HUẤN DỤ VÀ GHI NIỆM (Chương: II-III-IV)

Thứ bảy - 13/05/2017 11:24
HUẤN DỤ VÀ GHI NIỆM (Chương: II-III-IV)
HUẤN DỤ VÀ GHI NIỆM (Chương: II-III-IV)

HUẤN DỤ VÀ GHI NIỆM
của THÁNH NỮ TÊRÊSA HÀI ĐỒNG GIÊSU
(Chương: II-III-IV)

II. KHIÊM NHƯỜNG.. 1

III. MẾN CHÚA.. 19

IV. BÁC ÁI HUYNH ĐỆ.. 34

 

II. KHIÊM NHƯỜNG

Trong các nhân đức, thì Chị Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu sống đức khiêm nhường tới mức cuối cùng, và chính vì muốn được thật khiêm nhường, thật bé nhỏ, nên Chị đã theo “Đường thơ ấu thiêng liêng”, nói khác đi, chính vì trung thành theo đường này mà Chị được khiêm nhường và đơn sơ như trẻ nhỏ.

Chị Têrêsa Hài Đồng Giêsu sung sướng thấy mình sống trong Dòng đã chín năm, mà luôn còn ở Nhà tập, không thuộc thành phần của Hội Đồng Dòng [1] và bị coi là “bé nhỏ” [2].

“Lạy Chúa, con xin được đau khổ và khinh chê”

Khi đau khổ ê chề vì Cha chúng tôi bệnh nạn. Chị chứng tỏ rằng những khát vọng chịu khinh chê nơi Chị không phải là những chữ suông nữa.

Nhiều lần ngay từ hồi thơ ấu, Chị đã nhắc đi nhắc lại cách hăng say lời sau đây của Thánh Gioan Thánh Giá: “Lạy Chúa, con xin được đau khổ và khinh chê vì Chúa”. Đó cũng là điều chúng tôi ước vọng khi tựa bên cửa sổ ở Vọng Tháp (Belvédère), cùng nhau trò chuyện về cuộc sống vĩnh cửu.

Hãy yêu thích để người ta sai khiến và quở trách mình

Chị bảo tôi: “Cần nhất phải khiêm nhường tự nội tâm, mà chị không thể khiêm nhường như vậy, nếu chị chưa muốn mọi người sai khiến chị. Chị chỉ dễ dãi bao lâu mọi việc xuôi chảy, nhưng khi chúng vừa xảy ra khác ý thì chị liền sa sầm mặt lại! Đó không phải là nhân đức. Nhân đức là biết khiêm tốn đặt mình dưới tay mọi người [3], biết vui sướng khi người khác quở trách mình.

Khi bắt đầu cố gắng, chị sẽ gặp những khó khăn ngoại cảnh như vậy và người khác cũng cho là chị bất toàn, nhưng đó lại là điểm rất tốt, vì chị được tập khiêm nhường. Khiêm nhường không chỉ tại nghĩ và nói rằng minh đầy khuyết điểm, mà còn làm sao thấy sung sướng khi người khác cũng nghĩ và nói rằng mình khuyết điểm như thế.

Chúng ta phải rất vui lòng để đôi khi kẻ khác gièm pha, vì nếu không ai làm điều đó, thì hỏi ta sẽ ra sao? Không mấy ích lợi cho ta”.

Trong một dịp lễ Cộng đồng, Chị sáng tác để trình diễn một màn “trò chơi đạo đức”, Chị bị trách là vở tuồng quá dài và người ta bảo Chị ngưng lại [4].

Tôi bắt gặp Chị lau trộm nước mắt phía trong cánh cửa. Rồi tự chủ được xúc động, Chị lại bình tĩnh và dịu dàng trong cảnh bị làm mất thể diện như vậy.

Chị Têrêsa vô cùng sung sướng đón nhận mọi lời trách mắng, không phải của chỉ các Bề trên, mà ngay của những người dưới nữa. Chị để các chị em Nhà tập nói những điều làm khó chịu mà không bao giờ quở mắng họ tại chỗ.

Tôi nói với Chị: “Em rất muốn đón nhận những điều chỉ dẫn đứng đắng khi lầm lẫn, em bằng lòng lắm. Nhưng bị quở trách lúc mình vô tội, thì thật không chịu nổi”.

- “Trái lại em, em thích được tố cáo sai sự thực, vì khi đó em không phải trách mình nữa, và em sung sướng dâng điều đó cho Chúa, rồi em sẽ khiêm tốn thấy rằng mình rất có thể lỗi phạm điều người khác vừa tố cáo mình”.

Chị đơn thành thổ lộ với tôi: “Em thấy hình như khiêm nhường là chính chân lý. Em không biết em có khiêm nhường hay không, nhưng em cảm thấy mình nhận ra chân lý trong mọi sự vật”.

Chị có thói quen tự xếp mình thuộc loại những kẻ yếu đuối, danh từ “những tâm hồn bé nhỏ” cũng do đó mà có.

Trong những lời khuyên dạy riêng từng chị em Nhà tập, Chị thường luôn nói về khiêm nhường. Điều Chị muốn là dạy chúng tôi không những tránh buồn nản khi thấy mình yếu đuối, mà còn “khoe” những yếu hèn của mình ra nữa [5].

Chị nói: “Êm dịu biết bao khi thấy mình yếu đuối và bé nhỏ!” [6].

“Chị có một con chó con...”

Nhân dịp Chị Têrêsa chỉ cho tôi thấy tất cả những khuyết điểm của tôi, tôi đã buồn phiền và một phần nhụt nhuệ khí. Tôi nghĩ: “Tôi ước ao có các nhân đức biết bao nhiêu, nhưng còn xa vời quá! Muốn dịu hiền, kiên nhẫn, khiêm nhường, bác ái... nhưng không đi tới đâu hết!”. Tuy thế, giờ nguyện gẫm ban chiều, tôi đọc thấy Thánh Nữ Gertruđê cũng tỏ bày cùng một ước nguyện như vậy và Chúa Giêsu đã trả lời Thánh nữ:

“Trong mọi việc và trên hết, con hãy có thiện chí thành tâm. Chỉ duy tâm tình này làm con được toả sáng và có huân nghiệp đặc biệt của mọi nhân đức. Ai có thiện chí thành tâm, có ước muốn đơn thuần làm vinh danh Cha, tạ ơn Cha, cảm thông đau khổ Cha, mến yêu và phụng sự Cha bằng tất cả thụ tạo, thì người đó chắc chắn sẽ nhận được phần thưởng xứng đáng với lòng độ lượng Cha, và đôi khi ước muốn đơn thành ấy còn ích lợi hơn những nghĩa cử của kẻ khác”.

Rất an tâm và được phấn khởi vì những lời trên, tôi tâm sự với Têrêsa, người em “Bề trên” của tôi. Chị đào sâu tư tưởng và thêm:

“Chị đã đọc Tiểu sử Cha Surin chưa? Ngài trừ quỷ và quỷ bảo Ngài: chúng ta chiến thắng tất cả. Chỉ có cái “Con chó thiện chí” là làm bọn ta không bao giờ kháng cự lại nổi!” [7]. Này! Nếu chị thiếu nhân đức thì chị đã có “Con chó con” nó cứu chị khỏi mọi nguy hiểm rồi. Chị hãy an lòng, “Con chó con” đó sẽ đưa chị tới thiên đàng. A! Tâm hồn nào mà không khát mong có nhân đức! Đó là con đường thông thường! Nhưng thật hiếm những tâm hồn nhận mình sa ngã, yếu đuối và bằng lòng thấy mình đo đất, đồng thời an vui để người khác bắt gặp mình trong tình trạng ấy.

Lý do tự hạ

Ngày kia tôi thấy nản chí và cho là do sự mệt mỏi mà ra. Chị nói: “Khi không thực tập được các nhân đức, đừng bao giờ chị cho là do một nguyên nhân tự nhiên nào đó như bệnh tật, thời gian hay phiền muộn. Trái lại, chị phải lợi dụng cơ hội để tập khiêm nhường, và đặt mình vào hàng những ‘tâm hồn bé nhỏ’, vì chị chỉ có thể thực tập các nhân đức cách quá yếu ớt! Điều chị cần lúc này không phải là tập được những nhân đức anh hùng, mà là cần có tinh thần khiêm nhường. Muốn được thế thì mọi việc chị thành công đều phải vương thêm chút thất bại, để chị không thể thoải mái khi nghĩ tới thành công đó. Trái lại mỗi lần nghĩ tới là mỗi lần chị tự hạ, vì thấy mình không phải là một tâm hồn anh hùng. Có những kẻ bao lâu còn sống dưới thế, bấy lâu không hề được thấy đồng loại trọng kính mình: nhờ đó họ không dám tin mình cũng có những nhân đức mình khâm phục nơi kẻ khác”.

Một “phương thế nhỏ”

Chị nói với tôi: “Mới đây em khó chịu với một chị và tưởng chị ấy không nhận ra. Việc chiến đấu còn trong nội tâm, tuy vậy em tự nuôi trong trí là chị đã nhận ra em chẳng có nhân đức chi hết, và em rất sung sướng cảm thấy mình yếu hèn như thế”.

Lần khác, trong một hoàn cảnh tương tự, Chị cũng nói với tôi: “Em tràn ngập sung sướng vì mình đã thiếu sót. Hôm nay Chúa ban cho em những ơn thật trọng đại, hôm nay đúng là một ngày có phước...”. Tôi hỏi Chị làm thế nào mà có những tâm tình đó? Chị trả lời: “Phương thế em dùng là luôn luôn vui vẻ, tươi cười lúc thất bại cũng như lúc thành công”.

Một tâm hồn dũng mãnh như vậy mà vẫn nghi ngờ chính mình, tin rằng mình có thể phạm những tội tầy trời. Chị đã đề dưới tấm ảnh Chúa Giêsu chịu nạn những hàng chứng tỏ tâm tình thường xuyên của Chị: “Thưa Thầy, Thầy biết rõ con mến Thầy [8], nhưng xin Thầy đoái thương con, vì con chỉ là kẻ có tội” [9].

Chị chỉ dẫn cho tôi hay một việc chính Chị thấy rõ cái phi bạc nhẹ dạ mà không ai tránh nổi:

Đó là đêm Sinh Nhật 1887, giữa lúc Chị hy vọng được vào Nhà Kín thì Chị lại chịu một thử thách kỳ lạ. Sau biết bao cố gắng mà vốn thấy mình còn ở ngoài đời, tâm hồn Chị như qua cơn hấp hối.

Sau này Chị thổ lộ: “Ồ! Chị có thể tưởng được giữa lúc em chìm ngập trong biển sầu như vậy mà còn có thể thích thú đội chiếc nón mới, có đính hình chim bồ câu trắng! Những tính tự nhiên đó trở lại một cách kỳ lạ!” [10].

Nguồn vui đích thực

Tôi nhận thấy những điều gây cho người ta thích thú, chẳng hạn như một niềm vui nào đó, tuy dầu thánh thiện đi nữa, thì kết thúc cũng làm tâm hồn mệt mỏi, nếu người ta quyến luyến nó, và một niềm vui kéo dài chẳng bao lâu sẽ biến thành buồn thảm. Chị trả lời tôi về nhận xét này như sau:

“Chỉ trong Chúa mới có an nghỉ và niềm vui đích thực không hề làm mệt mỏi, đó là niềm vui con người múc trong quên mình, khinh bản thân. Vậy về chuyện chị yếu đuối chiều hôm qua... (tôi đã khóc vì thấy phải đi thăm các bệnh nhân sau giờ Kinh mai [Matimes] - lúc tôi đã quá mệt mỏi, và một chị đã trông thấy tôi khóc). Nếu chị bạn bắt gặp chị khóc nên cho là chị chưa có nhân đức và chính chị cũng thật tình nghĩ như thế, thì đó là nguồn vui chân chính rồi!”.

- Ồ! Chị có lý, em rất hiểu mình phải làm gì, em thấy rõ vậy, nhưng em không sao thi hành nổi. Không, không bao giờ em nên tốt lành được!

- Có, có chứ! Chị sẽ nên thánh thiện, Chúa sẽ làm cho chị thánh thiện.

- Vâng, nhưng không bao giờ thụ tạo nhận ra điều đó cả, và nếu em cứ vấp ngã mãi, thì người ta sẽ luôn cho em là bất toàn, còn Chị lại được các chị em nhận ra là thánh thiện!

- Tin rằng mình bất toàn và thấy người khác hoàn hảo, đó là hạnh phúc. Việc người ta cho chị là không có nhân đức không làm chị mất mát gì cũng không làm chị bất hạnh hơn, mà chính những người khác phải mất niềm vui nội tâm, vì "không có gì êm dịu bằng nghĩ điều hay cho người xung quanh". Ai phán đoán bất lợi cho chị thì mặc kệ họ, trái lại hữu ích biết bao cho chị nếu chị biết do đó mà tự khiêm vì mến Chúa”.

Tôi tự thú với Chị: “Lúc đó em hình như chẳng còn nghĩ ngợi được gì nữa!”.

- Điều đó không sao hết. Chúa biết rõ tâm tư chị. Và cố ý làm tôi bật cười nên Chị dùng một câu tiếng lóng chúng tôi đã từng biết với nhau: “Bạn càng khiêm tốn bao nhiêu thì bạn càng sung sướng bấy nhiêu”.

Tôi bảo Chị: “Ồ! Khi em nghĩ tới những điều em phải ‘thu thập lấy!’”.

- Chị hãy nói là phải “bỏ mất đi” thì đúng hơn!... chính Chúa Giêsu sẽ chan hoà tâm hồn chị với những huy hoàng của Ngài, từ như chị biết trừ khử những bất toàn nơi lòng chị nhiều hay ít.

Chị hay nói với tôi: “Chị không tập được nhân đức nào cả! Chị muốn ‘leo’ núi trong khi Chúa muốn ‘hạ’ chị xuống đáy thung lũng phì nhiêu, ở đó chị sẽ học bài học tự khinh bản thân”.

Vị thánh chơi xích đu

Muốn áp dụng từng chữ lời thánh Phaolô: “Anh em hãy cẩn trọng làm việc lành, không phải chỉ trước mặt Chúa, mà cả trước mặt người ta nữa” [11]. "Tôi hoài bão luôn làm gương tốt quanh tôi", muốn các chị em Nhà tập coi tôi như mẫu mực, nên khi tôi vấp ngã điều gì, tôi coi như tất cả đều đổ vỡ! Chị bảo tôi:

“Như vậy chỉ là tìm chính mình, là nhiệt tâm giả tạo và ảo tưởng. Người ta thuật lại rằng: Có một vị Giám mục muốn biết một vị thánh tiếng tăm lừng lẫy, nên tới thăm Ngài, có các bậc vị vọng trong Toà Giám mục đi theo. Đấng Thánh thấy từ xa vị Giáo chủ cùng với đoàn tháp tùng tiến tới, Ngài liền có một biến động hư danh và vì muốn phản kháng lại, nên thoáng thấy đám trẻ đang chơi đánh đu trên cây gần đó, Ngài liền bảo một em xuống và ngồi thế vào chỗ em. Vị Giám mục coi Ngài như kẻ mất trí, liền trở về mà không cần điều tra gì hết!

Nhiều lần vì tâm hồn chưa đủ cứng rắn để lãnh nhận lời khen lao, thì đôi khi phải biết hy sinh chút lợi bên ngoài để có ích cho việc thánh hoá bản thân. Chị phải vui mừng thấy mình vấp ngã, và nếu việc vấp ngã không xúc phạm đến Chúa thì đôi khi ta phải chủ tâm vấp ngã để giữ được lòng khiêm tốn”.

Nhờ Đức Trinh Nữ

Chị dửng dưng trước những điều người ta nghĩ về Chị, ngay cả lúc kẻ khác cho là việc thiếu xây dựng cũng vậy. Khi Chị mới nhuốm bệnh, trước mỗi bữa ăn, Chị buộc phải đi uống thuốc. Một chị lớn tuổi lấy làm lạ và than phiền, vì thấy Têrêsa không giữ luật. Chỉ cần một lời phân trần là Chị đã làm chị lớn tuổi kia an lòng rồi. Nhưng Chị im lặng để rập theo gương Đức Trinh Nữ, vì Mẹ chịu mất tiếng tốt, hơn là phân trần với Thánh Giuse. Chị luôn nói với tôi về cách cư xử này, tuy rất đơn sơ, nhưng cũng rất anh hùng.

Như Mẹ Maria, phương pháp hoàn bị Chị dùng là im lặng. Chị thích “giữ tất cả trong tâm hồn” [12] niềm vui cũng như nỗi buồn. Tính thận trọng này là khởi điểm đường đưa Chị tới trọn lành, nó như ấn tính bên ngoài, vì đức tính quân bình là điểm nổi bật nơi Chị.

NGHÈO KHÓ TINH THẦN

Để kỷ niệm ngày tôi khấn, Chị hoạ cho tôi chiếc huy hiệu tôi sáng tác theo câu châm ngôn: “Ai mất là được” (qui perd, gagne) [13].

Chị cắt nghĩa cho tôi hiểu thêm rằng trên dương thế này, phải chịu mất tất cả, chịu lấy tất cả, để tiến tới tinh thần nghèo khó.

Chị thích cho kẻ khác được những ơn bên trong hơn là cho chính mình, và tôi đã thấy Chị đọc một cuốn sách rất bổ ích, nhưng chưa đọc xong Chị đã chuyển sang chị em khác và không bao giờ Chị có thể đọc hết được nữa!

Nếu Chúa cho Chị ơn soi sáng nào, Chị cố gắng thông truyền cho chúng tôi bao nhiêu có thể... Nhưng đôi khi có những tia soi sáng sống động và thâm trầm chỉ thoáng qua cho Chị và về sau Chị không nhớ được ra sao:

“Em muốn giữ lại ngay, nhưng thật bất lực! Lúc đó thay vì một sức tìm xem điều chi làm hồn em sung sướng, thì em an phận thưởng thức hương vị dư vang, mà không hiểu nó đến ra sao. Rồi em hoan hỉ vì sự nghèo khó đó...!”.

Như con trẻ không có gì là của riêng, chúng hoàn toàn lệ thuộc vào cha mẹ, Chị muốn muốn sống ngày qua ngày, không cần của dự trữ tinh thần.

“Nếu Chúa muốn những tâm tình cao nhã và những tư tưởng đẹp, thì Người đã có các thiên thần... Người cũng có thể dựng nên những tâm hồn tuyệt hảo, tới chỗ họ không có chút yếu đuối nhân loại nào.

Nhưng không! Người đã đặt tất cả niềm sung sướng nơi những tạo vật bé nhỏ, thật yếu đuối và đáng thương hại này... Chắc hẳn điều đó làm vui lòng Chúa nhiều hơn!”.

Không cậy dựa trên bất cứ sự gì

Chị Têrêsa nuôi tâm tình đạo đức bằng cách nhờ tới những ngôn ngữ, những đoạn trong Sách Thánh.

Tôi bảo Chị: “Em muốn thế lắm, nhưng em kém trí nhớ quá!”.

- “A! Như vậy là chị ước mơ giàu có, muốn được sở hữu rồi đấy! Cậy dựa trên đó là như dựa trên tấm sắt nung đỏ. Nó để lại một dấu vết nhỏ! Điều cần thiết là không cậy dựa trên bất cứ sự gì hết, ngay cả trên những điều có thể nâng đỡ lòng đạo đức cũng vậy. ‘Cái không’, đó là chân lý, là không ước muốn, là thiếu cả hoài vọng niềm vui, và lúc đó người ta sẽ được sung sướng! Sách Gương Chúa Giêsu có nói: Tìm đâu được một người không hề tìm mình? Phải tìm họ ở nơi xa xôi, nơi cùng trái đất [14]. Nơi xa xăm là nơi cùng thấp... Thật thấp trong việc đánh giá chính mình, thật thấp vì khiêm nhường, thật thấp có nghĩa là người rất nhỏ bé.

Mọi người đều tìm điềm báo trước

Chị nói với tôi:

- Chị dấn thân vào công việc như thể mỗi công việc là mục đích cuối cùng vậy, và chị luôn hy vọng tới đích! Rồi chị bỡ ngỡ khi thấy mình vấp ngã. Nhưng phải sẵn sàng chờ đợi vấp ngã [15]. Chị lo lắng về tương lai như thể chính chị phải dàn xếp tất cả vậy. Em hiểu chị bôn chôn là vì thế. Chị luôn nói với Chúa: Ôi lạy Chúa! Con làm được gì với đôi tay con đây! Mọi người đều muốn tìm điềm báo trước cho tương lai. Nhưng đó là con đường thông thường. Chỉ ai không tìm xem tương lai ra sao mới thật là người nghèo khó tinh thần”.

Mong thụ tạo quý yêu là hư ảo

Tôi tỏ ra ước ao được người ta chú ý tới những cố gắng và những tiến bộ nơi tôi. Chị Têrêsa hăng hái đáp lại:

 “Làm như vậy có khác chi con gà mái cục tác inh ỏi, báo cho mọi người qua lại biết mình vừa đẻ trứng xong! Cũng như nó, chị muốn vừa khi nghiêm chỉnh làm được việc gì, hay khi ý hướng của chị được vô phương trách cứ, thì mọi người phải nhận ra và quý yêu chị...

Thật phù phiếm khi muốn hai mươi người cùng sống với ta phải khâm phục quý mến ta! Trong cái trung tâm nhỏ bé lòng họ, mỗi người họ cũng đang quan tâm tới ý hướng riêng tư, tới sức khoẻ, gia đình cũng như tiến bộ thiêng liêng hay ích lợi cá nhân họ và họ thốt ra những lời tầm phào! Khi ngắm nhìn chân dung các thánh, em tự nhủ các ngài cũng là nạn nhân của biết bao yếu đuối, cũng có lúc các ngài thốt ra những lời thuần nhân loại, đôi khi còn phàm tục nữa. Lúc đó em chỉ muốn được yêu thương quý mến sau này ở trên trời thôi... Vì chỉ trên đó tất cả mới hoàn hảo”.

Thật sự Chị chỉ muốn được thương yêu quý mến ở trên trời, và dưới đất này Chị chỉ tìm cách sao để được kể như không vậy. Biết bao lần chị nói với tôi rằng: “Sự khinh chê đối với Chị là điều thật vinh quang, vì người ta chỉ có thể khinh chê điều người ta biết, Chị say mê được người ta lãng quên!”.

Trái với người em quý mến, tôi luôn bị hư vinh lôi cuốn, nên cố gắng làm sao để người khác chú ý tới những điều tôi hy sinh. Vì thế Chị bảo tôi:

“Chị, chị cố sao làm cho sinh lợi! Nhiều người cũng làm như vậy. Còn em, em rất giữ gìn và sợ rằng chưa kiếm ra lời đủ. Em tận lực che giấu điều em làm và em ‘cất việc đó vào trong ngân hàng Thiên Chúa’, chẳng cần biết công việc có sinh lợi hay không”.

Một lần Chị tươi cười bắt tôi đưa tay cho Chị xem và Chị lấy bút viết lên móng tay tôi: “Lòng tham lợi” và bắt tôi phải giữ nguyên trong một thời gian.

Những chiếc mền cũ và lợi lộc cá nhân

Khi phơi giũ chăn mền, tôi đã khó chịu lưu ý chị em cần nhẹ tay vì tất cả đều cũ quá rồi.

Chị Têrêsa Hài Đồng Giêsu lưu ý tôi ngay:

“Chị sẽ làm gì nếu không được chỉ định để khâu vá lại những chăn mền này? Chắc chị sẽ lên tiếng cách thoải mái! Và nếu cần làm chị em quan tâm tới những chiếc mền này thì chị sẽ nói cách vô tư! Trong mọi việc làm, chị đừng bao giờ để dầu một chút lợi riêng nào ám ảnh cả”.

Chiếc cà rá của chị Céline mất rồi!

Câu này ám chỉ một việc xảy ra hồi thơ ấu Chị đã tả lại trong cuốn Tự Thuật [16]: Ngày Chị được dẫn tới Mans để gặp dì Visitandine, thì Chị lên 2 tuổi 4 tháng. Dì cho Chị chiếc rá nhỏ bằng cườm đầy kẹo, có hai chiếc cà rá bằng đường đặt lên trên. Em nhỏ Têrêsa buột miệng kêu lên: “Sướng quá! Có cả chiếc cà rá cho chị Céline nữa nà!”.

Nhưng khi ra xe về Alençon thì “Em nhỏ” mới biết kẹo đã rơi rớt trên đường phố mất cả, và ngay một chiếc cà rá quý báu cũng biến đâu luôn! “Cà rá của chị Céline mất rồi!”. Bé nghĩ thế và bé buồn khổ tới nỗi miệng thì la mà nước mắt dàn dụa.

Sau này trong Nhà Kín, Chị thuật lại chuyện trên và bảo tôi: “Chị thấy không? Lòng vị kỷ là bẩm sinh trong chúng ta. Tại sao lại cà rá của chị Céline mất rồi! mà không phải của em?”.

Hy sinh không muốn được thấy kết quả

Chị tâm sự với tôi: “Cho đến hồi 14 tuổi, em tập nhân đức mà không được hưởng chút êm dịu cũng như chút kết quả nào. Tâm hồn em như cây vừa chớm nở hoa thì đã vội rụng tàn. Chị hãy dâng lên Chúa hy sinh không bao giờ muốn được thấy kết quả, nghĩa là muốn thấy đời chị phải đau khổ, tự hạ, thấy những cánh hoa thiện chí cũng như những ước muốn ngay lành rụng xuống đất mà không sinh sôi nẩy nở chi hết. Chỉ trong khoảnh khắc khi chị nhắm mắt lìa trần, Chúa sẽ làm cho những trái tươi đẹp đó chín mòng trên cây tâm hồn chị”.

Chúa đã cho tôi biết “Em Têrêsa” thật có lý, vì tôi đọc thấy trong Đức Huấn Thiện đoạn sau đây là đoạn tôi đã cho Têrêsa biết và Chị rất thích thú: “Người như kẻ liệt sức và nghèo khổ cùng quẫn, nhưng mắt Chúa dõi theo người, giữ gìn người vẹn toàn và đã nâng người lên khỏi cảnh u tối sỉ nhục, đã nâng đầu người lên cao. Nhiều kẻ đã phải ngỡ ngàng và cất tiếng ca tụng Chúa. Con hãy tin cậy vào Chúa và an phận mình, vì Chúa làm được cho kẻ nghèo khó trở nên giàu có. Trong nháy mắt, ơn Chúa vội tràn đầy kẻ công chính để làm phần thưởng cho họ, và trong khoảnh khắc, Ngài làm những tiến bộ của họ sinh hoa kết quả” [17].

TINH THẦN TRẺ THƠ

Trong cuộc điều tra Phong Thánh, khi vị Chưởng Tín hỏi tại sao tôi muốn Chị Têrêsa Hài Đồng Giêsu được phong thánh, tôi đã trả lời: “Chỉ vì một điều duy nhất là truyền bá ‘Con đường Thơ Ấu’ của Chị. Chị đã gọi tinh thần sống cũng như cách thức Chị đi lên với Chúa bằng danh từ đó”.

Vị Chưởng Tín tiếp: “Nếu chị nói về ‘Con Đường’, thì cuộc điều tra này tất nhiên phải chấm dứt, vì cũng đã xảy ra như vậy đối với rất nhiều trường hợp tương tự”.

Tôi trả lời: “Không hề chi, cuộc điều tra về Chị Têrêsa có bị đình chỉ chăng nữa, cũng không ngăn cản được con muốn nêu lên điều đã lôi cuốn con: Đó là làm sao để tuyên thánh ‘Con Đường Thơ Ấu’”.

Tôi giữ vững lập trường và cuộc điều tra có phần khá quan. Cũng vì vậy mà tôi sung sướng khi thấy Đức Bênêđictô XV trong bài Diễn văn đã ca tụng “Tinh Thần Trẻ Thơ” hơn cả việc tuyên thánh Chị. Điều tôi mong ước đã thành tựu vào ngày 14-8-1921.

Ngoài ra bản Summarium cũng đã ghi lại câu tôi trả lời về những “Ơn siêu nhiên”: Những ơn này rất hiếm trong đời sống Nữ tỳ Thiên Chúa. Con thích thà Chị không được tuyên thánh còn hơn là không diễn tả chân dung Chị như con tưởng”.

“... Đời sống của Chị phải đơn sơ để làm mẫu mực cho những ‘tâm hồn bé nhỏ’”[18].

Chị Têrêsa luôn chỉ cho chúng tôi biết “Con Đường Thơ Ấu” Chị theo.

Chị tuyên bố: “Để theo con đường này, cần phải khiêm nhường, có tâm hồn nghèo khó và đơn sơ”.

Nếu Chị biết lời nguyện sau đây của Bossuet thì chắc Chị đã sung sướng thưởng thức [19].

“Ôi Chúa cao cả!... Xin Chúa đừng để cho một số người được xếp vào hàng trí thức hay tinh thần bị luận xử trước Toà án oai nghiêm Chúa, vì họ đã đóng cửa không cho Chúa ngự tới các linh hồn: Chúa muốn vào những tâm hồn đó cách đơn sơ, mà chỉ sự đơn sơ thôi đã làm chướng tai họ! Chúa muốn đi qua khung cửa đã rộng mở do những vị thánh từ những thế kỷ đầu tiên trong Giáo Hội, thế mà có lẽ họ chưa biết tới! Xin Chúa cho tất cả chúng con trở nên bé nhỏ như trẻ thơ theo lời Chúa Kitô phán, để một khi chúng con đã đi qua cửa hẹp này, thì cũng chỉ cho kẻ khác qua được cách chắn chắn và hiệu nghiệm hơn. Amen”.

Không lạ gì khi vào phút cuối đời, con người anh hùng đó đã thốt lên những lời cảm động: “Nếu tôi có thể làm lại cuộc đời, thì tôi chỉ muốn là một con trẻ bé nhỏ luôn giơ tay bám chặt lấy ‘Giêsu Hài nhi’”.

Têrêsa đã nhờ ánh sáng mạc khải cho những tâm hồn bé nhỏ mà biết khám phá ra được cửa cứu rỗi này, và Chị sẵn sàng chỉ cho những tâm hồn khác. Sự khôn ngoan thần linh và sự khôn ngoan nhân loại đã không làm nổi bật “vẻ cao cả đích thực của tâm hồn” trong tinh thần trẻ thơ này hay sao? Đó cũng là tư tưởng của những nhà triết học thời danh Trung Hoa, họ đã minh xác trong những định nghĩa súc tích chẳng hạn như:

- Đức độ ở bậc chín muồi sẽ tiến tới trạng thái trẻ thơ (Lão Tử, thế kỷ VII trước kỷ nguyên).

- Con người vĩ đại là con người không đánh mất tâm hồn trẻ thơ (Mạnh Tử, thế kỷ thứ IV trước kỷ nguyên) [20].

Hay câu khác như:

- Thấu hiểu đức tính dũng cảm là biết luôn tiến tới trên đường thiện hảo và trở về với tuổi thơ [21].

Đối với Chị thánh trong việc thực hành “Con Đường Thơ Ấu” này hệ tại đức khiêm nhường như tôi đã đề cập.

Nhưng Chị cũng biểu lộ một tinh thần trẻ thơ thật đáng kể!

Vì vậy Chị rất thích nói với tôi về những lời sau đây Chị đã khơi múc được trong Phúc Âm:

“Hãy để các trẻ nhỏ đến cùng Ta, Nước Trời thuộc về chúng... Thiên thần chúng luôn thấy Nhan Thánh Cha Ta... ai trở nên bé nhỏ như con trẻ sẽ là lớn nhất trong Nước Trời... Chúa Giêsu hôn các em sau khi đã chúc lành cho chúng” [22].

Chị đã ghi những hàng trên ở mặt sau tấm hình bốn anh em chúng tôi đã về chầu Chúa ngay từ hồi bé thơ. Chị tặng tôi một tấm và giữ một tấm trong sách kinh Nhật Tụng của Chị. Ngày nay những hình ảnh đó một phần đã lu mờ vì cũ quá.

Ở dưới những đoạn này Chị còn thêm nhiều đoạn Thánh Kinh khác, là những đoạn làm Chị say mê và luôn có liên quan đến Tinh Thần Thơ Ấu:

- Thật hạnh phúc cho những ai được Chúa liệt vào hàng công chính không phải tính theo huân nghiệp, vì đối với người có huân nghiệp thì phần thưởng không còn như một ân huệ nữa, mà như một việc buộc phải có... Thực là ơn nhưng không những kẻ không có huân nghiệp lại được công chính hoá nhờ ơn cứu độ do Chúa Giêsu Kitô mang lại [23].

- Chúa sẽ dẫn dắt đoàn chiên Chúa trong đồng cỏ. Ngài quy tụ những con chiên con lại và ẵm chúng vào lòng [24].

Ở mặt sau một tấm ảnh lớn khác, Chị đã chép lại những câu trích trong Thánh Kinh nguyên văn như dưới đây, đôi câu nhắc lại những câu trên, nhưng nó cũng có lợi là soi sáng cho ta hiểu hơn về Con Đường của Chị:

- Ai thật bé nhỏ hãy đến với Cha! (Châm ngôn).

- Ai trở nên bé nhỏ như con trẻ sẽ là người lớn nhất trên Nước Trời (Phúc Âm).

- Thầy Chí Thánh sẽ quy tụ những con chiên non lại và ôm chúng vào lòng.

- Như bà mẹ âu yếm con mình thế nào thì Ta cũng sẽ an ủi con như vậy. Ta sẽ ẵm con vào lòng và vuốt ve con trên đầu gối Ta (Isaia).

- Như người cha thương con thế nào, Chúa cũng động lòng trắc ẩn chúng ta như thế. Rạng đông cách biệt hoàng hôn thế nào thì Người cũng tách xa chúng ta khỏi những tội lỗi chúng ta vấp phạm như thế. Chúa đầy lòng trắc ẩn và êm dịu: Ngài chậm phạt và chứa chan tình thương (Tv 102).

- Ai làm theo ý Cha Ta, thì kẻ đó là chị em là anh em và là mẹ Ta (Phúc Âm).

- Ôi thưa Cha! Những kẻ Cha ban cho con, thì Cha cũng yêu mến chúng như Cha đã yêu mến con vậy (Phúc Âm).

Chị cũng đặc biệt ưa thích tấm ảnh chạm trổ một em bé ngồi trên đầu gối Thầy Chí Thánh và đang cố vươn lên tới Nhan Thánh để hôn Ngài.

Tôi cho Chị coi tấm hình kỷ niệm một trẻ gái chết hồi còn nhỏ, Chị lấy tay chỉ vào mặt em và nói với giọng âu yếm hãnh diện:

“Tất cả sẽ dưới quyền em điều khiển”, như thế Chị đã thấy trước cái tước hiệu “Nữ Vương các trẻ thơ” của chị.

Chị Têrêsa Hài Đồng Giêsu khá cao lớn, Chị được một thước 62, còn Mẹ Agnès de Jésus lại bé hơn nhiều, nên có lần tôi bảo Chị:

“Nếu Chị được chọn thì Chị thích sao: lớn hay bé?”.

Chị trả lời không do dự:

“Em muốn bé để được bé nhỏ trong mọi sự”.

Giáo Hội luôn thấy nơi Têrêsa một Thánh Nữ của Tinh Thần trẻ thơ. Nhiều vị Giáo Hoàng làm chứng về điều này. Ở đây tôi chỉ xin trưng lời Đức Thánh Cha Piô XII: Lần thứ nhất Ngài đề cập tới khi còn là Đặc Sứ của Đức Piô XI vào dịp khánh thành Vương Cung Thánh Đường Lisieux ngày 11 tháng 7 năm 1937, lần thứ hai là 17 năm sau:

“Thánh Nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu có một sứ mệnh, một học thuyết. Học thuyết cũng như tất cả cuộc đời Thánh Nữ là khiêm nhường và đơn sơ. Nó gồm tóm trong hai tiếng: Thơ Ấu Thiêng Liêng, hay hai tiếng khác có nghĩa tương đương: Đường Tu Bé Nhỏ”.

“Chính trong Phúc Âm, trong trung tâm Tin Mừng mà Chị đã tìm ra đời này với bao nhiêu duyên dáng tươi trẻ: Nếu các con không trở nên như trẻ thơ, chúng con không vào được Nước Trời” [25].

Tôn sùng mầu nhiệm nhập thể
và mầu nhiệm máng cỏ

Chị mừng lễ ngày 25 tháng 3 với tất cả lòng mộ mến, vì Chị nói: “Đó là ngày Chúa Giêsu ở trong lòng Mẹ Maria, ngày Chúa là Con Trẻ bé nhỏ nhất”.

Nhưng Chị đặc biệt yêu mến mầu nhiệm Máng Cỏ, Chúa Giêsu Bé Thơ đã chỉ dạy Chị mọi bí mật về tinh thần đơn sơ và phó thác.

Bè rối Macrion đã miệt thị nói: “Hãy vứt bỏ những chiếc tã lót và cái Máng Cỏ này đi, chúng không xứng đáng với một vị Thiên Chúa”, trái lại Têrêsa đắm say việc Chúa hạ mình nên hoàn toàn bé nhỏ vì yêu chúng ta. Trên những tấm ảnh Sinh Nhật Chị tự vẽ lấy, Chị đã sung sướng viết lời sau đây của Thánh Bênađô: “Ôi! Giêsu, ai đã làm cho Chúa nên bé nhỏ như thế? Đó là Tình Yêu!”.

Tên Têrêsa Hài Đồng Giêsu Chị đã nhận hồi lên 9 tuổi, là hồi Chị tỏ ý muốn được tu Nhà Kín, Chị luôn còn thấy “thời sự tính” của nó và Chị cố gắng để mãi mãi xứng đáng với danh hiệu đó.

Sau này Chị đã viết Kinh sau đây dưới một ảnh Chúa Giêsu bé thơ:

“Ôi Giêsu bé nhỏ, kho tàng độc nhất của con, con phó mình tuỳ theo Thánh ý Chúa, không gì sung sướng bằng làm Chúa mỉm cười. Xin in sâu nơi con những ân điển phúc đức thơ ấu của Chúa, để sau này khi tới ngày con được khai sinh trên Nước Trời, thì các thần thánh nhận ra nơi hôn thê bé nhỏ của Chúa là: Têrêsa Hài Đồng Giêsu”.

Những đức tính thơ ấu Chị ước mong cũng là những đức tính Thánh Giêrônimô khâm phục và không cho là những hành động ấu trĩ, tuy Ngài là vị thánh khắc khổ và sống trước Chị nhiều.

Những tên trộm Nước Trời

Những vị bảo trợ em trên trời và những vị em quý mến là những vị đã đánh cắp Nước Trời như các Thánh Anh Hài hay người Trộm lành chẳng hạn. Các vị đại thánh đã kiếm được Nước Trời nhờ hành động. Còn em, em muốn bắt chước những người kẻ trộm, muốn được Nước Trời nhờ mưu mẹo, đó là mưu mẹo Tình Yêu! Chính “Tình Yêu kế” sẽ dẫn đường cho em và cho những tội nhân đáng thương vào Nước Trời. Chúa Thánh Linh phấn khích em vì Ngài đã nói trong sách Châm Ngôn: “Ồ, hỡi những kẻ bé nhỏ nhất, hãy đến học với Ta tính xảo diệu tinh tế” [26].

Chỗ ở của các trẻ nhỏ

Tôi nói với Chị về việc các thánh hành xác, Chị trả lời: “Thầy Chí Thánh thật chu đáo khi Ngài báo trước là ‘có nhiều chỗ ở trong nhà Cha Ngài’ [27] nếu không vậy thì Ngài sẽ bảo chúng ta”.

“Phải, nếu mọi tâm hồn được gọi nên bậc hoàn mỹ, mà muốn vào Nước Trời đều phải hành xác, thì Ngài đã nói điều đó cho chúng ta trước và lúc đó chúng ta hãy quảng đại tuân theo”. Nhưng Ngài đã báo ‘có nhiều chỗ ở trong Nhà Cha Ngài’. Nếu có chỗ cho những tâm hồn quả cảm như các thánh tu rừng xưa và các vị tử đạo bằng việc chay tịnh đền tội, thì cũng có chỗ cho các trẻ em bé nhỏ. Đó là chỗ của chúng ta, nếu chúng ta yêu Chúa Giêsu nhiều! Yêu Ngài cùng với yêu Chúa Cha và Thần Linh Thánh Ái”.

Như ta thấy, Chị Têrêsa là một tâm hồn hết sức đơn sơ, biết thánh hoá mình bằng những cách thức thông thường.

Do đó ta hiểu việc được những ơn lạ trong đời sống Chị là một việc trái nghịch với điều Chị gọi là thánh ý Chúa trên Chị. Đời chị phải làm mẫu mực cho những tâm hồn bé nhỏ.

Trẻ nhỏ không tự đày đoạ mình

Tôi bảo Chị:

- Chị làm gì nếu Chị có thể khởi sự lại từ đầu đời tu trì?

- Chắc em sẽ làm như em đã làm.

- Chị không cảm thấy tâm tình sau đây của một vị ẩn sĩ hay sao: Ngài quả quyết rằng: “Ngay khi sống lâu năm lâu tháng trong chay tịnh đền tội, thì lúc chỉ còn một khắc, một hơi thở để sống, tôi cũng vốn sợ phải đoạ đày?”.

- Không, em không thấy sợ như thế, em quá bé nhỏ để phải đoạ đày! Các trẻ nhỏ không bị đoạ đày đâu!

Chui dưới bụng ngựa

Chán nản, lòng nặng trĩu một chiến đấu như không vượt nổi, tôi tìm gặp Chị:

- Lần này thật là bất lực, em không thể vượt lên được nữa!

- Điều đó không có chi lạ cả. Chúng ta quá bé nhỏ để vượt lên trên những khó khăn, chúng ta phải đi qua ở dưới”.

Rồi Chị gợi lại một câu chuyện khi chúng tôi còn thơ ấu:

Ngày ở Alençon, một hôm chị em chúng tôi cùng sang nhà láng giềng chơi, có con ngựa chắn ngay lối vào vườn. Trong khi các người lới tìm lối khác để đi, thì chị bạn chúng tôi thấy không có gì dễ bằng chui dưới bụng ngựa! [28] Chị qua trước rồi đưa tay kéo tôi, tôi kéo theo Têrêsa luôn! Không phải khom lưng uốn cái thân nhỏ bé xuống mấy, thế mà chúng tôi cũng được như ý.

Chị kết luận: “Được vậy vì chúng ta là trẻ nhỏ. Với trẻ em thì không có gì là chướng ngại cả, chúng len lỏi qua khắp nơi. Những tâm hồn vĩ đại có thể vượt trên những công việc, có thể xoay chuyển khó khăn, hay nhờ lý luận hoặc có đức tính mà lướt thắng tất cả, nhưng chúng ta là những kẻ bé nhỏ, chúng ta phải thận trọng để không bao giờ làm như vậy hết. Chúng ta hãy chui qua”.

“Chui qua” các công việc là không xét lại sự việc cách quá tỉ mỉ, không lý luận [29].

Hướng dẫn - chủ ý

Trong thời gian mắc bệnh, Chị chịu những phương dược gây thật nhiều khó chịu và những cách điều trị thực là cực nhọc, nhưng Chị đã đón nhận với lòng kiên nhẫn vô biên. Tuy biết chắc điều trị cũng vô ích nhưng chị không hề ta thán phải nhọc mệt vì chạy chữa như vậy. Chị thổ lộ với tôi là đã dâng lên Chúa mọi việc săn sóc vô ích đó để cầu cho một vị thừa sai. Vị này thiếu thời giờ, thiếu phương tiện để săn sóc bản thân, Chị cầu xin để việc Chị được săn sóc này sinh ích cho ngài...

Tôi tỏ hối tiếc vì không có những tư tưởng như thế, Chị trả lời tôi:

“Chủ ý rõ ràng như vậy là điều không cần đối với một tâm hồn đã tận hiến cho Chúa. Con trẻ nằm gọn trong lòng mẹ hầu như bú sữa cách máy móc, nó không cảm thấy ích lợi của việc mình làm. Nhưng nó đã sống, đã phát triển! Nó có cần ý thức đâu!”.

Chị còn bảo tôi: Một hoạ sĩ làm việc cho chủ, không cần mỗi lần đưa bút vẽ là mỗi lần nhắc lại: Tôi vẽ nét này cho ông chủ, tôi vẽ nét này cho ông chủ... Nhưng người hoạ sĩ đó bắt tay vào việc với ý định vẽ cho chủ, thế là đủ. Hồi tâm và hướng dẫn chủ ý mình là điều tốt, nhưng cần đừng gò ép tâm thần. Chúa nhân lành nhận ra những tư tưởng tốt đẹp và những chủ ý tinh tế nơi ta. Chúa là Cha và chúng ta là những con nhỏ của Người kia mà!”.

Chúa Giêsu không thể buồn phiền
vì những việc chúng ta quấy rầy Ngài

Tôi bảo Chị:

- Em phải làm việc mới được nếu không thì Chúa Giêsu sẽ buồn chết...

- Ồ không, chính chị buồn thì có! Chúa không thể buồn vì việc chúng ta quấy rầy Ngài [30]. Nhưng với ta, thì ta buồn biết bao nhiêu khi ta không dâng hiến cho Chúa như sức ta có thể.

Thánh thiện mà không cần “lớn lên”

Rất khiêm tốn, nên Chị Têrêsa Hài Đồng Giêsu “thấy mình không đủ sức leo hết chiếc thang xù xì trên đường thánh thiện”. Chị cũng cố tập sao cho càng ngày càng nên bé nhỏ để Chúa hoàn toàn đảm trách mọi việc Chị làm và bồng Chị trên tay như con trẻ thường được vậy trong các gia đình.

Chị muốn nên thánh mà không cần “lớn lên” vì cũng như những vụng về nhỏ nhoi của trẻ em không làm phiền lòng cha mẹ, thì những sơ suất của những tâm hồn khiêm tốn cũng không xúc phạm tới Chúa nhiều lắm, và những điều họ lỗi lầm cũng không phải xét đoán nặng nề, như lời Sách Thánh: “Người ta tha thứ cho trẻ em vì thương hại” [31]. Do đó Chị thận trọng giữ mình kẻo ước ao cho mình là hoàn toàn và để cho chị em tưởng Chị còn kém cỏi, vì nếu Chị “khôn lớn” thì Chúa sẽ để chị bước đi một mình.

Chị nói: “Trẻ em làm việc không để tạo cho mình một địa vị. Nếu chúng có ngoan thì để làm vui lòng cha mẹ. Cũng vậy, không được làm việc để trở nên những vị thánh, mà để làm vui lòng Chúa”.

Hôn tượng Chuộc Tội cách nào

Trong khi Chị đau yếu, vì tôi còn thấp kém nên hay phàn nàn về chuyện đó, Chị nói với tôi:

- Chị hôn ảnh Chuộc Tội đi, hôn ngay đi!

Tôi hôn dưới chân tượng.

- Một em nhỏ có ôm hôn cha em như vậy không? Mau mau hôn trên mặt chứ!

Tôi làm theo như vậy.

- Và bây giờ thì phải để mình được ôm hôn đi!

Tôi phải đặt tượng lên má.

- Tốt lắm, lần này thì được xí xoá tất cả rồi.

Kỷ phần của những trẻ thơ

“Ngày xưa Thầy Chí Thánh trả lời mẹ con ông Giêbêđê: ‘Ngồi bên phải và bên trái Ta là điều thuộc về những kẻ Cha Ta đã chọn’ [32]. Em hình dung ra những chỗ đặc biệt này nếu không dành cho những vị đại thánh, các vị tử đạo thì đúng là dành cho các trẻ thơ rồi”.

“Đavít đã chẳng tiên báo điều đó hay sao khi Ngài nói: Em út Bengiamin sẽ chủ toạ cộng đoàn (các thánh)” [33].

Người ta hỏi Chị xem chúng tôi phải cầu nguyện với Chị dưới danh hiệu nào khi Chị đã về Trời.

Chị khiêm tốn trả lời:

- Các chị sẽ gọi em là Têrêsa nhỏ.

PHÓ THÁC

Chị nói về tình yêu và lượng từ ái Chúa thì không bao giờ hết. Lòng trông cậy của Chị thật bất khả kháng. Nếu ngay từ thơ ấu Chị đã ước ao “nên thánh, một vị đại thánh” như Chị tuyên bố trong tập Tự Thuật [34], thì điều Chị hoài bão là làm sao được tan biến trong những huân nghiệp vô tận của Chúa Giêsu. Chị nói chính những huân nghiệp đó là gia sản của Chị. Ngay cả những ước vọng cao xa nhất cũng không cho là táo bạo.

Chị quả quyết không nên sợ hãi vì dám ước vọng nhiều, cầu xin nhiều với Chúa: “Trên đời có những người biết làm cho người ta mời mọc mình, biết len lỏi vào mọi nơi... Nếu ta xin Chúa điều gì mà Ngài không tính ban cho ta, thì Ngài cũng rất quyền phép giàu có, nên vì danh dự Ngài mà Ngài không nỡ từ chối ta và ban cho ta...”.

Nhưng Chị không hề dùng lòng gan dạ thánh thiện này để xin những an ủi hay xin giảm bớt khổ cực bao giờ cả.

Chị rất thận trọng trong khi xin những ơn thế tục. Chị tưởng là Chúa không từ chối Chị điều gì, và Chị thố lộ là Chị rất dè giữ “kẻo sợ Chúa phải buộc lòng nhận lời em xin”.

Do đó khi Chị xin ân huệ hay an ủi nào, thì để làm vui lòng người khác và Chị còn nhờ Đức Trinh Nữ chuyển lời cầu xin thay Chị. Điều này Chị diễn tả như sau:

- Cầu xin với Đức Trinh Nữ không giống như cầu xin với Chúa. Mẹ biết rõ điều Mẹ làm theo những ước muốn bé nhỏ của em, Mẹ hiểu điều nào phải nói, điều nào cần im lặng... Cũng chính Mẹ xem xét để khỏi ép buộc Chúa nhận lời em, có vậy Chúa mới thực thi tất cả theo thánh ý Ngài được.

Về lời nguyền sẽ “làm nhiều việc lành trên dương thế sau khi chết”, Chị thêm điều kiện này: “Trước khi nhận lời ai kêu xin em, em sẽ cẩn thận nhìn lên ánh mắt Chúa xem em có xin điều gì trái ý Ngài không”.

Chị lưu ý chúng tôi là tinh thần phó thác đó rập khuôn theo lời cầu của Đức Trinh Nữ tại tiệc cưới Cana, Mẹ chỉ nói: “Họ không còn rượu” [35]. Hay như Mátta và Maria: “Người Thầy yêu đang đau” [36]. Các bà chỉ trình bày điều mình ước muốn mà không đưa ra lời xin, để Chúa Giêsu được tự do hành động.

Không theo chủ nghĩa vô vi

Chị bước theo đường phó thác tới mù quáng và toàn diện, đường Chị gọi là “Đường Bé nhỏ” hay “Đường Thơ Ấu Thiêng Liêng”, nhưng không bao giờ Chị xao lãng việc cộng tác với Chúa. Vì coi đây là việc quan trọng, nên trót đời Chị đã thực hiện biết bao việc độ lượng và cao thượng. Đây là điều Chị tâm niệm và hằng chỉ bảo chúng tôi khi ở Nhà Tập.

Có hôm tôi đọc những lời sau đây trong cuốn Đức Huấn Thiện: “Lòng từ ái sẽ ban cho mỗi người địa vị tuỳ huân nghiệp họ làm và tuỳ lương tri họ sử dụng” [37]. Tôi bảo Chị sẽ có địa vị tốt đẹp vì Chị đã lái con thuyền đời một cách tuyệt hảo. Nhưng tại sao lại tuỳ theo huân nghiệp họ làm? Chị liền hăng say cắt nghĩa để tôi hiểu tinh thần tín thác và trao phó toàn thân nơi Chúa cần được nuôi dưỡng bằng hy sinh. Chị bảo: “Chúng ta phải làm mọi việc có thể làm, cho không tính toán, bền tâm quên mình. Tóm lại, là tận sức thi hành một việc lành để chứng tỏ tình yêu. Nhưng thực ra những việc đó có đáng kể chi... Nên khi đã làm mọi việc ta tưởng là cần làm, thì ta phải thú nhận mình là đầy tớ vô ích [38] và hy vọng Chúa sẽ lấy độ lượng ban mọi điều ta mong muốn.

Đó là điểm những tâm hồn bé nhỏ chạy trên đường thơ ấu hy vọng: Em nói là chạy chứ không phải an nghỉ đâu nhé!”.

Không xuống luyện ngục đâu

Têrêsa luôn khắc sâu nơi tâm khảm tôi lòng tín thác khiêm tốn, đó cũng là lòng tín thác Chị đã đích thân sống mãnh liệt. Đây là khung cảnh tôi được hô hấp như khí trời vậy.

Đêm Sinh Nhật năm 1894, tôi còn ở Nhà Tập và đã thấy trong giấy bài thơ Têrêsa tặng tôi nhân danh Đức Trinh Nữ. Bài thơ đó như sau:

“Jésus tressera ta couronne,

Si tu ne veux que son Amour.

Si ton coeur,à Lui, s’abandonne

Ij te fera régner un jour.

Après la nuit de cette vie

Tu verras son très doux regard;

Et, là-haut, ton âme ravie

Volera sans aucun retard”.

“Giêsu sẽ kết triều thiên cho con,

Nếu con chỉ muốn có Tình Yêu Ngài.

Ngày kia Ngài đặt lên ngai thống tri

Nếu hồn con tín thác nơi mình Ngài.

Rồi sau đêm cuộc đời tăm tối này

Con được thấy mắt Ngài nhìn dịu hiền;

Trên đỉnh cao xanh, hồn con đắm say

Tung cánh vút bay không chút chậm trì”.

Trong khi dâng mình cho Tình Ái Tuất Chúa, Chị đã kết thúc đoạn nói về lòng Chị yêu mến như sau:

“Chớ chi cuộc tử đạo này sau khi đã chuẩn bị con ra trước Nhan Thánh Chúa, thì làm con được tắt thở và chớ chi hồn con được bay thẳng vào vòng tay Ái Tuất Chúa muôn muôn đời!”.

Chị sống với tư tưởng đó và không bao giờ nghi ngờ rằng không thực hiện được cả. Chị say mê lời sau đây của Thánh Gioan Thánh Giá mà Chị coi như của Chị vậy: “Chúa càng muốn ban cho ta bao nhiêu, thì Ngài càng làm ta ước vọng bấy nhiêu” [39].

Chị đặt nền tảng niềm hy vọng sẽ không phải qua lửa luyện tội trên tinh thần Phó thác và trên Đấng Tình Yêu, đồng thời cũng không quên đức khiêm nhường là nhân đức đặc biệt của tinh thần trẻ thơ. Trẻ em yêu mến cha mẹ và không có một kỳ vọng nào ngoài điều muốn hoàn toàn nơi cha mẹ vì em thấy mình yếu đuối bất lực.

Chị nói với tôi: “Có bao giờ người cha mắng con khi em đã biết thú tội không? Chẳng lẽ ông ra hình phạt ư? Không, nhất định không! Trái lại ông ôm con vào lòng!”.

Dựa trên tư tưởng này, Chị nhắc tôi nhớ câu chuyện chúng tôi đã đọc hồi thơ ấu: Có một vị vua đi săn, Đức Vua rượt bắt con thỏ trắng mới bị bầy chó đánh hơi. Con thỏ thấy mình tới ngày tận số, nên thình lình đổi chiều và nhảy ngay vào trong tay vị đang săn mình. Vị này xúc động vì cử chỉ chứa chan phó thác ấy, nên không muốn xa lìa con thỏ trắng kia nữa, mà dành lấy việc chăm sóc nuôi dưỡng chú thỏ đáng thương đó.

Rồi Chị bảo tôi:

- Chúa sẽ xử với ta như vậy, nếu khi bị phép công thẳng đuổi bắt như bầy chó đuổi bắt chú thỏ, thì ta cũng ẩn trú ngay trong tay Vị Thẩm Phán của ta”.

Tuy Chị đã nhìn thấy những tâm hồn bé nhỏ đi theo Con đường Thơ ấu thiêng liêng, Chị cũng không hề mất hy vọng táo bạo là cả những tội nhân xấu xa cũng theo con đường này nữa.

Vì thế Chị Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã có thể viết trong Bút Ký:

“... Vâng, con tín thác ngay cả khi con thấy mình chất chứa mọi thứ tội lỗi người ta có thể phạm. Lúc đó lòng chan hoà thống hối, con sẽ gieo mình vào cánh tay Chúa Giêsu, vì con biết rõ Chúa rất yêu thương người con phung phí trở về với Người. Không phải vì Chúa nhân lành trong tình thương yêu săn sóc của Ngài, Ngài đã giữ gìn hồn con khỏi tội trọng mà con nâng lòng con lên với Ngài trong tin yêu” [40].

Khi vừa vào Dòng Kín, tôi liền xin phép đọc hạnh các đấng ẩn tu và tôi có ghi được một số đoạn. Có mẩu chuyện làm Têrêsa xúc động tới nỗi Chị tiếc là đã không chép vào Tiểu sử của Chị và Chị nài nỉ xin thêm vào. Câu chuyện như sau:

“Có một thiếu nữ tội lỗi tên là Paésie đã làm gương mù tai hại cho cả vùng. Một vị ẩn tu tên là Jean de Nain tìm gặp nàng và khuyên nàng nên thống hối tội lỗi. Nàng ngỡ ngàng hỏi: Thưa cha, con mà cũng thống hối được sao? Vị thánh trả lời: Còn, cha quả quyết với con là còn! Nàng thưa lại: Vậy xin cha thương dẫn con tới nơi nào thuận tiện để con được thống hối dễ dàng.

Lập tức nàng chỗi dậy theo ngài, không cần ra lệnh gì cho người nhà cũng không cần nói với họ lấy một lời.

Khi cha con vào đến sa mạc thì trời tối, cha Jean lấy cát làm gối, ghi dấu Thánh giá trên đó rồi bảo Paésie tạm ngủ qua đêm. Còn ngài thì đi xa hơn nữa để cầu nguyện rồi cũng nghỉ lấy sức. Nửa đêm ngài thức giấc thì thấy một luồng sáng từ trời chiếu trên mình Paésie làm thành như đường đi cho biết bao nhiêu thiên thần đưa Paésie về trời. Sửng sốt vì thị kiến vừa qua, ngài chỗi dậy tới lấy chân hất Paésie xem nàng còn sống hay chết, và ngài thấy nàng đã về chầu Chúa. Cũng lúc đó ngài nghe thấy một tiếng lạ lùng bảo: Lòng thống hối đền tội nàng làm trong một giờ còn đẹp lòng Chúa hơn là kẻ khác làm lâu dài, vì họ không làm với lòng sốt sắng đầy nhiệt tâm như nàng” [41].

Rất nhiều lần Chị Têrêsa lưu ý tôi rằng chỉ một số rất ít việc cũng đủ đền trả phép công bình Chúa khi người ta làm chỉ vì tình yêu thúc đẩy, và lúc đó thì hình phạt tạm dành cho tội lỗi được giảm chước vì tất cả đều biến thành êm dịu ngọt ngào.

Chị thổ lộ với tôi:

- Em đã có kinh nghiệm sau khi phạm lỗi, dầu là một bất trung nhỏ mọn, thì cũng làm linh hồn phải chịu trong một thời gian một sự khó chịu phiền muộn nào đó. Lúc ấy em bảo mình: ‘Con gái cưng của ta, đấy là hậu quả lỗi lầm con đó’ và em nhẫn nại chịu đựng để món nợ bé nhỏ được đền trả ngay.

Nhưng trong niềm cậy trông này, Chị thấy chỉ những kẻ khiêm nhường và phó thác trong yêu mến mới đền trả thoả đáng phép công thẳng Chúa. Với những linh hồn này, Chị thấy họ không phải xuống Luyện Ngục vì Chị nghĩ rằng Cha trên trời sẽ đền bù tính phó thác của họ bằng cách ban cho họ ơn soi sáng trong giờ nguy tử, làm họ thấy những khốn nạn của mình mà sinh lòng ăn năn thống hối trọn vẹn, do đó mọi nợ nần đều được xoá bỏ hết.

Về đầu trang

III. MẾN CHÚA

Các vị thần bí thường tập sống trọn lành để đi tới tình yêu, trái lại Chị Têrêsa Hài Đồng Giêsu lại lấy ngay tình yêu làm con đường trọn lành.

Tình yêu là đối tượng trong cả đời sống, là động lực trong mọi hành động của Chị.

Làm vui lòng Chúa

“Các vị đại thánh đã hành động để làm vinh danh Chúa, còn em vì là một linh hồn bé mọn nên em làm việc để vui lòng Chúa, để thoả mãn những ‘sở thích’ của Chúa và em sẽ sung sướng được chịu những đau khổ lớn lao nhất, dầu giả như Chúa không biết tới cũng vậy. Chịu đau khổ như thế không phải để đem lại cho Chúa một vinh quang chóng qua, (thường vinh quang đó sẽ đẹp lắm!) mà chỉ cầu để Chúa sẽ nở nụ cười tươi trên môi... Nhiều người muốn mình là kẻ hữu ích! Còn em, điều em mơ ước là được trở nên một đồ chơi vô dụng trong tay Chúa Giêsu bé thơ... Em, em là ‘trò giải trí mau qua’ của Giêsu bé thơ...”.

Trong khi đau yếu, Chị đã thổ lộ với tôi:

- Em luôn chỉ ước mong một điều là làm vui lòng Chúa. Nếu em chỉ tìm cách thu tích công nghiệp thì tới ngày Chúa đến em sẽ phải thất vọng mất.

Đúng như vậy, vì Chị hiểu rằng, “mọi sự công chính của chúng ta đều còn tì ố trước nhan Chúa” [42]. Nên với lòng khiêm tốn Chị kể công việc mình làm không có một giá trị gì và Chị quan tâm đến lòng yêu mến đã thúc đẩy Chị làm việc.

Chị nói: “Chúa đã chịu cực đủ rồi. Ngài tha thiết yêu chúng ta mà buộc lòng phải để chúng ta nơi trần thế này để chúng ta hoàn tất thời gian thử luyện, nên chúng ta đừng nói hoài với Chúa rằng mình phải cực khổ nữa, không nên làm ra vẻ nhận thấy điều đó”.

Khi Chị toát mồ hôi vì trời nóng hay chịu lạnh buốt trong mùa đông, Chị có tư tưởng tuyệt hảo này là chỉ lau mặt và chỉ xoa tay “một cách vụng trộm như thể để Chúa không đủ thời giờ nhìn thấy...”.

Khi làm việc hãm mình theo Luật dòng dạy cũng vậy: “Em cố gắng tươi cười lúc đó để Chúa như thể mắc lừa vì nét mặt tươi vui, mà không nhận ra em đang đau đớn”.

Với giọng ngây thơ Chị nói: “Khi lên trời nếu em không được mọi điều em ước muốn, em sẽ rất cẩn thận kẻo Chúa biết và Người sẽ không nhận ra được là em ‘thất vọng’”.

Vui mừng vì không có lấy một tâm tình tế nhị

- “Chị thật tế nhị với Chúa! Còn em, em muốn quá mà không có!... Lòng em ước ao như vậy có bù đắp lại được phần nào không?

- Dĩ nhiên có chứ, nhất là khi chị đón nhận với lòng khiêm tốn. Ngay cả khi chị vui vẻ vì mình thiếu như thế, thì chị lại còn làm đẹp lòng Chúa Giêsu hơn là khi chị có tâm hồn tế nhị. Lúc đó chị hãy thưa với Chúa: “Lạy Chúa, con cám ơn Chúa vì con không có chút tế nhị nào cả và con sung sướng thấy người khác có được tư cách đó... Lạy Chúa, mọi việc Chúa làm đều cho con tràn ngập tươi vui” [43].

Hối hận vì đã đọc

Ngọn lửa tình yêu nơi Chị luôn tinh tuyền và mãnh liệt như vậy là vì Chị luôn thận trọng để không dính bén tạo vật và chỉ nuôi dưỡng tình yêu bằng hy sinh thôi. Có lần chúng tôi ở trong thư viện, Chị nói với dáng điệu vui vẻ thường ngày: “Ồ! Em sẽ buồn biết bao nếu em đã đọc hết những cuốn sách này!”.

- Tại sao vậy, vì nếu đọc thì mình được thêm kiến thức kia mà. Có hối tiếc vì phải đọc chứ sao lại vì đã đọc?

- Này nhé, nếu em đã đọc thì em đến điên đầu lên mất và em sẽ bị phí một thời gian quý báu, thời gian em dùng để chỉ yêu mến Chúa thôi”.

Quảng đại

Tôi bảo Chị rằng Chúa đòi hỏi tôi nhiều hơn chị em khác, chẳng hạn chị này chị nọ có này có nọ mà tôi thì không. Chị trả lời:

- “Chúa đòi thế nào thì em luôn bằng lòng thế đó, em không băn khoăn gì tới việc Chúa đòi người khác, và em cũng không cho rằng mình có nhiều công hơn kẻ khác vì Chúa đòi hỏi nơi em nhiều hơn. Điều làm em vui sướng và nếu em được chọn lựa, thì đó là chỉ làm như Chúa muốn em làm. Em luôn thấy phần Chúa dành cho em thật đẹp đẽ... ngay cả việc người khác có nhiều công nghiệp trong khi chỉ phải ban phát ít, thì em cũng vốn thích có công nghiệp mà lại được ban phát nhiều, vì như vậy thì em sẽ làm trọn thánh ý Chúa”.

Tôi bảo Chị thật sung sướng được “ra đi với Chúa”, nên Chị trả lời:

- “Em ước ao được ra đi không phải để tìm sung sướng chút nào cả. Đau khổ còn hấp dẫn, làm em thích nó hơn là lên trời nữa kia! Em ước mong giờ chết là vì như vậy chắc chắn làm trọn thánh ý Chúa, nếu không thì em thà sống chịu đau khổ như tử đạo còn hơn!”.

Tuy buồn phiền vì các hội dòng bị bách hại, nhưng mắt Chị sáng lên khi nghĩ rằng chúng tôi có thể phải đổ máu mình ra. Chị có những lời lẽ hết sức hăng nồng chứng tỏ lòng Chị yêu mến mãnh liệt.

Trong những ngày bệnh sau hết, tôi thấy Chị kêu lên:

- Tôi mà sẽ chết trên giường êm ấm ư? Ước chi tôi được ngã gục trên hí trường!

Bàn thờ do ông Martin công đức

Khi cha tôi công đức bàn thờ chính cho nhà thờ Chánh Toà Saint Pierre ở Lisieux thì có một số người trong gia đình không bằng lòng, vì cho là một tặng vật quan trọng vượt quá sức cha tôi, có thể để con cái thiếu thốn [44]. Têrêsa sung sướng về việc này, Chị nói: “Sau khi cha đã dâng tất cả chúng mình cho Chúa thì dĩ nhiên cha phải dâng thêm bàn thờ để tế hiến chúng mình và tế hiến luôn chính cha nữa chứ!”.

Hái hoa những cây ăn trái

Tôi tâm sự với em tôi rằng trong Giờ Kinh Nhật Tụng tôi coi mình như vãi hoa dâng tiến Chúa. Khi luân phiên đọc Thánh Vịnh, tôi thấy cả một trận mưa hoa!

Hoa thay đổi theo từng Thánh Vịnh. Khi thì hoa huệ, lúc lại hoa hồng. Tất cả các loại hoa tự nhiên xuất hiện trong trí tôi đều như diễn qua trong lời kinh. Cuối cùng vườn hết hoa! Chỉ còn loại hoa những cây ăn trái, tôi do dự một chút rồi đưa tay hái hoa đào, hoa anh đào, hoa mơ... và cuối cùng giờ kinh nhật tụng thì không còn sót lại cánh hoa nào cả.

Ý nghĩ hái cả hoa những cây ăn trái làm Têrêsa thích thú. Chị lưu ý tôi rằng đặc điểm của tình yêu là hy sinh tất cả, là trao tặng không tiếc tay, là không còn nghĩ tới hoa sắp thành trái, là hành động như điên dại, vung vãi cùng độ và không bao giờ tính toán.

Chị nói: “Không quản gì với tình yêu, say lên vì yêu. Ôi sung sướng! Tình yêu ban phát tất cả và tín thác! Nhưng thường chúng ta chỉ ban tặng sau khi đã tính toán, chúng ta do dự trong việc hy sinh lợi ích trần thế cũng như tinh thần! Tình yêu thì không như thế! Yêu là mù quáng, yêu là ngọn thác không để lại một vật gì trên dòng nước cuốn!”.

Chỉ tin cậy vào duy có tình yêu

Lần khác tôi bảo chị:

- Điều em ước ao ở Chị là công việc Chị làm. Em cũng muốn làm những công việc hữu ích, muốn sáng tác những điều giúp yêu mến Chúa!

- Không được để trí lòng vào những cái đó. Chị nghe em đi, viết những sách đạo đức, sáng tác những lời kinh kỳ diệu, tạo nên những công trình nghệ thuật... Ồ! Không, trước sự bất lực của chị em mình, chúng ta phải lấy công việc của các người khác để dâng lên Chúa, đó là điều lợi ích do việc các thánh cùng thông công, và bất lực đó, thay vì gây buồn rầu, thì chúng ta phải tin cậy vào duy có tình yêu thôi.

Tauler đã nói: “Nếu tôi quý mến sự thiện hảo nơi tha nhân hơn chính họ quý mến, thì sự thiện hảo đó thuộc về tôi hơn là thuộc về họ. Nếu tôi yêu quý nơi thánh Phaolô mọi ân huệ Chúa đã ban cho Ngài thì tất cả những ân huệ đó thuộc về tôi cũng như đã thuộc về Ngài vậy. Nhờ hiệp thông như thế, tôi có thể trở nên sung mãn bằng tất cả những thiện hảo trên trời cũng như dưới đất, những thiện hảo nơi các thiên thần, các thánh cũng như nơi mọi kẻ mến yêu Chúa”.

Các vị tiến sĩ dạy rằng ở trên trời tình yêu rằng buộc các thánh đến nỗi mỗi vị hưởng hạnh phúc của các vị khác như thể chính mình có công và chính mình được vui nếm hạnh phúc đó vậy [45].

Chị cũng sẽ làm được mọi việc lành như em và còn hơn thế nữa, nhờ điểm này là chị ước ao làm việc lành đó và nhờ chị biết chu toàn công việc bé nhỏ âm thầm nhất vì yêu mến. Chẳng hạn như chị vui lòng giúp đỡ một việc làm chị phải cố gắng rất nhiều.

Chị biết rõ là em nghèo hèn lắm, nhưng Chúa nhân lành ban cho em lần hồi mọi điều em cần thiết”.

Chỉ có tình yêu và đức vâng lời là đáng kể

Mùa đông năm 1896-1897, Mẹ Bề trên (Mẹ Marie de Gonzague) không muốn để Chị Têrêsa Hài Đồng Giêsu phải lạnh giá bàn chân, nên đã truyền Chị dùng một loại lò sưởi bằng than để đôi dép Chị đi luôn ấp áp [46]. Nhưng Chị chỉ dùng lò sưởi vì vâng lời và dùng khi thật cần thiết rồi để lò tắt ngấm khi cho là trời không lạnh lắm! Lò tắt như vậy không vừa ý tôi chút nào hết!

“Người khác sẽ trình diện trên trời với những dụng cụ hành xác, còn em, em sẽ trình diện với chiếc lò sưởi. Nhưng chị ạ, chỉ có tình yêu và đức vâng lời là đáng kể”.

Người đã xây dựng thánh đường

Chị Têrêsa thuật lại với chúng tôi: “Em đọc chuyện một vị lãnh chúa nọ muốn xây cất một thánh đường. Ông ra chiếu chỉ lệnh cho các chư hầu không được lạc quyên chi cả vì ông muốn chỉ mình ông được vinh dự đó thôi và nhà thờ đã được xây cất theo ý ông.

Ngày kia có một bà già thấy đoàn ngựa kéo đá phải khó nhọc lắm mới lên được trên đồi, nên tự nhủ: đã có lệnh cấm dâng cúng tiền bạc để xây cất đền thờ Chúa, tuy vậy tôi cũng sung sướng được góp phần vào việc này, không hiểu nếu tôi giúp đỡ những con vật đang làm việc một cách vô tri như thế kia thì có làm vui lòng Chúa không nhỉ? Túi chỉ còn lại mấy đồng, bà dùng cả số tiền mua một bó cỏ cho ngựa ăn.

Khi xây cất xong, vị lãnh chúa muốn cử hành lễ cung hiến và truyền đặt bia khắc tên ông cùng với gia đình để muôn đời làm chứng lòng hào hiệp của ông. Nhưng hôm sau tên ông bị xoá đi và người ta thay thế vào đó tên một người đàn bà không ai biết.

Vị lãnh chúa nổi giận truyền sửa lại nhiều lần, nhưng sự kiện lạ lùng kia vẫn tái diễn hoài. Sau cùng, ông lệnh cho truy tầm mụ. Khi thấy người đàn bà nghèo hèn, ông tra hỏi xem bà có góp chút chi vào việc xây cất thánh đường không. Run rẩy sợ hãi, bà chối dài. Nhưng bị hỏi dồn dập mãi, bà mới nhớ ra bó cỏ khô lúc trước và nói rằng vì có lệnh cấm nên bà không dâng cúng tiền của mà chỉ giúp đỡ bầy ngựa bằng cách cho chúng ăn ít cỏ thôi. Lúc đó người ta mới hiểu tại sao tên bà được khắc vào bia và không còn ai dám xoá bỏ tên bà nữa”.

Têrêsa kết luận:

- Chị em thấy rõ là một việc nhỏ bé âm thầm đến đâu chăng nữa, nếu làm vì yêu mến thì luôn có giá trị hơn những công trình vĩ đại. Điều đáng kể không phải là công việc có giá trị hay bề ngoài có vẻ thánh thiện, mà chỉ hệ tại làm vì yêu mến nhiều hay ít. Do đó không ai có thể bảo mình không dâng lên Chúa những việc bé nhỏ như vậy được, vì nó vừa sức mọi người.

Chỉ một nhịp cánh...

“Chị nên ghi nhớ câu thơ sau đây trong Nhã Ca tinh thần của Cha Thánh Gioan Thánh Giá”:

Trở lại đây bồ câu ta hỡi

Này chàng nai mình mang thương tích

Đang vươn lên tiến ra đỉnh đồi

Vì chàng ngây ngất dáng nàng bay

Và nhịp cánh khiến chàng tươi say [47].

Chị thấy chưa, vị Lang Quân là Chàng nai mình mang thương tích không ngây ngất vì chiều cao tức là vì những công việc rực rỡ, mà chỉ say mê vì dáng bay và chỉ một nhịp cánh - tức là một hành động vì bác ái chân thật - thì đã đủ tạo nên làn gió tình yêu này rồi”.

Lễ vật dâng lên tình yêu dung thứ

Trong lúc chầu Mình Thánh 40 giờ liền - hôm thứ ba 26-2-1895 - Têrêsa đã sáng tác một mạch bài ca “Sống Tình Yêu” của Chị (Vivre d’Amour).

Đến Chúa nhật 9-6 năm đó là lễ kính Chúa Ba Ngôi, trong thánh lễ Chị được thần cảm dâng mình làm hiến tế đền tạ Tình Yêu Dung Thứ của Chúa, để nhờ thế chị nhận được vào lòng mình tất cả Tình Yêu Chúa muốn đổ tràn trên các thụ tạo nhưng họ đã chối từ.

Vừa lễ xong, lòng thổn thức Chị kéo tôi theo Chị, làm tôi không hiểu vì lý do gì. Ngay sau đó chúng tôi gặp Mẹ Bề trên (Mẹ Agnès de Jésus) đang đi về phía phòng khách. Têrêsa hơi lúng túng trong khi trình bày. Chị ấp úng xin được cùng tôi tận hiến cho Tình Yêu Dung Thứ. Tôi không biết rõ Chị có nói tiếng: “Lễ vật hy sinh” (victime) hay không. Xem ra điều đó không quan trọng, nên Mẹ Bề trên đã trả lời: được.

Khi chỉ còn lại riêng Têrêsa và tôi, mắt sáng như lửa, Chị cắt nghĩa cho tôi hiểu Chị muốn làm gì. Chị bảo sẽ viết ra các điều Chị suy nghĩ và sáng tác một kinh Tận Hiến.

Hai ngày sau, chúng tôi quỳ trước tượng Đức Trinh Nữ Làm Phép Lạ Mỉm Cười, lúc đó tượng này đặt ở cạnh phòng Chị. Chị đã đọc kinh Tận Hiến thay cho hai chúng tôi. Hôm đó là thứ ba 11-6.

Sau này Chị Têrêsa trao bản kinh cho chị Marie du Sacré Coeur và chị Marie de la Trinité [48]. Chị đã nói tới việc này trong cuốn Bút Ký [49]. Chị mời tất cả mọi tâm hồn bé nhỏ tham dự vào việc tận hiến này.

Thật ra theo ý Chị thì đây không phải là dâng mình để chịu thêm những đau khổ quá bổn phận mình, nhưng là phó thác với lòng tin cậy hoàn toàn nơi lượng Từ Bi Chúa.

Chị Marie du Sacré Coeur là chị Cả trong gia đình chúng tôi, lúc đầu không bằng lòng dâng mình theo kinh Tận Hiến đó, vì chị không muốn tự chuốc lấy những thử thách thái quá.

Về chuyện này, chị Y tá của Chị ghi lại, những hàng chưa được công bố, trong cuốn sổ riêng như sau:

“Hôm nay mồng 6 tháng 6 năm 1934, tôi nói với chị Marie du Sacré Coeur về kinh Tận Hiến cho Tình Yêu Dung Thứ. Chị cho tôi hay là lúc phơi cỏ khô ngoài sân, khi ấy Chị Têrêsa đang ở bên cạnh chị và đã hỏi xem chị có bằng lòng dâng mình làm lễ vật tận hiến cho Tình Yêu Dung Thứ không. Chị đã trả lời Têrêsa: Dĩ nhiên là không. Chị không dâng mình làm lễ vật hy sinh đâu. Chúa sẽ nhận lời và chị khiếp sợ đau khổ lắm. Ngay cả tiếng “Lễ vật hy sinh” (victime) chị cũng không ưa chút nào cả”.

Têrêsa nhỏ đáp lại là Chị biết như vậy lắm, nhưng dâng mình làm lễ vật hy sinh cho Tình Yêu không giống như việc dâng mình phạt tạ phép Công Thẳng Chúa. Chị bảo dâng mình như vậy cũng không phải chịu đau khổ gì hơn, song để yêu mến nhiều hơn hầu đền bù thay cho những kẻ không muốn yêu Chúa.

Chị Marie du Sacré Coeur còn tiếp: “Têrêsa trở nên nói năng linh hoạt tới nỗi tôi thuận theo em và không ân hận chút nào về việc mình làm cả”.

Có điểm đáng chú ý là về sau chị Marie du Sacré Coeur đã cổ võ để tất cả những bạn hữu cũng như những người chị có dịp giao dịch đọc kinh dâng mình đó. Theo như tôi biết thì chỉ có một người từ chối lời Chị mời thôi.

Chính trong lúc thì thầm nhắc lại từng tiếng bản kinh Tận Hiến này mà chị Marie du Sacré Coeur tắt thở hồi 2 giờ 20 phút ngày 19 tháng 1 năm 1940.

Ở đây tôi cũng xin ghi thêm lời một chị bạn Nhà tập tâm sự với tôi, là chị Marie de la Trinité:

“Đến ngày 30-11-1895, Chị Têrêsa Hài Đồng Giêsu mới cho em biết việc Chị tận hiến như lễ vật toàn thiêu cho Tình Yêu Dung Thứ. Em liền tỏ ý muốn được theo Chị và việc em dâng mình được ấn định vào ngày hôm sau.

Khi một mình suy nghĩ về sự bất xứng, em thấy cần phải chuẩn bị lâu dài hơn vì đây là một việc thật hệ trọng. Em tìm gặp Chị Têrêsa bày tỏ lý do khiến em muốn hoãn việc dâng mình lại.

Niềm vui sướng hiện rõ trên nét mặt, Chị trả lời:

- Đúng thế, việc này thật hệ trọng tới nỗi chúng ta không thể tưởng tượng nổi, nhưng chị có biết điều Chúa xin chúng ta chuẩn bị là gì không? Một điều này thôi là khiêm nhường nhận mình bất xứng, và vì Chúa ban cho chị ơn đó, thì chị cũng hãy gieo mình vào lòng Người không chút sợ hãi. Ngày mai sau khi cám ơn Rước lễ, em sẽ quỳ bên chị trong phòng đặt Mình Thánh Chúa, và trong khi chị đọc kinh dâng mình, thì em sẽ dang chị lên Chúa Giêsu như một lễ vật tận hiến bé nhỏ em đã dọn sẵn cho Ngài”.

Nếu Chị Têrêsa nghĩ việc tận hiến cho Tình Yêu này mang lại cho chúng tôi nhiều đau khổ phụ trội thì Chị đã không hăng say khích lệ chúng tôi như thế. Trái lại, Chị đã xác định rõ là cử chỉ tận hiến đó khác hẳn với công việc tận hiến cho Phép Công Bình Chúa: “Ta không phải sợ hãi gì hết khi tận hiến cho Tình Yêu Dung Thứ, vì ta chỉ nhờ nhận lãnh lòng bao dung phát ra từ Tình Yêu đó mà thôi”.

Chị nhấn mạnh rằng việc tận hiến này không đòi điều gì khác ngoài thiện chí và lòng quảng đại.

“Thiện chí và lòng quảng đại” được nâng đỡ bằng ơn thánh ban cho trong chính giây phút hiện tại. Việc tận hiến cho Tình Yêu làm cho ơn hiện sủng thêm sung mãn và càng tận hiến toàn diện bao nhiêu thì ơn Chúa phù trợ càng mau lẹ và hữu hiệu bấy nhiêu.

Ống kính ngũ sắc

Chị nói với tôi nhân một đồ chơi thông dụng chúng tôi thường vui chơi hồi thơ ấu. Đó là chiếc ống kính ngũ sắc, thuộc loại ống dài, người ta nhìn thấy những màu sắc kỳ thú ở đầu ống đằng kia. Nếu xoay ống, thì màu sắc và hình thể sẽ biến đổi vô tận.

Chị bảo tôi: “Thật đáng thán phục! Em tự hỏi không hiểu tại sao có được những cảnh đẹp đẽ như thế? Rồi một hôm quan sát cẩn thận, em nhận ra đó chỉ là mấy mẩu giấy và mấy sợi len vất ngổn ngang không có hình dáng nhất định nào cả. Tiếp tục tìm tòi và em thấy có ba tấm gương ở bên trong ống. Em đã nắm được chìa khoá của vấn đề.

Đối với em, đây là hình ảnh của một huyền nhiệm vĩ đại. Bao lâu công việc ta làm dầu bé nhỏ đến đâu đi nữa, nếu không ra ngoài trung tâm Tình Yêu, là Chúa Ba Ngôi, ở đây được coi như ba tấm gương hội tụ thì bấy lâu sẽ được phản chiếu và có vẻ đẹp huy hoàng.

Đúng thế, bao lâu lòng chúng ta còn yêu mến, không bị tách ra ngoài trung tâm, thì bấy lâu mọi sự đều tốt đẹp [50] và như thánh Gioan Thánh Giá nói: ‘Tình yêu biết lợi dụng mọi sự nơi tôi, dù việc tốt lành cũng như xấu xa và biến đổi mọi sự trở nên tình yêu’ [51]. Chúa nhân từ nhìn xem chúng ta qua cặp kính, nghĩa là qua chính Chúa và Ngài thấy những cọng rơm đáng thương nơi ta cũng như những việc thật vô nghĩa ta làm đều trở nên tốt đẹp, nhưng để được vậy thì điều cần là không lìa xa trung tâm cặp kính! Vì nếu xa trung tâm thì Ngài sẽ nhìn rõ đó chỉ là những vụn len và những mẩu giấy ti tiểu”.

Em đánh bài ở ngân hàng tình yêu

Chị hay nói với tôi là Chị không muốn thành người “bốn mùa bán rong”, vì nghề này không kiếm được lời lớn mà phải bòn nhặt từng xu. “Tuy vậy vốn có những tâm hồn kiếm từng xu như vậy, họ đòi để được trả từ từ. Còn em, em đánh bài ở ngân hàng Tình Yêu... Em đánh bài ăn lớn. Nếu có thua, thì rồi sau này em cũng sẽ được biết. Em không quan tâm gì tới việc chi tiêu tiền riêng cả, vì chính Chúa Giêsu làm việc đó cho em nên em cũng không biết mình giàu hay nghèo nữa. Sau này em sẽ biết”.

“Chúa là ngọn lửa thiêu huỷ”

Có lần tay cầm Thánh Thư của thánh Phaolô, Chị gọi tôi và nói giọng hăng say: “Chị nghe đây, Thánh Tông đồ đã nói: không phải với cái gì hữu hình rờ được mà anh em đã tiếp xúc (bằng tình yêu) cũng không phải với lửa rực cháy hay với lời nói thét gầm... Trái lại anh em đã tiến đến núi Sion và thành của Thiên Chúa hằng sống, Giêrusalem trên trời, giữa vạn vạn thiên thần và giữa cộng đoàn trưởng tử... vì Thiên Chúa chúng ta là ngọn lửa thiêu huỷ [52]. Rồi Chị cảm động giải nghĩa cho tôi những tiếng cuối cùng trong đoạn trên.

BIẾT ƠN

Em bảo tôi:

- Điều làm đổ tràn ơn thánh xuống ta là lòng biết ơn. Vì nếu ta cám ơn Chúa vì một ơn lành Ngài ban, thì Ngài sẽ động lòng và mau lẹ ban cho ta mười ơn khác, và nếu ta tiếp tục cám ơn với lòng hăng say như vậy, thì biết bao nhiêu ơn sẽ tuôn tràn xuống trên ta! Em đã có kinh nghiệm về chuyện này. Chị hãy thử đi và chị sẽ thấy đúng như thế. Em tri ân Chúa vô cùng vì mọi sự Chúa ban cho em và em biểu lộ lòng biết ơn ra bằng hằng trăm hằng ngàn cách thế khác nhau.

Chị tỏ ra biết ơn ngay cả với những việc rất nhỏ bé, nhất là Chị biết ơn đối với những vị thừa tác viên của Chúa mà Chị đã có dịp được bàn hỏi việc linh hồn.

Không được nghi ngờ Chúa nhân lành

Tôi than van vì hình như Chúa ruồng bỏ tôi... Chị Têrêsa hăng hái bảo: “Ồ, chị đừng nói thế! Chị nhìn thấy em chứ, ngay cả khi em không hiểu chút nào về những biến cố xảy ra, em vẫn tươi cười, vẫn cám ơn, em luôn tỏ ra bằng lòng với Chúa nhân từ. Không được nghi ngờ Ngài, vì như thế là thiếu tế nhị. Không, không bao giờ ta thán phản đối sự quan phòng cả. Phải luôn biết ơn”.

“Hãy nhớ”

Khi vào Dòng Kín, tôi có cảm tưởng là mình đã cho Chúa Giêsu rất nhiều nên tôi xin em Têrêsa sáng tác cho tôi một bài thơ theo điệu “Hãy nhớ” (Rappelle-toi) để nhắc nhở Chúa Giêsu tất cả những gì gia đình tôi đã phải chịu. Chị vui vẻ nhận lời và coi như dịp tốt để cho tôi một bài học. Trong nhiều triệt thơ, Chị gợi lại không phải những điều tôi làm cho Chúa Giêsu mà là những điều Chúa Giêsu đã làm cho tôi.

Bấy giờ tôi mới nghĩ tới dụ ngôn người biệt phái và người thu thuế: tránh sao khỏi cảnh tôi bắt chước người biệt phái, khoe khoang là đã trả thuế thập phân đối với của cải ông có?...

Têrêsa muốn dạy tôi phải biết hoàn toàn quên mình để sống trong tình yêu và trong tác động của ơn thánh.

KẾT HỢP VỚI CHÚA

“Điều quan trọng đối với chúng ta
là phải kết hợp với Chúa”

Có hôm tôi bừng bừng bất mãn vì thấy có những Nhà Dòng bằng lòng nhận những luật lệ bất công với chính họ. Tôi nói:

- Thật em sẽ khổ biết bao nếu em phải thuộc về một trong những nhà Dòng đó. A, về việc này, em thấy tất cả bầu nhiệt huyết bừng sôi! Thà chịu phanh thây ra còn hơn là để họ lấy một củ cà rốt!

Chị trả lời tôi:

- Điều đó không quan trọng đối với chúng tôi, em sẽ suy nghĩ và hành động như chị nếu em có trách nhiệm. Nhưng em đã không được trao phó công việc đó! ‘Điều cần chú trọng là ta phải kết hợp với Chúa!’. Ngay cả khi chúng ta thuộc về một nhà Dòng bị báo chí đưa ra những tấm gương hèn nhát, thì chúng ta cũng không được bận tâm chi cả.

Không vội vã không không ươn lười

Chị cố gắng để tôi thắng được tính vội vã trong khi làm việc, lòng quá ham muốn cho công việc được hoàn hảo, cũng như thắng được tính buồn rầu khi công việc không kết quả như mình mong muốn. Tóm lại là làm sao để tôi lướt thắng được những lo lắng khi làm việc.

Chị bảo tôi: “Chị vào đây không phải để bù đầu với hằng mớ công việc cũng như làm việc không phải là để được thành công. Lúc này chị có bận tâm về những việc hiện đang xảy ra trong các nhà Kín khác hay không? Các nữ tu có vội vã hay không? Công việc họ làm có ngăn trở chị cầu nguyện hay suy niệm không? Cũng vậy, chị phải tách mình ra khỏi công việc chị làm và tận dụng thời giờ cho mỗi công việc, nhưng cần giữ lòng thanh thoát.

Hồi trước em có đọc rằng người Do Thái một tay xây thành Giêrusalem, một tay cầm gươm [53]. Đó chính là hình ảnh chúng ta phải thực hiện: Chỉ làm việc một tay, còn tay kia dùng để bảo vệ tâm hồn khỏi bị phân tán, vì phân tán ngăn cản ta liên kết với Chúa”.

Tôi biết Chị không nói như vậy với ai có tính cầu nhàn, vì Chị không thể chịu được cách làm việc uể oải, gặp sao hay thế, miệng lại lẩm bẩm: Nếu điều đó tốt, nếu tôi đã làm xong thì càng hay, mà nếu nó dở, tôi chưa hoàn thành, cũng chẳng sao. Chị muốn chúng tôi phải chú ý vào công việc nhưng đừng thái quá, vì sẽ ngăn cản việc ở trước nhan Chúa, cũng như đừng lãnh đạm quá vì cũng có hại cho việc kết hợp với Chúa.

Chị thêm: “Khi tâm hồn yêu mến thì sẽ hành động với tình yêu, nghĩa là với tinh thần hăng say; tâm hồn đó sẽ chạy, sẽ bay, sẽ không thấy có điểm nào là bất khả hết, là không có chi bắt tâm hồn đó đứng dừng lại được” [54].

Kinh nhật tụng

Thái độ của Chị ở Ca triều là thái độ thật khiêm nhu và hồi tâm, làm mẫu mực cho tôi tới nỗi tôi đã hỏi xem Chị suy tưởng gì trong giờ kinh Nhật Tụng [55].

Chị trả lời là: “Chị không có phương pháp nào nhất định, nhưng Chị hay hình dung ra như Chị đang một mình ở một miền núi đá hoang vắng, trước mặt là cả một miền bao la. Ở đó chỉ có mình Chị và với Giêsu, tuy chân còn đặt trên đất, nhưng Chị đã quên tất cả mọi tạo vật và Chị nói với Chúa tâm tình mến yêu của mình bằng những lời lẽ tuy Chị không hiểu, nhưng làm Chúa Giêsu vui lòng. Thế là đủ”.

Chị thích được là xướng viên trong tuần [56], để được đọc lớn tiếng các lời nguyện như linh mục trong thánh lễ vậy.

Trên giường hấp hối Chị đã tự làm chứng: “Em tưởng không thể ước muốn đọc kinh Nhật Tụng sốt sắng hơn được nữa, và cũng không làm sao để tránh sai lỗi hơn được nữa”.

Từ khi Chị xin các “công dân hạnh phúc trên Nước Trời nhận Chị làm con” thì Chị bảo tôi rằng mỗi sáng Chị kính cẩn và đầy lòng mộ mến nghe đọc sổ Các Thánh (Martyrologe), Chị sung sướng được nghe tới tên các “vị bà con rất yêu quý”.

Chị khuyên tôi không nên pha trò hay nói điều gì làm bận tâm bất cứ chị em nào liền trước giờ kinh Nhật Tụng để tránh cho chị em lo ra. Hãy đợi đến sau hãy nói. Chính Chị đã giữ điều này rất cẩn thận.

Giờ suy nguyện: Giờ của Chúa

Cả đời Chị sống hoàn toàn bằng Đức tin. Không có tâm hồn nào lại ít được an ủi trong giờ kinh nguyện như Chị. Chị thổ lộ với tôi là Chị trải qua 7 năm suy nguyện thật khô khan: Những cuộc cấm phòng năm cũng như cấm phòng tháng là cực hình cho Chị. Tuy thế, người ta cứ tưởng Chị được tràn ngập an ủi tinh thần! Vì Chị luôn sống kết hợp với Chúa nên mọi lời Chị nói, mọi việc Chị làm đều thấm nhuần tình yêu Chúa.

Tuy phải sống trong khô khan như vậy, Chị chỉ biết kiên tâm hơn trong việc suy nguyện và nhờ đó “Chị sung sướng dâng hiến lên Chúa nhân hiền nhiều hơn”. Chị không chịu được cảnh “ăn cắp” giờ suy nguyện, dầu một khoảnh khắc cũng không! Và Chị đã huấn luyện chị em Nhà tập theo đường lối đó.

Có lần nhà Dòng phải giặt giũ vào cả giờ suy nguyện. Chị Têrêsa thấy tôi hăng hái làm việc nên hỏi: “Chị làm gì đó?”.

- Em giặt giũ!

- Được lắm, nhưng chị phải âm thầm cầu nguyện, vì đây là giờ của Chúa, ta không được lấy của Ngài.

Têrêsa kết hợp với Chúa cách thật đơn giản và tự nhiên cũng như cách Chị nói về Ngài vậy.

Chẳng hạn khi tôi hỏi Chị xem có lần nào Chị thấy mình không hiện diện trước nhan Chúa không, thì Chị giản dị trả lời:

- Ồ không! Em tưởng không bao giờ ba phút trôi qua mà em không nghĩ tới Chúa nhân lành.

Tôi tỏ ra bỡ ngỡ sao có thể làm được như vậy, thì Chị tiếp:

- Người ta tự nhiên nghĩ tới kẻ người ta yêu mến!

Phúc Âm và một số đoạn trong Cựu Ước mà Nhà Dòng cho nữ tu đọc: đó là những đề tài Chị dùng để suy nguyện. Nhất là về cuối đời, không một cuốn sách nào dầu ngay cả cuốn trước đây giúp ích cho Chị rất nhiều thì nay cũng không gây được xúc cảm nơi tâm hồn Chị nữa.

Trong số những tác phẩm này, Chị ưa thích đặc biệt bài diễn văn của Bossuet về “Đời sống ẩn dật với Chúa”. Ngay khi tôi vừa vào Dòng Chị đã khuyên tôi đọc bài đó.

Ngày Chị bắt đầu cuộc sống tu trì, lúc đó tôi còn ở ngoài đời, Chị đã khuyên tôi mua sách của Đức Cha Ségur nói về “những cao cả nơi Chúa Giêsu”. Nhưng nếu Chị suy niệm về “những cao cả” nơi Chúa Giêsu, thì điều Chị say mến tìm hiểu lại là nhận biết về “cái bé mọn của mình”, đến nỗi Chị thú nhận mình “quý chuộng ánh sáng chiếu giãi cho biết thân phận hư vô của mình hơn là ánh sáng giúp cho hiểu biết đức tin”.

Thời kỳ này cũng như mãi về sau, Chị đặc biệt thích thưởng thức những tác phẩm của Thánh Gioan Thánh Giá.

Khi tôi cùng Chị sống trong nhà Dòng, tôi được chứng kiến lòng ngưỡng mộ đó: Có lần cùng đứng trước tấm đồ biểu do Cha Thánh hoạ trong cuốn: “Trèo lên đỉnh Carmel” Chị dừng lại và lưu ý tôi hàng sau đây do Cha Thánh viết: “Nơi đây không còn đường lối nữa, vì đối với người công chính thì không có luật lệ nào cả”. (Ici, il n’y a plus de chemin, parce qui’il n’y a pas de loi pour le juste).

Lúc đó Chị cảm động quá không còn đủ hơi sức để diễn tả niềm sung sướng dâng lên tràn ngập tâm hồn. Lời trên đây nâng đỡ Chị rất nhiều trong việc tự mình khám phá ra tình yêu tinh ròng, điều mà nhiều người tố cáo là tự mãn. Để tới đích tình yêu, Chị táo bạo tìm ra một đường lối hoàn toàn mới, là con đường Thơ Ấu Thiêng Liêng, một con đường thẳng và ngắn để tới ngay được Cung Lòng Thiên Chúa.

Tôi tin rằng tất cả việc suy nguyện của Chị chỉ hướng vào một tìm tòi duy nhất là “khoa học tình yêu” thôi.

ĐẠO ĐỨC

Đặc biệt yêu quý Thánh Kinh

Chị hiểu biết những sự việc liên quan tới Chúa ở một cao độ. Nhờ được trí nhớ dẻo dai nên Chị dễ dàng ghi nhận những điều Chị đọc hay nghe nói. Chị còn biết áp dụng đúng lúc những nhận xét chính xác và cả những giai thoại nhỏ mọn nữa. Đặc biệt là Chị hấp thụ được những đoạn Kinh Thánh cách mau lẹ và chắc chắn trong Kinh Thánh, là kho tàng thật quý giá đối với Chị khi đã vào Dòng. Chị khám phá ra ý nghĩa ẩn tàng trong đó và biết áp dụng một cách thật lạ lùng.

Tôi chép khá nhiều đoạn trong Cựu Ước [57], và tôi đưa cho Chị dùng. Những đoạn này biến thành món ăn bổ ích trong các giờ Chị suy nguyện.

Chị tìm hiểu Chúa để như khám phá ra “đặc tính của Chúa”. Và để được như ý thì không gì bằng nghiên cứu Sách Thánh, nhất là Phúc Âm. Bởi vậy Chị đã than phiền vì các bản dịch có những chỗ khác nhau [58].

Chị bảo tôi: “Nếu em là linh mục thì thế nào em cũng học tiếng Do Thái, tiếng Hy Lạp để có thể đọc Lời Chúa cách trung thành, như Chúa đã thường diễn tả bằng tiếng nói nhân loại”.

Chị mang sách Phúc Âm đêm ngày trên ngực và chú ý tìm những bản Phúc Âm xuất bản từng tập để đóng lại và để cho chúng tôi cũng được cái sung sướng như Chị.

Lòng mộ mến Chúa Ba Ngôi

Chị Têrêsa Hài Đồng Giêsu mộ mến Chúa Ba Ngôi cách đặc biệt. Chị ước ao cho ngày lễ này được nâng lên bậc trọng hơn.

Khi tôi còn ở ngoài đời, Chị định gọi tôi là Marie Thiên Chúa Ba Ngôi (Marie de la Trinité) trước khi chọn cho tôi tên Marie Nhan Thánh (Marie de la Sainte Face) mà tôi đã mang mấy tháng khi mới vào Dòng. Nhưng một chị Nhà tập khác đã được mang tên đó (tức là tên Marie Thiên Chúa Ba Ngôi) và Têrêsa rất lấy làm an ủi.

Chính trong ngày kính lễ Đức Chúa Trời Ba Ngôi, hôm 9-6-1895, Chị đã được cảm hứng dâng mình làm hiến tế đền tạ Tình Yêu Dung Thứ của Chúa [59].

Gọi Chúa là “Cha chúng tôi”

Ngày kia tôi vào phòng Chị và thật ngỡ ngàng trước thái độ Chị chăm chú hồi tâm. Chị may và nhanh nhẹn mà vẫn như chìm đắm trong cuộc chiêm ngắm sâu xa:

- Chị suy nghĩ gì đó?

- Em suy niệm kinh Lạy Cha! Thật êm ái biết bao khi được gọi Chúa là Cha chúng tôi!

Có những giọt nước mắt long lanh trên đôi mi Chị.

Chị yêu mến Chúa như một em bé âu yếm cha mình với trăm ngàn cử chỉ thương yêu không thể tưởng tượng được.

Trong thời gian Chị bệnh, Chị thường dùng một tiếng khác để gọi Chúa, đó là tiếng “Ba” (Papa). Chúng tôi bật lên cười, nhưng Chị nói giọng cảm động:

- Ồ đúng thế! Ngài đúng là “Ba em” và em thấy êm dịu khi dùng tiếng “Ba” để gọi Ngài.

Thân mật với Chúa Giêsu

Chúa Giêsu là tất cả trong tâm hồn Chị. Khi viết về Chúa Giêsu Kitô, Chị luôn viết tiếng “Ngài” (Lui, II) bằng chữ hoa để tỏ lòng cung kính bản vị đáng tôn thờ.

Chị hỏi tôi:

- Trong khi cầu nguyện với Chúa Giêsu, chị thích gọi Ngài bằng “tu” hay bằng “vous?” [60].

Tôi trả lời là thích dùng tiếng “tu” hơn. Chị nói tiếp giọng đầy an ủi:

- Em cũng thế, em thích gọi Chúa Giêsu là “Tu”, tiếng này diễn tả đầy đủ hơn lòng em yêu Chúa, và bao giờ em cũng dùng tiếng này khi một mình thưa chuyện với Chúa, nhưng trong các bài thơ em sáng tác và trong những kinh có cả người khác đọc, em không dám dùng tiếng này.

Lòng ái mộ Nhan Thánh

Đối với Chị Têrêsa Hài Đồng Giêsu thì lòng ái mộ này là cứu cánh và là sự triển nở trọn hảo của tình yêu Chị đối với Nhân Tính Chúa Giêsu. Nhan Thánh Chúa chính là tấm gương trong đó Chị nhìn thấy Linh Hồn và Tấm lòng của Đấng Chị yêu mến, là nơi Chị chiêm ngắm toàn thể Chúa Giêsu. Cũng vì thế mà tấm hình chỉ có nguyên khuôn mặt của người yêu cũng đủ làm ta thấy người đó hiện diện rồi.

Có thể nói được lòng ái mộ Nhan Thánh Chúa đã hướng dẫn đời sống thiêng liêng Chị. Nếu ta muốn có một kỷ niệm chính đáng về những tâm tình đạo đức nơi Chị, thì ta phải nhận rằng lòng sùng kính Nhan Thánh vượt trên các tâm tình đạo đức khác, lý do vì sự sùng kính này gồm tóm các sự sùng kính khác.

Chính trong khi chiêm ngắm khuôn mặt đầy thương tích Chúa, trong lúc suy niệm những tủi hổ Ngài chịu mà Chị đã rút được bài học khiêm nhường, mến yêu đau khổ, quảng đại hy sinh, nhiệt tâm với các linh hồn, siêu thoát thụ tạo, cũng như các nhân đức tích cực mạnh mẽ và hùng cường như chúng ta đã thấy Chị thực hành. Vô tình Chị đã tuân theo lời Thầy Chí Thánh dạy thánh nữ Giêtruđê để nên hoàn thiện:

“Tâm hồn nào muốn tiến bước trên đường hoàn thiện thì hãy phóng mình vào lòng Cha. Nhưng nếu họ còn cao vọng bay bổng hơn nữa và muốn tiến tới tuyệt đỉnh ước mong, thì hãy tung bay tới độ nhanh như phượng hoàng, hãy lượn quanh Nhan Thánh Cha, hãy như thiên thần Séraphim được nâng đỡ trên đôi cánh Đức ái quảng đại”.

Chị Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã sống như vậy và việc bay bổng này đưa tới hiệu quả là Tình yêu trinh trong như thiên thần đã phát sinh những tác động quảng đại tới bậc anh hùng.

Chị dẫn giải cho chị em Nhà tập biết rằng Nhan Thánh Chúa Giêsu như một pho sách, trong đó Chị múc được khoa học tình yêu, được nghệ thuật nhân đức...

Chị ghi ở bên Nhan Thánh trong tấm huy hiệu của Chị lời châm ngôn này: “Tình yêu chỉ đáp trả được bằng tình yêu” (L’amour ne se paie que par l’amour). Trong thư từ, bút ký cũng như thi văn Chị sáng tác luôn thấm đượm tình yêu đối với Nhan Thánh Chúa.

Tôi thâm tín rằng “người em nhỏ yêu quý” đó đã gợi hứng để tôi dự tính vẽ lại Nhan Thánh theo bức khăn thành Turin. Và tôi đã đạt được kết quả 7 năm sau khi Chị lìa trần, tức là năm 1904.

Mộ mến Thánh Thể

Thánh lễ và yến tiệc Thánh Thể làm Chị được chan hoà hạnh phúc. Không khi nào định làm việc gì quan trọng mà Chị không xin dâng Lễ theo ý đó. Mỗi lần mợ chúng tôi cho Chị tiền vào những ngày lễ và ngày giáp năm, Chị luôn xin phép Bề trên để xin Lễ, và đôi khi thì thầm với tôi: “Em xin Lễ cho ‘con em’ đó (Pranxini) [61], lúc này nó rất cần em giúp đỡ!”.

Trước khi khấn, Chị dùng số tiền còn lại lúc ngoài đời gồm 100 phật lăng để xin Lễ cho Cha già chúng tôi, lúc đó đang bệnh nặng. Chị cho rằng không việc nào đem lại nhiều ơn ích cho người bằng Máu Thánh Chúa Giêsu đổ ra.

Chị rất ước ao được rước lễ hằng ngày, nhưng thói quen hồi đó không cho phép, và đây là một trong những đau khổ lớn lao nhất Chị phải chịu trong nhà Dòng. Chị cầu xin với Thánh Cả Giuse để thay đổi được thói quen này. Sắc lệnh của Đức Lêô XIII cho dễ dãi hơn trong việc này và Chị coi đây như lời đáp trả cho những nguyện xin nồng nàn của Chị [62]. Chị tỏ ra luôn biết ơn Thánh Cả tới nỗi khi đi ngang qua tượng Ngài đặt ngoài vườn, Chị sốt mến ngắt hoa tung kính Ngài.

Chị nói trước rằng sau khi Chị qua đời, chúng tôi sẽ không thiếu bánh ăn hằng ngày, và đã xảy ra hoàn toàn đúng như thế [63].

Lòng mộ mến phép Thánh Thể đã làm Chị chu toàn bổn phận giữ phòng thánh với tất cả tinh thần hăng say. Chị vui sướng tới cùng độ khi trên đĩa thánh hay khăn thánh còn sót lại chút vụn Bánh Thánh. Có lần bình đựng Mình Thánh lau chưa cẩn thận đủ, nên Chị gọi khá nhiều chị em Nhà tập đến để theo Chị ra nhà nguyện và Chị đặt bình đựng Mình Thánh ở đây với lòng vui sướng và cung kính khôn tả.

Chị thuật lại cho tôi nghe nỗi vui sướng của Chị khi có một lần trong giờ rước lễ, vị linh mục làm rơi Mình Thánh và Chị đưa áo Dòng ra đón lấy. Chị coi mình được đặc ân như Đức Trinh Nữ vậy, vì Chị cũng đã mang Chúa Giêsu Bé Thơ trên cánh tay.

Chị bảo khi sửa soạn các Bình Thánh để cử hành Thánh lễ, Chị thích được soi mình trong chén và đĩa thánh, Chị thấy như vàng đã phản chiếu hình bóng Chị và như vậy là Bánh Thánh đã an nghỉ trên người Chị.

Chị cảm động biết bao khi sáng tác và vẽ bức bích hoạ đặt quanh Nhà Tạm trong nhà nguyện! Đây quả thực là công trình do đức vâng lời tạo nên, vì Chị chỉ biết sơ sài về thuật hội hoạ [64], lại vừa không phải người có thiên tài, vừa phải leo lên thang mới vẽ được, cộng thêm là thiếu ánh sáng tới nỗi một nhà danh hoạ cũng khó thành công. Thế mà Chị đã hoàn thành cách khả quan! Các thiên thần tí hon Chị vẽ có vẻ thơ ngây vừa gợi cảnh thiên đàng.

Tôn kính chức Linh Mục

Tinh thần đức tin làm Chị hết lòng tôn kính các linh mục. Tôn kính vì các ngài đã được lãnh nhận thánh chức tư tế và không thể còn phẩm tước nào đáng quý trọng hơn.

Khi còn sống, rất nhiều lần chị tỏ ra hối tiếc vì không thể làm linh mục. Vào tháng 6 năm 1897, cảm thấy mình quá ốm yếu, Chị bảo tôi:

- Chúa sắp cất em về khi em chưa đủ tuổi làm linh mục nếu em có thể.

Chị say mê về việc thánh nữ Barbe đã mang Mình Thánh Chúa cho thánh Stanislsa Kostka. Chị nói với tôi:

- Tại sao không phải một thiên thần hay một linh mục, mà lại một trinh nữ! Ồ! Chỉ ở trên trời chúng ta mới thấy rõ những sự việc lạ lùng! Em có ý nghĩ là khi tại thế, ai có lòng ước ao thì trên trời cũng sẽ được hưởng những đặc ân của chức linh mục.

Những cánh hoa
dâng kính tượng Chúa Giêsu Bé Thơ

Chị Têrêsa lấy làm sung sướng được cử trang hoàng tượng Chúa Giêsu Bé Thơ đặt trong Nhà Dòng và Chị đã cẩn thận chu toàn nhiệm vụ đó. Chị sơn tượng màu hồng và luôn trang hoàng bằng những hoa màu sắc tươi vui, có những con chim nhỏ nhồi bằng rơm, màu lông óng ánh ở bên tượng.

Vào mùa hạ, từ trưa đến một giờ là thời gian im lặng và tự do nên thay vì nằm nghỉ, Chị đã dành một phần để trang hoàng Chúa Giêsu Nhỏ của Chị. Nhưng trong Dòng vào mùa này lại hiếm hoa! Thật là cực lòng cho một người có tâm hồn như Chị mà lại khép mình trong Dòng ngay từ 15 tuổi không thể tung tăng ngoài đồng nội để kiếm lấy một cánh hoa mao lượng! Nhưng Chúa Giêsu đã tự cung cấp hoa cho Chị. Chị thuật lại cho tôi mẩu chuyện sau đây:

Mùa hạ đầu tiên khi Chị vào Dòng Kín, Chị tự bảo: “Từ nay tôi không bao giờ được ngắm những bông hoa đồng nữa: nào cúc vàng, cúc trắng, nào hoa mào gà, nào lúa kiều mạch, lúa mì bát ngát!..., và thực sự Chị nôn nao buồn, đúng lúc ấy nữ tu giữ cửa trao cho Mẹ Bề trên một bó hoa đồng tuyệt đẹp, gồm các thứ hoa Têrêsa mơ ước. Chị ở Dòng ngoài thấy bó hoa đặt trên cửa sổ phòng Chị mà không hiểu từ đâu mang tới. Mẹ Bề trên tuy không hay biết gì nỗi khổ tâm của Têrêsa cũng đã trao cho Chị để trang hoàng tượng Chúa Giêsu Bé Thơ.

Từ ngày đó, không bao giờ Chị thiếu hoa đồng cả.

Những bông hồng cho tượng Chịu Nạn

Chị rất mến việc tung hoa kính tượng Chúa Kitô đặt ở giữa sân. Sau này khi Chị bị bệnh, Chị lấy hoa hồng phủ đầy lên tượng Chịu Nạn, cẩn thận vứt bỏ những cánh hoa úa héo [65]. Có lần tôi thấy Chị lấy đầu ngón tay vuốt nhẹ trên mão gai và đinh tượng Chịu Nạn, tôi hỏi: “Chị làm gì đó?”. Một chút ngỡ ngàng vì bị thấy quả tang, Chị thú: “Em tháo đinh và cất mão gai đi cho Chúa”.

Chị không muốn tỏ lòng yêu mến thọ tạo nào bằng cách tung hoa tặng họ cả. Ngày kia tôi trao cho Chị những bông hồng và xin Chị ném tặng ai tuỳ ý để tỏ lòng yêu quý, nhưng Chị từ chối.

Mến Mẹ Maria

Tượng Đức Nữ Trinh Mỉm Cười ban cho Chị ơn khỏi bệnh cách lạ chính là nguồn an ủi tâm thần Chị: khi tôi vào Dòng, thì người ta cũng mang tượng này theo. Chị Têrêsa Hài Đồng Giêsu ra tận cửa tu viện để nhận tượng. Chị đã nhanh nhẹn bồng lấy, siết chặt với tâm tình yêu mến và mang tượng cách nhẹ nhàng như cầm một cán lông, tuy tượng rất nặng [66]. Các chị em có mặt ở đó đều bỡ ngỡ và thán phục!

Từ đó nhiều lần tôi thấy chị quỳ dưới chân tượng cầu nguyện với thái độ thật sốt sắng. Trong cơn bệnh sau cùng, người ta đặt tượng đối diện với giường Chị nằm. Chị không ngớt hướng nhìn về phía tượng.

Chị Têrêsa thích tặng ảnh Đức Trinh Nữ, loại ảnh đeo mà Chị rất tin tưởng ở hiệu lực của việc tôn sùng này. Khi còn ở ngoài đời, Chị đã lấy ảnh đó đeo trên ngực hai em nghèo Chị nhận dạy dỗ và Chị cũng thuyết phục một người đàn bà không tin tưởng gì hết để bà mang mẩu ảnh Chị tặng bà.

Từ ngày Rước lễ lần đầu, Chị quyết định đọc hằng ngày kinh “Hãy Nhớ”, và Chị đã trung thành giữ cả đời quyết định đó. Sau này ở Buissonnets, Chị lần chuỗi hằng ngày. Nhưng những việc bên ngoài này chỉ là hình ảnh mờ nhạt tình Mẹ con khăng khít mà Chị gọi Đức Mẹ là “Má” (Maman).

Chị cho rằng những cuộc hối cải cần qua lời chuyển cầu của Đức Mẹ và Chị dâng mọi ý chỉ của mình cho Người. Có một chiều vào khoảng ba giờ, tôi thấy Chị cầu nguyện và hỏi xem Chị cầu nguyện gì, Chị trả lời: “Em đọc kinh Kính Mừng để dâng việc làm lên Đức Nữ Trinh. Em có thói quen như vậy khi bắt đầu công việc”.

Chị bảo chúng tôi mang tràng hạt vào cổ mà ngủ đêm.

Chị Têrêsa sáng tác bài ca “Hỡi Maria, sao con yêu Mẹ?”. Khi Chị đã bệnh trầm trọng, Chị đặt tất cả tâm hồn trong bài ca đó. Lúc này như tôi còn nghe thấy Chị bảo tôi là: Chị muốn trước khi chết được diễn tả tâm tình của Chị đối với Đức Nữ Trinh trong một bài thơ.

Về đầu trang

IV. BÁC ÁI HUYNH ĐỆ

Khi đọc tiên tri Isaia

Đ tài bác ái đi vi Ch Thánh tht là di dào bt tn. Ch cm thông cho tôi biết ánh sáng Ch đã được do đc đon sách sau đây ca tiên tri Isaia:

“Chay tnh mà Ta đòi hi có phi ti vic con người chu cc lòng trong mt ngày, vic mc áo vi thô và b tro trên mình hay không? Chúng ta có gi đó là chay tnh, là ngày làm đp lòng Chúa không? Chay tnh mà Ta công nhn không hơn chy tnh va nói đó sao? Các ngươi hãy b gãy xing xích ti ác đi, hãy b gánh đang cht nng trên vai k khn nn xung. Hãy gii phóng k b áp bc, và đp tan tt c nhng gì bt công đi vi k khác. Các ngươi hãy phân chia bánh cho k đói ăn, hãy dn k nghèo kh vào trú ng trong nhà các ngươi vì h không biết đi đâu. Thy ai trn trung hãy cho h mc, đng khinh d chính thân xác các ngươi”.

Ch ly tng đon trên và ct nghĩa cho tôi hiu cn k: cn phi thc hành đc bác ái đi vi các tâm hn nhiu hơn là đi vi các thân xác:

“Khp nơi đu có nhng người nghèo kh, nhng tâm hn yếu đui bnh hon, b đè nén... Nhưng chao ôi! Xin ch hãy đ ly gánh nng đè trên vai h. hãy đ h đi t do, nghĩa là: Khi có ai nói vi ch v khuyết đim ca k khác, xin ch đng thêm bt mm mui gì vào. Đôi khi không tin nói ngược li, thì ch hãy khôn khéo đưa nhng nhân đc h ra đ có thế quân bình. Hãy đ nhng ai b đè nén được t do ra đi. Hãy b gy nhng xing xích trói buc k khác. Hãy chia cơm bánh cho k đói ăn, nghĩa là ban phát chính mình cho h. Dn dt h vào nhà, trang tri n nn thay h, làm phúc ca ci: là hy sinh s yên thân, s ngh ngơi cho nhng ai không biết trú ng nơi nào, cho nhng k nghèo kh cùng cc”.

Và Ch tiếp tc trích dn:

“Lúc đó ánh sáng ngươi s rng chiếu như bình minh. Sc mnh ngươi s bình phc. S công chính ngươi s dn dt ngươi. Vinh quang Chúa s bo v ngươi. Lúc đó ngươi kêu cu Danh Chúa và Ngài s đáp tiếng ngươi: Này Cha đây. Nếu ngươi không giương tay, không nói li xúc phm, nếu ngươi biết giúp đ người nghèo, biết cm thông hoàn cnh khn nn ca h, nếu ngươi biết an i nhng tâm hn đau kh, ánh sáng s chiếu soi vào vùng tăm ti và làm cho s tăm ti ca ngươi tr nên sáng chói như chính ng, Thiên Chúa s mãi mãi ban cho ngươi nim an ngh, Ngài s làm tâm hn ngươi tràn đy ánh quang rc r, làm sng li nhng xương tàn ca ngươi đã khô héo, ngươi s như khu vườn đp được vun tưới và như mch sui mát không bao gi khô cn [67]. Trên hoang đa ca muôn thế k, nhà ca s mc lên như nm. Ngươi s dng li nhng nn móng đ nát bao năm hoang phế. Người ta s nói vi ngươi rng hãy sa li nhng tường thành và nn ngay li nhng đường no cong queo”.

Ch tiếp tc gii nghĩa:

“Ch va nghe v phn thưởng s được: Nếu ngươi đng nói nhng li thiếu bác ái, nếu ngươi b gy xing xích trói buc các linh hn b tù đày bng cách đi x du dàng thân thin vi h; nếu ch giúp đ nhng linh hn đáng thương, b b rơi vi nim thông cm chân thành, nghĩa là vi tt c tâm hn lòng mến vô v li, nếu ch biết an i nhng k đau kh, thì sc kho tinh thn ngươi s bình phc, tâm hn ch s không còn khô héo. S công chính ca ch s dn dt ch. Nhưng đ hu ích, nhng công vic này phi được thc hin cách kín đáo, không khoe khoang, vì đó là đc tính ca công phúc đc, ging như cây hoa tím khiêm nhượng to hương thoang thong mà các to vt khác không hay biết mùi thơm đó t đâu bay ti: vinh quang Chúa s che ch ngươi, không phi vinh quang riêng ca ch, nhưng là s vinh quang ca Chúa.

“Thiên Chúa s nhn li ngươi, s cho ngươi được an ngh. Ánh sáng s chiếu soi ngươi trong u ti cuc đi. S ti tăm nơi ngươi s tr nên chiếu sáng như chính ng. Nhưng không phi là tăm ti đó s tan biến, vì th thách còn đang sn sàng ch đi các linh hn. Nhưng tăm ti ca ch s tr nên sáng láng... Và ch s được an bình trong vui sướng. Ánh quang huy luôn chiếu sáng ch gia đêm tâm thn tăm ti. Người s tr nên mt khu vườn xanh tươi, luôn được vun tưới như dòng sui chy không bao gi cn; nơi mch sui đó tt c mi tâm hn, mi to vt đu đến kín múc và s không làm hư hng đc dòng.

“Nhưng chưa hết đâu! Xin ch chú ý đến phn thưởng cui cùng này: Nhng toà nhà tráng l nguy nga s mc lên như nm trên nhng nơi hoang vu muôn thế k. Các ngươi s dng li nhng nn móng vng chc. Li đó nghĩa là gì? Thc thi bác ái và yêu tha nhân thì làm sao tôi có th dng ni cơ đ? Điu đó không được vì chng có liên h nào gia hai thái cc c?... Dù sao đi na, các thiên thn trên tri nói v ch rng: Ngươi sa li nhng tường thành và un nn ngay li nhng đường no cong queo...”.

Trong khi nói nhng li trên đây, Ch long lanh nhìn tôi đy v hng khi... “Ôi mu nhim! Chính nh nhng vic lành nho nh thc hin trong âm thm mà chúng ta làm cho các linh hn xa ngàn dm được ăn năn tr li... Chúng ta giúp đ các nhà truyn giáo cũng bng cách đó... và khi ngày phán xét ti, có l người ta nói rng chúng ta đã xây ct nhng nơi tm trú cho Chúa Giêsu và sa son đường li Người...”.

Tận tâm trong tình huynh đệ

Nhng vic bái ái Ch Têrêsa làm mà tôi được chng kiến thì nhiu vô k và thuc nhiu loi khác nhau. Thánh N không b l cơ hi nào.

T d như nhng ngày Chúa nht hay l trng được thong th, Ch dùng thi gi đó đ làm vui lòng các ch em. Theo ch em yêu cu. Têrêsa cm hng làm nhiu bài thơ. Không bao gi Ch t chi mt ai... đến ni hu như Ch chng còn thi gi nào rnh ri dành riêng cho mình. Vì thế Têrêsa không bao gi đ chép ly mt Thánh Vnh Ch m mến, mc dù Ch rt ước mong được như vy.

Ch hy sinh không trích nhng đon sách b ích Ch đc vì không có gi; thy vy mt tp sinh được tôi cho biết đâu là nhng đon Chị ưa thích, đã chép giúp mà không cho Ch hay.

Nhường chỗ tốt nhất cho người khác

Ch nói vi tôi: “Hết gi chơi chiu đến gi Kinh Ti, em có thói quen thường đ gi kim khâu vá trên ghế gn ngay Ca triu. Tht tin vì các chú nhn không đến giăng màng bên trong như khi đt gi dưới đt. Nhưng chng my chc có ch khác đến trước thường cũng đ gi nơi đó. Em t nghĩ: Ch em khác cũng thy nơi đó tin li, vy em nhường chỗ ấy cho các ch. Điu đó làm cho ch em hài lòng hơn, khi ch đó trng các ch được t do s dng; v li ch đó cao không phi cúi lưng xung chi c”.

Hy sinh một chiến thắng nhỏ

Có ln Têrêsa mun khích l tôi tp đc bác ái, nên đã k cho tôi nghe rng khi còn là thnh sinh, Ch thích trang hoàng tht m thut tượng Chúa Giêsu Hài Đng nhà Dòng. Nhưng Têrêsa không h dám cm nhng hoa thơm, ngay c th hoa tím nho nh cũng vy, vì mùi thơm làm cho mt M Cu B trên khó chu.

Khi M thy Têrêsa đt dưới chân tượng mt bông hng đp thì gi đnh bo b hoa đi. Ch tiếp: “Đoán rng M lm, em ch mun đ chính M nhn ra mình đã lm, vì đó ch là bông hng gi. Nhưng Chúa Giêsu đòi em hy sinh cái chiến thng nho nh đó. Nghĩ thế, nên em du dàng cm bông hng thưa M: ‘M xem, người ta bt chước khéo quá đi! Nhng bông hng gi này trông như tht vy, có dáng như va ngt trong vườn ra y M nh!’”.

Ch thêm vào: “Ôi chao, ch không th tưởng tượng ni thi hành vic bác ái đó đi vi em êm đm dường nào và làm sc mnh tâm hn em tăng thêm biết bao!”.

Đối xử tế nhị với các tâm hồn

Khi bnh, Ch bo tôi đ ý quan sát: Ch Stanislas [68] là y tá trưởng, ch luôn cn thn la nhng vi tht mm đ Têrêsa đ đau mình my. Ch nói: “Trông kìa chúng ta cũng phi chăm sóc các linh hn như vy nghe! Người ta thường quên mt điu đó, và còn làm tn thương ti các linh hn na! Ti sao vy? Ti sao người ta không chăm sóc yên i các tâm hn vi cũng mt tình bác ái và tế nh như vi các thân th này? Thế mà, mt s tâm hn thì bnh tt, mt s ln hơn thì yếu đui, và tt c đu đau kh! Nên chúng ta phi cư x vi các tâm hn y cách tht du hin thương mến!”.

Cây đậu Hoà Lan và cây đậu tằm

Khi có ch em nào sai li mà làm người khác khó chu, Têrêsa li càng t ra đáng mến hơn, sn sàng giúp đ hơn, đi x êm ái du dàng hơn đ làm du con tim tha nhân đang đau kh. Lòng tt ca Ch được biu l qua cách đi x lch thip, du dàng khi có ai làm phin Ch. Mt hôm Ch ct nghĩa cho tôi hiu lý do ti sao:

“Ôi, tht Chúa xót thương các linh hn khuyết đim biết bao! Em thy ngay thiên nhiên nhng thí d c th v lòng thương xót đó. Ch hãy trông nhng cây đu Hoà Lan nh bé kia, chúng được cu to bi toàn cht đường, v mng. Dù vy, ánh nng mt tri thiêu đt, giá lnh đêm trường như ct tht nó cũng chng h chi. Chúng là biu hiu ca nhng tâm hn hoàn thin. Còn nhng câu đu tm ln, li tượng trưng cho nhng tâm hn khuyết đim, vì chúng phi có đến hai ln v che ch. Chúng ta phi hành đng theo gương Chúa, hãy đi x săn sóc các linh hn bt toàn cách rt tinh vi và vô cùng tế nh”.

Thăm viếng Chúa Giêsu và Mẹ Maria

Thy tôi ra v tư l, Ch nói:

- Chị ạ, tư l v bn thân ch làm kit qu tâm hn, ch nên st sng thc hành nhng vic bác ái.

Và Ch nhn mnh:

- Đôi khi người ta rt đi t nếu t khép kín đ suy nghĩ vn vơ mt mình. Đi t ti mc phi gp rút ra khi tình trng đó ngay. Chúa nhân lành không bt ta c sng bun t vi mình mãi đâu. Trái li, thường lúc đó Chúa đ ta thy chán ngán đ ta t b tình trng trái tâm lý đó đi. Trong nhng lúc như vy, em không còn thy cách nào tt hơn là đi tìm gp Chúa và M Maria bng cách làm nhng vic bác ái.

Sửa soạn đèn chầu cho Chúa Giêsu [69]

Tôi th l vi Ch là tôi đang b phin mun dày vò; đ làm tôi thêm can đm bng cách chng t Ch không phi là người vô cm xúc, Têrêsa k rng mt ti kia trong gi “yên lng” [70] Ch được sai đi sa son mt đèn nh đt ngoài cho sáng. Du, bc không có gì sn sàng c! Trong khi đó thì ai ny đã lui v phòng mình, ca đóng then cài.

Ch bo:

- Em phi chiến đu ghê gm. Em lm bm phn đi nào cnh nào người! Em bun vì my chị ở Nhà Ngoài bt em làm vào gi ngh trong khi các chị ấy có th t làm ly cách d dàng! [71].

“Nhưng bt cht ánh sáng loé lên trong tâm hn, em tưởng như mình đang phc v gia đình Thánh Gia Nazareth. Em đang sa son đèn du cho chính Chúa Giêsu Bé Thơ. Lúc đó em đt hết c tình yêu lòng mến vào công vic. Em bước đi nh nhàng lòng đy phn khi. T đó, em luôn luôn dùng phương thế này, mt phương thế làm em được kết qu l lùng”.

Săn sóc bệnh nhân - kiên nhẫn và chịu đựng

Phòng bnh là nơi tôi được ct đt làm vic ngay khi vào Dòng, nhưng hi đó không có bnh nhân nào đau yếu nng c. Tuy thế nhng người thiếu sc kho thì nhiu. Trong s đó có mt người mc chng não bn huyết kinh niên, ch li có tính tình tht thường na, điu này làm cho ai gi nhim v y tá cũng phi luôn luôn kiên nhn. Bnh nhân này sng theo nguyên tc “cn phi th luyn các ch em nhà tp rt nhiu”. Vì thế, có ln tôi ngay tn đu nhà đng kia, ch bm chuông gi bo: “Chị ơi! Tôi nhn ngay ra bước chân ch hay ca ch kia”.

Ln khác, không th cm được nước mt, tôi ti bên Têrêsa. Ch đón tôi cách nim n du dàng và yên i khích l đ tôi thêm can đm. Lúc này đây tôi còn thy rõ trong tâm trí hình nh Ch ngi bên tôi, trên mt cái rương g và siết cht tôi trong cánh tay Ch.

Nhưng ri tôi li phi tr v vi công vic và phi chiến đu không ngng. Đã nhiu ln tôi đi vòng đ tránh khi phi qua ca s phòng bnh, vì nếu M đó thy tôi đi gn, thế nào cũng ra hiu bo tôi làm thêm công vic gì đó. Có l đ tránh mt M, tôi cúi đu đi tht nhanh mà lòng dâng lên nim cay đng.

Têrêsa hiu rõ hoàn cnh tôi và sn sàng tha th cho tôi. Có ln Ch bo tôi:

“Ch phi c ý đi qua phòng bnh đ người ta có dp nh v ch, và khi ch thc s mc công chuyn không th dng li đ giúp đ thì ch hãy du dàng t chi và cn ha s tr li, đng thi t v nim n như chính ch được người ta giúp đ vy.

Chuông phòng bnh đi vi ch phi là khúc nhc tri tuyt diu. Khi người ta bm chuông gi ch... đó là điu tt nên vui mng. Ch cn ước mong điu đó thc s trong lòng. Ôi ch xem: nghĩ tưởng nhng điu đp đ và thánh thin, viết sách, đc hay viết truyn các thánh đi na cũng không có giá tr bng thc thi mt vic bác ái vì lòng mến Chúa, cũng chng hơn vic đáp li tiếng chuông phòng bnh, tuy du có làm phin ta đôi chút.

Khi người ta xin ch giúp đ vic gì hay ch có bn phn phi chu toàn đi vi bnh nhân mà ch không ưa, thì ch nên coi mình như mt tên nô l ti tin mà mi người đu có quyn sai khiến. Ch đng phàn nàn, vì ch ch là tên nô l thôi!

- Phi, nhưng ch thy nhiu ln người ta gi em đ không sai làm gì c, lúc đó em thy bc tc lm!

- Em biết điu đó đi vi ch tht khó chu, nhưng ch thy không, các thiên thn đang nhìn ngm ch trên bãi chiến trường đi cuc chiến kết liu là quàng lên ch triu thiên vòng hoa chiến thng như xưa người ta vn quen tng các hip sĩ hào hùng. Chúng ta mun là nhng v t đo nh bé, chính chúng ta phi chiếm ly cành thiên tuế! Chúng ta lm tưởng mà cho rng các cuc chiến đu đó không có giá tr: ‘Người có tâm hn kiên nhn chu đng thì có giá tr hơn k có thân xác kho mnh. K chế ng được tâm hn thì có giá tr hơn k đot thành chiếm lu[72].

Vi em, nếu còn sng thì vic coi gi nhà k lit chc s làm em thích thú. Em không mun xin vic này vì s có v t ph. Nhưng nếu được trao phó, thì em cho đây là mt đc ân. Ôi, phi! Em s hnh phúc lm nếu người ta sai em làm vic này. Đó là điu giá tr đáng k khi em nghĩ ti li Chúa phán: ‘Ta đau yếu và các ngươi đã săn sóc’” [73].

Ch nhn nh tôi rt nhiu v vic phi săn sóc các bnh nhân vi tình yêu mến. Làm vic này không như các vic thường khác, mà phi làm vi tt c s cn thn tế nh như là người ta làm vic đó cho chính Chúa vy.

Tuy thế, sau ngày làm vic vt v ti đến gi ngh, hay sau gi Kinh Mai mà phi đi giúp đ ch em nào, tôi thy khó chu lm. Tôi phàn nàn thì Ch lin bo:

“Bây gi chính ch là người mang nhng chén nước nh này cho nhng người bên phi bên trái, nhưng ngày kia trên tri, chính Chúa Giêsu s đến đ phc v ch[74].

Khôn ngoan loài người

Ch nói rng: Tôi mun đi x t tế vi ai t tế, nhu mì vi ai nhu mì. Nhưng ngay khi có ai làm ch trái ý, thì ch đã mt hết bình tĩnh ri: Như vy thì có khác gì nhng dân ngoi mà Phúc Âm đã nói ti? Ta phi đi x ngược li: Các con hãy làm điu thin cho k ghét các con, hãy cu nguyn cho k bách hi các con [75]. T tế vi người làm lành cho ta, đó là khôn ngoan theo loài người, chng phi khôn ngoan ca Thiên Chúa.

“Khi tới giờ chết...”

Tôi luôn ước rng nhng chi tiết đi tôi khuôn rp nhau như mt trò chơi kiên nhn. Vô phước cho ai ti quy ry! Nếu có hoàn cnh bt ng nào xy ti làm xáo trn cuc sng, tôi lin t v không hài lòng.

Mt hôm trong nhng ngày bnh cui đi em tôi, tôi mun dành c bui chiu đ làm xong mt vic như d tính. Nhưng bt ng tôi phi ra phòng khách! Tôi bo em tôi:

- Chán ghê! C b quy ry mãi, nếu không thì đã xong vic t lâu!...

Têrêsa nhìn tôi:

- Khi gi chết ti, ch sẽ ước mong trước đây được người ta quy ry biết bao nhiêu!

Dành thời giờ để bị phiền hà

Tôi đnh dành mt ngày hoàn toàn yên lng đ d bui cm phòng tháng. Nhưng đó là c vn đ nan gii.

Làm sao tìm ra mt Chúa nht không bn vic gì do bn phn hay nguyên nhân nào khác! Ch Têrêsa Hài Đng Giêsu bo tôi:

“Ch mun tĩnh tâm đ được t do hơn, đ mình ch thư thái! Còn em, em tĩnh tâm do lòng trung thành đ tn hiến mt ngày hoàn ho hơn cho Chúa... Nếu hôm nào em cn phi viết lách nhiu: đ tâm hn được thanh thoát, thì em luôn gi tâm trng là sn sàng đ cho ai mun ti quy ry gì cũng được. Em t nh: ‘Thi gi t do này tôi sn sàng đ người khác nh v. Tôi mun thế! Nhưng tiên vàn nếu tôi được yên, tôi s cm t Chúa như mt ơn tôi được lúc không ng’. Và lúc nào em cũng tươi vui sung sướng”.

Thc vy, tôi nhn thy hi Ch còn gi phòng thánh, trong các ngày ngh khi công vic riêng đã xong xuôi, Ch vi vã qua phòng thánh đ cho người ta có th sai bo. Ch đi ngang qua ngay ch ch trưởng phòng thánh đ ch này có th nh v vic này vic n. S vic đã xy ra như vy. Vì biết làm như vy Ch phi c gng lm, nên tôi ra hiu cho Ch đng đi qua li đó, hơn thế tôi còn giúp Ch mt cách thế na, nhưng tt c đu vô ích.

Hy sinh, niềm vui và tình yêu tinh tuyền

Vào nhng tháng cui đi người em nh ca tôi, tôi thường trì hoãn gi chơi đ nán li săn sóc em, và tôi không được nhit thành trong vic săn sóc các người khác b bnh nh hơn. Ch nói vi tôi:

vào đa v ch, du không phi b buc thì em s lo liu hết sc mau chóng các vic đ có th đi chơi hay săn sóc các bnh nhân khác. Em s c gng làm hàng ngày hy sinh và tránh mi cơ hi gp g, đ mang li cho ch nhiu ơn thánh hơn. Trong bt c công vic gì đng nên tìm kiếm li lc riêng tư, vì ‘ngay khi người ta tìm kiếm mình, lp tc người ta ngng yêu mến’ [76]. Trong nhng ngày cui đi này, em sng hnh phúc hơn người ta tưởng nhiu, vì không bao gi em tìm kiếm gì cho mình c. Khi hoàn toàn t b, là lúc người ta được lãnh nhn phn thưởng ngay trn gian. Ch thường bo em ch cho ch phương thế tiến ti tình yêu thun khiết, vy phương thế đó là quên chính bn thân và đng tìm kiếm li riêng”.

Thiên sứ hoà bình

Tôi đã đ chy nước mt hu làm cho mt ch kia tin rng tôi đang b phin hà lm. Tuy vy tôi không quyến luyến gì ti điu đang làm cho tôi hi tiếc c. Cũng ngày hôm đó, tôi đã bo v quyn li ca tôi đi vi mt ch và đng thi cũng là đ bo v công bng. Thêm vào đó, tôi mun chng minh cho chị ấy biết rng ch đã lm ln. Ch Têrêsa Hài Đng Giêsu lin bo tôi:

- Thc ra không có gì đáng trách, nhưng vn chưa đt ti s an bình và nhng chiếc lông tơ trên qu anh đào đã b chà rng hết ri... Bo v quyn li ca ch và duy trì công bng đi vi người khác không phi là mt li, nhưng vi ch thì tht là điu đáng tiếc.

- Nhưng khi qu anh đào đã thi thì đâu còn làm được vic gì?

- Mt cái nhìn Tin yêu lên Chúa Giêsu và mt tâm tình nhn biết s khn nn ca mình s sa cha li tt c. Tìm kiếm và bo v quyn li mình, đó là hành đng tác hi linh hn. Mun ch giáo k khác là hành đng không hp thi, ngay khi ch không lm ln chi c cũng vy. Li na, chính ch đâu có được B trên giao phó cho nhim v đó? Ch không được đt mình làm Án quan hoà gii, ch mình Chúa có quyn đó, còn ch, nhim v ca ch chính là làm Thiên s hoà bình”.

Nhân nhượng trong xét đoán

Ch thường nói vi tôi là người ta luôn phi xét đoán tha nhân vi tinh thn bác ái, vì rt nhiu trường hp, cái đi vi chúng ta là không đáng k thì đi vi Chúa li là vic anh hùng.

Mt người mt mi nhc đu, tâm can b phin mun giày dò ch làm xong có na bn phn thôi thì cũng làm nhiu hơn người kho c tâm trí ln thân xác tuy người này đã làm trn tt c. Ta cn phi qung đi vi người khác trong mi xét đoán. Luôn phi nghĩ tt v tha nhân và tha th cho h, ngay c khi không có điu chi đáng ca ngi c ta vn còn lý do đ t nh rng: “Con người y b ngoài có v lm ln, nhưng h không nhn ra điu đó và nếu tôi có được mt s xét đoán chính xác hơn h, thì đây chính là lý do đ tôi thương xót h hơn, và tôi cn phi khiêm tn vì đã kht khe vi h”.

Ch cũng giúp tôi nhn ra rng thường Chúa đ ta mc phi chính nhng yếu đui mà ta khó chu khi thy người khác mc phi, như lãng quên, biếng tr, không chú ý, mt nhc... Đó chính là lúc t nhiên nht đ ta tha th nhng li lm k khác rơi vào, vì chính ta cũng rơi vào như h.

Được ch dy vi chng c c th, rõ ràng, cng thêm kinh nghim cá nhân, tôi thy các ch em mà tôi cho rng h khuyết đim nhiu, thc ra không phi thế. Rt có th vì mt lý do nào đó, như vì vâng li chng hn, đã ngăn cn h làm vic này vic n, đi x thế này thế khác. Vì thế h phi âm thm chu s nhc như vy.

Bài học rút ra từ những quả lê bề ngoài xấu xí

Khi cùng Ch đi bách b trong vườn lúc gi chơi, Ch ch mt cây ăn trái và bo tôi:

“Ch hãy nhìn nhng qu lê này b ngoài tht xu xí, chúng là hình nh nhng ch em mà chúng ta không my hài lòng đó. Mùa thu ti, người ta ngt nhng qu đó biếu ch... Bó v ăn th xem, ch s thy thích thú ghê lm, không ng rng đây chính là qu trước kia ch đã coi thường. Cũng thế, ngày sau hết ch s ngc nhiên thy các ch em khi đã được lt b tt c khuyết đim, s là nhng v đi thánh”.

Cầu nguyện cho các Linh mục

Điu lôi cun Ch xin tu dòng Kín chính là Ch mun hy sinh cu nguyn cho Giáo Hi, cho các linh mc... Ch mun rng cuc sng phi được dâng hiến trn vn đ thánh hoá các tha tác viên ca Chúa. Ch bo “cu nguyn cho các linh mc là ‘cuc kinh doanh’ ln, vì li kinh s t đu não chuyn xung các chi th”.

Ước mong các linh mc thánh thin và do đó các ti nhân được ơn hoán ci chính là nguyên đng lc đi sng Ch. Nhà tp, Ch dy chúng tôi mt kinh khá dài cu cho các linh mc mà Ch không nh ai là tác gi [77]. Hu như tt c các thư t Ch viết cho tôi khi tôi còn ngoài đi đu quy v mc đích này: Cu nguyn cho các linh mc, và đó là mc đích chung ca hai chúng tôi [78].

NHIỆT TÂM ĐỐI VỚI CÁC LINH HỒN

Tháng Sáu 1896 tôi chp hình Ch đ gi cho M B trên (M Marie de Gonzague) nhân dp mng l M ngày 21 tháng 6. Ch mun được chp lúc đang cm cun giy có viết nhng li sau đây ca M Thánh Têrêsa chúng tôi: “Con mun dâng hiến ngàn cuc sng đ cu ri mt linh hn cũng được” [79].

Ngày hành hương sang Rôma, Têrêsa mi có 14 tui. Trong lúc đc cun Biên niên s ca các N tu Truyn giáo, Ch ngng li bo tôi: “Em không mun đc na chị ạ! Em đã nuôi sn ước vng mãnh lit tr nên nhà truyn giáo. Chu sao ni nếu em còn c tăng thêm ước vng đó mãi bng nhng tm gương tông đ này? Nht đnh em s là mt n tu Kín”.

Ri Ch ct nghĩa cho tôi ti sao Ch li quyết đnh như thế: “Chính là đ được chu nhiu đau kh hơn trong cuc sng đng điu, khc kh và nh thế cu được nhiu linh hn hơn”.

Trong cun Tiu s đi Ch, Ch đã k mình phi kiên nhn trong li cu nguyn đ cu cho Pranzini tên sát nhân xu s. Ch thú nhn là rt xúc đng khi thy Chúa nhn li Ch xin, vì người t ti đã thình lình ăn năn tr li trước khi lên đon đu đài.

Vi dáng ngi ngùng, Ch đưa cho tôi s tin nh đ xin l cho người t ti. Vì tính nhút nhát, nên Ch không dám đưa tin tn tay cho Cha Gii ti.

Ch cũng chng nói cho tôi biết ý xin l na. Nhưng tôi đã đoán đúng và Ch cm thy tht an i. T đó Ch chia s cho tôi biết nhng băn khoăn lo lng cũng như nhng ước vng ca Ch.

Lòng nhit thành cu ri các linh hn xâu xé tâm hn Ch ngay t hi niên thiếu. Khi Ch thy nh Chúa chu nn có bàn tay đm máu, và nh này đã mc khi cho Ch biết về ơn kêu gi được đng cu chuc vi Chúa Cu Thế.

Sng trong Nhà Kín, lòng nhit thành đó không ngng phát trin và Ch luôn bc l ra mi khi có dp. Tôi đã thy Ch âm thm giu nh thánh Bênêdictô vào chiếc áo làm vic ca bác th mc, nhân lúc bác đi v và s tr li Nhà Dòng trong ngày. Ch làm như vy vì bác th này khô khan, sng xa Chúa.

Trong lúc phi đau kh vì bnh lao dày vò, và chúng tôi phi sa nước mt cu nguyn cho Ch, thì Ch li nói vi chúng tôi: “Em cu xin Chúa nhân lành thương xót đ tt c kinh nguyn các ch cu cho em đng làm nh bt đau kh ca riêng em, nhưng là đ cu ri các linh hn”.

Tôi còn nghe thy Ch qu quyết:

“Không, không bao gi em tin rng người ta có th chu được đau kh đến thế... Không, không bao gi! Em ch có th ct nghĩa điu này bng nhng ước vng mãnh lit em ôm p là đ cu ri các linh hn”.

Đây là mt trong nhng li cui cùng đi Ch.

Sau khi qua đời

Nhiu ln và dưới nhiu hình thc, Ch ha “làm mưa hoa hng” và biu lộ ước vng cùng s bo đm làm nhiu điu lành sau khi chết, bng cách cu cho Giáo Hi, bng cách tiếp tc s mnh đc bit làm tông đ bên cnh các linh mc. Nht là tôi đã nghe Ch ct nghĩa, đã thy Ch viết đâu là ích li ca vic này, và Ch s dùng phương thế nào đ kêu gi các linh hn tr v vi Chúa bng cách dy d h con đường tin tưởng phó thác hoàn toàn. Đ tr li mt trong s nhng điu Ch suy nghĩ, tôi bo Ch:

- Vy Ch tin rng Ch s cu được nhiu linh hn khi lên tri sao?

- Vâng em tin như thế, bng chng là Chúa nhân lành đ em chết gia lúc em đang ước mun cu được tht nhiu linh hn.

 

[1] Hội Đồng Dòng (Chapitre) là một tập thể gồm những Nữ tu hội đủ các điều kiện để hưởng quyền bầu cử cũng như được bầu vào những chức vụ trong Dòng (chú thích của người dịch).

[2] Thật ra Chị phải bỏ Nhà tập 3 năm sau khi khấn theo thói quen hồi đó, tức là vào tháng 9 năm 1893, nhưng dựa trên cách cắt nghĩa luật thử thời, người ta không nhận quá hai chị em trong cùng một gia đình vào Hội Đồng Dòng. Vì Mẹ Agnès de Jésus và chị Marie du Sacré Coeur đã ở trong Hội Đồng rồi, nên người em út các chị không ở Hội Đồng được, tuy theo luật thì Chị có quyền. Vì thế Chị không hề lên tiếng hay tham dự Hội nghị. Được trao nhiệm vụ huấn luyện chị em Nhà tập dưới quyền Mẹ Bề trên là người mang danh Bề trên Tập viện, Chị đã sống với chị em như là “niên trưởng” của họ cho tới ngày Chị qua đời.

[3] Gương Phúc Q.III, 49,7

[4] Đó là bài thánh ca “Thiên thần chốn hoang địa” - L’Ange du Elésert - trong kịch bản “Trốn qua Ai Cập”, ngày 21-1-1896.

[5] 2 Cor 12,5

[6] Đã rõ Chị Thánh không hề đồng ý việc chịu nhận mà không chiến đấu diệt trừ lỗi lầm luân lý, cho dầu nhỏ bé tới đâu. Chị coi thái độ đó như xâm hại tới quyền lợi Chúa. Chị cực lực phản đối thái độ sai lầm của phái vô vi (Quiétisme) (coi trang 53 của tập này). Chị sẽ sung sướng biết bao nếu được nghe những lời cương quyết của Đức Thánh Cha Piô XII trong Thông điệp ngày 23 tháng 12 năm 1949, trong đó Ngài than phiền vì có một số người coi tội lỗi chỉ là một sự yếu đuối, và coi yếu đuối như một nhân đức!

Điều chị Têrêsa nhiều lần nhấn mạnh trong “Thuyết Ấu Nhi” (Petite Doctrine) của Chị là thụ tạo trước hết không được tin ở sức mình, dựa trên huân công cá nhân mình, trái lại phải tuyệt đối trông cậy vào ơn thánh siêu nhiên. Chỉ có sức thần trợ mới đủ khả năng hứng khởi, giúp đỡ cũng như làm các cố gắng nơi con người được triển nở và mang sinh lực lại cho thiện chí của ta.

Hiểu biết chấp nhận và yêu mến cái bé nhỏ của mình không có nghĩa là đồng loã với tội lỗi, hay yên phận trong đó, mà đặt mình trong chân lý, gạt bỏ mọi ảo tưởng về bản thân và từ thẳm sâu của tình trạng khốn nạn đã được nhận định minh bạch đó, tâm hồn vang lên tiếng kêu cầu phó thác và băng mình vào Đấng Từ Bi Vô Biên. Tâm tình này rất hữu ích trong lúc bất lực, tinh thần suy kém, lúc bị cám dỗ, thử thách, cũng như bất toàn sa ngã vì sự giòn yếu của bản tính con người: Các chị em được Thánh Nữ nói với là những chị em thường quá chú trọng tới những yếu hèn tinh thần đó.

Dự trên những đoạn văn khác của Chị Thánh, nhất là đoạn kết cảm động của tập Tự Thuật Chúa tờ 36 v0, người ta thấy rõ ràng tuy có những tiểu dị quan trọng, nhưng điều này cũng rất giá trị đối với những lỗi lầm đã qua: Cho dầu chúng có nặng nề như tội phạm của người đàn bà Samaritana, như của thiếu phụ ngoại tình, của người trộm lành, hay như của người thiếu nữ tội lỗi trong hoang địa, thì ta cũng không thể yêu thích những lỗi lầm đó, mà phải hối hận và đề phòng kẻo tái phạm. Thay vì thất vọng hay kiêu kỳ phẫn nộ với mình, ta phải khiêm tốn lợi dụng hoàn cảnh đó, và thay vì tin ở mình thì ta tin ở Tình Yêu Từ Ái nhiều hơn, một lòng từ ái luôn thứ tha, nâng đỡ và ban phát chứa chan. Chị Têrêsa thêm vào đây lời bất hủ của Thánh Augustinô khi Ngài diễn giải và bổ túc cho tư tưởng thánh Phaolô: “Tất cả đều trở nên tốt hảo cho ai yêu mến Thiên Chúa, cho dầu tội lỗi cũng vậy”.

Về đầu trang

[7] Chuyện đời Cha Giuse Surin thuộc Dòng Tên, được Cha Marcel Bouix xuất bản. Tóm lược tiểu sử do M. Henri Marie Bourdon viết - Paris, 1897, tr. 146.

[8] Jn 21,15-17

[9] Lc 18,13

[10] Đó là chiếc mũ làm bằng vải Sa, màu xanh nước biển có viền nhung, cùng một loại vải với áo của Chị.

[11] Rm 12,17

[12] Lc 2,19

[13] Vì chuyện này mà Chị có ý tưởng vẽ chiếc huy hiệu riêng cho Chị.

[14] Q. II, ch. 11,4

[15] Để những thất bại hữu ích cho ta nhờ thái độ nghèo khó tinh thần này, thì: “An bình của em là thủ phận bé nhỏ. Ngay cả khi vấp ngã trên đường. Em có thể nhanh chân dậy ngay. Và Giêsu cầm tay dẫn dắt em đi”. (Thơ của Thánh Nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu: An Bình và hoan lạc đời tôi, triệt IV). “... Trẻ con chúng té luôn, nhưng vì chúng quá bé nhỏ nên không gây ra thiệt hại chi mấy” (Novissima Verba, p. 126).

[16] Ms. A, fol. 7 v0

[17] Eccl. XII,13-13, 19-20

[18] § 2341 p. 799

[19] Bossuet đoạn cuối tập bàn về “Phương pháp vắn tắt và dễ dàng để nguyện gẫm”.

[20] Trích dẫn theo Jean Wu-Ching-Hioung, nguyên Công sứ Trung Hoa bên cạnh Toà Thánh trong tập “Dom Lou”, đời sống tinh thần của ông; một minh chứng cao quý, tr. 41. Desclé de Brouwer, 1949.

[21] Tao-Ta-Ching, Jean Wu- Ching-Hioung, Khoa học tình yêu tr. 29.

[22] Mt 19,14; Mc 10,14; Lc 17,16; Mt 18,10; Mc 10,16.

[23] Rm 4,46

[24] Is XL 11

[25] Mt 18,3. Thông điệp ban hành ngày 11 tháng 7, 1954 dịp Cung hiến Vương Cung Thánh Đường Lisieux.

[26] Chân Ngôn 1,4

[27] Jn 14,2

[28] Thérèse Lehoux, khoảng 7 tuổi, cỡ tuổi Céline.

[29] Chị Thánh nói với các chị em Nhà Tập khi họ không có trách nhiệm và lúc đó bổn phận của họ là không dây mình vào công việc. Chị sẽ nói cách khác với ai phải giải quyết và thi hành công việc. Với những chị em này, Chị chỉ khuyên đừng phân tích một cách vô ích những khó khăn.

[30] Khi Chị nói: “Chúng ta quấy rầy Ngài”, Chị thánh có ý ám chỉ Tinh thần trẻ thơ. Chúa Giêsu không thể buồn vì những lỗi lầm sơ ý gây nên do sự giòn mỏng yếu đuối của những tâm hồn khiêm tốn, biết mến yêu phó thác nơi Ngài.

[31] Khôn Ngoan 6,6

[32] Mt 20,23; Mc 10,40

[33] Tv LXVII,40

[34] Ms. A,fol. 32 r0

[35] Jn 2,3

[36] Jn 11,3

[37] Eccl 16,15

[38] Lc 17,10

[39] Thơ gởi cho Mẹ Eléonore de Saint-Gabriel, Nữ tu thuộc Dòng Kín Carmêlô đi chân không ở Tu viện Séville.

[40] Ms. C, fol. 36 v0

[41] Trong cuốn Vies des Pères des désers l’Orient avec leur doctrine spirituelle et discipline monastique, par le R.P. Michel Ange Marin, de l’Ordre des Minimes: Livre IV, Ch. VXIII, pp. 392 et ss.

[42] Is LXIV,5

[43] Thánh Vịnh XCI

[44] Một Chúa nhật trong năm 1888 cha Rohée là tổng quản nhà thờ Chánh Toà đã tuyên bố trên toà giảng là cần 10.000 Phật lăng để có thể sắm được một bàn thờ mới. Ông Martin đem tiền dâng ngài ngay và chỉ xin một điều là giữ kín không cho ai trong xứ biết tên người dâng cúng. Tuy thế, việc này không giấu nổi ông Guérin, cậu ruột Thánh Nữ.

[45] Thánh Thomas viết: “Mỗi vị thánh trên trời được hưởng chung hạnh phúc của tất cả các vị thánh khác” (S. T. Suppl. 9. 71, art. 1er). Chị Thánh đã đọc được đoạn sau đây trong cuốn: Fin du monde présent et mystères de la vie future, do cha Arminjon soạn thảo, một cuốn sách Têrêsa đặc biệt thích thú: “Những con người được tuyển chọn, tất cả chỉ có chung một niềm tâm tư... mỗi vị sẽ sung mãn bằng sự sung mãn của tất cả” (Cuộc diễn giảng thứ bảy về: Hạnh phúc vĩnh cửu và chiêm ngưỡng siêu kiến Thiên Chúa, tr. 312).

[46] Dép “Alpagates” là một loại sandale đế bằng thừng, các nữ tu Carmel dùng thay cho giày.

[47] Khúc XIII

[48] Xin coi bản kinh ở cuối sách.

[49] Ms. Fol. 84 r0 et v0

[50] Is 3,10

[51] Chú giải về sự siêu nhiên.

[52] Thư Do Thái 12, 18, 22, 23, 29

[53] Esdaras II 4,11

[54] Gương Chúa Giêsu Q. III 4,4

[55] Chị thánh không hiểu tiếng Latinh nên không thể thường xuyên chú ý tới nghĩa chữ, nhưng Chị cũng biết được ít nhiều đoạn nhờ đọc những bản dịch ngoài giờ kinh.

[56] Xướng viên: người được chỉ định trong tuần để đảm trách nhiệm vụ khởi sự giờ kinh Nhật Tụng tại Ca triều.

[57] Chị Geneviève chép những đoạn này khi chị còn ở ngoài đời, và lúc đó Têrêsa đã từ giã chị để vào dòng Kín. Lúc đầu chị dùng cuốn Kinh Thánh của cậu chị là ông Guérin để sao chép. Đây là cuốn loại quý, khổ rất lớn do Gustave Doré ấn loát, Bourassé và Janvier phiên dịch. Sau chị ưa dùng một cuốn tiện lợi hơn và tiếp tục ghi chép theo bản dịch của Lemaistre de Sacy, do nhà Furne et Cie xuất bản tại Paris năm 1864.

Trong cuốn sổ đó, Chị Geneviève đã chép những đoạn Thánh Kinh thuộc các sách sau đây (theo thứ tự trong sổ chị chép): Nhã Ca, Triết Ngôn, Khôn Ngoan, Châm Ngôn, Isaia, Tobia, Đức Huấn Thiện, Egiêkia, Ôsê, Habacuc, Sôphônia, Malakia, Amos, Mikê, Giacaria.

Sau ngày vào Dòng Kín, 14-91894, chị tặng Chị Têrêsa Hài Đồng Giêsu cuốn sổ nhỏ đó. Têrêsa đã dùng cuốn này làm sách thiêng liêng để suy nguyện. Rất có thể nhờ tập này mà Chị đã được đọc lời Chị rất yêu quý: “Kẻ nào thật bé nhỏ hãy đến cũng Ta” (Châm Ngôn 9,4 trưng trong Ms. C, fo 3 r0.

[58] Chị có thể nhận ra những điểm khác nhau như vậy, vì tuy các chị trẻ không được đọc toàn bộ Thánh Kinh, nhưng Chị đã so sánh những đoạn chép trong cuốn sổ của chị Geneviève với một số bản dịch Thánh Vịnh (nhất là thuộc nhà xuất bản Glaire), các Tiên Tri và Tân Ước. Chị đọc Tân Ước nhiều trong cuốn “Thủ bản Kitô hữu”, trong đó gồm thêm Thánh Vịnh, Gương Chúa Giêsu, và ngay đầu còn có cả phần Thường Lễ, Kinh Chiều và Kinh Tối (Đức Tổng Giám Mục Địa phận Tours, cho xuất bản, Mame và Fils xuất bản, Tours 1864. Không có tên dịch giả) “Thánh Vịnh dịch từ tiếng Do Thái”. Ngoài ra Chị còn có những bản Kinh Thánh đúng nghĩa, như bản dịch sách Nguyện Bréviaires đọc hằng ngày trong nhà cơm, cuốn Thần Thánh viết bằng tiếng Latinh-Pháp, Sách Hát lễ và những cuốn khác có trích nhiều Kinh Thánh, như cuốn Năm Phụng vụ của Dom Guéranger, những tác phẩm của Thánh Gioan Thánh Giá... Sự khảo sát những đoạn Thánh Nữ trích dẫn Cựu Ước và Tân Ước cho ta thấy rõ là Thánh Nữ đã dùng những nguồn tài liệu khác nhau.

[59] Coi trang 74

[60] “Tu” và “Vous” là đại danh từ cùng chỉ ngôi thứ hai. Trong Pháp văn, người ta dùng “Tu” (mày, anh, ba, má...) thay cho “Vous” (ông, ngài, quý vị...) khi muốn diễn tả sự thân mật âu yếm (Chú thích của người dịch).

[61] Pranzini là một tội nhân bị kết án tử hình. Chị cầu xin và anh đã được ơn trở lại liền trước khi xử, vào tháng 8 năm 1887 (coi Ma. A, fol. 46 r0).

[62] Sắc lệnh này ban hành ngày 17-12-1890. Đây là đoạn chính yếu: “Về vấn đề liên quan tới việc cho phép hay không được lên Bàn Thánh rước Chúa, Đức Thánh Cha ban bố rằng việc được phép hay không là chỉ tuỳ thuộc cha giải tội thường. Các vị Bề trên không có thẩm quyền nào trong vấn đề này... Ai được phép cha giải tội để năng rước lễ hay rước lễ hằng ngày thì phải báo cho Bề trên biết”.

Trên thực tế thì Cha Tuyên uý Dòng Kín Lisieux hồi đó là cha Youf không thay đổi gì trong thói quen có sẵn cả, trừ thời gian có bệnh cúm truyền nhiễm (từ tháng 12-1891 đến tháng 1-1892 là chị Thánh có thể rước lễ hằng ngày - ms. A, fol. 79 v0).

[63] Cha Youf cũng tạ thế sau Chị Thánh mấy ngày và vị kế tiếp là cha Hodierne, hoà mình theo sắc lệnh của Đức Lêô XIII đã đem thói quen Rước lễ hằng ngày vào trong Dòng Kín Lisieux.

[64] Céline đã chỉ dẫn Têrêsa đôi bài về hội hoạ chỉ chừng 6 tháng trước khi Chị vào Dòng Kín.

[65] Đây có ý nói tượng mỗi nữ tu mang trên mình.

[66] Tượng bằng thạch cao đặc, cao 0m90.

[67] Giáo Hội đã áp dụng đoạn văn Isaia này cho Thánh Nữ trong kinh Nhật Tụng: đây là Ca Tiền khúc của Thánh Vịnh Benedictus.

[68] Chị Saint-Stanislas qua đời ngày 23-5-1914, hưởng thọ 89 tuổi.

[69] Chị Thánh cũng kể chuyện này với Mẹ Agnès de Jésus ngày 12-7-1897. Xin xem trong Novissima Verba, bản tiếng Pháp tr. 64, bản tiếng Việt của Trần Nguyên, Hương Việt, tr. 62.

[70] Thời giờ tự do và nghỉ ngơi từ sau Kinh Tối đến Kinh Mai.

[71] Đây là chiếc đèn dành cho một số người đời, bà con của một chị trong Dòng. Những người này được đặc biệt nhận vào sống ở một nơi thuộc vòng ngoài của tu viện.

[72] Châm Ngôn 16,32

[73] Mt 25,36

[74] Lc 13,37

[75] Mt 5,44; Lc 6,27

[76] Gương Phúc I ch. 5,7

[77] Của một tâm hồn thánh thiện, là Thérèse Durnerin.

[78] Chị Geneviève không muốn bàn hơn nữa về bổn phận cầu nguyện cho các linh mục, tuy là đề tài chị còn giữ được rất nhiều kỷ niệm. Chị Thánh diễn tả tất cả tư tưởng mình về điểm này trong những Thư tử gởi cho “Céline”. Như “Céline” đã nói trước đây, các Thư từ này đã được công bố.

[79] Lâu đài nội tâm (Château intérieur), tầng thứ 6, Ch. VI; Vie, T.I,. Ch. XXXII, p. 115; Fondations, t. I, Ch. 1, p. 22 (édition R. P. Grégoire).

Về đầu trang

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây