Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 4 MC A Bài 51-100 Người mù từ khi mới

Thứ năm - 19/03/2020 11:08
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 4 MC A Bài 51-100 Người mù từ khi mới sinh
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 4 MC A Bài 51-100 Người mù từ khi mới sinh
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 4 MC A Bài 51-100 Người mù từ khi mới sinh
MC4-A51. Đức Giêsu, Ánh sáng cho niềm tin - Lm Trần Thanh Sơn. 2
MC4-A52. THIÊN CHÚA LÀ ÁNH SÁNG - Sr Mai An Linh, OP. 5
MC4-A53. NGUYỆN VỌNG CỦA NGƯỜI MÙ TỪ THUỞ MỚI SINH.. 7
MC4-A54. LẠY NGÀI ! CON TIN - LM. Giuse Trương Đình Hiền. 8
MC4-A55. XIN CHO CON ĐƯỢC THẤY ÁNH SÁNG.. 11
MC4-A56. BÁT PHÚC: LỜI CẦU CHÚC THÂN THƯƠNG.. 14
MC4-A57. KẺ XEM THẤY LẠI ĐUI MÙ Huyền Đồng. 19
MC4-A58. CHỮA LÀNH NGƯỜI MÙ TỪ THUỞ MỚI SINH.. 21
MC4-A59. Nhận định về tường thuật Ga 9, 1-41. 24
MC4-A60. Đức tin. 26
MC4-A61. Cửa sổ tâm hồn. 27
MC4-A62. Xin cho con những con mắt để được thấy Ngài 29
MC4-A63. Đón nhận chân lý. 30
MC4-A64. Bây giờ tôi đã thấy- Mark Link. 31
MC4-A65. Bài đọc thêm: Về “cái biết”. 34
MC4-A66. MÙ LÒA.. 36
MC4-A67. NGƯỜI KHÔNG XEM THẤY ĐƯỢC THẤY.. 38
MC4-A68. Ngươi có tin Con Thiên Chúa không? - Trần Mỹ Duyệt 41
MC4-A69. Khi về thì nhìn thấy được. 43
MC4-A70. ÁNH SÁNG TRẦN GIAN.. 44
MC4-A71. ÁNH SÁNG SOI CHIẾU.. 46
MC4-A72. ÁNH SÁNG ĐỨC TIN.. 48
MC4-A73. MÙ THỜI HIỆN ĐẠI 49
MC4-A74. ÁNH SÁNG CHIẾU SOI 50
MC4-A75. ÁNH SÁNG.. 52
MC4-A76. ÁNH SÁNG BAN SỰ SỐNG.. 53
MC4-A77. Đôi mắt là cửa sổ tâm hồn – FX Phạm Đình Phước. 55
MC4-A78. ĐỨC GIÊSU ÁNH SÁNG CỨU ĐỘ TRẦN GIAN.. 57
MC4-A79. THẦY LÀ ÁNH SÁNG CHO THẾ GIAN.. 60
MC4-A80: HÃY BIẾT MÌNH.. 62
MC4-A81: ĐỨC TIN CỦA NGƯỜI MÙ.. 64
MC4-A82: MÙ LÒA VÀ MÙ QUÁNG.. 66
MC4-A83: CHÚA CHỮA NGƯỜI MÙ.. 68
MC4-A84: Ánh sáng cho người mù – Lm FX Vũ Phan Long. 71
MC4-A85: Người mù. 80
MC4-A86: Người mù. 81
MC4-A87: Mù loà và mù quáng – Lm Trần Ngà. 82
MC4-A88: Sáng mắt sáng lòng – Như Hạ. 84
MC4-A89: Nhận ra lòng Chúa xót thương. 87
MC4-A90: Suy niệm của ĐHY. Phaolô Phạm Đình Tụng. 88
MC4-A91: Suy niệm của ĐHY. Phaolô Phạm Đình Tụng. 90
MC4-A92: Lạy Chúa, xin cho con được thấy! 93
MC4-A93: Đức tin. 95
MC4-A94: Để công trình Thiên Chúa được tỏ hiện. 97
MC4-A95: HÀNH TRÌNH TÌM ÁNH SÁNG CÔNG CHÍNH.. 101
MC4-A96: NIỀM TIN VÀO ĐỜI SAU.. 104
MC4-A97: Người mù. 106
MC4-A98: Mở mắt nhìn đời 107
MC4-A99: Ánh sáng từ trái tim - Lm Cosma Hoàng Văn Đạt 109
MC4-A100: Ánh sáng đức tin. 110

 

MC4-A51. Đức Giêsu, Ánh sáng cho niềm tin - Lm Trần Thanh Sơn

Bài đọc 1: 1 Sm 16, 1b. 6-7. 10-13a
Bài đọc 2: Ep 5, 8-14
Tin mừng: Ga 9, 1-41 (9, 1. 6-9.13-17. 34-38)

 

Bài Tin mừng hôm nay thuật lại câu chuyện Đức Giêsu chữa một người bị mù từ thuở mới sinh: MC4-A51

Bài Tin mừng hôm nay thuật lại câu chuyện Đức Giêsu chữa một người bị mù từ thuở mới sinh. Mới nghe qua, chúng ta thấy có vẻ không có gì khác với các phép lạ khác mà Đức Giêsu đã làm. Tuy nhiên, đối với thánh sử Gioan, việc Đức Giêsu làm phép lạ không chỉ đơn thuần là một phép lạ, nhưng đó là một dấu chỉ, để từ đó khơi dậy niềm tin và củng cố niềm tin cho các tông đồ và cả chúng ta ngày hôm nay. Điều này đã được chính vị thánh sử quả quyết trong lời kết sách Tin mừng của mình: “Các điều đã viết đây, là để anh em tin rằng: Đức Giêsu chính là Đức Kitô, Con Thiên Chúa; và bởi tin thì anh em được có sự sống nhờ Danh Ngài” (Ga 20, 31; x. Ga 2, 11).

1. Bóng tối và ánh sáng:Trở lại với câu chuyện trong bài Tin mừng: Khi ấy, trên đường đi, Đức Giêsu thấy một người mù từ khi mới sinh đang ngồi xin ăn bên vệ đường. Ngay lập tức, các môn đệ lên tiếng hỏi Ngài: “Thưa Thầy, ai đã phạm tội, y hay cha mẹ y, khiến y bị mù từ thuở mới sinh?”.

Một câu hỏi hết sức tự nhiên, và có lẽ cũng là vấn nạn cho mỗi người chúng ta hôm nay trước các mầu nhiệm của sự dữ. Chúng ta vẫn không thể nào hiểu nổi tại sao nhiều người lành vẫn luôn gặp nhiều thử thách, trong khi có những kẻ đang sống cuộc sống vô luân, vẫn nhởn nhơ “ngoài vòng pháp luật”. Tuy nhiên, khi hỏi Đức Giêsu: “Ai đã phạm tội”, chúng ta thấy: các môn đệ đã không qui trách mọi sự cho Thiên Chúa, nhưng cũng đã nhận ra rằng: tội chính là nguyên nhân của mọi đau khổ. Vấn đề ở đây là tội của ai: Tội của người mù hay tội của cha mẹ anh. Nhưng ngay khi đặt vấn đề như vậy, các môn đệ cho thấy rằng dù con mắt thể lý của họ sáng, nhưng con mắt đức tin của họ vẫn chưa thật sáng. Đức Giêsu đã trả lời cho họ: “Không phải y, cũng chẳng phải cha mẹ y đã phạm tội, nhưng để công việc của Thiên Chúa được tỏ ra nơi y”. Khi nói như thế, Đức Giêsu không phủ nhận hậu quả của tội, nhưng Ngài muốn nhắm tới một việc xa hơn. Cho dù đó là tội của ai đi chăng nữa, nhưng nếu có lòng tin vào Ngài, và hoán cải, thì tất cả sẽ được chữa lành và cứu sống, bởi Đức Giêsu đến trong thế gian không phải để kết án, “nhưng để nhờ Ngài mà thế gian đựơc cứu” (Ga 3, 17). Chính lúc Thiên Chúa chữa lành những điều đã hư mất như thế, là một cách thế làm cho Danh Ngài càng được tỏ rạng, vì việc sửa chữa luôn luôn khó hơn là làm cái mới.

Tiếp tục theo lời kể của thánh Gioan, chúng ta thấy ngay sau khi người mù này được chữa lành, thì lập tức xảy ra nhiều cuộc tranh luận khác nhau. Trước hết là của những người láng giềng của người mù: Người thì nói đúng là anh ta; có kẻ lại bảo là một người khác giống anh ta. Còn anh ta thì bảo: “Chính tôi đây”. Nghe những tranh luận này, chúng ta cũng không biết ai là người mù thật.

Kế đó là những người Biệt phái, những người tự hào là thông thái, sáng suốt nhờ hiểu biết lề luật. Đối với họ Đức Giêsu “không phải bởi Thiên Chúa, vì không giữ ngày Sabbat”. Còn người mù thì quả quyết: “Đó là một tiên tri”. Như thế, anh mù đã dần dần nhận ra chân tính của Đức Giêsu nhờ việc anh ta được chữa lành và còn nhờ việc anh lắng nghe ý kiến của những người xung quanh: “Làm sao một người tội lỗi lại làm được những phép lạ thể ấy?”. Còn những người Biệt phái vì mãi lệ thuộc vào những luật lệ cứng ngắc, nên đã không nhận ra căn tính của Đức Giêsu. Họ vẫn đang ở trong tối tăm, còn anh mù đã từng bước đi vào nơi ánh sáng. Và cuối cùng khi bị những người Biệt phái đuổi ra ngoài, anh lại được Đức Giêsu đón gặp, và trong lần gặp gỡ này, anh đã lớn tiếng tuyên xưng: “Lạy Thầy, tôi tin”. Gặp được Đức Giêsu, anh đã được chữa lành cả thể xác lẫn tâm linh. Anh đang thực sự bước đi trong ánh sáng của đức tin, ánh sáng ban sự sống của Đức Giêsu Kitô.

2. Bước đi trong ánh sáng của Thiên Chúa:Một người tự biết mình là “mù từ thuở mới sinh”, lúc đầu chỉ biết rằng: người làm cho mình được thấy là một người mang tên Giêsu nào đó, và rồi từng bước một, nhờ chính những tranh luận của những người chung quanh và nhất là nhờ tác động trực tiếp của Thiên Chúa, anh đã nhận ra Đức Giêsu chính là “một tiên tri”. Và cuối cùng anh đã tin rằng: Đức Giêsu chính là “Con Thiên Chúa”.

Trong khi đó, những người láng giềng, hàng ngày đều thấy anh, giờ đây, vì cứ mãi cố chấp trong những định kiến của mình, nên không nhận ra được anh chính là người mù trước kia. Và ngay cả những người Biệt phái cũng không hơn gì. Họ cứ mãi dựa vào những luật lệ cứng ngắc, vô hồn, tự lấy mình làm khuôn mẫu cho mọi người, nên cũng không nhận ra Đức Giêsu chính là Con Thiên Chúa, bởi lẽ: “Không ai có thể mở mắt cho người mù từ khi mới sinh. Nếu người đó không bởi Thiên Chúa mà đến”. Những người này vẫn nhìn, nhưng họ không thấy.

Và không chỉ là đám dân Do thái, và những người Biệt phái khi xưa, mỗi người chúng ta ngày hôm nay cũng có thể đang “bị mù”. Chúng ta sẽ trở nên mù khi chỉ dựa vào vẻ bên ngoài để đánh giá anh chị em của mình. Đành rằng, vẻ bên ngoài cũng biểu lộ một phần nào con người bên trong của mỗi người, nhưng như thế vẫn chưa đủ. Cha ông chúng ta vẫn thường nói: “Hoạ hổ, hoạ bì, nan hoạ cốt; tri nhân, tri diện bất tri tâm”, “biết người, biết mặt, không biết được tâm hồn”. Ngay cả ngôn sứ Samuel, khi vừa vào đến nhà của Isai, ông cũng đã bị lầm lẫn bởi vẻ bên ngoài của Eliab, ông thưa với Thiên Chúa: “Có phải người xức dầu của Chúa đang ở trước mặt Chúa đây không?”. Nhưng Chúa đã phán với Samuel rằng: “Đừng nhìn xem diện mạo, vóc cao, vì Ta đã loại nó rồi; Ta không xem xét theo kiểu của con người, vì chưng con người nhìn xem bên ngoài, còn Thiên Chúa thì nhìn xem tâm hồn”.

Thiên Chúa không xem xét theo kiểu của con người. Ngài không đánh giá và phán xử chúng ta theo những điều chúng ta thực hiện bên ngoài. Dưới ánh sáng của Thiên Chúa chẳng có gì dấu kín mà không bị lộ ra. Ánh sáng của Thiên Chúa soi dọi đến tận cõi thâm sâu trong tâm hồn của mỗi người chúng ta, và Ngài thấu suốt mọi ngõ ngách, biết rõ từng ý nghĩ, từng toan tính trong tâm hồn của mỗi người chúng ta.

Do đó, để có thể nhìn thấy rõ, và không bị lầm lẫn, mỗi người chúng ta cần bước đi dưới ánh sáng của Lời Chúa. Chúng ta cần đến với Đức Giêsu là Nguồn sáng thật. Chính Đức Giêsu đã khẳng định: “Ta là sự sáng thế gian. Ai theo Ta sẽ được ánh sáng ban sự sống” (Ga 1, 12). Nhận được ánh sáng của Đức Giêsu từ ngày lãnh nhận phép Rửa, mỗi người chúng ta đã thoát ra khỏi bóng tối của sự chết. Do đó, theo lời dạy của thánh Phaolô, chúng ta “hãy ăn ở như con của sự sáng”. Và thánh nhân còn nói thêm: “Hoa trái của sự sáng ở tại tất cả những gì là tốt lành, là công chính, chân thật. Anh em hãy nhận biết điều gì làm đẹp lòng Chúa, và đừng thông phần vào những việc con cái tối tăm không sinh lợi ích gì… Vì chưng, việc chúng làm cách thầm kín, dầu có nói ra cũng phải hổ thẹn”. Chúng ta hãy sống sao để “Ngẩng lên không thẹn với trời, cúi xuống không hổ với đất”.

Chúng ta hãy cầu xin Thiên Chúa mở con mắt tâm hồn của chúng ta, để chúng ta nhận ra tình yêu của Chúa trong cuộc đời mình, và nhận ra hình ảnh của Chúa nơi anh chị em đang sống chung quanh chúng ta. Nhờ đó, chúng ta có thể tin tưởng đặt trọn cuộc đời của chúng ta trong tay Đức Giêsu, Con Thiên Chúa làm người. Trong niềm xác tín đó, giờ đây chúng ta cùng tuyên xưng đức tin.


 

MC4-A52. THIÊN CHÚA LÀ ÁNH SÁNG - Sr Mai An Linh, OP

( Jn.9,1-41)
 

Chủ đề xuyên suốt của Chúa Nhật IV Mùa Chay năm A này là : Chúa Giêsu là ánh sáng. Anh: MC4-A52.

Chủ đề xuyên suốt của Chúa Nhật IV Mùa Chay năm A này là : Chúa Giêsu là ánh sáng. Anh sáng chiếu soi để cho tiên tri Samuel có thể nhận ra người mà Thiên Chúa tuyển chọn làm vua Israel là David, cũng chính ánh sáng ấy đã dẫn đưa dân thành Ephêsô từ nơi thâm u tối tăm của sự chết là tội lỗi trở thành con cái ánh sáng trong giếng Rửa Tội. Và Đức Kitô đã truyền ánh sáng từ nơi mình sang cho anh mù bẩm sinh để anh được nhìn thấy Đấng ban sự sáng cho mình mà đi theo và loan truyền tình thương của Chúa.

Theo quan niệm của người Do Thái xưa vẫn cho rằng : Những gian nan khốn khó người ta gặp phải là do tội lỗi nên bị Thiên Chúa phạt, vì thế anh mù trong Tin Mừng hôm nay thuật lại, cũng không thóat khỏi ánh mắt không thiện cảm của những người chung quanh và cả những người thân. Cha mẹ coi anh như một của nợ nên đẩy anh ra khỏi nhà, không chia sẻ số phận hẩm hiu của anh, nên đã không đi tìm Chúa Giêsu để xin cứu chữa và cũng không cám ơn Chúa khi con được khỏi bệnh, cũng không bênh vực khi anh bị chất vấn. Cho nên khi anh được khỏi mù, anh đã không chạy về với cha mẹ. Còn những người láng giềng không nhận ra anh phải chăng anh đã bị người ta quên lãng ? Và những người thường gặp anh ăn xin thì không vui khi anh được sáng mắt, có nghĩa là họ không cảm thông chia sẻ với anh. Cả các môn đệ khi thấy anh bị mù họ cũng cho anh là người có tội hay cha mẹ anh, họ không thương xót, không cảm thông, cứu chữa. Qủa thật, anh mù rất cô đơn, vô cùng đau khổ trong kiếp sống tàn tật ăn xin, bị mọi người bỏ rơi, nguyền rủa.

Trong khi đó Chúa Giêsu không kết án, không qui tội mà cứu chữa anh, đã đưa anh đến miền ánh sáng của đức tin. Thật vậy :

1/ Anh mù đã tin một người là Giêsu đã mở mắt anh :

Anh nhận ra Chúa Giêsu khác hẳn những người khác : “ Người tên là Giêsu đã trộn ít bùn, xức vào mắt…tôi đi rửa và tôi nhìn thấy được”(c.11), một ông Giêsu quyền năng, vì chưa bao giờ người ta nghe nói là có ai mở mắt cho kẻ mù từ lúc mới sinh, thế mà ông Giêsu làm được như thế. Ông Giêsu đã yêu thương, ông không lên án mà cứu chữa (x.c.32). Còn những người khác chẳng những bất lực mà lại không có tình thương. C.32 cho thấy con người khoanh tay trước bệnh mù bẩm sinh. Mọi người chẳng những khoanh tay bất lực mà còn thiếu tình thương, chỉ biết lên án.

2/ Anh mù nhận ra Chúa Giêsu là ngôn sứ :

Người Biệt Phái không nhất trí với nhau về lai lịch của người đã chữa anh mù, vì Chúa Giêsu đã chữa anh vào ngày Sabat nên Chúa Giêsu không phải do Thiên Chúa vì không giữ ngày hưu lễ, nhưng có người lại nhấn mạnh đến việc Chúa đã chữa người mù nên Ngài không thể là có tội được. Còn anh mù thì lý luận : “ Nếu không phải người bởi Thiên Chúa mà đến thì ông ta đã chẳng làm gì được“(c.33) nên anh cương quyết xác nhận“Người là một vị ngôn sứ” (c.17b).

3/ Anh mù nhận ra Chúa Giêsu là người do Thiên Chúa :

Cuộc tranh luận và thái độ của những người Biệt Phái làm cho anh mù càng xác tín và thách thức họ “ hay các ông cũng muốn là môn đệ ông ấy”(c.27b), lời nói của anh nhìn nhận Chúa Giêsu là một bậc thầy trên cả những người Biệt Phái, đi một bước xa hơn nữa là anh đã cho họ một bài học : “ chúng ta biết rằng Thiên Chúa không nhận lời những kẻ tội lỗi …xưa nay chưa hề nghe nói có ai đã mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh, nếu không phải là người bởi Thiên Chúa mà đến”(c.31-33). Khi anh được Chúa Giêsu làm cho sáng mắt thì anh trở thành ánh sáng của Ngài, trở thành dấu chỉ sáng chói của Ngài. Chính vì điều này mà sau đó người ta xua đuổi anh.

4/Người mù được Đức Giêsu cho biết Ngài là Con Người và anh đã tin :

Người Do Thái xua đuổi anh, còn Đức Giêsu thì tiếp nhận anh, điều đó cho thấy Chúa Giêsu luôn luôn là người đi bước trước, “Đức Giêsu nghe nói họ đã trục xuất anh, và đi tìm gặp anh”(c.35). Trên hành trình đức tin phải có bước khởi đầu xuất phát từ Thiên Chúa. Và chính hành động này làm cho người mù có so sánh : Những người mệnh danh là cha mẹ dân thì xua đuổi anh trong khi Chúa Giêsu là người bị họ coi là người tội lỗi lại đón tiếp anh, cho nên niềm tin của anh vào Ngài càng lớn mạnh. Vì thế, khi nghe Chúa Giêsu hỏi : “anh có tin vào Con người không ?…chính Người đang nói với anh”(c.35b-37) thì anh sẵn sàng tuyên xưng đức tin “ Thưa Ngài tôi tin”. Liền đó anh sấp mình xuống trước mặt Người, lời nói và cử chỉ của anh chứng tỏ anh nhìn ra Đức Giêsu Thiên Chúa.

5/Sứ điệp Tin Mừng :

Chúa để xẩy ra đau khổ, tật nguyền để con người nhận thấy giới hạn của mình, và để liên đới sự đau khổ, khuyết tật của người khác cũng là đau khổ, khuyết tật của mọi người, nhờ đó sẽ kích thích cho con người tìm phương pháp cứu chữa, xoa dịu.Thái độ của chúng ta đối với đau khổ, tật nguyền, tội lỗi, bị xã hội khai trừ là một sự cảm thông đem tình thương Chúa đến cho họ, đây là một lời mời gọi hằng vang lên, thúc bách ta phải thi hành sứ mạng.Việc Chúa Giêsu không giữ ngày hưu lễ mà lại chữa anh mù bẩm sinh khỏi bệnh, cho chúng ta thấy Ngài có quyền trên lề luật(x.Lc.13,10-17) và Ngài đã đặt lề luật bên dưới con người (x.Mc.2,28). Qua đó, ta hiểu được Thiên Chúa của Đức Giêsu là Thiên Chúa yêu thương con người.Chúng ta thử xét xem, trong cuộc đời trên đường chúng ta đi có khi nào chúng ta xua đuổi ánh sáng được Thiên Chúa gửi đến cho chúng ta không ?Chúng ta dùng bài này để cầu nguyện như thế nào ? và quyết sống ra sao ?

Lạy Chúa, là ánh sáng trường tồn bất biến, xin cho chúng con không cố chấp ngồi lì trong bóng đêm tội lỗi, nhưng biết nhận ra tình trạng đui mù tâm hồn của mình mà khiêm tốn, can đảm đi đến suối Siloe là Đức Kitô bằng lòng tin, lòng ăn năn sám hối và yêu mến để được dẫn vào nguồn sáng Phục Sinh của Chúa, hầu được hưởng ơn cứu độ.

Sr. Mai an Linh, OP


 

MC4-A53. NGUYỆN VỌNG CỦA NGƯỜI MÙ TỪ THUỞ MỚI SINH

 Nguyễn Văn Thành
Ga 9, 1-41
 

Tôi là một người mù từ thuở mới sinh. Sáng nay, Đức Kitô đã làm cho mắt của tôi được THẤY: MC4-A53

Tôi là một người mù từ thuở mới sinh. Sáng nay, Đức Kitô đã làm cho mắt của tôi được THẤY trở lại, như một người bình thường, không bao giờ mang tật nguyền gì…
***
1.-Bao nhiêu năm sống trong cô đơn và khổ đau, suốt ngày đi ăn xin từ xóm làng này qua xóm làng khác. Từ đây, trở lại với xã hội loài người, tôi chỉ ước mong được cư xử và đãi ngộ như một con người có giá trị bình thường như mọi người. Có lời ăn tiếng nói, khi tiếp xúc và trao đổi. Được lắng nghe và coi trọng, khi tôi cất lời phát biểu, trình bày ý kiến riêng tư của mình. Khi được mọi người xác nhận phẩm chất làm người như vậy, tự nhiên tôi " vươn lên, hướng thượng ", cố gắng đóng góp phần mình, khi anh chị em bà con cần đến tôi.

2.-Ngoài ra, khi tôi có những hành động sai trái, lầm lỡ…ước vọng của tôi là được anh chị em hai bên cạnh trở nên cho tôi một ngọn đèn hướng dẫn và nâng đỡ, sẵn sàng chỉ bày cho tôi một cách cụ thể và rõ ràng tôi phải điều chỉnh thế nào hành động và ngôn ngữ của tôi. Sai lầm lúc bấy giờ không còn là một sai lầm, trái lại đã trở nên cho tôi một bài học cao quí, khả dĩ xây dựng cuộc đời và làm đẹp bộ mặt của tâm hồn.

3.-Nhu cầu thứ ba của tôi là có người dạy bảo những bài học ĐÁNH GIÁ , bằng cách chia sẻ và giải bày những định chuẩn rõ ràng và khách quan. Dựa vào đó, tôi xác định vị trí hay là chỗ đứng của tôi, trong lòng xã hội hay là trong lãnh vực nghề nghiệp.Cuộc sống bình thường luôn luôn có trên có dưới, có trước có sau, có trong có ngoài. Không ai dạy cho tôi những bảng thang giá trị hay là những qui luật ấy, tôi chỉ là hạt cát phiêu lưu, bất định " vô gia đình, vô tổ quốc và vô tôn giáo ".

***
Thay vì mang đến cho tôi ba quà tặng cao quí ấy - là xác nhận giá trị, hướng dẫn hành động và đánh giá cuộc sống - nhằm xây dựng bản thân và cuộc đời hằng ngày cho tôi… những người mà tôi gặp trên mọi nẻo đường đó đây chỉ tung ra " những lời tố cáo, phê bình, chỉ trích, mạ lị và chưởi bới " :

" Mày sinh ra tội lỗi ngập đầu, thế mà mày lại muốn làm thầy chúng ta ư ? "

Với thái độ trịch thượng ấy, thay vì đón nhận và yêu thương tôi, họ đã trục xuất, khai trừ, loại thải tôi ra khỏi cung lòng của họ.

***
Hỡi ai là người Kitô-hữu - có nghĩa là Đức Kitô thứ hai, Alter Christus - thay vì xua đuổi tôi, hãy lấy một ít bùn đất, trộn với nước miếng của quí bạn, và đụng đến hai con mắt Đức Tin của tôi, để cho tôi có thể " nhìn thấy Mặt Trời Công Chính ", trong tất cả cuộc đời còn lại của tôi. Hãy có gan " làm phép lạ ", để cho tôi ngày ngày trở nên con cái của Thiên Chúa.

Lausanne, Mùa Chay 2002


 

MC4-A54. LẠY NGÀI ! CON TIN - LM. Giuse Trương Đình Hiền

Dẫn nhập đầu lễ :
 

Cộng đoàn chúng ta đanghọp nhau cử hành Chúa Nhật IV Mùa Chay, Chúa Nhật mà màu áo: MC4-A54

Kính thưa ông bà anh chị em, cộng đoàn chúng ta đanghọp nhau cử hành Chúa Nhật IV Mùa Chay, Chúa Nhật mà màu áo lễ có thể mượn sắc hồng của hoan vui rực sáng để thay sắc tím của khắc khổ u buồn; và từ Chúa Nhật nầy, các anh chị em Dự Tòng trên khắp thế giới đang có những ngày hân hoan náo nức để tiến về Giếng rửa Tội, tiến vào cuộc Tái Sinh thiêng liêng làm con cái ánh sáng trong mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô. Trong ý nghĩa ấy, phụng vụ Chúa Nhật IV Mùa Chay, với sứ điệp Lời Chúa mang trọng tâm “Ánh Sáng” đang khơi gợi chúng ta hãy biến cuộc hành trình đức tin thành một cuộc “hội ngộ” với Đức Kitô là nguồn ánh sáng, một cuộc đổi đời từ bóng tối của lầm lạc đui mù tiến về chân lý của rạng rỡ tin yêu. Thánh lễ hôm nay vừa là một gọi mời vừa là một cơ hội để chúng ta một lần nữa đặt niềm tin vào Thiên Chúa, quay trở về với Thiên Chúa và tiến đến gặp gỡ Thiên Chúa trong Đức Kitô, Đấng đang hiện diện trong Thánh lễ nầy để ban cho ta ánh quang rạng ngời của chân lý cứu độ.

Giờ đây, chúng ta hãy nhìn nhận tội lỗi để xứng đáng cử hành Thánh lễ.

Giảng Lời Chúa :

Nổi bi đát nhất của một tù nhân đó là ngày vĩnh viễn bị ném vào ngục tối để không còn được nhìn thấy ánh sáng của ban ngày; và giây phút kinh hoàng nhất của môt tên tử tội là phút giây đợi chờ hành quyết để vĩnh biệt ánh sáng cuộc sống và bị đẩy vào đêm đen của miền âm u sự chết !

Quả thật, Ánh Sáng – Bóng Tối đó là hai đối cực tượng trưng cho hai cuộc sống, hai thế giới, hai lãnh vực hoàn toàn đối nghịch nhau, cách xa nhau, triệt tiêu nhau. Và trong ngữ nghĩa Kinh Thánh, Ánh Sáng là tượng trưng cho chân lý và sự sống, cho vinh quang Thiên Chúa, cho niềm tin yêu hy vọng, cho ơn cứu độ…Còn Bóng Tối là quê hương của lầm lạc, tội lối, ma quỷ, gian ác. Nếu Thiên Chúa ngay từ đầu đã dựng nên ánh sáng như thực tại đầu tiên của công trình sáng tạo; thì vào chiều Thứ Sáu, khi Con Chúa tắt hơi trên Đồi Sọ, bóng tối đã bao trùm không gian. Cũng vậy, nếu khi bình minh thức giấc, muôn tiếng chim ca hát để báo tin một ngày mới với cuộc sống mới bắt đầu, thì khi màn đêm buông xuống, có bao nhiêu toan tính đen tối của các thế lực tội ác ra tay hoạt động. Chính vì thế, các Sứ ngôn không ngần ngại loan báo viễn tượng về một “ngày mai rực sáng của thời đại Thiên Sai” để bỏ lại những ngày “lưu đầy sống kiếp lầm than lầm lũi bước đi trong miền âm u tử địa” (Is 9,1). Và khi thời Tân ước đến, Thánh Gioan đã không ngần ngại gọi Đức Kitô là “ánh sáng cho nhân loại, ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối không diệt được ánh sáng…là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người” (Ga 1, 3-9).

Sứ điệp phụng vụ hôm nay tập chú vào “huyền nhiệm ánh sáng” để vừa dẫn lối đưa đường các anh chị em dự tòng đến một chọn lựa nghiêm túc : hoặc là ở lại trong bóng tối của lầm lạc và xa cách Thiên Chúa, hoặc là bước tới ngưỡng cửa của đời sống mới trong ánh quang của con cái sự sáng qua bí tích Rửa tội; đồng thời cũng gọi mời tất cả cộng đoàn tín hữu hãy mạnh mẽ tiến bước trên con đường của chân lý phúc âm và loại trừ mọi biểu hiện của cuộc sống ù lỳ trong bóng tối của tội lỗi.

1. Để nhìn thấy ánh sáng cần có “đôi mắt của Thiên Chúa”.

Ánh sáng có rực sáng bao nhiêu, ban ngày có rạng thế nào, thì đối với người mang đôi mắt mù, tất cả cũng chỉ là bóng tối. Cũng vậy, Thiên Chúa có toàn năng làm sao, có nhân hậu thế nào, và ơn cứu độ của Ngài có quí giá cần thiết mấy chăng nữa, mà con người không có được “đôi mắt đức tin” thì mãi mãi cũng chìm sâu trong đui mù lầm lạc. Chính vì thế, điều quan trọng đầu tiên để có được ánh sáng, để nhìn thấy ánh sáng đó chính là “đôi mắt sáng”. Nếu đôi mắt của I-sai ngày xưa chỉ nhìn thấy ‘diện mạo bên ngoài” thì với cái nhìn của Thiên Chúa, tiên tri Samuel đã “nhìn sâu tận đáy lòng”; và vì thế, cậu con trai út Đa-Vít đã được xức dầu tấn phong làm vua Ít-ra-en (BĐ 1). Tất cả chúng ta đều cần được trang bị “đôi mắt của Thiên Chúa”, tức là đôi mắt của lòng tin, cậy mến, là đôi mắt của lòng khiêm hạ, sám hối ăn năn, là đôi mắt của trái tim yêu thương quảng đại. Để có được “đôi mắt sáng thiêng liêng” nầy, chúng ta phải gắng sức thanh lọc cái nhìn, gột rửa phán đoán, tẩy trừ thiên kiến, để ánh nhìn về Thiên Chúa và nhìn đến anh em càng ngày càng rõ nét hơn, trong sáng hơn, chính xác hơn. Cũng chính vì mang nặng những chiếc “mặt nạ cồng kềnh”, những “đôi kính đen” của giả hình, kiêu căng, hợm hĩnh, đầy đố kỵ ghen ghét hận thù, mà với với bao nhiêu dấu lạ cả thể, như với dấu lạ “người mù từ lúc mới sinh được sáng mắt” trong chuyện kể của Tin mừng hôm nay, những ông biệt phái vẫn không nhận ra “Đấng Thiên Sai Cứu Thế nơi con người Giêsu Na-da-rét” để cuối cùng hè nhau đóng đinh Ngài vào thập giá. Trong khi đó, người mù vừa được chữa lành, bằng một đức tin đơn sơ khiêm hạ, lần đầu tiên diện kiến đã “quỳ xuống thân thưa : “Lạy Ngài Con Tin”. (TM).

Mùa Chay, phải chăng là Mùa để chúng ta vứt bỏ “chiếc mặt nạ cồng kềnh”, “đôi kính đen tăm tối” của cái tôi tội lối, biếng lười, gian dối, ích kỷ, ghen ghét, tham lam…và bao nhiêu tính hư tật xấu khác, để mang lấy “đôi mắt mới của Thiên Chúa” là niềm tin sống động, đức cậy vững bền, đức ái cụ thể, với cõi lòng sám hối khiêm hạ, với nhiệt tình phục vụ yêu thương, với quyết tâm hy sinh từ bỏ…Đó cũng chính là điều mà trong BĐ 2, Thánh Phaolô trong thư gởi giáo đoàn Ê-phê-sô đã nhắc bảo chúng ta : “xưa anh em là bóng tối, nhưng bây giờ, trong Chúa, anh em lại là ánh sáng. Vậy anh em hãy ăn ở như con cái ánh sáng, mà ánh sáng đem lại tất cả những gì là lương thiện, công bình chân thật…”

2. Để có “đôi mắt của Thiên Chúa” hãy để Thiên Chúa chạm đến :

Nhưng không dễ gì chúng ta tự mình có được “đôi mắt của Thiên Chúa”, đôi mắt sáng thiêng liêng” thật sự để quan chiêm những thực tại thần linh, để nhìn ra những chân lý của ơn cứu độ. Nếu không gặp gỡ Đức Kitô, để Ngài lấy bùn trộn nước miếng xức lên đôi mắt mù, và sau đó vâng lệnh Ngài đi rửa nơi hồ Si-lô-ác, thì mãi mãi anh ta vẫn ngồi lại trong bóng tối mù lòa tội nghiệp. Và vượt qua cái nhìn thể lý với con mắt xác thịt, anh mù từ lúc mới sinh bị cho là “đồ sinh ra trong tội” đó đã lắng nghe tiếng Chúa, đã đón nhận mạc khải của Ngài : “Chính người đang nói với anh đây”, mà anh ta đã thấy được, đã cảm nghiệm được chân lý bằng thái độ giản đơn nhưng đong đầy ý nghĩa sâu sắc trọn vẹn : anh quỳ xuống và thân thưa : “Lạy Ngài con tin”. Trong khi đó, những ông biệt phái trang bị đầy mình những kiến thức thánh kinh và lề luật, nhưng cũng mang đầy những kiêu căng, giả hình và thiên kiến, cùng với trái tim đen tối đầy những mưu thâm chước độc, đố kỵ hận thù…đã mù tịt và điếc lác trước những “dấu lạ” đầy quyền năng và yêu thương của Đấng Cứu Thế, cho dù những dấu lạ đã từng xuất hiện với Ngài từ ánh Sao Bê-lem lúc Ngài chào đời cho đến việc đất động trời lay trên Đồi Sọ khi Ngài tắt thở.

Vâng, phải biết mở lòng ra, phải biết quỳ xuống, phải gặp gỡ Thiên Chúa, phải đối diện với Ngài, phải để Ngài chạm đến. Đó chính là tiếng kèn giục giã của Mùa Chay. Mà Thiên Chúa nào ở đâu xa lạ : Ngài có đây trong bí tích Thánh Thể, Ngài có đây, trong cuộc họp mặt cầu kinh của gia đình, Ngài có đây nơi Tòa Giải tội, Ngài có đây, nơi tràng hạt Mân Côi, Ngài có đây nơi những người ăn xin ta gặp hằng ngày, Ngài có đây trong những nghĩa cử hy sinh và chung thủy của vợ chồng, trong vâng lời hiếu thảo của con cái, trong tha thứ khoan dung của bạn bè…Ngài có đây trong những phục vụ âm thầm nhưng chan chứa yêu thương khiêm hạ, những quyết tâm đầy can đảm nói “không” trước những cám dỗ của ươn lười xác thịt… Và đó chính là sống Mùa Chay, là đang bước đi trong ánh sáng, là trên đường tiến về Phục Sinh.

Và nếu hiểu “Đạo là như thế”, Mùa Chay là như thế, thì chúng ta mãi mãi hoan ca như thánh vịnh đáp ca hôm nay : “Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi”, hay mạnh mẽ như lời Thánh Phaolô trong cuối BĐ 2 hôm nay : “Tỉnh giấc đi hỡi người đang ngủ ! Từ chốn tử vong trỗi dậy đi nào ! Đức Kitô sẽ chiếu sáng ngươi !”.


 

MC4-A55. XIN CHO CON ĐƯỢC THẤY ÁNH SÁNG

 LM. Trần Bình Trọng
VietCatholic News (05/03/2005)

XIN CHO CON ÐƯỢC THẤY ÁNH SÁNG - LM. Trần Bình Trọng:
Chúa Nhật 4 Mùa Chay, Năm A

(1 Sm 16:1b, 6-7, 10-13a; Ep 5:8-14; Ga 9:1-41)

 

Vào thời Chúa Giêsu tại thế, có những người Do thái chịu ảnh hưởng thuyết Platô, tin rằng những:MC4-A55

Vào thời Chúa Giêsu tại thế, có những người Do thái chịu ảnh hưởng thuyết Platô, tin rằng những đau khổ, bệnh tật phần xác được coi là hậu quả của việc tiền nhân làm bậy. Người Pharisêu cũng lên tiếng tố cáo người mù trong phúc âm đã phạm tội, hoặc cha mẹ anh ta đã phạm tội, nên anh ta mới bị mù. Còn các môn đệ Ðức Giêsu thì thắc mắc không biết tại tội anh ta hoặc tội của cha mẹ anh, khiến anh bị mù? Ðó cũng là điều mà tiền nhân ta thường nói: ‘Ðời cha ăn mặn, đời con khát nước’.

Lên tiếng khẳng định rằng người mắc bệnh mù từ khi mới sinh không phải do tội lỗi của ai gây ra, Ðức Giêsu trộn đất bùn với nước miếng rồi xoa vào mắt người mù và bảo anh ta đi rửa mắt ở hồ Silôác để được chữa lành. Nước miếng được y sĩ đông cũng như tây thời xưa dùng để chữa bệnh. Tuy nhiên theo lối suy luận thông thường thì việc trộn bùn vào nước miếng để chữa bệnh mù xem ra có vẻ lạ kỳ và còn thiếu vệ sinh. Dầu vậy, cảm thấy mất mát và buồn tủi vì không được nhìn thấy người và cảnh vật từ nhỏ, người mù sẵn sàng cộng tác với đường lối chữa trị của Chúa. Thế nên người ta mới nói: ‘Có hay đau mắt mới thương người mù’. Anh ta liền đến hồ rửa mắt và được phục hồi nhãn quang.

Sau khi anh được chữa khỏi thì xẩy ra cuộc tranh cãi làm sao người mù đươc sáng mắt. Vai chính bây giờ là người mù. Những nhân vật đóng những vai phụ khác trên sân khấu là người hàng xóm láng giềng, nhóm người Pharisêu, nhóm người Do thái và cha mẹ người mù. Còn Chúa Giêsu thì tạm thời lui vào hậu trường, để rồi lại xuất hiện trong màn chót. Trong số những người láng giềng, có người ngạc nhiên hỏi sao anh ta được khỏi, người khác lại tưởng không phải là anh ta, nhưng là ai khác cũng giống anh ta. Việc Chúa chữa người mù xẩy ra vào ngày Sabát là ngày cấm làm việc. Do đó nhóm người Pharisêu lại hỏi: sao anh ta được chữa lành? Có người nói ông Giêsu không phải là người của Thiên Chúa vì không giữ luật ngày Sabát. Người khác lại nói một người tội lỗi làm sao có thể làm việc chữa lành được như vậy?

Lúc này đến nhóm người Do thái có chức quyền vào cuộc. Họ hỏi cha mẹ người mù xem anh ta có phải là con ông bà không và làm sao anh ta được khỏi? Ông bà nhận anh ta là con mình. Còn việc làm sao anh ta được chữa khỏi, họ bảo để đương sự trả lời. Ðúng ra họ sợ người Do thái làm khó dễ nếu ai tuyên xưng Ðức Giêsu là Ðấng Kitô (Ga 9:22). Nhóm người Do thái lại gọi người mù lại tố cáo ông Giêsu là người tội lỗi. Câu trả lời hiển nhiên của người mù khiến cho nhóm người Do thái phải câm miệng: ‘Xưa nay chưa từng nghe nói có ai đã mở mắt người mù từ khi mới sinh. Nếu người đó không bởi Thiên Chúa thì đã không làm được việc như vậy’ (Ga 9:32-33). Người Do thái không tìm được lý do nào để bác bỏ lý lẽ bình dị và hiển nhiên của người mù. Thế nên để trả đũa, họ đã dùng lời thoá mạ người mù rồi trục xuất anh ta ra khỏi đền thờ.

Nghe nói người mù bị trục xuất, Ðức Giêsu lại tái xuất hiện trên sân khấu, hỏi xem anh ta có tin vào Người không? Người mù tuyên xưng đức tin: ‘Dạ thưa, con tin’ (Ga 9:37). Cái tiến trình nhận lãnh đức tin của người mù đi qua ba giai đoạn, cũng gần giống tiến trình đi đến đức tin của người phụ nữ Samari tuần trước. Trước hết anh ta coi người chữa bệnh mù của anh như là một người mà thiên hạ gọi là ông Giêsu (Ga 9:11), rồi gọi Chúa là một ngôn sứ trước mặt người Pharisêu (Ga 9:17), và cuối cùng tuyên xưng Người bởi Thiên Chúa mà đến trước mặt người Do thái (Ga 9:35).

Thái độ của người mù khác hẳn với thái độ của người Pharisêu. Mặc dù bị nhóm người Pharisêu và người Do thái áp đảo và doạ nạt, người mù vẫn tỏ ra bình tĩnh, bác bẻ lý lẽ và những lời tố cáo của đối phương một cách thông minh. Người mù còn tỏ ra can đảm tuyên xưng đức tin vào Ðức Kitô mặc dù biết mình sẽ bị khai trừ ra khỏi đền thờ. Ðối với người Pharisêu, mắt tự nhiên của họ có thể nhìn thấy người mù được chữa lành, nhưng họ không nhận ra việc Ðức Kitô làm là do bàn tay Thiên Chúa. Họ không nhận thức được rằng Ðức Kitô cũng là chủ của ngày Sabát. Và họ cũng không nhận thức được rằng Thiên Chúa muốn cho loài người làm việc thiện hảo vào cả ngày Sabát nữa.

Bài trích sách Samuen quyển thứ nhất cho ta một ví dụ về việc xét đoán sai lầm của loài người. Ông Samuen được Chúa sai đến xức dầu cho một trong các con của ông Giesê lên làm vua. Khi nhìn thấy diện mạo cao lớn của Êliáp, Samuen tưởng đó là người phải được xức dầu tấn phong làm vua. Nhưng Chúa bảo Samuen: ‘Thiên Chúa không nhìn theo kiểu người phàm: người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Thiên Chúa thì thấy tận đáy lòng’ (l Sm16:7). Thiên Chúa muốn chia sẻ với ta cách thế nhìn coi và nhận định sự vật cách trung thực như Thánh Phaolô ghi nhận trong thư gửi giáo đoàn Êphêsô: ‘Xưa kia anh em là bóng tối, nhưng bây giờ, trong Chúa, anh em là ánh sáng. Vậy anh em hãy ăn ở như con cái sự sáng’ (Ep 5:8).

Lời nguyện xin cho được thấy ánh sáng chân lý:

Lạy Ðấng toàn năng, con xin tạ ơn Ngài đã ban cho con

được nhìn thấy ánh sáng tự nhiên

và còn được thấy ánh sáng đức tin qua cha mẹ và người đỡ đầu.

Xin dạy con biết nhìn người và sự vật dưới ánh sáng chân lý

Nếu con bị mắc bệnh mù loà thiêng liêng như người Pharisêu,

xin cho con được nhận thức rằng con bị mù quáng

để con tìm đến Thầy thuốc thiêng liêng hầu được chữa trị.

Ðược phản chiếu ánh sáng siêu nhiên từ trời cao thẳm,

con lại được bước đi trong ánh sáng chân lý. Amen.


 

MC4-A56. BÁT PHÚC: LỜI CẦU CHÚC THÂN THƯƠNG

CỦA THIÊN CHÚA
BÁT PHÚC : LỜI CẦU CHÚC THÂN THƯƠNG CỦA THIÊN CHÚA

Dẫn nhập đầu lễ :

 

Chúng ta có thể nói cho nhau rằng : Chúa Nhật hôm nay là “Chúa Nhật hạnh phúc”. Bởi vì trọng: MC4-A56

Chúng ta có thể nói cho nhau rằng : Chúa Nhật hôm nay là “Chúa Nhật hạnh phúc”. Bởi vì trọng tâm của sứ điệp phụng vụ chính là bài “TÁM MỐI PHÚC THẬT”, trong loạt “BÀI GIẢNG TRÊN NÚI” mà Đức Kitô đã long trọng công bố vào buổi khởi giảng Tin Mừng của Ngài. Đây cũng chính là trọng tâm sứ điệp mà Đức Kitô muốn ký thác cho muôn thế hệ Kitô hữu và cho toàn nhân loại như một “TIN MỪNG”, một định hướng sống, một trật tự luân lý mới và như một “cánh cửa của niềm hy vọng” để qua đó, chúng ta tiến bước vào miền hạnh phúc đích thực, vào “NƯỚC TRỜI”.

Cuộc sống đức tin đó là không ngừng hoán cải để sống theo Tin Mừng Tám Mối Phúc Thật; và giờ đây, chúng ta cùng sám hối để xứng đáng cử hành Tiệc Thánh.

Giảng Lời Chúa :

Trong những ngày Mùa Xuân đang về trên ngưỡng cửa, Tết đang trở lại trên mọi nẽo đường quê hương, chúng ta đang thấy tràn ngập trên những cánh thiệp chúc xuân, những hàng quà đón Tết, những trang trí từ ngoài đường phố cho đến tận trong nhà…đâu đâu cũng có những lời “CHÚC XUÂN, CHÚC TÊT” truyền thống thân thương : Năm Mới hạnh phúc, Mùa Xuân an khang, sức khỏe dồi dào, làm ăn phát đạt…Phải chăng đó là những biểu hiện chân chất của những ước mơ ngàn đời của nhân loại trước một thế giới vẫn còn dang dở, một cuộc sống vẫn hằn vết thương đau khổ lụy.

Tuy nhiên, những lời chúc ấy xem ra chỉ là những “sáo ngữ quen thuộc” chứ không là những giải pháp khả thi, càng không là phương cách tối hảo để dẫn bước con người tới hạnh phúc đích thực. Chính vì thế, có không ít người đã thất vọng não nề ngay cả khi Mùa Xuân đang đến :

Tôi có chờ đâu có đợi đâu

Đem chi Xuân đến gợi thêm sầu.

Với tôi xuân đến như vô nghĩa,

Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau.
(Chế Lan Viên)

Phải chăng đó cũng chính là kinh nghiệm ngàn đời của nhân loại mà ngay từ thuở hồng hoang Tổ Tông loài người đã từng nếm trãi. Bởi vì chính lúc hai ông bà A-đam-E-Va với tay hái “TRÁI CẤM HẠNH PHÚC”, tưởng đâu rằng một chân trời hạnh phúc huy hoàng mở ra trước mắt, thì cũng là lúc “thiên đàng sụp đổ”, nhường lại một kiếp nhân sinh đầy khổ lụy thương đau hun hút nối dài. Thứ “Trái Cấm hạnh phúc” đó cho đến mãi hôm nay vẫn còn là một sức cuốn hút ghê gớm, bởi vì nó đang mặc những lớp áo dễ thương, gần gũi với những nhu cầu của đời thường cuộc sống : tiền bạc, phương tiện, sắc đẹp, danh tiếng, bằng cấp, quyền lực, tình yêu, xác thịt, tận hưởng…Nhưng sau tất cả những ánh hào quang hạnh phúc ấy, điểm đến chung cuộc vẫn là nấm mồ quạnh quẽ và chiếc đầu lâu trơ trọi.

1. Hạnh phúc của Nước trời :

Thiên Chúa tình yêu đã nhập cuộc và dẫn lối đưa đường. Bởi vì nếu không, thì công trình “Tạo dựng” có nguy cơ hoàn toàn sụp đổ. Thiên Chúa muốn cho con người được hạnh phúc, một hạnh phúc đích thực mà Ngài đã thiết dựng ngay từ thuở ban đầu : được chia sẻ hạnh phúc với Ngài, được sống vĩnh cửu, được vào trong một vương quốc chỉ có tình yêu và chân lý, chỉ có tình huynh đệ anh em, chỉ có niềm vui và an bình, chỉ có hòa hợp thuận hòa thay vì rẻ chia thù oán, chỉ có phục vụ trao ban thay vì bóc lột khủng bố…Cái viễn tượng hạnh phúc nầy đã được diễn ngữ Kinh Thánh và lời giảng của Đức Kitô gọi tên là “NƯỚC TRỜI”.

Chúng ta không biết cái viễn tượng “Nước Trời” đầy lý tưởng và huyền diệu đó đến khi nào mỡi hiện thực hoàn toàn trên trần gian. Tuy nhiên, có một điều chúng ta xác tín : đó chính là “Nước Trời đã đến”, đã đến cách đây 2000 năm trong Đấng Em-ma-nu-en sinh ra tại Bê Lem trong một đêm mùa đông băng giá, đã đến trong anh chàng thanh niên Giê-su Người Na-da-rét, con Bác thợ mộc Giuse và Bà Maria, đã đến trong vị Rab-bi khó nghèo nhưng rao giảng bằng những lời quyền năng và những dấu lạ, đã đến trong tên tử tội Giê-su trên đồi Núi Sọ khi trước lúc tắt hơi còn long trọng công bố : “Hôm nay anh sẽ ở trên thiên đàng với Ta”. Đã đến nơi Nhà Tiệc Ly, trên bờ hồ Ti-bê-ri-át, dọc đường về Em-mau trong Đức Kitô phục sinh từ trong cõi chết….Và kể từ đó, Nước Trời cứ vươn lên đến mọi miền thế giới, đến mọi tâm hồn…

2. Con đường dẫn tới hạnh phúc đích thực : khó nghèo

Thế nhưng, để có được cái hạnh phúc đích thực đó, để đi vào cái Vương Quốc rạng ngời đó, Thiên Chúa đã phải từng bước dạy dỗ con người, thuyết phục con người chấp nhận phương án của Ngài, con đường và giải pháp chính Ngài đề nghị. Trong khi con người cứ mãi loay hoay chạy tìm cái bóng hạnh phúc của “vương quốc trần gian” qua những thực tại chóng tàn, thì Thiên Chúa không mệt mõi giới thiệu con đường hạnh phúc đích thực của “Nước trời”.

Lời của Sứ ngôn Sô-phô-ni-a trong Bài đọc I một hôm nay là một điển hình trong những sứ điệp dạy về con đường hạnh phúc của Thiên Chúa :

“Hỡi tất cả những ai nghèo hèn trong xứ sở,

Những kẻ thi hành mệnh lệnh của Thiên Chúa,

Hãy tìm sự công chính, hãy tìm đức khiêm nhường…

“Số dân Ít-ra-en còn sót lại

Sẽ không làm chuyện tàn ác bất công,

Cũng không ăn gian nói dối


*Điều chúng ta nên ghi nhận đầu tiên ở đây đó chính là các hình tượng “những ai nghèo hèn”, “số dân Ít-ra-en sót lại”. Trong bình diện “Nước trời”, thì những đối tượng đó chính là những người đang cần ơn cứu độ của Thiên Chúa, là những người không có một bảo đảm vật chất nào để nương tựa, mà chỉ biết đặt niềm trông cậy vào Thiên Chúa, là những kẻ đang khao khát đợi trông Thiên Chúa ra tay nâng đỡ xót thương vì những thiếu thốn, ngặt nghèo và đang bị trăm ngàn lực cản bủa vây giăng mắc. Chính vì thế, họ là những kẻ ưu tiên được Thiên Chúa trao gởi cho Tin Mừng cứu độ.

*Nối tiếp truyền thống của các sứ ngôn và đưa tới một bình diện cụ thể hơn, rõ nét hơn, Đức Kitô đến loan báo : “Phúc cho ai khó nghèo, vì Nước Trời là của họ”. Toàn bộ bài giảng “Tám Mối Phúc Thật” mà tin Mừng Matthêô vừa nhắc lại cho chúng ta là “bản đúc kết” súc tích về con đường hạnh phúc đích thực Thiên Chúa đề nghị cho con người và cũng là “lời chúc thân thương của Thiên Chúa” dành cho những ai đang dấn thân trên con đường phúc thật ấy.

*Để cảm nhận được những lời chúc phúc nầy, chúng ta cứ mở Tin Mừng.

- Giàu có như ông ty trưởng Thuế vụ Gia-kê, nhưng ông vẫn là “kẻ nghèo có phúc”, vì ông đã dám tước bỏ cái địa vị cao sang để trèo lên cây sung mà nhìn Đức Kitô, rồi sau đó là cuộc đổi đời để yêu thương và chia sẻ.

- Bụi đời như cô gái làng chơi M.Mađalêna, nhưng lại là “kẻ nghèo có phúc” vì cô đã biết nhỏ những giọt nước mắt sám hối để xin ơn tha thứ.

- Phản bội như Phêrô 3 lần chối Chúa, nhưng cũng là “kẻ nghèo có phúc” vì ông đã khóc lóc trở về.

- Trần trụi khốn nạn như tên trộm bên hữu Chúa vào chiều Thứ Sáu Khổ nạn, nhưng anh ta là “kẻ nghèo có phúc” khi biết ngước mắt về phía Chúa để thân thưa : “Xin nhớ đến tôi khi Ngài vào Nước Ngài hôm nay”, và tức khắc đã được đáp trả : “Hôm nay anh sẽ ở trên thiên đàng với tôi”.

Và chúng ta không quên dụ ngôn “Người Pharisiêu và người thu thuế lên đền thờ cầu nguyện”. Chúa Giêsu đã kết luận : “Người nầy ra về sẽ nên công chính, còn người kia thì không”. Người được nên công chính đó chính anh chàng thu thuế đứng cuối đền thờ đấm ngực ăn năn : “Lạy Chúa, xin xót thương con, vì con là kẻ có tội”. Quả thật anh chính là “kẻ nghèo có phúc”.

Và nối tiếp “đường đi của Tin Mừng” đó, suốt 2000 năm nay đã có biết bao nhiêu “kẻ nghèo có phúc”, như Anê, Cê-ci-li-a, Au-gus-ti-nô, Mo-ni-ca, Tê-rê-xa hài đồng, Phan-xi-cô As-si-si…như cha thánh Maximilien Kolbe, như Mẹ Á Thánh Têrêxa thành Calcutta, như Á Thánh An-rê Phú Yên, Các Thánh Tử đạo Việt nam…và hằng ngày, khắp nơi hôm nay, có biết bao nhiêu người dám “đập bể bình dầu thơm quí giá cuộc đời”, dám “bán đi những thửa ruộng màu mỡ cuộc sống” để phục vụ Đức Kitô trong đời thánh hiến, trong chức linh mục, trong vai trò giáo lý viên, tông đồ giáo dân…Trước mặt người đời, trong bậc thang xã hội hoặc với sinh mệnh chính trị, có thể họ là những kẻ thấp cổ bé miệng, là những người bị trù dập bách hại, là những thức “rác rưởi bỏ đi”, nhưng, như lời Thánh Phaolô trong Bài Đọc II hôm nay : “Những gì thế gian cho là điên dại thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ khôn ngoan, và những gì thế gian cho là yếu kém, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ hùng mạnh…”.

3. Con đường phúc thật hôm nay

Và nếu hiểu “Khó Nghèo” là như thế, cái phúc đích thực là như thế thì tất cả chúng ta đều là những “kẻ nghèo”, hay đúng hơn “phải trở nên khó nghèo”, bởi vì đó chính là đòi hỏi của Tin Mừng, là điều kiện để chiếm lĩnh Nước trời, để đi vào hạnh phúc vĩnh cửu. Thế nhưng, quả thật ngày hôm nay người ta hay dị ứng với chữ ‘nghèo”, mặc cảm với cái nghèo; và nói tới nghèo là cứ nghĩ ngay tới “miếng cơm manh áo, cái xe, cái nhà, con đi học, bệnh tật thuốc thang…”. Và cũng chính vì thế càng lúc con người càng trở nên nghèo nàn thực sự về phương diện tâm linh, khi cứ tất bật toan tính toàn chuyện làm ăn, “phá lẫm cũ xây lẫm mới”, để rồi khép kín trái tim và tâm hồn trước Thiên Chúa và anh em đồng loại.

Nếu Đức Kitô đã chọn sinh ra trong hang lừa máng cỏ, đã công bố Tin mừng cho những kẻ nghèo, đã chết như một tội nhân trần trụi trên khổ giá, đã lập Giáo Hội trên nền tảng các tông đồ là những dân chài chất phát, đã chấp nhận trở thành tấm bánh ly rượu để hiện diện mọi ngày với chúng ta trong Bí tích Thánh Thể, hoặc trở nên đồng dạng đồng hình với những kẻ đói khát, tù tội, khổ đau…thì không có lý do gì chúng ta, những người Kitô hữu, lại cứ sống khác đi, lại chọn lựa con đường hạnh phúc khác với lối đi nẽo bước của Ngài.

Tuy nhiên, con người vốn bản tính hư hèn, yếu đuối, thích chuộng cái giàu sang của thế gian, thích tìm cái thoải mái, dễ chịu, hạnh phúc trần tục và thường quay lưng trước những đòi hỏi của Tin Mừng (như người thanh niên giàu có đã sụ mặt bỏ đi khi nghe Chúa Giê-su mời gọi : “Con hãy về bán hết mọi của cải, bố thí cho kẻ nghèo, rồi đến theo Ta”)…Cho nên chúng ta hãy cầu nguyện cho nhau biết sống khó nghèo thực sự, như lời nguyện sau đây của đại thi hào Tagore :

Chỉ mong Ngài lấy đi

Mong chẳng còn gì thuộc về con

Mong chẳng còn gì là của con

Để con được trắng tay

Con chỉ còn Ngài để giữ lấy

Con được chọn Chúa mãi là của con

Chỉ mong Ngài xoá đi

Mong chẳng còn gì để chiếm hữu

Mong chẳng còn gì ràng buộc con

Để con được ngước lên

Con tìm được Ngài là chân lý

Con được cùng Chúa đồng hành luôn

Chỉ mong Ngài cất đi

Mong chẳng còn gì để nắm giữ

Mong chẳng còn gì mà tự tôn

Để con chỉ biết yêu

Yêu một mình Ngài trọn đời con

Con nhìn nhận Chúa chính Nguồn Tình Yêu.

LM.Giuse Trương Đình Hiền

 

MC4-A57. KẺ XEM THẤY LẠI ĐUI MÙ Huyền Đồng

CHÚA NHẬT 4 MÙA CHAY / 4th Sunday of Lent

Lời Chúa cho Hôm nay: KẺ XEM THẤY LẠI ĐUI MÙ Huyền Đồng

* THE SIGHTLESS SEE, THE SEEING BLIND *

Bài đọc 1: 1 Samuel 16,1,6-7;10-13= Chúa thấy tự đáy lòng/The Lord look into the heart

Bài đọc 2: Ephêxô 5,8-14= Bây giờ anh em là Anh Sáng / Now you are light in the Lord.


Tin Mừng: Gioan 9, 1-41=Chúa chữa người mù / Cure of Blind Man.

A- Tôi cảm nghiệm Sống và chia sẻ 3 bài đọc trên: ( Reflections, live out anh share)

 

Đức Giêsu nói với các môn đệ: Người mù từ khi mới sanh không phải vì anh ta hay tại cha: MC4-A57

1/ Đức Giêsu nói với các môn đệ: Người mù từ khi mới sanh không phải vì anh ta hay tại cha mẹ anh đã phạm tội…nhưng là để các việc Chúa Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh. Khi tôi bị những bất hạnh trong đời, tôi đã có cảm nhận gì? Tôi đã đón nhận những người bệnh tật trong xã hội thế nào?

It was no sin, either of this man or … Rather, it was to let God"s works show forth in him. ( Ga. 9, 2-3 )

2/ Khi Đức Giêsu chữa lành cho người mù xong, trong nhóm Pharisêu có người trách là Đức Giêsu không thể là người của Thiên Chúa được, vì đã không giữ ngaỳ Sa-bát! Bạn có sáng suốt để làm việc bác aí hay chỉ giữ luật và lên án người khác? Trong gia đình bạn đã chú tâm đến những việc nào?

…the Pharisees :"this Man cannot be from the God, because he does not keep the Sabbath" ( Ga. 9, 16 )

3/ Người mù nhận biết và tin Đức Giêsu, nên Ngài nói: "Tôi đến thế gian là chính để xét xử những người không xem thấy được, và kẻ xem thấy lại nên đui mù." Tôi có nhân mình đui mù dốt nát, để thấy được Anh sáng của Chúa không? Người Pharisêu đã tự phụ nên họ đui mù, tôi có giống họ không ?

Jesus said: I came into this world to divide it, to make the sightless see and the seeing blind." ( Ga.9, 39-42 )

4/ Thánh Phaolô khuyên: "…bây giờ trong Chúa anh em là Anh Sáng, anh hãy ăn ở như con cái Anh Sáng. Nó sẽ đem lại tất cả những gì là luơng thiện, công chính và chân thật." Bạn có còn là bóng tối nữa không,Tại sao? Cách ăn ở của bạn trong xã hội như thế nào? Hoa quả của Anh Sáng là gì?

…but now you are light in the Lord. Well … Light produces goodness, justice and truth. ( Eph.5, 8-9 )

5/ Sách Tiên tri Sa-mu-en viết: " …Thiên Chúa không nhìn theo kiểu người phàm: người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Đức Chúa thì thấy tận đáy lòng." Thánh Phaolô còn nhấn mạnh thêm: những gì bị vạch trần đều do Anh Sáng làm lộ ra…Tôi đã dấu kín những gì mà tưởng Chúa không biết? Lương tâm của tôi ở đâu? Tôi đã có cái nhìn bao la của Chúa hay chỉ nhìn theo ích kỷ và đam mê?

Man sees appearance but the Lord looks into the heart.,…all that then appears is light. (1Sam.16,7. Eph.5,13)

B-Câu Kinh Thánh tôi chọn để làm Châm ngôn Sống: ( The Best God"s Word )

*
NGƯỜI KHÔNG XEM THẤY ĐƯỢC THẤY, KẺ XEM THẤY LẠI NÊN ĐUI MÙ. (Ga.9,39)

C- Tôi phải làm gì theo Lời Chúa dạy hôm nay: ( So what am I doing? / For action )

* Tôi có thể chọn 1 trong 5 gợi ý Cảm nghiệm Sống và chia sẻ ở phần A để thực hành.

D- Tôi cầu nguyện và Sống lời tôi cầu nguyện: ( I pray and practice / Prayer for action )

1- Lạy Chúa, Đức Giêsu đã nói: Bao lâu thầy còn ở thế gian, Thầy là ánh sáng của thế gian. Xin Chúa chỉ cho con nhận ra mình còn tối tăm, để luôn tìm đến Chúa mở mắt tâm hồn cho con được thấy.

2- Thánh Phaolô đã tha thiết khuyên: Xưa kia anh em là bóng tối, nhung bây giờ trong Chúa anh em là Anh Sáng. Xin dạy con biết từ bỏ con người lầm lạc để trở nên lương thiện, công chính và chân thật


Lời hay ý đẹp: CẦN TẬP NHỮNG ĐỨC TÍNH NHÂN BẢN LÀM NGƯỜI TRƯỚC, RỒI TU LUYỆN CÁC NHÂN ĐỨC SIÊU NHIÊN, SẼ GIÚP BẠN SỐNG ĐẠO MAU TRƯỞNG THÀNH..


 

MC4-A58. CHỮA LÀNH NGƯỜI MÙ TỪ THUỞ MỚI SINH

Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt
 

Theo một quan niệm khá phổ biến trong thế giới cổ thời, thì có mọi liên hệ mật thiết giữa tội lỗi:MC4-A58

"Ai dã phạm tội để nó phải sinh ra mù lòa như vậy?".
Theo một quan niệm khá phổ biến trong thế giới cổ thời, thì có mọi liên hệ mật thiết giữa tội lỗi và bệnh tật thể lý (Xh 9, 1-12; Tv 38, 2-6 ; Ed 18, 20). Trong trường hợp các kẻ tàn tật bẩm sinh, một số giáo sĩ Do thái cho rằng là tại cha mẹ, kẻ khác bảo do chính đứa bé mà chứng tật đã phát sinh trong thời kỳ mang thai (Strack-bill. t.II, tr.528).
"Ta là ánh sáng thế gian": ở đây còn rõ ràng hơn ở 8,12. "ánh sáng" không phải là một định nghĩa siêu hình về con người Chúa Giêsu, nhưng là một cách mô tả ảnh hưởng của Người trên vũ trụ; Người là ánh sáng tạo nên cuộc phán xét và cứu rối trần gian.
"Người Do thái đồng lòng trục xuất anh ta khỏi hội đường". Vào thời biên soạn Tin Mừng, chắc chắn biện pháp trục xuất còn được thi hành trong dân Do thái. Có 3 loại. Nhẹ nhất là khiển trách (nozlpha) và phạm nhân bị tách biệt khoảng một tuần, hay hơn nữa là một tháng. Bậc thứ hai là loại trừ (nddui): trong vòng một tháng, phạm nhân phải ngồi bệt dưới đất mặc tang chế, để râu tóc mọc dài, không tắm rứa, đứng "ở nơi riêng biệt trong giờ cầu nguyện chung. Bậc thứ ba là trục xuất (herem), hình phạt đáng sợ nhất: nó kéo dài vô hạn định; đương sự có thể bị tịch thu tài sản; mọi liên lạc, dù là riêng tư, với tội nhân đều bất hợp pháp (Strack-bill. IV, 292-333). Hình như các đầu mục nhân dân đã áp đụng hình phạt này đối với những người theo Chúa Giêsu.
"Chúng ta biết Thiên Chúa không nhậm lời kẻ tội lỗi”. Đó là một chân lý phổ thông trong thế giới Thánh kinh (Is 1,15; Tv 66,18; 109,7 ; Cn 15,29 ; G 7,9; 5,13; Ga 16,23-27; 1Ga 3, 21-22).
"Để kẻ thấy được lại đui mù”: Dù ý nghĩa văn phạm của phân từ được dùng ở đây là thế nào chăng nữa (ngay cả người Hy Lạp, đặc biệt thánh Gioan Kim khẩu, cũng thú nhận trong: chữ ‘hin’ không luôn luôn chỉ mục đích, mà thỉnh thoảng chỉ một hậu quả), thì sự đui mù của các kẻ cứng lòng tm không phải là mục đích Thiên Chúa muốn trong mầu nhiệm tiền định, nhưng chỉ là một trong các hậu kết của thái độ họ đối với Chúa Kitô.
KẾT LUẬN
Trường hợp anh mù soi chiếu một cách sỗ sàng cảnh ngộ cụ thể của đức tin trong thế gian này: một cảnh ngộ bi đát. Việc nhìn nhận Chúa Giêsu Kitô và lòng trung thành với ánh sáng đòi hỏi người đó một sự đoạn tuyệt anh hùng; anh phải vượt thắng tất cả các áp lực và sợ hãi. Đức tin của anh bị thế gian truy nã, vì đức tin là chọn lựa theo Con Người trong cuộc chiến giữa ánh sáng và tối tăm. Nhưng trong cuộc tranh chấp này, đức tin là chiến thắng của sự sống.
Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG
1) Câu chuyện người mù chiếu dọi một luồng sáng gay gắt trên hành trình của ánh sáng trong thẳm sâu tâm hồn con người, trên các chướng ngại vật mà ánh sáng gặp phải và trên cuộc tranh chấp của nó với quyền lực tối tăm. Con người vừa là ánh sáng vừa là bóng tối. Họ mang trong mình khả năng trở thành mù lòa, khả năng tự viện ra nhiều lý do chính đáng để khỏi nhìn xem, khả năng tự tạo cho mình nhiều xác tín sai lạc, khả năng từ chối mở mắt khi bảo mình trông thấy. Nhưng ánh sáng trong họ cũng không kém đòi hỏi. Nó bắt buộc phải xét lại biết bao vấn đề, phải từ bỏ biết bao thói quen, phải đoạn tuyệt đôi khi với môi trường sống. Vì những thứ ấy dễ làm cho cái nhìn của con người bị sai lạc. Con người phải tìm lại cho được lòng trong trắng của tuổi ấu thơ vậy. Đó là tất cả những gì mà câu chuyện người mừ bẩm sinh muốn nói. Câu chuyện ấy đã diễn tả thành bi kịch lời Chúa Giêsu sau đây: đèn của thân thể là con mắt. Nếu mắt người lành lặn thì toàn thân người sẽ sáng láng. Nhưng nếu mắt người đau yếu, toàn thân ngươi sẽ ở trong tối tăm. Vậy nếu ánh sáng trong ngươi trở nên tối tăm, thì sẽ tối tăm biết mấy" (Mt 6, 22-23).
2) Câu chuyện người mù từ thuở mới sinh cho thấy cảnh ngộ của người tín hữu có thể bi thảm đến chừng nào (ngược với ý kiến của một số nhà hiện sinh vô thần xem đức tin như là một sự đào thoát an thân). Đức tin có thể đòi buộc ta phải đoạn vệ dữ dội với thế gian và phải anh hùng tuyên xưng chân lý. Việc nhìn nhận Chúa Giêsu như là Đấng được Thiên Chúa sai đã khiến anh mù bị khai trừ ra khỏi cộng đoàn. Người ta đuổi anh như đuổi một tội nhân. Ngay cả cha mẹ anh cũng từ chối bênh vực anh nữa. Đức tin bấy giờ có vẻ cô đơn. Nó bị tầm nã. Nhưng nó cần phải lượt thắng sự sợ hãi, lòng kính trọng của thế nhân, nỗi lo âu về dư luận người đời và phải cố gắng độc lập để đạt đến sự tự do đích thực, dù phải chịu muôn ngàn đau đớn.
3) Cử chỉ chúa Giêsu lấy bùn hòa với nước miếng xem ra kỳ dị; tuy nhiên có thể đoan chắc rằng người không để sự gì xảy ra cách ngẫu nhiên. Trước tiên, việc đó gợi cho ta nhớ đến câu chuyện trong Sáng Thế Ký mô tả Thiên Chúa lấy bùn đất tạo dựng con người đầu tiên (St 2,7). Khi bảo anh chàng kia bị mù là để công việc Thiên Chúa được tỏ hiện trong anh nhờ trung gian Đấng Ngài sai đến, Chúa Giêsu muốn tự giới thiệu mình như là kẻ có sứ mệnh tiếp tục công việc tạo dựng đã khởi đầu song chưa hoàn tất. Ngay từ những câu đầu tiên, Người tỏ ra như là Đấng được Tạo Hóa sai đến, làm lại cũng một cử chỉ để chữa lành con người mà tật nguyền là dấu chỉ của một sự thiếu thốn sâu xa hơn.
4) Giữa loài người chúng ta, có những kẻ không nhìn xem được; họ biết điều đó nhưng cảm thấy không thể chữa mình lành. Người mù bẩm sinh trong Tin Mừng là biểu tượng, là đại diện của họ: Và cũng như Chúa Giêsu đã làm cho bệnh nhân đó được lại mọi quan năng của con người, thì Người cũng mang đến cho những ai ý thức rõ sự ngu dốt và tối tăm của mình, ánh sáng nội tâm để làm tri thức đích thực; Người ban cho họ khả năng hiểu biết, phân biệt cái gì là thật và cái gì chỉ được bộ mã bên ngoài. Ngược lại, có nhiều kẻ chẳng ý thức tí nào về sự đui mù của mình; họ tự mãn về điều họ biết và không ao ước gì khác nữa. Những người đó bị đóng kín trong sự hiểu biết riêng tư, họ sẽ chẳng bao giờ đi xa hơn, và sẽ không tài nào đón nhận được những gì mà Chúa có thể cho họ khám phá một ngày nào đó.
5) Tại sao có nhiều đau khổ trong trần gian, mà ta không biết được nguyên do, mục đích. Đừng vội kết luận rằng những kẻ bất hạnh đang gánh chịu chúng là nạn nhân của một định mệnh mù quáng nào đó. Sớm muộn gì rồi Thiên Chúa cũng sẽ làm rạng rỡ nơi họ sức mạnh và lòng nhân ái của Ngài (Rm 8,28). Chính vì mục đích ấy mà Tobia đã bị đui mù, Gióp rơi vào cảnh cùng khốn và Ladarô phải bị chôn vùi trong nấm mộ.

 

MC4-A59. Nhận định về tường thuật Ga 9, 1-41

(Theo Chú Giải Tin Mừng Gioan)
 

Tường thuật này trình bày hai tiến trình: tiến trình từ mù tới sáng của người mù bẩm sinh, và:MC4-A59

1) Tường thuật này trình bày hai tiến trình: tiến trình từ mù tới sáng của người mù bẩm sinh, và tiến trình từ sáng tới mù của các người biệt phái:
TIẾN TRÌNH MÙ THÀNH SÁNG:
          - Khởi điểm: anh hoàn toàn mù (c 1)
          - Bước 1: Sau khi được Đức Giêsu ra tay can thiệp, ban đầu anh chỉ thấy Đức Giêsu là “một người” (c 11)
          - Bước 2: Anh nhìn nhận Ngài là ”một vị ngôn sứ” (c 17)
          - Bước 3: Ngài là “một người thánh thiện”, vì “Thiên Chúa không nghe lời những kẻ tội lỗi” (c 31).
          - Buớc 4: Ngài là Kẻ do Thiên Chúa sai đến, vì “nếu người ấy không do Thiên Chúa sai đến mà không thể làm nên sự gì” (c 33).
          - Điểm tới: Đức tin hoàn toàn: “Anh thưa, Lạy Chúa, con tin, rồi anh phục xuống lạy Ngài” (c 38)
TIẾN TRÌNH TỪ SÁNG THÀNH MÙ:
          - Khởi điểm: một thái độ tự mãn tự kiêu. Họ luôn miệng nói “Chúng ta biết” (cc 24.19), “Chúng ta thấy” (cc 39.41), “Bộ chúng ta cũng mù ư” (c 40).
          - Bước 1: Ngạc nhiên khi thấy anh mù được sáng, và tìm hiểu “làm sao mà anh thấy được?” (c 10), “Ông ấy đâu?” (c 12).
          - Bước 2: Khi biết kẻ làm phép lạ là Đức Giêsu, họ phân vân: kẻ thì nói “người ấy không phải bởi Thiên Chúa”, kẻ khác bảo “Lẽ nào người có thội có thể làm những dấu lạ lùng như thế?” (c 16).
          - Bước 3: Ngoan cố chỉ nhìn nhận Môsê và tiên thiên loại bỏ bất cứ ai khác: “Còn người ấy, chúng ta không biết bởi đâu mà có” (c 29).
          - Điểm tới: hoàn toàn mù về mặt thiêng liêng (cc 40.41). Sự mù này còn nguy hiểm hơn sự mù thể xác: “Nhưng các ngươi lại nói “Chúng tôi sáng mắt” nên các ngươi vẫn mắc tội”.
2) Tường thuật này cũng cho ta thấy được một cách sống động đường đi của ánh sáng vào lòng con người, những chướng ngại vật mà ánh sáng đã gặp trên con đường đó, và trận chiến mà ánh sáng đang phải giao tranh với quyền lực của tối tăm. Bởi vì con người vừa là ánh sáng vừa là bóng tối, nơi con người đã có sẵn khả năng để mù quáng: đó là khả năng tự đặt cho mình những lý do rất tốt để khỏi nhìn thấy, tự tạo cho mình những điều hiển nhiên giả tạo và từ chối mở mắt vì bảo rằng mình “trông thấy”. Ấy là bởi vì ánh sáng rất đòi hỏi. Ánh sáng bó buộc con người phải xét lại biết bao điều, từ bỏ biết bao thói quen và đôi khi phải đoạn tuyệt với cả một môi trường sống. Cái nhìn của con người đã bị rối loạn vì tất cả những điều đó. Cho nên con người cần phải tìm lại sự trong trắng của thời thơ ấu. Đó là ý nghĩa của hoạt cảnh chữa lành người mù bẩm sinh. Hoạt cảnh này chẳng khác gì một vỡ kịch diễn lại một lời nói của Đức Giêsu: “Đèn của thân thể là con mắt. Vậy nếu mắt ngươi lành lặn thì toàn thân ngươi sáng láng. Nhưng nếu mắt ngươi hư hỏng thì toàn thân ngươi sẽ sầm tối. Vậy nếu ánh sáng nơi ngươi mà đã tối tăm thì sẽ tối tăm chừng nào!” (Mt 6,22-23).
3) Hoạt cảnh người mù bẩm sinh còn cho ta thấy rõ tình cảnh của người tín hữu bi đát đến mức nào: đức tin có thể đòi ta phải mạnh mẽ đoạn tuyệt với thế gian và phải can đảm tuyên xưng sự thật. Người mù đã bị trục xuất khỏi cộng đoàn vì đã nhìn nhận Đức Giêsu là sứ giả của Thiên Chúa. Người ta xua đuổi anh như xua đuổi một con người tội lỗi. Ngay cả cha mẹ anh cũng từ chối bênh vực anh. Những lúc đó đức tin xuất hiện như một nỗi cô đơn, đức tin bị đuổi bắt. Người mù phải vượt qua sự sợ hãi, lòng vị nễ người khác, mối quan tâm quá mức đến dư luận, và phải kiên trì chinh phục độc lập, bất chấp khổ đau để đến với tự do đích thực, tự do vì Thiên Chúa.

 

MC4-A60. Đức tin

Mù lòa là một nỗi bất hạnh. Thà chết còn hơn bị mù. Người mù nhất là mù từ hồi bẩm sinh:MC4-A60

Mù lòa là một nỗi bất hạnh. Thà chết còn hơn bị mù. Người mù nhất là mù từ hồi bẩm sinh, không phải chỉ là một thiệt thòi cho đôi mắt, mà còn thiệt thòi cho toàn thể con người và cuộc đời. Thế giới xinh đẹp này đã chết đi trong lòng họ. Họ không có quan niệm gì về màu sắc, về hình dáng những người thân yêu. Ánh sáng và bóng tối cũng như văn minh tiến bộ cũng như không. Đã vậy, họ còn mang nặng mặc cảm tự ti, bất an, lệ thuộc và bị bỏ rơi.
Vì thế, chúng ta hiểu được nỗi khao khát được sáng, dù chỉ rất lờ mờ. Họ làm bất cứ chuyện gì để được sáng, như người mù bẩm sinh hôm nay đã vận dụng tới cả đức tin:
- Lạy Ngài con tin.
Đức tin của anh thật sáng giá. Anh tuyên xưng đức tin trước tòa án, trước công chúng và trước Chúa Giêsu, Đấng đã làm phép lạ cho anh. Vì tin vào Ngài mà anh bị cha mẹ tránh xa không bênh đỡ, bị hội đồng Do Thái trục xuất ra khỏi cộng đoàn, cắt đứt mọi liên hệ trong một thời gian dài vô hạn định. Người ta lên án anh:
- Toàn thân mày sinh ra trong đống tội lỗi.
Một mình anh cô đơn, đứng riêng một phe, tách biệt khỏi cộng đoàn chỉ vì đức tin. Đức tin làm cho chúng ta cũng phải “chia lìa” với cả những người thân yêu nhất trong gia đình, nhưng lại làm cho chúng ta gần gũi Thiên Chúa hơn cả.
Đức tin của người mù hôm nay cũng giúp chúng ta nhìn lại đời sống đức tin của mình.
Có người đời sống đức tin lên xuống như nhiệt độ của kẻ bị sốt. Nhất là đối với tuổi trẻ mới lớn, đang đứng trước những khúc quanh của muôn giòng thác tư tưởng.
Có người trưởng thành mà đời sống đức tin vẫn cứ lên xuống bất tử, chỉ vì họ sống theo cảm xúc, lệ thuộc vào ngoại cảnh hay vào những người chung quanh. Một đời sống đức tin lung lay như vậy nhất định sẽ không thể nào nhận biết Chúa, sẽ không thể nào nắm vững được Chúa, chưa tin nhận Chúa là Đấng phải tin cậy. Chúa phán:
- Phải thờ lạy Chúa trong tinh thần và chân lý.
Điều đó có nghĩa là phải thờ lạy Chúa với tất cả tấm lòng chân thành vì Chúa nhìn thấy tự bên trong. Nhưng đồng thời còn phải thờ lạy Chúa trong chân lý.
Trên thế giới này biết bao nhiêu người sùng kính và trung thành với giáo chủ của họ hơn chúng ta, nhưng họ không có chân lý hướng dẫn, còn chúng ta, chúng ta có chân lý hướng dẫn, nhưng chúng ta lại không chịu làm theo.
Thực vậy, có những người đời sống đức tin luôn thay đổi theo cảm xúc và tùy theo hứng. Đó là điều rất tệ hại. Họ không giúp ích gì cho ai được, vì chính họ cũng đang chao đảo, ngả nghiêng.
Ngoài ra, có những người cuộc sống trở nên quá êm ả bình thản, không một chút lo âu, không một sự phấn đấu, đức tin của họ cũng sẽ mau phai tàn. Vì cuộc đời quá bình thản, quá dư thừa, khiến họ không còn chiến đấu và cầu nguyện nữa. Trước mặt Chúa chúng ta không có một chiến tuyến nào rõ rệt để phải xử dụng đến đức tin. Đức tin lúc đó như một viên ngọc lu mờ vì không được mài dũa. Chúng ta xin Chúa đánh thức chúng ta dậy đừng để chúng ta sống trong cảnh êm xuôi ru ngủ để rồi xa lìa Chúa.
Sau cùng có những người đời sống đức tin đang vững chắc nhưng lại gặp nhiều thử thách nặng nề của hiểu lầm, của tai ương và bệnh tật. Trong trường hợp này, chúng ta hãy thận trọng. Đừng nhìn vào quá khứ hay hiện tại, nhưng hãy vươn tới tương lai. Phải nhắm tới mục đích của những khó khăn thử thách. Một người càng kiên vững, thì đức tin càng bị tôi luyên cho đến lúc gặp được chính Thiên Chúa.
Đừng để cho nghịch cảnh làm chủ đời sống đức tin. Nhưng hãy noi gương anh mù, can đảm tuyên xưng Chúa trước mặt mọi người vì đức tin đòi hỏi một lập trường công khai và quyết liệt.

 

MC4-A61. Cửa sổ tâm hồn

Chuyện kể rằng, có một người mù lúc nào cũng kết thúc lời cầu nguyện của mình bằng câu:MC4-A61

Chuyện kể rằng, có một người mù lúc nào cũng kết thúc lời cầu nguyện của mình bằng câu: “Nếu điều đó có ích cho phần rỗi con”.
Một hôm, người ta dẫn ông đến trước mộ thánh Tôma thành Cantorbery để xin Người chữa cho ông sáng mắt. Ong được nhận lời. Mắt ông liền mở ra. Cảnh vật tưng bừng reo vui trước mắt ông. Khi nỗi vui mừng đầu tiên trôi qua, ông mới chợt nhớ là mình đã quên thêm vào lời cầu nguyện câu kết thúc: “Nếu điều đó có ích cho phần rỗi con”.
Ông liền trở lại viếng mộ thánh, và xin được mù trở lại nếu điều đó đem lại lợi ích cho linh hồn ông. Thế là ông lại mù như trước.
Người đàn ông trong câu chuyện trên đây tuy bị mù về đôi mắt thể xác, nhưng lại ngời sáng về đôi mắt đức tin. Đôi mắt đức tin của ông bừng sáng khi ông bằng lòng hy sinh đôi mắt tinh anh của thể xác để đổi lấy đôi mắt trong vắt của linh hồn.
Người mù từ lúc mới sinh trong Tin Mừng hôm nay quả là một tấm gương sáng chói cho mỗi người tín hữu chúng ta: Được chữa lành đôi mắt thể xác là một hồng ân cao cả. Nhưng còn tuyệt vời hơn nữa, chính Đức Giêsu đã khai mở đôi mắt đức tin cho anh, để anh nhận ra Người là một ngôn sứ, là người bởi Thiên Chúa mà đến, là Anh sáng của trần gian.
Nhưng đâu phải một sớm một chiều mà anh có được đức tin ngời sáng. Sau khi được sáng đôi mắt thể xác, anh đã phải mò mẫm đi trong đêm tối của đức tin. Anh đã phải vượt qua một chặng đường dài đầy cam go thử thách của tôn giáo, của lề luật, của những người Pharisêu sáng mắt mà như mù lòa. Con đường đi tới đức tin của anh là con đường đầy chông gai, nguy hiểm. Hành trình đức tin của anh cứ bị khựng lại bởi những lời hạch sách, ngăn đe, dọa nạt của giới lãnh đạo tôn giáo.
Cuối cùng, thì anh đã vượt qua cuộc hành trình đầy cam go để đến với đức tin ngời sáng, như đôi mắt của anh vừa được chữa lành. Trong khi người ta phủ nhận Đức Giêsu là người của Thiên Chúa, thậm chí còn kết án Người chữa bệnh vào ngày Sabbat, thì chính anh, người mù từ lúc mới sinh, lại can đảm bênh vực cho Đức Giêsu và dõng dạc tuyên xưng niềm tin của mình: “Thiên Chúa không nhậm lời những kẻ tội lỗi, còn ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý của Người, thì Người nhậm lời kẻ ấy. Xưa nay chưa hề nghe nói có ai đã mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh. Nếu không phải là người bởi Thiên Chúa mà đến, thì ông ta đã chẳng làm được gì” (Jn 9, 31-33).
Lý luận của anh mù đã làm xôn xao giới lãnh đạo Do thái giáo, vì nếu Đức Giêsu là người tội lỗi như họ kết án thì làm sao có thể mở mắt cho người mù được? Hóa ra, người mù thì lại sáng mà người tưởng mình sáng lại hóa ra mù.
Họ mù quáng vì luôn cố chấp trong ý nghĩ lỗi thời, họ cho mình quyền nắm giữ đạo đức truyền thống, nên những gì đi ngược với truyền thống đều là sai lạc, phải loại trừ.
Họ mù quáng vì họ tự cao tự đại, luôn cho mình là người tinh thông luật đạo, lại thánh thiện đức độ hơn người, nên họ không bao giờ nhận mình sai sót lầm lỗi.
Họ mù quáng vì lòng họ chai đá, không cảm thông được nỗi bất hạnh của kẻ mù lòa, cũng chẳng chia sẻ được niềm vui của người được sáng mắt.
Và nhất là họ mù vì họ đã không nhận ra người đã làm cho anh mù được sáng mắt, chính là Đức Giêsu Kitô: “Đấng là ánh sáng thế gian”. Phải sống nhỏ bé trước mặt Chúa cả khi người ta là vua Đavid.
Nguy hiểm biết bao khi luôn cho mình đã nhìn rõ. Trong bao cái chi li của đời sống làm sao chúng ta nhìn thấy hết mọi vấn đề. Cái nhìn vừa mênh mông vừa thiếu sót làm sao! Cái nhìn sai nào cũng gây bất công và đau khổ cho người khác. Tiêu chuẩn để khỏi phải hối hận vì gây đau khổ cho người khác là hãy nhìn bằng đôi mắt xót thương.
Mù lòa thể xác đã là một bất hạnh không ai mong đợi, nhưng mù lòa tâm hồn còn là một tai họa khủng khiếp nhất. Người ta có thể trở nên mù lòa khi cố chấp không đón nhận sự thật: Sự thật về cái yếu đuối bất toàn của mình, sự thật về một Đức Kitô bởi Thiên Chúa mà đến, Đấng là Anh sáng thế gian. Chính người đã tuyên bố: “Sự thật sẽ giải thoát chúng con” (Jn 8, 32). Sự thật chính là Đức Kitô và những gì Người đã loan báo. Tin vào sự thật là tin rằng Người sẽ giải thoát chúng ta khỏi mù lòa thiêng liêng. Tin vào sự thật là tin rằng Người là Anh sáng thế gian. Tin vào sự thật là sẵn sàng bước theo Anh sáng của Người.

 

MC4-A62. Xin cho con những con mắt để được thấy Ngài

Đây là bài tường thuật một phép lạ hay sao? Không phải, Gioan nói lên điều này trong hai chi:MC4-A62

Đây là bài tường thuật một phép lạ hay sao? Không phải, Gioan nói lên điều này trong hai chi tiết trong câu 41. Ngài thuật lại bước đường đức tin với đầy đủ chi tiết. Đầu tiên, tất cả đều là những người mù. Cuối cùng, một người được sáng mắt và nhiều người bị mù. Chúng ta gặp gỡ với bóng đêm và với Giêsu – Ánh sáng.
Đó là bóng đêm sự dữ và tội lỗi. Đứng trước người mù từ khi mới sinh ra, các môn đệ muốn tìm hiểu.
- Làm sao người ta lại bị mù từ lúc mới sinh, lỗi tại ai?
Chúa Giêsu gạt bỏ một cách nhìn sai về sự vật: thiết lập quan hệ giữa người tàn tật và tội lỗi. Nhưng Ngài không đưa ra một lối giải thích khác, Ngài chỉ muốn là ánh sáng để chúng ta có thể sống điều chúng ta phải sống.
Điều ác kinh khủng nhất, màn đêm ghê gớm nhất, chính là thiếu vắng sự gặp gỡ này với ánh sáng: “Màn đêm tối, và Ta là ánh sáng”.
Phép lạ sẽ là dấu hiệu lớn lao này: Chúa Giêsu ban cho con mắt để được thấy. Nhưng từ chính dấu hiệu này, người mù hoàn toàn đạt được mục đích khi gặp gỡ Chúa Giêsu – Ánh sáng, và những “Người Do thái” (những người chống đối) thì bị thất bại. Người mù ra khỏi bóng đêm: “Lạy Chúa, tôi tin Ngài”. Còn người Do thái thì dấn mình vào bóng đêm: “Ông Giêsu này là người tội lỗi”.
Người mù tuyệt vời! Bổn mạng của những người tìm kiếm ánh sáng. Người mù một mực hướng tới mầu nhiệm Giêsu mà không để mình bị những “người thông thái” khủng bố, và thậm chí nói khôi hài khi mọi người run sợ. Ở đây Gioan viết một trang hết sức sống động, xen kẽ những câu hỏi và những thái độ tức giận: Người ấy là ai? Người ấy đã làm gì cho anh? Người ấy ở đâu? Người ấy là ai vậy? Và anh, anh bảo người ấy là ai? Người này không từ Thiên Chúa mà đến! Nhưng nếu thế thì làm sao người âý có thể làm được những điều như thế? Anh là môn đệ của người đó sao? Anh là kẻ sinh ra trong tội lỗi!
Họ nói “chúng tôi, chúng tôi là những người thông thài, thếmà họ không thấy gì. Người mù trả lời “tôi không biết gì hết”, và anh ta dần dần thấy ánh sáng. Anh nói: “người ấy”, rồi sau đó lại bảo “Ngài đến từ Thiên Chúa”, và cuối cùng là “Lạy Chúa!”.
Người ta có thể đọc đi đọc lại Phúc Âm mà vẫn không thấy Đức Giêsu. Ngay từ đầu, Gioan không ngừng lặp lại điều đó: “Ánh sáng chiếu soi đêm tối, nhưng đêm tối không hiểu được ánh sáng” (Ga 1,5). Đứng trước người mù “thấy” được Ngài và những người Pharisêu nhìn Ngài mà không thấy Ngài, Chúa Giêsu bắt buộc phải nhận xét điều xảy ra khi Ngài xuất hiện: “Người mù trở nên sáng mắt và người sáng mắt trở nên mù”.
Nhưng tôi biết, tôi thấy! Không, chúng ta đọc trang Phúc Âm này đến trang Phúc Âm khác, ngày này qua ngày khác, và chúng ta chỉ “ cố gắng” để thấy Ngài mà thôi. Chúng ta là những kẻ mù được Chúa Giêsu cho mắt hai lần: lần đầu để nhìn Ngài và lần sau để thấy Ngài. Chúng ta đừng ngần ngại lặp đi lặp lại lời cầu nguyện này cho tới giây phút cuối cuộc đời: “Lạy Chúa Giêsu, xin cho con những con mắt để được thấy Ngài”.

 

MC4-A63. Đón nhận chân lý

Câu chuyện hôm nay đặt ra trước mầu nhiệm khôn lường của sự từ khước ánh sáng. Phái Pharisiêu:MC4-A63

Câu chuyện hôm nay đặt ra trước mầu nhiệm khôn lường của sự từ khước ánh sáng. Phái Pharisiêu không tự truy vấn mình, kiểm thảo mình, lại từ chối sự thật hiển nhiên bằng cách khai trừ người mù được chữa lành. Để hiểu rõ hai chi tiết trong bài Tin Mừng, ta nên lưu ý điểm này là, theo quan niệm thông thường, nước miếng có sức chữa lành. Ta hiểu tại sao Chúa Giêsu đã làm bùn xức vào mắt người mù. Đức Kitô thường ghép hành động thần thiêng của Người vào trong các thực tại tự nhiên khiêm tốn nhất. Đàng khác, sở dĩ người Pharisiêu tố cáo người mù đã sinh ra trong tội, là vì theo đạo lý họ, bệnh tật là hình phạt về một lỗi phạm -ở đây là lỗi phạm của cha mẹ- Đó là điều mà Chúa phản đối. Câu chuyện về người mù đặt ra một cách gay cấn vấn đề đón nhận chân lý như thấy hiện ra khắp nơi trong các bản văn của thánh Gioan. Ở đây ta đứng lên trên cả vấn đề phép lạ và hiệu năng của phép lạ xét như dấu hiệu; ta đứng trước một sự mù quáng tinh thần không chịu nhìn xem chính cái dấu hiệu nữa. Lòng thù ghét có sức tạo nên một trạng thái tâm lý làm cho con người nên đui mù. Khi tâm hồn bị đóng kín lại, nó không còn thấy điều hiển nhiên nữa. Cả đến sự thật bên ngoài khách quan về việc người mù đã lành bệnh, ai ai cũng biết hết thế mà người Pharisiêu vẫn từ chối, vẫn bài bác. Có lần Chúa Giêsu đã phải nói với người Do thái rằng dù một phép lạ xảy ra trên trời (gây chấn động mạnh mẽ) cũng khó cho họ nhìn nhận.
Thái độ từ khước ánh sáng có nhiều đặc điểm. Sau đây là hai đặc điểm.
1) Người ta lấy một khía cạnh của sự thật, cô lập nó, dựng nó lên thành tuyệt đối, mà quên rằng nó tùy thuộc vào những yếu tố khác quan trọng hơn của sự thật ấy. Kiêng việc xác ngày lễ nghỉ là một điều luật. Giữ luật ấy là việc tốt. Nhưng nó lệ thuộc vào luật bác ái, luật này cao trọng hơn. Vậy mà người Do thái xem nó là một điều tuyệt đối. Nhân danh ngày ‘lễ nghỉ’ họ từ khước lòng bác ái. Lối suy nghĩ này là đầu giây mối nhợ của bao nhiêu vụ tranh luận, cãi cọ mà họ kéo Chúa Giêsu vào.
Trong Giáo Hội hiện nay cũng có nhiều hiện tượng thuộc loại này. Ví dụ: người ta tách riêng một ít trang Phúc Âm, coi đó là tuyệt đối, rồi sử dụng để biện minh cho bạo lực nhân danh Tin Mừng.
2) Người ta ngồi vào trong một hệ thống ý tưởng mà họ quyết đoán là đúng. Họ làm như thế có thể là vì trí khôn hướng chiều về đường ấy, vì một lợi ích nào, vì tình liên đới với phe nhóm… Nét tiêu biểu là ở chỗ họ coi mình là người biết, người sáng suốt, người hiểu rõ. Chúa Giêsu trách những người Pharisiêu vì họ nói: “Chúng tôi thấy”. Trước một não trạng như thế, khi chân lý xuất hiện một cách khác thường, nó sẽ không được nhìn nhận. Mà trong đời sống con người, chân lý của Chúa thường mặc những hình thức bất ngờ và gây khó chịu cho thói quen của ta. Chân lý ấy làm nổ tung mọi hệ thống tư tưởng và mọi chương trình hành động. Người Kitô hữu khi suy nghĩ cũng như lúc hành động phải chăm chú nhìn những dấu hiệu của Chúa.

 

MC4-A64. Bây giờ tôi đã thấy- Mark Link

"Bí tích rửa tội cất đi sự mù loà tâm linh của chúng ta và mở mắt cho chúng ta được nhìn thấy Chúa Giêsu."
 

Vào thập niên 1960, John Howard Griffin ngụy trang thành một người da đen đi chơi vòng:MC4-A64

Vào thập niên 1960, John Howard Griffin ngụy trang thành một người da đen đi chơi vòng quanh miền Nam. Ông muốn trực tiếp cảm nghiệm được sự kiện phải làm người da đen trong những năm ầm ĩ về vấn đề chủng tộc này. Griffin mô tả lại cảm nghiệm của mình trong một cuốn sách nhan đề Black Like Me (đen như tôi). Cuốn sách này về sau được dựng thành phim.
Tuy nhiên còn một khía cạnh khác trong cuộc đời của John Howard Griffin mà rất ít người biết đến: trong thế chiến thứ hai, John đã bị mù trong một vụ nổ máy bay suốt 12 năm sau đó, ông không trông thấy gì cả. Một hôm, trong khi bước xuống con phố cạnh nhà bố mẹ ông ở Texas, thình lình John bỗng thấy được "cát đỏ" (red sand) trước mắt ông. Thị giác của ông đã phục hồi trở lại mà chẳng hề báo trước. Về sau, một bác sĩ chuyên khoa mắt cắt nghĩa cho ông là vết máu tụ thần kinh thị giác do vụ nổ gây ra được khai thông, vì thế thị giác ông phục hồi trở lại. Khi bình luận về kinh nghiệm này, Griffin đã kể lại cho một phóng viên báo chí như sau:
"Quí bạn không cảm nghiệm được những gì mà một ông bố cảm nghiệm khi nhìn thấy con cái mình lần đầu tiên đâu. Cả bố với con đều tuyệt vời hơn tôi nghĩ rất nhiều"
Giai đoạn bi đát trong đời Griffin giúp anh ta đánh giá sâu sắc hơn câu chuyện của bài Phúc âm hôm nay, nó giúp chúng ta hiểu rõ hơn cảm giác người mù từ lúc mới sinh khi anh ta được Chúa Giêsu chữa lành thật kỳ kiệu như thế nào.
Tuy nhiên, trong câu chuyện người mù trên còn có một phép lạ thứ hai. Phép lạ này còn tuyệt diệu hơn: đó là đức tin hay còn gọi là ánh sáng thiêng liêng mà Đức Giêsu ban cho người mù ấy, chính phép lạ thứ hai này tức ân sủng đức tin đã khiến cho anh quì gối xuống nói với Đức Giêsu với tư cách là "Chúa". Thánh Gioan đã nhấn mạnh phép lạ thứ hai này tức ân sủng đức tin một cách thâm thuý trong bài Phúc âm hôm nay.
Chúng ta hãy xem xét kỹ hơn về điểm này.
Điều đầu tiên chúng ta để ý đến trong phép lạ này là phép lạ ấy diễn ra từ từ không xảy ra ngay tức khắc. Chẳng hạn, phản ứng đầu tiên của anh mù đối với Đức Giêsu là anh ta xem Đức Giêsu cũng giống như người bình thường khác. Vì thế, khi vài người hỏi anh ta về sự lành bệnh của mình, anh liền trả lời: "Cái ông có tên là Giêsu ấy lấy một ít bùn bôi lên mắt tôi và bảo tôi tới hồ Silôê rửa mặt. Thế là tôi đi và ngay khi rửa xong tôi liềân được trông thấy."
Đầu tiên gã mù chỉ coi Đức Giêsu như một người tuy khá đặc biệt nhưng dầu sao cũng chỉ là một con người.
Thế rồi anh ta bước qua nhận thức thứ hai về Đức Giêsu khi đám Pharisêu điều tra anh: "Mày bảo ông Giêsu chữa cho mày khỏi mù à! Vậy mày cho rằng ông ấy là ai?" anh ta liền đáp: "Ông ấy là một tiên tri". Câu trả lời trên đây chứng tỏ rõ ràng nhận thức của anh mù về Đức Giêsu đã nhảy vọt một bước vọt khổng lồ về phía trước. Càng suy nghĩ đến sự kiện xảy ra, gã ta càng xác tín Đức Giêsu không chỉ là một người như những người khác mà Ngài còn là một vị tiên tri. Điều này dẫn chúng ta đến nhận thức sau cùng của anh mù về Đức Giêsu.
Cuối ngày anh mù mới được gặp mặt đối mặt với Đức Giêsu, vì khi anh mù đi rửa mắt ở hồ Silôê về, thì Đức Giêsu, không còn quanh quẩn đó nữa. Lúc này, khi gặp lại anh mù, Đức Giêsu nhìn thẳng vào mắt và nói: "Anh có tin vào CON NGƯỜI" không? Anh ta trả lời: Thưa Ngài, xin nói cho tôi biết vị ấy là ai để tôi tin. Đức Giêsu trả lời: "Anh đã thấy vị ấy rồi, vị ấy chính là kẻ hiện đang nói chuyện với anh". Anh đáp ngay: "Lạy Chúa, con tin!" vừa nói anh vừa quì gối xuống trước mặt Đức Giêsu.
Như thế, nhận thức của anh về Chúa Giêsu đã nhảy bước cuối cùng về phía trước. Anh nhận ra Đức Giêsu không phải chỉ là một người bình thường hoặc một vị tiên tri, mà Ngài còn là Thiên Chúa, vị Chúa mà "muôn loài trên trời dưới đất, cả trong địa ngục phải quì gối" (Pl 2, 10). Ân sủng đức tin, hay "ánh sáng tâm linh" mà Đức Giêsu ban cho anh mù còn kỳ diệu hơn sự phục hồi thị giác cho anh nữa.
Không cần bàn bạc quá nhiều về ân sủng đức tin nơi anh mù nọ, chúng ta nên nhớ lại chúng ta cũng đã nhận được ân sủng đức tin này do Đức Giêsu ban cho trong bí tích rửa tội.
Trước khi thanh tẩy trong nước rửa tội, chúng ta cũng bị "đui mù tâm linh" như anh mù trong Phúc âm hôm nay. Nhưng sau khi được rửa tội, Đức Giêsu trở nên quí báu hơn nhiều đối với chúng ta. Ngài trở thành một kẻ hết sức thân mật đối với chúng ta.
Điều này dẫn đến điểm tương tự thứ hai giữa chúng ta và anh mù trong Phúc âm hôm nay. Ngoài việc nhận lãnh ân sủng đức tin, nhận thức của chúng ta về Chúa Giêsu cũng dần dần lớn lên giống như nơi anh mù ấy. Chẳng hạn khi còn rất bé chúng ta thường mường tượng Đức Giêsu là một con người phi thường. Đến lúc lớn lên. Nhận thức của chúng ta về Ngài cũng trưởng thành hơn. Cuối cùng nhận thức ấy đạt được hình thức viên mãn nhất: chúng ta nhận ra Ngài đúng như bản chất thực sự về Ngài, là Con Thiên Chúa. Điều thú vị là khi chúng ta càng học hỏi về Đức Giêsu thì Ngài càng trở nên cao cả hơn đối với chúng ta. Thông thường, có sự kiện đáng buồn trong các mối tương giao khác là càng tìm hiểu về kẻ khác chúng ta càng nhận khiếm khuyết của kẻ ấy. Nhưng trong trường hợp Đức Giêsu thì không như thế. Càng hiểu biết về Ngài, chúng ta càng thấy Ngài tuyệt diệu và vinh hiển hơn.
Để kết thúc, chúng ta hãy trích lại lời Albert Schweitzer ở cuối cuốn sách của ông nhan đề The Quest for The Historical Jesus (Tìm kiếm Giêsu Lịch sử) Schweitzer từng là nhạc sĩ dương cầm thính phòng ở Âu Châu. Ông đã từ bỏ nghề nghiệp âm nhạc của mình để trở thành một bác sĩ, và ông đã đến sống ở Phi châu với tư cách một thừa sai. Schweizer viết: "Chúa Giêsu đến với chúng ta như một người vô danh, chẳng khác nào thủơ xưa người đến với các tông đồ trên bờ biển. Ngài nói với chúng ta cũng chính những lời Ngài đã từng nói với họ: "Hãy theo Ta!". Và bất cứ ai chấp nhận lời mời gọi của Ngài thì dù họ thông thái hay tầm thường, trẻ trung hoặc già nua, Chúa Giêsu đều mạc khải chính Ngài cho họ ngay trong những truân chuyên và đau khổ của họ. Và qua kinh nghiệm riêng của mình, họ sẽ biết được "NGÀI là ai?".

 

MC4-A65. Bài đọc thêm: Về “cái biết”

Trong Tin Mừng Ga đoạn 9, mười câu từ 24-34, thấy diễn ra một cuộc đối chọi giữa hai ‘cái biết’: MC4-A65

Trong Tin Mừng Ga đoạn 9, mười câu từ 24-34, thấy diễn ra một cuộc đối chọi giữa hai ‘cái biết’: một của nhóm chức quyền Do thái, một của anh mù.
a) “Chúng ta biết rằng tên đó (Chúa Giêsu) là một đứa tội lỗi” (c.24).
aa) “Ông ấy là người tội lỗi ư? Tôi không biết. Một điều tôi biết được là: tôi đã mù, và rày tôi thấy được” (c.25).
b) “Chúng ta biết Thiên Chúa đã phán với Môsê (và truyền giữ luật Hưu lễ), còn hắn, chúng ta chẳng biết hắn tự đâu ra?” (c.29).
bb) “Chúng tôi biết Thiên Chúa không nhận lời hạng tội lỗi, nhưng ai thờ Chúa và làm theo ý Người, thì Người nhận lời kẻ ấy (bằng chứng là phép lạ chữa bệnh mù của tôi đây)… Nếu ông ấy đã không bởi Thiên Chúa mà đến, thì đã chẳng làm gì được” (c.31-33)
Ta có thể nhờ lời cổ nhân mà phân tích đoạn này. Tuân Tử (330TCN-227TCN) cho rằng: Điều mà ai cũng biết là: tri thức nào cũng đều bắt đầu từ ngũ quan, tiếp nhận ấn tượng; còn cái tâm thì suy xét, phân biệt các ấn tượng ấy mà biết. Tai, mắt, mũi, miệng… thì tiếp xúc với bên ngoài, nhận các ấn tượng, nhưng không có cái nào làm chủ sai khiến cái nào. Còn tâm đứng giữa, thì làm chủ để cai trị các ngũ quan, thâu gom tất cả về nó. Nó có cái năng lực suy xét, phân biệt; cho nên mới có câu: “Nhờ đâu mà biết? Đáp: Nhờ Tâm” (thiên: Giải tế). “Tâm không (hoạt) động, thì trắng đen ở ngay trước mắt mà không nom thấy, trống khua lớn ở bên cạnh mà tai không nghe” (Giải tế).
Đó là nói về cái biết đối với các vật có hình tượng…
Đối với đạo lý, muốn biết, thì tâm phải ở trong trạng thái “hư nhất nhi tĩnh”: “Hư” là trống không, ý nói đừng có sẵn thành kiến trước, mà làm tổn hại đến điều gì sắp tới. – “Nhất” là một, nghĩa là thường tâm ôm đồm nhiều quá, nên muốn biết một điều gì, thì phải chọn một điều thôi, tập trung vào đó, để cho cái biết được tinh vi. – “Tĩnh” là yên lặng. Bản chất tâm là luôn hoạt động, nhưng khi để ý vào một việc gì, tâm phải giữ cho bình tĩnh, đừng để cho huyễn mộng, tưởng tượng vẩn vơ… và những buồn phiền giao động mà làm rối loạn (Giải tế). Hồi xưa, Đức Khổng Tử cũng đã tâm niệm 4 điều quyết: không ức đoán, không võ đoán, không cố chấp, không chủ quan” (Tử tuyệt tứ: vô ý, vô tất, vô cố, vô ngã. – Tử Hãn).
Muốn cho tâm được hư nhất nhi tĩnh, thì phải “tri dã cung” là nghĩ một cách kính cẩn, ngoài ra phải “tri dã lạc”, tâm phải ở trong một trạng thái hòa đồng làm một với thiên đạo, tức là phải thành: vừa trong sáng, vừa ngay thẳng, thành tâm, thiện chí (lấy theo Giản Chi…,sđd, t.I, 488tt, 606tt). Bây giờ áp dụng vào hai cái biết của đoạn trên, thì thấy:
Về a): Cái tâm của nhóm Biệt phái không ‘hư’ (trống rỗng), nhưng đã bị nhiều thành kiến chiếm cứ, và không ‘tĩnh’, tức là đã để cho nhiều đố kỵ bè phái, thiên kiến đối với Đức Giêsu (x. Ga 5, 15-18) làm giao động và làm lú lấp mà quên thiên đạo. Họ không xét đến cái tốt (chữa lành bệnh mù) mà chỉ bo bo nhìn vào việc không giữ Hưu lễ (mà họ đã chẻ tóc làm tư cho thành một luật nặng nề, cứng ngắc, nghẹt thở), và nhất là tưởng rằng đó là tất cả đạo.
Về aa): Anh mù đã dựa vào giác quan kinh nghiệm sự vật mà suy xét: đã mù (một sự kiện hữu hình), nay được sáng mắt (một sự kiện nữa). Và từ đó, anh để tâm suy xét phân biệt người chữa anh có là kẻ tội lỗi hay ngược lại, và đó là điều anh nói ra ở bb).
Về b): Cái tâm của họ không trống rỗng (‘hư’), đầy thành kiến; thêm vào đó không giữ cho ‘hòa đồng với thiên đạo’, và không thành thực, ngay thẳng, trong sáng. Họ chỉ biết luật Môsê (toàn mặt cấm kỵ) mà không thấy toàn bộ thiên đạo chép trong Kinh Thánh: Thiên Chúa yêu thương, dạy người ta yêu thương, và coi đó là điều quan trọng hơn hết, hơn cả muôn ngàn hy lễ, và yêu thương là giới luật trọng nhất gồm thâu mọi giới luật (x. Mc 12, 32-33). Nói nôm na, cái tâm của họ đã không được nỗ lực ‘trừ dục’, ‘thắng tà’ mà nên trong sáng, thành thực.
Về bb): Chính anh mù (được lành) lại sáng cái tâm ra mà nhìn nhận được cái thiên đạo ấy: “Ai thờ Chúa và làm theo ý Người” (mà ở đây ý Người là yêu thương, giúp đỡ nhau…), “thì Thiên Chúa nhận lời người ấy”. Nhận lời là làm phép lạ theo ý người ấy xin. Đang khi nhóm Biệt phái mù tịt không biết “hắn tự đâu ra” (mà họ là những người thông thái), vì cái tâm không ‘hư’, không ‘dã cung’, ‘dã lạc’, nên đâm mù quáng, chỉ dán mắt vào một bộ luật và khư khư giữ từng nét…; thì anh mù lại sáng mắt ra và chỉ cho họ biết nguồn gốc của Đức Giêsu là “bởi Thiên Chúa mà đến”, dựa theo thiên đạo này, tức quy luật chung, tự nhiên, mọi người nhìn nhận: Vì ai làm lành, ai gây phúc đức (ai phục vụ anh em mình), thì chỉ có thể từ Thiên Chúa mà ra, chứ không từ sự ác, từ ma quỷ, từ tội lỗi.
Lời dạy của triết gia Tuân Tử không phải là đã lỗi thời đâu!

 

MC4-A66. MÙ LÒA

Trong một chuyến đến thăm ngôi trường khiếm thị duy nhất của thành phố, tôi chạnh lòng nhìn:MC4-A66

Trong một chuyến đến thăm ngôi trường khiếm thị duy nhất của thành phố, tôi chạnh lòng nhìn cảnh một số em quờ quạng với chiếc gậy trên tay, có em lại bám vào vai bạn và cả hai cùng lần bước... Còn đến khi vào lớp, các em lại cẩn thận dùng những ngón tay nhỏ bé gầy guộc để đọc từng giòng chữ Braille trên trang giấy nổi...
Bất chợt, ánh mắt tôi dừng lại ở một em bé có đeo một mẫu ảnh Thánh Giá nho nhỏ trên ngực áo. Tiến lại gần, tôi làm quen với em và được biết rằng:  Trước khi vào trường này, mẹ em đã đeo cây Thánh Giá này cho em và bảo:  “Ðèn của thân thể người ta là đôi mắt, còn với con, thì Thánh Giá sẽ là cây đèn cho con đấy !"
Tôi ân cần hỏi em: “Thế em có thấy vui không ?"  Em bé ngước nhìn lên với đôi mắt đục mờ, trả lời tôi: "Có chứ anh, em đã mất đôi mắt của thân thể, nhưng thật sự thì đôi mắt của tâm hồn em vẫn sáng !" 
Nghe câu trả lời quả quyết ấy, tôi giật mình tự nhủ: Con mắt của tâm hồn mình có còn sáng hay đã tắt ngúm rồi nhỉ ?
 (Trích Ðặc San CON ÐỨC MẸ, Xuân 2000)
* * * * *
Bạn than mến!  Bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay tường thuật câu chuyện Ðức Giêsu đã chữa một người mù từ lúc mới sinh, một người lớn lên trong bóng đêm dầy đặc. Ngài cho anh được thấy ánh mặt trời lần đầu tiên, thấy khuôn mặt của những người thân thuộc.  Nhưng quan trọng hơn, anh đã thấy và tin vào Ðức Giêsu, Ðấng là Ánh Sáng của thế giới.  Sau khi được sáng mắt, anh đã bước vào một cuộc hành trình đức tin đầy cam go.  Lúc đầu, Ðức Giêsu chỉ là một người mà anh không quen không biết.  Sau đó, anh dám khẳng định trước mặt mọi người Ngài là một ngôn sứ, là người bởi Thiên Chúa mà đến.  Cuối cùng, anh đã sấp mình để bày tỏ lòng tin vào Ngài.  Ðức tin của anh lớn lên qua những hiểm nguy và đe dọa.
Ngược với thái độ hồn nhiên và bình an của anh là thái độ bối rối bất an của giới lãnh đạo Do Thái Giáo.  Họ cứ hỏi đi hỏi lại về cách thức anh được chữa lành.  Cha mẹ của anh cũng được điều tra cẩn thận.  Trước những lập luận vững vàng của anh, họ chỉ biết chê anh là dốt nát và tội lỗi.  Dựa vào một quan niệm hẹp hòi về việc giữ ngày sa bát, họ khẳng định Ðức Giêsu đã phạm tội khi chữa bệnh, tuy họ vẫn không hiểu tại sao một người tội lỗi lại có thể mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh.  Giới lãnh đạo Do Thái Giáo không muốn coi Ðức Giêsu là người của Thiên Chúa, vì điều đó đòi họ phải thay đổi lối suy nghĩ và lối sống đạo, thay đổi bộ mặt tôn giáo của cha ông, nhất là đòi họ phải tin và theo Ngài.
Họ tự hào mình là người hiểu biết và đạo đức. Chính niềm tự hào này đã khiến họ khép lại, không có can đảm chấp nhận mình sai lầm, và cố chấp ở lại trong bóng tối.
Mù không phải là một tội.  Cố ý không muốn thấy mới là tội .  Chúng ta ai cũng sợ bị mù, nhưng lắm khi ta lại tự làm cho mình trở nên mù lòa, khi không chấp nhận thực tế về bản thân, khi né tránh sự thật và không muốn lắng nghe ai.
Như những người mù xem voi, mỗi người chúng ta chỉ thấy một phần của thực tại,
một phần nhỏ của chân lý. Cần khiêm tốn để nhận mình mù, mù về chính mình, mù về lãnh vực mình thông thạo, vì điều mình biết chỉ là phần nổi của tảng băng, vì con voi không giống như cái cột nhà hay cái quạt.  Thay vì cãi nhau do có cái nhìn khác nhau, chúng ta có thể bổ túc cho nhau, để dần dần đến gần với chân lý trọn vẹn.

* * * * *
Lạy Chúa!  Như thánh Phaolô trên đường về Ðamát, xin cho con trở nên mù lòa vì ánh sáng chói chang của Chúa, để nhờ biết mình mù lòa mà con được sáng mắt.
Xin cho con đừng sợ ánh sáng của Chúa, ánh sáng phá tan bóng tối trong con và đòi buộc con phải hoán cải.
Xin cho con đừng cố chấp ở lại trong bóng tối chỉ vì chút tự ái cỏn con.
Xin cho con biết khiêm tốn để đón nhận những tia sáng nhỏ mà Chúa vẫn gửi đến cho con mỗi ngày.
Và xin cho con hết lòng tìm kiếm Chân lý để Chân lý cho con được tự do và bình an. Amen
R. Veritas

 

MC4-A67. NGƯỜI KHÔNG XEM THẤY ĐƯỢC THẤY

Nhìn vào hành trình làm nhân chứng khá cam go của người mù được sáng mắt, qua bài Tin:MC4-A67

            Nhìn vào hành trình làm nhân chứng khá cam go của người mù được sáng mắt, qua bài Tin Mừng hôm nay, tôi nhớ lại những gì mà chị Vũ Thủy, một thành viên khuyết tật của Huynh Đoàn Kitô Vua thuộc giáo xứ Mai Khôi, đã ghi lại cảm nghiệm của mình bằng vào những vần thơ thật xúc tích và cũng thật chân thành đơn sơ.
            Chị đã viết trong bài thơ "cô gái mù và ly cà phê trắng" tâm tình sâu lắng như sau:
"Ly cà phê trước mặt,
  ngụm đắng nhuộm cuộc đời?
Cuộc đời trắng hay đen, thành công hay thất bại?
Hãy hỏi lòng mình chọn trắng hay đen."

Chị đã phải đấu tranh rất nghiệt ngã trước số phận khi đôi mắt của chị trở nên mù lòa lúc tuổi đời còn rất trẻ, tuổi ô mai nhí nhảnh.  Bao nhiêu ước mơ chân chất thơ ngây giờ đây đổ ập xuống ngay trước cuộc đời đầy thơ mộng.  Bao nhiêu dằn vặt chán chường tê tái khổ đau khi phải sống trong cảnh tối tăm, trong cay đắng tủi hờn....
Thế rồi, nhờ vào sự chăm bẵm yêu thương của cha mẹ, của anh chị em và bè bạn, chị cũng phần nào chấp nhận số phận đen bạc.  Cho đến một ngày, chị nhận ra tiếng gọi thâm sâu của lời Chúa Giêsu nói với chị mà người thân của chị đã đọc cho chị nghe.  Lời Chúa đã gieo vào tâm hồn chị một sự bừng sáng với một niềm ủi an bất tận khi chị suy đi nghĩ lại trong lòng Lời Hằng Sống:  "Tất cả những ai đang vất vả và mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng." (Mt 11, 28)
Sau những lần gẫm suy và cầu nguyện, chị đã bừng sáng lên niềm tin tuyệt diệu như sau này chị ghi lại trong bài thơ "Món quà Thượng Đế":
"Vừa chập chững bước vào đời
Thượng Đế thương tặng tôi
món đồ chơi Thập Tự."

Tôi cảm nhận như chị đã sống cùng với niềm vui của người mù bẩm sinh sau khi được "Đức Giêsu nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù và bảo: "Anh hãy đến hồ Silốac mà rửa" (Silốac có nghĩa là: người được sai phái).  Vậy anh ta đến rửa ở hồ, và khi về thì thấy được." (Ga 9, 6-7).  Quả thật, với tâm tình của một trẻ thơ đơn sơ trong trắng và hèn kém trong thân phận bùn đất của con người, chị được Chúa nhào nặn và tặng ban đôi mắt mù lòa như một món đồ chơi mà chị gọi tên là "món đồ chơi Thập Tự".
Thế nhưng chưa hết:
"Theo năm tháng, Thập Tự lớn cùng tôi,
có những lúc trổ gai làm trái tim rướm máu,
lúc trơn bóng đẫm mồ hôi, tôi tần tảo.
Khi tôi ngã,
Cây Thập Tự vững vàng như giá đỡ,
tôi bám lấy cùng niềm tin trỗi dậy."

Chính những lúc như thế, tôi liên tưởng đến những cay đắng mà người mù từ thuở nhỏ đã phải gánh chịu trước những áp bức của nhóm Pharisêu:  "Mày sinh ra tội lỗi ngập đầu, thế mà mày lại muốn làm thầy chúng ta ư?" Rồi họ trục xuất anh." (Ga 9, 34)
Và đây cũng chính là nỗi niềm mà Vũ Thủy đã thầm thì với Nàng Thơ:
"Khi bật khóc,
Thập Tự âm thầm lau nước mắt cho tôi,
và tôi thấy trái tim thơ trẻ lại."

Nhưng qua sự nâng đỡ của nhiều người, nhất là thầy Phong, phụ trách Mái Ấm Thiên Ân, dậy cho chị chữ nổi (chữ braille) và vi tính cùng nhiều những bàn tay chia sẻ khác, nên chị đã gửi gấm tâm sự trong thơ:
 "Cả bầu trời trước mặt,
đôi mắt con không thấy ánh mặt trời.
Nhưng với con, cuộc đời đầy nắng ấm,
Bởi quanh con, đã có những bàn tay
Trao cả con tim, xiết chặt tình người.
Đôi chân con bước đi vững chãi,
Bởi có những bàn chân đi mở lối tâm hồn
Gieo hy vọng cho người mù tăm tối.
Ly cà phê cho con ngọt ngào hơi sữa,
Bởi nó như cuộc sống đầy bao dung,
Đã cho con ngọt bùi trong cay đắng."

Và rồi chị đã khẳng định với một niềm xác tín không còn lay chuyển:
"Cuộc đời trắng hay đen?
Riêng cô gái mù thấy ly cà phê trắng,
Bởi dòng sữa yêu người, đời đã ban cho.
Cô gái tay hướng về Thượng Đế:
"Xin cảm ơn Người, Người mãi bên con!"

Một lần nữa, khi nghe vang lên những lời bộc bạch sâu xa và thấm đậm yêu thương này của Vũ Thủy, tôi vô cùng xúc động vì chị đã viết lên niềm tín thác tuyệt vời vào Đức Giêsu như anh mù trong Tin Mừng hôm nay đã thưa với Người rằng: 
"Thưa Ngài, tôi tin".  Rồi anh sấp mình xuống trước mặt Người." (Ga 9, 38)
Hiện nay, thay vì than khóc hết ngày rồi lại đêm, oán trách số phận hẩm hiu cô quạnh, chị đã vươn lên trong sức mạnh Thập Tự bằng cách quên mình để phục vụ cho những người đau khổ khác tức "sấp mình xuống trước mặt Người", bởi chính những người này là hiện thân của Đức Kitô vậy.  Chị đã sống thâm sâu lời mặc khải của Đức Giêsu đã nói với anh mù cũng như với tất cả hậu thế:
"Tôi đến thế gian này,
chính là để xét xử:
cho người không thấy được thấy
và kẻ xem thấy lại nên đui mù." (Ga 9, 39)

Quả thật, có biết bao nhiêu người nhìn và chứng kiến những mảnh đời bất hạnh khác, nhưng đã quay mặt đi với họ. Còn chị Thủy đã không thấy tận mắt những người đau khổ kia, nhưng chị đã được Chúa ban cho một trái tim nồng nàn yêu thương trong sức mạnh Tình Yêu Thập Tự của Người.
Khi tôi đựơc gặp gỡ nghe chị bộc bạch sẻ chia, chị đã giúp tôi thêm sức mạnh để biết mở lòng ra với tha nhân đang sống trong cảnh tối tăm của thể xác bệnh hoạn, của tâm hồn đen tối trong lầm lạc sa ngã.  Và tôi đã thấu hiểu trái tim của Chúa Giêsu khi Thần Khí Lời Ngài đang trào dâng trong tâm hồn và trái tim tôi là đừng bao giờ trở nên "kẻ xem thấy lại nên đui mù".
Mà hãy nhìn xem Vũ Thủy tích cực sống như thế nào để không còn trở nên đui mù một lần nữa:
"Khi tìm đến với những người trong đơn lẻ,
với Thập Tự bẻ đôi, tôi chia sẻ
hạnh phúc có, buồn đau cũng có,
và nỗi cô đơn cũng chẳng còn."  (Món quà Thượng Đế)

Tôi xin mượn câu cuối cùng của chị Vũ Thủy, nhà thơ khiếm thị, trong bài thơ "Cô gái mù và ly cà phê trắng", mà dâng lên Chúa với tất cả tâm tình :
             "Xin cám ơn Người, Người mãi bên con." Amen. 
Phêrô Vũ văn Quí CVK64
Email: peterquivu@gmail.com

 

MC4-A68. Ngươi có tin Con Thiên Chúa không? - Trần Mỹ Duyệt

Giáo Hội mỗi ngày một rõ nét hơn, đang dẫn chúng ta đến gần với cội nguồn sự giải thoát và ơn: MC4-A68

Giáo Hội mỗi ngày một rõ nét hơn, đang dẫn chúng ta đến gần với cội nguồn sự giải thoát và ơn Cứu Độ là chính Chúa Giêsu, Con Một Thiên Chúa. Ngài sẽ phải gánh lấy tội lỗi nhân loại và phải chết trên thập giá, để rồi phục sinh trong vinh quang. Nhờ cái chết và sự sống lại ấy, nhân loại tìm lại được sự sống, và được cứu rỗi.
Tuần trước, trên bờ giếng Giacóp, Chúa Giêsu đã giới thiệu với người thiếu phụ Samaritanô, Ngài chính là suối nước hằng sống. Suối nước làm vọt lên trong lòng con người mạch nước cứu độ và dẫn con người đến sự sống đời đời. Nước mà uống vào sẽ không còn phải khát nữa. Và tuần này, qua việc chữa lành người mù từ lúc mới sinh, Chúa Giêsu đã chính thức hơn giới thiệu cho mọi người về sự sáng tâm hồn, và việc con người nhờ Ngài mà được giải thoát khỏi sự tối tăm tâm hồn, khỏi đi trong tội lỗi. 
Đói khát chính là một phần của kiếp sống con người. Nó gắn liền với bản năng sinh tồn của con người. Ai trong chúng ta cũng đói và cũng khát. Chính vì cái đói và khát ấy, khi được khỏa lấp, thì một nguồn sống tự nhiên được tuôn chảy trong con người, và mang lại cho con người niềm vui và hân hoan sung sướng. Tâm lý sống ấy, chúng ta có thể nhìn thấy, và cảm thấy ngay trong cuộc sống chính chúng ta và những người quanh ta. Hãy nhìn những nụ cười rạng rỡ khi các em nhỏ được bố mẹ cho ăn no nê bằng những món ăn ngon lành, thơm tho và bổ dưỡng. Được cho uống bằng những thức uống trong sạch và mát mẻ. Hình ảnh sinh động ấy sẽ hoàn toàn trái ngược khi so sánh với các em nhỏ ốm o, gầy gò, bệnh tật, và hết sức tiều tụy vì thiếu sinh dưỡng, thiếu thực phẩm tại các quốc gia nghèo đói.
Mù lòa hay bệnh tật cũng chính là một phần nữa trong đời sống con người. Ngày ngày có biết bao nhiêu người phải đau khổ vì bệnh này hay bệnh khác. Và những chứng bệnh ấy có lẽ là lý do chính đã cất đi sự sống của con người. Sinh, lão, bệnh, tử. Người thanh niên mù từ lúc mới sinh, do đó, đã trở thành hình ảnh mùa lòa tâm hồn của con người chúng ta. Tất cả chúng ta đều trở nên mù lòa trước ánh sáng cứu độ nếu như không được Chúa Giêsu khai mở và chữa lành. Chúa đã nói với những kẻ chối bỏ sự thật mù lòa ấy rằng: “Nếu các ngươi mù, thì các ngươi đã không mắc tội, nhưng các ngươi nói chúng tôi xem thấy, nên tội các ngươi vẫn còn đó” (Gioan 9: 41).
Tội gì khi một người sinh ra bị mù lòa? Các môn đệ cũng đã quan niệm một cách chật chội và sai lầm khi tưởng rằng sự mù lòa thể lý ấy là một tội như phần đông vẫn quan niệm: “Thưa Thầy, ai đã phạm tội, y hay cha mẹ y, khiến y mù từ khi mới sinh?” (Gioan 9:2. Không phải do ai hết, Chúa Giêsu đã khẳng định như thế. Chỉ có sự mù lòa tâm linh mới làm cho con người đi trong bóng đêm tội lội và sa phạm tội lỗi. Vì sự mù lòa ấy khiến con người không nhìn thấy Thiên Chúa trong cuộc đời của mình.
Trong cả hai trường hợp, Chúa Giêsu đã đích thân tìm đến với con người và mặc khải nước trời cho con người. Đối với thiếu phụ Samaritanô trên bờ giếng Giacóp, Ngài đã mở lời và dọn đường cho chị đón nhận suối nước hằng sống trước bằng cách xin chị cho Ngài uống. Trường hợp anh mù từ lúc mới sinh tuy hoàn cảnh khác, nhưng cũng chính là Ngài đã tìm đến với anh và mặc khải Tin Mừng Cứu Độ cho anh. Thánh Gioan ghi: “Khi nghe anh bị xua đuổi, Ngài tìm gặp và hỏi anh: “Anh có tin Con Người không? “Gioan 9:35), và khi nghe anh xác tín niềm tin vào Ngài, Ngài liền mặc khải mình cho anh: “Là người đang nói với anh bây giờ” (Gioan 9:37).
Tóm lại, chính vì để trở thành nguồn suối ơn cứu độ và sự sống đời đời cho con người, Ngài đã chấp nhận cuộc khổ nạn và qua cuộc khổ nạn ấy, phục sinh từ cõi chết. Nhưng để con người có thể chấp nhận được mặc khải cao vời như thế, khó tin nhận như thế, Ngài đã từ từ dùng những hình ảnh cụ thể trong đời sống như nước cần thiết cho sự sống, và ánh sáng cần thiết cho con người. 
Sự đói khổ phần xác là những hình ảnh đau khổ của kiếp người. Sự mù lòa phần xác là biểu tượng cho sự tăm tối của tâm hồn con người. Chúa không đến để cho con người một thứ nước uống rồi khỏi khát như cái nghĩa bình thường, mà là làm cho con người hiểu được giá trị của cơn khát tình yêu, sâu thẳm, và đồng thời ban cho con người thứ nước hằng sống để dầu giữa trăm ngàn đói khổ và thử thách, con người vẫn vững tin và tìm về với Ngài trong nguồn mạch sự sống thật.
Cũng thế, Ngài không làm cho con người khỏi mù lòa như rất nhiều người vẫn bị mù lòa và khiếm thị, nhưng qua hình ảnh mù lòa thể xác, Ngài muốn con người hiểu được sự tăm tối tâm linh là cái làm cho con người đi trong đêm tối của niềm tin và của cuộc đời. Và chỉ có Ngài là người có thể khai mở nhãn quan tâm linh ấy. Ngài sẽ ban lại cho ánh sáng niềm tin tất cả những ai tin nhận Ngài như anh mù từ lúc mới sinh, miễn là con người chấp nhận sự mù lòa của mình và đón nhận ánh sáng Tin Mừng của Ngài.
Điều làm cho chúng ta phải để tâm suy nghĩ trong biến cố này, chính là lời anh mù sau khi được chữa khỏi, đã nói với những thượng tế, kinh sư hạch hỏi anh về Chúa Giêsu. Anh đã dí dỏm mỉa mai họ: “Lạ thật: người đó đã mở mắt cho tôi, thế mà các ông không biết người đó ở đâu.” (Gioan 9:30). Hay có thể nói khác đi là: “Các ông khéo giả vờ thật. Biết rồi sao còn hỏi?” Và đó cũng là điều khiến chúng ta cần phải đem vào đời sống tâm linh của mình. Nhiều khi chúng ta biết Chúa đó, thấy Chúa đó, nhưng không tin nhận Ngài. Hoặc nếu tin nhận thì lại không đón nhận Ngài vào cuộc sống của mình. Một điều mà trong đời sống tâm linh thường ngày vẫn xẩy ra đối với chúng ta. Cái làm cho chúng ta không dám tin nhận và đón nhận Ngài là vì chúng ta không dám từ bỏ đi những gì thuộc về con người trần tục của mình. Hay nói một cách khác, chúng ta vẫn thích sống trong tình trạng mùa lòa của mình, vì sợ nhìn thấy ánh sáng, ánh sáng sẽ làm cho chúng ta thấy rõ sự thật về con người của mình.
“Anh có tin Con Người không? Anh ta trả lời, “Thưa ngài Đấng ấy là ai để tôi tin?” Chúa Giêsu đáp, “Anh đang thấy Ngài, đó là người đang nói với anh đây.” Anh liền thưa: “Lậy Ngài tôi tin”, rồi quỳ xuống thờ lậy Ngài” (Gioan 9:35-38). Đó là tất cả ý nghĩa của việc con người đón nhận Tin Mừng. Đó nhận ánh sáng mạc khải. Chúa vẫn có đó, quanh ta và hiện diện trong cuộc đời ta, nhưng chúng ta có nhận ra Ngài, và nhất là có tin nhận và thờ lậy Ngài hay không? Hoặc giả, chúng ta vẫn cho rằng mình sáng mắt để rồi bị lôi cuốn vào sự mù lòa tâm linh, và như Chúa Giêsu đã nói với bọn Phariesiêu: “Vì các ngươi nói mình sáng, nên các ngươi vẫn ở trong tội lỗi” (Gioan 9:41).

 

MC4-A69. Khi về thì nhìn thấy được

CHỦ NHẬT IV MÙA CHAY

Tin mửng: Ga 9, 1-41.

“Anh mù đến rửa ở hồ Si-lô-ác và khi về thì nhìn thấy được”

Bạn thân mến,

 

Bạn thấy Chúa Giê-su trong bài Phúc Âm hôm nay như thế nào, bạn thấy có khác thường không:MC4-A69

Bạn thấy Chúa Giê-su trong bài Phúc Âm hôm nay như thế nào, bạn thấy có khác thường không, bởi vì thường thường trước khi chữa lành người nào thì Ngài hỏi họ có tin Ngài không, sau đó mới chữa lành. Nhưng hôm nay Ngài rất linh động trong việc chữa lành, Ngài không hỏi anh mù có tin Ngài không, mà lập tức chữa cho anh được sáng mắt, rồi sau đó –khi gặp lại- Ngài mới hỏi có tin Ngài không, đúng là kỳ thật phải không bạn ?

Chúa Giê-su là một nhà mô phạm và nhà tâm lý đại tài, Ngài không hỏi người mù có tin Ngài không rồi mới chữa lành mắt cho anh, vì người mù không thấy Ngài và cũng chẳng thấy Ngài làm những phép lạ, cho nên nếu Chúa Giê-su hỏi có tin Ngài không thì sẽ là một điều hết sức cưỡng ép, cho nên khi người mù được sáng mắt, nhìn thấy Ngài rõ ràng, Ngài mới hỏi có tin Ngài không, câu trả lời của người mù bây giờ thật chắc chắn và chính xác: “Thưa Ngài, tôi tin.” Thế là đủ, và đức tin đã làm cho người mù đổi mới hoàn toàn, trở nên chứng nhân cho dức tin của mình.

Sự mù lòa của người Pa-ri-sêu thật rõ ràng khi nhìn thấy người mù được sáng mắt, họ đã cố tình như không thấy Chúa Giê-su những việc Chúa Giê-su đã lam cho người mù, bởi vì con mắt tâm hồn của họ đã bị mù bởi những kiêu ngạo và ghét ghen. Họ nhìn mà không thấy, cho nên Chúa Giê-su đã nói với họ: “Nếu các ông đui mù thì các ông đã chẳng có tội.”

Bạn thân mến,

Trong cuộc sống đời thường, có những lúc chúng ta làm bộ sáng mắt lên án người này người nọ không biết gì, toàn là thứ đui mù cả; có những lúc chúng ta giả đui mù không thấy cái lẽ phải của người anh em, nhưng lại thấy cái sai trái của người có tiền có quyền; có những lúc chúng ta tự cho mình có con mắt công chính nhìn thấy rõ những sai trái của tha nhân, nhưng thật ra chính chúng ta là người mù trước tiên trước những hứa hẹn và quyền lợi bất chính của cá nhân.

Bạn và tôi hãy học như Chúa Giê-su không gượng ép khi đối xử với tha nhân, và có một đức tin thành thật chắc chắn như người mù, bởi vì con mắt xác thịt bị mù thì đã khổ, nhưng con mắt tâm hồn mà bị mù thì cái khổ và khốn nạn tăng lên cả vạn lần.

Xin Thiên Chúa chúc lành cho chúng ta.

----------------------------

http://www.vietcatholic.net/nhantai

http://360.yahoo.com/jmtaiby

jmtaiby@yahoo.com taibytw@hotmail.com

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
 

MC4-A70. ÁNH SÁNG TRẦN GIAN

Ga 9, 1- 41
Anh chị em thân mến.
 

Khi ánh hoàng hôn từ từ buông xuống, vạn vật cũng chuẫn bị khép mình để bước vào sự yên lặng của: MC4-A70

Khi ánh hoàng hôn từ từ buông xuống, vạn vật cũng chuẫn bị khép mình để bước vào sự yên lặng của màn đêm, một sự yên lặng bất động.
Khi ánh bình minh từ từ ló dạng, mọi vật bắt đầu vươn mình đón chào một sức sống mới, một sức sống mãnh liệt trong ánh sáng chan hoà của ngày mới. Mọi công việc đều được hoạt động dưới ánh sáng, nếu không có ánh sáng thì không thể làm gì được. Khi con người làm việc dưới ánh sáng dù cho là ánh sáng ban ngày hay ánh sáng nhân tạo đi nữa thì vẫn phải cố sức mà làm việc, có khi vì công việc mà con người phải vất vả mệt nhọc, nhưng vẫn phải cố gắng vượt qua tất cả. Ánh sáng được mang đến để cho con người có phương tiện thuận lợi mà làm việc. Nếu con người không biết tận dụng những lúc có ánh sáng thì thật là uổng phí, vì khi không còn ánh sáng, con người khó mà thực hiện công việc cho hoàn hảo. Nhưng khi có ánh sáng, không phải lúc nào công việc cũng thành công, cũng có những khó khăn của công việc cho dù với ánh sáng đòi buộc con người phải vượt qua với tất cả quyết tâm của mình.
Một người mù từ lúc mới sinh, nghĩa là anh ta được sinh ra trong bóng đêm của cuộc đời. Anh ta ngồi bất động bên vệ đường chờ người khác ban phát. Anh không hành động gì hết vì chung quanh anh chỉ là bóng tối, nên anh không lãnh trách nhiệm gì hết. Nhưng khi anh vừa sáng mắt, ánh bình minh chiếu vào cuộc đời, thì sự yên tĩnh của màn đêm không còn nữa, mà anh bắt đầu hoạt động, bắt đầu một ngày mới trong ánh sáng. Một ngày mới với tất cả trách nhiệm của cuộc đời. Anh phải đối diện với sự thật, anh phải chọn lựa để làm chứng cho những gì anh biết là sự thật, anh phải chịu trách nhiệm về mình và những việc làm của mình. Anh đã nhìn thấy ánh sáng, anh có trách nhiệm định hướng cho cuộc đời của chính anh, nghĩa là anh phải biết vượt qua những khó khăn trở ngại để bảo vệ hồng ân Chúa. Vừa mới được sáng mắt, anh bị khai trừ khỏi cộng đoàn, bị cha mẹ từ chối, nhưng anh nhất quyết bảo vệ cho ánh sáng mà anh vừa mới nhận được, cho dù phải đối diện với những khó khăn trở ngại.
Nhận được ánh sáng là một niềm vui, nhưng là niềm vui trong trách nhiệm. Có những người không dám nhận ánh sáng, không dám bước đi trong ánh sáng, mà chỉ thích màn đen của bóng đêm.
Mỗi người trong chúng ta nhìn lại cuộc sống của chính mình, xem đang bước đi trong bóng tối, hay đang bước đi trong ánh sáng. Chúng ta đã được lãnh Bí Tích Rửa Tội, đã nhận được ánh sáng của Chúa Kitô hướng dẫn, thế mà trong cuộc sống, nhiều khi chúng ta muốn từ chối ánh sáng đó, để bước đi trong đêm tối của cuộc đời, để không ai biết, không ai nhìn thấy những hành động việc làm của chúng ta. Những lúc chúng ta muốn trốn chạy ánh sáng, để mọi người không nhìn thấy được con người thật của chúng ta. Đó là những lúc mình chỉ muốn ngồi hưởng những mối lợi không do công sức mình làm ra, những lúc chúng ta muốn cướp công lao cực khổ của người khác mà đem về làm của mình. Những lúc đó có phải chúng ta muốn mình như người mù ngồi bên vệ đường trông chờ vào những đồng tiền bố thí, có khi khó chịu vì người khác bố thí ít quá. Cũng có những lúc chúng ta chỉ muốn sống cho riêng mình chỉ biết hưởng thụ mà bất chấp đến những người chung quanh, không nhìn thấy được những giọt nước mắt phải chảy xuống vì hành động của chúng ta. Những lúc chúng ta không nhìn thấy được trách nhiệm phải làm, phải chu toàn: trách nhiệm của một người công giáo, trách nhiệm của một người trong xã hội, trách nhiệm làm cha, làm mẹ và cả trách nhiệm làm người. Như vậy chúng ta đang sống trong ánh sáng hay bóng tối?
Nếu chúng ta biết chấp nhận cuộc sống này, với trách nhiệm của đời người và nhận thức cách chính đáng, để chu toàn thật tốt đẹp, cho dù có những sóng gió cũng không làm cho mình chùn bước. Nếu chúng ta nhìn thấy được những việc tốt đẹp cần phải làm và sẳn sàng hành động cho dù phải gặp những khó khăn trở ngại cũng không sờn lòng. Đó là chúng ta đang bước đi trong ánh sáng thật của Chúa Kitô đã ban cho chúng ta.
Chúng ta cùng nhau cầu xin Chúa mở mắt tâm hồn chúng ta để nhìn thấy ánh sáng Chúa và luôn bước đi trong ánh sáng.

 

MC4-A71. ÁNH SÁNG SOI CHIẾU

Ga 9, 1- 41
Anh chị em thân mến,
 

Ánh sáng là món quà quí giá nhất cho con người, nhất là cho người mù không nhìn thấy. Người ta: MC4-A71

Ánh sáng là món quà quí giá nhất cho con người, nhất là cho người mù không nhìn thấy. Người ta thường nói: "Chính bóng tối đã kêu gọi (cần có) ánh sáng". Người mù, một khi được sáng mắt, sẽ thấy ánh sáng quí giá như thế nào. Chỉ khi nào người ta mù, không có ánh sáng, người ta mới hiểu được ánh sáng cần cho sự sống. Câu chuyện của bài Tin Mừng hôm nay nói về việc Chúa Giêsu chữa cho một anh mù từ khi mới sinh. Chính Chúa nói: "Ta là ánh sáng thế gian". Chính Chúa và Lời Chúa là ánh sáng, là của ăn tinh thần cho con người đang sống trong mù tối, vì không nhận ra Thiên Chúa. Đây là chủ đề mà Hội thánh muốn chúng ta suy niệm trong ngày Chúa Nhật hôm nay.
a/. Trước hết, có một vài câu cần tìm hiểu:
"Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến anh này sinh ra bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta?" Quan niệm xưa cho rằng người bị mù, hay bệnh tật chính là do tội lỗi của mình hay của người thân mình gây ra. Chúa Giêsu trong câu chuyện này đánh đổ quan niệm đó, Người nói: "không phải anh ta, cũng không phải cha mẹ anh ta, nhưng để cho mọi người thấy được quyền năng và tình thương của Thiên Chúa."
Thầy là ánh sáng cho thế gian: lời tự xưng của Chúa Giêsu, cũng là sự thật. Chúa chính là ánh sáng, và ai đến với Người sẽ có được ánh sáng như câu chuyện anh mù được chữa lành trong bài Tin Mừng hôm nay.
Chúa nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn, thoa vào mắt người mù: người xưa tin nước miếng có sức chữa bệnh. Có lẽ Chúa muốn dùng cử chỉ tượng trưng để anh mù tin.
Có 3 thái độ cản trở con người đến để được Chúa Giêsu chữa lành: 1. của người Do Thái: mày sinh ra trong tội lỗi ngập đầu... Họ cho người bị bệnh mù bẩm sinh, là do tội của mình. Thật là đáng sợ khi nghĩ Thiên Chúa đã để anh mù bị bệnh, để trừng phạt anh ta. Hiểu như thế về Thiên Chúa là hoàn toàn sai lạc. Chúa nói: có người cha nào, con xin bánh lại cho con rắn hay con bò cạp? Cha trần gian mà còn đối xử với con cái mình như thế, huống chi Cha trên trời. 2. là thái độ của những người lân cận, cha mẹ của anh mù: lúc đầu họ ngạc nhiên vì anh mù được sáng mắt, sau cùng là sợ hãi, vì sợ bị vạ lây, đến nỗi tỏ ra hèn nhát và dửng dưng. 3. cách riêng là thái độ của nhóm Pharisêu, tư tế: họ ngoan cố phủ nhận Chúa Giêsu là ánh sáng là sự sống, dù họ thấy cả phép lạ Chúa cho người chết sống lại...Họ không đủ khiêm tốn để nhìn nhận sự thật. Họ là những con người đui mù thiêng liêng, họ không cần và cũng không muốn được Chúa chữa lành...
b/. Trước hết chúng ta hãy tìm hiểu tiến trình Chúa Giêsu chữa lành tâm hồn cho anh mù: Trong câu chuyện chữa lành hôm nay, ta không thấy người mù cầu xin Chúa chữa bệnh cho mình. Cho dù nếu có mà Phúc Âm không ghi, ta cũng thấy rõ thái độ của Chúa Giêsu, muốn tự mình đi đến cứu chữa cho anh ta: Người lấy nước miếng trộn với đất xức mắt anh ta, rồi bảo anh đi đến hồ Siloê mà rửa. Anh đi đến đó rửa, và được khỏi. Sau khi anh được chữa bệnh phần xác, những người chứng kiến bị "sốc" và cứng lòng tin. Họ chất vấn anh mù. Anh công khai nói lên sự thật; chính thái độ này đã dẫn anh đi xa hơn trong niềm tin của mình. Sau đó, những người Pharisêu chất vấn nữa, nhất là khi họ biết anh được chữa lành trong ngày sabbat. Họ còn cho mời cả cha mẹ anh đến, cốt để tìm ra lý lẽ chối bỏ việc Chúa Giêsu chữa lành. Sau đó, Chúa hay biết anh bị "tấn công", Người đến gặp anh ta, tỏ mình cho anh ta biết Người là ai. Chính Chúa mời anh đi đến niềm tin. Anh mù đã không cưỡng lại, nên đã quì xuống thưa: "lạy Chúa, con tin." Anh đã được chữa lành đôi mắt tâm hồn...
c/. Gợi ý sống và chia sẻ: Qua câu chuyện anh mù được chữa sáng mắt, ta là hạng người nào trong những hạng người trên? Có phải ta ở trong hạng của anh mù, và ta thấy mình cần được Chúa chữa cho lành, để ta được sáng mắt tâm hồn không?

 

MC4-A72. ÁNH SÁNG ĐỨC TIN

Ga 9, 1 - 41
 

Một trong những nỗi khổ của con người là không được nhìn thấy mọi sinh vật xung quanh. Có người: MC4-A72

Một trong những nỗi khổ của con người là không được nhìn thấy mọi sinh vật xung quanh. Có người từ khi mới sinh ra đã phải chịu sống trong cảnh tối tăm, mù mịt. Người khác thì trong quá trình sống do tai nạn hay căn bệnh gì đó làm cho họ mãi mãi không nhìn thấy nữa. Quả thật là một nỗi bất hạnh. Dầu vậy, nỗi bất hạnh đó rồi cũng có ngày qua đi. Cách riêng với với người công giáo thì chúng ta tin rằng căn bệnh mù đức tin mới thật là bất hạnh lớn nhất.
Nếu như tuần trước Chúa Giêsu mang đến cho ta nguồn nước hằng sống thì hôm nay Chúa Giêsu tiếp tục mạc khải chính Người là Đấng mang đến cho chúng ta ánh sáng đức tin.
Nhờ có ánh sáng đức tin mà chúng ta sẽ có được cái nhìn đức tin. Chính cái nhìn đức tin đó sẽ giúp chúng ta có cái nhìn đúng đắn theo cái nhìn của Chúa. Cái nhìn của Chúa không theo dáng vẻ bên ngoài mà nhìn tận sâu thẳm đáy lòng người - cái nhìn của tình thương.
Bài đọc 1 cho thấy Thiên Chúa sai tiên tri Samuel đến chọn một người thay thế cho vua Saolê. Khi thấy Êliap với tướng người khôi ngô tuấn tú, tiên tri nghĩ đây chính là người Thiên Chúa chọn. Thế nhưng, Thiên Chúa phán cùng tiên tri: " Đừng xét theo hình dáng và vóc người cao lớn của nó, vì Ta đã gạt bỏ nó. Thiên Chúa không nhìn theo kiểu người phàm: người phàm chỉ nhìn thấy điều mắt thấy, còn Thiên Chúa nhìn thấy tận đáy lòng " . (1Sm 16, 7). Kế đến, Thiên Chúa đã chỉ cho tiên tri chọn Đavit là người con út của ông Giêsê.
Bước sang bài Tin mừng, chúng ta thấy Chúa Giêsu đem đến anh mù từ thuở mới sinh ánh sáng. Từ ánh sáng tự nhiên Chúa Giêsu đã cho anh được ánh sáng quý báu hơn là ánh sáng đức tin. Chúa Giêsu đã nhìn tận đáy lòng anh. Đang khi đó người Do thái ngay cả các Tông đồ nghĩ rằng do tội của anh hay của cha mẹ mà anh nên mù lòa như thế. Sau khi đã chữa lành cho anh " Chúa Giêsu hỏi: Anh có tin vào Con Người không? Anh đáp: Thưa Ngài, Đấng ấy là ai để tôi tin? Đức Giê-su trả lời: Anh đã thấy Người. Chính Người đang nói với anh đây. Anh nói: Thưa Ngài, tôi tin. Rồi anh sấp mình xuống trước mặt Người " (Ga 9, 35b - 38).
Qua câu trả lời và cử chỉ sấp mình của anh, chúng ta thấy anh đã thật sự tin vào Chúa Giêsu. Anh tin Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế đem đến cho anh ơn cứu độ. Như thế, Thiên Chúa biết chúng ta cần thấy những gì. Đặc biệt là những gì đem đến ơn cứu độ cho ta.
" Chuyện người thì sáng còn chuyện mình thì oán " . Đó là thái độ của những người không biết mình và không chấp nhận sự thật về mình. Thái độ và cách sống ấy thật nguy hiểm hơn trong cái nhìn đức tin. Chỉ khi nào nhìn ra được mình là thụ tạo yếu đuối, mỏng dòn và tội lỗi trước mặt Chúa thì chúng ta mới thật sự tin tưởng và phó thác trọn vẹn vào Chúa. Cũng thế, khi đó chúng ta mới có thể thông cảm và khiêm tốn trước anh chị em mình.

 

MC4-A73. MÙ THỜI HIỆN ĐẠI

Ga 9, 1 - 41
 

Có bao giờ bạn nghĩ mình bị mù lòa dù đang sống trong kỷ nguyên ánh sáng, dù mắt bạn vẫn bình: MC4-A73

Có bao giờ bạn nghĩ mình bị mù lòa dù đang sống trong kỷ nguyên ánh sáng, dù mắt bạn vẫn bình thường không?
Lẽ ra chúng ta đang sống trong kỷ nguyên ánh sáng, đang sống trong thời đại mà nền văn minh con người phát triển đến đ ỉnh cao chưa từng thấy thì người ta được mở mang trí thức để có thể nhìn cuộc sống và con người d ưới nhiều khía cạnh. Thế nhưng người ta lại mù lòa, tầm nhìn bị giới hạn trước cuộc đời và tha nhân. Đây là vấn đề chính mà Chúa Giêsu đề cập trong Tin Mừng hôm nay.
Chúng ta đang bị mù khi nhìn và đánh giá cuộc sống hôm nay. Mù vì chỉ nhìn cuộc sống này trong phạm vi vật chất và cuộ sống này là cùng đích. Trong khi đó còn có một cái vì vượt xa và trên cả vật chất và cuộc sống con người có quá khứ, hiện tại và cả tương lai ở đời sau. Nếu như cuộc sống này bị đóng khung trong phạm vi vật chất thì thử hỏi đời người còn có ý nghĩa gì?

Cũng từ cái nhìn hạn hẹp v ề cuộc sống như thế dẫn đến cái nhìn về tha nhân cũng bị giới hạn, bị đóng khung. Người ta không còn thấy được những giá trị thiêng thiêng, không còn thấy giá trị nhân phẩm đang hiện diện trong anh em mình. Người ta chỉ nhìn và đánh giá n ười khác theo tiêu chuẩn hoàn toàn vật chất. Hai chữ tình nghĩa ngày nay dường như chỉ còn trên môi những thi sĩ, những nhà văn trong thơ văn hay tiểu thuy ết. Cái mà người ta tôn trọng hôm nay là tiền, quyền và địa vị. Vì thế khi muốn kết bạn thân thiện với ai người ta luôn nhìn người bạn ấy theo tiêu chuẩn này. Đây quả thật là một thứ mù lòa đáng sợ. Bệnh mù này không thể chữa khỏi vì người ta không biết mình đang mù hay do cố ý mù.
Cái mù thể lý trong Tin Mừng đã là một nỗi bất hạnh nhưng cái mù tinh thần của chúng ta hôm nay còn đáng sợ và nguy hiểm hơn. Vì khi lương tâm người ta trở nên mù tối thì người ta có thể làm bất kỳ điều gì mà không cần nghĩ đến tha nhân, xã hội. . . miễn bản thân mình có lợi.
Lời Chúa hôm nay như một luồng ánh sáng thiêng liêng soi sáng tâm hồn giúp chúng ta loại bỏ sự mù lòa nơi sâu thẳm của lòng mình để chúng ta có cái nhìn mới mẻ và linh thánh v ề cuộc sống và tha nhân.
Chúng ta hãy xem cách Chúa chọn một người để đặt làm vua lãnh đạo dân Chúa. Chúa không nhìn người ấy theo tiêu chuẩn mà người đời hay tìm kiếm. Nhưng Chúa nhìn thấu suốt tâm hồn, nhìn cái tấm lòng và cách thức đối xử của người đó với anh em. Để chọn một người lãnh đạo, Chúa không chọn một người tài ba lỗi lạc, nhưng lại chọn Đavít một người kém cỏi, yếu đuối...... nhưng nơi con người nhỏ bé ấy chứa đựng một con tim quảng đại biết sống vì người khác và dám chết cho anh em.
Chúng ta là con cái Thiên Chúa, nghĩa là con cái của Ánh Sáng, chúng ta hãy thực thi những gì thánh Phaolô nhắn nhủ trong bài đọc 2: Chúng ta là con cái ánh sáng, hãy hành động như con cái sự sáng, hãy ăn ở như con cái sự sáng và hành động xứng với địa vị mà Đ ức Kitô đã mang lại cho chúng ta. Địa vị và nhân cách ấy là con Thiên Chúa. Chúng ta hãy sống xứng với ân ban cao trọng ấy!
L ạy Chúa! Như sen trong đầm lầy, xin giữ tâm hồn con thanh khiết.
Giữa m ột thế giới đầy những hình ảnh vẫn đục, xin gìn giữ mắt con.
Giữa một thế giới tôn thờ khoái lạc, xin giúp con biết trân trọng thân xác.
Giữa một thế giới đang bị ám ảnh bởi dục tình, xin thanh lọc lòng trí con.
Xin nâng con lên cao vượt qua những thèm muốn chiếm đoạt, để biết tận hiến trong yêu thương.
Xin đừng để con phung phí cuộc sống này chỉ vì những lợi ích thấp hèn.
Xin mở mắt tâm hồn con, để con thấy Chúa đang hiện hiện trong tha nhân.
Lạy Chúa, như sen trong đầm lầy, xin giữ tâm hồn con trong sáng. Amen.


 

MC4-A74. ÁNH SÁNG CHIẾU SOI

Ga 9, 1 - 41
 

Các nhà thơ thường thi vị hóa cặp mắt "như cửa sổ tâm hồn", chính nhờ cặp mắt mà con người: MC4-A74

Các nhà thơ thường thi vị hóa cặp mắt "như cửa sổ tâm hồn", chính nhờ cặp mắt mà con người mới có thể nhìn thấy ánh sáng để biểu lộ tình yêu, biểu lộ với các tương quan, ánh sáng tự nhiên để dẫn ta đến với các cảnh vật xung quanh. Còn ánh sáng tâm hồn để nối kết những mảnh đời, những con tim lạc điệu đến gần nhau hơn. Nhưng quan trọng hơn hết vẫn là ánh sáng đức tin cho con người "thấy" được Thiên Chúa và đến gần với Ngài hơn.
Trong công việc mục vụ thăm viếng, tôi có dịp đến thăm một bà già bị mù từ lúc bẩm sinh. Qua tâm sự tôi biết được sự khao khát lớn nhất của bà là được nhìn thấy ánh sáng để đi đọc kinh, xem lễ và làm việc dễ dàng hơn. Nhưng điều làm tôi nể phục là bà không bao giờ bỏ một lễ Missa nào, cho dù là trời mưa gió đường khó đi , hay lễ sớm trời tối. Bà vẫn đi dự lễ với cây gậy tre, bà mò mẫm từng bước một thật cực khổ. Bà cũng thuộc được rất nhiều câu Kinh Thánh và các kinh đọc hàng ngày.... Nhưng ngược lại, có rất nhiều người sáng mắt gần đó tôi không bao giờ thấy đi dự lễ Missa hàng ngày, mà chỉ thấy có mỗi ngày Chúa Nhật, khi được hỏi nguyên do tại sao, thì họ trả lời là do trời tối đi không được. Do đó tôi mới đi đến kết luận là nếu nhìn thấy ánh sáng thì mỗi người phải tự mình biết "mở mắt" ra để đón nhận ánh sáng.
Bà già mù tôi viếng thăm , tuy không thấy gì bên ngoài, cặp mắt bà đã bị hư từ lúc mới sinh, cũng giống như anh mù trong bài Ti n Mừng hôm nay. Hay nói đúng hơn cả hai chỉ bị mù con mắt thân xác, nhưng con mắt tâm hồn họ không mù. Họ đang chờ đợi một ánh sáng xuất hiện, chỉ cần một cơ hội là họ nhận ra, họ bước theo ngay. Trong suốt bài Tin Mừng là một hành trình của người mù, anh tiến vào ánh sáng đức tin một cách tiệm tiến. Tuy anh chỉ là người thụ ơn và đến lúc sáng mắt vẫn chưa biết người chữa mình là Ánh Sáng Thế Gian. Việc lành bệnh đối anh chỉ là điều không tưởng, nhưng đó lại là sự thật anh đã sáng mắt, mà anh chỉ biết mình được sáng mắt là nhờ ông Giêsu nào đó đã lấy bùn thoa vào mắt và anh vâng lời đi rửa và đã nhìn thấy.
Hành trình đức tin của anh mù không phải là một con đường dễ dàng, anh phải đi từ những nghịch cảnh đơn giản đến những tình huống phức tạp. Chính thái độ chấp nhận và hành trình dấn thân theo lời Chúa dạy mà mắt anh lập tức đã được mở ra, anh đã "Thấy" Chúa Giêsu không phải bằng cặp mắt xác thịt, mà còn cảm nhận thấy Ngài bằng cặp mắt đức tin. Người hành khất mù loà bẩm sinh, kẻ bị coi là tội lỗi bị xã hội từ chối, một hình phạt mà người Do Thái cho là nặng nề, nhục nhã nhất đã trở nên "dấu chỉ" sống động của những người được Đức Giêsu soi sáng và tái sinh.
Trong cuộc sống đạo, chúng ta không bị mù về con mắt thể xác, cũng không bị mù về con mắt tinh thần. Nhưng thực tế thì sao? Chúng ta vẫn chưa biết mở con mắt ra để sống trong ánh sáng đức tin. Rất nhiều lần ta sống như một kẻ mù loà. Mù vì không bao giờ thấy được những hồng ân Chúa ban để tạ ơn Người. Ta mù vì không thấy được những kỳ công quyền năng Chúa làm để mà ca tụng ngợi khen, mù loà vì đã không thấy được biết bao nhiêu điều thiện hảo mà những anh em đồng loại khác đã làm cho chúng ta để mà tạ ơn... Có những lúc chúng ta không bị mù loà nhưng lại cố ý đóng kín mắt để không nhìn thấy, cố ý bịt tai như bị tê liệt để không còn nghe thấy những điều khốn cực, nghèo khổ mà đáng ra tôi phải có bổn phận giúp đỡ, tê liệt trước những thiếu thốn của anh em xung quanh trong khi hiện tại tôi đang dư thừa.
Ngược lại với bà già mù mà tôi viếng thăm, là những người sáng mắt xung quanh. Cũng giống như những đầu mục Do Thái và những người Pharisêu hôm nay, tự kiêu tự mãn là minh "sáng mắt" chối bỏ những "dấu chỉ". Hậu quả là phải chịu đắm mình trong đêm tồi triền miên. Trong khi những người mù nhờ Đức Giêsu đã trở nên sáng mắt, thì những người tự cho mình là sáng mắt lại trở nên mù loà. Như Đức Giêsu đã cảnh cáo "Tôi đến thế gian này để xét xử cho người không xem thấy được thấy và kẻ xem thấy lại trở nên đui mù" (Ga 9, 39). Những người Phariseu tự cho mình là người sáng mắt lại trở nên mù loà. Chính sự cứng đầu kiêu căng đó đã tố cáo rằng không phải mắt họ bị mù loà. Nhưng là tâm hồn họ bị mù loà, lòng trí họ bị bóng đêm phủ lấp, đến nỗi họ không thể nhìn thấy được các dấu chỉ của Thiên Chúa. Và khi Ánh Sáng đến họ không chịu chấp nhận mà lại lao mình vào trong bóng tối u mê.
Lạy Chúa , xin Chúa biến đổi tâm hồn con trong Mùa Chay này, xin chữa lành bệnh mù tinh thần của chúng con, xin Chúa làm cho đôi mắt đức tin của chúng con được nhìn thấy. Xin Chúa làm cho chúng con thành những người biết nhận ra Chúa trong mọi sự và cảm nhận được rằng: Chúa là Ánh Sáng, là Sự Sống và là sự cứu rỗi. Amen

 

MC4-A75. ÁNH SÁNG

Ga 9, 1 - 41
 

Cách thị trấn Cầu Ngang 2km, có một thôn xóm người ta gọi là Cà-tum. Cái xóm quê mùa dân dã : MC4-A75

Cách thị trấn Cầu Ngang 2km, có một thôn xóm người ta gọi là Cà-tum. Cái xóm quê mùa dân dã giống như tên gọi ấy đến nay vẫn chưa biết đến dòng điện. Khi màn đêm buông xuống, cả một vùng tối bao la chỉ ẩn hiện một vài ánh đèn dầu leo lét. Người dân ở đây hằng đêm nhìn về góc trời thị trấn sáng rực mà ước mơ có một ngày ánh sáng của những bóng đèn điện chiếu toả trong ngôi nhà của mình.
Khao khát của người dân Cà-tum tựa như người mù mơ thấy được ánh sáng mặt trời, thấy được những đổi thay từng ngày của thế giới vật chất. Hạnh phúc biết bao cho người dân Cà-tum khi dòng điện được đưa về! Hạnh phúc biết bao cho người mù khi họ nhìn thấy ánh sáng!
Lời Chúa hôm nay đưa chúng ta đi từ biến cố Đức Giêsu chữa cho một người mù từ thuở mới sinh, đến một ý nghĩa siêu nhiên: tuyên xưng Đức Giêsu là ánh sáng thế gian. Anh mù từ lúc mới sinh đã sống trong tăm tối, tối cả thể xác lẫn tâm hồn. Thế nhưng, Đức Giêsu đã dùng quyền năng Thiên Chúa mà cho anh được sáng mắt, đồng thời mời gọi anh tiến tới ánh sáng đức tin. Anh mù quảng đại đón nhận ánh sáng đức tin ấy: "Lạy Ngài, tôi tin". Tâm hồn anh đã được chữa khỏi tật mù thiêng liêng và anh đã tuyên xưng Đức Giêsu là ánh sáng thế gian.
Niềm vui được lành bệnh và sự nhận biết Đức Giêsu Kitô làm anh mù can trường, dũng cảm tuyên xưng đức tin và chấp nhận bị trục xuất từ nhóm người biệt phái. Quả thật, những người biệt phái là nạn nhân của tinh thần hẹp hòi, cố chấp. Họ không nhìn thấy hạnh phúc mà Đức Giêsu mang đến cho anh mù, họ chỉ nhìn thấy sự việc Đức Giêsu đã vi phạm ngày Sa-bat khi chữa bệnh. Với cái nhìn hẹp hòi như thế, họ chỉ nhận ra Đức Giêsu là một người tội lỗi!
Thật là một định mệnh éo le: người mù từ lúc mới sinh đã được sáng cả thể xác lẫn tâm hồn; còn những người biệt phái vẫn tự hào sống trong ánh sáng lại hoá ra mù không nhìn thấy chân lý: "Ta là Ánh Sáng thế gian" (Gn 9,5).
Đức Giêsu là Ánh Sáng. Ánh Sáng đã đến, đang chờ đợi bạn tiếp nhận để chiếu soi, đổi mới cuộc đời bạn. Bạn quảng đại đón nhận hay từ chối để suốt đời sống trong u tối như những kẻ đui mù? Thật đáng tiếc cho những ai "chuộng bóng tối hơn ánh sáng" (Gn 3,19). Vậy bạn hãy chân thành đón nhận Ánh Sáng, nhất là ánh sáng lương tâm mà Chúa đang rọi chiếu cho bạn. Đừng kiêu ngạo chối từ, nhưng hãy khiêm tốn trông chờ ánh sáng chân lý. Đừng vị kỷ trước những đòi hỏi của Ánh Sáng, nhưng hãy sẵn sàng đón nhận lời mời gọi của Ánh sáng Lời Chúa. Có như thế, tâm hồn bạn sẽ trở nên trong sáng và Đức Kitô sẽ luôn chiếu sáng trên cuộc đời bạn (x. Ep 5,14).

 

MC4-A76. ÁNH SÁNG BAN SỰ SỐNG

Ga 9, 1 - 41
 

Trên đường đi mua nước a-xít đậm đặc trở về để pha chế làm bình ắc-qui, anh Hiếu, thợ làm: MC4-A76

Trên đường đi mua nước a-xít đậm đặc trở về để pha chế làm bình ắc-qui, anh Hiếu, thợ làm bình ắcqui, cố tránh một con chó chạy ngang qua đường, nên anh bị té xe. Những giọt a-xít từ chiếc bình bị vỡ đã bắn tung toé khắp người anh. Khủng khiếp nhất là một vài giọt đã văng trúng vào mắt anh và vĩnh viễn cướp đi đôi mắt của anh. Gặp lại anh trong cảnh mù loà, anh tâm sự : "sống trong cảnh mù loà và tối tăm này thật là khủng khiếp." Anh nói trong sự thất vọng và chán chường những lời như thế. Tôi hiểu được nỗi đau khổ quá lớn của anh và thầm cầu mong cho anh có đủ sức mạnh để chiến đấu và chiến thắng cơn đau đớn và buồn khổ mà anh đang gánh chịu. Nhưng khi đó, tôi lại suy nghĩ về một sư mù loà lớn lao hơn là sự mù loà về mặt tinh thần. Sống trong cảnh mù loà thể xác đã đau khổ như thế, thì sống trong sự mù loà về mặt thiêng liêng chắc chắn sẽ còn đau khổ hơn gấp nhiều lần. Vì những ai sống trong cảnh mù loà thiêng liêng sẽ không nhìn thấy được sự thật, không nhìn thấy ánh sáng thật mang lại sự sống đời đời cho họ. Ánh sáng đó chính là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.
Tin mừng hôm nay thuật lại câu chuyện Chúa Giêsu chữa lành một người mù từ lúc mới sinh. Anh mù này đã gặp được chính nguồn sáng là chính Đức Giêsu. Ngài đã mở mắt cho anh và cứu chữa anh. Từ việc được sáng mắt thể xác, anh đã tiến đến việc sáng mắt tâm tâm hồn : nhận ra Đức Giêsu là Thiên Chúa, nhờ ơn Chúa trợ giúp anh. Đức Giêsu chính là Ánh sáng, Ánh sáng phát xuất từ Nguồn Sáng là Thiên Chúa, Ngài là Ánh sáng ban sự sống vĩnh cửu cho con người .
Thấu hiểu sự đau khổ của anh mù, Đức Giêsu đã cảm thương anh và tự nguyện đến cứu chữa anh. Ngài đã giải thoát anh khỏi đau khổ nơi thân xác như dấu chỉ của Sa tan đang đè nặng trên con người của anh. Việc chữa lành người mù từ lúc mới sinh cho ta thấy quyền năng của Thiên Chúa trên ma quỷ, trên sự tối tăm và sự chết. Đức Giêsu chính là Ánh sáng ban sự sống cho hết mọi người, đặc biệt là cho những ai biết nhận ra Ngài. Câu chuyện của người mù cũng chính là câu chuyện của chính chúng ta hôm nay. Chúng ta tuy không bị mù về thể xác, nhưng rất có thế chúng ta đang bị mù về tinh thần.
1. Mù vì không nhận ra sự thật.
Sự thật đó là :
- Thiên Chúa là Đấng Tạo hoá muôn loài và là Cha của tất cả chúng ta; còn tất cả chúng ta đều là anh em với nhau.
- Con người là hồn và xác được Thiên Chúa dựng nên giống hình ảnh của Ngài
- Đức Giêsu là Con một duy nhất của Thiên Chúa, đã xuống thế làm người để cứu chuộc chúng ta. Ngài đã chịu muôn vàn đau khổ và sỉ nhục chỉ vì yêu chúng ta.
- Tất cả những gì chúng ta đang có đều là hồng ân của Chúa ban.
- Ơn Chúa chính là sự sống của chúng ta.
- Hội thánh Công Giáo do Chúa Giêsu sáng lập chính là người mẹ dịu hiền của tất cả chúng ta.
Những sự thật đó rất nhiều khi chúng ta không nhìn thấy. Như vậy, có thể nói là chúng ta đang sống trong cảnh mù loà về mặt tinh thần và thiêng liêng.

2. Mù vì không sống theo những giá trị Tin Mừng đòi hỏi:
Lời Chúa là sự thật, là ánh sáng soi đường con người tìm về Chân Thiện Mỹ, dẫn đưa con người về sự sống vĩnh cửu. Nhưng nhiều khi vì muốn sống và làm theo ý riêng, vì lười biếng, vì nhát sợ, vì lợi lộc thấp hèn và những thú vui chóng qua ở đời này mà chúng ta đã bỏ qua Lời của Thiên Chúa .
Chấp nhận sống theo Lời Chúa là chấp nhận lội ngược dòng, chấp nhận bước trên con đường chẳng mấy ai đi. Nhưng chắc chắn ở phía cuối của con đường ấy là một tương lai huy hoàng dành cho những ai can đảm và trung tín đến cùng.
Chúng ta hãy tha thiết cầu xin Chúa chữa cho mắt tâm hồn chúng ta khỏi cảnh mù tối thiêng liêng, để chúng ta biết nhìn ra sự thật, hiểu được giá trị lớn lao của Tin mừng và can đảm sống theo những giá trị đích thực đó. Đừng bao giờ tìm cách huỷ diệt ánh sáng chân lý vì kiêu ngạo hay vì thành kiến như những Biệt phái trong Tin mừng hôm nay. Đức Giêsu chính là Ánh sáng ban sự sống cho hết mọi người. Hãy hân hoan tìm đến với Ngài để được sống và sống muôn đời.

 

MC4-A77. Đôi mắt là cửa sổ tâm hồn – FX Phạm Đình Phước

Thật là một hồng ân lớn khi “đôi mắt” chúng ta chiêm ngưỡng được vẻ đẹp chung quanh, chẳng hạn MC4-A77

Thật là một hồng ân lớn khi “đôi mắt” chúng ta chiêm ngưỡng được vẻ đẹp chung quanh, chẳng hạn thấy được những người thân và những người mình yêu mến, chiêm ngắm ánh sáng lấp lánh của mặt trời lúc rạng đông, nếm hưởng vẻ đẹp của thiên nhiên, nhìn thấy vạn vật, bầu trời, tinh tú và chứng kiến muôn hình vạn trạng của cuộc sống. Tất cả vũ trụ như bừng sáng với với chúng ta.
Chúng ta thường nói: “Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn” nghĩa là đôi mắt phản ánh tâm hồn và tấm lòng con người. Tục ngữ dân gian có câu: “Người khôn con mắt dịu hiền”, “Trán cao mắt sáng phân minh, là người học rộng, công danh tuyệt vời”. Người có tâm hồn thánh thiện thì đôi mắt bao giờ cũng đẹp; nhìn vào đôi mắt của trẻ thơ đã nói lên điều này. Mắt là cửa sổ để qua đó con người chiêm ngắm vẻ đẹp của vũ trụ vạn vật; để nhìn thấy những tấm gương những ngọn đèn soi sáng trong cuộc lữ hành trần thế.
Như thế, khi đôi mắt của ai đó không còn nhìn được nữa, thì lúc đó cảnh vật hết lung linh, không nhìn thấy vẻ đẹp của thiên nhiên, xung quanh họ tất cả chỉ còn lại một màu đen tối. Đó là nỗi bất hạnh của một con người với đôi mắt không nhìn thấy. Người mù về thể xác là người không thể nhận được các hình ảnh qua thần kinh thị giác và do đó không có ý niệm về mầu sắc. Chúng ta có thể liên tưởng đến sự “mù lòa” về tinh thần do cặp mắt đức tin đã bị che khuất, hay do tự cao tự đại, luôn cho mình là người thông suốt nhìn rõ mọi vấn đề, cho là thánh thiện đức độ hơn người, không nhìn thấy những sai sót của mình.
Tin mừng chủ nhật IV mùa chay năm A thuật lại việc Chúa Giêsu chữa lành đôi mắt cho anh mù từ lúc mới sinh (Ga 9, 1–41). Chữa lành đôi mắt thể xác là một hồng ân cao cả. Nhưng tuyệt vời hơn nữa, chính Đức Giêsu đã khai mở đôi mắt đức tin cho anh, để anh nhận ra Người là một ngôn sứ, là Thiên Chúa, là Ánh Sáng cho trần gian. Được chữa lành đôi mắt thể xác, đôi mắt đức tin của anh ngời sáng: “Xưa nay chưa hề nghe nói có ai đã mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh. Nếu không phải là người bởi Thiên Chúa mà đến, thì ông ta đã chẳng làm được gì” (Ga 9, 33). Chúa Giêsu khẳng định: “Ta là sự sáng thế gian. Ai theo Ta sẽ được ánh sáng ban sự sống” (Ga 1, 12). Nhận được ánh sáng của Chúa Giêsu qua bí tích thánh tẩy, chúng ta “sống như con cái của sự sáng” theo lời dạy của thánh Phaolô, vì “hoa trái của sự sáng ở tại tất cả những gì là tốt lành, là công chính, chân thật” (Ep 5,8).
“Giàu hai con mắt, khó hai bàn tay”, câu thành ngữ đã diễn tả tầm quan trọng đặc biệt của đôi mắt. Như thế, cầu xin có được đôi mắt sáng là điều cần thiết, nhưng có được một tâm hồn đẹp và sáng ngời còn là điều cần thiết hơn. Xin cho mọi ngư