Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 2 MC-ABC Bài 151-200 Chúa biến hình

Thứ bảy - 16/03/2019 10:14
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 2 MC-ABC Bài 151-200 Chúa biến hình
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 2 MC-ABC Bài 151-200 Chúa biến hình
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 2 MC-ABC Bài 151-200 Chúa biến hình
MC2-151: Biến Cố Biến Hình: Vai trò trong Phụng Vụ Mùa Chay. 2
MC2-152: CHÚA GIÊSU BIẾN HÌNH.. 6
MC2-153: ƠN GỌI - Sr Yakira. 7
MC2-154: ƠN GỌI LÀM ĐẸP. 9
MC2-155: MẶT NGƯỜI CHIẾU SÁNG NHƯ MẶT TRỜI 12
MC2-156: HÃY NGHE LỜI NGƯỜI 14
MC2-157: TIẾNG GỌI HUYỀN BÍ 15
MC2-158: HÃY VÂNG NGHE LỜI NGƯỜI 17
MC2-159: CÕI PHÚC - CS/37. 21
MC2-160: VINH QUANG - STM/71. 22
MC2-161: THẬP GIÁ - CSTM/68. 24
MC2-162: BIẾN HÌNH SÁNG LÁNG - Lm. VIKINI 26
MC2-163: LÊN CAO VÀ ĐI XA.. 27
MC2-164: Theo Chúa lên núi tâm linh để được biến hình. 32
MC2-165: LÊN NÚI – XUỐNG NÚI 34
MC2-166: ĂN XỔI, Ở THÌ ! 39
MC2-167: CON ĐƯỜNG THẬP GIÁ.. 41
MC2-168: SỐNG ĐỨC TIN.. 44
MC2-169: CHỖI DẬY ĐI, ĐỪNG SỢ.. 46
MC2-170: Sự biến hình chói sáng. 48
MC2-171: HÃY VÂNG NGHE LỜI NGƯỜI 50
MC2-172: BIẾN HÌNH.. 55
MC2-173: Con yêu dấu. 63
MC2-174: Khuôn mặt 65
MC2-175: Núi vinh quang. 66
MC2-176: Ý nghĩa đời sống ta là gì?. 68
MC2-177: Chúa biến hình. 69
MC2-178: Tin Thiên Chúa có nghĩa là hoàn toàn phó thác vào Người! 70
MC2-179: Dung nhan Đức Giê-su chói lọi như mặt trời 72
MC2-180: Thiên Chúa vẫn còn hiển dung. 74
MC2-181: Chúa biến hình. 76
MC2-182: Nội Tâm.. 80
MC2-183: Xin chạm vào con để con chổi dậy. 83
MC2-184: Say mê tình yêu với Chúa Kitô. 87
MC2-185: Mỗi người vẫn tiếp tục phải vác thập giá của mình. 89
MC2-186: Biến hình là hiến mình. 91
MC2-187: BIẾN HÌNH: BIẾN CỐ CẦU NGUYỆN.. 93
MC2-188: Những chứng nhân trên núi cao. 96
MC2-189: PHẢI CHỜ…... 98
MC2-190: BIẾN HÌNH.. 101
MC2-191: Dõi theo bước Chúa. 102
MC2-192: Biến hình. 105
MC2-193: Chú giải của Fiches Dominicales. 107
MC2-194: CHÚA HIỂN DUNG BỘ MẶT NÀO ?. 111
MC2-195: NGƯỜI CẤT BƯỚC, CẢ NON SÔNG MỘT DẢI... 113
MC2-196: LÊN NÚI BIẾN HÌNH.. 116
MC2-197: LẠY CHÚA, CON SAI RỒI ! 120
MC2-198: CHÚA GIÊSU BIẾN HÌNH.. 122
MC2-199: Chiêm ngưỡng vinh quang của Chúa. 124
MC2-200: Theo bước chân Con Yêu Dấu của Thiên Chúa. 128
 

MC2-151: Biến Cố Biến Hình: Vai trò trong Phụng Vụ Mùa Chay

 - Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh
"Đây là Con yêu dấu của Ta, Người đẹp lòng Ta. Hãy nghe Người"

Chúa Nhật mở màn cho cho Mùa Chay, chúng ta thấy Giáo Hội cử hành Mầu Nhiệm Chúa Kitô: A27 MC2-151

Chúa Nhật mở màn cho cho Mùa Chay, chúng ta thấy Giáo Hội cử hành Mầu Nhiệm Chúa Kitô ở biến cố Người theo Thần Linh thúc đẩy vào hoang địa để chịu ma quỉ cám dỗ sau khi đã ăn chay 40 đêm ngày. Chúa Nhật Thứ Hai của Mùa Chay tuần này chúng ta thấy Giáo Hội cử hành Mầu Nhiệm Chúa Kitô ở một biến cố hoàn toàn ngược lại với biến cố tuần trước, đó là biến cố Người biến hình trên núi cao trước mắt ba môn đệ của Người.
Việc Giáo Hội sắp xếp cho hai biến cố của Chúa Giêsu hoàn toàn trái ngược này liền với nhau như vậy, bị cám dỗ trước, tỏ vinh quang sau, cho chúng ta thấy gì, nếu không phải, trước hết, Giáo Hội muốn chứng thực niềm xác tín của mình là "Con Thiên Chúa xuất hiện là để phá hủy công việc của ma quỉ" (1Jn 3:8), và sau nữa, Giáo Hội cũng muốn cho con cái mình thấy được ý nghĩa đích thực và mục tiêu cao cả của chay tịnh, của từ bỏ: ý nghĩa đích thực của chay tịnh, của từ bỏ ở ngay lời Chúa Giêsu dùng đoạn Kinh Thánh Cựu Ước (Nhị Luật 8:3) bịt miệng Satan, đó là "con người không sống nguyên bởi bánh", và mục tiêu cao cả đó là nhờ thế con người chẳng những không sa chước cám dỗ mà còn có thể "sống bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra", một mục tiêu cũng rất hợp với tiếng nói phát ra từ trời trong biến cố biến hình trên núi của Chúa Giêsu hôm nay, đó là lời: "Hãy lắng nghe Người".
Chắc chắn Chúa Giêsu cũng có mục đích như Giáo Hội đối với con cái mình như thế. Bởi vì, Phúc Âm Thánh Mathêu cho biết, Chúa Giêsu đã biến hình "sáu ngày sau" (Mt 17:1) khi Người tiết lộ cho các tông đồ biết một mầu nhiệm vô cùng mầu nhiệm đối với tâm trí loài người của các vị bấy giờ, đó là Mầu Nhiệm Vượt Qua của Người, qua lời tiên báo tiên khởi của Người về Biến Cố Vượt Qua này (x Mt 16:21), một lời tiên báo Vượt Qua tiên khởi kinh hoàng và khủng khiếp đến độ đã làm cho vị trưởng tông đồ đoàn, vừa được Người tuyên dương và tín nhiệm trao trọng trách vô cùng quan trọng đến phần rỗi đời đời của các linh hồn, đột nhiên trở thành "Satan" trước con mắt của Người!
Bởi thế, qua biến cố biến hình hôm nay, Chúa Giêsu như muốn củng cố đức tin của các vị vốn đặt nơi Người, một đức tin mà có lần chính quí vị đã phải thú nhận là vẫn còn yếu kém nên đã tự động ngỏ ý xin Thày "hãy tăng thêm đức tin cho chúng con" (Lk 17:5). Qua biến cố biến hình này, Người như muốn nói cùng các vị rằng, cho dù Thày có bị khổ nạn và tử giá vô cùng hèn hạ, đớn đau và nhục nhã trước mặt loài người đi nữa, theo thân phận của một Đấng Thiên Sai, thế nhưng, vì Thày cũng chính là Con Thiên Chúa, nên không một sự gì trên đời này có thể làm chủ được Thày. Trái lại, tất cả mọi sự trần gian, tầm thường hay thấp hèn sẽ được biến đổi thành cao sang và vinh hiển nơi Thày: "dung nhan Người chói sáng như mặt trời, áo Người rạng ngời như ánh sáng", kể cả "tội lỗi cùng với sự chết đã đột nhập thế gian" (Rm 5:12) cũng sẽ bị tan biến đi như bóng tối trước ánh sáng, khi Thày phục sinh từ trong cõi chết. Thật vậy, biến cố Chúa Giêsu biến hình trên núi, được Phúc Âm tường thuật hôm nay, sau sáu ngày từ hôm Người bắt đầu tuyên bố về Cuộc Vượt Qua của Người , chính là lời tiên báo duy nhất và hùng hồn nhất về Cuộc Phục Sinh vinh hiển của Người. Đó là lý do bài Phúc Âm hôm nay đã được hết thúc bằng câu Chúa Giêsu căn dặn ba vị tông đồ về biến cố biến hình liên quan đến cuộc phục sinh sau này của Người: "Các con đừng nói với bất cứ ai về thị kiến này cho đến khi Con Người phục sinh từ trong cõi chết".
Biến Cố Biến Hình: Tác dụng thần linh nơi niềm tin Mầu Nhiệm Phục Sinh
Phần các vị tông đồ đã được chứng kiến thấy Thày mình biến hình trên núi như vậy, tức đã được Người củng cố cho đức tin như thế, các vị cảm thấy đức tin của mình hình như mạnh hơn, đến nỗi, hai anh em Giêbêđê là Giacôbê và Gioan, hai nhân vật có mặt nơi biến cố biến hình của Thày, sau này, lúc nghe Thày tiên báo về Cuộc Vượt Qua của Người lần thứ ba (x Mt 20:17-19), đã dám khẳng định với Thày là hai vị "có thể uống được chén Thày uống" (Mt 20:22). Nhất là riêng Phêrô, nhân vật thú nhận mình đã có mặt trong biến cố biến hình này (x 2Pt 1:18) còn gân hơn nữa, khi nghe Thày báo trước sự kiện có một người trong Nhóm 12 của mình sẽ phản nộp Người, liền cương quyết với Thày: "Cho dù tất cả có mọi người có lung lay niềm tin nơi Thày, vĩnh viễn con sẽ không bao giờ" (Mt 26:33), thậm chí còn dứt khoát thề thốt với Người: "Cho dù có chết với Thày, con cũng không chối bỏ Thày" (Mt 26:35). Chính trong khi nói lên những lời hết sức thật tình và chí tình này, những lời nếu so sánh với những gì mâu thuẫn xẩy ra sau đó, Phêrô quả thực "không biết mình nói gì", như được Phúc Âm Thánh Luca mở ngoặc ghi nhận những gì thánh nhân nói trong biến cố biến hình, về cảm nhận vui sướng của thánh nhân bấy giờ, cũng như về việc thánh nhân tự nguyện xây ba lều cho cả Thày lẫn Moisen và Elia (x Lk 9:33).
Thế nhưng, Mầu Nhiệm Vượt Qua siêu việt và khủng khiếp biết bao trước tâm trí của loài người, thậm chí với cả thành phần đã được trực tiếp phần nào nghe, thấy và sờ được sự thật (x 1Jn 1:1-2) trước khi sự thật hoàn toàn tỏ hiện sau Cuộc Vượt Qua. Bởi thế, vừa giáp trận, quí vị đã bật ngửa ra ngay, đã ngã sấp mặt xuống đất liền, chẳng khác gì như đã xẩy ra nơi đám thủ hạ của Hội Đồng Do Thái sai phái đến bắt Chúa Giêsu sau khi vừa nghe thấy sự thật, tức vừa nghe thấy Người tuyên bố "Chính Ta đây" (Jn 18:6). Vị trưởng tông đồ đoàn là Phêrô đã không ngã sấp xuống đất vỡ hết cả mặt mũi hay sao, khi công nhiên trắng trợn và phũ phàng chối bỏ Thày mình ba lần đúng như lời Thày báo trước (x Mt 26:69-75).
Tuy nhiên, không phải vì ba vị tông đồ được chứng kiến biến cố biến hình Thày muốn dùng để kiên vững đức tin cho các vị này, song các vị vẫn thuộc vào thành phần, như Phúc Âm Marcô cho biết, sau khi Chúa Giêsu bị bắt thì "tất cả mọi người liền bỏ Người mà tẩu thoát" (Mk 14:50), là các vị ấy đã làm cho biến cố biến hình hoàn toàn bị mất đi công dụng thần linh của mình. Bởi vì, biến cố biến hình chẳng những có tác dụng củng cố đức tin cho các vị ngay lúc bấy giờ, mà còn có tác dụng hình thành đức tin cho các vị sau này nữa, ở chỗ, các vị dễ tin vào Thày hơn, khi các vị thực sự chứng kiến thấy Thày mình đã hoàn toàn "biến hình" vinh hiển hiện ra với các vị sau khi sống lại từ trong cõi chết. Biến cố biến hình quả thực là một trong những cách sống động nhất và hiển nhiên nhất Chúa Giêsu muốn dùng để thực hiện chủ đích của Người trong việc hình thành đức tin cho các môn đệ, hay trong việc tăng thêm đức tin một cách hiệu nghiệm cho thành phần muốn đi theo Người, thành phần sẽ là những chứng nhân tiên khởi của Người, một chủ đích được Người cho các vị biết trong Bữa Tiệc Ly: "Thày nói với các con điều này bây giờ trước khi nó xẩy ra, để khi nó xẩy ra thì các con mới tin Là Thày" (Jn 13:19; Lk 24:44): "Thày là Đấng Thiên Sai, Con Thiên Chúa hằng sống" (Mt 16:16).
Biến cố biến hình: với vai trò của Đấng Thiên Sai và phần rỗi loài người
Biến cố biến hình chẳng những là việc Chúa Giêsu muốn dùng để tỏ mình ra cho các môn đệ của Người, mà còn là một chứng từ chính Thiên Chúa muốn thực hiện để làm cho các vị tin vào Đấng Ngài sai nữa. Đó là lý do Phúc Âm Nhất Lãm thuật lại hiện tượng có tiếng từ trời tuyên nhận Đấng Thiên Sai của Ngài trước mặt các vị và truyền cho các vị huấn dụ của Ngài: "Đây là Con yêu dấu của Ta, Đấng đẹp lòng Ta. Hãy lắng nghe Người". Trong biến cố biến hình của Đấng Ngài sai, để chứng thực cho ba người môn đệ thân tín nhất của Người biết Người chính là Đấng Thiên Sai, Thiên Chúa cũng đã cho các vị thấy cả hai nhân vật tiêu biểu quan trọng trong Cựu Ước là Moisen (tiêu biểu cho lề luật) và Elia (tiêu biểu cho tiên tri) nữa. Bởi vì, với Cuộc Vượt Qua của mình, Chúa Giêsu đã chứng thực mình là Đấng Thiên Sai, tức "là Đấng phải đến" (Mt 11:3), Đấng đã sống và làm trọn vẹn tất cả những gì Thiên Chúa là Đấng sai Người đã dự định và đã tỏ ra cho dân Ngài biết trong "lề luật Moisen và các tiên tri (tiêu biểu nhất là Elia) cùng thánh vịnh (Đavít cũng đóng vai trò tiên tri nơi một số câu thánh vịnh)" (Lk 24:44, xem cả câu 27).
Về những lần hay những việc Thiên Chúa muốn thực hiện để chứng tỏ Chúa Giêsu là Đấng Thiên Sai của Ngài, theo các Phúc Âm thuật lại, có ba lần thứ tự như sau: Lần thứ nhất khi Chúa Giêsu lãnh nhận phép rửa của Gioan Tẩy Giả ở sông Dược Đăng, lần thứ hai khi Chúa Giêsu biến hình trên núi, và lần thứ ba sau khi Chúa Giêsu đã vinh hiển vào thành Giêrusalem. Cả ba lần Thiên Chúa đều thực hiện cùng một cách việc chứng nhận của Ngài về Đấng Ngài sai, đó là bằng một tiếng phát ra từ trời. Tuy nhiên, tiếng phán ra từ trời của Thiên Chúa để chứng nhận Chúa Giêsu quả thực là Đấng Thiên Sai lần thứ nhất chỉ nói riêng với Chúa Giêsu (x Mk 1:11; Lk 3:22; Mt 3:16-17), lần thứ hai với các môn đệ (x Mt 17:5), và lần thứ ba với chung dân chúng, gồm cả dân Do Thái lẫn dân ngoại Hy Lạp, (xem Jn 12:28).
Riêng về lần thứ ba của tiếng phán từ trời này, căn cứ vào lời Chúa Giêsu nói với dân chúng bấy giờ: "Tiếng này không phán ra vì Tôi mà là vì quí vị đó" (Jn 12:30), chúng ta thấy Thiên Chúa quả thực chứng nhận Đấng Thiên Sai của mình trước mặt con người trần gian vậy. Làm như thế không phải là vì Thiên Chúa cần đến con người mà là để làm lợi ích cho phần rỗi của họ, cho đức tin của họ mà thôi, đúng như lời Đấng Thiên Sai của Ngài đã khẳng định với đám dân tìm kiếm Người sau khi được Người hóa bánh ra nhiều để họ được ăn uống no nê: "Đây là việc làm của Thiên Chúa, đó là làm cho quí vị tin vào Đấng Ngài sai" (Jn 6:29).
Tuy chủ ý của tiếng phán từ trời là chứng nhận Chúa Giêsu là Đấng Thiên Sai, Đấng thực sự đã làm đúng như những gì Người đã khẳng định với dân Do Thái: "Tôi từ trời xuống không phải để làm theo ý mình mà là ý Đấng đã sai" (Jn 6:38), nhưng tiếng phát ra từ trời này tự mình cũng đã gây ra một tác dụng khủng khiếp, đó là làm cho người nghe phải hoảng sợ. Điển hình là trong biến cố biến hình được Phúc Âm Thánh Mathêu hôm nay thuật lại và cho biết tình hình sau tiếng phán này là "Khi các vị nghe thấy tiếng nói này liền hoảng sợ ngã xuống đất". Cũng thế trong lần thứ ba, Phúc Âm Thánh Gioan cho biết: "Khi đám đông nghe tiếng này họ nói là tiếng sấm", có nghĩa là họ có thể đã bị giật mình và run sợ. Chỉ có lần thứ nhất khi tiếng từ trời phán ra với Chúa Giêsu thì không có gì xẩy ra, không phải vì Người có nội tâm thâm hậu, mà vì Người chính là Đấng Thiên Sai, là Con Thiên Chúa, là chính Lời Thiên Chúa muốn nói với loài người (x Heb 1:2), Lời mà tiếng phán từ trời hôm nay muốn thành phần chứng nhân tiên khởi được chứng kiến biến cố biến hình "Hãy lắng nghe".
Vấn đề thực hành sống đạo: Chúa Giêsu biến hình trên núi trước mặt ba môn đệ là việc cả Người cũng như Cha của Người muốn thực hiện để chứng thực Người là Đấng Thiên Sai, là Chân Lý, nhờ đó, thành phần môn đệ đã được Người tuyển gọi, cũng như đã tự nguyện bỏ mọi sự để dấn thân theo Người, được yên tâm và kiên trì theo Người cho đến cùng (x Jn 21:18-19). Và chính khi Kitô hữu chúng ta theo Người cho tới cùng như thế, ngay trên trần gian này, nếu "Chúa Giêsu được tỏ hiện nơi thân xác của chúng ta" (2Cor 4:10), chúng ta thực sự đã được "biến hình" một cách mầu nhiệm. Ở chỗ, càng ngày chúng ta càng phản ánh Đấng" là ánh sáng thế gian" (Jn 8:12), tức càng trở thành những chứng nhân đích thực và sống động của Người, cho tới khi Người lại đến để hoàn toàn và vĩnh viễn biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta để nó được thực sự trở nên giống như thân xác hiển vinh của Người (x Phil 3:21).
 

MC2-152: CHÚA GIÊSU BIẾN HÌNH

 - Sr M. Catherine Lê Trang, OP
Mt 17:1-9

Bài Phúc âm hôm nay đề cập đến việc Chúa Giêsu đưa ba môn đệ là Phêrô, Giacôbê và Gioan: A28 MC2-152

Bài Phúc âm hôm nay đề cập đến việc Chúa Giêsu đưa ba môn đệ là Phêrô, Giacôbê và Gioan lên núi cao rồi Người biến hình trước mặc các ông. Chắc chắn rằng khi viết lại câu chuyện Chúa Giêsu biến hình, thánh Matthêu không có ý kể lại cho chúng ta nghe về một hiện tượng kỳ bí hay một câu truyện thần thoại, hoang đường, nhưng là để thuật lại một biết cố có thật. Các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan chính là những nhân chứng trong cuộc; họ là những người đã được "mắt thấy tai nghe" tất cả những gì đã xảy ra trên núi hôm ấy. Đọc bài Phúc âm hôm nay, chúng ta thấy chú ý đến hai điểm.
Điểm thứ nhất nhắm vào Chúa Giêsu khi Người biến hình. Có thể nói rằng dung nhan Chúa Giêsu trong lúc ấy có vẻ như vừa lạ lùng vừa huyền nhiệm: trong sạch, tinh tuyền "như tuyết" và rạng rỡ, sống động "như mặt trời". Chúng ta nhận thấy có sự liên hệ giữa dung mạo Chúa Giêsu ở đây với diện mạo sáng ngời của ông Maisen khi ông ở với Thiên Chúa trên núi Sinai ngày xưa.(Lk 9:31) giữa một khung cảnh đầy vinh quang, rạng rỡ ấy gợi ý cho chúng ta thấy rằng biến cố "biến hình" chính là viễn ảnh cho cuộc thương khó và phục sinh của Chúa Giêsu sau này.
Hẳn chúng ta đã biết, các ông Maisen và Êlia đã từng sống trước thời của Chúa Giêsu cả hàng bao thế kỷ; chắc chắn là các môn đệ của Chúa Giêsu thời ấy chưa lần nào được hân hạnh gặp hai nhân vật này. Thế mà ba người tông đồ của Chúa nhận ra họ. Sự kiện này cho phép chúng ta nghĩ rằng tất cả mọi việc xảy ra trong khung cảnh đầy xán lạn ấy đều không bị giới hạn bởi thời gian. Lúc ấy ba người tông đồ đã được đưa vào trong khung cảnh cuộc biến hình của Chúa Giêsu chính là một cảm nghiệm tuyệt vời đối với các tông đồ, đến nỗi ông Phêrô đã thốt lên rằng: "Lạy Thầy, chúng con được ở đây thì tốt lắm" và còn ước muốn được dựng lên ba lều tại đó.
Cảm nghiệm tuyệt vời trên núi cao hôm xưa đã làm gia tăng niềm tin vào Chúa Giêsu nơi các tông đồ. Niềm tin ấy trở nên sống động hơn khi các tông đồ làm chứng cho Chúa Giêsu. Bằng cuộc sống chứng nhân, các tông đồ đã tả lại dung mạo của Chúa cho mọi người, kể lại cách Chúa đi vào đời họ và nói về Chúa bằng việc thực thi Lời Chúa trong đời sống họ. Khi suy ngắm về biến cố Chúa Giêsu biến hình, xin mỗi người chúng ta hãy dành ra ít phúc, nhìn sâu vào đời mình, để xem có những điểm nào cần được biến đổi không. Có lẽ chúng ta nên bắt đầu cuộc biến đổi mình bằng những việc tầm thường, nhỏ nhoi trước. Những việc đó có thể là đổi mới trong cách nhìn, cách suy nghĩ, cách lựa chọn của chúng ta. Đổi mới theo tinh thần công bình và bác ái trong sự hiệp thông với Đức Kitô, Đấng đã chịu chết cho toàn thể nhân loại và đã phục sinh để cứu chuộc chúng ta.
Lạy Chúa, xin tỏ ánh sáng vinh quang là chân lý của Chúa trong mỗi tâm hồn chúng con, để chúng con luôn hướng tìm về Chúa, là cùng đích của đời sống chúng con. Mỗi khi đức tin chúng con gặp thử thách, nguyện xin Chúa hãy là ánh đèn soi dẫn, là hy vọng và sức mạnh nâng đỡ chúng con. Amen.
NS Trái Tim Đức Mẹ
 

MC2-153: ƠN GỌI - Sr Yakira

Mt 17:1-9

Trong cả ba bài đọc ngày Chúa Nhật hôm nay văng vẳng lời Thiên Chúa mời gọi từng người: A29 MC2-153

Trong cả ba bài đọc ngày Chúa Nhật hôm nay văng vẳng lời Thiên Chúa mời gọi từng người trong chúng ta một cách riêng biệt. Abraham trong bài đọc 1 được mời gọi ra đi xa khỏi quê hương xứ sở cha ông của mình. Trong bài đọc 2, thánh Phaolô được mời gọi đi rao giảng Tin mừng và thánh Timôthêô thì được mời gọi cộng tác với thánh Phaolô. Còn trong bài Phúc âm thì cả ba ông Phêrô, Gioan và Giacôbê đã mời gọi lên núi, mời gọi thực hiện nhân đức vâng phục, và được mời gọi xuống núi.
Như vậy chúng ta thấy có nhiều loại ơn gọi: có loại ơn gọi dành cho hết mọi người, có loại chỉ dành số ít người; có loại ơn gọi dài lâu cho cả đời người, có loại ngắn hạn chỉ trong giây phút, vài ba ngày, hay vài ba năm; có loại ơn gọi mời đi ra khỏi, nhưng có loại mời gọi trở về; có loại mời đi lên, nhưng lại có loại mời gọi đi xuống...
Loai ơn gọi dài lâu cho cả đời người thường được nhắc tới hơn cả, đó là ơn gọi bậc sống của mỗi người: hoặc sống độc thân, hoặc lập gia đình, hoặc tu dòng, hoặc lãnh nhận thiên chức Phó tế, Linh mục... Đó cũng là loại ơn gọi dành cho một số người nào đó mà không cho tất cả mọi người. Chúa có một lời mời gọi mọi người, đó là mời gọi sống đức bác ái yêu thường từng giây phút trọn cuộc sống chúng ta. Ơn gọi này bao trùm hết tất cả những ơn gọi khác, vì cho dù có sống trong bậc nào đi nữa, tất cả chúng ta cũng đều cần sống bác ái trước.
Có loại ơn gọi ngắn hạn, chỉ trong vài giây phúc, như của ba vị tông đồ trong Phúc Âm hôm nay. Lời mời gọi vui hưởng vinh quang của Chúa. Mặc dù các ông rất thích được hưởng kiến vinh quang Chúa, đến nỗi Phêrô đã xin làm lều để được giữ lại hạnh phúc và những điều sáng láng tốt lành ấy, nhưng Chúa đã không để cho các ông dừng lại ở chút vinh quang "tạm thời" đó, mà trong lúc cùng với Chúa Giêsu đi xuống núi, Người đã mời gọi các ông đến thưởng kiến một vinh quang phục sinh. Vinh quang phục sinh mới thật là vinh quang đích thực và toàn vẹn, vì khi Chúa Giêsu sống lại, kẻ thù cuối cùng là sự chết mới thực sự bị tiêu diệt, và Chúa đã toàn thắng mọi quân thù và thống trị mọi loài.
Loại ơn gọi mời đi ra khỏi ốc quen thuộc là để có thể khám phá ra nhiều nét đẹp mới lạ hơn của thế giới chung quanh mình. Abraham trong bài đọc thứ 1 đã được mời gọi "rời khỏi quê hương cha" để tới một miền đất mới xa lạ nhưng là "đất chảy sữa và mật". Và ngược lại là lời mời gọi trở về nhà Cha, thường âm vang và thúc hối trong tâm tưởng những người con xa vắng nhất trong mùa chay. Chắc hẳn mỗi người trong chúng ta đã có chút ít kinh nghiệm về ơn gọi trở về này.
Một giai thoại về hai vị thánh tiến sĩ lừng danh trong Giáo hội có thể dùng để diễn tả cách thức Chúa mời gọi từng người khác nhau trong cùng một lúc, một hoàn cảnh và một vấn đề. Khi hai thánh Tôma Aquino và Bônaventura được mời đến tranh cử trong cuộc thi thơ kính Bí tích Mình Máu Thánh Chúa, Tôma rút phải thăm đọc bài trước. Trong khi Tôma đang đọc các bài thơ của mình thì Bônaventura đã xé nát hết các bài thơ của mình đã viết. Khi Tôma dứt lời, Bônaventura đã hết sức ca ngợi tài khéo của Tôma và nói các bài của mình không xứng tranh giải với Tôma. Đức Giáo Hoàng chủ tọa cuộc thi hôm đó lại còn khéo hơn nữa lúc công bố kết quả cuộc thi thơ, khi nói rằng tài năng của Tôma cao bay trổi vượt bao nhiêu thì đức khiêm nhường của Bônaventura lại thăm thẳm sâu đậm bấy nhiêu. Như vậy, Tôma theo lời mời gọi "đi lên" đã gặp Chúa, còn Bônaventura nghe theo lời mời gọi Chúa dành riêng cho ngài mà đã "đi xuống' nên cũng đã gặp Chúa.
Thiên Chúa đã ban cho chúng ta mỗi người nhiều lời mời gọi, có thể nói người mời gọi hằng mỗi giây phút trong cuộc sống của chúng ta. Vậy chúng ta phải thật ý tứ, phải rất chú ý và lắng nghe mới nghe thấy, vì Chúa vốn rất "hiền lành và khiêm nhường trong lòng", nên Ngài cũng ăn nói thật nhỏ nhẹ, đôi khi chỉ thì thầm như hương gió thoảng mà thôi. Khi đã nghe thấy rồi, ước mong rằng chúng ta sẽ đáp trả lời mời gọi đó bằng lời "Xin Vâng" như Mẹ Maria ngày xưa. Hãy nhớ rằng Chúa đã ban cho chúng ta trả lời chứ không hề ép uổng chúng ta bao giờ. Đối với con người thì "không trả lời nghĩa là trả lời rằng, không" (Harvey Cox), nhưng đối với Chúa thì lại khác. Ngài cứ còn mãi đợi chờ đáp trả "Xin Vâng" của chúng ta và không hề chán nản bao giờ.
NS Trái Tim Đức Mẹ
 

MC2-154: ƠN GỌI LÀM ĐẸP

- Lm Phạm Quốc Hưng,CSsR
"Ngài đã biến hình trước mặt họ, mặt Ngài sáng láng như mặt trời, áo Ngài nên trắng phau như ánh sáng".

Tự bản chất con người ai cũng muốn trở nên xinh đẹp; thích tìm kiếm và nhìn ngắm những: A30 MC2-154

Tự bản chất con người ai cũng muốn trở nên xinh đẹp; thích tìm kiếm và nhìn ngắm những cảnh đẹp; thích những vật hay những người thuộc về mình cũng đẹp; thích được người ta chiêm ngưỡng vì mình đẹp; và vì thế tìm mọi cách để làm đẹp cho mình và những vật hay những người thuộc về mình.
Người ta đã đầu tư biết bao tiền của, công sức, tài năng và thời giờ để phục vụ nhu cầu làm đẹp và khiếu thẩm mỹ của con người. Sự hiện diện của các ngành thẩm mỹ, du lịch, hội họa, điêu khắc, phim ảnh và kiến trúc đã nói lên lòng khát khao vẻ đẹp nơi con người.
Phải chăng lòng khát khao vẻ đẹp ấy nơi con người cùng với những cố gắng làm đẹp của họ chính là một ơn gọi căn bản gắn liền với bản chất con người?
Tin Mừng hôm nay thuật về việc Chúa Giêsu biến hình trên núi trước mặt ba môn đệ thân tín nhất của Người, và vẻ đẹp của Người đã khiến họ đã ngẩn ngơ chiêm ngắm. Qua cuộc biến hình này, Chúa Giêsu không những tỏ cho chúng ta thấy vẻ đẹp tuyệt vời của Người nhưng còn khơi dậy nơi chúng ta hy vọng sẽ được trở nên xinh đẹp như chính Người.
Nói cách khác, qua biến cố biến hình nầy Chúa Giêsu đã khơi dậy "ơn gọi làm đẹp" trong tâm hồn mỗi người chúng ta.
Điều đáng tiếc là chúng ta bị ảnh hưởng của quan niệm thế gian nên thường dừng lại ở việc tìm kiếm và ngưỡng mộ cái đẹp tự nhiên, cái đẹp bị giới hạn trong phương diện vật chất thể lý chóng qua, mà không thiết tha tìm kiếm và chiêm ngưỡng cái đẹp siêu nhiên, cái đẹp của tâm hồn, cái đẹp của nhân đức, cái đẹp thần thiêng của ơn thánh, cái đẹp sẽ tồn tại mãi mãi. Chính cái đẹp thần thiêng sung mãn ấy là cái đẹp mà Chúa Giêsu muốn mời gọi chúng ta chiêm ngưỡng và kiếm tìm qua cuộc biến hình trên núi của Người.
Vì được dựng nên giống hình ảnh Chúa, con nguời được chia sẻ cái đẹp của chính Chúa, Cái Đẹp Tuyệt Đối. Tội lỗi-tội tổ tông và tội riêng ta-đã làm lệch lạc và lu mờ hình ảnh Thiên Chúa nơi mỗi người chúng ta. Lòng khát khao những nét đẹp trong thế giới tự nhiên nơi chúng ta phải là dấu chỉ của lòng khát khao tìm kiếm và chiêm ngưỡng Thiên Chúa và được chia sẻ Cái Đẹp Tuyệt Đối của chính Người.
Chúa Giêsu xuống thế làm người để cứu chuộc chúng ta, nghĩa là để giúp chúng ta khôi phục lại hình ảnh tuyệt mỹ của Thiên Chúa nơi linh hồn chúng ta. Khi biến hình trên núi, Chúa Giêsu đã cho các môn đệ nhận biết Người chính là "phản ảnh của vinh quang, là ẩn tượng" của Thiên Chúa (Heb 1:3).
Cũng theo thánh Phaolô, mỗi người chúng ta cũng được Thiên Chúa kêu gọi để "nên đồng hình đồng dạng với hình ảnh Con của Người, để Ngài nên trưởng tử giữa một đoàn em đông đúc" (Rom 8:29); nghĩa là ta được mời gọi để trở nên xinh đẹp tuyệt vời như chính Chúa Giêsu.
Cuộc biến hình của Chúa Giêsu là sự chuẩn bị của Người dành cho các môn đệ. Nhờ đó, họ có thể chấp nhận cuộc khổ nạn và cái chết đau thương của Người trên thập tự mà không vấp phạm. Điều này cũng giống như việc các bác sĩ thẩm mỹ chỉnh hình cho các bệnh nhân xem hình vẽ dung mạo xinh đẹp mà họ sẽ có sau khi chữa trị, để họ dễ chấp nhận những tốn kém hay đớn đau phiền toái của quá trình điều trị.
Trong Chúa Giêsu và nhờ cuộc tử nạn và phục sinh của Người, tất cả nhân loại chúng ta đã tìm được phương thức lột xác và chỉnh hình để xóa bỏ dung mạo xấu xa ghê tởm vì tội lỗi và khôi phục lại vẻ đẹp siêu việt tuyệt vời của hình ảnh Thiên Chúa nơi linh hồn chúng ta.
Đó là Tin mừng mà Giáo hội muốn công bố cho mọi người qua mọi thời đại.
Bài trích sách Sáng Thế trong phụng vụ hôm nay nói đến việc Abraham được Chúa kêu gọi để từ bỏ quê hương để đi đến miền đất mới Chúa hứa ban với bao phúc lộc, và ông đã ra đi. Qua việc đón nhận niềm tin Công giáo và bí tích Rửa tội, chúng ta đã chấp nhận đi ra khỏi giới hạn của sự khao khát và kiếm tìm những cái đẹp thuần túy vật thể và tự nhiên, để bắt đầu theo chân Chúa Giêsu kiếm tìm, chiêm ngưỡng và thông dự vào vẻ đẹp siêu nhiên thần thiêng của chính Thiên Chúa.
Thánh Phaolô trong thư gửi Timôtê trong bài đọc 2 của Phụng vụ hôm nay cũng đã kêu gọi Timôtê "hãy chung phần cam khổ vì Tin mừng dựa vào quyền năng của Thiên Chúa, Đấng cứu thoát ta, và đã ra thánh triệu kêu gọi ta, không chiếu theo các việc ta làm, nhưng là chiếu theo chính dự định và ân sủng Người đã ban cho ta trong Đức Kitô Giêsu, từ trước đời đời hằng có, và nay đã cho hiển hiện nhờ cuộc Hiển linh của Cứu Chúa chúng ta, Đức Kitô Giêsu, Đấng đã hủy diệt sự chết và chiếu sáng ra sự sống, và sự bất hoại, nhờ Tin Mừng" (1 Tim 1: 8b-10).
Giáo Hội muốn dùng chính những lời này trong Mùa Chay để kêu gọi chúng ta chấp nhận và nỗ lực thực thi những đòi hỏi của Tin mừng để được lột xác biến hình hầu có được vẻ đẹp siêu việt vĩnh hằng của chính Chúa Giêsu.
Trong xã hội hôm nay rất nhiều người chấp nhận tốn kém, kỷ luật và phiền toái như kiêng ăn, uống thuốc, tập thể dục thể thao hay giải phẫu để có được vẻ đẹp mau qua chóng tàn của thân xác. Chẳng lẽ người tín hữu chúng ta lại không dám quyết tâm sống trọn vẹn ơn gọi Kitô hữu của mình, "ơn gọi làm đẹp" tâm linh sao?
Lạy Mẹ Maria là Mẹ Tuyệt Mỹ, xin Mẹ giúp chúng con luôn khao khát say mê chiêm ngưỡng vẻ đẹp thần linh của Chúa Giêsu Con Mẹ. Xin Mẹ dạy chúng con biết chấp nhận và thánh hoá mọi đau khổ trong cuộc sống để Chúa biến đổi chúng con nên "đồng hình đồng dạng" như hình ảnh tuyệt vời của chính Người. Amen.
NS Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp
 

MC2-155: MẶT NGƯỜI CHIẾU SÁNG NHƯ MẶT TRỜI

St 12:1-4a; 2 Tm 1:8b-10; Mt 17:1-9

Cách chung, người Việt Nam chúng ta rất sùng đạo, vì thế mỗi khi nghe có một phép lạ xảy: A31 MC2-155

Cách chung, người Việt Nam chúng ta rất sùng đạo, vì thế mỗi khi nghe có một phép lạ xảy ra hoặc được biết Đức Mẹ (hay một Đấng Thánh) hiện ra tại nơi nào đó thì lập tức từng đoàn người ùn ùn kéo đến để cầu nguyện để xin ơn. Tại sao? Tại vì rất phù hợp với mộng ước sâu xa của bao người tín hữu, đó là "gặp được Thiên Chúa" (Thiên Chúa, Đức Mẹ, hay một đấng Thánh nào đó) và được nói chuyện... hoặc ít ra cũng được chứng kiến cuộc độc thoại, như chuyện ông Stêphanô ở nhà thờ Bình Triệu trong những năm 75-78 tại Sài Gòn.
Tuy nhiên, sau những lần như vậy thì phần đông hoặc thất vọng hoặc hoang mang, để rồi những câu hỏi được đặt ra: tại sao Thiên Chúa phải trốn tránh chúng ta? Tại sao Đức Mẹ không hiện ra cho chúng ta được thấy để thêm lòng tin nhiều hơn?
Các môn đệ đã từng sống và nghe Chúa Giêsu giảng dạy, đã bao lần các ông cùng đi với Ngài trên khắp các thôn làng xứ Giuđêa, các ông tưởng rằng đã biết rõ Đức Thầy của mình... nhưng rồi một ngày kia, điều mà Phêrô, Giacôbê và Gioan khám phá trên một núi cao đó là một hiện tượng lạ lùng: các ông được chứng kiến Thiên Chúa đang gần gũi các ông qua sự biến hình của Đức Giêsu, "mặt Ngài chiếu sáng như mặt trời và áo Ngài trở nên trắng như tuyết, có Maisen và Êlia hiện ra đàm đạo với Ngài".
Mặc dù Thiên Chúa vô hình, nhưng đôi khi Ngài cũng tỏ hiện qua những dấu chỉ bên ngoài, qua những hiện tượng vũ trụ mang nhiều ý nghĩa tượng trưng.
Theo như Cựu Ước: một bụi cây cháy bừng nhưng không bị thiêu rụi, mạc khải cho Maisen biết rằng Thiên Chúa là Thanh Khiết và Chí Thánh; cột mây ban ngày và cột lửa ban đêm dẫn đường cho dân Hy Bá Lai trốn khỏi xứ Ai Cập biểu lộ Thiên Chúa là Ánh Sáng và Hiện Hữu; còn Vinh Quang và Quyền Năng Thiên Chúa cũng được bày tỏ qua sức mạnh của lửa và sấm sét trên đỉnh núi Sinai khi Ngài lập Giao Ước với dân Ít Diên.
Và trong Tân Ước: sự tỏ hiện quan trọng nhứt chính là sự Biến Hình của Đức Giêsu trước mặt 3 môn đệ. Theo như Kinh Thánh, núi cao là nơi đặc ưu giữa đất trời liên hệ với nhau, nơi mà loài người cảm thấy sự nhỏ bé của mình trước tầm vóc vĩ đại của vũ trụ. Qua gương mặt rực rỡ và tà áo chói loà, Đức Giêsu tỏ hiện trong hai bản tính vừa là Thiên Chúa và cũng vừa là con người. Sự hiện diện của Ngài giữa Maisen (biểu tượng cho Lề Luật được ban trên núi Sinai) và Êlia (tượng trưng các tiên tri loan báo Đấng Thiên sai) nói lên sự gặp gỡ giữa Cựu ước và Tân ước, cả hai ông là chứng tá cho quá khứ tán dương Đức Giêsu Kitô vinh hiển mai sau.
Sự biến đổi hình dạng của Đức Giêsu mang ý nghĩa là cuộc sống hạnh phúc có thể có ngay từ trần gian này. Sự biến hình đó có thể biến đổi chúng ta, và từ đó ta có thể biến đổi kẻ khác: khi mà chúng ta biết biến đổi trong cuộc sống thường nhật bằng cách nhìn hoặc cách cư xử của chúng ta, từ ánh mắt tràn đầy thù hận ta biến đổi thành đôi mắt thương yêu trìu mến, từ lòng tham ích kỷ ta đối xử trong tin yêu chia sẻ, để ánh sáng trong ta và kẻ khác, đang bị chôn vùi trong hận thù và bạo lực giữa lòng đau khổ tuyệt vọng, được vùng lên sáng tỏa giúp tất cả luôn vui sống vương mắt mong đợi một Hạnh Phúc tỏa sáng không bao giờ tàn suy.
Nhưng tại sao "Chúa Giêsu ra lệnh cho 3 môn đệ không được nói với ai về việc đã thấy cho tới khi Con Người từ cõi chết sống lại"? Vì một trong những câu giải đáp là một khi Ngài tiết lộ căn tính Ngài là Con Thiên Chúa thì chính là lúc mà Ngài sẽ tự ký tên vào bản kết án chính mình. Nên nhớ lại lúc Ngài bị điệu ra trước Thượng Hội Đồng, thượng tế hỏi: "Ngươi có phải là Đức Kitô, Con Thiên Chúa không?" và câu trả lời xác nhận "đúng như các ông nói" sẽ làlý do kết án Ngài (Lc 23:66-71). Vì thế, trong 3 năm rao giảng Tin Mừng, có biết bao lần Ngài được những đám đông ca tụng và muốn đưa Ngài lên làm vua, sau những khi Ngài chữa lành các bệnh nhân hoặc hóa bánh ra nhiều để nuôi hàng vạn người, nhưng Đức Giêsu đã từ chối quyền uy và sức mạnh, Ngài quyết định thực hiện sứ mệnh thiên sai theo cách thế Thiên Chúa trong tinh thần khó nghèo và khiêm nhu. Vì vậy, Ngài rất dè dặt trong công trình, và căn tính của Ngài chỉ được tiết lộ vào cuối cuộc đời, trong giờ chiến đấu quyết liệt, lúc mà tính cách chân chính của sứ mệnh không còn phải che dấu mập mờ nhưng ngược lại cần bộc lộ minh bạch căn tính Ngài là Con Thiên Chúa, Đấng hằng sống, khi Ngài chiến thắng sự chết.
Ta đừng nên lẫn lộn Phúc Âm, sứ điệp của Đức Giêsu, với những chuyện phiêu lưu kỳ diệu mang tính cách thiên anh hùng ca. Có thể hầu hết chúng ta chưa bao giờ được diễm phúc chứng kiến những phép lạ, nhưng không vì thế mà chúng ta đành loại bỏ tất cả những gì được viết trong Kinh Thánh và cho đó là những chuyện được sáng tác theo nhu cầu và hoàn cảnh sống, cũng như đừng cho rằng Tôn Giáo chỉ là những điều tuyệt vời, những phép lạ phi phàm với những sự hiện ra hoặc những biến đổi hình dạng không liên can gì đến cuộc sống thường nhật. Chúa Giêsu không thể là kẻ pha trò hay nhà ảo thuật đối với chúng ta. Sự biến hình của Ngài mạc khải rằng con đường Ngài đi trên trần thế này phải vượt qua sự cô độc của thập giá trước khi đạt đến Vinh Quang.
Trong Mùa Chay, kinh nguyện, ăn chay và bố thí là những phương thế giúp chúng ta sống gần gũi Thiên Chúa. Những lần tham dự Thánh Lễ và lắng nghe Lời Chúa là những lần chúng ta sống biến hình kết hợp với Thiên Chúa và hiệp thông với các tín hữu của Giáo Hội hoàn vũ. Ước gì từ nay cuộc sống chúng ta được biến đổi để luôn phản chiếu ánh sáng của Đức Kitô cho mọi người khác.
NS Dân Chúa Âu Châu
Lm Paul-Maurice Lâm Thái Sơn
 

MC2-156: HÃY NGHE LỜI NGƯỜI

St 12:1-4a; 2 Tm 1:8b-10; Mt 17:1-9

Khi chịu phép Rửa ở Sông Giođan để bắt đầu cuộc đời công khai, Chúa Giêsu đã được Thiên: A33 MC2-156

Khi chịu phép Rửa ở Sông Giođan để bắt đầu cuộc đời công khai, Chúa Giêsu đã được Thiên Chúa Cha long trọng giới thiệu với mọi người rằng: "Này là Con chí ái của Ta, Kẻ Ta đã sủng mộ" (Mt 3:17). Vì thế từ hôm đó khi gặp Chúa Giêsu thì Gioan Tiền hô thường nói: "Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian... Người đến sau tôi nhưng Người đã có trước tôi... Chính Người là Đấng Thiên Chúa đã chọn" (Ga 1:29-31).
Hôm nay trên núi Taborê, sau khi đàm đạo với Maisen và Êlia (Mt 17:1-3), một lần nữa Chúa Giêsu lại được Thiên Chúa Cha long trọng giới thiệu lớn tiếng rằng: "Đây là Con Ta yêu dấu rất đẹp lòng Ta" (Mt 17:5). Đặc biệt lần này Chúa Cha còn truyền cho chúng ta rằng: "Các ngươi hãy nghe lời Người" (Mt 17:5).
Chúa Giêsu khi che giấu vinh quang Thiên Chúa thì bên ngoài như các người bình thường khác, nhưng khi để lộ nguyên tính Thiên Chúa thì "mặt Người sáng như mặt trời và áo Người trở nên trắng như tuyết" (Mt 17:2). Người sáng láng bởi Người là chính sự sáng: "Ta là sự sáng thế gian" (Ga 8:12). Người sáng láng bởi Người chính là Thiên Chúa sáng láng: "Ta và Chúa Cha là một" (Ga 16:14).
Vì thế, kẻ thấy Người là thấy Chúa Cha: "Kẻ thấy Ta là thấy Đấng đã sai Ta" (Ga 12:45). Chúa Giêsu trở thành con đường duy nhất dẫn đưa chúng ta về với Chúa Cha. Ngoài Người ra, không còn con đường nào khác để được cứu rỗi: "Ta là Đường là Sự Thật và là Sự Sống, không ai đến được với Cha mà không qua Ta" (Ga 14:6). Chính vì thế Chúa Cha truyền cho chúng ta "hãy nghe lời Người". Lời của Người sẽ làm cho chúng ta được sống đời đời : "Lời Ta nói với các người là Thần Trí và là Sự Sống" (Ga 6:63). Chính thánh Phêrô cũng đã tuyên nhận như vậy: "Lạy Ngài, nếu bỏ Ngài thì chúng con biết theo ai, vì chỉ mình Ngài có những lời ban sự sống đời đời" (Ga 6:68).
Chúa Giêsu là Con yêu dấu Chúa Cha, là hiện thân của Thiên Chúa, Người có lời ban sự sống đời đời, vậy chúng ta hãy nghe lời Người, bước theo Người để được cứu rỗi: "Kẻ nghe lời Ta và tin vào Đấng đã sai Ta thì có sự sống đời đời" (Ga 5:25). Hãy luôn sẵn sàng đón nghe lời Chúa như tiên tri Samuel xưa: "Lạy Chúa, xin hãy phán vì tôi tớ Chúa đang lắng nghe, Chúa có lời ban sự sống đời đời" ( 1 Sam 3:9).
Có lần quan Tổng đốc Ninh Bình dụ dỗ cha thánh Đôminicô Xuyên rằng: "Nếu ông vâng lời nhà vua mà dẫm lên tượng chịu nạn này và bỏ đạo hẳn thì ta tha, bằng không thì ông phải chết..." Cha thánh Xuyên dõng dạc thưa lại: "Tôi thà chết mà sống cùng Chúa tôi là Chúa cả trời đất chứ nhất định không nghe các quan cho được sống một ít lâu rồi phải chết vô cùng" (Dòng Máu Anh Hùng). Cha thánh Xuyên đã không nghe thế gian nhưng đã nghe và thực hành lời Con yêu dấu Chúa Cha nên ngài đã được sống đời đời.
Lạy Chúa, tuần này khi tham dự thánh lễ, con quyết tâm lắng nghe lời Chúa cẩn thận rồi sốt sắng đem thực hành khi ra về.
NS Dân Chúa Âu Châu
Lm Bênađô Nguyễn Tiến Huân
 

MC2-157: TIẾNG GỌI HUYỀN BÍ

Mt 17:1-9

Theo dõi tin tức báo chí trong những ngày gần đây, tôi cảm thấy hơi khó hiểu về vụ anh John: A27 MC2-157

Theo dõi tin tức báo chí trong những ngày gần đây, tôi cảm thấy hơi khó hiểu về vụ anh John Walker. Anh được sinh trưởng tại thành phố San Francisco, bang California trong một gia đình khá giả, thế mà không hiểu vì lý do gì anh bỏ nước Mỹ, sang một nước nghèo lạc hậu Afghanistan để gia nhập đoàn quân Taliban. Phải chăng có "tiếng gọi huyền bí" nào đó?
Nghe "tiếng huyền bí", và đáp lại "tiếng gọi huyền bí" đó là điều mà tôi cảm thấy Lời Chúa đến với tôi tuần này. Và đó là một điều gay go.
Abram, trong bài đọc thứ nhất, đã nghe "tiếng gọi huyền bí", rằng: "Ngươi hãy từ bỏ quê hương, họ hàng và nhà cửa cha ngươi mà đi đến xứ Ta chỉ cho. Ta sẽ làm cho người nên một dân lớn, Ta sẽ ban phúc cho ngươi..." và Abram liền ra đi. Suy nghĩ về điều này, tôi cảm thấy việc làm của Abram quả là anh hùng, đáng khâm phục. Ông đã dám bỏ lại đằng sau tất cả quê hương, bạn bè, bà con thân thuộc... và lập tức đi theo một "tiếng gọi huyền bí". Đi đâu, đi đến nơi nào, Abram vẫn chưa biết. Tuy nhiên, Abram biết chắc một điều là Chúa là Đấng tín trung, và Chúa hằng luôn ở với ông.
Phêrô, Giacôbê, và Gioan, trong bài Tin Mừng, cũng đã được Chúa gọi đi đến một chỗ riêng biệt trên núi cao. Các ông đã bỏ lại đằng sau tất cả mọi sự để đi theo Chúa. Chính nơi đây, Chúa đã tỏ cho các ông thấy phần nào về sự huyền bí của Ngài.
Qua hai tích truyện trên, tôi nhận thấy có chung 3 điểm sau:
  1.       Việc kêu gọi là do Chúa khởi đầu. Con người đáp lại.
  2.       Việc đáp lại Lời Chúa mời gọi đòi phải trả một giá, đôi khi là một giá rất đắt.
  3.       Cái giá phải trả chắc chắn sẽ được bồi hoàn gấp bội.

Nhìn vào cuộc sống cá nhân tôi cảm nhận được điều đó. Chúa đã gọi. Tôi đã đáp, và tôi tin chắc là Chúa sẽ không bỏ rơi tôi. Nhìn vào cuộc sống riêng mỗi người, tôi cũng nhận thấy Chúa đã gọi mỗi người mỗi bậc sống khác nhau. Tất cả Chúa đều thương, và Chúa muốn chúng ta đáp lại bằng san sẻ tình thương đó cho những người chung quanh. Là bác sĩ, kỹ sư hay là những người thợ làm công trong nhà hàng, hoặc hãng xưởng... chúng ta đều có thể "đáp lại" lời mời gọi của Chúa bằng ngay chính ơn gọi riêng của mình. Có lần tôi nghe nói là các bác sĩ Việt Nam ở thành phố Forth Worth, Texas, một vài lần trong năm tình nguyện tổ chức ngày khám bệnh miễn phí cho tất cả mọi người trong giáo xứ. Thật là một việc làm đầy ý nghĩa. Mới đây có một gia đình-anh là bác sĩ, chị là dược sĩ- đã hy sinh những ngày nghĩ cuối tuần để đến Nhà Dòng khám bệnh phát thuốc cho các cha các thầy. Thật là cảm phục.
Quả thế, "đáp trả" không gì ý nghĩa hơn là yêu thương phục vụ. Thánh Têrêsa đã nói: "Tình yêu chỉ có thể đáp trả bằng tình yêu." Thánh Phaolô còn khuyên: "Ơn lãnh nhận nhưng không, hãy trao ban nhưng không".
Làm thế nào để nhận ra đâu là "tiếng gọi huyền bí" đích thật không phải là chuyện dễ. Có lẽ anh John Walker đã lầm. Đáp lại "tiếng gọi huyền bí" chắc chắn không thiếu những cam go, thử thách. Abraham, người cha đức tin, đã làm gương cho chúng ta.
Mùa Chay là dịp thuận lợi giúp chúng ta nhìn lại ơn gọi mà Chúa đã thương kêu mời, và nhìn lại việc đáp trả của mình. Ước chi, danh Chúa luôn được cả sáng, và tình thương Ngài mãi được lan rộng khắp nơi.
NS Trái Tim Đức Mẹ
Lm Minh Trân, CMC
 

MC2-158: HÃY VÂNG NGHE LỜI NGƯỜI

1. Ý nghĩa thị kiến hiển dung của Đức Giê-su

Đây là một thị kiến mà ba môn đệ thân tín nhất của Đức Giê-su nhìn thấy. Thị kiến này mặc: A35 MC2-158

Đây là một thị kiến mà ba môn đệ thân tín nhất của Đức Giê-su nhìn thấy. Thị kiến này mặc khải cho ba môn đệ thấy thần tính của Đức Giê-su. Những gì thấy trong thị kiến đều có một ý nghĩa thần bí:
ngọn núi cao: biểu tượng sự siêu việt, thánh thiện, cao cả, thanh thoát, xa rời thế tục
chỉ có 4 thầy trò với nhau: sự mặc khải chỉ biểu lộ cho những người thân thiết nhất, mang tính riêng tư.
sự biến hình đổi dạng: cho thấy một bản chất sâu xa bên trong, một cái gì sẽ được tỏ hiện trong tương lai. Người thường không thấy được điều ấy, họ chỉ thấy được cái gì hiện ra bên ngoài trong hiện tại.
dung nhan chói lọi như mặt trời: biểu tượng của thần tính, hay thiên tính, đầy vinh quang, quyền lực.
y phục trắng tinh như ánh sáng: biểu tượng sự trong sáng, sự quang minh chính đại cực độ, hoàn toàn không lầm lỗi, không khiếm khuyết.
Mô-sê và Ê-li-a hiện ra đàm đạo: đây là hai nhân vật lớn nhất tiêu biểu cho Cựu Ước, hay Giao Ước cũ. Mô-sê, nhà làm luật, tượng trưng cho luật pháp, Ê-li-a, ngôn sứ lớn nhất trong Cựu Ước, đại diện các ngôn sứ. Luật pháp và các ngôn sứ là cốt tủy, là những thứ biểu trưng và thiêng liêng nhất trong Cựu Ước. Hai ông còn là hai người có thế giá nhất đã báo trước sự ra đời của Đức Giê-su. Mô-sê là tác giả của bộ Ngũ Kinh ( 5 cuốn đầu của Cựu Ước ) đã tiên báo một đại ngôn sứ sẽ đến ( x. Đnl 18, 15 – 19 ). Còn Ê-li-a là nhân vật mà Thiên Chúa sai đến như một dấu chứng báo trước ngày mà chính Thiên Chúa đến trần gian ( x. Ml 3,23 ). Trong thị kiến này, hai ông biểu tượng cho hai chứng từ sống động nhất làm chứng cho thiên tính của Đức Giê-su.
Đám mây sáng ngời bao phủ cả ba người: tượng trưng cả ba người đều đến từ Thiên Chúa, và đang sống trong vinh quang của Thiên Chúa. Trong Kinh Thánh ( cũng như trong các kinh điển của các tôn giáo ), đám mây tượng trưng cho mầu nhiệm Thiên Chúa đang hiện diện: chẳng hạn cột mây dẫn đường dân Do Thái qua biển đỏ ( Xh 13, 21 – 24 ), cột mây trước Lều Tạm ( Xh 33, 9 – 10; 40, 34 – 38 ), hay Gia-Vê thường hiện ra với Mô-sê trong đám mây ( Xh 16, 10; 19, 9; 20, 21; 24, 15 – 16 ).
Tiếng phán ra từ đám mây: "Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người !": Đây là dấu chứng mạnh nhất, vĩ đại nhất mang tính dứt khoát cho biết Đức Giê-su chính là Con Thiên Chúa, mà mọi người có thể tin tưởng và vâng phục. Chính Chúa Cha trực tiếp giới thiệu "Con Yêu Dấu" của mình. Còn lời chứng nào giá trị hơn nữa ?
2. Hãy vững tin vào thiên tính của Đức Giê-su
Qua thị kiến hiển dung này, Thiên Chúa đã trực tiếp củng cố niềm tin cho ba môn đệ thân tín nhất của Đức Giê-su vào Ngài, và cũng gián tiếp củng cố niềm tin của các môn đệ khác, và cả chúng ta nữa. Thị kiến này các ông đã mang theo trong tâm trí suốt cuộc đời như một hành trang quý báu giúp các ông tin vững chắc vào Đức Giê-su là Con Thiên Chúa, là Đấng Thiên Sai, Đấng Cứu Thế mà mọi người đều trông mong. Nhờ niềm tin vững chắc này, các ông rao giảng về Đức Giê-su một cách xác tín, và vượt qua được mọi gian lao thử thách do việc rao giảng ấy.
Thánh Phê-rô đã nhắc lại biến cố này như một dấu chứng chắc chắn để mọi người tin vào lời chứng của mình: "Thật vậy, khi chúng tôi nói cho anh em biết quyền năng và cuộc quang lâm của Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, thì không phải chúng tôi dựa theo những chuyện hoang đường thêu dệt khéo léo, nhưng là vì chúng tôi đã được thấy tận mắt vẻ uy phong lẫm liệt của Người. Quả thế, Người đã được Thiên Chúa là Cha ban cho vinh quang và danh dự, khi có tiếng từ Đấng tuyệt vời vinh hiển phán với Người: "Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hết lòng quý mến". Tiếng đó, chính chúng tôi đã nghe thấy từ trời phán ra, khi chúng tôi ở trên núi thánh với Người" ( 2 Pr 1, 16 – 18 ).
Nếu mục đích của sự hiển dung này là để củng cố niềm tin các tông đồ vào thiên tính của Đức Giê-su, thì nó cũng có mục đích củng cố niềm tin mỗi người chúng ta. Đức tin được càng được xác tín mạnh mẽ từ trong thâm tâm, chứ không chỉ tuyên xưng ngoài miệng, sẽ làm cho đời sống Ki-tô hữu càng thêm sâu sắc và phong phú, càng làm tình yêu và nội lực ta thêm dồi dào.
3. "Hãy vâng nghe lời Người !"
Qua biến cố hiển dung, Đức Giê-su chẳng những được giới thiệu cho chúng ta. Sự giới thiệu có giá trị hay không, và giá trị đến mức nào tùy thuộc vào thế giá của người giới thiệu. Còn ai có thế giá trong tôn giáo cho bằng Mô-sê và Ê-li-a, và nhất là còn ai thế giá trong toàn vũ trụ bằng Chúa Cha, Đấng tạo dựng nên cả vũ trụ bao la này. Chúa Cha đã giới thiệu Ngài: "Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người !"
Lời giới thiệu ấy tuy ngắn ngủi nhưng nội dung rất quan trọng, gồm 3 điểm sau đây:
a ) Đức Giê-su là Con Thiên Chúa: Đó là một chức vị duy nhất và cao nhất sau Chúa Cha trong toàn vũ trụ. Ngài là Con duy nhất của một Thiên Chúa độc nhất. Và Ngài cũng là Thiên Chúa, đồng bản tính với Chúa Cha. Ngài đầy uy tín và rất đáng tin tưởng do bản chất Thiên Chúa của Ngài.
b ) Đức Giê-su rất đẹp lòng Chúa Cha: Một người đẹp lòng Chúa Cha tất nhiên hết sức hoàn hảo, không một khiếm khuyết nào. Vì thế, Ngài đầy uy tín và rất đáng tin tưởng do phẩm chất hết sức cao quí của Ngài.
c ) Vì thế, Chúa Cha khuyên chúng ta "hãy vâng nghe lời Người !" Lời khuyên của Thiên Chúa yêu thương chúng ta vô cùng lại đầy khôn ngoan và quyền năng ắt phải có một giá trị vô cùng lớn. Không một lời khuyên nào đối với ta có thể khôn ngoan và đem lại lợi ích cho ta như vậy. Vậy chúng ta hãy vâng nghe lời Đức Giê-su.
Thánh Phê-rô, người đã chứng kiến việc hiển dung của Đức Giê-su và đã nghe được lời giới thiệu về Ngài của Chúa Cha, đã phải thốt lên tâm tình của mình: "Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai ? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời" ( Ga 6, 68 ). Chính Đức Giê-su cũng đã xác nhận: "Ai tuân giữ lời tôi, thì sẽ không bao giờ phải chết" ( Ga 8, 51 ). "Không bao giờ phải chết" ở đây nghĩa là có được sự sống đời đời.
4. Sự sống đời đời do vâng nghe lời Đức Giê-su
Lợi ích lớn lao do việc vâng nghe lời Đức Giê-su chính là có được sự sống đời đời. Sự sống đời đời ấy không phải là một cái gì xa lạ mà phải qua thế giới bên kia mới cảm nghiệm được, mà là một cái gì thực tế và cụ thể, có thể cảm nghiệm được ngay ở đời này, thậm chí "tại đây và lúc này" ( hic et nunc ) một cách hết sức hiện sinh. Sự sống ấy đã được Đức Giê-su nói đến trong câu: "Tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào" ( Ga 10, 10 ). Ở đời này, sự sống đời đời được thể hiện bằng sự sống dồi dào nội lực và sinh khí để có thể sống tràn đầy bình an và hạnh phúc, trong tinh thần vị tha, quên mình, biết yêu thương và hy sinh cho tha nhân không mệt mỏi. Đó là thứ hạnh phúc đích thực của thiên đàng là nơi chỉ có yêu thương, không còn ích kỷ hay thù hận. Đó là sự bình an và hạnh phúc vô biên trong nội tâm, thứ hạnh phúc không bị lệ thuộc vào hoàn cảnh hay những yếu tố bên ngoài, một thứ hạnh phúc không ai lấy mất được.
Sự sống đời đời ấy ta có được là do vâng nghe lời Đức Giê-su, để chúng ta có thể nhìn cuộc đời, quan niệm mọi sự như Đức Giê-su đã nhìn và quan niệm, để ta có thể tư tưởng, nói năng và hành xử như Ngài đã từng tư tưởng, nói năng và hành xử. Ở đời này, sự sống ấy có thể ví như ở dạng hạt, và nó sẽ phát triển thành cây cổ thụ và sinh hoa kết trái ở đời sau. Chỉ khi ta có được "hạt giống sự sống đời đời" ở đời này do việc vâng nghe lời Đức Giê-su, ta mới có được "cây sự sống đời đời" ấy ở đời sau ( x. Kh 22, 2.14.19 ).
Lạy Cha, Cha đã giới thiệu Đức Giê-su cho con, đã khuyên con hãy vâng nghe lời Ngài. Con biết: sự sống đời đời – là điều con ao ước nhất và có khả năng làm thỏa mãn con nhất – con có thể tìm được nhờ vâng nghe lời Ngài một cách triệt để và sâu xa. Xin Cha giúp con thực hiện được điều ấy. Amen.
Gs. NGUYỄN CHÍNH KẾT
 

MC2-159: CÕI PHÚC - CS/37

Trong cuộc đời này, có nhiều người đã đi tìm cái chết cho mình. Trong số ấy có những người: A37 MC2-159

Trong cuộc đời này, có nhiều người đã đi tìm cái chết cho mình. Trong số ấy có những người giàu sang quyền quí, và cũng có những người nghèo khổ bần cùng. Người giàu sang quyền quí sau khi hưởng thụ mọi thú vui của cõi đời, đã chỉ thấy một sự trống rỗng trong tâm hồn, một sự vô vị của cuộc sống nên tìm đến cái chết như muốn nói lên rằng họ tuyệt vọng về cuộc đời. Những người nghèo khổ bần cùng suốt đời phải làm thân trâu ngựa. Họ không đủ sức chịu đựng những nhọc nhằn, những tủi nhục của kiếp tôi mọi nên cũng đã tìm đến cái chết như tìm một sự giải thoát cho cuộc đời. Dù chết trong hoàn cảnh nào thì cả người giàu lẫn người nghèo kể trên đều có một lý do chung và lý do mạnh nhất đã đẩy đưa họ tới chỗ chào thua cuộc đời. Lý do đó là vì họ “Sống mà không có lý tưởng để vươn tới, không có niềm tin vào ngày mai ở bên kia cuộc đời”. Đối với họ, đời người chỉ thu gọn lại trong những tháng năm của cuộc sống này và chết là hết, không còn gì.
Nhưng người Kitô hữu không thể nghĩ thế. Người Kitô hữu biết rằng mình có một cõi phúc để đi về sau khi cuộc đời này chấm dứt. Cõi phúc ấy được báo trước qua cuộc biến hình đầy vinh quang huy hoàng của Chúa Giêsu. Cõi phúc ấy đã làm cho ba đệ của Chúa Giêsu ngây ngất đến độ ông Phêrô đã phải thốt lên rằng : “Thầy ơi, chúng con được ở đây htì sướng lắm”. Những chưa được. Cõi phúc ấy nằm ở cuối cuộc hành trình đời người, và các tông đồ cũng như mỗi người chúng ta chỉ có thể đi vào cõi phúc ấy sau khi đã đi hết lộ trình cuộc đời của mình. Khổ một nỗi hành trình cuộc đời của người Kitô hữu không phải là xa lộ thênh thang, bằng phẳng, nhưng lại là một con đường khúc khuỷu, quanh co, đầy chông gai sỏi đá. Nó giống như con đường lên núi Sọ của Chúa Giêsu. Và vì thế mà nhiều người, trong đó có cả chúng ta đã không dám bước vào. Thành công nào trong đời cũng có cái giá phải trả. Chúa Giêsu chỉ có thể bước vào vinh quang của ngày Phục Sinh sau khi đã đi vượt qua con đường đau khổ, con đường thập giá. Người đã can đảm vượt qua được con đường ấy và đã đi vào cõi phúc. Người mời gọi và chờ đợi chúng ta cùng đi vào cõi phúc ấy với Người : “Ai muốn theo tôi, hãy bỏ mình, vác thấp giá mình hằng ngày mà theo tôi”. Không có con đường thứ hai, không có con đường tắt nào khác dẫn tới cõi phúc ngoài con đường Chúa Giêsu đã đi. Bước sang năm mới có lẽ ai trong chúng ta cũng có một kế hoạch làm ăn, và chúng ta có thể mường tượng ra những thành công sẽ đến. Những thành công ấy sẽ là động lực thúc đẩy chúng ta làm việc, chấp nhận mưa nắng dãi dầu, chấp nhận thức khuya dậy sớm v.v… Đạt được cõi phúc trường sinh chính là một thành công lớn nhất và chugn cuộc của đời sống con người, nhưng chẳng biết nó có đủ hấp dẫn để lôi kéo ta, để giúp ta chấp nhận những hy sinh, từ bỏ, chấp nhận lấy những thập giá trong đời sống mình hay không ? Nếu không thì quả là đáng tiếc.
 

MC2-160: VINH QUANG - STM/71

Thầy Lazarô Phiền là truyện ngắn được một tác giả Công giáo, ông Nguyện Trọng Quảng sáng: A38 MC2-160

Thầy Lazarô Phiền là truyện ngắn được một tác giả Công giáo, ông Nguyện Trọng Quảng sáng tác vào năm 1887 và được xem là chuyện ngắn đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam.
Tên của nhân vật có thể gợi lên cả cuộc đời của vị tu sĩ này là một chuỗi những ngày khổ đau, những phiềm muộn. Mẹ ông qua đời vì bệnh dịch tả năm ông mới được qua tuổi. Năm ông lên mười hai tuổi, cùng với ba trăm tín hữu Công giáo khác, cha ông đã bị Văn Thân thiêu sống trong ngục, tay chân bị phỏng nặng nhưng cậu bé đã cố lết ra ngoài và được cứu thoát. Một sĩ quan Pháp thương tình đưa ông lên Sài Gòn và giới thiệu cho một gia đình Việt Nam giàu có. Cùng với người con trai trong gia đình này, Lazarô Phiền đã được cho ăn học đến nơi đến chốn, sau khi được thành tài, được bổ nhiệm đi làm thông ngôn, hai người thương nhau như là anh em ruột thịt. Tình nghĩa giữa hai người bạn lại càng thắm thiết hơn là chính gia đình của người bạn này đã đứng ra lo chuyện gia đình cho Lazarô Phiền, những niềm vui của cuộc sống hôn nhân không được trọn vẹn, bởi vì có một người đàn bà khác vì yêu Thầy mà không được đáp trả cho nên đã tìm cách hãm hại Thầy.
Qua hai lá thư giả mạo của người đàn bà này, Lazarô Phiển nghi ngờ người vợ của mình có tư tình với người bạn thân của mình, cho nên không làm chủ được cơn ghen, ông đã lập mưu giết người bạn và dùng thuốc độc để sát hại vợ mình. Hai cuộc mưu sát đã được tính toán một cách tài tình, cho nên kẻ sát nhân đã tránh được lưới của pháp luật. Thế nhưng về phần mình thì Lazarô Phiền ngày đêm bị tòa án của lương tâm cắn rứt. Cuối cùng ông xin vào tu trong một Tu Viện ở Sài Gòn. Sau sáu năm tu luyện, Lazarô Phiền được thực sự trở thành một Tu sĩ, mọi người trong tu viện đều thầm khâm phục sự thánh thiện của Thầy, nhưng riêgn Thầy vì không bao giờ xưng thú hành động sát nhân của mình, cho nên đêm này cũng không bao giờ được sự bình an trong tâm hồn. Phải cho đến lúc lâm bệnh nặng và ngày trước khi qua đời, Thầy mới xin phép nhà Dòng cho về thăm quê hương ở Bà Rịa, tìm đến vị linh mục Chánh Xứ để xưng tội. Chỉ sau khi cảm nhận được ơn tha thứ của Chúa, Thầy mới nhắm mắt lìa đời và ra đi trong bình an.
Câu chuyện trên đây có thể mang lại cho chúng ta một ánh sáng để nắm bắt được bài học của việc Chúa Giêsu biến hình trên núi Tabore mà hôm nay Giáo Hội cho chúng ta lắng nghe. Có trải qua đau khổ và sự chết mới được vào vinh quang phục sinh, đó là bài học mà Chúa Giêsu muốn dạy cho ba người môn đệ thân tín khi cho các ông chứng kiến vinh quang của Ngài trên núi. Thế nhưng cùng với bài học này, Chúa Giêsu cũng muốn bày tỏ một chân lý khác, đó là con người chỉ có thể tìm thấy hạnh phúc và bình an đích thực khi sống thực trọn vẹn về Thiên Chúa mà thôi.
“Đây là Con Ta yêu dấu, đẹp lòng Ta, còn ngươi hãy nghe Lời Người”. Chúa Giêsu rất đẹp lòng Chúa Cha, bởi vì Ngài đã vâng phục Chúa Cha, cho nên đã đón nhận cuộc sống cùng tất cả những hệ lụy của cuộc sống là đau khổ và cuối cùng là cái chết trên thập giá. Bí quyết của Chúa Giêsu chính là sống cho Chúa Cha, sống thuộc trọn về Chúa Cha, sống vâng phục Thiên Chúa Cha qua cuộc sống vâng phục và vâng phục cho đến chết.
Chúa Giêsu đã vạch ra cho nhân loại bí quyết của hạnh phúc và bình an đích thực khi sống và thuộc trọn về Thiên Chúa mà thôi. Đây là chân lý nền tảng cả cuộc sống mà Giáo Hội muốn mời gọi chúng ta đào sâu mỗi khi chúng ta trở lại với Mùa Cha. Cầu nguyện, ăn chay, hãm mình, thực thi bác ái, những thực hành này không nhằm một mục đích nào khác hơn là nhắc nhở chúng ta rằng, cùng đích của cuộc sống không là cuộc đời tạm bợ này nhưng là sự sống vĩnh cửu, nhờ sự kết hiệp với Chúa chúng ta đã có thể cảm nghiệm được ngay từ trần gian này.
Kinh nghiệm hàng ngày không ngừng nói với chúng ta rằng, tiền của, quyền bính, danh vọng, lạch thú, không bao giờ mang lại hạnh phúc đích thực cho con người. Có tất cả mọi sự nhưng thiếu vắng Thiên Chúa trong tâm hồn thì con người không bao giờ có được hạnh phúc và bình an đích thực trong tâm hồn. Trái lại, khi sống cho Chúa, sẵn sàng như Tổ phụ Abraham, từ bỏ mọi ràng buộc để được sống trọn cho Chúa thì con người mới thực sự sống sung mãn và tìm được bình an trong cuộc sống.
Mùa chay chúng ta được Giáo Hội mời gọi để duyệt xét sự chọn lựa căn bản của chúng ta, trong khi mưu tìm cuộc sống chúng ta có đặt Chúa vào trọng tâm của cuộc sông hay không ? Chúng ta có sẵn sàng từ bỏ tất cả những gì làm cho chúng ta xa lìa Chúa không ? Chúng ta chỉ thực sự hạnh phúc và an vui nếu chúng ta trả lời một cách khẳng định cho những câu hỏi nền tảng ấy.
 

MC2-161: THẬP GIÁ - CSTM/68

Anh chị em có biết tại sao khi nghe hai chữ thập giá, chúng ta không thấy sởn gai ốc, và có: A39 MC2-161

Anh chị em có biết tại sao khi nghe hai chữ thập giá, chúng ta không thấy sởn gai ốc, và có khi còn dửng dưng nữa, trong khi các môn đệ Chúa Giêsu nghe nói đến thập giá thì nổi da gà, và ông Phêrô run rẩy can ngăn Chúa đừng đi tới đó? Có lẽ vì chúng ta chỉ nhìn thấy những cây thập giá bằng vàng, bằng bạc, bằng đồng, bằng gỗ quí nhẵn bóng hay bằng xi măng tô đá rửa, đá mài, nên hình ảnh mà hai chữ thập giá gợi lên trong chúng ta không có gì đáng sợ. Còn các môn đệ Chúa thì trái lại, các ông chưa bao giờ thấy những cây thập giá bằng vàng, bằng bạc… và hai chữ này không chỉ gợi lên một cây khổ giá trần trụi, mà gợi lên hình ảnh một con người quằn quại, tuyệt vọng trong đau đớn và nhục nhã ê chề, lơ lửng giữa trời và đất, giữa sống và chết, trước những cái nhìn thù ghét và khinh bỉ, trước những con mắt tò mò và dửng dưng. Chính vì thế mà các tông đồ rùng mình sợ hãi khi Chúa Giêsu nói đến thập giá.
Nhưng Chúa Giêsu không phải là ông thầy dễ dãi hay nhu nhược. Chúa vẫn nói thẳng, nói thật và Chúa đòi ai theo Chúa phải nhìn thẳng vào thập giá và chấp nhận nó: “Ai muốn theo Thầy, hãy bỏ mình đi, vác thập giá của mình hằng ngày mà đi đằng sau Thầy”. Ông Phêrô vừa thay mặt anh em tuyên xưng Ngài là Đức Kitô, Con Thiên Chúa, thì Ngài lại nói đến thập giá. Thập giá Chúa nói ở đây như mặt sau của tấm huân chương. Rồi sau đó Chúa lại đưa ba môn đệ thân tín lên núi, cho các ông thấy vinh quang  chói lòa của Ngài và sự có mặt làm chứng của Môi-sê và Êlia : một vị đã được Chúa dùng để giao ước Sinai, còn vị kia thì được Chúa trao nhiệm vụ tái lập giao ước Sinai.
Chúng ta có thể đảo lại thế này : sau khi chỉ cho các môn đệ thấy cây thập giá làm cho các ông run sợ, Chúa Giêsu lật cho các ông thấy đằng sau cây thập giá có gì. Cũng vậy, sau này, trên đường Emmau, chúng ta thấy Chúa quở trách hai môn đệ thất vọng bỏ đi, vì các ông chỉ thấy mặt trước mà không thấy mặt sau của cây thập giá: “Chẳng phải là Đức Kitô phải chịu đau khổ để vào trong vinh quang của Ngài sao?”.
Nếu ôm lấy cây thập giá và thỏa mãn với nó thì đúng là một kẻ điên khùng hoặc bệnh hoạn. Không, Chúa Giêsu không kêu gọi chúng ta trở nên điên khùng, bệnh hoạn. Chúa đã nhận lấy thập giá như đường tới vinh quang. Đàng sau thập giá là vinh quang mà chỉ có đức tin mới cho chúng ta thấy được. Chúa không gọi chúng ta vác thập giá đi một mình, nhưng là đi theo sau Chúa, vì chỉ có đi theo Chúa, chúng ta mới tới được vinh quang ở phía sau cây thập giá.
Cuộc sống có những lúc êm đềm thanh thản, có những ngày tưng bừng hoa lá, nhưng cũng lắm khi cảm thấy tất cả nỗi ê chề của cây thập giá sù sì và những lời độc địa, chát chúa của khách qua đường. Chúng ta cảm thấy nỗi cô đơn của kẻ bị treo lơ lửng giữa trời và đất. Chúng ta khát khô cổ muốn có một lời an ủi, một chút cảm thông, nhưng quanh chúng ta chỉ có thờ ơ và thinh lặng, hoặc tệ hơn nữa, chỉ có phỉ báng và xua đuổi. Những lúc ấy chúng ta mới cảm thấy tất cả sự rùng rợn của cây thập giá. Có khi chúng ta cảm thấy chán nản muốn buông xuôi tất cả. Chúng ta cảm thấy như Chúa Giêsu đã cảm thấy và phải kêu lên: “Lạy Chúa, nhân sao Chúa bỏ con…”.
Những lúc ấy chúng ta phải vận dụng sức mạnh của lòng tin, hết ánh sáng đức tin, để thấy được đằng sau cây thập giá. Chúng ta hãy nhìn thẳng vào Đấng đang vác thập giá đi đằng trước chúng ta, chớ rời mắt xa Ngài. Nhưng chúng ta đừng chờ tới lúc đó mới nhìn vào Ngài. Chúng ta phải giữ tầm nhìn luôn hướng về Ngài trong mọi nơi, mọi lúc, mọi việc. Chúng ta hãy làm tất cả với Ngài, vì Ngài và trong Ngài. Nếu chúng ta biết sống với Ngài trong niềm vui, chúng ta cũng biết sống với Ngài trong nỗi buồn. Nếu chúng ta biết sống trong Ngài khi hạnh phúc, chúng ta cũng biết sống trong Ngài lúc đau khổ. Nếu chúng ta biết sống với Ngài trong ngày hội, chúng ta cũng biết sống với Ngài giữa cô đơn. Nếu chúng ta biết sống trong Ngài lúc đầy tiền của, chúng ta cũng biết sống trong Ngài khi trắng tay…
Điều chúng ta cần ghi nhớ là chúng ta đừng mang thập giá một mình. Chúng ta sẽ không bước nổi đâu, và nếu chúng ta có đem tất cả sự kiêu hãnh của con cái Ađam mà lết đi được thì cũng chẳng ích lợi gì, cây thập giá của chúng ta chỉ là cây gỗ chết mà thôi. Bởi vì cây thập giá chỉ trở nên xanh tươi và đầy hoa trái khi nó mang con Thiên Chúa, nguồn mạch sự sống: “Nếu chúng ta cùng chết với Ngài, chúng ta sẽ sống với Ngài”.
Như vậy, Chúa Giêsu hiển dung là để củng cố đức tin của các môn đệ. Bởi vì Chúa thấy các môn đệ quá sợ các đau khổ, không chấp nhận cuộc khổ nạn của Ngài, nên Chúa đã hé mở vinh quang của Nước Thiên Chúa cho các ông thấy để đem lại cho các ông một niềm tin và một hy vọng vào ngày mai. Do đó, việc Chúa hiển dung cũng dạy bảo cho các môn đệ biết : phải trải qua đau khổ rồi mới vào vinh quang. Chính Thầy của các ông là Con Thiên Chúa, mà còn phải chịu đau khổ mới bước đến vinh quang thì các ông cũng phải đi theo con đường đó : không thể đến cõi hằng sống mà không phải qua đau khổ, thử thách.
Sống ở đời, không ai trong chúng ta tránh được những đau khổ chúng ta gọi là những thánh giá mà Chúa muốn chúng ta vác. Dù trong bậc nào vẫn phải vác thánh giá của mình. Ngay chính lúc này, mỗi người chúng ta đều cảm thấy những lo âu, những buồn phiền, những khổ đau… Tất cả đều là thánh giá. Nếu biết vác cho nên, với một thái độ khiêm ngường, với lòng cậy tin, thì Chúa sẽ ở bên chúng ta, và sẽ thưởng công cho chúng ta. Những công phúc tuy vô hình, chúng ta không trông thấy, nhưng chúng sẽ là những hạt men, những hạt giống sẽ nở ra trong đời sau và trong thế hệ con cháu chúng ta.
 

MC2-162: BIẾN HÌNH SÁNG LÁNG - Lm. VIKINI

Đức Giêsu biến hình trên núi, truyền thống tin đó là núi Tabor, cách Nazaret độ 9 cây số: A40 MC2-162

Đức Giêsu biến hình trên núi, truyền thống tin đó là núi Tabor, cách Nazaret độ 9 cây số, nằm trên biên giới ba chi tộc : Issachar, Zabulon và Nephtali. Họ coi Tabor là núi thánh và thường lên đó để tế thần.
Đức Giêsu dẫn các môn đệ lên đó không phải để tế thần hay cắm trại như các hướng đạo sinh. Người lên đó để cho các môn đệ thấy rõ chỉ có Người là Thiên Chúa tối cao, không còn thần linh nào khác.
Trong cảnh trời cao lồng lộng, mây xanh thăm thẳm, Người trầm tư cầu nguyện với Chúa Cha trong tình thân mật thắm thiết. Bỗng toàn thân Người sáng chói rực rỡ, các môn đệ vô cùng kinh ngạc : Họ không thể ngờ được rằng hằng ngày Thầy đi với mình, sống với mình, ăn uống thanh đạm, quần áo thô sơ như mình, lao động cực khổ như mình, sao bây giờ Thầy sáng láng lạ lùng như thế. Hơn nữa, cả Môsê và Elia đến hầu chuyện Thầy. Môsê đã sống cách các ông hơn 1.200 năm, một bậc vĩ nhân của Thiên Chúa đã lãnh đạo giải phóng dân Chúa thoát ách nô lệ Ai cập suốt hơn 500 năm để về đất Hứa. Elia, một đại tiên tri sống trước Phêrô hơn 800 năm, đã giải phóng dân tộc khỏi ách tà thần Baal. Nếu bây giờ dân chúng được thấy Môsê như các ông, họ sẽ ngạc nhiên sung gướng vô cùng, vì các trang sử vẻ vang nhất của dân tộc đã tôn vinh các ngài là đại ân nhân của họ, là đại thánh của Thiên Chúa, là hình bóng Đấng Cứu thế. Đang triền miên say đắm trong cảnh thiên đường đó, tự nhiên Phêrô thốt lên như đứa trẻ : “Lậy Thầy chúng con ơ đây sướng lắm, con xin làm ba lều, Thầy một lều, Môsê một, Elia một”. Mơ ước của Phêrô là ước mơ của mọi người trần mắt thịt, làm sao dám cả gan đòi sớm hưởng thiên đường ? Một tiếng nói từ trời đáp lại: “Đây là Con Ta yêu dấu, rất đẹp lòng Ta, các ngươi hãy vâng lời Người”. Nghe thế các ông đã lăn ra chết ngất. Xác phàm thấp hèn yếu đuối chưa có thể chịu đựng nổi hào quang rực rỡ nơi thiên tính của Chúa Giêsu. Họ phải thay da đổi thịt, phải chết đi, mặc lấy con người mới, họ mới xứng đáng hưởng ánh sáng huy hoàng của Đức Giêsu sẽ làm cho họ biến hình rực rỡ mãi mãi.
Muốn đổi mới chỉ có cách duy nhất là “Hãy nghe lời Người”. Abraham dã nghe lời Người bằng mọi giá để biến hình từ kẻ dân ngoại đã trở thành tổ phụ dân Chúa. Môsê đã nghe lời Người, dù là kẻ chạy trốn Pharaon, đã biến hình thành kẻ lãnh đạo, trở lại đòi Pharaon phải thả dân ra cho đi về quê hương. Elia đã nghe lời Người trở thành tiên tri, giải thoát dân khỏi bàn tay man rợ của nữ hoàng thờ thần Baal. Đến lượt Phêrô, Giacôbê, Gioan dù là dân chài, đã biết nghe lời Người, được biến hình thành những tông đồ vĩ đại. Phaolô, kẻ bắt đạo, đã biết nghe lời Người, đã biến hình thành tông đồ cho muôn dân.
Những con người xác phàm đó, đã được biến hình rực rỡ muôn thuở, đang kêu gọi chúng ta, với bất cứ giá nào, dù phải gặp gian nan đau khổ, hãy nghe lời Người, chúng ta mới được biến hình trong vinh quang đời đời.
Lạy Chúa, “ở đây thì sướng lắm”, nhưng muốn được hạnh phúc muôn thuở đó tiên vàn Con Người phải qua đau khổ thì mới tới vinh quang”. Đó là luật ngàn đời cho bất cứ ai muốn được vinh quang chân chính.
 

MC2-163: LÊN CAO VÀ ĐI XA

 - LM. Giuse Trương Đình Hiền

Chúa Nhật II Mùa Chay hôm nay gần như đưa chúng ta và các anh chị em Dự tòng tiến vào gần MC2-163

Chúa Nhật II Mùa Chay hôm nay gần như đưa chúng ta và các anh chị em Dự tòng tiến vào gần trung tâm của cuộc hành trình Mùa Chay. Thật vậy, sứ điệp Lời Chúa vọng lại giữ cộng
Dẫn nhập đầu lễ :
Kính thưa ông bà anh chị em,
Chúa Nhật II Mùa Chay hôm nay gần như đưa chúng ta và các anh chị em Dự tòng tiến vào gần trung tâm của cuộc hành trình Mùa Chay. Thật vậy, sứ điệp Lời Chúa vọng lại giữ cộng đoàn chúng ta hôm nay đó chính là “tiếng gọi mời hãy lên cao và hãy đi xa”. Lên cao như Đức Kitô đưa các Tông đồ lên đĩnh núi Ta-bo để Ngài biến hình rạng rỡ, đi xa như tổ phụ Áp-ra-ham bỏ quê cha đất tổ để theo tiếng gọi vô hình để tiến về hứa địa.
Cuộc hành trình Mùa Chay hôm nay của Dân Chúa hay cuộc hành trình đức tin của mỗi người chúng ta, phải chăng cũng chính là cuộc nỗ lực phấn đấu để mỗi ngày “lên cao và đi xa” trước lời Chúa vẫy gọi, trước những đòi hỏi của Tin Mừng, trước những thách đố của Thập giá.
Giờ đây chúng ta hãy nhìn nhận tội lỗi chúng ta đê xứng đáng cử hành thánh lễ.
Giảng Lời Chúa :
Ngày xưa trong lịch sử nước Tàu có chàng tráng sĩ Kinh Kha, trước khi lên đường thi hành sứ mệnh trọng đại và đầy nguy hiểm do hoàng tử nước Yên ký thác : sứ mệnh thích khách tiêu trừ Tần thủy Hoàng, thì bên bờ sông Địch, lúc chia tay, đã hát lên rằng : “Tráng sĩ một ra đi không hẹn ngày trở lại”. Và quả thật, sứ mệnh không thành, Kinh Kha đã bị Tần Thủy Hoàng giết chết, để ngàn năm sau còn lưu lại danh thơm “Kinh Kha tráng sĩ”.
Dù sao, cuộc “ra đi’ của Kinh Kha coi như đã thất bại. Phải chăng đó là cuộc “lên đường” mà “đường đi không đến”. Trong khi đó sứ điệp Lời Chúa hôm nay gọi mời và nhắc bảo chúng ta rằng : đức tin phải là một cuộc lên đường và “đường đi phải đến”, một cuộc “vươn mình lên cao” và lên cao phải đạt được mục tiêu. Chúng ta có thể dừng lại để chia sẻ với nhau đôi điều về nội dung sứ điệp Lời Chúa gọi mời hôm nay.
1. TIN : đó là không ngừng vươn lên cao – Hướng về Thiên Chúa – Đi tới chân thiện mỹ - Vươn tới cõi vĩnh hằng.
Nếu không định hướng đức tin trong ý nghĩa như thế, và cố gắng tỉnh táo sống theo định hướng đó, chúng ta dễ biến cuộc sống đức tin thành một lối mòn xơ cứng, một thói quen ươn lười và giả hình hay một lối biểu hiện tình cảm đầy mê tín dị đoan và lệch lạc.
Tại sao phải định hướng và phải sống như thế ?
*Thưa vì cuộc sống đời thường dễ biến con người “ở lại dưới thấp”, chấp nhận cuộc sống dễ dãi, tự tại an nhàn, một cuộc sống “tà tà mặt đất”, không cần phải cố gắng, nỗ lực hay phấn đấu. Đó là cuộc sống nhàn cư theo cái kiểu :
Mai ta về sau núi
Mà cất am tị trần
Vẽ hình nàng bên gối
Mà ngắm hết mùa xuân (Trần Tuấn Kiệt)
Hoặc tiêu cực chán nản theo kiểu Chế Lan Viên :
Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh
Một vì sao trơ trọi cuối trờ xa,
Để nơi ấy tháng ngày tôi lẫn tránh,
Những ưu phiền, đau khổ với buồn lo.
* Và nếu có phấn đấu, có nỗ lực, chẳng qua cũng chỉ với những mục tiêu nhuốm đầy tính ích kỷ, vụn vặt, phục vụ cho những nhu cầu đơn điệu : cơm áo gạo tiền, bồ bịch vợ con, học hành thi cử…mà ít khi biết mở sang những mục tiêu cao hơn, xa hơn theo nhưng đòi hỏi của Tin Mừng như :
- Đòi hỏi sống thánh thiện : “Các con hãy thánh như Cha các con trên trời là Đấng thánh”,
- Đòi hỏi sống công chính : “Nếu các anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và biệt phái, thì chẳng được vào Nước trời”
- Đòi hỏi sống chứng nhân, gương sáng : “Chính anh em là muối cho đời….chính anh em là ánh sáng cho trần gian…”
- Đòi hỏi hy sinh : “Ai muốn theo ta hãy từ bỏ mình vác thập giá mình mỗi ngày mà theo Ta”.
- Đòi hỏi yêu thương : “Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em”
“Không có tình yêu nào lớn cho bằng kẻ hy sinh mạng sống bạn hữu”
- Đỏi hỏi xả thân phục vụ : “Anh em hãy rửa chân cho nhau như Thầy đã rửa chân cho anh em”
- Đòi hỏi bác ái làm phúc : “Ta bảo thật các ngươi : mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy”….
Hình ảnh cuộc “Ra đi” của Tổ phụ Áp-ra-ham và cuộc “Lên Núi” của Đức Kitô và các môn đồ mà các trích đoạn Lời Chúa thuật lại hôm nay phải chăng là một lời mời gọi tha thiết của Mùa Chay để chúng ta định hướng lại nhịp sống đức tin nếu đức tin đang trên đà sai lệch, làm mới lại lối sống đạo của mình nếu lối sống đạo đã cũ mòn xơ cứng. Đó là cuộc gọi mời không ngừng biết vươn cao và đi xa. Vươn cao khỏi đồng bằng cuộc sống với những nếp nghĩ và cách hành xử tầm thường, cục bộ, ích kỷ, bon chen, ganh tỵ, tham lam; đi xa khỏi cái tôi với trái tim và con mắt chật hẹp, méo mó, xoi mói, giận hờn, thù oán, kiêu căng…
Riêng đối với các anh chị em dự tòng, sứ điệp Lời Chúa hôm nay đã khắc họa hai hình ảnh thật rõ nét để nhắn gởi cho anh chị em về nỗ lực chọn lựa niềm tin của chính mình. Hình ảnh Áp-ra-ham lìa bỏ quê cha đất tổ với những ràng buộc và quan hệ mật thiết của gia đình, gia tộc, tín ngưỡng…để ra đi theo tiếng gọi của Đấng Thiên Chúa vô hình; và hình ảnh của Đức Kitô biến hình trên núi cao Ta-bo, lột bỏ cái xác thân bình thường nhân loại để mặc lấy cái rực rỡ chói ngời của thân xác phục sinh, phải chăng đó chính là chọn lựa “ra đi tìm kiếm đức tin” của anh chị em khi dấn thân cho một niềm tin mới, là cuộc lột xác, khước từ con người cũ với những nếp suy nghĩ và ứng xử tối tăm ngoại giáo để mặc lấy những thái độ và ứng xử sáng ngời của tin Mừng.
2. Tin : đó là cuộc hành trình đầy thử thách gian nan :
Nếu tin là một cuộc “Lên Cao” và “Đi xa” thì chắc chắn đó là cuộc hành trình đầy thử thách gian lao, một cuộc hành trình đòi trả giá cao, rất nhiều khi đó là cái chết, như một câu ngạn ngữ Pháp; ‘Partir c’ est mourir un peu” (Đi là chết một ít”. Nếu chàng tráng sĩ Kinh Kha ngày xưa đã “một ra đi không hẹn ngày trở lại”, thì người “tráng sĩ Kitô hữu” hôm nay cũng phải “một mất một còn” với chọn lựa niềm tin của mình. Ngay từ buổi đầu Kitô giáo, Đấng sáng lập đã từ bỏ mái ấm gia đình ở làng quê Na-da-rét để dấn thân rao giảng Tin Mừng và sau đó là vác lấy thập giá lên đồi Sọ để hiến dâng thân mình làm của lễ hy sinh. Các tông đồ đã “bỏ cha, bỏ mẹ, gia đình, thuyền và lưới” để đi theo Đức Kitô và cũng đã kết thúc cuộc hành trình đó bằng những cuộc tử đạo. Và kể từ đó, hàng hàng lớp lớp thế hệ Kitô hữu đã lần lượt nối gót trên cuộc hành trình đức tin mà cái giá phải trả chưa bao giờ thay đổi.
Một cách cụ thể : cuộc hành trình từ gia đình đến nhà thờ xem ra cũng đã là khó đối với nhiều người hôm nay. Đó là cuộc hành trình mỗi ngày đến với Thánh lễ, là cuộc hành trình ăn năn sám hối đến với tòa giải tội, là cuộc hành trình đến với anh em để hòa giải yêu thương, cuộc hành trình đến với những người yếu đau bệnh hoạn, đói khổ để ủi an, giúp đỡ phục vụ. Trong cuộc sống đức tin hôm nay, có bao nhiêu cuộc “lên cao” và “đi xa” như thế mà chúng ta chưa làm được hoặc chúng ta cố tình lảng tránh để tìm một nơi ẩn trú an toàn, một pháo đài chắc chắn để không ai quấy rầy, để không sự gì phiền nhiễu.
Tuy nhiên, tiêu đích của cuộc hành trình đức tin không dừng lại ở thập giá hay đồi Sọ. Bởi vì nếu Đức Kitô đã hấp hối thương đau nơi vườn Giết-sê-ma-ni trên núi Cây Dầu, thì Ngài cũng đã biến hình rực rỡ trên núi Ta-bo; hoặc nếu Ngài đã gục đầu tắt thở trong cái chết tủi nhục vào chiều Thứ Sáu trên Núi Sọ, thì cũng trên một ngọn núi Ngài đã oai hùng tập họp các môn sinh để về trời trong chiến thắng vinh quang. Quả thật, bên kia sa mạc và biển Đỏ chính là Đất Hứa, bên kia Thập Giá chính là Phục sinh. Cuộc biến hình trên núi Ta-bo hôm nay chính là dự báo chắc chắn cho cuộc phục sinh vinh hiển của Đức Kitô sau biến cố tử nạn, và là hình ảnh báo trước viễn tượng phục sinh cho cuộc hành trình đức tin của mọi Kitô hữu, của tất cả chúng ta. Còn trong đời thường hôm nay, chúng ta tin rằng : mỗi một thánh lễ, một giờ cầu nguyện sốt sắng dâng lên, sẽ nhận được muôn ơn lành đổ xuống, một nụ cười, một cử chỉ thân ái trao ban, sẽ đem về niềm vui bất tận, một nghĩa cử thứ tha, hòa giải chân tình sẽ trả lại khung trờ bình an cho tâm hồn và cuộc sống, một chiến thắng trước cám dỗ bất chính sẽ rực sáng niềm vui trong sâu thẳm trái tim, một chút hy sinh chịu thiệt thòi mất mát để anh em khác được lợi được nhờ, sẽ âm vang một hạnh phúc lâu dài bền vững…Vâng, đó chính là những cái phúc thật mà Đức Kitô đã long trọng loan báo trong bài giảng đầu tiên của Ngài ngày xưa.
3. Hành trang cần thiết cho cuộc lên cao và đi xa :
Nếu Áp-ra-ham đã lên đường ra đi chỉ tựa vào một điều duy nhất : Lời hứa của Thiên Chúa; và trên đỉnh núi Ta-bo, trong cuộc biến hình của Đức Kitô, Chúa Cha cũng đã đòi hỏi một điều duy nhất : “Hãy vâng nghe lời Người”, thì quả thật, hành trang cần thiết cho cuộc hành trình Mùa Chay hôm nay của Dân Chúa, của mỗi người chúng ta, đó chính là Lời Chúa, là Tin Mừng của Đức Kitô. Chính trong Bài Đọc 2 hôm nay, trích đoạn thư của thánh Phaolô gởi cho Timôthê cũng đã xác nhận : “Chính Đức Kitô đã tiêu diệt thần chết, và đã dùng Tin Mừng mà làm sáng tỏ phúc trường sinh bất tử”. Vì lẽ đó, Thánh Phaolô đã kêu gọi học trò Timôthê : “Anh yêu quý, dựa vào sức mạnh của Thiên Chúa, anh hãy đồng lao cộng khổ với tôi để loan báo Tin mừng”.
Phải đọc Lời Chúa, phải nghe Lời Chúa, phải sống và thực hành Lời Chúa, phải để Lời Chúa hướng dẫn mọi hành vi và cách ứng xử…Quả thật, chúng ta đã nhàm tai với những điệp ngữ ấy; và hình như những hành vi đức tin đó xem ra đã là chuyện của quá khứ và không bao giờ là đề tài hấp dẫn của hôm nay. Và chính vì thế, Mùa Chay là lúc chúng ta được gọi mời để đọc Lời Chúa như đọc một tờ di chúc quan trọng trối lại cho chúng ta, nghe Lời Chúa như đang nghe lần đầu một chuyện tình hấp dẫn mà chúng ta đang nhập cuộc, sống và thực hành Lời Chúa như một cuộc đầu tư đầy lợi nhuận và thích thú mà chúng ta luôn là kẻ chiến thắng…Đó chính là “lên cao và đi xa”, là biết đứng dậy thoát ra khỏi một thứ “công viên đức tin” với toàn những thói quen đường mòn đạo đức mang tính trang trí giả tạo, sao chép, cũ mòn mà chú cọp trong bài thơ “Nhớ rừng” của thế Lữ đã khinh miệt :
Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thu
Ghét những cảnh không đời nào thay đổi
Những cảnh sửa sang tầm thường giả dối
Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng cây trồng
Giải nước đen giả suối chẳng thông giòng
Len những lách những mô gò thấp kém
Dăm vừng lá hiền lành không bí hiểm
Cũng học đòi bắt chước cảnh hoang vu
Của chốn ngàn năm cao cả âm u
Nếu Chúa Nhật đầu Mùa Chay, phụng vụ gọi mời chúng ta dấn thân vào cuộc chiến đấu và chiến thắng của Đức Kitô, thì hôm nay, phụng vụ khuyến khích ta hãy lên cao và đi xa cùng với Đức Kitô trong cuộc hành trình tiến về Đại Lễ Vượt Qua hôm nay để đi vào hạnh phúc vĩnh hằng mai hậu. Đó chính là cuộc tái khám phá nét sinh động và tươi trẻ của Tin Mừng, là nhiệt tình dấn thân thực hiện những đòi hỏi của Đức Tin bằng trái tim quảng đại và anh dũng, là can đảm đón nhận thập giá cuộc sống với niềm vui chấp nhận và sẵn sàng hy sinh. Đó chính là điều mà Đức Chúa Cha đã ngỏ lời với chúng ta hôm nay : “Các ngươi hãy vâng nghe Lời Người”.
 

MC2-164: Theo Chúa lên núi tâm linh để được biến hình

 - LM. Trần Bình Trọng
Chúa Nhật 2 Mùa Chay, Năm A (St 12:1-4a, 2Tm l:8-10, Mt 17:1-9)

Đứng trước viễn tượng của cuộc khổ hình thập giá, Chúa Giêsu đem ba tông đồ thân tín là: A42 MC2-164

Đứng trước viễn tượng của cuộc khổ hình thập giá, Chúa Giêsu đem ba tông đồ thân tín là Phêrô, Giacôbê và Gioan lên núi để biểu lổ cho các ông thấy cảnh vinh quang của nước Chúa. Mặc dầu đã theo Chúa ba năm, nghe lời Chúa giảng dạy, chứng kiến phép lạ Chúa làm, các tông đồ vẫn còn mang quan niệm sai lầm về Đấng Cứu thế và sứ mạng của Người. Các ông vẫn nuôi hi vọng Đấng Cứu thế sẽ thiết lập một vương quốc trần gian, giàu có và hùng mạnh, khả dĩ có thể đánh đuổi quân ngoại bang là người La mã đang cai trị họ thời bấy giờ. Ba vị tông đồ được đưa lên núi biểu lộ những lợi điểm đặc sắc về việc làm môn đệ. Phêrô, mặc dầu nóng tính, lại ăn nói bộp chộp, nhưng với khả năng lãnh đạo có thể qui tụ các bạn đồng chí hướng. Giacôbê có lòng tin quả quyết. Còn Gioan biểu lộ lòng yêu mến nhiệt thành. Tuy nhiên ba vị tông đồ trên đây cũng sẽ chứng kiến cảnh khổ nạn của Thầy mình trong vườn cây dầu Ghếtsêmani. Sợ rằng cảnh khổ nạn và thập giá sẻ để lại một kinh nghiệm đau thương cho các tông đồ, Chúa đem ba ông lên núi biến hình, cho dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng như ánh sáng (Mt 17:2). Việc Chúa biến hình có mục đích là giúp củng cố đức tin và đức cậy của các tông đồ trước viễn tượng của ngày Thứ sáu Chịu nạn.
Phản ứng của các tông đồ về việc Chúa biến hình đáng cho ta lưu ý đặc biệt. Thoạt tiên, các ông tỏ ra say mê và chìm đắm trong cảnh vinh quang của nước Chúa, muốn kéo dài thị kiến cảnh biến hình, nên mới thỉnh nguyện: Thưa Thày, chúng con mà được ở đây thì tuyệt vời (Mt 17:4). Các ông cũng thấy sự hiện diện của Môsê và Êlia trong cảnh biến hình. Rồi các ông nghe tiếng phán từ đám mây: Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người (Mt 17:5). Trong Cựu ước, đám mây thường là biểu hiệu của việc Chúa hiện ra. Điều nên lưu ý ở đây là tiếng phán từ đám mây khi Chúa biến hình cũng chính là tiếng phán từ trời khi Người chịu Phép rửa (Mt 3:17). Như vậy tiếng phán từ đám mây chỉ cho bộ ba tông đồ thấy rằng Thầy mình chính là người Con làm đẹp lòng Thiên Chúa trong việc thi hành thánh ý Chúa Cha. Vậy còn sự hiện diện của Môsê và Êlia trong cảnh biến hình thì sao? Theo truyền thống Do thái, Môsê được coi là tác giả qui tụ của bộ Ngũ Thư và Êlia, vị ngôn sứ vĩ đại của Cựu ước. Do đó sự có mặt của hai vị nhằm giúp các tông đồ nhận thức rằng đạo Kitô giáo mà Thày mình sẽ thiết lập không tách rời khỏi những gì đã được mạc khải trong Thánh kinh Cựu ước.
Vậy ba thực tại của cảnh biến hình: dung mạo vinh quang của Đức Kitô, sự hiện diện của Môsê và Êlia và tiếng phán từ đám mây có ngụ ý giúp các tông đồ nhận ra cuộc khổ hình và thập giá của Thày mình sau này, không phải chỉ là một thất bại, nhưng là một biến đổi, và như thế sẽ giúp các ông giữ vững đức tin theo Thày. Có một lần ông Phêrô đã tỏ ra hèn nhát, khước từ mọi liên hệ với Thầy mình. Ông vừa tuốt gươm chém đứt tai tên đày tớ của thày cả thượng phẩm hầu bảo vệ Thầy mình. Thế mà trong sân và cổng dinh thượng tế, ông sợ hãi chối Thày mình ba lần. Khi vừa nghe tiếng gà gáy, sực nhớ lại lời Chúa tiên báo, ông ra ngoài khóc lóc thảm thiết (Mt 26:75). Những giọt nước mắt của ông tuôn trào dường như ông đang tự trách mình: Lạy Thày, sao con có thể phản phúc Thày như vậy khi chính con là người đã xin làm ba lều ở lại trên núi để chiêm ngưỡng cảnh vinh quang của nước Thày? Phúc thay cho ông Phêrô! Dòng nước mắt thống hối của ông đã được Chúa đoái thương tha thứ.
Người tín hữu đang bước vào tuần lễ thứ hai mùa chay. Mùa chay là thời giờ cho người tín hữu luyện linh chưởng để đi theo Chúa lên núi tâm linh hầu được Chúa cho biến hình trong phạm vi nhỏ bé nào đó. Để có thể đứng vững khi gặp gian nan thử thách, người tín hữu cần có được những cảm nghiệm về những giờ phút giao cảm giữa Thiên Chúa và tâm hồn. Các tông đồ cảm thấy say mê và chìm đắm trong cảnh vinh quang của nước Chúa, thì ít ra, người tín hữu cần xin Chúa cho đánh động tâm hồn, hay xin được điều mà sách tu đức thần bí gọi là hiện tượng xuất thần hay bay bổng. Dự một buổi tĩnh tâm sốt sắng; chứng kiến những gương nhân đức thánh thiện; nghe đọc những tư tưởng cao đẹp, khiến ta nhiệt tâm trước tiếng gọi nên thánh. Sau khi nghe một bài giảng hùng hồn sốt sắng, khiến lòng rạo rực, lửa yêu mến Chúa bừng cháy trong tâm hồn, thôi thúc loại bỏ những chướng ngại vật trong tâm hồn để làm lại cuộc đời. Những khi cảm thấy tâm hồn an vui thanh thoát sau khi đã làm những việc thiện hảo, ta muốn hiến thân phụng sự và phục vụ. Trước những gương hi sinh, bác ái, ta ao ước muốn dấn thân theo Thầy chí thánh để làm việc tông đồ, giúp đỡ người nghèo đói, tàn tật và đau khổ. Khi gặp sóng to bão lớn ngoài biển cả, nguy hiểm đến tính mạng, không còn gì để bám víu, ta kêu cầu đến Chúa: Nếu Chúa để con sống, cập bờ ghé bến, con sẽ trung thành phụng sự Chúa suốt đời con.
Thật là một điều ủi an, khi ta mang trong thân xác những yếu hèn, bệnh tật và bản tính chết được, lại có ngày được chung hưởng vinh quang nước trời. Thánh Phêrô trong lúc xuất thần đã xin Chúa ở lại trên núi, để chiêm ngưỡng cảnh vinh quang của nước Chúa. Nhưng Chúa bảo ông còn phải xuống núi đã để làm chứng cho đức tin vào Chúa, để chịu bách hại, xỉ nhục và khổ hình vì danh Chúa trước khi được hưởng vinh quang. Đó là đường lối Chúa đã đi: qua đau khổ thánh giá mới tới vinh quang phục sinh. Là môn đệ Chúa, sao ta có thể đi theo con đường khác ngoài đường Chúa đã đi.
Lm Trần Bình Trọng
 

MC2-165: LÊN NÚI – XUỐNG NÚI

CÙNG VỚI CHÚA GIÊ-SU, CHÚNG CON LÊN NÚI:

Trong ngôn ngữ diễn đạt của nhân loại, mỗi lần được lên núi là con người đã tạm lìa bỏ cõi: A43 MC2-165

Trong ngôn ngữ diễn đạt của nhân loại, mỗi lần được lên núi là con người đã tạm lìa bỏ cõi đất thấp của nhân sinh để lên gần hơn với cõi trời cao, cõi thiên thai mầu nhiệm của thần linh.
Đền Thờ Giê-ru-sa-lem của người Do-thái, mọi đền chùa miếu mạo các các tôn giáo khác, và cả các Nhà Thờ Công Giáo chúng ta cũng thường được xây dựng trên núi, trên đồi, hay ít ra cũng ở một nơi cao ráo nào đó, vượt trội hơn mặt đất bằng lè tè của cuộc đời cũng là để diển tả ý nghĩa thiêng liêng này.
Với Kinh Thánh, cả trong Cựu Ước lẫn Tân Ước, con người cũng được mời gọi lên núi để được gặp gỡ Thiên Chúa, để được Thiên Chúa mặc khải một mầu nhiệm, để lắng nghe những lệnh truyền, để lãnh nhận một sứ vụ quan trọng từ Thiên Chúa. Còn nhớ trong Cựu Ước, ông Mô-sê đã được gọi lên núi Xi-nai để lãnh nhận Bia Giao Ước từ Thiên Chúa đem xuống cho dân Do-thái.
Ở đây, trong thời kỳ khởi đầu Tân Ước này, câu chuyện cũng diễn ra trên núi dành cho những người “lên núi”. Theo chú giải Thánh Kinh thì cuộc Hiển Dung của Chúa Giê-su chúng ta vừa nghe Tin Mừng thuật lại, diễn ra trên ngọn Ta-bo chỉ cao khoảng 360m so với mực nước Địa Trung Hải, nghĩa là không cao lắm, nhưng vì Ta-bo nằm giữa một cánh đồng rộng lớn nên người ta có cảm giác nó là một ngọn núi cao. Lại cũng có một chú giải khác cho rằng địa điểm Chúa Giê-su Hiển Dung là ngọn Khéc-môn gần thành Xê-da-rê.
Thôi thì Ta-bo hay Khéc-môn, hay một ngọn núi nào khác đi nữa, không quan trọng, cái chính là ý nghĩa tượng trưng của việc các Môn Đệ được lên núi cao, tiếp cận với cõi của Thiên Chúa. Các ông không tự mình có ý cùng kéo nhau lên núi, nhưng Tin Mừng ghi rõ: chính Chúa Giê-su đã chủ tâm “đưa các ông đi riêng ra một chỗ, tới một ngọn núi cao” ( Mt 17, 1 ).
Mới sáu ngày trước đó các Môn Đệ đã bất ngờ nghe Chúa Giê-su lần đầu tiên báo cho biết về cuộc Thương Khó và Phục Sinh sắp đến của Người, họ choáng váng kinh sợ, có lẽ sợ cho Thầy một phần, còn sợ cho bản thân thì nhiều hơn. Ông Phê-rô còn nhanh miệng can ngăn Người không nên đi về Giê-ru-sa-lem, nguy hiểm quá, bao nhiêu là kẻ thù đang hăm he phục kích, chết như không ! Ấy vậy mà họ còn choáng váng hơn nữa khi Chúa Giê-su lại mắng ông Phê-rô tơi tả: “”Xa-tan, lui lại đàng sau Thầy ! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người !”
Sợ đau khổ, sợ thiệt thòi, sợ nguy hiểm, sợ chết đúng là tâm lý thường tình của loài người chúng ta. Vậy còn tư tưởng của Thiên Chúa thì sao ? Có lẽ ông Phê-rô và các Môn Đệ quá nhạy cảm đến chuyện chết chóc mà quên chú ý đến phần sau trong lời tiên báo của Chúa Giê-su là việc Người sẽ sống lại, chứ đâu có phải Người chết là hết đâu. Của đáng tội, lúc ấy, giả như các Môn Đệ có chú ý đến cái hậu vận Phục Sinh tươi sáng đi nữa thì cũng chẳng hiểu gì. Hoàn toàn vẫn còn là mầu nhiệm không thể chấp nhận nổi.
Chính vì thế mà gần một tuần sau, Chúa Giê-su đã quyết định phải đưa ba Môn Đệ nhát đảm yếu đuối của mình lên núi. Và ở trên núi, Chúa Giê-su đã Hiển Dung. đã cho các ông nhìn xuyên suốt toàn bộ chương trình Cứu Độ nhân loại của Người, nghĩa là Người sẽ phải đi ngang qua cuộc Thương Khó, mà tột cùng là cái chết thê thảm thì mới đạt đến được vinh quang Phục Sinh.
Hiểu nổi không ? Thưa, cũng chưa hiểu nổi đâu, phải đợi đến sau này, khi Chúa Giê-su đã Phục Sinh và hiện ra với các ông, mãi rồi các Môn Đệ mới ngộ được chân lý ấy. Còn trước mắt, ngay bây giờ thì các ông chỉ nhớ rõ một lệnh truyền từ Trời cao: "Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người !" Nhớ nhưng mà sợ điếng cả người, ngã nhào, phủ phục sát đất, nhờ sợ như thế mà càng nhớ, càng ghi tâm khắc cốt.
Tóm lại, “lên núi” với Chúa là một dịp để được Chúa... “lên lớp”, để được học một bài học vô giá cho cả cuộc đời làm Môn Đệ. Đó là bài học về sự vâng phục của con người đối với Thiên Chúa, sự vâng phục của Môn Đệ đối với Thầy dạy của mình. Cứ tuyệt đối vâng phục Chúa Giê-su trước đã, cứ bám theo Người đến cùng đi đã, nghĩa là sẵn sàng chấp nhận mọi khổ đau và cả cái chết thì mới mong đạt được vinh quang, được “hiển dung” y như Người. Bài học quý ấy cũng chính là một lời hứa, một cam kết, một khích lệ hết sức lớn lao cho người Môn Đệ.
Vậy, chúng ta hôm nay thì sao ? Chúng ta có sẵn sàng nhận lời mời của Chúa Giê-su để cùng với Người “lên núi” không ? Vất vả mệt nhọc, mất thì giờ, mất cả một số cơ hội làm giàu, nhưng bù lại, sẽ được tất cả. Mỗi lần chúng ta cầu nguyện với Chúa, Tĩnh Tâm, Linh Thao, đến với Thánh Lễ, lắng nghe Lời Chúa, đón nhận các Bí Tích, hóa ra chính là chúng ta được “lên núi” với Chúa đấy. Nhiều lần “lên núi” như thế là để thực tập cho quen với một lần “lên Núi Thánh” là đỉnh cao cuối cùng trong Nước Trời.
Ngược lại, an phận thủ thường, cứ mãi chấp nhận cái lè tè sát mặt đất trần tục, chúng ta sẽ không bao giờ có cơ hội nếm trải thế nào là ánh sáng rực rỡ, là vinh quang chói lọi, là niềm vui hạnh ngộ với Thiên Chúa trên cõi thiêng cao vời. Và cứ thế cuộc sống sẽ kéo chúng ta xuống, buộc chặt chúng ta vào những cái ăn, cái uống, cái mặc, cái ở, cái chơi đùa giải trí thường nhật đến độ chúng ta sẽ quên mất chúng ta là những người được mời hãy “lên núi”, là những người tuy chân đạp đất nhưng tâm hồn thì vẫn phải hướng lên trời cao.
Nhiều bạn trẻ Công Giáo được hỏi một ngày nhận và gọi bao nhiêu cuộc điện thoại di động, trả lời là nhiều quá không nhớ nổi, ấy vậy mà trong những cuộc chuyện trò ấy hình như không hề có một cuộc gọi nào để cầu nguyện tâm sự với Thiên Chúa, đồng thời cũng lại để nhỡ, để hụt mất bao nhiêu cuộc “điện thoại” của Thiên Chúa gọi đến cho mình ! Thế là bỏ phí mất bao nhiêu cơ hội để được “lên núi”, để được kết nối, được vào mạng của Nước Trời !
Nhiều bậc trí thức, nhiều nhà doanh nghiệp, nhiều kẻ chức quyền Công Giáo, cứ than là bận bịu quá đến nỗi không còn giờ để đến Nhà Thờ, để tham dự Thánh Lễ, để lãnh nhận Bí Tích Hòa Giải. Máy vi tính, sổ sách buôn bán, các hợp đồng làm ăn, các cuộc họp hành, và cả các cuộc nhậu nhẹt đã buộc chặt tâm hồn họ để không còn tài nào có thể “lên núi”, cho dẫu là... xuân thu nhị kỳ, đôi ba phen giật mình nhớ đến chuyện đạo nghĩa !
Lạy Chúa Giê-su, xin cho chúng con thỉnh thoảng, đến hẹn, lại được “lên núi” với Chúa. Và nhờ “lên núi” như thế, chúng con sẽ được nhắc nhở, được dạy cho bài học quý: “Các ngươi hãy vâng nghe lời Người !”
CÙNG VỚI CHÚA GIÊ-SU, CHÚNG CON XUỐNG NÚI:
Đang khi các Môn Đệ say sưa với khung cảnh tuyệt vời rực rỡ đến nỗi xin phép được cắm dùi, được ở lại mãi trên núi, thì thoáng một cái, cuộc Hiển Dung chấm dứt, đâu lại vào đấy, Chúa Giê-su đến lay cho các ông choàng tỉnh rồi bảo “xuống núi” ngay. Đạo của Chúa là Đạo Nhập Thế chứ đâu có phải xuất thế. “Xuống núi” thôi !
Cuộc đời dưới kia đang chờ chúng ta, đang đợi dịp để nhấn chìm, để bắt cóc chúng ta, rồi giao nộp chúng ta cho những tiện nghi hấp dẫn, những dịch vụ béo bở, những cuộc chơi quyến rũ. Chúng ta sẽ không sợ khi phải đối đầu với thực tế cám dỗ nguy hiểm mà ngọt ngào ấy, bởi chúng ta cũng không “xuống núi” một mình mà là có Chúa Giê-su.
May quá, nếu chúng ta đã không “lên núi” với Chúa thì lấy đâu mà có Chúa cùng “xuống núi” với chúng ta. Khi đã “lên núi”, chúng ta như thể đã được chích ngừa một loại Vaccin thiêng liêng để rủi ro có nhiễm vi khuẩn trần gian độc hiểm và xảo quyệt, chúng ta vẫn có thể... thoát chết, nhiều khi trong đường tơ kẽ tóc. Loại Vaccin ấy được bảo đảm hiệu nghiệm ở chỗ: “Các ngươi hãy vâng nghe lời Người !”
Bảo là trần gian độc hiểm và xảo quyệt thì không quá lời đâu. Mới đây, chúng tôi có dịp sang Thái Lan và Mã Lai dâng Thánh Lễ giao thừa và tân niên cho người lao động nhập cư Việt Nam, xong việc cũng được người quen dẫn đi thăm thú mấy nơi cho thỏa tò mò.
Thái Lan và Mã Lai chỉ mới là mấy nước Đông Nam Á bé tẹo, mấy con rồng nhỏ xíu thôi, nhưng nay đã có được những siêu thị khổng lồ, bước vào là choáng váng ngây ngất trước bao nhiêu hàng hóa tiêu dùng hấp dẫn. Một cha Dòng OMI bảo: “Đấy là... Nhà Thờ của con người ta trong thế kỷ 21 đấy !” Chỉ là câu nói đùa, nhưng ngẫm nghĩ thấy trúng phóc: rần rần hàng chục ngàn người, trẻ già lớn bé như những tín đồ thuần thành của thứ tôn giáo hưởng thụ, đi đi lại lại, cười nói, hớn hở xăm soi chọn lựa, hào hứng móc bóp trả tiền cho những kẻ đang bóc lột mình mà như thể mình đang được ban ơn !
Đến lúc rời khỏi những khu phố đèn quảng cáo sáng choang, ngang qua các gầm cầu vượt, các bến xe liên tỉnh, các khu ngoại ô xứ người mới thấy cái cách biệt giàu – nghèo là ghê gớm như thế nào. Vẫn luôn có đó cảnh tưởng những người đi móc rác, những kẻ vô gia cư lang thang ngủ vật ngủ vờ, những đứa bé đi ăn xin đen nhẻm, những người khuyết tật kiệt sức vì mưu sinh, những bọn du thủ du thực sẵn sàng trấn lột khách du lịch, và nhất là rất đông những cô gái đứng đường son phấn lòe loẹt rẻ tiền.
“Xuống núi” là để giáp mặt với bóng tối của bất công, của tội ác, của nhân phẩm bị đày đọa bởi cái nghèo khốn nạn. “Xuống núi” cũng là để giáp mặt với chính mình với đầy đủ những tham sân si, yếu hèn bạc nhược. “Xuống núi” cũng là để suy nghĩ, đối chiếu giữa các được và cái mất, ước mơ và tuyệt vọng, bình an và hoang mang, sự sống và sự chết, được Chúa cứu hay là sẽ hư đi mãi mãi ?
Suy nghĩ rồi thì phải hành động chứ. “Xuống núi” rồi đâu có thể khoanh tay ngồi yên, đâu có thể bàng quan làm ngơ hoặc buông lỏng cho ra sao thì ra. Mà biết sống như thế nào đây để có thể khơi lên trong bóng đêm một chút ánh sáng ? Biết sống như thế nào đây để Tin Mừng chúng ta đã mang từ “trên núi” xuống được hô to lên, được hát vang lên cho những ai còn đang lầm lũi cúi gầm mặt xuống đất ?
Phải ngang qua Thương Khó mới đến được với Phục Sinh mà thôi. Bài học quý chúng ta đã được học “trên núi”, bây giờ mới là lúc để chúng ta áp dụng cụ thể vào thực tế cuộc đời “dưới núi”.
Ngày xưa, các đệ tử tầm sư học đạo, phải “lên núi” thọ giáo. Xong xuôi, đã rèn luyện được mấy thành công lực khá thâm hậu rồi thì lại phải hạ sơn mà hành hiệp. An tâm vững chí, chúng ta hạ sơn và hành hiệp mà luôn có Thầy Giê-su ở sát bên cạnh, ở ngay trong lòng mình. Rồi thỉnh thoảng, Thầy Giê-su lại gọi, lại mời chúng ta cùng “lên núi” nhiều lần khác nữa để bồi dưỡng, huấn luyện và đào tạo thêm.
Lạy Chúa Giê-su, đã “lên núi” được với Chúa, thì xin cho chúng con cũng biết sẵn sàng cùng Chúa “xuống núi” để hành hiệp bằng chính Tin Mừng của Chúa... Amen.
Lm. LÊ QUANG UY, DCCT
 

MC2-166: ĂN XỔI, Ở THÌ !

Ngày nay với kỹ-thuật-số, nghệ thuật nhiếp ảnh muốn biến hoá đối tượng thành thứ gì, cũng: A44 MC2-166

Ngày nay với kỹ-thuật-số, nghệ thuật nhiếp ảnh muốn biến hoá đối tượng thành thứ gì, cũng chẳng mấy khó khăn: xấu thành đẹp;lùn thành cao, vật đội lốt người hay ngược lại; không chỉ là “râu ông cắm cằm bà”, mà còn “đầu Ngô mình Sở” theo nghĩa đen, khiến cho gần đây lắm ca sĩ, người mẫu khóc dở cười dở khóc vì thấy mình xuất hiện trên mạng một cách nhố nhăng trơ trẽn. Phim ảnh còn làm được nhiều hơn thế nữa: có thể cho diễn viên biến hoá khôn lường: một thứ “hiển dung” mà không phải là “hiển dung” trên màn ảnh, “phảhụ nữ hiển dung” thì đúng hơn !
Trong cuộc sống, ngày càng có nhiều người bị ám ảnh và trở nên thực dụng. Với suy nghĩ “yêu cuồng sống vội”, họ sống theo điều mà chúng ta ngỡ chỉ là câu đùa vui ”thà một phút vinh quang, rồi chợt tắt”. Một lối tư duy nguy hiểm ? – Hẳn nhiên ! Nhưng không thiếu người lại coi đó là... kim chỉ nam !
Với suy nghĩ “chết no hơn sống thèm” hoặc là “hy sinh đời bố, củng cố đời con”, giá trị cuộc sống, với họ, không chỉ là, mà còn phải là cân-đong-đo-đếm được, và tiêu chí chính là tiền bạc, danh lợi. Hệ lụy không chỉ dừng lại ở đó. Cái nguy hiểm gần như “lô-gíc”, chính là họ xem tha nhân như những nấc thang mà họ phải đạp đổ hoặc dẫm lên, để thăng tiến trong danh lợi. Chúa Giê-su Hiển Dung hôm nay sẽ vẫn chỉ là một quang cảnh đẹp đẽ, một lời hứa hẹn, nếu chúng ta chưa tìm ra được đáp số cho cuộc đời mình.
Trong đời, ai mà chẳng “hiển dung” một ít lần, một sự toả sáng thật sự ( không phải như những màn trình diễn nhanh tay lẹ mắt kiểu ảo thuật gia David Copperfield ), đến mức người thân cận cũng khó lòng nhận ra: về mặt thể chất, chẳng hạn một thiếu niên nhổ giò tuổi dậy thì; một cô gái trổ mã ở tuổi trăng tròn; còn về mặt tinh thần, là những lời nói, việc làm chín chắn, cao thượng khác thường. Đáng tiếc là những “hiển dung” ấy đa phần thoáng qua, không được cá nhân chú tâm khai thác, thăng hoa để trở thành giá trị bền vững: nhân cách ! Đôi khi chỉ như bọt xà-phòng thổi lên, rực rỡ và bay cao, nhưng phù du và chẳng nên ơn ích gì !
Đời sống Đạo của Ki-tô hữu cũng không nằm ngoài những hiện tượng ấy, với những lần “hiển dung” trong cả tâm tình và hành vi, khiến cho lòng sốt mến bừng cháy, lòng bác ái bộc phát tưởng chừng có thể bỏ ngay mọi sự, bố thí tất cả, để chỉ còn lại “mình với ta tuy hai mà một” với Chúa.
Những biểu hiện ấy cũng tỏ lộ bề ngoài, đến nỗi không cần tinh ý cũng có thể nhận ra. Giả dối ư ? – Không phải ! Không có khói nếu không có lửa ! Ngoài những lần “hiển dung” trong một đời Ki-tô hữu mà ai cũng có, như là ngày nhận Bí Tích Thánh Tẩy, ngày Xưng Tội Rước Lễ Lần Đầu, thì người Ki-tô hữu nào cũng có rất nhiều dịp để “hiển dung”: đó là những khi được soi sáng để thống hối trở về với Chúa và thật tâm nhận Bí Tích Hòa Giải; đó là những khi nghe và hiểu Lời Chúa, đem ra thực hành trong cuộc sống, tâm hồn, ngôn ngữ và hành vi thấm nhuần tinh thần của Chúa. Một cuộc sống như thế toả sáng trong gia đình, giữa xã hội, chính là những lần “hiển dung”. Tiếc thay ! Rất nhiều khi chỉ dừng lại ở hiện tượng bề ngoài và nhất thời !
Vâng ! Cũng như những hiện tượng tâm-sinh-thể lý, lòng đạo đức hoặc những lần được ơn Thánh Linh soi sáng, nung nấu, sẽ bền chặt và giúp ta giữ bền vững giá trị “hiển dung”, giúp biến đổi không chỉ cuộc sống của ta, mà của cả tha nhân; hay chỉ là thoáng qua, tan mau khi ta “xuống núi”, về với đời thường, mau chóng để cho những bon chen, những tham sân si lấn át, làm chủ và rồi cũng có “hiển dung”, nhưng là chiều ngược lại, làm ta ra u tối, những điều ấy hoàn toàn do ở chúng ta.
Đạo Đức không thể là một “hiện tượng”. Đạo và Đức là sự nắm bắt, tập luyện kiên trì, với lòng ước ao hướng thiện và hướng thượng không ngừng. Khi ấy – và chỉ khi ấy, dù chúng ta không để tâm hoặc mong muốn – thì Lời Chúa sẽ “hiển dung” nơi chúng ta và qua chúng ta, tỏa sáng giữa đời. Đó là lý do giải thích vì sao cuộc đời của một Nữ tu Dòng Kín như Thánh Nữ Tê-rê-xa lại được ví ngang hàng với Vị Tông Đồ Á Đông Phan-xi-cô Xa-vi-ê.
Cuối cùng, phải biết nhìn ra và tôn trọng sự toả sáng, ”hiển dung” của anh em, cũng như không lợi dụng anh em, để cho mình toả sáng ( giống như phần nhiều các cô dâu lựa chọn phù dâu thua sút mình nhiều mặt nhất là về sắc diện, để mình khỏi bị chìm, nhưng toả sáng lộng lẫy hơn ). Hành động như thế, chính là sự độc ác, kiêu căng, ích kỷ. Nó chỉ làm cho mình hèn hạ hơn, ngày càng kém cỏi hơn, mất dần nhân cách.
Về Đạo, đó là hình ảnh của những người suy nghĩ và hành động theo tinh thần của Xa-tan và hoả ngục ! Biết bao người muốn tỏ sự thông tuệ của mình, muốn thoát ra sự “vô danh” hoặc phản ứng với những lời phê bình việc sai trái của mình, bằng việc phê phán, chỉ trích, nhiều khi mù quáng, điên cuồng, cay độc đối với cả Giáo Hội hoặc Đấng Đại Diện Chúa Ki-tô, mà động cơ là lòng thù oán, gây biết bao chia rẽ, tai hại, phá hoại: cũng là một loại... “phản hiển dung”, không tỏa sáng chút nào mà chỉ làm tăng thêm bóng đen u ám !
Chúa Giê-su hiển dung trong khiêm hạ, với mục đích hé cho các môn đệ thấy vinh quang Phục Sinh; còn những con cái Chúa đang chống đối, đang phỉ báng Giáo Hội, lại hành động vì kiêu căng, hận thù, phá hoại: những thứ vốn thừa thãi trong hoả ngục ! Những thứ nằm trong ý đồ của Xa-tan !
Đáp số của sự kiện Chúa Hiển Dung đã rõ ràng: một đổi một ! Nếu Chúa Giê-su đã hiển dung một lần trên núi Ta-bo, uy nghi, sáng láng, không ai nhận ra được nữa, thì Người cũng sẽ phải thay đổi dung nhan, nhưng lần này là của “Người Tôi Tớ Gia-Vê” và cũng không ai còn nhận ra, song là vì xấu xí, tàn tạ, thê thảm, ở trên Núi Sọ. Môn đệ không thể hơn Thầy ! Để “hiển dung” thành con cái Chúa và Giáo Hội ở đời này, không thể nào tránh né những đau khổ, hy sinh.
Phúc Thật Thứ Tám, do vậy, không phải là thứ tự của Bát Phúc, mà là điều kiện thực hành của mỗi một trong Bảy Mối Phúc hoặc của cả Bảy Mối Phúc đi trước: không thể thực hiện bất cứ Mối Phúc nào, nếu không “bị bách hại vì Đạo ngay”. Điều đó đã trở thành định luật từ khi Thiên Chúa Ngôi Hai nhập thể với tiếng thưa “Xin Vâng” của Mẹ Ma-ri-a. Định luật ấy không phải Chúa Giê-su thụ động chịu lấy, mà chính Người chủ động lập ra: “Ai muốn theo Ta, hãy vác thập giá của mình mà theo Ta...”
NGUYỄN THẾ BÀI, DTDS Tình Yêu 88
 

MC2-167: CON ĐƯỜNG THẬP GIÁ

- Lm Trần Thanh Sơn
      Bài đọc 1: St 12, 1-4a
      Bài đọc 2: 2 Tm 1, 8b-10
      Tin mừng: Mt 17, 1-9

Khởi sự Mùa Chay, chúng ta đã cùng Ịức Giêsu tiến vào hoang địa, để nhận diện rõ bộ mặt: A45 MC2-167

Khởi sự Mùa Chay, chúng ta đã cùng Đức Giêsu tiến vào hoang địa, để nhận diện rõ bộ mặt của tên cám dỗ. Và cũng chính nơi hoang địa, chúng ta cũng đã chứng kiến cuộc chiến thắng vẻ vang của Đức Giêsu trước các mưu mô của ma quỷ. Đức Giêsu đã chiến thắng ma quỷ bằng chính Lời của Thiên Chúa. Hay nói một cách khác, Đức Giêsu đã chiến thắng cơn cám dỗ, bởi Ngài đã chọn Thánh Ý Chúa Cha làm cùng đích cuộc đời của mình.
Tiếp tục ý tưởng đó, Lời Chúa hôm nay cho thấy, con đường của Thiên Chúa là con đường của sự từ bỏ tận căn con người cũ của mình. Do đó, để đi trọn con đường này, đòi hỏi mỗi người chúng ta phải có một đức tin thật mạnh mẽ, một đức tin dám đặt trọn cuộc đời mình trong tay Thiên Chúa, dám “đi mà không biết mình đi đâu” như tổ phụ Abraham.

1. THẬP GIÁ, CON ĐƯỜNG TỪ BỎ :
Đáp lại tiếng Chúa gọi, tổ phụ Abraham đã từ bỏ quê hương, họ hàng, nghĩa là từ bỏ đi những gì là quen thuộc, gần gũi, từ bỏ cả những sự nâng đỡ tự nhiên. Thậm chí, ông còn được kêu gọi từ bỏ cả nhà cửa để đi đến miền đất mà Thiên Chúa sẽ chỉ cho. Đây quả là một sự từ bỏ thật quyết liệt, vì đụng chạm đến chính bản thân của mình. Nó đòi chúng ta ra khỏi “pháo đài” của chính mình, ra khỏi “tổ kén” yên ổn của mình, từ bỏ cách suy nghĩ, cách lý luận của mình, để bắt đầu một cuộc sống mới theo sự dẫn dắt của Lời Chúa. Người được Thiên Chúa gọi từ đây không còn sống theo ý mình, nhưng phải luôn luôn tìm và sống theo Thánh Ý của Thiên Chúa, cụ thể là sống theo giáo huấn của Đức Giêsu Kitô như chúng ta vừa nghe Chúa Cha phán dạy trong bài Tin mừng: “Đây là Con Ta yêu dấu rất đẹp lòng Ta, các ngươi hãy nghe lời Người”.
Từ đây, người môn đệ vẫn tiếp tục sống và hoạt động, nhưng không còn cậy dựa vào sức mình, nhưng luôn cậy dựa vào ơn Chúa, hay nói theo cách nói của thánh Phaolô trong bài đọc hai, chúng ta hoạt động “nhờ quyền lực của Thiên Chúa, Đấng đã giải thoát và kêu mời chúng ta bằng ơn thiên triệu thánh của Người”.
Để có thể đi đến miền đất mà Thiên Chúa đã hứa, vị tổ phụ của chúng ta đã “từ bỏ quê hương, họ hàng và nhà cửa”. Như thế, từ bỏ cái cũ, những cái tiêu cực, chính là bước khởi đầu, và là điều kiện tiên quyết để có thể đón nhận những cái mới. Tuy nhiên, sự từ bỏ này tự nó, không phải là điều dễ dàng, vì sẽ gây ra cho chúng ta biết bao sự mất mát và đau đớn. Do đó, để hoàn tất cuộc từ bỏ, lột xác này, mỗi người chúng ta còn cần có một đức tin thật vững mạnh.

2. CON ĐƯỜNG CỦA ĐỨC TIN :
Trở lại với trình thuật về ơn gọi của tổ phụ Abraham. Chúa đã gọi tổ phụ Abraham “từ bỏ quê hương, họ hàng và nhà cửa” để đi đến xứ mà Ngài sẽ chỉ cho. Nghe tiếng gọi của Thiên Chúa, Abraham đã ra đi, cho dù không biết là mình sẽ đi đâu, tương lai của bản thân mình, gia đình mình sẽ như thế nào. Nhưng cho dù có xảy ra điều gì đi nữa, cho dù trước mắt tương lai có mịt mờ, thì Abraham vẫn “ra đi như lời Thiên Chúa phán dạy”. Tổ phụ Abraham đã ra đi không phải vì ông đã nắm chắc tương lai, nhưng ông đã bước đi trong niềm tin vào lời hứa của Thiên Chúa. Chính vì thế, ông đã được gọi là “Cha của những kẻ tin”. Và quả thật, vị tổ phụ của chúng ta đã không phải thất vọng khi đặt niềm tin của mình nơi Thiên Chúa. Sau này, dòng dõi của ông đã nên đông đúc, và Đấng Cứu Thế muôn dân hằng mong đợi cũng đã được sinh ra từ nơi dòng dõi của ông. Tổ phụ Abraham đã đi trọn hành trình đức tin của mình, cho dù đó là một hành trình vô định, đầy những bấp bênh, chính vì thế ông đã xứng đáng nhận được vinh dự là tổ phụ của Con Thiên Chúa nhập thể làm người.
Việc ra đi trong bấp bênh, bước đi trong đêm tối của tổ phụ Abraham, chính là hình ảnh báo trước con đường thập giá mà Đức Giêsu sẽ đi. Hành trình thập giá cũng chính là một hành trình trong đức tin, bởi lẽ hành trình thập giá đòi những ai bước đi trên đó phải hy sinh, và đi trong đêm tối, ngược với những suy nghĩ tự nhiên của con người. Hay nói theo cách nói của thánh Phaolô, thập giá vẫn luôn là một điều ô nhục, điên rồ, trước mắt mọi người (x. 1 Cr 1, 18. 23).
Trong bài Tin mừng, thánh sử thuật lại việc biến hình của Đức Giêsu trên núi. Lúc đó, “mặt Người chiếu sáng như mặt trời, áo Người trở nên trắng như tuyết”, với việc biến hình này, Đức Giêsu cho các môn đệ thấy trước vinh quang thật sự của Ngài. Một vinh quang vượt ngoài trí tưởng tượng của các ông. Một vinh quang rực rỡ mà chỉ cần nhìn thấy cũng đủ làm cho các ông choáng ngợp trong hạnh phúc, đến nỗi Phêrô đã phải kêu lên: “Lạy Thầy, chúng tôi được ở đây thì tốt lắm, nếu Chúa ưng, chúng tôi xin làm ba lều, một cho Thầy, một cho Môisen, và một cho Êlia”. Phêrô và các môn đệ muốn ở lại luôn trên núi để hưởng nguồn hạnh phúc mà các ông chưa từng được hưởng.
Thế nhưng, ngay lúc đó, Đức Giêsu đã ra lệnh cho các ông: “Các con không đựơc nói với ai về việc đã thấy, cho tới khi Con Người từ cõi chết sống lại”. Nghĩa là nếu các môn đệ muốn được hưởng trọn vẹn niềm hạnh phúc ở nơi Thiên Chúa, thì giờ đây, các ông phải “xuống núi”, nghĩa là các ông phải sẵn sàng theo chân Đức Giêsu để bước đi trong niềm tin cho tới tận đỉnh đồi Canvê, và “cho tới khi Con Người từ cõi chết sống lại”.
Tóm lại, con đường thập giá không chỉ là con đường đức tin đi trong đêm tối, nhưng thập giá còn là con đường của sự từ bỏ, một sự từ bỏ trọn vẹn cho đến cùng con người cũ của mình, để mặc lấy con người mới trong Đức Kitô.

3. CHÚNG TA HÔM NAY :
Tổ phụ Abaraham đã sẵn sàng từ bỏ tất cả, can đảm dấn bước trong niềm tin và đã trở nên mẫu gương cho tất cả chúng ta. Tuy nhiên, chỉ nguyên một việc nhìn ngắm mẫu gương của tổ phụ Abraham sẽ không đem lại lợi ích gì cho chúng ta, nếu chúng ta không dám sống như ngài.
Bước vào Mùa Chay năm nay, theo gương của tổ phụ Abraham, mỗi người chúng ta hãy cố gắng từ bỏ đi một thói hư, tật xấu nào đó: đó có thể là sự lười biếng, tính tự ái, thói quen nhậu nhẹt, bài bạc, chửi thề, nói hành, nói xấu, cố chấp, ương bướng… Việc từ bỏ này không phải là dễ dàng thực hiện, vì con người chúng ta rất yếu đuối, nhưng nếu chúng ta biết đặt trọn niềm tin, và hết lòng cậy dựa vào ơn Chúa, tôi tin chắc, tất cả chúng ta sẽ thực hiện được.
Cùng với việc từ bỏ là lên đường. Chớ gì trong Năm Thánh Thể này, mỗi người chúng ta cũng hãy có một quyết tâm tham dự Thánh lễ và hiệp lễ mỗi ngày, khi có thể. Và nhất là quyết tâm hiệp dâng Thánh Lễ ngày Chúa Nhật thật đầy đủ, trọn vẹn. Nhờ đó, vào ngày Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, và là Chúa chúng ta trở lại, tất cả chúng ta sẽ cùng được hưởng vinh quang với Ngài muôn đời. Amen.
 

MC2-168: SỐNG ĐỨC TIN

 - Lm. Giacôbê Phạm văn Phượng, OP
(Mt 17, 1-9)

Trong khi dân chúng còn thắc mắc về Chúa Giêsu, mỗi người nghĩ về Ngài một cách, thì ông: A46 MC2-168

Trong khi dân chúng còn thắc mắc về Chúa Giêsu, mỗi người nghĩ về Ngài một cách, thì ông Phêrô đã thay mặt nhóm môn đệ thân tín của Chúa tuyên xưng : “Thầy là Đấng Kitô của Thiên Chúa”. Lời tuyên xưng này là thành quả của giai đoạn huấn luyện của Chúa. Được theo sát bên Chúa, được chứng kiến mọi hoạt động của Chúa, lại được Chúa dạy dỗ riêng nhiều điều, các môn đệ được dẫn dắt từng bước để nhận ra Chúa Giêsu là ai. Nhưng cho đến lúc này các ông mới chỉ thấy quyền năng của Chúa, còn con đường Ngài phải đi thì các ông chưa biết, Chúa Giêsu muốn các ông phải chấp nhận toàn thể sứ mạng và thân phận của Ngài. Vì thế, khi ông Phêrô vừa tuyên xưng Ngài là Đấng Kitô, Ngài liền nói đến việc Ngài sẽ phải chịu đau khổ, bị xỉ nhục và phải chết rồi sống lại. Sau đó Ngài rời miền Galilê tiến lên Giêrusalem. Nhưng trước khi đi lên Giêrusalem, Ngài còn cho các ông được thấy vinh quang của Ngài, nghĩa là Ngài tỏ lộ cho các ông thấy phần nào chân dung thật của Ngài, mà chúng ta thường gọi là Chúa biến hình.
Nói rõ hơn, Chúa Giêsu đã đem theo ba môn đệ Phêrô, Giacôbê và Gioan lên núi Ta-bo, đang lúc cầu nguyện, Chúa biến hình : sắc diện Ngài biến đổi và có một dung mạo khác thường, nghĩa là Chúa tỏa lộ một ánh sáng đặc biệt cho các môn đệ thấy chính Ngài là ai, là “vinh quang của Thiên Chúa”, là “Chúa vinh quang”. Trước đây, các môn đệ sống bên Chúa, đã hiểu phần nào về con người của Chúa, nhưng hôm nay nơi núi biến hình, các ông mới đích thực cung chiêm uy linh vinh quang của Chúa.
Trong lúc Chúa biến hình có hai người đàm đạo với Chúa, đó là ông Môsê và Elia. Đàm đạo về cuộc khổ nạn mà Chúa sắp trải qua ở Giêrusalem, còn ông Phêrô và các bạn thì ngây ngất trong ánh sáng siêu linh ấy, nhưng giữa lúc đó có một đám mây bay đến phủ rợp các ngài, rồi mất hút hai vị đại ngôn sứ, và mọi sự trở lại bình thường.
Quang cảnh trên cho chúng ta thấy có ánh sáng rồi có bóng mây. Đời là thế. Có vinh quang có đau khổ, có vinh có nhục, có buồn vui đắp đổi, có khóc có cười, có nước trời có trần gian, có vàng thau lẫn lộn…Vì thế, ngay trong vinh quang của Ta-bo, Chúa đã đàm đạo với các ngôn sứ về cuộc khổ nạn của Ngài để nhắc nhở và củng cố đức tin của thánh Phêrô và các tông đồ, để giúp họ đứng vững giữa những thử thách và trung thành với sứ mệnh nặng nề của ngày mai. Thánh Phêrô, trong một khoảnh khắc thời gian, được sống trong hai thế giới : trần gian và thiên đàng. Và khi được cung chiêm hạnh phúc nước trời, ngài đã sung sướng quá và thốt lên : “Lạy Thầy, được ở lại đây thì tốt quá”. Nhưng rồi bóng mây bao phủ trên họ, và họ phải xuống núi, trở về với nhiệm vụ của mình.
Bài Tin Mừng hôm nay có nhiều điều đáng ghi nhớ, nhưng chúng ta đặc biệt ghi nhớ câu nói của thánh Phêrô trên đây và hình ảnh đám mây bao phủ trên các tông đồ lúc ấy làm bài học cho chúng ta. Chúng ta thấy đó, thánh Phêrô đã thốt lên như thế khi được thấy hạnh phúc nước trời ngay tại thế, nhưng chỉ trong một khoảnh khắc thôi rồi họ lại trở về với cuộc sống cam go và nhiệm vụ nặng nề của mình. Lời nói của thánh Phêrô được coi là niềm vui, đám mây tượng trưng cho nỗi buồn.
Chúng ta cũng vậy, có lẽ trong cuộc đời theo Chúa, chúng ta cũng sẽ được một số những an ủi, niềm vui, phước lộc. Nhưng chúng ta cần nhớ : bao lâu còn sống ở trần gian, niềm vui nào cũng mau qua, như người ta vẫn nói : Vui qua sầu tới. Cho nên, chúng ta cần phải có một thái độ đúng trước niềm vui, là đừng bao giờ chỉ biết có niềm vui của riêng mình, nhưng phải biết giới hạn và san sẻ niềm vui đó, và đừng bao giờ để cho niềm vui của mình trở nên đau khổ cho người khác, vì khi chúng ta vui thì còn nhiều người khác đang buồn. Cũng đừng bao giờ say sưa trong niềm vui mà quên bổn phận hay nhiệm vụ của mình. Lúc có niềm vui thì hãy nhớ tới lúc hết niềm vui. Nếu chúng ta có thái độ đúng đắn như thế, chúng ta sẽ không còn ngỡ ngàng, ngạc nhiên trước thuận cảnh hay nghịch cảnh, trước niềm vui hay nỗi buồn. Ngược lại, khi chúng ta không có được niềm vui như người khác, thì chúng ta cũng đừng bao giờ thất vọng, chán nản, buông xuôi.
Vì thế, chúng ta phải làm chủ được cuộc đời mình, là cuộc đời được đan dệt bằng những niềm vui và nỗi buồn. Chúng ta hãy sống với hoàn cảnh thực tại của mình, chúng ta hãy chu toàn nhiệm vụ hằng ngày của mình, chúng ta hãy lấy nhiệm vụ làm nguồn vui, chúng ta chỉ có quyền hưởng niềm vui khi đã làm xong nhiệm vụ. Nhiệm vụ nào cũng là gánh nặng, nhưng gánh nặng được chúng ta hoàn thành lại trở nên niềm vui cho chúng ta. Đó là bài học Chúa dạy các tông đồ xưa kia và dạy chúng ta hôm nay : “Qua đau khổ sẽ tới vinh quang”, sau cơn mưa, trời lại sáng.
Trích Chia Sẻ Tin Mừng Chúa Nhật Năm A
 

MC2-169: CHỖI DẬY ĐI, ĐỪNG SỢ

 - Huyền Đồng
2nd Sunday of Lent
GET UP ! DO NOT BE AFRAID *
Bài đọc 1: Sáng thế 12,1-4= Sứ vụ của Ap-ra-ham / Mission of Abraham
Bài đọc 2: 2 Tm 1, 8-10= Chúa đã cứu độ chúng ta / God has saved us.
Tin Mừng: Mát-thêu 17, 1-9= Đức Giêsu biến hình / Jesus Transfigured
A- Tôi Cảm nghiệm Sống và chia sẻ 3 bài đọc trên: ( Reflections, live out and share )

Khi Đức Giêsu biến hình đổi dạng xong, có đám mây bao phủ và có tiếng phán : "Đây: A47 MC2-169:

1/ Khi Đức Giêsu biến hình đổi dạng xong, có đám mây bao phủ và có tiếng phán : "Đây là con yêu dấu của Ta…các ngươi hãy vâng nghe Lời Người." Đức Kitô đã gọi tôi làm gì để theo Ngài ? Tôi đáp lại bằng đời sống thế nào cho người nghèo đói, bệnh tật và di tản trong xã hội hiện nay?
…"This is my beloved Son on whom my favor rests. Listen to Him " ( Mt. 17, 5 )
2/ Bấy giờ Đức Giêsu lại gần, chạm vào các ông và bảo: "Chỗi dậy đi, đừng sợ!" Bạn đã thức tỉnh chưa? Cuộc sống hôm nay có biết bao nhiêu cái sợ?… Bạn đã làm gì để thắng những cái sợ này?
Jesus came toward them and laying His hand on them and said: "Get up! Do not be afraid." ( Mt. 17, 9 )
3/ Thánh Phaolô đã tha thiết nhắn nhủ: "Anh em đừng hổ thẹn phải làm chứng cho Chúa chúng ta…nhưng dựa và sức mạnh của Thiên Chúa; hãy đồng lao cộng khổ để loan báo Tin Mừng." Hãy nhìn lại cách sống của tôi hôm nay? Tôi có cậy vào sức riêng mình không? Tôi đã can đảm làm những gì?
Bear your share of the hardship which the Gospel entails ( 2 Tm. 1, 8 )
4/ Trong sách Sáng thế, Chúa đã gọi ông Ap-ram: "Hãy rời bỏ xứ sơ, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi." Bạn đã tin tưởng và đáp lại tiếng Chúa gọi trong cuộc sống của mình như thế nào? Trong thinh lặng, cầu nguyện, khiêm tốn và lắng nghe, gia đình bạn đã có gì thay đổi ?
The Lord said to Abram:"Go forth from the land of your kinsfolk and from your father"s house… ( Sthế 12, 1 )

B- Tôi chọn câu Kinh Thánh đánh động tôi nhất để Sống: ( The Best God"s Word s)
1- …" CHỖI DẬY DI, ĐỪNG SỢ !" " Get up ! Do not be afraid !" ( Mt. 17, 9 )
2- Anh em đừng hổ thẹn phải làm chứng cho Chúa. ( 2 Tm. 1, 8 )
C- Thực hành Lời Chúa là phần quan trọng nhất của tôi: (So what am I doing?/ For action )
• Tôi chọn 1 trong 4 gợi ý Sống và chia sẻ ở phần A để áp dụng vào đời sống.
• Tôi chu tòan bổn phận Gia đình-Lời nói đi đôi với hành động-Tin tưởng và phó thác…v..v…
D- Tôi cầu nguyện không ngừng và Sống Lời cầu nguyện: ( I pray and practice/ Prayer in action)
1- Lạy Chúa, Chúa Cha đã nói: "Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người, các con hãy nghe Lời Người. Xin gíup con luôn đọc và thực hành Lời Chúa trong mọi hòan cảnh của đời sống con.
2- Thánh Phaolô đã khuyên con đừng hổ thẹn vì làm chứng cho Chúa; nhưng dựa vào sức mạnh của Ngài. Xin dạy con khiêm tốn và can đảm đem Chúa đến với mọi người bằng việc làm yêu thương.
3- Ông Ápram đã nghe tiếng Chúa gọi, sẵn sàng đi đến nơi theo Chúa chỉ với lòng tin tưởng và cậy trông. Xin cho con một đức tin vững vàng để vượt qua những sóng gío của cuộc sống hôm nay.
Lời hay ý đẹp: HÀNG TUẦN CHIA SẺ CẢM NGHIỆM LỜI CHÚA VÀ KINH NGHIỆM SỐNG VỚI NHAU, RẤT CẦN THIẾT CHO CÁ NHÂN&GIA ĐÌNH.
 

MC2-170: Sự biến hình chói sáng

 - Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
VietCatholic News (18/02/2005)
CHỦ NHẬT 2 MÙA CHAY
Tin mừng : Mt 17, 1-9.
Anh chị em thân mến,

Chúa Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay đã mạc khải cho ba tông đồ biết chính Ngài là Đấng: A48 MC2-170

Chúa Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay đã mạc khải cho ba tông đồ biết chính Ngài là Đấng Messia, là Thiên Chúa làm người và là Đấng cứu độ trần gian bằng sự biến hình chói sáng của Ngài, cũng vậy, chúng ta cũng đã lắm lúc làm cho người khác không nhìn thấy được vinh quang của Thiên Chúa trong cuộc sống của chúng ta, và tệ hơn, đã làm cho họ hồ nghi về sự hiện diện của Thiên Chúa trong niềm tin của chính chúng ta -người Kitô hữu.
Do đó mà chúng ta cần phải biến đổi trong cách nhìn, trong cách đối xử của chúng ta, để họ nhìn thấy vinh quang của Thiên Chúa trong vũ trụ này, và nhất là trong chúng ta.

1. Biến đổi trong cách nhìn.
Thánh Phêrô và hai thánh tông đồ Giacôbê và Gioan đã nhìn thấy sự biến hình của Chúa Giêsu, và các ngài đã nhìn thấy quang cảnh trên núi Taborê này sao mà đẹp, không những đẹp mà còn cảm thấy hạnh phúc dễ chịu, bởi vì cái nhìn của thánh Phêrô cũng như hai tông đồ kia đã được ánh sáng huy hoàng của Chúa Giêsu biến đổi, đặc biệt là biến đổi từ trong tâm hồn của các ngài.
Cuộc sống của người Kitô hữu chúng ta cũng cần phải được biến hình, biến hình từ cái nhìn tiêu cực với anh chị em thành cái nhìn tích cực; biến hình từ cái nhìn bi quan với cuộc sống thành cái nhìn lạc quan, để đời sống hôm nay của chúng ta trở thành cuộc sống chứng nhân cho Chúa Giêsu. Và khi chúng ta đã biến đổi cách nhìn của mình thì chúng ta sẽ thấy hạnh phúc và cuộc sống sao mà đẹp lạ lùng...

2. Biến đổi trong cách đối xữ.
Không một ai có thể tự biến đổi mình nếu không có ơn của Thiên Chúa giúp đỡ, cũng không ai có thể trở thành người có ích cho mọi người nếu không được Lời Chúa chiếu soi và dẫn đường, bởi vì một thánh Phêrô đã nhìn thấy mọi sự chung quanh mình đều đổi mới vì có Chúa Giêsu hiện diện.
Người Kitô hữu có Chúa Giêsu là ánh sáng soi, nên cuộc biến hình của họ rất dễ dàng nếu họ biết đi trong ánh sáng của Ngài.
Đã nhiều lần chúng ta có những thái độ không mấy đẹp khi đối xử với tha nhân vì chúng ta chưa thấy được sự biến hình sáng láng của Chúa Giêsu; đã nhiều lần chúng ta coi nhẹ tình thân của tha nhân đối với chúng ta vì chúng ta cứ chuộng vẻ bên ngoài để đối xử với nhau, nên không nhìn thấy sự biến hình của Chúa Giêsu nơi người anh em của mình.
Anh chị em thân mến,
Chúa Giêsu biến hình sáng chói như mặt trời để củng cố đức tin của các tông đồ, và cũng là một biến cố to lớn đối với ba thánh tông đồ Phêrô, Giacôbê và Gioan.
Chính Ngài -ngày hôm nay- cũng biến đổi thân mình nơi những người mà chúng ta gặp gỡ : Ngài biến hình thành người ăn xin bên vệ đường; ngài biến hình thành trẻ mồ côi không nơi nương tựa; Ngài biến hình thành anh công nhân dưới quyền của chúng ta và biến thành người anh em chị em đang ở trong cộng đoàn với chúng ta, nhưng chúng ta chưa biến đổi cách nhìn của mình để nhìn thấy Ngài, chưa biến đổi thái độ trong cách đối xử để đối đãi Ngài cho xứng đáng trong cuộc sống hàng ngày của mình...
Nếu không tích cực biến đổi cách nhìn và nếu không mau biến đổi thái độ cư xử của chúng ta với tha nhân, thì cho dù chúng ta tham dự thánh lễ hàng ngày, rước lễ thường xuyên cũng không nhìn thấy được vinh quang của Thiên Chúa...
Xin Thiên Chúa chúc lành cho chúng ta.
Bài giảng chủ nhật 2 mùa chay tại nhà thờ Phục Sinh-Taiwan.
 

MC2-171: HÃY VÂNG NGHE LỜI NGƯỜI

 - Lm. Jude Siciliano, OP
(Mt 17, 1-9)
Thưa quý vị,

Một người bạn đã kể với nhóm chúng tôi về một doanh gia mà ông quen biết. Doanh gia này: A49 MC2-171

Một người bạn đã kể với nhóm chúng tôi về một doanh gia mà ông quen biết. Doanh gia này thường xuyên di chuyển bằng máy bay để tham dự các buổi hội họp làm ăn. Ông nói : “Tôi là khách hàng quen thuộc của một hãng máy bay, đến nỗi tôi nghĩ họ phải cho tôi một cổ phần của hãng.” Ông ta thuộc lòng các đường bay. Trước khi lên máy bay, ông mua một tờ thời báo kinh tế, một ly cà phê và rồi ở trên máy bay ông kéo hành lý của mình đến ghế dành riêng, cột dây an toàn, uống cà phê và đọc tin tức. Gần đến nơi ông coi lại các ghi chép về nội dung buổi họp sắp tới. Người nữ tiếp viên xuất hiện chỉ dẫn cách thức đề phòng các sự cố bất ngờ. Ông ta làm ngơ không để ý tới, bởi đã quá quen thuộc những thủ tục ấy. Ông lẩm bẩm với hành khách bên cạnh : “ Khổ lắm, biết rồi, nói mãi.”
Ngoại trừ lần gần đây, máy bay đã tới sát phi trường, nhưng lúng túng không đáp được. Giọng nói hồi hộp của phi công từ buồng lái vọng ra : “Thưa quý hành khách, chúng ta đang gặp rắc rối, các bánh xe hạ cánh không hoạt động. Chúng ta cần lượn quanh vài vòng để xả bớt nguyên liệu, tránh may bay bốc cháy, khi đáp không bánh xe lăn.” Cô tiếp viên lại xuất hiện, cặn kẽ chỉ dẫn an toàn cho hành khách lúc gặp nguy hiểm vì đáp khẩn cấp. Người ta phải ngồi hướng về đằng trước, hai tay ôm đầu gối phía cẳng dưới. Ông thương gia kể tiếp : “Lúc ấy tôi dương to cả hai tai nghe cho tỏ. Vị trí của các cửa thoát hiểm ở đâu ? Đèn báo đi ra cửa như thế nào ? Dây nịt an toàn ra sao và ngồi đúng tư thế đã chỉ định, không sót chi tiết nào. Tôi tái mặt chờ đợi điều khủng khiếp sắp xảy ra. Rồi tôi lờ mờ nhìn thấy ánh sáng của các xe cứu hộ sẵn sàng hai bên đường băng và tôi ý thức ra tầm quan trọng của lời cô tiếp viên chỉ dẫn. Nó nằm giữa sự sống và cái chết. Tôi lâm râm cầu khẩn Chúa liên tục. May quá cuối cùng các bánh xe hoạt động trở lại và chuyến đáp an toàn. Mọi người thở phào nhẹ nhõm. Đó là một kinh nghiệm để đời không thể quên.”… Quý vị có lẽ đã mường tượng ra sứ điệp của câu truyện. Nó cho chúng ta hay tầm quan trọng của việc lắng nghe và làm theo những chỉ dẫn của tiếng nói định mệnh trong lúc nguy hiểm. Những lời hướng dẫn rất trọng yếu. Nó là sự sinh tử của một đời người. Nó ban cho người ta ý nghĩa để sống hay chỉ là những giây phút qua đi vô hồn hời hợt, không có mục tiêu nào cả và như thế là một kiểu chết chóc vậy.
Các môn đệ Chúa Giê-su hôm nay lên núi cũng là để lắng nghe lời chỉ dẫn của Chúa Cha “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người.” Nó cũng quan trọng như lời của phi công kể trên. Thực chất, nó còn quan trọng hơn nhiều, bởi vì nó có khả năng ban ơn cứu rỗi. Con người sẽ trầm luân muôn đời nếu từ chối nghe lời đó. Các tông đồ được dẫn lên đỉnh núi, nơi yên tĩnh và quang đãng. Tầm mắt của họ có thể nhìn xem tới quãng xa. Họ có thể tập trung tư tưởng, nghị lực rất dễ dàng. Viễn ảnh trước mắt họ thật bao la, bát ngát hơn cả những gì lòng họ mơ ước. Bởi lẽ ngày hôm ấy, Chúa mặc khải cho họ biết Chúa Giê-su là ai ? Tiếng oai nghiêm đã xác nhận về Ngài. Họ được nếm trước ơn phục sinh của Ngài và ngây ngất trong ơn thánh đó. Tuy nhiên, chúng ta cũng được Thiên Chúa chỉ dẫn trong cuộc sống của mình như người môn đệ. Giống như các tông đồ, chúng ta cũng được Chúa Giê-su đưa lên núi thánh hôm nay, xa cách mọi bận rộn trần gian và chúng ta cũng tập trung tâm hồn để lắng nghe tiếng Thiên Chúa. Hơn nữa, Ngài còn nói với chúng ta bằng hành động của mình, bằng gương sáng Ngài đã thực hiện. Hành động của Ngài, lời rao giảng cùa Ngài bộc lộ Thiên Chúa là ai, chúng ta là ai ? Nhận rõ về mình và về Thiên Chúa, chúng ta sẽ có khả năng hối cải, ngõ hầu được Ngài xót thương, thứ tha và sai đi loan báo những điều chúng ta được mặc khải về Ngài. Đó không phải là hạnh phúc ngất ngây trên đỉnh núi cao hay sao ?
Chúa phán với nhân loại và hướng dẫn nhân loại đến với Chúa Giê-su, chẳng lẽ bỏ mặc họ bơ vơ ? Thực ra Ngài luôn về phe với chúng ta, ban lời hằng sống để mọi người an lành và hạnh phúc. Tiếng từ trời phán là để chúng ta ghi lòng tạc dạ và đem ra thực hành. Bởi lẽ, trên thế gian có muôn vàn tiếng nói cạnh tranh với Lời Thiên Chúa. Những tiếng nói đó hằng ngày, hằng giờ bao vây chung quanh chúng ta, lôi kéo chúng ta nghe theo sứ điệp của chúng. Tiếng nói của tham vọng, giàu sang, sắc dục, đam mê bất chính như tuần trước chúng ta được biết trong ba cơn cám dỗ của Chúa Giê-su. Nó không hề rời xa chúng ta. Ngược lại, đêm ngày gào thét để chúng ta lưu ý. Nhiều lần chúng ta đã sa ngã thê thảm, mặc chúng lôi đi như đoàn cừu ngoan ngoãn. Vậy mùa chay là thời gian thuận tiện để chúng ta kiểm soát tâm hồn mình, kiểm tra những gì nghe theo hằng ngày. Phải chăng là Lời Thiên Chúa, hay là lời trần gian ? Đây là cơ hội để chúng ta mở to đôi tai lắng nghe cho tỏ những tiếng nói lành thánh, những cảnh cáo từ tầng mây, những kêu gọi từ lương tâm. Trong mùa chay, chúng ta nên tập cho quen tự hỏi mình : “Hôm nay, qua những gì tôi gặp, qua những biến cố xảy ra, Chúa Giê-su đã nói gì với tôi ? “ Nó là mùa chúng ta ghi tạc lời Ngài vào tâm hồn và cật vấn lương tâm qua lăng kính của Ngài, tức dựa trên Tin mừng mà chúng ta đã từng nghe, từng đọc và từng suy ngẫm.
Thí dụ : dưới ánh sáng lời Chúa Giê-su, điều mà chúng ta coi là “thành công” thì thực sự có phải vậy không ? Nó được xem xét theo tiêu chuẩn nào ? Điều mà chúng ta gán cho là “phúc lành”, thực chất có phải là đến từ Thiên Chúa hay chỉ là hoa quả của nỗ lực loài người ? và chẳng liên hệ gì với Đức Ki-tô ? Điều mà chúng ta gọi là “hạnh phúc” có bám rễ đích thực vào cuộc sống hay chỉ là các thỏa mãn chóng qua ? Mặt khác, cái mà người ta cho là “thất bại” lại là niềm vui sâu xa nhất cho chúng ta, hoặc sự tan rã của một giấc mộng ấp ủ lại là cánh cửa mở vào cõi phúc, một lối sống mới trưởng thành hơn. Cho nên, mùa chay đích thực là thời gian luyện tập “nghe” cho đúng, cho tỏ như doanh nhân chúng ta gặp trên kia. Đó là lúc chúng ta phải thính tai nhất trong cuộc đời mình. Thường ngày chúng ta điếc trước những biến cố xảy ra. Đúng hơn, chúng ta không nghe bằng tai, mà bằng trí óc bởi các định kiến có sẵn cho nên không thấy rõ sự thật, thậm chí chối bỏ sự thật. Tình huống này rất phổ thông, nhất là trong giới “đạo đức” kiểu Pharisêu. Họ bị các tập tục cổ truyền che khuất trí thông minh. Điều họ trông thấy, nghe thấy là ý kiến chủ quan của mình. Ý kiến đầy ích kỷ, tham lam, tàn nhẫn, như trường hợp họ bịa đặt vụ án Chúa Giê-su. Cần phải có ai đó thức tỉnh lương tâm chúng ta, nói cho chúng ta hay những sai lầm của mình và chúng ta phải để tâm lắng nghe. Người đó phải là thâm tín, nói toàn sự thật, lo lắng cho sự an toàn của chúng ta. Quý vị nhận ra Người đó là ai : “Này là Con yêu dấu của Ta, các ngươi hãy vâng nghe lời Người.”
Nói cho ngay, tất cả mọi người rồi sẽ đến ngày phải tỉnh dậy, ở một giai đoạn nào đó trong cuộc đời và tự hỏi : “Tại sao tôi có mặt ở đây ?” và khi đã nhận ra tình trạng linh hồn mình : Đang bay vòng vòng để xả bớt nhiên liệu như chiếc máy bay gặp nạn và thực sự cảm thấy cạn kiệt. Tuy nhiên, chẳng ai muốn cuộc đời mình đi đến kết thúc với hai bàn tay trắng hoặc ngỡ ngàng tự hỏi : “Tất cả chỉ có thế thôi ư ?” Không, tất cả chúng ta phải cần đến Mùa chay, một cơ hội tốt để làm cho sáng mắt, sáng lòng và kiểm soát được tiếng gọi lũng đoạn cuộc đời chúng ta. Những tiếng gọi này gần như liên tục : “Thành công, cạnh tranh, thắng lớn, tích lũy nhiều.. .” Nhưng khi đạt đến căn bản của nó tức đáp ứng những đòi hỏi chúng kêu gào, thì chúng ta mới nhận ra sự thật : không bao giờ thỏa mãn được chúng. Càng cố gắng thỏa mãn, chúng càng đòi hỏi gắt gao hơn như những chất gây nghiện. Hậu quả là hoặc chúng ta tỉnh ngộ nhận ra tính giả dối của chúng hoặc ngã gục dưới sức nặng của các đam mê ngục tù.
Hôm nay, chúng ta có câu chuyện biến hình trên núi. Chúng ta đáp ứng ra sao ? Liệu chúng ta sẽ leo lên dãy núi Rockies, ngồi đó và đợi một thị kiến ? hay trốn vào rừng sâu tìm giấc mơ và chẳng chịu ra nếu giấc mơ chưa xuất hiện ? Đúng thế, ý tưởng đẹp, nhưng chẳng có khả năng thực hiện, ít ra là lúc này. Mai sau thì có lẽ. Tuy nhiên, hiện giờ chúng ta có thể tưởng tượng ra một ngọn núi tại nơi đây, chỗ chúng ta sống và làm việc hay ở trong buổi phụng vụ hôm nay, chúng ta đang ở trên núi. Chúng ta cố gắng nhớ đến các kẻ đói khát trong xóm làng, nhớ đến những người cô thân cô thế, hoặc những dở dang trong cuộc đời. Với những thực tại đó trước mắt, chúng ta tạm ngưng những bộn rộn hằng ngày và lánh ra nơi hoang vắng, lắng đọng tâm hồn nghe rõ những chi Chúa nói với mình, sốt sắng lãnh nhận bánh hằng sống, bánh nuôi dưỡng linh hồn cho đến kiếp vĩnh hằng. Dĩ nhiên, chúng ta đã từng làm việc này mỗi khi tụ họp thành cộng đoàn trong thánh đường giáo xứ. Nhưng mùa chay này một cách đặc biệt, bởi hôm nay chúng ta được nghe lời Thiên Chúa phán. Lời khuyên bảo mọi người lắng nghe Con yêu dấu của Ngài, kẻo lầm đường lạc lối. Lời luôn luôn quan tâm đến những lợi ích của linh hồn chúng ta.
Bài đọc một và hai đề cập đến cùng chủ đề : Thiên Chúa kêu gọi nhân loại. Ông Abraham đã trung thành đáp lại để trở nên tổ phụ của dân riêng. Tên của ông Abram, nhưng Thiên Chúa thêm một vần là Abraham với ý nghĩa : Từ ông sẽ nảy sinh một dân tộc lớn, đó là dân Do thái. Cha của Abram là Téra có ba người con trai : Abram, Nakho, và Haran (St 11, 27). Nhưng chỉ một mình Abraham được Thiên Chúa tuyển chọn với sứ mệnh lớn và từ dòng dõi ông Đấng Cứu Thế đã ra đời. Ông cảm thấy Chúa thúc đẩy từ bên trong, rời bỏ gia đình cha mẹ, đi đến niềm đất vô định để thực thi thánh ý Thiên Chúa. Ông biết rõ ràng những điều Thiên Chúa mong đợi ở ông và không từ chối mệnh lệnh nào của Ngài, ngay cả việc sát tế con trai duy nhất là Isaac để kính dâng Thiên Chúa. Ơn gọi của ông hoàn toàn là trong đức tin tinh tuyền. Ông đã rời bỏ quá khứ để theo đuổi một tương lai do Chúa an bài. Ông đã được chúc phúc và dòng dõi ông được Thiên Chúa bảo vệ : kẻ thù của Abraham cũng là kẻ thù của Thiên Chúa. Đó cũng là ơn gọi của mọi tín hữu, rời bỏ nếp sống cũ, tội lỗi, tham lam ích kỷ để bước vào nếp sống mới tràn đầy ơn thánh và tình yêu. Liệu trong Mùa chay này, chúng ta có noi gương Abraham mà thực thi trọn vẹn ơn gọi của mình không ? Viễn ảnh tương lai của Abraham rõ ràng có tính thiên sai, từ một thực tế cụ thể tiến đến một dân tộc hưởng lời hứa cứu rỗi, thì chúng ta cũng vậy, từ kiếp sống nô lệ tội lỗi chuyển sang địa vị làm con Thiên Chúa.
Mỗi người tín hữu đều nhận được ơn Thiên Chúa kêu gọi. Đôi khi rất khó nhận ra và gần như không thể thực hiện nổi, giống như trường hợp của cụ tổ Abraham. Nó đòi hỏi những hy sinh triệt để như trong hôn phối, ơn gọi tu trì, sứ mệnh truyền giáo xa xôi, nghiên cứu khoa học, cứu chữa bệnh nhân, công việc bác ái từ thiện giữa xóm làng. Chúng ta phải can đảm tin cậy vào sự quan phòng của Thiên Chúa để vượt qua khó khăn, trung thành tiến hành ơn gọi, liều lĩnh nhảy vào vô định để ý Chúa được vẹn toàn. Thánh Phaolô nói rõ như vậy trong bài đọc hai. Mặc dù đã già cả và đang chịu trăm bề khốn khổ, ngài vẫn can đảm khuyên nhủ Timôthê làm chứng nhân cho Chúa Ki-tô : “Con yêu quý dựa vào sức mạnh của Thiên Chúa, con hãy đồng lao cộng khổ với Cha để loan báo Tin mừng.” Bởi vì theo thánh nhân, nó là lời kêu gọi vĩnh cửu nhưng không, hữu hiệu từ Thiên Chúa : “Người đã cứu độ và kêu gọi cúng ta vào dân thánh của Ngài, không phải vì công kia viêc nọ chúng ta làm, nhưng do kế hoạch và ân sủng của Người.” Vậy thì lắng nghe lời Chúa, tỉnh thức nhận ra thánh ý Ngài trong Mùa chay này quả là cần thiết.
Bề sâu đức tin, niềm trông cậy và lòng nhiệt thành của các tín hữu chính là bởi biến cố Chúa tỏ vinh quang trên núi thánh hôm nay. Thánh Phaolô tuy không nói rõ như thế, nhưng ngài gián tiếp đề cập đến khi loan báo cho Timôthê sự xuất hiện của Chúa Giê-su trong vinh quang, là bảo chứng cho tương lai sắp tới. Chắc chắn thánh nhân liên tưởng tới cuộc Phục sinh của Chúa, Đấng chiến thắng tử thần và ban vinh hiển cho các kẻ được chọn. Sự kiện Chúa biến hình báo trước tất cả nội dung đó. Chúng ta phải gắn bó với Chúa để đạt tới triều thiên vinh quang. Ơn Chúa sẽ thúc giục chúng ta sống đạo đức, thánh thiện trong Mùa chay này. Tiếng Chúa phán trong đám mây không phải vô mục đích, nhưng để chúng ta triệt để nghe theo sự hướng dẫn của Chúa Giê-su trong mùa hồng phúc và trọn đời mình. Mỗi ngày xin để ra vài giây phút suy niệm Lời Chúa và nói với Chúa như cậu bé Samuen : “Lạy Chúa, xin hãy phán, vì tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe.” Có thể chúng ta tham dự các lớp giáo lý mùa chay, đọc thông cáo hằng tuần tại cuối nhà thờ, năng đi dâng lễ, chịu các bí tích. Nghĩa là có rất nhiều cơ hội để lên “đỉnh núi thánh”, tập trung trí khôn lắng nghe Thiên Chúa có điều chi tốt muốn truyền đạt cho linh hồn mình. Như vậy, Mùa chay quả là hữu ích cho mọi tín hữu. Amen.
 

MC2-172: BIẾN HÌNH

Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đàlạt
CÂU HỎI GỢI Ý

Đâu là mối liên lạc giữa cuộc Biến hình và những điều xảy ra trước?  2) Hãy tìm các chủ đề: A50 MC2-172

1) Đâu là mối liên lạc giữa cuộc Biến hình và những điều xảy ra trước?
2) Hãy tìm các chủ đề Kinh thánh Cựu ước tiềm ẩn trong đoạn văn này.
3) Vị trí của Chúa Giêsu thế nào so với Môisen, Elia và Gio-an Tẩy giả? So sánh với cảnh Phép rửa (3, 13-17) để tìm ra những gì giống nhau cũng như những điểm mới trong đoạn văn này.
4) Đâu là ý nghĩa của cảnh này? Nó có ý nghĩa Kitô học không?
5) Đoạn văn lưu tâm đến ai, đến Chúa Giêsu hay Thiên Chúa?
6) Hãy ghi nhận việc hiện tại hóa cảnh này nhằm chủ đích hộ giáo trong 2Pr 1, 16-17
*******
1) Chết và sống lại, nhục nhã và quang vinh, hai diện ấy của mầu nhiệm cứu rỗi, Chúa Giêsu chẳng hề tách biệt; các lời tiên báo của Người không phân rời hai biến cố sẽ xảy ra. Tuy nhiên, bao lâu chưa có Phục sinh và Hiện xuống, nghĩa là bao lâu Chúa Giêsu chưa sống cảnh ô nhục này và Thánh Thần chưa được trao ban, thì giáo huấn đó vẫn vô hiệu, và Chúa Giêsu lại không thể dẹp bỏ sự ô nhục được.
Nhưng Chúa Cha có thể hé mở câu trả lời và, trước khi biến cố Vượt qua xảy đến, Ngài đã cho ba môn đồ ưu ái được chiêm ngưỡng, trong một khoảnh khắc thoáng qua, chính vinh quang của Con Ngài. Kinh nghiệm đó đã không được loan báo cách bí nhiệm trong câu chuyển mạch giữa giáo huấn về việc phải đồng chịu khổ nạn với Chúa Giêsu và giai thoại Biến hình đó sao? "Quả thật, Ta bảo các ngươi: trong những kẻ có mặt đây, có người sẽ không nếm biết cái chết trước khi thấy Con Người đến trong nước của Người. Và sáu ngày sau ..." (Mt 16, 28-17, 1a). Đó là lời Chúa Giêsu hứa cho nếm trước phần thưởng được dành vào ngày sau hết, tiền nếm bằng việc chiêm bái trước vinh quang của Con Người. Và các tác giả Tin Mừng Nhất Lãm đều thấy trong câu nói bí nhiệm ấy lời tiên báo trực tiếp về cuộc Biến hình; đa số các giáo phụ cũng nghĩ như vậy. Cho dù xét về nguồn góc, câu văn có thể nhắm đến cuộc Quang lâm nó cũng liên hệ với giai thoại này bằng một vài điểm móc nối có tính cách văn chương. Đặc biệt, chữ "một số người" có thể ám chỉ ba môn đồ được biệt đãi; việc Quang lâm của Con Người mà thiên hạ sẽ thấy đến trong Vương quốc, cũng đã được thực hiện cách tượng trưng trong "thị kiến" (17,9) trên núi; câu chuyển mạch thời gian "sáu ngày sau", rất hiếm trong trình thuật về cuộc đời công khai, xem ra được chủ ý thêm vào để làm nổi bật mối liên hệ giữa lời loan báo và việc thực hiện.
Xét theo mạch văn, thì cuộc Biến hình có mục đích cho các môn đồ ưu ái thấy trước Vinh quang của ngày sau hết, vinh quang nay đang tập trung trong con người Giêsu đang sống thường ngày với họ. Thiên Chúa phán với các môn đồ đầy sợ hãi rằng họ có thể và phải nghe cùng vâng lời, tín thác cùng đi theo Chúa Giêsu trên đường đẫn tới Giêrusalem, tiến đến vinh quang bằng thập giá.
2) Các chủ đề Kinh thánh xuất hiện trong đoạn văn này có một ý nghĩa rộng lớn đến nỗi phải gắn liền chúng với cao điểm của trình thuật, nghĩa là, theo ý kiến chung của các nhà chú giải, với lời phán từ trời. Lời thần tính này, từ trời phán ra, nhắc lại lời Chúa Cha phán lúc Chúa Giêsu chịu phép rửa (3,17). Nhưng tiếng nói từ trời còn thêm vào lời công bố tử hệ thần linh của Chúa Giêsu một mệnh lệnh cho các môn đồ: "Hãy nghe Người”. Lời đó mặc khải ba khía cạnh của Chúa Giêsu: Con Thiên Chúa, Tôi tớ được Thiên Chúa sủng ái, Ngôn sứ tuyệt hảo.
Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa. Thành ngữ "Con yêu dấu" có nghĩa là "Con duy nhất". Đối với các nhà biên soạn Tin Mừng, thành ngữ đó không những chỉ Đấng Messia, Đấng được tuyển chọn, mà còn chỉ Chúa Con tiền hữu; dầu không có nội dung chính xác theo như định nghĩa của các công đồng, tước hiệu Con Thiên Chúa, phát xuất từ Tv 2,7, vẫn có một ý nghĩa mới như việc cộng đoàn sứ đồ giải thích lại Tv này. Dù các môn đồ, trong cuộc Biến hình, hiểu lời đó thế nào chăng nữa, thì đối với các tác giả Tin Mừng, hình như chắc chắn Lời này công bố sự tiền hữu của Chúa Giêsu. Chính Thiên Chúa đáp lại lời Chúa Giêsu vừa loan báo về cuộc khổ nạn của mình. Trong phép rửa, khi Chúa Giêsu đến với Gioan Tẩy giả dưới dáng vẻ một tội nhân như một người Israel đương thời, thì Thiên Chúa đã công bố rằng Người đích thực là Con yêu dấu. Trong cuộc Biến hình, Thiên Chúa đã xác quyết với các môn đồ vừa nghe Chúa Giêsu tự gán cho mình số phận người Tôi tớ đau khổ, rằng Người quả thực là con riêng của Ngài.
Chúa Giêsu là Tôi tớ Thiên Chúa; Thiên Chúa hài lòng về người Con yêu dấu đó. Qua tiểu chú thứ hai này, Mt gợi lại cuộc thần hiển xảy ra lúc Chúa Giêsu chịu phép rửa, và cho thấy Thiên Chúa muốn giới thiệu Chúa Giêsu như là người Tôi tớ mà Isaia đã loan báo: "Này đây Tôi tđ của Ta mà Ta nâng đỡ; Tuyển nhân của Ta mà Ta sủng mộ" (Is 42,1). Khi gọi Chúa Giêsu như là "người được tuyển chọn", người được sủng ái tiếng nói từ trời đã áp triện thần linh trên thái độ của Đấng Messia "hiền lành và khiêm nhượng trong lòng" này (11, 29), là Đấng không nỡ bẻ cây sậy bị dập" (Is 42,2 – được Matthêu áp dụng cho Chúa Giêsu trong 12, 18-21), là Đấng người ta có thể đến học đòi bắt chước mà chẳng chút sợ hãi lo âu.
Chúa Giêsu là Ngôn sứ: Mệnh lệnh "Hãy nghe Người" đã làm nổi bật giai thoại so với trình thuật Phép rửa. Nó áp dụng vào Chúa Giêsu lời loan báo có tính cách sấm ngôn của Đệ Nhị Luật được trích dẫn trong Cv 3, 22: "Từ giữa các anh em ngươi Chúa của ngươi sẽ cho chỗi dậy một ngôn sứ như ta; các ngươi sẽ nghe Người trong tất cả mọi điều Người phán" (Đnl 18,15). Trong diễn từ cho dân chúng tại Giêrusalem, Phêrô cho thấy khi phục sinh Chúa Giêsu, Thiên Chúa đã bày tỏ Chúa Giêsu như một Môisen mới, như Vị Ngôn sứ thiên hạ đợi trông trong thời cánh chung (x.Cv 7,37; Ga 6,14; 7,40). Sự đảm bảo thần linh này, Thiên Chúa đã ban cho Chúa Giêsu lúc Người biến hình để tỏ cho các môn đồ thấy rằng hôm nay quả thực Người là Vị ngôn sứ tuyệt hảo và phải nghe Người, "nếu không sẽ bị loại ra khỏi lòng dân tộc? (x.Cv 3,23; Lv 23,29), rằng ơn cứu độ cũng như sự sống vĩnh cửu đều tùy thuộc về Người, sự sống vĩnh cửu mà Người vừa hứa ban cho ai vác thập giá đi theo.
3) Mỗi một dấu hiệu biểu trưng trong cuộc thần hiển - núi, vinh quang, các nhân vật Môisen và Elia, lều trại, đám mây - đều được sáng tỏ dưới ánh sáng văn mạch và lời nói từ trời. Mệnh lệnh phán từ trời đã chỉ Chúa Giêsu như là vị Môisen mới. Thế mà trong Cựu ước, ngọn núi Thiên Chúa thường dùng để mặc khải, ngọn núi mà Môisen đến nhận lãnh các bảng Lề luật (Xh 31, 18) và Elia có lần trèo lên (1V 19,8), là núi Sinai. Do đó ngọn núi nơi Thiên Chúa đến nói chuyện với Con của Ngài đang biến hình, là núi Sinai mới. Các yếu tố khác trong trình thuật thần hiển đều qui chiếu về lối giải thích đó đặc biệt là ánh vinh quang, các nhân vật Môisen và Elia, đám mây sáng rực; và cũng có lẽ cả chi tiết "sáu ngày" trước khi xảy ra cuộc Biến hình của Chúa Giêsu và lời công bố của tiếng nói từ trời? Môisen đã chẳng phải chờ đợi, trong 6 ngày, lời của Giavê đó sao (Xh 24, 15-16)?
CHÚ GIẢI CHI TIẾT
"Chúa Giêsu đem theo mình Phêrô, Giacôbê và Gioan": Khi lên núi Sinai, Môisen cũng đi với nhiều bạn hữu trong số đó có ba người được ghi đích danh ở một trong các bài trình thuật (Xh 24,9). Phêrô, Giacôbê và Gioan sẽ ở với Chúa Giêsu trong vườn Ghetsêmani (26.37); họ cũng sẽ bỡ ngỡ vì biến cố như ở đây. Đoạn cuối trình thuật (17,9) và 2Pr 1,16 giải thích cho biết sự hiện diện của các sứ đồ đó là cần vì sau Phục sinh, cần phải rao giảng, làm chướng cho Vinh quang của Chúa Giêsu trước mặt dân chúng. Thế mà “có miệng hai hay ba nhân chứng thì việc mới vững" (Đnl 19,15).
"Trên một núi cao": Thành ngữ này không gặp ở chỗ nào khác trong Matthêu ngoài trình thuật Cám dỗ (4,8.). Nó nói lên tương quan giữa cuộc Biến hình và Cám dỗ. Quả thực, Chúa Giêsu vừa mới đẩy lui cuộc cám dỗ quỷ quái của Phêrô (16, 23). Để đáp lại lòng tùng phục của Người, Chúa Cha đã biến đổi Người cách vinh quang và như vậy tiên hứa cho Người quyền năng trên toàn thế giới ("Mọi quyền năng trên trời dưới đất đã được ban cho Ta": 28, 18), quyền năng này Người đã từ chối nhận lãnh cách quá sớm từ tay Satan (4.8) và chỉ sẽ nhận lãnh sau ngày Phục sinh.
"Và Người đã biến hình trước mặt họ": Biến hình (Hy ngữ: metamorphôthê: nghĩa tự nguyên: "thay đổi" hình dạng, vẻ mặt), có nghĩa là có một dung mạo khác với dung mạo thường ngày; cũng thế, Chúa Giêsu đã hiện ra với các môn đồ Emmau dưới một hình dạng khác, hình dạng người lữ hành (Mc 16,12). Việc Chúa Giêsu biến hình đã đáp ứng niềm hy vọng thấy trong văn chương Khải huyền Do thái. Vào thời sau hết, khuôn mặt của các người công chính sẽ biến đổi và trở nên sáng láng, rạng rỡ kiều diễm như mặt các thiên sứ, tràn ngập vinh quang (Khải huyền của Baruch 51, 3-10). Dựa trên một sự kiện của quá khứ - da mặt Môisen chiếu rọi vinh quang vì đã được trò chuyện với Giavê (Xh 24,39), niềm trông đợi cánh chung đó diễn tả sự vinh hiển tương lai của những kẻ được chọn như sau: các hiền nhân sẽ sáng chói như ánh quang vòm trời, và những kẻ đã giảng dạy sự công chính cho nhiều ngươi sẽ rạng rỡ như tinh sao muôn đời muôn kiếp" (Đn 12,3). Hôm nay, trên núi này, qua con người Chúa Giêsu, dưới mắt các môn đồ được biệt đãi, niềm hy vọng đã trở thành thực tại. Nếu lời thiên quốc giới thiệt Con Thiên Chúa tiền hữu, thì sự kiện biến hình mặc khải con người Chúa Giêsu trong ánh vinh quang sau cùng và dứt khoát của Người.
"Mặt Người sáng láng như mặt trời, áo Người trắng phau như ánh sáng": ánh sáng rực rỡ này biểu trong các thực tại thiên quốc (Đn 7,9; Mt 28,3; Cv 9,3) và cánh chung (Kh 1, 13- 14; 4, 4; 14,4; 19, 11, 20, 11). Vinh quang mà Chúa Giêsu loan báo cho thời sau hết, khi Con Người sẽ đến trong vinh quang của Cha Người với các thiên sứ” (16,27), vinh quang mà Giacôbê và Gioan mơ ước (20, 20-23), giờ đây xuất hiện trước mắt ba nhân chứng. Nó không phải là một phản ảnh đơn thuần của vinh quang Giavê (Môisen), nhưng là một ánh sáng chói lọi mặc khải hữu thể sâu xa của Chúa Giêsu: Người là chính Thiên Chúa. Sau này các sứ đồ sẽ minh xác điều đó: "Chúa Giêsu là sự tỏa chiếu vinh quang Thiên Chúa, là ấn tượng của bản tính Ngài" (Dt 1, 3); trên mặt Người là vinh quang Thiên Chúa (2 Cr 4, 6); Người là Chúa vinh quang" (1 Cr 2, 8). Anh vinh quang thiên quốc này đã sáng rực lên trong đêm Sinh nhật, bao trùm các mục đồng (Lc 2, 9-10), hôm nay vinh quang đó phủ lấy con người này, và mặc khải trước thời gian trạng thái tương lai người đó sẽ đạt đến, khi được đưa vào vinh quang" (1Tm 3, 16), khi được Thiên Chúa phục sinh và ban cho vinh quang (1Pr 1, 21), khi Thiên Chúa tôn vinh Tôi tớ của Ngài (Cv 3, 13). Têphanô sẽ thấy Người trong vinh quang của Người như thế (Cv 7, 55) và Saolê, trên đường đi Đamas, sẽ bị đui mù vì ánh sáng của Người (Cv 9,3). Vinh quang này của Chúa Kitô sau cùng sẽ bừng sáng trên chính tín hữu (2Cr 3, 18). Và trong khi chờ đợi ngày được tôn vinh, người Kitô hữu, vốn đang sống trong đêm tối mà không thuộc về đêm tối (1Tx 5,5-6), đã thấy trong cuộc Biến hình một nguồn sáng rực rỡ.
“Và này có Môisen và Elia hiện ra cho họ": Không có giả thuyết nào về ý nghĩa hai nhân vật thiên quốc này làm ta xác tín thỏa mãn. Người ta thường xem Môisen như là biểu tượng của Lề luật, cùng Elia như là người đại diện các ngôn sứ; nhưng thông phán từ trời (Hãy nghe Người) cho thấy tiền ảnh của Vị Ngôn sứ tương lai là Môisen chứ không phải Elia: Vả lại dưới mắt Israel, Môisen chẳng những là nhà lập luật, mà còn là vị ngôn sứ nữa (Hs 12, 14) là là vị ngôn sứ mà sau này trong Israel sẽ chẳng có vị nào tương đương" (Đnl 34,10). Thỉnh thoảng người ta cũng xem Môisen và Elia như là tiền ảnh của hai nhân chứng sách Khải huyền giối thiệu mà không nêu danh: Elia là kẻ có quyền đóng cửa trời và Môisen là người có quyền gõ vào mặt đất (Kh 11, 3.6); một vài bản văn của các giáo sĩ Do thái: còn xem Elia như là hình ảnh của Đấng Messia đau khổ: trong cuộc chuyện trò ngay sau giai thoại biến hình, Elia được xem là hình ảnh của Gioan mà người ta đã ngược đãi (Mt 17, 12-13). Quả vậy, xét theo truyền thống (Mt 3, 23-24) mà Chúa Giêsu ám chỉ cho các môn đồ trong một 17, 10-11 , có thể Elia là tiền hô của Đấng Messia, và điều này đã được thực hiện trong con người Gio-an Tẩy giả. Vậy sở dĩ Elia có mặt trên núi, đó là với tư cách tiền hô của Đấng Messia; có lẽ vì thế mà Mc đã ghi tên ông trước Môisen, dù sau đó ông ta ghi lại theo thứ tự ưu tiên của truyền thống (Mc 9,5). Có một bản văn của các giáo sĩ Do thái ghi chép thế này: "Johannan ben Zacchai đã nói. Thiên Chúa phán cùng Môisen: khi Ta sẽ sai ngôn sứ Elia, cả hai ông phải cùng nhau đến " (Dt rabba 3). Có lẽ toàn thể biểu tượng cựu truyền về hai nhân vật này đã liêm nhiễm quan niệm về Đấng Messia của các tác giả Tin Mừng: ngôn sứ Môisen đến chào Vị ngôn sứ đích thực; cùng đi với ông, còn có Elia, vị tiền hô của Messia. Dù sao, hai nhân vật này của Cựu ước, ngày xưa đã từng trèo lên núi Sinai, tiên báo qua việc họ lên núi Sinai mới này rằng: với Chúa Giêsu, thời gian đã hoàn tất.
“Tôi sẽ dựng ba lều": Đối với truyền thống Do thái, nơi ở thiên quốc được biểu trưng bằng các nhà tạm đời đời" (Lc 16,9). Quả vậy, người ta biết rằng trong thời sau hết, Thiên Chúa sẽ ở giữa dân Ngài (Ed 37, 27; Hs 12, 10) trong lều của Vinh quang Ngài, rằng dân chúng sẽ cắm lều quanh Đấng Messia của họ (Ít nhất theo Hênoc 71,16; Ga 1,14: Người đã dựng lều Người giữa chúng tôi, và chúng tôi đã thấy vinh quang của Người") và các dấu lạ của thời Xuất hành sẽ tái diễn. Phêrô tưởng thời sau hết đã tới và cho rằng đã đến lúc thiết lập thiên đàng ở trên trái đất, để cuộc hiện ra trong một ngày sẽ kéo dài mãi mãi. Khi đề nghị làm ba lều, ông muốn khai mào sự “nghỉ ngơi" cánh chung vậy.
“Thì này một đám mây sáng ngời rợp bóng trên họ”: Đó là câu Thiên Chúa trả lời đề nghị của Phêrô. Lều có vai trò che chở, còn mây thì đến phủ bóng: lều được bàn tay loài người dệt nên, còn mây thì do trời; lều tìm ta trong bóng tối, còn mây lại chiếu sáng rạng ngời. Điểm tương phản mà văn mạch trực tiếp gợi lên ấy, đã được xác định và xác quyết qua hình ảnh đám mây của Kinh Thánh.
Trong truyền thống Thánh Kinh, mây dấu chỉ thần hiện đi theo các cuộc xuất hiện khác nhau của người thiên giới. Ở đây không phải là đám mây chỉ theo một nhân vật như Con Người của thời cánh chung (Đn 7, 13; Mt 24.30), song là đánh mây rợp bóng và bảo vệ đám mây một cách nào đó dựng lều cho chính Thiên Chúa: Thiên Chúa đã lấy mây để làm lều trại cho mình (Tv 18, 12). Tuy nhiên hình như biến cố này thực hiện một sấm ngôn trong truyền thống Do thái, liên hệ đến thời sau hết: Và bấy giờ Chúa sẽ tỏ bày các điều ấy ra, và vinh quang Chúa cũng như đám mây sẽ xuất hiện, như đã hiển hiện dưới thời Môisen và khi Salomon cầu xin cho đền thờ được huy hoàng tác thánh" (2Mcb 2,8). Cũng như ngày xưa Lều Hội họp (Trướng Tao phùng) đã được đám mây bao phủ và nhà tạm được tràn ngập vinh quang Giavê (Xh 40,34-35), như đền thờ của Salomon được Đám mây và Vinh quang bao phủ (1V 8,10-12), thì trong thời cánh chung cũng như vậy: Vinh quang dã rời bỏ Đền thờ (Ed 10, 3-4) sẽ trở lại cùng với Đám mây. Trên núi Biến hình, được chiếu sáng bới vinh quang đang tỏ hiện nơi dung mạo Chúa Giêsu và nơi y phục Người, Mây đã ngự xuống làm dấu chỉ có Thiên Chúa hiện diện. Mây rợp bóng bao trùm các nhân vật cũng tương tự quyền năng của Đấng Tối cao đã "phủ bóng" trên trinh nữ Maria trong ngày Truyền tin (Lc 1,35): động từ episkiazô chỉ xuất hiện ở Tân ước trong hai trường hợp này để nói lên sự can thiệp đặc biệt của Thiên Chúa.
Ý nghĩa biểu trưng của Mây còn có thể được xác định thêm. Nó không chỉ phủ bóng trên ba nhân vật, mà còn trên ba môn đồ nữa; chỉ Luca ghi nhận điểm ấy, nhưng văn mạch cũng nói lên điều đó trong Matthêu và Macco. Tiểu tiết này thật quan trọng: nó cho thấy rằng các môn đồ không chỉ làm khán giả, song còn nhập cuộc vào một biến cố dĩ nhiên là vượt tầm sức họ, nhưng cũng liên quan đến họ. Lời ngôn sứ vừa nhắc trên đây cho thấy Vinh quang và Mây xuất hiện trong hoàn cảnh nào: nơi cất dấu các đồ phụng tự “sẽ không được ai biết đến cho tới khi nào Thiên Chúa thâu họp dân lại và dủ lòng thương đoái" (2Mcb 2, 7). Nếu nhớ lại văn mạch tổng quát của giai thoại biến hình chúng ta đang nghiên cứu, tức là việc thành lập cộng đoàn môn đồ để tiên báo và thể hiện Giáo Hội, ta sẽ dễ dàng chấp nhận rằng Thiên Chúa đã bắt đầu thâu họp dân Ngài. Khi nối kết hai nhóm - trời và đất - cho đến lúc đó hãy còn tách biệt, đám mây đã công nhận việc thâu họp các môn đồ quanh lời Chúa Giêsu, việc thâu họp mà Người đã bắt đầu thực hiện. Không phải Chúa Giêsu biến hình cho riêng Người, nhưng còn cho các môn đồ: họ sẽ nhờ đó khám phá ra nguồn gốc thần linh của lời giáo huấn mà họ phải vâng nghe; một khi đã được vào trong đám mây thiên quốc, họ sẽ biết rằng từ đây họ đang lập thành một cộng đoàn với Chúa Giêsu và cả với thiên quốc, bao lâu họ còn lắng nghe lời Người.
"Các môn đồ ngã sấp mặt xuống đất ... Chúa Giêsu đụng đến họ". Đối diện với Thiên Chúa đến viếng thăm, con người cảm thấy xâm nhập bởi một nỗi sợ hãi linh thánh. Không ai có thể nhìn thấy Thiên Chúa mà không chết (Xh 19, 21; 33, 20; Lc 16, 2; Ds 4, 20). Trong thị kiến đầu tiên, Isaia cảm thấy như muốn chết (Is 6, 5) vì đã tiếp xúc với Thiên Chúa. Ở đây, các môn đồ cũng cảm nghiệm cùng một nỗi sợ hãi như chết đó khi đứng trước vinh quang Chúa Giêsu. Vì thế Chúa Giê-su đã thực hiện một cuộc phục sinh tượng trưng. Người đụng đến họ, và cử chỉ chữa bệnh đã từng phục sinh con gái ông Giairô (9, 25) giờ đây cũng "phục sinh" các môn đồ.
“Các con không được nói cho ai hay thị kiến ấy cho đến khi Con Người sống lại từ cõi chết": Chắc hẳn Chúa Giêsu ban mệnh lệnh này để tránh mọi xáo động có tính cách chính trị thiên sai trong dân chúng; sau Phục sinh, mối quản ngại này không còn nữa, vì giữa cuộc Biến hình và Phục sinh, thập giá đã dẹp bỏ một lần thay cho tất cả các ước mơ về quyền lực thiên sai rồi.
KẾT LUẬN
Tất cả các yếu tố của đoạn miêu tả này đều cho thấy ràng niềm trông đợi của Israel đã được thực hiện, một cách bất ngờ nhưng chắc chắn. Môisen và Elia đến chuẩn bị dân chúng và biến họ thành một cộng đoàn thánh thiện. Nhờ đám mây, cụộc tập họp vĩ đại được thực hiện (2 Mcb 2, 7); khuôn mặt sáng láng của Con Người mà Đaniel tiên báo (Đn 7 và 10) giờ đây đang đứng trước mặt các môn đồ; còn họ thì tượng trưng cho cộng đoàn cánh chung. Tất cả những gì Israel hy vọng nay đang thành thực tại. Điểm mới mẻ, chính là nhân vật biến hình. Người không đến từ trời, nhưng trời xuống trên trái đất. Người không nói, nhưng là tiếng nói từ trời vang lên. Sau cùng và đặc biệt, Đấng mà giờ đây ta phải vâng nghe, không còn chỉ là Giavê (“Hãy nghe hỡi Israel": Đnl 6,4 - khởi đầu của kinh nguyện được gọi là Shema), nhưng là Chúa Giêsu đang đứng đó. Người là Đấng mặc khải, là chính Chúa của dân.
Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG
1) Chúa Nhật I Mùa Chay đã dẫn chúng ta lên núi cám dỗ, là nơi mà Chúa Giêsu đã từ chối không chịu quỳ lạy dưới chân tên Cám dỗ để được nó ban cho một quyền lực mà chỉ mình Thiên Chúa mới có thể ban (Mt 4, 8-10). Để đáp lại lòng trung thành sơ khởi này đối với Thiên Chúa, hôm nay có tiếng nói từ trời được phán ra trên núi Biến hình, trong Chúa nhật II Mùa Chay này. Khi công bố Chúa Giêsu là Con Tiền hữu, tiếng nói từ trời làm cho ta tin vào giáo huấn mới về số phận mà Thiên Chúa đã đặt định cho Tôi tớ Ngài: không phải là đường uy quyền trần thế, mà là đường vinh quang thiên quốc đi qua nhục nhã khiêm hạ. Rồi quyền tối thượng trên trời duỗi đất mà Chúa Giêsu đã lãnh nhận từ Thiên Chúa, Người đã ủy thác lại cho các môn đồ quậy tụ trên núi Thăng thiên (28, 18-20). Cũng vậy, Giáo Hội sẽ có thể thực thi quyền đó nhân danh Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã hứa ở cùng Giáo Hội cho đến khi Người trở lại vinh quang, nếu Giáo Hội, theo gương Thầy chí thánh, không nghe lời Satan, mà bỏ con đường đưa đến vinh quang ngang qua thấp giá.
2) Việc biến hình của chúng ta hệ tại ở việc chúng ta trở nên giống Chúa Kitô bằng sự tiến bộ không những trong đường thiêng liêng (2 Cr 3, 18) và, sau cuộc vượt qua cái chết với Chúa Giêsu (Pl 3,10-11) bàng việc tôn vinh toàn hữu thể chúng ta, kể cả thân xác (Pl 3, 21). Việc Phục sinh của Chúa Kitô kéo theo việc phục sinh và biến hình toàn diện chúng ta như vậy đó.
3) Cũng như các sứ đồ trong cuộc sống âm thầm thường nhật, chúng ta phải biết gặp “một mình Chúa Giêsu" (c.8), Chúa Giêsu của mọi ngày, Chúa Giêsu nền tảng của cuộc sống nội tâm và tông đồ của chúng ta (Pl 1, 21), nhất là khi chúng ta mất hết mọi tình bằng hữu hoặc mọi nương tựa nơi người đời.
4) Đừng sợ hãi khi phải cùng với người và trong đám mây (c.5). Vì đây là một “đám mây sáng ngời" sẽ rợp bóng trên chúng ta. Đây là một sự hiện diện kín đáo trong đời sống cầu nguyện hay trong dời sống đức tin tinh ròng.
5) Chúng ta sẽ được chiêm ngưỡng Chúa Kitô trong vinh quang của Người trên trời, sẽ thấy Người trong vẻ đẹp kiều diễm sáng láng (Kh 1 ,13- 18), và sẽ được ở cùng với Người muôn đời (1Tx 4, 17). Trong khi chờ đợi ngày khải hoàn vinh phúc đó, ta hãy sống trong đức tin là tuân phục: ta hãy vâng nghe Người.
6) Việc Chúa biến hình trong phép Thánh Thể không nhằm tỏ hiển vinh quang người ra bên ngoài, nhưng nhằm che dấu vinh quang đó dưới các hình sắc bí tích. Tuy nhiên, nếu trung thành lắng nghe tiếng của Con yêu dấu, Đấng đã giáo huấn chúng ta về mầu nhiệm đó chúng ta sẽ nhận ra sự hiện diện của Người tiềm ẩn trong hình bánh hình rượu, và chúng ta sẽ kêu lên: Lạy Chúa, được ở đây thì tốt lắm". Và rồi chúng ta sẽ có can đảm phục vụ người trong cuộc sống bình thường mọi ngày đời ta.
 

MC2-173: Con yêu dấu

Này là Con Ta yêu dấu. Đọc lại Phúc âm, chúng ta thấy Chúa Cha đã tuyên phong Đức Kitô: A51 MC2-173

Này là Con Ta yêu dấu. Đọc lại Phúc âm, chúng ta thấy Chúa Cha đã tuyên phong Đức Kitô là con yêu dấu của mình những hai lần.
Thực vậy, lần thứ nhất là bên bờ sông Giócđan, khi Đức Kitô đến lãnh nhận phép rửa của Gioan Tiền hô. Phúc âm đã ghi lại khi Ngài lên khỏi nước, thì trời mở ra, Thánh Thần Chúa lấy hình chim bồ câu đổ xuống và từ trời có tiếng phán :
- Này là Con Ta yêu dấu.
Lần thứ hai là trên đỉnh Taborê như chúng ta vừa nghe đọc. Hôm ấy Chúa Giêsu dẫn ba môn đệ thân tín nhất lên đỉnh núi Taborê, tại đây Ngài đã biến hình trước mặt các ông, áo Ngài trở nên trắng như tuyết, rồi lại có Maisen và Êlia đến đàm đạo với Ngài. Giữa lúc ấy có một đám mây bao phủ rồi từ trong đám mây có tiếng phán :
- Này là Con Ta yêu dấu.
Thế nhưng, đâu là cái bí quyết làm cho Đức Kitô trở thành người con yêu dấu của Chúa Cha. Xin thưa :
- Cái bí quyết ấy rất đơn giản đó là Đức Kitô luôn làm vui lòng Chúa Cha, hay nói một cách khác, Đức Kitô luôn vâng theo thánh ý của Chúa Cha.
Thực vậy, vì vâng theo thánh ý Chúa Cha mà Đức Kitô đã xuống thế làm người, sinh ra giữa đêm đông giá lạnh, lớn lên trong cảnh nghèo túng cơ cực. Rồi trong cuộc đời công khai, nỗi băn khoăn số một của Ngài là tìm biết và thực thi thánh ý Chúa Cha, như Ngài đã xác quyết với các môn đệ bên bờ giếng Giacob :
- Của ăn của Ta là làm theo thánh ý Cha Ta.
Đỉnh cao tuyệt vời nhất của sự vâng phục đó là cái chết trên thập giá như lời thánh Phaolô đã viết :
- Ngài đã vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá.
Còn đối với chúng ta thì sao ? Khi lãnh nhận bí tích Rửa tội, chúng ta được trở nên con Thiên Chúa. Chúng ta giống như Maisen, sau ngày được vớt lên khỏi nước. Thực vậy, trước kia Maisen là một người phải chết, và nếu có sống thì cũng chỉ sống một kiếp sống nô lệ đọa đầy… Còn sau khi được vớt lên khỏi nước, Maisen được nàng công chúa nhận làm con nuôi và có một địa vị sáng chói.
Cũng thế, trước khi được rửa tội chúng ta là những kẻ phải chết do hậu quả của tội Adong, nhưng sau khi được vớt lên khỏi nước do bí tích rửa tội chúng ta trở thành con cái Thiên Chúa và có quyền thừa hưởng gia nghiệp nước trời.
Bởi đó chúng ta phải cám ơn Thiên Chúa vì đã dành cho chúng ta cái địa vị cao cả ấy. Chúng ta hãy suy nghĩ như bà già nhà quê mỗi khi đọc kinh lạy Cha :
- Lạy Chúa, Chúa là ai mà con là ai. Chúa là Đấng tạo hóa quyền năng, còn con chỉ là một bà lão già nua xấu xí, thế mà Chúa ban cho con một đặc ân cao cả, đó là được gọi Chúa là Cha.
Cám ơn Chúa mà thôi chưa đủ. Hãnh diện về địa ấy mà thôi chưa đủ. Điều quan trọng là chúng ta phải sống đúng cái địa vị cao cả ấy, nghĩa là chúng ta phải trở nên là những người con ngoan, là những người con yêu dấu của Chúa.
Muốn được như thế chúng ta hãy noi gương bắt chước Đức Kitô, bằng cách luôn vâng theo thánh ý Chúa Cha. Một đứa con ngoan sẽ không phải là một đứa con vùng vằng cãi trả mỗi khi cha mẹ sai bảo điều gì. Trái lại, phải là đứa con mau mắn vâng nghe những lời chỉ bảo ấy.
Bởi đó, để trở thành những người con ngoan của Chúa, chúng ta cũng phải mau mắn và vui vẻ vâng theo thánh ý Chúa Cha, thánh ý ấy được biểu lộ qua tiếng nói lương tâm, qua mười giới răn, qua Tin mừng Phúc âm và qua những điều giáo huấn của Hội Thánh.
Có mau mắn vâng nghe thánh ý Chúa Cha, thì rồi Chúa Cha mới tuyên phong chúng ta như đã tuyên phong Đức Kitô trên đỉnh Taborê :
- Này là Con Ta yêu dấu.
 

MC2-174: Khuôn mặt

Một vị ẩn sĩ nọ suy niệm và chay tịnh đến độ suốt ngày không động đến thức ăn, ai ai cũng: A52 MC2-174

Một vị ẩn sĩ nọ suy niệm và chay tịnh đến độ suốt ngày không động đến thức ăn, ai ai cũng thấy có một ngôi sao xuất hiện giữa ban ngày, đó là dấu hiệu trời cao chấp nhận lễ hy sinh của ông.
Ngày nọ, vị ân sĩ quyết định leo lên núi cao. Ong muốn vươn lên cao hơn trong sự khổ chế. Vừa lúc ông đang leo núi, thì một cô bé trong làng chạy tới xin đi theo. Không thể từ chối được, vị ẩn sĩ đành để cho cô bé đi cùng. Họ ra đi khi mặt trời vừa lên. Nhưng không mấy chốc, ánh nắng mỗi lúc một chói chang, cả vị ẩn sĩ lẫn cô bé đều cảm thấy khát nước. Vị ẩn sĩ vẫn cố gắng khắc phục cơn khát của mình, nhưng ông lại giục cô bé hãy uống nước. Vị ẩn sĩ không uống nước vì lời thề của mình, còn cô gái không nỡ uống một mình.
Họ càng đi, cơn khát càng dằn vặt. Đến một lúc vị ẩn sĩ không nỡ nhẫn tâm nhìn thấy cô bé phải quằn quại trong cơn khát. Ong đành lỗi lời thề. Ong cầm lấy nước đưa lên miệng và cô bé cũng mỉm cười uống nước với ông.
Sau khi đã uống nước, vị ẩn sĩ không dám nhìn lên trời cao nữa. Ong cứ đinh ninh rằng vì sao hiện ra mỗi ngày như một chứng giám cho sự khổ chế của ông, giờ đây có lẽ đã biến mất. Thế nhưng, khi ông ngước mắt nhìn lên đỉnh núi. Ngạc nhiên biết chừng nào, hai vì sao đang chiếu sáng như mỉm cười với ông.
Sau khi đã chay tịnh nhiều ngày và chấp nhận vươn lên cao trong sự khổ chế, vị ẩn sĩ đã được trời cao chứng giám bằng cách cho một vì sao ngời sáng giữa ban ngày.
Đức Giêsu sau khi chấp nhận cuộc khổ nạn, quyết tâm thi hành thánh ý Cha, liền được “biến hình đổi dạng” trên núi cao. “Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng” (Mt 17,2). Người còn được Chúa Cha chứng giám cho việc Người chấp nhận khổ giá vì yêu Cha và vì yêu nhân loại tội lỗi, bằng một lời ngợi khen long trọng : “Đây là con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người” (Mt 17,5”.
Đức Giêsu biến hình sáng láng trước mặt ba môn đệ thân tín, là để các ông cảm nghiệm được trước vinh quang Phục sinh của Người. Cũng là để dọn lòng trí các ông dễ dàng đón nhận cuộc khổ nạn cà cái chết thương đau của Người trên thập giá sau này. Vì qua đau khổ mới tới vinh quang. Có khổ nhục ngày thứ Sáu Tuần Thánh, mới rạng rỡ sáng Chúa nhật Phục sinh.
Người kitô hữu chỉ có thể biến hình đổi dạng khi họ sẵn lòng cùng vác thánh giá lên đồi Canvê với Đức Kitô.
Người Kitô hữu chỉ có thể bừng sáng rạng ngời khi họ dám hy sinh bản thân để hiến dâng cho Thiên Chúa và tha nhân bằng một tình yêu trao ban vô vị lợi.
Chúng ta sẽ nhận ra khuôn mặt ngời sáng của Đức Kitô khi chúng ta đón nhận khuôn mặt đau khổ của anh em.
Chúng ta sẽ minh họa được khuôn mặt sáng láng của Đức Kitô khi chúng ta luôn mang khuôn mặt vui tươi, an bình và hạnh phúc.
Người tín hữu thường nếm vinh quang Tabo chẳng bao nhiêu, nhưng đón nhận gian nan Núi Sọ lại rất nhiều. Tuy thế họ vẫn vui tươi và thanh thản, an bình và hạnh phúc ? Phải chăng họ đã cảm nghiệm được khuôn mặt ngời sáng của Đức Kitô trong cuộc đời mình. Như người lực sĩ điền kinh nhắm chiếc huy chương vàng mà gắng sức về đích để giành phần thắng, thì người tín hữu Kitô cũng phấn đấu vượt qua những chặng đường thánh giá cuộc đời, để đạt được phần thưởng vô giá là vinh quang Phục sinh rạng ngời.
Mùa Chay là mùa sám hối và canh tân. Sám hối – Canh tân là bỏ đi con người tự mãn tự kiêu để mặc vào con người nhu mì khiêm tốn, là tháo gỡ khuôn mặt u mê tội lỗi để nhận lại khuôn mặt ngời sáng thánh thiện, là tẩy chay tâm địa ích kỷ để đón nhận tinh thần phục vụ yêu thương.
Nước mắt sám hối khép lại quá khứ để mở cửa tương lai. Nước mắt sám hối luôn tẩy sạch tội lỗi. Nước mắt sám hối bao giờ cũng có giá trị trong sự tha thứ.
Canh tân là lao mình về phía trước, trong niềm vui đổi mới. Lúc đó, chúng ta không cần đi tìm mùa xuân, vì chính chúng ta đang làm nên mùa xuân cho cuộc đời.
 

MC2-175: Núi vinh quang

Trong mùa Chay, mùa dẫn đưa chúng ta tiến về cuộc Khổ nạn, phụng vụ mang lại cho chúng: A53 MC2-175

Trong mùa Chay, mùa dẫn đưa chúng ta tiến về cuộc Khổ nạn, phụng vụ mang lại cho chúng ta một giây phút an ủi mà Thiên Chúa muốn đưa đến cho các tông đồ đang trong cơn rối loạn. Vào giai đoạn này của cuộc đời công khai của mình, Chúa Giêsu cảm thấy nổi lên quanh Ngài sự thù địch của những người lãnh đạo tôn giáo và sự thất vọng của dân chúng đang chờ đợi một vị Vua Cứu Thế. Từ nay Ngài sẽ dành thì giờ cho việc đào tạo các môn đệ của Ngài, nhưng chính các ngài cũng mất phương hướng. Các tông đồ nói với Ngài: “ Thầy là Đấng Cứu thế!” và Ngài trả lời: “Phải, nhưng Thầy sẽ phải chịu đau khổ”. Các tông đồ thắc mắc về con người kỳ lạ này, một con người dường như nhiều quyền năng như thế mà lại nói đến việc phải chịu đau khổ.
Chính Thiên Chúa sẽ nói với các tông đồ của mình đang đứng trên bờ hoài nghi: “Con người đang hiển dung này là Con Ta!”
Việc hiển dung là một ân sủng của mạc khải. Bằng tất cả các phương tiện, văn phong hùng tráng, cái nhìn, tiếng nói, biểu tượng, tác giả Tin Mừng muốn làm cho chúng ta thấy được vinh quang của Chúa Giêsu: Ngài “là thân phận Thiên Chúa” (Pl 2,6), như thánh Phaolô đã nói. Đám mây chính là dấu hiệu của Thiên Chúa, y phục trắng và khuôn mặt chói sáng như mặt trời cũng thế. Núi, cùng với Môisê và Êlia, nhắc lại sự mạc khải trên núi Si-nai. Đấng sẽ phải chịu đau khổ đúng là một con người như chúng ta, nhưng được biến đổi do mầu nhiệm ở trong. Chúa Cha ở trong Chúa Con và Chúa Con ở trong Chúa Cha. Một chốc lát được vén mở: vinh quang của Chúa Giêsu nói với chúng ta rằng Ngài đến từ trời, Ngài là Đấng Cứu thế duy nhất, Ngài sẽ tái lâm trong vinh quang này và làm cho chúng ta thành những người được biến đổi.
Đôi khi chúng ta cần phải lên đường với Phêrô, Giacôbê và Gioan hướng tới núi vinh quang. Mầu nhiệm của Chúa Giêsu, vừa là Thiên Chúa vừa là con người, sẽ luôn luôn vượt khỏi trí khôn chúng ta, nhưng lời ánh sáng này “Đây là Con Ta yêu dấu” làm cho chúng ta ngẵm nghĩ về điều cốt lõi này là chúng ta được yêu thương. “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban chính Con Một mình” (Ga 3,16). Và đây tình yêu đã làm điều này: Người Con duy nhất không những đến cư ngụ ở trên trái đất mà còn cư ngụ trong cuộc đời của chúng ta nữa. Điều đó làm cho thân phận làm người sáng giá biết bao! Chắc chắn những hình ảnh nặng nề, trống rỗng, đau khổ và thất vọng nhanh chóng hiện ra khi chúng ta nói: “Đời là thế!”. Chúng ta tìm gặp lại các hình ảnh đó khi chúng ta nói lại về việc hiển dung được Matcô và Luca chứng kiến: chúng ta bất cần Vinh quang, kẻ được biến đổi sớm muộn gì rôì cũng bị biến dạng.
Nhưng Chúa Cha long trọng tuyên bố rằng người này là Con của Ngài để chúng ta biết rằng dầu sao tất cả những gì có thể đến với Ngài và đến với chúng ta, Ngài vẫn là Mặt trời của thế giới ngay từ bây giờ, và Ngài sẽ là Mặt trời của thế giới trong tương lai. Chúa Hiển dung, bằng một tia chớp ngắn ngủi, đưa chúng ta ra khỏi những mặt trái thô ráp của cái mà chúng ta đang sống: “Hãy nhìn vinh quang của bạn trong vinh quang của Ngài”.
 

MC2-176: Ý nghĩa đời sống ta là gì?

Có thể nói rằng trong câu chuyện về việc Chúa Biến Hình, Chúa Cha mặc khải Chúa Con. Để: A54 MC2-176

Có thể nói rằng trong câu chuyện về việc Chúa Biến Hình, Chúa Cha mặc khải Chúa Con. Để suy niệm, chúng ta sẽ dừng lại một đôi khía cạnh đảo ngược, nghĩa là một ít đường nét trong khuôn mặt của Chúa Giêsu, Đấng mặc khải Chúa Cha. Làm như thế, ta sẽ trung thành với phần kết luận của câu chuyện, theo đó thì sự chú ý của ta được hướng về cá nhân Chúa Giêsu.
Việc Chúa Biến Hình là chứng tá của Chúa Cha về Chúa Giêsu. Cả đời Chúa Giêsu là một chứng tá về Chúa Cha. Người biết mình bởi đâu đến và đi về đâu, Người từ Chúa Cha mà đến và sẽ trở về với Chúa Cha. Đến lượt ta, trong Đức Kitô và nhờ Người, ta cũng biết nguồn gốc và cùng đích ta là đâu. Sau đây là một vài tỷ dụ về khuôn mặt ‘làm con’ của Đức Kitô.
1) Một chuyển động nội tâm đem lại ý nghĩa cho đời sống Đức Kitô và soi sáng nó. Người biết mình là kẻ được Chúa Cha thánh hiến và gởi vào thế gian để đem Tin Mừng Cứu Độ đến người nghèo khó, rao giảng sự giải thoát (khỏi tội lỗi) cho người tù đầy, và mở mắt cho kẻ đui mù (Lc 4,18). Là ‘phái viên’ của Chúa Cha, Người đặt sự thành tựu con người và đời sống mình trong lòng trung tín với ý Cha. Không phải là một sự trung tín an phận trước một chuyện chẳng đặng đừng, nhưng là một sự trung tín tích cực, tự phát, quyết liệt. Nó là dấu hiệu của Thánh Thần tình yêu hoạt động mãnh liệt trong Người.
Có lẽ đã có lần ta tự hỏi: đời tôi có ý nghĩa gì? Nếu ta sống trong thánh ý Chúa và nếu ta tận tình chu toàn thánh ý Chúa Cha, thì đời ta có một ý nghĩa và như Chúa Con, chúng ta cũng được biến hình cách thiêng liêng.
2) Chúa Giêsu muốn để cho Chúa Cha hiện rõ qua con người và đời sống mình. Ý chí đó đã quy định mọi hành vi, thái độ của Người. Người nói năng thế nào? Hoạt động ra sao? Người dám nói rằng lời Người nói không phải là của Người, nhưng của Đấng đã sai Người đến. Người quả quyết Người không hành động tự ý mình, nhưng chính Chúa Cha hành động qua Người. Nhìn Chúa Giêsu mà không đếm xỉa đến tương quan của Người với Chúa Cha, ta sẽ không hiểu nổi Người. Với người Kitô hữu cũng thế. Họ phải để cho Thiên Chúa ‘lộ dạng’ qua đời sống mình, bằng cách làm như Chúa Giêsu: nghĩa là thỉnh ý Chúa Cha về việc phải làm, phải nói. Thỉnh ý qua lời cầu nguyện, qua việc chạy tới Đức Giêsu là Đấng mặc khải Chúa Cha, trong niềm tin tưởng ở Chúa Thánh Thần và sự tuân phục đối với Hội Thánh.
 

MC2-177: Chúa biến hình

Tại sao Chúa Giêsu chỉ mang có ba môn đệ thân tín lên đỉnh Taborê? - Ngay từ đầu đoạn: A56 MC2-177

Tại sao Chúa Giêsu chỉ mang có ba môn đệ thân tín lên đỉnh Taborê? - Ngay từ đầu đoạn Tin Mừng, thánh Matthêu đã ghi rõ: Chúa Giêsu đem ông Phêrô cùng hai anh em ông Giacôbê và Gioan đi riêng với mình. Đồng thời trong Phúc Âm chúng ta cũng thấy không thiếu gì những trường hợp chỉ có ba ông này được chứng kiến một số hành động của Chúa Giêsu. Ngoài việc làm chứng nhân cho cuộc biến hình, các ông còn được độc quyền đi theo Ngài trong những giây phút hấp hối cuối cùng nơi vườn cây dầu. Độc quyền chứng kiến việc Chúa Giêsu làm cho con gái ông Giairô sống lại. Các ông cũng là những người đã hỏi riêng Chúa Giêsu về những dấu hiệu báo trước ngày sụp đổ của đền thờ.
Có thể nói: Phêrô, Giacôbê và Gioan tượng trưng cho hàng ngũ lãnh đạo trong Gháo Hội. Việc Chúa Giêsu đem những người có nhiệm vụ lãnh đạo Giáo Hội để các ông chứng kiến cho sự biến hình không phải là không có ý nghĩa cho sự sinh hoạt của Giáo Hội ngày hôm nay. Như chúng ta đã biến vấn đề quyền hành là vấn đề then chốt trong Giáo Hội bởi vì chính Ngài đã xác quyết trước mặt Philatô:
- Nếu từ trên chẳng ban cho ông, thì ông chẳng có quyền hành gì trên tôi.
Thế nhưng quan niệm về quyền hành của Chúa Giêsu hoàn toàn khác biệt với quan niệm về quyền hành của thế gian. Bởi vì theo Ngài, quyền hành là để phục vụ chứ không phải là để hống hách, chèn ép và hưởng thụ:
-        Thủ lãnh các dân ngoại thì cai trị và chuyên chế, còn giữa các ngươi thì không được như vậy, ai muốn làm lớn thì hãy trở nên rốt hết và trở nên đầy tớ cho mọi người.
Chính Ngài, trong bữa tiệc ly cũng đã nói với các môn đệ:
-        Mặc dầu các con gọi Ta là Thầy và là Chúa thì phải lắm. Nhưng nếu Ta là Thầy và là Chúa mà còn quỳ gối rửa chân cho các con, thì các con cũng phải rửa chân cho nhau.
Cũng trong chiều hướng đó mà các vị Giáo hoàng vốn tự xưng mình là “servus servorum”, đầy tớ của các đầy tớ. Ba vị cột trụ của Giáo Hội được chứng kiến việc Chúa biến hình, không phải là để các ông được hưởng một kinh nghiệm lý thú như Phêrô đã tưởng: Lạy Thầy, chúng con ở đây thì thật là hay quá, nhưng là để các ông sau này biết vận dụng quyền hành theo một ý nghĩa mới mà Ngài đã đề ra đó là phục vụ.
Còn chúng ta thì sao? Liệu chúng ta đã đổi mới quan niệm của chúng ta theo quan niệm của Chúa Giêsu hay chưa? Liệu chúng ta đã đổi mới cái nhìn của chúng ta theo cái nhìn của Chúa Giêsu hay chưa? Có nghĩa là chúng ta đã thực thi giới luật yêu thương, đã sống tinh thần phục vụ, đã có được những hành động bác ái an ủi, khích lệ và giúp đỡ những người chung quanh hay chưa?
Bởi vì trong ngày sau hết chúng ta sẽ không bị xét xử về địa vị xã hội, mà sẽ bị xét xử về những hành động bác ái yêu thương mà chúng ta đã làm hay không làm cho những người chung quanh. Có như vậy chúng ta mới xứng đáng được tham dự vào cuộc biến hình vinh quang trong ngày sau hết.
 

MC2-178: Tin Thiên Chúa có nghĩa là hoàn toàn phó thác vào Người!

Chúa Nhật II Mùa Chay
(St 12,1-4a; 2Tm 1,8b-10; Mt 17,1-9)

Trong các kỳ nghỉ hè nhiều người trong chúng ta thích đi du lịch ở ngoại quốc, để không chỉ nghỉ MC2-178

Trong các kỳ nghỉ hè nhiều người trong chúng ta thích đi du lịch ở ngoại quốc, để không chỉ nghỉ ngơi thư giãn, nhưng còn để tìm hiểu dân tộc, văn hóa, não trạng và cách sống, v.v… của các nước khác.
Nhưng thử hỏi còn mấy ai sẽ còn đủ can đảm xách va-ly lên máy bay cất cánh ra đi, nếu như sau đó không còn hy vọng trở lại nhà nữa ? Khi đi du lịch xa như thế, chúng ta đã không mua vé cứ hồi rồi sao ? Bởi vì, mặc dù trong khi nghỉ hè ở những miền đất xa xôi và học biết được nhiều điều mới lạ như thế, chúng ta sẽ có nhiều ngạc nhiên thích thú, tuy nhiên ở tại nhà mình, bao giờ chúng ta cũng cảm thấy thoải mái hơn, dễ chịu hơn và sung sướng hơn.
Thế nhưng, Áp-ra-ham không phải là người du lịch, ông không có “tấm vé cứ hồi” trong túi. Do đó, chắc chắn đối với ông là cả một thách đố to lớn biết chừng nào, khi ông vâng theo lời kêu gọi – hay cũng có thể nói là mệnh lệnh - của Chúa: “Ngươi hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới miền đất Ta sẽ chỉ cho ngươi” (St 12,1). Tuy nhiên, chúng ta chỉ có thể phỏng đoán thế, vì Kinh Thánh không tường trình rõ ràng. Chúng ta biết rằng đối với người thượng cổ việc bỏ xứ sở và gia tộc để một mình ra đi tới một miền xa lạ nào đó là một liều lĩnh không thể chấp nhận được; vì việc bỏ nhà ra đi như thế có nghĩa là không còn được bảo đảm an ninh, bị đe dọa, nguy hiểm đến tính mạng bở i những kẻ xa lạ và bọn trộm cướp, và như thế, có nghĩa là chết. Ðúng vậy, khi bỏ nhà cửa và quê hương ra đi như thế, Áp-ra-ham mất đi sự che chở của xứ sở ông, của luật pháp quê hương ông, của ngôn ngữ và của nền văn hóa đất nước ông. Ông phải bỏ lại họ hàng thân thích, bà con lối xóm và bạn bè thân quen. Ông giã biệt vĩnh viễn nhà cha ông, và điều đó có nghĩa là ông giã biệt vĩnh viễn chính quá khứ của mình! Bây giờ ông chỉ còn cậy dựa vào khả năng và vào tương lai của chính mình nữa mà thôi; dĩ nhiên, vào lời hứa của Thiên Chúa nữa ! Vâng, Thiên Chúa đã hứa với ông là sẽ làm cho ông trở thành tổ phụ một dân tộc đông đảo. Ðó là một lời hứa mang tính cách quyết định và tiên quyết; nếu không, Áp-ra-ham đã không hề có ý tưởng xa rời quê hương như thế ! Ông luôn xác tín cách chắc chắn rằng Thiên Chúa đã dự định như thế và Người sẽ đồng hành với ông.
Áp-ra-ham phải có một quyết định rõ ràng và dứt khoát: Từ bỏ những gì quen thuộc và chấp nhận những thiếu thốn và thử thách chắc chắn đang chờ đợi ông; từ bỏ sự dè dặt lo sợ và chấp nhận sự tin tưởng phó thác; từ bỏ những dự định và ý muốn riêng tư và hoàn toàn vâng phục kế hoạch của Thiên Chúa. Áp-ra-ham đã lấy đâu ra sức mạnh để có thể phó thác và tin tưởng được như thế ?
Phải chăng trong cuộc sống chúng ta đã không có nhiều tình huống tương tự đã xảy ra ? Những tình huống đã khiến chúng ta đành phải xa bỏ những gì thân quen, những gì che chở và bảo vệ cho chúng ta, và chấp nhận những điều xa lạ, mới mẻ ? Và chẳ ng phải đa số chúng ta đã không tránh được những hồi hộp, lo âu sợ hãi ? Chúng ta phải làm thế nào để có được sự tin tưởng ?
Có nhiều sự thật và nhiều trách nhiệm mà người ta sẽ khám phá ra được khi biết rằng con cái trong tuổi thơ khi tiếp cận với cha mẹ chúng đã cảm nhận được điều mà người ta gọi là “con thơ phó thác”. Ðó là sự cảm nghiệm mình được chấp nhận và được yêu thương, cũng như người ta cần phải tập yêu thương và chấp nhận kẻ khác! Chỉ những ai đã biết tạo cho mình được tâm tình “con thơ phó thác”, thì về sau mới có thể thực hiện được - chứ không sợ bị thất bại - những gì Áp-ra-ham bị bắt buộc phải làm, và những gì mỗi một người theo cách thức riêng, phải cảm nhận được và phải thực hiện. Ðó là:< i> “ Hãy bỏ xứ sở ngươi, thân thuộc ngươi và nhà cha ngươi!”
Người ta không thể lấy gì để thay thế sự cảm nhận đó được. Nó xây dựng và hoàn tất cuộc sống con người. Tuy nhiên, ai muốn xưng nhận rằng: “Tôi tin kính Thiên Chúa”, người đó còn phải can đảm bước thêm một bước nữa! Người đó phải sẵn sàng giao trả lại cho Thiên Chúa những khả năng đặc biệt nhất và tâm tình con thơ phó thác của mình, và luôn liên kết gắn bó với Người. Người đó cần phải cố gắng nhận ra tiếng Chúa giữa bao tiếng nói ồn ào khác! Người đó phải tập từ bỏ chính mình và những gì thuộc về mình, và mau mắn lên đường đi tới những nơi Thiên Chúa dẫn đi. Liệu những quyết định của người đó như thế sẽ dễ dàng hay khó khăn hơn điều mà Áp-ra-ham đã bọ ? yêu sách đòi hỏi không ? Ðiều đó mỗi người trong chúng ta sẽ cảm nghiệm được ngay trên chính bản thân mình và tự tìm ra cho mình cách đối xử hợp lý!
Trong cuộc vật lộn chiến đấu với những đau khổ và thử thách ở đời, chúng ta cần phải nỗ lực tìm bước theo dấu chân của Ðức Giêsu Kitô, Ðấng đã nói lên những lời đầy xác tín: “ Cha ơi, nếu được, xin cho con khỏi uống chén đắng này. Nhưng xin đừng theo ý con, một xin cho ý Cha được thễ hiện” (Mt 26,39); và tiếp đến tìm cách qui hướng mọi tư duy, mọi hành động và trọn niềm tin tưởng của chúng ta về Người. Ðó cũng chính là con đường mà Áp-ra-ham xưa kia đã đi và trên con đường đó, mọi lời hứa của Thiên Chúa vẫn luôn sống động. Ai tìm đi trên con đường đó, sẽ không sợ phải lạc đườ ng. Người đó sẽ khởi công xây dựng cho mình và cho những người thân yêu của mình một tương lai chân chính và đầy nhân phẩm, với tất cả niềm xác tín rằng anh ta chắc chắn sẽ gặp gỡ được Thiên Chúa.
Lm Nguyễn Hữu Thy
 

MC2-179: Dung nhan Đức Giê-su chói lọi như mặt trời

CHỦ NHẬT II MÙA CHAY
Tin mừng: Mt 17, 1-9.

“Dung nhan Đức Giê-su chói lọi như mặt trời.”
Bạn thân mến,

Phúc Âm hôm nay đã mở cho chúng ta thấy một bí ẩn về một sự thật, đó là vinh quang của Thiên: A58 MC2-179

Phúc Âm hôm nay đã mở cho chúng ta thấy một bí ẩn về một sự thật, đó là vinh quang của Thiên Chúa, mà con người –qua mọi thời đại- muốn biết có thật hay không. Bởi vì có nhiều người tự nhận mình thông hiểu mọi sự, nhưng họ không hiểu và không biết về Thiên Chúa; có người có thể lý giải mọi việc xảy ra, nhưng họ lại không lý giải được tại sao có rất nhiều người tin vào Thiên Chúa. Chúa Giê-su đã cho họ thấy vinh quang của Thiên Chúa nơi Ngài, khi dung nhan của Ngài biến đổi trở nên sáng chói như mặt trời trước mặt ba môn đệ.
Thời nay Chúa Giê-su không còn biến hình trên núi nữa, nhưng trên mỗi bàn thờ tế lễ khắp nơi trên thế giới, Ngài đã làm cho bánh và rượu nho trở nên Máu Thịt của Ngài; thời nay Chúa Giê-su cũng không còn cấm ba môn đệ không được đem chuyện Ngài biến hình nói cho mọi người biết, nhưng trái lại Ngài còn ra lệnh cho các môn đệ hãy đi khắp thế gian để giảng dạy, thánh hóa và cai quản các kẻ tin vào Ngài, đem những gì mà các môn đệ đã thấy, đã nghe và đã cùng chia sẻ với Ngài đi loan báo và giảng dạy mọi người, ai nghe và tin vào lời giảng dạy của Giáo Hội, thi đó chính là một cuộc biến hình đổi mới cho họ, và khi mỗi người đã biến hình nên giống Chúa Giê-su, thì xã hội chắc chắn sẽ có cuộc biến hình vĩ đại trong yêu thương và hòa bình.
Bạn thân mến,
Hằng ngày bạn và tôi đều muốn mình sẽ khá hơn ngày hôm qua, do đó bạn và tôi đều nổ lực học hành và làm việc, cố gắng cho bắt kịp trào lưu của thời đại, nhưng cái mà làm cho chúng ta mới hằng ngày chính là ân sủng của Thiên Chúa:
- Nhờ ơn Chúa mà trong thất vọng chúng ta thấy hy vọng.
- Nhờ ơn Chúa mà khi ngã quỵ chúng ta biết đứng lên.
- Nhờ ơn Chúa mà trong lo âu buồn phiền, chúng ta biết lạc quan vui tươi.
- Nhờ ơn Chúa mà khi bị những áp bức bất công đè nặng, chúng ta không gục ngã...
Đó chính là cuộc đổi mới của người Ki-tô hữu trong cuộc sống hằng ngày, cuộc đổi mới này sẽ là động lực làm cho đời sống chúng ta phát sáng hình ảnh của Chúa Giê-su nơi bản thân mình.
Xin Thiên Chúa chúc lành cho chúng ta.
--------------------------------
http://www.vietcatholic.net/nhantai
http://360.yahoo.com/jmtaiby
jmtaiby@yahoo.com taibytw@hotmail.com
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
 

MC2-180: Thiên Chúa vẫn còn hiển dung

VietCatholic News (Thứ Sáu 15/02/2008 09:30)
Chúa Nhật II mùa Chay (Matthêu 17, 1-9)
Thiên Chúa vẫn còn hiển dung

Nếu bạn là một người từ hành tinh khác vừa mới đáp xuống địa cầu lần đầu tiên, ắt bạn sẽ thấy MC2-180

Nếu bạn là một người từ hành tinh khác vừa mới đáp xuống địa cầu lần đầu tiên, ắt bạn sẽ thấy trái đất nầy quá đỗi nhiệm mầu: ngay cả mỗi chiếc lá, mỗi chiếc vỏ sò, mỗi cánh bướm, mỗi bông hoa… đều có một sắc thái riêng, một vẻ đẹp riêng thật quyến rủ, thật nhiệm mầu và bạn cảm thấy tâm hồn ngây ngất vì vẻ đẹp lạ lùng của chúng.
Thế nhưng trong thực tế, không mấy ai có thể cảm nhận được vẻ đẹp nhiệm mầu của những tạo vật như thế. Tại sao?
Vì mỗi lần nhìn vào những sự vật chung quanh, chúng ta không nhìn chúng bằng cặp mắt đầy ngạc nhiên của trẻ thơ, bằng ánh mắt của người mới thấy sự vật lần đầu; chúng ta không nhìn chúng y như chúng là, nhưng chúng ta để cho những hình ảnh ta có về chúng (vốn có sẵn trong tâm trí ta) phóng hiện ra bên ngoài và bao phủ lên những vật đó.
Thế là vạn vật chung quanh ta trở thành cũ rích và nhàm chán, vẻ đẹp tinh khôi nhiệm mầu của chúng đã bị hình ảnh ta có về chúng phóng rọi ra che phủ nên không còn hiển dung ra được nữa. Một trong những nổ lực của thiền nhân là thanh tẩy cái nhìn mang tính chủ quan của mình về ngoại giới để có thể cảm nhận được vạn vật đúng với bản chất của nó. Lúc đó, sự kỳ diệu của thế giới sẽ hiện nguyên hình.
Trong cuốn sách The Golden String, văn sĩ người Anh Bede Griffiths mô tả lại một khám phá diệu kỳ của ông khi còn là một cậu học sinh.
Một buổi chiều hè, Bede Griffiths ung dung thư thái dạo chơi ở bìa rừng. Trong lúc thơ thẩn một mình bỗng dưng cậu nhận ra tiếng hót líu lo của đàn chim trên tàng cây mới tuyệt vời làm sao! Cậu rất ngạc nhiên vì từ hồi nào đến giờ chưa bao giờ được nghe chúng hót hay đến thế.
Đang lúc tiếp tục bước tới, cậu gặp thấy những đoá hoa của những bụi táo gai như đang mỉm cười niềm nở chào đón cậu trông dễ thương lạ lùng và đang toả hương trong gió. Bede cũng rất ngạc nhiên vì từ trước tới nay cậu đã từng thấy những bông hoa như thế nở rộ cả trăm lần mà không hề nhận ra vẻ đẹp tinh khôi và hương thơm dịu dàng của chúng.
Sau cùng cậu tìm đến một nơi yên tĩnh, đứng tựa vào thân cây, lặng ngắm vầng kim ô đang dần dần chìm xuống sau rặng núi lam cuối chân trời. Bỗng chốc cậu cảm thấy trời đất vô cùng huyền diệu và bất giác cậu nghiêng mình quì gối xuống biểu lộ một niềm cảm xúc rất thánh thiêng: cậu vừa trải nghiệm được sự hiện diện rất nhiệm mầu của Thiên Chúa trong tạo vật của Ngài.
Theo Tin Mừng Matthêu được trích đọc hôm nay, chiều hôm ấy trên núi cao, ba môn đệ Phê-rô, Gioan và Giacôbê cũng có những trải nghiệm tuyệt vời về Chúa Giê-su. Cũng vẫn là Chúa Giê-su bằng xương bằng thịt mà các ông vẫn thường gặp gỡ tiếp xúc hằng ngày, nhưng lần nầy, các ông lại nhìn thấy Ngài dưới một dung mạo mới: thật sáng ngời, thật hấp dẫn và đầy uy nghi, lại có cả Môi-sê và tiên tri Êlia hiện ra đàm đạo với Ngài.
Lòng đầy hoan lạc, các ông không muốn cho giây phút mầu nhiệm đó trôi đi. Các ông muốn níu kéo khoảnh khắc thần tiên ấy lại nên Phê-rô thay mặt anh em thưa với Chúa Giê-su: “Lạy Ngài, chúng con ở đây, thật là hay! Nếu Ngài muốn, con xin dựng tại đây ba cái lều, một cho Ngài, một cho ông Mô-sê, và một cho ông Ê-li-a.”
Hôm nay, Thiên Chúa vẫn hiển dung dưới thiên hình vạn trạng nhưng vì đôi mắt chúng ta bị che phủ nên không nhận ra Ngài.
* Vinh quang của Thiên Chúa vẫn được hiển dung (được tỏ bày) trong các tạo vật của Ngài, qua bầu trời lung linh ánh sao đêm hay những áng mây rực rỡ ban ngày, qua những cánh đồng, những khe suối và rừng cây, qua tiếng chim ca, qua bông hoa đang nở, qua mọi tạo vật chung quanh…
Vua Đavít cảm nhận được vinh quang ấy rạng ngời lên trong vũ trụ nên đã thốt lên:
“Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa.
Không trung loan báo việc tay Người làm” (Tv 19, 2)
* Tình yêu của Thiên Chúa được hiển dung (được tỏ bày) rõ nét nơi tình thương chan chứa của người cha ngày đêm lao nhọc vì con, qua sự hi sinh miệt mài của người mẹ, vắt kiệt sức mình để chăm lo cho đàn con khôn lớn…
* Mầu nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa cũng được hiển dung nơi các gia đình đấm ấm thuận hoà, chan chứa yêu thương hiệp nhất.
* Và đặc biệt, Thiên Chúa vẫn hiển dung rạng ngời nơi những anh chị em cùng sống với ta, nhưng tiếc thay, chúng ta không cảm nhận được, nên bỏ lơ, nên thờ ơ và không còn muốn dựng lều chung sống với những hiện thân của Chúa chung quanh chúng ta.
Thông thường, chúng ta nhìn đời, nhìn người qua cặp kính màu đen nên chúng ta chỉ thấy được khía cạnh u tối của người đời. Xin Chúa thanh tẩy nhãn quan chúng ta để có thể nhận ra mọi người là hiện thân của Thiên Chúa, là chi thể của Chúa Giê-su.
Ba môn đệ nhận ra Thiên Chúa hiển dung nơi thân phận người phàm của Đức Giê-su thì chúng ta cũng xin Chúa cho chúng ta được nhận ra Chúa hiển dung nơi những anh chị em đang sống chung quanh, nhờ đó, chúng ta sẽ cảm nhận được hạnh phúc chan hoà vì được sống cùng, sống bên nhau và có thể nói như thánh Phê-rô xưa: chúng con được ở chung với nhau nơi đây thì thật là hạnh phúc. (Mt 17,4)
LM Inhaxiô Trần Ngà
 

MC2-181: Chúa biến hình

VietCatholic News (Thứ Sáu 15/02/2008 02:54)
CHÚA NHẬT 2 MÙA CHAY A
(Mt 17,1-9).
Thưa quí vị,

Năm mới nào cũng vậy, cứ vào thời gian ngay sau tết âm lịch, núi Bà Đen, Tây Ninh, nhộn nhịp hẳn: A60 MC2-181

Năm mới nào cũng vậy, cứ vào thời gian ngay sau tết âm lịch, núi Bà Đen, Tây Ninh, nhộn nhịp hẳn lên vì khách hành hương từ các tỉnh tuôn đến xin xâm, bói quẻ ở chùa Bà, chùa Hang. Hai ngôi chùa ở lưng chừng núi, cách nhau hơn vài trăm mét. Nhưng tới được chúng quả là một hành trình vất vả, phải mất đến cả tiếng đồng hồ, leo các bậc thang bằng những viên đá đủ kích cở. Vậy mà hàng ngày có đến hàng ngàn hàng vạn khách đi xe đến viếng thăm. Những thanh niên khỏe mạnh có thể leo tới đỉnh núi, cao chừng hơn ba trăm mét. Nhưng tới được đỉnh thì quả là một phần thưởng: Không khí trong lành, mát mẻ, quang cảnh chung quanh bao la bát ngát, tầm mắt có thể phóng tới chân trời. Bên dưới là một bức tranh toàn cảnh đầy màu sắc: ruộng vườn, làng mạc, sông lạch, rừng rậm, cây cối xanh tươi, trâu bò làm đồng, người cầy cấy coi như con kiến. Quả là một bồng lai tiên cảnh. Thiết nghĩ đây là điểm du lịch hấp dẩn ngoài việc tín ngưởng, tâm linh.
Xin nhập đề như vậy để quí vị có thể tưởng tượng được nội dung biến cố Chúa biến hình trên núi Tabor hôm nay, Phúc âm không định vị rỏ ở đâu. Thánh Matthêu chỉ viết: ”Sáu ngày sau, Đức Giêsu đem các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan là em ông Giacôbê đi theo mình. Người đưa các ông ra riêng một chổ, tới một ngọn núi cao. Rồi Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông”. Theo Luca thì việc này xẩy ra khi Chúa còn đang rao giảng ở Galilêa (Lc 9,28). Mathêu cũng đồng ý với Luca:” Từ lúc đó, Đức Giêsu bắt đầu tỏ cho các môn đệ: Người phải đi Giêrusalem, phải chịu đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết”(Mt 16,21). Truyền thuyết cho rằng ngọn núi đó là núi Tabor, ở giửa cánh đồng, gần Nazareth, cao chừng 750 mét, đúng như vị trí của núi Bà Đen, nhưng cao gấp đôi, vì Bà Đen chỉ hơn 300 mét cũng ở giửa đồng bằng chung quanh là làng mạc, sông ngò và rừng rậm. Ngày nay Tabor có đường xe hơi lên tận đỉnh núi. Thời Chúa Giêsu làm chi đã có, nên phải leo bộ, chúng ta cùng leo núi với Chúa.
Chiều cao này có ý nghĩa biểu tượng và khi lên được tới đỉnh, người ta cũng ở trong tiên cảnh bồng lai. Thánh Phêrô sau này hồi nhớ lại nên bảo Marcô viết: “Thưa Thầy chúng con ở đây thật là hay”, nghĩa là các ông cũng giống chúng ta ở đỉnh núi Bà Đen, nhưng theo nghĩa thiêng liêng, tức là các ông đang ở trong toàn cảnh thánh thiện trước mặt Đấng là sự thánh thiện tuyệt đỉnh. Ai có thể không có ý nghĩ như vậy?
Nhưng leo lên được đỉnh núi với Chúa không phải là chuyện dể dàng. Các ông phải lao động vất vả cả về nghĩa vật chất lẩn tinh thần. Những ai muốn thử kinh nghiệm xin đi Tây Ninh và leo lên đỉnh Bà Đen. Bảo đảm nhiều người sẽ chào thua mà trở về chân núi. Leo núi thánh thiện với Chúa cũng vậy, nếu không có ơn Chúa trợ giúp, chứ không phải như thiên hạ tưởng tượng.
Chắc chắn chúng ta phải leo cực nhọc, bước những bước khốn khổ trượt ngả trên đường đi đầy sỏi đá lởm chởm mới tới được ngọn núi thánh thiện. Rồi phải liên lỉ cầu xin ơn trợ giúp như Luca kể: ”Đang lúc Người cầu nguyện, thì dung mạo bổng đổi khác”(ibi). Cho nên người ta phải vất vả leo núi Tabor thiêng liêng cùng với Chúa và ba môn đệ Phêrô, Giacôbê, Gioan.
Vậy thánh thiện là gì, làm thế nào tới được bậc đó? Hôm qua thứ bẩy, Chúa nói:” Anh em hảy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện”(Mt 5,48). Như thế Đức Giêsu định nghĩa thánh thiện là chính Đức Chúa Trời. Chúng ta phải rập theo khuôn mẩu đó mà sống. Cụ thể lối sống của Đức Giêsu khi còn ở trần gian. Chiều chuộng xác thịt, ăn cắp ăn trộm, lừa đảo, giả hình chắc chắn không phải là cuộc sống mà Đức Kito muốn. Chúng ta thường lấy mình ra làm “thước đo” mọi sự.
Thiên Chúa đã chỉ định cho ông Môsê ban lề luật cho tuyển dân mù quáng để họ biết đường hoàn thiện và thờ phụng Thiên Chúa cho phải đạo. Vì chính Thiên Chúa mới là ”thước đo” và mẩu mực cho nhân loại. Bây giờ Môsê cũng ở trên đỉnh núi với Đức Giêsu trong cương vị ban lề luật để trao quyền lại cho Chúa mà ông đã hằng tiên tri từ lâu trước. Lúc này Đức Giêsu vừa là người trao ban lề luật vừa là luật pháp cho nhân loại. Chúng ta vâng phục lời Ngài ra sao? Thật là khó, vì Ngài là Thiên Chúa vô cùng thánh thiện, làm sao loài người theo cho nổi?
Vì vậy Ngài phải “thích nghi” với điều kiện nhân loại trong biến cố nhập thể và Đức Chúa Cha đã phán: ”Này là con ta yêu dấu, đẹp lòng ta mọi đàng. Các ngươi hảy vâng nghe lời Ngài”. Như thế Đức Giêsu là lời giải thích, là lề luật cho mọi hành động của con người. Nhân loại phải suy tư về Ngài, học hỏi và bắt chước Ngài để nên trọn lành đích thực, chứ không giả hình lừa dối. Chính Ngài tự xưng là đường là sự thật, sự sống để chúng ta đi về với Thiên Chúa.
Việc thay hình đổi dạng khởi sự khi mổi linh hồn lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội. Lúc ấy chúng ta chết đi cho xác thịt để sống với Đức Kitô. Đời sống này không phải là tương lai, nhưng là hiện tại ngay lúc lãnh nhận thanh tẩy và là những nội dung chúng ta phải sống hàng ngày. Những ai suy nghĩ đời sống thánh thiện thuộc tương lai, thì hoàn toàn sai lầm và sai lầm thì phải trả giá. Chúa Giêsu không hề tuyên bố đời sống trọn lành thuộc về tương lai mà thôi. Ngài nhiều lần nhấn mạnh nó là cuộc sống hiện tại:” Xưa ta đói các ngươi không cho ăn, ta tù đày các ngươi đâu có viếng thăm ta?”. Cho nên vật lộn để sống đẹp lòng Thiên Chúa như Đức Kitô dạy là cấp thiết. Sự thực thánh thiện và cuộc sống vĩnh cửu đã ở nơi chúng ta ngay trong Bí tích Thánh Tẩy. Chúng ta phải phát triển nó từ tấm bé cho đến tuổi già. Giả dụ Thiên Chúa muốn chúng ta phải sáng tỏ sự thánh thiện của mình như Chúa Giêsu hôm nay trên núi Tabor, thì chúng ta cư xử ra sao và tiếng từ trời cũng phán: ông A, chị B, em C là những con Ta yêu dấu, đẹp lòng Ta mọi đàng, liệu mấy ai khoe mình được như vậy? Hay chỉ bằng môi miệng, lừa dối thiên hạ.
Nói như vậy không phải là ngoa, nếu nghĩ đến mỗi lần rước lễ xong. Bí tich Thánh Thể là chính sự hoàn thiện đang ngự trong mỗi linh hồn tín hữu, linh mục, tu, sĩ. Nó phải được chiếu sáng ra nếu các dục vọng của mỗi người không ngăn cản, phủ lấp đi. Mỗi khi chúng ta tham dự thánh lễ, làm việc bác ái, lãnh nhận các bí tích là tăng cường vẻ sáng ngời thánh thiện của tín hữu cho thiên hạ chiêm ngưỡng như một biến cố biến hình vậy. Nếu chúng ta trung thành với ơn gọi bằng suy nghĩ, lời nói, việc làm là lớn lên trong cuộc sống thiêng liêng. Mỗi khi cố gắng chu toàn bổn phận là leo núi Tabor.
Và con đường là thánh giá. Môsê và Êlia hiện diện trên núi thánh bàn bạc với Đức Kitô về cuộc khổ nạn của Ngài? Làm sao chúng ta tránh khỏi? Liệu chúng ta được phép xưng mình là môn đệ Chúa mà không phải vác lấy thập tự hàng ngày? Thánh Phaolô khuyên Timôteô:”Hãy chịu đựng gian khổ mà Phúc âm đòi hỏi”. Qúi vị nghĩ sao? Tận hưởng cuộc đời dễ dãi đầy tiện nghi và vẫn coi mình là môn đệ Chúa rồi hùng hồn rao giảng thập giá Đức Kitô! Trớ trêu quá.
Thôi, xin bỏ ngọn núi vật chất để nói đến quả núi thánh thiện mà Đức Kitô đã leo trong suốt cuộc sống của Ngài. Quả núi ấy là gì? Chẳng phải là xe hơi nhà lầu, kẻ sai người bảo mà là yêu thương phục vụ theo ý Đức Chúa Cha cho đến chết, và chết trên thập tự, chứ không êm ái trên giường bệnh hay nhà thương sang trọng, đắt tiền. Chết nhục nhã, chịu lăng nhục chửi bới chứ không điếu văn, diễn từ ca tụng. Đó là con đường người môn đệ Chúa phải nương theo trong cuộc sống để chu toàn theo thánh ý Thiên Chúa. Cụ tổ Abraham của bài đọc 1, đã 75 tuổi lìa bỏ tất cả, quê hương, tài sản di theo tiếng gọi vô hình của Đức Chúa Trời, lang thang thiếu thốn nơi đất khách quê người, không quản ngại điều chi trước tôn nhan Đức Chúa mà ông hết lòng kính sợ. Chúa Kitô phải chịu đựng nhiều hơn khi chu toàn mệnh lệnh của Đức Chúa Cha. Ngài ở giữa một đám đông thù nghịch, phản đối, chê cười, hận thù và giết chết. Hai mẫu gương cho nhân loại noi theo mà nên thánh thiện, chứ không phải chăn ấm nệm yên, ngày ngày yến tiệc linh đình. Đây là mẫu mực để chúng ta tuân giữ mùa chay và con đường hoàn thiện. Đức Giêsu cầu nguyện, ăn chay, chống trả cám dỗ, sống trong cô tịch, phục vụ người nghèo khó bệnh tật, yêu thương, đau khổ và chết, là khuôn mẫu mùa chay của các tín hữu, xin đừng cắt nghĩa kiểu khác để trốn tránh con đường thiêng liêng. Đó là bí quyết duy nhất để leo núi Tabor của chúa. Đường lên núi thánh không đi được bằng xe hơi, ngủ trong quán trọ nhà lầu, ăn cao lương mỹ vị như thiên hạ ngày nay biện minh. Con đường của họ chỉ có thể đưa xuống hố sâu của những người mù, như Đức Kitô đã cảnh cáo.
Cho nên khuôn mẫu để sống đẹp lòng Đức Chúa Cha không bao giờ thay đổi, từ ông Abraham, các tổ phụ, các tiên tri cho đến Chúa Giêsu. Bao lâu còn có tội lỗi trên thế gian, thì bấy lâu kẻ theo con đường thánh thiện của Thiên Chúa còn phải gánh chịu khổ nạn, tử đạo, chối bỏ từ tay thế gian ngay cả từ tay bạn hữu, người thân như Chúa Giêsu đã phải gánh chịu.
Đức Giêsu tóm gọn các giới răn, bát phúc, và các tiêu chuẩn thánh thiện vào cuộc sống yêu thương và phục vụ. Liệu chúng ta được phép đi con đường khác mà vẫn nên thánh? Quả là hoang tưởng khi người ta từ bỏ ăn chay, hảm mình, làm phúc bố thí, bác ái, đau khổ và cái chết nhục nhả để giữ các hình thức khác trong mùa hồng phúc!
Đến đây chúng ta đụng đến vấn đề cốt lõi: Bí quyết để nên trọn lành. Các vĩ nhân đều có bí quyết để thành công. Thí dụ: Thương gia, buôn bán phát tài. Không có luật trừ cho việc nên thánh. Những thiên tài này đều có một cảm tính đặc biệt để thành công, nằm sâu trong trái tim họ. Riêng trong lãnh vực tôn giáo chúng ta gọi các chuyên viên này là các thánh và họ đả kín múc cảm tính của mình trong Thiên Chúa nhập thể. Vậy muốn nên trọn lành như họ, chúng ta phải noi gương họ: Học hỏi, yêu mến Chúa Giêsu. Con đường ngắn nhất để được gọi là con yêu dấu của Thiên Chúa Cha đẹp lòng Ngài mọi đàng. Ước chi mùa chay này mọi tín hữu tìm được bí quyết và con đường ấy. Amen.
Tu viện Martinô, Hố Nai.
Lm Thomas Túy OP
 

MC2-182: Nội Tâm

VietCatholic News (Thứ Sáu 15/02/2008 02:46)

Việc các tông đồ được nhìn thị kiến trên núi thánh không phải do công sức, tài lực của cá nhân: A61 MC2-182

Việc các tông đồ được nhìn thị kiến trên núi thánh không phải do công sức, tài lực của cá nhân mà chính là ơn Chúa ban.

ĐẶC ÂN
Kinh Thánh ghi rõ Chúa đặc biệt đưa các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan đi theo người tới một ngọn núi cao. Chúa chọn các ông lên núi thánh. Đây là một đặc ân Chúa ban không phải do tài sức riêng.
Như thế chúng ta cần nhận biết không phải những gì đang có, những gì đang sở hữu là do tài năng, trí thông minh, sức riêng ta đạt được mà chính là đặc ân Chúa trao cho ta coi sóc. Nói cách khác chúng ta không phải làm chủ những gì chúng ta có, tiền tài, vật chất, trí khôn, sự thông minh, sáng suốt, sắc đẹp, sự sống, thành công, thất bại trên đời và ngay cả con cái, hay người phối ngẫu. Tất cả đều là đặc ân Chúa kí thác, trao ban cho ta quản lí, coi sóc.
Vì là quản lí các ân huệ Chúa ban nên chúng ta cần sống khiêm nhường, mang tâm tình tạ ơn và có trách nhiệm chia sẻ những đặc ân đó với các người kém may mắn hơn và dùng chúng chung dựng xây một thế giới tốt đẹp hơn.
Hiểu như thế chúng ta luôn sống trong tâm tình tạ ơn, những đặc ân Chúa tin tưởng trao vào tay ta coi sóc, bảo vệ và làm cho chúng sinh sôi nảy nở thêm nhiều.

QUẢN LÍ
Người quản lí khôn ngoan luôn nhớ vai trò mình là người quản lí, không phải chủ nhân. Hiểu biết điều này sẽ tránh được rất nhiều đau khổ, âu sầu không cần thiết. Khi Chúa quyết định trao món quà đang có trong tay mình cho người khác coi sóc không nên than trách hoặc phê phán. Kitô hữu luôn nhớ và xác định đúng đắn vai trò quản lí của mình.
Tình cảm tự nhiên con người mất những gì đang có thì đau buồn, nhớ thương. Điều này rất tốt vì tình cảm đó diễn tả tâm tình nối kết, gắn bó, nhớ thương. Không thổ lộ được những tình cảm đó chính là bạc tình, bạc nghĩa, thờ ơ, lãnh đạm. Tuy nhiên cũng không thể mượn cớ buồn sầu, đau khổ để kết án, phê phán vì hành động đó không thuộc phạm vi của người quản lí. Của Chúa, Chúa muốn cho ai tùy í, sao lại ghen tị. Chính Đức Kitô nói điều này trong dụ ngôn thuê làm vườn nho (Mt 20,16).

TẠ ƠN
Tâm tình tạ ơn chân thành đúng đắn phải là Chúa trao ban món quà con mong ước, mơ thích, con xin tạ ơn và hết lòng giữ gìn, bảo vệ. Chúa lấy đi món quà con hết lòng quí mến con xin dâng hiến trong tâm tình tạ ơn vì đã hoàn tất trách nhiệm Chúa trao. Chúa trao ban món quà con không xin, không thích, con cũng xin vâng đón nhận, dù đón nhận trong run sợ, lo âu, ngại ngùng cũng xin nhận với tâm tình phó thác để suy gẫm, tìm học cho biết ý Chúa qua biến cố trong cuộc sống.
Mọi kèn cựa, chèn ép hay tìm cách lung lạc tìm cách chiếm đoạt, hay chối bỏ món quà Chúa trao, dù là điạ vị, danh vọng hay của cải vật chất đều sai. Làm như thế chính là đem đời vào đạo, không phải đem đạo vào đời.
Quà tặng không phản ảnh tình cảm trong tim. Quà tặng là cách diễn tả tình cảm một cách cụ thể con người dành cho nhau. Dùng giá trị quà tặng để đo lòng người dẫn đến sai lầm vì vật biếu tặng không dò được lòng người. Cách cho quan trọng hơn quà tặng và cho vì bác ái, yêu thương quan trọng hơn cách cho.

PHÓ THÁC
Người quản lí khôn ngoan là người luôn sống trong tinh thần phó thác, xác tín, tin tưởng mọi sự đều do Chúa ban nên vui lòng nhận, dù là điều ta ưa thích hay điều ta lo sợ tất cả đều là những món quà Chúa trao cho coi sóc. Có thể giúp ta tốt hơn, có thể Chúa dùng món quà để thánh hoá ta cũng có thể để ta làm vinh danh Chúa. Không nên chê bất cứ món quà nào Chúa trao, dù lớn dù nhỏ bởi vì người trung tín trong việc nhỏ sẽ được trao công việc quan trọng hơn. Việc quan trọng hơn, trách nhiệm nhiều hơn và đau khổ cũng lớn hơn. Xem dụ ngôn nén bạc (Mt 25).

ĐAU KHỔ
Tâm được vui thì lòng được sáng. Tâm vui vì được trong sạch hoá, được thanh tẩy khỏi bụi trần. Nhờ thanh tẩy nên lòng được sáng. Thanh tẩy gắn liền với khổ đau. Không phải đau khổ nào cũng xấu, có những đau khổ tốt lành, cần thiết trong cuộc sống. Đau khổ cần thiết này giúp thanh tẩy tâm hồn, làm cho con người trong sáng hơn, dịu hiền hơn, dễ mến và thương người nhiều hơn. Trên đường xuống núi Đức Kitô dặn các tông đồ hãy giữ im lặng ‘đừng nói cho ai hay thị kiến cho đến khi Con Người từ cõi chết chỗi dậy’. Còn gì đau khổ hơn khi trong lòng rộn rã niềm vui, tràn đầy hoan lạc mà không được chia sẻ, nói ra. Từ bỏ ý riêng để ý Chúa được thực hiện là đau khổ tốt. Từ bỏ những thói quen thực hành từ nhỏ, chấp nhận thay đổi theo đường lối Chúa là đau khổ tốt. Từ bỏ con người cũ sống tinh thần Phúc Âm là đau khổ tốt.

HẠNH PHÚC THẬT
Thông thường người ta thích nhận những món quà ưa thích. Món quà không ưa nếu được trao, coi đó là hình phạt, là sự dữ. Chúa gởi sự khó đến cho thì tôi nhăn nhó trong khi tôi gởi sự khó tới cho anh em tôi lại vui cười. Chúa để sự khó xảy đến cho bạn thì tôi khuyên anh Chúa thử thách anh. Chúa để sự khó xảy đến cho người tôi không ưa tôi nói Chúa phạt nó.
Hạnh phúc triền miên, bình an thực sự với lòng mong ước xảy đến sau khi đã trải qua đau khổ. Theo tinh thần bài Phúc âm hôm nay thì niềm hoan lạc thực sự đến ‘cho đến khi Con Người từ cõi chết sống lại’.
 

MC2-183: Xin chạm vào con để con chổi dậy

VietCatholic News (Thứ Năm 14/02/2008 20:21)
CHÚA NHẬT 2 MÙA CHAY A
Sáng Thế 12: 1-4a; Tv 33; 2Timôtê 1: 8b-10; Mátthêu 17: 1-9
Các Thầy Giảng thân mến,

Thông thường thì chúng ta nghỉ chúa nhật thứ 2 mùa chay sách thánh sẽ nói nhiều về tội lỗi: A62 MC2-183

Thông thường thì chúng ta nghỉ chúa nhật thứ 2 mùa chay sách thánh sẽ nói nhiều về tội lỗi, hậu quả của nó, ăn năn sám hối, là những đề tài thích hợp với mùa chay. Nhưng, những bài kinh thánh đọc hôm nay lại chú trọng đến chổ khác là gởi đến chúng ta một khái niệm về ân sủng thường ngày của Chúa. Nhờ đó giúp chúng ta sống sâu lắng vào mùa phụng vụ này. Nói cách khác không có ân sủng mùa chay sẽ trở nên một trò tiêu khiển, một mùa gây thất vọng cho chúng ta vi chúng ta đang cố gắng thay đổi đời sống cũ qua đời mới với tất cả sức lực của chúng ta.
Sách Sáng Thế đưa chúng ta trở về nguộn cội của đức tin. That ra thì cả ba tôn giáo chính là đạo Do Thái, Hồi Giáo và Thiên Chúa Giáo đều nhìn về Abraham là "tổ phụ" của đức tin. Bài kinh thánh thứ nhất rất ngắn, đưa chúng ta vào bài phúc âm. Nhưng hai bài có liên lạc ỏ chổ nào? Đó chính là sự lắng nghe và vâng theo lời của Thiên Chúa.
Abram (đó là tên của ông lúc đó) được Thiên Chúa gọi. Ông phải ra đi với vợ là bà Sara. Ông phải bỏ đất đai, bỏ gia đình, để đi đến một nơi Thiên Chúa dành cho ông mà ông không hề biết. Ông và Vợ ông đã đáp lời Thiên Chúa gọi và tiếp tục nghe lời Thiên Chúa để tìm hiểu Thiên Chúa muốn họ làm gì. Đó là Thiên Chúa muốn họ làm tôi tớ cho Thiên Chúa: nghe lời và đáp lại lời Thiên Chúa. Đây cũng là điều mà chúng ta là môn đệ Chúa Giêsu phải làm. Chúng ta phải làm theo lời nói trong đám mây trong bài phúc âm hôm nay:”các con hảy nghe lời Người”. Phúc âm của thánh Mátthêu viết cho cộng đồng Do Thái, phần đông đa hiểu rõ về đạo Do Thái. Vi vậy Mátthêu mới chứng tỏ rằng Chúa Giêsu thực hiện lời hứa của Thiên Chúa cho dân Do Thái. Trong phúc âm này Chúa Giêsu nói với các môn đệ của Ngài là Ngài đến để "hoàn tất lề luật" Mátthêu viết để tả Chúa Giêsu nhu Môisen. Ngài đến để dựng nên một giao ước mới qua chính đời sống, sự chết, và sự Phục sinh của Ngài. Bởi thế chúng ta thấy có nhiều chổ nhắc đến lời các ngôn sứ, và các nhân vật trong kinh thánh Do Thái. Và bài phúc âm hôm nay nói về sự Chúa tỏ mình sáng láng là một bài trùng hợp với các bài khác trong phúc âm Mátthêu. Nhằm giúp chúng ta hiểu rỏ hơn sự liên hệ giữa Cựu ước và Tân ước, để học hỏi và để đáp lại những gì thánh Mátthêu cho chúng ta biết về Chúa Giêsu.
Vì thánh Mátthêu cho chúng ta hiểu Chúa Giêsu như ông Môisen, nên bài phúc âm nằm trong khung cảnh của truyền thống Môisen. (Có lẻ các bạn nên đọc sách Xuất hành đoạn 24 và 34 để hiểu khung cảnh đó). Các bạn hảy lấy một đoạn trong sách Xuất hành và đoạn về Chúa Giêsu tỏ mình sáng láng có liên hệ với nhau: Cả hai bài đều nói về một chuyện xảy ra trên núi cao. Mặt Chúa Giêsu và mặt ông Môisen đều tỏ ra sáng chói; Chỉ một ít người được chọn dự phần vào chuyện xảy ra trên núi; Có một đám mây trắng bao phủ và có tiếng nói từ trong đám mây ra. Để nói rõ hơn sự liên hệ giữa 2 chuyện đó, chúng ta thấy ông Môisen và ngôn sứ Elia đều có mặt trong chuyện Mátthêu viết.
Ngày Chúa Giêsu chịu phép rửa có tiếng nói từ trời xuống "Nầy là con chí ái của Ta, đẹp lòng ta mọi đàng". Bây giờ tiếng nói đó cũng từ trời xuống nhưng trên núi cao "Nầy là con chí ái của Ta, đẹp lòng ta mọi đàng, các ngươi hảy nghe lời Ngài." Trong bài phúc âm về Chúa tỏ mình sáng láng có thêm "các ngươi hảy nghe lời Ngài". Một liên hệ với Môisen nửa là Môisen đã nói với dân Do Thái là Thiên Chúa sẽ cho chổi dậy một tiên tri như Môisen "các ngươi hảy nghe Ngài" (thứ luật 18:15). Chúa không cần phải nói gì nữa ngoài những điều đã được viết trong phúc âm. Chúa không cần phải lặp lại và giải thích nhiều những gì đã có trong phúc âm. Các môn đệ và chúng ta chỉ cần phải nghe lời Chúa Giêsu nhấn mạnh về sự thương khó của Ngài.
Việc Chúa Giêsu tỏ mình sáng láng được giới thiệu trước trong 2 đoạn trước việc Chúa sẽ chịu thương khó: Một đoạn ngay trươc đoạn phúc âm này (16:24-28 báo trước việc tử nạn) và đoạn khác sau đoạn Chúa tỏ mình sáng láng (17:21-22 báo trước việc tử nạn). Các môn đệ trên núi cao chắc đã hiểu phần thân thể sáng láng của Chúa Giêsu còn thiếu một điều và thường chúng ta cũng vậy là ý nghĩa của một chuyến lên núi cao khác trong Mátthêu đó là khi Chúa Giêsu lên chổ cao trên thập giá. Ở đó cũng có người đứng xem. Nhưng sự hiện diện của Thiên Chúa hình như không có ở đó với Chúa Giêsu khi Ngài lớn tiếng "Lạy Thiên Chúa tôi, lạy Thiên Chúa tôi, nhân sao Người lại bỏ tôi". Trên đồi thập giá hai ông Môisen và Elia được thay thế bằng hai người trộm cướp, và áo Chúa Giêsu không trắng xóa, nhưng Ngài đã bị lột để đón giờ chết. Trên đồi thập giá không có hiện tượng Chúa sáng láng như trên núi cao, trái lại có những người cười nhạo Chúa, có lính đứng nhìn Chúa, có lính đội mảo gai cho Chúa và có người la to lên: "Nó là vua Israel". Đây không phải là tiếng như trên núi cao bảo các môn đệ hảy nghe lời Ngài, và chúng ta phải nghe lời Ngài và theo con đường Ngài đã đi qua là đường đưa lên thập giá.
Các môn đệ nhận thức được phần sáng láng khi còn ở trên núi cao với Chúa Giêsu. Điều mà họ không nhận thức được là Chúa muốn dạy họ về việc làm môn đệ như thế nào trong khi Chúa cùng họ đi xuống núi và tiếp tục cuộc hành trình lên thành thánh Jerusalem. Chúa Giêsu dặn họ rằng: "đừng nói cho ai hay việc ấy, cho đến khi Con Người từ cỏi chết chổi dậy". Ngài còn nhiều điều phải dạy họ và họ lắng nghe Ngài như lời từ trên mây cao nói xuống.
Chúng ta cũng nên tự hỏi, trong mùa chay: chúng ta có nghe lời Chúa Giêsu không? chúng ta có hiểu được việc làm môn đệ của Chúa hay không? Chúng ta có sẳn sàng chấp nhận Chúa Giêsu trong 2 sự sáng láng ấy không: Sáng láng trên núi cao và sáng láng trên thập giá. Cũng như các mộn đệ, chúng ta ham muốn sự sáng láng nơi Chúa Giêsu trên núi cao, nhưng chúng ta ngán ngại chấp nhận những lời Ngài nói về cây thập giá. Theo Chúa lên núi cao để trông thấy sáng láng của Ngài là một việc, nhưng theo Ngài lên núi thập giá lại là một việc khác.
Như thánh Phêrô, chúng ta không muốn lìa bỏ cảnh trên đỉnh núi cao, và chúng ta muốn tránh cây thập giá. Tuy vậy vì là môn đệ của Chúa Giêsu nếu chúng ta "nghe lời Ngài", chúng ta sẽ hiểu được cây thập giá là phần chính trong cuộc đời của Ngài. Chúng ta có thể lựa chọn việc làm môn đệ tren núi cao truoc, và bỏ qua phần Ngài nói sau khi từ trên núi cao xuống. Ngai dạy rằng: "Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em" (20:26-27). Thật ra thì nếu các môn đệ thật sự nghe lời Chúa Giêsu thì họ đã nghe Ngài nói từ trước khi lên đinh núi cao là: "Ai muốn theo Thầy, phải tự bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo" (16:24)
Chúng ta thấy được rằng những trường hợp gặp đau khổ và mất mát trầm trọng đó chính là thập giá của chúng ta. Mổi khi chúng ta chịu đau đớn chúng ta được an ủi là Chúa Giêsu sẽ hiện diện để giúp chúng ta vác thập giá của chúng ta cùng với Ngài. Chúng ta phó mình chúng ta trong tay Ngài, Người thương yêu chúng ta và đã cứu chúng ta khỏi phải thất vọng. Chúa Giêsu trên thập giá là tính cách biểu hiện tình Thương của Thiên Chúa rất thực, vì Ngài thật sự chịu đau khổ của loài người, và Ngài không bao giờ bỏ quên chúng ta đâu. Trong khi chúng ta vác thập giá đau khổ của chúng ta, thì chúng ta đã hiệp thông với Thiên Chúa qua Chúa Kitô, và những lời Thiên Chúa đã nói về Ngài thi Thiên Chúa cũng sẽ nói về chúng ta: "Nầy là con chí ái của Ta". Nhưng, cây thập giá Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ trong phúc âm là một cây thập giá khác với chúng ta, vì chúng ta không có quyền lựa chọn để lảnh nhận đau khổ. Chúng ta được dịp chọn lựa cây thập giá khi nói đến cây thập giá mà Chúa gởi đến cho chúng ta trong phúc am. Chúng ta hảy nghe lại lời Ngài nói: "Nếu ai muón theo Thầy..." Chúa cho chúng ta một dịp chọn lựa để lảnh nhận đau khổ cho đến chết vì Ngài. Trong thơ thánh Phaolô gởi cho Timôtê đọc ngày hôm nay: "nhưng, dựa vao quyền lực của Thiên Chúa, anh em hảy đồng lao cộng khổ với tôi để loan báo tin mừng". Chúa Giêsu lãnh nhận sự chia xẻ về phần "loan báo phúc âm" và mời gọi chúng ta theo Ngài và làm như Ngài đã làm. Nhưng, chúng ta không tự mình chúng ta làm được, như theo thơ gởi Timôtê nhắc nhở chúng ta là: "chúng ta phải dựa vào quyền lực của Thiên Chúa."
Chúa Giêsu mời gọi chúng ta vác thập giá với Ngài: để sống trong tình thương yêu kẻ khác, ngay những lúc bị chống đối hay bị lừa đảo; sống trong tình thương yêu ngay với kẻ thù; sống trong tinh thần phục vụ thương yêu các anh chị em chúng ta, những người nghèo khó, bi ruồng bỏ và bị loại ra ngoài lề xã hội; xây dựng hòa bình trong một xã hội đầy bạo lực v.v... Nói một cách khác là chúng ta sống đời sống của chúng ta như Ngài đã sống, đó là sự hy sinh đời sống hiện tại cho đời sống mới mà Ngài đã tỏ mình sáng láng trên đỉnh núi cao và các môn đệ đã nhận thấy ánh sáng đó. Qua sự chết và sự sống lại của Ngài. Chính cây thập giá đã trở nên sáng láng và là cây để giúp dựng nên một đời sống mới cho những ai nhận lấy nó mà vác theo Ngài.
Trong phúc âm đọc ngày hôm nay có diễn tả tình thân yêu Chúa là: Khi các môn đệ nghe lời nói từ trên tầng mây xuống thi các ông "kinh hoàng, ngả sấp mặt xuống đất". Rồi thánh Mátthêu lại nói tiếp "Chúa Giêsu đến gần chạm vào các ông và bảo "chổi dậy đi, đừng sợ". Khiến cho chúng ta là những người muốn vác thập giá của chúng ta để theo chân Chúa Giêsu phấn khởi và hy vọng. Chi tiết này chỉ có trong phúc âm thánh Mátthêu. Trong suốt phúc âm chúng ta thấy lời Chúa Giêsu, và sự chạm vào Chúa Giêsu là những dịp chữa người đau yếu được lành vì đó là cách Chúa ban sự sống lại.
Cảnh Chúa tỏ minh sáng láng cho chúng ta thấy các môn đệ là những người yếu đuối, họ là những con người như chúng ta, sợ ngã sấp mặt xuống đất và sợ hãi trước sự biểu hiện Thiên Tính của Chúa Kitô. Nhưng, Chúa Giêsu chạm vào và nói một lời nâng đỡ họ làm chúng ta thêm hăng hái, muốn được thực hiện lời hứa làm theo lời Ngài dạy trong mùa chay này là: "Hãy chổi dậy, đừng sợ".
Chuyễn ngữ Fx Trọng Yên,OP.
Lm Jude Siciliano OP
 

MC2-184: Say mê tình yêu với Chúa Kitô

Chúa Nhật II Mùa Chay: Say mê tình yêu với Chúa Kitô
VietCatholic News (Thứ Bảy 16/02/2008 23:53)
ROME (Zenit.org).- Cha Raniero Cantalamessa Dòng Capuchin, là vị giảng Phủ Giáo Hoàng, đã giải thích những bài đọc Thánh Lễ Chúa Nhật II Mùa Chay:

Tại sao đức tin và sự thực hành tôn giáo sút kém, và tại sao đức tin và sự thực hành tôn giáo xem: A63 MC2-184

Tại sao đức tin và sự thực hành tôn giáo sút kém, và tại sao đức tin và sự thực hành tôn giáo xem ra không tạo thành, nhất là không phải cho hầu hết mọi người, là điểm qui chiếu trong đời sống?
Tại sao tình trạng buồn chán, sự mỏi mệt, sự tranh đấu cho những kẻ tin khi thực thi các nhiệm vụ của mình? Tại sao giới trẻ không cảm thấy được hấp dẫn tới đức tin? Nói tóm, tại sao sự buồn tẻ và sự thiếu niềm vui này giữa các kẻ tin vào Chúa Kitô? Biến cố hiển dung của Chúa Kitô giúp chúng ta trả lời các câu hỏi này.
Sự hiển dung có ý nghĩa gì cho ba người môn đệ hiện diện? Cho tới bây giờ các ông chỉ biết Chúa Giêsu bề ngoài: Người không phải là một người khác với những kẻ khác; các ông biết Người đến từ đâu, biết những tập quán, âm sắc của Người. Bây giờ các ông thấy một Giêsu khác, Giêsu thật, một Giêsu không thể thấy được với những con mắt sự sống thường ngày, dưới ánh sáng bình thường của mặt trời; điều mà bây giờ các ông biết về Người là hậu quả của một sự mạc khải thình lình, của một sự thay đổi, của một ân huệ.
Bởi vì những sự việc cũng thay đổi đối với chúng ta, cũng như đã thay đổi cho ba môn đệ trên núi Tabor; một điều gì cần xảy đến trong những cuộc đời chúng ta tương tự như điều xảy đến khi một chàng trai và một thiếu nữ phải lòng nhau. Khi phải lòng với một kẻ nào, là người yêu, trước đây là một trong số nhiều người, hay có lẽ là một người xa lạ, thình lình lại trở thành một kẻ duy nhất, người duy nhất trong thế giới làm chúng ta quan tâm. Mọi sự khác bị bỏ lại đàng sau và trở thành một thứ hậu cảnh trung lập. Người ta không thể nghĩ tới cái gì khác. Một sự hiển dung thật xuất hiện. Người yêu xem ra như một hào quang sáng ngời. Mọi sự thuộc về cô ấy đều đẹp, cả những khuyết điểm. Người ta cảm thấy mình không xứng đáng với cô. Tình yêu thật phát sinh tính khiêm nhượng.
Một cái gì cụ thể cũng thay đổi trong chính những tập quán con người. Tôi biết những người trẻ mà cha mẹ không thể kéo chúng khỏi giường mỗi buổi sáng để đi học; hay là sao lãng việc học hành và không thể đổ đạt. Sau đó, một khi chúng phải lòng người nào và đi vào một tương quan nghiêm chỉnh, chúng nhảy xuống khỏi giường trong buổi mai, chúng nôn nóng cho hết buổi học, nếu chúng có một việc làm, chúng giữ khăng khăng sự đó. Cái gì đã xảy ra? chẳng có gì cả, đó đúng là điều mà trước đây chúng bị cưỡng ép làm, bây giờ chúng làm vì một sự hấp dẫn. Một sự lôi cuốn cho phép người ta làm những sự sức mạnh không thể bắt người ta làm; điều đó đặt cánh trên chân người ta. “Mỗi người,” thi sĩ Ovid nói, “bị đối tượng của sở thích mình lôi kéo.”
Một cái gì thuộc loại phải xảy ra một lần trong cuộc sống chúng ta là thật cho chúng ta, là những Kitô hữu xác tín, và vui mừng khôn xiết vì được như vậy. Có người nói, “Những người nam trẻ và người nữ trẻ được thấy và được tiếp xúc!”
Tôi trả lời: Chúng ta thấy và cũng tiếp xúc Chúa Giêsu, nhưng với những con mắt khác và những bàn tay khác—những con mắt và những bàn tay tâm hồn, đức tin. Người đã sống lại và sống động. Đối với những đã trải qua và biết Người, Người là một hữu thể cụ thể, không phải là cái gì trừu tượng.
Thật vậy, với Chúa Giêsu những sự việc tiến hành còn tốt hơn. Trong tình yêu nhân bản chúng ta tự lừa dối mình, chúng ta gán những ân huệ cho người yêu mà họ không có và với thời gian chúng ta thường bị bắt buộc thay đổi lòng trí chúng ta về họ. Trong trường hợp Chúa Giêsu, người ta càng biết Người và càng ở chung với Người, thì người ta càng khám phá những lý do mới để yêu mến Người và được củng cố trong sự lựa chọn của mình.
Điều này không có nghĩa là với Chúa Kitô chúng ta cũng phải đợi “cú sét” cổ điển tình yêu. Nếu một người nam trẻ hay một người nữ trẻ ở trong nhà luôn mà không thấy ai, thì không gì sẽ xảy ra trong đời sống của anh hay của chị. Muốn yêu ai anh chị phải tiếp xúc với người ta!
Nếu người ta xác tín, hay là đơn giản bắt đầu nghĩ rằng điều tốt và đáng giá là biết Chúa Giêsu Kitô trong cách khác này, là hiển dung, bấy giờ người ta phải ở với Người, đọc những tác phẩm của Người. Sách Tin Mừng là thơ tình yêu của Người! Chính ở đó Người mạc khải chính mình, ở đó Người: biến hình” chính mình. Nhà của Người là Giáo Hội: Chính ở đó người ta gặp Người.
Đ.Ô Nguyễn Quang Sách
 

MC2-185: Mỗi người vẫn tiếp tục phải vác thập giá của mình

Tin mừng hôm nay thuật rằng sau khi đưa các môn đệ lên núi, thì Chúa biến hình đổi dạng trước: A64 MC2-185

Tin mừng hôm nay thuật rằng sau khi đưa các môn đệ lên núi, thì Chúa biến hình đổi dạng trước mắt các ông. Dung nhan Chúa chói lọi như mặt trời và y phục trở nên trắng tinh như ánh sáng. Các môn đệ nhận ra dung nhan chân thực của Chúa Giêsu, nhận ra tư cách làm Con Thiên Chúa vinh quang và huy hoàng của Ngài. Đó là một Chúa Giêsu khác hẳn một vị thầy thường ngày vẫn lang thang đây đó để rao giảng và cứu giúp.
Các môn đệ cảm thấy sung sướng và hạnh phúc ngất ngây. Các ông muốn sống mãi với tình trạng vinh quang của Chúa, các ông muốn sống mãi với kinh nghiệm hạnh phúc của mình. Các ông không muốn xuống núi. Các ông đã muốn dựng lều ở đó. Một thoáng thiên đàng xuất hiện trước mắt các ông và các ông muốn sống mãi trong cảnh thiên đàng ấy.
Đây cũng là kinh nghiệm rất con người, một kinh nghiệm thường thấy nơi con người. Ông Xuân Diệu trong một bài thơ đã viết rằng: “Tôi muốn tắt nắng đi/ Cho màu đừng nhạt mãi. Tôi muốn gói gió lại/ Cho hương đừng bay đi”. Ông Xuân Diệu muốn sống mãi với cái hương sắc hạnh phúc của mình. Hồi còn ở trung học, tôi có được học truyện Chí Phèo của nhà văn Nam Cao. Tôi thấy Chí Phèo cũng biết vậy. Sau khi gặp gỡ Thị Nở, được Thị Nở cho ăn cháo hành, sau khi hồi sinh ước muốn làm người lương thiện, Chí Phèo nói với Thị Nở: “Giá cứ thế này mãi thì thích nhỉ!” Câu nói ấy có khác gì câu nói của thánh Phêrô nói với Chúa Giêsu trong bài Tin mừng hôm nay: “Thưa thầy, chúng con ở đây hay quá! Chúng con xin dựng tại đây 3 lều”.
Chúng ta cũng vậy thôi. Chúng ta vừa trải qua những ngày hội lớn của đức tin ở Toà Khâm Sứ, chứng tỏ sự trưởng thành của giáo dân trong Giáo Phận Hà Nội chúng ta; chúng ta cũng vừa trải qua một cái tết vui tươi và bình an. Tất cả đã khép lại rồi. Nhưng chúng ta dường như ai cũng muốn niềm vui của những ngày ấy được tiếp tục kéo dài. Ước mong sống mãi trong cảnh hạnh phúc, ước mong kéo dài sự huy hoàng là ước mong của mọi người.
Tuy nhiên, ý các môn đệ không phải là ý Chúa. Ý của chúng ta cũng không phải là lẽ đương nhiên. Phải sớm chấm dứt và phải trở về với đời thường như thế mới là tốt và cuộc sống mới tồn tại và phát triển. Phải xuống núi để đi trọn kiếp người và cuộc đời cùng Chúa. Phải thế thôi, vì chính Chúa hôm nay sau phút giây vinh quang, huy hoàng cũng phải xuống núi để đi trọn con đường thập giá của mình. Nếu chưa sống trọn cuộc đời này làm sao có thể hưởng trọn thiên đàng? Nếu chưa đi qua cái chết làm sao có thể chiến thắng khải hoàn trọn vẹn? “Đây là con yêu dấu của Ta (...) Các ngươi hãy vâng nghe lời người”. Một thoáng thiên đàng giờ đây đã biến mất, một thoáng thiên đàng giờ đây đã kết thúc. Chỉ còn vang vọng lệnh truyền “Hãy vâng nghe lời người!”
“Hãy vâng nghe lời người!” Đấy là điều cần phải lắng đọng trong tâm tư chúng ta, những người theo Chúa, trong hoàn cảnh hiện tại của mình là tín hữu của Giáo phận Hà Nội và của Giáo xứ Thái Hà này, nơi hơn đâu hết và hơn lúc nào hết đang cần sự hiệp nhất nên một giữa các thành phần dân Chúa với các vị chủ chăn.
Hạnh phúc và vinh quang của người tin Chúa là ở chỗ ấy. Dám lên núi và cũng dám xuống núi cùng Chúa. Cùng Chúa dám sống những giây phút thăng hoa. Cùng Chúa dám đối diện với những thủ thách gian nguy. Cùng Chúa dám đi trọn con đường thập giá của mình. Khi ấy, chúng ta sẽ được biến hình. Khi ấy chúng ta sẽ được sống trong hạnh phúc. Khi ấy chúng ta sẽ chiếu toả vinh quang của TC cho những người xung quanh.
Tôi nhớ đến bộ phim tài liệu đọat giải nhất của Liên hoan phim toàn quốc năm 1995. Đó là bộ phim Chuyện từ một góc công viên của đạo diễn Trần Văn Thuỷ. Bộ phim mở đầu bằng cảnh chụp hình ở công viên Lênin và kết thúc bằng một cảnh cầu nguyện đọc kinh trước hang đá Đức Mẹ ở nhà thờ Hàm Long, giáo xứ hàng xóm của Thái Hà chúng ta đây. Nội dung bộ phim nói về cuộc sống của gia đình anh Sơn, thuộc giáo xứ Hàm Long. Anh vốn là cựu binh thời chiến tranh 1954-1975. Do bị ảnh hưởng của chất độc màu vàng da cam, hai người con anh sinh ra đã bị tật nguyền. Người con gái lớn sống như một sinh vật. Mọi sinh họat duy trì sự sống đều phải cậy nhờ người khác. Người con trai còn lại bị mù loà. Để đảm bảo cuộc sống của cả gia đình, anh làm thợ chụp ảnh dạo ở công viên Lênin. Vợ anh làm nghề may tại nhà. Bố anh đưa cháu trai mù loà đi học. Mẹ anh bán nước chè trên vỉa hè.
Gia cảnh như thế người ta tưởng không có gì là lạ khi hạnh phúc và bình an vắng bóng. Thế nhưng không phải vậy. Gia đình anh rất hạnh phúc. Hạnh phúc trong tình yêu thương đùm bọc, chung thuỷ và hy sinh phục vụ nhau. Gia đình anh rất bình an. Người ta có thể thấy sự bình an tràn ngập ngôi nhà nhỏ bé của anh. Người ta có thể thấy sự bình an chiếu toả trên khuôn mặt mỗi con người trong gia đình ấy. Nhất là trên khuôn mặt người vợ của anh Sơn. Đạo diễn Trần Văn Thuỷ trong một dịp trò chuyện với chúng tôi về bộ phim tại tu viện DCCT Hà Nội đã chia sẻ rằng chính sự bình an toả rạng trên khuôn mặt và trong giọng nói của những người trong nhà này đã hấp dẫn ông, khiến ông hay đến thăm và cuối cùng đã quyết định làm một bộ phim tài liệu về gia đình này.
Bộ phim kết thúc bằng cảnh mẹ anh Sơn và người bạn đời của anh đọc kinh Lạy Cha, kính mừng cầu nguyện trước hang đá Đức Mẹ ở nhà thờ Hàm Long. Tôi thấy rằng, gia đình anh Sơn cho đến nay tiếp tục vẫn tiếp tục phải đương đầu với những khó khăn và thử thách của đời thường muôn mặt. Mỗi người vẫn tiếp tục phải vác thập giá của mình. Nhưng tôi tin rằng gia đình anh đang được biến hình trong Chúa khi can đảm và quảng đại vác thập giá cùng Chúa và bằng cuộc sống đời thường của mình, gia đình đang chiếu toả vẻ huy hoàng tốt đẹp của Chúa cho những người xung quanh.
Ai trong chúng ta cũng muốn đổi đời để được hạnh phúc. Cầu xin cho chúng ta biết góp phần xây dựng cuộc hạnh phúc ấy bằng cách can đảm cùng Chúa đón nhận những thập giá của đời thường hiện còn đang chất đầy trong cuộc đời chúng ta, trong Giáo phận Hà Nội và Giáo xứ Thái Hà chúng ta. Amen.
LM. Phêrô Nguyễn Văn Khải, DCCT
 

MC2-186: Biến hình là hiến mình

Sáu ngày sau khi Phêrô tuyên tín Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa hằng sống và cũng sau khi: A65 MC2-186

Sáu ngày sau khi Phêrô tuyên tín Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa hằng sống và cũng sau khi ông bị khiển trách   là Xatan vì khuyên can Thầy đừng đi vào con đường khổ nạn như Người đã tiên báo (x. 16, 13-23), Chúa Giêsu dẫn ba môn đệ lên núi, cho các ông diện kiến vinh quang rạng ngời của Thiên Chúa đúng như Phêrô đã tuyên xưng trước đó. Với biến cố này, Chúa Giêsu muốn cho Phêrô, Giacôbê và Gioan cũng như cho mỗi người tín hữu chiêm ngưỡng trước vinh quang mà Người sẽ lãnh nhận cách hoàn hảo sau cuộc Thương Khó.
Đem ba môn đệ đi theo mình, Chúa Giêsu không chỉ muốn các ông chứng kiến, chạm đến con người Thiên tính của Người; không chỉ muốn các ông nghe trực tiếp lời minh chứng của Chúa Cha về Người mà còn để củng cố niềm tin cho các ông nữa. Ba môn đệ là những người đầu tiên bước theo Chúa. Các ông là những cột trụ của Giáo hội sau này. Chính vì thế, biến cố hôm nay là một biến cố rất quan trọng cho đức tin của các ông mà Chúa Giêsu cách nào đó muốn tỏ hiện để củng cố niềm tin vốn còn yếu nơi con người các ông.
Ba môn đệ đã thấy gì? Tin mừng cho chúng ta biết các ông đã thấy dung nhan của Thầy mình “chói lọi như mặt trời” và y phục của Thầy thì “trắng tinh như ánh sáng”. Các tác giả thể văn khải huyền thường miêu tả sự sáng ngời của những người lành thánh bằng hình ảnh sáng chói như mặt trời. Cũng vậy, thánh sử Mátthêu đã diễn tả dung nhan và y phục rạng ngời của Chúa Giêsu tựa như ánh sáng mặt trời – một sự chói lọi vinh quang Thiên tính không thể diễn tả, nhằm giúp cho các môn đệ chiêm ngưỡng vẻ đẹp vinh quang rạng ngời của Chúa Giêsu.
Bên cạnh đó, cả ba môn đệ đều chứng kiến sự hiện diện của hai nhân vật vĩ đại trong Cựu ước là Môsê và Êlia đàm đạo với Chúa Giêsu. Chiêm ngưỡng cảnh huy hoàng này khiến thánh phêrô phải thốt lên : “Lạy Ngài, chúng con ở đây, thật là hay” và xin được dựng lều ngay lập tức để giữ mãi giây phút thiên đàng ấy. Không phải ngẫu nhiên mà Tin mừng Nhất lãm đều nói đến sự hiện diện của hai nhân vật trong Cựu ước là Môsê và Êlia.
Chúng ta biết, Môsê và Êlia là hai nhân vật quan trọng của Cựu ước cũng như trong lịch sử dân Dothái. Môsê đại diện cho Lề luật dân Dothái. Thông qua ông, Giavê Thiên Chúa đã ban xuống cho dân Người những giới luật làm kim chỉ nam, hướng dẫn tinh thần cho dân tộc Dothái. Môsê chính là con người của Biển Đỏ, con người của núi Xinai và là con người của cuộc Xuất hành. Còn Êlia là một Ngôn sứ vĩ đại, ông đại diện các Ngôn sứ. Chính ông là người chịu nhiều đau khổ vì Giavê Thiên Chúa, vì dân tộc Israel để rồi sau đó được cất lên trong vinh quang.
Cả hai ông đều có kinh nghiệm tiếp xúc với Giavê Thiên Chúa và được chiêm ngưỡng vinh quang của Người trên núi Sinai và Khôrếp. Đặc biệt hơn, khi nhắc đến tên hai ông, Tin mừng Nhất lãm không chỉ chỉ nhắc đến những công trạng của các ông mà còn nhắc đến toàn bộ Kinh thánh Cựu ước mà hai ông đại diện. Mà Kinh thánh Cựu ước là gì nếu không phải là lời loan báo về một Đấng Mêsia chịu nhiều đau khổ để đạt đến vinh quang?
Các môn đệ còn được nghe tiếng nói phát xuất từ Chúa Cha xác nhận nhân thân của Thầy: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người”. Chúng ta nghe rất quen câu nói này, bởi đã một lần được nhắc đến trên dòng sông Giođan khi Chúa Giêsu chịu phép rửa. Đồng thời chúng ta cũng thấy lạ, bởi hôm nay Chúa Cha không chỉ tái khẳng định lời Người đã nói mà còn kéo thêm một lệnh truyền: hãy vâng nghe lời Người. Ngày xưa, dân Dothái được khuyên nhủ hãy vâng nghe lời Môsê và các ngôn sứ là những người thay mặt Giavê Thiên Chúa đến lãnh đạo họ. Ngày nay, Chúa Giêsu chính là Môsê mới và chính Chúa Cha nhắc nhớ các môn đệ cũng như cho tất cả chúng ta hãy vâng nghe lời Người, mời gọi các ông biết đón nhận những biến cố trong cuộc Khổ nạn – Phục sinh của Thầy để có thể trở nên những chứng nhân đích thực.
Mùa Chay chỉ thực sự có ý nghĩa khi mỗi người chúng ta để cho Chúa biến đổi đời sống mình. Biến hình là hiến mình. Chúa biến hình nhằm giúp chúng ta ý thức rằng vinh quang mà Chúa tỏ hiện hôm nay sẽ trở nên trọn vẹn khi Người chấp nhận cuộc Khổ nạn, chấp nhận thập giá để cứu rỗi nhân loại. Mỗi người chúng ta cũng được mời gọi biến đổi khi biết chấp nhận một cuộc thanh tẩy tâm hồn, tránh xa những cạm bẫy tội lỗi, những tư lợi nhỏ nhen ích kỷ hầu có thể đón nhận ơn thánh Chúa.
Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb
 

MC2-187: BIẾN HÌNH: BIẾN CỐ CẦU NGUYỆN

(CN 2MC – Mt 17, 1-8)

Trong cuốn “Đức Giêsu thành Nazaret”, ĐTC Bênêđictô XVI đã chiêm niệm về cuộc biến: A66 MC2-187

Trong cuốn “Đức Giêsu thành Nazaret”, ĐTC Bênêđictô XVI đã chiêm niệm về cuộc biến hình và Ngài đã để lại cho tôi một vài ghi nhận giúp tôi biến đổi đời sống tâm linh của mình. Ngài đã viết rằng:
“Biến Hình là một biến cố cầu nguyện. Biến Hình để lộ ra cách minh nhiên những gì đang xẩy ra khi trò chuyện với Cha của Ngài. Hữu Thể của Ngài xâm nhập cách sâu xa với Thiên Chúa, sau đó trở nên ánh sáng tinh tuyền. Trong việc trở nên một với Chúa Cha, chính Đức Giêsu là “ánh sáng từ ánh sáng”....    Sau đó, Ngài tiếp tục suy niệm:
“Kinh nghiệm trở nên ánh sáng từ và với Đức Chúa, đòi hỏi chúng ta phải được đốt cháy bởi ánh sáng của Cuộc Thương Khó và vì thế, được biến đổi”.
Từ những chiêm niệm sâu xa này, tôi nhớ lại câu chuyện rất đơn sơ, chân thành nhưng cũng vô cùng cảm phục sự ngay thẳng của chị T. trong nhóm Khuyết Tật Têrêsa Mai Khôi. Trong buổi chia sẻ Lời Chúa, chị đã chân tình nói lên điều mà có lẽ rất nhiều người mạnh khỏe và tràn đầy ơn thánh đã không dám thổ lộ. Thế nhưng, chị đã khiêm tốn chia sẻ nỗi lòng của mình như sau:
“Thưa các bạn,
Trong tuần vừa qua, T đã trải qua một cơn cám dỗ rất mãnh liệt. Đó là sự cám dỗ về tình dục đến với T. Như các bạn biết, dù 2 chân của T. co cụm lại do bệnh tật từ lâu và không thể nào duỗi thẳng ra được nữa để đi đứng giống các bạn. Nhưng T. ăn vẫn khỏe. Do đó, các bạn biết, T. cũng cân nặng không dưới 60 kg. Với tuổi 30, đời sống tình dục của T. vẫn có và đã có lúc đòi hỏi rất cào cấu điên loạn. Điều này đã làm cho T. chao đảo quay cuồng để thỏa mãn trong phạm vi cuộc sống hạn hẹp và bế tắc của mình. Thế nhưng, mỗi khi cơn cám dỗ đến, T. đã đơn giản nhớ lại lời Chúa Giêsu nói với các môn đệ trong vườn Giêstsimali rằng: “Các con hãy cầu nguyện để khỏi sa chước cám dỗ”.
Thế là T. cố tạm quên đi được sự đòi hỏi quái ác kia bằng vào việc cầu nguyện với Chúa Giêsu và nhớ lại cuộc Thương Khó của Người. T. đã miệt mài xin Người biến đổi tâm  hồn vẩn đục của mình để T. không còn vướng bận vào những đáp ứng thỏa mãn trên. Sau đó, T. có chút nguôi ngoai rồi quên lãng. Nhưng cơn khát vọng xấu xa đó vẫn chưa dễ dàng gì giập tắt được và mỗi lần nó trở lại, T. luôn tiếp tục và vẫn kiên trì cầu nguyện.
Và thưa các bạn, sau nhiều lần như thế và rồi bây giờ thì, nhờ ơn Chúa, T. đã không còn nghĩ đến cơn cám dỗ tình dục ấy nữa. T. đã được Chúa biến đổi để không còn phải vương vấn với những đòi hỏi sa đọa mà thời gian vừa qua T. bị choáng ngợp và thúc bách T. thỏa mãn xác thịt yếu đuối của mình.
T. cũng xin các bạn thêm lời cầu nguyện cho T. để khỏi sa chước cám dỗ và để mãi luôn được sống trong tâm hồn tinh tuyền như Chúa mong muốn nơi T. cũng như nơi từng người trong các bạn. T. xin hết và cám ơn các bạn đã lắng nghe.”
Trước tâm tình chia sẻ rất hồn nhiên, rất chân thành và cũng rất thực khi cuộc sống có quá nhiều cạm bẫy, tôi có thêm được kinh nghiệm về sức mạnh cầu nguyện. Chính cầu nguyện đã biến đổi chị trở nên thanh sạch, dù không phải một sớm một chiều chị thoát ra khỏi cơn cám dỗ đời thường đó được. Lời Chúa trong sách Khải Huyền cũng đã minh chứng:
“Họ là những người đã đến, sau khi trải qua cơn thử thách lớn lao. Họ đã giặt sạch và tẩy trắng áo mình trong Máu Con Chiên” (Kh 7, 14).
Sức mạnh cầu nguyện còn làm biến đổi đời sống ngôn sứ của Kitô hữu như thánh Phaolô đã kinh nghiệm và khẳng định với cộng đòan Côrintô:
“Vì hồi còn ở giữa anh em, tôi đã không muốn biết đến chuyện gì khác ngoài Đức Giêsu, mà là Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh vào thập giá. Vì thế khi đến với anh em, tôi thấy mình yếu kém, sợ sệt và run rẩy. Tôi nói, tôi giảng mà chẳng có dùng lời lẽ khôn khéo hấp dẫn, nhưng chỉ dựa vào bằng chứng xác thực của Thần Khí và quyền năng của Thiên Chúa. Có vậy, đức tin của anh em mới không dựa vào lẽ khôn ngoan người phàm, nhưng dựa vào quyền năng Thiên Chúa.” (1Cr 2, 2-5)
Như vậy, cầu nguyện với Đức Kitô Phục Sinh, con người yếu đuối mỏng dòn sẽ tiếp nhận được ánh sáng, như Người đã mặc khải:
“Tôi là ánh sáng thế gian.
Ai theo tôi, sẽ không phải đi trong bóng tối,
Nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống.” (Ga 8, 12)
Từ những suy tư mà tôi vừa ghi nhận, tôi cảm nghiệm thêm rằng, không phải chỉ có các đấng bậc có chức thánh mới giúp tôi nhận ra chân lý, mà còn có cả những con người khốn khổ, tầm thừơng nhỏ bé cũng có thể là những dấu chỉ, những lời cần tôi phải biết tỉnh táo lắng nghe. Chị T. đã phần nào đánh động tâm hồn và nhắc nhở tôi biết nhìn lại con người yếu hèn của mình. Có những khi tôi tự mãn về những ơn Chúa ban, mà quên đi rằng cuộc sống của tôi còn phải đứng vững trong sự kiên trì bám đuổi.
Khi nhìn vào thánh Phêrô, người đã được chiêm ngưỡng sự biến hình kỳ diệu của Đức Giêsu và khi “dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng” (Mt 17, 2), vị Tông Đồ Cả đã thưa với Đức Giêsu rằng:
“Lạy Ngài, chúng con ở đây, thật là hay! Nếu Ngài muốn, con xin dựng tại đây ba cái lều, Ngài một cái, ông Môsê một cái và ông Êlia một cái” (Mt 17, 4)
Nhưng Đức Giêsu đã dộng viên, an ủi các ông khi các ông kinh hoàng trước đám mây và nghe được lời phán của Chúa Cha. Người đã lại gần, chạm vào các ông và bảo đồng thời nhắc nhở các ông với một lòng yêu thương là:
“Chỗi dậy đi, đừng sợ!”  (Mt 17, 7)
Quả thật, một khi đã lãnh nhận được những ân lộc của Chúa ban, đôi khi tôi mất cảnh giác trước những “viên đạn bọc đường”, những cám dỗ ngon ngọt của xác thịt, của thế tục bởi hạnh phúc trước mắt đó chưa là đích điểm mà mới chỉ là một điểm nhấn để giúp tôi tiếp tục đi đến hạnh phúc đích thực là Nước Trời trên con đường tìm kiếm. Vì thế, thánh Phaolô khuyên nhủ môn đệ Timôthê rằng:
“Anh yêu quí, dựa vào sức mạnh của Thiên Chúa, anh hãy đồng lao cộng khổ với tôi để loan báo Tin Mừng. Người đã cứu độ và kêu gọi chúng ta vào dân thánh của Người, không phải vì công kia việc nọ, nhưng là do kế hoạch và ân sủng của Người. Ân sủng đó, Người đã ban cho chúng ta từ muôn thuở trong Đức Giêsu Kitô.” (2Tm 1, 8-9)
Lạy Cha Nhân Lành,
Chúng con cám ơn Cha đã cho chúng con 40 ngày Chay Thánh để nhìn lại đời sống tâm linh hầu biết cải quá tự tân bằng những phương cách mà chính Con Một Cha đã trải qua từ những cám dỗ đời thường như cơm bánh, như bản tính kiêu ngạo hay quyền lực cho đến những tư tưởng không phải là tư tưởng của Thiên Chúa.
Xin Cha ban Thần Khí Thánh của Cha để chúng con luôn biết sống kết hợp lắng nghe và tuân giữ lời mặc khải của Chúa Giêsu, Con Yêu Dấu của Cha. Có như thế chúng con mới sống đẹp lòng Cha trong Mùa Chay Thánh này. Amen.
Chúa Nhật 2MC, 17/02/2008 Phêrô Vũ văn Quí CVK64
Email: peterquivu@gmail.com
 

MC2-188: Những chứng nhân trên núi cao

 - Trần Mỹ Duyệt

Biến cố Chúa Giêsu biến hình trên núi cao và biến cố Ngài sầu não trong vườn Cây Dầu có: A67 MC2-188

Biến cố Chúa Giêsu biến hình trên núi cao và biến cố Ngài sầu não trong vườn Cây Dầu có một liên hệ mật thiết, và khiến chúng ta nghĩ đến 3 Tông Đồ mà Ngài đã cho tham dự trong cả hai biến cố này: Phêrô, Giacôbê, và Gioan. Họ là những chứng nhân của vinh quang, cũng như  sự khổ nạn của Chúa Giêsu.
Thánh Kinh kể lại, ba Tông Đồ mà Chúa Giêsu cho tham dự một cách mật thiết với Ngài trong những vinh quang, huy hoàng, cũng như trong những giờ phút đen tối, buồn sầu của Ngài trrong sứ vụ cứu độ trần gian. Theo những trình thuật của Thánh Kinh, ta có thể hiểu phần nào lý do mà Chúa Giêsu đã chọn Phêrô, Giacôbê và Gioan. Bởi vì nơi những Tông Đồ này thể hiện những đức tính cần thiết cho đời sống đạo, và chứng nhân của Kitô hữu chúng ta.
Phêrô, Tông Đồ Cả. Người thuyền chài đầy nhiệt tình, năng nổ, những cũng lại rất nóng nẩy và bộc trực. Nghĩ sao nói vậy. Nghĩ sao làm vậy. Yêu Thầy tha thiết, nhưng khi gặp khó khăn, cũng chối Thầy một cách không thương tiếc. Không những chối, mà còn thề độc nữa: “Tôi không hề biết người ấy là ai” (Mt 26:74).
Cái hay của Phêrô là tuy yếu đuối, nhưng không hề bao giờ ngã lòng. Yêu và mến Thầy với tất cả con tim. Yêu và mến Thầy như Thầy đáng yêu và đáng mến. Yêu và mến Thầy như mình có thể yêu và có thể mến. Và đó là điều mà Chúa Giêsu đã nhìn thấy nơi Phêrô xuyên qua cả những yếu đuối và khuyết điểm của Ông. Nhờ đó, Chúa đã chọn Ông làm đá tảng cho tòa nhà Giáo Hội của Ngài, cũng như trước khi về trời, đã giao cho Ông trách nhiệm hướng dẫn và chăm lo đời sống tâm linh cho các tín hữu của Ngài.
Giacôbê, một Tông Đồ âm thầm nhưng mực thước. Một Tông Đồ biết ứng dụng cách hài hòa lý thuyết và thực hành. Không nổi nang, không chói sáng nhưng âm thầm và sống trung thành với sứ vụ. Ngoài vài lần được nhắc tới trong Thánh Kinh, còn lại hầu như cũng tan biến vào đoàn người theo Chúa thời bấy giờ.
Đọc lại Thánh Kinh và theo dõi tư tưởng của Ông qua những trang viết của Ông, ta có thể tìm thấy nơi Ông một tâm hồn nhiệt thành, sâu lắng, chú tâm vào hành động và đời sống thực hành hơn là những gì có tính cách bề ngoài. Là anh em họ hàng với Chúa, nhưng Ông đã không dùng ảnh hưởng này để tìm cầu địa vị hay sự chú ý của Chúa, ngoại trừ có lần mẹ ông đã làm điều này nhưng đã bị Ngài phiền trách. Ông chính là đại diện cho số đông Kitô hữu chúng ta, những kẻ tin theo Chúa đang âm thầm và sống trọn với ơn gọi của mình giữa mọi môi trường của cuộc sống. Không ồn ào, không địa vị, và ít được ai biết đến.
Sau cùng là Gioan, vị Tông Đồ của nội tâm, của lòng yêu mến thâm sâu. Những gì Gioan đã viết và cuộc sống của Ông bên Mẹ Maria sau ngày Chúa Giêsu về trời đã cho thấy Ông là một tâm hồn chiêm niệm và sống khắng khít với Chúa. Ngôi Lời mà Ông chiêm ngắm từ Thượng Trí đã đi vào đời qua con người của Đức Giêsu là những gì mà trí khôn nhân loại không hiểu thấu. Và là những gì đến từ Chúa Cha. Điều này cần phải được Thánh Linh soi dẫn mới có thể hiểu được.
Với cặp mắt thần bí ấy, trước vinh quang trên núi cao, và trước những sầu buồn, tê tái trong vườn Cây Dầu, Ông đã nhìn ra Thiên Chúa nhập thể, để Ông yêu mến, tôn thờ, và làm chứng nhân. Tình yêu cao sâu nhiệm mầu của Thiên Chúa luôn luôn làm Ông say đắm. Tình yêu ấy đã làm cho Ông chất nghất và như đôi cánh phượng hoàng, nâng Ông bay bổng trên bầu trời tình yêu Thiên Chúa. Ông đại diện cho những tâm hồn thần hiệp, và luôn luôn kết hợp mật thiết với Chúa qua kinh nguyện, chiêm niệm và dâng hiến.
Tóm lại, để hiểu Chúa, để chia sẻ với Ngài trong tận cùng ý nghĩa của cuộc sống. Để trở thành những chứng nhân của Ngài giữa lòng đời, Kitô hữu chúng ta phải nhiệt thành, sống sắng như Phêrô. Phải chiêm niệm, cầu nguyện và kết hợp như Gioan. Và phải đi vào thực hành như Giacôbê. Và đó cũng là lý do chúng ta có thể tìm thấy nơi ba khuôn mặt đã được Chúa Giêsu cho tham dự những giây phút vinh quang biến hình sáng láng của Ngài trên núi cao. Cũng như những giây phút đắng cay, sầu khổ, và đem tối trong vườn Cây Dầu.
Đời sống Kitô hữu là một chuỗi ngày trên hành trình đức tin. Người Kitô hữu không độc hành mà là đi với anh chị em mình. Do đó, vừa phải có bổn phận hoàn tất và đi trọn con đường mình, và cũng phải trở thành bạn hữu tốt với những người cùng đi với mình. Đó là sứ mạng rao truyền và làm chứng nhân cho Thiên Chúa.  Để đạt được điều ấy, họ phải có lòng nhiệt thành như Phêrô, phải có lòng mến thẳm sâu và chiêm ngắm Ngôi Lời qua hình hài một người phàm như Gioan, và phải biết sống thực tế đức tin mình qua hành động như Giacôbê.
Chúa Giêsu đã biết hình trên núi thánh. Ngài cũng đã phiền muộn, hấp hối trong vườn Cây Dầu vì tội nhân loại hơn 2000 năm. Nhưng hiểu được và thâm cảm được, cũng như sống được tinh thần biến hình ấy, tinh thần khổ nạn ấy vẫn là câu hỏi mà mỗi Kitô hữu chúng ta phải tự vấn; đặc biệt, trong Mùa Chay là mùa cầu nguyện, thống hối ăn năn và sửa đổi nội tâm.
 

MC2-189: PHẢI CHỜ…

(Suy niệm Tin Mừng CN II MC) của tác giả: Lm Joseph Đinh Tuấn Việt

Thỉnh thoảng vẫn có những tin tức thuộc loại “buồn cười” hoặc “cười ra nước mắt.” Chẳng: A68 MC2-189

Thỉnh thoảng vẫn có những tin tức thuộc loại “buồn cười” hoặc “cười ra nước mắt.” Chẳng hạn, cách đây ít lâu, có bài báo nói về chuyện một thanh niên giật giỏ của một phụ nữ mà không bỏ chạy. Anh ta chỉ muốn bị cảnh sát bắt để được nổi tiếng. Một mẩu tin khác kể về một cô gái trẻ đứng ở một nơi công cộng ngậm một lúc 10 điếu thuốc lá mà hút để được đăng báo. Chưa hết, có người leo lên một toà nhà cao tầng và thông báo cho mọi người rằng mình sắp tự tử. Cảnh sát kéo đến thuyết phục và kéo được anh ta xuống. Sau khi báo chí đăng tải về tin giật gân này thì anh ta tiết lộ rằng anh đâu dại gì mà nhảy xuống. Mục tiêu của anh là được lên báo. Thế thôi.
Từ xưa đến nay, hầu như thời nào cũng có những người muốn nổi tiếng. Mơ ước được chúc tụng, được tung hô, được khen ngợi, được nhiều người biết đến gắn bó với con người vì nó tạo cho họ cảm giác an toàn, có giá trị, có tầm vóc. Nói đến đây, hẳn ta sẽ thắc mắc tại sao Thầy Giêsu lại hành xử ngược lại hoàn toàn. Giữa lúc các môn đệ đang há hốc miệng ngạc nhiên chứng kiến cảnh “biến hình” của Thầy mình trên núi Ta-bo thì Thầy là dặn rất kỹ: “Đừng nói cho ai biết việc này.” Tại sao Thầy làm thế? Chẳng phải là càng nhiều người biết đến thì càng thuận lợi cho sứ mạng loan báo Nước Thiên Chúa của Thầy sao? Chẳng phải người ta càng cảm phục sự vĩ đại của Thầy thì họ càng dễ tin sao? Khó hiểu!
Bạn thân mến, có một câu chuyện khác giúp ta hiểu lý do. Chuyện là thế này: Có một chàng thanh niên, tuổi đời chừng ngoài ba mươi một chút. Anh có vẻ hơi đặc biệt so với những người khác. Trong khi bạn bè cùng trang lứa lo lắng chuyện yên bề gia thất, ổn định công ăn việc làm, xoay xở để có một cuộc sống thoải mái thì anh lại chọn dành thời giờ của mình cho người khác. Anh đến thăm họ, lắng nghe tâm sự của họ. Thấy họ có nhu cầu gì mà anh giúp được thì đều giúp tận tâm. Tâm niệm của anh là mang sự bình an đến cho từng người anh gặp gỡ trên dòng đời. Người ta kể rằng từ hồi còn nhỏ anh đã có tính cách như thế. Gia đình anh sống ở một vùng quê nghèo, quanh năm lam lũ. Thấy anh tài giỏi, hàng xóm khuyên anh nên đi ra thành phố để lập nghiệp thì tương lai sẽ sán lạn hơn. Nhưng anh và gia đình anh lại chọn ở lại với một lý do khá ngộ nghĩnh: ở đây có nhiều cảnh đời đáng thương. Chẳng ai hiểu nổi cái lý luận ấy.
Rồi một ngày kia, anh quyết định rời làng quê để mở rộng chí hướng của mình. Bấy giờ, người ta chợt nhận ra rằng họ đã mất đi một ai đó quý giá lắm. Không có sự hiện diện của anh, cuộc sống bắt đầu thêm trống vắng, bớt tình nghĩa, thiếu chan hoà. Anh rong ruổi mọi nẻo đường sương gió bụi trần đồng hành để đồng cảm với những mảnh đời phiêu dạt. Một số người đi theo anh làm môn sinh, chứng kiến những việc vĩ đại anh thực hiện thì tự hào lắm. Con đường công danh như đang mở ra trước mặt họ. Ôi một ngày nào đó, nếu anh làm lớn thì họ sẽ được hưởng phúc. Chỉ mới tưởng tượng thôi mà đã đê mê cả một vùng trời hy vọng.
Đám đông dân chúng theo anh ngày một đông vì họ tìm thấy sức sống mới nơi anh. Tuy nhiên, đám đông chỉ thấy một số sự kiện công khai thôi chứ các môn đệ thì chứng kiến nhiều chuyện ngoạn mục khác nữa. Háo hức lắm, họ chỉ muốn kể ngay cho đám đông nghe những chuyện khác về sư phụ của mình. Nhưng kỳ lạ thay, anh luôn ngăn cản họ làm điều ấy. Chuyện bình thường thế mà sao lại cản? Anh cũng không giải thích gì.
Thế rồi, một ngày kia, họ đã hiểu lý do mà không cần ai giải thích.
+++
Chung quanh anh bây giờ là tiếng la hét, tiếng khóc, tiếng nguyền rủa. Thân mình anh bây giờ tan nát vì đòn roi của những con người anh chưa bao giờ đem lòng thù hận. Người thì khạc nhổ lên mặt, kẻ thì đấm đá, kẻ khác sỉ vả. Những kẻ không ưa anh đã bàn kế lập mưu vu khống tố cáo anh trong một bản án bất công. Anh bị kết án tử hình. Sau khi hành hạ khủng bố anh bằng đủ mọi cách, họ treo anh lên cây thập giá. Thập giá là thứ hình phạt đau đớn và tủi nhục nhất mà sự ác độc của con người có thể nghĩ ra được.
+++
Bấy giờ Đức Giê-su cầu nguyện rằng: "Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm."(Lc 23:34) Trời đất bỗng trở nên tối tăm. Giữa bóng đêm bao trùm địa cầu ấy bỗng bừng lên một nguồn sáng chói lọi tuôn trào từ thập giá Giêsu. Mọi thứ ánh sáng trần gian bỗng trở nên mờ nhạt trước nguồn ánh sáng tuyệt vời ấy. Đây: ánh sáng tình yêu Thiên Chúa, Đấng đang hiến dâng mạng sống cho con người. Đây: ánh sáng trái tim Giêsu. Đây: lần “biến hình” cuối cùng và toàn vẹn phô bày tất cả sự thật về tình yêu Thiên Chúa dành cho con người. Không còn gì che đậy, chẳng còn gì giấu kín, chẳng còn gì thêm để kiếm tìm. Đây: Chiên Thiên Chúa. Đây, đây chính là Thiên Chúa chúng ta!
Bấy giờ Thầy Giêsu kêu lớn tiếng: “Mọi sự đã hoàn tất” (Ga 19:30) và trút hơi thở cuối cùng. Cuộc biến hình trên núi Ta-bo hôm nào được hoàn tất ở đây. Bây giờ các môn đệ đã hiểu lời dặn năm xưa của Thầy.
+++
Đúng như lời Thầy đã nói khi còn sống, sau ba ngày Thầy sống lại từ cõi chết. Phục sinh! Tình yêu đã chiến thắng hận thù. Sự sống đã đánh bại tử thần. Đến lúc này bức tranh về Thầy mới toàn vẹn. Bây giờ các môn đệ đã hiểu: tất cả mọi chi tiết cuộc đời của Thầy từ khi sinh ra, lớn lên, hy sinh mạng sống và phục sinh đều xuất phát từ một chữ “yêu thương” dành cho con người. Bây giờ các môn đệ có thể “đứng trên mái nhà” mà loan báo mọi điều họ biết về Thầy.
Tụi mình là môn đệ Thầy. Nào, mình cùng kể về Thầy đi bạn!
Lm Joseph Đinh Tuấn Việt, O.Carm.
 

MC2-190: BIẾN HÌNH

Một nhà giáo dục nổi tiếng người Pháp đã tâm sự về cuộc đời của ông như sau: Khi còn trẻ: A69 MC2-190

Một nhà giáo dục nổi tiếng người Pháp đã tâm sự về cuộc đời của ông như sau:
Khi còn trẻ, tôi có tinh thần cách mạng và mỗi khi cầu nguyện, tôi luôn cầu xin Chúa một điều là: "Lạy Chúa, xin ban cho con nghị lực để biến đổi thế giới này"
Khi đã lớn tuổi và nhận thấy gần quá nửa đời người trôi qua mà tôi không thay đổi được một người nào hết, nên tôi đã thay đổi lời cầu nguyện của tôi như sau: "Lạy Chúa, xin ban cho con nghị lực để biến đổi những người trong gia đình của con.”
Giờ đây tôi đã già và những ngày còn lại chỉ đếm được trên đầu ngón tay, nên lời cầu nguyện của tôi lại được thay đổi một lần nữa như sau: "Lạy Chúa, xin ban cho con nghị lực để biến đổi chính mình con."
Và ông kết luận:” Nếu tôi biết cầu nguyện như thế này từ ngày còn trẻ thì tôi đã không uổng phí cả cuộc đời.“
(Anthony de Mello, Trích trong “The Song of the Bird”)
***
Bạn thân mến! Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay cũng thuật lại một cuộc biến đổi. Đó là cuộc biến đổi hình dạng của Đức Giêsu trên núi Taboo. Trong ngày hôm đó, Đức Giêsu đã mang theo các môn đệ thân tín của mình là các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan. Ngài đưa các ông đi riêng ra một chỗ, chỉ mình các ông thôi, tới một ngọn núi cao. Rồi Ngài biến đổi hình dạng trước mắt các ông (Mt.17:2) . Trong cuộc biến hình đổi dạng đó, Ngài đã cởi bỏ thân phận con người để mặc lấy Thiên Tính của Thiên Chúa. Ngài cho các
ông được nhìn thấy vinh quang của Con Một Thiên Chúa, để thêm lòng tin cho các ông.
Hơn hai ngàn năm trước, Đức Giêsu đã biến hình trên núi Taboo. Cuộc biến hình của Ngài vẫn còn tiếp tục diễn ra hằng ngày cho đến ngày nay. Ngài biến hình qua bàn tay của Linh mục trong các Thánh lễ. Ngài biến hình từ tấm bánh nhỏ bé để trở thành xương thịt của Ngài. Ngài biến hình từ những giọt rượu nho để trở thành những giọt máu đào đã đổ ra trên đồi Golgotha năm nào để cứu chuộc con người.
Ngày nay Đức Giêsu cũng mang tôi và bạn đi riêng ra một chỗ. Ngài không mang tôi và bạn lên núi Taboo như mang Phêrô, Giacôbê và Gioan xưa kia, nhưng Ngài mang tôi và bạn đến trong các Thánh lễ, đến trong các giờ chầu Thánh Thể, đến trong các bí tích mà ta lãnh nhận… nơi đó Ngài dành cho ta những giây phút thinh lặng thánh thiêng mà chỉ có một mình ta với Ngài, nơi đó Ngài cũng biến đổi hình dạng để thêm lòng tin cho ta, và cũng nơi đó, Ngài ban cho ta lòng mến, sự tin yêu cậy trông phó thác, và nhất là sức mạnh để ta bước đi theo Ngài trên bước đường lữ thứ trần gian này.
Hôm nay, Đức Giêsu mời bạn và tôi cùng “biến hình” với Ngài. Biến hình không phải là trở thành cái gì xa lạ khác thường, nhưng biến hình là để trở về với cái tôi sâu thẳm của chính mình: “Tôi là con yêu dấu của Thiên Chúa”. Đó là ơn được làm con cái Thiên Chúa, là ơn Thánh Sủng, là ơn cao trọng nhất của người Kitô.
Biến hình với Đức Giêsu là thay đổi cuộc sống của ta, là biến đổi tâm hồn ta, là mang vào lòng ta một trái tim mới, trái tim của yêu thương, của tin tưởng và cậy trông phó thác.
Biến hình với Đức Giêsu là vất bỏ ý riêng của ta, là chấp nhận và vâng phục Thánh Ý Thiên Chúa, là lên đường bước đi với Chúa trong tình yêu và ân sủng Ngài ban.
Biến hình với Đức Giêsu là từ giã con người tội lỗi yếu hèn của mình, là trở nên giống Ngài mỗi ngày mỗi hơn.
***
Lạy Chúa Giêsu! Xin ban ơn giúp sức cho con để con cũng được “biến hình” với Chúa trong Mùa Chay Thánh này, để con được trở nên giống Chúa mỗi ngày mỗi hơn, và để con cũng được Thiên Chúa Cha nói với con rằng: “Đây là con Ta yêu dấu, Ta hài lòng về con…” (Mt.17:5). Amen
Linh Xuân Thôn
(BĐ1: St.12:1-4 – BĐ2: 2Tm.1: 8-10 – PÂ:Mt.17:1-9)
 

MC2-191: Dõi theo bước Chúa

(Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’ – R. Veritas)

Người ta kể rằng năm ấy dù mới lên mười tuổi, cậu Chai-san đã được bố cho đi theo một đoàn: A70 MC2-191

Người ta kể rằng năm ấy dù mới lên mười tuổi, cậu Chai-san đã được bố cho đi theo một đoàn lữ hành phải vượt cao nguyên trùng điệp với những đỉnh đồi, những ngọn núi vừa hùng vĩ vừa thơ mộng. Đêm đến đoàn lữ hành trú ngụ trong những chiếc lều vải thô sơ. Một đêm nọ cậu bé Chai-san cảm thấy có một sức mạnh từ bên trong thúc đầy cậu trốn ra khỏi lều. Và kìa, giữa miền núi cao, bầu trời đầy trăng sao lấp lánh như bao trùm lấy cậu. Một cảm giác hạnh phúc nhẹ nhàng xâm chiếm tâm hồn Chai-san. Cậu có cảm tưởng như cả vũ trụ xinh đẹp này đã được tạo dựng để ban tặng cho cậu, và nó đang nâng tâm hồn cậu lên với Đấng Tạo Hóa.
Bỗng chốc bầu khí yên tĩnh và an bình bị xáo trộn vì tiếng gọi của người cha: “Chai-san, mày trốn đi đâu rồi? Trở vào lều đi”. Chai-san miễn cưỡng trở vào lều và tiếc nuối nói với cha: “Bố ơi, bầu trời trăng sao đẹp quá chừng!”.
Thưa anh chị em,
Trong truyền thống Thánh Kinh cũng như trong hầu hết các tôn giáo, núi cao thường được xem như là nơi gặp gỡ giữa trời và đất, giữa Thần Linh và con người. Những mạc khải quan trọng trong Kinh Thánh đều diễn ra trên núi cao. Môsê đã được kêu mời lên núi Sinai để gặp gỡ Giavê Thiên Chúa và đón nhận lề luật cho Dân Chúa. Êlia đã ròng rã 40 đêm ngày lên núi Horeb để gặp Chúa. Êlisê cũng lên núi Carmel để gặp Chúa. Và Chúa Giêsu cũng khởi sự đời công khai bằng 40 đêm ngày chay tịnh trên núi cao, rồi trong ba năm sứ vụ, Ngài vẫn thường lặng lẽ một mình lên núi để cầu nguyện cùng Cha Ngài.
Trong Tin Mừng hôm này, Chúa Giêsu đã đưa ba môn đệ thân tín nhất lên núi Thabor để tỏ vinh quang của Ngài cho các ông. Từ trên núi cao, Phêrô, Giacôbê, Gioan đã nhận ra được con người và sứ mệnh của Chúa Giêsu. Từ trên đỉnh cao, các ông thấy vinh quang của ngài như một lời hứa được thực hiện, như thành tựu của một sứ mệnh, như đích điểm của một con đường, con đường thập giá dẫn đến vinh quang.
Thế nhưng, thưa anh chị em, người ta không lên núi cao để ở lại đó, mà là để nhìn rõ hơn con đường phải đi. Đối với Chúa Giêsu, con đường phải đi đó chính là con đường lên Giêrusalem với cuộc tử nạn đang chờ đợi Ngài. Và Ngài đã xuống núi để giáp mặt với cuộc đời, để tiếp tục hành trình xuyên qua khổ nạn và cái chết thập giá. Từ trên núi cao, Chúa Giêsu cũng muốn đưa ba môn đệ thân tín của Ngài trở lại cuộc đời, trở lại với những thử thách, chống đối đang chờ đợi trước mắt các ông.
Thật vậy, cuộc tỏ vinh quang của Chúa Giêsu trên núi đã xảy ra sau khi Phêrô tuyên xưng: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”. Lời tuyên xưng này lại gắn liền với lời Chúa Giêsu loan báo cuộc Thương Khó của Ngài và kèm theo lời mời gọi: “anh em hãy bỏ mình, vác thập giá đi theo Thầy” (Mt 16,24). Vậy là đúng vào lúc các môn đệ đã nhận ra Chúa Giêsu là Đức Kitô, là Đấng Cứu Thế, thì trước mắt các ông hình ảnh một Đấng Cứu Thế oai hùng lẫm liệt theo các ông quan niệm, bắt đầu tan biến, để hiện ra một Đấng Cứu Thế đau khổ, bị đày đọa, bị khai trừ, bị giết chết. Hình ảnh đó thật là khó hiểu đối với các môn đệ, vì lòng tin của các ông còn mộc mạc, phàm tục. Cho nên, chẳng lạ gì, Phêrô đã lên tiếng khuyên can Chúa Giêsu đừng đi theo con đường đau khổ đó làm gì. Nhưng thật không may cho ông, vì Chúa Giêsu cứ khăng khăng một mực, lại còn quay sang mắng ông: “Satan, cút đi!”. Vì ông đã tự đồng hóa với Satan cám dỗ Chúa trong sa mạc.
Rồi bây giờ thì lại cũng chính Phêrô đã dám đề nghị cắm lều ở lại trên núi Thabor, vì ở đây sướng quá, khỏi phải đi qua con đường đau khổ mà ông đã khuyên can Thầy. Nhưng rồi, mở mắt ra, ông thấy chỉ còn một mình Chúa Giêsu trên đỉnh núi. Ánh sáng rực rỡ đã tan biến, và Chúa Giêsu còn đánh thức các ông dậy, giục các ông xuống núi, đi lên Giêrusalem với Ngài để chịu tử nạn như Thầy đã báo trước.
Chính trong giờ phút biến hình rực rỡ vừa rồi, ông Môsê và ngôn sứ Elia đã đàm đạo với Chúa Giêsu về “cuộc ra đi” Ngài sắp hoàn thành tại Giêrusalem, và tiếng Chúa Cha phán: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hết lòng quý mến. Các ngươi hãy vâng nghe lời Ngài”. Lời đó chính là để công nhận, để tán thành bước đường vượt qua đau thương của Chúa Giêsu, và mời gọi các môn đệ hãy đi theo Thầy. Vì thế, mấy Thầy trò lại xuống núi. Và Phêrô cũng như các môn đệ khác phải đi theo sau Thầy qua con đường khổ nạn thập giá mới đến ánh sáng vinh quang Phục Sinh.
Anh chị em thân mến,
Không phải hông có lý do mà phụng vụ năm nào cũng đặt bài Tin Mừng Chúa hiển dung sáng láng hôm nay vào giữa Mùa Chay. Giáo Hội muốn đưa chúng ta lên núi, hé mở cho chúng ta chiêm ngưỡng một chút vinh quang phục sinh của Chúa Giêsu, để chúng ta thêm tin tưởng vào Ngài, để chúng ta có những giây phút nghỉ ngơi lấy sức trước khi xuống núi, trở về với cuộc sống bình thản trên các nẻo đường phẳng lặng hay đầy sóng gió đưa đến núi Can-vê. Chúng ta cần được Chúa đến gần, đưa tay đập vào người như “đã đến gần, vỗ vào người các môn đệ”, để thức tỉnh chúng ta, để chúng ta biết chuẩn bị sẵn sàng đón nhận mọi gian nan đau khổ trên đường đời.
Con đường Thương Khó của Chúa khởi đầu từ khi Ngài xuống núi. Rồi đây, Ngài cũng sẽ biến hình “không còn hình tượng người ta nữa”, để dạy chúng ta biết phải đi qua con đường thập giá mới đến vinh quang khải hoàn sống lại. Trong ngôn ngữ La-tinh, người ta chơi chữ: “Per crucem ad lucem”, nghĩa là “qua thập giá đến ánh sáng”. Qua Thứ Sáu Tử Nạn mới đến Chúa Nhật Phục Sinh. Đường thánh giá không dừng lại ở nấm mồ, nhưng mở ra trong niềm vui tưng bừng của ngày sống lại. Đó là quy luật của muôn đời.
Thưa anh chị em,
Trong cuộc hành trình đức tin của chúng ta, cũng có những giây phút chúng ta được đưa lên núi cao để gặp Chúa, núi cao của Thánh lễ, núi cao của những giờ phút dành cho việc cầu nguyện. Nhưng chúng ta không lên núi để ở đó mãi, mà là để trở lại với cuộc đời với muôn thử thách, đắng cay, với những gặp gỡ từng ngày. Chấp nhận cuộc sống với tinh thần lạc quan, chấp nhận chiến đấu mà không buông xuôi bỏ cuộc, sống như thể là tiếp tục con đường Chúa Giêsu đã đi qua. Chấp nhận những người anh em chúng ta gặp gỡ trên đường đi, chấp nhận những khác biệt, những bất toàn của người anh em cùng đồng hành, sống như thể là dõi bước theo đường Chúa đã đi qua.
Xin ánh sáng Phục sinh của Đức Kitô luôn dẫn bước chúng ta trên đường, để chúng ta biết đón nhận và sống trọn từng phút giây cuộc sống. Xin ánh sáng Phục Sinh của Đức Kitô chiếu dọi và hướng dẫn cuộc hành trình đức tin của chúng ta được tiếp tục trên dấu chân của Ngài.
 

MC2-192: Biến hình

 – Richard Gutzwiller.
(Trích trong ‘Suy Niệm Tin Mừng Matthêu’)

Quang cảnh trên núi biến hình tiên báo về Thiên đàng. Đức Kitô đã nói trước rằng: Nhiều người: A71 MC2-192

Quang cảnh trên núi biến hình tiên báo về Thiên đàng. Đức Kitô đã nói trước rằng: Nhiều người sẽ không chết trước khi thấy Con Người trong vinh quang. Lời này bây giờ đã hoàn toàn được thực hiện, nhưng chỉ trong khoảnh khắc, giống như một tia sáng leo lét của ánh lửa bùng lên rồi mất hút trên bờ vắng. Đoạn văn Thánh này chia làm hai phần rõ rệt:
PHẦN THỨ NHẤT: Đầy vẻ huy hoàng rạng rỡ của Thiên Chúa. Ba môn đệ được chiêm ngắm ánh sáng mỹ miều này: Trước hết Phêrô, viên chức đầu tiên của Giáo hội, người mà từ đây sẽ phải học ý nghĩa đau khổ theo Thiên Chúa và thay thế tư tưởng nhân loại bằng tư tưởng thần linh. Thứ đến Giacôbê, người tử đạo tiên khởi, hân hoan đổ máu làm chứng vì đã thấy vinh quang Chúa. Và cuối cùng Gioan, môn đệ yêu dấu sẽ phải học biết rằng, đau khổ là bằng chứng của tình yêu.
Họ thấy Chúa biến hình, mặt Ngài rực rỡ như mặt trời, áo Ngài trắng như tuyết. Hình dáng buồn tẻ của chân dung nhân loại hoàn toàn bị hủy diệt. Tất cả phát huy từ ánh sáng Thiên Chúa. Sau khi xác sống lại con người ta cũng mặc lấy xác thể, nhưng theo những luật sinh lý mới. Ánh sáng vẫn là vật chất nhưng chiếu tỏa với tính chất đặc biệt: Ánh sáng làm thân thể rạng ngời như người ta đã thấy nơi Đức Kitô vinh quang.
Môisen và Êlia xuất hiện. Môisen cứu dân khỏi ách nô lệ Ai Cập, hướng dẫn họ qua sa mạc, trao truyền cho họ luật pháp và giao ước của Đấng Thánh siêu phàm. Tuy nhiên, ông chỉ được phép ngắm nhìn Đất Hứa từ xa. Lúc này ông được gần Đức Kitô, chính Ngài sẽ giải thoát không những riêng dân Do Thái, nhưng toàn thể nhân loại khỏi ách nô lệ ma quỷ. Chính Ngài hướng dẫn họ cách vô ngộ qua sa mạc cuộc đời tạm gửi. Ngài ban cho họ giới răn tình yêu tân kỳ trong Giao Ước Mới của Giáo hội. Là Môisen đích thực, Ngài dẫn dắt Dân Chúa vào Đất Hứa đích thực, để thực hiện cuộc biến hình muôn thuở.
Êlia là người thứ nhất trong các đại tiên tri. Người đã cấm không được dành cho Baal là thần trái đất những quyền lợi như Thiên Chúa. Chỉ có Thiên Chúa mới là Chúa tể của trời cao và vũ trụ.
Trước hết, người đã thay việc phục vụ các ngẫu tượng bằng việc phục vụ Thiên Chúa. Với tư cách là kẻ vô địch của Thiên Chúa, người đã đương đầu với dân Do Thái. Rồi đây, Đức Kitô đến để giúp con người khỏi rơi vào thảm họa diệt vong của trần tục, vật chất, xác thịt. Ngài đem đến cho họ nước của Thiên Chúa, là Cha trên trời. Chính Ngài cũng đã đánh bại Hêrôđê và đại diện của đế quốc Rôma. Êlia làm chứng về Ngài vì theo lời Kinh Thánh dạy, đại tiên tri được nâng lên trời rồi trở lại dọn đường cho Chúa. Người đây, sẵn sàng đóng vai trò dọn đường cho Chúa lên trời, trong cảnh biến hình. Vậy luật pháp và các tiên tri cùng hòa hợp làm chứng. Từ nay Phêrô thấy trước rằng, tình trạng biến hình như được thiết lập vĩnh viễn nên đã xin dựng lều để giây lát vinh hiển được trường tồn.
Đó là một thái độ dễ hiểu, vì con người đã được tạo dựng để hưởng niềm hân hoan. Đau khổ không thể là cùng đích của con người, nhưng đau khổ chỉ là một bước đường phải qua. Mỗi lần Chúa nói tiên tri về đau khổ, Chúa đã kết thúc bằng một ám chỉ về phục sinh vinh quang. Ở đây cuộc phục sinh vinh quang đã được tuyên bố như một yếu tố nền tảng của giáo lý về đau khổ. Ánh quang chói sáng của việc biến hình, tình trạng chìm ngập trong ánh sáng, sự chiêm ngắm hạnh phúc vĩnh cửu đã truyền trao cho các môn đệ một mãnh lực giúp họ cương quyết trên bước đường đau khổ. Họ sẽ nhìn về tương lai và chờ ngày Chúa đến giữa lúc sống cuộc đời dương thế.
PHẦN THỨ HAI: Đám mây bao phủ làm tăng vẻ oai nghiêm rỡ ràng. Trên núi Sinai, cảnh trí huyền ảo là dấu hiệu sự hiện diện của Thiên Chúa. Cũng như đám mây trước kia bao phủ ngọn núi, lúc này vẻ huy hoàng của Chúa bao trùm muôn vật. Các môn đệ phải tự tìm hiểu để cảm nhận trước được vẻ uy nghiêm của Thiên Chúa. Trên núi Sinai, phảng phất đám mây giông bão; ở đây áng mây rực sáng an bình thanh thoát. Trên núi Sinai vang dội các mệnh lệnh thần linh, vì Môisen là tôi tớ Thiên Chúa mà Do Thái phải vâng lời. Còn trên núi biến hình cung giọng nhiệm mầu không chỉ thị tôi tớ nhưng là ấm tử.
Như thế, những đòi hỏi nghiêm khắc được thay thế bằng sứ điệp yêu thương: Ở núi Sinai, trước vẻ uy nghiêm Thiên Chúa, dân chúng kinh hoảng rụng rời, ở đây, các môn đệ cũng sợ hãi chúi mặt xuống đất. Chúa Giêsu nâng họ dậy, và làm cho họ hết sợ. Từ nay họ biết rằng: với Ngài chung cục thời gian đã điểm; không phải tất cả sẽ bị hủy diệt, nhưng tất cả sẽ bị vượt qua. Chắc chắn giờ cáo chung sẽ điểm, báo hiệu một tai họa: Đau khổ, sự chết, Thánh giá sẽ hiện diện. Nhưng đây cũng sẽ là khởi điểm một thời đại mới quyết liệt khai mào ánh sáng và biến hình. Đức Kitô hiện đến khai mào thời cánh chung, nhưng thời gian ấy còn kéo dài. Trong giây lát, Chúa đã cho thấy vẻ huy hoàng của giờ phút hoàn tất với đầy vẻ trang trọng để các môn đệ không bao giờ quên. Họ được lệnh phải bảo vệ bí mật về biến cố dị thường vĩ đại này, cho tới lúc Con Người phục sinh từ cõi chết. Bấy giờ người đầu tiên trong những kẻ chết sẽ thức giấc, sống đời sống mới đích thực. Những người khác theo sau và cứ thế bắt đầu viên mãn thời gian chung kết.
Đức Kitô còn cao trọng hơn ngàn lần những gì các môn đệ, và cả Phêrô đã tuyên xưng hay cảm thức về Ngài. Nhưng chỉ có sự cao trọng siêu phàm, siêu thời gian và phổ biến thực sự trong cảnh trời mới, đất mới: lúc đó thời gian biến thành vĩnh cửu, định mệnh đau thương của con người biến thành hạnh phúc; vẻ cao trọng đó đã hiển hiện huy hoàng trên núi biến hình. Từ đỉnh núi đó, vẻ cao trọng này soi sáng mọi vực thẳm tối tăm của nhân loại.
 

MC2-193: Chú giải của Fiches Dominicales

ĐỨC GIÊSU BIẾN HÌNH TRÊN NÚI MẠC KHẢI VỀ MẦU NHIỆM “NGƯỜI CON YÊU DẤU” VÀ BÁO TRƯỚC VINH QUANG PHỤC SINH
VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
l. Mối liên lạc chặt chẽ với lời báo trước khổ nạn:

Bị đám đông lòng dạ thất thường ở Galilê trở mặt và thường xuyên bị những kẻ thù kiếm chuyện: A72 MC2-193

Bị đám đông lòng dạ thất thường ở Galilê trở mặt và thường xuyên bị những kẻ thù kiếm chuyện gây rối, Đức Giêsu phải liên tục di chuyển. Người lên tận miền Césarée Philipphe, nơi đầu nguồn sông Giođan, và ở lại đó tập trung vào việc huấn luyện các môn đệ của mình.
“Người ta nói Con Người là ai?” Đức Giêsu thăm dò trước. Sau đó Người mới hỏi ngay họ: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai. Phêrô lên tiếng thay cho nhóm anh em: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”. Đức Giêsu đáp lại bằng một lời chúc phúc: “Này anh Simon, con ông Giona, anh thật là người có phúc. và đồng thời một uỷ thác sứ mạng: “Anh là Phêrô, nghĩa là tảng đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy”. Rồi “từ lúc đó”, thánh sử Matthêu ghi rõ, Đức Giêsu bất đầu báo cho các ông biết trước điều khiến Phêrô phải lấy làm xúc phạm, và phải lãnh nguyên lời quở trách của Chúa: “Satan, lui lại đằng sau Thầy. Đó là con đường đau khổ mà Con Người sẽ phải đi: “Người phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và các kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại” (16,21). Và Chúa tiếp tục cho biết con đường của các môn đệ cũng không thể là gì khác: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (16,24).
Đúng vào thời điểm quan trọng này, thánh Matthêu cho biết rõ: “sáu ngày sau” - chúng ta liên tưởng đến chuyện ông Môsê dẫn theo ba người bạn lên núi Sinai (Xh 24,9), để nhận lãnh mạc khải của Thiên Chúa “sáu ngày sau” đó (Xh 24,16), và cuối cùng diện mạo ông biến đổi khác thường (Xh 34,29) - Theo các tác giả Tin Mừng đó là lúc xảy ra biến cố biến hình trên núi. Jean Potin viết: đây là một câu chuyện “chắc chắn dựa vào sự kiện xác thực”, và được ba thánh sử nhất lãm ghi chép lại “bằng một thứ ngôn ngữ biểu tượng, vay mượn một số những yếu tố chính từ cuộc thần hiện (Thiên Chúa tỏ bày thần tính) trên núi Sinai” (“Giêsu, lịch sự thật”, Centurion, trang 330).
2. Cuộc biến hình trên núi cao:
a. Ba nhân chứng được tách riêng trên núi:
“Chỉ có ‘các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan là em ông Giacôbê’ được Đức Giêsu gọi riêng đi theo Người. Là chứng nhân mục kích cuộc biến hình của Chúa hôm nay, rồi đây, cũng chính họ sẽ được chứng kiến cảnh khuôn mặt Chúa bị “biến dạng” tàn tạ trong vườn Cây Dầu (26,37). Chi tiết “ngọn núi cao”, nơi sẽ xảy ra cuộc biến hình, mang ý nghĩa thần học hơn là tính chất địa lý. Trong Kinh Thánh, núi thường là cho cho những cuộc mạc khải của Thiên Chúa. Ở đây nó khiến nhớ lại núi Sinai, ngọn núi lẫy lừng nhất trên trái đất, vì là nơi xưa kia Thiên Chúa đã hiện ra và phán truyền cho con người. J.Potin nhắc nhớ lại: “Chính trên ngọn núi này Môsê đã được đám mây bao phủ, khiến dung mạo ông ngời sáng. Đây cũng là núi mà vị ngôn sứ vĩ đại Êlia đã đặt chân tới để dưỡng sức, lấy lại can đảm trong cuộc chiến đấu chống lại tội thờ ngẫu tượng của dân chúng. Đến lượt chính Đức Giêsu cũng lên núi này” (Sđd trang 330).
b. Đức Giêsu biến hình, đứng giữa Môsê và Êlia:
“Như ông Môsê khi xuống núi Sinai, sau khi đã có cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa của Giao ước, “dung mạo Đức Giêsu bỗng rực rỡ như mặt trời, và y phục Người trắng tinh thư ánh sáng”. Trong trường hợp của Môsê, thì đó chỉ là sự phản chiếu trong chốc lát ánh hào quang của Thiên Chúa; còn đối với Đức Giêsu, thì lại là sự lan toả của chính hữu thể của Người, là sự chiếu giãi của “vinh quang” Người (xem Lc 9,32). Cả 3 Phúc âm nhất lãm đã ghi nhận có hai nhân vật cùng hiện ra đàm đạo với Đức Giêsu. Đây là hai con người đầy uy lực là hiện thân cho cả Cựu ước Môsê là biểu tượng của Lề Luật; Êlia đại diện cho hàng ngũ các ngôn sứ. Người ta tin rằng ông này sẽ trở lại vào thời sau hết, để đi trước dọn đường cho Đấng Messia ngự đến. Hai nhân chứng hiện ra rồi chợt biến mất, muốn chỉ rằng giáo ước cũ nay đang được hoàn thành nơi Đức Giêsu Kitô. Vào khoảnh khắc tái diễn lại cảnh thần hiện Xuất Hành, J.Potill giải thích, có sự tham dự của hai nhân vật lớn của lịch sử Israel, cả hai đều đã từng đặt chân trên ngọn Sinai. Họ chính là hiện thân cho Lề Luật và các ngôn sứ, và từ bao thế kỷ, đã loan báo và chuẩn bị cho Con Người đến. Hai vị đã trò chuyện với Đức Giêsu và qua đó nhìn nhận Người là Đấng phải đến (Sđd trang 330-331).
Cũng với ý chống lại cuộc khổ nạn của Đấng rnà ông xưng là “Messia”, Phêrô chỉ muốn giây phút này trở thành vĩnh cửu: “Nếu Ngài muốn, con xin dựng tại đây ba cái lều, Ngài một cái, ông Môsê một cái, và ông Êlia một cái.
c. Từ đám mây có tiếng phán:
Người môn đệ còn đang nói thì bản thân ông và hài môn đệ kia bị bao phủ trong một “đám mây sáng ngời”. Trong Cựu ước đó chính là dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa ở giữa Dân Người qua sa mạc (Xh 13,21). Từ nay, Đức Giêsu sẽ là sự hiện diện đích thực ấy của Thiên Chúa giữa loài người. Từ đám mây, vang lên một “tiếng phán”. Ở dây chúng ta thấy lặp lại từng chữ trong tiếng phán với một mình Đức Giêsu khi người chịu phép rửa tại sông Giođan: “Đây là Con Yêu Dấu của Ta, Ta hài lòng về Người, nhưng thêm: “Hãy vâng nghe lời Người. Điều này gợi nhớ lại lời kêu gọi của Thiên Chúa đối với dân chúng khi loan báo vị Môsê mới sẽ ngự đến (Đnl 18,15). J.Potin giải thích: “Đức Giêsu không chỉ là vị ban lề luật không chỉ là ngôn sứ, Người chính là Con Yêu Dấu của Thiên Chúa, là Con Người đứng ở bên ngai Thiên Chúa. Từ nay, phải vâng nghe lời Người. Điều Người nối làm ứng nghiện những gì, Lề Luật và các ngôn sứ đã tiên báo xưa” (Sđd trang 331).
d. Xuống núi:
Biết mình đang chứng kiến một cuộc hiển linh của Thiên Chúa, các môn đệ “sấp mặt xuống đất”. Đức Giêsu “lại gần”, “chạm vào các ông”, và trong một cử chỉ như để cứu chữa, Người thúc giục các ông hãy “chỗi dậy” (động từ mà những thế hệ Kitô hữu đầu tiên dùng dể chỉ sự phục sinh): sức mạnh phục sinh của Chúa đã khởi đầu trong cuộc sống và đức tin của các môn đệ.
Bây giờ chỉ còn lại “một mình Đức Giêsu”. Khi xuống núi, Chúa truyền cho các ông phải giữ kín những điều vừa xảy ra, “cho đến khi Con Người từ cõi chết chỗi dậy”. Cuộc tiếp xúc của các ông với Thiên Chúa chỉ diễn ra trong khoảnh khắc, J.Potin kết luận liền sau đó, họ thấy Đức Giêsu đã trở lại với trạng thái bình thường của phận làm người phải chết. Tuy nhiên, cốt lõi của sứ điệp đã được công bố, phải vâng nghe lời của Người Con Yêu Dấu, cho dù đôi khi lời ấy xem ra rất nghịch thường. Bóng đen u ám của cuộc khổ nạn đã đè nặng ngay trên ánh quang của cuộc Biến hình. Thánh sử Luca đã cho: thấy rõ điều đó khi thêm chi tiết là Môsê và Êlia hiện ra đàm đạo với Đức Giêsu về “cuộc xuất hành Người sắp hoàn thành tại Giêrusalem” (Lc 9,31), nghĩa là về cái chết của Người. Máccô (và Matthêu) cũng hướng sự chú ý của các nhân chứng tới cuộc hy sinh sắp tới của Đức Giêsu khi đề cập đến lệnh Người truyền cho các ông ‘đừng nói cho ai hay những gì mình thấy, cho đến khi Con Người từ cõi chết chỗi dậy’. Mặc dù cuộc biến hình dường như loại trừ khả năng phải chết của Đức Giêsu, bởi nó mặc khải Người là Con Người đến từ trời, nhưng các môn đệ chỉ nắm bắt được ý nghĩa của nó sau khi Chúa đã sống lại (Sđd trang 331).
BÀI ĐỌC THÊM
“Trên đường đời ta đi, Thiên Chúa vẫn ở bên”
“Cuộc biến hình của Chúa dạy cho chúng ta nhiều bài học: Thứ nhất, chúng ta đừng thích mơ tưởng đến những mặc khải lạ lùng của Thiên Chúa. Người dành cho ai Người muốn: ở đây Đức Giêsu chỉ đem theo ba môn đệ, và dặn họ không được tiết lộ cho ai về thị kiến cho đến khi Người sống lại. Vậy mà đến giờ phút khổ nạn, các ông này vẫn là những môn đệ bỏ Thầy, thậm chí chối Thầy như thường! Thứ đến, đó là con đường bình thường người môn đệ của Chúa phải đi, luôn ngang qua bóng tối Đức Tin của đời thường. Phêrô cảm thấy quá sung sướng được ở trên núi. Ông đề nghị dựng ngay ba lều và định cư ở đây chúng ta cũng thường thích ở lại nơi đâu mọi sự xảy ra cỏ vẻ như ý, nơi đâu đức tin và đời sống đạo của mình xem ra an toàn, vô sự, và chúng ta cảm thấy như Thiên Chúa rất gần. Chúng ta nghĩ rằng chính khi đó chúng ta mới thực sự là Kitô hữu. Thực ra Thiên Chúa không kém gần gũi với chúng ta trong giờ phút khó khăn của sa mạc hơn là trong những lúc dịu êm dưới bóng mát của ốc đảo! Hơn nữa, sự ham muốn tìm kiếm một sự hiện diện khả giác của Thiên Chúa thực ra rất hàm hồ và chính Đức Giêsu cũng chẳng muốn ba môn đệ mình kể lể về thị kiến họ được hưởng. Nhưng lần hiện ra của Chúa sau khi Người phục sinh, cũng giống như cuộc biến hình này, đều chỉ là chút ánh sáng vụt tắt. Chúng ta cần phải bước đi trên con đường mà Đức Giêsu đã đi qua để đạt tới hoàn toàn và vĩnh viễn sự mạc khải của Thiên Chúa, chúng ta hãy đối diện với cuộc sống và cái chết của mình. Môsê và Êlia là những kẻ đi tìm Thiên Chúa và đã từng được thấy hôm nay họ là nhân chứng của Đức Giêsu biến hình, chính họ đã chẳng từng phải vất vả lê bước trong sa mạc? Sứ điệp của Biến hình chính là trên đường đời ta đi Thiên Chúa vẫn ở bên.
 

MC2-194: CHÚA HIỂN DUNG BỘ MẶT NÀO ?

Tôi được biết: trong Phụng Vụ của Giáo Hội Đông Phương thì biến cố hiển dung ( ‘sự hóa thân’: A73 MC2-194

Tôi được biết: trong Phụng Vụ của Giáo Hội Đông Phương thì biến cố hiển dung ( ‘sự hóa thân’ theo như cách họ nói ) có một vị trí hàng đầu, và được coi là sự kiện thâu tóm tất cả mạc khải Tân Ước. Xét cho cùng tôi thấy họ không sai chút nào, vì Hiển Dung với tất cả sự hoành tráng của nó ( bao bì ) phải gó ghém trong đó một thực tế có tầm quan trọng hàng đầu ( sản phẩm ). Hiển Dung chắc chắn không phải là biến cố hào nhoáng ( vinh quang ) nhằm che đậy một thực tại đau đớn ( cuộc khổ nạn ) như nhiều khi chúng ta được nghe giải thích: Chúa biến hình để củng cố các Tông Đồ khỏi vấp ngã vì cuộc khổ nạn ê chề. Nếu đúng là như thế thì đâu có đạt, vì thực tế, các Tông Đồ, cách riêng Phêrô một trong ba chứng nhân trực tiếp. đã vấp ngã. Hiển dung không nhằm mục đích che đậy bất cứ một thực tế đau thương nào, nhưng làm lộ rõ nội dung vinh quang đích thực của chính Thập Giá.
Theo lối suy nghĩ tự nhiên ( định luật nhân – quả ), người ta luôn có khuynh hướng tách vinh quang ra khỏi đau khổ. Đau khổ là tiền đề, là điều kiện để đạt tới vinh quang. ‘Per crucem ad lucem’: qua Thập Giá để tới ánh sáng là Phục Sinh. Như vậy Thập Giá tự nó không bao giờ là vinh quang, vinh quang chỉ lộ ra sau đó qua biến cố Phục Sinh. Thập giá như thế chỉ là phương tiện chứ không phải mục tiêu. Người ta có thể ôm ấp vinh quang Phục Sinh, nhưng không thể yêu thích Thập Giá tự nó. Diện mạo cũng như sức mạnh thật của Thiên Chúa chỉ hiện rõ trong ánh sáng Phục Sinh chứ không trong đau khổ Thập Giá.
Ngược hẳn với lối suy nghĩ trên, các thánh sử, khi mô tả biến cố Hiển Dung, đều cho thấy vinh quang Thiên Chúa chính là Thập Giá. Êlia và Môsê, hiện thân tột đỉnh của mạc khải Cựu Ước, hiện ra đàm đạo với Đức Giêsu “về cuộc xuất hành Người sắp hoàn thành tại Giêrusalem” ( Lc 9, 31 ). Để thấu hiểu biến cố hiển dung thì phải lồng nó trong cuộc Khổ Nạn – Phục Sinh của Đức Giêsu. “Đừng nói cho ai hay thị kiến ấy, cho đến khi Con Người từ cõi chết trỗi dậy”.
Theo tác giả Gioan thì chính cái chết tự hiến ( chứ không phải Phục Sinh ) mới được Đức Giêsu coi như mục tiêu chính của mạc khải ngài, là “giờ của ngài”, là sự tôn vinh của Thiên Chúa Cha và của chính ngài ( xem Ga 12, 20 – 33 ). Chính Đức Giêsu của Hiển Dung – Thập Giá mới được giới thiệu: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người !”
Hiểu được vinh quang Thiên Chúa nằm trong chính thập giá quả là khó. Ngay cả Phêrô cũng còn lâu mới chấp nhận điều này ( xem Mc 8, 31 – 33 ). Điều đó cho thấy chiêm ngắm và tin cách chắc chắn vào một Thiên Chúa giầu lòng từ nhân và hay thương xót không phải là dễ. Chấp nhận một Thiên Chúa oai hùng và công thẳng dễ hơn nhiều. Người ta muốn tôn vinh Thiên Chúa và ca ngợi sự uy nghi cao cả của ngài, không bị bóng thập giá phủ mờ. Trong khi đó Đức Giêsu, bằng cả cuộc sống nhập thể, và nhất là cái chết thập giá, chỉ muốn mạc khải một điều duy nhất: vinh quang lớn nhất của Thiên Chúa, cũng như yếu tính đặc sắc nhất của Ngài chính là tự hiến và cứu độ, là tha thứ và xót thương. Thập Giá là mạc khải toàn diện nhất về Thiên Chúa, đồng thời cũng biểu lộ vinh quang tột cùng của Ngài.
Mùa Chay vì vậy, đối với tôi, phải là thời gian Hiển Dung ( hình như Giáo Hội muốn nhắc nhở điều đó ! ), vì đây chính là thời gian mời gọi tôi, trong tư cách Kitô hữu, say mê chiêm ngắm thập giá, để chính mình phát hiện ra vinh quang và quyền lực lớn lao nhất của Thiên Chúa; một thứ quyền lực không hề tạo sợ hãi, nhưng chất đầy vui mừng và hy vọng đích thực của Tin Mừng. Trung tâm của Mùa Chay phải là Thập Giá, nhưng không phải thứ thập giá thuần khổ đau và chết choc, mà là Thập Giá ánh lên vinh quang của tình yêu trao hiến và cứu độ của Thiên Chúa, Người Cha nhân lành. Hoặc tôi chiêm ngắm vinh quang Thiên Chúa như thế, hoặc tôi, như Phêrô, chối bỏ vinh quang Thập Giá, và đáng bị gọi là Satan ( tức là kẻ phản nghịch chối bỏ vinh quang Thiên Chúa ).
Lạy Chúa, khi mời gọi con vác thập giá bước theo là Chúa muốn dành cho con vinh dự tham gia vào vinh quang vĩ đại nhất của Chúa. Xin cho Thập Giá đối với con không còn là dấu hiệu của khổ hình đau đớn, nhưng trở thành biểu tượng của vinh quang tình yêu. Xin cho con biết say mê Thánh Giá. Amen.
Lm. Gioan NGUYỂN VĂN TY, SDB
 

MC2-195: NGƯỜI CẤT BƯỚC, CẢ NON SÔNG MỘT DẢI...

 “Người cất bước, cả non sông một dải,
Vươn mình theo, dãy Hoành Sơn mê mải.”
( dẫn từ thơ Vũ Hoàng Chương )

Hoành sơn xưa, có là núi vắng Chúa đặt chân ? Non sông nay, có là miền đất Thánh nhân về ?: A74 MC2-195

Hoành sơn xưa, có là núi vắng Chúa đặt chân ? Non sông nay, có là miền đất Thánh nhân về ? Thánh nhân về, là về với nhân gian một cõi, có lòng mình, lòng người, đầy tình tự. Nhân gian nay đà thấy Chúa biến hình đổi dạng thành Đấng Thánh, rất Mêsia như trình thuật Thánh Mátthêu vẫn còn ghi.
Trình thuật nay kể về một biến hình đổi dạng nơi Đức Giêsu, mà các thánh xưa nay chưa từng thấy. Các Thánh, gồm có Phêrô, Giacôbê và Gioan, tức các đấng bậc gần gũi cất bước lên chốn non cao thấy Chúa biến hình thành Đấng Thánh, rất phi thường. Các thánh nghe giọng thần thiêng tỏ bày sứ điệp chưa từng biết. Giọng hôm ấy xác định Đức Giêsu là Con Một của Chúa Cha hiền hoà đáng kính.
Biến hình đổi dạng nơi Đức Giêsu, là sự kiện xảy đến với nhiều tình tiết, rất đặc biệt. Cũng tương tự như ngày Chúa sống lại. Hoặc rõ hơn, như biến cố Chúa về Trời. Vượt quá chuyện thường ngày. Rất khó hiểu. Chúa thay hình đổi dạng, tựa hồ như Môsê xưa đã biến hình, trên đỉnh núi Sinai, khi giáp mặt trực diện với Giavê. Gặp Giavê, mặt mày Môsê sáng như ánh mặt trời. Long bào của ông, trắng toát như ánh dương. Rất đặc biệt.
Thánh Mátthêu kể rằng: các Thánh Tông Đồ lúc ấy rất ngạc nhiên, hãi sợ và bắt đầu nói lung tung về chuyện dựng xây căn nhà ở chóp núi. Đó là chuyện bình thường ở huyện người người vẫn làm thế, khi mất cảnh giác.
Biến hình là chuyện xem ra không bình thường xảy đến với chúng ta. Chí ít, là khi ta sống trong thế giới đầy những biến đổi hình dạng, về mọi thứ. Như sâu nhộng trở thành bươm bướm mà ta gọi là sự biến thái vẫn xảy đến trong đời của loài thú. Hệt như em bé biến dạng đổi hình, khi mới sinh. Đó là điều mà thánh Âu Tinh gọi bí nhiệm sản sinh. Là mầu nhiệm lớn hơn cả Phục Sinh: đến với thế giới qua cốt cách con người, vẫn là chuyện cao cả hơn là trở về với hình thù mình, sau khi chết. Mỗi ngày và mọi ngày, vẫn xảy đến với ta qua đủ loại thay hình đổi dạng, hệt như thế. Cả bên trong. Trong sự sống riêng tây của mỗi người. Vấn đề tuy đơn giản, nhưng sâu sắc. Thay đổi bản vị, vẫn xảy đến, qua nhận thức. Qua tình yêu.
Và đây là quan điểm rất xác thực của tác giả Mátthêu. Quan điểm của Thánh nhân không nằm ở mặt ngoài, hoặc chỉ thay đổi mỗi xác phàm. Thay đổi về thân xác, là lối nói để diễn tả thay đổi về bản vị. Rất nhiều lần, Đức Giêsu có những khoảnh khắc nhận thức bên trong. Khoảnh khắc về tình thương yêu, rất thấu đáo. Khoảnh khắc, qua đó Ngài ồ ạt tăng trưởng bản thân để trở thành con người đầy bản vị. Và đặc ân đến với các Tông Đồ vào lúc ấy, là được phép hiện diện và thấy được chuyện xảy đến, rất hiếm quý.
          Đức Giêsu vẫn theo lộ trình bình thường, để có được kinh nghiệm rất thường tình của con người. Ngài học hỏi mọi thứ qua thử thách và sai sót. Mỗi ngày, Ngài khám phá ra nhiều điều mới mẻ về chính Ngài và về loài người. Cả những điều mới mẻ về Cha, mà chính Ngài đã trải nghiệm. Đức Giêsu là người từng trải nghiệm sâu sắc bén nhạy về những thứ ấy. Ngài có những khoảnh khắc thương yêu rất mặn nồng. Cũng ưu tư lo lắng, hãi sợ. Cũng trải nghiệm nhiều phút giây vui vầy, tuyệt diệu.
          Và, mỗi lần có sự việc mới mẻ xảy đến, Ngài thay đổi tự bên trong. Và cứ thế, Ngài bắt đầu trở nên giống hình thù mà Ngài vẫn có ở trong Ngài. Ngài không là thiên thần. Cũng đạt chốn Thiên Quốc. Ngài giống như ngôn sứ Cựu Ước, có tầm nhìn sâu sắc trong cuộc sống – tầm nhìn thấu đáo do Cha ban. Nhưng Ngài không chỉ là thế, như một ngôn sứ không hơn không kém. Mà, còn trinh trong cả ở nội tâm. Ngài không có triệu chứng tâm can đau yếu. Nhưng, Ngài hoàn toàn hội nhập vào với thực tại. Mỗi khi có cảm nghiệm gì lớn lao, toàn bộ con người Ngài phản ánh niềm vui chan hoà cho tất cả.
          Kinh nghiệm đỉnh núi, là kinh nghiệm gì ? Là, cảm nghiệm rằng Ngài được Cha hoàn toàn chấp nhận và yêu thương làm Con Cha. Và, Cha không thể chờ đợi lâu hơn nữa để tỏ bày cho Ngài biết là Ngài được Cha chấp nhận thương yêu biết dường nào. Ngài không là kẻ xa lạ với Cha. Và, Cha cũng không xa lạ gì Ngài. Ngài không là người bạn của Cha chỉ trong chốc lát. Và, Cha cũng chẳng là bạn hiền của Ngài chỉ một phút chốc rồi thôi. Những miên trường. Mãi mãi.
          Cảm nghiệm Ngài cho thấy tương quan giữa Ngài và Cha. Giữa Cha và Ngài. Không là tương quan chỉ phút chốc. Hoặc lúc trầm lúc bổng. Lúc tắt lúc bật trở lại. Ngài thực sự biết rõ Cha và quyết trở thành Thiên Chúa, giống như Cha. Và, Cha cũng biết rõ Ngài. Cha vẫn muốn Ngài thành Thiên Chúa theo cung cách rất Giêsu Kitô. Tựa hồ một biến đổi còn diễn tiến. Và lúc này là lúc thấy rõ diễn tiến hai chiều. Diển tiến cho thấy Đức Giêsu trở nên thần thiêng như Thiên Chúa. Và Thiên Chúa đang trở thành người phàm, như Đức Giêsu. Ta có thể gọi đó là biến hình hoặc nhập thể, cũng chẳng sai.
          Tất cả sự việc này, tháp nhập vào với giọng nói vang vọng từ trên cao khẳng định với các tông đồ về điều rất chính yếu: “Này là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người.” ( Mt 17, 5 )
          Ngay khi ấy, các Thánh Tông Đồ vẫn chưa nhận ra ý nghĩa của giọng nói, ngay tức khắc. Chỉ về sau, các thánh nhân mới nhận ra được ý nghĩa thâm sâu về những gì xảy đến với chính mình. Và, Chúa cũng đã căn dặn các thánh đừng cho ai biết chuyện ấy, ít nhất chỉ phổ biến sau ngày sống lại, mà thôi. Mãi sau, các thánh mới nhận ra ý nghĩa đúng như thế. Cũng phải mất một thời gian chay tịnh rất dài ngày, người người mới nhớ về những chuyện như thế. Và, cũng đã am hiểu.
Và khi các thánh tông đồ tin tưởng vào Đức Giêsu và Cha Ngài, thì lúc ấy các thánh mới có cảm nghiệm đích thực về những gì xảy đến. Cảm nghiệm rằng, Đức Giêsu và Chúa Cha đã đến nơi chốn hoang vu thần thiêng là để chấp nhận thương yêu các thánh tông đồ cách trọn vẹn. Và các thánh cũng hài lòng được gần gũi Chúa. Kể từ đó, các thánh mới thông hiểu sự việc hầu thương yêu Đức Giêsu và Chúa Cha, theo cung cách khác hẳn. Khác trước rất nhiều. Cũng từ đó, các thánh bắt đầu thấy được chính mình. Biết được đời mình nay đã thay hình đổi dạng như thành quả có được từ một Biến hình của Đức Chúa, rất dễ thấy.
Cuối cùng, các thánh khám phá ra rằng các ngài cũng có thể thực hiện được chuyện biến dạng đổi hình, cho nhau. Thực hiện được, mỗi khi các thánh chấp nhận yêu thương bất cứ người nào trong cộng đoàn mình chung sống. Và, đây là động lực thúc đẩy một khởi đầu, thêm một lần. Rồi từ đó, tương quan giữa các thánh cũng đã thay hình đổi dạng, rất “biến hình”. Các thánh, nay trở thành người anh/người chị trong cộng đoàn Hội thánh, đã biến hình đổi dạng từ trong ra, và từ ngoài vào, rất liên hồi.
Chính vì thế, hôm nay, ngày Chúa “biến hình” chỉ một thoáng mong manh, để người người nhìn thấy trước sự kiện phục sinh rất yên tâm, thư giãn. Thư giãn, để không còn sợ rằng Mùa Chay sẽ nặng nề, khó chịu với bất cứ ai. Bởi, biến hình hôm nay là thông điệp. Và cũng là sứ mạng. Thông điệp bày tỏ rằng: chính vì Đức Giêsu, mà người người sẽ còn thay hình đổi dạng, nhiều hơn nữa. Sứ mạng, là sứ mạng để chứng tỏ, rằng: nếu tin vào Đức Giêsu, ta sẽ có khả năng giúp mọi người biến hình đổi dạng, như Đức Chúa. Chỉ cần ta thực tình chấp nhận nhau, yêu thương nhau. Chấp nhận vui hưởng sự hiện diện bên nhau. Có nhau để yêu thương giùm giúp hết mọi người, cũng đã đạt.
Vậy thì, Mùa Chay hôm nay có nghĩa gì, đối với ta ? Chay kiêng một mùa, là quyết trao cho nhau và cho mọi người khẳng định cần biến hình đổi dạng. Biến và đổi, rồi tạo cho mình một loại hình tựa như thế. Loại hình thực tình chấp nhận nhau. Thực tình yêu thương đùm bọc lẫn nhau. Thực tình vui hưởng sự hiện diện, gần gũi, ở bên nhau.
Trong khí thế bừng bừng tình yêu thương có từ Đức Chúa đã biến đổi hình, ta hân hoan ngâm nốt lời thơ trên mà hát:
“Chạy dọc lên, thông cảm ý ngang tàng,
Cùng chồm dậy, đáp lời hô vĩ đại !”
( Vũ Hoàng Chương – Bài Ca Bình Bắc )
Lời hô vĩ đại bữa ấy cũng như hôm nay, không hẳn là “Bài Ca ( để ) Bình Bắc” hoặc bình Nam, cho bằng lời hô vang hãy biến hình và đổi dạng, như Đức Chúa từng làm. Vẫn rất cần. Cũng rất nên.
Lm. NGUYỄN ĐỨC VINH SANH, bản lược dịch của MAI TÁ
 

MC2-196: LÊN NÚI BIẾN HÌNH

Lời Chúa hướng dẫn hành trình Mùa Chay Thánh, Mùa Chay cuộc đời, để chúng ta: - Nhớ cuộc: A75 MC2-196

Lời Chúa hướng dẫn hành trình Mùa Chay Thánh, Mùa Chay cuộc đời, để chúng ta:
- Nhớ cuộc sống này mong manh. Tin cùng đích cuộc sống này là cuộc sống vĩnh cửu trong Thiên Chúa. Vì dẫu là chút tàn tro mong manh, nhưng không phải là chút tàn tro vô nghĩa đến muôn đời. Bởi chút tàn tro ấy, thân phận con người ấy, được cứu rỗi nhờ chính giá máu của Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa. ( Lễ Tro )
- Cộng tác với ơn cứu rỗi của mình bằng việc sống Lời Chúa, và cùng Chúa Giêsu chiến thắng những cơn cám dỗ để hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa, để mong ơn cứu độ. (CN 1 Chay)
- Và hôm nay, Chúa Nhật 2 Chay, Lời Chúa mời gọi mỗi chúng ta cùng lên núi với Chúa Giêsu, gặp gỡ Thiên Chúa, chứng kiến dung mạo thật của Đấng Cứu Thế, và nhờ đó, tin tưởng và khát khao một cuộc biến hình vĩ đại nơi thân phận con người chúng ta.
Ý thức bụi tro, chiến thắng cám dỗ và biến đổi nên con người mới, liên kết chặt chẽ với nhau, đến nỗi không thể thiếu nhau trong hành trình đời người. Nếu không ý thức thân phận mình mong manh, con người không nhận ra chước cám dỗ để chiến thắng, và dĩ nhiên là không thể biến hình thành con người mới.
Hôm nay Chúa Giêsu gặp gỡ Thiên Chúa Cha trên núi, rồi Ngài biến hình: dung mạo Ngài nên sáng láng trước mắt ba môn đệ. Vẻ đẹp toàn năng, toàn bích của Con Thiên Chúa và nhất là lời mạc khải long trọng từ trong đám mây uy linh: “Đây là Con ta Yêu Dấu” làm ngây ngất tâm trí ba môn đệ. Ba môn đệ bừng tỉnh, ngộ ra, và xác tín Thầy mình không chỉ là một con người đồng hành với những con người tội lỗi xấu số, mà chính là Con Thiên Chúa thật. Những gì Thầy sẽ thực hiện nay mai, chắc chắn là chương trình của Thiên Chúa quyền năng, và kết cuộc là hiển vinh sáng láng trong sự sống vĩnh cửu.
Lời Chúa hôm nay củng cố cho mỗi chúng ta một niềm tin vững chắc về quyền năng của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô, để chúng ta cùng bước theo Ngài cả trên đường yêu thương phục vụ, lẫn trong phút vinh quang với Người. Con đường ấy là con đường biến hình nên giống Chúa Giêsu.
Để biến đổi nên con người mới với Chúa Giêsu biến hình, thiết tưởng, Lời Chúa hôm nay cho chúng ta một trình tự tâm linh cụ thể:
-Tin tưởng rằng Thiên Chúa đã và đang chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc gặp gỡ, bằng Mây Ân Sủng phủ che râm mát vùng hò hẹn ở trên cao, như đã thấy trong cuộc gặp gỡ của Môsê trong Xuất Hành 24, 16: “Vinh quang ĐỨC CHÚA ngự trên núi Xinai và mây bao phủ núi sáu ngày. Đến ngày thứ bảy, từ giữa đám mây, Người gọi ông Môsê”
- Từ bỏ những quyến rũ của cuộc đời, tin tưởng và nghe theo Lời Chúa mà tiến bước, như Abraham: "Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi”. ( St 12, 1 ).
- Đáp lời mời gọi của Chúa Giêsu: lên núi gặp gỡ Thiên Chúa: “Sáu ngày sau, Đức Giêsu đem các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan là em ông Giacôbê đi theo mình. Người đưa các ông đi riêng ra một chỗ, tới một ngọn núi cao” ( Mt 17, 1 )
- Bằng lòng để quyền năng Thiên Chúa Cha tác động, như Abraham “Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn, sẽ chúc phúc cho ngươi. Ta sẽ cho tên tuổi ngươi được lẫy lừng, và ngươi sẽ là một mối phúc lành” ( St 12, 2 ), và như Chúa Giêsu hôm nay: “Rồi Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng” ( Mt 17, 2 ).
- Cùng Chúa Giêsu tiêu diệt thần chết trong ta, và trở nên ánh sáng của sự sống và sự sống lại cho mọi người. “Chính Đức Kitô đã dùng Tin Mừng tiêu diệt thần chết, và chiếu soi sự sống, và sự sống không hư nát được tỏ rạng” ( 2 Tim, 10 ). Và như vậy, xứng đáng là “Con Yêu Dấu Của Cha”, trước mặt Cha và trước mặt mọi người.
Vâng, mỗi tín hữu đã có một lần biến hình vĩ đại: tấm linh hồn ô uế do tội nguyên tổ, đã được tẩy rửa sạch vết nhơ tội lỗi và nên tinh tuyền sáng láng nhờ máu Cứu Chuộc của Chúa Giêsu. Qua Bí Tích Thánh Tẩy, Chúa Giêsu đã phục hồi cho con người phẩm vị làm con của Thiên Chúa, được gọi Thiên Chúa là Cha và sống với niềm con thảo.
Thế nhưng, dòng đời trôi đi, với bao cuốn hút của những đam mê, vinh hoa, lạc thú, và sự đồng thuận với tội lỗi theo lời mời mọc của ma quỷ, các tín hữu đã tự làm hoen ố tâm hồn và mất đi vẻ đẹp nguyên tuyền của lần biến hình trọng đại ấy.
          Thiên Chúa đã và đang chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ mỗi chúng ta bằng ân sủng của Ngài. Điều quan trọng là chúng ta có từ bỏ những cuốn hút thế trần để tiến bước theo lời mời đi lên của Chúa, và có bằng lòng để quyền năng Ngài tác động trong ta, cho ta biến đổi nên con người mới, con người nhân chứng cho cuộc sống mới, cuộc sống sáng láng của Thiên Chúa.
Con đường đi lên với Thiên Chúa, cũng không phải là con đường dễ dãi, phẳng phiu. Cảm nghiệm đi lên của mỗi người đều có những điểm chung, riêng. Dẫu lên cao đến núi Chúa Tao Phùng, đến Núi Mẹ Tà Pao, hay thâm thấp như Đồi Mẹ Hòa Bình Giáo Xứ Hiệp Đức, thì mỗi bước đi lên, thân đời vẫn luôn níu chân người xuống, nghe nằng nặng, rã rời, đôi khi chùn bước. Mục đích đi lên thì không hẳn giống nhau: có người đi lên để thỏa mãn một thị hiếu, thỏa mãn đam mê chinh phục, nhưng cũng có người đi lên với ý tránh những xô bồ, hỗn độn của cuộc đời, tìm một nơi cho tâm hồn yên tịnh và nhất là gặp được Thiên Chúa để Ngài thanh luyện, biến đổi.
Mọi người đang chờ tôi, chờ bạn, biến hình, đổi mới, là phản ảnh trung thực diện mạo của Thiên Chúa tinh tuyền, sáng láng trong đời sống chứng nhân. Chúa Giêsu, chứng nhân của Thiên Chúa, trong cái thân phận con người đứng cuối sổ những người đau thương nhất, đã tỏ hiện cái vinh quang tuyệt đỉnh của Thiên Chúa. Cũng vậy, mỗi chúng ta, trong khi chấp nhận cùng Chúa Giêsu làm tôi tớ mọi người, phục vụ mọi người, trong gia đình, trong Giáo Xứ, trong Giáo Hội, chúng ta tin rằng, chúng ta cũng đang được vinh dự tỏ bày dung mạo của Thiên Chúa cho mọi người.
Cuộc biến hình mang ý nghĩa Phục Sinh, với niềm tin xác loài người sẽ sống lại, đã có tín hiệu tốt, tín hiệu vui ngay từ cuộc sống trần thế này. Đó là những cuộc biến hình từ một quyết tâm trở về, từ một lần giao hòa với Thiên Chúa qua bí tích giải tội, từ Thánh Thể Chúa Giêsu. Và do tác động ơn thánh nơi các Bí Tích, các tín hữu sống trước cuộc sống Phục Sinh bằng việc hoàn toàn thuộc về Chúa trong tâm tư ý nghĩ, lời nói, hành động: tất cả cho vinh danh Chúa, tất cả cho ý Chúa được thể hiện, tất cả vì bổn phận của người con thảo hiếu đối với Cha trên trời trong việc kính mến Chúa và phục vụ tha nhân.
Nếu lên núi là lên nơi thanh vắng, lên gần với Thiên Chúa để gặp gỡ Ngài, thì cụ thể hơn con đường đi lên hôm nay nơi mỗi chúng ta, có thể là: bỏ ngay tức khắc những bận tâm hiện tại và tìm ngay một phút tĩnh lặng, và lắng nghe Chúa nói.
Tôi tin Chúa đang cảm thông với những ước muốn vươn lên. Chúa tiếp sức cho mỗi khát vọng biến hình.
3 giờ chiều, có nhiều người đang lên núi với lòng Chúa thương xót. 6 giờ tối có nhiều người đang lên núi với lễ tế Chúa Giêsu trong Thánh Lễ. Và cũng có người 9 giờ đêm lên núi với Chúa trong giờ kinh rất thầm lặng, một mình Chúa một mình con, ngọn đèn hột vịt trên bàn thờ leo lét.
Cũng không thiếu những người chùn chân, vấp ngã, trên đường lên núi biến hình, nhưng Chúa đang cần một khát khao. Cha PX. kể chuyện: “8 giờ sáng, có người xin xưng tội. 7 giờ tối, người ấy lại vào gõ cửa “xin cha cho con xưng tội”. Sáng hôm sau người ấy lại đến: “Cha ơi, xin cứu con, con muốn bước lên, mà xác thịt con nặng nề yếu đuối quá. Con sợ quá, ông ấy sẽ giết con. Làm sao Cha ơi… ?”
Có những niềm riêng làm sao nói hết… nhưng một niềm riêng thật đau đớn, hẳn là, sống trong tội lỗi, sống trong sự ràng buộc của những ý nghĩ thấp hèn, không vươn lên được điều thanh thoát, không gặp được Thiên Chúa, không biến hình được… Nhưng chắc hẳn điều đau đớn nhất là: không khát khao lên núi, không khát khao biến hình…
Có một ca đoàn hát bài “Từ vực sâu” trong Mùa Chay, bị mấy người phản đối: “Bài đó chỉ để hát trong lễ cầu hồn”. Anh ca trưởng buồn lắm, vì anh nghĩ, có phải là đợi lúc ta chết mới cầu hồn đâu. Lúc đang sống thế này, mà linh hồn ta đang chết, linh hồn ta đang ở dưới vực sâu. Không hát được sao ?
Lạy Chúa, linh hồn con đang ở dưới vực sâu, trong vũng tội. Nếu Chúa chấp tội thì ai được cứu rỗi. Nhưng chúng con tin Chúa là Cha khoan hồng thứ tha, vẫn từng mong ngóng đợi chờ chúng con từ bỏ tất cả, lên núi, gặp Chúa, để Chúa biến hình chúng con từ ô uế nhớp nhơ, nên tinh tuyền sáng láng, xứng đáng là Con yêu dấu của Cha trên Trời.
Xin cho chúng con lòng khát khao nên tinh tuyền hôm nay và phục sinh ngày mai. Amen.
PM. CAO HUY HOÀNG, 17.3.2011
 

MC2-197: LẠY CHÚA, CON SAI RỒI !

Dạo gần đây, có những cuộc biểu tình tranh đấu làm nức lòng hàng triệu người trên thế giới: A76 MC2-197

Dạo gần đây, có những cuộc biểu tình tranh đấu làm nức lòng hàng triệu người trên thế giới. Người ta nắm tay nhau xuống đường và nói: “Chúng tôi muốn một cuộc sống tốt đẹp hơn. Các ông sai rồi. Các ông có vấn đề. Các ông phải thay đổi.” Để có được một cuộc sống tốt đẹp hơn, không bao giờ là điều dễ dàng. Dù chỉ là biểu tình bất bạo động, như ở Tunisia, Ai Cập, thì giá phải trả cũng đến hàng chục, hàng trăm sinh mạng. Ở Lybia, người ta đi đến dùng súng đạn, nên máu me chết chóc càng tràn lan và chồng chất nhiều hơn.
Đôi khi tôi mơ giấc mơ rất trẻ con, mơ rằng bất chợt sau một đêm thức dậy, tất cả các nhà lãnh đạo độc tài, tham nhũng, các tổ chức tội phạm, các kẻ gian manh, táng tận lương tâm trên toàn thế giới này bỗng cùng nhau nắm tay, xuống đường, hừng hực khí thế biểu tình và hô lớn: “Vâng, mọi người có quyền có được một cuộc sống tốt đẹp hơn. Vâng, chúng tôi sai rồi. Chúng tôi có vấn đề. Chúng tôi cần thay đổi !”
Giấc mơ trẻ con. Vì đó là điều không tưởng. Nhìn nhận rằng “tôi sai rồi, tôi có vấn đề, tôi phải thay đổi” là điều rất khó, nếu không nói là khó nhất trần đời. Thường, tôi thích ( thậm chí có năng khiếu ) săm soi người hơn là truy xét chính bản thân mình. Tôi khen người này, trách người kia, đôi khi là có lý và xuất phát từ lòng quan tâm của mình. Nhưng rất ít khi những hay, dở của người thực sự đem lại một thay đổi đáng kể trong đời tôi. Tôi vẫn dậm chân, vẫn ì lại đó, mặc bao tháng năm trôi, chỉ vì... tôi chưa đủ nghiêm cẩn nhìn lại chính mình. Xem chừng như nơi tôi mọi sự đều ổn cả, tôi không có vấn đề gì, và không có gì cần phải thay đổi !
Đọc báo, thấy bao điều đáng nản. Người ta rùm beng về những vụ án giựt gân, những xì căng đan, những “sao” lộ hàng, những xe đụng, người đâm, rùa bệnh... Gần đây, loạt tin về lạm phát, bão giá, đáng gọi là “tin” hơn, thì lại cũng chỉ là tin gây thêm rầu.

Tôi ước gì mình có khả năng để xắn tay áo lên dàn xếp lại tất cả, chấn chỉnh, đổi thay tất cả – không chỉ đất nước và Giáo Hội địa phương mình, mà cả thế giới này – cho được tốt hơn hay ít ra là bớt buồn bớt tệ hơn.
Nhưng rồi bỗng giật mình: Ai cần thay đổi trước, thế giới này, những người xung quanh tôi, hay là... chính tôi ? Và liệu có ý nghĩa gì cho tôi, nếu mọi sự xung quanh mình trở nên tốt hơn còn chính mình thì không hề nhúc nhích ? Và còn nữa, một dấu hỏi vỗ thẳng mặt mình mà tôi không thể ỡm ờ hay ấm ớ: Phải chăng cuộc sống này, đất nước này, thế giới này ngổn ngang bao vấn đề như thế cũng bởi vì tôi chưa thật sự thay đổi chính tôi ? Phải chăng điểm bắt đầu cho mọi cuộc thay đổi không ở nơi ai hay nơi đâu khác ngoài chính bản thân mình ?
Một mùa sám hối nữa lại về. Tiếng gọi mời hoán cải, đổi đời lại đi vào lòng mình, giục giã. Thứ Tư Tro, tôi bước tới, lặng lẽ cúi mình để được rắc lên đầu một chút tro, với lời nhắn gửi: “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng !” Cử chỉ đơn sơ mà đầy hàm nghĩa. Càng là một hình ảnh cảm kích, vì mọi người cùng làm cử chỉ ấy, chứ không chỉ mình tôi. Tất cả mọi người đồng đạo với tôi – già, trẻ, lớn, bé, nam, nữ, giàu, nghèo, trí thức, ít học, quí phái, bình dân, từ Giáo Hoàng, Giám Mục, cho tới những người tín hữu bé nhỏ vô danh và lẩn khuất nhất, tất cả đều thinh lặng nhận rắc tro trên đầu, một cách công khai, để muốn nói lên rằng: “Tôi sai rồi. Tôi có vấn đề. Chính tôi cần thay đổi !” Ai bảo đây không phải là một cuộc biểu tình trong mơ, một cuộc biểu tình thắp lên hy vọng cho mọi người về một Giáo Hội dấn bước vào hoán cải, nên xứng đáng là “Giáo Hội thánh thiện” hơn, và qua đó trở thành nhân tố cho một thế giới tốt đẹp hơn ?
Có gì phải ngại khi nhận mình là tội nhân đâu nhỉ, bởi lẽ đơn giản: đó là sự thực.
Hôm kia, động đất và sóng thần kinh hoàng dập vùi một phần nước Nhật. Tất cả đều tan hoang. Hàng vạn người chết. Hàng chục vạn chịu màn trời chiếu đất. Đau thương ngút trời. Có phải là vô tình trùng hợp khi biến cố xảy ra vào đầu Mùa Sám Hối và Hoán Cải của năm nay ? Ai đó nhắc về lời cảnh báo của Đức Mẹ ở Akita mấy chục năm trước, lời cảnh báo về những thảm họa có liên quan đến tội lỗi của con người, cách riêng tội lỗi ngay trong lòng Giáo Hội.
Và lời cảnh báo này, cách đây gần hai ngàn năm, càng khả tín hơn nữa: “Cũng như mười tám người kia bị tháp Silôê đổ xuống đè chết, các ông tưởng họ là những người mắc tội nặng hơn tất cả mọi người ở thành Giêrusalem sao ? Tôi nói cho các ông biết: không phải thế đâu; nhưng nếu các ông không chịu sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết y như vậy” ( Lc 13, 4 – 5 ).
Lạy Chúa, con sai rồi, con có vấn đề, xin Chúa giúp con thay đổi !
THIÊN PHONG, 14.3.2011
 

MC2-198: CHÚA GIÊSU BIẾN HÌNH

CHÚA NHẬT THỨ II MÙA CHAY, năm A
Mt 17, 1-9

Cuộc đời ngắn ngủi của Chúa Giêsu ở trần gian nói lên sự vâng phục thánh ý Thiên Chúa Cha: A77 MC2-198

Cuộc đời ngắn ngủi của Chúa Giêsu ở trần gian nói lên sự vâng phục thánh ý Thiên Chúa Cha của Ngài. Bởi vì đã là Thiên Chúa, Chúa Giêsu có thể kéo dài cuộc sống của Ngài đến vô cùng vô tận. Nhưng ở trần thế chóng qua này, Chúa Giêsu đã chấp nhận cái mong manh, chóng qua của thân phận con người. Đó là, sau khi Chúa Giêsu chấp nhận sự đau khổ theo ý Thiên Chúa Cha để cứu độ nhân loại, Chúa Giêsu đã được “ biến hình đổi dạng trên núi cao “ và được Cha Ngài long trọng khen ngợi :” Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người “ ( Mt 17, 2 ).
Chúa Giêsu biến hình trên núi Taborê để cho các môn đệ thân tín thấy vinh quang của Ngài. Sự biến hình là phần thưởng cao quí, tuyệt vời Thiên Chúa Cha trao tặng cho Chúa Con, Đức Giêsu Kitô.Chúa biến hình trước mặt các môn đệ để các Ngài cảm nghiệm trước sự sáng láng sống lại của Chúa Giêsu. Biến hình hôm nay, Chúa chuẩn bị các môn đệ dễ dàng đón nhận sự đau khổ, cái chết thương đau của Chúa Giêsu trên thập giá. Bởi vì có đau khổ mới có vinh quang. Miêu tả biến cố biến hình, thánh sử Máccô viết :” Áo người trở nên trắng như tuyết, trắng hơn bất cứ thứ vải nào mà các thợ tẩy có thể tẩy được “. Thánh Matthêu diễn tả :” Sung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng “ ( Mt 17, 2 ). Đây là cuộc biến hình đổi dạng sau khi Chúa Giêsu đã một mực tuân hành ý Thiên Chúa Cha chấp nhận cuộc khổ nan để cứu chuộc nhân loại. Cả cuộc đời của Chúa Giêsu là chấp nhận vâng lời thánh ý Thiên Chúa Cha. Chính vâng phục ý Cha, Chúa Giêsu đã trút bỏ vinh quang, mang thân phận làm người, sống như mọi người ngoại trừ tội lỗi. Chúa đã chịu đau khổ trong cuộc khổ nạn để cứu chuộc nhân loại, gánh tội cho con người,mặc dù Người hoàn toàn vô tội.
Chính vì thế, người môn đệ Chúa Giêsu luôn phải thốt trên môi miệng lời của Chúa Giêsu :” Lạy Cha nếu có thể được thì xin Cha cất chén đắng này xa con, nhưng đừng theo ý Con mà là theo ý Cha “ ( Mt 26, 39 ).  Vác thập giá đi theo Đức Giêsu Kitô, người môn đệ Chúa sẽ được thấy sự vinh quang của Chúa. Chúa đã nói :” Mỗi lần anh em cho một trong những kẻ nhỏ mọn này ăn, uống, mặc là các con làm cho chính Ta “. Giúp đỡ, thăm viếng những kẻ tù tội, chia sẻ niềm vui, nỗi buồn với những kẻ khó khăn là chúng ta nhận ra khuôn mặt sáng láng của Chúa Giêsu. Người môn đệ Chúa sẽ họa lại được khuôn mặt của Chúa khi họ luôn có bộ mặt an bình, hân hoan vì có Chúa ở cùng họ.
Vinh quang của núi Tabôrê quả thực mau qua vì Chúa chỉ cho các môn đệ thân tín nhất là Phêrô, Giacôbê và Gioan thấy sự sáng láng, chói lòa của Ngài trong chốc lát. Người Kitô hữu, môn đệ của Chúa thấy vinh quang thì ít mà đau khổ thì nhiều, nhưng họ sẵn sàng chấp nhận vì họ cảm nghiệm được Chúa đang có mặt trong cuộc đời mình và như thế, họ sẵn sàng hy sinh vác thập giá để đi theo Chúa.
Vâng, người Kitô hữu luôn phải vượt thắng tội lỗi, bản thân để chiếm lấy vinh quang là Nước Thiên Chúa.
Cả cuộc đời của người Kitô hữu là một cuộc phấn đấu không ngừng. Người Kitô hữu phải bước đi trong cuộc hành trình đức tin. Cuộc hành trình đức tin đòi hỏi con người luôn phải mặc lấy Đức Kitô. Mà đã mặc lấy Đức Kitô, người Kitô hữu phải sống như Ngài. Do đó, người Kitô hữu phải sống khiêm nhượng, sống hiền lành để bộ mặt của Đức Kitô được nổi bật trong đời sống của mình.
Mùa chay là cơ hội tốt, là dịp thuận tiện cho chúng ta ăn năn sám hối, quay về với Chúa, với anh em, sống thánh thiện và đạo đức để hướng về cuộc khổ nạn và sự phục sinh của Đức Kitô.
Canh tân đời sống, ăn chay, bố thí và cầu nguyện là ba phương thế tốt nhất để người Kitô hữu thực hiện việc sám hối…
Xin Chúa ban thêm đức tin cho chúng con để mỗi lần thực thi việc bác ái, mỗi lần cầu nguyện, mỗi lần dâng thánh lễ là mỗi lần gương mặt chúng con bừng sáng vì Chúa đang khơi lên trong trái tim chúng con ngọn lửa mến, ngọn lửa tình yêu cứu độ. Amen.
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
1.Tại sao Chúa lại biến hình trên núi Tabôrê trước mặt ba môn đệ thân tín ?
2.Cuộc biến hình của Chúa Giêsu dạy chúng ta điều gì ?
3.Thập giá gợi gì cho chúng ta ?
4.Tại sao chúng ta lại phải sám hối ?
5.Canh tân là gì ?
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi   DCCT
 

MC2-199: Chiêm ngưỡng vinh quang của Chúa

Chúa Nhật 2 Mùa Chay Năm A
 (Kn 12,1-4a; 2Tm 1,8b-10; Mt 17,1-9)
Phúc Âm: Mt 17, 1-9
"Mặt Người chiếu sáng như mặt trời".
Khi ấy, Chúa Giêsu đã gọi Phêrô, Giacôbê và Gioan là em ông này, và Người đưa các ông tới chỗ riêng biệt trên núi cao. Người biến hình trước mặt các ông: mặt Người chiếu sáng như mặt trời, áo Người trở nên trắng như tuyết. Và đây Môsê và Êlia hiện ra, và đàm đạo với Người. Bấy giờ ông Phêrô lên tiếng, thưa Chúa Giêsu rằng: "Lạy Thầy, chúng con được ở đây thì tốt lắm. Nếu Thầy ưng, chúng con xin làm ba lều, một cho Thầy, một cho Môsê, và một cho Êlia". Lúc ông còn đang nói, thì có một đám mây sáng bao phủ các Ngài, và có tiếng từ trong đám mây phán rằng: "Đây là Con Ta yêu dấu rất đẹp lòng Ta, các ngươi hãy nghe lời Người". Nghe thấy vậy, các môn đệ ngã sấp xuống, và hết sức sợ hãi. Bấy giờ Chúa Giêsu đến gần, động đến các ông và bảo: "Các con hãy đứng dậy, đừng sợ". Ngước mắt lên, các ông thấy chẳng còn ai, trừ ra một mình Chúa Giêsu. Và trong lúc từ trên núi đi xuống, Chúa Giêsu đã ra lệnh cho các ông rằng: "Các con không được nói với ai về việc đã thấy, cho tới khi Con Người từ cõi chết sống lại".
 Suy Niệm:
Chúa Nhật II Mùa Chay A
Kn 12,1-4a; 2Tm 1,8b-10; Mt 17,1-9

Bàn Thờ là Núi Thánh. Và mỗi Thánh lễ là một cuộc Chúa biến hình. Người lấy hình bánh: A78 MC2-199

Bàn Thờ là Núi Thánh. Và mỗi Thánh lễ là một cuộc Chúa biến hình. Người lấy hình bánh rượu để trở nên lễ vật, cho ta được tham dự vào lễ tế của Người. Như vậy, việc Chúa biến hình ngày trước tất có tương quan tới Thánh lễ chúng ta đang cử hành. Chúng ta hãy tìm hiểu, để Thánh lễ này thêm ý nghĩa và đời ta nên tốt đẹp hơn.
 A. Câu Chuyện Chúa Biến Hình
Thánh Matthêô kể câu chuyện này 6 ngày sau khi Phêrô tuyên xưng Đức Yêsu là Con Thiên Chúa hằng sống (16,13-20). Hôm ấy Đức Yêsu cũng đã tuyên bố lần đầu tiên về cuộc tử nạn của Người; và Người bảo ai muốn theo Người cũng phải vác Thập giá. Nhưng để an ủi, Người phán: rồi đây Con Người sẽ đến trong vinh quang và có những kẻ đang ở trước mặt Người đây sẽ chứng kiến.
Không biết các môn đệ có hiểu hết những lời ấy không? Nhưng hôm nay, 6 ngày sau, ba ông Phêrô, Yacôbê và Yoan đã được xem thấy vinh quang của Người như chúng ta vừa nghe đọc.
Xếp lại câu chuyện như vậy, chúng ta thấy ngay việc Chúa biến hình muốn thể hiện điều Người đã hứa. Và trước hết nó có ý nghĩa thế mạt. Người đã hứa cho mấy người được thấy Con Người đến trong vinh quang của Cha Người và đến với Nước của Người. Nên dù chỉ 6 ngày sau Người đã thể hiện Lời hứa, cảnh tượng vinh quang mà Người cho họ thấy vẫn thuộc về thời đại cánh chung. Và Matthêô đã có những từ ngữ, những hình ảnh làm nổi bật khía cạnh này. Ông nói đến một nơi núi cao, riêng biệt ra, tức là tách khỏi đời này. Ông diễn tả mặt Người sáng như mặt trời và áo Người trắng như tuyết, là những nét tả về con người ở thời cánh chung (Mt 13,40-43). Môsê và nhất là Êlya là những nhân vật mà người ta tin rằng sẽ trở lại khi Con Người đến. Có tiếng từ trời phán xuống cũng là một nét của thời đại cánh chung. Và việc cấm phổ biến những điều vừa xem thấy cũng thuộc loại văn khải huyền về thời thế mạt.
Như vậy, không ai có thể bảo câu chuyện Chúa biến hình đã thuộc về quá khứ. Nó là dấu hiệu báo trước tương lai. Nó đưa ta hướng mắt về Ngày Chúa trở lại. Nó có thể giúp ta tham dự vào Thánh lễ này sốt sắng hơn. Và Phụng vụ đặt nó vào ngày Chúa nhật hôm nay sau Chúa nhật trước nói về Đức Yêsu là Con Thiên Chúa, phải chăng không muốn nói rằng ai đã tuyên xưng Đức Yêsu là Con Thiên Chúa, như Phêrô, tất sẽ được nhìn thấy vinh quang của Người?
Nhưng những gì sẽ xảy ra trong thời kỳ cánh chung, cũng đã khởi sự trong mầu nhiệm Phục sinh. Thế nên bài Tin Mừng hôm nay cũng hướng ta về sự kiện Chúa sống lại. Hiển nhiên thánh Matthêô đã muốn cho chúng ta nhìn thấy Chúa Phục sinh trong bài Tin Mừng này; vì mặc dù câu chuyện xảy ra đang khi Đức Yêsu còn tại thế, nhưng tác giả đã dùng ánh sáng của Chúa sống lại để cho chúng ta nhận ra Người. Thánh Phêrô không xưng Người là Thầy như mọi khi, nhưng danh từ "Chúa" là từ mà môn đệ chỉ dùng để thưa với Chúa Phục sinh. Và cử chỉ của Đức Yêsu tiến lại, giơ tay nâng môn đệ dậy, chẳng phải là ơn phục sinh của Chúa cúi xuống đỡ nhân loại sa ngã lên đó sao? Nhất là đoạn văn này được viết tiếp ngay vào những lời Đức Yêsu tuyên bố lần đầu tiên về cuộc Tử nạn của Người và về việc môn đệ phải vác thập giá mà đi theo Người, quả thật có ý nói đến mầu nhiệm Phục sinh. Chính ý nghĩa cánh chung cũng phải nhờ viễn tượng Chúa sống lại mới hiểu ra được.
Tuy nhiên cả hai cái nhìn cánh chung và phục sinh vẫn không được làm chúng ta quên Đức Yêsu hiện tại. Chúa nhật trước, Phụng vụ giới thiệu Người như Con Thiên Chúa sống nơi sa mạc. Hôm nay, cũng dùng Tin Mừng thánh Matthêô, Phụng vụ cho ta thấy Người là Môsê mới ở trên núi. Nói đúng ra, Chúa nhật trước thánh Matthêô cũng đã muốn nói Người là Môsê rồi, nhưng còn kín đáo. Hôm nay rõ ràng tác giả muốn so sánh giữa hai Môsê. Cả hai đã lên núi, được mây bao phủ và đưa vào trong một cuộc đàm đạo với Thiên Chúa (x. Xh 24,15-18). Và cả hai trường hợp đều xảy ra vào ngày thứ 7. Tuy nhiên trong trường hợp của Môsê, chính Thiên Chúa đã có bộ mặt sáng láng và đã gọi ông, đang khi ở đây chính Đức Kitô đã biến hình và được tiếng Đức Chúa Cha tuyên dương. Môsê mới đã rõ rệt hơn Môsê cũ. Môsê cũ giờ đây chỉ đứng bên Môsê mới để tuyên chứng và cũng để được ánh sáng Môsê mới soi dọi vào. Nhất là Môsê cũ sẽ biến đi, để lại một Đức Kitô là Môsê mới, độc hữu và độc tôn trước mắt các Tông đồ đang còn vẳng nghe lời căn dặn: "Hãy nghe Người!". Thánh Matthêô hiểu như vậy, nên đoạn 18 theo sau đoạn 17 này đã được tác giả dùng để viết lại giáo lý của Đức Kitô về Hội Thánh. Như vậy, ở đây muốn giới thiệu Người là Môsê mới của Hội Thánh.
Hội Thánh phải nghe Vị Môsê mới này để được đi tới mầu nhiệm phục sinh, bảo chứng của thời đại cánh chung: đó là nội dung bài Tin Mừng hôm nay và là giáo huấn của Phụng vụ Chúa nhật II Mùa Chay này. Chúng ta hãy đến với Đức Kitô biến hình trong mầu nhiệm Thánh lễ hôm nay để xin Người dạy dỗ hầu đạt tới vinh quang phục sinh và Nước Trời.
 B. Bài Học Cụ Thể
Chúa hằng dạy dỗ chúng ta qua Sách Thánh. Bài sách Khởi nguyên hôm nay nói đến ơn gọi của Abraham, tổ phụ các tín hữu. Chúa gọi ông bỏ quê hương họ hàng ra đi đến nơi Người sẽ chỉ cho để sẽ được thịnh vượng và hạnh phúc. Người gọi chúng ta trong Mùa Chay này từ bỏ mọi dính bén để đi tới hạnh phúc phục sinh. Ơn gọi Abraham báo trước ơn gọi của chúng ta. Và con đường ông đã đi là con đường chúng ta phải bước vào... Con đường ấy là hành trình trong đức tin. Abraham phải từ bỏ những cái đang có để hy vọng, trông chờ những của vị lai. Một cách nào đó ông phải bỏ mồi bắt bóng. Ông đã làm vì ông tin Chúa, tin lời Người hứa. Ông ra đi như Chúa truyền. Vào đến đất hứa, ông vẫn chưa được chiếm hữu. Chúa sẽ trỏ cho ông thấy đó là đất Chúa sẽ ban cho con cháu ông, chứ ông chưa được. Abraham vẫn tin, tin dấu hiệu bảo chứng của thực tại. Ông là tổ phụ của chúng ta, là các tín hữu sau ông đã tin vào Chúa. Và cũng như ông, chúng ta luôn phải tin Lời Chúa và các Bí tích dấu chỉ ban ơn vô hình. Chúng ta có kinh nghiệm, đức tin nhiều khi đòi phải bỏ mồi bắt bóng, chịu thiệt thòi về vật chất để trông chờ những của mai sau hay những ơn thiêng vô hình. Thường khi hơn nữa, đức tin đòi phải biết nhận ra thời triệu, tức là xuyên qua những thực tại hữu hình đạt tới những thực tại vô hình; không những nhìn vào các Bí tích để biết nhận ra các ơn thiêng, mà còn biết tìm ra Ý Chúa và tiếng Người kêu gọi qua mọi sự kiện hàng ngày và đặc biệt qua mầu nhiệm Thập giá: ai muốn theo Chúa phải vác thập giá mình mỗi ngày. Thánh Matthêô đã viết rõ như thế. Và thánh Phaolô trong bài thư hôm nay cũng bắt đầu bằng câu: hãy chia sẻ lao nhọc của Phúc Âm.
Phaolô viết cho Timôthê, nhưng cũng dặn dò Hội Thánh và mọi người chúng ta: hãy chung phần cam khổ vì Tin Mừng (bản dịch của linh mục Nguyễn Thế Thuấn). Người không cần nói vì sao theo Tin Mừng và giảng Tin Mừng thì phải gian khổ. Điều ấy quá rõ rồi. Ai cũng có kinh nghiệm. Sống ơn gọi Kitô hữu và Tông đồ thật là khó: phải phấn đấu theo gương Chúa Yêsu như chúng ta đã thấy trong Chúa nhật trước; phải luôn luôn hành trình trong đức tin như gương Abraham còn để lại; phải thống hối cải tạo đời sống như Phụng vụ Mùa Chay thúc giục. Điều Timôthê và chúng ta cần biết hơn là lý do vì sao ta phải lao nhọc và có sức nào trợ giúp chúng ta không? Cả bài thư hôm nay muốn cống hiến cho chúng ta nhiều tư tưởng để suy nghĩ.
Một cách vắn tắt, Phaolô mời gọi chúng ta nhìn lên Đức Yêsu Kitô, Đấng đã hủy diệt sự chết và đã chiếu sáng ra sự sống. Đó là Đức Yêsu Kitô phục sinh mà Matthêô đã giới thiệu trong bài Tin Mừng. Người đang kêu gọi chúng ta trong Thánh lễ này, không phải vì sự nghiệp, công trạng riêng gì của ta, nhưng chỉ vì ý định và ân sủng của Thiên Chúa yêu thương ta cách lạ lùng muốn cho chúng ta được chia sẻ vinh quang phục sinh nơi Đức Yêsu Kitô. Nếu chúng ta tin như vậy, thì phải bắt chước Abraham chấp nhận hành trình trong đức tin và gian khổ, vì có cùng chịu khổ với Người chúng ta mới được cùng Người sống lại.
Như thế Lời Chúa hôm nay muốn khuyến khích chúng ta trên con đường Mùa Chay. Chúng ta được đưa lên Núi Thánh để chiêm ngưỡng vinh quang và tham dự vào sự sống của Chúa, để khi xuống núi theo gương các Tông đồ chúng ta nghe và giữ Lời Chúa mà xây dựng Hội Thánh.
Chủ yếu việc xây dựng này không phải chỉ là chu toàn hoặc tổ chức những lễ nghi bên ngoài, nhưng là kiến tạo Hội Thánh cho thời đại cánh chung mà ai cũng biết sẽ là toàn thể nhân loại và tạo dựng được chia sẻ vinh quang Thiên Chúa. Thế nên việc xây dựng Nước Trời bao trùm nhiều mặt cụ thể. Tất cả những gì giúp cho nhân loại ấm no, hạnh phúc, bình đẳng và huynh đệ đều cần thiết cho thời đại cánh chung, cho ơn phục sinh đến với mọi người. Và làm những công việc như thế, dĩ nhiên phải phấn đấu, lao nhọc... nhưng đó là chung phần cam khổ vì Tin Mừng. Và chúng ta có Thánh lễ này để kết hợp với Đức Kitô biến hình, Đấng đã hủy diệt sự chết và đã chiếu sáng ra sự sống. Chính Người sẽ chia sẻ sự sống và thần lực của Người cho ta để giúp ta hành trình trong đức tin và lao nhọc.
Chúng ta hãy tin như vậy và tham dự Thánh lễ này sốt sắng để tích cực và hiệu lực xây dựng hạnh phú Nước Trời ngay từ đời này cho vinh quang Thiên Chúa và hạnh phúc muôn người.
 (Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa của Đức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)
 

MC2-200: Theo bước chân Con Yêu Dấu của Thiên Chúa.

CHÚA NHẬT II MÙA CHAY, A
Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Mát-thêu 17:1-9)

Tin Mừng Mát-thêu hai lần ghi lại cùng một lời phát biểu của Chúa Cha về Con Một Người:  A79 MC2-200

Tin Mừng Mát-thêu hai lần ghi lại cùng một lời phát biểu của Chúa Cha về Con Một Người là Chúa Giê-su:  “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người”.  Lời khen con cái của người cha trong gia đình luôn là một sức mạnh và nâng đỡ cho đứa con về mọi phương diện, nhất là khi nó hoàn tất một công việc lớn lao.  Trong lời khen tặng tế nhị của Chúa Cha, ngôn từ và thời điểm đều vô cùng ý nghĩa đối với sứ vụ của Chúa Giê-su.  Còn đối với chúng ta, đặc biệt trong mùa Chay này, những lời ấy mong đợi chúng ta làm gì để Người được hài lòng?
          Lần thứ nhất, sau khi Chúa Giê-su chịu phép rửa của Gio-an và lên khỏi nước, tiếng Chúa Cha giới thiệu và bày tỏ tình cảm về Con Một của Người vang động cả một phương trời.  Những lời ấy được nói lên ngay khi Chúa Giê-su khởi đầu thi hành sứ vụ.  Đối với Chúa Cha, đây là lúc vô cùng quan trọng khai mạc một kỷ nguyên mới của tình yêu và ơn cứu độ của Người.  Nói lên những lời này, Thiên Chúa Cha đã bày tỏ trọn vẹn sự tin tưởng vào Chúa Giê-su.  Chỉ có người Con yêu dấu đã đích thân cảm nghiệm được tình yêu của Thiên Chúa Cha mới có đủ tư cách để được sai đến với nhân loại và nói cho họ biết Thiên Chúa yêu thương họ đến chừng nào (Gio-an 3:16).  Chỉ có người Con yêu dấu mới dám lên đường rao giảng Tin Mừng và chữa lành những vết thương hồn xác của nhân loại, mặc cho những chống đối và hiểu lầm không ngừng tấn công Người trên mọi nẻo đường rao giảng.  Lời yêu thương của Chúa Cha đã trở nên động lực và nâng đỡ Chúa Giê-su trung thành với sứ mệnh rao giảng và chữa lành.
          Lần thứ hai trong khi Chúa Giê-su biến đổi hình dạng trên núi, cũng những lời tâm tình của Chúa Cha giống như lời nhắc nhở và mong đợi Chúa Giê-su hãy can đảm đi lên Giê-ru-sa-lem, nơi đó người Con Một của Thiên Chúa “sẽ bị nộp cho các thượng tế và kinh sư.  Họ sẽ lên án xử tử Người và sẽ nộp Người cho dân ngoại.  Họ sẽ nhạo báng Người, khạc nhổ vào Người, họ sẽ đánh đòn và giết chết Người” (Mác-cô 10:33-34).  Lần này với sự có mặt của hai vị Mô-sê và ngôn sứ Ê-li-a, lời khen tặng của Chúa Cha rõ ràng cho thấy Chúa Giê-su sẽ hoàn tất mọi điều Kinh Thánh Cựu Ước (sách Luật và Ngôn sứ) nói về Người, nhất là những gì được nói đến trong bài ca về Người Tôi Tớ trung thành trích sách I-sai-a.  Nói khác đi, người Con Yêu Dấu của Thiên Chúa sẽ can đảm chấp nhận cuộc Thương Khó và cái chết nhục trên thập giá để hoàn thành sứ mệnh cứu độ trần gian.
          Qua hai lần lên tiếng của Chúa Cha, chúng ta có dịp chiêm ngưỡng tình yêu Thiên Chúa dành cho Con Một Người và qua Người cho hết thảy chúng ta, những người cùng với Chúa Giê-su cố gắng chu toàn sứ mệnh trên trần gian.  Thiên Chúa yêu thương và nâng đỡ Con Một thế nào, Người cũng yêu thương và nâng đỡ chúng ta là anh chị em của Chúa Giê-su như vậy.
Sống sứ điệp Tin Mừng
          Đặc biệt trong lần Chúa Giê-su hiển dung này, Chúa Cha không chỉ phán dạy về Con Một Người mà thôi, Người còn bảo các môn đệ Chúa Giê-su: “Các ngươi hãy vâng nghe lời Người”.  Sau lời phán của Thiên Chúa Cha với các môn đệ, “Chúa Giê-su lại gần, chạm vào các ông và bảo: ‘Trỗi dậy đi, đừng sợ!’”  Cử chỉ và lời nói của Chúa Giê-su thật vô cùng ý nghĩa!  Chỉ còn mình Chúa Giê-su và chúng ta.  Ông Mô-sê và ngôn sứ Ê-li-a đã đi rồi.  Từ nay chỉ còn lại Chúa Giê-su.  Người sẽ thay thế mọi Lề Luật và lời các ngôn sứ.  Người sẽ là Mô-sê Mới, Ê-li-a Mới và Lề Luật Mới.  Lời Người chứa đựng trong Tin Mừng.  Người sẽ dạy dỗ chúng ta và dìu dắt chúng ta trong sự sống mới, sống theo Thánh Thần của Người, theo tinh thần của những người con cái bước đi trong tự do của luật yêu thương.  Chúa Giê-su luôn nói với chúng ta:  “Trỗi dậy đi, đừng sợ” mỗi khi chúng ta cảm thấy yếu đuối.  Người sẽ “chạm đến” chúng ta để ban cho chúng ta sức mạnh và sẽ mở tai chúng ta để luôn nghe được lời Chúa Cha đã phán với Người:  “Đây là các con yêu dấu của Cha.  Cha hài lòng với Con Một Cha thế nào, Cha cũng hài lòng với các con như vậy!  Hãy vâng nghe lời Người.”  Vậy chúng ta hãy cùng sánh bước với Chúa Giê-su trong suốt mùa Chay này và sau đó nữa!                                  
Lm. Đa-minh Trần đình Nhi
16-3-2011
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây