HỌC TẬP QUI CHÁNH - Dominique-Thomas TRỊNH KHÁNH TẤN

Chủ nhật - 10/05/2020 05:27
HỌC TẬP QUI CHÁNH - Dominique-Thomas TRỊNH KHÁNH TẤN
HỌC TẬP QUI CHÁNH - Dominique-Thomas TRỊNH KHÁNH TẤN
HỌC TẬP
QUI CHÁNH

Dominique-Thomas TRỊNH KHÁNH TẤN
Tri huyện honoraire
Dọn ra

IMPRIMERIE DE LA MISSION
289 HAI BÀ TRƯNG - TÂN ĐỊNH - SÀI GÒN


Học đạo cho thông, cứ lễ nghi.
Tập rèn chữ nghĩa, phải theo thì.
Qui điều giảng dạy, lời ngay thảo
Chánh lý biết tường, thế ít khi.

----------------------------------------------------------------------------------------------------
1 Trẻ nhờ trường học thể nào. 3
2. Học vần. 5
3. Lên Sách Phần. 6
4. Sách Yếu Lý Vấn Đáp. 8
5. Kinh giúp lễ Mi-sa và Kinh Hôm Mai 9
6. Tập viết. - Phép toán. 10
7. Dạy khuôn phép trong trường. 11
8. Về Đức Chúa Trời 13
9. Học trò xấu. 16
10. Học trò hay ăn cắp. 18
11. Gương Chúa thương thưởng học trò lành. 19
12. Lễ nghi: về sạch sẽ. 21
13. Trách tội hoài, nết na trong nhà thờ luôn. 21
14. Đọc kinh xem lễ cho tử tế;  kính nhà thờ nhà thánh. 24
15. Xem lễ ngày Chúa nhật,  lễ trọng và ngày thường. 26
16. Về phép giải tội 28
17. Cách ăn ở dọc đàng cho có lễ nghi 29
18. Ở nhà ăn ở cho phải phép. 32
19. Anh em hoà thuận yêu nhau. 34
20. Bổn phận con cái lành,  thảo kính thương yêu cha mẹ. 34
21. Gương Ngô Mãnh thương yêu cha mẹ. 36
22. Vưng lời chịu luỵ giúp đỡ cha mẹ. 37
23. Bổn phận ở với bề trên và bà con. 38
24. Gương con hư tại cha mẹ (Truyện thằng Bồ) 39
25. Phải sửa phạt con cái 49
26. Đồng nhi đừng bài bạc rượu chè. 50
27. Ở cho hoà nhã khôn ngoan. 52
28. Lo kiếm nghề làm ăn. 54
29. Truyện Á thánh Gẫm.. 55
30. Cầu xin ông thánh Antôn. 60
31. Bổn phận con gái ở trường,  ở nhà thờ, và ở gia đình. 60
32. Con gái phải biết mua,  biết nấu, biết giữ đồ ăn. 63
33. Xem sóc bàn thờ và cùng nhà. 67
34. Đừng ở không nhưng:  Tập may vá thêu thùa,  tập ăn nói cho phải phép. 68
35. Con gái mê bài cào, tứ sắc. 70
36. Nết na con gái nhơn đức. 70

----------------------------------------------------------------------------------------------------
DẪN
Sách này in ra để cho con trẻ, em Nam, Nữ, các trường việt ngữ trong các họ, hay là những trường sơ học , tập đọc, viết cho trúng tiếng Việt Nam ta, và dạy nó phép tắc nết na, khi còn nhỏ, hầu sau nó mới nên học tiếng ngoại quốc cùng phép tắc nước người.
Vậy những con trẻ nào học sách này, hay là coi mà biết chuộng sự lành, lánh điều dữ, làm việc phải, tránh đàng quấy, nên trai hiền từ, xứng gái đức hạnh, cho thông đạo lý, lo mà thờ phượng Đấng Tạo Thành vạn vật, ở hết lòng khiêm nhượng, hiếu thảo với cha mẹ, ra sức học lễ nghi , gắng công tập chữ nghĩa, biết làm ăn chín chắn, ở đời với người ta, đến khi sau khôn lớn, học thêm, đặng mà giữ gìn giềng mối trong ngoài, cho khỏi sự nghèo nàn khốn cực, đã được nên tiếng tốt, lại thơm danh cha mẹ, thì cuốn này rất có ích biết là chừng nào?
Trong sách này không phải là sách dạy cao kỳ nghĩa lý gì, nhưng mà làm thiệt là dày công lắm.
Chợ Quán, ngày 15 tháng ba âm lịch 1909
ĐOMINIQUE-THOMAS TRỊNH KHÁNH TẤN
TRI HUYỆN  HONORAIRE
HỌC TẬP QUI CHÁNH

*****
- Nhơn khi nhằm lúc rảnh rang,                             1
Dạy rồi trẻ nhỏ, nghỉ an dư giờ.

- Vãn kia, tuồng nọ, phú thơ.
Trải xem mấy thứ, lòng ngờ chưa ưng,

- Suy đi, nghĩ lại, ngập ngừng,                               5
Thiếu điều dạy trẻ, bâng khâng mới bày.

- Vui lòng lãnh tiếng thày lay,
Lời quê, ý cạn: dở, hay, chẳng nài.

- Lại còn cam chịu chê bai.
Đặt ra một bổn, gái, trai, xem đồng.                    10

 

1 Trẻ nhờ trường học thể nào

- Trước là cho trẻ học thông,
Mấy lời thầy dạy, gắng công học thường.

- Sau là học phép tắc trường,
Nết na phải thể, theo đường lớn khôn.

- Thế nào cốt cách không mòn,                            15
Sau dầu hoang ác, cũng còn khá hơn.

- Ngọc lành vì bởi giũa trơn,
Hễ người dốt nát nguồn cơn biết gì?

- Nhỏ thì phải học lễ nghi ,
Nếu không ai dạy, lớn thì sao nên?                     20

- Trẻ thơ tánh hãy còn mềm,
Dễ in, dễ khiến, dẫu quên còn dằm.

- Những điều thầy dạy mấy năm,
Lớn khôn còn nhớ in tâm trọn đời.

- Bé thời tính nết ham chơi,                                  25
Tập lần dạy dỗ, đổi dời khác xa.

- Đời này mỗi họ sẵn cha,
Trường nam, trường nữ, lập ra cũng nhiều.

- Cũng vì một sự thương yêu,
Dạy thông lẽ đạo, luật điều Chúa răn.                 30

- Nữ, Nam, vậy phải siêng năng,
Biết điều xưng tội, ăn năn xét mình.

Sau dầu siêu lạc linh đinh,
Buông theo tội lỗi u minh việc hồn.

- Nhưng mà nề nếp hãy còn,                                 35
Đến giờ lâm tử hơi mòn ước trông.

- Nhờ hồi xưng tội bao đồng,
Ăn năn cách trọn thật lòng Chúa tha.

- Bởi lời dạy dỗ nhờ cha,
Biết đàng trở lại cũng là khá hơn.                        40

- Kể sao cho xiết công ơn,
Tập rèn nam, nữ, khuyên lơn học hành.

- Làm cho đạo Chúa sáng danh,
Dẫn đàng con trẻ việc lành noi gương.

- Mỗi thầy đều dạy mỗi trường,                           45
Trước thông chữ nghĩa, sau tường nết na.

 

2. Học vần

- Từ đây thầy mới dạy ra,
Trường nam, trường nữ, cũng là giảng khuyên,

- Các Vần hãy học cho chuyên,
Siêng năng mà học, sau liền thơm danh.             50

- Kẻo công cha mẹ sanh thành,
Lớn lên dốt nát, sao đành mẹ cha?

- Vào trường ngó hãy còn xa,
Đầu thì mới lại, sau thì cũng quen,

- Tục rằng: “Gần mực thì đen.                              55
“Gần đèn thì sáng”, ráng nhen rạng ngời.

- Có đi thì mới tới nơi,
Ăn thời thêm vóc, học thời thêm hay,

- Gắng công mài sắt chầy ngày,
Nên kim có thuở, công dày mới ra.                      60

- Học thì đừng có ngâm nga,
Xét xem ý chí, đừng mà làm rân.

- Học cho muốn đặng thành thân,
Ráng mà chịu khó chuyên cần mới nên,

- Văn xuôi, vần ngược, cho bền,                          65
Học đừng đớt đát, hai bên chúng cười,

- Học thì đừng sợ hổ ngươi,
Hỏi anh em bạn, hỏi người dưới trên,

- Miễn là mình học cho nên,
Học cùng chúng bạn, sau lên tới thầy.                 70

- Học thì chăm chỉ đừng khuây,
Biết cho chắc chắn chữ nấy, nét kia,

- Đừng điều lý lắc dọc lia,
Ngó lơ, ngó lảng, chỗ kia chỗ này,

- Sách, vần tay chớ quơ quây,                              75
Muốn cho khỏi lấm, lấy cây chỉ vào.

- Nhiều khi làm tốn làm hao,
Vần thì chưa thuộc, mất sao mấy lần!

- Còn thì rách rã chia phân
Cữ còn, chữ mất, cuốn vần ra manh.                   80

- Phải mua cuốn khác đã đành,
Tốn tiền cha mẹ; học hành chưa nên,

- Đứa nào khéo giữ đặng bền,
May thì ít bữa, ten ben chẳng còn.

- Như câu, cắn rỉa, rách mòn,                                85
Tới đâu hay đó, có đòn mới nao.

- Học thì chớ rống giọng cao,
Đọc đừng nhỏ rí, nghe vào hết hơi.

- Bấy lâu bởi đã nghe lời,
Nên nay đọc sách thật thời khá ngay                   80

- Thầy đà kiếm cách rất hay,
Dạy răn con trẻ, khá nay thầy mừng.

 

3. Lên Sách Phần

- Lòng con như lửa mới hừng,
Thầy nay vui chi dạy chưng Sách Phần.

- Khắp trong thiên hạ muôn dân,                         95
Nước nào có đạo, phải vưng sách này,

- Sách Phần tuy nhỏ làm vầy,
Song le lẽ đạo tóm đây đành rành.

- Chỉ đàng tội, phước, dữ, lành,
Mười điều, sáu luật, ban hành cho ta.               100

- Dạy con kính Chúa thượng toà,
Sau khuyên yêu mến khắp mà người ta.

- Bảy phép Bí tích lập ra,
Dấu ơn chỉ tỏ cao xa nhiệm mầu.

- Mười phần, mười giái, phân câu,                     105
Lời thưa, điều hỏi, giải đâu, cạn lời.

- Chép trong sách ấy đời đời.
Không ai đặng phép đổi dời thể nao.

- Sau thêm ba nghĩa đem vào,
Ba kinh giải tỏ, khắp bao đặt bày.                     110

- Lạy Cha, con đọc mỗi ngày,
Chúng tôi thờ Chúa, xin rày Chúa thương.

- Hằng ngày khẩn nguyện lo lường
Phần hồn, phần xác, khỏi đường gian nan

- Gắng công thờ Chúa một đàng,                       115
Hầu sau Chúa thưởng hiển vang đời đời.

- Đọc kinh Đức Mẹ những lời,
Con hay lần hột, Mẹ thời hay thương.

- Chắc sao về tới quê hương.
Mẹ lành, con thảo, Thiên đường gặp nhau       120

- Đọc kinh Tin Kính trước sau,
Mười hai điều dạy, học mau mỗi ngày.

- Tông đồ đã lập trọng thay,
Dạy ta khắp thế tỏ bày đức tin.

- Học kinh Xức trán vào mình,                          125
Chịu thêm phép ấy cho minh đạo rày.

- Mấy lời chân chánh lẽ ngay,
Khuyên con phải học sách này cho chuyên.

- Từ phần giải nghĩ mấy thiên,
Nằm lòng lời hỏi, đọc liền câu thưa.                 130

 

4. Sách Yếu Lý Vấn Đáp

- Yếu Lý Vấn Đáp học chưa?
Dạy điều đại cái Chúa xưa ra đời.

- Rút ra những việc đổi đời,
Mấy trào Hội Thánh chơi vơi thể nào.

- Biết bao sóng gió ba đào,                                 135
Phêrô cầm lái của tàu Hội công.

- Hai trăm sáu mươi bảy ông,
Nối quờn vững đứng như trồng chẳng nao

- Lại trong Truyền cũ đem vào,
Lược qua đủ hết làm sao đến giờ.                      140

- Con thời chớ khá làm ngơ,
Sách này đại ích: học sơ, hiểu nhiều.

- Sấm kinh, mới, cũ, bấy nhiêu,
Làm ra trẻ học các điều đinh ninh,

- Chữ rằng: “Tạo chúc cầu minh”                      145
“Đọc thơ cầu lý”, thầy xin xét tìm.

- Con người chẳng phải là chim,
Đọc cho có tiếng, không tìm cho thông,

- Thuộc lòng, tua phải gắng công,
Cho tường kim cổ, cho thông chánh tà.            150

 

5. Kinh giúp lễ Mi-sa và Kinh Hôm Mai

- Còn kinh giúp lễ Misa,
Con nên ráng học, cũng là trọng thay.

- Hằng ngày trong dạ đừng khuây,
Giúp mà đừng kể công chầy mới hay.

- Đi vào đằm thắm ngó ngay,                             155
Lấy đèn lấy áo, đừng nay có giành.

- Đừng điều chộn rộn lanh chanh:
Thiên thần chầu chực xung quanh bàn thờ.

- Chẳng tin nên mới ơ hờ
Tưởng chơi, tưởng giỡn, phượng thờ không ngay, 160

- Đừng điều lo lảng ngó day,
Sáp đèn khuấy phá, tội nay cho mình.

- Thiên thần chầu Chúa run kinh,
Mà con vô phép, vô tình, ngày nay!

- Lẽ thì con phải sợ thay,                                    165
Hết lòng trọng kính, ai nay vì tày,

- Hôm, mai, kinh đọc mỗi ngày,
Cùng kinh Chúa nhựt chúng bay chưa làu,

- Các kinh Nhựt khoá học mau,
Kẻo mà đọc quấy, trước sau không nhằm.        170

 

6. Tập viết. - Phép toán

- Học đà gần đặng nửa năm,
Sách con đọc giỏi, thầy chăm chỉ mầng,

- Viết thời chưa đặng cho thuần,
Ráng mà tập lấy cho nhuần, cho ngay.

- Viết thì phải nhắm cho ngay,                           175
Đừng xiên, đừng xẹo, đừng dày, đừng thưa

- Sách con sạch sẽ thầy ưa,
Tập kia, giấy nọ, lọc lừa kĩ cang.

- Dơ thì thầy thật không màng,
Ngó qua tập giấy, chữ quàng chữ xiên.             180

- Mực thì đổ đống uyên thiên,
Hàng ngay, hàng dọc, thầy phiền biết bao!

- Mấy lời thầy dạy làm sao,
Bốn phần thầy đọc, chép vào có hai.

-Viết thì chữ nghĩ chài bài.                                 185
Quơ quào cho có sơ sài ít hơi.

– Tập đồ, tập viết, rã rời,
Miếng thời xé bỏ, miếng thời vẽ vô.

-- Vẽ vằn, vẽ vện, dầy đồ,
Hỏi sao vẽ vậy, nói Ngô nói Lào.                      190

- Thầy răn, thầy dạy làm sao,
Ráng mà giữ lấy, chớ nao tấm lòng,

- Toán thì con học chưa xong,
Nhơn, Chia, Trừ, Cộng, phải ròng phải thông 195

- Cùng là bài đố minh mông,
Gộp đi, làm lại, ráng nông học tường,

- Phangsa con phải lo lường,
Học cho thông hiểu, học bương chớ chầy,

- Học văn thầy đã tỏ bày,
Lễ nghi ít biết, vậy nay học tuỳ.                        200

 

7. Dạy khuôn phép trong trường

- Gắng công luyện tập kịp thì,
Theo anh em bạn, sớm đi cho thành.

- Bé thì ta dỗ, ta dành,
Lớn lên ta phải tập tành phép khuôn.

- Kẻo mà tánh trí luông tuồng,                           205
Sau quen tròn, dẹp, sửa vuông được nào?

- Đêm, ngày, thầy những ước ao,
Hễ là học chữ, trước vào lễ nghi.

- Lời thầy dặn bảo, phải ghi,
Đừng điều khó sợ, dễ thì lại khinh,                   210

- Học thì mình học cho mình,
Giống như học giúp, giống hình học chơi.

- Ở nhà quở đã hết hơi,
Một tuần sáu bữa, học thời có ba.

- Tới trường thầy quở, thầy la,                           215
Đối rằng: “Cha mẹ biểu mà đừng đi”.

-- Trốn thôi không biết mấy khi,
Tới trường nói láo vô nghì mà kinh.

- Kể ra những sự bất bình,
Học trò đương học, còn mình đánh bong.        220

- Lú, bong sòng, học chẳng sòng,
Hai tay làm lịa, mắt tròng láo liên.

- Lén ăn thôi đã kiềng kiềng,
Lớp ăn trong miệng, lớp liền lộn lưng,

- Đổi đi, trả lại, từng bừng,                                 225
Cho đi rồi kể, chẳng tuần nào không

- Nói thôi chuyện đã chập chồng,
Kể ra nhiều lớp, nói dông, nói dài,

- Học thì ai học, mặc ai,
Buổi chiều inh ỏi, buổi mai chào rào,               230

- Trong trường ngó đã lao xao,
Chờm lên, chun xuống, chuyện khèo cười rân.

- Ra như thầy dạy chẳng cần,
Để cho con khỉ, rần rần la vang,

- Không giờ nào đặng ở an,                                235
Lấn nhau, xít, nhún: sách, vần, bỏ lơ

- Học thì đi đã trễ giờ,
Vào trường lại cứ lẳng lơ chơi bời.

- Nhiều khi có khách thầy mời,
Ở sao vô phép thật thời khó coi.                        240

- Đứa thì đấm, đứa thì thoi,
Đứa thì xúi biểu, đứa coi tư bề.

- Dạy con chẳng đặng nghiêm tề,
Thì thầy có lỗi hại bề trẻ thơ,

- Bấy lâu thầy những ước mơ,                            245
Muốn cho con trẻ sau nhờ lấy thân.

- Thầy răn, thầy dạy mấy lần,
Bởi cần lễ nghĩa, bởi cần lễ nghi.

- Không giận ai chẳng-oán gì,
Bởi thương con trẻ đang thì ban sơ.                  250

- Nên thấy dạy đã ngất ngơ,
Bay thì lơ lảng bơ thờ như không.

- Biểu đừng làm tợ như ong,
Để mà nghe dạy, đặng hòng hiểu thông.

- Quở rát cổ, cũng như không,
Nói thì nghe lấy, mặc lòng chẳng lo.

- Những điều thầy đã dặn dò,
Không nghe lơ láo, lò mò hiểu đâu.

 

8. Về Đức Chúa Trời

- Vậy nay con phải lo âu,
Kính thờ một Chúa trên đầu sớm trưa,              260

- Nhà có chủ, nước có vua,
Trên trời có Chúa, con tua ghi lòng.

- Trong trường ngồi khắp song song,
Này thầy ráng dạy cho ròng lẽ đây.

- Hai bầu trời đất rộng xây,                                265
Lớp lang thứ tự dựng đầy nghiêm trang.

- Nhiệm mầu phép tắc sửa sang,
Hằng bằng thay đổi một đàng chẳng sai.

- Mặt trời soi sáng ban mai,
Mặt trăng ban tối, thường hoài luân phiên.      270

- Ngôi sao sáng láng liên miên,
Trăm toà tối mọc, cứ chuyên việc mình.

- Bốn mùa tám tiết, linh đinh,
Thay đi truyền lại, chinh chinh khắp bày.

- Ba trăm sáu chục đêm ngày,                            275
Châu nhi phục thỉ, trở quày vận xây.

- Từ khi Chúa cả dựng gầy,
Sinh trời, sinh đất, đủ đầy ra đây.

- Sáu ngàn năm đã gần đây,
Chẳng hề có thấy máy quay lỗi lầm.                 280

- Cỏ, cây, các giống thú cầm,
Bao nhiêu lớn, nhỏ, vui đầm phận an,

- Hằng vưng theo thứ truyền sang,
Chỉ sao, cứ vậy, một đàng y nguy.

- Vậy nay con phải xét suy,                                285
Đồng hồ không vặn, đi thì đặng không?

- Ớ con, con hãy xem trông:
Các ông thông thái, các ông vua rày.

- Sanh kiến bò sanh muỗi bay,
Làm cho nó sống đặng rày hay không?            290

- Ấy là vật nhỏ, mảy lông.
Khoanh tay mà chịu, nhìn trong phép nào.

- Huống chi trời đất khắp bao,
Thật là bởi Chúa thiên tào dựng ra.

- Sao con chẳng giữ nết na,                                295
Hết lòng thờ Chúa đặng mà trả ơn?

- Chúa là Chúa trị cầm quờn,
Chúa hằng ban thưởng trả ơn mọi đàng

- Phước lên, tội xuống rõ ràng,
Thưởng ngay phạt vạy, đôi đàng lẽ công.         300

- Bốn phương: Nam. Bắc, Tây, Đông,
Vua đời thưởng phạt cũng đồng khắp nơi.

- Huống chi Vua cả trên trời,
Để cho kẻ dữ sao thời đặng an?

- Chúa sinh con ở thế gian,                                 305
Có hồn có xác, ơn ban đủ đầy.

- Xin con ra sức mỗi ngày,
Làm lành sau đặng hồn bay Thiên Đàng.

- Ắt con thấy Chúa rõ ràng,
Ngồi toà châu báu thanh nhàn thảnh thơi         310

- Linh hồn sáng láng rạng ngời,
Muôn điều khoái lạc vui chơi toại tình.

- Muôn điều ưa hạp tánh mình,
Đủ no mọi nỗi, hết tình ngâm nga

- Hằng hằng cảm ta Ngôi Ba                               315
Chúa Trời yêu dấu, Đức Bà thêm thương.

- Muôn muôn thần thánh yêu đương.
Linh hồn chói lọi thanh lương vui vầy,

- Trước sau phước lộc dẫy đầy,
Hằng ngày tiếng nhạc vang đầy xướng ca.        320

- Ấy là quê vức của ta
Chúa đà sắm để đặng mà thưởng ta

- Ai kiêu ngạo, ai gian tà,
Việc con, con giữ ai mà mặc ai.

- Nhớ lời thầy dạy chớ sai,                                 325
In lòng sợ Chúa, ai ai mặc dầu.

 

9. Học trò xấu

- Thầy nay hỏi lại đầu đuôi,
Thưa đâu không trúng, phân câu chẳng nhằm.

- Có khi tại đứa tối tăm,
Phần nhiều biếng nhác không chăm nghe lời.  330

- Thầy nay dạy đã hết lời,
Mặc thầy la quở, cứ chơi quá chừng.

- Việc làm dạy bảo từng bừng,
Hỏi con có hiểu lừng khừng thưa: không.

- Quở cho một lúc như dông,                             335
Quạ, kéc, sáo, sảnh, cưởng, nhồng khác chi.

- Khuyên con, con hãy xét suy,
Dạy mà con giỡn, thầy thì sao an?

- Như không đánh con ngang tàng,
Nhiều khi thầy đánh, dạ càng bâng khuâng.     340

- Bởi thương mới trị mới trừng,
Đánh rồi lại sợ con chưng đau rày.

- Nhiều khi hoạ gởi tai bay,
Quá tay con phải khốn rày, con ôi!

- Nhiều khi sợ độc khí trời,                                345
Bịnh gần có phát, đánh thời nó theo.

- Nhiều khi sợ sự hiểm nghèo,
Lỗ đầu, lỗ óc, trúng gieo mắt tròng.

- Biết bao những nỗi long đong,
Nói bề dạy dỗ trong lòng phát run.                   350

- Cực thầy chẳng kể cho cùng,
Phát gai, phát gốc hãi hùng lắm công,

- Chịu khó nhọc lòng ước trông,
Dạy con đạo lý cho thông nại gì.

- Không đập bàn biểu học đi,                             355
Mà thầy lếu láo để thì con chơi,

- Ngày giờ thầy dạy chẳng rời,
Xét xem mỗi đứa tìm lời bảo khuyên.

- Sợ phần cha mẹ con phiền,
Mấy năm đi học tốn tiền không xong.              360

- Thầy thương thầy dạy hết lòng,
Thầy hay toan tính cho ròng việc ra.

- Đứa hiền, đứa yếu, thứ tha,
Đứa hung, đứa dữ, sắp mà dạy răn.

- Không hay đánh bậy lăng xăng,                      365
Thầy thường cầm trí cân bằng thưởng công.

- Vậy nay thầy những ước trông,
Hễ vào trường học, ráng nông phép kềm.

- Lễ nghi tính nết cho mềm,
Chữ con còn ít, học thêm cho nhiều.                 370

- Làm cho thầy mến thầy yêu,
Đừng có vô phép, đừng đều ham chơi.

- Thì thầy mới khỏi hao hơi,
Đã nên trong nước, lại thời nhuần thân.

- Ngựa nào chứng, cực muôn phần,                   375
Chịu bề roi vọt, mấy lần gai chông!

 

10. Học trò hay ăn cắp

- Học trò nay học nên đông,
Song còn ít đứa chưa thông chánh tà.

- Nó hay ăn cắp của nhà
Vào trường đã vậy, cắp đà quen tay.                 380

- Thói quen con mắt ngủ ngày,
Ấy là tục ngữ thuở nay nghe thường.

- Vật chi mới ló trong trường,
Lộn lưng, giấu đút, xét chường quăng rơi.

- Phát cho ít phát tả tơi,                                      385
Thưa rằng: “Xí được dưới nơi chỗ ngồi”!

- Dầu con có được mà thôi,
Không thưa thầy biết, hay rồi là gian.

- Lại còn một nỗi nghinh ngang,
Muốn ăn tiền chuộc, dàn dàn la vang.              390

- Dầu mà con được ngoài đàng,
Không nên đòi chuộc, huống đang trong trường

- Việc này con phải lo lường,
Hoặc khi con được giữa đường của ai,

- Ai xin con lại chớ nài,                                      395
Nếu người có thưởng, một hai ít nhiều.

- Cho bao nhiêu, lấy bấy nhiêu,
Luật hình phép cấm, đòi nhiều sao nên.

- Lại còn việc nữa chớ quên,
Lại ngày lễ trọng, dưới trên thắp đèn,               400

- Con đừng ra dạ bạc đen,
Con đi ăn cắp lồng đèn mà chơi.

- Thổi đèn liệng phá rã rời,
Người làm việc phước con thời hại sao?

- Con đừng tính nết phơ phào,                           405
Cùng điều này nữa kể sao cho cùng,

- Của nhà thánh, của nhà chung,
Mựa đừng rờ tới, lấy dùng không nên.

- Khăn, dù, chuỗi, ảnh, người quên,
Ở trong nhà thánh, một bên con ngồi.               410

- Của này có chủ biết rồi,
Dối mà xí được, lấy thôi sao đành.

- Tập mình lánh dữ, làm lành,
Chừa điều gian giảo, tập tành nết na.

- Giữ lòng ngay thẳng thật thà,                          415
Điều răn thứ bảy con đà hiểu chưa?

- Dầu con xưng tội cải chừa
Của con ăn cắp, con chưa trả người.

- Tội con chưa khỏi, con ôi!
Đừng làm như vậy, quỉ cười ớ con.                   520

 

11. Gương Chúa thương thưởng học trò lành

- Khuyên con khá giữ cho tròn,
Truyện kia hai đứa cũng còn ấu nhi.

- Nuôi bồ câu cả một khi,
Hai nhà cũng ở gần thì với nhau.

- Một đứa khó, một đứa giàu                              425
Đứa giàu câu tốt, sắc màu xinh tươi.

- Có ngũ sắc, đẹp mọi người,
Đứa nghèo xem tợ vàng mười tốt thay,

- Lòng không dù quyến lạ thay,
Câu giầu đâu bỗng bay ngay qua lồng;             430

- Trẻ nghèo liền bắt nưng bồng,
Đem trình cha mẹ của con trẻ giàu.

- “Câu đi lạc”, thưa trước sau:
“Tôi nay vội vã đem mau tỏ bày”.

- “Của ông trả lại ngày nay”,                              435
Chủ bèn xem thấy đứa ngay, thưởng liền,

- Nầy là xóm, nọ là diền,
Khỏi lo gian dối, khỏi phiền than van.

- Ngay kia trẻ khó xa đàng,
Chủ giàu mới lén bước sang qua lồng.              440

- Người liền đổi trứng câu bông,
Ngày sau nó nở, sắc lông tốt màu.

- Trẻ nghèo phỉ dạ ước ao,
Qua khoe phép lạ tiêu hao mọi đàng.

- Chủ nhà nghe nói cười rằng:                           445
“Bởi ta đã đổi, thưởng thằng trẻ ngay”.

- Vậy nên ở thật là hay,
Có ngày đặng thưởng có ngày đặng thương.

- Khuyên con, con hãy lo lường,
Một điều ngay thẳng cho thường, ớ con.

 

12. Lễ nghi: về sạch sẽ

- Lại còn quần áo rách mòn,
Trống sau, trống trước, nút còn, nút không

- Ở dơ đóng đất, khét nồng,
Cả mình lấm láp, có vồng, có vân.

- Mực thì đổ vấy áo quần,                                  455
Ăn trầu, hút thuốc, không cân không lường.

- Nhắm xem hết thảy trong trường.
Bốn phần dơ một nói thường sao đương.

- Mũi thì thấy để lương ương,
Quẹt qua quẹt lại, giống dường kỳ lân.             460

- Sáng ra rửa mặt cho cần,
Chùi răng, súc miệng giữ phần sạch thân.

- Thưa thôi không biết mấy lần,
Việc kia, chuyện nọ thưa rân nhộn nhàng.

- Kể ra thôi đã chàng ràng,                                 465
Xong rồi dựa ngửa, dựa ngang một hồi.

- May mà có dựa con ngồi,
Chẳng may nhào xuống, ối thôi, u đầu!

- Trường thì mới quét chẳng lâu,
Xả thôi hết sức, đâu đâu rác cùng.                     470

- Vẽ voi, vẽ ngựa tứ tung,
Vẽ nhà, vẽ cửa, khắp xung quanh trường.

 

13. Trách tội hoài, nết na trong nhà thờ luôn

- Vậy nay thầy dạy tỏ tường,
Đêm ngày kính Chúa cho tường mới xong.

- Đọc kinh, xem lễ, ngợi khong,                        475
Trí khôn tưởng Chúa, mới hòng trông ơn.

- Hễ khi con mới đặt chơn,
Bước vào nhà thánh, đừng lờn phép khuôn.

- Trăm năm một dạ luôn luôn,
Kính thờ một Chúa chớ buông đổi đời.            480

- Dầu con sang cả trên đời,
Cũng là bởi Chúa giúp thì mới nên.

- Kính tôn Đức Mẹ vững bền,
Giữ lòng sốt sắng trọn niềm thỉ chung.

- Biết bao ơn trọng lạ lùng.                                485
Giúp ta nguy hiểm hãi hùng gian nan.

- Xác, hồn khốn cực ghe đàng,
Bởi nhờ Đức Mẹ ơn ban phù trì.

- Con coi gương thánh Luy,
Thật là vua cả nước thì Langsa.                          490

- Mẹ vua khuyên dạy nết na,
Con nên bắt chước đặng mà noi gương.

- Khi vua vào chốn thánh đường,
Khiêm nhường hết sức, lo lường kính tin.

- Chức quờn chẳng nệ trọng kinh,                     495
Một lòng sợ Chúa đã sanh ra mình.

- Mấy lời mẹ dạy giữ gìn .
Tránh đàng tội lỗi, đã in muôn phần.

- Con tua ra sức ân cần,
Noi gương vua thánh, tập lần cho xong.           500

- Khi con xem lễ đừng vong,
Lời truyền Chúa ngự ở trong phép này,

- Người phàm xác thịt không hay,
Vì là phép nhiệm ta nay khâm sùng,

- Cúi đầu vọng bái hãi hùng,                              505
Đúng điều vô phép ngó cùng ngó trên.

- Xem lên đèn thắp chớ quên,
Chúa Trời ngự đó, vậy nên bái quì

- Thấy còn nhiều chuyện lạ kỳ,
Nước thánh thì chấm nhiều khi đổ cùng.          510

- Bởi lòng không chút kính cung,
Xức thì trên trán ướt vun mặt đầu.

- Dấu làm chẳng trúng đâu đâu,
Quơ quào lấy có, mặc dầu nên không.

- Con làm như vậy uổng công,                           515
Bởi con không hiểu, chẳng thông truyền lời

- Phép tha tội nhẹ ít hơn,
Con không ý chỉ làm thời như không.

- Kêu tên Chúa tạo càn khôn,
Ba Ngôi một Chúa chí tôi đời đời:                    520

- Chúa Cha sanh đất dựng trời,
Chúa Con chuộc tội ra đời cứu dân;

- Ngôi Ba là Chúa Thánh Thần,
Xuống ơn an ủi muôn phần phát ban.

- Sách đà cắt nghĩa rõ ràng,                                525
Vì điều chánh lý vững vàng dạy ta.

- Mặt trời, yếng sáng, nóng ra:
Ba điều như một, giúp mà kính tin.

 

14. Đọc kinh xem lễ cho tử tế;
kính nhà thờ nhà thánh

- Vậy nay con phải giữ gìn ,
Khi vào nhà thánh, hết tình kính tin.                530

- Đừng làm ra cách dể khinh,
Cặp tay sau lại bộ hình làm chi.

- Khó coi một cách dị kì,
Bề ngoài nào thấy lễ nghi khâm sùng.

- Đứng sao lóng sóng ngó cùng,                        535
Ra người kiêu ngạo không cung kính gì.

- Phận con tội lỗi thiếu chi,
Sao không cúi mặt xin thì Chúa thương?

- Lại còn làm biếng tỏ tường,
Dựa ngang, dựa ngửa, ngó thường hai bên.       540

- Biểu quỳ thì phải kêu tên,
Đọc kinh có biểu, mới lên tiếng rày.

- Đọc thì một cách nhựa thay,
Lại thêm chã chẹt, dở, hay, lo gì.

- Đọc kinh không hiểu là chi;                            545
Đua nhau mà đọc loạn bì lao xao.

- Đọc thì giọng thấp, giọng cao,
Đứa mau, đứa chậm, ào ào không suy.

- Giữ mình khuôn phép lễ nghi,
Khi ngồi, khi đứng, khi quì, khi đi.                   550

- Áo quần thẳng thớm y nguy,
Lành thì cho sạch, rách thì cho thơm.

- Tóc tai rối để chờm bờm,
Mặt mày do dáy dị hờm biết bao!

- Ngồi gần gây lộn mầy tao,                               555
Không kiêng có Chúa sợ nào có cha.

- Dầu mà vua trị chúng ta,
Hễ là biết Chúa cũng là kính vưng.

- Huống chi bay thiệt quá chừng!
Nhiều khi đánh lộn tưng bừng thiết tha.           560

- Có câu mình vóc tóc da,
Chịu ơn cha mẹ sanh thành con ra.

- Con đánh lộn cùng người ta,
Ấy là thất hiếu với mà mẹ cha.

- Cách ăn thói ở xấu xa,                                      565
Đừng trông Chúa cả xuống mà ơn cho.

- Ngáp thì rống tợ như bò,
Ngồi thì dựa ngửa, không lo việc gì.

- Ngắt nhau, cột áo, níu trì.
Kiếm nơi mà dựa, ngủ đi sao đành.                   570

- Anh em đông đảo xung quanh,
Ngồi đâu ngủ đó, thật danh ngủ ghiền.

- Giổ thôi nước miếng liền liền,
Dơ đà hết sức, không kiêng chỗ nào.

- Khi con cần kíp thì sao,                                   575
Giổ ra chỗ phải ai mà gớm đâu?

- Lại còn những sự cứng đầu,
Hở hang hôi hám thói dân mọi rừng.

- Lễ mới rồi, tay níu lưng
Bước ra khỏi cửa, rùng rùng đánh nhau.           580

- Tế như ngựa, bộ lau chau,
Rượt nhau chạy trước chạy sau tưng bừng.

- Nhiều khi bay thật quá chừng,
Tới thì còn sớm, ở chưng nơi ngoài.

- Có khi là tội dông dài,                                      585
Có khi là tội chê bai phân bì.

- Ăn trầu, hút thuốc, thiếu gì,
Bã thì bỏ dưới tàn thì dán trên

- Giổ thôi đỏ đã hai bên,
Lại còn trên vách, trên phên chẳng vì.              590

- Xin con, con hãy xét đi,
Đền thờ Chúa ngự, sao thì không suy?

15. Xem lễ ngày Chúa nhật,
lễ trọng và ngày thường

- Này lời thầy dạy nhiều khi,
Chúa nhựt lễ cả, bay đi nơi nào

- Năm ba hiệp lũ ào ào,                                       595
Dắt nhau đi dạo, mày tao lào xào.

- Lớp đi trốn mất xứ nào,
Ngó vào nhà thánh, cao rao cho mầy.

- Trống chuông đánh đã vang dầy,
Kêu mời xem lễ nghe thầy bảo đây.                  600

- Sấm kinh con đọc bấy chầy,
Sáu ngày làm việc, ngày nầy tạ ơn.

- Tạ ơn Chúa tạo cầm quờn,
Sanh ra muôn vật, sanh con ở đời.

- Con đừng lếu láo con ôi!                                 605
Phải thờ phượng Chúa Ba Ngôi ân cần.

- Lại điều này nữa phải vâng,
Là con phải cậy Thiên thần giữ con.

- Xin hằng soi sáng trí khôn,
Giữ điều răn Chúa, mựa còn lãng xao.              610

- Lớn khôn đạo thấm tâm bào,
Thịt như gà ác, không nao quỉ tà.

- Lại thêm Hội Thánh gần xa,
Giuse bàu chủ khắp mà giáo nhơn.

- Cũng là bổn mạng của con,                              615
Mỗi năm nhằm lễ, đem lòng phải lo.

- Lễ xem, con nguyện nhỏ to,
Giúp cho con trước, sau cho trong nhà,

- Bé thơ chíp lấy đến già,
Lớn lên thành lệ, tội mà ít sa.                             620

- Ngày thường không có việc nhà.
Con đi xem lễ Misa mà nhờ:

- Lễ xem là việc phượng thờ,
Trọng hơn việc khác lại nhờ ơn riêng.

- Người đời sao đặng ở yên,                               625
Nhiều khi cực khổ tư niên khốn nàn:

- Là điều Chúa phạt thế gian,
Bởi chưng ngươn tổ lây tràn loài ta.

- Bởi đây đặng Chúa thứ tha?
Bởi công cứu thế Chúa ra chữa đời.                  630

- Để truyền lễ tế khắp nơi,
Gián cơn thạnh nộ, Chúa Trời đoái thương,

- Biết bao ơn trọng lạ thường,
Cũng vì lễ tế một phương linh mầu.

- Khuyên con sốt sắng nguyện cầu,                   635
Chúa nhựt, lễ cả, đi đâu mặc lòng.

- Nhớ ngày xem lễ, đừng vong,
Ghé nơi có họ, hoặc hòng đặng xem.

- Lâu năm đừng có đã thèm,
Cứ thêm sốt sắng, cứ thêm vững bền.                640

- Tập mình xem lễ đừng quên,
Trăm năm cũng vậy, chẳng nên lơ là.

- Bây giờ làm biếng bỏ qua,
Lâu lâu quen thói, sau ra ơ hờ.

- Con qua nhà thánh nhà thờ,                             645
Có dù, có nón, nghiêng giơ khiêm lòng

- Thấy ngoài thì biết ở trong,
Mấy người nhơn đức cứ mong làm lành.

- Tập kinh, tập hát, cho thành,
Đừng điều biếng nhác việc lành, ớ con.            650

- Đừng làm những việc thon von,
Vui làm, hờn bỏ, méo, tròn làm chi.

 

16. Về phép giải tội

- Còn điều xưng tội khác thì,
Thầy khuyên hết sức chớ đi chơi bời.

- Chúa xưa xuống thế ra đời,                              655
Chuộc loài người thế khỏi thời oan gia.

- Chúa khi sống lại hiện ra;
Phán cùng môn đệ rằng mà “Bình an”!

- Lại rằng: “Phải dạy bốn phang”,
“Ai tin thuận phép, Thiên đàng đặng vô”.        660

- “Bằng ai nghịch mạng hung đồ”,
“Phạt nơi cực khổ, chịu khô khốn hoài”.

- “Phép ban tha tội cho ai”,
“Thì nấy đặng khỏi”; chẳng sai một lời

- Khi con đang lúc ở đời,                                    665
Xác không ăn uống, sống thời đặng sao?

- Phần hồn con phải ước ao,
Rước Mình Thánh Chúa hồn sau lên trời.

- Các điều con phải nghe lời,
Khi đi xưng tội trọn đời kỹ cang.                      670

- Trước là xin Chúa ơn ban,
Mở lòng nhớ tội, biết đàng ăn năn.

- Việc này trọng vọng vô ngằn,
Nếu con lếu láo, gia tặng tội rày,

- Vô toà xưng thật nói ngay,                              675
Không nến giấu tội, đừng hay chữa mình.

- Dốc lòng chừa cải đinh ninh,
Hết lòng đau đớn thật tình, Chúa tha.

 

17. Cách ăn ở dọc đàng cho có lễ nghi

- Bây giờ tới sự về nhà,
Làm sao cho khỏi người ta chê cười.                 680

- Ra đi tránh kẻo đụng người:
Đừng điều xô đẩy, dể ngươi lời thầy;

- Cũng đừng vô phép la, rầy,
Thách nhau đánh lộn, mà gây dọc đàng.

- Xin con giữ sự bằng an,                                    685
Một đều thương mến, thuận hoà cùng nhau.

- Lại đừng múa mặt lau chau,
Đi thì đụng trước, đụng sau ngang tàng.

- Đang khi đi đứng giữa đàng,                            690
Gặp người trưởng thượng, tránh dan, hỏi chào.

- Khiêm nhường, không phải phơ phào,
Lời chào, tiếng hỏi đừng nào có ngang.

- Dầu mình là bực giàu sang.
Dịu dàng tính nết, thế gian khen rày.                695

- Vậy nay thầy phải tỏ bày,
Đặng cho con biết cùng hay sự này:

- Nhiều khi có kẻ thưa đây,
Học trò chọc chó sửa rầy xóm rân.

- Khi về chạy đã rần rần,
Dọc đàng giành bánh không cần hổ ngươi.      700

- Liệng xoài, bẻ trái của người,
Tắm sông, lặn, lội, reo cười đã vang.

- Ở truồng giống thú giống man,
Mặt coi giống khỉ, hổ hang con người.

- Biết bao những sự hổ ngươi,                            705
Loã lồ mà tĩu, người cười không đang.

- Đáo tường, đáo lỗ đầy đàng,
Phơi đầu, đánh vụ chan chan ngoài trời.

- Đánh bài, đánh đạn nhiều nơi,
Lại còn hớt cá mà chơi không về.                      710

- Dế đâu moi bắt ê hề,
Cùng là đáng trổng mỏi mê nhọc nhằn.

- Thấy xe chạy riết lăng căng,
Đeo cho một tốp, lên dằn lanh chanh.

- Xô nhau, níu kéo mà giành,                             715
Đứa thì té xuống, rách manh áo quần.

- Trầy mình thôi đã tím rần,
Chân tay có gãi, cực phần mẹ cha.

- Sau che chồng đống năm ba,
Đánh xe nó quất, chạy ra, tao, mày,                  720

- U bắt mọi, đã la rầy,
Hai bên giành xé, thân thây không toàn.

- Đứa thì kéo dọc, kéo ngang,
Đứa thì nắm tóc, kéo sang qua mình.

- Hai tay một phía giựt kinh,                              725
Hai chân một phía, cứ nghình kéo nhau.

- Cách chơi chèo bẻo khác đâu,
Mạnh ai nấy kéo, miễn hầu cho ăn.

- Nhiều khi thề thốt lăng xăng,
Nhiều lần chưởi lộn giăng giăng đầy đàng.      730

- Nhiều khi mắng vốn đã vang,
Ông kia, cậu nọ, kêu ngang bằng thằng.

- Mẹ cha chạy kiếm xăng văng,
Hỏi: “Ai có thấy cái thằng con tôi”?

- Lại còn nhiều nỗi khúc nôi:                             735
Về nhà nói láo vô hồi chỉn ghê;

- Khóc chơi bệu bạo bộn bề:
“Cha ôi! mẹ hỡi! tôi về hôm nay”

- “Đứa kia, đứa nọ, dữ thay”,
“Tôi đi nghiêm chỉnh, nó rày đánh tôi”.           740

- Mẹ cha gan mới trào sôi,
Vội tin chẳng xét, chạy trồi lao xao.

- Đầu, đuôi, không hỏi làm sao,
Mắng la, dọc ngã ào ào tới nơi.

- Miệng la, chân chạy, tay bơi,                           745
Xóm làng phở lở, người người đều hay,

- Hai bên gây đã no say,
Bởi chưng tin vội, không hay suy tường.

- Nghe con nên chẳng kịp lường,
Binh con nên mới cứ bươn làm rày,                  750

- Tai bay nên mới la rầy,
Làm cho cha mẹ phải gây làm vầy.

18. Ở nhà ăn ở cho phải phép

- Đứa nào vâng giữ lời thầy,
Mãn giờ về riết chớ chầy ở chơi.

- Khi về vừa mới tới nơi,                                    755
Trình cùng cha mẹ: “Con thời về đây”

- Hoặc cơm có trễ đừng gây,
Đừng làm mặt quạu, đừng rầy lăng xăng.

- Lại đừng có chứng cằn nhằn,
Mắng mèo, chưởi chó, ấy thằng hung hăng.     760

- Vừa vừa, bớt chuyện ham ăn,
Đồ ăn có sút, đừng rằn rực chi.

- Bát dằn, đũa ném, lạ kỳ,
Học thì nhớ lấy, lẽ gì mà gây?

- Hoặc khi có khách chuyện vầy,                      765
Chào cho phải phép, đủ đầy nghiêm trang.

- Chẳng nên chạy giỡn chàng ràng.
Lo bưng trầu, nước, dịu dàng kính vưng

- Lặng trang, đừng có tưng bừng,
Để cho cha mẹ nói chưng chuyện rày.              770

- Thưa trình dịu ngọt mới hay,
Người ta xem thấy, khen nay con rày.

- Đi đâu đều phải tỏ bày,
Thưa cho cha mẹ biết hay mọi lời.

- Hoặc khi cha mẹ nghỉ ngơi,                             775
Con đừng có giỡn, chơi bời mới hay.

- Vật chi đưa, phải hai tay,
Khi ăn, khi uống, tỏ ngay kính nhường.

- Nhiều khi con ở bất thường:
Hoặc cha mẹ có lo lường đi đâu.                        780

- Thấy làm dữ đã nên rầu,
Áo quần cởi hết, nằm nhầu ngoài sân.

- Lăn qua, lăn lại, làm rân,
Kiếm nơi có nắng, nằm trần khóc la;

- Cứ đòi đi vời mẹ cha,                                       785
Dỗ thôi hết sức cũng mà đòi đi.

- Không có chuyện, đi làm chị?
Mẹ cha khiến dạy, biểu mà con vưng.

- Lại còn một chuyện quá chừng:
Bữa ăn gây lộn tưng bừng đánh nhau.               790

- Giận không ăn, mặt dàu dàu,
Nhiều khi làm núng, cho đau chơi rày.

- Khói dai, xoi bói, no say,
Nồ nhau nhiều chuyện, kể nay mà rầy.

- Vậy thì con phải nghe thầy.                             795
Đừng làm như vậy, đừng ngầy làm chi.

- Chọc em, chọc út, cố lỳ,
Nhây chi cho quá, sao thì là thương ?

 

19. Anh em hoà thuận yêu nhau

- Sách xưa còn để làm gương.
Khổng Dung bốn tuổi tỏ đường thuận nhau.   800

- Ăn lê chia hết trước sau,
Anh em hoà hảo, chẳng lau chau giành.

- Ở cùng anh chị lòng lành,
Anh thương, em kính, cho thành chớ sai.

- Nương nhau hoà thuận đừng phai,                  805
Có điều chi quấy, giận dai làm gì?

- Thương nhau, chấp nhứt làm chi?
Mến nhau; đừng có để ghi việc nào.

- Anh em là ngãi đồng bào,
Một cha, một mẹ, lẽ nào chẳng thương?           810

- Anh em ở đã bất bường,
Nhịn nhau một ít, nên thường phải suy.

- Khôn nhà, dại chợ, làm chi?
Ở sao đặng tiếng nam nhi hiền lành.

 

20. Bổn phận con cái lành,
thảo kính thương yêu cha mẹ

- Ớ con, con giữ cho rành:                                  815
Kính thương cha mẹ sanh thành ngải sâu;

- Vâng lời chịu luỵ làm đầu;
Những khi đau đớn chực hầu thuốc thang.

- Công ơn sanh dưỡng ngàn vàng,
Rộng như trời biển, sánh bằng núi non.            820

- Cưu mang đã chín tháng tròn,
Chịu bề mỏi nhọc, nào còn thiếu chi?

- Đến ngày mãn nguyệt tới kỳ,
Sanh ra rồi dưỡng, ai bì công cho.

- Kể từ biết nách, biết bò,                                   825
Biết đi, biết chạy, những lo trong lòng.

- Ba năm bú mớm chịu sòng,
Lại còn tắm giặt, những ròng gian nan.

- Ấm mình một chút không an.
Lo thầy, kiếm thuốc, trăm đàng tân toan.          830

- Nhắm xem quá ngọc, quá vàng,
Khi con có ngủ, bước khoan chân rày.

- Áo quần có rách, vá may,
Sắm ăn, sắm mặc, tháng ngày xiết bao!

- Nặng ơn, sanh dưỡng công lao,                       835
Nghĩ bề cực khổ chừng nào, quá thương!

- Cha yêu, mẹ mến, phi thường,
Mới vừa có trí, lo đường tìm sư;

- Trước khuyên học lễ thìn từ,
Sau răn học chữ, kẻo hư con rày.                       840

- Đời này đi học tốn thay,
Cũng hằng rắn sức chịu nay bạc tiền,

- Ước trông con thánh con hiền,
Việc kia chuyện nọ, dạy khuyên đủ đàng.

- Lo làm có bạc có vàng,                                     845
Giàu, nghèo, tuỳ phận, giữ đàng nuôi con.

- Giàu lo tích của như non,
Lớp lo tích đức cho con trăm đường,

- Vậy nên con phải lo lường,
Thương cha, mến mẹ, trả đường nghĩa sâu.      850

 

21. Gương Ngô Mãnh thương yêu cha mẹ

- Xin con, con phải lo âu,
Mà nghe một chuyện, đặng hầu noi theo.

- Tích xưa Ngô Mãnh nhà nghèo,
Một lòng hiếu thảo cứ neo không rời.

- Mẹ cha nghèo khó trong đời,                           855
Nhà thì xài xạc, rã rời vách phên.

- Ngủ thì chẳng có mùng mền,
Lại thêm một nỗi rất nên khổ hình:

- Muỗi đâu quá dữ nên kinh,
Tối thì bâu cắn rần mình đập liên.                     860

- Mãnh ta thấy vậy không yên,
Lấy khăn, cởi áo, đắp liền mẹ cha.

Bởi thương, bởi hiếu mà ra,
- Mới nên tám tuổi, lòng đà thảo thân.

- Cho nên bắt chước lần lần,                              865
Dầu không kịp vậy, cũng gần, chẳng xa.

 

22. Vưng lời chịu luỵ giúp đỡ cha mẹ

- Đừng điều lỉnh lảng lo ra,
Vưng lời chịu luỵ mẹ cha mọi đường.

- Tục rằng: “Không muối cá ươn”,
“Con không có dạy thì thường con hư”,           870

- Đừng điều chừ bự lừ đừ,
Mẹ cha có biểu, đừng từ việc chi.

- Bao nhiêu lời dạy làm y,
Ấy là thật đạo, vậy thì là con.

- Đừng làm cha mẹ héo don,                              875
Người buồn, người giận, là con lỗi nghì.

- Hay là làm chẳng ra gì,
Và làm, và nói, nửa thì bỏ đi.

- Giậm chân, giậm cặng, rầm rì,
Lằm bằm, hứ, háy, cố lỳ lo chi.                          880

- Là điều bất hiếu nghịch nhi,
Phạm điều thứ bốn con thời tránh xa.

- Hoặc khi lỗi tại mẹ cha,
Thì con đều phải phân ra hiền lành.

- Ấy là hiếu tử lòng thành,                                 885
Can cha trình mẹ, tỏ rành lẽ ra.

- Hết lòng thương mến thật thà,
Cầu cho cha mẹ sống mà với con.

- Giữ nên đạo Chúa vuông tròn,
Hầu sau trăm tuổi khỏi thon von rày.               890

- Một lòng khiêm nhượng thảo ngay,
Lễ nghi phép tắc, chớ hay lơ là.

- Hoặc khi cha yếu mẹ già,
Hay là đau ốm, lo mà dưỡng nuôi;

- Thuốc thang tỏ dạ cho vui,                              895
Cháo cơm báo bổ, tới lui thăm thường:

- Đền ơn phỉ chí yêu thương,
Miếng ngon, vật quí, đem tương người dùng.

- Áo quần lo sắm kính cung,
Ở cho trọn nghĩa hiếu trung đạo nhà.                900

 

23. Bổn phận ở với bề trên và bà con

- Ở cho trên thuận, dưới hoà,
Đừng cha mẹ bắc, đừng mà con nam,

- Việc lành, việc hiếu con ham,
Con đừng ở quấy, nói thàm xấu xa.

- Bề trên, cha sở, kẻ già,                                      905
Ông, bà, con kính, mới ra con người,

- Cậu, cô, con chớ dể ngươi,
Chú, bác, con mến, thì người mới khen.

- Sáng vì bởi tại gần đèn,
Nếu mà gần mực, thì đen tại mình.                    910

- Con đi học chữ, học kinh,
Trước là biết phép, sau thìn nết na,

- Nói gì những lũ lu la,
Luông tuồng lỗ báo, cửa nhà biết đâu?

Dường như không kẻ làm đầu,                           915
Muốn gì mặc ý, đi đâu mặc lòng,

- Con cưng thường thấy không xong,
Ăn năn có thuở, cực lòng người ta.

 

24. Gương con hư tại cha mẹ
(Truyện thằng Bồ)

- Thuở xưa có một ông già,
Giàu sang trên thế nhưng mà không con.          920

- May đâu già đặng phết son,
Năm mươi tư tuổi mà còn trông chi?

- Song trời cho phước một khi,
Sanh ra một trẻ, nam nhi vững rồi.

- Mừng thôi quá trí vô hồi,                                 925
Đoạn liền mở tiệc làm đôi ba ngày.

- Cười cười, nói nói, vui thay,
Người thanh kẻ quí mừng nay phước nhà.

- Muôn điều chúc thọ ngâm nga,
Kẻ tặng vạn phước, người mà trăm năm,           930

- Dưỡng nuôi, săn sóc, viếng thăm,
Khi ăn, khi ngủ, khi nằm, khi chơi.

- Đêm gìn, ngày giữ, chẳng rời,
Tuổi con trộng trộng, chơi bời thảnh thơi.

- Nói vừa một ít, một hơi,                                   935
Cha cha, má má, ông thời cười rum,

- Lần lần nói tục um sùm,
Tiếng ếch tiếng nhái, tiếng hùm, tiếng beo.

- Nghe thằng nhỏ nó cười reo,
Khen răng: sáng dạ tríu hèo tưng liên.              940

- Mở lời thề thốt kiền kiền,
Mẹ mầy, mẹ nó, chẳng kiêng trẻ già.

- Nói gì cái sự chưởi cha?
Rằng con còn nhỏ, chưa mà dạy răn.

- Quở con thì quở cái thằng,                               945
Quở sơ, quở sịa, đặng chăng mặc dầu.

- Đánh thì lại sợ con đau,
Con cưng hư hại, nên đâu bao giờ?

- Lỗi con khuất lấp làm ngơ,
Cứ cho bùi ngọt, mà ngờ là thương.                  950

- Tội chi cũng lấy làm thường,
Tuổi ngoài mười tuổi, không phương sửa rày.

- Hỗn hào, láo xược ghê thay,
Bước qua mười sáu, thiệt nay ngang tàng,

- Ăn cắp, chưởi mắng đà vang.                           955
Leo trèo bẻ trái, ngoài đàng rủa kêu.

- Xóm làng thân thích kêu rêu,
Những trình ông biết, dập dều ra vô,

- Mẹ con cứ việc hầm hồ:
Không ăn hết của, hét hô ào ào.                         960

- Binh con, la mắng, chưởi cào,
Xăn quần, xăn áo, mặt nào nên thân.

- Khắp trong hết thảy thôn lân,
Kẻ quyền, người quới, cùng dân bất bình.

- Ông rằng: “Sinh sự, sự sinh”,                          965
“Mụ ơi! mụ hỡi, nghe mình một khi”,

- “Quới, quyền, ta chẳng thiếu chi”,
“Mới sanh ra được thằng ni làm vầy”

- “Nhắm xem nhiều việc dại ngây”,
“Nó nay làm dữ sợ lây tới mình”.                      970

- “Bởi mình cưng, lại hay binh”,
“Cầm roi mà đánh thì mình lại thương”,

- “Nên nay sinh sự bất tường”,
“Lão nay muốn gởi tới trường thầy khuyên”

- “Hoặc may có đổi tánh hiền”,                          975
“Về lành, cải dữ, khỏi phiền lòng ta”,

- Mụ rằng: “Ông đã tính xa”,
Ông là chồng, mụ dám qua lời gì”.

...
- Cha con mới dắt ra đi,
Bước vào trường học, thầy thì chào ông.          980

- Trường lớp lang, học nên đông,
Học trò chợt thấy thằng chồng ngồng vô.

- Ông già trình tỏ nói phô;
“Tôi nay xin gởi thằng Bồ này cho”

- “Xin thầy rán dạy căn do”                               985
“Lễ nghi chữ nghĩa, quanh co dạy rày”.

- Thầy rằng: “Để trẻ lớn thay”,
“Ham chơi xao lãng, thuở nay quen rồi”.

- “Bấy lâu để nó lôi thôi”,
“Luông tuồng quen tính thả trôi tập tành”.       990

- “Bây giờ có dạy khó thành”,
“Sợ e nó nổ, thất danh tôi rày”.

- Ông rằng: “Con ráng nghe thầy”
“Vưng lời dạy bảo, học nay vào mình”.

- Ông già từ giã tỏ trình,                                     995
Thằng Bồ nó học không thìn tính chi,

- Cứng đầu, cứng cổ, vô nghì,
Học thì lơ láo, nghe thì lảng xao.

- Có tài cự địch, mày, tao,
Hễ ai động tới chưởi cào không kiêng.     1000 fin

- Lại còn ăn cắp bạc tiền,
Sự hư dồn dập, dạy khuyên mặc thầy.

- Bữa nay về nói láo thay:
“Thật thầy nên độc đánh rày tôi đây”.

- “Học thôi không dám ngó day”,                   1005
“Học đà hết sức giăng tay quất hoài”.

- Phen này Bồ đảo miết dày,
Không thèm học nữa, dông dài nghinh ngang.

- Linh đinh dạo xóm, dạo làng,
Đụng đâu ở đó, lại càng thêm duyên.              1010

- Cứ ăn cắp khắp láng giềng,
Thấy gì lấy nấy, bạc tiền chẳng tha.

- Tối thì bắt vịt, bắt gà,
Đào khoai, bẻ trái, nhà nhà kêu rêu.

- Ngày ngày dựa quán, dựa lều,                       1015
Mẹ cha tìm kiếm, cho kên không về.

- Trong làng ai nấy cười chê,
Tới nhà tỏ hết mọi bề ông hay:

- “Con ông nó đã quá tay”,
“Sanh điều trộm cắp, khó rày cho ông”.         1020

- “Nếu mà ẩn ác, tội đồng:
“Tội qui vu trưởng, phải phòng, kẻo lây”,

- “Bắt về trừng trị chớ chầy”,
“Đem ông, đem trống, sau này chẳng không”.

- “Tại ông thả nó minh mông”,                        1025
“Hiệp theo du đãng, sao ông yên lòng?”

- Ông bà nước mắt ròng ròng,
Sanh con há dễ sanh lòng được đâu!

- Một thương, hai nhớ, ba sầu,
Ông rằng: “Tại mụ ban đầy hay binh”.           1030

- “Một roi chẳng đúng vào mình”,
“Nó làm điều lỗi mặc tình làm ngơ”.

- “Dạy con, dạy thuở còn thơ”
“Việc chi còn nhỏ, ban sơ phải tề”.

- “Bởi thương khuất lấp nhiều bề”,                 1035
“Nay ra như vậy: kẻ chê người cười”,

- “Tại cưng nên nó dể ngươi”,
“Con cầu, con khẩn, mấy đời nên thân!”

- Bèn sai kẻ bắt con cần,
Đem về trị tội một lần thử coi.                         1040

- Bắt về ông đánh ít roi,
Nó bèn hự hẹ, tay đôi, tao mầy.

- Ngỗ ngang tánh đã ra ngây,
Không còn biết sợ dứt dây can thường.

- Chẳng còn một chút yêu thương,                  1045
Không còn tình nghĩa vấn vương điều gì.

- Giựt ra, chạy, mắng, ly bì:
“Lão này muốn chết!” rồi thì riết đi.

- Ông già bèn sợ phát nghi,
Thằng này bộ phản, chẳng vì, không kiêng.  1050

- Nó đà ra dại, như điên,
Ắt là sanh sự chẳng hiền chi đây.

- Ông bèn lập kế như vầy,
Thử coi cho biết sau này, thể nao.

- Tối còn đang lúc chào rào,                            1055
Liền đem khúc chuối để vào giường ông.

- Giả như mình ngủ ở trong,
Lấy mền đắp lại ai hòng biết đâu.

- Ông ra ngoài ẩn hồi lâu,
Sanh nghi cũng thật, lo âu cũng nhằm.           1060

- Thằng con tối lén về thăm,
Coi chừng thấy vắng, tay cầm khúc cây

- Bước vào phòng ngủ chẳng chầy,
Không suy tội phước nỗi này bất câu.

- Cầm cây xâm chuối đập nhầu,                      1065
Quỉ xui, còn biết trên đầu có ai?

- Chạy ra tách rậm nhẩy nai,
Tìm nơi xa lánh, mặc ai lo gì?

- Già hay rình thấy vân vi,
Tri hô kêu vợ sầu bi nỗi nầy:                           1070

- “Thằng Bồ về đánh tôi đây”
“Nếu không mưu trớ, thân nầy còn chi?”

- Ông bà, vật vã nhiều khi,
Hết còn dùn thẳng, khóc thì như mưa.

- Ban mai chí những ban trưa,                          1075
Như cây bị bão: gió đưa dật dờ.

- Quản bao tháng đợi năm chờ,
Gió hiu hiu thổi xơ rơ li bì.

- Gia tài sự nghiệp kể gì,
Bỏ hư, bỏ hại, hết thì sạch trơn.                       1080

- Kể sao xiết nỗi nguồn cơn,
Ông bà đói rách nghèo hơn mọi người.

- Thế gian kẻ khóc người cười,
Rầu buồn, không biết hổ ngươi là gì.

- Đến điều bỏ xứ mà đi.                                    1085
Xin ăn khắp chỗ chi li lạc lài.

- Ra thân nghèo khổ xạc xài,
Giữa đình, giữa quán, chẳng ai có màng.

- Áo quần rách rưới lang thang,
Quen càng lơ lảng, lạ càng ngẩn ngơ.              1090

- Biết bao xiết nỗi bơ vơ,
Ngó trăng đang tỏ, phút lờ tối câm.

- Hai hàng nước mắt tuôn dầm,
Phải mang cực khổ phải lâm nạn nghèo.

- Nghĩ ra người tợ như bèo,                              1095
Như mây đang hiệp, sẵn dèo gió tan.

- Sương sa khắp núi dặm ngàn,
Mưa thời xuống gội, mình càng ướt mem.

- Trời cao lộng lộng trông xem.
Sao thưa lác đác nhắp nhem ngọn đèn.           1100

- Dế kêu vắn vỏi mấy phen.
Ve ngâm mấy đoạn, ruột bèn khô nen.

- Lạnh thôi mình đã run en,
Nhìn xem những thấy ten ben áo quần.

- Ăn rau không biết mấy lần,                           1105
Người bần thiếu thốn ăn bần chịu thôi.

- Năm canh rột đã trào sôi,
Ngày mà mấy khắc bồi hồi nhớ con!

- Tuyết giăng bủa khắp núi non,
Mùa đông rét lạnh thon von cực phiền.          1110

- Mùa xuân hoa nở ra liền.
Mùa hè tàn rụng nào yên trong lòng?

- Mùa thu bức tức nương long,
Bốn mùa lóng nhóng ròng ròng nhớ con.

- Ngày qua, tháng lụn, năm mòn.                    1115
Xuân sang, hè vãng, thu dồn, đong đưa.

- Gió buồn cơn giục chiều trưa.
Rao rao, mát mát, nhớ xưa mà sầu,

- Biển dài thẳm thẳm bao sâu,
Lòng buồn, lòng cực, cũng hầu bấy nhiêu.     1120

- Ngó non, ngó núi, quạnh hiu,
Ngó trời, ngó đất, chiều chiều thẩn thơ.

- Chim kêu, vượn hú lờ đờ,
Đỗ trên nhành ngọn dật dờ reo rân.

- Xanh xanh chót núi ải vân,                            1125
Mây vàng, mây trắng, muôn phần nhớ thương!

- Xa xa một dẫy dặm trường,
Mù mù đống núi, quê hương xứ nào?

- Ngó dòng nước biển khắp bao,
Vơi vơi, vọi vọi, buồn nào khó phân,             1130

- Thân ôi! thân hỡi! là thân!
Thân ôi! thân biết mấy lần long đong!

- Ông già thương nhớ đợi trông,
Kể từ thằng ấy đánh ông đến giờ.

- Lưu linh khắp xứ bơ vơ,                                1135
Mang nghèo, mang khổ, mang nhơ trăm đàng.

- Lại lâm tù rạc gian nan,
Bị người ta đánh kêu van hết lòng.

- Bữa no, bữa đói, khóc ròng,
Lại mang tật bịnh ở trong thân mình,              1140

- Ăn mày đà khắp quán đình,
Nghe đồng Dương Lão có tình yêu dân.

- Bồ vào lạy giữa trước sân,
Xin làm đầy tớ kiếm phần hột cơm.

- Dương Hùng gạn hỏi nguồn cơn:                  1145
“Mẹ cha ác nghiệp, bất nhơn điều gì?”

- “Nên nay chịu khổ lưu li?”
Bồ bèn tỏ thiệt, kể thì sạch trơn:

- “Xin ông thương đến bần nhơn”,
“Sau thì xin thử lúc cơn nạn này”.                  1150

- Ông nghe, lòng gớm ghét thay:
“Mầy là thằng khốn, đắng cay thảm sầu!”

- Đang còn quở mắng hồi lâu,
Ông bà khi ấy bỗng đâu vào nhà.

- Xin ăn than phận sơ qua,                               1155
Bồ liền nhìn biết mẹ cha đã rồi,

- Lạy thay! Nhiều nỗi lôi thôi!
Dương Hùng phan hỏi, thương ôi! bồi hồi.

- Dương Hùng nghe biết khúc nôi
“Xin ông bà hãy lại ngồi nghỉ ngơi”.              1160

- “Bạc tiền là của ông trời”.
“Tôi có làm phước, ông thời đừng than”.

- “Muốn ăn, muốn ở, đủ đàng”,
“Song ông phải ráng sửa hàng rào tre”.

- Cây xiên, cân ngã, so le”,                               1165
“Không ai uốn, nó ngã gie ngoài đàng”.

- “Vậy thì ông phải sửa sang”;
“Uốn cho ngay thẳng theo hàng dễ coi”,

- “Khi nào có mệt thì thôi”,
“Không cần làm vội một hồi ngày nay”.        1170

- Vưng lời rựa mới cần tay,
Sửa sơ nhành ngọn gie nay cầm chừng.

- Cực lòng! Chủ biểu phải vưng,
Không thì không được, ai từng uốn tre?

- Dương Hùng khi ấy liền nghe,                      1175
Ông già than thở: “khó bề ngày nay”.

- Dương Hùng: “ông uốn tre ngay?”
Ông bèn trình tỏ bằng nay thưa rằng:

- “Phải mà nó hãy còn măng”,
“Uốn sao được vậy; nay rằng là tre”,              1180

- “Cứng rồi uốn nó chẳng nghe”,
“Nó thì gẫy hết, thân e không toàn”.

- Dương Hùng: “Ấy thật rõ ràng”
“Dạy con còn nhỏ, sửa sang ban đầu”

- “Con ông đây, chẳng ở đâu”,                         1185
Kêu Bồ, ông dạy cúi đầu lạy đi.

- Trước khi lỗi bởi ngu si,
Sau xin chúc phước ban thì một khi.

- Cha con than khóc li bì.
Thảy đều kể nỗi hồi đi đến giờ.                       1190

25. Phải sửa phạt con cái

- Tích xưa còn để sờ sờ
Cha thương, mẹ mến, đừng khờ khinh thay.

- Kể sơ chuyện ấy ra đây,
Vậy nên tục ngữ thuở nay nghe hoài:

- “Còn măng không uốn nay mai”,                  1195
“Tre già uốn gẫy”, ai ai thế thường,

- “Chuyện này khá để làm gương,
Kẻ làm cha mẹ biết đường dạy con.

- Uốn cây, uốn thuở còn non,
Dạy con, dạy thuở con còn bé thơ.                  1200

- Gắng lo tích cốc phòng cơ,
Dạy con hiếu thảo, sau nhờ lại con.

- Thật điều quấy, phải cho đòn,
Khi con thơ bé, tính còn tự nhiên.

- Nhiều khi thấy đánh con liền,                       1205
Bổ tô, bể chén, cứ liền xúm thoi.

- Đánh con đã nát cái roi,
Thịt da nứt nở, xem coi thêm phiền.

- Lấy lời giáo huấn vi tiên,
Dặn đi, dặn lại, phân minh tỏ tường.               1210

- Đánh con phải nghĩ phải lường,
Đánh cho có ích, tìm đường bảo khuyên.

- “Cẩu bất giáo, tính nãi thiên”,
Không lo dạy sớm, sau phiền biết bao!

- Bé thơ muốn uốn làm sao,                             1215
Lớn thành hiền hậu, lẽ nào dại ngây?

- Chép đây cho biết chuyện này,
Nghiệm kim suy cổ, xưa nay cũng thường.

- Lo mà sửa trước kẻo vương,
Xe kia bị gãy, lo lường xe sau.                         1220

- Hư nên tại lúc ban đầu,
Tập rèn tánh hạnh, sau lâu cũng thoàn.

- Vậy thì con phải liệu toan,
Làm lành, lánh dữ, tìm đàng bằng an.

- Cách ăn thói ở dịu dàng,                                1225
Nhu mì khuôn phép, xóm làng yêu đang.

- Ở cùng chúng bạn một trang,
Chơi cho dịu ngọt thuận thoàn với nhau,

- Đừng điều lý sự câu mâu,
Phân bì ghen ghét, chuyện đâu không nhằm. 1230

- Đừng điều nói nhẻ, nói bâm,
Ở cho đặng tiếng hảo tâm cho bền.

 

26. Đồng nhi đừng bài bạc rượu chè

- Này lời thầy dạy chớ quên,
Con đừng phá của, cực lòng mẹ cha;

- Con đừng cờ bạc mê sa,                                 1235
Lánh thân cho khỏi mới là bằng an,

- Giữ mình cho nhặt mọi đàng,
Đừng coi, đừng tập mà mang khổ rày,

- Ham rồi khó bỏ lắm thay,
Vậy nên con phải tập rày tránh xa.                  1240

- Phải cần, phải kiệm, lo xa,
Sợ con nghèo khổ, cực mà xiết bao.

- Hút á phiện, tợ ho lao,
Một ngày một tổn, tốn hao mòn lần.

- Đánh bài bạc, khốn cho thân,                        1245
Cũng như thổ huyết, muôn phần hại mau.

- Thứ me, lại thứ bài cào,
Nó là giống độc, chơi mau nghèo nàn.

- Ai bày hại khắp bốn phang,
Tội này quá dữ, dẫy tràn trọng thay.               1250

- Bạc vàng gia nghiệp đều bay,
Áo, quần, dù, nón, ráo tay còn gì.

- Thiếu ăn, thiếu mặc, nhiều khi,
Cào thôi hết của, trốn đi, hết gần.

- Có câu tiểu phú do cần                                  1255
Ấy là điều chắc, ráng lần tập đi

- Đọc kinh, xem lễ ít khi,
Biểu em sốt sắng, nó thì sao nghe?

- Còn thì bài bạc sa mê,
Em chơi chấm chút, la dè sao công.                1260

- Anh em là nghĩa đạo đồng,
Anh sao, em vậy, còn trông dạy gì?

- Ở đời sự cực thiếu chi.
Trăm điều hao tốn, thật là đắng cay.

- Dựng nên cơ nghiệp cực thay,                      `1265
Giữ xong gia thất, khó rày thảm thương.

- Một hai đứa, tánh cang cường,
Tập mình uống rượu, không tường kể chi.

- Đường đi nó chẳng có đi,
Chun vô đám chuối, té thì nhào lăn.               1270

- Đạp hàng rạo, chạy phăng phăng,
Cột nhà cứ đụng, than rằng: “Bất nhơn!”

- Nói hiền, sanh dữ, giận hờn,
Hết còn chằng phải, thiệt hơn là gì.

- Nhiều điều hự hẹ sân si                                  1275
Đi siêu cẳng tó ngồi thì ngã ngang.

- Miệng phều phào, mắt đỏ vang
Thần vì đã sập, song càng ráng đi;

- Gượng đứng dậy, té nhiều khi,
Kẻ thì dắt tới, người thì dắt lui.                       1280

- Trẻ coi, hả hả làm vui,
Hỗn hào cứ chửi: “Ai xui bây cười?”

- Rượu đâu nào có say người?
Hỡi người uống rượu chớ cười rượu say.

- Không còn nhân đạo, cứ gây,                        1285
Nằm nghiêng, nằm ngửa, ngày nay mấy lần!

 

27. Ở cho hoà nhã khôn ngoan

- Ở trong thân thích thôn lân,
Con đừng ỷ thế cậy thần, hiếp nhau,

- Dẫu con trong bực sang giàu,
Cũng đừng hiếp khó, lẽ đâu phụ bần?            1290

- Ở cho phải phải, phân phân,
Phải nhường người chánh phải vưng kẻ tài.

- Cực con, con cũng là trai,
Gắng lo thờ Chúa, dồi mài thảo ngay.

- Giữ cho đủ tháng, đủ ngày,                           1295
Đủ ăn, đủ mặc, mới rày là trai.

- Các điều, phải giữ chớ sai,
Thảo cha, hiếu mẹ, đừng ai ví bường.

- Lại con muốn ở nhà trường,
Đi tu giữ sạch, tránh đường thế gian.              1300

- Người đều quí ngọc, quí vàng,
Thầy mừng, thầy quí, con đang hiền lành,

- Thầy mừng con thảo thơm danh,
Mừng con sáng láng đã thành tài năng.

- Mừng con làng xóm khen rằng:                    1305
“Đứa con ông ấy, thật thằng đáng thương!”

- Kẻ khen cha mẹ lo lường,
Bởi hay dạy dỗ con lương thiện này,

- Kẻ khen con chẳng dại ngây,
Bởi thầy dạy dỗ, nhớ thầy mà thương.            1310

- Lễ nghi con đã biết tường,
Chữ con cũng khá, con bươn học dò.

- Người người, nói nhỏ, nói to,
“Thật con khéo dạy, ai so sánh bằng!”

- Ba Ngôi Chúa Cả phán rằng:                         1315
“Ai, mà kính Chúa, thì hằng thảo thân”,

- Phaolô thánh đã giải phân,
Chúa Trời phán hứa thưởng phần hiếu trung

- Ở đời đặng phước lạ lùng,
Sống lâu dưới đất, bão bùng ít lo.                   1320

- Hầu sau phước đức gồm no,
Lãnh phần vui vẻ Chúa cho ở đời.

- Việc này con phải nghe lời.
Giữ mình tử tế chớ chơi sa đà.

- Tuổi khôn càng lớn, lại càng nết na,             1325
Định đôi, thì để nơi mà mẹ cha. fin

- Cầu xin Chúa Cả ngôi Ba
Xuống ơn, ban phước, mới là bằng an.

- Lại con cũng phải liệu toan,
Xứng đôi, vừa bạn, làm ăn ở đời.                    1330

 

28. Lo kiếm nghề làm ăn

- Thầy thêm điều nữa, con ơi,
Muốn nên, con phải có nơi nghiệp nghề.

- Bạc vàng con có phủ phê,
Mà con không có một nghề không xong.

- Làm sao cha mẹ đành lòng,                            1335
Mai sau già yếu để phòng cậy nương?

- Hoặc khi ở chốn phố phường,
Bán buôn theo thế phải lường phải so,

- Làm ăn tua phải biết lo,
Suy bề bổ lợi, căn do cho tường.                     1340

- Bạc đen, láo xược, toan đường,
Giữ sao cho khỏi mắc đường sai ngoa.

- Con đừng mang tiếng xấu xa,
Gạt người lấy của, sau ra cơ hàn.

- Đêm con tính, ngày con toan,                        1345
Làm ăn giàu có hiển vang tiếng đồn.

- Giàu phần xác, giàu phần hồn,
Đáng khen, đáng kính, người khôn kiêng dè;

- Vai mang túi bạc kè kè,
Nói quấy, nói quá, cũng nghe nhiều đường   1350

- Ở đời con phải sanh phương,
Con đừng làm biếng, mà vương nghèo nàn.

- Con đừng tránh cửa làm ăn:
Ngồi không ai dễ đem phần của cho?

- Xin con hãy nhớ căn do,                                1355
Đời xưa ngươn tổ cũng lo, cũng làm.

- Adong là tổ người nam,
Mồ hôi cũng đổ, cũng làm cực thân.

 

29. Truyện Á thánh Gẫm

- Vậy nay con phải ân cần,
Mà nghe một truyện vui mừng lạ thay.           1360

- Hữu công tác thưởng công dày,
Nam kỳ địa phận phước nay cõi phàm.

- Việt Nam dẫn tích Việt Nam:
Việt Nam làm thánh, thầy đem tỏ bày.

- Nước Nam từ có đạo rày,                               1375
Ba trăm năm đã mới nay lần đầu.

- Đạo trời ý nhiệm cao sâu,
Công bình thưởng phạt, dễ hầu đơn sai.

- Truyện này trích hãy còn dài,
Lược sơ tóm kể một bài con coi.                      1370

- Mai sau noi dấu học đòi,
Đã nên một đấng con soi tỏ tường.

- Kể ra sự tích khá thương,
Khổ hình tử đạo trăm đường gian nan.

- Cho nên có lịnh Giáo Hoàng,                        1375
Rôma chánh vị tống sang Nam kỳ.

- Phong chức thánh, rao châu tri,
Cả trong Hội Thánh, khắp thì gần xa.

- Quê người về tỉnh Biên Hoà,
Tên ông lái Gẫm, con nhà hiền lương.            1380

- Người thì là bổn đạo thường,
Có công hiển thánh, nên gương để đời.

- Ở làng Long Đại, xứ người,
Tiếng kêu họ Tắt, tục thời Gò Công.

- Chỗ này bổn đạo ít đông,                              1385
Làm ăn ruộng rẫy, vun trồng náo nương.

- Mẹ cha nhân đức khiêm nhường,
Gia tư vốn thiệt thường thường đủ ăn.

- Mười điều, sáu luật, khuyên răn,
Đêm ngày, sốt sắng giữ chăn ân cần.               1390

- Ông bà kết nghĩa châu trần,
Ơn trên ban xuống, đặng phần nhiều con.

- Năm trai một gái vuông tròn,
Mátthêô Gẫm là con đầu lòng.

- Song thân chánh gốc đạo dòng,                    1395
Các điều bí tích lo xong hẳn hòi,

- Thánh thỉ theo dấu học đòi,
Tuổi chừng khôn lớn, chăm coi việc nhà.

- Trên thì thảo kính mẹ cha,
Dưới thương em út, thuận hoà làm ăn.            1400

- Thánh xưa thật rất siêng năng,
Phần kia, nghĩa nọ, học hành kĩ cang.

- Việc bài bạc, thánh không màng,
Không hay bậu bạn kẻ ngang, người tà.

- Thông minh tánh trí thiệt thà,                       1405
Mẹ cha đau ốm lo mà thuốc thang.

- Vừa năm Bính ngũ rõ ràng,
Bề trên lịnh dạy, đóng thoàn chở lương.

- Thánh thì gan dạ phi thường,
Ghe bàu sằm đã mọi đường đều xong.            1410

- Vưng lời Linh mục hết lòng,
Lập công chẳng quản, quan phòng tuyết sương,

- Lãnh làm lái, xổ buồm trương,
Thẳng qua phố mới, thảm thương nhiều bề.

- Đường đi cách trở sơn khê,                            1415
Biển đông gió thổi tư bề gian nan.

- Khốn thay mũi sóng thế gian,
Vua, quan, bắt bớ ghe đàng thiết tha!

- Anh hùng gan dạ ai qua,
Nghiêng vai kê vác Đức cha đem về,              1420

- Cùng là cha Lộ đề huề,
Xa xăm tách dặm, nào hề lo chi?

- Ước trông Giám Mục trị vì,
Cha thì dạy dỗ, trong khi nạn này.

- Sáng trăng chẳng có đám mây.                      1425
Cần giờ vừa tới, quân vây bắt rày.

- Bởi vì Thánh chở thầy Tây,
Đóng gông thánh lại, dẫn ngày về thành.

- Phen này thịt nát tan tành,
Án, bố, tổng đốc, thiệt danh dữ dằn.               1430

- Lớp mi, lớp hắn, lớp thằng,
Biểu căng nọc Thánh để giăng giữa trời.

- Đánh thôi thịt nát, máu rơi,
Biểu: “Mi bỏ đạo, tao thời giảm cho”,

- Thánh rằng: Thánh chẳng có lo,                   1435
Chết mà vì Chúa, thơm tho để đời.

- Thánh kêu Chúa Cả trên trời,
Ban ơn Thánh đặng tới nơi thiên đàng.

- Ba quan nhiếc mắng đã vang,
Đánh thôi văng thịt, hết đàng khảo tra.           1440

- Phen này ba cọp chẳng tha,
Án lên xin chém, chạy mà về kinh,

- Án y nội các bộ hình,
Nhằm năm Thiệu Trị đang kình với Tây,

- Lạ thay! Ơn Chúa xuống đầy,                       1445
Cho nên Thánh cứ hằng ngày vui chơi,

- Mẹ cha, cô bác các nơi,
Những em cùng vợ, tới thời khóc than.

- Thánh xin cha mẹ bằng an,
Cùng em, cùng vợ đừng đàng thở than.          1450

- Gông, cùm, Thánh vác, Thánh mang,
Các chức Chợ Quán tới sang thăm rày,

- Thấy lần hột sốt sắng thay;
Nhiều khi xưng tội, lo ngay việc mình.

- Thánh rằng: biết nghĩa hết tình,                    1455
Cám ơn trong họ giúp mình đã đoan,

- Tháng Mai có lịnh quan truyền,
Dạy đem đi chém quân dàn dẫn ra.

- Sẵn có em, lại có cha,
Có đông bổn đạo, đi mà một khi.                    1460

- Anh hùng mạnh bại dị kỳ,
Tới nơi chỗ xử, Thánh thì vui thay.

- Thánh xin cha Thánh tới rày,
Thành bèn quỳ gối ngày nay nguyện cầu.

- Ăn năn đánh ngực, cúi đầu,                           1465
Cha bèn Giải tội, hồi lâu xong rồi.

- Thánh còn kêu Chúa Ba Ngôi,
Quân bèn chém xuống, việc rồi, chạy đi.

- Có câu sinh ký tử qui,
Ba mươi ba tuổi, Thánh thì về quê,                 1470

- Gắng công theo Chúa mọi bề,
Ngày nay Chúa thưởng phủ phê lạ kỳ.

- Linh hồn sáng láng ai bì,
Thẳng về chầu Chúa một khi tức thì.

- Họ Chợ Quán có công kỳ,                             1475
Vội vàng liền võng Thánh đi về rày,

- Đem về lo tống táng nay,
Có cha bổn sở lo ngay việc này.

- Xin con hãy nhớ Quan thầy,
Con chưa tử đạo nỗi này mà than.                   1480

- Không xanh, cũng dựa màu chàm,
Chẳng bì được Thánh, ráng làm tôi con.

 

30. Cầu xin ông thánh Antôn

- Lại con xin thánh Antôn,
Con tìm lẽ đạo, học thông mà nhờ.

- Thánh xưa khi lúc bé thơ,                              1485
Yêu bề nhơn đức, phượng thờ thảy ngay,

- Hết lòng kính Chúa ai tày,
Thông minh rất lạ, tiếng bay khắp đầy.

- Chợ đông náo nức dầy dầy,
Hiệp nhau tuôn đến nghe rày Thánh khuyên 1490

- Khử tà qui chánh khắp miền,
Một lòng tim Chúa thượng thiên mà thờ.

- Con còn tuổi hãy bé thơ,
Gắng công luyện tập học sơ ít bài.


ĐỒNG NHI NỮ

31. Bổn phận con gái ở trường,
ở nhà thờ, và ở gia đình

- Nhi Nam dạy đã dông dài,                             1495
Dạy qua nhi Nữ một vài lời răn.

- Phận con cũng phải siêng năng,
Học cho biết chữ, kinh phần cho thông.

- Hầu sau xưng tội bao đồng,
Kinh kia, sách nọ, nằm lòng mới hay.             1500

- Sau thì học vá, học may,
Thêu, viền, mạng, dột, giỏi hay mặc tình.

- Lại khi hát lễ, đọc kinh,
Chị em hoà nhã, chống kình làm chi?

- Đừng điều sanh nạnh, phân bì                       1505
Đọc kinh hoà rập, đừng khi ngạnh nghề.

- Đứa đọc, đứa nín, đứa trề,
Thói quen đã thấy thường lề thuở nay.

- Gây nhau, hứ hé, ngó day,
Quì lên, ngồi xuống, bộ rày ghét thay.           1510

- Hễ là đọc rập thì hay,
Hơn là chống báng, nín rày dở dang.

- Ý ngay, lòng thật, khôn ngoan,
Hơn là thái thẩm, ai màng mà trông?

- Có con thì chợ cũng đông,                             1515
Không con thì cũng chẳng không bữa nào,

- Nương nhau giọng thấp giọng cao,
Hơi dài, hơi ngắn, chỗ nào xuống lên.

- Đọc thì phải giữ cho bền,
Đừng làm núng níu, đừng quên việc mình.    1520

- Thờ Chúa thì phải đọc kinh,
Nhờ ơn Chúa giúp chống kình quỉ ma.

- Chẳng nên kiêng nể người ta,
Đừng lo bao biếm, hay là tị ai.

- Ân cần kinh sách hôm mai,                           1525
Trước tuân cha sở, sau hai câu, trùm.

- Việc chi nhà thánh giúp giùm,
Bông hoa dọn dẹp chung cùng với nhau.

- Gái thì nhờ lúc ban đầu,
Khi còn thơ bé, mặc dầu thể nao.                    1530

- Đọc kinh chẳng sót bữa nào,
Xưng tội, rước lễ, ước ao vui lòng.

- Con còn trong lúc thong dong,
Nếu mà lếu láo đạo không ân cần.

- Đến sau đạo hạnh tiêu lần,                             1535
Việc đời dồn dập, tảo tần hiếm cho.

- Vậy nay con phải đắn đo,
Trước lo việc Chúa, sau lo việc nhà.

- Hết lòng khiêm nhượng nết na,
Đền ơn cha mẹ sanh mà con ra.                       1540

- Chữ tùng phận gái có ba,
Giữ câu tứ đức, mới là gái nên,

- Dung nhan, công việc đừng quên,
Nói năng, tiết hạnh cho bền, nên danh.

- Tuỳ gia phong kiệm nhi hành,                      1545
Giàu nghèo theo bực, rách lành, sánh so.

- Nghèo thì ăn mặc vải bô,
Tóc tai chải gỡ, mặc đồ vản vang,

- Dung thời chẳng lựa kềng vàng,
Dây chuyền, mười sợi, lụa hàng cũng xuê.     1550

- Hèn mà sạch sẽ ai chê?
Áo quần tinh tấn, mọi bề kĩ cang.

- Hễ nghèo, theo phận cho an,
Đèo bồng định thể, xen hàng uổng công.

- Tôn ti đẳng cấp không đồng,                         1555
Con đừng nhõng nhẽo, cực lòng mẹ cha.

- Con đừng hỗn với người ta,
Con đừng nóng nảy mà ra ngây ngà,

- Đứa nghèo thầy đã nói qua,
Đứa giàu ăn mặc cho ra phận mình.                1560

- Mặc đồ cũng phải cho tinh,
Tốt thì dành để, cái khinh mặc thường.

- Đừng làm khác cách phô trương,
Mặc cho phải phép, độ lường theo khi.

- Đừng hơi ỷ của diện chi,                                1565
Bao nhiêu ninh hết, đồ thì đeo mang.

- Cổ dơ thấy đất có khoang.
Lỗ tai đóng khóm, đeo vàng ai coi?

- Vậy nên con phải học đòi,
Sạch trơn vén khéo, hản hòi người ưa.           1570

- Ngủ sáng dậy nói không thừa,
Mặt con chẳng rửa, tới trưa còn vằn.

 

32. Con gái phải biết mua,
biết nấu, biết giữ đồ ăn

- Bây giờ tới sự mua ăn,
Rẻ mắc, theo giá cho bằng người ta.

- Vật chi đẹp miệng mẹ cha,                             1575
Vật chi tôi, tớ mua ra hai đàng.

- Thịt heo nó đỏ nó vàng,
Hễ ăn sợ độc, mua ngang làm gì?

- Con mua cá nuốt dị kì
Mình thì ốm nhách, bụng thì chang bang.      1580

- Lâm ra, thịt thối rõ ràng,
Tưởng là cá mập, hổ hang bàng hoàng.

- Món kia vật nọ, trăm ngàn,
Sức nào mà kể? Con toan trăm đàng,

- Chợ nhiều điếm, hiếm đứa hoang,                1585
Thật hay ăn cắp; nó gian quá chừng;

- Giữ gìn  kẻo mất, chẳng đừng,
Tránh nơi chộn rộn, tránh quân dữ rày.

- Đi về cho kíp chớ chầy,
Nếu trưa quá bữa ắt gầy mẹ cha.                      1590

- Nấu ăn, hôm sớm trong nhà.
Vật dành món để, phân ra nơi mình.

- Đồ ăn dầu vật trọng khinh,
Cũng cho kĩ lưỡng sạch tinh trong ngoài.

- Nấu ăn đừng để thua ai,                                 1595
Phải cho chín chắn sơ sài được đâu.

- Nấu cơm sống, đã nên rầu,
Con hay, nên mới đổi nhầu lộn vô.

- Bắt lên chụm lửa ồ ồ,
Đem lên, lớp khét, lớp khô, lớp vàng...           1600

- Lại còn chuyện nữa không an.
Mua nhằm mướp chín, sắn dàn canh ra,

- Nấu canh bị mướp nó già,
Ăn canh húp nước, cái mà những xơ.

- Đồ ăn, con chớ làm lơ,                                   1605
Phải hâm, phải đậy, ơ hờ không xong,

- Chuột phá, gián lội vô trong.
Chình tương, hũ mắm, con phòng con coi,

- Hễ mắm cạn nước có giòi,
Nếu tương không đậy, thì ruồi nó bâu.           1610

- Canh rau, thì phải coi sâu,
Sâu mà có lộn, nấu nhằm, nằm ngay.

- Đồ ăn để kiến vô đầy,
Hỏi sao như vậy? Thưa rày là tiêu.

- Tiêu mà có cẳng rất nhiều!                            1615
Vậy thì con phải tập đều kĩ cang,

- Gái nên lo lắng sửa sang,
Tề gia, nội trợ, trăm đàng ai qua.

- Miếng ăn theo ý mẹ cha,
Chua, cay, mặn, lạt, thịt thà canh rêu.             1620

- Khéo khôn biết vẽ nhiều điều.
Dạy con cho biết tỉa thêu cho vừa.

- Giàu mĩ vị, nghèo muối dưa,
Bữa ăn nấu nướng sớm trưa mặc dầu:

- Việc chi cũng phải lo âu,                               1625
Vật dùng, các thứ, chùi lau cho ròng.

- Nước ăn, nước uống, sạch trong,
Nấu dơ; thiệt gớm, ráng phòng ớ con.

- Chả, nem, bánh trái mặc lòng.
Nghề nào cũng phải cho xong một nghề,       1630

- Việc làm, đừng để ai chê,
Đồ kia, món nọ, bộn bề chăm coi.

- Tôm thì ươn, cua để hôi.
Mà con làm chả ăn hôi thúi ùm.

- Nem nhão nhẹt gói một đùm,                        1635
Kẻ trề người nhún, chê um nói cùng.

- Bánh chua, bánh lạt, khó dùng,
Thịt xào, mè cá, bỏ chung trộn đầy.

- Nhai sạo sạo, ghê răng thay!
Con lo đãi cát, sánh tày kĩ cang,                      1640

- Xôi vò, xôi vị, xôi vang,
Nấu quên đậy nắp, nó vàng ráo thôi.

- Bánh đúc con bỏ nhiều vôi,
Cha mẹ ăn rồi, con mắt trỏm lơ.

- Mứt gừng làm cách đơn sơ,                            1645
Ăn cay nhảy mũi, ngẩn ngơ miệng mồm.

- Bánh tét, bánh ít, sồn sồn,
Nhuân lộn ra ngoài, lá lộn vô trong.

- Bánh gừng, bánh nhãn, không xong,
Đã chại, lại nổi con hòng phải lo.                    1650

- Bánh men, bánh thuẫn, bánh bò.
Thứ chua, thứ cháy, đem cho ai thèm?

- Mới kêu bớ mấy trẻ em,
Biểu ăn, nó cũng lại gèm, lại chê,

- Bột, đường, khuấy để ê hề,                            1655
Chậu kia, vịm nọ, nhiều bề tốn hao.

- Làm ăn không kỹ, tầm phào,
Lớp công, lớp của, nhọc lao nhiều đường!

- Nấu cơm lại thấy thảm thương,
Mặt con đầy lọ, tợ đường có râu.                     1660

- Quẹt qua lỗi mũi bắc cầu,
Con tua giữ sạch, mựa dầu để dơ.

 

33. Xem sóc bàn thờ và cùng nhà

- Bây giờ tới việc bàn thờ,
Con chưng rực rỡ mà nhờ, ớ con.

- Kính tôn Chúa tạc lòng son,                          1665
Đêm cầu ngày khẩn, vuông tròn thảo ngay.

- Xin Đức Mẹ phù hộ rày,
Bình an mạnh khoẻ, phước đầy ơn ban.

- Con coi khắp hết xóm làng.
Nhà nào dọn dẹp, bởi bàn thờ nay.                 1670

- Lòng thành, phải quyết sạch ngay,
Nhiều nhà đã thấy thiệt nay rác cùng.

- Nhện giăng khắp chỗ tứ tung,
Nào ly, nào rượu, đồ dùng nhiều thay.

- Lược thưa, lược vắn, lược dày,                      1675
Dầu dừa, dầu gió, sắp nay để đầy.

- Vò vò đóng ổ có dây,
Bông hoa, ảnh tượng khói bay đen sì.

- Chuột thì làm ổ nhiều khi,
Lại còn những mối, nó thì hiểm thay.             1680

- Hại nhiều bề phá dữ ngay,
Vậy thì con phải giữ ngay hẳn hòi.

- Tối rồi con hãy xem coi,
Cửa gài, đèn rọi đừng nguôi, đừng phiền;

- Đèn xa vách, xa mùng liên,                           1685
Lửa vùi tém vén, cần chuyên của mình.

- Những người ở, ít khi tin,
Nửa ăn, nửa đổ, con gìn khắp nơi.

- Chó treo, mèo đậy, ghi lời,
Mệt thời con nghỉ, khoẻ thời con siêng.         1690

- Đêm phải phòng, thì mới yên,
Động đừng ngờ chuột, đem đèn đi soi.

- Trong nhà đâu đó xem coi,
Chỗ dơ rác rến, móc moi quét liền,

- Hàng ngày săn sóc cho siêng,                        1695
Ban mai, ban tối, giữ giềng ngoài trong.

 

34. Đừng ở không nhưng:
Tập may vá thêu thùa,
tập ăn nói cho phải phép

- Chẳng nên nghễu nghến thong dong,
Thú nào phận nấy, có công chuyện làm.

- Nên thì thấy việc càng ham,
Hư là ở nể, quỉ đem lòng tà.                             1700

- Sách phần dạy chớ bỏ qua,
Không nhưng: mối tội biết là bao nhiêu,

- Mở đàng cám dỗ phải xiêu.
Xác không nên dáng, hồn liều quỉ ma.

- Vậy nên phải giữ kẻo sa,                                1705
Ở nhưng lếu láo, ấy ra hiểm nghèo,

- Buông giầm, thì phải cầm chèo,
Lo hồn, rồi phải lo nghèo, việc luôn.

- Nếu không như vậy, luông tuồng,
Đã hư phần xác, lại luôn phần hồn.                1710

- Việc làm chẳng phải bôn chôn,
Thái quá, bất cập, dập dồn một khi.

- Chẳng nên ngủ nướng li bì,
Việc hồn, việc xác, phải thì cho chuyên.

- Việc kia chuyến nọ, cho liền,                        1715
May quần, cắt áo, đột viền, mạng thêu.

- Cắt thì trưng để cho đều,
Thợ mà cắt trái, ai kêu thợ rày?

- Đường may con giữ cho ngay,
Mũi kim cho nhặt, cho dày mới xinh.             1720

- Nghề may con ráng nhuần mình,
Con đừng vá vụn như hình buồn dong.

- Thêu con bướm giống con ong,
Nếu con thêu vậy, sao ròng thợ thêu?

- Xây quanh cũng bấy nhiêu điều,                  1725
Ấy là phận gái, ấy điều nữ công.

- Tập lời ăn nói cẩn ngôn,
Lời thưa, tiếng hỏi, lanh khôn, dịu dàng

- Nói nhiều, nhiều lỗi, ai màng?
Nói hay ít nói thế gian khen rày.                     1730

- Khuyên con đừng có nói dài,
Nói vừa phải phải, nói hoài nhức tai.

- Văn hay, chẳng luận đọc dài,
Văn mở đầu bài, văn lại biết văn.

- Người dưng dầu chẳng họ hàng,                   1735
Lớn hơn tuổi tác, hèn sang, phải tường.

- Nói năng chào hỏi, kính nhường
Ở cho phải cách yêu thương mọi người.

- Đừng điều nhạo báng chê cười,
Thấy nghèo khinh dể, vui chơi người giàu.    1740

- Đừng làm bộ tịch lau chau,
Khi vui, vui quá, buồn sầu ủ ê.

 

35. Con gái mê bài cào, tứ sắc

- Lại còn một sự đáng chê,
Bài cào, tứ sắc, sa mê quá chừng.

- Cũng là một sự ở nhưng,                                1745
Tập điều đáng ghét con đừng ước mơ.

- Tưởng chơi cho biết, không ngờ,
Sau này mới thấy thân sơ vì bài.

- Đêm ngày mơ tưởng hoài hoài,
Đánh thua thất sắc, hết tài giỏi hay.                1750

- Ngồi đâu cứ nói chuyện dài,
Xe vàng, chốt trắng, nhớ hoài, quên đâu!

- Bài gian, bạc lận cao sâu,
Chuỗi vàng, cà rá, lâu lâu cũng mòn,

- Cổ không, tay sạch ráo trơn,                          1755
Cha rầu, mẹ ghét chẳng còn mến yêu.

- Xét suy, suy xét bấy nhiêu,
Phải nên xa lánh trắng điều, vàng, xanh.

 

36. Nết na con gái nhơn đức

- Nết na con tập tánh thành.
Đều nên bắt chước, việc lành soi gương.        1760

- Giữ cho khỏi tiếng đứng đường,
Khỏi lời thưa thới, khỏi vương tiếng đời.

- Kẻo mà miệng thế chê cười,
Giữ câu tiết hạnh ở đời nên danh.

- Kẻo mà bị tiếng bồng chanh,                         1765
Ở cho yễu nhiểu tiếng lành đồn xa.

- Khi nào có việc đi ra,
Điểm trang sạch sẽ, sơ qua độ lường.

- Xét xem kỹ lưỡng cho tường,
Ra đàng nhắm dạng, dọc đường ai ưa?           1770

- Nết na xảnh xẹ con chừa,
Trầu cau cũng phải một vừa hai khi,

- Ăn trầu nhển đổ dị kì
Nào cằm, nào miệng, li bì kể chi.

- Nhai thôi nhí nhách liền xì,                           1775
Miệng mồn đóng quách coi khi đã già.

- Ăn trầu giỏ bậy dơ nhà,
Vào trong nhà thánh cũng là không kiêng.

- Ăn trầu con đã tốn tiền,
Lại còn dùng quá, nên ghiền ngày đêm          1780

- Ngủ ngậm trầu, không nói thêm,
Thuốc ăn một cục nhét kềm trên răng.

- Buồn, vui, cứ xỉa lăng xăng,
Kéo qua, kéo lại siêng năng ai bường?

- Ăn vôi dường tợ ăn đường,                            1785
Trầu đầy ô quả, cau thời hiếm dư.

- Sửa mình tánh nết thìn từ,
Hiền lành nghiêm nhặt, đừng hư việc gì.

- Ở coi đứng bực tôn ti,
Phải khi dạn dĩ phải thì nghiêm trang.            1790

- Lời thưa, tiếng nói vững vàng:
Bề trên, kẻ lớn, hỏi han điều gì.

- Bộ đừng nhút nhát chạy đi,
Đừng mà chào hỏi, việc thì gởi thưa.

- Nói năng xổn xảng con chừa,                        1795
Người người đều ghét, ai ưa xán ghè?

- Lấy lời dịu ngọt dễ nghe,
Hễ là khiêm nhượng, mọi bề đáng khen.

- Dầu ai nghèo khổ, lèn xèn,
Giữ cho khuôn phép, sang hèn đừng ngang   1800

- Đừng theo hơi bạc, hơi vàng,
Đừng theo thế mạnh, phụ phàng, kiêu thay.

- Con đừng làm thái mới hay,
Ở đừng sanh sự với nay mọi người.

- Con đừng nói khéo mà cười,                         1805
Nói hành, nói tỏi, mà bươi việc người.

- Trước khi con nói phải suy,
Ngôn thì cố hạnh, hạnh thì cố ngôn.

- Làm sao cho đặng tiếng đồn,
Con rằng: nhơn đức, thì hơn điều gì,              1810

- Sao cho thiên hạ yêu vì
Kẻ thương người mến khen tài gái ngoan.

- Nhường nhau cho khéo trăm đàng,
Ấy là con đặng bằng an ở đời.

- Con đừng kình địch, con ơi.                          1815
Việc chi con nguyện Chúa Trời phân cho.

- Chim khôn tránh bẫy, tránh dò,
Người khôn tránh kẻ hồ đồ, mới khôn.

- Xin đừng nay giận, mai hờn,
Ở hay hoà thuận thì hơn mọi bề.                     1820

- Ở sao thế sự đừng chê,
Chớ cho ai lận mựa bề lận ai.

- Sanh tài hữu đạo lâu dài,
Ở ăn thật sự, mựa ai chác đời.

- Giàu sang cũng bởi Chúa Trời.                     1825
Chớ hay tham quấy, bỏ rời chẳng toan,

- Hễ là thất đức mau tàn,
Người hay tích phước, sau an muôn phần.

- Ai ai cũng ở trong trần,
Khéo lo, khéo liệu, bớt phần gian nan.           1830

- Giữ điều hoa nguyệt chớ màng.
Những nơi bày chuyện, vội vàng tránh xa.

- Đứa trắc nết, con lánh ra,
Gái thì chớ khá đi mà chơi xa.

- Việc ngoài cho đến trong nhà,                       1835
Có tầng, có thứ, giữ mà nết na;

- Gái trai trà trộn xông pha
Mắc điều lộn xộn, sau ra tiếng đồn:

- E người chê hết cả phồn,
Giữ không đăng chín, sồn sồn cũng vương    1840

- Vậy nên con phải xét tường,
Giữ điều trong sạch độ lường kĩ cang.

***
- Nhi Nam, nhi Nữ, đôi đàng,
Thầy khuyên học Lễ, học Văn cho thành.

- Cứ điều lánh dữ, làm lành,                             1845
Say vui đạo vị, tánh thành con thơ.

- Chẳng may xao lãng bơ thờ,
Song le mùi đạo bây giờ còn trông.

- Ăn năn trở lại thì xong,
Con tin cậy Chúa, con mong thiên đàng.        1850

CHUNG
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây