Những suy nghĩ vẩn vơ: Tập 6-10 Lm Nguyễn Hữu Triết

Chủ nhật - 29/10/2017 11:25
Những suy nghĩ vẩn vơ: Tập 6-10 Lm Nguyễn Hữu Triết
Những suy nghĩ vẩn vơ: Tập 6-10 Lm Nguyễn Hữu Triết

Những suy nghĩ vẩn vơ: Tập 6-10 Lm Nguyễn Hữu Triết

Tập 6: Những suy nghĩ vẩn vơ:  NHỮNG NẺO ĐƯỜNG.. 1

TÔI THEO ĐẠO TRỜI 1. 6

Tập 7: Những suy nghĩ vẩn vơ: HƠN CẢ NỖI OAN THỊ KÍNH.. 19

Tập 8: Những suy nghĩ vẩn vơ: "SỰ THẬT SẼ GIẢI THOÁT CÁC ÔNG" 36

Tập 9: Những suy nghĩ vẩn vơ:  TUYỆT ĐỈNH CỦA LUẬT CŨNG LÀ TUYỆT ĐỈNH CỦA BẤT CÔNG.. 59

Tập 10: Những suy nghĩ vẩn nơ: CUỘC SỐNG KHÔNG GIỚI HẠN.. 79

Tập 6: Những suy nghĩ vẩn vơ:
NHỮNG NẺO ĐƯỜNG

LỜI ĐẦU

 Loài người được Tạo Hóa tác thành  hơn  và  khác  loài  vật  ở chỗ có lý trí và tự do.

 "Tự do là khả năng biểu lộ ý chí,  hành  động  theo  ý  muốn của mình"  (Đại Tự điển tiếng Việt – Hà  Nội  1999,  trang  1762),  đây  là quyền  căn  bản  của  mỗi  người. Có   tự   do   thì   cũng   có   trách nhiệm,   nghĩa  là  có  thưởng   và phạt   tùy  theo   lựa  chọn   đúng hay sai.

 Người viết tập này chỉ muốn trình  bày  sự  thật  mà  mình  đã cảm  nghiệm,   còn  quý  độc  giả đồng tình hay không, hoặc đồng tình   một   phần   nào   thì   hoàn toàn thuộc  quyền  tự do của quý vị.

NHỮNG NẺO ĐƯỜNG

 Bạn và tôi kẻ Nam người Bắc xa nhau gần 2000km, tình cờ gặp nhau rồi thân quen như bè bạn và hơn nữa như anh em một nhà cùng một nguồn cội. Người xưa vẫn dạy : "Tứ hải giai huynh đệ" (người bốn bể đều là anh em). Lần gặp gỡ gần đây nhất nhân một chuyến công tác bạn ghé thăm, và khi từ giã bạn yêu cầu tôi kiếm cho bạn 1 cuốn sách nói về đạo Công giáo để bạn tìm hiểu. Yêu cầu của bạn thật tuyệt vời, vì càng hiểu nhau thì càng dễ cảm thông, gần gũi bạn bè mà chẳng hiểu gì về nhau thì cứ như bài ca "anh ở đầu sông em cuối sông", về xã giao thì vẫn tay bắt mặt mừng, nhưng trong thẳm sâu tâm hồn thì  cứ  như  đứng  bên  hai  bờ  chiến tuyến, như thế thì niềm vui chưa trọn vẹn.

 Từ hôm đó tôi để tâm tìm kiếm cuốn sách nào gọn gàng, dễ hiểu nhất mà chưa chọn được cuốn nào. "Đạo" thì rất ngắn ngủi, chỉ có 1 chữ nhưng lại dài vô cùng vô tận. Sách đạo thì có cả rừng, nhưng thôi, trước khi đọc sách, mời bạn gặp gỡ 1 viện sĩ Hàn lâm Pháp, nổi tiếng thế giới với tư tưởng rất tự do phóng khoáng.

 Gặp gỡ Jean D'Ormesson :

 "CUỘC SỐNG THẬT TUYỆT VỜI"

 [Bài trả lời phỏng vấn của ông Jean D'Ormesson, Viện sĩ Viện hàn lâm Pháp, do nhà báo Alice Le Dréau thực hiện, đăng trên báo Pèlerin số 6679, ngày 2/12/2010]

 -  Tại sao ông lao vào viết cái mà ông gọi là một "cuốn tiểu thuyết về Vũ trụ" ?

 -  Bởi vì từ rất lâu rồi tôi sững sờ cảm nhận về sự hiện hữu. Khi còn bé, đôi khi đang chơi đùa, tôi dừng lại và tự hỏi : "Tôi đang làm gì đây ?". Rồi cách đây 5 năm, vào một ngày mùa hè,  khi  đang  tắm  trong  biển  Địa Trung Hải, lúc  lên  bờ,  bỗng nhiên một cảm giác kinh ngạc, một cơn choáng váng xâm chiếm tôi. Tại sao có mặt trời ? Tại sao có biển ? Tại sao có núi đá ?  Từ đó tôi đã có ý tưởng về một cuốn tiểu thuyết diễn tả sự ngạc nhiên được có mặt trên thế giới này.

 -  Với một câu hỏi lặp đi lặp lại trong cuốn sách : tại sao có cái gì đó, thay vì chẳng có gì hết ?

 -  Đúng, bởi vì sự sững sờ vì hiện hữu đẩy ta đến chỗ tự hỏi chúng ta từ đâu đến và đi đâu. Những vấn nạn muôn thuở. Do đó tôi muốn kể lại một cách đơn  giản  hóa  từ  Copernic cho đến Einstein đi qua Galilée và Hawking, khoa học đã dần dần cho phép giải thích việc tạo dựng nên thế giới như thế  nào.  Hiện  nay,  các  nhà  nghiên cứu nghĩ rằng – ngay cả lý thuyết này vẫn còn là một giả thuyết  – cách đây 13,7 tỷ năm, vụ nổ big bang đã sinh ra vũ trụ. Đồng ý. Nhưng từ đó cũng nổi  lên  một  câu  hỏi  mới  :  thế  thì trước vụ nổ big bang đã có cái gì ? Là hư vô ? Hay là một cái gì khác vượt quá hiểu biết của chúng ta ?

 -  Cái gì khác đó, có nghĩa là ... Thiên Chúa ? Thế ông có tin vào sự hiện diện của Thiên Chúa ?

-  Tôi  sinh ra  trong một gia  đình  rất Công giáo, và tôi sẽ chết như một người Công giáo. Nhưng với câu hỏi của bạn, tôi phải thú thật là tôi không biết. Tôi hy vọng là Thiên Chúa hiện hữu. Hằng ngày, một bên tôi tiếp cận với những con người xác tín rằng có Chúa : như Chateaubriand, Claudel, Péguy ... Và bên kia là những người xác tín điều ngược lại : như Marx, Sartre ... Trong cả hai trường hợp đó, chẳng thể có được một chút bằng chứng nào. Nhưng tôi thích tin là có Chúa hơn. Đôi khi tôi cũng nghi ngờ. Tôi nghi ngờ về Thiên Chúa bởi vì tôi tin có Chúa. Có thể nói là tôi nghi ngờ về Thiên Chúa. Do đó tôi tự giải quyết là không chọn lựa và tự xếp mình vào loại những người theo thuyết không thể biết (agnostisques).

-  Cuốn tiểu thuyết của ông nói về thời gian đang qua và về cái chết, mà ông đã đề cập đến với một sự hòa trộn giữa lý thuyết định mệnh và tính tinh nghịch.  Ông  viết  :  "Chúng  ta  sẽ không chết. Chúng ta đang chết, vào mỗi thời  khắc của  cuộc đời  chúng ta". Một người theo thuyết không thể biết hết như ông mường tượng cái "đời sau" như thế nào ?

 -  Cái chết là một chủ đề luôn luôn làm cho tôi phải suy nghĩ đến. Việc năm nay tôi đã mừng sinh nhật 85 tuổi không làm cho vấn đề này trở nên cấp bách hơn trong đầu tôi. Nhưng thời gian trôi đi ám ảnh tôi. Cái chết không làm tôi sợ. Cái chết giải thoát chúng ta khỏi những áp lực công việc hàng ngày, khỏi đau khổ. Nhưng chết lại là điều gây nên vấn đề. Nói thế nào đây ? Có thể chẳng còn gì nữa sau khi chết. Có thể là sự hiện hữu của chúng ta chỉ là một dấu đóng và mở ngoặc giữa hai hư vô. Điều đó có thể làm tôi ngạc nhiên. Nhưng tôi tin là cuộc sống có một ý nghĩa, ý nghĩa đó không bị dừng lại vì chúng ta không  còn  nữa.  Tôi  tin  rằng  công bằng và chân lý, vốn thường bị ngăn trở dưới cõi đời này, hẳn phải hiện hữu ở đâu đó.

 -  Là một người theo thuyết không thể biết, nhưng ông lại có những xác tín chắn chắn ...

 -  Đúng vậy. Niềm trông cậy nơi Chúa của tôi mạnh mẽ đến nỗi gần như là đức tin.

 -  Ông có hài lòng về cuộc đời của ông không ?

-  Có. Cho đến nay, cuộc đời tôi thật tuyệt  vời.  Tôi  có  nhiều  may  mắn. Nhờ cha tôi là một nhà ngoại giao, tôi đã được đi đây đi đó, được hưởng những tiện nghi vật chất và tinh thần lớn lao. Tôi đã rất được yêu thương. Từ khởi đầu sự nghiệp của mình, tôi cũng đã tự hỏi trở thành nhà văn có phải là một thiệt thòi không. Bởi vì hình như những tình cảm tốt đẹp không phải luôn luôn xuất phát từ thứ văn chương đẹp đẽ. Bi kịch, sự trơ trẽn, nước mắt đã đưa đến biết bao kiệt tác.

-  Khả  năng  hướng  đến  niềm  vui  đã đem đến cho ông danh hiệu "nhà văn hạnh phúc". Danh hiệu này có phù hợp với ông không ?

-  Lâu nay tôi đã được trao cho danh hiệu  này.  Tôi  dễ  dàng  ngạc nhiên.

Tôi có thể ngây ngất trước cảnh mặt trời  lặn.  Tôi  yêu  cuộc  sống.  Tuy nhiên tôi cũng sáng suốt để thấy xã hội đang xấu đi. Những câu chuyện tình không kéo dài, con người mất công ăn việc làm. Rồi bạo lực, chiến tranh, bệnh tật ... Rõ ràng thế giới buồn thảm. Nhưng phải sống, phải sống ! Điều đó vẫn còn là một món quà !

 -  Ông mong muốn Chúa nói gì với ông khi ông đến trước mặt Ngài ?

 -  "Cha tha thứ cho con". Còn có thể mơ ước gì được hơn thế nữa ? Tôi cũng thường nghĩ đến cuộc gặp gỡ giả thiết đó. Và chắc chắn vị Thiên Chúa mà dù tôi không biết nhưng vẫn thực sự hiện hữu đó vẫn ám ảnh tôi nhiều.

-  Nếu, sau khi chết, ông được đề nghị bắt đầu lại mọi chuyện ...

-  Không hề có chuyện này ! Một cuộc đời đã đủ lắm rồi, nhất là khi cuộc đời đó tràn đầy. Hình phạt tồi tệ nhất đối với con người có lẽ là cho con người trở nên bất tử (ở thế gian này).

 -  Tuy vậy, ông ít nhiều cũng đang là như thế ... Chẳng phải là các viện sĩ Hàn lâm được mệnh danh là những người bất tử đó sao ?

 -  Cocteau  đã  khẳng  định  một  cách chính xác : "Chúng ta bất tử trong quãng thời gian của cuộc đời của mình. Sau đó, chúng ta biến thành chiếc ghế bành". Tuy nhiên, quả thực là có hai cách để lại vết tích của mình trong lịch sử. Sinh con đẻ cái và thực hiện một tác phẩm. Tôi sẽ rất hạnh phúc nếu tác phẩm của tôi còn được đọc trong 50 năm nữa. Tôi nhận được những bức thư rất dễ thương, nhiều đến nỗi đọc không kịp. Theo năm tháng, tôi nhận thấy những người đọc tôi trẻ trung hơn, điều đó làm cho tôi rất  vui. Dĩ  nhiên tôi  biết là  không phải chỉ do những gì tôi viết, nhưng còn bởi vì tôi lên tiếng trên đài phát thanh, trên truyền hình. Bởi vì tôi còn hay bày trò. Mẹ tôi đã dạy cho tôi ba nguyên tắc : "Mọi thư từ đều đáng được trả lời", "Đừng tự mình gâychú ý"  và  "Đừng nói  về  mình" ...  Bạn thấy đấy, thế là thành công !

 -  Quả thực là gia đình của mẹ ông rất bảo thủ. Còn bố lại tiến bộ hơn và theo cánh tả. Ông đã làm gì với sự pha trộn này ?

-  Bố tôi đã được Mặt trận Bình dân bổ nhiệm làm đại sứ. Còn trong gia đình phía  bên  mẹ  tôi,  ông  Léon  Blum được coi như một người cánh tả. Nhưng ngược lại, bạn bè cùng khóa với ông ở Trường Cao đẳng thì lại coi ông là tư sản. Thực ra phải nói rằng tất cả họ là những người trốt-kít. Tóm lại, tất cả những điều đó dạy cho tôi lòng khoan dung. Đàng khác, có thể tôi đã đẩy tâm tình này hơi quá xa : tôi rất dễ bị ảnh hưởng. Theo kiểu nghĩ rằng những người đối nghịch với tôi thì có lý hơn tôi. Đó là một trong những lý do mà tôi đã không thể làm chính trị.

 -  Ông có một cháu gái 15 tuổi. Ông là một người ông như thế nào ?

 -  Không phải khoe khoang, nhưng tôi là người ông tốt nhất !  Trong khi, một cách khách quan, tôi không phải là một người cha tốt. Con gái tôi, Heloise, cho đến khi trở thành một nhà  xuất  bản,  hoàn  toàn  là  do  mẹ giáo dục. Tôi không bao giờ tham gia vào đó. Mấy đứa cháu thật tuyệt diệu ! Bởi vì bạn chẳng phải chịu trách nhiệm gì về chúng. Bạn chỉ cần thương yêu chúng thôi. [...]

 -  Đối với ông, Mầu nhiệm nhập thể có quan trọng ?

 Noen  làm  tôi  nhớ  lại  những  kỷ niệm thú vị của tuổi thơ. Những cuộc dạo chơi bằng xe trượt tuyết trong vùng quê Rumani lúc bố tôi làm việc ở đó ... Dưới một quan điểm thiêng liêng hơn, Noen cũng là một ngày lễ làm tôi say mê bởi vì nó nhắc nhở  cái nhập thể ! Một Thiên Chúa làm người ở giữa con người : tuyệt vời ! ...

(H.P dịch – Nguyệt san báo CG&DT số 194, tháng 2/2011)

Tiếp theo xin mời bạn gặp gỡ tiến sĩ Phan Như Ngọc, nguyên giáo sư triết học duy vật, thành viên Viện Khoa học Vật lý, Viện Khoa học Nguyên tử Việt Nam.

Tôi sinh ra và lớn  lên trong lòng miền Bắc  nước  Việt  Nam  XHCN. Suốt 10 năm trung học phổ thông  tôi luôn luôn được  dạy  rằng vũ trụ này tự nhiên  mà có, không  có ông Trời nào hết. Rồi tôi vào học  ngành  Vật lý của trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Tôi phải học Triết học Duy vật một  cách  có hệ thống,   trong đó  sợi chỉ đỏ xuyên suốt  là quan điểm  vật chất có trước,  vật chất quyết  định  ý thức. Chỉ những gì con người cảm nhận  được trực tiếp hoặc  gián  tiếp thông qua các giác quan mới tồn tại (hay hiện hữu).

 Như thế  hệ  thống   triết  học này đương  nhiên   chối  bỏ sự  hiện  diện của Thiên  Chúa, vì không ai có thể sờ  đụng được hoặc  cảm nhận  được Ngài nhờ giác quan của mình. Lúc bấy  giờ  tôi  cảm  thấy   điều này   là đúng. Ai tin có Thiên  Chúa, tôi đều coi là duy tâm,  là mê tín dị đoan cả.

 Sau khi tốt  nghiệp,  tôi làm nghề dạy học. Tôi  vừa  phải  dạy vật   lý vừa thông qua môn học này để giáo dục tư tưởng triết học  này cho sinh viên. Vì thực  tâm tin ở  sự đúng đắn của  hệ  thống triết  học này,  nên  tôi giảng dạy rất say sưa, không  thấy gò bó  gì cả. Mười  ba năm  dạy học là mười ba năm tôi bước đi trên con đường xa cách  Thiên  Chúa  và chống lại đường  lối của Ngài.

 Năm 1976, tôi  trở thành nghiên cứu  sinh ở   Hungary. Có chút bằng cấp  nước  ngoài  rồi,  tôi không   dạy học  nữa mà xin về   làm    ở Viện  Vật lý thuộc   Viện   Khoa học Việt Nam. Về  sau,  tôi  được cử  làm trưởng phòng của Phòng Nghiên  cứu Vật lý Hạt nhân, trong đó có sáu phó Tiến sĩ cùng làm việc.  Chúng  tôi đã từng ký kết và thực  hiện  hợp  đồng  với Cơ quan  Nguyên tử    Quốc tế (International Atomic Energy Agency)  cộng   tác  nghiên cứu  các phản  ứng  tổng  hợp   hạt nhân vào mục đích hòa bình. Tôi đã đi dự một số hội nghị  khoa học  quốc tế để báo cáo về các công trình nghiên cứu này.

 Bước đường sự nghiệp  của tôi, tuy chưa bằng ai, nhưng đối với tôi, có thể   là  toại nguyện. Chỗ  làm  việc của  tôi thật  lý tưởng.

 Vì nhiều   lý do, năm 1989, nhân một chuyến  đi công  tác nước ngoài, tôi đã xin ở  lại Đức. Một  hôm  tôi đã gặp một nhà truyền  đạo  Hà Lan tên là   Henk  Wolthaus.  Ông đến  phát sách  Kinh  Thánh cho  mọi người. Sau khi nói chuyện   với ông một lát, tôi xin ông một quyển  Kinh Thánh bằng tiếng Anh (vì không   có Kinh Thánh  bằng  tiếng  Việt)  và một vài cuốn sách nhỏ khác.  Tối hôm đó, tôi bắt đầu đọc  thử các sách mới xin để xem sao.

 Ngay từ dòng đầu Kinh Thánh tôi đã thấy  vô  lý.  "Ban đầu Đức  Chúa Trời  đã  dựng nên  trời  đất"  (St 1,1). Lương tri tôi bật lò xo. Đó là phản ứng tự nhiên  của một người đã sống gần  50 năm  trong định kiến  không tôn giáo. Nhưng rồi tôi nhớ lại, chính nhà bác học  Newton cũng  cho rằng sở dĩ các thiên  thể chuyển động nhịp nhàng được là nhờ  "cái hích đầu tiên" mà ngày  trước  tôi đã từng phân tích cho sinh viên đây là quan điểm hoàn toàn sai lầm. Tự nhiên   tôi  nghĩ rằng  Newton,  người phát minh ra định  luật  hấp dẫn vũ trụ được coi là phát  minh vĩ đại nhất của lịch  sử văn minh nhân loại lại có thể kém như thế ư ? Và tôi tự trả lời : "Không   thể  được, chắc  là   vì  mình dốt,  không  hiểu  được ông  ta. Có  lẽ Đức  Chúa Trời  có  thật". Rồi tôi đọc tiếp  câu  chuyện  Chúa sáng  tạo vũ trụ trong vòng sáu ngày.  Tất cả như một câu chuyện  thần thoại  dành cho trẻ con. Khi đọc tới Tân Ước, tôi cảm thấy có nhiều điều không thể chấp nhận được. Có  thể   tin  chăng một người  mù được sáng mắt, người  cùi được sạch, người què   được lành, người  chết  đã  có  mùi  sống  lại  chỉ nhờ những  lời phán  ? Ai có thể  đi bộ trên mặt nước, ra lệnh bắt  bão  tố vô tri phải dừng ?

 Những phép   lạ   đầy   dẫy   trong Kinh Thánh  làm cho cái  đầu  quen suy nghĩ theo kiểu  vô tôn giáo  của tôi không  sao hiểu nổi. Đúng  lúc ấy trong đầu tôi nảy ra một câu hỏi, mà bây  giờ tôi biết  chính Chúa  đã đến gỡ rối  cho tôi.  Câu  hỏi đó là : "Sức mạnh nào khiến  cho hàng   tỷ người trên  thế  giới,  trong đó  có  hầu  hết các   nhà   khoa  học vĩ  đại, mà   tôi ngưỡng  mộ, tin Kinh Thánh ? Họ cuồng tín hay chính mình ngu dốt ?".

Từ  những   cuốn   sách   mỏng   xin của người truyền  đạo  Hà Lan, tôi đã đọc được những câu bất hủ sau :

 §  Charles   Dickens     (Anh,   1812- 1879) viết : "Kinh Thánh  Tân Ước chính là cuốn  sách  tốt nhất  đã từng  hoặc   sẽ được biết  đến trên thế giới" ;

 §  Ngài  Isaac Newton (Anh, 1642- 1727), nhà  khoa học mà tôi đầy lòng  khâm   phục, đã  kết   luận   : "Trong Kinh Thánh  có nhiều  biểu hiện  chắc   chắn   về tính  có   thực hơn trong bất cứ một câu truyện nào chống lại sách đó" ;

 §  Victor  Hugo  (Pháp,  1802-1885) viết : "Nước anh có 2 cuốn sách :

Kinh Thánh   và Shakespear. Nước Anh sinh ra Shakespear, còn Kinh Thánh  làm nên nước Anh" ;

 §  Albert    Einstein      (Đức,     1879- 1955), nhà  vật  lý được coi là vĩ đại nhất  của  thế  kỷ 20, đã phát biểu :  "Khoa  học không    có  tôn giáo  là mù lòa.  Tôn  giáo  mà thiếu khoa học  là què quặt".

 Lúc  bấy  giờ  tôi  chưa  hiểu được nhiều ; nhưng Chúa  biết  tôi là người từng  được học và làm  khoa học, nên đã  dùng   tiếng nói của chính các nhà khoa  học thật   lớn để mở mắt cho tôi.

Tôi nhớ đến một câu    nói của Newton : Sau khi ông đã phát  minh ra  "Định luật   hấp  dẫn  vũ  trụ" kỳ diệu,  nhiều  người  đã hỏi ông làm cách   nào   mà  ông   đã  có  thể  phát minh ra  định luật  vĩ  đại như  vậy, Newton vừa cười vừa trả lời : "Đó là nhờ  tôi đã đứng  trên  vai những người khổng lồ".

 Chúa như đang nhắc  nhở tôi "Hãy đứng  lên vai những   người   khổng   lồ này thì con sẽ nhận   ra chân   lý của Ta". Quả nhiên  tôi đã bị Ngài  chinh phục dễ  dàng.   Cái  tư tưởng không tôn giáo  được tích lũy công  phu và sử dụng   bao nhiêu năm nay, bị đánh bật khỏi đầu óc tôi. Xưa nay tôi vẫn nghĩ đơn  giản   :  "Không có  Đức

Chúa Trời, vì không ai chứng minh được  sự hiện diện của Ngài".  Nhưng bây giờ tôi lại biết đặt câu hỏi mới : "Ai đã chứng   minh được Đức Chúa Trời không hiện hữu ?". Tất cả chỉ dựa vào  cảm  giác  của  con người  ; mà cảm  giác thì không   phải  là một chứng  minh khoa  học. Người  đang đứng  ở  trái     đất     thì  nói  rằng   mặt trăng  xoay  quanh  trái  đất  ; nhưng quan sát viên  đứng  ở   mặt  trăng   sẽ bảo  trái đất  quay quanh mặt trăng. Ai  đúng?  Hơn  nữa,    có  nhiều cái hiện  hữu mà ta không  thể nhận biết bằng  cảm  giác,  chẳng  hạn như  trí khôn con người. Không có và không thể có một máy  móc nào đo được trí khôn.  Vì vậy  quan niệm  "có  Chúa hay không  có Chúa"  là  vấn  đề Đức tin, nằm  ngoài  phạm vi  của  khoa học, của  cảm  giác.  Nói  theo  ngôn ngữ  khoa  học, đây   là  những  "tiền đề" (Axioms).

 Thật ra, tiền  đề "có  Chúa"  dễ tin hơn tiền đề "không có Chúa" nhiều. Nhà  bác  học Newton  đã làm  một mô  hình hệ thống   mặt  trời rất đẹp để   ngay  trên   bàn  làm   việc. Một hôm,  có một  người   bạn không   tôn giáo  đến  thăm.   Ông bạn khen  mô hình đẹp  quá và hỏi : "Ai đã làm nên vậy  ?". Newton  cười  hóm  hỉnh  trả lời  : "Tự  nhiên  mà có đấy thôi  !". Ông bạn  không  tin. Newton trả lời : "Thế tại sao cậu lại tin cả vũ trụ  vĩ đại chuyển động nhịp  nhàng  này tự nhiên mà có không cần Đấng Sáng Tạo ?".

 Tương tự, nếu đi làm về mà thấy có  cơm dẻo  canh ngọt trên  bàn thì nhất định  chúng ta phải tin rằng  có bàn  tay  một  người   nào  đó đã  dọn sẵn.  Chân   lý đó thật  quá  đơn giản, vậy  mà tại sao nhiều  người  (kể  cả tôi  trước   đây) lại  theo  tiền   đề "không  có Chúa".  Kinh Thánh   có câu  trả  lời "vì tên  ác thần   của  đời này (ma quỷ)  đã làm cho tâm trí họ ra mù quáng" (2Cr 4,4).

 Tính  muôn màu   muôn vẻ  của thiên nhiên, tính di truyền  kỳ diệu  : Hạt  giống nào sinh cây  trái  đó ; vẻ đẹp tuyệt  vời của những  nàng hoa ; sự hài hòa và hoàn  thiện  của cơ thể con người ; sự hùng  vĩ của bầu trời đầy   sao.   Tất    cả   những sự   mầu nhiệm đó cộng  với những  ý kiến của các vĩ nhân  mà tôi hằng  kính phục đã cho tôi nhận  ra một Đức Chúa Trời toàn năng,  toàn trí và toàn  tài. Dần  dà tôi cũng  tin Kinh Thánh  là Lời Hằng  Sống của Đức Chúa Trời, vì dù đã được  viết bởi hơn bốn mươi tác     giả,     ở   những địa điểm khác nhau, trải qua khoảng  thời gian 1500 năm, nhưng Kinh Thánh   là  một thể thống  nhất.  Từ đầu chí cuối Kinh Thánh nói  về  một  chủ  đề duy nhất, đó   là   kế  hoạch cứu  rỗi  của  Đức Chúa   Trời   dành   cho  nhân   loại.

Thực ra  đây  cũng là vấn   đề  của  đức tin,  là  tiền   đề   thứ hai  cho  mọi người theo Chúa.

Một  trong những khái  niệm  khó giải nhất  là khái niệm  Đức Chúa Trời  có Ba Ngôi  một thể (Tam vị nhất thể). Cảm  tạ  Chúa  đã tạo tôi thành  một người nghiên  cứu vật lý, nên điều này đối với tôi lại  rất dễ chấp nhận khi so sánh với nước. Nước  cũng có ba trạng  thái là  rắn,  lỏng  và hơi. Ba trạng thái vật chất  ấy đều  có cùng bản chất là H2O, có thể  nói 3 là 1, 1 nhưng là  3. Ở   đâu  có 1 là  có  cả  3 trạng  thái. Điều thật khó hiểu lại trở thành  dễ hiểu,  quá rõ ràng,  mặc  dù đây  chỉ là một  sự so sánh khập khiễng, một  sự  minh  họa rất   đại khái mà thôi.

 Khi đã có những  niềm  tin cơ bản ấy (thừa  nhận  cả 2 tiền đề) thì mọi thắc mắc về các phép lạ đều được giải đáp dễ dàng. Đức Chúa Giêsu chính là Đức Chúa Trời hiện thân làm người như chúng ta. Như vậy, Người là   Đấng Sáng  Tạo. Chính Ngài  đã tạo nên  vũ trụ  này,  vốn  là một  phép  lạ  vĩ  đại nhất,  thì những phép lạ khác trong Tân Ước, như đi trên mặt nước, gọi  người  chết sống lại … đối  với Ngài  không   có gì là khó  thực hiện.  Những   lời dạy của Chúa  Giêsu đã  gây   cho  tôi nhiều xúc động,  vì tôi thấy tình yêu của Ngài   thật   vô  bờ  bến. Ngài   cũng phán : "Ta là đường, là chân   lý và là nguồn sống.    Nếu   không nhờ   Ta không  ai đến  được với  Cha". Ngài không  tìm đường  đi tới  hạnh phúc vĩnh cửu   cho  chúng  ta,  mà  Ngài chính là  con đường  dẫn chúng  ta tới sự  cứu rỗi linh hồn. Ngài không nói một  chân   lý nào  khác, vì chính Ngài  là chân  lý tuyệt   đối  duy nhất. Và cũng  chính  Ngài  là nguồn sống, vì tổ phụ  Ađam của chúng ta đã nhờ sinh khí của Ngài mà trở thành  một loài sinh linh. Người Việt Nam ta cũng tin có Ông Trời.  Ca dao Việt Nam có bài :

"Lạy Trời mưa xuống,
lấy nước  tôi uống,
lấy ruộng tôi cày,
lấy đầy bát cơm,
lấy rơm đun bếp"

 Trời, Chúa Trời, Đấng Tạo Hóa, theo niềm tin của  tổ tiên Việt Nam thật chân thành, vì các cụ tin có TRỜI che ĐẤT chở, vì "Trời có mắt" (Hoàng  Thiên hữu nhãn). Trước cửa  nhà  nào cũng  có BÀN THIÊN (bàn thờ Trời).  Trời thương dân như cha mẹ thương con, nên dân Việt cũng cư xử với Trời  như ông  bà cha mẹ  vậy.  Không   những   khắp  đồng quê,  mà còn nơi đế đô phồn  hoa, từ xưa các vua Việt Nam có bổn phận thay mặt  dân  tế Trời,  thờ Chúa Trời. Đó  là ý nghĩa LỄ TẾ NAM GIAO tại cố đô Huế.

 Con người  tưởng  rằng  họ  có thể trực tiếp  đến  với Đức  Chúa  Trời, đến   với  Cha  Thiên Thượng bằng năng lực riêng của   mình,  nhưng Chúa Giêsu cho biết  rằng  tội lỗi đã tạo ra một  hố sâu  ngăn  cách  giữa nhân loại với Đức Chúa  Trời. Ngài cũng phán : "Này Ta đứng trước cửa mà gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì ta sẽ vào  nhà  người   ấy, sẽ dùng bữa với người  ấy, và người  ấy sẽ dùng bữa với Ta" (Kh 3,20).

 Thật sự cảm động trước những  lời dạy đầy tình thương đó, tôi đã quỳ gối ăn năn về những  tội lỗi trong những  năm sống không  tôn giáo, và thành kính mời Ngài vào làm chủ cuộc  đời mình. Từ đó, đời tôi hoàn toàn  được đổi  mới,  tràn  ngập   ánh sáng bình an và hy vọng.

 Bây  giờ nghĩ lại, tôi thấy  xót xa ân hận  vô cùng.  Nếu  linh hồn  của lớp đàn em toâi đ dạy bị hư mất, thì chính tôi phải  chịu một phần  trách nhiệm. Tôi đã vô tình gây nên tội.

 Thưa quý vị, với bài viết ngắn này tôi không  thể nào nói hết được những  phước  hạnh  mà Chúa  đã ban cho tôi từ ngày   tôi tin nhận Ngài.

 Trước   đây,   tôi  cứ nghĩ "chết  là hết". Thật ra không phải thế. Kinh Thánh cho biết  rằng   chết  là bắt đầu một  cuộc  sống  mới,  như hạt giống chết đi để bắt đầu sự sống của một cây xanh. Đức Chúa Giêsu dạy rằng

: "Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian đến  nỗi đã ban Con Một,  để ai tin vào Con của Người  thì không  bị hư vong, nhưng có sự  sống  đời đời" (Ga 3,16).

 [Bây giờ, khi đã tin Chúa, tôi thấy kế hoạch  của Ngài đào tạo tôi thật quá diệu kỳ. Không  có bàn tay chăm sóc  của  Ngài thì  một thường dân như tôi làm  sao có thể được ưu đãi như thế. Cảm ơn Chúa thật nhiều !]

Để kết thúc, xin phép cho tôi trích dẫn lời của Albert Einstein : "Tôn giáo  của tôi là sự  hạ  mình chiêm ngưỡng   Đấng  vốn là Thần   linh tối cao, vô hạn,  đã tự bày  tỏ chính Ngài trong những   phần  tử vô cùng  nhỏ bé trong vũ trụ,   để cho chúng ta, bằng tư  duy  thiển  cận  tầm  thường  của mình,  cũng   nhận   biết  được Ngài. Chính sự hiểu biết về những  quy luật tuyệt   vời  của  vũ  trụ vĩ  đại và   kỳ diệu,   đã đem đến  cho tôi  niềm   tin sâu sắc về sự hiện diện của một Đấng quyền năng    tối   thượng đã sáng  tạo nên  vũ  trụ, cái  mà   con người  không  thể nào lãnh hội được bằng  lý trí của mình. Đấng  đó chính là Đức Chúa Trời của tôi" (Barnett Lincoln : The Universe  and Dr. Einstein, p.95). Ông cũng tuyên  bố : "Tôi sẽ đi Nhà   thờ,   lấy   những lời   dạy của Chúa  Giêsu  làm tín điều  của mình"

(Knight Treasure of Illustration p.217).

Cầu Chúa dùng bài làm chứng ngắn  ngủi này để góp phần  rất nhỏ giúp quý vị tin nhận Chúa Cứu Thế Giêsu, mời  Ngài vào làm chủ cuộc đời  mình và nhận  được ơn cứu rỗi, tức  là  sự   sống   đời  đời,   mà  chính Ngài  đã hứa ban tặng cho những người tin.

 Kinh  Thánh dạy  rằng: "Đức Chúa  Trời là Tình Yêu Thương" (1Ga 4,16). Tin nhận Chúa Giêsu, quý vị sẽ nếm  trải được  tình yêu thương ngọt  ngào ấy như hàng   tỉ người trên khắp  thế giới và như chính tôi đã từng  kinh nghiệm được. Quý  vị  sẽ như một  người  con đi xa  quay  về

Nhà  Cha  của  mình. Mọi thứ trước đây ở  bên phải nay đều ở  bên trái, và  ngược lại, mọi thứ trước  đây  ở bên trái nay đều ở bên phải (như đại văn hào Lev Tonstoi – Nga đã nhận xét). Phước  hạnh  và tình thương của Chúa  sẽ theo quý vị cho đến hết cuộc đời như Ngài  đã hứa.

 Chúa Giêsu mời bạn đi theo Ngài ! (mời chứ không  ép buộc,  áp đặt – Bạn hy luơn nhớ l Cha v Gio Hội luơn tơn trọng tự do tin v khơng tin của mọi người)

 Chúa Giêsu  nói : "Chính Thầy   là con đường, là sự  thật  và là sự sống. Không  ai  đến  được với  Chúa   Cha mà không  qua Thầy" (Ga 14,16).

Chúa Giêsu nói : "Phần  tôi, tôi đến để cho anh chị em được  sống, và sống dồi dào" (Ga 10,10).

"Chính Ta sẽ ban cho những ai khát   được uống   nơi  nguồn nước trường sinh mà không  phải  trả tiền" (Kh 21,6).

 Vui biết  mấy,  một ngày  mai chúng ta   sẽ   gặp    nhau   ở     Thiên đường,  cùng  nắm  tay  nhau  ca  hát tôn ngợi  Đức Chúa  Trời yêu  quý, là Đấng  sáng tạo đã dựng  nên trời đất, vũ trụ,  muôn  loài, cũng như cả quý vị  và  tôi  nữa   ! Thật   là  một niềm hạnh  phúc tuyệt  vời !

 Ước  mong sẽ  được trao đổi tâm tình thêm  với quý vị qua các phương tiện thông tin hiện có.

Tiến sĩ PHAN NHƯ NGỌC pnngoc@gmx.net www.hoptinhhoply.org

(Trích trong Bài Giảng Chúa Nhật số 4/2007, tr.74) Sau  khi  gặp  gỡ  những  nhân  vật tầm cỡ đương thời như viện sĩ Viện Hàm lâm Pháp Jean D'Ormesson và tiến sĩ vật lý, nguyên tử học VN Phan Như  Ngọc,  chúng  ta  lại  có  duyên được   tiếp   cận   những   con   người khổng lồ của thế giới như Einstein, Charles    Diskens,    Isaac    Newton, chúng ta còn có một thống kê các nhà khoa học lừng danh thế giới từ thế kỷ 16-18, như :

- Nicola Copernic – nhà thiên văn học (Ba Lan, 1473-1543).
- Galileo  Galilée  –  nhà  thiên  văn, toán học, vật lý (Ý, 1564-1642).
- Blaise Pascal – nhà bác học, nhà tư tưởng (Pháp, 1623-1662).
- Antoine  Laurent  de  Lavoisier  – nhà toán học (Pháp, 1743-1794).
- Alexsandro Volta – nhà vật lý (Ý, 1745-1827).
- Joseph Marie Jacquard – nhà chế tạo (Pháp, 1752-1834).
- Andre Ampère – nhà vật lý (Pháp, 1775-1836).
-  G.W. Leibnit – nhà toán học, vật lý (Đức, 1646-1716).

 Và những nhà khoa học khác, có tới 99% tin Thiên Chúa – Hẳn chúng ta phải thừa nhận rằng họ không phải hạng ngu si dốt nát đến nỗi bị lý thuyết viển vông này, tôn giáo sai lạc nọ  lừa  gạt.  Họ  đã  tin  có  Trời,  có Đấng Tạo Hóa. Họ đã khám phá ra Đạo chính là con đường dẫn tới Ngài, là Chân-Thiện-Mỹ tuyệt đối.

 Từ đầu câu chuyện tới đây, chúng ta cứ coi là phần phiếm luận, bây giờ tôi trao vào tay bạn 1 tập sách nhỏ, gọn mà tôi đã đọc từ những năm 60 của thế kỷ trước, và nếu tôi không nhớ lầm thì tác giả tập này là cố Chính Lý của địa phận Phát Diệm, một linh mục lão thành uyên bác về Hán Nôm, La-tinh và Pháp văn, đã từng là giáo sư Chủng viện, rất đạo đức và rất có uy tín trong và ngoài giáo phận. Vào những năm  đó  mà ngài đã viết nhiều tập nhỏ như vậy, trình bày chân lý và tặng không cho độc  giả,  ngài  tự  bỏ  tiền  ra  in  rất nhiều,  bằng  chứng  là  cuốn  này  tái bản năm 1970 tại Sàigòn được ghi "nghìn thứ 15", ngài mất cách đây mấy chục năm ở tuổi đại thọ 90. Đây, "Tôi theo đạo Trời" – mời bạn hãy cầm lấy mà đọc (tolle et lege).

Về đầu trang

TÔI THEO ĐẠO TRỜI 1

Lời nói đầu.

 Đã có một thời, người ta bảo theo đạo Chúa là theo đạo của Tây, bỏ đạo của quốc gia dân tộc. Không phải thế. Đức Giêsu, Giáo Tổ của Đạo Trời sinh ra, sống và giảng đạo tại xứ Pha- lê-tin, miền Trung Đông, thuộc Á châu chúng ta, chứng không phải bên Tây phương.

 Từ đó, Ngài sai các Tông đồ đi khắp thế gian truyền đạo. Người Tây phương nhận được Đạo trước, đem truyền lại cho ta. Như vậy, Đạo Chúa là Đạo của Trời, chẳng của riêng ai, chẳng của riêng nước nào.

  1 Để càng thêm rõ ràng, chúng tôi mạn phép tu bổ đôi chút vào bản văn của tác giả mà chúng tôi tìm kiếm mãi vẫn không thể liên lạc được.

Hãy cứ xem : Người nào cũng muốn mình và gia đình mình được sống vui vẻ hạnh phúc trong một xã hội tốt đẹp và lành mạnh.

 Nhìn ra thiên nhiên hùng vĩ và kỳ diệu, mọi loài mọi vật từ dưới đất cho chí trên trời đều xoay vần thứ tự lớp lang, còn trong lòng thì nghe thấy tiếng lương tâm dạy bảo thúc giục, nên ta mơ hồ tin có Ông Trời, có đấng vô cùng thông minh, cao cả, quyền phép vô biên tạo dựng vũ trụ càn khôn này, trong đó có mọi loài mọi vật và có loài người chúng ta.

 Nhưng vì không được biết rõ, cho nên cứ tưởng Ông Trời ở mãi tận cõi thiên đình xa xôi nào đó, chẳng can dự gì vào chuyện đời, chuyện học hành,  chuyện  làm  ăn,  chuyện  vui chuyện buồn của thế giới này.

 Đáp lại những tâm tình tự nhiên ấy, đạo hay tôn giáo đến hướng dẫn ta làm lành lánh dữ để ngay đời này ta được sống yên hàn hạnh phúc.  Đạo còn đến chỉ cho ta biết Ông Trời và con đường để siêu thoát lên cõi trên ở đời sau mà được sống với Ngài.

 Giữa dòng đời bôn ba chìm nổi, ngoài những  lúc bươn chải  kiếm sống, chắc mỗi người chúng ta cũng có lúc lắng đọng tâm hồn để suy tư và tự hỏi : Mục đích tôi sống trên đời này để làm gì ?

 Sau ít năm thời thơ ấu vui  chơi  học  hành,  lớn lên lấy vợ lấy chồng tạo lập sự nghiệp, nhiều khi vất vả kiếm cơm nuôi thân và nuôi gia đình. Thế rồi tuổi đời xế bóng, sức lực dần dần suy tàn, thường khi lại phải vật vã với bao bệnh tật của tuổi giả mắt mờ chân chậm ...  ai  ai  cũng đều nhận thấy đời là mau qua chóng hết, thời gian vùn vụt như "bóng câu qua cửa sổ". Chưa hết, cho dù thành đạt giàu sang hay thất bại nghèo hèn, chẳng ai tránh khỏi đau khổ, bệnh tật và đều cho đời là chốn bể dâu sầu khổ, một thung lũng nhiều nước mắt hơn tiếng cười ... Rồi cuối cùng, bóng tử thần dần dần hiện ra trước mắt, và ai cũng phải đối mặt với cái chết. Nhưng vấn đề chính là :

- Chết rồi mình sẽ đi về đâu ?
- Số phận đời sau của mình sẽ như thế nào ?

Chẳng mấy ai thực lòng tin rằng chết rồi là hết như con trâu, con chó, vì có câu : "Nhân ư vạn vật duy linh" (ở giữa vạn vật chỉ có con người duy nhất có cái linh).

 Cái gì do vật chất hợp lại, thì có hợp phải có tan, thể xác do vật chất hợp lại, sẽ chết và tan rã, nhưng mà cái linh trong ta là hồn thì không do vật chất hợp lại nên không thể tan mất, không thể chết. Do đó mới có câu : "Chết là thể xác, còn là tinh anh". Vì thế nên cha ông chúng ta xưa mới dạy rằng : "Sống gửi, thác về" (sinh ký, tử qui).

 Vậy nếu không có cõi đời sau mà về, ở đó có một Ông Trời phân xử công minh, thì cuộc sống trần gian này đầy dẫy những bất công, những chuyện mạnh được yếu thua, những áp bức, những nỗi oan khiên của người thấp cổ bé miệng, nhỏ hèn vô tội ..., sẽ là một cuộc đời hoàn toàn phi lý (xem "Suy nghĩ vẩn vơ tập 1").

 Do đó, người Việt Nam tin phải có Ông Trời, mà có Ông Trời thì phải có Đạo Trời, đạo của Ông Trời. Vậy ta hãy hỏi xem :

1.  Đạo Trời là gì ?

 Thưa : Là lòng tin tưởng ở một vị linh thiêng, hằng hữu, toàn tri, toàn năng, toàn thiện, chí công, chí minh, ngự trên trời. Nôm na gọi Đấng ấy là Ông Trời, là Tạo Hóa, là Thượng Đế, là Đấng Tối Cao, là Giàng – tùy tiếng nói của mỗi dân tộc. Đức Khổng Tử đã nói : "Duy Thiên vi đại" (chỉ có Trời  là  lớn)  ;  thày  Chu  Tử  nói  :

"Thượng Đế giả, Thiên chi Chúa tể giả" (Vua trên hết là Chúa trên trời).

2.  Tại sao nhận biết có Trời ?

 Tuy Ông Trời là Đấng linh thiêng, vô hình, không có thân xác như loài người, nên không ai thấy được, song hầu hết ai cũng tin là có. Không thấy thì khác mà không có thì khác. Có dòng điện chạy trong dây đồng, ta đâu có thấy, mà nó có đấy, cứ bật "công tắc" là đèn sáng ngay. Có gió đấy mà ta đâu có thấy, song ta nghe được  tiếng  gió  rít  qua  khe  cửa,  ta thấy gió lay động cành cây.

 Trời đã ban cho ta hơn loài vật ở chỗ không chỉ có mắt để thấy mà còn có trí để suy, sao ta chỉ dùng mắt có thấy hay không thấy mà đoán định về mọi sự ? Vậy hãy lấy mắt nhìn trời nhìn đất, và lấy trí mà suy nghĩ một chút thì sẽ nhận ra là có Ông Trời.

 Ngay  cả  chữ  "Thiên"  ta  thường dùng cũng nói đến Ông Trời. Nhìn vào gốc chữ Thiên ( ) là bởi hai chữ : nhất () và đại () hợp lại mà thành. Ý nói : Đấng lớn nhất là Trời (). Và nhìn vào vũ trụ bao la, tinh  tú  trăng  sao  luôn  luôn  trật  tự xoay  vần  theo  một  định  luật  mà không do con người đặt ra, mặt trời chiếu tỏa ban ngày, vầng trăng soi sáng ban đêm ; nhìn vào muôn loài muôn vật nhất là con người được tạo nên đẹp đẽ, tinh vi, kỳ diệu, ta phải nhận rằng có một trí năng vô cùng thông minh đã nghĩ ra, một quyền năng vô hạn đã tác tạo ... Ta gọi là Tạo Hóa, Hóa Công, hoặc Đấng Tạo

Thành,  hay  bất  cứ  bằng  một  danh hiệu nào khác, điều đó không quan trọng,  điều  quan  trọng  là  phải  có Đấng tạo nên, chứ vạn vật không thể tự nhiên mà có được ...

Ta xem một chiếc đồng hồ,
Nếu không có thợ, bao giờ thành thân,
Phương chi máy tạo xoay vần,
Tứ thời bát tiết muôn phần lạ hơn,
Nên ta phải lấy trí khôn,
Luận rằng có Đấng chí tôn sinh thành.

Đức Khổng Tử nói : "Nhân tri nhân, bất khả dĩ bất tri Thiên" (người ta  còn  biết  nhau,  không  thể  nào không biết Trời được).

Con chim nó hót trên cành,
Nếu Trời không có, có mình làm sao ?
Con chim nó hót trên cao,
Nếu Trời không có thì sao có mình ?

Câu ca dao thật là giản dị, lý luận thật là đơn sơ nhưng rất thâm túy : Phải có một Ông Trời mới có con chim hót, và có con chim hót, ắt là phải có Ông Trời ! Tổ tiên, cha ông chúng ta đã suy nghĩ, đã lý luận để quả quyết là có Ông Trời, có Đấng Tạo Hóa. Các ngài đã để lại cho dân Việt chúng ta một gia sản văn hóa và tinh thần mà phần quý nhất của gia sản đó là phần nói cho chúng ta biết rằng có một Ông Trời, đó là Đấng Tạo Hóa, Đấng dựng nên mọi sự.

 Ông Đổng Trọng Thư nói : "Thiên giả vạn vật chi tổ" (Trời là gốc của vạn vật).

 Truyện kể rằng nhà bác học Isaac Newton, người đã khám phá ra định luật "Hấp lực vũ trụ", khi ông nhìn thấy quả táo rơi xuống đất. Ông đặt trên bàn ở văn phòng một mô hình hệ thống mặt trời rất đẹp, gồm mặt trời, mặt trăng, trái đất và các hành tinh … Một hôm có người bạn vô tín ngưỡng đến thăm, khen mô hình này đẹp và hỏi : "Ở đâu mà có mô hình đẹp ấy ?", Newton cười hóm hỉnh trả lời : "Tự nhiên mà có đấy !". Ông bạn kia cho là nói đùa, lúc ấy Newton mới hỏi vặn lại : "Nếu ông bạn không tin là tự nhiên mô hình này có, thì tại sao ông bạn lại tin rằng cả cái vũ trụ vĩ đại chuyển động nhịp nhàng, trật tự  điều  hòa  này  tự  nhiên  mà  có, không cần Đấng sáng tạo ?".

 Tiến sĩ vật lý thiên văn Trịnh Xuân Thuận cũng xác định : "Phương pháp khoa học không thể trả lời một cách trực tiếp về sự hiện hữu của Đấng

Tối Cao … Phần tôi, tôi sẵn sàng đánh  cược  cho  sự  hiện  hữu  của Người …" (Trích cuốn "Giai điệu bí ẩn" của tiến sĩ Trịnh Xuân Thuận, NXB Khoa học & Kỹ thuật – Hà Nội, tháng 5/2000, trang 311).

3. Những người tin tưởng ở Trời có nhiều không ?

 Có thể nói được rằng hầu hết nhân loại đều tin ở Trời. Trong Kinh Dịch, quyển sách toàn khoa nổi tiếng ở phương  Đông  cũng  dạy  :  "Người quân tử là người biết thờ Trời" (quân tử sự Thiên).

 Trong văn học dân gian Việt Nam, Ông Trời, Chúa Tể trời đất được đề cập đến thường xuyên một cách rất tự nhiên :

"Trời sinh, trời dưỡng,
Trời cho ai, nấy hưởng"

 Tính tự nhiên của con người, khi gặp nguy biến, đều kêu đến Trời : "Trời ơi !", gặp oan ức đều xin Trời chứng quả : "Ông Trời có mắt" ; giao dịch, kết ước với nhau cũng xin Trời làm chứng :

"Một lời đã trót thâm giao,
Dưới rày có đất, trên cao có Trời"

(Kiều)

 Gặp tình thế khó khăn, gặp điều không hiểu không biết đều xin Trời lý giải hay xét xử : "Bắc thang lên hỏi Ông Trời".

 Tất cả những điều đó nói lên trước nhất Ông Trời là một Vị ở trên cao chứ không phải là một người phàm trần như chúng ta, và thứ hai Ông Trời phải là một Vị thông minh, trí khôn sáng suốt, khôn ngoan siêu phàm, biết hết mọi sự, phân xử công minh.

 Ta có khúc ca dao diễn tả lòng tin ở Trời một cách chân thành, thực tế rằng Ông Trời là Chủ Tể mọi sự, có quyền ban xuống cho loài người những điều cần thiết nhất cho cuộc sống của mình :

"Lạy Trời mưa xuống,
Lấy nước tôi uống,
Lấy ruộng tôi cày,
Lấy đầy bát cơm,
Lấy rơm đun bếp"

"Gặp thời là được thọ khang,
Tam đa ngũ phúc rõ ràng Trời cho"

 4.  Đạo Trời có phải riêng cho một nước nào không ?

 Đạo Trời là chung cho mọi nước, mọi đời, vì Trời là : "Vạn vật chi Tổ", nên ai ai cũng phải thờ kính Trời, làm gì cũng không qua được mắt Trời, vì : "Thiên chi thông minh, vô sở bất cập" (Trời sáng suốt, không có gì mà không biết).

Đức Khổng Tử nói : "Minh đạo chi bản nguyên, xuất ư Thiên" (Đạo sáng suốt là bởi Trời ban xuống), chứ không phải do loài người đặt ra đâu, nên không thể gò ép vào một nước hay vào một thời đại nào được.

Vì thế, từ thời thượng cổ, tin vào Ông Trời đã trở thành đạo của người Việt. Tự bản sắc văn hóa, chúng ta là một  dân  tộc  hữu  thần.  Chúng  ta không  những  tin  có  Ông  Trời,  mà còn sống gắn bó với Ông Trời trong mọi sinh hoạt từ khi chào đời cho đến ngày từ giã cõi đời :

-  Lúc sinh ra :

"Thông minh vốn sẵn tính Trời,
Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm"

(Kiều)

 -  Lúc lao động :

 "Ơn Trời mưa nắng phải thì,
Nơi thì bừa cạn nơi thì cày sâu,
Công lênh chẳng quản bao lâu,
Ngày nay nước bạc, ngày sau cơm vàng"

-  Lúc kết duyên vợ chồng :

"Nhờ cô nhờ bác giúp lời,
Chị em giúp của,
Ông Trời định đôi"

-  Lúc sinh sống ở đời :

"Khó giàu muôn sự tại Trời,
Nhân sinh ai cũng kiếp người mà thôi"

"Trời nào có phụ ai đâu,
Hay làm thì giàu, có chí thì nên"

-  Nhưng luôn phải biết rằng :

"Mưu sự tại nhân,
Thành sự tại Thiên"

-  Lúc chết :

 "Trời kêu ai, người nấy dạ"

5.  Nơi mỗi người, làm thế nào biết được Đạo Trời ?

 Trời  đã  ban  cho  mỗi  người  có lương tri, lương tâm như ngọn đèn soi cho biết đâu là thật, đâu là dối, đâu là lành, đâu là dữ, đâu là phúc, đâu là tội, để ta  lái  mọi tư tưởng, hành động của ta sao cho hợp với đường lối của Trời.

 Đức Khổng Tử nói : "Đạo bất viễn nhân" (Đạo không có xa người ta đâu), và : "Tri Thiên đạo, hành thân dĩ nhân nghĩa" (Biết Đạo Trời, thì ăn ở theo nhân nghĩa).

6.  Mỗi người phải giữ Đạo Trời thế nào ?

 Phải cố gắng hết sức mà tìm cho mình thấy rõ Đạo Trời, như lời dạy : "Tiễn kinh cức nhi tầm đại đạo" (Phải phát quang gai góc mà tìm ra đường lớn). Phải lấy Đạo mà hướng dẫn đời sống  :  "Dĩ  đạo  tuẫn  thân".  Theo lương tâm mà lấy điều thiện làm vui, lấy đạo đức làm trọng : "Vi thiện tối lạc, đạo lý tối đại".

 Phải nhớ luật của Trời là làm lành sẽ được thưởng, làm dữ sẽ bị phạt :

 -  "Tác thiện giáng chi bách tường, tác bất thiện giáng chi bách ương" (Làm điều lành là kéo xuống cho mình trăm sự tốt, làm điều xấu là kéo đến muôn sự tai họa).

-  "Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu"  (lưới  Trời  rộng,  thưa  mà không lọt đâu).

7. Dân chúng từ xưa thờ kính Trời thế nào ?

 Đạo Trời này không giáo lý, không tổ chức thành Giáo Hội, nhưng phổ biến rộng rãi từ hàng bao ngàn năm mà vẫn không có gì làm cho nó suy tàn được. Ông cha chúng ta tin có một Đấng vô hình, tạo dựng nên trời đất và tổ tiên mình. Đấng này phải được tôn thờ trên và trước tổ tiên, ông bà.

 Xưa trong một nước, chỉ có vua được đại diện toàn dân mà tế lễ Trời, ba năm một lần, nước ta gọi Tế Nam Giao.

 -  Khi gặp tai nạn như ôn dịch, mất mùa, giặc giã, nhà vua cũng có thể tổ chức lễ tế Trời, để cầu đảo xin cho quốc thái dân an.

 -  Ở kinh đô có một đền gọi là Đền Kính Thiên, trong đó có để bài vị thờ, viết 4 chữ : "Hoàng Thiên Thượng Đế".

 Tuy vua đã đại diện cho dân thờ Trời trong lễ Nam Giao, nhưng dân vẫn  thấy  cần  phải  thờ  Trời  hằng ngày, vì thế mỗi gia đình thường có bàn thờ trong nhà, hay là xây bàn thờ kính Thiên ngoài sân trước nhà, sớm tối vái lạy, và dâng hương nến, nhang đèn,  hoa  quả  và  chung  nước  tinh khiết để tò lòng tri ân. Xét như thế thì Đạo thờ Trời vẫn là đạo phổ thông nhất trong nhân loại.

8.  Đạo Trời dạy ta phải cư xử với nhau thế nào ?

 Đã nhận Trời làm gốc tổ (Thiên giả vạn vật chi tổ), nhận Trời làm cha mẹ sinh thành (Thiên vi phụ mẫu) thì phải coi mọi người là anh em (tứ hải giai huynh đệ) và cư xử với nhau là anh chị em trong đại gia đình nhân loại, vì tất cả đều là con của Trời. Đã coi nhau là anh em, thì sẽ lấy lòng thành mà đối đãi, tình thương mà bao bọc nhau.

 Đức Khổng Tử nói :  "Kỷ sở bất dục  vật  thi  ư  nhân"  (Điều  mình không muốn, thì đừng làm cho người khác).

Ông Mặc Tử chủ trương : Kiêm ái, tức là yêu thương hết mọi người.

 Những giáo điều về nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, đều do lòng tin ở Trời mà xuất  phát,  đã  là  giường  mối  vững chắc cho nhiều dân tộc Á Đông, và đã đào tạo nhiều hiền nhân, quân tử : "Sỹ hy hiền, hiền hy thánh, Thánh hy Thiên" (người có học thì mong tới bậc hiền, người hiền mong tới bậc thánh,  người  thánh  mong  đạt  tới thông cảm được với Trời).

 Những bậc minh quân biết vị dân (như Lê  Thánh Tôn), những tướng anh  hùng  biết  vị  nước  (như  Trần Hưng Đạo) đều tin tưởng ở Trời.

9.  Đạo Trời có từ bao giờ ?

 Đạo Trời có từ khi Trời tác tạo ra con người, Trời cho con người có trí khôn biết suy luận, biết hướng về Trời, biết tìm ý Trời thế nào mà hành động.

10. Ý Trời là thế nào ?

Ý tưởng là lương tri, lương tâm, mà Trời đã đặt trong lòng mỗi người, khác nào hạt giống đặt vào đất, sẽ dần  dần  nẩy  mầm  vươn  lên  thành cây, sinh hoa kết quả, thế là đạt tới mức độ mà ý Trời mong muốn (xem "Suy nghĩ vẩn vơ" tập 3, trang 48).

 Ngay từ thời thượng cổ, các bậc tiền nhân làm gì cũng theo lương tri, lương  tâm  chỉ  dẫn,  nên  đã  để  lại nhiều thành quả phúc đức, nêu gương tốt lành thánh thiện cho con cháu về sau. Các đời : Phục Hy, Thần Nông, Hoàng đế Nghiêu, Thuấn đã lấy việc thờ Trời làm trọng, lấy mệnh Trời hay thánh ý Trời làm luật lệ, nên dân chúng đã được thái bình, an cư lạc nghiệp, khiến đời sau có câu nói : "Ngày Nghiêu tháng Thuấn" để chỉ những ngày bằng yên, vui vẻ.

11. Đạo Trời đưa người ta đến đâu ?

 Sau khi tin vào Đạo Trời, nói khác đi, sau khi tin vào Chúa, được lãnh phép  Thánh tẩy,  người ta  được tái sinh thành Con Người Mới làm con cái Thượng Đế, thì tất nhiên là Đạo Trời đưa người ta về tới Trời, như đưa con cháu về với Tổ Tiên, vì Trời là gốc tổ của mọi người. Vì Trời là Đấng  Tự  Hữu,  Toàn  năng,  Toàn thiện, Toàn mỹ, là nguồn hạnh phúc vô biên cho nên con người trở về với Trời là đạt tới hạnh phúc vô biên, vĩnh cửu  mà tâm hồn khao khát, và khi đạt tới Trời, mọi ước vọng của mình sẽ được thỏa mãn hoàn toàn.

12. Thực hiện Đạo Trời có dễ không ?

 Dễ hay khó là tại mỗi người : e ngại, rụt rè thì cho là khó ; can đảm, cương quyết thì không khó nữa.

 "Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi,
Nhưng khó vì lòng người ngại núi e sông"
(Nguyễn Bá Học)

 Thực hiện Đạo Trời là sống theo lương tâm, làm lành lánh dữ ; mà làm điều lành là con đường đi lên cao, bao giờ cũng khó nhọc (tác thiện như đăng). Nhưng ở đời có khó mới có khôn ; có làm điều lành, có hy sinh rồi mới thấy kết quả hạnh phúc, mới được an vui (Vi thiện tối lạc).

13. Trên đường thực hiện Đạo Trời, người ta gặp những kẻ thù nào ?

 Người ta gặp 3 kẻ thù :

 -  Một loại ở ngay trong mình, khác nào sâu bọ ở trong ruột cây, nếu không dùng thuốc cay đắng giết đi thì nó đục khoét ăn hết nhựa và làm đổ cây mất. Loại sâu bọ trong tâm con người chính là các tính mê nết xấu, các dục vọng đê hèn.

 -  Loại  kẻ  thù  thứ  hai  ví  như  các chứng ngoại cảm do thời khí, tức là trào lưu của thế tục nổi lên cám dỗ, lôi cuốn vào hầm hố trụy lạc, sa đọa, giết hại tâm hồn con người.

 -  Loại kẻ thù thứ ba ví như kẻ cướp đường, đó là satan và ác quỷ, là những tà thần ghen ghét với con người, ngày đêm không ngừng tìm trăm mưu nghìn kế để ám hại con người.

 Tắt một lời ba thù đó là : ma quỷ, thế gian và xác thịt.

14. Con người đối phó thế nào với 3 loại kẻ thù nói trên ?

 Phải tự tu, tự tỉnh và kêu xin Trời giúp kịp thời :

 a. Tự tu là ra sức sửa trị tính nết xấu, loại trừ những sâu mọt đục khoét trong mình.

 b. Tự tỉnh là nhờ học hỏi Đạo, nhất là học hỏi ở  sách Thánh Kinh như kim chỉ nam, hoặc như bức cẩm nang chỉ dạy cho mình mà biết tỉnh táo đề phòng, tránh xa những quyến  rũ của tà ma ác quỷ và những cạm bẫy do thế tục giương lên để bắt mình.

 c. Kêu cứu  kịp  thời là  cầu  nguyện van xin Trời hộ giúp để các thế lực hắc ám, tối tăm và satan ác quỷ, vốn mạnh mẽ và tinh khôn hơn ta, không làm hại được ta.

 Kẻ lành thánh, người khôn ngoan nhờ 3 việc đó mà lúc nào cũng vững như kiềng 3 chân.

 "Tự thiên tử chí ư thứ dân, dĩ tu thân vi bản" (từ vua quan trên cao cho chí thứ dân dưới thấp, ai ai cũng phải lấy việc tu thân sửa tánh làm căn cốt cuộc đời).

 Ca dao nói :

 "Chim khôn xa tránh lưới dò,
Người khôn tránh chốn ô đồ mới khôn"

 Tục ngữ đã nói :

"Cứ giúp mình, rồi Trời sẽ giúp cho", tức là phần ta phải nỗ lực rồi Trời sẽ giúp cho ta.

15. Satan ác quỷ ở đâu ra mà mưu hại con người đến thế ?

  Nó cũng là một loài do Trời sinh ra,  rồi vì tự kiêu tự đại mà phản nghịch với Trời, nên trở thành ác quỷ đại gian đại ác, nó muốn phá việc của Trời, và ganh ghét không muốn cho con người là loài thấp hèn hơn nó trở về với Trời, được hưởng phúc mà nó đã mất, vì như thế thì Trời được vinh hiển và con người được hạnh phúc thật.

 Satan không làm gì  được Trời, nhưng chỉ làm hại được  con người bằng cách lôi cuốn, dụ dỗ con người xa Trời, phản bội với Trời như nó. Người nào mắc mưu satan là đi đến chỗ tự hại mình và đồng khổ cực với nó sau này đời đời kiếp kiếp.

16. Có ai thắng được satan ác quỷ chưa ? Làm thế nào mà biết đã thắng ?

Các bậc thánh nhân lấy Đạo Trời làm   lẽ   sống,   những   người   khôn ngoan bền chí, quyết giữ Đạo Trời dù chết cũng không bỏ. Những vị đó đã thắng được áp lực của satan, vì nó muốn cướp lòng trung thành của các vị ấy đối với Trời, mà không cướp được, tức là nó bại.

"Dù ai nói ngược nói xuôi,

Ta đây vẫn giữ Đạo Trời khăng khăng" (ca dao)

Còn các bậc thánh nhân khi tu thân lập đức thành công là thắng cuộc rồi. Sự thắng trận của các thánh nhân đôi khi cũng được Trời cho một vài điềm lạ để chứng quả, và nhân đó khuyến khích những người còn đang chiến đấu, chưa đến mức cuối cùng.

17. Đạo  Trời  từ  xưa  tới  nay  được công bố thế nào ?

Lịch sử Đạo Trời là lịch sử nhân loại, vì Đạo Trời là đường lối để Trời đi xuống với nhân loại để tái tạo ta, và cũng là đường lối để nhân loại đi lên với Trời. Đó là trở về nguồn chân phúc vô biên mà ta khát vọng. Đạo Trời được công bố bằng 2 hình thức :

Hình thức thứ nhất là in sẵn vào tâm hồn mỗi người khi sinh ra. Đến tuổi khôn, người ta nhìn thấy muôn loài muôn vật trên trời dưới đất muôn vẻ muôn sắc tốt đẹp, kỳ diệu thì nhận ra là phải có Đấng Tạo Hóa, mà suy phục và thờ lạy Ngài. Rồi trong lòng mình biết ý nghĩa thế nào là lành, đâu là phúc mà làm theo, thế nào là dữ là mà tránh xa. Và khi làm trái lương tâm, người ta thấy bứt rứt, sầu khổ.

 Nhưng khi Trời thấy nhân loại một mặt không dùng trí thông minh của mình mà nhìn biết Trời, trái lại lầm lạc đi thờ các loài thọ tạo, dĩ chí cả cầm thú, rắn rít ... ; Mặt khác lương tâm con người không chịu làm lành lánh dữ, càng ngày thêm lún sâu vào sự  dữ  ...  cho  nên  Trời  quyết  định dùng một phương án khác để cho loài người nhận biết Ngài, bỏ đàng lạc trở về tôn thờ Ngài là cứu cánh đời mình mà được sống và hạnh phúc, phương án đó, kế hoạch đó, là sai Con Một Ngài xuống trần nói cho nhân loại biết Trời là ai, Ngài dành sẵn hạnh phúc nào cho họ và Ngài chờ đợi loài người phải làm gì đáp lại.

 Để thực hiện kế hoạch ấy, bắt đầu giai đoạn một : Trời chọn một dân tộc có thật trong lịch sử, đó là dân Do Thái, ở miền Trung Đông, trao cho sứ mạng duy trì, phổ biến ý niệm về Đạo Trời, kêu gọi các dân tộc khác giác ngộ từ bỏ những ngẫu tượng tà thần mà họ tự bày đặt ra để thờ bái mong cầu phước. Nhưng thật là viển vông, vì làm sao những vật do tay người đẽo gọt từ gỗ đá ấy có thể sinh  phước  cho loài người ?

Đạo luật của Trời xưa chỉ in trong lòng người, thì đã được in vào bia đá trên núi Sinai và trao cho thủ lãnh MÔSÊ  đem  công  bố  cho  dân  một cách  long  trọng  vào  khoảng  1500 năm trước Dương lịch, nhờ đó nhânloại sẽ sống tốt hơn, biết rõ ràng và chi tiết hơn những điều tốt, đẹp lòng Trời mà làm, những điều xấu nghịch ý Trời và làm hại cho mình mà tránh.

 Giai đoạn hai cũng là việc xảy ra trong lịch sử nhân loại thật sự : Trời cử vị Con Trời giáng trần, mặc lấy xác thịt làm một con người để sống với  con  người  chúng  ta,  có  miệng lưỡi để trực tiếp chỉ bảo cho nhân loại đường lối của Đạo Trời, và cho chúng ta biết Trời thương chúng ta như  Cha  thương  con,  cùng  dạy  ta cách thức cầu nguyện thông cảm với Trời.

 Vị Con Trời giáng trần đây chính là Đức Giêsu Kitô mà thân thế và sự nghiệp đã được lịch sử Đạo cũng như đời ghi nhận rõ ràng ; và sự giáng trần của Ngài đã dựng nên một cột mốc phân chia thời gian lịch sử nhân loại làm 2 giai đoạn như vừa nói trên :

 -  Trước ngài : tính từ Ngài lùi về trước.

 -  Sau Ngài : tính từ Ngài đến nay.

 Và cũng từ ngày Đức Giêsu Kitô đi vào lịch sử nhân loại, Đạo Trời được sáng tỏ và mang thêm một tên mới là Thiên Chúa giáo, hay đúng hơn là : Kitô giáo.

18. Việc Đức Giêsu Kitô đến có lợi gì cho nhân loại ?

 Lợi rất nhiều và rất lớn :

 a. Nhờ sự hy sinh của Ngài, nhân loại được Thiên Chúa nhận vào hàng con cái và cho hưởng gia nghiệp Thiên quốc nếu họ trung thành với Ngài.

 b. Nhờ lời giáo huấn của Ngài, nhân loại biết được gốc ngọn của mình, biết được lẽ sống chân chính, và đường lối trở về với Thiên Chúa.

 c. Nhờ sự trung gian của Ngài, nhân loại được ơn thiêng hỗ trợ để thắng các mưu chước của satan và bè lũ, thắng các lôi cuốn của những cám dỗ xấu xa trên đời mà tiến tới quê thật là Nước Trời.

19. Sự  nghiệp  của  Đức  Giêsu  Kitô còn tồn tại trong nhân loại bằng cách nào ?

 Vì Đức Giêsu Kitô là một Vị Con Trời  giáng  thế,  nên  sau  khi  hoàn thành   sứ   mệnh   Ngài   đã   về   trời. Nhưng  vì  sự  nghiệp  của  Ngài  cần phải phổ cập đến mọi người và trong mọi thế hệ, nên Ngài đã thành lập một  đoàn  thể  để  duy trì,   phổ   biến   những chân  lý  về  Đạo  Trời cho kẻ hậu lai khỏi bị satan lừa dối mà thiệt phần vĩnh phúc chăng.

 Đoàn  thể  mà  Đức Giêsu đã thành lập và để lại, đó là Hội Thánh Công giáo, do các vị Giáo Hoàng đại diện Ngài kế tiếp nhau lãnh đạo. Vị Giáo hoàng đầu tiên là thánh Phêrô, một môn đệ của Chúa Giêsu Kitô, và sau đó qua hàng mấy trăm vị khác đến vị Giáo hoàng đương kim (năm 2006) là Đức Bênêđictô 16.

Dù nhiều khi bị hiểu lầm, bị ghen ghét, bị bách hại, Hội Thánh vẫn phát triển,  bất  chấp  mọi  chướng  ngại, khiến con số tín hữu Thiên Chúa giáo ngày nay đã tăng tới hơn 3 tỷ rồi, còn nếu tính riêng Kitô giáo thì gần 2 tỷ.

 Muốn học hỏi để gia nhập Đạo Trời, tức Thiên Chúa giáo hay Kitô giáo, ta có thể căn cứ vào đâu và đến với ai ?

Căn cứ vào sử sách, vào uy tín và công  cuộc  của  Hội  Thánh  đã  thực hiện  từ  2000  năm  nay  ở  khắp  các nước trên thế giới.

 Bộ sách sử ghi chép và tường thuật Đạo Chúa là pho Thánh Kinh gồm phần Cựu Ước (Đạo Trời cũ) do ông Môsê   ghi   chép   1500   năm   trước dương lịch, và phần Tân Ước (Đạo Trời mới) từ Đức Giêsu Kitô về sau, do các môn đệ Ngài ghi chép : đó là bộ sách được phổ biến rộng rãi nhất từ xưa đến nay, vì đã được dịch ra hơn 2000 thứ tiếng và in trên 3 tỷ cuốn.

 Nước nào (kể cả nước Việt Nam chúng ta) cũng có sách Kinh Thánh và sách Giáo lý in bằng tiếng nước mình, nên việc học hỏi đạo được dễ dàng.

 Sách  Kinh  Thánh là nền tảng của Đạo, đi   Đạo   mà   không đọc,  không  học  hỏi và suy gẫm Kinh Thánh thì làm sao hiểu biết và yêu mến tôn thờ Thiên Chúa, chẳng khác gì như lời người ta bảo là "ăn ốc, nói mò" là vậy.

 Còn việc gia nhập Đạo cũng được các vị đại diện của Hội Thánh Công giáo chỉ bảo cặn kẽ và tiếp đón nồng hậu. Tuy vậy chúng tôi xin đưa ra một đề nghị tối cần thiết và có lợi tuyệt đối, là nếu vì một lẽ gì đó hiện tại việc ấy chưa thể làm ngay được, thì ngay bây giờ, sau khi đã đọc xong tập sách nhỏ này và đã cảm thấy đúng, độc giả có thể  tự đáy lòng nói Kitô và Đạo Chúa, cụ thể :

 - Tin Chúa Trời tạo dựng trời đất, thưởng phạt công minh.

 -  Tin Chúa có 3 Ngôi : là Chúa Cha, Chúa Con và Thánh Thần, nhưng cùng  1  bản  thể  (tựa  nước  có  3 trạng thái).

 -  Tin   Ngôi   Con   là   Chúa   Giêsu xuống thế làm người, chuộc tội nhân loại.

 -  Tin mình có linh hồn, có kiếp sau, mình cũng có lỗi lầm cần sám hối, mong được làm con Chúa và được về Trời hưởng hạnh phúc bất diệt.

 (Giáo luật 865, Giáo lý CG số 1259-1260)

 Thế là đã trở thành tín hữu rồi vậy. Vì Đạo cốt tại NIỀM TIN trong tâm hồn. Bởi niềm tin trong tâm hồn, ta đã thuộc về Đạo Chúa rồi vậy.

 (Như  thế  thì  có  cần  phải  chính thức gia nhập đạo không ? Vẫn cần và rất cần nữa. Chính quy bao giờ cũng bảo đảm hơn khác nào đi trên cầu, còn không chính quy khác nào phải lội qua sông …)

 Điều này là tối khẩn vì là chọn lựa "một mất một còn", nhất là khi phải đối diện với cái chết thì không còn cơ hội nào khác nữa.

 Lòng Trời lượng cả bao dung,
Biết rồi không lẽ mà không quy hồi.
Xưa kia chỉ biết kêu "Trời",
Ngày nay lại biết rằng : "Trời là Cha".
Trần gian chưa phải là nhà,
Thiên đàng vĩnh phúc mới là chính quê.
Chữ rằng : sinh ký tử quy,
Nghĩa là : sống gởi thác về đời sau.

 (Trước khi qua đời mà thực hiện như trên thì chắc chắn bạn được lên Thiên đàng).

20. Tại sao có người đang giữ đạo tự nhiên, ăn ngay ở lành, có danh thơm  tiếng tốt rồi, mà  khi gặp Đạo Trời, lại bỏ đạo tự nhiên để theo Đạo Trời ?

Vì đạo tự nhiên thực ra cũng là Đạo Trời, nhưng ở giai đoạn sơ khai, thô thiển, còn thiếu sót. Vả lại giữ đạo có phải cốt cho được danh thơm tiếng tốt ở đời này đâu, nhưng là cốt làm  đầy  đủ  đức  hiếu  thảo  đối  với Trời, là Đấng sinh thành, dưỡng nuôi và thưởng phạt người ta sau này, nhờ đó mà đạt hạnh phúc thật. Vì thế khi người thiện tâm gặp được Đạo Trời ở giai  đoạn  hoàn  toàn  thì  không  thể không theo được.

 Đức  Giêsu  Kitô  đã  ví  Đạo  Trời như viên ngọc quý giá đặc biệt mà một đời người chỉ gặp thấy một lần, nên ai khôn ngoan thật đều gom hết các thứ khác ít giá trị để đổi cho bằng được thứ ngọc hảo hạng này. Những ngọc khác nói đây có thể coi là luân lý đạo tự nhiên mà các bậc hiền nhân quân tử đã theo lương tâm thực hiện và phổ biến phần nào.

 Các vị đó được coi là những sứ giả tiền phong của Đạo Trời. Bởi thế, khi chính Đạo Trời được công khai xuất hiện trong lịch sử với sự giáng trần của Đức Giêsu Kitô, Con Trời hằng sống, thì vai trò của các sứ giả tiền phong đương nhiên nhường bước, và lòng người tất nhiên hướng về Đạo Trời, là chỗ có chân lý hoàn toàn và thiện mỹ viên mãn vậy. (xem "Suy nghĩ vẩn vơ" tập 5, trang 51)

21. Đạo Trời đối với đạo ông bà tổ tiên thế nào ?

 Không có Trời thì làm gì có ông bà tổ tiên, vì chính tổ tiên cũng nhờ Trời sinh Trời dưỡng, cũng do Trời đặt vào trần gian trong cái vũ trụ này, cho qua một cầu sinh tử dài lắm là ba vạn sáu ngàn ngày, rồi cũng phải từ giã cõi trần mà về với Trời : "Sinh ký, tử quy" là thế !

 Đàng khác, chính đức hiếu nghĩa với tổ tiên cũng là do Trời in vào lòng  ta,  nên  hiếu  nghĩa  cũng  phải theo  hướng  Trời  sắp  đặt,  vì  vậy không nên dừng lại ở tổ tiên mà phải đi xa hơn nữa, đến tận Trời mới là hiếu nghĩa vẹn toàn, mới là chính đáng, vì Trời mới là gốc tổ mọi loài (Thiên vi vạn vật chi tổ), còn ông bà tổ tiên chỉ là những móc xích trung gian truyền sự sống đến ta mà thôi. Phận con cháu nhớ công ơn cúc dục cù  lao,  nuôi  nấng  dạy  dỗ  là  điều chính đáng phải đạo, song không nên dừng lại ở đó.

 Có người nghĩ rằng theo Đạo Trời thì không đơm cúng thực phẩm, đồ dùng cho ông bà nữa, sẽ để ông bà đói khổ nơi suối vàng, vì thế mà có người tuy mến Đạo Trời, vẫn chưa trở lại, nghĩ thế có đúng không ?

 Việc cúng giỗ tổ tiên để tỏ lòng thương tiếc ông bà đã quá cố là việc tốt, Đạo Trời vẫn cho phép thực hiện, nhưng nghĩ rằng vong linh ông bà còn cần cơm gạo, bánh trái hay đồ dùng như khi còn sống thì không đúng, vì một khi đã quá cố, xác trở về bụi đất không còn ăn uống gì được nữa, linh hồn linh thiêng không cần vật chất như xác, bởi vậy cúng quảy thực phẩm, đồ dùng vật chất cho ông bà chỉ nên coi là hình thức thể hiện lòng hiếu thôi.

 Việc hiếu nghĩa tốt nhất ta có thể làm là thành khẩn cầu xin với Trời mở lượng hải hà, nhất xá vạn xá, cho ông bà vào hưởng phúc với Trời sớm ngày nào hay ngày ấy ; đó là thiết thực và cần kíp hơn hết, vì việc đó mới thích hợp với hồn thiêng siêu vật chất.

Bên Công giáo, con cháu tỏ lòng hiếu thảo nhớ ơn tổ tiên ông bà bằng cách cầu nguyện hàng ngày cùng Thiên Chúa (Thượng Đế), và tùy dịp còn xin các linh mục dâng Thánh lễ mong Ngài ban ơn cho ông bà mau siêu  thoát  mà  về  hưởng  phước  vô cùng nơi Ngài.

Chẳng những riêng gia đình ấy mà lại cả xứ đạo, cả họ đạo cùng dâng Thánh lễ, đọc kinh cầu nguyện cho. Mỗi năm lại dành hẳn 1 tháng để toàn thể người có đạo trên thế giới hợp ý thỉnh cầu cho nữa.

 Ngoài ra, các ngày kỷ niệm, tuần ba, tuần bảy, tuần ba mươi, tuần trăm ngày hay giỗ đầu, giỗ năm của ông bà, thì gia đình họp nhau cầu nguyện trước bàn kính ông bà, được đặt dưới bàn thờ Chúa, thắp nến, dâng hương, đơm  bánh  trái  hoa  quả  để  tỏ  chút lòng thành xin ông bà chứng giám cho lòng thảo hiếu, biết ơn của con cháu.  Xét  thế,  theo  Đạo  Trời,  con cháu rất là hiếu nghĩa với ông bà tổ tiên, vì điều răn thứ 4 của Trời là phải "Thảo kính cha mẹ, ông bà, tổ tiên".

22. Có người nghĩ đạo nào cũng như đạo  nào,  đều  dạy  người  ta  ăn ngay ở lành, thì cần gì phải theo Đạo Chúa ?

Đạo có 2 phần : phần giáo lý và phần luân lý. Nếu chỉ nói phần luân lý là những điều dạy ăn ngay ở lành, cấm trộm cướp, giết người, tránh tà dâm, ... thì có thể nói hầu như các đạo đều dạy giống nhau ; nhưng nếu nói đến phần giáo lý thì Đạo Chúa khác xa các đạo khác, vì dạy cho người ta biết Thiên Chúa độc nhất và chân thật, và dạy cho biết cách sống thân tình thiết nghĩa với Thiên Chúa như con cái với Cha mình vậy. Mà giáo lý đó thì phải do chính Thiên Chúa truyền dạy mới biết được.

23. Có  người  biết  Đạo  Trời  là  cần cho mình, nhưng vì sinh kế bận rộn, vì còn muốn sống bừa bãi, vì ngại khó giữ, nên chưa dám trở lại, nghĩ thế có được không ?

 Đạo lý tối đại, sao lại coi rẻ thế được. Sinh kế chỉ là phương tiện nhất thời, chứ có phải là cứu cánh của con người đâu. Dù ở đâu, đi đâu, dù bận rộn tối ngày, con người lúc nào cũng nhờ ơn Trời mà sống như cá trong nước vậy. Làm nên được gì cũng là do Trời phù giúp, "mưu sự tại nhân, thành sự tại Thiên", sao ta lại quên được vị đại ân nhân của ta là Trời ?

Còn nếu người ta muốn sống bừa bãi, ngoài kỷ luật của lương tâm, tức là người ta tự giảm giá và tự đặt mình vào tình trạng nguy hiểm luôn luôn, vì ta không biết mình chết lúc nào – sinh hữu kỳ, tử bất định – và chết rồi phải chịu phán xét ngay, lúc ấy hối cũng không kịp.

Biết Trời thưởng phạt sau này,
Muốn sau được thưởng thì rày phài lo.
Gắng công, Trời sẽ giúp cho,
Đạo lành gây dựng cơ đồ mai sau.

 Hoàng  đế  Charles  Quint  (1500- 1558) - nước Đức, có một cái rương nhỏ, đi kinh lý đâu cũng mang theo, các quan nghĩ là đựng vàng ngọc quý giá. Một hôm, hoàng đế muốn cho các  quan  một  bài  học  và  hết  thắc mắc, nên dạy mở rương trước mặt mọi người. Trong rương chỉ có một tấm khăn liệm ... Trước sự bỡ ngỡ của bá quan, hoàng đế cho biết mình dọn mình chết hàng ngày bằng cách mang theo khăn liệm, nhờ đó để tu thân tích đức, cố gắng làm việc phúc thiện, vì chỉ có những việc lành đó mới giúp ích cho mình đời sau mà thôi. Còn mọi sự vật ở đời này thì như :

Mây tán, tuyết tan,
Hoa tàn, nguyệt khuyết,
Mọi sự ở trên đời,
Một mai rồi cũng hết.
Việc lành, dữ mà thôi,
Sẽ theo ta khi chết.

***

{Trich "Toi theo EJ(J.O Trifi" - Saigon 6/6/1965, giấy phép số 3178/BTTIBC3/XB¬ Bcm tu b6 2006}

Về đầu trang

PHỤ LỤC

 Xin trích sau đây vài cảm tưởng của một số nhân vật có tên tuổi đã trở lại Đạo Trời sau nhiều suy nghĩ, tìm tòi và thành tâm học hỏi ở nơi thiên nhiên, sử sách, bè bạn, ở cốt cách tinh hoa và ảnh hưởng tốt lành của Đạo.

 1. Ông Lục Trung Tường, nhà ngoại giao Trung Hoa, từ nhỏ đã là môn sinh của sân Trình cửa Khổng và chỉ biết có đạo ông bà tổ tiên, sau khi  đã  gặp  được  đạo  Công  giáo như gặp được kho báu, đã trở lại và tiến xa trên đường đạo, đã hiến thân làm linh mục và đã làm đến Viện trưởng Tu viện. Ông nói :

 "Ơn cứu độ là chỗ tập trung tất cả các nẻo đường, là chỗ độc nhất mà đức hiếu  của loài người được tiếp vào đức hiếu thảo siêu nhiên mà Đức Kitô  đã  dạy  và  đã  cho  chúng  ta hưởng thụ để kết hợp tất cả nhân loại với Thiên Chúa là Cha chúng ta ở trên Trời" (trích quyển "The Ways of Confucius and of Christ").

2. Ông  Ngô  Gia  Lễ,  Tri  phủ  Kim Sơn, Ninh Bình, Bắc Việt, vì tiếp xúc  với  nhiều  người  Công  giáo, ông muốn tìm hiểu đạo lý, đã đọc sách Phúc Âm, đã nhận ra được tính cách siêu việt của Đức Kitô, Con Trời giáng thế. Ông đã trở lại để được tâm giao với Trời qua Đức Kitô. Ông nói :

 "Tôi  đã  đọc  Phúc  Âm  một  cách thành kính. Tôi nhận thấy Đức Kitô không phải chỉ là một nhân vật khác thường. Ngài chính là Con Thượng Đế đã đến để cứu đời. Tôi là một trong những kẻ được Ngài tỏ mình ra nhờ đọc Phúc Âm" (trích sách "Ông Tổ đạo Công giáo").

3. Ông Trịnh Sùng Ngô, giáo sư triết lý Đại học Honolulu, nguyên đại sứ  Trung  Hoa  Dân  quốc  tại Vatican. Từ nhỏ đã sinh trưởng trong  gia  đình  thấm  nhuần  tư tưởng Tam giáo. Sau khi  trở  lại Đạo  Thiên  Chúa,  ông  đã  giúp nhiều bạn hữu biết Đạo và đã đem hết tâm trí vào việc phiên dịch Thánh Kinh và Thánh Thi ra tiếng Trung Hoa. Ông nói :

"Thiên Chúa giáo là đạo bởi Trời. Người ta lầm nếu cho đó là đạo của Âu châu. Đạo đó không phải của Âu châu hay Á châu, không cũ, không mới. Tôi cảm thấy đạo đó tiềm ẩn ở trong tôi một cách sâu đậm hơn cả những đạo tôi đã hấp thụ từ khi sinh trưởng. Tôi biết ơn những đạo này vì đã làm đà đưa tôi đến với Đức Giêsu Kitô. Sau nhiều năm lạc lõng, nay tôi được đến với Đức Giêsu Kitô để ở luôn với Ngài, thật là vui sướng vô biên ! Tôi đã nhảy vọt lên trên thời gian rồi. Từ nay, sự sống và bản thể của tôi được đặt vào lãnh vực đời đời. Gia nhập Hội Thánh Chúa Kitô, tôi đã không thiệt mất gì, nhưng đã được hoàn toàn mãn nguyện" (trích cuốn "Par delà l'Est et l'Ouest").

Xin nói thêm về một vấn đề nhạy cảm đó là lập trường chính trị, Giáo Hội chủ trương thế nào ?

Chúa Giêsu đã tuyên bố rõ ràng : "Nước tôi không thuộc về thế gian này" (Ga 18,36).

Giáo  Hội  tôn  trọng  mọi  thể  chế hợp pháp, không muốn người Kitô hữu phải theo chế độ này, chống chế độ kia, song Giáo Hội muốn xác định người Kitô hữu có bổn phận trở nên người Công giáo tốt và người công dân tốt trong mọi chế độ chính trị (Đức Giáo Hoàng Bênêđictô 16 phát biểu ngày 13/5/2007).

Bộ Giáo sĩ đã ra sắc lệnh cấm các linh mục, tu sĩ công giáo làm chính trị.

Hội Đồng Giám mục Việt Nam cũng xác định : "Không bao giờ Giáo Hội Việt Nam có tham vọng thay thế chính quyền để điều hành đất nước, chỉ mong được rao giảng Tin Mừng và phục vụ đồng bào".

4. Ông  Mashaba,  một  học  giả  Ấn Độ, sinh tại Bihar trong một gia đình theo Ấn giáo, sau du học bên Anh nhiều năm, tuy có tài về hành chánh, ông không nhận một công tác nào trong khối Liên hiệp Anh. Sẵn khuynh hướng về thần bí học, ông đã sống độc thân để nghiên cứu các tôn giáo. Sau 20 năm tìm tòi,  suy  luận  về  Ấn  giáo,  Bà  la môn, Khổng giáo, Phật giáo, Lão giáo,  Hồi  giáo,  Thần  đạo  Nhật Bổn, Do Thái giáo, Thiên Chúa giáo và các phái Tin lành Âu Mỹ, ông đã phân tích như sau :

"Sở dĩ mỗi tôn giáo có một công dụng khác nhau là vì mỗi vị Giáo tổ nhìn thấy một khía cạnh đau khổ của con người và tìm cách cứu giúp theo khía cạnh đó. Bởi thế có thứ kêu gọi từ bi quảng đại, có thứ chủ trương diệt dục hy sinh, có thứ dùng hiếu thảo nhân nghĩa, có thứ giúp tu thân cứu đời, công bằng, bác ái ... nhưng không tôn giáo nào được đầy đủ như Thiên Chúa giáo, vì  xây  dựng cho con người một cuộc sống có ý nghĩa cao thượng, bảo đảm cho một tương lai hạnh phúc, và có nhiều đặc điểm mà các tôn giáo khác không có như :

a. Vị Giáo tổ bởi Trời giáng thế và đã được Sấm ký báo trước từ mấy ngàn năm trong lịch sử hẳn hoi, khác hẳn với những Giáo tổ khác chỉ là người trần tục.

b. Có từ trời xuống lập đạo thì đạo đó  mới  có  khả  năng  đưa  con người ta về Trời được.

c. Đạo Trời là như thuốc trường sinh, dùng thuốc này thì không cần thuốc nào nữa ; vì các đạo khác chỉ xoa dịu hay làm quên đau khổ trong một thời hạn, còn Đạo Trời chẳng những cứu khổ mà còn ban cho con người sự sống đời đời, vốn thật là ước vọng tột đỉnh của mỗi người.

d. Đức Giêsu Kitô đã chiến thắng sự chết, đã sống lại và về Trời, bảo lãnh cho cuộc hành trình của tín hữu trên đường đời (là sẽ về được tới Trời), và đó là hy vọng vững chắc của người tín hữu.

e. Vì mang sắc thái siêu phàm và chứa  đựng  những  giá  trị  cao thượng vượt mức, nên Kitô giáo thường bị ghen tị, hiểu lầm hay lấn  át,  thế  mà  vẫn  phát  triển điều  hòa,  vẫn  vững  bền  giữa mọi gian lao, thử thách, khiến cho nhiều kẻ trước kia thờ ơ, lãnh đạm hay thù ghét phải tìm hiểu, cảm phục, và do đó nhiều khi lại trở nên tín hữu nhiệt thành".

 Ông kết luận bằng một ví dụ : "Trước khi mặt trời mọc, người ta đã thấy ánh sáng lờ mờ của nó. Vậy những  điều  tốt  đẹp  trong  các  đạo khác cũng là ánh sáng của Đạo Trời chiếu mờ mờ vào nhân loại, trước khi chính Con Trời giáng thế làm sáng tỏ hẳn Đạo Trời. Nay, ngày của cuộc đời đã đến lúc chính ngọ thì không ai mà không được ánh sáng Đạo Trời soi tới".

5. Tiến sĩ Lâm Ngữ Đường. Dù  đã  nhiều  lần  chúng  ta  được nghe những câu chuyện đặc biệt về những người theo các tôn giáo khác trở lại tin nhận Chúa, nhưng câu chuyện của Tiến sĩ Lâm Ngữ Đường mới thật đáng cho chúng ta chú ý. Ông Lâm Ngữ Đường sinh trưởng tại Trung Hoa, trong một gia đình Thiên Chúa Giáo. Ông học đạo từ thuở nhỏ, nhưng  lớn  lên  ông  bỏ  đạo và trở thành môn đệ trung thành của Khổng Tử.

 Sau  khi tốt  nghiệp Đại học Harvard Hoa Kỳ, Tiến sĩ Lâm Ngữ Đường sang Đức học thêm và sau đó trở về Trung Hoa, đảm trách nhiều chức vụ quan trọng trong ngành Văn hóa và Giáo dục : giáo sư Anh văn tại viện Đại học Quốc gia Bắc Kinh, đặc trách phần Anh ngữ của tờ Academia Sinica, chủ bút của nhiều tờ báo khác ở Á châu, Viện trưởng Viện Đại học Nam Dương ở Tân Gia Ba, Giám đốc Phân Bộ Văn hóa và Nghệ thuật của tổ chức UNESCO. Đó chỉ là một số chức vụ Tiến sĩ Lâm Ngữ Đường đã được đảm nhiệm.

Năm   1937,  Tiến sĩ Lâm ngữ Đường xuất bản quyển The Importance of Living (Nguyễn Hiến Lê đã dịch sang tiếng Việt với tựa đề : "Một Quan Niệm Về Sống Đẹp"). Đây là quyển sách rất nổi tiếng của ông dẫn đầu số sách bán chạy nhất tại New York lúc đó. Trong quyển này, Tiến sĩ Lâm Ngữ Đường dành một chương nói về liên hệ với Thượng Đế, với tựa đề :

"Tại sao tôi muốn làm người ngoại đạo ?" Ông cho biết sở dĩ ông chống Thiên Chúa Giáo là vì đạo này quá "kiêu ngạo", cho rằng chỉ có mình biết được Thượng Đế. Về phương diện đạo đức, ông cho rằng đường lối của Khổng Giáo hay hơn Thiên Chúa Giáo trong việc hướng dẫn đời sống con người.

Tiến sĩ Lâm Ngữ Đường cũng viết thêm nhiều sách khác, phần lớn về văn hóa triết học Trung Hoa và Ấn Độ. Chính ông đã phát minh ra máy đánh chữ tiếng Trung Hoa. Tài năng của ông đã khiến ông trở thành biểu tượng của học giả Á Đông hiện đại. Trong mười năm cuối cùng của cuộc đời, tiến sĩ Lâm Ngữ Đường sống tại New York. Vợ ông là một tín đồ Thiên Chúa Giáo. Một Chúa nhật nọ, bà rủ ông đi Nhà thờ, và cuộc đời của ông đã được thay đổi. Câu chuyện tin Chúa của ông được ông ghi lại và đăng  trong  báo  Presbyterian  Life, xuất bản ngày 15/04/1959, dưới bài tựa đề : "Tại sao tôi trở lại với Thiên Chúa Giáo ?" :

"Những người đã hỏi tôi (có người hỏi với giọng vui sướng, có người với vẻ thất vọng) rằng, tại sao một người từng kể mình là người vô đạo như  tôi  lại  trở  về  với  Thiên  Chúa Giáo ? Tôi trở về với đức tin và gia nhập Hội Thánh Chúa là vì tôi muốn quay  về  với  một  ý  thức  mới  về Thượng Đế và tình yêu của Ngài, mà Chúa Jesus đã mặc khải cho tôi cách đơn giản và rõ ràng.

Câu hỏi quan trọng nhất trong đời sống là : 'Con người có thể sống mà không cần đến tôn giáo không ?'. Trong hơn 30 năm, tôn giáo duy nhất của tôi là chủ nghĩa nhân bản (humanism)  hay  nói  đúng  hơn  là quan niệm của Khổng Giáo, cho rằng nhờ giáo dục con người có thể làm cho mình trở nên một con người toàn diện. Đây cũng là quan niệm chủ trương rằng con người thừa sức để giải quyết những vấn đề của chính mình. Bây giờ thì tôi tin rằng nếu không có tôn giáo, con người không thể nào sống còn, và sẽ chẳng bao giờ có thể tự giải quyết vấn đề của chính  mình,  một  tôn  giáo  dựa  vào khả năng tự trở nên toàn thiện để cứu giúp người thì chưa thể kể là tôn giáo".

[Trích "Lời chứng của Tiến sĩ Lâm Ngữ Đường"]

 ***

Trên đây chỉ là ví dụ của một vài nhân  vật  điển  hình  thôi,  còn  hàng năm ở đâu cũng có nhiều người thiện tâm thiện chí nhờ bè bạn, sách vở, báo chí hay giao thiệp với người bên giáo mà có dịp suy nghĩ, tìm hiểu và nhận thấy sự cần thiết của đạo, nên tìm cách trở về Đạo Trời. Mỗi năm, nếu thống kê cả thế giới, con số theo đạo không phải là nhỏ ; riêng ở Việt Nam, theo thống kê của Tổng Giáo phận Huế và Tổng Giáo phận Sàigòn, thì ví dụ trong năm 1961, số người trở lại Đạo Chúa là hơn 100.000 người,  gồm  đủ  mọi  lứa  tuổi,  mọi thành phần và giai cấp xã hội.

Về đầu trang

BẢN THỐNG KÊ ĐỐI CHIẾU NHÂN SỐ CÁC ĐẠO

Sau đây là bản thống kê nhân số các người theo hay không theo đạo trên  toàn  thế  giới  (năm  1969)  của Liên hiệp Giáo hoàng Truyền giáo, chúng tôi xin trích đăng và chia làm 2 khối lớn.

1. Khối A gồm các đạo và các người tin tưởng ở Trời, thờ kính Trời, dù thuộc những giai đoạn khác nhau và có những điểm giáo lý không giống nhau.

2. Khối B gồm các đạo và các người chưa có hay không thấy rõ rệt lòng tin tưởng ở Trời.

1.  Khối A :

-  Những người giữ đạo tự nhiên, (Không thể biết hết).

-  Khổng giáo   321.000.000

-  Ấn giáo         444.063.000

-  Phật giáo (đại chúng thờ Trời, kính Phật)        153.000.000

-  Do thái giáo  13.946.000

-  Hồi giáo        508.464.000

-  Công giáo     613.761.000

-  Chính Thống giáo      142.433.000

-  Tin lành (các phái)     272.018.000

Tổng cộng               2.468.685.000

 2.  Khối B :

 -  Những người tự xưng là không tin có thần thánh gì cả.

 -  Những người còn thờ vật linh, tà ma, cây cối, thú vật hay mãnh lực thiên nhiên như gió, mưa, sấm sét, núi sống … Trong số này cũng có người biết Trời là trên hết, và vẫn sợ Trời hơn cả ; như vậy là còn tin ở  Trời,  tuy  chưa  phân  biệt  vì không gặp ai chỉ bảo.

 Nếu dân số hoàn cầu cầu hơn 3 tỷ (3.319.000.000) người, mà số người tin ở Trời đã gần 2 tỷ rưỡi (2.468 triệu) thì số người vô tín rất ít. Ông Khổng Tử nói : Đã là người thế nào cũng phải có Đạo :

 "Nhân hữu đạo, bảo thực, noãn y, dật cứ nhi vô giáo, tắc cận ư cầm thú" – (Làm người phải có Đạo, nếu chỉ tìm ăn no mặc ấm mà sống vô đạo thì có hơn gì con vật).

 Các nhà hiền triết Hy Lạp cũng định nghĩa : "Con người là một vật có tôn giáo, và không có thành trì nào được thiết lập mà không lấy tôn giáo làm nền tảng" (Plutarque).

 Chú thích :

Bản thống kế của Liên hiệp các Giáo đoàn Truyền giáo nêu trên là vào năm 1969, cho đến nay (2011), đã mấy thập niên trôi qua, nên đã có những bản thống kê mới : Trong số hơn 6 tỷ người hiện nay trên thế giới, không kể số những người theo đạo tự nhiên tin có Trời cách chung chung, mà chỉ kể những người tin có Thiên Chúa cách rõ ràng thì con số tổng quát bây giờ là hơn 3 tỷ.

 Còn riêng những người theo đạo Công giáo đã tăng gấp đôi là hơn 1 tỷ, Hồi giáo 1,3 tỷ chưa kể đến người dân tộc thiểu số, các người thuộc các đạo khác và thậm chí những người tự xưng là không tôn giáo, nay đang công khai xin theo và đang rất cần người hướng dẫn để xin gia nhập Đạo Trời càng ngày càng đông.

***

Bạn thân mến, như ban đầu tôi đã thưa với bạn rằng, Đạo thật ngắn nhưng cũng rất dài, tới đây chúng ta mới chỉ đặt chân tới đường dẫn lên cầu vượt trần gian thôi. Cây cầu mới quan trọng, cây cầu đó chính là  Đức Giêsu Kitô của Thánh Kinh mà tôi sẽ mời bạn đọc tiếp, nếu bạn còn thiện chí.

"Không ai có thể đến được với Chúa Cha mà không qua Thầy"

(Tin Mừng theo thánh Gioan, đoạn 14 câu 16)

 LỜI TÂM NIỆM

-  Lạy Đấng thiêng liêng Tối cao,
-  Lạy Đấng Tạo Hóa,
-  Lạy Đấng Tuyệt Đối,
-  Lạy Thượng Đế,
-  Lạy Ông Trời,

 Chúng  con  đây  là  những  thọ  tạo đứng trên muôn vật trong vũ trụ. Chúng con đã được Ngài tạo dựng nên giống hình ảnh của Ngài là Thiên Chúa, vì chúng con có trí nhớ, có trí tuệ, có ý muốn, có tự do.

Chúng  con  luôn  thao  thức  trước những vấn đề :

1.  Bởi đâu có vũ trụ này ?
2.  Bởi đâu có bản thân chúng con ?
3.  Đâu là mục đích của cuộc đời ?
4.  Chết rồi sẽ đi về đâu ?
5.  Làm điều thiện, ai sẽ thưởng công cho ?
6.  Làm điều ác, ai sẽ phạt tội ?
7.  Ai  sẽ  thỏa  mãn  khát  vọng  hạnh phúc tuyệt đối của chúng con ?

 Chúng con muốn đi tìm chân lý, tìm ý  nghĩa  đích  thực  cho  cuộc  đời.  Xin Ngài soi trí mở lòng cho chúng con, để chúng con được tìm thấy Ngài, và được niềm vui gọi Ngài là Cha, như hơn 2 tỉ Kitô hữu trên thế giới – Amen.

 (Tiến sĩ Phan Như Ngọc – Trích Bài giảng

Chúa nhật - TGM, số 4/2007, trang 74)

 [PS : Trong bài có một số cụm từ được thay thế bằng kiểu nói đồng nghĩa, nhằm tránh sự hiểu lầm không đáng có. Xin tác giả thông cảm].

Về đầu trang

---------------------------------------

Tập 7: Những suy nghĩ vẩn vơ: HƠN CẢ NỖI OAN THỊ KÍNH

LỜI ĐẦU

Loài người được Tạo Hóa tác thành  hơn  và  khác  loài  vật  ở chỗ có lý trí và tự do.

 

"Tự do là khả năng biểu lộ ý chí,  hành  động  theo  ý  muốn của mình"  (Đại Tự điển tiếng Việt – Hà  Nội  1999,  trang  1762),  đây  là quyền  căn  bản  của  mỗi  người. Có   tự   do   thì   cũng   có   trách nhiệm,   nghĩa  là  có  thưởng   và phạt   tùy  theo   lựa  chọn   đúng hay sai.

 Người viết tập này chỉ muốn trình  bày  sự  thật  mà  mình  đã cảm  nghiệm,   còn  quý  độc  giả đồng tình hay không, hoặc đồng tình   một   phần   nào   thì   hoàn toàn thuộc  quyền  tự do của quý vị.

HƠN CẢ NỖI OAN THỊ KÍNH

Nói tới nỗi oan khiên ở đời này, đối với các dân các nước khác thì không biết, nhưng với dân tộc Việt Nam  ta  thì  trường  hợp  của  Thị Kính là tiêu biểu nhất, là đỉnh cao nhất đã có mặt chẳng biết từ bao giờ  trong  văn  chương  bình  dân, kho tàng văn chương lâu đời và rất phong phú của dân tộc ta, được truyền tụng từ đời này tới đời kia – nó bình dân và phổ biến đến nỗi trở thành tiếng kêu bột phát nơi cửa miệng người dân – hễ gặp những gì là oan trái, người ta đều thốt lên "nỗi oan Thị Kính" và ai cũng  hiểu  được, cảm nhận  được "độ sâu", "độ sắc", "độ nhọn" của nỗi đau đớn, người ta không còn trông cậy vào ai ở trần gian được nữa,  chỉ  còn  biết  ngửa  mặt  lên "kêu Trời" mà thôi.

Chúng ta cùng ôn lại Quan Âm Tân truyện (Nguyễn Huệ Chi – Từ Điển Văn Học bộ mới, NXB Thế Giới 2004 – trang 1471-1473).

QUAN ÂM TÂN TRUYỆN

(Cuốn truyện mới về Phật Quan Âm)

Truyện thơ Nôm Việt Nam, thể lục bát, cũng quen gọi là Quan Âm Thị Kính, dài 786 câu, từ trước vẫn được lưu hành như một tác phẩm khuyết  danh,  nhưng  với  những phát hiện gần đây, đã có thể nói đến hai giả thuyết khác nhau về tác giả của nó : 1. Theo tìm tòi của Hoa Bằng, tác giả là Nguyễn Cấp, nhà văn Việt Nam sống vào nửa đầu  thế  kỷ  XIX.  Nguyễn  Cấp người thôn Thượng, xã Nguyên Khiết,   huyện   Thọ   Xương,   nay thuộc nội thành Hà Nội, đỗ Giải nguyên khoa thi Hương năm Quý dậu (1812). Lúc đang làm Tri phủ Thiên Trường (1829), vì một chuyện lôi thôi trong kiện tụng mà vợ ông có dính líu, ông bị Tổng trấn Bắc Thành bắt giam rồi kết tội xử giảo. Nhưng ông tìm cách trốn thoát khỏi ngục, và trải qua nhiều nơi ẩn náu, sang tận Trung Quốc lại bị nhà Thanh đuổi trở về nước, cuối cùng, nhờ có Nguyễn Công Trứ (bấy giờ đang làm Tham Tán Quân Vụ ở Lạng Giang) che chở, ông trốn tại Lạng Giang và cắt tóc đi tu. Cuộc đời tù đày và lưu lạc đầy oan khuất nói trên khiến Nguyễn Cấp chán ghét sâu sắc chế độ quan lại nhà Nguyễn. Trước lúc mất, ông từng dặn lại con cháu đừng nối gót mình theo đòi thi cử. Tác phẩm Quan Âm Tân truyện được  sáng  tác  vào  lúc  cuối  đời cũng là sự thể hiện phần nào tâm sự ưu uất này – 2. Theo gia phả họ Đỗ ở Bắc Ninh do Dương Xuân Thự cung cấp, thì truyện Quan Âm Thị Kính lại do Đỗ Trọng Dư sáng tác.  Đỗ  Trọng  Dư  (7.X.1786  – 1868) người xã  Đại Mão, huyện Siêu  Loại,  xứ Kinh  Bắc,  nay  là tỉnh Bắc Ninh, đậu Hương cống năm 1819. Cuộc đời ông gặp hai chuyện  oan khuất  có  ảnh  hưởng sâu sắc đến tâm lý, tư tưởng của ông. Năm 1813 ông xin khai hộ tịch ở làng Bình Cầu để đi thi Hương. Cùng khoa ấy có người cháu ông cũng đi thi nhưng lại lấy hộ  tịch  ở  làng  Đông  Miếu.  Dân làng cho là hai ông đã mạo danh nên làm đơn tố cáo. Cả hai người phải lặn lội vào kinh đô Huế theo lệnh triệu để tâu trình mọi sự mới được  giải  oan.  Sau  này,  khi  đã được bổ  Tri  phủ  Quốc Oai,  gặp một Nho sinh nài xin một chức vị trong phủ không được, ông lại bị Nho sinh đó kết bè với một vài lính lệ kiện ông thu tiền dân không hợp lệ. Mặc dù các hào mục trong phủ đã vào tận tỉnh khiếu oan giúp, nhưng ông vẫn bị bãi chức, phải về nhà dạy học. Chán nản với thế sự, ông đã dồn tâm huyết viết truyện Quan  Âm  Thị  Kính  để  gửi  gắm lòng mình. Năm 1876, con ông là Cử nhân Đỗ Trọng Vĩ chép lại tác phẩm của ông. Trong bản in quốc ngữ vào năm 1948 vẫn còn giữ nguyên tên tác giả Đỗ Trọng Dư.

Quan Âm tân truyện là câu chuyện thương tâm về một người con  gái  nết  na,  hiền  hậu,  nhưng phải ôm một nỗi oan khó gỡ cho đến tận lúc chết. Nàng Thị Kính, con nhà nghèo, lấy chồng học trò tên là Thiện Sĩ. Một đêm, chồng học quá khuya, ngủ thiếp đi, vợ ngồi khâu bên cạnh, thấy một sợi râu mọc ngược cho là điềm xấu, sẵn dao cầm tay toan cắt đi. Chồng giật mình tỉnh dậy, tưởng vợ có bụng ác, hô hoán lên. Cha mẹ chồng chạy tới, một mực gán cho Thị Kính tội mưu giết chồng, và đuổi nàng về nhà cha mẹ đẻ. Thị Kính buồn tủi, đành ăn  mặc giả trai  tìm  tới  tụ  ở  chùa  Vân  Tự, mang tên Kính Tâm. Trong vùng có Thị Mầu, con gái phú ông, vốn tính lẳng lơ, lên chùa trông thấy Kính Tâm, ngỡ là trai, liền đem lòng say đắm, nhưng không được Kính Tâm đáp ứng. Trước sự thờ ơ của chú tiểu, không nén được lòng ham muốn, Thị Mầu trở về ăn nằm với người đầy tớ trai, và có mang. Bị hào lý trong làng tra hỏi, Thị Mầu  đổ  cho  Kính  Tâm.  Vì  thế Kính Tâm bị sư cụ bắt ra ở ngoài cổng chùa. Ít lâu sau, Thị Mầu sinh con trai đem tới chùa phó mặc cho chú tiểu. Kính Tâm thương trẻ sơ sinh, "gáo sữa mười phương" nuôi nấng  đứa  trẻ.  Ba  năm  sau  nàng mất. trước lúc mất, nàng viết lời minh oan gửi lại cho cha mẹ. Lúc liệm  thi  hài,  mọi  người  mới  rõ Kính  Tâm  là  phụ  nữ.  Oan  tình được  cởi,  nàng  được  siêu  thăng làm Phật Quan Âm.

Nỗi  oan  Thị  Kính  thật  lớn, tưởng chừng như không nỗi đau, nỗi oan nào "qua mặt" được. Thế nhưng còn có một nỗi oan lớn hơn và là cực lớn, không một nỗi oan nào có thể sánh được, đó là nỗi oan của Trời, người ta thường nói tới Thiên tai, nghĩa là tai ương phát xuất từ Trời. Đại thi hào Nguyễn Du mở đầu truyện Kiều đã quy cho Trời tất cả khổ đau của nàng Kiều suốt 15 năm lưu lạc, bị vùi dập trong chốn bùn nhơ với trăm cay nghìn đắng, đến nỗi Kiều tuyệt vọng, không còn biết bám víu vào đâu đành gieo mình xuống sông Tiền Đường tự vẫn:

"Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng
Lạ gì bỉ sắc tư phong
Trời Xanh quen thói má hồng đánh ghen"

 Kết  thúc  truyện  Kiều,  cụ  Tố Như cũng tóm gọn :

"Ngẫm hay muôn sự tại Trời
Trời kia đã bắt làm người có thân
Bắt phong trần phải phong trần
Cho thanh cao mới được phần thanh cao"

Tuy nhiên tác giả truyện Kiều cũng  khám phá ra cái "nghiệp" mới là nguyên nhân chính và cũng phần nào minh oan cho Trời, tuy có hơi muộn :

"Đã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách lẫn Trời gần Trời xa
Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài"

 Trong Tam Quốc Chí của La Quán Trung,  Chu Du trước  khi chết còn ngửa mặt lên Trời than trách : "Trời đã sinh Du sao còn sinh Lượng ?". Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm diễn nôm cũng mở đầu bằng một câu "trách Trời" : "Thuở Trời Đất nổi cơn gió bụi Khách má hồng ngàn nỗi truân chiên"

Trên  đời  này  những  kẻ  được may mắn mặt này mặt khác mà nhận ra là do Trời ban, Trời độ hoặc "Trời  che  đất  chở"  hay  ơn Trời  ban,  ơn  trên  phù  hộ  -  thì tương đối ít, còn những kẻ gặp những điều chẳng như ý liền đổ "tại Trời" thì rất nhiều.

Linh mục Hồng Giáo OFM có bài "Tại sao ? Tại  sao  ?"  đăng  trên  báo  Công giáo & Dân tộc số 1803, tuần lễ 15–21/4/2011, trang 6-7 như sau : Ba ngày sau thảm họa động đất ở Nhật Bản, tôi nhận được lá thư điện  tử  của  một  người giáo  dân Việt Nam sinh sống tại đó với mấy dòng chia sẻ sau đây làm tôi suy nghĩ : "… Đứa con gái của con học bên Mỹ gọi điện về khóc sướt mướt ; nó nói nó không tin Chúa, nó không đi nhà thờ nữa ; tại sao Chúa không cứu vớt mà lại để cho thảm họa này xảy ra như vậy ? Con chẳng khuyên nó được. Thôi, thì giờ nó đang bị sốc nên cứ để cho nó suy nghĩ như thế, rồi từ từ nó sẽ nghĩ lại, bố nhỉ ?"

Cách cư xử của bà mẹ rất khôn ngoan. Lúc này phải là lúc tỏ lòng yêu thương, cảm thông hơn là dạy bảo nhất là la mắng con. Tôi cũng tin rằng phản ứng của cháu gái là tự nhiên, nghĩa là bột phát trong một nỗi xúc động quá mãnh liệt thôi,  và  rồi  đây  cháu  sẽ  tìm  lại được sự bình an và niềm tín thác vào Thiên Chúa mà lâu nay cháu vẫn có. Chắc trước vụ động đất và sóng thần khủng khiếp này nhiều người khác trong cuộc và thậm chí ngoài cuộc cũng đã nêu  câu hỏi như cháu : Tại sao Chúa không ra tay giúp, nghĩa là ngăn chặn không để cho tai họa xảy ra ? Thắc mắc này có thể cho thấy một điều là : dù tin hay không tin, người ta vẫn nghĩ rằng một Đấng là Thiên Chúa thì    phải  là Đấng  toàn  năng  và nhân từ đối với con người. Mà đã là  toàn  năng  và  từ  bi  thì  Ngài không thể để cho một thiên tai như thế xảy ra khiến con người phải khốn khổ và phải chết một cách vô lý. Vậy tại sao ? Thắc mắc này là một thử thách thật sự, có thể làm lay chuyển đức tin của bao người Kitô hữu, không loại trừ có kẻ đã thất vọng và  chối bỏ  Chúa vĩnh viễn. Còn đối với người vô thần thì đây là bằng chứng Thiên Chúa chỉ do con người tưởng tượng ra chứ làm sao mà có được, vì rõ ràng "Ngài"  chẳng  làm  chi  được  cho con người ?

 Tôi nghĩ vấn nạn mà cháu gái người Nhật gốc Việt nêu là là "rất thật" và rất "người", - ý tôi muốn nói là chắc hẳn nó gắn liền vào bản tính con người một cách nào đó. Con người từ bao giờ vẫn nêu những câu hỏi căn bản : Tại sao đau khổ ? Tại sao chết ? Cuộc đời có ý nghĩa gì không ? … Và các tôn giáo là những cách trả lời khác nhau cho những thắc mắc đó. Những người có lòng tin thường có tâm lý chờ đợi nơi Đấng linh thiêng một sự che chở phù hộ riêng khi gặp gian nan thử thách, thậm chí  nhiều  khi  họ  còn  cảm  thấy mình có quyền  chờ  đợi  sự can thiệp đặc biệt của Đấng mình tôn thờ … Tâm tình đó là tự nhiên. Và cả khi vì lòng tin tưởng và hy vọng của  mình  không  được  thần  linh đáp ứng theo ý mình mà sinh ra phàn nàn trách móc, thì đó vẫn là chuyện  bình thường,  miễn  là không đi xa hơn đến chỗ chối bỏ đức  tin. Cũng không  khác chi người Việt Nam tin Trời nên hễ gặp khó khăn nào, như nghèo đói, bệnh tật, thất bại trong nghề nghiệp, trong tình duyên, trong học hành, hay tai nạn rủi ro, là có phản ứng tự  nhiên  "kêu Trời"  hoặc "trách Trời" :

"Trời ơi Trời ở không cân,
Kẻ ăn không hết,
người lần không ra"

Hoặc :

"Lá vàng thì ở trên cây,
Lá xanh rụng xuống,
Trời hay chăng Trời ?"

Hoặc :

"Bắc thang lên hỏi Ông Trời,
Sao không bố thí cho tôi tí chồng?"
(Ca dao)

 Có một điều tôi thấy hơi lạ, là khi mọi chuyện xuôi chảy thuận lợi hoặc khi gặp điều may mắn thì ít ai nghĩ tới Ông Trời hoặc Thiên Chúa, nhưng hễ gặp thử thách (kể cả do chính mình gây ra) là ngay lập  tức  trách  Trời,  trách  Chúa. Ngày   xưa   thánh   Augustinô   đã nhận xét  :  Thiên hạ  thường dựa vào sự hiện diện của điều xấu, sự ác để kết luận là không có Thiên Chúa,  nhưng ngài đặt  câu  hỏi ngược lại : Nếu không có Thiên Chúa thì bạn giải thích thế nào sự hiện diện của sự lành, điều thiện nhan nhản khắp nơi và ngay trong bản thân bạn ?

Trên đây tôi đã nhìn phản ứng của cháu gái Nhật-Việt như một việc bình thường, nhưng thật ra tôi biết cháu nêu lên một vấn đề lớn và không dễ trả lời : tại sao Thiên Chúa không ngăn cản các thiên tai có thể gây tai họa cho con người ?

Thiên tai là những tai họa do thiên nhiên gây ra. Nhưng thiên tai thật ra chỉ là những hiện tượng tự nhiên, những hoạt động bình thường của thiên nhiên theo quy luật mà thôi, chẳng qua vì không may mà có tác động xấu tới con người ở một mức rộng lớn nên ta mới gọi là thiên tai. Những hoạt động theo quy luật của thiên nhiên thì cứ liên miên xảy ra, hằng giây hằng phút trong vũ trụ bao la và trên trái đất ta ở, chúng to hay nhỏ, lợi hay hại, bình thường hay bất thường …, đó là đánh giá của conngười,  không  phải  chuyện  của thiên nhiên trời đất ; nếu muốn nói thiên nhiên mù quáng không đếm xỉa chi tới con người chúng ta cả - thì vẫn rất đúng. Nhưng biết sao được, không lẽ thiên nhiên cứ phải làm theo ý của ta sao ?

Đại thi hào Ấn Độ Tagore có lần nhận định rằng con người rất mâu thuẫn khi đòi thiên nhiên phải hoạt động theo ý của họ (mà đòi hỏi thiên nhiên là gián tiếp đòi hỏi Thượng Đế), ông nêu ví dụ : một bà mẹ tập đi cho đứa con nhỏ của mình  sẽ  vô  cùng hạnh  phúc  khi thấy con bước đi được những bước đầu tiên trong đời, và được vậy tất nhiên là nền nhà phải cứng vững (như bình thường là  thế), nhưng khi con té ngã bà lại trách tại sao nền nhà không mềm như tấm nệm cho con mình khỏi đau ? Nền nhà không thể khi cứng khi mềm liên hồi  theo  ý  ta  được.  Đòi  Thiên Chúa dùng quyền phép mình chế ngự thiên nhiên trong mọi trường hợp Ngài biết là sẽ gây tai họa cho con cái Ngài thì cũng gần như thế. Bạn thử nghĩ xem : giả sử Ngài liên tục can thiệp vào hoạt động của thiên nhiên theo ý con người thì hậu quả sẽ ra sao ? Đơn giản là thiên nhiên sẽ không thể tồn tại và do đó con người cũng vậy.

Chúa đã dựng nên thiên nhiên vạn vật cùng với các quy luật chi phối chúng – chúng ta gọi là định luật tự nhiên. Ngài cai quản chúng qua các định luật ấy. Nhờ các định luật đó mà mọi vật mọi loài tồn tại và phát triển. Nhưng người Công giáo biết rằng Chúa cũng đã dựng nên  con  người  giống  hình  ảnh Ngài, có trí khôn, tự do và "đặt làm chủ mọi thọ tạo trên trái đất, để  cai  quản  và  sử  dụng  chúng" (Hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng, số 12 ; xem sách Sáng Thế đoạn 1, câu 20-28). Như thế, Thiên Chúa cũng chia sẻ cho họ một phần quyền sáng tạo của Ngài. Quả thực, nhờ không ngừng hiểu biết được các định luật tự nhiên, con người vừa có thể sử dụng thiên nhiên cho lợi ích của mình, vừa hạn chế được các tác hại của thiên nhiên và góp phần hoàn thiện trái đất nơi họ sinh sống. Nhưng hiển nhiên là  cũng chính con người phá hoại công trình tạo thành  của  Chúa  khi  lạm  dụng quyền làm chủ của mình vượt quá ý muốn của Chúa Tạo Hóa, nhất là từ vài thế kỷ nay, với tiến bộ phi thường của khoa học kỹ thuật, con người đã hành xử như một bạo chúa,  tự  cho  mình  quyền  muốn làm gì với thiên nhiên cũng được, không ngừng can thiệp sâu vào thiên  nhiên  đến  độ  phá  hủy  sự thăng bằng của môi trường tự nhiên, và hậu quả là biết bao đe dọa và thảm họa con người phải hứng chịu. Ngày nay nhiều thiên tai thật ra là nhân tai, như những trận lũ lụt ngày càng nhiều và dữ dội hơn tại miền Trung nước ta chẳng hạn là một phần hậu quả của việc tàn phá rừng núi và ngăn cản dòng chảy của sông ngòi. Ngày hôm nay, nhiều công trình của con người quay lại chống con người.

Đau khổ và sự chết là vấn nạn muôn thuở của con người. Công đồng Vaticanô II dạy : "Nếu thiếu căn bản là Thiên Chúa và thiếu niềm hy vọng vào đời sống vĩnh cửu thì phẩm giá con người sẽ bị tổn thương cách trầm trọng như thường thấy ngày nay, và những bí ẩn về sự sống, sự chết, về tội lỗi và đau khổ vẫn không giải đáp được, như thế con người nhiều khi rơi vào tuyệt vọng" (Hiến chế đã dẫn, số 21). Giáo Hội xác tín rằng "nhờ Chúa Kitô và trong Chúa Kitô bí ẩn  về  đau  khổ  và  sự  chết  được sáng tỏ, bí ẩn đó đè bẹp chúng ta nếu chúng ta không biết đến Phúc Âm. Chúa Kitô đã sống lại nhờ sự chết của mình. Người đã hủy diệt sự chết và Người đã ban cho ta dồi dào sự sống …" (nt, số 22).

Tuy đã có lời giải đáp, nhưng người tin Chúa không vì thế mà hết lo âu, sợ hãi khi đối diện với đau khổ và sự chết. Và nếu trong những lúc ấy, họ có thốt lên vì quá bức xúc : Chúa đâu rồi ? Chúa bỏ con sao ? thì cũng tự nhiên, không có  gì  sai  lỗi, bởi vì  chính Chúa Giêsu cũng đã cảm thấy "hãi hùng xao xuyến" (Mc 14,33) và "mồ hôi như  những  giọt  máu  rơi  xuống đất" trước khi đi chịu nạn (Lc 22,44); rồi trên thập giá, trong đau khổ tột cùng Ngài còn kêu lên : "Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con ?" (Mc 15,34). Đó là phản ứng của con người tự nhiên, nhưng mau chóng lòng tin tưởng của người con nơi Ngài đã vượt lên trên tất cả. Trước lúc tắt thở, Ngài đã thưa với Cha : "Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha" (Lc 23,46).

Về đầu trang

***

Nhận định

[Phần   này   đơn   giản   chỉ   là những suy nghĩ vẩn vơ của người viết. Bạn đọc hoàn toàn tự do phê phán, cân nhắc chuyện đúng sai, tùy theo lương tâm ngay thẳng của mình].

1. Thái độ "giận" Ông Trời của cô bé nào đó do quá xúc động có thể thông cảm được, nhưng xét cho cùng  đấy  cũng  là  "đổ  oan"  cho Trời mà thôi, biết đâu chuyện động đất, sóng thần lại chẳng do con người trực tiếp hay gián tiếp gây ra cho nhau. Này nhé vỏ trái đất phần cứng so với vỏ quả trứng thì mỏng hơn, thế mà hàng bao nhiêu thế kỷ nay con người đào bới, đục khoét nhất là từ khi công nghiệp nặng phát  triển,  những  mỏ  than,  mỏ vàng, đồng, sắt, chì, bauxit … người ta khai thác hàng mấy cây số sâu dưới lòng đất, những giếng dầu được khoan chi chít sâu hàng chục cây số, mỗi ngày lôi lên hàng trăm triệu tấn, tầng nước ngầm được hút lên  hàng  trăm  tỷ  mét  khối mỗi ngày, ấy là chưa kể những thành phố ngầm dưới lòng đất, những đường  hầm  dưới  lòng biển Manche, lòng biển ở Đan Mạch và bên dưới các thành phố lớn như New York, Paris, Rôma, Bắc Kinh, Maxcơva,  Luân  Đôn,  Berlin  … (T/p Hồ Chí Minh cũng chuẩn bị hệ thống Mêtrô dưới lòng đất), làm sao mà lòng trái đất khỏi bị biến động, cầm giữ làm sao được những khối magma với áp lực cực mạnh lúc nào cũng chỉ chờ một kẽ hở là phun trào thành núi lửa. Vỏ trái đất rỗng như thế thì tránh sao khỏi sụt chỗ này, lở chỗ nọ, gây chấn động (động đất) mở ra những đường nứt rộng hàng chục, sâu hàng chục, dài hàng trăm cây số dưới lòng biển, nước đại dương ồ ạt dồn xuống và khi đầy tràn thì dội lên, làm thành sóng thần cao tới 25m (như đợt sóng thần 11/3 vừa qua). Sóng thì phải  tìm  đường  giải  tỏa  và  kéo theo tất tần tật những gì nó có thể kéo cho tới khi gặp đất cao hơn mới rút lui. Thiên nhiên phải vận hành theo quy luật ngàn đời của nó, con người đối đầu không được thì phải chấp nhận tiêu vong. Thế thì có lý do gì để "giận" Trời ?

Nếu  những  định  luật  tự  nhiên mà bị đảo lộn thì con người cũng như muôn vật làm sao mà sống ? Lửa thì không cháy, không tỏa nhiệt, không phát ra ánh sáng, cây thì cắm ngọn xuống, chổng gốc rễ lên, nước thì chảy ngược từ lũng thấp  lên  núi  cao.  Không  còn  ý nghĩa của câu "nước mắt chảy xuống" ; ăn thay vì nuốt vào thì cứ trôi ra như mẹ Kiền Mục Liên khi còn trong địa ngục thì làm sao mà sống đây ? Có một giai thoại về Đức Khổng Phu Tử như sau : Một người học trò hỏi thầy Khổng Tử rằng  có  mệnh  trời  hay  không  ? Thầy trả lời : "Có mệnh trời nhưng không được phép ngồi dưới chân bức tường sắp đổ".

Báo Thanh Niên ngày 6/5/2011, trang 5 có bài viết của Lâm Viên "Nhận  định  ban  đầu  về  hiện tượng bùn phun, nứt đất" (ở Việt Nam) : "Về nguyên nhân hiện tượng bùn phun trào ở Ninh Thuận (không phải Bình Thuận như tin Thanh Niên ngày 5/5 đã đưa), TS Đỗ Văn Lĩnh, Phó liên đoàn trưởng Liên đoàn Bản đồ địa chất miền Nam (Cục Địa chất và khoáng sản VN) cho rằng có 4 khả năng xảy ra : liên quan đến đới đứt gãy hoạt động,  do  gúi  bùn  dưới  lòng  đất hoạt động, do núi lửa bùn hoạt động hoặc do xung đột kiến tạo dưới lòng đất. Ông cũng nhận định hiện tượng nứt đất tại Di Linh liên quan đến đứt gãy Bảo Lâm (Lâm Đồng) – Tam Hiệp (Đồng Nai) có biểu hiện hoạt động trở lại. Tuy nhiên, muốn kết luận nguyên nhân chính xác phải đến hiện trường đo đạc cụ thể …

 Trong khi đó, chiều qua 5/5, một cơn mưa lớn kéo dài khoảng 30 phút đổ ập xuống H. Di Linh (Lâm Đồng  khiến  hàng  chục  hộ  dân trong khu vực đất nứt thêm hoảng sợ. Có mặt tại hiện trường, ông Nguyễn Canh, Chủ tịch UBND huyện Di Linh, cho hay : "Các vết nứt  ở  thị  trấn  Di  Linh  vừa  qua ngày càng lan rộng. Mặt đường Nguyễn Văn Trỗi đã xuất hiện tổng cộng 7 vết nứt. Hiện tượng đất sụt lún trên mặt đường Hai Bà Trưng ngày càng trầm trọng và có độ chênh lệch trên 20cm".

Cùng   ngày,   ông   Lương   Văn Ngự, Phó giám đốc sở TN-MT tỉnh Lâm Đồng, cho biết kết quả khảo sát của Sở vào ngày 4/5 cho thấy diện tích vùng bị ảnh hưởng do nứt đất, sụt lún đất khoảng 15 ha (dài 500m, rộng 300m) ; vết nứt rộng nhất đo được là 15cm, chiều sâu có nơi hơn 2m. Theo nhận định sơ bộ của Sở này, có 2 nguyên nhân dẫn đến hiện tượng nứt đất, sụt lún đất tại Di Linh : Thứ nhất do cấu trúc địa chất khu vực này nền đất yếu, nằm sát vùng đất bùn nên xảy ra trượt lún nền. Thứ hai, do Nhà máy nước Di Linh bơm nước ngầm để sản xuất nước sạch, nên mực nước ngầm tụt, dẫn đến nứt đất".

Lòng đất của chúng ta rỗng như "hang  chuột"  do  khai  thác  "tận diệt" để làm giàu nhất thời sao có thể  tránh  khỏi  những  biến  động như trên. Ngày nay cụ Nguyễn Du có chỗi dậy chắc phải sửa lại câu Kiều : "Ngẫm hay trăm sự tại người" (thay vì tại Trời).

Trong nguyệt san Công giáo & Dân tộc số 196 tháng 4/2011, mục thời sự quốc tế trang 73, biên tập viên NBV đã viết : "Sự cố nhà máy điện hạt nhân Fukushima (Nhật) đầu năm nay và vụ  giải cứu  thợ  mỏ  Chile  năm ngoái nhắc nhở con người về cái giá phải trả cho việc phát triển nguồn năng  lượng.  Cộng  đồng quốc tế đã lên tiếng kêu gọi xem xét lại tiêu chuẩn an toàn về hạt nhân cũng như an toàn hầm mỏ.

Trung bình mỗi năm, thế giới bị thiệt nhiều về nhân mạng và của cải cho công cuộc khai thác hầm mỏ  (than,  khoáng  sản)  và  các giếng dầu. Thảm họa vẫn tiếp tục diễn  ra,  hàng  ngàn  người  được cứu sống, nhưng vẫn có hàng ngàn người bị chôn vùi vĩnh viễn dưới lòng đất.

Vấn đề an toàn lao động tại các hầm mỏ và cơ sở hạt nhân đang là chủ đề nóng bỏng, thu hút sự quan tâm của cả thế giới". Những thảm họa chôn vùi hàng ngàn người dưới lòng đất chỉ là phần nhỏ, tai họa cho cả trái đất nơi loài người sinh sống, như động đất, sóng thần … mới lớn gấp bội. Thế mà cứ đổ "tại Trời" mới khổ chứ.  Đổ  thừa  như  thế  để  tránh kiểm điểm trách nhiệm của mình, đấy là thói quen của loài người.

2. Nếu xét ở bình diện cao hơn, rộng hơn thì thảm họa dân Nhật phải gánh chịu (14.000 người chết, 17.000 người mất tích, nhà cửa đổ nát, tính tổng thiệt hại tới 300 tỉ USD) cũng có lỗi của cả nhân loại.

Đây nhé, trái đất này được tạo dựng và được ban tặng chung cho mọi người, mọi dân tộc, hà cớ gì lại "phân lô" để chiếm giữ, nước mạnh chiếm phần to, giàu tài nguyên, nước yếu chịu phần bé, nghèo nàn, khô cằn, nhiều nguy hiểm.   Đất   đai,   sông   biển,   tài nguyên của trái đất bị chia mảnh, đó là sự tranh cướp của loài người với nhau chứ đâu có phải sự phân chia của Trời. Tình trạng tranh cướp vẫn tồn tại và sẽ tồn tại đến tận thế, các nước láng giềng với nhau tranh giành biên giới, lính tráng vũ trang khí tài tập trung ỳ xèo đe dọa nhau (biên giới Campuchia–Thái Lan, Nam–Bắc Hàn, Nhật Bản–Liên Xô, Palestin– Israel, Pakistan–Ấn Độ …). Ai đã cho con người cái quyền làm như thế ? Giả như mọi người coi trái đất là mái nhà chung, chẳng phân biệt màu da, chủng tộc – cư xử với nhau công bằng và bác ái –  đất rộng   dân   thưa   như   châu   Đại Dương mà cho dân Nhật lập cư ở ké, tránh vành đai núi lửa, đất sụt… thì đâu có bị thiệt hại do thảm họa động   đất,   sóng   thần  hôm 11/3/2011. Nếu tài nguyên được chia đều để sống thì đâu có cảnh nghèo đói như một số nước ở châu Phi … như thế thì cả những trận động đất và sóng thần gây thiệt hại người và của cũng trực tiếp hay gián tiếp do con người cả đấy thôi, sao lại đổ cho Trời để rồi "giận" Ông Trời, nghỉ chơi với Ông Trời !

Tốt hơn hết là chúng ta khiêm tốn nhìn ra sự thật là lỗi lầm của chính  chúng  ta,  để  chấn  chỉnh đồng thời cầu Trời ban phước lành cho những nạn nhân, giúp họ sớm khắc phục thảm họa. Phần chúng ta, những người hiện nay còn được sống bình an không bị ảnh hưởng nhiều bởi thảm họa, chúng ta động viên  nhau  giúp  đỡ  cho  các  nạn nhân trong tinh thần yêu thương đùm bọc "là lành đùm lá rách", và nếu có là "lá rách thì cũng đùm lấy lá nát", như thế có hay không ? Người ta vẫn nói "thà thắp lên 1 ngọn đèn dầu leo lét còn hơn là cứ ngồi đó mà nguyền rủa bóng tối".

3. Bây giờ nói về những chuyện khác thiết thân với chúng ta. Trước hết là vấn đề hạt nhân, một phát minh vĩ đại của loài người nhưng cũng là con dao 2 lưỡi "lợi thì có lợi" nhưng rất nhiều khi "hàm răng chẳng còn". Ngay khi xảy ra sự cố nhà máy điện hạt nhân Fukushima (Nhật)  ngày  11/3,  các nước  Âu châu và Mỹ châu đã vội vàng đề ra các biện pháp kiểm tra an toàn hạt nhân nghiêm nhặt.

Nguyệt  san   CGvDT  số   196, trang 77 có bài "Điện hạt nhân" của NBV :  Âu châu có 143 lò hạt nhân, tại 14 nước. Điện hạt nhân Pháp đứng hàng đầu với 58 nhà máy, chiếm 75% điện năng, Slovakia (53%), Bỉ (51%), Ucraina (48%). Đức chỉ có 17 nhà máy điện hạt nhân chiếm

25% điện năng. Pháp là cường quốc số hai về điện hạt nhân, sau Mỹ, đang vận động họp Hội nghị quốc tế vào tháng 5 này, để thông qua một bộ luật về an toàn hạt nhân. Hiện IAEA (cơ quan nguyên tử quốc tế) đã có các tiêu chuẩn an toàn hạt nhân được 72 nước thông qua năm 1986, sau vụ Chernobyl (vụ  nổ  lò  hạt  nhân  khủng  khiếp nhất từ trước đến bây giờ, bụi phóng  xạ  ảnh  hưởng  tới  nhiều nước xung quanh, thiệt hại rất nhiều người, nhiều của)), nhưng không có tính ràng buộc pháp lý. Phi châu chỉ có Nam phi sở hữu 2  lò  điện  hạt  nhân  ở  Koeberg, cung cấp 6% điện năng. Maroc, Algeria và Ai Cập hiện có 10 lò phản ứng hạt nhân, phục vụ công cuộc nghiên cứu.

Bất chấp thảm họa hạt nhân tại Nhật,  các  nước  vùng  Vịnh  vẫn quyết tâm phát triển năng lượng hạt  nhân. Arập thống nhất đang xây nhà máy 20 tỷ USD, Kuweit có kế hoạch xây 6 lò phản ứng hạt nhân.

Trong số 442 lò hạt nhân trên toàn  thế  giới,  vùng  Trung  Đông mới bước vào cuộc chạy đua nguyên   tử.   Sau   vụ   Chernobyl, nhiều nước đã ngưng chương trình hạt nhân. Thảm họa hạt nhân Nhật hiện  nay  cũng  khiến  nhiều  nước suy nghĩ lại.

Đức sẽ chấm dứt dùng điện hạt nhân : Đức trở thành nước công nghiệp  đầu  tiên  chấm  dứt dùng điện hạt nhân … Chính phủ Đức đã đóng cửa 8 nhà máy điện hạt nhân ngay sau sự cố điện hạt nhân ở Nhật, và dự trù đóng cửa 9 nhà máy còn lại vào năm 2022 (Thụy Miên  –  Lê  Loan,  báo Thanh  Niên  ngày 31/5/2011).

4. Vấn đề giàu nghèo – Đây là chuyện muôn thuở và muôn đời, ngoài  việc  kêu  Trời,  người  ta không biết đổ lỗi cho ai. "Trời ơi ! Trời ở không cân, Kẻ ăn không hết, người lần không ra"

Thời nông nô, các chủ nông quyền lực nắm hết đất đai, ruộng vườn,  đại  đa  số  dân  nghèo phải làm nô lệ để kiếm sống qua ngày, cuộc đời tối tăm lầm lũi.

Thời phong kiến, bọn cường hào ác bá, địa chủ, quân phiệt nắm hết ruộng đất, tài sản. Đại đa số dân chúng chấp nhận làm tá điền một nắng hai sương, sống trong cảnh nghèo đói, thiệt thòi, bị bóc lột.

Thời dân chủ tương đối khá hơn, lý thuyết thì hay đấy : Dân chủ có nghĩa là người dân được làm chủ mọi tài sản của đất nước, nhưng thực  tế  hố  sâu  giàu  nghèo  cũng chẳng kém thời phong kiến, có khi còn sâu hơn, xa hơn nữa, cứ nhìn xung quanh chúng ta và hướng ra toàn thế giới mà xem bao nhiêu kẻ "ăn không hết", bao nhiêu người "lần không ra" !

Tuyên  ngôn  độc  lập  2/9/1946 của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa  đã  xác  quyết  :  "Tạo  Hóa dựng lên con người bình đẳng, ai cũng có quyền tự do, quyền sống…" – Tại sao lại có những người "giành"  được  nhiều  của  cải,  đất đai, … có những người lao động suốt đời, cơm không đủ no, áo không đủ ấm, nói chi tới tiện nghi, đến trăm phương nghìn kế để hưởng thụ chất lượng cuộc sống.

Ở đây mới nói tới động từ "giành"  có  nghĩa  là  "xí  được", chưa nói tới động từ "cướp đêm" hay "cướp ngày" dưới mọi hình thức tinh vi. Bạn nghĩ sao về đám cưới đình đám của hoàng tử William nước Anh tốn hơn 50 triệu USD, dân chúng nghỉ việc để xem đám cưới tính ra thiệt hại 10 tỷ USD (báo chí cuối tháng 4/2011), hay đám cưới con một quan chức lớn ở Ấn Độ tốn 28 triệu USD mà dân chúng nhiều người lên tiếng ca thán ? Trong khi đó hàng tỷ người trên   thế   giới   mong được 1 USD/ngày để sống cũng chưa có ! Hai  bài  báo  sau  đây đủ  tạo  nên hình  tượng  của  cái  nghèo cho người ta "sờ được, ngửi thấy" :

a. "Nói  chuyện  trên  trời"  (báo Tuổi Trẻ ngày 13/3/2010 – Bút Bi) :

Trước   tình   hình   nhiều   công nhân ốm đói xanh xao và mỗi sáng vào ca với bước đi xiêu vẹo, thậm chí có người đang làm lăn ra ngất xỉu, hội nghị các ông chủ và liên hiệp các nhà bếp công nhân khẩn cấp họp bàn biện pháp cải thiện tình hình dù mỗi suất ăn đã có giá ... 5.000 đồng.

- Hàng tháng chúng tôi đã phát lương đều đặn - một ông chủ ném cái nhìn về phía liên hiệp các nhà bếp.

- Đủ muối, đủ mắm, rau xào có dầu và món canh không khi nào thiếu tóp mỡ ! - một bếp trưởng phản công. Đúng rồi, phải nói kẻo người ta tưởng cánh nhà bếp "cầm dầu sao khỏi dính tay". Như vậy đã rõ : chủ phát lương đủ, nhà bếp không tơ hào, vậy sao công nhân vẫn xanh lướt như tàu lá ?

- Vấn đề là công nhân thiếu kiến thức, không biết cân đối khẩu phần

- một vị sửa lại cái cà vạt trên cổ béo ngấn, khịt mũi - phải tổ chức nhiều  cuộc  hội  thảo,  truyền  đạt kiến  thức  về  bữa  ăn  cho  công nhân. Đó là : phải đủ đạm, tinh bột, chất béo, chất xơ, đường ... Đó là chưa kể ăn quà vặt, hàng rong phải tuân thủ triệt để an toàn vệ sinh thực phẩm !

Sau một phút ngỡ ngàng, cả hội nghị  vỗ  tay  rần  rần  :  phải,  chí phải,  lỗi  là  do  công  nhân  thiếu kiến thức về dinh dưỡng ! Hội nghị thành công và bàn tiệc được bày ra, bia khui lốp bốp.

 Một toán công nhân xuống ca nãy giờ tò mò lắng nghe phát biểu, lắc đầu : "Lương thế này đến cơm còn không đủ ăn nói gì cân đối dinh dưỡng mấy cha nội. Nói chuyện trên trời !".

b. "70 tuổi vẫn long đong phận người" (báo Thanh  Niên ngày 30/6/2010 – Trần Thế Vinh) :  Một lần về miền Trung, tình cờ gặp  một  bà  lão  khoảng  70  tuổi đang bắt ốc tại một con sông, tôi nhận ra đó là bà Bảy Chê, ở làng Đông Bình, Triêm Đông I, Điện Phương (Điện Bàn, Quảng Nam).

Bà Bảy Chê đang bắt ốc trên sông Đầm.

Bà tên thật là Trần Thị Chê, ở cuối làng Đông Bình. Gia đình bà có 4 anh chị em, người chị cả lấy chồng  xa  quê  biệt  xứ  từ  những năm 60 thế kỷ trước, không biết giờ ở đâu ; người chị kế lấy chồng cùng làng cũng nghèo lại không may mang bệnh ung thư qua đời và anh trai tập kết ra Bắc từ năm 1954. Cha bà ngày xưa làm nghề cào  hến,  ngày  đêm  lặn  hụp  hết sông này đến sông khác, mẹ con bà thức khuya dậy sớm nấu hến gánh đi bán khắp làng kiếm mấy đồng bạc lẻ, mua gạo, mua khoai sống qua ngày.

 Mùa mưa lũ, cha bà lại cùng với đôi nơm tre đi "úp" quanh ruộng làng hoặc "đứng trủ" (cất vó) dưới mưa gió buốt lạnh để kiếm vài con cá đồng. Cả gia đình sống trong một căn nhà vách đất, phên tre, mái rạ. Cha mẹ bà lần lượt ra đi, khi bà có chồng có con, chồng đi xa, bà lại phải nuôi con một mình. Công cụ kiếm sống của bà là chiếc thau nhôm cao cổ, cái rổ tre, ngày ngày  lặn  lội  từ  sông Đầm,  đến sông Phú Chiêm rồi lên hói Lai Nghi để bắt ốc, mò cua. Nhiều lần bà suýt chết vì sụp hố nước sâu, ốc cua cũng theo nước trôi mất, đành về tay không. Những ngày như vậy, cả nhà đành phải nhịn đói.

Cho đến bây giờ tuổi đã 70, bà cũng phải lặn lội suốt ngày từ sáng đến chiều để nuôi người chồng bị bệnh, mất sức lao động ngồi tại chỗ. Các con bà ai cũng nghèo, họ không đủ để lo cho gia đình của mình, làm sao để phụ cha mẹ. Có những đêm mưa lạnh bà cũng phải lặn lội rất khuya để bắt ốc. Một hôm tôi đến nhà, bà đang lúi húi trong bếp lo bữa cơm chiều, bữa cơm chỉ có rau luộc và chén mắm cáy. Bà cho biết mỗi ngày từ việc mò cua bắt ốc, lúc nhiều nhất cũng được hai ba chục ngàn, gặp ngày nước lớn thì chỉ được năm mười ngàn. Nhìn lại, cả đời bà Bảy Chê phải chịu cực khổ suốt từ lúc nhỏ cho đến tuổi xế chiều, bao nhiêu nỗi lo toan vất vả dường như đọng lại hết trên khuôn mặt lam lũ của bà.

Rời nhà bà, tôi cứ nặng trĩu ưu tư, một kiếp người chưa có một ngày  an  nhàn,  dù  chỉ  với  mong ước rằng có được vài trăm ngàn đồng để  thân già bớt  được dăm bảy  ngày  lặn  lội  nơi  ruộng  cạn đồng sâu.

Báo Thanh Niên ngày 21/5/2011 cũng làm hàng tỷ người nghèo thất nghiệp phải nuốt nước miếng : Báo chí  Anh  tung  tin  Real  đồng  ý chuyển  nhượng  Ronaldo  với  giá 150 triệu bảng, Ronaldo sẽ là cầu thủ  đắt  giá  nhất  với  mức  lương 200.000  –   300.000   bảng/tuần   ; Lương huấn luyện viên Mourinho 13,5 triệu Euro/năm ; Maradona 12 triệu Euro/năm – (hơn 1 tỷ tiền Việt Nam  mỗi ngày,  báo  Thanh  Niên  ngày 23/5/2011).

Có   người   nói   rằng   giàu   có không phải là tội, nghèo khó cũng chẳng phải là tội, đó là tình trạng xã hội tự nhiên chẳng có gì đáng bàn, ai giàu nấy hưởng, ai nghèo thì ráng chịu. Nói như vậy thì vẫn hàm hồ. Chúng ta phải xác định rằng giàu có mà do tài năng sáng kiến của mình, do cần cù tiết kiệm mà tích lũy được thì quả là không có tội, nếu do lợi thế chức quyền, mánh mung hay do những hành động phi pháp, hoặc do thừa kế từ đời cố tổ tới giờ đã trải qua nhiều giai đoạn bất minh, thì vẫn có tội tày đình – Còn những người nghèo khó do mất sức lao động, không có điều kiện để làm việc, xoay sở thì quả thật vô tội và đáng thương ; còn nghèo khó do lười biếng, do cờ bạc, rượu chè, chơi bời, xì ke ma túy để thân tàn ma dại không thể lao động kiếm sống được thì đó là tội chứ gì nữa, trách ai đây !

Đối với Đức Chúa Trời, thì chưa xét nguồn gốc của cải do đâu, chỉ nguyên thái độ hưởng thụ ích kỷ, không nghĩ tới người yếu kém hơn mình, không biết chia sẻ giúp đỡ đã là tội tày đình đáng phải xuống hỏa ngục ! Thánh Luca đã chép trong Tin Mừng dụ ngôn sau đây : "Có một ông nhà giàu kia, mặc toàn lụa  là  gấm vóc, ngày ngày yến  tiệc  linh  đình.  Lại  có  một người nghèo khó tên là Ladarô, mụn  nhọt  đầy  mình,  nằm  trước cổng ông nhà giàu, thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rớt xuống mà ăn cho no. Lại thêm mấy con chó cứ đến liếm ghẻ chốc anh ta. Thế rồi người nghèo này chết, và được thiên thần đem vào lòng ông Ápraham. Ông nhà giàu cũng chết, và người ta đem chôn.

Dưới âm phủ, đang khi chịu cực hình, ông ta ngước mắt lên, thấy tổ phụ Ápraham ở tận đàng xa, và thấy anh Ladarô trong lòng tổ phụ. Bấy giờ ông ta kêu lên : "Lạy tổ phụ Ápraham, xin thương xót con, và sai anh Ladarô nhúng đầu ngón tay vào nước, nhỏ trên lưỡi con cho mát ; vì ở đây con bị lửa thiêu đốt khổ lắm ! Ông Ápraham đáp : "Con  ơi,  hãy  nhớ  lại  :  suốt  đời con, con đã nhận phần phước của con rồi ; còn Ladarô suốt một đời chịu  toàn  những  bất  hạnh.  Bây giờ, Ladarô được an ủi nơi đây, còn  con  thì  phải chịu khốn khổ. Hơn nữa, giữa chúng ta đây và các con đã có một vực thẳm lớn, đến nỗi bên này muốn qua bên các con cũng không được, mà bên đó có qua bên chúng ta đây cũng không được.

Ông nhà giàu nói : "Lạy tổ phụ, vậy thì con xin tổ phụ sai anh Ladarô đến nhà cha con, vì con hiện còn năm người anh em nữa. Xin sai anh đến cảnh cáo họ, kẻo họ lại cũng sa vào chốn cực hình này ! Ông Ápraham đáp : "Chúng đã có Môsê và các Ngôn Sứ, thì chúng cứ nghe lời các vị đó. Ông nhà  giàu  nói :  "Thưa  tổ  phụ Ápraham, họ không chịu nghe đâu, nhưng nếu  có  người  từ  cõi chết đến với họ, thì họ sẽ ăn năn sám hối. Ông Ápraham đáp : "Môsê và các  Ngôn  Sứ  mà  họ  còn chẳng chịu nghe, thì người chết có sống lại,  họ  cũng  chẳng  chịu  tin"  (Lc 16,19-31).

5. Ngôi sao xấu – Những người có cuộc đời không mấy suôn sẻ, ngoại hình lại không được hấp dẫn dễ nhìn thường than thở : "Mình sinh ra nhằm ngôi sao xấu", có ý nói về một định mệnh hẩm hiu hay nói cách  khác  tại  Ông  Trời  sinh  ra mình không được đẹp nên khó tiến thân.  Nhất  là thời  buổi  hiện  tại, tiêu chí ngoại hình là hết sức quan trọng   :   tuyển   "osin"   cũng   phải ngoại hình khá mới được.

Liệu    có    ngôi  sao  xấu  thật không ? Hoặc nói cách khác, Ông Trời có sinh ra ai tật nguyền, xấu xí hay không ? Bạn đọc nghĩ thế nào thì tùy các bạn còn người viết thì xác tín rằng không có ngôi sao xấu. Sao nào trên bầu trời cũng le lói cả, có mờ nhạt là do nó ở xa chúng ta quá đó thôi. Lòng Trời rộng  hơn  đại  dương chứ  đâu  có hẹp như cái ao tù để rồi "ăn ở bất công" tạo ra người này đẹp, kẻ kia xấu, người này hoàn chỉnh, kẻ kia khiếm khuyết. Thánh Kinh Cựu Ước đã chẳng quả quyết : "Con người được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa" đó sao (sách Sáng Thế đoạn 1, câu 27), mà Thiên Chúa hay Ông Trời là Chân-Thiện-Mỹ tuyệt đối thì làm gì có "hình ảnh" xấu xí. Một họa sỹ, một nhà điêu khắc tạo nên một tác phẩm phải đẹp (theo tác giả), chứ có ai cất công vẽ vời đục đẽo ra một tác phẩm xấu bao giờ, trừ khi tác giả không có khả năng, tài cán (lực bất tòng tâm), vậy thì làm sao lý giải hiện tượng xã hội : kẻ đẹp, người xấu, kẻ khỏe người đau, kẻ béo người gầy, kẻ đầy đủ mọi bộ phận, lại lành lặn xinh đẹp, người bị khiếm khuyết, biến dạng đến nỗi đi lại cũng khó khăn, chẳng còn cơ hội để lao động kiếm sống, phải chịu thiệt thòi mọi mặt ? Nếu Trời không là tác nhân của tình trạng bi đát đó thì mọi sự tồi tệ chỉ tại con người mà thôi.

Này  chúng  ta  sinh  ra  không "xinh đẹp" là do cha mẹ chúng ta hoặc  ông  bà  chúng  ta  đã nghèo khổ, ăn uống thiếu thốn, suy dinh dưỡng, lại lao động cực nhọc, điều kiện y tế không có nên cưu mang chúng ta trong những điều kiện bất lợi, rồi sinh ra chúng ta bệnh tật, yếu đuối làm sao mà "xinh đẹp" được. Có khi do nhiễm bệnh đâu đó bởi người này người kia, hoặc bởi môi trường đã bị rải chất độc da cam, hoặc đã uống phải nước sông Thị Vải, sông Hồng, sông La Ngà, sông Đồng Nai và mọi nguồn nước đã bị ô nhiễm do nước thải các nhà máy đổ vào.

Chúng ta nghe báo chí nói tới làng ung thư ở ngoài Bắc, ở đó đa phần dân làng bị bệnh ung thư do nhiễm độc khí và nước thải từ một nhà máy nấu quặng nào đó xả ra. Dân làng nghèo đói không thể chuyển chỗ ở, Nhà nước cũng khó khăn chẳng dễ kiếm chỗ di dời cả một làng một xã, mà không phải chỉ di dời còn làm sao cho họ có đất trồng cấy, có công ăn việc làm để sinh sống nữa ! Đóng cửa nhà máy thì nhà nước không thu được lợi nhuận, nhiều ngàn công nhân thất nghiệp nên cứ để vậy rồi loay hoay tìm cách khắc phục hậu quả, đền bù chút đỉnh cho dân. Trường hợp nhà máy Vedan cũng vậy.

Còn  trăm  nghìn  thứ  do  con người phát minh ra có giải quyết được một số đam mê của con người,  nhưng  tác  hại  cho  con người thì không thể kể hết – thuốc lào,  thuốc  lá,  thuốc  lắc,  thuốc phiện … gây ra hàng trăm trăm triệu  cái  chết  trong  năm.  Một người nghiện ma túy, ung thư phổi làm khổ cả nhà, cả xóm và cả xã hội (do lây nhiễm).

Rượu bia, rượu mạnh giải quyết đam mê của một bộ phận dân chúng, nhưng lại sinh ra bệnh tật, tệ nạn mâu thuẫn và chết chóc, ưu phiền cho muôn ngàn người …

Xe cộ phát triển, nhập nhiều gây ra không biết bao nhiêu tai nạn, thương tật … một chiếc xe hơi xả khói cả xã hội phải "ngửi mùi".

Súng đạn, mìn, bom, nhất là nguyên tử … phục vụ hạnh phúc con người hay chỉ đe dọa, hủy diệt ? Hai cuộc thế chiến làm cho hàng trăm  triệu  người  chết,  hàng  tỷ người  bị  thương  tật,  ảnh hưởng xấu cách này cách khác.

Nhiều thủy điện quá cũng làm hại môi trường, gây lũ lụt, bức tử các dòng sông : chỉ cần một đập thủy điện trên thượng nguồn sông Hồng,  cả  miền  Bắc  sẽ  phải  thất điên bát đảo. Còn ở miền Nam, chúng  ta  hãy  đọc  báo  Tuổi  Trẻ ngày 23/9/2010 : "11 dự án thủy điện de dọa sông Mékong" (bài của N.Triều – H.Giang) :

Trong thông cáo phát đi ngày 22/9, Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF) cho biết hiện có 11 đập thủy điện được đề xuất xây dựng trên hạ lưu sông Mékong, đoạn chảy qua Lào, Campuchia, Thái Lan  và  Việt  Nam.  Nếu  chỉ một trong số những con đập này được xây dựng, nó sẽ phá vỡ sự kết nối hệ sinh thái của sông Mékong và dẫn đến một loạt tác động tiêu cực.

Cũng theo WWF, ngày 24/9 tại Bangkok (Thái Lan), lần đầu tiên các ngân hàng hàng đầu của Mỹ, châu Âu và châu Á sẽ cùng nhau gặp gỡ tại một hội thảo do WWF cùng các cơ quan phát triển khác đồng tổ chức. Cuộc họp sẽ tập trung  bàn  về  các  rủi  ro  về  tài chính, xã hội và môi trường cũng như trách nhiệm đối với phát triển thủy điện trên hạ lưu sông Mékong và tìm giải pháp giảm thiểu những rủi ro này.

Đập Tam Hiệp gây nhiều vấn đề  nghiêm  trọng  :  Theo  AFP, chính phủ Trung Quốc cho biết "Đập Tam Hiệp (lớn nhất thế giới) mang đến lợi ích to lớn nhưnglại có vấn đề cần khẩn trương giải quyết,  như  ổn  định  và  cải  thiện điều kiện đời sống cho người dân di dời (1,4 triệu dân), bảo vệ môi trường sinh thái và ngăn ngừa các tai biến địa chất" (đập khởi công 1993, hoàn thành 2008, nhấn chìm hàng ngàn làng xã và các di tích khảo cổ, hiệnnay cần hàng tỷ USD để khắc phục hậu quả về môi trường)   –   (Báo   Thanh   Niên   ngày 20/5/2011 – Lê Loan).

Còn vụ khí hậu nóng lên do khí thải  của  các  nhà  máy  bay  lên không  trung  làm  cho  băng  tuyết Bắc cực, Nam cực tan chảy. Các nhà khoa học tính khoảng 90 năm nữa  mực  nước  biển  sẽ dâng lên 1,6m,  nhiều  đảo,  nhiều  nước  sẽ "chìm".

Báo   Công   an   Tp.HCM   ngày 27/5/2011 có bài "Vịnh Nha Trang đang hấp hối" : Vịnh Nha Trang một trong những vịnh đẹp nhất thế giới hiện đang "hấp hối" vì rác và ô nhiễm dưới mọi hình thức.

Chương   trình   INFO-TV   ngày 29/5/2011  thông  tin  :  Tới  năm 2020, Việt Nam sẽ phải giải quyết 22 triệu tấn chất thải mỗi năm.

Loài người đang sống trong những điều  kiện  nguy hiểm như thế nhất là tuyệt đại đa số dân nghèo, làm sao không ảnh hưởng xấu tới con cái, cháu chắt :

-  Thở khí ô nhiễm.

-  Uống  nước  pha  lẫn  thuốc  trừ sâu, dioxin, chất độc, chì, thủy ngân …

-  Ăn thức ăn nhiễm đủ mọi thứ chất độc từ phóng xạ nguyên tử đến hóa chất.

-  Mặc những chất vải cũng nhiễm độc, gây ung thư.

- Ở trong môi trường ngập rác – Tầng  ôzôn  bị  thủng  không  đủ sức che chở cho làn da, khuôn mặt.  Thử  hỏi  làm  sao  khỏe mạnh, xinh đẹp được. Lại còn hậu quả lâu dài của chiến tranh, diễn ra liên tục khi thì ở nơi này, lúc thì ở nơi nọ, thế giới hầu như chưa có một ngày thục sự bình yên – Người viết sinh ra trong chiến tranh, tuổi thơ được nuôi dưỡng  dưới  đạn  bom,  lớn  lên trong loạn lạc, đói kém (trận đói thế   kỷ   năm   Ất   Dậu   1945, nguyên miền Bắc Việt Nam khoảng 2 triệu người chết đói), bây giờ trải qua tuổi già dưới hậu  quả  của  chiến  tranh,  mìn bom vẫn còn bị chôn vùi đâu đó trên đất nước, rà gỡ chưa hết. VTV.9 chương trình Sáng Phương  Nam  sáng  25/5/2011 đưa tin : Israel lập được bản đồ nhờ vệ tinh hiện còn 200 triệu bãi mìn chôn vùi đó đây trên trái đất, bản đồ này sẽ giúp gỡ mìn ít nguy hiểm hơn. Ký ức kinh hoàng về những lần chạy loạn, nằm dưới con mương nghe ù tai tiếng máy bay, đại bác, … lâu lâu ký ức chiến tranh lại hiện về trong cơn ác mộng. Người viết nhiều khi cứ lẩn thẩn tự hỏi : Sao lại đánh nhau nhỉ ? Sao người miền Bắc lại giết người miền Nam và ngược lại ? Hận thù kéo dài nhiều chục năm từ thơi phân tranh Trịnh Nguyễn cho  tới  những  năm  gần  đây, hàng trăm triệu người  chết, què, cụt, mù, điếc, điên loạn, tâm lý trầm cảm, bất ổn do mất mát quá nhiều người thân và của cải. Tại sao nước Đức cũng có thời cách chia Đông Tây, cũng đối đầu thù địch  rồi  hòa  hợp  được,  chẳng phí xương máu, đạn dược, tiền của, chẳng phí "nhời" chửi bới, vu khống hạ nhục nhau ? Ngày nay họ mạnh nhất châu Âu. Còn tại nước mình, người dân sống nhiều  năm  trong  những  điều kiện tâm sinh lý như vậy, làm sao không ảnh hưởng xấu tới dòng giống tương lai ! Con cái, cháu chắt lành lặn, xinh đẹp làm sao được ? Ấy là chưa kể bao nhiêu   trường   hợp   người   mẹ mang  thai,  sinh  đẻ  thiếu  điều kiện thuận lợi : tinh thần bị ức chế do phiền não khổ sầu, thân xác bị bạo hành dã man. Báo Thanh Niên ngày 16/6/2010 đưa tin : "Một người vợ bị chồng hành hạ 14 năm" (bài của Gia Bách) : Đó là bà Nguyễn Thu Hằng (43 tuổi, ngụ ấp Gành Hào 1, xã Hòa Tân, TP Cà Mau, tỉnh Cà Mau), được lực lượng Công an xã Hòa Tân đưa về trụ sở ngày 15/6, trong tình trạng trên người có nhiều vết thương, tụ  máu  đỉnh  đầu,  2  hốc mắt bầm tím, mặt sưng phù.

Ngày 15/6, tháp tùng đoàn công tác  của  Công  an  xã  Hòa  Tân, chúng tôi tìm đến nhà bà Nguyễn Thu Hằng. Biết có người trong nhà nhưng gọi mãi vẫn không có tiếng trả lời, buộc lòng lực lượng làm nhiệm vụ phải tìm cách vào nhà. Trong căn nhà tối om, một người đàn bà mặt sưng húp, bước từng bước chậm chạp. Trông bà gầy gò, mặt bầm tím, tay chân hằn những vết thâm đen ngang dọc, dấu tay cào cấu còn in rõ trên cổ ... Đó là bà Nguyễn Thu Hằng.

Hai hàng nước mắt chảy dài, bà Hằng nói những vết thương trên người là do chồng, ông Lê Đồng Khởi, đánh vào ngày 12/6. Nhưng rồi bà một mực không cho biết thông tin gì thêm, bảo rằng vợ chồng sống với nhau thì đánh nhau là chuyện bình thường và bà bị chồng đánh thường xuyên như thế đã 14 năm nay. Bà Hằng cũng không nhớ hết đã bao nhiêu lần bị chồng đánh những trận thừa chết thiếu sống. Thích là đánh .

Để làm rõ hành vi bạo hành vợ trong  thời  gian dài của ông Lê Đồng Khởi, Công an xã Hòa Tân tiến hành lấy lời khai đối với bà Nguyễn Thu Hằng. Sau hơn 4 giờ thuyết phục, bà Hằng mới kể lại một  phần  sự  việc  : "Cũng  như những  cặp  vợ  chồng  khác,  thời gian mới cưới vợ chồng tôi sống rất hạnh phúc. Nhưng 9 năm sau đó, tôi bắt đầu bị anh Khởi thường xuyên  đánh  đập.  Làm công  việc nhà không vừa ý anh cũng đánh, nói  không  vừa  lòng  anh  cũng đánh, đôi lúc mời anh ăn cơm, lời mời  không  vừa  lòng  anh  cũng đánh. Khi tôi sinh con thứ 2 (người con này năm nay 14 tuổi) anh bắt đầu đánh, đến khi sinh thằng út (9 tuổi) thì anh đánh nhiều hơn và nhiều lần đánh tôi đến xỉu. Thời gian đầu anh đánh, bà con láng giềng có đến can ngăn, nhưng mỗi lần bà con đến can ngăn là anh Khởi lại chửi bới, đòi chém nên sau đó không ai dám can thiệp vào mỗi khi ảnh đánh tôi".

 Lời kể của bà Hằng luôn bị đứt quãng  bởi  từng  cơn  ho  kéo  dài. Một điều mà chúng tôi cũng như những điều tra viên không thể lý giải được là vì sao trong một thời gian  dài  bị  chồng  đánh  đập  tàn nhẫn nhưng bà Hằng vẫn không hé răng nửa lời. Trước cơ quan điều tra, bà luôn bênh vực chồng và đề nghị đừng xử lý bởi bà còn yêu chồng và muốn gia đình sum họp để lo cho các con. Cả 3 người con của bà hằng ngày chứng kiến cảnh cha đánh mẹ nhẫn tâm như thế nhưng vẫn một mực bênh vực cha.

Về đầu trang

Hàng xóm sợ bị trả thù :

Theo lời bà Phạm Thị Ly (ông Khởi gọi  bằng dì), nhà sát  cạnh nhà bà Hằng, thì : "Tôi và mẹ nó là cô cậu ruột, nhưng tôi từ nó lâu rồi. Nó là con người tàn nhẫn nhất mà tôi từng gặp. Mẹ nó nó cũng chửi, vợ nó thì nó muốn đánh là đánh, không có lý do. Có lần nó trấn nước vợ nó gần chết, đứa con gái tôi hay được chạy đến kéo con Hằng lên. Lúc đầu nó đánh vợ, gia đình tôi còn can ngăn nhưng mỗi lần can là nó chửi bới, hăm dọa nên tôi không dám nữa. Mà nói thật, nhiều lúc nghe nó đánh vợ, tôi vái Trời Đất cho vợ nó chết sớm cho bớt khổ thân, chứ sống mà bị hành hạ như thế chết còn sướng hơn".

Bà Ly là người duy nhất cùng xóm với bà Hằng dám nói về hành vi  bạo  hành  của  ông  Lê  Đồng Khởi. Còn những người bà con khác không ai dám hé răng vì sợ bị trả thù. Một người hàng xóm ông Khởi (xin được giấu tên) nói : "Tôi rất thương vợ thằng Khởi nhưng thằng Khởi quá hung hăng nên tôi không dám đứng ra làm nhân chứng, chỉ nhờ cơ quan chức năng đưa vợ nó đi điều trị và có biện pháp trừng trị thằng vũ phu đó". Còn một người bà con ruột thịt với ông Khởi bức xúc : "Vợ nó đi làm ở TP Cà Mau. Nó canh đến tháng vợ lĩnh lương là ra lấy tiền. Nếu vợ đưa không đủ tiền là nó xuống tay đánh không thương tiếc. Có lần, nó cột tóc vợ vô xe rồi chạy đi, may là vợ nó thoát ra được, nếu không lần đó chắc là chết. Mẹ nó can ngăn thiếu điều nó đánh mẹ nó luôn. Thậm chí có lúc nó dắt ghệ (bồ nhí - PV) về nhà mà con vợ nó không dám mở miệng nói lời nào".

Bác sĩ Lê Văn Tèo, Trưởng trạm Y tế xã Hòa Tân, người trực tiếp khám  bệnh  cho  bà  Hằng,  nói  : "Thật sự tôi không thể hình dung ra sự tàn nhẫn của người chồng này. Bà Hằng bị đa chấn thương phần mềm, đáng lo nhất là những vết thương phần đầu, cần phải đi giám định, chụp X-quang để có kết quả chính xác nhất".

Trao  đổi  với  chúng  tôi  chiều 15/6, trung tá Phạm Thanh Tùng, Trưởng công an xã Hòa Tân, cho biết : "Trước mắt, để phòng ngừa hậu quả bởi ông Khởi hiện không biết đang ở đâu nên chúng tôi tạm thời  không  để  bà  Hằng  về  nhà trong thời gian này". Còn bà Đặng Kim Chung, Chủ tịch Hội Phụ nữ xã  Hòa  Tân,  thông  tin  :  "Trong thời gian chị Hằng điều trị, tiền viện phí, tiền thuốc, ăn ở trước mắt Hội sẽ đứng ra lo liệu. Tôi rất đau lòng  khi  chứng  kiến  sự  vụ  này. Thật là một hành động quá tàn nhẫn".

Đến  tối  qua, Công an  xã  Hòa Tân thông tin hôm nay (16/6) sẽ đưa bà Hằng đi giám định thương tật. Ông Lê Nghĩa Hiệp, em của ông Khởi cũng thay mặt gia đình cam kết  trong ngày 16/6 sẽ  đưa ông Khởi đến trình diện công an.

6. Ế chồng tại Trời :

"Bắc thang lên hỏi Ông Trời
Sao không bố thí cho tôi tí chồng"
(ca dao)

 Trong mục Vườn Hồng của báo Thanh Niên Chủ nhật, nơi anh Bồ Câu chuyên gỡ rối tơ lòng, có lần một cô bé viết thơ hỏi : "Anh Bồ Câu ơi, có phải nỗi bất hạnh lớn nhất của người phụ nữ là ế chồng không anh ?". Anh Bồ Câu trả lời : "Em ạ, nỗi bất hạnh lớn nhất đối với một phụ nữ không phải là ế chồng, mà là lấy phải thằng chồng không ra gì". Câu trả lời có vẻ "nặng phần an ủi vỗ về" chứ thực sự nỗi khát khao có một tấm chồng vô cùng lớn lao. Thánh Kinh Cựu Ước  trong  phần xử phạt  bà  tổ phạm  lỗi  đã  quyết  :  "Ngươi  sẽ thèm muốn chồng ngươi và nó sẽ thống trị ngươi" (St 3,16). Ca dao tục ngữ kết tinh của những gì là phổ biến nhất và chân thực nhất :  (Tuổi xuân chẳng chịu lấy chồng) "Người ta lấy hết chổng mông mà gào"

 Thật vật, ai có xem qua cuốn phim "Bến Đợi" thì thấy rõ những cô gái lỡ thì ế chồng khổ sở như thế nào, họ khát khao một tấm chồng đến mức nào. Đến nỗi chỉ cần  một chàng thanh niên "vãng lai" qua một thoáng thôi, họ cũng sẵn sàng "gá nghĩa", miễn sao họ "còn lại mụn con". Chính diện thì

là nỗi khát con, nhưng ẩn khuất bên  trong  vẫn  là  khát  khao  một tấm chồng hay một mái ấm gia đình, như đũa đủ đôi, như chim liền cánh, như cây liền cành. Sở dĩ vuột tầm tay vì không níu kéo nổi – "cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm", cho nên suốt đời vẫn ngồi "bến đợi". Mục : Dịch vụ "thuê" chồng đăng trên báo Phụ Nữ ngày 12/1/2010, đã nói lên hết nỗi khát khao và cả nỗi cô độc của những phụ nữ "đơn thân".

 Điều an ủi dễ tìm nhất là đổ thừa cho  Ông  Trời,  số  Trời,  tại  Trời hổng cho nên đành chịu vậy. Trường hợp trai gái yêu nhau mà không vượt qua được những rào cản của bản thân, gia đình và xã hội, cũng lại đổ cho Trời.

 Đã khá lâu có một bài hát một thời  rất  phổ  biến,  đi  đâu  cũng nghe,  con  nít  cũng  thuộc,  người viết không nhớ tên bài hát cũng như tác giả, nhưng vẫn nhớ câu mở đầu như sau : "Không phải tại anh cũng không phải tại em, tại Trời xui khiến nên chúng mình xa nhau

…"

Nếu đàn bà ế chồng khổ sở như thế thì đàn ông ế vợ cũng chẳng hơn gì, vì vấn đề nam nữ nó thuộc bản năng bảo tồn nòi giống cũng mạnh mẽ chẳng kém bản năng sinh tồn là bao. Nhiều người có lẽ sai lầm khi cho rằng đòi hỏi thỏa mãn tình dục là một nhu cầu. Nhu cầu theo nghĩa hẹp nhất là cái cần thiết cho sự sống, không có nó thì chết như  khí  thở,  thực  phẩm,  nước uống, còn tình dục chưa phải là cái gì  tối  cần  đến  nỗi  thiếu  nó  thì không thể sống được : thí dụ đứa trẻ từ sơ sinh tới lúc dậy thì đâu có vấn đề tình dục. Nhiều người tu hành hay tình nguyện sống độc thân, họ cũng đâu có chết. Những người góa bụa trong tuổi già họ cũng  sống  được cho  đến  khi  lìa đời, không cần tái giá, tục huyền. Do đó tình dục chỉ là một khuynh hướng mạnh mẽ nằm trong bản năng  bảo  tồn  nòi  giống  mà  Tạo hóa đã an bài. Chủ trương cho đó là  nhu  cầu  bức  thiết dường như hàm ý biện minh cho sự thiếu kềm chế của mình mà thôi.

 Như trên đã nói, tình dục là khuynh hướng mạnh mẽ của con người, do đó khi bị ức chế thì đàn ông cũng thất điên bát đảo. Người xưa vẫn nói "đàn ông không qua cái mông đàn bà" – tự cổ chí kim trong binh pháp hay chính pháp, mỹ nhân kế luôn hiệu quả, thất bại chỉ tại diễn tuồng dở mà thôi. Vua Salomon khôn ngoan là thế mà cũng ngã gục ; Hôlôphê tướng tài và   mạnh   như   vậy   vẫn   bị   bà Giuđítha chặt đầu (Thánh Kinh Cựu Ước).

 "Tấm lòng nhi nữ cũng xiêu anh hùng" (Kiều)

Vua Trụ, Đổng Trác, Lã Bố … đều toi mạng cả ! Mới đây báo Tài Chánh  (Trung  Quốc)  đã  nói  tới một phụ nữ Trung Quốc gốc Việt tên là Lý Vi – 48 tuổi, làm cho 15 quan tham bay chức, các quan ở các  thành  phố  Vân  Nam,  Bắc Kinh, Thanh Đảo, Quảng Đông (nguyệt san Công giáo & Dân tộc số 194, trang 120 trong mục Thế giới 30 ngày qua).

 Trận chiến vô cùng khốc liệt trong chuyện Iliat của đại thi hào Home (thế kỷ 9-8 trước Công nguyên) giữa  quân  Hy  Lạp  và thành Troy, chỉ vì cô nữ tỳ xinh đẹp Brizêix  được chia cho tướng Asin mà chủ tướng Agamemnong lại cướp mất (Từ điển Văn học Bộ mới – 2004).

 Bộ phim đình đám "Xích Bích" đã nêu rõ ý đồ xâm chiếm Giang Nam  của  Tào  Tháo  chỉ  vì  nàng Tiểu Kiều xinh đẹp  vợ  của Chu Du.

 Thánh Gioan Tẩy Giả, vị Tiền Hô của Chúa Cứu Thế đã bị vua Hêrôđê chém đầu chỉ vì dám trách ông cưới nàng Hêrôđia, chị dâu xinh đẹp của ông (Mt 14,3-12).

 Vua Salômôn quá từng trải trong "tình trường" đã phải thốt lên : "Tình yêu mãnh liệt như tử thần, cơn đam mê dữ dội như âm phủ" (Cựu Ước, sách Diễm Ca đoạn 8, câu 6).

 Cha ông chúng ta đã nói "nhân sao vật vậy", cứ quan sát lũ chó đực  trong  mùa  giao  phối  chúng khổ sở biết chừng nào, hầu hết là những tên "cố đấm ăn xôi" để rồi nộp  mạng  !  Đám  bợm  nhậu  chỉ chờ có thế.

 Những cuộc thăm dò, thống kê vấn đề xã hội cho thấy đàn ông đa thê nhiều hơn đàn bà đa phu, đàn ông tục huyền nhiều hơn đàn bà tái giá, đàn ông ngoại tình nhiều hơn đàn bà. Một thăm dò mới đây cho kết quả đáng giật mình : 70-90% đàn ông có gia đình rồi vẫn ngoại tình ! (Bài điều tra của L. Anh, báo Tuổi Trẻ ngày 18/4/2009). Chuyện đàn bà nó nhạy cảm đối với đàn ông đến nỗi chi phối cả những chuyện hệ trọng như thắng thua, danh dự của họ - Chương trình Sáng Phương Nam VTV.9 sáng 9/5/11 đưa tin và hình ảnh cuộc so tài đấu vật ở quảng  trường  Thời  Đại  –  New York rất đông người xem 2 tay vật vạm vỡ "kẻ tám lạng người nửa cân", thuộc 2 cường quốc hàng đầu thế giới Nga-Mỹ. Kết quả Mỹ thắng, Nga thua. Huấn luyện viên hay trưởng đoàn Nga lên tiếng thanh minh : "Chúng tôi thua do thiếu tập trung, trước mắt chúng tôi là bảng quảng cáo quần áo lót phụ nữ - Chúng tôi bị phân tâm vì những cô gái đẹp nên mới thua".

 § "Nhũ" kế tại tòa !

Một luật sư ở T/p Chicago (Mỹ) khiếu nại luật sư đối thủ cố tình để một phụ nữ có ngực to ngồi cạnh mình tại tòa nhằm làm phân tán sự chú ý của bồi thẩm đoàn (ảnh).

 Theo báo Chicago Sun-Times, Thomas Gooch nói mục đích duy nhất của người phụ nữ tên Daniella Atencia là "làm cho bồi thẩm đoàn mất tập trung  vào vụ kiện đang diễn ra". Ông cho rằng đó là chiến thuật  "bẩn"  của  đối  thủ  Dmitry Feofanov, trong vụ xử liên quan đến  một chiếc xe đã qua  sử dụng  (T.Q, báo Thanh Niên ngày 28/5/2011).

Chuyện "đàn ông đàn bà" là chuyện muôn thuở và vô tận, nó chỉ chấm dứt vào ngày tận thế - Nhà thơ Tú Xương đã phát biểu rất thật với lòng mình : "Một trà một rượu một đàn bà Ba cái lăng nhăng nó quấy ta Chừa được cái nào hay cái đó Có chăng chừa rượu với chừa trà"

 Bà chúa thơ nôm họ Hồ còn "thành thật" hơn nữa, nhưng tế nhị lấy cái quạt che đậy ẩn ý của mình, đồng thời cũng muốn "chửi xéo" cả đàn bà lẫn đàn ông : "Một lỗ xâu xâu mấy cũng vừa…Phì phạch trong lòng đã sướng chưa ?" (Hồ Xuân Hương)

Chuyện đó nặng nề như món nợ, cứ vay cứ trả. Bài thơ "Cái nợ chồng con" :

"Hỡi chị em ơi có biết không ?
Một bên con khóc một bên chồng

Chồng con cái nợ là như thế
Hỡi chị em ơi có biết không ?"

(Hồ Xuân Hương)

Có lẽ bà chúa thơ nôm khi sáng tác bài này đã "ngấm" câu ca dao nói về cái nợ này trong đời sống phụ nữ nông thôn :

"…

Lợn kêu, con khóc, chồng đòi tòm tem"

Đòi hỏi của bản năng bảo tồn nòi giống nó ghê gớm như vậy, thế mà lại ế vợ ế chồng thì bế tắc hoàn toàn, người ta sẽ khổ sở biết chừng nào nếu không thăng hoa được khuynh hướng này bằng một lý tưởng cao đẹp hơn như là tôn giáo hay bác ái xã hội. Làng SOS là một tổ chức quốc tế nuôi trẻ mồ côi, phát triển trên toàn thế giới, yêu cầu của tổ chức này là tất cả những  ai  phục  vụ  làng  SOS  từ Giám đốc cho đến các "Mẹ" của mỗi nhà đều phải tình nguyện sống độc thân, dĩ nhiên khi nhận ai vào biên chế thì tổ chức sẽ bảo đảm cho cuộc sống của họ suốt đời.

Tình trạng ế ẩm là có thật trong xã hội ở mọi thời đại và cũng ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống xã hội, mặt tích cực thì ít nhưng mặt tiêu cực có lẽ nhiều.

Trai ế dễ đi tới chỗ "quậy", chơi bời, tam khoanh tứ đốm. Gái ế thì dễ uống "thuốc liều", nhẹ thì làm bé làm mọn, nặng thì sẵn sàng "xả láng" tuổi xoan, khi toan về già thì sẵn sàng nhận chức "tú bà, tú má". Dĩ  nhiên  không  thể  "vơ  đũa  cả nắm" ai có đeo kính màu đen hay màu xám nhìn vào đời sống xã hội thì cũng phải nhận ra những ngọn nến vẫn chiếu sáng, đó là những tâm hồn cao thượng tình nguyện sống độc thân vì những lý tưởng cao đẹp, hoặc những con người vì hoàn cảnh này hoàn cảnh nọ không thể lập gia đình nhưng họ có lòng đạo đức, tự trọng, can đảm chấp nhận thực tại, kềm chế được khuynh hướng xấu, biết thăng hoa cuộc sống của mình đồng thời đem lại nhiều cái hay cái đẹp cho đời.

Nhà thi sỹ "gió trăng" Hàn Mặc Tử của chúng ta đã có mối tình tha thiết, gia diết, cháy bỏng nhưng chẳng may ông bị bệnh cùi nên không xây dựng gia đình được, đành chấp nhận "ở ế", nhưng ông đã biến nỗi cô đơn thành những vần thơ tuyệt mỹ cho người đương thời và muôn thế hệ mai sau. Tác phẩm của ông nằm trong chương trình giáo khoa tiếng Việt. Đấy chúng ta xem "ế cũng có năm bảy đường" đấy chứ ! Đức Giêsu đã giải đáp câu hỏi về vấn đề hôn nhân, ly dị và độc thân như sau : Khi  Đức  Giê-su  giảng  dạy những  điều  ấy  xong,  Người  rời khỏi miền Galilê và đi đến miền Giuđê, bên kia sông Giođan. Dân chúng lũ lượt đi theo Người, và Người đã chữa họ ở đó. Có mấy người Pharisêu đến gần Đức Giêsu để  thử  Người.  Họ  nói  :  "Thưa Thầy, có được phép rẫy vợ mình vì bất cứ lý do nào không ?" Người đáp  :  "Các  ông  không  đọc  thấy điều  này  sao  :  Thuở ban  đầu, Đấng  Tạo  Hoá  đã  làm  ra  con người có nam có nữ, và Người đã phán : Vì thế, người nam sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy,  sự  gì  Thiên  Chúa  đã  phối hợp, loài người không được phân ly". Họ thưa với Người : "Thế sao ông Môsê lại truyền dạy cấp giấy ly dị mà rẫy vợ ?" Người bảo họ : "Vì các ông lòng chai dạ đá, nên ông Môsê đã cho phép các ông rẫy vợ, chứ thuở ban đầu, không có thế đâu. Tôi nói cho các ông biết : Ngoại  trừ  trường  hợp  hôn nhân bất hợp pháp, ai rẫy vợ mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình".

Các môn đệ thưa Người : "Nếu làm chồng mà phải như thế đối với vợ, thì thà đừng lấy vợ còn hơn". Nhưng Người nói với các ông : "Không  phải  ai  cũng  hiểu  được câu nói ấy, nhưng chỉ những ai được Thiên Chúa cho hiểu mới hiểu. Quả vậy, có những người không kết hôn vì từ khi lọt lòng mẹ, họ đã không có khả năng ; có những người không thể kết hôn vì bị người ta hoạn ; lại có những người tự ý không kết hôn vì Nước Trời. Ai  hiểu được thì  hiểu" (Mt 19,1-12).

Câu trả lời của Chúa Giêsu cho chúng ta thấy rõ ràng Chúa Trời hay Ông Trời không bắt ai phải ế cả.  Ngài tạo  dựng con  người có nam có nữ, là có ý cho họ sống hài hòa hạnh phúc để bảo đảm cho dòng dõi tương lai, vì thế ngoài những yếu tố chung nhất của loài người như có hồn có xác, với đầy đủ mắt mũi tay chân … những gì liên quan tới chức năng của mỗi phái thì có sự khác biệt, cái đàn ông thừa thì đàn bà thiếu, cái đàn bà thừa thì đàn ông lại thiếu, sự thừa thiếu đó nằm trong chủ ý của Ông Trời, đó là để hai bên cần có nhau, bổ túc cho nhau, cho nên nếu biết sống hòa hợp thì đơn vị gia đình sẽ vững mạnh, phát triển nhanh. Trong đời sống hôn nhân, khi tìm vợ kiếm chồng người ta thường nói "đi tìm cái nửa" của mình.

"Chim khôn đậu mái nhà quan
Trai khôn tìm vợ, gái ngoan tìm chồng"

Khi đã thành hôn họ gọi nhau là "mình" :

"Mình với ta tuy hai mà một
Ta với mình tuy một mà hai"

Vậy nếu Ông Trời không tạo ra cái "ế" (trừ những người tự nguyện vì  lý  tưởng  cao  đẹp  được  Ngài chấp nhận và ban phước), thì chỉ tại con người mà thôi. Đổ thừa cho Trời là phạm tội "vu khống" đấy ! Xin nêu lên một số nguyên nhân :

a. Do hủ tục "môn đăng hộ đối" của thời phong kiến và cả thời hiện tại nữa, làm cho biết bao đôi nam nữ yêu nhau tha thiết mà rốt cuộc không đến được với nhau,  có  người  thì  tự  tử,  có người thì thề độc "hổng thèm yêu" nữa.

b. Do tình trạng quá nghèo, không ai "đoái đến" – như trên đã nói nghèo là do người ta tham lam chiếm đoạt hết của cải Trời cho chung mọi loài, chiếm giữ thường thì do thủ đoạn, câu nói "người bóc lột người" nếu có sai thì chỉ sai 1% mà thôi, vì quá rõ những thủ đoạn như thế cho nên Chúa Giêsu mới tuyên bố : "Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn là người giàu có vào Nước Trời"  (Mt 19,24).  Những  người giàu chiếm giữ của cải lại sống ích kỷ xa hoa, không biết chia sẻ khiến hố chia cách giàu nghèo mỗi ngày mỗi sâu, mỗi rộng. Cái nghèo đi liền với cái khổ, ảnh hưởng  tới cuộc  sống  và  hôn nhân gia đình :

"Có tiền mua tiên cũng được
Không tiền mua lược không xong"

Bên Ấn Độ và miền Trung Đông còn tệ nạn "của hồi môn" nữa, ít của hồi môn là chỉ có ế.

 c. Do bệnh nạn, tật nguyền. Chính loài người và những cái gọi là "tiến bộ" của loài người gây ra bệnh hoạn, tật nguyền : Rượu, thuốc lá, thuốc phiện, các nhà máy xả khói độc, xả nước thải, phát tán phóng xạ, các hóa chất độc hại, các phương tiện văn minh xe cộ, máy bay … làm ô nhiễm  không  khí,  ô  nhiễm nguồn  nước,  ô  nhiễm  thực phẩm,   ô   nhiễm   không   gian (tiếng   ồn), đâu đâu   cũng   ô nhiễm : Vụ nổ giếng dầu ở vịnh Mexicô   ngày   20/4/2010   nửa năm chưa khắc phục được, hàng tỷ lít dầu tràn ra biển, tai hại không thể lường được.

 Nguyên Tp.HCM mỗi ngày trên 5000 tấn rác, Hà Nội không còn chỗ đổ rác ! Chưa nói tới rác nguyên tử không biết đổ đi đâu, cuối cùng những nước giàu bỏ tiền ra thuê đất ở các nước nghèo để chôn vùi … Chưa kể gia tài di truyền ông cha nghiện ngập, chơi bời để "làm quà" cho con cháu và cũng thường là hậu quả của bạo hành (dù có tình trạng tồi tệ đó, chúng ta cũng không oán trách cha mẹ) :  "Gã chồng man rợ" (Báo Thanh Niên ngày 17/06/2011) : Công an quận Đống Đa (Hà Nội) đã khống chế và bắt Đào Hải Thiện (29 tuổi) khi đang dùng dao chém vợ là Nguyễn Thị Kim Dung (29 tuổi) tại nhà riêng ở phường Phổ Quang, quận Đống Đa. Đáng chú ý là chị Dung đang mang  thai  tháng  thứ  6,  và phải nhập viện trong tình trạng thương tích khắp người (mang thai và sinh con trong tình trạng này tránh sao khỏi ảnh hưởng xấu, đó là bệnh hoạn, tật nguyền).

Xem thế thì mọi bệnh hoạn tật nguyền đều do tay con người tạo nên cả chứ Ông Trời khi tạo dựng con người thì hoàn chỉnh và vô cùng xinh đẹp "giống hình ảnh Chúa Trời" cơ mà !

 d. Do thói "già kén kẹn hom" hay "kén cá, chọn canh", mối mai đủ đường mà cũng chẳng chịu, cứ đứng núi nọ trông núi kia cao, cuối cùng "lắm mối tối nằm không".

"Phương đau khổ tâm sự : từng trải qua nhiều mối tình, cô nhận thấy mình hình như thiếu sự dứt khoát và quyết đoán. Bạn bè cùng lứa đã có nơi có chốn, đứa hài lòng với hạnh phúc, đứa phàn nàn về ông chồng, đứa đầu tắt mặt tối với con mọn … dù có thế nào Phương cũng  cứ  thèm  được được  như chúng nó" (Tâm sự của cô Phương – Báo Phụ Nữ ngày 5/7/2010, mục Tình yêu & Hôn nhân).

e. Do không biết cân đối sự nghiệp với cuộc sống. Có nhiều người nhất là phụ nữ mải mê theo đuổi bằng cấp sự nghiệp, đến khi đậu được tiến sĩ này, làm được giám đốc nọ mới chợt nhận ra mình quá lứa, tuổi cao học rộng đám trẻ chỉ ngước trông chứ không với tới. Đám ngang tầm thì đã yên bề gia thất từ lâu, đành làm "bà cô" suốt đời. Nếu "cố đấm ăn xôi" thì chỉ còn nước chờ ông góa hay ly dị vợ, chấp nhận xài đồ "xế cần hen" (second hand).

f. Do người phụ nữ quá lanh lợi, tài năng mà lại không  khéo "ém tài". Đàn ông chúa sợ những người này đành "kính nhi viễn chi".  Có  lẽ  thi  sĩ  họ  Hồ  nằm trong trường hợp này nên đành chấp nhận làm "lẽ" để rồi kêu toáng lên :

"Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung
Năm thì mười họa chăng hay chớ
Một tháng đôi lần có cũng không
Cố đấm ăn xôi xôi lại hẩm
Cầm bằng làm mướn mướn không công
Thân này ví biết nhường này nhỉ
Thà trước thôi đành ở vậy xong"

 g. Tại con người can thiệp thô bạo vào sự cân bằng phái tính của Tạo Hóa. Từ tạo thiên lập địa cho đến những thế kỷ gần đây, giới tính vẫn cân bằng tự nhiên, chẳng có chuyện trai thừa gái thiếu hay ngược lại. Lâu lâu tích tụ có khi trai thừa một tý thì lại xảy  ra  các  cuộc  chiến,  thế  là cánh mày râu chết bớt, lại trở về thế cân bằng. Chỉ khi con người trực tiếp can thiệp vào một cách thô bạo, mức chênh nguy hiểm mới xảy ra.

 Thời  Pharaô  bên  Ai  Cập  có chính  sách  khắc  nghiệt  của  nhà vua với đám đông nô lệ Do Thái : "Các bà  đỡ  phải kiểm tra  ngay, con gái thì để cho sống, còn con trai thì vứt xuống sông Nil" (Sách Xuất Hành). Còn ở Trung Quốc với pháp lệnh mỗi gia đình chỉ 1 con thôi, cộng thêm truyền thống thâm căn cố đế trọng nam khinh nữ : "nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô", "con gái là con người ta", chỉ có  con  trai  mới  nối  dõi  tông đường, "Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại" (có 3 điều bất hiếu, không con trai nối dõi tông đường là bất hiếu lớn nhất), lại còn kèm theo cái văn minh siêu âm biết ngay trai hay gái, thế là cứ con gái thì "phá", chọn cho bằng được thằng cu bi, nên mới mất cân đối trầm trọng. Trong 20 năm nữa chắc chắn sẽ có nhiều  triệu  con  trai  ở  "giá"  vì không kiếm đâu ra vợ. Báo chí đã đăng có trường hợp 1 phụ nữ Việt Nam bị bán sang Trung Quốc, một mình phải lấy cả 5 bố con làm chồng, khổ chưa !

 Tại Việt Nam, ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến Tầu vẫn tồn tại, nên hiện nay cứ 112 trẻ trai chào đời thì mới có 100 trẻ gái đối lại, cứ đà này cũng sẽ có nhiều triệu con trai ế cho mà coi ! Rõ ràng tình  trạng  "bánh  ế  chiều  hôm" hoàn toàn không tại Trời mà chỉ tại con người mà thôi.

 h. Lý do cuối cùng, cũng là chung chung nhất đó là thiếu trau dồi, tu  luyện  và  thiếu  tình  thương (ích kỷ, chỉ thích chọn phần hơn cho mình). Nếu bên A yếu kém mặt này mặt nọ : nghèo, kém nhan  sắc,  kém  sức  khỏe,  kém văn hóa … biết nỗ lực trau dồi, bù đắp bằng những ưu thế khác, nhất là các nhân đức thì lo gì. Ông bà chúng ta đã chẳng nói "cái nết đánh chết cái đẹp", "cần cù bù khả năng" đó sao ? Còn bên B biết đại lượng, khiêm tốn, có chút ưu thế nào thì phải biết do Trời ban mới có (mất mấy hồi), để rồi sẵn sàng đón nhận một nửa "yếu" hơn mình để bao bọc, chở che, cùng nhau hạn chế những điểm tiêu cực, phát huy những điểm tích cực, như thế thì hay biết mấy !

Chương trình Sáng Phương Nam VTV.9  sáng  ngày  21/5/2011, thông tin và hình ảnh đám cưới tập thể 50 đôi hôn phối, đại đa số là khuyết tật đã được Ả Rập Saudi tài trợ cho tổ chức đám cưới tại thành phố Naplus (Palestin), họ là những thanh niên thiếu nữ nghèo, lại khuyết tật, không có tiền tổ chức đám cưới.

Về đầu trang

 KẾT LUẬN

1. "Tạo Hóa không làm ra cái chết, không vui gì khi thấy con người phải tiêu vong" (do tội ác của mình) – Đó là điều Thánh Kinh Cựu Ước quả quyết. Như chúng ta đã bàn giải với nhau từ đầu tập sách tới giờ, tất cả những cái ác, cái xấu xảy đến cho mỗi người chúng ta đều có nguyên nhân  từ con  người,  hoặc  trực tiếp (đánh đập, bạo hành, đâm chém, cướp bóc, lừa gạt, hoặc truyền  lây các  bệnh  xã  hội  : giang  mai,  lậu  mủ,  sida,  …), hoặc gián tiếp hại chúng ta (làm ô  nhiễm  nguồn  nước,  môi trường, khí thở, tra tấn chúng ta bằng tiếng ồn, bắt chúng ta ngửi mùi  thuốc  lá [hút  thuốc  thụ động]  cho  chúng  ta  ăn  những thứ có nhiều hóa chất, phóng xạ, đồ  chơi  của  con cái  chúng  ta cũng có chất độc hại, …) như vậy là không có  thiên tai, chỉ có nhân tai mà thôi.

2. Đổ oan cho Trời, kêu trách Trời, giận Trời là điều vô lý, vô ích và chỉ có hại cho chúng ta, làm cho chúng ta thêm tội, thêm trách nhiệm nặng nề về thái độ và những lời bất xứng chúng ta thốt ra.

3. Tốt hơn hết chúng ta khiêm tốn cầu xin Trời cứu chữa, giúp chúng  ta  cách  này  cách  khác hoặc cho những người xung quanh trợ lực chúng ta để khắc phục những hậu quả xấu.

4. Với những người trực tiếp làm hại chúng ta, chúng ta có quyền đòi hỏi sự công bằng xã hội bằng cách nhờ các cơ quan pháp luật giải quyết, Nhà nước nào cũng có trách nhiệm và có nhân sự cũng như phương tiện thanh toán tội phạm, bênh vực quyền lợi dân lành, Nhà nước mà bất lực thì chính những người lãnh đạo phải chịu trách nhiệm trước lương tâm, toàn dân và Thượng Đế.

5. Nhưng  người  gián  tiếp  hại chúng ta : do vấn đề mưu sinh mà họ gây tiếng ồn, làm ngành nghề gì cũng phải có nước thải, chất thải. Phân bón hóa học, thuốc trừ sâu, thuốc tăng trọng … thì trực tiếp là giúp bảo vệ cây trồng, tăng trưởng vật nuôi, nhà máy thủy điện, nguyên tử là để có dồi dào nguồn điện nhưng do không kiểm soát được, hoặc ẩu tả trong việc xử lý chất thải, phóng xạ thế là gây tác hại ngấm ngầm và lâu dài cho mọi người. Trường hợp này chúng ta chẳng biết kiện ai và chẳng biết ai xử được mà kiện, đành phải chấp nhận "sống chung với lũ" thôi. Thế nhưng chúng ta cũng phải rút ra 2 quyết tâm : ü Một là trong cuộc sống, bất cứ làm gì, đi đâu, ở đâu không bao giờ chúng ta vi phạm đến quyền sống, đến sức khỏe và hạnh  phúc  của  người  khác, nếu không  chính  chúng  ta phải chịu trách nhiệm với Ông Trời  chứ  chẳng  thoát  khỏi đâu. Sự cố Vedan, bổi thường hơn 100 tỷ liệu có cân xứng với những tác hại lâu dài, nghiêm trọng không ? Họ có tính  được bao  nhiêu  con người  ăn  cá  sông  Thị  Vải, uống nước sông Thị Vải, ăn rau, lúa do nước sông Thị Vải tưới để rồi phát sinh đủ mọi thứ  bệnh  tật  tim  gan  phèo phổi, thận, ruột … tật nguyền như  thế  thì  phải  nghèo  đói, dốt nát, xấu xí, chịu ế ẩm lấy đâu mà bảnh bao phơi phới được ? Bạn thử suy nghĩ mà xem  những  chuyện  làm  ăn khác, những nhà máy khác cũng vậy thôi, chắc gì   khá hơn, nhỏ mọn như một mớ rau muống  bạn  mua  ở  chợ  biết đâu lại chẳng đầy thuốc trừ sâu, nhớt trừ rệp … để rồi sâu chết,  rệp  chết  thì  người  ăn cũng ngắc ngoái. (TN 5/6/11 đưa tin 120 du khách ở Đà Lạt ngộ độc thực phẩm phải vào bệnh viện, hai hôm sau đưa tin 290 du khách nhập viện cũng do ngộ độc thực phẩm)

Chương trình VTV.1 trưa ngày18/5/2011 vừa đưa tin tại tỉnh Giang Tô (Trung Quốc), dưa hấu tự vỡ tung chất đống trên cánh đồng.  Tình  trạng  này  được  giải thích là do sử dụng quá mức thuốc tăng trưởng, kèm theo những cơn mưa lớn đã làm dưa tự vỡ tung (không biết con người ăn vào liệu có hậu quả xấu nào không đây ?). ü Hai là trong bất cứ hoàn cảnh tồi   tệ   nào   chúng   ta cũng không bi quan, thất vọng, còn được cái gì, còn được bao nhiêu chúng ta hãy duy trì, cải thiện, thăng tiến để xoay xở bảo đảm cuộc sống và hạnh phúc của mình và còn có khả năng cống hiến cho hạnh phúc tha nhân nữa, trừ trường hợp đối  đế  liệt  toàn thân, không còn có thể cựa quậy được thì mới đành chịu phó thác cho lòng   tốt   của   những   người thân, của các tổ chức từ thiện xã  hội  và  cuối  cùng  là  phó thác cho Ông Trời.

Chúng ta phải khâm phục tiến sĩ vật lý Hawking của nước Anh, bị liệt  toàn  thân  không  biết  từ  bao giờ,  chỉ  còn  bộ  óc  là  sáng  suốt chưa liệt, ông cố gắng ngồi xe lăn, nghiên cứu vật lý, chỉ dùng vi tính để giao tiếp, thế mà thành danh, thành công, ông trở thành giáo sư vật lý sáng giá của nhiều đại học, sách ông viết được xếp hạng bán chạy nhất. Tại Việt Nam chúng ta cũng có biết bao gương vượt khó, một Anh Quốc thiếu cả đôi tay mà là nhà chăn nuôi và nông nghiệp giỏi. Anh có vợ có con, có một gia đình đầm ấm hạnh phúc (báo chí nói nhiều về anh).

6. Bạn thuộc thành phần giàu có, tôi chúc mừng  bạn  nhưng  tôi biết chắc bạn cũng có những nỗi khổ riêng. Cách đây mấy chục năm có một bộ phim rất ăn khách phát xuất từ Nam Mỹ, bộ phim nhiều tập : "Nhà giàu cũng khóc", tuy nhiên chúng ta cũng cần kiểm tra lại xem chuyện giàu có của chúng ta có thật sự 100% chính đáng không ? Hay có khi chúng ta chủ quan vẫn cho rằng mình làm ăn chân chính, đúng pháp luật, không lừa đảo, bóc lột ai. Bạn là giám đốc một nhà máy, lợi nhuận hàng tháng rất cao, thử hỏi bạn đã trả lương cho công nhân thật sự công bằng chưa ? Sản phẩm của bạn có đúng 100% chất lượng bạn quảng cáo không ? Buồn cười mấy cái quảng cáo hàng ngày về thuốc làm trắng da, áo quần giảm béo mà báo chí nêu lên. Còn nữa : nhà máy của bạn có thực sự 100% không ảnh hưởng xấu tới môi trường, tới người khác không ? Bạn là một ông lớn, bạn thanh liêm không nhận hối lộ, nhưng thử hỏi những bao bì quà cáp biếu xén có thực sự vì tình nghĩa bạn bè thân hữu không ? Điều này chỉ có bạn với Ông Trời biết thôi.

 Chỉ  nêu  lên  chuyện  một  công nhân  viên  chức  Nhà  nước  hạng "quèn" thôi nhé, ví dụ hợp đồng lương tháng 3 triệu đồng, làm việc tuần 6 ngày (nghỉ ngày Chúa Nhật) mỗi ngày 8 giờ lao động : 7g-11g, nghỉ trưa, 13g-17g tan sở, dĩ nhiên lương không bao giờ được thiếu, tiền của Nhà nước, của nhân dân đóng góp, thử hỏi trong quá trình lao động anh chị công nhân đó có thì hành đúng hợp đồng không ? Có khi nào đi trễ về sớm không ? Có bớt giờ lao động ngồi tán gẫu, đi hút thuốc, đi uống trà, nhâm nhi cà  phê  …  các  chị  có  ngồi  dũa móng tay, có đi mua chè mua cháo về ăn, có lấy đồ nghề ra trang điểm không ? Thế rồi những vi phạm rất nhỏ đó, lặp đi lặp lại hết tuần này, tháng nọ tới năm kia, rồi mấy chục năm nữa cho  tới  khi  phụ nữ  55 tuổi, nam giới tới 60 tuổi về ăn lương  hưu  suốt  đời  –  lao  động chân chính,   nghiêm   túc quá đi chứ ! Trong khi toàn dân phải chịu hàng trăm thứ thuế thứ phí, liệu có gì  bất  công  không  ?  Một  công nhân viên "tép riu" còn thế thì những đại gia, giám đốc, quan to chức lớn này nọ với tài sản kếch xù thì sẽ ra sao ?

 Nếu ai đó nhờ cánh tay khỏe, dài, đầu óc nhanh nhẹn, phương tiện máy móc nhiều hoặc nhờ chức vụ mà lỡ quá tay ôm quá nhiều tài sản của anh chị em mình bằng những đường lối hợp pháp tinh vi, có vẻ lương thiện nhưng thực chất không phải thế, thì chỉ còn cách sẵn sàng chia sẻ, đóng góp tối đa cho người nghèo, cho những phúc lợi toàn dân, cho từ thiện bác ái, đồng  thời  rà  soát  thật  kỹ  "bằng máy  siêu  âm"  mọi  hành  vi  làm giàu, tiêu xài của mình xem có hợp với lẽ công bằng và luật bác ái không, để rồi kịp thời điều chỉnh.

 Tại các nước Âu Mỹ, được ảnh hưởng bởi Thiên Chúa giáo với lý tưởng công bình bác ái, tôn trọng mạng sống luôn được đề cao, các đại gia tỉ phú dễ hiến dâng tài sản làm từ thiện (một hình thức đền bù cho việc mình chiếm hữu nhiều). Đầu tháng 6/2010, hai nhà tỉ phú giàu  nhất  nước  Mỹ  : Ông  Bill Gates và ông Warren Buffett (dù đã bỏ ra nhiều chục tỉ dollars làm từ thiện rồi) đã kêu gọi các tỉ phú Âu Mỹ hứa để lại ½ gia tài cho quỹ từ thiện khi qua đời, và lập tức nhận được 40 lời hứa. Chính Warren Buffett thì hứa chỉ giữ lại 1% cho gia đình, còn hiến 99%. Tới tháng 9/2010, hai ông sang thăm Trung Quốc và cũng kêu gọi như trên (nên nhớ số tỉ phú Trung Quốc  không  thua  con số  tỉ  phú Mỹ), chỉ có đại gia Trần Quang Tiêu hăng hái đáp ứng, ông hứa tặng hết tài sản cho công tác từ thiện, còn thì im hơi lặng tiếng. Thống kê cho biết ít người Trung Quốc làm từ thiện. Năm 2009, một danh  sách  của  chính  phủ  Trung Quốc thu thập từ 21 người hảo tâm nhất Trung Quốc cho thấy họ tặng tổng cộng 277 triệu USD, ít hơn một nửa so với 1 gia đình Mỹ, là nhà đầu tư Stanley Druckenmiller và vợ tặng trong cùng năm 2009 (Hạnh   Nguyên,   báo    Tuổi    Trẻ    ngày 6/10/2010).

Tại Ấn Độ, trong bài "Lòng trắc ẩn mãi ở đàng kia" (Nguyễn Ngọc Thuần,  báo  Tuổi  Trẻ  ngày 31/10/2010) cho biết : Một căn nhà xây hết 1 tỉ dollars, 7 năm mới hoàn tất, tổng cộng 37.000m2, 27 tầng dành cho gia đình 6 người với 600 người phục vụ, nghĩa là cứ 1 người thì có 100 người phục vụ, căn nhà tỉ đô làm cho người ta chạnh lòng nhớ tới hình ảnh đối lập trong bộ phim "đình  đám"  :  Triệu  phú  khu  ổ chuột  –  Mumbai  là  cái  tên  gây nhức nhối vì có lẽ không thể kiếm đâu ra khu ổ chuột tồi tệ hơn Mumbai ở Ấn Độ … Cuộc sống người giàu càng làm cho trái tim người nghèo teo tóp hơn nữa.

Dường như (xin chỉ dám nói dường như thôi) ở những vùng, miền  châu  lục  chịu  ảnh  hưởng nhiều  của  Kinh  Thánh  thì  tính nhân đạo, sự sẻ chia, sự tôn trọng phẩm giá con người được khơi gợi nhiều hơn. Hầu hết các bảo tàng lớn ở Âu Mỹ đều bắt đầu từ sự hiến  tặng  những  bộ  sưu  tập tư nhân, lý tưởng bình đẳng nam nữ của Thánh Kinh được cổ võ nhiều hơn ở Âu Mỹ, cụm từ "Lady First" cũng  phát  xuất  từ  châu  Âu  hay châu Mỹ rồi lan rộng khắp nơi. Trong khi tại châu Á con cháu chút chít  của  Khổng  Mạnh  vẫn  nằm lòng "nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô", còn ông vua thì là "thiên tử" để rồi muốn làm trời làm đất gì thì làm, "dọc ngang nào biết trên đầu có ai". Chuyện xử tội, chém giết thì xã hội nào chẳng có, nhưng chiếc ghế điện, mũi thuốc độc hay chiếc máy chém ghê gớm đấy, nhưng vẫn "nhân đạo hơn", những cảnh lăng trì (chặt chân tay), ngựa xé (buộc tay chân tội nhân vào 4 con ngựa rồi quất cho nó xé người ra 4 mảnh), xử bá đao hay tùng xẻo (đánh 1  tiếng trống, lý hình cầm dao phay cắt 1 miếng thịt, róc thịt cho đến khi nạn nhân chết mới thôi), những trò này ta tiếp thu từ ông Tàu đấy, lại còn những vụ trừng phạt người dưới mồ : cùm mồ Lê Văn Duyệt, quật mồ anh em nhà Tây Sơn. Khi còn học ở Đại học Tổng hợp, người viết chứng kiến giáo sư cao tuổi Lê Trí Viễn khi nhắc lại cảnh vua chúa Việt Nam cấm đạo, xử tử những đạo trưởng, đạo hữu Công giáo bằng những cực hình như vậy, vị giáo sư khả kính dù là người ngoài đạo Công giáo cũng bật khóc vì xúc động. Hẳn chúng ta còn nhớ những hình  ảnh  đăng  trên báo  chí  thời Pôn Pốt : một anh lính trẻ 2 tay xách 2 đầu lâu mới chém đi khơi khơi ngoài lộ, chẳng khác gì người ta xách 2 trái dừa ! Cái ác, cái vô nhân đạo như hiện hình cho người ta rờ thấy được !

Tấm hình được giải thưởng ảnh báo chí thế giới (World Press Photo) năm 2010 là của nhiếp ảnh gia Bieber, 44 tuổi. Ánh chụp 1 cô gái Afghanistan tên là Bibi Aisha, 18 tuổi, khá xinh đẹp bị xẻo mũi theo luật Sharia. Chuyện chưa từng có ở các nước Âu Mỹ thấm nhuần tinh thần Kitô giáo (Nguyệt san Công Giáo & Dân Tộc số 194, trang 118).

***

Bạn và tôi, chúng ta là những người phải gánh chịu nhiều thiệt thòi đau khổ, mà thành phần này lại là tuyệt đại đa số trong bất cứ xã hội nào, càng bi thảm hơn nơi các  nước  chậm  tiến,  đang  phát triển. Chúng ta đau khổ vì nghèo đói không phải tại chúng ta lười biếng,  mà  tại  những  kẻ  có  thế mạnh hơn chúng ta chiếm giữ hết tài sản của đất nước, chỉ chừa cho chúng ta cái thừa cái thẹo để sống cầm hơi qua ngày đoạn tháng. Chúng  ta  đau  khổ  vì  phải  chịu nhiều bệnh tật do xã hội loài người trực tiếp hay gián tiếp gây ra. Đáng lẽ chúng ta không phải chịu như vậy, chúng ta đau khổ vì bị tật nguyền,  khiếm  khuyết  nơi  tinh thần hay thể xác và còn biết bao nỗi  khổ  khác  nữa  đè  nặng trên cuộc đời chúng ta và sẽ đeo đuổi chúng ta cho đến chết. Lòng tự trọng  không  cho  phép chúng  ta làm những điều sai trái để cải thiện cuộc  sống.  Lòng  đạo  đức  chân thực không cho phép chúng ta tự hủy hoại cuộc sống.

Vậy có còn niềm hy vọng nào cho chúng ta không ? Còn chỗ nào, còn ai cho chúng ta bám víu để gởi gấm linh hồn mình không ?

Thưa còn và lúc nào cũng còn, còn mãi đến muôn đời muôn kiếp. Niềm  hy  vọng  đó  chính  là Ông Trời, là Chúa Trời vậy. Thánh Phaolô trong thư thứ 2 gửi tín hữu Côrintô đã viết : "Vì tôi tin nên tôi mới nói" (2Cr 4,13). Người viết xin thêm "vì tôi yêu mến bạn nên tôi phải nói". Quả thật bạn nghĩ coi, chúng ta là đồng hương với nhau, lên cao hơn nữa chúng ta là anh chị em với nhau có cùng một Cha trên Trời, vậy mà không trao cho nhau chiếc chìa khóa hạnh phúc thì thật là ích kỷ, thật đắc tội với Trời và với người. Tôi lấy 1 ví dụ : bạn biết 1 mạch nước trong lành không bao giờ cạn thế mà anh chị em bạn khát nước gần chết, bạn vẫn  không  chỉ  chỗ,  để  họ  chết khát, chết khô thử hỏi bạn có tội không ?

Vấn đề của chúng ta cũng vậy, mỗi khi gặp gỡ bạn dưới hình thức này hay  hình thức khác, tôi  đều nôn nao muốn giới thiệu với bạn, muốn ấn vào tay bạn chiếc chìa khóa hạnh phúc, nhưng lại sợ đụng chạm tự do của bạn, sợ bạn cho là "quảng cáo xạo" hay hơn nữa có "tính áp đặt". Hôm nay qua những gì đã trình bày, tôi xin được trân trọng,  thành  kính  giới  thiệu  với bạn  chiếc  chìa  khóa hạnh  phúc. Đây  chỉ  là  xin  phép  được  giới thiệu mà thôi, bạn hoàn toàn tự do đón nhận hay từ chối, đó là quyền sống của bạn và mọi người phải tôn trọng. Bạn đón nhận tôi rất mừng vì mình có thêm một người anh  chị  em  hạnh  phúc ;  Bạn  từ chối,  tôi  cũng  mừng  vì  đã  làm xong bổn phận của mình mà Chúa Trời ủy thác. Đồng thời Chúa Trời cũng  được  tôn  vinh  vì  sau  này trong cuộc gặp gỡ, mặt đối mặt, không  ai  có  thể  kêu  trách  Chúa Trời vì đã không cho họ biết  chìa khóa hạnh phúc, và sự trả công, ân thưởng của Ngài sẽ vô cùng đơn giản và vô cùng công minh, mỗi người chỉ việc ôm trọn gói "tự do" của mình mà hưởng. Tự do chọn gì, làm gì thì hưởng nấy, ai sao mặc họ. Tạ ơn Trời !

Bạn thắc mắc :
- chìa khóa hạnh phúc cụ thể là thế nào ?
- Hình thù ra sao ?

Xin thưa chìa khóa có 2 mặt :

 § Mặt  một  là  tin  nhận  có  Ông Trời,  Đấng Tạo Hóa hay Thượng Đế chí tôn, quyền năng phép tắc, tạo dựng trời đất, đồng thời là Cha vô cùng nhân hậu, nuôi sống và ban hạnh phúc cho mọi loài. Tin nhận Ông Trời thì cũng tin nhận Đức Giêsu là Đấng  Cứu  Thế,  chính  là  hiện thân của Ông Trời đã hóa thân làm người, chỉ dạy chúng ta  chìa khóa hạnh phúc.

§ Mặt hai là sống theo lý tưởng, chủ  trương,  chính  sách  đường lối của Ông Trời mà Đức Giêsu đã chỉ dạy trong Kinh Thánh mà ngày nay Hội Thánh Công giáo tiếp nối sứ mạng của Ngài, hướng dẫn muôn dân cho đến ngày tận thế. Sống theo đường lối  này cũng có  nghĩa là  luôn luôn làm lành lánh dữ.

Bạn lại thắc mắc rằng chúng tôi nghèo khổ thế này, bị bóc lột, bị oan  ức thế này, lại  tật nguyền khiếm khuyết thế này sao có thể làm được việc thiện ?

Thưa việc thiện luôn ở bên ta, làm việc thiện không cần giàu, không cần khỏe, không cần đẹp, già trẻ lớn bé ai làm cũng được và cũng phải làm : nhặt 1 cọng rác trên đường đi để giữ sạch môi trường và bảo vệ nét đẹp của thiên nhiên cũng là một việc thiện đáng ghi nhận. Hồi người viết ở Đan Mạch, một hôm đi từ siêu thị về nhà đã chứng kiến 1 phụ nữ chừng 30 tuổi, ăn mặc lịch lãm, mặt mày lại xinh đẹp thế mà dù đi vội, cô vẫn cúi xuống lượm 1 tờ giấy mà kẻ vô ý nào đó đã để rơi, người viết nhớ mãi cử chỉ văn hóa cao độ đó và cũng phải bắt chước, thỉnh thoảng đi dạo buổi chiều, trên những vỉa hè hay bãi cỏ, có những mảnh giấy mỏng gió thổi bay dạt, người viết cũng cúi xuống lượm bỏ vào thùng rác. Có những ông bà cảm  nhận  được  nét  văn  hóa  đó bỗng dưng thành quen, gặp là giơ tay chào "Hi !", miệng cười tươi. Việc thiện dễ làm như thế đấy, nếu có khó thì chỉ tại chúng ta không "muốn" làm mà thôi.

Bạn nghèo ư ? Có nghèo bằng bà góa trong Thánh Kinh Tân Ước không ? Hai đồng tiền nhỏ của bà góa : Ngước mắt lên nhìn, Đức Giêsu thấy những người giàu đang bỏ  tiền  dâng  cúng  của  họ vào thùng tiền. Người cũng thấy một bà goá túng thiếu kia bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm. Người liền nói : "Thầy bảo thật anh em : bà goá nghèo này đã bỏ vào nhiều hơn ai hết. Quả vậy, tất cả những người kia đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ, mà bỏ vào thùng dâng cúng ; còn  bà  này,  thì rút  từ  cái  túng thiếu của mình, mà bỏ vào đó tất cả những gì bà có để nuôi sống mình" (Lc 21,1-4). Kinh nghiệm cho hay những người nghèo thường có lòng rộng rãi, dễ làm từ thiện hơn những người giàu của mà nghèo lòng.

Bạn bị ốm đau, tật nguyền ư ? Vẫn  làm  việc  thiện  được.  Việc thiện sẽ giúp bạn vơi đi nỗi đau và sống "hạnh phúc" vì đời sống của bạn không vô ích. Các bạn trẻ ở Tp.HCM vẫn còn tiếp tục "giấc mơ của Thúy" – Thúy, một sinh viên năng động, bị ung thư, cô vừa điều trị vừa lao đầu vào công tác từ thiện, giúp vui, thăm hỏi, phát quà cho các em mồ côi, bị ung thư, bị sida do mẹ truyền cho … Trên giường bệnh cô vẫn vui tươi với bạn bè, vẫn động viên các bạn và lên kế hoạch cho các bạn làm từ thiện. Thúy đã ra đi trong sự nuốintiếc của hàng ngàn bạn trẻ, và họ quyết tâm tiếp nối "giấc mơ của Thúy" tới bây giờ.

Chắc bạn còn nhớ chị Thu bị lây sida từ chồng, chồng chết, chị một mặt làm ăn nuôi con, một mặt hoạt động  chống  sida  –  chị  đã  giúp nhiều người hiểu biết về sida và phòng chống được lây nhiễm, chị đã được đề cử làm "đại sứ thiện chí" đi nhiều nước tham gia công tác chống sida.

Báo Dân Chúa Âu châu tháng 5/2010  đăng  tin  cô  Chiara Bandano   19   tuổi,   bị   ung   thư xương, sẽ được phong Chân phước ngày   25/9/2010.  Cô   sinh   ngày 29/10/1971 tại miền bắc nước Ý, xinh xắn, nhanh nhẹn, linh hoạt, rất dễ quen, dễ mến. Cô hoạt động phong trào Focolare (nhóm Lửa Hồng) quy tụ các bạn trẻ thành những nhóm nhỏ, huấn luyện họ sống có lý tưởng, có chất lượng và hăng hái hoạt động bác ái xã hội. Năm 17 tuổi cô bị phát hiện ung thư xương, lẽ ra thì đau đớn, tuyệt vọng nhưng Bandano can đảm, vững tin cô nói với Chúa : "Lạy Chúa, nếu đây là thánh ý Chúa, con  xin  chấp  nhận",  cô  từ  chối dùng thuốc giảm đau trong điều trị, cô luôn cầu nguyện và dũng cảm chịu đựng đau đớn như lễ hy sinh dâng lên Chúa để cầu cho các bạn đồng trang lứa, cô nói : "Tôi muốn được chia sẻ càng nhiều càng tốt nỗi đau đớn của Chúa Giêsu trên thập giá". Năm 1990 cô qua đời trong sự bình an và sự thánh thiện ở tuổi mộng mơ 19, cô đã được phong Á Thánh ngày 25/9/2010 tại Rôma – Italia.

Chìa khóa hạnh phúc thực sự đã ở trong tầm tay của bạn đấy, chỉ cần với một cái là nắm được.

 Tâm sự cuối cùng mà tôi muốn chia sẻ với bạn đó là một cuộc cá cược nhé !

Đây cuộc đời đau khổ thiệt thòi của tôi và các bạn nghèo, bệnh, khuyết tật, mỗi ngày mỗi giờ cứ trôi đi không ai giữ lại được, trôi mãi trôi mãi sẽ phải đến hồi kết thúc, đó là sự thật không ai có thể

chối cãi, không cần lý luận chứng minh. Nếu bạn không tin nhận Ông Trời, tức là Chúa Trời hay Thiên Chúa,  không  chấp  nhận  chủ trương,   đường   lối   của   Người, không làm việc thiện để khỏi hao tâm tổn sức, tức là  tam không, thử hỏi bạn có được thêm cái gì không?  Có  ai  sẽ thưởng  cho  cái  tam không này của bạn không ? Tôi nghĩ bạn chẳng được gì tốt hơn mà có khi ngược lại càng ngày càng thấy tệ hơn. Đã có những kẻ to gan thù ghét Chúa nhưng kết cục họ đã chết, Chúa thì vẫn còn hoài. Người ta kể hồi trước cách mạng Pháp 1789, nhà văn, nhà cách mạng nổi tiếng lại rất ghét đạo, Voltaire đã dõng dạc tuyên bố : "20 năm nữa Thiên Chúa sẽ chết", (nghĩa là không còn ai thèm thờ Chúa nữa). Lạ thay đúng 20 năm sau Voltaire chết, còn những người đón nhận "chìa khóa hạnh phúc" tin thờ, đi theo Chúa thì cho tới nay mỗi năm mỗi tăng ! (thời ông Voltaire, dân số thế giới chừng 2 tỉ, Kitô hữu chừng 400 triệu, tới nay thế giới hơn 5 tỉ người, Kitô hữu gần 2 tỉ).

Tóm  lại,  không  tin  bạn  chẳng được gì (có khi đối với bạn còn chắc chắn theo tôi, là mất tất cả), ngược lại nếu tin bạn cũng chẳng mất gì bây giờ, và giả như sau này không có gì cả bạn cũng chẳng mất mát gì. Nhưng nếu đời sau mà có thật  100%  thì  bạn  được  tất  cả "hạnh phúc vĩnh hằng". Chúa Trời sẽ trả lại cho bạn tất cả những gì bạn đã chịu thiệt thòi ở đời này : bạn bị tật nguyền, xấu xí sẽ được trả lại sự xinh đẹp, lành lặn, hoàn chỉnh, nhưng với điều kiện là bạn tin Chúa Trời.

Nhà soạn nhạc thời danh người Đức Beethoven, 10 năm cuối đời ông bị điếc nặng, không còn nghe được gì, ông sáng tác bằng những âm thanh "tưởng tượng" mà thôi, trước khi qua đời ông đã thốt lên : "Về thiên đàng Chúa sẽ cho tôi nghe lại toàn bộ các bản nhạc của tôi".

Nhà phát minh vĩ đại Edison bị đột quỵ, khi hồi tỉnh ông đã nói :

"Phong cảnh bên kia tuyệt đẹp", rồi thản nhiên ra đi.

Nhà văn Mỹ Mark Twain đã nói lời từ giã : "Tạm biệt, nhưng chúng ta rồi sẽ lại gặp nhau" (Báo Kiến thức  Thời  nay  số  747,  trang  26  –  Lữ Khách).

Tiến  sĩ  vật  lý  nguyên  tử  học Phan Như Ngọc đã  gợi  lên  thắc mắc muôn thuở của mọi người : "Làm việc thiện, ai sẽ thưởng công cho tôi sau này ?". Đấng trả công chính là Chúa đó, không ai khác cả. Bạn còn nghi ngờ thì tôi hẹn bạn 10 năm, 20 năm, … 50 năm nữa  nhé  !  Những  thời điểm  đó chắc chắn tôi đã ra đi trước bạn, nhưng sẽ chờ gặp lại để xem kết quả "cá cược" !

Bạn hãy nghe lời của Chúa Trời :

§ "Phúc cho anh chị em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Thiên Chúa là của anh chị em. Phúc cho chị anh em là những kẻ bây giờ  đang  phải  đói,  vì  Thiên Chúa sẽ cho anh chị em được no lòng. Phúc cho anh chị em là những  kẻ  bây  giờ  đang  phải khóc, vì anh chị em sẽ được vui cười" (Lc 6,20-21).

§ "Phận  nữ  tỳ  hèn  mọn,  Người đoái thương nhìn tới ; từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc" (Lc 1,48).

§ "Kẻ  đói  nghèo  Chúa  ban  của đầy dư, người giàu có lại đuổi về tay trắng" (Lc 1,53).

§ "Hãy vui mừng vì tên anh chị em đã được ghi trên trời" (Lc 10,20).

--------------

Hiện nay địa chỉ của tôi :
Lm. Jos. Nguyễn Hữu Triết
387 Lê Văn Sỹ, phường 2, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
Điện thoại : 38449497 – 0909721822
Quý độc giả muốn có thêm tài liệu hoặc có thắc mắc, xin liên lạc
Email : josnhtriet@gmail.com

---------------------------

LỜI TÂM NIỆM

-  Lạy Đấng thiêng liêng Tối cao,
-  Lạy Đấng Tạo Hóa,
-  Lạy Đấng Tuyệt Đối,
-  Lạy Thượng Đế,
-  Lạy Ông Trời,

Chúng con đây là những thọ tạo đứng trên muôn vật trong vũ trụ. Chúng con đã được Ngài tạo dựng nên  giống  hình  ảnh  của  Ngài  là Thiên Chúa, vì chúng con có trí nhớ, có trí tuệ, có ý muốn, có tự do.

Chúng con luôn thao thức trước những vấn đề :

1.  Bởi đâu có vũ trụ này ?
2.  Bởi đâu có bản thân chúng con ?
3.  Đâu là mục đích của cuộc đời ?
4.  Chết rồi sẽ đi về đâu ?
5.  Làm điều thiện, ai sẽ thưởng công cho ?
(theo ai, thờ ai thì sẽ lãnh thưởng nơi người ấy, nếu người ấy to hơn Ông Trời)
6.  Làm điều ác, ai sẽ phạt tội ?
7. Ai sẽ thỏa mãn khát vọng hạnh phúc tuyệt đối của chúng con ?

Chúng con muốn đi tìm chân lý, tìm ý nghĩa đích thực cho cuộc đời. Xin Ngài soi trí mở lòng cho chúng con, để chúng con được tìm thấy Ngài, và được niềm vui gọi Ngài là Cha, như hơn 2 tỉ Kitô hữu trên thế giới – Amen.

(Tiến sĩ Phan Như Ngọc, Email : pnngoc@gmx.net – Trích Bài giảng Chúa nhật - TGM, số 4/2007, trang 74)

Tân Bình, ngày 01/06/2011

Lm. Giuse NGUYỄN HỮU TRIẾT

Về đầu trang

--------------------------------------

Tập 8: Những suy nghĩ vẩn vơ: "SỰ THẬT SẼ GIẢI THOÁT CÁC ÔNG"

LỜI ĐẦU

 Loài người được Tạo Hóa tác thành  hơn  và  khác  loài  vật  ở chỗ có lý trí và tự do.

 "Tự do là khả năng biểu lộ ý chí,  hành  động  theo  ý  muốn của mình"  (Đại Tự điển tiếng Việt – Hà  Nội  1999,  trang  1762),  đây  là quyền  căn  bản  của  mỗi  người. Có   tự   do   thì   cũng   có   trách nhiệm,   nghĩa  là  có  thưởng   và phạt   tùy  theo   lựa  chọn   đúng hay sai.

 Người viết tập này chỉ muốn trình  bày  sự  thật  mà  mình  đã cảm  nghiệm,   còn  quý  độc  giả đồng tình hay không, hoặc đồng tình   một   phần   nào   thì   hoàn toàn thuộc  quyền  tự do của quý vị.

"SỰ THẬT SẼ GIẢI THOÁT CÁC ÔNG" (Ga 8,32) 

Ghi chú : câu trên có hai nghĩa

1. Sự thật phơi trần tất cả cái đúng cái sai, cái tốt, cái xấu, không ai có thể bị lừa dối, đồng thời có thể có một cách giải quyết nào đó để khắc phục hậu quả …  đây kể như một sự giải thoát nhưng rất tương đối.

2. Trường hợp loài người bất lực trong việc tìm ra sự thật (cô bé bị giết ở vườn mít không tìm ra thủ phạm)1, hoặc sự thật được phanh, 1 Nghi can Lê Bá Mai hai lần bị kết án tử hình rồi lại được tha bổng, nay đã bị bắt lại chờ xét xử tiếp (Báo TN ngày 19/5/2012) phui nhưng lại bất minh hay bất lực  trong  khâu  giải  quyết  (5 người ở Đài Loan được ghép tạng của một nạn nhân nhiễm HIV hiến tặng), thì chỉ còn Đấng là Sự thật (Ga 14,6) mới có thể giải quyết thỏa đáng ở đời này và đời sau.

***

I. NHỮNG CÂU CHUYỆN TRONG KINH THÁNH

1. Cain và Aben (St 4,1-12).

Con người ăn ở với Evà, vợ mình. Bà thụ thai và sinh ra Cain. Bà nói : "Nhờ ĐỨC CHÚA, tôi đã được một người". Bà lại sinh ra Aben,  em  ông.  Aben  làm  nghề chăn chiên, còn Cain làm nghề cày cấy  đất  đai.  Sau  một  thời  gian, Cain lấy hoa màu của đất đai làm lễ vật dâng lên ĐỨC CHÚA. Aben cũng dâng những con đầu lòng của bầy chiên cùng với mỡ của chúng. ĐỨC CHÚA đoái nhìn đến Aben và lễ vật của ông, nhưng Cain và lễ vật của ông thì Người không đoái nhìn. Cain giận lắm, sa  sầm nét mặt. ĐỨC CHÚA phán với Cain : "Tại sao ngươi giận dữ ? Tại sao ngươi sa sầm nét mặt ? Nếu ngươi hành động tốt, có phải là ngươi sẽ ngẩng mặt lên không ? Nếu ngươi hành động không tốt, thì tội lỗi đang nằm phục ở cửa, nó thèm muốn ngươi ;  nhưng ngươi phải chế ngự nó". Cain nói với em là Aben  :  "Chúng  mình  ra  ngoài đồng đi !" Và khi hai người đang ở ngoài đồng thì Cain xông đến giết Aben, em mình.

ĐỨC CHÚA phán với Cain : "Aben em ngươi đâu rồi ?" Cain thưa : "Con không biết. Con là người giữ em con hay sao ?" ĐỨC CHÚA phán : "Ngươi đã làm gì vậy? Từ dưới đất, tiếng máu của em ngươi đang kêu lên Ta ! Giờ đây ngươi bị nguyền rủa bởi chính đất đã từng há miệng hút lấy máu em ngươi, do tay ngươi đổ ra. Ngươi có canh tác đất đai, nó cũng không còn  cho  ngươi  hoa  màu  của  nó nữa.  Ngươi  sẽ  lang  thang  phiêu bạt trên mặt đất".

Ghi chú : Chủ ý của tác giả Kinh Thánh  cho  thấy  sau  khi  tổ  tông phạm  tội  thì  tội  lỗi  bắt  đầu  lan truyền như một nạn dịch.

2. Ông Giuđa và bà Tama (St 38,1-30).

Thời ấy, ông Giuđa rời bỏ anh em, xuống thăm một người thành Ađulam tên là Khira. Tại đó ông Giuđa thấy con gái một người Canaan, tên ông này là Sua. Ông lấy nàng và ăn ở với nàng. Nàng có thai, sinh con trai, và ông đặt tên cho nó là E. Nàng lại có thai, sinh con trai, và ông đặt tên cho nó là Ônan. Một lần nữa, nàng lại sinh con trai, và ông đặt tên cho nó là Sêla. Ông đang ở Cơdíp khi nàng sinh nó.

Ông Giuđa cưới cho E, con trai đầu lòng của ông, một người vợ tên là Tama. E, con đầu lòng ông Giuđa, làm mất lòng ĐỨC CHÚA, nên ĐỨC CHÚA khiến cậu chết. Ông Giuđa bảo Ônan : "Con hãy ăn ở với  chị  dâu  con,  hãy  chu  toàn nhiệm vụ của một người em chồng, và làm cho anh con có người nối dõi". Ônan biết rằng dòng dõi sinh ra sẽ không phải là của mình, nên khi ăn ở với chị dâu, thì cậu lại cho tinh rơi xuống đất, để không cho anh cậu có người nối dõi. Hành động của cậu không đẹp lòng ĐỨC CHÚA, nên Người cũng khiến cậu chết. Ông Giuđa nói với Tama, con dâu ông : "Con cứ ở góa bên nhà cha con, chờ khi Sêla, con cha, lớn đã". Thật vậy, ông tự nhủ : "Lỡ ra cả thằng này nữa cũng phải chết như các anh nó !" Vậy Tama về ở bên nhà cha mình.

Ngày tháng trôi qua, người con gái ông Sua, là vợ ông Giuđa, qua đời. Mãn tang vợ, ông Giuđa, cùng với bạn là ông Khira, người Ađulam,  lên  Timna  gặp  các  thợ xén lông chiên của ông. Người ta báo cho Tama hay rằng : "Này, cha chồng của chị đang lên Timna xén lông chiên của ông ấy !" Nàng liền bỏ áo bà goá, lấy khăn trùm lên, phủ kín mình, rồi ngồi ở lối vào Ênagim,  một  thành  nằm  trên đường đi Timna. Nàng làm thế vì thấy rằng Sêla đã lớn mà người ta không cho nàng làm vợ cậu.

Ông Giuđa trông thấy nàng, tưởng là một gái điếm, vì nàng đã che mặt. Ông rẽ qua phía nàng bên lề đường và nói : "Cho tôi đến với cô". Ông không biết nàng là con dâu ông. Nàng hỏi : "Ông cho em gì để đến với em ?" Ông đáp : "Tôi sẽ bắt một con dê con trong đàn gửi  đến  cho  cô". Nàng lại  nói  : "Vậy xin ông cho em một vật làm tin, cho tới khi ông gửi đến". Ông hỏi : "Tôi phải cho cô vật gì làm tin ?" Nàng đáp : "Chiếc ấn của ông, sợi dây đeo ấn và cây gậy ông cầm ở tay". Ông đưa cho nàng những thứ đó, rồi đến với nàng, và nàng có thai với ông. Nàng đứng lên, đi khỏi, bỏ khăn trùm và mặc lại áo bà goá.

Ông Giuđa nhờ người bạn ở Ađulam mang dê con đến, để lấy lại vật làm tin từ tay người đàn bà, nhưng ông này không tìm thấy nàng. Ông này hỏi người địa phương : "Cô điếm thần ở Ênagim, vẫn ngồi trên đường, đâu rồi ?" Họ đã trả lời : "Ở đây chẳng hề có điếm thần" Ông về nói với ông Giuđa : "Tôi không tìm thấy cô ta. Người địa phương còn nói là ở đấy chẳng  hề  có  điếm  thần".  Ông Giuđa nói : "Cô ta cứ việc giữ những thứ ấy ! Miễn sao chúng ta đừng bị chê cười. Tôi quả đã gửi con dê con này, còn anh lại không tìm thấy cô ấy !".

Khoảng ba tháng sau, người ta báo cho ông Giuđa rằng : "Tama, con dâu ông, đã đi làm điếm ; nó còn có thai vì làm điếm nữa !" Ông Giuđa nói : "Lôi nó ra mà thiêu sống !" Khi bị lôi ra, nàng nhờ người nói với cha chồng rằng : "Chính chủ những vật này đã làm cho con có thai !" Nàng còn nói : "Xin cha nhận ra xem chiếc ấn, sợi dây đeo ấn và cây gậy này là của ai". Ông Giuđa nhận ra và nói : "Nó công chính hơn tôi. Quả thực tôi đã không cho nó làm vợ Sêla, con trai tôi". Rồi ông không ăn ở với nàng nữa.

Đến ngày sinh, nàng sinh đôi. Khi nàng sinh thì một đứa thò tay ra, bà đỡ cầm lấy tay, buộc sợi chỉ đỏ  vào  và  nói  :  "Đứa  này  ra trước". Rồi nó rụt tay vào, và đứa kia ra. Bà đỡ nói : "Thật mày đã xé rào !" Người ta bèn đặt tên cho nó là Perét. Sau đó, đứa trước mới ra, có sợi chỉ đỏ ở tay ; người ta đặt tên cho nó là Derác.

Ghi chú : Ý tác giả muốn nói : tổ phụ Giuđa kết án con dâu, té ra kết án chính mình vì đã không chấp hành luật của Chúa.

3. Vua Đavít phạm tội (2Sm 11,2- 12,15).

Vào một buổi chiều, vua Đavít từ trên giường trỗi dậy và đi bách bộ trên sân thượng đền vua. Từ sân thượng, vua thấy một người đàn bà đang tắm. Nàng nhan sắc tuyệt vời.

Vua Đavít sai người đi điều tra về người đàn  bà, và  người ta  nói  : "Đó chính là bà Bát Seva, con gái ông Êliam, vợ ông Urigia người Khết". Vua Đavít sai lính biệt phái đến đón nàng. Nàng đến với vua và vua nằm với nàng; khi ấy nàng mới thanh tẩy sau thời kỳ ô uế. Rồi nàng trở về nhà. Người đàn bà thụ thai. Nàng sai người đến báo tin cho vua Đavít rằng : "Tôi có thai".

 Vua Đavít sai người đến nói với ông  Giôáp: "Hãy  sai  Urigia, người Khết, về gặp ta". Ông Giôáp sai ông Urigia về gặp vua Đavít. Khi ông Urigia đến với vua, vua Đavít hỏi thăm về ông Giôáp, về quân binh, về chiến sự. Rồi vua

Đavít bảo ông Urigia : "Hãy xuống nhà của ngươi và rửa chân". Ông Urigia ra khỏi đền vua, có người bưng ra một phần thức ăn của nhà vua theo sau. Nhưng ông Urigia nằm ở cửa đền vua với tất cả các bề tôi của chúa thượng ông, và ông không xuống nhà mình.

Người ta báo tin cho vua Đavít rằng : "Ông   Urigia  đã   không xuống  nhà  ông".  Vua  Đavít  hỏi ông Urigia : "Chẳng phải ngươi đi đường xa mới về ư ? Tại sao ngươi không  xuống  nhà  của ngươi  ?" Ông Urigia thưa với vua Đavít : "Hòm Bia cũng như Isael và Giuđa đang ở lều, chủ tướng tôi là ông Giôáp  và  các  bề  tôi  của  chúa thượng đang đóng trại ở ngoài đồng trống, mà tôi đây lại về nhà ăn uống và nằm với vợ tôi sao ? Tôi xin lấy mạng sống của ngài, lấy chính mạng sống của ngài mà thề : tôi sẽ không làm điều ấy !" Vua Đavít bảo ông Urigia : "Hãy ở lại đây hôm nay nữa, ngày mai ta sẽ cho ngươi đi". Ông Urigia ở lại Giêrusalem ngày hôm đó …

Hôm sau vua gửi thư cho tướng Giôáp, vua viết : "Hãy đặt Urigia ở hàng đầu, chỗ mặt trận nặng nhất, rồi rút lui bỏ nó lại, để nó bị trúng thương mà chết".

Ông Giô-áp đang thám sát thành liền để ông Urigia ở chỗ ông biết là có quân hùng mạnh nhất. Người trong thành xông ra, giao chiến với ông Giôáp. Một số người trong quân binh, trong các bề tôi vua Đavít đã ngã gục, và ông Urigia, người Khết, cũng chết.

Ông Giôáp sai người về báo cho vua Đavít biết tất cả diễn tiến trận đánh. Ông ra lệnh cho người lính biệt phái rằng : "Khi anh kể tất cả diễn tiến trận đánh cho đức vua xong, nếu cơn giận đức vua nổi lên và người hỏi anh : Tại sao các ngươi lại đến gần thành mà giao chiến ? Các ngươi không biết là người ta bắn từ trên tường thành xuống sao ? Ai đã hạ Avimeléc, con ông Giơrúpbesét ? Chẳng phải một người đàn bà đã liệng xuống ông một thớt cối đá và ông đã chết tại Têvết đó sao ? Tại sao các ngươi lại đến gần tường thành ?', thì anh sẽ nói : 'Tôi tớ ngài là ông Urigia, người Khết, cũng đã chết".

 Người lính biệt phái ra đi và đến báo cho vua Đavít biết mọi điều ông  Giôáp  đã  sai  anh  về  nói. Người lính biệt phái nói với vua Đavít : "Những người ấy đã mạnh hơn chúng tôi và đã xông ra đánh chúng tôi ở ngoài đồng, nhưng chúng tôi đã đẩy lui chúng cho đến lối vào cửa thành. Từ trên tường thành, lính bắn cung đã bắn xuống các bề tôi của ngài. Một số bề tôi đức vua đã chết, cả tôi tớ ngài là ông Urigia, người Khết, cũng đã chết".

Vua Đavít bảo người lính biệt phái : "Hãy nói với ông Giôáp thế này : Đừng bực mình về chuyện ấy, vì việc binh đao là thế : khi thì người này, khi thì người kia bị chém. Hãy mạnh mẽ tấn công và phá huỷ thành. Ngươi hãy khích lệ ông ấy".

 Vợ ông Urigia nghe tin ông Urigia,  chồng  mình,  đã  chết,  thì làm ma cho chồng. Khi tang lễ đã qua, vua Đavít sai người đi đón nàng về nhà mình. Nàng trở thành vợ vua và sinh cho vua một con trai. Nhưng hành động của vua Đavít không đẹp lòng ĐỨC CHÚA.

 ĐỨC CHÚA sai ông Nathan đến với vua Đavít. Ông vào gặp vua và nói  với  vua:  "Có  hai  người  ở trong cùng một thành, một người giàu, một người nghèo. Người giàu thì có chiên dê và bò, nhiều lắm. Còn người nghèo chẳng có gì cả, ngoài con chiên cái nhỏ độc nhất ông đã mua. Ông nuôi nó, nó lớn lên ở bên ông, cùng với con cái ông, nó ăn chung bánh với ông, uống  chung  chén  với ông, ngủ trong lòng ông : ông coi nó như một đứa con gái.

Có khách đến thăm người giàu, ông này tiếc của, không bắt chiên dê hay bò của mình mà làm thịt đãi người lữ khách đến thăm ông. Ông bắt con chiên cái của người nghèo mà làm thịt đãi người đến thăm ông".

Vua Đa-vít bừng bừng nổi giận với  người  ấy  và  nói  với  ông Nathan  :  "Có  ĐỨC  CHÚA  hằng sống ! Kẻ nào làm điều ấy, thật đáng chết ! Nó phải đền gấp bốn con chiên cái, bởi vì nó đã làm chuyện ấy và đã không có lòng thương xót". Ông Nathan nói với vua Đavít : "Kẻ đó chính là ngài ! ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của Israel, phán thế này : Chính Ta đã xức dầu phong ngươi làm vua cai trị Israel,  chính  Ta  đã  giải  thoát ngươi khỏi tay vua  Saun. Ta  đã ban   cho   ngươi   nhà  của   chúa thượng ngươi, và đã đặt các người vợ  của  chúa  thượng  ngươi  vào vòng tay ngươi. Ta đã cho ngươi nhà  Israel  và  Giuđa.  Nếu  bấy nhiêu mà còn quá ít, thì Ta sẽ ban thêm cho ngươi gấp mấy lần như thế  nữa.  Vậy  tại  sao  ngươi  lại khinh dể lời ĐỨC CHÚA mà làm điều dữ trái mắt Người ? Ngươi đã dùng  gươm  đâm  Urigia,  người Khết ; vợ y, ngươi đã cướp làm vợ ngươi ; còn chính y, ngươi đã dùng gươm của con cái Ammon mà giết. Ấy vậy, gươm sẽ không bao giờ ngừng chém người nhà của ngươi, bởi vì ngươi đã khinh dể Ta và cướp vợ của Urigia, người Khết, làm vợ ngươi.

"ĐỨC CHÚA phán thế này : Ta sắp dùng chính nhà của ngươi mà gây họa cho ngươi. Ta sẽ bắt các vợ của ngươi trước mắt ngươi mà cho một người khác, và nó sẽ nằm với các vợ của ngươi giữa thanh thiên bạch nhật. Thật vậy, ngươi đã hành động lén lút, nhưng Ta, Ta sẽ làm điều ấy trước mặt toàn thể Israel và giữa thanh thiên bạch nhật".

Bấy giờ vua Đavít nói với ông Nathan : "Tôi đắc tội với ĐỨC CHÚA". Ông Nathan nói với vua Đavít : "Về phía ĐỨC CHÚA, Người đã bỏ qua tội của ngài ; ngài sẽ không phải chết. Thế nhưng vì trong  việc  này  ngài  đã  cả  gan khinh thị ĐỨC CHÚA, nên đứa trẻ ngài sinh được, chắc chắn sẽ phải chết". Rồi ông Nathan trở về nhà.

Ghi chú : Ý tác giả muốn trình bày: Thiên  Chúa  biết  hết  mọi  sự, không có ai, không có gì qua mặt được  Chúa  –  "thiên  võng  khôi khôi, sơ nhi bất lậu".

 4. Bà Susanna và phán quyết của ông Đaniel (Đn 13,1-64).

Có một người ở tại Babylon, tên là Giôgiakim. Ông lấy vợ tên là Susanna. Bà là con gái ông Khenkigia ; bà rất xinh đẹp và kính sợ Chúa. Cha mẹ bà là người công chính, đã dạy dỗ con gái theo Luật Môsê. Ông Giôgiakim là người rất giàu, ông có một khu vườn bên cạnh nhà. Người Do Thái thường đến nhà ông, vì ông có thế giá hơn mọi người. Năm ấy, người ta đặt hai  kỳ  lão chọn  trong  dân  làm thẩm phán. Đấng Chí Tôn đã phán về họ rằng : "Từ Babylon, đã phát xuất sự gian tà do những kỳ lão, những thẩm phán có vẻ như cai trị dân". Những kỳ lão này thường lui tới nhà ông Giôgiakim. Tất cả những ai có việc gì cần xét xử thì đến gặp họ. Giữa trưa, khi dân đã rút  lui,  bà  Susanna  vào  đi  dạo trong vườn của chồng. Hai kỳ lão thấy bà mỗi ngày vào đi dạo, thì sinh lòng ham muốn. Họ để tâm trí ra  đồi  bại,  quay  mắt  đi  để  khỏi nhìn lên trời cao và chẳng nhớ đến những phán quyết công minh của Thiên Chúa. Cả hai người đều đắm đuối say mê bà, nhưng họ không cho nhau biết vết thương lòng của mình, bởi vì họ xấu hổ không dám tỏ bày lòng ham muốn chiếm được bà. Ngày ngày, họ nôn nao rình rập, mong nhìn thấy bà. Một hôm, họ nói với nhau : "Đến giờ ăn trưa rồi, ta đi về nhà thôi !" Thế rồi họ bước ra và chia tay. Nhưng sau đó, ông nào cũng trở lui và cả hai lại gặp nhau ở chỗ cũ. Khi đôi bên gạn  hỏi  nhau,  họ  mới  thú  nhận lòng ham muốn của mình. Và bấy giờ họ đồng lòng tìm dịp gặp bà lúc bà ở một mình. Họ đang nóng lòng  chờ  dịp  thuận  lợi,  thì  một hôm, bà Susanna đi vào vườn như các ngày trước, chỉ có hai tớ gái theo hầu. Vì trời nóng, bà muốn tắm trong vườn. Ở đó, chẳng có ai, ngoại trừ hai kỳ lão đang ẩn núp và rình xem. Bà bảo các tớ gái : "Đem cho ta dầu và thuốc thơm, rồi đóng cửa vườn lại để ta tắm". Các tớ gái làm như bà nói : các cô đóng cửa lại, đi ra phía cửa hông để lấy những thứ bà yêu cầu. Nhưng các cô không biết là các kỳ lão đang ẩn núp trong vườn.

Các cô vừa ra khỏi đó, thì hai kỳ lão liền chồm dậy, nhào tới chỗ bà và nói : "Này cửa vườn đã đóng ; chẳng ai thấy chúng ta đâu. Chúng tôi thèm muốn bà, bằng lòng trao thân cho chúng tôi đi ! Nếu không, chúng  tôi  sẽ  làm  chứng  tố  cáo rằng có một thanh niên ở với bà, và vì thế bà đã cho các tớ gái đi khỏi đây". Bà Susanna thở dài não nuột và nói : "Tôi bị khốn tứ bề ! Quả thật, nếu làm thế, tôi sẽ phải chết ; còn nếu không làm, tôi cũng không thoát khỏi tay các ông. Nhưng thà không làm gì cả mà sa vào tay các ông, còn hơn là phạm tội trước mặt Chúa !". Bà Susanna liền kêu lớn tiếng và hai kỳ lão cũng  la  lên  để  hại  bà.  Một  ông chạy ra mở cửa vườn. Khi nghe tiếng kêu trong vườn, các gia nhân đổ xô vào cửa bên hông, để xem sự gì đã xảy ra cho bà. Và sau khi các kỳ lão kể lại chuyện đó, các tôi tớ rất lấy làm hổ thẹn, vì chưa bao giờ   nghe   nói   như   thế   về   bà Susanna.

Hôm sau, dân chúng tụ họp ở nhà ông Giôgiakim chồng bà. Hai kỳ lão kia cũng đến đó, lòng đầy gian ý hại bà, để làm cho bà phải chết. Họ nói trước mặt dân chúng : "Hãy  sai  người  đi  tìm Susanna, con gái ông Khenkigia, vợ ông Giôgiakim".   Rồi   người   ta   cho người đi tìm bà. Bà cũng đến đó với cha mẹ, con cái và tất cả thân nhân.  Bà  Susanna  rất  là  duyên dáng, nhan sắc mặn mà. Vì bà che khăn, nên các tên khốn kiếp đó bắt phải lột khăn ra để ngắm nhan sắc của bà cho thoả. Mọi người thân cũng như tất cả những ai thấy bà, đều khóc. Từ giữa đám dân, hai kỳ lão đó đứng dậy đặt tay lên đầu bà. Còn bà  thì vừa khóc vừa ngước mắt lên trời, vì bà đầy lòng trông cậy vào Chúa. Các kỳ lão nói : "Chúng  tôi  đang  dạo  chơi  một mình trong vườn, thì mụ này đã vào với hai tớ gái, đóng cửa vườn lại, rồi cho các tớ gái đi ra. Một gã thanh niên núp sẵn ở đó, đến bên mụ và nằm với mụ. Lúc ấy, chúng tôi đang ở một góc vườn, thấy chuyện đồi bại, liền chạy tới. Chúng tôi thấy chúng ăn nằm với nhau, nhưng không tóm được gã thanh niên, vì hắn khoẻ hơn chúng tôi, và đã mở cửa chạy mất. Còn mụ này, chúng tôi bắt được và hỏi mụ ta xem gã thanh niên kia là ai. Nhưng mụ không chịu nói cho chúng   tôi.   Chúng   tôi   xin   làm chứng về những điều ấy".

Nhưng bà Susanna kêu lớn tiếng rằng : "Lạy Thiên Chúa hằng hữu, Đấng am tường những điều bí ẩn và thấy hết mọi sự trước khi chúng xảy ra, Ngài biết là họ đã làm chứng gian hại con. Này con phải chết, tuy chẳng làm điều gì trong những điều họ đã vu cho con".

Chúa  đã  nghe  tiếng  bà  kêu. Trong lúc bà bị điệu đi hành hình, Thiên Chúa đã đánh động tâm trí thánh thiện của một thiếu niên tên là Đaniel. Thiếu niên đó kêu lớn tiếng rằng : "Tôi vô can trong vụ đổ máu người phụ nữ này !" Toàn dân  đều  quay  về  phía  cậu  thiếu niên và hỏi : "Lời cậu vừa nói có nghĩa gì ?" Cậu đứng giữa họ và nói : "Các người ngu xuẩn đến thế sao,  hỡi  con cái  Israel  ?  Các người đã lên án một người con gái Israel mà không xét hỏi và cũng không biết rõ sự việc ra sao ! Hãy trở lại nơi xét xử, vì những người kia  đã  làm  chứng  gian  để  hại người phụ nữ này".

 Toàn dân vội vàng trở lại đó, và các kỳ lão nói với Đaniel : "Đến đây, hãy ngồi giữa chúng tôi và cho chúng tôi biết ý kiến, vì Thiên Chúa đã cho cậu được khôn ngoan như bậc lão thành". Đaniel nói : "Hãy tách riêng họ ra, rồi tôi sẽ xét hỏi". Sau khi họ đã bị tách ra rồi, Đaniel gọi một trong hai kỳ lão lại và nói : "Hỡi con người già đời trong đường gian ác, tội lỗi xưa ông đã phạm, nay lại tái diễn : ông đã xử bất công, kết án người vô can, tha bổng kẻ đắc tội, bất kể lời Chúa dạy : Ngươi chớ giết người vô tội và người công chính. Vậy bây giờ, nếu quả thật ông đã thấy  bà  kia,  thì  hãy nói  ông  đã thấy họ thông gian với nhau dưới cây nào ?" Người ấy đáp : "Dưới cây trắc". Đaniel nói : "Ông đã nói dối trắng trợn khiến ông phải mất mạng, vì thiên sứ của Thiên Chúa đã nhận được án lệnh của Người là chặt ông làm đôi". Sau khi cho người này ra, Đaniel truyền dẫn người kia vào, rồi nói : "Hỡi nòi giống Canaan, chứ không phải nòi giống Giuđa, sắc đẹp đã mê hoặc

ông, và tình dục đã làm cho ông ra hư hỏng. Các ông đã hành động như thế với các con gái Israel. Vì sợ, họ đã thông gian với các ông. Nhưng người con gái Giuđa này đã không chịu nổi sự gian tà của các ông. Vậy bây giờ, hãy nói cho tôi biết ông đã bắt quả tang họ thông gian với nhau dưới cây nào?" - Người ấy đáp : "Dưới cây dẻ". Đaniel mới bảo : "Cả ông nữa, ông cũng nói dối trắng trợn khiến ông phải  mất  mạng,  vì  thiên  sứ  của Thiên Chúa, tay cầm gươm, đang chờ để xẻ ông làm đôi nhằm tiêu diệt các ông".

Bấy giờ toàn thể cộng đồng lớn tiếng reo hò và chúc tụng Thiên Chúa, Đấng cứu những kẻ trông cậy vào Người. Rồi người ta quay lại chống hai kỳ lão, vì Đaniel đã dựa vào lời chính miệng các ông nói mà thuyết phục họ là các ông đã  làm  chứng  gian.  Theo  luật Môsê, người ta giáng cho các ông hình phạt mà các ông định bắt người khác phải chịu, đó là giết các ông. Ngày ấy, máu người vô tội khỏi bị đổ oan. Vợ chồng ông Khenkigia cùng với con rể là Giôgiakim   và   mọi người   thân thuộc đều ca ngợi Thiên Chúa về bà Susanna, con gái của họ, vì người ta đã không thấy điều gì bất xứng nơi bà. Từ ngày ấy trở đi, cậu Đaniel nên cao trọng trước mặt dân.

 Ghi chú : Ý tác giả trình bày : "Ác giả ác báo", đó là định luật ngàn đời.

Về đầu trang

Nhận định

A. Với những người chưa quen và chưa hiểu Kinh Thánh, thì đây là  xì-căng-đan  lớn  làm  họ choáng váng mặt mày. Thánh Kinh là lời Chúa, là sách của Chúa, sách được gọi là "Thánh" mà sao lại kể những chuyện loạn luân, dâm ô tầy đình như vậy ?

Chu  Văn  Trình  và  Thái  Vân trong  bộ  sách  nhiều  tập  "Giatô thực dân chính sử" (phần nào giống "Tây Dương Giatô bí lục"), đã chỉ dựa vào  những  sự  kiện  này  để  phê phán nặng lời Thánh Kinh và Giáo Hội Công giáo. Các ông còn quả quyết những gì các ông sẽ phanh phui ra là những "sự thật" … mà "lịch sử nhân loại sẽ phê phán việc làm của ngài (Đức Giáo hoàng) và chúng tôi" (1/8/1993, Chu Văn Trình P.O box 598 Mt. Dora, Fl. 32757 – USA). Ngoài việc bóc tách những sự việc mà các tác giả cho là sát máu, loạn luân, dâm ô để lên án, họ còn đi tới "sự thật động trời" là kết luận ông Giêsu không bị đóng đinh thập ác mà là Simon người Syrênê – còn ông Giêsu cùng vợ với 2 con trai lưu vong sang Pháp lúc ấy ông đã 70 tuổi.… (sách đã dẫn tập 1 trang 13).

Xin hẹn các ông vài chục năm nữa, sẽ cùng những người đọc đối diện với Đấng là Sự thật tuyệt đối.

Những   quy   kết   trên   đây   là chuyện của ông Trình và ông Vân, còn chúng ta khi bình tâm lại, chúng ta sẽ thấy như sau :

a. Nét đẹp nhất của Thánh Kinh là Sự Thật – Thánh Kinh, sách của Chúa là Đấng chân thật và là chân thiện mỹ tuyệt đối. Thánh Kinh chỉ dạy sự thật, dĩ nhiên đây  là  sự  thật  về  Đức  tin  và Luân lý, chứ không bao hàm các môn học khác như toán, lý, hóa, sử, địa, … vì Thánh Kinh không nhằm dạy những môn đó – Cần lưu ý một điểm là nếu Thánh Kinh mà có một điều sai (về đức tin và luân lý) thì sẽ mất hết giá trị và sẽ bị phế bỏ.

b. Trong việc tìm hiểu và giải thích Thánh Kinh cần lưu ý 5 điều trọng yếu này :

-    Điều  1  :  Thánh  Kinh  phải được đọc và giải thích trong sự liên đới của toàn bộ Kinh Thánh – từng phần phải được hiểu trong tổng thể, giống như một bản hòa tấu, muốn phê bình, phân tích phải biết đọc tổng phổ – không thể tách riêng từng bè để phê phán. Thánh Kinh nếu băm vằm ra từng  mảnh  để  phê  bình  thì cũng chẳng khác nào 4 anh xẩm (mù) xem voi : anh rờ vào cái vòi thì tuyên bố con voi như con đỉa vĩ đại, anh sờ vào cái chân thì tuyên bố con voi như cái cột đình, anh sờ vào cái  tai  thì  tuyên bố  con  voi như cái quạt lớn, anh sờ vào cái đuôi thì tuyên bố con voi như cái chổi tầu cau.

-    Điều 2 : Thánh Kinh là sách của Đức tin, đọc Thánh Kinh với lòng khiêm tốn, với óc tìm tòi đầy thiện chí, cái gì chưa rõ thì hỏi han, trao đổi, đó là thái độ của lòng tin, với thái độ  này  thì  dù người  ngoài Kitô giáo đọc Thánh Kinh vẫn tốt, vẫn tìm được lợi ích – thánh Cam Địa, nhà thơ vĩ đại Tagore hàng ngày vẫn đọc Thánh Kinh dù chưa là Kitô hữu. Đọc và giải thích Thánh Kinh mà không có đức tin, chỉ nhằm phê phán điều này điều nọ thì e rằng không tránh khỏi sự sai lầm và thái độ thiếu tôn trọng   niềm   tin   của   người khác.

-    Điều  3  :  Thánh  Kinh  là  bộ sách cách nay ít nhất 2000 năm,   những  dân  tộc   được nhắc  tới  trong  Thánh  Kinh đều có những nền văn hóa bản địa, có những phong tục, tập quán,  luật  lệ,  ngôn  ngữ  …khác chúng ta, và khác thời đại chúng ta, do đó nếu lấy những luật lệ, phong tục, những quy tắc, tiêu chuẩn của chúng ta thời hiện đại này mà chụp vào xã hội của bối cảnh Thánh Kinh để phán xét, thì đó là một sai lầm lớn trong khoa phê bình, nghiên cứu – Thí dụ luật cấm kết hôn trong dòng tộc 3 đời, thì mới có đây do khoa học khám phá ra tình trạng đồng huyết mà lấy nhau thì có nguy cơ suy giảm thể lực và nòi giống – Cách đây mấy nghìn năm, việc kết hôn trong dòng tộc là luật để bảo vệ nòi giống (không lai) và tài sản, cơ nghiệp (không bị phân tán), dựa vào luật hôn nhân gia đình hiện đại để kết án hôn nhân trong dòng tộc thời xưa là loạn luân, là phi luân … thì quả là bất công. Ngày nay có ai đem luật của Mỹ để xử những việc của Việt Nam và ngược lại ?

-    Điều 4 : Muốn tìm hiểu, phê phán,  dạy  dỗ  Thánh  Kinh, phải dùng những tài liệu, những văn bản chính thức của Hội Thánh như cơ sở chính yếu. Đọc được vài bản dịch bằng tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Việt mà lại không phải chính thức của Hội Thánh Công  giáo,  rồi  còn  dựa  vào

các ngụy kinh như Phúc Âm thánh  Tôma  mà   Giáo  Hội Công giáo đã loại bỏ để phê bình Thánh  Kinh  thì  không thể chấp nhận được.

 -    Điều  5  :  Giải  thích  Thánh Kinh  không  phải  là  chuyện dễ, cứ có mảnh bằng cử nhân, tiến sĩ là có thể làm được. Nên nhớ trên thế giới cho đến nay có lẽ chỉ có hai bộ sách được nghiên cứu như một bộ môn riêng biệt, chuyên khoa, đó là Hồng  Học  và  Thánh  Kinh Học. Hồng Học chỉ học về bộ tiểu thuyết Hồng Lâu Mộng của  Trung  Quốc,  Hồng  Học thì mới có gần đây thôi, có

Học viện và có cấp bằng chuyên môn hay không thì người viết không rõ, nhưng Thánh Kinh Học thì có trước đây cả ngàn năm và Học viện Thánh Kinh (ngang tầm các Viện Đại học danh tiếng), như Viện Thánh Kinh Rôma và Giêrusalem thì được thiết lập cách nay một thế kỷ, và chỉ có Học viện Thánh Kinh Rôma được cấp bằng cử nhân và tiến sĩ Kinh Thánh. Chắc chắn các nước  đa số  theo  Tin  Lành, Anh giáo như Anh, Đức, Mỹ… cũng có Học viện Thánh Kinh của riêng họ, ngay tại Việt Nam trước năm 1975 còn có Học viện Thánh Kinh Tin Lành ở Nha Trang.

Để  vào  học  ở  Viện  Thánh Kinh Rôma và Giêrusalem, và để trở thành nhà nghiên cứu, chú giải Thánh Kinh chính thức, học viên sau tú tài, cử nhân, phải đủ điều kiện về ngôn ngữ, nghĩa là ngoài tiếng mẹ đẻ phải thông thạo ít là 3 trong các sinh ngữ Tây Âu : Anh,  Pháp,  Đức,  Tây  Ban Nha, Ý … và thông thạo ít là 4 cổ ngữ La-tinh, Hy Lạp, Hêbrêu (Do Thái) và Aram, và 1 trong 3 ngôn ngữ Đông phương như Ai Cập, Ả Rập, Copt. rồi còn phải miệt mài chuyên chú học chỉ một môn này mà thôi trong ít là 9 năm, và phải thi đậu, được cấp bằng mới đủ tư cách giải thích Kinh Thánh. Không phải chỉ lõm bõm vài câu tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức … mà học được.

Linh mục Giuse Đỗ Quang Khang sau khi tốt nghiệp đại học đã có một thời đi dạy học rồi vào tu sau 6 năm làm Linh mục, rồi được gửi qua Học viện Thánh Kinh Rôma học, sau 9 năm mới về nước, ngài tâm sự : "Nếu vì bất cứ lý do gì mà nghỉ 1 tuần thôi thì không thể theo kịp nữa, phải bỏ giở mà về". Nếu Thánh Kinh là một cuốn sách vô giá trị thì thế giới văn minh này làm gì phải nhọc công và tốn kém như vậy ? Làm gì phải dịch ra hơn 2400 thứ tiếng, xuất  bản  hàng  tỷ  cuốn  như vậy ? Và làm gì mỗi ngày có hàng tỷ người đọc và noi theo như vậy ?

 c. Thánh Kinh không phải là sử ký thuần túy, nhưng có tính lịch sử rất cao, nghĩa là hoàn toàn tôn trọng  sự  thật,  tác  giả  Thánh Kinh biết sao kể vậy, không bao giờ  cố  tình  bóp  méo  sự  thật, khác với lịch sử của các triều đại chính trị luôn có khuynh hướng "xấu che, tốt khoe", nhiều khi sử gia không muốn vậy nhưng do những  áp  lực  nhiều  phía  nên buộc phải làm như vậy.

 Thông thường người ta rất sợ sự thật, sợ đối mặt với sự thật, nhất là những sự thật không mấy tốt đẹp, do đó mới có vấn đề những người có thế lực "sát nhân diệt khẩu" trong mọi thời đại.

 Một vua Hêrôđê (thế kỷ 1) loạn luân  với  chị  dâu  ngay  khi  anh mình còn sống, ông Gioan Tẩy Giả đã dũng cảm lên tiếng : "Ngài không được làm như vậy", lập tức ông bị bay đầu (Lc 3,19-20). Với ông vua  khét  tiếng  độc  ác  này  cũng như ông trùm độc tài Hítler, sử gia nào dám nói động tới những việc sai quấy các ông làm ? Với các vua chúa, những nhà độc tài khát máu khác cũng vậy.

 Theo nhà nghiên cứu Trần Văn Chánh trong bài "Tản mạn quan điểm, phương pháp và thái độ nghiên  cứu  lịch  sử"  (Nguyệt  san Công giáo & Dân tộc số 160, 162) :

 (Ghi chú : từ trang 49 – 114 tư liệu có tính chuyên môn, ai cảm thấy không cần, có thể bỏ qua)

 Những năm gần đây, nhiều vấn đề lịch sử nói chung hay nhân vật lịch sử nói riêng đã được giới nghiên cứu sử học xem xét lại, nhờ vậy vấn đề triều Nguyễn hay một vài nhân vật lịch sử nổi bật như vua Gia Long, các cụ Lê Văn Duyệt, Phan Thanh Giản, Nguyễn Trường   Tộ,   Trương   Vĩnh Ký, Phạm  Quỳnh  …  cũng  đã  được đánh giá lại trong một tinh thần thông thoáng cởi mở hơn xưa rất nhiều, và việc làm này đều được mọi tầng lớp trong xã hội hoan nghênh tán đồng.

 Có  lẽ  từ  giờ  trở  đi,  nhân  dân Việt  Nam  khỏi  phải  mất  công tranh cãi nhau dài dòng về tư cách tốt xấu của cụ Lê Văn Duyệt hay cụ Phan Thanh Giản nữa. Nghe tin cụ  Lê  Văn  Duyệt   được  dựng tượng đồng, cụ Phan Thanh Giản được đánh giá tốt lại như thế, chắc không  ai mừng  gì  riêng  cho  cá nhân các cụ, vì dù sao các cụ cũng đã ra người thiên cổ từ lâu, nhưng mừng cho nhân dân địa phương tại những nơi quê hương xứ sở của các cụ có được những tấm gương sáng rạch ròi để mà hãnh diện và noi theo. Và ở một đàng khác, mừng cho giới sử học ngày nay đã thoát ra được thời kỳ dài mông muội của chủ nghĩa giáo điều để có  được  những  nhận  thức  sáng suốt đúng đắn hơn về một số vấn đề liên quan đến lịch sử và nhân vật lịch sử, nhờ thế đã xác nhận lại lần nữa cho chắc nịch những điều mà  toàn  dân  thật  ra  đã  có  nhận thức từ lâu. Những sự đánh giá lại như thế mặc dù rất đáng khen, nhưng nếu xem xét bằng thái độ khiêm tốn khách quan trung thực, người ta có lẽ không nên hào hứng theo nghĩa các cụ vừa được những kẻ hậu sinh 'xá tội', mà phải hiểu theo chiều ngược lại là việc buộc tội lầm của một số người đánh giá sai trước đây chẳng những không bị phạt đền mà còn được các cụ (với đại diện là toàn thể nhân dân) khoan miễn cho nhẹ đi rất nhiều. Như thế là vui vẻ cả làng, người xưa và người nay có sự đề huề hợp tác chân thành.

Việc các cụ Lê, cụ Phan, cụ Trương Vĩnh Ký … trong một thời kỳ khá dài bị một bộ phận giới sử học   quan   niệm   đánh   giá   xấu thường được người dân VN hiểu một cách thô sơ qua việc xóa bỏ tiểu sử trong sách giáo khoa, tượng thờ, tên đường hoặc tên trường học mang tên các cụ tại nhiều địa phương khác nhau, vì lý lịch các cụ  phần  nhiều  đều  có  liên  quan mật thiết đến triều Nguyễn, thời kỳ thực dân Pháp, hoặc với đạo Công giáo. Nhìn chung, người dân phần nhiều không nghiên cứu kỹ sử sách nhưng họ đều lấy làm hoang mang kinh  ngạc  trước  việc  một  số cụ đang tốt bỗng nhiên hóa xấu. Bởi chỉ cần phán đoán theo lương tri thông  thường  không  phải thông qua nghiên cứu sâu xa như Viện Sử học, ai cũng biết những người như cụ Lê Văn Duyệt được nhân dân trân trọng thờ phụng hương khói chuyên cần, như cụ Phan Thanh Giản từ bỏ cả mạng sống (cái quý nhất ở cá nhân con người) khi vì tình thế bức bách khách quan phải giao thành cho giặc, như cụ học giả  Trương  Vĩnh  Ký  trong  và ngoài nước đều kính trọng dựng tượng  thờ  …  thì  không  thể  là những người tồi tệ phản dân hại nước cho được. Do vậy, nếu có những sự đánh giá cẩu thả sai lạc về các cụ trong một thời của một số người nào đó trong giới sử học hoặc chính quyền (chứ không phải của cả giới sử học hoặc của tất cả mọi người trong chính quyền) thì điều này gợi ý cần phải coi lại triệt để phương pháp và thái độ nghiên cứu lịch sử, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cần thiết trong tương lai khi cần áp dụng kiến thức và tư duy lịch sử soi xét, đánh giá những vấn đề hoặc nhân vật lịch sử khác. Điều quan trọng là những người đưa ra các đánh giá phải không được xuất phát từ một quan điểm giáo điều nào, cũng như ít nhất họ phải dựa trên cơ sở sử liệu đầy đủ đã được thẩm tra kỹ, và một mặt khác đôi khi họ cũng phải có tư cách  –  nhân  cách  tương  đương hoặc cao hơn các đối tượng nhận sự đánh giá của họ. Một người viết được vài ba bài viết trên báo hoặc tập tiểu luận nhỏ về sử học, khi nhận xét về cụ Phan Thanh Giản chẳng hạn, ít nhất cũng phải biết để cân nhắc cụ là một người ăn học đàng hoàng, văn hay chữ tốt, đỗ Tiến sĩ với chất lượng cao thật sự,  và  từng  giữ  chức  Tổng  tài Quốc sử quán tổ chức biên soạn Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục (53 quyền) vốn được coi là một bộ sử Việt biên soạn cẩn thận và đồ sộ nhất từ trước đến giờ.

Có một vấn đề cũ mèm được nói nhiều nhất có lẽ trong các giới nghiên cứu văn học và lịch sử, nhưng  lại  luôn  bị  áp  dụng  một cách  lúng  túng  sai  lạc  do  ảnh hưởng nặng nề của tệ giáo điều, đó là chủ nghĩa duy vật lịch sử mà về mặt  áp  dụng  để  nghiên cứu  văn học –  sử  học thì quen gọi  bằng cụm từ 'quan điểm lịch sử cụ thể'. Mác nói rằng không ai được chọn thời để sinh ra cũng như không ai được quyền lựa chọn lực lượng sản xuất cho mình, nói nôm na là khi người ta sinh ra thì nhiều cái đã có trước, không tùy thuộc vào ý muốn chủ quan của bất kỳ ai. Đó cũng là một khía cạnh quan trọng của cái gọi là bối cảnh hay hoàn cảnh lịch sử mà con người hầu như không thể thoát ra được. Ở một chỗ khác ông viết : "Quan điểm của tôi cho rằng sự phát triển của hình thái kinh tế của xã hội có thể coi như quá trình của tự nhiên và lịch sử của tự nhiên. Cho nên so với mọi quan điểm khác, quan điểm của tôi có thể có ít quy trách nhiệm cho cá nhân hơn về những quan hệ mà xét theo  nghĩa  xã  hội,  cá  nhân  đó trước sau vẫn là sản vật, dù cho về mặt chủ quan cá nhân đó có thoát khỏi  những  quan  hệ  ấy  như  thế nào chăng nữa" (Về những quy luật kinh tế trong chủ nghĩa xã hội, NXB Sự Thật, Hà Nội, 1975, trang 12). Mác cũng nhận định thật tài tình "Lịch sử chẳng qua chỉ là hoạt động của con người theo đuổi mục đích của bản thân mình" (C.Mác và Ph. Ănghen, Gia đình thần thánh hay là phê phán sự phê phán có tính chất phê phán, NXB Sự Thật, Hà Nội, 1971, trang 163).

Nếu xét theo quan điểm đại loại như trên thì triều Nguyễn được dựng  nên  ứng  vào  thời  kỳ sung mãn  nhất  của  cuộc  cách  mạng khoa  học  –  kỹ  thuật  thế  kỷ  19. Việc phát minh ra chiếc máy hơi nước giải phóng sức sản xuất cùng với việc khám phá thêm các đường hàng hải mới đã dẫn đến sự bành trướng của chủ nghĩa thực dân lúc đó đang cần thêm rất nhiều nguyên liệu, nhân công và thị trường tiêu thụ. Đây là diễn biến tất yếu khách quan trong quá trình phát triển của lịch sử chủ nghĩa tư bản thế giới. Nếu Pháp không dòm ngó Việt Nam trong lúc này thì cũng sẽ có một nước Bồ Đào Nha hay Y Pha Nho nào khác. Rủi thay, thực dân Pháp đã đặt tầm ngắm một cách thuận tiện vào Việt Nam giữa lúc trong nước còn đang chiến loạn nhiễu nhương, hai thế lực Nguyễn Ánh  và  nhà  Tây  sơn  quần  thảo nhau kịch liệt một mất một còn.

Trong lúc núng thế gặp được một số đoàn truyền giáo khi đó cũng đang muốn triển khai việc mở đạo hứa giúp, lẽ tất nhiên Nguyễn Ánh phải xem đây là một cơ hội, dù có thể là "một cái xấu cần thiết". Những  đoàn  truyền  giáo  này ngược lại đang cần tranh thủ sự ủng  hộ  vừa  của  chính  quốc vừa của những ông chúa tể bản xứ, trong khi chủ nghĩa tư bản phương Tây cũng cần dựa vào những thế lực này để mở rộng các thị trường thuộc  địa,  Nguyễn  Ánh  thì  cần súng ống tàu chiến đánh Tây Sơn, thế  là  một  sự  kết  hợp  nhuần nhuyễn trúng khía đã xảy ra một cách khách quan để thỏa mãn nhu cầu của tất cả các bên liên quan.

Việc đầu tiên và cấp bách Nguyễn Ánh cần làm là diệt được quân Tây Sơn trước đã bằng bất kỳ phương tiện nào, bởi mối thù 'chỉ non Tây thề chẳng đội trời chung', chứ hoàn toàn không cố ý muốn cầu thân với Pháp. Khía cạnh ngẫu nhiên của hoàn cảnh còn nằm ở chỗ ông là người theo tổ tiên vào lập nghiệp ở miền Nam trước nên có nhiều cơ hội tiếp xúc nhiều hơn với các nhà truyền giáo lúc đó đang cần liên lạc, tranh thủ sự che chở của ông để truyền đạo. Diệt được Tây Sơn rồi mọi việc sẽ tính sau, đó là mục tiêu cấp thời mang tính sách lược tình  huống  của  vị  vua  sáng  lập triều Nguyễn. Nói Nguyễn Ánh "cõng rắn cắn gà nhà" là không đúng với thực tại lịch sử khách quan, cũng như nói Alexandre de Rhodes hay Bá Đa Lộc làm môi giới giữa Pháp và triều Nguyễn là những tên thực dân phản động lại càng  sai  lầm  hơn  về  mặt  quan điểm lịch sử. Bằng cớ là sang thời Minh Mạng (từ 1920), Thiệu Trị, các vị vua con vua cháu này chẳng những không hợp tác với Tây mà còn thực hiện chính sách giết đạo tàn khốc (chứng tỏ không thân Pháp) để giải quyết cái di sản trớ trêu của lịch sử, và chỉ khoảng thời gian đó các nhà vua mới có thể dám làm như vậy (dù không phải việc đúng, tốt), do  mối  ân  tình  giữa  vua  cha (Nguyễn Ánh) với Bá Đa Lộc cùng một số  tướng tá  người Pháp coi như đã sạch nợ giang hồ.

Ngay như vua Quang Trung đại phá được quân Thanh trong trận Đống Đa (1789) mùa xuân năm Kỷ Dậu cũng vậy, nhiều tài liệu mới phát  hiện  gần  đây  cho  biết  một phần quan trọng là nhờ nhà vua đã biết  sử  dụng  khéo  léo  các  lực lượng hải khấu ở biển Đông. Trên thế giới cổ kim, không ít thành tích lẫy lừng được người đời ca tụng của  một  số  nhân  vật  lịch  sử  đã được làm nên không phải lúc nào cũng bằng những con đường chính quy chính thống bằng phẳng, vấn đề chỉ là sự thật lịch sử đã được phơi bày trong các bộ chính sử ở mức độ thế nào mà thôi.

Tương tự như vậy và mở rộng vấn đề ở một cấp khái quát hơn, nếu xét trên quan điểm lịch sử, tạm lấy thế kỷ 19 làm mốc thí dụ, chủ nghĩa tư bản xuất hiện và bành trướng dưới hình thái chủ nghĩa thực dân là hậu quả tất yếu của cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật thế kỷ 19 ; tiếp theo, phong trào cộng sản là hậu quả tất yếu phản ứng lại chủ nghĩa tư bản man rợ thời kỳ đầu, nó lại kết hợp một cách "khế cơ" (ăn khớp) với phong trào cách mạng dân tộc dân chủ và giải phóng dân tộc vừa chống phong kiến vừa chống thực dân ở một số nước thuộc địa trong thời kỳ "giải thực" toàn thế giới. Kết quả là một số chính quyền mang danh nghĩa chủ nghĩa cộng sản đã được  thành  lập,  như  trường  hợp của Trung Quốc, Việt Nam và vài nước khác … Cứ thế lịch sử tuần tự nhi tiến, "trùng trùng duyên khởi", chắc chắn sẽ diễn biến đến những giai đoạn tiếp theo như có thể hiện thấy, với những thứ di sản thuộc loại ngoài ý muốn (đi kèm theo những mặt tốt của các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc) vẫn đang tiếp tục giải quyết,  như  tệ  nạn  đặc quyền và tình trạng tham nhũng … ở một số nước. Riêng trường hợp các nước thực dân xâm lược, hiểu như một sự thể tất yếu không thể tránh khỏi của  một  thời  kỳ  phát  triển  nhất định trong lịch sử thế giới, trong khi đặt ách thống trị lên các quốc gia nhược tiểu, để phục vụ  trước hết quyền lợi cho chính chủ nghĩa thực dân chứ không phải cho các dân tộc bản xứ bị nô lệ, nó cũng đã để lại, dù muốn hay không, một số di sản hữu ích "xài được" cho các dân tộc bị trị như khoa học – kỹ thuật, giáo dục, y tế, hành chính, các cơ sở hạ tầng nhà cửa đường sá cầu cống hiện đại, và đặc biệt là những tư tưởng về tự do dân chủ và  cách mạng. Khi cục diện thế giới thay đổi, các dân tộc bị trị đến lượt mình đương nhiên đã sử dụng những thứ "xài được" đó chống lại ách áp bức bóc lột của chính thực dân, buộc các nước này phải buông tay bằng nhiều cách khác nhau (thông qua hoặc không cần thông qua cuộc chiến tranh giải phóng)  để trao trả lại quyền độc lập tự chủ cho mình.

Trở lại cách nhìn thực tế lịch sử của  một  dân  tộc  hay  một  cộng đồng xã hội nào khác, có thể mượn cách diễn đạt khá tinh tế của ông Trần Bạch Đằng trong "Lời giới thiệu" sách Lê Văn Duyệt với vùng đất Nam Bộ (Bán nguyệt san Xưa & Nay và NXB Trẻ, 2002) : "Người viết sử có thể phân chia diễn biến của quá khứ thành nhiều chương, hồi, theo một chủ điểm yêu ghét nào đó, có khi còn được gọi là chính thống, nhưng bản thân lịch sử thì nó  triển khai đan xen  với  vô  số mâu  thuẫn  và  cách  xử  lý  mâu thuẫn, không từ trong một kịch bản có sẵn nào cả".

Trong chiều hướng "giải hóa" và "xét lại" phổ biến hiện nay để loại bỏ dần những cách đánh giá chính thống nhưng cực đoan và trái quan điểm  lịch  sử  vì  thiếu  tính  toàn diện, một số nhân vật cận đại ở Trung Quốc như Tăng Quốc Phiên, Tưởng Giới Thạch … có thời kỳ bị lên án cực độ ở lục địa, nay đã được người Trung Quốc nhìn nhận lại theo chiều hướng cởi mở hơn, và  tư  tưởng  –  tác  phẩm  của  họ cũng được phổ biến khá nhiều trên các kệ sách ở mọi nơi.

Ngày nay, ở Trung Quốc không ai còn viết truyện hay làm phim để lên án Tần Thủy Hoàng là tàn bạo (mặc dù tàn bạo thật), Tào Tháo là gian hùng (mặc dù gian hùng thật) … làm gì nữa, vì như thế cũng vô ích. Trái lại một số đạo diễn có tài đã cố gắng dựng lên những bộ phim truyện  hay  mô  tả  toàn  diện  tính cách của một số nhân vật, đặt họ đúng vào bối cảnh cụ thể của một thời kỳ lịch sử nhất định tương ứng với  những  phong  tục,  tập  quán cùng  lề  lối  tư  duy –  hành  động phản ánh cách hành xử của con người trong cả một giai đoạn lịch sử nhất định nào đó, do vậy mà Tần Thủy Hoàng hoặc Tào Tháo cũng có được những nét dễ thương đầy nhân tính song song với tính cách tàn bạo hoặc gian hùng không ai chối cãi của họ. Bộ phim Công tử  Bạc  Liêu được  dựng  ở  Việt Nam khoảng hơn 10 năm trước sở dĩ không thành công là vì những người thực hiện mải lo phản ảnh khía cạnh tiêu cực của công tử nhắm  vào  chủ  đề  chống  phong kiến nhiều hơn là nhìn "công tử" ở góc độ khách quan là một con người có gốc đại địa chủ thích ăn chơi nhưng tính tình hào sảng khả ái của vùng đất mới Nam Bộ.

Đánh giá nhân vật lịch sử vì thế rất cần có sự cân nhắc thận trọng nhiều mặt trong tất cả mọi trường hợp. Ở Việt Nam, ngoài các nhân vật lịch sử lớn như Nguyễn Ánh (gắn liền với cả triều Nguyễn), Lê Văn Duyệt, Phan Thanh Giản … có lúc bị đánh giá nhầm, còn có những nhân vật khác như Nguyễn Trường Tộ, Trương Vĩnh Ký, Phạm Quỳnh… có thời gian khá dài cũng bị kết án oan  về  một  số  mặt  cơ  bản, khiến cho những con đường hay trường học mang tên họ đều bị xóa bỏ hết, và học sinh trong các nhà trường hoặc không biết gì về họ hoặc phải học hai môn Văn học, Lịch sử với những quan điểm và cách trình bày cực kỳ phiến diện.

Việc viết sử nói chung cũng thế, phải thận trọng giống như đánh giá nhân vật lịch sử. Ngoài nguyên tắc phải tôn trọng sự thật lịch sử trên cơ sở thu thập – phân tích – khảo chứng tư liệu và tôn trọng phương pháp sử học thuần túy, không để bị chi phối bởi bất kỳ  giáo điều chính trị nào, người viết sử còn phải vận dụng chính xác cái gọi là "quan điểm lịch sử cụ thể" như đoạn trên của bài viết này đã cố gắng diễn giải. Ngoài ra họ còn phải hiểu đời một cách sâu sắc, thông đạt chính trị và nhân tình, hiểu được lý do các hoạt động của loài người, có tầm nhìn bao quát về tâm lý cuộc sống …, và tất cả những điều đó phải được thể hiện với một lương tri  hay  trực  giác  bén  nhạy  tối thiểu. Xét về các phương diện này, cho đến nay chúng ta vẫn có thể tạm coi bộ Việt Nam Sử Lược của cụ Trần Trọng Kim là một bộ "tín sử" hay nhất trong những bộ sử hiện có, bởi nó đã được cụ Trần căn cứ trên nhiều tài liệu rồi viết ra theo  kiểu thấy sao nói vậy bằng cách nghĩ, cách diễn đạt thận trọng riêng của mình với một  lương tâm khá trong sáng, trong đó cụ không hề có một lời khen ai hoặc mạt sát ai quá đáng, tuy rằng nó vẫn chưa đạt tiêu chuẩn khoa học đầy đủ của một bộ thông sử có tính toàn quốc. Như khi bình luận về tư cách của cụ Phan Thanh Giản, tác giả nói rất ngắn gọn mà thấm thía : "Bấy giờ ông đã già, đã ngoài 74 tuổi, làm quan thật là thanh liêm, nhưng chẳng may gặp phải khi nước có biến, biết thế mình không làm gì được,  đem tấm  lòng  son  sắt  mà báo đền ơn nước cho hết bổn phận người làm tôi". Phải công tâm thừa nhận có một thời học sinh rất thích học môn Lịch sử một phần là nhờ bộ Việt Nam Sử Lược, với cách trình bày các sự kiện lịch sử vừa ngắn gọn mạch lạc vừa hấp dẫn, lời lẽ ôn nhu khiêm tốn, bình phẩm có mức độ, đọc hay như một bộ tiểu  thuyết  trường thiên  của  dân tộc. Còn hiện nay, người ta than rằng  học  sinh  không  thích  môn lịch sử, dốt sử, thì cũng là một điều dễ hiểu và nên xem lại cách viết sử như là một hướng tiếp cận giải quyết vấn đề.

BIẾT SỬ

(Mùa tuyển sinh đại học, cao đẳng 2011) 99%  bài  thi  tuyển  sinh  đại  học môn sử có điểm dưới trung bình, đó là con số thống kê ở một số trường đại học đã công bố điểm.

Điều đáng lưu tâm ở chỗ không chỉ dưới trung bình mà ở mỗi trường có đến  hàng trăm bài thi điểm 0, nghĩa là thí sinh không biết một chút gì về lịch sử !

Nhiều người bất ngờ với con số này, và rồi sau đó là những lý do. Dạy sử và học sử chính là căn nguyên dẫn đến kết quả tồi tệ này, có lẽ đó là lý do dễ đưa ra nhất. Sau bao nhiêu năm hết "chấn chỉnh" rồi đến "nói không", dường như ngành giáo dục lại tiếp tục phải … "nói không" với "chấn chỉnh" trước thực tế này. Một giảng viên đại học cho rằng, cứ năm nào thi tốt nghiệp THPT không có môn sử thì y như rằng kết quả điểm thi đại học môn này thấp. Lý do, các trường  chỉ  tập  trung ôn  luyện  các môn thi tốt nghiệp, còn lại thì coi như… xong chương trình. Người dạy là vậy, người học cũng bị cuốn vào cái vòng ôn ôn luyện luyện cuối mùa của nhà trường đặt ra, nên không còn thời gian cũng như tâm sức ngó đến các môn học khác. Vậy là bao nhiêu kiến thức sau 12 năm chỉ còn là 6 môn thi tốt nghiệp. Nhưng thật trái khoáy, những em học sinh thi các chuyên ngành xã hội, sau khi tốt nghiệp đã không còn đủ thời gian để nhồi nhét bao nhiêu kiến thức của khối thi, dù cho chỉ là nhồi nhét. 99% điểm thi tuyển sinh đại học môn sử dưới trung bình khiến mỗi người thấy nhức nhối không phải chỉ do phương pháp dạy và học lấp ló đằng sau căn bệnh thành tích, mà là dấu  hiệu  của  cách  giáo  dục  truyền thống dân tộc cho thế hệ tương lai đã có điều không ổn. Lịch sử chỉ hấp dẫn và trở nên sâu sắc khi dựa trên thực tiễn đời sống xã hội, sức mạnh lịch sử không chỉ nằm trong các sự kiện xơ cứng mà quan trọng hơn là ý nghĩa của nó, nhưng điều đó chưa được quan tâm nhiều. Cho nên, đừng kết tội giới trẻ quay lưng với lịch sử mà vấn đề là cách truyền bá, giảng dạy cho học sinh từ nhà trường cũng như những ai có trách nhiệm. Kết quả học tập nói lên chất lượng đào tạo của nhà trường, nhưng chất lượng đào tạo không chỉ là điểm số mà cái đích là con người. Một học sinh vừa tốt nghiệp THPT có điểm 0 môn sử chưa hẳn là em đó không có kiến thức gì về lịch sử, nhưng có thể em đã không mong muốn, không thiết tha với lịch sử.

Văn là người, sử là gốc, khi mà các em không biết đến điều này thì sao có thể vững chãi trở thành chủ nhân tương lai đất nước. Và khi các em không biết để hiểu và sống với lịch sử của chính dân tộc mình, làm sao các em có thể làm tròn bổn phận của một Công dân ? Điều này đã không còn khu biệt trong trách nhiệm nhà trường nữa mà là trách nhiệm của thế hệ hôm nay đối với thế hệ mai sau.

(L.An - Báo SGGP 27/7/2011)

Lịch sử vốn là những diễn biến được mô tả lại bằng ngôn ngữ của kẻ chiến thắng nên trong những cuộc 'cải triều hoán đại' nó rất khó giữ được tính trung thực, khách quan hoàn toàn … Ở Trung Quốc, trong  suốt  thời  kỳ  Mao  Trạch Đông cầm quyền, việc gì của Mao làm cũng được ca tụng, thành công gì trong các hoạt động khoa học, chính trị, văn hóa, … cũng đều được  quy  công cho  sự  lãnh  đạo anh minh của Mao. Phải đợi đến khi ông chết (1976), nhiều sự thật lịch sử mới được phơi bày ra ánh sáng, hàng ngàn người bị kết án oan đưa đi lao động khổ sai trong thời Cách mạng Văn hóa được trả tự do, phục hồi danh dự ; bản thân Mao cũng được đánh giá lại …

Mặc dù những lý do nêu trên về điều kiện nghiệt ngã để có những bộ sử trung thực, về mặt lý thuyết chúng  ta  vẫn  có  thể  nêu  thêm những thực tế khác để xem xét vấn đề một cách tường tận thấu đáo thêm. Có một điều kiện lý tưởng vẫn  còn  nêu  ra  được, đó  là  nhà cầm quyền cũng phải trung thực nếu thật sự vì dân, nhận thức sự trung thực trong sử học như một điều quan trọng cần thiết có lợi ích lâu dài cho cả dân tộc, theo nghĩa lịch sử là tấm gương soi chung và là những bài học kinh nghiệm cần để rút tỉa cho công cuộc xây dựng tương lai đối với tất cả mọi thành viên công dân, và đối với đất nước, mà nếu trung thực thì tốt hơn là làm  ngược  lại.  Để  có  sự  trung thực, lẽ tất nhiên phải coi  chân lý khoa học và lợi ích của nhân dân là  luật  pháp  tối  thượng,  có tầm nhìn  thần  thông  quảng đại,  rộng mở, do đó sẽ không nhìn lịch sử hay nhân vật lịch sử bằng  một tâm địa  nhỏ  nhen  tầm  thường.  Một thực tế khác có thể cho thấy các nhà viết sử phương Tây dường như phóng khoáng hơn. Nếu các nhà sử học phương Tây (chủ yếu Pháp, Mỹ) cận hiện đại mà viết sử với một tâm hồn nhỏ nhen, không tôn trọng sự thật lịch sử hoặc chỉ vì những cái danh hão hay quyền lợi dân tộc hẹp hòi, chắc chắn họ sẽ bôi nhọ một số nhân vật lịch sử Việt Nam vốn từng là nguyên nhân sự chiến bại của quốc gia họ trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của nhân dân Việt Nam. Trái lại,  họ  thường đã  mô  tả  một  số nhân vật  lịch  sử  Việt  Nam  như Nguyễn Thái Học, Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp … với một lòng kính ái đặc biệt, đưa tên vào từ điển, một phần cũng nhờ vậy mà nước Việt Nam đến nay được rất nhiều quốc gia khác trên thế giới biết đến một cách trân trọng.

Trái lại với những thí dụ vừa kể trên đây là trường hợp một số sử gia Trung Quốc từ lâu và nhất là gần đây đã cố gắng bóp méo sự thật lịch sử, "tự viên kỳ thuyết" (vo tròn các sự kiện cho khớp với lý luận chủ quan của mình) để chứng minh các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là thuộc chủ quyền Trung Quốc. Làm như  vậy  trước  mắt  Trung  Quốc nếu  có  thể  lấy  được  Hoàng  Sa,

Trường Sa của Việt Nam vinh viễn (?) thì đó chỉ là một lợi ích nhỏ thiển cận, hậu quả xấu lâu dài là làm cho cả nhân dân Trung Quốc nhiễm  tư  tưởng  thực  dụng  thô thiển cùng thói quen nói láo, và như thế đã góp phần tiêu cực phá hoại cả nền văn hóa Trung Quốc vốn có rất nhiều nhân tố truyền thống tốt đẹp mà tổ tiên người Trung Quốc với những Khổng Tử, Mạnh Tử, Lão Tử, Tuân Tử … đã dày công xây đắp trong suốt mấy ngàn năm lịch sử. Đây là một trường hợp lợi bất cập hại khá rõ ràng có thể đem ra dẫn chứng cho lối làm việc bằng tâm địa nhỏ nhen không tôn trọng chân lý khoa học và lịch sử.

Đến đây có thể thấy rõ, trong khá nhiều trường hợp,  sự chi phối của những quyền lợi chính trị nhất thời mang tính phe nhóm đôi khi có hại khi đặt toàn bộ vấn đề lợi ích ở mức độ dân tộc hay nhân loại trên một bình diện rộng lớn hơn, và có thể tạm rút ra một hệ luận : công việc nghiên cứu lịch sử, để có được tính trung thực cần thiết, đòi hỏi sự tôn trọng tính độc lập tự do của các sử gia, dù sử gia đó là tư nhân (như Trần Trọng Kim …) hay cán bộ đang hoạt động trong những cơ quan chuyên trách sử học, giáo dục của nhà nước cũng vậy. Nói chung hơn, theo kinh nghiệm hoạt động của Giáo sư Dân tộc học Nguyễn Đức Từ Chi dạy lại cho các học trò của mình thì muốn nghiên cứu lĩnh vực nào, tốt nhất đừng công tác tại cơ quan chuyên môn về lĩnh vực ấy … "Ngoài việc tránh được những phiền phức do cơ chế quản lý, việc này còn mang lại một lợi ích lớn hơn, đó là người nghiên cứu sẽ tránh được lối mòn, sự khuôn sáo, định kiến, hạn chế sự ảnh hưởng bởi 'tâm lý đám đông' trong nghiên cứu khoa học xã hội…  Tất  nhiên  điều  này  đòi  hỏi người nghiên cứu phải có bản lĩnh khoa học vững vàng" (xem Nguyễn Thị Hậu, "Vài lời cuối sách" trong quyển Khoa Học Soi Sáng Lịch Sử của Nguyễn Đức  Hiệp,  NXB  Lao  Động,  2007, trang 356).

Tại Việt Nam, chúng ta đã có khá  nhiều  tấm  gương  chứng  tỏ được mối nguy hại một thời của lối viết sử dựa trên những  quan điểm gọi  là  chính  thống  nhưng  giáo điều, đầy định kiến, dẫn đến việc đánh giá sai lầm nhiều nhân vật lịch sử mà nay phải đánh giá lại, như  giới  sử  học  gần đây  đã  cố gắng làm và đã làm thành công đối với nhân vật Lê Văn Duyệt, Phan Thanh Giản …

Ngoài khía cạnh quan điểm ra, nhiều sự kiện thuộc về sự thật lịch sử  thể  hiện  trong  các  sách giáo khoa cũng cần được xem xét lại để điều chỉnh. Phong cách viết theo lối tự hào dân tộc hẹp hòi quá đáng hay theo kiểu "tốt khoe xấu che" cũng cần phải loại bỏ. Giáo sư NGND Nguyễn Văn Chiển trong một bài viết mới đây (tạp chí Tia Sáng số 9, ngày 5/5/2008), để nói về tính dũng cảm, khiêm tốn và trung thực của người trí thức, đã nhắc lại câu chuyện nhà sử học Trần Huy Liệu về việc trước khi mất, ông Liệu đã nói thật với học trò của mình rằng Lê Văn Tám không phải là con người có thật mà chỉ là một hình ảnh ông dựng lên để động viên phong trào kháng chiến mà thôi ! Tác giả bài viết còn nhắc đến một chuyện bịa lịch sử dạy cho cấp I phổ thông : Mai Thúc Loan vì bị gánh trái vải tươi (Lệ Chi) cống Dương Quý Phi mà cùng nông dân nổi dậy chống lại sự thống trị của nhà Đường ! … Gs-NGND Nguyễn Văn Chiển cũng trong ý tưởng đòi hỏi tính can đảm trung thực phải có của người trí thức, đã nhắc khen ông Nguyễn Mạnh Tường và ông Trần Đức Thảo, hai nhân vật trí thức Việt Nam lỗi lạc có thời gian vì trung thực đóng góp ý kiến xây dựng cho việc chung nhưng không hợp quan điểm "chính thống" mà bị "rút phép thông công", phải chịu oan và khốn khổ trong hầu suốt quãng  đời  còn  lại  (riêng  Trần  Đức Thảo sau khi chết, mới đây đã được minh oan công khai).

Như vậy để nói tiếp ý kiến Gs- NGND Nguyễn Văn Chiển, thiết tưởng đến lúc này, sau khoảng nửa thế  kỷ,  một  vài  nhân  vật  khác trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm cũng  như  toàn  bộ  vấn đề  Nhân Văn Giai Phẩm cũng nên được giới nghiên cứu văn học – sử học đưa vào bàn hội nghị đánh giá lại một cách xác đáng công khai để rút ra thêm được nhiều bài học quý báu khác nữa cho cả nước rút tỉa. Làm được như vậy, giới văn học và sử học Việt Nam ghi thêm được một thành tích chói lọi mới, đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, và chắc chắn sẽ được mọi người mọi giới cả trong lẫn ngoài nước hoan nghênh nhiệt liệt vì góp phần làm thay đổi hẳn bầu không khí hoạt động văn hóa – tư tưởng theo chiều hướng tích cực nhất.

Cái "vùng cấm" Nhân Văn Giai Phẩm (1956-1958) không có văn bản giấy tờ tồn tại đúng năm chục năm nay trên thực tế đã được cả xã hội giải   cấm   dần   vì   trong   những khoảng thời gian gần đây, không ít tác giả thuộc nhóm Nhân Văn Giai Phẩm  đã  có  tác  phẩm  được  in, thậm chí còn được cả giải thưởng. Lai rai đâu đó người ta đã bớt ngại khi  công khai nhắc đến  tên  tuổi của nó, thậm chí còn mạnh dạn khen ngợi, như có thể kể trường hợp ý kiến của luật gia Lê Hiếu Đằng (Phó chủ tịch UBMTTQ.VN- Tp.HCM,  Chủ  tịch  HĐQT  Quỹ  Bảo  trợ Giáo dục và Đào tạo Tp.HCM) phát biểu trên báo Tuổi Trẻ (16/5/2008) khi người ta hỏi ông về thơ của một số tác giả trong nhóm : "Hiện nay thì tôi  …  lai  rai  thơ  Phùng  Quán, Trần Dần". Đọc "Chống tham ô lãng phí"  của  Phùng  Quán  làm năm 1956 mà thấy còn nguyên tính thời sự, như mới làm đây thôi. Tôi thuộc lòng bài "Nhất định thắng" của Trần Dần khi còn là sinh viên, giờ đọc lại vẫn thấy đầy xúc động…   Phùng Quán, Trần Dần   là những nhà thơ tài năng của Việt Nam. Họ là những người đi trước, thơ của họ mang tính dự báo rất lớn. Cái hay chính là ở tính dự báo đó. Cứ lật lại những trang thơ của họ  mà  xem,  những  điều  họ  nói cách nay mấy chục năm bây giờ đang xảy ra, nhức nhối, đau lòng.

Tại đây xin được mở thêm dấu ngoặc, trong Từ điển Văn học (bộ mới,  2004),  một  công  trình đang được xã hội đánh giá cao, nhiều tác giả thuộc nhóm Nhân Văn Giai Phẩm đã được đưa vào giới thiệu một  cách  trân  trọng,  như  Hữu Loan, Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường, Phùng Quán, Trần Dần …, nội dung cũng nêu sơ lược những nhân vật này đã bị kỷ luật như thế nào sau khi tham gia vào nhóm  Nhân  Văn  Giai  Phẩm. Nhưng quyển từ điển giá trị nêu trên lại cũng có chút úy kỵ tránh né khi nó không cung cấp cho người sử dụng từ điển mục từ "Nhóm  Nhân  Văn Giai  Phẩm" (trong  khi  những  nhóm  khác  như  Đông Dương Tạp Chí, Hàn Thuyên, Nam Phong, Sáng Tạo, Tân Dân, Thanh Nghị, Tri Tân đều có đủ), nên khi cần tra cứu thì chẳng có để mà tra. Nếu các sinh viên học sinh vì tiếp tục thắc mắc cứ phải đi tra tìm ở những tài liệu công bố "lậu" ở đâu đó thì có khi lại nguy, hiểu theo nhiều nghĩa "nguy" khác nhau. Sự thiếu sót có lẽ bất đắc dĩ này tuy có thể thông cảm được, nhưng dù sao như thế cũng làm cho một từ điển lớn đáng tiêu biểu cho cả nước lại bị sai quy cách của khoa từ điển học, và điều này càng cho thấy sự cần thiết phải sớm đem vấn đề ra công khai phân tích mổ xẻ, hầu tránh cho giới nghiên  cứu  văn  học  –  sử  học những thứ nhếch nhác rụt rè không đáng có. Làm văn học – sử học mà nhếch nhác rụt rè thì thật khó coi và không thể chấp nhận được, vì không còn chi để gọi là "học" nữa! Chung quy cũng vẫn là cần sự can đảm, lòng trung thực và tính liêm chính trí thức của các nhà nghiên cứu văn học – sử học.

Một số sự kiện lịch sử hay cách đánh  giá  nhân  vật  lịch  sử,  nếu được điều chỉnh đúng, sẽ dẫn đến một số hệ quả thực tế tích cực tất nhiên trong đời sống người dân cũng như trong một phần của công tác giáo dục, như trường hợp tên Kim Ngọc đã được chọn đặt tên đường  và  tên  vài trường  học  ở Vĩnh  Phú  khoảng ba  năm trước, sau khi quan điểm về khoán sản phẩm trong nông nghiệp của ông Kim Ngọc có lúc bị kết án sai lầm đã được đánh giá lại tỏ rõ. Tương tự như tế, tượng cụ Phan Thanh Giản và trường học mang tên Phan Thanh Giản đang được phục hồi tại Bến Tre, tượng Lê Văn Duyệt đã được an vị tại lăng Ông Bà Chiểu hồi mấy tháng trước … Với đà này, rồi đây người ta cũng phải nghĩ  đến  việc  đổi  tên  các  công viên, rạp hát, trường học mang tên Lê Văn Tám thành công viên Lê Văn Duyệt, công viên Gia Long, rạp hát Đào Tấn, trường Trương Vĩnh Ký, trường Phạm Quỳnh … chẳng hạn …

Về mặt khách quan, cũng là sự thật lịch sử và chân lý cuộc đời, kẻ thù không phải lúc nào cũng xấu, còn  "phe  ta"  thì  luôn  tuyệt  vời. Hơn nữa cũng không phải có ai là kẻ thù thật sự hay vĩnh viễn, kể cả trong cùng một đất nước, một nòi giống hay giữa dân tộc này với dân tộc khác. Người Mỹ phải rút quân thảm hại trong cuộc chiến tranh Việt Nam năm 1975, trước đó họ có thể làm mọi cách để ngăn chặn "làn sóng cộng sản", dội bom miền Bắc, nhưng không có sử gia hay nhà báo nào của Mỹ viêt sách để bôi nhọ Việt cộng, mà chỉ cố gắng phân tích mọi khía cạnh để "biết người biết ta", cho hiểu được tại sao  họ  thất  bại  ở  Việt  Nam  mà thôi. Đứng về mặt nào, người Mỹ như thế cũng có khía cạnh "mã thượng", tuy chưa phải thật sự anh hùng. Trong lịch sử Việt Nam, đã có trường hợp Lê Lợi – Nguyễn Trãi đánh tan xong giặc Minh còn cấp cho các tướng địch 500 chiếc thuyền với quân lương đầy đủ để chạy về cho tiện, cũng là một hành vi đáng xem là "mã thượng" của người xưa.

 Có  một  phong  cách  viết  sử không cần bôi bác kẻ thù, mà cứ việc xảy ra thế nào kể lại thế nấy theo đúng những tài liệu chữ viết hoặc truyền khẩu đã thu thập được. Có thể kể trường hợp sách Bản Triều Bạn Nghịch Liệt Truyện của học giả Giá Sơn Kiều Oánh Mậu, soạn trong năm Thành Thái thứ 3 (1901). Đây là sách của một ông quan triều Nguyễn viết về những kẻ phản nghịch chống lại "bản triều", nhưng cách thuật chuyện và thể hiện các nhân vật phản diện lại khách  quan  sinh  động,  còn  cho thấy được những nét ưu điểm, khả ái và khí phách cá nhân của những kẻ bị tác giả xếp vào thành phần phản loạn, như Lê Văn Khôi, Cao Bá Quát và rất nhiều người khác

Cuộc đời thực, tức cũng là lịch sử,  luôn  phải  có  kẻ  vầy  người khác. Có kẻ xấu kẻ phản dân hại nước thì tính cách của người tốt người yêu nước mới bộc lộ rõ và được tôn vinh. Anh hùng tạo thời thế nhưng thời thế cũng có thể làm nên   anh   hùng.   Nếu   không   có những  cuộc  loạn  lạc  thời  cuối Xuân  Thu  đầu  Chiến  Quốc  thì cũng không có những học thuyết của Nho gia, Đạo gia, Pháp gia … nở rộ, để lại những tinh hoa di sản tư tưởng của phương Đông ngày hôm nay. Thời thế tức là cái hôm nay chúng ta gọi "bối cảnh lịch sử" mà khi nghiên cứu bất kỳ một biến cố, phong  trào,  học  phái  nào, người nghiên cứu cũng không thể không xét đến nơi đến chốn … Trong lịch sử Việt Nam từng có những hạng trí thức không được dũng cảm cho lắm, vì tình thế bức bách phải lưu vong chạy theo quân giặc cho yên thân, như Trần Ích Tắc  và  Lê  Tắc  trong  trận  giao chiến với quân Nguyên đời Trần, nhưng họ cũng chưa kịp làm điều gì đồi bại đến nỗi, chỉ mong "cầu toàn tính mệnh ư loạn thế". Riêng Lê Tắc khi trốn sang Tàu còn viết được bộ An Nam Chí Lược để đời, được một người đương thời viết lời tựa khen là "không thua gì sách của Tư Mã Thiên và Ban Cố hồi trước", đã được cả Việt Nam và Trung Quốc in lại nhiều lần như một sử liệu có giá trị tham khảo tốt. Nếu buộc Lê Tắc phải là một nhân vật anh hùng, và trong bộ sử giá  trị  nói  trên,  phải  nói  xấu  ít nhiều gì đó về kẻ thù Trung Quốc lúc bấy giờ thì ngày nay chúng ta cũng không có bộ An Nam Chí Lược …

 Bình  luận  về  con  người  trong lịch sử vì thế không thể thiếu sự thông đạt chính trị nhân tình, và đức công bình, luôn biết đặt con người vào trong hoàn cảnh cá nhân cùng  với  những  mối  tương  tác nhân quả của các sự kiện chi phối bên  ngoài,  trên  cái  nền  chung những bi  kịch và  nỗi  thống  khổ của nhân sinh và trong cái trào lưu sinh hoạt bất tuyệt của cuộc đời, từ đó có được quan điểm phóng khoáng mang chất triết lý sâu hơn về cuộc sống để có thể tiếp cận với chân  lý  lịch  sử  một  cách  khách quan toàn diện hơn, góp phần xây dựng một nền văn hóa hòa bình không mang tính sát phạt vì các kiểu thái độ cực đoan, phiến diện, căm thù có tính nguyên thủy của loài người chưa văn minh. Đó có lẽ cũng là thế giới quan hình thành nên thái độ, cách nhìn cùng những ý  kiến  bình  luận  đánh  giá  thâm trầm  sâu  sắc  của  Tư  Mã  Thiên (trong các bài "Tán", bài "Tự") đối với một số nhân vật và sự kiện lịch sử tiêu biểu ở Trung Quốc cổ đại, làm cho  bộ  Sử  ký  trở  thành  một  bộ sách sử-triết-văn chương khuôn mẫu bất hủ.

 Văn hóa là cái gì còn tồn tại bền lâu trong tâm trí, bàng bạc trong cách ứng xử hiện tại của con người sau khi mọi sự kiện, nhân vật, chế độ chính trị … đã qua đi. Mà bao nhiêu sự kiện, nhân vật, chế độ chính trị quá khứ đều đã phải tuần tự cứ qua đi như thế trong trường kỳ lịch sử, bất chấp cả không gian thời gian. Nhân vật lịch sử không nhất thiết phải là danh nhân, đều là con người nên có mặt tốt mặt xấu, có những lúc yếu mềm lầm lỗi nhẹ dạ, rồi ai cũng ra người thiên cổ dù đi   trong   gió   ngược   hay   xuôi, nhưng tất cả đều có vai trò riêng trong một bối cảnh lịch sử nhất định. Việc đánh giá lịch sử cũng như các nhân vật lịch sử nếu chính xác, sẽ có ý nghĩa quan trọng đối với  lớp  người đi  sau  chứ  không cho lớp người trước, hiểu như là những  bài  học  kinh  nghiệm quý báu để rút tỉa áp dụng cho cuộc sống hiện tại và tương lai lâu dài, vì  thế  phải  được  thực  hiện  một cách khách quan và thận trọng, không nên bị ảnh hưởng bởi bất kỳ định kiến hay loại quan điểm chính trị thực dụng nhất thời nào.

 Người ta thường nói tới những bài học lịch sử, nhưng muốn học được điều gì thì lịch sử phải là lịch sử của sự thật, của những sự kiện và biến cố có thật, đúng như chúng đã diễn ra trong quá khứ. Lịch sử được viết nên một cách giả dối do sự thêm thắt, thêu dệt hoặc tưởng tượng gán ghép đầy định kiến thì không thể dùng tham khảo, học hỏi gì được nếu không muốn nói là có hại. Bài học lịch sử là cái có sẵn, bất di bất dịch, điều quan trọng thuộc về tính cách con người biết tham khảo nó sáng suốt ra sao để hướng dẫn cho những hành động trong hiện tại và hướng tới xây dựng tương lai. Có những kinh nghiệm thành công và những kinh nghiệm thất bại, y như lẽ thường tình thành bại của con người (không có  gì  xấu),  trong  cách  làm,  cách hành  xử  liên quan  đến  việc  trị nước tổng quát cũng như với từng công việc cụ thể đã được áp dụng trong những tình huống khác nhau. Kinh nghiệm nào nếu biết áp dụng cũng  đều  tốt  nhưng  riêng kinh nghiệm  thất  bại  thì  thường  quý hơn, trước hết giúp tránh được vết xe đổ của những người đi trước (tiền xa chi giám). Chính vì lẽ đó  công việc ghi lại lịch sử càng đòi hỏi gắt gao tính trung thực, phải nêu dù cả những chuyện xấu và những việc thất  bại,  kể  cả  "những cuộc bại trận thê thảm của quân ta" … Trái lại, khuynh hướng cường điệu ca tụng  khía  cạnh  những  võ  công oanh liệt, lặp đi lặp lại quá nhiều, thường ít giá trị thực tế mà còn làm cho người ta trở nên kiêu mạn mất ý thức mất cảnh giác vô cùng tai hại. Chiến tranh là hành động bất đắc dĩ nếu không muốn nói là xuẩn ngốc, bởi nó luôn đem lại sự đau thương chết chóc cho tất cả các   bên   tham gia   chiến   cuộc. Trong mọi cuộc chiến tranh đều có kẻ thắng người thua, nhưng chiến công của một người hay nhóm lớn người này lại là sự đau khổ và thua thiệt của nhóm người khác chiến bại, nên nếu đứng từ góc độ nhân bản sẽ chẳng thấy có gì đáng để tự hào. Chiến tranh gây nên cái cảnh "đống xương Vô Định đã cao bằng đầu", hay "nhất tướng công thành vạn cốt khô" .. của biết bao thế hệ con người. Ở Úc và Tân Tây Lan, người dân chọn ngày 25/4 hàng năm làm ngày Anzac, một lễ lớn mang tính dân tộc, với lễ hội tưng bừng (còn hơn cả Quốc khánh Úc 26/1, Tân Tây Lan 06/2), không phải để kỷ niệm chiến thắng mà để ghi nhớ chiến bại. Đó là một ngày vào năm 1915, trong thế chiến I, liên quân Úc – Tân Tây Lan đã đổ bộ vào Gallipoli của Thổ Nhĩ Kỳ với hơn 8.000 lính Úc và 2.700 lính Tân Tây Lan bị giết, và từ đó đến nay nhân dân cả hai nước đều coi như một kinh nghiệm thất bại, tuy có bi hùng nhưng nếu tránh được càng tốt, vì dù sao cũng là một chuyện đau thương chung cho cả hai dân tộc.

Viết sử là loại công việc công phu tốn nhiều thời gian, ngoài tôn trọng sự thật trên cơ sở bám sát sử liệu còn đòi hỏi phải có sự nghiền ngẫm sâu xa,  nêu lên được những bài học tham khảo cho các thế hệ hiện tại và tương lai, góp phần vun đắp nhân bản,  nên không thể có sự tùy tiện, định kiến, gán ghép bóp méo sự thật, buồn vui yêu ghét thất thường, nay vầy nay khác, hay dựa dẫm quyền thế, xu phụ theo miệng nhà quan. Hai vợ chồng nhà sử học lừng danh người Mỹ Will và Ariel Durant (Will sinh năm 1885) bỏ ra đến 39 năm soạn bộ Lịch Sử Văn Minh (bản tiếng Anh 10 cuốn ; bản tiếng Pháp 33 cuốn với trên 14.000 trang), như vậy mà vẫn cứ nơm nớp lo sợ rằng mình chưa đủ tư liệu để tái hiện diện mạo lịch sử một cách trung thực. Khi gần cuối đời, họ đã viết thêm một quyển nhỏ cuối cùng : "Bài học của Lịch sử" như để thay lời kết luận cho toàn bộ sách, đúc kết lại rằng thời nào nước nào trước kia cũng có những kẻ loạn luân, độc ác ; đâu đâu cũng có tình trạng độc tài, tham nhũng, lộng quyền, cùng những thứ khác như thiên tai, bệnh dịch và chiến tranh …, song song  với  những  hành  vi  có  tính cách xây dựng tích cực của loài người. La Quán Trung mở đầu tiểu thuyết lịch sử Tam Quốc Diễn Nghĩa  của  mình  bằng  câu  ngắn gọn "Thiên hạ hết loạn lại trị, hết trị lại loạn …", dường như đã thu tóm hết được yếu tính phổ quát của lịch sử. Tuy nhiên con người vẫn chưa chịu bó tay phó thác cho định mệnh, nên lịch sử cũng còn ghi lại được biết bao suy ngẫm, nỗ lực, công trình văn hóa, vật chất của con   người   để   nhằm   phát   huy những mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực. Đã có một số nước, số nơi nêu được những tấm gương thành  công  trong  việc  không ngừng cải tiến những phương pháp và định chế cai trị nhằm tạo lập sự ổn định khá hơn ít nhất trong phạm vi của nước họ để ổn định xã hội, cải thiện cuộc sống người dân, hạn chế nạn độc tài, độc quyền, bằng cách áp dụng khế ước xã hội dưới hình  thức  chấp  hành  chung  bản hiến  pháp  cùng  những  định  chế dân chủ chính trị khác. Đó có lẽ cũng là bài học lịch sử chung lớn mà một số dân tộc khác còn đang lao đao lận đận trong cảnh nghèo khổ bệnh tật và trong các chế độ độc tài nên suy ngẫm, tham khảo và phấn đấu.

Hiểu lịch sử, theo nghĩa tích cực nhất là để yêu thương hơn con người,  tạo  được  mối  đồng cảm, trên cơ sở thấy được những mối dị biệt và hoàn cảnh khác nhau giữa các dân tộc, không phân biệt chế độ chính trị, màu da, trình độ phát triển, từ đó thúc đẩy sự đoàn kết hợp tác để cùng nhau chống chọi những thiên tai, bệnh tật, rủi ro đang  đe  dọa  con  người  mỗi  lúc một thêm hung hãn dồn dập trong điều kiện của cuộc khủng hoảng môi sinh toàn cầu hiện nay. Tấm lòng người viết sử vì thế cũng phải bao la, nhân đạo, mới có thể đảm đương được sứ mệnh, và mới đủ trùm lên được những gì mà kho lịch sử phong phú của quá khứ muốn khải thị lại cho con người.

(Trần Văn Chánh)

Tóm lại lịch sử mà thiếu sự thật thì không còn là lịch sử nữa. Nói rằng Thánh Kinh có tính lịch sử rất cao  đó  là  tính  trung  thực  hoàn toàn, diễn tả những  sự thật trần trụi, thô nhám như vậy đó.

B. Tiêu chí nào để phân biệt một cuốn sách, một bộ phim khiêu dâm, bạo lực với một tác phẩm có tính giáo dục, khi cả hai cùng trình bày những cảnh bạo lực, dâm đãng ? Một tác phẩm trình bày bạo lực, đàng điếm mà kết cục người đọc, người xem nhận thấy có sự lạm tả và chủ ý  khuyến khích người ta làm theo thì đó là tác phẩm bạo lực, khiêu dâm cần phải loại trừ, xử lý. Trái lại, sau khi xem, đọc mà người ta cảm thấy căm ghét, ghê tởm những điều đó và cần phải lên án, trừng phạt người có hành động đó, thì đấy là một tác phẩm tích cực, có tính giáo dục cao.

Thánh Kinh thuộc loại thứ hai này. Những câu chuyện chúng ta vừa  đọc  ở  trên  lên  án  tính gian giảo, mưu mô, xảo quyệt, tính chơi bời phóng túng của những người không giữ luật Chúa và đã có sự trừng phạt đích đáng : Tổ phụ Giuđa bị lật mặt nạ, phải bẽ bàng xấu  hổ  mà  thú  nhận  "nó công chính  hơn  tôi,  quả  thật  tôi  đã không cho nó làm vợ Sêla, con trai tôi (theo luật nối dây của Môsê), rồi ông không ăn ở với nàng nữa (đã dốc lòng  chừa  cải)".  Vua  Đavít  thì  cúi đầu nhận tội và sám hối ăn năn, còn hai ông già "chăn dê" thì bị phanh thây. Từ cổ chí kim loài người  phạm tội  như  Giuđa  và Đavít thì vô kể, nhưng có mấy người can đảm thú nhận và sám hối, khắc phục hậu quả như các ngài ?

C. Các ông toàn là những nhân vật lớn cả, sao lại vấp ngã như vậy ?

Tục ngữ La-tinh có câu "Errare humanum est" (bản tính loài người là sai lỗi). Các cụ cũng là người bằng xương bằng thịt, có những đòi hỏi không hợp lý mà chẳng kềm chế nổi. Từ khi ông bà tổ tông phạm tội, ý chí con người trở nên yếu đuối,  dễ  hướng  về  điều  dữ  hơn điều lành. Phải có ơn Chúa phù trợ mới giữ được như lời Chúa Giêsu quả quyết :  "Không có  thầy các con không thể  làm  gì  được" (Ga 15,5). Ở một tầng cao hơn, những lỗi phạm của các ông cũng nói lên lòng nhân ái và sự công bằng tuyệt đối của Chúa.

Bài học cực lớn cho các thế hệ mai  sau  là  luôn  phải  đề  phòng, cảnh giác nhất là trước những cám dỗ về tình dục và danh lợi. Không ai có thể nói mạnh được, không ai có thể tự sức mình mà đứng vững được mãi. Hãy nhớ thân phận cát bụi, yếu hèn, hãy nhớ "Errare humanum est" ; cây lim, cây sến vẫn có thể đổ - mạnh như Samson mà cuối cùng cũng thua nàng Đalila.

 Thiên Chúa là Đấng trung tín và nhân  hậu,  bất  chấp  những  yếu đuối, sai phạm của loài người, lời Chúa hứa vẫn được thực thi, Đấng Cứu Thế vẫn ra đời cứu nhân độ thế.

D. Hình như bên Âu Mỹ, người ta quý trọng sự thật hơn nước mình, nên khi sự thật đã được phơi bày thì người nói và làm sai sự thật vội xin lỗi mọi người, và những kẻ có chức có quyền mà  nói dối  thì  lập  tức  xin  từ chức. Quả thật họ sai trái nhưng cũng có điểm đáng quý là biết xấu hổ, biết tự xử, không để cho xã hội mất công "xét tư cách" của mình.

 Vụ Watergate (nghe lén điện thoại) 1972–1974, tổng thống Mỹ Nixon đã xin từ chức vào ngày 9/8/1974 (Th. Vũ, báo SGGP 31/7/2011).

5. Chuồng lợn đêm hôm ấy

(Lm. Piô Ngô Phúc Hậu – Bài giảng Chúa Nhật tháng 8/2011).

11 giờ khuya. Từ nhà thờ dội về tiếng hô ào ạt :

-  Đả đảo phản động ngoan cố !
-  Đả đảo ! Đả đảo !

Con lợn sề giật mình chồm dậy, kêu  ôộc  ôộc.  Bầy  lợn  con  chen chúc nhau chui vào dưới bụng mẹ. Một nỗi hoang mang bao trùm.

Tiếng hô "đả đảo" vọng lại từ đồi cọ trập trùng, cứ nhỏ dần, nhỏ dần,  rồi  im  bặt.  Ánh  đuốc  bập bùng trong sân nhà thờ bỗng tản ra, xa dần, xa dần, rồi tắt lịm. Con lợn sề nghếch mõm cảnh giác. Chờ mãi chẳng thấy gì, bèn nằm kềnh xuống. Hai cặp giò ngắn tũn duỗi thẳng băng. Vô tư. Mười bầu vú tròn vo xếp thành hai hàng, chồng lên nhau, rất gọn ghẽ, rất đẹp mắt. Nhưng mà … ế, vì bầy lợn con tranh nhau chỗ ngủ, chứ không thèm giành nhau nuốm vú …

Đêm an bình lặng lẽ trôi. Con lợn sề và bầy con nằm im thin thít. Chỉ có tiếng muỗi kêu vo ve.

Bỗng có tiếng lao xao, to dần, to dần. Một bó đuốc rất to, rất cao đang tiến về phía chuồng lợn. Con lợn sề hộc lên một tiếng. Bốn chân cắm thẳng xuống đất, vênh mõm thách thức. Bầy lợn con xô nhau chạy trốn về phía đằng sau. Một nỗi  kinh  hoàng  phủ  kín  chuồng lợn. Một chàng thanh niên, mặt choắt như  mặt  chuột,  hét  lên  như  sét đánh :

-  Thằng ngoan cố kia.

(Im lặng)

-  Tại sao mày không dạ ? Điếc hả ?
-  Dạ, thưa cậu, con chưa kịp trả lời ạ.
-  Tao cho mày ngủ với lợn, để mày chừa cái tội ngoan cố. Nghe chưa ?
-  Dạ, thưa cậu, con nghe rồi ạ.
-  Mày phải ngủ với lợn, nhưng tha cho mày khỏi phải ăn cứt lợn.  Sáng  mai  sẽ  có người đem cơm cho mày. Đừng bày chuyện trốn chuồng  nghe chưa ? Trốn không được đâu. Mắt nhân dân sáng như đèn ôtô. Cấm xổng chuồng, nghe chưa ?

-  Dạ, thưa cậu, con nghe rồi ạ. Con không trốn chuồng đâu. Ở với lợn, con thấy còn sướng hơn là ở với lũ người quỷ ám.

-  Mày vẫn còn ngoan cố hả ?

Bốp ! Bốp ! Hự ! Hự !

Một cụ già lao đầu vào chuồng lợn, ngã quỵ trên bãi bùn nhớp nhúa. Con lợn sề lùi một bước, đứng vênh mõm tự vệ. Cặp mắt trợn trừng, tóe lửa hận thù. Nó muốn nhai nát người đàn ông lạ mặt,  để  bảo vệ bầy con bất lực đang trốn chui trốn nhủi.

Chàng thành niên mặt chuột nói vọng vào căn nhà lá có ngọn đèn dầu lạc đang leo lét cháy :

-  Chú Kỳ ơi, chúng em về đây.

Chú trông chừng thằng phản động ngoan cố hộ chúng em nhá. Đừng cho nó ăn gì sất.

-  Yên chí lớn. Để nó đấy cho tao.

Bó đuốc to và cao chìm dần vào trong đêm tối mịt mù. Con lợn sề lần mò đi tìm đống lá chuối khô, nằm kềnh xuống. Đàn lợn con lúp chúp đi theo tranh nhau nằm nghếch đầu lên bụng mẹ, vô tư như chưa có gì xảy ra.

 Ông cụ già lặng lẽ đứng dậy, lật úp máng lợn xuống, ngồi lên trên. Hai cùi chõ chống lên hai đầu gối. Hai bàn tay bưng lấy mặt trầm tư.

 Chuồng lợn tối om om im phăng phắc. Trong bóng tối mịt mù, trong tĩnh lặng tuyệt đối, những màn đấu tố hãi hùng hiện về rõ như ban ngày.

Màn một

Cụ già 60 tuổi quỳ lom khom trên đống gạch vụn. Đèn măng- sông rực sáng cho thấy cặp môi xám  xịt  của  cụ  đang  mấp  máy, đang thì thầm. Hàng ngàn người đang đứng ngồi lố nhố, đang nói chuyện léo nhéo. Bỗng có tiếng hét trên loa sắt : "Đồng bào im lặng".

Một cậu con trai mặt non choẹt, giạng chân, khuỳnh tay đứng trước mặt cụ già. Hắn suy nghĩ một lúc, lấy ngón tay trỏ gí vào trán cụ già.

-  Thằng Thắng, mày biết tao là ai không ?

-  Dạ, thưa cậu con biết ạ. Cậu vẫn giúp lễ hằng ngày ở nhà thờ này mà.

-  Ngày Chúa Nhật thứ nhất mùa Chay mày tát tao một cái nảy đom đóm. Suýt nữa thì mặt tao đập vào tường.  Mày có nhớ không ?

-  Dạ, thưa cậu, con nhớ ạ. Con phải tát cậu để cậu chừa cái thói ăn vụng bánh lễ và uống vụng rượu lễ.

-  Đả đảo cường hào ác bá đàn áp con cái nhân dân ta.

-  Đả đảo ! Đả đảo !

-  Yêu cầu tát vào mặt nó để trả thù.

 Có tiếng quần chúng la lối.

Cậu thanh niên non choẹt tát vào mặt cụ già hai cái, cụ già ngã chúi xuống, rồi lom khom quỳ lên giữa tiếng vỗ tay rền rĩ …

Màn hai

Cụ già vẫn quỳ trên đống gạch vụn. Dáng vẻ mệt mỏi và tiều tụy. Ánh đèn măng-sông soi rõ dòng máu đỏ đang chảy xuống từ thái dương bên trái, cụ già có vẻ không quan  tâm.  Cặp  môi  sưng vù  cứ mấp máy, cứ thì thầm.

Một người đàn bà cao to trên trung bình đứng sừng sững trước mặt cụ già đang nhìn xuống đống gạch vụn, một giọng the thé sắc buốt vang lên :

-  Thằng Thắng. Nhìn thẳng vào mặt tao. Mày biết tao là ai không ?

-  Dạ, thưa con biết ạ. Bà là bà quản dâng hoa thì ai mà chả biết.

-  Năm ngoái mày sai tao đi tìm đường để mày trốn vào vùng tề. Mày còn nhớ không ?

-  Dạ, thưa bà, con còn nhớ ạ.

-  Đả đảo phản động !

-  Đả đảo ! Đả đảo !

-  Tao  sẽ  cho  mày  đi  tù  mọt gông. Nghe chưa ?

-  Thưa bà, con nghe rồi ạ.

-  Đả đảo ! Đả đảo !

 Hàng ngàn người hô "đả đảo". Tiếng "đả đảo" vang đến tận đồi cọ, rồi vọng về, nghe rền rĩ như sấm ran. Người vô tư cũng cảm thấy buốt xương sống.

 Màn ba

Một phụ nữ tuổi trung niên, đẹp gái, nhưng lỡ thời, phăm phăm đi tới, chỉ tay vào mặt cụ già.

-  Thằng Thắng. Cho mày đứng lên để nhìn rõ mặt tao. Mày biết tao là ai không ?

-  Dạ, thưa chị, con có biết ạ.

- Mày có nhớ mày làm gì tao hôm mồng Ba Tết vừa rồi không ?

-  Dạ, thưa chị nói rõ con không hiểu ạ.

-  À,  mày ngoan cố  thật.  Mày làm gì tao, tao ghi chép hết. Để tao đọc cho mày nghe.

-  8g20 ngày mồng Ba Tết, sau khi quét tước dọn dẹp nhà bếp cho mày, tao lên chào mày để về, thì mày lôi tao vào phòng, mày  …  rồi   mày  cấm  tao không được nói cho ai biết. Đấy, mày nhớ chưa ?

- Thưa chị, cái đó thì con chả biết. Chị tố điêu cho con. Con không nhận.

-  Đả đảo phản động ngoan cố !

-  Đả đảo ! Đả đảo !

-  11  giờ  khuya  rồi.  Yêu  cầu đồng bào giải tán. Cho thằng ngoan cố về ngủ chuồng lợn, tối mai lại đấu nữa.

 Cụ già đang ôn lại quá khứ, thì bỗng có tiếng ho khe khẽ :

-  Con lạy cha, xin cha tha tội cho con. Con tố điêu Cha, vì con sợ quá. Xin Cha tha cho con.

-  Bà Kỳ đấy hả ? Tôi biết hết rồi.  Tôi  không  chấp  nhất  ai hết. Bà đi vào mau đi, kẻo lỡ nó thấy thì khổ cả lũ.

-  Con có nắm cơm gửi Cha.

Nắm cơm bó bằng mo cau, nặng chừng hơn một cân. Cha Thắng để nắm cơm lên đùi, bẹo từng tí bỏ vào  miệng,  nhai  thật  nhẹ  nhàng như  thằng  ăn  vụng.  Con  lợn  sề ngửi thấy mùi cơm, lần mò đi tới, ủi  mõm  vào  hai  bàn  chân  khô khẳng của Cha Thắng. Cha Thắng bẹo cho nó một miếng cơm. Nó nhai chọp chọp. Bầy lợn con nghe thấy kéo nhau tới vây quanh Cha Thắng ủi mũi vào bàn chân, vào cẳng  chân  Cha  Thắng.  Thân thương như ruột thịt. Nắm cơm to bằng đầu gối cứ nhỏ dần, nhỏ dần. Trong bóng tối mịt mù, chỉ còn nghe tiếng nhai chọp chọp của bầy lợn và tiếng nhai nhóp nhép của Cha Thắng.

 Nhận định

Bây giờ thì kẻ sống, nhất là những người đã chết hiểu được câu "Sự thật sẽ giải phóng các ông" (Ga 8,32).

"Vì Con Người sẽ ngự đến trong vinh quang của Cha Người cùng với các thiên thần của Người và bấy giờ Người sẽ thưởng phạt ai nấy xứng việc họ làm" (Mt 16,27).

a. Chuyện  đã  qua  gần  60  năm những vẫn không mất tính thời sự vì chưa thể phai mờ nơi ký ức những người liên quan và chứng nhân còn sống.

 b. Linh mục Ngô Phúc Hậu hiện nay 76 tuổi tường thuật vụ việc của chính Cha già cố nghĩa phụ của ngài chứ không phải ai khác, nên không thể bịa đặt.

c. Điều đáng suy nghĩ nhất là sự việc lại xảy ra ở một xứ đạo, nơi mọi  người  đã  thuộc  lòng  điều răn thứ tám "chớ làm chứng dối" và câu Tin Mừng "có thì nói có, không thì nói không, thêm điều đặt chuyện là do ma quỷ" (Mt 5,37).

d. Làn gió nào đã thổi bùng ngọn lửa hận thù của dân chúng lên tột đỉnh như vậy ? Và tảng băng nào  đã  dập  tắt  được  lửa  hận trong lòng Lm. Thắng để nhẫn nhục chịu đựng và thứ tha ?

6. Cụ Phan Bội Châu bị qui oan

(Báo  Kiến  thức  Ngày  nay  số  50,  năm 1990).

Ai cũng biết gia đình cụ Phan từ mấy đời đều thuộc tầng lớp nhà nho nghèo. 35 năm, cụ Phan hoàn toàn thoát ly gia đình, xả thân hoạt động cho sự nghiệp cứu nước, trong đó 20 năm bôn ba hải ngoại (khi ở Nhật, khi ở Trung Quốc, khi ở Thái Lan) và 15 năm bị giam cầm ở Huế cho đến khi trút hơi thở cuối cùng.

Ấy thế mà trong thời kỳ cải cách ruộng đất (1955), đội cải cách địa phương qui cụ Phan thuộc thành phần giai cấp địa chủ ! Lý lẽ theo kiểu tam đoạn rất đơn giản là : cụ Phan học đỗ đạt cao, mà học đỗ đạt cao phải là con nhà giàu, mà nhà  giàu  tức  thuộc  giai  cấp  địa chủ. Cụ bị xử lý với hình thức : ảnh  cụ  đang  treo  ở  nhà  thờ  họ Phan bị đem để ở chuồng trâu !

Cuối năm 1955, sửa sai cải cách ruộng đất, sự việc trên Hồ Chủ tịch nghe biết được. Tất nhiên là Hồ Chủ tịch phê bình, từ đó cụ Phan được xóa thành phần địa chủ và ảnh của cụ đưa trở lại treo ở nhà thờ như cũ. (Nguyễn Thiện Chí, sưu tầm qua lời kể của Đại tá Phan Thiện Cơ, cháu đích tôn cụ Phan)

 7. Những chú cuội.

Linh  mục  Tiến  Lộc  có  một người anh ruột ở lại miền Bắc sau năm 1954, khi đất nước Bắc Nam nối liền, ngài tìm mọi cách để về thăm anh sớm nhất. Với chiếc balô hành hương, đi đôi dép râu, đội chiếc nón cối bộ quần áo "nâu xồng" chẳng khác một bác nông dân tí nào, trừ ra cái thân hình bồ tượng hơn 80 kg.

 Lần mò mãi về tới làng xưa mà nay mọi cái khác lạ hoàn toàn, đến nỗi không còn biết đường về nhà cũ. Gặp một đám choai choai đang đánh bài, chửi thề om sòm ở cổng làng ngài hỏi một em : "Này cháu ơi, cháu có biết nhà ông A ở đâu không ?", thằng bé ngước mắt nhìn người  khách  lạ buông  một  câu nghe muốn ù tai : "Đếch biết" (xin lỗi bạn đọc, để tôn trọng sự thật phải nhắc lại nguyên văn).

 Người khách lạ thất vọng nói lời cám ơn rồi đi sâu vào trong làng, cuối cùng cũng tìm ra nhà ông anh ruột, anh em tay bắt mặt mừng, ôm nhau khóc vì sau 20 năm đứt liên lạc nay mới gặp lại. Cả nhà vui vẻ sửa soạn bữa trưa thì thằng con trai ông anh trở về, anh vội giới thiệu với em thằng con trai thừa tự của mình. Linh mục Tiến lộc nhận ra ngay thằng bé đánh bài ở đầu làng, ngẩn người nói với ông anh : "Em mới gặp nó đánh bài ở đầu làng, hỏi nhà anh, nó trả lời đếch biết. Anh dạy dỗ nó thế nào mà lại như vậy ?", ông anh chữa mình : "Chú biết   đấy,   thời   buổi chiến tranh, mải lo cuộc  sống,  cũng  dạy dỗ nó nhưng nó cũng đếch nghe". Linh mục Tiến Lộc chỉ còn biết lắc đầu.

Nhận định

Chúng  ta  tự  hỏi  nguyên  nhân nào đã dẫn tới tình trạng một xã hội ít tôn trọng sự thật ? Chắc là có nhiều nguyên nhân, nhưng rõ ràng nhất và dễ nhận diện nhất vẫn là ảnh hưởng của chiến tranh.

Chiến tranh tiêu hao nhân lực và của  cải  vật  chất,  khiến  người  ta phải  sống  trong  điều  kiện khó khăn, ăn không đủ no (ăn độn), mặc không đủ ấm (vải vóc đều được phân phối hạn chế theo tem phiếu). Người ta thường có suy nghĩ đơn giản : của Hợp tác xã là của chung, mà "cha chung thì không ai khóc" cho nên chuyện thất thoát, hao hụt thóc lúa, ngô  khoai  của  HTX  là  chuyện

"thường ngày trên huyện", chẳng mấy ai cho đó là tội gian dối cả, chỉ là tình thế cuộc sống mà thôi.

Một trích đoạn trong phim "Ông Bí Thư Tỉnh Ủy" chiếu trên VTV4 sáng 2/9/2011, nội dung như sau : Hai vợ chồng ông bí thư tỉnh ủy về nơi  sơ  tán  vùng  quê  miền  Bắc thăm ba đứa con được gửi ở nhà một người bạn xã viên HTX nông nghiệp. Ông bí thư thấy một đống lúa ở sân, hỏi ra mới vỡ lẽ đó là lúa "mót". Thằng con trai còn khoe lớp nó nhiều đứa đã nghỉ học để đi mót lúa … Ông bí thư hỏi ông xã viên tình hình thế nào thì được trả lời :

-  Ấy,  cha  mẹ  gặt  phía  trước, con  cái  theo  sau  mót  lúa, nhiều lúc còn mót được những "tay" lúa nguyên bỏ sót, gộp lại thì lúa mót có khi còn hơn lúa HTX gánh về.

-  Thế mỗi mẫu được bao nhiêu tấn ?

-  Tối đa được một tấn hai thôi.

-   Chết ! Học sinh thì bỏ học đi mót  lúa,  HTX  canh  tác  thế nào  mà  chỉ  có  tấn  hai  một mẫu ? (ông bí thư nhăn mặt suy nghĩ)

Trong phim còn có cảnh xã viên tập trung ở sân đình đập lúa, đập 3, 4 nhát là quăng rơm ra (rơm đó được quản lý kỹ và chia đều cho các xã viên đem về nhà vò lại lấy lúa còn sót, rồi mới xếp rơm lại để lợp nhà) …

Cũng  ngày  2/9/2011,  Đài Truyền hình Tiền Giang cho biết trước thời kỳ đổi mới 1986, Việt Nam hàng năm phải nhập khẩu 1 triệu  tấn  lúa.  Sau  thời  đổi  mới (chấm  dứt  HTX),  hàng  năm  Việt Nam xuất khẩu hàng triệu tấn lúa, gạo – cho tới nay đứng hạng nhì sau Thái Lan mà thôi.

Xin  nói  thêm  về  chuyện  dài HTX nông nghiệp : Tại Giáo xứ Quảng Lâm (Bảo Lộc), mọi người phải  vào  HTX,  Cha  xứ  là  Linh mục Giuse Tuấn (cùng lớp với người viết, du học Rôma về) cũng trở thành xã viên, vác cuốc ra đồng như mọi người để được lãnh phần gạo theo tiêu chuẩn. Tình trạng hao hụt, mất mát cứ liên tục xảy ra không thể kiểm soát được. Có lần trong buổi họp, bức xúc quá, ông xã trưởng tuyên  bố  :  "Trong  xã  này  mọi người đều ăn cắp, trừ có Linh mục Tuấn mà thôi". Mọi người im lặng, rồi lại đâu vào đó, nghe kẻng họ đủng đỉnh ra đồng, nghe kẻng họ vác  cuốc  về  nhà,  ngày  nào  như ngày  nấy  (chính  Linh  mục  Tuấn  kể lại).

Tình trạng kinh tế xã hội đã vậy, thêm vào nữa tình trạng an ninh cũng đòi hỏi người dân nói chung và lớp con nít nói riêng phải che giấu sự thật, làm sao có thể chỉ nhà ông Chủ tịch xã, nhà ông Xã đội trưởng … cho một người lạ mặt !

Tại trường học thì hình ảnh chú bộ đội, chú công an là mẫu người lý tưởng của học sinh. Hầu hết các em khi được hỏi lớn lên làm gì, các em đã hăng hái trả lời rằng lớn lên cháu sẽ làm chú bộ đội, chú công an. Mà bộ đội và công an thì phải giữ bí mật và luôn cảnh giác với người lạ.

Những  hoàn  cảnh  xã  hội  nêu trên cộng với sự lơi lỏng giáo dục đạo đức đã từng bước hình thành một bộ phận giới trẻ nói dối không biết ngượng.

Cái tội dối gian như một bệnh dịch lây lan nhanh chóng ra toàn xã hội, không chỉ giới trẻ gian dối

trong thi cử, trong làm ăn, giao dịch,  mà  cả  một  bộ  phận  người lớn, có danh có tước cũng không biết ngượng khi nói dối, cụ thể là trường hợp Công ty Cổ phần Dịch vụ   SONADEZI  xả  thải ra  sông Đồng Nai : Ngoài việc bị Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về môi  trường  (C49)

Bộ Công an bắt quả tang xả thải ra sông  Đồng  Nai  vào  khuya  ngày 3/8/2011,  Công  ty  CP-DV Sonadezi còn nhiều lần bị xử phạt hành chính do vi phạm bảo vệ môi trường.

Hôm 5/8, Sở TN-MT Đồng Nai đã có buổi làm việc  với Cty CP- DV Sonadezi (thuộc Tổng công ty Sonadezi) để xem xét toàn bộ nội dung vi phạm về lĩnh vực môi trường. Qua kiểm tra thực tế, Sở TN-MT ghi nhận hệ thống vi sinh đã bị hư hỏng, đường ống dẫn hóa chất vào bể khử trùng và hệ thống khử màu không hoạt động. Giải trình với cơ quan chức năng, Cty Sonadezi lấy lý do một số doanh nghiệp dệt nhuộm có lưu lượng xả thải lớn với nhiệt độ và độ màu vượt giới hạn nên khi nhà máy tiếp nhận để xử lý đã làm ảnh hưởng đến việc xử lý sinh học. Trong quá trình tiến hành nâng cấp xử lý hóa lý lên bậc 2 thì đã bị C49 bắt quả tang.

Theo báo cáo của Thanh tra Sở TN-MT Đồng Nai, Cty CP-DV Sonadezi đã nhiều lần vi phạm quy định  bảo  vệ  môi  trường. Cụ  thể năm 2009, đã 2 lần bị các cơ quan chức năng của tỉnh Đồng Nai xử phạt 34 triệu đồng về hành vi xả nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép từ  2  đến  dưới  5 lần. Đến  năm 2010, bị Bộ TN-MT phạt số tiền 31 triệu đồng về hành vi thực hiện không đúng nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường ; quản lý vận chuyển xử lý chất thải nguy hại không đúng quy định ; xả nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép từ 2 đến dưới 5 lần. Đầu năm 2011, Thanh tra Tổng cục Môi trường phát hiện nước thải sau xử lý tại rạch Bà Chèo (của KCN Long Thành) tiêu chuẩn về độ màu vượt 1,4 lần, coliform vượt 1,86 lần, mẫu nước mưa tại cửa xả cống số 4 vượt 3,9 lần, nitơ vượt 1,4 lần … Sau đó, Thanh  tra  Tổng  cục  Môi  trường (Bộ TN-MT) ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 75 triệu đồng. Vừa mới nộp phạt xong thì đến nay, công ty này lại bị C49 bắt quả tang về vi phạm môi trường.

Trở lại khu vực rạch Bà Chèo vào  sáng  qua  để  tìm  hiểu  cuộc sống của người dân ở đây, chúng tôi gặp ông Lê Hộ (ấp 2, xã Tam An, H.Long Thành). "Chúng tôi ở cách con rạch này hơn 200m, nhưng nhiều  năm  nay,  cứ  nửa  đêm  là chúng tôi thở không nổi do xả thải. Các vườn cây ăn trái gần đây đều chết rạp, gà vịt không dám ra gần suối vì hơi nóng của nước thải và mức ô nhiễm quá cao. Lần nào tiếp xúc cử tri, dân cũng kiến nghị mà có ai giải quyết đâu ?", ông Lê Hộ bức  xúc.  Còn  ông  Kiều  Hoàng Anh,  Trưởng  ấp  2,  xã  Tam  An cũng nói gay gắt : "Suốt nhiều năm nay  chúng  tôi  phát  hiện  cứ  nửa đêm là bị xả nước thải ô nhiễm, không tài nào chịu được. Chúng tôi phản ánh nhiều lần nhưng họ chỉ nói là do sự cố nhưng không khắc phục. Sau đó họ vẫn xả năm này qua năm khác".

Trả lời câu hỏi của Báo Thanh Niên : "Vì sao là một doanh nghiệp nhà nước luôn được tỉnh Đồng Nai ca ngợi là đơn vị làm tốt công tác bảo vệ môi trường, nay lại xảy ra việc bê bối trong xả thải ?", Giám đốc Sở TN-MT Đồng Nai Lê Viết Hưng cho biết : "Sau khi có thông tin C49 bắt quả tang KCN Long Thành xả nước thải không đạt tiêu chuẩn  ra  môi  trường,  tôi  hoàn toàn bất ngờ nên đã chỉ đạo kiểm tra ngay. Tôi bất ngờ ở chỗ Sonadezi  là   doanh  nghiệp  nhà nước có thương hiệu mạnh, được đánh giá tốt toàn diện trong lĩnh vực môi trường nhưng lại để xảy ra sự cố này. Tuy nhiên sai phạm như thế nào cần phải chờ cho đến khi C49 kết luận". (Kim Cương, báo Thanh Niên ngày 6/8/2011)

"Sonadezi không có cái gì là gian dối" Chủ  tịch  Hội đồng quản trị Tổng công ty phát triển KCN (Sonadezi), đại biểu Quốc hội  tỉnh Đồng Nai - bà Đỗ Thị Thu Hằng (ảnh) nhất mực khẳng định như vậy khi trả lời phỏng vấn báo chí bên hành lang QH chiều ngày 5/8.

Cuộc phỏng vấn diễn ra sau sự việc Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm môi trường (C49)  Bộ Công an  bắt  quả tang Nhà  máy xử  lý nước thải tập trung  của Cty CP- DV  Sonadezi  (KCN Long Thành, Đồng Nai) xả nước thải không đạt tiêu chuẩn ra môi trường.

-  Rạng sáng ngày 4/8, Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm môi trường  (C49)  Bộ  Công  an  bắt quả tang Nhà máy xử lý nước thải tập trung Sonadezi (KCN Long  Thành,  Đồng  Nai)  xả  nước thải không đạt tiêu chuẩn ra môi trường, bà đã được báo cáo về thông tin này chưa ?

- Hiện tôi đang họp Quốc hội ở ngoài này, về cơ bản chủ trương của Sonadezi lúc nào cũng làm theo  đúng  quy  định  của  pháp luật. Hiện công ty đang xem xét kỹ thuật, lúc nào có thông tin thì tôi sẽ cung cấp.

-  Theo kết luận ban đầu của C49 thì đại diện phía công ty cũng đã ký vào biên bản rồi ?

-  Bạn đã coi biên bản đó chưa ?

-  Nói như vậy nghĩa là bà khẳng định không có biên bản đó?

-  Tới giờ này tôi chưa có thông tin đầy đủ nên ở ngoài này tôi chưa thể trả lời được.

- Bà đã nhận được báo cáo của công ty về vụ việc này chưa ?

- Thứ nhất, đó là công ty thành viên, thứ hai là chuyện này có thể trên tổng công ty họ sẽ có báo cáo sau.

-  Nhưng  bà  là  Chủ  tịch  HĐQT của Sonadezi, chẳng lẽ đến giờ này bà vẫn chưa nhận được báo cáo về vụ việc này ?

-  Đến giờ này báo cáo chi tiết thì chưa.

-  Vậy thông tin ban đầu bà nhận được như thế nào ?

- Về  nguyên  lý  thì  lúc  nào Sonadezi  cũng  làm  theo  đúng quy định.

- Bà bình luận thế nào về thông tin C49 đưa ra ?

- Cái đó sẽ có buổi làm việc cụ thể, chi tiết sau.

- Khi nào bà sẽ làm việc với cơ quan chức năng về vụ việc này?

- Hiện tôi đang họp ở ngoài này theo đúng quy định của kỳ họp. Khi nào họp xong tôi sẽ về làm việc với các cơ quan chức năng về vấn đề trên.

-  Thông tin phía C49 đưa ra về việc  xả  thải  chưa  qua  xử  lý trong một đêm tới 9.300m3 và việc lắp đường ống ngầm đấu nối từ trong nhà máy ra hồ sinh thái thì sao ?

-  Đảm bảo rằng Sonadezi không có cái gì là gian dối.

-  Trong chương trình hành động khi tiếp xúc cử tri để vận động bầu cử, bà đã  khẳng định quyết tâm bảo vệ môi trường ... ?

-  (Ngắt  lời)  Đương  nhiên  đó  là quan điểm từ đầu đến cuối nhất quán của Sonadezi.

Báo TN ngày 6/8/2011, Bảo Cầm (ghi)

Về tiến độ điều tra, thông tin từ C49 cho hay, đã lấy 3 mẫu nước tại bể xử lý sinh học và 1 mẫu bùn thải  để  tiến  hành  kiểm  nghiệm. Trao đổi với báo Thanh Niên, đại tá Phan Hữu Vinh, Phó cục trưởng C49 nói, qua kiểm tra cho thấy hệ thống xử lý chưa đạt yêu cầu khi thải ra môi trường. Tuy nhiên, hiện nhà máy đã đấu nối với hơn 40 công  ty  nên  nếu  đề  nghị  ngưng hoạt động sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ  hoạt  động  các  doanh  nghiệp. Do đó, sau khi có kết quả phân tích mẫu sẽ  có  biện  pháp  xử  lý  tiếp theo.

Ông Võ  Tuấn  Nhân,  Phó  chủ nhiệm  Ủy  ban  Khoa  học  công nghệ - môi trường của QH : "Cần xử nghiêm hành vi xả thải ra môi trường" : Vụ Vedan xả thải chưa qua xử lý  ra  sông  Thị  Vải  (Đồng  Nai), chúng ta đã yêu cầu Chính phủ có chế tài xử lý thì tương tự như thế chúng ta phải tiếp tục, bất cứ công trình  nào  vi  phạm  xả  thải,  cũng phải xử lý nghiêm túc đúng pháp luật.

Luật Bảo vệ môi trường đòi hỏi phải  có  phê  duyệt  đánh  giá  tác động  môi  trường  các  nhà máy, hiện nay đa số được phê duyệt hết các đánh giá tác động nhưng trong quá trình thực thi chưa thực hiện được đúng như báo cáo đánh giá đó.  Tình  trạng  này  diễn  ra  trên thực tế rất nhiều. Do vậy yêu cầu các cơ quan quản lý tăng cường trách nhiệm hơn và phải chế tài nghiêm khắc với doanh nghiệp, khi triển khai đến thời điểm nào phải hoàn thành những công việc theo đánh giá tác động môi trường được phê  duyệt  đến  đó.  Theo  tôi  nếu đảm bảo đúng như cam kết đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt thì ô nhiễm là đương nhiên nhưng ở mức độ cho phép, còn hiện nay, các công ty xả thải ra môi trường vượt quá mức độ cho phép thì đây là việc chưa thực thi đúng quy định pháp luật, cần phải xử lý nghiêm minh và có chế tài mạnh mẽ.

Báo TN ngày 07/08/2011 phóng viên Kim Cương đăng tiếp với bài "Khó phủ nhận trách nhiệm" :

Với những gì đang xảy ra tại rạch  Bà  Chèo, khó có thể phủ nhận     "Sonadezi không có cái gì gian dối" như phát biểu của ĐBQH Đỗ Thị Thu Hằng - Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Tổng công ty Sonadezi.

 Sáng ngày 6/8, trở lại rạch Bà Chèo, nhiều người dân bày tỏ bức xúc trước phát biểu của Chủ tịch HĐQT trên Báo Thanh Niên. Sống gần  hồ  sinh thái chứa nước thải của Nhà máy xử lý nước thải của Cty CP-DV Sonadezi, gia đình bà Lê Thị Năm (75 tuổi, ngụ ấp 2, xã Tam An, H.Long Thành) có 8 đìa nuôi tôm  cá  nhưng  nay  đã  phải  bỏ hoang vì nguồn nước quá ô nhiễm, tôm cá không thể sống nổi. Còn anh Nguyễn Văn Nhân (trú  ấp  2) cho biết anh làm nghề đánh bắt cá từ nhiều năm nay trên các con rạch như Rạch Mương, rạch Bà Chèo … thế nhưng mấy năm nay thì hầu như không làm ăn  được gì. "Cá tôm làm gì mà sống nổi với nguồn nước đen ngòm, đặc quánh như nhớt xe mỗi khi nước thủy triều rút xuống", anh Nhân thở dài.

 Nhiều hộ dân còn cho biết thêm, việc chăn  nuôi  gia     cầm   cũng không phát triển được vì mỗi khi uống phải nước ô nhiễm thì gà, vịt cũng lăn ra chết. Nhiều vườn sầu riêng và vườn dâu của người dân ven con rạch cũng phải đốn bỏ do bị  thối  gốc.  "Trước  việc  nguồn nước bị ô nhiễm từ nước thải các nhà máy trong KCN Long Thành, chúng tôi đã có những phản ánh lên chính quyền các cấp, ngành nhưng đến nay chưa được giải quyết, cuối cùng phải cắn răng, chấp nhận sống chung với ô nhiễm", một người dân nói.

 Đi cùng với chúng tôi, anh Nguyễn  Thành  Phát  bức  xúc  : "Việc gây ô nhiễm nhiều năm qua làm dân chúng tôi điêu đứng. Vậy mà  lãnh  đạo  Tổng  công  ty Sonadezi bảo không có gì gian dối. Chúng tôi mong cơ quan quản lý môi trường có đánh giá sai phạm và tính toán thiệt hại cho chúng tôi để lấy cơ sở đòi bồi thường".

"Công nghệ" xả trộm.

Khó có thể phủ nhận "Sonadezi không  có  cái  gì  gian  dối"  với chứng cứ mà Cục Cảnh sát phòng chống  tội  phạm  về  môi  trường (C49)  Bộ  Công  an  lập  vào  ngày 4/8, trong đó có đề cập đến hành vi xả thải tinh vi.

Theo biên bản, nhà máy xử lý nước thải đã đặt tại hồ sinh thái một cửa xả sử dụng bằng khóa van tay nằm sâu dưới đất khoảng 80 - 100 cm. Sử dụng khóa van này, có thể đưa nước từ rạch Bà Chèo vào hồ khi thủy triều lên và xả ra khi thủy triều xuống thấp. Vào thời điểm lập biên bản (23 giờ 15 phút ngày 3/8), van khóa này được mở để nước từ trong hồ chảy ra rạch Bà Chèo, ra sông Đồng Nai với màu đen đặc và bốc mùi hôi thối.

Một  trinh  sát  C49  cho  biết  : "Sau  hơn  một  tháng  theo  dõi, chúng tôi phát hiện quy luật của nhà máy này như sau : do nước thải sau khi xử lý không đạt tiêu chuẩn, nếu thải ra rạch Bà Chèo rất dễ bị phát hiện nên họ tìm cách pha  loãng  với  nước  sông  Đồng Nai.  Rồi  lợi  dụng lúc  thủy triều xuống hoặc trời mưa lớn, thì mở van để tống nước thải ra sông".

Cũng trong biên bản làm việc, Phó tổng giám đốc Cty CP-DV Sonadezi Trần Quang Thỏa thừa nhận  để  giảm  chỉ  tiêu  ô  nhiễm trong nước thải, công ty đợi khi thủy triều lên sẽ tích nước để pha loãng ô nhiễm, khi thủy triều rút kéo theo toàn bộ nước thải ra rạch Bà  Chèo  để  chảy  ra sông  Đồng Nai.

Cũng cần nhắc lại, đây không phải lần đầu Cty CP-DV Sonadezi bị phát hiện hành vi gây ô nhiễm. Năm 2009, công ty này bị cơ quan chức năng tỉnh Đồng Nai xử phạt 34 triệu đồng (2 lần)  do xả nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép từ 2 đến 5 lần. Năm 2010, công ty bị Thanh  tra  Tổng  cục  Môi  trường (Bộ TN-MT) xử phạt 31 triệu đồng và đến tháng 2/2011 bị phạt tiếp 75 triệu đồng về hành vi tương tự ...

Nhiều doanh nghiệp bức xúc.

Vào thời điểm mà C49 bắt quả tang, Cty CP-DV Sonadezi đang tiếp nhận xử lý nước thải cho 42 doanh nghiệp (trong đó có đến 80% nước thải từ dệt nhuộm). Sau khi nghe tin nhà máy xử lý bị C49 bắt quả tang xả nước thải chưa đạt tiêu chuẩn ra sông Đồng Nai, một số doanh nghiệp tỏ ra lo lắng. Lãnh đạo một công ty dệt (đề nghị không nêu tên) cho biết : "Trước khi đầu tư, chúng tôi tin tưởng vào sự quảng bá của Sonadezi nên mới ký hợp đồng xử lý nước thải. Nay thấy nhà máy bị bắt quả tang, nếu nặng đến mức cơ quan chức năng phải đình chỉ hoạt động thì ảnh hưởng rất lớn đến doanh nghiệp chúng tôi".

 Lãnh đạo một nhà máy len đóng tại KCN Long Thành cũng bức xúc : "Sonadezi nhận tiền xử lý nước thải,  nhưng  xả  thải  không  đạt chuẩn  là   khó   chấp   nhận.   Với những gì đang diễn ra thì họ đã lừa dối chúng tôi".(Kim Cương)

 Nhận định

a. Chuyện rõ mười mươi như vậy mà  người  có  trách  nhiệm  vẫn quả   quyết   "không   gian   dối", không biết lương tâm họ thế nào ?

b. Bị  phạt nhiều lần vì  vi  phạm, mỗi lần phạt mấy chục triệu, số tiền này có làm cho môi trường sạch như cũ không ? Cả đống dân bị hại có được ai đền bù "sòng phẳng" cho họ không ?

c. Cứ đà này thì sông Đồng Nai và bất cứ con sông, cái biển nào cũng bị bức tử, vấn đề là thời gian mà thôi, vì xử lý cách nào cũng còn bẩn, trừ khi chưng cất cho bốc hơi thì mới sạch được, nhưng vẫn còn cặn tức là còn ô nhiễm.

Sự  thật được phơi bày, nhưng chưa đầy đủ và cũng chưa "giải phóng" chúng ta được.

Trong khi đó một vị đại biểu QH Việt Nam, cơ quan quyền lực cao nhất nước mà trắng trợn chối bỏ sự thật rành rành về những sai phạm của Cty Sonadezi, để hàng ngày Sonadezi cứ thu tiền xử lý nước thải của 42 công ty con nhưng lại xả   nước   bẩn   mỗi   ngày   gần 10.000m3, một tháng   là gần 300.000m3, một năm gần3.600.000m3 (chưa tính lâu hơn nữa). Bao nhiêu chất độc hại, cặn bã hòa vào  nước  sông  Đồng  Nai,  rồi người dân phải trả tiền để mua lại nước ô nhiễm này về sử dụng, hậu quả  tất  yếu  là  bệnh  tật  và  chết chóc, chỉ có Trời mới đo lường được hậu quả tai hại này. Ấy thế mà đối với xã hội của ta dường như đó chỉ là chuyện nhỏ, báo chí la to nhưng chỉ ỉm đi ít bữa rồi đâu cũng lại vào đấy, có ai mà kiểm tra mỗi ngày tất cả các nhà máy được. Quy trình : "Cam kết rồi kiểm tra, rồi phạt xong lại cam kết, lại kiểm tra, lại phạt", cứ như bánh xe luân hồi vậy.

Cuối cùng thì Cty Sonadezi bị xử phạt do xả thải vượt quy chuẩn từ 5-10 lần trong trường hợp thải lượng nước thải từ 5000m3/ngày đêm  –  thực  hiện  không  đúng, không đầy đủ các nội dung trong cam  kết  bảo  vệ  môi  trường  đã được  duyệt  –  vận  hành  không đúng, không đầy đủ, không thường xuyên hệ xử lý nước thải dẫn đến nước thải sau xử lý không đạt chuẩn. Tổng mức tiền phạt cho cả 3 hành vi trên là 405 triệu đồng (Nguyễn  Triều,  báo  Tuổi  Trẻ  ngày 8/10/2011).

Chúng ta thử hỏi 405 triệu tiền phạt có lọc sạch được hết chất dơ bẩn đã thải ra sông Đồng Nai, đã ngấm xuống lòng đất, mạch nước ngầm, đã xâm nhập vào cỏ cây, tôm cá và con người, làm hại sức khỏe, gây bao bệnh tật và có bảo đảm sau khi nộp phạt nước thải sẽ sạch như nước tự nhiên không ?

8. Chuyện gian dối, lừa gạt trong quảng cáo, trong sản xuất thực phẩm, đồ tiêu dùng, đe dọa sức khỏe, xâm hại môi trường … hiện nay nhiều đến nỗi thống kê không kịp, chúng ta thử liếc qua các phương tiện truyền thông những ngày gần đây thôi :

§ Báo Thanh Niên 1/10/2010, bài "Kết quả phân tích AMS, 'Thóc thành Dền' là mẫu hiện đại" – Ai đã đem thóc hiện đại khang dân bỏ vào hố khai quật khảo cổ thành Dền, để rồi tốn bao nhiêu công sức, tiền của ? Sự thật này "chìm xuồng" (Quang Duẫn).

 § Báo  Thanh Niên  12/4/2011 có bài "Bắt quả tang doanh nhiệp xả  thải  ra  sông  Giêng,  đó  là

Công ty TNHH TL" – chế biến cồn, xã Xuân Hòa, huyện Xuân Lộc, Đồng Nai). Nước thải được xả trực tiếp ra sông Ui (thượng nguồn sông Giêng) – (Quế Hà).

Cũng báo trên có bài "Đề nghị truy tố Chủ tịch HĐQT Công ty chạy án" – Vụ án giả chứng thư bảo lãnh ngân hàng. (Thái Sơn)

 § Báo  Thanh  Niên  20/5/2011  : Tổng Giám đốc IMF từ chức. Theo  các  phiên  tòa  diễn  ra  ở New York, thì ông Dominique Straus Kahn bị cô hầu phòng khách sạn Sofitel là Nafissatou Daillo tố cáo gian, cô này đã có thành tích "nói dối" nên tòa không tin lời khai của cô, sau cùng tòa đã tuyên bố ông Kahn vô tội và được trả tự do. Tội nghiệp  ông  Kahn  bị  một  thời gian  mang  tai mang  tiếng,  lại còn phải từ chức giám đốc IMF nữa.   (Tòa    hủy    án,    TN    ngày 24/8/2011 – Lan Chi).

§ Báo Thanh Niên  14/6/2011 có bài :

-  "Tràn lan đồ chơi hàng Trung Quốc độc hại" (Hoàng Việt).

-  "Nỗi cô đơn của sự thật" (Thái Sơn).

-  "Ém tiền vận động viên, sự thật phơi bày" (Hoàng Quỳnh).

-  "Cơn ác mộng thuốc kê đơn ở Mỹ" – mỗi ngày có khoảng 50 người Mỹ chết vì uống opioid quá liều (Thụy Miên).

-  "Bất  ổn  ở  Quảng  Châu  tạm lắng" – vụ việc bắt đầu hôm 10/6/2011, cảnh sát xô xát với một cặp vợ chồng bán hàng rong, dù chính quyền Quảng Châu khẳng định cả hai không hề hấn gì nhưng những thông tin   lan   truyền   rằng   người chồng bị đánh chết, còn người vợ đang mang thai cũng bị chấn thương nặng. Thế là bất ổn nổ ra phải điều hơn 1000 cảnh sát chống bạo động mới vãn  hồi  được  trật  tự  :  25 người bị bắt (Lê Loan).

§ Báo  Thanh Niên  16/6/2011 có bài "Quốc phòng Mỹ dính hàng dỏm Trung Quốc" (Trùng Quang).

§ Báo Thanh Niên 18/6/2011 :

-  "Lập lờ nước mắm" – hiện ít người tiêu dùng có thể phân biệt được đâu  là  nước mắm pha chế công nghiệp (giá rẻ), đâu  là  nước  mắm  sản  xuất theo  phương  thức  truyền thống (giá cao) – (tác giả Quang Thuần & Quế Hà).

-  "Thu hồi 12 sản phẩm nhiễm DEHP" (chất độc) – (tác giả Nam Sơn & Thanh Tùng).

-  "Cá  chết  hàng  loạt  vì  nước thải công nghiệp" (Nguyên Vũ).

- "Yêu cầu nhà máy giấy Lam Sơn xử lý tình trạng ô nhiễm" (Ngọc Minh).

§ Báo Phụ Nữ 24/6/2011 : Hotline 08.5436.6664 quảng cáo chỉ cần 5 giây phần bụng thu gọn 3cm (Ngọc Lâm & Nguyễn Cầm).

§ Báo SGGP 20/7/2011 có bài "Lắng nghe" – dự án xây dựng thủy điện ngốn cả trăm hecta rừng của vườn quốc gia lại được che phủ bằng một báo cáo đánh giá tác động môi trường … giả

… (Tư Quéo).

§ Báo SGGP 24/7/2011 có bài "Quảng cáo thiếu trung thực trên truyền hình, trách nhiệm không chỉ nhà đài ?" (Như Hoa).

§ Báo  SGGP  29/7/2011  có  bài "Khi khoa học bị chơi khăm" : Cuối cùng người ta đã "lật tẩy" báo cáo tác động môi trường dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A là hàng dỏm, khi những người làm báo cáo đã chưa trực tiếp đến khảo sát vùng bị ảnh hưởng của dự án. Còn ở dự án nghĩa trang Vĩnh Hằng, khi chủ dự án khởi công xây dựng thì người dân mới  tá hỏa vì phát  hiện nghĩa  trang có quy mô hàng ngàn ngôi mộ này chỉ nằm cách mép sông Đồng Nai chưa đầy 100m …" (Hoàng Quý).

 § Báo Công An Tp.HCM 29/7/2011 có bài :

-  An  toàn  vệ  sinh  thực  phẩm vẫn trong tình trạng báo động (Thu Thanh).

-  Người chết vẫn ký nhận tiền trợ cấp (Lê Uyên & Lê Anh).

§ Báo  SGGP  30/7/2011  có  bài "Ăn xin giả lừa người nhân ái" (Hwan  Niê  –  Thu  Hà  –  Bích Phượng).

§ Báo SGGP 30/7/2011 có bài "Đường đi của những đồng tiền bẩn (Thanh Hằng).

§ Báo SGGP 31/7/2011 có bài "Công bố tài liệu mật vụ Watergate" (Th. Vũ).

 § Báo Tuổi Trẻ 3/8/2011 có bài :

-  "Nạn mua điểm trong các đại học y ở Nga" (Lê Tiến & Trần Phương).

-  "Buôn   lậu   bằng   tàu   ngầm" (Anh thư).

-  "Tái  chế  dầu  bẩn,  mỡ  thối" (Đức Thanh – Ngọc Khải – Minh Mẫn).

-  "Dị   ứng   thực   phẩm   chức năng" (Ngọc Hà).

-  "Hù" mắc bệnh nan y để bán thuốc (Đ.Nam & T.Vũ).

 § Chương trình truyền hình VTV2 tối 7/8/2011 : "Chế biến chè ở Thái Nguyên" – pha thêm bùn + phân lân + bột sắn nấu thành cháo còn pha thêm cả bột đá. Bình thường 5kg trà tươi mới được 1kg trà khô, pha chế kiểu trên chỉ 3,5kg trà tươi là được 1kg trà khô (dân nghiện trà Thái Nguyên một phen hú vía).

§ Báo  Thanh Niên  12/8/2011 có bài "Trung-Hàn điều tra vụ dùng thi thể làm thuốc bổ" (dùng xác trẻ sơ sinh và bào thai). Đài SBS cũng đưa ra kết quả xét nghiệm ADN cho thấy đến 99,7% thuốc bột này là từ con người (thuốc bổ này đã nhập lậu vào Hàn Quốc) – (Thụy Miên).

§ Báo Thanh Niên 18/8/11 có bài :

-  "Mất  chức  vì  kê  khai  gian dối" (Bảo Cầm).

-  "Phát  hiện  nhiều  thẻ  công nhân giả ở công trường nhà máy đạm Cà Mau" (Gia Bách).

- "Viện Kiểm sát xin lỗi, bồi thường người oan sai" (Lâm Viên).

-  "Một   cò   lao   động   có   52 CMND" (Công Nguyên & Đàm Huy).

 § Chương trình truyền hình VTV2 tối 19/8/2011 : Công ty Nhuộm Thái Tuấn ở Đông Hưng Thuận (Hóc Môn) xả nước thải ra kênh Tham Lương mỗi ngày khoảng 630m3 mà chỉ có 30m3 qua xử lý

(chưa chắc đã đạt chuẩn). Máy quay cho xem dòng kênh đen xì, đỏ lòm thấy mà khiếp.

§ Báo Thanh Niên 24/8/2011 : "Cương quyết xử ly sai phạm", ông Bộ trưởng Tài nguyên Môi trường đã trả lời phỏng vấn như sau : "Ô nhiễm môi trường đang là vấn đề rất 'nóng' hiện nay.

Trước đây chúng ta thu hút đầu tư, nhưng thời kỳ ban đầu lại chưa chú trọng đến môi trường nên dẫn đến hiện nay có nhiều doanh nghiệp xả nước thải chưa bảo đảm ra môi trường … cần phải có lộ trình để xử lý" (Quang Duẫn).

 § Chương trình truyền hình VTV1 ngày 31/8/2011 : "Công ty Giầy da ở Bến Cát xả và bỏ chất thải bừa bãi – kể từ tháng 8/2010 tới nay, tất cả chất thải không qua xử lý mà vứt bừa bãi quanh nhà máy, có khi tới hàng trăm tấn".

 § Chương trình truyền hình đài Long An tối 4/9/2011 đưa hình ảnh và nói về tình trạng ô nhiễm

thuốc trừ sâu ở làng hoa lớn nhất miền Bắc là Từ Liêm và Đan Phượng. Thuốc trừ sâu phun mịt mù, mùi nồng nặc – nhà dân gần đó phải che chắn cửa sổ, xây bít các lỗ thông hơi … nhưng vẫn chịu không nổi. Hồ ao cũng ô nhiễm do việc súc rửa bình xịt. Ở hai huyện có tới 200 điểm bán khoảng 3000 loại thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật … (sâu mà chết thì người cũng ngắc ngư).

 § Báo Thanh Niên 4/9/11 có bài :

-  "Vào tù vì giả mạo giấy kết hôn" (Thục Minh).

-  Vụ kiện "trứng thối" (Lê Nga).

 § Báo Thanh Niên 5/9/11 có bài :

-  Cần dẹp loạn giặc cướp (cướp nghêu ở Cà Mau – tác giả Thanh Đông) "Không thể tin được : Nhìn   hình   ảnh   một   đoàn người với các phương tiện phạm  tội  gồm  thuyền,  lưới cào   …  sẵn   sàng   đi   cướp nghêu giữa ban ngày mà tôi bàng hoàng. Tại sao chính quyền, các cơ quan chức năng địa phương lại để tình trạng này tồn tại ? Do yếu kém năng lực hay cố tình làm ngơ ? Phải ra tay và trừng trị nhóm người có hành vi phạm tội tập thể có tổ chức này. Nếu không, hiện tượng phạm tội tập thể ở Cà Mau sẽ dễ dàng lan rộng sang các địa phương khác".

-  Nguy  cơ  website  chính  phủ giả ở Hà Lan (Thụy Miên).

 § Chương trình truyền hình HTV9 ngày 7/9/2011 có hình ảnh và lời bình : Khu công nghiệp Lê Minh Xuân huyện Bình Chánh có 127 đơn vị sản xuất lớn nhỏ, hàng trăm ống khói nhả khói đen kịt lên bầu trời, nước thải thì xả ra lạch, sông, có kiểm tra thì qua xử lý, không kiểm tra thì xả tự do ra môi trường, một người dân vừa chỉ vừa nói : "Nước đen và đặc như kẹo kéo".

 § Báo Thanh Niên ngày 8/9/2011 có tin : UBND tỉnh Gia Lai ra quyết định phạt công ty con TNHH Chế  Biến  Khoáng  Sản K'Bang trên 142 triệu đồng vì xả thải vượt tiêu chuẩn hơn 8 lần, gây ô nhiễm sông Ba khiến hàng chục ngàn dân bị ảnh hưởng.

 § Chương trình truyền hình VTV9 ngày 8/9/2011 chiếu hình ảnh và thuyết minh về nguy cơ rác vũ trụ  :  Cho  tới  nay  có  khoảng 16.000 mảnh vỡ, vỏ tên lửa đã qua sử dụng đang bay lởn vởn trong không gian bao quanh trái đất  với  tốc  độ  28.000 km/giờ, sức công phá khi va chạm không thua một quả đạn, nguy cơ các vệ tinh bị phá huy là rất gần, ISS nhiều lần phải "né".

 Trong   khoảng   một   thời   gian ngắn và mặc dù chỉ có trong tay vài  tờ  báo,  cũng  chẳng  có giờ nhiều mà theo dõi các kênh truyền hình, thế mà người viết cũng liệt kê được hàng loạt những sự việc liên quan tới tính gian dối gây hậu quả nghiêm trọng cho môi trường và  người  tiêu dùng, cũng  như người dân vùng ảnh hưởng. Những phát hiện sai phạm có thể áp dụng nguyên tắc phòng dịch được, nghĩa là "cứ một trường hợp dịch được phát hiện thì có ít là 10 trường hợp chưa phát hiện ra".

9. Không biết bà con nghĩ thế nào chứ người viết thì hoàn toàn đồng ý với tác giả Nguyễn Tú trong mục Thời sự báo Thanh Niên 16/6/2011 như sau : 100% doanh nghiệp bị kiểm tra vi phạm Luật Bảo vệ môi trường. Trong  hai  ngày  14-15/6/2011, hội  thảo  "Xây  dựng  khung  kế hoạch chiến lược quản lý ô nhiễm công nghiệp TP Đà Nẵng giai đoạn 2011-2020" do Sở Tài nguyên - Môi trường TP Đà Nẵng và dự án Quản lý nhà nước về môi trường cấp tỉnh tại Việt Nam tổ chức đã công bố những số liệu báo động. Kết quả thực hiện chương trình quản  lý  công  nghiệp  giai đoạn 2005-2010 tồn  tại  nhiều  bất  cập như hiện vẫn còn 3/6 khu công nghiệp TP Đà Nẵng chưa có hệ thống xử lý nước thải, 90% doanh nghiệp  (DN)  có  hệ  thống  xử  lý nước thải nhưng vận hành không thường  xuyên  hoặc  không  đúng quy trình, 14% DN chưa xây dựng báo cáo đánh giá tác động môi trường. Nghiêm trọng hơn, 100% trong tổng số 90 DN bị kiểm tra ngẫu nhiên đều vi phạm Luật Bảo vệ môi trường. Các DN nằm ngoài khu công nghiệp cũng "góp phần" vào tình trạng ô nhiễm nước thải và tiếng ồn.

Theo báo cáo của Sở Tài nguyên -  Môi  trường,  nguyên  nhân  dẫn đến thực trạng trên là do các DN đối phó trong khi năng lực, nhân lực và kinh phí của cơ quan chức năng  còn  hạn  chế,  hạ tầng  khu công  nghiệp  chưa  được  đầu  tư đúng mức, phân cấp quản lý chồng chéo và cơ quan chức năng thiếu phối hợp chặt chẽ.

KẾT LUẬN

a. Vấn đề "gian dối" dưới mọi hình thức trên đất nước chúng ta là một chuyện dài, càng ngày càng dài  hơn,  càng  rộng  hơn,  càng cao hơn, càng sâu hơn.

b. Nếu lơi lỏng việc tuyên truyền, giáo dục bảo vệ môi trường, lại nhập nhằng, ấm ớ trong khâu xử lý sai phạm thì chẳng bao lâu nữa tất cả các dòng sông, các mạch nước ngầm, tất cả đất đai, bầu khí, biển khơi đều sẽ bị ô nhiễm hết, và sẽ xuất hiện hàng trăm, hàng ngàn xã ung thư trên cả nước (chứ không chỉ mới có một làng ung thư nào đó ở ngoài Bắc như hiện nay). Cây cối chết, tôm cá chết thì làm sao mà con người sống được (nhỏ mọn như chiếc bao nilon  thôi  cũng  phải  mất  500  năm mới phân hủy).

Bài toán khó nhất mà chúng ta chưa có thể giải được, đó là làm thế nào dung hòa giữa phát triển và môi trường. Nhiều nhà máy thì lắm chất thải, xử lý chất thải cho đạt yêu cầu, nghĩa là sạch như nước thiên nhiên, an toàn như đất tự nhiên là một điều không thể được và nếu được thì chi phí quá cao, nhà máy hết lợi nhuận. Đóng cửa nhà máy thì không có sản phẩm, dân thất nghiệp, nhà nước thất thu, không phát triển. Vậy thì chỉ còn giải pháp của cụ Nguyễn Du : "Cũng liều nhắm mắt đưa chân, Mà xem Con Tạo xoay vần đến đâu"

c. Chuyện nhắm mắt cho qua, điều khó mà tránh khỏi, nhất là ở xã hội Việt Nam, "văn hóa phong bao" đã trở thành "hơi thở" rồi, động một tí là "phong bao" đối phó, mấy ai thanh liêm đến mức từ chối "phong bao" dầy để cứ "thẳngnhư mực tầu" mà làm, mà "đường mực tầu" của ta cũng bị "khúc xạ" vì thiếu chuyên môn, liệu có thể đạt trình độ Viện Pasteur  mỗi  ngày  xét  nghiệm, cấp phép rồi mới được xả ra sông, biển ?

Người ta cũng thắc mắc có một thời khá dài ở miền Bắc, quan tài người quá cố không được khiêng tới nhà thờ, nhà chùa làm lễ nghi tôn giáo, lý do là sợ ô nhiễm môi trường. Trong khi đó thì những chất thải các nhà máy, các khu công nghiệp, độc hại, nguy hiểm gấp trăm gấp nghìn lần, lại cứ khơi khơi xả ra sông, ra biển, cặn bã thì chôn vùi hoặc lén đổ nơi các bãi đất trống, chỗ vắng người hay vứt bừa bãi quanh nhà máy như trường hợp công ty giầy da nào đó ở Bình Dương !

d. Về hậu quả của những việc gian dối vì lợi nhuận dưới mọi hình thức thì không ai có thể cân, đo, đong, đếm được, một dòng sông Đồng Nai trong xanh thơ mộng, mà hàng ngàn nhà máy lớn nhỏ từ thượng nguồn Lâm Đồng, qua vùng Định Quán – La Ngà, qua khu  công  nghiệp  Trảng  Bom, qua những trại nuôi heo cả vạn con ở vùng Hố Nai, qua hai khu đại công nghiệp Biên Hòa 1 và Biên Hòa 2 – Khu công nghiệp Long Thành – về tới T/p Hồ Chí Minh rồi ra tới Nhà Bè, tới biển. Tất cả nước thải, chất thải cứ tuôn xuống dòng sông, đúng là "trăm dâu đổ đầu tằm", làm sao mà bảo đảm dòng sông đem lại sức khỏe cho người và sinh vật ? Kết  cục  thì  lợi  nhuận  vào  túi một số người, bệnh tật và tai họa thì  toàn  dân  và  cả  nước  phải hứng chịu (cứ một sản phẩm, vật nuôi nơi bị ô nhiễm đi tới đâu thì gieo bệnh tật tới đó – một người bị ảnh hưởng ở vùng ô nhiễm kết hôn với một người nơi khác hoặc di chuyển đến nơi đó cũng đem theo hiểm họa lây nhiễm).

 Sự thật có thể đã được phơi bày nhưng hậu quả tiêu cực thì không ai, không gì ở trên đời này xử lý công bình được. Do đó, như đã trình bày từ đầu : Sự thật ở trần gian không thể giải thoát chúng ta cách  trọn  vẹn  được.  Chỉ  có  Sự Thật Vĩnh Hằng – Đấng Tạo Hóa là Sự Thật tuyệt đối mới có thể giải thoát chúng ta một cách tuyệt hảo bằng một cuộc xét  xử  cuối  cùng  vào  ngày chung  cuộc  :  "Và  mọi  người  sẽ chịu xét  xử theo các việc họ đã làm" (sách Khải Huyền 20,3). Nếu không có cuộc giải thoát cuối cùng này  thì  bất  công,  gian  dối  vĩnh viễn ngự trị ở trần gian và cuộc sống sẽ trở thành phi lý.

------------------

Hiện nay địa chỉ của tôi :

Lm. Jos. Nguyễn Hữu Triết
387 Lê Văn Sỹ, phường 2, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
Điện thoại : 38449497 – 0909721822

Quý độc giả muốn có thêm tài liệu
hoặc có thắc mắc, xin liên lạc :
Email : josnhtriet@gmail.com

------------------------

LỜI TÂM NIỆM

-  Lạy Đấng thiêng liêng Tối cao,
-  Lạy Đấng Tạo Hóa,
-  Lạy Đấng Tuyệt Đối,
-  Lạy Thượng Đế,
-  Lạy Ông Trời,

Chúng con đây là những thọ tạo đứng trên muôn vật trong vũ trụ. Chúng con đã được Ngài tạo dựng nên  giống  hình  ảnh  của  Ngài  là Thiên Chúa, vì chúng con có trí nhớ, có trí tuệ, có ý muốn, có tự do.

Chúng con luôn thao thức trước những vấn đề :

1.  Bởi đâu có vũ trụ này ?
2.  Bởi đâu có bản thân chúng con ?
3.  Đâu là mục đích của cuộc đời ?
4.  Chết rồi sẽ đi về đâu ?
5.  Làm điều thiện, ai sẽ thưởng công cho ?
(theo ai, thờ ai thì sẽ lãnh thưởng nơi người ấy, nếu người ấy to hơn Ông Trời)
6.  Làm điều ác, ai sẽ phạt tội ?
7. Ai sẽ thỏa mãn khát vọng hạnh phúc tuyệt đối của chúng con ?

Chúng con muốn đi tìm chân lý, tìm ý nghĩa đích thực cho cuộc đời. Xin Ngài soi trí mở lòng cho chúng con, để chúng con được tìm thấy Ngài, và được niềm vui gọi Ngài là Cha, như hơn 2 tỉ Kitô hữu trên thế giới – Amen.

(Tiến sĩ Phan Như Ngọc, Email : pnngoc@gmx.net – Trích Bài giảng Chúa nhật - TGM, số 4/2007, trang 74)

Tân Bình, ngày 21/10/2011

Lm. Giuse NGUYỄN HỮU TRIẾT

Về đầu trang

--------------------------------------------------------

Tập 9: Những suy nghĩ vẩn vơ:
TUYỆT ĐỈNH CỦA LUẬT CŨNG LÀ TUYỆT ĐỈNH CỦA BẤT CÔNG

Lm. Giuse NGUYỄN HỮU TRIẾT - 25/11/2011

(các trích đoạn Kinh Thánh lấy từ bản dịch do Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ thực hiện năm 2006)

LỜI ĐẦU

 Loài người được Tạo Hóa tác thành  hơn  và  khác  loài  vật  ở chỗ có lý trí và tự do.

 "Tự do là khả năng biểu lộ ý chí,  hành  động  theo  ý  muốn của mình"  (Đại Tự điển tiếng Việt – Hà  Nội  1999,  trang  1762),  đây  là quyền  căn  bản  của  mỗi  người. Có   tự   do   thì   cũng   có   trách nhiệm,   nghĩa  là  có  thưởng   và phạt   tùy  theo   lựa  chọn   đúng hay sai.

 Người viết tập này chỉ muốn trình  bày  sự  thật  mà  mình  đã cảm  nghiệm,   còn  quý  độc  giả đồng tình hay không, hoặc đồng tình   một   phần   nào   thì   hoàn toàn thuộc  quyền  tự do của quý vị.

"SUMMUM JUS, SUMMA INJURIA" (Tuyệt đỉnh của luật cũng là tuyệt đỉnh của bất công)

Ghi chú : giáo sư Nguyễn Văn Dương đã đề trên trang nhất cuốn sách Giáo Khoa Trong Tín Chỉ Văn Minh  Việt  Nam  tại  Đại  học  Văn khoa thời trước 1975 như sau : "Người Hy Lạp để lại cho nhân loại cái đẹp – Đạo Công giáo để lại cho nhân loại sự tôn trọng con người – Người La Mã để lại cho nhân loại cái tinh túy của luật pháp".

Cho tới hôm nay, hễ nói tới luật pháp thì phải nói tới người La Mã. Có thể nói các bộ luật trên thế giới đều có tham khảo luật La Mã.

Câu thành ngữ nêu trên phát xuất từ tinh thần duy luật pháp của người La Mã. Mới nghe ta có cảm tưởng đây là điều mâu thuẫn và phi lý, nhưng thực tế cho thấy câu trên chẳng mâu thuẫn và phi lý chút nào. Xin mời từng bạn đọc ngồi vào ghế Chánh án nhé.

1.  Câu  chuyện  Thánh  Kinh  1V 21,1–16 : Ông   Navốt   từ   chối,   không    chịu nhượng vườn nho của mình. Sau những sự việc đó, thì xảy ra chuyện ông Navốt người Gítrơen có một vườn nho bên cạnh cung điện vua Akháp, vua Samari. Vua Akháp nói với ông Navốt rằng : "Hãy nhượng vườn nho của ngươi cho ta, để ta làm vườn rau, vì nó ở ngay sát cạnh nhà ta. Để bù lại, ta sẽ cho ngươi một vườn nho tốt hơn, hay là, nếu ngươi muốn, giá bao nhiêu, ta sẽ trả bằng bạc". Nhưng ông Navốt thưa với vua Akháp : "Xin ĐỨC CHÚA đừng để tôi nhượng gia sản của tổ tiên tôi cho ngài !".

Vua Akháp và hoàng hậu Ideven

Vua Akháp trở về nhà buồn rầu và bực bội vì lời ông Navốt, người Gítrơen đã nói với vua : "Tôi sẽ không nhượng gia sản của tổ tiên tôi cho vua". Vua nằm trên giường, quay mặt đi, và không chịu ăn uống gì. Hoàng hậu Ideven đi vào, nói với  vua  :  "Tại  sao  tâm  thần  vua buồn  rầu,  và  vua  không  chịu  ăn uống gì như vậy?" Vua trả lời : "Tôi đã nói chuyện với Navốt người Gítrơen và bảo nó : Hãy nhượng vườn nho của ngươi cho ta mà lấy tiền, hoặc, nếu ngươi muốn, ta sẽ đổi cho một vườn nho khác. Nhưng nó lại nói : Tôi không nhượng vườn nho của tôi cho vua được. Bấy giờ hoàng hậu Ideven nói với vua : Vua cai trị Israel hay thật ! Mời vua dậy mà ăn cho lòng phấn khởi lên ! Thiếp sẽ tặng vua vườn nho của Navốt người Gítrơen".

Ông Navốt bị giết

Bấy   giờ,   bà   nhân   danh   vua Akháp viết thơ, rồi dùng con dấu của vua mà đóng ấn, và gửi cho các kỳ mục và thân hào cư ngụ trong thành với ông Navốt. Trong thơ bà viết rằng : "Hãy công bố một thời kỳ chay tịnh và đặt Navốt ngồi ở hàng đầu dân chúng. Hãy đặt hai đứa vô lại ngồi đối diện với nó, để chúng tố cáo nó : Ông đã nguyền rủa Thiên Chúa và đức vua. Và hãy đem nó ra ngoài ném đá cho chết".

Dân chúng, kỳ mục và thân hào cư ngụ trong thành làm theo lệnh bà Ideven như trong thơ bà đã viết gửi cho họ. Họ công bố thời kỳ chay tịnh và đặt ông Navốt ngồi ở hàng đầu dân chúng. Rồi có hai kẻ vô lại đi  vào,  ngồi  đối  diện  với  ông. Những  kẻ  vô  lại  ấy  tố  cáo  ông Navốt trước mặt dân rằng : "Navốt đã nguyền rủa Thiên Chúa và đức vua".  Họ  liền  đưa  ông  ra  ngoài thành và ném đá ông. Ông đã chết. Họ sai người đi nói với bà Ideven : "Navốt đã bị ném đá chết". Khi bà Ideven nghe biết ông Navốt đã bị ném đá chết, thì nói với vua Akháp: "Xin vua đứng dậy và chiếm đoạt vườn  nho  của  Navốt,  người Gítrơen, kẻ đã từ chối không chịu nhượng cho ngài để lấy tiền, vì Navốt không còn sống nữa, nó chết rồi". Khi nghe biết ông Navốt đã chết, vua Akháp đứng dậy, xuống chiếm  đoạt   vườn   nho   của   ông Navốt, người Gítrơen.

Nhận định

a. "Nước có quốc pháp (Hiến pháp), nhà có gia quy". Trong việc điều hành xã hội, luật lệ được coi là "cán cân công lý", xét xử đúng luật lệ được coi là công bằng, không đúng luật lệ là bất công. Ngay từ thời Môsê (thế kỷ 13 trước Công nguyên), dân Do Thái đã có bộ luật khá hoàn chỉnh, từ những việc lớn cho tới những việc nhỏ, tất cả đều được quy định rõ ràng, chi ly dựa trên các khoản luật : "Các ngươi nộp 1/10 bạc hà, hồi hương và thì là (rau thơm cải thiện bữa ăn) mà bỏ qua những điều hệ trọng  nhất  trong  pháp  luật  là công bằng, bác ái và trung tín" (Mt 23,23). Những nhóm Kitô giáo ly khai (với Công giáo) vẫn trung tín  với  luật  nộp  thuế  1/10  của Cựu  Ước.  Báo  Tuổi  Trẻ  ngày 19/10/2011, trong bài nói về Hội "Chờ Ngày Tận Thế" của H.Lộc và S.Bình, có đoạn như sau : "Chị ruột của bà H. (49 tuổi ở quận Tân Phú, Tp.HCM) theo lời xúi dục của nhóm  đã  rao  bán  căn  nhà  tại quận  4  với  giá  1,3  tỷ  đồng để đóng 130 triệu cho Hội (10%)".

Câu  chuyện  "Hai  lão  già  dê" trong sách Đaniel, chương 13, cho thấy  hai  lão  thông  luật,  lợi dụng triệt để luật nhân chứng để trả thù nàng Susana vì không chiều lòng họ. Thế nhưng Chúa đã cho tiên tri Đaniel (dù còn là con trẻ), phanh phui âm mưu độc ác của hai ông già đã cáo  gian Susana và  kết  quả  "gậy ông  đập  lưng  ông",  án  các  ông muốn xử Susana lại chính là án xử hai ông !

Trong cuộc xử án Chúa Giêsu, người ta cũng tận dụng luật nhân chứng : "Tuy có nhiều người làm chứng gian đến cáo, song không tìm được chứng nào cả. Sau cùng có  hai người làm chứng dối đến thưa rằng: Người này nói Ta có phép phá Đền thờ Thiên Chúa, rồi nội ba ngày sẽ kiến thiết lại … Thượng tế (hỏi cử tọa) : Các người nghĩ làm sao ? Họ trả lời : Y đáng chết".

b. Về  việc  làm  chứng,  luật  Môsê quy định : Một sự việc mà có hai người làm chứng thì được coi là sự thật, cứ chiếu theo luật mà xử

- "Phải xử tử kẻ sát nhân trước mặt các nhân chứng. Chớ luận tội  người  nào  với  chứng  minh của một nhân chứng" (Ds 35,30). "Phải theo lời hai hoặc ba nhân chứng mới được xử tử kẻ đáng phải chết, chớ giết ai khi chỉ có một nhân chứng" (Đnl 17,6 ; x. Mt 26,60).

c. Trong chuyện vua Akháp và ông Navốt, hoàng hậu Ideven đã khai thác triệt để khoản luật về nhân chứng  để  giết  ông  Navốt  cách hợp pháp, và Navốt trở thành nạn nhân của lề luật (nỗi oan chỉ Trời mới thấu).

Ôi Summum Jus, Summa Injuria !

2. Người lái buôn thành Venise – Vở kịch thời danh 5 hồi (1594) của nhà văn, nhà viết kịch thiên tài của nước Anh và thế giới qua mọi thời đại : Shakespeare (1564 – 1616).

-   Antonio – người lái buôn thành Venise  rất  giàu  có  và  thế  lực. Ông  có  những  tầu  buôn  lớn  ở Anh, Pháp, Ấn Độ, Mexico, Tripoli, Barbarie và nhiều nơi khác. Ông là người Cơ Đốc giáo (đạo Kitô hay Thiên Chúa giáo), có lòng nhân hậu và rất tốt với bạn bè, nhưng đố kỵ với tính bủn xỉn của những tên tài phiệt Do Thái.

-   Shylock – nhà tài phiệt Do Thái chuyên cho vay "cắt cổ", căm hận Antonio vì luôn bị ông này coi thường, miệt thị.

-   Bassanio  –   bạn   của   Antonio, nghèo kiết xác nhưng lại muốn chơi sang, lúc nào cũng mơ mộng muốn đến Belmont để "cua" một cô gái mồ côi rất xinh đẹp và đức hạnh, lại được thừa kế một gia tài kếch xù, tên nàng là Portia.

Bassanio buồn bã tâm sự với Antonio, nói lên khao khát cháy bỏng của mình, nhưng lại không xu dính túi. Antonio hứa giúp anh thực hiện giấc mơ, nhưng hiện thời tài sản của ông còn lênh đênh trên biển cả, rải rác khắp năm châu, chưa thu về được. Ông đã nhất trí với Bassanio kế hoạch vay lão Shylock tiền với sự bảo lãnh của Antonio. Đây chính là cơ hội ngàn năm một thuở để ông Shylock dạy cho Antonio, đối thủ không đội trời chung của ông một bài học nhớ đời :

-  Này, Bassanio, nghe nói chú định làm một chuyến du lịch thăm bà nào phải không ? Hôm nay, anh em mình trao đổi chuyện ấy nhé !

-  Chắc anh thừa biết tài sản em hầu như khánh kiệt vì những sự hoang phí vô độ. Em mắc nợ như chúa chổm, và em đã chịu ơn anh quá nhiều, tiền bạc cũng như tình thương mến. Giờ đây, em lại phải cầu cứu đến anh lần nữa, mới mong trang trải nổi mọi chi phí.

-  Tiền của anh cũng như của chú, bao giờ anh cũng sẵn lòng. Nào kể đi.

-  Ở Belmont có cô gái mồ côi rất giàu, nàng đẹp khôn tả và đức hạnh tuyệt vời. Đôi mắt nàng dường như đã ngầm trao lời ước hẹn với em. Nàng tên là Portia, tiếng  tăm  nàng  vang  dội  khắp nơi, nên gần xa nô nức, nhiều kẻ hâm mộ nàng tìm đến. Bên thái dương nàng, mái tóc hung óng ánh xõa xuống từng lọn như bộ lông cừu vàng. Như Jason1 hăm hở trên đường đến Colchide, những kẻ cầu hôn dập dìu đến 1 Bị chú là Pelias cướp ngôi vua, Jason đến đòi thì chú chàng hứa sẽ trao lại với điều kiện chàng phải đến Colchide lấy cho được bộ lông cừu vàng. Trong thần thoại "Những thủy thủ của con tàu Ácgô" của Hy Lạp cổ đại.

Belmont  để  mong  chinh  phục lòng nàng. Anh Antonio ơi ! Nếu em có đủ phương tiện đến đó tranh đua với họ. Cõi lòng em mách rằng, sự thành công chắc chắn sẽ mang lại hạnh phúc cho đời em.

-  Chú cũng biết hiện giờ tất cả cơ nghiệp của anh đều còn trên mặt biển  và  lúc  này,  anh  không có sẵn một số tiền lớn. Nhưng, anh có  nhiều  uy  tín  ở  Venise.  Nếu cần, anh sẽ dùng đến nó, để chú mày có vinh dự hiện diện ở Belmont, mà tán tỉnh cô nàng Portia xinh đẹp. Hãy dọ hỏi xem nơi nào cho vay tiền, anh cam đoan sẽ mượn đủ cho chú. Vay hỏi ai để có đủ tiền mặt, sắm sửa bộ cánh lịch sự cho một kẻ phong lưu quý phái ? Ai ? Nếu chẳng phải là ông chủ nhà băng giàu có, chuyên cho vay nặng lãi, lão Do Thái Shylock mà thiên hạ vẫn thấy rình rập cơ hội mỗi ngày trên cầu Rialto, xúng xính trong bộ áo rộng, vàng ệch, y phục bắt buộc của con dân Do Thái, đội cái mũ dạ hoặc lông thú, râu dài thậm thượt và tóc quăn tít lại. Bộ điệu xoàng xĩnh  như  thế,  nhưng  lãi  có  bạc triệu. Nhà lão nằm trong khu xóm nhớp nhúa, cứ tối đến là xích chặt lối vào, che mắt thiên hạ vô vàn báu vật : kim cương, châu ngọc quý giá và một cô gái đẹp, cô bé Jessica đỏm dáng. Cô ả láu lỉnh, đã biết cách kết giao với chàng quý tộc cơ đốc Lorenzo, kẻ đã nhìn thấy nàng qua khung cửa sổ, mở xuống dòng kinh. Lão Shylock thù ghét và hoài nghi  tất  cả  những tín  đồ  cơ  đốc giáo, lại vừa khinh bỉ họ. Khi Bassanio đề cập đến chuyện vay tiền, Shylock xin được suy nghĩ lại :

- Ba nghìn đuy-ca (đồng tiền bằng vàng), thưa ngài Bassanio. Phải thế không ?

-  Đúng  thế.  Trong  thời  hạn  ba tháng.

-  Trong ba tháng à ? Tốt !

-  Như tôi đã nói, Antonio sẽ đứng ra đảm bảo số tiền đó.

-  Antonio đảm bảo à ? Tốt.

-  Ông có thể giúp tôi không ? Ông có thỏa mãn tôi không ? Kìa, sao ông không trả lời ?

-  Ba nghìn đuy-ca, trong ba tháng với sự đảm bảo của Antonio. Antonio tốt lắm !

-  Thế nào ? Có bao giờ ông nghe nói khác về ông ta đâu ?

-  Không, không. Thế này nhé ! Khi tôi nói rằng ông ta tốt, tôi nghĩ là ông ta dư sức trả nợ, tuy nhiên sản nghiệp của ông ta bấp bênh quá : ông ta có một chiếc tàu cất hàng đi Tripoli, một chiếc khác bên Ấn Độ ; trên cầu Rialto, tôi được biết ông ta có một chiếc thứ ba ở Mexico, chiếc thứ tư ở bên Anh và nhiều chiếc khác nữa rải rác  thật  xa.  Nhưng  mấy  chiếc tàu, xét cho cùng, chỉ là những mảnh ván, và thủy thủ chỉ là những con người. có chuột đồng thì cũng có chuột nước, trộm cạn và trộm biển, tôi muốn nói lũ hải tặc ấy mà, không kể những hiểm nguy trên đại dương, bão tố, đá ngầm. Song le, người ấy dư sức trả đủ. Ba nghìn đuy-ca. Tôi nghĩ sự đảm bảo của ông ta có thể chấp nhận được. Tôi sẽ tính lại. Tôi có thể trao đổi với ông Antonio không ?

-  Nếu ông vui lòng đến dự cơm tối với chúng tôi. Bassanio đáp, lòng mừng khấp khởi, quên mất vẻ khinh thị chàng vẫn dành cho lão trước đây.

- Sao, để ngửi mùi thịt lợn à ! – Shylock  hét  lên  giận  dữ  -  Tôi thích mua bán với các người, bàn chuyện với các người và làm các thứ khác. Nhưng tôi không muốn ăn uống cùng các người, cầu nguyện  cùng  các  người.  Mà  ai đến kia nhỉ ?

-  Chắc hẳn là Antonio – Bassanio đáp.

-  Hắn ta có vẻ đạo đức giả quá ! – Shylock lầm bầm trong miệng. Ta ghét hắn ta, chỉ vì hắn là tín đồ cơ đốc, nhưng cũng vì hắn cho vay không lấy lãi, làm hạ phân suất lãi ở Venise. Nếu ta nắm được hắn  trong  tay,  ta  sẽ  mặc tình thao túng cho bõ ghét. Hắn nhạo báng ta, chuyện làm ăn của ta, và những món lợi ta thu được một cách chân chính. Mẹ kiếp ! Ta mà tha hắn thì trời đày bộ tộc ta đi !

-  Ông nghe tôi nói chứ, Shylock ?

-  Tôi đang nhẩm tính các số vốn có sẵn và thấy chắc phải mượn thêm phần nào của gã Do Thái trong bộ tộc tôi. Nhưng ngài hãy yên lòng – lão hướng về Antonio nói tiếp – Ba nghìn đuy-ca trong ba tháng ! Tính thử tiền lời xem nào.

-  Thế là chúng tôi có thể trông cậy vào ông, phải không, Shylock ? – Antonio hỏi gặng.

-  Thưa ngài Antonio, biết bao lần, trên  cầu  Rialto,  ngài  đã  trách móc tôi cho vay nặng lãi, lần nào tôi cũng nhún vai không buồn trả lời, vì sự nhẫn nhục là đặc tính riêng của  dân tộc tôi. Ngài đã cho  tôi  là  phản  giáo, chó  ghẻ, ngài nhổ toẹt vào áo chùng Do Thái của tôi, tất cả chỉ vì tôi toan tính theo ý mình, những cái thuộc về tôi. Nhưng hôm nay, hình như ngài cần đến tôi và ngài phán : "Shylock, chúng tôi cần tiền". Lời ngài sao mà ngọt ngào, thế mà chính ngài đã nhổ vào râu tôi, đạp vào người tôi, như đạp một con  chó  hoang,  lởn  vởn  trước cửa nhà ngài. Hẳn tôi phải trả lời ngài : "một con chó có tiền không thưa ngài ? Chó mà có thể cho ngài vay ba nghìn đuy-ca à ? Hay tôi  phải  cúi  gập  người  xuống chân  ngài  và  khép  nép  thưa  : Bẩm  ngài  nhân  từ,  thứ  tư  rồi, ngài khạc vào mặt tôi, ngày kia, ngài đấm đá tôi túi bụi, một lần khác, ngài mắng tôi là đồ chó ; đáp lại những cách đối xử dịu dàng  đó,  tôi  rất  lấy  làm  vui sướng được cho ngài vay thật nhiều tiền !".

-  Nếu ông cho ta vay số bạc đó – Antonio  ngạo  mạn  nói  –  đừng xem như cho một người bạn vay mà cứ cho là như với kẻ thù. Như thế,  nếu  ta  trễ  hạn,  ông  sẽ  có được cái thích thú đưa ta ra pháp luật.

-  Tatata ! Ngài lại nổi nóng rồi !

Tôi bao giờ cũng ao ước được là bạn các ngài ! được các ngài ưu ái, và quên hết mọi nỗi nhục nhã trước  công  chúng,  mà  ngài  đã gây ra, cung phụng cho yêu cầu hiện tại của ngài, và tất cả chẳng tính một xu lời. Ngài nghĩ sao về đề nghị của tôi ?

- Nó  có  vẻ  lương  thiện  đấy, Antonio trả lời sửng sốt.

- Vậy thì ngài hãy cùng tôi đến phòng chưởng khế ký giấy tờ, có điều - Ồ ! hoàn toàn để vui đùa thôi ! – Tôi sẽ ghi vào văn bản rằng, nếu ngài không hoàn đủ lại tôi món tiền đó, tại nơi nào, vào ngày nào, ngài sẽ được xóa sạch nợ, thì để tôi xẻo một khoảnh thịt chỉ bằng một livre (một đơn vị đo trọng lượng gần bẳng nửa kilô) thôi, trên phần nào của cơ thể ngài mà tôi thích !

-  Sẵn  lòng,  Antonio  nói,  tôi  còn cho rằng người Do Thái thật tốt bụng !

-  Anh không thể ký mảnh giấy như thế để giúp đỡ em, Bassanio xúc động, phản đối. Thà cứ để mặc em thiếu thốn còn hơn.

-  Bậy nào ! Đừng lo gì cả. Tàu sẽ cập bến một tháng trước khi mãn hạn giao kèo và sẽ mang đến cho anh chín lần giá trị tờ giấy này.

-  Thánh Abraham ơi !  –  Shylock tức giận cầu khẩn – Ngài thấy bọn tín đồ Thiên Chúa giáo đấy ! Tôi sẽ được gì nào, khi đòi hỏi điều kiện kia ? Một livre thịt, lấy ra từ một người, nào có đáng giá bằng ngần ấy thịt cừu, thịt bò hay thịt dê. Điều tôi làm chính là để mua ân phúc của Ngài đấy, Abraham ạ !

-  Được rồi, Shylock, ta sẽ ký giấy.

-  Nếu thế, cứ đến chờ tôi ở phòng chưởng khế, tôi tạt qua nhà, lấy tiền và sẽ gặp lại ngài trong giây lát.

Những  thương  nhân  ở  Venise, chẳng mấy động lòng vì cơn điên giận của Shylock : họ xầm xì với nhau về tin đồn : một chiếc tàu của Antonio vừa bị đắm ở một chỗ cạn hiểm nghèo, giữa eo biển cách biệt hai  nước  Pháp  và  Anh.  Những chiếc tàu khác ở Mexico, Tripoli, Barbarie và Ấn Độ thì bặt tin tức. Rồi họ bàn tán cãi vã về sự phá sản có cơ xảy ra. Shylock đâm khùng vì giận tủi, phun ra toàn những lời dữ tợn :

- Tên Antonio khốn kiếp ! quen miệng khoe khoang ngoài phố lại gọi ta là thằng cắt cổ thiên hạ ! Hãy coi chừng tờ giấy nợ. A ! Hắn  cho  vay  không cần  lãi,  vì lòng nhân ái cơ đốc giáo ! Liệu mà coi chừng tấm giấy nợ !

-  Nhưng dù cho hắn có khánh tận đi nữa – có người vặn lại – ông cũng sẽ chẳng lóc thịt hắn. Ích gì nào ?

-  Để  làm  mồi  cho  cá  –  Shylock cười khảy – Nếu thịt của hắn chẳng nuôi được gì hơn, thì nó nuôi mối hận của tôi. Hắn cười cợt những lần tôi thua lỗ, hắn chế nhạo các món lợi của tôi, hắn nhục mạ xứ sở tôi, hắn chen vào cuộc làm ăn của tôi. Vì lý do nào chứ ? Chỉ vì tôi là một người Do Thái. Chẳng lẽ người Do Thái lại không có mắt, có tay, có đầy đủ giác quan với mọi thứ tình cảm và  những  nỗi  say  mê  à  ?  Họ chẳng  ăn  cùng  một  loại  thực phẩm như người Cơ đốc hay sao?  Chẳng  phải  người  Do  Thái cũng bị thương tích bởi cùng những loại vũ khí, cũng mắc phải những căn bệnh và được chữa trị bằng những vị thuốc giống như người Cơ đốc đó sao ? Chẳng phải mùa hè người Do Thái cũng nóng bức, mùa đông cũng lạnh buốt y như các tín đồ Cơ đốc đó sao ? Nếu các người đâm, chúng tôi không chảy máu à ? Nếu các người cù, chúng tôi không cười à? Các người đầu độc, chúng tôi không chết à  ?  Nếu  các  người xúc phạm chúng tôi, chúng tôi lại không trả thù à ? Nếu các người giống chúng tôi những cái đó, thì bất  luận cái  gì  chúng tôi  cũng giống  các  người  hết.  Kìa,  anh bạn Tubal, có tìm thấy con gái tôi không ?

-  Tôi đã nghe nói nhiều về cô gái ấy, nhưng chẳng làm sao gặp được, bác Shylock ạ !

-  Chưa bao giờ - Shylock kêu lên – chưa bao giờ dân tộc ta lại đáng nguyền rủa như hôm nay ! Hai nghìn đồng đuy-ca và biết bao tư trang quý giá của tôi ! Tôi muốn thấy đứa con gái ngỗ nghịch gục chết dưới chân, tai còn đeo nữ trang. Sao nó chẳng bị chôn vùi dưới  chân  tôi  với những  đồng đuy-ca của tôi trong quan tài của nó. Chẳng biết tôi còn phải hao tốn  bao  nhiêu nữa  mới  tìm  ra được nó. Thật là họa vô đơn chí ! Chẳng chút thỏa nguyện ! Mà cũng   chẳng báo   được   thù   ! Chẳng có tiếng thở than nào như tiếng than thở của ta, chẳng nước mắt nào như nước mắt của ta !

 -  Còn  nhiều  kẻ  khác  đau  khổ  - Tubal an ủi – lão Antonio, theo như tôi biết ở Gênes …

-  Gì thế ! Một tai họa ? Một tai họa thảm khốc à ?

-  Lão   ta   vừa   mất   chiếc   tàu   từ Tripoli về.

-  Tạ ơn Chúa ! Có thật không đấy ? Ối ! tin đáng mừng !

-  Thiên hạ đồn rằng ở Gênes, con gái ông tiêu phí trong một đêm tám mươi đồng đuy-ca.

-  Ngươi cắm dao găm vào ngực ta đó  !  Ối  !  Chẳng  bao  giờ  còn được thấy lại vàng của ta !

-  Tôi vừa tới Venise – Tubal nói tiếp   –   với   các   chủ   nợ   của Antonio, họ quả quyết rằng hắn chỉ còn cách tuyên bố phá sản thôi.

-  Thật hả dạ. Ta sẽ làm cho hắn đau đớn. Ta sẽ hành hạ hắn.

-  Có kẻ đưa cho tôi xem chiếc nhẫn mà con gái ông đánh đổi với y để lấy một chú khỉ.

-  Con đốn mạt ! Đó là chiếc nhẫn lam ngọc của ta. Ta mua hồi thời còn trẻ. Ta chẳng bao giờ chịu mất nó, dù để lấy cả một sa mạc đầy những khỉ.

-  Chắc  chắn  lão  Antonio  sẽ  bị khánh kiệt.

-  Thông  báo  ngay  cho  một  viên quan tư pháp, trước mười lăm ngày.  Nếu  hắn  không  trả  được nợ, ta sẽ lóc tim của hắn. Nếu hắn trốn khỏi Venise, ta sẽ tiến hành mọi việc theo ý ta. Nào nhanh lên, Tubal, rồi trở lại gặp ta. Đi đi, bạn chí thiết của ta !

Thời gian trôi qua, kỳ hạn đã tới. Antonio không trả được nợ, nhưng Bassanio đã chiếm được Portia. Chính đang lúc tràn trề hạnh phúc, tin tức về nguy cơ của người bạn đã nổ ra. Lorenzo trình diện với Portia cô vợ mới cưới Jessica, và trao cho Bassanio một lá thư khiến anh tái mặt khi đọc qua. Portia, người vợ yêu thương và quả cảm, đã ngăn lại những lời chúc mừng của các bạn mới đến, và tỏ ra lo lắng về nỗi khốn quẫn của chồng.

- Này Portia hiền dịu – Bassanio thành thực tỏ bày – anh có nói khi ngỏ lời yêu em, rằng anh là một vương tôn, nhưng tài sản duy nhất của anh là dòng máu lưu thông trong huyết quản. Anh là thằng bịp, vì của cải anh chẳng đáng đồng xu ! Anh bạn hiền từ, quảng đại Antonio của anh đã tự khép mình dưới quyền lực một kẻ thù hiểm ác nhất của anh ấy đã yểm trợ cho anh.

Thư này báo tin vụ thất lạc tàu bè của anh ấy, còn tên Do Thái từ chối không nhận tiền, trị giá tờ giấy nợ, vì trễ hạn. Hai mươi thương gia, bạn của Antonio, cả vị đại thống lĩnh (Doge : người đứng đầu nhà nước cộng hòa Venise và cộng hòa Gênes do bầu cử) nữa và các bạn nhân sĩ, đã hết lời thuyết phục lão, nhưng vô ích. Lão nói lão thích một livre thịt của Antonio hơn là hai mươi lần số nợ. Chỉ nghĩ đến đó, Portia đã kinh khiếp rụng rời.

-  Anh ấy nợ lão Do Thái bao nhiêu ?

– nàng hỏi.  Ba nghìn đuy-ca, vay cho anh.

-  Sao ? Không hơn à ? Hãy trả lão sáu nghìn, gấp hai, gấp ba lần còn hơn là phải thấy người bạn thân thiết mất đi, dù chỉ một sợi tóc. Bassanio ạ ! Chúng ta hãy đến  nhà  thờ  ngay,  chịu  phép cưới, để em chính thức là vợ anh, rồi anh hãy tức tốc trở về Venise. Em sẽ đưa anh đủ vàng để trả gấp hai mươi lần món nợ cỏn con ấy. Nhanh lên, anh thân yêu, hãy lên đường.

Lễ cưới vừa xong, Bassanio lên xe và ra đi, Portia, chẳng nói với ai lời nào, đã ngẫm nghĩ ra giải pháp. Giao   biệt   thự   cho   Lorenzo   và Jessica trông nom, nàng bảo rằng sẽ rút vào tu viện để chờ đợi chồng về.

Ta gặp lại Bassanio bên cạnh Antonio, trước phiên tòa trang nghiêm, dưới quyền chủ tọa của vị Đại thống lĩnh. Người ta đưa Shylock vào và vị Đại thống lĩnh liền đi ngay vào vấn đề, vừa giả vờ tin chắc rằng lão Do Thái chẳng thiết gì đến việc thưa kiện Antonio để đòi hỏi việc trả nợ vô nhân đạo, như đã ghi trong giấy. Shylock chẳng  chút  bận  tâm  gì  đến  tình cảm. Lão chỉ cần biết lão có đủ quyền không ? Nếu lão vẫn thích được một livre thịt thay vì ba nghìn đuy-ca, hay sáu nghìn do Bassanio đưa, hay thậm chí sáu lần số tiền sáu nghìn đó, thì luật pháp ở Venise có quyền chống lại không ? Đó là câu hỏi duy nhất lão đặt ra trước tòa.

Đại thống lĩnh cho đòi nhà thông thái, cố vấn pháp luật nổi tiếng Bellario, để giải quyết vấn đề hóc búa này. Người ta nóng lòng chờ ông. Ngay lúc đó, trong khi Antonio cam chịu, xin cứ để lão Do Thái thỏa  mãn  thù  hận  và  Shylock thì mài con dao sắc. Người ta loan báo có một sứ giả từ Padoue đến, mang theo lá thư của vị bác học. Một viên thư ký luật sư mặt non choẹt dưới chiếc mũ vải đen gấp nếp, bước vào trình thư lên Đại thống lĩnh.

-  Ngài Bellario –  Đại thống lĩnh tuyên bố - tiến cử trước tòa một nhà bác học trẻ, đồng nghiệp của ngài. Ông ấy đâu ?

-  Gần  đây  thôi,  đang  chờ  Đức Ngài phúc đáp – viên thư ký kính cẩn thưa, và chúng ta nhận ra viên thư ký đó chính là cô hầu Nérissa.

- Cho mời vào, nhà bác học Balthazar sẽ thay thế Bellario, hiện lâm bệnh. Chưa bao giờ người được thấy một nhà bác học uyên thâm mà lại trẻ măng như thế này. Ông ấy kia ! Xin chúc mừng. Mời  tôn  ông  an  vị.  Tôn ông đã có thẩm cứu vấn đề làm bận trí phiên tòa hôm nay rồi chứ ?

-  Tôi biết rõ vụ kiện trong từng chi tiết  –  Balthazar nói,  giọng  sao giống giọng của Portia đến kỳ lạ

- Ở đây, ai là lái buôn và ai là người Do Thái ?

-  Antonio và Shylock, cả hai đến gần đây.

-  Shylock, ông đã khởi tố trước tòa một  vụ  kiện  lạ  lùng  hy  hữu, nhưng ông đã làm đúng thủ tục đến   nỗi   pháp   luật   ở   Venise, không thể nào ngăn cản ông đeo đuổi vụ kiện. Còn ông, Antonio, ông có nhìn nhận giấy nợ này không ?

-  Tôi thừa nhận, người lái buôn trả lời, giọng uể oải.

-  Như vậy thì người Do Thái này phải  có  lòng  khoan  dung  mới được.

-  Nhưng ai có quyền buộc tôi phải khoan dung kia chứ ?

-  Không  thể  cưỡng  ép  sự  khoan dung được, ông Shylock ạ. Như cơn mưa ấm trên cánh đồng, nó rơi xuống để mang lại hạnh phúc cho  kẻ  nhận,  cũng  như  người cho. Đó là một trong những biểu hiện của Thượng đế. Ông nghĩ xem, nếu không có khoan dung, chẳng có ai trong chúng ta mong được cứu rỗi. Hãy giảm bớt tính nghiêm  khắc  trong  lời  truy  tố, nếu ông cứ cương quyết, buộc lòng pháp đình phải nghị án, chống người lái buôn.-  Tôi chịu trách nhiệm hoàn toàn về hành động của tôi, tôi yêu cầu pháp luật.

-  Antonio lâm vào tình trạng không trả nổi nợ à ? – Balthazar dò hỏi.

-  Sao  ?  Bassanio nóng nảy  chen vào. – Tôi xin trả cho Shylock, có cả phiên tòa chứng kiến, hai lần, mười lần số nợ. Hiển nhiên ở đây sự độc ác đang bóp chết sự vô tội. Tôi xin khẩn thiết thỉnh cầu các ngài, hãy đặt pháp luật dưới uy quyền các ngài. Xin hãy chọn một  bất  công  nhỏ  để mang  lại một  sự  công  bằng  cao  cả.  Xin hãy bác lời yêu sách của con quỷ độc ác kia.

-  Không   một   quyền   lực   nào   ở Venise, - Balthazar trịnh trọng nói, - có thể sửa đổi một sắc lệnh đã ban hành.

-  Chính một Đaniel2 đến đây phán xử chúng ta, Shylock kêu lên, hồ hởi. Ôi, vị pháp quan trẻ trung và sáng suốt, xin được kính cẩn nghiêng mình bái phục tôn ông.

-  Đưa văn tự ta xem.

-  Đây ạ, thưa nhà bác học vô cùng đáng kính.

-  Này, Shylock, người ta  trả  ông gấp ba lần số nợ nhé !

2 một nhân vật chính quyển Thánh Kinh cùng tên. Bị lưu đày ở Babylon, ông một mực tuân hành pháp luật. Ông được xem như tiền thân của Đấng Christ và nhà tiên tri đại tài nhờ khoa đoán mộng.- Tôi đã      trót    thề     với     trời    đất. Chẳng lẽ lại để lương tâm phải ray  rứt  vì  sự  bội ước.  Dù cho được cả Venise, tôi sẽ chẳng bao giờ làm thế. Khi giấy nợ được thanh toán đúng như điều kiện trong đó, tôn ông có thể xé bỏ. Tôn ông là một quan tòa công minh, tôn ông đã trần thuật chính xác xự việc của tôi. Nhân danh luật pháp, tôi yêu cầu tôn ông phán quyết ngay.

-  Tôi khẩn thiết van nài quý tòa cứ tiến hành xét xử, Antonio đáng thương, nhẫn nại lên tiếng.

-  Vậy thì – Protia (kẻ hóa thân bác học Balthazar) hạ lệnh với vẻ buồn bã – ông chuẩn bị đưa ngực ra mà nhận nhát dao.

-  Ồ ! Vị thẩm phán cao quý ! Ồ !

Người trai trẻ tài ba. Ôi ! Bậc thánh hiền, liêm khiết ! Tôn ông già giặn hơn là vẻ mặt bên ngoài. Văn tự đã ghi rõ. Ngực hắn ! Gần sát bên tim hắn. Chữ nghĩa thật minh bạch.

-  Ông có sẵn cân ở đấy chứ, để cân thịt ?

-  Tất cả đã sẵn sàng – Shylock vội vã nói.

-  Và một chuyên viên phẫu thuật do ông đài thọ chi phí, để băng vết thương lại, vì e rằng con nợ của ông sẽ chết vì mất máu.

-  Điều ấy không hề ghi trong văn tự. Tôi cố tìm nhưng chẳng thấy điều đó trong văn tự.

-  Tôi đã  sẵn  sàng  và  có  đủ  can đảm. – Antonio cất giọng ảo não. Bassanio,  đưa  tay  đây  !  Đừng sầu khổ làm gì, định mệnh đã muốn anh thoát khỏi nỗi nhọc nhằn và ray rứt của tuổi già. Hãy kể với người vợ cao quý của chú về anh, nói với nàng anh đã thương mến chú biết bao. Anh bằng lòng trả cho lão Do Thái tất cả máu của tim anh.

-  Anh Antonio ơi – Bassanio cuống cuồng hét lên – em đã cưới được một người vợ mà em yêu quý hơn cả cuộc đời em, nhưng em bằng lòng mất tất cả, vợ em, đời em và cả thế gian này để giải thoát anh khỏi con quỷ khát máu kia.

-  Vợ nhà ngươi – Portia dịu dàng nói – chắc chẳng ơn ngươi chút nào, nếu nàng nghe ngươi nói.

-  Tôi cũng rất yêu vợ tôi – Gratino phụ họa thêm – Nhưng tôi muốn thấy nàng trên trời để nàng có thể cầu xin đấng vạn năng nào đó làm động lòng tên Do  Thái ác độc này.

-  Ngươi  nói  thế  trong  lúc  vắng nàng là đúng – Nérissa cất giọng khô khan, lãnh đạm – nếu không, ước  nguyện  của  ngươi  chắc  sẽ gây  sóng  gió  trong  gia  đình người đó.

-  Chúng ta mất quá nhiều thời giờ !

– Lão Shylock cắt ngang – Tuyên án đi, tôi van tôn ông.

-  Một livre thịt thuộc về ông ! Tòa án đã tuyên xử, luật pháp cho phép ông. Và ông phải xẻo giữa ngực.

-  Ồ ! Quan tòa công minh ! Quan tòa  thông  thái  !  Đó  là  phán quyết. Nào, chuẩn bị đi.

-  Khoan đã. Chưa hết đâu. Văn tự không chấp nhận cho một giọt máu nào cả : lời lẽ thật rõ ràng. Hãy nhận cái gì thuộc về  ông, một livre thịt, nhưng nếu ông làm rơi một giọt máu Cơ đốc, luật pháp ở Venise sẽ truyền lệnh tịch thu toàn bộ tài sản của ông cho Nhà nước cộng hòa.

-  Ồ ! Vị thẩm phán công minh ! – Gratiano thở ra nhẹ nhõm, trút bỏ được mối ưu tư – Này lão Do Thái ! Quan tòa thông thái đấy chứ !

-  Luật pháp thế à ! – Shylock kinh hoàng, hỏi lại – Nếu thế, tôi xin nhận số tiền của hắn. Ba lần số nợ, rồi cứ mà tha cho tên Cơ đốc.

- Thong thả đã ! Portia nói với Bassanio (chực đưa tiền ngay cho Shylock) – Chớ hấp tấp ! Những điều  khoản  trong  văn  tự  phải được thực hiện từng chữ.

-  Ồ  !  Lão  Do  Thái  !  Quan  tòa thông  minh  thật  !  –  Gratiano nhấn mạnh.

-  Chuẩn bị cắt thịt đi. Đừng cho rơi máu đấy. Nếu người cắt quá hay kém một livre, dù chỉ bằng một phần hai mươi hột thóc hay sức nặng một sợ tóc, ngươi phải chịu tử hình và tài sản bị tịch thu.

-  Một Daniel thứ hai, lão Do Thái ơi, đúng là một Daniel !

-  Trao cho tôi phần nợ chính để tôi đi, Shylock hầm hừ.

-  Đương sự đã từ chối trước tòa – Portia dõng dạc nói. – Hắn sẽ nhận được những gì hắn xứng được như vậy. Hắn phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về hành động của hắn.-  Sao cơ ? Tôi không được cả phần nợ chính nữa à ? Thế thì để quỷ ma trả cho hắn tờ giấy nợ. Tôi chẳng muốn lưu lại đây làm gì mất cả thì giờ.

- Khoan đã. Shylock ! Luật pháp Venise quy định rằng, nếu một người ngoài xâm phạm đến tính mạng một công dân, dù dưới hình thức nào, phân nửa tài sản kẻ đó phải giao cho đối thủ hắn, phân nửa kia sung vào công quỹ. Chỉ có Đại thống lĩnh mới có quyền ân xá tội chết. Ngươi đã phạm các tội đã viện dẫn. Hãy quỳ xuống mà thỉnh cầu sự khoan dung của Đại thống lĩnh.

-  Để  ngươi hiểu  rõ  sự  khác biệt giữa tâm hồn chúng ta – Đại thống  lĩnh  phán  với  lòng  bao dung – ta không đợi ngươi cầu xin rồi mới ban cho ngươi mạng sống.  Phân  nửa  tài  của  ngươi giao thẳng vể Antonio, còn phân nửa kia, nhà nước sẽ chỉ thu tiền phạt,  nếu  ngươi  chấp  hành nghiêm chỉnh.

-  Xin lấy cả mạng sống tôi đi – lão Do Thái ủ rũ nói – Đức Ngài lấy đi  mọi  phương  tiện  mưu  sinh, khác nào Đức Ngài lấy đi mạng sống của tôi.

-  Xin cứ để lại cho lão phân nửa gia sản – Antonio hào hiệp nói. – Tôi đủ  hài  lòng  rồi.  Phân nửa kia, tôi xin được quyền lấy làm của hôi môn cho con gái lão.

- Tôi bằng lòng – Shylock cuống quýt, hả hê vì lại thoát nạn dễ dàng đến thế. Nhưng cho phép tôi lui. Cứ gởi giấy tờ đến nhà, tôi ký tất. Tôi cảm thấy trong người không được khỏe.

-  Xin Đức Ngài miễn thứ cho – bấy giờ Balthazar mới lên tiếng cáo từ Đại thống lĩnh. – Ngay tối nay, tôi phải về đến Padoue.

-  Cho phép tôi được trả thù lao tôn ông bằng tất số ba nghìn đuy-ca tiền nợ của lão Do Thái, - Bassanio, vui mừng quá đỗi, bèn đề nghị.

-  Cứu được ông bạn ông là tôi mãn nguyện lắm rồi. Nhưng nếu ông cứ khăng khăng đòi đền ơn đáp nghĩa,  hãy  trao  tôi  chiếc  nhẫn ông đang đeo trên tay, để chứng tỏ chút thâm tình.

-  Ơ kìa ! Có đáng gì đâu, cái món vật  này.  Tôi  sẽ  cho  tìm  chiếc nhẫn đẹp nhất Venise để kính dâng tôn ông. Còn cái này, mong tôn ông vui lòng miễn thứ.

-  Tôi  thấy  rõ  ông  chỉ  rộng  rãi trong lời hứa, nhưng thôi được, thưa  ông.  Chúc ông  được bình an.

 Portia bước đi với vẻ đường hoàng, nhưng hơi phật ý. Antonio áy náy, tha thiết van nài Bassanio : ta  chẳng làm được gì  để  đền  ơn xứng đáng cho vị cứu tinh của mình sao ? Đến nỗi Bassanio ríu ríu cởi nhẫn trao cho tên hầu Gratiano mang đến cho nhà thông thái Balthazar, rồi hồi hộp nghĩ đến lúc về đến Balmont.

 Trong khu vườn vằng vặc ánh trăng, tiếng nhạc êm dịu từ lâu đài vẳng  đến  :  người  ta  đang  chờ Portia vì nàng có báo trước ngày về. Đôi vợ chồng son, Jessica và Lorenzo, ngồi trên thảm cỏ nhung, nhìn bầu trời lấp lánh muôn sao, vừa đùa nghịch nhau, vừa nhớ lại những chuyện tình đẹp nhất, rồi Lorenzo say sưa giải thích cho Jessica nghe về sự hài hòa giữa các tinh cầu và mớ lý thuyết về âm nhạc của anh. Chính lúc đó, Portia bắt gặp họ. Suốt quãng đường về, mỗi lần gặp một mô đất có dựng thập tự, nàng đều thành tâm quỳ xuống, cầu nguyện xin trời ban phúc cho cuộc hôn nhân của mình.

 Khoảnh khắc sau đó, Bassanio về tới, giới thiệu anh bạn Antonio với vợ, được nàng đón tiếp thật ân cần, nồng hậu. Buổi tiệc hội ngộ bỗng gián đoạn vì những lời qua tiếng lại, dấm dẳng giữa Nérissa và Gratiano : họ to tiếng và ta nghe Nérissa kịch liệt đòi lại chiếc nhẫn cô đã trao cho Gratiano mà anh chàng thề thốt sẽ giữ mãi. Thế mà giờ  đây  anh  chàng  lại  bảo  rằng biếu nó cho viên thư ký của nhà bác học Belthazar, để đền đáp công lao khó nhọc.

 Portia nghiêm nghị lắc đầu :

-  Gratiano, cậu  thực đáng  trách, cậu đã xử sự nông nổi đối với kỷ vật  đầu  tiên  của  vợ  mình.  Ta cũng có tặng ngài Bassanio của ta một chiếc nhẫn, và ta có thể thể  nói  thay chàng rằng  chẳng bao giờ chàng lại chịu để mất nó vì bất cứ cái gì trên đời.

-  Ấy đấy, - Gratiano kêu lên, quá mừng rỡ vì đã có dịp tự biện hộ - chính ngài đã tặng cho bác học Belthazar chiếc nhẫn ; kể ra ông ấy cũng rất xứng đáng, vả chăng, ông ta chẳng chịu nhận cái gì khác cả.

Bassanio rụng rời, loay hoay tìm đủ cách bào chữa, giải thích hoàn cảnh éo le của mình, nhưng Portia kiêu hãnh, lạnh lùng, chẳng muốn nghe gì cả. Antonio quá khổ sở, vì chính mình là nguyên nhân của mối bất hòa, muốn làm trung gian hàn gắn hai người. Portia giả vờ xiêu lòng và nhờ anh trao lại cho Bassanio chiếc nhẫn khác. Lần này Bassanio rối rít thề thốt, quyết gìn giữ nó đến hơi thở cuối cùng. Khỏi phải nói, hắn ta cũng biết rằng, Bassanio đã  nhận ra  chiếc nhẫn, còn Portia nói rõ trò giả trá và vai trò của mình trong việc bảo vệ cho Antonio : Nérissa và Gratiano, những nô bộc trung tín, đã vui vẻ giảng  hòa  và  đêm  tàn  theo  tiệc cưới, trước đây đã bị đình hoãn vì câu chuyện bi thảm của người lái buôn thành Venise.

 (Trích đoạn "Người lái buôn thành Venise, nguyên tác : Le Marchant de Venise của đại văn hào Shakespeare, bản dịch của Nguyễn Bích Như và Trương Tùng, Hội Văn Học Nghệ thuật Quảng Nam – Đà Nẵng, xuất bản năm 1986)

Nhận định

a. Summum Jus ở đây là tinh thần thượng tôn pháp luật cách tuyệt đối : "Án tại hồ sơ", không sai một chấm một phảy trong luật pháp. Quan tòa đã phán : "Không quyền lực nào có thể thay đổi những điều đã quy định trong luật".

Lão Shylock cũng chỉ đòi có thế thôi, nên ông đã không chấp nhận khoản đền bù vì sai hẹn lên tới 9, 10 lần. Ông còn tuyên bố đổi cả thành Venise này để du di hợp đồng ông cũng không chịu, "luật là luật, cái gì đã viết là viết" (Ga 19,22). Đây là cơ hội Shylock trả thù Antonio cho danh dự của mình và dân tộc mình hơn là vụ kiện về tiền bạc.

b. Summa Injuria ở đây lại chính là sự bất công mà Shylock phải chịu khi quan tòa cứ đúng hợp đồng mà xử. Khi thấy đuối lý, Shylock năn nỉ xin lại chút tài sản của mình, mọi chuyện cho qua hết cũng không được. Thế là ông mất trắng 3000 đồng vàng, may mà Antonio còn "bác ái" dành nửa phần  gia  tài  của  lão  chủ  ngân hàng keo kiệt làm của hồi môn cho con gái lão, chứ nếu "thẳng thừng" ra thì lão mất hết, kể cả cái mạng già của lão. Tất cả đều do thiếu lòng bao dung mà ra cả.

3. Ngày hưu lễ vì con người – Trích "Nhật Ký Truyền Giáo" của Linh mục Ngô Phúc Hậu, tủ sách Đại Kết, NXB Tp.HCM 1996, trang 41-43.

 Năm Căn, 16/8/1971

Ông Chín Kiểu năm nay đã ngót nghét bảy mươi. Ông mở quán nước ngay trước giáo điểm. Cứ sau mỗi giờ dạy học, mình lại đến đây nói chuyện dông dài với ông. Tuy là chuyện dông dài nhưng lại xoáy vòng trôn ốc. Hôm nay đường trôn ốc đã kết thúc, mình đi thẳng vào vấn đề.

-  Nghe nói ông Chín có đạo phải không ?

-  Ừa,  hồi  nhỏ  tôi  theo đạo Cha. Nhưng bỏ xưng tội mấy chục năm nay rồi.

-  Vậy thì Chúa nhật tới này tôi mời ông Chín đi lễ nghe.

Câu nói của tôi như một tiếng sét làm rung chuyển trời đất. Ông Chín khóc hụ lên. Hai dòng lệ chảy xối xả.  Hai môi giật giật như người động kinh. Tôi hoảng sợ ngồi chết trân. Năm phút sau, ông Chín lấy lại bình tĩnh và kể chuyện :

-  Cha tôi đạo dòng, bỏ Hòa Thành xuống Cái Keo làm ăn. Con cái sinh ra đều lấy vợ chồng ngoại. Cha sở Hòa Thành phạt cha tôi không cho xưng tội rước lễ. Đến khi già yếu, biết mình không còn sống bao lâu nữa,  ổng  chèo xuồng 30 cây số từ đây lên tới Hòa Thành chầu chực suốt tuần thánh, năn nỉ xin xưng tội rước lễ mà không được. Ổng đành chèo xuồng trở về. Ổng buồn rồi ổng chết. Cha tôi chết không được chôn trong đất thánh.

Nói đến đây ông lại khóc hụ lên một lần nữa. Ông mếu máo nói với giọng hằn học :

-  Cha tôi có làm điều gì thất đức đâu mà Hội Thánh đang tâm đày đọa ổng đến độ già rồi mà vẫn còn  xua  đuổi, chết  rồi mà vẫn còn ghét bỏ …

Bầu khí ngộp thở. Tôi cáo từ ra về, lòng buồn man mác.

Năm Căn, 17/8/1971

Hôm  nay  mình  đến  thăm  ông Chín Kiểu, hy vọng xoa dịu nỗi đau của ông. Nhưng trên cổ ông đã xuất hiện hình Đức Phật sáng chói. Thế là xong ! Lối vào đời ông đã bị kéo dây chì gai rồi !

Ổng đeo ảnh Phật để quyết liệt từ chối trở về với Chúa. Ổng đeo ảnh Phật để cảnh cáo mình : "Từ nay đừng khuyên tôi trở lại đạo nữa …".

Sau mấy chục năm bị nỗi đau cắn xé, hôm nay ông Chín đã xổ ra được. Giờ này có lẽ ông đang ngủ ngon. Trong giấc mơ những ngón tay ông đang mân mê ảnh Đức Phật từ bi. Còn mình thì giờ này  vẫn chưa ngủ được. Một nỗi đau rấm rứt vừa xuất hiện và có lẽ nó sẽ cắn xé lương tâm của mình suốt đời.

Mình lan man nghĩ đến chuyện xưa. Tại giáo điểm nọ, bà Năm khuyến khích chồng con theo đạo, còn bà thì cứ khất lần. Mình dồn bà vào chân tường, nên bà đành tiết lộ nỗi lòng thầm kín. Bà kể :

"Hồi tôi còn bé, trong xóm tôi người ta theo đạo nhiều lắm. Ông cha Tây dạy : Theo đạo thì không được để bàn thờ ông bà. Sau ngày Rửa tội linh đình, ổng đi thăm các gia đình đạo mới. Tới một gia đình nọ, vừa tới cửa là ổng dậm chân bẹt bẹt, miệng la hét : Tại sao chưa cất cái bàn thờ kia ? Ổng nhất định không bước chân qua ngưỡng cửa cho tới khi cái bàn thờ ông bà bị khiêng bỏ ra nhà sau …".

Câu chuyện bà Năm kể còn dài lắm. Nhưng vừa nhớ đến chỗ cái bàn thờ bị khiêng bỏ ra nhà sau, mình cảm thấy có cái gì đăng đắng ở miệng, nghèn ngẹn ở cổ. Bây giờ mình mới hiểu được nỗi lòng của ông Chín. Ông Chín là người con có hiếu. Vì thương cha, ông hận Giáo Hội. Cha sở Hòa Thành tôn trọng luật lệ, nhưng không tôn trọng tình cảm của con người. Chỉ có ông Chín mới hiểu được rằng cha ông không thể không cưới vợ ngoại cho con và gả con cho người ngoại, bởi lẽ cha ông sống cô thân giữa vùng chỉ  có  người  ngoại.  Cũng  chỉ  có ông Chín mới thấy được cái tủi hận của một ông lão già gần đất xa trời mà không được xưng tội rước lễ. Chỉ có ông Chín mới cảm thấy cái đau đớn khi bị từ chối không được chôn cha mình trong đất thánh, nơi mà cha ông hằng mong ước.

Cha sở sau khi quyết liệt từ chối không  cho  ông  lão  già  xưng  tội rước lễ thì lòng vẫn an vui. Và sau khi quyết liệt từ chối không cho ông lão già chôn trong đất thánh, thì lương tâm vẫn bình thản. Đó là luật, luật của Hội Thánh.

Mình cay đắng tự hỏi : "Luật vị luật hay luật vị nhân sinh ? Con người vì ngày hưu lễ, hay ngày hưu lễ vì con người ?".

Đường lối mục vụ ấy có nên tồn tại nữa không ? Và các nhà truyền giáo có quyền áp đặt một thứ mục vụ như thế trên các tân tòng không ?

Nhận định

a. Giáo luật cũ 1917 có nhiều khoản phạt vạ "dứt phép thông công", một  hình  phạt  khai  trừ  những phần  tử  vi  phạm  những  khoản luật nặng, nhằm mục đích "răn đe" là chính. Cha sở Hòa Thành "thượng tôn pháp luật", cứ luật mà xử, không xét tới hoàn cảnh một gia đình Công giáo lọt vào giữa những anh chị em tôn giáo bạn, lại ở vùng sâu vùng xa hẻo lánh, thiếu phương tiện đi lại, có khi cả đời người không đi khỏi thôn, khỏi xã, tìm đâu ra người Công giáo để cưới vợ, gả chồng cho  con  ?  Ông  già  tội  nghiệp cũng muốn giữ đạo lắm chứ, thế mà kết cục đã trở thành nạn nhân của tinh thần "thượng tôn luật pháp".

b. Trước mặt người đời, ông già tội nghiệp phải chịu hình phạt "dứt phép  thông  công",  nhưng  với thiện chí và nhiệt tâm "chèo thuyền  30km  lên  Hòa  Thành, chầu chực suốt Tuần thánh để được xưng tội rước lễ" mà Cha sở không cho. Nhưng chắc chắn Chúa đã thấu hiểu nguồn cơn, đã tha  thứ  cho  ông  và  đã  ban  sự sống đời đời cho ông, dù thân xác ông có bị "cấm vận", không được chôn   trong   nghĩa  trang   Công giáo, nhưng đâu chẳng là đất thánh của Chúa ! Quả thật Summum   Jus,   Summa   Injuria vậy.

c. Còn chuyện bà Năm thì từ hồi mới truyền giáo và mãi về sau này có một sự hiểu lầm về việc tôn thờ, một sự hiểu lầm tai hại đã dẫn đến bao nhiêu cuộc bách hại đạo Chúa. Đạo dạy chỉ thờ một Chúa Trời duy nhất, đúng nguyên tắc : "trung thần bất sự nhị quân" (không làm tôi hai chủ), nên  không  thể  có  một  bàn  thờ nào khác được, như thế là "nửa nạc nửa mỡ", làm cớ cho nhiều người noi theo, nên thái độ của ông cố Tây là kiên quyết bảo vệ "đạo lý", mà không hiểu bàn thờ ông bà chỉ là hình thức hiếu thảo như đạo Chúa dạy. Càng ngày giáo lương càng nhất trí với nhau là  vừa thờ  Chúa, vừa theo văn hóa dân tộc cúng bái để tỏ lòng hiếu kính tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Chỉ vì "hẹp hiểu" mới nên nỗi. Ôi

Summum Jus, Summa Injuria !

4. Thủy điện xả lũ "thần tốc", hạ lưu biến thành biển nước – Báo Thanh Niên ngày 9/11/2011.

Thủy điện Sông Tranh 2 xả lũ với mức  5.000  m3/giây  (432  triệu m3/ngày), dù thông báo nhưng người dân vẫn không đối phó kịp. Toàn bộ  hệ thống điện trên địa bàn bị cắt nguồn, người dân phải di tản trong đêm tối.

Rạng sáng 8/11, đỉnh lũ trên hai sông  Vu  Gia,  Thu  Bồn  lên  rất nhanh và đều vượt mức báo động 3 từ 0,3 - 0,8m do mưa to kéo dài cộng với các hồ thủy điện xả lũ với lưu lượng lớn suốt đêm 7/11. Đến 2 giờ sáng 8/11, lũ tràn qua QL1A, gây ngập sâu ở 7 điểm tại địa bàn Quế Sơn, Duy Xuyên, Điện Bàn …, gây  ách  tắc  giao  thông  nghiêm trọng.

Hàng ngàn người chạy lũ trong đêm

Người dân ở H.Nông Sơn đã phải chạy lũ trong đêm, bắt đầu từ 21 giờ  30  tối  7/11,  do  nước  lũ lên nhanh tràn vào trung tâm huyện. UBND huyện  đã  thông  báo  khẩn trên đài truyền thanh về thủy điện Sông Tranh 2 xả lũ với mức 5.000 m3/giây,   nhưng   người   dân   vẫn không  đối  phó kịp.  Toàn  bộ  hệ thống  điện  trên  địa  bàn  bị  cắt nguồn, hơn 7.000 người di dời khẩn cấp trong đêm. Gần 100 ngàn ngôi nhà ở các huyện Nông Sơn, Thăng Bình, Điện Bàn, Duy Xuyên, Hội An, Đại Lộc ... bị ngập sâu từ 1,5 đến 2m. Nặng nhất là 2 huyện Duy Xuyên và Điện Bàn, mỗi nơi có trên 20  ngàn  ngôi  nhà  ngập  sâu  trên 1,5m. Tại xã Duy Vinh (Duy Xuyên) có đến 90% ngôi nhà bị ngập sâu.

Nhận định

a. Xả lũ  để  bảo  vệ  thủy điện, đã thông  báo  trước  2  giờ  là  đúng quy  định  của  Nhà  nước.  Nhân viên nhà máy thủy điện không có lỗi khi làm đúng quy định và dĩ nhiên   không   phải   chịu   trách nhiệm về hậu quả của việc xả lũ.

b. Thực  tế  thì  không  thể  cân  đo, đong, đếm những thiệt hại do trận lũ này : 24 người chết, hàng ngàn ngôi nhà bị ngập, bị cuốn trôi, hàng ngàn người chạy lũ trong đêm … tài sản bị mất mát, phá hỏng chưa thể tính được.

Ôi Summum Jus, Summa Injuria !

5. Bài tường thuật của phóng viên

Vũ Toàn trên báo Tuổi Trẻ ngày 10/11/2008,  về  trường   hợp vợ chồng anh Thái, ngụ tại thôn 4, Lý Bắc, xã Thăng Bình, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, cả nhả khốn đốn vì sinh con thứ ba, bị phạt 200 kg thóc cộng thêm nợ thuế …

(Đọc lại Suy Nghĩ Vẩn Vơ tập 1 từ trang 24–32)

Nhận định

Xét cho cùng, UBND xã Thăng Bình (lúc  đó)  cũng chỉ hơi "mạnh tay" thi hành phép nước mà thôi. Quy định hình phạt sinh con thứ ba và 17 khoản thuế tại địa phương là "phép nước", UBND có bổn phận phải thi hành, nhưng cũng chính tại "quá thượng tôn pháp luật" mà gây nên bao hệ lụy bất công : "Người làm khổ người" – Ôi Summum Jus, Summa Injuria !

6.  Trường hợp  cai  ngục  Khmer Đỏ Kaing Guek Eav – thường gọi là Duck.

Duck cai quản nhà tù S21 (nguyên là trường trung học Tuol Sleng), người viết  đã  có  dịp  thăm nơi  này  vào năm 1990. Các phòng học chất đầy sọ  và  xương  người  cùng  những công cụ tra tấn, sát hại … Số nạn nhân ở đây là 18.000 người.

Thế mà tòa án quốc tế xử mấy năm trời, tốn cả chục triệu dollars, cuối  cùng  cuối  tháng  2/2009  ra được  bản  án  35  năm  tù  (vì Campuchea không có án tử hình). Năm nay Duck đã 80 tuổi, vậy căn cứ vào pháp luật thì đó là hình phạt tối đa (có nghĩa là cho ông "dưỡng già" mấy năn thôi !). So với tội diệt chủng : 14.000 sinh mạng, trước khi  chết còn phải chịu bao nhiêu hình khổ dã man : mổ bụng, trấn nước, đốt cháy, đập đầu, móc treo, kềm kẹp, … hỏi rằng công bằng ở đâu ?

Nhận định

a. Xử tội thì phải theo luật nước : mức cao nhất là Summum Jus.

b. Tội thì  quá nặng mà không có quy định hình phạt tương xứng trong luật pháp – té ra luật lại "bênh vực" tội nhân !

Ôi Summum Jus, Summa Injuria !

(Đọc lại Suy Nghĩ Vẩn Vơ tập 1 trang 49–54)

 7. Trường hợp Lê Văn Luyện – Cuối  tháng  8/2011,  một  vụ  cướp của, giết người khủng khiếp xảy ra ở Bắc Giang, tiệm vàng Ngọc Bích bị cướp, 2 vợ chồng chủ tiệm và 1 đứa con nhỏ bị giết, 1 đứa con bị thương rất nặng, sống sót được đưa vào bệnh viện cấp cứu, tài sản bị lấy đi … Kẻ gây nên tội là Lê Văn Luyện,  chưa  đầy  18  tuổi,  người cùng huyện. Sau khi thực hiện vụ cướp trót lọt, Luyện đã trốn sang Trung quốc, nhưng vì không có người quen nên lại trở về Việt Nam, tá túc nơi bà con ở gần biên giới, và đã bị bắt vào khoảng 16g30 ngảy 31/8/2011,  tại  khu  vực  mốc  số 1057, xã Thuy Hùng, huyện Văn Lãng,  Lạng  Sơn.  Luyện  đã  khai nhận một mình thực hiện vụ cướp và  sát  hại  cả  nhà  chủ  tiệm  vàng Bích Ngọc, nhất là hành vi giết trẻ nhỏ rất dã man.

Công an hiện đang hoàn tất hồ sơ vụ án, nhưng theo nhận định ban đầu của luật sư Nguyễn Huy Thiệp (Đoàn luật sự Tp. Hà Nội) thì : dưới 18 tuổi không bị xử tử hình – Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì người vị thành niên (dưới 18 tuổi) không bị xử tử hình, tù chung thân đối với mọi hành vi phạm tội. Luật của chúng ta tính theo ngày, phải đủ tròn  18  tuổi  mới  phải  chịu  hoàn toàn trách nhiệm về mặt hình sự. Sở dĩ  có  quy  định  này  do  bản  chất người vị thành niên nhận thức chưa đầy đủ nên pháp luật của ta có quy định như vậy. Trong vụ án giết người, cướp tài sản này, nếu nghi can Lê Văn Luyện chưa đủ tròn 18 tuổi (theo hồ sơ lưu tại nơi cư trú và học bạ   tiểu   học   thì   Luyện   sinh   ngày 18/10/1993) thì khung hình phạt mà pháp luật Nhà nước ta quy định như vậy và phải tuân thủ quy định của pháp luật, dù tội ác đến đâu cũng không  thể  xử  tử  hình  hay  chung thân được. (Minh Quang, Anh Quang, Thân Hoàng – Báo Tuổi Trẻ 01/9/2011).

Nhận định

a. Tòa  án  chưa  xét  xử,  chúng  ta chưa biết kết quả ra sao, nhưng biết chắc tòa sẽ xử theo luật hình sự của nước ta.

b. Quy định dưới 18 tuổi không bị xử tử hình, chung thân đối với mọi hành vi tội phạm, đây là vấn đề nhân đạo với lý do chưa đủ tuổi thành niên thì chưa đủ chín chắn  trong  suy  nghĩ  và  hành động.

Trường hợp Lê Văn Luyện quả thực còn thiếu chừng 2 tháng nữa mới tròn 18 tuổi (theo luật), nhưng thực tế cả về thể xác lẫn trí tuệ, Luyện  đâu  có  "non"  –  một  mình giết ba người, chém gần chết một người, cướp được tài sản, tiến trình thực hiện tội ác có tính toán, bài bản, đầy thủ đoạn gian ác. Âm mưu và hành động trót lọt như vậy thì trí tuệ  của  Luyện  đâu  có  "vị  thành niên" tí nào.

Tình huống pháp lý đặc biệt

Chưa hết bàng hoàng về hành vi man rợ của kẻ thủ ác trong vụ án, dư luận đang bức xúc khi có nhiều ý kiến của các luật sư cho rằng không thể xử tử hình hung thủ vì đương sự dưới 18 tuổi. Tuy nhiên, đây là một tình huống pháp lý đặc biệt ...

Sự tàn bạo trong vụ thảm sát tiệm vàng ở Bắc Giang đã đạt đến đỉnh điểm. Điều làm mọi người thấy nhẹ lòng đôi chút là lực lượng công an đã nhanh chóng bắt giữ hung thủ Lê Văn Luyện. Nhưng mấy ngày qua, một vấn đề pháp lý nảy sinh khiến cho dư luận không khỏi ray rứt. Đó là kẻ thủ ác thiếu chừng hai tháng nữa mới đủ 18 tuổi để phải chịu án tử hình theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Dĩ nhiên tòa án không thể xử tử hình hung thủ nếu căn cứ vào các quy định pháp lý hiện hành. Nhưng cũng thật vô lý khi để một tội phạm như thế thoát tội chết. Nó sẽ tạo nên một  tiền  lệ  quá xấu  trong  việc phòng chống tội phạm, có nguy cơ dẫn đến việc lạm dụng sự ưu ái đối với người dưới 18 tuổi.

Sự việc đã xảy ra, bằng chứng là sau  vụ  cướp  ít  bữa,  một  nhóm "choai  choai"  đã  lên  mạng "tôn vinh"   Luyện   như   là   "một   anh hùng", khiến nhiều phụ huynh lo lắng, và tiếp theo là báo động của báo  Thanh  Niên  20/11/2011,  bài của Hồ Trọng như sau :

Giáo dục nhóm tự xưng "đàn em của Lê Văn Luyện"

Ngày 18/11, lực lượng Công an H.Điện Bàn (Quảng Nam) đã xử lý, ngăn chặn hoạt động của một nhóm thiếu niên từ 14 – 16 tuổi tự xưng là nhóm "Sống về đêm", thu giữ 5 mã tấu và 3 tuýp sắt. Cả nhóm đã tự chế mã tấu và tuýp sắt khắc chữ "Sống về đêm", sau đó chụp hình tung lên mạng. Chúng còn tự xưng là đàn em của Lê Văn Luyện - kẻ đã giết 3  người và  làm bị  thương 1 người trong vụ án cướp vàng ở Bắc Giang. Công an đã giáo dục, buộc cả nhóm phải viết cam kết không vi phạm.

Việc hoàn toàn không áp dụng án tử hình và chung thân với người dưới 18 tuổi là một quy định cứng nhắc. Lẽ ra pháp luật phải có điều khoản dự liệu để áp dụng trong trường hợp quá đặc biệt, như thế tính răn đe mới cao. Điều 1 của Công ước về quyền trẻ em viết như sau : "Trong phạm vi công ước này, trẻ em có nghĩa là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn". Như vậy chúng ta cũng có thể uy định trong những trường hợp phạm tội quá dã man, thì độ tuổi thành niên cần phải giảm xuống tùy trường  hợp.  Quy  định  này  hoàn toàn không trái với tinh thần của Công ước về quyền trẻ em. Vì tinh thần chủ yếu của công ước này là bảo vệ quyền lợi chính đáng của trẻ em chứ không phải dung túng cho người dưới 18 tuổi làm điều tàn ác.

Thực tế thì việc thiếu 2 tháng tuổi không phải là nguyên nhân làm cho hung thủ Lê Văn Luyện thiếu nhận thức để hành xử như thế. Thật đau xót khi Luyện, thiếu 2 tháng nữa đủ

18 tuổi, lại được hưởng "quyền trẻ em", còn cháu bé nạn nhân mới 18 tháng  tuổi  lại  không  được  hưởng quyền được sống - quyền căn bản nhất của quyền trẻ em. Tôi cho rằng các nhà làm luật phải xem lại vấn đề này để sửa đổi luật sao cho sát với thực tiễn hơn. Riêng đối với vụ án Lê Văn Luyện, nên chăng cần khởi động một lộ trình pháp lý đặc biệt để thủ phạm phải chịu sự trừng phạt xứng đáng với tội ác gây nên ? (Luật gia Trần Đình Thu – Báo Thanh Niên 3/9/2011).

c. Tội  ác  ngút  trời  như  vậy  mà không phải chịu hoàn toàn trách nhiệm  hình  sự  thì  quả  là  bất công. Ba mạng chết tức tưởi lấy gì bù đắp ? Một bé gái sống sót mang thương tật và nhất là nỗi kinh hoàng, sự mất mát về tình cảm và tâm lý suốt đời (em bỗng qua đêm trở thành mồ côi, đau đớn nào có thể lớn hơn ?), vài chục năm "ăn cơm tù" có bù dược tội lỗi không ?

Ôi Summum Jus, Summa Injuria !

8. Thảm kịch Na Uy – Thủ tướng Na Uy : Jens Stoltenberg đau đớn cho  hay  vụ  tấn  công  kép  ngày 22/7/2011 là "tội ác nghiêm trọng nhất ở nước này từ sau thế chiến thứ hai".

Hung thủ là một người cực đoan tên là Anders Behring Breivick, 32 tuổi, do bất đồng với Đảng cầm quyền về chính sách nhập cư dễ dãi, đã tự chế bom tấn công tòa nhà chính phủ ở Oslo vào lúc 15g30, làm 7 người thiệt mạng và 11 ngưởi bị  thương,  cơ  sở  vật  chất  bị  hư nặng,  khoảng  18g  cùng  ngày, Anders  mặc  đồ  cảnh  sát,  mang nhiều súng đạn sang đảo Utoeya cách thủ đô Osla 20km, thảm sát đám đông khoảng 700 bạn trẻ dự trại thanh niên của Đảng Lao Động cầm quyền, làm 71 người chết và hàng  trăm  người  bị  thương  trước khi Anders bị khống chế. Toàn dân Na  Uy  và  cả  thế  giới  đều  kinh hoàng trước vụ thảm sát này (N.N.L.C, báo Thanh Niên 24/7/2011).

Nhận định

a. Tương tự vụ Lê Văn Luyện, hiện nay Nhà nước Na Uy chưa xử vụ này, nhưng chắc một điều tòa án sẽ phải xử theo luật quốc gia.

b. Luật hình sự Na Uy và các nước Bắc Âu rất "nhân đạo", không có án tử hình và dường như không có án chung thân, mức cao nhất chỉ 21 năm tù, và việc chấp hành ở tù cũng giống như học tín chỉ vậy,  nghĩa  là  cho  phạm  nhân chọn thời điểm ở tù, sau một khoảng thời gian nào đó phạm nhân có thể xin ra tại ngoại, rồi lại xin vào tù, khi nào tính đủ mức án thì được trả tự do (theo người viết được nghe).

c. Nếu quả thật như vậy và cứ đúng luật mà xử, thì sẽ có độ vênh cực lớn  giữa tội  ác  gây  ra  và  hình phạt phải chịu. Còn sự bất công mà hàng trăm gia đình phải chịu thì không thể đong đếm được. Chúng  ta  có  cảm  tưởng  luật không khử trừ được điều ác, không có sức răn đe người ác và dường như "dung dưỡng" tội ác !

 Ôi Summum Jus, Summa Injuria !

 9. Dư âm phim "Bí thư Tỉnh ủy" – chiếu trên truyền hình VTV4 ngày 28/9/2011.

Đây là bộ phim truyền hình nhiều tập, được đông đảo bà con ưa thích, đánh giá cao, được chiếu đi chiếu lại  nhiều  lần.  Truyền  hình  ngày 28/9/2011 chỉ chiếu lại một tập nào đó thôi, nhưng cũng đủ cho chúng ta "vẩn vơ suy nghĩ". Bối cảnh là nông thôn mới miền Bắc  XHCN,  chế  độ  Hợp  tác  xã khắp nơi với khẩu hiệu già trẻ lớn bé ai cũng thuộc như húp cháo, đọc như vẹt : "Mình vì mọi người, mọi người vì mình – Làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu – Phải làm cho dân giầu nước mạnh …".

Thực  tế  HTX  Phước  Vĩnh,  xã viên đói nghèo, đời sống vô cùng cơ cực, thiếu thốn, đời sống xã hội, kinh tế càng ngày càng tụt lùi. Bí thư Tỉnh ủy Kim đã mạnh dạn tháo gỡ một số ràng buộc, mở cửa cho lãnh đạo cấp dưới bằng quyết định 86 chủ trương khoán hộ, khoán sản phẩm, khoán vật  nuôi, cây  trồng, chủ  trương làm  cho  bà  con  phấn khởi và kết quả mỹ mãn. Lúa từ 1,3 tấn, tối đa là 1,8 tấn/mẫu, nay tăng vọt 3 tấn, có khi 5 tấn/mẫu. Lợn nghĩa vụ tăng gấp rưỡi, gấp đôi, bà con  làng  xã  vô  cùng  phấn  khởi trước   quyết   định   đột   phá   này. Không còn hộ đói, hộ nghèo … không khí  thi  đua  sản  xuất  hừng hực như ngọn lửa.

Nhưng chuyện được báo lên cấp trên, lãnh đạo cấp trên cử cán bộ lão thành Trung Chính xuống kiểm tra, mặc dù nghe tận tai, thấy tận mắt thành quả tốt đẹp, nhưng đứng trên quan điểm chính sách chung của cả nước, thì nghị quyết 86 là sai phạm lớn,  phá  vỡ  những  quy  luật  nền tảng,  cố  định,  đi  ra  ngoài  chủ trương,  chính  sách,  đường  lối chung, nên yêu cầu bí thư Tỉnh ủy phải kiểm điểm …

Nhận định

a. Cấp  trên  có  lý  khi  căn  cứ  vào những quy tắc, đường lối được quốc hội thông qua, đây là phép nước rồi, cái gì sai phép nước là phải dẹp, phải bị kỷ luật.

b. Bí thư Tỉnh ủy không sai khi vì sự  no  ấm  của  dân  và  sự  phồn vinh của đất nước (dân có của cải nhiều thì nộp thuế má nghĩa vụ cao cho Nhà nước), mà gác sang một bên những quy định, ràng buộc không còn phù hợp, để mạnh dạn cải cách.

c. Điều đáng nói ở đây là cứ phải chấp  hành  những  quy  định  lỗi thời (luật là luật, không khoan nhượng),  để  rồi  dân  nghèo,  dân đói, dân khổ cứ mặc dân, người làm tốt cho dân như bí thư Kim thì bị kiểm điểm, người duy trì "tình trạng nghèo đói" cho dân để giữ  những  nguyên  tắc  lỗi  thời, như cán bộ Trung Chính thì lại được tín nhiệm, có khi còn lên chức, lên lương nữa.

Ôi Summum Jus, Summa Injuria !

10. 6cm đất và chiếc ghế thẩm phán (tác giả Ls. Phạm Công Hùng)

Còn nhớ một vụ án nhiều năm trước, khi đó tôi là chánh án tòa hành chính ở TAND một tỉnh mà vì lý do tế nhị, tôi xin không nêu tên. Nhà ông A và nhà ông B ở cạnh nhau, cách nhau phần đất có chiều ngang 1m. Cả hai nhà tranh chấp phần đất này nhưng hóa ra đất đó là đất công.

 Nhà ông A quá cũ, tường lún, vách nứt nên ông sửa lại. Không có tiền nên không mướn thợ, ông A. tự làm, xây lại bức tường mới theo chân của bức tường cũ. Có lẽ vì dân tay  ngang  nên  ông  xây  hơi  xéo. Phần sau vách tường lại lấn sang ranh đất công khoảng 6cm. Ông B liền khiếu nại tới UBND TP (thuộc tỉnh) rằng ông A cất lố qua 6cm như vậy là lấn chiếm đất đai. Chủ tịch UBND TP ra quyết định buộc ông

A phải tháo dỡ phần 6cm xây lố và cưỡng  chế  vì  ông  A  không  chịu thực hiện. Ông A khởi kiện chủ tịch UBND TP ra TAND TP nhưng bị tòa sơ thẩm bác đơn. Ông liền làm đơn kháng cáo.

Sao cho đạt lý, thấu tình

Tôi  được  phân  công  xử  phúc thẩm vụ án này. Khi nghiên cứu hồ sơ, tôi biết hoàn cảnh kinh tế ông A có nhiều khó khăn. Nếu căn nhà không có nguy cơ bị sập khi vào mùa mưa bão thì chắc ông đã không sửa lại. Bắt ông A tháo dỡ 6cm xây lố có nghĩa là phải đập bỏ nguyên cả phần tường, khi đó liệu ông có tiền sửa lại lần nữa hay không ? Trong khi miếng đất công có chiều ngang 1m, thật ra hơi trũng xuống, trông giống như cái khe nằm ở giữa hai ngôi nhà, lại ở vùng ngoại ô hẻo lánh. Từ lâu phần đất này bỏ trống và sau này có lẽ chính quyền sở tại cũng không sử dụng vào việc gì.

Nhận định

a. Nếu xét về mặt lý thì quyết định buộc tháo dỡ phần lấn chiếm đất công của chủ tịch UBND TP là không sai, bởi vì phần đất ông A xây lố sang dù chỉ là 6cm (trên chiều dài khoảng 4m) cũng là lấn chiếm đất đai. Tuy vậy, nếu tòa quyết  định bác  đơn  kháng cáo, giữ y bản án sơ thẩm thì liệu có thấu tình không ? Ngược lại, tòa chấp nhận kháng cáo thì có đúng luật không ? Tôi suy nghĩ rất kỹ để tìm một đáp án vừa đạt lý vừa thấu  tình,  nghiêm  minh,  công bằng cho các đương sự.

b. Tại tòa, ông A trình bày : thật ra ông vô tình chứ không phải là cố ý ăn gian Nhà nước 6cm đất làm gì. Do phần tường phía sau có một vài đoạn còn sử dụng được nên ông đắp thêm ximăng lên thành ra mới lố 6cm. Đến khi UBND TP xuống đo đạc rồi ra quyết  định,  ông  mới  biết  mình xây lố. Giờ nếu bắt đập bỏ 6cm thì toàn bộ ngôi nhà ông có thể bị ảnh hưởng. Gia đình vốn nghèo, sống chỉ nhờ vào vài công ruộng, khi sửa nhà ông phải mượn tiền bà con, nay Nhà nước kêu tháo dỡ thì ông không đủ tiền để cất lại phần tường bị đập bỏ, chứ đừng  nói  đến  lỡ  khi  đập  chấn động kéo theo hư hỏng các phần khác. Trong khi đó phần đất này không sử dụng vào việc gì.

c. Đại  diện  bên  bị  kiện  vẫn  giữ nguyên   quan   điểm   của   mình rằng ông A đã xây công trình trái phép trên phần đất công nên chủ tịch  UBND  TP  ra  quyết  định buộc tháo dỡ là đúng chứ không sai luật.

Tôi phân tích rằng tòa đồng ý với quyết định của chủ tịch UBND TP,  lấn  sang  phần  nào  là  phải tháo dỡ phần đó, khi tiến hànhcưỡng chế thì cơ quan thi hành án phải  tháo  dỡ  đúng  6cm,  chứ không được tháo dỡ lố qua phần của ông A dù chỉ 0,5cm, như vậy mới công bằng đối  với ông  A. Tuy nhiên, khó ai mà tháo dỡ chính xác 6cm chiều ngang với chiều cao gần 5m của bức tường được. Vì  vậy tòa mong UBND TP hãy nghĩ lại các quyết định của mình.

d. Cả hai bên đều đồng ý với những gì tôi nói. Tuy nhiên, bên bị kiện vẫn cho rằng không thể hủy các quyết định hành chính bị khởi kiện,  bởi  làm  thế  khiến  người khác  bắt  chước  xây  trái  phép theo. Tôi vẫn thuyết phục : việc hủy bỏ quyết định không thể tạo tiền lệ được, bởi khi ra quyết định hoặc xét xử phải dựa vào nhiều điểm chứ không  phải  đơn  thuần  luật  cứng nhắc chỉ dựa vào một yếu tố mà thôi.  Ở  đây  có  cần  thiết  tháo  dỡ 6cm - độ chừng bằng khoảng nửa cục gạch, trong khi phần đất đó chính quyền sở tại đâu có sử dụng vào việc gì. Nếu ông A có khả năng xây lại thì việc buộc tháo dỡ trong trường hợp này còn phải cân nhắc nhiều mặt, đằng này hoàn cảnh ông A rất khó khăn, phần nữa cũng do trình độ hiểu biết pháp luật của ông A còn hạn chế nên mới xảy ra chuyện trên.

Sau khi hội ý, đại diện UBND TP đồng ý hủy quyết định buộc tháo dỡ và cưỡng chế. Còn phần ông A thì rút đơn khởi kiện. Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính theo quy định của pháp luật và bế mạc phiên tòa. Nhìn ông A vui mừng ra về, lòng tôi chợt dâng lên một cảm giác khó tả.

(Thẩm phán PHẠM CÔNG HÙNG – tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Tp.HCM – Minh Tâm ghi, báo Tuổi Trẻ ngày 8/4/2011)

11. Siêu mẫu Ngọc Thúy bị kiện đòi hàng trăm tỉ đồng.

TAND Tp.HCM cho biết vừa thụ lý vụ kiện "Tranh chấp quyền sở hữu tài sản" giữa nguyên đơn là ông Nguyễn Đức An  (Việt  kiều,  quốc  tịch Mỹ,  ngụ  tại  P.Bến Nghé, Q.1, Tp.HCM) và bị đơn là bà Phạm Thị Ngọc Thúy (tức siêu mẫu Ngọc Thúy), vợ cũ của ông An. Số tài sản tranh chấp lên đến 288 tỉ đồng, gồm rất nhiều bất động sản và tài sản có giá trị lớn.

Theo đơn khởi kiện, ông An và Ngọc Thúy kết hôn vào năm 2006, đến năm 2008 thì cả hai ly hôn tại Mỹ. Từ năm 2007 đến 2008, ông An dùng nhiều tài sản tạo lập trước hôn  nhân  mua  bất động sản, cổ phần  ...  tại  Việt  Nam.  Do  mang quốc tịch Mỹ nên ông An nhờ vợ đứng tên giùm.

Tòa thượng thẩm tòa án California, hạt Orange ngày 27/3/2008 tuyên toàn bộ hàng chục căn hộ, lô đất, biệt thự tại các dự án lớn ở Tp.HCM và Phan Thiết như Avalon Building, Sailing Tower, Sea Links ; 4 xe Mercedes, 2 xe Volkwagen, Porsche ... với tổng giá trị ước tính khoảng 288 tỉ đồng là của ông An.

Ông An nhiều lần yêu cầu bà Ngọc Thúy giao trả số tài sản này nhưng theo ông là bà Ngọc Thúy không giao mà còn có dấu hiệu tẩu tán tài sản, chuyển nhượng cho người khác đứng tên. Vì vậy, ông An khởi kiện bà Ngọc Thúy ra tòa, đề nghị tòa án buộc bà Thúy trả lại số tài sản này. (Lê Nga – Báo Thanh Niên 5/10/2011)

Án chồng án vụ siêu mẫu Ngọc Thúy bị kiện đòi 288 tỉ đồng

Xung quanh vụ siêu mẫu Ngọc Thúy bị kiện đòi khối tài sản khổng lồ  lên  đến  288  tỉ  đồng  nảy  sinh nhiều vấn đề pháp lý đáng chú ý bên cạnh một số tình tiết mới.

Ông Nguyễn Đức An, chồng cũ của siêu mẫu Ngọc Thúy cho biết, năm 2006 ông tình cờ quen biết Ngọc Thúy tại Mỹ. Cả hai  đăng  ký kết hôn tại Mỹ vào 7/9/2006 (không làm thủ tục ghi chú kết hôn ở Sở Tư pháp Tp.HCM). Sau khi đăng ký kết hôn, Ngọc Thúy làm thủ tục trở thành thường trú nhân tại Mỹ và có thẻ xanh. Tuy nhiên, mối quan hệ này chỉ kéo dài hơn một năm, do xuất hiện nhiều bất đồng.

Ngày 20/11/2007, Ngọc Thúy và ông An đã ký một thỏa thuận ly hôn tại văn phòng luật sư của ông An. Tòa án California, hạt Orange, Mỹ, cũng đã ghi nhận sự thỏa thuận giữa hai bên đương sự. Theo đó, Ngọc Thúy được quyền nuôi con, ông An cấp dưỡng nuôi con 500 USD/tháng và cấp quyền giữ lại tài sản riêng, không có tài sản chung mà các bên có được trong hôn nhân ; các bất động sản, động sản, tài khoản ở VN là của ông An. Vào thời điểm này, giữa ông An và Ngọc Thúy chỉ mới có  một  con  là  Nguyễn  Angelina Dior (sinh tháng 5/2007).

Sau khi ký thỏa thuận ly hôn này, mối  quan  hệ  giữa  hai  người  vẫn chưa có gì căng thẳng. Bằng chứng là giữa Ngọc Thúy và ông An có tiếp đứa con thứ 2,  Nguyễn Valentina Dior (sinh 10/2008).

Liên tục kiện tụng

Khi có bản án ghi nhận sự thỏa thuận ly hôn, giữa hai bên liên tục không  tìm  được  tiếng  nói chung liên quan đến vấn đề tài sản. Ngọc Thúy không đồng ý chuyển các tài sản mà cô đứng tên giùm sang cho ông An.

Tháng 3/2010, ông An có đơn khởi kiện Ngọc Thúy ra TAND Q.1 yêu cầu giao lại những tài sản ở VN mà  ông  đã  bỏ  tiền  mua  và  đòi quyền nuôi hai con. Theo đơn kiện, từ  năm 2007  đến 2008  (trong  thời gian kết hôn và sau khi đã ký thỏa thuận ly hôn), ông An dùng nhiều tài sản tạo lập  trước  hôn  nhân  mua  bất động sản, động sản, mua cổ phần ... tại VN. Do mang quốc tịch Mỹ nên ông An nhờ Ngọc Thúy đứng tên giùm,  gồm  hàng  chục  căn  hộ,  lô đất, biệt thự tại các dự án lớn ở TP.HCM và Phan Thiết như Avalon Building, Sailing Tower, Sea Links Golf & County Club; nhiều xe ô tô…  với  tổng  giá  trị  ước  tính khoảng 288 tỉ đồng. Chỉ tính riêng số tiền tạm ứng án phí đã lên đến gần 200 triệu đồng.

Các luật sư nói gì ?

Mới đây, vụ tranh chấp "đình đám" này đã được TAND Q.1 chuyển lên cho TAND Tp.HCM thụ lý.

Dưới góc độ pháp lý, một lãnh đạo TAND Tp.HCM phân tích, những vụ án có yếu tố nước ngoài (có đương sự là người nước ngoài hoặc người VN định cư ở nước ngoài) thì sẽ căn cứ vào nơi cư trú (theo Luật Cư trú) của chủ thể tham gia tố tụng để quyết định thẩm quyền thụ lý. "Nếu chủ thể có nơi thường trú hoặc tạm trú không có thời hạn thì thuộc tòa cấp huyện ; nếu chủ thể tạm trú có thời hạn thì thuộc thẩm quyền của tòa án cấp tỉnh. Trong vụ kiện này, ông An chỉ có thẻ tạm trú có thời hạn nên thẩm quyền thuộc TAND Tp.HCM  giải  quyết",  vị  lãnh  đạo này khẳng định.

Luật sư Phan Trung Hoài (Đoàn luật sư TP.HCM) phân tích thêm, đây là "vụ án dân sự có liên quan đến quyền đối với tài sản là bất động sản có trên lãnh thổ VN" mà theo quy định tại điều 411 Bộ luật Tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền chuyên biệt của tòa án VN. "Nếu tòa án Mỹ có phán quyết liên quan đến  những  bất  động  sản  có  trên lãnh thổ VN thì cũng không được cho công nhận và thi hành tại VN vì vi phạm thẩm quyền chuyên biệt này", luật sư Hoài đánh giá.

Góp thêm ý kiến, luật sư Cao Minh Triết (Đoàn luật sư tỉnh Tiền Giang) nói, cần phải xem xét rằng quan hệ hôn nhân giữa ông An và Ngọc Thúy được tiến hành ở nước ngoài và chưa ghi chú kết hôn theo quy định của pháp luật VN, nên không  được  công  nhận  tại  VN. Theo luật sư Triết, tòa án sẽ thụ lý vụ kiện tranh chấp đòi tài sản này như giữa hai cá nhân bình thường với nhau, chứ không phải như chia khối tài sản chung hợp nhất giữa hai vợ chồng khi ly hôn. "Vì vậy, các  bên  phải  chứng  minh  nguồn gốc tạo lập, cung cấp chứng cứ chứng minh là tài sản riêng. Tất nhiên, chứng cứ của ai mạnh người đó sẽ thắng", luật sư Triết nói. (Lê Nga – Báo Thanh Niên 16/10/2011).

Trong phạm vi đời thường, tức là trong quan hệ xã hội hàng ngày, chúng ta gặp không ít những "ca" tình ngay, lý gian, luật "chọi" công lý, nhất lá chuyện vay nợ thường ngày, nhiều khi vì tin nhau, vay nợ không cần giấy tờ, đến chừng bên vay  giở  chứng chối  phắt  nợ  nần, bên cho vay chắc là phải đành chịu, bởi vì không có giấy tờ chứng minh thì chẳng kiện vào đâu được.

Trường hợp ông A cho ông B vay số tiền 1.000.000 đồng thời chế độ cũ (trước 1975), lúc đó 1 triệu là một gia tài lớn, người giầu tột đỉnh cũng chỉ được gọi "triệu phú" thôi, vì 1 triệu lúc đó quy ra vàng là 33 cây (30.000 đồng/lượng). Thời gian chiến tranh, loạn  lạc,  tứ  tán  mỗi  người mỗi nơi, chưa có dịp gặp nhau để thanh toán, mãi tới bây giờ mới gặp lại và hai bên thương lượng với nhau.

Ông B đề nghị nhiều mức trả, nhưng ông A vẫn không chịu, cho rằng mình thiệt quá, cuối cùng phải nhờ pháp luật. Trước pháp luật ông A xác nhận số tiền cho vay 1 triệu đồng (tiền chế độ cũ), ông B xác nhận có vay số tiền như vậy. Ông A đòi quy ra vàng, nhưng luật sư của ông B căn cứ vào pháp luật và tiến trình quy đổi tiền tệ giữa chế độ cũ và chế độ mới.

§ Trước hết vay gì trả nấy, đó là quy định bất biến của luật pháp, vay tiền trả bằng tiền, vay thóc trả bằng thóc, vay vàng trả bằng vàng, không thể có chuyện vay tiền trả bằng vàng.

§ Giá trị đồng tiền đã chuyển dịch theo  đúng  luật  pháp  hiện  hành qua 3 lần đổi tiền sau 1975 :

-  Lần 1 : luật quy định 1 đồng tiền mới ăn 5.000 đồng tiền cũ.

-  Lần 2 : luật quy định 1 đồng tiền  mới  ăn  10  đồng  tiền  đã quy đổi (tức là 50.000 tiền chế độ cũ).

-  Lần 3 : luật quy định 1 đồng tiền mới phát hành ăn 1 đồng tiền hiện hành.

Như vậy số tiền vay 1 triệu đồng (chế  độ  cũ)  sau  quy  đổi  bằng  20 VNĐ. Vay nợ không kỳ hạn nên tính lãi theo ngân hàng "không kỳ hạn" là 2,4%/năm, với 20 đồng thì một năm được 0,48 đồng ; 36 năm được 17,28 đồng, cộng vốn, lãi là 37,28 đồng.

Nếu không có quy định nào khác mà cứ đúng nguyên tắc luật pháp vay gì trả nấy, giữ nguyên giá trị quy đổi theo thời gian cộng với lãi suất theo ngân hàng, thì với số tài sản lúc cho vay trị giá 33 cây vàng, tới thời điểm này được 37 đồng, hai hào, 8 xu !

Ôi Summum Jus, Summa Injuria !

Ghi chú : Hiện nay tiền xu, hào, đồng, 10 đồng, 100 đồng, 200 đồng chỉ tồn tại trên máy tính của các ngân hàng, thực tế đời thường, những thứ tiền này không còn ai thấy, họa chăng chỉ còn nơi các nhà sưu tập tiền mà thôi !

 Nhận định

a. Hôn thú làm ở Mỹ chưa ghi chú theo pháp luật VN nên không được công nhận ở VN.

 b. Tài sản thì ở VN nên những quyết định về tài sản khi ly hôn ở Mỹ không có hiệu lực ở VN.

 c. Nếu giải quyết khiếu kiện ở VN như hai người thường (không phải vợ chồng) thì cứ theo nguyên tắc của luật : "Ai đứng tên sở hữu, người ấy là chủ".

d. Nếu xử như vậy thì có nguy cơ chủ của thực sự sẽ mất trắng (nếu bên đứng tên giùm không thành thực nhận mình chỉ đứng tên hộ và nếu tòa án không tìm được cách chứng minh tài sản không thuộc về người đứng tên hộ mà là của người khiều nại).

e. Nếu cứ xử "án tại hồ sơ", tên ai trên tài sản thì tài sản của người ấy, thì thật là bất công nếu thực sự người đứng tên chỉ là đứng tên hộ, không có tài sản.

Ôi Summum Jus, Summa Injuria !

12. Không cho chuyển một phần đất vườn thành đất ở.

Nhiều  bạn  đọc  ở  Q.12,  huyện Hóc Môn (Tp.HCM) phản ảnh họ xin chuyển mục đích sử dụng một phần đất vườn thành đất ở để xây nhà nhưng UBND quận, huyện không giải quyết mà yêu cầu họ phải chuyển mục đích sử dụng nguyên thửa đất.

Trong khi đó, quận huyện phải thực hiện theo quyết định 19 năm 2009 của UBND Tp.HCM. Quyết định này quy định người dân muốn chuyển mục đích sử dụng từ đất nông nghiệp sang đất ở phải chuyển cả thửa.

Cần 250m2, phải chuyển mục đích sử dụng 1.200m2 ?

Ông N.V.T. có 1.200m2 đất vườn cây ăn trái ở xã Đông Thạnh, huyện Hóc Môn. Hai vợ chồng ông mới về hưu, định xây một căn nhà nhỏ dưỡng  già  nên  xin  phép  chuyển mục đích sử dụng 250m2 đất vườn thành đất ở để xin giấy phép xây dựng nhà. Cán bộ tiếp nhận hồ sơ nói ông phải chuyển mục đích sử dụng   nguyên   thửa   1.200m2 mới được UBND huyện giải quyết. Ông T. tính toán : nếu chuyển mục đích sử dụng thành đất ở hết 1.200m2 đất thì  ông  phải  đóng  trên 700  triệu đồng tiền sử dụng đất (tính theo giá đất do UBND TP ban hành). Ông T. cho rằng ông chỉ muốn xây nhà khoảng 250m2, phần đất còn lại để trồng cây ăn trái nhưng lại bị bắt chuyển tất cả thành đất ở là quá vô lý !

Ông Hồ Minh Dương, trưởng Phòng Tài nguyên - môi trường huyện Hóc Môn, cho biết phòng đã từ chối chuyển mục đích sử dụng một phần thửa đất của nhiều người dân  chứ  không  riêng trường  hợp của ông T.. Ông Dương cho rằng theo quyết định 19 năm 2009 của UBND TP về hạn mức tối thiểu để tách thửa đất thì phải chuyển mục đích sử dụng đất trọn thửa đất. Đất nông nghiệp muốn tách thửa phải bảo đảm mỗi thửa tách ra có diện tích  từ  1.000m2 trở  lên.  Vì  vậy, những người có đất nông nghiệp rộng  hơn  2.000m2 thì  có  thể  tách thành hai, ba ... thửa (có diện tích từ 1.000m2 trở  lên)  rồi  sau  đó  chuyển thành đất ở cả thửa. Còn những trường hợp có đất nông nghiệp từ 2.000m2    trở  xuống nếu  muốn chuyển mục đích sử dụng thành đất ở đều phải chuyển trọn thửa đất vì không thể tách ra.

Không riêng ở huyện Hóc Môn, nhiều người dân ở Q.12, Thủ Đức ... khi xin chuyển mục đích sử dụng một phần thửa đất cũng bị từ chối. Ông Phan Phương Bình, phó Phòng Tài nguyên - môi trường Q.12, cho biết  :  do  quy  định  phải  chuyển thành  đất  ở  cả  thửa  nên  nhiều trường hợp người dân không đủ tiền để đóng tiền sử dụng đất (do diện tích vượt hạn mức đất ở phải đóng tiền sử dụng  đất  theo  giá  thị  trường).  (Khánh Yên – báo Tuổi Trẻ 7/11/2011).

Nhận định

a. Lãnh  đạo  quận,  huyện  phải  thi hành lệnh cấp trên, đó là thượng tôn pháp luật.

b. Thực tế dân nghèo không thể có tiền  đóng  thuế  để  chuyển  mục đích sử dụng cả thửa, họ cũng không cần "đất ở" thừa thãi như vậy.

c. Nếu "cứ luật mà làm" thì hậu quả là bất công, một là đóng thuế quá nặng,  hai  là  (không  đủ  tiền  đóng thuế cả thửa) không có phép xây nhà cứ việc lén "làm chòi" mà ở, từ đời cha ông tới đời con cháu !

Ôi Summum Jus, Summa Injuria !

13. Luật tỵ nạn.

Chương trình truyền hình VTV9 ngày 7/10/2011 nhắc tới trường hợp Cariles, người Cuba, chủ mưu phá hủy máy bay của hãng hàng không Cubana  Airline ngày 6/10/1976, làm 73 người thiệt mạng.

Phạm nhân từ đó đến nay vẫn sống ở Mỹ, không bị xét xử, vì giữa hai nước kình địch, Cuba và Mỹ không ký thỏa thuận dẫn độ tội phạm. Mỹ lấy lý do "nhân  đạo" rằng nếu bị trục xuất về Cuba, phạm nhân có thể bị tra tấn.

Chúng ta còn nhớ sau thế chiến II, Đức quốc xã thua trận, các sĩ quan cao cấp của Đức quốc xã còn sống sót, lập tức thay đổi họ tên, dùng phẫu thuật thẩm mỹ thay đổi cả hình dạng, nhân thân rồi trốn đi tỵ nạn ở các nước xa xôi, để tránh bị trả thù, một trong những tên đồ tể là Karl Adolf Eichmann (sinh 1906), cải dạng trốn sang Achentina ẩn dật ở đó tới năm 1962. Mật vụ Do Thái đi săn lùng, truy nã khắp nơi, vì tên này đã phạm tội diệt  chủng Do Thái, họ đã khám phá ra nơi trú ẩn của Eichmann, mật vụ Do Thái đã sang tận Achentina bắt cóc Eichmann đưa về Giêrusalem xử tử năm 1962, bất kể việc vi phạm luật pháp của nước chủ nhà, cả thế giới xôn xao về vụ này (và  cũng  khâm phục mật vụ Do Thái).

Nhận định

Mỹ thi hành luật "không dẫn độ" nên Cuba đành chịu. Luật tỵ nạn có vẻ "nhân đạo" với một người, nhưng lại gây ra bất công lớn với hàng trăm người.

Ôi Summum Jus, Summa Injuria !

THAY PHẦN KẾT

(Trích trong tạp chí XƯA NAY – số 357 tháng 6/2010, của Hà Thúc Minh)

Công bằng chỉ được đặt ra khi xã hội không có hoặc thiếu công bằng. Người ta càng nói nhiều về công bằng bao nhiêu thì chứng tỏ xã hội càng  thiếu  công  bằng  bấy  nhiêu. Đến nỗi công bằng trở thành ảo ảnh như hồ nước trên sa mạc mà thầy trò  Đường  Tăng  nhiều  lúc  trông thấy phía trước nhưng chẳng bao giờ đến được bởi vì nó luôn ở phía trước. Có hay không có công bằng trên hành tinh này ? Chắc là "văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình" cho nên thiên hạ thường cảm thán "Trời sao Trời ở bất công" ! Tại sao người xấu vẫn sống nhởn nhơ trong khi người  lương  thiện  lại  lận  đận  cả đời, công bằng đâu rồi ? Nhà triết học người Đức, Kant không "bi quan"  như  vậy. Theo  ông,  công bằng nếu là thì tương lai ở thế giới bên này, đương nhiên sẽ là thì hiện tại ở thế giới bên kia. Không một ai có thể thoát khỏi luật nhân quả hiển nhiên này. Điều đó càng chứng tỏ rằng một cuộc sống sẽ được tiếp tục sau khi chết và sự hiện diện của Thượng đế để giải quyết công bằng. Như vậy có nghĩa là con người không thể tự mình thực hiện công bằng mà phải nhờ vào bàn tay của Thượng đế.

Phải chăng công bằng chỉ có ở thế giới bên kia chứ không có thể có ở thế giới bên này ? Phải chăng công bằng không nằm trong tầm với của con người ? Nếu như bản chất của cuộc sống là ích kỷ như Ikeda nhận xét thì công bằng chỉ là một giấc mơ hoa giữa ban ngày. Không phải chỉ có Ikeda mà ngay đến đại văn  hào  Voltaire  cũng  cho  rằng năm ngón tay còn có ngón ngắn ngón dài huống chi cả cuộc đời này, công bằng khó lắm thay ! Nhà tỉ phú người Mỹ Bill Gates đang sống ở thế kỷ gọi là văn minh của nhân loại  cũng  thừa  nhận  rằng  "cuộc sống là bất công, thôi thì hãy tập làm quen với nó đi vậy" (Life is not fair, get used to it).

Công bằng ? Hoặc là ráng chờ ở… thế giới bên kia hoặc là hãy tập làm quen với bất công ở thế giới bên này. Chẳng biết nên chọn cách nào hay là cứ "gẫm hay muôn sự tại Trời" !

Từ  khai  thiên  lập  địa  đến  nay, con người ở đâu cũng vậy, thường đánh đồng giữa công bằng và "bình quân". Nhưng càng ngày người ta càng nhận ra rằng công bằng không phải là bình quân. Bình quân triệt tiêu động lực của con người nhưng công  bằng  thì  không.  Chuyển  từ bình  quân  sang  giàu  nghèo  phân cực có nghĩa là chuyển từ cực nọ sang cực kia. Liệu cái "cực kia" đó có phát huy được động lực của con người hay là càng triệt tiêu hơn ? "Một bộ phận giàu trước" và "phân cực giàu nghèo" là hai sự việc hoàn toàn  khác nhau. Một  bên  là  thực hiện công bằng còn một bên lại tạo ra sự bất công. Hình như cuộc sống tự nó cũng đã chứng tỏ rằng một bước tiến tới cái gọi là giàu, mạnh đồng thời cũng là một bước thụt lùi khá dài của công bằng. Tham nhũng đang trở thành quốc nạn, mất dân chủ, vô cảm với dân, lợi dụng chức quyền làm ăn bất chính … hãy còn đó mọi lúc mọi nơi thì làm sao có thể gọi đó là công bằng được ?

Trong tác phẩm Phê phán cương lĩnh Gô-ta, Mác đã nói đến nhiệm vụ hàng đầu của xã hội chủ nghĩa là phải thực hiện công bằng. Công bằng ở thế giới bên này chứ không phải ở thế giới bên kia. Công bằng không  thể  có  được  khi  giai  cấp thống  trị  chưa  từ  bỏ  quyền  lực. Thực hiện công bằng khi chưa đủ điều kiện cũng như không có công bằng khi đã có điều kiện đều đáng phê phán như nhau.

Nhưng, thế nào là công bằng ? Các ngành khoa học xã hội và nhân văn đang cố nắm bắt nó, cho dù nó là ảo ảnh hay hiện thực. Hai xu hướng chủ yếu nghiên cứu về công bằng về phân phối sản phẩm xã hội (Distributive Justice) và công bằng trong quan hệ đối xử (Retributive Justice). Ân oán trên đời nên giải quyết như thế nào là công bằng ? Chẳng biết nên lấy "oán báo oán" hay là "lấy ân báo oán" ? Nhưng thôi, chuyện đó để tính sau, bây giờ hãy bàn về công bằng trong phân phối của cải xã hội trước đã.

Trong Phê phán cương lĩnh Gô-ta, Mác nhận xét về công bằng ở chủ nghĩa cộng sản như sau : Chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản đều giống nhau ở chỗ "mọi người đều làm hết sức mình" (From each according  to  his  ablility),  nhưng  sức sản xuất của xã hội chủ nghĩa kém hơn nhiều so với xã hội cộng sản, cho nên ở xã hội chủ nghĩa chỉ có thể thực hiện công bằng bằng nguyên tắc "phân phối theo năng lực" (Distribution according to work) chứ không phải theo nguyên tắc "hưởng theo nhu cầu" (Get mine get yours) như xã hội cộng sản. Chẳng biết xã hội hiện nay đã thực hiện được bao nhiêu ? Theo số liệu của Cục thống kê cuối năm 2009, tỷ lệ thất nghiệp là 4,65%, tỷ lệ người thiếu việc làm là 5,1%. Như vậy là ngay đến việc làm cũng chưa có lấy đâu ra cái gọi là "làm hết sức mình"? Ngay cán bộ, nhân viên nhà nước liệu có bao nhiêu phần trăm "làm hết sức mình" ? Còn phân phối thì ai dám bảo là đã căn cứ vào năng

lực lao động ? Tình trạng "người ăn không hết, kẻ lần không ra" vẫn còn đó, không phải là biểu hiện công bằng dựa theo năng lực mà chính là đang  thách  thức  với  công  bằng. Thật ra cũng khó mà thuyết phục rằng xã hội hiện nay đang thực hiện nguyên tắc công bằng mà Mác đã đề xuất ! Cái gọi là hiện tượng tiêu cực trong xã hội không nhiều thì ít có lẽ cũng từ đó mà ra. Chẳng lẽ cái "danh"   lại   quan   trọng   hơn   cái "thực" đến nhường ấy ?

Nói như vậy không có nghĩa là thiên hạ thiếu quan tâm hoặc ít nói tới công bằng. Ngược lại là đằng khác, công  bằng đang  được quan tâm và nói nhiều hơn bất cứ lúc nào hết. Tuy nhiên "quan tâm", "nói nhiều" … và thực hiện đến đâu lại là hai chuyện khác nhau. Có lẽ những  con  rồng  "công  bằng"  đủ màu sắc trên giấy kia mới chỉ có một mắt cho nên chưa bay lên được ?

Phải chăng giàu, mạnh là tiền đề tất yếu của công bằng ? Nếu như "công bằng trước số không" là vô nghĩa thì "bất công trước số nhiều" liệu có ý nghĩa gì hơn không ? Khái niệm công bằng chỉ xuất hiện khi kinh tế xã hội tương đối phát triển chứ  không  phải  khi  xã  hội  còn nghèo nàn. Có người cho rằng con người ở xã hội nguyên thủy không hề  cảm  thấy bất  công  hay  nghèo nàn. "Giàu", "nghèo" là khái niệm tương đối, là cảm nhận chủ quan của con người ở thế kỷ XXI đối với người xưa. Biết đâu trong tương lại xa xôi nào đó, con cháu chúng ta lấy làm thương hại cho cuộc sống nghèo nàn hiện nay ?

"Công bằng" là khái niệm thuộc nhiều lĩnh vực như chính trị, kinh tế, xã hội, đạo đức … vừa là sự thực vừa là giá trị, cho nên công bằng có thể thực hiện và cần phải thực hiện ngay khi xã hội hãy còn nghèo. Mọi người còn nhớ trước đây trong thời kỳ cách mạng giải phóng dân tộc, kinh tế còn nhiều khó khăn, Hồ Chí Minh đã trích câu nói của Khổng Tử   trong   sách   Luận   ngữ   rằng "không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng, không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên" để giải quyết tình trạng thiếu thốn lúc bấy giờ. Như vậy có nghĩa là công bằng không phụ thuộc vào điều kiện vật chất cũng như kỹ thuật cao. Công bằng hoàn toàn nằm trong tầm tay trong khi  giàu,  mạnh  xem  ra  hãy  còn nhiều gian truân. Hơn nữa, giàu, mạnh lại được bắt đầu bằng chấp nhận  cách  biệt  giàu,  nghèo,  có nghĩa là nếu không có bất công thì không thể giàu, mạnh được ? Cứ theo lo-gích đó thì càng giàu, mạnh càng bất công. Đối tượng của cách mạng không phải đánh đổ giàu, mạnh mà chính là xóa bỏ bất công. Nguyên nhân của nghèo nàn không phải chỉ do bản thân kinh tế mà còn do chính con người, nói cách khác là do bất công xã hội. Hai chuyên gia kinh tế nổi tiếng thế giới là Francis Moore Lappé và Joseph Collins  trong  Lương  thực  là  thứ nhất (Food first, 1977) và Mười hai thần  thoại  về  nạn  đói  thế  giới (World Hunger Twelve myths, 1986) cũng nhận xét rằng đói kém hay lương thực thiếu hụt chính là do bất công trên thế giới. Hiện nay trên thế giới thường xuyên có hàng tỷ người thiếu đói trong khi lương thực trên thế giới thừa sức nuôi sống toàn nhân loại. Công bằng xã hội sẽ là động lực của giàu mạnh, bất công không những là lực cản mà con là nguyên nhân chủ yếu của phát triển kinh tế - xã hội không bền vững.

Lẽ nào giàu, mạnh cứ phải trượt dài trên đường cao tốc Bắc-Nam, để rồi bỏ rơi công bằng lại phía sau, nhọc nhằn, lẽo đẽo "đi một bước đường một đau" bên bờ sông Pô-kô giữa núi rừng Tây Nguyên một thời chiến tranh, một thời hòa bình …

(Hà Thúc Minh)

Nhận định

a. Công lý và bất công trên đời này luôn có mặt bên nhau, đan xen nhau như biểu đồ của lưỡng nghi vậy. Bất công là do thiếu công lý, mà công lý tuyệt đối thì chẳng bao giờ có trên đời này. Ngành pháp luật lấy cái cân có hai đĩa hai bên làm biểu tượng, người ta vẫn gọi "cán cân công lý", nhưng thử hỏi có hai đĩa cân nào cân bằng tuyệt đối không ? (đây có ý nói đĩa không mà thôi, chưa có gì đặt trên đó), không lẽ những hạt bụi hoặc những phân tử nước trong không khí rơi đều trên cả hai đĩa cân ? Cho dù chỉ 1 phần tỷ tỷ tỷ microgram ?

b. Công bằng là nền tảng của hạnh phúc, không có công bằng thì cũng  không  có  hạnh  phúc.  Mà ước  vọng  của  mọi  người,  mọi thời, mọi nơi là hạnh phúc tuyệt đối. Điều này không thể có ở trần gian.

c. Vậy không lẽ con người "linh ư vạn vật" sinh ra ở trên đời này chỉ là để gây bất công và chịu đựng sự bất công ? Rõ là phi lý, không thể chấp nhận được.

d. Tạo  Hóa  tác  sinh  con  người  ở trần gian này là để được hạnh phúc, sở dĩ chưa đạt hạnh phúc là vì  giới  hạn,  khiếm  khuyết  của con người, do đó vô tình hay hữu ý làm nảy sinh những bất công là khiến con người bất hạnh.

Chương trình truyền hình VTV2 tối ngày 17/11/2011 chiếu lại khó họp Quốc hội mới đây, trong đó có đại biểu đứng lên yêu cầu Quốc hội "phải nghiên cứu kỹ, đối chiếu với thực tế đời sống rồi mới soạn luật, tránh những trường hợp luật dễ ra nhưng lại khó bỏ".

(Cụ thể của việc vội vàng ra luật mà không nghiên cứu thực tế, gây bức xúc cho dân, đó là luật không cho chuyển đổi một phần đất vườn thành đất ở, mà phải chuyển  cả  thửa.  Tuyệt  đại  đa số  dân nghèo lấy đâu ra tiền nộp thuế, chỉ còn một cách là cả đời ở lều trên phần đất của mình, có thể luật này sẽ phải điều chỉnh, mà điều chỉnh thì bộc lộ trình độ "non yếu" của nền luật pháp nước mình, hay đúng hơn là trình độ yếu kém của những người làm luật. Nếu không điều chỉnh thì khó tránh khỏi bất công cho dân chúng)

e. Cũng do giới hạn của loài người cho nên trên thế gian này chẳng bao  giờ  có  bộ  luật  hoàn  hảo 100%, ngay cả luật La Mã nữa – Một là do trí khôn nhỏ bé của loài người không thể nào dự trù, hay nói nôm na là vít hết mọi kẽ hở của một khoản luật, mà còn hở thì còn "lọt người lọt tội" ; Hai là khi xét xử, các thẩm phán cũng không thể nào biết hết mọi chi tiết  trong  vụ  việc  và  quá trình thực  hiện  tội  ác  (không  làm  chủ được quá khứ) ; Ba là dù có biết điều phải làm để bảo vệ công lý, thì nhiều khi cũng không thể thực hiện được – ví dụ biết ông A đắp thêm 6cm tường lấn ra là sai, nhưng khi ra lệnh cưỡng chế, ai có thể bóc tách được đúng 6cm tường ra mà không làm hại tới cả bức tường và cả ngôi nhà sắp sập ? Cũng như trong vở kịch "Người lái buôn thành Venise", quan tòa biết rằng xẻo 1 cân thịt là đúng luật  công  bằng,  nhưng  ai  thực hiện  được  việc  này  mà  không chảy một 1 giọt máu, đồng thời không thừa không thiếu 1mg ?

f. Các bạn đọc nghĩ thế nào, chấp nhận thế nào thì tùy, nhưng bản thân người viết thì nhất định đòi công lý tuyệt đối, không chấp nhận một ly bất công nào. Nếu ở đời này không thể đòi được thì chắc chắn còn  có  đời  sau vĩnh cửu để chúng ta đòi, lúc đó vị Chúa Tể trời đất – Đấng chí công vô tư, thấu suốt mọi bí ẩn : "thiên võng khôi khôi sơ nhi bất lậu", Đấng đó có quyền năng tuyệt đối, thừa khả năng "bóc tách 6cm tường, cắt đủ một cân thịt mà không chảy một giọt máu" như công lý đòi hỏi. Chỉ có Đấng đó mới  có  thể  đem  lại  hạnh  phúc tròn đầy và vĩnh cửu cho con người như lòng nó mơ ước :

-  "Cha của anh, Đấng thấu suốt mọi bí ẩn" (sách Tin Mừng theo thánh Mátthêu đoạn 6, câu 4).

-  "Anh  sẽ  không  ra  khỏi  ngục cho tới khi trả xong đồng xu cuối cùng" (sách Tin Mừng theo thánh Mátthêu đoạn 5, câu 26).

-  "Đến ngày phán xét, người ta sẽ  phải  trả  lời  về  mọi  điều mình  nói  và  mọi  việc  mình làm" (sách Tin Mừng theo thánh Mátthêu đoạn 12, câu 36).

-  "Vì Con Người (Chúa Giêsu) sẽ ngự đến vào ngày tận thế trong vinh quang của Cha Người (Chúa Trời), cùng với các thiên thần của Người, và bấy giờ Người sẽ thưởng phạt ai nấy xứng việc họ làm" (sách Tin Mừng theo thánh Mátthêu, đoạn 16, câu 27).

- "Chúa xét xử dân Người theo công lý và bênh vực quyền lợi kẻ nghèo hèn" (Thánh Vịnh 71 câu 2).

-  "Chúa  ngự  đến  xét  xử  trần gian,  Người  xét  xử  địa  cầu theo đường công chính, xét xử muôn dân theo chân lý của Người" (Tv 96,13).

-  Công lý, bình an và hạnh phúc tuyệt đối sẽ chỉ có trong Nước Chúa ở kiếp sau mà thôi, đó chính  là  trời  mới,  đất  mới  : "Núi đem lại cảnh hòa bình trăm họ, đồi rước về nền công lý vạn dân" (Tv 71,3).

-  Ludwig  Van  Beethoven  (nhà soạn  nhạc  Đức,  1770-1827)   10 năm cuối đời bị điếc nặng, lúc hấp hối ông nói hổn hển : "Về với Thượng Đế, tôi sẽ lại nghe thấy các bản nhạc của mình" (KTNN  số  747,  10/5/2011,  trang 26).

-  Samuel   Langhorne  Ciemens, tức Mark Twain (nhà báo, nhà văn Mỹ, 1830-1910), trước khi lìa đời đã nói : "Tạm biệt nhưng chúng ta rồi sẽ gặp lại nhau" (Sđd trang 26).

- Thomas Alva Edison (nhà sáng chế  Mỹ,  1847-1931),  trước  giờ lâm   chung,   nói   với   những người thân yêu : "Phong cảnh thế giới bên kia tuyệt đẹp" (Sđd trang 26).

LỜI TÂM NIỆM

-  Lạy Đấng thiêng liêng Tối cao,
-  Lạy Đấng Tạo Hóa,
-  Lạy Đấng Tuyệt Đối,
-  Lạy Thượng Đế,
-  Lạy Ông Trời,

 Chúng con đây là những thọ tạo đứng  trên  muôn  vật  trong  vũ  trụ. Chúng con đã được Ngài tạo dựng nên giống hình ảnh của Ngài là Thiên Chúa, vì chúng con có trí nhớ, có trí tuệ, có ý muốn, có tự do.

Chúng con luôn thao thức trước những vấn đề :

1.  Bởi đâu có vũ trụ này ?
2.  Bởi đâu có bản thân chúng con ?
3.  Đâu là mục đích của cuộc đời ?
4.  Chết rồi sẽ đi về đâu ?
5.  Làm điều thiện, ai sẽ thưởng công cho ?
(theo ai, thờ ai thì sẽ lãnh thưởng nơi người ấy, nếu người ấy to hơn Ông Trời)
6.  Làm điều ác, ai sẽ phạt tội ?
7. Ai sẽ thỏa mãn khát vọng hạnh phúc tuyệt đối của chúng con ?

 Chúng con muốn đi tìm chân lý, tìm ý nghĩa đích thực cho cuộc đời. Xin Ngài soi trí mở lòng cho chúng con, để chúng con được tìm thấy Ngài, và được niềm vui gọi Ngài là Cha, như hơn  2  tỉ Kitô  hữu  trên  thế  giới  – Amen.

 (Tiến sĩ Phan Như Ngọc, Email : pnngoc@gmx.net – Trích Bài giảng Chúa nhật - TGM, số 4/2007, trang 74)

Tân Bình, ngày 25/11/2011

Lm. Giuse NGUYỄN HỮU TRIẾT

Về đầu trang

----------------------------------------

Tập 10: Những suy nghĩ vẩn nơ: CUỘC SỐNG KHÔNG GIỚI HẠN

Lm. Giuse NGUYỄN HỮU TRIẾT

26/01/2013

LỜI ĐẦU

Loài người được Tạo Hóa tác thành hơn  và  khác  loài  vật ở chỗ có lý trí và tự do.

"Tự do là khả năng biểu  lộ ý chí,  hành  động   theo ý  muốn của mình"  (Đại Tự điển tiếng Việt – Hà Nội  1999,  trang  1762),  đây  là quyền  căn  bản  của  mỗi  người. Có   tự  do   thì  cũng   có   trách nhiệm,  nghĩa  là  có  thưởng và phạt  tùy  theo  lựa  chọn   đúng hay sai.

Người  viết tập này chỉ muốn trình bày  sự  thật mà  mình  đã cảm  nghiệm,  còn  quý  độc  giả đồng tình hay không, hoặc đồng tình  một  phần   nào   thì  hoàn toàn thuộc quyền  tự do của quý vị.

"Tên tôi là Nick Vujicic. Khác biệt với hầu hết mọi người, tôi không tay, không chân ngay từ lúc lọt lòng. Hoàn cảnh nghiệt ngã tưởng đã có lúc nhấn chìm tôi nhưng rồi khát vọng sống mãnh liệt đã giúp tôi chiến thắng số phận. Tôi đi khắp thế giới, khích lệ hàng triệu người vượt lên nghịch cảnh bằng chính niềm tin, niềm hy vọng, tình yêu và lòng dũng cảm vốn có của họ để theo đuổi những ước mơ ..."

NICK VUJICIC

“Khi bạn không được ban phép màu, hãy để chính mình là điều kỳ diệu”  là thông điệp mà chàng trai người  Úc  Nick Vujicic muốn nhắn gửi. Bạn đọc sẽ được biết tới những nghiệt ngã của số phận và nghị lực sống của anh qua nội dung được trích từ cuốn Cuộc sống không giới hạn (NXB Tổng  hợp  TP.HCM,  Nguyễn  Bích Lan dịch) do Trí Việt - First News cung cấp và giữ bản quyền.

Đứa trẻ không có chân tay

Khi tôi chào đời vào ngày 4/12/1982, thoạt đầu mẹ không được phép gặp tôi ... Mẹ tôi đếm từng giây để được nhìn thấy con mình. Đợi mãi không thấy người ta mang tôi đến, bà càng tin chắc có điều gì đó không ổn đã xảy ra.

Thay vì mang con đến cho mẹ bế, họ mời một bác sĩ nhi khoa tới và kéo nhau  ra  góc  xa  của căn phòng.  Họ nhìn tôi rồi đưa mắt nhìn nhau. Khi nghe thấy tiếng khóc oa oa của một đứa trẻ sơ sinh khỏe mạnh cất lên, mẹ nhẹ cả người. Nhưng khi đó cha tôi, người cha mà trong lúc tôi chào đời đã để ý thấy con mình không có tay, cảm thấy choáng váng và người ta phải đưa ông ra khỏi phòng.

Nhìn thấy hình hài dị biệt của tôi, các bác sĩ và y tá không khỏi bàng hoàng, vội lấy khăn bọc tôi lại.

“Có chuyện gì vậy ? Chuyện gì đã xảy ra với con tôi vậy ?”, mẹ hỏi.

Thoạt đầu bác sĩ không trả lời, nhưng  khi  mẹ  cứ  khăng  khăng  hỏi dồn, ông ấy không còn cách nào khác hơn là trả lời mẹ bằng một thuật ngữ y khoa : “ðứa bé bị chứng phocamelia”.

Vốn là một y tá, mẹ tôi biết thuật ngữ đó dùng để chỉ tình trạng của những đứa trẻ sinh ra bị dị dạng hoặc thiếu mất các chi. Mẹ tôi không thể nào chấp nhận sự thật nghiệt ngã này.

Giữa lúc đó, người cha hốt hoảng của tôi ở bên ngoài phòng hộ sinh, tự hỏi  những  gì  ông vừa  nhìn  thấy có phải là sự thật hay không. Khi bác sĩ nhi khoa đến nói chuyện, ông không kìm nén được, kêu lên đau đớn : “Con trai tôi, nó không có tay !”.

“Thực ra”, vị bác sĩ nói bằng giọng đầy cảm thông, “con trai anh không có cả tay lẫn chân”.

 “Ông nói gì cơ ?”. Cha không thể nào tin được.

Bàng hoàng và vô cùng đau khổ, cha ngồi như một pho tượng, không thể thốt ra được một lời nào cho đến khi bản năng che chở của một người chồng, một người cha trỗi dậy. Ông chạy vội vào phòng để nói với mẹ tôi trước khi mẹ nhìn thấy tôi, nhưng thật buồn, khi vào đến nơi cha thấy mẹ đang nằm thẫn thờ trên giường, khóc rưng rức trong đau khổ. Các nhân viên y tế đã nói cho mẹ tôi biết cái sự thật choáng váng đó. Họ đề nghị đưa tôi đến cho mẹ tôi bế, nhưng mẹ tôi từ chối. Trong những giây phút đau khổ đến xé lòng ấy, mẹ đã bảo họ hãy đưa tôi đi chỗ khác.

Các cô y tá không cầm nổi nước mắt. Bà đỡ bật khóc. Và tất nhiên tôi cũng khóc ! Cuối cùng họ đặt tôi, đứa con tật nguyền đỏ hỏn được bọc trong những lớp khăn, xuống bên cạnh mẹ, và mẹ tôi không thể nào chịu đựng nổi những gì bà đang nhìn thấy : Con trai bà, đứa con đầu lòng mà bà mang nặng đẻ đau, chào đời không có tay, không có chân.

Thay vì mừng sự chào đời của tôi trong niềm vui, cha mẹ tôi và giáo đoàn than thở : “Nếu Chúa là đấng sáng  tạo  của  tình yêu”, họ tự hỏi, “thì tại sao Người lại để cho một chuyện như thế xảy ra ?”.

Số phận  bất hạnh  hay món quà của tạo hóa ?

Cha mẹ tôi là những người Cơ ðốc giáo ngoan đạo, nhưng khi tôi chào đời  với  thân  thể  khiếm khuyết  đến mức  ấy  họ  bàng  hoàng  lắm,  không biết Chúa Trời nghĩ gì. Thoạt đầu, họ cho rằng sẽ chẳng  có  hy  vọng  và tương lai nào dành cho tôi ; rằng tôi sẽ không bao giờ có thể sống một cuộc sống bình thường hay hữu ích.

Thế nhưng, cuộc sống của tôi hiện nay đã  vượt  quá  xa  những  gì  được hình dung ngày ấy. Hằng ngày tôi gặp rất  nhiều  người  tôi  chưa  từng  quen biết qua điện thoại bàn, email, qua tin nhắn trên điện thoại di động và qua mạng xã hội Twitter. Ở bất cứ nơi nào tôi tới, tại sân bay, khách sạn, ở tiệm ăn,  mọi  người  đều  nhận  ra  tôi,  ôm chầm lấy và nói với tôi rằng bằng cách nào đó tôi đã tác động tích cực đến cuộc sống của họ. Tôi thực sự hạnh phúc. Tôi hạnh phúc đến ngẩn ngơ.

Điều mà ngày ấy bản thân tôi và gia đình không thể tiên lượng được là khuyết tật của tôi - “gánh nặng” của tôi - lại chính là một món quà, mang đến những cơ hội vô giá để tôi được gặp gỡ, cảm thông và thấu hiểu nỗi đau của những người khác, và an ủi họ.

Với hơn  1.600  bài  phát  biểu  hùng hồn,  Nick giờ đã trở thành  một nhà diễn thuyết nổi tiếng, đã truyền cảm hứng vươn lên từ khó khăn cho hàng triệu người tại 24 quốc gia, vùng lãnh thổ  trên thế giới. Anh đã  trở  thành ngọn đuốc sống "cháy" hết sức mãnh liệt  trên  toàn  cầu.  Chàng  trai sinh năm  1982 này đã vinh dự được trao giải thưởng “Công dân trẻ nước Úc” nhờ sự vững gan bền chí của mình trong nỗ lực vượt lên số phận. (N.V – Báo Thanh Niên ngày 17/12/2012)

 Ai có  thể  tin  được  rằng  dù  không chân  không tay, Nick vẫn gõ vi tính với tốc độ 40 từ/phút ? (Sđđ)

 Trước  Nick  40  năm,  nhà  vật  lý thiên  tài  Stephen  Hawking  cũng  ở trong hoàn cảnh vô cùng bi đát : MỘT THIÊN TÀI TÀN TẬT LÀM ĐẢO LỘN MỌI HỌC THUYẾT VỀ NGUỒN GỐC VŨ TRỤ

Do một căn bệnh khủng khiếp tàn phá các tế bào não, Stephen Hawking không thể bước đi, đầu anh không thể thẳng đứng và anh chỉ "nói" được nhờ giọng nói của một máy điện toán. Tuy nhiên, anh lại là Giáo sư giảng dạy những học thuyết "cách mạng" cho hàng trăm sinh viên ở Trường đại học Cambridge và nhờ những học thuyết này, anh được mệnh danh là Galilée của thế kỷ 20.

Mặt trời nhợt nhạt của mùa đông kéo  dài  đã  mọc  lên  trên  thành  phố Cambridge ở Anh, một thành phố nhỏ cách thủ đô London vài trăm km, là nơi  sản  sinh  ra  một  trong  những trường đại học nổi tiếng nhất thế giới : đại học Cambridge. Trên đường phố yên tĩnh, các sinh viên bình thản cưỡi xe đạp đến trường và bất ngờ thay, người ta trông thấy ở giữa đường một chiếc xe lăn chạy bằng điện. Trên xe là một người có gương mặt hốc hác, cổ quấn khăn quàng ca rô màu xám, miệng hơi hé mở, nhưng  đầu  cứ nghiêng sang một bên, anh ta di chuyển thật nhanh trên chiếc xe lăn nhờ một cái cần nhỏ. Anh ta tên Stephen Hawking và là một trong những nhà vật lý lý thuyết lỗi lạc nhất thế giới. Ngày nay, nhà nghiên cứu vật lý này đã trở thành tù nhân của chính thân xác mình, nhưng tư tưởng của anh thì không có gì giam hãm nổi. Hiện anh đang hướng về phía giảng đường của khoa toán học và vật lý học ứng dụng và chuẩn bị nói chuyện trước khoảng100 sinh viên. Cô y tá chăm sóc và người phụ tá chạy phía sau anh, định bắt  kịp  chiếc ghế  điện  quái  quỷ, nhưng họ chỉ hoài công, Hawking đã đến trước và chờ đợi họ với nụ cười hiền hậu  trên gương  mặt. Anh  nhìn vào màn ảnh nhỏ của máy điện toán gắn cố định trên tay ghế và thấy hàng trăm từ nối tiếp nhau hiện lên với một nhịp độ gia tăng. Anh chọn lựa các từ với đầu ngón tay bằng cách ấn lên một cái nắm tay. Và phía dưới màn ảnh dần dần hiện lên dòng chữ : "Chúng ta đã  đến  trễ".  Vài  giây  sau  đó,  một giọng nói tổng hợp đọc lên câu này cho mọi người cùng nghe.

Tại sao lại có chuyện lạ như vậy ? Bởi vì Hawking không thể nói được. Cách đây hơn 10 năm, giọng nói của anh dần dần bị hỏng, và chỉ có một thiểu số người quen mới có thể hiểu được anh muốn nói gì. ðến năm 1985, sau lần bị viêm phổi, người ta phải nhét vào khí quản của anh một ống nhỏ. Anh được cứu sống nhưng vĩnh viễn bị câm. Nhờ vào giọng nói nhân tạo thiết kế trên một máy điện toán mini có một không hai trên thế giới mà nhà vật lý còn tiếp tục giao tiếp với mọi người. Nhờ đó mà anh còn theo  đuổi  được  những  công  trình nghiên cứu của mình. Những phương trình  phức  tạp  mà  Hawking  giải  ra trên  các  danh  mục  thông  tin  dường như chẳng có gì gọi là bí mật đối với anh. Những cộng tác viên của anh đã từng ngạc nhiên thốt lên rằng : "Anh ta có được một trực giác không thể nào tưởng tượng được và một năng lực độc nhất vô nhị có thể cho phép anh ta thấy rõ một vũ trụ tới … 4 chiều".

Hawking sinh vào ngày 8/1/1942, đúng  3  thế  kỷ sau  khi  Galilée  mất. Một sự trùng hợp rất lý thú !

Ít lâu sau khi vào đại học Cambridge, Hawking nhận thấy anh ngày  càng  khó  làm  chủ  những cử động của mình. Anh trở nên vụng về. ðôi khi vào sáng sớm, anh cảm thấy đôi chân như nặng ra và người cứ như bị hẫng. Sau khi đi khám, bác sĩ cho biết  đây  là  chứng  teo  cơ  một  bên. ðiều đó có nghĩa là các tế bào thần kinh ở não sẽ dần dần bị hủy, bắt đầu từ các dây thần kinh hoạt động, ðó là chuyện xảy ra vào năm 1964, lúc Stephen Hawking mới được 22 tuổi, và kể từ đó, sinh mạng của anh được tính  từng  ngày.  Nhưng  Hawking không hề nản chí !

Một cuộc chạy đua giành giật từng giây sống giữa anh với thần chết đã diễn ra. Giọng nói đơn điệu của máy giải thích với tôi như sau : "Khi anh ở gần kề cái chết thì anh mới nhận ra rằng cuộc sống này rất đáng sống và có biết bao điều phải làm ngay".

Lòng can đảm này một phần Hawking đã rút lấy trong mối tình mà Jane Wilde, cô sinh viên hiền hậu, đã mang đến cho anh. Họ gặp nhau sau khi các bác sĩ đã đưa ra bản án vài tháng trước đó, và một năm sau họ lấy nhau.

Buổi nói chuyện đã kết thúc, Hawking quay về căn phòng làm việc nhỏ của mình ở khoa toán và vật lý ứng dụng với chiếc ghế giáo sư mà Newton đã độc chiếm trước đây. Anh làm việc giữa những tấm hình của người vợ và 3 đứa con : Robert 20 tuổi, Lucy 17 tuổi,  và cậu út Timmy 8 tuổi.

"Ông hoàng vật lý" và cuộc đời gắn chặt với chiếc xe lăn

Trong một góc nhỏ có một bức ảnh thu hút sự chú ý của tôi, đó là hình Stephen  Hawking   diện   kiến  Giáo hoàng Jean-Paul II. Anh cho biết đây là kỷ niệm khi anh đến Vatican vào năm 181 để dự cuộc hội thảo về vũ trụ học do các thầy tu Dòng Tên tổ chức.

(Anh Tuấn lược dịch từ "Figaro Magazine" – Báo Kiến Thức Ngày Nay số 3, tháng 4/1988)

Mục Thế Giới  30 Ngày Qua

12/12/2012 : Nhà vật lý Stephen Hawking – đại học Cambridge, được trao giải Fundamental Physics Prize trị giá 3 triệu USD. Giải thưởng do tỷ phú Nga – Yuri Milner, lập từ tháng

7/2012 đã được trao cho 11 nhà khoa học. Giải thưởng khoa học này là giải lớn nhất từ trước đến nay. (Nguyệt san CG&DT số 216, tháng 12/2012)

Vừa rồi, 26/12/2012 trên nhật báo ðời Sống & Pháp Luật, biên tập viên Thanh Xuân có bài : "Chấn động thế giới – Nhà vật lý thiên văn số một thế giới với căn bệnh "hóa đá" kỳ lạ : Giáo sư Stephen Hawking là một trong  những  bộ  óc  thông  thái  nhất hành tinh nhưng ít ai biết khi còn nhỏ, ông  học hành  rất  chểnh  mảng. Ông lười học đến nỗi tới khi lên 8 ông mới bắt đầu biết đọc. Không những thế, ông  mắc  phải  căn  bệnh  khiến  toàn thân "hóa đá" (ALS) năm ông 21 tuổi sau khi tốt nghiệp xuất sắc đại học Oxford. Khi nhận được thông tin từ bác sĩ cho biết mình chỉ sống thêm được vài ba năm nữa, Stephen Hawking đưa mắt nhìn lên bầu trời. Và như có điều gì đó thôi thúc, ông lóe lên trong đầu suy nghĩ : "Mình còn rất nhiều việc chưa làm và đây là cơ hội cuối cùng". Chàng sinh viên trẻ bỗng nhận thấy giá trị cuộc sống và quyết sống có ích.

Nhận định

1. Sự thiệt thòi, nỗi đau đớn của Nick và Hawking thật quá lớn, chúng ta không  thể  đo  lường  được. Thân phận con người trên dương gian nhiều rủi ro, bất trắc không ai có thể tránh hết được. Chính chúng ta, tôi và các bạn, chúng ta cũng có những nỗi đau riêng, tinh thần hay thể chất có thể không quá lớn như Nick và Hawking, nhưng cũng không dễ vượt qua.

1.1  Có thể chúng ta đang ở trong tình trạng nghèo nàn túng bấn, thiếu trước hụt sau, không làm gì ra tiền, phải sống nhờ lòng hảo tâm của đồng bào …

1.2 Có thể chúng ta bệnh tật, yếu đau, lại mắc các chứng nan y mãn tính như tiểu đường, tim mạch, cao huyết áp, viêm xoang, đau bao tử, tai mũi họng  …  chúng  ta  chữa  trị  suốt  đời cũng không hết, nhất là ung thư "đa dạng và đa hệ", hoặc ngay cả căn bệnh thế kỷ sida, chỉ hy vọng kéo dài cuộc sống được bao nhiêu hay bấy nhiêu.

1.3  Có thể chúng ta bị khuyết tật bẩm sinh hay do tai nạn, do chiến tranh, bom mìn … sự khiếm khuyết này đồng hành với ta suốt cuộc đời.

1.4 Có thể chúng ta lâm cảnh thất nghiệp : có thừa sức lao động nhưng không tìm được việc làm, chúng ta cứ phải sống những ngày mỏi mòn, săn đuổi, chờ đợi việc làm để lo cho cuộc sống của mình và gia đình.

1.5 Có thể chúng ta gặp tai họa do thiên nhiên, do những người xung quanh vô tình hay cố ý gây cho ta : vô tình như tai nạn giao thông – cố ý như em bé ở Bắc Kạn trong vụ cướp tiệm vàng, bị tên cướp chém lìa cánh tay và giết chết cả gia đình em … hoặc cô gái ở cầu Phú Mỹ bị bốn tên cướp chém gần lìa tay để cướp xe … đau đớn quá !

1.6 Có thể nỗi đau đó là vết thương tâm hồn rất khó hàn gắn như trường hợp vợ chồng bị phản bội, ruồng rẫy, bạo hành … bạn bè lừa đảo nhau …

Tóm lại, rất nhiều nỗi đau, nỗi đau đến từ nhiều phía, nỗi đau nào cũng có mũi nhọn thấu tim gan … nhà Phật tóm  lại  bằng  một  câu :  "đời  là  bể khổ".

 Đứng trước nỗi đau của mình hay của tha nhân, chúng ta đôi lúc cũng thắc mắc như những người thân yêu của anh Nick : "Nếu có Chúa Trời là Tình Yêu thì sao lại để xảy ra những khổ đau nhường ấy !", và đã không ít người  mất  niềm  tin  vào  Chúa,  đã buông xuôi, đã để cho đau khổ đè bẹp và cuối cùng của những bế tắc là thất vọng và tự tìm lối giải thoát bằng tự tử. Chính Nick hồi còn bé đã nghĩ ra kế hoạch tự tử bằng cách leo lên một ghế cao trong khi mẹ đang lúi húi làm bếp – Nick cứ bị giằng co bởi ý nghĩ : Lao  xuống  phía  nào  ?  ðầu  xuống trước hay mình xuống trước ? Cho ót xuống trước hay úp mặt xuống trước ? Chết đã vậy nhỡ không chết thì sao ?

Rồi lại nghĩ đến em, đến bố mẹ và cho rằng nếu mình chết thì mọi người sẽ khóc thảm thiết lắm, và họ sẽ bị dằn vặt cho rằng mình có lỗi vì đã không chăm sóc anh cho đủ - Tình thương yêu những người ruột thịt đã kéo anh ra khỏi "bóng tối sự chết", anh quyết sống và tìm hướng vươn lên …

2. Giải đáp cho thắc mắc hoài nghi về Thiên Chúa Tình Yêu – Ngài quả là Thiên Chúa Tình Yêu, Thiên Chúa chí thánh, không một cái gì không tốt có thể tồn tại nơi Ngài. Kinh Thánh quả quyết : "Mọi sự  Ngài tạo dựng đều tốt đẹp" (St 1,12). Vậy thì những điều xấu xa, tồi tệ kia bởi đâu ra ?

Thưa hoàn toàn bởi con người lạm dụng tự do, gây ra cho mình và cho tha nhân.

2.1  Tình  trạng  nghèo  đói  không phải bởi Chúa tạo ra – Chúa tạo nên trời đất muôn vật là để cho loài người, và tài sản trời đất Chúa cho chung mọi người, nếu biết nhường nhịn chia sẻ, đùm bọc thì đâu có nghèo đói. ðằng này con người tự áp dụng luật "cá lớn nuốt cá bé, mạnh được yếu thua", nên tranh nhau chiếm hữu, nước mạnh chiếm phần tốt, nước yếu được phần xấu rồi lại đua nhau bóc lột : "người bóc lột người" mới có tình trạng phân hóa giàu nghèo hiện nay và thật không may chúng ta lại ở trong số những người  nghèo  đói  bị  "bóc  lột"  hết quyền lợi …

Nghèo đói do bất công

Báo Thanh Niên ngày 28/12/2012 mục Tôi có ý kiến :

-  Bài  "500  giờ  dạy  không  lương" đăng trên Thanh Niên ngày 27/12/2012 nhận được nhiều phản hồi của bạn đọc.

-  Quá bất công !

"Giáo  viên  mầm  non  đang  trong tình trạng quá tải sức lao động, nhưng thực tế phải gọi là đang bị bóc lột sức lao động" – độc giả Phạm Phi Phao.

"Một năm 500 giờ dạy không được hưởng  lương  !  Người  sử  dụng  lao động đã vi phạm bộ luật lao động, là hành  vi  vắt  cạn  sức  lao  động  rất nghiêm trọng" – ðộc giả Nguyễn Tiến Dũng (Bình Trưng Tây, quận 12).

Ban CTBĐ đã tổng hợp 7 ý kiến có nội dung tương tự, bức xúc về vấn đề này.

2.2 Tình trạng bệnh tật, đau yếu … chỉ tại con người – Nguyên tổ loài người : ông Ađam và bà Eva được Chúa dựng nên trong tình trạng sức khỏe viên mãn … về sau do tội lỗi của loài người, do "tham sân si" loài người hại nhau … ích kỷ vứt rác bừa bãi, bệnh  tật  lây  lan,  ham  lợi  dùng  hóa chất chế biến, bảo quản thực phẩm, ai ăn vào thì ráng chịu hậu quả là bệnh tật – Rượu, thuốc lá, sì ke … có hại mà cứ mê, cứ xài thì cứ ráng mà chịu. Sida chết người biết đấy nhưng cứ chích, cứ chơi bời … thì kêu ai bây giờ !

2.3 Tình trang bị khuyết tật – Mô hình con người mà Chúa tạo thành là hoàn chỉnh, cân đối, đẹp đẽ không thể chê vào đâu được. Chúng ta sinh ra bị dị tật bẩm sinh là do chất độc da cam, do bom đạn, do ảnh hưởng của rượu chè, của giang mai, lậu mủ … có khi do  cha  mẹ  nghèo  quá  ăn  không  đủ chất, hoặc do bị bạo hành trong quá trình mang thai. Có rất nhiều nguyên nhân chủ quan và kháchquan, bên trong và bên ngoài đóng góp vào sự hình thành khuyết tật của chúng ta. Chúng ta cũng có thể bị khuyết tật do tai  nạn  giao  thông  hay  các  tai  nạn khác, không loại trừ cả những vụ cướp giựt, đâm chém ngoài đường, ngoài chợ hoặc do chính chúng ta bất cẩn sẩy chân, ngã, vấp, gây cháy, nổ …có khi do ăn uống tích tụ độc chất phát sinh tiểu đường rồi bị đoạn chi, tháo khớp …

2.4 Tình trạng thất nghiệp – Chúng ta phải chịu là do cơ chế xã hội chưa hoàn hảo gây nên : Báo chí mới đăng vụ đất đai ở huyện ðông Triều, Quảng Ninh : thu hồi đất nông nghiệp của nông dân, bồi thường 38.000 đồng/m2 nhượng cho dự án đầu tư kinh doanh cái gì không biết, chỉ biết rằng nông dân không còn đất trồng cấy, họ quen nghề  nông,  không  có  chuyên  môn, chưa được chuẩn bị chuyển đổi nghề nghiệp … bây giờ sống làm sao, ở làm sao đây ? Bồi thường 38.000 đồng/m2 đất cũng được, nhưng xin chỉ cho dân chỗ nào thuận lợi như đất đã thu mà giá cũng 38.000 đồng/m2 xem nào ! Xin  làm  công  nhân  xí  nghiệp  thì không có tay nghề ; xin làm bảo vệ cũng  đòi  "trình  độ" có  khi  phải  là bằng B anh văn, nông dân chân lấm tay bùn lấy đâu ra ! Tình trạng "mật ít ruồi nhiều" kiếm đâu ra việc làm ổn định mà sinh sống ? đương  nhiên phải thất nghiệp, mà thất nghiệp thì luôn đồng nghĩa với nghèo đói khổ sở, cơ cực … Tài nguyên trời đất này Chúa cho chung mọi người cơ mà sao nó toàn biến thành của riêng của tầng lớp thế lực giàu có thôi !

2.5 Các tai họa – Tai họa gồm thiên tai và nhân tai, nhưng nhân tai là chủ yếu : lũ quét là do con người phá sạch rừng. Có lần báo  chí đăng về vùng rừng miền Tây Ninh, dân phá sạch trong  vòng  mười  năm,  để  trồng  lại như cũ, bài báo cho biết phải mất 150 năm !

Khí hậu biến đổi, bão tố, sóng thần… do khí thải nhà máy làm bầu khí nóng lên, băng bắc và nam cực tan chảy không kềm chế được … Còn  những  tai  nạn  do  con  người gây nên làm khổ nhau thì muôn mặt, nào tai nạn giao thông, tai nạn nghề nghiệp, tai nạn do bất cẩn, tai nạn do cướp giựt đâm chém, đả thương …

2.6 Vết thương tâm hồn – Có những người giàu có tưởng chừng như hạnh phúc nhưng có thể tâm hồn bị thương tật.  Kẻ  thì  vợ  hư,  người  thì  chồng hỏng, kẻ khác thì con cái quậy phá gây ra trăm nghìn nỗi đau. Cách nay 30 năm, nước Mêhicô có bộ phim rất hay, cuốn hút mọi tầng lớp dân chúng Việt Nam, đó là bộ phim "Người giàu cũng khóc", bộ phim này có thể tóm kết các nỗi đau tâm hồn.

3. Con đường giải thoát.

3.1 Nick và Hawking đã hé mở cho chúng ta một phần đường giải thoát, đó là can đảm chấp nhận sự thật về bản thân mình, chấp nhận tình trạng hiện tại của mình, không bi quan yếm thế mà luôn hy vọng, mơ ước và cố gắng hết sức, kiên trì, tận dụng những gì còn lại của mình để vươn lên, để sống có ích cho mình và cho người, cố gắng  khám  phá  và  rèn  luyện  "tài năng" ẩn giấu nơi mỗi người. Giống như Nick khám phá ra khả năng diễn thuyết, khả năng tiếp xúc của anh để rồi phát huy rộng rãi, đem lại lợi ích cho nhiều người. Không bao giờ để cho tuyệt vọng đè bẹp mình, cho dù ngày mai mình chết thì từ nay đến mai vẫn  còn  cơ  hội  làm  những  điều  tốt đẹp.  Một  cô  Thúy  năm  nào  đã lạc quan  làm  việc  thiện  cho  đến  chết. Ngày nay lớp thanh niên vẫn còn nối tiếp "ước mơ của Thúy".

3.2  Tin tưởng nơi Chúa sẽ không bao giờ thất vọng : "Chẳng ai tin cậy Chúa mà lại phải nhục nhằn tủi hổ" (Tv 24,3) Những tình trạng tồi tệ kể trên vẫn có thể xảy ra trên đời này là do Chúa đã ban cho con người món quà quý giá là tự do, và Chúa tuyệt đối tôn trọng tự do của mỗi người,  để  rồi chung cuộc sẽ thưởng phạt họ tùy theo tự do lựa chọn của họ. Nếu không có một cuộc phán xét cuối cùng của cả nhân loại thì cuộc sống của chúng ta quả là phi lý và không có gì phi lý hơn.  Vì  biết  bao nhiêu  người  chết trong nghèo đói, bệnh hoạn, thương tật, khuyết tật do sự tàn ác, bất công con người gây ra cho nhau. Bé gái ở Bắc Kạn, con chủ tiệm vàng ; cô gái ở cầu Phú Mỹ … bị kẻ ác chém rời tay, thương tật suốt đời không gì có thể bù đắp cân bằng được ; Cô sinh viên 23 tuổi ở thủ đô Ấn ðộ bị hãm hiếp tập thể trên xe buýt ngày 16/12/2012 đã chết ở Singpore sáng 29/12/2012, những kẻ gây ra nỗi đau thương và cái chết của cô đã bị bắt nhưng chưa bị xét xử (Internet – Thanh Phương), thế mà chết là hết, là huề cả làng, kẻ ác cũng như người lành, kẻ đè đầu bóp cổ người khác cũng như kẻ bị bóc lột thì còn đâu là công lý mà lòng người luôn khát khao – và ðấng Thượng ðế chí công không lẽ ngoảnh mặt làm ngơ. Như thế thì làm gì còn danh hiệu "Thượng ðế Chí Công", "Ông Trời có mắt", "Thiên Chúa Tình Yêu". Vì thế chắc chắn sẽ có ngày Chúa trả lại đầy đủ những phần thân thể bị khiếm khuyết  cho  chúng  ta,  như  mô  hình hoàn chỉnh ban đầu. Khi được Chúa cho sống lại ("Những ai đến với tôi, tôi sẽ cho họ sống lại trong ngày sau  hết" – Ga 6,44), sẽ không còn cảnh cụt chân, cụt tay,  mù  mắt,  thương  tật  nữa. Tình trạng giàu nghèo cũng bị xóa bỏ, mọi bất công sẽ bị loại trừ và mọi người sẽ bình đẳng với nhau, lãnh thưởng hay chịu phạt tùy theo sự tự do lựa chọn đúng hay sai của mình. Phán xét này thật công minh, không mảy may thiên vị, và những kẻ gây ra đau thương, mất mát cho người khác sẽ bị nghiêm trị. để được như thế, ngay từ bây giờ người ta phải tin tưởng, tôn thờ Chúa, chấp nhận tuân thủ các điều răn của Ngài như Chúa Giêsu đã dạy : "Muốn vào nước  trời thì phải  giữ các điều răn" (Mt 19,17). Tình trạng hiện tại chúng ta phải chấp nhận có khi cả đời như Nick và Hawking, Nick không hy vọng sẽ mọc lại tay chân được, Hawking cũng không hy vọng đứng lên được, nhưng sau này chắc chắn sẽ khác, sẽ hoàn chỉnh.

Bạn có tin không ? Bạn có muốn không ? Nếu bạn muốn, hãy tin và gia nhập Hội Thánh Chúa, bạn sẽ được. Tất cả tùy bạn đấy !

LỜI TÂM NIỆM

-  Lạy Đấng thiêng liêng Tối cao,
-  Lạy Đấng Tạo Hóa,
-  Lạy Đấng Tuyệt Đối,
-  Lạy Thượng Đế,
-  Lạy Ông Trời,

 Chúng con đây là những thọ tạo đứng trên muôn vật trong vũ trụ. Chúng con đã được Ngài tạo dựng nên  giống  hình  ảnh  của  Ngài  là Thiên Chúa, vì chúng con có trí nhớ, có trí tuệ, có ý muốn, có tự do.

Chúng con luôn thao thức trước những vấn đề :

1.  Bởi đâu có vũ trụ này ?
2.  Bởi đâu có bản thân chúng con ?
3.  Đâu là mục đích của cuộc đời ?
4.  Chết rồi sẽ đi về đâu ?
5.  Làm điều thiện, ai sẽ thưởng công cho ?
(theo ai, thờ ai thì sẽ lãnh thưởng nơi người ấy, nếu người ấy to hơn Ông Trời)
6.  Làm điều ác, ai sẽ phạt tội ?
7. Ai sẽ thỏa mãn khát vọng hạnh phúc tuyệt đối của chúng con ?

 Chúng con muốn đi tìm chân lý, tìm ý nghĩa đích thực cho cuộc đời. Xin Ngài soi trí mở lòng cho chúng con, để chúng con được tìm thấy Ngài, và được niềm vui gọi Ngài là Cha, như hơn 2 tỉ Kitô hữu trên thế giới – Amen.

(Tiến sĩ Phan Như Ngọc, Email : pnngoc@gmx.net – Trích Bài giảng Chúa nhật - TGM, số 4/2007, trang 74)

 Tân Bình, ngày 01/06/2011

Lm. Giuse NGUYỄN HỮU TRIẾT

Về đầu trang

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây