Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 2 MC ABC Bài 401-412 Chúa Biến Hình

Thứ sáu - 06/03/2020 21:48
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 2 MC ABC Bài 401-412 Chúa Biến Hình
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 2 MC ABC Bài 401-412 Chúa Biến Hình
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 2 MC ABC Bài 401-412 Chúa Biến Hình
MC2-401: Sống xứng tầm người con Thiên Chúa. 1
MC2-402: Chúa  Hiển  Dung. 3
MC2-403: Chúa nhật II Mùa Vọng B.. 4
MC2-404: Ai được lên Núi Chúa?. 6
MC2-405: Suy niệm của Lm. Anthony Trung Thành. 9
MC2-406: Suy niệm Tin Mừng Chúa nhật II Mùa Chay. 12
MC2-407: Cuộc chiến đấu thiêng liêng. 13
MC2-408: CHÚA NHẬT II MÙA CHAY A.. 15
MC2-409: Mạc khải Thiên Tính của Chúa Giêsu. 16
MC2-410: Qua Thập Giá để đến vinh quang. 17
MC2-411: Suy niệm của Lm. Anthony Trung Thành. 20
MC2-412: Hãy nghe Lời Người 22

 

MC2-401: Sống xứng tầm người con Thiên Chúa

Lc 9, 28 - 36
 

Nhìn vào dáng vẻ bên ngoài của Chúa Giêsu, người đời nhận thấy Ngài chỉ là anh thợ mộc giản MC2-401

Nhìn vào dáng vẻ bên ngoài của Chúa Giêsu, người đời nhận thấy Ngài chỉ là anh thợ mộc giản dị làng Na-da-rét hoặc là một ông thầy giảng dạy lôi cuốn, hấp dẫn mà thôi.
Thế rồi, qua việc Chúa Giêsu tỏ lộ thần tính, tỏ lộ chân dung đích thực của Ngài trên núi cao, ba môn đệ Phêrô, Gioan và Giacôbê mới phát hiện ra căn tính của Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, là Đấng cao cả tuyệt vời, ẩn mình dưới hình hài con người bình dị.
Đối với những kitô hữu, chúng ta cũng thấy điều tương tự:
Nhìn vào dáng vẻ bên ngoài, chúng ta cũng chỉ là những con người hèn mọn, vô danh tiểu tốt.
Tuy nhiên, bản chất của chúng ta rất cao đẹp, rất tuyệt vời.
Dù chúng ta mang kiếp bụi trần, thân phận mỏng giòn yếu đuối, vậy mà nhờ lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy, Thiên Chúa nâng chúng ta lên, cho chúng ta được trở thành con Thiên Chúa, trở thành người con chí ái của Chúa tể trời đất. Cao trọng biết bao!
Dù chúng ta mang đầy tội lỗi, mang xác thịt hư hèn, vậy mà nhờ lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy, Chúa Giêsu cất nhắc chúng ta lên, nâng hạt bụi thấp hèn này lên… để tháp nhập vào Thân mình Ngài, cho chúng ta trở thành một chi thể trong Thân thể Ngài! Cao cả biết chừng nào!
Và nhờ trở thành một chi thể trong Thân thể Chúa Giêsu, sự sống của Thiên Chúa ba Ngôi, sự sống rất cao vời và viên mãn, không bao giờ lụi tàn, được thông ban cho chúng ta, như nhựa sống từ thân nho chuyển sang cành nho, để chúng ta được sống đời đời với Chúa! Tuyệt vời khôn tả!
Và qua Bí tích Thánh thể, Chúa Giêsu ban thịt máu Ngài cho chúng ta lãnh nhận, để nhờ đó, chúng ta được nên một với Chúa Giêsu, đồng huyết nhục với Ngài và nhờ đó, được sống vĩnh cửu với Ngài. Đây là một hồng ân vô cùng cao quý.
Vậy thì chúng ta hãy vui mừng hoan lạc, hết lòng cảm tạ Chúa và phải sống làm sao cho xứng với ân huệ Chúa ban cho mình.
Ý thức mình là con Thiên Chúa để vươn lên
Một người thợ săn bắt gặp một ổ trứng phượng hoàng trong khu rừng nguyên sinh. Anh đem ổ trứng ấy về nhà, trộn chung vào ổ trứng của gà mẹ đang ấp. Mấy tuần sau, một chú phượng hoàng con xinh đẹp chào đời và được gà mẹ dẫn đi ăn chung với đàn gà con bé nhỏ.
Phượng hoàng con lớn lên bên cạnh những con gà khác, luôn nghĩ rằng mình cũng thuộc nòi giống gà như những con gà cùng lứa, cùng cào bới đống rác, đống phân… để kiếm ăn như những con gà kia.
Thế rồi, vào ngày định mệnh ấy, một con phượng hoàng oai phong từ trên cao thình lình đáp xuống khiến cả đàn gà hoảng hốt chạy tán loạn. Phượng hoàng tiến đến gần chú phượng hoàng con, chỉ cho nó biết nó không phải là chú gà tầm thường, nhưng thuộc giống nòi phượng hoàng oai phong lẫm liệt.
Thế là từ hôm đó, phượng hoàng con ngẩng cao đầu, vươn cao cổ, bắt đầu xoè cánh tập bay và chẳng bao lâu, nó xoải rộng đôi cánh, phóng mình vút lên, bay lượn giữa khung trời cao xanh lộng gió, trông thật oai hùng.
Ban đầu, khi không ý thức mình là phượng hoàng mà tưởng mình chỉ là gà, nên phượng hoàng sinh hoạt như những con gà khác, suốt ngày quanh quẩn trong sân gà vịt, moi móc rác rến kiếm ăn; nhưng một khi nó phát hiện ra mình không phải là thứ gà tầm thường mà là thuộc nòi giống phượng hoàng oai vệ, thì nó từ bỏ góc sân gà vịt, từ bỏ việc cào phân bới rác để xoải cánh bay lượn trên khung trời cao rộng,
Tương tự như thế, chúng ta cũng cần phải phát hiện ra phẩm giá cao đẹp của mình là người con Thiên Chúa, là chi thể của Chúa Giêsu… Nhờ đó, chúng ta không để mình bị vùi dập bởi những thói hư tật xấu, không đắm mình trong lối sống ươn hèn, nhưng chuyên chăm tập rèn những đức tính tốt, trau dồi cho mình những phẩm chất cao đẹp, để sống xứng tầm người con Thiên Chúa.
Lạy Chúa Giêsu,
Từ địa vị thấp hèn, Chúa nâng chúng con lên bậc con Thiên Chúa, trở nên chi thể của Chúa và được thừa hưởng sự sống viên mãn của Ngài. Xin giúp chúng con dứt khoát từ bỏ nếp sống cũ đầy tội lỗi và bất xứng, để bắt đầu cuộc đời mới, cuộc đời cao đẹp của người con Thiên Chúa.
 Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

 

MC2-402: Chúa  Hiển  Dung

St 15,5-12.17-18; Pl 3,17-4,1; Lc 9, 28b-36
 

Tuần trước Thầy báo cho môn đệ biết trước cuộc thương khó Thầy sẽ phải chịu, các ông không hiểu MC2-402

Tuần trước Thầy báo cho môn đệ biết trước cuộc thương khó Thầy sẽ phải chịu, các ông không hiểu, Phêrô thì không chấp nhận nổi nên can ngăn, bị Thầy mắng là “Satan…”. Hôm nay Thầy kéo ba môn đệ được yêu hơn (trong đó có Phêrô) đi riêng lên một ngọn núi cao, cho cả ba chiêm ngưỡng thước phim có một không hai: “Thầy biến đổi hình dạng”! Sướng quá các ông quên hết sự đời! Vẫn cái ông Phêrô nhanh nhảu nói vu vơ mơ mộng trong mê sảng: “Thưa Thầy, chúng con ở đây, thật là hay! Chúng con xin dựng ba cái lều, một cho Thầy, một cho ông Môsê, và một cho ông Êlia.” (Lc 9,33). Chỉ “dựng lều” cho ba nhân vật trong “bức tranh tuyệt mỹ” này thôi, còn các ông thì cứ say ngắm thế này đã đủ, chả còn thiết sự gì nữa… Thế đấy, ai thấy khổ mà chẳng bàn lùi tránh né, thấy sung sướng oai phong thì ôm mơ dệt mộng chẳng muốn xa rời.
Khi chìm đắm chất ngất trong lúc cầu nguyện, ở trên núi (cảnh đất trời gần nhau), trong giây phút xuất thần, Thầy trở nên rực rỡ tuyệt trần. Ngày xưa lúc Môsê cầu nguyện gương mặt ông cũng bừng sáng lên. Hôm nay được lên núi cầu nguyện với Thầy, các ông được sung sướng ngất ngây, được chiêm ngưỡng vinh quang Thầy, trực diện với bậc Ngôn Sứ vị vọng trong lịch sử cứu độ, đàm đạo về cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Thầy, cuộc Tử Nạn mà Thầy đã loan báo. Phêrô hôm nay được nghe và xem thấy tận mắt. Đang say mê với cảnh thiên đường, bỗng từ trong đám mây có tiếng Chúa Cha xác nhận và kéo các ông trở về thực tại: “Đây là Con Ta , Người đã được Ta tuyển chọn,  hãy vâng nghe lời Người!” (Lc 9, 35b). Ở lại chiêm ngắm Thầy biến hình thì dễ, nhưng phải thực hành vâng nghe lời Người là điều khó hơn nhiều, phải từ bỏ mình, vác thập giá, đi vào con đường hẹp, liều mất mạng sống…
Biến cố hiển dung của Thầy nhằm củng cố đức tin cho các môn đệ, trước khi bước vào thử thách trong cuộc thương khó. Nhưng sự hăng hái này không còn tới ngày mà khuôn mặt Thầy đầy mồ hôi máu trong vườn Cây Dầu, ngày xem thấy khuôn mặt đầy thương tích của Thầy trên đồi Sọ. Sau này Phêrô đã làm chứng rằng: “Thật vậy, khi chúng tôi nói cho anh em biết quyền năng và cuộc quang lâm của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, thì không phải chúng tôi dựa theo những chuyện hoang đường thêu dệt khéo léo, nhưng là vì chúng tôi đã được thấy tận mắt vẻ uy phong lẫm liệt của Người. Quả thế, Người đã được Thiên Chúa là Cha ban cho vinh quang và danh dự, khi có tiếng từ Đấng tuyệt vời vinh hiển phán với Người: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hết lòng quý mến”. Tiếng đó, chính chúng tôi đã nghe thấy từ trời phán ra, khi chúng tôi ở trên núi thánh với Người.” (2Pr 1,16-18).
Chúa ơi! ngày nay chúng con có đủ can đảm xuống núi làm chứng cho Thầy giữa những tối tăm trong cuộc sống thực tại, bằng những điều mình từng “thấy” khi được lên núi với Thầy không? Xin Thầy dẫn đưa chúng con vào mối tình gắn bó keo sơn với Thầy, để trong Thầy, chúng con được biến đổi từ trong ánh mắt, đôi tai, môi miệng, trái tim, để dung nhan sáng láng dịu hiền của Thầy hiện rõ trên khuôn mặt phàm trần của chúng con.
Én Nhỏ

 

MC2-403: Chúa nhật II Mùa Vọng B

 ( Mc 3, 1-3 )
 

Để chuẩn bị cho Đấng Cứu Thế đến trần gian thực hiện Ơn Cứu Độ, Thiên Chúa sai phái một người MC2-403

Để chuẩn bị cho Đấng Cứu Thế đến trần gian thực hiện Ơn Cứu Độ, Thiên Chúa sai phái một người dọn đường. Gioan Tẩy Giả, còn được gọi là Gioan Tiền Hồ. Người đi trước, người chuẩn bị con đường.
Hình ảnh con đường hiện diện khắp nơi trong các bản văn Kinh Thánh; bởi vì, trong các xã hội thời đó, những con đường và những lộ trình là mối dây liên lạc sống động giữa con người và các nền văn hóa. Chúng cũng còn là địa điểm của những cảm nghiệm thiêng liêng của Dân Chúa.
Dân Israel đã sinh ra trên một con đường: con đường hoang địa nơi mà Thiên Chúa đã dẫn dắt và đào tạo Dân riêng của ngài. Những thế kỷ sau đó, Dân Chúa, vì bất trung, đã lãnh nhận con đường lưu đày ở Babylone. Thế nhưng, Thiên Chúa đã không bỏ rơi israel: sau năm mươi năm, ngài đã hứa là cho Israel trở về quê hương xứ sở. “ Các ngươi hãy chuẩn bị con đường của Chúa, qua hoang địa ”.
Lời hứa kỳ diệu này về một con đường tự do mới đến thật tự nhiên trên đôi môi của vị Tiền hô để loan báo việc Đấng Cứu Thế đến. Những con đường xứ Palestine sẽ thực sự trở thành “ những con đường của Chúa”. Chính nơi đó mà ngài sẽ công bố “ Tin Mừng”: “Thời gian đã mãn, Nước Thiên Chúa đã đến gần” ( Mc 1,15 ).
Chúng ta còn nhớ, sau khi phục sinh từ cõi chết, Chúa Giêsu đã ra lệnh cho các môn đệ đi lại những con đường của loài người để làm cho trở thành những con đường của Chúa: “ Anh em hãy đi khắp nơi trên thế giới; hãy loan báo Tin Mừng cho toàn thể tạo vật”.
Khi tiên tri Isaia công bố lời rao giảng này, thì ông đã biết là, nó sẽ được lắng nghe. Chính ngay giữa lòng sự khốn quẫn mà dân Israel nghe những từ ngữ này vang lên mãnh liệt: “ Dân Ta”, “ Thiên Chúa của anh em”. Đó cũng chính là những từ ngữ của Giao Ước vĩnh cửu giữa Thiên Chúa và Dân ngài. Thật vậy, Dân Chúa đã lỗi hẹn, thất trung; và họ biết điều đó; thế nhưng, họ vẫn xác tín một cách chắc chắnlà, Thiên Chúa luôn trung tín, cho dù có gì xảy ra đi nữa, và không có gì sẽ có thể xé rách Giao Ước mà ngài đã ký kết với dân Israel. Thiên Chúa cao trọng hơn con người rất nhiều, đã tha thứ một cách không tính toán.
Ngày nay, một câu hỏi chính yếu được đặt ra: Làm thế nào lời của tiên tri Isaia có thể vang dội đến tai những người đương thời của chúng ta ?- Những người kitô hữu có biết rằng, họ đã được yêu thương một cách kỳ diệu trong Giao Ước vĩnh cửu của Thiên Chúa hay không ?-
Nếu chúng ta coi bí tích Rửa tội của chúng ta là cao trọng, chúng ta phải rút ra từ đó những hệ quả. Chúng ta đã được ngụp lặn trong Chúa Thánh Thần, chúng ta mãi mãi được ghi dấu ấn từ Chúa Thánh Thần. Điều đó phải trao ban cho chúng ta tất cả những sự mạnh dạn để chu toàn sứ mạng của chúng ta. Sứ mạng này có hai, nếu chúng ta đọc lại thư thánh Phêrô và Phúc Âm theo thánh Marcô. Đó là công bố Tin Mừng và làm cho ngày của Chúa mau đến.
Để đạt được điều đó, cần phải có ba điều kiện:
Thứ nhất là hãy yêu mến thế giới. “ Người ta chỉ có thể biến đổi những gì mà người ta yêu mến”. Chúng ta phải yêu mến trách nhiệm này đã được ủy thác cho chúng ta, và không bao giờ nản lòng. Thế giới đang trông chờ chứng từ đức tin và niềm hy vọng của chúng ta, được thể hiện một cách cụ thể trong cuộc sống đời thường.
Thứ hai là hãy học biết phân định điều gì đi đúng hướng. Tái dẫn nhập mọi điểm qui chiếu vào Nước Thiên Chúa đang đến. Thực hiện điều đó trong tư tưởng, trong phán đoán và trong cung cách ứng xử của mình, ngày nay là một bổn phận chính yếu của Giáo Hội. Trước hết, không phải vì nền văn hóa nhấn mạnh đến tương lai. Mà, bởi vì lòng trung tín với Tin Mừng đòi hỏi. Dù cho đôi khi cần phải can đảm và lội ngược dòng.
Điều kiện thứ ba là hãy hành động, quyết tâm dấn thân. Đừng tự bằng lòng về việc hối tiếc quá khứ. Chương trình của Thiên Chúa đòi hỏi sự cộng tác của chúng ta, ngay bây giờ, cho dù nhỏ bé, nhưng rất cần thiết và quý báu.
Điều kiện sau cùng rất đơn giản là hãy giữ nụ cười. Vui tươi và lạc quan. “ Sứ điệp niềm hy vọng vĩnh cửu của chúng ta, chính là bình minh sẽ đến… Ngay cả những đêm thiếu vắng những vì sao nhất, cũng sẽ loan báo bình minh của một tuyệt tác nào đó đang ló dạng.
Mỗi người hãy là một Gioan Tiền Hô, dọn đường cho Chúa đến trong cuộc đời chúng ta và địa phương thân yêu của chúng ta.

 

MC2-404: Ai được lên Núi Chúa?

AM. Trần Bình An
 

Vào ngày 12-4 -1961, Yuri Gagarin trở thành phi hành gia người Nga đầu tiên. Chiếc phi thuyền MC2-404

Vào ngày 12-4 -1961, Yuri Gagarin trở thành phi hành gia người Nga đầu tiên. Chiếc phi thuyền Vostok-1 bay được một vòng quanh qũy đạo trái đất trong 1 giờ 48 phút, với vận tốc 17,000 miles một giờ. Anh trở thành một anh hùng của dân tộc Nga vào lúc đó, vì đã làm cho cả nước Nga hãnh diện vì sự tiến bộ của họ. Sau đó, đã có một buổi tiếp tân rất lớn để vinh danh anh. Người bạn thân và đồng nghiệp của anh là phi hành gia Alexei Leonov thuật lại.
Lúc đó Tổng bí thư Nikita Khrushchev hỏi dồn Gagarin: “Vậy nói cho tôi biết, anh có thấy Thiên Chúa trên đó không?” Lưỡng lự một chút, Gagarin trả lời dứt khoát: “Vâng thưa ngài, tôi có thấy!” Khrushchev cau mày, ông dặn dò: “Đừng nói với bất kỳ ai.” Vài phút sau, người đứng đầu Giáo Hội Chính Thống Nga lại bên, hỏi Gagarin: “Vậy, con cho cha biết, con có nhìn thấy Thiên Chúa trên đó không?” Gagarin do dự trả lời: “Không, thưa cha con không thấy.” Ngài dặn: “Đừng nói với bất cứ ai.” (Giai thoại trong New Age Journal, Vol. 7 (1990), p. 176)
Thực tế Yuri Gagarin đã được rửa tội trong Giáo Hội Chính Thống, nhưng do áp lực của Soviet đối với Kitô giáo, anh buộc phải dè chừng lại chính mình. Sau khi bay vào vũ trụ, Gagarin đã tới nhà thờ Ba Ngôi Thiên Chúa của Đan viện Thánh Sergi lớn nhất nước Nga, để tạ ơn Thiên Chúa đã cho chuyến bay thành công tốt đẹp…
Xưa kia, ông Môsê lên núi Sinai, được Thiên Chúa ban 10 Điều Răn, rồi ngôn sứ Êlia lên núi Khôrép, được Thiên Chúa ban cho sứ vụ. Nay Chúa Giêsu lên núi Tabor cùng với ba vị Tông đồ, Phêrô, Gioan, Giacôbê, diện mạo Người bỗng đổi khác, y phục Người trở nên trắng tinh chói lòa. Người đàm đạo với hai vị tiền bối Môsê và Êlia về cuộc xuất hành Người sắp hoàn thành tại Giêrusalem.
Nhưng muốn được vinh dự lên núi Chúa, đâu phải đơn giản, dễ dàng và thoải mái như bây giờ leo núi bằng cáp treo.

Thanh tẩy
Chuẩn bị lên núi Thiên Chúa, Ông Môsê nhắc nhở dân chúng phải tấy uế, giữ mình thanh sạch cả tâm hồn lẫn thể xác. “Ông Môsê từ trên núi xuống nói với dân và bảo họ giữ mình cho khỏi nhiễm uế; họ giặt quần áo. Ông Môsê bảo: “Trong ba ngày, anh em phải chuẩn bị sẵn sàng. Đừng gần gũi đàn bà.” (Xh 19, 14 -15)
Trước khi bước vào công cuộc rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu vốn chẳng hề vương vấn tội nhơ, vẫn lặng lẽ, khiêm hạ đến cùng ngôn sứ Gioan Tiền Hô, để được chịu phép Thanh Tẩy, cùng được tràn đầy ơn Đức Chúa Thánh Thần.
Nhưng than ôi, chiếc áo trắng ngày chịu Phép Rửa Tội của tôi, nay đã hoen ố, lốm đốm, đen đúa, vền vện đỏ đen, lấm lem dầu nhớt, lỗ chỗ vết thủng, rách rưới, tả tơi. Chẳng còn tươm tất, nguyên vẹn, sạch sẽ, trinh nguyên, như tâm hồn trẻ thơ nữa. May thay, sau khi ăn năn, sám hối, nhờ ơn Hòa Giải, tấm áo đã được tấy trắng, tuy không còn được như mới, nhưng cũng trở nên sạch sẽ, thơm tho, lành lặn, không còn là mớ giẻ rách bỏ đi, chỉ đáng vất vào lò lửa không bao giờ tắt.

Chay tịnh và cầu nguyện
Ông Môsê dẫn dắt dân Israel bốn mươi năm trong sa mạc, một cuộc lữ hành trường kỳ, gian lao, khổ cực, một cuộc chay tịnh hoàn hảo, chỉ có bánh manna và nước lã. Tuy nhiên lòng dạ dân Israel vẫn chưa tĩnh, còn ngồn ngang trăm bề, nhung nhớ củ hành của tỏi Ai Cập, lẫn bụt thần dân ngoại.
Khi đào thoát khỏi tay hoàng hậu Ideven, ngôn sứ Êlia chạy trốn trong sa mạc, kiệt sức, ông được thiên sứ dưỡng nuôi bánh và nước. Tâm hồn thanh tịnh, phó thác vào tay Chúa Quan Phòng, ngôn sứ Êlia đi một mạch, suốt bốn mươi đêm ngày tới Khôrép, là núi của Thiên Chúa, để được giao sứ vụ. (1V 19, 8)
Chúa Giêsu khởi đầu công cuộc cứu độ nhân thế, bằng bốn mươi ngày đêm chay tịnh và cầu nguyện trong hoang mạc, chịu tôi luyện hết cơn cám dỗ này đến cám dỗ khác. Một lòng một dạ trung kiên, đi theo Thánh Ý Chúa Cha, đã được công khai xác nhận: “Đây là Con Ta, Người đã được Ta tuyển chọn, hãy vâng lời Người!” (Lc 9, 35)
Bước vào Mùa Chay Thánh, tôi lại coi chay tịnh chỉ như nghi thức bắt buộc của tín hữu Công giáo, nên chỉ tuân giữ theo hỉnh thức: kiêng thịt và ăn chay. Mà lòng dạ chẳng hề chay tịnh, chẳng hề thay đổi được gì. Vẫn cứ ham hố sự đời: tình, tiền, chức tước, địa vị… Cứ làm như tôi qua mặt Chúa dễ dàng, như lừa dối ông giám thị nhà trường, hay đốc công, giám sát tại công ty, xí nghiệp. Tôi đang theo đạo, giữ đạo, sống đạo hình thức, chứ nào sống trung thực Tin Mừng! Làm sao tôi xứng đáng lên núi Chúa?

Từ bỏ mình & Vác thánh giá
Cuộc xuất hành của dân Israel ra khỏi Ai Cập trước tiên có ý nghĩa từ bỏ tất cả những gì dính líu đế thân phận nô lệ. Ông Môsê đã giải thoát dân Israel, và dẫn đưa về miền Đát Hứa. Còn Chúa Cứu Thế sau này giải phóng con người toàn diện, khỏi ách nô lệ cũa ma qủy.
Không những từ bỏ những cám dỗ của thế gian, xác thịt và ma quỷ, Chúa Giêsu còn đòi hỏi từ bỏ chính mình, bỏ cái tôi kiêu căng, tự phụ, lố bịch, để chấp nhận đau khổ, sỉ nhục và đọa đầy, vác thánh giá mà theo Người, nếu ai muốn lên Núi Chúa.
“Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy. Vì người nào được cả thế giới mà phải đánh mất chính mình hay thiệt thân, thì nào có lợi ích gì?” (Lc 9, 23 -25)
Ông Môsê, ngôn sứ Ê lia, và cả Chúa Giêsu đã sẵn sàng từ bỏ mình, nhập thể, chấp nhận vác thập giá, chấp nhận đau khổ, thử thách, để được vinh dự đến với Thiên Chúa. Còn tôi lại chạy trốn khó khăn, khổ cực, đòn vọt, để yên thân, no cơm ấm cật. Tôi từ bỏ vợ con, anh em, bè bạn, để lấy vợ bé, để ngoại tình, để kết bè kết bạn với kẻ xấu, với ma quỷ, hầu được vinh hoa phú quý, sao dám mơ tưởng lên Núi Chúa?
“Abraham đã ra đi, vì hy vọng đến Đất Hứa. Maisen đã ra đi, vì hy vọng cứu dân Chúa khỏi nô lệ. Chúa Giêsu đã ra đi từ trời xuống đất, vì hy vọng cứu nhân loại.” (Đường Hy Vọng, số 4)
Lạy Chúa Giêsu, được diện kiến Thiên Chúa là cõi phúc tuyệt vời, xin cho con luôn sống trong nguồn ơn thánh của Chúa, để linh hồn con có thể cảm nghiệm được sự vui sướng ngọt ngào, khi có Chúa ở cùng.
Lạy Mẹ Maria, xin giúp con thanh tẩy, thắng vượt mọi cám dỗ, biết từ bỏ mình, để được diện kiến Thánh Nhan Chúa. Amen.

 

MC2-405: Suy niệm của Lm. Anthony Trung Thành

Tin Mừng hôm nay tường thuật cuộc biến hình của Chúa Giêsu trên núi Tabore. Lâu nay, các MC2-405

Tin Mừng hôm nay tường thuật cuộc biến hình của Chúa Giêsu trên núi Tabore. Lâu nay, các Tông Đồ chỉ xem thấy Ngài dưới hình dạng một con người bình thường.
Hôm nay, các ông thấy Ngài biến đổi thành một vị Thiên Chúa. Mùa chay là mùa tập luyện nhân đức để được biến đổi. Có hai cách biến đổi: Biến đổi theo hướng tích cực và biến hình theo hướng tiêu cực. Từ một con người xấu trở thành con người tốt hoặc từ một người tốt trở thành con người tốt hơn gọi là biến đổi theo hướng tích cực. Ngược lại, từ một con người tốt trở thành con người bình thường hoặc từ một con người tốt trở thành con người xấu gọi là biến đổi theo hướng tiêu cực.
Biến đổi theo hướng tích cực
Lần giở lại Kinh Thánh chúng ta bắt gặp nhiều trường hợp đã biến đổi theo hướng tích cực này. Chẳng hạn, dân thành Ninivê, từ vua chúa đến thường dân, khi nghe lời rao giảng của tiên tri Giona, đã ăn năn sám hối, biến đổi cuộc sống của mình. Lêvi, Giakêu, Madalêna là những người có quá khứ tội lỗi nhưng khi gặp Đức Kitô, các ngài đã trở thành những con người tốt. Rồi, sự biến đổi của Phaolô, Phêrô…Lịch sử Giáo hội cho chúng ta thấy bao nhiêu người từ tội nhân đã trở thành thánh nhân. Trong chuyến thăm Ciudad Juarez – Mễ Tây Cơ tuần này, Đức Phanxicô đến thăm ‘Centro de Readaptacion Social estatal no. 3’ nơi giam giữ khoảng 3000 phạm nhân đang chịu án. Một nữ tù nhân nói với Ngài: “Khi bị tuyên án, chúng con khóc. Chúng con cảm thấy cùng quẫn, chúng con tuyệt vọng. Và chúng con bắt đầu tự hỏi mình những câu mà chúng con không muốn biết câu trả lời: Khi nào sẽ được ra? Gia đình có còn thương mình không? Họ có quên mình không? Chúng con cảm thấy nguy hiểm, yếu đuối, và cô độc”. Đáp lại những lời day dứt đau đớn này, Đức Phanxicô nói: “Người đã phải chịu đau khổ lớn nhất, có thể nói là ‘đã trải qua địa ngục’ có thể trở thành một ngôn sứ trong xã hội” (x. phanxico.vn ngày 18/02/2016).
Với chúng ta, từ những con người mang thân phận tội lỗi Adong, nhờ Bí Tích Rửa Tội, chúng ta được biến đổi trở thành con Thiên Chúa. Và không thiếu những lần chúng ta đã sa vào con đường tội lỗi, nhưng với lòng sám hối ăn năn, Bí Tích Hoà Giải đã biến đổi chúng ta trong sạch, trả lại tình trạng ban đầu. Xin Chúa luôn gìn giữ chúng ta, giúp chúng ta dầu trong hoàn cảnh nào cũng biết hy vọng tin tưởng vào Chúa để được biến đổi theo hướng tích cực này.
Biến đổi theo hướng tiêu cực
Đáng tiếc thay, có những người không biến đổi theo chiều hướng tích cực mà lại biến đổi theo chiều hướng tiêu cực. Nghĩa là từ một con người tốt đã trở thành con người bình thường, thậm chí từ một con người tốt trở thành một con người xấu. Một Giuđa Tông Đồ, đã biến thành kẻ phản bội, người bán Chúa. Có những kitô hữu lúc đầu tốt nhưng rồi trở thành những người đam mê cờ bạc, rượu chè, trai gái, gian dối, lừa đảo…Có những bậc cha mẹ sống vô trách nhiệm, không quan tâm giáo dục con cái; có những người con bất hiếu, không quan tâm đến cha mẹ khi các ngài yếu đau bệnh tật…Nếu ai đang sống trong tình trạng trên, hãy dùng Mùa Chay thánh này để biến đổi, trở thành những người tốt có ích cho bản thân, gia đình, Giáo hội và xã hội.
Để biến đổi theo chiều hướng tích cực, Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta:
Thứ nhất, phải trải qua Thập giá: Khi Chúa Giêsu loan báo cuộc khổ nạn, Thánh Phêrô đã can ngăn Chúa. Nhưng khi thấy Chúa Giêsu biến hình trên núi Taborê, Thánh Phêrô lại xin Chúa lưu lại ở đó. Phản ứng của Phêrô cũng là phản ứng của con người qua mọi thời đại: “Thích sướng ngại khổ”. Nhưng để tới vinh quang cần phải qua đau khổ. Chính Chúa Giêsu đã đi con đường đó, Ngài nói: “Con Người phải đau khổ nhiều, bị các vị Kỳ lão, các Thượng tế, và các Luật sĩ khai trừ và giết chết, nhưng ngày thứ ba Người sẽ sống lại”(Lc 9,22). Các Tông đồ, đặc biệt là các thánh Tử đạo cũng đã đi con đường đau khổ mà Chúa đã đi. Đến lượt chúng ta, muốn tới vinh quang cũng không thể bỏ qua con đường đau khổ. Chúa Giêsu đã nói: “Nếu ai muốn theo Thầy, thì hãy từ bỏ mình đi, và vác thập giá mình mà theo Thầy. Vì chưng, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai đành mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ được sự sống”(Mt 16, 24). Nơi khác, Ngài nói:“Nước trời phải chiếm bằng sức mạnh”(x. Mt 11,12); “Hãy chiến đấu để qua được cửa hẹp mà vào”(x. 13,24).
Kinh nghiệm cuộc sống thường ngày cũng cho chúng ta thấy, cần phải qua đau khổ mới tới vinh quang. Học sinh muốn đỗ đạt trong các kỳ thi cần phải chịu khó trau dồi kinh sử. Nông phu muốn có mùa màng bội thu cần phải cày sâu cuốc bẫm. Người cha người mẹ muốn có tương lai tốt đẹp cho con cái cần phải nuôi nấng, săn sóc và dạy dỗ chúng nên người. Nếu chúng ta biết vận dụng đau khổ thì đau khổ là phương tiện để biến đổi chúng ta trở thành người tốt, trở nên hoàn thiện như Cha chúng ta là Đấng hoàn thiện.
Thứ hai, hãy bắt chước Thánh Phaolô: Thánh Phaolô đã kêu gọi chúng ta bắt chước Ngài: “Anh em hãy bắt chước tôi” (Pl 3,17). Ngài muốn chúng ta bắt chước Ngài về sự biến đổi: Từ một người bắt bớ Giáo hội, Ngài đã biến đổi thành một vị tông đồ loan báo Tin mừng cho dân ngoại. Bắt chước Ngài ở lòng tin vững mạnh, Ngài luôn xác tín rằng: “Tôi biết tôi tin vào ai”(x. 2Tm 1,12). Bắt chước Ngài ở niềm cậy trông vào Chúa là vị thẩm phán chí công: “Giờ đây tôi chỉ còn đợi vòng hoa dành cho người công chính; Chúa là vị Thẩm Phán chí công sẽ trao phần thưởng đó cho tôi trong Ngày ấy, và không phải chỉ cho tôi, nhưng còn cho tất cả những ai hết tình mong đợi Người xuất hiện”(2Tm 4,8). Bắt chước Ngài ở lòng mến sắt son: “Không có gì tách biệt chúng ta ra khỏi tình yêu Thiên Chúa”(x. Rm 8, 39). Thánh Phaolô đã sống nhưng không còn là Ngài sống nữa mà là Đức Kitô sống trong Ngài (x. Gl 2,20). Ngài đã đồng hoá mình với chính Đức Kitô.
Để biến đổi chính mình, chúng ta cần bắt chước Thánh Phaolô về Đức Tin, Đức Cậy, Đức Mến. Bởi vì, chính chúng ta cũng phải làm gương cho những người khác, nhất là những người thuộc trách nhiệm chúng ta coi sóc: Người mục tử nói với đoàn chiên “Hãy bắt chước tôi”; Người trên nói với người dưới “Hãy bắt chước tôi”; Thầy cô giáo lý viên nói với các học sinh của mình “Hãy bắt chước tôi”; Các bậc làm cha mẹ nói với con cái “Hãy bắt chước tôi”. Bắt chước những điều tốt đẹp để hoàn thiện mình mỗi ngày nên giống Chúa. Được như vậy, xã hội chúng ta sống sẽ bớt đi các tệ nạn, con người sống với nhau sẽ có tình nghĩa. Mọi người, mọi nhà sẽ được an vui.
Thứ ba, hãy cầu nguyện: Bài Tin Mừng hôm nay cho chúng ta thấy: “Đang khi Chúa Giêsu cầu nguyện, thì khuôn mặt Ngài được biến đổi”(x. Lc 9,29). Trong ba năm sống công khai, Chúa Giêsu không những dạy cho chúng ta cầu nguyện mà Ngài còn làm gương cho chúng ta. Ngài cầu nguyện trước các biến cố quan trọng: Trước khi chọn các tông đồ; trước khi làm phép lạ hoá bánh ra nhiều; trước khi bước vào cuộc khổ nạn. Ngài dạy chúng ta hãy kiên trì cầu nguyện. Bởi vì: “Ai xin thì sẽ được, ai tìm thì sẽ gặp, ai gõ cửa thì sẽ mở cho” (Mt 7,7).
Thật vậy, lời cầu nguyện có sức biến đổi lạ thường. Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận đã nói: “Ai nói được mãnh lực của lời cầu nguyện? Sốt sắng như các Tông đồ và Đức Mẹ trong nhà tiệc ly, phó thác như Chúa Giêsu ở vườn cây Dầu, quyết định như Maisen giang tay trên núi, được tha thứ như người trộm lành”(ĐHV số 135). Đức Thánh Cha Phanxicô đã xác quyết rằng: “Lời cầu nguyện chân thành khiến phép lạ xảy ra và giúp con tim chúng ta không bị chai cứng. Lời cầu nguyện sẽ biến đổi Giáo hội. Không phải chúng tôi, các Giáo hoàng, Hồng y, Giám mục, linh mục làm cho Giáo hội tiến về phía trước mà là chính các thánh.” (Bài chia sẻ ngày 12.01.2016 tại nhà nguyện Thánh Marta).
Mùa chay là mùa tập luyện để được biến đổi. Xin Chúa cho mỗi người chúng ta biết biến đổi mình bằng cách: “từ bỏ mình vác thập giá mỗi ngày”, bắt chước gương biến đổi của Thánh Phaolô Tông đồ và siêng năng nguyện cầu.
Lạy Chúa Giêsu, qua Bí tích Rửa tội Chúa đã biến chúng con thành Con Thiên Chúa, thành hình ảnh của Ngài. Nhưng qua thời gian, hình ảnh đó đã bị thay đổi. Trong mùa chay thánh này, xin cho mỗi chúng con biết cố gắng tập luyện nhân đức, biết siêng năng cầu nguyện, “bắt chước” thánh Phaolô để biến đổi mình trở về tình trạng ban đầu, đó chính là hình ảnh của chính Chúa. Amen.

 

MC2-406: Suy niệm Tin Mừng Chúa nhật II Mùa Chay

Mc 9, 2-10
 

Sau khi loan báo cuộc khổ nạn lần thứ nhất (Mc 8,31), Thầy Giêsu nêu những điều kiện phải có MC2-406

Sau khi loan báo cuộc khổ nạn lần thứ nhất (Mc 8,31), Thầy Giêsu nêu những điều kiện phải có để trở thành môn đệ như: phải vác thập giá, liều mất mạng sống mình… (Mc 8, 34-35). Ắt hẳn trong những ngày ấy các môn đệ đã sống trong tâm trạng hoang mang, buồn bã, và có lẽ – đôi chút thất vọng. Hành trình theo Thầy thật không sáng sủa tí nào.  Chính Thầy Giêsu đã công bố con đường Ngài đi phải trải qua đau khổ, rồi bị giết chết… Nếu kết cục như vậy thì thật là một thất bại thảm họa cho Thầy và cho cả những môn đệ đã từ bỏ mọi sự để theo Thầy.
Sáu ngày sau, một quãng thời gian không dài nhưng cũng đủ làm cho những tâm trạng âu lo cảm thấy thời gian kéo lê nặng nề… Chúa Giêsu đưa ba môn đệ thân tín là Phêrô, Giacôbê và Gioan lên núi. Có lẽ ba môn đệ này gần gũi với Chúa hơn và cũng cảm thấy lo lắng hơn cả về con đường mà Thầy sẽ đi. Ngài đã tỏ cho các ông một chút vinh quang của Ngôi Lời được giấu ẩn nơi thân xác của Ngài. Hai nhân vật của Cựu Ước là Môsê – đại diện cho Lề Luật, và Êlia – đại diện cho các ngôn sứ xuất hiện và cùng đàm đạo với Thầy. Các ngài là đại diện cho tất cả những lời Kinh Thánh được tiên báo về Đấng Mesia giờ đây được ứng nghiệm nơi Thầy Giêsu. Con đường thập giá mà Thầy Giêsu sắp bước vào không phải là dị biệt nhưng chính là con đường mà Đấng Mesia của Thiên Chúa phải đi qua. Cùng với các chứng nhân của Cựu Ước, chính Thiên Chúa Cha đã lên tiếng: “Đây là Con ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Người” (9,7). Cuộc hiển dung trên núi hôm nay ắt hẳn nhắc các môn đệ nhớ tới cuộc thần hiện trên núi Sinai năm xưa. Hôm nay, các môn đệ, đại diện cho một Dân mới Của Thiên Chúa được chính Thầy Giêsu dẫn dắt phải vượt qua gian nan của thập giá mới đi đến vinh quang của phục sinh. Tiếng Chúa Cha mạc khải căn tính của Thầy Giêsu, hơn cả nhân vật có thế giá nhất của Cựu Ước là Môse, Giêsu là chính Con yêu dấu của Thiên Chúa. Vì thế, lời của Người là chân thật và đáng tin, các môn đệ hãy vâng nghe lời Người dù đó là những lời chói tai, gây hoang mang và sợ hãi.
Các môn đệ, những người đã rất gần gũi Thầy Giêsu, đã chứng kiến biết bao phép lạ, đã nếm đủ mùi vinh nhục với Thầy, nhưng dường như các ông đã vấp ngã khi Thầy mạc khải con đường thập giá. Phêrô cản Thầy (8, 32-33) còn các môn đệ khác thì bàn tán. Đau khổ và cái chết qủa thật là một ngõ cụt không thể chấp nhận được. Trong nhãn quan tôn giáo thời ấy, sự thất bại này còn là dấu chỉ cho thấy bị chính Thiên Chúa bỏ rơi (x. Mt 27,42-43). Thánh Maccô nhắc đến sáu ngày như muốn ám chỉ quãng thời gian các môn đệ tự loay hoay tự tìm lời giải đáp cho con đường thập giá mà Thầy Giêsu đã công bố. Sau đó, ngày thứ bảy, ngày của Thiên Chúa, ngày Đức Giêsu mặc khải vinh quang Thiên Chúa để thắp lên cho các ông niềm hy vọng và củng cố niềm tin vào Ngài.
“Hãy vâng nghe lời Người” Con đường của người môn đệ xưa và nay đều là con đường thập giá. Cũng như các môn đệ xưa đã có lúc phải vấp ngã, dường như mất hết hy vọng, sống trong hoang mang, sợ hãi… và bước đi trong tăm tối của đức. Những lúc ấy, lời mời gọi “hãy vâng nghe lời Người” và kinh nghiệm về Đức Giêsu phục sinh là động lực và sức mạnh giúp các ngài vững bước và trung thành với Chúa đến cùng. Ngày nay, người môn đệ theo Chúa cũng không thể chọn con đường khác ngoài con đường thập giá. Để đi hết con đường này, chúng ta cần có trải nghiệm về sự thân tình với Thiên Chúa qua cầu nguyện, được nghe Chúa nói ít là trong Kinh Thánh, được hưởng nếm trước vinh quang phục sinh của Chúa trong chiêm niệm, được cảm nghiệm những điều kỳ diệu Chúa làm trên cuộc đời chúng ta… Chính những kinh nghiệm này mới giúp chúng ta đi trọn con đường thập giá với niềm vui và hy vọng được tham dự vào sự phục sinh vinh hiển của Chúa.
Sr. Anna Nguyen Hiep

 

MC2-407: Cuộc chiến đấu thiêng liêng

Trong bốn mươi ngày Chay Thánh, Chúa Giêsu được Thánh Thần dẫn vào hoang địa tập luyện MC2-407

Trong bốn mươi ngày Chay Thánh, Chúa Giêsu được Thánh Thần dẫn vào hoang địa tập luyện cuộc chiến đấu thiêng liêng, chịu ma quỷ cám dỗ. Đó là một quá trình để Chúa Giêsu nên vững mạnh, không những khi bị ma quỷ cám dỗ trước những nhu cầu ăn uống là điều căn bản nhất, mà còn cả khi Người đối diện với cuộc khổ nạn và cái chết.
Nhưng cảnh tượng diễn ra trên núi Tabor trong đoạn Tin Mừng hôm nay thật khác xa với những gì đã diễn ra trong bốn mươi đêm ngày trong hoang địa. Trước đó, Phêrô đã đại diện anh em đồng môn tuyên bố: “Thầy là Đấng Kitô” (Mc 8,29). Giờ đây đến lượt Chúa Cha tôn vinh Con Chí Ái của Ngài, có Thánh Thần dưới hình đám mây bao phủ: "Ðây là Con Ta rất yêu dấu, các ngươi hãy nghe lời Người". Vinh quang ấy được hai nhân vật lịch sử Cựu Ước là Môisen và Êlia làm chứng. 
Cũng bởi vì Chúa Giêsu loan báo cho các môn đệ về cuộc khổ nạn khiến các ông bị sốc, nên Người đã củng cố đức tin cho các ông bằng cuộc biến hình trên núi Tabor. Tuy biến cố này không phải là chóp đỉnh, nhưng đây được xem là một trong những sự kiện quan trọng nhất của Tân Ước, vì nó tóm tắt tất cả mạc khải. Biến cố này còn có sự hiện diện của vị đại điện Lề Luật và Tiên tri.
Như vậy, toàn bộ Cựu Ước giới thiệu và quy hướng về Chúa Giêsu Kitô, Đấng là Tin Mừng được mạc khải trước cho ba môn đệ thân tín Phêrô, Giacôbê và Gioan. Nhờ đó, các ông sẽ không bị ngã lòng thất vọng khi cùng trải qua với Chúa trong vườn Dầu ảm đạm, thậm chí Chúa sợ hãi đến nỗi đã đổ mồ hôi máu; cũng như qua cuộc khổ nạn đau thương trên thánh giá. Việc biến hình này để giúp các môn đệ vững tin, xác tín khi làm nhân chứng cho biến cố phục sinh sau này, hăng say loan báo Tin Mừng cứu độ. Và bởi vì các ông là những người sẽ trở nên ‘cột trụ’ của Giáo Hội, nên sẽ củng cố đức tin cho anh chị em mình. Tuy nhiên, việc biến hình đi đến trọn vẹn không phải khi các môn đệ ngây ngất và Phêrô muốn dựng lều ở mãi trên núi với Chúa, cũng không phải khi Chúa được truyền tụng chữa được bệnh và trừ được quỷ, hay được tung hô làm vua vì đã hóa bánh cho dân chúng ăn no nê, mà là khi Người phó thác để “Vâng theo ý Cha”.
Giây phút các môn đệ thật hạnh phúc khi được chiêm ngắm dung nhan Chúa Giêsu biến hình. Và trong cuộc sống chúng ta, cũng có những giây phút mà chúng ta mong muốn kéo dài mãi, nhưng nó lại trôi qua nhanh tích tắc. Và rồi, con người chúng ta cũng được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa, vậy chúng ta có hy vọng được “biến hình” không?
Cuộc “biến hình” của chúng ta không phải như trong phim Tây Du Ký, Tề Thiên Đại Thánh có phép thần thông biến hóa. Chúng ta có thể được “biến hình” vì chúng ta được tạo dựng nên giống hình ảnh và họa ảnh của Thiên Chúa, được Thiên Chúa phú cho có một lương tâm biết làm lành lánh dữ. Dầu thế, vẫn là “Nhân vô thập toàn”, do ảnh hưởng của cuộc sống trần thế này mà con người còn nhiều khiếm khuyết. Và ai trong chúng ta dám tự hào mình không có tội lỗi, tật xấu, đam mê mù quáng làm mất đi hình ảnh đẹp trong con mắt anh chị em hay trong lòng mọi người.
Cho nên, chỉ khi chúng ta sống dưới sự chỉ dạy của Chúa, dưới những điều Răn của Ngài, để cho lương tâm mình được ánh sáng Thiên Chúa chiếu qua, chúng ta mới có thể được Chúa “biến hình” nên sáng láng tốt lành. Như người cha giải thích cho con mình rằng những hình người trong các tấm kính màu được gắn lên các khung cửa nhà thờ chính là những vị thánh. Họ được gọi là thánh vì đã để cho ánh sáng của Chúa soi chiếu vào trong cuộc đời họ để họ nên tốt lành thánh thiện vậy. Amen.
Lm Anfonso Nguyễn Quang Hiển

 

MC2-408: CHÚA NHẬT II MÙA CHAY A

Mt 17, 1-9
 

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta cùng lên núi với Chúa Giêsu, không phải để được biến hình MC2-408

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta cùng lên núi với Chúa Giêsu, không phải để được biến hình nhưng là để biến đổi đời sống, nhờ biết lắng nghe lời dạy của Chúa Giêsu, Con chí ái của Chúa Cha mà trở nên hoàn thiện hơn như lời mời gọi của Chúa Giêsu: “Các con hãy nên hoàn thiện, như Cha các con trên trời là Đấng hoàn thiện.” (Mt. 5, 48).
Nếu Chúa nhật thứ I MC, Tin mừng mời gọi chúng ta cùng nhịp bước theo chân Chúa Giêsu tiến vào sa mạc dưới sự tác động của CTT để chay tịnh và cầu nguyện, nhằm múc lấy sức mạnh ơn thiêng của Chúa mà chiến đấu và chiến thắng những mưu chước cám dỗ của ma quỷ thì Chúa nhật II MC hôm nay, mời gọi chúng ta tiếp tục dấn bước theo Chúa Giêsu tiến lên núi cao mà biến đổi đời sống hầu trở nên người con yêu dấu của Chúa Cha.
Ơn gọi của người Kitô hữu chính là trở nên người con trong Người Con yêu dấu của Chúa Cha là Đức Giêsu. Nhưng làm thế nào để ta trở nên người con yêu dấu của Chúa Cha trong Đức Giêsu? Tin mừng hôm nay chỉ ra cho chúng ta một vài gợi ý sau đây:
- Chấp nhận đi vào con đường thập giá.
Nếu trước đó, khi loan báo về cuộc thương khó mà Chúa Giêsu sắp trãi qua, các môn đệ, nhất là Phêrô đã không chấp nhận và quyết liệt can ngăn đi vào con đường hẹp ấy; thì với cuộc biến hình này, Chúa Giêsu như muốn giúp các ông hiểu rằng: vinh quang chỉ đến sau khi chấp nhận đi vào con đường thập giá.
- Tin nhận Đức Giêsu là Con Thiên Chúa.
Tin mừng cho biết trong khi cầu nguyện trên núi cao, thì hình dạng Đức Giêsu bổng biến đổi lạ thường: “Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng”. Và rồi ngay lúc ấy, Chúa Cha cũng đã xác nhận Đức Giêsu chính là Con yêu dấu của Người: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người”(Mt 3,16-17).
- Vâng nghe lời Chúa Giêsu chỉ dạy.
Với sự hiện diện của Môsê (đại diện cho luật cựu ước) và Êlia (đại diện cho ngôn sứ cựu ước) trong biến cố biến hình trên núi cao muốn xác định cho ta biết: Đức Giêsu là Môsê mới và Êlia mới. Nơi Ngài gom tóm toàn thể lề luật và lời các ngôn sứ được nói trong cựu ước. Từ nay nay lề luật và lời ngôn sứ được kiện toàn nơi Chúa Giêsu. Bởi thế khi rao giảng tin mừng, Chúa Giêsu đã xác quyết: “Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ luật Môsê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn” (Mt 5,17). Vì thế mà Chúa Cha kêu gọi tất cả chúng ta từ nay hãy “vâng nghe lời Người”.
* Tóm lại, để trở nên người con yêu dấu của Chúa Cha trong Đức Giêsu, đòi buộc chúng ta phải thực hiện hai việc sau đây:
- Chấp nhận từ bỏ tất cả để tiến bước trên hành trình đức tin theo Đức Giêsu, với niềm tín thác tuyệt đối vào thánh ý Thiên Chúa như tổ phụ Abraham khi xưa. (x. bài đọc 1).
- Phải luôn chú tâm lắng nghe và thực hành lời Chúa Giêsu chỉ dạy. Hãy để cho lời Chúa thấm nhập vào mọi suy nghĩ, lời nói và việc làm của chúng ta trong mọi sinh hoạt đời thường theo gương thánh Phaolô: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2, 20). Được như thế thì Thiên Chúa sẽ dùng quyền năng của Ngài mà chế ngự tất cả những yếu hèn trong ta và sẽ biến đổi chúng ta trở nên vinh sáng như Ngài (x. bài đọc 2). Nhờ thế, chúng ta mới xứng danh là “con yêu dấu của Chúa Cha”. Amen.

 

MC2-409: Mạc khải Thiên Tính của Chúa Giêsu

Tin mừng hôm nay thuật lại cuộc biến hình của Chúa Giêsu trên núi cao nhằm củng cố niềm tin MC2-409

Tin mừng hôm nay thuật lại cuộc biến hình của Chúa Giêsu trên núi cao nhằm củng cố niềm tin cho các môn đệ và mạc khải Thiên Tính của Người. Xin cho chúng ta luôn tin tưởng vào Chúa Giêsu mà sẵn sàng đón nhận những thập giá xảy đến trong đời sống.
Biến cố biến hình trên núi Tabor xảy ra sau khi Chúa Giêsu loan báo cho các môn đệ biết về con đường thập giá mà Ngài phải trãi qua. Nhưng trước đó, Phêrô đã không chấp nhận con đường ấy, nên đã can ngăn cản quyết liệt khi Chúa Giêsu loan báo về cuộc khổ nạn và cái chết của Người. Vì vậy mà ông đã bị Chúa Giêsu khiển trách rất nặng lời: “Satan, hãy lui đi, vì ngươi không biết việc Thiên Chúa, mà chỉ biết việc loài người”(Mc 8, 33). Đặt sự kiện biến hình trong bố cảnh ấy, ta mới hiểu được biến cố hiển dung của Chúa Giêsu hôm nay là nhắm đến 2 mục đích:
- Củng cố đức tin cho các môn đệ: Qua lời tuyên bố của Chúa Cha từ trên cao: “Ðây là Con Ta rất yêu dấu, các ngươi hãy nghe lời Người”. Chúa Cha như muốn các môn đệ xác tín niềm tin vững vàng hơn vào Đức Giêsu là Con Thiên Chúa.
- Giúp các môn đệ can đảm chấp nhận con đường thập giá: Con đường thập giá là đường đau khổ, chẳng ai muốn đi. Sự kiện biến hình rực rỡ trên đỉnh đồi Tabor chính là liều thuốc đắng bọc đường, gíúp các môn đệ dễ dàng nuốt lấy vị đắng của hy sinh thập giá mà Chúa Giêsu sắp bước vào; cũng như đủ sức vượt qua những khó khăn, gian khổ ngay cả hy sinh mạng sống khi thi hành sứ vụ loan báo Tin mừng nước trời sau này.
Chỉ có đức tin mới đem lại cho ta niềm hy vọng để dấn bước theo Chúa trên con đường thập giá. Đức tin chính là sức mạnh giúp ta can đảm đón nhận những nghịch cảnh trong cuộc đời. Nhờ đức tin mà chúng ta dễ dàng vâng theo thánh ý Chúa, ngay khi mạng sống của ta bị đe dọa. Bởi ta tin rằng phía sau thập giá sẽ vinh quang phục sinh. 
Xin Chúa thương củng cố đức tin cho chúng ta, để chúng ta luôn trung kiên bước đi theo Chúa trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống theo gương các thánh tử đạo Việt Nam. Nhất là trong mùa chay thánh này biết hy sinh thời giờ, sức khỏe, đam mê xấu, tiền của... để tích cực phụng thờ Chúa và hy sinh phục vụ mọi người trong tinh thần bác ái yêu thương.

 

MC2-410: Qua Thập Giá để đến vinh quang

- Huệ Minh
 

Ngay từ đầu đoạn Tin Mừng, thánh Matthêu đã ghi rõ: Chúa Giêsu đem ông Phêrô cùng hai anh MC2-410

Ngay từ đầu đoạn Tin Mừng, thánh Matthêu đã ghi rõ: Chúa Giêsu đem ông Phêrô cùng hai anh em ông Giacôbê và Gioan đi riêng với mình. Đồng thời trong Phúc Âm chúng ta cũng thấy không thiếu gì những trường hợp chỉ có ba ông này được chứng kiến một số hành động của Chúa Giêsu.
Ngoài việc làm chứng nhân cho cuộc biến hình, các ông còn được độc quyền đi theo Ngài trong những giây phút hấp hối cuối cùng nơi vườn cây dầu. Độc quyền chứng kiến việc Chúa Giêsu làm cho con gái ông Giairô sống lại. Các ông cũng là những người đã hỏi riêng Chúa Giêsu về những dấu hiệu báo trước ngày sụp đổ của đền thờ.
Có thể nói: Phêrô, Giacôbê và Gioan tượng trưng cho hàng ngũ lãnh đạo trong Gháo Hội. Việc Chúa Giêsu đem những người có nhiệm vụ lãnh đạo Giáo Hội để các ông chứng kiến cho sự biến hình không phải là không có ý nghĩa cho sự sinh hoạt của Giáo Hội ngày hôm nay.
Giờ đây, ông nghĩ rằng việc Hiển Dung có thể là con đường tắt để thực hiện ơn cứu độ. Ông hiểu đôi chút về điều đang xảy ra, có một cái gì đó rất lớn lao, và một lần nữa, ông cố gắng thuyết phục Đức Giêsu đừng đi Giêrusalem, bằng cách xin dựng lều ở trên núi này.
Với Đức Giêsu, vinh quang hôm nay chỉ là chốc lát, chỉ là khởi đầu, chỉ là lời báo trước cho vinh quang vĩnh cửu sau cuộc Khổ Nạn. Còn với Phêrô, đây là vinh quang của ơn cứu độ, và ông phải dấn mình vào: ông tưởng rằng không cần có thập giá vẫn có vinh quang. Mãi đến sau này, sau biến cố Phục Sinh, ông mới hiểu rõ và thuật lại toàn bộ sự kiện (x. 2 Pr 1,16-20).
Hiểu được vinh quang Thiên Chúa nằm trong chính thập giá quả là điều khó. Ngay cả Phêrô cũng còn lâu mới chấp nhận nổi điều này (x Mc 8,31-33). Điều đó cho thấy chiêm ngắm và tin vững chắc vào một Thiên Chúa giầu lòng từ nhân và hay thương xót không phải là dễ. Chấp nhận một Thiên Chúa oai hùng và công thẳng còn dễ hơn nhiều. Các tôn giáo đều muốn tôn vinh Thiên Chúa và ca ngợi sự uy nghi cao cả của Ngài mà không bị bóng thập giá phủ mờ. Trong khi đó Đức Giêsu, bằng trọn cuộc sống trần thể, và nhất là qua cái chết thập giá, chỉ muốn hé mở một điều duy nhất: vinh quang vĩ đại nhất của Thiên Chúa, và yếu tính đặc sắc nhất của Ngài chính là tự hiến và cứu độ, là tha thứ và xót thương. Thập giá là mạc khải toàn diện nhất về Thiên Chúa, đồng thời cũng biểu lộ tột cùng vinh quang tình yêu của Ngài.
Thập giá là những biến cố xảy đến trong cuộc sống con người; có thập giá do Chúa gửi đến; có thập giá do tự con người đem đến, và có thập giá do người khác, do xã hội đem đến. Đó là những điều cần thiết cho cuộc sống con người, để thanh luyện, để đào tạo con người ngày càng trưởng thành hơn.Thật vậy, sống ở đời, không ai tránh được những đau khổ mà chúng ta gọi là những thập giá Chúa muốn chúng ta vác. Bậc sống nào cũng có thập giá riêng của mình. Ngay chính lúc này, có lẽ mỗi người chúng ta đều có những lo âu, những buồn phiền, những khổ đau... Tất cả đều là thập giá.
Nếu chúng ta biết đón nhận và vác thập giá hằng ngày với thái độ khiêm nhường, với cái nhìn tích cực, cái nhìn đức tin, thì những thập giá ấy sẽ được thánh hóa, để trở thành những Thánh Giá đem lại sự sống đời đời cho chúng ta. Còn nếu ngược lại, chúng ta từ chối vác thập giá, chúng ta tránh né thập giá, thì chắc chắn những thập giá kia sẽ trở thành khổ giá cho chúng ta.
Mỗi người chúng ta hãy xem lại thập giá mà mình đang vác đó là gì, chắc chắn nó làm ta đau đớn lắm, khó chịu lắm và ngao ngán lắm; nếu chúng ta biết tận đụng để thông phần với đau khổ của Chúa thì thập giá kia sẽ được thánh hóa và trở thành Thánh Giá cho chúng ta. Một hình ảnh rất cụ thể, khi ta vô ý té đau, cái đau làm chúng ta tức tối, khó chịu; cái tức tối, khó chịu đó có ích gì đây, nó chỉ làm cho ta đau hơn; nhưng nếu ta ý thức cái đau này do lỗi của chúng ta, cái đau này giúp chúng ta kết hiệp với Chúa để hy sinh cứu rỗi các linh hồn,... thiết nghĩ lúc đó cái đau không còn nữa.
Hình ảnh hai tên trộm treo trên thập giá cùng với Chúa Giêsu trên đồi Golgôtha cũng cho ta thấy rõ:
Tên trộm dữ không chịu trách nhiệm về mình, anh ta than thở, trách móc, nguyền rủa cây thập giá và những người treo anh; anh ta còn chỉ cách cho Chúa Giêsu làm phép lạ nữa; anh ta là hình ảnh đại diện cho những ai thích bắt Chúa làm theo ý mình. Thập giá lúc này trở thành khổ giá cho anh.
Còn tên trộm lành thì khác, anh dám nhận trách nhiệm, anh nhận ra lỗi của mình và ăn năn thống hối, anh chạy đến với Chúa. Thập giá lập tức trở thành Thánh giá cho anh.
Ta đừng dừng lại ở thập giá để rồi than van, khóc lóc, kêu la với Chúa; nhưng chúng ta hãy vác lấy nó mà theo Chúa; Chúng ta hãy dùng đau khổ, bệnh tật, chết chóc để kết hiệp với Chúa Giêsu, để mang ơn cứu độ đến tận cùng trái đất; thật vậy, đau khổ, bệnh tật, chết chóc không những có lý do mà còn hữu ích mang ơn cứu độ cho mình và cho người khác. Đó là lý do mà Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II khi đi thăm một bệnh viện, ngài đã đến bắt tay từng người và nói với họ: “Xin hãy nâng đỡ Giáo Hội”; tức là ngài muốn xin họ dâng những đau khổ mà họ đang chịu lên Chúa để cầu nguyện cho Giáo Hội, đó là những lời cầu nguyện có giá trị thật cao cả.
Để củng cố tinh thần sa sút của các ông, nhằm giúp các ông vượt qua thử thách đau thương sắp đến và bền chí theo mình đến cùng, Chúa Giêsu bộc lộ cho ba môn đệ thân tín thấy chân tướng của Người: Người là Đấng uy nghi sáng láng, là Con yêu dấu của Chúa Cha. Sự kiện nầy được thánh sử Mat-thêu thuật lại như sau: "Đức Giêsu đem các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan … tới một ngọn núi cao. Rồi Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng. Và bỗng các ông thấy ông Môsê và ông Êlia hiện ra đàm đạo với Người." … "Chợt có đám mây sáng ngời bao phủ các ông, và có tiếng từ đám mây phán rằng: "Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người!"
Lắm khi Thiên Chúa cũng gởi đến cho chúng ta những món quà được bao bọc bằng hình thù của thập giá. Sự sần sù và dáng vẻ thê thảm của thập giá làm ta ngao ngán, khó chịu. Tuy nhiên, chúng ta cần phải luôn xác tín rằng, Thiên Chúa yêu thương chúng ta, Thiên Chúa không bao giờ muốn điều dữ cho chúng ta. Tất cả mọi sự xảy đến cho chúng ta đều nhằm dẫn đưa chúng ta đến nguồn hạnh phúc cao cả hơn, như lời Thánh Phaolô nói trong thư gửi tín hữu Roma: “Thiên Chúa làm cho mọi sự sinh ích cho những ai yêu mến Người” (Rm 8, 28)
Thánh Phaolô cũng xác tín rằng: “Những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta.” (Rm 8,18); và ngài còn nói thêm: “Một chút gian truân tạm thời trong hiện tại sẽ mang lại cho chúng ta cả một khối vinh quang vô tận, tuyệt vời.” (2 Cr 4, 17). Cầu xin Chúa cho mỗi người chúng ta luôn biết đón nhận mọi biến cố xảy đến trong cuộc sống; dù là vui hay buồn, dù là sướng hay khổ, dù là thành công hay thất bại,... chúng ta đều đón nhận với niềm tin yêu, phó thác; và luôn xác tín, qua thập giá sẽ đến Vinh Quang.

 

MC2-411: Suy niệm của Lm. Anthony Trung Thành

Ở đời, để thu phục người khác theo mình, người ta thường hứa hẹn nhiều điều tốt đẹp ở đời MC2-411

Ở đời, để thu phục người khác theo mình, người ta thường hứa hẹn nhiều điều tốt đẹp ở đời nay như: tiền bạc, địa vị và danh vọng. Với Đức Giêsu thì khác, Ngài không hứa hẹn những điều tốt đẹp ở đời này, nhưng trái lại Ngài mời gọi những ai muốn theo Ngài thì phải từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo (x. Mt 16, 24).
Hơn thế nữa, Ngài còn cho biết, chính Ngài cũng phải đi con đường đau khổ: “Người phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại.” (Mt 16, 21). Trước lời mời gọi từ bỏ mình và vác thập giá, đặc biệt là lời tiên báo về sự đau khổ của Ngài, hầu hết các Tông đồ đều lo lắng, buồn phiền. Thậm chí, Thánh Phêrô còn can ngăn Đức Giêsu không nên dấn thân vào con đường đau khổ: "Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy!" (Mt 16, 22). Vì thế, Phêrô đã bị Đức Giêsu quở mắng một cách nặng nề: "Xatan, lui lại đàng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người" (Mt 16, 23). Mặc dầu Đức Giêsu trách mắng Phêrô và không hài lòng về thái độ của các Tông đồ, nhưng trong thâm tâm, Ngài vẫn thông cảm cho “tư tưởng con người” nơi các ông. Ngài muốn tìm cách khác để thuyết phục các ông chấp nhận đau khổ, chấp nhận “tư tưởng của Thiên Chúa.” Chính vì thế, Tin mừng hôm nay cho chúng ta biết, sáu ngày sau, Ngài đưa ba môn đệ thân tín là Phêrô, Giacôbê và Gioan lên núi và biến hình trước mặt các ông: “Mặt Người chiếu sáng như mặt trời, áo Người trở nên trắng như tuyết. Và bỗng các ông thấy ông Môsê và ông Êlia hiện ra đàm đạo với Người” (Mt 17,1-2). Chứng kiến cảnh tượng đó, các ông thích thú vô cùng. Các ông không muốn rời khỏi nơi đó. Thánh Phêrô đã thưa với Đức Giêsu rằng: “Lạy Thầy, chúng con được ở đây thì tốt lắm. Nếu Thầy ưng, chúng con xin làm ba lều, một cho Thầy, một cho Môsê, và một cho Êlia” (Mt 17,4).
Tuy Thánh Phêrô tha thiết xin Thầy ở lại đó, nhưng Đức Giêsu lại mời gọi các ông xuống núi. Nghĩa là Ngài mời gọi các ông trở về cuộc sống thực tế hằng ngày. Cuộc sống đó sẽ kết hợp cả niềm vui lẫn nỗi buồn. Cuộc sống đó sẽ kết hợp cả hạnh phúc lẫn đau khổ. Cuộc biến hình trong chốc lát nhắc nhở các ông muốn tới vinh quang phải trải qua đau khổ. Đó là con đường Đức Giêsu đã đi. Đó cũng là con đường của các Tông đồ và các kitô hữu qua mọi thời đại phải đi qua. Vì “Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình vác thập giá mình mà theo” (Mt 16, 24).
Qua Tin Mừng chúng ta thấy, chỉ có Thánh Phêrô, Giacôbê và Gioan được vinh dự chứng kiến cuộc biến hình của Đức Giêsu. Bởi vì, rồi đây, ba vị sẽ đóng những vai trò quan trọng trong Giáo hội sơ khai: Thánh Phêrô là vị Giáo Hoàng đầu tiên, Ngài đã đổ máu mình ra làm chứng cho Đức Giêsu; Thánh Giacôbê là vị tử đạo tiên khởi trong số các Tông đồ; Thánh Gioan là vị chứng nhân cuối cùng của các Tông đồ. Như thế, cuộc biến hình của Đức Giêsu không những cũng cố đức tin cho ba vị, mà qua đó, ba vị có nhiệm vụ cũng cố đức tin cho các Tông đồ khác và cho các kitô hữu và toàn thể Giáo hội. Bởi vì, khi có niềm tin vững mạnh vào sự Phục Sinh, ba vị, các Tông đồ cũng như các kitô hữu mới can đảm vượt qua được những thử thách, đau khổ trong cuộc sống, nhất là những đau khổ trong sứ vụ loan báo Tin mừng.
Bài đọc II, Thánh Phaolô mời gọi Timôthê rằng: “Hãy đồng lao cộng khổ với tôi vì Tin mừng” (2Tm 1,8b). Thật vậy, để cộng tác trong việc loan báo Tin mừng cần phải chấp nhận hy sinh, đau khổ. Chính Thánh Phaolô đã cho chúng ta thấy kinh nghiệm đau khổ của bản thân Ngài qua thư Côrintô. Ngài kể lại rằng: “Năm lần tôi bị người Dothái đánh bốn mươi roi bớt một; ba lần bị đánh đòn; một lần bị ném đá; ba lần bị đắm tàu; một đêm một ngày lênh đênh giữa biển khơi! Tôi còn hơn họ, vì phải thực hiện nhiều cuộc hành trình, gặp bao nguy hiểm trên sông, nguy hiểm do trộm cướp, nguy hiểm do đồng bào, nguy hiểm vì dân ngoại, nguy hiểm ở thành phố, trong sa mạc, ngoài biển khơi, nguy hiểm do những kẻ giả danh là anh em. Tôi còn phải vất vả mệt nhọc, thường phải thức đêm, bị đói khát, nhịn ăn nhịn uống và chịu rét mướt trần truồng. Không kể các điều khác, còn có nỗi ray rứt hằng ngày của tôi là mối bận tâm lo cho tất cả các Hội Thánh!” (2 Cor 11, 24-28).
Không phải chỉ trong thời Tân Ước, mà ngay chính thời Cựu Ước, Thiên Chúa cũng mời gọi con người chấp nhận sự hy sinh và từ bỏ. Bài đọc I, cho chúng ta thấy Thiên Chúa mời gọi ông Abraham từ bỏ quê hương xứ sở để lên đường đi tới nơi Ngài sẽ chỉ cho: “Hãy đi khỏi xứ sở ngươi, khỏi quê quán ngươi, đến đất ta sẽ chỉ cho ngươi”(St 12,1). Từ bỏ nơi đang sống yên ổn để đi đến nơi chưa biết quả là một sự hy sinh to lớn. Nhưng ông Abraham đã vâng lời Thiên Chúa, ông đã chấp nhận từ bỏ quê hương xứ sở, phó thác tương lai cho Chúa, để lên đường đến nơi Thiên Chúa đã định.
Đối với chúng ta ngày hôm nay, mặc dầu mang danh là kitô hữu nhưng có lẽ nhiều lúc chúng ta cũng giống như Phêrô và các Tông đồ xưa, “thích sướng ngại khổ.” Nhiều khi chúng ta khăng khăng đòi hỏi quyền lợi cho mình nhưng lại không muốn chu toàn bổn phận. Chúng ta phấn khởi có mặt trong những ngày vui của Giáo xứ, của đoàn thể này khác, nhưng lại ít dấn thân trong các công việc được giao. Chúng ta mong muốn được hưởng hạnh phúc Thiên Đàng nhưng lại không muốn đi con đường hẹp.
Ước gì mỗi người kitô hữu chúng ta hiểu được ý nghĩa của đau khổ. Để từ đó luôn chấp nhận dấn thân trong việc đi theo Chúa, chu toàn bổn phận người kitô hữu, đặc biệt nhiệm vụ loan báo Tin mừng. Ngõ hầu, chúng ta không chỉ được chiêm ngưỡng vinh quang của Đức Giêsu trong chốc lát mà còn được hưởng trọn vẹn vinh quang của Đức Giêsu trên thiên quốc muôn đời. Amen.

 

MC2-412: Hãy nghe Lời Người

(Suy niệm của Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh)
"Đây là Con yêu dấu của Ta, Người đẹp lòng Ta. Hãy nghe Người"
 

Biến Cố Biến Hình: Vai trò trong Phụng Vụ Mùa Chay  Chúa Nhật mở màn cho cho Mùa Chay MC2-412

Biến Cố Biến Hình: Vai trò trong Phụng Vụ Mùa Chay
Chúa Nhật mở màn cho cho Mùa Chay, chúng ta thấy Giáo Hội cử hành Mầu Nhiệm Chúa Kitô ở biến cố Người theo Thần Linh thúc đẩy vào hoang địa để chịu ma quỉ cám dỗ sau khi đã ăn chay 40 đêm ngày. Chúa Nhật Thứ Hai của Mùa Chay tuần này chúng ta thấy Giáo Hội cử hành Mầu Nhiệm Chúa Kitô ở một biến cố hoàn toàn ngược lại với biến cố tuần trước, đó là biến cố Người biến hình trên núi cao trước mắt ba môn đệ của Người.
Việc Giáo Hội sắp xếp cho hai biến cố của Chúa Giêsu hoàn toàn trái ngược này liền với nhau như vậy, bị cám dỗ trước, tỏ vinh quang sau, cho chúng ta thấy gì, nếu không phải, trước hết, Giáo Hội muốn chứng thực niềm xác tín của mình là "Con Thiên Chúa xuất hiện là để phá hủy công việc của ma quỉ" (1Jn 3:8), và sau nữa, Giáo Hội cũng muốn cho con cái mình thấy được ý nghĩa đích thực và mục tiêu cao cả của chay tịnh, của từ bỏ: ý nghĩa đích thực của chay tịnh, của từ bỏ ở ngay lời Chúa Giêsu dùng đoạn Kinh Thánh Cựu Ước (Nhị Luật 8:3) bịt miệng Satan, đó là "con người không sống nguyên bởi bánh", và mục tiêu cao cả đó là nhờ thế con người chẳng những không sa chước cám dỗ mà còn có thể "sống bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra", một mục tiêu cũng rất hợp với tiếng nói phát ra từ trời trong biến cố biến hình trên núi của Chúa Giêsu hôm nay, đó là lời: "Hãy lắng nghe Người".
Chắc chắn Chúa Giêsu cũng có mục đích như Giáo Hội đối với con cái mình như thế. Bởi vì, Phúc Âm Thánh Mathêu cho biết, Chúa Giêsu đã biến hình "sáu ngày sau" (Mt 17:1) khi Người tiết lộ cho các tông đồ biết một mầu nhiệm vô cùng mầu nhiệm đối với tâm trí loài người của các vị bấy giờ, đó là Mầu Nhiệm Vượt Qua của Người, qua lời tiên báo tiên khởi của Người về Biến Cố Vượt Qua này (x Mt 16:21), một lời tiên báo Vượt Qua tiên khởi kinh hoàng và khủng khiếp đến độ đã làm cho vị trưởng tông đồ đoàn, vừa được Người tuyên dương và tín nhiệm trao trọng trách vô cùng quan trọng đến phần rỗi đời đời của các linh hồn, đột nhiên trở thành "Satan" trước con mắt của Người!
Bởi thế, qua biến cố biến hình hôm nay, Chúa Giêsu như muốn củng cố đức tin của các vị vốn đặt nơi Người, một đức tin mà có lần chính quí vị đã phải thú nhận là vẫn còn yếu kém nên đã tự động ngỏ ý xin Thày "hãy tăng thêm đức tin cho chúng con" (Lk 17:5). Qua biến cố biến hình này, Người như muốn nói cùng các vị rằng, cho dù Thày có bị khổ nạn và tử giá vô cùng hèn hạ, đớn đau và nhục nhã trước mặt loài người đi nữa, theo thân phận của một Đấng Thiên Sai, thế nhưng, vì Thày cũng chính là Con Thiên Chúa, nên không một sự gì trên đời này có thể làm chủ được Thày. Trái lại, tất cả mọi sự trần gian, tầm thường hay thấp hèn sẽ được biến đổi thành cao sang và vinh hiển nơi Thày: "dung nhan Người chói sáng như mặt trời, áo Người rạng ngời như ánh sáng", kể cả "tội lỗi cùng với sự chết đã đột nhập thế gian" (Rm 5:12) cũng sẽ bị tan biến đi như bóng tối trước ánh sáng, khi Thày phục sinh từ trong cõi chết. Thật vậy, biến cố Chúa Giêsu biến hình trên núi, được Phúc Âm tường thuật hôm nay, sau sáu ngày từ hôm Người bắt đầu tuyên bố về Cuộc Vượt Qua của Người, chính là lời tiên báo duy nhất và hùng hồn nhất về Cuộc Phục Sinh vinh hiển của Người. Đó là lý do bài Phúc Âm hôm nay đã được hết thúc bằng câu Chúa Giêsu căn dặn ba vị tông đồ về biến cố biến hình liên quan đến cuộc phục sinh sau này của Người: "Các con đừng nói với bất cứ ai về thị kiến này cho đến khi Con Người phục sinh từ trong cõi chết".
Biến Cố Biến Hình: Tác dụng thần linh nơi niềm tin Mầu Nhiệm Phục Sinh
Phần các vị tông đồ đã được chứng kiến thấy Thày mình biến hình trên núi như vậy, tức đã được Người củng cố cho đức tin như thế, các vị cảm thấy đức tin của mình hình như mạnh hơn, đến nỗi, hai anh em Giêbêđê là Giacôbê và Gioan, hai nhân vật có mặt nơi biến cố biến hình của Thày, sau này, lúc nghe Thày tiên báo về Cuộc Vượt Qua của Người lần thứ ba (x Mt 20:17-19), đã dám khẳng định với Thày là hai vị "có thể uống được chén Thày uống" (Mt 20:22). Nhất là riêng Phêrô, nhân vật thú nhận mình đã có mặt trong biến cố biến hình này (x 2Pt 1:18) còn gân hơn nữa, khi nghe Thày báo trước sự kiện có một người trong Nhóm 12 của mình sẽ phản nộp Người, liền cương quyết với Thày: "Cho dù tất cả có mọi người có lung lay niềm tin nơi Thày, vĩnh viễn con sẽ không bao giờ" (Mt 26:33), thậm chí còn dứt khoát thề thốt với Người: "Cho dù có chết với Thày, con cũng không chối bỏ Thày" (Mt 26:35). Chính trong khi nói lên những lời hết sức thật tình và chí tình này, những lời nếu so sánh với những gì mâu thuẫn xẩy ra sau đó, Phêrô quả thực "không biết mình nói gì", như được Phúc Âm Thánh Luca mở ngoặc ghi nhận những gì thánh nhân nói trong biến cố biến hình, về cảm nhận vui sướng của thánh nhân bấy giờ, cũng như về việc thánh nhân tự nguyện xây ba lều cho cả Thày lẫn Moisen và Elia (x Lk 9:33).
Thế nhưng, Mầu Nhiệm Vượt Qua siêu việt và khủng khiếp biết bao trước tâm trí của loài người, thậm chí với cả thành phần đã được trực tiếp phần nào nghe, thấy và sờ được sự thật (x 1Jn 1:1-2) trước khi sự thật hoàn toàn tỏ hiện sau Cuộc Vượt Qua. Bởi thế, vừa giáp trận, quí vị đã bật ngửa ra ngay, đã ngã sấp mặt xuống đất liền, chẳng khác gì như đã xẩy ra nơi đám thủ hạ của Hội Đồng Do Thái sai phái đến bắt Chúa Giêsu sau khi vừa nghe thấy sự thật, tức vừa nghe thấy Người tuyên bố "Chính Ta đây" (Jn 18:6). Vị trưởng tông đồ đoàn là Phêrô đã không ngã sấp xuống đất vỡ hết cả mặt mũi hay sao, khi công nhiên trắng trợn và phũ phàng chối bỏ Thày mình ba lần đúng như lời Thày báo trước (x Mt 26:69-75).
Tuy nhiên, không phải vì ba vị tông đồ được chứng kiến biến cố biến hình Thày muốn dùng để kiên vững đức tin cho các vị này, song các vị vẫn thuộc vào thành phần, như Phúc Âm Marcô cho biết, sau khi Chúa Giêsu bị bắt thì "tất cả mọi người liền bỏ Người mà tẩu thoát" (Mk 14:50), là các vị ấy đã làm cho biến cố biến hình hoàn toàn bị mất đi công dụng thần linh của mình. Bởi vì, biến cố biến hình chẳng những có tác dụng củng cố đức tin cho các vị ngay lúc bấy giờ, mà còn có tác dụng hình thành đức tin cho các vị sau này nữa, ở chỗ, các vị dễ tin vào Thày hơn, khi các vị thực sự chứng kiến thấy Thày mình đã hoàn toàn "biến hình" vinh hiển hiện ra với các vị sau khi sống lại từ trong cõi chết. Biến cố biến hình quả thực là một trong những cách sống động nhất và hiển nhiên nhất Chúa Giêsu muốn dùng để thực hiện chủ đích của Người trong việc hình thành đức tin cho các môn đệ, hay trong việc tăng thêm đức tin một cách hiệu nghiệm cho thành phần muốn đi theo Người, thành phần sẽ là những chứng nhân tiên khởi của Người, một chủ đích được Người cho các vị biết trong Bữa Tiệc Ly: "Thày nói với các con điều này bây giờ trước khi nó xẩy ra, để khi nó xẩy ra thì các con mới tin Là Thày" (Jn 13:19; Lk 24:44): "Thày là Đấng Thiên Sai, Con Thiên Chúa hằng sống" (Mt 16:16).
Biến cố biến hình: với vai trò của Đấng Thiên Sai và phần rỗi loài người
Biến cố biến hình chẳng những là việc Chúa Giêsu muốn dùng để tỏ mình ra cho các môn đệ của Người, mà còn là một chứng từ chính Thiên Chúa muốn thực hiện để làm cho các vị tin vào Đấng Ngài sai nữa. Đó là lý do Phúc Âm Nhất Lãm thuật lại hiện tượng có tiếng từ trời tuyên nhận Đấng Thiên Sai của Ngài trước mặt các vị và truyền cho các vị huấn dụ của Ngài: "Đây là Con yêu dấu của Ta, Đấng đẹp lòng Ta. Hãy lắng nghe Người". Trong biến cố biến hình của Đấng Ngài sai, để chứng thực cho ba người môn đệ thân tín nhất của Người biết Người chính là Đấng Thiên Sai, Thiên Chúa cũng đã cho các vị thấy cả hai nhân vật tiêu biểu quan trọng trong Cựu Ước là Moisen (tiêu biểu cho lề luật) và Elia (tiêu biểu cho tiên tri) nữa. Bởi vì, với Cuộc Vượt Qua của mình, Chúa Giêsu đã chứng thực mình là Đấng Thiên Sai, tức "là Đấng phải đến" (Mt 11:3), Đấng đã sống và làm trọn vẹn tất cả những gì Thiên Chúa là Đấng sai Người đã dự định và đã tỏ ra cho dân Ngài biết trong "lề luật Moisen và các tiên tri (tiêu biểu nhất là Elia) cùng thánh vịnh (Đavít cũng đóng vai trò tiên tri nơi một số câu thánh vịnh)" (Lk 24:44, xem cả câu 27).
Về những lần hay những việc Thiên Chúa muốn thực hiện để chứng tỏ Chúa Giêsu là Đấng Thiên Sai của Ngài, theo các Phúc Âm thuật lại, có ba lần thứ tự như sau: Lần thứ nhất khi Chúa Giêsu lãnh nhận phép rửa của Gioan Tẩy Giả ở sông Dược Đăng, lần thứ hai khi Chúa Giêsu biến hình trên núi, và lần thứ ba sau khi Chúa Giêsu đã vinh hiển vào thành Giêrusalem. Cả ba lần Thiên Chúa đều thực hiện cùng một cách việc chứng nhận của Ngài về Đấng Ngài sai, đó là bằng một tiếng phát ra từ trời. Tuy nhiên, tiếng phán ra từ trời của Thiên Chúa để chứng nhận Chúa Giêsu quả thực là Đấng Thiên Sai lần thứ nhất chỉ nói riêng với Chúa Giêsu (x Mk 1:11; Lk 3:22; Mt 3:16-17), lần thứ hai với các môn đệ (x Mt 17:5), và lần thứ ba với chung dân chúng, gồm cả dân Do Thái lẫn dân ngoại Hy Lạp, (xem Jn 12:28).
Riêng về lần thứ ba của tiếng phán từ trời này, căn cứ vào lời Chúa Giêsu nói với dân chúng bấy giờ: "Tiếng này không phán ra vì Tôi mà là vì quí vị đó" (Jn 12:30), chúng ta thấy Thiên Chúa quả thực chứng nhận Đấng Thiên Sai của mình trước mặt con người trần gian vậy. Làm như thế không phải là vì Thiên Chúa cần đến con người mà là để làm lợi ích cho phần rỗi của họ, cho đức tin của họ mà thôi, đúng như lời Đấng Thiên Sai của Ngài đã khẳng định với đám dân tìm kiếm Người sau khi được Người hóa bánh ra nhiều để họ được ăn uống no nê: "Đây là việc làm của Thiên Chúa, đó là làm cho quí vị tin vào Đấng Ngài sai" (Jn 6:29).
Tuy chủ ý của tiếng phán từ trời là chứng nhận Chúa Giêsu là Đấng Thiên Sai, Đấng thực sự đã làm đúng như những gì Người đã khẳng định với dân Do Thái: "Tôi từ trời xuống không phải để làm theo ý mình mà là ý Đấng đã sai" (Jn 6:38), nhưng tiếng phát ra từ trời này tự mình cũng đã gây ra một tác dụng khủng khiếp, đó là làm cho người nghe phải hoảng sợ. Điển hình là trong biến cố biến hình được Phúc Âm Thánh Mathêu hôm nay thuật lại và cho biết tình hình sau tiếng phán này là "Khi các vị nghe thấy tiếng nói này liền hoảng sợ ngã xuống đất". Cũng thế trong lần thứ ba, Phúc Âm Thánh Gioan cho biết: "Khi đám đông nghe tiếng này họ nói là tiếng sấm", có nghĩa là họ có thể đã bị giật mình và run sợ. Chỉ có lần thứ nhất khi tiếng từ trời phán ra với Chúa Giêsu thì không có gì xẩy ra, không phải vì Người có nội tâm thâm hậu, mà vì Người chính là Đấng Thiên Sai, là Con Thiên Chúa, là chính Lời Thiên Chúa muốn nói với loài người (x Heb 1:2), Lời mà tiếng phán từ trời hôm nay muốn thành phần chứng nhân tiên khởi được chứng kiến biến cố biến hình "Hãy lắng nghe".
Vấn đề thực hành sống đạo: Chúa Giêsu biến hình trên núi trước mặt ba môn đệ là việc cả Người cũng như Cha của Người muốn thực hiện để chứng thực Người là Đấng Thiên Sai, là Chân Lý, nhờ đó, thành phần môn đệ đã được Người tuyển gọi, cũng như đã tự nguyện bỏ mọi sự để dấn thân theo Người, được yên tâm và kiên trì theo Người cho đến cùng (x Jn 21:18-19). Và chính khi Kitô hữu chúng ta theo Người cho tới cùng như thế, ngay trên trần gian này, nếu "Chúa Giêsu được tỏ hiện nơi thân xác của chúng ta" (2Cor 4:10), chúng ta thực sự đã được "biến hình" một cách mầu nhiệm. Ở chỗ, càng ngày chúng ta càng phản ánh Đấng" là ánh sáng thế gian" (Jn 8:12), tức càng trở thành những chứng nhân đích thực và sống động của Người, cho tới khi Người lại đến để hoàn toàn và vĩnh viễn biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta để nó được thực sự trở nên giống như thân xác hiển vinh của Người (x Phil 3:21).
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây