THÁNH GIÁO YẾU LÝ - Cần Thơ Ấn Quán

Thứ tư - 25/03/2020 07:07
THÁNH GIÁO YẾU LÝ - Cần Thơ Ấn Quán
THÁNH GIÁO YẾU LÝ - Cần Thơ Ấn Quán


THÁNH GIÁO
YẾU LÝ

IN LẦN THỨ HAI 30.000 QUYỂN


- NHÀ IN VÀ XUẤT BẢN-
CẦN THƠ ẤN QUÁN
5/1, Nguyễn Công Trứ, 5/1
CẦN THƠ

CUM PERMISSU SUPERIORUM





CHÚA GIÊSU PHÁN RẰNG:



“Tao là Đàng
là sự Thật
là sự Sống”.
(Êv. Ông thánh Gioan XIV,6)

MỤC LỤC :
THIÊN CHÚA NHỨT THỂ TAM VỊ ĐỆ NHỨT THIÊN.. 5
GIÁNG SANH CỨU THẾ ĐỆ NHỊ THIÊN.. 7
TỬ KỲ HỮU ĐỊNH ĐỆ TAM THIÊN.. 9
NHƠN SANH TỘI CHƯỞNG  ĐỆ TỨ THIÊN.. 10
THÁNH BÍ TÍCH ĐỆ NGŨ THIÊN.. 13
THÁNH THỂ ĐỆ LỤC THIÊN.. 15
CÁO GIẢI ĐỆ THẤT THIÊN.. 18
CÁO MÌNH BỐ THỤC ĐỆ BÁT THIÊN.. 20
CHUNG PHÚ, THẦN PHẨM  HÔN PHỐI ĐỆ CỬU THIÊN.. 22
THẬP GIÁI ĐỆ THẬP THIÊN.. 24
HỘI THÁNH ĐIỀU LUẬT ĐỆ THẬP NHỨT THIÊN.. 32
THIÊN CHÚA KINH GIẢI ĐỆ THẬP NHỊ THIÊN.. 33
THÁNH MẪU KINH GIẢI ĐỆ THẬP TAM THIÊN.. 37
NGHĨA KINH TÍN KÍNH.. 38
ĐIỀU THỨ NHỨT. 39
ĐIỀU THỨ HAI. 41
ĐIỀU THỨ BA.. 42
ĐIỀU THỨ BỐN.. 42
ĐIỀU THỨ NĂM... 43
ĐIỀU THỨ SÁU.. 43
ĐIỀU THỨ BẢY.. 44
ĐIỀU THỨ TÁM... 44
ĐIỀU THỨ CHÍN.. 45
ĐIỀU THỨ MƯỜI. 47
ĐIỀU THỨ MƯỜI MỘT. 47
ĐIỀU THỨ MƯỜI HAI. 47
ĐIỀU DẠY VỀ PHÉP THÊM SỨC.. 48
CÁO GIẢI NHỨT THIÊN.. 52
LỜI CẦN KÍP Để dạy kẻ ngoại khi gần chết 58
NĂM SỰ CẦN KÍP Ta phải tin cho đặng rỗi linh hồn. 59
TỜ CHỈ NHỮNG CHIM NÀO NÊN ĂN  TRONG NHỮNG NGÀY KIÊNG THỊT. 60
PHẦN THÊM... 61
Về ơn nghĩa cùng Chúa. 61
THƯA KINH GIÚP LỄ & ĐOẠN THẦY…. 63
INTROITUS. 65
GLORIA IN EXCELSIS. 65
OREMUS. 66
EPISTOLA.. 66
CREDO.. 67
OFFERTORIUM... 67
PRÆFATIO.. 68
SANCTUS. 69
CANON.. 69
MEMENTO VIVORUM... 69
ELEVATIO.. 71
MEMENTO DEFUNCTORUM... 71
PATER NOSTER.. 71
AGNUS DEI. 72
COMMUNIO.. 73
OREMUS. 73
Lời nguyện ông thánh Inhatiô. 75














 

THIÊN CHÚA NHỨT THỂ TAM VỊ
ĐỆ NHỨT THIÊN


Hỏi: Có mấy đàng lên thiên đàng?
Thưa: Có một đàng rất chính rất thật, là đạo thánh Đức Chúa Trời.
H. Đức Chúa Trời là ai?
T. Là Đấng dựng nên trời đất muôn vật.
H. Đức Chúa Trời lấy đi gì mà dựng nên trời đất muôn vật?
T. Lấy phép tắc vô cùng.
H. Lấy phép tắc vô cùng nghĩa là làm sao?
T. Nghĩa là bởi không mà Người phán một lời, tức thì liền có trời đất muôn vật.
H. Vì ý nào mà Đức Chúa Trời dựng nên trời đất muôn vật?
T. Có ý cho sáng danh Người, cùng cho ta đặng dùng.
H. Thuở chưa có trời đất, Đức Chúa Trời ở đâu?
T. Trước sau cũng vậy, vì Người là tính thiêng liêng, chẳng lựa có nơi nào thì mới ở đặng.
H. Ai sinh ra ta?
T. Đức Chúa Trời sinh ra ta.
H. Đức Chúa Trời sinh ra ta làm chi?
T. Đức Chúa Trời sinh ta cho đặng thờ phượng kính mến Người, hầu ngày sau hưởng phúc đời đời.
H. Đức Chúa Trời ra làm sao?
T. Đức Chúa Trời là Đấng trọn tốt trọn lành, thiêng liêng, sáng láng vô cùng.
H. Đức Chúa Trời ở đâu?
T. Đức Chúa Trời ở khắp mọi nơi.
H. Đức Chúa Trời ở khắp mọi nơi, làm sao ta xem chẳng thấy?
T. Vì Người là tính thiêng liêng, cho nên con mắt ta xem chẳng thấy.
H. Ta đã chẳng thấy Đức Chúa Trời, mà Người có thấy ta chăng?
T. Người xem thấy tỏ tường, dầu những sự kín nhiệm trong lòng ta, thì Người cũng soi thấu nữa.
H. Đức Chúa Trời mới có thuở nào?
T. Người là Đấng tự hữu, hằng có đời đời.
H. Có mấy Đức Chúa Trời?
T. Có một Đức Chúa Trời, mà Người có Ba Ngôi: Ngôi thứ Nhứt là Cha, Ngôi thứ Hai là Con, Ngôi thứ Ba là Thánh Thần.
H. Ngôi thứ nhứt có phải là Chúa chăng?
T. Phải.
H. Ngôi thứ hai có phải là Chúa chăng?
T. Phải.
H. Ngôi thứ ba có phải là Chúa chăng?
T. Phải.
H. Nếu vậy chẳng phải là ba Đức Chúa Trời sao?
T. Chẳng phải, vì Ba Ngôi cũng một tính, một phép, cho nên Ba Ngôi cũng một Chúa mà thôi.
H. Có Ngôi nào lớn, Ngôi nào bé chăng?
T. Ba Ngôi cũng bằng nhau, không lớn mọn trước sau.
H. Đức Chúa Trời đã sinh ra loài nào trọng hơn?
T. Đức Chúa Trời đã sinh ra hai loài trọng hơn: một là Thiên Thần, hai là loài người ta.
H. Thiên thần là đấng nào?
T. Thiên thần là đấng thiêng liêng, Đức Chúa Trời dựng nên mà chầu chực Người,  và hưởng phúc đời đời.
H. Hết thảy các Thiên thần có đặng hưởng phúc đời đời chăng?
T. Chẳng đặng, vì có phần phạm tội kiêu ngạo, nên Đức Chúa Trời phạt nó trong hoả ngục, gọi là ma quỉ.
H. Các thiên thần đã giữ nghĩa cùng Chúa bây giờ ở đâu?
T. Các đấng ấy hưởng phúc đời đời trên thiên đàng.
H. Các thiên thần có giúp người ta chăng?
T. Mỗi người có một Thiên thần gìn giữ mình, nên ta phải tin cậy và tôn kính người lắm.
H. Tổ tông loài người là ai?
T. Tổ tông loài người ta là ông Adong bà Evà.
H. Ông Adong bà Evà có giữ nghĩa cùng Đức Chúa Trời chăng?
T. Chẳng giữ, cho nên nếu chẳng có công nghiệp Chúa Cứu Thế, thì cả và loài người ta đã phải khốn nạn đời đời.
 

GIÁNG SANH CỨU THẾ
ĐỆ NHỊ THIÊN


H. Ba Ngôi, ngôi nào ra đời?
T. Ngôi thứ Hai ra đời.
H. Ngôi thứ Hai ra đời nghĩa là làm sao?
T. Nghĩa là, Chúa rất sang trọng vô cùng lấy xác lấy linh hồn làm người hèn hạ như ta.
H. Ngôi thứ Hai vốn phải là người chăng?
T. Vốn thật là Chúa, song khi ra đời thì cũng thật là người nữa.
H. Ngôi thứ Nhứt, Ngôi thứ Ba, có ra đời chăng?
T. Chẳng có, có một Ngôi thứ Hai ra đời mà thôi.
H. Ngôi thứ Hai ra đời lấy xác lấy linh hồn ở đâu làm người mà ra đời?
T. Người xuống thai trong lòng Rất Thánh Đức Bà Maria trọn đời đồng trinh.
H. Đức Bà trọn đời đồng trinh mà chịu thai làm sao đặng?
T. Chẳng phải là sự thường như người thế gian, song bởi phép Đức Chúa Thánh Thần: cho nên khi chịu thai cùng sanh đẻ mà hãy còn trọn mình đồng trinh sạch sẽ.
H. Ngôi thứ Hai ra đời đặt tên là gì?
T. Đặt tên là GIÊSU nghĩa là Cứu thế.
H. Chúa Cứu Thế làm những sự gì khi còn ở thế gian này?
T. Người dạy dỗ ta về đàng rỗi linh hồn, và bởi công nghiệp Người, thì ta đặng nên thánh.
H. Công nghiệp Người là đi gì?
T. Là Người chịu nạn chịu chết trên cây thánh giá vì tội loài người ta.
H. Người chịu chết ngày nào?
T. Người chịu chết ngày thứ sáu trước lễ Phục Sinh.
H. Đức Chúa Giêsu là Đức Chúa Trời mà chịu chết làm sao đặng?
T. Đức Chúa Giêsu có hai tính: một là tính Đức Chúa Trời chẳng hay chịu chết; hai là tính người ta, mới hay chịu chết.
H. Xác Đức Chúa Giêsu táng ở đâu?
T. Táng trong huyệt đá mới.
H. Linh hồn Đức Chúa Giêsu đi đâu?
T. Linh hồn Đức Chúa Giêsu xuống ngục tổ tông, đem linh hồn các thánh lên, vì từ ông Adong phạm tội, ví bằng không công nghiệp Chúa Cứu Thế, thì chẳng ai đặng lên trời.
H. Chúa Cứu Thế có sống lại chăng?
T. Chết chẳng đủ ba ngày, mà Người sống lại.
H. Sống lại đoạn Đức Chúa Giêsu đi đâu?
T. Sống lại Người ở thế gian bốn mươi ngày, dạy dỗ các thánh tông đồ, hầu mà giảng đạo cho thiên hạ, đoạn thì Người ngự về trời, mà Đức Chúa Thánh Thần hiện xuống trên các thánh tông đồ.
H. Bây giờ Đức Chúa Giêsu ở đâu?
T. Luận về tính Đức Chúa Trời thì Người ở khắp mọi nơi; bằng về tính người ta, thì Người ở trên trời và ở trong Thánh Thể bí tích.
H. Chúa Cứu Thế có khi nào Người lại xuống thế nữa chăng?
T. Đến ngày tận thế, Người lại xuống phán xét chung cả và loài người ta.
H. Vậy thì còn phát xét riêng nào nữa sao?
T. Mỗi người, khi linh hồn ra khỏi xác, đều phải chịu phán xét riêng nữa.
H. Đã chịu phán xét riêng, còn phán xét chung làm chi nữa?
T. Ngõ cho quờn cả Chúa Cứu Thế và những sự vang hiển các kẻ lành, cùng mọi điều sỉ nhục phô loài dữ càng tỏ ra trước mặt thiên hạ.
 

TỬ KỲ HỮU ĐỊNH
ĐỆ TAM THIÊN


H. Có khi nào ta phải chết chăng?
T. Đến kỳ Chúa định chúng ta đều phải chết.
H. Chết đoạn xác ta ra thể nào?
T. Xác ta đều phải hư nát.
H. Xác ta có phải hư nát đời đời chăng?
T. Chẳng, đến ngày tận thế đều sống lại hết.
H. Linh hồn ta có chết chăng?
T. Linh hồn là tính thiêng liêng chẳng hề chết đặng.
H. Vậy khi xác chết đoạn, linh hồn đi đâu?
T. Linh hồn phải đến toà Đức Chúa Giêsu mà chịu phán xét.
H. Đức Chúa Giêsu phán xét về những sự gì?
T. Người phán xét về những sự lành dữ đã lo, đã nói, đã làm.
H. Phán xét đoạn linh hồn đi đâu?
T. Hoặc lên thiên đàng, hoặc xuống hoả ngục, hay vào luyện ngục, mặc việc lành dữ đã làm khi còn sống.
H. Thiên đàng là đi gì?
T. Thiên đàng là chốn thiên thần các thánh hưởng phúc đời đời, vì đặng xem thấy Đức Chúa Trời luôn.
H. Những ai đặng lên thiên đàng?
T. Những kẻ chẳng hề phạm tội gì trọng, hay là phạm tội mà đã ăn năn tội nên.
H. Hoả ngục là chốn nào?
T. Là nơi hình khổ, Đức Chúa Trời phạt, cầm ma quỉ và kẻ có tội đời đời chẳng cùng.
H. Những ai phải sa hoả ngục?
T. Những kẻ chẳng hề nhìn biết Đức Chúa Trời mà thờ phượng bụt thần ma quỉ, cúng quải lạy đơm tế tổ tiên, đến chết chẳng toan trở lại, và mọi người có đạo còn mắc tội trọng mà qua đời.
H. Luyện ngục là chốn nào?
T. Luyện ngục cũng là nơi hình khổ phạt cầm những kẻ lành khi còn sống mà đền tội mình chưa đủ.
 

NHƠN SANH TỘI CHƯỞNG
ĐỆ TỨ THIÊN


H. Tội là đi gì?
T. Tội là những sự ngỗ nghịch cùng Đức Chúa Trời.
H. Có mấy giống tội?
T. Có hai giống: một là tội tổ tông, hai là tội mình làm.
H. Tội tổ tông là tội nào?
T. Tội tổ tông là ông Adong và Evà chẳng vưng lời Đức Chúa Trời răn, cho nên phạm tội mà truyền lại cho thiên hạ.
H. Tội mình làm là tội nào?
T. Là lòng lo, miệng nói, mình làm điều gì mất lòng Đức Chúa Trời.
H. Tội mình làm có mấy thể?
T. Có hai: một là tội trọng, hai là tội nhẹ.
H. Tội trọng là đi gì?
T. Là tội làm cho ta nghịch cùng Chúa và đáng chịu phạt đời đời.
H. Tội nhẹ là đi gì?
T. Là tội làm cho ta nguội lạnh yếu đuối, và đáng chịu phạt trong luyện ngục.
H. Có mấy mối tội đầu?
T. Có bảy: một là kiêu ngạo; hai là hà tiện; ba là dâm dục; bốn là ghen ghét; năm là mê ăn uống; sáu là hờn giận; bảy là làm biếng việc lành.
H. Vì sao gọi là tội đầu?
T. Vì là căn nguyên mọi tội lỗi khác.
H. Tội kiêu ngạo là đi gì?
T. Là tội hay làm cho người ta yêu chuộng và tặng mình lên quá, cùng khinh dể kẻ khác.
H. Tội ấy có phải là tội trọng lắm chăng?
T. Nó là tội thứ nhứt, và trọng hơn cùng hiểm nghèo hơn các tội khác.
H. Phải làm đi gì cho khỏi tội ấy?
T. Phải cầu xin cùng Chúa ban nhơn đức khiêm nhượng; cùng nhớ lại kẻ kiêu ngạo chẳng đặng lên nước thiên đàng.
H. Tội hà tiện là tội nào?
T. Là tội hay làm cho người ta mê tham của cải thế gian quá lẽ.
H. Người ta có năng phạm tội ấy chăng?
T. Dầu kẻ giàu, kẻ khó, cũng năng phạm tội ấy.
H. Phải làm thể nào cho khỏi tội ấy?
T. Phải lấy lòng rộng rãi, mà bố thí cho vừa sức mình.
H. Tội dâm dục là gì?
T. Người ta mắc tội ấy khi bởi sự tưởng, hay là bởi lời nói, hay là bởi việc làm, ưng vui theo tính hư xác tịt; song giáo hữu phải gớm ghiếc tội ấy đến đỗi chẳng dám nói đến tên nó.
H. Tội ghen ghét là thể nào?
T. Là tội hay làm cho người ta phân bì, cùng buồn bực, khi kẻ khác đặng thạnh lợi về phần hồn hay là phần xác.
H. Phải làm điều gì cho khỏi tội ấy?
T. Phải giữ điều răn Chúa dạy; yêu người như mình vậy.
H. Tội mê ăn uống là làm sao?
T. Là khi người ta ăn uống quá lẽ, nhứt là những kẻ uống rượu say, thì trở nên loài vô tâm vô trí, cùng liều mình phạm nhiều tội khác.
H. Phải dùng cách nào cho khỏi tội ấy?
T. Phải hãm mình ăn uống cho tiết kiệm thích trung, cùng giữ lời ông thánh Phaolồ dạy rằng: dầu khi ăn: dầu khi uống dầu khi làm sự gì khác, thì phải có ý làm cho sáng danh Chúa.
H. Tội hờn giận là làm sao?
T. Là khi người ta bởi tính nóng nảy trong lòng cùng bề ngoài, nên giận quá lẽ hay là muốn báo oán.
H. Phải làm điều gì cho khỏi tội ấy?
T. Là trong lời nói, việc làm, chớ khá theo tính nóng nảy, một theo lẽ phải, cùng giữ sự nhịn nhục hiền lành.
H. Đấng bề trên quở trách cùng sửa phạt kẻ bề dưới, có tội chăng?
T. Chẳng có tội, mà lại khi người có lẽ mà sửa phạt đặng, nếu chẳng sửa phạt thì người mắc lỗi.
H. Tội làm biếng là tội nào?
T. Là tội hay làm cho người ta trễ nải, chẳng muốn chịu khó cho đặng rỗi linh hồn và làm các việc cho xứng bổn phận mình.
H. Có nhiều kẻ phạm tội ấy chăng?
T. Nhiều người phạm tội ấy, mà có ít kẻ xét mình và lấy sự làm biếng là tội.
H. Có phải sợ tội ấy chăng?
T. Phải sợ lắm, vì sự ở nhưng là cội rễ mọi sự dữ.
 

THÁNH BÍ TÍCH
ĐỆ NGŨ THIÊN


Ơn Chúa
H. Bởi sức riêng ta có đặng rỗi linh hồn chăng?
T. Chẳng đặng, có ơn Chúa giúp thì mới đặng.
H. Ơn Chúa nghĩa là đi gì?
T. Nghĩa là sức thiêng liêng, Đức Chúa Trời ban, vì công nghiệp Đức Chúa Giêsu cho ta đặng rỗi linh hồn.
H. Ơn nào là ơn cần kíp cho ta đặng rỗi linh hồn?
T. Là ơn soi trí khôn cho biết sự phải, sự chẳng, cùng giục lòng làm sự lành và lánh sự dữ.
H. Ta có từ chối ơn Chúa đặng chăng?
T. Có nhiều lần ta từ chối ơn Chúa.
H. Đức Chúa Trời có ban ơn cho mọi người bằng nhau chăng?
T. Đức Chúa Trời rất nhơn từ, công bình vô cùng, chẳng mắc nợ ai, Người muốn ban ơn thể nào, thì nên thể ấy.
H. Ta phải làm đi gì cho đặng ơn Đức Chúa Trời?
T. Phải chịu lấy các phép bí tích, cùng siêng năng đọc kinh cầu nguyện.

Phép bí tích
H. Phép bí tích là đi gì?
T. Là dấu nhiệm bề ngoài, chỉ và làm ơn thiêng liêng bề trong, Đức Chúa Trời đã lập cho ta đặng nên thánh.
H. Có mấy phép bí tích?
T. Có bảy: thứ nhứt là phép rửa tội; thứ hai là phép thêm sức; thứ ba là phép Mình Thánh Chúa; thứ bốn là phép giải tội; thứ năm là phép xức dầu thánh; thứ sáu là phép truyền chức thánh; thứ bảy là phép hôn phối.

Phép Rửa tội
H. Phép rửa tội là đi gì?
T. Là phép làm cho ta khỏi tội tổ tông,  và nên con Đức Chúa Trời cùng con Hội Thánh.
H. Phép rửa tội có tha tội mình làm chăng?
T. Những tội mình đã làm trước thì khi chịu phép rửa tội nên, đều đặng khỏi hết.
H. Kẻ chẳng chịu phép rửa tội có đặng rỗi linh hồn chăng?
T. Chẳng; có một khi muốn chịu mà chẳng đặng, thì phải hết lòng ước ao, cùng yêu mến Chúa, hay là chịu tử vì đạo, thì mới đặng mà chớ.
H. Đặng chịu phép rửa tội mấy lần?
T. Đặng chịu một lần mà thôi, vì phép ấy đã in một dấu thiêng liêng vào linh hồn, chẳng hay mất đặng.
H. Ai đặng làm phép rửa tội?
T. Các hàng linh mục đặng làm mà thôi; song khi thế gấp, thì mọi người dầu mà kẻ ngoại làm theo ý Hội Thánh, thì cũng đặng.
H. Phải rửa tội làm sao?
T. Phải lấy nước lã, giội trên đầu kẻ chịu phép rửa tội; cũng một khi ấy đọc lời này rằng “Tao rửa mầy, nhơn danh X Cha, và X Con, và Thánh X Thần”.
H. Khi giội đầu chẳng đặng, thì phải làm thể nào?
T. Phải chọn nội mình nơi nào trọng hơn, thì phải giội đó.

Phép Thêm sức
H. Phép Thêm sức là đi gì?
T. Là phép làm cho ta đặng chịu ơn Đức Chúa Thánh Thần, cho đặng lòng vững vàng, mà xưng đạo thánh Chúa ra trước mặt thiên hạ.
H. Kẻ chẳng chịu phép Thêm sức có đặng rỗi linh hồn chăng?
T. Đặng; song kẻ khinh hay là làm biếng chẳng muốn chịu, thì phạm tội, lại mất những ơn trọng bởi phép ấy mà ra.
H. Nên chịu phép này nhiều lần chăng?
T. Chẳng nên; phải chịu một lần mà thôi, vì phép ấy đã in một dấu thiêng liêng vào linh hồn chẳng hay mất.
H. Ai muốn chịu phép này cho nên, phải làm đi gì?
T. Phải làm ba sự này: Một là thuộc biết những sự chính phải tin trong đạo. Hai là phải cho sạch mọi tội, ít nữa là sạch các tội trọng. Ba là đọc kinh Tin, Cậy, Kính mến, và có lòng ước ao cho đặng chịu phép ấy.
H. Ai còn mắc tội trọng mà chịu phép này, có phạm tội chăng?
T. Phạm tội rất trọng, vì là phạm sự thánh.
H. Ai đặng làm phép Thêm sức?
T. Các hàng Giám mục đặng làm mà thôi.
 

THÁNH THỂ
ĐỆ LỤC THIÊN


H. Phép Mình Thánh Chúa nghĩa là đi gì?
T. Nghĩa là Mình thánh, Máu thánh, cùng linh hồn Đức Chúa Giêsu và tính Đức Chúa Trời ngự thật trong hình bánh rượu.
H. Bao giờ bánh rượu trở nên Mình thánh Máu thánh Đức Chúa Giêsu?
T. Khi thầy làm lễ Misa, đến nửa mùa mà đọc lời Chúa truyền đoạn, tức thì bánh cùng rượu trở nên Mình thật, Máu thật Đức Chúa Giêsu.
H. Trong hình bánh thì toàn Mình thánh mà trong hình rượu, thì toàn Máu thánh mà thôi sao?
T. Chẳng phải: dầu trong hình bánh hình rượu, thì cả và hai đều có trót Mình và Máu thánh Chúa nữa.
H. Khi phân rẽ hình bánh làm hai, có rẽ phân Mình thánh Chúa ra chăng?
T. Chẳng; rẽ phân hình bánh mà thôi, Mình thánh Chúa chẳng hề phân đặng; dầu trong mọi phần nhỏ mọn cũng có trót Mình cùng Máu thánh Người.
H. Đức Chúa Giêsu lập phép Thánh Thể làm chi?
T. Trước là có ý cho tăng đặng nhớ công ơn Người đã chuộc tội chịu chết vì ta, sau là nên lương thực thiêng liêng cho đặng nuôi linh hồn ta nữa.
H. Đức Chúa Giêsu đã lập phép này bao giờ?
T. Đã lập chưng ngày thứ năm trước khi Người chịu nạn.
H. Kẻ muốn chịu Mình Thánh Chúa cho nên thì phải làm thể nào?
T. Phải dọn linh hồn và xác.
H. Dọn linh hồn là làm sao?
T. Phải xét mình, bằng có phạm tội gì, thì phải ăn năn cùng xưng tội ấy, và có lòng tin, cậy, kính mến, khiêm nhượng ước ao cùng tạ ơn.
H. Kẻ còn mắc tội trọng mà chịu lễ, có rước thật Mình thánh Máu thánh Chúa chăng?
T. Rước thật: song le những kẻ ấy thật là rước hình phạt cho mình, vì là phạm sự thánh.
H. Phải dọn xác là thể nào?
T. Từ ba giờ trước lễ phải kiêng ăn hay uống rượu, và từ một giờ trước phải kiêng uống mọi chất lỏng khác, trừ nước lã hay thuốc chữa bịnh.
Lại nữa phải ăn mặc sạch sẽ, nết na tề chỉnh, và lòng tôn kính khiêm nhượng quì gối mà rước Mình Thánh Chúa.
H. Ta phải ước ao năng chịu Mình thánh Chúa chăng?
T. Ta phải ước ao luôn; càng năng chịu bao nhiêu thì càng đặng ích bấy nhiêu.
H. Đặng những ích nào?
T. Một là, ta đặng hiệp làm một cùng Chúa; hai là, thêm ơn trọng Chúa trong ta; ba là, bớt những tình tư dục; bốn là cho ta đặng dấu thật ngày sau sẽ hưởng phúc đời đời.
H. Lễ Misa là lễ nào?
T. Là lễ dâng Mình thánh Máu thánh Đức Chúa Giêsu trong hình bánh rượu mà tế lễ Đức Chúa Trời, như xưa Chúa đã dâng mình trên cây Thánh giá cho Đức Chúa Cha.
H. Ấy vậy thì lễ Misa cũng là một lễ như xưa Chúa đã dâng mình trên cây Thánh giá sao?
T. Cũng là một lễ, song khác hai sự này: vì xưa thì Chúa đã dâng mình Người, mà nay thì bởi tay các hàng linh mục; lại xưa máu Người đã đổ ra, mà bây giờ chẳng còn đổ ra nữa.
H. Trong Hội Thánh có ý gì mà dâng lễ Misa?
T. Có bốn ý này: một là nhìn biết Đức Chúa Trời là Chúa cao trọng trên hết mọi sự; hai là, cho đặng tha hết mọi tội lỗi ta; ba là, xin cho ta đặng mọi sự lành; bốn là, tạ ơn Người vì mọi ơn lành đã xuống cho ta xưa nay.
H. Có nên dâng lễ Misa mà tế lễ Đức Bà cùng các thánh chăng?
T. Chẳng nên, vì sự tế lễ là thuộc về một Đức Chúa Trời mà thôi.
H. Những ai đặng hưởng công ơn bởi lễ Misa mà ra?
T. Kẻ sống và kẻ chết đều đặng hưởng nhờ.
 

CÁO GIẢI
ĐỆ THẤT THIÊN


H. Phép giải tội là đi gì?
T. Là phép tha tội cho những kẻ đã phạm từ khi rửa tội về sau.
H. Phép giải tội có phải là sự cẩn cấp cho đặng rỗi linh hồn chăng?
T. Là sự rất cẩn cấp cho những kẻ đã phạm tội trọng từ khi rửa tội về sau.
H. Phép giải tội có mấy phần?
T. Có ba phần: một là, ăn năn tội; hai là, xưng tội; ba là, ý muốn đền tội.
H. Ăn năn tội là đi gì?
T. Là lo buồn đau đớn về mọi tội đã phạm, và dốc lòng chừa, chẳng hề phạm tội ấy nữa.
H. Ăn năn tội có mấy cách?
T. Có hai cách: một là, ăn năn tội vì Chúa; hai là, ăn năn tội vì mình.
H. Ăn năn tội vì Chúa nghĩa làm sao?
T. Nghĩa là đau đớn vì mọi tội lỗi đã mất lòng Chúa rất nhơn từ và tốt lành vô cùng.
H. Ai ăn năn tội vì Chúa có đặng ích gì chăng?
T. Những kẻ ấy dầu chưa đặng xưng tội, miễn là có lòng muốn xưng tội, thì đã khỏi tội mà lại đặng nghĩa cùng Chúa.
H. Ăn năn tội vì mình là làm sao?
T. Là lo buồn đau đớn bởi xấu hổ vì tội, cùng e mất nước thiên đàng, hay là sợ hình khổ hoả ngục vô cùng.
H. Ai ăn năn tội cách này, có đặng nghĩa cùng Chúa chăng?
T. Chẳng: ví bằng có chịu phép giải tội, thì mới đặng.
H. Ăn năn tội nên có mấy ý?
T. Có bốn ý: một là, cậy sức Chúa giục lòng mà ăn năn tội; hai là, đau đớn trong lòng vì đã phạm tội, chẳng phải lo buồn bề ngoài mà thôi; ba là, giận ghét mọi tội mình, chẳng sót tội nào; bốn là, đau đớn tội mình hơn lo tiếc mọi sự thế gian.
H. Ăn năn tội cậy sức Chúa là làm sao?
T. Là khi bởi ơn Đức Chúa Thánh Thần giục lòng mà ta ăn năn tội.
H. Kẻ ăn năn tội bởi mắc phải tai vạ gì, như mất của cải hay là liệt lào mà lo buồn đau đớn, có phải là cậy sức Chúa chăng?
T. Chẳng phải; vì ăn năn thể ấy là theo tính xác thịt mà thôi.
H. Ăn năn vì mọi tội là gì?
T. Là đau đớn về mọi tội lỗi; nếu mà có một tội nào mà chẳng lo buồn đến thì chẳng gọi là ăn năn tội nên.
H. Đau đớn tội mình hơn là lo tiếc mọi sự, nghĩa là làm sao?
T. Nghĩa là ăn năn đau đớn, vì đã làm mất lòng Chúa, hơn là mắc phải tai nạn, hay là đã mất mọi giống châu báu ta yêu chuộng ở đời này.
H. Có mấy thể giục lòng ta ăn năn tội?
T. Có hai: một là, nài xin cùng Chúa cho ta đặng lòng đau đớn thật; hai là,  phải tìm một hai cách gì cho đặng giục lòng ta.
H. Những cách thế nào?
T. Những thể là là suy tưởng Chúa rất nhơn từ hằng xuống ơn cho ta không ngằn mà ta lại phụ nghĩa cùng Người dường ấy; hay là tưởng công nghiệp Đức Chúa Giêsu, bởi tội ta, nên Người đã đổ hết máu mình ra; cùng là suy gẫm, bởi tội thì đã đáng sa hoả ngục mà chịu hình khổ đời đời, lại mất sự vui vẻ thiên đàng chẳng cùng.
H. Có dấu nào cho ta đặng biết thật ta đã ăn năn tội nên chăng?
T. Có hai dấu này: một là, khi thấy ta đã chừa và dốc lòng ghét bỏ tội thật; hai là, xa lánh mọi cách thế quen làm cho ta phạm tội.
H. Phải đọc kinh ăn năn tội thể nào?
Kinh Ăn năn tội
T. Lạy Chúa tôi, Chúa là Đấng trọn tốt trọn lành vô cùng. Chúa đã dựng nên tôi và cho Con Chúa ra đời chịu nạn chịu chết vì tôi, mà tôi đã cả lòng phản nghịch lỗi nghĩa cùng Chúa, thì tôi lo buồn đau đớn cùng chê ghét mọi tội tôi trên hết mọi sự; tôi dốc lòng chừa cải, và nhờ ơn Chúa thì tôi sẽ lánh xa dịp tội cùng làm việc đền tội cho xứng. Amen.
 

CÁO MÌNH BỐ THỤC
ĐỆ BÁT THIÊN


Xưng tội
H. Xưng tội là làm sao?
T. Là tỏ cáo mọi tội lỗi ta cùng hàng linh mục.
H. Đương khi xưng tội phải có lòng thể nào?
T. Phải có lòng khiêm nhượng, thật thà mà tỏ cáo mọi tội lỗi mình.
H. Khiêm nhượng là làm sao?
T. Là khi tỏ tội mình, thì phải có lòng xấu hổ thẹn thuồng, vì đã làm mất lòng Chúa.
H. Lòng thật thà là làm sao?
T. Là khi xét tội thể nào thì xưng ngay thể ấy, chẳng nên thêm bớt.
H. Xưng mọi tội nghĩa là gì?
T. Nghĩa là phải xưng mọi tội trọng, chẳng giấu tội nào.
H. Kẻ có ý giấu một tội trọng mà thôi, có phạm tội chăng?
T. Phạm tội rất trọng, vì làm phạm sự thánh. Nên sau khi xưng tội, trước phải xưng tội phạm sự thánh này, sau phải xưng lại mọi tội đã xưng phen ấy.
H. Ta xưng trổng mọi tội mà thôi có đủ chăng?
T. Chẳng đủ; giả như tội ăn trộm mà xưng trổng rằng: tôi đã ăn trộm, thì chưa đủ; song phải xưng ăn trộm đã mấy lần, mà vật ấy là bao nhiêu, hay là của thánh; dầu các tội khác thì cũng vậy.
H. Làm cách nào cho đặng biết mọi tội lỗi mà xưng?
T. Phải xét theo đấng bậc mình, hoặc lo, nói, làm điều gì phạm điều răn Chúa cùng Hội Thánh, và bảy mối tội đầu.
H. Ta phải xưng mọi tội nhẹ chăng?
T. Bằng chẳng xưng thì chẳng phạm tội gì; song mà xưng, cùng có lòng đau đớn, thì rất nên có ích.

Đền tội
H. Đền tội là làm sao?
T. Là làm những sự thầy giải tội dạy cùng những việc theo ý ta mà đền tội, như thể ăn chay, cầu nguyện, hay là thí của cho kẻ khó khăn, cùng việc khác như vậy.
H. Chịu những sự tai nạn nhọc nhằn, như cơn buồn rầu, bịnh hoạn, cùng điều khác như vậy, có đặng đền vì tội ta chăng?
T. Ví bằng có ý chịu vì lòng kính mến Chúa hay là đền tội, thì cũng đặng.
H. Bằng đã làm mất lòng ai, có phải phạt tạ kẻ ấy chăng?
T. Chẳng những là phải phạt tạ mà thôi, song nhà ấy có chịu thiệt hại điều gì, dầu của dầu công, cũng phải thường lại nữa.
H. Kẻ đã xưng tội nên, cùng đã chịu phép giải tội, thì đã khỏi tội, mà còn phải đền tội làm chi nữa?
T. Đã hay rằng: kẻ chịu phép ấy nên, thì đã khỏi tội cùng hình phạt đời đời; song còn hình phạt tạm nữa, nên phải đền mới khỏi.
Ví như trong quốc pháp ai đã mắc tội tử luận, dầu triều đình tha giết mặc lòng, song cũng phải đái tội lập công.
H. Phần phạt tạm phải đền ở đâu?
T. Phải đền ở đời này, hay là trong luyện ngục.
H. Còn có cách nào cho khỏi phần phạt tạm ấy chăng?
T. Có phép Ân xá.
H. Ân xá là gì?
T. Ân xá là phép Hội Thánh ban để tha phần phạt tạm.
H. Ân xá có mấy thứ?
T. Ân xá có hai thứ: Một là Đại xá là phép tha hết mọi phần phạt tạm. Hai là Tiểu xá là phép tha một hai phần phạt tạm mà thôi.
H. Ai có quyền ban phép Ân xá?
T. Có một Hội Thánh mà thôi.
H. Ta phải làm thể nào mà chịu ơn ấy cho nên?
T. Phải thật lòng ăn năn tội, cùng làm mọi việc như thể thức truyền.
 

CHUNG PHÚ, THẦN PHẨM
HÔN PHỐI

ĐỆ CỬU THIÊN


H. Phép xức dầu thánh là đi gì?
T. Là phép giúp đỡ kẻ liệt về phần linh hồn, cũng có khi về phần xác nữa.
H. Kẻ chịu phép này đặng những ích gì?
T. Đặng ba điều ích này: một là đặng vững vàng, chẳng sợ chết cùng chước ma quỷ; hai là khỏi mọi tội nhẹ và tội trọng hoặc là đã quên, hay là bởi cơn bịnh mà xưng chẳng đặng; ba là khi có ích phần linh hồn, thì cũng đặng khoẻ mạnh phần xác nữa.
H. Có nên chờ khi hấp hối mà chịu phép này chăng?
T. Chẳng nên; song khi thế ngặt, thì phải tính việc ấy.
H. Phép truyền chức thánh là phép nào?
T. Là phép phong chức cho các hàng linh mục đặng quờn tế lễ Đức Chúa Trời và giúp việc Hội Thánh, lại đặng ơn Chúa mà làm những việc ấy cho nên.
H. Phép hôn phối là đi gì?
T. Là phép nhứt phu nhứt phụ phối hiệp cùng nhau, theo ý Chúa định, mà truyền nhân loại cùng giúp đỡ nhau làm việc lành, mà giữ đạo Đức Chúa Trời cho đặng nên thánh.
H. Có nên cưới nhiều vợ chăng?
T. Chẳng nên; vì thuở tạo thiên lập địa Đức Chúa Trời đã sinh một nam một nữ, để phối hiệp cùng nhau, mà sinh loài người ta; ấy là phép nhứt phu nhứt phụ đâu khá tư tình mà cãi ý Chúa định.
H. Như đàn ông có vợ mà không sinh con có nên cưới vợ khác cho đặng con chăng?
T. Chẳng nên; giả như chồng rằng: không con, mà cưới vợ khác, thì vợ cũng rằng: không con mà lấy chồng khác, thì lẽ lấy làm sao? Ví bằng vợ chẳng khá hai chồng, thì chồng cũng chẳng nên hai vợ.
H. Còn có lẽ nào nữa chăng?
T. Còn nhiều lẽ khác; một là trong đạo phu phụ, thì phải giữ tín ngãi làm đầu, như chẳng toàn nhứt phu nhứt phụ, sao đặng trọn niềm tín nghĩa; hai là phu phụ hoà, thì gia đạo thành, bằng chồng rày vợ nọ mai vợ kia, sao cho đặng một lòng hoà thuận; ba là cưới một vợ mà sinh con cái, thật là đồng khí liên chi, bằng cưới nhiều vợ, hoặc là phân dòng nọ dòng kia, sao cho đặng vẹn tình hiếu đễ.
H. Kẻ không con mà chứ nhứt phu nhứt phụ ắt là liệt tự: chớ câu Bất hiểu hữu tam, vô hậu vi đại, lẽ ấy làm sao?
T. Có con cùng không vốn chẳng tại ta, một tại ý Chúa phân định mà thôi; vả sự thảo cùng không cũng chẳng tại có con hay là không con, một tại giữ phụ mẫu đồng tâm đồng đức phụng dưỡng cung kính, vưng kính mạng cha mẹ sở định, ấy là thật hiếu mà chớ, như câu: Vô hậu vi đại, là lời Mạnh tử nói chữa vua Thuấn cho khỏi chữ bất hiếu mà thôi. Chẳng nên lấy lời ấy mà nghịch mạng Đức Chúa Trời làm chi.
H. Ai muốn chịu phép hôn phối cho nên, phải làm thế nào?
T. Trước hết phải có lòng thờ phượng Chúa, chẳng phải một tưởng việc phần xác mà thôi, lại phải giữ mình cho thanh sạch, đừng có tội gì trọng.
H. Có ý thờ phượng Chúa là làm sao?
T. Là phải giữ tín ngãi và nhịn nhục nhau mọi khi lầm lỗi, và giúp đỡ nhau cho thượng hoà hạ mục; sau dầu có sinh con cái, thì phải năng dạy dỗ răn khuyên.
H. Phải dạy răn con cái làm sao?
T. Một là phải tập tành nó yêu mến Chúa hết lòng, cùng chê ghét mọi đàng tội lỗi; hai là phải ra công dạy dỗ cho nó thuộc biết những sự phải tin trong đạo thánh; ba là gìn giữ xem sóc, kẻo nó làm sự gì chẳng nên chăng.
H. Kẻ có vợ chồng cùng kẻ đồng trinh ai hơn.
T. Kẻ đồng trinh hơn, vì kẻ không lo vợ chồng, một khi tục tinh tu, thì phước đức càng cao càng trọng, lại càng gần Chúa hơn nữa.
 

THẬP GIÁI
ĐỆ THẬP THIÊN


H. Phải làm đi gì cho đặng rỗi linh hồn?
T. Phải giữ mười điều răn Đức Chúa Trời, cùng sáu điều răn Hội thánh.
H. Mười điều răn Đức Chúa Trời là những điều nào?
T. Đạo Đức Chúa Trời có mười điều răn:
Thứ nhứt. Thờ phượng một Đức Chúa Trời và kính mến Người trên hết mọi sự.
Thứ hai, chớ kêu tên Đức Chúa Trời vô cớ.
Thứ ba, giữ ngày Chúa nhựt.
Thứ bốn, thảo kính cha mẹ.
Thứ năm, chớ giết người.
Thứ sáu, chớ làm sự dâm dục.
Thứ bảy, chớ lấy của người.
Thứ tám, chớ làm chứng dối.
Thứ chín, chớ muốn vợ chồng người.
Thứ mười, chớ tham của người.
Mười điều răn ấy tóm về hai này mà chớ; trước kính mến một Đức Chúa Trời trên hết mọi sự; sau lại yêu người như mình ta vậy.

Giái thứ nhất
H. Giái thứ nhất dạy những sự gì?
T. Dạy thờ phượng một Đức Chúa Trời, và tin, cậy, kính mến Người trên hết mọi sự.
H. Nên thờ các thánh bằng Chúa chăng?
T. Chẳng nên, vì ta kính các thánh là tôi ngay con thảo Chúa mà thôi.
H. Vậy thì sao hằng cầu nguyện cùng các thánh?
T. Cho các thánh cầu thay nguyện giúp cùng Chúa cho ta đặng mọi sự lành.
H. Những điều nào nghịch cùng sự kính chuộng Đức Chúa Trời?
T. Có ba điều này: một là thờ phượng ma quỉ bụt thần, hai là khinh dể của thánh, ba là tin cậy dị đoan.
H. Dị đoan là đi gì?
T. Là những sự đơm tế, quải lạy ông bà cha mẹ; tin bói khoa nhâm độn, cậy phù thuỷ pháp môn, xem tướng mạo; chọn ngày giờ, kì yên chạp miễu; lên đồng xuống đồng; thờ tiên sư, thổ công thổ chủ; đặt bài vị; lên nêu, buộc tran cầu địa lý; đốt giấy tiền vàng bạc, khi chiêm mộng huyễn, gặp đờn ông đờn bà bàn luật tốt xấu; cùng là tin chim kêu gà gáy chuột túc nhện xa, rằng thiêng rằng thính, và mọi điều khác như vậy.
H. Có mấy cách nghịch cùng đức tin?
T. Có bốn cách này: một là cứng lòng chẳng tin mọi sự như Hội Thánh đã truyền cho kẻ ngoại cùng quân lạc đạo; hai là kẻ có đạo bởi sợ phép quan, cùng hình phạt, hay là hổ thẹn mà chối đạo, tuỳ thì theo thói thế gian; ba là kẻ cố ý hồ nghị sự gì, trong phép đạo; bốn là làm biếng chẳng muốn học những sự phải biết cho đặng rỗi linh hồn.
H. Những sự phải biết cho đặng rỗi linh hồn là những sự nào?
T. Một là phải biết sự mầu nhiệm một Đức Chúa Trời Ba Ngôi, cùng Chúa Cứu Thế ra đời và chuộc tội cho thiên hạ; hai là đến ngày tận thế, cả và loài người ta đều thì sống lại, mà chịu thưởng hay là chịu phạt đời đời; ba là phải biết kinh tin, kinh cậy, kinh kính mến, kinh lạy Cha, mười giái răn Đức Chúa Trời, cùng sáu điều răn Hội thánh, và những điều thuộc về bí tích cũng những việc theo đấng bậc mình.
H. Có sự gì nghịch cùng đức cậy chăng?
T. Có hai sự này: một là ngã lòng rủn chí, chẳng làm việc đền tội; hai là cậy lòng lành Chúa, cùng sức mình thới quá, nên lần lựa chẳng kíp toan trở lại.
H. Có sự gì nghịch cùng đức kính mến chăng?
T. Những sự chồm ố, công danh lợi lộc, cùng là dâm dục sa đà.
H. Ta phải yêu người ta chăng?
T. Phải yêu hết mọi người; vì Đức Chúa Giêsu đã dạy: Trước kính mến một Đức Chúa Trời trên hết mọi sự sau thì yêu người như mình vậy.
H. Có phải yêu kẻ nghịch cùng ta chăng?
T. Phải yêu, vì Đức Chúa Giêsu đã dạy rằng: Bay phải yêu kẻ ghét bay và làm ơn cho kẻ làm khốn bay.

Giái thứ hai
H. Giái thứ hai cấm những sự gì?
T. Cấm ba sự này: một là thề quấy, hay là nói lộng ngôn, ba là rủa mình hay là kẻ khác.
H. Thề quấy là làm sao?
T. Là thề dối, thề vặt, cùng thề mà làm sự chẳng nên.
H. Kẻ đã thề mà làm sự chẳng nên, có phải giữ lời thề chăng?
T. Chẳng, vì kẻ thề làm vậy, thì đã phạm tội; bằng giữ lời thề, thì lại phạm tội khác nữa.
H. Có khi nào nên thề chăng?
T. Khi có việc gì trọng, mà kẻ bề trên bắt thề, thì nên lấy tên Đức Chúa Trời mà thề.
H. Có nên lấy nên bụt thần ma quỉ mà thề chăng?
T. Chẳng nên.

Giái thứ ba
H. Giái thứ ba dạy những điều gì?
T. Dạy ta phải giữ mọi ngày Chúa nhựt.
H. Giữ ngày Chúa nhựt là làm sao?
T. Là những ngày ấy phải có ý mà xem lễ, và làm việc phước đức.
H. Ngày Chúa nhựt có nên làm việc xác chăng?
T. Chẳng có điều gì cẩn cấp, thì chẳng nên.
H. Khi chẳng cẩn cấp, có nên sai khiến tôi tớ làm việc xác trong ngày ấy chăng?