Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 2 MC ABC Bài 351-400 Chúa Biến Hình

Thứ sáu - 06/03/2020 21:46
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 2 MC ABC Bài 351-400 Chúa Biến Hình
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 2 MC ABC Bài 351-400 Chúa Biến Hình
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 2 MC ABC Bài 351-400 Chúa Biến Hình
MC2-351: CÓ LÀ LẠC ĐIỆU.. 2
MC2-352: Vinh quang. 3
MC2-353: Nhìn vào mặt tốt – Lm. Ignatiô Trần Ngà. 4
MC2-354: Đức Giêsu hiển dung – Lm. Giuse Nguyễn Thể Hiện. 6
MC2-355: Lên núi cầu nguyện. 11
MC2-356: Suy niệm của Đức Ông James M. Reinert 13
MC2-357: Từ Tabor đến Golgotha – Thiên Phúc. 14
MC2-358: Suy niệm của Lm. Đaminh Trần Đình Nhi 16
MC2-359: Đức Giêsu- bảo chứng tình yêu. 19
MC2-360: Abraham.. 22
MC2-361: Thế giới nào là ảo?. 23
MC2-362: Thôi đừng đầy đọa nhau. 24
MC2-363: Đức Tin cột trói chúng ta. 26
MC2-364: Con yêu dấu – Lm. Vũ Đình Tường. 29
MC2-365: Suy niệm của AM Trần Bình An. 30
MC2-366: Tìm vinh quang Thiên Chúa ở đâu?. 33
MC2-367: Suy niệm của ‘Tin Vui Xuân Lộc’ 34
MC2-368: BIẾN HÌNH TRÊN NÚI TABORÊ.. 36
MC2-369: ĐƯỜNG LỐI CỦA THIÊN CHÚA VÀ TƯ TƯỞNG.. 37
MC2-370: Chúa Giê-su, quà tặng vô giá Thiên Chúa ban cho ta. 41
MC2-371: CHÚA GIÊSU BIẾN HÌNH.. 42
MC2-372: Biến cố Hiển dung nhắc nhớ ta là con Chúa. 44
MC2-373: Tính phản diện trong phận người 46
MC2-374: Chúa Giê-su trung thành với sứ mệnh. 48
MC2-375: Chúa Nhật II mùa Chay, B.. 50
MC2-376: CHÚA NHẬT 2 MÙA CHAY.. 54
MC2-377: Chúa Nhật II Mùa Chay. 57
MC2-378: Áo Người trở nên chói lọi và trắng như tuyết 59
MC2-379: Chúa Hiển Dung. 61
MC2-380: BA NGỌN NÚI 63
MC2-381: Biến hình và đổi đời - ViKiNi 68
MC2-382: Theo Chúa đến núi Tabor - Nguyễn Hiếu. 70
MC2-383: Biến hình với Chúa – Huệ Minh. 74
MC2-384: Suy niệm của Lm. Nguyễn Thái 76
MC2-385: Vinh quang và đau khổ - Thu Băng, CMR.. 80
MC2-386: Vững bước trong đức tin - Dã Quỳ. 81
MC2-387: Suy niệm của Lm. Đaminh Hương Quất 83
MC2-388: Thích khoe của - Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền. 85
MC2-389: Lạc Chúa ở đâu? - Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền. 87
MC2-390: Chúa biến hình - McCarthy. 88
MC2-391: Đỉnh núi vinh quang. 91
MC2-392: Biến hình. 93
MC2-393: MẮT ĐỨC TIN, MẮT CỦA TRÁI TIM... 94
MC2-394: Phêrô. 95
MC2-395: Chú giải của Noel Quession. 98
MC2-396: Hiển Thị Chân Dung. 101
MC2-397: Lên Núi Thánh. 105
MC2-398: Suy niệm của Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái 108
MC2-399: BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NHI 116
MC2-400: Ngọn hải đăng trong đêm.. 120

 

MC2-351: CÓ LÀ LẠC ĐIỆU

CHÚA NHẬT 2 MÙA CHAY
Mc 9, 2-10
 Lm Đaminh Đỗ Văn Thiêm Long Xuyên
 

 Nếu có ai cứng cỏi bảo rằng: Bài Tin Mừng hôm nay là một lạc điệu thì cũng không phải là không: B109 MC2-351

          Nếu có ai cứng cỏi bảo rằng: Bài Tin Mừng hôm nay là một lạc điệu thì cũng không phải là không có lý. Vì đang giữa mùa chay, mùa của sám hối và hy sinh, mà Giáo hội lại cho đọc đoạn Tin Mừng nói về sự tỏ hiện vinh quang của Chúa: “Y phục Ngài trở nên rực rỡ, trắng tinh”. Thực ra đấy chỉ là cái nhìn sơ sài bên ngoài. Thực chất câu chuyện Chúa biến hình hôm nay, là một củng cố tích cực to lớn, trong việc gầy dựng mùa chay ý nghĩa và thánh thiện.
          Mùa chay là mùa sám hối, mà muốn sám hối thì điều tiên quyết là phải gặp lại chính mình. Mà mình là ai? Đó là một câu hỏi quan trọng cần được trả lời. Chữ mình ở đây, phải hiểu là chữ “Con Người” với tính toàn vẹn của nó. Sách Sáng Thế đã diễn tả: “Con người được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa”. Nhưng Thiên Chúa, thì lại không ai thấy bao giờ. Thế thì sao biết được khuôn mặt của con người?
          Đành rằng Thiên Chúa đã xuống thế làm người. Nơi một con người mang tên Giêsu. Nhưng cái thân xác con người che lấp khiến ta không thể trông thấy rõ khuôn mặt đích thực của Thiên Chúa. Muốn cho con người một lần vượt qua được ngõ tối ấy. Hôm nay, Chúa Giêsu dẫn ba môn đệ thân tín đi lên núi cao vắng lặng, và trước mặt các ông: Chúa đã biến đổi hình dạng. Y phục của Ngài trắng như tuyết, khuôn mặt của Ngài chói chang. Rồi có cả ông Elia và ông Maisen đến đàm đạo với Ngài. Khung cảnh quá đỗi lạ lùng, huyền diệu đến nỗi các ông bị hớp hồn. Ông Phêrô buột miệng kêu lên: “Thưa Thầy, chúng con ở đây thì sướng quá. Nếu được chúng con xin dựng ba lều: một cho Thầy, một cho Maisen, và một cho Elia”.
          Khi thấy đổi hình dạng như thế, không có nghĩa là Ngài làm xiếc biến đổi từ người này sang người khác, mà chỉ có ý nghĩa duy nhất, là Ngài tỏ lộ một chút, khuôn mặt Thiên Chúa vô cùng của Ngài. Một khuôn mặt của Đấng tuyệt đối về mọi mặt, mà con người có tưởng tượng đến bao nhiêu cũng không thể nghĩ ra được. Một khuôn mặt tinh tuyền trong suốt và đầy ắp ánh sáng uy nghi.
          Và đó, phần nào khuôn mặt nguyên tuyền của con người cũng hao hao giống thế. Khi lãnh nhận bí tích Rửa Tội. Thiên Chúa đã trao tặng cho con người một khuôn mặt diệu vời như thế. Nhưng rồi tội đời đã làm khuôn mặt con người trở nên sần sùi, xấu xí, lem luốc và tanh tưởi, mùa chay là mùa trở về, và hãy làm sạch chính mình. Như vua Duy Tân trong cuộc chiến với người Pháp đã phát biểu: “Tay dơ phải rửa bằng nước, nước dơ phải rửa bằng máu”. Với chúng ta, linh hồn dơ phải rửa bằng nước mắt sám hối ăn năn.
          Gợi ý suy niệm:
          1- Đã lâu rồi, bạn có gặp lại chính mình không?
          2- Khuôn mặt con người của bạn, bây giờ đẹp hay xấu?
  Lm Đaminh Đỗ Văn Thiêm Long Xuyên

 

MC2-352: Vinh quang

Cả ba Tin Mừng nhất lãm đều đặt biến cố Chúa Giêsu biến hình vào giữa hai lần loan báo trước: B110 MC2-352

Cả ba Tin Mừng nhất lãm đều đặt biến cố Chúa Giêsu biến hình vào giữa hai lần loan báo trước về cuộc khổ nạn. Điều này rất quan trọng, bởi vì nó cho chúng ta hiểu rằng: Cuộc biến hình này có liên quan trực tiếp tới biến cố vượt qua và như vậy có nghĩa là vinh quang mà ba môn đệ Phêrô, Giacôbê và Gioan được chứng kiến trên đỉnh Taborê hôm nay, báo trước vinh quang phục sinh của Ngài mai sau.
Tuy nhiên, cuộc biến hình này, mới chỉ là sự thay đổi hình dạng bên ngoài, đặc biệt là sự thay đổi màu áo, mà theo thánh Macrô, trở nên trắng tinh, không có thợ giặt nào ở trần gian giặt trắng được như vậy. Còn trong mầu nhiệm phục sinh, Đức Kitô không phải chỉ thay hình đổi dạng, mà Ngài hoàn toàn đổi mới. Thân xác phục sinh của Ngài là thân xác “có thần khí”. Bởi đó mà Ngài có thể đi qua mọi cửa nhà đóng kín, hay có thể bất thần xuất hiện trên đường Emmau, rồi ngay sau đó lại xuất hiện tại Giêrusalem. Chính với thần khí đó, mà hôm nay Đức Kitô hiện diện trong Giáo Hội, trong thế giới và trong tâm hồn mỗi người tín hữu của Ngài.
Nhưng điều đáng cho chúng ta suy niệm, đó là không một sự biến hình nào mà lại không đòi hỏi một sự trả giá. Trong Tin Mừng theo thánh Luca, Ngài đã hai lần nhắc đến quy luật này: Đức Kitô phải chịu khổ hình rồi mới vào trong vinh quang của Ngài. Ở đây, với sự kiện biến hình, Ngài cũng nói với các môn đệ: Có lời chép về Con Người rằng Ngài phải chịu nhiều đau khổ và bị khinh chê. Vậy thì đã rõ, mục đích của cuộc biến hình này chính là giáo dục đức tin cho các môn đệ. Cũng như Chúa đã báo trước cho các ông biết Ngài sẽ phải chịu đau khổ và chịu chết, thì bây giờ Ngài cũng cho các ông thấy trước vinh quang phục sinh của Ngài.
Thật vậy, khác với sự mong đợi của nhiều người và của chính các môn đệ, là Đức Kitô sẽ thiết lập một vương quốc trần gian, nối nghiệp vương đế của nhà Đavít, Ngài khẳng định rằng Nước của Ngài không thuộc về thế gian này và Ngài đến không phải để được hầu hạ, nhưng đến để hầu hạ và hiến mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người. Cái chết của Ngài là một sự dâng hiến, chứ không phải là một thất bại, đó là một sự hy sinh tự nguyện, để rồi chính Ngài có quyền phục hồi lại được. Đó là lý do tại sao Ngài đã ba lần báo trước về cuộc khổ nạn và phục sinh của Ngài.
Từ đó chúng ta đi đến kết luật đó là đừng bao giờ chờ đợi một cuộc chiến thắng mà không phải trả giá, chờ đợi một sự thành công mà không đòi đổ mồ hôi, nước mắt và gian khổ. Nhưng trái lại, cũng đừng bao giờ bi quan thất vọng mỗi khi gặp phải gian nan thử thách. Chúa mời gọi chúng ta hãy vác thánh giá mình mà đi theo Ngài, nhưng không phải với bộ mặt đưa đám hay với những rên xiết thở than, nhưng với bộ mặt cương quyết rắn rỏi, với thái độ hiên ngang vì tin tưởng vào lời Ngài đã nói: Trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan khốn khổ, nhưng hãy can đảm lên, Thầy đã thắng thế gian.

 

MC2-353: Nhìn vào mặt tốt – Lm. Ignatiô Trần Ngà

Đời người có mặt tối và mặt sáng, có mặt tốt và mặt xấu, có mặt phải và mặt trái, có lúc phấn khởi: B111 MC2-353

Đời người có mặt tối và mặt sáng, có mặt tốt và mặt xấu, có mặt phải và mặt trái, có lúc phấn khởi vui tươi cũng có những lúc ủ dột ưu sầu…
Khi Chúa Giê-su tỏ cho các môn đệ biết Người phải lên Giê-ru-sa-lem để chịu khổ hình và chịu chết, các môn đệ cảm thấy rúng động tâm hồn!
Không lẽ cuộc đời của Thầy Giê-su lại kết thúc bi đát đến thế ư?
Đã bao lần họ mơ tưởng đến một tương lai huy hoàng khi được ngồi bên tả, bên hữu vua Giê-su trong vương quốc vinh hiển của Người; lẽ nào giấc mộng vàng đó lại sớm tan thành mây khói? Nếu Chúa Giê-su mà còn phải chịu số phận oan nghiệt như thế thì số phận các ông rồi sẽ ra như thế nào đây?
Không chấp nhận viễn ảnh đen tối ấy, ông Phê-rô kéo riêng Chúa Giê-su ra và lên tiếng trách móc, tìm cách can gián để Người đừng đón nhận sứ mạng đau thương ấy (Mc 8, 32).
Để củng cố tinh thần các môn đệ đang sa sút trước tin chẳng lành vừa loan báo, “sáu ngày sau, Đức Giê-su đem các ông Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an đi theo mình. Người đưa các ông … tới một ngọn núi cao. Rồi Người biến đổi hình dạng trước mắt các ông. Y phục Người trở nên rực rỡ, trắng tinh, không có thợ nào ở trần gian giặt trắng được như vậy. Và ba môn đệ thấy ông Ê-li-a cùng ông Mô-sê hiện ra đàm đạo với Đức Giê-su.”
Bấy giờ tinh thần ba môn đệ hết sức phấn chấn. “Ông Phê-rô thưa với Chúa Giê-su rằng: "Thưa Thầy, chúng con ở đây, thật là hay! Chúng con xin dựng ba cái lều, một cho Thầy, một cho ông Mô-sê, và một cho ông Ê-li-a.”
“Bỗng có một đám mây bao phủ các ông. Và từ đám mây, có tiếng phán rằng: "Đây là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Người.”
Thế là nhờ chứng kiến sự vinh hiển của Chúa Giê-su trong giờ phút vinh quang của Người trên núi cao, ít nữa có môn đệ Gioan vững bước theo Chúa Giê-su đến cùng trên đường khổ nạn.
* * *
Đời người có mặt tối và mặt sáng, có mặt tốt và mặt xấu, có mặt phải và mặt trái, có lúc phấn khởi vui tươi cũng có những lúc ủ dột ưu sầu.
Cuộc đời Chúa Giê-su cũng có mặt sáng mặt tối. Mặt tối là đêm vườn Dầu đau thương ảm đạm; mặt sáng là cuộc biến hình sáng láng trên núi cao. Nếu các môn đệ chỉ nhìn thấy mặt đen tối, mặt u ám của đêm vườn Dầu, lúc Chúa Giê-su bộc lộ nhân tính hèn yếu của mình, tỏ ra kinh khiếp hãi hùng trước cuộc khổ nạn sắp tới đến nỗi phải đổ mồ hôi máu và phải van lơn cầu khẩn với Chúa Cha xin cho khỏi uống chén đắng (Lc 22, 41-44)… mà không thấy được mặt sáng của Người trên núi cao thì các ông sẽ ngã lòng thất vọng. Và biết đâu, các vị đào tẩu hết, lấy ai làm nhân chứng cho biến cố phục sinh! Lấy ai loan báo Tin Mừng cứu độ?
Vì thế, Chúa Giê-su cho các ông thấy mặt sáng của Người trước, qua việc tỏ cho các ông thấy dung mạo sáng láng vinh hiển của Người, tỏ cho họ thấy Người là “Con yêu dấu của Thiên Chúa Cha” để động viên tinh thần các ông khỏi sa sút, thất vọng trong đêm vườn Dầu sắp đến.
***
Ngôi nhà nào cũng có mặt trước mặt sau. Nếu người ta chỉ nhìn mặt sau tồi tàn của ngôi nhà mà không nhìn mặt tiền hoành tráng của nó, người ta sẽ thất vọng vì nó.
Tấm huy chương nào cũng có mặt trái mặt phải. Nếu chỉ biết mặt trái sần sùi của tấm huy chương mà không để mắt đến mặt phải vinh hạnh của nó, thì người ta sẽ xem thường nó.
Hoa hồng rất đẹp và kiêu sa nhưng cũng đầy gai. Nếu người ta chỉ chú trọng đến những gai nhọn của hoa hồng mà không để ý đến sắc hương tuyệt vời của nó thì hoa hồng chẳng còn gì hấp dẫn.
Đối với người anh em chung quanh cũng thế. Mỗi người đều có mặt sáng và mặt tối, mặt tốt và mặt xấu. Không ai hoàn toàn tốt, chẳng ai hoàn toàn xấu. Nếu chúng ta chỉ nhìn vào mặt đen tối của một con người, mà quên đi mặt sáng của họ; nhìn vào nhược điểm mà quên đi ưu điểm, thì chúng ta sẽ rất thất vọng về người đó.
Sự kiện Chúa Giê-su tỏ cho ba môn đệ thân tín cảm nhận thời khắc vinh hiển của Người trên núi cao để chuẩn bị tinh thần các ông đương đầu với thời khắc đen tối của Người trong đêm vườn Dầu và đêm khổ nạn, là bài học cho chúng ta trong tương quan với người khác.
Nhờ ngắm nhìn cụm hoa hồng rực rỡ kiêu sa và thưởng thức hương thơm dịu dàng của nó, người ta quên đi những gai nhọn đáng phàn nàn của nó.
Ước gì chúng ta cũng biết nhìn vào điểm sáng, điểm tốt, vào ưu điểm của người khác để dễ dàng cảm thông với những mặt trái, mặt xấu của họ.
Nhờ đó, chúng ta cảm thấy những người quanh dễ thương hơn; tương quan của ta với người khác được cải thiện tốt hơn và đời sống giữa chúng ta với nhau sẽ hạnh phúc hơn.

 

MC2-354: Đức Giêsu hiển dung – Lm. Giuse Nguyễn Thể Hiện

Ngày nay, trong rất nhiều trường hợp, chúng ta cũng chẳng khác gì các ông Phêrô, Giacôbê và: B112 MC2-354

“Ngày nay, trong rất nhiều trường hợp, chúng ta cũng chẳng khác gì các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan: hiểu sai lời Đức Giêsu, hiểu sai những thực tại thần thiêng được ban cho trải nghiệm, cứ mãi chỉ mang tư tưởng nhân loại chứ không phải tư tưởng của Thiên Chúa...”
Có một mối liên hệ sâu xa giữa biến cố được kể lại trong bài Tin Mừng hôm nay (Mc 9,2-10) với lời tiên báo về số phận của Con Người trong Mc 8,31. Trước phản ứng rất mạnh mẽ của ông Phêrô (đại diện cho nhóm các đồ đệ) đối với lời tiên báo đó (8,32), Đức Giêsu, vốn đầy tình thương yêu nhân lành đối với các đồ đệ, đã muốn giúp các ông hiểu và đón nhận chương trình cứu độ của Thiên Chúa, bằng cách cho các ông được trải nghiệm một thực tại ngoại thường: biến cố hiển dung.
“Khi ấy, Đức Giêsu đem các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan đi theo mình. Người đưa các ông đi riêng ra một chỗ, chỉ mình các ông thôi, tới một ngọn núi cao” (c.2). Tác giả Tin Mừng không nói rõ đó là ngọn núi nào. Có lẽ ông muốn ám chỉ núi Sinai, là ngọn núi mà ở đó, ông Môsê và ông Êlia (các nhân vật sẽ xuất hiện trong c.4) đã được chứng kiến các cuộc thần hiện của Thiên Chúa (x. Xh 34,1-8; 1V 19,8-18). Trước đây, các đồ đệ đã từng được biết rằng Đức Giêsu là Đấng Mêsia (8,30), nhưng các ông lại hiểu sai về tư cách và sứ mạng Mêsia của Người. Đức Giêsu đã cố gắng giúp họ không hiểu sai, bằng cách nói cho họ biết về số phận đang được dành sẵn cho Con Người (8,31), nhưng Người đã thất bại trong nỗ lực đó (8,32). Bây giờ Người đưa các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan đi riêng ra một nơi, để một lần nữa, giúp các ông điều chỉnh cái ý tưởng sai lầm của các ông về Đấng Mêsia và giúp các ông đón nhận những hệ luận của việc gắn bó với Người. Những gì các ông sắp trải nghiệm sẽ là một cuộc thần hiện, cho các ông thấy tình trạng vinh quang của Đức Giêsu sau khi Người chiến thắng sự chết. Người muốn cho các ông cảm nghiệm trước ánh vinh quang của Đấng sắp đi vào cuộc khổ nạn kinh hoàng.
“Người biến đổi hình dạng trước mắt các ông. Y phục Người trở nên rực rỡ, trắng tinh, không có thợ nào ở trần gian giặt trắng được như vậy” (cc.2c-3). Vinh quang của Đức Giêsu được trình bày qua các chi tiết về vẻ huy hoàng của y phục của Người. Theo quan niệm đương thời, y phục là cách diễn tả con người, và trong trình thuật này, nó có giá trị ám chỉ nhân tính của Đức Giêsu. Y phục đó bây giờ “trở nên rực rỡ, trắng tinh”. Sự rực rỡ và trắng tinh thuần khiết đó biểu tượng cho vinh quang thần linh thấm đẫm nhân tính của Người. Đó là vinh quang thực của Đấng bị trao nộp vào tay người đời vì sự sống thật của nhân loại. Sự chết mà Người sắp trải qua sẽ thất bại tận căn trước vinh quang thần linh này. Và vẻ huy hoàng thuần khiết đang được tỏ lộ nơi Đức Giêsu này có nguồn gốc thiên thai, chứ không phải là kết quả của nỗ lực nhân loại: “Không có thợ nào ở trần gian giặt trắng được như vậy”.
“Và ba môn đệ thấy ông Êlia cùng ông Môsê hiện ra đàm đạo với Đức Giêsu” (c.4). Sự xuất hiện của hai nhân vật vĩ đại của Cựu Ước là các ông Môsê và Êlia, đã đem vào trong những thực tại mà các đồ đệ đang trải nghiệm một đường nét và ý nghĩa mới: mối liên hệ của Cựu Ước với Đức Giêsu. Tác giả Mc đã không nói rằng ông Môsê và ông Êlia đến, mà là các ông “hiện ra”, như thể một thực tại đang còn ẩn giấu bây giờ được tỏ lộ ra. Đàng khác, ông Môsê và ông Êlia hiện ra là để cho các đồ đệ của Đức Giêsu thấy, và tác giả không hề nói gì về vẻ vinh quang của các vị ấy. Hai vị là đại diện của Cựu Ước (Lề Luật và các ngôn sứ) như đã được ban truyền cho dân. Và tuy hiện ra cho các đồ đệ thấy, nhưng ông Môsê và ông Êlia không nói gì với các ông mà chỉ đàm đạo với Đức Giêsu. Điều này có nghĩa là Cựu Ước chẳng truyền đạt cho các đồ đệ của Đức Giêsu sứ điệp nào nếu không qua Đức Giêsu. Ông Môsê và ông Êlia xuất hiện trong sự quy hướng về Đức Giêsu mà thôi. Chính Đức Giêsu mới là Đấng xác định giá trị của Cựu Ước. Môsê và Êlia, tức là Lề Luật và các ngôn sứ, không phải là những giá trị tuyệt đối, mà là những thực tại tùy thuộc vào thực tại Giêsu. Đức Giêsu và sứ điệp của Người siêu vượt hơn hẳn mọi thực tại cao quý nhất của mặc khải Cựu Ước. Những gì Đức Giêsu nói và thực hiện thì quan trọng hơn hẳn những gì ông Môsê và các ngôn sứ đã dạy.
“Bấy giờ, ông Phêrô thưa với Đức Giêsu rằng: "Thưa Thầy, chúng con ở đây, thật là hay! Chúng con xin dựng ba cái lều, một cho Thầy, một cho ông Môsê, và một cho ông Êlia" (c.5). Sự tiến triển của biến cố hiển dung bị đoạn tục bởi sự kiện ông Phêrô lên tiếng. Được trực tiếp chứng kiến những gì đang diễn ra, ông Phêrô hướng về Đức Giêsu (chứ không phải về ông Môsê hay ông Êlia) và thưa chuyện với Người.
Ông Phêrô đưa ra một đề nghị, nhân danh các bạn (“chúng con”) và hy vọng sẽ được Đức Giêsu đồng ý. Điểm chính yếu trong đề nghị là việc làm ba cái lều, một cho Đức Giêsu, một cho ông Môsê và một cho ông Êlia. Có hai khía cạnh đáng chú ý, được diễn tả bằng danh từ “lều” và số từ “ba”. Hạn từ “lều” gợi ý về lễ Lều: ông Phêrô nối kết cuộc hiển dung của Đức Giêsu với sứ mạng Mêsia của Người, và ông hiểu đó là sứ mạng Mêsia theo hướng dân tộc chủ nghĩa. Với số từ “ba” và được phân chia rõ ràng là “một cho Thầy, một cho ông Môsê, và một cho ông Êlia”, ông Phêrô đang đặt cả ba vị trên cùng một bình diện, xóa mờ sự tùy thuộc của các ông Môsê và Êlia đối với Đức Giêsu và đặt các ông ấy trong tư thế độc lập. Thực tại đang xảy ra, như chúng ta đã nói trên kia, là ông Môsê và ông Êlia xuất hiện chung với nhau trong sự quy hướng về Đức Giêsu. Nhưng trong đề nghị của ông Phêrô, thì Đức Giêsu, ông Môsê và ông Êlia đồng hàng với nhau, và mỗi vị có vai trò riêng của mình, mỗi vị có “lều” riêng của mình. Đức Giêsu là Đấng Mêsia; ông Môsê: Lề Luật và các thiết chế; ông Êlia: nhà cải cách tôn giáo vĩ đại. Bằng cách đó, ông Phêrô cho thấy ý tưởng của ông về Đấng Mêsia (x. 8,29.33). Một cách gián tiếp, ông Phêrô phủ nhận sự mới mẻ của sứ điệp và vai trò của Đức Giêsu và Nước Thiên Chúa.
Rõ ràng ông Phêrô đã được nhìn thấy vinh quang của Đức Giêsu, nhưng chưa hiểu. Đúng ra, cần phải nối kết vinh quang đang được hé lộ trong biến cố hiển dung này với thực tại phục sinh của Con Người sau cuộc khổ nạn và cái chết của Ngài, như Đức Giêsu đã từng nói trước (8,31), nhưng ông Phêrô chưa thực hiện được sự nối kết đó. Ông vẫn đang còn mang tư tưởng của loài người chứ chưa phải là tư tưởng của Thiên Chúa (8,33).
“Thực ra, ông không biết phải nói gì, vì các ông kinh hoàng” (c.6). Tại sao các ông lại kinh hoàng đến độ không biết nói gì? Có yếu tố nào đe dọa các ông ở đây? Trong sự sợ hãi và cảm thấy bị đe dọa đó, ông Phêrô lại chỉ ngỏ lời với Đức Giêsu thôi, chứ không nói gì với các ông Môsê và Êlia, chứng tỏ ông cảm thấy kinh hoàng là vì một điều gì đó nơi Đức Giêsu. Quả thực, ông và các bạn đang được chứng kiến vinh quang thần linh tỏ lộ nơi Đức Giêsu. Các ông hiểu rằng nơi Người đang có mãnh lực thần linh của chính Thiên Chúa, vốn là mãnh lực có thể gây chết chóc cho người phàm một khi họ được chứng kiến. Và điều đó gây ra nỗi kinh hoàng tột độ cho các ông.
“Bỗng có một đám mây bao phủ các ông. Và từ đám mây, có tiếng phán rằng: "Đây là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Người" (c.7). Xuất hiện yếu tố thứ ba của cuộc thần hiện. Yếu tố thứ nhất là sự biến đổi hình dạng của Đức Giêsu, cho thấy tư cách và vị thế thần linh của Người. Yếu tố thứ hai là sự xuất hiện của các ông Môsê và Êlia, chứng tỏ Đức Giêsu là điểm đến, là đỉnh điểm, là điểm quy chiếu của tất cả Cựu Ước. Bây giờ xuất hiện yếu tố thứ ba: Đức Giêsu được công bố là Con Thiên Chúa, Đấng hiến dâng chính mạng sống mình, Đấng là Lời tối hậu của Thiên Chúa cho nhân loại.
Có thể nói sự xuất hiện của đám mây và tiếng phán từ đám mây chính là đỉnh điểm của cuộc thần hiện. Đám mây vừa mạc khải vừa che giấu sự hiện diện của Thiên Chúa. Và trong thực tế, đám mây đã thế chỗ của những chiếc lều mà ông Phêrô muốn làm. Nói chính xác hơn, sự xuất hiện của đám mây bao trùm đồng một trật Đức Giêsu, ông Môsê và ông Êlia, chính là sự từ chối, hoặc chí ít cũng là sự điều chỉnh, cái đề nghị vừa được phát biểu của ông Phêrô. Khi đề nghị làm ba cái lều “ở đây” là ông Phêrô đang muốn cầm giữ cả ba vị trong cõi đất này, với hy vọng rằng vương quốc Mêsia, nhờ các Ngài, sẽ được khai mở như là một thực tại thế tạm. Trái lại, Thiên Chúa cho thấy rằng vinh quang của Đức Giêsu và thực tại Người mang đến, tự bản chất, thuộc về cảnh vực thần linh chứ không phải là những thực tại thế tạm.
Cùng với đám mây và từ đám mây, có tiếng phán. Tiếng ấy không nói với Đức Giêsu nhưng là nói với các môn đệ và cung cấp cho các ông lời giải thích về những gì đang diễn ra. Phần thứ nhất của lời giải thích là một khẳng định: “Đây là Con Ta yêu dấu”. Đại từ “đây” rõ ràng loại trừ ông Môsê và ông Êlia khỏi điều được công bố và đồng thời nhấn mạnh tính cách hơn hẳn của Đức Giêsu so với hai vị đó. Ngữ đoạn “là Con của Ta” cho thấy một cách tường minh rằng thực hữu của Đức Giêsu xuất phát từ chính Thiên Chúa, rằng hành động của Người là hành động của chính Thiên Chúa, rằng lời của Người là lời của chính Thiên Chúa. Định ngữ “yêu dấu” nhấn mạnh mối tương quan đặc biệt giữa Thiên Chúa và Đức Giêsu.
Phần thứ hai là một lời kêu gọi: “Hãy vâng nghe lời Người”. Đức Giêsu là Tôn Sư độc nhất, là Đấng công bố lời tối hậu của Thiên Chúa. Các môn đệ chỉ phải vâng nghe lời Người mà thôi. Cựu Ước (mà đại diện ở đây là các ông Môsê và Êlia) không có gì để nói trực tiếp với các môn đệ nữa nếu không phải là qua Đức Giêsu. Như thế, không hề có hai mặc khải song song hay tiếp nối (Cựu Ước và Đức Giêsu), mà chỉ có một mặc khải duy nhất nơi Đức Giêsu, Đấng thực hiện và hoàn tất những gì được nói trong Cựu Ước, Đấng quyết định giá trị và đem lại sự trường tồn cho những thực tại Cựu Ước.
Tác giả Tin Mừng không nói gì về phản ứng của các môn đệ đối với những gì vừa được công bố từ đám mây. Trong Kinh Thánh, một khi được ý thức, lời của Thiên Chúa sẽ gây nên nơi người nghe sự sợ hãi. Nhưng các môn đệ ở đây không phản ứng gì. Hình như tác giả Tin Mừng có ý ngầm cho biết rằng các ông đã chẳng hiểu đúng ý nghĩa của những thực tại đang diễn ra, y như trước đây các ông đã không hiểu đúng ý nghĩa lời tiên báo của Đức Giêsu (x. 8,31tt).
“Các ông chợt nhìn quanh, thì không thấy ai nữa, chỉ còn Đức Giêsu với các ông mà thôi” (c.8). Trái với đề nghị của ông Phêrô, các ông Môsê và Êlia đã biến đi. Từ nay, họ không còn vai trò gì trong lịch sử nữa, chỉ còn lại một mình Đức Giêsu, Đấng duy nhất mà các môn đệ phải vâng nghe lời, Đấng duy nhất là tôn sư và ngôn sứ. “Chỉ còn Đức Giêsu với các ông mà thôi”.
Sau đó, các Ngài rời cảnh vực thần linh và trở về với lịch sử trần trụi. Cho đến lúc này, như chúng ta đã hơn một lần nói ở trên, các môn đệ chưa hiểu đúng những thực tại mà các ông vừa được trải nghiệm. Vì thế, “ở trên núi xuống, Đức Giêsu truyền cho các ông không được kể lại cho ai nghe những điều vừa thấy, trước khi Con Người từ cõi chết sống lại” (c.9). Chỉ khi vinh quang của Người được liên kết chặt chẽ với sự từ chối và cái chết mà Người đã từng nói cho các ông biết, thì các ông mới có thể nói lại cho người khác những gì các ông vừa được trải nghiệm trên núi. “Các ông tuân lệnh đó, nhưng vẫn bàn hỏi nhau xem câu "từ cõi chết sống lại" nghĩa là gì” (c.10).
Ngày nay, trong rất nhiều trường hợp, chúng ta cũng chẳng khác gì các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan: hiểu sai lời Đức Giêsu, hiểu sai những thực tại thần thiêng được ban cho trải nghiệm, cứ mãi chỉ mang tư tưởng nhân loại chứ không phải tư tưởng của Thiên Chúa... Nhưng đồng thời, ngay trong Mùa Chay thánh này, biết đâu Chúa vẫn đang hiển dung cho chúng ta một cách nhiệm mầu... Từng chi tiết của cuộc hiển dung trong bài Tin Mừng hôm nay đều đáng được suy niệm một cách nghiêm túc và đều có ý nghĩa sâu xa đối với đời sống đức tin của chúng ta....

 

MC2-355: Lên núi cầu nguyện

(Suy niệm của Tôma Nguyễn Xuân Hiệp)
 

Chuyện kể rằng: Có hai anh em ruột kia rất thương nhau, rất hợp tính và cùng có một mơ ước cao: B113 MC2-355

Chuyện kể rằng: Có hai anh em ruột kia rất thương nhau, rất hợp tính và cùng có một mơ ước cao đẹp là sẽ sống một cuộc đời hết sức thánh thiện. Lớn lên, người anh cưới vợ, sinh con, chăm chỉ làm ăn và cũng không quên những bổn phận đạo đức hằng ngày. Còn người em thì đi tu, thành một thầy dòng, ngày ngày đi khắp nơi giảng đạo và giúp đỡ những người nghèo. Mười năm sau, người em làm thầy dòng trở về quê thăm lại anh mình. Hai anh em nói chuyện với nhau thật nhiều về cuộc sống và tâm tư của mình. Người anh khám phá ra rằng ngày xưa hai anh em tâm đầu ý hợp như thế, mà sao bây giờ lại khác nhau quá xa: người em thì vẫn thích thánh thiện như xưa và còn thánh thiện hơn xưa nữa, còn mình thì sao quá tầm thường không còn chút mơ ước nào về lý tưởng thánh thiện ngày xưa nữa. Người anh tìm đến một vị ẩn sĩ để hỏi cho biết nguyên do sự khác biệt ấy. Vị ẩn sĩ không trả lời thẳng mà dùng những hình ảnh thiên nhiên để giải thích cho anh ta. * Trước tiên là đám mây trên trời: thường thường bầu trời ngày nào cũng có những đám mây, nhưng không có đám mây ngày nào giống đám mây ngày trước. Cũng là mây, nhưng mây ngày nay khác mây ngày hôm qua. * Kế đến là một cái cây xanh: nó vẫn luôn luôn là cây thông xanh rì, nhưng năm trước nó nhỏ hơn, năm nay nó đã lớn hơn và cao hơn một tí, năm sau nó sẽ lớn và cao hơn tí nữa. Có nhiều cái lá của năm trước mà năm nay không còn, và có nhiều chiếc lá của năm nay sẽ rụng vào năm tới để thay bằng những chiếc lá khác. * Và sau cùng chính là thân xác con người: các tế bào trong thân xác con người luôn luôn thay đổi, có cái chết đi và có cái sinh ra thêm. Khoa học tính rằng cứ sau 7 năm thì thân xác ta hoàn toàn đổi mới không còn một tế bào nào của 7 năm trước đây nữa. Sợi tóc, móng tay, làn da của ta năm nay hoàn toàn không chứa một tế bào nào của sợi tóc, móng tay và làn da của 7 năm trước. Vị ẩn sĩ mới kết luận: tâm hồn con người cũng thế. Muốn lớn lên, muốn tươi trẻ mãi, muốn hăng say sinh động thì mỗi ngày cũng phải biết từ bỏ những thói quen xấu, những cám dỗ đam mê và đồng thời biết nổ lực luyện tập những nhân đức tốt. Không đào thải đi và không thu nhận vào thì nó sẽ chết khô như một thân cây chết đứng, chứ không còn là một thân cây tươi tốt sống động vươn mỗi ngày. Sở dĩ người anh trở nên tầm thường, khô cằn vì suốt 10 năm qua anh ta luôn tự mãn với những cái mình đang có, không muốn bỏ đi cái xấu nào và cũng không nổ lực tập một nhân đức nào. Tức anh ta không chịu “lên núi” trong đời sống hằng ngày để cầu nguyện, để gặp Chúa, để được biến đổi.
Cả ba bài đọc phụng vụ hôm nay mời gọi chúng ta theo Chúa Giêsu “lên núi cầu nguyện”. Bài đọc 1, sách Sáng Thế tường thuật lại biến cố “lên núi” của Tổ phụ Abraham đầy giân truân vất vả, cả sự dâng hiến mạng sống người con một yêu dấu theo thánh ý Thiên Chúa. Chính bởi đức tin mạnh mẽ và quả cảm vượt thắng tất cả mà ông được gặp gỡ Thiên Chúa và được chúc phúc. Bài đọc 2, thánh Phaolô mời gọi giáo đoàn Rôma: hãy tín thác vào Thiên Chúa Tình Yêu, cho dẫu hành trình đức tin như một cuộc “leo núi” đầy khó nguy. Chính Thiên Chúa đã đi bước trước và thể hiện tình yêu qua Người Con Một: “Đến như chính Con Một, Thiên Chúa cũng chẳng tha, nhưng đã trao nộp vì hết thảy chúng ta”. Bài Tin Mừng, thánh sử Maccô đã tường thuật lại biến cố Chúa Giêsu biến hình trên núi trước mặt các môn đệ thân tín là: Phêrô, Giacôbê và Gioan. Qua biến cố ấy, Chúa Giêsu muốn để lại cho các tông đồ và mỗi chúng ta bài học hữu ích trong hành trình đức tin của người kitô hữu là phải “lên núi” “Đức Giêsu lên núi cầu nguyện” (Mc 9, 28). Đây là bài học căn bản và nền tảng mà Chúa Giêsu muốn dạy mỗi người chúng ta: Phải cầu nguyện, kết hiệp và tìm thánh ý Chúa sau và trước những công việc làm. Để thực hiện điều ấy, “Đức Giêsu lên núi”, tức phải vứt bỏ những vướng bận lo toan thành công thất bại, phải dành thời giờ cho việc leo núi, vượt thắng những cám dỗ đam mê, phải nổ lực phấn đấu không ngừng với thân xác nặng nề để leo lên độ cao khó khăn vất vả trong đời sống tâm linh mới có thể sống tương giao với Thiên Chúa và để lắng nghe thánh ý của Người. Nếu thiếu vắng đời sống tương giao kết hiệp với Thiên Chúa trong thinh lặng, trong thẳm sâu tâm hồn để kín múc sức sống thần linh từ Thiên Chúa, thì xem chừng cách cầu nguyện ấy đã đi vào vết xe đổ của kiểu cầu nguyện đầy hình thức bên ngoài mà Chúa Giêsu đã từng lên án những người Biệt Phái. Đó là kiểu cầu nguyện kể lể, huênh hoang báo cáo kết quả cho cấp trên là Thiên Chúa. Hay kiểu cầu nguyện xem Thiên Chúa chỉ là chỗ dựa tinh thần tạm thời. Khi gặp thất bại, gian truân thì sốt sắng đến với Thiên Chúa như chiếc phao cứu sinh của đời sống tâm lý để giải tỏa những xung đột, những bế tắc, để vượt qua những bĩ cực thương đau. Sự sốt sắng cầu nguyện hy sinh ấy là vì con người, chỉ dừng lại ở nhu cầu ích lợi cá nhân chứ chưa đi vào mối tương giao kết hiệp với Thiên Chúa để tìm thánh ý Người. Nhà thần học Bonneffeur bảo: Đó là kiểu cầu nguyện ngoại giáo; một kiểu cầu cạnh tư lợi. Người không biết Chúa và cả những người vô thần cũng làm như thế. Một kiểu cầu an! Còn Chúa Giêsu mời gọi chúng ta phải vượt thoát những vướng bận lo toan của đời thường để kết hiệp với Chúa, để tìm thánh ý Chúa trong từng biến cố, từng phút giây. Phải kết hiệp với Thiên Chúa cách liên lỉ mọi lúc mọi nơi, mọi công việc. (x. Mc 18,1-8. 9-14) Ước mong Lời Chúa hôm nay soi dẫn mỗi người chúng ta biết “lên núi” mỗi ngày, biết từ bỏ những cám dỗ đam mê, những vướng bận đời thường, mà sống kết hiệp với Thiên Chúa qua Thánh lễ, kinh nguyện, xét mình, tĩnh tâm, lãnh bí tích Giao hòa …. Chúa Giêsu biến hình trên núi Tabor hôm nay là hình ảnh tiên trưng hành trình vác thập giá lên núi Canvê và phục sinh của Chúa Giêsu. Và đó cũng là hành trình đức tin của mỗi người tín hữu chúng ta. Mỗi người chúng ta phải “lên núi” mỗi ngày mới có thể “biến hình”, mới có thể phục sinh sáng láng như Đức Giêsu Kitô. Amen.

 

MC2-356: Suy niệm của Đức Ông James M. Reinert

(Đan Quang Tâm dịch)
MÙA CHAY, NHỚ LẠI VAI TRÒ VÀ SỨ MẠNG CỦA TA TRONG GIÁO HỘI
 

Câu truyện Ápraham sẵn sàng hiến tế con trai mình là Ixaác đặt toàn bộ việc cử hành Mùa Chay: B114 MC2-356

Câu truyện Ápraham sẵn sàng hiến tế con trai mình là Ixaác đặt toàn bộ việc cử hành Mùa Chay vào trong một ánh sáng tuyệt hảo. Thánh Phaolô ám chỉ về câu truyện này trong Thư gửi tín hữu Rôma. Tuy nhiên, ông nhắc cộng đồng rằng Thiên Chúa không những chỉ sẵn sàng hiến tế Con của Người nhưng Người còn “đã trao nộp vì hết thảy chúng ta”.
Bởi vì hy tế đó, ta có can đảm và sự tự tin để biết rằng nếu ta trung thành, ta không có gì phải sợ. Thiên Chúa đã làm tất cả việc này cho chúng ta, Phaolô viết. Làm sao Người lại lên án chứ?
Tất cả điều này được tái củng cố trong câu truyện Hiển Dung khi Đức Giêsu khích lệ các tông đồ đừng mất đức tin trong ngày sắp đến. Trình thuật Hiển Dung trong Phúc âm Thánh Máccô thực tế chỉ là sự chép lại từng từ trong Phúc âm của Thánh Mátthêu và Thánh Luca. Ngay cả các biến cố dẫn đến sự kiện cũng y hệt.
Điều quan trọng là đặt bài Phúc âm ngày hôm nay vào trong ngữ cảnh. Theo Thánh Máccô, sự kiện xảy ra sáu ngày sau khi Đức Giêsu hỏi các môn đệ: “Người ta nói Thày là ai?” Câu trả lời mà Thánh Phêrô đưa ra cho Người, quen gọi là lời tuyên tín của Phêrô, “Thầy là Đức Kitô!”, đã đưa Đức Giêsu đến chỗ báo trước lần thứ nhất về cuộc thương khó, cái chết và sự phục sinh của Người và vạch ra các đòi hỏi cho các môn đệ. Một lần nữa, Đức Giêsu sắp nhắc nhở các môn đệ và tất cả chúng ta rằng đây là một bộ phận trong kế hoạch của Thiên Chúa và từ lúc này trở đi, trong khi tiếp tục cuộc hành trình lên Giêrusalem, Người sẽ nói về thập giá rất nhiều lần.
Nay, sáu ngày sau, Đức Giêsu đem Phêrô, Giacôbê và Gioan lên đỉnh núi và Người hiển dung. Chắc chắn đây là một sự nếm trước về cuộc phục sinh. Hầu như chắc chắn là các môn đệ vẫn còn tìm cách để hiểu biết đầy đủ điều Đức Giêsu muốn nói khi bảo họ: “Người sẽ bị giết và sau ba ngày sẽ sống lại”. Nay họ được giải thích rõ về lời nói đó. Họ xem thấy vinh quang của trời; họ thấy mối liên quan giữa “lề luật” trong Môsê và các “ngôn sứ” trong Êlia và sứ điệp mà Đức Giêsu đã và đang rao giảng.
Trong Chủ nhật thứ hai này của Mùa Chay, ta được nhắc đến các vai trò và trách nhiệm của ta trong Giáo hội. Tất cả điều này đến với ta bằng sự đoan chắc rằng đây là một phần trong kế hoạch của Thiên Chúa, ta có các nghĩa vụ với tư cách là môn đệ và ta có sự đoan chắc về Nước Thiên Chúa – mà ta vừa mới nhìn qua – trước hết trong câu truyện Hiển Dung và rồi trong sự phục sinh của Đức Giêsu vào sáng Chúa nhật Phục sinh.
“Toàn thể dân Chúa đều có một vai trò để thực hiện trong khi Giáo Hội hoàn thành sứ mạng của mình. Bằng các cách thức khác nhau và thông qua mỗi thành viên theo các năng khiếu và cách hành động thích hợp với ơn gọi của mỗi người, dân Chúa đáp lại bổn phận công bố và làm chứng cho Tin Mừng (x. 1 Cr 9,16), trong sự nhận thức rằng “hoạt động truyền giáo là một công việc của mọi Kitô hữu” (Thông điệp Redemptoris Missio, 2) (Sách Tóm lược Học thuyết Xã hội Giáo hội Công giáo, 538).
“Đời sống cá nhân và xã hội, cũng như hành động con người trong thế giới, luôn luôn bị tội lỗi đe doạ. Tuy nhiên, “bằng cách chịu khổ vì chúng ta…, Đức Giêsu Kitô không những làm gương cho chúng ta để chúng ta bước theo Người, mà Người còn mở ra cho chúng ta một con đường. Nếu đi theo con đường ấy, cuộc sống và cái chết của chúng ta sẽ được thánh hoá và mặc một ý nghĩa mới” (Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, 22). Trong đức tin và thông qua các bí tích, người môn đệ Đức Kitô gắn bó mật thiết với mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Giêsu để con người cũ của mình, cùng với những khuynh hướng xấu, chịu đóng đinh với Đức Kitô. Rồi khi trở thành thụ tạo mới, họ được ân sủng tăng sức để có thể “bước đi trong đời sống mới” (Rm 6,4). Điều này “không chỉ đúng với các Kitô hữu, mà còn đúng đối với mọi người thiện chí, vì ân sủng vẫn đang hoạt động một cách vô hình trong tâm hồn những người ấy. Vì Đức Kitô đã chết cho mọi người và vì ai ai cũng được mời gọi hưởng chung một định mệnh duy nhất, là định mệnh thần linh, ta phải tin rằng Đức Chúa Thánh Thần ban cho mọi người khả năng trở thành những người thông phần vào Mầu nhiệm Vượt Qua, bằng phương cách chỉ có Thiên Chúa biết” (Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, 22) (sđd, 41).

 

MC2-357: Từ Tabor đến Golgotha – Thiên Phúc

Một linh mục qua nhiều năm coi xứ đã kể một câu chuyện khá dí dỏm và cũng sâu sắc như sau: B115 MC2-357

Một linh mục qua nhiều năm coi xứ đã kể một câu chuyện khá dí dỏm và cũng sâu sắc như sau:
Có một đôi vợ chồng trẻ rất xinh đẹp và sống với nhau cũng rất khéo. Đúng là một cặp “trai tài gái sắc”.Có lẽ chính nét trẻ trung xinh xắn của vợ chồng đã cho họ một mùa xuân cuộc đời thật nồng cháy tình yêu và hạnh phúc.
Một ngày nọ, người vợ ăn một nửa trái táo, rồi tặng chồng phần kia. Người chồng vui vẻ đón nhận:
- Ôi nửa trái táo ân tình, công chúa của lòng anh!
Hai mươi năm sau. Cũng đôi vợ chồng ấy, cộng thêm những nét tàn tạ của thời gian. Cũng một trái táo, vợ ăn một nửa, mời chồng phần còn lại. Nhưng người chồng nhăn mặt:
- Sao lại cho nửa trái táo ăn thừa?
Tất cả nguyện trạng chỉ khác có nhan sắc. Cũng nửa trái táo dâng tặng nhưng hai mươi năm trước nhận từ tay “người đẹp” là trái táo ân tình. Hai mươi năm sau từ tay “nàng già” là trái táo ăn thừa. Nếu chỉ dựa vào nhan sắc người ta sẽ mất hết tất cả với thời gian.
Cuộc biến hình trên núi Tabor được xếp đặt trước việc tiên báo khổ nạn. Nếu người ta làm cho an toàn những viên thuốc đắng bằng một lớp vỏ bọc đường, thì Đức Giêsu cũng hóa giải tin khổ nạn bằng cuộc biến hình rực rỡ. Bọc đường chứ không bọc thuốc ngủ. Hóa giải chứ không gây mê.
Nhưng có lẽ cuộc biến hình đã phản tác dụng: “Lạy Thầy, chúng con được ở đây thì tốt lắm, chúng con xin dựng ba lều, một cho Thầy, một cho Moi sê và một cho Elia” (Mc 9,5). Vậy là Phêrô, Giacôbê và Gioan muốn đăng ký thường trú trên đỉnh núi Tabor. Họ đòi ngủ yên trong hào quang rực rỡ. Họ bỏ lại dưới chân núi các bạn đồng môn, các cuộc truyền giáo. Họ muốn xa rời dân chúng đang khao khát Lời Chúa.
Các ông đâu biết rằng Thầy Giêsu chỉ lên đỉnh Tabor trong chốc lát, rồi xuống núi chuẩn bị vác thập giá lên đồi Canvê. Theo Thầy không phải là lên cao hưởng thụ, nhưng là xuống thấp và leo lên thập giá với Thầy.
Cũng như ba môn đệ, đôi vợ chồng trong câu chuyện kể trên chỉ muốn dừng lại ở vẻ đẹp. Nhưng vẻ đẹp đâu tồn tại mãi, Chúa chỉ mặc “tấm áo trắng như tuyết” trong chốc lát vì niềm hy vọng Phục Sinh. Cuộc đời cần hạnh phúc chứ không phải vẻ đẹp.Vẻ đẹp là một ân huệ của trời, nhưng cũng có thể là cạm bẫy cướp đi hạnh phúc.
Giá trị đích thực chính là tình yêu, chính do tình yêu mà đôi vợ chồng mới giữ được lòng chung thủy, chính do tình yêu mà các Kitô hữu mới trở nên bóng hình xinh đẹp rực rỡ của Chúa. Chính do tình yêu mà chúng ta phải biến hình đổi dạng mỗi ngày để phản ánh vinh quang ngời sáng của Người.
Đức Kitô vinh quang của Tabor cũng chính là Đức Kitô rong ruổi trên các đường phố Palestine rao giảng, chữa bệnh và làm phép lạ.
Đức Kitô sáng láng của Tabor cũng chính là Đức Kitô thắm đẫm mồ hôi trong vườn Giếtsimani.
Đức Kitô rực rỡ của Tabor cũng chính là Đức Kitô treo trên thập giá đỉnh Golgotha.
Hai đỉnh núi Tabor và Golgotha cách nhau không xa, nhưng lại là con đường vạn lý, con đường đau khổ, con đường vượt qua: Đường tình yêu. Theo Thánh Teresa thành Lisieux: “Sống tình yêu không phải là căng lều trên đỉnh Tabor, mà là cùng với Giêsu ta trèo lên đồi Canvê”. Thánh Bernadette cầu nguyện:“Con không xin cho mình khỏi phải đau khổ, nhưng chỉ xin Người đừng bỏ con trong khổ đau”.
Lạy Chúa, xin cho chúng con luôn can đảm tiến bước trên đường đời chông gai vạn nẻo, với niềm hy vọng biến cố Phục Sinh sẽ bừng sáng. Amen.

 

MC2-358: Suy niệm của Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

Có hai thuyết về ngọn núi nơi Chúa Giê-su biến đổi hình dạng: có thể là núi Các-men ở miền bắc: B116 MC2-358

Có hai thuyết về ngọn núi nơi Chúa Giê-su biến đổi hình dạng: có thể là núi Các-men ở miền bắc Ga-li-lê và gần Xê-da-rê Phi-líp-phê, nơi ông Phê-rô tuyên xưng Chúa Giê-su là Đấng Ki-tô; còn truyền thống quen thuộc thì cho đó là núi Ta-bô-rê ở phía nam Ga-li-lê giáp ranh với Sa-ma-ri và nằm trên đường xuống Giu-đê-a. Nếu ta coi hành trình của Chúa Giê-su lên Giê-ru-sa-lem như tột đỉnh sứ mệnh cứu thế của Đấng Ki-tô, thì Ta-bô-rê quả thực là bước quyết định để Chúa xác tín sứ mệnh ấy và nhất quyết đi Giê-ru-sa-lem để chịu đau khổ và chịu chết. Tuy nhiên, biến cố biến đổi hình dạng không chỉ có ý nghĩa đối với Chúa Giê-su, mà còn có ý nghĩa đối với các môn đệ, những kẻ muốn theo Chúa cũng phải “từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo”.
a) Để Chúa Giê-su xác tín sứ mệnh và quyết định đi Giê-ru-sa-lem
Sứ mệnh cứu thế của Chúa Giê-su mỗi ngày cần phải được củng cố thêm, sao cho đúng với kế hoạch Chúa Cha đã phác họa. Sau những ngày tháng thành công và nổi danh tại Ga-li-lê, Chúa Giê-su chắc chắn bị cám dỗ không muốn rời Ga-li-lê. Tại sao lại rời bỏ môi trường mình đang gặt hái được những kết quả tốt đẹp? Nhưng Chúa Giê-su đặt thánh ý Chúa Cha lên trên hết. Người cần phải quyết định rõ ràng, theo “tư tưởng của Thiên Chúa” hay theo “tư tưởng của loài người”, lên Giê-ru-sa-lem hay ở lại Ga-li-lê. Việc biến đổi hình dạng trên núi có thể coi như một tiến trình quyết định lên đường đi Giê-ru-sa-lem. Vậy quyết định đi Giê-ru-sa-lem được củng cố như thế nào qua những gì xảy ra trên núi Ta-bô-rê?
Trước hết là qua sự xuất hiện của ông Mô-sê và ngôn sứ Ê-li-a bên cạnh Chúa Giê-su. Ông Mô-sê là người đem Lề Luật của Thiên Chúa cho Ít-ra-en. Còn Ê-li-a là vị ngôn sứ vĩ đại nhất. Chúa Giê-su đến để thực hiện tất cả những gì Lề Luật và các ngôn sứ nói. Do đó, sự hiện diện của hai vị bên cạnh Chúa Giê-su đã nói lên đầy đủ ý nghĩa sứ mệnh của Người, đồng thời là một khích lệ to lớn. Ta có cảm tưởng câu chuyện giữa Chúa Giê-su với Mô-sê và Ê-li-a xoay quanh đề tài về sứ mệnh của Chúa Giê-su mà thôi. Các ông nói với Chúa: “Ngài đã thi hành sứ mệnh cứu thế một cách tốt đẹp, xin Ngài cứ tiếp tục sứ mệnh ấy!” Các ông nhìn thấy nơi Chúa Giê-su thể hiện tất cả những gì Thiên Chúa đã dạy các ông nói trước đây.
Tiếp đến là qua lời xác nhận của chính Chúa Cha: “Đây là Con Ta yêu dấu”. Khi nói những lời này, Chúa Cha xác nhận tất cả những gì Chúa Giê-su đã làm trong quá khứ đều làm đẹp lòng Người. Đồng thời những lời đó cũng ngầm hiểu: Con đã quyết định đi Giê-ru-sa-lem là đúng, vậy Con cứ tiếp tục làm như đã quyết định. Chúa Giê-su không chỉ thấy việc chấp nhận thập giá như một điều không thể tránh né, nhưng tích cực hơn như một lẽ sống của Người và của toàn thể nhân loại. Người mong Chúa Cha sẽ nói qua Người với nhân loại những lời “đây là con Ta yêu dấu”.
b) Biến cố Chúa Giê-su biến đổi hình dạng mang ý nghĩa đối với môn đệ Người
Các môn đệ nản lòng sau khi Chúa Giê-su loan báo cuộc Thương Khó và Phục Sinh. Ông Phê-rô thì phổi bò nên “bắt đầu trách Người”. Ông đóng vai trò của Xa-tan cám dỗ Chúa Giê-su đừng làm theo những gì Người đã loan báo. Ông đã rời chỗ đứng của ông, thay vì bước đi theo sau Chúa thì ông lại bước lên trước làm chướng ngại con đường thập giá của Người. Mới đây ông đã thay mặt anh em môn đệ để tuyên xưng đức tin Chúa Giê-su là Đấng Ki-tô thì bây giờ ông cũng thay mặt anh em để cản đường Chúa lên Giê-ru-sa-lem. Do đó, việc Chúa biến đổi hình dạng trên núi thật là cần thiết để ông và các bạn trở về chỗ đứng môn đệ của họ và lấy lại đức tin đã bị lung lạc do hình ảnh Thương Khó và cái chết của Chúa tại Giê-ru-sa-lem. Dù hiểu hay không hiểu sứ mệnh của Chúa Giê-su, thì ít ra lúc này các ông cũng được phục hồi niềm tin vào Người sau khi nghe những lời Chúa Cha nói với Người: “Đây là Con Ta yêu dấu”. Ngoài ra biến cố trên núi hiển dung cũng chuẩn bị các ông trong sứ mệnh làm chứng cho Chúa Giê-su. Vinh hiển các ông được chứng kiến trên núi là những gì tiên báo cho vinh hiển của Chúa Ki-tô Phục Sinh mà các ông sẽ rao giảng cho muôn dân.
c) Chúa Giê-su biến đổi hình dạng trong cuộc sống Ki-tô hữu
Có khi nào ta nghĩ rằng cả cuộc đời Ki-tô hữu của ta là tiếp diễn cuộc biến đổi hình dạng của Chúa Giê-su theo một nghĩa nào đó không? Dĩ nhiên ta không dám hiểu đó là một cuộc biến đổi chiếu tỏa vinh quang, nhưng là một sự thay đổi con người của ta trở nên giống Chúa Ki-tô mỗi ngày một hơn. Thánh Lê-ô Cả Giáo hoàng đã nói trong bài giảng của ngài: “Thiên Chúa đã khôn ngoan dự liệu cho niềm hy vọng của Hội Thánh có nền tảng vững vàng: Người cho Hội Thánh biết toàn thân thể mầu nhiệm của Đức Ki-tô sẽ được biến đổi ra sao. Người cũng dự liệu cho các chi thể tin chắc mình sẽ được thông phần vinh quang rực rỡ của Đầu là Đức Ki-tô” (Bài đọc 2, giờ Kinh Sách CN 2 mùa Chay).
Có lẽ thánh Phao-lô đã diễn tả cuộc biến đổi hình dạng của đời sống Ki-tô hữu một cách cụ thể nhất qua những lời ngài gửi cho các tín hữu Phi-líp-phê: “Vấn đề là được biết chính Đức Ki-tô, nhất là biết Người quyền năng thế nào nhờ đã phục sinh, cùng được thông phần những đau khổ của Người, nhờ nên đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người, với hy vọng có ngày cũng được sống lại từ trong cõi chết” (Pl 3:10-11). Việc ta biến đổi nên đồng hình đồng dạng với Chúa Ki-tô quả thực tiếp tục cuộc hiển dung của Người trên núi Ta-bô-rê.
d) Suy nghĩ và cầu nguyện
Thập giá nào trong cuộc sống có thể làm cho tôi mất đi đức tin vào Chúa Ki-tô? Tôi có nhận ra được ý nghĩa đích thực của thập giá đó không?
Phụng vụ Lời Chúa lấy câu truyện Chúa Giê-su biến đổi hình dạng làm chủ đề cho Chúa Nhật 2 mùa Chay có ý nghĩa gì đối với tôi? Tôi có nhận ra sứ điệp nào đặc biệt không? Và tôi đã đáp lại thế nào?
Ông Phê-rô xin dựng cho Chúa một cái lều trên núi để ông được tiếp tục cảm nghiệm những giây phút đầy an ủi khích lệ. Tôi có muốn dựng một cái lều ngay trong đời sống của tôi để Chúa cư ngụ và biến đổi con người tôi không? Dựng lều như thế nào?
Cầu nguyện
“Xin ở lại với con, lạy Chúa,
vì con cần có Chúa hiện diện
để con khỏi quên Chúa.
Chúa thấy con dễ bỏ Chúa biết chừng nào.
Xin ở lại với con, lạy Chúa,
vì con yếu đuối,
con cần Chúa đỡ nâng để con khỏi ngã quỵ.
Không có Chúa,
con đâu còn nồng nhiệt hăng say.
Xin ở lại với con, lạy Chúa,
vì trời đã xế chiều và ngày sắp tan,
cuộc đời qua đi, vĩnh cửu gần đến.
Con cần được thêm sức mạnh
để khỏi ngừng lại dọc đường.
Xin ở lại với con, lạy Chúa,
vì con cần Chúa trong đêm tối cuộc đời.
Con không dám xin những ơn siêu phàm,
chỉ xin ơn được Ngài hiện diện.
Xin ở lại với con
vì con chỉ tìm Chúa, yêu Chúa
và không đòi phần thưởng nào khác
ngoài việc được yêu Chúa hơn”.
- Cha Pi-ô
(Trích RABBOUNI, lời nguyện 16)

 

MC2-359: Đức Giêsu- bảo chứng tình yêu

http://gplongxuyen.org/bs/index.php?mod=tintuc&id=1425109950&tab=0
 (Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm)
 

Có nhiều tôn giáo tin nhận Thiên Chúa hiện hữu, nhưng Kitô giáo là tôn giáo đặc biệt nhận ra: B117 MC2-359

Có nhiều tôn giáo tin nhận Thiên Chúa hiện hữu, nhưng Kitô giáo là tôn giáo đặc biệt nhận ra Thiên Chúa là Đấng yêu thương. Chính khi nhận ra Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, thì Kitô hữu nhận biết Thiên Chúa yêu thương con người vô cùng, đến độ dám cho Con Yêu Dấu của Ngài nhập thể làm người ở giữa con người.
I. Đức Giêsu là Con Thiên Chúa
Đức Giêsu đã cùng với ba môn đệ lên núi. Ngài đã biến hình, áo Ngài trở nên trắng như tuyết. Tin Mừng Mác-cô không nói gương mặt Đức Giêsu biến đổi như thế nào, chỉ dùng chữ “biến hình;” tuy nhiên, người ta nghĩ rằng nếu áo của Ngài như vậy, thì gương mặt và thân xác của Ngài cũng phải “ra khác” một cách rất đặc biệt. Cựu Ước cũng đề cập đến gương mặt của Môsê trở nên sáng láng sau khi ông gặp gỡ Thiên Chúa, nên ông phải che mặt khi gặp gỡ dân Do Thái (Xh.34, 29-35). Thánh Phaolô đã giải thích gương mặt của Môsê được biến đổi vì phản ánh vinh quang Thiên Chúa. Vậy khi Đức Giêsu biến hình, hàm chứa Ngài là người phản ánh Thiên Chúa một cách rất đặc biệt.
Tiếng từ trong đám mây nói với ba môn đệ: “Đây là Con Ta, Đấng rất được yêu. Hãy nghe Ngài.” Như vậy, Thiên Chúa nhận Đức Giêsu là Con của Ngài, và là Đấng được yêu đặc biệt. Thực ra, tước vị “con Thiên Chúa” cũng được dùng để chỉ nhiều người (G.38,7), dân Israel (Hos.11, 1), vị vua thiên sai (Tv.2, 7). Với Đức Giêsu, Ngài được Thiên Chúa gọi là người Con, được yêu đặc biệt; tuy nhiên, ngay lúc trên núi này, chắc ba môn đệ chưa thể nào nhận biết Đức Giêsu là Con Thiên Chúa như các ngài đã nhận ra sau khi Đức Giêsu phục sinh và hiện ra cho các ông, tuy nhiên lúc này Đức Giêsu vẫn là một người rất đặc biệt.
Đức Giêsu nhận mình là Con Người. Đức Giêsu thật sự là người như tất cả mọi người. Một người cảm thấy gì thì Đức Giêsu cũng cảm thấy như vậy. Ngài cũng bị cám dỗ như bao người, dù là cám dỗ về miếng ăn, về danh vọng và về quyền hành (Mt.4, 1-11); và không chỉ vậy, Ngài còn bị cám dỗ về đức tin nữa: “Lạy Cha, sao Cha nỡ bỏ con” (Mc.15, 34). Đức Giêsu, nếu có điều gì khác chúng ta, thì đó là Ngài không phạm tội (Dt.4, 15). Ngài đã dùng tự do để vâng phục Thiên Chúa, còn chúng ta lại dùng tự do Thiên Chúa ban để phản lại Ngài.
II. Abraham đã sẵn sàng hiến tế con mình cho Thiên Chúa
Abram, tổ phụ dân Do Thái, là một con người rất đặc biệt. Thiên Chúa đã mời gọi ông bỏ quê cha đất tổ để đi đến đất Ngài chỉ cho. Thiên Chúa hứa sẽ ban cho ông có con cháu nối dòng, có đất làm cơ nghiệp, và trở thành một mối chúc lành cho nhiều người. Abram đã tin và đã đi theo lời mời của Thiên Chúa. Đặt mình vào hoàn cảnh của người thời đó, ta nhận ra Abram đã tin vào Thiên Chúa một cách rất đặc biệt. Thời đó người ta chưa có luật lệ như hiện tại, người ta phải dựa vào gia đình họ hàng để bảo vệ mình và tài sản khỏi bị người khác đánh cướp. Thế mà Abram dám rời bỏ gia đình, ra đi với tài sản và vợ là Saray. Nếu không tin tưởng và phó thác tuyệt đối vào Thiên Chúa, thì không ai dám làm điều đó vì rất nguy hiểm, người ta không chỉ mất tài sản nhưng còn mất cả mạng sống mình. Abram đã dám làm.
Thiên Chúa đã đổi tên Abram thành Abraham, Saray thành Sara; và đã cho ông bà có một người con tên là Isaac. Thiên Chúa cũng nói với Abraham rằng dòng giống ông sẽ nhờ Isaac mà có; thế mà giờ đây Thiên Chúa lại bảo ông đem người con duy nhất của mình đi hiến tế làm của lễ dâng Thiên Chúa. Tại sao Thiên Chúa lại “đổi ý” như vậy? Tại sao Thiên Chúa không “nhất quán” với chính Ngài: đã hứa cho dòng dõi của ông nhờ Isaac mà có, mà bây giờ lại đòi ông phải hiến tế Isaac? Làm sao có thể vâng lời Thiên Chúa được?
Một lần nữa, Abraham đã tin và phó thác tuyệt đối nơi Thiên Chúa. Thiên Chúa muốn sao Abraham cũng làm, vì ông tin rằng Thiên Chúa quyền năng, Ngài có thể làm tất cả, ngay cả phục sinh Isaac. Chắc chắn Abraham đã có những suy nghĩ cám dỗ bất tuân, nhưng ông đã chiến thắng chính mình bằng niềm tin phó thác tuyệt đối nơi Thiên Chúa. Qua hành vi này, ông trở thành cha tất cả những người tin (Rm.4, 18tt). Cả cuộc đời của Abrahm là một chuỗi những hành vi tin. Ngay cả khi vợ ông là bà Sara chết, ông vẫn chưa có đất để chôn (St.23), tuy vậy ông vẫn tin rằng Thiên Chúa sẽ ban cho ông điều Ngài đã hứa.
III. Thiên Chúa đã không dung tha chính Con Ngài
Khi Đức Giêsu còn tại thế, chẳng ai biết Ngài là Thiên Chúa nhập thể, kể cả các tông đồ. Chỉ sau khi Ngài sống lại, và với ơn Thánh Thần soi sáng, các tông đồ nhớ lại những gì Đức Giêsu đã nói và đã làm, nên mới nhận ra Ngài là Con Thiên Chúa theo một nghĩa thật đặc biệt. Một khi nhận ra Đức Giêsu là Đấng thật đặc biệt, là Con Thiên Chúa, thì Kitô hữu lại hiểu biết về Thiên Chúa và về con người một cách thâm sâu hơn.
Con người là ai mà được Thiên Chúa yêu thương đến như vậy! Sao Thiên Chúa lại trao phó Con của Ngài cho con người như thể “trao trứng cho ác” như vậy? Một người ít hiểu biết nhất cũng nhận ra con người gian ác sẽ giết Con của Ngài, như vậy tại sao Ngài vẫn trao gởi Người Con của Ngài cho con người? Tại sao Thiên Chúa tin con người đến độ như vậy? Cho đến cùng, Kitô hữu nhận ra tình yêu của Thiên Chúa đối với con người thật vô cùng: Thiên Chúa tin vào con người dù thật sự không thể tin được.
“Thiên Chúa không dung tha chính Con Ngài nhưng phó thác Con của Ngài vì tất cả chúng ta.” Nhìn Đức Giêsu chết trần trụi ô nhục thê thảm trên thập giá, người ta có cảm tưởng như thể Thiên Chúa yêu thương con người hơn cả Đức Giêsu. Thật ra không phải Thiên Chúa yêu thương con người hơn Con của Ngài; nhưng điều đó lại cho thấy Thiên Chúa yêu thương con người vô cùng. Theo thánh Phaolô, một khi Thiên Chúa đã ban Đức Giêsu cho ta, thì Ngài không còn tiếc gì với ta nữa. Thiên Chúa sẽ ban cho chúng ta tất cả. Đức Giêsu là bảo chứng cho thấy Thiên Chúa yêu thương con người vô cùng!
Câu hỏi gợi ý chia sẻ
1. Nơi Abraham có điều gì bạn kính phục?
2. Bạn có nhận thấy Thiên Chúa tin và phó thác vào con người khi cho Con Ngài nhập thể không? Tại sao?
3. Đức Giêsu có bị nghi ngờ về đức tin không? (chẳng hạn, không biết mình có sống lại thật không? nếu bạn nghĩ có, tại sao bạn nghĩ như vậy? xin đưa bằng chứng hoặc lý luận bảo vệ ý kiến của bạn.)

 

MC2-360: Abraham

Trong phần phụng vụ Lời Chúa hôm nay, có một khuôn mặt nổi bật, đáng cho chúng ta suy nghĩ B118 MC2-360

Trong phần phụng vụ Lời Chúa hôm nay, có một khuôn mặt nổi bật, đáng cho chúng ta suy nghĩ đó là khuôn mặt của Abraham.
Thực vậy, vâng lệnh Thiên Chúa, ông dẫn con lên núi để sát tế dâng kính Ngài. Ông chấp nhận hy sinh cả cái viễn tượng tương lai của lời hứa, không chút thắc mắc trước đòi hỏi xem ra tự mâu thuẫn với chính mình của Thiên Chúa, Đấng đã hứa cho ông một dòng dõi đông đúc như sao trời cát biển, nhưng lại đòi ông phải hy sinh người con duy nhất, giữa lúc ông và bạn ông đã già cả không còn hy vọng sinh nở được nữa. Abraham đã biểu lộ một niềm tin yêu tuyệt đối nơi Thiên Chúa.
Quả thực, cử chỉ của Abraham chỉ có thể hiểu nổi khi chúng ta thấy được rằng nơi Abraham còn có một sự lựa chọn quan trọng hơn. Tuy nhiên, chúng ta cũng thấy điều đòi hỏi nơi Abraham mới chỉ là một thử thách của Thiên Chúa đối với ông là người được Thiên Chúa yêu thương. Cử chỉ của Abraham mới chỉ là một hình ảnh để chuẩn bị đón nhận điều Thiên Chúa thực hiện nơi chính mình Ngài. Điều Abraham đã chỉ thực hiện trong ý chí, nghĩa là chấp nhận thực hiện, nhưng trong thực tế đã không thực hiện vì không cần thiết nơi Thiên Chúa, lại đã trở thành thực tế. Đức Kitô người sẽ bị đau khổ và chết trên thập giá, chính là người con yêu dấu của Thiên Chúa. Nói cách khác, Thiên Chúa là một người Cha đã yêu thương con người đến độ không dung tha chính con mình, nhưng lại phó thác con mình vì tất cả chúng ta. Đức Kitô đã thực hiện tất cả những gì mà Abraham và Isaac ngày xưa đã tượng trưng.
Còn chúng ta ngày hôm nay thì sao? Nhìn vào đời sống đức tin, chúng ta thấy không phải lúc nào chúng ta cũng cảm thấy sốt sắng, không phải lúc nào chúng ta cũng cảm thấy được ủi an, không phải lúc nào chúng ta cũng cảm thấy Chúa thật gần gũi, trái lại nhiều khi đức tin của chúng ta cũng đã bị thử thách. Vì trung thành với lệnh truyền của Thiên Chúa mà Abraham đã xứng đáng trở thành cha của những người có đức tin. Vì vâng phục thánh ý Chúa Cha, chấp nhận cái chết trên thập giá, mà Chúa Giêsu đã đem lại cho chúng ta nguồn suối ơn cứu độ. Với chúng ta cũng thế. Giữa những gian nguy thử thách gặp phải, noi gương bắt chước Abraham, chúng ta hãy vững tin nơi tình thương của Chúa. Đồng thời noi gương bắt chước Chúa Giêsu, chúng ta dám chấp nhận những hy sinh gian khổ vì đức tin. Bây giờ không còn phải là thời dám can đảm chịu chết vì đạo, mà là thời dám can đảm sống đạo, sống niềm tin của mình. Chính nhờ những hy sinh trong cuộc sống thường ngày, mà đức tin của chúng ta sẽ trở nên kiên vững, và hơn thế nữa, chúng ta sẽ góp được cái phần nhỏ bé của chúng ta vào thập giá Đức Kitô, để nhờ đó mà chúng ta sẽ lãnh nhận được ơn Chúa cứu độ.

 

MC2-361: Thế giới nào là ảo?

(Suy niệm của Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền)
 

Hôm nay người ta nói nhiều về thế giới ảo. Thế giới của mạng Internet. Thế giới dấu mặt. Thế giới B119 MC2-361

Hôm nay người ta nói nhiều về thế giới ảo. Thế giới của mạng Internet. Thế giới dấu mặt. Thế giới mà con người chỉ biết nhau trong những ảo ảnh wedcam hay do photoshop tạo ra. Thế giới mà người ta có thể đánh lừa nhau qua những phần mềm thông minh. Ở nơi đây chúng ta gặp thấy rất nhiều con người sống hai mặt. Ở trong thế giới ảo họ tha hồ tâng bấc về mình. Họ tha hồ vẽ ra khuôn mặt đáng thương của mình. Ở thế giới ảo rất khác xa với thế giới thật mà họ đang sống. Thế nên, rất nhiều người vỡ mộng. Rất nhiều người bị lừa. Rất nhiều người oan gia vì quá tin người.
Thế giới ảo và thế giới thật khác nhau. Con người ảo và con người thật cũng khác nhau. Nhưng phải chăng chỉ có ở thế giới mạng mới sống ảo, còn cuộc sống hiện thực thì chân thực? Khó mà có câu trả lời chính xác, vì “Sông sâu còn có kẻ dò – Lòng người nham hiểm trùng khơi khôn dò”. Thế giới thật vẫn còn đó những người sống ảo. Họ cố gắng che đậy sự thật về mình. Họ sống hai mặt như đồng tiền hai mặt không bao giờ giống nhau. Thế giới thiện – ác. Chân thật-giả dối. Cuộc sống luôn có hai mặt. Con người lại là một diễn viên tài giỏi luôn che đậy những sự thật thầm kín bên trong.
Cuộc sống vốn thật thật giả giả khó phân biệt. Sự thật là thế. Nhưng người sống ảo sẽ không bao giờ hạnh phúc. Lương tâm luôn làm họ buồn bã, lo âu, sợ hãi. Chỉ có “sự thật mới giải thoát chúng ta”. Sống thật mới đem lại niềm vui nội tâm cho tâm hồn. Sống thiếu chân thật chỉ dày vò chúng ta trong bể khổ trần gian.
Cuộc sống của Chúa Giê-su dưới mắt người đời thì hoàn toàn là một người phàm. Vì Ngài đã trở nên giống như con người ngoại trừ tội lỗi. Thế nhưng, Ngài luôn sống thật khi tỏ ra mình là Thiên Chúa. Ngài luôn tỏ mình là người nhưng còn mang bản tính Thiên Chúa. Ngài đã làm nhiều phép lạ phi thường để tỏ mình có quyền năng của Thiên Chúa. Ngài phục sinh kẻ chết. Ngài đe sóng gió biển cả phải im lặng. Đó là những việc ngoài khả năng của con người. Đó là việc của Thiên Chúa mới có thể thắng vượt sự dữ.
Hôm nay trên núi Tabor, Chúa còn tỏ rõ nét hơn về dung nhan của Ngài là Thiên Chúa. Một Thiên Chúa thánh thiện vô cùng. Một Thiên Chúa quyền năng. Một Thiên Chúa uy nguy đến độ các môn đệ say xưa chiêm ngắm Người. Phê-rô đã bộc trực nói lên suy nghĩ của mình. Ông ao ước được chiêm ngắm dung nhan Thầy như lúc này mãi mãi. Ông bảo rằng: “Ở đây thì tốt quá, xin cho con làm 3 lều, một cho Thầy, một cho Mô-sê và một cho Ê-li-a”. Phúc âm bảo rằng, ông nói nhưng chẳng biết tại sao mình nói, vì ông quá ngất ngây trước dung nhan hiển linh của Thầy.
Cuộc sống người ky-tô hữu cũng đẹp biết bao khi chúng ta sống thật với căn tính của mình. Căn tính của người ky-tô hữu là yêu thương. Yêu thương không ngăn cách với mọi hạng người. Yêu thương không xa lánh bất kỳ ai, kể cả kẻ thù. Yêu thương để hòa nhập với mọi khổ đau, bất hạnh của anh em để cảm thông, liên đới và sẻ chia. Đó là cách sống mà Chúa bảo: “Người ta cứ dấu này nhận biết các con là môn đệ Thầy là hãy yêu thương nhau”.
Xin cho chúng ta luôn biết sống chân thật trước mặt Chúa và tha nhân. Sự chân thật giúp chúng ta sống đúng với căn tính của mình. Sự chân thật sẽ mang lại niềm vui và hạnh phúc cho chúng ta. Amen.

 

MC2-362: Thôi đừng đầy đọa nhau

(Suy niệm của Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền)
 

Có một câu chuyện ngụ ngôn kể rằng: Ngày xưa thỏ và sư tử sống gần nhau, nhưng sư tử rất B120 MC2-362

Có một câu chuyện ngụ ngôn kể rằng: Ngày xưa thỏ và sư tử sống gần nhau, nhưng sư tử rất kiêu ngạo, vẫn cho mình là to khoẻ nên xem thường loài thỏ. Sư tử thường mắng thỏ và doạ nạt thỏ suốt ngày. Thỏ tức mình không chịu nổi mới nghĩ ra cách báo thù.
Một lần kia nó nói với sư tử rằng:
- Thưa ông anh, em vừa gặp một thằng to lớn và trông giống anh lắm. Nó bảo em rằng: “Trên đời này nó chưa sợ ai, và cũng chưa ai dám đối mặt với nó”. Thằng cha này không coi ai ra gì cả!
Sư tử tức giận và bảo rằng: “Thế mày có nhắc đến tên tao không?”
- Thỏ trả lời: Sao lại không? Em vừa nhắc đến tên anh thì nó lồng lộng lên và bảo rằng anh chỉ đáng đàn em nó thôi.
Sư tử càng tức điên người lên và hỏi: Nó ở đâu? dẫn tao đến ngay.
Thỏ liền dẫn sư tử ra sau núi, và chỉ một cái giếng ở đàng xa và bảo: Đấy, nó ở trong đó đấy!
Sư tử đi lại gần giếng vẻ mặt căm tức nhìn xuống đáy giếng. Quả thực, nó trông thấy ngay một tên, với cặp mắt giận dữ đang trừng trừng nhìn nó. Sư tử rống lên một tiếng, tên kia cũng rống lên một tiếng. Sư tử xù lông cổ lên tên kia cũng xù lông cổ lên. Sư tử nhe nanh múa vuốt đe doạ, tên kia cũng hăm dọa lại. Sư tử căm tức đến tột độ dồn hết sức mình nhảy phốc xuống giếng để cho thằng khốn nạn kia một trận. Thế là, con sư tử ngạo mạn tự huỷ diệt đời mình dưới giếng sâu...
Thất bại của sư tử là không nhận ra mình nên đã lao vào cắn xé chính hình ảnh của mình. Sư tử chỉ muốn nhất. Sư tử chỉ muốn làm bá chủ nên sẵn sàng loại trừ tất cả các đối thủ có nguy cơ nguy hại đến vị trí số 1 của mình.
Con người là hình ảnh Thiên Chúa, nhưng đáng tiếc là nhiều người đã không nhận ra điều đó. Họ không nhận ra hình ảnh mình nơi tha nhân để có thể yêu mến tha nhân như chính mình. Họ đòi được tôn vinh, được bá chủ nên sẵn sàng cắn xé chính đồng loại của mình.
Đạo đức xã hội hôm nay đang ở mức đáng báo động. Báo động bởi những hành vi bạo lực về tinh thần, thể xác, tình dục cứ nhan nhản trên đường phố, trước cổng trường và trong từng gia đình. Chỉ cần một ánh mắt ngó thấy ghét, một câu nói nghe không lọt tai, một vụ va quệt nhỏ..., là người ta đã có thể rần rần kéo nhau đi chém giết, cướp đi sinh mạng của người khác dễ dàng như lấy một món đồ trong túi. Cha mẹ hành hạ con như kẻ thù; trò đánh thầy; Thầy lạm dụng trò, bảo mẫu tra tấn con trẻ, dán băng keo bịt mồm cho đến chết; đồng môn đồng lớp hở chút là lấy dao đâm... Thậm chí trong hai tháng vừa qua có đến 3 vụ vào tận bệnh viện Thống Nhất để thanh toán cả những người đang nằm cấp cứu!
Dường như con người hôm nay đang đối xử với nhau quá hung hãn, và tình người, lòng nhân ái đã trở thành một thứ hàng hiếm giữa thời buổi này? Những bài giáo dục công dân ở đâu hết rồi? Con người có còn nhớ mình là “hoạ ảnh của Thiên Chúa” hay đã quên đi căn tính thực của mình?
Nếu con người của mọi thời đại biết nhìn nhận mình là hình ảnh của Thiên Chúa và mọi người là anh em với nhau, sẽ có những cách hành xử tốt với nhau hơn. Nếu con người nhận ra hình ảnh Chúa nơi tha nhân, chắc chắn sẽ không đối xử tàn bạo với nhau. Nhưng tiếc thay, nhiều người chỉ muốn làm chúa sơn lâm nên lao đầu vào cắn xé đồng loại, hành hạ đồng loại của mình và sẵn sàng làm đủ trò để loại trừ đồng loại.
Hôm nay, Chúa hiển dung nghĩa là Chúa tỏ hiện đúng dung nhan thật của Ngài. Một dung nhan thánh thiện rạng ngời mà bấy lâu nay nhân tính đã che phủ thiên tính của Ngài. Một dung nhan tinh tuyền của một vì Thiên Chúa là Thánh, ngàn trùng chí thánh đến nỗi cả ba môn đệ đều ngây ngất vì được chiêm ngắm dung nhan thật của Thầy Giêsu. Ba môn đệ đã cúi mình kính phục trước dung nhan thật của Chúa Giêsu. Đó chính là sứ điệp mà mùa chay đang mời gọi chúng ta: hãy tỏ hiện dung nhan thật của chúng ta là hình ảnh của Thiên Chúa ra trong lời nói và việc làm của mình. Hãy thể hiện sự thánh thiện của hình ảnh Thiên Chúa nơi chính mình để anh em được chiêm ngưỡng. Hãy biểu lộ lối sống tinh tuyền, chân thật của phẩm giá làm ngừơi để anh em được hạnh phúc khi sống với chúng ta.
Mùa chay là mùa mời gọi chúng ta hãy tìm lại hình ảnh ban đầu của tạo dựng. Hãy gạn đục khơi trong để hình ảnh của Chúa luôn tỏ hiện ra nơi bản thân của chúng ta. Hãy tìm lại  hình ảnh tinh tuyền ban đầu của mình, một hình ảnh chưa bị lòng ham muốn danh lợi thú làm hoen ố, mới thấy phẩm giá cao đẹp của con người thật cao qúy hơn muôn loài. Có ý thức được sự cao qúy nơi phẩm giá làm người mới biết trân trọng và gìn giữ cho mình và cho anh em. Phẩm giá con người cao qúy hơn mọi danh lợi thú trần gian, thế nên đừng bao giờ vì một chút bổng lộc trần gian, một chút vui sướng mau qua mà đánh mất phẩm giá của mình và làm tổn thương đến phẩm giá của tha nhân.
Xin Chúa giúp chúng ta can đảm tẩy rửa những bợn nhơ tội lỗi làm hoen ố lương tri, và xin Chúa thêm ơn trợ giúp để chúng ta luôn gìn giữ nét đẹp nơi phẩm giá làm người của mình và của tha nhân. Amen.

 

MC2-363: Đức Tin cột trói chúng ta

(Peter Feldmeier - Văn Hào, SDB chuyển ngữ)
Này là Con Ta yêu dấu, hãy nghe lời Người (Mc 9,7)
 

Các bài đọc Lời Chúa hôm nay dường như có vẻ thách đố chúng ta. Bài đọc thứ nhất kể lại câu B121 MC2-363

Các bài đọc Lời Chúa hôm nay dường như có vẻ thách đố chúng ta. Bài đọc thứ nhất kể lại câu truyện Chúa nói với Abraham hãy đem Isaac con của ông lên núi để sát tế. Abraham đã tuân theo chỉ lệnh của Chúa. Isaac chẳng nghi ngờ gì, đã cùng với cha  bắt đầu cuộc hành trình. Hai cha con đi suốt ba ngày đường trèo lên núi cao. Đến nơi, Abraham cột trói Isaac lại, và đang dự định giết con để tế lễ. Khi ông toan tính làm như thế, một sứ thần đã hiện ra và cầm giữ tay ông lại. Thần sứ nói với ông rằng Thiên Chúa rất hài lòng vì ông đã vâng lời Ngài: “Vì ngươi đã vâng phục Ta, không tiếc đứa con trai thừa tự duy nhất mà ngươi rất quý mến, nên Ta sẽ chúc lành cho ngươi và hứa cho dòng giống ngươi trở nên đông đúc.”
Chúng ta phải đọc câu truyện trên đây dưới lăng kính truyền thống Do Thái giáo và cả truyền thống Kitô giáo. Có nhiều cách cắt nghĩa khác nhau, nhưng những diễn giải dường như vẫn chưa lột tả được trọn vẹn ý nghĩa sâu xa của bản văn. Một số nhà chú giải sánh ví Thiên Chúa như một vị thần chuyên thử thách. Họ còn đặt vấn đề xa hơn, liệu Thiên Chúa còn thử thách Abraham đến mức độ nào, khi truyền lệnh cho ông cầm dao giết đứa con ruột của mình? Một số khác lại đọc thoáng qua câu truyện và tự hỏi: Tại sao Thiên Chúa lại ra một lệnh truyền quái ác và nghịch thường như vậy, vì người Do Thái không bao giờ được phép giết con mình để tế thần, không giống như các dân ngoại vẫn thường làm. Triết gia Kieerkegard lại có một cái nhìn khác khi ông kết luận “Đức tin nếu chỉ khởi phát từ một ý thức thuần mang tính luân lý với sự vâng lời  tối mặt, thì đó chỉ là đức tin mù quáng và xuẩn ngốc’’. Cả ba nhận định trên đây đều phiếm diện và không thấu triệt tường tận câu truyện mà Kinh thánh trình bày. Cách lý giải thứ nhất chỉ phác vẽ Thiên Chúa như một Đấng cao ngạo ở tít trên cao, thích thử thách con người, đến mức độ cách hành xử của Ngài giống hệt một cuộc tra tấn hay khủng bố. Về cách giải thích thứ hai, chúng ta cũng thấy không hơp lý chút nào. Câu truyện quả thực không hề muốn nêu lên sự tương phản giữa đức tin và luân lý. Tôi cũng muốn nói rằng, chúng ta đừng xem đức tin như một thái độ mù quáng và ngốc ngếch, vì đức tin và lý trí không hề đối kháng hay loại trừ nhau. Abraham đã không mù quáng khi thực thi điều Chúa muốn như nhiều người lầm tưởng. Ngày nay, nếu có ai ra lệnh cho chúng ta là phải dùng dao giết con, thì chắc chắn chúng ta sẽ gọi cảnh sát ngay lập tức. Thiên Chúa của chúng ta không độc ác như thế đâu.
Thế thì câu truyện trên muốn nói cho chúng ta điều gì? Chúng ta hãy đan nối với truyền thống Do Thái giáo để hiểu nội dung một cách sâu xa hơn. Vấn đề ở đây không phải là Abraham có ý định sát tế Isaac, nhưng ông chỉ muốn tuân hành ý Chúa cách triệt để. Ông cột trói Isaac và hiến dâng cho Chúa, không hề tiếc nuối và giữ lại cho mình. Đây là một thái độ vâng phục trọn vẹn trong đức tin. Qua hình tượng Isaac, tổ phụ Abraham đã trói buộc mình và dòng dõi của mình vào chính Thiên Chúa và vào lời hứa của Ngài. Hành động này không phải là nhằm giải quyết công việc trước mắt, cụ thể là việc giết đứa con đặt lên bàn để tế lễ. Nhưng động thái của tổ phụ Abraham mang chiều kích linh thánh, một hành vi biểu tỏ đức tin, và dẫn đưa đến một chân trời rộng mở hơn, đó là  chân trời của lời hứa.
Bài học ở đây, là khi chúng ta biểu tỏ đức tin, chúng ta cột trói mình (như Abraham cột trói Isaac) vào với Thiên Chúa, tự nguyện “trao nộp”chính chúng ta trong bàn tay của Thiên Chúa, thì đáp lại, Thiên Chúa cũng sẽ trói buộc Ngài trong giao ước với chúng ta, và Ngài sẽ hiến trao tất cả cho chúng ta, vì Thiên Chúa luôn trung thành với giao ước mà Ngài đã cam kết.
Đây là sự cột trói song phương, giữa chúng ta và Thiên Chúa.
Trong bài đọc thứ hai, thánh Phaolô cũng gợi mở cho chúng ta am tường về sự trói buộc lưỡng chiều này. Thánh nhân viết “ Nếu Thiên Chúa bênh đỡ chúng ta, ai còn có thể chống lại được chúng ta” (Rm 8, 31b). Tiếp nối suy tư này, Thánh Phaolô tiếp tục đưa dẫn chúng ta đến một bản hòa điệu song đối với những câu hỏi và những thách đố được gợi ra. Ngài viết: “Vì tôi thâm tín rằng, dù sự chết hay sự sống, dù thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai hoặc bất cứ sức mạnh nào,… không có gì có thể tách tôi ra khỏi lòng yêu mến của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta (Rm 8,38-39). Đây là hình mẫu sự cột trói thâm sâu giữa chúng ta và tình yêu Thiên Chúa.
Bài Tin mừng hôm nay dẫn mời chúng ta thông dự vào cuộc biến hình của Đức Giêsu. Ở trên núi cao, ba môn đệ Phêrô, Giacôbê và Gioan đã mục kích vinh quang của Đức Giêsu khi Ngài đàm đạo với Môisê và Elia. Hai vị ấy là biểu thị cho lề luật và các ngôn sứ, như được nhắc đến trong lời kinh tổng nguyện của phụng vụ hôm nay. Tuy nhiên cả hai vị này đều có liên hệ đến những biến cố rất ý nghĩa trong cựu ước. Môise và Êlia đều đã tiếp cận trực tiếp Đức Chúa Giavê trên núi Sinai (Xh 24,1,19). Đồng thời, cả hai ông đều gợi nhắc về Đấng Messia, Đấng sẽ đến cứu chuộc dân người. Êlia được đặc cách để tiên báo về đấng Messia và ông cũng chính là người dọn tâm hồn cho dân chúng trước khi ngày của Đức Chúa khởi sự (Mal 3,23). Còn ông Môisê, vào thời của Chúa Giêsu, người ta vẫn có truyền thống xem ông, giống như vai trò của Êlia, người đã đạt đến sự viên toàn của sự đợi chờ Đấng Mesia ở trên nước trời. Vì thế, giây phút Chúa biến hình trên núi Tabor, cũng mang chở một chiều kích cánh chung, và tiên báo sự viên thành giao ước mà Chúa đã ký kết trên núi Sinai năm xưa.
Ba môn đệ đã nghe tiếng Chúa Cha từ trong đám mây “Đây là con yêu dấu của ta, hãy nghe lời Người”. Cả ba ông đã chứng kiến giây phút viên toàn của lịch sử, lúc Đức Giêsu vén mở vinh quang chiến thắng của Ngài. Đó là những khoảnh khắc các ông được thông dự trước vào sự tròn đầy của sự thực hiện lời Thiên Chúa hứa. Nhưng liền ngay sau đó, các ông phải trở về đối mặt với cuộc sống đời thường. Từ trên núi xuống, chỉ còn lại duy nhất một mình Đức Giêsu, một Thiên Chúa làm người, một Thiên Chúa đang sống kiếp tăm tối của thân phận con người như chúng ta, và vinh quang chói ngời trên núi Tabor vẫn còn đang bị che dấu. Trong cuộc hành trình đức tin của chúng ta hôm nay, chúng ta cũng phải cột trói và hiến dâng bản thân, để trao dâng cho Đức Giêsu, Đấng là Thiên Chúa nhưng mang trên vai những bầm dập và khổ đau trong phận người. Chúng ta cột trói vào Ngài, hiến dâng cho Ngài, có nghĩa là chúng ta phải cùng với Ngài đi lên Giêrusalem để được sát tế. Hơn nữa, như thánh Phaolô gợi nhắc, chúng ta phải cột trói vào Ngài giữa những cay đắng và bi thương trong cuộc sống hiện sinh hôm nay. Chúng ta diễn tả động thái đức tin, bằng cách trói buộc vào Đức Giêsu, bởi vì chính Ngài cũng đã tự trói buộc vào thân phận con người của chúng ta, đã tự nguyện tiến nhận cái chết để cho chúng ta được ơn giải cứu.
Cuộc biến hình của Đức Giêsu trên đỉnh núi Tabor vén mở để cho chúng ta cảm thấu được uy quyền, hiểu biết về sứ mạng và nhận ra bản tính đích thực của Đấng là Thiên Chúa – Người, là chính Đức Giêsu. Cuộc hành trình đức tin của chúng ta cũng sẽ khởi đầu và kết thúc cùng với Ngài, bởi vì trong cuộc lữ hành đó, chúng ta sẽ mãi mãi gắn kết và buộc trói chúng ta vào với Ngài.

 

MC2-364: Con yêu dấu – Lm. Vũ Đình Tường

Mỗi lần Chúa Cha nhắc đến tình yêu Cha Con dành nhau ta thấy tình yêu đó luôn thể hiện không B122 MC2-364

Mỗi lần Chúa Cha nhắc đến tình yêu Cha Con dành nhau ta thấy tình yêu đó luôn thể hiện không phải bằng ngôn từ không mà luôn kèm theo sứ mạng của Tin Mừng. Sứ mạng đó được thể hiện qua hành động cụ thể. Sứ mạng Chúa Con tự nguyện lãnh nhận ngay sau khi Đức Kitô lãnh nhận phép thanh tẩy từ Joan đó là công khai rao giảng về nước trời.
Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con
Liền sau đó Đức Kitô tiến vào hoang địa và ở đó bốn mươi ngày ăn chay, cầu nguyện chuẩn bị cho chương trình rao giảng công khai về nước Thiên Chúa đã đến gần.
Ngày biến hình trên núi thánh có sự hiện diện của ba tông đồ Phêrô, Giacobê và Gioan. Cả ba đều chứng kiến cuộc đàm thoại giữa Đức Kitô và tổ phụ Môisen và tiên tri Elia. Cuộc đàm thoại bị gián đoạn khi các ông nghe tiếng Chúa Cha vang vọng như tiếng sấm phán
Đây là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Ngài
Các tông đồ được chiêm ngắm ít nhiều về cuộc sống tương lai và các ông vui mừng muốn ở lại trên núi thánh nhưng Đức Kitô có chương trình Ngài cần thực hiện nên Thầy trò xuống núi. Sự hiện hữu của các tổ phụ trên núi thánh xác nhận một niềm tin. Niềm tin đó chính là có sự sống đời sau. Đối với nhân loại các tổ phụ đã chết nhiều năm trước, mộ các ngài còn nằm kia nhưng sao các ngài đang sống, hiện diện trên núi thánh xác nhận các ngài đang an vui sống gần Chúa. Nhắc đến tổ phụ Môisen là nhắc đến hành trình bốn mươi năm, vượt sa mạc dẫn dân Chúa chọn về Đất Hứa. Môisen dưới sự hướng dẫn, bảo bọc của Thiên Chúa đã vượt qua ngàn trùng gian khổ, dẫn dân Chúa chọn vượt Biển Đỏ, giải thoát họ khỏi ách nô lệ của Pharaô tiến vào Đất Hứa. Tiên Tri Elia cũng có sứ mạng vất vả không kém. Elia đặt trọn niềm tin vào lời Chúa làm tròn sứ mạng trong lo âu, sợ hãi cho sự sống còn của chính ông. Vua Ahab làm vua vùng phía bắc xứ Israel từ 874-853 BC. Ông nghe lời vợ là Jezebel thờ tà thần Baal. Thiên Chúa sai tiên tri Elia báo cho vua biết nếu không thống hối ông và toàn dân sẽ bị phạt. Vua Ahab đã không thống hối còn tìm các giết Elia. Nhà tiên tri phải trốn nơi hoang địa và Thiên Chúa cứu ông khỏi tai hoạ và giúp ông hoàn thành điều Thiên Chúa sai phán. (Muốn biết thêm chi tiết mời đọc số một, Sách các Vua chương 17-22).
Tiếng phán ra của Chúa Cha từ trong đám mây là bằng chứng rõ ràng khác cho thấy Thiên Chúa hằng sống luôn đồng hành với Đức Kitô. Những sáng sớm Đức Kitô tìm nơi thanh vắng cầu nguyện chính là Ngài đàm đạo cùng Chúa Cha.
Sứ mạng xuống núi của Đức Kitô là mang lại ơn cứu độ cho nhân loại. Một sứ mạng đầy đau thương, nhiều nước mắt và cuối cùng là chết trong cô đơn, trên thập giá, nơi đồi vắng. Một kiểu hoang địa mà khi nghe đến ai cũng cảm thấy chân tay run rẩy, toàn thân rùng rợn. Đức Kitô đi trọn con đường đó và sau ba ngày chôn trong mộ Ngài sống lại vinh quang.
Sau khi Đức Kitô sống lại từ cõi chết người ta mới nhận ra sức mạnh vô song và vinh quang ngàn trùng của Thiên Chúa. Sức mạnh đó mạnh hơn sự chết và vinh quang đó sáng tỏ hơn mặt trời chiếu sáng. Điều này cho thấy có sự liên kết giữa biến hình và sự sống trường sinh. Để có sự sống trường sinh cần có biến hình. Để được biến hình lại cần hoàn thành sứ mạng trao phó. Để hoàn thành sứ mạng trao phó cần đặt trọn niềm tin vào Đức Kitô. Đặt trọn niềm tin vào Đức Kitô sẽ được vinh thăng sống muôn đời kề cận vinh quang Thiên Chúa, nhận cùng lời Chúa phán trên núi thánh.
Đây là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Ngài.

 

MC2-365: Suy niệm của AM Trần Bình An

Cùng đăng sơn, cùng hạ sơn
 

Chúa Nhật 14.04.1985, Lễ Lòng Chúa Xót Thương, Lm. Jose Maniyangat đi dâng Thánh Lễ tại một B123 MC2-365

Chúa Nhật 14.04.1985, Lễ Lòng Chúa Xót Thương, Lm. Jose Maniyangat đi dâng Thánh Lễ tại một nhà thờ thuộc điểm truyền giáo ở phía Bắc Kerala và bị một tai nạn chí tử. Ngài thuật lại sau này: Tôi đang lái xe gắn máy, thì bị đâm đầu vào một chiếc xe jeep do một người đàn ông say khướt sau một lễ hội Ấn giáo, điều khiển. Tôi được đưa gấp vào bệnh viện cách đó khoảng 35 dặm. Trên đường đi, linh hồn tôi lìa khỏi xác và tôi đã cảm nghiệm cái chết. Tức khắc, tôi gặp Thiên Thần Hộ Thủ của tôi. Tôi nhìn thấy thân thể mình và những người đến mang tôi vào bệnh viện. Tôi nghe họ khóc và cầu nguyện cho tôi. Vào lúc ấy thiên thần của tôi nói với tôi: ”Ta đến đem người vào thiên đàng, Chúa Giêsu muốn gặp người và nói chuyện với người”. Thiên thần cũng cho biết rằng dọc đường Ngài muốn chỉ cho tôi thấy Hoả Ngục và Luyện Ngục...
Kế đó, thiên thần của tôi hộ tống tôi tới Thiên Đàng đi qua một hầm màu trắng lớn sáng chói loà. Tôi chưa bao giờ cảm nghiệm được sự an bình và niềm vui như thế nầy trong đời. Thiên Đàng lập tức mở ra và tôi nghe tiếng nhạc mê ly nhất mà tôi chưa từng được nghe trước đây. Các thiên thần ca hát và ngợi khen Thiên Chúa. Tôi nhìn thấy tất cả các thánh, đặc biệt là Mẹ Maria và Thánh Giuse,và rất nhiều giám mục và linh mục thánh thiện đang lấp lánh sáng như những vì sao. Và khi tôi xuất hiện trước Người, thì Chúa Giêsu nói với tôi: ”Ta muốn con về lại thế gian. Trong cuộc sống lần thứ hai của con, con sẽ nói bằng một ngôn ngữ nước ngoài. Mọi thứ đều có thể xảy đến cho con với ân sủng Ta ban..”. Sau những lời nầy, Đức Maria nói với tôi: ”Hãy làm bất cứ điều gì Người nói với con. Mẹ sẽ giúp con trong các thừa tác vụ của con.” Lời nói không thể diễn tả hết vẻ đẹp của Thiên Đàng. Ở đó chúng ta tìm thấy được an bình và hạnh phúc nhiều dường nào, vượt qúa một triệu lần trí tưởng tượng của chúng ta. Chúa Giêsu đẹp đẽ vượt xa hơn bất cứ hình ảnh nào có thể mô tả. Dung nhan Người rạng ngời và toả sáng và rực rỡ hơn ngàn vạn mặt trời đang mọc. Những bức hoạ chúng ta nhìn thấy trên thế giới chỉ là cái bóng vẻ lộng lẫy uy phong của Người. Đức Mẹ ở bên Chúa Giêsu, Mẹ rất tươi đẹp và rạng rỡ. Không một hình ảnh nào chúng ta gặp trên thế gian có thể sánh với vẻ đẹp thực sự của Mẹ. Thiên Đàng là nhà thực sự của chúng ta; tất cả chúng ta được kêu gọi phải đạt tới Thiên Đàng và được vui hưởng Thiên Chúa muôn đời. Sau đó, tôi cùng với Thiên Thần trở về thế gian... (Jn. M. Vũ Sơn Bảo dịch theo Ingodscompany)
Cảm nhận ngây ngất về Thiên Đàng của Lm Jose Maniyangat có lẽ tương đồng với niềm hân hoan, hạnh phúc của các Thánh Phêrô, Giacôbê và Gioan, khi được chiêm ngưỡng Chúa Giêsu biến hình trên núi Tabor. Các ngài đã được Người mời gọi cùng lên núi, để được mặc khải về Ngôi Lời, Con Thiên Chúa. Rồi, lại cùng theo Người xuống núi, tiếp tục sứ mạng Đi Gieo và làm chứng nhân.
Đăng sơn
Xưa, ông Môsê lên núi Sinai để cầu nguyện và nhận lãnh 10 Điều Răn trên núi Sinai. Còn ngôn sứ Êlia trong tâm trạng chán nản, mệt mỏi vì bị binh lính của hòang hậu Idaven truy sát, đã nỗ lực vượt sa mạc trong 40 đêm ngày, leo lên núi Khôrép để được Thiên Chúa an ủi, ban sức mạnh lấy lại niềm tin, tiếp tục hăng say thi hành sứ vụ. Hôm nay, Đức Giêsu dẫn ba môn đệ lên núi. Các ngài được vinh dự diện kiến Người, hội ngộ cùng ông Môsê và ngôn sứ Êlia, đại diện cho Lề luật và Ngôn sứ. Các ông ngây ngất trước ánh sáng Ngôi Lời chan hòa vinh hiển, cùng ao ước và khao khát được mãi mãi hạnh phúc sống bên Thiên Chúa Tình Yêu.
Đăng sơn là lên núi là từ bỏ mọi sự, xác thịt, của cải, ham muốn, chỉ duy nhất chọn Chúa mà thôi. Bỏ mọi sự, kể cả những vấn vương tình cảm thân bằng quyến thuộc, cũng như từ bỏ chính bản ngã tham sân si. Dấn thân leo lên núi Chúa có nghĩa chấp nhận gian lao thử thách, nguy hiểm, chịu khinh khi, thù ghét, bắt bớ, hành hạ, tù đầy và tử vong.
“Ai trong anh  em, không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ Tôi được.” (Lc 14, 33) Đức Giêsu còn đòi hỏi từ bỏ quyết liệt, từ người thân đến chính bản thân mình. “Ai đến với Tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ Tôi được.”(Lc 14, 26). Hơn thế, Đức Giêsu còn thêm điều kiện chấp nhận những khó khăn cơ cực khi theo Người.“Ai không vác thập giá mình mà đi theo Tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được.” (Lc 14, 27)
Khi xa lánh, dứt bỏ bụi trần, nâng hồn lên với Chúa, thì tâm hồn người Kitô hữu được hưởng niềm hoan lạc vô song, tuyệt vời. Vì thế, các tâm hồn các thánh luôn được nếm trải những giờ phút xuất thần, tràn ngập niềm vui, hạnh phúc bên Chúa.
Chẳng phải lúc nào ai cũng có thể leo 1 000 bậc thang lên đỉnh  núi Tao Phùng ở Vũng Tàu, để chiêm ngưỡng tượng Chúa Kitô Vua, hoặc hiếm khi được leo 220 bậc thang lên tượng Chúa Cứu Thế ở Rio De Janeiro, Brasil, để được hạnh ngộ với Người. Nhưng hằng ngày, ai cũng có thể lên núi với Người qua sám hối, ăn chay và cầu nguyện, qua tĩnh tâm, kinh hạt, suy gẫm và nhất là qua Lời Chúa và Thánh Thể.
“Hãy sống bên Chúa, và con sẽ nên thánh. Thiên Đàng không gì khác là Thiên Chúa hiện diện.” (Đường Hy Vọng, số 242)
Hạ sơn
“Và từ đám mây, có tiếng phán rằng: “Đây là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Người.” (Mc 9, 7) Thiên Chúa mặc khải cho các môn đệ, cho mọi tín hữu Đức Giêsu chính là Đấng Cứu Thế, phải tin cậy và vâng phục Người để được cứu rỗi.
Đức Giêsu dẫn ba môn đệ tâm huyết lên núi, Người biến hình rồi lại dẫn xuống núi nhập thế. Tin Mừng thánh Luca thuật lại: “Hôm sau, khi Đức Giêsu và ba môn để ở trên núi xuống, có đám người đông đảo tới đón Người.” (Lc 9, 37) Đăng sơn là chiều kích đầu tiên hướng lên trời với Thiên Chúa, hạ sơn chiều kích thứ hai hướng đến, thương yệu, phục vụ tha nhân, kể cả kẻ thù.
Hạ sơn là hạ mình xuống trước mặt tha nhân. Trở nên người phục vụ tình nguyện, noi gương Người. “Con Người cũng không đến để được phục vụ, nhưng để phục vụ và ban mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người." (Mc 10, 45) Điều đầu tiên, Đức Giêsu mong đợi nơi những ai theo Người, là một tấm lòng đơn sơ, khiêm nhường, vâng phục và yêu thương.
Hạ sơn cũng là từ bỏ con người cũ, nặng tính xác thịt, vị kỷ, kiêu căng, tham lam, háo danh háo của, để mặc lấy con người mới, xả kỷ vị tha, canh tân, sống theo Tin Mừng.
“Phải canh tân bao lâu? Phải luôn luôn khởi sự lại. Phải luôn luôn tu chỉnh thêm. Con đừng an nghỉ, bao lâu hôm nay con chưa tiến hơn hôm qua một bước trong sự hiệp nhất với Chúa. Con phải đinh ninh rằng: dừng lại là khởi sự thụt lùi xuống dốc, khởi sự thoái hóa.” (Đường Hy Vọng, 640 & 641)
Lạy Chúa Giêsu, kính xin Chúa biến đổi cuộc đời chúng con, từ tình trạng hư thân mất nết, chiều theo tính xác thịt và thế gian, mà hướng lòng lên cùng Chúa, biết sám hối, canh tân theo Tin Mừng, để được Chúa thương xót, cứu rỗi.
Lạy Mẹ Maria, xin mẹ giúp chúng con hướng lòng về tha nhân, trở nên kẻ phục vụ trong tin yêu, cũng như nhìn thấy Chúa Giêsu trong mọi người, để mến yêu và phục vụ tha nhân. Amen.

 

MC2-366: Tìm vinh quang Thiên Chúa ở đâu?

(Suy niệm của Lm. Trần Xuân Lãm)
 

Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa xuống trần gian mang hình hài thể xác con người như ta, nhưng hôm  B124 MC2-366

Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa xuống trần gian mang hình hài thể xác con người như ta, nhưng hôm nay Ngài tạm thời từ bỏ hình dạng bình thường của con người, để mặc lấy một hình dạng khác rất siêu phàm: "Y phục Ngài rực rỡ, trắng tinh, không thợ giặt nào ở trần gian giặt trắng như vậy". Sự sáng láng chiếu tỏa vinh quang của thiên giới.
Đức Ki-tô chính là Đấng Messiah ẩn mình, người tôi trung đau khổ của Thiên Chúa, hôm nay được tỏ bày trước kỳ hạn vinh quang, qua việc các đại diện của lề luật và ngôn sứ là Mô-sê và Ê-li-a, hiện ra và đàm đạo với Ngài. Đây là lần thứ hai có tiếng phán từ trời về Chúa Giê-su: "Này là Con Ta chí ái" (Mc 9:7)
Trong lúc còn thử thách ở cuộc đời trần gian, chúng ta được mời gọi tin phục hoàn toàn vào Thiên Chúa qua mọi biến cố trong cuộc đời. Thiên Chúa ẩn náu mình đi không muốn tỏ vinh quang và quyền phép uy nghi của Ngài ra, để ép buộc chúng ta nghe lời Ngài. Ngài đã ban cho chúng ta tự do và Ngài tôn trọng tự do đó. Hơn nữa, có tự do mới có công phúc.
Tuy nhiên những ai đọc và suy niệm lời Chúa, những ai có con mắt đức Tin trong sáng thì đã thấy và đã biết Thiên Chúa uy quyền và vinh quang ở đâu: ở trong Bí tích Thánh thể, trong các Bí tích, trong Phúc âm, trong mọi biến cố, hoàn cảnh cuộc đời. Chúa hiện ra ở đó còn uy quyền sáng láng hơn cả khi biến hình trên núi cao hôm nay.
Bài Phúc âm còn ngụ ý dạy chúng ta, nếu muốn được nhìn thấy Thiên Chúa vinh quang và uy nghi thì phải lên núi cao, vượt trên mọi thấp hèn của xác thịt. Bên cạnh đó, chúng ta cần sẵn sàng bước theo con đường thập giá của Đức Ki-tô, vì con đường ấy dẫn chúng ta đến vinh quang và phúc trường sinh muôn đời.

 

MC2-367: Suy niệm của ‘Tin Vui Xuân Lộc’

Bài Tin Mừng về việc Chúa hiển dung còn gọi là Chúa Biến Hình hôm nay nằm trong phần đầu B125 MC2-367

Bài Tin Mừng về việc Chúa hiển dung còn gọi là Chúa Biến Hình hôm nay nằm trong phần đầu của phần III nói về Mầu Nhiệm Con Người. Sau khi loan báo về cuộc Thương khó và Phục Sinh lần thứ nhất, Chúa Giêsu dạy cho các tông đồ và các môn đệ, là những người đi theo Ngài về Thập Giá, về Từ bỏ. Sau đó Ngài liền củng cố ngay niềm tin cho các Tông đồ bằng biến cố hiển dung như một lời trấn an trước đau khổ, Thập giá và cái chết, hơn nữa như một lời khẳng định: chỉ có con đường Thập giá mới dẫn tới cuộc sông vinh quang Phục sinh. Giơ đây, chúng ta hãy cùng ba môn đệ lên núi, chiêm ngắm cuộc biến đổi kỳ lạ này để học được tâm tình của Chúa Giêsu.
“Sáu ngày sau....” ý nói về một khoảng cách gần sau khi Chúa Giêsu loan báo về cuộc thương khó và sự chết của Ngài. Lần này, Chúa Giêsu chỉ dắt ba ông đi riêng ra, đó là Phêrô, Giacôbê và Gioan. Chúng ta thấy đây là nhóm nòng cốt của tập đoàn 12 vị là. Ba vị này: một người là thủ lãnh, cầm đầu Giáo Hội sau này; một vị là Giám mục tiên khởi Jérusalem và một vị được mệnh danh là “Người được Chúa yêu”. Thánh sử Máccô ghi rõ “chỉ mính các ông thôi tới một ngọn núi cao”. “Núi cao” ý nói vinh quang Thiên Chúa sẽ được tỏ hiện trên đó và đúng thế “Người biến dổi hình dạng trước mắt các ông”. Đây chính là mục đích mà Chúa Giêsu dẫn ba ông đi riêng ra, tách biệt khối nhóm 12. Sự biến đổi của Ngài được miêu ta phủ đầy ánh sáng chói loà. Ánh sáng trắng ấy không có thợ nào ở trần gian làm được. Đây chính là vẻ huy hoàng từ nơi Thiên Chúa, ánh sáng chiếu dọi của Con Chiên trong sách Đaniel và sách Khải Huyền. Cùng lúc ấy, các ông thấy Môsê và Êlia xuất hiện, trò chuyện với Chúa Giêsu. Hai vị thuộc thế hệ Cựu Ước, đại diện cho lề luật và các Ngôn sứ, có ảnh hưởng rất lớn đối với người Do Thái. Hai vị đàm đạo với Chúa Giêsu về cuộc vượt qua của Ngài tại Giêrusalem (x. Lc 9,31) Ý nói toàn bộ lề luật và các Ngôn sứ; nói đúng hơn toàn bộ Kinh Thánh đều qui về Chúa Giêsu và làm chứng rằng Chúa Giêsu là người hoàn tất mọi lời hứa về Đấng Mêsia. Ngài là Người Tôi Tớ đau khổ trong Isaia, là Đấng Mêsia, Đấng Cứu độ nhân loại ẩn mình. Ngài chính là Thiên Chúa đến gánh tội trần gian (x. Ga 1,29), là Đấng Trung gian đưa Thiên Chúa đến với con người và qui tụ con người đem về cùng Thiên Chúa.
Lúc này, Phêrô theo cảm tính đã bày tỏ tâm tình muốn ở lại trong vinh quang này mãi. Ông thưa rằng: Thưa Thầy, chúng con ở đây, thật là hay. Ông không biết ý kiến của hai ông kia thế nào, nhưng ông cảm thấy ý của mình có lẽ là tốt nhất, tuyệt vời nhất. Nếu Chúa đồng ý, ông sẽ dựng ba cái lều cho ba vị, còn ông và các bạn không cần chốn nương thân. Thấy sự lúng túng và chỗ hổng này, Thánh Sử Maccô viết một câu như muốn biện minh cho câu nói thiếu hụt ấy: Ông không biết phải nói gì vì kinh hoàng. Qua câu này, chúng ta lại thấy rõ hơn vẻ huy hoàng chói lọi toát ra từ con người Giêsu, một con người cùng ăn cùng uống “ người trần mắt thịt” mà nay đột nhiên biến đổi kỳ diệu, đến nỗi người môn đệ cùng sống với Ngài đã thốt lên những lời vô nghĩa, còn hai ông kia không nói được gì cả.
Giờ đây là giờ Thiên Chúa hành động: một đám mây, có tiếng phán: và xác nhận Chúa Giêsu là Con Yêu Dấu của Chúa Cha, con người chỉ còn một bổn phận là VÂNG NGHE LỜI NGÀI mà thôi. Một mạc khải, một xác tín, một lệnh truyền. Chúa Cha mạc khải cho ba môn đệ biết: Chúa Giêsu là Con Yêu dấu của Ngài, chính Chúa Cha khẳng định với các ông điều này qua sự hiện diện và lời nói của Ngài trong đám mây. Ngài ra lệnh đòi buộc các ông: hãy nghe lời Con của Ngài. Đây là một mạc khải từ Thiên Chúa; Chúa Cha xác nhận Chúa Giêsu, người Nagiarét, cùng ăn cùng uống với các ông đây là Con Thiên Chúa. Ngài là Con Yêu Dấu của Chúa Cha vì luôn làm đẹp lòng Cha, luôn chọn Thánh Ý Cha làm lương thực nuôi sống mình (x, Ga 4,34). Bây giờ, Chúa Cha cũng muốn các môn đệ, những người đi theo Chúa Giêsu. Hãy bắt chước Chúa Giêsu. Như Chúa Giêsu đã tuân giữ ý Cha, thì các ông hãy vâng giữ lời Chúa Giêsu, chính là tuân hành Thánh Ý Chúa Cha vậy.
Cuộc hiển dung kết thúc sau khi tiếng phán chấm dứt, các ông nuối tiếc nhìn quanh, nhưng chỉ còn hiện tại: Chúa Giêsu và các ông mà thôi. Sau biến hình, mọi sự trở về bình thường, một Giêsu bằng xương bằng thịt... có dễ lôi cuốn các ông vào con đường Thập Giá, con đường Vượt Qua hay không?
Trong câu 9 và 10. Chúa Giêsu ra lệnh các ông phải giữ kín những điều mới xảy ra, mà chỉ được rao truyền sau khi Ngài sống lại. Chúa Giêsu muốn giữ kín bí mật Mêsia, bí mật Con Thiên Chúa khi Ngài còn đang sống trên trần gian này. Các ông vâng lời, nhưng vẫn thắc mắc “ từ cõi chết sống lại” nghĩa là gì? Từ “sống lại”, từ “phục sinh” vượt xa tầm trí hiểu của các ông; các ông vẫn cho rằng: chết là hết. Các ông vẫn chưa hiểu và tin vào sự sống lại.
Ngày nay, mỗi người chúng ta được biến đổi hàng ngày. Chúng ta thường chú ý về những biến đổi về thể xác, về kiến thức, về địa vị, danh vọng... Có bao giờ chúng ta để ý chăm chút, nuôi dưỡng để biến đổi về tâm hồn, về đời sống tâm linh của chúng ta chưa?. Nếu chưa, chúng ta hãy mau đến với Bí Tích Thánh Thể, nơi đó chính Chúa Giêsu sẽ dạy chúng ta cách biến đổi theo ý Chúa Cha, biến đổi để ngày càng trở nên đồng hình đồng dạng vời Con Chí Ái của Người là Đức Giêsu Kitô khổ nạn và Phục Sinh. Amen.

 

MC2-368: BIẾN HÌNH TRÊN NÚI TABORÊ

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
CHÚA NHẬT II MÙA CHAY, năm B
Mc 9,2-10
 

Chúa Giêsu đã đem ba môn đệ thân tín là Phêrô,Giacôbê và Gioan lên núi Taborê, tại đó, Chúa đã B126 MC2-368

Chúa Giêsu đã đem ba môn đệ thân tín là Phêrô,Giacôbê và Gioan lên núi Taborê, tại đó, Chúa đã biến hình trước mặt họ. Cuôc biến hình này được Chúa xếp đặt trước việc Ngài loan báo cuộc khổ nạn. Chúa muốn cho các môn đệ thấy trước vinh quang của Chúa, để họ sẵn sàng chấp nhận việc Ngài loan báo việc thống khổ của Ngài. Vinh quang bao giờ cũng phải trải qua đau khổ. Chúa dạy các môn đệ và nhân loại đừng sống mãi trong sự đắc thắng, đừng vênh vang với những gì mình có được. Vinh quang trên núi Taborê phản chiếu vinh quang các môn đệ sẽ có được, nếu họ biết vác khổ giá của mình mỗi ngày mà theo Chúa.
Trước vinh quang tuyệt vời trên núi, ba môn đệ đã say mê cảnh tượng này, các Ngài đã thưa với Chúa Giêsu :” Lạy Thầy, chúng con được ở đây thì tốt lắm, chúng con xin dựng ba lều, một cho Thầy, một cho Môsê và một cho Elia “ ( Mc 9, 5 ). Thực tế, trước hào quang rực rỡ hôm nay, Phêrô, Giacôbê và Gioan muốn ở luôn trên núi. Ba môn đệ đã quên đi các bạn của họ đang ở dưới núi, công việc họ phải làm là truyền giáo, đồng thời bổn phận của họ là phải tới với dân chúng để rao giảng Lời Chúa. Đúng, trước vẻ đẹp của Núi Thánh, ba môn đệ thân tín nhất của Chúa Giêsu không muốn xuống núi nữa.Họ muốn xa rời dân chúng để sống an nhàn, thanh thản.
Các môn đệ lúc đó chưa hiểu được rằng :” Chúa Giêsu chỉ lên núi chốc lát, và rồi lại xuống núi để chuẩn bị vác thập giá lên đồi Golgotha. Theo Thầy chí thánh không phải để được hưởng thụ, vinh thân phì da, nhưng đi theo Thầy là vác Thập Giá và hy sinh vì Thầy.
Vinh quang của Chúa phải trải qua khổ đau. Chúa chỉ khoác áo trắng như tuyết trong chốc lát vì tin tưởng sự Phục Sinh. Cái đẹp hào nhoáng bề ngoài sẽ qua đi, nhưng đức tin và hạnh phúc lâu bền mới là điều cần thiết.
Vâng, Phêrô nói nhưng không biết mình đang nói gì vì ông đang ngây ngất trong cảnh huy hoàng của việc biến hình! Phêrô đang hạnh phúc nhưng từ trời có tiếng nói :” Đây là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Người “. Chúa muốn cho Phêrô hiểu rõ việc Chúa sẽ phải chịu sau này để cứu độ nhân loại và muốn cho Phêrô,và các môn đệ cùng mọi người được uốn nắn, giáo dục, được cảnh tỉnh, hoán cải, trở về với Chúa.
Chúa Giêsu là con dấu ái của Thiên Chúa Cha, do đó, vâng lời, nghe lời Đức Giêsu là vâng lời Chúa Cha. Nghe lời Chúa không có nghĩa là nghe bằng đôi tai, nhưng là noi gương bắt chước Ngài trong hành trình đức tin. Nghe lời, vâng lời Người là mặc lấy chính người vì Người là đường, là sự thật, là sự sống. Tin vào Người sẽ có sự sống đời đời.
Các môn đệ xưa đã được chứng kiến cuộc biến hình của Chúa trên núi Taborê, chúng ta cũng được mời gọi lắng nghe và biến đổi để trở nên môn đệ đích thực của Chúa Giêsu.
Lạy Chúa Giêsu, xin ban thêm đức tin cho chúng con để chúng con được sống vững mạnh, vượt thắng con ngưởi yếu hèn của chúng con và giúp chúng con vững bước trên cuộc hành trình đức tin của chúng con vì tin vào cuộc chiến thắng thần chết của Chúa Phục Sinh. Amen.
 GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
 1.Chúa Giêsu đã biến hình ở đâu ? Biến hình ở đây để làm gì ?
2.Tại sao Phêrô lại ngây ngất trước cảnh huy hoàng của cuộc biến hình ?
3.Chúa muốn các môn thế nào sau cuộc biến hình của Người ?
4.Chúng ta được mời gọi làm gì khi theo Chúa ?

 

MC2-369: ĐƯỜNG LỐI CỦA THIÊN CHÚA VÀ TƯ TƯỞNG

CỦA CON NGƯỜI
CHÚA NHẬT II MÙA CHAY, NĂM B
(St 22, 1-2.9a.10-13.15-18.Rm 8, 31b-34. Mc 9, 2-10)
Tu sĩ: Jos. Vinc. Ngọc Biển, S.S.P.
 

Hôm nay, thánh sử Máccô trình thuật câu chuyện Đức Giêsu biến hình. Việc Đức Giêsu biến hình B127 MC2-369

Hôm nay, thánh sử Máccô trình thuật câu chuyện Đức Giêsu biến hình. Việc Đức Giêsu biến hình được diễn ra sau khi vị Tông đồ trưởng tuyên xưng đức tin: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16). Tuy nhiên, ngay sau khi ông tuyên tín như vậy, Đức Giêsu đã tiên báo cho các ông biết trước về cuộc khổ nạn mà Ngài sẽ phải chịu. Thấy vậy, Phêrô đã can ngăn kịch liệt khi nhân danh Thiên Chúa để bảo vệ Thầy mình, ông nói: “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy!" (Mt 16,22).
Nhưng Đức Giêsu đã quở mắng cách nặng nề khi nói ông là “Xatan”. Ngài cũng nói thêm: Tư tưởng của Phêrô là tư tưởng của loài người, không phải là tư tưởng của Thiên Chúa.
Chính vì lý do trên, mà hôm nay, Đức Giêsu đã dẫn ba môn đệ thân tín với mình lên núi Tabor và biến hình trước mắt các ông, để qua đó, dần dần Ngài mặc khải và dẫn các ông vào đường lối cũng như tư tưởng của Thiên Chúa.
1.   Lý do Đức Giêsu hiển dung
Các môn đệ là những người được Đức Giêsu đích thân tuyển chọn làm trợ tá cho Ngài, để rồi mai đây chính Ngài sẽ trao phó Giáo Hội cho các ông, ngõ hầu các ông sẽ tiếp bước đường lối và tư tưởng của Thiên Chúa!
Tuy nhiên, không thể trao phó một công trình vĩ đại, quan trọng, mang tính trường tồn cho những người lơ mơ…, trao phó như thế thì chẳng khác gì “trao trứng cho ác”.
Thiếu hiểu biết và nhiều khi hiểu sai đường lối của Đức Giêsu nơi các môn đệ thật là rõ nét, vì đã có những lúc các ông phỏng chiếu một Đức Giêsu oai phong, quyền lực, chẳng khác gì các vị tướng lãnh chốn trần ai.
Thế nên, nơi các ông, nhiều lần họ đã đôi co với nhau xem ai là người lớn nhất trong Nước Trời; có những người lại còn dẫn cả mẹ mình đến để năn nỉ kỳ nèo cho được ngồi bên tả và bên hữu trong Nước mà Đức Giêsu sẽ thiết lập; rồi cụ thể như Phêrô, chỉ cách đó có 6 ngày, ông đã đại diện cho anh em để tuyên xưng hùng hồn niềm tin của mình vào Thầy Giêsu, nhưng sau đó, khi nghe thấy Đức Giêsu loan báo về cuộc khổ nạn mà Ngài sẽ phải chịu, ngay lập tức, ông đã không chần trừ, mà đã khẳng khái lên tiếng can ngăn! Như vậy, các môn đệ là những người kề vai sát cánh bên Đức Giêsu, nhưng tư tưởng của các ông vẫn lè phè dưới đất, chưa vươn lên để hiểu được tâm tư của Thầy mình.
Chính vì những lý do này, nên các ông không thể chấp nhận một Vị Tôn Sư mà mình chọn làm người dẫn dắt, lại là một người thất bại qua cái chết đau thương và nhục nhã trên cây thập tự giá như một tử tội được!
Để giúp các môn đệ, nhất là ba môn đệ thân tín mà sau này chính các ông sẽ là các chứng nhân trong những chuyện đặc biệt, nên Đức Giêsu đã đưa các ông lên núi Tabor để biến hình trước mắt các ông, nhằm củng cố đức tin, ban hành sứ điệp và đưa các ông đi vào đường lối cứu chuộc của Thiên Chúa.
2.   Qua đau khổ mới đến vinh quang
Câu chuyện biến hình được khởi đi từ việc Đức Giêsu dẫn ba môn đệ của mình lên núi, và đang khi Ngài cầu nguyện “rồi Người biến đổi hình dạng trước mắt các ông. Y phục Người trở nên rực rỡ, trắng tinh, không có thợ nào ở trần gian giặt trắng được như vậy  (x. Mc 9, 3).
Bên cạnh Ngài còn có Môsê là người đại diện cho lề luật Cựu Ước, và Elia là ngôn sứ vĩ đại nhất. Cả hai cùng hiện ra và đàm đạo với Đức Giêsu. Điều này cho thấy: toàn bộ lề luật và lời các ngôn sứ đều quy hướng về Đức Giêsu và về cuộc khổ nạn, phục sinh của Ngài như là trung tâm của công trình cứu chuộc mà Thiên Chúa sẽ thực hiện nơi Đức Giêsu!
Khi thấy diện mạo Đức Giêsu biến đổi và khung cảnh thánh thiêng, huy hoàng tuyệt đẹp như vậy, tâm hồn các ông ngây ngất và lòng các ông hân hoan quá đỗi.
Chắc chắn trong cuộc đời của các ông chưa một lần nào được hạnh phúc như vậy! Vì thế, Phêrô đã thay lời cho Gioan và Giacôbê để thưa lên với Đức Giêsu, ông nói: "Thưa Thầy, chúng con ở đây, thật là hay! Chúng con xin dựng ba cái lều, một cho Thầy, một cho ông Môsê, và một cho ông Êlia" (Mc 9, 5).
Qua lời đề nghị này của Phêrô, lại một lần nữa, nơi ông toát lên tính hưởng thụ, thực dụng…! Ông muốn được ở lại trong vinh quang với Đức Giêsu mãi mãi và không chịu đối diện với thực tế mà ông và các bạn của ông sẽ còn phải tiếp tục…!!!
Thấy được điều đó, Đức Giêsu đã không để cho các ông rơi vào tình trạng bi đát của tư tưởng: “Thích sướng, ngại khổ”. Nên Ngài đã không những khước từ đề nghị của ông, mà còn mặc khải cho ông hiểu được quy luật tất yếu của Tin Mừng, đó là: “Phải qua đau khổ mới tới vinh quang.”
Sau khi cho các ông lạc vào thiên cung, cho các ông nếm trước vinh quang Thiên Quốc, Đức Giêsu đã mời gọi các ông phải xuống núi.
Xuống núi với anh em, với đồng loại, và với những công việc thường ngày.
Xuống núi để tiếp tục cuộc hành trình theo Thầy của mình. Xuống núi trong tâm tình cảm nghiệm rõ nét con đường mà Thầy đã, đang và sẽ đi, để mai đây chính mình sẽ tiếp bước.
3.   Sứ điệp Lời Chúa
Trong đời sống thực tế của nhiều người nơi cộng đoàn, đã có nhiều lần chúng ta cũng mang trong mình tư tưởng của các Tông đồ khi xưa, đó là: tham sân si; tranh gành địa vị; trọng hình thức mà quên đời sống nội tâm. Nhiều khi gây chia rẽ, lên mặt dạy đời, hay luôn chọn cho mình những công việc nhàn hạ, còn việc nặng nhọc để lại cho người khác. Rồi cũng không thiếu những người theo Chúa, tin Chúa, nhưng theo và tin kiểu công dân hạng hai, tức là lúc thuận tiện thì theo và tin…, nhưng khi gian nan thử thách đến là bỏ giữa chừng và sẵn sàng đi cầu ông nọ, khấn bà kia thay Chúa.
Đôi khi chúng ta cũng có tư tưởng thực dụng như: tìm mọi cách để níu kéo Thiên Chúa về với mình. Thiên Chúa là Đấng ta được hưởng độc quyền, còn người khác, chúng ta luôn muốn Chúa phải thẳng tay để đánh phạt họ….
Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy có tư tưởng của Thiên Chúa thay cho tư tưởng của loài người. Đó là: luôn đặt ý Chúa lên trên hết. Phải biết yêu thương nhau chân thành. Xây dựng tình huynh đệ, hiệp nhất và bình an. Sẵn sàng kề vai sát cánh bên nhau cả những công việc nhẹ nhàng lẫn công việc nặng nề.
Biết đón nhận những đau khổ, thử thách trong đời sống đạo với tâm tình: “Mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Thiên Chúa” (Rm 8,28). Và: “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho” (Mt 6,33). Sẵn sàng lột xác để biến đổi, để từ con người ích kỷ, thành bao dung; từ chỗ thực dụng thành vô vị lợi; từ chỗ chỉ biết nghĩ đến mình, thì giờ đây biết nghĩ đến người khác; từ chỗ muốn được hạnh phúc và sung sướng mà không chấp nhận đau khổ, thành một người mang trong mình tư tưởng của Thiên Chúa và đi vào đường lối của Đức Giêsu đã đi, đó là: “Qua đau khổ mới đến vinh quang”.
Muốn thực thi được những điều trên, quan trọng nhất, chúng ta phải biết lắng nghe lời Đức Giêsu, thi hành điều Ngài dạy và đi theo Ngài trên chính con đường mà Ngài đã đi khi xưa.
Lạy Chúa Giêsu, chắc chắn đã có nhiều lần chúng con như các môn đệ khi xưa, đó là: chỉ thích sung sướng, hạnh phúc mà không biết đón nhận khổ đau. Xin Chúa khai trí mở lòng chúng con, để chúng con hiểu được đường lối cũng như tư tưởng của Chúa, từ đó, biết đi theo Chúa trên chính con đường mà Ngài đã đi để được sống đời đời. Amen. 

 

MC2-370: Chúa Giê-su, quà tặng vô giá Thiên Chúa ban cho ta

CHÚA NHẬT II MÙA CHAY
Lắng nghe sứ điệp Lời Chúa  (Sáng Thế 22:1-2, 9a, 10-13, 15-18;  Rm 8:31b-34;  Mc 9:2-10)
 

Quà tặng là dấu chỉ tình yêu.  Giá trị quà tặng không phải vì đắt tiền và hiếm quý, nhưng là ở mối B129 MC2-370

Quà tặng là dấu chỉ tình yêu.  Giá trị quà tặng không phải vì đắt tiền và hiếm quý, nhưng là ở mối chân tình người tặng muốn biểu lộ với người nhận.  Với ý nghĩa căn bản này, ta hiểu được giá trị của việc Thiên Chúa truyền cho ông Áp-ra-ham giết con mình là I-xa-ác làm lễ toàn thiêu dâng cho Người, hiểu giá trị của sự kiện “đến chính Con Một, Thiên Chúa cũng chẳng tiếc, nhưng đã trao nộp vì hết thảy chúng ta”, và hiểu giá trị tuyệt đối của Chúa Giê-su Ki-tô mà Chúa Cha đã giới thiệu với chúng ta ở trên núi:  “Đây là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Người”.
          Câu chuyện ông Áp-ra-ham đem con lên núi Mô-ri-da để sát tế, chúng ta đã nghe nhiều lần và thán phục lòng quảng đại hy sinh của Áp-ra-ham.  Nhưng có lẽ chúng ta không mấy nghĩ đến tâm trạng của Áp-ra-ham như thế nào trước quyết định vâng lời Chúa.  Bao nhiêu là khúc mắc!  Tại sao Chúa ban cho đứa con thừa kế duy nhất, rồi Người lại bảo đem nó lên núi giết đi để làm hy lễ dâng Chúa?  Chúa hứa cho ômg một dòng dõi đông hơn sao trời cát biển qua đứa con này, rồi bây giờ phải giết nó thì lời hứa làm sao được thể hiện?  Thiên Chúa có thực sự nhân lành và quảng đại không?  Chắc chắn ông Áp-ra-ham hiểu được giá trị nào của hy lễ Chúa muốn ông dâng cho Người!  Với ông, I-xa-ác là tất cả ước nguyện của đời ông.  Của cải, nhà cửa và cả đến họ hàng thân thuộc, ông cũng có thể bỏ lại ở thành Ur để đi theo tiếng gọi của Chúa, chỉ là vì ước mơ có con cháu nối dòng.  Vậy mà giờ đây, phải chăng Chúa “đưa tay cắt ngang đường chỉ tấm thảm dệt đời ông” hay sao?  Càng yêu quý thì càng đau đớn khi phải mất đi.  Sở dĩ ông chấp nhận hy sinh con mình là bởi ông muốn biểu lộ với Thiên Chúa tấm lòng và đức tin của ông.  Cũng may, câu chuyện kết thúc tốt đẹp:  I-xa-ác được cứu sống và Chúa hiểu lòng Áp-ra-ham! 
          Trong bài đọc 2, thánh Phao-lô đã nghĩ đến tình yêu của Thiên Chúa còn lớn lao hơn tình yêu của Áp-ra-ham muôn ngàn.  Tình yêu Chúa Cha dành cho Con Một Người không thể đo lường được.  Vậy mà Người sẵn lòng hy sinh Con mình chỉ là để cứu độ chúng ta, những tạo vật bất xứng.  Chúng ta càng không xứng đáng thì tình yêu của Người càng cao vời.  Vì thế thánh Phao-lô vui mừng gọi tình yêu ấy là “ân sủng” cứu độ.  Quả thực, lời tựa Tin Mừng Gio-an khẳng định Chúa Giê-su là Ân Sủng, là sự “sung mãn”, để rồi “từ nguồn sung mãn của Người, tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác” (Gio-an 1:16).  Cho nên thánh Phao-lô kết luận:  “Một khi đã ban người Con đó, lẽ nào Thiên Chúa lại chẳng rộng ban tất cả cho chúng ta?”  Mà ban tất cả là gì nếu không phải là người Con mà Thiên Chúa trân quý nhất và sau cùng là hạnh phúc đời đời dành cho chúng ta?  Như I-xa-ác là hiến lễ quý nhất ông Áp-ra-ham dâng lên Thiên Chúa để biểu lộ đức tin của ông, thì Chúa Giê-su là cả kho tàng Chúa Cha ban cho chúng ta để nói lên mức độ tình yêu Thiên Chúa (Gio-an 3:16).
          Thánh Phao-lô đã suy niệm biến cố Chúa Giê-su biến đổi hình dạng trên núi, cùng tiếng Chúa Cha phán với ba môn đệ:  “Đây là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Người”.  Nếu chúng ta thực sự biết Chúa Giê-su là Đấng nào và Người là quà tặng vô giá Chúa Cha ban cho chúng ta, thì chúng ta sẽ hiểu được lời kêu gọi “hãy vâng nghe lời Người” quan trọng đến mức nào!
Sống sứ điệp Lời Chúa
          Một quà tặng vô giá mà chúng ta lại không quý trọng, thì quả thực chúng ta không thể bào chữa cho mình được, nếu ngày phán xét Chúa Cha hỏi chúng ta đã sử dụng món quà ấy như thế nào.  Vậy chúng ta hưởng quà tặng Giê-su mà Chúa Cha ban cho chúng ta làm sao đây?  Nơi Chúa Giê-su có tất cả những gì chúng ta cần.  Người là hình ảnh để chúng ta hiểu được Thiên Chúa là Đấng nào.  Người là mức đo lường tình yêu Thiên Chúa yêu thương chúng ta.  Người là “điều răn sống” Chúa Cha ban cho chúng ta.  Người là lối sống cho chúng ta, để chúng ta suy nghĩ, hành xử, yêu thương theo mẫu gương của Người.  Cho nên “vâng nghe lời Người” là cách chúng ta lãnh nhận Ân Sủng của các ân sủng và để Chúa Thánh Thần uốn nắn chúng ta theo khuôn mẫu Chúa Ki-tô.  Trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Ki-tô là suy nghĩ theo lối suy nghĩ của Chúa, là phản ứng theo cách Chúa phản ứng, là hy sinh phục vụ như Chúa phục vụ.  Mùa Chay là để chúng ta nhờ Chúa Giê-su mà được biến đổi vậy!
     Lm. Đa-minh Trần đình Nhi

 

MC2-371: CHÚA GIÊSU BIẾN HÌNH

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
CHÚA NHẬT II MÙA CHAY, năm B
St 22,1-2.9a-13.15-18    Rm 8,31b-34    Mc 9, 2-10
 

Francois Margeat, Đan sĩ viết :” Lễ Hiển Dung là thời khắc chủ yếu của việc Chúa Giêsu đi lên B130 MC2-371

 Francois Margeat, Đan sĩ viết :” Lễ Hiển Dung là thời khắc chủ yếu của việc Chúa Giêsu đi lên Giêrusalem.Với các mơn đệ, lúc đĩ đang hoảng sợ về viễn tượng cuộc Khổ nan, Chúa Giêsu đã cho họ thống thấy vinh quang mà
Người chia sẻ với Cha của Người “.Đọc Tin Mừng của Chúa Giêsu, điều chúng ta rất lấy làm thú vị là Ngài luôn thích những đồi, núi, những nơi vắng vẻ để tâm sự thân tình với Thiên Chúa Cha. Chúng ta có thể thấy được ngọn núi, Đức Giêsu ngồi dạy các môn đệ và dân chúng tám mối phúc thật, núi Taborê nơi Ngài biến hình trước mặt ba môn đệ thân tín là Phêrô, Giacôbê và Gioan, núi Sọ và núi Oâliu, nơi Ngài được cất nhắc lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha.Thực tế cho chúng ta thấy núi Taborê, nơi Chúa Giêsu biến hình để tỏ vinh quang của Ngài và để củng cố đức tin của các môn đệ. Tuy nhiên, vinh quang này chỉ lóe lên rồi vụt tắt, báo trước vinh quang vĩnh cửu các môn đệ và nhân loại sẽ có khi Ngài về trời.
 Đoạn Tin Mừng Mc 9, 2-10 cho chúng ta một cảnh rất thần tiên nhưng đầy mầu nhiệm. Đây chính là mầu nhiệm của đức tin. Bởi vì, biến hình không phải tự ý Chúa Giêsu mà là một việc làm đầy ý nghĩa của Chúa Cha. Sau khi gặp Thiên Chúa Cha, Chúa Giêsu được Cha biến hình.Việc biến hình này thay đổi tất cả con người, khuôn mặt của Chúa Giêsu và ngay cả đến y phục của Người. Vinh quang của Chúa Giêsu được Thiên Chúa Cha vén mở cho các môn đệ. Chúa biến hình sáng láng đến nỗi các môn bị lóa mắt không thể nhìn ra Người, họ phải phủ phục và che mặt lại như Môsê trên núi khi xưa, ông phải bỏ giầy và cúi mặt xuống. Bởi vì, ánh sáng lung linh chói lọi của sự biến hình vinh quang của Chúa Giêsu làm cho các môn đệ bị ngất ngây và không thể nào nhìn ra sự khác lạ đó, nhìn vào mặt Người họ sẽ phải chết. Cuộc biến hình của Chúa Giêsu trên núi Taborê tiên báo cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu.Ba môn đệ Phêrô, Giacôbê và Gioan đã ngất ngây và muốn ngủ yên trong hào quang của Chúa :” Lạy Thầy, chúng con được ở đây thì tốt lắm,chúng con xin dựng ba lều, một Thầy, một cho Môsê và một Eùlia” ( Mc 9, 5 ). Các môn đệ đâu có ngờ, vinh quang này chỉ để củng cố đức của các ông mà thôi, chứ Chúa lại trở về sứ vụ của Ngài là xuống núi để chuẩn bị vác thập giá lên đồi Canvê.
 Chúa biến hình chỉ trong chốc lát vì niềm hy vọng phục sinh. Chúa đâu có ở trong sự biến hình mãi mãi. Các môn đệ vẫn còn cả một cuộc hành trình xa vời. Cuộc hành trình đức tin không phải chỉ có ở chỗ vinh quang tạm thời, mà cuộc hành trình còn kéo dài mãi mãi.Bởi vì theo Chúa Giêsu không phải để lên cao hưởng thụ, không phải để sống phè phỡn, tạm thời. Nhưng theo Thầy, các môn đệ còn phải có trách nhiệm và nghĩa vụ với đám đông dân chúng đang khao khát Lời Chúa. Họ còn phải đi truyền giáo, còn phải giới thiệu nước trời và giới thiệu Thiên Chúa. Các môn đệ luôn phải ý thức rằng cuộc hành trình của họ còn dài và hạnh phúc vinh quang sẽ phải trải qua nhiều thử thách đến nỗi phải hy sinh cả mạng sống.
 Chúa vinh quang vì Người đã chấp nhận ý Thiên Chúa Cha, gánh tội cho trần gian và chết cho thế gian. Vinh quang của Chúa Giêsu trên đồi Taborê cũng là Đức Giêsu Kitô đang đi khắp mọi nơi để rao giảng Tin Mừng cứu độ, chữa bệnh hoạn tật nguyền và trừ quỷ. Vinh quang của Chúa Giêsu trên núi Taborê cũng là Đức Giêsu Kitô đẫm mồ hôi máu trong vườn Cây Dầu và bị treo trên thập giá trên đồi Canvê. Do đó, làm môn đệ Chúa cũng chính là đi con đường tình yêu, con đường khổ giá mà Chúa Giêsu đã trải qua. Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã viết:”Sống tình yêu không phải là căng lều trên đỉnh Taborê, mà cùng với Chúa Giêsu chúng ta trèo lên đồi Canvê “.
Francois Margeat tiếp tục giải thích :” Đơi khi Thiên Chúa cho chúng ta niềm vui nhảy cảm của sự hiện diện của Chúa. Nhưng, nhiều khi chúng ta phải lần bước trong niềm tin.Lúc đĩ, là lúc chúng ta phải suy niệm Lời của Chúa Cha:” Đây là Con Ta yêu dấu “ .Chúng ta cũng vậy, nhờ ân sủng của phép Rửa, chúng ta là con trai hay con gái yêu dấu của Cha. Chính khi chúng ta mỗi ngày suy niệm Lời Chúa và đem ra thực hành, là chúng ta đã cĩ thể sống đời sống của Đấng đã sống lại của Lễ Phục Sinh “.
 Lạy Chúa Gie6su, xin ban thêm đức tin cho chúng con để chúng con mau mắn tin vào Chúa và nhiệt thành loan báo sự chết, và Phục Sinh của Chúa. Amen.
 GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ  :
 1.Núi Chúa Giêsu biến hình gọi là núi gì ?
2.Các mơn đệ nào đi theo Chúa Giêsu trên núi Taborê ?
3.Ai đã hiện ra để đàm đạo cùng với Chúa Giêsu ?
4.Ai đã xin Chúa Giêsu làm ba lều trên núi Taborê ?

 

MC2-372: Biến cố Hiển dung nhắc nhớ ta là con Chúa

CHÚA NHẬT II MÙA CHAY
 Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Mác-cô 9:2-10)
 

Trong cuộc đời dương thế, Chúa Giê-su ít nhất đã hai lần được Thiên Chúa long trọng tuyên dương B131 MC2-372

Trong cuộc đời dương thế, Chúa Giê-su ít nhất đã hai lần được Thiên Chúa long trọng tuyên dương là “Con Yêu Dấu”, lần đầu khi Người chịu phép rửa của ông Gio-an ở sông Gio-đan và lần thứ hai khi Người biến đổi hình dạng trên núi.  Thời điểm của việc tuyên dương rất quan trọng và cần thiết đối với những giai đoạn khó khăn nhất trong sứ mệnh của Chúa Giê-su.  Tuy nhiên, lời tuyên dương của Chúa Cha không những có ý nghĩa đối với Chúa Giê-su, mà còn nhắc nhở chúng ta về danh phận của mình dưới con mắt của Cha trên trời nữa.
          Trước khi suy nghĩ về biến cố trong bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta cũng nên nhìn lại một biến cố khác có liên quan đến danh hiệu Con Yêu Dấu của Chúa Giê-su.  Chấm dứt cuộc đời ẩn dật tại Na-da-rét, Chúa Giê-su đến sông Gio-đan để lãnh phép rửa của ông Gio-an.  Các sách Tin Mừng Nhất lãm đều thuật lại biến cố này với một chi tiết quan trọng:  “Có tiếng từ trời phán rằng: ‘Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con”.  Đó là tiếng Chúa Cha giới thiệu Con Một Người với nhân loại.  Trong kế hoạch cứu độ yêu thương, Chúa Cha đã sai Ngôi Lời xuống thế để làm người, làm một người con gương mẫu giữa nhân loại, khác hẳn với A-đam là người con đã bị tội lỗi hủy hoại, đánh mất đi hình ảnh Thiên Chúa và danh phận con Thiên Chúa.  Nhưng bên cạnh mục đích ấy, Chúa Cha cũng muốn đặt tất cả hy vọng vào sứ mệnh Người trao cho Chúa Giê-su.  Phán lời tuyên dương “Con là Con yêu dấu của Cha”, Chúa Cha tin rằng Con Một Người sẽ không làm Người thất vọng đâu.  Chắc chắn Chúa Giê-su sẽ hoàn tất sứ mệnh cách tốt đẹp theo tôn ý Chúa Cha, và như vậy đích thực là Con Yêu Dấu của Người.
          Nếu lời tuyên dương của Chúa Cha trong dịp Chúa Giê-su chịu phép rửa Gio-an đã là động lực giúp Người hăng say khởi đầu sứ vụ và thi hành tốt đẹp, thì biến cố Hiển dung cũng là một thời điểm quan trọng khác.  Đây là khởi đầu hành trình của Chúa Giê-su lên Giê-ru-sa-lem.  Trên đường đi, Chúa Giê-su đã tiên báo cuộc Thương khó Người phải chịu.  Ông Phê-rô phản ứng mạnh mẽ và Chúa Giê-su còn quở trách ông mãnh liệt hơn!  “Sáu ngày sau”, Chúa Giê-su đưa các ông Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an lên một ngọn núi cao và Người biến đổi hình dạng trước mắt các ông.  Quang cảnh tuyệt vời!  Các ông được thoáng thấy vinh quang Thiên Chúa hiện trên hình dạng và y phục của Chúa Giê-su.  Nhưng điều quan trọng hơn cả vinh quang ấy, đó là sự hiện diện và cuộc đàm đạo giữa Chúa Giê-su với ông Mô-sê, đại diện cho Lề Luật, và ông Ê-li-a, đại diện cho các Ngôn sứ.  Các ngài nói về sứ mệnh của Chúa Giê-su, hoặc đúng hơn, về cuộc Thương khó Người sắp chịu tại Giê-ru-sa-lem.  Cuộc đàm đạo củng cố thêm xác tín của Chúa Giê-su quyết tâm thi hành thánh ý Chúa Cha và chấp nhận cuộc Thương khó.  Đàng khác, qua cuộc đàm đạo ấy, các môn đệ Chúa Giê-su cũng sẽ hiểu rõ hơn sứ mệnh của Thầy mình và sẵn sàng dấn thân làm môn đệ Người.  Khác với lần tuyên dương thứ nhất tại bờ sông Gio-đan, tiếng Chúa Cha hôm nay nói với các môn đệ Chúa Ki-tô:  “Đây là con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Người”.  Như vậy, mục đích lời tuyên dương này là để kêu gọi chúng ta hãy “vâng nghe”, hãy làm môn đệ chân chính của Chúa Giê-su theo lời Người giáo huấn:  “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mác-cô 8:34).
Sống sứ điệp Tin Mừng
          Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta đã thấy rõ hiệu quả của những lời khích lệ như “Con ngoan quá!  Con giỏi!...” nói với con cái chúng ta.  Chúng nó không muốn làm mất mặt cha mẹ về những lời động viên ấy và đã cố gắng chứng tỏ mình ngoan mình giỏi.  Bạn có nghĩ khi suy niệm biến cố Chúa Giê-su hiển dung hôm nay, Chúa Cha cũng nói với mỗi người chúng ta cùng một lời Người đã âu yếm nói với Con Một Người không?  Người muốn chúng ta nhìn vào lối sống của Chúa Giê-su như gương mẫu.  Người muốn chúng ta cùng với Con Một Người sống thực sự như những người con yêu dấu.  Đặc biệt trong mùa Chay là thời điểm để biến đổi, Người mong chúng ta biến đổi thành “con yêu dấu” của Người, rũ bỏ đi những bóng tối tội lỗi và tính hư nết xấu để trở nên “đồng hình đồng dạng với Chúa Ki-tô”!   
Lm. Đa-minh Trần đình Nhi

 

MC2-373: Tính phản diện trong phận người

Suy niệm Lời Chúa. Chúa Nhật 2 mùa Chay năm B
Lm. GB. Trần Văn Hào SDB
 

Biến cố Chúa hiển dung trên núi Thabor được cả 3 thánh ký Tin mừng nhất lãm trình thuật lại. B132 MC2-373

Biến cố Chúa hiển dung trên núi Thabor được cả 3 thánh ký Tin mừng nhất lãm trình thuật lại. Sau khi Đức Giêsu loan báo về cái chết và sự thống khổ mà Ngài sẽ phải trải qua, một bầu khí u ám bao trùm trên các học trò của Ngài. Vì vậy 6 ngày sau, Đức Giêsu dẫn 3 môn sinh thân tín lên núi cao và biến hình trước mặt các ông, để các ông được tận mắt mục kích vinh quang sáng chói nơi Ngài. Sứ điệp mà Đức Giêsu muốn ngỏ trao cho các môn đệ, là hãy can đảm đối diện mầu nhiệm Thập giá, vì con đường Thập giá sẽ dẫn đến vinh quang (Per Crucem ad Lucem). Tương tự như thế, thánh Phaolô cũng đã khẳng định : “Những ai cùng chết với Người, sẽ được cùng Người sống lại trong vinh quang” (2Tm 2, 11).
Vinh quang bị che dấu
Cha Phanxicô Amberat đã so sánh: “ Giống như một đám mây bị xé ra cho thấy ánh mặt trời rực rỡ, việc Chúa biến hình cũng xé toang đám mây trong kiếp người hèn hạ của Đức Giêsu để 3 môn đệ được chiêm ngắm vinh quang bị che dấu nơi Ngài.”
Có nhiều ảo thuật gia tài ba như Coperfield đã khéo léo sử dụng kỹ xảo để đánh lừa thị giác con người. Ông biểu diễn những màn ảo thuật như chặt đôi thân xác, đi xuyên qua tường hoặc làm biến mất ngọn tháp Eiffel rất ngoạn mục. Thế nhưng, đó chỉ là xảo thuật nhờ vào những kỹ thuật hiện đại. Trong các câu chuyện cổ tích, người ta vẫn hay tạo ra những nhân vật có phép thần thông biến hóa như Tôn Ngộ Không chẳng hạn. Song, cuộc biến hình của Đức Giêsu không phải là một màn ảo thuật. Đây cũng không phải là một câu chuyện hoang đường mang tính giả tưởng. Đức Giêsu là một ‘Thiên Chúa - Người’, một Thiên Chúa đầy quyền năng nhưng lại ẩn dấu thiên tính cao sang trong dáng dấp của một người phàm thấp kém. Ngài là Thiên Chúa hằng sống, Đấng không bao giờ phải chết, nhưng lại mang thân phận con người vốn hay chết. Đó là một nghịch lý vĩ đại, không phải nhằm đánh đố đầu óc suy lý của con người, nhưng đây chính là lời mời gọi đức tin để chúng ta mạnh dạn tiếp bước dấu chân của Đức Giêsu trên con đường tiến về núi sọ. Mùa chay là thời gian tôi luyện, giúp chúng ta tiến sâu vào cuộc hành trình này.
Tính phản diện trong phận người
Biến cố biến hình mà phụng vụ hôm nay gợi nhắc, nêu bật tính phản diện ấy. Trên núi cao, ba môn đệ sung sướng mở to đôi mắt để ngắm nhìn vinh quang chói sáng nơi Đức Giêsu. Nhưng khi đối diện trước viễn ảnh Thập giá nơi vườn cây dầu, cả ba vị lại yếu đuối khép chặt đôi mắt trong giấc ngủ sâu, đến độ không thể cùng thức với Thầy mình dù chỉ một tiếng đồng hồ. Một Phêrô đã cao hứng xin dựng 3 lều, lại là một anh học trò nhát đảm đã 3 lần bai bải chối Chúa. Trong biến cố đầu tiên, cả 3 môn đệ vui mừng phấn khởi, nhưng trong biến cố sau, cả 3 đệ tử nghĩa thiết đều đã nhát đảm thoái lui. Tính phản diện này cũng được thánh Phaolô lột tả khi Ngài viết : “Có những điều tôi muốn làm nhưng tôi lại không làm, ngược lại có những điều tôi ghét, nhưng tôi lại cứ làm” (Rm 7,15).
Trong cuộc hành trình nội tâm mà Giáo hội gợi nhắc chúng ta suốt mùa chay, chúng ta phải nhận ra tính phản diện ấy nơi mỗi người để can đảm đi vào cuộc chiến đấu thiêng liêng. Con người ai cũng có những yếu đuối và sa ngã, nhưng không sao, Chúa Giêsu luôn ở với ta và Ngài sẽ nói với chúng ta như đã từng ngỏ lời với Phaolô: “Ơn Thầy thì luôn đủ cho anh” (2 Cor 12, 9).
Biến đổi nội tâm
Một câu chuyện ngụ ngôn Ấn Độ kể lại rằng, có một gia đình khỉ sống trong một khu rừng rậm. Trời buốt gía, lũ khỉ run rẩy vì lạnh. Chúng gom một ít củi khô để đốt hầu sưởi cho bớt rét. Một con đom đóm bay sà tới. Con khỉ đầu đàn tóm lấy và đặt vào giữa đám củi khô, vì nó tưởng là ánh lửa. Cả gia đình khỉ đều túm lại và phùng mang trợn má thổi thật mạnh. Nhưng, con đom đóm mãi vẫn chỉ là con đom đóm, chứ không phải là ngọn lửa. Một con chim bay ngang qua nói với lũ khỉ: “Này các bác ơi, đó chỉ là con đom đóm chứ có phải là ngọn lửa đâu”. Bầy khỉ không nghe, bắt lấy con chim và đập chết. Sáng hôm sau, người ta thấy cả gia đình nhà khỉ nằm chết cóng bên đống củi khô cùng với xác của một con đom đóm.
Trong cuộc sống đời thường của chúng ta, có rất nhiều con đom đóm xuất hiện mà chúng ta cứ ngỡ tưởng là ngọn lửa thật. Đó là những con đom đóm của tiền bạc, của danh vọng, của những lạc thú trần gian. Nếu cứ bám mãi vào những con đom đóm ấy, chúng ta sẽ chết một cách nghiệt ngã giống như đám khỉ trong câu chuyện nêu trên. Muốn thoát ra khỏi ánh sáng lập lòe của những con đom đóm giả hiệu này, chúng ta phải lột xác, phải biến hình với Chúa Giêsu, tức là phải đi vào cuộc biến đổi nội tâm một cách triệt để.
Kết luận
Một nhà tu đức nọ đã viết trong nhật ký của mình những tâm tình sau đây. ‘Lúc còn nhỏ với bao tham vọng, tôi vẫn cầu xin Chúa giúp tôi biến đổi cả thế giới này. Lớn lên khi thấy chưa làm được gì, tôi chỉ cầu xin Chúa giúp tôi biến đổi những con người mà tôi vẫn gặp thường ngày. Bây giờ khi cuộc đời đã xế chiều, tôi thấy mình rất mong manh chẳng làm chi nên chuyện, tôi chỉ cầu xin Chúa giúp biến đổi chính con người của tôi mỗi ngày’.
Michael Angelo, một điêu khắc gia tài ba, đã thổ lộ: “Đứng trước một phiến đá thô, để có được một bức tượng hoàn hảo, chúng ta cần phải biết đục đẽo và loại bỏ đi những gì thừa thãi, chứ không cần đắp thêm vôi vữa”. Cũng vậy muốn biến con người chúng ta trở nên một bức tượng sống, họa lại hình ảnh Chúa Giêsu, chúng ta cũng cần phải biết đục bỏ những gì dư thừa trong cuộc sống. Đó là phương cách để chúng ta đi vào sự biến đổi cách sâu xa.
Chúa biến hình trên núi cao, cũng mời gọi chúng ta ở dưới đất thấp, hãy can đảm lột xác, biến đổi nội tâm cách triệt để. Sự biến đổi ấy là điều kiện cần thiết để chúng ta tiếp nối dấu chân của Đức Giêsu, và cùng bước đi với Ngài trên con đường Thập giá.

 

MC2-374: Chúa Giê-su trung thành với sứ mệnh

CHÚA NHẬT II MÙA CHAY     
 Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Mác-cô 9:2-10)
 

Thánh Mác-cô kể lại ba lần Chúa Giê-su tiên báo cuộc Thương Khó và Phục Sinh của Người.  B133 MC2-374

Thánh Mác-cô kể lại ba lần Chúa Giê-su tiên báo cuộc Thương Khó và Phục Sinh của Người.  Lần tiên báo thứ nhất đã khiến cho ông Phê-rô “kéo riêng Người ra và bắt đầu trách Người”.  Đáp lại, Chúa Giê-su đã mắng ông Phê-rô và gọi ông là “Xa-tan”, ám chỉ ông cám dỗ Người không theo tư tưởng của Thiên Chúa!  Tiếp theo Người dạy các Tông đồ về những điều kiện để đi theo Người, như từ bỏ mình, vác thập giá hằng ngày.  Có lẽ việc Chúa tiên báo cái chết và đưa ra những điều kiện theo Người đã làm cho các ông nản lòng, hay ít nhất muốn đặt lại vấn đề có nên tiếp tục làm môn đệ Người nữa không.  Chúa Giê-su đã có cách của Người để giải quyết khó khăn này, đó là tỏ ra cho mấy Tông đồ một chút vinh quang Thiên Chúa, giúp họ nhận ra đâu là sứ mệnh đích thực của Người.
          Việc Chúa Giê-su biến đổi hình dạng trên núi đã xảy ra cách sáu ngày sau khi Chúa tiên báo cuộc Thương Khó.  Thời gian ngắn ấy chứng tỏ sự cấp bách cần phải thay đổi cách nhìn và hy vọng của các môn đệ.  Sau khi nghe Chúa nói, họ đã “vỡ mộng” và thấy không thể chấp nhận cái chết khổ nhục đã được Người tiên báo.  Giống như bị dội gáo nước lạnh, họ không thể tin Thầy mình lại thụ động trước một cái chết lãng xẹt như vậy.  Là một vị giảng thuyết có sức lôi cuốn dân chúng, một đấng thực hiện rất nhiều phép lạ, có quyền năng truyền cho sóng gió im lặng, Người không thể để mình lọt vào tay kẻ thù được!  Đó là lối suy nghĩ của Phê-rô và các anh em Tông đồ, lối suy nghĩ của loài người chứ không phải của Thiên Chúa.  Các ông muốn Chúa Giê-su phải là một nhà giải phóng dân tộc hay một chính trị gia.  Làm sao Chúa thay đổi ý nghĩ của họ đây?  Câu trả lời chính là Kinh Thánh.  Kinh Thánh đã nói về sứ mệnh của Đấng Ki-tô, danh hiệu chính ông Phê-rô đã tuyên xưng về Chúa (Mác-cô 8:29).  Mà đại diện cho Kinh Thánh là ông Mô-sê và ngôn sứ Ê-li-a.  Cho nên sự xuất hiện của hai vị và cuộc đàm đạo của họ với Chúa Giê-su là nhắm mục đích dùng Kinh Thánh làm sáng tỏ sứ mệnh của Đấng Ki-tô.  Việc này vừa là dịp để chính Chúa Giê-su xác tín sứ mệnh của mình, vừa giúp cho Phê-rô và các bạn “điều chỉnh” lại cái nhìn về Thầy mình.
          Xác tín lý tưởng đời mình là điều cần thiết.  Thường những ngoại cảnh và ảnh hưởng của người khác có thể làm lay chuyển lý tưởng của chúng ta. Vì thế cần có những cơ hội để xét lại thay đổi nếu cần, nhưng nhất là để mình trung thành hơn với lý tưởng. Chúa Giê-su đã làm công việc củng cố lý tưởng qua biến cố Hiển Dung.  Việc củng cố này không những giúp ích cho bản thân Chúa Giê-su, mà còn có thể thay đổi cái nhìn của các môn đệ nữa.  Thiên Chúa Cha rất bằng lòng về lòng trung thành với lý tưởng của Con Một Người, cho nên Người không ngần ngại phán với các môn đệ của Chúa Giê-su:  “Đây là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Người”.
Sống sứ điệp Tin Mừng
          Trên đường xuống núi, Chúa Giê-su đã căn dặn các môn đệ “không được kể lại cho ai nghe những điều vừa thấy, trước khi Con Người từ cõi chết sống lại”.  Đó là những điều chúng ta thường gặp Chúa Giê-su căn dặn trong sách Tin Mừng Mác-cô.  Chúa Giê-su ngăn cấm bất cứ ai nói về Người khi họ chưa thực sự hiểu rõ chân tính của Người hoặc chưa biết chắc chắn Người là Đấng nào.  Điều kỳ lạ này các học giả Kinh Thánh gọi là “bí mật về Đấng Mê-si-a”, và bí mật về chân tính chỉ được biểu lộ rõ ràng qua lời tuyên xưng của viên sĩ quan Rô-ma khi ông nhìn lên Chúa Giê-su trên thập giá:  “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa” (Mác-cô 15:39).
          Biến cố Hiển Dung của Chúa Giê-su hôm nay dạy chúng ta phải xác tín vào lý tưởng đời mình.  Ở trong bậc sống nào thì lý tưởng cuộc đời chúng ta cũng phải đặt trên nền móng là Lời Chúa và thánh ý Người.  Chúa Giê-su đã dựa vào Kinh Thánh Cựu Ước và thánh ý Chúa Cha để củng cố sứ mệnh của mình, can đảm lên Giê-ru-sa-lem hoàn tất kế hoạch của Chúa Cha.  Cũng thế, liệu chúng ta có biết lấy “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi” (Thánh Vịnh 119:105) để Lời Chúa giúp chúng ta biết trung thành với sứ mệnh không?
Lm. Đa-minh Trần đình Nhi

 

MC2-375: Chúa Nhật II mùa Chay, B

2009
 

Biến cố Hiển dung, tức là Chúa Giê-su biến hình dạng trên núi cao, được đặt vào Phụng vụ Lời B134 MC2-375

Biến cố Hiển dung, tức là Chúa Giê-su biến hình dạng trên núi cao, được đặt vào Phụng vụ Lời Chúa Chúa Nhật II mùa Chay mang ý nghĩa vô cùng súc tích.  Về phía Chúa Giê-su, biến cố xác định rõ ràng sứ mệnh của Người là phải kết thúc bằng cuộc Thương khó và Sống lại hiển vinh.  Về phía các môn đệ, nó giúp các ông vững lòng tin vào Chúa Ki-tô và quyết tâm bước theo Người.  Tuy nhiên quan trọng hơn vẫn là biến cố giúp ta suy niệm về sứ mệnh cứu độ của Chúa Ki-tô, để ta biết sám hối và mở lòng  đón nhận ơn cứu độ của Thiên Chúa.
1.  Lễ toàn thiêu trên núi Mô-ri-gia là hình bóng báo trước lễ toàn thiêu trên đồi Can-vê  (bài đọc Cựu Ước – St 22:1-2.9a.10-13.15-18)
          Câu truyện ông Áp-ra-ham đem đứa con trai duy nhất là I-xa-ác lên núi để giết và hiến tế Thiên Chúa không chỉ là câu truyện thử thách lòng tin của ông vào Thiên Chúa, nhưng ý nghĩa câu truyện còn nằm ngay trong hình ảnh cậu I-xa-ác là của lễ toàn thiêu dâng lên Thiên Chúa.
          Điều làm ta ngạc nhiên trước hết là thái độ im lặng của ông Áp-ra-ham và cậu I-xa-ác.  Ta thắc mắc không biết trên đường đi từ nhà tới núi Mô-ri-gia, hai cha con nói năng với nhau những gì, liệu cậu con trai có biết ý định của cha mình không và phản ứng của hai cha con thế nào trước mệnh lệnh của Thiên Chúa.  Sau lời thưa “Dạ, con đây!”, ông Áp-ra-ham lập tức đi thi hành ý Chúa.  Ông không vặn hỏi tại sao Thiên Chúa làm một chuyện hết sức phi lý:  Người hứa ban cho ông một dòng dõi đông như sao trời cát biển, vậy mà giờ đây lại ra lệnh cho ông phải đem đứa con trai duy nhất lên núi để sát tế kính tiến Người.  Thi hành lệnh Chúa, ông Áp-ra-ham đã biểu lộ hành vi đức tin, là hành vi do trái tim và đi ngược lại hành vi do  lý trí.
          Nếu sự im lặng của ông Áp-ra-ham là dấu hiệu của một đức tin vĩ đại, thì sự im lặng của cậu I-xa-ác lại nói lên lòng vâng phục thẳm sâu trước quyết định của cha mình và thánh ý Thiên Chúa.  Hình ảnh I-xa-ác im lặng khiến ta nghĩ đến hình ảnh người Tôi Trung của Thiên Chúa, “bị đổ trên đầu tội lỗi của tất cả chúng ta, bị ngược đãi, người cam chịu nhục, chẳng mở miệng kêu ca;  như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, người chẳng hề mở miệng” (Is 53:6-7).  Suốt cuộc Thương khó, ta không hề nghe một lời than vãn trách móc từ nơi miệng Chúa Giê-su, mà chỉ thoáng hiện một thắc mắc càng làm tăng thêm niềm tin tuyệt đối của một con người vào nơi Thiên Chúa:  “Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mc 15:34).
          Tuy nhiên Thiên Chúa đã cứu mạng sống của I-xa-ác thế nào, thì cũng vậy, Người đã cứu Con Một Người là Chúa Ki-tô khỏi hư nát bởi cái chết và cho Chúa Ki-tô sống lại vinh hiển.  Lòng tin của Áp-ra-ham và sự vâng phục của I-xa-ác đã bảo đảm cho lời hứa của Thiên Chúa được thực hiện.  Kết quả là Thiên Chúa đã thi ân giáng phúc cho ông và cho I-xa-ác tiếp nối ông mà làm tổ phụ của một dòng dõi đông đúc như sao trời cát biển (St 22:17).  Chúa Ki-tô đã vâng phục Chúa Cha, chấp nhận làm lễ toàn thiêu trên đồi Can-vê, để rồi từ cái chết và sống lại của Người, một Dân mới của Thiên Chúa nảy sinh, là Giáo Hội Chúa Ki-tô trường tồn cho tới ngày Người quang lâm. 
2.  Lòng tin của Chúa Giê-su được biểu lộ trong cuộc Hiển dung (bài Tin Mừng – Mc 9:2-10)
          Dĩ nhiên mục đích của biến cố Hiển dung là nâng đỡ niềm tin của các môn đệ Chúa, vì sau khi được tiên báo về cuộc Thương khó Chúa sắp phải trải qua, các môn đệ đã xuống tinh thần trầm trọng, thậm chí các ông còn ngần ngại đồng hành với Chúa lên Giê-ru-sa-lem.  Nhưng củng cố niềm tin của các môn đệ cách nào, đó mới là ý nghĩa cốt lõi của biến cố.  Không phải là ánh sáng và vẻ rực rỡ trắng ngần nói lên vinh quang của Chúa làm cho các ông tin tưởng Người, nhưng chính là “sự thật giải phóng” về cuộc Thương khó của Người.  Nếu các ông nhận ra ý nghĩa đích thực và cao cả của những điều Chúa Giê-su sẽ phải trải qua trong những ngày cuối cùng trên dương thế, thì các ông sẽ không còn sợ hãi hoặc chán nản nữa, trái lại các ông sẽ thấy được con đường thập giá không phải là tận cùng, mà là dẫn tới phục sinh vinh hiển.  Qua cuộc đàm đạo với ông Mô-sê và ngôn sứ Ê-li-a, chính Chúa Giê-su đã cho các môn đệ nhận biết lòng tin cao cả của Người nơi Thiên Chúa và lòng can đảm quảng đại của Người khi chấp nhận chết cho nhân loại.  Các sách Luật và Ngôn sứ đã viết về sứ mệnh cứu độ của Chúa Giê-su.  Trước mặt các môn đệ, Chúa Giê-su đàm đạo với các ông Mô-sê và Ê-li-a về sứ mệnh đó, nhất là về tột đỉnh của sứ mệnh là cuộc Thương khó và Phục sinh sẽ xảy ra trong những ngày sắp tới.  Hình ảnh ấy muốn nói lên rằng Người đang suy gẫm về cuộc Thương khó và quyết tâm chấp nhận thánh ý Thiên Chúa.  Chúa Giê-su đã nhìn lại tất cả những điều Kinh Thánh và Lề Luật tiên báo về Người và những điều Người sẽ thi hành để cứu độ trần gian để xác tín thánh ý Chúa Cha.  Kết quả cuộc suy gẫm và chấp nhận của Chúa Giê-su là lời tuyên dương của Chúa Cha về lòng vâng phục và quảng đại của Chúa Giê-su:  “Đây là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Người” (Mc 9:7).  Chúa Giê-su không tránh né “sự thật giải phóng” của cuộc Thương khó, nhưng Người muốn nói cho môn đệ biết sự thật ấy, để các ông “vâng nghe lời Người”, nghĩa là theo gương Người vác thập giá, vững bước trên con đường cứu độ của Thiên Chúa.
          Ngay sau lời tuyên dương và kêu gọi của Chúa Cha, thánh sử Mác-cô ghi lại một chi tiết có lẽ ta ít để ý, nhưng lại rất ý nghĩa đối với ta.  Đó là:  “Các môn đệ chợt nhìn quanh, thì không thấy ai nữa, chỉ còn Đức Giê-su với các ông mà thôi” (Mc 9:8).  Nhiệm vụ của ông Mô-sê và ngôn sứ Ê-li-a là giúp ta nhận biết và xác tín sứ mệnh cứu độ của Chúa Giê-su.  Các ông không thể làm gì hơn cho ta và các ông lui vào hậu trường để cho ta tiếp tục ở lại với Chúa Giê-su, tin vào Người và tình yêu cứu độ của Người qua cuộc Thương khó.  Chúa Giê-su đã xác tín sứ mệnh ấy thì ta cũng phải tuyệt đối tin vào tình yêu của Người để được cứu độ.  Lòng tin của ta không nằm trong sách vở hay đầu óc, nhưng là tất cả con tim của ta để “vâng nghe lời Người”.  Đúng vậy, cuộc đời ta có nhiều khi nhìn quanh chẳng còn thấy ai nữa, chỉ còn Chúa Giê-su với ta mà thôi!  Nhưng ta cứ an tâm, vì ta không vác thập giá một mình, bởi có Chúa đồng hành con đường khổ nạn với ta.  Gương vâng phục và chấp nhận của Chúa Giê-su giúp ta vững lòng đối phó với mọi nghịch cảnh và trung thành làm môn đệ Người.
3.  “Có Thiên Chúa bênh đỡ chúng ta, ai còn chống lại được chúng ta?” (bài đọc Tân Ước – Rm 8:31b-34)
          Suy niệm về ý định cứu độ của Thiên Chúa, thánh Phao-lô với giọng phấn khởi đã thách thức mọi người hoặc mọi nghịch cảnh chống lại ta, những kẻ đã được Thiên Chúa kêu gọi đáp lại tình yêu cứu độ của Người.  Niềm lạc quan của Ki-tô hữu nằm ngay trong những dòng thư này của thánh Tông đồ:  có Thiên Chúa bênh đỡ ta, thử hỏi ai còn chống lại ta được?
          Quả thế, rõ ràng Thiên Chúa luôn ở bên ta, chăm sóc ta và muốn ta được ở với Người vĩnh viễn.  Một em nhỏ cứ vui đùa tự nhiên trên sàn tàu, trong khi các người khác trong con tàu đang lo sợ và chèo chống với sóng gió.  Người ta hỏi em tại sao không sợ hãi, em trả lời ngay:  Ba tôi là người lái con tàu thì sao tôi lại phải sợ hãi!  Đấy, tôi đang ở trong con tàu cuộc đời.  Nếu Thiên Chúa ở bên tôi và lèo lái con tàu thì tôi phải sợ hãi gì.  Tác giả Thánh Vịnh cũng nhiều lần nhắn nhủ ta như vậy.  Chúa là Đá tảng của con, con sợ gì ai?  Chúa là thành lũy chở che con, con còn hãi gì nữa?     
Đó là nói đến sự hiện diện của Chúa bên cạnh ta.  Còn thánh Phao-lô, ngài lại cho ta một lý do rất thần học nhưng cũng rất đơn sơ dễ hiểu, để nói rằng ta đừng sợ ai buộc tội hay kết án ta, nhưng hãy tin vào tình yêu cứu độ của Thiên Chúa.  Thiên Chúa đã “lên kế hoạch” để biểu lộ tình yêu đó.  Kế hoạch của Người như sau:  “Những ai Thiên Chúa đã tiền định, thì Người cũng kêu gọi;  những ai Người đã kêu gọi, thì Người cũng làm cho nên công chính;  những ai Người đã làm cho nên công chính, thì Người cũng cho hưởng phúc vinh quang” (Rm 8:30).  Tiền định của Thiên Chúa không mang tính áp đặt, nhưng là ý muốn tự đời đời của Người, còn việc con người có muốn đáp lại ý muốn của Thiên Chúa hay không thì lại khác!  Như vậy, ta sẽ hiểu được kế hoạch ba bước của Thiên Chúa là:  thứ nhất, từ trước muôn đời Thiên Chúa đã muốn toàn thể nhân loại được ở với Người, cho nên  Người kêu gọi mọi người.  Thứ hai, nếu ai đáp lời, Người sẽ làm cho nên công chính, nhờ sự chết và sống lại của Chúa Ki-tô.  Thứ ba, sau khi được trở nên công chính và tiếp tục sống đích thực như con cái Người nơi trần gian, Người sẽ cho họ được chung phần vinh phúc với Người.  Tất cả kế hoạch nói lên chân lý duy nhất:  Thiên Chúa yêu thương ta.  Để minh chứng tình yêu ấy, Thiên Chúa “chẳng tha Con Một Người, nhưng đã trao nộp vì chúng ta hết thảy” (Rm 8:32), đành để cho Con Một phải chịu chết trên thập giá để chuộc tội chúng ta.
Thái độ lạc quan Ki-tô giáo này phải là thái độ của mọi Ki-tô hữu.  Người Pháp nói:  một vị thánh buồn là một vị thánh đáng buồn (Un saint triste est un triste saint).  Ta đừng để cho những kẻ vô thần, theo thuyết hiện sinh hay duy vật chê bai người Công giáo là những kẻ yếm thế, hãi sợ, không dám ngửa mặt lên nhìn cuộc đời.  Nhưng ta hãy cho mọi người biết rằng niềm vui và bảo đảm được cứu độ là động lực giúp ta thắng vượt mọi gian khó cuộc đời, kết hiệp với cuộc Thương khó của Chúa Giê-su, để cùng chết với Người cho tội lỗi và cùng được sống lại vinh hiển với Người.
4.  Sống Lời Chúa
          Phụng vụ Lời Chúa Chúa Nhật thứ hai mùa Chay giúp ta suy niệm ý nghĩa cuộc Thương khó của Chúa Giê-su.  Tuy nhiên đó cũng là lời mời gọi ta hiểu biết ý nghĩa đích thực của những thập giá khi ta sống đức tin Công giáo, đối phó với những nghịch cảnh theo gương Chúa Giê-su.  Người đã xác tín sứ mệnh cứu độ trần gian và vâng phục thánh ý Thiên Chúa.  Chính Người đã nhìn thập giá như đường dẫn tới vinh quang, không phải cho riêng mình, nhưng cho toàn thể nhân loại.  Ta theo Người để học bài học ấy suốt những năm tháng sống trên trần gian khổ ải này.  Ta vững bước, vì có Thiên Chúa ở với ta và bênh đỡ ta, cụ thể qua sự hiện diện yêu thương và đầy sinh sinh của Chúa Giê-su Ki-tô.
Suy nghĩ:  Để kết luận lời ca tụng tình yêu của Thiên Chúa, thanh Phao-lô viết:  “Không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Ki-tô Giê-su, Chúa chúng ta” (Rm 8:39).  Xác tín này có nghĩa gì đối với cuộc đời Ki-tô hữu của tôi?  Những lời đanh thép này có giúp tôi sống lạc quan và đầy tin tưởng không?  Lối sống của tôi có nói lên được thái độ lạc quan này không?
Cầu nguyện:  Lạy Chúa, Chúa đã dạy chúng con phải vâng nghe Con yêu dấu của Chúa;  xin lấy lời hằng sống nuôi dưỡng đức tin của chúng con, nhờ vậy cặp mắt tâm hồn chúng con sẽ trong sáng để nhìn thấy vinh quang Chúa tỏ hiện trong cuộc đời chúng con.  Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con.  A-men.  (Lời nguyện Nhập lễ, Chúa Nhật II mùa Chay).
 
Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

 

MC2-376: CHÚA NHẬT 2 MÙA CHAY

Thánh ca và lời nguyện mở đầu
 Kinh Thánh:      Rô-ma 8: 31-34
 

Bài đọc Tân Ước hôm nay vẫn tiếp tục suy niệm về vai trò của Chúa Ki-tô trong kế hoạch cứu độ B135 MC2-376

Bài đọc Tân Ước hôm nay vẫn tiếp tục suy niệm về vai trò của Chúa Ki-tô trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa.  Chúa Nhật trước bài đọc sử dụng đoạn thư thứ nhất của thánh Phê-rô và hôm nay đoạn thư của thánh Phao-lô gửi tín hữu Rô-ma, cùng một chủ đề nhưng được trình bày dưới những khía cạnh khác biệt.  Thánh Phê-rô cho chúng ta thấy Thiên Chúa đã tha thứ tội lỗi và cứu chuộc chúng ta nhờ cái chết và sự sống lại của Chúa Ki-tô.  Còn thánh Phao-lô thì muốn đề cao tình yêu cứu độ của Thiên Chúa, Đấng “bênh đỡ chúng ta” và không “buộc tội, lên án” chúng ta.
          Người ta vẫn coi đoạn thư Rô-ma hôm nay là một trong những đoạn an ủi và khích lệ chúng ta nhất trong toàn bộ Kinh Thánh.  Vậy an ủi và khích lệ ở điểm nào?  Thánh Phao-lô đã nêu lên một chân lý tuyệt vời:  “Có Thiên Chúa bênh đỡ chúng ta, ai còn chống lại được chúng ta?” (câu 31).  Tiếp theo, với lý luận sắc bén và hùng hồn (cc. 32-34), thánh Phao-lô đã nại đến lòng quảng đại (không buộc tội) và lòng nhân từ (không kết án) của Thiên Chúa, để chứng minh cho chân lý nói trên.  Vậy trước hết chúng ta thử đi vào lý luận của thánh Phao-lô, rồi trở lại điều ngài khẳng định là Thiên Chúa bênh đỡ chúng ta.  Cuối cùng là đi tới kết luận:  tình yêu cứu độ của Thiên Chúa được biểu lộ và thể hiện nơi Đức Giê-su Ki-tô.
a)  Tình yêu quảng đại của Thiên Chúa
          Đặc tính quảng đại của tình yêu Thiên Chúa được nhận ra qua sự kiện chắc chắn là Người không buộc tội chúng ta.  Tuy tội lỗi nguyên tổ và những tội riêng của chúng ta đã phạm tới Thiên Chúa, Người vẫn không muốn hủy diệt chúng ta.  Trái lại, ngay từ đầu Người còn muốn kêu gọi, tuyển chọn và làm cho chúng ta được nên công chính (đọc lại các câu 29-30).  Thiên Chúa có quyền buộc tội chúng ta và chính chúng ta cũng đáng bị buộc tội.  Vậy mà Người đã không làm theo lẽ công chính của Người, nhưng làm vì sự công chính cho chúng ta.  Chính đặc tính quảng đại của tình yêu đã khiến Thiên Chúa đối xử với con người không như Đấng Tạo dựng công thẳng đối xử với tạo vật tội lỗi, nhưng như hoàn toàn với tình yêu của người Cha đối với con cái.
          Điểm độc đáo trong lý luận của Phao-lô là thách thức.  Cùng với Phao-lô, mỗi người chúng ta có thể tự hào rằng:  Thiên Chúa đã tuyển chọn chúng tôi và làm cho chúng tôi được nên công chính, vậy thì chúng tôi thách ai dám chống lại Thiên Chúa mà buộc tội chúng tôi đấy!  Tiếp đến, chúng ta như nghe thấy Phao-lô trấn an chúng ta:  Có Thiên Chúa bênh đỡ chúng ta, ai còn chống lại được chúng ta?
          Chống lại chúng ta không chỉ là người khác, nhưng còn là ba thù (thế gian, tội lỗi và ma quỷ).  Như thế, thánh Phao-lô đặt chúng ta vào hoàn cảnh sống giữa thử thách trần gian và mời gọi chúng ta tin tưởng vào sự bênh đỡ của Thiên Chúa.
 b)  Tình yêu nhân từ của Thiên Chúa
          Nếu hiểu buộc tội và kết án là hai giai đoạn để xử một người, chúng ta sẽ dễ dàng phân biệt được hai đặc tính của tình yêu Thiên Chúa:  quảng đại và nhân từ.  Phải buộc tội trước rồi mới kết án sau.  Phao-lô muốn trình bày tình yêu cứu độ của Thiên Chúa như một kế hoạch, một lịch sử có đầu có cuối.  Khởi đầu của kế hoạch ấy là Thiên Chúa tiền định sẽ làm cho chúng ta được nên công chính (tức là không buộc tội).  Tiếp theo là kế hoạch ấy được thực hiện “nhờ Đức Ki-tô” đã nhập thể, rao giảng Tin Mừng, chịu khổ nạn, chết và sống lại, để “giải án tuyên công” cho tất cả những ai tin vào Người (tức là không kết án).  Cuối cùng là mọi người được hưởng phúc vinh quang.
          Vậy đặc tính nhân từ của tình yêu Thiên Chúa và không kết án con người là một bước tiếp theo đặc tính quảng đại.  Khi sai Con Một đến với thế gian, Thiên Chúa đã trao quyền kết án cho Người (Ga 12:48; 16:8-11).  Nhưng đối với những người Thiên Chúa đã tuyển chọn và cho được nên công chính, thì Đức Ki-tô sẽ không kết án họ.  Ai lại kết án những kẻ mình vừa cứu thoát bao giờ!
 c)  Chúa Giê-su Ki-tô thể hiện tình yêu quảng đại và nhân từ của Thiên Chúa 
          Suy niệm về tình yêu cao cả của Thiên Chúa không phải chỉ nghĩ về những ý niệm trừu tượng, nhưng là ngắm suy một tình yêu “nhập thể”, tình yêu “chúng tôi đã nghe, đã thấy tận mắt, đã chiêm ngưỡng và tay chúng tôi đã chạm đến” (1 Ga 1:1).  Điểm tuyệt vời trong lý luận của Phao-lô là vừa cho chúng ta thấy tình yêu cứu độ của Thiên Chúa, lại vừa cho chúng ta có dịp chiêm ngưỡng tình yêu ấy nơi Chúa Giê-su Ki-tô.  Chúa Ki-tô luôn là một dấu chỉ sống động nói lên tình yêu Thiên Chúa.  I-xa-ắc được tha chết chỉ nói lên lòng quảng đại của Thiên Chúa đối với Áp-ra-ham.  Nhưng chính việc Chúa Ki-tô không được tha chết mới có thể nói lên được tất cả chiều dài, rộng, cao, sâu của tình yêu Thiên Chúa (x. Ep 3:18-19) ôm ấp toàn thể nhân loại.
          Chúng ta thiết nghĩ khi chọn đoạn thư này cho Phụng vụ Lời Chúa mùa Chay, Giáo Hội muốn chúng ta suy gẫm về tình yêu cứu độ của Thiên Chúa.  Tuy nhiên Giáo Hội cũng muốn nêu lên chân lý mà thánh Phao-lô đã đề cao:  Có Thiên Chúa bênh đỡ chúng ta, ai còn chống lại được chúng ta?  Cuộc đời Ki-tô hữu là cả một mùa Chay dài với những thử thách chiến đấu không ngừng.  Nhưng nếu chúng ta xác tín được những gì Thiên Chúa làm cho chúng ta do tình yêu cứu độ của Người, thì chúng ta sẽ tìm được nâng đỡ và sức mạnh để hoàn tất hành trình đức tin vào Chúa Giê-su Ki-tô, “Đấng đang ngự bên hữu Thiên Chúa mà chuyển cầu cho chúng ta.”
 Câu hỏi gợi ý chia sẻ
          Suy niệm về tình yêu Thiên Chúa là đề tài chúng ta thường lập đi lập lại nhiều lần.  Nhưng với bài đọc hôm nay, thánh Phao-lô đã giúp tôi nhận ra những đặc tính của tình yêu ấy như thế nào?  Suy niệm này có ý nghĩa gì trong mùa Chay?
          Đặc điểm của đoạn thư thánh Phao-lô hôm nay đã đem lại những an ủi và khích lệ cho Ki-tô hữu.  Với hoàn cảnh sống hiện thời của tôi, tôi nhận được an ủi và khích lệ trên những phương diện nào?
          Đoạn thư tuy có nói lên ý định hữu hiệu và yêu thương của Thiên Chúa muốn cứu độ con người, nhưng không nhắc đến trách nhiệm của mỗi người chúng ta là phải đáp trả và cộng tác với kế hoạch của Thiên Chúa.  Vậy tôi sẽ phải làm gì để chu toàn trách nhiệm của tôi?
 Cầu nguyện kết thúc
          Sau cầu nguyện bộc phát, nhóm cùng hát một bài ca tụng tình yêu Thiên Chúa, thí dụ “Chúa là tình yêu, Ngài đã đến cứu thế giới...”
Lm. Ðaminh Trần Ðình Nhi

 

MC2-377: Chúa Nhật II Mùa Chay

Sau tháng 4 năm 75, tôi gặp lại một người học trò cũ tại Hoa-kỳ.  Lúc ấy vợ con anh còn kẹt lại bên B136 MC2-377

Sau tháng 4 năm 75, tôi gặp lại một người học trò cũ tại Hoa-kỳ.  Lúc ấy vợ con anh còn kẹt lại bên Việt Nam và anh rất cô đơn, hết đi làm rồi trở về căn phòng mướn.  Anh tâm sự với tôi.  Cha biết không?  Mỗi lần cảm thấy quá chán nản là con phải nghĩ ngay tới vợ con, người bạn đường đã yêu thương con thật nhiều và đứa con kháu khỉnh dễ thương.  Tình yêu của họ đã thực sự trở thành sức mạnh giúp con kiên nhẫn và hy vọng.
                   Những kinh nghiệm sống tương tự như vậy gặp được rất nhiều.  Nó cho chúng ta thấy vai trò của tình yêu thật là quan trọng, đặc biệt trong những lúc chúng ta phải đối phó với những thử thách của cuộc đời.  Kinh nghiệm ấy hôm nay lại càng trở nên sống động qua câu truyện Tin Mừng thánh Mác-cô, kể lại biến cố Chúa Giê-su biến đổi hình dạng – hoặc nói theo ngôn từ thần học là Chúa Giê-su hiển dung – trên núi Ta-bô-rê.  Biến cố này xảy ra sau khi Chúa Giê-su tiên báo lần thứ nhất rằng Người sẽ lên Giê-ru-sa-lem, sẽ chịu đau khổ và phải chết.  Người đem theo ba môn đệ thân tín lên núi Ta-bô-rê, tại đây hình dạng Người biến đổi sáng láng.  Rồi có ngôn sứ Ê-li-a cùng với ông Mô-sê hiện ra đàm đạo với Người và có đám mây bao phủ các ngài.  Qua những chi tiết ấy, thánh sử Mác-cô muốn dẫn chúng ta tới tột đỉnh của biến cố, tức là chính những lời Thiên Chúa Cha phán dạy:  “Đây là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Người.”
          “Đây là Con Ta yêu dấu.”  Những lời này của Chúa Cha cho chúng ta thấy điều gì?  Trước hết đó là một khẳng định Chúa Giê-su là ai.  Người là Con Thiên Chúa.  Nhưng hơn thế nữa, những lời “Đây là Con Ta yêu dấu” còn nói lên tình yêu đặc biệt Chúa Cha dành cho Chúa Giê-su.  Là con người như chúng ta, Chúa Giê-su cần nghe được những lời khẳng định này, cần xác tín là mình được Thiên Chúa yêu thương.  Chắc chúng ta còn nhớ đoạn Tin Mừng của Chúa Nhật tuần trước, nói về việc Chúa Giê-su thắng cám dỗ của Xa-tan và Người lên đường thi hành sứ vụ, rao giảng kêu gọi nhân loại “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.”  Sở dĩ Chúa Giê-su thắng được cám dỗ và trung thành với sứ vụ là vì Người cảm nhận được tình yêu Thiên Chúa Cha dành cho Người.  Có lẽ chúng ta phải trở lại biến cố trước đó nữa, để nhận ra tình yêu Thiên Chúa Cha đối với Chúa Giê-su như thế nào.  Trước khi vào hoang địa và chịu cám dỗ, Chúa Giê-su đã đến sông Gio-đan, nơi ông Gio-an làm phép rửa.  Đang khi Người lãnh nhận phép rửa của Gio-an, thì  “có tiếng từ trời phán rằng:  “Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con” (Mc 1:11).  Như vậy, qua biến cố Biến hình trên núi Ta-bô-rê, đây là lần thứ hai Thiên Chúa Cha giới thiệu Chúa Giê-su là Con Một và Người tỏ ra tình yêu đặc biệt Người dành cho Chúa Giê-su.  Để thắng vượt cám dỗ của Xa-tan, Chúa Giê-su cần xác nhận tình yêu của Thiên Chúa Cha dành cho Người.  Vậy thì lần này, tại sao Chúa Giê-su cần phải xác nhận lại tình yêu của Thiên Chúa?
          Như chúng ta đã thấy hoàn cảnh diễn ra biến cố Chúa Giê-su biến đổi hình dạng, đó là thời điểm sau khi Người báo trước cuộc Tử nạn và Người cùng với các môn đệ trên đường lên Giê-ru-sa-lem.  Trước viễn tượng đau khổ và cái chết tới gần, Chúa Giê-su với bản tính con người như chúng ta hẳn cũng thấy rùng mình hãi sợ.  Người bị cám dỗ tháo lui bỏ cuộc.  Người cần sự nâng đỡ khích lệ, cho riêng cá nhân Người và cho cả các môn đệ của Người nữa.  Người có thể tìm được ở đâu sự nâng đỡ khích lệ ấy, nếu không phải là duy ở nơi Thiên Chúa?  Qua lời xác quyết của  Chúa  Cha: “Đây là Con Ta yêu dấu,” Chúa Giê-su đã tìm lại được nguồn sức mạnh từ nơi trái tim yêu thương của Chúa Cha, giúp Người can đảm và trung thành hoàn tất sứ vụ cứu thế.  Tình yêu của Thiên Chúa cần thiết như thế đó! 
 Nhưng Thiên Chúa Cha còn hướng về các môn đệ Chúa Giê-su, tức là ông Phê-rô, ông Gia-cô-bê và ông Gio-an, và cả chúng ta hôm nay nữa, Người phán:  “Hãy vâng nghe lời Người!”  Có nghĩa là chúng ta hãy noi gương Chúa Giê-su, hãy xác tín tình yêu của Thiên Chúa yêu thương chúng ta, hãy tìm đến nguồn sức mạnh nâng đỡ chúng ta trong cơn cám dỗ, trong lúc khó khăn thử thách.  Đang khi tiếp tục hành trình đức tin trong mùa Chay này, chúng ta cảm nhận mình cần phải có sức mạnh để theo con đường thập giá của Chúa Ki-tô.  Chúng ta cần phải nhớ đến tình yêu Thiên Chúa trong những lúc nghi ngờ đức tin.  Có khi chúng ta mất đi một người thân, hoặc cảm thấy chính mình cũng đang lạc lõng giữa dòng đời và không biết đi về đâu.  Chúng ta phải vật lộn với câu hỏi “Nếu Chúa thương tôi, tại sao hết rủi ro này tới rủi ro khác cứ dồn dập xảy đến cho tôi?”  Chúng ta nghi ngờ cả tình yêu của Thiên Chúa.  Không dễ gì để trả lời cho câu hỏi rất thực tế đó.  Chính Chúa Giê-su cũng không có câu trả lời cho chính Người.  Người không thể cắt nghĩa tại sao Chúa Cha lại sử dụng một phương thức không theo cái lô-gích của con người.  Nhưng có một điều chắc chắn Chúa Giê-su biết và xác tín, đó là Thiên Chúa Cha yêu thương Người, đồng thời Thiên Chúa Cha cũng yêu thương thế gian đến nỗi trao nộp Người cho họ nữa.  Cho nên, chỉ có tình yêu đích thực mới hiểu được những gì lý trí con người không giải thích nổi.
 Thiên Chúa Cha muốn chúng ta bắt chước Chúa Giê-su, tin tưởng vào tình yêu Thiên Chúa, để thắng vượt khó khăn và trung thành với sứ mệnh làm con cái Chúa.  Chúa Giê-su đã được tình yêu của Chúa Cha củng cố, và Người đã truyền lại sức mạnh ấy cho các môn đệ Người.  Cho nên Chúa Cha cũng muốn chúng ta hãy bắt chước Chúa Giê-su, đem tình yêu của chúng ta đến cho anh chị em, giúp họ có sức mạnh và can đảm để đối phó với những khó khăn cuộc đời.  Chúa mong mỏi mỗi người chúng ta phải là một núi Ta-bô-rê sống động, để anh chị em có thể đến với chúng ta và cảm nhận được tình yêu Thiên Chúa nơi chúng ta.
 Lạy Chúa Cha rất đáng mến, chúng con cảm tạ Cha đã ban cho chúng con gương mẫu là Chúa Giê-su.  Chúng con nguyện sẽ luôn nhớ tình yêu Cha yêu chúng con và lời Cha nhắn nhủ hãy noi gương Con Một Cha, mà nâng đỡ anh chị em chúng con bằng chính tình yêu chúng con đã lãnh nhận nơi Cha.  A-men.
Lm. Ðaminh Trần Ðình Nhi

 

MC2-378: Áo Người trở nên chói lọi và trắng như tuyết

Con người chúng ta giới hạn, khó có thể nhận ra Thánh Ý Thiên Chúa. Vì thế, Thiên Chúa sai B137 MC2-378

Con người chúng ta giới hạn, khó có thể nhận ra Thánh Ý Thiên Chúa. Vì thế, Thiên Chúa sai Con Ngài đến trần gian để ở với chúng ta và loan tin cho chúng ta biết rằng Thiên Chúa là Tình Yêu và Người chỉ muốn điều tốt cho chúng ta thôi.
Bài đọc I cho chúng ta thấy: Abraham cũng chẳng hơn gì chúng ta trong việc hiểu biết Thánh Ý Thiên Chúa. Ông không hiểu rõ ý định của Thiên Chúa yêu cầu ông hiến dâng con duy nhất mình là I-SA-AC làm của lễ. Tuy nhiên, ông chấp nhận vâng lời. Đức tin của ông phó thác vào Thiên Chúa và tin tưởng mạnh mẽ vào lời hứa cứu độ, mặc dù mọi thứ xem ra là trái nghịch.
Vì thế, chúng ta hãy luôn vui mừng vì Thiên Chúa có thể cứu chúng ta khỏi hiểm nguy và thất vọng! Hãy tạ ơn Người và đáp trả Tình Yêu của Chúa bằng sự vâng lời và phục tùng trọn vẹn.
Bài Tin Mừng hôm nay mô tả: Chúa Giêsu lên núi Ta-bor và có 3 môn đệ tháp tùng. Thói quen của Chúa Giêsu đi cầu nguyện thường là nơi thanh vằng, trên một quả đồi hoặc trên núi. Và cũng chẳng có gì ngạc nhiên khi Chúa đem theo 3 ông cùng đi. Ngài làm như vậy để mặc khải cho các ông mầu nhiệm đau khổ của Ngài và Ngài quả quyết với các ông Ngài sẽ lên Giêrusalem và các ông sẽ chứng kiến sự đau khổ đó… Và các ông cũng đi cầu nguyện với Ngài.
Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ: “Anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn”. Mùa chay là thời gian đặc biệt để chúng ta năng tiếp cận với Chúa. Như Chúa Giêsu và các môn đệ, chúng ta hãy rút khỏi những bận bịu thường ngày để tĩnh tâm trong Thiên Chúa không phải chỉ trong những lúc nào đó. Hãy tập cho mình có thói quen sống trước mặt Thiên Chúa: kêu xin Ngài trợ giúp chúng ta, cảm tạ Ngài vì những gì Ngài gửi đến cho chúng ta. Ăn năn thống hối vì những lỗi lầm của chúng ta và cả những khi chúng ta thiếu nhẫn nại.
Có rất nhiều cơ hội để trở về với Chúa. Cha mẹ chúng ta, các linh mục và tu sỹ cũng như bạn bè chúng ta đều muốn chúng ta trở về, nhưng chúng ta đều bỏ qua…Nhờ điện thoại và internet chúng ta có thể liên lạc với mọi người trên thế giới. Và chắc chắn chúng ta cũng nên có một đường dây nóng: điện thoại khuyến mại không mất tiền với Chúa, khi chúng ta gọi: S.O.S (lạy Chúa, xin cứu con), bằng tất cả tình yêu chân thành của mình.
Tình yêu của chúng ta hướng về Thiên Chúa tốt nhất là qua bí tích Thánh Thể. Bí tích Thánh Thể là kinh nguyện tuyệt vời vì đó là chính kinh nguyện của Chúa Kitô dâng lên Chúa Cha. Phép Thánh Thể cũng là canh tân, hiện tại hóa LỄ HY SINH trên đồi Can-vê: “Lạy Chúa, chúng con tuyên xưng Chúa chịu chết và tuyên xưng Chúa sống lại cho đến khi Chúa đến”. Càng gần Chúa Kitô, chúng ta càng được biến đổi trong Người.
Khi cùng chung sống với Chúa Giêsu, các tông đồ nhận thấy rằng càng ngày người ta càng chống đối và thù ghét Chúa. Các ông lo lắng, sợ hãi và bối rối. Vì thế Chúa động viên bằng cách biến hình để các ông thấy uy quyền của Chúa. Và qua đó Chúa nói với các ông về sự sống lại của Chúa.
- Tội lỗi làm mất đi hình ảnh đẹp của con người chúng ta.
- Tội lỗi giết chết tình yêu trong chúng ta khi chúng ta phạm tội.
- Tội lỗi phá hủy sự đồng hình đồng dạng của chúng ta đối với Thiên Chúa, có nghĩa là chúng ta không còn giống Thiên Chúa nữa.
- Một lời nguyện đích thực sẽ nuôi dưỡng suối nguồn tình yêu mà Thiên Chúa đặt vào trong chúng ta khi chúng ta lãnh nhận bí tích Rửa Tội.
- Cầu nguyện đích thực làm cho chúng ta biến đổi dần dần.
- Đời sống chúng ta và thế giới nói chung đã biến dạng vì đau khổ và khốn cùng.
Chống lại đau khổ thế nào được nếu chúng ta không cầu xin với Đấng đã thấy rõ tất cả sự đau khổ và khốn cùng của chúng ta? Ngài biết tất cả, có thể làm tất cả và yêu chúng ta vô hạn. Chúng ta cũng biến dạng vì nghi ngờ, sợ sệt và thất vọng. Chính Chúa Giêsu cũng đã có kinh nghiệm này trong cuộc khổ nạn của Ngài. Ngài rất hiểu chúng ta. Nhưng nhờ sự sống lại, Ngài là nguồn mach mọi hy vọng. Chúng ta hãy để cho kinh nguyện biến đổi chúng ta.
Lạy Chúa chúng con tạ ơn Chúa vì Đức Tin của Abraham, ông đã không ngần ngại hiến dâng đứa con trai duy nhất mà ông yêu mến làm của lễ hy sinh vì ông tin tưởng rằng Chúa thực hiện lời hứa là chúc phúc cho đoàn con cháu ông.
Chúng con thường quảng đại dâng cho Chúa điều không có giá trị đối với chúng con. Phần Chúa, Chúa lại cho chúng con cái đích thực, đó là những nhu cầu cần thiết sống động nhất, những ước mơ chính đáng nhất và những khát vọng sâu xa nhất.
Xin ban cho chúng con lòng tin tưởng phó thác tuyệt đối vào Thánh ý Chúa, để chúng con biết đón nhận bằng tình yêu tất cả những gì Chúa yêu cầu chúng con, và để Chúa có thể coi chúng con là con Chúa và chúc phúc cho chúng con.Amen!
Lm. Gioan Đặng Văn Nghĩa

 

MC2-379: Chúa Hiển Dung

Lời Chúa:
Lc 9, 28b-36
28b Khi ấy, Chúa Giêsu đưa Phêrô, Giacôbê và Gioan lên núi cầu nguyện. 29 Và đang khi cầu nguyện, diện mạo Người biến đổi khác thường và áo Người trở nên trắng tinh sáng láng. 30 Bỗng có hai vị đàm đạo với Người. Đó là Môsê và Êlia, hiện đến uy nghi, và nói về sự chết của Người sẽ thực hiện tại Giêrusalem. 31 Phêrô và hai bạn ông đang ngủ mê, chợt tỉnh dậy, thấy vinh quang của Chúa và hai vị đang đứng với Người. 32 Lúc hai vị từ biệt Chúa, Phêrô thưa cùng Chúa Giêsu rằng: "Lạy Thầy, chúng con được ở đây thì tốt lắm, chúng con xin làm ba lều, một cho Thầy, một cho Môsê, và một cho Êlia". 33 Khi nói thế, Phêrô không rõ mình nói gì. 34 Lúc ông còn đang nói, thì một đám mây bao phủ các Ngài và thấy các Ngài biến vào trong đám mây, các môn đệ đều kinh hoàng. 35 Bấy giờ từ đám mây có tiếng phán rằng: "Đây là Con Ta yêu dấu, các ngươi hãy nghe lời Người". 36 Và khi tiếng đang phán ra, thì chỉ thấy còn mình Chúa Giêsu. Suốt thời gian đó, các môn đệ giữ kín không nói với ai những điều mình đã chứng kiến.
(Nguồn: Ủy Ban Thánh Kinh / HĐGMVN)
Bấy giờ từ đám mây có tiếng phán rằng: "Đây là Con Ta yêu dấu, các ngươi hãy nghe lời Người" (Lc 9,35)
Suy niệm:
A. Phân tích (Hạt giống...)
 

Lúc Chúa Giêsu và 3 môn đệ đang ở trên núi (biến hình) thì ở dưới núi, người ta đem đến cho các B138 MC2-379

Lúc Chúa Giêsu và 3 môn đệ đang ở trên núi (biến hình) thì ở dưới núi, người ta đem đến cho các môn đệ một đứa trẻ bị quỷ ám mắc kinh phong. Nhưng các ông không chữa được. Khi Chúa Giêsu trở lại Ngài nói lý do thất bại là thiếu lòng tin.
B. Suy niệm (...Nẩy mầm)
1. “Ôi thế hệ kém lòng tin và hư hỏng. Ta còn phải ở với các ngươi đến bao giờ? Ta còn phải chịu đựng các ngươi đến bao giờ nữa?”
Chúa Giêsu đang than phiền về ai thế?
- Về những người Do Thái, về cha đứa trẻ và cả các môn đệ Ngài.
Các môn đệ đã ở với Chúa bao nhiêu năm mà vẫn kém lòng tin và hư hỏng. Tôi cũng thế, Chúa phải buồn vì ở với tôi, Chúa phải than vì chịu đựng tôi.
Xin tha cho con và xin thêm đức tin cho con.
2. Thất bại là do thiếu lòng tin.
3. Chúa Giêsu nói đức tin có sức mạnh chuyển núi rời non. Tôi không cần chuyển dời núi Thái Sơn hay Trường Sơn, mà cần chuyển dời những ngọn núi kiêu căng, tự ái, ích kỷ, dục vọng. Bấy lâu nay dù tôi có cố gắng nhiều nhưng chẳng làm chúng nhúc nhích tí nào cả. Hôm nay tôi thử dùng sức mạnh đức tin vào ơn Chúa để chuyển động chúng xem sao. Tôi hãy nhớ lời tâm sự của Thánh Phaolô: “Tôi có thể làm được mọi sự trong Đấng là sức mạnh của tôi”, vì “Khi tôi yếu chính là lúc tôi mạnh”.
4. Con người dễ mắc cám dỗ cậy vào sức riêng của mình và do đó dễ gặp thất bại trong cuộc sống. Chính các môn đệ cũng không tránh khỏi những cám dỗ đó. Ngài muốn các ông nhận thức giới hạn của mình khi để các ông thất bại trong việc trừ quỷ câm. Trước đây, nhờ quyền năng Chúa các ông xua trừ được nhiều quỷ. Có lẽ các ông bắt đầu quên điều đó, quên mình là dụng cụ của Thiên Chúa. Bởi thế, sau khi để các ông nhận thức rõ sự thất bại của mình, Chúa đã giải thích cho các ông biết rằng để thành công, các ông cần phải có đức tin dù là đức tin bé, cần gắn bo với Chúa, cần phải em và ăn chay. (“Mỗi này một tin vui”).
(Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái)
Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giê-su Thánh Thể,
Chúa là thần dược, là sức sống bổ dưỡng cho cuộc đời chúng con. Thánh Thể Chúa có thể chữa lành, xoa dịu thương đau cho cả hồn và xác chúng con. Xin Chúa hãy củng cố lòng tin còn yếu kém của chúng con. Xin dạy chúng con biết nương tựa vào quyền năng và tình thương của Chúa khi phải đối đầu với gian nan thử thách.
Nhưng Chúa ơi, có lẽ Chúa cũng thất vọng vì đức tin của chúng con chẳng bằng hạt cải. Chúng con còn hay ngã lòng trước nghi nan. Chúng con còn hay thất vọng trước những thất bại của cuộc đời. Nhiều lần chúng con buông xuôi cho dòng đời nổi trôi. Chúng con cậy vào sức mình hơn là tin tưởng trao vào tay Chúa những khó khăn thử thách. Chúng con đã không bám vào Chúa để vượt qua giông tố cuộc đời. Xin Chúa tha thứ cho những yếu kém của lòng tin nơi chúng con. Xin ban cho chúng con sức mạnh và ơn can đàm để chúng con luôn vững tin và trông cậy vào Chúa.
Lạy Chúa Giê-su mến yêu, là sức mạnh nâng đỡ những ai khổ sầu, xin thương nâng đỡ, chở che cuộc đời chúng con. Amen.
(Jos Tạ duy Tuyền)

 

MC2-380: BA NGỌN NÚI

Núi là biểu tượng cho sự uy nghi, hùng vĩ, cao cả. Trong Thánh Kinh, núi thường được xem là nơi B139 MC2-380

Núi là biểu tượng cho sự uy nghi, hùng vĩ, cao cả. Trong Thánh Kinh, núi thường được xem là nơi gặp gỡ giữa trời và đất, giữa thần linh và con người. Những mạc khải quan trọng trong Thánh Kinh đều diễn ra trên núi.
Trong tác phẩm “Đức Giêsu thành Nadarét”, suy niệm về biến cố Hiển Dung, Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI đã viết những lời thật ý nghĩa về các ngọn núi: “Chúa Giêsu đem theo các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan riêng với mình và dẫn họ lên một ngọn núi cao (Mc 9, 2). Chúng ta lại gặp ba vị này trong vườn Cây Dầu (Mc 14, 33), lúc đó cơn âu lo cuối cùng của Đức Giêsu như hình ảnh nghịch lại với Hiển Dung, dù vậy cả hai vẫn thuộc vào nhau. Ở đây không nên bỏ qua đoạn Xh 24, ông Môsê lên núi cùng với Aaron, Nadab và Abihu, có lẽ cùng với 70 vị trưởng lão của Israel.
Ở đây, như lời bài giảng trên núi và trong những đêm cầu nguyện của Đức Giêsu, chúng ta lại gặp núi như vị trí gần gũi cách đặc biệt với Thiên Chúa. Chúng ta nhìn tổng hợp một lần những ngọn núi khác nhau trong đời sống Đức Giêsu: núi cám dỗ; núi lúc Người ngồi rao giảng; núi cầu nguyện; núi Hiển Dung; núi âu lo; núi thập tự và cuối cùng là núi Thăng Thiên, trên đó – nghịch lại với lời mời đón nhận vương quyền thế giới do quyền lực của ma quỷ – Chúa tuyên bố: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất” (Mt 28, 18). Nhưng trong hậu cảnh, người ta cũng thấy xuất hiện các ngọn núi Sinai; Horep; Morija – các ngọn núi mạc khải của Cựu Ước, kết hợp làm một với núi khổ nạn và núi mạc khải; tất cả chúng đều hướng đến núi Đền Thờ, nơi đó mạc khải trở thành phụng vụ.
Nếu chúng ta đi tìm một lời giải thích, sẽ gặp ở hậu cảnh biểu trưng chung về núi: núi là vị trí nâng cao, không những phải trèo lên bên ngoài, nhưng ngay cả bên trong; núi như giải thoát gánh nặng thường nhật, như hít thở không khí trong lành của sáng tạo; núi cho chúng ta một cái nhìn thật xa và vẻ đẹp của vũ trụ; núi cho tôi một cảm giác nâng cao trong tâm hồn và cho tôi cảm nghiệm về Đấng Sáng Tạo. Ngoài lịch sử, còn có cảm nghiệm về một Thiên Chúa, Đấng đang nói và kinh nghiệm về cuộc khổ nạn mà đỉnh cao đạt được trong cuộc hy tế Isaac, trong hy tế Con chiên, tiền ảnh của Con Chiên cuối cùng bị sát tế trên núi Golgotha. Trên núi, ông Môsê và ông Êlia được đón nhận mạc khải của Thiên Chúa; các ngài đàm đạo với Đấng là mạc khải của Thiên Chúa nơi bản thân Người”. (x. Đức Giêsu thành Nadarét, Lm. Aug Nguyễn Văn Trinh biên dịch, trang 266-267).
Các bài đọc Thánh Kinh của Chúa Nhật hôm nay nói đến ba ngọn núi. Núi Moria đức tin, Tabor vinh quang và Golgotha tình yêu.
1.      Moria, núi niềm tin
Bài đọc 1 kể về ngọn núi Moria. Trên núi cao, Tổ phụ Abraham sẵn sàng hiến tế con trai duy nhất cho Thiên Chúa.
Tổ phụ Abraham có quê hương miền Lưỡng Hà. Chúa gọi ông tại Haran, lúc ông 75 tuổi. Chúa hứa cho ông có một dòng dõi đông đúc như sao trên trời, như cát bãi biển (St 12, 1-5). Chờ đợi mãi, dài đến 25 năm sau, bà Sara mới sinh cho ông được một người con duy nhất. Abraham bước vào tuổi 100, lời hứa của Thiên Chúa được thực hiện. Niềm vui quá lớn trong ngày con trẻ chào đời (St 21, 1-7). Bồng ẳm con trẻ, ông thấy tương lai của cả một dân tộc hùng mạnh. Vợ chồng già hạnh phúc ngập tràn trong tiếng khóc tiếng cười trẻ thơ. Isaac là đứa con của lời hứa, là cây gậy nương tựa tuổi già.
Thế rồi vào một ngày kia, Chúa phán với ông: "Abraham, Abraham! Ngươi hãy đem Isaac, đứa con một yêu dấu của ngươi, và đi đến đất Moria, ở đó, ngươi sẽ dâng nó làm của lễ toàn thiêu trên núi Ta sẽ chỉ cho ngươi ". Tiếng sét ngang tai làm ông chết lặng. Lệnh truyền sát tế Isaac, vượt quá tầm nghĩ của con người. Lời chúc phúc của Thiên Chúa cho ông làm tổ phụ các dân tộc, sẽ thành mây khói. Lệnh truyền làm ông đau nhói ruột gan.
Nhưng với niềm tin mãnh liệt, Abraham thi hành lập tức lệnh truyền ấy. Ngay khi ông đang giơ cao con dao để hạ sát con trai, Thiên Chúa đã ngăn cản bàn tay ông. Chúa phán: "Đừng giết con trẻ và đừng động đến nó, vì giờ đây Ta biết ngươi kính sợ Chúa, đến nỗi không từ chối dâng đứa con duy nhất cho Ta ".
Đức tin và lòng vâng phục của tổ phụ Abraham trở nên gương mẫu cho muôn thế hệ.
Tác giả thư Do Thái viết: “Bởi tin, Abraham được kêu gọi vâng lời ra đi đến xứ ông sẽ lấy làm cơ nghiệp, ông ra đi mà chẳng biết mình đi đâu” (Dt 11, 8). Tin là sẵn sàng làm theo lời Chúa dạy, hy vọng Chúa sẽ thực hiện điều Người hứa, dù trước mắt chưa thấy chút gì là hiện thực cả. Vâng lời Chúa, ông đã bỏ quê cha đất tổ lên đường và đặc biệt ông đã dám dâng Isaac làm lễ tế Thiên Chúa. Đức tin thật vững chắc, không do dự, không mặc cả. Vì một dạ tín trung với Chúa, Abraham đã nên “bạn thân của Thiên Chúa” (Gc 2, 23). Chúa gọi ông là: “Tôi Tớ của Ta” và nói “Ta ở với ngươi” (St 26, 24). Vì Chúa “Chúc lành cho các dân tộc trong dòng giống ông và dòng giống ông sẽ nên đông như cát biển” (Hc 44, 21), nên ông là cha chúng ta trong đức tin.
2.      Tabor, núi vinh quang
Chuẩn bị bước vào cuộc khổ nạn, Chúa Giêsu loan báo cho các môn đệ biết: Người sẽ lên Giêrusalem để chịu khổ nạn và chịu chết. Các môn đệ chao đảo niềm tin. Phêrô đại diện cho các anh em phản đối kiệt liệt. Phêrô không chấp nhận thập giá khổ nhục. Để cũng cố niềm tin cho các môn đệ, Chúa Giêsu đưa họ lên núi cao. Chúa biến hình, cho họ thấy một thoáng Phục Sinh trước Phục Sinh, cho hưởng nếm một chút Thiên Đàng trước Thiên Đàng. Nhờ đó các môn đệ thêm niềm tin tưởng, thêm mạnh mẽ can đảm.
Chúa đưa ba môn đệ lên núi cao. Các ông được đi vào một thế giới vừa kỳ diệu vừa lạ lùng, làm biến đổi ý nghĩa cuộc đời.
Các ông thấy: “Dung mạo Người bỗng đổi khác, y phục Người trở nên rực rỡ, trắng tinh, không có thợ nào ở trần gian giặt trắng được như vậy” (Mc 9, 3); “Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng” (Mt 17, 2); “Đang lúc Người cầu nguyện, dung mạo Người đổi khác, y phục Người trở nên trắng tinh chói lòa” (Lc 9, 29).
“Chính nơi đây nổi bật sự liên hệ và sự khác biệt với gương mặt ông Môsê: “Khi ông Môsê từ trên núi Xinai xuống, tay cầm hai tấm bia Chứng Ước, khi xuống núi, ông Môsê không biết rằng da mặt ông sáng chói bởi đã đàm đạo với Thiên Chúa” (Xh 34, 29-35). Qua việc đàm đạo với Thiên Chúa, ánh sáng của Thiên Chúa chiếu sáng trên ông và làm cho ông sáng chói. Như thế, ánh sáng từ bên ngoài chiếu vào ông làm cho ông sáng chói. Đức Giêsu chói sáng tự bên trong, không những Người đón nhận ánh sáng mà chính Người là ánh sáng bởi ánh sáng” (sđd trang 268).
Và có một đám mây bao phủ các ông. Và từ đám mây, có tiếng phán rằng: “Đây là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Người!” (Mc 9, 7). Đám mây thiên linh, là dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa. Đám mây ngự trên Lều Hội Ngộ cho thấy sự hiện diện của Đức Chúa. Đức Giêsu là Lều Thánh, đám mây của sự hiện diện Thiên Chúa đậu trên Người và từ đó cũng sẽ “bao phủ” mọi người. Sự kiện thánh tẩy Đức Giêsu được tái hiện, nơi đó Chúa Cha từ đám mây công bố Đức Giêsu là Con: “Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con” (Mc 1, 11) (sđd. trang 172).
Các môn đệ còn thấy: “Có hai nhân vật đàm đạo với Người, đó là ông Môsê và ông Êlia”. Đây là hai nhân vật quan trọng nhất trong Cựu Ước, đại diện cho hai thực tại quan trọng nhất của Do Thái giáo. Môisen đại diện cho luật pháp. Êlia đại diện cho các ngôn sứ. Hai ông là biểu tượng tiên báo sự ra đời của Đức Giêsu. “Lề luật và ngôn sứ đàm đạo với Đức Giêsu và nói về Người.
Trong một chú thích ngắn ngũi, Luca trình thuật cho chúng ta về điều hai chứng nhân của Thiên Chúa nói với Đức Giêsu: “Hai vị hiện ra, rạng ngời vinh hiển, và nói về cuộc xuất hành Người sắp hoàn thành tại Giêrusalem” (Lc 9, 31). Đề tài đàm đạo của các ngài là thập giá, nhưng hiều ngầm là cả cuộc “Xuất hành của Đức Giêsu” phải diễn ra tại Giêrusalem. Thập giá Đức Giêsu là cuộc xuất hành, một việc bước ra khỏi cuộc sống này, vượt qua Biển Đỏ của cuộc khổ nạn và tiến đến vinh quang, dù vẫn còn mang thương tích của cuộc khổ nạn” (sđd. trang 268).
Ba môn đệ Phêrô, Gioan và Giacôbê có những trải nghiệm tuyệt vời về Thầy của mình. Cũng vẫn là Đức Giêsu bằng xương bằng thịt mà các ông vẫn thường gặp gỡ tiếp xúc hằng ngày, nhưng lần này, các ông được nhìn thấy Người dưới một dung mạo mới: thật sáng ngời, thật hấp dẫn và đầy uy nghi. Các ông vững lòng tin tưởng.
3.      Golgotha, núi tình yêu
Trên núi cao, Đức Giêsu gặp gỡ thân mật với Chúa Cha. Bỗng chốc Người biến hình. Các môn đệ ngất ngây trong niềm hạnh phúc tuyệt vời. Các ông muốn ở lại trên núi để sống niềm hạnh phúc ngập tràn ấy. Các ông muốn níu kéo khoảnh khắc thần tiên ấy lại nên Phêrô thay mặt anh em thưa với Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, chúng con ở đây, thật là hay! Chúng con xin dựng tại đây ba cái lều, một cho Thầy, một cho ông Môsê, và một cho ông Êlia”.
Các môn đệ muốn đăng ký thường trú trên núi Tabor, muốn đắm mình trong hào quang rực rỡ. Họ bỏ lại dưới chân núi các bạn đồng môn, các cuộc truyền giáo của Thầy. Họ muốn xa rời dân chúng đang khao khát Lời Chúa. Nhưng Đức Giêsu đưa các môn đệ trở xuống. Người chỉ lên đỉnh Tabor trong chốc lát rồi xuống núi chuẩn bị vác thập giá lên núi Golgotha. Xuống núi để chu toàn nhiệm vụ trần gian. Đức Giêsu phải chịu khổ nạn, chịu chết rồi mới Phục Sinh mở lối vào Thiên Đàng. “Cảm nghiệm sự kiện Hiển Dung đã giúp cho Phêrô nhận thức trong lúc ngất trí, những thực tại được biểu trưng trong các nghi thức của ngày lễ đã được hoàn tất, biến cố Hiển Dung loan báo thời đại Messia đã bắt đầu. Mãi khi xuống núi, ông Phêrô lại phải học hỏi một lần nữa, thời đại Messia trước tiên là thời đại của thập giá và việc Hiển Dung, Chúa biến dạng thành ánh sáng, sẽ bao trùm chúng ta trong ánh sáng của cuộc khổ nạn” (sđd. trang 269).
Hai đỉnh núi: núi Tabor và núi Golgotha cách nhau không xa về địa lý nhưng lại là con đường vạn lý. Chỉ có con đường thập giá tình yêu mới nối liền hai núi mà thôi.
Phêrô cùng các Tông Đồ còn phải vượt qua những yếu đuối, sa ngã, còn phải nỗ lực vượt qua mọi khó khăn thử thách, còn phải chịu đau khổ vì Thầy chí thánh, còn phải trải qua cái chết đớn đau rồi mới tới được Núi Thánh Thiên Quốc như lòng mong ước. Các ngài chỉ đi một con đường Thầy mình đã đi qua. Đó là con đường thánh giá tình yêu.
4.      Muốn tới vinh quang phải đi qua thập giá tình yêu và niềm tin
Ba môn đệ thân tín được Đức Giêsu dẫn lên núi Tabor. Ở đó cả ba nhìn thấy vinh quang của vương quốc Thiên Chúa chói sáng nơi Đức Giêsu. Trên núi, đám mây thánh thiện của Thiên Chúa bao phủ họ. Trên núi, trong cuộc đàm đạo của Đức Giêsu Hiển Dung với Lề luật và Ngôn Sứ, họ hiểu rằng, giờ của ngày Lễ Lều đích thực đã đến. Trên núi, họ cảm nghiệm, Đức Giêsu chính là Tora sống động, là lời trọn vẹn của Thiên Chúa. Trên núi, họ thấy “quyền lực” của vương quốc đang đến trong Đức Kitô.
Nhưng chính trong sự gặp gỡ đáng sợ với vinh quang của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu, họ phải học biết điều Phaolô nói trong lá thư thứ nhất gởi giáo đoàn Côrintô với các môn đệ thuộc mọi thời đại: “Chúng tôi rao giảng một Đức Kitô bị đóng đinh, điều mà người Do thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ. Nhưng đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi, dù là Do Thái hay Hy Lạp, Đấng ấy chính là Đức Kitô, Người là sức mạnh và là sự khôn ngoan của Thiên Chúa” (1,23-24).
Sức mạnh của vương quốc tương lai xuất hiện nơi Đức Giêsu Hiển Dung, Đấng nói với các chứng nhân Cựu ước về sự cần thiết của cuộc khổ nạn như con đường tiến đến vinh quang (x. Lc 24, 26-27). Như thế, họ được tiền dự vào ngày quang lâm; nhờ đó dần dần họ được dẫn vào mầu nhiệm sâu thẳm của Đức Giêsu (sđd. trang 273).
Muốn đạt tới vinh quang núi Tabor, cần phải vượt qua được hai ngọn núi Moria đức tin và Golgotha tình yêu một cách trọn vẹn. Lúc ấy, thật là hạnh phúc được chiêm ngưỡng vinh quang Thiên Chúa.
Lm. Giuse NGUYỄN HỮU AN

 

MC2-381: Biến hình và đổi đời - ViKiNi

(Trích trong ‘Xây Nhà Trên Đá’ của Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm)
 

Michel Ange và Raphael là hai kiến trúc sư thiên tài, còn là họa sĩ và điêu khắc gia nổi tiếng nhất MC2-381

Michel Ange và Raphael là hai kiến trúc sư thiên tài, còn là họa sĩ và điêu khắc gia nổi tiếng nhất thế giới, đã được Đức Giáo Hoàng Juliô II trao cho nhiệm vụ thiết kế xây cất và trang trí Đại Thánh đường Thánh Phêrô và địện Vatican ở Rôma.
Suy về đề tài Chúa Biến Hình, Raphael đã thực hiện một bức họa có 3 cấp: Cấp trên là Đức Giêsu đứng giữa cụm mây sáng láng, cấp giữa là Thánh Phêrô, Gioan và Giacôbê, cấp cuối là nhóm các môn đệ và dân chúng vây quanh một thiếu nhi bệnh họan đang nằm chờ chết bên cạnh có 2 môn đệ: một môn đệ đang chỉ tay lên Đức Giêsu, môn đệ kia đang chỉ tay vào bệnh nhân” (ĐGM. Althur Tone). Bức họa đã lột được hết ý nghĩa của bài Tin Mừng hôm nay là chỉ có Đức Giêsu mới biến đổi những kẻ bệnh hoạn nên lành thánh. Tin Mừng hôm nay đã giới thiệu Đức Giêsu lên núi cầu nguyện, đang lúc Người cầu nguyện dung nhan Người bỗng biến đổi sáng láng, chói lòa trong vinh quang. Người cầu nguyện để biến đổi ý mình trọn vẹn theo Thánh ý Chúa Cha, Người cầu nguyện cho cuộc tử nạn của Người sẽ phải hoàn tất tốt đẹp tại Giêrusalem và biến cuộc sống ta nên vinh hiển. Người cầu nguyện cho ánh sáng tình yêu của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh thần soi sáng cho khắp nhân loại, từ Adam Eva đến Abraham, Maisen, Êlia, từ Phêrô, Gioan, Giacôbê đến những người đang đứng chờ dưới chân núi được sống lại trong vinh quang nước Chúa. Người cầu nguyện nhất là cho các môn đệ và chúng ta biến thành đồng dạng với Con Chúa Cha và biết vâng lời Người: “Đây là Con Ta, Người đã được Ta tuyển chọn, hãy vâng nghe lời Người”.
Phải vâng lời Người để “biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta, nên giống thân thể vinh hiển của Người”.
Phụng vụ lời Chúa hôm nay nhấn mạnh đến sự biến đổi con người chúng ta nên giống con người của Đức Giêsu Kitô nhờ vâng lời Thiên Chúa.
Bài I: Abraham đã được Chúa biến đổi từ dòng dõi con cháu thành U của tà thần, nên tổ phụ công chính của một dòng dõi đông đảo sáng láng như các vì sao trên trời. Nhưng ông phải biết nhận Thiên Chúa là Đức Chúa của ông, phải biết vâng lời Chúa từ bỏ Candê tới đất Chúa chỉ định. Ở đó ông dâng lễ tạ ơn Chúa và đón nhận giao ước của Ngài, nhờ đó Abraham đã đổi đời: từ kẻ thờ tà thần nên tổ phụ dòng dõi thờ Thiên Chúa.
Bài II: Thánh Phaolô bảo dân Philiphê hãy noi gương đổi đời của ông. Ông đã đổi đời từ kẻ hung ác bắt bớ hành hung các tín hữu của Đức Giêsu trở thành tông đồ hăng hái nhiệt tình nhất rao giảng Đức Giêsu. Nhưng còn nhiều kẻ chưa đổi đời như ông, họ vẫn còn thờ cái bụng, thờ cái ô nhục của thế gian. Thánh Phaolô đã thương khóc họ, vì họ sẽ phải hư vong. Ông cầu nguyện cho họ nhận ra quê hương thật ở trên trời để họ mong đợi Đức Giêsu Kitô đến biến đổi họ nên giống Người, sống kết hợp khăng khít vững vàng với Người. Đó là niềm vui và vinh dự thực sự của họ và của Phaolô.
Bài Tin Mừng cho ta thấy rõ sự biến đổi của Đức Giêsu Kitô: từ xác phàm loài người, Đức Giêsu đã biến đổi sang thân xác vinh quang chói lọi. Maisen và Êlia cũng được biến đổi nên sáng láng rực rỡ khi đến gặp gỡ Đức Giêsu.
Maisen từ một thanh niên hèn nhát chạy trốn đã biến đổi thành một vị lãnh đạo vĩ đại của dân Israel, nhờ Thiên Chúa đã kêu gọi ông, dạy bảo ông phải về thương lượng với vua Pharaon để giải phóng dân đang làm nô lệ nhà vua, được trở về đất hứa. Maisen đã nghe lời Thiên Chúa đến gặp nhà vua, ông không còn khiếp sợ vua nữa. Trái lại vua và cả dân Ai Cập khiếp sợ Maisen và thúc giục Maisen mau mau dẫn dân Israel ra khỏi Ai Cập. Nhờ Maisen vâng lời Thiên Chúa, Pharaon đã đổi lòng và cả dân tộc Israel nô lệ được đổi đời làm dân Thiên Chúa.
Êlia cũng biết nghe lời Chúa, đến giáp mặt vua Akhab và hoàng hậu Israel đang lùng bắt ông. Thiên Chúa bảo Êlia bỏ lối sống ẩn nấp giữa khe suối rừng hoang, ông đã vâng lời Chúa đến gặp Akhab. Thoạt thấy ông, Akhab nói: “Đây chính là kẻ giáng họa cho Israel”. Êlia đáp: “Không phải tôi, nhưng là chính ông giáng họa, vì ông đã bỏ lệnh truyền của Thiên Chúa, bây giờ ông hãy triệu tập dân chúng cùng 450 sư sãi thần Baal và 400 kẻ ăn nơi bàn Esabel tại núi Karmel”. Khi dân chúng đến, Êlia nói: “Cho đến bao giờ nữa, các ngươi còn khập khễnh đi hai giò? Nếu Giavê là Thiên Chúa, thì hãy theo Người; nếu là Baal thì hãy theo đi”. Rồi hai bên lập bàn thờ để chứng tỏ đâu là Thiên Chúa thật, 450 sư sãi đặt con bò trên đống củi và khấn thần Baal đem lửa đến thiêu của lễ, họ kêu suốt ngày vô ích. Còn Êlia bảo dân lấy nước đổ đẫm của lễ và đống củi, rồi ông cầu nguyện: “Lạy Giavê xin nhận lời tôi, khiến dân này nhận biết chính Người là Thiên Chúa thật, xin giáng lửa xuống thiêu của lễ với củi và cả đá bụi nữa”. Thấy thế, toàn dân sấp mặt xuống và nói: Giavê chính là Thiên Chúa. Họ đã từ bỏ Baal, đổi đời trở về tôn thờ Thiên Chúa. Nhờ đâu Abraham, Maisen, Êlia, Phaolô và dân Isarel được biến đổi như thế. Tin Mừng trả lời: Họ đã vâng lời Người.
Tất cả những ai muốn biến đổi sáng láng, muốn như Phêrô khao khát được ở trên núi vinh quang rực rỡ thì: “Hãy vâng nghe lời Người”. Mùa Chay chính là thời thuận tiện để chúng ta tập luyện vâng nghe lời Chúa dù phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng như Gioan, Phaolô và Giacôbê.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã biến đổi xác phàm ra xác thánh, đau khổ ra vinh quang, chết ra sống lại vinh hiển vì Người đã vâng lời Đức Chúa Cha. Xin cho con biết vâng lời Người biến đổi con người tội lỗi ra người thánh, đau khổ thành hy sinh, chúng con mới được Chúa cho đổi đời trong ánh sáng Phục sinh của Chúa.

 

MC2-382: Theo Chúa đến núi Tabor - Nguyễn Hiếu

MINH HỌA LỜI CHÚA
1. Biến hình đổi dạng
 

Trong cuốn phim “Mặt nạ,” có chuyện cậu Rocky Dentris. Cậu mắc chứng bệnh khác thường. Do MC2-382

Trong cuốn phim “Mặt nạ,” có chuyện cậu Rocky Dentris. Cậu mắc chứng bệnh khác thường. Do đó gương mặt cậu trông thật kinh dị lạ thường, không giống ai. Dù vậy, Rocky vẫn bằng lòng chấp nhận, không bao giờ tủi thân than oán.
Ngày nọ, Rocky đi công viên chơi với bạn. Họ vào nhà kính (nhà có bọc kính xung quanh). Họ nhìn vào kính và cười đùa chế giễu nhau về thân hình và gương mặt của nhau. Bỗng Rocky giật mình trông thấy trong kính gương mặt kỳ dị của cậu đã biến đổi thành một gương mặt đẹp đẽ lạ thường. Đây là lần đầu tiên các bạn của cậu mới thấy con người thực sự xinh đẹp bên trong của cậu được bộc lộ ra bên ngoài.
Câu chuyện đó cũng đã xảy ra cho Chúa Giê-su trong Tin Mừng hôm nay. Lần đầu tiên các tông đồ trông thấy Chúa hoàn toàn mới mẻ, sáng láng đẹp đẽ lạ thường, khiến thánh Phê-rô phấn khởi thốt lên: “Thưa Thầy, chúng con ở đây hay quá!...”
Tại sao cuộc biến hình sáng láng vinh hiển của Chúa Giê-su lại được chọn làm bài Tin Mừng trong Mùa Chay, là mùa buồn sầu ảm đạm, mùa của sám hối, chay tịnh, mà không được xếp vào bài Tin Mừng của mùa Phục Sinh, mùa mừng Chúa sống lại vinh hiển sáng láng?

Có hai lý do:
Trước hết, Chúa giúp cho các tông đồ nhận biết giá trị của mầu nhiệm từ thập giá của Người, vì các ông không hiểu, cũng chẳng chấp nhận. Chúa có chết đau khổ mới sống lại vinh quang. Có thập giá mới có ơn cứu rỗi.
Kế đến, Giáo hội chọn đọc bài Tin mừng về cuộc biến hình của Chúa Giêsu trong mùa chay, để cho chúng ta thấy rõ mối dây liên kết chặt chẽ giữa cuộc biến hình với cơn hấp hối của Chúa. Người chịu hấp hối, tâm hồn buồn rầu đến chết được" (Mt.26,38) trong vườn Cây Dầu để được biến hình sáng láng vinh hiển trên núi Ta-bor. Có hấp hối đau khổ mới có ngày biến hình đổi dạng vinh quang. Đó là bài học Chúa muốn dạy các Kitô hữu của Chúa thực hành hằng ngày, đặc biệt trong mùa Chay. Có "bỏ mình vác thánh giá hằng ngày" mới xứng đáng làm môn đệ, làm con yêu dấu và đồng thừa tự với Chúa Giêsu (Theo "Sunday Homilies").
2. Thập giá Chúa Kitô
Ở Hoa Kỳ, một trong những phi trường quốc tế lớn nhất và đầy đủ tiện nghi nhất là phi trường Pensylvania. Gần phi trường này có một ngôi thánh đường đồ sộ cao vút, nhất là có cái tháp chuông chọc trời, khiến cho mọi người sợ nguy hiểm cho máy bay mỗi khi bay lên đáp xuống. Để giúp mọi người thoát khỏi nỗi lo sợ đó, giáo dân trong xứ đã gắn trên ngọn tháp chuông một ngọn đèn ne-on thật to theo hình thánh giá. Từ đó, mỗi lần bay lên đáp xuống phi đạo, các phi công đều nhắm vào Thánh giá đó như một tiêu chuẩn bảo đảm an toàn chắc chắn...
***
Thập giá Chúa Kitô đã trở thành dấu chỉ của an toàn, của giải thoát, của hy vọng, và của sự sống cho con người. Ai muốn khỏi chết, phải nhìn lên thập giá. Ai muốn được sống, phải nhờ thập giá. Ai muốn được cứu rỗi, phải vác thập giá hằng ngày. Đó là những cuộc biến hình cao quý và cần thiết của mỗi người. (Theo "Như lòng Chúa khoan dung").
3. Cởi bỏ con người cũ
Thời lập quốc, Hoa Kỳ có ra một đạo luật: ai bị bắt quả tang trộm cắp, phải bị hình phạt khắc hai chữ S.T lên trán, để răn dạy mọi công dân. Ngày nọ có hai anh em bị bắt quả tang ăn trộm cừu. Cả hai bị xử phạt khắc hai chữ S.T. lên trán, có nghĩ đây là kẻ ăn trộm.
Một trong hai người anh em đó không chịu nỗi sỉ nhục nên trốn sang vùng đất khác. Nhưng anh không thể xóa đi hai chữ khắc trên trán. Ai nhìn thấy anh cũng tra hỏi ý nghĩa của hai chữ đó. Nhục nhã quá, anh không sống nổi nữa. Anh đã kết liễu cuộc đời mình!...
Ngược lại, người em của anh tự nhủ:
- Dù đi đâu, tôi cũng mang danh là kẻ trộm xấu xa. Tôi vẫn ở lại đây, cương quyết tái tạo lại niềm tin cho mọi người...
Với quyết tâm đó, ngày ngày anh cố gắng sống công bình chính trực, cặm cụi làm ăn sinh sống, không nhờ vả ai cũng chẳng làm thiệt hại ai, mà còn sẵn sàng giúp đỡ mọi người, nhất là những người bệnh hoạn cùng khổ chung quanh.
Chẳng bao lâu, anh được mọi người trong xứ mến phục. Nhiều người thấy anh sống công bình bác ái hơn mọi người như thế mà sao trên trán có khắc hai chữ S.T. Họ thắc mắc hỏi một cụ già về ý nghĩa hai chữ đó. Cụ trầm ngâm một lúc rồi đáp:
- Tôi cũng không rõ ý nghĩa của hai chữ đó. Nhưng nhìn vào cuộc sống của anh, tôi nghĩ hai chữ đó có nghĩa là "Thánh thiện".
***
Thế là người em trong câu truyện trên đây đã biết lột xác, thay hình đổi dạng, cởi bỏ con người cũ tội lỗi, mặc lấy con người mới hoàn hảo. Phải chăng đó là tấm gương sáng chói cho chúng ta? Phải chăng đây cũng là một cuộc biến hình sáng láng mà Chúa kêu gọi chúng ta thực hiện hằng ngày, nhất là trong mùa Chay thánh?...
4. Khu ổ chuột ở Ấn Độ
Một đêm nọ, ký giả Trey Ketler đi bách bộ xuyên qua một khu ổ chuột tại thành phố Calcutta, Ấn Độ. Thình lình ông nghe một âm thanh kỳ lạ. Ông quay lại và thấy một cậu bé ăn xin tàn tật đang lết về phía ông. Người ký giả lấy tiền lẻ trong túi và trao cho cậu bé. Không đầy một phút sau, ông lại nghe một cuộc chửi rủa inh ỏi. Ông quay lại, thấy cậu bé ăn xin tàn tật bị đám ăn xin tàn tật khác trấn lột!...
Ngày nọ, một người nữ khác cũng đến khu ổ chuột đó. Bà thấy cảnh quá nghèo khổ của khu này, bà dốc hết những gì bà có biến đổi khu này. Đầu tiên, bà chỉ cất được một phòng học cho trẻ. Tấm bảng là nền nhà, bàn ghếcũng là nền nhà. Ít năm sau tức là năm 1997, khi bà qua đời, khu ổ chuột đã có 100 trường học trang bị đầy đủ: 750 phòng phát thuốc miễn phí, 150 nhà dành cho những kẻ bị bỏ rơi, và trên 40 ngàn thiện nguyện từ khắp nơi đến trợ giúp. Người nữ đó chính là Mẹ Têrêsa Calcutta.
***
Phải chăng đó là một cuộc biến hình Chúa dùng con cái Người thực hiện.
Mùa Chay Chúa muốn chúng ta thực hiện nhiều cuộc biến hình như thế. (Theo "Ánh Sáng thế gian")
5. Nhận lỗi
Liszt là một nhạc sĩ dương cầm nổi tiếng khắp nước Hungary vào cuối thế kỷ 19. Nhưng càng nổi danh ông càng bị người ta mạo danh.
Một hôm tại một thành phố bên Đức, một thiếu nữ quảng cáo buổi độc tấu dương cầm và cô ta là học trò của nhạc sĩ Liszt. Nhưng một ngày trước khi biểu diễn, cô hoảng hốt hay tin nhạc sĩ đại tài đó đến thành phố. Như thế sự mạo danh của cô sẽ bị khám phá và tương lai cô sẽ tiêu tan. Nhưng thay vì bỏ cuộc, cô đã can đảm đến gặp nhạc sĩ và thú nhận việc mạo danh của cô. Nhạc sĩ ôn tồn lắng nghe cô và dịu dàng nói:
- Cháu đã phạm một lỗi lầm. Nhưng trong đời không ai tránh được lầm lỗi. Cháu đã biết lỗi và hối hận. Điều đó tốt lắm rồi. Bây giờ cháu hãy biểu diễn thử cho bác nghe.
Cô liền ngồi lên dương cầm, biểu diễn cho ông ta nghe. Nghe xong, ông ta sửa lại những sai sót rồi nói:
- Dù bác dạy cho cháu rất ít, nhưng cháu cũng là học trò của bác. Ngày mai cháu cứ đi trình diễn và loan báo: Bác sẽ trình tấu bản cuối cùng.
***
Cách cư xử của nhạc sĩ Liszt trên đây nhắc chúng ta cách đối xử của Chúa đối với chúng ta. Những vấp váp lỗi lầm của chúng ta luôn được Chúa tha thứ sửa đổi lại cho tốt đẹp. Tất cả những thất bại khổ đau và ngay cả những vấp ngã của chúng ta cũng được Người biến đổi thành những cơ may để mời gọi chúng ta tiến bước theo Người, cùng vác thánh giá theo Người để được cùng Người sống lại vinh quang.
Mùa Chay chính là thời gian đặc biệt để chúng ta thực hiện điều đó.
(Theo "Phút cầu nguyện cuối ngày", tập II).
6. Một cuộc hoán cải lạ lùng
Trong một nhà giam các tù nhân trọng án, có một tù nhân khét tiếng hung ác tên là SITA ĐÊLI (Starr Daily). Anh ta vào tù ra khám nhiều lần vì tội say sỉn đánh lộn làm mất an ninh trật tự xã hội. Trong lần tuyên án thứ năm, quan tòa đã tuyên bố: “Chúng tôi biết rằng có bắt anh ở tù thêm cũng chẳng có kết quả. Phải nói thật là: chúng tôi hoàn toàn thất vọng về anh! Nhưng chúng tôi không thể không tuyên án cho anh. Lần này anh bị phạt tù giam 10 năm”.
Sau khi vào nhà tù, Đêli vẫn tỏ thái độ ngoan cố và còn coi thường kỷ luật nhà tù hơn trước. Anh thường hay đánh đập các bạn tù và phản đối lại cai tù, đến nỗi anh bị biệt giam trong một căn hầm tối dơ bẩn đầy gián hôi và lũ chuột cống... Một hôm, khi đang nằm ngủ trên nền gạch lạnh giá, đột nhiên Đêli nghe có tiếng nói như sau: “Hỡi Đêli, tại sao mi lại bị nhốt riêng trong căn hầm khủng khiếp này? Tại sao mọi người đều thù ghét mi? Tại sao mi không dùng sức khỏe để phục vụ mà cứ tiếp tục làm điều ác chống lại kẻ khác như thế? ”... Tư tưởng này đã đánh động tâm hồn khiến Đêli nhiều phen suy nghĩ. Rồi một đêm kia Đêli đã gặp được Đức Giêsu trong giấc mơ, Đấng mà anh đã xua đuổi ra khỏi cuộc đời anh từ khi mười hai tuổi. Cũng từ đây, hình ảnh của Đức Giêsu thường xuyên xuất hiện trong tâm trí anh. Anh mơ thấy Người đến bên âu yếm nhìn và nói với anh những lời mà anh đã từng thuộc lòng khi còn bé: “Hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin mừng”, “Hãy yêu thương kẻ khác như yêu chính mình ngươi”... Anh cảm thấy tâm hồn được bình an mà từ trước đến nay chưa khi nào được hưởng. Rồi khuôn mặt của những kẻ đã từng bị anh hãm hại lần lượt xuất hiện trong tâm trí khiến anh rất hối hận. Lần đầu tiên, anh đã mở miệng cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ có tội” (Lc 18,13).
Cảm nghiệm ấy đã biến Đêli từ một người hung ác gian tham và thù hận, trở thành một người đầy độ lượng nhân ái! Sự biến đổi nội tâm khiến Đêli không còn la hét đập phá như trước, Các nhân viên cai ngục đã nhận ra có sự thay đổi rõ rệt xảy ra nơi anh, họ cho phép anh được trở lại trại giam thường phạm. Tại đây anh bắt đầu đối xử tốt với các bạn tù: Anh luôn bênh vực những người mới đến, nên dần dần anh được mọi người trong trại quý mến. Rồi anh được giảm án tù từ mười xuống còn 5 năm. Mãn hạn tù, anh gia nhập vào “Nhóm cải thiện chế độ lao tù”. Cùng với cha tuyên úy và các bạn, Đêli đi thăm và động viên các tù nhân còn bị giam và khuyên họ hãy học tập cải tạo tốt. Nhờ đó nhiều bạn tù đã sớm được về đoàn tụ với gia đình. Linh mục Pitơ Mácsôn (Peter Marshall) đã bình luận về sự hóan cải của Đêli như sau: “Đây là một bằng chứng sống động cho thấy: Sita Đêli không chỉ là một người cũ được tân trang lại, nhưng chính là một tạo vật hoàn toàn mới của Thiên Chúa!”
Biến hình lời nói
Biến hình việc làm, lối suy nghĩ
Biến hình tình thương # ghen ghét
Biến hình tránh tội lỗi
Biến hình là năng chịu bí tích nhất là phép giải tội.
Biến hình là không lân la đến dịp tội (LeoV)

 

MC2-383: Biến hình với Chúa – Huệ Minh

Tinh thần của Mùa Chay là đi vào sa mạc của lòng mình để ở với Chúa trong thinh lặng và cầu MC2-383

Tinh thần của Mùa Chay là đi vào sa mạc của lòng mình để ở với Chúa trong thinh lặng và cầu nguyện. Đối diện với Chúa, ta thấy rõ mình hơn và hiểu biết Chúa hơn.
Sau khi Chúa Giêsu loan báo lần thứ nhất về cuộc tử nạn và phục sinh, Người đưa ba tông đồ thân tín Phêrô, gioan và Giacôbê lên núi. Người biến hình trước mặt các tông đồ để củng cố niềm tin cho các ông. Biến cố Chúa biến hình trên núi chuẩn bị cho các tông đồ đi vào mầu nhiệm vượt qua: Tử nạn và Phục sinh, để cho các tông đồ xác tín rằng theo Chúa Giêsu không chỉ có Thập Giá, mà còn có cả vinh quang nữa. Đó là ý nghĩa chính của cuộc biến hình này.
Ngang qua tương quan gần gũi với Chúa, chúng ta được Ngài biến đổi để trở nên rạng ngời hơn. Lời Chúa hôm nay thuật lại cho chúng ta rằng: “Hôm ấy, Đức Giêsu lên núi cầu nguyện, đem theo các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan. Đang lúc Người cầu nguyện, dung mạo Người bỗng đổi khác, y phục Người trở nên trắng tinh chói loà.” (Lc 9, 28-29)
Trang Tin mừng hôm nay là lời tuyên bố từ trong áng mây: “Đây là Con Ta, Người đã được tuyển chọn, hãy vâng nghe lời Người”. Chính Thiên Chúa Cha giới thiệu Con của Người và xác nhận tư cách Thiên Sai của Chúa Giêsu, vị Thiên sai tôi tớ phải chết thay cho muôn người được cứu sống. Người kêu mời tất cả chúng ta hãy vâng nghe lời Con Thiên Chúa.
Gặp gỡ Thiên Chúa thực sự luôn đi kèm một thay đổi tích cực nào đó cho cả tâm hồn lẫn thể xác. Khuôn mặt phản ánh nội tâm. Nếu muốn thay đổi dung mạo của mình, cách hữu hiệu nhất là thay đổi tâm hồn.
Trong Mùa Chay, chúng ta có cơ hội tốt để đến gặp gỡ Thiên Chúa ngang qua nhiều hoạt động thiêng liêng với anh chị em trong đoàn thể của mình.
Cạnh đó, chúng ta cũng cần đi lên núi ở riêng với Chúa cách thân mật, để gặp gỡ Ngài diện đối diện. Đi lên núi là điều không dễ bởi nơi đó chỉ có một mình ta. Cuộc sống tấp nập khiến ta dường như không đủ tĩnh lặng để có thể một mình đi gặp Chúa. Nhiều khi chúng ta ngại phải đối diện với bản thân mình, ngại phải duyệt xét những vấp ngã của chính mình. Khi đó, ta thường hay thoái thác và miễn trừ cho mình những chuyến đi vào sa mạc của cõi lòng.
Khi nhìn thấy dung mạo sáng láng của Thầy, các tông đồ dường như muốn ở lại mãi trong vinh quang ấy và muốn “dựng lều” để ở lại nơi ấy. Các ông muốn ở lại trong vinh quang sáng ngời nhưng lại không hiểu hết về cuộc xuất hành Thầy mình sắp hoàn tất tại Giêrusalem. Phêrô, Giacôbê và Gioan muốn chiêm ngắm dung mạo rạng ngời của Thầy Giêsu khi Ngài bày tỏ vinh quang, nhưng các ông lại trốn chạy không dám nhìn gương mặt đầy thương tích của Thầy trên núi Sọ.
Đi lên núi chiêm ngắm dung mạo rạng ngời của Chúa trong Chúa nhật hôm nay là lúc ta được bổ sức và biến đổi hầu có thể theo Chúa trong cả gian khó lẫn vinh quang. Biến cố biến hình và biến cố đồi Can-vê, cả hai đều xảy ra trên núi. Hai biến cố này mang dáng vẻ bên ngoài khác nhau nhưng diễn tả cũng một thực tại là Đức Giêsu vinh quang.
Quả vậy, theo thánh sử Gioan, thì chính lúc ở trên thập giá là lúc Đức Giêsu diễn tả vinh quang Thiên Chúa và lòng nhân hậu của Ngài cách tuyệt vời nhất. Qua mầu nhiệm thập giá, Đức Giêsu cho thấy Thiên Chúa vĩ đại và yêu thương đến thế nào! Một Thiên Chúa bị đánh đòn bầm dập và chịu treo trên cây gỗ cho đến chết. Một Thiên Chúa đã trở nên trò cười cho khách qua đường. Một Thiên Chúa không tìm cách trả thù, nhưng lại sẵn sàng lấp đầy yêu thương và tha thứ cho những bạo lực của con người. Chính vì thế mà chúng ta thấy Thiên Chúa cao cả và yêu thương ngay trong biến cố thập giá.
“Biến hình” cần thiết đối với các tín hữu trước hết là thay đổi cách sống. Mùa Chay là mùa sám hối canh tân, là thời điểm thuận lợi để lãnh nhận ơn Chúa. Rà soát lại hạnh kiểm của mình, mỗi tín hữu cần có những quyết tâm đổi mới cuộc đời dựa trên Lời Chúa. Qua cầu nguyện và chay tịnh, xin Chúa tăng sức và biến đổi tâm hồn mỗi người chúng ta hầu dung mạo chúng ta cũng được bừng sáng trong ân sủng và bình an.

 

MC2-384: Suy niệm của Lm. Nguyễn Thái

“Đang khi cầu nguyện, diện mạo Người biến đổi khác thường.”
 

Sau một trận cháy rừng ở Yellowstone Park, tiểu bang Wyoming, Hoa Kỳ, những nhân viên kiểm MC2-384

Sau một trận cháy rừng ở Yellowstone Park, tiểu bang Wyoming, Hoa Kỳ, những nhân viên kiểm lâm đã khám phá thấy một con chim bị cháy thành than rồi khô cứng lại dưới một gốc cây. Thật đau buồn khi phải dùng cây gậy đâm nhẹ vào mình chim mẹ để nhận thấy ba chim con thu mình dưới đôi cánh của chim mẹ. Người ta đã đặt giả thuyết rằng chim mẹ đã đem được con của nó tới gốc cây, tập hợp chúng lại dưới đôi cánh . Theo bản năng chim mẹ biết rằng hơi độc của đám khói cháy rừng đang bừng lên. Chim mẹ đã có thể bay đi thoát nạn, nhưng nó khong nỡ bỏ rơi con của mình để thoát thân. Ngay cả khi bị đốt cháy, nó vẫn không nhúc nhích để bảo vệ bầy con, và sẵn sàng chịu chết để bầy con đước sống dưới đôi cánh của mình.
Hình ảnh hy sinh của chim mẹ đã dùng chính mạng sống mình để bảo vệ bầy chim con, cũng đã được Chúa Giêsu dùng để diễn tả tình yêu của Thiên Chúa đối với dân Người khi nhìn thành thánh Giêru salem và than trách rằng: “Đã bao lần Ta muốn tập hợp con cái ngươi lại, như gà mẹ tập hợp gà con dưới cánh, mà các ngươi không chịu” (Lc 13:34).
Mùa chay là thời gian để ý thức về tình yêu của Thiên Chúa đối với con người. Trong Tông Huấn Tertio Milennio Adveniete, ĐGH Gioan Phaolô II đã viết: “Đối với các tôn giáo khác thì đầu tiên là con người đi kiếm tìm Thiên Chúa. Còn theo Kitô giáo thì điểm khởi đầu là cuộc Nhập Thể của Ngơi Lời. Ở đây ta thấy không còn chỉ là con người kiếm tìm Thiên Chúa, mà chính Thiên Chúa đích thân đến nói với con người và vạch chỉ cho họ con đường đạt tới Người” (đoạn 6). “Trong Đức Kitô Thiên Chúa không chỉ nói với con người moà còn là tìm kiếm con người” (đoạn 7).
Không phải căn cứ vào những việc đạo đức chúng ta làm trong Mùa Chay để nói rằng đó l à những nỗ lực đi tìm kiếm Thiên Chúa! Một tuần kiêng thịt một lần. Một chút sám hối trong tòa giải tội. Vài việc bác ái chưa đếm hết các ngón tay. Đọc thêm mấy câu kinh, đi mất chặng dàng thánh giá, sụt sùi với mất vần kinh cầu chịu nạn… Tình cảm dâng cao khóc thương cho những đau khổ Chúa Giêsu phải chịu vì tội lỗi nhân loại. Với bấy nhiêu việc làm đó mà ta dám nghĩ rằng mình đã yêu thương Thiên Chúa và đi tìm kiếm Ngài thực sự hay sao?
Chúng ta phải khiêm tốn nhận rằng con người xác thịt của mình rất yêu đuối, cứ muốn đắm chìm trong sự phù vân của trần thế tội lỗi. Con người vẫn lẩn tránh Thiên chúa. Sách Giảng Viên có lời khuyên dạy: “Phù vân, quả là phù vân. Phù vân, quả là phù vân. Tất cả chỉ là phù vân” (GV 1:2).
Họa sĩ C. Allan Gilbert đã vẽ một bức tranh mà tôi đặt tên là “Phù Vân”. Họa sĩ có một cái nhìn vừa đạo đức – theo sự gợi ý của lời khuyên trong sách Giảng Viên - vừa trào phúng khi vẽ bức hình diễn tả người phụ nữ đẹp đẽ sang trọng đang trang điểm, soi ngắm mình trong gương. Trên mặt bàn trang điểm, bày đủ loại phấn son, những chai dầu thơm hảo hạng, hoa tươi và ngọn nến. Mặc chiếc áo thời trang bằng tơ lụa mỏng của Tây phương, người phụ nữ hơi khom mình về phía trước để ngắm khuôn mặt cho rõ hơn. Rõ ràng người phụ nữ này đang có tất cả mọi sự thế gian cung ứng cho nàng – sắc đẹp, của cải và tuổi xuân.
“Với một phối cảnh rộng hơn, gương mặt xinh đẹp biến thành hình ảnh chiếc sọ người”.
Nhưng nếu bước lùi ra xa một chút, người nhìn sẽ phải ngạc nhiên ngay. Với một phối cảnh rộng hơn, người phụ nữ đang say đắm ngắm mình trong gương bị biến thành hình ảnh một chiệc sọ người! Thật là mỉa mai, tất cả những sự sang trọng của thế gian chỉ là phù vân như sách Giảng viên khuyên dạy. Của cải, tài sản, khoái lạc, và ngay cả sự khôn ngoan của loài người cũng chỉ là một đám mây mờ bay qua bầu trời hay “hơi nước xuất hiện trong giây lát, rồi lại tan biến đi” (Gc 4:14).
Ngày 7 tháng 12 năm 1998 ở tây Bắc Armenia xảy ra trận động đất lớn với độ rung là 6.9, đã làm xụp đổ bình địa thành phố với khoảng 25 ngàn người bị thiệt mạng với câu chuyện rất cảm động như sau:
Sau trận động đất, giữa nhừ đám người hoảng hốt và lo sợ, có một người cha đang tuyệt vọng rảo bước qua những con đường đầy gió bụi đổ nát và điều tàn. Ông vội vã tiến về phía trường học đi tìm người con trai yêu quí đi học từ sáng sớm. Vừa bước đi ông vừa nghĩ tới những lời hứa hẹn đã thề thốt với con ông: “Armand con ơi, bất cứ chuyện gì xảy ra, ba cũng luôn luôn ở với con!”
Vừa tới vị trí trường học, ông nhận ra chỉ còn là một đống gạch vụn. Đứng lau chùi nước mắt… rồi phỏng đoán phương hướng lớp học của con ông, ông cúi xuống lượm từng miếng gạch vỡ quăng ra ngaoài. Bằng tay không, ông bắt đầu đào bới. Nào là gạch, ván tường, tôn kẽm… Những người qua lại tuyệt vọng nói với ông: “Thôi đi ông ơi! Chúng chết hết rồi!” Nhưng ông ngẩng lên trả lời: “Các bạn chỉ trích tôi hay giúp tôi nâng những viên gạch này ra?” Một số người cũng tiếp tay với ông thu dọn gạch vụn, nhưng chẳng được bao lâu họ cũng bỏ cuộc vì mệt mỏi và tay chân đau nhức. Riêng ông vẫn làm việc không ngưng nghỉ vì ông luôn luôn nghĩ tới sinh mạng của con ông. Ông kiên trì làm việc từ giờ này qua giờ khác, 2 giờ qua đi… 18 giờ… 24 giờ… 36 giờ… và sau cùng, vào giờ thứ 38 ông nghe được một tiếng rên rỉ yếu ớt phát ra từ phía dưới một mảng tường đổ nát. Ông nắm lấy mảng gạch, lay mạnh và gọi lớn: “Armand! Aramand! Armand!” Từ bóng tối phía dưới bức tường đổ vang lên một giọng trẻ thơ trả lời: “Ba! Ba! Ba!” Tiếp ngay sau đó là những tiếng gọi yếu ớt khác của những em học sinh sống sót vang dội lên. Công việc đào bới để cứu các em ra khỏi tai nạn được các bậc phụ huynh thực hiện ngay sau đó.
Người đã cứu được 14 em học sinh trong tổng số 33 em. Khi em Armand được cứu thoát em vẫn mạnh mẽ khẳng định: “Đã bảo mà, cha tôi không bao giờ quên tôi”.
Bác sĩ Scott đã kể lại câu chuyện trên trong cuốn sách nổi tiếng của ông có nhan đề “A Father Who Keeps His Promises” - “Người Cha giữ lời hứa”. Và ông đã kết luận như sau: “Đó là loại đức tin mà chúng ta đang cần, bởi vì đó là Người Cha mà chúng ta có”.
Chúa chúng ta là Người Cha yêu thương luôn giữ lời hứa, và tìm kiếm ta về với Ngài. Qua những thiên tai động đất nhức nhở chúng ta ý thức rằng trái đất mà chúng ta coi là vững bền “Terra Firma” quả không bền vững tí nào! Đừng ngủ quên trên sự phù vân của vật chất trần gian. Cuộc sống trần thế này chỉ là phù vân. Tất cả những của cải trần gian đều tùy thuộc vào sự mong manh của trái đất nử lời giáo hội kêu gọi khi nhận tro: “Hãy nhớ mình là tro bụi và sẽ trở về bụi tro”.
Bài phúc âm hôm nay, Lc 9:28b-36, kể lại chuyện Chúa Giêsu biến hình trên núi khi Ngài đang cầu nguyện. Chúa Giêsu đã mặc khải cho chúng ta nhìn thấy Thiên Chúa chính là nền tảng vững chắc giúp chúng ta xây dựng cuộc đời của mình. Ngài đã biểu tỏ vinh quang và thập giá của ngài cho Pherô, Giacobe và Gioan. Ngài đã biểu lộ cho nhân loại thấy chương trình cứu rỗi của Thiên Chúa khởi sự từ thời Cựu Ước với các vị tổ phụ và các tiên tri của dâng Israel, Môse và Êlia. Mạc khải này làm cho những ai đặt ngưỡng vọng nơi trần thế phù vân này phải bối rối và thất vọng.
Trong bài đọc thứ hai, Thánh Phaolô cảnh tỉnh con người rằng: “Có nhiều người sống thù nghịch với thập giá Đức Kitô. Chung cuộc, đời họ là hư vong, chúa tể của họ là cái bụng, và họ đặt vinh danh của họ trong những điều ô nhục; họ chỉ ưa chuộng những cái trên cõi đời này. Phần chúng ta, quê hương của chúng ta ở trên trời…” (Phil 3:20).
Thi nhập quốc tịch hoa kỳ, để chính thức trở nên một người công dân với bổn phận và quyền lợi là một điều quan trọng đối với nhừ người di dân. Nhưng đối với các cụ già đó là điều vô cùng gay go. Các cụ phải học Anh Ngữ, phải biết lịch sử nước Hoa Kỳ, rồi trải qua một cuộc thi khảo vừa nghe, vừa đọc và nói. Có cụ thi mãi không đậu, lo lắng mất ăn mất ngủ, vì có quyền công dân mới bảo lãnh con cái sang Mỹ được. Có cụ ốm đau gần chết mà vẫn cứ lo quốc tịch! Có cụ khôn ngoan hơn, âm thầm làm các việc đạo đức, chuẩn bị cho mình quyền công dân của Nước Trời mới là quan trọng! Ai thi cũng được. Ngôn ngữ của Nước Trời là tình yêu, có sẵn trong tim, không cần phải học vất vả, chỉ đem ra áp dụng Nước Trời, một quê hương mới, “Một Cõi Đi Về” an nghỉ. Còn nước Hoa Kỳ này vẫn chỉ là phù vân, như “hơi nước xuất hiện trong giây lát, rồi lại tan biến đi” (Gc 4:14).
Thành phố Chicago có nhiều sắc dân. Nét độc đáo của một xứ đạo là tính cách đa chủng tộc. Tôi thường nghe dân chúng than van, họ luôn luôn nhớ về quê hương của họ. Nhớ đồ ăn thức uống. Nhớ dòng sông con kênh. Nhớ thân bằng quyến thuộc, bạn bè. Mặt trời lặn ở quê nhà với khói lam chiều vẫn đẹp hơn mặt trời Hiệp Chủng Quốc! Ai cũng ngóng trông về quê nhà. Trong mỗi người đều mang một nỗi nhớ, một nỗi buồn vương vấn thật sâu trong lòng mình. Đó là khúc ruột ngàn dặm vì chúng ta luôn thuộc về quê hương của mình. Không bỏ được. Các nhà thương mại bán vé máy bay thuyết phục rằng chỉ cần cầm lấy vé máy bay là bạn trở về quê hương ngay. Điều đó đúng với quê hương phù vân trần thế!
Nhưng còn quê hương vĩnh cứu trên trời thì sao? ĐGH Gioan Phaolô II trả lồi rằng: “Con người trên dường lữ hành về với Đấng Tuyệt Đối: Đời sống con người trên trái đất là một cuộc lữ hành… Đức tin lữ hành của con người hướng con người về Thiên Chúa, giúp con người chọn lựa những gì sẽ làm cho mình đạt tới sự sống vĩnh hằng. Do vậy, mỗi giây phút trong cuộc lữ hành trên trái đất đều quan trọng – quan trọng với những thách đố và những chọn lựa của nó.” (TVNNTB, Đức Tin).
Trong Mùa Chay giáo hội cảnh tỉnh chúng ta đừng ngủ quên trong sự phù vân của trần thế, phải ý thức chúng ta là những người lữ hành đang đi về quê hương vĩnh cửu trên trời (Pl 3:20; 2Cr 5:1). Con đường về Nước Trời đó chính là con đường Chúa Giêsu Kitô đã đi qua với thập giá trên vai. Đi theo Ngài, “Đức Kitô, Đấng dẫn ta về với Thiên Chúa Cha” (ĐGH Gioan Phaolô II, TVNNTB, Đức Tin).

 

MC2-385: Vinh quang và đau khổ - Thu Băng, CMR

Chúa đưa Phêrô, Giacobê, và Gioan lên núi cao và biến hình trước mặt các ông, lại có Elia và MC2-385

Chúa đưa Phêrô, Giacobê, và Gioan lên núi cao và biến hình trước mặt các ông, lại có Elia và Moise hiện đến nói chuyện với Ngài. (Lc.09:28-36).
Chúa Giêsu đưa 3 môn đệ lên một ngọn núi cao, khoảng chừng 600 thước và các ông chiêm ngưỡng vinh quang của Chúa cũng như đã xem thấy sự đau khổ của Ngài trong vườn cây dầu.
Ngài mạc khải cho thấy sự đau khổ của Ngài pha lẫn với vinh quang sáng lạn. Ngài phải chết nhục nhã, đau thương rồi mới khải hòan trong phục sinh vinh hiển. Đau khổ như cánh bèo trôi dạt trên sông, đau thương là thung lũng nước mắt. giữa thế gian đau khổ, là nguyên nhân gây nên bực bội buồn phiền. Chúng ta chấp nhận đau khổ vì sau đau khổ là vinh quang phục sinh, cũng như sau cơn mưa trời lại sáng, sau mùa xuân trời lại sang xuân.
Xưa có một anh làm nghề bưng trống tên là Năm. Anh thường đem đến làng khác để bán. Một hôm leo đồi lặn suối gánh trống đi bán, đến gốc cây đa đầu làng anh mệt lả, liền nghỉ chân thì thấy bác Sáu đã ngồi thở hổn hển bên cạnh. Hai người bắt chuyện rồi Năm đem cơm nắm ra chia sẻ. Cuối cùng anh Năm nhờ ông Sáu gánh giúp một đoạn đường. Hai người bắt đầu xuống dốc và khát nước, họ liền ghé cái giếng kiếm nước uống, thành giếng lại rêu rong và dốc lại không có gầu. Anh Năm nghĩ ra kế buộc dây vào lưng ông Sáu cho tụt xuống uống nước, uống xong anh kéo lên. Đến lượt anh Năm xuống giếng thì ông Năm để cho anh uống nước no rồi gánh gánh trống đi biệt. Anh la hét cũng không có tiếng trả lời, chịu trận cho đến tối mới có người ra giếng kéo anh lên. Đi một quãng đường nữa thì tối, anh phải vào một ngôi chùa xin sư cụ cho trú chân. Trong chùa lại có 4 con qủy hay đi ăn đêm về trễ, sợ bị ăn thịt, sư cụ chỉ cho một cái hang bên chùa để trú an toàn. Nữa đêm bầy qủy về trước cửa chùa nói chuyện:
- Nhà chùa có chôn 4 chum bạc bên cạnh và 4 chum vàng đàng sau cửa ra vào. Tên khác lại nói:
- Trong hang có một cục Ngọc Thạch nguy hiểm ai mà nhặt được ném chúng ta thì chết. Nghe thấy vậy, anh Năm thò tay vơ lấy cục Ngọc mà ban chiều anh đã trông thấy. Anh ném bày qủy, bất chợt bị chết tốt, thế là anh thoát nạn, cám ơn sư cụ cầm cục Ngọc ra đi rồi hôm sau quay trở lại đào lấy mấy chum vàng và bạc về làm giầu.
Ông Sáu gánh trống đi xa, đến chập tối vào xin trọ ở cái miếu cây đa đầu làng. Miếu cũng thường có qủy hiện hình ban đêm, ông nằm lăn ra ngủ, để gánh trống ở cửa miếu. Đến khuya qủy hiện hình bước lên mặt trống kêu tùng tùng khiến chúng hoảng sợ bỏ chạy. Một con qủy chạy trốn vào trong miếu thấy có người liền bóp cổ chết. Nó lại ra ghõ trống kêu gọi lũ qủy về miếu ăn mừng vì đã hạ sát được kẻ bày mưu.
Trong lúc đau khổ mất trống, anh Năm lại gặp hên là được của về làm giầu. Trong lúc ông Năm đánh cáp được gánh trống, lại gặp xui (lũ qủy bóp cổ chết). May rủi, sống chết là đau khổ và vinh quang, cũng như Chúa tỏ cho các môn đệ thấy cái khổ nhục, bị chết treo trên thánh giá rồi mới được phục sinh. Cuộc đời chúng ta cũng sẽ gặp những lúc đau khổ, nhục nhã, mất mát, tàn lụi rồi mới đến lúc vinh quang. Chúng ta hay biết tuân theo thánh ý Chúa trong mọi lúc và trong mọi sự.

 

MC2-386: Vững bước trong đức tin - Dã Quỳ

Trong cuộc sống thường ngày, chắc hẳn chúng ta đã gặp những người mà dường như họ được MC2-386

Trong cuộc sống thường ngày, chắc hẳn chúng ta đã gặp những người mà dường như họ được sở hữu một nụ cười rất tươi. Nhìn vào khuôn mặt họ, ta thấy như chiếu lên ánh sáng từ bên trong tâm hồn. Khi tiếp xúc với người khác, họ mang đến một niềm tin tưởng và bình an. Đó là những biểu hiện tự nhiên hay có thể được phát xuất từ niềm vui và sự an bình nội tâm của họ. Thế nhưng, với mỗi người Kitô hữu, chúng ta cần nhìn lại chính mình. Khi mang danh Chúa Kitô, ta đã phản ánh được khuôn mặt của Đấng là nguồn Niềm Vui, Ánh Sáng, Bình An và Tình Yêu trên chính khuôn mặt của ta hay chưa? Và đó cũng là phản chiếu đức tin của ta vào Chúa Kitô.
Mỗi người chúng ta nhiều lúc trong cuộc sống dường như quá đau khổ, quá căng thẳng và cảm thấy như không thể thoát ra khỏi đó được hoặc không thể nắm giữ được tình thế! Chúng ta như đi trong một đường hầm tăm tối, không ổn định vì những biến cố như sụp đổ hôn nhân, mất công việc, tai nạn hay một căn bệnh nan y... Hành trình của ta như đi vào ngõ cụt. Bước đi của ta bị nặng nề vì buồn khổ, giận dữ...!Thế nhưng, ta có thể xác tín rằng không có một cuộc sống nào bị xáo trộn và tan nát nếu như cuộc sống ấy được đụng chạm thực sự vào Chúa Kitô và được biến đổi nhờ Chúa Kitô.
Trong Tin Mừng hôm nay, các môn đệ của Chúa Giêsu được chuẩn bị để sống một kinh nghiệm như thế. Chúa Giêsu sắp đi lên Giêrusalem, ở đó Người sẽ chịu đau khổ và bị giết chết. Đây sẽ là một thử thách lớn cho những ai ở xung quanh Người. Một chút khởi đầu cho biến cố này: Phêrô, Giacôbê và Gioan đi cùng và ở trên núi với Thầy. Và ở đó, họ được nhìn thấy vinh quang của Chúa Giêsu. Người tỏa chiếu vẻ rực rỡ nơi thân xác hữu hình mà Người đã mặc lấy như con người. Khuôn mặt Người sáng như mặt trời và y phục trắng như tuyết. Người đã mạc khải cho môn đệ sự vinh quang và cao cả của Tước Vị mà vì sự tự hạ của Người đã ẩn giấu. Ân huệ này sẽ làm cho môn đệ vững vàng hơn trên đường Thánh Giá của Người trong những ngày sắp tới.
Hôm nay, chúng ta hãy dành thời gian để sống cách cá nhân thân tình với Chúa. Chúa Giêsu, Đấng sắp trải qua đau khổ thử thách vào ngày thứ Sáu Thánh, được mang y phục vinh quang Phục Sinh và là Đấng sẽ thay đổi hình dạng thế giới. Chúa cho chúng ta thấy chính mình trong tương lai. Chúng ta, những chi thể của Chúa cũng được hy vọng chia sẻ những vinh dự mà Người đã tỏ hiện vinh quang cho các môn đệ như lời Thánh Phaolô khẳng định "Tôi nghĩ rằng: những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta."(Rm 8,18)
Giữa những thử thách trong cuộc sống, chúng ta có nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa không? Người hiện hữu trong những tia sáng nhỏ, cũng như trong những lúc tối tăm hơn của cuộc sống. Những biến hình nho nhỏ này nói với chúng ta rằng Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi chúng ta. Cho dù những thử thách có thể làm cho chúng ta đau đớn, nhưng với Chúa và trong Chúa, ta sẽ sống và sống sung mãn trong vinh quang với Người "Anh em đã chết và sự sống mới của anh em hiện đang được tiềm tàng với Đức Kitô nơi Thiên Chúa. Khi Đức Kitô, nguồn sống mới của chúng ta xuất hiện, anh em sẽ được xuất hiện với Người và cùng Người hưởng phúc vinh quang." (Cl 3,3-4)
Vậy hãy đặt ta vào trong ánh sáng của Chúa Giêsu, bởi vì từ nay chúng ta có một sự đổi mới, một hơi thở thứ hai trong cuộc sống gia đình, nghề nghiệp và cộng đoàn của ta. Để rồi ta có thể hăng hái thưa với Chúa như thánh Phêrô: "Thưa Thầy, chúng con ở đây thật là hay!"(Lc 9,33) Dẫu Thập giá vẫn có đó, nhưng Ánh sáng Tình yêu và Xót thương của Chúa sẽ trợ giúp chúng ta. Ước gì niềm hy vọng này mang lại trong chúng ta ngay lập tức sự can đảm, khởi đầu một sự thay đổi trong đời sống, dám bước ra khỏi những mảng tối cuộc đời và vững bước trong đức tin.
Lắng nghe Lời Con Yêu Dấu, mở lòng đón nhận và dấn thân thực hành trong cuộc sống sẽ làm cho bước đi của ta vững vàng, khuôn mặt ta rạng rỡ. Lời Chúa là ánh sáng và chúng ta được mời gọi trở nên ánh sáng của Chúa giữa trần gian. Xin cho lòng nhân hậu, tình yêu thương, bác ái và nhiệt tâm của chúng ta là những phản chiếu ánh sáng của Chúa cho mọi người ta gặp gỡ, nhất là những người đau khổ, tội lỗi và bị bỏ rơi để nhờ đó họ được nâng đỡ, được ơn biến đổi mà trở về với Chúa trong Mùa Chay Thánh này. Giáo Hội và mỗi Kitô hữu mang sứ mệnh là khuôn mặt của Lòng Thương Xót Chúa. Nguyện xin Chúa thổi vào từng lời nói và những hành động để những gì chúng ta biểu lộ đều mang lại sự sống sung mãn của ơn Tha Thứ, của Hy Vọng, của Niềm Vui và Đức Tin.
Lạy Chúa Giêsu, chúng con đang bước đi theo Chúa. Xin sự hiện diện của tình yêu, ánh sáng và bình an của Chúa giữ gìn chúng con trong những lúc vui cũng như những khi thử thách giúp chúng luôn hy vọng và tiến bước trong niềm tin. Amen.

 

MC2-387: Suy niệm của Lm. Đaminh Hương Quất

XUỐNG NÚI - MẬT ĐẮNG CUỘC SỐNG THÀNH MẬT NGỌT CỨU ĐỘ
 

Chúa nhật II Mùa Chay Thánh sử Luca đưa chúng ta lên núi Tabor, cùng với ba Tông đồ Phêrô- MC2-387

Chúa nhật II Mùa Chay Thánh sử Luca đưa chúng ta lên núi Tabor, cùng với ba Tông đồ Phêrô- Giacôbê và Gioan chứng kiến Chúa Giêsu hiển dung, cho thấy- cho cảm nếm chút vinh quang thật của Chúa Giêsu. Phêrô vốn còn nặng cái nhìn trần thế, theo cảm tính đã ‘chớp’ ngay dịp may hiếm có này khi đề nghị dựng ba lều để ở lâu dài trên núi.
Thực ra việc Chúa Giêsu biến hình, tỏ thật vinh quang Thiên Tính vốn có của Ngài, như cách Chúa Giêsu cho nếm ‘mật ngọt’ thật của Thiên đàng để củng cố niềm tin cho các môn đệ, nhất là khi họ sẽ chứng kiến cuộc Tử nạn thương khó của Chúa Giêsu; khi gặp những vấn nạn- đau khổ sau này trong hành trình Loan báo Tin Mừng.
Đau khổ trần gian chẳng là gì cả so với mối phúc Thiên đàng!
Cũng như Chúa Giêsu xưa trên núi biến hình, có nhiều lúc chúng ta cảm thấy rõ, ngất ngây hạnh phúc trước Hồng ân Chúa ban; thấy mình sốt sắng quá, gần Chúa quá, yêu thương anh chị em quá; sẵn sàng làm những điều tốt cho anh chị em, sẵn sàng tha thứ cho kẻ làm hại mình... nhưng giây phút “vinh quang” này thường ngắn ngủi, chớp nhoáng. Điều này chứng tỏ những an ủi thiêng liêng Chúa ban luôn có và luôn đồng hành cần đủ để củng cố Đức tin. Như biến cố Biến hình trên núi Tabor, chúng thường ngắn ngủi, chớp nhoáng một phần để khỏi xâm phạm đến tự do của ta, một phần tránh cho cho ta sống Đức tin bằng cảm tính.
Cũng như Chúa Giêsu và các Môn đệ, sau khi cảm nếm phúc ân Thiên Chúa đụng chạm đến đời mình, cùng Chúa Giêsu các Môn đệ lại xuống núi. Xuống núi để tiếp tục trực diện với trần thế, để sống theo ý Chúa, sẵn sàng đón nhận chén đắng trần thế trong Thánh ý Chúa.
Và chúng ta, sau những ngày Tết Nguyên đán nghỉ ngơi bên Chúa và bên gia đình, như Chúa Giêsu và các môn đệ, chúng ta lại xuống núi, lại tiếp tục với bao lo toan cuộc sống, tiếp tục trực diện những mật đắng trần gian…
Vấn đề khi gặp gian nan thử thách cuộc sống, khổ đau trần gian ta có nhận ra ý Chúa, có can đảm đón nhận sống theo ý Chúa hay không, kết hợp với Thập giá Chúa Giêsu! Một khi ta nhận ra ý Chúa và sống theo ý Chúa, nhờ Chúa Giêsu thì những mật đắng cuộc sống ấy trở thành mật ngọt Tin Mừng.
Quả thế, biến cố biến hình cho thấy một chân lý: Chúa Giêsu phải trải qua cái chết đau khổ- nhục nhã mới bước đến Phục sinh vinh hiển;Thánh Phaolô nhận rõ: Không có ơn Cứu độ nến không có đổ máu (x.Dt 9,15tt) và Vinh dự của tôi là Thập giá Đức Kitô. Theo Chúa không có hy sinh, không chịu cố gắng đời Kitô hữu sẽ nhạt nhẽo, vô vị, bế tắc và không cần phải đợi đến đời sau, ta đã thấy hoả ngục ngay tại đời này.
Đừng mơ có thành công mà không chịu cố gắng phấn đấu, không chấp nhận hy sinh. Cố gắng mỗi ngày để chu toàn bổn phận trong gia đình, cuộc sống, để nên người hơn, nên con cái Chúa hơn.
Đức Tân Giáo hoàng Phanxicô trong huấn từ đầu tiên đã nói “Khi chúng ta đi mà không có Thánh Giá, khi chúng ta xây dựng mà không có Thánh Giá, và khi chúng ta tuyên xưng Đức Kitô mà không có Thánh Giá, chúng ta không phải là môn đệ của Chúa: chúng ta thuộc về thế gian”[1]
Nhờ Chúa Giêsu - Kitô Tử nạn - Phục sinh, trong Chúa Giêsu tất cả những khổ đau, những mật đắng- chén đắng cuộc đời đều là Hồng ân- đều có giá trị Tin Mừng Cứu độ. Đây chính là Tin Mừng lớn nhất, quan trọng nhất, là giá trị -động lực- mục đích cuộc sống trần thế của con người. Chỉ trong Đôi mắt Đức tin ta mới nhận ra chân giá trị cao đẹp này.
Tin Mừng ở chỗ, chính lúc ta đau khổ là lúc ta đang nên giống Chúa Giêsu, đang cho thấy rõ được cộng tác vào công trình Cứu độ của chính Chúa Giêsu. Một thụ tạo hèn mọn, tội lỗi như ta lại được Chúa mời gọi cộng tác vào công trình vĩ đại nhất của chính Chúa, ta phải thấy là niềm vinh dự, niềm vui lớn… Cảm niệm được điều đó thì đau khổ không còn đau khổ nữa, đau khổ có giá trị Tin Mừng. Trong Đức tin, chính nhờ khám phá Thập giá trong Chúa Giêsu trở nên Tin Mừng Cứu độ, do đó, các Thánh luôn khao khát được khổ đau vì Tình yêu Chúa Giêsu thúc bách.
Điều này thấy rõ thời Giáo hội sơ khai, khi Phêrô và Gioan rao giảng Tin Mừng Chúa Giêsu Tử nạn - Phục sinh, bị lãnh đạo Do Thái giáo bắt tù, đánh đập những tưởng làm các ngài lo sợ không có dám Loan báo Tin Mừng Chúa Giêsu Tử nạn - Phục sinh, ai dè phản tác dụng. Sách Công vụ Tông đồ cho thấy rõ: bị tù đày, đánh đập… các ngài lại thấy hân hoan vì Danh Chúa Giêsu (x. 6, 40).
Điều này thấy rõ nơi các Thánh Tử Đạo mọi thời của Giáo hội, trong đó có hàng trăm ngàn tổ tiên chúng ta là những dấu chứng sáng rõ nhất cho chân lý Khổ đau- thậm chí khổ đau tột cùng là cái chết trong Chúa Giêsu đã nên Tin Mừng Cứu độ.
Xuống núi- trở về với cuộc sống đời thường, trực diện cuộc đời được coi là bể thẳm ấy, giờ đây nhờ có đôi mắt Đức tin ta khám phá bể thẳm ấy giờ thành biển Hồng ân.
Điểm đáng lưu ý: Tin Mừng cho thấy Chúa Giêsu biến hình khi đang cầu nguyện. Cầu nguyện- kêu xin Lòng thương xót của Chúa là ta đang để Chúa biến đổi nên giống Chúa. Nhờ ơn Biến đổi này ta mới khám phá mật đắng cuộc sống thành mật ngọt Cuộc đời; sẽ trải nghiệm sống đồng lời Chúa Giêsu: ách của ta thì êm ái, gánh ta nhẹ nhàng.
Xin Chúa gia tăng Đức tin- men Tin Mừng để hành trình theo Chúa- vâng nghe Lời Chúa, nhất là khi trực diện mật đắng trần gian chúng con khám phá Tin Mừng, nhất là trong Năm thánh Từ Bi này.

 

MC2-388: Thích khoe của - Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

Mùa chay chúng ta thường nói đến ba việc đạo đức không thể thiếu là ăn chay, cầu nguyện, và làm MC2-388

Mùa chay chúng ta thường nói đến ba việc đạo đức không thể thiếu là ăn chay, cầu nguyện, và làm việc bác ái. Ba việc này giúp con người yếu đuối có dịp đền bù tội lỗi bằng hy sinh hãm mình trong chay tịnh để diệt trừ tính hưởng thụ, nuông chiều tính xác thịt, cùng cầu nguyện để trông cậy ơn Chúa giúp sửa bỏ lỗi lầm, nhất là biết làm việc bác ái để đền bù những lỗi công bằng bác ái với tha nhân.
Đây là việc tốt, việc nên làm, nhưng đáng tiếc nhiều người lại làm nhưng thiếu lòng sám hối chân thành. Dường như họ chỉ làm để phô trương việc danh thế nhiều hơn là vì muốn thăng tiến bản thân.
Đây là căn bệnh thành tích mà ngày nay người ta nói nhiều hay nói đến. Thích hoành tráng mà không cần cốt lõi. Thích khoe khoang bản thân mà sẵn sàng phung phí tiền của bừa bãi. Họ là loại người mà dân gian gọi là người thích phô trương.
Có thứ phô trương do sĩ diện, do tâm lý “con gà tức nhau tiếng gáy” và để thích “oai”, thích “oách” hơn người. Nhưng cũng có thứ phô trương nhằm mục đích trục lợi được ẩn hiện dưới nhiều hình thức hết sức kín đáo ngay cả trong việc bác ái, từ thiện...
Thói phô trương, huênh hoang đã trở thành một nhu cầu, một thói quen trong cuộc sống của họ đến mức không khoe những việc mình làm thì không thể nào chịu được. Việc nhỏ họ cũng khoe. Việc lớn càng khiến họ đánh bóng tên tuổi mình. Dường như khoe khoang phô trương là cách họ thỏa mãn tính tự cao tự đại của họ.
Có anh chàng tính hay khoe khoang. Một hôm, may được cái áo mới, liền đem ra mặc, rồi đứng hóng ở cửa, đợi có ai đi qua để người ta khen. Đứng mãi từ sáng đến chiều chả thấy ai hỏi cả, anh ta tức lắm.
Đang tức tối, chợt thấy một anh, tính cũng hay khoe, tất tưởi chạy đến hỏi to:
- Bác có thấy con lợn cưới của tôi chạy qua đây không?
Anh kia liền giơ ngay vạt áo ra, bảo:
- Từ lúc tôi mặc cái áo mới này, tôi chẳng thấy con lợn nào chạy qua đây cả!
Đây là truyện cười “Lợn cưới áo mới” trong kho tàng văn học Việt Nam. Cha ông ta muốn mượn tình huống hài hước, khoe khoang của hai người đàn ông để phản ánh và chế giễu những người có lối sống khoe của một cách quá trớn, khoe không có điểm dừng và không khéo léo. Hai anh khoe của chạm trán nhau, họ rất tự nhiên bộc lộ bản tính của mình nhưng dẫu thế nào cũng không giấu được thói khoe của, khoác lác đến lực cười, đến lố bịch. Câu chuyện là một bài học đầy ý nghĩa cho chúng ta trong cuộc sống.
Khởi đầu Mùa Chay Chúa Giê-su cũng nhắc chúng ta cần phải có tâm tình khiêm nhường trong các hành vi đạo đức. Làm việc đạo đức không phải để khoe khoang mình sốt sắng hơn người khác. Việc đạo đức của mình không phải để dạy người khác hay để đánh bóng tên tuổi mình. Việc đạo đức chúng ta làm là vì mến Chúa và mong muốn hoàn thiện mình mỗi ngày một tốt hơn.
Thế nên, sự sám hối chân thành là nhìn nhận sự yếu đuối của mình để đề ra phương thế canh tân đời sống qua 3 việc cụ thể là: ăn chay, cầu nguyện và làm việc bác ái. Đây là việc đại đức để mình đẹp lòng Chúa hơn chứ không phải để mình được người khác khen thưởng tán dương.
Xin cho mùa chay thánh được sinh hoa kết trái tốt trong đời sống của chúng ta nhờ những việc lành phúc đức mà chúng ta làm vì lòng yêu mến Chúa. Xin Chúa giúp chúng ta hoàn thiện mình mỗi ngày tốt hơn qua việc hy sinh chay tịnh, cầu nguyện và bác ái. Amen.

 

MC2-389: Lạc Chúa ở đâu? - Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

Một người hàng xóm nhìn thấy bạn mình quì gối và chống tay tìm kiếm vật gì đó ngoài sân. Ông MC2-389

Một người hàng xóm nhìn thấy bạn mình quì gối và chống tay tìm kiếm vật gì đó ngoài sân. Ông lên tiếng hỏi:
- Ông bạn ơi! Ông đang kiếm gì đó?
- Tôi kiếm chìa khóa của tôi.
Cả hai người cùng quì gối để kiếm. Sau khi tìm kiếm một lúc lâu mà không thấy, người hàng xóm lên tiếng hỏi:
- Ông đã mất chìa khóa ở đâu?
- Ở trong phòng khách nhà tôi.
- Chúa ôi! Vậy tại sao ông lại tìm kiếm ở ngoài sân?
- Bởi vì ở đây sáng sủa hơn.
Kinh nghiệm cho thấy cái gì đã mất thì tìm lại rất khó. Cái để quên thì dễ tìm thấy, còn cái đã bị lấy đi khó mà tìm lại được. Cái lãng quên còn cơ hội tìm lại được, còn cái đã trao đổi khó mà hoàn lại được.
Không biết có mấy ai biết rằng mình còn Chúa hay đã mất? Mình lãng quên Chúa vì mải mê công việc hay đã vì danh lợi thú mà bán Chúa để có bổng lộc trần gian? Chúng ta đang ở trong ân sủng với Chúa hay đã trao linh hồn mình cho ma quỷ thống lĩnh mà xa rời Chúa.
Nếu phải tìm lại Chúa thì chúng ta phải bắt đầu tìm ở đâu? Chúng ta đã lạc mất Chúa từ khi nào và trong hoàn cảnh nào?
Phải bắt đầu tìm lại Chúa ngay chỗ mình đã bỏ Chúa mới mong tìm lại được. Nếu không biết lạc Chúa ở đâu thì cuộc tìm kiếm sẽ uổng phí như người đàn ông tìm chìa khóa ngoài ngõ chỉ vì nơi đó sáng hơn.
Vâng, có những người đã lạc mất Chúa khi tìm danh vọng trần gian. Có người bỏ Chúa vì đắm chìm trong sắc dục. Có người thờ ơ với Chúa vì họ đã tôn thờ bạc tiền. Họ đã chọn thụ tạo là danh lợi thú mà lạc xa tình Chúa.
Mỗi năm vào Mùa Chay, Giáo Hội mời gọi các tín hữu hãy cùng với Đức Giêsu lên núi cao để chịu thử thách, để được tôi luyện … Và hãy lên núi cao để gặp gỡ Chúa và sống thân tình với Ngài. Chính giây phút riêng tư này sẽ giúp chúng ta nhìn lại tương quan của chúng ta với Chúa còn hay đã mất?
Các môn để đã trải nghiệm những giây phút thật hạnh phúc bên Chúa ở trên núi. Các ngài đã ngất ngây khi chiêm ngắm dung nhan thật của Chúa. Biết Chúa thật là Thiên Chúa và được ở bên Chúa là hạnh phúc vô biên.
Sự hiển dung của Chúa Giê-su dành cho các môn đệ khiến các ông dám đánh đổi mọi sự để được ở bên Chúa. Ước gì chúng ta có đủ niềm tin vào sự hiện diện đầy quyền năng của Chúa trong cuộc đời chúng ta. Niềm tin vào Thiên Chúa hằng sống sẽ giúp chúng ta chọn Chúa hơn là những danh lợi thú trần gian. Niềm tin ấy giúp chúng ta can đảm vượt qua mọi thử thách để đi theo Chúa tới đỉnh đồi Calve.
Lạy Chúa, khi mang thân phận yếu đuối con người, con luôn luôn phải đối diện với những cơn cám dỗ thật ngọt ngào và hấp dẫn, con không đủ sức để vượt qua những níu kéo mời gọi đang bủa vây trong cuộc đời. Xin cho con cảm nghiệm được sự hiện diện ngọt ngào của Chúa để con nói không với tội lỗi hầu luôn trung thành với Chúa mãi đến cùng. Amen.

 

MC2-390: Chúa biến hình - McCarthy

THOÁNG HIỆN CỦA VINH QUANG
 

Trên Núi Tabo, ánh sáng của Thiên Chúa toả ra từ cơ thể của Đức Giêsu, và Người được biến hình MC2-390

Trên Núi Tabo, ánh sáng của Thiên Chúa toả ra từ cơ thể của Đức Giêsu, và Người được biến hình. Cả ba Tông đồ đều loá mắt trước vẻ đẹp và sự chói chang của ánh sáng này. Ánh sáng này không ở trên bề mặt, nhưng chiếu toả ra từ bên trong. Nói tóm lại, Thiên Chúa ở trong Đức Giêsu.
Chúng ta cũng có nét rạng ngời của thần tính nơi chúng ta, bởi vì chúng ta được sáng tạo theo hình ảnh của Thiên Chúa. Do đó, chúng ta cũng có thể có những giây phút biến bình. Van Gogh nói “Người tiều phu hoặc thợ mỏ nghèo nàn nhất, vẫn có thể có những giây phút đầy xúc động và cảm hứng, giúp cho người đó được một cảm giác về một quê hương vĩnh cửu, mà họ đang ở gần”.
Có một người nghèo khổ đang sinh sống ở một trại tế bần, dành cho những kẻ vô gia cư ở Dublin, đã kể lại câu chuyện sau đây: Ngày kia, anh ta đang đi bộ dọc theo một con đường ở Dublin. Đến một lúc nào đó, anh phát hiện ra rằng mình đang ở bên ngoài một nhà thờ. Trước khi nhận ra điều này, thì anh đã ở bên trong đó rồi. Anh không thể nhớ lại được rằng mình có đọc bất cứ lời cầu nguyện nào hay không. Nhưng linh hồn của anh được tràn ngập ánh sáng. Nỗi phiền muộn của anh được cất đi, và một sự bình an đến với anh. Sau đó, anh mới cảm thấy rằng mình thuộc về trái đất này. Anh cảm thấy gần gũi với Thiên Chúa, và được Người yêu thương.
Dường như cảm nghiệm này diễn ra được một lúc lâu, tuy nhiên, anh vẫn có cảm giác rằng có thể nó chỉ kéo dài trong vài phút. Nhưng anh nói rằng anh sẵn sàng vui mừng dùng cả cuộc đời của anh, để đổi lấy vài giây phút đó. Điều làm cho cảm nghiệm này quá tuyệt vời đến thế, là do anh nhận ra rằng mình tuyệt đối không hề xứng đáng được như vậy. Đó thuần tuý là do ân sủng của Thiên Chúa đối với anh. Trong một giây phút ngắn ngủi, anh cảm nếm được vinh quang.
Tuy nhiên, sau giây phút đó kết thúc, một lần nữa, anh nhận thấy mình lại đang ở trên những con đường, và cứ đi dọc theo đó một cách vô định, giống như lúc trước. Những hiệu quả của cảm nghiệm đó mờ nhạt đi. Mặc dù anh đã trở lại ngôi nhà thờ đó nhiều lần, nhưng anh không bao giờ có thể tìm lại được giây phút ấy.
Người đàn ông vô gia cư kia mong muốn duy trì được cảm nghiệm đó. Anh ta cứ muốn quay trở lại, thay vì tiến lên phía trước, tuy anh ta vẫn có thể sử dụng cảm nghiệm vừa qua, để soi sáng cảnh tối tăm trong cuộc đời anh, và tiến lên phía trước một cách đầy hy vọng và can đảm hơn.
Phêrô cũng phạm phải cùng một khuyết điểm đó. Ông cứ muốn được ở lại trên đỉnh núi, muốn được khư khư giữ lấy ân sủng của cảm nghiệm này. Ông không muốn quay trở lại với cuộc sống hằng ngày và những thứ thông thường nữa, nhưng cứ muốn được mãi mãi ở lại trên vùng đất đầy niềm say mê phấn khích đó. Nhưng Đức Giêsu đã kêu gọi ông xuống núi, và đối diện với tương lai. Cảm nghiệm này không có ý tạo ra một sự trốn thoát khỏi cuộc đấu tranh đang nằm ở phía trước, nhưng là để giúp Người sẵn sàng đương đầu với cuộc đấu tranh đó. Giây phút đầy ánh sáng, là để giúp Người đương đầu với giây phút đầy bóng tối.
Tuy nhiên, rõ ràng là có một điều gì rất tuyệt vời của ngày hôm đó vẫn còn ở lại với Phêrô, và soi sáng cuộc sống của ông, bởi vì nhiều năm sau, ông đã viết “Chúng tôi đã được thấy tận mắt vẻ uy phong lẫm liệt của Người… khi có tiếng từ Đấng tuyệt vời vinh hiển phán với Người: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hết lòng quý mến” (2P 1,17-18).
Chúng ta cũng có thể cảm nghiệm được những giây phút đầy ánh sáng và niềm vui hiếm hoi đó. Chúng ta đã được thoáng nhìn thấy miền đất hứa, mà chúng ta đang hướng tới trong lòng tin. Trong tình yêu dành cho chúng ta, Thiên Chúa cho phép chúng ta cảm nếm được ngay tại thế này, về những niềm vui của thế giới sắp tới. Nhưng chúng ta được ban cho những giây phút biến hình này, để củng cố chúng ta trong những bổn phận hằng ngày, và để mang lại cho chúng ta khả năng để đương đầu với thánh giá sẽ đến với từng người, dưới những hình thức hoặc hình dạng khác nhau. Giây phút vinh quang không tồn tại vì mục đích riêng của nó. Giây phú này tồn tại để khoác lên cho những sự vật thông thường một vẻ chói sáng, mà trước đây chúng chưa bao giờ có.
Lời cầu nguyện và đạo giáo không phải là sự trốn thoát, mà là những phương tiện để giúp đỡ chúng ta đương đầu với cuộc sống, với tất cả những khó khăn và thử thách của nó, để chúng ta nắm giữ được những giây phút cao cả lẫn thấp hèn của cuộc đời, cả đỉnh đồi cao lẫn tận dưới hố sâu.
CÂU CHUYỆN KHÁC: Tabo và Canvê
Không có gì lạ lùng khi sự biến hình của Đức Giêsu diễn ra trên một đỉnh một ngọn núi có một nét gì đó, nó mang lại cho chúng ta một tầm nhìn rộng rãi hơn và bao trùm lên tất cả. Ngọn núi cũng giúp chúng ta nhìn thấy khuôn mẫu của các sự việc, và đặt chúng vào một viễn cảnh. Ngọn núi còn nâng tâm hồn chúng ta lên. Chúng ta được ở trong sự hiện diện của sự uy nghiêm và nét đẹp vĩ đại. Chúng ta cảm thấy gần gũi Thiên Chúa. Thật vậy, chúng ta cảm thấy mình đang được ở trong sự hiện diện của Thiên Chúa.
Trên Núi Tabo, bầu trời trong sáng. Đức Giêsu đang cầu nguyện. Trong khi Người cầu nguyện, khuôn mặt của Người toả sáng, và quần áo Người trắng như tuyết. Đứng bên cạnh Người, có Môsê –người ban bố luật vĩ đại. Phía bên kia, có Êlia –vị ngôn sứ vĩ đại nhất trong số các ngôn sứ. Một đám mây chói sáng bao phủ họ, tượng trưng cho sự hiện diện của Thiên Chúa. Họ được nghe thấy giọng nói của Chúa Cha phát ra qua đám mây, với những lời đầy yêu thương: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Người đã được Ta tuyển chọn, hãy vâng nghe lời Người”. Phêrô thốt lên: “Thưa Thầy, chúng con ở đây thật là hay! Nếu Thầy muốn, con sẽ dựng ba lều, một cho Thầy, một cho Êlia, và một cho Môsê”.
Phêrô cứ muốn được ở lại trên núi. Ông muốn xây dựng một thiên đàng an toàn tại đó, cách xa khỏi tất cả những rắc rối và nguy hiểm. Nhưng mục đích của cuộc biến hình này không phải để khuyến khích họ trốn thoát thực tại, mà để khích lệ và củng cố Đức Giêsu và các Tông đồ nữa, để họ có khả năng quay trở lại, hầu đương đầu với những rắc rối và nguy hiểm mà họ đã để lại phía sau.
Họ cần có thật nhiều sức mạnh! Bởi vì sẽ đến một ngày và ở trên một ngọn đồi khác, lúc đó bầu trời sẽ trở nên tối tăm, khuôn mặt Đức Giêsu, sẽ đầm đìa mồ hôi và máu. Quần áo của Người sẽ không còn chói sáng nữa, mà sẽ bị lột khỏi thân mình Người. Đức Giêsu sẽ có hai tên trộm cướp làm bạn đồng hành. Sẽ không có tiếng nói phát xuất từ trời nữa, nhưng chỉ có những giọng nói chế giễu và nhạo báng mà thôi. Các môn đệ sẽ bị tản mác, và không muốn tham dự vào những sự việc đang diễn ra.
Điều duy nhất vẫn còn, đó là một lần nữa, Đức Giêsu sẽ lại cầu nguyện. Từ hình ảnh này, rõ ràng là điều giúp cho Người vẫn chịu đựng được, cả trong những giây phút sáng sủa lẫn tối tăm ảm đạm, đó là nhờ ở mối tương quan đặc biệt của Người đối với Chúa Cha.
Hy vọng rằng tất cả chúng ta đều có thể có được một số kinh nghiệm về Núi Tabo, ngọn núi của niềm vui mừng và hớn hở. Nhưng chắc hẳn chúng ta quen thuộc với Núi Canvê hơn. Chúng ta có khuynh hướng đi từ ngọn núi này sang ngọn núi kia. Trên Núi Tabo, chúng ta được thoáng thấy vẻ đẹp của Thiên đàng: do được khích lệ, được phấn chấn, có thể chúng ta đã nghĩ rằng “Thật tốt đẹp khi được ở đây”. Thật ra chúng ta lại bị đắm chìm trong nỗi đau khổ của Núi Canvê. Trên Núi Canvê, nhờ ân sủng của Thiên Chúa, chúng ta có thể học hỏi được cách nói rằng “Mọi sự sẽ hoàn tất”. Đây có thể là một phương pháp tốt, dành cho một bài giảng để chia sẻ. Chúng ta có thể bắt đầu bằng cách đặt ra câu hỏi như “Ngày nào hoặc kinh nghiệm nào là hạnh phúc nhất trong cuộc đời của bạn? Ngày buồn thảm hoặc tối tăm nhất trong cuộc đời bạn là gì?”

 

MC2-391: Đỉnh núi vinh quang.

(Trích trong ‘Tin Mừng Chúa Nhật’)
 

Đây là một trụ mốc khác trong cuộc đời Chúa Giêsu. Chúng ta nên nhớ rằng Ngài đang sửa soạn MC2-391

Đây là một trụ mốc khác trong cuộc đời Chúa Giêsu. Chúng ta nên nhớ rằng Ngài đang sửa soạn lên Giêrusalem và lên thập giá. Chúng ta đã chiêm ngưỡng giờ phút quan trọng khi Ngài hỏi các môn đệ xem họ nhận thức Ngài là ai để Ngài khám phá xem ai có hiểu được Ngài chưa. Nhưng có một điều Chúa Giêsu không bao giờ làm –Ngài không bao giờ thực hiện điều gì nếu không được sự chấp thuận của Chúa Cha. Trong khung cảnh này, đó là điều mà chúng ta thấy Ngài đang tìm kiếm và đang nhận lãnh. Những gì xảy ra trên Núi Biến Hình, chúng ta không bao giờ có thể biết được, chỉ biết rằng có một sự lạ lùng đáng sợ đã xảy ra. Chúa Giêsu đã đi đến đó để tìm kiếm sự chấp thuận của Chúa Cha cho bước quyết định mà Ngài sắp thực hiện. Tại đó có Môsê và Êlia hiện đến với Ngài, Môsê là nhà lập pháp lớn nhất của dân tộc Do Thái. Êlia là người lớn nhất trong các ngôn sứ. Việc này chẳng khác nào các thủ lãnh của dân Israel về đời sống, về tư tưởng, về tôn giáo cùng đến bảo Chúa Giêsu cứ tiến bước. Bây giờ Chúa Giêsu có thể tiến lên Giêrusalem vì biết rằng có một nhóm người đã hiểu biết Ngài là ai, biết công việc Ngài đang làm gồm tất cả đời sống, tư tưởng và hành động của dân tộc Ngài, và biết rằng Chúa Cha đã ưng thuận bước đường Ngài đang đi.
Có một câu rất linh động ở đây, câu này đề cập đến ba vị tông đồ, “khi tỉnh dậy, các ông đã nhìn thấy vinh quang của Chúa Giêsu”.
1. Trong cuộc sống, chúng ta mất mát quá nhiều vì tâm trí chúng ta mê ngủ. Có nhiều điều thường làm cho trí chúng ta mê ngủ.
a. Thành kiến. Chúng ta có thể bị đóng khung trong tư tưởng đến nỗi trí chúng ta khép kín lại. Một ý tưởng mới đến gõ cửa lòng chúng ta, nhưng như người ngủ mê, chúng ta không muốn thức dậy.
b. Tê liệt tâm hồn. Nhiều người không thích cố gắng suy nghĩ. Plato nói “Một đời sống thiếu suy nghĩ là một cuộc đời không đáng sống”. Nhưng mấy ai trong chúng ta chịu khó suy nghĩ mọi việc cho đến cùng? Đôi khi chúng ta lười biếng đến nỗi không còn muốn đối diện với các vấn đề và các nghi hoặc của mình.
c. Thích an toàn. Có một thứ tinh thần tự vệ trong chúng ta khiến chúng ta tự nhiên đóng cửa lòng lại trước bất cứ tư tưởng rắc rối nào. Người có thể phục thuốc mê cho tâm trí mình tới độ nó ngủ say.
2. Nhưng đời sống cũng chứa đầy những sự việc có tính chất làm tỉnh thức chúng ta.
a. Sự đau buồn. Elgar đã nói về một ca sĩ trẻ tuổi, có tài năng, nhưng thiếu sức truyền cảm trong giọng ca: “Nàng sẽ nổi tiếng như cồn khi nào có một biến cố khiến lòng nàng tan vỡ”. Thường nỗi đau buồn có thể làm con người sực tỉnh, lúc ấy, qua mắt, người đó sẽ thấy được vinh hiển.
b. Tình yêu. Browing viết về hai người phải lòng nhau. Nàng nhìn chàng, chàng nhìn nàng bằng trái tim chan chứa tình yêu “và bỗng nhiên đời sống bừng tỉnh dậy”. Tình yêu thật khiến chúng ta thức tỉnh trước những chân trời mới mà chúng ta chưa bao giờ mơ tưởng đến.
c. Sự cảm biết nhu cầu. Có thể có một người đã sống khá lâu trong thói quen, nên đã như nửa tỉnh nửa mê, thế rồi bỗng đâu xảy đến trong đời người đó nan đề, một vấn nạn không thể giải đáp, một cám dỗ không thể lướt thắng, một tiếng gọi vượt xa quá khả năng mình. Lúc đó, người ấy không còn biết làm gì hơn là “kêu khóc nắm lấy vạt áo trời”. Và sự cảm biết nhu cầu như vậy thức tỉnh người đó đến với Chúa. Chúng ta phải cầu nguyện rằng “Lạy Chúa xin giữ con luôn tỉnh thức với Ngài”.

 

MC2-392: Biến hình

Chúa Giêsu vừa loan báo cho các môn đệ biết Ngài sẽ lên Giêrusalem. Và tại đây, Ngài sẽ bị MC2-392

Chúa Giêsu vừa loan báo cho các môn đệ biết Ngài sẽ lên Giêrusalem. Và tại đây, Ngài sẽ bị giết chết. Cái tin đột ngột này chắc hẳn đã làm cho các ông lo lắng sợ hãi. Chính vì thế Ngài cảm thấy cần phải nâng đỡ tinh thần các ông bằng cách cho họ được nhìn thấy vinh quang của Ngài. Bởi đó, tám ngày sau, Ngài đã đưa ba môn đệ thân tín nhất lên núi cao và biến hình trước mặt các ông. Mặt Ngài chiếu sáng như mặt trời và áo Ngài trở nên trắng như ánh sáng. Lại có Maisen, Elia hiện ra đàm đạo với Ngài.
Đây là một cuộc hiển linh, tương tự như cuộc hiển linh trên núi Sinai. Ở đó, Thiên Chúa đã tỏ vinh quang Ngài cho Maisen và Elia. Hai vị, vào những thời điểm khác nhau, đã được thấy và nghe Chúa, hôm nay cũng hiện diện bên cạnh Chúa. Các ông ngã sấp xuống và rất sợ hãi. Rồi từ đám mây có tiếng phán. Tiếng ấy chúng ta đã từng được nghe bên bờ sông Giođan khi Chúa chịu phép rửa: Đây là Con Ta yêu dấu đẹp lòng Ta mọi đàng. Các ông ngây ngất vì chưa bao giờ được chứng kiến một cảnh tượng như thế. Phêrô lên tiếng nói, nhưng không hiểu là mình đã nói những gì.
Sở dĩ Giáo Hội đặt bài Phúc Âm về sự biến hình vào mùa Chay là để chúng ta thêm tin tưởng vào Chúa, cũng như để chúng ta có những giây phút nghỉ ngơi trước khi xuống núi, trở về với cuộc sống bình thản trên các nẻo đường phẳng lặng hay phủ đầy sóng gió dẫn tới đỉnh Canvê. Chúng ta cần được Chúa đến gần và đụng tới, như đã đến gần và đụng tới các tông đồ, để chúng ta thức tỉnh, để chúng ta biết thánh hoá những đau khổ trên đường đời.
Con đường thương khó của Chúa khởi đầu khi Người biến hình và xuống núi. Rồi đây, Người cũng sẽ biến hình, không còn hình tượng người ta nữa, để dạy cho chúng ta biết phải đi qua con đường thập giá mới đến vinh quang khải hoàn và sống lại.
Mục sư Cullman, là một nhà thần học Tin Lành, đã nói về cuộc khủng hoảng sau Công đồng Vatican II như sau: Cuộc khủng hoảng hiện nay không phải chỉ xảy ra trong Giáo Hội Công giáo. Chính Giáo Hội Tin Lành chúng tôi cũng không thoát khỏi. Một trong những lý do đó là Kitô hữu đã không chấp nhận sự điên dại của thập giá như thánh Phaolô đã dạy. Họ muốn đua đòi khôn ngoan theo kiểu thế gian. Họ tránh né hy sinh, chạy trốn khó nghèo. Họ tìm lời khen, họ muốn được tự do theo ý riêng của họ. Họ muốn bước theo Chúa khi Ngài biến hình trên đỉnh Tabôrê, nhưng dừng lại bên ngoài vườn Cây Dầu, và nhất định không chịu trèo lên đỉnh Canvê.

 

MC2-393: MẮT ĐỨC TIN, MẮT CỦA TRÁI TIM

Suy niệm của ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
 

Có nhiều điều ta nhìn mà không thấy. Ví dụ: tình yêu, tình bạn, tình mẫu tử. Ta chỉ thấy những dấu MC2-393

Có nhiều điều ta nhìn mà không thấy. Ví dụ: tình yêu, tình bạn, tình mẫu tử. Ta chỉ thấy những dấu hiệu của tình yêu như: sự âu yếm, quà tặng, sự quên mình. Còn chính tình yêu thì ta không thấy. Điều chính yếu thì vô hình. Ta chỉ thấy được bằng trái tim.
Có nhiều điều ta chỉ thấy bề mặt mà không thấy bề sâu. Ví dụ như con người. Khi nhìn một người, ta chỉ thấy diện mạo, hình dáng bên ngoài. Ít khi ta thấy được tâm tư tình cảm của người khác, kể cả những người thân yêu sống kề cận bên ta. Linh hồn người ta không ai thấy bao giờ. Vì linh hồn thiêng liêng. Ta chỉ thấy được bằng đức tin.
Chúa Giêsu xuống thế làm người đã trở nên giống như một người phàm. Người che giấu thần tính vinh quang sáng láng trong một thân xác nghèo hèn, bình thường. Không ai nhận ra thần tính của Người. Ngay cả các môn đệ luôn luôn kề cận bên Người.
Hôm nay, khi Chúa tỏ mình ra các ông chới với ngỡ ngàng. Lòng các ông tràn ngập niềm vui khi nhìn thấy vinh quang của Chúa Giêsu. Thần tính vinh quang phát lộ rực sáng. Và nhân tính được tôn vinh. “Diện mạo Chúa Giêsu chói lọi như mặt trời và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng”.
Thần tính Chúa Giêsu biểu lộ chứng thực Người là Thiên Chúa ẩn mình. Thì ra manh áo đơn sơ của bác thợ mộc che giấu cả một nguồn ánh sáng chói lọi. Tấm thân dân dã nghèo hèn lại là chiếc bình chứa đựng Ngôi Hai Thiên Chúa cao sang.
Ánh sáng thần tính rọi vào nhân tính đem lại cho ta bao niềm hi vọng. Vì nhân tính của Chúa Giêsu gánh lấy cả nhân loại trên mình, nên ánh sáng thần linh cũng soi rọi cả vào chúng ta, vào thế giới tăm tối của tội lỗi, yếu hèn, vào thân xác rã rời mệt mỏi của ta.
Ánh sáng ấy cho tôi hiểu rằng, Thiên Chúa đang ẩn tàng trong vạn vật. Người ở nơi thâm sâu nhất của hữu thể tôi như thánh Augustinô đã cảm nghiệm: “Người ởi bên trong, còn tôi ở bên ngoài”.
Người ẩn tàng trong mọi quan hệ, trong mọi niềm vui, trong mọi tình bạn, trong mọi tình yêu. Bởi vì hạnh phúc là gì nếu không phải đi tìm cái cốt lõi, là nguồn mạch của hạnh phúc, là chính Thiên Chúa hằng sống.
Ánh sáng ấy ngầm nói với tôi rằng: Vinh quang Thiên Chúa như hạt giống đang vùi chôn trong lòng tất cả mọi anh em sống quanh tôi. Vinh quang ấy đang bị che khuất đàng sau những mái tranh thô sơ, những thân thể gầy guộc, những ánh mắt mệt mỏi lờ đờ.
Nhận thức ấy thôi thúc tôi trở về tìm Chúa trong đáy lòng mình. Càng bóc đi lớp vỏ tội lỗi, dung nhan Thiên Chúa càng hiện rõ. Càng chìm sâu vào nội tâm thinh lặng, tôi càng tới gần Chúa.
Nhận thức ấy giúp tôi kính trọng anh em vì anh em là những cung thánh đền thờ nơi Thiên Chúa ngự trị, là những vườn ươm hạt mầm thần linh, là những bình sành chứa đựng kho tàng cao quý.
Như thế, sống Mùa Chay là thực hiện một hành trình nọi tâm: trở về đáy lòng mình để gặp được Chúa.
Ăn chay là đến với anh em bằng thái độ kính trọng, là bảo vệ hạt mầm thần linh đang đâm chồi nảy lộc trong các tâm hồn.
Chương trình hành động trong Mùa Chay là tiếp tay đem ánh sáng thần linh của Chúa Kitô soi chiếu vào những mảnh đời tăm tối, những thân phận hẩm hiu. Sao cho dung nhan nhân loại chói ngời ánh sáng nhân phẩm, ánh sáng văn hoá, ánh sáng lương tâm và ánh sáng thần linh.
Như thế ta đang công tác vào việc biến hình thế giới. Như thế ta đang bước theo chân Chúa Kitô, đưa nhân loại vào hành trình phục sinh.
Lạy Chúa Kitô, xin ban cho con đức tin mạnh mẽ để con nhìn thấy Chúa trong anh em. Xin ban cho con trái tim bén nhạy để con nhìn thấy những thực tại vô hình. Amen.

 

MC2-394: Phêrô

Qua đoạn Tin mừng hôm nay, chúng ta cùng nhau chia sẻ về thái độ của Phêrô. Như chúng ta MC2-394

Qua đoạn Tin mừng hôm nay, chúng ta cùng nhau chia sẻ về thái độ của Phêrô.
Như chúng ta đã thấy: trước sự hiện diện của Môisê và Êlia cùng với ánh vinh quang bao phủ, Phêrô đã vui mừng hớn hở thưa lên:
– Lạy Thày, được ở đây thì tốt lắm. Nếu Thày muốn, chúng con xin làm ba lều.
Thế nhưng sau đó, cũng chính Phêrô đã lên tiếng can ngăn Chúa khi Ngài tiên báo về những khổ đau sẽ phải chịu, để rồi Ngài đã phải nặng lời quở trách:
– Hỡi Satan, hãy xéo đi, ngươi chỉ biết những việc thuộc về trần thế mà chẳng biết chi những việc thuộc về Thiên Chúa.
Rồi cũng chính Phêrô trong sân nhà thày cả thượng phẩm đã chối Chúa ba lần chỉ vì câu hỏi bâng quơ của một đứa nữ tỳ. Phải chăng thái độ của Phêrô cũng là thái độ của người đời như tục ngữ đã nói:
– Khi vui thì vỗ tay vào,
Đến khi hoạn nạn thì nào thấy ai.
Đúng thế, khi chúng ta có tiền và có quyền thì cũng thường có nhiều tình. Người xưa đã từng bảo:
– Bần cư chung thị vô nhân vấn, phú tại sơn lâm hữu khách tầm. Nghèo mà ở ngay giữa phố chợ thì cũng chẳng ai thăm, còn giàu mà ở tận chỗ núi cao rừng thẳm, thì vẫn khối người tìm đến.
Hay như tục ngữ cũng nói:
– Thấy người sang bắt quàng làm họ.
Thế nhưng khi tiền hết và quyền hết thì tình cũng thường chắp cánh bay cao:
– Hết cơm hết gạo hết ông tôi.
Không những hết tình mà đôi khi vào lúc sa cơ thất thế, những kẻ trước kia đã hàm ơn, không chừng sẽ trở mặt, phản lại chúng ta, giậu đổ bìm leo, để rồi chính chúng ta sẽ phải âm thầm và cay đắng ghi nhận:
– Thế thái nhân tình gớm chết thay,
Nhạt như nước ốc bạc như vôi.
Hay lẩm bẩm kêu trách:
– C’est la vie, đời là thế.
Tuy nhiên chúng ta đừng vội trách người cũng như đừng vội trách đời, mà hãy trách chính bản thân chúng ta trước, bởi vì đó cũng chính là thái độ của chúng ta đối với những tha nhân và nhất là đối với Thiên Chúa.
Thực vậy, kinh nghiệm cho hay: Khi gặp được may mắn và hạnh phúc chúng ta dường như cảm thấy Thiên Chúa thật gần gũi, thật dễ thương, thế nhưng khi gặp phải những gian nguy thử thách, những đớn đau buồn phiền, chúng ta lại cảm thấy Thiên Chúa thật xa vời và độc địa như lời thơ cổ:
– Trẻ tạo hóa đành hanh chi ngán,
Chết đuối người trên cạn mà chơi.
Rồi từ đó chúng ta bực bội tức tối và lên tiếng nguyền rủa Thiên Chúa. Nói cách khác, chúng ta chỉ muốn bước theo Chúa lên đỉnh Taborê, chứ không muốn bước theo Chúa lên đỉnh Canvê. Chúng ta chỉ muốn cắm lều trong vinh quang, chứ không muốn đóng đinh mình vào thập giá. Chúng ta đã nhìn đau khổ qua cặp kính màu đen tuyệt vọng, chúng ta kéo lê thập giá chứ không vui vẻ vác lấy và coi thập giá như phương tiện cứu độ.
Tuy nhiên, chúng ta phải nhớ rằng:
– Đỉnh Canvê mới chính là nơi để Chúa Giêsu chu toàn sứ mạng cứu độ của mình, mới chính là nơi để Ngài gieo mầm phục sinh cho nhân loại.
Là môn đệ của Chúa chúng ta không có một con đường nào khác ngoài con đường thập giá, như lời Ngài đã nói:
– Ai muốn theo ta, phải từ bỏ mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo ta.
Chúng ta không dừng lại tại thập giá và khổ đau, nhưng cùng với Đức Kitô tiến vào vinh quang và phục sinh. Vì thế, mặc dù vai vác thập giá nhưng mắt chúng ta vẫn luôn hướng tới trời cao. Trời cao, sự sống và hạnh phúc phải là điểm kết thúc cho con đường thập giá. Những hy sinh chúng ta gặp phải sẽ kết thành cây thập giá đời thường, nếu chúng ta trung thành vác lấy, cây thập giá đời thường ấy sẽ là con đường dẫn chúng ta tới vinh quang phục sinh.

 

MC2-395: Chú giải của Noel Quession

Mỗi năm, ngay sau chuyện kể về cơn cám dỗ của Đức Giêsu, Chúa nhật thứ hai mùa Chay cho MC2-395

Mỗi năm, ngay sau chuyện kể về cơn cám dỗ của Đức Giêsu, Chúa nhật thứ hai mùa Chay cho chúng ta suy niệm về câu truyện Đức Giêsu biến hình.
Chúa nhật trước, chúng ta đã ngắm xem Ngài khước từ, không lợi dụng thiên tính của mình, Người khiêm tốn và dè dặt, và khi Người đói, Người bị cám dỗ như một người thường. Hôm nay, chúng ta nhìn ngắm sự vinh quang ẩn dấu của Người, thiên tính của Người.
Ba sách Tin Mừng nhất lãm phù hợp nhau khi đặt đoạn này vào khúc quanh tác vụ của Đức Giêsu. Ban đầu nhiều đám đông đã theo Đức Giêsu nhưng lại hoàn toàn lầm lẫn về Người. Việc nhân bánh hóa nhiều. Với nỗ lực của họ muốn biến Người làm vua, đã đưa sự hiểu lầm ra ánh sáng. Thực sự Đức Giêsu đã thất bại! Người đã không thành công khi muốn đưa được đám đông đến đức tin chân thật, đồng thời tất cả “tầng lớp trí thức” tôn giáo thời Người lại khước từ Người nhân danh chính giáo lý tốt đẹp truyền thống: các kinh sư và tư tế không ngừng gương cao bẫy chơi Người và cáo giác Người là phá hủy tôn giáo (Mt 12,2; 12,14; 12,24; 12,38; 15,2; 16,1; 16,6). Nhận thấy sự thất bại về chương trình giảng dạy giáo lý của mình. Đức Giêsu từ nay tập trung vào việc đào tạo các môn đệ của Người với nhóm Mười Hai nhỏ bé, như Người loan báo thử thách lớn lao sẽ xảy đến. Người đã xa lánh miền Palestine.
Ở đó tình hình từ nay đã trở nên nguy hiểm, Người chạy sang tị nạn ở bên Li-băng, về phía miền Xêdarê Philip. Ở đó cách biệt khỏi đám đông và các kinh sư, Người đã thúc đẩy Phêrô tuyên xưng đức tin; rồi lập tức Người nói: Tôi phải sang Giêrusalem, chịu nhiều đau khổ từ phía các trưởng lão, các thượng tê và các kinh sư, bị xử tử, và ngày thứ ba sống lại (Mt 16,21). Phêrô, cũng lại ông, muốn cám dỗ Đức Giêsu khước từ cái viễn ảnh chết chóc kia. Khi đó Đức Giêsu la mắng ông và hứa rằng vinh quang sẽ đến, thực sự, nhưng sau khi chịu khổ hình thập giá: “Bởi vì Con Người sẽ đến với thiên thần của Người trong vinh quang của Con Người…” (Mt 16,27-28). Chính trong bối cảnh thê thảm này mà cảnh tượng chúng ta sắp đọc, xảy đến.
Sáu ngày sau. Đức Giêsu đem các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan là em ông Giacôbê đi theo mình. Người đưa các ông đi riêng ra một chỗ, tới một ngọn núi cao.
Tôi thích tưởng tượng ra cái cảnh tượng này một cách cụ thể: một lối quanh co trên một con đường núi. Cả bốn người, họ đều đi chậm rãi. Không gian cứ lớn dần. Không khí trở nên tươi tắn và mát mẻ. Đồng bằng xa xa dưới thấp kia, các đám dông còn xa. Ôi, chốn cô liêu hạnh phúc biết bao trên các đỉnh cao! Người ta chỉ gặp được Thiên Chúa trong chốn thing lặng. Phải chăng tôi đã dành ra những thời gian để sống cô liêu, trong mùa Chay này?
Nhưng chúng ta cũng biết rằng núi là một chủ đề Matthêu ưu thích. Núi cám dỗ (Mt 4,8), Núi hạnh phúc và Luật mới (Mt 5,1), Núi bánh được chia sẻ (Mt 15,29), Núi Biệt ly của Đấng Phục sinh (Mt 18,16). Ở đây việc Thiên Chúa hiển linh ở núi Siani được tái hiện trên Núi biến hình; nhưng đó không phải là núi Sinai ở Giêrusalem, nơi đón nhận vinh quang của Thiên Chúa mà các ngôn sứ đã loan báo (Is 2,2; Tv 2,6); chính một ngọn núi nhỏ bé ở Galilê của nhiều dân nước sẽ là chứng nhân của vinh quang của anh thợ mộc hèn mọn ở Nagiarét, xa những vẻ tráng lệ của Đền Thờ. Thiên Chúa chỉ tự cho thấy mình ẩn giấu. Thiên Chúa khước từ các danh vọng, các nghi thức, các trình diễn sân khấu: Đền Thờ do bàn tay con người làm sẽ bị phá hủy (Mt 24,1-3; 26,61). Còn tôi, tôi sẽ đi gặp Thiên Chúa ở đâu?
Rồi Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng.
Matthêu, hơn hai tác giả Tin Mừng kia, nói về ánh sáng. Cũng như thế, Mô sê, tại Sinai, đã tiếp nhận tia sáng phản chiếu của vinh quang Thiên Chúa, và da mặt người tỏa sáng (Xh 34,29-35). Cũng như thế, Con Người (Đn 7,9) được mô tả bằng những hình ảnh có tính khải huyền: tia sáng, màu trắng. ánh sáng, lửa… Động từ Hy Lạp được Matthêu sử dụng ở đây, “metamorphoun” có nghĩa chữ là “biến dạng”; đó là một sự biến hình sâu xa hơn là chỉ biến hình cái mặt mà thôi. Đức Giêsu hiện ra với một hình thái khác. Và người ta nhớ đến đoạn văn nổi tiếng mà Phaolô tả cho chúng ta một tác động trái ngược: “Ngài khi ấy ở trong hình dạng Thiên Chúa,… đã lấy hình dạng con người đầy tớ… (Pl 2,6-7). Nhưng làm thế nào nói được những thực tại không thể nói được này? Thế thì càng phải dùng thật nhiều hình ảnh về ánh sáng. Tôi dành thời gian để chiêm ngắm.
Và bỗng các ông thấy ông Môsê vâ ông Êlia hiện ra đàm đạo với Người.
Từ muôn thuở, người đã lưu ý rằng ba môn đệ đã được đặc ân về mạc khải siêu nhiên này lại chính là ba người sẽ phải đụng chạm gần gũi nhất với “hủy dạng” của Đức Giêsu khi Người hấp hối tại Ghết-sê-ma-ni (Mt 26,37). Đức Giêsu như thế đã cho họ trước một kinh nghiệm về sự vinh quang sẽ đến của Người, để cố ngừa cho họ khỏi bị cái gương mù về sự hạ mình của Người.
Bấy giờ ông Phêrô thưa với Đức Giêsu rằng: lạy Ngài chúng con ở đây thật là hay! Nếu Ngài muốn, con xin dựng tại đây ba cái lều, một cho Ngài, một cho ông Môsê một cho ông Êlia.
Phêrô, là người mà quyền ưu tiên của ông vừa được nhìn nhận, sáu ngày trước, sau khi tuyên xưng đức tin của mình, lên tiếng và nói “tôi” đầy quả quyết, hăng hái, quảng đại, ông đã nhìn nhận Đấng Mêsia được chờ đợi qua hai nhân vật chủ chốt của Kinh Thánh đi theo Người: Môsê và Êlia: luật pháp và các Ngôn sứ… Môsê là người đã khởi dẫn dân Chúa trong sa mạc trên núi Sinai, và Êlia, người phải trở về để chuẩn bị giai đoạn mới, chấm dứt các thời đại tiên báo về Đấng Mêsia (Mt 17,10-13).
Hoàn toàn vui mừng về sự khám phá của mình, Phêrô có lẽ muốn ngưng lại cái khoảnh khắc hạnh phúc này và có thể nói là cố định lại nó trong cái phút hạnh phúc và vinh quang này: “Tôi sẽ dựng nhiều lều…”. Chúng ta cũng thế, nếu chúng ta có thể bắt được hạnh phúc và cố định nó lại!
Ông còn đang nói, chợt có đám mây sáng ngời bao phủ các ông.
Đám mây này, biểu tượng của sự hiện diện Thiên Chúa (Tv 18,12; Xh 40, 34-35; 1V 8,10-12), cắt ngang lời nói của Phêrô. Không phải Phêrô sẽ xây một ngôi nhà cho Thiên Chúa; mà là chính Thiên Chúa đến xây nhà của Người. Đám mây. Có lẽ chúng ta ngạc nhiên về sự liên kết kỳ lạ này: một đám mây sáng ngời lại tạo ra bóng che. Chúng ta ở đó thêm một lần nữa, đứng trước một ngôn từ biểu tượng qua đó chứng minh rằng chúng ta không thể nào hiểu những từ này như thể chúng chỉ mô tả một cảnh tượng. Động từ ‘lấy bóng mình bao phủ’ bằng tiếng Hy Lạp “Episkiazô”, chỉ xuất hiện hai lần trong toàn bộ Tân ước; ở đây và vào ngày lễ Truyền Tin, khi Thánh Thần lấy bóng mình bao phủ Maria (Lc 1,35). Theo các nhà chú giải từ này ám chỉ đến một trong các từ Do Thái nổi tiếng nhất “shékinah”, nghĩa là “nhà ở”, “Hiện Diện” của Thiên Chúa.
Và có tiếng từ đám mây phán rằng: “Đây là con yêu dấu Ta. Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người!”.
Cái từ ‘Đây là’, bề ngoài có vẻ không quan trọng. “Đây là” chính nó cũng mang đầy ý nghĩa. Trong chuyện kể nó được lặp lại ba lần: “đây là một sự hiện ra… đây là một đám mây… đây là một tiếng nói…”. Trong Kinh Thánh, đó là dấu chỉ có một sự can thiệp siêu hình được áp đặt. Đây là! Chính ở đó! Chính là thế đấy! Chúng ta ở đó chẳng để làm gì cả.
Tiếng của Thiên Chúa này lặp lại sự mạc khải về phép Rửa của Đức Giêsu: Đức Giêsu còn “hơn” cả một người, Người là Con Độc Nhất và Yêu Dấu. Nhưng điều đã được nói, trong sự thân tín, đối với một mình Đức Giêsu, Người khởi đầu tác vụ của Người… bây giờ được nói lại cho các môn đệ với một hậu quả đi theo.
Lạy Chúa, trong thời gian đặc ân của mùa Chay này, xin giúp chúng con sẵn sàng nghe tiếng Chúa, với cái nghiêm túc mà chúng con đôi khi biết sống nó là nghe một số những sứ điệp quan trọng cho chúng con.
Nghe vậy các môn đệ kinh hoàng, ngã sấp mặt xuống. Bấy giờ Đức Giêsu lại gần chạm vào các ông và bảo: Trỗi dậy đi, đừng sợ.
Trong khi gục mặt xuống đất bái lạy (từ ưa thích của Matthêu) các môn đệ nhận ra rằng họ đang ở trước một sự hiển hiện của Thiên Chúa: phản xạ tôn giáo của con người ở trước một thực thể linh thánh! Thờ phượng! Tôi có biết thờ phượng không? Đó là hành vi tối thượng của con người. Sống, Yêu, Thờ Phượng. Con người không được tạo dựng để thu mình lại với chính mình trong một thứ tự huỷ. Con người được tạo dựng để mở ra cho người khác bằng tình yêu. Và sự hoàn thành của nó được thực hiện khi nó mở ra cho Đấng Tha Thể bằng thờ phượng. Và điều đó luôn luôn mang hình thực một thứ hư vô hóa chính mình: phải chết trước khi được sống. Phải chết cho chính mình đã, để yêu mến, tha thứ. Nhưng nếu con người tự hư vô hóa, mặt cúi xuống đất để tới gần Thiên Chúa, thì chúng ta thấy Đức Giêsu tới gần, đụng chạm, vực các bạn hữu của Người dậy. Những cử chỉ yêu thương. Những cử chỉ cùng quyền năng Thiên Chúa mà chúng ta lát nữa sẽ thấy ý nghĩa biểu tượng.
Các ông ngước mắt lên, không thấy ai nữa chỉ còn một mình Đức Giêsu mà thôi. Đang khi thầy trò từ trên núi xuống, Đức Giêsu truyền cho các ông rằng: đừng nói cho ai hay thị kiến ấy, cho đến khi Con Người từ cõi chết trỗi dậy”.
Sách kinh lễ không dám dùng từ chính xác. Bởi vì, một cách có chủ ý, Matthêu đã sử dụng cùng một từ Hy Lạp “Egeirein”, “vực dậy”, để nói rằng Đức Giêsu đỡ các bạn hữu mình dậy và làm cho sống lại. Nếu Thiên Chúa nói từ đám mây, thì đó không phải để đè bẹp con người, như chết, dưới đất… mà để làm cho con người sống lại. Nhưng trong khi chờ đợi, Phêrô và các bạn hữu của ông phải xuống núi lại. Và họ sẽ phải, nếu họ muốn, biến hình kiểu thường ngày. Phêrô sẽ sống những ngày đều đều, những ngày cực khổ, những thất bại và những bách hại. “Nhưng, suốt đời, ông sẽ nhớ lại cái khoảnh khắc thoáng qua này, ở đó ông nghe thấy tiếng gọi này đến từ trời, từ trên núi thánh (2 Pr 1,16-18). Mỗi một lần thể hiện nhiệm tích Thánh Thể là một trạm dừng lại để được tưới mát trên núi với Đức Giêsu. Nhưng phải đi lại, vươn tới những nhiệm vụ của chúng ta, với kỷ niệm…

 

MC2-396: Hiển Thị Chân Dung

 (CN II-MC)
 

Việc cần phải làm trong Mùa Chay Thánh là: ăn chay, cầu nguyện, và bố thí. Ba việc này diễn MC2-396

Việc cần phải làm trong Mùa Chay Thánh là: ăn chay, cầu nguyện, và bố thí. Ba việc này diễn tả ba chiều kích, ba mối tương quan giữa người tín hữu với Thiên Chúa và với anh em. Tương quan với Thiên Chúa là cầu nguyện, với tha nhân là bố thí và với chính mình là ăn chay. Ba tương quan này đồng hành với nhau và thể hiện cùng một lúc trong đời sống thường nhật của người Ki-tô hữu. Người tín hữu cần đi ra một nơi riêng, leo lên núi trong một nơi thinh lặng, để tìm lại chính mình và lắng nghe tiếng Chúa là hồng ân. Tuy nhiên, không thể ở lại đó, mà cần phải xuống núi gặp gỡ tha nhân để chia sẻ với họ ơn thánh đã nhận được. Ðây là sứ mạng của người tín hữu, những người đã chịu phép rửa tội, lắng nghe Lời Chúa và chia sẻ cho người khác những kiến thức đã thu thập được.
Tiêu đề bài Tin Mừng Chúa nhật II Mùa Chay có sách Tin Mừng ghi là “Đức Giê-su hiển dung” (Mt 17, 1-9; Lc 9, 28-36), có sách ghi là “Đức Giê-su biến đổi  hình dạng” (Mc 9, 2-8). Tuy có tiêu đề khác nhau, nhưng trong nội dung thì cả 3 sách Tin Mừng nhất lãm đều dùng cách viết “Đức Giê-su biến đổi hình dạng” để trình thuật biến cố lạ lùng này (“Sáu ngày sau, Đức Giê-su đem các ông Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an là em ông Gia-cô-bê đi theo mình. Người đưa các ông đi riêng ra một chỗ, tới một ngọn núi cao. Rồi Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông.” – Mt 17, 1-2). Như vậy thì Đức Ki-tô hiển dung hay biến hình?
Hiển dung là biểu lộ cái diện mạo thực (chân dung) ra một cách rõ ràng. Còn biến hình là thay đổi hình dạng. Đức Giê-su biến đổi hình dạng thường ngày sang một hình dạng khác hẳn, rực rỡ hơn, chói loà hơn gấp bội, là Người muốn cho các môn đệ và mọi người biết ngoài bản tính loài người chứa trong thân xác phàm tục, Người còn một bản tinh nữa là bản tính Thiên Chúa. Chân tướng sự vịêc là điều Người muốn công nhiên mạc khải: Chân dung của Người chính là dung mạo đích thực của Thiên Chúa. Nói cách cụ thể, trong cùng một Con Người là Đức Giê-su Ki-tô có 2 hình dạng: Dung mạo bình thường là bản tính loài người, còn chân dung – bản chất đích thực của Người – là bản tính Thiên Chúa. Nói Đức Giê-su biến hình là muốn nói Người đã biến đổi từ hình dạng bình thường của loài người sang hình dạng Thiên Chúa. Còn nói hiển dung là muốn nói – qua việc biến đổi hình dạng bên ngoài – Đức Ki-tô muốn biểu lộ chân dung đích thực của Thiên Chúa (Ngôi Lời nhập thể) vốn ẩn kín bên trong chàng thanh niên Giê-su Na-da-ret.
Khi ba môn đệ theo Đức Giê-su lên núi Ta-bo, thì các ngài vẫn thấy Thầy của mình với dung mạo bình thường như các ngài đã được chứng kiến, được “thực mục sở thị” trong suốt ba năm theo Thầy đi khắp đó đây. Nhưng đến khi Thầy cầu nguyện thì “… Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng.” (Mt 17, 2). Sự kiện Chúa Giê-su biến đổi hình dạng đã khiến các môn đệ – trong đó có thánh Phê-rô – hoảng sợ. Sự hoảng sợ lần này khác với lần được chứng kiến “Đức Giê-su đi trên mặt biển” (Mt 14, 22-32). Lần trước, thánh nhân cho là mình gặp ma, nhưng lần này thánh nhân đã tin Thầy mình đích thị là Thiên Chúa, và chỉ có như thế Thầy mình mới hội kiến, đàm đạo với ông Mô-sê và ông Ê-li-a (đã khuất bóng từ trước đó mấy trăm năm) được.
Từ hình dạng con người trần thế bình thường biến sang chân dung Thiên Chúa, Đức Giê-su muốn cho mọi người – thông qua các môn đệ thân tín của Người – hiểu rõ được Người chính là Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa thật, như Lời phán dạy của Thiên Chúa Cha từ trong đám mây sáng ngời bao phủ các môn đệ: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người!” (Mt 17, 5). Lời phán dạy của Thiên Chúa Cha lần này y hệt lần Đức Giê-su chiu phép rửa trên sông Gio-đan (“Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người.” – Mt 3, 17). Nhờ thế, giúp củng cố đức tin, đồng thời, cũng chính là giúp biến đổi con người các môn đệ và những kẻ đến với Đức Giê-su Ki-tô.
Nói Chúa Hiển Dung là nhằm mục đích củng cố đức tin của các môn đệ, nhưng vì sao lại phải như vậy? Ấy là vì trước đó không lâu, Đức Giê-su đã loan báo biến cố Thương Khó lần thứ nhất cho các môn đệ: “Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết, và ngày thứ ba sống lại”. Các môn đệ đã không chịu hiểu và cũng không muốn tin rằng Thầy mình sẽ đi vào con đường thập giá quá đau khổ và nhục nhã đó. Riêng Phê-rô thì đã kéo riêng Thầy mình ra và trách Người rằng: “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy!”; khiến Đức Giê-su phải nặng lời quở mắng: “Xa-tan, lui lại đàng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.” (Mt 16, 21-23).
Một sự kiện minh họa lòng tin của các môn đệ còn chưa vững là khi Chúa Hiển Dung, thì “ông Phê-rô và đồng bạn thì ngủ mê mệt” (Lc 9, 32); nhưng khi tỉnh hẳn, các ông nhìn thấy vinh quang của Đức Giê-su, và hai nhân vật đứng bên Người (là ông Mô-sê và ông Ê-li-a), thì “các môn đệ kinh hoàng, ngã sấp mặt xuống đất.” (Mt 17, 6). Rồi sau đó, tại vườn Ghết-sê-ma-ni, trong khi Thầy cầu nguyện đến độ đổ cả mồ hôi máu ra, mà các ông vẫn ngủ ngon lành, khiến Người phải thốt lên: “Thế ra anh em không thể canh thức nổi với Thầy một giờ sao? Anh em hãy canh thức và cầu nguyện, để khỏi lâm vào cơn cám dỗ. Vì tinh thần thì hăng say, nhưng thể xác lại yếu hèn.” (Mt 24, 43-44). Cứ tưởng như vậy thì các môn đệ sẽ “tỉnh ngủ”, để hiểu ra rằng thời giờ đã cận kề, đây là lúc cần phải canh thức và sẵn sàng chờ đón mọi biến cố; nhưng thật không ngờ các ngài lại tiếp tục ngủ, ngủ miết tới lúc Thầy phải đánh thức lần nữa: “Lúc này mà còn ngủ, còn nghỉ sao? Này, đến giờ Con Người bị nộp vào tay những kẻ tội lỗi. Đứng dậy, ta đi nào! Kìa kẻ nộp Thầy đã tới!” (Mt 26, 40-46).
Như vậy, sau biến cố Chúa Hiển Dung, các môn đệ có được củng cố lòng tin để vững bước cùng Chúa trên con đường thập giá hay không? Cứ xem khi Đức Giê-su bước vào cuộc Thương Khó thì đủ biết: Trong số 12 Tông đồ là những môn đệ thân tín nhất của Đức Giê-su, thì vị đứng đầu (Phê-rô) đã chối Chúa tới 3 lần trước một người tớ gái nhà Cai-pha, một Giu-đa It-ca-ri-ốt thì bán Chúa để lấy 30 đồng bạc, các vị còn lại thì bỏ Người mà chạy trốn hết, để một mình Chúa đơn độc đi vào cuộc Thương Khó. Duy chỉ có được một Gio-an là theo Thầy tới tận chân thập giá, nhưng cũng chỉ lẽo đẽo theo từ xa xa, đến độ khi Thầy yếu nhọc quá sức, quân dữ phải bắt một dân ngoại là Si-mon vác đỡ Thánh giá cho Người (“Đang đi ra, thì chúng gặp một người Ky-rê-nê, tên là Si-môn; chúng bắt ông vác thập giá của Người.” – Mt 27, 32).
Quả thật Chúa luôn luôn muốn củng cố lòng tin cho các môn đệ, nhưng vấn đề đặt ra là lòng tin ấy có thực sự được củng cố hay không, còn tùy thuộc vào chủ thể các môn đệ. Một cách cụ thể là nếu chủ thể không chịu mở cửa tâm hồn ra đón nhận, thì những ân sủng Thiên Chúa ban cũng chẳng khác gì “nước đổ đầu vịt, nước đổ lá môn” mà thôi. Vâng, “Thiên Chúa có thể dựng nên chúng ta mà không cần hỏi ý kiến chúng ta, nhưng Người không thể cứu rỗi chúng ta nếu chúng ta không ưng thuận.” (Thánh Au-gus-ti-nô). Và cũng chính vì quá rõ lòng dạ con người là như vậy, nên Đức Giê-su luôn dạy các môn đệ phải tỉnh thức và cầu nguyện (“Anh em hãy canh thức và cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ. Vì tinh thần thì hăng hái, nhưng thể xác lại yếu đuối.” – Mc 14, 38). Không những Người dạy dỗ, mà còn làm gương mẫu cụ thể nữa (Người luôn cầu nguyện cùng Chúa Cha, nhất là những dịp Người chịu để ma quỷ cám dỗ như khi Người vào sa mạc ăn chay 40 đêm ngày, hoặc lần cầu nguyện đổ cả mồ hôi máu ra nơi vườn Ghết-sê-ma-ni).
Mùa Chay chính là thời gian để người tín hữu chọn lựa một hành động thiết thực: hoặc xé áo, hoặc xé lòng. Muốn xé áo thì dễ thôi, chỉ cần một động tác nhỏ là khoác lên mình bộ vó kiêu căng tự phụ, bộ áo lười nhác ích kỷ, không thèm đếm xỉa đến mọi người xung quanh. Tuy nhiên, để xé lòng thì không dễ dàng đâu, bởi phải quyết tâm không khua chiêng gõ mõ khi cầu nguyện, không méo miệng ngoẹo đầu rầu rĩ khi ăn chay, không biểu ngữ khoa trương khi làm từ thiện, không sáo rỗng màu mè khi an ủi anh em, không hứa lèo hứa cuội khi hoà giải, không mặc áo thày tu khi mình không phải là tu sĩ, không đánh trống bỏ dùi, tiền hậu bất nhất khi đòi đi theo Thầy Chí Thánh. Chỉ có như vậy, kèm theo sự sám hối chân thành, mới thực sự hoán cải, đổi mới con người của mình, để được biến đổi toàn diện (biến hình) theo Chúa.
Đúng là rất khó khăn để có thể làm được như thế. Khó, nhưng không phải là không thực hiện được, khi biết cậy dựa vào Thần Khí, “Vì Thiên Chúa đã chẳng ban cho chúng ta một thần khí làm cho chúng ta trở nên nhút nhát, nhưng là một Thần Khí khiến chúng ta được đầy sức mạnh, tình thương, và biết tự chủ.” (2 Tm 1, 7). Muốn tránh khỏi mưu ma chước quỷ hằng ngày cám dỗ, người tín hữu không thể ỷ vào sức mình vì “tinh thần thì hăng hái nhưng thể xác lại yếu đuối” mà  phải cậy trông vào Thiên Chúa, cầu nguyện để Người soi sáng và ban thêm sức mạnh và lòng dũng cảm. Chỉ có như thế mới mong biến đổi con người của mình (như xưa Chúa đã biến hình trên núi Ta-bo).
Quả thực Tin Mừng về cuộc Hiển Dung của Chúa đặt trước mắt người Ki-tô hữu vinh quang của Đức Giê-su, báo trước cuộc phục sinh vinh hiển của Người. Từ đó giúp người tín hữu ý thức mình được dẫn lên núi cao (Mt 17, 1) như các Tông Đồ Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an, để tái đón nhận hồng ân được làm con Thiên Chúa trong Trưởng Tử Giê-su Ki-tô, qua Lời phán dạy: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người!” (Mt 21, 6). Vâng, người Ki-tô hữu luôn được mời gọi cùng đi lên núi cao để được ngụp lặn trong hào quang vinh hiển của Thiên Chúa, ngõ hầu hoán cải, biến đổi toàn diện con người của mình sao cho ”trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Ki-tô” (Pl 3, 10). Ước được như vậy. Amen.
Lam Thy ĐVD.

 

MC2-397: Lên Núi Thánh

CN 2 CHAY A
 

Giữa hai lần báo trước biến cố Thương Khó và Phục Sinh, Đức Giê-su đưa ba môn đệ ra khỏi MC2-397

Giữa hai lần báo trước biến cố Thương Khó và Phục Sinh, Đức Giê-su đưa ba môn đệ ra khỏi đời thường để bước vào thế giới của Thiên Chúa. Ở đó, những điều xảy ra nhằm mặc khải căn tính của Đức Giê-su. Biến cố trên núi cao báo trước sự Phục Sinh của Đức Giê-su vì Người có nguồn gốc thần linh, Người có Cha là Thiên Chúa, Người là Con và được Chúa Cha yêu thương. Chính Chúa Cha ra lệnh cho các môn đệ lắng nghe giáo huấn của Đức Giê-su.
Trình thuật bắt đầu bằng sự tách biệt với đời thường về thời gian, về không gian và về con người: “Sáu ngày sau, Đức Giê-su đem các ông Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an là em ông Gia-cô-bê đi theo mình. Người đưa các ông đi riêng ra một chỗ, tới một ngọn núi cao” (Mt 17,1).
Về thời gian là “sáu ngày sau”, đánh dấu sự phân cách với những gì đã xảy ra trước đó một tuần. Về nơi chốn: ba môn đệ được tách riêng ra một nơi và được đưa lên một ngọn núi cao. Về con người: chỉ có ba môn đệ được chọn: “Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an”.
Sau khi được tách biệt khỏi thời gian và không gian bình thường, những gì xảy ra trên núi thuộc về một thế giới khác. Đó là thế giới của Thiên Chúa, thế giới không còn khoảng cách thời gian và không gian, thế giới mà ngôn ngữ không thể diễn tả được. Trong khoảng khắc thần linh đó, mặc khải của Thiên Chúa được tỏ bày qua thị giác (để thấy) và qua thính giác (để nghe).
Đức Giê-su được biến đổi hình dạng trước mặt ba môn đệ: “Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng”. Nếu dung nhan Đức Giê-su chói lọi như mặt trời thì làm sao các môn đệ có thể nhìn mà không bị mù mắt. Nếu y phục của Đức Giê-su trở nên trắng tinh như ánh sáng thì làm sao các môn đệ có thể thấy được, vì không ai thấy được ánh sáng mà chỉ có thể thấy sự phản chiếu của ánh sáng nơi sự vật mà thôi.
Thực ra, đây là cách diễn tả những thực tại thần linh bằng thứ ngôn ngữ thị kiến của sách Khải Huyền. Ba môn đệ đang đối diện với thế giới của Thiên Chúa, đối diện với những thực tại thuộc về Thiên Chúa, đối diện với vinh quang của Thiên Chúa, nên ngôn ngữ loài người hoàn toàn bất lực. Ngôn ngữ loài người không mô tả được, chỉ vì điều xảy ra không có trong kinh nghiệm cuộc sống thường ngày của con người. Bằng ngôn ngữ, sách Khải Huyền chỉ có thể mô tả những thị kiến về thế giới thần linh bằng các từ: “như”, “giống như”, “tựa như”… còn điều trông thấy thì không thể mô tả được. Chẳng hạn Gio-an mô tả thị kiến ở Kh 4,2-3: “Lập tức tôi xuất thần. Kìa một cái ngai đặt ở trên trời và có một Đấng ngự trên ngai. Đấng ngự đó trông giống như ngọc thạch và xích não. Chung quanh ngai có cầu vồng trông giống như bích ngọc”. Kh 4,6 viết: “Trước ngai có cái gì như biển trong vắt tựa pha lê”. “Trông giống như…”, “như…”, còn thực sự thế nào thì không mô tả được.
Có thể nói, trên núi cao, giữa trời và đất, ba môn đệ được thấy “thị kiến” về Đức Giê-su trong thế giới của Thiên Chúa, chỉ có thể mô tả bằng so sánh “như”: “Chói lọi như mặt trời”, “trắng tinh như ánh sáng”, nghĩa là dung nhan của Đức Giê-su không phải là mặt trời, và y phục của Người cũng chẳng phải là ánh sáng, chỉ là “như”, “giống như” mà thôi.
Trong thế giới thần linh ấy, các nhân vật sống cách nhau hàng thế kỷ có thể ngồi lại đàm đạo với nhau. Theo Kinh Thánh, Mô-sê dẫn dân Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập vào thế kỷ XIII TCN, Ê-li-a là ngôn sứ dưới thời vua A-kháp, thế kỷ VIII TCN và Đức Giê-su thế kỷ I SCN. Nội dung đàm đạo không được kể ra, nhưng điều chắc chắn là có trao đổi giữa các nhân vật. Trong thế giới trên cao, điều nhấn mạnh là tương quan giữa người sống và người đã khuất, là nối kết giữa các thế hệ với nhau, như thể khoảng cách thời gian không còn nữa. Ba môn đệ là chứng nhân cuộc đàm đạo nhưng nội dung lại vượt ra ngoài sự nắm bắt của người phàm.
Mặc khải bằng thị kiến kết thúc với sự lên tiếng của con người, cụ thể là Phê-rô, và chuyển sang hình thức mặc khải thứ hai: “Tiếng nói từ đám mây”: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người” (17,5). Từ kinh nghiệm thị kiến, thấy bằng mắt, chuyển sang mặc khải bằng lời qua tiếng phát ra. Các môn đệ chỉ có thể lãnh hội được nội dung bằng cách “nghe”. Tiếng phát ra từ đám mây không phải là tiếng con người, tiếng này có nguồn gốc từ trời và bí ẩn. Lối hành văn phù hợp với bối cảnh của biến cố trình bày mặc khải của Thiên Chúa.
Đối diện với thế giới của Thiên Chúa và vinh quang của Người, các môn đệ đã “kinh hoàng, ngã sấp mặt xuống đất” (17,5). Chính Đức Giê-su đã đưa các ông trở lại đời thường bằng cách chạm vào các ông và nói: “Chỗi dậy đi, đừng sợ”, các ông ngước mắt lên và mọi chuyện lại trở về thực tế. Nhưng biến cố ấy, những gì đã thấy, những lời đã nghe, sẽ không bao giờ rời khỏi các ông. (x. Suy niệm CN 2 Mùa Chay A, Giu-se Lê Minh Thông, O.P.)
Ba môn đệ thân tín được Đức Giê-su dẫn lên núi Tabor. Ở đó cả ba nhìn thấy vinh quang của vương quốc Thiên Chúa chói sáng nơi Đức Giê-su. Trên núi, đám mây thánh thiện của Thiên Chúa bao phủ họ. Trên núi, trong cuộc đàm đạo của Đức Giê-su Hiển Dung với Lề luật và Tiên tri, họ hiểu rằng, giờ của ngày Lễ Lều đích thực đã đến. Trên núi, họ cảm nghiệm, Đức Giêsu chính là Tora sống động, là lời trọn vẹn của Thiên Chúa. Trên núi, họ thấy “quyền lực” của vương quốc đang đến trong Đức Ki-tô. Nhưng chính trong sự gặp gỡ đáng sợ với vinh quang của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu, họ phải học biết điều thánh Phao-lô nói trong lá thư thứ nhất gởi giáo đoàn Cô-rin-tô với các môn đệ thuộc mọi thời đại: “Chúng tôi rao giảng một Đức Ki-tô bị đóng đinh, điều mà người Do thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ. Nhưng đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi, dù là Do thái hay Hy lạp, Đấng ấy chính là Đức Ki-tô, Người là sức mạnh và là sự khôn ngoan của Thiên Chúa” (1,23-24). Sức mạnh của vương quốc tương lai xuất hiện nơi Đức Giê-su Hiển Dung, Đấng nói với các chứng nhân Cựu ước về sự cần thiết của cuộc khổ nạn như con đường tiến đến vinh quang (x. Lc 24,26-27). Như thế, họ được tiền dự vào ngày quang lâm; nhờ đó dần dần họ được dẫn vào mầu nhiệm sâu thẳm của Đức Giê-su.(x.Đức Giêsu thành Nazareth, Lm Aug Nguyễn Văn Trinh biên dịch, trang 273).
Đức Giê-su đưa các môn đệ lên đỉnh núi Tabor chiêm ngắm vẻ đẹp của thế giới thần linh, sau đó Ngài đưa các môn đệ xuống núi chuẩn bị vác thập giá lên núi Sọ. Xuống núi để chu toàn nhiệm vụ trần gian. Đức Giê-su phải chịu khổ nạn, chịu chết rồi mới Phục Sinh mở lối vào thiên đàng. Hai đỉnh núi: núi Ta-bor và núi Sọ cách nhau không xa về địa lý nhưng lại là con đường vạn lý. Chỉ có con đường tình yêu mới nối liền hai núi mà thôi.Với Đức Giêsu, vinh quang núi Ta-bor chỉ là chốc lát, chỉ là khởi đầu, chỉ là lời báo trước cho mầu nhiệm núi Sọ nơi vinh quang vĩnh cửu sau cuộc Khổ Nạn. Còn với Phê-rô, đây là vinh quang của ơn cứu độ, và ông phải dấn mình vào: ông tưởng rằng không cần có thập giá vẫn có vinh quang. Mãi đến sau này, sau biến cố Phục Sinh, ông mới hiểu rõ và thuật lại toàn bộ sự kiện (x. 2 Pr 1,16-20).
Thánh Phê-rô cùng các Tông đồ còn phải vượt qua những yếu đuối, sa ngã, còn phải nỗ lực vượt qua mọi khó khăn thử thách, còn phải chịu đau khổ vì Thầy chí thánh, còn phải trải qua cái chết đớn đau rồi mới tới được Núi Thánh thiên quốc như lòng mong ước. Các ngài chỉ đi một con đường Thầy mình đã đi qua. Đó là con đường tình yêu.
Trong cuộc sống người tín hữu, lên núi chính là những giây phút dành cho việc cầu nguyện, tiếp xúc thân mật với Chúa. Đó là những buổi tham dự Thánh lễ, kinh nguyện, những giờ cầu nguyện riêng tư, những buổi Tĩnh Tâm. Cần phải dành những giây phút lên núi với Chúa : Núi của thánh lễ, núi của cầu nguyện, núi của sám hối, núi của những dịp tĩnh tâm. Đó là những giây phút lên núi để gặp gỡ Chúa, để lắng nghe, để chiêm niệm, để biến đổi bản thân mình.
Kỷ niệm ngọt ngào trong những giờ sống hạnh phúc bên Chúa sẽ là sức mạnh nâng đỡ ta trong những thách đố của đời sống. Núi Thánh sẽ trở thành quê hương yêu dấu để tâm hồn ta luôn hướng về, dù còn phải vượt qua rất nhiều trở ngại cách ngăn. Thiên Đàng thoáng thấy qua những giờ kết hiệp với Chúa sẽ là nguồn động viên giúp ta chu toàn mọi nghĩa vụ của con người. Như thế, khi đã xuống núi rồi, ta vẫn còn mong ước sẽ trở lên núi mỗi khi có dịp.
Chúng ta có sẵn sàng nhận lời mời của Chúa Giê-su để cùng với Người “lên núi” không? Mỗi lần Cầu Nguyện, Tĩnh Tâm, Linh Thao, Dâng Lễ, lắng nghe Lời Chúa, đón nhận các Bí Tích, là chúng ta được “lên núi” với Chúa. Nhiều lần “lên núi” như thế là để thực tập cho quen với một lần “lên Núi Thánh” là đỉnh cao cuối cùng trong Nước Trời.
Lm Giuse Nguyễn Hữu An

 

MC2-398: Suy niệm của Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái

Chủ Đề: Cũng vì thương, Thiên Chúa ban Đức Giêsu cho loài người. (Mc 9,7)
I. Dẫn vào Thánh lễ
 

Trong Mùa Chay, Hội Thánh nhắc chúng ta nhớ những điều rất quan trọng. Chúa nhật vừa qua MC2-398

Trong Mùa Chay, Hội Thánh nhắc chúng ta nhớ những điều rất quan trọng. Chúa nhật vừa qua, Hội Thánh nhắc ta nhớ đến những ơn ban của Chúa. Hôm nay Hội Thánh nhắc ta nhớ đến một ơn quý giá nhất mà Thiên Chúa ban cho chúng ta, đó là Đức Giêsu, Người Con Một yêu quý của Ngài.
Thiên Chúa ban Đức Giêsu cho chúng ta để Đức Giêsu sống với chúng ta và chúng ta sống với Ngài, sống theo Ngài và sống như Ngài.
Trong Thánh lễ này, chúng ta hãy chú ý lắng nghe Lời Đức Giêsu và kết hợp thân thiết với Ngài.

II. Gợi ý sám hối
Chúa nhật vừa qua, Đức Giêsu đã kêu gọi chúng ta sám hối, nghĩa là bỏ con được cũ lầm lạc để quay về với Chúa. Chúng ta đã thực sự quay về chưa?
Đức Giêsu còn kêu gọi chúng ta hãy lắng nghe Lời Chúa. Chúng ta đã làm việc này chưa?
Đã qua một tuần Mùa Chay rồi, mỗi người chúng ta có dự định cụ thể nào chưa?

III. Lời Chúa
1. Bài đọc 1: St 22,1-2.9a.10-13.15-18
Tường thuật chuyện Abraham tế sát Isaac.
Tế sát Isaac là một hy sinh rất lớn của Abraham, vì: a/ Isaac là đứa con duy nhất mà vợ chồng ông sinh được trong lúc tuổi già; b/ đứa con ấy lại là tất cả niềm hy vọng của ông về lới Chúa hứa sẽ cho ông một dòng dõi đông đúc; b/ bởi thế, Isaac là "đứa con một yêu dấu" của Abraham. Vậy mà ông đành giết nó để dâng cho Chúa.
Tuy nhiên tấm lòng của Abraham đối với Thiên Chúa còn to lớn hơn: a/ Chúa vừa gọi "Abraham" thì ông đáp lại ngay "Dạ, tôi đây" ; b/ Chúa muốn ông làm một việc vừa ngược với tình cảm của ông, vừa xem ra cũng ngược với lời Ngài đã hứa (cho ông một dòng dõi đông đúc), ông cũng sẵn sàng làm.
Thiên Chúa coi trọng tấm lòng hơn lễ vật, coi trọng sự hy sinh trong tâm hồn Abraham hơn đứa con mà ông sắp dâng. Cho nên Chúa bảo ông dừng tay. Dù Abraham chưa giết con, nhưng Chúa kể ông đã dâng con cho Ngài.

2. Đáp ca: Tv 115
Tác giả đang ở trong một hoàn cảnh bi đát "Tấm thân tôi trăm phần khổ cực", hơn nữa đang chứng kiến "cái chết của những bậc thánh nhân", thế mà tác giả vẫn tin vào Thiên Chúa.
Đáp lại đức tin kiên vững ấy, Thiên Chúa đã "bẻ gãy xiềng xích" và cứu thoát tác giả. Ông vui mừng ca tụng Chúa và dâng lễ vật tạ ơn.
Những tâm tình này rất đúng với Abraham.

3. Tin Mừng: Mc 9,2-10
Bài tường thuật Đức Giêsu biến hình. Điểm đáng chúng ta lưu ý nhất là tiếng từ trời "Đây là con yêu dấu của Ta". Câu này là vang vọng của lời Thiên Chúa nói với Abraham về Isaac "Hãy đem Isaac đứa con rất yêu dấu của ngươi... dâng nó làm lễ toàn thiêu" (Bài đọc I)
Như thế, Isaac là hình bóng của Đức Giêsu. Cũng như Abraham đã hy sinh đứa con một yêu dấu của mình, thì Thiên Chúa cũng không tiếc khi ban Đức Giêsu, Người Con Một yêu dấu của Ngài, cho nhân loại để chịu chết cứu chuộc nhân loại.

4. Bài đọc II: Rm 8,31-34
Thánh Phaolô suy nghĩ về ý nghĩa cuộc đời Đức Giêsu và hiểu rằng tất cả đều vì lợi ích cho loài người chúng ta: Khi Đức Giêsu chịu chết là chịu chết "vì tất cả chúng ta" ; và khi Ngài sống lại lên ngự bên hữu Chúa Cha thì cũng là để "biện hộ cho chúng ta".
Đức Giêsu chính là ơn ban tuyệt vời nhất mà Thiên Chúa ban cho loài người.

IV. Gợi ý giảng
* 1. Món quà ngoài sức tưởng tượng
Các bài đọc hôm nay nói về những món quà vượt sức tưởng tượng.
Abraham là một người sẵn lòng với Thiên Chúa. Ngài bảo ông bỏ quê hương xứ sở mà ra đi đến một nơi vô định. Ông mau mắn làm theo. Thiên Chúa thấy lòng quảng đại của ông, Ngài bảo ông dâng Isaac cho Ngài. Món quà này chắc chắn Abraham không ngờ tới, vì đó không phải là một đồ vật hoặc một con vật mà là một con người. Con người ấy lại là đứa con duy nhất của ông. Hơn nữa nó còn là tất cả hy vọng của ông vì ông sinh ra nó trong lúc tuổi đã già, và ông nghĩ chỉ có nó mới thực hiện được mong ước của ông là có một dòng dõi. Dâng nó đi là dâng tất cả. Thế mà Abraham đã dâng. Một món quà ngoài sức tưởng tượng (bài đọc I).
Nhưng món quà mà Thiên Chúa ban cho loài người còn ngoài sức tưởng tượng hơn nữa. Đó là ban Đức Giêsu, Người Con độc nhất, Người Con thân yêu vô cùng. Hơn nữa, Thiên Chúa ban Người Con ấy để Người Con ấy chịu chết vì tội lỗi loài người, chết thay cho loài người (bài Tin Mừng). Thật chẳng có tấm lòng nào bằng như thế. Chẳng có tình yêu nào cao cả như thế (bài đọc II).

* 2. "Hãy vâng nghe lời Người"
Một hôm nhà vua triệu tập các cận thần. Vua đưa cho quan Tể Tướng một viên ngọc trai lóng lánh và hỏi:
- Ông hãy nói viên ngọc này đáng giá bao nhiêu?
- Muôn tâu, nó đáng giá còn hơn số lượng vàng khối mà 100 con lừa có thể chở.
- Ông hãy đẫp vỡ nó ra!
- Muôn tâu Bệ Hạ, làm sao hạ thần có thể phung phá một báu vật như thế ạ!
Nhà vua thưởng cho quan Tể Tướng một chiếc áo danh dự và lấy lại viên ngọc.
Kế đó vua đưa viên ngọc cho quan Thị Vệ, cũng hỏi:
- Theo ông, nó đáng giá bao nhiêu?
- Bằng nửa vương quốc.
- Hãy đập vỡ nó ra!
- Đập vỡ viên ngọc này ư? Muôn tâu Bệ Hạ, tay thần không thể nào làm được việc đó.
Nhà vua cũng thưởng cho ông này một chiếc áo danh dự, lại còn tăng lương cho ông.
Sau cùng nhà vua đưa viên ngọc cho Abdul:
- Ngươi có biết viên ngọc này đẹp đến mức nào không?
- Muôn tâu, đẹp không thể nói được.
- Hãy đập nát nó đi.
Lập tức Abdul lấy hai viên đá đập vỡ viên ngọc ra và nghiền nó thành bụi. Quần thần thét lên sợ hãi vì sự táo bạo của Abdul. Họ hỏi:
- Tại sao nhà ngươi dám làm thế chứ?
Abdul bình tỉnh đáp:
- Lệnh của Hoàng Thượng đáng giá hơn bất kỳ viên ngọc quý nào. Tôi tôn kính Hoàng Thượng chứ không tôn kính viên ngọc.
Nhà vua khen ngợi thái độ của Abdul và thưởng chàng trọng hậu hơn cả hai vị quan kia.
Câu chuyện giúp chúng ta hiểu tại sao khi Đức Giêsu biến hình, tiếng Chúa Cha từ trời đã phán: "Đây là Con Ta yêu dấu. Hãy vâng lời Ngài".

* 3. Con yêu dấu
Khi đọc bài Tin Mừng hôm nay về việc Đức Giêsu biến hình, tôi chẳng có chút cảm xúc nào cả. Đọc thêm bài đọc I về chuyện Abraham tế sát Isaac, tôi khám phá rằng Isaac là hình bóng của Đức Giêsu, và người cha già Abraham là hình bóng của Thiên Chúa. Và tôi rất xúc động vì tiếng gọi "Con yêu dấu".
Abraham yêu dấu Isaac biết chừng nào vì đó là đứa con duy nhất ông sinh ra được trong lúc tuổi đã già. Chúa Cha cũng yêu dấu Đức Giêsu biết chừng nào vì đó chẳng những là Người Con duy nhất mà còn là Người Con tuyệt hảo của Ngài.
Có người cha nào không tan nát cõi lòng khi đứa con yêu dấu duy nhất của mình phải chết? Chúa Cha hiểu được tâm trạng này nên Ngài chỉ thử lòng Abraham thôi chứ không nỡ để Isaac phải chết. Thế mà Chúa Cha lại cho Đức Giêsu Con Yếu Dấu của Ngài phải chết thật! Ôi tình Chúa Cha thương loài người chúng ta bao la và vĩ đại biết chừng nào!
Chúa Cha chỉ mong nơi loài người chúng ta một điều duy nhất là "Hãy vâng nghe Lời Đức Giêsu" thôi. Nếu điều duy nhất ấy mà chúng ta cũng không đáp ứng thì thật là phụ bạc biết chừng nào!
4. Thử thách và biến hình
Bài đọc I nói về thử thách (Thiên Chúa bảo Abraham tế sát Isaac), còn bài Tin Mừng nói về biến hình. Hai khía cạnh này liên kết với nhau và bổ sung cho nhau như hai mặt của một đồng tiền.
Khi Thiên Chúa mới gọi Abraham, Ngài đã thử thách ông: Ông phải từ bỏ quê hương xứ sở để đi đến một nơi vô định. Vì Abraham trung thành trong thử thách nên Thiên Chúa đã cho ông có con. Trước khi dẫn đời ông sang một biến đổi nữa, Thiên Chúa lại thử thách ông: đứa con duy nhất ấy, Ngài muốn ông giết đi để làm lễ tế cho Ngài. Một lần nữa Abraham đã vâng lời và một lần nữa ông được biến đổi: Isaac vẫn sống và sinh con cháu, nhờ đó Abraham thực sự có một dòng dõi.
Chúa nhật tuần trước, chúng ta thấy Đức Giêsu chịu thử thách trong sa mạc. Hôm nay chúng ta chứng kiến Ngài biến hình trên núi.
Học sinh cũng phải thường xuyên trải qua thử thách là các kỳ thi. Nhưng có như thế thì học sinh mới được chuyển cấp, càng ngày càng cao hơn, giỏi hơn...

5. Biến đổi là Quy luật
Hãy nhìn chung quanh, chúng ta sẽ thấy mọi sự luôn biến đổi. Thí dụ nhìn một cái cây. Tuy nó vẫn là cái cây đó nhưng bên trong nó có biết bao biến đổi: có những chiếc lá tháng trước nay không còn; nhiều chiếc lá mới mọc ra; và nhiều chiếc lá hiện nay tháng sau sẽ không còn. Nếu cái cây vẫn y như thế từ tháng này sang tháng khác, từ năm này qua năm khác thì đó không còn là một cái cây sống nữa mà là một khúc gỗ.
Hãy nhìn lên trời, chúng ta cũng thấy quy luật biến đổi ấy: bầu trời hôm qua với bầu trời hôm nay đâu có hoàn toàn giống nhau mặc dù cũng vẫn là một bầu trời.
Hãy nhìn xuống nước. Một triết gia đã nói "Không ai tắm hai lần trong một dòng sông".
Và nhìn vào bản thân: các nhà khoa học nói rằng các tế bào luôn thay đổi, cái này chết, cái kia sinh ra. Sau 7 năm thì không còn tế bào nào là tế bào cũ của 7 năm trước nữa.
Không biến đổi cũng đồng nghĩa với chết. Đối với cuộc sống thân xác thì như thế. Đối với cuộc sống thiêng liêng cũng như thế.
Bởi thế trong Mùa Chay chúng ta cần biến đổi. Cứ sống y như cũ có nghĩa là chết.

6. Từ Tabor đến Golgotha
Một Linh mục qua nhiều năm coi xứ đã kể một câu chuyện khá dí dỏm và cũng rất sâu sắc như sau:
Có một đôi vợ chồng trẻ rất xinh đẹp và sống với nhau cũng rất khéo. Đúng là một cặp "trai tài gái sắc". Có lẽ chính nét trẻ trung xinh xắn của vợ chồng đã cho họ một mùa xuân cuộc đời thật nồng cháy tình yêu và hạnh phúc.
Một ngày nọ, người vợ ăn một nửa trái táo, rồi tặng chồng phần kia. Người chồng vui vẻ đón nhận:
- Ôi nửa trái táo ân tình, công chúa của lòng anh!
Hai mươi năm sau. Cũng đôi vợ chồng ấy, cộng thêm những nét tàn tạ của thời gian. Cũng một trái táo, vợ ăn một nửa, mời chồng phần còn lại. Nhưng người chồng nhăn mặt:
- Sao lại cho nửa trái táo ăn thừa?
Tất cả nguyên trạng chỉ khác có nhan sắc. Cũng nửa trái táo dâng tặng nhưng hai mươi năm trước nhận từ tay "người đẹp" là trái táo ân tình. Hai mươi năm sau từ tay "nàng già" là trái táo ăn thừa. Nên chỉ dựa vào nhan sắc người ta sẽ mất hết tất cả với thời gian.
***
Cuộc biến hình trên núi Tabor được xếp đặt trước việc tiên báo khổ nạn. Nếu người ta làm cho an toàn những viên thuốc đắng bằng một lớp vỏ bọc đường, thì Đức Giêsu cũng hóa giải tin khổ nạn bằng cuộc biến hình rực rỡ. Bọc đường chứ không bọc thuốc ngủ. Hoá giải chứ không gây mê.
Nhưng có lẽ cuộc biến hình đã phản tác dụng: "Lạy Thầy, chúng con được ở đây thì tốt lắm, chúng con xin dựng ba lều, một cho Thầy, một cho Môsê và một cho Elia" (Mc.9,5). Vậy là Phêrô, Giacôbê và Gioan muốn đăng ký thường trú trên đỉnh núi Tabor. Họ đòi ngủ yên trong hào quang rực rỡ. Họ bỏ lại dưới chân núi các bạn đồng môn, các cuộc truyền giáo. Họ muốn xa rời dân chúng đang khao khát Lời Chúa.
Các ông đâu biết rằng Thầy Giêsu chỉ lên đỉnh Tabor trong chốc lát, rồi xuống núi chuẩn bị vác thập giá lên đồi Canvê. Theo Thầy không phải là lên cao hưởng thụ, nhưng là xuống thấp và leo lên thập giá với Thầy.
Cũng như ba môn đệ, đôi vợ chồng trong câu chuyện kể trên chỉ muốn dừng lại ở vẻ đẹp. Nhưng vẻ đẹp đâu tồn tại mãi. Chúa chỉ mặc "tấm áo trắng như tuyết" trong chốc lát vì niềm hy vọng Phục sinh. Cuộc đời cần hạnh phúc chứ không phải vẻ đẹp. Vẻ đẹp là một ân huệ của trời, nhưng cũng có thể là cạm bẫy cướp đi hạnh phúc.
Giá trị đích thực chính là tình yêu, chính do tình yêu mà đôi vợ chồng mới giữ được lòng thủy chung, chính do tình yêu mà các Kitô hữu mới trở nên bóng hình xinh đẹp rực rỡ của Chúa. Chính do tình yêu mà chúng ta phải biến hình đổi dạng mỗi ngày để phản ánh vinh quang ngời sáng của Người.
Đức Kitô vinh quang của Tabor cũng chính là Đức Kitô rong ruỗi trên các đường phố Palestina rao giảng chữa bệnh và làm các phép lạ.
Đức Kitô sáng láng của Tabor cũng chính là Đức Kitô thấm đẫm mồ hôi trong vườn Giêtsêmani.
Đức Kitô rực rỡ của Tabor cũng chính là Đức Kitô treo trên thập giá đỉnh Golgotha.
Hai đỉnh núi Tabor và Golgotha cách nhau không xa, nhưng lại là con đường vạn lý, con đường đau khổ, con đường vượt qua: Đường tình yêu. Theo Thánh Têrêxa thành Lisieux: "Sống tình yêu không phải là căng lều trên đỉnh Tabor, mà là cùng với Giêsu ta trèo lên đồi Canvê". Thánh Bernadette cầu nguyện: "Con không xin cho mình khỏi phải đau khổ, nhưng chỉ xin Người đừng bỏ con trong khổ đau".
***
Lạy Chúa, xin cho chúng con luôn can đảm tiến bước trên đường đời chông gai vạn nẻo, với niềm hy vọng biến cố Phục sinh sẽ bừng sáng. Amen. (Thiên Phúc, "Như Thầy đã yêu")

V. Lời nguyện cho mọi người
Chủ tế: Anh chị em thân mến, Đức Giêsu đã biến hình cho các môn đệ thấy vinh quang của Người, để củng cố đức tin cho các ông, và chuẩn bị các ông đón nhận cuộc tử nạn và phục sinh của Chúa, chúng ta hãy dâng lời cầu nguyện:
Trung thành với Đức Giêsu trong mọi hoàn cảnh là nguồn thách đố cho Hội thánh / chúng ta hãy cầu xin Chúa cho mọi người trong Hội thánh luôn tin tưởng bước theo đường lối Đức Giêsu / dù khi được vinh quang hay khi phải trải qua gian nan tử nạn.
Trung thành để phục vụ công lý và công ích cho xã hội là nguồn thách đố cho các nhà cầm quyền / Chúng ta hãy cầu xin Chúa cho mọi người có trách nhiệm lãnh đạo trên thế giới luôn can đảm cương quyết / không nhượng bộ những gì vi phạm đến nhân phẩm và nhân quyền của người dân.
Nghèo đói, bệnh tật, thất nghiệp, chậm tiến... là những thách đố cho người Việt Nam hôm nay. Chúng ta hãy cầu xin Chúa cho mọi người Việt Nam biết can đảm kiên nhẫn / để đoàn kết với nhau và từng bước vượt qua mọi khó khăn.
Những khó khăn bên ngoài và bên trong mà Hội thánh ở Việt Nam đang trải qua cũng là những thách đố cho mỗi Kitô hữu Việt Nam /. Chúng ta hãy cầu xin cho các Kitô hữu Việt Nam luôn vững lòng tin cậy / và luôn tích cực phục vụ đồng bào nhất là những người nghèo khổ.
Chủ tế : Lạy Đức Giêsu, Chúa đã tỏ vinh quang để củng cố đức tin cho các môn đệ khi họ gặp gian truân thử thách. Xin Chúa cũng nâng đỡ đức tin còn non yếu của chúng con để chúng con tin tưởng rằng: nếu cùng với Chúa vượt qua mọi khó khăn hôm nay thì cũng chắc chắn được chung phần vinh quang phục sinh với Chúa mai sau. Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.

VI. Trong Thánh lễ
- Trước kinh Lạy Cha: Đức Giêsu là Con yêu dấu của Chúa Cha. Chúa Cha rất yêu thương Ngài và vừa lòng về Ngài. Chúng ta được hạnh phúc thông chia quyền làm con của Đức Giêsu. Vậy chúng ta hãy cùng với Ngài dâng lên Chúa Cha những tâm tình hiếu thảo của chúng ta.
- Lúc chúc bình an: Chúng ta hãy chúc bình an cho nhau trong tâm tình mến yêu nhau thực sự ; và cũng hãy nghĩ đến những người xích mích với chúng ta mà hiện không có mặt trong Thánh lễ này, với quyết tâm cũng muốn hòa giải với họ nữa.

VII. Giải tán
Chúa Cha đã yêu thương chúng ta đến nỗi ban Người Con Yêu Dấu duy nhất của Ngài là Đức Giêsu cho chúng ta và chịu chết vì chúng ta. Chúa Cha chỉ mong mỏi mỗi một điều là chúng ta vâng nghe Lời Đức Giêsu thôi. Trong tuần này, chúng ta hãy luôn tâm niệm lời Chúa Cha nói: "Đây là Con Yêu Dấu của Ta. Hãy vâng nghe lời Người".

 

MC2-399: BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NHI

CN 2 MC A
Thiếu nhi chúng con yêu quí,
 

Chúng con vừa nghe bài Tin Mừng của thánh Matthêu. Tin Mừng hôm nay nói về cái gì chúng MC2-399

Chúng con vừa nghe bài Tin Mừng của thánh Matthêu.
Tin Mừng hôm nay nói về cái gì chúng con ?
- Nói về việc Chúa biến hình.
- Còn gọi là Chúa hiển dung.
- Thế chúng con thích gọi là lễ gì nào ?
-….
- Riêng cha, cha thích gọi cả hai: Vừa biến hình vừa hiển dung. Tại sao thế ?
Đây cha cắt nghĩa cho chúng con.
Trước hết cha phải nói: Việc Chúa biến hình và hiển dung hôm nay là một việc quan trọng. Việc này được cả ba Tin mừng Nhất Lãm tức là Tin mừng Thánh Matthêu, Thánh Marco và thánh Luca ghi lại.

1. Sự kiện.
Câu chuyện này xảy ra 6 ngày sau khi Phêrô long trọng tuyên xưng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa.
Chúa biến hình để làm gì thì sách SGLM số 568 trả lời cho cho chúng ta "Cuộc Hiển Dung của Chúa Ki-tô nhằm mục đích củng cố đức tin của các tông đồ trước cuộc khổ nạn: việc leo lên "núi cao" chuẩn bị việc leo lên Núi Sọ. Đức Ki-tô, Đầu của Hội Thánh, bày tỏ "niềm hy vọng đạt tới vinh quang" mà Thân Thể Người ấp ủ và chiếu tỏa qua các bí tích (Cl 1,27) (x. T. Lê-ô cả, bài giảng 51,3).
Vâng sự việc Chúa biến hình và hiển dung như thế nào thì bài Tin Mừng hôm nay đã cho chúng ta biết.
Ở đây cha chỉ muốn lưu ý đến một vài điểm mà cha cho là cần phải để ý hơn.
a- Trước hết khi Chúa biến hình tất cả những gì thuộc con người của Ngài hoàn toàn biến mất. Không còn một chút dấu vết gì về con người của Ngài nữa.
b- Sau đó Ngài đã để hiểu lộ ra một Chúa Giêsu hoàn toàn khác. Ba môn đệ của Chúa đã phải ngây ngất trước một Chúa Giêsu hoàn toàn đổi ấy.
c- Thái độ của các môn đệ của Chúa làm cho chúng ta phải vui lây. Phêrô đã không ngần ngại đề nghị với Chúa để ông được làm một điều mà trước đó có lẽ chưa bao giờ ông dám nghĩ tới. Ông cũng như các bạn của ông đều muốn kéo dài đến bất tận cái cảnh tuyệt vời này.
d- Thế nhưng Chúa đã không cho ông được dừng lại ở đó. Chúa lại dẫn các ông xuống núi để tiếp tục cho xong con đường mà Chúa đã lựa chọn.
Sau này khi nhớ lại câu chuyện ông đã từng được chứng kiến Phêrô đã viết như thế này: "Khi chúng tôi nói cho anh em biết quyền năng và cuộc quang lâm của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, thì không phải chúng tôi dựa theo những chuyện hoang đường được thêu dệt một cách khéo léo, nhưng là vì chúng tôi đã được thấy tận mắt vẻ uy phong lẫm liệt của Người..”. (2P1,16-17)
Vâng! Cuộc biến hình và hiển dung của Chúa đã làm cho các môn đệ vững tin hơn. Tuy nhiên niềm tin ấy còn phải được củng cố thêm bằng biến cố Phục sinh. Chỉ sau biến cố Phục sinh và được Chúa Thánh Thần biến đổi, các tông đồ mới trở thành những người hoàn toàn thuộc về Chúa.

2. BÀI HỌC
Thử hỏi câu chuyện hôm nay sẽ đem lại cho chúng ta bài học gì ? Có nhiều bài học nhưng ở đây cha chỉ muốn nói đến sự biến hình.
Rõ ràng là mọi người đều thấy: Không phải chỉ có một lối biến hình, mà có hai: có loại biến từ tốt ra xấu. Giuđa là một thí dụ. Và có loại từ tầm thường nhưng mỗi ngày mỗi trở nên tốt hơn. Chúng ta có thể kể ra đây trường hợp của Phêrô. Chúng phải cảnh giác với loại thứ nhất và chú tâm vào loại thứ hai.
* Có loại biến hình làm cho chúng ta phải sợ.
Nhiều người đã có đã có dịp chiêm ngắm bức tranh bữa Tiệc Ly của nhà danh hoạ nổi người Ý Leonardo da Vinci. Bức ảnh vẽ Chúa Giêsu và 12 tông đồ trong bữa ăn Tiệc Ly sau hết.
Tục truyền rằng khi vẽ tới Chúa Giêsu, họa sĩ đã muốn tìm một khuôn mặt thật dịu dàng nhân từ, và đẹp đẽ, để làm mẫu cho ông vẽ. Thật là may mắn cho ông. Lần kia lúc vào một nhà thờ nọ, ông thấy trong đám thanh niên hát lễ, có Pietro Bandenelli, một thanh niên có nét mặt khôi ngô phi thường. Sau một hồi nói chuyện, cậu đã bằng lòng theo ông về xưởng vẽ của ông để làm mẫu cho ông vẽ. Cặm cụi vẽ xong, họa sĩ đem treo bức tranh ở xưởng, và ai hỏi mua ông cũng không bán. Mặc dù bức tranh chưa hoàn thành. Bức tranh còn thiếu một nhân vật cũng khá quan trọng. Đó là Giuđa. Ông lại phải đi tìm người mẫu.
Sau chừng hai năm, mặc dầu họa sĩ đã mất nhiều mất nhiều thời gian mà chưa tìm được người nào có nét mặt cứng cỏi và xấu xí tượng trưng cho nét mặt của Giuđa. Tình cờ một hôm ông vào một ngõ hẻm, thì gặp một người thanh niên bẩn thỉu, xấu xa, ghẻ lở, giơ tay xin ông bố thí. Ông nghĩ bụng, dầu có đi hết các phố chợ, có lẽ cũng chẳng gặp được ai xấu hơn chàng này. Ông bảo chàng đứng dậy đi theo về nhà để ông vẽ cho xong bức ảnh kia, bức ảnh còn thiếu một mình Giuda nữa là xong.
Khi bước vào nhà, trông thấy bức tranh, chàng tự nhiên khóc lên. Chủ nhà cũng như mọi người trong phòng đều ngạc nhiên không hiểu lý do. Người ta gặng hỏi mãi, chàng trỏ tay lên bức ảnh và nói:
- Ông quên tôi rồi sao ? Cách đây hai năm, tôi đã được ông mời đến đây để làm mẫu cho ông vẽ. Khi ấy tôi đẹp đẽ, đã được ông ca tụng và lấy làm mẫu để vẽ Chúa Giêsu. Nhưng sau đó tôi đã nhẹ dạ nghe theo chúng bạn, đâm ra hư hỏng chơi bời, sa đọa; ngày nay trong cảnh túng thiếu, bị các bạn và anh em bỏ rơi, tôi chỉ còn trông cậy vào đức ái của ông mà thôi.
Vâng một cuộc biến hình nhưng thật đáng ghê sợ.
Ngày nay cũng không thiếu gì những cảnh biến hình như thế. Nhất là đối với các bạn trẻ đang sống như con thiêu thân trước những cạm bẫy của cuộc sống hôm nay.
* Và có những việc biến hình làm cho chúng ta mong ước.
Trong biến cố hôm nay Chúa đã làm biến đi tất cả những gì thuộc về con người trần thế của Ngài để cho sau đó hình ảnh về Thiên Chúa nơi Ngài sau đó được hiển lộ ra.
Cuộc đời của một người Kitô hữu trên con đường tiến về nhà cha trên trời cũng phải tương tự như thế. Mỗi ngày sống trên trần thế này là mỗi lột xác biến hình và hiển dung.
Cha John Diamond một nhà giảng thuyết nổi tiếng bên Mỹ có kể lại câu chuyện này: "Hôm đó có một linh hồn vì chán ngấy cuộc sống ở thế gian cho nên linh hồn đi lên trước cửa Thiên đàng. Tới nơi linh hồn gõ cửa. Ở trong có tiếng hỏi vọng ra: "Ai đó" -
Linh hồn trả lời: "Con đây ạ" .
Cửa vẫn đóng.
Sau đó linh hồn lại trở về với đời sống ở trần thế tìm thầy học đạo. Sau một thời gian thấy mình đã tiến bộ, linh hồn lại lên gõ cửa thiên đàng một lần nữa. Lại một tiếng hỏi từ bên trong như lần trước và linh hồn trả lời một cách quả quyết hơn:
- Dạ chính con đây.
Cửa vẫn đóng.
Linh hồn lại phải trở về trần thế...mở sách Tin Mừng để xem Chúa muốn gì. Quả thực khi mở Tin Mừng ra linh hồn mới thấy con đường của mình phải đi. Đó là con đường tự hủy. Chúa nói thật rõ về con đường đó. Đó là phải làm chết cái tôi ích kỷ, hay khoe khoang phô trương, hay tự mãn, hay ghen ghét của mình. Phải làm chết đi cái tôi đầy hận thù, nhiều kiêu ngạo và đầy dẫy những ham muốn bất chính để làm cho con người của mình dần dần được giống Thiên Chúa là Cha ở trên trời hơn.
Sau một thời gian thấy mình quả thực đã không còn là mình nữa thì linh hồn lại lên trời...lại gõ cửa...lại có tiếng từ bên trong hỏi vọng ra:
- Ai đó ?
Vừa nghe xong câu hỏi linh hồn đáp lại ngay:
- Dạ thưa chính Chúa đấy ạ.
Vừa trả lời xong thì linh hồn thấy cửa Thiên đàng được mở ra và cả một đạo binh các thiên thần long trọng đón linh hồn vào thiên đàng. Amen.
Điều đáng chú ý là ngay sau đó lần đầu tiên Chúa báo trước cho các môn đệ của Ngài biết là Ngài sẽ bị bắt, bị tra tấn và cuối cùng sẽ phải chịu chết.
Lời loan báo của Chúa làm các tông đồ choáng váng. Phêrô không chịu nổi trước lời loan báo đó nên ông đã công khai lên tiếng can ngăn Chúa. Phêrô tưởng làm như thế là làm vui lòng Thầy. Có ngờ đâu là lại bị Chúa quở mắng cho một trận thậm tệ. Chúa bảo Phêrô là đồ Satan. Chúa đuổi Phêrô cút xa cho khỏi mắt Ngài.
Và có lẽ vì muốn cho các môn đệ không phải quá thất vọng về mình nên Chúa đã thực hiện cuộc biến hình và hiển dung hôm nay.
Lm Giuse Đinh Tất Quý

 

MC2-400: Ngọn hải đăng trong đêm

Trong câu chuyện Chúa Giêsu biến hình, chúng ta có thể đọc được giá trị và mật độ sự biến đổi MC2-400

Trong câu chuyện Chúa Giêsu biến hình, chúng ta có thể đọc được giá trị và mật độ sự biến đổi của chính chúng ta. Vâng, mỗi người chúng ta, nếu nhìn kỹ trong cuộc sống, cũng có những ngọn núi Tabor lớn nhỏ, những khoảnh khắc rõ ràng và mạnh mẽ không thể quên được. Có những lúc chúng ta chạy trốn tình yêu Thiên Chúa hoặc có những khi Thiên Chúa luôn quan phòng ở bên chúng ta. Giống như một con tàu đang lướt sóng vượt qua một vùng biển động mạnh dữ dội. Đột nhiên trên đỉnh của một làn sóng rất mạnh hơn những cơn sóng khác, xuất hiện ánh sáng cực mạnh của một ngọn hải đăng điều khiển lối đi.
Nhìn thoáng qua, cuộc đời chúng ta có lúc như chìm xuống. Nhưng với đôi mắt mở to, liệu có phải là trong mơ không: ngọn đèn pha lại chiếu sáng trong đêm tối sắp chìm?
- Trong đời sống hôn nhân gia đình: Có những lúc tình yêu sáng như ngọn hải đăng, nhưng cũng có khi tình yêu nhạt nhòa chết chìm trong giông bão.
- Trong đời sống tu trì dâng hiến: Biết bao lần khủng hoảng về ơn gọi, nhưng có lúc sốt sắng thần tiên trong ngày khấn hoặc ngày chịu chức thánh và kỷ niệm về những ngày đó...
Chúa biến hình trước Cuộc Khổ Nạn là khoảnh khắc ánh sáng phi thường để chúng ta sống trong đêm bình thường trong suốt cuộc đời. Mặc dù có những khó khăn gặp phải, trái tim chúng ta vẫn đập và mắt chúng ta vẫn mở bắt nguồn từ một vài khoảnh khắc ánh sáng. Ánh áng Chúa Kitô trong vinh quang chạy qua chúng ta trong tương quan của chúng ta với chính Thiên Chúa.
Một cuốn sách có tựa đề "Thiên Chúa năm đó". Đó là năm 1886, có những biến cố đáng nhớ: Sự biến đổi của Charles de Foucauld, của Paul Claudel và của Therese Lisieux.
Đối với chàng trai trẻ Charles de Foucauld. Đó là cuộc gặp gỡ với linh mục Huvelin, trong tòa giải tội vào tháng 10 năm 1886 tại nhà thờ St Augustine, Paris. Anh ta muốn lập luận tất cả những rắc rối của cuộc đời mình theo cách một tay ăn chơi. Cha Huvelin ra lệnh cho anh quỳ xuống và thú nhận trực tiếp. Những giọt nước mắt của Charles de Foucauld bắt đầu tuôn xuống. Anh quyết định thay đổi cuộc sống!
Đối với Therese Lisieux. Đó là sự trở lại trongThánh lễ Đêm ở Lisieux. Năm mười một tuổi, khi thấy cha mình càu nhàu về nghĩa vụ tặng quà cho trẻ em, Therese Lisieux chợt nhận ra rằng con đường nhỏ, chính là con đường thơ ấu thiêng liêng, sẽ là con đường lớn lên trong Chúa. Cũng chính đêm Noel đó Thiên Chúa ban cho Therese quyết định tình yêu của mình ngay từ cái nhìn đầu tiên.
Đối với Paul Claudel. Hôm đó Paul Claudel buồn bã. Anh vào nhà thờ Đức Bà Paris. Anh xác định vị trí: "Gần cây cột thứ hai ở lối vào của dàn hợp xướng, bên phải nhà thờ. Và trong khoảnh khắc, sự kiện chi phối toàn bộ cuộc đời tôi xảy ra. Ngay lập tức, trái tim tôi bị đụng chạm và tôi tin. Tôi tin vì một sức mạnh lôi cuốn tôi đến thế, về sự trỗi dậy của tất cả bản thân tôi, về một niềm tin mạnh mẽ đến mức, kể từ đó, tất cả các cuốn sách, tất cả các lý lẽ, tất cả các cơ hội của một cuộc sống biến động không thể làm lung lay niềm tin của tôi”. Claudel là người vô thần khi bước vào nhà thờ Đức Bà Paris. Anh là kito hữu, khi ra khỏi nhà thờ mà không thực sự biết ý nghĩa của nó. Nhưng trong tất cả các tác phẩm của anh,  anh theo sợi chỉ đỏ của biến động bất ngờ mà anh gọi là ân sủng. Và còn rất nhiều câu chuyện biến đổi khác...
Chúng ta có thể hỏi họ: họ đã bắt đầu một cuộc phiêu lưu tâm linh như thế nào mà không có ai thực sự nhìn thấy từ bên ngoài. Tại sao họ lại làm điều đó? Và họ sẽ nói với chúng ta: ở đâu đó và vào lúc nào đó trong quá khứ của họ, có một ngọn núi Thabor, một ánh sáng mà họ đã thấy một lần. Và một lần là đủ để đi, như Áp-ra-ham, rời đi với một niềm tin chắc chắn sẽ có một cuộc gặp gỡ kỳ diệu.
Như vậy, chặng đường biến đổi của mỗi người chúng ta có thể đã bắt đầu, đang bắt đầu và sẽ bắt đầu. Có những lúc chìm mình trong giấc mộng thần tiên như Phero, Giacobe và Gioan “xin được dựng 3 lều ở đó”. Tuy nhiên, chúng ta cần phải xuống núi, phải trở về với bình nguyên của cuộc sống thường ngày. Biến đổi của chúng ta là những sự kiện, có thể là tầm thường, hiếm khi phi thường. Nhưng những sự kiện đó luôn được đọc trong đức tin, đọc đi đọc lại, 10 năm hoặc 20 năm sau. Đọc đi đọc lại trong đức tin để tìm được ý nghĩa của những thử thách và chướng ngại bao phủ cuộc đời chúng ta như sương mù phủ trên đại dương, và rồi sẽ vượt qua nhờ ngọn hải đăng chiếu sáng.
Biến đổi không phải là công việc của một khoảnh khắc khá đẹp và mạnh mẽ. Biến đổi phải được thực hiện trong tất cả đời sống chúng ta. Mùa Chay này nhắc nhở chúng ta điều đó. Tình yêu đích thực được sống trong thời gian chứ không phải trong sự lóa mắt của một tình yêu. Nhưng sự lóa mắt đó được trao cho chúng ta để kéo dài mãi. Gustave Thibon nói: “Tình yêu xuất phát từ sự lóa mắt của một tâm hồn không chờ đợi được gì và đóng lại trong thất vọng của một cái tôi đòi hỏi tất cả”. Trong Thánh Lễ này, chúng ta hãy xin Thiên Chúa mở mắt chúng ta để phân biệt được những ngọn núi Thabor mà Thiên Chúa đã cắm cột mốc trên chặng đường chúng ta đi.! Chớ gì giáo xứ chúng ta cũng có một cuốn sách với nhan đề: “Thiên Chúa năm nay trong giáo xứ chúng ta”!
Lm. Gioan Đặng Văn Nghĩa
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây