhập thể và Giáo Hội.” (P. Woillez, 2009, Mystère et sacrement).
Về khái niệm Bí Tích, nói chung, Sách GIÁO LÝ CỦA HỘI THÁNH CÔNG GIÁO (từ nay sẽ được viết tắt là GLHTCG) sử dụng lại quan điểm của Justinô và Thánh Augustinô :
“Từ mysterion trong tiếng Hy Lạp được dịch sang tiếng La tinh bằng hai từ là mysterium (mầu nhiệm) và sacramentum (bí tích).. Trong cách giải thích về sau nầy, từ sacramentum (bí tích) diễn tả dấu chỉ hữu hình của thực tại ẩn dấu của ơn cứu  độ, thực tại ẩn dấu đó được diễn tả bằng từ mysterium (mầu nhiệm). Theo nghĩa nầy, chính Đức Kitô là mầu nhiệm của ơn cứu độ : ‘Mầu nhiệm của Thiên Chúa không là gì khác ngoài Đức Kitô’.” (GLHTCG, 774).
“Công trình siêu độ do nhân tính thánh thiện và có sức thánh hóa của Đức Kitô thực hiện là bí tích của ơn siêu độ. Bí tích nầy được biểu lộ và hoạt động trong các bí tích của Giáo Hội (mà các Giáo Hội Đông phương cũng gọi là các ‘mầu nhiệm thánh’). Bảy bí tích là những dấu chỉ và là những dụng cụ Chúa Thánh Thần dùng để tuôn đổ ân sủng của Đức Kitô là Đầu, trên Giáo Hội là là Thân Thể của Ngài. Như vậy, Giáo Hội chứa đựng và truyền thông ân sủng vô hình mà mình là dấu chỉ. Trong ý nghĩa loại suy nầy, chính Giáo Hội được gọi là một ‘bí tích’.” (GLHTCG 774).
II.      VỀ KHÁI NIỆM “SIÊU ĐỘ” :
Khi khẳng định “Chính Đức Kitô là mầu nhiệm của ơn siêu độ” (GLHTCG, 774), Sách GLHTCG cho chúng ta thấy toàn bộ con người và cuộc đời của Đức Giêsu-Kitô là mầu nhiệm siêu độ. Như vậy, ơn siêu độ trong cùng lúc vừa như là một Ngôi Vị mà con người cần có tương quan với (chính Đức Giêsu-Kitô, Con và Ngôi Lời Thiên Chúa làm người, và qua Ngài, với Thiên Chúa-Ba Ngôi), vừa như là một Ân Sủng được ban cho (trong Đức Giêsu-Kitô, con người được thông phần sự sống vĩnh hằng, tư cách là con Thiên Chúa và là anh em của mọi người).
Vì thế, được siêu độ có nghĩa là được “ở trong Đức Giêsu-Kitô” và được “Đức Giêsu-Kitô ở cùng với”, đến nỗi có thể nói được như Phaolô : “Tôi sống, nhưng không còn là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi.” (Gl 2, 20).
Để có thể cùng “tương ngụ” và “tương tại” (circumincescio) trong nhau với Đức Giêsu-Kitô, con người cần phải tin yêu Ngài, bởi vì chỉ có tình yêu mới có thể khiến cho người ta luôn hiện diện đối với nhau và “ở trong nhau”.
“Tất cả những gì chính Ngài đã sống, Đức Kitô làm cho chúng ta được sống những điều đó trong Ngài, và Ngài sống những điều đó trong chúng ta. ‘Khi nhập thể, Con Thiên Chúa một cách nào đó đã nên một với mọi người’ (Gaudium et Spes, 22). Chúng ta được kêu gọi nên một với Ngài; chính Ngài làm cho chúng ta, với tư cách là những chi thể của Thân Thể Ngài, được hiệp thông với những gì Ngài đã sống trong thân thể Ngài vì chúng ta và nên như mẫu mực cho chúng ta.” (GLHTCG  521).
“Nếu bí tích là hành vi làm cho mầu nhiệm hay kế đồ của Thiên Chúa-Ba Ngôi trở nên hiện thực, thì Đức Kitô là bí tích duy nhất của Thiên Chúa. /…/ Đức Kitô là sự tỏ bày ơn siêu độ cách hữu hình nơi trần gian. Con người cụ thể đó, Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, đã được Cha đồng ý chọn như là cửa ngõ tiếp cận duy nhất với thực tại siêu độ; Ngài là Đấng trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người /…/ Nhờ mầu nhiệm Vượt Qua, Đức Kitô đã làm cho Thánh Ý Siêu Độ của Cha trở nên hiện thực và hiện diện trong thế gian nầy : Ngài tỏ bày cho thấy tình yêu của Thiên Chúa đối với loài người và tình yêu của con người đối với Thiên Chúa. /…/ Mầu nhiệm tình yêu của Đức Kitô đối với Cha là nền tảng chắc chắn của sự thông ban ân sủng. Đức Kitô phải thần linh hóa và canh tân đổi mới cách hoàn toàn toàn thể nhân loại, cho đến ngay cả thực tại thân xác của nó.” (P. Woillez).
III.    GIÁO HỘI, THÂN MÌNH CỦA ĐỨC GIÊSU-KITÔ, BÍ TÍCH CỦA ƠN SIÊU ĐỘ :
Ở đây, chúng tôi sẽ cố gắng tiếp cận vấn đề từ ba góc độ : a) Đức Giêsu-Kitô là Đấng siêu độ duy nhất và phổ quát; b) Giáo Hội là Thân Mình của Đức Giêsu-Kitô; c) Giáo Hội là bí tích của ơn Siêu Độ của Đức Kitô.
A.      ĐỨC GIÊSU-KITÔ, ĐẤNG SIÊU ĐỘ DUY NHẤT VÀ PHỔ QUÁT :
Tuyên ngôn DOMINUS JESUS của Bộ Giáo Lý Đức Tin ban hành ngày 6 tháng 8 năm 2000 đã viết :
“Phải xác tín vững vàng, như một yếu tố kiên định trong đức tin của Giáo Hội, chân lý về Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, là Chúa và là Đấng Cứu độ độc nhất, Đấng qua biến cố nhập thể, tử nạn và phục sinh của mình, đã hoàn thành lịch sử cứu độ, trong đó, Ngài chính là sự sung mãn và là tâm điểm.” (Dominus Jesus, số 13).
“Do đó, phải xác tín vững vàng điều nầy như một chân lý thuộc đức tin công giáo, đó là ý muốn cứu độc phổ quát của Thiên Chúa Duy nhất và Ba Ngôi được ban tặng và hoàn tất một lần là đủ trong mầu nhiệm nhập thể, tử nạn và phục sinh của Con Thiên Chúa.” (Dominus Jesus, số 14).
Và Tuyên Ngôn gửi tới các nhà thần học lời nhắn nhủ nầy :
“Khoa thần học ngày nay được mời gọi, trong khi suy tư về sự hiện hữu và về ý nghĩa của những kinh nghiệm tôn giáo khác trong chương trình cứu rỗi của Thiên Chúa, hãy ghi nhớ định thức đức tin nầy và khám phá xem những dạng thức lịch sử và các yếu tố tích cực của các tôn giáo có nằm trong chương trình cứu rỗi của Chúa hay không và bằng cách nào.” (Dominus Jesus, số 14).
Vấn đề, quả thực, không đơn giản chút nào.
Ở đây, trong tư cách một người con của Giáo Hội, chúng tôi mạo muội chia sẻ với quí vị một vài suy tư mang tính gợi ý sau đây của mình :
Trong tư cách vừa là Nguyên Lý, vừa là Trung Gian, vừa là Cùng đích của toàn thể Thụ Tạo, đặc biệt, con người (hay loài người), Đức Giêsu, Con và là Ngôi Lời Thiên Chúa làm người, chính là Nguyên Lý, là Trung Gian và là Cùng Đích của toàn thể nhân loại (humanité), hiểu theo nghĩa cá nhân cũng như tập thể.
1.      Trên cơ sở mầu nhiệm Sáng Tạo : khi nói con người được tạo dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa (St 1, 26-27), thế mà hình ảnh Thiên Chúa chính là Đức Giêsu-Kitô (Cl 1, 15; 2 Cr 4, 4), điều nầy, vì thế, có nghĩa Nguyên Lý hiện hữu và Cùng Đích phải hoàn thành của con người không chỉ là trở nên giống như Đức Giêsu-Kitô mà còn là hiệp nhất nên một với Ngài và trong Ngài…
2.      Trên cơ sở mầu nhiệm Ngôi Hiệp : sự hiệp nhất toàn thể nhân loại nên một với Đức Giêsu-Kitô và trong Ngài được dựa trên cơ sở mầu nhiệm Ngôi Hiệp, tức là bởi vì nhân tính (humanité) của Đức Giêsu-Kitô là hiện thân của toàn thể nhân loại mọi nơi và mọi thời, vì thế, khi nhân tính của Ngài được siêu độ, hay được thần linh hóa qua biến cố Thập Giá (Chết và Phục Sinh), điều đó có nghĩa toàn thể nhân loại mọi nơi và mọi thời đều được siêu độ, được thần linh hóa, được giao hòa lại với Thiên Chúa trong Đức Giêsu-Kitô… Đó chính là cơ sở cho thấy tại sao Giáo Hội công giáo trước sau như một vẫn khẳng định Đức Giêsu-Kitô là Đấng Trung Gian duy nhất và phổ quát giữa Thiên Chúa và loài người và ngược lại, giữa loài người và Thiên Chúa, hay nói cách khác, là Đấng Siêu Độ duy nhất và phổ quát…Và điều đó còn cho thấy tình yêu nhưng không, vô điều kiện, vô vị lợi và vô biên của Thiên Chúa đối với các thụ tạo, đặc biệt, con người, nơi Đức Giêsu-Kitô, Con và Ngôi Lời Thiên Chúa làm người của Ngài…
B.      GIÁO HỘI, THÂN MÌNH CỦA ĐỨC GIÊSU-KITÔ :
Có thể nói rằng về tương quan giữa Đức Giêsu-Kitô và Hội Thánh, Thánh Phaolô là tác giả có nhiều đóng góp suy tư độc đáo và sâu sắc nhất.
Về tương quan giữa Đức Kitô Giêsu và Giáo Hội, Thánh Phaolô sử dụng hai hình ảnh khá độc đáo : a) Giáo Hội là Thân Thể (hay Thân Mình) của Đức Giêsu-Kitô (Ep 1, 23; Cl 1, 18.24) ; b) Giáo Hội là Hiền Thê của Đức Kitô (2 Cr 11, 2; Ep 5, 25-29; 21, 9).
1.      Giáo Hội là Thân Mình của Đức Kitô Giêsu :
Khi sử dụng hình ảnh nầy, có vẻ như Thánh Phaolô trong cùng lúc muốn nhấn mạnh vừa sự khác biệt giữa nhau vừa sự liên kết hiệp nhất nên một, như tương quan giữa các chi thể của cùng một thân thể.
Về vấn đề nầy, Tuyên Ngôn DOMINUS JESUS sử dụng một số hạn từ mang hơi hám mầu nhiệm ngôi hiệp :
“Chúa Kitô và Giáo Hội không thể lẫn lộn với nhau, cũng không thể phân ly nhau, và tạo thành một “Chúa Kitô toàn thể” (Dominus Jesus, số 16).
 “Không thể lẫn lộn với nhau”, bởi vì đó là hai thực thể khác biệt nhau : Đức Kitô và Giáo Hội. “Cũng không thể phân ly nhau”’ bởi vì Đức Kitô và Giáo Hội hiệp nhất với nhau nên một.
“Đức Kitô cũng là đầu của thân thể, nghĩa là đầu của Hội Thánh” (Cl 1, 18).
“Mà Hội Thánh là thân thể của Đức Kitô, là sự viên mãn của Ngài, Đấng làm cho tất cả được viên mãn.” (Ep 1, 23).
Ngoài ra, khi gọi Giáo Hội là thân mình của Đức Kitô, trong đó Đức Kitô là “đầu”, có lẽ Thánh Phaolô còn muốn cho thấy có một sự hiệp nhất không chỉ trên cơ sở tương quan mà còn có cái gì đó trên cơ sở “ngôi vị” (personne), điều mà tuyên ngôn DOMINUS JESUS gọi cách mơ hồ là “Chúa Kitô toàn thể” (Dominus Jesus, số 16).
Để bổ sung cho những hình ảnh nầy, Thánh Phaolô còn dùng hình ảnh phu-thê để diễn tả tương quan mật thiết giữa Đức Kitô và Hội Thánh.
2.      Giáo Hội là Hiền Thê của Đức Kitô Giêsu :
“Thật thế, vì anh em, tôi ghen cái ghen của Thiên Chúa, bởi tôi đã đính hôn anh em với một người độc nhất là Đức Kitô, để tiến dâng anh em cho Ngài như một trinh nữ thanh khiết.” (2 Cr 11, 2).
Trên cơ sở St 2, 24 : “Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt (hay một thân xác)”, Thánh Phaolô đã có những suy tư táo bạo và độc đáo về tương quan giữa chồng-vợ và giữa Đức Kitô và Hội Thánh :
“Và như Hội Thánh tùng phục Đức Kitô thế nào, thì vợ cũng phải tùng phục chồng trong mọi sự như vậy. Người làm chồng hãy yêu thương vợ, như chính Đức Kitô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh…Cũng thế, chồng phải yêu vợ như yêu chính thân thể mình. Yêu vợ là yêu chính mình. Quả vậy, có ai ghét thân xác mình bao giờ; trái lại, người ta nuôi nấng và chăm sóc thân xác mình, cũng như Đức Kitô nuôi nấng và chăm sóc Hội Thánh, vì chúng ta là bộ phận trong thân thể của Ngài. Sách Thánh có lời chép rằng : Chính vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một thân xác. Mầu nhiệm nầy thật là cao cả. Tôi muốn nói về Đức Kitô và Hội Thánh.” (Ep 5, 24-25.28-32).
Khi nói “Chồng phải yêu vợ như yêu chính thân thể mình” hay “yêu vợ là yêu chính mình”, Thánh Phaolô làm vọng lại điều mà Đức Giêsu đã nói về tương quan giữa con người với nhau (Mc 12, 33; Mt 19, 19), và về tương quan giữa Đức Giêsu-Kitô và mọi người (xem Mt 25, 40.45). Để có thể cả hai đều “là mình” như thế, cũng như trong mầu nhiệm ngôi hiệp, có hai hành vi diễn ra : a) từ phía Đức Kitô, đó là sự thông truyền cho nhau (communications) và sự nhận nhau là mình (appropriations); b) từ phía con người, đó là sự đón nhận (reception)…
3.      Những hành vi thông truyền cho nhau (communications) và nhận nhau là mình (appropriations) :
Khi nhận nhau là mình, Đức Kitô Giêsu thông truyền cho các thụ tạo những yếu tố đặc thù riêng của Ngài, vốn là Thiên Chúa, và nhận những yếu tố đặc thù của các thụ tạo làm của mình, ngoại trừ tội lỗi (Dt 4, 15) : đó là những hành vi thông truyền cho nhau những yếu tố đặc thù giữa các đối tác trong tình yêu (communication des idiomes).
Đối tượng của những hành vi nầy có thể là :
a.       Một sự vật tầm thường, như tấm bánh miến và chén rượu nho, trong Bí tích Thánh Thể :
“Và đang lúc họ ăn, Đức Giêsu cầm lấy bánh, chúc tụng, rồi bẻ ra và ban cho họ và nói : ‘Hãy cầm lấy ! Nầy là Mình Thầy’. Đoạn cầm lấy chén, tạ ơn, Ngài ban cho họ và họ uống chén ấy hết thảy. Và Ngài nói với họ : ‘Nầy là Máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra vì nhiều người…” (Mc 14, 22-24; xem thêm Mt 26, 26-29; Lc 22, 19-20; 1 Cr 11, 23-26).
b.      Một kẻ đi theo Ngài, như một tông đồ hay một môn đệ của Ngài, trong Bí tích truyền chức và đặt tay :
“Kẻ tiếp đón các ngươi là tiếp đón Thầy; và kẻ tiếp đón Thầy là tiếp đón Đấng đã sai Thầy.” (Mt 10, 40; Mc 9, 37).
“Ai nghe các ngươi là nghe Thầy, và ai thảy bỏ các người là thảy bỏ Thầy, mà ai thảy bỏ Thầy là thảy bỏ Đấng đã sai Thầy.” (Lc 9, 16).
“Đức Giêsu nói với ông Phêrô : ‘…Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết : anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá nầy, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời : dưới đất, anh cầm buộc điều gì trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy.” (Mt 16, 17a.18-19).
“…Trong đêm bị nộp, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi bẻ ra và nói : ‘Đây là Mình Thầy, hiến dâng vì anh em; anh em hãy làm việc nầy, mà tưởng nhớ đến Thầy. Cũng thế, sau bữa ăn, Ngài cầm lấy chén rượu và nói : ‘Chén nầy là Giao Ước Mới, lập bằng Máu Thầy; mỗi khi uống, anh em hãy làm việc nầy, mà tưởng nhớ đến Thầy.” (1 Cr 11, 23b-25).
c.       Tất cả mọi người :
“Đức Vua sẽ đáp lại rằng : ‘Ta bảo thật các ngươi : mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy…Ta bảo thật các ngươi : mỗi lần các ngươi không làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta vậy.” (Mt 25, 40.45).
Cũng như trong Bí tích Thánh Thể, Đức Kitô Giêsu nhận tấm bánh là Thịt của mình và nhận chén rượu là Máu của mình, hay trong Bí tích Truyền chức, Ngài nhận ai đó là mình, cũng vậy, trong mầu nhiệm Giáo Hội, Ngài nhận mọi chi thể là mình : đó là những hành vi nhận nhau là mình giữa Đức Kitô và các thụ tạo nói chung (appropriations).
Các hành vi “thông truyền cho nhau” và “nhận nhau là mình” nầy đều là những hành vi phát xuất từ tình yêu nhưng không của Thiên Chúa. Vấn đề của các thụ tạo là đón nhận những ân huệ nhưng không đó của Thiên Chúa hay không và như thế nào.
4.      Sự đón nhận trong tự do từ phía con người :
Qua mầu nhiệm Thập Giá (chết và Phục sinh), thần tính và nhân tính của Đức Giêsu-Kitô hoàn toàn hiệp nhất nên một trong Ngôi Vị Con, trong cùng lúc toàn thể nhân loại trong nhân tính của Ngài, về mặt cấu trúc hữu thể học, cũng được hiệp nhất với Ngài, được ở trong Ngài, được siêu độ, được hòa giải lại với Thiên Chúa, với nhau và với mình. Đây là ân huệ hoàn toàn nhưng không từ phía Thiên Chúa-Ba Ngôi.
“Công trình siêu độ do nhân tính thánh thiện và có sức thánh hóa của Đức Kitô thực hiện là bí tích của ơn siêu độ. Bí tích nầy được biểu lộ và hoạt động trong các bí tích của Giáo Hội (mà các Giáo Hội Đông phương cũng gọi là các ‘mầu nhiệm thánh’). Bảy Bí tích là những dấu chỉ và là những dụng cụ Chúa Thánh Thần dùng để tuôn đổ ân sủng của Đức Kitô là Đầu, trên Giáo Hội là Thân Thể của Ngài. Như vậy, Giáo Hội chứa đựng và truyền thông ân sủng vô hình mà mình là dấu chỉ. Trong ý nghĩa loại suy nầy, chính Giáo Hội được gọi là một ‘bí tích’.” (GLHTCG 774).
Vì là một đối tác tình yêu có tự do, nên con người có thể đón nhận ân huệ nhưng không nầy như thế nào là tùy và điều đó sẽ tạo nên căn tính của nó. Tuy nhiên, cũng như trong quan hệ phụ-tử, dù hoặc do không biết, hoặc do có biết mà người cha có từ con hay người con có từ cha, thì quan hệ phụ-tử giữa họ về mặt huyết tộc vẫn không có gì thay đổi. Trong tương quan của các thụ tạo nói chung, và đặc biệt con người, với Thiên Chúa cũng vậy. Dù con người, với tự do của mình, hoặc do không biết hoặc có ý từ khước hay phủ nhận Thiên Chúa và các công việc của Ngài, thì các tương quan dựa trên cấu trúc hữu thể học giữa Thiên Chúa và các thụ tạo vẫn không có gì thay đổi.
Vai trò của Giáo Hội, Thân Mình của Đức Kitô, ở đây, là làm sao để cho người ta nhận biết được những điều đó, bằng lời rao giảng cũng như bằng những hành động. Ơn đức tin của những người kitô-hữu, của Giáo Hội kitô, như vậy, không hẳn chỉ là đặc ân, mà còn là một sứ vụ.
Đó chính là cơ sở cho việc Giáo Hội, Thân Mình của Đức Giêsu-Kitô, là Bí tích của ơn Siêu độ.
C.      GIÁO HỘI, THÂN MÌNH CỦA ĐỨC KITÔ GIÊSU, BÍ TÍCH CỦA ƠN SIÊU ĐỘ ĐỘC NHẤT VÀ PHỔ QUÁT :
Về vấn đề nầy, Tuyên ngôn DOMINUS JESUS viết:
“Chúa Giêsu, Đấng Cứu độ độc nhất, không chỉ kiến tạo Giáo Hội như một cộng đồng đơn giản gồm các môn đệ, nhưng đã thiết lập Giáo Hội là một mầu nhiệm cứu rỗi : chính Ngài ở trong Giáo Hội và Giáo Hội ở trong Ngài (x. Ga 15, 1tt; Ga 3, 28; Ep 4, 15-16; Cv 9, 5). Do đó, sự sung mãn nơi mầu nhiệm cứu rỗi của Chúa Kitô cũng thuộc về Giáo Hội, được liên kết bất khả phân ly với Chúa của mình. Thật vậy, Chúa Giêsu-Kitô tiếp tục hiện diện và thực hiện công trình cứu rỗi trong Giáo Hội và bằng các phương thế của Giáo Hội (x. Cl 1, 24-27), là thân thể của Ngài (x. 1 Cr 12, 12-13.27; Cl 1, 18).” (Dominus Jesus, số 16).
Ở đây, có ba vấn đề cần được làm sáng tỏ : a) Đức Giêsu-Kitô “ở trong” Giáo Hội và Giáo Hội “ở trong” Đức Giêsu-Kitô; b) Chúa Giêsu-Kitô tiếp tục hiện diện và thực hiện công trình cứu rỗi trong Giáo Hội và bằng các phương thế của Giáo Hội là thân thể của Ngài; c) Giáo Hội là sự Viên Mãn của Đức Giêsu-Kitô.
1.      Đức Giêsu-Kitô và Giáo Hội “ở trong nhau” :
Những khái niệm “ở trong nhau” không đon giản chỉ được hiểu qua phạm trù không gian, mà đúng hơn cần phải được hiểu qua phạm trù tình yêu. Trong lãnh vực tình yêu, những hạn từ nầy vốn đồng nghĩa với nhau : “là nhau”, “là của nhau”, “hiện diện đối với nhau”, “hiện diện trong nhau”, “có nhau”, “ở trong nhau”, v.v…
Khi viết : “Do đó như đầu và các thành phần của một thân thể sống động, tuy không đồng nhất, nhưng không thể chia cắt nhau, thì cũng thế, Chúa Kitô và Giáo Hội không thể lẫn lộn với nhau, cũng không thể phân ly nhau, và tạo thành một “Chúa Kitô toàn thể”. Tính cách bất khả phân ly nầy cũng được diễn đạt theo ý nghĩa loại suy trong hình ảnh Giáo Hội là Hiền Thê của Chúa Kitô (x. 2 Cr 11, 2; Ep 5, 25-29; 21, 9).” (Dominus Jesus, số 16), hẳn Tuyên Ngôn muốn cho chúng ta hiểu tương quan giữa Đức Kitô và Giáo Hội trong chân trời tình yêu đó.
Thật vậy, kinh nghiệm cho thấy khi người ta yêu nhau thực sự thì người ta luôn hiện diện đối với nhau, luôn có nhau, luôn ở trong nhau, như dân gian thường nói “Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, vô duyên đối diện bất tương phùng.”. Đó là điều mà trong ngôn ngữ thần học về mầu nhiệm Ba Ngôi, các Giáo phụ vẫn thường gọi là “circumincescio” (“tương tại trong nhau”) hay “inhabitation réciproque” (“tương ngụ trong nhau”).
Thánh Phaolô đã diễn đạt được mối tương quan nầy cách tuyệt vời khi nói : “Tôi sống, nhưng không còn là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi.” (Gl 2, 20). Liệu Giáo Hội, Thân Mình của Đức Kitô cũng có thể nói : “Chúng tôi sống, nhưng không còn là chúng tôi, mà là Đức Kitô sống trong chúng tôi” ?
2.      Chúa Giêsu-Kitô tiếp tục hiện diện và thực hiện công trình cứu rỗi trong Giáo Hội và bằng các phương thế của Giáo Hội là thân thể của Ngài :
 Khi nói về nhu cầu đối thoại liên tôn và truyền giáo, Tuyên Ngôn DOMINUS JESUS viết :
“Trong nỗ lực đối thoại liên tôn, sứ vụ đến với muôn dân (ad gentes) ‘ngày nay và luôn mãi vẫn còn hoàn toàn có hiệu lực và cần thiết’ (Ad gentes, số 7). Thật vậy, ‘Thiên Chúa muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý’ (1 Tm 2, 4); nghĩa là Thiên Chúa muốn tất cả mọi người được cứu độ nhờ nhận biết chân lý. Ơn cứu độ được gặp thấy trong chân lý. Những ai vâng theo sự thúc đẩy của Thánh Thần chân lý thì đã ở trên con đường cứu độ. Nhưng chân lý được ủy thác cho Giáo Hội, nên Giáo Hội phải ra đi để đáp ứng khát vọng của con người, để mang chân lý đến cho họ. Vì tin vào kế hoạch cứu độ phổ quát của Thiên Chúa, nên Giáo Hội phải truyền giáo. (Giáo lý Hội Thánh Cong Giáo, số 851).” (Dominus Jesus, số 22).
Trước tiên, chúng tôi cần lưu ý ngay rằng việc Tuyên Ngôn số 22  giải thích 1 Tm 2, 4 là hơi tùy tiện, và có nguy cơ làm hạn chế những nội hàm phong phú trong tư tưởng của Thánh Phaolô. Thật vậy, khi thay thế giới từ “và” (“et”, “and”) trong 1 Tm 2, 4 bằng giới từ “nhờ” hay “qua”, “bởi” (“par”, “through”), Tuyên Ngôn đã giải thích không chính xác tư tưởng sâu sắc của Thánh Phaolô. Khi sử dụng giới từ “và”, Thánh Phaolô có lẽ muốn cho thấy giữa việc được cứu độ và được nhận ra sự thật không nhất thiết phải là tương quan nhân-quả, có điều kiện, mà đúng hơn là trình tự và cấp độ tương quan. Và đây là một vấn đề rất quan trọng trong suy tư thần học, bởi vì tình yêu của Thiên Chúa luôn là một thứ tình yêu nhưng không, vô vị lợi, vô điều kiện và vô biên.
Để tiện bề theo dõi, chúng tôi mạn phép trích dẫn ra đây phân đoạn quan trọng nầy, theo ba ngôn ngữ :
a.       Bản Pháp ngữ : “En effet, ‘Dieu veut que tous les hommes soient sauvés et parviennent à la connaissance de la vérité’ (1 Tm 2, 4). Dieu veut le salut de tous par la connaissance de la vérité. Le salut se trouve dans la vérité.” (Dominus Jesus, 22).
b.      Bản Anh ngữ : “Indeed, God ‘desires all men to be saved and come to the knowledge of the truth’ (1 Tm 2, 4); that is, God wills the salvation of everyone through the knowledge of the truth. Salvation is found in the truth.” (Dominus Jesus, 22).
c.       Bản Việt ngữ tạm thời của UBGLĐT của HĐGMVN : “Thật vậy, ‘Thiên Chúa muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý’ (1 Tm 2, 4); nghĩa là, Thiên Chúa muốn tất cả mọi người được cứu độ nhờ nhận biết chân lý. Ơn cứu độ được gặp thấy trong chân lý.” (Dominus Jesus, số 22).
Như chúng tôi đã có lưu ý trên đây, qua mầu nhiệm Thập Giá (chết và Phục sinh), Đức Giêsu-Kitô đã làm cho nhân tính của Ngài được thần linh hóa và hiệp nhất nên một trong Ngôi Vị Con của Ngài, và qua nhân tính của Ngài toàn thể nhân loại mọi nơi và mọi thời được siêu độ, được thần linh hóa, được trở nên giống như Thiên Chúa, một lần là đủ. Tình trạng được siêu độ nầy vốn nằm trong cấu trúc hữu thể học của con người, mọi nơi và mọi thời. Sứ mạng của Giáo Hội kitô, vốn không ai có thể thay thế, vì thế, đúng hơn không phải là tạo ra ơn siêu độ mà Đức Giêsu-Kitô đã mang lại một lần là đủ, mà là làm cho người ta nhận biết tình trạng mình được siêu độ đó, và nhận biết Thiên Chúa là Ai, Đức Giêsu-Kitô là Ai và con người cùng các thụ tạo là ai, để đáp trả lại tình yêu nhưng không đó của Thiên Chúa với tâm tình tri ân và cảm tạ.
“Nhưng, kể từ nay, trong Đức Giêsu-Kitô, anh em xưa kia vốn là những kẻ ở xa, thì nay trở thành gần, nhờ bửu huyết của Đức Kitô. Thật vậy, chính Đức Kitô là sự bình an của chúng ta : từ cái vốn chia cắt ra, Ngài đã làm thành một. Trong xác thịt của Ngài, Đức Kitô đã phá hủy bức tường tạo ra ngăn cách : đó là sự hận thù…Như vậy, khởi đi từ Do thái và dân ngoại, Đức Kitô đã muốn tạo ra trong Ngài chỉ còn một con người mới, nhằm thiết lập sự hòa bình, và muốn hòa giải cả hai lại với Thiên Chúa, thành chỉ còn một thân mình, mà phương tiện là chính Thập Giá : nơi mà Ngài đã tiêu diệt hết hận thù.” (Ep 2, 13-16).
Để được ơn cứu độ, điều quan trọng trước tiên đó là được Thiên Chúa chủ động đến viếng thăm và ở cùng, như trong trường hợp của ông Dakêu [“Đức Giêsu mới nói về ông ta rằng : ‘Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà nầy, bởi người nầy cũng là con cháu tổ phụ Apraham. Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất’.” (Lc 19, 9-10)], chứ không nhất thiết là do người ta đã biết được sự thật về Ngài. Vấn đề sự thật về Thiên Chúa, về Đức Giêsu-Kitô, về con người và các thụ tạo sẽ từ từ được khám phá ra sau, theo trình tự và cấp độ mà Đức Kitô đã nói về mình : “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai có thể đến được với Chúa Cha mà không qua Thầy. Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha Thầy. Ngay từ bây giờ, anh em biết Ngài và đã thấy Ngài.” (Ga 14, 6-7); hay : “Mà sự sống vĩnh hằng đó là họ nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Đấng Cha đã sai đến, là Giêsu Kitô.” (Ga 17, 3).
Như vậy, vai trò của Giáo Hội, Thân Mình của Đức Giêsu-Kitô, trước tiên, cũng phải là “con đường”, không hẳn là để dẫn đưa nhân loại đến với Thiên Chúa mà đúng hơn là để Thiên Chúa đến với nhân loại (đặc biệt, qua các bí tích), cũng phải là “sự thật” mặc khải cho biết Thiên Chúa là Ai và con người là ai (đặc biệt, qua nỗ lực loan báo Tin Mừng Tình Yêu và đời sống chứng tá của mình), cũng phải là “sự sống” tình yêu qua đó nhân loại khi hiệp thông với Giáo Hội được thông phần vào sự sống tình yêu vĩnh hằng của Thiên Chúa (đặc biệt, qua đời sống chứng tá bằng yêu thương và phục vụ)...
Ngoài ra, những nỗ lực Tin Mừng hóa muôn dân, hay những nỗ lực xây dựng Nước Thiên Chúa chính là những nỗ lực Giáo Hội tự hoàn thiện mình, tự làm cho mình hoàn hảo hơn, trưởng thành hơn, sung mãn hơn và tạo điều kiện cho biến cố Quang Lâm của chính Đức Giêsu-Kitô, hay nói theo ngôn ngữ của Thánh Phaolô :
“Giờ đây, tôi vui mừng được chịu đau khổ vì anh em. Những gian nan thử thách Đức Kitô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho thân thể Ngài là Hội Thánh.” (Cl 1, 24).
“Mà Hội Thánh là thân thể Đức Kitô, là sự viên mãn của Ngài, Đấng làm cho tất cả được viên mãn.” (Ep 1, 23).
“Giáo Hội, - mà tất cả chúng ta đều được mời gọi trong Đức Kitô và mà trong đó chúng ta có được sự thánh thiện nhờ ân sủng Thiên Chúa, - chỉ đạt đến tình trạng viên thành trong vinh quang thiên quốc mà thôi /…/ Đức Kitô khi bị cất lên khỏi đất đã lôi kéo tất cả mọi người đến được với Ngài; được phục sinh từ giữa những kẻ chết, Ngài đã sai phái Thần Khí sự sống của Ngài đến trên các tông đồ, và nhờ Thần Khí đó, Ngài đã tạo nên Thân Mình của Ngài, là chính Giáo Hội, như bí tích phổ quát của ơn siêu độ; ngự bên hữu Cha, Ngài vẫn không ngừng tiếp tục tác động lên thế giới để dẫn đưa con người về với Giáo Hội, nhờ Giáo Hội hiệp nhất họ lại với nhau ngày càng thắt chặt hơn, và làm cho họ được tham phần sự sống vinh quang của Ngài, qua việc nuôi sống họ bằng chính Mình và Máu của Ngài.” (Lumen Gentium, 48).
3.      Giáo Hội là sự Viên Mãn của Đức Giêsu-Kitô :
1 Ga 3, 2 đã viết một cách bí hiểm : “Anh em thân mến, hiện giờ chúng ta là con Thiên Chúa; nhưng chúng ta sẽ như thế nào, điều ấy chưa được bày tỏ. Chúng ta biết rằng khi Đức Kitô xuất hiện, chúng ta sẽ nên giống như Ngài, vì Ngài thế nào, chúng ta sẽ thấy Ngài như vậy.”
Ở đây, có vẻ như 1 Ga 3, 2 muốn cho chúng ta hiểu Ngày Quang Lâm của Đức Giêsu-Kitô cũng chính là lúc nhân loại thành toàn, tức là trở nên giống như Ngài (St 1, 26-27), và đó cũng là lúc Giáo Hội trở nên Thân Mình của Đức Giêsu-Kitô, như dưới tác động của Chúa Thánh Thần, tấm bánh thánh trở nên Thân Mình của Ngài và chén rượu trở nên Máu của Ngài. Quá trình phát triển của Giáo Hội-Thân Mình của Đức Kitô, hay của Nước Thiên Chúa, như vậy, cũng giống như quá trình phát triển của hạt giống. Trong suốt quá trình phát triển đó, chính Đức Kitô là Đấng “nuôi nấng và chăm sóc Hội Thánh vì chúng ta là bộ phận trong thân thể của Ngài” (x. Ep 5, 28-32) bằng chính Ngài (Lời Chúa và các Bí tích, đặc biệt Bí tích Thánh Thể).
Trên cơ sở đó, chúng ta hiểu được phần nào tại sao Thánh Phaolô lại phát biểu : “Vì mỗi lần anh em ăn bánh ấy và uống chén ấy, anh em loan báo sự chết của Chúa, cho tới lúc Ngài đến.” (1 Cr 11, 26). Và chúng ta cũng có thể nói việc cử hành Bí tích Thánh Thể mà qua đó Giáo Hội loan báo sự chết của Chúa, như vậy, sẽ chấm dứt vào lúc Đức Kitô Quang Lâm, hay có thể nói, vào lúc toàn thể thụ tạo, đặc biệt, con người, hay toàn thể Giáo Hội, như tấm bánh và chén rượu, trở nên Thân Mình và Máu của Đức Giêsu-Kitô. Và chính trong tư cách đó, Giáo Hội kitô mới có thể được gọi là “Thành thánh”, “Giêrusalem mới”, “tân nương trang sức chờ đón đức lang quân” :
“Và tôi đã thấy một trời mới và một đất mới, vì trời cũ và đất cũ đã qua, và biền không còn nữa. Và Thành thánh, Giêrusalem mới, tôi đã thấy tự trời xuống từ nơi Thiên Chúa, chỉnh tề như tân nương trang sức chờ đón đức lang quân.” (Kh 21, 1-2).
Một tấm bánh tầm thường, một chén rượu bình thường, khi Ngài muốn, và đưới tác động của Chúa Thánh Thần, Đức Giêsu đã làm cho chúng trở nên Thân Mình của Ngài và Máu của Ngài, chẳng lẽ, nếu Ngài muốn và dưới tác động của Chúa Thánh Thần, Đức Giêsu-Kitô lại không thể làm cho toàn thể thụ tạo, đặc biệt, toàn thể nhân loại, trở nên Thân Mình của Ngài hay sao !
“Và Đức Giêsu nói với các môn đệ : ‘…Thầy bảo thật anh em : chẳng bao giờ Thầy còn uống sản phẩm của cây nho nầy nữa, cho đến ngày Thầy uống thứ rượu mới trong Nước Thiên Chúa.” (Mc 14, 24a.25; xem thêm Mt 26, 29; Lc 22, 18).
Nhìn từ những góc độ đó, người ta sẽ có thể nhận ra rằng Ngày Quang Lâm cũng sẽ là ngày hoàn tất các Công trình Sáng tạo, Mặc khải và Siêu độ của Thiên Chúa-Ba Ngôi; hoặc nói theo ngôn ngữ của Mt 6, 9-10, đó là Ngày mà “Danh Cha cả sáng”, “Nước Cha trị đến”, “Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời”; hoặc theo ngôn ngữ của Thánh Phaolô trong 1 Cr 15, 24.28 : “Rồi sẽ là cùng tận, lúc Đức Kitô trao trả vương quyền cho Thiên Chúa và là Cha, sau khi đã hủy ra không, mọi thiên phủ, mọi uy thế và quyền năng…Vì khi mọi sự đã phục quyền Ngài, thì bấy giờ Con cũng sẽ phục quyền Đấng đã bắt mọi sự phục quyền mình, ngõ hầu Thiên Chúa là tất cả trong mọi sự.”…
 
 

11. TÌM HIỂU THÔNG ĐIỆP “THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU”

(“DEUS CARITAS EST”)
của Đức Thánh Cha BÊNÊĐICTÔ XVI

Vào đề
Như là nhà thần học, ngay từ thưở ban đầu, Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI có vẻ như gần cận với Augustinô hơn bất cứ thần học gia nào khác, thậm chí kể cả so với Thomas d’Aquin . Và như chúng ta đã biết, thần học của Augustinô, cũng như của tác giả sách Tin Mừng thư tư và của các Thư Ga, chủ yếu dựa trên khái niệm TÌNH YÊU.
 Cũng cần lưu ý rằng luận án tiến sĩ của ĐGH Bênêđictô XVI là về “Giáo hội thời cổ đại” , và theo ngài, “Giáo hội không phải tự mình là mục đích cho mình, nhưng Giáo hội hiện diện ở đấy là để Thiên Chúa được người ta nhìn thấy…” .
Đó chính là những ý tưởng làm nền tảng cho Thông điệp đầu tiên của Triều đại giáo hoàng của ngài : THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU (DEUS CARITAS EST) mà theo ngài, là “chỉ muốn trả lời cho vài câu hỏi thật cụ thể đối với đời sống kitô” . Thông điệp bao gồm 2 phần, với 42 số: Phần thứ nhất (gồm 18 số) đề cập đến SỰ THỐNG NHẤT CỦA TÌNH YÊU (trong Công trình Sáng tạo và trong Lịch sử Cứu độ) ; Phần thứ hai (gồm 24 số) đề cập vấn đề HOẠT ĐỘNG BÁC ÁI CỦA HỘI THÁNH NHƯ LÀ MỘT “CỘNG ĐOÀN CỦA TÌNH YÊU”.

I.       Phần thứ nhất : SỰ THỐNG NHẤT CỦA TÌNH YÊU
Quả thực, phần thứ nhất là nhằm trả lời cho 3 câu hỏi sau đây :
1)      Con người có thể yêu mến Thiên Chúa cách đích thực không ?
2)      Con người có thể thật sự yêu mến tha nhân vốn xa lạ với chúng ta, thậm chí không dễ thương chút nào chăng ?
3)      Làm sao dung hòa được giữa “EROS” và “AGAPE” ?
1.      Con người có thể yêu mến Thiên Chúa cách đích thực không?
Chính ĐGH. Bênêđictô XVI đã trả lời như sau :
“Câu trả lời cho câu hỏi đầu tiên nầy như sau : Vâng, chúng ta có thể yêu mến Thiên Chúa, xét vì Thiên Chúa đã không ở trong một khoảng cách không thể  vượt qua được, nhưng Ngài đã bước vào và còn đang bước vào trong đời sống chúng ta . Ngài đến với chúng ta, đến với mỗi người chúng ta, trong các Bí Tích mà qua đó Ngài tác động trong cuộc đời chúng ta  ; Ngài đến với chúng ta với đức tin của Giáo Hội mà qua đó Ngài ngõ lời với chúng ta  ; Ngài đến với chúng ta, bằng cách làm cho chúng ta gặp được những con người mà Ngài đã chạm đến và là những con người thông truyền ánh sáng của Ngài.  ; Ngài đến với chúng ta với những hoàn cảnh mà qua đó Ngài can thiệp vào trong đời sống của chúng ta  ; Ngài đến với chúng ta, với những dấu chỉ của thụ tạo mà Ngài đã trao ban cho chúng ta .”
2.      Con người có thể thật sự yêu mến tha nhân vốn xa lạ với chúng ta, thậm chí không dễ thương chút nào ?
Đối với câu hỏi thứ hai nầy, chính ĐGH. Bênêđictô XVI đã trả lời vắn gọn như sau :
“Vâng, chúng ta có thể, nếu chúng ta là những bạn hữu của Thiên Chúa . Nếu chúng ta là bạn của Chúa Kitô và như thế chúng ta ngày càng nhìn thấy rõ ràng hơn rằng Chúa đã và còn đang yêu thương chúng ta, cho dù đôi khi chúng ta không nhìn về Ngài và sống theo những định hướng khác. Tuy nhiên, nếu tình bằng hữu với Chúa, từ từ trở thành điều quan trọng và có tính quyết định cho chúng ta, thì lúc đó chúng ta sẽ bắt đầu muốn điều tốt cho tất cả những ai mà Chúa yêu thương và là những kẻ cần ta trợ giúp. Chúa muốn chúng ta trở thành bạn của những người bạn của Ngài, và chúng ta có thể làm như vậy, nếu trong nội tâm chúng ta sống gần bên Ngài.”
3.      Làm sao dung hòa được giữa “EROS” và “AGAPE” ?
Đối với câu hỏi thứ ba nầy, ĐGH. Bênêđictô XVI đã tóm tắt như sau :
“Với những mệnh lệnh và những ngăn cấm của mình, phải chăng Giáo Hội đã làm cho niềm vui tình yêu nam nữ, tình yêu theo nghĩa EROS – tình yêu thôi thúc ta đến với kẻ khác, và là tình yêu hướng đến sự kết hợp - , trở nên điều cay đắng hay không ? Trong Thông điệp, tôi đã cố gắng chứng minh rằng lời hứa sâu xa nhất của tình yêu theo nghĩa EROS, chỉ có thể trưởng thành, khi chúng ta không tìm cách bắt lấy hạnh phúc cách bất ngờ. Ngược lại, chúng ta kiên trì khám phá mỗi ngày một hơn kẻ khác, khám phá sâu xa hơn với trọn vẹn cả thể xác và linh hồn, sao cho cuối cùng hạnh phúc của người khác trở thành quan trọng hơn hạnh phúc của chính bản thân ta. Lúc đó, người ta không còn muốn chỉ lấy về cho mình, nhưng muốn cho đi ; và chính trong sự giải thoát khỏi cái tôi này mà đương sự gặp lại chính mình và đạt đến cao điểm của niềm vui .”
II.      Phần thứ hai : HOẠT ĐỘNG BÁC ÁI CỦA HỘI THÁNH NHƯ MỘT ‘CỘNG ĐOÀN TÌNH YÊU”
Trong Thư gửi TBGĐKT, ĐGH. Bênêđictô XVI đã cho biết rằng Phần 2 nầy chỉ là nhằm trả lời cho hai câu hỏi nầy :
1)      Liệu Giáo Hội có thể nhường việc phục vụ người nghèo và đau khổ tinh thần cũng như thể xác cho những tổ chức nhân đạo khác đang có mặt trong nhiều hình thức khác nhau không ?
2)      Liệu có còn cần thiết việc tiến đến một trật tự xã hội công bằng trong đó sẽ không còn những người nghèo nữa và vì thế tình yêu bác ái sẽ trở nên dư thừa và không còn cần thiết nữa ?
1.      Đối với câu hỏi thứ nhất, trong Thư gửi TBGĐKT, ĐGH. Bênêđictô XVI đã tóm tắt như sau :
“Không, Giáo Hội không thể nào làm như vậy. Giáo Hội phải thực hành Tình thương bác ái với người lân cận, với tư cách một Cộng Đồng, nếu không thì Giáo Hội sẽ rao giảng về Thiên Chúa Tình Yêu (Thiên Chúa Ba Ngôi) cách không trọn vẹn và không đầy đủ .”
2.      Đối với câu hỏi thứ hai, trong Thư gửi TBGĐKT, ĐGH. Bênêđictô XVI tóm gọn như thế nầy :
“Chắc chắn rằng mục tiêu của hoạt động chính trị là tạo ra một trật tự công bằng cho xã hội, trong đó mỗi người được nhìn nhận phần của mình, và không ai phải đau khổ vì túng thiếu. Theo nghĩa nầy, công bằng là mục tiêu đích thật của việc chính trị, cũng như hòa bình cũng là mục tiêu của chính trị ; hòa bình không thể nào có được, nếu không có sự công bằng. Tự bản chất của mình, Giáo Hội không đích thân làm chính trị, nhưng tôn trọng sự độc lập của Nhà Nước và tôn trọng trật tự tổ chức Nhà Nước.
Việc đi tìm trật tự của công bằng là điều có liên hệ với ‘lý trí chung’, và như thế, việc chính trị là quan tâm chung của tất cả mọi công dân. Tuy nhiên, lý trí thường bị mù quáng bởi những lợi lộc và bởi ước muốn có quyền hành. Đức tin có vai trò thanh luyện lý trí ngõ hầu lý trí có thể nhìn thấy và quyết định đúng đắn. Lúc đó, trách vụ của Giáo Hội là chữa lành lý trí và cũng cố ý chí muốn làm điều thiện hảo. Trong nghĩa này, dù không cần làm chính trị, nhưng Giáo Hội hăng say tham dự vào cuộc tranh đấu cho công bằng. Với những người kitô hữu dấn thân thân trong những công việc chung, họ có bổn phận luôn mở ra những con đường mới tiến đến sự công bằng, khi họ hoạt động chính trị.” 
Ở đây, ĐGH. Bênêđictô XVI cũng lưu ý rằng:
“…Sự công bằng không bao giờ  có thể làm cho tình thương trở nên dư thừa. Bên kia sự công bằng, con người sẽ luôn cần đến tình yêu ; chỉ tình yêu mới trao ban cho sự công bằng một linh hồn. Trong một thế giới bị nhiều thương tích như chúng ta cảm thấy hôm nay, không còn cần thiết để chứng minh cho điều vừa được quả quyết. Thế giới đang chờ đợi chứng tá của Tình yêu kitô, chứng tá mà đức tin gợi ra cho chúng ta. Trong thế giới chúng ta, một thế giới thường có những bóng tối, thì ánh sáng của Thiên Chúa chiếu sáng nhờ tinh yêu kitô như đã trình bày trên đây.”
LỜI CUỐI
Câu hỏi cuối cùng ký giả Peter SEEWALD đặt ra cho ĐHY. Josef RATZINGER là “Và Thiên Chúa muốn gì ở chúng ta ?” đã được ngài trả lời như sau : “Ngài muốn chúng ta trở thành những hữu thể yêu thương, và lúc đó chúng ta sẽ trở nên Hình Ảnh của Ngài. Vì rằng, như thánh Gioan đã nói, Thiên Chúa là Tình Yêu, và Ngài muốn có những thụ tạo giống như Ngài và như vậy, khởi đi từ tự do của tình yêu của mình, các thụ tạo trở nên như Ngài và làm sinh xuất từ bản tính của riêng Ngài và làm lan tỏa ánh sáng vốn sinh xuất từ Ngài.”
 
 

12. THẦN KHÍ NHƯ MỘT NGÔI VỊ VÀ NHƯ ÂN HUỆ

A.      THẦN KHÍ, NHƯ MỘT NGÔI VỊ
Có hai vấn đề được đặt ra:
1) Ngôn ngữ Kinh Thánh và ngôn ngữ thần  học.
2) Suy tư thần học.
1.      Thần Khí, như một Ngôi Vị
a.       Trước tiên, cần lưu ý rằng những khái niệm: “Ngôi vị”, “bản tính”, “bản thể”, “yếu tính”... được đưa ra trong những bối cảnh nhất định, nhằm phục vụ cho những nhu cầu nhất định: đó là minh định lập trường của Giáo Hội chống lại một số khuynh hướng lạc giáo trong những thế kỷ III, IV,V hoặc muuốn hạ thấp tư thế của Chúa Con và Chúa Thánh Thần đối với Chúa Cha, hoặc muốn hạ thấp tư thế của Chúa Thánh Thần đối với Chúa Cha và Chúa Con... Vì thế, để minh giải có sự phân biệt trong mầu nhiệm Thiên Chúa như là Ba Đấng, ngôn ngữ thần học gọi đó là ‘Ba ngôi vị’, và đồng thời để khẳng định, tuy thế, chỉ có một Thiên Chúa mà thôi, ngôn ngữ thần học đã phải nại tới khái niệm “bản tính” hay “bản thể” của triết học Hy-lạp: Ba ngôi vị cùng chung một bản tính...
b.      Thật ra, khái niệm “Ba ngôi” (Trinité) hoàn toàn không có nguồn gốc trong Kinh Thánh. Hạn từ “Ba ngôi” được gặp thấy lần đầu tiên, cách khá kín đáo, nơi Théophile d’Antioche, trong tác phẩm ‘A Autolycos’, II,15 (khoảng năm 180)...
i.       Để chỉ có sự phân biệt (distinction) trong Mầu nhiệm Thần linh, ngôn ngữ Kinh Thánh, đặc biệt Tân Ước, không bao giờ sử dụng khái niệm ‘3’ (bằng cách đếm hay cộng lại!) mà đơn giản gọi “Cha, Con, Thánh Thần” như là những Đấng phân biệt với nhau: Cha là Cha bởi vì sinh ra Con và sai Con...; Con là Con bởi vì được sinh ra và được sai bởi Cha... Thánh Thần là Thánh Thần bởi vì là Thần Khí Tình yêu mà nhờ Ngài, bởi Ngài và trong Ngài, Cha và Con yêu thương nhau...
ii.      Để nói lên sự hiệp nhất (Unité) giữa Cha - Con - Thánh Thần, ngôn ngữ thần học lý giải vì các Ngài có chung cùng một bản tính (une même nature), hoặc đồng bản thể (consubstantiel), còn ngôn ngữ Kinh Thánh thì đơn giản hơn: “Tôi và Chúa Cha là một” (Ga 10,30); “Cha  ở trong Con và Con ở trong Cha” (Ga 17,21;10,38; 14,11); “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (Ga 14, 9b;x. 8,19; 12,45; Dt 1,3); “Thiên Chúa (Cha) là Thần Khí” (Ga 4,24); “Thần Khí của Thiên Chúa” (Rm 8, 9.14; 15, 19; 1Cr 6,11; 7,40); “Thần Khí của Đức Kitô” (Rm 8,11); “Thần Khí của Đức Chúa” (2Cr 3,17)...
 
c.       Như vậy, cách chung chung, có thể nói rằng:
i.       Sự hiện hữu Cha- Con- Thánh Thần như là những Đấng phân biệt với nhau, đối với ngôn ngữ Kinh Thánh, không phải là “vấn đề” cần được đặt ra”. Vấn đề, nếu có, đối với ngôn ngữ Kinh Thánh, đó là minh giải sự hiệp nhất giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, làm sao: chỉ có một Thiên Chúa (để tránh hiểu lầm và hiểu sai, có lẽ tốt hơn nên dùng hạn từ “Thần Linh”!), một Đức Chúa, một Thần Khí (1Cr 12,4-6). Và:
•        Khi nói “chỉ có một Thiên Chúa” là có ý khẳng định: “ Cha là Thiên Chúa”, “Con là Thiên Chúa”,” Thần Khí là Thiên Chúa”; và ngôn ngữ thần học gọi hạn từ “Thiên Chúa” là “bản tính” hay “bản thể” của Cha - Con - Thánh Thần...
•        Khi nói “Chỉ có một Đức Chúa” là có ý khẳng định: “Cha là Đức Chúa”, “Con là Đức Chúa”, “Thần Khí là Đức Chúa”; và ngôn ngữ Thần học gọi hạn từ “ Đức Chúa” là “bản tính” hay “bản thể” của Cha - Con - Thánh Thần...
•        Khi nói “chỉ có một Thần Khí” là có ý khẳng định: “ Cha là Thần Khí”, “Con là Thần Khí”,” Thánh Thần là Thần Khí” (Ga 4, 24; 2Cr 3,17), hay nói cách khác, “Cha và Con là và có chung một Thần Khí”; và ngôn ngữ thần học gọi hạn từ “Thần Khí” là “bản tính” hay “bản thể” của Cha - Con - Thánh Thần... Như vậy, hạn từ “Thần Khí” đồng thời vừa chỉ bản tính hay bản thể của Cha- Con- Thánh Thần, vừa chỉ một Đấng khác với Cha và Con; và điều đó, nói theo ngôn ngữ thần học, có nghĩa Thần Khí vừa là bản tính hay bản thể của Cha và Con vừa là chính Mình hay, nói cách khác, vừa là một Ngôi vị. Tuy nhiên, không phải là Hữu Thể trong tư cách chỉ là Chủ thể (Être-Sujet) như Chúa Cha, Đấng vốn là “Nguyên lý phi nguyên lý” và “Nguyên lý của mọi nguyên lý”..., Đấng vốn sinh ra Chúa Con và “ ái xuất” (spiration) Chúa Thánh Thần, Thần Khí Tình yêu, và đã sai Chúa Con và Chúa Thánh Thần...
Từ đó, cũng có thể nói rằng, ngoại trừ “tư cách là Cha của Chúa Cha” và “tư cách là Con của Chúa Con”, tất cả những gì thuộc bản tính và cả những thuộc tính (attributs) của Cha và của Con đều là chính Thần Khí: Tình yêu, thần tính và nhân tính của Chúa Con, Tình Cha, tình Con, tình Đức Chúa, hằng hữu, tự hữu, hằng sống, vĩnh hằng, quyền năng, thánh, vinh quang, tác tạo, tác sinh, tái sinh, đá tảng, thuẫn che chở, gió, lửa, đám mây, nước, ánh sáng, bàn tay, ngón tay, chim bồ câu, sức dầu, ấn tín, v.v... Hay nói cách khác, Thần Khí chính là Hành động của Chúa Cha và Chúa Con trong Vĩnh Hằng và trong Lịch sử. Vì thế, trong ngôn ngữ Kinh Thánh, khi Cha biết và yêu là sinh ra Con (x. 1Ga 4,7-8; Rm 8,15.29.32; Cl 1,13.15tt), và khi Cha phán là tạo dựng (St 1,3-31; Ga 1,3)...
ii.      Sự hiệp nhất Thần linh trong ngôn ngữ Tân Ước được nhìn trong chiều hướng  năng động (dynamique) chứ không quá tĩnh tại (statique) như trong ngôn ngữ thần học vốn dựa trên những khái niệm tĩnh tại, ù lì như “bản tính” và “bản thể” (nature est id quo res est id quod est!), và vì thế, đã hẳn không thể nào phản ảnh được cách đầy đủ và hoàn toàn thực tại hiệp nhất thần linh (thử so sánh bức ảnh chụp dòng sông với chính dòng sông!)... Vì thế, những khái niệm triết học như “ Ngôi vị”, ‘bản tính”, “bản thể”, “đồng bản thể”... vốn chỉ là một trong những phương thế, được dùng trong những hoàn cảnh nhất định và với những mục đích nhất định, để tiếp cận với Mầu Nhiệm Thần linh, chứ không phải là con đường duy nhất có thể có, nên chúng cần được rọi sáng và biện minh bởi ngôn ngữ Kinh Thánh chứ không phải ngược lại...
2.      Suy tư thần học: Thần Khí là ai?
a.       Vấn đề:
Khi được hỏi: “Chúa Cha là ai?”, người ta có thể trà lời ngay: “Chúa Cha là Cha của Chúa Con”. Và khi được hỏi “Chúa Con là ai?” đã hẳn người ta cũng có thể trả lời ngay: “Chúa Con là Con của Chúa Cha”. Thế nhưng, khi được hỏi “Thần Khí hay Chúa Thánh Thần là ai?”, thì vấn đề lại không đơn giản... Thật vậy, nếu muốn có một câu trả lời như kiểu đối với Chúa Cha và Chúa Con, thì câu hỏi bây giờ trở thành: “Thần Khí là Thần Khí của ai?”. Tuy nhiên, trong trường hợp Chúa Cha và Chúa Con, ngay hai khái niệm “Cha” và “Con” đã tự chứng được định vị (tư cách và chức năng, và cho biết những mối tương quan khá rõ ràng), còn trong trường hợp hạn từ “Thần Khí” thì không được vậy, và câu hỏi về Ngài bấy giờ lại trở thành câu hỏi kép: “Thần Khí là ai  (đối với chính Mình) và của ai (đối với Chúa Cha và Chúa Con)?”...
Về Chúa Thánh Thần, những vấn đề đó được đặt ra từ những thế kỷ IV, V (scn). Một số khuynh hướng lạc giáo cho rằng trong mối tương quan với Chúa Cha, vì “được Cha đổ tràn” (Ed 39,29), “được Cha trao ban” (Ga 7,39), nên Thần Khí không thể được coi “ngang hàng” với Cha, thậm chí, có người còn cho Thần Khí là thụ tạo của Cha; và trong tương quan với Chúa Con vì “ được Con sai đi”(Ga 15,26), nên Thần Khí không thể được coi “ngang hàng” với Con, thậm chí có người còn cho Thần Khí do Chúa Con tạo ra... Nhằm đối phó lại những khuynh hướng lạc giáo đó, ngôn ngữ thần học cũng như ngôn ngữ của các Công đồng, công nghị từ thế kỷ IV,V cho đến bây giờ vẫn vậy, nghĩa là tiếp tục sử dụng những khái niệm triết học như: “đồng bản thể” (consubtantiel), “nhiệm xuất” (procession), “ái xuất” (spiration)... để khẳng định “thần tính” của Chúa Thánh Thần, Đấng phải được phụng thờ và tôn vinh hoàn toàn như Chúa Cha và Chúa Con... điều mà người ta có thể nhận ra ngay là cả ngôn ngữ đặt vấn đề, cả ngôn ngữ giải quyết vấn đề đều hoàn toàn xa lạ với ngôn ngữ Kinh Thánh, vốn là ngôn ngữ tình yêu và lịch sử...
b.      Thần Khí là ai (đối với chính Mình) và của ai (đối với Chúa Cha và Chúa Con)?
Thử bắt đầu với khái niệm “Ngôi vị”. Ngôn ngữ thần học gọi “Thần Khí là một Ngôi vị”. Thế nhưng, khái niệm “Ngôi vị” tự nó vốn bao gồm hai khái niệm khác, đó là “tư cách” và “chức năng”. Thí dụ: khi nói Cha là một Ngôi vị thì có nghĩa “là Cha” (être Père) chính là tư cách của Ngôi vị đó, và “làm Cha”, tức là “sinh Con” và “yêu thương Con”... chính là chức năng của Ngôi vị đó. Và khi nói Con là một Ngôi vị thì có nghĩa “ là Con” (être Fils) chính là tư cách của Ngôi vị đó, và “làm Con” tức là “đón nhận sự sinh ra và tình yêu của Cha đồng thời đáp trả lại bằng tình con thảo”... chính là chức năng Ngôi vị đó. Thế nhưng, khi nói Thần Khí là một Ngôi vị, thì tư cách và chức năng của Thần Khí là gì.
i.       Tư cách của Thần Khí:
Trong tương quan với Chúa Cha và Chúa Con, ngôn ngữ Kinh Thánh vẫn thường gọi Thần Khí cách chung chung, đôi khi có vẻ như thiếu Ngôi vị tính (a-personnel): “được thổi vào hay được hà vào...” (St 2,7; Tv 104,30), “được đặt vào...” (Is 42,1), “được ban cho...” (Ds 11,29; Ga 7,39), “được đổ tràn vào...” (Ed 39,29), “được sai đến...” (Ga 14,26), “...của Cha” (Rm 8, 9.14; 15,19; 1Cr 6,11; 7,40), “...của Con” (Rm 8,11; 2Cr 3,17), v.v... Tuy nhiên, nếu như trong tương quan với Cha và Con, Thần Khí xem ra có vẻ như thiếu Ngôi vị tính, thụ động, tiêu cực..., nhưng trong khi thi hành sứ vụ được giao, ngôn ngữ Kinh Thánh đã cho chúng ta thấy Thần Khí như một Đấng đầy ngôi vị tính, năng động, mạnh mẽ, tích cực, năng nổ (Is 11,1-5; Tl 3,10; 11,29;14,6; 6,34; 1Sm 1,6; 10,1; 16,13; Am 3,8; 7,14t; Gr 20,7t;v.v...)... Đằng khác, nếu nhìn Thần Khí từ góc độ hệ quả của những tác động của Ngài trong Lịch sử, người ta sẽ có thể phát hiện ra được phần nào dung mạo và chức năng của Ngài trong lịch sử và cả trong Mầu Nhiệm Thần Linh vĩnh hằng.
ii.      Chức năng của Thần Khí:
Trong ngôn ngữ Kinh Thánh, sự tuôn tràn Thần Khí như cơn mưa đem sự sống cho vùng đất khô cằn (Is 32, 15; 44,3; Ed 36, 25; Gr 3,1t) như sinh khí làm sống động những bộ xương khô (Ed 37); như một cuộc sáng tạo mới thay đổi bộ mặt của xứ sở (Is 32,16), thay đổi con tim, lòng dạ của con người (Is 59,21; Tv 143,10; Ed 36,27); mặc khải dung mạo đích thực của Chúa Cha (Ed 39,29), dung mạo đích thực của Chúa Con (Ga 14,16; 16,7.13t; 14,26); tác sinh (Ga 6, 63; St 1,2; Lc 1,35; Mt 1,18-20); tái sinh (Ga 3,8; Ep 2,1-2); phục sinh (Rm 8,11); mặc khải chân lý (Ga 16,13; Ep 1,17-18; v.v...)
iii.     Phác thảo một thứ ngôn ngữ Thần Khí học:
Nói chung, có thể nói rằng ngôn ngữ Thần Khí học đích thực phải là thứ ngôn ngữ có tính tình yêu và lịch sử. “có tính tình yêu”, bởi vì Thiên Chúa là tình yêu (1Ga 4,8b) “có tính lịch sử”, bởi vì dung mạo đích thực của Chúa Thánh Thần vốn được biểu lộ qua Hành động Tình yêu của Chúa Cha và Chúa Con mà chính Ngài là Đấng thực hiện, trong vĩnh hằng và trong lịch sử...
Để diễn tả tình yêu của Thiên Chúa nói chung, ngôn ngữ Kinh Thánh khi thì sử dụng khái niệm “tình vợ chồng”, “tình yêu nam- nữ” (chủ yếu trong ngôn ngữ Cựu Ước), khi thì sử dụng khái niệm “tình Cha- Con” (Cựu Ước và Tân Ước). Như vậy, có thể nói tình yêu Thiên Chúa là một thứ tình yêu tổng hợp tất cả mọi đặc tính, mọi khả năng tích cực của những thứ tình yêu, hay nói cách khác, mọi thứ tình yêu nhân loại đích thực đều mang dáng dấp hay dấu vết của tình yêu Vĩnh hằng:
-        Sự “tận hiến”, “hiến dâng” (oblation totale): yêu nhau, trước tiên, có nghĩa là trao tặng cho nhau tất cả những gì mình là (être) và mình có (avoir). Và, trong tình yêu Thần linh, quà tặng (Donum, Don) đó chính là Thần Khí tình yêu, vốn là một Đấng, một Ngôi vị được Cha trao ban và được Con đón nhận, và trở thành của Cha và của Con, hay nói cách khác, là “của chúng ta”, hay “ của nhau” (Etre- le Nôtre)... Nói theo ngôn ngữ Augustin, đó chính là Ân huệ của Thiên Chúa (Cv 2,38; Ga 4,10).
-        Qui trình “ra đi- trở lại” (exitus-reditus): thứ đến, yêu nhau có nghĩa là “ra khỏi chính mình” (exitus de soi-même) để đến và hòa nhập với nhau (reditus à nous- même et à soi-même)... Và, trong tình yêu Thần linh, Thần Khí Tình yêu vừa chính là “Đấng ra đi” vừa chính là “Đấng trở lại” của Cha và của Con và của chính Ngài (Ga 10,17-18; 19,30; Cv 2,33).
-        Sự “hiện diện trong nhau và với nhau” (présence reciproque, intériorité reciproque; Hy ngữ: périchorèse; La ngữ: circumincessio): yêu nhau, còn có nghĩa là luôn luôn hiện diện trong nhau và với nhau (những khái niệm thời gian và không gian, ở đây không còn ý nghĩa), đến độ là nhau (Être in personna)... Và trong Tình Yêu Thần linh, chính Thần Khí Tình yêu vừa là Đấng tác sinh ra sự Hiện diện trong và với Nhau đó (sự “tương nhập của Cha-Con-Thần Khí), vừa chính là Đấng, nói theo ngôn ngữ Phaolô, làm cho Cha có thể nói: “Cha sống, nhưng không phải là Cha sống, mà chính Con và Thần Khí sống trong Cha; làm cho Con có thể nói: “Con sống, nhưng không phải Con sống, mà chính Cha và Thần Khí sống trong Con”; làm cho Ngài có thể nói: “Thần Khí sống, nhưng không phải Thần Khí sống, mà chính Cha và Con sống trong Thần Khí” (x.Gl 2,20; Pl 1,21), hay nói cách khác, Thần Khí Tình Yêu chính là Đấng làm cho Cha- Con- Thần Khí là Nhau hay là Một (Ga 10,30; 14,26)... Đó chính là sự sống Tình Yêu Thần linh, sự sống Ba Ngôi, sự sống đời đời...
-        Sự “độc hữu” hay “độc chiếm” (monogamie): Yêu nhau, ngoài ra, còn có nghĩa muốn người mình yêu (Aimé) chỉ thuộc về một mình Mình mà thôi (Aimant): một chồng- một vợ; một cha-một con (ngôn ngữ Cựu Ước cho thấy Thiên Chúa vốn là Đấng hay ghen: Xh 20,5; Is 43,10t; 48,11- ngôn ngữ Tân Ước trình bày Đức Giêsu Ktiô như là “Con Một”(Unigenitus): Ga 3,16; 1Ga 4,9)... Và, trong Tình yêu Thần linh, Thần Khí Tình Yêu vừa không phải là Cha- Đấng yêu thương (Aimant), vừa không phải là Con- Đấng được yêu thương (Aimé), vừa không phải là “kẻ thứ ba quấy rầy”, mà là “ Đấng- Người yêu của chúng ta” (Notre Aimé) đối với Chúa Cha và Chúa Con. Thật vậy, Thần Khí Tình  Yêu chính là Đấng hằng” tạo tác”, “ vun đắp”, “tạo điều kiện” cho tình yêu giữa Chúa Cha và Chúa Con, giữa Thiên Chúa và loài người và giữa loài người với nhau... (ngôn ngữ Kinh Thánh, Cựu Ước cũng như Tân Ước, không bao giờ nói “Chúa Cha hay Chúa Con yêu Chúa Thánh Thần” và ngược lại, mà chỉ nói “Chúa Cha và Chúa Con yêu nhau trong (en) Chúa Thánh Thần...)...
-        Sự “siêu việt thời gian và không gian” (transcendance du temps et de l’space): Đối với những kẻ yêu nhau, những khái niệm thời gian (quá khứ, hiện tại, tương lai; mau hay lâu, nhanh hay chậm, v.v...), không gian (gần hay xa) dường như không còn tồn tại, và không hẳn chỉ là trong ý thức: họ cảm thấy “có nhau” dường như cách vĩnh hằng và từ “Muôn kiếp” họ cảm thấy luôn luôn hiện diện bên nhau và với nhau (đã hẳn họ sẽ mất tất cả những cảm nhận đó khi họ không còn yêu nhau!)... Và trong Tình yêu Thần Linh, chính Thần Khí Tình yêu là Đấng làm cho “thời gian yêu nhau” của Chúa Cha và Chúa Con là Vĩnh hằng và “khoảng cách Cha - Con” hoàn toàn bị xóa nhòa... Và, trong Lịch sử hay trong nhiệm cục Cứu độ, Thần Khí Tình yêu chính là Đấng làm cho toàn thể Lịch  sử (thời gian và không gian) hội tụ lại và hoàn tất nơi Đức Giêsu Kitô vôn là Chúa Con - nhập thể, và như vậy, Đức Giêsu Kitô trở thành “Đấng luôn luôn là Hôm nay” (Lc 4,21) của Cha - Con - Thần Khí, “Đấng Hằng hữu” (Ga 8,24.27.57; 13,19), “Sự hoàn tất toàn bộ Lời hứa, Ý định Tình yêu, một lần thay cho tất cả, của Thiên Chúa”... Như vậy, vấn đề còn lại là của con người: đó là vấn đề sở đắc Ân sủng Tình yêu đó (possession de la Grâce). Và trong lịch sử, Thần Khí Tình yêu đồng thời vừa là Đấng làm cho con người từ bỏ những “Quê hương cũ”, những “bây giờ” (maintenants) của riêng mình để mãi mãi “lên đường”, mãi mãi “ra đi”, mãi mãi “xuất hành”, hướng về những chân trời tương lai, theo sự hướng dẫn của Thần Khí Tình yêu, Đấng muốn thổi tới đâu thì thổi (Ga 3,8), những chân trời nhiều khi hoàn toàn mới mẻ, ngoài sức tưởng tượng của con người; vừa là Đấng hiện tại hóa Ân sủng Tình yêu đó (actualiser) để con người mọi nơi và mọi thời đều có thể sở đắc: quá khứ, hiện tại và tương lai. Như vậy, còn có thể nói Thần Khí Tình yêu chính là Dung mạo tương lai của Thiên Chúa...
B.      THẦN KHÍ NHƯ MỘT ÂN HUỆ
Có thể nhìn vấn đề dưới 2 góc độ:
1) Thần Khí, như Ân huệ Chúa Cha và Chúa Con trao tặng cho nhau.
2) Thần Khí, như Ân huệ Chúa Cha ban cho loài người qua Chúa Con.
1.      Thần Khí, như ân huệ Chúa Cha và Chúa Con trao tặng cho nhau:
a.       Trong Mầu Nhiệm Tình Yêu vĩnh hằng: trong ngôn ngữ Kinh Thánh, Cựu Ước cũng như Tân Ước, Thần Khí luôn được gọi là Đấng “được trao ban” hay “chưa được trao ban”, “được sai đi”, “được đổ tràn”, “được đón nhận” (Lc 11,13; Cv 2,4.17.18.38; 8,15.17.18.19; 10,45.47; 15,8; 19,2; Ga 7,39; 14,17.26; Kh 5,6; 1Ga 3,24; Rm 5,5; Gl 3,2.5.14; 1Tx 4,8; Tt 3,5; 1Pr 1,12; v.v...). Điều đó có nghĩa Thần Khí chính là Ân huệ (Donum,Don) là quà tặng Tình Yêu  của Thiên Chúa. Thế mà, nếu như “Thiên Chúa là Tình yêu” (1Ga 4,8), và nếu như Chúa Cha là Đấng đã có thể nói với Con độc nhất của mình như: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người” (Mt 3,17; 12,18; Is 42,1-4; v.v...), “Tất cả những gì của Cha đều là của Con” (Lc 15,31; Ga 17,10)... thì “Quà tặng” đẹp lòng nhau nhất của các Ngài là gì nếu không phải là “tất cả những gì các Ngài là (être) và có (avoir)”? Thật vậy, có thể nói, trừ tư cách là Cha của Mình, Chúa Cha, đã hẳn trao ban cho Chúa Con tất cả những gì Chúa Cha là và có (Thần tính, ngôi vị tính...), nghĩa là tất cả những gì là Mình của Cha. Và, như vậy, “Đấng được ban cho” (Donné) cũng như “ Đấng đón nhận ân huệ (Recevant) đều là và có tất cả những gì Chúa Cha là và có (thần tính, ngôi vị tính trừ tư cách là Cha). Và “Đấng được Cha ban cho Con” (Donné) đó, trong tư cách là “Đấng ra đi khỏi Cha” (Exitus de Soi-Même), được gọi là “Thần Khí Tình Yêu của Cha” (Mt 12,18; Cv 2,17; 1Cr 3,11.12.14.16; 6,11; 1Pr 4,14; 1Ga 4,2; Mt 3,16; 12,28; Rm 8,9.14; 1Cr 7,40; 12,3; Pl 3,3; v.v...). Đồng thời, đón nhận Ân huệ Thần Khí Cha ban cho, trong niềm tri ân và cảm tạ, Chúa Con “trao tặng lại” (Reditus:x. Ga 19,30) Cha “Ân Huệ được Cha ban tặng” và “đã được Con vui lòng đón nhận” như là “ Thần Khí của Con” (Cv 16,7; x. Mt 27,50; Mc 2,8; 8,12; Lc 23,46; Ga 11,33; 13,21; Pl 1,19; Rm 8,9; 1Pr 1,2; Gl 4,6; v.v...). Bởi vì, Con còn quà tặng nào đáng giá hơn là “Thần Khí Tình Yêu” của chính Mình hay là “chính Mình” (Ga 10,17-18)... Như vậy, như là “Ân huệ vĩnh hằng”, Thần Khí của Cha và của Con, Thần Khí Tình yêu là Đấng mãi mãi “sống kiếp lữ hành”, luôn luôn vận hành ở trong qui trình “ra đi - trở lại” để tình yêu của Ba ngôi luôn luôn sống động, trong Vĩnh hằng cũng như trong Lịch sử...
b.      Trong lịch sử: Trong biến cố Sáng Tạo - Nhập thể - Cứu độ, Chúa Cha đã sai Thần Khí của Ngài cùng với Con trong một Sứ vụ liên kết là Sáng tạo, Yêu thương và Cứu độ (Mt 12,18; x. Is 11,1-2; GLHTCG số 702)... Chính trong sứ vụ liên kết này mà quá trình “sở đắc Thần Khí của Cha” của nhân tính của Chúa Con - Nhập thể diễn ra trong lịch sử. Nói như thế là bởi vì trong tư cách là Thiên Chúa (thần tính), Chúa Con - Nhập thể, Chúa Cha và Thần Khí, dù trong Lịch sử, vẫn luôn hiện diện trong nhau và với nhau nên như Một (Ga 10,30; 17,21; x. 10,38; 14,11; 14,9b; x. 8,19; 12,45; Dt 1,3). Việc nhân tính của Đức Giêsu sở đắc Thần Khí của Cha được thực hiện qua những Hành động yêu thương của Ngài đối với Chúa Cha, Thần Khí và loài người, trong lịch sử, và chỉ được hoàn tất trọn vẹn trong hành động tận hiến tột đỉnh trong Tình Yêu  của Ngài trên Thập giá khi Ngài “giao nộp lại” Chúa Cha Thần Khí  (Ga 19,30), và, chính giây phút đó, cái, “nghịch lý của Tin Mừng” đã xảy ra, để “tưởng thưởng” cho tình yêu tuyệt đối của Con đối với Cha, Chúa Cha đã “tuôn tràn Thần Khí” xuống trên con người (nhân tính) của Chúa Con - nhập thể, và chính lúc đó quá trình sở đắc Thần Khí của Cha nơi nhân tính của Đức Giêsu hoàn tất: nhân tính của Đức Giêsu được thần linh hóa vì tràn ngập Thần Khí, và trở nên hoàn toàn hiệp nhất với thần tính của Ngài ( Mt 16,24-25; Mc 8,34-35; Lc 9,23-24; Ga 3,14-21; 8,27-29), và tất cả những ai thông hiệp với Ngài sẽ được thần linh hóa như Ngài: đó chính là “ Lời hứa” của Chúa Cha (Cv 1,4; Lc 24,49; Cv 2,17) và cũng là niềm Hy vọng của loài người...
2.      Thần Khí, như ân huệ Chúa Cha ban cho loài người qua Chúa Con
“Thiên Chúa phán: trong những ngày cuối cùng, Ta sẽ đổ Thần Khí Ta trên hết thảy người phàm...” (Cv 2,17; x. Ge 3,1-5).
“Khi Đấng Bảo trợ đến, Đấng mà Thầy sẽ sai đến với anh em từ nơi Chúa Cha, Người là Thần Khí Sư thật phát xuất từ Chúa Cha...” (Ga 15,26).
a.       Cảm nghiệm của các Tông đồ: Sau ngày Lễ Ngũ Tuần, các Tông đồ có cảm nhận như họ bị xâm chiếm bởi một “sức mạnh” vượt lên trên bản thân họ. Họ cảm thấy như thần trí của mình có một Thần Khí Khác xâm chiếm vượt lên trên, như có một Thần Khí Khác đã được sai đến, đã được ban cho, đã được tuôn tràn trong họ và họ đã được đón nhận (Lc 11,13; Cv 2,4; v.v..). Đồng thời, họ cũng cảm nhận rằng nỗ lực sáng kiến riêng tư của họ như được vượt quá, được nâng cao bởi Hành động của Đấng đang hiện diện bên trong họ, đang “giúp đỡ” họ, “hướng dẫn” họ, “lôi kéo” họ, “sai phái” họ, “thúc đẩy” họ, “ra lệnh” cho họ, “ngăn cấm” họ, v.v... (Cv 21,4; 13,4; 15,28; 16,6; 20,28; 8,39; Ga 16,13; Rm 8,14.26; Gl 5,16; 2Pr 1,21)...
 
b.      Như một Hiện Diện thuộc linh hết sức thân mật: các Tông đồ dù không bao giờ có cảm nhận là Thần Khí của họ trở thành Thần Khí đó: vẫn có một sự phân biệt giữa hai bên (Rm 8,16; Cv 15,28; x. Cv 5,3), nhưng mối quan hệ lại rất thân mật với lối nói luôn luôn trên môi miệng của họ: “trong Thần Khí”(Rm 8,9; Mt 3,11; Lc 3,16; Ga 1,33; Cv 1,5; v.v...). Một điều đặc biệt đó là hình như Thần Khí chỉ “linh hứng”, “báo trước”, “mặc khải”, “tiên báo”, “dạy dỗ”,v.v... trong và qua Giáo Hội mà thôi (Lc 12,12; Cv 6,10; 11,28; 20,23). Đàng khác, họ tự gọi mình là “các thánh”, có lẽ nhằm ám chỉ đặc tính họ được Thần Khí xâm chiếm và siêu vượt lên trên, bởi vì Cựu Ước vẫn gọi Thần Khí là Thánh Thần... Đó chính là những công việc mà Thần Khí của Đức Giêsu Kitô- Phục sinh đã, đang và vẫn tiếp tục tiến hành bên trong lịch sử, với mục đích thần linh hóa con người và vũ trụ hầu Thiên Chúa trở thành mọi sự cho mọi người. (1Cr 15,28)...
(Lưu ý: phần II được soạn theo tư tưởng của Lm. Paul Aubin, le Monothéisme chrétien, Ronéotypé, GHHV Pio X, Đà Lạt, tr. 35-36)
C.      THẦN KHÍ SỰ SỐNG
Có 2 vấn đề cần được được ra:
1) Khái niệm “sự sống” trong ngôn ngữ Kinh Thánh.
2) Chúa Thánh Thần, Thần Khí sự sống vĩnh hằng và lịch sử.
1.      Khái niệm “sự sống” trong ngôn ngữ Kinh Thánh
a.       Trong Mầu Nhiệm Ba Ngôi, bởi vì là “Thiên Chúa hằng sống, hằng hữu, và tự hữu” (Xh 3,14; Is 42,8; Ga 8,24.57; Gs 3,10; Tv 42,3; Dnl 6,21; 1V 18,10; v.v...), nên Sống có nghĩa là các Ngài “biết nhau”, “yêu thương nhau”, “hướng về nhau”, “ hiện diện trong nhau, vì nhau và với nhau”, “có tương quan mật thiết với nhau”, v.v... (Gr 2,13; Tv 36,10; 63,4; 84,11; Am 5,4tt; Hs 6,1tt; Ga 1,1-2.4; 14,6; 11,12...). Đó là điều mà ngôn ngữ Tân Ước gọi là “sự sống đời đời” (Mt 19,16tt. 29tt; 7,14; 18,8tt; Ga 4,14; 6,27-58; 11,25tt; 3,36; 12,47-50...).
b.      Đối với các thụ tạo (trừ các thiên thần?) mà hiện hữu vốn là hiện hữu được ban cho và được đón nhận trong thời gian và không gian, nghĩa là đã có lúc không hiện hữu và sẽ có lúc không còn tồn tại, thì Sống, ngoài ý nghĩa “sự Sống đời đời” (đây là ý nghĩa chính thức và quan trọng), còn có nghĩa:
i.       “Bắt đầu hiện hữu”:
-        Nghĩa đen: “bắt đầu hiện hữu” và “bắt đầu sống” đồng nghĩa với nhau (đời sống khoáng vật, thực vật, sinh vật).
-        Nghĩa bóng: “bắt đầu hiện hữu” không nhất thiết có nghĩa là “bắt đầu sống” (đời sống luân lý: thí dụ: những kẻ vô đạo “vừa mới sinh ra đã thôi hiện hữu” Kn 5,13)...
 
ii.      “Sống lại”:
-        Nghĩa đen: chết, rồi sống lại nhưng chưa  phải là sự sống đời đời (như trường hợp con gái ông Giairô, con trai góa phụ thành Naim, Lazarô.../ Mc 5,21-42tt; Lc 7,11-17; Ga 11/)...
-        Nghĩa bóng: lập lại mối tương quan thân tình với Cha và anh, chị em; lại được Cha tìm thấy (Lc 15,21.32). Như vậy đồng nghĩa với “được sinh lại bởi ơn trên” (Ga 3,5.7), “được Thiên Chúa sinh ra” (1Ga 4,7b)...
-        Nghĩa thực thụ: chết, rồi sống lại và được hoặc không được tham dự vào Sự sống Ba Ngôi (trong Lịch sử: sự sống lại hay Phục Sinh của Đức Giêsu Kitô; “ giờ” phán xét cánh chung/ Kh 14,12-13; Lc 20,34-38; Mt 25,31-46/).
2.      Chúa Thánh Thần, Thần Khí sự sống vĩnh hằng và lịch sử
a.       Sự sống Ba Ngôi trong Mầu nhiệm Thiên Chúa:
Nếu, nói theo ngôn ngữ của Gioan, “sự Sống đời đời là nhận bết Cha, Thiên Chúa duy nhất và Chân thật, và nhận biết Đấng Cha đã sai đến, là Đức Giêsu Kitô” (Ga 17,3), thì, đã hẳn, ngoài Chúa Cha và Chúa Con ra chẳng ai “có” được sự Sống đời đời cách như Chúa Thánh Thần. Thật vậy, Thần Khí Thiên Chúa không những “biết” (có tương quan mật thiết với) Chúa Cha và Chúa Con, mà chính Ngài là Đấng thực hiện Hành động “biết” đó để Ba Ngôi Cha - Con - Thần Khí” biết nhau”; và các Ngài không chỉ “biết nhau” mà còn “là nhau”; (hay “là Một”) nữa... Có thể nói rằng, trong Thực tại sự sống Ba Ngôi vĩnh hằng, nếu không có Thần Khí Tình Yêu là Chúa Thánh Thần, Chúa Cha chẳng thể nào “sinh ra” Con và “biết” được Con, và Chúa Con cũng chẳng thể nào “đón nhận” được sự “ sinh ra” của Cha như Ân huệ Tình yêu và “biết” được Cha và “Ân huệ Tình yêu” (Donum) nầy. Như vậy, có thể nói rằng không có Thần Khí tình yêu là Chúa Thánh Thần thì không có sự sống Ba Ngôi vĩnh hằng, hay nói cách khác, Chúa Thánh Thần chính là Đấng tác thành sự sống Thần linh vĩnh hằng của Thiên Chúa Ba Ngôi. Và, nếu Thiên Chúa là “Thiên Chúa Hằng sống”, thì Hành động tác thành sự Sống vĩnh hằng đó cũng  phải là Hành động vĩnh hằng, và, trong Lịch sử, Hành động tác thành sự sống đó luôn luôn là “cái Hôm nay” (l’Aujourd’hui) và “cái Bây giờ” (le Maintenant) đối với Ba Ngôi và đối với tất cả những ai được Thần Khí Tình Yêu hướng dẫn hoặc để cho Ngài hướng dẫn. Bởi thế, đối với các Sứ ngôn, sự sống chính là “tìm kiếm Giavê” (Am 5,4tt; Hs 6,1tt): “sống, đó là tìm kiếm Thiên Chúa, nhưng, sống cách dồi dào, đó là gặp gỡ được Ngài” (Bruno Forte, la Trinité comme Histoiré, Nouvelle Cité, Paris 1989, p.178).
b.      Sự sống của các thụ tạo (trừ các thiên thần?!):
i.       Sự sống như là “được hiện hữu” (“con cám ơn Đức Chúa Trời... chẳng bỏ con, chẳng để con không đời đời, mà lại sinh ra con...”): đối với với các Thụ tạo mà sự hiện hữu là được ban cho hay được đón nhận từ Thiên Chúa thì “ không có bột không thể gột nên hồ” được (ex nihilo nihil fit), nhưng đối với Thiên Chúa vừa hằng sống, tự hữu, hằng hữu và toàn năng thì không như thế. Nói theo ngôn ngữ của Karl Barth, quyền Chúa Tể (la seigneurie) của Thiên Chúa hệ tại ở chỗ Ngài là Chúa tể cả “cái có” và “cái không”, cả “cái hiện hữu” và “cái không hiện hữu”, cả sự sống và sự chết - nếu không thế Ngài chẳng thể là Đấng Toàn Năng- nghĩa là Ngài có thể làm cho hiện hữu cái không hay chưa hiện hữu, làm cho sống cái đã chết và làm cho chết cái  đang sống, v.v..., nếu Ngài muốn. (x. Karl Barth, Dogmatique, I,I,2, p.88). Hay nói cách khác, đối với Thiên Chúa Tự hữu, Hằng hữu, Hăng sống, chẳng có gì là  không tuyệt đối” cả, mà chỉ là “chưa hiện hữu” hoặc “không còn hiện hữu”... Vì thế, ngôn ngữ thần học và phụng vụ nói “công trình Sáng tạo được thực hiện do Chúa Cha, bởi Chúa Con, nhờ Thần Khí (của Cha và của Con), hay nói cách khác, nhờ Sức mạnh Toàn năng của Lời của Chúa Cha“(St1,1-2, 4a; Tv 33,6; 104,30; 2Mcb 7,28; 2Cr 4,6; Rm 4,17; Cv 17,28; 1Tm 6,13; Kh 10,6; Ga 1,1-10; v.v...).
ii.      Sự Sống do “được tái sinh” hay “được cứu độ”: đối ứng với việc sinh ra tự nhiên của con người, ngôn ngữ Kinh Thánh, đặc biệt Tân Ước còn nói tới sự sinh ra siêu nhiên mà nguyên lý là “do Chúa Cha, bởi Lời của Chúa Cha tức là Chúa Con, nhờ Thần Khí của Chúa Cha đã được Đức Giêsu Kitô Phục sinh sở đắc cách trọn vẹn và tròn đầy (và vẫn được gọi là Thần Khí của Đức Kitô Phục sinh)” hay nói cách khác, “nhờ Tin-Cậy-Mến và Phép rửa “nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần-trong tư cách là Thần Khí của Đức Kitô- Phục sinh”: đó chính là Sự Sống đời đời mà con người có thể “nếm trải” ngay khi còn tại thế (Ga 3,14-21; 8,27-29; 6,35-40; 10,17; 14,15-20.23-26; 16,7-15; 15,26; Tt 3,5; Rm 8,15tt; Gl 4,6; 1Pr 2,1; Gc 1,21; 1Pr 1,14.22tt; 1Ga 3,9tt; Rm 6,5; Ga 17,3; v.v..).
iii.     Sự Sống bên kia sự Chết và tiêu hủy hoàn toàn sự Chết: Ngôn ngữ Cựu Ước có đề cập đến sự Sống lại sau khi chết nhưng chỉ mới cách chung chung: “Thiên Chúa sẽ trả lại tinh thần và sự sống cho họ... Họ uống nguồn sống không hề cạn khô” (2Mcb 7,23.36; Ed 33,11; 37,11-14; Is 53,10). Ngôn ngữ Tân Ước, có vẻ rõ ràng hơn, khẳng định sự sống lại sau khi chết đáng mơ ước đó là được “ở với Đức Kitô” (Lc 23,43; Pl 1,23; x. 2Cr 5,8; 1Tx 5,10), hay nói cách khác, được “ở trong Thần Khí của Đức Kitô Phục sinh”, “được Thần Khí của Đức Kitô - Phục sinh hóa hoàn toàn”... và niềm hy vọng cánh chung đó là lúc Thần Khí của Đức Kitô Phục sinh Kitô-hóa mọi sự và mọi người, và Đức Kitô, lúc đó, sẽ là Chúa tể mọi loài, mọi vật. Và lại một lần nữa, Đức Giêsu Kitô lại thực hiện một cử chỉ Tận hiến tột cùng trong tình yêu đó là “giao nộp lại” cho Cha Thần Khí của chính Mình Ân huệ của Cha, dung mạo cánh chung của Thiên Chúa và của con người (x. Ga 19,30; 1Cr 15,24. 28), và lúc đó, con người trở nên giống như Thiên Chúa và thấy được Ngài đúng như Ngài là, mặt đối mặt (1Ga 3,2): đó là bản chất của đời sống vình cửu (Ga 17,3)... và, lúc đó, Thiên Chúa trở thành mọi sự trong mọi người (1Cr 15,28)...
D.      BẢY ÂN HUỆ CỦA CHÚA THÁNH THẦN
1.      Nhận xét:
a.       Ở Việt Nam, hiện nay, đang có một tình trạng lẫn lộn, thiếu thống nhất trong cách hiểu và dịch thuật 7 khái niệm này mà vốn là nền tảng và cơ sở để hiểu về Chúa Thánh Thần và Bí tích Thêm sức...
b.      Tình hình đó có lẽ phát xuất, một đàng, từ chỗ cái “logic” của Is 11,1-2 vẫn chưa được quán triệt cách sâu sắc và đúng đắn: người ta sẽ thấy rõ điều đó khi thử so sánh cách dịch và cách xếp thứ tự các ân huệ nơi một số dịch gỉa Việt Nam, như Lm. Nguyễn Thế Thuấn trong bản dịch Kinh Thánh trọn bộ, Gm. Paul Bùi Văn Đọc trong tác phẩm tập thể “Chúa Thánh Thần, Đấng Ban Sự Sống” (tr. 292-293), nhóm soạn bộ Giáo Lý Hồng Ân của TGM. Xuân Lộc trong “Lớn lên trong Chúa Thánh Thần, Đấng Ban sự sống”(tr. 87-94), Ủy Ban Giám Mục về Phụng vụ trong bản dịch về Bí tích Thêm sức, v.v...; đàng khác, từ chỗ một nền thần học về Chúa Thánh Thần vẫn chưa được nghiên cứu kỹ và sâu ở Việt Nam...
2.      Nguồn gốc của khái niệm “bảy ân huệ”:
a.       Lịch sử: đã thấy xuất hiện trong ngôn ngữ phụng vụ khoảng cuối thế kỷ IV (thánh Ambroise de Milan và ĐGH. Sirice 385)..
b.      Kinh Thánh: từ Is 11,1-2. Trong Is 11,1-2, chỉ có 6 ân huệ. Có lẽ một số dịch gỉa Hy lạp và cả Latinh khi dịch Is 11,1-2 đã tách đôi ân huệ thứ 6 “sự kính sợ Thiên Chúa” ra thành hai và thêm vào đó một ân huệ nữa cho đủ con số 7, biểu tượng của sự phong phú, đầy tràn, đó là khái niệm eusebes/ eusebeia hoặc pietas mà vốn không có tương đương trong ngôn ngữ Hipri, và rồi sau đó đã đi vào ngôn ngữ phụng vụ... Để dễ dàng so sánh đối chiếu giá trị một số bản dịch Việt ngự hiện nay, xin mạn phép trích ra đây 2 bản dịch Pháp ngữ quan trọng:
i.       Is 11,1-2 qua bản dịch của Bible de Jerusalem:
“... sur lui repose l’Esprit de Yahvé
Esprit de sagesse et d’intelligence,
Esprit de conseil et de force.
Esprit de science et de crainte de Yahvé”.
ii.      Cuốn GLHTCG, 1992:
“... donne-leur en plénitude l’Esprit qui reposait sur ton Fils Jésus:
Esprit de sagesse et d’intelligence,
Esprit de conseil et de force,
Esprit de connaissance et d’effection filliale:
Remplis-les de ‘Esprit de la crainte de Dieu...”
3.      Thần học về 7 ân huệ của Chúa Thánh Thần:
Trước tiên, cần lưu ý là một thứ thần học về Chúa Thánh Thần hay về những ân huệ của Ngài chỉ có thể hiểu được khi được định vị:
•        Trong Hành động của Thiên Chúa Ba Ngôi
•        Trong Kế hoạch Mặc khải cứu độ của Ba Ngôi vốn được diễn ra trong Lịch sử...
Thật vậy, chính trên nền tảng của chân trời đó, người ta mới có thể phát hiện ra được cái “logic nội tại” ẩn tàng trong Is 11,1-2, và áp dụng của Giáo Hội đối với bản văn này và trong Bí tích Thêm sức.
a.       Thần Khí Khôn ngoan và thông hiểu:
Là “Ân huệ Thần Khí” giúp con người luôn ở trong tư thế “tìm kiếm Thiên Chúa và Thánh ý của Ngài” (Am 5,4tt; Mt 7,8; Is 59,2; Kn 1,1; Xp 2,3; Tv 22,27; Dnl 3,39tt; Cv 3,27; Gr 29,14; Tv 69,33; Ga 8,21; Pl 3,8.12; Rm 10,3; Cl 3,1; Ga 13,33; v.v...), đồng thời hiểu được đâu là Thánh ý Chúa, cái gì tốt, cái gì xấu... (Ga 6,44; 14,26; Rm 12,2; Cl 1,9; v,v...).
Thử so sánh đối chiếu các khái niệm “Thần Khí khôn ngoan và thông hiểu” của Is 11,1-2 với Ga 14,6 “chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống “ với kinh nghiệm của Khổng Tử, một hiền triết Đông Phương: “Ta 15 tuổi để trí vào việc học Đạo; 30 tuổi, biết tự lập (tự mình theo chính Đạo); 40 tuổi, không còn nghi hoặc về Đạo; 50 tuổi, biết Mệnh trời; 60 tuổi, đã biết theo Mệnh trời; 70 tuổi, theo lòng muốn của mình mà không vượt ra ngoài khuôn khổ Đạo lý” (Luận ngữ, II.4).
b.      Thần Khí định liệu và mạnh bạo:
Là “Ân huệ Thần Khí” giúp con người có được những quyết định đúng đắn được cân nhắc kỹ lưỡng cho cuộc sống hiện tại và tương lai của mình, hợp với Thánh ý Thiên Chúa và mang lại hạnh phúc đích thực, đồng thời có đủ mạnh bạo thực hiện những quyết định đó (Lc 11,28; 14,28-33; 12,57-59; 12,47; Mt 7,21; 21,31; Dt 13,21; Pl 2,13; v.v...).
c.       Thần Khí nhận biết và hiếu thảo:
Là “Ân huệ Thần Khí” giúp con người biết được:
i.       Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa duy nhất và chân thật;
ii.      Mối quan hệ giữa Thiên Chúa và Đức Giêsu là mối quan hệ Cha-Con trong vĩnh hằng và trong lịch sử, đồng thời là Đấng sai đi Đấng được sai đi (Ga 17,3).
iii.     Mối quan hệ giữa Thiên Chúa và con người là mối quan hệ Cha-Con nhờ được thông hiệp với tình Phụ-Tử của Đức Giêsu Kitô (Mt 6,9; Rm 8,29; Gl 3,26; 4,5tt; Dt 12,5-12).
iv.     Mối quan hệ nhân loại với nhau là tất cả mọi người đều là anh, chị, em với nhau vì cùng có chung Thiên Chúa là Đấng Tạo thành và là Cha (Mt 6,9; 2Pr 1,4).
v.      Thiên Chúa yêu thương tất cả mọi người và muốn mọi người đều được cứu rỗi (1Tm 2,4).
vi.     Vì thế, con người cần đáp trả lại tình yêu Thiên Chúa bằng “tình con thảo” (1Ga 4,7-8; Gl 4,6)...
d.      Thần Khí kính sợ Thiên Chúa.
Là “ân huệ Thần Khí” giúp con người luôn có được những thái độ, những tâm tình đúng đắn và quân bình “vừa yêu vừa kính sợ” đối với Thiên Chúa, Đấng vừa đáng sợ vừa đáng yêu (Mysterium tremendum et fascinosum) (Ml 1,6; Dnl 10,12; Cn 1,7; Cv 10,34tt).
Như vậy, với cái vẻ bên ngoài thoạt tiên có vẻ như không ăn nhập vào đâu, Is 11,1-2 quả thực có cái “logic nội tại” sâu sắc của nó. Qua những phân tích khái quát và sơ lược trên đây, có thể coi Is11,1-2 như là tóm lược toàn bộ quá trình Mặc khải mầu nhiệm Thiên Chúa và quá trình đáp trả từ phía con người. Việc nghiên cứu và phân tích từng ân huệ trong những bài sau đây sẽ còn cho thấy rõ hơn những điều đó...
E.      THẦN KHÍ KHÔN NGOAN
Ở đây, có 2 vấn đề được đặt ra:
1) Ý nghĩa sự Khôn ngoan trong ngôn ngữ Kinh Thánh.
2) Chúa Thánh Thần, Thần Khí khôn ngoan.
1.      Sự khôn ngoan trong ngôn ngữ Kinh Thánh
a.       Trong ngôn ngữ Cựu Ước
i.       Nguồn gốc: có thứ khôn ngoan do con người sở đắc được nhờ học hỏi hoặc nhờ kinh nghiệm, tuy nhiên có thể mang nội dung luân lý tôn giáo và cũng có thể không (Xh 28,3; 2Sm 13,3; G 8,8; Gr 2,8; Gv 39,1tt.8; 51,23; Cn 20,22-24; 22,2.4.22tt; 24,21; 25,21tt; 29,13;v.v...); và nền tảng của sự khôn ngoan có mang nội dung luân lý tôn giáo là Sự Kính Sợ Yahvé: người khôn ngoan ở đây, là người biết làm điều đẹp lòng Thiên Chúa và tránh điều mà Ngài không hài lòng (Cn 1,7; 9,10; Gv 1,11-21; 19,20; G 28,12tt; Cn 6,16; 8,13; 11,20; 12,22; Gv 1,27; Kn 4,10.14; 7,14.28) hay nói cách khác, đó là tuân theo Lề Luật (Gv 15,1; 19,20; Br 4,1)... có thứ khôn ngoan do Thiên Chúa ban cho (G 28,12-27; Br 3,15-38; Is 28,29; Xh28,3; St41,8.38-39; Dnl 1,17; Kn 7,20; Ds 11,17.25; Dnl 1,13; Cn16,10; 2Sm 14,17.20; 1V 3,11.28; 2Sm 16,23; Is 11,2-5; v.v...). Như một sự hiểu biết siêu nhiên và đồng nghĩa với Thần Khí của Thiên Chúa (St 41,8.38; Dnl 34,9; Is 11,2-6; Dnl 4,5tt; Kn 7,22;1,4tt; 9,17; v.v...).
ii.      Bản tính: chưa rõ ràng được coi như là một Ngôi vị, đúng hơn, sự Khôn Ngoan ở đây là một thực hữu có tính thần linh mới chỉ là một đặc tính hay thuộc tính mà thôi, dù đó là một thực hữu đã có từ muôn thuở và sẽ còn mài mãi (Cn 8,22-26; Hc 24,9), thoát ra từ miệng Đấng Tối Cao như một hơi thở hoặc Lời của Ngài (Hc 24,3), Hơi thở của quyền năng Thiên Chúa, loan truyền vinh quang của Đấng Toàn Năng, phản chiếu ánh sáng vĩnh cữu, gương soi hoạt động của Thiên Chúa, hình ảnh sự tuyệt hảo của Ngài (Kn 7,25tt), ở trên trời (Hc 24,4), thông phần ngai báu của Thiên Chúa (Kn 9,4) và sống thân mật với Ngài (Kn 8,3) (theo Điển ngữ Thần học Thánh Kinh).
b.      Trong ngôn ngữ Tân Ước: Đức Giêsu được gọi là “Sự Khôn ngoan của Thiên Chúa” (1Cr 1,24.30), sự Khôn Ngoan mặc khải về mầu nhiệm Thiên Chúa (1Cr 2,6tt), là tột đỉnh của sự hiểu biết tôn giáo (Cl 1,9). Và những gì Cựu Ước đã gán cho Sự Khôn ngoan thì Tân Ước lấy lại gán cho Đức Giêsu, như: là Trưởng tử trước mọi tạo vật và là Tác nhân cuộc sáng tạo (Cl 1,15tt; x. Cn 8,22-31), tỏa sáng vinh quang Thiên Chúa và là hình ảnh bản thể Thiên Chúa (Dt 1,3; x.Kn 7,25tt), là Sự Khôn ngoan của Chúa Cha vì cũng là Lời của Ngài (Ga 1,1tt)...
Là Sự Khôn ngoan mặc khải về mầu nhiệm Thiên Chúa, Đức Giêsu, như vậy, vừa mặc khải cho biết sự Sống đích thực bên trong Thực tại thần linh vĩnh hằng, vừa mặc khải cho biết Kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa Ba Ngôi diễn ra trong lịch sử, như một lịch sử tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi đối với nhau và với loài người chúng ta, lịch sử của một tình yêu hoàn toàn vô điều kiện, vô vị lợi và vô biên giới... Đó chính là sự Khôn ngoan đích thực mà Thiên Chúa muốn mặc khải cho con người, sự Khôn ngoan mà thế gian lại coi như là điên rồ (Rm 1,21tt; 1Cr 1,21; 1Cr 2,8), và chỉ được mặc khải ra cho những con người “bé nhỏ” luôn luôn tìm kiếm và sẵn sàng vâng nghe Thần Khí của Thiên Chúa (1Cr 2,10-16; 12,8; Ep 1,17; Mt 11,25tt; 1Cr 2,7tt; Rm 11,33tt; Gl 2,3).
2.      Chúa Thánh Thần, Thần Khí khôn ngoan:
Đã hẳn, người ta có thể nói Chúa Thánh Thần là Thần Khí Khôn ngoan bởi vì Ngài là Thần Khí của Chúa Con (Gl 4,6; Rm 8,9; 2Cr 3,17), nhưng người ta cũng có thể nói điều ngược lại. Tuy nhiên, phải hiểu những điều đó như thế nào?
Trong ngôn ngữ thần học, người ta khẳng định Chúa Cha được mặc khải qua Chúa Con, Chúa Cha và Chúa Con được mặc khải nhờ Chúa Thánh Thần (x. GLHTCG, các số 238-248). Còn ngôn ngữ Kinh Thánh thì không chỉ gọi Chúa Thánh Thần là Thần Khí của Chúa Con mà còn là Thần Khí của Chúa Cha hay Thần Khí của Thiên Chúa (chữ Thiên Chúa trong Tân Ước chỉ Chúa Cha, x. 1Cr 8,6). Như vậy, khi khẳng định Chúa Thánh Thần là Thần Khí Khôn ngoan, thì một đàng, vừa có nghĩa Chúa Thánh Thần là Thần Khí của sự Khôn ngoan của Chúa Cha được mặc khải qua Chúa Con là chính sự Khôn ngoan được tác sinh và ban tặng bởi Chúa Cha; đàng khác, vừa có nghĩa Chúa Thánh Thần là Thần khí của sự Khôn ngoan được tác sinh và ban tặng là chính Chúa Con, trong mối tương quan tình yêu Phụ - Tử vĩnh hằng: đó chính là sự sống thần linh, là hạnh phúc đích thực, là Khát vọng muôn đời của tất cả mọi người... Hay nói cách khác, Chúa Cha là Đấng tác sinh và trao ban sự Khôn ngoan là Chúa Con trong và nhờ Thần Khí Khôn ngoan là Chúa Thánh Thần. Trong nội tại thần linh, chính Thần Khí Khôn ngoan là Hoạt động vĩnh hằng của tình yêu vĩnh hằng của Thiên Chúa Ba Ngôi, một tình yêu hoàn toàn vô vị lợi, vô điều kiện và vô biên giới...
Đàng khác, nếu như kế hoạch tình yêu của Thiên Chúa vốn được diễn ra trong lịch sử là kế hoạch cứu độ (do chính cái tên Giêsu của Chúa Con-nhập thể mà trong ngôn ngữ Hipri là Yehôsa hay Yesa và có nghĩa là “lạy Yavê, xin hãy cứu!”), thì có thể nói rằng sự Khôn ngoan đồng nghĩa với sự Cứu độ hay sự Sống đời đời, sự Sống thần linh; và người khôn ngoan chính là con người được cứu độ, được tha thứ, người có sự sống thần linh, sự sống đời đời hay sự Sống trong sự hiện diện của Thiên Chúa Ba Ngôi, v.v... (Kn 8,3; 7,27;1Cr 2,6tt; Ep 3,10; 1Cr 2,10-16; 12,8; Ep 1,17; Ga 15,9-17; 17,3; Mt 11,25tt...); hay, nói theo ngôn ngữ của Phaolô, đó là sự Sống mà trong đó Thiên Chúa là tất cả, và trong Ý định tình yêu của Ngài, nơi mọi sự và nơi mọi người (1Cr 15,28; Pl 1,21; x. Am 5,4tt; Hs 6,1tt)...
Kết luận:
Như vậy, Chúa Thánh Thần, Thần Khí Khôn ngoan là Đấng hiện diện trong toàn bộ quá trình tìm kiếm Thiên Chúa của con người, sự tìm kiếm mà theo ngôn ngữ của các Ngôn sứ Amốt và Hôsê đó chính là nỗ lực làm cho sự sống của con người đạt được ý nghĩa đích thực của nó (Am 5,4tt; Hs 6,1tt), thông qua việc “nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và Chân thật, và nhận biết Đấng Cha đã sai đến, là Đức Giêsu Kitô” (Ga 17,3), và cuối cùng là “Thiên Chúa trở thành là tất cả trong mọi sự, nơi mọi người” (1Cr 15,28).
Sự “nhận biết” đó chính là sự Khôn ngoan đích thực, là sự Sống đích thực và là niềm hạnh phúc đích thực...
F.      THẦN KHÍ THÔNG HIỂU
Có 2 vấn đề được đặc ra:
1) Trong ngôn ngữ Kinh Thánh, “hiểu” (intelligence) và “biết” (consnaissance) là gì?
2) Chúa Thánh Thần, Thần Khí Thông Hiểu.
1.      “Hiểu” và “biết” trong ngôn ngữ Kinh Thánh:
Trong ngôn ngữ Sêmita, khái niệm “biết” (gốc Hipri là yd) không được hiểu trong khung cảnh tri thức, mà là trong khung cảnh đời sống, và nó vượt qua những thứ tri thức trừu tượng và được diễn tả như là một liên hệ hiện sinh: biết một cái gì hay một ai chính là có kinh nghiệm cụ thể về cái đó hay có những liên hệ cá nhân với người đó. Và, vì những liên hệ có thể mang rất nhiều hình thái và bao hàm rất nhiều cấp độ (ordres), “biết” cũng có thể mang nhiều hình thái và cấp độ khác nhau. Có lẽ chính trong chân trời đó mà Is 11,1-2 đã phân biệt ra thành 2 khái niệm “hiểu” (esprit d’intelligence) và “biết” (esprit de connaissance): khái niệm “hiểu” nhằm diễn tả một thứ “biết” mà mối liên hệ còn ở trình tạng chung chung, mờ nhạt, chưa sâu sắc, và còn ít tính liên vị, giữa chủ thể và đối tượng: thí dụ, trong trường hợp đối tượng là Thiên Chúa, người ta mới chỉ nhận ra là như là Đấng Hóa Công, Tạo hóa, Ông Trời, v.v... Ở đây, cần phải ghi nhận ngay rằng trong kiến thức tôn giáo, mọi sự đều bắt đầu do sáng kiến của Thiên Chúa: trước khi biết Thiên Chúa, người ta đã được Thiên Chúa biết đến... Điều đó có nghĩa là nguyên nhân của việc dừng lại ở tình trạng “hiểu” chung chung, ít tính liên vị, không phải do Thiên Chúa, mà do chính con người sống trong tình trạng vắng bóng tình yêu, hay nói cách khác là do con người tự khép kín lại trên chính mình mà không mở toang cõi lòng mình ra với tha nhân và tha thể. Hay nói theo ngôn ngữ triết học, để hiểu biết được con người và Thiên Chúa, người ta cần phải có một “sự hiểu biết qua trái tim” (l’intelligence du cœur) và một “sự hiểu biết của tình yêu” mà theo ngôn ngữ các bậc thầy linh đạo là một trong những ân huệ của Chúa Thánh Thần ...
2.      Chúa Thánh Thần, Thần Khí thông hiểu:
Khi nói Chúa Thánh Thần, Thần Khí thông hiểu, một đàng, là có ý nói rằng trong Thực Tại Vĩnh Hằng của Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, Chúa Thánh Thần, Ngôi Ba, là chính Hành động “biết” Con của Cha: Chúa Cha “biết” Chúa Con và “tức khắc” sinh ra Chúa Con, Chúa Con được sinh ra” tức khắc” “biết” Chúa Cha,- và Hành động biết đó của Chúa Cha và của Chúa Con chính là Chúa Thánh Thần -, đó chính là sự sống Thần linh nội tại, Nguồn Sống của tất cả mọi sự sống, được mặc khải cho loài người qua và nhờ Chúa Con nhập thể và Chúa Thánh Thần ... Sự Sống đích thực, như vậy, vốn là một sự Thông hiệp (x.1Ga 1,3), một sự kết hiệp hoàn hảo trong Chân lý tình yêu (Ga 17,26; 1Ga 2,3tt; 3,16...)... Đàng khác, là có ý nói rằng trong Kế hoạch tình yêu của Thiên Chúa diễn ra trong lịch sử, Chúa Thánh Thần chính là Đấng mặc khải Chúa Cha và Chúa Con và, vì thế, chỉ có Ngài mới có thể làm cho con người “nhận biết Cha, Thiên Chúa độc nhất và chân thật, và Đấng Cha đã sai, Đức Giêsu Kitô” (Ga 17,3), chỉ có Ngài mới mang lại cho con người sự sống đời đời, sự sống được hòa nhập vào dòng Sức sống vĩnh hằng như dòng ánh sáng vĩ đại phát ra từ trái tim Thiên Chúa và trở lại với Ngài...
Tuy nhiên, ở đây, có một điều cần lưu ý, một lần thay cho tất cả, là trong Kế hoạch tình yêu của Thiên Chúa diễn ra trong Lịch sử, Kế hoạch của Thiên Chúa Ba Ngôi, Chúa Cha là Đấng đã sai Chúa Con và Thần Khí của Ngài thực hiện Kế hoạch trong một sứ mạng liên kết (GLCG 689): Chúa Con nhập thể và Chúa Thánh Thần liên kết, một đàng trong sứ mạng mặc khải Chúa Cha nói riêng và nói chung mặc khải Mầu nhiệm Sự sống Tình yêu là Thiên Chúa Ba Ngôi, đàng khác, trong sứ mạng ban cho con người chính Sự sống Tình yêu ấy, như một ân huệ của Thiên Chúa, tức là những người khiêm tốn luôn luôn để cho Thiên Chúa dạy bảo mình (Ga 6,44tt; 10,14; 14,6; 8,28; 12,23.32; 7,39; 16,7; 14,26; 16,13; 14,7.20; 1Ga 1,3; Ga 14,19tt; 17,26; Pl 3,8tt; Rm 12,2; 1Cr 2,6-16; Cl 2,2tt; 1Cr 8,1; 13,2; Ep 3,19; 1Cr 13,12).
Như vậy, trong tư cách Ngôi Vị vĩnh hằng, Chúa Thánh Thần là Thần Khí hiểu biết của Chúa Cha và Chúa Con; trong tư cách Đấng được sai đi, cùng với Chúa Con, Chúa Thánh Thần là Thần Khí mặc khải Chúa Cha và Chúa Con; và trong tư cách là ân huệ của Chúa Cha và Chúa Con ban cho loài người, Chúa Thánh Thần là Thần Khí giúp con người thông hiểu được Mầu nhiệm Thiên Chúa được mặc khải ra trong Lịch sử, tức là Kế hoạch tình yêu của Ngài, thông hiểu được Thánh Ý Tình Yêu của Ngài là muốn tất cả mọi người đều hạnh phúc, tức là có được Sự sống Vĩnh hằng, và cuối cùng thông hiểu được rằng muốn được như thế, con người cần phải tuân theo Thánh ý của Thiên Chúa (1Tm 2,4; Mt 6,10; Dnl 30,14; Tv 1,2; 143,10; G 23,13; Is 55,11; Kn 9,13; Tv 33,11; Hs 2,16; Ed 36,26tt; Gr 31,33; Dt 10,7-9; Cv 13,22; Mt 11,25; Lc 12,32; Mt 7,21; 12,50; Ga 4,34; 5,30; 6,38tt; 15,10; 7,17; 14,23tt; 14,26; Rm 12,2; Cl 1,9; Pl 2,13; v.v...)...
G.      THẦN KHÍ ĐỊNH LIỆU
Có 2 vấn đề được đặt ra:
1) Ý nghĩa của hạn từ “Định Liệu”
2) Chúa Thánh Thần, Thần Khí Định Liệu
1.      Ý nghĩa của hạn từ “định liệu”:
Hạn từ “Định Liệu” tạm được sử dụng để phiên dịch hạn từ “Conseil” (esprit de conseil) của Pháp  ngữ. Trong Pháp ngữ, hạn từ Conseil có khá nhiều nghĩa (thí dụ: lời khuyên, sự chỉ giáo, sự cố vấn...), nhưng trong văn mạch của Is 11,1-2, ý nghĩa “quyết định đã cân nhắc kỹ” có lẽ là thích hợp hơn cả. Và hạn từ “định liệu” (dù hãy còn bất toàn!) cần phải được hiểu trong chân  trời đó, tức là một sự quyết định sau khi đã được cân nhắc kỹ lưỡng...
Như vậy, trong văn mạch của Is 11,1-2, Sự Khôn ngoan chính là Thiên Chúa, là Lời, Thánh Ý và Ý Định của Ngài mà vốn được mặc khải nơi Chúa Con – Nhập thể và nơi Thần Khí của Chúa Con. Vì thế, người khôn ngoan chính là người luôn luôn lắng nghe, tìm hiểu để thông hiểu được Thánh ý của Thiên Chúa được tỏ bày ra trong lịch sử và trong các biến cố của lịch sử. Và một khi đã thông hiểu được rồi (đặc biệt dưới ánh sáng của lương tâm lành mạnh, ân huệ của Thần Khí Thiên Chúa ), con người cần phải quyết định dứt khoát, sau khi đã cân nhắc kỹ lưỡng các khía cạnh của vấn dề, tuân theo Lời Thiên Chúa chỉ dạy và điều này chỉ có thể thực hiện được nhờ Thần Khí do Đức Giêsu ban cho (Ga 14,26; Rm 12,2; Cl 1,9; 1,10; Ep 5,17; Pl 2,13)...
2.      Chúa Thánh Thần, Thần Khí “định liệu”:
Điều này có nghĩa là trong những quyết định liên can vận mạng của con người thuộc loại này, con người luôn luôn được Thiên Chúa quan tâm giúp đỡ và chỉ bảo (Pl 2,12-13; Rm 12,2; x. Is 5,19; 14,26...; Gr 23,18-22; Mk4,12; Is 44,28; 46,10...; Hs 2,16; Ed 36,26tt; Gr 31,33; Is 50,5; Tv 40,8t; Is 53,10; v.v...). Và nếu như các ân huệ của Thần Khí là những tâm thái (dispositions) được Thiên Chúa gợi lên trong con người nhằm giúp con người thông lưu được với sự Sống thần linh của Thiên Chúa, thì Thần Khí Định Liệu hiện diện nơi con người vừa như một Ngôi vị Thần linh vừa như một ân huệ tạo điều kiện giúp con người có được những quyết định phải sống như thế nào để có được Hạnh phúc đích thực hay sự Sống đời đời...
Đàng khác, việc đưa ra một quyết định bao giờ cũng bao hàm một số yếu tố sau đây: chủ thể quyết định, hành động quyết định và chính đối tượng mà quyết định nhắm tới..., và để giúp con người có thể có được một quyết định liên hệ đến hạnh phúc đích thực và vĩnh cữu của đời mình, Thần Khí Định liệu chắc hẳn đã phải tác động lên toàn bộ những yếu tố đó:
a.       Đối với chủ thể quyết định:
Con người, muôn thuở, nhiều hay ít, cách này hay cách khác, vẫn thường xuyên vướng phải hoặc có nguy cơ vướng phải tình trạng tha hóa, vong thân, đánh mất chính bản thân mình. Thế mà, để có thể có được những quyết định cân nhắc kỹ lưỡng, việc trước tiên con người phải làm đó là phải “trở nên chính mình” (Sois toi-même!). Nhưng muốn làm được thế, con người cần phải biết mình đang là gì, là ai, và đúng ra mình phải là ai và là gì... Từ đó, sản sinh ra một tâm thái- kép: một đàng là sự ăn năn sám hối (metanoein), một đàng là sự chuyển hướng nội  tâm quay về với Thiên Chúa, với tha nhân và với chính bản thân của mình (epistrephein). Thần Khí Thiên Chúa luôn luôn hiện diện trong toàn bộ quá trình đó và những nỗ lực đó... (Ed 36,26t; Mt 18,3t; 6,33; Lc 18,13; 15,2).
b.      Đối với hành động quyết  định:
Cũng như trong thực tại nội tại của sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi, Chúa Thánh Thần là Hành động của Thiên Chúa (Chúa Cha sinh ra Chúa Con, Chúa Cha yêu thương Chúa Con, Chúa Cha hiểu biết Chúa Con...; và ngược lại, Chúa Con đón nhận sự sinh ra bởi Chúa Cha, Chúa Con yêu thương Chúa Cha, Chúa Con hiểu biết Chúa Cha...), ở đây cũng vậy, Thần Khí Thiên Chúa, vừa như là một Ngôi vị vừa như là ân huệ, cùng hiện diện và cùng “định liệu” với chủ thể chính là con người... (Hs 2,16; Ga 14,26; Rm 12,2; Cl 1,9; Cv 15,28).
c.       Đối với đối tượng mà quyết định nhắm tới:
Hay nói cách khác, đó chính là nội dung của quyết định, tức là: vấn đề phải sống như thế nào, phải làm gì để có được hạnh phúc đích thực và Sự Sống  vĩnh hằng, khát vọng muôn thuở của tất cả mọi người... Ở nơi những nền luân lý tự nhiên, đó là làm điều thiện tránh điều ác, sống theo mệnh trời, hiếu thảo với Tổ tiên, tình phụ-tử, mẫu-tử, huynh-đệ, phu-thê, v.v... Ở nơi nền luân lý mặc khải sơ khai như Cựu Ước, đó là Lề Luật, là 10 Điều răn... Ở nơi nền luân lý mặc khải Tân Ước, đó là “nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật và nhận biết Đấng Cha đã sai đến, là Đức Giêsu Kitô” (Ga 17,3), tức là sự Sống trong và bởi sự Hiện diện của Thiên Chúa Ba Ngôi... Và tất cả những nỗ lực đó, chỉ có Thần Khí Thiên Chúa mới thực hiện được, dĩ nhiên, cùng với con người...
H.      THẦN KHÍ MẠNH BẠO
Có 2 vấn đề được đặt ra:
1) Hạn từ “ Mạnh bạo” trong ngôn ngữ Kinh Thánh
2) Chúa Thánh Thần, Thần Khí Mạnh bạo


1.      Hạn từ “mạnh bạo” trong ngôn ngữ Kinh Thánh:
Trong ngôn ngữ Hipri, những khái niệm: “sức mạnh” (force), “năng lực” (puissance), “quyền lực” (pouvoir) là những chuyển từ từ các từ gốc or, wn, ms, gbr, hzq, hyl, kh,s, và trong Hy ngữ bởi các hạn từ dunamis, exousia..., được dùng vừa để chỉ sức mạnh thể lý vừa chỉ sức mạnh tinh thần.
Ngôn ngữ Kinh Thánh thường xuyên nối kết hai hạn từ “Thần Khí Thiên Chúa” và “Quyền Năng Thiên Chúa”. Hai hạn từ Thần Khí và Sức mạnh thường đi đôi với nhau và hầu như đồng nghĩa với nhau (St 1,2; Is 32,25; 44,3tt; Tv 104,30; Tl 3,10; 6,43; 13,25; 11,19; 14,6.19; Lc 1,35-37; Cv 10,38; Lc 4,14.18; 11,20; Mt 12,28; Ep 1,18-20; Cl 2,9; Pl 2,9-11; Mt 28,18; Pl 3,10; 2Cr 13,4; Rm 8,11; v.v...). Ở đây, có thể nói rằng câu nói sau đây của Cyrille d’Alexandrie hầu như phản ánh được toàn bộ vấn đề: “Thánh Thần là Quyền Năng và Hoạt động của Bản thể Thần linh. Người làm nên tất cả mọi công trình của Thiên Chúa” (Cyrille d’Alexandrie, Thesaurus , p. 75,580.608)...
Đã hẳn, hạn từ’ “Mạnh bạo” trong ngôn ngữ Kinh Thánh vừa hàm ý “sức mạnh thể xác” (Gs 1,6; Is 35,3tt; Lc 16,16; v.v..), vừa hàm ý “sức mạnh nội tâm” (1Ga 2,14; 5,18; Ep 3,16; v.v...) nhằm giúp con người có đủ khả năng thực hiện kế hoạch của Thiên Chúa diễn ra trong và qua Lịch Sử (Lc 12,47; Mt 7,21; 21,31; Dt 13,21). Tuy nhiên, một điều hết sức quan trọng cần lưu ý, sự Mạnh bạo đó con người có được hoàn toàn là do Thần Khí Quyền Năng của Thiên Chúa ban cho...
2.      Chúa Thánh Thần, Thần Khí mạnh bạo:
Cách chung, có thể nói rằng tất cả mọi hành vi cứu độ đều là công trình của Quyền Năng Thiên Chúa (Dnl 3,24; Tv 20,7; 106,2; 105,2; Lc 1,35; 2Cr 13,4; Rm 1,20; 2Pr 1,3; 1Cr 6,14; Mt 11,20; Mc 6,5; Mt 7,22; Cv 8,13; 1Cr 12,10; Mk 3,8; Lc 24,49; Ga 3,3-7; 1,12; Kh 2,26tt; v.v...). Để con người thấu hiểu và cảm nghiệm được điều đó, ngôn ngữ Kinh Thánh cho rằng Thiên Chúa đã hành xử một cách có vẻ nghịch thường: những công trình phi thường, vĩ đại lại được thực hiện bởi những con người bình thường, bé nhỏ, đôi khi có vẻ yếu đuối..., và với những phương tiện đơn sơ, bé nhỏ khiến người ta phải sửng sờ (1Sm 16,7; 10,23; Tl 7,2; Is 30,15tt; 2Cr 12,9; Tv 107,40; Tv 113,7; 2Cr 4,7; v.v...). Tuy  nhiên, điều đó không đơn giản chỉ là vấn đề “phương pháp sư phạm” của Thiên Chúa mà thôi, mà còn là phản ánh một tình trạng thực tế của hiện hữu của con người, vốn là những thụ tạo hoàn toàn lệ thuộc Thiên Chúa: cả cái nó là và cả cái nó có (être et avoir). Sự lệ thuộc nói ở đây không phải là mối tương quan chủ-tớ vốn luôn luôn có nguy cơ triệt tiêu cá vị và phẩm giá lẫn nhau, mà là mối quan hệ Cha- Con, mối quan hệ mà nếu được “sống” thực sự sẽ phong phú hóa lẫn nhau trong tình yêu (Mt 11,25tt; 6,4.6.18; 25,32; 21,31tt; 8,12; 23,9; 7,7-11; 6,25-34; 5,44tt; v.v...) Nếu như, nói theo ngôn ngữ của Paul Ternant (x. ĐNTHTK. từ Cha), “Thiên Chúa không bao giờ là Cha chúng ta bằng lúc Ngài tỏ lòng yêu thương và tha thứ, và chúng ta không bao giờ là con Ngài bằng lúc ta cũng hành động như vậy đối với mọi anh em chúng ta”, thì điều cần thiết nhất đối với con người không là gì khác hơn chính là Sức mạnh để có thể yêu thương và tha thứ... Và Sức mạnh này không hẳn là để con người có thể chiến thắng những kẻ thù bên trong và bên ngoài mà đúng hơn là mạnh bạo dám để cho Thiên Chúa hoàn toàn chiếm đoạt mình và chiến thắng mình, dám để cho Thiên Chúa định đoạt và sử dụng đời mình theo Thánh ý của Ngài (Pl 1,21; Gl 2,20; Rm 1,13; 6,10t; 2Cr 5,15; 1Cr 15,28; Ga 17,3; v.v...). Đó chính là Sức mạnh của niềm tin hoàn toàn và tuyệt đối vào Thiên Chúa (có khi còn được gọi là Đạo lương tri, lẽ phải, Chính nghĩa, Thiên mệnh, Ý trời; v.v...) dám đánh đổi cả vận mạng cuộc đời mình. Và nguồn gốc của sự Mạnh bạo đó không ai khác hơn là chính Thần khí Sức mạnh của Thiên Chúa, Đấng hiện diện trong con người vừa như một Ngôi vị vừa như Ân huệ mà con người có thể sở đắc hay nói đúng hơn, như ân huệ trong đó con người được “thông hiệp” với Sức mạnh của Thiên Chúa, tức là Chúa Thánh Thần để sống sự sống của Thiên Chúa là yêu thương...
I.       THẦN KHÍ NHẬN BIẾT
Có 2 vấn đề được đặt ra:
1) Khái niệm “nhận biết” trong ngôn ngữ Kinh Thánh
2) Chúa Thánh Thần, Thần Khí Nhận biết.
1.      Khái niệm “nhận biết” trong ngôn ngữ Kinh Thánh
Trong ngôn ngữ Hipri hạn từ Yd (nhận biết) vượt qua trí thức trừu tượng và diễn tả một liên hệ hiện sinh: biết một cái gì chính là có kinh nghiệm cụ thể về cái đó (Is 53,3; Kn 3,13; Tl 3,1; Is 59,8; St 2,9.17; v.v...) và biết một người nào chính là có những mối quan hệ cá nhân với người đó (Dnl 33,9; St 4,1; Lc 1,34; Ed 12,15; Gr 31,34; v.v...) (x. ĐNTHTK, từ “Biết”)... Như vậy, đối với người Sêmita, khi nói “biết Thiên Chúa” có nghĩa là có những mối quan hệ cá nhân, trực tiếp, thân tình...với Thiên Chúa. Thế nhưng, điều đó diễn ra như thế nào khi mà Yavê luôn là Đấng siêu việt, siêu hình xa cách vời vợi (Xh 3,1-15; 33,18-23; 34,1-7; Tl 5,4t; Xh19,16; Is 6,2; Hs 11,9; Is 57,15; 40,25; v.v...)? Đối với Amốt, biết Thiên Chúa đó chính là được Thiên Chúa biết đến (Am 3,2) và là khám phá ra Ngài là nguồn gốc hiện hữu của mình. Như vậy, hành vi “nhận biết Thiên Chúa” vừa có nguồn gốc do Thiên Chúa vừa là ân huệ của Ngài, nghĩa là con người chỉ nhận biết được Thiên Chúa nhờ chính Ngài tự mặc khải mình ra cho con người ở nơi và khi mà Ngài muốn, và theo cách thức mà Ngài muốn, qua Lời và Thần Khí của Ngài (Dt 1,1-3; Mt 11,27; Ga 14,17.26; 16,13; v.v...).
Mối quan hệ cá nhân, thân tình của con người với Thiên Chúa, trong ngôn ngữ Cựu Ước, được diễn tả dưới những kiểu nói đặc biệt như “Thiên Chúa của...ai đó” (St 14,22; 16,13; 17,1; 35,7; 21,33; 14,22tt; 18,25; 49,24; 2Sm 23,3; Tv 18,3; 144,2; 84,10; 89,19; Mk 7,14; Tv 23,1; v.v...), “Ta đã nhìn thấy... Ta đã lắng nghe... Ta đã thấu hiểu... Ta quyết định... Ta sai ngươi” (Xh3,7-10)...
Mối quan hệ càng trở nên gần gũi, cụ thể, hữu hình hơn khi chính Ngôi Lời, Con Một của Thiên Chúa và là Thiên Chúa “mặc xác phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1,14; Rm 8,32; Cl 1,27; 2,2; Ep 2,18; 3,12; Ga 1,18; 17,3; v.v...)...
Vấn đề là làm thế nào cho con người nhận biết được Thiên Chúa...
2.      Chúa Thánh Thần, Thần Khí nhận biết
Thư 1 Gioan khẳng định: “Anh em thân mến, chúng ta hãy yêu thương nhau, vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương, thì đã được Thiên Chúa sinh ra, và người ấy biết Thiên Chúa. Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,7-8).
1Ga 4,7-8, như vậy cho thấy “yêu thương” không chỉ là điều kiện để nhận biết Thiên Chúa, mà còn chính là “nhận biết”:
a.       “Yêu thương nhau”, điều kiện để “nhận biết” Thiên Chúa:
Để có thể có được mối quan hệ cá nhân thân tình, cụ thể với Thiên Chúa, điều kiện trước tiên là con người phải yêu thương nhau, bằng một thứ tình yêu có tính liên vị, thân tình và cụ thể (x. Lc 10,29-37). Khi yêu thương ai tức là người ta đã “sinh ra” người đó, hay nói cách khác, người ta chấp nhận sự hiện hữu và sự hiện diện của người đó cùng với mình. Thế nhưng, khi nói con người yêu thương ai thì điều đó đồng thời có nghĩa là con người đã để Thần Khí Tình yêu yêu thương mình và tha nhân, vì thế, khi con người yêu thương nhau tức là con người vừa “được Thiên Chúa sinh ra” (1Ga 4,7b) vừa “sinh ra tha thể (Thiên Chúa và tha nhân)”...: đó chính là sự hiện diện liên vị hiện diện trong nhau như trong chính mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi (Ga 10,38; 14,10t; 17,21; 5,20.23; 10,15; 14,31; 17,24t; v.v...) và chính trên cơ sở chân trời đó, người ta có thể nói: biết là yêu thương và ngược lại...
 
b.      “Yêu thương nhau” chính là “biết Thiên Chúa”:
Điều này chỉ có thể có trong điều kiện chính Thiên Chúa đã tự mình “đồng hóa” với nhân loại. Và điều này quả thực đã diễn ra trong mầu nhiệm Sáng tạo, Nhập thể và Cứu độ: trong mầu nhiệm Sáng tạo, bởi vì Thiên Chúa đã tạo dựng con người theo hình ảnh và giống như Ngài (St 1,26-27); trong mầu nhiệm Nhập thể, bởi vì Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta (Ga 1,14; x. Mt 25,31-46; Cv 9,5; Ep 1,23); trong mầu nhiệm Cứu độ, bởi vì được cứu độ có nghĩa là được trở nên con của Thiên Chúa và được sống sự sống thần linh của Thiên Chúa- Ba Ngôi và Thiên Chúa trở nên Cha của loài người (2Tl 1,4; 1Ga 3,2; 3,1; Ga 1,12; Gl 1,5t; Rm 8,14-17; 6,4), hay nói cách khác, con người và vũ trụ “đi vào trong sự viên mãn của Thiên Chúa” (Ep 3,19): lúc ấy Thiên Chúa sẽ là “tất cả trong tất cả mọi người” (1Cr 15,28), và “tất cả trong tất cả mọi sự” (Ep 1,23)... Vì thế, 1Ga 4,20 đã khẳng định: “vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy” và Paul Ternant đã vọng lại tư tưởng đó “Thiên Chúa không bao giờ là Cha chúng ta bằng lúc Ngài tỏ lòng yêu thương và tha thứ, và chúng ta không bao giờ là con Ngài bằng lúc ta cũng hành động như vậy đối với mọi anh em chúng ta”...
Như vậy, khi nói Thần Khí Nhận biết chính là nói về Thần Khí Tình yêu của Thiên Chúa, Đấng làm cho con người, khi yêu thương nhau, hòa nhập vào Cơn Lốc Sự sống Tình yêu Thần linh là chính Thiên Chúa Ba Ngôi ... (Ga 17,3).
 
J.       THẦN KHÍ HIẾU THẢO
Có 2 vấn đề cần được đặt ra:
1) Khái niệm “Hiếu thảo” trong ngôn ngữ Kinh Thánh.
2) Chúa Thánh Thần, Thần Khí hiếu thảo.
1.      Khái niệm “hiếu thảo” trong ngôn ngữ Kinh Thánh
Nói chung, đây là một hạn từ rất phức tạp và hàm hồ về mặt ngữ nghĩa và cả về mặt ứng dụng.
Từ gốc trong ngôn ngữ Hipri là hesed, trước tiên biểu thị mối tương quan nối kết họ hàng (St 47,29), bạn hữu (1Sm 20,8), “đồng minh” (St 21,23), và giả thiết có sự tương trợ hữu hiệu và trung thành (hesed / emet: hiếu từ / trung thành có liên hệ với nhau). Bản dịch LXX đã dịch hesed ra Hy ngữ là éleos vốn có nghĩa là “nhân từ”, và từ đó ra La ngữ  là “missericordia” và ra Pháp ngữ là “misséricorde”. Các dịch gỉa tân thời đôi khi coi hesed như tương đương với hạn từ “piété” và Việt ngữ đã dịch “piété” ra là “đạo đức”... GLHTCG, bản Pháp ngữ không dùng hạn từ “piété” mà dịch hesed ra là “affection filiale” (“tình con thảo”). Thật ra, trong ngôn ngữ Cựu Ước, hesed nhấn mạnh mối quan hệ của Thiên Chúa với con người (“từ”) hơn là mối quan hệ của con người với Thiên Chúa (“hiếu”), vì thế, trong Việt ngữ, khi thì được dịch ra là “hiếu từ” (đức tốt của con đối với cha mẹ là “hiếu”, đức tốt của cha mẹ đối với con là “từ”) (x. Bản dịch ĐNTHTK, hạn từ “Hiếu Từ”), khi thì được dịch là “tín nghĩa” (bản dịch Kinh Thánh của Lm. Nguyễn Thế Thuấn)...Có thể nói ngôn ngữ Tân Ước coi cả hai mối quan hệ trong mối tương quan biện chứng và quân bình hơn, vì thế rất ít khi sử dụng hạn từ piété (gốc Hy ngữ là eusebes/ eusebeia). Trong bối cảnh của vấn đề phân chia “ ân huệ thứ sáu” của Is 11,1-2 (“sự kính sợ Giavê”) ra thành 2, có thể nói rằng việc nhấn mạnh mối quan hệ của con người đối với Thiên Chúa (“hiếu”) của GLHTCG, bản Pháp ngữ là điều hợp lý và có cơ sở... Đó là lý do tại sao hạn từ “Thần Khí Hiếu thảo” hay “Thần Khí của Tình con thảo” được sử dụng ở đây:
a.       Cơ sở Cựu Ước:
Trong ngôn ngữ Cựu Ước những thời kỳ đầu, khái niệm Cha- Con trong mối quan hệ giữa Thiên Chúa và con người và ngược lại không bao giờ thuộc phạm vi nhục thể, nhưng thuộc lãnh vực luân lý và tâm linh và trong viễn ảnh tập thể và lịch sử nhiều hơn là cá nhân (Xh 4,22; Ds 11,12; Dnl 14,1; Is 1,2tt; 30,1.9; Gr 3,14; Hs 11,3t.8t; Gr 3,19; Tv 27,10; Cn 3,12; Kn 2,13-18; Gs 17,2;v.v..). Gần kỷ nguyên Kitô giáo, khái niệm Thiên Chúa là Cha dân Ngài và Cha mỗi tín hữu được ý thức cách mạnh mẽ và sâu sắc hơn (trong các văn phẩm của các Rabbi thời cuối Cựu Ước này, người ta gặp thấy nguyên văn công thức mà sau này Đức Giêsu đã sử dụng lại: “Lạy Cha chúng tôi ở trên trời “).
b.      Cơ sở Tân Ước:
Đức Giêsu Kitô hoàn thành điểm tinh túy của tư tưởng Dothái về tình Phụ-tử trong mối quan hệ giữa Thiên Chúa và con người và ngược lại: nếu loài người có khả năng trở thành con Thiên Chúa chính là vì Đức Giêsu, Ngôi Lời Thiên Chúa - làm người, tự bản tính là Con Thiên Chúa (Ga 1,12). Và nói theo ngôn ngữ của 1Ga 4,7-8, con người chỉ là con Thiên Chúa khi con người yêu thương nhau trong Thần Khí Tình yêu của Đức Giêsu Kitô, Thần Khí Tình yêu mà đã sinh ra tình Phụ-tử giữa Chúa Cha và Chúa Con trong thực tại Mầu nhiệm Ba Ngôi: “phàm ai yêu thương thì đã được Thiên Chúa sinh ra...” (1Ga 4,7b)
2.      Chúa Thánh Thần, Thần Khí hiếu thảo
Nếu như Tình yêu thương tạo ra tình Phụ-Tử giữa Thiên Chúa và con người và ngược lại, thì điều đó đồng thời cũng có nghĩa chính Thần Khí Hiếu thảo của Chúa Con tác sinh ra tình Hiếu thảo của con người đối với Thiên Chúa (Gl 3,26; Ep 1,5; Gl 1,5t; Rm 8,14-17; 8,29; Tt 3,5; Rm 6,4; Dt 12,5-12; Ga 1,12; 3,3.5):
“Để chứng thực anh em là con cái, Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con Mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên: “Áp-ba, Bố ơi!”...” (Gl 4,6).
Cũng như trong vĩnh hằng và trong lịch sử, Chúa Cha hằng sinh ra Chúa Con và Chúa Con hằng đón nhận sự sinh ra bởi Chúa Cha trong và nhờ Thần Khí Tình yêu hỗ tương, con người nếu muốn luôn luôn vẫn là con của Chúa Cha, điều kiện tất yếu là phải luôn luôn yêu thương nhau trong Thần Khí Tình yêu hay Thần Khí Con thảo của Đức Giêsu Kitô.
Như vậy, tình Phụ–Tử nói ở đây là một mối tương quan luôn luôn ở trong tư thế năng động, nghĩa là ở trong hành động yêu thương chứ không chỉ là một mối tương quan tĩnh tại và thụ động như dựa trên huyết thống, dân tộc, cơ cấu... (Mt 3,9tt; Lc 19,9; Mt 5, 9; x. Mt 12,46-50). Bởi vì Thần Khí Hiếu thảo là Thần Khí khi ở trong hành động (en acte)...
K.      THẦN KHÍ KÍNH SỢ THIÊN CHÚA
Có 2 vấn đề được đặt ra:
1) Khái niệm “Kính sợ Thiên Chúa” trong ngôn ngữ Kinh Thánh.
2) Chúa Thánh Thần, Thần Khí Kính sợ Thiên Chúa.
1.      Khái niệm “Kính Sợ Thiên Chúa” trong ngôn ngữ Kinh Thánh
Nói chung, đây là một khái niệm diễn tả một thứ tình cảm tôn giáo: khi đối diện với thực tại thần linh, con người một đàng vừa sợ không dám đến gần (kính nhi viễn chi), đàng khác vừa cảm nhận như có sức cuốn hút hướng về đó (mysterium tremendum et fascinosum), chứ không phải là những thứ sợ hãi thông thường của con người, như sợ những thiên tai hoặc những cuộc tấn công của kẻ thù (Gr 6,25; 20,10). Vì thế, người ta gọi đó là tâm tình “kính sợ” (gốc Hipri là Yir’ah và gốc Hy lạp là phopos): vừa sợ vừa thích và vừa thích vừa sợ...
a.       Trong ngôn ngữ Cựu Ước, hạn từ “kính sợ Giavê” hay “kính sợ Thiên Chúa”, chiếm một vị trí lớn lao hơn nhiều so với hạn từ “tình yêu” nhằm diễn tả một Vị Thiên Chúa nghiêm minh, siêu việt và đáng sợ... Tuy nhiên, sự kính sợ này không đóng khung trong nỗi lo âu, sao xuyến, mà còn kèm theo nỗi khát vọng và tình yêu đối với Thiên Chúa (Ml 1,6; Dnl 10,12). Nó chính là yếu tố cốt lõi của sự Khôn ngoan, là nền tảng của tôn giáo (Cn1,7; Gv 1,14-21; Tv 111,10). Các Ráp-bi của thời cuối Cựu Ước đã thích gọi Thiên Chúa là “Cha”...
b.      Trong ngôn ngữ Tân Ước ít sử dụng hạn từ này; tuy nhiên, không phải là không biết tới như là một tâm tình tôn giáo trước Thiên Chúa (Dt 10,31; Gc 4,12; Mt 10,28; Ep 3,12; Rm 8,15; 1Ga 4,17; Lc 2,25; Cv 10,22; 1Cr 10,12; Rm 10,20; Pl 2,12; v.v...). Và chính Tân Ước, nhờ hiểu theo một nghĩa sâu xa đã làm cho nó trở nên một nhân đức chính yếu vốn là con đường cứu rỗi bằng đức tin: “Thiên Chúa chẳng thiên vị ai, nhưng bất luận dân nào, hễ ai kính sợ Ngài và thực thi công bình thì đẹp lòng Ngài” (Cv 10,34tt)...
2.      Chúa Thánh Thần, Thần Khí kính sợ Thiên Chúa
Nói như vậy, trước tiên, có nghĩa tâm tình hay thái độ kính sợ Thiên Chúa mà con người có được chính là ân huệ của Thần Khí Thiên Chúa ban cho, và khi nối kết với tâm tình con thảo thì đó là do Thần Khí của Đức Giêsu Kitô... Vì thế, để có thể hiểu được cách dễ dàng và đúng đắn khái niệm “kính sợ Thiên Chúa” của Cựu Ước và Tân Ước, có lẽ nên nhìn nó qua lăng kính của điều mà tư tưởng Đông Phương gọi là thuyết “Chính Danh” (quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử: vua thì cho ra vua, quan thì cho ra quan, cha thì cho ra cha, con thì cho ra con):
a.       Con người- thụ tạo đối diện với Thiên Chúa Tạo Hóa:
Tất cả mọi cái con người là (être) và có (avoir) đều là ân huệ được Thiên Chúa ban cho cách nhưng không và tự do. Vì thế, con người phải luôn sống trong tâm tình lệ thuộc và tri ân đối với Thiên Chúa, và không bao giờ được có ý đồ cướp quyền và thử thách Thiên Chúa (x. St 3,1-24; Lc 4,1-13; Mt 4,1-11; Dnl 6,13tt; v.v...): tâm tình lệ thuộc và tri ân ở đây chính là những dạng thức của tâm tình kính sợ Thiên Chúa...
b.      Con người trần tục - bé nhỏ - yếu đuối đối diện với Thiên Chúa siêu việt - vĩ đại - toàn năng:
Ở đây, tâm tình kính sợ Thiên Chúa được diễn tả qua những thái độ hoàn toàn tin cậy, phó thác và cầu xin (Tl 6,23; Dn 10,12; Lc 1,13.30; Mc 6,50; St 15,1; 26,24; Is 41,10; Lc 12,32; Mt 6,25-34; Ds 21,34; Tv 23,4; 27,1; 91,5-13; v.v...)...
c.       Con người – tội lỗi đối diện với Thiên Chúa - thánh:
Ở đây sự kính sợ Thiên Chúa được diễn tả qua những tâm tình ăn năn sám hối và xin được tha thứ (Hs 11,9; Is 8,13; Xh 19,10-15; Tv 51; Lc 5,8; Is 6,5; v.v...)...
d.      Người-Con đối diện với Thiên Chúa-Cha:
Ở đây tâm tình kính sợ Thiên Chúa được diễn tả qua tâm tình hiếu thảo (Hc 1,11-20; Rm 8,15; 1Ga 4,18; Ga 3,20tt; Ep 3,12; v.v...)
Đó là những tâm tình, những phản ứng mà Đức Giêsu Kitô đã sống và đã kinh qua nhờ Thần Khí của Chúa Cha và đồng thời cũng là của chính Ngài trong tư cách Chúa Con và sau khi Đức Giêsu Kitô đã sống trọn vẹn những tâm tình đó, Ngài đã sở đắc trọn vẹn và tràn đầy Thần Khí, như Ân Huệ được ban cho, và đó chính là Thần Khí của Đức Giêsu Kitô, trong Chu trình Tình yêu “dâng hiến là nhận lại” (Ga 19,30)... và con người, có được những tâm tình đó cũng là do Ân huệ Thần Khí của Đức Giêsu Kitô ban cho...









 
 

13. VỀ BẢN DỊCH CÁC TÍN BIỂU TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

Trong Năm Đức Tin nầy, liệu có nên chăng cần “rà soát lại’ hai bản dịch Tín biểu vẫn được phép sử dụng trong Phụng Vụ tại Việt Nam hiện nay : Tín biểu các Thánh Tông Đồ (trong bài nầy, sẽ được viết tắt là TBTĐ) và Tín biểu Nixêa-Contantinôp (trong bài nầy, sẽ  được viết tắt là TBNC) ?
Cha Phan Tấn Thành đã có một vài ý kiến và đề nghị trong thư đề ngày 21 tháng 9 năm 2012 gửi Đức Cha Chủ tịch và các thành viên trong Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam. Về phần mình, chúng tôi đồng ý với ý kiến và đề nghị của Cha Phan Tấn Thành là nhân dịp Năm Đức Tin cần rà soát lại các bản dịch các Tín biểu xưa nay vẫn được sử dụng trong Phụng vụ tại Việt Nam, bởi vì những bản dịch nầy không chỉ liên can đến những vấn đề ngôn từ, mà còn cả nội dung và ý nghĩa của chúng trong lãnh vực tín lý.
I.       TÍN BIỂU CÁC THÁNH TÔNG ĐỒ :
Trong tâm tình đó, trước tiên, chúng tôi đề xuất một bản dịch mới Tín biểu các Thánh Tông đồ, vốn được dùng trong Bí tích Thánh Tẩy thuộc nghi lễ Roma (“Ordo Romanus”), chỉ với một ước mong, nếu có thể được, sẽ trở thành như một trong những đề tài trao đổi, thảo luận trong Năm Đức Tin nầy. Tuy nhiên, để dễ bề so sánh, và đánh giá, chúng tôi ghi lại đây văn bản gốc Tín biểu bằng La ngữ và bản dịch Pháp ngữ (xem Denzinger, Symboles et définitions de la foi catholique, éd. du Cerf, Paris 2001, trg. 12-13) :
Để có thể hiểu nhau, và có thể trao đổi, thảo luận cách nghiêm túc, không thành kiến, chúng tôi mạn phép lưu ý một số điểm liên quan đến bản dịch của mình như sau :
1.      TBTĐ,  cũng như các Tín biểu khác, được viết theo cấu trúc dựa trên Mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi, theo thứ tự liên quan đến Cha, Con, Thánh Thần, trong cương vị là Ba Ngôi Vị.
2.      Mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi ở đây được nhìn, vừa trong tương quan giữa các Ngài với nhau, vừa trong tương quan với các thụ tạo nói chung, đặc biệt, con người : thí dụ, - nơi (1) liên quan đến Thiên Chúa : đối với Con, là Cha; còn đối với các thụ tạo, là Đấng tạo thành trời đất; - nơi (2) liên quan đến Đức Giêsu-Kitô : đối với Cha, là Con, còn đối với loài người, là Chủ Tể; - nơi (8) liên quan đến Thánh Thần : đối với Cha, là Thần Khí Thánh của Cha; đối với Con, là Thần Khí Thánh của Con; còn đối với loài người, là Hội Thánh dành cho tất cả mọi người, là sự Hiệp thông của các thánh và các thực tại thánh, là sự Tha tội, là sự Sống lại của thân xác, là sự Sống vĩnh hằng.
3.      Sở dĩ chúng tôi mạo muội dịch hạng mục liên quan đến Thánh Thần như vậy, là do dựa trên hai cơ sở, vừa ngữ pháp được dùng xuyên suốt trong TBTĐ, vừa Thánh Kinh và thần học :
 
a.       Cơ sở ngữ pháp : 
Trước tiên, cần lưu ý rằng đối tượng ưu tiên được tuyên xưng ở đây là các Ngôi Vị, vì động từ La ngữ cách chính thức được sử dụng xuyên suốt ở đây là “Credo in” (vừa có nghĩa “tin ở nơi ai”, “tin vào ai”, vừa hàm chứa luôn là “tin có ai”, “tin có cái gì”), chứ không phải là “Credo” (chỉ có nghĩa “tin có ai”, “tin có cái gì”), vốn chỉ là một dị bản mà thôi. Trong ngôn ngữ của thánh Augustinô, có một sự phân biệt khá rõ ràng giữa các hạn từ :  i) “credere Deum”, có nghĩa “tin có Thiên Chúa”; ii) “credere Deo”, có nghĩa “tin ở nơi lời Ngài”; iii) “credere in Deum”, có nghĩa tín thác hoàn toàn ở nơi Thiên Chúa và hoàn toàn phó thác cuộc đời mình cho Ngài và đây mới chính là ý nghĩa mang nội dung Thánh Kinh và Tin Mừng.
Thứ đến, việc TBTĐ, cách xuyên suốt [trong cả (1) và (2)], vẫn sử dụng các đồng vị ngữ (appositions) để nói về các tương quan giữa các Ngôi Vị thần linh với nhau (Patrem omnipotentem, Filium eius unicum) và với các thụ tạo của Ngài (creatorem caeli et terrae, Dominum nostrum), đặc biệt, con người, cho thấy chẳng có lý do gì để không cho phép tiếp tục hiểu như vậy trong  (8), (9), (10), (11) và (12)…
b.      Cơ sở Kinh Thánh và thần học :
Trong tương quan với các Công trình của Thiên Chúa-Ba Ngôi (Mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi, công trình Sáng Tạo, công trình Mặc Khải, công trình Siêu Độ, v.v…), Thánh Thần luôn luôn trong cùng lúc vừa là tác nhân (agens) [điều mà ngôn ngữ Ba Ngôi gọi là “spiratio activa”], vừa là hiệu quả (effectus) [điều mà ngôn ngữ Ba Ngôi gọi là “spiratio passiva”] : i) là tác nhân, trong tư cách là Thần Khí Thánh của Cha và Thần Khí Thánh của Con khiến cho Cha và Con hằng yêu nhau, vì thế, hằng sinh ra Con, hằng tạo dựng, hằng mặc khải, và hằng siêu độ; ii) là hiệu quả, trong tư cách là “cái hằng được trở thành”…
Đó chính là lý do tại sao ngôn ngữ Kinh Thánh vẫn gọi Thánh Thần, nào là “Ngón tay”, “Dấu ấn”, “Tiền đặt cọc”, “Chim bồ câu”, v.v…
Chúng tôi vẫn biết đây là một đề xuất khá mới mẻ, vì thế, rất khó để có thể được đón nhận ngay. Thực ra, đối với chúng tôi, khi đề xuất những hướng có vẻ như khá mới mẻ nầy không phải là để được đón nhận ngay, mà là thử cố gắng tát cạn được phần nào những nội dung và ý nghĩa vô cùng phong phú của các Tín Biểu của Giáo Hội kitô, và tạo ra một bầu khí tranh luận có tính xây dựng trong Năm Đức Tin nầy của Giáo Hội…
Ngoài ra, khi dịch hạng mục 3 liên quan đến Thánh Thần như vậy, chúng tôi dựa trên cơ sở thần học nầy : Hội Thánh, sự Hiệp thông của các thánh và các thực tại thánh, sự Tha tội, sự Phục sinh của xác thịt, sự Sống vĩnh hằng, tất cả đều là  “hiệu quả” (effectus) của Tình Yêu của Thiên Chúa-Ba Ngôi, vì thế, tất cả đều là những ân huệ nhưng không của Thiên Chúa-Ba Ngôi, qua Thánh Thần tình yêu và tác thánh. Vai trò của con người ở đây chủ yếu là “đón nhận”, chứ không phải là tạo tác…
Trong tương quan với Thánh Thần, được nhìn như vậy : a) “Hội Thánh” sẽ mang dung mạo “ngôi vị” hơn, sống động hơn, hợp với dung mạo “Thân Mình của Đức Giêsu-Kitô”, dung mạo của “Con Người trưởng thành” hơn, bởi vì tác nhân tạo ra Hội Thánh là Thần Khí tình yêu của Cha và của Con : cũng như  khi các Ngài yêu nhau, nhiệm xuất hay ái xuất (spiratio passiva) ra Thánh Thần, cũng vậy, khi Cha và Con yêu nhau cũng ái xuất ra Hội Thánh; b) tác nhân của “Communionem sanctorum” là chính Thánh Thần và hiệu quả của nó cũng chính là Thánh Thần, Thần Khí hiệp thông của Thân Mình của Đức Kitô Giêsu là Hội Thánh; c) tác nhân của “sự Tha Tội” là Thần Khí tình yêu của Đức Kitô Giêsu và hiệu quả của sự tha tội chính là sự Sống thuộc linh (vie spirituelle), sự Sống Vĩnh hằng  hay, nói cách khác, là chính Thánh Thần; d) vai trò của Thánh Thần luôn là Đấng làm cho sống (vivificantem), vì thế, Thánh Thần chính là tác nhân làm cho xác loài người sống lại, và Ngài cũng chính là hiệu quả của hành vi đó nơi các thụ tạo, đặc biệt, con người…
4.      Hạn từ La ngữ “descendit ad inferna [Cat Brv : inferos]” được dịch ra là “xâm nhập vào trong cõi chết”, bởi vì chúng tôi cho rằng việc Đức Giêsu vào trong cõi đó không phải là do bị động, mà bởi vì Ngài muốn vào đó, trong tư cách kẻ chết, để loan báo cho tất cả các kẻ chết Tin Mừng chiến thắng của Ngài nơi Thập Giá, nơi biến cố Phục sinh trên xác thịt và trên cả sự chết, và tất cả họ đều được thông phần khi được ở “trong Ngài” và “với Ngài”…
5.      Ngoài ra, hạn từ La ngữ “sanctam Ecclesiam catholicam” sở dĩ được dịch ra là “Hội Thánh dành cho tất cả mọi người”, bởi vì chúng tôi cho rằng đối tượng được tuyên xưng ở đây không phải là một sự vật hay một khái niệm trừu tượng nào đó, mà chính là Hội Thánh trong tư cách là Thân Mình của Đức Giêsu-Kitô, vẫn không ngừng hằng được tác thánh và được xây dựng bởi Thần Khí Thánh của Ngài và của Cha để ngày càng trở nên Con Người toàn vẹn và trưởng thành “trong Con”, và vốn được dành cho tất cả mọi người (hạn từ “catholicam” vốn gần gũi với hạn từ “universalem”, hơn là hạn từ “communem”). Thánh Thần, trong tư cách đó, chính là sự Hiệp thông của các thánh và các thực tại thánh,  là sự Tha tội,  là sự Sống lại của thân xác và là sự Sống vĩnh hằng. Nội dung của hạn từ “công giáo”, vì thế, có lẽ không đủ sức phản ảnh được nội hàm ý nghĩa của hạn từ “catholicam”, so với hạnh từ “dành cho tất cả mọi người”, bởi vì Đức Giêsu-Kitô là Ân Huệ lớn lao Thiên Chúa ban cho tất cả mọi người, mọi nơi và mọi thời, không phân biệt; và sự siêu độ của Ngài cũng vậy, vốn dành cho tất cả mọi người…
6.      Vì thế, theo thiển ý, đã đành động từ La ngữ  “credo in” không chỉ mang ý nghĩa “tôi tin vào ai đó” hay “tin nơi ai đó” mà còn bao hàm nội dung “tôi tin có ai đó”, tuy nhiên, nếu chỉ sử dụng những hạn từ “tôi tin có…”, tuy không sai, nhưng hẳn sẽ làm nghèo nàn đi biết bao nội hàm ý nghĩa vốn rất phong phú và độc đáo của Tín Biểu của các Tông đồ liên quan đến Thánh Thần…
 
 

II.      MỘT VÀI GHI NHẬN VÀ NHẬN XÉT VỀ TBNC
Ngoài điểm tương đồng rõ nét là cấu trúc “ba ngôi”, giữa TBTĐ và TBNC, có một số điểm nhấn và cách nhìn khác nhau :
1.      Tiết 1 liên quan đến Cha :
a.       Tương quan giữa Thiên Chúa-Ba Ngôi với nhau và với các thụ tạo vẫn được nhấn mạnh.
b.      Tuy nhiên, so với TBTĐ, có hai yếu tố mới : a) đặc tính “một” (in unum Deum) được nhấn mạnh; b) và chi tiết “visibilium omnium et invisibilium”.
2.      Tiết 2 liên quan đến Con :
a.       Tương quan giữa Con với Cha được nhấn mạnh cách đặc biệt, với nhiều yếu tố mang màu sắc triết học, đặc biệt khái niệm “đồng bản thể với Cha” (“consubstantialem Patri”).
b.      Tương quan giữa Con với các Thụ tạo, đặc biệt, loài người cũng được nhấn mạnh, qua những hạn từ như : “per quem omnia facta sunt”, “propter nos homines et propter nostram salutem”, “pro nobis”…
c.       So với TBTĐ, có 3 điểm nhấn mạnh quan trọng :  i) đặc tính “một” được lưu ý và nhấn mạnh nơi “in unum Dominum”; i) mầu nhiệm Nhập thể và Làm người được làm rõ hơn qua hạn từ “et homo factus est”; iii) tương quan giữa Đức Giêsu-Kitô với Kinh Thánh (“secundum Scripturas”)…
3.      Tiết 3 liên quan đến Thánh Thần :
a.       Tương quan với Cha và Con được nhấn mạnh khá rõ ràng ngay từ đầu, qua việc  sử dụng các hạn từ : “qui ex Patre Filioque procedit”, “qui cum Patre et Filio simul adoratur et conglorificatur”…
b.      So với TBTĐ, có một yếu tố mới liên quan đến tương quan với các ngôn sứ : “qui locutus est per prophetas”…
c.       Liên quan đến tương quan của Thánh Thần với các Thụ tạo và loài người, có thể nói rằng, so với TBTĐ, bản văn của TBNC vừa mơ hồ vừa thiếu rõ ràng và mạch lạc, cả trong cấu trúc ngữ pháp, cả trong nội dung ý nghĩa :
-        Sự lúng túng về mặt ngữ pháp nơi tiết 3 của TBNC : dấu chấm sau hạn từ La ngữ “per Prophetas”, tiếp đó đến hạn từ “Et unam sanctam catholicam et apostolicam Ecclesiam” khiến người ta thắc mắc không hiểu các hạn từ nầy là bổ ngữ cho động từ nào; nếu là bổ ngữ cho động từ “Credo in”, thì phải viết là “et in unam sanctam…Ecclesiam” !
-        Trong khi nơi tiết 3 của TBTĐ, tất cả các yếu tố nầy (Ecclesia, remissio peccatorum, resurrectio mortuorum, vita aeterna) đều được coi như là những đồng vị ngữ (appositions) của Thánh Thần, thì ở đây, với việc ngắt câu đột ngột với một chấm sau “per prophetas” và trước “Et unam sanctam…Ecclesiam”, và việc xen thêm hai động từ “Confiteor” và “Exspecto” vào trong tiết đoạn nầy càng khiến cấu trúc bản văn và nội dung ý nghĩa càng thêm tối tăm và mơ hồ, khi so với TBTĐ…
-        Ngoài ra, sở dĩ chúng tôi mạo muội đề nghị dịch hạn từ La ngữ “et vitam venturi saeculi” ra là “sự sống vĩnh hằng” chứ không phải là “sự sống đời sau”, vì những lý do sau đây : 1) bản văn Hy ngữ vốn dùng từ “Zoè”, mà trong ngôn ngữ của Gioan vẫn được hiểu như là “sự sống vĩnh hằng”, để phân biệt với “psuché” (sự sống tâm linh) và với “bios” (sự sống thể xác) (xem Ga 12, 25); 2) chỉ có sự sống vĩnh hằng nầy mới là điều mà người ta vừa có thể có trong hiện tại, vừa phải đợi chờ ở tương lai, vốn là ân huệ Thánh Thần ban cho những ai biết tin, yêu và hy vọng nơi Đức Giêsu-Kitô…
d.      Ở đây, đặc tính “một” (unum) không được gán cho cương vị “Chủ Tể” (Dominum) của Thánh Thần mà lại được gán cho Hội Thánh (in unam sanctam…Ecclesiam”) và Bí tích Tha tội (“unum baptisma in remissionem peccatorum”), phải chăng vì muốn lưu ý tương quan mật thiết giữa Thánh Thần và Con, Ngôi Lời Thiên Chúa làm người và Thân Mình của Ngài, hay nói cách khác cả hai Đấng đều cùng chung một tước vị “Chủ Tể” ?
Nhìn chung, có thể nói rằng hai Tín biểu của các Tông Đồ và của hai Công đồng Nixêa-Contantinôp, tuy vẫn còn những nhược điểm của chúng về hình thức cũng như về nội dung thần học, đều là những viên ngọc quí của kho tàng tín lý, thần học và phụng vụ của Hội Thánh cần phải được trân trọng, gìn giữ, nghiên cứu và đào sâu, đặc biệt trong Năm Đức Tin nầy. Chỉ tiếc một điều trong khi bản dịch Việt ngữ Tín biểu của hai Công đồng Nixêa-Contantinôp được chăm chút và trau chuốt cách công phu đến độ gần như hoàn hảo, nếu đối chiếu với bản gốc La ngữ, thì bản dịch Tín biểu các Tông đồ vẫn còn khá thô ráp, mộc mạc, thiếu chính xác, không được chăm chút bao nhiêu, mặc dù nội hàm ý nghĩa tín lý và thần học của Tín biểu nầy vốn rất sâu sắc và độc đáo !
 
 

14. SỐNG SỨ MẠNG CHỨNG NHÂN

Số 04 Thư chung HĐGMVN cho năm 2007  kêu gọi người Kitô hữu “sống sứ mạng chứng nhân”. Lời kêu gọi nầy bao gồm hai yếu tố:
1) “Làm chứng…”;
2) “…là sứ mạng kitô hữu.”.
I.       KITÔ HỮU-CHỨNG NHÂN
Khi nói “là chứng nhân”, vấn đề tức khắc phải đặt ra trước tiên là “Ai làm chứng?” và thứ đến là “làm chứng cho Ai?” và “cho cái gì?”.
Đức Giêsu Kitô, trước tiên, chính là chứng nhân tuyệt hảo (Kh 1,5; 3,14): Người đến thế gian để làm chứng cho Sự Thật (Ga 18,37); Người làm chứng về điều mà Người đã thấy và đã nghe được tự nơi Cha Người (Ga 3,11.12 tt); Người làm chứng về điều mà chính Người là (Ga 8,13 tt); sau cùng, Người làm chứng chống lại thế giới xấu xa (Ga 7,7)…
Thứ đến, chính Cha làm chứng cho Con, Đức Giêsu Kitô (Ga 5,31 tt.37 tt; 8,16 tt).
Sau cùng, chính Thánh Thần làm chứng cho Đức Giêsu Kitô (Ga 15,26).
Điều đó có nghĩa tự nguyên thủy vấn đề làm chứng phải được hiểu qua lăng kính Tình Yêu hay Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi và như những sứ vụ hay sứ mạng…
Người Kitô hữu-chứng nhân, như vậy, trước tiên là chứng nhân về Sự Thật: Sự Thật về Thiên Chúa và Sự Thật về con người. Điều nầy được thực hiện qua đời sống Đức Tin, Đức Cậy và Đức Mến của người Kitô hữu giữa lòng thế giới làm sao để “Thiên Chúa là tất cả” đối với họ (1 Cr 15,28). Là chứng nhân về những gì đã được nghe và đã được thấy nơi Đức Giêsu Kitô: tức là tất cả gì Đức Giêsu đã nói, đã làm và đã được thông truyền cho các thế hệ qua chứng tá của các Tông đồ, qua Thánh Kinh, Thánh Truyền, v.v… (Mt 24,14; Cv 1, 8). Là chứng nhân về tất cả gì mà Đức Giêsu Kitô là và tất cả gì “Đức Giêsu Kitô là đối với tôi”… Tóm lại, đó chính là Tin Mừng về Tình Yêu Thiên Chúa đối với con người và mọi thụ tạo cần phải được loan báo (Mt 24,14) và làm chứng (Cv 1,8).
Thật ra, Tin Mừng hay Chứng tá về Tình Yêu Thiên Chúa đó cũng chính là Đức Giêsu Kitô (xem DV các số 02-04). Vì thế, sống sứ mạng chứng nhân hay sống Tin Mừng Tình Yêu không gì khác hơn là làm sao để có thể nói được như Phaolô: “Tôi sống, nhưng không còn là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20).
“Cũng như Chúa Giêsu đã đến trần gian không để tìm vinh quang cho chính mình, nhưng là để làm vinh danh Thiên Chúa và cứu độ con người, Kitô hữu bước theo Chúa Giêsu để được Tin Mừng của Người biến đổi và qua đó họ trở nên những người đem Tin Mừng cho thế giới nầy” (Thư chung của HĐGMVN cho 2007, số 04).
I.1- Chứng nhân về Sự Thật
Kitô hữu, trước tiên, là kẻ làm chứng cho thế giới biết Thiên Chúa là Ai và là gì đối với mỗi người, và, con người là ai và là gì đối với Thiên Chúa và tha nhân (xem Ga 17,3: “Sự sống vĩnh hằng đó là họ nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Đấng Cha đã sai đến, là Giêsu Kitô”; và St 1,27: “Thiên Chúa sáng tạo con người theo Hình Ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo Hình Ảnh Thiên Chúa,…”).
I.2- Chứng nhân về điều Thiên Chúa đã nói và đã làm cho loài người qua Đức Giêsu Kitô
Kitô hữu, thứ đến, làm chứng bằng cách sống những gì Thiên Chúa đã nói và đã làm nơi và qua Đức Giêsu Kitô (xem Ga 15,27: “Cả anh em nữa, anh em cũng làm chứng, vì anh em ở với Thầy ngay từ đầu”). Làm như thế là để chứng tỏ cho con người biết Thiên Chúa là Tình Yêu và Ngài yêu thương con người biết bao nhiêu, để rồi con người biết cảm ơn, chúc tụng và yêu mến Ngài.
I.3- Chứng nhân về tất cả gì Đức Giêsu Kitô là…
Điều nầy chỉ có thể được khi người ta có thể nói như Phaolô: “Tôi sống, nhưng không còn là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20). Tức là lúc con người hoàn tất được “Hình Anh Thiên Chúa” cho mình, đến nỗi khi nhìn vào con người và đời sống kitô của kitô hữu, người ta có thể khám phá ra được cách nào đó Dung Mạo của Đức Giêsu Kitô và thậm chí của chính Thiên Chúa Ba Ngôi, như số 04 Thư chung của HĐGMVN cho năm 2007 khẳng định: “Nếu trong đời sống kitô hữu, Chúa Giêsu thực sự là điểm qui chiếu và là chuẩn mực giúp nhận định giá trị các hành vi, thì sự hiện diện qua việc sống đạo của kitô hữu trong xã hội sẽ trở thành lời chứng về những giá trị căn bản của Tin Mừng và trở nên dấu chỉ của niềm hạnh phúc Nước Trời.”…
II.      LÀM CHỨNG LÀ SỨ MẠNG KITÔ HỮU
Điều nầy, trước tiên có nghĩa con người không tự mình làm chứng mà vốn “được sai đi làm chứng”. Và, vì thế, thứ đến,  làm chứng về Ai, về cái gì, cho Ai và cách nào là việc của Thiên Chúa, thông qua Giáo Hội.
Sứ mạng kitô hữu tiếp tục sứ mạng của Đức Giêsu, như những người được sai đi (Lc 10,1; 9,1tt; Mt 9,38; Mt 22,3; Ga 13,16; Mt 10,24tt; Ga 20,21: “Như Cha Thầy đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em.”). Như vậy, sứ vụ của Con thành tựu nơi tất cả mọi người là nhờ vào sứ vụ của các Tông Đồ của Con và Giáo Hội của Người.
Để hoàn tất chức năng có tính sứ vụ nầy, người kitô hữu không phải đơn độc một mình, mà còn có Thánh Thần hướng lộ và đồng hành (xem Ga 14,26: “Nhưng Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em”; Ga 15,26: “Khi Đấng Bảo Trợ đến, Đấng mà Thầy sẽ sai đến với anh em từ nơi Cha, Người sẽ làm chứng về Thầy.”).
Sứ vụ nầy của Thánh thần sẽ tồn tại và kéo dài bao lâu Giáo Hội của Đức Giêsu Kitô vẫn còn tồn tại. Chính Thánh Thần đã làm cho Nhóm Mười Hai trở thành nhân chứng về Đức Giêsu (Cv 1, 8). Sứ vụ của Thánh Thần, như vậy, nối kết với chính mầu nhiệm Giáo Hội khi Giáo Hội loan báo Lời nhằm hoàn tất nỗ lực thuộc sứ vụ của mình. Sứ vụ này của Thánh Thần cũng còn là nguồn suối của sự thánh hóa loài người. Chính như vậy mà hoàn thành mặc khải về Mầu nhiệm Thiên Chúa và con người: sau Con, Lời và Khôn Ngoan của Thiên Chúa, đến lượt mình, Thần Khí tự bày tỏ mình ra như Ngôi Vị Thần Linh dấn thân vào trong lịch sử của loài người, lịch sử mà Người biến đổi tự bên trong để trở nên Hình Ảnh Con Thiên Chúa (Cv 4,33).
Chính vì thế, Công đồng đầu tiên của Giáo Hội sơ khai tại Giêrusalem đã có thể khẳng định: “Thánh thần và chúng tôi đã quyết định…” (Cv 15,28).
Tóm lại, khi sống sứ mạng chứng nhân, người kitô hữu biết rằng mình đang làm chứng cho Ai và cho cái gì: đó là làm chứng về Thiên Chúa Tình Yêu, Đấng rất đỗi yêu thương con người vốn đã được tạo dựng nên “theo Hình Ảnh của Ngài” và “giống như Ngài” (St 1,26-27) để được chia sẽ sự sống vĩnh hằng như Ngài. Đồng thời cũng biết rằng trong khi hoàn thành sứ mạng trọng đại này, con người không bao giờ đơn độc mà luôn luôn có Thánh Thần hướng lộ và đồng hành…
 
 

15. CANH TÂN BẢN THÂN

Trong những định hướng cơ bản cho việc sống Đạo hôm nay, Thư chung của HĐGMVN cho năm 2007 đề nghị phải khởi đi từ việc “đổi mới bản thân” (số 5). Nội hàm của lời kêu gọi nầy bao gồm một số vấn đề sau đây :
1) Bản thân nguyên thủy của con người ;
2) Bản thân hiện tại của con người và nhu cầu phải canh tân…
I.       BẢN THÂN NGUYÊN THỦY CỦA CON NGƯỜI
Hay, con người tự nguyên thuỷ là ai và là gì ? St 1, 26-31 cho chúng ta biết, từ nguyên thủy, con người đã được “tạo dựng nên theo Hình Anh của Thiên Chúa và giống như Thiên Chúa”, hay cụ thể hơn, giống như Đức Kitô vốn là “Hình Anh hữu hình của Thiên Chúa vô hình” (Cl 1, 15). Và con người chỉ là thế khi con người sống ba tương quan thuộc bản chất của mình, đó là : tương quan với Thiên Chúa, tương quan với đất, tương quan với người khác vốn là anh chị em với mình.
1.      Con người với Đấng tạo thành mình : Qua dung mạo Ađam, con người nguyên thủy vốn là một thụ tạo có tự do, có mối quan hệ thường hằng và do yếu tính với Thiên Chúa-Tạo thành. Vì thế, nói về con người mà gạt ra ngoài hay qua một bên mối quan hệ của nó với Thiên Chúa-Tạo thành là điều vô nghĩa.Cùng với hơi thở cấu tạo nên con người sống, Thiên Chúa liên kết vào đó Lời của Ngài, và lời đầu tiên nầy mang dánh dấp một lệnh cấm (St 2, 16 tt). Trong suốt hiện hữu của mình, như vậy, con người tiếp tục liên kết với Đấng tạo thành mình bằng việc tuân theo thánh Ý của Ngài. Lệnh  truyền nầy  đối với con người có vẻ như một cấm cản, một giới hạn. Trên thực tế, lệnh truyền đó cần thiết để cho con người có thể hoàn thành mình; nó cho phép con người hiểu rằng con người không phải là thiên chúa, rằng con người tùy thuộc vào Thiên Chúa Đấng mà từ đó con người lãnh nhận sự sống.
2.      Con người trước vũ trụ : Thiên Chúa đặt con người trong một tạo thành đẹp và  tốt (St 2, 9) để con người canh tác và gìn giữ nó như là người quản lý. Thiên Chúa muốn con người khẳng định quyền bá chủ của mình trên thú vật khi tự mình đặt tên cho chúng (St 2, 19 tt; xem 1, 28 tt); qua đó, muốn nói lên rằng không được thần thánh hoá thiên nhiên mà là phải thống trị và khuất phục thiên nhiên. Công trình do bàn tay con người phải diễn đạt được công trình của Đấng Tạo thành.
3.      Con người trong xã hội : Sau cùng, con người, do tự bản tính của mình, là một hữu thể-cùng sống với (être social). Sự khác biệt căn bản về giới tính đồng thời vừa là kiểu mẫu vừa là suối nguồn của sự sống trong xã hội, vốn được đặt nền móng không phải trên bạo lực mà là trên tình yêu. Thiên Chúa coi mối tương quan giới tính nầy như là một sự trợ giúp hỗ tương; và người đàn ông phải coi người phụ nữ mà Thiên Chúa giới thiệu với như là biểu hiện của chính bản thân mình. Tất cả mọi gặp gỡ giữa con người với nhau phải lấy mối tương quan nguyên thủy nầy như là mẫu mực.
Như vậy, con người nguyên thủy không sống trong nỗi sợ hãi trước Thiên Chúa, mà sống trong mối quan hệ thân tình cha-con với Ngài, và có mối quan hệ trong sáng với vợ của mình, với muông thú và với toàn thể thụ tạo.
Ngoài ra, con người còn thực thi vai trò Hình Anh Thiên Chúa của mình ở nơi hai hành vi lớn nầy : là hình ảnh tình cha thần linh, con người phải tự bội nhân mình lên để lấp tràn mặt đất nầy; là hình ảnh quyền đức chúa thần linh, con người phải khuất phục trái đất dưới quyền làm chủ của mình. Con người, như vậy, là đức chúa của trái đất, là sự hiện diện của Thiên Chúa trên trái đất.
II.      BẢN THÂN HIỆN TẠI CỦA CON NGƯỜI VÀ NHU CẦU CANH TÂN
Với hành vi bất tuân nguyên thủy với thánh Ý của Thiên Chúa, qua dung mạo Ađam, dung mạo nhân loại đã bị làm cho biến dạng, méo mó đi, và các tương quan cũng bắt đầu thay đổi từ phía con người :
1.      Đại gia đình nhân loại bị xé nát ra từng mãnh : Trước tiên, bắt đầu với sự xa cách giữa người nam và người nữ (St 3, 7.11-12) : tương quan giữa người nam và người nữ từ đó được điều khiển bới sức mạnh bản năng, bởi lòng ham muốn tính dục, bởi ham muốn thống trị…Rồi, tiếp đến với sự xa cách giữa anh em ruột thịt với nhau (câu chuyện Caðn và Abel, St 4), giữa con người với con người (câu chuyện tháp Babel, St 11, 1-9)…
2.      Vũ trụ thiên nhiên thù nghịch với con người : Cả tương quan giữa con người với vũ trụ thiên nhiên cũng bị xé rách : vũ trụ thiên nhiên, sau khi Ađam-con người nguyên thủy phạm tội bất tuân lệnh Thiên Chúa, cũng trở nên thù nghịch với con người. Đã mất đi mối quan hệ hài hòa, thân thiện nguyên thủy mà thường chỉ còn tương quan thống trị, bóc lột lẫn nhau : đó là nguồn gốc của quan tâm môi trường học hiện nay (St 3, 17 tt).
3.      Con người bị trao phó cho sự chết: Thay vì đón nhận sự sống thần linh như ân huệ, Ađam - con người nguyên thủy đã muốn tự mình lý liệu lấy sự sống của mình như một vị thiên chúa. Chính sự bất tuân đó khiến con người bị cắt đứt khỏi nguồn sự sống (St 3,19).
4.      Lương tâm bị xé rách : Sau khi phạm tội bất tuân lệnh Thiên Chúa, Ađam-con người nguyên thủy trốn chạy chính mình và trốn chạy cả Thiên Chúa (St 3, 10) : đó là dấu chỉ lương tâm đã bị xé rách, tha hóa, mất phương hướng…
Chỉ có một hữu thể hiệp nhất ngay tự bên trong mới có thể lấy lại được và khống chế được tình trạng ly gián nầy và mới tạo ra được tình trạng mà ngôn ngữ Đông phương thường nói : Thiên-Địa-Nhân hòa. Canh tân bản thân, vì thế, không gì khác hơn là SỐNG ĐÚNG NHỮNG TƯƠNG QUAN DO TỰ BẢN CHẤT CỦA CON NGƯỜI với Thiên Chúa, với tha nhân, với thiên nhiên vũ trụ và đối với chính bản thân mình, và đó cũng chính là những yếu tố cấu tạo nên phẩm giá đích thực của con người…Hay nói theo ngôn ngữ thánh Phaolô : “Vì đối với tôi sống là Đức Kitô…” (Pl 1, 21 ; xem thêm Gl 2, 20).
 
 

16. DẤN THÂN PHỤC VỤ

Định hướng cho việc sống đạo, Thư chung của HĐGMVN cho năm 2007 đã bắt đầu với đề nghị “Canh tân bản thân” (số 5) và tiếp theo là lời mời gọi DẤN THÂN PHỤC VỤ (số 6). Lời mời gọi nầy (số 6) bao hàm hai nội dung chính :
1) Dấn thân ;
2) Phục vụ.
I.       DẤN THÂN
Khái niệm “dấn thân”, tự nó, bao hàm việc đi ra khỏi một nơi nào đó và dấn thân mình vào một nơi nào đó.
Nơi mà từ đó người ta phải ra đi, theo Thư chung cho năm 2007, trước tiên, đó là “cái tôi của chính mình” (số 6). Cách chung, nói theo ngôn ngữ triết học, đó là đi ra khỏi “cái mình là” và “cái mình có” ; còn nói theo ngôn ngữ Thánh Kinh đó là “Xuất hành” (Xh 3, 7-10), “tự hủy” (kénose) (Pl 2, 6-11)  hay “chết đi để mà được sống” (Mt 10, 39; Mc 8, 34tt; Lc 17, 33; Ga 12, 25)...
Thứ đến, nơi mà người ta phải ra đi đó còn là môi trường người ta đang sống. “Là men” và “là muối”, người kitô hữu phải đến và hòa mình vào thúng bột và vựa cá trần gian (Mt 13, 33; Mt 28, 19; Lc 13, 20tt; Mt 5, 13; Mc 9, 50). Thật vậy, người kitô hữu chân chính không chỉ có việc “giữ đạo” và “sống đạo” mà còn phải “truyền đạo” nữa.
Như vậy, dấn thân là đi ra khỏi cái tôi của mình, ra khỏi những môi trường mình quen sống, để đến với tha nhân và cả những môi trường xa lạ chưa được nghe Tin Mừng. Vì thế, tất cả những hình thức phe nhóm, cục bộ, khoanh vùng, phân biệt đối xử, nghi  kỵ trong tiếp xúc, v.v… đều không thích hợp với tâm não kitô (Lc 9, 54-56; Mt 5, 43-48). Hiện trường rao báo Tin Mừng là tất cả mọi thụ tạo mọi nơi, mọi thời (Mt 28, 19-20; 13, 47). Việc của con người là gieo vãi Hạt giống, mọi việc còn lại là thuộc về Thiên Chúa (xem Mc 4, 26-29).
“Đến với tha nhân” không chỉ có nghĩa tiếp cận không gian mà còn là trở nên người thân cận của tha nhân qua những hành động yêu thương và phục vụ cụ thể (xem Lc 10, 29-37).
II.      PHỤC VỤ
Trong ngôn ngữ Thánh Kinh, phục vụ là tên gọi khác của tình yêu (Ga 14, 30; 15, 12-15; Mc 10, 45; Lc 22, 27).
Một đàng, “chính sự sẵn sàng của tôi đến với tha nhân, để minh chứng tình yêu đối với họ, sẽ làm cho tôi dễ cảm nghiệm được Thiên Chúa. Chỉ có việc phục vụ tha nhân mở mắt cho tôi thấy điều Thiên Chúa làm cho tôi và Người đã yêu thương tôi như thế nào” (Thông điệp “Deus caritas est” của ĐGH. Bênêđictô XVI, số 18).
Đàng khác, “Giáo hội không phải tự mình là mục đích cho mình, nhưng Giáo hội hiện diện ở đấy là để Thiên Chúa được người ta nhìn thấy…” (xem Cardinal Joseph RATZINGER, Entretiens avec Peter SEEWALD, Le Sel de la Terre, nxb. Flammarion/Cerf 1997, trg. 60).

Quả vậy, “Tình yêu lớn lên nhờ tình yêu. Tình yêu mang tính ‘thiên linh’ vì từ Thiên Chúa mà đến và giúp chúng ta kết hợp với Thiên Chúa, và trong tiến trình kết hợp nầy, giúp chúng ta trở thành một ‘Chúng tôi’, vượt thắng mọi chia rẽ và làm cho chúng ta nên một, để rồi cuối cùng ‘Thiên Chúa là tất cả trong mọi sự’ (1 Cr 15, 28)” (Tđ. “Deus Caritas est”, id., số 18).
Sự phục vụ chỉ là tình yêu khi diễn ra trong tình yêu và vì tình yêu (xem St 29, 20). Ngoài tình yêu và không có tình yêu, sự phục phụ sẽ đồng nghĩa với nô dịch.
Ngoài ra, trong chiều hướng đó, ngoài tình yêu, tất cả mọi thứ khác đều chỉ là phương tiện, phương tiện để biểu lộ tình yêu : tiền tài, danh vọng, địa vị, nhan sắc, v.v…(xem Mt 22, 37-40; Lc 16, 9; Mt  20, 24-28; v.v…). Bởi vì mạng sống và phẩm giá con người vốn vượt lên trên tất cả những giá trị phàm tục khác.
Sau hết, khi dấn thân phục vụ tha nhân, “đặc biệt những người nghèo khổ, nghèo kiến thức, nghèo vật chất, nghèo tình thương, nghèo niềm hy vọng, nghèo hạnh phúc…, Kitô hữu làm chứng cách hùng hồn về tính khả thi của lời mời gọi Phúc Am và hiệu quả của ơn cứu chuộc trong Chúa Giêsu Kitô : con người được cứu chuộc đã bước ra khỏi cái tôi của chính mình để phục vụ Chúa nơi anh chị em bé nhỏ.” (Thư chung của HĐGM VN cho năm 2007, số 6).
 
 

17. GÓP PHẦN XÂY DỰNG MỘT XÃ HỘI CÔNG BẰNG

Lời kêu gọi nầy (Thư chung của HĐGMVN dành cho năm 2007, số 7) bao hàm hai nội dung chính :
1) Góp phần xây dựng xã hội ;
2) …Một xã hội công bằng.
I.       GÓP PHẦN XÂY DỰNG XÃ HỘI
Điều nầy, trước tiên, có nghĩa nỗ lực xây dựng xã hội là nỗ lực chung của tất cả mọi người và của mỗi người. Không ai được miễn chước khỏi trách nhiệm nầy. Cũng vậy, không ai bị loại bỏ khỏi là đối tượng được phục vụ của toàn xã hội. Khái niệm xã hội, tự nó, vốn là một khái niệm trừu tượng, và cái cụ thể vốn là những cá nhân, cá thể…
Theo Thư chung, nền tảng của những trách nhiệm và quyền lợi nầy chính là việc con người vốn được Thiên Chúa tạo dựng nên “theo Hình Anh của Ngài và giống như Ngài” (St 1, 26-27). Hay nói cách khác, “là Hình Anh của Thiên Chúa” phải vừa là nguồn gốc vừa là cùng đích phát triển của cá nhân cũng như của tập thể xã hội.
Là nguồn gốc, bởi thế, con người, một đàng, tự mình cần phải là, và đàng khác, cần phải được người khác tôn trọng cách xứng hợp với tư cách là “Hình Ảnh Thiên Chúa”…

Là cùng đích, bởi thế con người luôn phải là mục đích của mọi phát triển xã hội, chứ không thể bị biến thành phương tiện của bất cứ loại hình phát triển, ý thức hệ hay chủ nghĩa nào…
Nói cho cùng, nền tảng và động cơ của tất cả những trách nhiệm và quyền lợi đó thực ra chính là “lòng mến Chúa yêu người” (Thư chung, số 7), tức là Tình Yêu. Khi yêu nhau thì những khái niệm “tôi”, “anh”, “nó”,v.v…sẽ trở thành chỉ còn là “Chúng Ta” : xã hội vừa “là” chúng ta vừa là “của” chúng ta, vì thế,  trách nhiệm là trách nhiệm “của chúng ta” và tất cả “chúng ta” đều có chung quyền lợi… Như vậy, tất cả mọi bất bình đẳng trong trách nhiệm và trong quyền lợi, cách nào đó, trực tiếp hay gián tiếp, đều xúc phạm đến phẩm giá “là Hình Anh của Thiên Chúa” của con người… Vì thế, để cho xã hội có thể phát triển được theo chiều hướng lành mạnh đó, ở “mức sàn tối thiểu”, cần phải xây dựng cho được tình trạng bình đẳng trong trách nhiệm và quyền lợi giữa mọi người với nhau và thứ đến tình trạng bình đẳng giữa trách nhiệm và quyền lợi…
II.      MỘT XÃ HỘI CÔNG BẰNG
Nói chung, một xã hội công bằng là một xã hội trong đó thực hiện được, trước tiên, tình trạng bình đẳng về trách nhiệm và quyền lợi giữa mọi người với nhau; thứ đến, tình trạng bình đẳng giữa quyền lợi và trách nhiệm, và ngược lại.
Trên thực tế, Thư chung không triển khai trực tiếp và đầy đủ về những vấn đề nầy, mà chỉ lưu ý và nhấn mạnh chung chung : “…Là Kitô hữu, được mời gọi để trở thành ánh sáng cho thế gian, muối cho đời, men trong bột, chúng ta hãy tập trung xây dựng một cộng đoàn trong đó mọi thành phần đều được yêu thương và được đối xử công bằng.” (Thư chung, số 7).
Để thực hiện được điều nầy, Thư chung mời gọi “…ngoài việc giáo dục để biết tôn trọng những quyền căn bản của con người, cũng cần có một đường lối thích hợp bảo đảm thực hiện được những quyền nầy.” (Thư chung, số 7). Như vậy, về vấn đề nầy, Thư chung vừa đề cao vấn đề giáo dục vừa để lộ cho thấy cần có những cơ chế có khả năng, những chủ trương đúng đắn…
Một xã hội công bằng, quả thật, đồng thời, vừa phải là nguồn cội, động cơ, vừa phải là cùng đích của mọi phát triển. Hay, nói theo ngôn ngữ của Đức Giáo Hoàng BÊNÊĐICTÔ XVI, “…để cái ‘CHÚNG TA’ trở nên cái ‘Chúng Ta’ của TÔI, và để tôi trở nên một người thật sự thuộc về cái ‘CHÚNG TA’ nầy.” (xem VietCatholicNews ngày 08/09/2007).
 
 

18. VAI TRÒ CỦA GIÁO XỨ

Có thể  nói rằng, đối với một người Kitô-hữu, một trong những yếu tố ngoại cảnh tác động sâu xa và lâu bền nhất lên con người và tư cách, đó chính là giáo xứ, nơi họ được sinh ra, được dưỡng và giáo dục, sống và sinh hoạt, v.v…, cùng với những thế hệ tiền nhân bao đời mà vốn cũng là những yếu tố trực tiếp tạo ra và nuôi dưỡng cả một truyền thống tinh thần cũng như vật chất của họ… (xem Thư chung cho năm 2007, số 9).
Để có thể dễ dàng hình dung phần nào cách có tính hệ thống vai trò của các Giáo xứ trong việc cổ vũ sống Đạo, có lẽ một trong những cách thế tốt nhất là tìm hiểu qua vai trò của linh mục quản xứ theo như Giáo luật vốn qui định :
1.      Nhiệm vụ giảng huấn : Rao giảng Lời Chúa (Gl 528 §1) ;
2.      Các cử hành phụng vụ, bí tích và á bí tích, đặc biệt Bí Tích Thánh Thể (Gl 528 §2) ;
3.      Nhiệm vụ chủ chăn : biết tường tận về các tín hữu đã được ủy thác (Gl 529 §1) ;
4.      Cổ vũ sự Hiệp nhất qua việc ý thức và sống tình trạng đồng trách nhiệm và đồng quyền lợi…(Gl 529 §2).
Hay nói theo ngôn ngữ của Thư chung của HĐGMVN cho năm 2007, số 9 :
1.      Giáo xứ và công tác giáo dục về hiện sinh Tin-Cậy-Mến ;
2.      Giáo xứ, môi trường thuận lợi để cổ vũ hiện sinh Tin-Cậy-Mến ;
3.      Quan tâm những lĩnh vực mục vụ mới, những đối tượng phục vụ mới : những người di dân…
I.       GIÁO XỨ VÀ CÔNG TÁC GIÁO DỤC
“Vai trò của giáo xứ trong việc giáo dục đức tin đã được chứng minh qua lịch sử Giáo hội Việt Nam. Vì thế, chúng tôi kêu gọi các giáo xứ hãy chăm lo tổ chức những sinh hoạt giáo dục theo từng lứa tuổi, nhằm giúp cho mọi thành phần dân Chúa, cách riêng là giới trẻ, phát huy được những giá trị Kitô giáo trong đời thường.” (Thư chung 2007, số 9).
Công việc giáo dục sống hiện sinh Tin-Cậy-Mến nầy, dĩ nhiên, không chỉ hệ tại việc hiện sinh đó được rao giảng không thôi mà còn hệ tại hiện sinh đó được cử hành và được sống như thế nào  nơi mỗi cá nhân, trong các gia đình và trong toàn giáo xứ (xem GL  528 và 529).
…Được rao giảng
“Cha sở có bổn phận dự liệu để Lời Chúa được rao truyền cách toàn vẹn cho mọi người đang cư ngụ trong giáo xứ ; vì thế, phải lo giảng dạy các giáo dân về các chân lý Đức Tin, nhất là nhờ việc giảng lễ trong các ngày Chúa Nhật và các ngày Lễ Buộc, và nhờ việc dạy đạo lý ; ủng hộ giúp đỡ những chương trình nhằm cổ động tinh thần Phúc Am kể cả trong lãnh vực công bình xã hội, […]” (Gl 528 §1).
…Được cử hành
“Cha sở cố gắng để Bí Tích Thánh Thể trở nên trung tâm của cộng đoàn giáo xứ ; làm sao cho mọi tính hữu được nuôi sống nhờ việc cử hành sốt sắng các bí tích, cách riêng là thường xuyên lãnh nhận Bí Tích Thánh Thể và Bí Tích Thống Hối ; ngoài ra, hãy cố gắng hướng dẫn các tín hữu biết cầu nguyện, kể cả việc cầu nguyện trong các gia đình, và biết tham dự cách có ý thức và tích cực vào việc phụng vụ, […].” (Gl 528 §2).
...Được sống
“Để siêng năng chu toàn chức vụ chủ chăn, Cha Sở hãy tìm cách hiểu biết mọi tín hữu đã ủy thác cho mình săn sóc ; vì thế, cần đi thăm viếng các gia đình, san sẻ những lo lắng, ưu tư nhất là tang tóc của các tín hữu, và để an ủi họ trong Chúa ; nếu họ có lỗi lầm gì, thì phải sửa bảo họ cách khôn khéo ; đối với những bệnh nhân nhất là những người gần chết, hãy dốc hết tình bác ái với họ, tăng cường sức lực cho họ bằng các Bí Tích và phó thác linh hồn họ cho Thiên Chúa ; hãy đặc biệt ân cần theo sát những người nghèo khổ, bệnh tật, những người cô đơn, những người bị lưu đầy và tất cả những người đang trải qua những sự khó khăn đặc biệt ; cũng phải để ý lo cho các đôi vợ chồng và những người làm cha mẹ được nâng đỡ trong sự chu tất mọi phận sự riêng của họ và cổ vũ tăng trưởng đời sống Kitô giáo trong gia đình.” (Gl 529 §1).
II.      GIÁO XỨ, MÔI TRƯỜNG THUẬN LỢI ĐỂ CỔ VŨ…
Cách vắn gọn, Thư Chung của HĐGMVN cho năm 2007 cho biết điều đó hệ tại ở chỗ :
-        Có sự điều hành của các vị chủ chăn ;
-        Với sự cộng tác của các thành phần trong gia đình Giáo xứ ;
-        Và với sự hỗ trợ của các hoạt động tông đồ cũng như các hình thức Công giáo tiến hành…(xem Thư Chung, số 9).
Thật vậy, Giáo xứ quả thực là một đại gia đình có cùng chung những trách nhiệm và những quyền lợi như nhau, trong đó vị linh mục Quản xứ đóng vai trò người cha điều hành các công việc trong gia đình mình sao cho được tiến hành cách tốt đẹp, hay nói theo ngôn ngữ bình dân để “khi nước lên thì thuyền cũng lên”… Tuy nhiên, điều nầy chỉ có thể thực hiện được khi có được sự cộng tác của các thành phần trong đại gia đình Giáo xứ, và được kèm theo bởi những hoạt động tông đồ…
III.    QUAN TÂM NHỮNG LÃNH VỰC MỤC VỤ MỚI: NHỮNG NGƯỜI DI DÂN
Quá trình đô thị hóa ngày nay ở một số thành thị ở Việt Nam cùng với tình trạng thất nghiệp của phần lớn giới trẻ tại các vùng nông thôn  đã tạo ra một hiện tượng mới : phong trào di dân từ nông thôn ra các thành phố lớn để tìm kiếm công ăn việc làm.
Bao nhiêu năm được đùm bọc chở che bởi gia đình và Giáo xứ, bây giờ bỗng nhiên bị bứng lên và được trồng trong một môi trường xa lạ, người trẻ cảm thầy bơ vơ, không nơi nương tựa, mất phương hướng… Trong trường hợp nầy, họ rất cần sự giúp đỡ tinh thần và đôi khi cả vật chất (thí dụ : nơi ăn chốn ở) của các Giáo xứ và của các cá nhân trong các địa bàn tại chỗ…Nếu không được tích cực giúp đỡ sớm, họ có nhiều nguy cơ cuốn theo môi trường và lối sống mà bạn bè mới của họ đang sống. Khi còn ở nhà, không tham dự Thánh Lễ ngày Chúa Nhật và các Ngày Lễ trọng, không thường xuyên lãnh nhận Bí tích Hòa giải, họ còn ngại, thậm chí cả sợ bị gia đình, bạn bè, Giáo xứ dòm ngó, phê bình chỉ trích…Còn bây giờ, trong môi trường mới, xa lạ, không ai biết ai, họ không có gì còn phải sợ, và nếu chẳng may gặp phải bạn bè xấu, họ có nhiều nguy cơ bị tha hóa, đánh mất căn tính Kitô-hữu của mình…
Hơn bao giờ hết, khi mà phong trào di dân ngày càng phổ biến, vai trò giúp đỡ mục vụ của các Giáo xứ tại các thành phố đối với các đối tượng nầy càng tỏ ra vô cùng cần thiết, nhất là khi chúng ta biết rằng một trong những nguyên nhân của tình trạng mất đức tin và bị tục hóa hiện nay ở Châu Âu chính là bắt nguồn từ hiện tượng đô thị hóa cách đây khoảng trên dưới 40 năm… Và tình trạng nầy hiện đang được lặp lại tại một số đô thị lớn ở Việt Nam hiện nay, như Sài gòn, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Dương, Hà Nội, Hải phòng, v.v…
 
 

19. VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH

Về vai trò của các gia đình trong nỗ lực động viên cổ vũ sống Đạo Tình Yêu, Thư Chung của HĐGMVN cho năm 2007 lưu ý những điểm sau đây :
1.      Gia đình Kitô, Mái trường dạy và học đầu tiên và quan trọng ;
2.      Gia đình Kitô, Tế bào căn bản của xã hội và Giáo Hội ;
3.      Gia đình Kitô, Chứng từ hùng hồn về Đạo Kitô ;
4.      Gia đình Kitô,Chứng nhân cho nền “Văn Minh Tình Yêu”…
I.       GIA ĐÌNH KITÔ, MÁI TRƯỜNG DẠY VÀ HỌC ĐẦU TIÊN VÀ QUAN TRỌNG
Ngay từ khi còn là phôi thai trong lòng mẹ cho đến khi trưởng thành vào đời, gia đình vẫn là môi trường đầu tiên mà con người vẫn hằng tiếp cận và sống với trong thời gian lâu nhất và có tính quyết định nhất. Mọi động thái trong lòng mẹ và trong gia đình đều cách nầy hay cách nọ có ảnh hưởng lên tính cách, tâm tình và nếp nghĩ của đứa trẻ mà vốn như tờ giấy trắng trên đó người ta có thể in và vẽ bất cứ hình ảnh nào, trên bình diện nhân bản cũng như tôn giáo…
Vì thế, có thể nói Gia đình là mái trường dạy và học đầu tiên và rất quan trọng trong nỗ lực định hình tính cách và căn tính của con người. Đầu tiên, bởi vì lòng mẹ và gia đình là môi trường đầu tiên mà con người sinh sống và phát triển. Quan trọng, bởi vì “dạy con phải dạy từ thưở còn thơ”, từ thưở măng mềm cón có thể uốn nắn được…
Nội dung dạy và học là mối tương quan giữa con người đối với Thiên Chúa, giữa con người đối với nhau, đối với thiên nhiên và đối với bản thân,v.v…Hay, nói theo ngôn ngữ triết học, đó là giáo dục tôn giáo và giáo dục nhân bản.
II.      GIA ĐÌNH KITÔ, TẾ BÀO CĂN BẢN CỦA XÃ HỘI VÀ GIÁO HỘI
Điều đó có nghĩa Gia đình là yếu tố nền tảng tạo thành xã hội và Giáo hội. Như vậy, sự phát triển của xã hội và Giáo hội tùy thuộc rất lớn vào sự phát triển của các gia đình. Gia đình hôm nay, xã hội và Giáo hội ngày mai.
Vì thế, Thư Chung số 10 khẳng định : “Để có được lối sống thắm đượm tinh thần Tin Mừng nói trên, chúng tôi xác tín rằng gia đình Kitô nắm giữ một vai trò không thể nào thay thế.” Bởi vì, người ta khó có thể xây dựng được một tòa nhà nếu như không có những viên gạch…Đứng trước nguy cơ cấu trúc gia đình-tế bào ngày càng bị xâm thực, phá hoại từ nhiều phía, Thư Chung số 10 đã lưu ý : “Với tư cách là tế bào căn bản của xã hội và Giáo hội, Gia đình hãy quan tâm xây dựng và duy trì những giá trị vô cùng cao quý của đời sống hôn nhân và gia đình Công giáo.”
Thật vậy, căn tính của gia đình nói chung và gia đình Kitô nói riêng là gì nếu không phải là sự hiệp nhất giữa các phần tử ở trong gia đình ? Và sự hiệp nhất nầy làm sao có được, nếu không có sự bình đẳng về quyền lợi và trách nhiệm giữa các phần tử ở trong gia đình ? Bởi vì, tự bản chất, đời sống hôn nhân gia đình không gì khác hơn là một Giao Ước, giao ước giữa con người với Thiên Chúa và giữa con người với nhau…
Trong chiều hướng đó, người ta có thể nói rằng sự vững bền của cấu trúc gia đình cũng chính là sự vững bền của xã hội và của Giáo Hội.
III.    GIA ĐÌNH KITÔ, CHỨNG TỪ VỀ ĐẠO KITÔ
Đạo vốn là con đường hay mối tương quan giữa con người và Thiên Chúa và giữa con người đối với nhau. Vì thế, Thư Chung số 10 khẳng định : “Khi trung thành cầu nguyện, thánh hoá ngày Chúa Nhật (tương quan với Thiên Chúa : chú thích của tác giả bài nầy), duy trì bầu khí trên thuận dưới hòa, nhường nhịn lẫn nhau giữa vợ chồng, cha mẹ, con cái (tương quan giữa con người với nhau : ctctg), gia đình anh chị em sẽ trở nên chứng từ hùng hồn cho Đạo Thánh Chúa.”
Đó chính là điều mà ngôn ngữ Đông phương gọi là Đạo “Tam Tài” (Thiên-Địa-Nhân hòa). Thật vậy, con người không chỉ là “tổng hợp của  những mối quan hệ xã hội” như Karl Marx nghĩ, mà là tổng hợp của mối quan hệ đa phương với Trời, với người và với đất…Giữa ba tương quan đó, có một mối quan hệ cấu thành và biện chứng với nhau. Để có thể có được một sự phát triển toàn diện và và nhân văn, không thể thiếu bất cứ yếu tố nào trong ba yếu tố đó.
 
“Một quan niệm thuần thần và đơn độc sẽ trở thành hoặc hời hợt rồi biến mất (thái độ vô thần) hoặc sẽ biến thành hư vô tuyệt đối, như kiểu nhằm phản ứng chống lại một Hiện Hữu tuyệt đối biến toàn thể tạo thành thành ảo ảnh thuần túy người ta báo thù lại bằng một thứ chủ trương Hư vô tuyệt đối (le nihilisme absolu).
Một quan niệm chỉ có con người tự đủ cho mình và là ông vua không đối thủ đối với tạo thành không chỉ dẫn đến chỗ phá hủy thụ tạo mà còn đến chỗ con người tự hủy chính bản thân mình […].Đó chính là cuộc chiến tranh mọi người chống lại mọi người, vì chưng nếu Con Người là tuyệt đối, một cá thể là tuyệt đối trong chừng mực mà nó là một tha thể : đó là một thứ chủ nghĩa nhân bản qui nhân (l’humanisme anthropocentrique).
Một quan niệm chỉ có vũ trụ vật chất trong đó con người không gì hơn ngoài là một trong những tạo thành, một sản phẩm của qúa trình tiến hóa của nó, ngoài ra chẳng có một nguyên lý nào ở trên đó nữa cả, sẽ dẫn đến một thế giới được thần hóa vốn điều hành tất cả dựa trên những qui luật mà nó tự tạo ra cho mình : đó sẽ là một thứ chủ nghĩa duy vật thiên thần (le matérialisme angélique)” (xem Raimon Panikkar, La Trinité, une Expérience humaine primordiale, Ed. du Cerf, Paris 2003, pp. 109-110).
 
IV.    GIA ĐÌNH KITÔ, CHỨNG NHÂN CHO NỀN VĂN MINH TÌNH YÊU
Để là Chứng nhân cho nền Văn Minh Tình Yêu, Thư Chung cho năm 2007 nhấn mạnh trên  sự Chung Thủy trong đời sống hôn nhân và sự Tôn trọng mạng sống của con người ngay từ khi còn trong lòng mẹ.
Thật vậy, sự Chung thủy trong đời sống hôn nhân là biểu tượng của một thứ Tình Yêu đích thực tức là vị tha. Tình yêu hôn nhân không phải chỉ là vấn đề của hai cá nhân đối với nhau mà còn có tương quan đa phương và đa chiều với Thiên Chúa, với Giáo hội, với con cái, với gia đình, giòng họ, và thậm chí cả với những thế hệ tương lai,v.v…
Tình Yêu vị tha, đã hẳn, bao hàm việc tôn trọng mạng sống tha nhân, kể cả các thai nhi còn trong lòng mẹ…
Như vậy, giữa một thế giới chỉ biết chạy theo quyền lực và danh vọng, chi biết hưởng thụ cho riêng mình, lối sống “trên thuận, dưới hòa, nhường nhịn lẫn nhau” trong gia đình, lối sống vợ chồng thủy chung, tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng mạng sống của mình và của tha nhân, đặc biệt mạng sống các thai nhi (xem TC số 10) chính là chứng từ của lối sống Kitô đích thực, và là biểu hiện của nền “Văn Minh Tình Yêu”…

 
 

20. VAI TRÒ CỦA LINH MỤC VÀ TU SĨ TRONG VIỆC CỔ VŨ VIỆC SỐNG ĐẠO

Theo tinh thần Thư Chung của HĐGMVN cho năm 2007, trong việc sống đạo và trong việc cổ vũ cho việc nầy, vai trò của các Linh Mục và Tu Sĩ thể hiện nơi những khâu sau đây (số 8):
1.      Trong việc tích cực “triển khai” Thư Mục vụ nầy;
2.      Qua gương sáng và lời cầu nguyện;
3.      Để vừa xoa dịu nỗi đau của con người, vừa làm cho Đức Giêsu Kitô thực sự hiện diện trong xã hội loài người chúng ta…
I.       VIỆC TRIỂN KHAI THƯ MỤC VỤ CỦA HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM
Dĩ nhiên, đây là một công việc cần thiết, vì làm sao người ta có thể thực hiện và sống nghiêm chỉnh điều mà người ta chẳng biết tí gì; và trong hoàn cảnh hiện tại của Giáo Hội tại Việt Nam, chẳng ai có thể làm công việc nầy tốt hơn các linh mục và tu sĩ, những người vốn được đào tạo nhiều hơn và kỹ lưỡng hơn…
Vì thế, nếu như các linh mục và tu sĩ không tích cực triển khai, giải thích nội dung và ý nghĩa của Thư Mục vụ nầy cho mọi thành phần Dân Chúa thì Thư Mục vụ nầy chẳng có ảnh hưởng và giá trị gì trên Dân Chúa cả. Và như vậy, lời mời gọi của Hội Đồng Giám Mục VN sẽ chỉ còn là “tiếng kêu trong hoang mạc”!
Sẽ tốt hơn và có hiệu qủa hơn nếu hình thức triển khai được phong phú hóa dưới nhiều dạng thức vừa bác học (nghiên cứu, đào sâu nền tảng thần học và mục vụ của Thư Chung) vừa bình dân (qua nhiều thể loại như: thơ, vè, nhạc, đố vui để học, bốc thăm, v.v…)…

II.      QUA GƯƠNG SÁNG VÀ LỜI CẦU NGUYỆN
Con người ngày nay, như  Đức Giáo Hoàng PHAOLÔ VI đã từng phát biểu, vốn ưa thích những chứng nhân hơn là những thầy dạy: chứng nhân về Đức Tin, Đức Cậy và Đức Mến.
Thật vậy, khi sống triệt để ba lời khấn Khó nghèo, Vâng phục và Độc thân-Khiết tịnh, các linh mục và tu sĩ trở thành chứng nhân tuyệt vời về Đức Tin, Đức Cậy và Đức Mến…
Về Đức Tin, vì rằng khi sống triệt để ba Lời khấn đó họ chứng tỏ rằng họ “kính mến Chúa hết lòng hết dạ, hết sức” (Đnl 6, 5; Mc 12, 29-30 ss) và tin Ngài tuyệt đối…
Về Đức Cậy, vì rằng đối với họ Thiên Chúa là tất cả, và họ sống là sống bởi Ngài, cho Ngài và vì Ngài…
Về Đức Mến, vì rằng để bày tỏ tình yêu của họ đối với Thiên Chúa, họ có thể đánh đổi và hy sinh cả cuộc đời và mạng sống của họ vì Ngài và vì các thụ tạo cũng là các “bạn hữu” của Ngài (xem Thông điệp “Thiên Chúa là Tình Yêu” của ĐGH. Bênêđictô XVI, các số 15-18)…
Tuy nhiên, cần hiểu rằng vấn đề cải tạo và xây dựng thế giới mà cụ thể là những con người, trước hết và trên hết là công trình của Thiên Chúa-Tình Yêu. Công việc của con người chỉ là gieo những hạt giống, còn mọi sự khác là việc của Thiên Chúa (x. Mc 4, 26-29)… Bởi thế, ngoài những nỗ lực và cố gắng của con người, cần phải cầu nguyện.
Cầu nguyện, trên hết và trước hết, là làm sao cho Thánh Ý của Thiên Chúa trở thành ý muốn và ước vọng của tôi, hay nói theo ngôn ngữ của ĐGH. Bênêđictô XVI, “để cái ‘CHÚNG TA’ trở nên cái Chúng Ta ‘CỦA TÔI’.” (xem “Trả lời cho các Chủng sinh ở Roma”, VietCatholicNews 08/9/2007).
Vì rằng lời cầu nguyện đích thực không phải là muốn Thánh Ý Thiên Chúa chiều theo ý muốn của tôi mà ngược lại là làm sao để ý muốn của tôi khuôn rập theo Thánh Ý của Thiên Chúa…
III.    SỰ HIỆN DIỆN THỰC SỰ CỦA ĐỨC GIÊSU KITÔ GIỮA LÒNG THẾ GIỚI
ĐGH. Bênêđictô XVI có lần đã phát biểu: “Giáo Hội không phải tự mình là mục đích cho mình, nhưng Giáo Hội hiện diện ở đấy là để Thiên Chúa được người ta nhìn thấy” (xem Cardinal Josef RATZINGER, Entretiens avec Peter SEEWALD, Le Sel de la Terre, éd. Flammarion/Cerf, 1997 et 2005, trg. 65, xem thêm trang 6).
Để có thể thông qua Giáo Hội người ta nhận ra được Thiên Chúa, điều nầy đòi hỏi Giáo Hội và mỗi thành viên của Giáo Hội phải trở thành “những hữu thể yêu thương” hay nói cách khác là “trở nên Hình Ảnh của Thiên Chúa” (xem Cardinal Josef RATZINGER, id., trg. 274). Hay nói cách khác là trở nên giống như Đức Giêsu Kitô, bởi vì Đức Giêsu Kitô chính là  “Hình Ảnh hữu hình của Thiên Chúa vô hình” (Cl 1, 15; 2 Cr 3, 18; 4, 4): đặc biệt, trong nỗ lực rao báo Tin Mừng Tình Yêu và chữa lành các bệnh tật thể xác cũng như tinh thần…(Mc 3, 13-15; Thư chung của HĐGMVN cho năm 2007, số 8).

 
 

21. GIÁO DỤC KITÔ : KẾ ĐỒ CỦA THIÊN CHÚA-BA NGÔI

Thư Chung của HĐGMVN năm 2007-2008, số 3 nhận định : “…Sứ mạng đó (Giáo dục Kitô, ctctg) được khơi nguồn từ Chúa Cha, được thực hiện nơi Chúa Con và được kiện toàn nhờ Chúa Thánh Thần.” Và số 4 tiếp tục khẳng định : “Công trình Giáo dục Kitô giáo, trước khi là công khó của con người, đã là kế hoạch của Thiên Chúa”. Đặt vấn đề như thế, có vẻ như Thư Chung 2007-2008 muốn chúng ta nhìn Vấn đề Giáo dục Kitô qua hai lăng kính chủ đạo :
1) Qua lăng kính thần học;
2) Qua lăng kính mục vụ…
I.       QUA LĂNG KÍNH THẦN HỌC :
Trước tiên, cần lưu ý rằng theo Hiến chế tín lý “DEI VERBUM” (Lời của Thiên Chúa), số 1, hành vi mặc khải, tự nó đã là hành vi siêu độ, vì hành vi mặc khải vốn qui hướng về sự sống vĩnh hằng. Và, chúng ta cũng có thể nói thêm rằng công trình sáng tạo tự nó là công trình mặc khải và vì thế đồng thời cũng là công trình siêu độ. Hay nói cách khác, cả ba công trình đó vốn là một, như Thiên Chúa Ba Ngôi là một. Và như vậy, mỗi một công trình đó đều là công trình của cả Ba Ngôi…
Vì thế, xét về mặt thần học mà nói, những lối nói kiểu “phân công phân nhiệm rạch ròi” như “được khơi nguồn từ Chúa Cha”, “được thực hiện nơi Chúa Con” và “được kiện toàn nhờ Chúa Thánh Thần” của số 3 Thư Chung 2007-2008 không được chỉnh cho lắm, thậm chí kể cả những kiểu phân công phân nhiệm nơi các số 4, 5 và 6 của Thư Chung, vốn chịu ảnh hưởng của Karl Barth, một nhà thần học Tin Lành, mà bề ngoài có vẻ như phản ảnh lối nhìn của các Bản Tuyên Tín xưa, nhưng trên thực tế không hẳn là như vậy, bởi vì chẳng có công trình nào trong ba công trình lớn đó là của riêng một Ngôi nào cả mà tất cả đều là của cả Ba Ngôi, vì rằng trong Cha luôn luôn có Con và Thánh Thần và trong Con luôn luôn có Cha và Thánh Thần và trong Thánh Thần luôn luôn có Cha và Con hay, nói theo ngôn ngữ các Giáo phu, Ba Ngôi tương tại trong nhau (circumincessio) và tương ngụ trong nhau (inhabitation)…
1.      Ở nơi Công trình Tạo dựng
Điều con người “là gì ?” và “là Ai ?” vốn đã được bày tỏ nơi công trình Tạo dựng : Con người được tạo dựng nên “theo Hình Anh Thiên Chúa, như Họa Anh của Thiên Chúa” (St 1, 26-27; Hc 17, 3.7). Thế mà, Hình Anh của Thiên Chúa không Ai khác hơn là chính Con, Ngôi Lời Thiên Chúa, Đức Giêsu Kitô, phản ảnh Tình Yêu của Thiên Chúa-Cha là Thánh Thần Tình Yêu (1 Cr 11, 7; 2 Cr 4, 4; Cl 1, 15;v.v.). Trong ngôn ngữ Tân Ứơc, điều đó có nghĩa là con người vốn được tạo dựng nên “trong”, “bởi” và “nhờ” Con… Con người, như vậy, chỉ tồn tại, chỉ là mình khi con người sống “trong”, “bởi” và “nhờ” Con hay, nói cách khác, sống trong “Tình yêu là Thánh Thần Thiên Chúa”…
2.      Ở nơi Công trình Mặc khải và Siêu độ
Nếu như sự Siêu độ hay Cứu độ bao gồm hai yếu tố: tích cực, tức là có sự sống vĩnh hằng và tiêu cực, tức là được tha thứ và xóa sạch tội, như vốn được mặc khải cách trọn vẹn nơi con người và cuộc đời trần thế của Đức Giêsu-Kitô, thì để có thể đạt được những điều đó con người chỉ có một cách thế duy nhất là phải “ở trong Đức Giêsu Kitô” hay nói cách khác là “Đức Giêsu Kitô ở trong con người đó”… Điều đó, thực ra, đơn giản chỉ có nghĩa là con người phải sống và phải yêu như Đức Giêsu Kitô đã sống và đã yêu : “Hãy học nơi Ta…” vì Ta “là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống” (Ga 6, 14). Nói cách khác, hãy “yêu” như Thiên Chúa “yêu” : đó cũng chính là sự hoàn thiện như Thiên Chúa vốn là Đấng hoàn thiện (Mt 5, 48), tức là sống và yêu như Ba Ngôi Thiên Chúa “yêu nhau” đến độ luôn “tồn tại trong nhau” và “cư ngụ trong nhau”…Được siêu độ, như vậy, trước tiên có nghĩa là có được sự sống vĩnh hằng, sự sống yêu thương nhau như Ba Ngôi Thiên Chúa…
3.      Ở nơi Công trình  Tác thánh
Con người được tạo dựng nên “theo Hình Anh Thiên Chúa”, hay nói cách khác là để trở thành con của Thiên Chúa trong Con của Ngài là Đức Giêsu Kitô…Điều đó, trước tiên, có nghĩa con người không chỉ là thụ tạo như bất kỳ thụ tạo nào khác mà ngay từ ban đầu đã mang trong mình “ơn gọi” trở thành “nghĩa tử” của Thiên Chúa trong Con-Đức Giêsu Kitô (Mt 5, 9; Lc 20, 36; Rm 9, 26). Con người chỉ là “con Thiên Chúa” trong tư cách “nghĩa tử” khi con người “ở trong” Con Thiên Chúa là Đức Giêsu-Kitô (Gl 3, 26). Thế mà, chỉ khi người ta thực sự yêu nhau người ta mới “ở trong nhau” và “hiện hữu đối với nhau”. Vì thế, “chính Thần Khí làm cho anh em nên nghĩa tử, khiến chúng ta được kêu lên : Abba, Cha ơi” (Rm 8, 14-17). Hay nói cách khác, chính khi người ta sống trọn vẹn tình phụ-tử trong quan hệ với Thiên Chúa-Cha qua Con và trong Thần Khí Tình Yêu, đồng thời sống tốt quan hệ anh em với mọi người, đấy chính là lúc người ta được Thiên Chúa sinh ra như là con hay nói cách khác là được thánh hóa  trong Con và bởi Thần Khí Tình Yêu…
II.      QUA LĂNG KÍNH MỤC VỤ :
Nơi số 4, dù không được rõ ràng lắm, nhưng có vẻ như Thư Chung 2007-2008 muốn lưu ý chúng ta rằng qúa trình tiến hóa và phát triển của nhân loại hiểu theo nghĩa tập thể cũng giống như quá trình phát triển của mỗi một cá thể con người, nghĩa là cũng phải kinh qua nhiều thời kỳ lịch sử theo kiểu “càng thêm tuổi càng thêm về khôn ngoan, vóc dạng và ân sủng trước mặt Thiên Chúa và trước mặt người ta” (Lc 2, 52). Và có vẻ như, nhằm đáp ứng cho từng thời kỳ phát triển nầy, Thiên Chúa “áp dụng” những phương pháp sư phạm riêng thích hợp với khả năng đón nhận (Dt 1, 1-4) và vì lợi ích (Lv 26, 14-46; Đnl 28, 15-45; Tv 98, 8; Tv 144, 13b)  của con người (TC 07-08, số 4).
Như vậy, có thể nói rằng cả ba Công trình Sáng tạo, Mặc khải và Siêu độ đều “vì loài người chúng ta” và “để siêu độ chúng ta” (xem các Tuyên Tín cổ của Giáo hội).
1.      Vì loài người chúng ta
Điều đó, nói theo ngôn ngữ của Teilhard de Chardin, có nghĩa con người, theo nghĩa cá nhân cũng như tập thể, vừa là đỉnh điểm vừa là mục đích của qúa trình tiến hóa của vũ trụ (St 1, 26-27; Tv 8, 5-7; Mc 2, 27), tức là làm sao để “Thiên Chúa là tất cả nơi tất cả mọi người” (1 Cr 15, 28).
2.      Để siêu độ chúng ta
Theo Hiến chế tín lý “DEI VERBUM” (Lời Thiên Chúa), Thiên Chúa sáng tạo nên con người đồng thời tự mặc khải mình ra cho con người chỉ với mục đích duy nhất là để con người được chia sẽ sự sống vĩnh hằng của Ngài (DV , số 1). Cả ba Công trình vĩ đại đó đều “diễn ra” ở nơi “ranh giới” của thời gian và vĩnh hằng. Thế mà, “Sự sống vĩnh hằng tức là : chứng nhận biết Cha, Thiên Chúa độc nhất và chân thật, và Đấng Cha đã sai, Giêsu-Kitô” (Ga 17, 3), hay nói cách khác, tức là khi “Thiên Chúa là tất cả…” (1 Cr 15, 28), đến độ con người sẵn sàng hy sinh tất cả, kể cả mạng sống mình vì Ngài (Ga 12, 25).
Tóm lại, Giáo dục Kitô chính là kế hoạch siêu độ con người của Thiên Chúa Ba Ngôi. Trách nhiệm của Giáo hội và của giáo dục Kitô chính là làm cho mọi người biết, hiểu và sống Tin Mừng siêu độ đó, bởi vì con người chỉ là người đích thực khi con người sống tư cách thụ tạo và là con Thiên Chúa đó của mình…
 
 

22. MỤC ĐÍCH CỦA GIÁO DỤC KITÔ

Chủ đề Thư Chung của HĐGMVN năm 2007-2008 là : “Giáo dục hôm nay, xã hội và Giáo hội ngày mai” (riêng cho năm 2008 : Chấn chỉnh môi trường giáo dục gia đình công giáo). Chúng ta sẽ bắt đầu với : MỤC ĐÍCH CỦA GIÁO DỤC KITÔ (Thư chung HĐGMVN 2007-2008 [TC] số 3).
Thư Chung 07-08 số 3 viết : “Mục đích của nền Giáo dục Kitô giáo không chỉ là rèn luyện nhân cách con người thành hữu ích đối với bản thân, gia đình và xã hội, mà còn là giúp con người sống xứng đáng với tư cách con Thiên Chúa để mai sau trở thành công dân Nước Trời”. Điều nầy có nghĩa mục đích của nền Giáo dục Kitô là đào tạo và rèn luyện con người sống mối quan hệ đa phương vốn cấu tạo nên căn tính của con người, là :
1) Tương quan giữa con người với con người : bản thân, tha nhân (Nhân) ;
2) Tương quan giữa con người với thiên nhiên : môi trường sống vật chất (Địa) ;
3) Tương quan giữa con người với Thiên Chúa : thụ tạo và con Thiên Chúa (Thiên).
I.       TƯƠNG QUAN GIỮA CON NGƯỜI VỚI CON NGƯỜI :
Thư Chung 07-08 phân biệt : tương quan giữa con người đối với bản thân mình, đối với gia đình và đối với xã hội.
1.      Tương quan đối với bản thân mình
Trước tiên là giúp cho mọi người hiểu được phẩm giá đích thực của mình : Con người vốn là “Hình Ảnh của Thiên Chúa” và “giống như Thiên Chúa” (St 1,26-27)  nên còn được kêu gọi để “trở nên hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5,48). Hay nói theo ngôn ngữ của Blaise Pascal: “Con người không phải là thiên thần cũng không phải là loài thú vật” (L’homme: ni ange ni bête) mà là một “tổng hợp thiên-địa-nhân” (“cosmothéandrique”: sáng tạo của nhà thần học Dòng tên gốc An, xem Raimon Panikkar, La Trinité : Une expérience humaine primordiale, Ed. Du Cerf, Paris 2003, pp. 9-10). Vì thế, con người chỉ là mình không phải khi khép kín trong chính bản thân mình, mà là khi khai mở ra với tha thể và tha nhân (xem Mc 8, 35; Mt 16, 25; Lc 9, 23tt; Ga 12, 25). Đó chính là “nghịch lý mất-còn” của Tin Mừng.
2.      Tương quan đối với tha nhân (gia đình, xã hội, v.v…)
Như vậy, có thể nói rằng tha tính (altérité) chính là một trong những “điều kiện không thể thiếu” để cho con người là mình. Hay, theo ngôn ngữ hữu thể học, còn có thể nói rằng đó là yếu tố cấu thành căn tính của con người…
Sở dĩ thế, vì rằng tất cả mọi người đều là thụ tạo được Thiên Chúa tạo dựng nên và hiện hữu trong Ngài và được Ngài cho làm con của Ngài. Vì thế, con người cần yêu thương nhau, tôn trọng lẫn nhau, liên đới với nhau về mặt trách nhiệm cũng như quyền lợi trong tương quan với quá trình phát triển của thế giới nầy, tinh thần cũng như vật chất…
II.      TƯƠNG QUAN GIỮA CON NGƯỜI VỚI THIÊN NHIÊN :
Như trên đây đã lưu ý, con người vốn là một tổng hợp “Thiên-Địa-Nhân”, vì thế, đã hẳn, con người có những mối tương quan đặc thù với thiên nhiên vũ trụ, có những tác động qua lại đối với nhau (xem St 3, 1-24)… Đó chính là nội dung nghiên cứu của bộ môn Môi trường học (bao gồm các bộ môn Sinh vật quần thể, khoa Khí hậu sinh học, khoa Địa lý sinh vật, khoa Môi sinh học, Sinh quyển học, khoa Sinh cảnh, Hệ sinh thái, Tập tính học, v.v…).
Vũ trụ nầy, trái đất nầy là quà tặng của Thiên Chúa ban cho tất cả mọi người (St 1, 26-30). Vì thế, đối với vũ trụ, trái đất nầy, tất cả mọi người không phân biệt đều bình đẳng về mặt quyền lợi cũng như trách nhiệm.
Bình đẳng về mặt quyền lợi, điều nầy có nghĩa vũ trụ, trái đất nầy là qùa tặng Thiên Chúa ban cho tất cả mọi người, nên tất cả mọi người, về mặt nguyên tắc, cách nào đó, đều có quyền được hưởng tất cả những gì do chúng sản sinh ra; hay, nói theo ngôn ngữ tiêu cực, không một cá nhân, quốc gia, tập thể… nào được độc quyền sử dụng cho riêng mình món quà Thiên Chúa tặng chung cho tất cả loài người nầy cả…
Bình đẳng về mặt trách nhiệm, điều nầy có nghĩa, vì thế, tất cả mọi người trên trái đất nầy, đều có trách nhiệm xây dựng và bảo vệ trái đất nầy, vũ trụ nầy theo như thánh ý Thiên Chúa vốn được bày tỏ ngay từ thưở ban đầu (xem St 1, 26-30).
III.    TƯƠNG QUAN GIỮA CON NGƯỜI VỚI THIÊN CHÚA :
Trong tương quan với Thiên Chúa, con người vừa là thụ tạo vừa là con của Ngài.
1.      Tư cách “ thụ tạo”
Con người có tồn tại và hiện hữu là do Thiên Chúa và nhờ ở trong Thiên Chúa : đó chính là yếu tố “Thiên” trong Đạo “Tam Tài = Thiên-Địa-Nhân hòa”. Vì thế, con người chỉ là người đích thực và trọn vẹn khi con người xác tín và sống tư cách mình là thụ tạo của Thiên Chúa, tức là hữu thể do Ngài tạo dựng nên. Mọi thái độ tự mãn, tự đủ và tự phụ đều là giả tạo, thiếu căn cơ và có nhiều nguy cơ dẫn con người đến chỗ tự hủy chính bản thân mình và tha nhân…, thậm chí phi nhân…
2.      Tư cách “con Thiên Chúa”
Thiên Chúa yêu thương con người đến độ không chỉ tạo dựng nên con người như là “thụ tạo”, mà còn cho con người được “giống như Ngài”, được “là Hình Anh của Ngài”, được “tham dự Sự Sống vĩnh hằng” của Ngài, và được là “con của Ngài trong Đức Giêsu-Kitô-Con”… (xem St 1, 26-27; Mt 5, 9; Lc 20, 36).
Tóm lại, một nền giáo dục đích thực Kitô và toàn vẹn phải là nền giáo dục giúp con người ý thức, xác tín và sống những tương quan “Thiên-Địa-Nhân hòa” đó… (có thể xem thêm Trang thần học, LLGPPT số 43).
 
 

23. GIÁO HỘI VÀ SỨ MẠNG GIÁO DỤC KITÔ

Về Sứ mạng Giáo dục của Giáo hội, với số 7, Thư Chung của HĐGMVN 2007-2008, muốn khẳng định những nội dung nầy :
1) Là Sứ mạng do chính Đức Kitô trao ban ;
2) Là Sứ mạng gắn liền với sự Hiện diện của Giáo hội ;
3) Là Sứ mạng gắn liền với chức năng là Mẹ của Giáo hội…
I.       GIÁO DỤC, SỨ MẠNG DO CHÍNH ĐỨC KITÔ TRAO BAN
“Trước khi về trời, Chúa Giêsu đã trao cho Giáo hội sứ mạng lên đường dạy dỗ muôn dân” (Thư Chung 07-08, số 7). Dù không ghi rõ trích dẫn, nhưng chắc chắn bản văn nầy qui chiếu về Mt 28, 18-20 : “[…]. ‘Mọi quyền năng trên trời dưới đất được ban cho Ta. Vậy, các ngươi hãy đi thâu nạp môn đồ khắp muôn dân, thánh tẩy chúng nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, dạy chúng giữ hết mọi điều Ta đã truyền cho các người. Và nầy Ta sẽ ở với các ngươi mọi ngày cho đến tận thế’.”
Chính sứ mạng nầy là nguồn gốc Kitô của nền Giáo dục Kitô. Và từ đó chúng ta hiểu được tại sao Giáo dục Kitô là kế đồ của Thiên Chúa-Ba Ngôi (xem Trang Thần học, LLGPPT số 45). Bởi thế, Giáo hội chỉ là Giáo hội Kitô hay thừa sai (missionnaire) khi Giáo hội hoàn thành Sứ mạng “dạy dỗ muôn dân” nầy. Vì thế, người ta chỉ là Kitô-hữu đích thực khi người ta “sống” sứ mạng nầy. Hay, nói theo ngôn ngữ của Thư Chung, Giáo dục là Sứ mạng gắn liền với sự Hiện diện của Giáo hội…
II.      GIÁO DỤC, SỨ MẠNG GẮN LIỀN VỚI SỰ HIỆN DIỆN CỦA GIÁO HỘI
Điều nầy có nghĩa Giáo hội sẽ hoàn thành sứ mạng giáo dục hay “dạy dỗ muôn dân” của mình qua nỗ lực kép: qua chứng tá của cuộc sống hằng ngày và qua lời rao giảng không ngừng của Giáo hội trên đường lữ hành dưới thế.
1.      Qua chứng tá của cuộc sống hằng ngày
Đức Giáo hoàng Phaolô VI có lần đã phát biểu : Con người ngày nay ưa thích những chứng nhân hơn là các thầy dạy. Bởi thế, Giáo hội chỉ hoàn tất được sứ mạng dạy dỗ muôn dân nầy khi chính Giáo hội đã sống những điều mà Giáo hội muốn dạy, cụ thể :  tư cách là thụ tạo của Thiên Chúa, tư cách là con Thiên Chúa và anh em của mọi người… Hay, nói theo ngôn ngữ truyền thống của Giáo hội, đó là lúc người ta “sống” Đức Tin, Đức Cậy và Đức Mến trong mối quan hệ hằng ngày của mình với Thiên Chúa như là Đấng tạo dựng và là Cha của muôn loài muôn vật, kể cả của chính bản thân mỗi người và với tha nhân như anh chị em của mình.
Thật vậy, khi để bày tỏ Tình yêu của mình đối với Thiên Chúa, người ta bày tỏ một Niềm Tin và Phó thác vô điều kiện và tuyệt đối ở nơi Thiên Chúa, Đấng mà người ta tin là Đấng tạo dựng nên con người và yêu thường con người cách vô cùng vô tận…Và, bởi vì, “kẻ không yêu mến người anh em nó thấy đó, tất không thể yêu mến Thiên Chúa, Đấng nó không thấy. […]. Ai yêu mến Thiên Chúa thì hãy yêu mến anh em mình !” (1 Ga 4, 20-21), nên Tình yêu đối với Thiên Chúa luôn đồng hành với Tình yêu đối với con người…
Tất cả điều đó có nghĩa tất cả hiện sinh của Giáo hội của Đức Kitô, tất cả hiện sinh Kitô đều phải là hiện sinh thừa sai, chứng tá và dạy dỗ…
2.      Qua những lời rao giảng
Nỗ lực rao giảng Lời Chúa luôn luôn là một trong những trọng tâm của mọi cử hành phụng vụ và của hiện sinh của Giáo hội Kitô. Thật vậy, nỗ lực rao giảng Lời luôn bao hàm những động thái nầy : Lời Thiên Chúa được tuyên xưng, được cử hành và được sống… Khi thực thi nỗ lực rao giảng như vậy chính là lúc Giáo hội và mỗi Kitô-hữu đang thực thi nỗ lực giáo dục và giáo hóa của mình (xem 2 Tm 4, 2 : “Hãy rao giảng Lời, hãy ứng phó lúc thuận lúc nghịch, hãy biện bác, hãy khiển trách, hãy khuyên lơn, hết tình đại lượng và dụng tâm dạy dỗ.”).
Tuy nhiên, tất cả những nỗ lực đó chỉ diễn ra được và mang lại hiệu qủa tốt khi chúng được thực hiện trong Tình yêu, nhất là tình yêu của một người mẹ luôn thương yêu con mình dù chúng có thế nào chăng nữa…
III.    GIÁO DỤC, GẮN LIỀN VỚI CHỨC NĂNG LÀ MẸ CỦA GIÁO HỘI
Số 7 của Thư Chung 07-08 viết :
 “Giáo Hội chính là người Mẹ ‘săn sóc toàn diện đời sống con người, kể cả đời sống trần thế, trong mức độ liên hệ với lời mời gọi của Thiên Chúa. Vì thế, Giáo hội thông phần vào việc mở mang và phát huy nền giáo dục’ (Tuyên ngôn Giáo dục, Lời mở đầu)”.
Vai trò của “người mẹ” ở đây ít  được nhấn mạnh trên vai trò “sinh ra con” mà chủ yếu trên vai trò “săn sóc toàn diện đời sống con người”. Ghi nhận “trong mức độ liên hệ với lời mời gọi của Thiên Chúa” có vẻ như qui về tư cách là thụ tạo và là con của Thiên Chúa của con người hay, nói cách khác qui về Sự Sống vĩnh hằng mà Thiên Chúa vốn muốn chia sẽ cho con người ngay khi tạo dựng nên con người từ thửơ nguyên sơ (St 1, 26-27).
Như một người mẹ trần gian, Giáo hội chăm lo cho con mình ngay từ khi còn là phôi thai trong bụng mẹ, từ tuổi ấu thơ cho đến tuổi trưởng thành và có thể nói tình mẹ đó vẫn đi theo con cho đến ngày xuôi tay nhắm mắt… Và, điều mà tất cả mọi bà mẹ đều mong là con “được nên người”, con thành nhân… Qua lăng kính ngôn ngữ Thánh kinh, nên người hay thành nhân chính là trở nên Hình Anh của Thiên Chúa, giống như Thiên Chúa (St 1, 26-27), hay nói cách khác là được Kitô-hóa trong Đức Kitô…
Tuy nhiên, ngày nay, trong những xã hội mà ở đấy ngự trị những khuynh hướng tục hóa, những khuynh hướng vô thần Cộng sản cũng như vô thần Tư bản, nỗ lực Giáo dục Kitô nầy ngày càng trở thành khó khăn, phức tạp…, nhất là nơi những quốc gia mà ở đấy giáo dục thuộc độc quyền của Nhà Nước.
Trong những điều kiện khó khăn, phức tạp do khuynh hướng tục hoá và vô thần, kèm theo chủ trương độc quyền của Nhà Nước về Giáo dục như thế, Giáo Hội vẫn phải nỗ lực hết sức mình để hoàn thành sứ mạng giáo dục Kitô được giao của mình và làm sao “tạo điều kiện để mọi người đều được hưởng một nền giáo dục Kitô giáo (x.TN/GD 2)” (Thư Chung 07-08, số 7). Điều nầy dĩ nhiên chỉ có thể thực hiện được với sự hợp tác của tất cả mọi thành phần Dân Chúa…


 
 

24. NHỮNG DẤU HIỆU LẠC QUAN

Về vấn đề giáo dục, Thư Chung 07-08 của HĐGMVN ghi nhận có những dấu hiệu lạc quan tại Việt Nam hiện nay dựa trên 4 yếu tố :
1) Về phía xã hội ;
2) Về phía phụ huynh;
3) Về phía người Công giáo;
4) Về phía những tiến bộ khoa học kỹ thuật và tin học…
I.       VỀ PHÍA XÃ HỘI
Thư Chung 07-08 ghi nhận cách khái quát và sơ sài : “Hiện đang có nhiều nỗ lực lành mạnh hóa môi trường giáo dục, bài trừ bệnh thành tích và tiêu cực trong học hành thi cử” (TC số 8).
Điều quan trọng nhất đáng ghi nhận có lẽ là nhà trường hiện nay đã dám thừa nhận qui trình giáo dục, đào tạo : “Tiên học lễ, hậu học văn”. Khi thừa nhận “tiên học lễ” có nghĩa là việc giáo dục, đào tạo luân lý, đạo đức là bước khởi đầu của mọi sự, bởi vì “lễ” có nghĩa là những qui định vè nội dung và cách thế ứng xử của những mối tương quan giữa con người với nhau, với thiên nhiên và với thần thánh (Thiên-Địa-Nhân hòa)… Đây là một sự thay đổi có tính nền tảng, có tính định hướng liên hệ đến cả nội dung cả phương pháp giáo dục và đào tạo đáng ghi nhận, mặc dù nó đã tồn tại đã mấy ngàn năm trong truyền thống văn hóa dân tộc vốn bị lãng quên cách hết sức đáng tiếc. Sự thay đổi não trạng đó từng bước sẽ giúp người ta có khả năng coi trọng nội dung hơn hình thức, mục đích hơn phương tiện, chất lượng hơn số lượng, thành tích thực hơn thành tích “ảo”…
II.      VỀ PHÍA PHỤ HUYNH
Ở Việt Nam, đã có một thời, vì cuộc sống qúa gian nan, vì tầm nhìn hẹp hòi, phe nhóm, cục bộ, quả thật hết sức đáng tiếc, đã có những lúc việc học hành bị coi như không cần thiết, chẳng ích lợi gì, cho dù truyền thống hằng ngàn năm của dân tộc Việt Nam vẫn là hiếu học (xem trật tự xã hội ngày xưa : “sĩ, nông, công, thương” ; hay “nhất sĩ nhì nông”…). Việc các phụ huynh và học sinh ngày nay quay trở về với truyền thống hiếu học xưa kia đó qủa là dấu hiệu tích cực đáng lạc quan (đúng theo như kinh nghiệm ngàn đời : “Không thầy, đố mày làm nên” ; “muôn vàng vạn của không bằng để lại ít chữ cho con”) : “Về phía phụ huynh, không ít người sẵn sàng chắt chiu dành dụm từng đồng cho con cái ăn học” (TC 07-08 số 8).
III.    VỀ PHÍA NGƯỜI CÔNG GIÁO
Thư Chung 07-08 phân biệt : giáo dục kiến thức chung và giáo dục kiến thức tôn giáo.
Liên quan đến việc giáo dục kiến thức chung, TC 07-08 số 9 ghi nhận : “…Sự hiện diện của giới trẻ (Công giáo : chú thích của tác giả) trong môi trường giáo dục xã hội đã phần nào được bình thường hóa : lý lịch Thiên Chúa giáo không còn bị kỳ thị và phân loại như trước đây. Nhờ đó, số sinh viên Công giáo bậc đại học đã tăng lên đáng kể, ngay cả tại những miền thôn quê”.
Thống kê mục vụ văn hóa năm 2006 của Giáo phận Phan Thiết phản ánh phần nào nhận định đó : 1) Đã tốt nghiệp Đại học : 405 ; 2) Đang Cao đẳng ĐH. : 1126 ; 3) Giáo viên Mẫu giáo : 154 ; 4) Giáo viên Cấp I : 342 ; 5) Giáo viên Cấp II : 164 ; 6) Giáo viên Cấp III : 79 ; 7) Bác sĩ : 30 ; 8) Kỹ sư : 111 ; 9) Luật sư : 5…
Liên quan đến việc giáo dục tôn giáo, TC 07-08 số 9 ghi nhận : “Trong lãnh vực đức tin, các lớp giáo lý dự tòng và hôn nhân ngày càng đông học viên cho thấy giới trẻ Việt Nam ngày nay, ngược với trào lưu dửng dưng tôn giáo phương Tây, vẫn còn qúi trọng những giá trị Kitô giáo.”
Thống kê mục vụ năm 2006 của Giáo phận Phan Thiết cho thấy : 1) Giáo lý tân tòng : 1535 ; 2) Giáo lý Xưng tội lần đầu : 3795 ; 3) Giáo lý Thêm sức : 3940 ; 4) Giáo lý viên : 1206…
IV.    NHỮNG TIẾN BỘ KHOA HỌC KỸ THUẬT VÀ TIN HỌC
Không thể kể hết được những đóng góp hết sức to lớn của khoa học kỹ thuật và tin học đối với vấn đề giáo dục và đào tạo. Số 10 của TC 07-08 chỉ ghi nhận cách hết sức sơ sài và chung chung : “Những tiến bộ khoa học kỹ thuật và tin học ngày càng được sử dụng rộng rãi hơn trong mọi lãnh vực xã hội, cũng đã góp phần không nhỏ vào công cuộc hiện đại hóa ngành giáo dục trong xã hội cũng như trong Giáo hội.”
Đặc biệt, các máy vi tính, các mạng vi tính và những công năng và công dụng của chúng trong các vấn đề : soạn tài liệu, in ấn tài liệu, truy cập tài liệu, phổ biến tài liệu, trình bày tài liệu, v.v…
Tóm lại, cách chung, có thể nói rằng ở Việt Nam hiện nay đang có những dấu hiệu lạc quan trong vấn đề giáo dục : đặc biệt ý thức giáo dục đào tạo có tính toàn diện hơn, tức là giáo dục không chỉ có nghĩa cung cấp những kiến thức khoa học không thôi mà còn là mở ra những chân trời rộng lớn hơn của những vấn đề đạo đức, luân lý, tôn giáo, v.v…, trong chân trời truyền thống Đông phương của những tương quan “Thiên-Địa-Nhân hòa”; ý thức nầy không chỉ tồn tại nơi cá nhân, gia đình mà có vẻ như còn cả nơi quảng đại quần chúng, thậm chí cả nơi những hệ thống giáo dục và đào tạo cấp dộ Nhà nước…


 
 

25. NHỮNG MỐI LO NGẠI

Bên cạnh những dấu hiệu lạc quan như đã được đề cập đến trong Trang Thần học số 48, việc giáo dục, đào tạo hiện nay ở Việt Nam vẫn còn tồn tại đó những điều đáng lo ngại. TC 07-08 trong các số 11, 12, 13, 14, 15, lưu ý một số vấn đề như :
A.      Cách chung
1.      Có những lệch lạc trong quan niệm về Giáo dục (số 11)
2.      Cấu trúc gia đình ngày càng lỏng lẻo (số 11)
3.      Chủ nghĩa khoa bảng cục bộ (số 11)
4.      Nổ lực giáo dục thiếu toàn diện (số 12)
5.      Chủ nghĩa giáo điều (số 13)
6.      Mặt trái của các phương tiện truyền thông (số 14)
B.      Trong lãnh vực Đức tin
1.      Lơ là và thiếu trách nhiệm trong việc truyền thông Đức tin cho thế hệ trẻ (số 15)
2.      Thiếu phương pháp sư phạm phù hợp (số 15)
3.      Thiếu tư cách chứng nhân và chứng tá…(số 15)
I.       CÁCH CHUNG
1.      Những lệch lạc trong quan niệm về Giáo dục
Tuy phương châm “Tiên học lễ, hậu học văn” đã được phổ biến trong nhiều trường học ở Việt nam hiện nay, nhưng việc đưa phương châm đó vào trong đời sống và chương trình giáo dục đào tạo, nói chung, vẫn còn có qúa nhiều bất cập và thiếu sót, hay nói cụ thể vẫn còn coi trọng “thành công” hơn là “thành nhân”, để đạt được mục đích người ta có thể bất chấp phương tiện …
2.      Cấu trúc gia đình ngày càng lỏng lẻo
Giáo dục, đào tạo vốn là nỗ lực chung của cả cá nhân, gia đình, nhà trường và xã hội,v.v…, đặc biệt là của gia đình, nơi mà người trẻ có nhiều thời gian để chung sống với và vì thế phải có nhiều ảnh hưởng nhất, và thường là điểm qui chiếu quan trọng cho giới trẻ trong việc đánh giá và thẩm định các giá trị... Thế nhưng, như TC 07-08 số 11 nhận định : “Do ảnh hưởng của não trạng duy kinh tế,[…], vì phải chạy theo công ăn việc làm, người ta không còn dành thì giờ cho các cuộc sum họp đầm ấm gia đình, những bửa ăn đông đủ càng lúc càng hiếm hoi. Tương quan vợ- chồng, cha mẹ-con cái vì thế mà mỗi lúc một lỏng lẻo suy yếu. Hậu qủa là môi trường gia đình, vốn được mệnh danh là ‘mái ấm’, không còn nồng nàn tình cảm như xưa.” Tình trạng đó dẫn đến chỗ tác động và ảnh hưởng tích cực của gia đình đối với người trẻ ngày càng chẳng còn gì lắm…
3.      Chủ nghĩa khoa bảng cục bộ
Qua điều đó có vẻ như TC 07-08 muốn lưu ý tình trạng đối với nhiều người trẻ và nhiều gia đình hiện nay coi mục đích của việc học hành như là chỉ để giải quyết những vần đề liên can đến quyền lợi của cá nhân và gia đình thôi, và ít quan tâm đến những mục đích cao cả và rộng lớn hơn như Giáo hội, Quê hương và Nhân loại, như người xưa vẫn thường nói “ngày nay học tập, ngày mai giúp đời”… Một lối nhìn thiển cận và hạn hẹp như thế về mục đích của Giáo dục đã hẳn sẽ ảnh hưởng tiêu cực lên toàn bộ nền Giáo dục mà vốn là phải toàn diện và đa phương…
4.      Nỗ lực Giáo dục thiếu toàn diện
Về vấn đề nầy, TC 07-08, số 12 lưu ý : “Hình như người ta chỉ quan tâm đến việc đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế mà coi nhẹ chiều kích phẩm cách con người.” Vì thế, người ta sẽ coi trọng “thành công” hơn là “thành nhân”. Và nếu cứ như thế, dần dà, các vấn đề luân lý, đạo đức sẽ bị gạt qua một bên để nhường chỗ cho những thủ đoạn và bạo lực trong các nhà trường và bên ngoài xã hội…
5.      Chủ nghĩa Giáo điều
Trong lãnh vực Giáo dục và đào tạo, chủ nghĩa giáo điều và từ chương sẽ dần dà làm mất đi những khả năng tự mình tìm tòi và sáng tạo, vốn là những động lực thúc đẩy quá trình phát triển của loài người. TC 07-08 số 13 ghi nhận : “Thầy cô thường dạy cho học sinh cách sao chép nguyên mẫu kiến thức, ấn định những bài văn mẫu, làm bài theo đáp án mẫu nhiều hơn là huấn luyện họ biết sáng tạo, tìm tòi bằng chính nỗ lực riêng của mình.” Phải chăng đó chính là lý do giải thích nghịch lý vẫn diễn ra trong gần ¾ thế kỷ qua là những sinh viên Việt Nam trong nước cũng như ở nước ngoài khi học ở nhà trường hay các đại học có thể là thủ khoa hay xếp hạng cao hơn các sinh viên nước ngoài nhưng lại không có được mấy phát minh và sáng tạo so với các sinh viên nuớc ngoài ?
6.      Mặt trái của các phương tiện truyền thông
Tình hình nầy báo chí trong mấy năm gần đây đã phản ảnh tương đối khá nhiều. Một trong những nguyên nhân của tình trạng bỏ học trong những năm gần đây đó là các em học sinh hiện nay dành qúa nhiều thì giờ cho các trò chơi game, phim ảnh truyền hình và mạng vi tính…đến độ xao nhãng việc học hành. TC 07-08 số 14 ghi nhận : “Tuy góp phần thắp lên nhiều điểm sáng về những giá trị nhân bản, truyền thông cũng tạo cơ hội cho nhiều lạm dụng đáng tiếc. Vì thiếu ý thức, người sử dụng – phần lớn là giới trẻ – thay vì thận trọng gạn lọc để tiếp thu tinh hoa, lại sa vào cạm bẫy của những loại hình văn hóa phi đạo đức.”
II.      TRONG LÃNH VỰC ĐỨC TIN
1.      Lơ là và thiếu trách nhiệm …
TC 07-08 số 15 lưu ý hai yếu tố : về phía những người trách nhiệm không tổ chức các lớp dạy giáo lý tại giáo xứ và về phía các phụ huynh không đốc thúc, động viên, cổ vũ con em mình tham dự các lớp giáo lý được tổ chức …Đó là chưa kể tình trạng có thể có một số ít linh mục quản xứ có vẻ như hoàn toàn khoán trắng công việc giảng dạy giáo lý cho các giáo lý viên…
2.      Thiếu phương pháp sư phạm phù hợp
Về điểm nầy, TC 07-08 số 15 ghi nhận : “Một số nơi, giáo lý vẫn còn bị xem là những bài lý thuyết cần phải học thuộc lòng để được lãnh bí tích.” Sở dĩ thế, đã hẳn, bởi vì xem ra có người vẫn còn xem “dạy giáo lý” như là cung cấp một số kiến thức chung chung để biết về một ai đó hay thậm chí về một hệ thống tư tưởng nào đó hơn là giúp “tiếp cận”, “sống với” một Đấng vẫn đang sống giữa chúng ta, bên cạnh chúng ta, với chúng ta và luôn yêu thương chúng ta…Thật ra, còn hơn thế nữa, nỗ lực truyền đạt giáo lý phải là nỗ lực chứng nhân, chứng tá về Đức Tin, Đức Cậy và Đức Mến của chính người truyền đạt… Việc giảng dạy giáo lý vì thế còn tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố, như : lứa tuổi, trình độ, môi trường văn hóa, xã hội, giới tính, v.v…
3.      Thiếu tư cách chứng nhân và chứng tá
Có lẽ cũng phải thành thật mà nhận rằng chính lối gọi “dạy giáo lý” đã phần nào phản ảnh quan niệm không chính xác lắm của phần đông trong chúng ta vốn thường hay nghĩ rằng “dạy giáo lý” chủ yếu là truyền đạt cho các em một số kiến thức giáo lý thôi. Đúng hơn, có lẽ nên gọi là “nỗ lực truyền đạt Đức tin, Đức cậy và Đức mến của mình đối với Thiên Chúa cho người khác”. Vì thế, nỗ lực truyền đạt nầy không chỉ dừng lại ở việc truyền đạt một số giáo lý về Thiên Chúa và chỉ để biết suông mà chủ yếu là làm chứng về một Đấng đang sống, đang yêu thương mình để xây đắp tương quan thân tình mật thiết với Ngài… Vì thế, làm sao người giáo lý viên có thể truyền đạt niềm tin, niềm trông cậy và tình yêu đối với Chúa Giêsu-Thánh Thể khi ở trong nhà thờ thiếu những thái độ và tâm tình cung kính, tôn trọng…? Làm sao cha mẹ có thể “dạy” cho con cái biết tôn trọng người khác khi chính họ lại cứ chửi lộn, đánh đập nhau…?
Thực ra, trên thực tế, vấn đề còn nhiêu khê và phức tạp hơn nhiều. Tuy nhiên, chỉ với chừng ấy, TC 07-08 đã để lộ cho chúng ta thấy được những việc quan trọng cần phải tiến hành trong nỗ lực giáo dục con người toàn diện như một Tổng thể “Thiên-Địa-Nhân hòa”…

 
 

26. GIÁO DỤC KITÔ, MỘT SỨ MẠNG PHỔ CẬP

Trong phần III đề cập đến những “Định hướng Giáo dục Kitô giáo”, TC 07-08  kêu gọi : “Ý thức sứ mạng quan trọng đối với tương lai Giáo Hội và tiền đồ dân tộc, Giáo Hội Việt Nam muốn dấn thân trong sự nghiệp giáo dục để thực hiện sứ mạng loan báo Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô cho mọi người cách hiệu quả và thiết thực hơn. Trong tinh thần đó, chúng tôi kêu gọi những người có trách nhiệm giáo dục và mọi Kitô hữu Việt Nam hãy chú trọng hơn nữa đến sứ mạng cao cả nầy, một sứ mạng mang nhiều đặc tính biệt loại so với nền giáo dục xã hội trần thế.”
Theo TC 07-08, tính phổ cập của Giáo dục Kitô dựa trên hai yếu tố :
1) Tất cả Kitô-hữu đều có trách nhiệm loan báo Tin Mừng cho tất cả mọi người,mọi nơi và mọi thời;
2) Tất cả mọi người đều có quyền lợi được loan báo Tin Mừng nhằm phục vụ lợi ích của xã hội trần thế và xây dựng một thế giới nhân đạo hơn…
I.       SỨ VỤ PHỔ QUÁT LOAN BÁO TIN MỪNG …
TC 07-08 số 17 khẳng định : “Cũng như Đức Giêsu được sai đến với muôn dân (x. Lc 4, 18-19), Giáo Hội cũng có sứ mạng đem Tin Mừng đến cho mọi người (Mc 16, 15), không phân biệt thành phần, đẳng cấp xã hội hay điều kiện kinh tế. Sứ mạng đó không phải chỉ là sứ mạng của riêng thành phần nào, nhưng bao trùm toàn thể Giáo Hội mọi nơi mọi thời, mỗi cá nhân và mỗi cộng đoàn (x. TH/KTHGD 1).”
Sở dĩ thế, trước tiên, nói theo ngôn ngữ thần học, bởi vì con người tự bản chất, được tạo dưng nên để được tham phần sự sống vĩnh hằng của Thiên Chúa-Ba Ngôi, hay nói cách khác, để yêu thương và được yêu thương như Thiên Chúa yêu thương và được yêu thương… Thế nhưng, để  có thể thực thi được những điều đó, con người cần phải “biết” được “Thiên Chúa là Ai ?”, “mình là ai ?” và “tha nhân là ai ?”…(xem Rm 10, 14-15 : “Vậy làm sao kêu lên với Đấng mà người ta không tin ? Làm sao tin Đấng mà người ta không được nghe ? Làm sao mà nghe, nếu không có người rao giảng ? Làm sao mà rao giảng, nếu người ta không được ai sai đi ?...”.
Khi Hiến chế tín lý DEI VERBUM (Lời Thiên Chúa) (các số 1, 2, 3, 4) khẳng định Đức Giêsu-Kitô, vừa là Đấng loan báo Tin Mừng, vừa là Tin Mừng được loan báo, điều đó có nghĩa nỗ lực loan báo Tin Mừng của Giáo Hội không chỉ hệ tại việc “kể về” (narration) Đức Giêsu-Kitô mà còn là “tuyên xưng” (confession) và “làm chứng cho” Đức Giêsu-Kitô. Lý do, bởi vì Tin Mừng đó không chi là một hệ thống chân lý hay ý tưởng của một thưở xa xôi nào đó trong quá khứ mà là một Đấng Hằng sống đang sống với và ở giữa chúng ta…Hay nói cách khác, rao báo Tin Mừng không chỉ la “nói về Thiên Chúa” mà còn là “sống Đức Tin, Đức Cậy và Đức Mến” của mình trong tương quan với Thiên Chúa, Giáo Hội và tha nhân.
II.      GIÁO DỤC KITÔ DÀNH CHO TẤT CẢ MỌI NGƯỜI
TC 07-08, số 7 ghi nhận : “Sứ mạng của Giáo Hội là tạo điều kiện để mọi người đều được hưởng một nền giáo dục Kitô giáo”.
Thật vậy, “Ngôi trường Giáo Hội” luôn rộng mở đón nhận tất cả mọi người không phân biệt. Trước 1954 tại Miền Bắc và tại Miền Nam cho đến 1975, theo tinh thần Công đồng Đông Dương họp tại Hà Nội năm 1934, hầu như mỗi giáo xứ đều có ít nhất một trường Tiểu học. Giáo hội Công giáo Việt Nam kể từ những năm 1861 đã có những Collège (theo Chương trình Pháp, là trường dạy hết bậc Trung học đệ nhất cấp) và những Lycée (là những trường dạy chương trình Pháp hết bậc Trung học đệ nhị cấp [thi Tú Tài]) rất nỗi tiếng, phần lớn do các Sư huynh Dòng La San quản lý và điều khiển : thí dụ, ở Sài Gòn, với Trường  Collège d’Adran có mặt từ năm 1861, rồi sau đó với Trường Tabert năm 1889; ở Huế, với Trường Pellerin năm 1904; ;  ở Hà Nội, với Trường Puginier có mặt từ năm 1897; chưa kể các Collège ở các nơi như Hải Phòng, Mỹ Tho, Nam Định, Phát Diệm, Bình Định, Nha Trang, Đà Lạt (với Trường  Adran thành lập năm 1941 bên Rừng Ái Ân)…Ở Miền Nam, cho đến năm 1975, các Sư huynh Dòng La san đã điều khiển  23 trường gồm từ Tiểu học đến Trung học và Kỹ thuật. Trong tất cả các trường Công giáo, đều có dạy những Tiết dạy giáo lý, phần đông là nhiệm ý. Chính từ những Collège và những Lycée nầy đã sản sinh ra cho hàng ngũ lãnh đạo Việt Nam biết bao thành phần trí thức ưu tú.
Công bằng mà nói khó có thể phủ nhận được vai trò giáo dục, đào tạo của các tổ chức tôn giáo đối với “lợi ích của xã hội trần thế và xây dựng một thế giới nhân đạo hơn” (TC 07-08, số 18). Trong hoàn cảnh hiện nay khi mà giáo dục vẫn được coi là lãnh vực độc quyền của Nhà Nước, Giáo hội luôn yêu cầu cần có “chỗ đứng trong nền giáo dục của bất kỳ thể chế xã hội nào” (id. số 18), vì đó là trách nhiệm cũng như quyền lợi của Giáo hội…
Thật ra, có thể nói rằng tất cả mọi người đều có thể vừa là Thầy vừa là Học trò của kẻ khác…

 
 

27. TẤT CẢ MỌI KITÔ-HỮU ĐỀU LÀ GIÁO LÝ VIÊN

Thuật ngữ “dạy giáo lý” thực ra không chính xác lắm và thậm chí nhiều khi còn có nguy cơ khiến cho người ta hiểu không đúng sứ mạng quan trọng nầy. TC 07-08 số 21 có một ghi nhận đáng lưu ý : “Bao lâu còn là phần tử của Giáo Hội lữ hành, chúng ta còn là học trò và còn là thầy dạy đức tin bằng chứng từ cuộc sống của chúng ta”. Ghi nhận nầy của Thư Chung 07-08 muốn nói nỗ lực loan báo Tin Mừng không đơn thuần chỉ là việc truyền đạt một số kiến thức hay một hệ thống tư tưởng về Thiên Chúa mà quan trọng hơn và chủ yếu là qua chứng tá đời sống Đức Tin, Đức Cậy và Đức Mến của mình người kitô-hữu làm chứng về sự hiện hữu và hiện diện của Thiên Chúa qua đời sống của mình và trong tương quan với mình. Nếu hiểu như thế, qủa thật, tất cả mọi kitô-hữu đều là giáo lý viên. Về vấn đề nầy, qua hai số 20 và 21, TC 07-08 muốn lưu ý chúng ta những điểm nầy :
1) Tương quan của “giáo lý viên” với Đức Giêsu-Kitô là như tương quan giữa cành nho và Cây Nho (số 20);
2) Tương quan bổ sung cho nhau giữa việc “học” giáo lý và “dạy” giáo lý cho người khác (số 21)…
I.       TƯƠNG QUAN CÀNH NHO VÀ CÂY NHO
Đây là tương quan sự sống và tồn tại, như tương quan giữa Thân Mình và các chi thể. Để có thể tồn tại và sống, cành nho phải thông hiệp với cây nho, cũng vậy để có thể tồn tại và có sự sống đích thực, kitô-hữu cũng phải hiệp thông với Đức Kitô là chính Cây Nho mà Thiên Chúa đã trồng giữa loài người chúng ta và Giáo Hội là Thân Mình mầu nhiệm của Ngài. Không có sự thông hiệp nầy, chúng ta chẳng thể làm được gì, bởi vì chỉ Đức Giêsu-Kitô mới là Cây Nho đích thực có thể mang lại hoa trái làm tôn vinh Cha Ngài vốn là Đấng trồng nho.
Đó cũng chính là hình ảnh người kitô hữu-giáo lý viên đích thực, “hút nhựa sống Lời Chúa từ thân cây là Chúa Giêsu để chuyển đến các học viên bằng chứng từ rao giảng và thực thi huấn lệnh Chúa” (TC 07-08, số 20).
Vì thế, giữa học và giảng dạy Tin Mừng về Đức Giêsu-Kitô có một tương quan hỗ tương đối với nhau, tức là càng học hỏi nhiều càng giảng dạy tốt và càng giảng dạy nhiều bao nhiêu càng học hỏi thêm được nhiều bấy nhiêu.
II.      TƯƠNG QUAN BỔ SUNG CHO NHAU GIỮA HỌC VÀ DẠY GIÁO LÝ
TC 07-08 lưu ý hai khía cạnh : 1) mỗi chúng ta đều vừa là đích điểm vừa là khởi điểm của việc huấn luyện ; 2) mỗi chúng ta đều vừa là học trò vừa là thầy dạy đức tin.
      Mỗi người vừa là đích điểm vừa là khởi điểm
Hay nói cách khác, “chúng ta càng tự rèn luyện mình, càng có khả năng huấn luyện người khác” (xem TH/KTHGD 7). Sở dĩ thế, bởi vì, việc loan báo Tin Mừng về Đức Kitô không chỉ là “nói về Ngài” mà còn là “làm chứng cho Ngài” bằng cả cuộc sống sống niềm Tin, Cậy, Mến đối với Ngài của chúng ta, đến nỗi khi nhìn vào cung cách ứng xử các mối quan hệ “thiên-địa-nhân” của chúng ta người ta có thể hình dung và khám phá ra được “Thiên Chúa là Ai ?” và “là gì ?”…Người kitô hữu-giáo lý viên, như vậy, không chỉ là thầy dạy mà còn là và phải là “chứng nhân” của Đức Giêsu-Kitô.
      Mỗi người vừa là học trò vừa là thầy dạy đức tin
Là học trò, bởi vì chúng ta có thể học ở mọi người vốn đều là những chứng  nhân của Đức Giêsu-Kitô : học ở một cụ già nhà quê, một em bé, một thanh niên, một ông thánh, một người tội lỗi, v.v…Là học trò, bởi vì ở đâu đều cũng có thể là trường dạy cho chúng ta về dức tin : nhà thờ, gia đình, giáo xứ, chợ búa, trường học, chùa chiền, nơi vui chơi, giải trí, v.v…
Là thầy dạy, bởi vì tất cả mọi kitô-hữu đều phải vừa là người loan báo về Đức Giêsu-Kitô vừa là chứng nhân của Đức Giêsu-Kitô, mọi nơi và mọi lúc. Cứ thường tình, khi yêu ai thì người ta hay nói về người đó với mình và với người khác. Lòng tràn đầy miệng phải nói ra…
Người kitô-hữu đích thực, như vậy, hẳn cũng phải là một giáo lý viên, mọi lúc mọi nơi và cho tất cả mọi người…

 
 

28. CÁC ĐỐI TƯỢNG ƯU TIÊN

Mặc dù sứ mạng Giáo dục là sứ mạng phổ cập, nhưng Giáo hội cũng có những ưu tiên, đặc biệt đối với những thành phần xã hội thường bị “ruồng rẫy, khinh miệt, lãng quên” (TC 07-08, số 22) …như những “người nghèo khó, lao tù, mù lòa, bị áp bức” (Lc 4, 18 tt).
Trong tình hình thực tế hôm nay, giữa những đối tượng ưu tiên rất phong phú và đa dạng, TC 07-08 đặc biệt quan tâm đến 3 đối tượng sau đây :
1) Giới Di dân
2) Giới Thiếu nhi
3) Giới Trẻ …
I.       GIỚI DI DÂN
Tiếp thu kinh nghiệm từ phong trào đô thị hóa ở Châu Âu và những di luỵ tục hóa của những phong trào đó đối với các Giáo hội ở Châu Au, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam ngày càng rất quan tâm vấn đề Mục Vụ cho giới di dân.
Thật vậy, khi còn ở các xứ đạo miền quê hay tỉnh lẻ, người trẻ được bao bọc chở che bởi môi trường chung quanh, giáo xứ, giáo họ, gia đình, ông bà, cha mẹ, họ hàng, bạn bè, v.v…nên sinh hoạt tôn giáo vốn nề nếp như môi trường chung quanh. Cung cách hành xử tôn giáo của họ còn được sự theo dõi, kiểm soát và nâng đỡ, động viên của môi trường chung quanh : việc giữ đạo và sống đạo nhờ đó dễ đi theo truyền thống…
Vì nhu cầu cuộc sống, một số không nhỏ giới trẻ phải từ bỏ gia đình để đi vào các thành phố lớn tìm kiếm công ăn việc làm. Đang sống thanh thản, theo nề nếp cũ bao đời, bỗng một hôm, người trẻ bị bứng ra đặt vào những môi trường xa lạ, với những bạn bè mới, một thời gian đầu, người trẻ cảm thấy bơ vơ, hụt hẫng, không nơi và người nương tựa…Nếu may mắn gặp được bạn tốt thì không nói, nhưng ngộ nhỡ gặp phải bạn bè xấu, thì người trẻ bị đặt vào những tình huống rất nguy hiểm cho Đức Tin của họ.
Chính trong bối cảnh đó, vấn đề mục vụ cho những người di dân thuộc loại đó tỏ ra hết thức bức thiết.
Vì thế, TC 07-08 đã đặc biệt lưu ý : “Họ phải chịu bao nhiêu thứ thiếu thốn thiệt thòi cả về vật chất lẫn tinh thần trên đất khách quê người. Để có thể duy trì phần nào đời sống đức tin có nguy cơ bị công ăn việc làm vùi dập, họ cần phải được hòa mình vào bầu khí đạo đức của các giáo xứ nơi họ tạm cư. Cha xứ và giáo xứ địa phương cũng cần phải sẵn lòng nâng đỡ, chia sẽ, đón tiếp dân, tạo điều kiện để họ sớm hội nhập vào các sinh hoạt đạo đức và văn hóa nơi họ sinh sống. Lời Chúa và khung cảnh tình thân của giáo xứ là môi trường và là điều kiện cần thiết để an ủi và khích lệ đức tin của họ nơi Thiên Chúa, Đấng có đủ quyền năng biến cảnh sống tha hương của họ thành cuộc hành hương đầy ý nghĩa  hướng về Quê Trời.” (số 23).
 
II.      GIỚI THIẾU NHI
Người xưa thường nói :
“Dạy con từ thưở còn thơ
Dạy vợ từ thưở bơ vơ mới về…”
Như búp măng non, thiếu nhi nếu được uốn nắn ngay từ thời tấm bé về các giá trị nhân bản và tôn giáo tốt, lớn lên mới có nhiều cơ may trở thành những người tốt và đạo đức.
Vì thế, TC 07-08 đã nhận định : “Thiếu nhi, những trang giấy trắng đang chờ in những hình ảnh tươi đẹp, cần phải được thụ hưởng một nền giáo dục chân chính về nội dung và hiệu qủa về phương pháp, làm vốn liếng hành trang hữu ích cho suốt cuộc hành trình làm người và đức tin.” (số 24).
III.    GIỚI TRẺ
Giới trẻ hôm nay như thế nào thì Giáo hội ngày mai sẽ như thế đó.Thật vậy, giới trẻ chính là “tương lai của Giáo Hội và thế giới” (HT/VH 38). Sau 10 hay 20 năm nữa, giới trẻ ngày hôm nay sẽ là những chủ nhân ông của thế giới, của đại gia đình nhân loại. Vận mệnh của thế giới và của Giáo hội phần lớn sẽ tùy thuộc vào họ. Nếu ngày nay, giới trẻ được giáo dục tốt thì ngày mai, họ mới có thể là những chủ nhân ông tốt. Vì thế, TC 07-08 ngõ lời kêu gọi : “Giới trẻ cần phải nhận được sự hướng dẫn tận tình từ các nhà giáo dục và các thế hệ đi trước để nhiệt huyết tuổi trẻ của họ thực sự được vận dụng vào công cuộc xây dựng xã hội và Giáo Hội.” (số 25).
Đó chính là những đối tượng cần được ưu tiên trong vấn đề giáo dục kitô…
 
 

29. THIÊN CHÚA-BA NGÔI, MẦU NHIỆM TÌNH YÊU

Vì là Mầu Nhiệm, tức là một thực tại vượt lên trên nguyên lý nhân-quả, nên Mầu Nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi chỉ có thể tiếp cận qua hành vi chiêm ngắm để mà tán tụng, chứ không phải là “đối tượng” để mà lý giải, hay giải thích.
Người ta có thể tiếp cận với Mầu Nhiệm vĩ đại nầy từ nhiều góc độ khác nhau. Ở đây, cách hữu ý, chúng tôi cố gắng tiếp cận mầu nhiệm nầy qua ba góc độ :
1) Từ những nghịch lý trong hiện sinh kitô;
2) Từ một số hiểu lầm và ngộ nhận trong lịch sử;
3) Thiên Chúa-Ba Ngôi, Mầu Nhiệm Tình Yêu.
I.       TỪ NHỮNG NGHỊCH LÝ TRONG HIỆN SINH KITÔ :
Dù, trên lý thuyết, vẫn được coi như là Mầu Nhiệm trung tâm, là Mầu Nhiệm vĩ đại nhất trong các mầu nhiệm, là Nguyên Lý của hiện sinh kitô, của Giáo Hội, nhưng trên thực tế, có vẻ như Mầu Nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi “chẳng là gì cả” đối với rất nhiều kitô-hữu, như nhận định của I. Kant :
“Từ giáo thuyết về Mầu Nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi, theo sát từng chữ, tuyệt đối chẳng có thể rút ra được điều gì cho thực hành cả, ngay giả như khi người ta tin là hiểu được giáo thuyết đó. Sở dĩ là thế, vì lẽ rằng người ta vốn nhất trí với nhau để coi giáo thuyết đó như vượt ra ngoài mọi khái niệm.”
“Tôi còn dám cho rằng nếu như người ta có nghĩ đến chuyện loại bỏ ra khỏi các bản văn tôn giáo cái gì có liên quan giáo thuyết về Mầu Nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi (giả dụ như giáo thuyết nầy là sai !), thì đại đa số các bản văn trên thực tế cũng chẳng có gì phải thay đổi cả.”
Dù cách máy móc vẫn được “sử dụng” rất nhiều trong đời sống thường ngày (trước khi ăn, uống, uống thuốc, tắm rửa, ngủ nghỉ, vào sân đá bóng, sau khi “làm bàn”, v.v…), cũng như trong các cử hành phụng vụ, nhưng người ta cũng chẳng mấy ý thức là mình đang tuyên xưng Mầu Nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi, thậm chí, không hiểu gì…
Giáo Hội kitô đã để lại một truyền thống đạo đức bình dân vô cùng đẹp đẽ, đó là việc tuyên xưng mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi trong tất cả mọi khoảnh khắc của đời sống, và cám ơn Chúa (!), người kitô-hữu vẫn “giữ” nó, vẫn “sử dụng” nó, vẫn “thực hành” nó, nhưng đáng buồn thay phần lớn không biết hoặc không ý thức là mình đang “tuyên xưng” Ba Ngôi Thiên Chúa !
Trước khi làm bất cứ việc gì, người kitô đều tuyên xưng là sẽ làm tất cả những điều đó “nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần”, và mục đích của tất cả mọi hành động của họ đều nhắm vào việc “sáng danh Đức Chúa Cha, và Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần’. Qua những tuyên xưng đó, người kitô-hữu muốn nói lên rằng Thiên Chúa-Ba Ngôi chính là Nguyên Lý, và là Cùng Đích của toàn bộ hiện sinh kitô của họ. Một hành vi tuyệt vời như thế vốn đã được truyền thống của Giáo Hội lưu giữ suốt hơn hai ngàn năm, thế nhưng, điều đáng tiếc là người kitô dù vẫn thực hành truyền thống đạo đức bình dân đó, nhưng chẳng hiểu, chẳng ý thức gì việc mình đang làm. Phần đông người ta chỉ thực hành điều đó cách máy móc, và chẳng mấy ý thức việc mình đang làm và điều mình đang tuyên xưng !
Ngoài ra, dù trên môi miệng vẫn “tuyên xung” Ba Ngôi Thiên Chúa (Cha, và Con và Thánh Thần), nhưng trên thực tế, có vẻ như không ít người kitô-hữu lại có khuynh hướng “độc vị” hơn là “tam vị”, theo như nhận xét của Bruno Forte :
“Thiên Chúa của những người kitô-hữu liệu có phải là vị Thiên Chúa của Đức Kitô không ? Vấn nạn nầy, thoạt tiên, có vẻ nghịch lý, nhưng nảy sinh cách tự nhiên, nếu như người ta xem xét cách thức mà nhiều người kitô-hữu tự trình bày cho mình vị Thiên Chúa của họ. Trong diễn từ diễn tả, họ nói về Ngài như về một ‘Ngôi Vị’ thần linh nào đó mơ hồ, ít nhiều đồng hóa với Đức Giêsu của các sách Tin Mừng, hay như một hữu thể cao vời nào đó, cũng chẳng có gì chính xác hơn. Trong kinh nguyện, họ nói với vị Thiên Chúa khá bất định nầy, trong khi cách thức mà phụng vụ dùng để nói với Cha qua Đức Kitô trong Thần Khí thì lại bị coi như là kỳ quặc, nếu không muốn nói là tối tăm khó hiểu : người ta cầu nguyện Thiên Chúa, nhưng không biết cầu nguyện trong Thiên Chúa ! Có một tình trạng không thể chối cãi là nhiều kitô-hữu, ‘mặc dù trong những tuyên xưng đức tin về Thiên Chúa-Ba Ngôi hoàn toàn là chính thống, nhưng trong cụ thể đời sống tôn giáo thì lại hầu như theo khuynh hướng “độc vị” (“monothéistes”)’.”
Tại sao lại có những tình trạng nghịch lý đáng buồn đó trong hiện sinh kitô trong tương quan với Mầu Nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi ?
II.      TỪ MỘT SỐ HIỂU LẦM VÀ NGỘ NHẬN TRONG LỊCH SỬ :
Tình trạng đáng buồn đó, đã hẳn, xuất phát từ nhiều nguyên nhân, cả lý thuyết và cả thực hành, mà sau đây là một vài trong số đó, vốn mang tính bao trùm :
1) Việc đưa những khái niệm triết học (bản thể, bản tính, yêu tính, ngôi vị, tương quan, v.v…) vào trong thần học về Mầu Nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi;
2) Vai trò của thần học cổ điển và kinh viện;
3) Việc đối kháng giữa hai khái niệm “Un Dieu” (“Một Thiên Chúa”) và “Dieu Un” (“Vị Thiên Chúa là Một’)…
1.      Việc du nhập các khái niệm triết học vào thần học về Mầu Nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi :
Công đồng đại kết I NIXÊ (năm 325) có lẽ là công đồng đầu tiên du nhập khái niệm triết học vào trong bản Tuyên Tín của mình.
Và một điều cần lưu ý ngay là vào thời điểm nầy (năm 325), các cộng đoàn kitô, đặc biệt Tây phương, vẫn còn khá lơ mơ về các khái niệm triết học nầy. Kho từ vựng thần học kitô chỉ mới bắt đầu và chưa định hình gì cả. Ranh giới giữa các khái niệm triết học vẫn còn lờ mờ chưa phân biệt rõ.
Để diễn tả việc Đức Giêsu-Kitô, Con và Ngôi Lời Thiên Chúa làm người là Thiên Chúa như Chúa Cha, bởi vì được sinh ra từ Chúa Cha, Công đồng NIXÊ I, trên cơ sở loại suy, cho rằng cũng như người thì sinh ra người, ngựa thì sinh ra ngựa, nghĩa là cả hai phải có cùng chung điều mà sau nầy người ta mới hiểu đó là bản tính (natura), cũng vậy Thiên Chúa thì sinh ra Thiên Chúa. Tuy nhiên, vấn đề là ở chỗ Công đồng NIXÊ đã sử dụng hạn từ “ousia” mà sau nầy vốn được hiểu như là “bản thể” (“substantia”), chứ không phải hạn từ “bản tính” (“natura”). Chính khái niệm “natura” (có nguồn gốc từ động từ La ngữ “nasci”) mới diễn tả tình trạng có cùng chung bản tính giữa cha và con, giữa kẻ sinh ra con và kẻ được sinh ra.
“Cũng như lối nói bản thể của Cha chẳng thêm gì cho ý niệm được sinh ra từ Cha, cũng vậy, lối nói đồng bản thể với Cha (hay nói theo ngôn ngữ của Thánh Hilariô : ‘unius substantiae cum Patre’) chẳng thêm gì cho ý niệm Thiên Chúa được sinh ra từ Thiên Chúa, ánh sáng được sinh ra rừ ánh sáng, Thiên Chúa thật được sinh ra từ Thiên Chúa thật, nhưng chỉ là để nói rõ ý nghĩa của những hạn từ nầy : là Thiên Chúa được sinh ra từ Thiên Chúa, nên Con đích thực có chính bản thể của Thiên Chúa. Bởi vì Con là Thiên Chúa do tự nguồn gốc, nên Con là Thiên Chúa do tự bản tính.”
Thời kỳ nầy, ngoài việc lẫn lộn giữa hai khái niệm “substantia” (bản thể) và “natura” (bản tính), còn có sự lẫn lộn giữa hai hạn từ “ousia” và “hypostasis”, khiến đã tạo nên phong trào chống đối tẩy chay những biểu thức của Công đồng NIXÊ I khá mạnh mẻ, mà đầu tàu là linh mục Arius :
“Nguyên do thứ nhất hệ tại chính khái niệm ousia. Khái niệm nầy, trước tiên, được sử dụng như một điều khá quen biết. Nhưng rồi, nó đã gây ra khó khăn, kể từ khi người ta bắt đầu suy nghĩ và xem xét kỹ lưỡng hơn chính khái niệm nầy. Thật vậy, khái niệm nầy không thể ở đâu cũng đều có thể được hiểu cách đúng nghĩa, bao lâu nó vẫn còn lẫn lộn, chưa tách bạch rõ ràng ra khỏi hạn từ “hypostase” : thế mà Công đồng NIXÊ thì lại còn coi hai khái niệm nầy như là tương đương với nhau. Từ đó, mọi sự đều có nguy cơ trở nên lẫn lộn, khi người ta tìm cách diễn tả sự phân biệt giữa Cha và Con mà chẳng khiến các Ngài trở thành khác nhau được. Hơn nữa, hạn từ ‘homoousios’ đã tạo ra một khó khăn hết sức đặc biệt, do việc Phaolô de Samosate có lần đã thành công khiến cho Công đồng Antioche năm 264 kết án hạn từ nầy, mặc dù chẳng ai hiểu rõ từ đó có ý nghĩa là gì cả.” 
Cái khó khăn vốn phát xuất từ việc Thần học về sau, đặc biệt kinh viện, chẳng hiểu vì nguyên do nào, có khuynh hướng vẫn muốn sử dụng khái niệm “ousia” (bản thể), chứ không phải “natura” (bản tính) để diễn tả sự hiệp nhất nên một giữa Ba Đấng. Đó có lẽ là bước sơ sẩy đầu tiên và vô cùng hệ trọng quyết định toàn bộ số phận còn lại của nền thần học, đặc biệt Tây phương, về Mầu Nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi mãi cho đến sau nầy, và thậm chí cả cho đến bây giờ !
 Thật vậy, nơi con người với nhau, để diễn tả nguồn gốc, người ta sử dụng khái niệm đồng bản tính, chứ không phải khái niệm đồng bản thể. Người ta có thể là đồng bản tính người như nhau, nhưng không nhất thiết là đồng bản thể, vì mỗi cá nhân (individu) là một bản thể (substantia), một trụ thể (subsistentia) riêng biệt. Vì thế, khi dùng phép loại suy áp dụng vào vấn đề Thiên Chúa-Ba Ngôi, khó khăn sẽ xuất hiện ra ngay tức khắc. Thật vậy, nếu để bảo đảm tính hiệp nhất nên một, người ta cho rằng điều đó dựa trên cơ sở chỉ có một bản thể, nhưng nếu chỉ có một bản thể nơi Mầu Nhiệm Thiên Chúa, thì trong trí tưởng tượng của nhiều người, ắt hẳn chỉ có một cá thể (individu) hay một chủ thể (sujet) hiện hữu mà thôi, và như vậy, không thể nào giải quyết được khía cạnh phân biệt nơi Mầu Nhiệm Thiên Chúa ! Đó chính là những khó khăn vốn tạo ra gai chướng, trên cơ sở nhận thức luận, nơi nhiều kitô-hữu hôm qua cũng như hôm nay, và là nguồn cội của các thứ lạc giáo trong suốt giòng lịch sử hơn hai ngàn năm của Giáo Hội kitô…
2.      Vai trò của thần học cổ điển và kinh viện :
Việc ra đời của công thức thời danh về Mầu Nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi : “Một yếu tính ([una essentia] hay một bản tính [una natura], hay một bản thể [una substantia]), ba Ngôi Vị (tres personae hay ba bản vị [tres hypostases])”, là kết tinh của biết bao nỗ lực suy tư thần học, cả từ Đông phương lẫn từ Tây phương, trong những thế kỷ đầu của nền thần học kitô.
Tuy nhiên, cách thành thật, phải thừa nhận rằng việc sử dụng một hạn từ duy nhất (dù đó là yếu tính, bản tính hay bản thể) để chỉ Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần như những tác nhân trong sự sống thần linh, hẳn không thể nào tránh được tình trạng hàm hồ, lập lờ nước đôi; cùng lắm, những khái niệm trừu tượng đó chỉ nói lên được thần tính (divinité) của Thiên Chúa mà thôi ! Ngoài ra, việc sử dụng hạn từ “Ngôi Vị” (persona), dù có thể tăng cường lên một chút chủ thể tính nơi ý thức và tự do của các Ngôi Vị, vẫn luôn mang trong mình nguy cơ  mắc vào khuynh hướng tam thần . Thánh Augustinô đã thấy được cái khó khăn đó :
“Nếu người ta hỏi Ba Đấng nầy là Ai, cần phải thừa nhận sự bất túc cùng cực của ngôn ngữ loài người. Tất nhiên là thế, khi trả lời “Ba Ngôi Vị” thực ra là để khỏi rơi vào tình trạng chẳng nói gì thôi, hơn là nhằm diễn tả thực tại.”
Thánh Tôma Aquinô sẽ đào sâu thêm khái niệm “Ngôi Vị” (persona) mà Thánh Augustinô đã khai mào mà chưa có điều kiện triển khai, với mong ước cung cấp cho nó một nền móng hữu thể học, qua khái niệm “tương quan” (relatio), và “tương quan trụ tồn” (relatio subsistens). Tuy nhiên, trong ngôn ngữ loài người, “tương quan” vốn là khái niệm trừu tượng, không có “ngôi vị tính’ hay “chủ thể tính”, vì thế, cho dù Thánh Tôma Aquinô và sau đó thần học kinh viện, có lý giải tinh vi thế nào đi nữa, thì cũng chẳng mấy ai hiểu gì cả ! Theo thiển ý, như sau nầy chúng tôi sẽ giải thích, thay vì khởi đi từ khái niệm “tương quan” để chứng tỏ “ngôi vị tính”, để dễ hiểu hơn, và hợp với ngôn ngữ Kinh Thánh hơn, có lẽ người ta nên đi theo chiều ngược lại, là nên khởi đi từ các ngôi vị để chứng tỏ các tương quan, và khởi đi từ thực tại phân biệt để chứng tỏ thực tại hiệp nhất.
3.      Tương quan giữa hai khái niệm “Un Dieu” (“độc thần”) và “Dieu Un” (“Tôi và Cha tôi, chúng tôi là một” [Ga 10, 30]) :
Để bảo vệ giáo lý độc thần cứng ngắc của mình (monothéisme), người Do Thái thời Đức Giêsu và cả sau nầy, dứt khoát không nhận có bất cứ thần linh nào khác ngoài vị Thiên Chúa của họ, cùng lắm trừ một ai đó, vốn là thụ tạo của Ngài mà Ngài nhận cho là Thiên Chúa như mình (như quan niệm của linh mục Arius đối với Đức Giêsu-Kitô) ! Có vẻ như khuynh hướng chung vẫn cho rằng con người được trở nên Thiên Chúa thì dễ hơn việc Thiên Chúa trở nên con người !
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng khi nói niềm tin do thái-kitô và niềm tin kitô là độc thần (monothéiste), không đon giản chỉ có nghĩa, đối với những người kitô-hữu, chỉ có một vị Thiên Chúa mà thôi (Un Dieu), mà đúng hơn, có nghĩa Vị Thiên Chúa kitô là Vị Thiên Chúa Tam Vị mà là Một (Le Dieu Un)…
Đó chính là cái nan đề mà thần học kitô ngay từ thưở sơ khai đã phải đối đầu với. Và đó có lẽ cũng chính là nguyên nhân mà thần học kitô sơ khai, cổ điển và kinh viện, vẫn cứ bám vào công thức “Một yếu tính (bản tính hay bản thể), ba Ngôi Vị”, công thức mà người ta tuyên xưng để mà tuyên xưng, chứ chẳng mấy ai hiểu được và cũng chẳng ai giải thích được ý nghĩa và nội hàm thực sự của nó là gì ! Và đó cũng chính là bi kịch của hiện sinh kitô trong tương quan với Mầu Nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi trong suốt bao nhiêu thế kỷ qua !
Trong môi trường Cựu Ước (từ nay viết tắt : CƯ), nơi mà hầu như mỗi thành quách, mỗi bộ tộc, mỗi nhóm dân cư đều có một vị thần riêng của mình (Đnl 32, 8) , để bảo vệ căn tính dân tộc của mình, người Do Thái CƯ cho rằng cần phải bảo vệ “vị thần” của dân tộc mình bằng bất cứ giá nào, và dứt khoát không muốn để bất cứ vị thần ngoại bang nào lọt vào bên trong lãnh thổ và tâm tưởng của mình, và cuộc chiến nầy hầu như cấu thành chính lịch sử “tôn giáo” và lịch sử đời thường của dân Itraen. Apraham, Môsê và các ngôn sứ CƯ vốn là những chiến binh dũng cảm trong cuộc chiến nầy, thậm chí sẵn sàng đánh đổi bằng cả mạng sống của mình.
Tuy nhiên, không nên coi hai khái niệm “Un Dieu” (‘Một Thiên Chúa”) và khái niệm “Dieu Un” (Thiên Chúa là Một) như là đối kháng với nhau. Thật vậy, tính chất độc thần do thái (monothéisme juif) vẫn có thể được bảo đảm không nguyên chỉ với khái niệm “Một Thiên Chúa” (“Un Dieu”), mà còn cả với khái niệm “Vị Thiên Chúa là Một” (“Le Dieu Un).
“Thế mà, sự sống vĩnh hằng, đó là họ nhận ra được Cha, Vị Thiên Chúa duy nhất chân thật, và Đấng Cha đã sai đi, là Đức Giêsu-Kitô” (Ga 17,3).
“Tôi và Cha, Chúng Tôi là một” (Ga 10, 30).
Khi cứ khăng khăng xây dựng sự hiệp nhất Thiên Chúa (hay đúng hơn là giáo thuyết độc thần cứng nhắc của người Do Thái) trên cơ sở những khái niệm trừu tượng như “yếu tính”, “bản tính”, “bản thể”, có vẻ như khuynh hướng thần học cổ điển và kinh viện vẫn chưa thoát ra được khỏi môi trường “đối kháng” nầy. Điều nầy có vẻ như còn được biểu lộ nơi việc khoa thần học về Mầu Nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi trước đây thường luôn bắt đầu với khảo luận “De Deo Uno”, rồi sau đó mới đề cập đến khảo luận “De Deo Trino”. Trình tự nầy chứng tỏ cho thấy qui trình của thần học cổ điển và kinh viện không hẳn là xuất phát từ “sự hiệp nhất” (unité) để chứng tỏ “sự phân biệt” (distinction) mà đúng hơn là xuất phát từ khái niệm “một” (una substantia) để minh chứng khái niệm “ba” (tres personae). Ngõ cụt mà khuynh hướng thần học cổ điển nầy vấp phải, cho đến nay vẫn chưa thoát ra được…
Thái độ thờ ơ, xa lánh, thậm chí sợ hãi của phần đông các kitô-hữu trong suốt bao nhiêu thế kỷ qua, đối với thần học và giáo thuyết về Mầu Nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi chẳng lẽ chẳng nói gì với chúng ta hay sao ? Liệu đó có phải là cung cách duy nhất để tiếp cận với Mầu Nhiệm nầy ?
Chúng tôi không nghĩ như vậy !
Nhân tiện đây, chúng tôi cũng xin phép lưu ý rằng thực tại thần linh tam vị - theo Raimon Panikkar, một nhà thần học dòng Tên nổi tiếng – không phải là một khái niệm độc quyền của kitô-do thái giáo mà thôi. Trên thực tế, khái niệm thần linh tam vị nầy vẫn được phát hiện thấy, dù dưới những biểu tượng khác nhau, trong phần lớn các nền văn hóa của nhân loại (như Ấn Độ, Trung Hoa, Ai Cập, vùng Lưỡng Hà Địa,v.v…). Raimon Panikkar gọi đó là một kinh nghiệm có từ nguồn gốc sơ nguyên của loài người.
Một trong những nguyên nhân dẫn đưa khuynh hướng thần học cổ điển và kinh viện đến chỗ bế tắc không lối thoát, đó là bởi vì nỗ lực suy tư thần học về Thiên Chúa-Ba Ngôi đã đi theo một qui trình ngược. Thật vậy, trong khi qui trình suy tư của ngôn ngữ Kinh Thánh về Mầu Nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi đi từ cái cụ thể đến cái trừu tượng, đi từ các Chủ Thể đến các tương quan, đi từ cái đa bội (le Multiple, distinction) đến cái đơn nhất (l’un), thì nỗ lực suy tư thần học cổ điển và kinh viện lại đi từ những khái niệm trừu tượng (yếu tính, bản tính, bản thể, tương quan) để đến cái cụ thể (các Ngôi Vị), và đi từ cái đơn nhất cứng ngắc là bản thể, để đến cái đa bội phân biệt (Ba Ngôi Vị) mà Thánh Augustinô đã thú nhận là chẳng biết nên hiểu chúng là gì !
III.    THIÊN CHÚA-BA NGÔI, MẦU NHIỆM TÌNH YÊU :
Ở đây, có hai vấn đề liên quan mật thiết với nhau cần được đề cập tới :
-        Tương quan giữa Ba Ngôi Thiên Chúa hay giữa Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần với nhau;
-        Tương quan giữa Thiên Chúa-Ba Ngôi và các Thụ Tạo (sẽ bổ sung sau).
1.      Tương quan giữa Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần với nhau :
Đã hẳn, vẫn có nhiều con đường, nhiều cách thức để tiếp cận với vấn đề nầy, tuy nhiên, ở đây, vì nhiều lý do, chúng tôi mạn phép đề nghị hai lối tiếp cận mà thôi :
1- Tiếp cận qua ngôn ngữ Kinh Thánh;
2- Tiếp cận qua ngôn ngữ thần học.
a.       Tiếp cận qua ngôn ngữ Kinh Thánh :
So với ngôn ngữ của các công đồng NIXÊ và NIXÊ-CONTANTINÔP, ngôn ngữ thần học cổ điển và kinh viện về Mầu Nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi, vốn trừu tượng, cằn cỗi, nghèo nàn, thiếu sức sống, thì ngôn ngữ Kinh Thánh, đặc biệt TƯ, cụ thể, sinh động, tươi mát và phong phú hơn nhiều.
 
i.       Đức Giêsu-Kitô “thể hiện” tương quan của Ngài với Chúa Cha :
a- Trực tiếp (tương quan với nhau giữa các chủ thể [Sujets], hoặc như là chủ vị [“Je” = “I”] hoặc như là đối vị [“Tu” = “You”]) :
a.1- “Khi ấy, Đức Giêsu cất tiếng nói : ‘Lạy Cha là Chúa trời đất, Con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã dấu điều ấy với hạng khôn ngoan thông thái, mà đã mặc khải ra cho những kẻ bé mọn. Vâng lạy Cha, vì đó là quyết ý của Cha’.” (Mt 11, 25-26).
a.2- “Tiến xa  thêm ít bước, Đức Giêsu sấp mặt xuống mà cầu nguyện rằng : ‘Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho chén nầy qua đi khỏi Con ! Song không phải như ý con, mà là như ý Cha ‘!” (Mt 26, 39.42).
a.3- “Đức Giêsu nói : ‘Bố ơi, Bố có thể làm mọi sự, xin cất chén nầy đi khỏi Con; nhưng không phải : Con muốn gì mà là Bố muốn gì’ !” (Mc 14, 36).
a.4- “Kêu lớn tiếng, Đức Giêsu nói : ‘Lạy Cha, Con ký thác hồn Con trong tay Cha’.” (Lc 23, 46).
a.5- “Lạy Cha, xin hãy tôn vinh Danh Cha !” (Ga 12, 28a; 17, 1-26).
b- Gián tiếp (tương quan không trực diện giữa các chủ thể [sujets] với nhau, hay giữa chủ vị [“Je” = “I”] với tha vị [“Lui” hay “Il = “He”], và thường là qua trung gian đối vị [“Tu” = “You”]) :
b.1- “Đáp lại, Đức Giêsu nói với Simôn Phêrô : ‘Simôn, Baryôna, ngươi có phúc : vì không phải thịt máu đã mặc khải cho ngươi, mà là Cha Ta, Đấng ngự trên trời’ !” (Mt 16, 17).
b.2- “Và nầy Ta sắp sai đến trên các ngươi điều Cha Ta đã hứa !” (Lc 24, 49a).
b.3- “Cha, Đấng đã sai Ta, chính Ngài làm chứng cho Ta.” (Ga 5, 37a).
b.4- “Tôi và Cha, Chúng Tôi là một” (Ga 10, 30).
ii.      Chúa Cha và Chúa Thánh Thần mặc khải cho thấy tương quan của Chúa Cha với Đức Giêsu-Kitô :
“Vừa lên khỏi nước, Đức Giêsu thấy trời xé ra và Thần Khí, như chim bồ câu, đáp xuống trên Ngài; và một tiếng phát ra tự trời : ‘Con là Con chí ái của Ta, người mà Ta sủng ái’.” (Mc 1, 10-11; xem thêm Mt 3, 16-17; Lc 3, 21-22).
iii.     Tương quan giữa Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần :
Trong ngôn ngữ Kinh Thánh, CƯ cũng như TƯ, Chúa Thánh Thần, dù đã hẳn là Một Chủ Thể (Sujet), nhưng hầu như không bao giờ được coi như là Chủ Vị (“Je” = “I”) hay như Đối Vị (“Tu” = “You”), mà thường là như Tha Vị (“Il”, “Lui” = “He”) hay như Liên Chủ Vị (“Nous” = “We”).
Thật vậy, CƯ cũng như TƯ vẫn thường nói về Thánh Thần hay Thần Khí như là Thánh Thần hay Thần Khí “của” Ai đó (của Đức Chúa, của Chúa Cha, hay của Chúa Con, hay của Cha  và của Con [“Le Nôtre” = “Our”]) :
“Thần Khí của ĐỨC CHÚA sẽ đậu xuống trên Ngài.” (Is 11, 2; 61, 1; 63, 14).
“Trời mở ra, và Đức Giêsu thấy Thần Khí của Thiên Chúa.” (Mt 3, 16; 12, 28).
“Ai không có Thần Khí của Đức Kitô, kẻ ấy không thuộc về Ngài.” (Rm 8, 9).
“Tôi và Cha, Chúng Tôi là Một” (Ga 10, 30).
TƯ cho biết Thánh Thần hay Thần Khí có nguồn gốc từ Chúa Cha và Chúa Con, vì thế, được sai đi bởi cả Chúa Cha và Chúa Con, vốn như là Một (xem Ga 10, 30) :
“Khi Đấng Bàu Chữa đến, Đấng Ta sẽ gửi đến từ nơi Cha, Thần Khí sự thật, từ Cha xuất ra, Ngài sẽ làm chứng về Ta.” (Ga 15, 26).
Tuy nhiên, TƯ cũng cho biết rằng việc Đức Giêsu-Kitô sở đắc Thần Khí của Thiên Chúa cũng phải kinh qua một quá trình, quá trình của Thập Giá (chết và Phục sinh):
“Điều ấy, Đức Giêsu nói về Thần Khí mà các kẻ tin vào Ngài sẽ lĩnh lấy, vì Thần Khí chưa có, bởi Đức Giêsu chưa được tôn vinh.” (Ga 7, 39).
Trong suốt quá trình sở đắc nầy, Thần Khí của Thiên Chúa luôn hiện diện trong toàn bộ hiện sinh của Đức Giêsu-Kitô, trong cùng lúc vừa như là Nguyên Lý, vừa như là Trung Gian, vừa như là Cùng Đích. Thần Khí của Thiên Chúa hiện diện ngay từ khoảnh khắc đầu tiên cho đến giây phút cuối cùng của Mầu Nhiệm Nhập Thể của Đức Giêsu-Kitô :
 
“Đáp lại, thiên thần nói với Đức Maria : ‘Thánh Thần sẽ đến trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao rợp bóng trên bà; bởi thế mà trẻ sắp sinh sẽ được gọi là thánh, là Con Thiên Chúa’ !” (Lc 1, 35).
“Xảy ra là trong khi toàn dân chịu thanh tẩy, và Đức Giêsu cũng chịu thanh tẩy và đang cầu nguyện, thì trời mở ra, và Thánh Thần lấy hình dáng thể xác như chim bồ câu đáp xuống trên Ngài, và tự trời một tiếng phát ra : Con là Con chí ái của Ta, kẻ Ta đã sủng ái.” (Lc 3, 21-22).
“Đức Giêsu, đầy tràn Thánh Thần, đã bỏ bờ sông Giođan và được Thần Khí đưa vào sa mạc, mà chịu ma quỉ cám dỗ bốn mươi ngày.” (Lc 4, 1-2a).
“Đức Giêsu trở về trong quyền năng của Thần Khí và tiếng tăm Ngài lan ra khắp cả vùng chung quanh.” (Lc 4, 14).
“Ngày ấy, hân hoan trong Thánh Thần, Đức Giêsu nói : ‘Lạy Cha là Chúa trời đất, Con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu các điều ấy với hạng khôn ngoan, thông thái, mà đã mặc khải cho những kẻ bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là quyết ý của Cha’. !” (Lc 10, 21).
“Vì kẻ Thiên Chúa sai, thì nói được lời của Thiên Chúa, bởi không phải theo lường hạn mà (Ngài) ban Thần Khí cho.” (Ga 3, 34).
“Song khi nào Ngài đến, vì là Thần Khí sự thật, Ngài sẽ đưa các ngươi vào tất cả sự thật.” (Ga 16, 13a; đối chiếu với Ga 14, 6a).
“Đoạn gục đầu xuống, Đức Giêsu giao nộp Thần Khí (cho Cha).” (Ga 19, 30b).
“Nói thế rồi, Đức Giêsu thổi hơi trên các môn đệ và nói với họ : ‘Hãy chịu lấy Thánh Thần. Các ngươi tha tội cho ai, thì tội họ được tha; các ngươi cầm giữ tội ai, thì tội họ bị cầm giữ’ !” (Ga 20, 22-23).
“Vậy các ngươi hãy đi thâu nạp môn đồ khắp muôn dân, thanh tẩy họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.” (Mt 28, 19).
b.      Tiếp cận qua ngôn ngữ thần học :
Chúng tôi sẽ tiến hành nỗ lực suy tư thần học của mình về Mầu Nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi khởi đi từ hai hướng :
1) Từ Ga 10, 30 : “Tôi và Cha, Chúng Tôi là Một” (TOB : “Moi et le Père, Nous sommes un.”);
2) Từ 1 Ga 4, 8b : “Thiên Chúa là Tình Yêu.”.
i.       Tiếp cận qua lăng kính Ga 10, 30 : “Tôi và Cha, Chúng tôi là Một.” :
So với công thức cổ điển “Một yếu tính (hay một bản tính, một bản thể), ba Ngôi Vị”, vốn hoàn toàn trừu tượng, cứng ngắc, thiếu sức sống, vô hồn, theo thiển ý, Ga 10, 30 sẽ là một công thức phản ảnh tuyệt vời hơn nhiều, cụ thể hơn nhiều, và mang tính hiện sinh hơn nhiều…
Thật vậy, nơi Ga 10, 30, ngay từ đầu, đã cho thấy “ba Ngôi Vị” đó là Ai và là gì, và đã để lộ cho thấy những tương quan cụ thể giữa các Ngài với nhau, và cung cách mà các Ngài là “Một”…
a. Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần là ba Chủ Thể phân biệt (trois Sujets distincts) :
Khi nói Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần là ba Chủ Thể phân biệt không có nghĩa các Ngài là ba Cá Thể khác nhau (trois Individus distincts). Cá thể (individu) là hữu thể có xác thể, vừa không thể chia cắt mình ra được, vừa không thể chung đụng với bản thể của bất kỳ một cá thể nào khác được. Trong khi Chủ Thể, trong tương quan liên chủ thể, vốn luôn được định vị hoặc như là “chủ vị” (“Je” = “I”) hoặc như là “đối vị” (“Tu” = “You”), hoặc như là “tha vị” (“Il” = “He”), hoặc như là “liên chủ vị” (“Nous” = “We”), và có thể chuyển hoán vị trí cho nhau. Và trong khi Cá thể chỉ có thể tồn tại nếu có xác thể, còn Chủ thể có thể tồn tại mà không cần xác thể, như được phản ảnh trong Lc 23, 43 : “Và Đức Giêsu nói với người trộm lành : ‘Quả thật, Ta bảo ngươi : hôm nay, ngươi sẽ ở trên thiên đàng làm một với Ta’ !”. Thật vậy, làm sao mà “hôm nay” “ngươi” (“Tu” = “You”) và “Ta” (“Je” = “I”) ở trên thiên đàng được, khi mà cả người trộm lành “hôm nay” (ngày thứ Sáu Tuần Thánh) chết, và theo giáo lý của Giáo Hội dạy, thì xác chỉ sống lại trong ngày tận thế mà thôi (!), và cả chính Đức Giêsu cũng chỉ sống lại vào ngày Chúa Nhật mà thôi (!), nếu không phải các Chủ thể nầy có thể tồn tại mà không cần xác thể ?
b. Các tương quan cụ thể giữa các Chủ thể với nhau:
Ga 10, 30 còn cho thấy không phải các tương quan (relations) tạo ra các Chủ Thể (hay các Ngôi Vị), mà ngược lại chính các Chủ Thể (hay các Ngôi Vị) mới tạo ra các tương quan, các tương quan tình yêu tuyệt vời giữa các Ngài với nhau.
Thật vậy, khi khẳng định “Tôi và Cha, Chúng Tôi là Một” (Ga 10, 30), Đức Giêsu, trước tiên, hé lộ cho thấy Thiên Chúa là Cha của Ngài và Ngài là Con của Chúa Cha, và như vậy, tương quan giữa hai Chủ thể nầy là Cha-Con (Phụ-Tử); thứ đến, cho thấy Đấng mà trong Ngài Cha và Con tương ngụ và tương tại trong nhau như “Một”, là Chủ Thể liên vị (le Sujet Inter-subjectif) mà Ga 10, 30 gọi cách tuyệt vời là [Le “Nous sommes”] (hay trong Anh ngữ là [The “We are”]), bởi vì trong [Le “Nous sommes” = The “We are”], có cả [Le “Je suis” = The “I am”], có cả [Le “Tu es” = The “You are”] và có cả [Le “Il est” = The “He is”], và trong ngôn ngữ Kinh Thánh gọi Ngài là Chúa Thánh Thần hay Thần Khí của Thiên Chúa, hay Thần Khí của Cha, hay Thần Khí của Con. Đây là những danh xưng làm vang vọng lại danh xưng của Thiên Chúa trong Xh 3, 14 : “Ta LÀ” (“JE SUIS” = “I AM”); hay nói cách khác, Thiên Chúa tự gọi mình : TA LÀ CHA, TA LÀ CON, TA LÀ THÁNH THẦN; hoặc CHÚNG TA LÀ CHA, và LÀ CON, và LÀ THÁNH THẦN…
Và điều làm cho các Ngài hằng luôn là “Một” (“Un”) đó là tương quan tình yêu giữa các Ngài với nhau, bởi vì chỉ có tình yêu mới làm cho người ta hằng luôn là “một” được, nhờ hằng luôn hiện hữu và hiện diện đối với nhau, và trong nhau, hằng luôn tương ngụ (inhabitation réciproque) và tương tại (circumincessio) trong nhau. Tương quan trong Ga 10, 30, như vậy, là những tương quan mang tính năng động, cụ thể, và sinh động hơn rất nhiều so với quan niệm về tương quan của thần học cổ điển và kinh viện :
“Ngươi không tin Ta ở trong Cha và Cha ở trong Ta sao ?” (Ga 14, 10a.20).
“…Để hết thảy chúng nên một, cũng như, lạy Cha, Cha ở trong Con và Con ở trong Cha, ngõ hầu chúng ở trong Chúng Ta, và thế gian tin là Cha đã sai Con. Phần Con, Con đã ban cho chúng vinh quang mà Cha đã ban cho Con để chúng nên một như Chúng Ta là một.” (Ga 17, 21-22).
TƯ còn chứng tỏ cho thấy những tương quan nầy không đơn giản chỉ là những gì như thuộc về cấu trúc hữu thể học thôi, mà còn được sống và được thể hiện qua những hành động biểu lộ tình yêu tuyệt vời giữa các Ngài với nhau.
c. Cung cách mà ba Chủ Thể Thiên Chúa là “Một” :
Trước tiên, cần lưu ý rằng việc Ga 10, 30 sử dụng động từ “être” (= “to be”) ở thì hiện tại số nhiều và ở ngôi thứ nhất trong “Nous sommes Un” (“Chúng Tôi là Một”) hàm chứa rất nhiều nội hàm ý nghĩa thần học quan trọng :
1- Là “Một”, tất cả những gì Ba Đấng “là” : khi sử dụng “Nous sommes Un”, Ga 10, 30 cho thấy tương quan giữa Ba Đấng (Ba Chủ Thể) hằng luôn là một, trong thực tại nội thân (Réalité immanente), cũng như trong Kế đồ siêu độ Thụ tạo diễn ra trong lịch sử (Réalité économique) : “Ai thấy Ta là đã thấy Cha.” (Ga 14, 9). Đây là điều hết sức quan trọng về mặt thần học, đặc biệt thần học tín lý. Và đó cũng chính là điều mà nhà thần học Dòng Tên nổi tiếng Karl Rhaner phản ảnh trong tiền đề thời danh của ngài : “La Trinité économique est la Trinité immanente, et réciproquement.” (“Mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi trong lịch sử siêu độ là Mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi tự nội thân, và ngược lại.”) . Điều đó có nghĩa rằng Đức Giêsu-Kitô, dù trong thân phận tự hủy (trong suốt hiện sinh trần thế của Ngài, kể cả nơi biến cố Thập Giá [sự chết và sự Phục sinh của Ngài], vẫn hằng luôn là Thiên Chúa, hằng luôn “ở trong” và “ở với” Chúa Cha và Chúa Thánh Thần (Ep 2, 6-11); hay nói theo ngôn ngữ sách Khải Huyền, Ngài vẫn “là Anpha và là Ômêga, là Khởi nguyên và là Cùng tận” (Kh 21, 6a)…
2- Là “Một”, tất cả những gì Ba Đấng “có” : 
Bởi vì các Ngài hằng luôn là Một vì hằng luôn ở trong nhau, nên tất cả những gì mỗi Đấng có đều là của chung, của chúng ta (“le Nôtre”) :
“Cha yêu mến Con, và đã ban cho Con mọi sự trong tay.” (Ga 3, 35).
“Vì Cha không xử án ai, nhưng mọi việc xử án, Cha đã ban cho Con. Ngõ hầu hết thảy phải tôn kính Con, như họ tôn kính Cha.” (Ga 5, 22-23).
“Biết rằng Cha đã ban cho mình mọi sự trong tay, và  rằng mình đã xuất tự Thiên Chúa, và đang đi về cùng Thiên Chúa, thì trong bữa tối ấy…” (Ga 13, 3-4a).
“Mọi sự Cha có, hết thảy là của Ta. Vì thế mà Ta đã nói : Thần Khí sự thật lấy của Ta mà thông báo cho các ngươi.” (Ga 16, 15).
3- Là “Một”, tất cả những gì Ba Đấng “nói” và “làm” :
Bởi vì cả Ba Đấng hằng luôn là Một vì hằng luôn ở trong nhau, nên tất cả những gì các Ngài nói và làm đều là của nhau, và thuộc về nhau :
“Vậy, Đức Giêsu nói : ‘Khi các ngươi nhắc Con Người lên cao, bấy giờ các ngươi sẽ biết : TA LÀ, và tự Ta, Ta không làm gì ; nhưng Cha đã dạy Ta làm sao, Ta nói vậy.” (Ga 8, 28).
“Phần Ta, những gì Ta đã thấy nơi Cha Ta, thì Ta nói ra…” (Ga 8, 38a).
“Vậy Đức Giêsu đáp lại và nói với họ : ‘Quả thật, quả thật, Ta bảo các ngươi, Con không thể làm điều gì tự mình, nhưng mọi sự đều vì đã trông thấy Cha làm : vì điều gì Cha làm, thì Con cũng làm như vậy.” (Ga 5, 19).
“…Vậy các điều Ta nói, thì như Cha đã nói với Ta sao, Ta cũng nói vậy.” (Ga 12, 50b).
“Ngươi không tin Ta ở trong Cha và Cha ở trong Ta sao ? Các lời Ta nói với các ngươi không phải tự Ta mà Ta nói ra, nhưng chính Cha, Đấng ở trong Ta, hằng làm công việc của Ngài.” (Ga 14, 10).
“Nhưng để cho thế gian biết là Ta yêu mến Cha, và như Cha truyền dạy Ta sao, Ta làm như vậy…” (Ga 14, 31).
“…Vì mọi điều Ta đã nghe nơi Cha Ta, Ta đã tỏ cho các ngươi biết.” (Ga 15, 15c).
4- Là “Một”, tất cả những gì Ba Đấng “trao ban” :
Bởi vì các Ngài hằng luôn là Một vì hằng luôn ở trong nhau, nên khi một Đấng được trao ban có nghĩa là cả Ba Đấng đều được trao ban :
“Quả vì Thiên Chúa đã yêu mến thế gian như thế đó, đến đỗi đã thí ban Con Một, ngõ hầu phàm ai tin vào Con thì khỏi phải hư đi, nhưng được có sự sống vĩnh hằng.” (Ga 3, 16).
“Đức Giêsu đáp lại họ : ‘Nay các ngươi tin ư ? Này giờ sẽ đến – và đã đến rồi – các ngươi sẽ phân tán, mỗi người mỗi ngã, mà để mặc Ta một mình. Nhưng không ! Ta không chỉ có một mình, vì đã có Cha ở với Ta’.” (Ga 16, 31-32).
“…Để hết thảy chúng nên một, cũng như, lạy Cha, Cha ở trong Con và Con ở trong Cha, ngõ hầu chúng ở trong Chúng Ta, và thế gian tin là Cha đã sai Con. Phần Con, Con đã ban cho chúng vinh quang mà Cha đã ban cho Con để chúng nên một như Chúng Ta là một.” (Ga 17, 21-22).
“Đức Giêsu, đầy Thánh Thần, đã bỏ bờ sông Giođan và được Thần Khí đưa vào sa mạc…” (Lc 4, 1).
“Nói thế rồi, Đức Giêsu-Kitô thổi hơi trên họ và nói với họ : ‘Hãy nhận lấy Thánh Thần.” (Ga 20, 22).
“Nguyện xin Đức Giêsu-Kitô là Ân Sủng, Chúa Cha là tình yêu và Chúa Thánh Thần là sự thông hiệp ở cùng tất cả anh chị em.” (2 Cr  13, 13).
ii.      Tiếp cận qua lăng kính 1 Ga 4, 8b : “Thiên Chúa là Tình Yêu.” :
Khi khẳng định “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1 Ga 4, 8b), tất nhiên cũng phải khẳng định có những đối tác trong tình yêu (“partenaires”), nghĩa là khi nói Thiên Chúa yêu thì phải hiểu là Ngài yêu “Ai đó”, chứ chẳng lẽ Ngài lại tự yêu mình ! Và, “Ai đó”, để đáp lại tình yêu nầy, yêu lại Ngài. Và đó là nguồn gốc của hành vi “sinh con” ở nơi Thiên Chúa, như, cách gián tiếp, được phản ảnh trong :
1 Ga 4, 7 : “Anh em thân mến, ta hãy yêu mến nhau, vì lòng mến phát tự Thiên Chúa, và phàm ai yêu mến thì đã sinh bởi Thiên Chúa và biết Thiên Chúa.”
1 Ga 5, 1 : “Phàm ai tin Giêsu là Đức Kitô, thì đã sinh bởi Thiên Chúa; và phàm ai yêu mến Thiên Chúa là Đấng sinh thành, thì cũng yêu mến Đấng đã được Thiên Chúa sinh thành.”.
“Trong vĩnh hằng” , Thiên Chúa yêu sinh ra “Ai đó”, và trong tương quan tình yêu với “Ai đó” được sinh ra,  Thiên Chúa trở nên Chủ Thể (Sujet) và Chủ Vị (Je = I), và “Ai đó” được sinh ra, vốn là Chủ Thể (Sujet), nhưng là “Đối Vị” (Tu = You) trong tương quan với Đấng sinh thành; và tương quan tình yêu vĩnh hằng diễn ra (giữa Je và Tu) khi Đấng sinh thành gọi Đấng được sinh ra là Con, tức là tự khẳng định mình là Cha; và Đấng được sinh ra âu yếm gọi Đấng sinh ra mình là Cha, tức là tự khẳng định mình là Con…
“Và Thánh Thần lấy hình dáng thể xác như chim bồ câu, đáp xuống trên Đức Giêsu, và tự trời một tiếng phát ra : ‘Con là Con của Cha, hôm nay, Cha đã sinh ra Con’.” (Lc 3, 22).
Tuy nhiên, một tình yêu đích thực không bao giờ chỉ là một vòng tròn khép kín giữa hai đối tác thôi (giữa Je và Tu), mà còn phải mở ra về phía chân trời rộng lớn hơn, tương hợp hơn với khả năng yêu thương của các Ngài, vốn vô cùng vô tận, và đó là nguồn gốc của cái  “Chúng Tôi” hay “Chúng Ta” (“Nous = We”).
Ngôn ngữ Kinh Thánh thường gọi Thánh Thần là sự Thông Hiệp (Communion), là sự Hiệp Nhất (Unité), bởi vì trong cương vị là cái “Chúng Tôi” hay “Chúng Ta” (le Nôtre) của Cha và  của Con, Ngài chính là Chủ Thể Liên Vị (le Nous [Je+Tu+Il]).
Chính vì thế, hầu như không một chỗ nào trong Kinh Thánh, cho thấy Chúa Thánh Thần xử sự như một Chủ Vị (Je = I) hay như một Đối Vị (Tu = You), mà thường chỉ như là Tha Vị (Il = He, Lui). Thần Khí hiện diện khắp mọi nơi mà như không có mặt ở đâu cả. Ngài hoạt động không ngừng, mọi nơi mọi lúc,  nhưng không ai nhận ra Ngài ở đâu cả, cũng như không mấy ai nhận ra được hành động của Ngài…
Đó chính là lý do tại sao Đức Giêsu đã khẳng định trước những người Do Thái thời Ngài : “Tôi và Cha, Chúng Tôi là Một.” (Ga 10, 30).
Chính Chúa Thánh Thần (Spiratio passiva) là Đấng mà nơi Ngài Chúa Cha và Chúa Con xoắn xuýt với nhau (spiratio activa) nên Một; là Đấng mà nơi Ngài Chúa Con, dù tự hủy mình đi thành thân phận phàm nhân, vẫn hằng luôn liên kết với Cha trong tình yêu; là Đấng mà nơi Ngài diễn ra mọi công trình kỳ diệu của Tình Yêu giữa Ba Ngôi Thiên Chúa với nhau và với các Thụ Tạo của Ngài…

 

30 . BÍ TÍCH THÁNH TẨY KITÔ

Linh mục Augustinô NGUYỄN VĂN TRINH, trong phần “Tạm kết” của tập sách do ngài biên soạn về Bí tích Thánh Tẩy, đã ghi nhận :
“Chúng ta đã cố gắng
-        thu tập tài liệu về BT Thánh Tẩy;
-        nhưng chưa tạo nên được một thần học về BT này
-        lại càng không thể nhìn vào hoàn cảnh Việt Nam để đưa ra nhận định và đóng góp về một thần học mang tính Việt Nam. Tất cả còn chờ ở phía trước.”
Thật vậy, mãi cho đến bây giờ, trong lãnh vực thần học về các bí tích, kể cả bí tích Thánh Tẩy kitô, vẫn con rất nhiều vấn đề chưa giải quyết cách rốt ráo được, và vì thế cần được nghiên cứu và thảo luận lâu dài thêm nữa. Thí dụ : a) Phải quan niệm như thế nào về tương quan giữa ba bí tích “khai tâm” (Thánh tẩy, Thêm sức và Thánh Thể) ? Những hiệu quả đích thực và trực tiếp của Bí tích Thánh tẩy là gi ? Phải quan niệm thế nào về tương quan giữa Bí tích Thánh Tẩy của Đức Giêsu-Kitô và các bí tích thánh tẩy kitô ? V.v…
Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo (từ nay, được viết tắt : GLHTCG) số 1257 viết : “Chính Chúa khẳng định rằng bí tích Rửa Tội là cần thiết để được ơn cứu độ…Thiên Chúa đã ràng buộc ơn cứu độ với bí tích Rửa Tội, nhưng chính Ngài không bị ràng buộc bởi các bí tích của Ngài.” Làm sao dung hòa được giữa việc “Thiên Chúa đã ràng buộc ơn cứu độ với bí tích Rửa Tội” và việc “Thiên Chúa không bị ràng buộc bởi các bí tích của Ngài.” ? Chẳng lẽ Thiên Chúa thất bại trong các công trình của Ngài, nếu nhìn vào tỉ lệ con số những người kitô-hữu trên toàn thế giới (thống kê năm 2012, toàn cầu : 1.052.924.00, 00 công giáo /2.013.132.000, 00 kitô-hữu/7.052.132.000, 00 dân số toàn cầu, tỉ lệ 17, 42%; tại Châu Á : 125.860.000, 00 công giáo/4.115.586.000, 00 không công giáo, tỉ lệ 3, 06%  ) ?
Và, ở số 1261 : “Về các trẻ em chết mà chưa được lãnh nhận bí tích Rửa Tội, Hội Thánh chỉ biết phó dâng các em cho lòng thương xót của Thiên Chúa, như Hội Thánh đã làm trong nghi lễ an táng dành cho các em.”  Điều nầy phải chăng chứng tỏ ngoài bí tích Thánh Tẩy, Thiên Chúa còn nhiều con đường khác, cách thức khác nữa để cứu độ con người !
Làm sao dung hòa được tất cả những điều đó ? Giữa tình yêu nhưng không của Thiên Chúa (Ep 2, 8) và việc “ràng buộc ơn cứu độ với bí tích Rửa Tội” ? Giữa ơn cứu độ phổ quát dành cho tất cả mọi người (1 Tm 2, 4) và những giới hạn, những qui định có tính bắt buộc như vậy ?
Nguyên nhân của tình trạng thiếu nhất quán nầy, theo thiển ý, có nhiều, nhưng nói chung, qui tụ quanh những nguyên nhân chính sau đây :
1-      Trước tiên, khi nói về sự cần thiết của Phép Rửa, người ta thường đơn thuần chỉ hiểu cách hạn hẹp và nông cạn đó là nghi thức Phép Rửa bằng nước mà không hiểu rằng Phép Rửa của Đức Giêsu-Kitô chính là các Mầu nhiệm Tự hủy nhập thể làm người, Thập Giá (chết và Phục sinh) của Ngài, mà nghi thức “dìm trong nước” (Hy ngữ : Baptizein) vốn là một biểu tượng (Lc 12, 50)…
2-      Thứ đến, thay vì coi các ân sủng phát sinh từ Bí tích Thánh Tẩy kitô là những tương quan liên vị (giữa Đức Giêsu với Thiên Chúa-Ba Ngôi và ngược lại; giữa thụ nhân với Đức Giêsu-Kitô và trong Ngài với Thiên Chúa-Ba Ngôi), có vẻ như thần học cổ điển và kinh viện có khuynh hướng coi các ân sủng của Bí tích Thánh tẩy như là những “sự vật” (res, une chose)  hơn là những tương quan tình yêu…
3-      Và, trong khi trên thực tế, Bí tích Thánh Tẩy kitô có thể có hai hiệu quả : a) hiệu quả tích cực và trực tiếp là “được trở nên con Thiên Chúa trong Đức Giêsu-Kitô, Con và là Ngôi Lời Thiên Chúa làm người” và b) hiệu quả tiêu cực là “được tha thứ tội lỗi” (nếu có), thì có vẻ như, thần học và mục vụ về Bí tích Thánh Tẩy của Giáo Hội kitô trong suốt gần 2000 năm qua hầu như có khuynh hướng muốn xem hiệu quả tiêu cực như là chính yếu và coi hiệu quả tích cực và trực tiếp như là phụ tùy và kèm theo…
4-      Sau cùng, do đó, khi đề cập đến sự cần thiết của Bí tích Thánh Tẩy kitô, thần học cổ điển và kinh viện có vẻ như thường lẫn lộn giữa - sự cần thiết của ơn siêu độ được mang lại bởi Đức Giêsu-Kitô trong toàn bộ các mầu nhiệm Sáng tạo, Mặc khải và Siêu độ của Ngài, đặc biệt trong mầu nhiệm Tự hủy khi nhập thể làm người và mầu nhiệm Thập giá (chết và Phục sinh), và - sự cần thiết của các nghi thức, vốn chỉ là biểu tượng của Bí tích Thánh tẩy kitô; hay nói cách khác, lẫn lộn giữa thực tại mầu nhiệm được diễn tả và những công cụ hay phương tiện được sử dụng để diễn tả mầu nhiệm ấy, tức là giữa “signifié” và “signifiant”, giữa “mysterium” và “sacramentum”…
Thật ra, mãi cho đến thế kỷ XIII, dưới ảnh hưởng của Alexandre de Halès, Albertô Cả và nhất là Thôma d’Aquin, các hiệu quả của Bí tích Thánh Tẩy kitô mới được phân tích cách khá hệ thống : 1) Tha tội; 2) Tha thứ các hình phạt do tội; 3) Ân sủng thánh hóa và các hồng ân siêu nhiên; 4) Ấn tín; 5) Hội nhập vào Đức Kitô và Hội Thánh.
Còn Sách SGLHTCG  cho biết những Ân sủng của Bí tích Thánh Tẩy như sau : 1) Để tha tội (các số 1263, 1264); 2) Được trở nên “Thụ tạo mới” [thành nghĩa tử của Thiên Chúa, được thông phần bản tính Thiên Chúa, thành chi thể của Đức Kitô, v.v…] (các số 1265, 1266); 3) Được tháp nhập vào Hội Thánh là Thân Thể Đức Kitô (các số 1267, 1268, 1269, 1270); 4) Mối dây bí tích của sự hiệp nhất các kitô-hữu (số 1271); 5) Ấn tín thiêng liêng không thể tẩy xóa (các số 1272, 1273, 1274).
Để có thể có được một cái nhìn toàn cục và chính xác về Bí tích Thánh Tẩy kitô, theo thiển ý, có lẽ chúng ta cần “đọc lại” Biến cố Đức Giêsu được thánh tẩy ở sông Giođan, bởi Gioan Tẩy Giả, vốn vẫn được coi như là mô mẫu và nguồn gốc của tất cả mọi bí tích Thánh Tẩy kitô khác, và sau đó “đọc lại” những suy tư thần học của các tác giả TƯ liên quan đến Bí tích nầy…
I.       BÍ TÍCH THÁNH TẨY CỦA ĐỨC GIÊSU-KITÔ:
Mc 1, 9-11 : “Hồi ấy, Đức Giêsu từ Nadaret miền Galilê đến, và được ông Gioan làm phép rửa dưới sông Giođan. Vừa lên khỏi nước, Ngài liền thấy các tầng trời xé ra, và thấy Thần Khí như chim bồ câu ngự xuống trên mình. Lại có tiếng từ trời phán rằng : ‘Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con’.” 
Mt 3, 13-17 : “Bấy giờ, Đức Giêsu từ miền Galilê đến sông Giođan, gặp ông Gioan để xin ông làm phép rửa cho mình. Nhưng ông Gioan một mực can Ngài và nói : ‘Chính tôi mới cần được Ngài làm phép rửa, thế mà Ngài lại đến với tôi !’ Nhưng, Đức Giêsu trả lời : ‘Bây giờ cứ thế đã. Vì chúng ta nên làm như vậy để giữ trọn đức công chính.’ Bấy giờ ông Gioan mới chiều theo ý Ngài. Khi Đức Giêsu chịu phép rửa xong, vừa ở dưới nước lên, thì các tầng trời mở ra. Ngài thấy Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu và ngự trên Ngài. Và có tiếng từ trời phán : ‘Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Ngài’.”
Lc 3, 21-22 : “Khi toàn dân đã chịu phép rửa, Đức Giêsu cũng chịu phép rửa, và  đang khi Ngài cầu nguyện, thì trời mở ra, và Thánh Thần ngự xuống trên Ngài dưới hình dáng chim bồ câu. Lại có tiếng từ trời phán rằng : Con là Con của Cha; ngày hôm nay, Cha đã sinh ra con.” 
Khi lướt qua cả ba tường thuật về biến cố Đức Giêsu được thánh tẩy ở sông Giođan bởi Gioan Tẩy giả (Mc 1, 9-11; Mt 3, 13-17; Lc 3, 21-22), người ta sẽ có thể khám phá ra được cấu trúc, vai trò, vị trí và nội hàm ý nghĩa của Bí tích Thánh Tẩy kitô :
1.      Cấu trúc của Bí tích Thánh Tẩy kitô :
Khi phân tích cả ba tường thuật liên quan việc Đức Giêsu được thánh tẩy nơi sông Giođan bởi Gioan Tẩy Giả, người ta khám phá ra được cách khái quát cấu trúc cơ bản của Bí Tích Thánh Tẩy kitô, bao gồm những yếu tố sau đây :
a.       Đặc tính “thừa tác” (baptême ministériel) :
Trong khi trong Cựu Ước (viết tắt : CƯ) cho đến Gioan tẩy Giả, phần lớn việc thanh tẩy là do người ta tự mình làm cho mình, việc Đức Giêsu đến “nhờ” Gioan Tẩy Giả thánh tẩy cho Ngài (Mt 3, 13-15) nói lên tính thừa tác của Bí Tích Thánh Tẩy kitô.
Tuy nhiên, Gioan Tẩy Giả chỉ là thừa tác viên của Bí Tích Thánh Tẩy kitô khi được chính Đức Giêsu-Kitô giao cho hay ủy thác cho thừa tác vụ nầy, dù có thể chỉ là một lần trong đời của ông mà thôi :
“Bấy giờ, Đức Giêsu từ miền Galilê đến sông Giođan, gặp ông Gioan để xin ông làm phép rửa cho mình. Nhưng ông Gioan một mực can Ngài và nói : ‘Chính tôi mới cần được Ngài làm phép rửa, thế mà Ngài lại đến với tôi !’ Nhưng Đức Giêsu trả lời : ‘Bây giờ cứ thế đã. Vì chúng ta nên làm như vậy để giữ trọn đức công chính’. Bấy giờ ông Gioan mới chiều theo ý Ngài.” (Mt 3, 13-15).
Có thể nói rằng tác viên đích thực của Bí tích Thánh Tẩy kitô chính là Thiên Chúa-Ba Ngôi, đặc biệt, Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, hay nói cách khác, Ba Ngôi Thiên Chúa trong cùng lúc vừa là tác nhân (agens) vừa là hiệu quả (effectus) của Bí tích Thánh Tẩy.
Là tác nhân (agens), bởi vì chính Chúa Cha và Chúa Thánh Thần “dìm Con” vào thế gian và vào cõi chết, và cũng chính các Ngài làm cho Con phục sinh, trong cùng lúc vừa là Thiên Chúa thật vừa là người thật, hay trở nên Con Người (viết hoa), con người mới; và làm cho Hội Thánh trở nên Thân Mình của Con, “bởi nước và Thánh Thần” (Ga 3, 5).
Là hiệu quả (effectus), bởi vì khi tuyên xưng, cử hành và sống Bí tích Thánh Tẩy kitô, tương quan giữa Con (và qua Con là toàn thể nhân loại) với Thiên Chúa-Ba Ngôi được xác tín, được củng cố, được tăng cường cách mạnh mẽ và thân mật sâu sắc hơn. Hiệu quả ở đây, như vậy, là những tương quan hiện sinh tình yêu, chứ không phải là một sự vật gì đó (res, une chose) mà người ta có thể sở hữu và sở đắc một lần rồi thôi. Những tương quan tình yêu nầy, vì vậy, được phát triển và nẩy nở theo qui trình phát triển của những hạt giống trong các dụ ngôn về Nước Thiên Chúa của Đức Giêsu.
Nếu Chúa Cha và Chúa Thánh Thần trong cùng lúc vừa là tác nhân vừa là hiệu quả, Chúa Con, cũng vậy, trong cùng lúc vừa là tác nhân vừa là thụ nhân. Là tác nhân, bởi vì ngay từ thưở vĩnh hằng Chúa Con tự nguyện tham gia các công trình tình yêu của Thiên Chúa-Ba Ngôi (Sáng tạo, Mặc khải, Nhập thể, Siêu độ, Thập giá). Là thụ nhân, bởi vì  Đấng “bị dìm vào”, “chết và phục sinh”, “được phục hồi tư cách Con Thiên Chúa”, “được tràn đầy Thánh Thần” chính là Đức Giêsu-Kitô, Con và là Ngôi Lời Thiên Chúa làm người.
“Thiên Chúa Cha cho ta được biết thiên ý nhiệm mầu: thiên ý nầy là kế hoạch yêu thương Ngài đã định từ trước trong Đức Kitô. Đó là đưa thời gian tới hồi viên mãn là qui tụ muôn loài trong trời đất dưới quyền một thủ lãnh là Đức Kitô…” (Ep 1, 9-10).
b.      Đặc tính “dấu chỉ” hay “bí tích” (baptême sacramentel) :
“Từ mysterion trong tiếng Hy Lạp được dịch sang tiếng La tinh bằng hai từ là mysterium (mầu nhiệm) và sacramentum (bí tích). Trong cách giải thích về sau nầy, từ sacramentum (bí tích) diễn tả dấu chỉ hữu hình của thực tại ẩn giấu của ơn cứu độ, thực tại ẩn giấu đó được diễn tả bằng từ mysterium (mầu nhiệm). Theo nghĩa nầy, chính Đức Kitô là mầu nhiệm của ơn cứu độ : ‘Mầu nhiệm của Thiên Chúa không là gì khác ngoài Đức Kitô’ [Thánh Augustinô, Epistula 187, 11, 34 : CSEL 57, 113 (PL 33, 845)]. Công trình cứu độ do nhân tính thánh thiện và có sức thánh hóa của Đức Kitô thực hiện là bí tích của ơn cứu độ…” (GLHTCG, số 774).
i.       Yếu tố bí tích (sacramentum) :
Như vậy, cơ sở nền tảng của các đặc tính “thừa tác” và “bí tích” hay “dấu chỉ” đó chính là sự kiện Đức Giêsu-Kitô trong cùng lúc vừa là Thiên Chúa thật vừa là người thật, và Giáo Hội kitô, Thân Mình của Ngài, cũng vậy, trong cùng lúc vừa vô hình vừa hữu hình, vừa thuộc linh vừa thuộc trần thế.
Là Thiên Chúa thật, vì thế, tư cách và cương vị Con Thiên Chúa của Đức Giêsu-Kitô chỉ có thể được xác nhận từ bởi Thiên Chúa mà thôi :
“Lại có tiếng từ trời phán rằng : ‘Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con’.” (Mc 1, 11; xem thêm Mt 3, 17; Lc 3, 22b).
Là người, vì thế, tư cách là “Đấng được Thiên Chúa tuyển chọn” của Đức Giêsu-Kitô cần được chứng thực vừa bởi con người vừa bởi Thiên Chúa :
“Hôm sau, ông Gioan thấy Đức Giêsu tiến về phía mình liền nói : ‘Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa bỏ tội trần gian…Tôi đã không biết Ngài, nhưng để Ngài được tỏ ra cho dân Itraen, tôi đến làm phép rửa trong nước’. Ông Gioan còn làm chứng : ‘Tôi đã thấy Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống và ngự trên Ngài. Tôi đã không biết Ngài. Nhưng chính Đấng sai tôi đi làm phép rửa đã bảo tôi : ‘Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì người đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần’. Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Ngài là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn.” (Ga 1, 29.31-34).
Khi nói “Tôi đã không biết Ngài, nhưng để Ngài được tỏ ra cho dân Itraen, tôi đến làm phép rửa trong nước”  (Ga 1, 31) và “Tôi đã không biết Ngài. Nhưng chính Đấng sai tôi đi làm phép rửa trong nước đã bảo tôi : ‘Ngươi thấy Thần Khí ngự xuống trên ai…” (Ga 1, 33-34), đã hẳn Gioan muốn chứng tỏ cho thấy Bí tích Thánh Tẩy trong nước vốn chỉ là một “dấu chỉ”, một “bí tích” qua đó “được mặc khải ra” cương vị là Con Thiên Chúa và tư cách là Đấng Mêsia của Đức Giêsu-Kitô.
ii.      Yếu tố mầu nhiệm (mysterium) :
Bí tích Thánh Tẩy, như vậy, tự căn nguyên, là một “dấu chỉ” cho thấy có sự hiện diện của một thực tại khác, vốn vô hình vì thuộc linh, chứ không phải tự nó có khả năng tạo ra những thực tại đó, kể cả thừa tác viên của Bí tích nầy, bởi vì thực tại đó không phải là một sự vật gì đó (res, une chose) mà người ta có thể sở đắc chỉ một lần là xong, mà là chính Thiên Chúa-Ba Ngôi, hay nói cách khác là những tương quan với Ngài. Và tương quan hiện sinh nầy vốn như một hạt giống được gieo trồng trên các mãnh đất là con người, và sẽ phát triển lớn dần lên với thời gian.
Đó chính là lý do tại sao Đức Giêsu lại nói :
“Tôi còn một phép rửa phải chịu, và lòng tôi khắc khoải biết bao cho đến khi việc nầy hoàn tất !” (Lc 12, 50).
“Phần con, con đã tôn vinh Cha ở dưới đất, khi hoàn tất công trình Cha đã giao cho con làm. Vậy, lạy Cha, giờ đây, xin Cha tôn vinh con bên Cha : xin ban cho con vinh quang mà con vẫn được hưởng bên Cha trước khi có thế gian.” (Ga 17, 4-5).
Khi “đọc lại” cả ba tường thuật TƯ liên quan đến Bí tích Thánh Tẩy của Đức Giêsu-Kitô, người ta khám phá ra hai yếu tố quan trọng làm nên căn tính của Bí tích nầy : a) tư cách Con Thiên Chúa được Đức Giêsu tuyên xưng và sống, và được Thiên Chúa-Ba Ngôi “xác nhận”; b) sự “tái hợp”, “đoàn tụ” “hội nhập” giữa Ba Ngôi Thiên Chúa với nhau và với loài người trong Con và qua Con.
(1) Liên quan đến tư cách Con Thiên Chúa của Đức Giêsu-Kitô :
Sự kiện Đức Giêsu, Con và là Ngôi Lời Thiên Chúa làm người, Đấng Thánh, hoàn toàn vô tội, nhận lãnh Phép rửa ở sông Giođan, bởi Gioan Tẩy Giả, chứng tỏ cho thấy nguyên nhân và mục đích chính, trực tiếp của Bí tích Thánh tẩy kitô không phải là để được tha tội, mà là để tư cách và cương vị Con Thiên Chúa của Đức Giêsu được tuyên xưng và được sống bởi Con (Mt 3, 15), và được xác nhận và được mặc khải ra bởi Thiên Chúa-Ba Ngôi (Mc 1, 10-11; Mt 3, 16-17; Lc 3, 21-22), và Gioan Tẩy Giả là thừa tác viên đầu tiên được sai đi để làm chứng, và sau đó là “dân Itraen” cũ và mới (Ga 1, 29.31-34).
Theo thiển ý, đó mới chính là lý do giải thích sự kiện ngay từ khoảng thế kỷ thứ hai Giáo Hội kitô sơ khai đã cho các em nhỏ nhận lãnh Bí tích Thánh Tẩy kitô, bởi vì tội lỗi, thậm chí, cả điều vẫn được gọi là tội “nguyên tổ”, không bao giờ là nguyên lý, nguyên nhân hay động cơ trực tiếp của các bí tích kitô, kể cả bí tích Thánh Tẩy kitô, mà chính là tình yêu nhưng không (vô điều kiện, vô vị lợi và vô biên) của Thiên Chúa-Ba Ngôi.
Thật vậy, qua Mt 3, 15, Đức Giêsu tuyên xưng và sống tư cách Con Thiên Chúa của mình trong tương quan với Cha và như thế là Ngài giữ trọn đức công chính, hay nói theo ngôn ngữ Đông phương là “chính danh” (con cho ra con, cha cho ra cha) :
“Bấy giờ, Đức Giêsu từ miền Galilê đến sông Giođan, gặp ông Gioan để xin ông làm phép rửa cho mình. Nhưng ông Gioan một mực can Ngài và nói : ‘Chính tôi mới cần được Ngài làm phép rửa, thế mà Ngài lại đến với tôi !’ Nhưng, Đức Giêsu trả lời : ‘Bây giờ cứ thế đã. Vì chúng ta nên làm như vậy để giữ trọn đức công chính.’ Bấy giờ ông Gioan mới chiều theo ý Ngài.”
Và chính qua cử chỉ vâng phục đó trong tương quan với Cha mà Thiên Chúa-Ba Ngôi xuất hiện và xác nhận tư cách và cương vị Con Thiên Chúa của Đức Giêsu-Kitô :
“Hồi ấy, Đức Giêsu từ Nadaret miền Galilê đến, và được ông Gioan làm phép rửa dưới sông Giođan. Vừa lên khỏi nước, Ngài liền thấy các tầng trời xé ra, và thấy Thần Khí như chim bồ câu ngự xuống trên mình. Lại có tiếng từ trời phán rằng : ‘Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con’.”  (Mc 1, 9-11).
Vai trò và sứ mạng của Gioan Tẩy Giả thừa tác viên là làm chứng những điều đó :
“Hôm sau, ông Gioan thấy Đức Giêsu tiến về phía mình liền nói : ‘Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa bỏ tội trần gian…Tôi đã không biết Ngài, nhưng để Ngài được tỏ ra cho dân Itraen, tôi đến làm phép rửa trong nước’. Ông Gioan còn làm chứng : ‘Tôi đã thấy Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống và ngự trên Ngài. Tôi đã không biết Ngài. Nhưng chính Đấng sai tôi đi làm phép rửa đã bảo tôi : ‘Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì người đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần’. Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Ngài là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn.” (Ga 1, 29.31-34).
Thật vậy, cương vị và tư cách Con Thiên Chúa vốn thuộc về cấu trúc hữu thể học của Ngôi Vị thần linh của Đức Giêsu-Kitô, “từ” vĩnh hằng, và cả trong thân phận tự hủy làm người của Ngài, dù có bị che khuất bởi thân phận là người của Ngài, và vì thế, cần được mặc khải ra, tỏ lộ ra, bởi chính Thiên Chúa và bởi những con người của Chúa, bởi Giáo Hội kitô, vốn là Thân Mình của Đức Giêsu-Kitô.
Tương quan giữa Bí tích Thánh Tẩy kitô và cương vị Con Thiên Chúa của Đức Giêsu-Kitô, vì thế, không phải là tương quan nhân-quả, mà đúng hơn là dịp, là cơ hội, là hiện trường để Thiên Chúa mặc khải cho (Con, Gioan Tẩy Giả và những người đang hiện diện ở đó, và cho cả tất cả mọi người như chúng ta ngày hôm nay) biết Ngài là Cha của Con, và để Con xác tín mạnh mẽ hơn tương quan phụ-tử đó trong tương quan với Thiên Chúa-Ba Ngôi, và với loài người, trong hiện sinh trần thế của mình.
Hay nói cách khác, cũng không phải Gioan Tẩy Giả, thừa tác viên của Bí Tích Thánh Tẩy là người đích thân mang lại những hiệu quả của Bí Tích nầy mà chính Thiên Chúa-Ba Ngôi, vốn là Đấng mặc khải cho thấy cương vị và tư cách “là Con Thiên Chúa” của Đức Giêsu-Kitô, tức là mặc khải cho thấy “tương quan” của Đức Giêsu-Kitô với Thiên Chúa-Ba Ngôi và ngược lại, đó là tương quan phụ-tử.
Như vậy, ân sủng được tỏ bày ra trong Bí tích Thánh tẩy kitô, trong trường hợp của Đức Giêsu-Kitô, không phải là một sự vật (res, une chose) mà là những tương quan giữa Ba Ngôi Thiên Chúa với nhau và với loài người. Và tương quan nầy là điều mà Đức Giêsu-Kitô đã tuyên xưng, đã cử hành và đã sống trong suốt cả cuộc đời trần thế của Ngài, cho đến Biến cố Thập Giá (chết và Phục Sinh), và trở thành nguyên nhân và mẫu mực cho tất cả mọi hiện sinh kitô.
Ngoài ra, các tác giả TƯ có vẻ như còn muốn nới rộng nội hàm ý nghĩa của Bí tích Thánh Tẩy của Đức Giêsu-Kitô ra hết trương độ và chiều kích phổ quát của nó khi cho rằng Phép rửa của Đức Giêsu-Kitô không chỉ bắt đầu từ việc Ngài được Gioan Tẩy Giả cử hành nơi sông Giođan và được kết thúc nơi Mầu nhiệm Thập Giá (chết và Phục sinh) thôi, mà còn bắt đầu từ mầu nhiệm Sáng tạo, Nhập thể, Mặc khải và Siêu độ của Con, và chấm dứt với Biến cố Quang Lâm của Con Người (viết hoa) : đó cũng chính là quá trình làm con người và làm Con Thiên Chúa của Đức Giêsu-Kitô :
“Anh em thân mến, hiện giờ chúng ta là con Thiên Chúa; nhưng chúng ta sẽ như thế nào, điều ấy chưa được bày tỏ. Chúng ta biết rằng khi Đức Kitô xuất hiện, chúng ta sẽ nên giống như Ngài, vì Ngài thế nào, chúng ta sẽ thấy Ngài như vậy.” (1 Ga 3, 2).
(2) Sự “tái hợp” hay “đoàn tụ” giữa Thiên Chúa-Ba Ngôi với nhau và với loài người trong Con và qua Con :
Bí tích Thánh Tẩy của Đức Giêsu-Kitô, ngoài ra, còn là “hiện trường” trong đó diễn ra cuộc gặp gỡ, tái hợp, đoàn tụ giữa Ba Ngôi Thiên Chúa với nhau và với loài người trong Đức Giêsu-Kitô, Con và là Ngôi Lời Thiên Chúa làm người. Đó chính là điều cả ba tường thuật về biến cố Đức Giêsu được thánh tẩy ở sông Giođan bởi Gioan Tẩy Giả đều ghi nhận.
“Hồi ấy, Đức Giêsu từ Nadaret miền Galilê đến, và được ông Gioan làm phép rửa dưới sông Giođan. Vừa lên khỏi nước, Ngài liền thấy các tầng trời xé ra, và thấy Thần Khí như chim bồ câu ngự xuống trên mình. Lại có tiếng từ trời phán rằng : ‘Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con’.”  (Mc 1, 9-11; xem Mt 3, 16-17; Lc 3, 21-22).
“Phần con, con đã tôn vinh Cha ở dưới đất, khi hoàn tất công trình Cha đã giao cho con làm. Vậy, lạy Cha, giờ đây, xin Cha tôn vinh con bên Cha : xin ban cho con vinh quang mà con vẫn được hưởng bên Cha trước khi có thế gian.” (Ga 17, 4-5).
c.       Bí tích Thánh Tẩy “nhân danh Chúa Giêsu” hay “nhân danh Ba Ngôi Thiên Chúa” (baptême trinitaire) :
Chiều kích nầy được diễn tả khá rõ ràng nơi Mt 3, 13-15 :
“Bấy giờ, Đức Giêsu từ miền Galilê đến sông Giođan, gặp ông Gioan để xin ông làm phép rửa cho mình. Nhưng ông Gioan một mực can Ngài và nói : ‘Chính tôi mới cần được Ngài làm phép rửa, thế mà Ngài lại đến với tôi !’ Nhưng Đức Giêsu trả lời : ‘Bây giờ cứ thế đã. Vì chúng ta nên làm như vậy để giữ trọn đức công chính’. Bấy giờ ông Gioan mới chiều theo ý người.” (Mt 3, 13-15).
Ở đây, Gioan làm phép rửa là do yêu cầu của Đức Giêsu hay nhân danh Ngài. Như vậy, chính nhờ nhân danh Đức Giêsu mà phép rửa nầy, được cử hành bởi Gioan Tẩy Giả, mang giá trị kitô.
Ngoài ra, khi trả lời cho thái độ ngại ngần của Gioan Tẩy Giả : “Nhưng Đức Giêsu trả lời : ‘Bây giờ cứ thế đã. Vì chúng ta nên làm như vậy để giữ trọn đức công chính’.” (Mt 3, 15), có vẻ như Đức Giêsu muốn cho thấy sở dĩ Ngài đến xin Gioan làm phép rửa cho mình là vì muốn tuân theo Thánh Ý của Cha, qua đó Đức Giêsu cho thấy cảm thức của Ngài về tương quan phụ-tử với Chúa Cha của Ngài.
Cả chính Gioan Tẩy Giả khi làm phép rửa nầy cũng là vì vâng theo Ý của Đấng đã sai ông làm phép rửa trong nước:
“Tôi đã không biết Ngài. Nhưng chính Đấng sai tôi đi làm phép rửa trong nước đã bảo tôi : ‘Ngươi thấy Thần Khí ngự xuống trên ai…” (Ga 1, 33-34).
Như vậy, là cả “thụ nhân” (Đức Giêsu) cả thừa tác viên (Gioan Tẩy Giả) của Bí tích Thánh Tẩy đều làm phép rửa nhân danh Thiên Chúa-Ba Ngôi. Và chính nhờ vậy, mà những tương quan hiện sinh giữa con người (cả “thụ nhân” và thừa tác viên) với Thiên Chúa-Ba Ngôi và với nhau, và ngược lại, được cử hành, được tuyên xưng và được sống.
Chính yếu tố “nhân danh Chúa Giêsu-Kitô” và “nhân danh Ba Ngôi Thiên Chúa” khiến cho Bí tích Thánh tẩy kitô khác với các phép rửa khác, kể cả của Gioan Tẩy Giả. Và, cũng chính vì thế, mà chỉ Bí tích Thánh Tẩy kitô mới có khả năng tha tội, bởi vì chỉ Thiên Chúa mới có quyền tha tội. 
Như chúng tôi đã phân tích trong phần thừa tác viên của Bí tích Thánh tẩy kitô trên đây, Bí tích Thánh Tẩy kitô không chỉ được diễn ra “nhân danh Chúa Giêsu-Kitô” và qua Ngài “nhân danh Thiên Chúa-Ba Ngôi”, mà chính Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, trong cùng lúc, vừa là tác nhân (agens) vừa là hiệu quả (effectus) của Bí tích nầy; và Chúa Con, trong cùng lúc vừa là tác nhân vừa là thụ nhân của Bí tích Thánh Tẩy kitô.
2.      Vai trò và vị trí của Bí tích Thánh Tẩy của Đức Giêsu-Kitô trong hiện sinh kitô :
Sau Biến cố Thập Giá (chết và Phục sinh) và Thăng thiên của Đức Giêsu-Kitô, các cộng đoàn Giáo hội sơ khai bắt đầu tiến hành nỗ lực “đọc lại” toàn bộ những gì liên quan đến con người và cuộc đời của Ngài (lời nói, hành vi, cử chỉ, thái độ, cung cách ứng xử, các biến cố trong cuộc đời của Ngài, v.v…), đặc biệt, Bí tích Thánh Tẩy của Ngài.
Nỗ lực “đọc lại” nầy giúp các cộng đoàn Giáo hội sơ khai khám phá ra rằng để được siêu độ hay được trở nên con Thiên Chúa, điều duy nhất cần thiết là con người phải “ở trong” Đức Giêsu-Kitô, Con và là Ngôi Lời Thiên Chúa làm người, và rồi từng bước khám phá ra, một đàng, a) vị trí, vai trò và chức năng của Đức Giêsu-Kitô phục sinh như là “nguyên lý”, là “trung gian” và là “cùng đích” của tất cả những Công trình Sáng tạo, Mặc khải, Siêu độ, tức là của toàn thể hiện sinh kitô; b) Bí tích Thánh Tẩy của Đức Giêsu-Kitô như là mô mẫu và nguồn gốc của Bí tích Thánh Thẩy kitô; và đàng khác, vai trò và vị trí của Chúa Cha và Chúa Thánh Thần trong hiện sinh thánh tẩy kitô.
“Vì muôn vật đều do Ngài (Thiên Chúa) mà có, nhờ Ngài mà tồn tại và qui hướng về Ngài…” (Rm 11, 36).
a.       Vai trò và vị trí của Đức Giêsu-Kitô trong hiện sinh kitô :
i.       “Là nguyên lý” :
Trước tiên, trên cơ sở hữu thể học, trong tư cách là Con Thiên Chúa vĩnh hằng, Đức Giêsu-Kitô là Nguyên lý hiện hữu của tất cả mọi Thụ Tạo, đặc biệt, con người :
“Thiên Chúa phán : ‘Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta…Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa’…” (St 1, 26-27).
“Thánh Tử là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thọ tạo, vì trong Ngài, muôn vật được tạo thành trên trời cùng dưới đất, hữu hình với vô hình…Ngài có trước muôn loài muôn vật, tất cả đều tồn tại trong Ngài.” (Cl 1, 15-17).
“Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa…Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Ngài, thì chẳng có gì được tạo thành.” (Ga 1, 1.3a).
Thứ đến, trên cơ sở thuộc linh hay kitô, trong tư cách là Con Người Mới, tràn ngập Thần Khí sự sống vĩnh hằng, sau biến cố Thập Giá (chết và Phục sinh), hay nói cách khác sau khi hoàn tất Phép rửa của mình (Lc 12, 50), Đức Giêsu-Kitô trở nên Nguyên lý và Nguyên nhân phổ quát và duy nhất của sự sống vĩnh hằng, của ơn siêu độ của tất cả mọi người :
“Vì nếu tại một người mà nhân loại phải chết, thì cũng nhờ một người mà kẻ chết được sống lại. Quả thế, như mọi người vì liên đới với Ađam mà phải chết, thì mọi người nhờ liên đới với Đức Kitô, cũng được Thiên Chúa cho sống.” (1 Cr 15, 21-22).
“Đức Giêsu-Kitô cũng là đầu của thân thể, nghĩa là đầu của Hội Thánh; Ngài là khởi nguyên, là trưởng tử trong số những người từ cõi chết sống lại, để trong mọi sự Ngài đứng hàng đầu. Vì Thiên Chúa đã muốn làm cho tất cả sự viên mãn hiện diện ở nơi Ngài, cũng như muốn nhờ Ngài mà làm cho muôn vật được hòa giải với mình. Nhờ máu Ngài đổ ra trên Thập Giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời.” (Cl 1, 18-20).
ii.      “Là Trung gian” :
Không chỉ là Nguyên lý của Sự sống vĩnh hằng, của ơn siêu độ, của tư cách con Thiên Chúa, bởi vì là Ân Sủng của tất cả mọi ân sủng Thiên Chúa ban cho các Thụ tạo, đặc biệt, con người, Đức Giêsu-Kitô phục sinh còn là Trung gian của tất cả mọi ân sủng (con Thiên Chúa, mang bản tính Thiên Chúa, có sự sống tình yêu vĩnh hằng, được siêu độ, v.v…).
Hay nói cách khác, cũng như ở nơi Đức Giêsu-Kitô, cương vị Con Thiên Chúa của Ngài cũng như tương quan của Ngài với Thiên Chúa-Ba Ngôi không phải có được do việc Ngài được Thánh Tẩy ở sông Giođan bởi Gioan Tẩy Giả, mà ngay từ vĩnh hằng, Ngài đã là như thế, và mãi mãi vẫn là thế, trong tương quan với Thiên Chúa-Ba Ngôi, nơi con người cũng vậy, người ta có được những ân sủng đó (tư cách con Thiên Chúa, được siêu độ, v.v…), không phải đơn giản và thuần túy chỉ từ Bí tích Thánh tẩy bằng nước không thôi, mà là kể từ khi con người được tạo dựng nên “trong” Đức Giêsu-Kitô (Ga 1, 3) và được ơn siêu độ phổ quát “trong” Ngài và “nhờ” Ngài trong Mầu nhiệm Thập giá [chết và Phục sinh] (Cl 1, 18-20).
Vì đây là những tương quan liên vị, vì thế, sự “ở trong Đức Giêsu-Kitô” nầy hẳn mang nhiều cấp độ và hình thái khác nhau : a) cấp độ “ở trong Đức Kitô” trên cơ sở hữu thể học [ordre ontologiquement christique]; b) cấp độ “ở trong Đức Kitô” trên cơ sở ơn siêu độ phổ quát [ordre universellement christique]; c) cấp độ “ở trong Đức Kitô” trên cơ sở Ngài được tuyên xưng [ordre personnellement christique].
(1) Cấp độ “ở trong Đức Kitô” trên cở sở hữu thể học [ordre ontologiquement christique] : tự căn tính nguyên thủy, con người vốn được tạo dựng nên và hiện hữu trong Con, vốn là Ngôi Lời Thiên Chúa :
“Thánh Tử là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thọ tạo, vì trong Ngài, muôn vật được tạo thành trên trời cùng dưới đất, hữu hình với vô hình…Ngài có trước muôn loài muôn vật, tất cả đều tồn tại trong Ngài.” (Cl 1, 15-17).
Khi nói “tất cả đều tồn tại trong Ngài” (Cl 1, 17), đã hẳn, Phaolô muốn nói ngay từ thưở khai nguyên, tất cả mọi Thụ Tạo, đặc biệt, con người, đều có tương quan hữu thể học với Thiên Chúa-Ba Ngôi qua Con và trong Con, vốn là Ngôi Lời của Thiên Chúa. Cũng như những tương quan huyết tộc (phụ-tử, mẫu-tử và huynh đệ) giữa con người với nhau, vốn là điều gì đó nằm ngay trong cấu trúc hữu thể học và không thể nào đảo ngược được, hay đổi khác được, dù người ta có muốn hay không, có có ý thức về hay không, cũng vậy, tương quan giữa các Thụ Tạo, đặc biệt, con người với Thiên Chúa là điều gì đó nằm trong căn tính nguyên thủy của các Thụ Tạo : đó là điều mà ngôn ngữ Đông Phương vẫn gọi là tương quan tam tài (Thiên-Địa-Nhân hòa).
(2) Cấp độ “ở trong Đức Kitô” trên cơ sở ơn siêu độ phổ quát [ordre universellement christique] :
Trong Biến cố Thập Giá (chết và Phục sinh), khi mà sự dâng hiến tự hủy đến tột cùng, qua đó tình yêu của Con đối với Cha cũng đạt đến đỉnh điểm, nhân tính của Đức Giêsu-Kitô trở nên một với thần tính của Ngài, hay nói cách khác, nhân tính của Ngài mà vốn là hiện thân của toàn thể nhân loại được thần linh hóa, một lần là vĩnh viễn, và đó là cơ sở của ơn siêu độ phổ quát của Đức Giêsu-Kitô đối với toàn thể nhân loại mọi nơi và mọi thời. Toàn thể nhân loại mọi nơi và mọi thời, trong Đức Giêsu-Kitô, đều được siêu độ, đều được trở nên con Thiên Chúa, và nếu phải xa cách Ngài vì tội lỗi thì được tha thứ và giải hòa lại với Ngài, trong và qua Mầu nhiệm Thập giá (chết và Phục sinh)…
“Vì nếu tại một người mà nhân loại phải chết, thì cũng nhờ một người mà kẻ chết được sống lại. Quả thế, như mọi người vì liên đới với Ađam mà phải chết, thì mọi người nhờ liên đới với Đức Kitô, cũng được Thiên Chúa cho sống.” (1 Cr 15, 21-22).
“Đức Giêsu đáp : ‘…Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi.’ Đức Giêsu nói thế để ám chỉ Ngài sẽ phải chết cách nào.” (Ga 12, 32-33).
“Thiên Chúa muốn cho mọi người đều được siêu độ và nhận biết chân lý.” (1 Tm 2, 4).
“Quả thật, Đức Giêsu chỉ dâng hiến lễ một lần, mà vĩnh viễn làm cho những kẻ Ngài đã thánh hóa được nên hoàn hảo.” (Dt 10, 14).
“Trong Đức Giêsu-Kitô, chúng ta được ơn siêu độ.” (Ep 1,7). 
Đó chính là lý do tại sao Giáo Hội trước sau như một vẫn khẳng định Đức Giêsu-Kitô là Đấng siêu độ duy nhất và phổ quát, hay nói cách khác, ơn siêu độ nơi mầu nhiệm Thập Giá (chết và Phục sinh) của Đức Giêsu-Kitô là dành cho toàn thể nhân loại mọi nơi và mọi thời.
(3) Cấp độ “ở trong Đức Kitô” trên cơ sở Ngài [và trong Ngài, mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi] được tuyên xưng [ordre personnellement christique] :
Cũng như ở nơi loài người, việc có tương quan huyết tộc phụ-tử và mẫu-tử giữa người nầy với người nọ và việc nhận ra những ai có tương quan huyết tộc đó với nhau là hai việc khác nhau.
Trong ngôn ngữ triết học, đó là sự khác biệt giữa hai khái niệm hiện hữu (existence) và hiện diện (présence). Người ta có thể hiện hữu bên nhau mà không hiện diện đối với nhau. Người ta có thể “hiện hữu trong” Đức Giêsu-Kitô và qua Ngài trong Thiên Chúa-Ba Ngôi, nhưng có thể người ta vẫn chưa cảm nhận ra được sự hiện diện của nhau. Chỉ có tình yêu mới làm cho người ta hiện diện đối với nhau, dù không hiện hữu bên nhau, như người Việt Nam chúng ta vẫn ví von : “Hữu duyên, thiên lý năng tương ngộ; vô duyên, đối diện bất tương phùng.”, tức là khi yêu nhau thì dù có xa cách nhau vạn dặm về mặt không gian, người ta vẫn luôn có nhau, hiện diện đối với nhau; còn khi không yêu nhau, thì dù có ở gần bên nhau về mặt không gian, vẫn chẳng là gì đối với nhau cả…
Ở hai cấp độ (1) và (2), người ta chỉ mới hiện hữu trong Đức Giêsu-Kitô, nhưng có thể chưa cảm nhận ra được cách rõ ràng sự hiện diện của Ngài. Ở cấp độ (3), chính khi tuyên xưng, khi nói ra danh Đức Giêsu-Kitô và qua Ngài, Thiên Chúa-Ba Ngôi, khi cử hành và khi sống những tương quan hiện sinh với các Ngài, trong Bí tích Thánh Tẩy, người ta bắt đầu nhận ra được sự hiện diện của Thiên Chúa-Ba Ngôi trong tương quan với họ, và chính điều nầy mang lại sự sống tình yêu vĩnh hằng cho con người. 
“Nếu miệng bạn tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa, và lòng bạn tin rằng Thiên Chúa đã làm cho Ngài sống lại từ cõi chết, thì bạn sẽ được cứu độ. Quả thế, có tin thật trong lòng, mới được nên công chính; có xưng ra ngoài miệng, mới được ơn siêu độ.” (Rm 10, 9-10).
“Hễ ai tuyên xưng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, thì Thiên Chúa ở lại trong người ấy và người ấy ở lại trong Thiên Chúa.” (1 Ga 4, 15).
Điều làm nên căn tính và giá trị của Bí tích Thánh tẩy kitô chính là hành vi đó được cử hành “nhân danh Chúa Giêsu” hay “nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần”. Chính khi những tương quan đó được tuyên xưng, trong Bí tích Thánh tẩy, tương quan cá vị giữa thụ nhân và Đức Giêsu-Kitô và Ba Ngôi Thiên Chúa được khẳng định, được xác định, được cử hành và được sống. Đó chính là nguồn gốc của sự “tái sinh”. Và đó chính là sự sống tình yêu vĩnh hằng.
Và chính trong ý nghĩa đó mà Bí tích Thánh Tẩy kitô trở nên “hiện trường” trong đó con người trong Đức Giêsu-Kitô (và cả trong Thân Mình của Ngài là Hội Thánh) được “đoàn tụ”, được “tái hợp”, được “gặp gỡ” với Thiên Chúa-Ba Ngôi.
Bí tích Thánh Tẩy kitô như vậy không chỉ đưa thụ nhân hội nhập vào trong một cộng đoàn nhỏ bé nào đó thôi, thậm chí kể cả Giáo Hội là Thân Mình của Đức Kitô , mà còn vào trong tương quan phụ-tử với Thiên Chúa-Ba Ngôi trong Con là Đức Giêsu-Kitô.
iii.     “Là Cùng đích” :
“Thiên Chúa phán : ‘Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta…Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa’…” (St 1, 26-27).
Khi nói con người được tạo dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa và giống như Thiên Chúa, St 1, 26-27 muốn cho thấy Đức Giêsu-Kitô, Con và là Ngôi Lời Thiên Chúa vĩnh hằng và làm người là mô mẫu để con người phải trở thành (Rm 8, 29), bởi vì Đức Giêsu-Kitô chính là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình (1 Cr 11, 7; 2 Cr 4, 4; Cl 1, 15).
Hay nói cách khác, con người chỉ là người khi con người trở nên giống như Đức Giêsu-Kitô. Và con người chỉ trở nên giống như Đức Giêsu-Kitô khi “ở trong” Ngài.
“Anh em thân mến, hiện giờ chúng ta là con Thiên Chúa; nhưng chúng ta sẽ như thế nào, điều ấy chưa được bày tỏ. Chúng ta biết rằng khi Đức Kitô xuất hiện, chúng ta sẽ nên giống như Ngài, vì Ngài thế nào, chúng ta sẽ thấy Ngài như vậy.” (1 Ga 3, 2).
Chính trên cơ sở đó mà Đức Giêsu đã có thể khẳng định :
“Đức Giêsu đáp : ‘Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy. Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha Thầy. Ngay từ bây giờ, anh em biết Ngài và đã thấy Ngài’.” (Ga 14, 6-7).
Cách chung, có thể nói rằng toàn bộ các sách TƯ đều là những nỗ lực suy tư về Bí tích Thánh Tẩy kitô, nhưng đặc biệt nhất, là hai tác giả TƯ : Tác giả sách Tin Mừng thứ tư (Ga) và Thánh Phaolô, với những góc nhìn và điểm nhấn có thể khác nhau, nhưng nền tảng căn cơ vẫn là dựa trên “phép rửa của Đức Giêsu-Kitô”.
Trên cơ sở Đức Giêsu-Kitô là Ân Sủng của tất cả mọi ân sủng Thiên Chúa ban cho loài người, tư cách con Thiên Chúa của tất cả mọi người đều dựa trên cương vị Con Thiên Chúa của Đức Giêsu-Kitô, hay nói cách khác, tất cả mọi người chỉ nhận được ân sủng là con Thiên Chúa nhờ, bởi và trong Đức Giêsu-Kitô, Con và là Ngôi Lời Thiên Chúa làm người mà thôi.
Đàng khác, bởi vì tự cấu trúc hữu thể học, tất cả mọi người vốn được tạo dựng nên “theo hình ảnh Thiên Chúa” và “giống như Thiên Chúa” (St 1, 26-27), thế mà, hình ảnh hữu hình của Thiên Chúa vô hình lại chính là Đức Giêsu-Kitô (1 Cr 11, 7; 2 Cr 4, 4; Cl 1, 15), điều đó có nghĩa, tự cấu trúc hữu thể học, tất cả mọi người đều là anh em với Đức Giêsu-Kitô, nghĩa là tư cách con Thiên Chúa của con người chỉ có được khi “ở trong” Ngài và trở nên con Thiên Chúa cũng có nghĩa là được ơn siêu độ :
“Trong Đức Giêsu-Kitô, chúng ta được ơn siêu độ.” (Ep 1,7). 
Hiện sinh thánh tẩy của Đức Giêsu-Kitô, vì thế, trở thành mô mẫu của hiện sinh thánh tẩy kitô, và là cơ sở của chính Bí tích Thánh Tẩy kitô.
b.      Vai trò và vị trí của Chúa Cha và Chúa Thánh Thần trong hiện sinh thánh tẩy kitô :
Trong “vĩnh hằng” cũng như trong Kế đồ tình yêu diễn ra trong Lịch Sử, Ba Ngôi Thiên Chúa luôn hiệp nhất với nhau nên Một (Ga 10, 30 : “Tôi và Chúa Cha, Chúng tôi là Một.”), trong Bí tích Thánh Tẩy kitô cũng vậy, Ba Ngôi Thiên Chúa luôn ở trong nhau, luôn có nhau, luôn hành động chung với nhau, vì thế, khi được “ở trong” Đức Giêsu-Kitô, con người trong cùng lúc cũng được “ở trong” Chúa Cha và Chúa Thánh Thần.
i.       Vai trò và vị trí của Chúa Cha :
Như đã được lưu ý trên đây, cũng như trong Bí tích Thánh tẩy của Đức Giêsu-Kitô, trong Bí tích Thánh Tẩy kitô cũng vậy, Chúa Cha trong cùng lúc vừa là tác nhân (agens) vừa là hiệu quả (effectus) của hiện sinh thánh tẩy kitô, hay nói cách khác, chính Chúa Cha vừa là Đấng “dìm” con người vào mầu nhiệm tự hủy và thập giá, vừa ban cho loài người tư cách con Thiên Chúa trong Con của Ngài, tức là tương quan phụ-tử với Ngài; và con người khi tình nguyện, chủ động “dìm mình” vào mầu nhiệm tự hủy mình đi nơi thập giá qua hành vi tuyên xưng, cử hành và sống tư cách là con Thiên Chúa, con của Cha, con người trong cùng lúc vừa trở thành tác nhân (agens) của Bí tích Thánh tẩy kitô, vừa trở nên hiệu quả (effectus) của Bí tích nầy, tức là trở nên con Thiên Chúa, con của Cha.
“Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giêsu-Kitô, Chúa chúng ta. Trong Đức Kitô, từ cõi trời, Ngài đã thi ân giáng phúc cho ta hưởng muôn vàn ơn phúc của Thánh Thần. Trong Đức Kitô, Ngài đã chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ, để trước thánh nhan Ngài, ta trở nên tinh tuyền thánh thiện, nhờ tình thương của Ngài. Theo ý muốn và lòng nhân ái của Ngài, Ngài đã tiền định cho ta làm nghĩa tử nhờ Đức Giêsu-Kitô…” (Ep 1, 3-5). 
ii.      Vai trò và vị trí của Chúa Thánh Thần :
Trong Bí tích Thánh Tẩy của Đức Giêsu-Kitô, trong tương quan với Ngài, Chúa Thánh Thần trong cùng lúc vừa là tác nhân (agens) vừa là hiệu quả (effectus).
a- Là “tác nhân” :
Là tác nhân ngay trong việc Chúa Con nhập thể làm người:
“Sứ thần đáp : ‘Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa’.” (Lc 1, 35; xem thêm Mt 1, 18.20).
Là tác nhân trong Phép Rửa của Đức Giêsu-Kitô :
“Khi toàn dân đã chịu phép rửa, Đức Giêsu cũng chịu phép rửa, và đang khi Ngài cầu nguyện, thì trời mở ra, và Thánh Thần ngự xuống trên Ngài dưới hình dáng chim bồ câu.” (Lc 3, 21-22a).
Là tác nhân trong việc huấn luyện để Đức Giêsu-Kitô quen chiến đấu và chiến thắng, quen với Thập giá :
“Đức Giêsu được đầy Thánh Thần, từ sông Giođan trở về. Suốt bốn mươi ngày, Ngài được Thánh Thần dẫn đi trong hoang địa và chịu quỉ cám dỗ.” (Lc 4, 1-2a; xem thêm Mc 1, 12).
Là tác nhân của quyền năng (Lc 4, 14) và của niềm hân hoan (Lc 10, 21) của Đức Giêsu-Kitô :
“Được quyền năng của Thần Khí thúc đẩy, Đức Giêsu trở về miền Galilê và tiếng tăm Ngài Ngài đồn ra khắp vùng lân cận.” (Lc 4, 14).
“Ngay giờ ấy, được Thánh Thần tác động, Đức Giêsu hớn hở vui mừng và nói.” (Lc 10, 21a).
b- Là “hiệu quả” :
Thật vậy, trong Bí tích Thánh Tẩy của Đức Giêsu-Kitô, Chúa Thánh Thần trong cùng lúc vừa là tác nhân vừa là hiệu quả.
“Quả vậy, Đấng được Thiên Chúa sai đi, thì nói những lời của Thiên Chúa, vì Thiên Chúa ban Thần Khí cho Ngài vô ngần vô hạn. Chúa Cha yêu thương người Con và đã giao mọi sự trong tay Ngài. Ai tin vào người Con thì được sự sống đời đời; còn kẻ nào không chịu tin vào người Con thì không được sự sống, nhưng cơn thịnh nộ của Thiên Chúa đè nặng trên kẻ ấy.” (Ga 3, 34-36).
“Đức Giêsu nói : ‘…Ai khát, hãy đến với tôi, ai tin vào tôi, hãy đến mà uống ! Như Kinh Thánh đã nói : Từ lòng Ngài, sẽ tuôn chảy những dòng nước hằng sống’. Đức Giêsu muốn nói về Thần Khí mà những kẻ tin vào Ngài sẽ lãnh nhậ, vì Thần Khí chưa có, bởi Đức Giêsu chưa được tôn vinh.” (Ga 7, 37-39). 
Thần học cổ điển và kinh viện vốn có khuynh hướng sự vật hóa (chosifier) các ân sủng của các bí tích kitô nói chung, đặc biệt, của các bí tích khai tâm, vì thế, thường cảm thấy không mấy thoải mái với truyền thống Giáo Hội tách các “bí tích khai tâm” hay đúng hơn, các “bí tích nhập môn” ra thành ba bí tích Thánh tẩy, Thêm sức và Thánh Thể. Thực ra, các ân sủng của các bí tích khai tâm hay nhập môn là những tương quan với Chúa Cha, Chúa Thánh Thần và Chúa Con. Trong bí tích Thánh tẩy, điểm nhấn là tương quan với Thiên Chúa-Ba Ngôi nói chung; trong bí tích Thêm sức, điểm nhấn là tương quan của người kitô-hữu với Chúa Thánh Thần; còn trong bí tích Thánh Thể, điểm nhấn là tương quan với Đức Giêsu-Kitô và Thân Mình của Ngài là Giáo Hội kitô. Đó là những tương quan tình yêu giữa các đối tác vốn là những ngã vị, vì thế, chúng phải được phát sinh và triển nở theo qui luật quá trình phát triển của những hạt giống, như vốn được đề cập đến rất nhiều trong các dụ ngôn về Nước Thiên Chúa của Đức Giêsu…
3.      Ý nghĩa trọn vẹn của Bí tích Thánh Tẩy của Đức Giêsu-Kitô :
Đối với các tác giả TƯ, có vẻ như ý nghĩa của Bí tích Thánh Tẩy của Đức Giêsu-Kitô không chỉ giới hạn nơi việc Ngài được nhận lãnh Phép rửa nơi sông Giođan bởi Gioan Tẩy Giả, mà còn bao trùm luôn toàn bộ các mầu nhiệm Sáng tạo, Mặc khải, Nhập thể, Siêu độ và Quang lâm.
Và điều nầy, trước tiên, được hé lộ cho thấy nơi Lc 12, 50 : “Tôi còn một Phép rửa phải chịu, và lòng tôi khắc khoải biết bao cho đến khi việc nầy hoàn tất !”
Thật vậy, Mầu nhiệm Đức Giêsu-Kitô “bị dìm xuống” (Hy ngữ : Baptizein) đã được các tác giả TƯ, hay đúng hơn, các cộng đoàn Giáo Hội kitô sơ khai coi như là đã khởi đầu từ những mầu nhiệm Tự hủy, Sáng tạo, Mặc khải, Nhập Thể  và Siêu độ và chấm dứt trong Ngày Quang Lâm :
“Đức Giêsu-Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa., nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Ngài lại còn hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự. Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Ngài và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu.” (Pl 2, 6-9).
“Thánh Tử là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thọ tạo, vì trong Ngài, muôn vật được tạo thành trên trời cùng dưới đất, hữu hình và vô hình. Dẫu là hàng dũng lực thần thiêng hay là bậc quyền năng thượng giới, tất cả đều do Thiên Chúa tạo dựng nhờ Ngài và cho Ngài. Ngài có trước muôn loài muôn vật, tất cả đều tồn tại trong Ngài. Ngài cũng là đầu của thân thể, nghĩa là đầu của Hội Thánh; Ngài là khởi nguyên, là trưởng tử trong số những người từ cõi chết sống lại, để trong mọi sự Ngài đứng hàng đầu. Vì Thiên Chúa đã muốn làm cho tất cả sự viên mãn hiện diện nơi Ngài, cũng như muốn nhờ Ngài mà làm cho muôn vật được hòa giải với mình. Nhờ máu Ngài đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời.” (Cl 1, 15-20).
“Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giêsu-Kitô, Chúa chúng ta. Trong Đức Kitô, từ cõi trời, Ngài đã thi ân giáng phúc cho ta hưởng muôn vàn ơn phúc của Thánh Thần. Trong Đức Kitô, Ngài đã chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ, để trước thánh nhan Ngài, ta trở nên tinh tuyền thánh thiện, nhờ tình thương của Ngài. Theo ý muốn và lòng nhân ái của Ngài, Ngài đã tiền định cho ta làm nghĩa tử nhờ Đức Giêsu-Kitô…” (Ep 1, 3-5).
“Thật vậy, Đức Kitô phải nắm vương quyền cho đến khi Thiên Chúa đặt mọi thù địch dưới chân Ngài…Lúc muôn loài đã qui phục Đức Kitô, thì chính Ngài, vì là Con, cũng sẽ qui phục Đấng bắt muôn loài phải qui phục Ngài; và như vậy, để Thiên Chúa là tất cả trong mọi người và trong mọi sự.” (1 Cr 15, 25.28).
Đó chính là Bí tích Thánh Tẩy của tất cả mọi bí tích thánh tẩy kitô. Và chỉ trong chân trời đó mà người ta mới có thể hiểu được nhu cầu cần thiết tuyệt đối của Bí tích Thánh Tẩy kitô đối với ơn siêu độ loài người, mọi nơi và mọi thời.
“Muôn loài thọ tạo những ngong ngóng đợi chờ Ngày Thiên Chúa mặc khải vinh quang của con cái Ngài. Quả thế, muôn loài đã lâm vào cảnh hư ảo, không phải vì chúng muốn, nhưng là vì Thiên Chúa bắt chịu vậy; tuy nhiên, vẫn còn niềm trông cậy là có ngày sẽ được giải thoát, không phải lệ thuộc vào cảnh hư nát, mà được cùng với con cái Thiên Chúa chung hưởng tự do và vinh quang. Thật vậy, chúng ta biết rằng  : cho đến bây giờ, muôn loài thọ tạo cùng rên siết và quằn quại như sắp sinh nở. Không phải muôn loài mà thôi, cả chúng ta cũng rên siết trong lòng : chúng ta đã lãnh nhận Thần Khí như ân huệ mở đầu, nhưng còn trông đợi Thiên Chúa ban cho trọn quyền làm con, nghĩa là cứu chuộc thân xác chúng ta nữa. Quả thế, chúng ta đã được cứu độ, nhưng vẫn còn phải trông mong…” (Rm 8, 19-24a).
II.      BÍ TÍCH THÁNH TẨY CỦA ĐỨC GIÊSU-KITÔ NHƯ LÀ MÔ MẪU VÀ NGUỒN GỐC CỦA TẤT CẢ MỌI BÍ TÍCH THÁNH TẨY KITÔ :
1.      Là “mô mẫu” :
Điều nầy có nghĩa các Bí tích Thánh Tẩy để là “kitô” phải hội đủ những yếu tố của Bí tích Thánh Tẩy của Đức Giêsu-Kitô :
a.       Đặc tính “thừa tác” (baptême ministériel) :
Sách GLHTCG hiện nay qui định :
“Thừa tác viên thông thường của bí tích Rửa Tội là Giám mục, linh mục, và trong Giáo Hội La tinh, cả phó tế nữa. Trong trường hợp khẩn thiết , thì bất cứ người nào, kể cả những người chưa chịu Phép Rửa, mà có ý hướng cần thiết, đều có thể cử hành Phép Rửa, bằng cách sử dụng công thức Rửa Tội nhân danh Chúa Ba Ngôi…” (số 1256).
b.      Đặc tính “dấu chỉ” hay “bí tích” (baptême sacramentel) :
Sách GLHTCG khẳng định :
“Ý nghĩa và ân sủng của Bí tích Rửa Tội được trình bày rõ ràng trong các nghi thức cử hành. Khi chăm chú theo dõi các cử chỉ và lời nói của cuộc cử hành, các tín hữu được khai tâm về các sự phong phú mà bí tích nầy biểu lộ và thực hiện nơi mỗi người tân tòng.” (số 1234; nên xem tiếp các số 1235 đến hết 1243).
c.       Đặc tính kitô hay “ba ngôi” (baptême trinitaire) :
Sách GLHTCG cho biết :
“Bí tích Rửa tội không những rửa sạch mọi tội lỗi, mà còn làm cho người tân tòng trở nên ‘một thụ tạo mới’, thành nghĩa tử của Thiên Chúa, ‘được thông phần bản tính Thiên Chúa’, thành chi thể của Đức Kitô và đồng thừa tự với Ngài, và thành đền thờ Chúa Thánh Thần.” (số 1265).
“Chúa Ba Ngôi Chí Thánh ban cho người chịu Phép Rửa ơn thánh hóa, ơn công chính hóa :
-        làm cho người đó có khả năng tin vào Thiên Chúa, trông cậy Ngài và yêu mến Ngài nhờ các nhân đức đối thần;
-        làm cho người đó có khả năng sống và hành động theo sự tác động của Chúa Thánh Thần nhờ các hồng ân của Chúa Thánh Thần;
-        làm cho người đó tăng trưởng trong điều thiện hảo nhờ các nhân đức luân lý.
Như vậy, toàn bộ cơ cấu của đời sống siêu nhiên của Kitô hữu  đều bắt nguồn từ bí tích Rửa Tội.” (số 1266).
2.      Là “nguồn gốc” :
Điều nầy có nghĩa tất cả mọi giá trị của Bí tích Thánh tẩy kitô đều được kín múc từ nơi Bí tích Thánh Tẩy của Đức Giêsu-Kitô, hay nói cách khác, từ chính Mầu nhiệm Tự hủy (nhập thể, Thập giá [chết và Phục sinh]) của Đức Giêsu-Kitô, Con và là Ngôi Lời Thiên Chúa làm người, được tuyên xưng, được cử hành và được sống trong hiện sinh kitô, như được phản ảnh bởi Phaolô :
“Anh em không biết rằng : khi chúng ta được dìm vào nước thanh tẩy, để thuộc về Đức Kitô Giêsu, là chúng ta được dìm vào trong cái chết của Ngài sao ? Vì được dìm vào trong cái chết của Ngài, chúng ta đã cùng được mai táng với Ngài. Bởi thế, cũng như Ngài đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới…Nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Kitô, chúng ta cũng sẽ sống với Ngài : đó là niềm tin của chúng ta.” (Rm 6, 3-4.8).
“Anh em đã cùng được mai táng với Đức Kitô khi chịu Phép rửa, lại cùng được trỗi dậy với Ngài, vì tin vào quyền năng của Thiên Chúa, Đấng làm cho Ngài trỗi dậy từ cõi chết.” (Cl 2, 12).
Thật vậy, trong Bí tích Thánh Tẩy kitô, không phải thừa tác viên, cũng không phải các nghi thức phụng vụ bên ngoài, mà chính Đức Giêsu-Kitô, khi được tuyên xưng, mới ban cho thụ nhân tư cách là con Thiên Chúa và sự sống tình yêu vĩnh hằng trong tương quan với Thiên Chúa-Ba Ngôi và với loài người, và nếu có tội thì sẽ được tha :
“Nếu miệng bạn tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa, và lòng bạn tin rằng Thiên Chúa đã làm cho Ngài sống lại từ cõi chết, thì bạn sẽ được cứu độ. Quả thế, có tin thật trong lòng, mới được nên công chính; có xưng ra ngoài miệng, mới được ơn siêu độ.” (Rm 10, 9-10).
Đó chính là lý do cho thấy tại sao các tác giả TƯ nói chung, đặc biệt, Ga và Phaolô, đều lưu ý vai trò nguyên lý, trung gian và cùng đích của Đức Giêsu-Kitô trong Bí tích Thánh Tẩy kitô.
Là “nguyên lý”, vì thế, trong Bí tích Thánh Tẩy kitô, Đức Giêsu-Kitô chính là Đấng ban cho chúng ta ân sủng được là con Thiên Chúa và dẫn đưa chúng ta vào sự sống tình yêu vĩnh hằng của Thiên Chúa-Ba Ngôi.
Là ‘trung gian”, vì thế, chỉ trong Bí tích Thánh Tẩy của Đức Giêsu-Kitô, hay đúng hơn, chỉ trong Ngài, tất cả mọi Bí tích Thánh Tẩy kitô mới có được giá trị và hiệu năng kitô đích thực.
Là “cùng đích”, vì thế, tất cả mọi Bí tích Thánh Tẩy kitô chỉ đạt đến được cùng đích của mình nơi Đức Giêsu-Kitô mà thôi.
Ngoài ra, cũng cần lưu ý rằng cương vị Con Thiên Chúa của Đức Giêsu-Kitô là do tự bản chất, do tự nguồn gốc thần linh, tuy nhiên, trong thân phận tự hủy làm người, tư cách Con Thiên Chúa của Ngài cũng phải kinh qua một quá trình “sở đắc” lại từ từ, và quá trình đó trở thành mô mẫu cho tất cả mọi quá trình sở đắc tư cách con Thiên Chúa trong Đức Giêsu-Kitô của tất cả mọi người.
Trong ngôn ngữ của Ga, đó là quá trình tái sinh “bởi Ơn Trên” (Ga 3, 3), “bởi nước trường sinh” (Ga 4, 10.13-14) và “bởi nước và bởi Thần Khí” (Ga 3, 5) :
“Đức Giêsu trả lời : ‘Thật, tôi bảo ông : không ai có thể thấy Nước Thiên Chúa, nếu không được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên’. Ông Nicôđêmô thưa : ‘Một người đã già rồi, làm sao có thể sinh ra được ? Chẳng lẽ người đó có thể vào lòng mẹ lần thứ hai để sinh ra sao ?’ Đức Giêsu đáp :  ‘Thật, tôi bảo thật ông : không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và Thần Khí’…” (Ga 3, 3-5).
Và quá trình “tái sinh” nầy được Ga diễn tả như là quá trình vượt qua từ con người cũ đến con người mới (2, 1 – 4, 42); từ bóng tối đi qua ánh sáng (9, 1 – 10, 42); từ cõi chết đi vào cõi sống (4, 43 – 5, 47; 6, 1 – 7, 1; 11, 1-54; 12, 1-50).
Về phần mình, Phaolô triển khai và đào sâu việc sở đắc tư cách con Thiên Chúa, sở đắc sự sống thuộc linh và vĩnh hằng nhờ niềm tin nơi Đức Giêsu-Kitô và nhờ được “ở trong” Ngài và “ở trong” Thân Thể của Ngài là Giáo Hội kitô (1 Cr 12, 12-13.27; đối chiếu với Gl 3, 27-28). Có thể nói rằng Phaolô chính là tác giả đầu tiên trong TƯ khẳng định việc tất cả mọi người chỉ được siêu độ trong Đức Giêsu-Kitô (1 Tx 4, 16; Gl 2, 17; 1 Cr 1, 2; 1 Cr 1, 30; 1 Cr 4, 17; Rm 6, 8).
III.    NỘI HÀM Ý NGHĨA CỦA BÍ TÍCH THÁNH TẨY KITÔ VÀ PHỤNG VỤ CỦA GIÁO HỘI :
Những nghi thức diễn nghĩa nội hàm của Bí tích Thánh tẩy kitô tuy có một số thay đổi theo giòng thời gian, nhưng nói chung, có tính thống nhất.
Để được “tái sinh”, được trở thành con người mới, thụ nhân phải “vượt qua”, phải chết đi con người cũ của mình, điều nầy được diễn tả qua nghi thức phụng vụ  “dìm mình trong nước” (Hy ngữ : “Baptizein”). Trong ngôn ngữ Kinh Thánh, “nước” chủ yếu là biểu tượng của sự sống và sự chết, vì thế, người ta hẳn có thể hiểu được điều mà Đức Giêsu nói trong Lc 12, 50  vốn ám chỉ cái chết và sự phục sinh của Ngài trong Biến cố Thập Giá : “Tôi còn một phép rửa phải chịu, và lòng tôi khắc khoải biết bao cho đến khi việc nầy hoàn tất !”
Sau khi “tái sinh”, thụ nhân sẽ được trở thành “con người mới”, được “mặc lấy Đức Kitô (Gl 3, 27), con người của ánh sáng, và điều nầy được diễn tả qua hai nghi thức phụng vụ “mặc áo trắng” và được trao cây nến sáng (Mt 5, 14).
Tạm kết
Những phân tích trên đây, trước tiên, đã chứng tỏ cho thấy quá trình sống bí tích Thánh Tẩy của Đức Giêsu cũng là quá trình sống và thể hiện tư cách “là Con” của Ngài, trong tương quan với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, và tư cách “là anh cả” trong tương quan với tất cả mọi người chúng ta. Và đó cũng chính là quá trình sống bí tích Thánh Tẩy và quá trình “làm con Thiên Chúa” của mỗi người kitô-hữu chúng ta, bởi vì theo Kinh Thánh, chúng ta chỉ là con Thiên Chúa khi được “ở trong Con Thiên Chúa” là Đức Giêsu-Kitô mà thôi : “Thật vậy, nhờ đức tin, tất cả anh em đều là con cái Thiên Chúa trong Đức Giêsu-Kitô.” (Ga 3, 26); đồng thời đó cũng là quá trình làm người của mỗi người trong tương quan với tất cả mọi người, vốn là anh em của mình, vì cùng có một Vị Cha chung là Thiên Chúa.
Thứ đến, cho thấy tất cả mọi người, vốn đã được tạo dựng nên “theo hình ảnh Thiên Chúa” và “giống như Thiên Chúa” (St 1, 26-27), đều được “ở trong” Con và là Ngôi Lời Thiên Chúa làm người, tuy với nhiều cấp độ khác nhau, nhưng không phải là những ai đó “xa lạ” với Thiên Chúa-Ba Ngôi và với tất cả chúng ta. Vấn đề ở đây, tuy đã “hiện hữu” trong nhau, nhưng, về phía con người, có thể chưa “hiện diện” đối với nhau, hay nói cách khác, chưa biết nhau, chưa là gì đối với nhau, chưa ý thức, chưa xác tín được những tương quan Tạo hóa-Thụ tạo, Phụ-tử với Thiên Chúa và huynh đệ với tất cả mọi người. Bí tích Thánh Tẩy kitô, vì thế, chính là hiện trường trong đó con người có thể tuyên xưng, cử hành và sống những mối tương quan đó một cách cụ thể và với niềm xác tín. Tuy vậy, Bí tích Thánh Tẩy kitô không chỉ giới hạn nơi những nghi thức phụng vụ được cử hành một lần trong đời sống, mà kéo dài trong suốt cả hiện sinh kitô của con người, và trong suốt cả quá trình của Lịch Sử, vì đây là những tương quan tình yêu giữa các đối tác tình yêu với nhau, cho đến Ngày Quang Lâm…
Sau cùng, sống Bí tích Thánh tẩy kitô, cũng chính là thực hành điều mà Phaolô đã nói : “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi…” (Gl 2, 20a).
Và đó chính là ý nghĩa của sứ mạng mà Đức Chúa của chúng ta, Đức Giêsu-Kitô đã trao phó cho Giáo Hôi kitô và cho mỗi người kitô-hữu chúng ta :
“Đức Giêsu đến gần, nói với các ông : Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế’.” (Mt 28, 18-20)…

 
 

31. TÌNH YÊU HÔN NHÂN KITÔ, HỌA ẢNH TÌNH YÊU HIỆP NHẤT CỦA THIÊN CHÚA – BA NGÔI.

Khi nói tình yêu hôn nhân kitô là họa ảnh (icône) tình yêu hiệp nhất của Thiên Chúa–Ba Ngôi là có ý nói những tương quan tình yêu giữa các phần tử trong gia đình kitô vừa có nguồn gốc từ Thiên Chúa-Ba Ngôi vừa phản ảnh tương quan tình yêu hiệp nhất giữa Ba Ngôi Thiên Chúa với nhau :
“…Dưới ánh sáng nầy, mối quan hệ phong nhiêu của đôi vợ chồng trở thành một hình ảnh để khám phá ra và diễn tả mầu nhiệm Thiên Chúa, nền tảng trong cái nhìn kitô-giáo về Mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi, chiêm ngắm Thiên Chúa như là Cha, Con và Thánh Thần Tình Yêu. Thiên Chúa-Ba Ngôi là mầu nhiệm hiệp thông tình yêu, và gia đình là phản ảnh sống động của mầu nhiệp hiệp thông ấy. Những lời sau đây của thánh Gioan-Phaolô II soi sáng cho chúng ta : ‘Thiên Chúa trong mầu nhiệm thẳm sâu nhất của Ngài không đơn độc nhưng là một gia đình vì lẽ Thiên Chúa trong Ngài có Cha, có Con và có Yếu tính của gia đình, tức là Tình Yêu. Trong gia đình thần linh, tình yêu nầy chính là Chúa Thánh Thần’ (AAS 71[1979], 184). Như thế, gia đình không là điều gì xa lạ với chính yếu tính thần linh (AAS 71 [1979], 184). Khía cạnh tam vị nầy nơi cặp vợ chồng có một hình ảnh mới mẻ trong thần học của Phaolô khi thánh Tông đồ đặt gia đình trong tương quan với ‘mầu nhiệm’ kết hợp giữa Chúa Kitô và Hội thánh (x. Ep 5, 21-33).” (Tông huấn AMORIS LAETITIA, của Đức Thánh Cha PHANXICÔ, 19-3-2016, được viết tắt = AL, số 11).
“Đấng Tạo Hóa đã thiết lập và ban những định luật riêng cho đời sống chung thân mật và cho cộng đoàn tình yêu vợ chồng. Đời sống chung nầy được gầy dựng cho giao ước hôn nhân, nghĩa là sự ưng thuận cá nhân không thể rút lại. Như thế, bởi một hành vi nhân linh, trong đó hai vợ chồng tự hiến cho nhau và đón nhận nhau, nhờ sự an bài của Thiên Chúa, phát sinh một định chế vững chắc có giá trị trước mặt xã hội nữa.
Vì lợi ích lứa đôi, của con cái và xã hội, nên sợi dây liên kết thánh thiện nầy không lệ thuộc sở thích của con người. Chính Thiên Chúa là Đấng tác tạo hôn nhân, phú bẩm những lợi ích và mục tiêu khác nhau”. (GS 48).
Hay nói cách khác, tương quan tình yêu hiệp nhất giữa Ba Ngôi Thiên Chúa với nhau vừa là nguyên lý, là môi trường trung gian và là cùng đích của tương quan tình yêu hôn nhân và gia đình kitô.
I.       LÀ NGUYÊN LÝ :
Tương quan tình yêu hiệp nhất giữa Ba Ngôi Thiên Chúa là nguyên lý của tương quan tình yêu hôn nhân kitô, bởi vì con người vốn được tạo dựng nên, có nam và có nữ,  “theo hình ảnh Thiên Chúa và giống như Thiên Chúa” (St 1, 26-27), thế mà, một đàng, “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4, 8), vì thế, tương quan giữa con người với nhau nói chung, đặc biệt, giữa ngươi nam và người nữ, chính là tương quan tình yêu hiệp nhất; và đàng khác, bởi vì Đức Giêsu Kitô chính là hình ảnh hữu hình của Thiên Chúa vô hình (x. 1 Cr 11, 7; 2 Cr 4, 4; Cl 1, 15), vì thế, tương quan giữa chồng với vợ còn được Phaolô sánh ví như tương quan hiệp nhất giữa Đức Kitô và Hội Thánh, Thân Mình mầu nhiệm của Người [“Hoc est enim Corpus meum”] (x. Ep 5, 21-33; Mc 14, 22-24; 1 Cr 11, 23-25)…
“Thiên Chúa phán : ‘Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để con người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất’. Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa; Thiên Chúa sáng tạo nên loài người có nam và có nữ.” (St 1, 26-27).
“… ‘Trong Đức Kitô, Hội Thánh là bí tích, nghĩa là dấu chỉ và dụng cụ của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và của sự hợp nhất của toàn thể nhân loại : là bí tích của sự kết hợp mật thiết con người với Thiên Chúa : đó là mục đích đầu tiên của Hội Thánh. Bởi vì sự hiệp thông giữa con người bắt rễ trong sự kết hợp với Thiên Chúa, nên Hội Thánh cũng là bí tích của sự hợp nhất của nhân loại’...” (Sách Giáo lý của Hội Thánh Công giáo, được viết tắt : SGLHTCG số 775).
Cũng cần lưu ý rằng Ba Ngôi Thiên Chúa trong và qua Đức Giêsu-Kitô là nguyên lý phổ quát của tất cả mọi đời sống hôn nhân và gia đình của toàn thể nhân loại, chứ không riêng gì những người kitô-hữu. Và đó chính là cơ sở để “hôn nhân tự nhiên” vẫn được Hội Thánh thừa nhận và trân trọng :
“Theo lời dạy của Thánh Kinh, mọi sự đã được tạo dựng nhờ Đức Kitô và cho Đức Kitô (x. Cl 1, 16), các Nghị phụ Thượng Hội đồng đã nhắc nhở rằng ‘trật tự siêu độ soi sáng và hoàn thành trật tự tạo thành. Vì thế, hôn nhân tự nhiên được hiểu một cách đầy đủ trong ánh sáng sự hoàn thành của nó trong Bí tích Hôn phối : chỉ bằng cách nhìn chăm chú lên Đức Kitô người ta mới nhận biết sự thật sâu xa nhất về các mối tương quan nhân loại. ‘Chỉ trong mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể, mầu nhiệm về con người mới thật sự được sáng tỏ. […] Chúa Kitô, Ađam mới, chính trong khi mặc khải mầu nhiệm về Chúa Cha và tình yêu của Ngài, cũng giúp con người hiểu biết đầy đủ về chính mình và nhận ra ơn gọi vô cùng cao quí của mình’ (GS 22). Bởi thế, thật thích hợp để hiểu những thuộc tính tự nhiên của hôn nhân, thiện ích của đôi vợ chồng, theo viễn tượng qui Kitô (bonum coniugum), những thiện ích ấy bao gồm sự hiệp nhất, sự mở ra đón nhận sự sống, sự chung thủy, tính bất khả phân ly, và trong hôn nhân Kitô giáo còn có sự nâng đỡ nhau trên con đường hướng đến tình bạn trọn vẹn với Chúa. ‘Việc phân định sự hiện diện của các <hạt giống Lời> (semina Verbi) trong các nền văn hóa khác (x. Ad Gentes, được viết tắt = AG 11) cũng có thể áp dụng cho thực tại hôn nhân và gia đình. Bên cạnh hôn nhân tự nhiên đích thực , trong những hình thức hôn nhân trong các truyền thống tôn giáo khác cũng có các yếu tố tích cực’, cho dù cũng không thiếu bóng tối. Chúng ta có thể khẳng định rằng ‘người nào muốn xây dựng trong thế giới nầy một gia đình nơi mà con cái được dạy cho biết vui thích với mọi hành động nhằm thắng vượt sự dữ - một gia đình chứng minh Thánh Thần đang sống và hoạt động – thì sẽ nhận được lòng biết ơn và sự trân trọng, cho dẫu họ thuộc dân tộc, tôn giáo hay vùng miền nào đi nữa’.” (AL 77).
Vì đây là những tương quan liên vị, vì thế, sự “ở trong Đức Kitô” hay “thuộc về Đức Kitô” hẳn mang nhiều cấp độ và hình thái khác nhau : a) Cấp độ dựa trên cơ sở hữu thể học (ordre ontologiquement christique); b) cấp độ dựa trên cơ sở ơn siêu độ phổ quát của Đức Kitô (ordre  salvifiquement christique); c) cấp độ dựa trên cơ sở Đức Kitô được biết và được tuyên xưng (ordre personnellement christique). Cách nhìn của Hội Thánh về giá trị của “hôn nhân tự nhiên” có thể dựa trên ba cơ sở đó.
a.       Cấp độ “ở trong Đức Kitô” và “thuộc về Đức Kitô” trên cơ sở hữu thể học : tự căn tính nguyên thủy, tất cả mọi người vốn được tạo dựng nên và hiện hữu trong Con vốn là Ngôi Lời Thiên Chúa (x. Cl 1, 15-17). Khi nói “tất cả đều tồn tại trong Người” (Cl 1, 17), đã hẳn, Phaolô muốn nói ngay từ thưở khai nguyên, tất cả mọi thụ tạo, đặc biệt, con người, đều có tương quan hữu thể học với Thiên Chúa Ba Ngôi qua Con và trong Con, vốn là Ngôi Lời Thiên Chúa. Cũng như những tương quan huyết tộc (phụ-từ, mẫu-tử và huynh-đệ…) giữa con người với nhau, vốn là điều gì đó nằm ngay trong cấu trúc hữu thể học và không thể nào đảo ngược được, hay đổi khác được, dù người ta có muốn hay không, có ý thức hay không, cũng vậy, tương quan giữa các thụ tạo, đặc biệt, con người với Thiên Chúa là điều gì đó nằm ngay trong tính nguyên thủy của các thụ tạo : đó là điều mà ngôn ngữ Đông phương gọi là tương quan tam tài (Thiên-Địa-Nhân hòa).
b.      Cấp độ “ở trong Đức Kitô” và “thuộc về Đức Kitô”  trên cơ sở ơn siêu độ phổ quát của Đức Kitô : Trong Biến cố Thập Giá (chết và Phục sinh) , khi mà sự dâng hiến tự hủy đến tột cùng, qua đó tình yêu của Con đối với Cha cũng đạt đến đỉnh điểm, nhân tính của Đức Kitô trở nên một với thần tính của Người, hay nói cách khàc, nhân tính của Đức Kitô mà vốn là hiện thân của toàn thể nhân loại được thần linh hóa, một lần và vĩnh viễn, và đó chính là cơ sở của ơn siêu độ phổ quát của Đức Giêsu-Kitô đối với toàn thể nhân laoị mọi nơi và mọi thời. Toàn thể nhân loại mọi nơi và mọi thời, trong Đức Kitô, đều được siêu độ, đều được trở nên con Thiên Chúa, và nếu phải xa cách Người vì tội lỗi thì được tha thứ và giải hòa lại với Người, trong và qua Mầu nhiệm Thập Giá (x. 1 Cr 15, 21-22; Ga 12, 32-33; 1 Tm 2, 4; Dt 10, 14; Ep 1, 7)). Đó chính là lý do tại sao Hội Thánh trước sau như một vẫn khẳng định Đức Giêsu-Kitô là Đấng Siêu độ duy nhất và phổ quát, hay nói cách khác, ơn siêu độ nơi Mầu nhiệm Thập Giá của Đức Kitô là dành cho toàn thể nhân loại mọi nơi và mọi thời…
c.       Cấp độ “ở trong Đức Kitô” và “thuộc về Đức Kitô” trên cơ sở Người được biết và được tuyên xưng : Cũng như ở nơi loài người, việc có tương quan huyết tộc (phụ-tử, mẫu-tử, huynh đệ…) giữa người nầy với người nọ và việc nhận ra những ai có tương quan huyết tộc đó với nhau là hai việc khác nhau. Trong ngôn ngữ triết học, đó là sự khác biệt giữa hai khái niệm hiện hữu (existence) và hiện diện (présence). Người ta có thể hiện hữu bên nhau mà không hiện diện đối với nhau. Người ta có thể “hiện hữu trong Đức Kitô” và qua Người trong Thiên Chúa-Ba Ngôi, nhưng có thể người ta vẫn chưa ý thức được, chưa cảm nhận ra được sự hiện diện của nhau. Chỉ có tình yêu mới làm cho người ta hiện diện đối với nhau. Hay như việc không ai có thể sống được mà không cần nhờ không khí, thế nhưng không phải ai cũng ý thức và cảm nhận được sự hiện hữu và sự hiện diện của không khí xung quanh ta.
Ở hai cấp độ a và b , người ta mới chỉ hiện hữu trong Đức Kitô, vì thế, thuộc về Người, nhưng có thể vẫn chưa ý thức được, chưa cảm nhận ra được cách rõ ràng sự hiện diện của Người. Ở cấp độ c, chính khi tuyên xưng, khi nói ra Danh Đức Giêsu-Kitô và qua Người, Thiên Chúa-Ba Ngôi, khi cử hành và khi sống những tương quan hiện sinh với các Ngài, trong các Bí tích, đặc biệt Thánh Tẩy và Hôn phối, người ta dần dần nhận ra được sự hiện diện của Thiên Cháu-Ba Ngôi trong tương quan với họ, và chính điều nầy mang lại sự sống tình yêu vĩnh hằng cách tròn đầy cho con người (x. Rm 10, 9-10).
1.      Nguyên lý của tình yêu hiệp nhất :
Trong Ga 10, 30, chính Đức Giêsu đã khẳng định : “Tôi và Cha, Chúng tôi là Một” (“Moi et le Père, Nous sommes un” [bản dịch TOB]). Ở đây, tình yêu giữa Con và Cha làm sinh xuất thực tại “Chúng ta” và trong thực tại “Chúng ta” có cả Cha, Con và Tình yêu (=Thánh Thần) cùng hiện diện, và chính Chúa Thánh Thần (= cái “Chúng ta”) hiệp nhất tạo nên thực tại “Một” trong Mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi.
“Sự sống của Ba Ngôi Thiên Chúa chính là sự mỗi ngôi vị tự làm cho mình nghèo đi trong tương quan với chính mình, là sự mỗi ngôi vị tự hủy mình đi để hoàn toàn trao ban chính mình cho ngôi vị khác và như vậy là thể hiện sự hiệp thông tột đỉnh giữa nhau. Trong tự do của mình, Cha tự trao ban mình cho Con, và Con đón nhận Cha trong cũng cùng một sự tự do như vậy và tự trao ban chính mình cho Cha trong Thần Khí, và Thần Khí như là cái ‘chúng ta’, vốn là hiện thân của tình trạng Ba Ngôi Thiên Chúa tự làm cho mình nghèo đi : Thần Khí của sự tự do của các ngôi vị và của ân huệ được ban cho ngôi vị khác.” (x. Bruno Forte, ĐỨC GIÊSU NADARÉT, bản Việt ngữ của linh mục Phêrô Nguyễn Thiên Cung, lưu hành nội bộ, trg. 399).
“Bởi giao ước hôn nhân, người nam và người nữ ‘không còn là hai, nhưng là một xương một thịt’ (Mt 19, 6), phục vụ và giúp đỡ lẫn nhau bằng sự kết hợp mật thiết trong con người và cả hành động của họ, cảm nghiệm và hiểu biết được sự hiệp nhất với nhau mỗi ngày một đầy đủ hơn.” (Gaudium et Spes, được viết tắt = GS 48).
Sự hiệp nhất giữa Cha, Con và Thánh Thần Tình Yêu là sự hiệp nhất trên cơ sở ngôi vị, kế hoạch, lời nói và hành động, vì thế, đó cũng chính là những cơ sở để xây dựng sự hiệp nhất trong đời sống hôn nhân và gia đình kitô.
a.       Hiệp nhất trên cơ sở ngôi vị :
Khi nói sự hiệp nhất ngôi vị là có ý nói một sự hiệp nhất liên vị, tự do, năng động, lan tỏa, sản sinh, chứ không như sự hiệp nhất chỉ dựa trên bản thể hay bản tính vốn cứng ngắc, tĩnh tại và nghèo nàn.
Thật vậy, sự hiệp nhất giữa các ngôi vị chẳng những không làm tiêu tan đi hay giảm bớt đi căn tính của các ngôi vị mà còn khiến cho các ngôi vị được phong phú hơn, được là mình hơn :
“Với cái nhìn nầy của đức tin và tình yêu, của ân sủng và của dấn thân, của gia đình nhân loại và Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, chúng ta chiêm ngắm mẫu gia đình mà Lời Chúa ký thác vào đôi tay của người đàn ông, của người đàn bà và của con cái để hình thành nên sự hiệp thông giữa các ngôi vị, là hình ảnh của sự hợp nhất giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Rồi đến việc sinh sản và giáo dục con cái, đó lại là phản ảnh công trình tạo dựng của Chúa Cha. Gia đình được mời gọi cùng nhau cầu nguyện hằng ngày, đọc Lời Chúa và hiệp thông trong Thánh Thể để làm cho tình yêu ngày một lớn lên và luôn hoán cải để xứng đáng là đền thờ của Chúa Thánh Thần.” (AL 29).
 “Con người được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa để yêu thương. Tân Ước mặc khải cho chúng ta rõ ràng chân lý nầy và liên kết chân lý nầy với mầu nhiệm của sự sống nội tại trong Thiên Chúa-Ba Ngôi : ‘Thiên Chúa là tình yêu (1 Ga 4, 8) và nơi chính mình Người, Người đang sống mầu nhiệm hiệp thông giữa các ngôi vị. Khi tạo dựng loài người có nam và có nữ theo hình ảnh của Người và liên lỉ bảo toàn cho loài người được hiện hữu, Thiên Chúa ghi khắc vào đó ơn gọi cũng như cả khả năng và trách nhiệm tương ứng, mời gọi con người sống tình yêu và hiệp thông. Tình yêu thương là ơn gọi căn bản và bẩm sinh của mọi con người’ (Tông huấn Familiaris Consortio của Đức Thánh Cha GIOAN-PHAOLÔ II, 22-11-1981, được viết tắt : FC 11). Mọi ý nghĩa của tự do cá nhân và sự tự chủ xuất phát từ sự tự do đó đều hướng về sự ban tặng chính bản thân mình trong sự hiệp thông và tình bạn hữu với Thiên Chúa và với tha nhân.” (Vérité et Signification de la sexualité humaine : Des orientations pour l’éducation en famille, 08-12-1995, được viết tắt : VS 8).
Khi so sánh tương quan giữa chồng và vợ với tương quan giữa Đức Kitô và Hội Thánh vốn được gọi là Thân Mình mầu nhiệm của Người (Ep 5, 21-23), hẳn Phaolô muốn chứng tỏ cho thấy chồng là “thân mình” của vợ và vợ là “thân mình” của chồng, hay nói theo ngôn ngữ CƯ “cả hai thành một xương một thịt” (St 2, 24).
Trong chiều hướng nầy, chúng ta thấy Bí tích tình yêu hôn nhân còn là phản ảnh tuyệt với của Bí tích Thánh Thể. Thật vậy, cũng như trong tương quan với Hội Thánh, Đức Giêsu Kitô có thể nói với Hội Thánh “Đây là Mình Thầy ”, cũng vậy, trong Bí tích hôn nhân kitô, người chồng cũng có thể nói với vợ “Em là Mình anh”, và ngược lại, người vợ cũng có thể nói với chồng “Anh là Mình em”… Để diễn tả mầu nhiệm hiệp nhất mang tính bí tích nầy, Phaolô đã có những lời lẽ rất tuyệt vời như sau :
“Người làm chồng, hãy yêu thương vợ, như chính Đức Kitô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh; như vậy, Người thánh hóa và thanh tẩy Hội Thánh bằng nước và lời hằng sống, để trước mặt Người, có một Hội Thánh xinh đẹp lộng lẫy, không tỳ ố, không vết nhăn hoặc bất cứ một khuyết điểm nào, nhưng thánh thiện và tinh tuyền. Cũng thế, chồng phải yêu vợ như yêu chính thân thể mình. Yêu vợ là yêu chính mình…” (Ep 6, 25-28).
Chính qua những sự hiệp nhất như vậy mà Đức Giêsu-Kitô từng bước từng bước xây dựng Thân Mình của Người : qua tình yêu giữa con người với Thiên Chúa, giữa con người với nhau, giữa người nam với người nữ trong đời sống hôn nhân gia đình, hay nói cách khác theo trình tự khi yêu nhau người ta nhận tha nhân “là mình” và rồi qua đó Đức Giêsu-Kitô nhận tất cả “là Mình Thầy” : đó chính là con đường thần linh hóa đích thực (x. Ep 1, 4-5.9-10; Cl 1, 15-20; Ep 2, 13-18).
 
b.      Hiệp nhất trên cơ sở kế hoạch :
Từ vĩnh hằng, trong và qua Con, Ngôi Lời, Thiên Chúa Cha đã có Kế hoạch của Ngài : đó là các Công trình Sáng tạo, Mặc khải và Siêu độ và những công trình nầy đều là những công trình chung của Ba Ngôi Thiên Chúa. Khi thực hiện những công trình nầy các Ngài vừa sống cho nhau vừa sống cho các thụ tạo, nhằm biến toàn thể thụ tạo thành một đại gia đình trong Chúa Con; hay nói cách khác, thành chính Thân Mình của Đức Giêsu-Kitô.
“Trong Đức Kitô, Ngài đã chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ. Để trước thánh nhan Ngài, ta trở nên tinh tuyền thánh thiện, nhờ tình thương của Ngài. Theo ý muốn và lòng nhân ái của Ngài, Ngài đã tiền định cho ta làm nghĩa tử nhờ Đức Giêsu Kitô…Ngài cho ta được biết thiên ý nhiệm mầu : thiên ý nầy là kế hoạch yêu thương Ngài đã định từ trước trong Đức Kitô. Đó là đưa thời gian tới hồi viên mãn là qui tụ muôn loài trong trời đất dưới quyền một thủ lãnh là Đức Kitô…” (Ep 1, 4-5.9-10; x. Cl 1, 15-20).
Ba công trình Sáng tạo, Mặc khải và Siêu độ nầy cũng nằm trong sứ mạng của Hội Thánh và của từng gia đình kitô. Thật vậy, khi tạo ra những người con của con người và con của Thiên Chúa, Hội Thánh và mỗi gia đình kitô đang cộng tác với Thiên Chúa-Ba Ngôi thực thi công trình sáng tạo, mặc khải và siêu độ đó ; hay nói cách khác, là đang thực thi kế hoạch của Thiên Chúa-Ba Ngôi.
“Đời sống của vợ chồng là một sự thông dự vào công trình sáng tạo của Thiên Chúa…”. Do đó, ‘ý muốn xây dựng một gia đình là can đảm tham gia vào giấc mơ của Thiên Chúa, dám ước mơ với Ngài, dám xây dựng với Ngài, dám nhập cuộc chơi với Ngài trong lịch sử nầy, để xây dựng một thế giới trong đó không ai cảm thấy cô đơn’.” (AL 321).
Điều nầy đòi hỏi các cặp vợ chồng và các gia đình kitô phải hiệp nhất với nhau trong tình yêu, trong niềm tin và trong niềm hy vọng…
c.       Hiệp nhất trên cơ sở “Lời” :
Trong tương quan giữa Ba Ngôi Thiên Chúa với nhau, Chúa Cha chỉ “có” và “nói qua” một Lời là Chúa Con :
“Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Lúc khởi đầu, Người vẫn hướng về Thiên Chúa. Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người, chẳng có gì được tạo thành. Điều được tạo thành ở nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại.” (x. Ga 1, 1-4).
Còn Chúa Con chỉ nói những gì đã và vẫn nghe Cha nói:
“Tôi còn nhiều điều phải nói và xét đoán về các ông. Nhưng Đấng đã sai tôi là Đấng chân thật; còn tôi, tôi nói lại cho thế gian những điều tôi đã nghe Người nói…” (x. Ga 8, 26.27; 14, 10).
Và Chúa Thánh Thần cũng chỉ nhắc lại những gì đã và vẫn “nghe” Chúa Cha và Chúa Con nói :
“Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em. Nhưng bây giờ, anh em không có sức chịu nổi. Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn. Người sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại và loan báo cho anh em biết những điều sẽ xảy đến.” (Ga 16, 12-13).
Sự hiệp nhất trong “Lời” nơi gia đình chỉ có thể có khi được xây dựng trên chính Ngôi Lời của Thiên Chúa là Đức Giêsu-Kitô hay nói cách khác, khi có Đức Giêsu-Kitô hiện diện trong gia đình và trong mỗi phần tử của gia đình, và khi ở đó Người được tôn kính và yêu mến. Và một khi có Đức Giêsu-Kitô hiện diện có nghĩa là có cả Ba Ngôi Thiên Chúa cùng hiện diện.
 “Sự hiện diện của Chúa trong gia đình là sự hiện diện thực tế và cụ thể, cùng với mọi khổ đau, chiến đấu, niềm vui và những cố gắng hằng ngày của nó…Trong tình hiệp thông được xây dựng từ bao nhiêu là dâng hiến và gặp gỡ, Thiên Chúa có chỗ ngự trị của Ngài. Sự dâng hiến cho nhau đó kết hợp ‘những giá trị nhân văn và thần linh’, vì nó là sự tròn đầy của tình yêu Thiên Chúa…” (AL 315).
d.      Hiệp nhất trên cơ sở hành động :
Sự hiệp nhất trong nội thân Ba Ngôi Thiên Chúa không chỉ dựa trên cơ sở bản tính, bản thể, lời nói  mà còn và nhất là trên cơ sở mọi hành động của Ba Ngôi đều là hành động chung, và đó cũng chính là mẫu mực của tương quan giữa các phần tử trong gia đình kitô.
“Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình…Thật, Thầy bảo thật anh em, ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha…” (Ga 14, 10.12).
Sự hiệp nhất vững bền không thể chỉ dựa trên những lời nói, những mơ ước, những niềm hy vọng suông, v.v…, mà còn phải dựa trên việc người ta hành động chung với nhau vì những mục đích chung.
2.      Nguyên lý của sự Sáng tạo và Sản sinh :
Khi nói Thiên Chúa-Ba Ngôi là nguyên lý của sự Sáng tạo và Sản sinh, trước tiên và trên hết, là có ý nói trên cơ sở hữu thể học, tức là vốn nằm trong cấu trúc hữu thể học của các thụ tạo nói chung và, cách riêng, của loài người vốn được tạo dựng nên, có nam và có nữ, theo hình ảnh Thiên Chúa và giống như Thiên Chúa…
“Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ. Thiên Chúa ban phúc lành cho họ : ‘Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất…’.” (St 1, 27-28).
Trong tương quan giữa Thiên Chúa-Ba Ngôi, Chúa Cha yêu nên tự hiến qua con đường tự hủy Mình đi để Chúa Con được nhiệm sinh; Chúa Cha và Chúa Con yêu nhau và hai Đấng tự hiến Mình cho nhau qua con đường tự hủy Mình đi để Thần Khí Tình Yêu là Chúa Thánh Thần được nhiệm xuất; Ba Ngôi Thiên Chúa yêu nên tự hiến Mình cho nhau qua việc Chúa Con tự hủy Mình đi và mọi thụ tạo trên trời dưới đất được sáng tạo… Có thể nói rằng tương quan giữa người nam và người nữ trong đời sống hôn nhân kitô cũng vậy, đó là một thứ tình yêu tự hiến, tự hủy, sáng tạo và sinh sản. Và chính Thiên Chúa-Ba Ngôi là nguyên lý của sự sáng tạo và sản sinh ra những hữu thể mới theo hình ảnh của Ngài và giống như Ngài :
“Khi tạo dựng nên người nam và người nữ theo hình ảnh của mình và giống như mình, Thiên Chúa đã đẩy công trình của bàn tay Ngài đạt đến tột đỉnh của nó : Ngài mời gọi con người cách đặc biệt tham dự vào tình yêu của Ngài cũng như vào quyền năng của Đấng Sáng tạo và của Người Cha, qua trung gian sự hợp tác tự do và với tinh thần trách nhiệm của họ để truyền ban ân huệ sự sống con người : ‘Thiên Chúa ban phúc lành cho họ, và Thiên Chúa phán với họ : Hãy sinh sôi và nẫy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất. Hãy làm bá chủ cá biển, chim trời, và mọi giống vật bò trên đất’.” (St 1, 28).
Như vậy, mục đích căn bản của gia đình là phục vụ sự sống, là trong suốt hành trình lịch sử hiện thực hóa cho được phúc lành mà Thiên Chúa đã chúc phúc ngay từ buổi ban sơ, qua việc truyền lan hình ảnh Thiên Chúa từ người nầy qua người khác, nơi hành vi truyền sinh.
Sự sinh sôi nẫy nở là kết quả và là dấu chỉ của tình yêu đôi lứa, là chứng từ sống chứng tỏ các đôi vợ chồng đã hoàn toàn trao ban cho nhau : ‘Từ đó, một tình yêu đôi lứa thực sự và nếu được hiểu cách đúng đắn, cũng như mọi cấu trúc đời sống gia đình bắt nguồn từ đó, dù không vì thế mà coi thường những mục đích khác của hôn nhân, đều hướng về việc khiến các đôi vợ chồng, cách can đảm,  sẵn sàng cộng tác với tình yêu của Đấng Tạo dựng và Cứu độ, là Đấng mà qua họ vẫn không ngừng mong muốn gia đình riêng của Ngài được đông đúc thêm và giàu có thêm’.” (Tông huấn Familiaris Consortio, Đgh. Gioan-Phaolô II, 22-11-1981, được viết tắt = FC số 28)
 “Theo kế hoạch của Thiên Chúa, hôn nhân là nền tảng của thứ cộng đoàn còn rộng lớn hơn cả gia đình, bởi vì định chế của hôn nhân và tình yêu đôi lứa vốn được đặt định để sản sinh và giáo dục con cái và đó là mục đích tối hậu của hôn nhân và tình yêu lứa đôi.
Trong thực tại sâu thẳm nhất của  nó, tình yêu tự bản chất vốn là sự tự hiến, và tình yêu đôi lứa, khi dẫn đưa vợ chồng đến chỗ ‘biết’ lẫn nhau khiến cho cả hai trở nên ‘một xương một thịt’không dừng lại ở nơi chỉ hai người; thật vậy, tình yêu đôi lứa khiến đôi vợ chồng có thể thực hiện một hành vi trao hiến còn vĩ đại hơn bất cứ hành vi dâng hiến nào, qua đó đôi vợ chồng trở nên những người cộng tác với Thiên Chúa trong công việc trao ban sự sống cho một nhân sinh khác. Như vậy, các đôi vợ chồng, trong khi trao ban chính mình cho nhau, vượt qua bên kia cả chính bản thân mình, họ còn trao ban một thực thể sống, một đứa con, họa ảnh thực của tình yêu của họ, là dấu chỉ thường hằng của sự hiệp nhất đôi lứa và là tổng hợp sống động và không thể chia cắt được làm nên từ hữu thể của chính cha và mẹ.
Khi trở nên các bậc làm cha làm mẹ, các đôi vợ chồng nhận từ Thiên Chúa ân huệ là một trách nhiệm mới. Tình yêu phụ mẫu của họ được mời gọi để, đối với con cái của họ, trở thành dấu chỉ hữu hình của chính tình yêu của Thiên Chúa, ‘Đấng chính là nguồn cội của mọi tình phụ tử trên trời và dưới đất’…” (FC số 14).
II.      LÀ MÔI TRƯỜNG TRUNG GIAN :
Tương quan tình yêu giữa con người với Thiên Chúa-Ba Ngôi và giữa con người với nhau chỉ có thể phát xuất, tồn tại và hoàn tất trong, bởi và qua Đức Giêsu-Kitô mà thôi. Và bởi vì Ba Ngôi Thiên Chúa hằng tương ngụ và tương tại trong nhau, vì thế, khi nói “trong Đức Giêsu-Kitô” cũng đồng  nghĩa là “trong Thiên Chúa-Ba Ngôi”. Điều đó có nghĩa tình yêu hôn nhân gia đình chỉ có thể phát xuất, tồn tại và phát triển trong  “môi trường” Thiên Chúa-Ba Ngôi qua trung gian Đức Giêsu-Kitô, Con và Ngôi Lời của Thiên Chúa. Hay nói cách khác, chính trong “môi trường” những mối tương quan giữa Ba Ngôi Thiên Chúa với nhau nơi Đức Kitô mà tình yêu trong đời sống lứa đôi và gia đình mới có được những khả năng hiệp nhất, sáng tạo và sản sinh theo ý nghĩa đích thực nhất của nó.
1.      Môi trường trung gian của tình yêu hiệp nhất : 
Sự hiệp nhất giữa các phần tử trong gia đình trong tình yêu (giữa chồng-vợ, cha mẹ-con cái, giữa anh chị em với nhau…) chỉ có thể có được qua môi trường trung gian Đức Giêsu-Kitô (x. Gl 2, 20), và khi nói qua môi trường trung gian Đức Kitô, điều nầy đồng nghĩa với qua môi trường trung gian Ba Ngôi Thiên Chúa, vì Ba Ngôi Thiên Chúa hằng luôn tương ngụ và tương tại trong nhau, hay nói cách khác, Ba Ngôi Thiên Chúa hằng luôn ở trong nhau và hằng luôn có nhau. 
“Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi…” (Gl 2, 20).
 “Sự hiệp thông giữa Thiên Chúa và con người được hoàn tất cách trọn vẹn nơi Đức Giêsu-Kitô, Đấng vốn là vị Hôn phu giàu tình yêu thương và đã hiến thân mình như là Đấng Cứu độ loài người khi tự làm cho loài người hiệp nhất với mình như thân mình của mình.
Đức Giêsu-Kitô mặc khải cho thấy sự thật nguyên thủy của hôn nhân là gì, sự thật của ‘thưở ban đầu’ và, khi giải thoát con người khỏi tình trạng lòng chai dạ đá, khiến con người có khả năng hoàn tất sự thật đó cách vẹn toàn.
Mặc khải nầy đạt đến tình trạng toàn vẹn của nó trong ân huệ tình yêu mà Ngôi Lời Thiên Chúa đã ban cho loài người khi nhận bản tính nhân loại là của mình và trong hy lễ là chính bản thân mình mà trên thập giá Đức Giêsu-Kitô đã hiến dâng cho vị Hôn Thê của Người là Hội Thánh. Trong hy tế nầy, hoàn toàn để lộ cho thấy kế hoạch mà Thiên Chúa đã ghi khắc ngay từ thưở tạo thiên lập địa nơi nhân loại vốn bao gồm cả đàn ông và đàn bà; như vậy, hôn nhân của những ai đã được thánh tẩy đều trở thành biểu trưng thực sự của giao ước mới và vĩnh cửu, được đóng dấu trong máu của Đức Kitô. Thần Khí, Đấng mà Đức Chúa tuôn tràn xuống, chính Ngài ban cho họ một quả tim mới và khiến cho người đàn ông và người đàn bà có khả năng yêu thương nhau, như Đức Kitô đã yêu thương chúng ta. Đức ái trong đời sống vợ chồng đó là đỉnh điểm mà tình yêu đôi lứa đã được hướng đích để nhằm đạt tới : đức ái trong đời sống vợ chồng nầy là cách thức đặc thù và biệt loại mà nhờ đó các đôi vợ chồng được tham dự vào đức ái của Đức Kitô khi Người trao ban chính mình trên thập giá, và mà các cặp vợ chồng được mời gọi để sống nó.” (FC 13). 
Như vậy, có thể nói rằng trong tất cả mọi mối tương quan giữa các phần tử trong gia đình kitô với nhau nói chung, Đức Giêsu-Kitô luôn là “môi trường trung gian”, là chiếc cầu nối : giữa gia đình kitô với Ba Ngôi Thiên Chúa, với Hội Thánh, với nhau và với tha nhân, v.v…
a.       Môi trường trung gian giữa gia đình kitô với Ba Ngôi-Thiên Chúa :
Trong tương quan giữa các phần tử trong gia đình kitô, Ba Ngôi Thiên Chúa trong Đức Giêsu-Kitô vẫn luôn vừa là môi trường trung gian vừa là cùng đích, hay nói cách khác, người ta chỉ có thể đến với Thiên Chúa qua và trong Đức Giêsu-Kitô mà thôi :
“Thánh Tử là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thọ tạo…Vì Thiên Chúa đã muốn làm cho tất cả sự viên mãn hiện diện ở nơi Người, cũng như muốn nhờ Người là làm cho muôn vật được hòa giải với mình…” (Cl 1, 15.19-20).
“Nhờ thập giá, Người đã làm cho đôi bên được hòa giải với Thiên Chúa trong một thân thể duy nhất; trên thập giá Người đã tiêu diệt sự thù ghét…Thật vậy, nhờ Người, cả đôi bên, chúng ta được liên kết trong một Thần Khí duy nhất mà đến cùng Chúa Cha.” (Ep 2, 16-18).
“…Nhưng sự bất trung của Dân Itraen vẫn không phá hủy được lòng tín trung vĩnh hằng của Đức Chúa, và bởi vì thế, tình yêu hằng luôn thủy chung trước sau như một của Thiên Chúa vẫn hằng luôn hiện diện như mẫu mực cho những mối tương quan tình yêu thủy chung vốn cần phải có giữa các đôi vợ chồng…” (FC 12)
b.      Môi trường trung gian giữa gia đình kitô và Hội Thánh :
Là “Hội Thánh thu nhỏ” hay “Hội Thánh tại gia”, để có thể tiếp cận được với Hội Thánh là Thân Mình của Đức Giêsu-Kitô, người ta phải qua môi trường trung gian Đức Giêsu-Kitô và, trong Người, qua Ba Ngôi Thiên Chúa.
“… ‘Trong Đức Kitô, Hội Thánh là bí tích, nghĩa là dấu chỉ và dụng cụ của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và của sự hợp nhất của toàn thể nhân loại : là bí tích của sự kết hợp mật thiết con người với Thiên Chúa : đó là mục đích đầu tiên của Hội Thánh. Bởi vì sự hiệp thông giữa con người bắt rễ trong sự kết hợp với Thiên Chúa, nên Hội Thánh cũng là bí tích của sự hợp nhất của nhân loại’...” (Sách Giáo lý của Hội Thánh Công giáo, được viết tắt : SGLHTCG số 775).
“Gia đình kitô được mời gọi góp phần tích cực và có trách nhiệm vào sứ mạng của Hội Thánh theo cách riêng biệt và độc đáo, để hằng luôn sẵn sàng phục vụ Hội Thánh và xã hội, với hết cả con người và hành động của mình trong tư cách là một cộng đoàn mật thiết của sự sống và tình yêu.
Nếu gia đình kitô là một cộng đoàn mà các sợi dây liên kết đã được Đức Kitô canh tân đổi mới qua đức tin và các bí tích, thì việc gia đình kitô tham dự vào sứ mạng của Hội Thánh phải được thực hiện theo cách của một cộng đoàn, vì thế, điều đó có nghĩa chính trong tư cách là từng cặp và từng gia đình mà các đôi vợ chồng, cha mẹ và con cái phải sống ơn gọi phục vụ Hội Thánh và thế giới. Cha mẹ và con cái, trong đức tin, phải chỉ là ‘một trái tim và một tâm hồn’, trong tinh thần tông đồ chung linh hoạt họ cũng như qua sự cộng tác khiến họ dấn thân vào nỗ lực phục vụ cộng đoàn Hội Thánh và cộng đoàn dân sự.
Ngoài ra, gia đình kitô còn xây dựng Nước Thiên Chúa trong lịch sử thông qua những thực tại hằng ngày vốn liên can đến và tạo ra nét đặc thù của điều kiện sống của gia đình kitô : chính từ lúc đó trong tình yêu vợ chồng và gia đình – được sống trong thực tại phong nhiêu lạ thường với những giá trị và những đòi hỏi của nó là một thứ tình yêu trọn vẹn, duy nhất, trung tín và phong nhiêu – mà sự tham dự của của gia đình kitô vào sứ mạng ngôn sứ, tư tế và vương giả của Đức Giêsu-Kitô và Hội Thánh của Người được tỏ bày và được trở nên hiện thực. Như vậy, tình yêu và sự sống cấu tạo nên trung tâm điểm của sứ mạng siêu độ của gia đình kitô trong Hội Thánh và cho Hội Thánh.” (FC 50).
c.       Môi trường trung gian trong quan hệ tình yêu giữa các phần tử trong gia đình với nhau và với tha nhân :
Tương quan tình yêu giữa con người với nhau nói chung không bao giờ đơn giản chỉ là việc của con người với nhau mà luôn luôn là sáng kiến đến từ Thiên Chúa qua trung gian Đức Giêsu-Kitô.
“Nếu gia đình kitô là một cộng đoàn mà các sợi dây liên kết đã được Đức Kitô canh tân đổi mới qua đức tin và các bí tích, thì việc gia đình kitô tham dự vào sứ mạng của Hội Thánh phải được thực hiện theo cách của một cộng đoàn, vì thế, điều đó có nghĩa chính trong tư cách là từng cặp và từng gia đình mà các đôi vợ chồng, cha mẹ và con cái phải sống ơn gọi phục vụ Hội Thánh và thế giới. Cha mẹ và con cái, trong đức tin, phải chỉ là ‘một trái tim và một tâm hồn’, trong tinh thần tông đồ chung linh hoạt họ cũng như qua sự cộng tác khiến họ dấn thân vào nỗ lực phục vụ cộng đoàn Hội Thánh và cộng đoàn dân sự.” (FC 50).
“Gia đình kitô, cũng vậy, được tháp nhập vào trong Hội Thánh, dân tư tế. Nhờ bí tích hôn phối, bí tích mà trong đó nó được bám rễ sâu và từ đó nó mới được ổn cố, gia đình kitô không ngừng được làm cho sống động nhờ Đức Chúa Giêsu, không ngừng được Người mời gọi và dẫn đưa vào cuộc đối thoại với Thiên Chúa qua những phương tiện là sống đời sống bí tích, là biến hiện hữu của mình và kinh nguyện đời mình thành lễ vật dâng lên Thiên Chúa.” (FC 55).
2.      Môi trường trung gian của tình yêu sáng tạo và sản sinh :
Nếu tất cả mọi hữu thể đều chỉ có thể hiện hữu trong, nhờ và bởi Ngôi Lời Thiên Chúa là chính Đức Giêsu-Kitô, thì ngay trong hành vi làm xuất hiện một hữu thể mới là những đứa con, Ngôi Lời và trong Người là Ba Ngôi Thiên Chúa vẫn hằng luôn là môi trường trung gian của hành vi đó :
“Có lời Đức Chúa phán với tôi rằng : ‘Trước khi cho ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi; trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hóa ngươi, Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân’.” (Gr 1, 4-5; x. Is 49, 1-5).
“…Bà nói với các con : ‘Mẹ không rõ các con đã thành hình trong lòng mẹ thế nào. Không phải mẹ ban cho các con thần khí và sự sống. Cũng không phải mẹ sắp đặt các phần cơ thể cho mỗi người trong các con. Chính Đấng Tạo Hóa càn khôn đã nắn đúc nên loài người, và đã sáng tạo nguồn gốc muôn loài. Chính Người do lòng thương xót, cũng sẽ trả lại cho các con thần khí và sự sống, bởi vì bây giờ các con trọng Luật Lệ của Người hơn bản thân mình’.” (2 Mcb 7, 21-23).
“Sứ thần liền nói : ‘Thưa bà Maria, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa. Và nầy đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu…’ Bà Maria thưa với sứ thần : ‘Việc ấy sẽ xãy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng’ ! Sứ thần đáp : ‘Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa…’.” (Lc 1, 30-31.34-35).
III.    LÀ CÙNG ĐÍCH :
Khi nói Thiên Chúa-Ba Ngôi là cùng đích của tình yêu hôn nhân và gia đình, điều nầy có ý muốn nói hôn nhân và gia đình, tự nó, không phải là mục đích, mà đúng hơn là phương tiện Thiên Chúa dùng để thực hiện kế hoạch tình yêu của Ngài là xây dựng “đại gia đình nhân loại” và rồi qua đó xây dựng “đại gia đình của Thiên Chúa” là Hội Thánh, làm sao để cuối cùng “Thiên Chúa là tất cả trong mọi sự” :
“Ngay trong cung lòng của hôn nhân và gia đình, được đan dệt nên cả một khối những mối tương quan liên vị - tương quan giữa những người phối ngẫu, giữa cha và mẹ, giữa con cái với cha mẹ, và giữa anh chị em với nhau – qua đó mỗi cá vị được hội nhập vào trong ‘đại gia đình nhân loại’ và vào trong ‘đại gia đình của Thiên Chúa’ là Hội Thánh.” (FC 15).
Tuy nhiên, đó chưa phải là mục đích cuối cùng của hôn nhân và gia đình. Vấn đề không đơn giản chỉ là “nên một” mà là “nên một trong Thiên Chúa-Ba Ngôi” :
“Sau đó mọi sự đều hoàn tất, khi Người đã tiêu diệt hết mọi quản thần, mọi quyền thần và mọi dũng thần, rồi trao vương quyền lại cho Thiên Chúa là Cha. Thật vậy, Đức Kitô phải nắm vương quyền cho đến khi Thiên Chúa đặt mọi thù địch dưới chân Người…Lúc muôn loài đã qui phục Đức Kitô, thì chính Người, vì là Con, cũng sẽ qui phục Đấng bắt muôn loài phải qui phục Người; và như vậy, Thiên Chúa là tất cả trong mọi sự.” (1 Cr 24-25.28). 
Và lúc đó, Đức Giêsu Kitô sẽ lặp lại :
“Tôi và Cha, Chúng tôi là Một” [Bản dịch TOB : “Moi et Le Père, Nous sommes Un”] (Ga 10, 30). 
1.      Mục đích xây dựng “đại gia đình nhân loại” :
Hôn nhân và gia đình, trước tiên, là tế bào của xã hội và nhân loại, một định chế do chính Thiên Chúa thiết lập để xây dựng “đại gia đình nhân loại” :
“Có mấy người Pharisêu đến gần Đức Giêsu để thử Người. Họ nói : ‘Thưa Thầy, có được phép rẫy vợ mình vì bất cứ lý do nào không ?’ Người đáp : ‘Các ông không đọc thấy điều nầy sao : Thưở ban đầu, Đấng tạo Hóa đã làm ra con người có nam có nữ, và Người đã phán : Vì thế, người ta sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly’.” (Mt 19, 3-6).
“Đấng Tạo Hóa đã thiết lập và ban những định luật riêng cho đời sống chung thân mật và cho cộng đoàn tình yêu vợ chồng. Đời sống chung nầy được gầy dựng cho giao ước hôn nhân, nghĩa là sự ưng thuận cá nhân không thể rút lại. Như thế, bởi một hành vi nhân linh, trong đó, hai vợ chồng tự hiến cho nhau, nhờ sự an bài của Thiên Chúa, phát sinh một định chế vững chắc có giá trị trước mặt xã hội nữa.
Vì lợi ích của lứa đôi, của con cái và xã hội, nên sợi dây liên kết thánh thiện nầy không lệ thuộc sở thích của con người. Chính Thiên Chúa là Đấng tác tạo hôn nhân, phú bẩm những lợi ích và mục tiêu khác nhau.” (GS 48).
“Trong hôn nhân, vợ chồng dâng hiến thân xác cho nhau bằng một cử chỉ đặc biệt và giới hạn giữa hai người, để kết hợp với nhau nên một, với mục đích giúp nhau phát triển con người và cộng tác với Thiên Chúa để sinh sản và giáo dục những sự sống mới.” (Thông điệp “Humanae vitae”, Đgh. Phaolô VI, 25-7-1968, được viết tắt = HV 8).
“Bởi vì ‘theo trật tự tạo thành, tình yêu phu phụ giữa một người nam và một người nữ và sự thông truyền sự sống được qui hướng về nhau (x. st 1, 27-28). Bằng cách đó Đấng Tạo Hóa đã làm cho người nam và người nữ được tham dự vào công trình tạo dựng của Ngài và đồng thời làm cho họ thành những dụng cụ diễn tả tình yêu của Ngài, ủy thác cho họ trách nhiệm đối với tương lai của loài người xuyên qua việc thông truyền sự sống con người’.” (AL 81).
“Sự hiệp thông giữa Thiên Chúa và con người được hoàn tất cách trọn vẹn nơi Đức Giêsu-Kitô, Đấng vốn là vị Hôn phu giàu tình yêu thương và đã hiến thân mình như là Đấng Cứu độ loài người khi tự làm cho loài người hiệp nhất với mình như thân mình của mình.” (FC 13).
2.      Mục đích xây dựng “đại gia đình của Thiên Chúa” là Hội Thánh :
Như chúng ta đã biết, trọng tâm và nội dung chính yếu của những lời rao giảng của Đức Giêsu-Kitô chính là Nước Trời, Nước Thiên Chúa, hay nói cách khác, mục đích chính của Người khi Nhập Thể làm người là xây dựng Nước Thiên Chúa để qua đó Danh Cha được cả sáng và Ý Cha được thể hiện dưới đất cũng như trên Trời (Mt 6, 9-10). Thế mà, nói theo ngôn ngữ của Văn hào Origène, bởi vì Đức Giêsu-Kitô là hiện thân của Tin Mừng (Mc 1, 1; Rm 1, 2; 16, 25; Ep 1, 13; Kh 14, 6; v.v.) và của “Nước Trời”, hay “Nước Thiên Chúa” (Mt 5, 3; 6, 33; 21, 43; Mc 10, 15; 12, 34; Lc 6, 20; Ga 3, 3; v.v),  như vậy, khi “xây dựng Nước Thiên Chúa” đó cũng chính là lúc người ta đang xây dựng chính Thân Mình của Đức Kitô hay là Hội Thánh; và ngược lại, khi xây dựng Hội Thánh như là công cụ và dấu chỉ của sự hiệp nhất nhân loại, đó là lúc người ta đang xây dựng Nước Trời hay Nước Thiên Chúa..
“Với cái nhìn nầy của đức tin và tình yêu, của ân sủng và của dấn thân, của gia đình nhân loại và Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, chúng ta chiêm ngắm mẫu gia đình mà Lời Chúa ký thác vào đôi tay của người đàn ông, của người đàn bà và của con cái để hình thành nên sự hiệp thông giữa các ngôi vị, là hình ảnh của sự hợp nhất giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Rồi đến việc sinh sản và giáo dục con cái, đó lại là phản ảnh công trình tạo dựng của Chúa Cha. Gia đình được mời gọi cùng nhau cầu nguyện hằng ngày, đọc Lời Chúa và hiệp thông trong Thánh Thể để làm cho tình yêu ngày một lớn lên và luôn hoán cải để xứng đáng là đền thờ của Chúa Thánh Thần.” (AL 29).
“Hội Thánh được mời gọi cộng tác với các bậc cha mẹ qua một hoạt động mục vụ thích hợp, hỗ trợ họ trong việc chu toàn sứ mạng giáo dục con cái. Hội Thánh phải luôn luôn làm việc nầy bằng cách giúp các cha mẹ trân trọng vai trò riêng của mình và nhận ra rằng ai đã nhận lãnh Bí tích Hôn Phối thì trở thành những thừa tác viên giáo dục đích thực, bởi lẽ khi giáo dục con cái là họ đã xây dựng Hội Thánh, và khi làm thế, họ chấp nhận một ơn gọi do Thiên Chúa ban.” (AL 85).
“Hội Thánh là Gia đình của các gia đình, thường xuyên được làm phong phú bởi đời sống của các Hội Thánh tại gia…Trong viễn ảnh nầy, việc xem xét mối tương tác giữa gia đình và Hội Thánh chắc chắn sẽ là một ơn ban quí giá cho Hội Thánh ngày nay : Hội Thánh là một phúc lành cho gia đình, và gia đình là một phúc lành cho Hội Thánh…” (AL 87).
Thực ra, Hội Thánh, như người ta vẫn thường hiểu, tự mình, không phải là cùng đích, mà chỉ là công cụ, là dấu chỉ của Đức Kitô. Cùng đích của Kế hoạch của Thiên Chúa vốn vĩ đại hơn nhiều, và nói theo ngôn ngữ của Phaolô : đó là hiệp nhất toàn thể Thụ tạo lại với Ngài trong và qua Đức Kitô, tức là khi Đức Kitô hòa giải toàn thể nhân loại lại với nhau, giữa giáo và lương, giũa những kẻ “ở bên trong Hội Thánh” và những kẻ “ở bên ngoài Hội Thánh” :
 
“Thật vậy, chính Đức Kitô là bình an của chúng ta : Người đã liên kết đôi bên, dân Do thái và dân ngoại, thành một; Người đã hy sinh thân mình để phá đổ bức tường ngăn cách là sự thù ghét; Người đã hủy bỏ Luật cũ gồm các điều răn và giới luật. Như vậy, khi thiết lập hòa bình, Người đã tác tạo đôi bên thành một người mới duy nhất nơi chính bản thân Người. Nhờ thập giá, Người đã làm cho đôi bên được hòa giải với Thiên Chúa trong một thân thể duy nhất; trên thập giá, Người đã tiêu diệt sự thù ghét. Người đã đến loan Tin Mừng bình an : bình an cho anh em là những kẻ ở xa, và bình an cho những kẻ ở gần. Thật vậy, nhờ Người, cả đôi bên, chúng ta được liên kết trong một Thần Khí duy nhất mà đến cùng Chúa Cha.” (Ep 2, 14-18).
Và cuối cùng, khi Kế hoạch vĩ đại của Thiên Chúa-Ba Ngôi hoàn tất, đó là lúc “Trời mới”, “Đất mới” và “Con người mới” xuất hiện, hay còn được gọi là Ngày Quang Lâm của Đức Chúa (x. Mc 13, 24-27; Mt 24, 29-31; Lc 21, 25-28; Pl 2, 9-11) :
“Bấy giờ tôi thấy trời mới đất mới, và biển cũng không còn nữa. Và tôi thấy Thành Thánh là Giêrusalem mới, từ trời, từ nơi Thiên Chúa mà xuống, sẵn sàng như tân nương trang điểm để đón tân lang…Đấng ngự trên ngai phán : ‘Nầy đây Ta đổi mới mọi sự’. Rồi Người phán : ‘Ngươi hãy viết : Đây là những lời đáng tin cậy và chân thật’. Người lại phán với tôi : ‘Xong cả rồi ! Ta là Anpha và Ômêga, là Khởi Nguyên và Tận Cùng’…” (Kh 21, 1-2.5-6).
 
Đó chính là lúc hoàn tất Lịch sử, Lịch sử của Thiên Chúa và Lịch sử của mọi thụ tạo, đặc biệt của loài người (Ep 1, 3-14). Là lúc mà “Thiên Chúa là tất cả nơi mọi sự” (1 Cr 15, 28). Là lúc mà Đức Giêsu-Kitô có thể khẳng định lần nữa : “Tôi và Cha, Chúng tôi là Một” (Ga 10, 30).
Trong Kế hoạch thần linh nầy và trong Lịch sử nầy, hôn nhân và gia đình luôn luôn đóng một vai trò hết sức quan trọng : gia đình là tế bào của mọi xã hội, của mọi Hội Thánh, của Vương quốc Thiên Chúa. Nếu gia đình là tế bào của xã hội, của thế giới và của Hội Thánh, việc bảo vệ cấu trúc gia đình và hôn nhân phải luôn là mối ưu tư hàng đầu của toàn thể nhân loại và trước hết và trên hết là của Hội Thánh. Ở đây, sứ mạng chính yếu của Hội Thánh là rao giảng kế hoạch của Thiên Chúa liên quan đến hôn nhân và gia đình như đã được mặc khải ra trong Thánh Kinh và nơi những truyền thống tốt đẹp của Hội Thánh qua các thời, dù phải đối diện với vô vàn thách thức, chống đối và thất bại, qua lời nói và chứng tá đời sống “nghèo nàn” của mình, hay nói cách khác, là gieo những hạt giống tốt, còn việc những hạt giống đó mọc lên khi nào, ở đâu, và như thế nào, v.v… đó là việc của Thiên Chúa và của duy chỉ một mình Ngài mà thôi. Sứ mạng của Hội Thánh là rao giảng và làm chứng, chứ không phải là phán xét và kết án : chỉ có Thiên Chúa chí ái, toàn tri và toàn năng mói có đủ thẩm quyền để phán xét ! Cho đến hiện nay, có vẻ như không ít người kitô-hữu vẫn còn giữ não trạng của người pharisêu lên đền thờ cầu nguyện (Lc 18, 9-14), nghĩa là thích khoe công và phán xét người khác, và vẫn cứ nghĩ rằng Hội Thánh có sứ mạng cứu rỗi thế giới ! Không phải Hội Thánh mà chính Đức Kitô cứu rỗi thế giới và duy chỉ một mình Người là Đấng siêu độ mà thôi ! Vì thế, nói theo ngôn ngữ của Bruno Forte, Thiên Chúa không bắt chúng ta tính sổ với Ngài là đã cứu rỗi được bao nhiêu người mà là đã loan báo được cho bao nhiêu người Tin Mừng của Đức Giêsu-Kitô.
Đứng trước một thế giới mà tình trạng hôn nhân và gia đình đang đối diện với biết bao nguy cơ tan vỡ, không ít người đâm ra hoang mang, thất vọng, mất niềm tin vào Thiên Chúa, vào Hội Thánh vào chính con người, thậm chí vào cả chính bản thân mình. Sở dĩ thế, đã hẳn là tự đáy thâm tâm, người ta vẫn nghĩ rằng đây là vấn đề riêng của con người. Nhưng không phải vậy : đây là Kế hoạch và là Công trình của Thiên Chúa-Ba Ngôi, vì thế, không thể nào thất bại ! Làm sao thất bại, một Vị Thiên Chúa chí ái, toàn tri và toàn năng ! Làm sao thất bại, một Vị Thiên Chúa có thể biến những cục đá thành con cháu của Abraham (Mt 3, 9) ! Làm sao thất bại, một Vị Thiên Chúa có thể biến Tấm bánh thành “Thân Mình của Ngài” và biến ly Rượu thành “chén Máu của Ngài” ! Làm sao thất bại, khi tương quan tình yêu giữa những đối tác trong hôn nhân và gia đình là họa ảnh (icône) của những tương quan tình yêu giữa Ba Ngôi Thiên Chúa với nhau!
Trong một thế giới tục hóa và giải thiêng như thế giới mà chúng ta đang sống hôm nay, một cách can đảm, lạc quan và tràn đầy niềm tin, Hội Thánh qua Đức Thánh Cha PHANXICÔ, vẫn ngõ lời với mọi người, đặc biệt là các bạn trẻ :
 
“Đời sống của vợ chồng là một sự thông dự vào công trình sáng tạo của Thiên Chúa…”. Do đó, ‘ý muốn xây dựng một gia đình là can đảm tham gia vào giấc mơ của Thiên Chúa, dám ước mơ với Ngài, dám xây dựng với Ngài, dám nhập cuộc chơi với Ngài trong lịch sử nầy, để xây dựng một thế giới trong đó không ai cảm thấy cô đơn’.” (AL 321).
Đó quả là một giấc mơ thật đẹp, bởi vì đó là giấc mơ của chính Thiên Chúa !

 

32. CHÚA THÁNH THẦN, VỪA LÀ NGÔI VỊ,  VỪA LÀ THỰC TẠI CỦA MỌI SỰ HIỆP THÔNG

Cơ sở của nhận định nầy : “Chúa Thánh Thần, vừa là Ngôi Vị vừa là Thực tại của mọi sự Hiệp thông” là mặc kh