HOA DẠI VEN ĐƯỜNG - Lm. Nguyễn Thiên Cung

Thứ bảy - 10/08/2019 06:40
HOA DẠI VEN ĐƯỜNG - Lm. Nguyễn Thiên Cung
HOA DẠI VEN ĐƯỜNG - Lm. Nguyễn Thiên Cung
HOA DẠI VEN ĐƯỜNG
Vụn vặt một vài suy tư thần học
Lm. Phêrô Nguyễn Thiên Cung

MỤC LỤC:
01. THỬ ĐỌC KHÁI NIỆM “GIÁO HỘI” QUA LĂNG KÍNH.. 3
02. ĐỨC TIN, ÂN HUỆ THIÊN CHÚA BAN CHO CON NGƯỜI CÁCH NHƯNG KHÔNG.. 33
03. SỨ MẠNG LOAN BÁO TIN MỪNG KITÔ.. 43
04. ĐỨC GIÊSU-KITÔ, TRƯỚC VÀ SAU BIẾN CỐ PHỤC SINH.. 51
05. VỀ BA “NGUỒN CHỨNG CỨ PHỤC SINH”. 73
06. NGUYÊN NHÂN VÀ NHỮNG HIỆU QUẢ CỦA “ƠN CỨU ĐỘ”. 76
07. THẬP GIÁ VÀ PHỤC SINH.. 79
08. LINH MỤC THỪA TÁC, NGÀI LÀ AI?. 84
09. THẦN HỌC VÀ THI CA.. 101
10. GIÁO HỘI KITÔ, BÍ TÍCH CỦA ƠN SIÊU ĐỘ.. 103
11. TÌM HIỂU THÔNG ĐIỆP “THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU”. 116
12. THẦN KHÍ NHƯ MỘT NGÔI VỊ VÀ NHƯ ÂN HUỆ.. 119
13. VỀ BẢN DỊCH CÁC TÍN BIỂU TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY.. 146
14. SỐNG SỨ MẠNG CHỨNG NHÂN.. 152
15. CANH TÂN BẢN THÂN.. 154
16. DẤN THÂN PHỤC VỤ.. 157
17. GÓP PHẦN XÂY DỰNG MỘT XÃ HỘI CÔNG BẰNG.. 158
18. VAI TRÒ CỦA GIÁO XỨ.. 160
19. VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH.. 163
20. VAI TRÒ CỦA LINH MỤC VÀ TU SĨ TRONG VIỆC CỔ VŨ VIỆC SỐNG ĐẠO.. 166
21. GIÁO DỤC KITÔ : KẾ ĐỒ CỦA THIÊN CHÚA-BA NGÔI 168
22. MỤC ĐÍCH CỦA GIÁO DỤC KITÔ.. 170
23. GIÁO HỘI VÀ SỨ MẠNG GIÁO DỤC KITÔ.. 173
24. NHỮNG DẤU HIỆU LẠC QUAN.. 175
25. NHỮNG MỐI LO NGẠI 177
26. GIÁO DỤC KITÔ, MỘT SỨ MẠNG PHỔ CẬP. 180
27. TẤT CẢ MỌI KITÔ-HỮU ĐỀU LÀ GIÁO LÝ VIÊN.. 182
28. CÁC ĐỐI TƯỢNG ƯU TIÊN.. 184
29. THIÊN CHÚA-BA NGÔI, MẦU NHIỆM TÌNH YÊU.. 186
30 . BÍ TÍCH THÁNH TẨY KITÔ.. 200
31. TÌNH YÊU HÔN NHÂN KITÔ, HỌA ẢNH TÌNH YÊU HIỆP NHẤT CỦA THIÊN CHÚA – BA NGÔI. 222
32. CHÚA THÁNH THẦN, VỪA LÀ NGÔI VỊ,  VỪA LÀ THỰC TẠI CỦA MỌI SỰ HIỆP THÔNG.. 239
33. CÁC THỪA TÁC VIÊN CỦA LÒNG THƯƠNG XÓT, CÁCH RIÊNG QUA BÍ TÍCH GIAO HÒA.. 256
34. CHIA SẺ CỦA MỘT LINH MỤC TUỔI ĐÃ XẾ CHIỀU…... 269
35. MỘT VÀI NHẬN ĐỊNH LIÊN QUAN ĐẾN HIỆN TƯỢNG SỨ ĐIỆP TỪ TRỜI” CỦA “MARIA DIVINE MERCY”, QUA LĂNG KÍNH THẦN HỌC  TÍN LÝ.. 275
36. MỘT CÁCH ĐỌC TÔNG HUẤN “NIỀM VUI TIN MỪNG” CỦA ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ.. 281

Chủng Viện Thánh Nicôla - 2018
Lời ngỏ
Cuộc đời vốn là một hành trình. Và, lữ khách chính là thân phận và số kiếp của con người. Mỗi con người chỉ có một đời người, một thời gian để sống, để yêu, để ghét, để suy tư, để hành động, một không gian để tiếp xúc, để đi lại, và để chết…
Những suy tư trong tập sách nầy là những dấu ấn ghi lại của những khoảnh khắc mà tác giả có, khi đối diện với Thiên Chúa, với những con người, những biến cố, những vấn đề, những trăn trở, những thao thức, những dằn vặt, những ưu tư…, vì thế, ít nhiều mang tính chủ quan…
Những suy tư nầy cũng là cách mà tác giả muốn níu kéo thời gian để những khoảnh khắc sống và suy tư của mình luôn là cái “hiện tại”, không mất đi, với hy vọng mong manh có thể giúp mình và ai đó một chút động cơ để sống và để yêu con người, để yêu Thiên Chúa, yêu Đức Giêsu-Kitô, và Giáo Hội-Thân Mình của Ngài…
Chỉ thế thôi ! Và vì thế, những suy tư nầy chỉ dám ví như những bông hoa dại ven đường, với mong ước nhỏ bé giúp được cho người lữ khách đường xa nào đó mỏi mệt ngồi bệt bên vệ đường một chút thơ thới tâm hồn, lấy lại sức để tiếp tục cuộc hành trình dài, gần như vô tận, trước mắt…
Và, nếu được thế, thì tác giả những suy tư nầy đã mãn nguyện lắm rồi.   
                            Linh mục Phêrô Nguyễn Thiên Cung
 
 

01. THỬ ĐỌC KHÁI NIỆM “GIÁO HỘI” QUA LĂNG KÍNH

KHÁI NIỆM “NƯỚC THIÊN CHÚA”
Liên quan đến nỗ lực suy tư về  GIÁO HỘI, có một nghịch lý là có một đề tài mà lúc còn sống cuộc sống xác thể, Đức Giêsu có vẻ như quan tâm nhiều nhất và nhấn mạnh nhiều nhất, nếu không muốn nói đó là trọng tâm của nỗ lực loan báo Tin Mừng của Ngài, qua trên dưới 44 dụ ngôn, và rải rác đó đây trong toàn bộ Sách Tin Mừng Tân Ước, nhưng Giáo Hội Công giáo thì lại không mấy quan tâm : đó là khái niệm “NƯỚC THIÊN CHÚA”, hay “NƯỚC TRỜI”…
Thật vậy, có thể nói rằng hầu như Bốn sách Tin Mừng rất ít khi sử dụng hạn từ hay khái niệm “GIÁO HỘI” (chỉ 3 lần nơi Mt 16,18; 18,17); hạn từ nầy chỉ thấy xuất hiện nhiều trong Sách Công vụ (19 lần), các thư Tân Ước (5 lần trong Rm; 14 lần trong 1Cr; 10 lần trong 2Cr; 3 lần trong Gl; 9 lần trong Ep; 2 lần trong Pl; 4 lần trong Cl; 2 lần trong 1Tx; 2 lần trong 2 Tx; 3 lần trong 1Tm; 1 lần Plm; 1 lần trong Gc; 3 lần trong 3 Ga), và trong Sách Khải huyền (20 lần)…
Tình trạng lúng  túng của các nhà thần học bao nhiêu thế kỷ qua khi cố gắng đưa ra một “định nghĩa” về Giáo Hội và xác định thời điểm Đức Giêsu thành lập Giáo Hội “lúc nào ?”, thậm chí cả nơi Công đồng VATICAN II, trên thực tế, phản ảnh cho thấy hình như nỗ lực suy tư thần học về Giáo Hội, một đàng, đã có một khởi điểm “có vấn đề”; đàng khác, kể cả suy tư về bản chất, căn tính của Giáo Hội cũng “có vấn đề” ! Điều nầy được phản ảnh khá rõ ràng và mang nhiều ý nghĩa trong một công thức rất tuyệt vời của “Công đồng Giêrusalem” đã ngày càng bị cắt cụt đi: từ “Thánh Thần và chúng tôi quyết định…” (Cv 15,28), dần dần chỉ còn “Chúng tôi quyết định…”, và rồi cuối cùng chỉ còn “Magister dixit…” !
Vì thế, có lẽ đã đến lúc chúng ta cần phải suy tư lại về những vấn đề liên quan đến căn tính của thực tại vốn vẫn thường được gọi là “Giáo Hội” nầy.
Ở đây, như một bước đầu mò mẫm, chúng tôi mạo muội đề xuất một lối đọc khái niệm Giáo hội qua lăng kính khái niệm Nước Thiên Chúa.
Những khái niệm “Vương quyền của Thiên Chúa” (Règne de Dieu ou Règne des cieux) [Cựu Ước sử dụng 7 lần; Tân Ước sử dụng 42 lần], hay “Nước Thiên Chúa” (Royaume de Dieu) [Tân Ước sử dụng 36 lần], hay “Nước Trời” (Royaume des Cieux) [Tân Ước sử dụng 28 lần, chủ yếu bởi Mt, vì kiêng húy Danh Thiên Chúa]…, trong Cựu Ước cũng như trong Tân Ước, nói chung, đều ám chỉ “Tương quan Tình yêu giữa Thiên Chúa với nhau và với các thụ tạo của Ngài”.
Khi nói “Tương quan Tình yêu”, điều nầy hàm chứa những yếu tố sau đây:
1) Các “đối tác” (les “partenaires”) trong tình yêu: một bên là Thiên Chúa (Cha, Con và Thánh Thần) và một bên là các thụ tạo của Ngài (các thiên thần, Satan, Ma quỉ, con người, thiên nhiên-vũ trụ…);
2) Thực tại, kết quả của chính những tương quan Tình yêu đó…

I.       CÁC “ĐỐI TÁC”:

A.      TƯƠNG QUAN GIỮA BA NGÔI THIÊN CHÚA:
Trong Cựu Ước (CƯ), khái niệm “Ba Ngôi” (Cha, Con và Thánh Thần) đã tồn tại, nhưng, chưa mấy rõ ràng và cụ thể, chỉ mới dưới dạng: Thiên Chúa, Lời hay Sự Khôn Ngoan và Thần Khí…
Trong ngôn ngữ Tân Ước (TƯ), dung mạo Ba Ngôi Vị Thiên Chúa (Cha, Con và Thánh Thần) đã được mặc khải cách rõ ràng hơn, có tính ngôi vị hơn và có tính hiện sinh hơn…
Trên cơ sở “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1Ga 4,8; xem Is 54,8; Hs 11,1-9; Gr 31,3,20), thần học kitô-giáo suốt hơn 20 thế kỷ qua đã suy tư, và đã hiểu sự hiện diện của Ba Ngôi Vị Thiên Chúa qua lăng kính các mối tương quan tình yêu: Cha “Yêu” nhiệm sinh ra Con, bởi vì khi nói yêu thì phải là yêu “Ai đó”, vừa khác mình vừa giống với mình (Lc 3,22; Cv 13,33; Dt 1,5; 5,5; 1Ga 5,18); Cha và Con yêu nhau “ái xuất” (spiration active) Thần Khí (spiration passive), vừa là của Cha (Mt 3,16; 10,20; 12,28; Ga 14,26; 15,26; 1Cr 6,11; v.v…), vừa là của Con (Ga 7,39; 14,26; Cv 2,33; 5,9; Rm 8,9; v.v…)…

B.      TƯƠNG QUAN GIỮA THIÊN CHÚA-BA NGÔI VÀ CÁC THỤ TẠO CỦA NGÀI:
1.      Tương quan giữa Thiên Chúa-Ba Ngôi và các thụ tạo thiên thần (lành và dữ):
Trong ngôn ngữ CƯ, tương quan giữa Thiên Chúa và các thiên thần (lành và dữ) được quan niệm như khá thân mật, gần gũi.
Các thiên thần lành chủ yếu được coi như là những đấng được Thiên Chúa sai đi, vừa loan tin vừa thực thi các mệnh lệnh của Ngài (St 24,7; Xh 23,20; Ds 20,16; Tv 91,11; Đn 3,28; 6,23; v.v…):
“Vì ngươi, Ngài ra lệnh cho các thiên thần. để gìn giữ ngươi trên mọi lối ngươi đi…” (Tv 91,11 tt).
“Thiên Chúa sai một thần sứ đến Giêrusalem để tàn sát thành; trong khi ngài tàn sát, thì Giavê thấy và Ngài đã hối tiếc về tai họa xảy ra và Ngài phán với thần sứ tàn sát: ‘Đủ rồi! Bây giờ hãy nới tay!’.” (1 Sb 21,15; xem Đn 6,23).
Còn Satan, thiên thần sa ngã, được coi như là “kẻ thử thách” con người:
 Ở đây, câu truyện Gióp (G) cung cấp cho chúng ta một số ý nghĩa đặc trưng khá độc đáo: a) Satan được hành xử với sự cho phép của Thiên Chúa (G 1,12); b) công việc diễn tiến được coi như một vụ thách thức giữa Thiên Chúa và Satan (G 1,8-12); c) Thiên Chúa chấp nhận thách thức với niềm tin chắc chắn Ngài sẽ chiến thắng và con người cũng sẽ chiến thắng (G 2,3; 42,2.10-17); d) những khí cụ đề Gióp chiến thắng là: liêm khiết và chính trực, kính sợ Thiên Chúa và xa điều gian ác (G 1,8).
“Một ngày kia, các con cái của Thiên Chúa đến ra mắt Giavê và Satan cũng có mặt giữa họ. Giavê phán hỏi Satan: ‘Ngươi từ đâu đến?’ Satan thưa với Giavê: ‘Đi lởn vởn và lang thang trên đất’. Giavê lại phán hỏi Satan: ‘ Ngươi có lưu ý gến Gióp, tôi tớ của Ta chăng? Trên đất, chẳng có ai như nó: Một người liêm khiết và chính trực, kính sợ Thiên Chúa và xa điều gian ác.” (G 1,6-12).
Trong ngôn ngữ TƯ, trước tiên, tương quan giữa Thiên Chúa và các thiên thần lành vẫn vậy, nghĩa là  các thiên thần lành vẫn là những thần sứ của Thiên Chúa, được Thiên Chúa sai đi loan báo và thực thi các mệnh lệnh của Ngải (Mt 1,20; 13,41; 16,27; Lc 1,26; 12,8-9; 15,10; Ga 1,51; v.v…):
“Và Ngài nói với ông: ‘Quả thật, quả thật, Ta bảo các ngươi, các ngươi sẽ thấy trời mở ra, và các thiên thần của Thiên Chúa lên xuống trên Con Người’.” (Ga 1,51).
Còn tương quan giữa Thiên Chúa và các thiên thần dữ, trong ngôn ngữ TƯ, có vẻ phức tạp hơn.
 Satan, trước tiên, là kẻ thách thức Thiên Chúa và thử thách con người, những con cái của Thiên Chúa: Ba cám dỗ mà Satan đã dùng để thử thách Đức Giêsu  (Mt 4,1; Mc 1,13; Lc 4,2) liên quan đến những vấn đề cơm bánh, quyền lực và muốn thách thức Thiên Chúa.
Và để chiến thắng, ngoài những khí cụ truyền thống, Đức Giêsu còn cung cấp thêm một khí cụ mới đó là Lời Thiên Chúa mà Ngài chính là hiện thân.
Thứ đến, Satan còn là kẻ phá đám công trình của Thiên Chúa đối với loài người (Mt 13,25.28.39; Mc 4,14; Lc 8,12)!
“Bấy giờ, Ngài bỏ dân chúng mà về nhà. Môn đồ đến gặp Ngài mà rằng: ‘Xin nói rõ cho chúng tôi hiểu ví dụ cỏ lùng trong ruộng!’ Đáp lại, Ngài nói: ‘Kẻ gieo giống tốt tức là Con Người; ruộng là thế gian; giống tốt là con cái của Nước; cỏ lùng là con cái Quỉ dữ; kẻ thù gieo cỏ lùng là ma quỉ; mùa gặt là thời tận thế; và thợ gặt là các thiên thần.” (Mt 13,36-39).
Tuy nhiên, mọi thách thức và thử thách của Satan đối với Đức Giêsu, Con và là Ngôi Lời của Thiên Chúa đều thất bại:
“Rồi sẽ là cùng tận, lúc Đức Giêsu-Kitô trao trả vương quyền cho Thiên Chúa và là Cha, sau khi đã hủy ra không, mọi thiên phủ, mọi uy thế và quyền năng. Vì Ngài phải giữ quyền vua cho đến khi Ngài đặt mọi địch thù dưới chân Ngài. Địch thù cuối cùng bị hủy ra không là sự chết. Vì: muôn sự Ngài đã bắt phục cả dưới chân Ngài. Khi nói: muôn sự phải phục quyền, thì đã rõ là chỉ trừ Đấng đã bắt muôn sự phục quyền Đức Giêsu-Kitô. Vì khi mọi sự đã phục quyền mình, thì bấy giờ Con cũng sẽ phục quyền Đấng đã bắt mọi sự phục quyền mình, ngõ hầu Thiên Chúa là tất cả trong mọi sự.” (1Cr 15,24-28).

2.      Tương quan giữa Thiên Chúa-Ba Ngôi và nhân loại:
Liên quan đến tương quan giũa Thiên Chúa và con người, ngôn ngữ CƯ thường nhấn mạnh tương quan giữa Đấng Sáng tạo và Thụ tạo (Gr 51,19; 2 Mcb 7,23), và trong tương quan với dân Israen, Thiên Chúa tỏ ra như là Mục Tử [vừa là người lãnh đạo, vừa là bạn đồng hành] (1 Sm 17,34-37; Cn 27,23; St 33,13tt; Is 40,11; 2 Sm 12,3; v.v.), như là Cha (Đnl 14,1; 32,6; Hs 2,1) và như là vị Hôn Phu (Hs 2,20tt; Gr 2,2; 31,3; Ed 16,1-43.59-63; Is 54,4-8; v.v.)…
Nếu trong CƯ, khía cạnh “Cha-con” thường chỉ được hiểu theo nghĩa tương quan giữa Thiên Chúa và tập thể dân Israen, hơn là một cá nhân nào đó cụ thể (Đnl 14,1; 32,6; Hs 2,1), và thường có kèm theo những điều kiện, đôi khi có vẻ như mang tính vụ lợi (?) (Đnl 29,19; Ed 35,11-15;v.v.), thì trong TÂN ƯỚC, tương quan tình yêu nầy luôn mang tính vô điều kiện, vô vị lợi và vô biên giới…
“Mọi điều đã viết xưa kia, thì đã được viết để dạy dỗ ta, ngõ hầu nhờ sự kiên  nhẫn và an ủi của Kinh Thánh, ta được có hy vọng. Nguyện xin Thiên Chúa, nguồn kiên nhẫn và an ủi, ban cho anh em được ý hợp tâm đồng với nhau rập theo Đức Kitô Giêsu, ngõ hầu anh em được cùng một lòng trí, một miệng lưỡi, mà tôn vinh Thiên Chúa và là Cha của Chúa chúng ta, Đức Giêsu-Kitô.
Bởi đó, anh em hãy chấp nhận lẫn nhau, như Đức Kitô đã chấp nhận anh em, vì vinh quang Thiên Chúa.
Tôi muốn nói: Đức Kitô đã phục vụ giới cắt bì, để (chứng thực) lòng chân thành của Thiên Chúa, làm cho các lời hứa trên cha ông được nên kiến hiệu. Còn dân ngoại (đã được chấp nhận) vì lòng nhân nghĩa, để họ tôn vinh Thiên Chúa, như đã viết: …” (Rm 15,4-9).
Ngoài ra, cần lưu ý rằng, trong ngôn ngữ TƯ, tương quan tình yêu giữa Thiên Chúa và các thụ tạo, vừa có tính liên ngôi vị hơn, vừa có tính không lệ thuộc nguyên lý nhân-quả…
a.       Những tương quan liên ngôi vị:
Trong thực tại thần linh, cũng như trong kế đồ tế thế (économie): đó là những tương quan giữa Cha, Con và Thánh thần (Ga 3,35; 5,20; 15,9; Mt 28,19; 1Cr 6,11; Tt 3,4-6; v.v.).
Trong tương quan vói con người, đó là những tương quan giữa từng Ngôi Vị với từng cá thể (Ga 16,27; Rm 15,15-16) vừa vì lợi ích cá thể, vừa vì lợi ích của tập thể (1Cr 12,4-6.11; 2Cr 13,13; Ep 4,4-6; Ga 17,22).

i.       Tương quan Cha-con trong Đức Giêsu-Kitô:
Trong TƯ, tương quan Cha-con giữa Thiên Chúa và con người được nhấn mạnh và làm sáng tỏ nhiều hơn trong CƯ (Mt: 21 lần; Mc: 1 lần; Lc: 3 lần; Ga: 2 lần; Rm: 2 lần; 1Cr: 1 lần; Gl: 2 lần; Ep: 3 lần; Pl: 2 lần; Cl: 2 lần; 1Tx: 2 lần; Plm: 1 lần; v.v…).
Tuy nhiên, chúng ta chỉ có được “tư cách con” và được tháp nhập vào Thân Mình của Đức Giêsu-Kitô qua và trong Đức Giêsu-Kitô mà thôi:
“Chúc tụng Thiên Chúa, và là Cha của Chúa chúng ta, Đức Giêsu-Kitô, Đấng đã chúc lành cho ta bằng mọi chúc lành Thần Khí, chốn hoằng thiên, trong Đức Kitô.
Bởi chưng, Thiên Chúa-Cha đã chọn ta trong Đức Giêsu-Kitô, từ trước tạo thiên lập địa, để ta được nên thánh và vô tì tích trước mặt Ngài.
Bởi lòng yêu mến, Thiên Chúa-Cha đã tiền định cho ta được phúc làm con, nhờ Đức Giêsu-Kitô, và vì Ngài, chiếu theo nhã ý của thánh chỉ Ngài…” (Ep 1,3-5)
“Mỗi người chúng ta đã được ân sủng ban xuống tùy theo lường ân lộc của Đức Kitô. Bởi thế có nói:
Ngài đã lên cao, dẫn tù một đám tù binh,
Ngài đã ban ân lộc cho nhân loại.
Tiếng ‘Ngài lên’ là gì nếu không phải là Ngài đã xuống dưới thấp cõi đất? Đấng đã xuống cũng chính là Đấng đã lên, trên mọi tầng trời, để làm viên mãn mọi sự. Và chính Ngài đã ‘ban cho’: kẻ thì làm tông đồ, kẻ thì làm tiên tri, người thì làm giảng viên, kẻ thì làm vị chăn chiên, làm thầy dạy, cốt để chuẩn bị các thánh, cho họ sung vào công cuộc phục vụ, mà xây dựng Thân Mình Đức Kitô, cho đến khi chúng ta hết thảy đạt thấu được sự duy nhất trong kính tin và am tường về Con Thiên Chúa, mà nên người thành toàn, đạt đến tầm vóc xứng với sự viên mãn của Đức Kitô…” (Ep 4,7-13). 
 
ii.      Tương quan Cha-con trong Thần Khí của Cha và của Con:
Trước tiên, chính Thần Khí của Cha làm cho chúng ta trở thành con cái hay những nghĩa tử của Thiên Chúa:
“Vì chưng phàm ai được Thần Khí Thiên Chúa dẫn đưa, thì họ là con cái Thiên Chúa. Quả thế, không phải thứ thần khí của hàng nô lệ là điều anh em đả chịu lấy, để mà sợ hãi. Nhưng anh em đã chịu lấy Thần Khí của hàng nghĩa tử; nhờ đó, ta kêu lên: Abba, lạy Cha! Chính Thần Khí chứng thực cho thần hồn ta rằng: ta là con cái Thiên Chúa…” (Rm  8,14-16).
Thứ đến, ngay cả tiếng kêu “Lạy Cha!” của chúng ta đối với Thiên Chúa, tự mình chúng ta cũng không thể làm được, nếu không nhờ Thần Khí của Con trong chúng ta kêu lên:
“…Mà bởi vì anh em là con cái, thì Thiên Chúa đã sai Thần Khí Con của Ngài vào lòng anh em, (Thần Khí) kêu lên: Abba, lạy Cha. Cho nên người không còn là nô lệ, nhưng là con, mà nếu là con, thì cũng là kẻ thừa tự thể theo (ý của) Thiên Chúa.” (Gl 4,6-7).
Như vậy, cùng với Gl 2,20, Gl 4,6-7 cho chúng ta thấy được có một sự hiệp nhất trên cơ sở “ngôi vị” nào đó giữa những kẻ được gọi là con cái Thiên Chúa với Thiên Chúa-Ba Ngôi, từ đó con người mới có thể sống được sự sống vĩnh hằng, điều mà ngay từ lúc tạo dựng Thiên Chúa đã muốn chia sẽ cho mọi thụ tạo của Ngài (xem thêm Ep 4,7-13). Việc nghiên cứu tương quan giữa Thần Khí Thiên Chúa và các thụ tạo, đặc biệt con người sẽ cho phép chúng ta khám phá ra được nhiều điều thú vị và ý nghĩa hơn nữa (xem Mc 1,8; 12,36; 13,11; Lc 1,41.67; 2,26-27; Ga 3,6-8; 6,63; 7,39; Cv 1,5; 2,4.17-18.38; 4,8.31; 5,32; 6,3.5; 8,17.29.39; 9,17.31; 10,19.44; 11,12.24; 13,2.4.9; 15,58; 16,6-7; 20,22-23.28; 21,4.11; Rm 8,11-27; 15,13.16.19.30; 1Cr  2,4.10.13; v.v…).

b.      Những tương quan không dựa trên nguyên lý    nhân - quả:
Những tương quan thuộc thế giới “tự nhiên” thông thường lệ thuộc “phạm trù không-thời gian” (catégorie spatio-temporelle). Tương quan giữa Thiên Chúa với nhau và với các thụ tạo của Ngài, vừa không lệ thuộc những phạm trù không-thời gian mà siêu vượt chúng, vừa vượt quá khái niệm công bằng của CƯ (kiểu “mắt đền mắt, răng đền răng”, hay làm nhiều thì phải được hưởng nhiều), bởi vì đó là những tương quan tình yêu, và vì thế lý trí không thể nào lý hội được hoàn toàn theo kiểu thông thường, mà cần phải có sự can dự của trái tim (Ga 3,16; Lc 6,27-36; Mt 5,43-48; 20,1-16; Lc 8,20-21; 15,11-32; 18,9-14; v.v.)…
Hai đặc tính trên đây chính là những yếu tố thuộc yếu tính của khái niệm “mầu nhiệm”. Thật vậy, mầu nhiệm chính là thực tại siêu việt thực tại “tự nhiên”, vốn vẫn hằng bị chi phối, cách chặt chẽ, bởi nguyên lý nhân-quả: chính đặc tính qui luật nầy khiến cho lý trí, chỉ dựa trên khả năng tự nhiên của mình vẫn có thể nắm bắt được thực tại tự nhiên nầy, và có thể trình bày chúng cách chính xác, rõ ràng và cụ thể qua những khái niệm, những hình ảnh và những biểu tượng…Còn khi đối diện với những gì liên quan đến mầu nhiệm, lý trí con người thường tỏ ra hụt hẫng, lúng túng, bối rối, từ đó có những phản ứng khác nhau: hoặc là khiêm tốn nhận ra giới hạn của lý trí, hoặc là nổi loạn, phủ nhận, từ chối mầu nhiệm trên cơ sở bởi vì lý trí không nắm bắt được! Mầu nhiệm không phi tự nhiên mà là siêu việt lên trên tự nhiên…

3.      Tương quan giữa Thiên Chúa-Ba Ngôi  và Thế giới (= Thế gian):
Trong ngôn ngữ CƯ, tất cả gì Thiên Chúa tạo dựng nên đều tốt đẹp cả:
“Và Thiên Chúa đã thấy mọi sự Ngài đã làm ra: và nầy tốt lành quá đỗi…” (St 1,1-31).
Và, tất cả được tạo dựng nên là vì con người:
“Và Thiên Chúa đã dựng nên người theo hình ảnh mình. Theo hình ảnh của Thiên Chúa, Ngài đã dựng nên nó. Là nam là nữ, Ngài đã dựng nên chúng. Và Thiên Chúa đã chúc phúc cho chúng, và Thiên Chúa đã phán bảo chúng: ‘Hãy sinh sôi nẫy nở và hãy đầy dẫy trên đất. Và hãy bá chủ nó! Hãy trị trên cá biển và chim trời và mọi loài sinh vật nhung nhúc trên đất’.
Và, Thiên Chúa đã phán: ‘Này, Ta ban cho các ngươi mọi thứ cỏ lả sinh hạt giống có trên cả mặt đất, và mọi thứ cây có quả sinh hạt giống, chúng sẽ làm của ăn cho các ngươi.
Và cho mọi loài sinh vật trên đất và mọi thứ chim trời, và mọi loài nhung nhúc trên đất, loài có sinh khí nơi mình, Ta ban các thứ cây cỏ xanh tươi làm của ăn’.” (St 1,27-30).
Trong ngôn ngữ TƯ, Thiên Chúa đã yêu thế giới đến nỗi đã thí ban Người Con Một của Ngài (Ga 3,16).
Ở đây, qui luật “tự hủy mình ra không” (kénose) có vẻ như là một qui luật phổ quát, vốn không chỉ được áp dụng nơi biến cố Nhập thể của Ngôi Lời, Con Thiên Chúa, Đức Giêus-Kitô,  mà còn áp dụng cho cả con người và vũ trụ:
“Tạo thành những ngong ngóng trông đợi thấy con cái Thiên Chúa được hiển dương. Tạo thành đã phải lụy phục sự hư luống – dẫu không muốn – nhưng, vì Đấng đã bắt nó phải lụy phục, với hy vọng là chính tạo thành cũng sẽ được tự do khỏi cảnh làm tôi mục nát, mà vào địa vị tự do trong vinh quang thuộc hàng con cái Thiên Chúa. Bởi chưng, ta biết: tất cả tạo thành cùng nhau rên siết, cùng nhau quằn quại ở cữ cho đến bây giờ. Nhưng, không chỉ có nó, song cả ta nữa, những kẻ hưởng khai ân của Thần Khí, ta cũng rên siết nơi mình ta, trông đợi [phúc nghĩa tử], sự cứu chuộc thân xác ta.” (Rm 8,19-23).
Rm 8,19-23, một đàng, cho chúng ta hiểu được vai trò quan trọng của vũ trụ vật chất, của thân xác trong công trình siêu độ của Thiên Chúa; đàng khác cũng cho chúng ta biết rằng cả vũ trụ vật chất, cả thể xác cũng nằm trong kế đồ siêu độ của Thiên Chúa: để trở thành Trời mới, Đất mới và Con người mới (Kh 21,1-8).
 
II.      THỰC TẠI ĐƯỢC TẠO RA DO HỆ QUẢ CỦA TƯƠNG QUAN TÌNH YÊU GIỮA THIÊN  CHÚA-BA NGÔI VÀ CÁC THỤ TẠO CỦA NGÀI:
Để biểu hiện Thực tại mầu nhiệm nầy, Thánh Kinh sử dụng nhiều hạn từ, hình ảnh khác nhau, nhằm bổ sung cho nhau, bởi vì mỗi hạn từ hay mỗi hình ảnh chỉ phản ảnh được một khía cạnh hay một yếu tố nào đó của Thực tại đó mà thôi…
Để diễn tả khía cạnh đó là một Thực thể sống, Thánh Kinh sử dụng những khái niệm như: Cây nho và cành nho, hạt giống nẫy mầm, men
Để diễn tả khía cạnh đó là một Thực thể có chủ thể tính, ngôi vị tính, Thánh Kinh sử dụng những khái niệm: Thân Mình hay Thân Thể, là Hình ảnh Thiên Chúa…
Để diễn tả khía cạnh đó là những tương quan sống với nhau, Thánh Kinh sử dụng những khái niệm: Nước Thiên Chúa, Nước Trời…
Để diễn tả khía cạnh đó là một cơ cấu có tổ chức, được phân công phân nhiệm rõ ràng, Thánh Kinh sử dụng những khái niệm: Thân Mình (có đầu và các chi thể khác biệt nhau), Giáo hội…
Để diễn tả đặc tính phổ quát của Tinh yêu của Thiên Chúa và của con người, Thánh Kinh sử dụng hình ảnh: Lưới bắt được mọi thứ cá…
Tóm lại, có thể nói rằng, trong ngôn ngữ TƯ, nếu nhìn từ góc độ những mối tương quan, được gọi là “Nước Thiên Chúa”, “Nước Trời”; nếu nhìn từ góc độ cơ cấu tổ chức, được gọi là “Giáo hội”; còn nếu nhìn từ góc độ thực tại sống động, được gọi là Thân Mình Đức Giêsu-Kitô.
 Nếu nhìn từ góc độ “Nước Thiên Chúa”, có ba vấn đề cần phải được xem xét:

1) Tương quan giữa Cha và “Nước Thiên Chúa”;
2) Tương quan giữa Con và “Nước Thiên Chúa”;
3) Tương quan giữa Thần Khí và “Nước Thiên Chúa”.
Nếu nhìn từ góc độ “Thân Mình Đức Giêsu-Kitô”, kể cả góc độ “Cơ cấu tổ chức”, có hai vấn đề cần được xem xét:
1) Chiều kích vĩ mô của Nước Thiên Chúa: Giáo hội như Thân Mình của Đức Giêsu-Kitô;

2) Chiều kích vi mô của Nước Thiên Chúa: con người như hình ảnh của Thiên Chúa.
Ở đây, chúng tôi sẽ chọn lựa phương án tổng hợp hai góc độ nhìn nầy với nhau.

A.      CHIỀU KÍCH VĨ MÔ CỦA NƯỚC THIÊN CHÚA: GIÁO HỘI NHƯ THÂN MÌNH ĐỨC GIÊSU-KITÔ:
Ở đây, có ba vấn đề sẽ được lần lượt xem xét:
1) Nguồn cội tam vị của Nước Thiên Chúa (hay Giáo hội);
2) Sự phát triển của Nước Thiên Chúa hay của Giáo hội.
3) Giáo hội, Thân Mình của Đức Giêsu-Kitô, Ngôi Lời và Con Thiên Chúa…
1.      Nguồn cội Tam Vị của Nước Thiên Chúa (hay Giáo Hội):
Như phần trên chúng tôi đã khái quát phân tích, nguồn cội tam vị của Nước Thiên Chúa hay Giáo hội phải được tìm kiếm ngay trong chính những “nhiệm xuất’ của Mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi.
Thật vậy, trước tiên, nếu Con, Ngôi Lời là nguyên lý của công trình Tạo dựng (x. Ga 1,3), thì hành vi nhiệm sinh ra Con cũng chính là hình ảnh và là nguồn gốc của hành vi sinh ra Nước Thiên Chúa hay Giáo hội. Điều đó có nghĩa là: Cũng như Cha “Yêu Con” “sinh ra” Con, và Con là Hình Ảnh của Cha và giống như Cha, cũng vậy, qua Tình yêu đối với Con và trong Con, Cha “Yêu” các thụ tạo và các thụ tạo bắt đầu hiện hữu:
“Cha yêu mến Con, và đã ban cho mọi sự trong tay Ngài” (Ga 3,35).
“Quả vì Thiên Chúa đã yêu thế gian như thế đó, đến nỗi đã thí ban Người Con một…” (Ga 3,16).
“Thiên Chúa nhân lành và khôn ngoan đã muốn mặc khải chính Mình và tỏ cho mọi người biết mầu nhiệm thánh ý Ngài (x.Ep 1,9), nhờ đó, loài người có thể đến cùng Chúa Cha, nhờ Chúa Kitô, Ngôi Lời Nhập thể, trong Chúa Thánh Thần, và được thông phần bản tính của Thiên Chúa (x. Ep 2,18; 2 Pr 1,4).” (DV 2).
Cách đặc biệt, con người được tạo dựng “theo Hình Ảnh Thiên Chúa và giống như Thiên Chúa (x. St 1,26-27). Thế mà, Đức Giêsu-Kitô chính là Hình Ảnh của Thiên Chúa vô hình:
“Đức Giêsu-Kitô chính là Hình Ảnh của Thiên Chúa vô hình.” (Cl 1,15; xem thêm  1Cr 11,7; 2Cr 4,4).
Điều nầy, trước tiên, có nghĩa mô hình chuẩn của con người chính là Con, Ngôi Lời của Thiên Chúa nhập thể, là Đức Giêsu-Kitô. Điều nầy liên quan không chỉ đến hành động mà cả đến chính hữu thể của con người:
“Tôi sống, nhưng không còn là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20; x. Gl 4,6-7).
Điều nầy chính là cơ sở của những hành vi nhận là của mình (appropriations) và thông ban cho (communications), trong ngôn ngữ kitô-học.
Thứ đến, cũng như hành vi Cha và Con Yêu nhau “ái xuất” ra Thần Khí như một Ngôi Vị và như Ân huệ, cũng vậy, hành vi Cha và Con, cùng yêu các Thụ tạo “ái xuất” ra Thần Khí của Nước Thiên Chúa hay của Giáo hội, Thần Khí mà vốn là Nguyên lý hiệp nhất của mọi Thụ tạo. Đó chính là cơ sở của tương quan giữa Thần Khí và Nước Thiên Chúa hay Giáo hội.
“Cha yêu mến Con, và đã ban cho mọi sự trong tay Ngài.” (Ga 3,35).
“Ai khát thì hãy đến cùng Ta mà uống. Kẻ tin vào Ta thì như Thánh Kinh đã nói:  Tự lòng Ngài có những sông tuôn chảy nước sinh sống. Điều ấy, Ngài nói về Thần Khí các kẻ tin vào Ngài sẽ lĩnh lấy, vì Thần Khí chưa có, bởi Đức Kitô chưa được tôn vinh.” (Ga 7,37-39).
Ga 7,37-39 cho thấy có sự phân biệt giữa Thần Khí của Cha và Thần Khí của Con Nhập thể (xem Mt 10,20; 12,18; Ga 14,26; Cv 2,17-18; 8,39; Rm 8,9.11; v.v…).
Ngoài ra, tuy cũng cùng một Thần Khí, nhưng mỗi người sẽ được ban cho cách riêng và khác nhau, vì mục đích chung:
“Đặc sủng chia làm nhiều, nhưng cũng là một Thần Khí. Phục vụ chia làm nhiều, nhưng cũng là một Chúa. Kỳ công chia làm nhiều , nhưng cũng là một Thiên Chúa, Đấng ra uy làm nên mọi sự nơi mọi người. Thần Khí hiển thị (như vậy) được ban xuống cho mỗi người để mưu lợi ích chung.” (1Cr 12,4-7).
Sau cùng, cũng như Tinh yêu làm cho các Ngôi Vị tương ngụ và hiện diện trong nhau, cũng vậy, chỉ có tình yêu mới làm cho các Thụ tạo, đặc biệt con người vốn được tạo dựng nên theo Hình ảnh Thiên Chúa và giống như Thiên Chúa, tương ngụ và hiện diện trong Mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi và trong nhau.
“Vậy, bây giờ án phạt không có nữa cho những ai ở trong Đức Kitô Giêsu. Vì luật Thần Khí ban sự sống trong Đức Kitô Giêsu cho ngươi được tự do thoát luật của sự tội và sự chết […]. Vì chưng, hứng theo xác thịt là làm nghịch với Thiên Chúa. Nhưng, anh em không theo xác thịt, mà là Thần Khí, nếu thực có Thần Khí Thiên Chúa cư ngụ trong anh em.Không có Thần Khí Đức Kitô, kẻ ấy không thuộc về Ngài. Nhưng, nếu Đức Kitô ở trong anh em, thì tuy thân xác vẫn là đồ chết, vì tội, nhưng Thần Khí là sự sống vì Đức công chính. Nếu Thần Khí của Đấng đã cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết cư ngụ trong anh em, thì Đấng đã cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết cũng sẽ tác sinh thân xác chết dỡ của anh em, nhờ bởi Thần Khí của Ngài cư ngụ trong anh em.” (Rm 8,1-11).
Nếu Ba Ngôi Thiên Chúa là tác giả của Công trình Nước Thiên Chúa, thì sứ mạng xây dựng Nước Thiên Chúa cũng là sứ mạng của các Ngài.
Trước tiên, đó là sứ mạng của Cha:
“Quả vì Thiên Chúa đã yêu thế gian như thế đó, đến nỗi đã thí ban Người Con một…” (Ga 3,16).
Thứ đến, ý nghĩa và mục đích của cả cuộc đời trần thế của Đức Giêsu chẳng là gì khác hơn ngoài những công việc nầy:
“Lạy Cha chúng con ở trên trời,
Chúng con nguyện Danh Cha cả sáng,
Nước Cha trị đến,
Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như ở trên trời…” (Mt 6,9-10)
(Bản Pháp ngữ của TOB:
“Notre Père qui est aux cieux,
fais connaître  à tous qui tu es
fais venir ton Règne,
fais se réaliser ta volonté
sur la terre à l’image du ciel”).
Trong ngôn ngữ của Thánh Phaolô, điều nầy được trình bày như sau:
“Rồi sẽ là cùng tận, lúc Đức Giêsu-Kitô trao trả vương quyền cho Thiên Chúa và là Cha, sau khi đã hủy ra không, mọi thiên phủ, mọi uy thế và quyền năng. Vì Ngài phải giữ quyền vua cho đến khi Ngài đặt mọi địch thù dưới chân Ngài. Địch thù cuối cùng bị hủy ra không là sự chết. Vì: muôn sự Ngài đã bắt phục cả dưới chân Ngài. Khi nói: muôn sự phải phục quyền, thì đã rõ là chỉ trừ Đấng đã bắt muôn sự phục quyền Đức Giêsu-Kitô. Vì khi mọi sự đã phục quyền mình, thì bấy giờ Con cũng sẽ phục quyền Đấng đã bắt mọi sự phục quyền mình, ngõ hầu Thiên Chúa là tất cả trong mọi sự.” (1Cr 15,24-28).
Đó cũng chính là Ý Nghĩa và Mục Đích của Lịch Sử, của Các Công trình Sáng Tạo, Mặc Khải và Siêu Độ…(x. DV số 1).
Sau cùng, đó là sứ mạng của Thần Khí. Nếu trong Mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi, Thần Khí Tình Yêu là Đấng nối kết Tinh yêu giữa Cha và Con, cũng vậy, trong tương quan tình yêu giữa Thiên Chúa-Ba Ngôi với các Thụ tạo của Ngài, chính Thần Khí Tình yêu là Đấng liên kết giữa các “đối tác” nầy lại với nhau. Không có Thần Khí Tình yêu, không thể diễn ra bất cứ hành vi yêu thương nào…
Thần Khí Tình yêu không chỉ hiện diện trong nội thân Mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi, và khiến cho Tình yêu vận hành giữa Ba Ngôi với nhau mà còn cả trong Kế đồ Tế thế (Économie du Salut) nữa: trong Công trình sáng tạo (St 1,2.26-27), trong Công trình Nhập Thể, Làm Người và Siêu độ của Con-Ngôi Lời (Lc 1,35; Mt 1,20; 3,22; 4,1.17-21; Mc 1,10.12; Ga 1,32; v.v…).
Sự hiện diện của Thần Khí đối với Đức Giêsu-Kitô cũng phải trãi qua một quá trình tiệm tiến, hay nói theo ngôn ngữ triết học hiện sinh, trong suốt hành trình trần thế của Đức Giêsu, Thần Khí của Cha vẫn “hiện hữu” nơi Ngài (existe en Lui), nhưng chưa hoàn toàn “hiện diện” đối với Ngài (Lui est présent), hay nói cách khác, chưa là “của riêng Ngài” (son propre):
“…Điều ấy, Ngài nói về Thần Khí các kẻ tin vào Ngài sẽ lĩnh lấy, vì Thần Khí chưa có, bởi Đức Giêsu chưa được tôn vinh.” (Ga 7,39).
Khi nói “vì Thần Khí chưa có”, điều nầy muốn ám chỉ rằng Thần Khí của Cha chỉ trở thành Thần Khí của Con trong giây phút mà Đức Giêsu-Kitô đã hoàn toàn tận hiến tất cả những gì Ngài “có”, thậm chí cả đến Thần Khí của Cha trong Ngài:
“Khi đã nếm dấm rồi, Đức Giêsu nói: ‘Đã hoàn tất’. Đoạn, gục đầu xuống, Ngài phó thác Thần Khí” (Ga 19,30).
Chính qua hành vi tận hiến tất cả cho Cha trên Thập giá đó mà Cha đáp trả lại bằng cách cho Con tất cả gì Cha có, trừ cương vị là Cha:
“Đức Giêsu đó, Thiên Chúa đã cho sống lại; chúng tôi hết thảy xin làm chứng về điều ấy. Vậy, được nhắc lên bên hữu Thiên Chúa, Ngài đã lĩnh nơi Cha ơn đã hứa là Thánh Thần mà đổ xuống, đó là điều các ông thấy được và nghe được.” (Cv 2,32-33).
Chính nơi khoảnh khắc đó mà Thần Khí của Cha trở thành Thần Khí của Con, hay nói cách khác, mà Thần Khí hoàn toàn hiện diện đối với Con.
Và cũng chính khoảnh khắc đó nhân tính của Đức Giêsu mới thực sự trở thành nhân tính của Con, của Ngôi Lời Thiên Chúa, và hoàn toàn hiệp nhất với Ngôi Vị Con: chính trên cơ sở nầy mà Đức Giêsu-Kitô trở thành hiện thân của Nước Thiên Chúa; hay nói cách khác, đó chính là tình trạng “Viên Mãn” và  “Thái Hòa” giữa ba yếu tố “Thiên-Địa-Nhân”, cơ sở nền tảng của Trời mới, Đất mới và Con Người mới (x. Kh 21,1-8).
Đó chính là ý nghĩa của hành vi nhận Thần Khí của Cha là của Mình của Đức Giêsu-Kitô (appropriation de l’Esprit).

2.      Sự phát triển của Nước Thiên Chúa hay Giáo Hội:
Sách Khải Huyền (Kh) cho chúng ta bằng chứng về quá trình phát triển mang chiều kích vĩ mô của Trời, Đất và Người:
 “Và tôi đã thấy một trời mới và một đất mới, vì trời cũ, đất cũ đã qua, và biển không còn nữa. Và Thành thánh, Giêrusalem mới, tôi đã thấy tự trời xuống từ nơi Thiên Chúa, chỉnh tề như tân nương trang sức trang sức chờ đón đức lang quân.” (Kh 21,1-2).
Như trên đây chúng tôi đã phân tích, cũng như tương quan Tình Yêu trong nội thân Mầu nhiệm Thiên Chúa đã làm nẫy sinh các Ngôi Vị, cũng vậy, tương quan tình yêu giữa Thiên Chúa-Ba Ngôi và các Thụ tạo của Ngài, cách tương tự, cũng làm nẫy sinh một Thực Tại có tính ngôi vị, có tính chủ thể, đó là Thân Mình của Đức Giêsu-Kitô, tức là Giáo hội hay là Nuớc Thiên Chúa.
Khi nói Giáo hội là Thân Mình của Đức Giêsu-Kitô, điều nầy không chỉ nhằm ám chỉ một chủ thể thống nhất, sống động, bao gồm những cá thể như những chi thể, mà hơn thế nữa có lẽ còn ám chỉ đó là một ‘ngôi vị” cánh chung mang chiều kích phổ quát. Ngôi vị hay Chủ thể hay Thân mình nầy, vì ở trong phạm trù không-thời gian, nên có một quá trinh phát triển lịch sử tiệm tiến như bất cứ thụ tạo nào.
“Nhưng, kể từ nay, trong Đức Giêsu-Kitô, anh em xưa kia vốn là những kẻ ở xa, thì nay trở thành gần, nhờ bửu huyết của Đức Kitô. Thật vậy, chính Đức Kitô là sự bình an của chúng ta : từ cái vốn chia cắt ra, Ngài đã làm thành một. Trong xác thịt của Ngài, Đức Kitô đã phá hủy bức tường tạo ra ngăn cách : đó là sự hận thù…Như vậy, khởi đi từ Do thái và dân ngoại, Đức Kitô đã muốn tạo ra trong Ngài chỉ còn một con người mới, nhằm thiết lập sự hòa bình, và muốn hòa giải cả hai lại với Thiên Chúa, thành chỉ còn một thân mình, mà công cụ là chính Thập Giá : nơi mà Ngài đã tiêu diệt hết hận thù.” (Ep 2, 13-16).
Trong các dụ ngôn về Nước Thiên Chúa, Đức Giêsu đã ví Nước Thiên Chúa, trước tiên, như một “Hạt giống Lời” phải trãi qua những bước phát triển của nó: hạt giống phải tự hủy mình đi, nẫy mầm, lớn lên, cho bông hạt, và chim trời có thể đến và đậu lại trên đó…(x. Mt 4,14; 13,3132).
Quá trình phát triển của Nước Thiên Chúa cũng được ví với sự phát triển của nắm “Men bột”: men phải hòa mình vào với thúng bột thế gian để làm cho thúng bột đó dậy lên men tình yêu (x. Mt 13,33).
Quá trình đó cũng còn được ví như quá trình của “Ngọn lửa”: lúc ban đầu chỉ là một đốm lửa nhỏ, và rồi dần dần sẽ cháy sáng lên thành ngọn lửa lớn tình yêu thắp sáng và giữ ấm cho thế gian (x. Lc 12,49).
Quá trình phát triển nầy không chỉ là công việc của thụ tạo mà còn là và chủ yếu là công việc của Thiên Chúa-Ba Ngôi:
“Ngài nói: ‘Về Nước Thiên Chúa, thì thế nầy: như khi người kia gieo giống xuống đất, thì dù người ấy ngủ hay thức, ban đêm hay ban ngày, hạt giống cứ` nẫy mầm, lên đõn, mà người ấy không biết. Tự dưng, đất cho đậu; trước tiên thành mạ, rồi thành đòng đòng, rồi thành lúa chắc nơi gié. Và khi mùa màng cho phép tức thì liềm hái tra tay, vì mùa gặt đã đến.” (Mc 4,26-29; xem thêm 1Cr 15,24-28).
“Kẻ gieo giống tốt tức là Con Người; ruộng là thế gian; giống tốt là con cái của Nước; cỏ lùng là con cái Quỉ dữ; kẻ thù gieo cỏ lùng là ma quỉ…” (Mt 13,37-39).
Như vậy, kẻ gieo giống cũng như hạt giống chính là Ngôi Lời, Con Thiên Chúa, Đức Giêsu-Kitô:
“…Người gieo giống là gieo Lời.” (Mc 4,14).
Đó chính là lý do tại sao Thánh Phaolô gọi Giáo hội hay Nước Thiên Chúa là Thân Mình của Đức Giêsu-Kitô, hay nói cách khác, Đức Giêsu-Kitô chính là “hiện thân” của Nước Thiên Chúa (Cl 1,24).
Thật vậy, trong tương quan giữa Đức Giêsu-Kitô và Nước Thiên Chúa, có vẻ như ngôn ngữ TƯ không chỉ muốn ám chỉ một sự nhận làm của mình (appropriation) không thôi, mà thậm chí còn cả một sự “ngôi hiệp cánh chung” (union hypostatique eschatologique) nào đó nữa, sự hiệp nhất giữa các chi thể và cái đầu của Thân thể để trở thành một Ngôi vị, một Chủ thể duy nhất:
“Anh em thân mến, hiện giờ ta là con cái Thiên Chúa;
ta sẽ là gì, thì chưa được tỏ hiện,
ta biết rằng một khi điều ấy tỏ hiện,
thì ta sẽ được giống như Ngài,
vì Ngài thế nào, ta sẽ được thấy như vậy…” (1Ga 3,2; xem thêm Cl 1,18; Ep 1,22; 5,23; St 1,26-27).
Sự “ngôi hiệp cánh chung” nầy giữa các thụ tạo, cách đặc biệt con người, và Đức Giêsu-Kitô, Con và là Ngôi Lời của Thiên Chúa, có cơ sở là sự ngôi hiệp giữa thần tính và nhân tính của Đức Giêsu-Kitô, vốn đạt đến tình trạng thành toàn và viên mãn nơi Biến cố Thập giá và Phục sinh của Ngài.
Về phía các thụ tạo, đặc biệt con người, đây là một quá trình “được thần linh hóa”, vừa mang tinh Kitô vừa mang tính Thần Khí.
Đặc tính là một thực thể sống nầy còn được diễn tả qua hình ảnh Cây Nho:
“Cây nho đích thực chính là Ta, và Cha Ta là người canh tác. […]. Cây nho chính là Ta, các ngươi là nhánh. Ai lưu lại trong ta và Ta trong kẻ ấy, thì nó sinh nhiều quả, vì ngoài Ta các ngươi không thể làm gỉ.” (Ga 15,1.5).
Cũng như mỗi một chi thể trong thân thể không thể là thân thể, mà tất cả các chi thể phối hợp lại với nhau mới làm thành thân thể, cũng vậy, cả gốc, cả cây, cả các cành nho mới làm thành thân nho, và mới đâm hoa, kết trái được.
“Nay tôi vui sướng trong các nỗi thống khổ chịu vì anh em; và trong thân xác tôi, tôi bù đắp những gì còn thiếu nơi các nỗi quẫn bách Đức Kitô phải chịu vì Thân Mình Ngài, tức là Hội Thánh, mà tôi đã trở thành người phục vụ, thể theo sự an bài của Thiên Chúa trao phó cho tôi, để lo cho anh em: viên thành (công việc của) Lời Thiên Chúa…” (Cl 1,24-25).
Cl 1,24-25, như vậy, một đàng, cho chúng ta thấy vừa chiều kích vĩ mô vừa chiều kích vi mô của Thân Mình Đức Giêsu-Kitô là chính Giáo Hội; đàng khác nhằm muốn ám chỉ có một sự “đồng hóa cánh chung” (identification eschatologique) nào đó giữa thụ tạo và Đức Giêsu-Kitô, Con và là Ngôi Lời của Thiên Chúa, đến nỗi nơi Ngài là hiện thân của Trời mới, Đất mới và Người mới (Kh 21,1-3).
Trong ngôn ngữ dụ ngôn, Lời Thiên Chúa đã được gieo vào, hay đúng hơn, đã tiềm ẩn trong  “thế gian” (= thế giới) (Is 7,14; Mt 1,23; 13,38), như hạt giống, như ngọn lửa, và lớn lên, bề ngoài, theo một quá trình “tự nhiên”…
Nói theo ngôn ngữ triết học, trong nhãn quan tam tài “Thiên-Địa-Nhân hòa”, Ngôi Lời (=Thiên) vốn thuộc về cấu trúc hữu thể học của mọi Thụ Tạo. Và chính yếu tố “Thiên” hay Ngôi Lời nầy bảo đảm cho sự tồn tại của quá trình tiến hóa theo nghĩa vật chất (matériel, charnel) cũng như theo nghĩa thuộc linh (spirituel):
“Ngôi Lời đã trở thành xác phàm, và đã cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1,14).
Trên bình diện vĩ mô, có thể nói rằng Thân Mình của Đức Giêsu-Kitô sẽ được thành toàn khi đạt được tình trạng “Thái hòa” giữa ba yếu tố “Thiên-Địa-Nhân”. Tình trạng “Thái hòa” nầy đã trở thành hiện thực viên toàn nơi Đức Giêsu-Kitô trong Biến cố Thập giá và Phục sinh: đó chính là tình trạng “Trời mới, Đất mới và Người mới” mà sách Khải huyền đã đề cập tới (Kh 21,1-27; 22,1-5; xem thêm Ep 2, 13-16).
Vì thế, chỉ qua lăng kính Đức Giêsu-Kitô Phục sinh người ta mới có thể hiểu được phần nào dung mạo cánh chung của Thân Mình của Đức Giêsu-Kitô hay Giáo hội hay Nước Thiên Chúa, điều mà Cha Teilhard de Chardin gọi là “Đức Kitô vũ trụ” hay “Đức Kitô Toàn thể”:
“…Nhưng, đối với ta, thì chỉ có một Thiên Chúa là Cha, do tự Ngài mà có mọi sự, và vì Ngài mà ta được có. Và chỉ có một Chúa, Đức Giêsu-Kitô, nhờ Ngài mà có mọi sự, và cũng nhờ Ngài mà ta (được có).” (1Cr 8,6).

3.      Giáo Hội, Thân Mình Đức Giêsu-Kitô:
Như trên đây chúng tôi đã có lưu ý, nói theo ngôn ngữ của Tertullien, nhân tính hay xác thể của Đức Giêsu-Kitô là “hiện thân” của toàn thể thụ tạo có vật chất, vì thế, nơi Biến cố Thập giá và Phục sinh, khi nhân tính của Ngài hoàn toàn tương hợp với Ngôi Lời và được thần linh hóa, hay được siêu độ và sống được sự sống vĩnh hằng, thì có nghĩa là toàn thể Thụ tạo, trong Ngài, cũng được thần linh hóa, hay được siêu độ. Đó chính là lý do tại sao Giáo hội trước sau như một vẫn hằng khẳng định rằng Đức Giêsu-Kitô là Đấng Trung gian siêu độ duy nhất và phổ quát. Sự hài hòa giữa thần tính và nhân tính của Đức Giêsu-Kitô trên đỉnh Thập giá chính là biểu hiện và hiện thân của tình trạng “Thái hòa” của toàn thể Thụ Tạo trong tương quan tình yêu giữa Ba Ngôi Thiên Chúa với nhau, giữa các Ngài với Thụ tạo, và giữa các thụ tạo với nhau (xem Ep 2, 13-16)…
Thánh IRÉNÉE, trong chiều hướng nầy, cho rằng Đức Giêsu-Kitô thâu tóm lại nơi xác thể của Ngài mọi xác thể vốn sinh xuất từ AĐAM, mang dấu ấn sự chết, chia phân và rãi rác đó đây (x. Contre les Hérésies)…
“Chúng ta chẳng phải là có chỉ một Thiên Chúa, chỉ một Đức Kitô, chỉ một Thần Khí ân sủng đã được tuôn tràn trên chúng ta, và chỉ một ơn gọi trong Đức Kitô sao? Tại sao lại cắt xé ra những chi thể của Đức Kitô? ” (Clément de Rome, Épître aux Cor 46,6-7; bản Pháp ngữ của A. Jaubert, S.C. 107).
Vì thế, theo thiển ý, không nên đặt vấn đề “Ở ngoài Giáo hội có có ơn cứu độ hay không ?”, mà đúng hơn, vấn đề chính là “Thiên Chúa siêu độ lương dân như thế nào ?”:
“Mọi điều đã viết xưa kia, thì đã được viết để dạy dỗ ta, ngõ hầu nhờ sự kiên  nhẫn và an ủi của Kinh Thánh, ta được có hy vọng. Nguyện xin Thiên Chúa, nguồn kiên nhẫn và an ủi, ban cho anh em được ý hợp tâm đồng với nhau rập theo Đức Kitô Giêsu, ngõ hầu anh em được cùng một lòng trí, một miệng lưỡi, mà tôn vinh Thiên Chúa và là Cha của Chúa chúng ta, Đức Giêsu-Kitô.
 Bởi đó, anh em hãy chấp nhận lẫn nhau, như Đức Kitô đã chấp nhận anh em, vì vinh quang Thiên Chúa.
Tôi muốn nói: Đức Kitô đã phục vụ giới cắt bì, để (chứng thực) lòng chân thành của Thiên Chúa, làm cho các lời hứa trên cha ông được nên kiến hiệu. Còn dân ngoại (đã được chấp nhận) vì lòng nhân nghĩa, để họ tôn vinh Thiên Chúa, như đã viết: …” (Rm 15,4-9; xem thêm Ep 2, 13-16).
Như vậy, trong chiều kích vĩ mô, khi nói Giáo hội là Thân Mình Đức Giêsu-Kitô không đơn giản chỉ có nghĩa “Đức Kitô vũ trụ” hay “Đức Kitô toàn thể”, vốn là những khái niệm khá hàm hồ, thiếu tính “ngôi vị”, thiếu tính “chủ thể”, như trong ngôn ngữ của Cha Teilhard de Chardin, mà đúng hơn đó chính là “Ngôi Lời trở thành xác phàm và ở giữa chúng ta”:
“Và Lời đã thành xác phàm,
và đã lưu trú nơi chúng tôi,
và chúng tôi đã được ngắm vinh quang của Ngài,
vinh quang như của Con Một tự nơi Cha, tràn đầy ân nghĩa và sự thật.” (Ga 1,14).
Khái niệm “thế gian” (= thế giới) trong dụ ngôn Cỏ lùng (Mt 13,37-38), trước tiên, cho chúng ta thấy thế gian (= thế giới) có tương quan liên đới tích cực với lịch sử siêu độ:
“Quả vậy, thế giới mà từ đó cội nguồn xác thể của nhân loại được hình thành (St 2,7; 3,19), vẫn chưa được thành tựu: con người còn phải hoàn thiện thế giới qua lao động của mình, bằng cách làm chủ được thế giới (1,28) và bằng cách ghi lên đó dấu ấn của mình.” (xem Colomban LESQUIVIT et Pierre GRELOT, hạn từ “Monde” trong Vocabulaire de Théologie Biblique, Nhiều tác giả, Nxb. Du Cerf, Paris 1991, trg. 786).
Trong Biến cố Thập giá và Phục sinh, Đức Giêsu-Kitô, khi đã “làm chủ được nhân tính” của Ngài và “ghi được dấu ấn của Ngài trên nhân tính” đó, một cách dứt điểm, Ngài đã ghi được dấu ấn thần linh của Ngài trên toàn thể Thụ tạo, và trở thành “Vua” của Vũ trụ (1Cr 15,24-28), là “Đầu” của Hội thánh (Ep 1, 22; Cl 1,18)…
Cũng như nơi một thân thể nhân loại, “đầu” không tách riêng mà liên kết với toàn thể chi thể để thành một chủ thể, một ngôi vị, cũng vậy, trên chiều kích vĩ mô, Thân Mình của Đức Giêsu-Kitô cũng vậy.
Ở đây, lại một lần nữa cần lưu ý, quá trình phát triển nầy không hề là một quá trình mang tính tất yếu, tự động, máy móc, theo kiểu con người hay nói cách khác dựa trên nguyên lý nhân-quả: đối với Vị Thiên Chúa tuyệt đối tự do, toàn năng và chí ái, vốn có thể biến những cục đá thành con cái Abraham (Mt 3,9), thì mọi qui định từ bất cứ ai trong loài người chúng ta, đều chỉ mang tính tương đối mà thôi, bởi vì mọi sự đều có thể xãy ra, ngoài cả những dự đoán tài tình nhất của loài người chúng ta!
Thật vậy, quá trình phát triển từ Thụ tạo nguyên sơ để trở thành Trời mời, Đất mới và Người mới cũng vậy: sự “đóng góp” của Thụ tạo ở đây quả là khá khiêm tốn so với Công trình Tình yêu của Thiên Chúa-Ba Ngôi! Đó chính là Mầu nhiệm Tình yêu!
“Anh em thân mến, hiện giờ ta là con cái Thiên Chúa;
ta sẽ là gì, thì chưa được tỏ hiện,
ta biết rằng một khi điều ấy tỏ hiện,
thì ta sẽ được giống như Ngài,
vì Ngài thế nào, ta sẽ được thấy như vậy…” (1Ga 3,2; xem thêm Cl 1,18; Ep 1,22; 5,23; St 1,26-27).
Đó chính là lúc Thân Mình Đức Giêsu-Kitô (= Giáo hội = Nước Thiên Chúa) “tỏ hiện” trong vinh quang rực rỡ của “Ngài”, như Trời mới, Đất mới và Người mới, điều mà ngôn ngữ phụng vụ của chúng ta thường gọi một cách mơ hồ, khó hiểu là “Ngày Quang lâm”, “Ngày Ngài lại đến”, “Ngày Ngài đến lần thứ hai”…!
Hay nói cách khác, theo ngôn ngữ kitô-học, cũng  như nhân tính và thần tính của Đức Giêsu hợp nhất với nhau trên cơ sở ngôi vị, cũng vậy, toàn thể thụ tạo và Ngôi Lời, trên bình diện vĩ mô, cũng hợp nhất với nhau trên cơ sở “Ngôi vị cánh chung” (Personne eschatologique) (xem Gl 2,20)…

B.      CHIỀU KÍCH VI MÔ CỦA NƯỚC THIÊN CHÚA: CON NGƯỜI NHƯ HÌNH ẢNH CỦA THIÊN CHÚA:
1.      Để dễ hiểu và được cụ thể, chúng tôi sẽ suy tư vấn đề nầy khởi từ câu truyện của Người trộm lành và Đức Giêsu trên Thập giá:
“Một người trong các kẻ gian phi bị treo đó mắng nhiếc Ngài:’Phải chăng mày là Kitô? Hãy cứu lấy mình cùng chúng ta với!’. Nhưng, tên kia lên tiếng mắng bảo nó: ‘Mày không kính sợ Thiên Chúa sao, ngay lúc mày cùng cũng mắc đồng một án? Phần ta, thực là phải lẽ, ta chuốc lấy đáng tội đã làm; nhưng ông nầy, ông không hề làm điều gì trái!’. Và, hắn nói: ‘Lạy Đức Giêsu, xin nhớ đến tôi, khi Ngài đến trong Nước của Ngài!’. Và Ngài đã nói với hắn: ‘Quả thật, Ta bảo ngươi: Hôm nay, ngươi sẽ ở trên thiên đàng làm một với Ta!’.” (Lc 23,39-43).
Bản dịch TOB bằng Pháp ngữ, Nxb. Du Cerf 2004, trang 2549, trong chú thích “f” diễn giải câu “khi Ngài đến trong Nước Ngài”:
“Littéralement ‘dans ta royauté’. Plusieurs témoins lisent: (pour entrer) dans ton Royaume. Mais il s’agit plutôt ici de la dignité royale dont Jésus apparaîtra revêtu à son retour (cf. 19,12; 24,26).”
Theo thiển ý, cách hiểu của bản Việt ngữ của Cha Nguyễn Thế Thuấn mà chúng tôi sử dụng ở đây hợp lý hơn.
Người ta sẽ hiểu được điều đó khi hiểu được tính chất mâu thuẫn khó hiểu giữa trạng từ chỉ thời gian “Hôm nay” và thì tương lai “sẽ” của động từ ở câu 43!
 Khi nói câu nầy với “người trộm lành”, Đức Giêsu chưa “sinh thì” hay chưa chết, vì thế động từ ở thì tương lai (“…aujourd’hui, tu seras avec moi dans le paradis.”). Thì tương lai nầy không phải được qui chiếu về “Ngày trở lại của Đức Giêsu-Kitô” như TOB quan niệm, mà đúng hơn, qui chiếu về Chiến thắng vinh quang của Ngài ngay trên Thập giá, cuộc chiến thắng của sự sống theo Thẩn Khí trên sự sống theo xác thịt (Rm 8,1-11), cuộc chiến thắng của sự sống trên sự chết, cuộc chiến thắng của tình yêu vị tha trên những tính toán ích kỷ, hẹp hòi, v.v… Tóm lại, đó chính là chiến thắng của Tình Yêu, chiến thắng và là Vinh quang của chính Thiên Chúa!
Trong ngôn ngữ của Ga, Thập giá được hiểu như là “Giờ”, “Giờ Vinh quang” của Đức Giêsu-Kitô:
“Giờ đã đến, cho Con Người được tôn vinh!
Quả thật, quả thật, Ta bảo các ngươi: giả như hạt lúa gieo xuống đất không chết đi, thì nó trơ trọi một mình; nhưng, nếu nó chết đi, nó mới sai hoa lắm quả!” (Ga 12,24).
“Trước lễ Vượt qua, Đức Giêsu biết rằng đã đến Giờ Ngài qua khỏi thế gian nầy  để đến cùng Cha, - đã yêu mến các kẻ thuộc về Ngài còn trong thế gian – thì Ngài đã yêu mến họ đến cùng.” (Ga 13,1; x. 2,4; 7,30; 8,20).
Và, “Giờ Vinh quang” đó cũng chính là “Giờ Siêu độ” bởi Tình Yêu dâng hiến đã đạt đến đỉnh tột cùng của sự tự hủy ra không: khi đã hiến dâng lên Cha tất cả những gì mình có và những gì mình là, và của lễ cuối cùng chính là Thần Khí của Cha (Ga 19,30), Đức Giêsu-Kitô đã nhận lại được, từ Cha, tất cả những gì mà Cha là và Cha có, trừ cương vị là Cha của Cha, và chính lúc đó, trên Thập giá, Thần Khí của Cha trở thành Thần Khí của Con. Đây mới chính là lúc trở thành hiện thực viên mãn điều mà Đức Giêsu đã khẳng định:
“Ta và Cha, chúng ta là một.” (Ga 10,30).
Và đó là “Sự sống vĩnh hằng”, là Thiên đàng:
“Sự sống vĩnh hằng tức là: chứng nhận biết Cha, Thiên Chúa độc nhất và chân thật, và Đấng Cha đã sai, Giêsu-Kitô.” (Ga 17,3).
 Đó chính là những gì mà “Người trộm lành” đã tuyên xưng trong Lc 23,39-43.
Như vậy, “Hôm nay”, tức là ngay trong Ngày Thứ Sáu Tuần thánh đó, sau khi (“sẽ”) “đã sống” và “đã chết” cùng với và trong Đức Giêsu-Kitô, Người trộm lành cũng được “sống” với Ngài trong Thiên đàng!
Một vấn đề nan giải được đặt ra ở đây: đó là khi nói “Hôm nay”, mà người trộm lành và cả Đức Giêsu sẽ chết ngay sau đó, và theo giáo lý của Giáo hội dạy thì phải đến ngày Tận thế xác con người trần mới sống lại để chịu phán xét chung, còn cái xác của Đức Giêsu thì phải đến ngày thứ ba sau khi chết mới phục sinh! Liệu một ngôi vị, một chủ thể nhân loại có thể hiện hữu và hiện diện mà không cần xác thể? Sự hợp nhất giữa “xác” và “hồn” phải được hiểu như thế nào đây? Và liệu điều mà chúng ta thường hiểu về “xác” và “hồn” có nhất thiết là phải như vậy hay không? Và khi Thánh Phaolô nói: “sống theo xác thịt” và “sống theo Thần Khí” (Rm 8,1-11), điều đó có liên can gì đến xác thể của con người?
Hình như tình trạng hàm hồ nầy liên can đến tình trạng hàm hồ trong ngôn ngữ Thánh Kinh liên quan đến các khái niệm: sống và chết.
Trong ngôn ngữ Thánh Kinh, có ba khái niệm khác nhau về sự sống: a) sự sống xác thể [Bios] (Mc 12,44); b) sự sống thuộc linh [Psuchè] (Ga 10,11.15.17; 15,13); c) sự sống vĩnh hằng [Zoé] (Ga 12,25).
Ga không sử dụng khái niệm Bios, - bởi vì đối với Ga, sự sống không bao giờ thuần túy là vật chất, - mà chỉ sử dụng hai khái niệm Psuché và Zoé (55 lần).
“Ai yêu mạng sống mình (psuchè) thì làm mất nó, và ai ghét bỏ mạng sống mình (psuchè) trong thế gian nầy sẽ giữ được nó trong sự sống (zoè) vĩnh hằng” (Ga 12,25).
Vì thế, trong ngôn ngữ Thánh Kinh, chỉ có hai khái niệm sự chết: a) sự chết thể xác [tương ứng với sự sống theo nghĩa bios] (xem Lc 7,11-12; Ga 11,14); b) sự chết thuộc linh vì sống theo xác thịt, chứ không theo Thần Khí [tương ứng với sự sống theo kiểu psuchè] (Lc 15,24.32).
Sự sống vĩnh hằng (zoé) thì không ai và cái gì có thể động chạm tới được, kể cả sự chết (Mt 10,28)!
Có vẻ như sự chết thể xác, với quyền năng của Thiên Chúa, có thể thay đổi được để được sống lại, như trường hợp đứa con trai của bà góa thành Naim hay Lazarô.
Đối với sự sống thuộc linh (psuchè), có thể xãy ra trường hợp thể xác vẫn sống (bios) nhưng đã chết sự sống thuộc linh (psuchè):
“…vì nầy con ta đây: nó đã chết là lại hoàn sinh, đã mất đi mà lại tìm thấy được. […] vì em con đó, nó đã chết mà lại sống, đã mất đi mà lại tìm thấy được.” (Lc 15,24.32).
Và ngược lại, đã chết sự sống thể xác (bios), nhưng vẫn sống sự sống thuộc linh trong Thần Khí:
“…hôm nay, ngươi sẽ ở trên thiên đàng làm một với Ta!” (Lc 23,43).
Từ những phân tích trên đây, tạm thời chúng ta có thể rút ra được một số hệ luận nầy:
a.       Quá trình từ sự chết thể xác qua sự phục sinh thể xác hoàn toàn nằm trong quyền hạn của Thiên Chúa và chỉ một mình Ngài mà thôi;
b.      Quá trình từ sự chết thuộc linh qua sự sống thuộc linh theo Thần Khí có thể tùy thuộc vào con người;
c.       Con người có thể vẫn đang sống sự sống thể xác (bios), nhưng đã chết sự sống thuộc linh;
d.      Con người có thể đã chết sự sống thể xác, nhưng vẫn đang sống sự sống thuộc linh theo Thần Khí hay sự sống vĩnh hằng.
Nếu vấn đề là như vậy, có lẽ cần phải quan niệm lại những khái niệm “chủ thể” (sujet) hay “ngôi vị” (personne humaine) nơi con người.
Khi Đức Giêsu nói với người trộm lành “hôm nay, ngươi (tu)… sẽ ở trên thiên đàng với Ta (Moi)”, cả “ngươi” (tu) và “Ta” (Moi) đều ở trong tình trạng xác thể đã chết! Liệu phải chăng điều đó có nghĩa là “chủ thể” hay “ngôi vị” nhân loại có thể hiện hữu mà không cần đến thể xác, như các Ngôi Vị thần linh? Phải chăng đó là ý nghĩa của câu nói của Đức Giêsu: “Quả vậy, thời phục sinh, người ta không còn cưới vợ lấy chồng, nhưng người ta như thiên thần ở trên trời.” (Mt 22,30; Mc 12,25)?
So với Mt và Mc, Lc ghi nhận thêm một số yếu tố mới:
“Và Đức Giêsu nói với họ: ‘Con cái đời nầy thì cưới vợ lấy chồng. Còn những ai đã được xét là đáng hưởng đời sau, cùng sự sống lại từ cõi chết, thì sẽ không cưới vợ lấy chồng! Vì chưng họ không thể chết nữa, bởi họ được như thiên thần và nên con cái Thiên Chúa, một khi đã là con cái của sự sống lại…’.” (Lc 20,34-36).
Lc 20,34-36 có vẻ như cho chúng ta thấy, nói theo ngôn ngữ kitô-học, trên bình diện vi mô cũng vậy, cũng như nơi Đức Giêsu-Kitô nhân tính và thần tính hợp nhất với nhau trên cơ sở ngôi vị, cũng vậy, hữu thể nhân loại sống sự sống theo Thần Khí, cùng với Con Thiên Chúa, Ngôi Lời nhập thể hợp nhất với nhau trên cơ sở “ngôi vị cánh chung” (personne eschatologique), đến nỗi có thể nói như Thánh Phaolô:
“Tôi sống, nhưng không còn là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi.” (Gl 2,20).
“…Vì không phải các ngươi nói, mà là Thần Khí của Cha các ngươi sẽ nói trong các ngươi.” (Mt 10,20; x. Ga 15,26; Cv 4,8-31).
Chính lúc bấy giờ, con người mới thực sự là hình ảnh của Thiên Chúa, và giống như Thiên Chúa (St 1,26-27; 1Ga 3,2), hay nói cách khác là hoàn toàn hiệp nhất với Đức Kitô, Con và là Ngôi Lời của Thiên Chúa Tình yêu.

2.      Câu truyện cuộc gặp gỡ giữa Đức Giêsu và Giakêu:
Lc 19,1-10 có lẽ cũng sẽ giúp cho chúng ta hiểu được phần nào điều gì khiến cho con người được siêu độ:
“…Đức Giêsu nói cùng Giakêu: ‘Hôm nay, ơn siêu độ đã đến cho nhà nầy, bởi chưng người nầy cũng là con cái của Abraham. Vì Con Người đã đến để tìm cứu sự đã hư đi’.” (Lc 19,9-10).
Trạng từ chỉ thời gian “Hôm nay” của Lc 19,10 và của Lc 23,43 là một: điều đó có nghĩa điều khiến cho con người được siêu độ hay được sống sự sống vĩnh hằng cốt yếu ở nơi việc con người tương quan với Đức Giêsu và qua Ngài với tha nhân như thế nào (đứng về phía Ngài hay là chống lại Ngài).
“…Giả như tôi được ơn tiên tri, và biết mọi sự nhiệm mầu, tòan cả trí tri; và giả như tôi được tất cả lòng tin, khiến chuyển được đồi núi, mà tôi lại không có lòng mến, thì tôi vẫn là không! […].” (1Cr 13,1-3).
Vấn đề ở đây không phải là  “ở trong” hay “ở ngoài” Đức Giêsu-Kitô (hay Giáo hội), mà là vấn đề Đức Giêsu-Kitô “là gì?” “là Ai?” đối với tôi! Thật vậy, cũng như tất cả mọi người (giáo cũng như lương) đều chỉ sống được nhờ không khí, nhưng ý thức được sự hiện hữu của không khí không phải ai cũng có được, cũng vậy, tất cả mọi thụ tạo đều chỉ có thể hiện hữu trong Thiên Chúa, nhưng việc ý thức được sự hiện hữu (existence) và sự hiện diện (présence) của Thiên Chúa không phải ai cũng có được, và có được như nhau! Người ta có thể hiện hữu bên nhau mà không hiện diện đối với nhau!
“…Vì chưng, trong Thiên Chúa, ta sống, ta cử động, ta có.” (Cv 17,28).
Chỉ có Tình yêu mới làm cho người ta hiện diện đối với nhau. Đó chính là điều đã diễn ra nơi cuộc gặp gỡ giữa Giakêu và Đức Giêsu. Và đó cũng chính là ơn siêu độ hay sự sống vĩnh hằng mà Giakêu “hôm nay” có được.
Tất cả điều đó có vẻ như chứng tỏ rằng xác thể của con người vốn “trung tính” trong vấn đề nầy! Vấn đề quan trọng ở đây có lẽ là sống theo Thần Khí Tình yêu hay không…Và khi sống theo Thần Khí tình yêu của Cha và của Con, con người mới thực sự là “hình ảnh” của Thiên Chúa và giống như Thiên Chúa…

3.      Những hạt giống “không nẫy mầm”…:
Một đàng, Thánh Kinh, đặc biệt TƯ,  cho chúng ta hiểu rằng Tinh yêu của Thiên Chúa vốn vô điều kiện, vô vị lợi và vô biên giới (Mt 5,44.46; Lc 6,27.32.35; Ga 3,16; v.v…).
Is 55,10-11 còn cho chúng ta thấy tính hiệu quả tuyệt đối của Lời Thiên Chúa:
“…Vì cũng như mưa với tuyết từ trời sa xuống, tất không lùi lại về trời, nếu đã không thấm nhuận đất đai, nếu không làm cho đất sinh sản, nảy chồi, và cho người gieo có giống, cùng bánh cho người ta ăn. Cũng vậy, lời của Ta, một khi đã xuất tự miệng Ta, sẽ không về lại với Ta, hư luống, nếu không thực hiện điều Ta muốn, nếu không đạt được sự Ta sai làm.” (Is 55,10-11).
Thế nhưng, đàng khác, Thánh Kinh cũng lại cho chúng ta biết rằng có những hạt giống không nẫy mầm, những hạt giống bị chim trời ăn mất, những cỏ lùng phải bị đốt cháy hủy diệt, những nhánh cây phải tỉa bỏ đi, những con cá phải ném ra ngoài, v.v…!
Ngoài ra, tỉ lệ con số “những kẻ tin” so với con số những lương dân của mọi thời có vẻ như muốn chứng tỏ cho thấy Thiên Chúa không thành công lắm, nếu không muốn nói là “thất bại” đối với công trình của mình! Thêm vào đó, với những qui định khá khắt khe của các Giáo hội kitô để được cứu độ hay được vào Thiên đàng, con số những kẻ được cứu có lẽ khá ít ỏi so với những kẻ “không được cứu”!
Một Vị Thiên Chúa chí ái và Toàn năng, có thể biến những cục đá thành con cái của Abraham, chẳng lẽ lại phải thất bại như thế chăng?
Phải hiểu điều đó thế nào đây?
Một số đông các nhà thần học kitô-giáo thường tìm cách giải quyết vấn đề nầy dựa trên tự do của con ngưòi và tự do của Thiên Chúa, với ý đồ qui trách nhiệm cho con người!
Một số thần học gia nghiên cứu về các tôn giáo, với mong muốn giải quyết được vấn đề nầy, thì lại đặt vấn đề: “Có có ơn cứu độ nơi các tôn giáo ngoài kitô-giáo hay không?”, như kiểu liệu lương dân có được cứu độ hay không, hoặc Thiên Chúa có cứu độ họ hay không?
Giáo hội Công giáo, trước sau như một, vẫn khẳng định rằng: Đức Giêsu-Kitô là Đấng Trung gian Siêu độ duy nhất và phổ quát:
“Xin chư vị hết thảy cùng toàn dân Israel biết rằng: chính là nhân Danh Giêsu-Kitô người Nazareth, người các ông đã cho đóng đinh thập giá, nhưng Thiên Chúa đã cho sống lại từ cõi chết, chính nhân Danh ấy mà người nầy được đứng trước mặt các ông an lành mạnh khỏe.[…].Và hẳn không có ơn cứu độ nơi một người nào khác nữa. Vì dưới gầm trời nầy, không có một Danh nào khác đã được ban xuống cho nhân loại để phải nhờ vào đó mà chúng ta trông được cứu thoát.” (Cv 4,10-12).
Khi khẳng định Đức Giêsu-Kitô là Đấng Trung gian Siêu độ duy nhất và phổ quát, Giáo hội muốn chúng ta phải hiểu rằng Ngài là Đấng siêu độ toàn thề thụ tạo mọi nơi và mọi thời. Thế nhưng, điều đó diễn ra thế nào được khi mà Đức Giêsu chỉ sống và chết trong một khoảng không gian nhất định là nước Israel và một khoảng thời gian nhất định khoảng 36 năm trần thế?
Thế nên, điều mà Thánh kinh TƯ (Cv 4,10-12) và Giáo hội khẳng định chỉ có thể hiện thực trong những điều kiện sau đây:
 
Về phía Đức Giêsu-Kitô:

a.       Ngài phải vừa là Thiên Chúa thật vừa là người thật và không hoàn toàn lệ thuộc phạm trù không-thời gian;
b.      Để có thể không hoàn toàn lệ thuộc phạm trù không-thời gian, Đức Giêsu phải là Thiên Chúa;
c.       Và Nhân tính của Đức Giêsu phải là hiện thân của toàn thể thụ tạo, đặc biệt là loài người;
d.      Được siêu độ có nghĩa là được sống sự sống vĩnh hằng tình yêu của Thiên Chúa, hay nói cách khác được sát nhập vào trong tương quan với Thiên Chúa-Ba Ngôi, v.v…
 
Về phía các Thụ tạo:
a.       Phải được ban cho những điều kiện cần và đủ;
b.      Phải có tự do để chọn lựa, v.v…
      Đối với những vấn đề liên quan đến Thiên Chúa và Đức Giêsu-Kitô, phần lớn chúng tôi đã cố gắng chứng tỏ trong những trang trên đây.
Vấn đề thứ hai liên quan đến thần tính của Đức Giêsu-Kitô, nói chung, đã được đề cập khá nhiều trong các tác phẩm thần học. Ở đây, chúng tôi chi muốn lưu ý điều nầy: Đức Giêsu đã là Thiên Chúa thật ngay từ trong lòng mẹ. Thật vậy, Đấng mà Mẹ Maria sinh ra bé bỏng trong hang bò lừa đó vừa là người thật, vừa là Thiên Chúa thật. Những hạn từ “hôm nay” mà Ngài sử dụng chứng tỏ cho thấy Ngài phải đích thị là Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Vì thế, ngay khi Ngài còn sống cuộc sống xác thể, gặp được Ngài là đã gặp được chính Thiên Chúa.
Tuy nhiên, có vẻ như đặc tính không hoàn toàn lệ thuộc phạm trù không-thời gian, Đức Giêsu chỉ sở đắc được cách trọn vẹn trong “Giờ vinh quang” trên Thập giá, đặc biệt trong Biến cố Phục sinh.
“Lạy Cha, giờ đã đến! Xin hãy tôn vinh Con Cha, ngõ hầu Con Cha tôn vinh Cha! Như Cha đã ban cho Ngài quyền trên mọi xác phàm, ngõ hầu toàn thể những gì Cha đã ban cho Ngài, thì được Ngài ban cho sự sống vĩnh hằng. Sự sống vĩnh hằng tức là: chúng nhận biết Cha, Thiên Chúa độc nhất và chân thật, và Đấng Cha đã sai, Giêsu-Kitô. Con đã tôn vinh Cha dưới đất, và đã chu toàn công việc Cha giao phó cho Con làm. Và bây giờ xin Cha tôn vinh Con nơi Cha, trong vinh quang Con đã có nơi Cha trước khi có thế gian.” (Ga 17,1-5).
Ở nơi Ga 17,1-5, có hai ý tưởng độc đáo và khó hiểu:
(a)     Bản Việt ngữ không được rõ ràng lắm, vì thế chúng tôi mạo muội sử dụng bản Pháp ngữ của TOB: “…Père, l’heure est venue, glorifie ton Fils, afin que ton Fils te glorifie et que, selon le pouvoir sur toute chair que tu lui a donné, il donne la vie éternelle à tous ceux que tu lui a donné…” (Jn 17,1-2).
Vấn đề đặt ra ở đây, đó là trong câu văn, Đức Giêsu không sử dụng ngôi thứ nhất (je, me, moi…) để thưa với Cha, mà lại sử dụng ngôi thứ ba (lui, il)! Tại sao vậy? Ở đây, phải chăng có hai “ngôi vị” khác nhau? Theo thiển ý, theo văn mạch, khi sử dụng như vậy, có lẽ Đức Giêsu muốn ám chỉ có một sự khác biệt giữa hai tình trạng: Con nhập thể và Con trước khi tạo dựng thế gian (Ga 17,5)… Như vậy, “quyền trên mọi xác phàm” và “sự sống vĩnh hằng mà Cha hứa ban cho những kẻ mà Cha đã ban cho Con” đã được Cha ban cho Con cả “trước khi có thế gian”. Ở đây, không có vấn đề hai ngôi vị khác nhau, mà là vấn đề “tự hủy” (kénose) của Con khi nhập thể. Và Thập giá chính là “Giờ” Con trở về lại với tình trạng nguyên thủy của Ngài, cách mới mẻ, tức là trong tư cách vừa là Thiên Chúa thật, vừa là người thật.
(b)     “…Con đã tôn vinh Cha dưới đất và đã chu toàn công việc Cha giao phó cho Con làm.” (Ga 17,4; x. Ga 19,30): Thời gian vẫn chưa đến hồi viên mãn, công trình siêu độ có vẻ như vẫn còn dỡ dang đó, làm sao Đức Giêsu lại có thể nói “Con đã chu toàn công việc mà Cha giao phó”?
Theo thiển ý, trước tiên, “Giờ Thập giá” chính là giờ chiến thắng của Tình yêu, Tình yêu dâng hiến, chiến thắng một cách tuyệt đối, một lần thay cho tất cả; “Giờ” mà vĩnh hằng và thời gian hòa nhập vào nhau cách kỳ diệu; “Giờ” mà nơi Đức Giêsu-Kitô hội tụ quá khứ, hiện tại và tương lai; hay nói cách khác đó là “Giờ” mà Đức Giêsu-Kitô siêu việt phạm trù không-thời gian…
Đó là “Giờ” mà Đức Giêsu-Kitô, - nơi nhân tính của Mình, vốn là hiện thân của toàn thể Thụ tạo, đặc biệt là toàn thể nhân loại, mọi nơi và mọi thời, và mà Ngài đã nhận là của Mình (appropriation), qua Tình yếu dâng hiến của Mình đối với Cha và toàn thể Thụ tạo, - đã đánh bại và chiến thắng khải hoàn cách tuyệt đối, một lần thay cho tất cả, trên tội lỗi, satan, ma quỉ, sự chết, quyền lực thiên phủ, địa phủ, âm phủ, v.v… (Ga 12,32).
Chính nơi giây phút khi mà trên Thập giá Đức Giêsu dâng hiến tất cả những gì Ngài có và những gì Ngài là cho Cha của Ngài và “vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta”, đó chính là khoảnh khắc của chiến thắng, của vinh quang của Tình yêu, tức là của chính Thiên Chúa, bởi vì Thiên Chúa là Tình yêu (1Ga 4,16; 15,13). Hay nói theo ngôn ngữ kitô-học, đó chính là “giờ” mà nhân tính của Đức Giêsu-Kitô hiệp nhất cách hoàn hảo nhất với thần tính của Ngài. Còn nói theo ngôn ngữ Đông phương, đó là “giờ” mà thực tại tam tài “Thiên-Địa-Nhân” được hòa hợp cách trọn vẹn. Đó là “giờ” mà con người, trong nhân tính của Đức Giêsu-Kitô, giao hòa lại với Thiên Chúa nơi thần tính của Đức Giêsu-Kitô, với tha nhân, với thiên nhiên vũ trụ, và với chính cả bản thân mình (con người tìm lại được căn tính của mình: son identité): những tương quan nguyên thủy của “vườn địa đàng”…
Đó là khoảnh khắc của “THÁI HÒA” (Grande Harmonie).
  Và hiệu quả từ Chiến Thắng nầy của Đức Giêsu-Kitô là một Ân huệ phổ quát vĩnh viễn và nhưng không…
 Phổ quát, bởi vì hiệu quả đó tác động lên toàn thể Lịch sử của Thụ tạo, mọi nơi và mọi thời (quá khứ, hiện tại và tương lai):
Trong tương quan với Quá khứ, điều nầy được diễn tả qua việc Đức Giêsu-Kitô xuống “Ngục Tổ tông”:
“Bởi chưng, Đức Kitô đã chết một lần vì tội lỗi, Đấng công chính vì những kẻ bất nhân, để đem ta đến cùng Thiên Chúa. Ngài đã bị giết chết về xác thịt, nhưng đã được tác sinh bởi Thần Khí. Trong Thần Khí nầy, Ngài đã đi loan báo Tin Mừng cho các thần khí đang trong ngục tù, cho những kẻ phản loạn xưa kia…” (1Pr 3,18-20).
Trong tương quan với Hiện tại, điều nầy được diễn tả qua những trạng từ “Hôm nay” và Danh xưng “Emmanuel” của Thánh Kinh.
Trong tương quan với Tương lai, điều nầy được diễn tả bởi 1 Cr 15,24-28.
Vĩnh viễn, bởi vì hành vi siêu độ của Đức Giêsu-Kitô diễn ra một lần là đủ, không cần phải được lặp đi lặp lại nhiều lần, và có giá trị tuyệt đối, vĩnh viễn (Dt 10,11-14)…
Nhưng không, bởi vì Ân huệ nầy được ban cho tất cả mọi Thụ tạo không kèm theo bất cứ điều kiện nào ngoài Tình yêu (Rm 6,23; Lc 18,9-14)…

      Về phía các Thụ tạo:
Một số chi tiết cũng đã được đề cập đến trên dây. Ở đây, chúng tôi chỉ muốn lưu ý một số điểm quan trọng nầy:
Trước tiên, có thể nói rằng trong những biến cố Sáng tạo, Mặc khải, Nhập thể và Siêu độ, vĩnh hằng đã đi vào thời gian, hay nói theo ngôn ngữ tam tài của Đông phương, Thiên-Địa-Nhân hòa. Điều nầy có nghĩa cấu trúc hữu thể của các Thụ tạo là cấu trúc “Thiên-Địa-Nhân hòa” (structure cosmothéandrique).
Cách chung, tất cả mọi thụ tạo, theo Thánh ý của Thiên Chúa, đều đã “được định hướng” để tiến về cùng đích tối hậu của mình (Rm 16,26; xem DV, số 1). Để đạt mục đích nầy, Thiên Chúa đã trang bị cho các thụ tạo, đặc biệt loài người, vốn là người quản lý công trình nầy, những điều kiện cần và đủ: a) cấu trúc hữu thể học “Thiên-Địa-Nhân hòa” (St 1,26-27; 2,7); b) luơng tâm, lương tri để biết và muốn điều tốt, điều thiện (1Cr 4,4; Dt 10,16); c) trí khôn để biết điều tốt, điều xấu (St 3,4-5.7); d) tự do để tự mình quyết định chọn lựa điều tốt hay điều xấu (2Cr 3,17; 1Cr 10,29); đ) ân sủng (2Cr 12,9); v.v…
Và, cách đặc biệt, sau Biến cố Thập giá và Phục sinh của Đức Giêsu-Kitô, cùng với nhân tính của Ngài, trong Ngài và nhờ Ngài, toàn thể Thụ tạo mọi nơi, mọi thời (quá khứ, hiện tại và tương lai) đã được siêu độ để trở thành (devenir) Trời mới và Đất mới, và đặc biệt loài người đã được phục hồi tư cách-con của Thiên Chúa, và được sống trong tình trạng mà tất cả mọi kẻ thù đã bị đánh bại, kể cả sự chết, dù có ý thức hay không.
Khi nói “trở thành” (devenir) có nghĩa là ơn siêu độ vốn như một hạt giống cần phải kinh qua quá trình phát triển của nó, như chúng tôi đã phân tích trên đây.
Ngoài ra, yếu tố tạo ra sự khác biệt giữa các Thụ tạo có lẽ là có ý thức nhiều hay ít về sự hiện hữu và hiện diện của ơn siêu độ nầy của Thiên Chúa-Ba Ngôi, chứ không phải ở trong hay ở ngoài Thiên Chúa hay Giáo hội, như trường hợp không ai sống được mà không nhờ không khí, nhưng không phải ai cũng ý thức được về sự hiện hữu và hiện diện của không khí! Vì thế, trách nhiệm chính của Giáo hội, theo gương Đức Giêsu, là rao giảng Tin Mừng về Nước Thiên Chúa:
“Vì nếu tôi rao giảng Tin Mừng, thì đó không phải là lý để mà vinh vang, vì đó là sự khẩn thiết giáng xuống trên tôi. Khốn cho tôi, nếu tôi không loan báo Tin Mừng!” (1Cr 9,16).
Và mục đích của việc rao giảng Tin Mừng là để mọi người cùng sống Sự sống tình yêu vĩnh hằng, tức là sống mà biết mình sống cho Ai và vì Ai:
“Thế mà sự sống vĩnh hằng đó là họ nhận biết Cha, duy nhất là Thiên Chúa thật, và Đấng mà Cha đã sai, Đức Giêsu-Kitô.” (Ga 17,3).
Sứ mạng chính của Giáo hội, vì thế, trước tiên, có lẽ là loan báo Tin Mừng, là chứng tá, là công cụ của ơn siêu độ của Thiên Chúa, hơn là người mang lại ơn siêu độ đó (xem Mt 5,43-48). Giáo hội chỉ hoàn thành được sứ mạng của mình trong chừng mực mà Giáo hội “là” Thân Mình của Đức Giêsu-Kitô. Thân phận của Giáo hội trong tương quan với Lương dân có lẽ không khác mấy thân phận của dân Israel vốn được Thiên Chúa lựa chọn trong tương quan với Dân ngoại trước đây!
Thứ đến, cũng như việc dân Israel “được tuyển chọn” giữa muôn dân, không hẳn là một “đặc ân” (privilège) để mà độc quyền hưởng thụ, đòi hỏi, hạch sách và tự hào, cho bằng đó là một điều kiện để yêu và để phục vụ nhiều hơn, cũng vậy, “Giáo hội” nếu có được chọn lựa để làm công cụ, làm chứng tá của Tình yêu nhưng không của Thiên Chúa, thì đó cũng không phải là một “đặc ân” để mà độc quyền hưởng thụ, đòi hỏi, hạch sách và tự hào, mà đúng hơn đó là những điều kiện để có thể yêu thương và phục vụ nhiều hơn…
Về những vấn đề nầy, Thư gửi Tin hữu Roma có những suy tư rất độc đáo, đáng để chúng ta suy gẫm:
“Hỡi anh em, tôi không muốn để anh em không hay biết mầu nhiệm nầy, để anh em đừng tự phụ mình là khôn: Israel đã ra chai đá phần nào, cho đến khi toàn thể dân ngoại đã gia nhập, và như thế tất cả Israel cũng sẽ được cứu, như đã viết:
Từ Sion, vì Cứu tinh sẽ đến,
Người sẽ khử trừ tội ác khỏi Giacóp.
Và này là Giao ước của Ta với chúng:
Ta sẽ tẩy xóa các tội lỗi chúng làm.
Xét theo Tin Mừng, họ là thù nghịch, vì cớ anh em; nhưng theo sự lựa chọn, họ là chí ái, vì cớ cha ông. Vì ơn đã ban, lời đã gọi, Thiên Chúa không hề hối tiếc.
Vì cũng như anh em, xưa kia bất tuân đối với Thiên Chúa, mà nay đã được thương xót, nhân vì họ bất tuân, thì họ cũng thế, nay bất tuân, bởi anh em được thương xót, ngõ hầu rồi đây họ cũng sẽ được thương xót. Vì chưng, Thiên Chúa đã dồn mọi người hết thảy vào đàng bất tuân, ngõ hầu Ngài dũ lòng thương hết mọi người.
Ôi! thẳm sâu thay sự giàu có, khôn ngoan, thượng trí của Thiên Chúa!
Những phán quyết của Ngài vô phương dò thấu, đường lối của Ngài không kế dõi theo!” (Rm 11,25-33)
Nếu, theo như lời của Thánh Phaolô, “chính Thiên Chúa đã dồn mọi người hết thảy vào đàng bất tuân, ngõ hầu Ngài dũ lòng thương hết mọi người”, thì, một đàng, có nghĩa tất cả đều nằm trong kế đồ mầu nhiệm của Thiên Chúa cả; đàng khác, vấn đề trách nhiệm của con người và, vì thế, cả vấn đề phán xét về con người cũng cần phải được xem xét lại…
Thật vậy, trước tiên, liên quan đến vấn đề trách nhiệm, liệu con người có thể có được một tình trạng tự do tuyệt đối hay không, để mà phạm một tội trọng “đáng sa hỏa ngục” theo quan điểm của các nhà thần học luân lý, khi mà con người vốn bị điều kiện hóa bởi cơ man nào là những yếu tố khách quan bên ngoài (hoàn cảnh gia đình, tổ tiên, ông bà cha mẹ, bạn bè, giáo hội, xã hội, v.v…)? Có lẽ chính vì thế mà Đức Giêsu đã tha thứ, và dạy ta phải tha thứ và yêu thương ngay cả những kẻ thù của mình:
“Bấy giờ, Đức Giêsu nói: ‘Lạy Cha, xin tha thứ cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm’.” (Lc 23,34; x. Mt 5,44; Cv 3,17).
Nếu tội “giết Thiên Chúa” là tội nặng nhất trong những tội con người có thể phạm mà còn được chính Thiên Chúa thứ tha một cách nhưng không, liệu còn có tội nào nặng hơn nữa chăng?
Vì thế, chúng tôi nghĩ rằng những khái niệm liên quan đến những “hình phạt” những “khổ đau” trong ngôn ngữ Thánh Kinh, có lẽ không nên hiểu chỉ đến từ Thiên Chúa mà chủ yếu đến từ chính bản thân của mỗi thụ tạo, khi nhận ra được Tình yêu vô điều kiện, vô vị lợi và vô cùng của chính Thiên Chúa đối với mình (xem Mt 20,20,1-16; Lc 12,47-48)…
Trên cơ sở những phân tích trên đây, trước tiên, chúng tôi nghĩ rằng điều mà Đức Giêsu rao giảng và muốn xây dựng chính là NƯỚC THIÊN CHÚA hay NƯỚC TRỜI mà nội hàm của nó bao gồm toàn thể Thụ tạo trong tương quan với Thiên Chúa-Ba Ngôi và với nhau; thứ đến, khái niệm “Giáo hội” mà chúng ta vẫn thường quan niệm như hiện nay, một đàng, không tương ứng được với khái niệm “Nước Thiên Chúa” mà Đức Giêsu-Kitô nhằm muốn ám chỉ và rao giảng, đàng khác, có vẻ như ngày càng có nguy cơ trở thành điều mà Dân “được chọn” Israel đã từng là trong quá khứ (xem Mt 21,33-43; Lc 9,49-50.51-56); sau cùng, Giáo hội chỉ là Thân Mình của Đức Giêsu-Kitô khi Giáo hội là Nước Thiên Chúa, và Giáo hội chỉ là Nước Thiên Chúa khi Giáo hội là Phản ảnh trung thành của Tình yêu Thiên Chúa-Ba Ngôi (xem Lc 6,27-36 ss)…
Vì thế, theo thiển ý, hình ảnh thích hợp hơn cả để diễn tả mối tương quan giữa các Thụ tạo (cá nhân, tập thể, các tôn giáo, các giáo hội) với Thiên Chúa-Ba Ngôi và với nhau đó là “các vòng tròn đồng tâm” mà trong đó trung tâm điểm chính là Thiên Chúa-Ba Ngôi, và khoảng cách giữa các “vòng tròn” với tâm điểm và với nhau phản ảnh cho thấy mối tương quan của chúng với Thiên Chúa-Ba Ngôi và với nhau, qua trung gian Đức Giêsu-Kitô…      
 
 

02. ĐỨC TIN, ÂN HUỆ THIÊN CHÚA BAN CHO CON NGƯỜI CÁCH NHƯNG KHÔNG

Trước tiên, xin phép được lưu ý ngay niềm tin nói ở đây là niềm tin tôn giáo hay còn gọi là Đức tin, vốn liên quan đến những tương quan giữa Thiên Chúa và con người, và ngược lại, giữa con người và Thiên Chúa, bởi vì khi nói đến niềm tin hay đức tin, cũng như trong tình yêu, là nói đến tương quan giữa các đối tác (les partenaires) : tôi tin “có” Thiên Chúa, tôi tin Ai “là” Thiên Chúa, tôi tin Thiên Chúa “là” Ai, tôi tin “vào” Thiên Chúa, và chúng tôi tin nhau…
Thế nhưng, không như tương quan giữa các đối tác bình thường là các thụ tạo hữu hình có thể tiếp cận được cách dễ dàng và cụ thể, đối tác Thiên Chúa hoàn toàn khác biệt (absolument Autre), rất gần gũi nhưng cũng rất xa vời và siêu việt, vì thế, ngay cả khả năng có thể biết “có” Thiên Chúa, biết Ai “là” Thiên Chúa và biết Thiên Chúa “là” Ai, và tin “vào” Ngài cũng là một ân huệ nhưng không của Thiên Chúa ban cho loài người qua và trong Đức Giêsu-Kitô, Con và Ngôi Lời làm người của Ngài. Trong tương quan với vị Thiên Chúa như thế, tất cả những gì con người “có” và “là” đều là hồng ân nhận được từ Thiên Chúa. Thậy vậy, cũng như căn tính hữu thể của Đức Giêsu-Kitô, Con và Ngôi Lời làm người là sự “đón nhận hoàn toàn từ Cha”, trong tâm tình tri ân và cảm tạ, căn tính hữu thể của các thụ tạo nói chung, và đặc biệt con người vốn được tạo dựng “theo hình ảnh Thiên Chúa” (vốn là chính Đức Giêsu-Kitô : xem 1 Cr 11, 7; 2 Cr 4, 4; Cl 1, 15), và “giống như Thiên Chúa” (xem St 1, 26-27), cũng vậy, chỉ được xác lập do tư thế “đón nhận tình yêu” của Thiên Chúa-Ba Ngôi, trong tâm tình tri ân và cảm tạ như vậy.
Vì thế, có hai vấn đề sẽ được đề cập đến trong bài suy tư nầy :
1) Tính nhưng không của ân huệ Đức tin (nhìn từ phía Thiên Chúa);
2) Tri ân và cảm tạ (nhìn từ phía thụ tạo và con người)...

I.       TÍNH NHƯNG KHÔNG CỦA ÂN HUỆ ĐỨC TIN:
“Tình yêu cốt ở điều nầy : không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Ngài đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Ngài đến làm của lễ đền tội cho chúng ta.” (1 Ga 4, 10).
“Tin chỉ có thể là một ân huệ của Thiên Chúa, bởi vì chỉ mình Thiên Chúa mới có thể nói cho chúng ta về Thiên Chúa.”
Khi khẳng định : “Chính Thầy là Con Đường , là Sự Thật và là Sự Sống. Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy.” (Ga 14, 6), hẳn Đức Giêsu muốn nói với chúng ta : a) Ngài là Đường hay là Đạo (Logos) hay là Nguyên Lý của mọi thụ tạo, hay nói cách khác chính “trong” Ngài và “bởi” Ngài mà tất cả mọi thụ tạo, đặc biệt con người mới có thể bắt đầu hiện hữu; b) Ngài, trong tư cách vừa là Thiên Chúa thật vừa là người thật, là hiện thân của Sự Thật về Thiên Chúa và về con người, hay nói cách khác, Ngài chính là mặc khải về Thiên Chúa và về con người; c) Ngài vì vừa là Thiên Chúa vừa là người, nên cũng chính là hiện thân của Tình Yêu, tình yêu đối với Thiên Chúa và tình yêu đối với con người, và sự sống tình yêu đó chính là sự sống vĩnh hằng…
Như vậy, có nghĩa là toàn bộ các Công trình Tạo dựng, Mặc khải và Siêu độ, vì thế, kể cả Đức tin của con người đều được thực hiện duy chỉ bởi, qua và trong Đức Giêsu-Kitô, Con và Ngôi Lời làm người của Thiên Chúa mà thôi…
Nếu như Thiên Chúa tạo thành, Thiên Chúa mặc khải và Thiên Chúa siêu độ  cũng là một, thì không thể có sự đối kháng giữa việc Ngài thông ban sự sống và hữu thể lúc ban đầu và việc được tham dự vào bản tính của Ngài và biết Ngài sẽ được ban cho ‘lúc thời gian viên mãn’.
Tương quan giữa Thiên Chúa và con người và ngược lại, như vậy, vốn nằm ngay trong chính cấu trúc hữu thể của các thụ tạo nói chung, đặc biệt là con người, hay nói cách khác, là đã được ban cho cách nhưng không từ khi con người bắt đầu hiện hữu, điều mà ngôn ngữ Tây phương gọi con người là một hữu thể có tính tôn giáo (être religieux) và ngôn ngữ Đông phương gọi con người là tổng thể “tam tài” (“Thiên-Địa-Nhân hòa”) (xem St 2, 7 : “Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật.”)…
Khi nói tình yêu của Thiên Chúa là một tình yêu nhưng không, điều nầy có nghĩa đây là một tình yêu vô điều kiện, vô vị lợi và vô biên giới… Hay nói cách khác, không phải vì con người thế nầy thế kia mà Thiên Chúa yêu thương nó và tỏ mình ra cho nó, trong tất cả mọi sự, Thiên Chúa bao giờ cũng đi bước trước, tức là tất cả đều do sáng kiến tình yêu tự do của Ngài…Thần học cổ điển ít quan tâm đến khía cạnh nầy. Điển hình của quan niệm cổ điển nầy và ngày nay vẫn còn tổn tại trong một số lý giải thần học và giáo lý, như việc người ta cho rằng nguyên nhân của việc Đức Giêsu-Kitô, Con và Ngôi Lời của Thiên Chúa làm người là vì con người đã phạm tội ! Người ta lý luận như kiểu giả như nếu con người không phạm tội thì Thiên Chúa không mất công gì mà phải xuống thế làm người !

1.      Công trình TẠO DỰNG, ân huệ nhưng không :
a.       Ngôn ngữ Thánh Kinh :
Công trình tạo dựng nói chung, đặc biệt con người, được thực hiện “trong” và “bởi” Đức Giêsu-Kitô, Con và Ngôi Lời làm người của Thiên Chúa :
-        Ga 1, 3 : “Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Ngài, thì chẳng có gì được tạo thành. Điều đã được tạo thành ở nơi Ngài là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại.”
-        Cl 1, 15-16-17.19-20a : “Thánh Tử là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thụ tạo, vì trong Ngài, muôn vật được tạo thành, trên trời cùng dưới đất, hữu hình với vô hình. Dẫu là hàng dũng lực thần thiêng hay là bậc quyền năng thượng giới, tất cả đều do Thiên Chúa tạo dựng nhờ Ngài và cho Ngài. Ngài có trước muôn loài muôn vật, tất cả đều tồn tại trong Ngài…Vì Thiên Chúa đã muốn làm cho tất cả sự viên mãn hiện diện ở nơi Ngài, cũng như muốn nhờ Ngài mà làm cho muôn vật được hòa giải với mình...”
Riêng con người, cách đặc biệt, được tạo dựng “theo hình ảnh Thiên Chúa” :
-        St 1, 26-27 : “Thiên Chúa phán : ‘Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta…Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa’…
Thế mà, Đức Giêsu-Kitô chính là Hình ảnh hữu hình của Thiên Chúa vô hình :
-        Cl 1, 15 : “Đức Giêsu-Kitô là Hình Ảnh của Thiên Chúa vô hình.” (xem thêm 1 Cr 11, 7; 2 Cr 4, 4)…
Như vậy, con người là một tổng thể “thiên-địa-nhân hòa”, điều mà nhà thần học Dòng Tên Raimon Panikkar gọi là “cosmothéandrique”.
-        St 2, 7 : “Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật.”
b.      Ngôn ngữ thần học :
-        “Thiên Chúa chẳng có động cơ nào khác để tạo dựng, ngoài tình yêu của Ngài. Từ không không, thụ tạo đã được gọi đi vào hiện hữu. Không phải bởi vì thụ tạo hiện hữu mới được yêu thương, mà chính bởi vì thụ tạo được yêu thương nên mới hiện hữu. Ipso amore creatur : Mọi sự được tạo thành đều nhờ tình yêu mà Ngài hằng yêu!”
-        “Là nguồn suối vĩnh hằng của thực tại thần linh, Cha đồng thời cũng là nguồn suối phát sinh sự sống thụ tạo. Đó là sự trào vọt của tình yêu của Ngài, là sự cho không tuyệt đối của Ngài, mà vốn hằng khiến Cha là ‘Đấng hằng sinh xuất’ ra Đấng hằng được sinh xuất, Đấng hằng yêu thương Đấng hằng được thương yêu. Nguồn suối đó là sự nhưng không thuần túy mà, trong sự tự do hoàn toàn nhất, khiến cho Cha trao ban hữu thể, sáng tạo ra những đối tượng cho tình yêu của Ngài, đó là  những thụ tạo.”
-        “Sự tương ứng giữa hành động nhiệm xuất bên trong mầu nhiệm thần linh (= sự sinh ra Con) và hành động tạo thành để lộ cho thấy căn tính hữu thể của thụ tạo…Nơi thụ tạo, mọi sự đều được ban cho, bắt đầu từ hữu thể của nó…Tất cả mọi sự - hiện hữu, sự sống, những khả thể vật chất và tinh thần diễn ra trong thời gian và trong không gian – đều là ân huệ…Cấu trúc của thụ tạo là ‘hiện hữu được đón nhận’, là sự đón nhận tình yêu, tình yêu mà khi yêu thụ tạo làm cho thụ tạo hiện hữu. Chính lúc bấy giờ, người ta mới hiểu được làm thế nào mà mọi sự đều đã được tạo thành ‘bởi Đức Kitô và cho Đức Kitô’, Đấng vốn có ‘trước mọi sự’ và nơi Ngài ‘mọi sự được lập hữu’ (x. Cl 1, 16 tt).”
-        “Chính trong Thần Khí mà mọi sự được tạo thành (x. St 1, 2) và chính trong Thần Khí mà mọi sự được duy trì hiện hữu (x. thí dụ Tv 104, 29). Cũng như trong sự sống thần linh, Thần Khí vẫn hằng hiệp nhất Cha với Con, trong tư cách tình yêu tạo ra hiệp nhất giữa Đấng hằng yêu thương và Đấng hằng được thương yêu, cũng vậy, Thần Khí tạo ra sự hiệp nhất giữa thụ tạo  với Đấng tạo thành, bảo đảm sự hiệp nhất nguyên thủy và thuộc cấu trúc hữu thể giữa thụ tạo với Thiên Chúa, và như vậy, bảo đảm tính bản  thiện của mọi cái hiện hữu, tức là hữu thể thụ tạo được cắm rễ sâu và được thiết lập trong nền tảng tình yêu : ‘Và Thiên Chúa thấy rằng điều đó quả là tốt lành’ (St 1, 4.10.12.18.21.25.31).”
Như vậy, chính ở nơi đầu nguồn của Đức tin, tức là chính sự hiện hữu của chủ thể tin đã là một ân huệ nhưng không của Thiên Chúa ban cho ! Và dấu ấn tương quan Tạo Hóa-Thụ tạo, Cha-con giữa Thiên Chúa và con người vốn nằm trong cấu trúc hữu thể của tất cả mọi thụ tạo, đặc biệt, con người…
2.      Công trình MẶC KHẢI, ân huệ nhưng không :
Triết học và Thần học Tây phương, bị ảnh hưởng nặng nề bởi quan điểm “nhị nguyên” Hy lạp, nên thường có khuynh hướng phân biệt rạch ròi giữa cái “tự nhiên” và cái “siêu nhiên”, vì thế, phân biệt nào là “mặc khải tự nhiên” (révélation naturelle) hay “mặc khải vũ trụ” (révélation cosmique) và “mặc khải siêu nhiên” (révélation surnaturelle)…
Triết học Đông phương nói chung ưa thích thể thống nhất và cái tổng thể của thực tại hơn, nên ưa thích triển khai khái niệm “HÒA”, như được phản ảnh trong quan niệm “tam tài” (Thiên-Địa-Nhân hòa), và khái niệm “có nhau” hay “ở trong nhau”, như được phản ảnh trong nguyên lý “ÂM-DƯƠNG” (trong ÂM luôn có DƯƠNG và trong DƯƠNG luôn có ÂM)…
Thật vậy, khi khẳng định “Thầy là Sự Thật”, Đức Giêsu, trong tư cách vừa là Thiên Chúa thật vừa là người thật mặc khải cho chúng ta chính Ngài là hiện thân của Sự Thật của tất cả mọi sự thật, hay nói cách khác, chính Đức Giêsu-Kitô, Con và Ngôi Lời làm người của Thiên Chúa mặc khải cho chúng ta biết Thiên Chúa là Ai, thụ tạo là gì và con người là ai, và tương quan giữa Thiên Chúa và con người và ngược lại, điều mà mầu nhiệm ngôi hiệp sẽ hé lộ cho chúng ta một cách hết sức sâu sắc.
Thật vậy, mầu nhiệm ngôi hiệp nơi Đức Giêsu-Kitô, Con và Ngôi Lời làm người của Thiên Chúa cho chúng ta hiểu được, một đàng, tương quan giữa Thiên Chúa và con người và giữa con người và Thiên Chúa, đàng khác, và đây là điều quan trong, mặc khải cho chúng ta cung cách mà Thiên Chúa mặc khải cho con người và cung cách mà con người có thể nhận ra được Thiên Chúa như thế nào, điều mà chúng ta sẽ đề cập đến trong phần sau… 
“Thiên Chúa nhân lành và khôn ngoan đã muốn mặc khải chính mình và tỏ cho mọi người biết mầu nhiệm thánh ý Ngài (x. Ep 1, 9). Nhờ đó, loài người có thể đến cùng Chúa Cha, nhờ Chúa Kitô, Ngôi Lời nhập thể, trong Thánh Thần, và được thông phần bản tính của Thiên Chúa (x. Ep 2, 18; 2 P 1, 4).” (DV, số 2)...
Công trình Mặc khải, như vậy, cũng là ân huệ nhưng không Thiên Chúa ban cho con người. Đó hoàn toàn là sáng kiến tình yêu của Thiên Chúa.
a.       Ngôn ngữ Thánh Kinh :
-        Ep 1, 9 : “Ngài (Thiên Chúa-Cha) cho ta được biết thiên ý nhiệm mầu : thiên ý nầy là kế hoạch yêu thương Ngài đã định từ trước trong Đức Kitô...”
-        Dt 1, 1 : “Thưở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết nầy, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử của Ngài.”
b.      Ngôn ngữ thần học :
“…Vì thế, chính Ngài (=Đức Giêsu-Kitô), Đấng mà hễ ai thấy được Ngài cũng là thấy được Chúa Cha (x. Ga 14, 9), - qua toàn bộ sự hiện diện và toàn bộ sự bày tỏ mình ra của Ngài, qua những lời và qua những công việc của Ngài, qua những dấu chỉ và qua những phép lạ của Ngài, và nhất là qua sự chết và sự phục sinh vinh hiển của Ngài từ giữa những kẻ chết, và cuối cùng qua việc sai phái Thần Khí sự thật đến, - đã chấm dứt công trình mặc khải khi hoàn tất công trình đó và qua chứng tích thần linh, xác nhận rằng Thiên Chúa vẫn hằng ở với chúng ta để giải thoát chúng ta khỏi bóng tối tội lỗi và sự chết và làm cho chúng ta được phục sinh để sống sự sống vĩnh hằng.”  (DV., số 4).
“Mặc khải bằng sự hiện diện” là một đóng góp mới của thần học hiện đại, dù chưa được đào sâu cách thấu đáo. Ở đây, Công đồng Vatican II có vẻ thích hạn từ “hiện diện” (“présence”)  hơn hạn từ “ngôi vị” (“personne”). Hạn từ “hiện diện” cụ thể hơn và có nền tảng Kinh Thánh hơn, vì yếu tố số một ở đây là hữu thể của Đức Giêsu, tức là “một Ai đó” chứ không phải một giáo lý hay một chương trình. Toàn bộ hiện sinh của Đức Giêsu-Kitô là mặc khải, là chứng tá.
Thế mà, St 1, 26-27 cho thấy con người được tạo dựng nên “theo hình ảnh Thiên Chúa” và “giống như Thiên Chúa”, và hình ảnh của Thiên Chúa lại chính là Đức Giêsu-Kitô, Con và Ngôi Lời làm người của Ngài (1 Cr 11, 7; 2 Cr 4, 4; Cl 1, 15)…
Điều đó có nghĩa ngay trong cấu trúc hữu thể của con người, Đức Giêsu-Kitô hiện diện trong cùng lúc vừa như là nguyên lý, vừa như là trung gian, vừa như là cùng đích của con người…
Như là nguyên lý, bởi vì chính do Ngài mà con người được hiện hữu. Như là trung gian, bởi vì chính qua trung gian của Ngài, hay nói đúng hơn, khi “ở trong” Ngài mà con người được làm con Thiên Chúa. Như là cùng đích, bởi vì Ngài là hình ảnh của Thiên Chúa, mà theo đó con người đã được tạo dựng nên…Đây chính là cơ sở để người ta tin là trong cấu trúc hữu thể của con người ngay từ đầu đã có một tư thế nguyên sơ (disposition originelle) để nhờ đó con người có thể luôn luôn “tiếp cận được” với Thiên Chúa, để “biết được” Thiên Chúa và để “sống với” Thiên Chúa, vốn là Đấng Tạo Hóa và là Cha của tất cả mọi người (l’homme, capable de Dieu), mà ngôn ngữ thần học gọi là “mặc khải tự nguyên sơ” (révélation originelle) hay là mặc khải “do tự bản tình tự nhiên” (révélation naturelle). Mặc khải tự nguyên sơ hay do tự bản tính tự nhiên nầy là một mặc khải thường hằng và là cơ sở của mặc khải mà ngôn ngữ thần học cổ điển thường gọi là “mặc khải do tự siêu nhiên” (révélation surnaturelle).
“Nhưng, Thiên Chúa không dừng lại ở đó. Ngày từ buổi ban sơ của lịch sử nhân loại, Thiên Chúa đã tự tỏ bày mình ra như một ngôi vị-đối tác ngay trong cung lòng lương tâm của con người để mở ra cho con người con đường siêu độ. Hình thức mặc khải nầy đã được gọi là “do tự siêu nhiên”, bởi vì mặc khải siêu nhiên đó vốn là biểu trưng của sự Thiên Chúa muốn tự thông ban chính mình Ngài cho nhân looại. Từ đầu cho đến cuối lịch sử, Thiên Chúa không chỉ ghi trong trái tim con người dấu ấn một ơn gọi, mà Ngài còn muốn ban cho con người những ân huệ cần thiết để con người có thể hoàn tất ơn gọi đó.”
Ngoài ra, cần lưu ý khi nói Đức tin là ân huệ nhưng không (don gratuit), điều đó không có nghĩa Đức tin là một đặc ân (privilège) chỉ được ban cho một thiểu số nào đó thôi, mà là ân huệ được ban cho tất cả mọi người, không phân biệt.
Ngôn ngữ triết học gọi con người là một hữu thể tôn giáo là vì thế. Vì nằm trong cấu trúc hữu thể của con người, nên cảm thức tôn giáo là một cảm thức đức tin nguyên thủy và có tính phổ quát. Khi nói cảm thức tôn giáo là một cảm thức nguyên thủy và có tính phổ quát là muốn nói rằng, tự trong cấu trúc hữu thể, con người đã “ở trong” tương quan với Thiên Chúa và với các thụ tạo khác. Ở đây, cái nhìn “tam tài” (Thiên-Địa-Nhân hòa) của Đông phương và cái nhìn của Kinh Thánh do thái-kitô rất gần gũi với nhau.
“Vì tự cấu trúc hữu thể vốn có tương quan với Mầu nhiệm Thánh Thiên Chúa-Ba Ngôi, con người là hình ảnh của Thiên Chúa Cha, qua Con, trong Thần Khí. Nơi con người, phản ảnh Tình Yêu hằng yêu thương, trên cơ sở từ nguyên thủy con người vốn được yêu thương trong tình yêu hiệp nhất và tự do. Thiên Chúa Tam Vị, khi thông ban hữu thể cho thụ tạo, cũng ghi khắc nơi nó một sự gì đó thuộc vận động sự sống vĩnh hằng của Ngài, và như vậy khiến nó trở thành hình ảnh của lịch sử tình yêu vĩnh hằng.”
3.      Công trình SIÊU ĐỘ, ân huệ nhưng không :
Nếu “được siêu độ”, cách tích cực, đồng nghĩa với việc “được trở thành con Thiên Chúa”, “được sống sự sống vĩnh hằng” , “được tham dự bản tính thần linh”, và cách tiêu cực, với “được tha thứ mọi tội lỗi”, thì việc con người được siêu độ cũng là một ân huệ nhưng không của Thiên Chúa ban cho loài người, bởi vì những điều đó chúng ta chỉ “có” được khi chúng ta được “ở trong” Đức Giêsu-Kitô”, Con và Ngôi Lời làm người của Thiên Chúa mà thôi.
a.       Ngôn ngữ Thánh Kinh :
-        Ep 1, 3-6 : “Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giêsu-Kitô, Chúa chúng ta, từ cõi trời, Ngài đã thi ân giáng phúc cho ta hưởng muôn vàn ơn phúc của Thánh Thần. Trong Đức Kitô, Ngài đã chọn ta, trước cả khi tạo thành vũ trụ, để trước thánh nhan Ngài, ta trở nên tinh tuyền thánh thiện, nhờ tình thương của Ngài. Theo ý muốn, và lòng nhân ái của Ngài, Ngài đã tiền định cho ta làm nghĩa tử nhờ Đức Giêsu-Kitô, để ta hằng ngợi khen ân sủng rạng ngời, ân sủng Ngài ban tặng cho ta trong Thánh Tử yêu dấu…”
-        Ga 1, 3 : “Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Ngài, thì chẳng có  gì được tạo thành. Điều đã được tạo thành ở nơi Ngài là sự sống, và sự sống là ánh sáng ch nhân loại.”
-        Ga 17, 3 : “Thế mà sự sống vĩnh hằng đó là họ nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Đấng Cha đã sai đến là Giêsu-Kitô”.
b.      Ngôn ngữ thần học :
Có một điều cần lưu ý ngay đó là việc Đức Giêsu-Kitô là Đấng Trung Gian duy nhất và phổ quát trong Mặc Khải và trong Siêu Độ hoàn toàn không đồng nghĩa với việc Thiên Chúa chỉ có một cách mặc khải và siêu độ duy nhất nào đó trong lịch sử mà thôi. Chính lầm lẫn chết người nầy đã khiến một số nhà thần học về các tôn giáo trong gần nữa thế kỷ qua cách độc đoán chỉ biết đặt câu hỏi là liệu có ơn siêu độ nơi những tôn giáo “ngoài kitô” (!?) hay không, thay vì đặt vấn đề Thiên Chúa siêu độ anh chị em “lương dân” như thế nào…
Thần học kinh viện mà não trạng vốn nặng tính cơ cấu, duy luật, dựa trên “công trạng”, hẳn là ít quan tâm đến đặc tính nhưng không (vô điều kiện, vô vị lợi và vô biên giới) của tình yêu của Thiên Chúa, vốn là một yếu tố nền tảng và hết sức quan trọng trong nỗ lực suy tư thần học…
Thật vậy, nếu tình yêu của Thiên Chúa là nhưng không, vô điều kiện, vô vị lợi và vô biên, thì ơn siêu độ của Ngài cũng vậy. Sự khác biệt giữa “kẻ tin” và “người không tin” cũng gần giống như sự khác biệt giữa những kẻ biết cha mẹ mình là ai và những kẻ biết chắc rằng mình vẫn có cha có mẹ như ai, nhưng không biết đó là những ai. Một thí dụ khác : không ai sống được mà không nhờ sự hiện hữu và hiện diện của không khí, giáo cũng như lương, nhưng sự khác biệt nằm ở chỗ người nầy biết có sự hiện hữu của không khí và mình sống được là nhờ đó, còn một số người khác vẫn sống nhờ không khí, nhưng lại không biết và không ý thức được những điều nầy !
Sứ mạng loan báo Tin Mừng của những người kitô-hữu, mọi nơi và mọi thời, vì thế, có thể nói cũng giống như sứ mạng của Phaolô ở Athêna :
“Kính thưa quí vị người Athêna,, xét về mọi mặt, tôi nhận thấy các ngài rất mực sùng tín. Vì ngang qua, tôi ngước mắt nhìn các đồ thờ của các ngài, tôi đã gặp cả một tế đàn trên có khắc : KÍNH THẦN VÔ DANH. Vậy, Đấng các ngài không biết nhưng có thờ kính, thì này tôi xin loan báo về Ngài cho các ngài :…” (Cv 17, 22-23).

II.      TÂM TÌNH TRI ÂN VÀ CẢM TẠ :
Đức Tin, nếu nhìn từ phía Thiên Chúa-Ba Ngôi, là ân huệ nhưng không, còn khi nhìn từ phía đối tác là con người thì đó là những tâm tình tri ân và cảm tạ, vốn là hai tâm tình luôn đi đôi với nhau. Thế nhưng, tâm tình tri ân và cảm tạ chỉ có thể có thực khi người ta biết rõ mình phải tri ân và cảm tạ ai và về cái gì.
1.      Tri ân và cảm tạ “Ai ?” :
Từ tận đáy lòng, vì là hữu thể tôn giáo, từ thưở xa xưa, con người, dù mông muội, cách khá phổ biến, cũng đã có những hình thái tri ân và cảm tạ trời, giàng, thần đất, thần sông, thần núi, v.v…
Có lẽ, không như một số triết gia vô thần, cách đơn giản, cho rằng nguồn gốc của những hiện tượng tôn giáo (niềm tin, tín ngưỡng dân gian, v.v…) là do sự ngu dốt của con người khi chưa có những kiến thức khoa học, mà trái lại, đúng hơn, chính những cảm thức tôn giáo vốn nằm trong cấu trúc hữu thể của con người mới là nguồn gốc của những hiện tượng tôn giáo. Một cách nào đó, con người trực giác được mình không phải là nguồn gốc cho mình và là nguyên lý của mình. Nguồn gốc đó, nguyên lý đó, là một “Ai đó” : đó có thể là đấng hóa công, là ông trời, là giàng, là cái trứng nguyên thủy, v.v… Thật vậy, khi nghiên cứu các câu truyện cổ tích, thần thoại của các dân tộc trên thế giới, kể cả những dân tộc man di, người ta có thể khám phá ra điều đó, đặc biệt, nơi Kinh Thánh của người Do Thái, các Kinh Rig-Veda, Upanisah của người Ấn Độ…
Những tâm tình tri ân và cảm tạ đó của con người, ngay từ thưở sơ khai, được diễn đạt qua những cử chỉ thô thiển, bên ngoài có vẻ như mê tín dị đoan, nhưng thực chất nói lên “niềm tin” của con người vào một Đấng nào đó, vốn là nguồn gốc của nó, có khả năng che chở, phù trì hay trừng phạt nó, nguồn gốc của mọi ơn lành cũng như sự dữ, và là những hiện tượng có thể nói là phổ biến…
Người ta có thể trách cứ và phê bình sự “mê tín” (tin sai, tin đấng không đáng tin, v.v…) của anh chi em lương dân, nhưng liệu chính chúng ta, những kitô-hữu, chúng ta có dám cho mình là tin chắc và tin đúng vị Thiên Chúa của Đức Kitô hay không, hay lại như nhận xét của Bruno Forte :
“Thiên Chúa của những người kitô-hữu liệu có phải là vị Thiên Chúa của Đức Kitô không ?
Vấn nạn nầy, thoạt tiên, có vẻ nghịch lý, nhưng nảy sinh cách tự nhiên, nếu như người ta xem xét cách thức mà nhiều kitô-hữu tự trình bày cho mình vị Thiên Chúa của họ. Trong diễn từ diễn tả, họ nói về Ngài như về một “ngôi vị” thần linh nào đó mơ hồ, nhiều hay ít đồng hóa với Đức Giêsu của các sách Tin Mừng, hay như một hữu thể cao vời nào đó, cũng không chính xác gì hơn. Trong kinh nguyện, họ nói với vị Thiên Chúa bất định nầy, trong khi công thức mà phụng vụ  dùng để nói với Cha qua Đức Kitô trong Thần Khí thì lại bị họ coi như là kỳ quặc, nếu không muốn nói là tối tăm khó hiểu : người ta cầu nguyện Thiên Chúa, nhưng không biết cầu nguyện trong Thiên Chúa ! Có một tình trạng không thể chối cãi là nhiều kitô-hữu, “mặc dù trong những tuyên xưng đức tin về Thiên Chúa-Ba Ngôi hoàn toàn là chính thống, nhưng trong cụ thể đời sống tôn giáo thì lại hầu như theo khuynh hướng “độc vị” (“monothéistes”).
Có thể nói rằng một trong những nét chủ yếu làm nên căn tính của con người và làm cho con người khác với con vật, đó là tâm tình tri ân và cảm tạ kẻ hay đấng đã làm ơn cho mình. Sở dĩ thế, bởi vì qua kinh nghiệm tích lũy từ hàng ngàn đời, con người lần hồi khám phá ra nguyên lý nhân-quả, vốn chi phối các mối tương quan giữa các thụ tạo với nhau và với một “Ai đó” : đó có thể là Trời, là Giàng, là Thượng Đế, là Ngọc Hoàng, là Thần, là Đức Chúa, là Thiên Chúa, v.v…
Từ khi con người bắt đầu biết suy tư, khởi điểm của mọi thứ triết học, có ba vấn nạn lớn vẫn là những nỗi ám ảnh khôn nguôi của con người : 1. “Nhân sinh hà tại ?” (Hiện sinh nầy của con người bởi đâu mà có ?); 2. “Tại thế hà như ?”  (Ý nghĩa của hiện sinh trần thế nầy là gì ?); 3. “Hậu thế như hà ?” (Sau hiện sinh trần thế nầy sẽ là gì ?).
Đây là ba vấn nạn mà Hubert Reeves, nhà vật lý thiên thể gốc Canada đã gọi là : “Les questions sont universelles, les réponses sont culturelles” (Các vấn nạn mang tính phổ quát, các đáp án phản ảnh cho thấy các nền văn hóa) . Thật vậy, ba vấn nạn đó là những vấn nạn muôn thưở của loài người, và các nền văn hóa, tín ngưỡng của tất cả các dân tộc, các vùng, miền, nói cho cùng, đều chỉ là phản ảnh những câu giải đáp mà con người nghĩ tưởng là có thể trả lời được cho những vấn nạn nầy.
Và, nếu, “Mọi sự đều đã được Cha Ta trao phó cho Ta, và không ai biết được Con trừ phi có Cha; và cũng không ai biết được Cha trừ phi có Con và kẻ được Con khấng mặc khải ra cho.” (Mt 11, 27), thì ngay cả những tâm tình tri ân và cảm tạ của con người đối với Thiên Chúa cũng lại là những hồng ân nhưng không của Thiên Chúa ban cho con người :
“Lạy Chúa là Cha chí thánh, là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con tạ ơn Chúa mọi nơi mọi lúc, thật là chính đáng, phải đạo và đem lại ơn cứu độ cho chúng con.
Tuy Chúa không cần chúng con ca tụng, nhưng việc chúng con cảm tạ Chúa lại là  một hồng ân Chúa ban, vì những lời chúng con ca tụng chẳng thêm gì cho Chúa, nhưng đem lại cho chúng con ơn cứu độ, nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con…” (Kinh Tiền Tụng chung IV).
Vì thế, Đức Giêsu đã tuyên bố :
“Mà sự sống vĩnh hằng đó là họ nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Đấng Cha đã sai đến, là Giêsu Kitô.” (Ga 17, 3).
Có thể nói rằng nét độc đáo làm nên căn tính của mặc khải kitô đó là mặc khải Thiên Chúa như là Cha của Con là Đức Giêsu-Kitô, Đấng được Cha sai đến trần gian, và là Cha của tất cả mọi người vốn đã được tạo dựng nên trong Con, bởi Con và giống như Con.
Như vậy, Đấng mà tất cả mọi người phải tri ân và cảm tạ đó Vị Thiên Chúa của Đức Kitô, vốn vừa là Đấng tạo dựng nên tất cả mọi thụ tạo, và là Cha của tất cả mọi người, không phân biệt giáo hay lương.

2.      Tri ân và cảm tạ “về điều gì ?” :
Trong cái nhìn kitô, nói chung, tất cả những gì con người “là” và “có” đều là hồng ân của Thiên Chúa ban cho cách nhưng không. Vì thế, hiện sinh của con người là hiện sinh luôn trong tư thế và tâm tình tri ân và cảm tạ Thiên Chúa chí ái, toàn tri và toàn năng.
Có thể nói rằng tuy dưới những hình thái khác nhau, đối với những đối tượng khác nhau, về những nhu cầu tinh thần, vật chất khác nhau, đôi khi bề ngoài có vẻ như “mê tín”, con người từ thưở hồng hoang vẫn đã có những tâm tình tri ân và cảm tạ về những gì họ đã nhận được từ các thần thánh hay từ thiên nhiên, thí dụ như nghi lễ cúng “Giàng” lúa mới nơi các anh chị em dân tộc thiểu số…
Tạm kết:
Đức tin tôn giáo, như vậy, từ đầu chí cuối, vẫn là ân huệ nhưng không Thiên Chúa ban cho con người. Và bởi vì là ân huệ nhưng không, nên không phải phát xuất từ phía con người, mà là do Thiên Chúa ban cho. Thế mà, tình yêu của Thiên Chúa là một tình yêu vô bờ vô bến, và toàn thể thụ tạo đều là đối tượng của tình yêu nầy của Thiên Chúa-Ba Ngôi. Một trong những sứ mạng quan trọng và cao cả của người kitô-hữu, vì thế, chính là chia sẻ và loan báo Tin Mừng đó cho tất cả mọi người…
 
 

03. SỨ MẠNG LOAN BÁO TIN MỪNG KITÔ

Dẫn nhập
 Giữa những lối gọi khác nhau nhằm diễn tả cùng một nội dung (truyền giáo, truyền đạo, rao giảng tin mừng, phúc âm hóa, v.v…), chúng tôi chủ ý chọn lối gọi “loan báo Tin Mừng Kitô”, vì những lý do sau đây :
1) Đây là một nỗ lực chia sẽ kinh nghiệm tương quan của mỗi người với một “ngôi vị” (personne) là chính Đức Giêsu-Kitô cho người khác, chứ không phải chỉ là thông truyền hay chia sẻ một số kiến thức giáo lý về Ngài…
2) Vì thế, hiện sinh chứng tá cá nhân và tập thể đóng vai trò hết sức quan trọng, đôi khi còn hơn cả những kiến thức lý thuyết…
3) Tiêu chí để đánh giá các vấn đề, các biến cố ở đây là tương quan “với” hơn là những hiểu biết “về” Đức Giêsu-Kitô…

I.       ĐỨC GIÊSU-KITÔ VÀ VIỆC LOAN BÁO TIN MỪNG :
Bởi vì Ba Ngôi Thiên Chúa hiệp nhất với nhau như một, vì thế, khi loan báo tin mừng về Cha, về Chúa Thánh Thần cũng có nghĩa Ngài đang loan báo về chính Mình  và đang tự làm chứng cho chính Mình…

1.      “Thiên Chúa-làm người” tự làm chứng về Mình
Tất cả 4 sách Tin Mừng đều cho thấy Đức Giêsu-Kitô, bằng lời nói và bằng hành động, bằng sự sống và cả cái chết, đã loan báo Tin Mừng về Nước Thiên Chúa hay, nói đúng hơn, về chính Mình, bởi vì Ngài, trong cùng lúc vừa là Tin Mừng đó vừa chính là Nước Thiên Chúa. Tin Mừng mà Đức Giêsu-Kitô loan báo cho chúng ta đó là Tin mừng vừa về tương quan giữa Ngài với Thiên Chúa (Chúa Cha và Chúa Thánh Thần) vừa về tương quan giữa Thiên Chúa và các thụ tạo của Ngài : trong Đức Giêsu-Kitô, Con và Ngôi Lời của Thiên Chúa, tất cả chúng ta đều là thụ tạo và là con của Thiên Chúa, và vì thế giữa chúng ta với nhau và với Đức Giêsu-Kitô là anh chị em với nhau. Và trên cơ sở Đức Giêsu-Kitô chính là hiện thân toàn vẹn của những mối tương quan đó, vì thế, Ngài cũng chính là hiện thân của Nước Thiên Chúa, tức là nơi Ngài Thiên Chúa là tất cả, kể cả những ai và những gì mà Thiên Chúa yêu thương (xem ĐGH. Bênêđictô XVI, DEUS CARITAS EST)…

2.      …bằng lời nói
Suốt những ngày tháng cuộc đời “công khai”, Đức Giêsu không bao giờ ngơi nghỉ công việc rao giảng về Thiên Chúa và về tình yêu của Thiên Chúa qua Ngài. Ngài sử dụng tất cả mọi cơ hội, mọi tiếp xúc với tha nhân để làm chứng về Thiên Chúa, về Nước Thiên Chúa, về tình yêu của Thiên Chúa và về chính Ngài, thí dụ : những cuộc tiếp xúc với người phụ nữ Samaritanô, với Nicôđêmô, với Giakêu, và, đặc biệt khả năng “nâng tầm” của Ngài ngay dù khởi đi từ nhữg thực tại rất đỗi bình thường và tầm thường, v.v…Thật vậy, với tài năng kể chuyện tuyệt vời (thí dụ, các dụ ngôn về Nước Thiên Chúa), với tài qua những cái bình thường, thậm chí tầm thường của cuộc sống, nhìn thấy cái phi thường và giúp con người nâng cao lên tới những chiều kích cao siêu (thí dụ, từ nước uống bình thường, lương thực bình thường, giúp con người nâng lên chiều kích nước và bánh hằng sống)…

3.      …bằng hành động
Tất cả các tiếp xúc, các phép lạ của Đức Giêsu-Kitô đều không ngoài mục đích làm chứng cho tình yêu nhưng không của Thiên Chúa, qua Ngài… Toàn bộ cuộc sống và kể cả cái chết của Ngài cũng đều là những chứng tá cụ thể về tình yêu …
Trên đây là ba yếu tố chủ yếu không thể thiếu trong bất cứ nỗ lực loan báo Tin mừng nào : bằng lời nói và hành động, mỗi người phải trở thành chứng tá về tình yêu của Thiên Chúa và sự hiện diện cụ thể của Ngài trong hiện sinh cuộc sống thường ngày…

II.      GIÁO HỘI KITÔ VÀ VIỆC LOAN BÁO TIN MỪNG :

A.      MỘT THOÁNG LỊCH SỬ :
1.      Nỗ lực loan báo Tin mừng kitô 3 thế kỷ đầu công nguyên :
a.       Phạm vi : trong ranh giới của Đế quốc Roma : Tây phương (chủ yếu là Thủ đô Roma và một số vùng phụ cận) và Đông phương (chủ yếu là vùng Tiều Á)…
b.      Nhân sự : ban đầu chủ yếu là nỗ lực của các cá nhân (đặc biệt các ngôn sứ, hay tiên tri), sau đó được điều phối bởi các cộng đoàn (đặc biệt, các giám mục)…
c.       Hoàn cảnh khách quan vô cùng khó khăn (sự chống đối của những người Do Thái, nền văn minh đỉnh cao của Hy lạp, các hoàng đế Roma, v.v…)…
d.      Kết quả : thành công hết sức ngoạn mục : vào cuối thế kỷ III, niềm tin kitô trên thực tế đã xâm nhập được vào trong tất cả các giai tầng xã hội, bình dân và thượng lưu của Đế quốc Roma…
e.       Nguyên nhân : “Ngay bây giờ, tôi muốn chứng tỏ cho thấy hạn chế của lối tiếp cận dựa trên lịch sử như vậy… Giới hạn nầy, vốn nằm nơi chính phương pháp lịch sử, đó là do người ta quá chú trọng đến chủ thể hơn là đối tượng của nỗ lực truyền giáo, đến những người loan báo tin mừng và những điều kiện trong đó nỗ lực truyền giáo diễn ra hơn là đến chính nội dung của nỗ lực nầy.” (xem  Raniero Cantalamessa, ofmcap., Bài Giảng số 1 cho Giáo triều Mùa Vọng 2011)… Xem dụ ngôn hạt giống được gieo trong Mc 4, 26-29.

2.      Nỗ lực loan báo Tin mừng kitô từ thế kỷ VI đến thế kỷ IX :
a.       Phạm vi : sau khi đế quốc Roma sụp đổ (khoảng năm 476), xuất hiện ở châu Âu cơ man nào là những vương quốc “man di”, và đây chính là phạm vi địa bàn loan báo tin mừng mới của Giáo hội kitô (các sắc dân “man di” ở châu Âu)…
b.      Nhân sự : tất cả mọi thành viên trong Giáo hội (đặc biệt, các hoàng hậu, phi tần trong các cung vua, phủ chúa…), nhung chủ yếu là các đan sĩ (moines) dưới sự điều động của các giáo hoàng; thí dụ : thánh Boniface với nước Đức, hai thánh anh em Cyrille và Méthode với các sắc dân Slaves…
c.       Hoàn cảnh : những khó khăn mới, thí dụ tình trạng thiếu văn hóa và văn minh nơi các sắc dân man di, vì thế, ngoài nỗ lực loan báo tin mừng còn phải có nỗ lực nâng cao trinh độ văn hóa và văn minh nữa…
d.      Kết quả : i) hầu như toàn bộ châu Âu đã được kitô-giáo hóa (nguồn gốc kitô của châu Âu); ii) cả một chuỗi những đan viện được xây dựng trên toàn châu Âu và sẽ trở thành cơ sở cốt lõi của sự phát triển châu Âu về mặt tôn giáo, văn hóa, chính trị và kinh tế; iii) sự hình thành các giáo phận và các nghị hội. Thống kê 2009 : 283.433.000 người Công Giáo trên tổng dân số 709.109.000, tỷ lệ 39, 97 %...
e.       Nguyên nhân : dù phải đối diện với những hoàn cảnh mới (đế quốc Roma sụp đổ, sự xâm nhập ồ ạt và đôi khi man rợ của các sắc dân “man di” kém trình độ học thức, văn hóa, văn minh…), nhưng Giáo hội kitô đã sớm biết thích nghi với hoàn cảnh,  và biết đổi mới chính bản thân mình, không để cho những hệ thống và quan điểm chính trị chóng qua khống chế và cản bước chân của mình trong nỗ lực làm chứng tá và rao giảng tin mừng… 

3.      Nỗ lực loan báo Tin mừng kitô cho lục địa mới châu Mỹ :
a.       Phạm vi : a) Bắc Mỹ : vấn đề truyền giáo không được đặt ra cách đúng nghĩa ở đây, bởi vì dân Bắc Mỹ phần lớn gốc kitô-hữu châu Âu vốn chia rẽ thành hai khối (Bắc Âu phần lớn là Tin lành; Nam Âu phần lớn là Công giáo), vì thế,   khi di dân qua Bắc Mỹ cũng tiếp tục tồn tại hai khối đó, tức là Tin lành và Công giáo; b) Nam Mỹ  :  địa bàn truyền giáo, với nhiều tai tiếng vì bị lẫn lộn với hành vi thực dân Tây ban nha…
b.      Nhân sự : các tu sĩ là những diễn viên chính (dòng thánh Phanxicô-Assisi, dòng thánh Đaminh, dòng thánh Augustinô, dòng Tên)…
c.       Hoàn cảnh : a) khó khăn gây ra từ phía các quan chức và binh lính Tây Ban Nha thực dân thời đó : lẫn lộn giữa việc chiếm thuộc địa và thực dân về cho nước Tây Ban Nha với việc đưa các anh em lương dân về cho Thiên Chúa và cho Giáo hội; b) khó khăn từ phía các Tu sĩ loan báo Tin mừng : do cách hiểu một chiều và cứng ngắc châm ngôn “Extra Ecclesiam, nulla salus” (“Ngoài Giáo Hội, không có ơn cứu độ”), vì thế, vì tình yêu (!), bằng bất cứ giá nào, tìm cách rửa tội cho càng nhiều người càng tốt, kể cả cưỡng ép…
d.      Kết quả : hầu như toàn bộ Nam Mỹ đều được kitô-giáo hóa. Thống kê 2009 : 576.149.000 người Công Giáo trên tổng dân số 913.080.000, tỷ lệ 63, 10 %...
e.       Nguyên nhân : nhiệt tình mang chiều kích quốc gia và Giáo hội của những người Tây Ban Nha thời đó…

4.      Nỗ lực loan báo Tin Mừng ở Vùng Đông Á  hay Viễn Đông : (Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam) :
Cho đến bây giờ, chưa có một đúc kết hay tổng kết nào chính thức cả. Sau đây, chỉ là một vài chia sẻ rời rạc mang tính gợi ý chủ quan của người viết mà thôi, với hy vọng nó có thể trở thành như đề tài thảo luận trong dịp nầy mà thôi…
a.       Phạm vi : vì khả năng han chế (chủ quan và khách quan) của mình, nên ở đây chỉ đề cập đến việc loan báo Tin Mừng ở ba quốc gia : Trung Hoa, Nhật Bản và Việt Nam mà thôi…
b.      Nhân sự : cũng là các tu sĩ thuộc các dòng thánh Phanxicô Assisi, thánh Đaminh, thánh Augustinô, dòng Tên, M.E.P…
c.       Hoàn cảnh : Tin mừng kitô đối diện với một vùng đất có một nền văn hóa đỉnh cao lâu đời, cùng với những mặc cảm tự tôn và tự ti lẫn lộn., vì thế rất dễ xẫy ra những đụng chạm giữa hai nền văn hóa đỉnh cao nầy (và trên thực tế, cách đáng tiếc, đã xẫy ra một cuộc đụng độ mang tính lịch sử liên quan đến việc sùng kính tổ tiên của người Đông Á)…
d.      Kết quả : i) Thống kê 2011 ở Trung Quốc : khoảng 12 triệu người Công Giáo trên tổng dân số gần 1, 34 tỷ, tỷ lệ 0, 9 %; ii) Thống kê 2010 ở Nhật Bản : khoảng 450.000 người Công Giáo trên tổng dân số khoảng 127 triệu, tỷ lệ 0, 35 %; iii) Thống kê 2009 ở Việt Nam : khoảng 6.281.151 người Công Giáo trên tổng dân số khoảng 92. 156.249, tỷ lệ 6, 8 %. [Thống kê 2009 toàn châu Á : khoảng 124.046.000 người Công Giáo trên tổng dân số 4.067.884.000, tỷ lệ 3,05 %].
e.       Nguyên nhân : có nhiều nguyên nhân phức tạp (địa lý, chính trị, tôn giáo, đặc biệt văn hóa [thí dụ, vụ tranh cãi liên quan đến tập tục thờ kính tổ tiên của người Đông Á])...

B.      NGƯỜI TA CÓ THỂ RÚT RA ĐƯỢC GÌ TỪ QUÁ KHỨ ?
Linh mục Ranierô Cantalamessa, ofmcap., đã có một nhận định hết sức tổng quát và sâu sắc về những lối nhìn phiến diện, đầy tinh thần thế tục trong cung cách phân tích đánh giá nỗ lực tin mừng hóa của Giáo Hội kitô trong suốt 20 thế kỷ qua :
“Ngay bây giờ, tôi muốn chứng tỏ cho thấy hạn chế của lối tiếp cận dựa trên lịch sử như vậy… Giới hạn nầy, vốn nằm nơi chính phương pháp lịch sử, đó là do người ta quá chú trọng đến chủ thể hơn là đối tượng của nỗ lực truyền giáo, đến những người loan báo tin mừng và những điều kiện trong đó nỗ lực truyền giáo diễn ra hơn là đến chính nội dung của nỗ lực nầy.” (xem  Raniero Cantalamessa, ofmcap., Bài Giảng số 1 cho Giáo triều Mùa Vọng 2011)...

1.      Đây là Công trình của Thiên Chúa, chứ không phải là của loài người :
Là công trình của Thiên Chúa, vì thế, Đức Giêsu-Kitô không chỉ là đối tượng được loan báo, mà còn chính là Đấng đang loan báo Tin mừng đó : điều nầy chỉ có thể có được khi Đức Giêsu-Kitô vẫn luôn là Đấng hằng sống hay luôn là Đấng “đương thời với loài người chúng ta”, hay nói cách chính xác hơn, Đức Kitô, Con và Ngôi Lời của Thiên Chúa chính là Đấng mà trong Ngài, nhờ Ngài và bởi Ngài mà tất cả mọi thụ tạo (không phân biệt lương hay giáo) hiện hữu, tồn tại và sống...
Tương quan hiện hữu, tồn tại và sống “trong Đức Kitô” nầy là cơ sở hết sức quan trọng, vốn là điều quả thật hết sức đáng tiếc đã bị thần học, đặc biệt, bộ môn cứu độ học và truyền giáo học gần 20 thế kỷ qua lơ là không coi trọng :  trước tiên, như được phản ảnh nơi câu nói để diễn tả một tình trạng đặc thù của một giáo hội nào đó “Extra Ecclesiam, nulla salus” của thánh Cyprianô, đã khiến cho các nhà thần học suốt gần 17 thế kỷ qua, vì coi đó như là chân lý tuyệt đối, bí lối, lúng ta lúng túng, xoay xở không ra; thứ đến, thái độ lúng ta lúng túng của các Nghị phụ Công đồng Vatican II đối với việc anh em lương dân, không được rửa tội, có được cứu độ hay không !
Để phần nào hiểu được điều nầy, chúng ta cần nhìn vào cấu trúc hữu thể học và những tương quan giữa các thụ tạo và Thiên Chúa-Đấng Sáng Tạo.
Trong ngôn ngữ Đông Phương, con người là tổng thể “tam tài” (“thiên-địa-nhân hòa” = cosmothéandrique). Nói cách tiêu cực, dù con người có tìm đủ cách để phủ nhận, khước từ hay đơn giản có vẻ như không biết gì về Thiên Chúa, nhưng trong thực tế, con người không thể nào hiện hữu, tồn tại, dù chỉ một giây, nếu không có hay “ở trong” Thiên Chúa, như trường hợp, con người, trong những điều kiện hiện tại, dù có biết hay không biết về sự hiện hữu, tồn tại của không khí, nhưng không thể nào sống và hiện hữu mà không nhờ đến không khí ! Ơn cứu độ của Đức Giêsu-Kitô, cũng vậy, vì vừa là phổ quát vừa là duy nhất, nên không ai có thể được cứu độ mà không nhờ đến Đức Giêsu-Kitô. Tương quan nầy nằm trong chính cấu trúc hữu thể học của con người, vì thế, đây là mối tương quan riêng rẽ, cá nhân, đặc thù giữa mỗi cá thể người và Thiên Chúa qua Đức Giêsu-Kitô, không thể chia sẻ được với ai và cũng không thể nào chia sẻ được. Thiên Chúa là Đấng chí ái, toàn tri và toàn năng, Ngài có vô vàn vô số cung cách và phương thức tiếp cận, gặp gỡ con người, và cứu độ con người...
Chính điều nầy cho chúng ta thấy hạn chế của những cung cách đánh giá công cuộc loan báo tin mừng kitô và việc xây dựng Nước Thiên Chúa chỉ dựa trên những lối tiếp cận lịch sử và những con số thống kê…

2.      Công việc của con người là gieo giống, gieo xong, hãy cứ đi ngủ thoải mái, những gì còn lại chủ yếu là việc của Thiên Chúa :
Điều, trước tiên, cần lưu ý ở đây đó là hạt giống mà người ta gieo. Người ta không thể là người gieo giống thực sự, khi người ta không có hạt giống để gieo, hay khi người ta chỉ là người “nói về” một ai đó hay một điều gì đó, ở ngoài mình, mà thôi. Người gieo giống thực sự đó là người “ở trong” Đức Giêsu-Kitô và có Đức Giêsu-Kitô “ở trong”, cùng “đồng hành”, “đương thời”. Chỉ hạt giống đó  mới có thể thay đổi, hoán cải được lòng người mà thôi, bởi vì đó là hạt giống tác động từ bên trong...
Thật vậy, như người ta thường nói “Giang sơn dễ đổi, bản tính khó chừa”. Như một cây cổ thụ bám rễ sâu trong một vùng đất nào đó lâu dài, một con người sinh ra và lớn lên trong một môi trường văn hóa, lịch sử lâu đời, sẽ rất khó khăn để bị bứng ra khỏi những truyền thống niềm tin, tín ngưỡng lâu đời, thâm căn cố đế của họ để có thể đón nhận một truyền thông niềm tin mới và khác (việc đón nhận khá dễ dàng và nhanh chóng của các sắc dân “man di” xâm nhập châu Âu những thế kỷ VI và IX, và tình trạng khó khăn đón nhận của các sắc dân có những nền văn hóa truyền thống lâu đời ở phương Đông chứng tỏ cho thấy điều đó)...
Vấn đề tòng giáo không đơn giản chỉ là cưa đứt gốc cây cắm sang mãnh đất khác, mà là phải giữ được cả phần rễ cây khi đưa qua trồng ở vùng đất mới, cây mới có thể sống được, và mới cho hoa trái...
Hoàn cảnh “di dân” ngày nay, vì thế, là một cơ hội rất lớn cho Giáo hội kitô trong nỗ lực tin mừng hóa, vì đó là những cây đã bị nhỗ ra khỏi môi trường sống lâu đời, với đủ thứ dây ràng buộc (những áp lực của gia đình, họ hàng, bạn bè, đồng đạo, v. v...).
Vì thế, vấn đề hội nhập văn hóa và thích nghi cần phải được đặt ra và nghiên cứu cách nghiêm túc, đặc biệt bởi các nhà văn hóa học và thần học, để tìm cho ra được những gì đã nuôi sống cả bộ rễ và cả cây đó, cái gì độc hại và cái gì không độc hại...
Ngoài ra, vì đối tượng của nỗ lực loan báo tin mừng kitô chính là Đức Giêsu-Kitô,  Ngôi Vị hằng sống và “đang” sống bên cạnh chúng ta và cùng với chúng ta, dù là cách vô hình, vì thế, việc loan báo tin mừng kitô, trước tiên, và chủ yếu là chứng tá của chủ thể loan báo về sự hiện diện của Ngài, về tương quan đời sống của họ với Ngài, hay nói theo ngôn ngữ của Cha Raniero Cantalamessa, “tính đương thời của Đức Kitô” (la comtemporalité de Jésus-Christ)...
Việc loan báo tin mừng đúng nghĩa, vì thế, sẽ là chia sẻ kinh nghiệm của mình về sự hiện hữu,  hiện diện và tình yêu của Thiên Chúa trong cuộc đời mình hơn là thông tin hay truyền đạt một số kiến thức rỗng tuếch, những điều mà chính mình đôi khi cũng chẳng hiểu gì, và thậm chí chẳng “liên can” gì tới mình cả...
Những ý niệm “vì loài người chúng ta” (“propter nos homines”) và “để cứu độ chúng ta” (“proter nostram salutem”), như được ghi trong những Bản Tuyên Tín thưở ban đầu của Giáo Hội sơ khai, vốn rất quan trọng, nhưng lại thường bị bỏ qua. Linh mục Raniero Cantalamessa trong loạt bài về Công cuộc loan báo tin mừng kitô của Giáo Hội đã có lý khi nhắc nhở chúng ta điều đó. Ích gì việc Con Thiên Chúa làm người, sinh ra, thụ nạn và chết trên thập tự, nếu tất cả những điều đó chẳng mảy may liên can gì đến tôi, hic et nunc !
Thứ đến, sau vấn đề hạt giống, một điều cũng quan trọng, đó là người ta phải “ra đi” khỏi nơi mình đang ở và “tiếp cận” với mãnh đất mà mình cần gieo hạt giống xuống. Người ta thường nói mà có lẽ không phải là oan, đó là người công giáo Việt Nam “giữ đạo” rất tốt, “sống đạo” ít tốt hơn, còn “truyền đạo” thì rất kém ! Không tiếp cận,  làm sao người ta có thể “nói với”, làm sao người ta có thể trao đổi với nhau, chia sẻ với nhau ?
Sau cùng, sau khi đã tiếp cận, người ta còn phải dám nói về, dám chia sẻ về Thiên Chúa, về Đức Giêsu-Kitô, về Giáo Hội kitô và nói chung về những vấn đề tối hậu liên quan đến Thiên Chúa và con người...

3.      Sau khi gieo giống, điều duy nhất mà con người còn có thể làm được đó là cầu nguyện với Thiên Chúa và cho nhau :
Trong kinh “Lạy Cha”, Đức Giêsu dạy chúng ta phải cầu nguyện : “Lạy Cha chúng con ở trên trời ! Chúng con nguyện Danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến, Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như ở trên trời !”...
“Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít, các con hãy xin chủ ruộng sai thêm thợ  đến gặt lúa đem về...”
Tại sao vậy ?
Trước tiên, có lẽ bởi vì những lời cầu nguyện đó sẽ khiến cho những tương quan giữa chúng ta với Thiên Chúa và với nhau trở thành thân mật hơn và gần gũi nhau hơn, và vì thế, đó cũng là một trong những phương thức xây dựng Nước Thiên Chúa. Khi người ta thường xuyên cầu nguyện với Thiên Chúa và cho tha nhân, cho những người không cùng niềm tin với chúng ta, đặc biệt các kẻ thù của mình, chí ít, điều có thể xẫy ra ở đây là người ta sẽ từng bước thay đổi cái nhìn của mình về Thiên Chúa, về tha nhân và rồi về nhau, trong tình yêu...Và trong nỗ lực loan báo tin mừng kitô, đây là điều hết sức quan trọng.
Tạm kết luận
Kinh nghiệm loan báo tin mừng kitô của Giáo Hội hơn 20 thế kỷ qua cho chúng ta rất nhiều bài học quí giá :
1.      Thành quả thực sự của công cuộc loan báo tin mừng kitô luôn liên quan đến các vị thánh, những con người của Thiên Chúa, tức là những con người ngập tràn Thần Khí của Đức Giêsu-Kitô...
2.      Sự hiệp nhất kitô đích thực, có lẽ không xây dựng trên một hay bất cứ giáo hội kitô nào mà là trên Thiên Chúa-Tình Yêu, khi mà Thiên Chúa là tất cả nơi tất cả mọi sự, trong Đức Giêsu-Kitô...
3.      Điều trước tiên cần loan báo và nói với muôn dân, vì thế, là Thiên Chúa-Tình Yêu như được phản ảnh nơi con người và cuộc đời của Đức Giêsu-Kitô, chứ không phải là giáo hội kitô nào đó...
 
 

04. ĐỨC GIÊSU-KITÔ, TRƯỚC VÀ SAU BIẾN CỐ PHỤC SINH

Đối tượng của nỗ lực thăm dò của chúng tôi ở đây là “cái khoảng thời gian và không gian” thâm u, đầy bí hiểm và mầu nhiệm giữa Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh và Ngày Chúa Nhật Phục Sinh mà Đức Giêsu-Kitô đã trãi qua, với hy vọng qua đó khám phá ra được chút gì về căn tính của Đức Giêsu-Kitô trước và sau Biến cố Phục Sinh, để rồi nhờ đó hiểu được chút gì về căn tính cánh chung (identité eschatologique) của con người chúng ta, đặc biệt, những con người Kitô hữu, bởi vì con người vốn được tạo dựng nên “theo Hình Ảnh của Thiên Chúa” (St 1, 26-27; Rm 8, 29; 2 Cr 3, 18); thế mà, Hình Ảnh của Thiên Chúa lại chính là Đức Giêsu-Kitô (2 Cr 4, 4; Cl 1, 15)…
Nếu “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1 Ga 4, 8.16), điều đó có nghĩa căn tính của Thiên Chúa, của các Ngôi Vị Thiên Chúa, của Đức Giêsu-Kitô, Ngôi Lời Nhập thể, cả của con người vốn được tạo dựng nên “theo Hình Ảnh Thiên Chúa và giống như Thiên Chúa” (St 1, 26-27) sẽ không thể nào hiểu được cách đầy đủ và trọn vẹn nếu như chỉ được xem xét trên cơ sở những khái niệm tĩnh tại (statique) như bản thể, bản tính và yếu tính của khuynh hướng Triết học của Aristote, mà còn cần phải dựa trên cơ sở của những mối tương quan sống động giữa các “đối tác”, bởi vì Tình Yêu hay Sự Sống Tình Yêu vĩnh hằng không phải là một “sự vật” (une chose) mà là tương quan giữa các “đối tác” (partenaires) với nhau trong Tình Yêu…
Đàng khác, nếu con người được tạo dựng nên “theo Hình Ảnh của Thiên Chúa” mà vốn là chính Đức Giêsu-Kitô, thì giữa căn tính của Đức Giêsu-Kitô trước và sau biến cố Phục Sinh và căn tính cánh chung của con người hẳn phải có những tương quan mật thiết với nhau, và là trung gian lẫn cho nhau, nghĩa là càng hiểu về căn tính đích thực của Đức Giêsu-Kitô, người ta sẽ càng hiểu được chính xác hơn về căn tính cánh chung (hay đã được cứu độ) của con người, và ngưọc lại…

I.       CĂN TÍNH CỦA ĐỨC GIÊSU-KITÔ :
Đức Giêsu-Kitô, trong ngôn ngữ thần học tín lý, vừa là Thiên Chúa thật vừa là con người thật. Thần tính và nhân tính của Ngài hợp nhất với nhau trên cơ sở bản vị hay ngôi vị của Ngài: và thần học gọi đó là mầu nhiệm ngôi hiệp (union hypostatique). Vì thế, trong thân phận “tự hủy” (Kénose), có thể nói rằng tất cả mọi tương quan giữa Đức Giêsu-Kitô với Mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi đều phải được nhìn qua lăng kính mầu nhiệm ngôi hiệp nầy…
“Sở dĩ có được như vậy đối với sự siêu độ chúng ta, chính bởi vì Đức Kitô đã thực sự mang vào mình điều mà Ngài đã đến để siêu độ và đã chết cho (tức là nhân tính = toàn thể nhân loại : chú thích của tác giả [ctctg]). Ngài đã siêu độ điều mà Ngài đã tự hủy mình vào trong đó (nhân tính = nhân loại toàn thể : ctctg), tự hủy mình đến chết và chết trên thập giá. Ngài đã siêu độ điều mà chính Ngài đã nhận lấy như là của mình : Ngài đã siêu độ tất cả gì Ngài đã nhận lấy như là của mình; Ngài đã chỉ siêu độ điều mà Ngài đã nhận lấy như là của mình.”
Công trình siêu độ diễn ra nơi Đức Giêsu-Kitô, Ngôi Lời nhập thể nầy, trên thực tế, là công trình chung của cả Ba Ngôi Thiên Chúa. Và, có thể nói rằng toàn bộ hiện sinh của Đức Giêsu-Kitô đều mang tính cứu độ, bởi vì toàn bộ hiện sinh của Ngài đều thấm đẫm sự hiện diện của Mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi, hay nói cách khác đều “thuộc linh”, đặc biệt nơi biến cố “thụ nạn”, chết và phục sinh…
Tuy nhiên, nói như vậy, không có nghĩa hiện sinh trần thế của Ngài không phải trãi qua những cám dỗ, những thử thách cam go. Suốt cuộc hiện sinh trần thế của mình, Đức Giêsu-Kitô cũng đã phải đối diện với những cám dỗ, những thử thánh : tương quan giữa “thần tính” và “nhân tính” vốn là một cuộc chiến đấu trường kỳ cho đến tận cái “giờ” của thập giá (Lc 4, 1-13; Mt 4, 1-11; Mc 1, 12-13; Lc 22, 42; Mt 26, 39; Mc 14, 35-36; Mt 27, 46), Và, cuộc chiến đấu nầy chỉ chấm dứt trên thập giá, khi mà Đức Giêsu-Kitô, cách trọn vẹn, dâng hiến cho Cha tất cả, chẳng trừ lại gì cho mình, vì Tình Yêu tuyệt đối của Ngài đối với Cha và với loài người chúng ta (Ga 19, 30) : đó chính là “giờ” chiến thắng khải hoàn của Tình Yêu dâng hiến, “giờ” Con Người được tôn vinh (Ga 12, 23; 13, 31; v.v…), “giờ” Con Người được nhận ra như là Thiên Chúa (Ga 8, 28),  “giờ” Thiên Chúa được tôn vinh, “giờ” nhân tính của Đức Giêsu-Kitô hoàn toàn hợp nhất với thần tính của Ngài, “giờ” con người và Thiên Chúa giao hòa lại với nhau trong Đức Kitô, “giờ” con người được khôi phục lại dung mạo “là Hình ảnh của Thiên Chúa” trong Đức Giêsu-Kitô, “giờ” cái chết của Sự Chết, “giờ” tội lỗi bị đánh bại, “giờ” toàn thể nhân loại được siêu độ…

1.      Trong tương quan với Cha :
Trong thực tại nội tại của Mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi, tương quan giữa Con với Cha là ngang hàng, bình đẳng, đồng bản thể, đồng bản tính, v.v… Nhưng trong thân phận Thiên Chúa Nhập thể và tự hủy “vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta”, dù Đức Giêsu-Kitô, Ngôi Lời nhập thể, vốn được Cha sai đi, tự nguyện sống trong thân phận lụy phục Cha, tuân theo Thánh Ý của Cha, không toàn năng, không toàn tri, hoàn toàn như mọi người trong chúng ta, ngoại trừ tội lỗi (Pl 2, 6-8; Dt 4, 15), Ngài vẫn không khi nào thôi là Thiên Chúa, không khi nào thôi quan hệ mật thiết với Cha và với Thần Khí  :
“Ta và Cha, chúng ta là Một” [= “Moi et le Père nous sommes un”] (Ga 10, 30).
“Nhưng Ngài đáp lại : ‘Thì tại sao tìm con ? Lại còn không biết là con phải ở nơi nhà Cha con sao ?’.” (Lc 2, 49).
“Quả thật, quả thật, Ta bảo các ngươi : trước khi có Abraham, Ta chính là Ta” (Ga 8, 58).
Nhưng, trong thân phận nhập thể và tự hủy, Đức Giêsu-Kitô, Ngôi Lời Nhập thể đã chấp nhận “tình trạng mình phải trở thành” như thân phận loài người chúng ta:
“Cũng như Cha, Đấng hằng sống đã sai ta, và Ta sống bởi Cha…” (Ga 6, 57).
“Còn Hài nhi thì lớn dần và nên dũng mạnh, tràn đầy khôn ngoan. Và ân sủng của Thiên Chúa đậu trên Ngài.” (Lc 2, 40).
“Khi các ngươi nhắc Con Người lên cao, bấy giờ các ngươi sẽ biết : Chính là Ta, và tự Ta, Ta không làm gì; nhưng Cha đã dạy Ta làm sao, Ta nói vậy, và Đấng đã sai Ta ở với Ta; Ngài đã không bỏ Ta một mình, vì Ta hằng làm những sự đẹp  lòng Ngài.” (Ga 8, 28-29).
“Ngài, phận là phận của một vì Thiên Chúa, nhưng đã không nghĩ phải giằng cho được chức vị đồng hàng cùng Thiên Chúa. Song Ngài đã hủy mình ra không, là lĩnh lấy thân phận tôi đòi, trở thành giống hẳn người ta; đem thân đội lốt người phàm, Ngài đã hạ mình thấp hèn, trở thành vâng phục cho đến chết, và là cái chết thập giá ! Bởi vậy, Thiên Chúa đã siêu tôn Ngài !...” (Pl 2, 6-9).
“Dẫu là Con, Ngài đã phải đau khổ dãi dầu, mà học cho biết vâng phục. Và một khi thành toàn, Ngài đã nên nguyên nhân cứu rỗi đời đời cho những ai vâng phục Ngài…” (Dt 5, 8-9).
“Và vì chúng, Con xin hiến thánh mình Con, ngõ hầu chúng được tác thánh cách chân thật” (Ga 17, 19).
Mầu nhiệm Nhập thể và Tự hủy (Kénose), biến cố thụ nạn, sự tuân phục, cái chết, v.v…, tự chúng, không phải là mục đích, mà chỉ là phương tiện, công cụ để bày tỏ tình yêu của Đức Giêsu-Kitô đối với Cha và đối với loài người chúng ta : chính trong Tình Yêu mà tất cả hiện sinh của Đức Giêsu-Kitô mới mang tính siêu độ…
Tương quan giữa Đức Giêsu-Kitô, Ngôi Lời  Nhập thể và Cha của Ngài mật thiết đến độ Ngài đã có thể khẳng định : “Ta sống bởi Cha” (Ga 6, 57; xem thêm Gl 2, 20). Thật vậy, Đức Giêsu-Kitô đã sống “bởi” và “theo” Thần Khí của Cha đến độ Ý của Cha trở thành Ý của Con, và Thần Khí của Cha trở thành Thần Khí của Con, và ngược lại…

2.      Trong tương quan với Thần Khí Sự Sống :
Cũng như trong thực tại nội tại của Mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi, trong hiện sinh trần thế của Đức Giêsu-Kitô, Ngôi Lời Nhập thể, Thần Khí luôn hiện diện và đồng hành với Ngài, hướng dẫn Ngài, trong tư cách là Thần Khí của Cha, ngay từ khoảnh khắc nhập thể (Lc 1, 35) cho đến “giờ” của thập giá và phục sinh (Ga 19, 30): Ngài đã vâng Ý Cha hoàn hảo đến độ mà Ý Cha cũng đã trở nên là Ý của Con, và đã vâng theo Thần Khí của Cha đến độ Thần Khí của Cha cũng là Thần Khí của Con (Ga 4, 34; 5, 30; 6, 38-40). Và, trong tư cách là Thần Khí của Con, sau khi đã “giao nộp” tất cả, Thần Khí chính là “sở hữu” cuối cùng mà Con dâng hiến, giao nộp cho Cha, trong “giờ” của Thập giá. Đó chính là lúc mà Con, trong thân phận nhập thể, hoàn toàn sống sự sống mà Cha và Thần Khí trao ban : sự Sống Tình Yêu vĩnh hằng (Ga 6, 57), sự Sống Phục sinh, sự Sống cánh chung :
“Nếu chúng ta đi cho đến tận cùng những gì mà Ngôi Lời thông ban cho nhân tính của Ngài nơi việc tôn vinh mà Ngài đã dành cho xác thể của Ngài, chúng ta hẳn phải xoay ngược lại 180° công thức vốn gây gai chướng liên can đến các hành vi nhận làm của mình của các thầy dòng  Scythes “Chính một Đấng trong Ba Ngôi Vị Thiên Chúa đã phải đau khổ trong xác thể của mình” (“Unus de Trinitate passus est carne”) thành ‘một trong chúng ta đang ngự tòa bên hữu Cha’. Đây qủa là hạn từ diễn tả được sự trao đổi diệu kỳ, Ngôi Lời nhập thể và được vinh thăng, anh cả của bầy em đông đúc, khi ngự tòa bên hữu Cha đã cùng dẫn vào với mình trong sự sống Thiên Chúa-Ba Ngôi cả một bầy con đông đúc. Do những tương quan đã được Ngôi Lời dệt nên giữa Ngài và chúng ta trên cơ sở nhân tính của Ngài vốn đồng bản thể với chúng ta, nơi Ngài, như chỉ một Đấng duy nhất mà thôi, chúng ta tiếp cận với Sự Sống Mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi rất thánh.”
Trong ngôn ngữ Thánh Kinh, nói chung, giữa các khái niệm về “sự sống”, hay về “sự chết”, hay về sự phục sinh và sống lại không hoàn toàn giống nhau, và vì thế không đồng nghĩa với nhau.
a.       Thật vậy, trong Thánh Kinh bản Hy ngữ, có ba từ được sử dụng để chỉ về Sự Sống :
-        BIOS : từ nầy được Mc 12, 44 sử dụng nhằm diễn tả sự sống của con người xét như một cấu trúc sinh vật thể (vie du corps physique), bị khống chế bởi những qui luật vật lý, hoá học và không-thời gian (spatio-temporelles); theo ngôn ngữ của sách Sáng Thế : đó là con người “ađam” do từ bụi đất mà ra (xem St 2, 7); còn theo ngôn ngữ “tam tài” Đông phương: đó là yếu tố “Địa” (đất) nơi con người…
 “…Vì mọi người đều lấy của dư bỏ vào, còn bà ấy thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để có thể tiếp tục sống còn.”
-        PSUCHÈ : được Ga 10, 11.15.17 và 15, 13 dùng để chỉ về sự sống của con người xét như hữu thể có tự do để có thể chọn lựa nguyên lý sống cho mình, hoặc là “thuộc về Thần Khí” hoặc là “thuộc về xác thịt”, không hoặc ít bị khống chế bởi những qui luật vật lý, hóa học và không-thời gian; theo ngôn ngữ sách Sáng Thế : đó là con người “ađam” đã được Thiên Chúa hà hơi sống vào mũi nó và đã thành mạng sống (xem St 2, 7), vì thế, đó là một ân huệ Thiên Chúa ban cho; còn theo ngôn ngữ “tam tài” Đông phương : đó là yếu tố “Nhân” của con người…
    “Vì những ai theo xác thịt, thì hứng về những điều thuộc xác thịt; còn những ai theo Thần Khí, thì (hứng về) những điều thuộc Thần Khí. Nhưng, hứng theo xác thịt là chết; còn hứng theo Thần Khí là sống và bình an. Vì chưng, hứng theo xác thịt là làm nghịch với Thiên Chúa, vì không phục tùng luật của Thiên Chúa, vả lại cũng vô phương làm thế.” (Rm 8, 5-7 tt).
“Không có tình yêu nào vĩ đại hơn là tình yêu của kẻ dám thí mạng sống mình vì người mình yêu mến.” (Ga 15, 13).
-        ZOÉ : được Ga sử dụng ít nhất là 55 lần để chỉ về sự sống mà cái chết không thể nào đụng chạm tới được, vì theo Ga, đó chính là Sự Sống Thiên Chúa Tình Yêu, và Sự Sống đó chẳng có gì có thể làm cho biến dạng đi được hay hoàn toàn không thể bị khồng chế bởi những qui luật vật lý, hóa học và không-thời gian; theo ngôn ngữ sách Sáng Thế : đó là con người được tạo dựng nên “theo Hình Ảnh của Thiên Chúa”  (St 1, 26-27); còn theo ngôn ngữ “tam tài” Đông phương : đó là yếu tố “Thiên” nơi con người…
“Ai yêu mạng sống mình (psuchè) thì mất, và ai ghét mạng sống mình (psuchè) ở đời nầy thì sẽ giữ được nó cho sự sống vĩnh hằng (zoé).” (Ga 12, 25).
b.      Tương quan giữa ba “dạng thức sự sống” (bios, psuchè và zoé) :
Như vậy, lối nhìn của Thánh Kinh bản Hy ngữ có vẻ như khá tương đồng với cách nhìn “tam tài” của những người Đông Phương cổ : đối với những người Đông Phương cổ, con người cánh chung (thành nhân = quân tử) là tổng thể của những tương quan “Thiên-Địa-Nhân hòa” (hay nói theo ngôn ngữ của Raimon Panikkar SJ là “cosmothéandrique” ), và đó cũng là cái nhìn của 11 chương đầu của Sách Sáng Thế của Do Thái giáo.
Tuy nhiên, ở đây, cần lưu ý rằng lối nhìn “tam tài” vốn là biến thể của lối nhìn “âm-dương”. Thế mà, trong triết lý âm-dương của người Đông Phương cổ, có hai qui luật cơ bản :
-        Qui luật “thành tố” : không có gì hoàn toàn âm hoặc hoàn toàn dương, trong âm có dương và trong dương có âm.
-        Qui luật về “quan hệ” : Âm và dương luôn gắn bó mật thiết với nhau và chuyển hóa cho nhau : âm cực sinh dương, dương cực sinh âm .
Vì thế, nếu nói theo ngôn ngữ “tam tài” và “âm-dương”, phải chăng cũng có thể nói rằng trong “nhân” (psuchè) luôn luôn có “thiên” (zoé) và “địa” (bios), và trong “địa” (bios) luôn có “thiên” (zoé) và “nhân” (psuchè), và trong “thiên” (zoé) (trong thân phận nhập thể) cũng có “nhân” (psuchè) và “địa” (bios)… ? (xem Ga 1, 3; Cv 17, 28).
Trên cơ sở đó, chúng tôi cho rằng Ngôi vị của Đức Giêsu-Kitô, vì trong thân phận Ngôi Lời Nhập Thể, là một Ngôi vị cánh chung (Personne eschatologique), nên mang trong mình ba dạng thức sự sống (bios, psuchè, zoé), hoàn toàn giống như loài người chúng ta, ngoại trừ tội lỗi (Dt 4, 15), và ba dạng thức sự sống nầy dù tương quan mật thiết với nhau, nhưng vẫn có thể “trụ tồn ” (subsistent) cách riêng rẽ (xem Lc 23, 43; Ga 15, 13)…
Ở đây, như một thử nghiệm, chúng tôi mạo muội đề xuất một lối nhìn về căn tính của Đức Giêsu-Kitô, Ngôi Lời Nhập Thể, và kể cả căn tính cánh chung của con người và vũ trụ, trên cơ sở của triết lý “tam tài” vốn là gia sản của các tiền nhân của chúng ta, như một đóng góp nhỏ mọn nhằm đáp ứng lời kêu gọi của Hội Đồng Giám Mục Á Châu và kể cả của Hội Đồng Giám mục Việt Nam đã gửi đi từ khá lâu là hội nhập Tin Mừng vào nền Văn hoá bản địa…
c.       Ba “dạng thức sự sống” nơi Đức Giêsu-Kitô :
Trong tư cách là Ngôi Lời Thiên Chúa Nhập thể, trở thành người hoàn toàn như tất cả chúng ta, ngoại trừ tội lỗi (Dt 4, 15), Đức Giêsu-Kitô hẳn cũng mang trong mình ba dạng thức sự sống : sự sống của con người xét như cấu trúc sinh vật thể (Bios), sự sống của con người xét như hữu thể có tự do có thể chọn lựa sống theo Thần Khí hay sống theo xác thịt (Psuchè), và sự sống vĩnh hằng của con người sống Tình yêu của Thiên Chúa (Zoé).
Tuy nhiên, khác với chúng ta, vốn luôn mang trong mình khả năng phạm tội và cả những hành vi tội lỗi (Rm 5, 12-14), ở nơi Đức Giêsu-Kitô, dù trong thân phận Ngôi Lời Nhập Thể, vẫn không bao giờ phạm tội (Rm 5, 15-17; Dt 4, 15), ba dạng thức sự sống nầy hòa hợp được với nhau như là một để làm nên căn tính cánh chung của Ngài (identité). Trong toàn thể nhân loại, có lẽ chỉ có Đức Giêsu-Kitô và Mẹ của Ngài, Đức Maria là có được tình trạng hòa hợp trọn vẹn và hoàn hảo nầy ngay trong hiện sinh trần thế. Trong ngôn ngữ “tam tài” Đông Phương, vì thế, có thể nói rằng, nơi Đức Giêsu-Kitô và Đức Maria, Mẹ của Ngài, tình trạng “Thiên (Zoé)-Địa (Bios)-Nhân (Psuchè) hòa” đã đạt được tình trạng viên mãn ngay trong hiện sinh trần thế của các Ngài : tình trạng “thái hòa”. Đó là tình trạng mà trong ngôn ngữ Thánh Kinh được gọi là “luôn luôn tuân theo Thánh Ý Thiên Chúa” hay luôn luôn sống theo Thần Khí của Cha (xem Mt 6, 10; 26, 39; Ga 4, 34; Lc 1, 38; v.v…)…
Hay nói cách khác, đó là lúc lời ước nguyện của Kinh “Lạy Cha” trở thành hiện thực :
“Nguyện Danh Cha cả sáng; Nước Cha trị đến; Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên Trời” (Mt 6, 9-10).
Vì thế, có thể nói rằng Đức Giêsu-Kitô Phục Sinh chính là hiện thân của thực tại “tam tài” “Thiên-Địa-Nhân hòa” nầy, và cả Đức Maria nữa, trên cơ sở được “hưởng nhờ” (par participation) ơn cứu độ của Con Ngài là chính Đức Giêsu-Kitô. Đó có lẽ chính là lý do giải thích tại sao không cần phải đợi chờ đến ngày Quang Lâm, thân xác của Đức Giêsu-Kitô phục sinh và của Mẹ Maria đã được đưa ngay về trời một ít thời gian ngay sau khi “chết”…
d.      Hai “dạng thức chết” :
Trong ngôn ngữ Thánh Kinh, có hai “dạng thức chết” : sự chết của con người sống theo xác thịt (psuchè) và sự chết của con người xét như cấu trúc sinh vật thể  (bios).
-        Sự chết của con người sống theo xác thịt :
“…vì nầy con ta đây đã chết mà nay lại hoàn sinh, đã mất đi mà lại tìm thấy được” (Lc 15, 24.32).
Đứa con út trong dụ ngôn nầy (Lc 15, 11-32), trên cơ sở con người thể lý vật chất, rõ ràng là vẫn còn sống, nhưng đã chết, đã mất đi, trên cơ sở con người sống theo xác thịt. Và, nay nó hoàn sinh, được tìm thấy, vì đã từ bỏ cuộc sống cũ “xa cha”, “xa nhà”, “xa quê hương”, để quay trở về với cha mình, với anh em mình…
Như vậy, hậu quả chính của sự chết của con người sống theo xác thịt là sự xa cách trong tinh thần, trong tình yêu : xa cách Thiên Chúa, xa cách tha nhân, xa cách thiên nhiên vũ trụ và xa cách cả đối với bản thân mình…Có thể cùng chung sống bên nhau, cùng tồn tại bên nhau, nhưng vẫn không là gì đối với nhau, không hiện diện đối với nhau…
“Nhưng hứng theo xác thịt là chết; còn hứng theo Thần Khí là sống và bình an. Vì chưng, hứng theo xác thịt là làm nghịch với Thiên Chúa, vì không phục tùng luật của Thiên Chúa, vả lại cũng vô phương làm thế. Những ai theo xác thịt không thể làm hài lòng Thiên Chúa. Nhưng, anh em không theo xác thịt, mà là Thần Khí, nếu thực có Thần Khí Thiên Chúa cư ngụ trong anh em. Ai không có Thần Khí Đức Kitô, kẻ ấy không thuộc về Ngài. Nhưng, nếu Đức Kitô ở trong anh em, thì tuy thân xác vẫn là đồ chết, vì tội, nhưng Thần Khí là sự sống vì đức công chính. Nếu Thần Khí của Đấng đã cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết cư ngụ trong anh em, thì Đấng đã cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết cũng sẽ tác sinh thân xác chết dỡ của anh em, nhờ bởi Thần Khí của Ngài cư ngụ trong anh em.” (Rm 8, 6-11).
-        Sự chết của con người xét như cấu trúc sinh vật thể:
“…sau đó, Ngài lại bảo họ : ‘Lazarô, người bạn của chúng ta đã nghỉ yên; Ta phải đi đánh thức dậy !’ […]. Đức Giêsu có ý nói ông ấy đã chết, nhưng họ tưởng Ngài nói ông ấy đã ngủ được một giấc yên. Bấy giờ, Ngài nói trắng ra với họ : ‘Lazarô đã chết…’.” (Ga 11, 11.13-14).
Hậu quả của cái chết của con người thể lý vật chất, đã hẳn, cũng là những sự xa cách, nhưng trên cơ sở không-thời gian : không còn được nhìn thấy nhau, được sống chung với nhau, được yêu nhau, được bày tỏ với nhau, v.v… Trên cơ sở “thuộc linh” thì không hẳn vậy, bởi vì có trường hợp chết về mặt thể lý vật chất, nhưng trên cơ sở “thuộc linh”, vẫn còn đang sống (Mt 22, 31-32; Mc 12, 26-27; Lc 20, 37-38; 23, 43) :
“Còn về sự kẻ chết sống lại, các ông đã không đọc lời Thiên Chúa đã phán cùng các ông sao ? : Ta là Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaac, và Thiên Chúa của Giacóp ! Ngài không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, mà là của người sống !” (Mt 22, 31-32).

Ở đây, cũng có thể hiểu rằng Abraham, Isaac, Giacóp, tuy đã chết về mặt thể lý vật chất, nhưng trên cơ sở thuộc linh, vẫn còn đang sống…
“Quả thật, Ta bảo ngươi : Hôm nay, ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta !” (Lc 23, 43).
Điều lạ lùng ở đây, là Đức Giêsu tuyên bố cả hai “ngay hôm nay sẽ ở trên thiên đàng”, thế nhưng trong khi đó thì thân xác của cả hai ngay ngày hôm đó sẽ chết: thân xác của Đức Giêsu thì ngày thứ ba sẽ được phục sinh, còn thân xác của người “trộm lành” thì có lẽ còn phải đợi cho đến Ngày Quang Lâm (!)…Điều nầy cho thấy dù trong thân phận là người hoàn toàn như chúng ta, Đức Giêsu (và cả con người nơi dung mạo người trộm lành), dù thân xác đã chết (bios), vẫn có thể “sống” Sự Sống Tình Yêu vĩnh hằng trong tương quan của Mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi (psuchè và zoé).
e.       Nơi Đức Giêsu-Kitô, có ba “dạng thức sống”, nhưng chỉ có một “dạng thức chết” :
Như đã trình bày ở trên, nơi Đức Giêsu-Kitô, Ngôi Lời Nhập Thể, có ba dạng thức sống : sự sống của con người xét như cấu trúc sinh vật thể (bios), sự sống của con người xét như hữu thể có tự do có thể chọn lựa sống theo Thần Khí hay theo xác thịt (psuchè), sự sống vĩnh hằng của Tình Yêu Thiên Chúa (zoé)…
Trên cơ sở  sự sống Tình Yêu vĩnh hằng (Zoé), Đức Giêsu-Kitô không thể nào chết được, vì Ngài chính là Thiên Chúa-Tình Yêu. Trên cơ sở sự sống “thuộc linh” của con người mang trong mình xác thịt (Psuchè), Đức Giêsu-Kitô cũng không thể nào chết, bởi vì Ngài không bao giờ phạm tội, thế mà tội mới là nguyên nhân của sự chết “thuộc linh” (Rm 5, 12-21). Đức Giêsu-Kitô sống trong xác thịt, nhưng không sống theo xác thịt…
Như vậy, Đức Giêsu-Kitô chỉ có thể đã chết trên cơ sở con người xét như là cấu trúc sinh vật thể (la mort du corps physico-chimique), và đây là một sự chết thực sự của con người sống sự sống của sinh vật thể (Bios). Vì thế, vấn đề phục sinh Đức Giêsu-Kitô sẽ được đề cập đến bắt đầu từ hiện trường cái chết nầy…

3.      Sự Phục sinh Đức Giêsu-Kitô :
Trên cơ sở bởi vì, nơi Đức Giêsu-Kitô, Ngôi Lời Nhập thể, và cả nơi con người, vốn được tạo dựng nên “theo Hình Ảnh của Thiên Chúa và giống như Thiên Chúa”, có những dạng thức sống và chết khác nhau, nên việc xác định trên thập giá : “Ai chết ?” và rồi sau đó : “Ai sống lại ?” là những vấn đề hết sức phức tạp.
Thật vậy, khi đặt những vấn đề : “Ai chết ?” và “Ai sống”, trong ngôn ngữ triết học và thần học truyền thống, người ta thường hay nghĩ ngay tới vấn đề “bản ngã”, theo nghĩa là “cái Tôi được xác định bởi khái niệm bản thể” (le Moi substantif), hay “cái Tôi theo nghĩa như một cá thể người” (le Moi humano-corporel)…
Thế nhưng, khi nghiên cứu kỹ Thánh Kinh, người ta nhận ra rằng căn tính của Đức Giêsu-Kitô, Ngôi Lời Nhập thể và căn tính của con người là những căn tính có tính cánh chung, tương quan (relationnelle), “tam tài” (Thiên-Địa-Nhân hòa”)…Sở dĩ như thế, bởi vì cái làm nên căn tính các ngôi vị hay ngã vị (personnes) là Tình Yêu, tức là tương quan giữa các “đối tác” (partenaires) trong Tình yêu. Một thực tại “sống” và “động” như thế không thể nào có thể phản ảnh hết được chỉ bởi những khái niệm tĩnh tại, danh tính (substantif) như bản thể, bản tính hay yếu tính, mà phải được phản ảnh, chí ít, qua những khái niệm ngôi vị hay ngã vị (personne), bởi vì, cũng như trong Thần học về Mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi, những khái niệm ngôi vị trong cùng lúc có thể vừa bao hàm những khái niệm bản thể, bản tính, yếu tính, vừa bao hàm những khái niệm tương quan, mà theo chúng tôi ở đây là những tương quan tam tài “Thiên-Địa-Nhân hoà”, xét như là “Ngã vị  tam tài” (le Je “cosmothéandrique”)…
Đàng khác, trong ngôn ngữ Thánh Kinh, nội hàm ý nghĩa của các khái niệm “phục sinh”, “tái sinh”, “sống lại” và “trỗi dậy hay chỗi dậy”, v.v… không phải bao giờ cũng đồng nghĩa với nhau. Thật vậy,  thí dụ : sự phục sinh hay sống lại của Đức Giêsu-Kitô không hoàn toàn giống với sự sống lại của Lazarô (Ga 11, 1-44), hay của đứa con trai của bà góa thành Naim (Lc 7, 11-17), vì sự Phục sinh hay sống lại nơi Đức Giêsu-Kitô khiến cho Ngài “đã lên ngự mãi mãi bên hữu Thiên Chúa” (Dt 10, 12), còn Lazarô và đứa con trai của bà góa thành Naim dù đã được cho sống lại, nhưng sau đó rồi cũng phải chết như mọi người trong chúng ta…
Vậy thì vấn đề được đặt ra ở đây là từ Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh cho đến Ngày Chúa Nhật Phục Sinh, nơi Đức Giêsu, đã xãy ra những gì ?
a.       “Giờ Thập giá”, “Giờ” Thiên Chúa và con người được tôn vinh :
“Lạy Cha, giờ đã đến ! xin hãy tôn vinh Con Cha, ngõ hầu Con Cha tôn vinh Cha ! Như Cha đã ban cho Ngài quyền trên mọi xác phàm, ngõ hầu toàn thể những gì Cha đã ban cho Ngài, thì được Ngài ban cho sự sống vĩnh hằng. Sự sống vĩnh hằng tức là : chúng nhận biết Cha, Thiên Chúa độc nhất và chân thật, và Đấng Cha đã sai, Giêsu-Kitô. Con đã tôn vinh Cha dưới đất, đã chu toàn công việc Cha giao phó cho Con làm. Và bây giờ xin Cha tôn vinh Con nơi Cha, trong vinh quang Con đã có nơi Cha trước khi có thế gian.” (Ga 17, 1-5).
“Khi các ngươi nhắc Con Người lên cao, bấy giờ các ngươi sẽ biết : Chính là Ta, và tự Ta, Ta không làm gì; nhưng Cha đã dạy Ta làm sao, Ta nói vậy, và Đấng đã sai Ta ở với Ta; Ngài đã không bỏ Ta một mình, vì Ta hằng làm những sự đẹp  lòng Ngài.” (Ga 8, 28-29).
Tại sao “giờ” của Thập giá, của đau thương, khổ nhục, của thất bại, của chềt chóc lại được gọi là “giờ” của vinh quang, của chiến thắng, khải hoàn ? Bởi vì đó là “giờ chiến thắng” của Tình Yêu, Tình Yêu dâng hiến, chiến thắng một cách tuyệt đối, trọn vẹn, một lần thay cho tất cả.
Thật vậy, nơi nhân tính của Ngài mà vốn là hiện thân của toàn thể nhân loại mọi nơi và mọi thời, và mà Ngài đã nhận là của mình (appropriation), tội lỗi, sự chết, satan, ma qủi…đã bị đánh bại, đã bị tiêu diệt bởi Tình Yêu dâng hiến (Ga 12, 32). Và, điều đó có nghĩa là ở nơi nhân tính của Ngài, tội lỗi, satan, ma qủi, sự chết bị đánh bại, vì thế, đó là cái chết của Sự Chết, chứ không phải là sự chết của nhân tính của Ngài (xem Dt 10, 11-14)…
Chính nơi giây phút khi mà trên Thập giá Đức Giêsu dâng hiến tất cả những gì Ngài có và những gì Ngài là cho Cha của Ngài và “vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta”, đó chính là khoảnh khắc của chiến thắng, của vinh quang của Tình Yêu, tức cũng là của chính Thiên Chúa, bởi vì Thiên Chúa là Tình Yêu (1 Ga 4, 16; 15, 13). Đó chính là “giờ” chiến thắng của con người sống theo Thần Khí đối với con người ưa thích chiều theo xác thịt, hay nói cách khác, đó chính là “giờ chết” của Sự Chết (xem Rm 7, 14-23; 8, 5-11; 1 Pr 3, 18). Hay, nói theo ngôn ngữ Kitô học, đó chính là “giờ” mà nhân tính của Đức Giêsu-Kitô hòa hợp cách hoàn hảo nhất với thần tính của Ngài. Còn nói theo ngôn ngữ Đông phương, đó là “giờ” mà thực tại tam tài “Thiên-Địa-Nhân” được hòa hợp một cách trọn vẹn. Đó là “giờ” mà con người, trong nhân tính của Đức Giêsu-Kitô, giao hòa lại với Thiên Chúa nơi thần tính của Đức Giêsu-Kitô, với tha nhân, với thiên nhiên vũ trụ, và với cả chính bản thân mình (con người tìm lại được căn tính của mình : identité) : những tương quan nguyên thuỷ của “vườn địa đàng”…
Tóm lại, đối với Đức Giêsu-Kitô, “giờ thập giá” đó chính là khoảnh khắc mà sau khi đã dâng hiến tất cả (kénose), Ngài đã nhận lại được tất cả tử Cha (xem Ga 17, 1-5.10)…
b.      Đức Giêsu-Kitô trong khoảng thời gian từ “giờ Thập giá” đến Ngày Chúa Nhật Phục sinh :
Trong ngữ cảnh của câu chuyện Lazarô được làm cho sống lại (Ga 11, 1-44), khi Đức Giêsu nói : “Phục sinh và Sự Sống, chính là Ta !” (Ga 11, 25), điều đó, một đàng, có nghĩa có một sự phân biệt giữa hai khái niệm “sống lại” và “sự sống” và, đàng khác, có nghĩa nơi Đức Giêsu-Kitô trong cùng lúc có thể tồn tại tình trạng nghịch thường vừa “chết” mà lại vừa “sống”. Thật vậy, như chúng tôi đã có lưu ý trên đây, trong khoảng thời gian từ cái chết ở trên thập giá cho đến khi được phục sinh, một đàng,  trong tư cách con người xét như sinh vật thể, Ngài đã chết, và cái xác thể  mà Ngài đã nhận như là của mình (appropriation) đó vẫn nằm trong mộ đá, cho đến “ngày thứ ba” mới được phục sinh; đàng khác, trong tư cách con người luôn sống theo Thần Khí, Đức Giêsu-Kitô, dù thân xác chết, nhưng vẫn sống sự sống vĩnh hằng (xem Mt 22, 31-32 và ss; Rm 8, 1-4), và chính vì thế, trong khoảng thời gian đó, Đức Giêsu-Kitô mới có thể “nhân cơ hội, đã đi rao giảng cho các vong linh trong ngục” được (1 Pr 3, 19). Đây là điều không thể nào hiểu được trong chân trời khái niệm “bản ngã” tĩnh tại (statique) của triết học và thần học Kinh viện vốn lập căn trên triết học của Aristote và được coi như là “cái Tôi trên cơ sở bản thể” (le Moi substantif), đã được xác định sẵn, đã “hoàn tất”, không có gì phải biến đổi, không có gì để trở thành, phi lịch sử… Nơi Đức Giêsu-Kitô, Ngôi Lời Nhập Thể, căn tính của Ngài là một thứ căn tính cánh chung, căn tính “tam tài” (Thiên-Địa-Nhân hòa = “cosmothéandrique”), và vì thế là một căn tính “động” và “hằng sống”, vừa “đã hoàn tất” (déjà) [nơi chính Ngài] vừa “đang đang bắt đầu” (pas encore) [nơi nhân loại được hiểu vừa theo nghĩa cá thể vừa theo nghĩa tập thể]. Vì thế, khái niệm “cái Tôi trên cơ sở bản thể” hay “bản ngã” của triết học mang màu sắc Kinh viện không đủ khả năng “cáng đáng” được căn tính cánh chung và “tam tài” nầy. Cần phải sử dụng một khái niệm khác có tính năng động và “mở” hơn, như “Ngôi Vị hay Ngã vị tam tài”, chẳng hạn, khi liên quan đến Đức Giêsu-Kitô, Ngôi Lời Nhập thể…
Cái kinh nghiệm thuộc linh mà Thánh Phaolô đã cảm nghiệm được : “Tôi sống, nhưng không còn là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2, 20) có lẽ sẽ có thể giúp chúng ta hiểu được phần nào vấn đề căn tính hay ngã vị tam tài nầy. Tình trạng “vừa là tôi”, “vừa là Đức Kitô” chỉ có thể hiểu được trong chân trời hai ngã vị nầy hợp nhất với nhau nên một, như khi Đức Giêsu khằng định :
 
“Ta với Cha là một” (Ga 10, 30).
“…Ai đón nhận kẻ Ta sai đến, là đón nhận Ta, và ai đón nhận Ta, tức là đón nhận Đấng đã sai Ta” (Ga 13, 20).
“Ta sống bởi Cha” (Ga 6, 57)…
Ở đây, sự phân biệt giữa những ý niệm “Tôi” (Je), “Anh” (Tu) và “Nó” (Il) cõ lẽ chỉ là tương đối (notions relatives), bởi vì đó vốn là những ý niệm ám chỉ những tương quan (notions relationnelles)…
Những hình ảnh “Thân nho và nhánh nho” (Ga 15, 5) hay “Thân mình của Đức Kitô : Đức Kitô và các chi thể” (Rm 12, 4.5; 1 Cr 10, 17; 12, 12.14-27) nhằm để diễn tả những tương quan giữa Đức Giêsu-Kitô và con người, cũng đi theo chiều hướng ý nghĩa đó…
Chính vì thế, theo thiển ý, nơi Đức Giêsu-Kitô, không nên đặt vấn đề cách chung chung và theo kiểu thông thường như từ trước đến nay người ta vẫn thường làm : “Ai chết ?” và “Ai sống lại hay Ai phục sinh ?”, mà là : “Sự sống nào chết và được phục sinh ?”; hay “Cái chết của Sự Chết nào ?” và “Sự phục sinh cho sự sống nào ?”, v.v… 
c.       Đức Giêsu-Kitô phục sinh :
Trong biến cố Thập giá và Phục sinh, sự sống nào của Đức Giêsu đã chết và đã được phục sinh ?
i.       Trước tiên, nơi Đức Giêsu-Kitô phục sinh, sự sống của con người “psuchè” và sự sống của con người “zoé” hợp nhất với nhau nên một và tràn ngập Thần Khí, vì thế, không thể nào “chết” được. Và chính trong nhân tính khải hoàn đó của Đức Giêsu-Kitô mà toàn thể nhân loại chúng ta mọi nơi và mọi thời cũng được phục sinh (Dt 10, 12-14; 11, 39-40). Hay nói theo ngôn ngữ Kitô học, nhân tính của Ngài hòa hợp cách trọn vẹn với thần tính của Ngài, tức là được thần linh hoá, được thánh hoá bởi Thần Khí của Ngài và được tham dự vào sự sống mới của Mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi, hay nói cách khác, được khôi phục lại là “Hình Ảnh của Thiên Chúa” : theo ngôn ngữ kinh điển, đó là “được siêu độ”…

ii.      Thứ đến, liên quan đến con người “ađam” (bios) nơi Đức Giêsu-Kitô. Hầu như tất cả các tường thuật của Tân Ước về biến cố Phục sinh đều cho chúng ta có cảm tưởng là có cái gì đó vừa giống vừa không giống nơi Đức Giêsu phục sinh so với Đức Giêsu tiền phục sinh…
-        Thật vậy, thân xác của Đức Giêsu-Kitô phục sinh bề ngoài vẫn như trước, cùng với những dấu đinh đâm thâu qua và vẫn ăn vẫn uống như người thường (xem Ga 20, 27; Lc 24, 36-43), nhưng tự bên trong đã được biến đổi một cách sâu xa, để cùng với thân xác đó từ nay, vượt ra ngoài sự khống chế của những qui luật vật lý và không-thời gian, Ngài có thể hiện diện trong cùng lúc khắp mọi nơi và mọi thời, và để “ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28, 20; xem thêm Pl 2, 8-11; Ga 20, 19.26; Lc 24, 31.36.51).
Nhưng, ở đây, cũng cần lưu ý rằng tình trạng không bị khống chế bởi những qui luật vật lý và không-thời gian nầy đã có nơi Đức Giêsu tiền phục sinh (Ga 6, 19; Mc 7, 49-50; Mt 14, 25-26). Và, các Tông đồ và các môn đệ của Đức Giêsu-Kitô, sau khi Ngài đã phục sinh và thăng thiên, ngoài khả năng thoát khỏi sự không chế của những định luật vật lý và không-thời gian (Cv 8, 39-40), họ còn có cả những quyền năng gần giống như Thầy của họ khi còn “tại thế” (Ga 14, 12-14; Cv 5, 12-16; 9, 32-42; v.v…).  Có vẻ như tất cả quyền năng mà Đức Giêsu-Kitô có đều do Thần Khí của Cha, và tất cả quyền năng mà các Tông đồ và các môn đệ của Ngài có đều do Thần Khí của chính Ngài, tức là Thần Khí của Con (xem Ga 6, 57)…
Điều đó có nghĩa là Đức Giêsu-Kitô sống trong xác thịt, nhưng không sống theo xác thịt, như kiểu sống trong thế gian mà không thuộc về thế gian (Ga 17, 14.16). Đó chính là cơ sở nền tảng của những chiều kích vũ trụ (Địa), chiều kích nhân loại (Nhân) và chiều kích thuộc thiên (Thiên) của Đức Giêsu-Kitô Phục sinh : điều nầy chứng tỏ cho thấy Đức Giêsu-Kitô phục sinh cùng với nhân tính của Ngài vẫn chính là Ngôi Lời vĩnh hằng của Thiên Chúa, Đấng mà từ Ngài, toàn bộ công trình tạo dựng đã được hoàn tất :
“Mọi sự đã nhờ Ngài (=Ngôi Lời) mà thành sự, và không Ngài thì không gì đã thành sự. Điều đã thành sự nơi Ngài là sự Sống và sự Sống là sự Sáng cho nhân loại, và sự Sáng rạng trong tối tăm, và tối tăm đã không triệt được sáng.” (Ga 13-5).
-        Không thể được nhận ra ngay tức khắc : có thể có hai nguyên nhân để Đức Giêsu-Kitô phục sinh không được nhận ra ngay tức khắc : nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan :
Nguyên nhân khách quan : ở nơi Đức Giêsu-Kitô phục sinh, đã có một cái gì đó khang khác so với tình trạng tiền phục sinh của Ngài, như đã được ghi nhận nơi phần b.1 trên đây. Ngoài ra, nếu nói theo ngôn ngữ của Mc, “với một hình dạng khác, Ngài đã tỏ mình ra cho…” (Mc 16, 12), có khi như “người làm vườn” (Ga 20, 15), có khi như người hành hương dự lễ Vượt qua nào đó đang quay trở về nhà mình (Lc 24, 15-18), thậm chí có khi còn như là “ma” (Lc 24, 37)…
Nguyên nhân chủ quan : việc Đức Giêsu-Kitô phục sinh không được các môn đệ của Ngài nhận ra ngay tức khắc, một phần có lẽ cũng phát xuất từ những thành kiến hay tiên kiến của họ : không hoàn toàn tin có sự sống lại, không tin nên quên những gì Đức Giêsu đã loan báo trước về những biến cố nầy, tóm lại, chưa thực sự tin nơi Đức Giêsu-Kitô (xem Lc 24, 25-27; Mc 16, 11.13.14). Với những tình trạng “thiếu lòng tin” như thế, cộng thêm với những tâm trạng hụt hẫng, buồn bả, thất vọng, chán nản, lo âu, sợ hãi, v.v…, làm sao họ có thể đủ tỉnh táo và sáng suốt để nhận ra ngay được kẻ mà mình gặp đó chính là Thầy mình? Họ cần phải được “nhắc nhở lại” những kỷ niệm ngày xưa của những tương quan giữa Thầy và trò, như giọng nói đầy thân thương của Đức Giêsu với Maria thành Magđala (Ga 20,16), như cái cách thức “Ngài cầm lấy bánh, chúc tụng, đoạn bẻ ra và trao cho họ…” đối với hai môn đệ trên đường về Emmau (Lc 24, 30-31), như cái cách thức hành xử của Đức Giêsu đối với người môn đệ được Đức Giêsu yêu mến (Ga 21,7; Ga 20,8)…; họ cần phải được “nhắc nhở lại” và “giải thích lại” những gì đã được loan báo trước cho họ bởi Đức Giêsu và bởi Thánh Kinh (Lc 24,8.27.44-46; Ga 20,9)…  
Tóm lại, nơi Đức Giêsu-Kitô Phục sinh, nếu nói theo ngôn ngữ ngôi hiệp, nhân tính của Ngài hoàn toàn được hợp nhất với thần tính của Ngài như một; còn nếu nói theo ngôn ngữ “tam tài” Đông phương, nơi Đức Giêsu-Kitô Phục sinh, Thiên-Địa-Nhân hoàn toàn hòa hợp với nhau nên một, hay còn được gọi là tình trạng “thái hòa” (cosmothéandrique)…
Và, bởi vì con người vốn được tạo thành nên “theo Hình Ảnh của Thiên Chúa” (St 1, 26-27), hay nói cách khác, theo hình ảnh của Đức Giêsu-Kitô, vì Đức Giêsu-Kitô chính là Hình ảnh hữu hình của Thiên Chúa vô hình (Cl 1, 15), nên căn tính của con người cánh chung cũng phải được xem xét qua lăng kính căn tính của Đức Giêsu-Kitô Phục sinh, như là nguyên mẫu (prototype)…

II.      CĂN TÍNH CÁNH CHUNG CỦA CON NGƯỜI:
Khi nói căn tính của con người là căn tính cánh chung (identité eschatologique), điều nầy nhằm muốn nói lên rằng: căn tính của con người, tự căn cơ, vốn là một căn tính đã được siêu độ, đã được thần linh hoá, là căn tính mà trong đó mọi kẻ thù của con người (tội lỗi, satan, sự chết…) đã bị Đức Giêsu-Kitô đánh thắng và tiêu diệt nơi nhân tính “phục sinh” của Ngài, một lần và vĩnh viễn...
Ngoài ra, Thánh kinh cũng chứng tỏ cho thấy căn tính cánh chung của con người vừa mang chiều kích cá nhân vừa mang chiều kích tập thể nhân loại (Dt 10, 12-14; 11, 40; 1 Cr 15, 22-28) :

1.      Chiều kích cá nhân :
“…Vì bởi việc tiến dâng độc nhất, Ngài đã làm cho những kẻ được tác thánh nên thành toàn mãi mãi…” (Dt 10, 14).
Nền thần học và triết học kinh điển của chúng ta thường quá bị ám ảnh bởi những khái niệm triết học của Aristote như những khái niệm “bản thể”, “yếu tính” và “bản tính”, vốn là những khái niệm “tĩnh”, nên thường cũng có những khái niệm quá “tĩnh” về những khái niệm “ngôi vị”, “ngã vị”, v.v…, vốn là những thực tại sống và năng động. Trong khi, quan niệm “sắc sắc, không không” của Phật giáo hàn lâm có vẻ như hoàn toàn ngược lại, chỉ quan tâm đến khía cạnh động và biến dịch không ngừng, nên lơ là với những khái niệm ngôi vị và ngã vị…
Trong các Danh xưng Thiên Chúa, ngôn ngữ Thánh Kinh luôn luôn là một thứ ngôn ngữ “động” và “sống” (dynamique et vivant), ngôn ngữ của các động từ, của các tính từ, ngôn ngữ của các tương quan, và vì thế, luôn mang chiều kích lịch sử : “Thiên Chúa của Abraham, của Isaac, của Giacop…” (Xh 3, 6),  “Ta là Đấng hằng hữu” [“Je suis qui je suis”] (Xh 3, 14), “Emmanuel” [“Thiên Chúa ở cùng chúng ta” = Dieu avec nous] (Is 7, 14; 8, 8; Mt 1, 23), Giêsu = Thiên Chúa là Đấng cứu [“Dieu qui sauve”] (Mt 1, 21-25). Thậm chí, cả cái danh xưng “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1 Ga 4, 16) cũng là một thứ ngôn ngữ “động”, bởi vì khi nói “yêu” có nghĩa là phải có tương quan với “ai đó” hay với “cái gì đó” : Tình yêu, thật vậy, nói theo ngôn ngữ của Rabindranat Tagore, chính là nơi hò hẹn, không chỉ giữa Thiên Chúa-Ba Ngôi với nhau, mà còn là nơi hò hẹn giữa Mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi và con người, giữa vĩnh hằng và thời gian…
 Và, điều đó có nghĩa người ta không thể đặt vấn đề Thiên Chúa “là gì ?”, trước khi đặt vấn đề Thiên Chúa “là Ai ?”. Một thứ ngôn ngữ “tĩnh” với những khái niệm như kiểu bản thể, yếu tính, bản tính, v.v…, không thể nào tát cạn hết được Mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi với các Ngôi Vị hằng sống được, kể cả đối với con người, vốn được tạo dựng nên “theo Hình Ảnh của Thiên Chúa và giống như Thiên Chúa” (St 1, 26-27).
Từ trước đến nay, có vẻ như khi nhìn về căn tính của con người cánh chung, người ta thường nhìn nó qua lăng kính một thứ bản ngã cá vị như đã được xác định sẵn. Và, khái niệm “bản ngã” hay “cái tôi” nầy thường được nhìn qua lăng kính của một thứ khái niệm tĩnh tại về con người xét như là một bản thể có xác thể mà người ta cho là đã biết là nó phải thế, và thường được “khoanh vùng” hay “định nghĩa” trong vòng đai của sự sống theo nghĩa “bios” và sự sống theo nghĩa “psuchè”. Một cái nhìn đầy đủ về con người và về căn tính cánh chung của con người có lẽ sẽ đầy đủ hơn và tốt hơn nếu như được nhìn qua lăng kính “tam tài” “Thiên-Địa-Nhân hoà” của Đông phương và của 11 Chương đầu của Sách sáng thế.
Căn tính “tam tài” của con người trước tiên mang chiều kích cá thể. Và bởi vì vừa trong tư cách là một sinh vật thể (bios), vừa trong tư cách là một hữu thể có tự do (psuchè), dìm mình trong thế giới vật chất, thế giới hoá học và vật lý, vốn bị không chế bởi những qui luật không-thời gian, và những qui luật xã hội, căn tính của con người luôn là một cái gì đó “đang trở thành” (xem Lc 2, 52), và lệ thuộc những môi trường vật chất và xã hội vốn luôn có thể đồi thay đó, và chỉ hoàn tất trong ngày Quang lâm, khi thời gian “viên mãn” (Ga 6, 44.54). Những dụ ngôn về Nước Trời của Đức Giêsu phản ảnh cho chúng ta những khía cạnh nầy của căn tính cánh chung của con người, cách hoàn hảo nhất.
“Ai ăn thịt và uống máu Ta thì có sự sống vĩnh hằng, và Ta sẽ cho nó sống lại trong ngày sau hết.” (Ga 6, 54).
Ga 6, 54 có vẻ như cho chúng ta thấy “sự sống vĩnh hằng” là điều mà chúng ta có thể sở đắc được ngay trong cuộc sống trần thế nầy : thì hiện tại của động từ chứng tỏ điều đó. Còn “sự sống lại” thì phải đợi chờ cho đến “ngày sau hết” hay là ngày Quang lâm : thì tương lai của động từ cho phép hiểu như thế. Điều đó có nghĩa dù thân xác chết của con người phải đợi chờ cho đến “ngày sau hết”, nhưng “con người” vẫn có thể sống được sự sống vĩnh hằng hay sự sống Tình yêu của Thiên Chúa, ngay khi còn “tại thế” và cả sau khi thân xác chết.
Chiều kích cánh chung chính là chiều kích con người được sống sự sống vĩnh hằng, sự sống Tình yêu của Thiên Chúa-Ba Ngôi. Như chúng tôi đã có lưu ý trên đây, Tình Yêu chính là nơi hò hẹn, không chỉ của Ba Ngôi Thiên Chúa với nhau, mà còn là nơi hò hẹn của Mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi với loài người, của vĩnh hằng với thời gian…Tình Yêu chính là cái “Hôm Nay” trong tương quan giữa Thiên Chúa và con người…
“Sự sống vĩnh hằng tức là : chúng nhận biết Cha, Thiên Chúa độc nhất và chân thật, và Đấng Cha đã sai, Giêsu-Kitô.” (Ga 17, 3).
Chính vì thế, Đức Giêsu trên thập giá đã có thể nói với người trộm “lành” :
“Và Ngài đã nói với hắn : ‘Quả thật, Ta bảo ngươi : Hôm nay, “ngươi” sẽ ở trên thiên đàng làm một với Ta !’,” (Lc 23, 43).
Dĩ nhiên, ngay “hôm nay”, anh ta (người trộm “lành”) sẽ ở trên Thiên Đàng với Đức Giêsu-Kitô, nhưng xác thân của anh ta và cả của Đức Giêsu vẫn sẽ còn nằm đó trong các mộ phần. Điều đó có nghĩa là các khái niệm mà chúng thường dùng để diễn tả căn tính của con người như “bản ngã”, “cái tôi”, v.v…, như một thứ bản thể cứng ngắc, ổn định cả rồi và luôn phải có xác thể, có cái gì đó chưa ổn. Những hạn từ mà Đức Giêsu đã dùng như “ngươi” (Tu) và “Ta” (Je) trong Lc 23, 43 sẽ không thể nào hiểu được nếu được xem xét qua lăng kính khái niệm “bản ngã bản thể” của nền thần học kinh điển của chúng ta.
Như vậy, sự sống vĩnh hằng không phải là một điều gì đó sẽ chỉ hiện diện sau khi chết, hay chỉ trong Ngày Quang lâm, mà nó đã hiện diện ngay trong thời gian của chúng ta, cùng với sự hiện diện của Đức Giêsu-Kitô. Chính Đức Giêsu-Kitô là cái “Hôm nay” đó (Lc 4, 21; Ga 6, 54-56), là hiện thân của Vương quốc Thiên Chúa, là hiện thân của chính Thiên Chúa…
“Đức Giêsu-Kitô hôm qua và hôm nay vẫn là một, và cho đến muôn đời” (Dt 13, 8).
“…Ai không có Thần Khí của Đức Kitô, kẻ ấy không thuộc về Ngài. Nhưng, nếu Đức Kitô ở trong anh em, thì dầu thân xác anh em có phải chết vì tội đã phạm, Thần Khí cũng ban cho anh em được sống, vì anh em đã được trở nên công chính.” (Rm 8, 9-10).
“…Ai tin vào Ta thì dẫu chết cũng sẽ sống; và mọi kẻ sống cùng tin vào Ta sẽ không phải chết bao giờ…” (Ga 11, 25-26).
“Và nầy Ta sẽ ở với các ngươi mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28, 20).
“Ai ăn thịt và uống máu Ta thì có sự sống vĩnh hằng, và Ta sẽ cho nó sống lại trong ngày sau hết.” (Ga 6, 54).
Về vấn đề thân xác của “con người” sẽ được sống lại trong “ngày sau hết”, tác giả của Thư gửi tín hữu Côrinthô đã cho biết quan điểm của mình như sau:
“…Nhưng, có người nói, kẻ chết sống lại thế nào ? Họ sẽ lấy thân xác nào mà về lại ? Đồ ngu ! Cái ngươi gieo có sống được không, nếu không chết đã? Và, cái ngươi gieo, hẳn không phải là hình thể sẽ hóa ra sau mà người gieo, nhưng là một hạt trơ trụi, tỉ như hạt lúa hay thứ giống nào khác. Nhưng, Thiên Chúa cho nó một hình thể như Ngài đã muốn, giống nào có hình thể nấy. Không phải xác nào xác nấy như nhau cả ! Nhưng, xác người ta khác, xác súc vật khác, […]. Cũng vậy, về sự kẻ chết sống lại : gieo xuống trong hư hoại, sống lại trong bất hoại; gieo xuống trong ô nhục, sống lại trong vinh quang; gieo xuống trong yếu đuối, sống lại trong quyền năng; gieo xuống là xác khí huyết, sống lại là xác thần thiêng ! Nếu có xác khí huyết, thì cũng có xác thần thiêng. Ađam-người thứ nhất đã thành sinh khí sống động; còn Ađam cuối cùng đã nên thần khí tác sinh. Nhưng, không phải thần thiêng có trước mà là khí huyết, rồi mới đến thần thiêng. Người thứ nhất do tự đất, là người trần ai; người thứ hai do tự trời. Người trần ai kia sao, các người trần ai khác cũng vậy. Người thiên thai kia sao, các người thiên thai khác cũng vậy. Và, cũng như ta đã mang hình ảnh người trần ai, ta cũng hãy mang lấy hình ảnh của người thiên thai !...Nầy đây mầu nhiệm tôi xin nói với anh em  : Ta sẽ không chết hết thảy, nhưng hết thảy ta sẽ được biến đổi…Vì chưng, cái hư hoại nầy sẽ mặc lấy bất hoại, đồ chết dỡ nầy sẽ mặc lấy trường sinh bất tử.” (1 Cr 15, 35-53). 
Như chúng tôi đã lưu ý trên đây, nguyên mẫu của tình trạng nầy chính là Đức Giêsu-Kitô Phục sinh, và Đức Maria, Mẹ của Ngài. Nhưng, vấn đề đặt ra là tại sao thân xác của Đức Giêsu và của Đức Maria thì được hưởng ngay những đặc tính bất hoại và trường sinh bất tử ngay sau khi chết với một khoảng thời gian ngắn ngủi, còn thân xác của loài người chúng ta thì không, và phải đợi chờ mãi cho đến Ngày Cánh chung mới được sống lại ?  Theo thiển ý, bởi vì căn tính cánh chung của con người còn mang chiều kích tập thể nhân loại và lịch sử…

2.      Chiều kích tập thể nhân loại :
Trong thân phận thụ tạo của mình, dù đã được siêu độ, căn tính cánh chung của con người cũng không thể nào so sánh được với căn tính của Đức Giêsu-Kitô Phục sinh hay với tình trạng “thái hòa” nguyên mẫu nơi Đức Giêsu-Kitô Phục sinh, bởi vì, một đàng, căn tính cánh chung của chúng ta vốn là căn tính cánh chung “được tham dự” và mang tính lịch sử, vừa cá thể vừa tập thể…
Là căn tính cánh chung được tham dự, vì thế, nói theo ngôn ngữ thần học kinh điển, luôn bao hàm hai khía cạnh bề ngoài có vẻ nghịch lý : vừa là “cái đã có” (le “déjà là”) vừa là “cái chưa hoàn tất” (le “pas encore”); hay, nói theo ngôn ngữ triết học, là điều đã có đó, đã hiện hữu đó, nhưng chưa hiện diện đối với…
Vì thế, căn tính cánh chung được tham dự luôn bao hàm chiều kích lịch sử, chiều kích “đang trở thành” như tác giả của Thư gửi tín hữu Do thái hé lộ cho chúng ta thấy được một phần nào khía cạnh đó…
Thật vậy, tác giả của Thư gửi tín hữu Do thái ngoài việc để lộ cho thấy chiều kích cá thể còn hé lộ cho chúng ta thấy chiều kích tập thể nhân loại nầy :
“…thì sau khi đã dâng  lễ tế độc nhất của Ngài vì tội lỗi, Ngài đã lên ngự mãi mãi bên hữu Thiên Chúa, từ nay đợi cho quân thù  của Ngài phải đặt làm bệ chân Ngài. Vì bởi việc tiến dâng độc nhất, Ngài đã làm cho những kẻ được tác thánh nên thành toàn mãi mãi.” (Dt 10, 12-14).
“Thiên Chúa, vì dự liệu cho ta một cái gì hoàn hảo hơn, (thì đã không để) họ (những người đã chết trước công trình cứu độ của Đức Giêsu-Kitô) đạt thấu thành toàn mà lại không có chúng ta.” (Dt 11, 40).
Còn tác giả của Thư thứ nhất gửi tín hữu Côrinthô thì giải thích như sau :
“…Quả thế, cũng như nơi Ađam, mọi người đều phải chết, thì trong Đức Kitô, mọi người cũng sẽ được tác sinh. Nhưng ai theo thứ tự nấy, tiên thường là Đức Kitô, rồi đến các kẻ thuộc về Đức Kitô, vào buổi Quang lâm của Ngài. Rồi sẽ là cùng tận, lúc Ngài trao trả  vương quyền cho Thiên Chúa và là Cha, sau khi đã hủy ra không, mọi thiên phủ, mọi uy thế và quyền năng. Vì Ngài phải giữ quyền vua cho đến khi Ngài đặt mọi địch thù dưới chân Ngài. Địch thù cuối cùng bị hủy ra không là sự chết…Khi nói : muôn sự đều phải phục quyền, thì đã rõ là chỉ trừ Đấng đã bắt muôn sự phục quyền Ngài. Vì khi mọi sự đã phục quyền Ngài, thì bấy giờ Con cũng sẽ phục quyền Đấng đã bắt mọi sự phục quyền mình, ngõ hầu Thiên Chúa là tất cả trong mọi sự.” (1 Cr 15, 22-28).
Điều đó chứng tỏ cho thấy rằng vận mạng của con người không phải chỉ là vấn đề cá nhân mà luôn liên quan đến toàn thể nhân loại. Thật vậy, vận mạng của toàn thể nhân loại vốn liên đới với nhau : liên đới trong hiện hữu, liên đới trong sự sống, liên đới trong tội lỗi, liên đới trong sự chết, liên đới trong khổ đau, liên đới trong hạnh phúc, liên đới trong sự sống lại, liên đới trong Phục sinh, liên đới trong vinh quang, và liên đới trong việc thành toàn nhân tính, v.v…
Chiều kích cánh chung chính là chiều kích con người được sống sự sống vĩnh hằng, sự sống Tình yêu của Thiên Chúa-Ba Ngôi. Như chúng tôi đã có lưu ý trên đây, Tình Yêu chính là nơi hò hẹn, không chỉ của Ba Ngôi Thiên Chúa với nhau, mà còn là nơi hò hẹn của Mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi với loài người, của vĩnh hằng với thời gian…Tình Yêu chính là cái “Hôm Nay” trong tương quan giữa Thiên Chúa và con người và là cái ”Hôm nay” của toàn thể nhân loại hay nói cách khác là của toàn thể Giáo hội…
Như vậy, “trong thời gian : Hôm nay”, liệu con người vẫn có thể “sống” (zoé) mà không cần có sự hiện hữu của thân xác của mình chăng ? Chúng tôi cho rằng không phải hoàn toàn không cần xác thể, mà khi “sống” sự sống vĩnh hằng, trong thời gian, hoặc cả sau khi đã chết cách thể lý, con người “sống” trong nhân tính đã hợp nhất với thần tính của Đức Giêsu-Kitô mà đỉnh cao là trên thập giá (thí dụ trường hợp người trộm “lành”), như chúng tôi đã phân tích trên đây, và đặc biệt, trong thân xác phục sinh của Ngài (đối với tất cả loài người chúng ta) :
“Ngay hôm nay, ngươi sẽ ở trên thiên đàng làm một với Ta” (Lc 23, 43; xem thêm Mt 28, 20; Rm 14, 7-9).
“Ai ăn thịt và uống máu Ta thì có sự sống vĩnh hằng, và Ta sẽ cho nó sống lại trong ngày sau hết.” (Ga 6, 54).
Chính vì thế, thánh Phaolô đã có thể khẳng định : “Tôi sống, nhưng không còn là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi.” (Gl 2, 20). Gl 2, 20 không chỉ có nghĩa là căn tính “ngã vị” của con người cánh chung cắm rễ sâu trong căn tính “ngôi vị ngôi hiệp” của Đức Giêsu-Kitô phục sinh, mà còn có nghĩa ngã vị của con người có thể hợp nhất (chứ không đồng hoá đến độ biến tan đi như giọt nước hoà tan trong biển cả) nên một với Ngôi Vị ngôi hiệp của Đức Giêsu-Kitô phục sinh, hay nói cách khác, căn tính ngã vị cánh chung của con người là một căn tính “được tham dự” (une identité participée).
Để diễn tả sư hiệp nhất và liên đới giữa ngã vị cánh chung của con người và Ngôi Vị ngôi hiệp của mình, Đức Giêsu đã dùng hình ảnh mối tương quan giữa “cây nho” và “nhánh nho” :
“Cây nho chính là Ta, các ngươi là nhánh. Ai lưu lại trong Ta và Ta trong kẻ ấy, thì nó sinh nhiều quả, vì ngoài Ta, các ngươi không thể làm gì” (Ga 15, 5).
Thánh Phaolô thì sử dụng hình ảnh “thân mình” và “các bộ phận” hay “các chi thể” :
“Vì cũng như thân mình chỉ là một, nhưng lại có nhiều bộ phận, và hết thảy các bộ phận nầy tuy là nhiều cũng chỉ là một thân mình, thì Đức Kitô cũng vậy.” (1 Cr 12, 12 tt).
Hai hình ảnh nầy cho thấy, một đàng, giữa Đức Kitô và nhân loại toàn thể nói chung hợp nhất với nhau thành chỉ còn là một “thân mình chung” không thể chia cắt hay tách rời ra; và đàng khác, đây là một “thân mình” sống chung cùng một “sự sống”,  hay sống nhờ cùng một thứ nhựa sống duy nhất chung cho toàn thể : ở đây, khái niệm “bản ngã bản thể” lẻ loi, đơn độc của khuynh hướng triết học và thần học kinh điển nói chung không thể nào có khả năng diễn tả được căn tính của “ngã vị cánh chung” nầy của con người trong tương quan với Đức Giêsu-Kitô !
Đó chính là nền tảng của mầu nhiệm Giáo Hội là Thân Mình của Đức Giêsu-Kitô :
“Thiên Chúa đã đặt tất cả dưới chân Đức Kitô và đã ban cho Đức Kitô đứng trên vạn vật, làm Đầu Hội Thánh, vốn là chính Thân Mình Ngài, sự viên mãn của Đấng viên thành vạn sự trong mọi người.” (Ep 1, 22-23).
Và, đó cũng chính là cơ sở nền tảng của những đặc tính mầu nhiệm, hiệp thông và sứ vụ của Giáo Hội.
Như trên đây đã có lưu ý, nếu nhân tính của Đức Giêsu-Kitô là “hiện thân” của toàn thể nhân loại, và nếu nhân tính của Ngài, qua việc sống trọn vẹn tình yêu dâng hiến trên thập giá, đã hiệp nhất nên một với thần tính của Ngài, hay nói cách khác, là được thánh hoá, được thần linh hoá, thì điều đó cũng có nghĩa là nhân loại toàn thể, trong Ngài và cùng với Ngài, cũng đã được thánh hoá, được thần linh hoá, được siêu độ, được tái sinh, được phục hồi lại dung mạo nguyên thủy của mình là Hình Ảnh của Thiên Chúa và giống như Thiên Chúa, được phục hồi lại các tương quan với Thiên Chúa, với tha nhân, với thiên nhiên vũ trụ và cuối cùng với chính bản thân mình…
Hay nói cách khác, căn tính cánh chung của nhân loại toàn thể là căn tính mà trong đó tất cả mọi kẻ thù của nhân loại (tội lỗi, sự chết, sa tan, ma qủi…) đều đã bị Đức Giêsu-Kitô đánh bại và khử trừ vĩnh viễn (xem Rm 8, 3; 2 Cr 5, 21; Dt 2, 14-18). Vấn đề gai góc đặt ra ở đây là nếu với một căn tính cánh chung như vậy, tại sao con người vẫn còn bị sa ngã, phạm tội và chết ? Ở đây, trước khi giải quyết vấn nạn nầy, có hai vấn đề cần phải xem xét : yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan.
 Yếu tố khách quan : Phía khách quan, tức là từ phía Đức Giêsu-Kitô, vấn đề đã được giải quyết cách dứt khoát, trọn vẹn, một lần thay cho tất cả…Nghĩa là nơi nhân tính của Ngài tất cả mọi “kẻ thù” (tội lỗi, sự chết, satan, ma qủi…) đều đã hoàn toàn bị đánh bại và tiêu diệt trên đỉnh thập giá (xem Dt 10, 14; Pl 2, 8-11). Vì thế, trong Đức Giêsu-Kitô và cùng với Ngài, toàn thể nhân loại đều đã được “giải phóng” thoát khỏi mọi thứ ách nô lệ.
Có một điều cần lưu ý ở đây là bản thân Đức Giêsu-Kitô thì không bao giờ phạm tội (Dt 4, 15), nên tội lỗi bị tiêu diệt nói ở đây là tội lỗi của toàn thể loài người mà Ngài trong mầu nhiệm ngôi hiệp đã nhận là của mình (appropriation), khi trong biến cố Nhập Thể Ngài nhận nhân tính là của mình. Khi nhận nhân tính là của mình, đồng thời Ngài cũng nhận tất cả những hệ lụy có thể có kèm theo với nhân tính (như những thử thách, những cám dỗ, tội lỗi, những vui buồn sướng khổ, sự chết, v.v…).
 Yếu tố chủ quan : Ơn siêu độ, như vậy, là đã được trao ban cho tất cả mọi người, không phân biệt, và một cách tràn đầy, một lần thay cho tất cả (communication). Vấn đề ở đây là con người, trong tư cách cá vị, có nhận “cái đó” là của mình hay không (appropriation), bởi vì con người vốn tự do ? Ơn siêu độ đã hiện hữu ở đấy (“déjà”) nơi tất cả mọi người, nhưng chưa hiện diện (“pas encore”) đối với  tất cả mọi người, và vì thế, con người chưa nhận ra được Tình yêu của Thiên Chúa và tỉnh trạng tội lỗi của mình, như người thu thuế trong dụ ngôn “Người biệt phái và người thu thuế” (Lc 18, 10-14)…
Nguyên nhân của tình trạng nghịch lý nầy vốn đa dạng và phức tạp : vì không biết đến, hoặc có biết mà quá ít, hoặc có biết mà vẫn cố tình chối từ…Vì thế, nỗ lực loan báo Tin Mừng, giảng dạy và thánh hoá  phải là những sứ vụ hàng đầu của Giáo Hội…
Thật vậy, một khi biết được, nhận ra được và ý thức được về căn tính cánh chung hay là đã được “siêu độ” đó, trong cùng lúc người ta sẽ vừa nhận ra được Cha đã yêu thương thế gian đến độ đã thí người Con duy nhất của Ngài (xem Ga 3, 16), vừa được đặt mình vào trong sự sống tình yêu vĩnh hằng của chính Thiên Chúa-Tình Yêu, và đó chính là sự sống vĩnh hằng (Ga 17,3; 1Ga 3,6.9.10).
“Quả vậy, anh em đã chết và sự sống của anh em đã được ẩn tàng nơi Thiên Chúa, làm một với Đức Kitô; khi nào Đức Kitô, sự sống của ta tỏ hiện, thì khi ấy cả anh em nữa, anh em cũng sẽ được tỏ hiện làm một với Ngài trong vinh quang.” (Cl 3, 3-4).
“Quả thế, hiện giờ ta thấy, như ở trong gương, cách mường tượng. Bấy giờ thì tận mắt, diện đối diện. Hiện giờ ta biết một cách khuy khuyết, nhưng bấy giờ ta sẽ biết, cũng như (Thiên Chúa) biết ta.” (1Cr 13,12).
Sự thành toàn của Giáo hội, Thân Mình của Đức Giêsu-Kitô, vì thế, được lập căn trên sự thành toàn của mỗi một con người :
“Mà anh em là thân mình của Đức Kitô, và ai theo phận nấy mà làm chi thể.” (1 Cr 12, 27).
Ở đây, cũng cần lưu ý rằng sự sống vĩnh hằng hay sự siêu độ không đến từ chỉ con người, từ “bên dưới” (do những hành vi, do những công phúc mình làm cho mình…), mà chủ yếu đến từ “bên trên”, từ Thiên Chúa (Lc 18, 9-14; Ga 3, 7)… Điều đó, bởi vì sự sống vĩnh hằng không phải là một “sự vật” (une chose) mà là một Tình Yêu (un Amour). Thế mà, Tình Yêu luôn luôn bao hàm những tương quan giữa các đối tác (partenaires), ở đây, giữa Ba Ngôi Vị Thiên Chúa và con người, và giữa con người với nhau…

TẠM KẾT :
Như vậy là chúng ta đã rão qua các vấn đề căn tính của Đức Giêsu-Kitô trước và sau biến cố Phục sinh, và căn tính cánh chung của loài người (cá nhân và tập thể) và tương quan giữa hai căn tính nầy với nhau, qua lăng kính tư tưởng “tam tài” của Đông phương (“Thiên-Địa-Nhân hòa”); và trên cơ sở những khác biệt giữa các khái niệm về sự sống và sự chết, trong ngôn ngữ Thánh Kinh, chúng ta cũng có đề cập sơ qua sự hoàn tất cánh chung vừa mang tính cá thể vừa mang tính tập thể nhân loại và Giáo hội; chúng ta cũng đã xem xét cách khái quát và sơ bộ những khái niệm về : ngã vị cánh chung, ngã vị cá thể, ngã vị tập thể, và bản ngã “bản thể”, v.v…, về sự tồn hữu của chúng, và tương quan giữa chúng với nhau; chúng ta cũng đã có đề cập đến một số vấn đề như : sự gặp gỡ tương phùng trong thời gian giữa Thiên Chúa-Ba Ngôi và loài người (theo nghĩa cá nhân và tập thể), giữa vĩnh hằng và thời gian…
Trên những cơ sở đó, chúng tôi cũng đã mạo muội đề xuất một số giải pháp cho một số vấn đề thần học từ trước tới nay vốn rất nhạy cảm, với mong ước sẽ tạo ra được một diễn đàn trao đổi thần học lành mạnh, đáp ứng được niềm mong mỏi của các vị lãnh đạo trong Giáo Hội Châu Á và Việt Nam của chúng ta là đem Tin Mừng hội nhập vào trong các nền văn hoá bản địa…
 
 

05. VỀ BA “NGUỒN CHỨNG CỨ PHỤC SINH”

Theo Thánh Kinh, đặc biệt các tường thuật Tin Mừng sau Phục sinh, có ít nhất là ba “nguồn chứng cứ liên can đến sự Phục Sinh” :
1) Từ “các lời đã báo trước”;
2) Từ dữ kiện “ngôi mộ trống”;
3) Từ các nhân chứng đã mục thị Đức Giêsu đã chết nay vẫn sống…
Các tường thuật Phục sinh cũng còn chứng tỏ cho thấy rằng ba nguồn chứng cứ nầy, một đàng, vốn liên đới với nhau và bổ sung cho nhau, đàng khác, liên đới và tùy thuộc vào thái độ “tin-cậy-mến” của mỗi người…

I.       TỪ “CÁC LỜI ĐÃ BÁO TRƯỚC” :

1.      Các dữ kiện :
Các lời đã báo trước bao gồm các Ý định đã trù liệu trước của chính Thiên Chúa (Cv 2, 23-24), các lời của chính Đức Giêsu trước khi “chết” (Mc 8, 31; 9, 31; 10, 33-34; Mt 16, 21; 17, 22-23; 20, 18-19; Lc 9, 22; 9, 44-45; 18, 31-34; v.v…) và các lời tiên tri trong Cựu Ước (xem Lc 24, 25-27; Cv 3, 21-28; 8, 31-35; 1 Pr 1, 11; v.v…):
 
“…thể theo ý định đã vạch sẵn và sự dự tri của Thiên Chúa…” (Cv 2, 23).
“Và Ngài bắt đầu giảng dạy họ rằng : ‘Con người phải chịu nhiều đau khổ, và bị hàng niên trưởng và các thượng tế cùng ký lục phế thải, bị giết đi, và sau ba ngày sẽ sống lại’.” (Mc 8, 31)
“Bấy giờ, Ngài mới nói cùng họ : ‘Hỡi những kẻ ngu độn và trí lòng chậm tin vào mọi điều các tiên tri đã nói ! Thế thì Đức Kitô lại không phải chịu khổ nạn như thế đã, rồi mới vào vinh quang của Ngài sao ?’ Và, khởi từ Môsê và hết thảy các tiên tri, Ngài dẫn giải cho họ các điều đã viết về Ngài trong toàn bộ Kinh Thánh” (Lc 24, 25-27).

2.      Các phản ứng :
 Nói chung, phản ứng của các Tông đồ và các môn đệ của Chúa Giêsu là không tin, không hiểu và vì thế không mấy quan tâm và để ý đến các lời loan báo trước nầy (xem Lc 24, 25; Mc 9, 32; Mt 16, 22; 17, 23; Lc 9, 45; 18, 34; v.v…)…Vì thế, phản ứng chung ban đầu của các Tông đồ và các môn đệ của Chúa Giêsu sau khi Ngài “chết” là hoang mang, lo âu, sợ hãi và thất vọng…
Nhưng, một khi đã nhớ lại được và hiểu được những lời loan báo trước đó, cùng với sự “gặp gỡ được chính Đức Giêsu Phục sinh”, niềm tin, tỉnh yêu và niềm hy vọng sẽ tràn ngập cõi lòng họ, và có khả năng thay đổi hoàn toàn con người của họ : đó chính là Thần Khí Tình Yêu của Đức Giêsu-Kitô Phục sinh đang hiện diện trong con người và hiện sinh của họ…(xem Lc 24, 6-8.31-35; ).

II.      TỪ DỮ KIỆN “NGÔI MỘ TRỐNG” :

1.      Dữ kiện :
Cả bốn tác giả các Sách Tin Mừng đều có nói tới dữ kiện nầy (Mc 16,1-9; Mt 28,1-10; Lc 24,1-12; Ga 20,1-2) :
“Ngày thứ nhất trong tuần, vừa tang tảng bình minh, các bà đến mồ, có mang theo hương liệu họ đã dọn sẵn. Và họ thấy viên đá đã lăn ra khỏi mồ, nhưng khi vào trong, họ không gặp thấy xác Chúa Giêsu.” (Lc 24, 1-2)
2.      Các phản ứng :
Đối diện với dữ kiện “ngôi mộ trống”, có nhiều phản ứng khác nhau :
a.       Các thượng tế và hàng niên trưởng, vì một cách tiên thiên đã không tin, nên đã “phao tin thất thiệt”:
“Các thượng tế hội cùng hàng niên trưởng, và sau khi đã bàn bạc, thì họ cho lính tráng một số tiền lớn, mà rằng : ‘Các anh hãy nói : Môn đồ hắn đã đến ban đêm trộm hắn, đang lúc chúng tôi ngủ” (Mt 28, 12-13).
b.      Phêrô, các Tông đồ và các môn đệ khác : Thái độ chủ yếu của Phêrô và của họ là “kinh ngạc” vì “chậm hiểu” các lời đã báo trước, và vì thế không mấy tha thiết với dữ kiện “mồ trống” nầy (Lc 24, 11-12; Ga 20, 6-7.9-10) :
“Nhưng Phêrô chỗi dậy chạy đến mồ. Cúi mình nhìn vào, ông thấy chỉ có những dải vải mà thôi. Và ông lui về nhà, kinh ngạc về sự xãy ra” (Lc 24, 12).
c.       “Người môn đệ kia (?)” : Cùng với Phêrô, cả hai cùng thấy những dữ kiện như nhau, nhưng “người môn đệ kia” “đã thấy và đã tin” (Ga 20, 8). Có vẻ như ở đây, Thánh Kinh chứng tỏ cho thấy có một tương quan mật thiết và hỗ tương giữa lòng mến, niềm tin và sự nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc đời nầy: càng được yêu mến nhiều và càng yêu nhiều càng dễ tin, tin nhiều và nhanh chóng nhận ra được sự hiện diện của Đức Kitô phục sinh…Chẳng phải “người môn đệ kia” cũng là người đã đuợc Chúa Giêsu yếu mến nhiều và ngài cũng yêu mến Thầy mình nhiều đó sao ? (xem Ga 13, 23; 19, 25; 21, 7). Chỉ có Tình Yêu mới có đôi con mắt nhìn ra chân tướng của mọi sự và mọi người và cả chính sự hiện diện tình yêu của Thiên Chúa giữa lòng lịch sử. Trong ngôn ngữ nhà Phật, cái nhìn đó được gọi là “tâm nhãn”…
d.      Maria thành Magđala và một số người phụ nữ khác từng đi theo Chúa Giêsu (xem Lc 24, 10) : Có vẻ như đối diện với dữ kiện “ngôi mộ trống”, những người phụ nữ nầy cũng chẳng hiểu gì nhiều hơn so với các Tông đồ và môn đệ khác của Chúa Giêsu (xem Ga 20, 13.15). Nhưng, bù lại, họ có trái tim : họ yêu mến Đức Giêsu khi “còn sống” cũng như “sau khi Ngài đã chết”. Những người phụ nữ nầy không nhìn con người Đức Giêsu và các biến cố liên quan đến Ngài qua lăng kính lý trí, toan tính hơn thiệt, mà bằng cả trái tim, tức là nhìn qua “tâm nhãn”…(xem Ga 20, 1.11; Mt 28, 1; Mc 16, 1-3; Lc 24, 1). Và, liệu phải chăng chính bằng cái nhìn “tâm nhãn” đó mà Maria thành Magđala và những người phụ nữ đã từng đi theo Chúa Giêsu đó là những người “đầu tiên” đã được gặp gỡ Đức Giêsu Phục Sinh và chính họ là những người “đầu tiên” loan báo Tin Mừng Phục Sinh thậm chí cho cả các Tông đồ ? (xem Lc 24, 10; Ga 20, 18)…
Thật vậy, có thể các phụ nữ nầy đã không tin Đức Giêsu, Thầy mình, sẽ sống lại, và cũng không hy vọng thế:
“…Bà nói : ‘Người ta đã cất Chúa tôi đi, mà tôi không biết họ đã đặt Ngài ở đâu ? …Thưa ông, nếu chính ông đã đem Ngài đi, xin nói cho tôi biết : ông đã đặt Ngài ở đâu, tôi sẽ đến cất lấy Ngài’.” (Ga 20, 13.15).
 Nhưng, có một điều chắc chắn là họ đã yêu mến Ngài khi Ngài còn sống cũng như khi Ngài “đã chết”: cần lưu ý Maria thành Magđala trong Ga 20,13.15 không nói người ta cất hay đem “xác Chúa tôi” mà là “cất Chúa tôi đi” và “đem Ngài đi” (x. Ga 20,11.13.15.17). Và, đó chính mới là điều quan trọng : Tình Yêu. Và, chính trong Tình Yêu đối với Đức Giêsu-Kitô đã mặc nhiên bao hàm Niềm Tin và Niềm Hy vọng (xem 1 Cr 13,13; 1 Ga 4, 16)…
III.    TỪ CÁC NHÂN CHỨNG… :
“…Chúng tôi là chứng nhân về mọi điều Ngài đã làm trong vùng  người Do Thái và ở Giêrusalem , Ngài mà họ đã treo trên súc gỗ mà giết đi. Chính Ngài, Thiên Chúa đã làm cho sống lại ngày thứ ba, và đã cho hiện tỏ, không phải cho toàn dân, nhưng là cho những nhân chứng Thiên Chúa đã chọn trước, tức là chúng tôi, những kẻ đã được cùng ăn cùng uống với Ngài, sau khi Ngài đã sống lại từ cõi chết…” (Cv 10, 39-41).
“Vậy, trong hàng những người đã cùng đi với chúng tôi, suốt cả thời gian Chúa Giêsu đã ra vào giữa chúng tôi, khởi từ lúc Gioan thanh tẩy, cho đến ngày Đức Giêsu bị cất khỏi chúng tôi, phải chọn thêm một người để cùng với chúng tôi làm chứng cho sự sống lại của Ngài” (Cv 1, 21-22).
1.      Nhân chứng là những kẻ đã được Thiên Chúa tuyển chọn : Không phải bất cứ ai cũng có thể là nhân chứng, mà chỉ những ai đã được Thiên Chúa tuyển chọn. Vì thế, đó là một ơn gọi có tính liên vị (une vocation interpersonnelle), tức là giữa các ngã vị với nhau, chứ không phải là một ơn gọi chung chung, trừu tượng, trung tính. Điều đó đòi hỏi phải có những tương quan mật thiết với nhau, tương quan tình yêu : có những mời gọi và có những đáp trả, có những chung sống và cùng có những kỷ niệm chung với nhau (xem Ga 20, 14-16; Lc 24, 30-31)…
2.      Nhân chứng Phục sinh phải là những kẻ đã từng mục thị và chung sống với Đức Giêsu trước và sau Biến cố Phục Sinh : có nghĩa đó phải là những con người “trong cuộc”, nhờ đó niềm xác tín mới đủ mạnh mẽ để có thể từ đó thay đổi cả một đời còn lại: từ những kẻ đầy tham vọng, đầy toan tính nhỏ mọn, cá nhân, nhút nhát, sợ hãi, tham sống, sợ chết của Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, họ trờ thành những chứng nhân suốt đời cho Đức Kitô Phục Sinh, cho Giáo hội của Ngài và cho tha nhân, đến độ hy sinh cả tính mạng của mình vì Tình Yêu, như chính Đức Giêsu-Kitô, Thầy của họ…
Và, chính vì thế, họ mới trở thành những chứng nhân khả tín cho chúng ta và cho mọi người, mọi nơi và mọi thời đại…
Và, đến lượt chúng ta, cũng vậy, chỉ có một tình yêu dâng hiến tột cùng như thế, đến độ dám hy sinh cả mạng sống mình vì tình yêu đối với Thiên Chúa, với Đức Giêsu-Kitô, với Giáo hội của Ngài và với mọi người, mà chúng ta và Giáo hội chúng ta mới có thể trở thành những chứng nhân “khả tín” trong một thế giới, như thế giới chúng ta đang sống, vốn tin vào những chứng nhân hơn là những thầy dạy…
 
 

06. NGUYÊN NHÂN VÀ NHỮNG HIỆU QUẢ CỦA “ƠN CỨU ĐỘ”

Trong ngôn ngữ “nhà đạo” của chúng ta, khi đề cập đến những vấn đề nầy, thường có một tình trạng thiếu rõ ràng và phiến diện. Thật vậy, thí dụ, khi nói về  nguyên nhân của việc Thiên Chúa “đến”, người ta trả lời ngay là vì con người đã phạm tội, nên Thiên Chúa “đến” để “cứu”; vì thế, khi đề cập đến những “hiệu quả” của “ơn cứu độ” người ta cũng thường chỉ để ý đến “nội hàm tiêu cực” của khái niệm cứu độ là cứu, là giải thoát ra khỏi một hoàn cảnh nguy hiểm, xấu hay không như mong ước, và gần như lãng quên “nội hàm tích cực” của nó là có lại sự sống, và là sự sống vĩnh hằng, sự sống Tình yêu của Thiên Chúa … Cũng như, khi đề cập Bí tích Thánh tẩy, thường người ta cũng chỉ nhấn mạnh “nội hàm tiêu cực” là “thanh tẩy” mà ít quan tâm đến “nội hàm tích cực” của Bí tích nầy là “được trở nên con của Thiên Chúa”… Các lối nói “cứu độ”, “cứu chuộc” và “phép rửa” hay “bí tích thanh tẩy” phản ánh cho chúng ta tình trạng đáng buồn đó… Đã hẳn, những lối nói và những cách nhìn như vậy không có gì sai trái cả, mà chỉ là không đủ thôi.
Nguyên nhân của lối nhìn như thế, vốn rất phức tạp, mà phạm vi hạn hẹp của bài nầy không cho phép đào sâu hơn. Ở đây, chúng tôi mạn phép chia sẻ một vài gợi ý chủ quan của mỉnh, như một đóng góp nhỏ bé trong Tuần Thánh nầy, đồng thời cũng như một câu trả lời mang tính gợi ý cho một người bạn của chúng tôi là linh mục H.T, thuộc Tu hội Xuân Bích Việt Nam, đang dọn Luận án Tiến sĩ về Thần học hệ thống, với chủ đề “VỀ CÁI CHẾT CỦA ĐỨC GIÊSU”, tại Institut Catholique de Paris, và đã có nhã ý nhờ chúng tôi góp ý với ngài về đề tài nầy, nhưng cho đến nay, chúng tôi vẫn chưa đáp ứng được.
I.       MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN
1.      Một số cách nhìn cũ thường thiếu sự liên kết giữa mầu nhiệm Sáng tạo, mầu nhiệm Mặc khải và mầu nhiệm Cứu độ : điều nầy vốn đã được Công đồng Vatican II nhấn mạnh trong Hiến chế tín lý DEI VERBUM (DV n° 2). Giữa ba hành vi nầy có một sự hiệp nhất, liên đới với nhau cách chặt chẽ và đồng thời với nhau : vì Tình Yêu dạt dào, Thiên Chúa đã sáng tạo nên con người nhằm mặc khải cho con người được biết Ngài là Ai và chia sẻ cho con người hạnh phúc được sống sự sống Tình yêu của Ngài. Khởi điểm của Thần học nói chung và của Thần học về “Ơn Cứu độ” nói riêng, vì thế, nên khởi đi từ dung mạo  “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1 Ga 4, 16). Và, Tình Yêu của Thiên Chúa vốn là một Tình Yêu hoàn toàn “nhưng không” tức là hoàn toàn “vô điều kiện”, “vô vị lợi” và “vô biên giới” (Rm 5, 6 tt; Tt 3, 5; 1 Ga 4, 10-19; Lc 6, 36; v.v…). Trong điều kiện như thế, những lối suy nghĩ và nói như kiểu “Thiên Chúa đến với con người” bởi vì con người đã phạm tội, vì thế, để cứu con người…, đều mang ý nghĩa “điều kiện hóa” Tình Yêu nhưng không của Thiên Chúa, và vì thế, đều không chấp nhận được… Và, người ta sẽ trả lời như thế nào đây cho một câu hỏi như thế nầy : Nếu con người không phạm tội, liệu Thiên Chúa có “đến” với con người không ?
2.      Ngoài ra, phần đông các khuynh hướng thần học từ Kinh viện đến Công đồng chung Vatican II, có vẻ như ít để ý đến chiều kích “ngôi vị’ trong “ơn cứu độ” : Đức Giêsu-Kitô chính là biến cố cứu độ và là ơn cứu độ . Nghĩa là hiệu quả của “ơn cứu độ” không đơn giản chỉ là “cứu” hay “rửa sạch” mà là đặt con người vào lại trong sự sống trong tương quan với Mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi : “…Nhưng, phải ăn khao mà mừng chứ, vì em con đó, nó đã chết  mà lại sống, đã mất đi mà lại tìm thấy được” (Lc 15, 32). “Ơn cứu độ”, vì thế, chỉ có thể hiểu được cách trọn vẹn và đầy đủ qua lăng kính Tình Yêu mà thôi…
II.      ƠN CỨU ĐỘ VÀ TÌNH YÊU THIÊN CHÚA
Thật vậy, nếu Origène đã có thể khẳng định rằng chính Đức Giêsu là Tin Mừng và rằng đích thân Đức Giêsu là Vương quốc , thì cũng có thể nói rằng chính Đức Giêsu là ‘Ơn cứu độ”. Lịch sử của “ơn cứu độ”, vì thế, là lịch sử của các ngôi vị tự do, hay nói theo ngôn ngữ của Bernard Sesboüé, “lịch sử ơn cứu độ được đan dệt nên bởi những phản ứng tương tác giữa tự do của Thiên Chúa và các tự do của con người” .
Những “hiệu quả” của ơn Cứu độ, như vậy, cũng mang dung mạo của tương quan giữa các ngôi vị. Thật vậy, “được ơn cứu độ”, trước tiên, có nghĩa là “được đi vào trong tương quan với chính Đức Giêsu-Kitô”, qua đó, “được đi vào trong tương quan với mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi”, “được phục hồi tư cách là con của Thiên Chúa” hay nói cách khác “được sống sự sống Tình Yêu Phụ-tử của Thiên Chúa” (Lc 15, 22-24). Đó chính là lý do tại sao trong Tin Mừng thứ tư đã có những khẳng định như thế nầy : “Ai tin Con có sự sống vĩnh hằng” (Ga 3, 16.36) và “Ai tin vào Đấng đã sai Thầy có sự sống vĩnh hằng” (Ga 5, 24). Và, ngược lại, tin cũng đồng nghĩa với “được ơn cứu độ” (xem 1 Cr 1, 21).
Thứ đến, “được ơn cứu độ” có nghĩa là “đã tạo ra được một bước Vượt qua” từ tình trạng cũ qua tình trạng mới (Lc 15, 20 : “Và nó đã chỗi dậy mà về cùng cha nó”) : từ tình trạng sống mà vẫn như chết ( tức là sống mà không có tương quan yêu thương) qua tình trạng sống sự sống yêu thương như Thiên Chúa; từ tình trạng bị đánh mất mình (tình trạng vong thân, tha hoá) qua tình trạng tìm lại được mình và tha nhân (Lc 15, 32).
Tiếp đến, “được ơn cứu độ” cũng có nghĩa là “cảm nhận được nhu cầu cần được cứu độ, cần quay trở về” (Lc 15, 17-19). Điều nầy, dĩ nhiên, đòi hỏi người ta phải nhận ra được hoàn cảnh “bi đát” hiện tại của mình (Lc 15, 14-17), cảm nhận ra được tình trạng “bệnh hoạn” của mình (Lc 5, 31-32; Lc 14, 10-14).
Sau cùng, “được ơn cứu độ” còn có nghĩa là “cảm nhận ra được mình còn có một quê hương, một mái nhà, một gia đình êm ấm, hạnh phúc để mà trở về và một người cha đầy yêu thương đang đợi chờ mình để cùng sống với” (Lc 15, 17-24). Hay nói cách khác, “được cứu độ” là nhận thức được rằng đã có một thời mình đã có một cuộc sống hạnh phúc bên cha và trong nhà cha. Hạnh phúc hay là bất hạnh là do cái trò chơi của tự do : tự do của Thiên Chúa-Cha và tự do của con người, như là những ngôi vị (Lc 15, 11-13). Chính tự do được ban cho đó làm nên căn tính của con người. Tự do là yếu tính của Tình Yêu. Chính vì thế, Đức Giêsu đã khẳng định : “Không có tình yêu nào vĩ đại hơn tình yêu của kẻ thí mạng mình vì người mình yêu mến” (Ga 15, 13).
III.    THẬP GIÁ VÀ TÌNH YÊU “CỨU ĐỘ”
Trước tiên, cần phải nói ngay rằng, tự nó, Thập Giá (khổ đau và cái chết) không phải là mục đích, mà chỉ là công cụ, phương tiện để bày tỏ tình yêu. Hay nói cách khác, nếu không vì tình yêu, không vì sự sống đích thực, không có sự phục sinh, Thập Giá là phi lý, vô nghĩa…
Chính vì thế, trong ngôn ngữ của Gioan, “giờ Thập Giá” chính là “Giờ vinh quang” (Ga 12, 23; 13, 31-32; v.v…). Tại sao vậy ? Tại vì, ở nơi Thập Giá chính là lúc mà Tình Yêu dâng hiến và vị tha (“vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta”) đạt đến đỉnh điểm của nó : chính ở nơi hành vi dâng hiến tất cả trên Thập Giá (hành vi dâng hiến cuối cùng là giao nộp Thần Khí của Con cho Cha) là lúc mà sự cứu độ diễn ra (Ga 19, 30), tức là lúc mà nhân tính của Đức Giêsu-Kitô hoàn toàn được thần linh hoá, được siêu độ, hay được trở về lại tình trạng nguyên thủy của Vuờn Địa đàng ngày xưa…Hay nói cách khác, đó chính là lúc các mối tương giao nguyên thủy được phục hồi lại nguyên vẹn trong Đức Giêsu-Kitô : tương quan giữa con người với Thiên Chúa, với tha nhân, với thiên nhiên vũ trụ và với chính bản thân mình… Con người “trong Đức Giêsu-Kitô” được quay trở về với “nhà của cha mình”, “nhà của anh em mình” và “nhà của mình”…Đó chính là lý do tại sao Đức Giêsu đã nói : “Vì kẻ nào muốn cứu lấy sự sống mình, thì sẽ mất; còn kẻ nào mất sự sống mình vì Thầy, và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu nó” (Mc 8, 35). Giá trị “cứu độ” của cái chết của Đức Giêsu cũng phải được hiểu qua lăng kính và chân trời đó…
Tóm lại, Tình Yêu, tự do và Thập Giá, vì thế, là ba khái niệm-chìa khóa để có thể hiểu được mầu nhiệm “ơn cứu độ”…Và có thể nói rằng dụ ngôn “Người cha nhân từ” của Lc  15, 11-32 chính là nguyên mẫu (proto-type) của “ơn cứu độ”…
 
 

07. THẬP GIÁ VÀ PHỤC SINH

Nơi Đức Giêsu-Kitô, Ngôi Lời Nhập Thể, Thập Giá và Phục Sinh là hai mặt của chỉ một Thực tại duy nhất là Tình Yêu của Thiên Chúa. Chúng ta sẽ hiểu được điều đó khi hiểu được “những nghịch lý” trong Tình Yêu và trong Tin Mừng của Đức Giêsu-Kitô : chết đi-sống lại, mất-còn, mất-tìm lại được, cho đi-nhận lại, tự hủy-tồn tại, đau khổ-hạnh phúc, ra đi-trở về, v.v… (Mc 8, 35; Mt 10, 39; Lc 17, 33; Ga 12, 24-25; Lc 15, 24.32); hay nói theo ngôn ngữ Đông phương : Âm và Dương luôn gắn bó mật thiết với nhau và chuyển hóa cho nhau : âm cực sinh dương, dương cực sinh âm…
I.       Ở NƠI MẦU NHIỆM THIÊN CHÚA-BA NGÔI
Có thể nói rằng những “đối nghịch” (oppositions) trong tương quan giữa Ba Ngôi Vị (Cha-Con-Thánh Thần) là hình ảnh phản ảnh chính xác nhất của Tình Yêu và những nghịch lý của Tin Mừng : sự đối nghịch vừa mang tính chất “tình yêu và đau khổ”. Thật vậy, khi Thiên Chúa yêu đến cùng cực đó chính là lúc Thiên Chúa “ra khỏi chính mình” : đây là nguồn gốc của hành vi nhiệm sinh Con, hoàn toàn như Cha, chỉ trừ cương vị là Cha; và khi Con yêu Cha đến cùng cực là Con hiệp nhất cùng cực với Cha. Và khi Cha và Con yêu nhau đến cùng cực là lúc Hai Đấng “cùng đi ra khỏi chính mình” : đây là nguồn gốc của hành vi nhiệm xuất ra Thần Khí…Đó chính là điều mà các sách Tin Mừng gọi là những nghịch lý  “đánh mất mình để là mình” (Lc 15, 24.32; Mc 8, 35 và song song); hay nói theo ngôn ngữ Đông phương : âm cực sinh dương, dương cực sinh âm…
II.      Ở NƠI MẦU NHIỆM SÁNG TẠO
Và, khi Ba Ngôi Thiên Chúa yêu nhau đến cùng cực, thì “trong Con-Ngôi Lời”, Hình Ảnh hữu hình của Thiên Chúa vô hình (Cl 1, 15; 1 Cr 11, 7; 2 Cr 4, 4), tức là “trong Thiên Chúa”, vì Tình Yêu, công trình Sáng tạo diễn ra…(xem Hiến chế tín lý MK, số 2)… Có vẻ như qui trình “nghịch lý Tin Mừng” vẫn là một, dù đó là nơi Kết đồ tế thế diễn ra trong lịch sử (Economie) hay bên trong Thực tại nội thân của Mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi : ban cho-đón nhận, ra đi-trở về, hiện hữu cho (pro-existence)-hiện hữu (existence), đánh mất-tìm lại được, chết-sống, v.v…
III.    Ở NƠI MẦU NHIỆM NHẬP THỂ CỦA NGÔI LỜI
Những nghịch lý của Tin Mừng sẽ được bày tỏ cách rõ ràng nơi Mầu nhiệm Nhập Thể của Ngôi Lời, cách đặc biệt qua ngôn ngữ của Thánh Phaolô :
“Ngài, phận là phận của một vì Thiên Chúa, nhưng Ngài đã không nghĩ phải giằng cho được chức vị đồng hàng cùng Thiên Chúa.
Song Ngài đã hủy mình ra không, là lĩnh lấy thân phận tôi đòi, trở thành giống hẳn người ta; đem thân đội lố người phàm,
Ngài đã hạ mình thấp hèn, trở thành vâng phục cho đến chết, và là cái chết thập giá !
Bởi vậy, Thiên Chúa đã siêu tôn Ngài !
Và ban cho Ngài Danh hiệu, vuợt quá mọi danh hiệu, …” (Pl 2, 6-9).
Người ta gọi đó là mầu nhiệm “tự hủy” (kénose) : mất đi để mà được lại, chết đi để mà được sống, âm cực thì sinh dương… (xem Ga 10, 17-18; Rm 5, 8; 8, 32; 1 Ga 3, 1; Gl 4, 4-7).
IV.    THẬP GIÁ VÀ PHỤC SINH
Như trong bài viết “Nguyên nhân và những Hiệu quả của Ơn Cứu độ”, chúng tôi đã có lưu ý, Thập giá, tự nó, không phải là mục đích hay cứu cánh, mà chỉ là phương tiện, công cụ để bày tỏ Tình Yêu, bởi vì chỉ có Tình Yêu dâng hiến và vị tha mới có khả năng làm thay đổi, canh tân thế giới và “cứu độ” con người; và, chúng tôi cũng đã có lưu ý rằng Tình Yêu, Tự do, Thập giá (đau khổ, chết chóc, sự dữ…) là ba khái niệm-chìa khóa để có thể hiểu được cách đúng đáng mầu nhiệm Ơn cứu độ trong Đức Giêsu-Kitô…
Trước tiên, bởi vì một Tình Yêu đích thực bao giờ cũng mang tính vị tha, dâng hiến, cho đi (xem Ga 15, 13). Và, ở nơi Thiên Chúa, Tình Yêu đó luôn luôn là tuyệt đối tự do, nhưng không (Rm 5, 6 tt; Tt 3, 5; 1 Ga 4, 10-19). Vì thế, hiện sinh của Đức Giêsu-Kitô được định nghĩa như là một “hiện sinh-cho…” (une pro-existence); hay nói theo ngôn ngữ của nhà Phật là “vô ngã” (hiểu theo nghĩa tích cực) và theo ngôn ngữ của Kim Dung là “thân vô kỷ”…
Thứ đến, Thánh Kinh cũng chứng thực cho chúng ta biết công trình cứu độ là sáng kiến tự do và là công trình tự nguyện của cả Ba Ngôi Thiên Chúa, là công trình của Tình Yêu… (Ga 3, 16; Rm 8, 32; 1 Ga 4, 10; 1 Ga 4, 8.16; v.v…).
Một cái nhìn lướt nhanh và tóm lược về ý nghĩa của Cái chết của Đức Giêsu-Kitô sẽ giúp chúng hiểu được những nội hàm cứu độ nầy.
1.      Cái chết trong Thiên Chúa :
Trước khi là cái chết “của” Thiên Chúa, cái chết của Đức Giêsu-Kitô là cái chết “trong” Thiên Chúa. Tại sao vậy? Lý do là bởi vì trong tư cách vừa là Thiên Chúa thật vừa là con người thật, Đức Giêsu-Kitô vừa không phải chết vừa phải chết. Trong ngôn ngữ “ngôi hiệp” (union hypostatique) qua đó thần tính và nhân tính của Đức Kitô hiệp nhất với nhau trên cơ sở cùng chung bản vị hay ngôi vị, và tuy hiệp nhất nên một, nhưng thần tính vẫn giữ nguyên là mình (đặc biệt đặc tính bất hoại và không thể nào chết) và nhân tính vẫn là nhân tính với những yếu tố đặc thù của mình (như có thể bị hủy hoại và phải chết), một vấn đề sẽ phải được đặt ra : trên Thập giá, “Ai” chết ? Trong tư cách là Thiên Chúa thật, Đức Giêsu-Kitô không thể nào chết được. Còn, nếu trong tư cách là con người thật, Đức Giêsu hẳn phải chết như bất cứ ai trong chúng ta. Làm sao dung hòa được hai yếu tố hoàn toàn mâu thuẩn nầy ? Một số nhà thần học, dựa trên những khái niệm “nhận là của mình” (appropriations) và “thông ban cho” (communications), giải thích rằng bởi vì thần tính của Đức Giêsu-Kitô đã hiệp nhất nên một với nhân tính của Ngài và đã nhận nhân tính đó là của mình nên thần tính đó cũng nhận cái chết của nhân tính như là của mình. Nhưng, giữa việc nhận cái chết đó là của mình với việc chết thực sự là hai việc có thể không hoàn toàn đồng nghĩa với nhau. Vì thế, có lẽ nên hiểu cái chết của Đức Giêsu-Kitô, bởi vì là cái chết “trong” Thiên Chúa, chính là cái chết của Sự Chết, tức là chết để mà sống…Và chỉ trong chân trời đó, người ta mới có thể nói được về cái chết “của” Thiên Chúa nơi Đức Giêsu-Kitô : Thiên Chúa chết để con người được sống với Ngài…Tức là Thiên Chúa “chết” để được phục sinh và để con người cũng được phục sinh và sống sự sống tình yêu vĩnh hằng trong Ngài và như Ngài…
2.      Cái chết của Sự Chết :
Như đã có lưu ý trong bài “Nguyên nhân và những hiệu quả của Ơn cứu độ”, ở trên Thập giá, hành vi cứu độ - hay nói đúng hơn là hành vi khiến cho nhân tính của Đức Giêsu-Kitô (vốn là hiện thân của toàn thể nhân loại) được thần linh hoá, được tham dự vào sự sống tình yêu vĩnh hằng của Thiên Chúa, được phục hồi lại như là “hình ảnh của Thiên Chúa” (hay nói cách khác giống như Đức Kitô), được giao hoà lại với Thiên Chúa, với anh em mình, với chính bản thân mình và với thiên nhiên vũ trụ (Thiên-Địa-Nhân hoà) - được diễn ra khi nhân tính của Đức Giêsu-Kitô sống cách trọn vẹn Tình Yêu dâng hiến của mình trong tương quan với Cha, với Thánh Thần và với thụ tạo : chính ở nơi hành vi dâng hiến tất cả nầy (Ga 19, 30; 15, 13) mà Cha đã trao ban lại cho Con tất cả, và trong Con và qua Con, con người được trở thành đích thật là con của Thiên Chúa, là anh chị em với nhau, là mình (căn tính của mỗi người được thực hiện), tức là “được siêu độ” (Ga 17, 10; Lc 15, 31). Chính trên cơ sở nhân tính của Đức Giêsu-Kitô là hiện thân của toàn thể nhân loại mọi nơi và mọi thời nầy, - và khi nhân tính nầy được thánh hóa, được tôn vinh, được hiệp nhất trọn vẹn với thần tính, với Thiên Chúa và qua đó với tất cả thụ tạo, thì toàn thể nhân loại mọi nơi và mọi thời đều được hưởng những ân phúc đó trong Đức Giêsu-Kitô – mà Giáo Hội trước sau như một vẫn luôn khẳng định rằng Đức Giêsu-Kitô là Đấng Siêu độ duy nhất và phổ quát…
Cái chết vì tình yêu của nhân tính cũng có nghĩa là cái chết của Sự Chết (tức là Tội lỗi : kiêu căng, thù hận, ghét ghen, ích kỷ, v.v…) nơi nhân tính, và điều đó có nghĩa là “sinh thì” (thời gian của sự sống), là sự phục sinh, sự tái sinh, sự được thần linh hoá, được trở nên con Thiên Chúa “trong” Đức Giêsu-Kitô, Con Thiên Chúa…
3.      Cái chết và sự phục sinh của Đức Giêsu-Kitô :
Khoảnh khắc diễn ra cái chết trên Thập giá, cách lạ lùng, được ngôn ngữ nhà đạo cổ điển Việt Nam gọi là “lúc sinh thì” của Đức Giêsu. Điều đó chứng tỏ rằng đã từ rất lâu, người công giáo Việt Nam đã hiểu được cái chết của Đức Giêsu không có nghĩa là chấm hết, là bị hủy diệt, mà là “bắt đầu thời gian sống” (sinh thì) của Ngài. Trong cái chết đã bao hàm sự phục sinh, hay đúng hơn, tiếp nối hành vi tự hủy hoàn toàn chính bản thân mình là hành vi sở đắc hoàn toàn bản thân mình (âm cực sinh dương). Phục sinh là sự tiếp nối cái chết trong Thiên Chúa và vì Thiên Chúa.
Vì thế, không được coi sự Phục sinh đơn giản như chỉ là sự sống lại của con người chỉ về mặt thể lý (như trường hợp của Lazarô, của người con trai của bà goá thành Naim, v.v…). Sự Phục sinh trọn vẹn bao hàm không chỉ sự phục sinh về mặt thể lý, mà trước hết và trên hết là sự phục sinh thuộc linh. Có những trường hợp, về mặt thể lý, người ta vẫn “sống”  nhưng vẫn được coi như “đã chết” (xem Lc 15, 24.32). Có những trường hợp người đã chết vẫn được coi như đang sống (xem Mc 12, 26-27 và ss). Thật vậy, con người chỉ có thể được coi như là “sống” khi “ở trong” Đức Giêsu-Kitô,  hay khi “ở trong Tình Yêu”, “ở trong Thiên Chúa”…
Chính vì ở nơi Đức Giêsu-Kitô, trên Thập giá, đó là cái chết của Sự Chết (đã đành cùng với những đặc tính đau thương, khổ nhục như của bất cứ cái chết nào của con cái loài người), được thực hiện bởi Thần Khí sự sống (1 Pr 3, 18) và Cha Ngài, nên, “nhân cơ hội” (1 Pr 3, 19) Ngài đã có thể “đi vào ngục tổ tông” và “loan báo Tin Mừng cho cả kẻ chết” (1 Pr 4, 6). Ở đây, phải chăng người ta có thể nói rằng về mặt thuộc linh (vì Ngài không bao giờ phạm tội), Đức Giêsu-Kitô không bao giờ chết, nhưng Ngài chết về mặt thể lý như chúng ta ? Nếu như thế, thì về mặt thể lý, Đức Giêsu-Kitô đã chết thật, và chính Cha Ngài và Thần Khí Sự Sống của Cha Ngài và cả của Ngài đã phục sinh Ngài từ giữa các kẻ chết (Ga 2, 19 tt; Mc 8, 31; 9, 31; 10, 34; Cv 26, 23; Cl 1, 18; Kh 1, 5; 1 Cr 15, 20).
Tóm lại, sự Phục Sinh Đức Giêsu-Kitô là một sự Phục Sinh trọn vẹn, bao hàm cả khía cạnh thể lý cả khía cạnh thuộc linh : toàn thể nhân loại kể từ đó trong nhân tính đã được thánh hoá và thần linh hoá của Ngài được thần linh hoá, được thánh hoá, được “cứu độ”, v.v… “Ơn cứu độ” đã hiện hữu ở đấy, “ở nơi” và “cho” con người của tất cả mọi thời và mọi nơi. Vấn đề là con người có mở lòng mình ra để đón nhận “ơn cứu độ” đó hay không, con người có để cho Thiên Chúa cứu độ mình hay không, con người có cảm nhận mình cần được cứu độ hay không, con người có nhận ra mình đang bệnh hoạn hay không, con người có biết mình đang chết về mặt thuộc linh hay không…? Không ai có thể trả lời những câu hỏi đó thay cho mình cả. Mỗi người phải có câu trả lời của riêng mình, vì con người vốn tự do… Đã đành, ở một góc độ nào đó, vốn yếu đuối, mỏng dòn, con người vẫn luôn cần sự giúp đỡ của Giáo hội, của các cộng đoàn và của tha nhân…










 
 

08. LINH MỤC THỪA TÁC, NGÀI LÀ AI?

Dẫn nhập
Đã có nhiều cách, nhiều con đường để tiếp cận với vấn đề nầy: Linh mục thừa tác, ngài là ai? Ở đây, nhân Năm Thánh Linh mục, chúng tôi mạo muội đề xuất một cách hiểu về căn tính của vị Linh mục thừa tác (sacerdoce ministériel) qua lăng kính mầu nhiệm ngôi hiệp (union hypostatique)…
Qua lăng kính mầu nhiệm ngôi hiệp, chúng tôi sẽ lần lượt đào sâu những vấn đề sau đây:
1.      Tương quan giữa Đức Kitô và vị Linh mục thừa tác;
2.      Tương quan giữa vị Linh mục thừa tác và Bí tích Thánh Thể;
3.      Tương quan giữa vị Linh mục thừa tác và Bí tích Hòa giải;
4.      Linh mục thừa tác, ngài là ai?
A.      TƯƠNG QUAN GIỮA ĐỨC KITÔ VÀ VỊ LINH MỤC THỪA TÁC QUA LĂNG KÍNH MẦU NHIỆM NGÔI HIỆP
Trong ngôn ngữ “nhà đạo” thông thường người ta hay gọi vị Linh mục thừa tác (sacerdoce ministériel)  là “Alter Christus”, là “in personna Christi”… “Alter Christus” thường được chuyển ngữ là “Đức Kitô khác” hay “Đức Kitô thứ hai”. “In personna Christi” thường được chuyển ngữ là “nhân danh Đức Kitô”, “đại diện Đức Kitô”, “đồng hình đồng dạng với Đức Kitô”, v.v… Cả hai cách chuyển ngữ nầy đều vừa thừa vừa thiếu. Thừa vì có vẻ như có hai “ngôi vị”. Thiếu vì thiếu tình trạng hiệp nhất giữa Đức Kitô và con người Linh mục…
1.      Mầu nhiệm ngôi hiệp (union hypostatique)
Trong ngôn ngữ kitô-học, mầu nhiệm thần tính và nhân tính của Đức Kitô hiệp nhất với nhau trên cơ sở chỉ có một Ngôi Vị duy nhất là Đức Kitô thường được gọi tắt là Mầu nhiệm ngôi hiệp. Nghĩa là thần tính nhận nhân tính cùng với những thụ cảm làm của mình hay “là” mình (appropriation) và thông ban (communication) cho nhân tính đó một số yếu tố đặc thù mà thần tính vốn có “vì loài người chúng ta” và “để cứu độ chúng ta”... Tuy mỗi bản tính vẫn là mình, không hòa lẫn (như nước biển với nước ngọt), nhưng cũng không hoàn toàn tách biệt (như dầu hôi với nước lã)… Một số giáo phụ so sánh sự hiệp nhất giữa thần tính và nhân tính với sự hiệp nhất giữa hồn và xác trên cơ sở ngôi vị của một cá thể… Chúng tôi thích hơn hình ảnh hai người yêu nhau, dù vẫn còn một số yếu tố bất toàn: khi yêu nhau, người ta trở nên một (cái “chúng ta”), dù mỗi người vẫn là mình…
2.      Tương quan giữa Đức Kitô và vị Linh mục thừa tác qua lăng kính mầu nhiệm ngôi hiệp
Để có thể hiểu được vị Linh mục thừa tác là ai và là gì, ở đây, chúng tôi mạo muội đề nghị một lối hiểu qua lăng kính mầu nhiệm ngôi hiệp. Nghĩa là: Qua Bí tích truyền chức, dưới quyền năng và tác động của Chúa Thánh Thần, Đức Kitô nhận con người Linh mục mà Ngài đã gọi và chọn đó, cùng với những sở trường và sở đoản, “là” Mình hay “là” Ngài (appropriation), đồng thời thông ban cho vị Linh mục đó một số yếu tố đặc thù thần linh mà vốn là sở hữu của Ngài (communication) và cả hai hiệp nhất nên một trên cơ sở Ngôi Vị Đức Kitô (in personna Christi)…
3.      Cơ sở Thánh Kinh của những hành vi “nhận làm của mình” hay “nhận là mình” (appropriations)
= Mt 25,31-46: “[…]. ‘Quả thật, Ta bảo các ngươi: những gì các ngươi đã làm cho một người trong các anh em hèn mọn nhất nầy của Ta, là các ngươi đã làm cho chính mình Ta’.[…]. ‘Quả thật, Ta bảo các ngươi, những gì các ngươi đã không làm cho một người nào trong các kẻ hèn mọn nhất nầy, là các ngươi đã không làm cho chính mình Ta’.”
= Mt 10,40: “Kẻ tiếp đón các ngươi là tiếp đón Ta; và kẻ tiếp đón Ta, là tiếp đón Đấng đã sai Ta”.
= Mt 18,5: “Và kẻ nào tiếp đón một trẻ nhỏ nầy vì danh Ta, tức là tiếp đón Ta”.
= Mc 9,37: “Kẻ nào tiếp đón một trẻ nhỏ  thế nầy vì danh Ta, tức là tiếp đón Ta; kẻ nào tiếp đón Ta, thì không phải người ấy tiếp đón Ta, mà là Đấng đã sai Ta”.
= Lc 9,48: “Kẻ nào đón tiếp  trẻ nhỏ nầy vì danh Ta, tức là tiếp đón Ta; và kẻ tiếp đón Ta là tiếp đón Đấng đã sai Ta…”
= Lc 10,16: “Ai nghe các ngươi là nghe Ta, và ai thảy bỏ các ngươi là thảy bỏ Ta, mà ai thảy bỏ Ta là thảy bỏ Đấng đã sai Ta”.
= Ga 23,20: “Quả thật, qủa thật, Ta bảo các ngươi: ai chịu lấy kẻ Ta sai đến, là chịu lấy Ta, mà ai chịu lấy Ta, tức là chịu lấy Đấng đã sai Ta”.
= Cv 9,1-5: “[…], ‘Saul, Saul, tại sao ngươi bắt bớ Ta?’ […]. ‘Ta là Giêsu, người đang bắt bớ’.”
4.      Cơ sở Thánh Kinh của những hành vi thông ban những yếu tố đặc thù cho nhau (communications): Một số quyền năng Đức Kitô thông ban cho con người Linh mục:
a.       Quyền tha tội trong Ngôi Vị Đức Kitô: Mt 9,1-7; Mc 2,1-12; Lc 5,17-26; Mt 16,19; Cv 10,43; Mt 28,18-20; v.v…
b.      “Quyền năng trên các thần ô uế khiến họ có thể xua đuổi chúng và chữa mọi tật nguyền, bệnh hoạn” trong Ngôi Vị Đức Kitô: Mt 10,1; Mc 3,14; 6, 7; Lc 9,1; v.v…
c.       Quyền năng thực hiện hành vi “nhận làm của mình” và “là mình” (appropriation) và hành vi thông ban một số đặc ân mình có (communication) trong Ngôi Vị Đức Kitô, đặc biệt nơi Bí tích Thánh Thể: Lc 22, 19-20; 1 Cr 11, 23-27; v.v…; và quyền tha tội trong Bí tích Hòa giải (Ga 20,23)…
5.      Một vài suy tư  thần học:
Trên cơ sở những điều trên đây, có thể nói được rằng mầu nhiệm Nhập Thể của Ngôi Lời và mầu nhiệm Ngôi hiệp nơi Đức Kitô có mối quan hệ hết sức mật thiết với nhau, có tính phổ quát và với nhiều cấp độ khác nhau:
a.       Tương quan giữa Đức Kitô và Thụ Tạo nói chung:
Có thể nói rằng nhân tính nơi Đức Kitô chính là tượng trưng cho toàn thể thụ tạo và toàn thể nhân loại nói chung:
“Lúc khởi nguyên đã có Lời…và Lời là Thiên Chúa…Mọi sự nhờ Ngài mà thành sự và không Ngài thì không gì đã thành sự. Điều đã thành sự nơi Ngài là sự Sống và sự Sống là sự Sáng cho nhân loại.” (Ga 1,1-3).
“Ngài (Đức Kitô) là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử giữa mọi thụ sinh, vì trong Ngài vạn vật đã được tạo thành, chốn trời cao và nơi dương thế, vật hữu hình, vật vô hình, dù là thiên tòa hay thiên chủ, dù là thiên phủ hay là uy linh: mọi sự đã được tạo thành nhờ Ngài và cho Ngài ! Và Ngài có ưu thắng trên mọi sự, và mọi sự đều tồn tại trong Ngài.” (Cl 1,15-17).
b.      Tương quan giữa Đức Kitô và nhân loại nói chung:
Bởi vì con người đã được tạo dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa (St 1,26-27), mà hình ảnh Thiên Chúa chính là Đức Kitô (1Cr  11,7; 2Cr 4,4; Cl 1,15), cho nên có thể nói rằng nhân tính của Đức Kitô cũng chính là toàn thể nhân loại, hiểu theo nghĩa cá thể cũng như tập thể. Chính vì thế, khi Đức Kitô cứu độ, thánh hóa nhân tính của Ngài và nhận nhân tính đó là của mình và là mình, điều đó có nghĩa  là Ngài, trong chỉ một hành vi, một lần là đủ, đã cứu độ và thánh hóa toàn thể nhân loại, mọi nơi và mọi thời… Như thế, chúng ta hiểu vì sao Giáo hội trước sau như một luôn khẳng định Đức Kitô là Đấng Trung gian và là Đấng Cứu độ duy nhất và phổ quát, ngoài Ngài ra chẳng có ai khác cả (Ep 2,13-18; Rm 11,25-29).
“Nhưng nay, trong Đức Kitô Giêsu, anh em, những kẻ xưa kia ở xa, thì đã nên gần nhờ bửu huyết của Đức Kitô. Vì chính Ngài là sự bình an của ta, Đấng đã làm cho đôi bên nên một, triệt hạ tường ngăn thành chắn, (tiêu biểu cho) mối hằn thù – nhờ thân xác Ngài, - thủ tiêu Lề luật nguyên những điều răn lệnh chỉ, ngõ hầu trong Ngài, Ngài tạo dựng hai loại người ấy nên một người mới; đem lại bình an, và giảng hòa hai dân – trong một Thân mình – với Thiên Chúa, nhờ Thập giá, giết chết hằn thù – nơi mình Ngài. Và Ngài đã đến loan báo Tin Mừng bình an cho anh em những kẻ ở xa, và bình an cho những kẻ ở gần. Vì chính nhờ Ngài, chúng ta đôi bên, trong một Thần khí, được đến chùng Cha.” (Ep 2,13-18). 
“Hỡi anh em, tôi không muốn để anh em không hay biết mầu nhiệm nầy, để anh em đừng tự phụ mình khôn: Israel đã ra chai đá phần nào, cho đến khi toàn thể dân ngoại đã gia nhập, và như thế tất cả Israel cũng sẽ được cứu. […]. Vì chưng cũng như anh em, xưa kia bất tuân đối với Thiên Chúa, mà nay đã được thương xót, nhân vì họ bất tuân, thì họ cũng thế, nay bất tuân, bởi anh em được thương xót. Vì chưng Thiên Chúa đã dồn mọi người hết thảy vào đàng bất tuân, ngõ hầu Ngài dũ lòng thương hết mọi người.” (Rm 11,25-26.30-32).
c.       Tương quan giữa Đức Kitô và Giáo hội hay là các kitô-hữu nói chung:
Giáo hội, trước tiên, là “Thân Mình” của Đức Kitô (Cl 1,15-24; 1Cr 12,27; 1Ga 3,2; Rm 12,5; v.v…), thứ đến, là cộng đoàn những kẻ tin vào Đức Kitô và được tập hợp lại để lắng nghe Lời của Thiên Chúa (Xh 19, 3-8.25; Gs  8,32-35; 24,1-28; v.v…)  và cử hành các Bí tích của Đức Kitô (Cv 2,42) …
“Nay tôi vui sướng trong các nỗi thống khổ chịu vì anh em; và trong thân xác tôi, tôi bù đắp những gì còn thiếu nơi các nỗi quẫn bách Đức Kitô phải chịu vì Thân Mình Ngài, tức là Hội Thánh…” (Cl 1,24).
“Mà anh em là Thân Mình của Đức Kitô, và ai theo phận nấy mà làm chi thể” (1 Cr 12,27).
“Anh em thân mến, hiện giờ ta là con cái Thiên Chúa; ta sẽ là gi, thì chưa được tỏ hiện, ta biết rằng một khi điều ấy (hay là Đức Kitô “quang lâm” hay là Thân Mình mầu nhiệm của Đức Kitô là Giáo hội [ctctg]) tỏ hiện, thì ta sẽ được giống như Ngài (Đức Kitô “quang lâm” [ctctg]), vì Ngài thế nào, ta sẽ được thấy như vậy.” (1Ga 3,2).
“Họ chuyên cần với giáo huấn của các tông đồ và sự hiệp thông, việc bẻ bánh và kinh nguyện.” (Cv  2,42).
d.      Tương quan giữa Đức Kitô và vị Linh mục thừa tác:
Vị Linh mục thừa tác hiệp nhất với Đức Kitô trên cơ sở Ngôi Vị của Ngài, như nhân tính hiệp nhất với thần tính của Đức Kitô trên cơ sở Ngôi Vị của Đức Kitô. Cũng như Đức Kitô, trong tư cách vừa là Thiên Chúa thật vừa là con người thật, khi thì Ngài nói và cư xử như là con người, có khi Ngài nói và cư xử như là Thiên Chúa, con người Linh mục trong Ngôi Vị Đức Kitô (in personna Christi) cũng nói và hành xử như vậy.
“Lạy Cha ! nếu Cha muốn, xin cất chén nầy đi khỏi con ! (Đức Giêsu nói trong tư cách là con người bình thường như chúng ta: chú thích của tác giả [ctctg]). Song đừng cho ý của con, mà là ý của Cha được thành sự ! (Ở đây, Đức Giêsu nói trong tư cách là Thiên Chúa [ctctg])” (Lc 22,42; tham chiếu  Ga 12,27-29; Lc 2,49; Ga 8,58; 10,30; v.v…).
“Tất cả các con hãy nhận lấy mà ăn: vì nầy là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì các con. […]. Tất cả các con hãy nhận lấy mà uống: vì nầy là chén máu Thầy, máu giao ước mới và vĩnh cửu, sẽ đổ ra cho các con và nhiều người được tha tội. Các con hãy làm việc nầy mà nhớ đến Thầy”. (Những lời nầy chỉ thành sự và hữu hiệu khi được vị Linh mục thừa tác nói trong ngôi vị Đức Kitô, chứ không phải trong tư cách con người bình thường như mọi người).
“[…]. Vậy, Cha tha tội cho con nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.” (Những lời nầy chỉ thành sự và hữu hiệu khi được vị Linh mục nói trong ngôi vị Đức Kitô mà thôi, vì chỉ có Thiên Chúa và Con Người mới có quyền tha tội [Mc 2,3-12]…).
Vì thế, có thể nói rằng không có Bí tích Thánh Thể và Bí tích Hòa Giải thì cũng không có chức Linh mục thừa tác và ngược lại. Đó chính là cơ sở chính yếu để phân biệt giữa chức Linh mục chung của mọi kitô-hữu (sacerdoce commun) và chức Linh mục thừa tác của một số người được gọi chọn bởi Thiên Chúa qua trung gian Giáo hội (sacerdoce ministériel). Và đó cũng chính là một trong những cơ sở nói lên sự khác biệt căn bản giữa Giáo hội công giáo và các giáo hội thệ phản và Anh giáo liên quan các Bí tích, chức Linh mục thừa tác, và các vấn đề giáo hội học, v.v…
B.      TƯƠNG QUAN GIỮA VỊ LINH MỤC THỪA TÁC VÀ BÍ TÍCH THÁNH THỂ QUA LĂNG KÍNH MẦU NHIỆM NGÔI HIỆP
Giáo hội, hằng năm, vào Ngày Thứ Năm Tuần Thánh, cử hành tưởng nhớ vừa việc Chúa Giêsu lập Bí tích Thánh Thể vừa việc Chúa Giêsu thiết lập Chức Linh mục thừa tác. Điều đó có nghĩa là trong truyền thống xưa nay của Giáo hội, chức Linh mục thừa tác và Bí tích Thánh Thể luôn có tương quan mật thiết đối với nhau, đến độ người ta có thể nói rằng sẽ không có chức Linh mục thừa tác nếu không có Bí tích Thánh Thể và ngược lại…
Việc phân tích những công thức “truyền phép” sẽ cho ta thấy được những điều đó.
1.      “… Vì nầy là Mình Thầy…” và “… vì nầy là Chén Máu Thầy…”:
Trong Thánh Lễ, khi được đọc lên hay nói lên bởi vị Linh mục thừa tác, công thức nầy vốn mang hai tầng ý nghĩa:
a.       Khi được nói lên hay đọc lên cách nguyên thủy bởi Đức Kitô, công thức nầy có ý nghĩa: qua hành vi “nhận làm của mình” hay “nhận là mình’ (appropriation), tấm bánh đó hay chén rượu đó được Đức Kitô nhận “là của mình” và “là Mình” và thực sự đó chính là Đức Kitô; đồng thời, trong Ngôi Vị Mình, Đức Kitô thông ban cho Tấm bánh đó và Chén rượu đó một số thuộc tính thần linh của Ngài, như  kiểu thần tính ban cho nhân tính một số thuộc tính thần linh mà chỉ thần tính mới có… Ở đây, nói theo ngôn ngữ mầu nhiệm ngôi hiệp, Đức Kitô và Tấm bánh và Chén rượu đó hiệp nhất với nhau trở thành một trên cơ sở Ngôi Vị Đức Kitô (in personna Christi). Những khái niệm “nhận là Mình” (appropriation) và “thông ban cho nhau” (communication), như vậy, có vẻ như thích hợp hơn và năng động hơn là khái niệm “biến bản thể” (transsubstantiation) của thần học kinh viện… Thích hợp hơn, bởi vì gần gũi với ngôn ngữ Thánh Kinh hơn (xem Ga 6,32-58; Mt 3,9). Năng động hơn, bởi vì những khái niệm “nhận là Mình” và “thông ban cho nhau” bao hàm một qúa trình tiến hóa và tương quan qua lại giữa nhau, tạo cho tự do của con người và của Thiên Chúa có khoảng không gian và thời gian để chọn lựa, vì đó chính là điều làm nên căn tính của con người và Thiên Chúa…
b.      Khi được nói lên hay đọc lên bởi vị Linh mục thừa tác hiệp nhất với Đức Kitô trong Ngôi Vị của Ngài, công thức nầy còn có ý nghĩa: qua hành vi “nhận làm của mình” và “là Mình”, vị Linh mục trong ngôi vị Đức Kitô nhận Tấm bánh đó và Chén rượu đó “là của mình” và “là mình”. Vì thế, có thể nói rằng, không giây phút nào mà giữa vị Linh mục thừa tác và Đức Kitô có được sự hiệp nhất sâu xa và lớn lao cho bằng chính nơi giây phút mà vị Linh mục đó đọc “lời truyền phép”! Bánh đó và Rượu đó đồng thời cũng là Mình và Máu của vị Linh mục đang đọc lời truyền phép đó trong ngôi vị Đức Kitô…
2.      “… sẽ bị nộp vì các con…” và “… sẽ đổ ra cho các con và nhiều người được tha tội…”:
Những lời nầy diễn tả chiều kích tình yêu dâng hiến và cứu độ của Bí tích Thánh Thể và Hiện sinh của con người Linh mục.
a.       Chiều kích tình yêu dâng hiến: Các nhà thần học ngày nay dùng hạn từ “hiện hữu cho và vì…” (“pro-existence”) để diễn tả một hiện sinh không hiện hữu chỉ cho mình mà còn cho tha nhân. Hiện sinh của Đức Kitô là mẫu mực của thứ “hiện hữu cho và vì tha thể…” nầy (“propter nos homines et propter nostram salutem”):
“Không có tình yêu nào lớn hơn là tình yêu dám thí cả mạng sống mình vì người mình thương mến” (Ga 15,14).
“Ai yêu sự sống mình thì sẽ mất, ai ghét sự sống mình nơi thế gian nầy, thì sẽ giữ nó cho sự sống vĩnh hằng !” (Ga 12,25; Mt 16,25; Mc 8,35; Lc 9,23tt).
“Quả thật, quả thật, Ta bảo các ngươi: giả như hạt lúa gieo xuống đất không chết đi, thì nó trơ trọi một mình; nhưng nếu nó chết đi, nó mới sai hoa lắm quả !” (Ga 12,24).
Cũng như Mầu nhiệm Nhập thể (bao gồm mầu nhiệm Sáng tạo, Mặc khải và Siêu độ) tự nó đã là sáng kiến và hành vi dâng hiến tự do và nhưng không của Thiên Chúa Ba Ngôi vì tình yêu đối với loài người chúng ta, Bí tích Thánh Thể và hiện sinh Linh mục thừa tác cũng vậy là sáng kiến tình yêu “để ở với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20), vì Thiên Chúa là Emmanuel (Thiên Chúa ở cùng chúng ta, Mt 1,23)…
b.      Chiều kích tình yêu siêu độ: Hành vi siêu độ của Đức Kitô diễn ra trên đỉnh Thập giá chính nơi giây phút mà Tình yêu dâng hiến đạt đến đỉnh điểm của nó, khi mà Đức Giêsu Kitô dâng hiến cho Cha cái còn lại cuối cùng là Thần Khí của Cha (Ga 19,30), và chính lúc Đức Giêsu Kitô đã dâng hiến tất cả, Ngài đã được Cha ban cho lại tất cả: “Đã hoàn tất !”. Vì thế, tác giả Sách Tin Mừng thứ 4 gọi “Giờ Thập giá” cũng chính là “Giờ vinh quang” (Ga 12,23: “Giờ đã đến ! cho Con Người được tôn vinh!”). Hành vi siêu độ trên đỉnh Thập giá, như vậy, diễn ra khi mà Tình Yêu dâng hiến của Thiên Chúa chiến thắng tất cả, cả những toan tính nhỏ nhen, cả những nỗi sợ hãi, cả nỗi sợ hãi cái chết và chính cả Sự Chết…
3.      “Tất cả các con hãy nhận lấy mà ăn…” và “Tất cả các con hãy nhận lấy mà uống…”:
Những lời nầy diễn tả chiều kích Bữa tiệc bày tỏ tình yêu hiệp thông và hiệp nhất (Cv 2,42-47). Bí tích Thánh Thể và Hiện sinh Linh mục thừa tác, như vậy, chính là nguyên lý của sự Hiệp nhất của cộng đoàn, trên cơ sở việc cử hành Lời Chúa, cử hành các Bí tích và tình yêu dâng hiến…
“Họ chuyên cần với giáo huấn của các tông đồ và sự hiệp thông, việc bẻ bánh và kinh nguyện. […]. Các kẻ tin hết thảy đều coi mọi sự là của chung: đất đai của cải, thì họ bán đi mà phân phát cho mọi người, ai nấy tùy theo nhu cầu của mình.” (Cv 2,42.44).
4.      “…Các con hãy làm việc nầy mà nhớ đến Thầy”:
Những lời nầy mang một nội dung ý nghĩa kép: một đàng, vừa có nghĩa hành vi “nhận làm của mình hay là mình” (appropriation) và hành vi “thông ban cho nhau” (communication) nguyên thủy được thực hiện bởi Đức Giêsu-Kitô trong Ngày Thứ Năm  và Thứ Sáu Tuần Thánh chỉ diễn ra một lần trong không gian và thời gian nhưng mang hiệu quả và hiệu năng có tính quyết định và phổ quát cho mọi người và mọi thời (Dt 9,11-28); đàng khác, vừa có nghĩa, khi cử hành Bí tích Thánh Thể, vị Linh mục thừa tác không phải “làm lại” hay “tái diễn lại” hành vi “nhận Bánh và Rượu là Thân Mình và Máu của Đức Kitô”  trên chiều kích dâng hiến lẫn chiều kích siêu độ, để tạo ra những hiệu năng và hiệu quả như vậy một lần nữa trong thời gian và không gian, mà đúng hơn là “làm cho hiệu quả vốn đã có và đang hiện hữu hiện diện đối với…” (le rendre présent pour…), hay nói cách khác, vị Linh mục thừa tác trong ngôi vị Đức Kitô, khi cử hành Bí tích Thánh Thể trong không gian và thời gian là làm cho chính “Đức Kitô ‘là’ Bánh và Rượu” hiện diện trong không gian và thời gian nơi Bánh và Rượu đang được “truyền phép” trên Bàn thờ và cả nơi chính con người của vị Linh mục trong ngôi vị Đức Kitô đang cử hành đó, đối với những ai tin và muốn tin…(khái niệm “le mémorial”: xem Xh 3,15; 12,14; 13,9; Tl 16,3). Điều đó cho thấy tương quan giữa vị Linh mục thừa tác trong ngôi vị Đức Kitô và Bí tích Thánh Thể cũng như đối với những kẻ tin vào Bí tích nầy không đơn giản chỉ có tính tĩnh tại (statique), máy móc, phi ngôi vị, hoàn toàn có tính khách quan, mà là quan hệ tình yêu, năng động và có tính tương quan ngôi vị… Bởi vì chỉ trong quan hệ tình yêu người ta mới có thể, dù không hiện hữu bên nhau, không nhìn thấy nhau, nhưng người ta vẫn luôn có thể ở trong nhau, có nhau và hiện diện đối với nhau (xem Pl 3,10-11)…
Như vậy, khi cử hành Bí tích Thánh Thể, vị Linh mục thừa tác trong ngôi vị Đức Kitô, nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần, làm cho Đức Kitô hiện diện cách hữu hình, qua việc ngài, trong ngôi vị Đức Kitô, nhận Tấm bánh và Chén rượu đang hiện diện trên Bàn thờ đó “là của mình” và “là mình” và thực sự là thế, Và như vậy, là để Đức Kitô luôn luôn “hiện diện” đối với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế…
5.      Cơ sở Thánh Kinh của việc Đức Kitô nhận Mình là lương thực (Bánh và Thức uống [rượu và nước]) cho con người:
Hầu như cả bốn Sách Tin Mừng đều chứng tỏ cho thấy Đức Giêsu bao giờ cũng chỉ nói và khuyên người khác làm điều mà chính Ngài đã, đang và sẽ làm và thực hiện (xem thí dụ Mt  5,1-12a; Lc 14,25-33; Ga 15,13; 6,51-58; v.v…). Trong ngôn ngữ Thánh Kinh Cựu Ước, trung tín, trung thành với Giao ước, với lời thề hứa là một trong những đặc trưng của Thiên Chúa (Xh 34,6; Tv 25,10; Ga 18,37; Kh 3,14; v.v…)…
a.       “… Bánh hằng sống bởi trời xuống, chính là Ta ! Ai ăn bánh nầy, thì sẽ được sống đời đời. Và bánh Ta sẽ ban, ấy là thịt mình Ta vì sự sống thế gian.” (Ga 6,51) và “…Bánh sự sống, chính là Ta ! […]. Vì thịt Ta thật là của ăn và máu Ta là thật của uống. Kẻ ăn thịt Ta và uống máu Ta thì lưu lại trong Ta, và Ta ở trong kẻ ấy.” (Ga 6,48.55-56): Phản ứng của một số kẻ nghe lúc đó (Ga 6,60) cho thấy ngôn ngữ của Đức Giêsu có lẽ khá rõ ràng và cụ thể, chứ không theo nghĩa tượng trưng hay ẩn dụ gì cả: “ăn” (manducare, manger) thịt và “uống” (bibere, boire) máu ! Có thể bởi vì họ chưa biết việc Đức Giêsu, trong Bí tích Thánh Thể, nhận tấm bánh ăn và chén rượu uống trong bữa tiệc hiệp thông là Thịt Mình và Máu Mình (appropriation) và khi ăn “tấm bánh” đó và uống “chén rượu” đó chính là “ăn” và “uống” Thịt và Máu của Đức Giêsu-Kitô !
b.      “…thì sẽ được sống đời đời.” (Ga 6,51) và “…thì lưu lại trong Ta và Ta ở trong kẻ ấy.” (Ga 6,56): những lời nầy diễn tả tương quan giữa chiều kích tình yêu dâng hiến và chiều kích tình yêu siêu độ, tức là sự sống vĩnh hằng, sự sống Tình Yêu Thiên Chúa-Ba Ngôi, luôn tương tại và tương ngụ trong nhau, luôn sống cho nhau và vì nhau…
6.      Một vài suy tư thần học
Trên cơ sở những phân tích trên đây, có thể nói rằng:
a.       Cũng như trong Mầu nhiệm Nhập thể, chỉ có vấn đề Thiên Chúa tự hủy làm người (“Et Verbum caro factum est” nơi Ga 1,14) chứ không có vấn đề ngược lại là con người tự mình làm Thiên Chúa, nơi Bí tích Thánh Thể, cũng vậy, chỉ có vấn đề Đức Kitô và vị Linh mục thừa tác trong ngôi vị của Ngài tự hủy nhận Bánh đó và Rượu đó là Mình (et Christus panis factus est, et Christus vinum factus est), chứ không có vấn đề ngược lại là Bánh và Rượu có thể tự mình làm thành mình và máu Đức Kitô. Đây là vấn liên quan tình yêu nhưng không, tự do và ân sủng của Thiên Chúa…
b.      Tương quan giữa vị Linh mục thừa tác trong ngôi vị Đức Kitô và Bí tích Thánh Thể là tương quan có tính hữu thể (relation ontologique): điều nầy có nghĩa cũng như nơi Bí tích truyền chức thánh, qua quyền năng và tác động của Chúa Thánh Thần, Đức Kitô tự hủy nhận con người vị Linh mục thừa tác làm là mình và cả hai hiệp nhất với nhau trên cơ sở ngôi vị Đức Kitô qua cấu trúc cấu thể hữu thể như nơi mầu nhiệm ngôi hiệp, ở đây, cũng vậy, khi vị Linh mục thừa tác trong ngôi vị Đức Kitô “truyền phép”, nhờ quyền năng và tác động của Chúa Thánh Thần, vị Linh mục thừa tác đang tế lễ đó hiệp nhất với bánh và rượu trên bàn thờ nên một trên cơ sở ngôi vị Đức Kitô…
c.       Tương quan giữa vị Linh mục thừa tác trong ngôi vị Đức Kitô với Bí tích Thánh Thể và Giáo hội: bởi vì Giáo hội vốn được gọi là “Thân Mình mầu nhiệm của Đức Kitô”, vì thế cho nên, vị Linh mục thừa tác chỉ ở trong ngôi vị Đức Kitô khi ngài hiện hữu trong, bởi, cho và vì Đức Kitô, Giáo hội và Bí tích Thánh Thể…
Đó chính là cơ sở của Khoản Giáo luật 1378, § 2, 1°: “… Những người sau đây bị phạt vạ cấm chế tiền kết và bị vạ huyền chức, nếu là giáo sĩ: người nào không phải là tư tế mà dám cử hành phụng vụ Hiến Tế Thánh Thể…” 
C.      TƯƠNG QUAN GIỮA VỊ LINH MỤC THỪA TÁC VÀ BÍ TÍCH HÒA GIẢI QUA LĂNG KÍNH MẦU NHIỆM NGÔI HIỆP
Bí tích Hòa giải, trước tiên, có hiệu năng khôi phục lại những tương quan vốn có giữa con người với Thiên Chúa, với tha nhân, với chính bản thân mình và với thiên nhiên vũ trụ đã bị phá vỡ do ích kỷ, kiêu căng, ghen ghét, hận thù, bất tuân và mù quáng, v.v…, hay nói chung là do tội lỗi (xem St 3,1-24).
1.      Việc phân tích Công thức tha tội của Giáo hội sẽ giúp chúng ta hiễu rõ hơn hiệu năng của Bí tích nầy và tương quan giữa vị Linh mục thừa tác với Bí tích Hòa giải:
a.       “Thiên Chúa là Cha hay thương xót, đã nhờ sự chết và sống lại của Con Chúa mà giao hòa thế gian với Chúa…”:
Sự Hòa giải nguyên thủy, hoàn hảo, vẹn toàn, tuyệt đối, một lần thay cho tất cả hay sự Hòa giải của tất cả mọi hòa giải đã được thể hiện nơi Đức Giêsu-Kitô vốn vừa là Thiên Chúa thật vừa là con người thật nơi mầu nhiệm Ngôi hiệp, tức là nơi việc thần tính và nhân tính của Đức Kitô hiệp nhất trên cơ sở Ngôi Vị của Ngài “vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta” (propter nos homines et propter nostram salutem).
Và, bởi vì  nhân tính của Đức Kitô cũng chính là nhân loại toàn thể (xem Ga 1,3; Tv 33,6; Cl 1,15-20; Kh 3,14; 1Cr 8,6), cho nên khi nhân tính của Đức Kitô hoàn toàn hiệp nhất với thần tính của Ngài trên cơ sở Ngôi Vị của Ngài trong hành vi tình yêu dâng hiến hoàn toàn trên đỉnh thập giá cũng chính là lúc toàn thể nhân loại mọi nơi và mọi thời được thần linh hoá, được thánh hiến, được siêu độ, được tha thứ và được tái hòa giải lại với Thiên Chúa, với tha nhân, với thiên nhiên vũ trụ và với chính bản thân mình…
b.      “… và ban Thánh Thần để tha tội…”:
Theo ngôn ngữ Thánh Kinh, chỉ có Thiên Chúa và Con Người hay là Đức Kitô mới có quyền tha tội (xem Mc 2,3-12). Vậy, khi nói “ban Thánh Thần để tha tội”, điều nầy hẳn có nghĩa là Thánh Thần của Đức Kitô cũng là Thánh Thần của Thiên Chúa hay là chính Đức Kitô, chính Ngôi Vị Đức Kitô tha tội… Đó chính là Thần Khí của Đức Kitô Phục Sinh hằng ở với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế (xem Ga 14,16-31; 20,23; Mt  28,19-20).
c.       “…Xin Chúa dùng thừa tác vụ của Hội Thánh mà ban cho […] ơn tha thứ và bình an…”:
Ơn tha thứ và bình an, như đã phân tích ở trên, chỉ có thể có “trong”, “bởi” và “với” Đức Kitô cách uyên nguyên  và “Thân Mình mầu nhiệm” của Ngài là Giáo Hội nhờ ân sủng được ban cho (hay “thừa tác”) - tức là do được Đức Kitô nhận “là” Mình - mà thôi. Tác vụ hòa giải và tha tội đích thực và toàn vẹn, như vậy, chỉ có thể được thực hiện bởi vị Linh mục thừa tác trong ngôi vị Đức Kitô và trong Giáo Hội là Thân Mình mầu nhiệm của Ngài mà thôi…
 
d.      “…Vậy, tôi tha tội cho […] nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần.”:
Cũng như trong mầu nhiệm ngôi hiệp, tuy là hai bản tính (thần tính và nhân tính), nhưng ở nơi Đức Kitô chỉ là một Ngôi Vị hay chỉ có một cái “TÔI” mà thôi, cũng vậy, cái “tôi” ở đây chỉ có thể là cái “tôi” trong ngôi vị Đức Kitô, cái “tôi” được nhận là “cái tôi thiên chúa”: chỉ trong điều kiện cái tôi thiên chúa như vậy (nghĩa là thuộc về cấu trúc hữu thể học)  mới có thể có quyền tha tội (xem Mc 2,3-12).
Và, trên cơ sở mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi cùng tương ngụ trong nhau (inhabitation trinitaire), hành vi tha tội và hòa giải trong ngôi vị Đức Kitô hẳn đồng thời cũng phải là hành vi trong và bởi Mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi: được tha thứ bởi Thiên Chúa-Ba Ngôi và được hòa giải với Thiên Chúa-Ba Ngôi…
2.      Cơ sở Thánh Kinh của việc tha tội bởi Thiên Chúa, bởi Con Người và của việc hòa giải với Thiên Chúa, với tha nhân, với thiên nhiên vũ trụ và với chính bản thân mình:
a.       Mc 2,3-12: “…[…]. ‘Ai nào có thể tha tội được, trừ phi là một mìmh Thiên Chúa?’.[…]. ‘Song để các ông biết Con Người có quyền tha tội dưới đất’.”
b.      Mt 16,19: “…Ta sẽ trao cho ngươi chìa khóa Nước Trời, và điều gì dưới đất ngươi cầm buộc, thì cũng sẽ bị cầm buộc trên trời, và điều gì dưới đất ngươi tháo cởi thì cũng sẽ được tháo cởi trên trời.”
Quyền năng tha tội không chỉ được ban cho Phêrô thôi mà còn cho toàn thể tông đồ đoàn (collège apostolique): “Quả thật, Ta bảo các ngươi: mọi điều dưới đất các ngươi cầm buộc, thì cũng sẽ bị cầm buộc trên trời , và mọi  điều dưới đất các ngươi tháo cởi, thì cũng sẽ được tháo cởi trên trời.” ( xem Mt 18,18); và cho các môn đệ được qui tụ lại với nhau như một tập thể, một cộng đoàn: “… Nói thế rồi, Ngài thổi hơi trên họ và nói với họ: ‘Hãy chịu lấy Thánh thần. Các ngươi tha tội cho ai, thì tội họ được tha; các ngươi cầm giữ tội ai, thì tội họ bị cầm giữ!’.” (Ga 20,23).
c.       Lc 15,11-32: “[…]. Hồi tâm lại, nó nói: Biết bao nhiêu người làm công cho cha tôi có dư thừa bánh ăn, còn tôi thì phải chết đói ở đây ! Thôi dậy ! tôi sẽ về cùng cha tôi, tôi sẽ nói với người: ‘Thưa cha, con đã trót  phạm tội nghịch với Trời và với cha; con không còn đáng gọi là con cha nữa, xin xử với con như một người làm công của cha thôi’ (đối chiếu với St 3,1-24). […]. ‘Ta phải ăn khao mới được ! vì nầy con  ta đây: nó đã chết mà lại hoàn sinh, đã mất đi mà lại tìm thấy được’.”
d.      Cl 1,18-20: “Ngài là đầu của Thân mình, tức là Hội thánh. Ngài là khởi nguyên, là trưởng tử giữa các vong nhân, ngõ hầu trong muôn sự Ngài là đệ nhất vô song! Vì chưng, Thiên Chúa đã quyết ý cho tất cả Viên mãn  đậu lại trong Ngài. Và đã giảng hòa cả vạn vật nhờ Ngài và cho Ngài, đã ban lại bình an nhờ  bửu huyết đổ ra nơi Thập giá của Ngài, cho mọi vật dù ở dưới đất hay ở trên trời !”
3.      Một vài suy tư thần học
a.       Sự tha thứ “bởi” con người và sự tha thứ “bởi” Thiên Chúa:
Sự phân biệt và so sánh nầy thực ra chỉ có tính tương đối và vạn bất đắc dĩ mà thôi, cốt là để cho dễ hiểu và dễ nắm bắt hơn, bởi vì, nói theo ngôn ngữ thần học, tất cả mọi hiện hữu, mọi hành vi thánh thiện của con người đều chỉ có thể có được “trong” Thiên Chúa mà thôi (xem Rm 11,36; 1Cr 8,6; Cl 1,16tt). Khi nói tha thứ  “bởi” con người là có ý nhấn mạnh khía cạnh hành vi tha thứ giữa con người với con người nói chung dù hành vi đó trên thực tế diễn ra trong Thiên Chúa. Còn khi nói tha thứ “bởi Thiên Chúa” là có ý nhấn mạnh sự tha thứ bởi vị Linh mục thừa tác trong ngôi vị Đức Kitô vừa là Thiên Chúa thật vừa là con người thật.
Trong ngôn ngữ Thánh Kinh có vẻ như có sự khác biệt giữa sự tha thứ nói chung giữa con người với nhau và với sự “tha tội” chỉ bởi Thiên Chúa mà thôi: tha thứ thì tất cả mọi người đều có bổn phận phải tha thứ (Mt 18,21; Lc 17,4; 11,4; v.v…), nhưng “tha tội” (quyền “cởi trói” và “cầm buộc”) thì có vẻ như chỉ những ai được ban cho “thẩm quyền tha tội” mới được tha tội (xem Mt 9, 6; Mc 2,10; Lc 5,24; Mt 12,31). Ngoài ra, việc con người có được Thiên Chúa tha tội như thế nào có phần còn tuỳ thuộc vào việc con người có tha thứ cho nhau hay không và như thế nào (xem  Mt 6,12-15; 18,35; Mc 11,25-26).
b.      Thẩm quyền tha tội (quyền “cởi trói” và “cầm buộc”) của vị Linh mục thừa tác trong ngôi vị Đức Kitô:
Như đã lưu ý ở trên, mục 2b, chỉ có Thiên Chúa và Con Người, tức là chính Đức Kitô, vừa là Thiên Chúa thật vừa là con người thật mới có quyền tha tội: đó là Thẩm quyền nguyên thủy, do căn… Các thừa tác viên có chức thánh khác (trừ phó tế), kể từ Giáo hoàng, Hồng y, Giám mục, và Linh mục thừa tác chỉ có quyền tha tội trong ngôi vị Đức Kitô mà thôi, tức là do ân sủng được ban cho: “Chỉ có tư tế là thừa tác viên của bí tích Sám Hối” (GL. Khoản 965)…
Tuy nhiên, bởi vì Phêrô, vị Giáo hoàng tiên khởi và tông đồ đoàn (các hồng y và giám mục?) vốn được ban cho thẩm quyền nầy có lẽ không phải cách đầy đủ hơn và trọn vẹn hơn mà đúng hơn là vì phạm vi phục vụ của các ngài rộng lớn hơn và bao quát hơn (xem Mt 18,18; Ga 20,23), nên thẩm quyền của các ngài mang tính phổ quát hơn là các Linh mục thừa tác  mà phạm vi phục vụ vốn là những cộng đoàn nhỏ bé hơn: điều nầy được phản ánh trong Bộ Giáo luật 1983 bao gồm các Khoản từ 965 đến hết 973… Đàng khác, có lẽ bởi vì một đàng để đề cao tầm quan trọng của Bí tích nầy và đàng khác để tránh những lạm dụng có thể xãy ra, Giáo luật  Khoản 973 qui định: “Năng quyền giải tội thường xuyên phải được ban bằng văn bản”.
Ở đây, cần lưu ý là thẩm quyền tha tội  mà vị Linh mục thừa tác có được là vì  vị Linh mục thừa tác đó được hiệp nhất với Đức Kitô trong ngôi vị của Ngài và vì thế “trong cương vị của Đức Kitô” (“en raison d’être le Christ”) chứ không vì bất cứ lý do ngoại tại nào khác cả, thì dụ như những kiểu nói không thích hợp như: “vì thay mặt hay đại diện Đức Kitô” hoặc “vì được ủy quyền”, thậm chí cả những kiểu nói “đồng hình đồng dạng” hay “alter Christus”, v.v…
D.      LINH MỤC THỪA TÁC, NGÀI LÀ AI?
Có thể nói rằng dung mạo của vị Linh mục thừa tác đã lộ rõ ra khá rõ ràng khi chúng ta phân tích về những tương quan giữa ngài với Đức Kitô, với Bí tích Thánh Thể và với Bí tích Hòa Giải…
Như một đúc kết tạm thời và sơ lược, bài nầy cố gắng rút ra một số hệ luận từ những phân tích trên đây:
1) Linh mục thừa tác, ngài là ai?
2) Vai trò và vị trí của ngài trong tương quan với Giáo Hội và các Cộng đoàn…
1.      Linh mục thừa tác, ngài là ai?
Ngài là “con người trong ngôi vị Đức Kitô” hay “con người được Đức Kitô nhận là Mình”: điều nầy khác xa với những khái niệm “Alter Christus” (Đức Kitô khác hay Đức Kitô thứ hai…), hay “Đại diện Đức Kitô” hay “Đồng hình đồng dạng với Đức Kitô”…
a.       Điều đó, nói theo ngôn ngữ mầu nhiệm ngôi hiệp, trước tiên, có nghĩa vị Linh mục thừa tác vừa là Đức Kitô thật vừa là con người thật với những yếu đuối, những bất toàn và với cả tội lỗi, v.v…Bởi vì, con người “thánh” không đồng nghĩa với con người “hoàn hảo” hay “hoàn thiện” (perfection) mà đơn giản có nghĩa là con người được Thiên Chúa yêu thương và tha thứ…Chúng ta hãy nhớ đến các Tông đồ của Đức Giêsu: những Phêrô yếu đuối, những Giacôbê và Gioan đầy tham vọng trần tục, những Giuđa Iscariôt tham tiền và phản bội, v.v… Là chính Đức Kitô, nên ngài mới có thể “truyền phép Bánh và Rượu” và “nói”: “Nầy là Mình Thầy…” và “Nầy là chén Máu Thầy…”, để chính Đức Kitô và ngài “là” Bánh đó và Rượu đó (xem GL Kk. 899 § 2 và 900 § 1)…Là chính Đức Kitô, nên ngài mới có thể tha tội, và “nói”: “Và Tôi, Tôi tha tội cho Ông (Bà, Anh, Chị…) nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần…”. Nhưng, đồng thời, ngài cũng là con người với những bất toàn, những yếu đuối, những sa ngã, những tội lỗi, v.v…, cần được thông cảm, được thứ tha và được xây dựng…Như thế, nói theo ngôn ngữ của Thánh Phaolô, là vì: “Nhưng chính những điều thế gian coi là điên rồ, thì Thiên Chúa đã chọn để bêu nhuốc hạng khôn ngoan; và những điều thế gian coi là yếu đuối, thì Thiên Chúa đã chọn để bêu nhuốc những gì là mạnh mẽ. Những điều thế gian cho là ti tiện, là không đáng kể, thì Thiên Chúa đã chọn, những điều không không, để hủy ra không những điều có, ngõ hầu đừng có xác phàm nào dám vinh vang trước mặt Thiên Chúa.” (1Cr 1,27-29).
b.      Thứ đến, cương vị “là Đức Kitô” hay “trong ngôi vị của Đức Kitô” đó của vị Linh mục thừa tác, vốn vĩnh hằng (Ep 1, 4) và, sau khi đã được một vị giám mục hợp pháp của Giáo hội, dưới quyền năng Chúa Thánh thần, truyền ban, là vĩnh viễn, không ai và không gì có thể tước đi được (xem Dt 5,1-10; 7,24-28; Ga 15,14-16; 17,6-26; v.v…): người ta chỉ có thể cấm đoán hay tước đi quyền cử hành một số Bí tích và quyền thi hành mục vụ của ngài trong một thời gian nào đó, đối với một số đối tượng nào đó, v.v…, chứ không thể tước đi cương vị hay tư cách là “con người trong ngôi vị của Đức Kitô” của ngài được. Lý do, bởi vì cương vị “là Đức Kitô” đó vốn nằm trong cấu trúc hữu thể học của vị Linh mục thừa tác (xem Ga 13,20), chứ không phải là yếu tố ngoại tại. Đó chính là lý do giải thích tại sao Giáo luật của Giáo hội chủ trương rằng trong một số tình huống khẩn cấp và đặc biệt (như chiến tranh, bom đạn), một vị Linh mục thừa tác trước đó vốn bị cấm đoán có thể tự động được ban Bí tích Hòa giải cho giáo dân, “propter nos homines” và “propter nostram salutem” (xem GL, Kk. 976 và 986 § 2).
Ngày 15-12-2009 vùa qua, qua Tự Sắc “OMNIUM IN MENTEM”, Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI đã cho thêm vào Khoản Giáo Luật 1009 một triệt 3 qui định: “Những người được tấn phong chức giám mục hoặc Linh mục nhận lãnh sứ mạng và năng quyền hành động trong ngôi vị Đức Kitô Thủ lãnh, nhưng các phó tế thì được ban cho năng quyền phục vụ dân Chúa trong vai trò phụ việc trong cử hành phụng vụ, Lời Chúa và bác ái” (1009  § 3: “Ceux qui sont constitués dans l’ordre de l’épiscopat  ou du presbytérat  reçoivent la mission et la faculté d’agir en la personne du Christ tête, mais les diacres sont habilités à servir le peuple de Dieu dans la diaconie de la liturgie, de la parole et de la charité”).
c.       Khi nói “cương vị là Đức Kitô” thuộc về cấu trúc hữu thể học của vị Linh mục thừa tác, điều nầy không có nghĩa, giống như Đức Giêsu-Kitô vốn là Ngôi Lời Thiên Chúa và là Thiên Chúa và Đức Maria vốn được những đặc ân như vô nhiễm nguyên tội, thánh thiện không tì vết, mặc dụ vẫn phải đối diện với những cám dỗ, những thử thách trong cuộc đời trấn thế, mà chỉ muốn nói rằng, cũng như nơi các Tông đồ của Đức Kitô, “cương vị là Đức Kitô” mà vị Linh mục thừa tác nhận được trong ngày lễ Phong chức vốn bắt đầu như một “hiện hữu ở đó” (“être en lui”) và sẽ từ từ qua quá trình cuộc sống trở thành “hiện diện đối với ngài” (“être présent pour lui…”), và trong quá trình đó, hẳn ngài sẽ phải đối diện với những thử thách, cám dỗ và thậm chí những sa ngã…(xem 1Tm  4,6-16; 2Tm 3,10-17; 1Cr 3,18-23; 4,1-5; 2Cr 4,1-11, v.v…).
Quá trình đi từ “hiện hữu nơi ngài” (“être en lui”) đến “hiện diện đối với ngài” (“être présent pour lui”) chỉ có thể là qúa trình tình yêu được sống, qúa trình tương quan ngày càng mật thiết, sống động và cá vị giữa vị Linh mục thừa tác với Đức Giêsu Kitô, với Thân Mình mầu nhiệm của Ngài là chính Giáo Hội và với tha nhân, đặc biệt “những con người bé nhỏ”… Đó là một tương quan có tính năng động, hỗ tương và biện chứng, tức là vị Linh mục thừa tác càng yêu thương Thiên Chúa và con người bao nhiêu bằng một tinh yêu vị tha, dâng hiến, Đức Kitô càng hiện diện đối với ngài và trong ngài bấy nhiêu, và ngược lại, Đức Kitô càng hiện diện bao nhiêu đối với vị Linh mục thừa tác, ngài sẽ càng yêu thương nhiều bấy nhiêu và ngài càng “là mình” (identité) bấy nhiêu… Người ta sẽ hiểu được căn tính (identité) của vị Linh mục thừa tác cách rõ ràng hơn khi nghiên cứu vai trò, vị trí của ngài trong tương quan với Giáo hội-Thân Mình mầu nhiệm của Đức Kitô…
2.      Vai trò và vị trí của vị Linh mục thừa tác trong tương quan với Giáo Hội và các Cộng đoàn…
Có thể nói rằng Ep 4,11-13, một cách tổng quát, cho chúng ta thấy rõ vai trò, chức năng và vị trí của vị Linh mục thừa tác trong Giáo hội và các cộng đoàn:
“Đức Kitô đã ban ơn cho kẻ nầy làm Tông Đồ, người nọ làm ngôn sứ, kẻ khác làm người loan báo Tin Mừng, kẻ khác nữa làm người coi sóc và dạy dỗ. Nhờ đó, dân thánh được chuẩn bị để làm công việc phục vụ, là xây dựng thân thể Đức Kitô, cho đến khi tất cả chúng ta đạt tới sự hiệp nhất trong đức tin và trong sự nhận biết Con Thiên Chúa, tới tình trạng con người trưởng thành, tới tầm vóc viên mãn của Đức Kitô” (Ep 4,11-13).
Còn Cv 2,42 thì lại cho chúng ta thấy Hiện sinh đời sống của Giáo hội thời sơ khai và mọi thời được lập căn trên 4 yếu tố nền tảng: “Họ chuyên cần với giáo huấn của các tông đồ và sự hiệp thông, việc bẻ bánh và kinh nguyện”. Việc phân tích Cv 2,42 sẽ cho chúng ta thấy rõ được vai trò và chức năng và sứ mạng cụ thể của vị Linh mục thừa tác…
a.       “Họ chuyên cần với giáo huấn của các tông đồ”: Giáo hội, trước tiên, là một tập thể những người qui tụ lại với nhau để lắng nghe Lời Chúa (Assemblée du Seigneur). Vị Linh mục thừa tác chính là người mang trách nhiệm qui tụ, công bố, rao giảng và giải thích Lời Chúa nhân danh Giáo Hội, Thân Mình mầu nhiệm của Đức Kitô, tiếp nối truyền thống giáo huấn của các tông đồ.
b.      “…và sự hiệp thông”: Thứ đến, Giáo Hội là một tập thể những con người có cùng chung xác tín tất cả mọi người đều là anh chị em với nhau vì cùng có chung một Cha là Thiên Chúa, Đấng Tạo Thành mọi sự; hay nói cách khác, là tập thể những con người có cùng