Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 5 MC A Bài 1-50 Lagiarô được sống lại

Thứ tư - 25/03/2020 05:09
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 5 MC A Bài 1-50 Lagiarô được sống lại
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 5 MC A Bài 1-50 Lagiarô được sống lại
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 5 MC A Bài 1-50 Lagiarô được sống lại
MC5-A1. SLC - Khóc. 2
MC5-A2. SLCTTY/130- Người bạn. 3
MC5-A3. SLCTTY/130- Người bạn. 5
MC5-A4. CSTM/82- Sống và chết 6
MC5-A5. Người Rung Chuông Chân Thật! 8
MC5-A6. Lagiarô sống lại 9
MC5-A7. Thầy là Sự Sống Lại 11
MC5-A8. Ngài là Sự Sống - Đinh ngọc Thiệu (đã viết lại) 13
MC5-A9. Suy Niệm của Nhóm Đồng Hành. 15
MC5-A10. Suy Niệm của JKN.. 16
MC5-A11. Suy Niệm của JKN- 2. 19
MC5-A12. MỞ CỬA MỘ.. 22
MC5-A13. TÌNH THƯƠNG MẠNH HƠN SỰ CHẾT.. 24
MC5-A14. Chúa Giêsu là sự sống. 25
MC5-A15. Chú giải của Noel Quession. 26
MC5-A16. CHÚA SẼ TỚI ĐƯỢC SỰ SỐNG.. 30
MC5-A17. SỐNG HÔM NAY VÀ MÃI MÃI 33
MC5-A18. QUYỀN NĂNG PHỤC SINH.. 37
MC5-A19. Phải vững tin. 41
MC5-A20. MỌI NGƯỜI – HÃY RA ĐÂY. 44
MC5-A21. EM CON SẼ SỐNG LẠI/ 45
MC5-A22. Khi tin nhận Chúa Giêsu. 47
MC5-A23. ĐỨC GIÊSU LÀ NGUỒN SỰ SỐNG - Sr Nhi Dominique, OP. 51
MC5-A24. NIỀM TIN BỪNG SÁNG - Br Philip-Minh Khả, CMC.. 53
MC5-A25. Như Ladarô đã chết được Chúa cho sống lại - Lm Augustine, S.J. 54
MC5-A26. Lazarô - Lm Nguyễn Bình An. 58
MC5-A27. LẠY THẦY CON TIN! - Lm Phanxicô Xaviê Nguyên Đức. 59
MC5-A28. HỠI LAZARÔ, HÃY BƯỚC RA!" - Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh. 60
MC5-A29. TA LÀ SỰ SỐNG LẠI VÀ LÀ SỰ SỐNG” - Sr. Cecilia. 64
MC5-A30. KHÓC.. 66
MC5-A31. TÌNH YÊU VÀ SỰ SỐNG - CS/44. 67
MC5-A32. SỐNG LẠI - STM/85. 69
MC5-A33. CHÚA KHÓC - CSTM/84. 70
MC5-A34. CHÚA LÀ SỰ SỐNG LẠI - Lm. VIKINI 72
MC5-A35. THEO CHÚA SẼ TỚI ĐƯỢC SỰ SỐNG - Lm. Trọng Hương. 73
MC5-A36. CHÚNG TA KHÔNG CÔ ĐỘC.. 78
MC5-A37. PHÉP CHỮA BỆNH CỦA NƯỚC MẮT.. 80
MC5-A38. MÙA XUÂN BẤT DIỆT.. 82
MC5-A39. HẠNH PHÚC.. 84
MC5-A40. ĐA SỐ CÁC VẬN ĐỘNG VIÊN ĐỀU KHÓC - Mark Link S.J. 84
MC5-A41. SỰ SỐNG VÀ SỰ SỐNG LẠI 87
MC5-A42. TÌNH YÊU CỦA CHÚA GIÊSU - Nữ tu Nguyễn thị Ngọc Điệp. 89
MC5-A43. Ta Là Sự Sống Lại Và Là Sự Sống. 91
MC5-A44. ROLLING STONES ! (Những hòn đá lăn) 92
MC5-A45. TA LÀ SỰ SỐNG LẠI VÀ LÀ SỰ SỐNG.. 94
MC5-A46. CHẾT? - Lm Vũ Xuân Hạnh. 100
MC5-A47. CHÚA GIÊSU ĐẤNG BAN SỰ SỐNG - Sr Mai An Linh, OP. 101
MC5-A48. EM CHỊ SẼ SỐNG LẠI - Phó tế Nguyễn Định. 104
MC5-A49. Đức Giêsu, sự sống muôn đời - Lm Trần Thanh Sơn. 106
MC5-A50. TÔI TIN XÁC LOÀI NGƯỜI SẼ SỐNG LẠI 109

 

MC5-A1. SLC - Khóc

Đức Kitô không phải chỉ là một vị Thiên Chúa uy quyền, mà còn là một người như chúng ta: MC5-A1

Đức Kitô không phải chỉ là một vị Thiên Chúa uy quyền, mà còn là một người như chúng ta. Ngài cũng có một trái tim và trái tim ấy cũng biết rung động, cũng mang lấy những tình cảm dạt dào.
Thực vậy, trước sự ngoan cố của bọn biệt phái, Ngài đã nổi giận. Trước sự giả hình của họ, Ngài đã đe loi. Trước sự buôn bán nơi đền thờ, Ngài đã nổi nóng và xua đuổi. Trước cảnh bơ vơ của dân chúng, Ngài đã động lòng thương xót. Trước đám đông đang đói khát vì đã theo Ngài những ba ngày rồi, Ngài đã làm phép lạ cho bánh hóa nhiều để nuôi dưỡng họ. Ngài đã chúc lành cho các em nhỏ, đã chữa khỏi những bệnh hoạn tật nguyền để xoa dịu nỗi đớn đau của dân chúng.
Nơi vườn cây dầu, Ngài đã buồn sầu đến nỗi mồ hôi máu chảy ra nhỏ xuống đất. Đặc biệt hơn cả, đó là Ngài đã khóc. Khóc vì Giêrusalem sẽ bị đổ vỡ hoang tàn. Khóc vì thương xót Lagiarô.
Tuy nhiên, Ngài luôn giữ được thế quân bình trong đời sống tình cảm. Trước tình thế căng thẳng nơi vườn cây dầu, Ngài vẫn sẵn sàng vâng phục thánh ý Chúa Cha. Lúc phải đau khổ tới tột cùng, Ngài luôn nhớ tới mục đích mình theo đuổi. Ngài đã bình tĩnh trước phong ba bão táp, Ngài đã tha thứ cho kẻ thù trong cơn hấp hối.
Tóm lại, đời sống tình cảm của Ngài hoàn toàn khác xa chúng ta. Ngài luôn làm chủ được tình cảm của mình trong mọi hoàn cảnh. Những tình cảm ấy luôn hướng thiện và không bao giờ quên lãng mục đích. Luôn hòa hợp vâng phục lý trí và thúc đẩy cho việc làm.
Chẳng hạn khi Ngài khóc thương trước nấm mồ Lagiarô, thì người Do Thái đã coi đó là dấu chỉ Chúa yêu thương ông cách riêng. Chúa khóc vì thần chết đang khống chế loài người. Chúa khóc vì chính Lagiarô sẽ là dịp cho người Do Thái ghen tức và vấp phạm. Chúa khóc vì sự ngoan cố của bọn biệt phái, phủ nhận uy quyền của Thiên Chúa. Chúa khóc vì lòng tin của chị em Martha chưa được hoàn hảo.
Còn chúng ta, chúng ta đã khóc như thế nào ? Trước một đám tang, có người khóc chỉ vì a dua, khóc mướn, khóc theo kiểu chặng đàng thứ tám. Khi một kẻ thân yêu chết đi, nhiều người trong họ hàng cũng đã khóc. Cái khóc ấy chưa hẳn đã là vì thương người nằm xuống, mà có khi chỉ vì thương chính bản thân mình, là kẻ còn lại phải đơn côi, phải bơ vơ không ai nương tựa. Ay là chưa nói đến những hoàn cảnh mượn tiếng khóc để chửi xéo lẫn nhau, nhất là đối với các bà các cô.
Thực vậy, người ta thường bảo nước mắt các bà các cô có thể là một đập nước, nhưng cũng có thể là một trận lụt. Và tệ hơn nữa, nhiều người đã đổ ra những giọt nước mắt cá sấu, tức là những giọt nước mắt giả dối và lừa đảo, có thể ăn sống nuốt tươi kẻ khác.
Trong đời này, người ta thường khóc khi vui cũng như lúc buồn. Ay là chưa nói đến những kẻ khóc trong lúc say xỉn, khóc không có lý do. Tuy nhiên, lại có những kẻ chẳng khóc bao giờ, bởi vì lương tâm họ đã chai lỳ, đã băng giá, không còn nhạy cảm trước những nỗi đau thương. Họ không khóc đã đành mà tệ hơn nữa còn làm cho người khác phải khóc vì họ.
Tóm lại, khóc là một nhu cầu, chúng ta khóc phần lớn là do kết quả của một nỗi khổ tâm hay một niềm đau đớn nào đó.
Thế nhưng, điều quan trọng đó là hãy biết khóc cho cuộc đời tội lỗi của mình. Chính cuộc đời tội lỗi này đã làm cho Chúa phải khóc và làm cho Giáo Hội đau buồn. Đó là những giọt nước lệ làm mờ nhạt đôi mắt nhưng lại làm sáng tâm hồn. Và hơn thế nữa, trong Mùa Chay, hãy biết khóc lóc ăn năn tội lỗi để được thứ tha.

 

MC5-A2. SLCTTY/130- Người bạn

Có một câu chuyện huyền thoại kể lại rằng : hàng năm bộ lạc kia phải  hiến tế một người: MC5-A2

Có một câu chuyện huyền thoại kể lại rằng : hàng năm bộ lạc kia phải  hiến tế một người con gái cho thủy thần. Vị tộc trưởng của bộ lạc là một người rất yêu quý gia đình, có một người con gái duy nhất lại bắt trúng thăm phải làm vật hiến tế. Ông vô cùng đau khổ, nhưng không thể vi phạm tục lệ của bộ lạc được. Phải làm sao bây giờ khi ngày phận số đã gần đến và chính ông tộc trưởng cũng không thể nào chủ tọa nổi nghi thức hiến tế này. Những người có uy tín trong bộ lạc nghĩ rằng ông sẽ không đủ can đảm hoàn thành trách nhiệm của mình. Sau cùng, ngày đó đã đến, người ta đoán rằng hoặc là họ sẽ phải cử hành nghi thức hiến tế mà không có mặt của ông tộc trưởng, hoặc là truyền thống sẽ bị hủy bỏ. Họ đặt người con gái xinh đẹp của ông tộc trưởng vào một con thuyền nhỏ, rồi đẩy ra dòng sông. Khi con thuyền bồng bềnh trôi nổi trên dòng sông, với sự kinh ngạc, họ trông thấy một con thuyền khác ẩn nấp trong những bụi cây cũng từ từ trôi ra dòng sông. Và trong ánh sáng mập mờ, họ đã nhận ra  người ngồi trong thuyền kia chính là ông tộc trưởng của họ, cha của cô gái. Ngay lập tức, cả hai chiếc thuyền bị cuốn hút mạnh mẽ vào dòng nước đang chảy xiết ra giữa sông. Cả hai cha con đã cùng rơi xuống con thác chung với nhau !
Thiên Chúa cũng không thể chịu được khi nhìn thấy con người chết trong tội lỗi. Bởi thế, Chúa Giêsu đã chấp nhận cùng chết với chúng ta, để chúng ta được sống như thánh Gioan đã nói : “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời”.
Hôm nay trong bài Phúc âm, Gioan đã diễn tả tình cảm của Chúa Giêsu đối với người bạn Lagiarô đã chết và thương cảm cho những người thân yêu trong cơn đau khổ muộn phiền : “Thấy Maria khóc, và những người Do Thái đi với cô cũng khóc, Đức Giêsu thổn thức trong lòng và xao xuyến”.
Với chủ đề “Thiên Chúa là Tình Yêu”, Gioan muốn cho người Hy Lạp thấy rằng Thiên Chúa của người Kitô hữu là một Thiên Chúa có trái tim biết rung động trước những phiền muộn, đau khổ và thất vọng của con người, nhất là đứng trước sự chết. Không có sự tuyệt vọng và đau khổ nào cho bằng cái chết của những người thân yêu của chúng ta. Maria và Mátta đang buồn phiền và đau khổ vì cái chết của em trai mình là Lagiarô. Họ nhắn tin cho Chúa Giêsu biết từ khi Lagiarô đang đau nặng với hy vọng sẽ được cứu khỏi bệnh, nhưng Ngài đã không về đúng lúc. Bà Mátta đến gặp Chúa Giêsu trên đường gần về tới Bêtania, đã thốt lên những lời trách móc có vẻ thất vọng : “Thưa Thầy, nếu Thầy có mặt ở đây thì em con không chết”.
Phải, cuộc sống nhân sinh bắt chúng ta phải nếm mùi đau khổ của sự chết. Nhưng qua câu chuyện làm cho Lagiarô sống lại, Chúa Giêsu đã hứa hẹn cho chúng ta niềm hy vọng : “Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết”. Có lẽ trong đau buồn vì mất mát, chúng ta chưa hiểu được chương trình và kế hoạch của Thiên Chúa, nhưng chúng ta phải hy vọng vào Người.
Vào thời Chúa Giêsu, những người Sađuxê không tin vào sự sống lại. Ngài đã mạnh mẽ nói với họ rằng : “Các người không biết Thánh Kinh và cũng không biết quyền năng của Thiên Chúa. Các người sai lầm rồi”. Niềm hy vọng vào sự sống lại của những người đã chết được Thiên Chúa mạc khải dần dần, dựa trên niềm tin vào Thiên Chúa. Ngài “không phải Thiên Chúa của những người chết, nhưng của những người sống”.

 

MC5-A3. SLCTTY/130- Người bạn

Nhiều nhà tu đức đã ví cái chết như một con đường hầm dẫn sang một thế giới khác. Trước khi: MC5-A3

Nhiều nhà tu đức đã ví cái chết như một con đường hầm dẫn sang một thế giới khác. Trước khi có đường hầm từ Pháp qua Anh, thì đường hầm dài nhất thế giới dành cho xe hơi sử dụng là đường hầm The Mont Blanc dài 11 cây số, dưới rặng núi Alps từ nước Ý Đại Lợi sang Thụy Sĩ. Người dân Thụy Sĩ đã cắt nghĩa sự đẹp đẽ của xứ sở họ bằng cách nói rằng khi Thiên Chúa hoàn tất công việc sáng tạo thế giới, Ngài thấy nó đẹp đẽ và hoàn hảo, nên đã hôn thế giới một cái. Và nước Thụy sĩ chính nơi Thiên Chúa đã đặt nụ hôn. Năm 1965 khi đường hầm Mont Blanc hoàn tất. Một người đàn ông Ý cùng với một nhóm người đã được mời lái xe xuyên qua đường hầm này lần đầu tiên. Bà vợ của ông rất nhút nhát, sợ hãi và tự hỏi rằng không biết chồng bà có ra khỏi đường hầm mà còn sống không. Vì thế người đàn ông này đã không đi hết đường hầm. Đi được nửa đường ông quay trở lại Ý, và vợ ông rất sung sướng vì chồng bà trở về nhà an toàn và mạnh khỏe. Bởi ông quay đầu trở lại nên đã không trông thấy và viếng thăm được quang cảnh đẹp đẽ của quốc gia Thụy Sĩ ở phía bên kia núi.
Đây chính là trường hợp của Lagiarô. Lagiarô đã đi vào con đường hầm của sự chết. Đi được nửa đường Lagiarô đã quay trở ra : “Lagiarô ! Hãy ra đây !” Người đã chết đi ra, chân tay còn quấn những mảnh vải…” Lagiarô đã xuất hiện với cùng một thân xác như khi đi vào mồ. Trường hợp này gọi là hồi tỉnh lại, nhưng rồi sau cùng, ông sẽ lại chết, dân chúng lại phải mai táng ông lần nữa !
Thiên Chúa là Đấng có quyền trên sự sống của con người. Ngài hứa ban sự sống lại vào ngày sau hết cho những ai tin vào Ngài. Ngài đã nối kết niềm tin vào sự sống lại của con người với niềm tin vào chính sự sống lại của Ngài : “Ta là sự sống lại và là sự sống”. Ngài đã diễn tả sự sống lại của Ngài vào bữa tiệc ly trước khi chịu đóng đinh : “Ta đi để dọn chỗ cho các con”. Ta là đường, là sự thật và là sự sống”. Ngài đã loan báo sự Phục sinh của Ngài, ngày thứ ba sau khi bị giết.
Chúa Giêsu hứa hẹn cho chúng ta sự sống lại. Nhưng sự sống đó như thế nào vẫn là một sự bí ẩn. Con đường hầm của sự chết thế nào, cái thế giới cảnh đẹp ở bên kia ra sao vẫn là điều bí mật. Sách Giáo lý Công Giáo số 1000 nói : “Cái “thế nào” đó vượt quá sức tưởng tượng và sự hiểu biết của chúng ta, và chỉ đạt được bằng đức tin”.
Một gia đình người Mỹ vừa di chuyển từ tiểu bang California sang Chicago. Sau khi cả gia đình sang Chicago mướn nhà ở và ổn định mọi sinh hoạt rồi mới nhờ một gia đình hàng xóm ở California gửi sang cho họ hai con mèo. Nhìn thấy hai con mèo được gửi bằng máy bay từ Cali sang Chicago đoàn tụ với chủ, chúng ta có thể hình dung ra những gì đã xảy ra với chúng trước khi vui mừng gặp lại chủ.
Có lẽ người hàng xóm tốt bụng đã phải đưa hai con mèo ra phi trường, đặt chúng vào chiếc lồng nhỏ, rồi gửi lên máy bay. Trong lòng máy bay đen tối, chắc là hai con mèo phải sợ hãi, lo âu và kinh hoàng lắm. Chúng kêu “meo meo” như để cầu cứu nhưng chẳng có ai đáp trả. Kêu riết rồi đành im lặng nằm co ro phập phồng lo sợ. Chúng không biết điều gì sẽ xảy ra trong lòng máy bay u tối. Cũng không biết đang đi về đâu nữa. Chiếc máy bay quá lớn so với hai con mèo bé nhỏ. Thật đáng sợ !
Khi máy bay đáp xuống phi trường Chicago, cả gia đình người Mỹ, nhất là mấy đứa trẻ, đang nao nức chờ đón hai con mèo. Hằng giờ nằm trong lòng máy bay đen tối, choáng váng, vừa nhìn thấy chủ hai con mèo kêu lên mừng rỡ : “Meo ! Meo !”. Trước khi lên máy bay những tiếng kêu meo meo là lời cầu cứu, lo sợ và van xin. Bây giờ là những tiếng kêu vui mừng vì gặp lại những người thân quen. Chúng cảm thấy bình an nép mình dưới cánh tay vuốt ve âu yếm của đám trẻ.
Cuộc du hành đi vào thế giới bên kia của chúng ta có khác chi đoạn đường nằm trong lòng máy bay tăm tối và bí ẩn của hai con mèo. Đối diện với sự chết chúng ta sợ hãi, lo âu, vì không biết đời sau như thế nào. Nhưng tin tưởng vào Thiên Chúa là Chúa của sự sống, chúng ta sẽ sống lại, gặp gỡ Thiên Chúa là Đấng nhân hậu cùng với tất cả những người thân yêu thánh thiện của mình.

 

MC5-A4. CSTM/82- Sống và chết

Sống và chết là hai việc hoàn toàn mâu thuẫn, chống đối nhau. Tâm lý con người ai cũng muốn: MC5-A4

Sống và chết là hai việc hoàn toàn mâu thuẫn, chống đối nhau. Tâm lý con người ai cũng muốn sống và không muốn chết: ham sống sợ chết là tâm lý tự nhiên của con người. Lòng ham sống thúc đẩy con người phải bám vào nhiều thứ, nhất là của cải, tiền bạc, chẳng hạn như ông nhà giàu trong Tin Mừng : thâu hoạch lúa thóc đầy tràn, ông phải xây thêm nhà kho, tự cho đời sống mình như thế thật là bảo đảm, tha hồ ăn chơi sung sướng. Nhưng Chúa bảo ông : thật là hạng khờ dại, vì đêm nay ông chết, của cải có bảo đảm được mạng sống ông không ? Ông còn nắm giữ được của cải không ? Và quả thực ông đã vỡ mộng khi đối diện với cái chết. Mỗi ngày trên thế giới có khoảng 30 ngàn người chết, bao nhiêu người bị Chúa cho là “hạng khờ dại”, vì lúc chết, tay buông xuôi, người ta không còn có thể bám vào một vật gì cả : “Vua Ngô ba mươi sáu tấn vàng, chết xuống âm phủ chẳng mang được gì”. Trăm năm nào có gì đâu, chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì”. Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy, cảnh phù du trông thấy cũng nực cười”.
Nếu nghèo là không có, hoặc có rồi mà mất đi, như không có tiền bạc là nghèo vật chất, mồ côi cha mẹ là nghèo tình thương, dốt nát là nghèo về trí thức, bệnh tật là nghèo về sức khỏe, thì cái chết đưa người ta đến cái nghèo cùng cực. Người khỏe mạnh hay còn trẻ chưa cảm thấy rõ điều này. Nhưng chúng ta cũng biết cái chết nói lên sự bất lực của y khoa, của mọi thứ khả năng tự vệ trên cõi đời này : quyền hành nhất trần gian cũng chết, giàu có nhất nhân loại cũng chết, sung sướng tất cả đời cũng chết. Mọi người đều bó tay trước cái chết.
Trước định luật nghiêm khắc ấy, con người lo âu, bồn chồn, và người ta cố níu kéo sự sống lâu chừng nào hay chừng ấy, dầu vẫn biết là bất lực. Bởi thế mới có những quảng cáo về thuốc “trường sinh” hay “bất tử”. Có một câu chuyện như sau : Thời Chiến Quốc, có một người đem dâng vua nước Sở một vị thuốc bất tử. Người ấy mang vị thuốc này vào hoàng cung, viên quan canh cửa quát hỏi : “Vị thuốc này có ăn được không ?”. Người ấy đáp : “Dạ, ăn được”, tức thì viên quan giật lấy vị thuốc và ăn. Truyện đến tai vua, vua truyền bắt viên quan đó đem giết. Viên quan xin vào gặp vua và kêu van rằng : “Tâu hoàng thượng, hạ thần đã hỏi người đem dâng thuốc, người ấy nói : ăn được, nên hạ thần mới dám ăn, thế là hạ thần vô tội mà lỗi ở người dâng thuốc, hơn nữa, người đem thuốc nói là thuốc bất tử, ăn vào thì không chết nữa, thế mà hạ thần mới ăn, đã sắp phải chết. Vậy là thuốc tử chứ sao gọi là bất tử được ? Hoàng thượng giết hạ thần thực là bắt tội một người vô tội, trong khi thiên hạ dối gạt hoàng thượng mà hoàng thượng vẫn tin”. Nhà vua nghe nói có lý nên tha tội chết cho viên quan ấy.
Hiện nay các nhà bác học đang cố tìm ra một thứ thuốc làm cho con người khỏi chết. Được chăng ? Chúng ta cứ hy vọng. Đó là vấn đề còn trong giả thuyết, nhưng theo Kinh Thánh thì không thể nào có được, vì Chúa đã phán với ông bà nguyên tổ : “Ngươi sẽ trở về bụi đất”. Từ đó, chết là một định luật Chúa ra cho loài người, loài người không thể phá nổi định luật này. Nói khác đi, con người đã mắc phải một chứng bệnh nan y không thể nào chữa khỏi, đó là bệnh chết. Cái án chết áp dụng cho hết mọi người : hữu sinh hữu tử : có sinh có chết là một điều tất yếu.
Nhưng qua cái chết và sự sống lại của Ngài, Chúa Giêsu đã loan báo cho con người một tin mừng : cái chết không còn là một ngõ cụt hay tận cùng nữa mà là cửa ngõ dẫn vào một cuộc sống mới, một cuộc sống trong Đức Kitô và cùng với Đức Kitô trong cõi vĩnh hằng. Vì thế, thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu đã nói : “Nếu một mai bạn thấy tôi nằm chết, bạn đừng buồn, vì chính Cha chung của chúng ta là Thiên Chúa đã đến đón tôi đi, đơn giản vậy thôi”. Hoặc như thánh Phaolô đã nói : “Đối với tôi, sống là Đức Kitô và chết là một mối lợi”. Làm thế nào để được như thế ? Chúng ta hãy sống theo câu nói của một bà mẹ kia đã khuyên bảo đứa con trai sắp bước vào đời : “Con ơi, ngày con mở mắt chào đời, mọi người đều tươi cười, còn con thì khóc. Con hãy sống thế nào để ngày cuối đời, một mình con tươi cười, mà mọi người lại tràn lệ”.

 

MC5-A5. Người Rung Chuông Chân Thật!

Bài Tin Mừng hôm nay kể lại một thanh niên tên Lazarô sống tại thành Bethany qua đời: MC5-A5

Bài Tin Mừng hôm nay kể lại một thanh niên tên Lazarô sống tại thành Bethany qua đời. Chúa Giêsu là bạn của Lazarô nhận được tin ấy thì Ngài đến Bethany và đã làm thay đổi tất cả câu truyện. Sau khi nói với Martha là chị của Lazarô rằng: "Em con sẽ sống lại... Ta Là Sự Sống Lại Và Là Sự Sống", Ngài đã làm cho Lazarô sống lại (Jn 11:23, 25).
"Ta là sự phục sinh và là sự sống", những lời đó nên hiện thực vào ngày đầu Chúa Nhật Phục Sinh. Rồi từ đó những người theo Chúa Giêsu nhận ra rằng Chúa Toàn Năng hiện diện trong cái chết của Đức Kitô để tiêu hủy sự chết. Hãy nghĩ về điều ấy! Chết là kẻ thù lớn nhất của cả nhân loại đã bị quật ngã vĩnh viễn. Hãy suy niệm điều này là: Phép lạ Phục Sinh mà Chúa Giêsu đã làm cho Lazarô xưa thì nay Ngài vẫn thực hiện trong mỗi người chúng ta!
Tiến trình đi từ cõi chết đến phục sinh đang được thể hiện ngay trong lúc này và từng mỗi giây phút suốt đời chúng ta. Bởi vì cái thuộc về chúng ta là Đức Tin Phục Sinh, chúng ta biết rằng một thế giới mới đang đến: đến trong hân hoan, bình an, yêu thương và tình huynh đệ. Quyền Năng Phục Sinh của Chúa đang hoạt động để xây đắp một thế giới mới ở giữa và xung quanh chúng ta. Tôi xác nhận là tôi đang nói đến thế giới điên cuồng, xáo trộn, nghi ngờ, ô nhiễm, nhân mãn, và tàn phá này. Thế giới này đây! Thiên Chúa thương nó, thật sự Ngài thương nó! Điều ấy thật khó mà tin được trong một vài ngày. Chỉ cần bật TV lên xem tin thời sự lúc 10giờ tối mỗi ngày cũng đủ để một người phải tự hỏi: "Thế giới này còn có hy vọng không?" Bạn hãy thử nhìn những sự việc đang xảy ra xung quanh bạn và bạn nhớ đến câu nói bất hủ trong "Cánh Đồng Xanh" khi Gabriel nói: "Mọi thứ cắm xuống đất đang bị lỏng ra". Đó là tình trạng thế giới ngày nay, mọi thứ cắm xuống đất coi bộ đang lỏng dần!
Nếu như bạn có thể tin vào những bản thẩm tra quốc gia thì chẳng cách chi bạn có thể dựa vào tôn giáo để xin giúp. Mỗi năm, các thẩm viên đi khắp Hoa Kỳ để hỏi mọi người cùng câu hỏi này: "Bạn có cảm thấy tôn giáo đã mất ảnh huởng trên đời sống người dân Hoa Kỳ không?" Và số phần trăm trả lời là "có" cứ tăng dần theo mỗi năm. Có tới bảy mươi lăm phần trăm trả rằng: "Đúng vậy, tôn giáo đang mất dần ảnh hưởng trên người dân Hoa Kỳ". Cứ bốn người thì hết ba người nói có! Đó là tình trạng thế giới mà chúng ta đang sống hiện nay. Bạn sẽ không nắm giữ Lời Chúa Giêsu cách thiết thực nếu như bạn không tin thật rằng Thiên Chúa đang hoạt động ngay trong thế giới này đễ làm mới lại mọi sự. Một thế giới mới đang đến. Thiên Chúa đang thực hiện điều này và chẳng sự gì có thể ngăn cản thánh ý Chúa. Đây chính là niềm Hy Vọng Phục Sinh của chúng ta. Niềm Tin Phục Sinh chắc chắn của chúng ta nơi Chúa Giêsu: "Ta là sự sống lại và là sự sống; ai tin vào Ta, thì có chết cũng sẽ được phục sinh" (Jn 11:26). Tuy nhiên như thế chưa hết đâu mà còn có nhiều sự hơn thế nữa.
Một bác sĩ kể một câu chuyện cảm xúc về một người mẹ Kitô giáo chăm sóc đứa con năm tuổi của bà đang nằm chờ chết trong nhà thương với cơn đau dằn vặt vì căn bệnh ung thư như sau:
Suốt buổi sáng đó, cô y-tá và những nhân viên nhà thương nghe em nhỏ lập đi lập lại nhiều lần: "Em nghe có tiếng chuông! Em nghe có nhiều tiếng chuông! Chúng đang rung lên kìa!" Khi mẹ em đến và hỏi thăm y-tá xem tình trạng em bé như thế nào. Cô y-tá trả lời: "Thật tội nghiệp, em bị mê sảng suốt ngày hôm nay. Có thể là do ảnh hưởng thuốc đó. Em chỉ nói sảng là em nghe thấy các tiếng chuông reo". Nghe nói thế, người mẹ trở nên tươi tỉnh như hiểu điều gì đó, bà nói: "Thưa cô, con tôi không phải bị mê sảng mà cũng chẳng phải tại thuốc hành đâu. Tuần trước tôi có nói với bé là khi nào bé thấy cơn đau ở ngực dữ dội hơn, khi ấy bé sẽ biết là bé sắp rời tôi rồi đấy, nghĩa là bé sẽ lên thiên đàng. Khi bé cảm thấy thật đau, bé hãy nhìn lên góc tường -- nhìn lên thiên đàng -- và lắng nghe tiếng chuông thiên đàng  vì các thiên thần sẽ rung chuông cho bé nghe!" Nói xong, bà lặng lẽ vào phòng con của bà, bà ẵm em bé lên và đong đưa bé trong lòng bà cho đến khi những tiếng chuông chỉ còn là dư âm và em bé đã về thiên đàng. Vị bác sĩ nói: "Người đàn bà tuyệt vời đó đã cảm nghiệm một thực tại khác biệt với những đau khổ đang xảy ra!"
Trong bài Tin Mừng hôm nay, qua việc làm cho Lazarô sống lại, Chúa Giêsu đã cho chúng ta một định nghĩa chân thật tuyệt vời về đời sống -- một người rung chuông thành thật! "Sự sống mạnh hơn sự chết", Ngài đã nói với chúng ta điều ấy. Vào ngày giờ của Chúa, thế giới này sẽ biến đổi thành mới lạ khác biệt với những gì chúng ta đang thấy hiện nay.

 

MC5-A6. Lagiarô sống lại

Hôm nay đã là Chúa Nhật V Mùa Chay và Chúa Nhật tới đây là Chúa Nhật Lễ Lá bắt đầu: MC5-A6

Hôm nay đã là Chúa Nhật V Mùa Chay và Chúa Nhật tới đây là Chúa Nhật Lễ Lá bắt đầu Tuần Thánh. Tuần chúng ta được mời gọi suy niệm nhiều hơn và cử hành mầu nhiệm chết và sống lại của Chúa. Bài Phúc Âm hôm nay như là một chuẩn bị cho chúng ta để cử hành mầu nhiệm chết và sống lại của Chúa.
Chúa Giêsu đã chết và đã sống lại, chúng ta cũng sẽ phải chết và được sống lại với Chúa. Khi nói về sự sống lại thì nhiều người anh chị em chúng ta có lẽ nghe khó tin. Mới đây tập hợp điều tra về niềm tin của những người công giáo bền Italia về sự sống đời sau sau cái chết, kết quả cho biết rằng, mặc dù đa số tin có Thiên Chúa, nhưng khi được hỏi về niềm tin của họ vào sự sống đời đời thì họ tỏ vẻ do dự. Quan tâm của họ về sự sống đời đời xem ra như càng ngày càng ít đi, dường như có hai hoàn cảnh làm cho con người dễ xa lìa Thiên Chúa, quên đi cuộc sống đời đời. Đó là khi con người giàu sang, quyền quí hoặc khi gặp cảnh cùng cực thái qúa. Giàu quá dễ bị cám dỗ quên Chúa và nghèo quá cũng làm con người tuyệt vọng.
Bài Phúc Âm hôm nay ghi lại biến cố Chúa Giêsu đến với gia đình chị em Martha, Maria và Lazarô để mạc khải cho họ sự thật căn bản về sự sống đời đời: "Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin Ta thì dù có chết cũng sẽ được sống. Ai sống mà tin Ta sẽ không chết bao giờ".
Vào hoàn cảnh mà Chúa Giêsu chọn để mạc khải sự thật này cho chị em Martha, Maria là cái chết của Lazarô, người được Chúa thương. Đây có thể nói là một biến cố không thuận lợi chút nào, Lazarô đã bị đau cần Chúa đến nâng đỡ chữa trị thì Chúa không đến, xem ra như lơ là hai chị em đã nhắn tin cho Chúa Giêsu biết hoàn cảnh đau yếu của Lazarô, nhưng Chúa vẫn trì hoãn không đáp lại. Một thử thách cho người bạn của Chúa, chờ đợi Chúa mau mắn đáp lại và ỷ lại vào tình bạn với Ngài, nhưng Chúa đã không đáp lại như lòng họ mong ước: "Nếu Thầy có mặt ở đây thì em con không chết".
Rồi sau khi Lazarô chết rồi, gia đình Martha và Maria đang sống trong sự tang chế đau buồn thì Chúa lại đến, và thay vì nói lời an ủi hay là một điều gì liền ngay theo như mong ước thường tình của con người trong hoàn cảnh tương tự như vậy, thì Chúa Giêsu lại nói điều mà Martha và Maria cả hai người đều không nghĩ đến, đó là Chúa mạc khải sự thật và sự sống đời đời, kêu gọi hãy tin vào Chúa, tin vào sự thật Chúa mạc khải: "Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin Ta sẽ không chết bao giờ".
Có thể nói là những lời chói tai, không hợp thời, lạc đề xem từ phía con người đang phải chịu thử thách, đang gặp phải những đau thương: "Nếu Thầy có mặt thì em con không chết". Sự đáp trả của hai chị em Martha, Maria và của hai người Do Thái đến chia buồn lúc đầu chưa được trọn hảo. Martha nghĩ đến sự sống lại ngày sau hết, còn hai người Do Thái có mặt ở đó quan sát xem Chúa Giêsu có làm gì để thay đổi hoàn cảnh hay không? Martha và Maria ra khỏi hoàn cảnh cụ thể của mình để đến với Chúa, để gặp Chúa ở nơi mà Chúa muốn ở ngoài hoàn cảnh tang thương, tang chế của họ vào lúc đó để được Chúa hoán cải, để tuyên xưng: "Lạy Thầy, con tin".
Chúng ta đã biết những gì xảy ra sau lời tuyên xưng đức tin đầy khiêm tốn và can đảm của hai chị em Martha và Maria. Sống mà không có niềm tin thì kể như là đã chết. Trong biến cố mà Phúc Âm thánh Gioan ghi lại cho chúng ta hôm nay, chúng ta thấy Chúa Giêsu làm phép lạ không phải chỉ cho Lazarô được sống lại mà thôi, mà cho ba người được sống lại, đó là Martha, Maria và Lazarô.
Sống lại đầu tiên đó là sống lại với niềm tin vào Chúa, có thể nhiều người trong chúng ta cũng đã chết trong niềm tin vào Chúa và không còn tin Chúa nữa. Chúng ta cần Chúa cho chúng ta sống lại, sống lại trong niềm tin vào Ngài như Martha, Maria: "Lạy Thầy, con tin". Nhờ lời tuyên xưng của Martha và Maria mà tiếp sau đó Chúa Giêsu cho Lazarô trở lại cuộc sống. Tất cả qui hướng chúng ta về quan điểm cuối cùng, đó là Chúa Giêsu làm Con Thiên Chúa, là Thiên Chúa, Ngài là Chúa, là chủ của sự sống và có quyền năng trao ban sự sống cho con người.
Vì biến cố phép lạ Lazarô chuẩn bị cho biến cố lạ lùng nhất sắp diễn ra là biến cố chính Chúa chết và sống lại mà chúng ta sẽ cữ hành trong Tuần Thánh sắp đến. Chúa chết và sống lại để hoàn tất công trình cứu chuộc con người, để ban cho chúng ta được sống và sống lại với Chúa: "Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin Ta thì dù có chết cũng sẽ được sống, và ai sống và tin vào Ta sẽ không chết bao giờ. Con có tin điều đó không?" Chúa Giêsu sẽ hỏi chúng ta: phần con, con có tin điều đó hay không?
Ước chi mỗi người chúng ta cũng được khiêm tốn thưa như Martha, như Maria: Lạy Chúa, con tin. Đức tin làm cho con được sống thật, dù chết hay sống nếu con tin thì không còn gì phải lo lắng nữa. Xin Chúa hãy cho chúng ta được sống lại trong niềm tin của mình vào Chúa để rồi chúng con được sống và sống lại với Chúa mai sau. Amen.

 

MC5-A7. Thầy là Sự Sống Lại

Bệnh tật và cái chết đeo đẳng lấy đời người. Bệnh tật làm con người bị tê liệt. Còn cái chết: MC5-A7

Bệnh tật và cái chết đeo đẳng lấy đời người. Bệnh tật làm con người bị tê liệt. Còn cái chết thì như một nhát dao cắt đứt tất cả mọi dự tính về cuộc sống. Ngay cả đối với người tín hữu, cái chết vẫn là một mầu nhiệm làm họ run rẩy.
Đức Giêsu trong Vườn Dầu cũng sợ hãi trước cái chết.
Cái chết đưa đến chia ly nên có nước mắt, tiếc thương, nhung nhớ.
Hai chị em Macta và Maria rất đau buồn trước cái chết của người em là Ladarô. Cả hai đều tiếc vì Thầy không có mặt lúc ấy.
Bốn ngày đã trôi qua, đá đã lấp cửa mồ. Thi hài người chết đã bắt đầu rữa nát. Chẳng còn chút hy vọng nào...
Bất chấp nguy hiểm đến tính mạng, Đức Giêsu vẫn trở lại Giuđê để đến thăm gia đình mà Ngài có lòng quý mến. Ngài biết Ngài sẽ làm gì để tôn vinh Chúa Cha, và qua đó chính Ngài cũng được tôn vinh. Dầu vậy, trước nỗi đau của hai chị em, Đức Giêsu vẫn thổn thức và xao xuyến. Ngài bật khóc trên đường đi đến mộ.
Trước ngôi mộ đá, Ngài đã cất tiếng cảm tạ Cha, vì Cha đã nhận lời Ngài xin khi cho Ngài quyền làm cho người chết được sống lại.
Làm sao nói hết được niềm vui của ba chị em, và sự kinh ngạc của những người chứng kiến.
Trong sứ điệp nhân ngày Giới Trẻ Thế Giới năm 1996, Đức Thánh Cha đã yêu cầu các bạn trẻ "hãy trở nên những ngôn sứ của sự sống và tình yêu, những ngôn sứ của niềm vui."
Thế giới văn minh nhưng có nhiều bóng tối sự chết: chiến tranh, đói kém, phá thai, tự tử, sida, những vụ ám sát, đặt chất nổ, tai nạn giao thông...
Cái chết thân xác phản ánh một cái chết nguy hiểm hơn, cái chết của tình yêu ở trong lòng con người.
Cái chết thắng thế khi con người sống buông xuôi, chán chường và khép kín trong ích kỷ.
Đức Giêsu là sự sống lại và là sự sống. Ngài trả lại sự sống cho Ladarô. Ngài lau khô nước mắt cho Macta và Maria.
Khi gắn bó với Đức Giêsu, chúng ta cũng có khả năng thông truyền sự sống và niềm vui cho thế giới.
Thiên Chúa là Thiên Chúa của sự sống, đời này và đời sau. Ngài say mê sự sống của con người.
Ước gì chúng ta dám cất đi những phiến đá che mộ để người chết có thể bước ra.
Gợi Ý Chia Sẻ
Chẳng ai thích sự chết, nhưng mặt khác, con người lại nghiêng chiều về bạo lực.  Bạn có thấy khuynh hướng bạo lực ở nơi mà bạn đang sống không?
Bạn đã làm gì để sống lời mời gọi này của Đức Thánh Cha: "Kitô hữu phải sẵn sàng lao tới bất cứ nơi đâu có những anh em cần giúp đỡ, có những giọt nước mắt phải lau khô, có những lời cầu cứu mong được đáp ứng"?
Cầu Nguyện
Lạy Chúa Giêsu thương mến, xin ban cho chúng con tỏa lan hương thơm của Chúa đến mọi nơi chúng con đi.
Xin Chúa hãy tràn ngập tâm hồn chúng con bằng Thần Khí và sức sống của Chúa.
Xin Chúa hãy xâm chiếm toàn thân chúng con để chúng con chiếu tỏa sức sống Chúa.
Xin Chúa hãy chiếu sáng qua chúng con, để những người chúng con tiếp xúc cảm nhận được Chúa đang hiện diện nơi chúng con.
Xin cho chúng con biết rao giảng về Chúa, không phải bằng lời nói suông, nhưng bằng cuộc sống chứng tá, và bằng trái tim tràn đầy tình yêu của Chúa.
(Mẹ Têrêxa Calcutta)

 

MC5-A8. Ngài là Sự Sống - Đinh ngọc Thiệu (đã viết lại)

Các bài đọc hôm nay đều nói đến sự chết và sự sống như để dọn lòng chúng ta bước vào mầu: MC5-A8

Các bài đọc hôm nay đều nói đến sự chết và sự sống như để dọn lòng chúng ta bước vào mầu nhiệm trung tâm của đạo Chúa: mầu nhiệm Thương Khó và Phục Sinh của Đức Ki-tô.
Với bài đọc 1, ngôn sứ Ê-dê-ki-en cho chúng ta hình ảnh một nghĩa trang đầy xương khô và trơ trọi ám chỉ dân Chúa ( nhà Ít-ra-en ) trong tình trạng lưu đày ở Ba-bi-lon. Trong thị kiến, ông thấy những xương đó ráp lại với nhau thành những bộ xương: thêm gân, thêm thịt, phủ da rồi Thần Khí Chúa thổi sinh khí vào. Lập tữc, các tử thi được hồi sinh, chỗi dậy thành một đạo quân lớn tiến về đất hứa.
Trong thơ gửi tín hữu Rô-ma, thánh Phao-lô đã dạy: "Chính Thần Khí Chúa ngự trong anh em ,...sẽ làm cho thân xác anh em được sự sống mới."
Còn trong bài Tin Mừng Thánh Gio-an hôm nay, Đức Giê-su cho ông La-da-rô sống lại. Điều đó khiến cho Mác-ta, Ma-ri-a và số đông dân chúng chứng kiến hết sức vui mừng và niềm tin của họ dược củng cố thêm.
1. Đức Giê-su đã giải phóng chúng ta khỏi ách tử thần như thế nào ?
"Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần, Người đã nhập thể trong lòng Trinh Nữ Ma-ri-a và đã Làm Người". Lời kinh trên đã giới thiệu cho chúng ta bước khởi đầu kế đồ cứu rỗi của Thiên Chúa được thực hiện nơi Đức Giê-su, Ngôi Hai Thiên Chúa. Ngài đến trần gian để giải phóng chúng ta khỏi khổ đau, khỏi sự chết, hậu quả của tội nguyên tổ và ban cho chúng ta phúc trường sinh, phúc làm con Thiên Chúa. Ngài đã giải phóng chúng ta bằng cách nào ?
Ngài đã giải phóng chúng ta bằng trọn cuộc đời của Ngài nơi dương thế:
- Bằng đời sống khó nghèo, khiêm nhường: Ngài chấp nhận cảnh đời thấp hèn nhất trong xã hội: sinh ra nơi hang đá máng cỏ, ba mươi năm ở Na-da-rét, trong xóm lao động, sống bằng nghề thợ mộc, một nghề rất tầm thường trong xã hội Do-thái lúc bấy giờ.
- Bằng lời nói: Ba năm cuối đời, Ngài đã đi giảng dạy khắp miền đât Do-thái, loan báo Tin Mừng cho mọi người như lời ngôn sứ I-sai-a đã báo trước: "Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho người nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa" ( Lc 4, 18 - 19 ).
- Bằng hành động: Với trái tim nhân hậu, Ngài đã xoa dịu những tâm hồn khổ đau, cứu giúp kẻ đói nghèo, chữa lành những ai bệnh tật... và trong bài Tin Mừng hôm nay, Ngài đã đến nhà Mác-ta và Ma-ri-a vào lúc La-da-rô, em trai hai bà mới mất, "Đức Giê-su đã thổn thức trong lòng và xao xuyến. Người hỏi: "Các ngươi đã dể xác anh ấy ở đâu ?" Họ trả lời: "Thưa Thầy, mời Thầy đến mà xem." Đức Giê-su liền khóc. Tới mộ, Ngài đã kêu người ta đem phiến đá đi và sau khi cầu nguyện, Ngài đã truyền cho La-da-rô ra khỏi mồ: Người chết liền ra, chân tay còn đang cuốn vải và mặt còn phủ khăn.
- Bằng chính bản thân: Đức Giê-su đã tự hiến mình chịu chết trên thâp giá đền thay tội lỗi nhân loại và đã sống lại. Đây là tột đỉnh của kế đồ cứu rỗi Klà dấu ấn tình thương bao la của Thiên Chúa: "Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình" (Ga 15, 13). Ngài đã chiến thắng sự chết và khải hoàn trong vinh quang. Từ đây, cây thập tự, dấu hiệu của sự chết, trở nên mối giao hoà đất trời và là chìa khoá mở cho chúng ta bước vào cuộc sống vĩnh cửu.
2. Những bài học:
Các bài đọc hôm nay cho chúng ta những nét chính trong kế đồ cứu rỗi của Thiên Chúa: Kế đồ này do Đức Chúa Cha khởi xướng, Đức Chúa Con thực hiện và Đức Chúa Thánh Thần ứng dụng cho nhân loại. Cánh riêng bài Tin Mừng Thánh Gio-an cho chúng ta những kinh nghiệm quí báu về Đức Tin: Như Mác-ta và Ma-ri-a đã mời Đức Giê-su đến chữa cho em mình, chúng ta cũng cần chạy đến với Chúa mỗi khi gặp những hoàn cảnh khó khăn trong cuộc sống, quyết không tìm đến với những hình thức bói toán mê tín dị đoan. Theo suy nghĩ thường tình, người ta dễ gán cho những ai gặp tai họa hoặc những bệnh tật hiểm nghèo là do chính lỗi của những người đó: "ác giả ác báo" hay "bị Chúa phạt" ( theo lối nói của người Công giáo ).
Trong câu chuyện Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su cho chúng ta một cái nhìn mới đúng đắn hơn về cơn bệnh và cái chết của La-da-rô: "Bệnh này không đến nỗi phải chết, nhưng là dịp để bày tỏ vinh quang Thiên Chúa." Gặp Mác-ta trong tình trạng La-da-rô đã chết và được chôn cất xong xuôi, Đức Giê-su đã phải cố giải thích để bà có thể nhận ra rằng: không cần phải đợi đến ngày sau hết La-da-rô mới sống lại, nhưng là ngay bây giờ nếu bà tin vào Ngài, vì chính NGÀI LÀ SỰ SỐNG LẠI và LÀ SỰ SỐNG.
Lạy Cha từ ái, chúng con tạ ơn Cha đã ban cho chúng con Ngôi Hai Con Một yêu dấu của Cha làm giá cứu chuộc đền bù tội lỗi chúng con. Chúng con cũng tạ ơn Cha đã ban cho chúng con Chúa Thánh Thần, Đấng hằng hoạt động để thánh hoá giúp chúng con trở nên những người con tốt lành của Cha.
Xin Cha cho chúng con, khi tham dự vào mầu nhiệm Thương Khó và Phục Sinh của Con Cha, có một lòng sám hối chân thành, sẵn sàng cùng chết với Đức Ki-Tô để cùng được sống lại với Ngài trong vinh quang của Cha. Amen.

 

MC5-A9. Suy Niệm của Nhóm Đồng Hành

Chi Tiết Hay
 

Câu chuyện Ladarô chết và sống lại ám chỉ việc chính Chúa sắp chết và sống lại. Cả hai đều: MC5-A9

Câu chuyện Ladarô chết và sống lại ám chỉ việc chính Chúa sắp chết và sống lại. Cả hai đều làm vinh quang Thiên Chúa.
Hai người sống lại hai kiểu khác nhau: Ladarô còn phủ khăn liệm, có ý là rồi còn sẽ chết, còn khăn liệm của Đức Giêsu được xếp một bên (Gioan 20:6-7), có ý là Ngài sẽ không còn phải chết nữa.
Chúa đợi Ladarô chết 4 ngày rồi mới tới, để mọi người khỏi nghi ngờ ông đã chết thật chưa.
Đức Giêsu cầu nguyện cùng Chúa Cha trước khi làm Ladarô sống lại. Điều này chứng tỏ Ngài làm việc theo thánh ý của Thiên Chúa.
Trong khi Đức Giêsu ban cho dân chúng sự sống thì họ lại muốn giết Ngài. Các môn đệ thông hiểu điều này, vì thế họ không muốn Đức Giêsu đi Giudêa để chịu chết.
Một Điểm Chính
Đức Giêsu là sự sống lại và là sự sống.
Suy Niệm
Có người thấy phép lạ thì tin Chúa, kẻ khác lại muốn giết Ngài. Còn tôi thì sao?
Tôi có thật sự tin là Chúa cho tôi sự sống không? Tôi có kinh nghiệm gì để chứng tỏ điều đó?
Tại sao sự đau khổ của tôi hay của những người chung quanh lại có thể làm vinh quang Thiên Chúa?

 

MC5-A10. Suy Niệm của JKN

Câu hỏi gợi ý:
 

Đức Giê-su đã làm cho La-da-rô sống lại, điều đó chứng tỏ điều gì? Phải là ai mới có thể thực: MC5-A10

1. Đức Giê-su đã làm cho La-da-rô sống lại, điều đó chứng tỏ điều gì? Phải là ai mới có thể thực hiện được điều ấy?
2. Bạn còn nhớ nội dung các bài Tin Mừng Chúa Nhật mùa Chay vừa qua không? Loạt bài Tin Mừng mùa Chay muốn chứng tỏ điều gì về Đức Giê-su?
3. Đức Giê-su xúc động và khóc trước mộ La-da-rô cho thấy tình yêu và tình cảm của Ngài thế nào? Ta có cần biểu lộ tình yêu của mình đối với tha nhân một cách cụ thể như thế không?
Suy tư gợi ý:
1. Đức Giê-su có khả năng làm cho kẻ chết sống lại
Dùng quyền năng siêu nhiên để làm cho người bệnh nan y được khỏi bệnh thì có khá nhiều người làm được. Nhưng làm cho người đã chết sống lại thì chỉ những người có sứ mạng đặc biệt của Thiên Chúa mới thực hiện được nhờ quyền năng vô biên của Ngài. Trong Cựu Ước ta thấy ngôn sứ Ê-li-a đã làm cho con trai của bà góa ở Sa-rép-ta sống lại (xem 1Vua 17,17-24), và ngôn sứ Ê-li-sa cũng làm như thế cho đứa con trai của bà Su-nêm (xem 2Vua 4,32-37). Trong Tân Ước, ngoài Đức Giê-su ra, ta thấy có Phê-rô cũng đã làm cho bà Ta-bi-tha đã chết sống lại (xem Cv 9,39-42). Còn Đức Giê-su, Ngài đã làm cho người chết sống lại ít nhất 3 lần: cho con trai bà góa thành Na-in (x. Lc 7,11-15), cho con gái một ông trưởng hội đường (x. Mt 9,18-26; Mc 5,35-43; Lc 8,49-56), và cho La-da-rô như bài Tin Mừng hôm nay tường thuật lại (x. Ga 11,34-45).
Nơi những trường hợp được hồi sinh vừa kể, việc sống lại – hầu tiếp tục sự sống ở trần gian ít lâu nữa để rồi cũng lại chết – chỉ là một hình ảnh hay dấu chỉ của sự sống lại vĩnh viễn để sống sự sống đời đời. Sự sống lại để sống đời đời này chính Đức Giê-su đã thực hiện cho chính mình (x. Mt 28,1-8; Mc 16,1-8; Lc 24,1-7; Ga 20,1-10). Đó chính là bằng chứng bảo đảm cho niềm tin vào sự sống lại của chính chúng ta để hưởng sự sống vĩnh cửu. Thật vậy, «nếu Đức Kitô không phục sinh, thì niềm tin và lời rao giảng của chúng ta là vô ích» (1 Cr 15,14), là hoàn toàn vô căn cứ, không dựa trên một nền tảng nào. Và việc phục sinh của Ngài cũng chính là bằng chứng để ta tin Ngài là Con Thiên Chúa, đồng thời cũng là Thiên Chúa. Vì trong lịch sử nhân loại, sống lại để sống vĩnh cửu như thế – nghĩa là hiện nay, sau 2000 năm, Ngài vẫn đang sống, và sẽ còn sống mãi – thì chỉ có một mình Đức Giê-su mà thôi.
2. Đức Giê-su chính là Con Thiên Chúa, là Đấng Mê-si-a, và cũng là con người như chúng ta
Các bài Tin Mừng các Chúa Nhật Mùa Chay muốn chứng tỏ Đức Giê-su vừa là Thiên Chúa vừa là con người, Ngài chính là Đấng Thiên Sai mà các ngôn sứ đã hứa, mà người Do Thái trông chờ hàng mấy trăm năm.
Việc Đức Giê-su chịu cám dỗ (Chúa Nhật thứ 1 mùa Chay) cho thấy Đức Giê-su là người đích thực, Ngài rất thông cảm với sự yếu đuối của con người.
Việc Đức Giê-su hiển dung (CN 2 mùa Chay) cho thấy thần tính của Ngài, cho thấy Ngài là Con Thiên Chúa, được chính Chúa Cha giới thiệu.
Câu chuyện về nước hằng sống với người phụ nữ Sa-ma-ri (CN 3 mùa Chay) cho thấy Ngài có khả năng đem lại sự sống vĩnh cửu cho con người, và Ngài tự xác nhận mình là đấng Mê-si-a mà mọi người trông đợi.
Việc làm sáng mắt người mù từ khi mới sinh (CN 4 mùa Chay) cho thấy quyền năng đặc biệt của Ngài và cách Ngài hành xử theo tình yêu hơn là theo lề luật.
Quyền năng ấy lại còn đặc biệt hơn nữa với bài tường thuật Ngài làm cho kẻ chết đã 4 ngày sống lại trong bài Tin Mừng hôm nay (CN 5 mùa Chay). Trong bài Tin Mừng này, Ngài còn tự xác nhận mình chính là sự sống lại và là sự sống, ai tin vào Ngài thì sẽ được sự sống đời đời.
Cuối cùng, Chúa Nhật kế tiếp (CN Phục Sinh) thuật lại việc sống lại của chính Ngài sau khi chịu tử nạn làm hy tế đền tội cho nhân loại. Sự sống lại này là dấu chứng vĩ đại và chắc chắn nhất chứng tỏ Ngài là Con Thiên Chúa, là Đấng Mê-si-a.
Bài Tin Mừng hôm nay chứng minh một cách tổng hợp Ngài vừa là Thiên Chúa vừa là con người, một con người đúng là con người, hết sức nhân bản. Ngài là Thiên Chúa, vì có khả năng làm cho kẻ chết sống lại. Là con người, vì khi đến nhà người mình yêu thương đã chết, Ngài cũng «thổn thức trong lòng và xao xuyến» (câu 33b), Ngài đã khóc (câu 35) khi đứng trước mộ La-da-rô. Chắc hẳn Ngài đã tỏ ra xúc động rất nhiều đến nỗi những người có mặt ở đấy đã phải thốt lên: «Kìa xem! Ông ta thương anh La-da-rô biết mấy!» (câu 36).
Như vậy, Ngài không chỉ yêu thương chúng ta bằng thứ tình yêu đầy tính thần linh của một vị Thiên Chúa, mà còn yêu bằng chính tình cảm đầy tính người của con người. Và dù mang tính con người, tình yêu ấy vẫn rất bao la, rộng rãi, và triệt để: «Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng» (Ga 13,1b). «Đến cùng» ở đây là tới mức tận cùng của tình yêu con người, không ai – kể cả Ngài – có thể yêu hơn được nữa: «Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình» (Ga 15,13).
3. Hãy yêu thương như Đức Giê-su đã yêu thương
Đức Giê-su đã yêu thương ta và yêu thương mọi người bằng trái tim con người thế nào, Ngài cũng mời gọi ta yêu thương nhau, yêu thương tha nhân y như vậy: «Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em» (Ga 15,12). Có yêu thương như thế, ta mới chứng tỏ mình theo Ngài: «Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau» (Ga 13,35).
Tình yêu nhân bản của Đức Giê-su được biểu lộ ra bên ngoài bằng sự xúc động mãnh liệt như trường hợp đối với La-da-rô, nhất là bằng những hy sinh đến chết cho nhân loại. Tình yêu tuy ẩn sâu kín trong lòng con người không ai thấy được, nhưng nếu là tình yêu đích thực thì nó luôn luôn được biểu lộ ra ngoài thành những ánh mắt trìu mến, cử chỉ yêu thương, lời nói dịu dàng, và nhất là bằng sự quan tâm, giúp đỡ, hy sinh thật sự cho người mình yêu. Tình yêu không thể dấu kín. Tình yêu dấu kín trong lòng là tình yêu đáng nghi ngờ. Nếu «đức tin không có hành động là đức tin chết» (Gc 2,17.26), thì một cách tương tự, tình yêu không được biểu lộ cụ thể là tình yêu giả hiệu. Chính «Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta, đã biểu lộ lòng nhân hậu và lòng yêu thương của Người đối với nhân loại» (Tt 3,4), và «Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta được biểu lộ như thế này: Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống» (1Ga 4,9). Vì thế, chúng ta hãy biểu lộ tình yêu của mình đối với mọi người bằng những cử chỉ, lời nói và hành động cụ thể.
Cầu nguyện
Lạy Cha, Cha đã tỏ tình yêu của Cha một cách cụ thể cho nhân loại qua việc sai Đức Giê-su là hiện thân của Cha đến thế gian chịu chết để cứu chuộc họ. Đức Giê-su cũng biểu lộ tình yêu của Ngài một cách rất cụ thể qua việc khóc thương La-da-rô, và qua việc hiến mình đến chết cho nhân loại. Xin giúp con cũng biết thật sự yêu thương những người chung quanh con, và biểu lộ tình yêu thương ấy thật cụ thể qua ánh mắt, cử chỉ, lời nói và hành động. Amen.

 

MC5-A11. Suy Niệm của JKN- 2

Câu hỏi gợi ý:
 

Thiên Chúa có đòi hỏi ta tin vào Ngài một cách không bằng chứng, không cơ sở, không hợp lý: MC5-A11

1. Thiên Chúa có đòi hỏi ta tin vào Ngài một cách không bằng chứng, không cơ sở, không hợp lý không? Trước khi mời gọi ta tin vào Ngài, Ngài có cho ta một kinh nghiệm nào về Ngài hầu ta có cơ sở để tin không?
2. Tại sao Đức Giêsu cố ý không về gặp Ladarô khi ông còn sống mà để ông chết rồi mới về (x. Ga 11,6)? Mục đích của Đức Giêsu khi làm cho Ladarô sống lại là gì? Để chuẩn bị và củng cố niềm tin cho các ông về sự sống lại của Ngài?
Suy tư gợi ý:
1. Đức tin vào Thiên Chúa phải dựa trên những kinh nghiệm trong quá khứ về tình yêu và quyền năng của Ngài
Trong 28 câu của bài Tin Mừng, chúng ta thấy có đến 9 chữ «tin». Toàn bài nhấn mạnh đến sự cần thiết phải tin vào tình yêu và quyền năng Thiên Chúa để giải quyết những vấn đề cụ thể của đời sống thực tế và thường ngày của mỗi người. Nhờ tin vào tình yêu và quyền năng của Thiên Chúa, chúng ta mới có đủ sức mạnh để vượt qua những khó khăn, và thực hiện những gì cần thiết cho hạnh phúc và cuộc sống của ta. Đành rằng tin là chấp nhận những gì trước mắt chưa rõ ràng và chắc chắn, nhưng Thiên Chúa không bao giờ đòi hỏi chúng ta tin Ngài cách mù quáng, không có bằng chứng xác đáng. Ngài chỉ đòi hỏi chúng ta tin những gì đáng tin mà thôi. Trước khi đòi hỏi ta tin vào tình yêu và quyền năng của Ngài, Ngài luôn luôn tạo chúng ta cơ hội để kinh nghiệm thật sự về tình yêu và quyền năng của Ngài. Kinh nghiệm ấy sẽ trở thành nền tảng để chúng ta tin vào Ngài trong những hoàn cảnh hay tình huống mới.
Trong đời thường, khi hùn một số vốn thật lớn để làm ăn chung với ai, ta phải tin vào lương tâm và khả năng làm ăn của người ấy. Làm sao ta có thể tin người ấy một cách vững vàng, nếu ta chưa hề thấy người ấy chứng tỏ sự đáng tin của họ? Phải dựa vào đâu để biết được họ đáng tin? – Trước khi hùn một số vốn lớn để làm ăn với ai , ta phải có thời làm ăn với họ trong những vụ làm ăn nhỏ. Khi làm ăn nhỏ, nếu họ tỏ ra đáng tin, ta mới dám tiếp tục làm ăn với họ trong những vụ lớn hơn. Kinh nghiệm về thành quả quá khứ sẽ trở thành nền tảng cho niềm tin trong hiện tại. Những người tự tin vào mình cũng đều có kinh nghiệm về khả năng của mình trong quá khứ. Có thấy được khả năng của chính mình trong quá khứ qua những thành công nho nhỏ, ta mới dám tự tin vào mình trong những chuyện lớn hơn. Niềm tin được xây dựng trên kinh nghiệm của quá khứ như thế mới là niềm tin khôn ngoan và mới vững mạnh được. Niềm tin vào Thiên Chúa cũng phải dựa vào kinh nghiệm quá khứ như thế.
2. Thiên Chúa chỉ mời gọi ta tin và thử thách đức tin của ta khi đã cho ta những kinh nghiệm về Ngài
Khi đặt niềm tin vào một người, có hai thái độ nên tránh:
– một là chưa có kinh nghiệm gì về sự đáng tin của người ấy mà đã vội tin. Đây là thái độ cả tin, nhẹ dạ, rất nguy hiểm và thiếu khôn ngoan.
– hai là đã thấy người ấy tỏ ra rất đáng tin trong những chuyện nhỏ, mà vẫn không dám đặt niềm tin vào người ấy trong những chuyện khác hoặc chuyện lớn hơn một chút. Như vậy, dù người ấy có đáng tin tới mức độ nào, ta cũng không dám tin. Điều này khiến ta mất đi nhiều cơ hội quý trong cuộc đời. Một người làm ăn mà có thái độ này thì không bao giờ làm ăn lớn được, và không bao giờ giàu có được.
Khi tin vào Thiên Chúa, ta cần tránh hai thái độ ấy. Thiên Chúa không bao giờ mời gọi hay đòi hỏi ta tin điều gì mà ta chưa hề có kinh nghiệm về sự đáng tin của nó. Khi Ngài mời gọi hay đòi hỏi ta tin, thì chắc chắn trước đó Ngài đã từng chứng tỏ tình yêu và quyền năng của Ngài để ta có cơ sở cho niềm tin của ta trong những trường hợp sau.
Nhưng khi ta đã có kinh nghiệm nhiều lần về tình yêu và quyền năng của Ngài, thì Ngài thường thử thách niềm tin của ta. Nếu ta không dám tin vào quyền năng của Ngài mà ta đã từng có kinh nghiệm trong quá khứ, thì ta sẽ không có thêm kinh nghiệm về quyền năng ấy. Đức tin của ta sẽ dừng lại đó, không lớn mạnh thêm, mà trái lại, có thể bị hao hụt đi. Ngược lại, nếu ta tin và chứng tỏ niềm tin ấy bằng sự dấn thân cụ thể, ta sẽ kinh nghiệm thêm lần nữa về quyền năng của Ngài. Nhờ đó đức tin của ta lớn mạnh hơn. Một đức tin vững mạnh sẽ biến đổi ta thành «con người mới» (Ep 2,15; 4,24; Cl 3,10) và đời sống ta thành «đời sống mới» (Rm 6,4; 8,11; Cl 3,3).
Chẳng hạn, khi dân Do Thái chưa có kinh nghiệm về Ngài, thì Ngài cho họ kinh nghiệm ấy. Ngài cho họ vượt qua Biển Đỏ cách lạ lùng và cứu họ khỏi đất Ai Cập. Lần đó, Ngài đã làm cho nước ở Biển Đỏ rẽ ra trước rồi sau đó mới bảo họ bước xuống biển (x. Xh 14,21-22). Ngài không đòi hỏi họ lòng tin vì họ chưa có kinh nghiệm về quyền năng của Ngài. Nhưng khi Ngài yêu cầu các tư tế khiêng hòm bia qua sông Giođan, Ngài không còn làm cho nước rẽ ra trước, mà yêu cầu họ bước xuống sông khi nước sông vẫn còn tràn bờ. Lần này Ngài mới đòi hỏi họ phải tin, vì họ đã có kinh nghiệm về quyền năng của Ngài. Và họ đã chứng tỏ niềm tin của họ bằng hành động cụ thể là dám bước xuống sông khi còn đầy nước. Và Thiên Chúa không để họ mất niềm tin: khi chân họ vừa đụng xuống mặt nước, thì nước lập tức rẽ sang hai bên để họ đi qua (x. Gs 3,13).
Cũng vậy, để chuẩn bị và củng cố niềm tin cho các tông đồ vào sự sống lại của Ngài, Đức Giêsu đã cố ý (x. Ga 11,4.15) cho các tông đồ một kinh nghiệm vô cùng sống động về quyền năng phi thường của Ngài. Đó là Ngài làm cho Ladarô sống lại, chưa kể trước đó Ngài đã từng làm kẻ chết sống lại nhiều lần trước mặt các tông đồ (x. Mt 9,25; Lc 7,14-15; Ga 4,50-53). Thế mà khi Đức Giêsu chết, nhiều tông đồ đã mất hết niềm tin đến nỗi thất vọng và sợ hãi.
3. Kinh nghiệm cá nhân
Về phương pháp sư phạm của Thiên Chúa để củng cố niềm tin cho mỗi người, tôi xin chia sẻ kinh nghiệm cá nhân của tôi. Hiện nay, tôi tin khá vững vàng vào sự quan phòng của Thiên Chúa trong đời sống tôi. Vì tôi từng kinh nghiệm khá nhiều về việc Thiên Chúa can thiệp và dẫn dắt tôi một cách lạ lùng. Trong đó có việc rất cụ thể là Thiên Chúa lo cho đời sống vật chất của tôi và gia đình trên 20 năm qua (tính từ khi tôi lập gia đình). Niềm tin của tôi khởi đầu bằng một lập luận. Tôi cho rằng Thiên Chúa đã tạo dựng nên vũ trụ và chính con người tôi một cách vô cùng hoàn hảo. Nếu Ngài đã tạo dựng nên bộ máy tiêu hóa ở trong tôi một cách thật khôn ngoan và thông minh tuyệt vời, chẳng lẽ Ngài lại để cho bộ máy ấy thiếu thức ăn để tiêu hóa. Tôi không thể tin rằng Ngài lại là hạng người «đánh trống bỏ dùi» hay «đem con bỏ chợ»: dựng nên bộ máy tiêu hóa một cách hoàn hảo với những đòi hỏi của nó để rồi lại để nó lâm cảnh thiếu thốn, không có gì để tiêu hóa (xem thêm Mt 6,25-34). Nếu tôi có bị đói hay bị thiếu thốn thì tôi tin rằng đó là do lỗi của tôi: tôi đã vi phạm luật thiên nhiên hoặc luật của Ngài khi không làm theo đúng những gì lương tâm và tình yêu mình đòi buộc.
Tin tưởng như thế, nên khi có sự xung đột giữa tiếng lương tâm và nhu cầu sinh sống – nghĩa là nếu làm theo đòi hỏi của lương tâm hay tình yêu ắt có nguy cơ bị thiếu thốn – thì tôi cứ liều hay can đảm làm theo lương tâm, phó mặc chuyện sinh sống của mình cho Ngài. Kinh nghiệm nhiều lần cho tôi thấy: khi suy nghĩ và hành động như vậy, chẳng những tôi không bị thiếu thốn, mà Ngài còn ban cho tôi đầy đủ hơn nữa. Tôi nhận ra Ngài có trăm ngàn cách kỳ diệu để lo lắng cho tôi khi tôi quyết sống theo đường lối Ngài. Trái lại, khi tôi lo sợ thiếu thốn đến nỗi không dám làm theo thánh ý Ngài, không theo đường lối Ngài, thì tôi thường phải trả giá cho việc ấy bằng một sự thiệt hại nào đó, có thể là sự thiếu thốn hơn.
CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, xin cho con biết dựa vào tình yêu và quyền năng của Cha mà con đã kinh nghiệm trong quá khứ để tin vững vàng hơn hầu quảng đại và can đảm dấn thân theo đường lối và thánh ý Cha.

 

MC5-A12. MỞ CỬA MỘ

Tai họa ngày 11.9.2001 trên đất Mỹ đã trở thành một nỗi ám ảnh đối với mọi người. Trong phút chốc: MC5-A12

Tai họa ngày 11.9.2001 trên đất Mỹ đã trở thành một nỗi ám ảnh đối với mọi người. Trong phút chốc, hai tòa tháp chọc trời đổ sập xuống, trở thành ngôi mộ khổng lồ chôn vùi mấy ngàn sinh mạng. Ngôi mộ gieo tang thương. Ngôi mộ gieo kinh hoàng. Ngôi mộ làm rung chuyển thế giới.
Ngôi mộ không chỉ hiện hữu từ khi toà tháp đôi đổ xuống. Trước đó ngôi mộ đã hiện diện trong trái tim của những người khủng bố. Sau đó ngôi mộ vẫn phủ màn u ám trên cuộc sống thân nhân bạn bè.
Như thế, ngôi mộ không chỉ xây bằng gạch đá. Nó được xây bằng những lực lượng chết chóc như sự hận thù, sự áp bức, sự độc ác… Ngôi mộ không chỉ chôn vùi sự sống. Nó chôn vùi cả niềm tin, cả niềm hy vọng.
Nhưng hôm nay, Chúa Giêsu đã dõng dạc mở cửa mộ và truyền cho người chết trỗi dậy bước ra. Việc Chúa Giêsu mở cửa mộ cho Ladarô mở ra những chân trời mới cho đời sống con người.
Khi mở cửa mộ, Người đã mở cánh cửa Sự Sống
Thông thường, ngôi mộ là vương quốc của tử thần. Cửa mộ là cửa mở vào thế giới chết chóc. Ai đã vào đó chẳng còn hy vọng thoát ra. Nhưng hôm nay, Chúa Giêsu đã mở cửa mộ để Ladarô không phải bước vào sự chết nhưng bước vào sự sống. Khi mở cửa mộ, Người phá tan sào huyệt Thần Chết. Khi tháo những dải băng liệm cuốn quanh thân thể Ladarô, Người giải thoát ông khỏi dây trói ràng buộc của tử thần.
Khi mở cửa mộ, Người đã mở cánh cửa niềm tin
Trước đó, niềm tin của Martha chỉ là một niềm tin mơ hồ, chung chung của đa số người Do Thái thời ấy. Nhưng sau khi thấy Ladarô sống lại, niềm tin của bà trở nên cụ thể, sống động và vững vàng. Trước đó, nhiều người Do Thái chưa tin vào Chúa Giêsu. Nhưng sau khi được chứng kiến Ladarô từ cõi chết sống lại, họ không thể nào không tin. Tảng đá lấp cửa mồ tung ra cũng làm bật tung tảng đá nghi ngờ che lấp trái tim, đưa họ tới tin nhận Chúa là Thiên Chúa.
Khi mở cửa mộ, Người mở ra cánh cửa niềm vui
Chết chóc gieo tang tóc u buồn. Ngôi mộ bao giờ cũng gợi lên nỗi buồn. Buồn ly biệt. Buồn mất mát. Buồn thất bại. Cái buồn vốn hay lây. Nước mắt người thân dễ làm cay mắt ta. Nên Chúa Giêsu không ngăn được dòng lệ. Nhưng khi Lagiarô bước ra, cả một trời vui. Đám tang bỗng biến thành đám hội. Lời chia buồn đổi thành lời chúc mừng. Thiên Chúa đã biến tang tóc thành niềm vui. Niềm vui ấy trọn vẹn.
Khi mở cửa mộ, Chúa Giêsu mở cánh cửa hy vọng
Thiên Chúa đến biến đổi số phận con người. Con người không còn bị giam hãm trong thân phận hay chết, nhưng được thênh thang tự do trong cõi sống. Con người không sinh ra để chết đi nhưng để sống, sống mãi, vì Chúa là “sự sống”, “ai tin sẽ sống đời đời”. Con người không sinh ra để tàn lụi, nhưng để triển nở đến vô biên.
Trong mỗi người chúng ta có nhiều nấm mộ. Chúng ta bị giam hãm trong những nấm mộ tội lỗi, gian tham, ích kỷ, bất công, đam mê, ghen ghét hận thù, nghèo đói, thất học… Có những nấm mộ kiên cố, tự sức mình không thể phá nổi. Ta hãy xin Chúa đến mở những cửa mộ, lăn những tảng đá đè nặng đời ta, để ta được sự sống dồi dào của Chúa nuôi dưỡng. Đồng thời, ta cũng phải tiếp tay với Chúa, phá đi những nấm mộ vây bọc anh chị em chúng ta, để mọi người được sống và sống dồi dào như lòng Chúa mong ước, như định mệnh Chúa dành cho ta, những người con cái Chúa.
GỢI Ý CHIA SẺ
1. Tôi còn bị giam cầm trong những ngôi mộ nào ?
2. Tôi còn muốn xây những ngôi mộ nào để chôn vùi anh em ?
3. Hôm nay tôi phải làm gì để mở cửa mộ cho tôi và cho anh em ?
4. Việc Chúa cho Lagiarô chết bốn ngày sống lại có ảnh hưởng gì trên tôi ?
Tgm. Giuse NGÔ QUANG KIỆT

 

MC5-A13. TÌNH THƯƠNG MẠNH HƠN SỰ CHẾT

“Vâng con tin Thấy là Đấng Kitô”
 

Câu chuyện Chúa Giêsu cho Lazarô sống lại là motc tường thuật căn bản của Phúc âm thánh: MC5-A13

Câu chuyện Chúa Giêsu cho Lazarô sống lại là motc tường thuật căn bản của Phúc âm thánh Gioan. Chúa Giêsu được mô tả như Ngôi Lời nhập thể, đến trong thế gian để con người được đưa từ bóng tối ra ánh sáng, từ sự chết vào cõi sống, từ đất đến trời. Đức Giêsu Nagiarét thật là một con người huyền diệu và là một Thiên Chúa toàn năng.
Gioan, người đồ đệ Chúa thương yêu, đã sống bên cạnh Chúa, đã nhìn thấy, đã sờ đụng, đã chứng kiến quyền năng của Ngôi Hai Thiên Chúa trong bản thể của con người. Đây là một bản tuyên xưng Đức Tin sống động mà Công đồng Chalcédoine năm 51 đã long trọng công bố: "Ngôi Lời, Con một Thiên Chúa sinh bởi Đức Maria về tính loài người, gồm hai bản tính không lẫn lộn, không thay đổi, không chia sẻ, không tách rời". Đấng ấy Gioan đã nhìn thấy và minh chứng.
Ngài là một con người đích thực, biết yêu biết cảm. Gioan viết rằng tại làng Bêtania, "Chúa Giêsu thương Martha và em là Maria và Lazarô", nhưng hôm nay, Lazarô đã chết và chôn được 4 ngày rồi. Trên đường dẫn ra mộ để thăm người bạn cũ, Gioan nhìn thấy khuôn mặt Chúa nhiều lần biến sắc: Ngài bồn chồn, xao xuyến, Ngài khóc khi thấy hai chị em khóc nức nở: "Nếu Thầy có ở đây thì em con không chết!” Ngài là một con người đích thực, biết thương, biết cảm, biết chia sẻ tình bạn, biết liều mạng sống vì bạn hữu. Người Do Thái nói: “Kìa, xem Ngài thương ông ấy biết chừng nào”. Nhưng qua khuôn mặt con người đó, sáng chói quen năng của một ngôi vị Thiên Chúa. Gioan mô tả những chặng đàng Chúa đi xuống với sự chết dể rồi cùng với người chết đi lên với sự sống. Lazarô, người bạn thân của Chúa, ốm nặng, tắt chở, được chôn cất và đã nặng mùi, vì đã 4 ngày. Đó là tất cả thảm trạng của sự chết, hình ảnh sự chết của tâm hồn do tội lỗi.
Nhưng Chúa là chủ sự sống, Ngài không để bạn hữu mình trầm luân mãi trong bóng tối sự chết. Gioan nhìn thấy hình ảnh đặc ân rửa tội đến một cuộc tái sinh, một cuộc vươn lên sự sống do Đấng là sự sống và  sự sống, do Đấng là “sự sống và là sự phục sinh” mang lại.
Đứng trước hầm mộ, Ngài kêu lớn tiếng như để tiếng Ngài rạng đến cõi âm u của sự chết. Và Lazarô đã ra khỏi mồ, được tháo gỡ khỏi "xiềng xích sự chết " (Tv 116, 8), được sống lại đầy sinh lực. Gioan nhìn thấy ở đây hình ảnh một người tân tòng vừa bước ra khỏi giếng rửa tội.
Vì thế, Giáo hội đọc lên trong ngày tái sinh trong giếng nước rửa tội cũng như trong nghi lễ tiễn đưa một tín hữu đến nơi an nghỉ cuối cùng Lời của Chúa phán trước phần mộ Lazarô: “Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin Ta dầu có chết cũng sẽ được sống. Và kẻ nào sống và tin Ta, sẽ không chết bao giờ”.
Ngài là ai mà tình thương mạnh hơn sự chết ? Martha đã nói lên niềm Tin của Bà cũng như niềm xác tín của chúng ta. "Thưa Thầy ,vâng, con tin Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống đã đến trong thế gian”.
Chúa nhật thương khó.

 

MC5-A14. Chúa Giêsu là sự sống

Ga 11,1-45
A. Hạt giống...
 

Bài Tin Mừng Chúa nhựt thứ ba mặc khải Chúa Giêsu là nguồn nước hằng sống; bài Tin Mừng: MC5-A14

Bài Tin Mừng Chúa nhựt thứ ba mặc khải Chúa Giêsu là nguồn nước hằng sống ; bài Tin Mừng chúa nhựt thứ tư mặc khải Chúa Giêsu là ánh sáng thế gian, còn bài Tin Mừng hôm nay mặc khải Chúa Giêsu là sự sống.
Ta cần lưu ý rằng, theo Tin Mừng Gioan, “sự sống” không chỉ là sự sống của thể xác mà là sự sống trọn vẹn, chia xẻ chính sự sống của Thiên Chúa. Ladarô đã được Chúa Giêsu trả lại sự sống thể xác nhưng về sau thân xác ông cũng sẽ lại chết như bao người khác. Cho nên sự sống thể xác không quan trọng và quý giá cho bằng sự sống trọn vẹn trong sự kết hợp với Thiên Chúa cả ở đời này lẫn đời sau.
B.... nẩy mầm.
1. Con người chúng ta quá lo lắng về cuộc sống thể xác, cho nên hễ gặp bất cứ thứ gì có thể làm hại hoặc giết chết sự sống này thì chúng ta rất sợ hãi.
Mặc khải hôm nay một mặt có thể giúp giải thoát chúng ta khỏi những thứ sợ hãi đó. “Chúng con đừng sợ những thứ chỉ giết được thân xác mà không giết được linh hồn”. Mặt khác nó còn giúp chúng ta thấy được một sự sống khác quý giá và trường tồn hơn mà chúng ta phải chăm sóc.
2. Thực ra, sự sống đời này là gì ? Ngôn sứ Isaia đã suy nghĩ : nó chỉ như cỏ hoa sớm nở tối tàn (Bởi thế người ta mới nói “cuộc sống phù du”). Và Isaia kết luận “Chỉ có lời Chúa là tồn tại vĩnh viễn” (x. Is 40,7-8).
3. Khổ đau to lớn thật, nhưng đối với Thiên Chúa, con người còn to lớn hơn đau khổ nhiều (Lấy ý của thi hào Tagore).
4. “Nếu những hạt giống trong lòng đất đen mà còn có thể biến thành những cánh hoa hồng xinh đẹp như thế, thì trái tim con người còn thể biến thành thế nào nữa trong cuộc hành trình hướng đến các vì sao” (Gilbert K. Chesterton).
5. Mầm khác :

 

MC5-A15. Chú giải của Noel Quession.

Có một người bị đau nặng tên là Ladarô, quê ở Bêtania làng của hai chị em cô Mácta và Maria. Cô Maria là người sau này sẽ Xức dầu thơm cho Chúa, và lấy tóc lau chân Người (Ga 12,1-3). Anh Ladarô. Người bị đau nặng, là em của cô.
 

Bêtania ngày nay vẫn luôn mang tên bằng tiếng Ả Rập “El Azaneh", làng của Ladarô. Trong: MC5-A15

Bêtania ngày nay vẫn luôn mang tên bằng tiếng Ả Rập “El Azaneh", làng của Ladarô. Trong tiếng Do Thái “Beithaneiah" có nghĩa là "nhà của người nghèo". Bêtania! ở triền phía Đông của núi Ô-liu, ở 3 km phía Đông Giêrusalem, đó là phía mặt trời mọc trên Giêrusalem.. Đó là đỉnh của ngọn núi mà dưới chân nó, trên phía có bóng che, có vườn Ghết-sê-ma-ni ở phía thấp dưới. Bêtania! Đó là ốc đảo của ánh sáng và tình bạn hữu. Ở đó, trong một ngôi nhà thân hữu, Đức Giêsu đã sống hạnh phúc.
Hai chị em sai người nói với Đức Giêsu: “Thưa Thầy, người Thầy thương mến đang đau nặng". Nghe vậy Đức Giêsu bảo: "Bệnh này không đến nỗi chết đâu, nhưng là dịp để bày tỏ vinh quang của Thiên Chúa: qua cơn bệnh này, Con Thiên Chúa được tôn vinh". Đức Giêsu quí mến cô Mácta, cùng hai người em là cô Maria và anh Ladarô.
Trong cuộc sống đầy xáo động và khó khăn của Chúa Giêsu. Bêtania là chốn cõi lòng được nghỉ ngơi. Theo thói quen, Tin Mừng giới thiệu một Đức Giêsu hoàn toàn! được toả hào quang với địa vị Đức Chúa Phục sinh (và sự cám dỗ "theo thuyết một bản tính" rõ ràng là chỉ nhìn thấy bản tính Thiên Chúa nơi Người). Vậy mà, Thánh Gioan, người trông thấy rõ nơi Người Ngôi Lời, Con vĩnh cửu, cũng là người cho chúng ta thấy "con người" nơi Đức Giêsu. Người đã có nhiều tình bạn với nữ giới; như ta thấy rõ trong câu nói tinh tế và đơn sơ này: "Đức Giêsu yêu mến Mácta và em gái của cô", người cũng sẽ, lát nữa run lên vì xúc động và khóc.
Tuy nhiên sau khi được tin anh này lâm bệnh, Người còn lưu lại thêm hai ngày lại nơi đang ở. Rỗi sau dó, Người nói với các môn đệ: "Nào, chúng ta cùng trở lại miền Giu-đê". Các môn đệ nói: "Thưa Thầy, mới đây người Do Thái tìm cách ném đá Thầy, mà Thầy lại còn đến đó sao?". Đức Giêsu trả lời: "Ban ngày chẳng có mười hai giờ đó sao? Ai đi ban ngày thì không vấp ngã, vì thấy ánh sáng mặt trời. Còn ai đi ban đêm thì vấp ngã vì không có ánh sáng nơi mình".
Sự sống lại của Ladarô là "phép lạ cuối cùng" của Chúa Giêsu, dấu hiệu cuối cùng mà người dành cho người Do Thái trong vụ tranh tụng giữa ánh sáng và bóng tối: ngay sau dấu hiệu này, trong Thánh Gioan, là cuộc Thụ Nạn bắt đầu (Ga 11,46-53). Khi đi sang miền Giuđê để cứu anh bạn Ladarô của mình, Đức Giêsu đi đón nhận cái chết của mình. Chúng ta chú ý là Đức Giêsu, mặc cho tình yêu của Người đối với hai người bạn gái, đã cố tình chậm đến gặp lại họ: Dù vẫn hoàn toàn nhân bản, Đức Giêsu không bao giờ để mình bị dẫn dắt bởi tình cảm của mình nhưng bởi ý muốn của Chúa Cha (4,34; 7,18; 8,29).
Người đã đợi cho Ladarô chết vì người biết thế, người không đến để tránh cho chúng ta khỏi đau khổ và tang chế, nhưng thay đổi những đau khổ và cái chết này nhờ sự sống lại của Người, chính Người cũng sẽ không tránh cái chết cho mình!
Nói những lời này xong. Người bảo họ: “Ladarô bạn của chúng ta đang yên giấc; tuy vậy Thầy đi đánh thức anh ấy đây. Các môn đệ nói với Người: "Thưa Thầy, nếu anh ấy yên giấc được anh ấy sẽ khoẻ lại". Đức Giêsu nói về cái chết của anh Ladarô, còn họ tưởng về giấc ngủ thường. Bấy giờ Người mới nói rõ: "Ladarô đã chết, Thầy mừng cho anh em vì Thầy đã không có mặt ở đó, để anh em tin. Thôi nào chúng ta đến với anh ấy". ông Tôma, gọi là Đi-di-mô nghĩa là sinh đôi nói với các bạn đồng môn: "Cả chúng ta nữa, chúng ta cùng đi để cùng chết với Thầy”.
Đức Giêsu luôn luôn gọi cái chết là một "giấc ngủ", và nhờ đó mời chúng ta thay đổi quan niệm của chúng ta về cái thực tại không thể tránh được này (Mt 9,24: Ga 11,11) Cái chết thể lý, đối với Đức Giêsu, là một giấc ngủ đơn sơ và tạm bợ; nấm mồ trở thành một nơi người ta nghỉ ngơi trong lúc chờ đợi thức dậy. Và Thánh Phaolô sẽ ca lên: "Hỡi người đang ngủ, hãy tỉnh giấc, ngày đã sáng rồi. Từ trong kẻ chết, người hãy trỗi dậy, và được sáng ngời" (Ep 5,14). Lạy Đức Giêsu, xin hãy giúp con hiệp thông thực sự ý tưởng của Chúa để cất khỏi sự chết cái đặc tính bi thảm của nó, để xem nó như sự "phát tình của Thiên Chúa" huyền nhiệm, khiến chúng con cuối cùng có thể tham dự vào cuộc sống hạnh phúc của nó: Những ai đã ngủ yên trong Đức Giêsu, thì Thiên Chúa sẽ dẫn đưa họ cùng đi với Người..." (1Tx 4,14), "bởi vì Đức Kitô đã sống lại từ kẻ chết, quả đầu mùa của những ai đã ngủ yên..." (I Cr 15,20). Vâng Đức Giêsu có thể "vui mừng" về cái chết của Ladarô. Ôi mạc khải! Mạc khải duy nhất có ích lợi... về cái chết.
Khi đến nơi, Đức Giêsu thấy anh Ladarô đã chôn trong mồ được bốn ngày rồi. Bêtania cách Giêrusalem không đầy ba cây số. Nhiễu người Do Thái đến chia buồn với hai cô Mácta và Maria, vì em các cô mới qua đời. Vừa được tin Đức Giêsu đến, cô Mácta liền ra đón Người. Còn cô Maria thì ngồi ở nhà. Cô Mácta nói với Đức Giêsu: "Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết, nhưng bây giờ con biết bất cứ điều gì Thầy xin cùng Thiên Chúa. Người cũng sẽ ban cho Thầy” Đức Giêsu nói: "Em chị sẽ sống lại". Cô Mácta thưa: "Con biết em con sẽ sống lại khi kẻ chết sống lại trong ngày sau hết. Đức Giêsu liền phán: "Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống lại. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết. Chị có tin thế không?". Cô Mácta đáp:Thưa Thầy, có. Con vẫn tin Thầy là Đức Kitô. Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian".
Mácta, như một phần lớn những người Do Thái thuộc thời cô, tin vào sự sống lại vào lúc tận thế... những ngày sau cùng! Điều mới mà Đức Giêsu yêu cầu cô tin, chính là một sự sống lại "hiện tại": "Thầy là sự sống lại!".
Đây là câu trả lời của Thiên Chúa cho câu hỏi độc nhất nghiêm chỉnh của lời Người, câu hỏi đặt ra cho mỗi người trong chúng ta khi đối diện với cái chết. "Ai tin vào Thầy dù đã chết sẽ sống". Thật? hay không thật? hay bạn không tin điều đó? Kinh Tin Kính của chúng ta đơn sơ và ngắn gọn: Đức Giêsu làng Nadarét, đã chết và đã sống lại! Điều đó đơn giản như một buổi sáng Lễ Phục sinh. Trong khi chờ đợi chết. chúng ta phải sống điều đó, phải tin điều đó. Bởi vì tất cả mọi người tin vào Đấng đã sống lại không thể sống một cuộc đời không có tình yêu, không cậy trông, không niềm vui được của sẻ. Nếu bạn phải chết chiều nay, bạn sẽ làm thế nào để có thể trải qua ngày này trước khi ôm lấy Chúa? Cuộc đời của một tín hữu đầy sự sống lại, đầy sự sống và đầy niềm vui. Thầy là sự sống lại và là sự sống Những lời kiêu kỳ gây hốt hoảng? Đó là một thằng điên nói ra... hay chính là Thiên Chúa. Cuộc sống mà Người nói đến, hiển nhiên có một bản tính khác với cuộc sống sinh lý này, chết là hết; nhưng là cuộc sống của Thiên Chúa. Ai tin Thầy thì sẽ không bao giờ chết. Đức tin, ngay từ bây giờ, là một sự vui hưởng trước đời sống đó, đời sống không chết, chính là đời sống của chính Thiên Chúa.
Nói xong. Mácta đi gọi em là Maria và nói nhỏ: “Thầy đến rồi, Thầy gọi em đấy. Nghe vậy cô Maria vội đứng lên và đến với Người... Khi đến gần Đức Giêsu, cô Maria vừa thấy Người, liền phủ phục dưới chân và nói: ' Thưa Thầy nếu có Thầy ở đây em con đã không chết”. Thấy cô khóc và những người Do Thái đi theo cũng khóc, Đức Giêsu thao thức trong lòng và xao xuyến. Người hỏi: "Các anh để xác anh ấy ở đâu?”. Họ trả lời: ' Thưa Thầy! mời Thầy đến mà xem". Đức Giêsu liền khóc. Người Do Thái mới nói: "Kìa xem! Ông ta thương Ladarô biết mấy". Có vài người trong nhóm họ nói: "ông ta mở mắt cho người mù, lại không thể làm cho anh ấy khỏi chết ư?". Đức Giêsu lại thổn thức trong lòng. Người đi tới mộ. Ngôi mộ đó là một cái hang có phiến đá đậy lại.
Thật là tai hại, lại một lần nữa, khi những người phiên dịch đã không phán đoán tốt để cho người ta cảm thấy trong bản (dịch của họ, một tiểu tiết thật đẹp trong bản văn Hy Lạp, mà hiển nhiên là Gioan muốn thế. Ba lần, khi nói đến Mácta và Maria và những người Do Thái, Gioan dùng tiếng "Klainein" có nghĩa chính xác là "khóc, nức nở to tiếng" và chúng ta đoán những tiếng nấc và tiếng kêu ở Phương Đông, rất chan hòa tình cảm của mình, mà người ta thoáng nghe thấy nơi những bà khóc mướn chung quanh đám tang. Nhưng khi đến Đức Giêsu, Gioan thay đổi tiếng, và nói về "dakruein", có nghĩa là "khóc thổn thức lặng lẽ”. Và từ này làm cho tôi trông thấy những giọt nước mắt âm thầm rơi trên mắt của một Giêsu làm chủ được mình, và cả khi Người đau khổ. Người vẫn khống chế được đau khổ riêng của mình.
Đức Giêsu nói: "Đem phiến đá này đi". Cô Mácta là chị người chết liền nói: 'Thưa Thầy nặng mùi rồi, vì em con ở trong mồ đã được bốn ngày! Đức Giêsu bảo: "Nào Thầy đã chẳng nói với chị rằng nếu chị tin, thì chị sẽ được thấy vinh quang của Thiên Chúa sao?". Rồi người ta đem phiến đá đi. Đức Giêsu ngước mắt lên và nói: "Lạy Cha, con cảm tạ Cha. vì Cha đã nhậm lời con. Phần con, con biết Cha hằng nhậm lời con. Nhưng vì dân chúng đứng quanh đây, nên con đã nói để họ tin là Cha đã sai con".
Câu truyện dài dòng này, dẫn nhập vào cuộc sống lại của Ladarô, đi cho chúng ta hiểu là mục đích của trang này không phải là sự "tỉnh dậy" của cái chết thể lý của Ladarô, nhưng chính là sự tiến bộ trong đức tin của tất cả những người bao quanh Đức Giêsu. Và hành vi cảm tạ của Đức Giêsu, ta hãy chú ý điều này, không nhắm đến phép lạ mà Người sắp làm, nhưng đến sự kiện là phép lạ này sẽ giúp cho những người không tin hay những người yếu lòng tin "tin tưởng":
 
  • Những môn đệ đã chống, không lên lại Giêrusalem, họ nghi ngờ, họ sợ.
  • Mácta không muốn mở ngôi mộ, chị hoài nghi, tử thi đã để quá trễ ngày.
Những người Do Thái, cho dù họ có thiện cảm với ba chị em, không tới để khóc nức nở.
Đức Giêsu muốn cầu nguyện cho tất cả họ, cho tất cả những người khó lòng tin tưởng, cho tôi, cho các bạn. Và đức tin chính là gì vậy? Chính là nhìn nhận rằng Đức Giêsu đến từ chỗ khác. Đức Giêsu được sai đi. Bạn có tin điều đó không? Bạn có tin cái chỗ khác từ đó Đức Giêsu đến không? Trong trang này của Gioan, có 23 cuộc di chuyển nơi chỗ được nhắc đến: bên ngoài Giu-đê, về hướng Giu-đê, về hướng Bêtania, về phía nhà, về phía mộ, về phía Giêrusalem; nhưng trung tâm của tất cả những cuộc di chuyển này, dù bề ngoài thế nào, không phải là "ngôi mộ" có thể cuốn hút chúng ta nhìn vào, mà đó là một thế giới khác, thế giới của Chúa Cha, từ đó Đức Giêsu được sai đi! Không có nơi đó, vấn đề cái chết không được giải quyết.
Nói xong, Người kêu lớn tiếng: "Anh Ladarô hãy ra khỏi mồ!". Người chết liền ra, chân tay còn quấn vải và mặt còn phủ khăn. Đức Giêsu bảo: "Cởi khăn và vải cho anh ấy, rồi để anh ấy đi". Đông đảo người Do Thái đã đến thăm cô Macta, và đã chứng kiến việc Đức Giêsu làm. Họ tin vào Người.
Vấn đề chính yếu, đối với con người, theo Đức Giêsu, trước hết không phải là có thể ra khỏi mồ một ngày kia, mà ngay từ bây giờ, đi từ sự chết sang sự sống bằng một đức tin gắn bó vào bản thân Đức Giêsu: "Họ tin vào Người", còn chúng ta?

 

MC5-A16. CHÚA SẼ TỚI ĐƯỢC SỰ SỐNG

GỢI Ý GIẢNG
. Sự sống của thể xác:      
 

Hầu hết những quan tâm của chúng ta đều là lo cho cuộc sống thể xác: ăn uống, tiền bạc: MC5-A16

Hầu hết những quan tâm của chúng ta đều là lo cho cuộc sống thể xác: ăn uống, tiền bạc, thuốc men, sung sướng. Và rất nhiều tội ta phạm cũng vì quá lo cho cuộc sống thể xác này.  
Thánh Phaolô nói sự sống thần khí quan trọng hơn sự sống thể xác; và chúng ta vẫn tuyên xưng: “Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại". Nhưng hình như ta không sống đúng theo niềm tin ấy. Nếu ta thực sự tin như thế thì:
Ta đâu có quá sợ chết
Ta đâu có quá bám víu vào những thứ nuôi cuộc sống thân xác này.
-Đức Giêsu nói "Ai dám liều bỏ sự sống (thể xác) thì sẽ được sự sống đời đời".
2. Sự sống thần linh: 
-Được ban ngày ta lãnh nhận bí tích Rửa tội.
-Được lớn dần lên nhờ cầu nguyện, nhờ Thánh Thể, nhờ kết hợp vôi Chúa hàng ngày. 
-Ta có lo bồi dưỡng nó không?.
3. Lời cầu nguyện của Đức Giêsu trước mồ Ladarô đáng ta bắt chước:
Thông thường, thứ tự của lời ta cầu xin là: a/ Trình bày nhu cầu của mình; b/ Xin Chúa giúp; c/ Nếu được Chúa ban thì ta cám ơn. Thứ tự lời Đức Giêsu cầu nguyện ngược hẳn lại: a/ Tạ ơn "Lạy Cha, con cảm tạ Cha" (c 4a); b/ Không cần trình bày yêu cầu (vì hiểu ngầm Chúa Cha đã biết); c/ Tin chắc lời xin của mình đã được nhậm lời "vì cha đã nhậm lời con" (c 4b).
-Tại sao? Đức Giêsu và Chúa Cha kết hợp mật thiết nên một: Đức Giêsu muốn cũng là Chúa Cha muốn, người xin cũng là người ban, nên chắc chắn lời xin sẽ được thực hiện.
-Chúng ta có được như thế không? Được, nếu như ta cũng kết hợp mật thiết với Đức Giêsu và qua Ngài với Chúa Cha, và do đó ta chỉ muốn điều Chúa muốn.
*Mùa Chay chuẩn bị chúng ta chia sẻ cuộc phục sinh của Đức Giêsu. Cuộc sống thần linh của chúng ta có thể đã chết hay chưa sống dồi dào. Ta hãy kết hợp với Đức Giêsu mà xin được phục sinh. Và hãy tin chắc ta sẽ được, miễn là ta thực sự muốn mình phục sinh.
4. Một người bạn đặc biệt
Đức Giêsu là bạn thân thiết của Ladarô. Điều này hiển nhiên vì chính Ngài đã khóc trước mồ Ladarô, và dân chúng hôm đó đã xác nhận như thế ("Kìa xem, ông ta thương Ladarô biết mấy"). .
Nhưng dù vậy, Ngài đã không làm gì để ngăn chặn Ladarô khỏi chết: "Sau khi được tin ông Ladarô lâm bệnh, Ngài còn lưu lại thêm hai ngày tại nơi đang ở". Thái độ của Ngài đã khiến Matta phiền trách: "Nếu có Thầy ở đây thì em con đã không chết". Chúng ta cũng giống Matta: khi gặp gian nan, thử thách, khổ đau, chúng ta bị cám dỗ phiền trách Chúa, thậm chí nói phạm tới Ngài.
Tuy nhiên, không ngăn chặn Ladarô khỏi chết không có nghĩa là để cho ông đi vào ngõ cụt, không có nghĩa là không cứu sống ông. Bài đọc I hôm nay cho thấy Thiên Chúa cũng hành xử như thế đối với dân Israel: Ngài không ngăn chặn những diễn biến tất nhiên phải đến theo lôgic lịch sử cứu độ: họ đã bất trung, đã băng hoại nên đất nước họ sụp đổ, họ phải đi lưu đày. Thế nhưng con đường đó không phải là con đường dẫn đến ngõ cụt mà là con đường cứu độ: cuối cùng thì Israel đã được hồi hương và Ladarô được sống lại. Khoảng thời gian "chết" của Israel và của Ladarô chính là thời gian người ta học được rất nhiều bài học quý giá. Tác giả Tv 6 đã hiểu thế nên đã hát lên: "Quý thay trước mắt Yavê, cái chết của những ai thành tín với Ngài" (Tv 6,5).
5. Chết và sống.
Chết và sống liên đới chặt chẽ với nhau: Đức Giêsu đã làm cho Ladarô sống lại. Nhưng chính sự sống lại của ông lại là cớ khiến Đức Giêsu phải chết (x. Ga ,47- 50: sau chuyện này, Thượng Hội Đồng Do thái quyết định giết Đức Giêsu).
Chúa chết để chúng ta được sống.
Phần tội lỗi trong con người chúng ta phải chết để cho phần thần linh sống mạnh. "Ai muốn cứu mạng sống mình (mạng sống thể xác) thì sẽ mất mạng sống (mạng sống thần linh); còn ai liều mất mạng sống mình (mạng sống thể xác) vì Thầy thì sẽ tìm được mạng sống (mạng sống thần linh)" (Mt 6,25).
6. Giêsu là ai?
Là một nhà diễn thuyết hấp dẫn thiên hạ sửng sốt về lời giảng dạy của Ngài, vì Ngài giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền, chứ không như các kinh sự  (Mc ,2).
Là một vĩ nhân đầy quyền phép: "Mọi người đều kinh ngạc đến nỗi họ bàn tán với nhau: Thế nghĩa là gì? Ông ấy ra lệnh cho cả các thần ô uế và chúng phải tuân lệnh “ (Mc ,27).
Nhưng không phải chỉ có thế, bài Tin Mừng này cho ta biết thêm Ngài chính là sự sống: "Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin Ta thì dù có chết cũng sẽ được sống. Ai sống và tin Ta thì sẽ không phải chết bao giờ” (câu 25-26). Sau khi tuyên bố như thế, Đức Giêsu hỏi Matta: "Con có tin như thế không?" (câu 27). Đó cũng chính là câu Ngài hỏi chúng ta.
7. Tôi tin vào sự chết
Tôi tin vào sự chết.
Tôi tin rằng sự chết là một phần của sự sống
Tôi tin rằng chúng ta được sinh ra để chết, chết để có thể sống trọn vẹn hơn.
Tôi tin rằng chúng ta được sinh ra để chết, mỗi ngày chết một phần: một phần ích kỷ, một phần tự phụ, một phần tội lỗi.
Tôi tin rằng mỗi khi chúng ta bước từ giai đoạn này sang giai đoạn khác của cuộc đời, thì đều có một cái gì đó chết đi và một cái gì đó mới sinh ra.
Tôi tin rằng chúng ta nếm mùi sự chết trong những lúc cô đơn, phiền muộn, thất vọng, thất bại, bị ruồng bỏ.
Tôi tin rằng mỗi ngày chính chúng ta tạo ra cái chết cho mình bằng cung cách chúng ta sống.
Với đức tin của người tín hữu, tôi tin rằng cái chết không dập tắt được  ánh sáng, mà chỉ là tắt đèn đi ngủ.
LỜI NGUYỆN TÍN HỮU
Chủ Tế : Anh chị em thân mến, Chúa Giê-su là sự sống lại và là sự sống. Ngài sẵn sàng ban sự sống đi dào của Thiên Chúa cho tất cả những ai tin tương vào Ngài. Vì thế, chúng ta cùng dâng lên Ngài lời cầu xin tha thiết :
Y NGUYỆN :
1 Xin Chúa cho mọi người trên thế giới hiểu rằng: Chết không phải là điểm tận cùng cửa đời sống nhưng là cánh cửa mở ra cho mở cuộc sống dồi dào, tốt đẹp hơn.
2. xin Chúa cho mọi Ki-tô hữu luôn chứng tỏ cho người khác thấy được sự sống dồi dào mà Chúa đã chia sẻ cho họ bằng những tư tưởng tốt đẹp, lời nói chân thành, việc làm chính đáng trong cuộc sống thường ngày.
3. Xin Chúa cho mỗi người chúng con biết can đảm bước theo Chúa trong những lúc bị thất bại, khổ đau, tật bệnh như những đoạn đường phải vượt qua để nhận được sự sống dồi dào hơn.
Chủ Tế : Lạy Chúa Giê-su, Chúa đã làm cho La-da-rô sống lại để dạy chúng con về cuộc sống dồi dào Chúa sẽ ban cho chúng con trong mầu nhiệm Vượt Qua. Xin cho chúng con luôn tin tương bước theo Chúa đến cùng. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời .

 

MC5-A17. SỐNG HÔM NAY VÀ MÃI MÃI

Ed 37,12-14; Rm 8,8-11; Ga 11,1-48
 

Chúng ta đã bước vào tuần cuối cùng của Mùa Chay với chủ đê "sống dồi dào": "Tôi đến ch:o MC5-A17

Chúng ta đã bước vào tuần cuối cùng của Mùa Chay với chủ đê "sống dồi dào" : "Tôi đến cho người ta được sống và sống dồi dào" (Ga 10,10).
Sống dồi dào, thco cách nghĩ của nhiều người, là sống như chàng La-da-rô "đẹp trai, con nhà giàu, học giỏi. Học giỏi thì Kinh Thánh không nói đến, nhưng La-da-rô là một chàng trai còn đang sung sức và có bà chị giàu có dám đập vỡ bình ngọc đựng dầu thơm để xức chân Chúa Giê-su. La-da-rô là hình ảnh tượng trưng cho cuộc sống đáng ước mơ của nhiều người.
Thế mà sự sống ấy bị cắt đứt một cách đột ngột bằng cái chết vào đúng tuổi xuân như một dấu hiệu cho ta hiểu rằng : sống như thế cũng chỉ là tạm bợ, thiếu hụt chứ chưa phải là ổn định, dồi dào.
Phép lạ làm cho La-da-rô sống lại hôm nay giúp cho con người biết rằng : mình có thể vượt qua giới hạn mà cánh cửa nhà mồ đóng lại trước mỗi con người, khép kín không gian và thời gian, làm tiêu tan sức khoẻ, sắc đẹp và mọi ước mơ về cuộc sống.
Vì thế chúng ta sẽ tìm hiểu sống dồi dào là gì và ta có thể đạt được sự sống ấy như thế nào khi tin vào Đức Giê-su Ki-tô.
I. SỐNG DỒI DÀO THEO QUAN NIỆM THƯỜNG TÌNH
Muốn hiểu được cuộc sống đầy đủ và phát triển về cả thể chất lẫn tinh thần, gọi là cuộc sống dồi dào, thì việc đầu tiên phải làm là xác định xem sống là gì ?
1. Sự sống là một cái gì rất hiển nhiên nhưng lại khó định nghĩa.
Ai cũng biết thế nào là sinh ra, lớn lên, hành động, phản ứng rồi tàn lụi đi như trong đời sống của một cọng cỏ, một con thú, một con người. Tuy nhiên, mỗi từ điển lại định nghĩa về sự sống một cách khác nhau. Thco từ Điển Tiếng Việt của Viện Ngôn Ngữ xuất bản năm 1992 thì : "Sống là tồn tại ở hình thái có trao đổi chất với môi trường bên ngoài, có sinh đẻ, lớn lên và chết". Như thế cái chết đã bao gồm trong chính sự sống như một cái gì mâu thuẫn và nghịch lí. Còn Việt Nam Tự Điển của Lê Văn Đức -Lê Ngọc Trụ năm 1970 lại định nghĩa : “Sống là có hít khí trời, động đậy và lớn dần". Định nghĩa này chỉ hợp cho các sinh vật cấp thấp chứ không thể đúng cho sinh vật cao cấp như con người, vì con người còn có tư tưởng, ước muốn, tình yêu...
Từ Điển Thần Học Công Giáo của Hardon năm 1985 định nghĩa : "Sống là một hoạt động nội tại. Sống là yếu tính của một hữu thể hoạt động tự bên trong, từ sự sống của Thiên Chúa cho đến mỗi dạng sống trong vũ trụ. Bản tính càng cao thì sự sống phát xuất từ hữu thể ấy càng sâu xa. Như thế, sự sống nơi con Người có lí trí, có trái tim, có ý chí, tình yêu, không phải chỉ là ăn ngon, mặc đẹp và thoả mãn những đòi hỏi sinh lí tự nhiên, nhưng còn là hiểu biết, thông cảm, yêu thương. Người ta ý thức mình đang sống, sung sướng vì được sống, được yêu thương. Đôi khi tình yêu còn mạnh hơn cả sự sống để thúc đẩy người ta hi sinh cho người mình yêu được sống, như người chồng buông tay rời khỏi mảnh ván cho vợ đủ sức bơi vào bờ trong truyện ngắn "Anh phải sống" của Khái Hưng.
Đối với hầu hết những người vô tín ngưỡng, kể cả các nhà bác học và triết gia, thì cái chết là một cái gì rất hiển nhiên đến sau sự sống, và họ đều cho rằng : “chết là hết” cái chấm hết tận cùng đó tượng trưng qua ngôi mộ chôn táng thi thể chàng trai La-da-rô. Anh đã phải bỏ lại tất cả những danh vọng, tiền của, bạn bè, người yêu để đi vào cõi chết. Thể xác anh đang bị phân huỷ, thối tha và người ta phải khép kín cửa mồ. Sống và chết là hai mặt trái phải của một cuộc đời. Vì thế, rất ít người. dám nghĩ rằng chết không phải là hết, cái chết không nhất thiết phải gắn liền với sự sống : còn ai đang sống mà tin vào Tôi sẽ không bao giờ phải chết. Chị có tin như thế không? Đức Giê-su đã hỏi và ít ai dám trả lời !
2. Sống dồi dào theo kiểu La-da-rô.
Chính vì không hiểu được sự sống theo nghĩa thật của nó, không tìm về được cội nguồn của nó, nên sống dồi dào đối với nhiều người chỉ là chuyện phát huy được các sức mạnh vật chất, thể lí hoặc tinh thần theo kiểu La-da-rô : “đẹp trai, con nhà giàu, học giỏi" thôi.
Do đó, sống dồi dào là có nhiều của cải, danh vọng, con cháu. Sống dồi dào là có cơ thể cường tráng, sức lực dẻo dai, ăn không biết no, làm không biết mệt, chơi không biết chán, không bị bệnh tật huỷ hoại sức khoẻ hay sắc đẹp của mình.
Những người để ý về mặt tinh thần lại cho sống dồi dào là phát huy mọi khả năng của lí trí, tình cảm, năng khiếu, như hoạ sĩ thì vẽ được nhiều tranh, nhà khoa học có nhiều phát minh, nhà triết học đưa ra nhiều suy tư mới.
Tuy nhiên, vì “sinh - lão - bệnh – tử” là quy luật tự nhiên của đời sống nên người ta đã đi tìm đủ mọi phương thuốc để cho mình sống dồi dào hơn : nghĩa là khoẻ hơn, mạnh hơn, đẹp hơn. Người ta đi tìm những củ sâm ngàn năm, những cọng cỏ Linh Chi để chế biến thành các viên thuốc cải lão hoàn đồng. Có người còn tin rằng muốn sống lâu, đẹp mãi thì cứ việc ăn tim, ăn óc, hút máu người sống, nhất là của các thanh niên hay thiếu nữ, để năm tháng đời họ được cộng vào năm tháng đời mình, giống như những yêu quái trong các truyện Tây Du Kí  hay Liêu Trai Chí Dị, v.v... Các bài Kinh Thánh hôm nay sẽ giúp chúng ta vượt qua những sai lầm đó để tìm về được nguồn sống là chính Thiên Chúa và từ đó được chia sẻ sự sống dồi dào của Ngài.
II. SỐNG DỒI DÀO THEO ĐÚNG Ý THIÊN CHÚA
Muốn sống dồi dào thật sự, ta cần tìm về được nguồn sống.
1 Thiên Chúa là ng mạch sự sống
Sự sống không phải là quá trình kết hợp của những đám vật chất vô cơ hay hữu cơ tạo thành cơ thể sinh vật. Một cái đồng hồ đang chạy bỗng nhiên đứng yên. Một con người đang sống bỗng dưng gục chết. Phân tích về vật chất, tình trạng trước sau hầu như không thay đổi, thế mà sự sống lại không còn. Đó là vì sự sống là một ơn huệ do người khác tặng ban chứ từng thụ tạo không thể tự kiếm lấy cho mình. Sự sống luôn luôn là một ân sủng của Thiên Chúa. Vì là Đấng Hằng Sống nên Ngài là nguồn mạch sự sống (Tv 36,10). Mọi loài mọi vật sống động được hiện hữu được yêu phát xuất từ Ngài, giống như nguồn nước tuôn chảy tạo nên những con suối dòng sông. Chính Ngài thở hơi sự sống vào cái đám bùn đất bất động cho nó trở thành con người sống động giống hình ảnh Ngài (St 2,7).
Vì thế mà ngôn sứ Ê-dê-ki-en đã nhắc nhở cho dân Do-thái lưu đày đang mất hết khí lực như những kẻ chết nằm bất động trong huyệt mộ rằng : “Các ngươi sẽ biết rằng Ta là Đức Chúa khi Ta mở huyệt cho các ngươi và đem các ngươi lên khỏi đó. Ta sẽ đặt thần khí của Ta vào trong các ngươi và các ngươi sẽ được sống ".
Dân Do-Thái đã tin vào Thiên Chúa hằng sống qua những lần can thiệp lạ lùng của Ngài trong lịch sử dân tộc. Họ hiểu rằng cái  chết không còn là điểm tận cùng của đời người và niềm ước mơ được sống mãi mãi với Thiên Chúa chắc chắn trở thành hiện thực, vì Ngài thật sự là nguồn mạch sự sống vĩnh cửu. Niềm xác tín này chỉ hình thành khoảng một thế kỷ rưỡi trước Đức Giê-su.
2. Nhưng chính Đức Giê-su mới biến ước mơ sống dồi dào trở thành hiện thực.
Qua Kinh Thánh, người Do-thái đã từng nghe biết ngôn sứ Ê-li-a và Ê-li-sê cầu xin Thiên Chúa cho đứa con đã chết của hai bà goá được sống lại (1V 17,17-24 ; 2V 4, 18-37). Vì thế, trong bài Tin Mừng, Mát-ta vẫn tin rằng nếu Đức Giê-su có mặt ở nhà mình khi La-da-rô bệnh nặng thì Ngài có thể chữa khỏi cho em mình. Bây giờ, dù hơi muộn, nhưng Ngài cũng có thể cầu xin với Thiên chúa hằng sống để em mình sống lại như các ngôn sứ đã làm.
Nhưng Đức Giê-su muốn mời gọi chị, các môn đệ và cả loài người chúng ta nhìn nhận Ngài đứng đắn hơn : Ngài không phải chỉ là một ngôn sứ vĩ đại, nhưng Ngài còn là Thiên Chúa hằng sống có quyền ban sự sống. Do đó, Ngài long trọng công bố : "Chính Tôi là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Tôi thì dù có chết cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Tôi sẽ không bao giờ phải chết". Ngài đã chứng minh điều mình quả quyết bằng phép lạ cho La-da-rô được sống lại.  Đức Giê-su không làm phép lạ chỉ vì muốn cho La-da-rô  sống thêm một số năm tháng ở trần gian rồi lại chết sau cảnh  già lão, yếu đuối tự nhiên của một kiếp người. Nhưng qua phép  lạ này, Ngài muốn dạy cho tất cả loài người hiểu rằng : một khi  tin Ngài là sự sống lại và là nguồn sự sống, người ta không còn  lo sợ cái chết nữa nhưng sẽ được Ngài chia sẻ sự sống dồi dào của Thiên Chúa.
Sống mãi mãi và sống dồi dào chỉ là một sự sống trong Thiên Chúa, nhưng đối với con người lại cần phải phân biệt ; bởi vì nếu như chỉ kéo dài sự sống vô tận trong cảnh già yếu, tật nguyền với những lo toan về ăn uống, ngủ nghỉ, làm việc của đời thường, thì rất nhiều người sẽ không bao giờ muốn sống mãi và cái chết chính là một ân huệ để giải thoát họ khỏi mọi khổ đau.
Sự sống dồi dào này là sự sống mới do Thần Khí Thiên Chúa tác động, làm cho người ta hạnh phúc vô cùng, chứ không phải do tính xác thịt chi phối như thánh Phao-lô đã cảm nghiệm phần nào trong chính con người yếu đuối của mình qua lời thư gửi tín hữu Rô-ma hôm nay. Sự sống thần linh này đã hiện thực trong con người Đức Giê-su với nhưng quyền năng tác động lên mọi người, mọi vật, với tư tưởng thấu suốt lòng người, với tình yêu mãnh liệt dành cho tất cả. Nhưng sự sống ấy lại là một mầu nhiệm sẽ chỉ hoàn thành trong tương lai mà cái chết trên thập giá, cuộc an táng trong huyệt đá và việc chỗi dậy từ cõi chết là những đoạn đường phải đi qua để giúp cho con Người hoà nhập trọn vẹn vào sự sống dồi dào của Thiên Chúa.
Muốn sống dồi dào, con Người phải sống lại. Nhưng muốn sống lại, con người phải vượt qua cái chết nhờ lòng tin vào Đức Giê-su. Đó là quy luật mới cho cuộc sống thật sự dồi dào. Vì thế, phép lạ làm La-da-rô sống lại hôm nay vừa là một lời mời gọi con người cùng tiến tới với Đức Giê-su vào mầu nhiệm vượt qua như môn đồ Tô-ma đã nói : “nào, chúng ta cùng đi để cùng chết với Thầy” - vùa là một sự bảo đám cho cuộc sống đi dào sau đó : "Vì nếu chúng ta cùng chếtt với Đức Ki-tô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Ngươi : đó là niềm tin của chúng ta" (Rm 6,8).
Kết luận
Hôm nay, suy nghĩ về sự sống dồi dào mà Đức Giê-su sẽ ban cho tất cả những ai tin vào Ngài và kết hợp với Ngài trong mầu nhiệm Vượt Qua, chúng ta hãy xin Ngài cho chúng ta can đảm bước theo Ngài. Chúng ta không còn ngồi yên hưởng thụ cuộc sống tạm bợ, chóng qua ở đời này với tất cả những sợi dây vật chất trói buộc ta như La-da-rô ở trong mồ bước ra nữa. Nhưng một khi đã được Đức Giê-su làm cho sống lại nhờ bí tích Rửa Tội và Giải Tội, chúng ta can đảm cởi bỏ tất cả khăn vai ô uế quấn chặt con người mình, những tấm khăn của ích kỉ, sợ hãi, thói quen thụ hưởng đang quấn chặt chúng ta trong lối sống nghèo nàn, chóng qua và tạm bợ. Hãy can đảm cởi bỏ tất cả để bước theo Đức Giê-su vào hành trình sự sống và đón nhận sự sống dồi dào Ngài ban tặng, sự sống trào dâng đến Vĩnh hằng.

 

MC5-A18. QUYỀN NĂNG PHỤC SINH

Ez 37,12-14; Rm 8,8-11; Ga 1,1-45
 

Trước cái chết, bí ẩn về thân phận con người lên tới cao độ. Con người không những bị hành: “MC5-A18

Trước cái chết, bí ẩn về thân phận con người lên tới cao độ. Con người không những bị hành hạ bởi đau khổ và sự tiếndần đến tan rã của thân xác, mà hơn thế nữa, còn bị dày vò bởi nỗi lo sợ bị tiêu diệt đời đời. Theo bản năng của lòng mình, con người có lý để ghê sợ cũng như từ chối sự hủy hoại hoàn toàn và sự tiêu diệt vĩnh viễn của bản thân. Mầm sống vĩnh cửu mà con người mang trong mình không thể giản lược vào nguyên vật chất, nên nó nổi lên chống lại sự chết. Mọi cố gắng của kỹ thuật, dù rất hữu ích, cũng không thể làm nguôi được nỗi âu lo của con người: bởi vì đời sống sinh vật, dù có đươc kéo dài thêm đi nữa, cũng không thể thỏa mãn đươc khát vọng một cuộc sống mai hậu đã được in sâu trong lòng con người" (MV 18). Hiến chế Mục vụ đã có những nhận xét sâu sắc về thái độ của con người trước cái chết. Với người Kitô hữu, niềm tin vào Chúa Kitô có tác động gì trên thái độ sống khi phải đối diện với sự chết? Gần đến Tuần thánh và lễ Phục sinh, Hội thánh Công bố quyền năng Phục sinh của Chúa Kitô, vừa để chuẩn bị cho ta mừng lễ Phục sinh, vừa để giúp ta đào sâu ý nghĩa mầu nhiệm Vượt qua, cũng là mầu nhiệm mang lại ý nghĩa mới cho đời sống con người. Đó là sứ điệp được gói ghém trong các bài đọc hôm nay.
1.Thị kiến của ngôn sứ Edêkiel
 Ngôn sứ Êdêkiel sống với dân Do thái trong cảnh lưu đầy tại Babylon. Đó là thời kỳ ngập tràn thất vọng: không còn hy vọng trở về quê hương, tệ hơn nữa là nhiều người đánh mất niềm tin và sống như dân ngoại. Xét như một dân tộc, Israel coi như đã chết. Chính lúc ấy, Chúa ban cho ngôn sứ một thị kiến.
Đức Chúa chỉ cho ngôn sứ thấy một cánh đồng tràn ngập xương người: tay, chân, xương sọ vương vãi rải rác khắp nơi. Và Đức Chúa hỏi: liệu đám xương khô này có thể sống lại được chăng? Câu trả lời hiển nhiên là: Không, không bao giờ...Thế nhưng điệu kỳ diệu đã xảy ra: Các xương xích lại gần nhau, nối kết lại thành thân người, rồi da thịt xuất hiện, và cuối cùng, khi Đức Chúa thổi hơi trên những thân xác đó. Chúng hồi sinh và trở thành cả đoàn người sống động.
Bài học quá rõ ràng cho vị ngôn sứ. Và qua ông, cho toàn dân Israel: điều mà con người không thể làm được thì Thiên Chúa sẽ thực hiện. Hoàn cảnh của dân Israel trong cảnh lưu đày thật bi đát, coi như một dân tộc đã chết, nhưng Thiên Chúa sẽ thực hiện kỳ công là đưa Israel trở về quê hương, và lại là một dân tộc. Lời Chúa này đã thành hiện thực trong lịch sử của Israel: họ được hồi hương, được sống lại từ cõi chết.
2. Hoàn cảnh sống của con người trước Chúa Kitô hữu
Thân phận bi thảm của Israel trong cảnh lưu đày là biểu tượng cho hoàn cảnh của nhân loại trước ngày Chúa Kitô đến. Về mặt thiêng liêng con người kể như đã chết, không thể trở lại quê hương mà họ đã đánh mất: Thiên đàng. Thánh Phaolô đã mô tả tình trạng đó trong thư Rôma: "Vì một người duy nhất mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian, và tội lỗi gây nên sự chết: như thế sự chết đã lan tràn tới mọi người, vì mọi người đã phạm tội”(Rm 5,12). Thế nhưng vì yêu thương, Thiên Chúa đã sai Con Người đến trần gian với mục đích duy nhất là dẫn đưa con người tìm lại sự sống thần linh mà họ đã đánh mất vì tội lỗi: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, hễ ai tin vào Con của người, thì khỏi phải chết nhưng được sống muốn đời" (Ga 3,16). Cũng chính là sứ điệp Hội thánh muốn Công bố qua câu chuyện Phục sinh Ladarô.
3. Phục sinh Ladarô
Có những chi tiết nên quan tâm trong bài tường thuật của thánh Gioan: 
A. Tình bạn của Chúa Giêsu với gia đình Bêtania
Không những Chúa Giêsu dành cho gia đình Bêtania tình thân đặc biệt. mà thánh Gioan còn cho thấy Ngài cần đến tình bạn. Với Chúa Giêsu, nhà Bêtania trở thành nơi nghỉ ngơi nương náu sau những ngày rao giảng mệt nhọc, và nhất là sau khi cảm nếm sự cứng lòng của những người lãnh đạo Do thái khiến Ngài có cảm giác như bị thất bại và ruồng bỏ. Tình bạn giữa Chúa Giêsu và những thành viên trong gia đình Bêtania thật thắm thiết và an ủi, đến nỗi khi Ladarô qua đời, hai người chị báo tin bằng cách nói: "Thưa Thầy, người Thầy thương mến đang bị đau nặng" (l1 ,3)
B. Sự tín thác của Marta và Maria đối với Chúa Giêsu
Khi Chúa Giêsu đến nơi, người ta đã chôn táng Ladarô được 4 ngày. Giả như sống trong hoàn cảnh đó chúng ta sẽ than phiền trách móc Chúa: Tại sao Thầy đến trễ vậy? Bây giờ Thầy mới đến thì còn ăn thua gì nữa? Thầy giúp bao nhiêu người xa lạ thì được, mà người thân của mình thì chẳng quan tâm tới...
Ngược lại, hai chị em Marta và Maria lại thưa với Chúa: "Thưa Thầy, nếu Thầy có đây, em con đã không chết" (11,21). Đó không phải là lời trách móc cho bằng là lời tuyên xưng niềm tin vào quyền năng và lòng nhân hậu của Chúa Cứu thế. Chính vì vậy, Marta còn đi xa hơn khi nói: “Nhưng bây giờ con biết: Bất cứ điều gì Thầy xin cùng Thiên Chúa, Người cũng sẽ ban cho Thầy”. Những lời ấy bộc lộ niềm tin  tưởng tuyệt đối của họ vào Chúa Giêsu.
C. Nỗi buồn của Chúa Giêsu trước cái chết của ông bạn
 Thánh Gioan ghi nhận "Chúa Giêsu thổn thức trong lòng và xao xuyến", " Chúa Giêsu lại thổn thức trong lòng", và nhất là chúa Giêsu khóc". Những ghi nhận thật quí báu vì trình bầy một Chúa Giêsu rất “người". Hơn thế nữa, có thể nói rằng nỗi thổn thức và buồn phiền của Chúa Giêsu còn sâu xa hơn chúng ta gấp nhiều lần, và hơn ai hết, Ngài hiểu được tấm lòng yêu thương của Thiên Chúa muốn cho con người được sống, nhưng chính con người phá vỡ kế hoạch yêu thương đó và sự chết thống trị đời sống con người. Không ai có trái tim nhậy cảm bằng Chúa Giêsu, và ngày hôm nay, chân trời cao, Ngài vẫn nhậy cảm trước những khốn cùng của ta. Thổn thức trước những nỗi đau của ta và sẵn sàng cứu giúp những ai trọn niềm tin tưởng nơi Ngài.
D. Lời cầu của Chúa Giêsu
Lời cầu của Chúa Giêsu bắt đầu bằng tiếng gọi đầy tin tưởng “Abba"(Ba ơi), tên gọi mà khi chuyển dịch sang tiếng Hy lạp người ta đã giữ nguyên chữ Aram vì tầm quan trọng về mặt thần học cũng như phụng vụ. Tiếng gọi ấy vừa nói lên mối thân tình giữa Chúa Giêsu và Cha của Ngài, vừa diễn tả trọn vẹn tâm tình tín thác của Ngài nơi Cha.
Với tâm tình tín thác đó Ngài cảm tạ Cha vì Cha đã nhậm lời. Với tâm tình đó Ngài hành động: Chúa Giêsu kêu lớn tiếng “Ladarô, hãy ra khỏi mồ". Bất cứ hành động nào của Chúa Giêsu cũng đươc thực hiện trong mối liên kết với cha, bất cứ hành động nào cũng để tôn vinh Cha, bất cứ hành động nào cũng để chu toàn sứ mạng Chúa trao phó.
4. Người Kitô hữu trước cái chết
Cái chết luôn mang lại khổ đau, cho người sắp chết cũng như cho người ở lại. Tuy nhiên với người Kitô hữu, cái chết không dẫn tới tuyệt vọng. Lời Chúa Giêsu nói với các môn đệ khi nghe tin Ladarô qua đời vén mở ý nghĩa của cái chết: “Bệnh này không đến nỗi chết đâu, nhưng là dịp để bầy tỏ vinh quang Thiên Chúa: qua cơn bệnh nầy, Con Thiên Chúa được tôn vinh" (11,4)
  Cái chết trở thành hành vi thờ phượng, tôn vinh Thiên  Chúa, vì qua cái chết, chúng ta hiến dâng Thiên Chúa của lễ lớn nhất mà mình có: đó là chính sự sống. Sự hiến dâng đó không làm cho ta bị mất đi, trái lại dẫn đưa ta vào sự sống vĩnh cửu: “chính Thầy là sự sống và là sự sống. Ai tin vào Thầy thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết” (11,25-16)
Trong bài đọc II, thánh Phaolô nói đến những lý do làm nên nền tảng cho niềm hy vọng lớn lao đó:
“Nếu Đức Kitô ở trong anh em thì dầu thân xác anh em có phải chết vì tội đã phạm, Thần Khí cũng ban cho anh em được sống, vì anh em đã trở nên công chính. Lại nữa, nếu Thần Khí ngự trong anh em, Thần Khí của Đấng đã làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết, thì Đấng đã làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết, cũng sẽ dùng Thần Khí của người ngự trong anh em, mà làm cho thân xác của anh em được sự sống mới" (Rm 8, 10-11)
Kết luận
Chỉ một mình Chúa Kitô là Đấng có thể làm cho Ladarô phục sinh từ cõi chết, cũng chỉ một mình Ngài có thể đưa chúng ta ra khỏi cái chết vì tội lỗi để được sống trong Thánh Thần. Hãy thưa với Ngài những lời của Marta và Maria: “Thưa Thầy, người Thầy thương mến đang đau nặng”. Thưa như thế là nhìn nhận tình trạng tội lỗi của mình. Thưa như thế là cậy trông vào quyền năng Phục Sinh của Chúa. Và chắc chắn Ngài sẽ làm cho ta được chỗi dậy trong đời sống mới.

 

MC5-A19. Phải vững tin

Trong bài Tin Mừng ta vừa nghe, trước khi cho lazarô sống lại, Chúa Giêsu luôn nhắc nhở hai: MC5-A19

Trong bài Tin Mừng ta vừa nghe, trước khi cho lazarô sống lại, Chúa Giêsu luôn nhắc nhở hai chị em Maria và Matta, trong gia đình Lazarô, phải vững tin vào Chúa, vào quyền năng của Ngài cũng như phải vững tin vào cuộc sống đời đời.
Đọc truyện Thánh Micae Mỹ (tử đạo ngày 12.8.1838, 34 tuổi) một điều khiến chúng ta ngạc nhiên và cảm phục đó là: không phải chỉ có Thánh tử đạo Mỹ, mà cả gia đình ông đều mạnh mẽ tin vào Chúa, tin vào cuộc sống đời đời, cùng khuyên nhau chấp nhận những gian truân cơ cực, chấp nhận cuộc hcia ly chóng qua để mong chờ ngày sống lại xum họp với nhau đời đời trong nước Chúa.
Người con gái của Thánh Mỹ tuy mới 12 tuổi, lén mẹ ra tỉnh, tìm cách qua 3 lần cửa có lính gác, vào thưa với cha: “Xin cha can đảm chịu chết vì Chúa. Cậu Tường mới 9 tuổi, con trai ông Lý, không đi xa được, cậu cũng cố gắng nài nỉ dân làng đi thăm, chuyển lời đến ông: “Cha đừng lo cho chúng con, cha cứ an tâm vững lòng xưng tội và chịu chết vì đạo”. Bà Lý bồng con mới sin được mấy tháng ra thăm chồng, trao cho chồng ẵm bế một lúc. Bà thấy những cực hình chồng phải chịu, bà không cầm được nước mắt, bà nói trong nghẹn ngào: “Vợ con ai mà chẳng thương chẳng tiếc, nhưng ông hãy hy sinh vác Thánh giá rất nặng vì Chúa, hãy trung thành với Chúa cho đến cùng, đừng lo nghĩ về mẹ con tôi. Thiên Chúa sẽ quan phòng tất cả. Đến thăm ông lần này có lẽ là lần sau hết, cầu xin Chúa cho ông vâng theo Thánh Ý Chúa”
Ông Lý Mỹ lòng đau như cắt. Ông biết rằng sự ra đi của ông sẽ là nỗi thương đau vô cùng cho vợ con, nhưng vững tin vào Tình yêu và sự quan phòng của Chúa, ông bình tĩnh an ủi họ: “Lời bà khuyên nhủ đốt thêm lửa kính mến Chúa trong lòng tôi, sớm tối cầu nguyện nhiều cho tôi vững lòng xưng đạo Chúa trước mặt thiên hạ, hẹn ngày sau gặp bà và các con chung hưởng hạnh phúc vĩnh cửu nơi quê thật là nước Thiên đàng”.
Nhờ lời khích lệ của vợ con, ông Lý được tăng sức mạnh, Ông Micae Nguyễn Huy Mỹ sẵn sàng chịu đòn thay cho nhạc phụ. Ông thường khuyến khích nhạc phụ:
“Cha đã tuổi cao sức yếu, chẳng sống được bao lâu nữa, nếu không chết vì đạo, thì cũng chết vì bệnh, như nếu tử đạo, sẽ làm vinh danh Thiên Chúa và được hạnh phúc Thiên đàng. Cha đừng luyến tiếc sống thêm ít ngày, con đây còn mạnh khỏe, đời còn dài, vợ trẻ với đàn con thơ dại, thật đáng yêu đáng quí, nhưng con tin Thiên Chúa sẽ lo liệu thật tốt đẹp cho chúng . Hơn nữa, khi cha con ta được lên Thiên đàng, sẽ cầu bầu trước nhan Thiên Chúa, thì có ích hơn cà gia đình dòng tộc. Cha đừng lo về những hình khổ phải chịu, con sẽ chịu đòn thay cho cha hết thảy. Cha hãy can đãm làm chứng nhân và sẵn lòng chết vì yêu mến Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã chết vì chúng ta…”
Mỗi lần quan truyền đánh đòn cụ Trùm Đích, thì ông Mỹ đứng lên thưa: “Cha tôi già nua tuổi tác, xin quan lớn tha cho, tôi xin chịu đòn thay”. Quan thấy ông có lòng hiếu kính, nên chấp thuận lời xin ấy, Ông Mỹ chịu đòn gáp hai lần nên y phục rách nát, thân mình đầm đìa những máu, tứ chi bầm tím. Ông còn phải mang gông xiềng nặng hơn, bị cùm xiết chặt hơn, khiến càng thêm đau đớn, nhưng vị chứng nhân Chúa Kitô luôn tỏ ra hân hoan vui mừng.
Ngày 2.7.1838, Tổng Đốc Lê ăn Đức chỉ huy cuộc bủa vây làng Vĩnh Trị. Micae Nguyễn Huy Mỹ lý trưởng và là con rể của trùm Đích, ông nói với nhạc phụ rằng: “Cha con ta đồng sinh tử với nhau, việc Chúa quan phòng đã đến, xin cha đừng lo sợ”. Nói xong ông ra đón quan Tổng Đốc tại đình làng. Quan truyền cho các tín hữu và Linh mục phải ra trình diện, nếu không ông lý trưởng phải làm tờ cam đoan. Ông nói: “Lý trưởng Nguyễn Huy Mỹ làm tờ cam đoan: làng chúng tôi không có đạo trưởng cùng các đồ quốc cấm. Nếu khai man tôi xin nộp cả gia đình tôi”.
Tờ cam đoan chưa ráo mực, thì quân lính dẫn đến Linh mục Giacôbê Mai Năm. Quan nhìn ông lý trưởng hỏi phải xử thế nào? Ông lý thưa: “Bẩm quan lớn, quan thương thì chúng tôi được nhờ, bằng không tôi nộp đầu chịu tội”. Bấy giờ quan truyền đánh ông lý trưởng 40 roi, rồi đóng gông giải ra tỉnh cùng với Linh mục Mai Năm và cụ trùm Nguyễn Đích.
Trên đường ra thị xã Nam Định, một kỳ mục trong làng bàn tính với ông lý Mỹ xin nộp tiền chuộc để ông được tha về, nhưng ông từ chối:
“Xin cảm ơn lòng tốt của dân làng, nhưng nên để tiền đó giúp vợ con tôi  và mở tiệc mừng khi đưa thi hài tôi về”.
Vì biết không thể dùng bạo lực lay chuyển ý chí của cha Năm, nên không thúc ép nhiều. Với cụ trùm Đích đã 70 tuổi già sức yếu, thì quan cũng nương tay. Riêng ông lý Mỹ, đang tuổi cường tráng, lại nói năng lưu loát, nên quan dùng đủ phương kế khuyến dụ ông bỏ đạo:
- Anh còn trẻ trung, thông minh sắc sảo, dân chúng đều quí trọng, sao anh lại khờ dại không bước qua Thập Tự?
- Trước khi tôi sinh ra, đã có dân chúng. Vậy khi đó ai lãnh đạo, nên tôi không vì thế mà làm theo lời quan được.
- Anh không thương người vợ hiền với đàn con sao?
- Thiên Chúa trao phó người vợ và con cái cho tôi săn sóc khi tôi có thể, nay người đặt tôi vào tay quan lớn, thì tôi xin vâng Ý Người, vợ con tôi chắc cũng vui lòng theo ý tôi.
Ông lý còn dùng nhiều lý luận sắc bén đối chất với quan: “Bẩm quan lớn, tôi đã suy nghĩ và tin theo đạo Thiên Chúa là đạo thật, nên tôi không thể chối bỏ. Giả như có ai nói quan lớn đập đầu đức vua đã ban chức trọng cho quan, hẳn quan lớn chẳng dám làm, thì tôi đây lẽ nào đạp ảnh Chúa tôi thờ kính…”.
Quan Tổng đốc nổi giận truyền đánh đòn ông lý trưởng nhiều lần, tính tổng cộng trong suốt thời gian bị giam giữ, ông phải chịu đến 500 roi, kể cả ba lần chịu đòn thay cho nhạc phụ. Nhìn cụ trùm Đích tuổi già sức yếu, ông lý ngày đêm lo lắng, thiết tha khẩn cầu Thiên Chúa trợ giúp ban ơn cho nhạc phụ vững tin cho đến giờ phút cuối cùng.
Các quan làm án xử trảm cha Mai Năm, ông Đích và ông Mỹ. Bản án được đệ lên triều đình xin châu phê. Ngày 12.8.1838, ba chứng nhân Tin Mừng được biết vua Minh Mạng đã y án. Các Ngài vui mừng hớn hở chuẩn bị tâm hồn lãnh nhận Bí tích Hòa giải và rước Mình Thánh Chúa cách sốt sắng. Cũng ngày ấy, ba vị anh hùng hân hoan bước đến nơi xử, vừa đi vừa hát bài Thánh Ca: “Chúc tụng Chúa đi, hết thảy công trình Chúa…” (DN 3,57…)
Đến pháp trường Bảy Mẫu, ba vị quì cầu nguyện một lúc. Ông lý Mỹ xin xử cha Giacôbê Mai Năm và cụ Antôn Nguyễn Đích trước, quan chấp thuận. Đến lượt ông Micae Mỹ, lý hình nói: “Ông cho tôi năm quan tìn, thì tôi chỉ chém một nhát mà thôi, để ông khỏi phải đau đớn nhiều”. Ông Micae trả lời: “Anh muốn chém 100 nhát mặc ý anh, miễn là chém thì thôi. Còn sự cho tiền thì nhà tôi cũng còn, nhưng tôi không muốn cho, thà cho kẻ nghèo thì hơn”. Nói xong lý hình thi hành nhiệm vụ. Tức thì dân lương cũng như giáo, phá vòng vây của binh sĩ, ùa vào thấm máu các đấng tử đạo. Thi hài các đấng được rước về làng Vĩnh Trị ngay trong đêm đó, giữa một rừng đèn đuốc sáng rực cả góc trời. Đến sau, hài cốt của ba vị được đem đến nhà chung Kẻ Sở (Ninh Phú).

 

MC5-A20. MỌI NGƯỜI – HÃY RA ĐÂY.

Robert Ingersoll, một người nổi tiếng của phái “bất khả tri”, chết năm 1899 ! Một trăm năm: MC5-A20

Robert Ingersoll, một người nổi tiếng của phái “bất khả tri”, chết năm 1899 ! Một trăm năm trước đây, ông ta đã đi khắp Châu Mỹ tấn công các tôn giáo, đặc biệt là Kitô giáo, ông ta chủ trương rằng, người ta không thể biết gì về Thiên Chúa hay đời sống mai sau. Trong một bài diễn thuyết, ông ta cố gắng chứng mính câu chuyện chúng ta vừa đọc, là một phép lạ giả tạo, nhằm quảng bá về Chúa Giêsu. Lazarô “đã làm cho người ta tin” là bị bệnh, là đã chết. Các chị của Lazaro “đã giấu” ông trong một cái hang và báo tin cho Chúa Giêsu. Lazarô phải ở trong mồ cho tới khi Chúa Giêsu gọi: “Lazaro ! Hãy ra đây !”
Muốn củng cố cho câu chuyện của mình, Ingersoll hỏi: “Ai ở đây có thể nói cho tôi lý do Chúa Giêsu gọi: “Lazaro, hãy ra đây !”. Tại sao Ngài không nói đơn sơ là: “Hãy ra đây !”. Một ông già có vóc dáng nhỏ bé đứng dậy trả lời. “Thưa ông, tôi có thể nói cho ông biết: nếu Chúa không nói: “Lazarô” thì tất cả những người được chôn ở nghĩa địa sẽ đi ra để gặp thấy Đấng Cứu Thế của họ”.
Sau này ông Ingersoll đã thú nhận rằng lời phát biểu của Cụ già thực sự làm ông ta bối rối, bởi vì nó phát xuất từ lòng tin sâu xa mà các bạn và tôi, và mọi người Kitô hữu cùng chia sẻ, là Chúa Kitô đã chết cho mọi người, và để mọi người được sống lại khi nghe tiếng gọi của Ngài.
Sự sống lại của Lazarô là dấu chỉ, là bằng chứng, là lời hứa, không phải chỉ là Chúa Kitô có thể cho từng cá nhân sống lại, nhưng Ngài còn ban đời sống trên trời cho những ai chết trong tình yêu Ngài.
Có nhiều người phản ứng lại việc Lazaro sống lại như một số người Do thái đã kêu ca: “Nếu ông này đã mở mắt người mù từ khi mới  sinh mà không làm được cho người này khỏi chết ư ?”. Chúng ta cũng có thể than vãn: “Tại sao Chúa Giêsu không làm cho mẹ tôi – cha tôi – con tôi – vợ tôi – chồng tôi  khỏi chết ?”. Cái điểm chết câu chuyện Lazaro không phải là Chúa Kitô có thể một cho người này hay người kia sống lại, nhưng là Chúa Kitô có thể và sẽ cho mọi người chết được sống lại cuộc sống vĩnh cửu.
Câu chuyện nhấn mạnh rằng: Cha trên trời đã ban cho Chúa Giêsu Con Ngài quyền năng ban sự sống, một sự sống dồi dào, như thánh Gioan đã nói đến: “Chúa Cha làm cho kẻ chết chỗi dậy và ban cho họ sự sống thế nào, thì Người Con cũng ban sự sống ấy cho ai tùy ý” (Gn 5,21).
Điều mà Ngôn sứ đã nói cho dân Chúa trong bài đọc I hôm nay, Edêkiel cũng nói cho bạn và tôi hôm nay: “Hỡi dân ta, ta sẽ mở cửa mồ cho các ngươi, ta sẽ kéo các ngươi ra khỏi mồ, và dắt các ngươi vào đất Israel”.
Thánh Phalô còn trình bày rõ ràng hơn nữa trong bài đọc II, “Nếu Thánh Thần của Đấng đã làm cho đức Giêsu Kitô từ cõi chết sống lại ở trong anh em, thì Đấng đã làm cho Đức Giêsu Kitô từ cõi chết sống lại, cũng cho thân xác phàm hay chết của anh em được sống, nhờ Thánh Thần của Người ngự trong anh em”.
Thật là ý nghĩa, khi chúng ta nhắc nhớ việc Lazarô được sống lại và cao điểm mùa chay. Như Lazarô, chúng ta nỗ lực là bạn hữu của Chúa Kitô, để có Thánh Thần của Người. Chúng ta mong đợi hai tuần nữa là đến lễ phục sinh, khi Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết, một bằng chứng và hứa hẹn cho bạn và tôi, sẽ được sống lại. Một lát nữa đây, tôi sẽ bỏ Mình Thánh và chén Máu Thánh để biểu tượng cho sự sống lại, khi tôi cầu nguyện: “Chớ gì sự  hòa Mình và Máu Chúa Kitô, Chúa chúng con mà chúng con sắp rước lấy, ban cho chúng con được sống đời đời”. Ước gì tất cả chúng ta mong đợi trong niềm hy vọng vào giờ Chúa Kitô sẽ gọi mỗi người chúng ta: “Hãy ra đây”
Xin Chúa chúc lành  cho các bạn

 

MC5-A21. EM CON SẼ SỐNG LẠI/

Ga 11. 1- 45
 

Hôm nay Chúa Nhật V Mùa Chay, chỉ còn một tuần nữa là đến Tuần Thánh, tuần tưởng niệm: MC5-A21

Hôm nay Chúa Nhật V Mùa Chay, chỉ còn một tuần nữa là đến Tuần Thánh, tuần tưởng niệm cuộc thương khó và sự Phục Sinh của Chúa Giêsu. Càng gần đến việc tưởng niệm cuộc thương khó của Chúa Giêsu, giáo Hội càng tha thiết mới gọi con cái mình hãy mặc lấy tâm tình tín thác của Chúa Giêsu. Trong tất cả mọi sự, Chúa Giêsu luôn luôn thưa hai tiếng "Xin Vâng" theo thánh ý của Thiên Chúa Cha. Đó là tâm lình mà Giáo Hội muốn chúng ta mặc lấy khi cho chúng ta tắng nghe bài Tin Mừng hôm nay.
Anh chị em thân mến!
Trong quyển tiểu thuyết có tựa đề: "Đức Kitô Bị Cấm Đoán", tác giả người Italia có kể lại câu chuyện như sau: Vào khoảng năm 1950, sau mười năm bị bắt làm tù binh Liên-xô, một chàng thanh NIÊN tên là Pauno đã được phóng thích và trở về quê hương. Ngày trở về của anh được gia đình anh và những người hàng xóm đón nhận như là một ngày vui. Nhưng có một điều là cha mẹ anh rất lo sợ cho cuộc trả thù mà có lẽ Pauno vẫn bị người ta nuôi dưỡng trong lòng.
Thật thế, một người em trai của Pauno đã bị quân Đức Quốc Xã thảm sát vì sự phản bội của một đồng ngũ trong phong trào kháng chiến. Sau chiến tranh ai cũng muốn quên đi hận thù của báo oán để xây dựng lại xứ sở. Thế nhưng, đó không phải là tâm trạng của Pauno, anh muốn biết ai là người đã tố cáo em của anh với Đức Quốc Xã. Và thảm kịch đã xảy ra khi Pauno gặp một cụ già mà trong làng mọi người đều kính nể và yêu mến, không những vì gương sáng của một cuộc sống liêm khiết, nhưng còn vì lòng can đảm mà ông đã thể hiện trong thời kháng chiến. Cụ già đáng kính ấy đã nhiều tần khuyên can Pauno từ bỏ ý định trả thù, nhưng anh vẫn không thể nào xoá bỏ được sự thù hận trong lòng. Để tránh cho hận thù không trở thành các dây chuyền lôi kéo mọi người vào thảm cảnh chém giết tương làn. Cụ già đành đứng ra nhận mình là người đã tố cáo người em của Pauno, thế là Pauno đã nhào tới đấm xối xả vào người cụ già. Nhưng trước khi chết, cụ già đã nói với Pauno rằng: "Một ngày nào đó, con sẽ biết ai là người đã tố cáo em con, nhưng con đừng báo thù nữa, ta đã trả nợ cho người đó rồi ".
Anh chị em thân mến!
Chết để cho người khác được sống, có lẽ đó là sức điệp mà thánh Gioan muốn nhắn gởi đến chúng ta khi ngài ghi lại việc Chúa Giêsu cho ông Tazarô ở Bêtania sống lại, nơi Chúa Giêsu làm phép lạ chỉ cách Giêrusalem chừng mười tăm dặm. Lại đây, cách đó không lâu, những người Do Thái đã có tần tìm cách ném đá Chúa Giêsu cho nên khi Chúa Giêsu đề nghị trở lại Bêtania, các môn đệ đã tiên cảm được mối đe dọa đang bao trùm trên các ngài. Trở lại Bêtania có nghĩa tá đi tìm cái chết cho các ngài. Thánh Tôma hiểu được ý nghĩa của một cuộc ra đi, nên ngài đã hô hào với các môn đệ rằng: "Chúng ta cũng đi để cùng chết với Ngài ".
Như vậy, phép lạ làm cho Tazarô sống lại là một cử chỉ mà Chúa Giêsu muốn dùng để loan báo về chính cái chết và sự Phục Sinh của Ngài. Nhiều người tin tưởng vào quyền năng và sức mệnh của Ngài, nhưng đa số các nhà lãnh đạo Do Thái thì xem sự ảnh hưởng của Chúa Giêsu như một mối đe dọa cho quyền lợi của họ và cho cả dân tộc họ. Họ e ngại rằng, dân chúng sẽ theo Chúa Giêsu để nổi dậy và người Ta mã sẽ có cớ để thanh toán xứ sở. Sự phục sinh của Tazarô là một trong những nguyên cớ dẫn đến cái chết của Chúa Giêsu.
Quả thực, cái chết của Ngài là giá cho con người được sống, đó là sức điệp mà có lẽ Giáo Hội muốn nhắn gửi chúng ta trong Chúa Nhật V Mùa Chay hôm nay. Chúa Giêsu đã chết để cho con người được sống và được sống một cách dồi dào. Sự phục sinh của Tazarô là hình ảnh của sự sống mới mà Chúa Giêsu mang lại cho con người, đó là sự sống của tình yêu. Cái chết của Tazarô là hình ảnh của cái chết trong tội lỗi và hận thù trong sự vắng bóng Thiên Chúa. Trong đó, con người đang chìm ngập bóng tối, không lối thoát, và nới theo kiểu cụ già trong câu chuyện trên là "Đức Kitô bị cấm đoán".
Anh chị em thân mến!
Thế giới của chúng ta đang bị bệnh hoạn, đang giẫy chết, vì họ muốn loại trừ Đức Kitô ra khỏi cuộc sống con người. Bởi vì thế giới của chúng ta không còn xem cái chết cho tha nhân là một lý tưởng cao đẹp nữa.
Thật thế, Chúa Giêsu đã chết để mang lại cho con người sự sống mới là tình yêu. Sự sống duy nhất có thể thay đổi được bộ mặt của thế giới và sự sáng làm cho con người được sống dồi dào, nghĩa là sống xứng đáng với phẩm giá con người, sự sống chính là tình yêu Thiên Chúa.
Nguyện xin Đấng mà chúng ta tuyên xưng là sự sống và là sự sống lại ban cho chúng ta sức sống tình yêu của Ngài, để ta được sống luôn trong sự sung mãn hầu xứng với phẩm giá con người. Xin cho chúng ta cũng được tham dự vào cuộc tử nạn của Ngài bằng cả một cuộc sống yêu thương, hy sinh, quên mình vì tha nhân.

 

MC5-A22. Khi tin nhận Chúa Giêsu

Gioan 11, 1-45
 

Trong câu truyện này Mac-ta được mô tả đúng như cá tính của nàng. Khi Luca nói về Mac-ta: MC5-A22

Trong câu truyện này Mac-ta được mô tả đúng như cá tính của nàng. Khi Luca nói về Mac-ta và Ma-ri-a (10,38-42), ông đã cho biết một Mac-ta năng động, còn Ma-ri-a là người thích ngồi yên. Ở đây cũng vậy, ngay sau khi có tin báo Chúa Giêsu sắp đến, Mac-ta đã đi đón Ngài, vì cô không thể ngồi yên một chỗ, trong khi Ma-ri-a còn trì hoãn lại sau.
Lúc gặp Chúa, Mac-ta thốt lên những lời tích chứa trong lòng mình. Trong Kinh Thánh, đây là một trong những câu nói đầy nhân tính hơn cả, lời cô nửa trách móc vì không cầm lòng được, nửa tin tưởng không hề lay chuyển. Cô nói :"Nếu Chúa có ở đây thì anh tôi đã không chết". Qua lời đó, chúng ta có thể đọc rõ tâm trí Mac-ta . Cô muốn nói rằng: "Lúc được báo tin, sao Chúa không chịu đến ngay ? Bây giờ Chúa mới đến thì đã muộn mất rồi". Ngay sau khi thốt ra những lời ấy, tiếp theo là những lời nói trong đức tin, một đức tin thách thức mọi sự kiện, mọi kinh nghiệm. Cô nói bằng một niềm hi vọng trong tuyệt vọng: "Tuy nhiên, tôi biết rằng Thiên Chúa sẽ ban cho Chúa bất luận điều gì Chúa cầu xin".
Chúa Giêsu nói thẳng: "Anh ngươi sẽ sống lại". Mac-ta đáp: "Tôi biết rõ anh tôi sẽ sống lại cùng với mọi người vào ngày cuối cùng". Đây là một điểm đáng cho chúng ta lưu ý. Trong Kinh Thánh có một sự kiện hết sức lạ lùng là, trên thực tế, các thánh đồ thời Cựu Ước không có niềm tin vào sự sống lại sau khi chết. Vào thời cổ, người Hêbơrơ tin rằng linh hồn của tất cả mọi người, thiện cũng như ác, đều xuống âm phủ (Sheol) như nhau. Âm phủ đã bị dịch sai là hỏa ngục (vhell), vì âm phủ không phải là chỗ người ta chịu khổ hình, đau đớn, mà là xứ của bóng tối, mọi người đều phải đến đó như nhau. Tại đó họ sống một cuộc đời mơ hồ, mờ mịt, không có sức lực, không có niềm vui, như những bóng ma vậy. Đó là niềm tin của một phần Cựu Ước . "Chốn tử vong ai nào nhớ Chúa ? Nơi âm phủ, ai ngợi khen Ngài ?" (Tv 6,6). Tác giả thánh vịnh nói về những kẻ bị giết nằm trong mồ mả mà Chúa không còn nhớ đến, là kẻ bị truất khỏi tay Chúa: "Con nằm đây giữa bao nhiêu người chết, như các tử thi vùi trong mồ mả, đã bị Chúa quên đi, và không được tay Ngài săn sóc "(87,6). "Chúa đâu làm phép lạ cho người đã mạng vong, âm hồn đâu chỗi dậy ca tụng Chúa bao giờ ? Trong mồ mả, ai nói về tình thương của Chúa ? Cõi âm ty ai kể lại lòng thành tín của Ngài ? Những kỳ công Chúa nơi tối tăm ai rõ ?Đức công chính Ngài, chốn quên lãng ai hay ?" (87, 11-13). "Không phải người đã chết, hay mọi kẻ bước vào cõi thinh lặng ngàn thu sẽ ca tụng Đức  Chúa" (113,17). Nhà Giảng Viên nói cách chua chát : "Mọi việc tay ngươi làm được, hãy làm hết sức mình, vì dưới âm phủ, là nơi ngươi đi đến, chẳng có việc làm, chẳng có mưu kế, cũng chẳng có tri thức, hay là sự khôn ngoan "(Gv 9,10). Chính sự bi quan của Êzêkia đã khiến vua tin rằng : "Vì ở chốn tử vong, không người ca tụng Chúa; và trong nơi âm phủ chẳng ai ngợi khen Ngài. Kẻ xuống mồ cũng dứt niềm trông cậy vào lòng Chúa tín trung" (Ed 38,18). Xứ chết là xứ của vắng lặng, xứ bị bỏ quên, nơi cái bóng của người ta bị phân cách nhau, cũng như bị phân cách với Thiên Chúa . Như Mofadien đã viết : "Ít có điều lạ lùng hơn thế trong suốt chiều dài của lịch sử tôn giáo, tức là qua nhiều thế kỷ người ta đã sống những cuộc đời cao quí, làm nhiệm vụ và chịu đau khổ, mà chẳng có chút hi vọng gì về phần thưởng trong tương lai".
Họa hoằn lắm mới có người trong Cựu Ước dám nhảy vọt một bước bằng đức tin. Tác giả thánh vịnh kêu lên : "Thân xác con cũng nghỉ ngơi an toàn, vì Chúa chẳng đành bỏ mặc con trong chốn âm ty, không để kẻ hiếu trung này hư nát trong phần mộ. Chúa sẽ dạy con biết đường về cõi sống, trước thánh nhan ôi vui sướng tràn trề, ở bên Ngài hoan lạc chẳng hề vơi" (15, 9-11). "Thật con ở với Chúa luôn, tay con Ngài nắm chẳng buông chẳng rời. Dắt dìu khuyên nhủ bao lời, một mai đưa tới rạng ngời vinh quang" (Tv 72, 23-24). Niềm tin quả quyết của tác giả thánh vịnh, ấy là khi con người đã thật sự thông hiệp với Thiên Chúa thì cả sự chết cũng không thể phá vỡ mối liên hệ đó. Ông cảm thấy sợi dây liên kết chặt Thiên Chúa với người ấy sẽ tồn tại vượt thời gian. Nhưng ở thời điểm đó nó chỉ là một bước nhảy tuyệt vọng của đức tin hơn là một sự xác tín vững vàng. Cuối cùng trong Cựu Ước có một niềm hi vọng bất tử mà chúng ta thấy nơi Gióp: "Tôi biết Đấng Cứu Chuộc tôi hằng sống, và ngày tận thế tôi sẽ từ bụi đất sống lại; da tôi sẽ lại bọc thân tôi, và trong xác thịt, tôi sẽ thấy Chúa tôi. Chính tôi sẽ thấy Người và mắt tôi sẽ nhìn Người, chớ không ai khác" (14, 7-12). Ở đây, chúng ta thấy trong Gióp, mầm sống thật của niềm tin- vào sự bất tử của người Do thái .
Lịch sử của dân Do thái là lịch sử của những tai họa, lưu đầy, nô lệ và thất bại. Thế nhưng họ vẫn có một niềm tin không gì lay chuyển, họ là một dân tộc thuộc riêng về Thiên Chúa . Thế gian này không thể hiện được, và sẽ chẳng bao giờ thể hiện được điều đó. Cho nên điều không thể tránh được là họ kêu gọi đến thế giới mới, để bù đắp cho sự thiếu sót của thế giới cũ. Họ tiến tới chỗ nhận thức rằng, nếu muốn qui hoạch của Thiên Chúa được thực hiện hoàn toàn, sự công chính của Thiên Chúa được thành tựu, tình yêu thương của Ngài được thỏa mãn, cần phải có một thế giới khác, một cuộc đời khác. "Những câu đố nát óc không phải là màn chót trong tấn thảm kịch của loài người" (Galloway). Chính cảm thức đó đã đưa người Do thái đến niềm tin quyết rằng, phải có đời sau.
Thật ra vào thời Chúa Giêsu , những người theo phái Sađuxê vẫn không chịu tin có một đời sống khác sau khi chết, nhưng các đạo sĩ Do thái giáo và đa số người Do thái  thì tin. Họ bảo: Chính ở phút lâm chung của con người, hai thế giới của thời gian và của đời đời đã gặp nhau và bắt tay nhau. Họ bảo những kẻ chết được nhìn xem Thiên Chúa , họ không chịu gọi những kẻ ấy là kẻ chết, mà gọi là người sống. Theo cách trả lời của cô Mac-ta , rõ ràng cô đã bày tỏ được cao điểm đức tin của dân tộc mình.
Lúc Mac-ta công bố niềm tin của Do thái giáo chính thống trong cuộc đời hầu đến, thình lình Chúa Giêsu đưa niềm tin ấy đến một ý nghĩa mới mẻ, sống động hơn. Ngài phán: "Ta là Sự Sống Lại và là Sự Sống, kẻ nào tin Ta thì sẽ sống, mặc dầu đã chết rồi. Còn ai sống và tin Ta thì không hề chết". Chúa Giêsu muốn nói gì? Có thể dành cả một đời người để suy gẫm cũng chưa hiểu hết câu đó, nhưng chúng ta cố gắng lãnh hội phần nào ý nghĩa câu nói trong phạm vi có thể được.
Chắc chắn Chúa Giêsu không nghĩ về đời sống thể xác, vì theo phương diện thể xác, một người tin Chúa Giêsu không bao giờ chết, quả là một điều không đúng sự thật. Kitô hữu cũng trải qua sự chết thể xác như một người. Như vậy, chúng ta phải đào sâu hơn là chỉ hiểu về phương diện thể xác.
1. Chúa đang nghĩ sự chết do tội lỗi, Ngài muốn nói: "Cho dù có người đã chết trong tội lỗi, vì cớ tội mình mà đánh mất tất cả ý nghĩa sống của đời mình, Ta vẫn có thể khiến người ấy sống lại". Đây là lời Chúa hứa, Ngài có thể khiến một cuộc đời đã chết trong tội lỗi được sống lại. Lịch sử đã chứng nghiệm rất nhiều trường hợp. Chirgwin nêu ra một dẫn chứng hiện đại của Tokichi Ishii. Ishii có thành tích giết người khó ai sánh kịp, anh ta đã giết cả đàn ông, đàn bà, trẻ con một cách vô cùng tàn bạo. Bất cứ ai cản trở bước anh đều bị loại trừ không thương tiếc. Trong khi Ishii ở trong ngục chờ chết, có hai phụ nữ người Gia-nã-đại đến viếng thăm, cố gắng bắt chuyện với anh qua song sắt, nhưng anh nhìn họ như con thú nằm trong chuồng nhìn ra. Cuối cùng, họ không cố gắng nữa, tặng anh quyển Kinh Thánh rồi bỏ đi, với hi vọng sách ấy thành công trong chỗ thất bại của họ. Anh bắt đầu đọc Kinh Thánh , và khi đã bắt đầu thì không dừng lại được nữa. anh cứ đọc, đến câu truyện Chúa Giêsu bị đóng đinh, đọc đến câu : "Lạy Cha, xin tha cho chúng, vì chúng không biết việc mình làm..." Những lời ấy là tan vỡ lòng anh, anh nói: "Tôi ngưng đọc, tôi bị đánh trúng tim, tôi có thể bảo đó là tình yêu của Chúa Cứu Thế chăng ? Tôi có thể gọi đó là lòng thương xót chăng ? Tôi không biết phải gọi là gì cả, tôi chỉ biết một điều là tôi tin, và tấm lòng cứng cỏi của tôi đã được biến đổi." Về sau, khi viên cai ngục đến dẫn người tử tội ấy ra pháp trường, ông đã không thấy con người cứng cỏi, tàn bạo như ông chờ đợi, mà thấy một người đang mỉm cười rạng rỡ, vì kẻ sát nhân đã được tái sinh, Chúa Giêsu đã khiến Ishii sống lại.
Không cần phải đi đến mức tận cùng như Ishii, người ta vẫn có thể ích kỷ đến độ trở thành một kẻ chết trước nỗi thiếu thốn của người khác. Người ta có thể trở thành vô tri, vô giác như một kẻ đã chết trước sự đau khổ của đồng bào. Người ta có thể dấn thân vào việc bất lương, bất pháp đến độ chẳng còn biết vinh nhục gì nữa. Một người có thể lâm vào địa vị tuyệt vọng đến độ tê liệt, bất động, đó là sự chết tâm linh. Lịch sử đã chứng minh, Ngài đã từng khiến triệu triệu người như thế sống lại. Ngày nay, khi được Ngài chạm đến, quyền phép ngàn xưa ấy vẫn không suy giảm chút nào.
2. Chúa Giêsu cũng nghĩ đến cuộc đời hầu đến, Ngài làm sống lại niềm xác tín rằng, chết chưa phải là hết. Những lời cuối cùng của Edward," Người Xưng Tội" là "xin đừng khóc, tôi không chết đâu, vì đang lúc tôi rời bỏ xứ của kẻ chết này, tôi tin mình sẽ trông thấy phước hạnh của Chúa trong xứ của những người sống". Chúng ta gọi thế giới này là xứ sở của những người sống, nhưng thật ra phải gọi là xứ sở của những người đang chết. Nhờ Chúa Giêsu , chúng ta biết khi cái chết đến, chúng ta không ra khỏi xứ của Người sống, nhưng đi vào xứ của kẻ sống. Nhờ Chúa Giêsu , chúng ta biết mình đang trên hành trình, không phải về hướng mặt trời lặn, nhưng về phía mặt trời mọc. "Cái chết là khung cửa mở vào đường đi lên trời" (Mary webb). Theo nghĩa xác thật nhất, chúng ta không ở trên con đường đi đến sự chết, mà đang trên con đường đến với sự sống.
Làm thế nào để việc ấy có thể xảy ra ? Nó xảy ra khi chúng ta tin nhận Chúa Giêsu . Tin Chúa Giêsu nghĩa là chấp nhận tất cả những gì Chúa đã phán, xem đó là sự thật, là chân lý tuyệt đối, và neo chặt đời mình vào đó bằng một niềm tin trọn vẹn. Khi làm như vậy chúng ta được bước vào hai mối liên hệ mới:
- Với Thiên Chúa : khi tin Thiên Chúa vốn đúng như những gì Chúa Giêsu từng nói về Ngài, chúng ta tin tuyệt đối vào tình thương của Thiên Chúa , tin chắc rằng trên hết mọi sự, Thiên Chúa là Đấng Cứu Độ. Sự sợ chết tiêu tan, vì chết có nghĩa là đến với Đấng yêu thương linh hồn mình, trên thế gian này chẳng bao giờ có một Đấng giống như vậy.
- Với đời sống: khi chúng ta chấp nhận lối sống của Chúa và dấn thân vào đó, lấy các mệnh lệnh Ngài làm luật lệ, chúng ta nhận thức  rằng Ngài luôn có mặt để trợ giúp chúng ta sống cuộc đời mà Ngài truyền dạy ta phải sống, thì đời sống trở thành một cái gì hết sức mới mẻ. Nó được mặc lấy vẻ đẹp mới, sức mạnh mới. Có thể nói, khi chúng ta chấp nhận đường lối sinh hoạt của Chúa Giêsu làm nếp sống cho chính mình, lúc ấy cuộc đời mới đáng cho chúng ta tiếp tục. Nó trở thành một điều đẹp đẽ đáng yêu đến nỗi, chúng ta không thể nào nghĩ được rằng nó sẽ kết thúc cách dở dang.
Khi tin nhận Chúa Giêsu , tiếp nhận những gì Ngài phán dạy về Thiên Chúa , về đời sống, và khi neo chặt mọi sự vào đó, chúng ta thật sự được sống lại, được giải phóng khỏi sự sợ hãi, vốn là đặc tính của đời sống không có Chúa. Chúng ta được hồi sinh từ cõi chết của tội lỗi, đời sống sẽ trở nên vô cùng phong phú, đến độ không thể nào chết được, và sẽ nhận thấy, chết chỉ là để chuyển tiếp qua một đời sống cao cả hơn.

 

MC5-A23. ĐỨC GIÊSU LÀ NGUỒN SỰ SỐNG - Sr Nhi Dominique, OP

Jn 11:1-45
"Hơn nhau tấm áo manh quần,
Thả ra ở trần ai cũng như ai".

 

Cuộc sống con người là thế. Trước mắt Thiên Chúa, mọi người đều đáng giá, đáng yêu thương: MC5-A23

Cuộc sống con người là thế. Trước mắt Thiên Chúa, mọi người đều đáng giá, đáng yêu thương và đáng tôn trọng. Đồng thời, mọi người đều chia sẻ phẩm giá cao quý, và dầu là kẻ giầu sang hay kẻ bần cùng đói khổ, mọi người đều chung một số phận.

Ở đời này, ai ai cũng phải chết. Bài Phúc âm hôm nay thuật lại cái chết của Lazarô. Tin mừng này xoay quanh sự chết. Nhưng cái chết này đã được tình yêu Đức Kitô xoay ngược hẳn 180 độ; Ngài đã làm phép lạ cho Lazarô sống lại.

Biến cố chết đi và sống lại trong bài Tin Mừng hôm nay minh chứng rằng, trong niềm tin Kitô giáo, cái chết không phải là chấm dứt đời đời, nhưng là bước qua ngưỡng cửa của một đờisống mới trong Thiên Chúa. Quả thế, Lazarô còn là hình ảnh của mỗi người chúng ta, không những trong cái chết của thân xác nhưng cả với cái chết của tâm hồn trong đời sống thực tại. Mỗi khi chúng ta lựa chọn danh lợi, tiền tài, lạc thú trần gian trên Thiên Chúa là chúng ta phản bội ơn Chúa mà chọn bước đi trong bóng tối tội lỗi, và linh hồn ta chết dần, chết mòn. Tất cả những tật nguyền, đam mê tội lỗi này là những thứ diệt vong tựa như sự chết.

Nhưng qua bài Phúc âm hôm nay, Chúa cho chúng ta niềm hy vọng rằng cái chết ấy không phải là cái chết vô phương cứu chữa, như con mắt nhân loại đã thấy về cái chết của Lazarô: "Đã bốn ngày trời rồi; xác đã nặng mùi". Nhưng tình yêu Đức Kitô vượt trên mọi yếu đuối, chết chóc của con người cho chúng ta một niềm xác tín rằng Đức Kitô chính là nguồn sống của nhân loại. Không tội lỗi nào vượt quá lòng yêu thương vô bờ bến của Thiên Chúa. Chẳng đau khổ nào mà không tìm được an ủi và ý nghĩa trong Đức Kitô. Vậy, trong cuộc đời chết chóc này, chúng ta tìm đâu sức sống để mà sống? Phải chăng trong tiền tài, đam mê dục vọng? Không! Nhưng duy chỉ trong một mình Chúa Kitô là nguồn sự sống, là sự sống lại, và là sự sống vĩnh cửu!

Để cảm nhận tường tận ý nghĩa sâu xa của Lời Chúa, chúng ta hãy soi mình trong gương Martha và Maria. Trong tình huống bài Tin Mừng hôm nay, hai chị em Martha và Maria đang trong tâm trạng đau buồn, khóc than sự ra đi của Lazarô, người em duy nhất. Trong niềm mất mát này, chị em Martha và Maria thốt lên với Chúa Giêsu rằng: "Lạy Thầy, nếu Thầy có ở đây thì em con đâu có chết!". Câu này tuy mang tâm trạng trách móc, nhưng lại chất chứa một tia sáng mong manh của tình yêu chưa được lý giải thấu và bộc lộ niềm tin của Martha nơi Đức Giêsu. Nhưng rồi, Đức Giêsu lại mời gọi Martha xác tín niềm tin mỏng manh ấy hơn nữa và Bà đã thốt rằng: "Lạy thầy, con tin! Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến trong thế gian!". Có những giây phút trong cuộc đời, chúng ta bước đi trong đau thương, trong tội lỗi, trong lo âu phiền muộn, khi cuộc sống chất ngất bao nỗi chán chường cay đắng, chúng ta cũng phải mau mắn chạy đến cùng Chúa và thốt lên: "Lạy Thầy, con tin!".

Và gương tuyệt hảo tối hậu để chúng ta soi mình là chính Đức Giêsu . Ngài đã xúc động, xao xuyến, và ứa lệ. Nào ai hiểu được tâm tư của Đấng trọn vẹn là Chúa và là người trong giây phút này. Nhưng ít ra, chúng ta có thể nhìn vào dòng nước mắt lăn dài trên gò má Người mà hiểu được rằng Đức Kitô đã mặc lấy thân phận con nguời và chia sẻ trọn kiếp sống con người; Người đồng cảm mọi niềm vui nỗi khổ nơi lòng người. Và hơn thế, Đức Giêsu còn có một con tim bằng thịt, một quả tim cảm thương và chan hoà tình yêu. Chúng ta xác định điều này, để rồi tự vấn chính mình: Chúng ta có nhận biết và đáp trảtình yêu dạt dào của Đức Kitô một cách cân xứng chưa? Con tim của ta đã nhạy cảm trước nhu cầu của anh chị em đang sống chung quanh ta chưa?

Đức Kitô đã chết và sống lại vì chúng ta. Ngài còn hứa: "Ai tin vào Ta dầu có chết cũng sẽ được sống". Thiên Chúa là nguồn sức sống và Ngài muốn chúng ta vun trồng sức sống ấy trong tình yêu. Thế nên, ta phải sống, phải ham muốn sống cho xứng đáng là con Chúa trong lòng Giáo hội, và chia sẻ sự sống và tình yêu ấy cho tha nhân. Vậy chúng ta hãy xin Chúa gia tăng niềm tin của chúng ta, hầu cho đức tin sắt đá dẫn đưa ta tới một cuộc sống yêu đương như chính Chúa đã nêu gương cho ta.

Trong những ngày cuối Mùa Chay này, chúng ta hãy nỗ lực hồi sinh niềm tin và những tương quan yêu thương với Chúa và với tha nhân mà đáp lại lời mời gọi: Hãy TIN nơi Thiên Chúa! Hãy YÊU như chính Ngài!!

NS Trái Tim Đức Mẹ


 

MC5-A24. NIỀM TIN BỪNG SÁNG - Br Philip-Minh Khả, CMC

Jn 11:1-45
 

Trong ký ức chúng ta có lẽ không quên biến cố khủng bố ngày 11 tháng 9 tại Trung Tâm Mậu: MC5-A24

Trong ký ức chúng ta có lẽ không quên biến cố khủng bố ngày 11 tháng 9 tại Trung Tâm Mậu Dịch quốc tế tại New York năm vừa rồi. Hai tòa nhà cao 102 tầng đã sụp đổ sau hơn một tiếng đồng hồ bốc cháy bởi hai chiếc máy bay dân sự do đám khủng bố điều khiển đâm vào, mang theo vận mạng một lúc mấy ngàn người trong các tòa nhà đó. Cả nước Mỹ bàng hoàng và đau đớn trong biến cố này. Đứng trước biến cố này, trong sự bàng hoàng, thương tiếc, đau khổ và tuyệt vọng, niềm tin vào sự hiện diện và tình yêu của Thiên Chúa nơi nhiều người bị lung lay. Nhiều người đã phải thốt lên rằng Thiên Chúa đâu rồi? Tại sao Chúa không ngăn ngừa khỏi xảy ra sự dữ này?

Câu hỏi tương tự ở trên cũng được thấy trong Tin mừng Gioan hôm nay. Martha và Maria trong cơn đau khổ mất em là Lazarô, gặp Chúa Giêsu, hai chị em vừa khóc, vừa trách Chúa rằng Chúa ơi, Chúa ở đâu khi em con đang bệnh; nếu Chúa ở đây thì em con đâu có chết. Đây có lẽ là tâm lý chung của con người khi gặp sự đau khổ. Trong đêm tối mịt mù của khổ đau, niềm tin nơi Thiên Chúa của chúng ta bị lung lay. Chúng ta cảm thấy hoài nghi sự hiện diện và tình yêu Thiên Chúa cho chúng ta.

Tin mừng Gioan hôm nay cho chúng ta thấy trong Martha và Maria đang đau khổ, Chúa Giêsu đến bên cạnh họ. Thánh Gioan trình bày ở đây một Thiên Chúa không xa vời ở nơi đâu, nhưng rất gần gũi với con người. Chúa Giêsu mang đến cho họ niềm an ủi. Chúa Giêsu thông cảm nỗi đau khổ của họ. Trong tâm tình xót thương, Người mủi lòng và khóc thương. Và chính niềm tin vào Thiên Chúa nơi Martha và Maria bừng sáng lên khi họ cảm nhận Chúa Giêsu ở bên họ và đặt niềm tin tưởng, phó thác vào Người.

Với niềm tin vào Thiên Chúa, chúng ta tin rằng trên vạn nẻo đường của cuộc sống mỗi người, bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu trong mọi biến cố vui buồn của cuộc sống, Thiên Chúa luôn có mặt để hướng dẫn và nâng đỡ chúng ta. Trong an vui hạnh phúc, trong thất bại khổ đau, trong hân hoan hay đau buồn, trong mạnh khỏe hay bệnh tật, Thiên Chúa luôn bên cạnh ta để mời gọi ta tin tưởng vào tình yêu của Ngài. Thật ra không phải con người đi tìm kiếm Thiên Chúa cho bằng chính Ngài luôn theo đuổi, kiếm tìm và ở bên cạnh con người như trường hợp của chị em Martha, Maria và Lazarô. Chúa Giêsu hằng luôn để ý tới họ và trong cơn đau khổ nhất khi Lazarô chết, Chúa Giêsu đã tìm đến bên cạnh họ để an ủi.

Trong cuộc sống vật lộn với công ăn việc làm để tìm miếng cơm manh áo, với biết bao buồn vui xảy ra đến trong cuộc đời, với những cái chết vì bệnh ung thư hoặc bị tai nạn xe hơi hay vì một lý do không may nào xảy đến, chúng ta luôn luôn được mời gọi để nhìn lên trên các biến cố ấy trong tương quan với đời sống vĩnh cửu, với niềm tin tôn giáo. Đây là cách duy nhất để chúng ta nhận thức được ý nghĩa và giá trị đích thực của cuộc sống.

Biến cố khủng bố ngày 11 tháng 9 tại Trung Tâm Mậu Dịch quốc tế là một sự dữ, là đêm tối đức tin cho nhiều người. Tuy nhiên, qua biến cố này, niềm tin được bừng sáng nơi nhiều người. Nhiều người nhận xét rằng, người ta cầu nguyện với Thiên Chúa nhiều hơn. Nhiều người xưa nay có thái độ bàng quan tới mọi người, nay tỏ thái độ yêu thương, chia sẻ. Niềm tin bừng sáng! Trong câu chuyện Lazarô sống lại, Martha và Maria trong đau khổ đã nhận được tình Chúa Giêsu và đặt niềm tin tưởng, phó thác vào Ngài. Niềm tin bừng sáng! Còn mỗi người chúng ta, cái nhìn, thái độ và niềm tin chúng ta thế nào đối với Thiên Chúa trong các biến cố xảy ra trong đời chúng ta?
NS Trái Tim Đức Mẹ


 

MC5-A25. Như Ladarô đã chết được Chúa cho sống lại - Lm Augustine, S.J

Gợi ý để sống và chia sẻ Tin Mừng
 

Một lần kia đến thăm một trại nuôi dưỡng người già tàn tật và những người nghèo vô gia cư ở: MC5-A25

Một lần kia đến thăm một trại nuôi dưỡng người già tàn tật và những người nghèo vô gia cư ở T. B, tôi có dịp hớt tóc cho một trại viên gần 40 tuổi. Khi biết tôi là sinh viên thường đi ngang qua khu vực gia đình anh hiện đang sống, anh liền kể cho tôi nghe về hoàn cảnh tuyệt vọng đáng thương của anh.

Lạy Chúa, tâm hồn này bị nhận xuống bùn đen,

theo Lời Ngài, xin cho con được sống (Tv 118,25)

Được sinh ra trong một gia đình gia giáo theo đạo Thiên Chúa, anh là con đầu lòng nên từ nhỏ đã được bố rất nghiêm khắc nhưng hết mực yêu thương cho đi học ở chủng viện. Ông hy vọng ngày nào đó, anh sẽ là niềm vinh dự cho gia đình. Nhưng trong lần về nhà nhân kỳ nghỉ hè lớp 10, anh đã theo bạn bè cùng xóm quậy phá. Việc ấy gây tai tiếng đến nỗi bố anh vì thất vọng và vì danh dự đối với bà con lối xóm, nên đã chửi mắng, đánh đập rồi đuổi anh đi. Thế là vì tự ái và thiếu suy nghĩ nên T. đã bỏ nhà ra đi, bất kể tới hậu quả ra sao. Từ đó đến nay đã hơn 20 năm, T. đã trải qua biết bao thăng trầm. Anh tự mưu sinh với đủ thứ việc, như bốc vác, phụ hồ, làm rẫy, làm ruộng... T. cũng làm quen với nhiều thói xấu trên đời mà một thanh niên không gia đình dễ dàng buông thả.

Hơn 20 năm bỏ nhà ra đi, cũng có những giây phút T. cảm thấy lòng anh trống vắng hướng về mái ấm gia đình và nhớ người bố ngày một già yếu. Đã có những lần anh quyết tâm dẹp bỏ tự ái để trở về, nhưng lần nào cũng gặp thất bại vì anh không được bố chấp nhận. Cụ thể lần chót cách đây chừng 6 năm, anh đã xin bố tha thứ và cho phép ở lại gia đình nhưng anh hoàn toàn tuyệt vọng vì ao ước của anh không được đáp ứng, cho nên anh đã thở dài và nói: “Bây giờ chỉ biết chôn cuộc đời trong cái trại phức tạp này!”

Được gợi nhớ về dụ ngôn “Người cha nhân hậu”, anh T. đã phản ứng: “Ước gì bố mình cũng được như người cha đó! Nhưng bây giờ thì hết còn hy vọng nữa!”.

Tôi lại mò mẫm nói với T. về chữ “Hiếu”: Cho dầu bố anh là người thế nào đi nữa thì cũng là người đã sinh thành và dưỡng nuôi anh để anh có ngày nay. Cho nên anh phải kiên trì nhắm tới việc hòa giải với bố và với gia đình thay vì thất vọng trong niềm oán trách gia đình. Xem ra T. được đánh động, cố nén cảm xúc. Với đôi mắt đỏ hoe, anh nói: “Mình nghĩ mình là con trai lớn, mấy đứa em lập gia đình hết rồi, để ông già lớn tuổi mà không ai chăm sóc, mình áy náy lắm chứ. Nhưng ông khó lắm, người Bắc mà!”

Rõ ràng tình cảm T. dành cho gia đình còn đó, không phải không có sức mạnh. Tôi liền đoan chắc với T.: “Cũng như anh, bố anh không thể nào quên anh được vì anh đã từng là người con được ông yêu thương và kỳ vọng. Rồi sẽ có lúc chính ông sẽ hối hận và cần sự có mặt của anh, đó là lúc ông sẽ tha thứ cho anh. T. liền nói: “Mình không cần bố cho phép ở lại nhà, mà chỉ cần ông tha thứ và cho phép đôi ba tháng về thăm ông một lần là mãn nguyện rồi.”

Sau vài giây trầm tư, đột nhiên T. ngước nhìn tôi, khiến tôi phải dừng tay kéo. Trong mắt anh, tôi thấy anh đang hy vọng. Và quả thật, anh nói cho tôi nghe về điều đó khi nhờ tôi làm người trung gian, thỉnh thoảng ghé nhà nói chuyện với bố anh, để ông tin rằng hiện nay anh thật sự hối hận về lầm lỗi trước kia, cũng như thực sự anh thương nhớ ông và muốn được thăm nom mà không cần phải ở lại gia đình. Anh còn nói: “Bây giờ không có gì gởi cho ông hết, nhưng bắt đầu từ hôm nay, mình sẽ gom góp quà do các phái đoàn đến viếng thăm trại cho, để làm quà thăm nhờ anh chuyển giùm.”

Con kể lể đường đời, Chúa đáp lại (Tv 118,26)

Tôi nhận ra sự sống mới nơi T. Lòng anh tràn đầy hy vọng thay vì thất vọng. Không chỉ một mình anh, cả gia đình đều nghiệm thấy một biến chuyển giây chuyền.

Trước tiên là ba đứa em trai và ba em dâu tới thăm T. ở trại. Anh khoe với tôi: “Mình chỉ biết là rất hạnh phúc vì có lại được tình cảm của gia đình.”

Sau đó vài tuần, cũng dịp tới thăm trại, tôi được anh khoe rằng bố anh đã tới thăm anh. Ông cụ khóc quá sức. Cả hai bố con cùng an ủi nhau trong nước mắt, đó là lúc anh nghiệm thấy tình cha con nồng nàn mãnh liệt từng bị tắc nghẽn suốt 20 năm qua.

Nhưng tình cảm mà T. cảm thấy mãnh liệt hơn cả là khi người em trai lên chở anh về thăm gia đình. Cả nhà làm một bữa tiệc nhỏ quây quần bên nhau. Bố và các em đều an ủi và khuyến khích anh cố giắng ở lại trong trại một thời gian. Gia đình sẽ thu xếp, kiếm được việc làm, sẽ đón anh về nhà luôn. Vì dù sao, anh cũng vẫn là con, là người anh cùng chung máu mủ, thì làm sao bỏ nhau được!

Đường chân lý, này con đã chọn (Tv 118,30)

Điều lạ lùng là hôm đó, trước khi từ giã gia đình để trở về trại, chính anh T. đứng ra khuyên bố cùng mẹ kế của anh hiện đang sống ly thân trong cùng một căn nhà mà ngăn đôi, chỉ vì xích mích giữa con chung, con riêng, nên anh xin các ngài nên bỏ qua tất cả để làm hoà, vì tuổi đã già, nên lo phần tinh thần là hơn cả. Anh cho rằng xích mích xảy ra chỉ vì mấy đứa em còn nhỏ, chưa suy nghĩ chín chắn, khiến có lời ra tiếng vào làm mất lòng. Phần anh vẫn coi mẹ kế như mẹ ruột của mình. Anh xin mẹ tha thứ cho anh và cho những đứa em đã gân nên bất hoà trong gia đình nay cần được hàn gắn, đó là ước mong của anh trước khi ra đi. Bố và các em dặn anh: “Cần điều gì cứ nhắn về nhà!” Còn mẹ kế đã cho anh 50,000đ, một chai dầu xanh, và vừa khóc vừa khuyên anh tu tỉnh “nhất là nhớ đọc kinh cầu nguyện mỗi ngày!”

Câu chuyện vừa kể liên quan tới phép lạ Đức Giêsu cho ông Ladarô sống lại như thế nào?

Ladarô là em của hai chị em Mácta và Maria. Cả ba được Đức Giêsu thương mến. Gia đình họ ở làng Bêtania, cách Giêrusalem chừng 2 dặm. Khi Ladarô đau nặng, hai chị em nhắn tin cho Đức Giêsu hay, nhưng Đức Giêsu đã không vội vàng lên đường. Khi tới Bêtania, Đức Giêsu được đặt trước cảnh than khóc của hai chị em và những người thân, vì Ladarô đã chết và đã được chôn trong mộ bốn ngày rồi. Đó là lúc Đức Giêsu tuyên bố bản thân Người chính là sự sống lại và là sự sống (c.25). Rồi Đức Giêsu đi đến mộ và gọi Ladarô bước ra khỏi đó, với các băng vải còn cuốn đầy mình.

Câu chuyện được kể cũng nói tới một chàng thanh niên được Đức Giêsu thương mến nhờ chàng sinh viên tới hớt tóc cho anh. Sinh viên này đã vận dụng lời Chúa Giêsu trong dụ ngôn Người cha nhân hậu (Lc 15,11-32) và chữ hiếu (giới răn thứ tư) để thức tỉnh lương tâm của trại viên T. Lạ lùng thay, trại viên T. nhờ đó được hoà giải với bố và gia đình anh. Cách nào đó, anh như Ladarô đã chết được Chúa cho sống lại.

Một số câu hỏi gợi ý

1. Nghe câu chuyện người sinh viên kể về trại viên T., bạn tâm đắc về điều gì nhất: Đức Giêsu vẫn thương mến trại viên T. mặc dầu 20 năm đi bụi? Người thương mến cả người bố và mọi người trong gia đình ông? Anh sinh viên kể chuyện đúng là cánh tay nối dài của Chúa Giêsu Phục Sinh?

2. Chuyện vừa kể có thể năng xảy ra chăng? Với điều kiện người Kitô hữa ý thức mình là cánh tay nối dài của Chúa Phục Sinh?


 

MC5-A26. Lazarô - Lm Nguyễn Bình An

Theo phong tục Do Thái, nghi lễ tẩm liệm gồm có việc: trói tay, cột chân, đặt2 hòn đá lên 2: MC5-A26

Theo phong tục Do Thái, nghi lễ tẩm liệm gồm có việc: trói tay, cột chân, đặt 2 hòn đá lên 2 mắt, nhét bông vào miệng-mũi-tai, đầu chít khăn, mai táng nơi huyện và đóng huyệt bằng tảng đá lớn. Hình ảnh nầy diễn tả sự bất lực, cô thế, bị trói buộc, mù lòa, điếc lác, bất động, chương phồng lên và tan rửa. Nói rõ hơn thì đây là cảnh lìa đời đời hay sự chết: cái tận cùng của con người.

Gioan đã diễn tả tỉ mỉ một Lazarô đau bệnh, chết mai táng nghĩa là trở về hư vô và bất lực nằm trong mộ. Nghe tin Lazarô bệnh nặng, Đức Kitô đã không hối hả đến thăm vì: "Bệnh này không chết, nhưng để làm sáng danh Chúa, và Con Người được vinh hiển". Cơ hội an ủi, chia buồn và thương cảm với Maria và Martha đã ghi lại ơn mạc khải về thần học sống lại: "Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin Ta dù có chết cũng sẽ được sống. Kẻ nào sống mà tin Ta sẽ không chết bao giờ". Martha không dám xin đặc ơn, không lạm dụng tình thân và không hiểu ý lời: "Em con sẽ sống lại". Martha đã biết rõ Lazarô đã được mai táng 3 ngày, nên tin tưởng trả lời: "Con biết ngày tận thế, khi kẻ chết sống lại, em con sẽ sống lại". Đây là thần học sống lại tổng quát đã được Ezekiel công bố (bài đọc 1).

Với lời quả quyết "Ta là sự sống lại và là sự sống". Đức Kitô không những tái xác nhận chân lý của thần học sống lại mà còn công khai biểu lộ uy quyền tối cao và Thiên Tính của Ngài. Ngài là nguyên nhân và cùng đích của sự sống. Qua nhân tính, Ngài đã biểu lộ tình thân mến, lòng quí yêu, và mủi lòng khóc thương Lazarô với Martha và Maria. Dù Martha cản ngăn không cho mở mộ, vì lẽ thường xác đã dậy mùi sau ba ngày, Ngài vẫn yêu cầu mở và lớn tiếng ra lệnh: "Lazarô, hãy ra ngoài này". Lệnh của Ngài đưa Lazarô trở về với tinh anh của thần trí, ngưng tụ sự tan rữa và khua trừ sự chết. Lời của Ngài đã làm dân chúng ngỡ ngàng, tạo thân thương và vui mừng nơi Martha và Maria khi một Lazarô bằng xương bằng thịt từ từ bườc ra. Đây là sáng danh Thiên Chúa, là vinh hiển của Ngôi Lời và là hy vọng của tín hữu như Ngài đã tiên báo.

Thiên Chúa không chỉ thương yêu Lazarô, Martha và Maria, nhưng Thiên Chúa thương mọi người. Thần học sống lại, vì thế, là sản nghiệp và cùng đích chung của nhân loại. Ai hội đủ điều kiện "sống cùng và tin vào" Đức Kitô đều có cơ hội được tái sinh và sống đời đời. Sống và tin là hai yếu tố ắt có và đủ để gặp gỡ và sống lại với Đức Kitô. Thánh Giacôbê am hiểu tường tận chân lý này nên đã viết: "Đức tin không có việc làm là đức tin chết" (James 2:17) vì ma quỉ cũng đã tin nhưng thiếu hành động (James 2:19). Vậy tin Chúa thì con người cũ với hẹp hòi, ích kỷ, cao ngạo và bất nhân phải chết dần đi. Để kết hợp với Chúa, chúng ta phải biết tự trói buộc, cô lập, vô hiệu hóa và mai táng những yếu đuối, ý riêng và tội lỗi của mình. Đức Kitô đã lệnh cho Lazarô chổi dậy và khỏi mộ dễ dàng thế nào thì Ngài cũng sẽ truyền cho mỗi chúng ta chỗi dậy, hùng dũng bóc vỏ và lột xác dễ dàng như vậy.

Tiên tri Êzekiel (bài đọc 1) đã thị kiến cảnh phục hoạt náo nhiệt của các chiến sĩ Nước Trời. Thịt tuy đã rã tan, xương đã rải rắc khắp chốn nhưng lại được ráp nối vẹn toàn, lãnh nhận thần khí Chúa, ra khỏi mồ và an cư bất tận trong Nước Chúa. Niềm tin sẽ thành sự thật nếu chúng ta cùng sống và cùng chết với Chúa. Chúng ta sẽ vinh thăng sống lại hay sẽ khổ đau triền miên? Hôm nay và lúc này chúng ta phải tự trả lời câu hỏi ấy và chọn hướng đi. Trả lời xong, chúng ta sẽ tự phân loại thành thiện nhân hay ác nhân. "Ơn Chúa luôn đầy đủ cho mỗi người" và Chúa luôn tín trung, thương xót, chiến đấu, chờ đợi và dành giật phần rỗi của chúng ta với ma quỷ. Vì Chúa là Chúa của kẻ sống không phải Chúa của kẻ chết.

NS Dân Chúa Mỹ Châu


 

MC5-A27. LẠY THẦY CON TIN! - Lm Phanxicô Xaviê Nguyên Đức

Gn 11:1-45
 

Mùa Chay năm nay, Giáo hội từng bước lần lượt dẫn đưa chúng ta tìm hiểu Chúa Giêsu tường: MC5-A27

Mùa Chay năm nay, Giáo hội từng bước lần lượt dẫn đưa chúng ta tìm hiểu Chúa Giêsu tường tận hơn. Chúa nhật I, chỉ có Satan nhận ra Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa. Chúa nhật II, ba môn đện được rõ chút ít về Ngài. Chúa nhật III, người phụ nữ khát khao mạch nước đem lại sự sống đời, bà là đại diện cho toàn thể nhân loại. Chúa nhật IV, nhờ người mù mà chúng ta được thấy rõ hơn và hôm nay, Chúa nhật V, giới thiệu người bạn của Chúa Giêsu, người đó là Lazarô, cũng là tên của mỗi người chúng ta: Lazarô nghĩa là "Người được Chúa giúp đỡ".

Thánh Gioan đã diễn tả chuyện "Lazarô sống lại" một cách sống động, tỉ mỉ và thật cảm động. Một câu chuyện nói về bệnh và chết, chôn lâu ngày, xác đã có mùi và đã được sống lại. Đó cũng là câu chuyện của mỗi người chúng ta. Câu chuyện này giúp chúng ta hiểu Chúa Giêsu hơn. Khi nghe tin Lazarô chết, thánh Gioan ghi lại: "Chúa Giêsu liền khóc" (Gn 11:35). Đây là một câu ngắn nhất; nhưng hàm chứa một khung cảnh cảm động nhất trong sách Phúc âm và giúp chúng ta thấy chiều kích sâu xa về bản tính loài người của Chúa Kitô.

Ai cũng quên là Chúa Kitô có một quả tim dễ rung cảm và một tình yêu nồng nàn như chúng ta. Ai cũng quên là Chúa Kitô cũng xúc động và khóc than như chúng ta. Ai cũng quên là Chúa Kitô cũng có thân xác và đau khổ như mỗi người chúng ta. Và có lẽ chúng ta sẽ tự hỏi: Những sự kiện này có gì là quan trọng đối với chúng ta?

Tại sao nhớ đến Chúa Kitô có quả tim, có tình yêu là quan trọng? Tại vì nhờ đó mà chúng ta dễ dàng gần gũi, mật thiết với Chúa hơn. Tại sao nhớ đến Chúa Kitô xúc động và khóc than là quan trọng? Tại vì nhờ đó chúng ta hiểu được rằng Ngài đã cảm thông với bản tính người phàm của chúng ta. Tại sao nhớ đến Chúa Kitô đau khổ là việc quan trọng? Tại vì nhờ đó mà chúng ta có được nguồn sinh lực để chống chọi mọi phong ba bão tố của cuộc đời.

Bài sách Tin Mừng hôm nay còn cho chúng ta thấy một khía cạnh sâu xa khác và quan trọng hơn. Đó là bản tính Thiên Chúa nơi con người hiền hòa của Đức Giêsu. Thật vậy, đứng trước mộ Lazarô, lòng bồi hồi thổn thức, nước mắt tuôn tràn, Ngài bảo mọi người dời phiến đá đậy nắp huyệt, Matta can ngăn vì xác người trong mộ đã có mùi. Chúa Giêsu hỏi Matta cũng như hỏi mỗi người chúng ta: "Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống... con có tin thế không?" (Gn 11:25). Matta thưa: "Lạy Thầy, con tin!" (Gn 11:27). Rồi Ngài kêu lớn tiếng: "Lazarô, hãy ra khỏi mồ!" (Gn 11:43). Người chết sống lại và ra khỏi mồ! Khóc thương Lazarô, Chúa cho Lazarô sống lại. Ngài là con người như chúng ta, nhưng Ngài cũng là Thiên Chúa của chúng ta nữa. Ngài là nguồn sự sống, vì đối với Ngài, chết không phải là kết thúc, nhưng chỉ là một bước để đến một cuộc đời mới, một cuộc sống trường cửu, kỳ diệu hơn.

Vì thương yêu loài người, Ngài đã đi xuống sự chết để cùng với người chết đi lên sự sống. Ngài đã dẫn đưa con người từ bóng tối ra ánh sáng. Ngài đã đến thế gian để giúp chúng ta, Ngài cũng mời gọi chúng ta cùng cộng tác với Ngài trong chương trình cứu độ. Thật thế, để giải phóng con người thoát khỏi những ràng buộc của tội lỗi, của u ám tối tăm, Ngài phán bảo: "Cởi khăn và vải cho anh ấy, rồi để anh ấy đi" (Gn 11:43). Chúa Kitô cần mỗi người chúng ta tiếp tay, để giúp Ngài hoàn tất chương trình cứu chuộc nhân loại.

Lạy Chúa Giêsu Kitô, xin cho con được yêu mến Chúa hơn và cho con được lòng xác tín mạnh mẽ như Matta: "Lạy Chúa, con tin!"

NS Trái Tim Đức Mẹ


 

MC5-A28. HỠI LAZARÔ, HÃY BƯỚC RA!" - Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh

Mạc Khải "Thày là Sự Sống" cho chị em Matta và Maria.
 

Nếu hai tuần III và IV của Mùa Chay thuộc Chu Kỳ Phụng Niên Năm A, Phúc Âm Thánh Gioan: MC5-A28

Nếu hai tuần III và IV của Mùa Chay thuộc Chu Kỳ Phụng Niên Năm A, Phúc Âm Thánh Gioan được Giáo Hội có ý chọn đọc về trình thuật Chúa Giêsu đã Mạc Khải Người là "Đường Lối" cho phụ nữ Samaritanô ngoại lai, và Người là "Sự Thật" cho người mù từ lúc mới sinh, thì tuần V này đến trình thuật Chúa Giêsu đã Mạc Khải Người là "Sự Sống" qua việc Người hồi sinh Lazarô từ trong cõi chết. Bởi vì, trong trình thuật hồi sinh Lazarô này, trước khi ra tay cải tử hoàn sinh, chính Chúa Giêsu đã tuyên bố với Matta: "Thày là sự sống lại và là sự sống: ai tin vào Thày thì dù có chết cũng được sống và ai đang sống mà tin vào Thày sẽ không bao giờ phải chết" (Jn 11:25-26).

Phải, chính lời tuyên bố này của Chúa Giêsu là tột đỉnh Mạc Khải Chúa Kitô là "Sự Sống" trong trình thuật hồi sinh Lazarô của bài Phúc Âm hôm nay, cũng như lời Người tuyên bố "Ta là Đấng đang nói với chị/anh" (Jn 4:26; 9:37) trong trình thuật Người tỏ mình ra cho chị phụ nữ Samaritanô của Phúc Âm hai tuần trước, hay cho người mù từ lúc mới sinh của Phúc Âm tuần vừa rồi. Tuy nhiên, so sánh với hai lần tỏ mình trước, một cho người phụ nữ Samaritanô và một cho người mù từ lúc mới sinh, lần tỏ mình của Chúa Giêsu lần này hơi khác. Ở chỗ, hai lần trước Người từ từ dẫn con người đến việc nhận biết Người, tức Người tỏ mình ra sau, còn lần này Người tỏ mình ra trước khi hành động, tức là sau khi tự xưng "Thày là sự sống lại và là sự sống", Người mới ra tay chứng tỏ mình thực sự là như thế. Tại sao? Nếu không phải tại vì đối tượng của lần này khác với hai lần trước. Đối tượng của lần tỏ mình ra này không phải là một phụ nữ ngoại lai ở miền đất Samaritanô xa lạ, hay là một kẻ mù từ lúc mới sinh người Do Thái ở miền chính giáo Giuđêa, mà là một gia đình hết sức nghĩa thiết với Người (xem Jn 11:5) ở ngay Bêthania gần thành thánh Giêrusalem (xem Jn 11:18), địa điểm Vượt Qua của Người.

Tuy nhiên, không phải vì thân thiết với Người mà Chúa Giêsu đã châm chước yếu tố nhân sinh cho chị em này, ngay trước giây phút tuyệt đỉnh của Mạc Khải, trước giây phút Chúa Kitô tỏ mình ra "Thày là sự sống lại và là sự sống". Như trường hợp của người phụ nữ Samaritanô và người mù từ lúc mới sinh, cả hai đã phải tỏ ra lòng thành khao khát và tìm kiếm chân lý của mình mới được Người tỏ mình ra cho biết thế nào, bà chị cả Matta trong gia đình ba chị em của người chết Lazarô cũng thế, cũng đã phải bày tỏ lòng mình đối với Người như sau: "Lạy Thày, nếu Thày có mặt ở đây em con đâu có chết. Dù thế, ngay lúc này đây, con tin chắc Thiên Chúa sẽ ban cho Thày những gì Thày xin". Nếu người phụ nữ Samaritanô ngoại lai, sau giây phút tuyệt đỉnh của Mạc Khải, đã chạy về loan báo cho dân làng của mình hay biết thế nào, và nếu người mù từ lúc mới sinh, sau giây phút nhận ra Đấng đã phục quang cho mình, đã tuyên xưng đức tin và phục xuống thờ lạy Người thế nào, Matta cũng thế, sau khi nghe Thày tự xưng "Thày là sự sống lại và là sự sống", đã tuyên xưng đức tin: "Vâng, Lạy Thày, con tin. Con đã tin rằng Thày là Đấng Thiên Sai, Con Thiên Chúa hằng sống, Đấng đến trong thế gian", rồi sau đó về nhà báo tin cho Maria em mình, người cũng bày tỏ lòng mình với Chúa Giêsu y như chị của mình, khi cô vừa gặp Người và qùi sụp xuống dưới chân Người mà thổn thức: "Lạy Thày, nếu Thày có mặt ở đây em con đâu có chết". Và chỉ sau lời thổn thức này của Maria, nhất là, như Phúc Âm cho biết, "khi thấy cô khóc, và những người Do Thái theo cô cũng khóc, tâm hồn Người cảm thấy bồi hồi xúc động. Người hỏi: 'Các người chôn táng anh ta ở đâu?'. Họ đáp 'Thưa Thày, xin hãy đến mà xem'. Chúa Giêsu bắt đầu khóc".

Tại sao Chúa Giêsu lại khóc? Phải chăng vì Người không cầm được lòng khi thấy Maria khóc? Nhưng Maria sở dĩ khóc là vì Lazarô thân yêu của chị em cô đã chết, trong khi đó, Chúa Giêsu biết chắc chắn rằng Người có thể làm Lazarô cải tử hoàn sinh cho chị em cô! Vậy thì phải chăng động lực thúc đẩy Người khóc, cử chỉ hết sức hiếm hoi và đặc biệt được Phúc Âm lần đầu tiên ghi nhận, là vì, ngay lúc bấy giờ, Người nghĩ đến các linh hồn bất tử vô cùng cao quí nói chung, nhất là linh hồn của thành phần bạn thân của Người nói riêng, sẽ đời đời bị chôn vùi trong nấm mồ sự chết, không bao giờ bước ra khỏi ngôi mồ vĩnh tử này nữa, không còn nghe thấy tiếng gọi của Người nữa, khi Người lên tiếng gọi họ như đã gọi Lazarô "hãy bước ra khỏi mồ". Đúng thế, về phương diện tâm linh, con người tội lỗi trên đời này là một con người sống trong sự chết, một sự chết, đối với Chúa, chẳng khác gì như là một giấc ngủ (xem Mt 9:24), Người cần phải gọi họ dạy. Vì là một giấc ngủ, dù có ngủ say, ngủ mê ngủ mệt đến mấy, đến độ "xông mùi" đi nữa, như trường hợp của Lazarô trong bài Phúc Âm hôm nay, con người tội lỗi vẫn còn khả năng nghe được tiếng "Thiên Chúa là Thần Linh" (Jn 4:24): "Kẻ chết sẽ nghe thấy tiếng của Con Thiên Chúa và những ai nghe theo tiếng ấy sẽ được sống" (Jn 5:25).

Mạc Khải "Thày là Sự Sống" theo ý nghĩa của Mùa Chay.

Mùa Chay là Thời Đoạn Phụng Vụ hướng về và sửa soạn cho việc cử hành và cảm nghiệm Biến Cố Vượt Qua., một biến cố không phải Chúa Giêsu chỉ chịu khổ nạn và tử giá, mà còn sống lại hiển vinh nữa. Bởi thế mới gọi là Vượt Qua: "vượt qua sự chết mà vào sự sống" (Jn 5:24). Người đã ví cuộc Vượt Qua của Người chẳng khác gì như thân phận của một hạt lúa miến gieo xuống đất cần phải vượt qua mục nát mới có thể trổ sinh muôn vàn hoa trái (xem Jn 12:24). Phần Người, Người "đến để làm chứng cho chân lý" (Jn 18:37), ở chỗ "không làm theo ý mình mà là ý Đấng đã sai" (Jn 6:38), tới độ "Người đã vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá" (Phil 2:8). Chính vì thế, "Thiên Chúa đã tôn vinh Người" (Phil 2:9; xem Jn 17:1,5), ở chỗ, đã chứng thực Người là "Con yêu dấu" (Mt 3:17, 17:5), là Đấng Thiên Sai của Ngài, bằng cách "Thiên Chúa đã làm cho Người từ trong kẻ chết sống lại" (Acts 10:40, 13:30).

Cuộc Vượt Qua, bao gồm việc Chúa Giêsu "tự hiến" (Jn 17:19) để làm chứng Người được Thiên Chúa sai, và việc Thiên Chúa làm cho Người từ trong kẻ chết sống lại cũng để chứng thực Người quả là Đấng Thiên Sai của Ngài, cần phải thực hiện để làm gì, nếu không phải để cho chung con người (đặc biệt là dân Do Thái) và riêng thành phần chứng nhân tiên khởi "tin mà được sự sống đời đời" (Jn 3:16). Nếu "Tôi đến cho chiên được sự sống và được sự sống viên trọn" (Jn 10:10), bằng cách "hiến mạng sống mình vì chiên" (Jn 10:11), thì Cuộc Vượt Qua của Chúa Kitô chính là để ban sự sống trường sinh một cách phổ quát cho chung loài người, và một cách bí tích cũng như thần bí cho riêng những ai tin vào Người vậy. Như thế, việc Chúa Giêsu làm cho Lazarô cải tử hoàn sinh vào thời điểm gần đến ngày giờ Vượt Qua của Người chính là dạo khúc của Thực Tại Mạc Khải "Thày là sự sống lại và là sự sống" vậy.

Tại sao Chúa Giêsu, trong trường hợp Người làm cho Lazarô hồi sinh bước ra khỏi mồ, không xưng mình "Ta là sự sống (trước) và là sự sống lại (sau)", mà lại xưng "Ta là sự sống lại (trước) và là sự sống (sau)"? Theo tôi, Chúa Giêsu phải "là sự sống lại (trước)", bởi vì, Người sẽ sống lại từ trong kẻ chết, một sự sống lại về phần xác được Người tỏ cho thấy trước nơi việc Người làm cho Lazarô bạn thân của Người sống lại về phần xác. Và Chúa Giêsu phải "là sự sống (sau)", bởi vì, nhờ việc Người sống lại về phần xác của Người như thế, Người mới làm cho nhiều Người tin vào Người, nghĩa là làm cho họ được sự sống đời đời, như qua việc Người đã làm cho Lazarô sống lại về phần xác, nên, theo Phúc Âm hôm nay cho biết, Người đã thực sự làm cho nhiều người Do thái có mặt bấy giờ được sự sống. Ở chỗ, nếu "sự sống đời đời là nhận biết…" (Jn 17:3), thì "nhiều người Do Thái đến thăm Maria và thấy những gì Chúa Giêsu làm thì tin vào Người" (Jn 11:45) không phải là họ được "sự sống đời đời" hay sao?

Đến đây chúng ta cũng hiểu được lý do tại sao trong Bữa Tiệc Ly Chúa Giêsu tự xưng "Thày là đường, là sự thật và là sự sống" (Jn 14:6). Bởi vì, theo tôi, Chúa Giêsu "là đường" qua những gì Người nói và làm nơi nhân tính của một Con Người trong suốt cuộc đời trần thế của Người, nhất là trong thời gian xuất thân loan báo và thiết lập Nước Trời; Chúa Giêsu "là sự thật" nơi chính chứng từ Người thực hiện, nhất là nơi Cuộc Khổ Nạn và Tử Giá của Người, để chứng thực Người quả là Đấng Thiên Sai; Chúa Giêsu "là sự sống" nơi quyền linh trọn vẹn (xem Mt 28:18) Người tỏ ra qua cuộc Phục Sinh của Người trong tư thế là Con Thiên Chúa, Đấng thông ban Thánh Linh cho thành phần chứng nhân tiên khởi là các vị tông đồ (xem Jn 20:22). Thật ra, mỗi một việc Chúa Giêsu làm đều là Mạc Khải cho thấy Người "là đường, là sự thật và là sự sống". Chẳng hạn trong Mầu Nhiệm Giáng Sinh, Chúa Giêsu "là đường" nơi chính việc "Lời đã hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta, chúng ta đã được thấy vinh hiển của Người" (Jn 1:14), "là sự thật" ở chỗ "ánh sáng thật đã đến trong thế gian chiếu soi cho tất cả mọi người" (Jn 1:9), và "là sự sống" ở chỗ "ai chấp nhận Người thì Người ban cho họ quyền làm con Thiên Chúa" (Jn 1:12). Hay trong việc Người ở lại trong đền thờ năm 12 tuổi, Chúa Giêsu "là đường" ở chỗ "ông bà tìm tôi làm chi?", "là sự thật" ở chỗ "ông bà không biết Tôi phải ở trong nhà của Cha Tôi hay sao?", và "là sự sống" ở chỗ "Người theo các vị về Nazarét và tuân phục các vị. Còn mẹ Người thì ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng" (Lk 2:49-51).

Vấn đề thực hành sống đạo: Hy sinh, khổ chế, bỏ mình trong Mùa Chay chỉ có ý nghĩa khi chúng phát xuất từ đức tin chân thực, và chỉ có giá trị khi chúng trổ sinh hoa trái sự sống yêu thương trọn lành. Bởi vì "đức tin thể hiện nơi đức ái" (Gal 5:6). Mà đức tin là gì, nếu không phải, theo tu đức, là việc linh hồn đáp ứng tác động thần linh, là việc linh hồn tỏ ra nhận biết Thiên Chúa, là cảm nghiệm thần linh của linh hồn. Một cảm nghiệm thần linh càng chân thực càng phản ảnh thần linh, càng trở thành chứng từ thần linh sống động, càng có tác dụng thần linh mãnh liệt, càng thu hút tâm linh của con người muốn tìm kiếm chân lý và càng làm cho thế gian nhận biết để được sự sống đời đời (xem 1Jn 1:3).


 

MC5-A29. TA LÀ SỰ SỐNG LẠI VÀ LÀ SỰ SỐNG” - Sr. Cecilia

Ed 37,12-14; Rm 8,8-11, Ga 11,1-45
 

Cuộc khủng bố thật tang thương xảy ra ở Nước Mỹ mới đây, là một tiếng cảnh tỉnh cho: MC5-A29

Cuộc khủng bố thật tang thương xảy ra ở Nước Mỹ mới đây, là một tiếng chuông cảnh tỉnh cho tất cả chúng ta về cuộc sống. Qua sự kiện này, chúng ta cảm nhận được rằng cái chết là một thực tại vẫn xảy ra hằng ngày chung quanh chúng ta, là một định mệnh luôn gắn chặt với thân phận con người. Cái chết mang đến sự chia ly, đau buồn và thương tiếc. Hơn nữa, nó như một nhát dao cắt đứt tất cả mọi dự tính về cuộc sống của con người. Thật đau lòng khi đứng trước cái chết đột ngột của những người thân yêu, bạn bè. Đối với người công giáo, đó là một huyền nhiệm mà con người không giải thích được. Đứng trước huyền nhiệm này con người hoàn toàn bất lực và vô vọng, nhưng với Ánh Sáng Niềm Tin vào Thiên Chúa, con người sẽ được sống lại trong ánh sáng sự sống mới của Thiên Chúa. Những gì xem ra vô nghĩa lại có ý nghĩa và giá trị vĩnh cửu.

Tin Mừng hôm nay cho chúng ta tiếp cận mầu nhiệm Phục Sinh của Đức Kitô, qua việc Ladarô được Chúa cho sống lại. Macta và Maria đã trải qua kinh nghiệm đức tin trước cái chết của em mình. Hai Chị Em Macta và Maria rất đau buồn và tuyệt vọng. Cả hai đều thương khóc và tiếc rằng Chúa Giêsu không có mặt lúc đó. Còn gì để hy vọng nữa. Có chăng cũng chỉ là niềm tin tưởng vào một sự sống mai hậu, bởi vì Ladarô đã chết được bốn ngày rồi và không còn có thể cứu vãn được nữa, cửa mồ đã lấp lại. Thật không còn một chút hy vọng nào cả. Đồng cảm trước nỗi đau của Hai Chị Em, Đức Giêsu đã bất chấp mọi khó khăn, nguy hiểm đến tính mạng vẫn trở lại Giuđêa để an ủi Macta và Maria. Ngài cũng thổn thức và rơi lệ khi trên đường đến mộ. Và, để tôn vinh Chúa Cha, khi đứng trước mộ của Ladarô, Đức Giêsu đã ngước mắt cầu nguyện và cất tiếng cảm tạ Chúa Cha đã nhậm lời Ngài. Ladarô được sống lại, thật vui mừng và sung sướng khi Ngài phục hồi niềm hy vọng cho Macta và Maria đang trong nỗi đớn đau đầy tuyệt vọng.

Chúng ta đang sống trong một thế giới văn minh, với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, con người đã phát minh ra được nhiều điều mới lạ. Nhưng, có một điều mà con người không thể và không bao giờ làm ra được, đó là sự sống. Sự sống là một tặng phẩm mà Thiên Chúa ban cho con người, để phục vụ theo chương trình của Ngài. Do đó, không một ai, dù ở cấp bậc nào trong xã hội có quyền hủy bỏ sự sống con người. Gần đây, trên ti vi báo chí có nói tới những trường hợp mẹ giết con, ai trong chúng ta khi nghe qua đều có cùng một tâm trạng thật thương tâm đau xót, nhưng còn biết bao những trường hợp thương tâm khác nữa như vấn đề phá thai và cho phép làm chết êm dịu đang là vấn đề thật nhức nhối đau lòng. Họ cũng là con người đang cần đến chút tình thương, lòng thương hại, tiếng nói bênh vực và lòng quảng đại của con người, vì tất cả đều không thể tự bào chữa cho chính mình.

Thế giới văn minh nhưng lại có nhiều bóng tối sự chết. Chết niềm tin, chết của tình người, chết của lòng tin tưởng lẫn nhau, chết của sự hy sinh phục vụ và chết của lòng quảng đại… Mỗi người chúng ta có cảm thương và dám mang chứng từ sự sống của Thiên Chúa vào trong thế giới đang cần tình thương này không? Hay chúng ta cũng chỉ là những người bàng quang, sống chết mặc bay. Thế giới này đang cần đến những tấm lòng quảng đại, những chứng tá đích thực của Thiên Chúa hơn bao giờ hết. Hãy bắt chước và làm như Chúa Giêsu, mang sự sống, tình yêu, niềm vui, để làm sống lại những niềm tin, sự chán chường, hận thù, tính ích kỷ và tình yêu đã chết ở trong lòng con người. Chúa Giêsu đã nói: ” Ta là sự sống lại và là sự sống”. Chúa không muốn chúng ta phải chết nhưng Ngài muốn chúng ta được sống và sống một cách sung mãn, nên Ngài đã cho Ladarô được sống lại, trả lại niềm vui và hạnh phúc cho Macta và Maria. Ước gì mỗi người chúng ta biết can đảm chết đi những cái mà chúng ta chết mãi, chết mà chẳng làm sống lại được, đó là tội lỗi, hận thù, ích kỷ, đam mê, để đón lấy sự sống mới trong tình thương của Thiên Chúa.


 

MC5-A30. KHÓC

Đọc lại Phúc âm, chúng ta thấy Chúa Giêsu đã khóc cả thảy hai lần. Lần thứ nhất là khi đứng: MC5-A30

Đọc lại Phúc âm, chúng ta thấy Chúa Giêsu đã khóc cả thảy hai lần. Lần thứ nhất là khi đứng trước nấm mồ của Lagiarô. Lần thứ hai là khi đứng trước viễn ảnh của một Giêrusalem sẽ bị đổ vỡ hoang tàn. Cả hai lần, cái khóc và những giọt nước mắt của Ngài đều hợp tình và hợp lý. Còn chúng ta thì sao ? Chúng ta thường khóc khi nào ? Và những giọt nước mắc của chúng ta có thực sự hợp tình, hợp lý hay không ?
Nhìn vào đời sống, chúng ta ghi nhận được hai thái cực về vấn đề này.
Thái cực thứ nhất, đó là chúng ta hay khóc một cách quá dễ dàng, đặc biệt khóc vì những lý do không đâu.
Chẳng hạn như một người ngồi vào bàn tiệc, uống dăm ba ly, rồi bỗng nổi hứng khóc lên hu hu. Ai can cũng chẳng được. Đúng như kinh nghiệm của dân bợm nhậu :
- Một xị thì mở mang trí hóa,
  Hai xị thì giảm bớt cơn sầu,
  Ba xị thì mũi chảy đầy râu,
  Bốn xị thì ngồi đâu khóc đó…
Nhưng nói đến cái khóc là phải nói đến các bà các cô. Bởi vì đổ nước mắt vốn dĩ đã là nghề của họ. Thực vậy, tôi thấy nhiều người đã khóc một cách hết sức dễ dáng. Hình như họ luôn có sẵn nước mắt để tuôn rơi bất cứ lúc nào. Ức một tí cũng khóc. Tủi một tí cũng khóc. Ở mọi nơi và trong mọi lúc bất cứ một giao động nhỏ nhoi nào cũng đủ làm cho cặp mắt họ đỏ hoe.
Đôi khi người ta còn dùng những giọt nước mắt để “mần duyên”, để nhõng nhẽo với những người thân yêu, hầu đạt được những đòi hỏi, những nhu cầu của mình. Vì thế, không lạ gì khi thấy thiên hạ gọi các bà các cô là dân…”mít ướt”. Hay như một câu danh ngôn cũng đã bảo :
- Một giọt nước mắt đàn ông có thể pha thành mười lít nước mắt đàn bà.
Nhưng tệ hại hơn cả là những giọt nước mắt bôi bác giả hình, mà người Tây phương vốn gọi là những giọt nước mắt cá sấu.
Trong một đám tang, chúng ta thấy họ khóc nức nở thảm thiết. Tiếng khóc ấy chưa chắc đã là tiếng khóc để thương tiếc người nằm xuống, nhưng là để thương tiếc cho chính thân phận mình, bởi vì từ nay minh sẽ cô đơn, mình sẽ bơ vơ.
Ấy là tôi chưa nói tới những kẻ mượn tiếng khóc trong tang lễ để chửi xéo người này người nọ. Chính vì thế, tục ngữ Tây phương có nói :
- Không gì mau khô cho bằng những giọt nước mắt của đàn bà con gái. Khóc đấy rồi lại cười đấy.
Thái cực thứ hai, đó là có những người không còn biết khóc bao giờ nữa. Sở dĩ như vậy vì trái tim họ đã hóa ra chai đá, cõi lòng họ đã hóa ra băng giá, không còn biết xúc động trước những khổ đau và bất hạnh của người khác. Đồng thời, tâm hồn họ đã trở thành đui mù, không còn nhận ra những sai lỗi khuyết điểm của mình để sám hối ăn năn.
Bản thân họ không khóc đã đành, mà hơn thế nữa, chính họ lại trở nên nguyên nhân làm cho người khác phải khóc, phải khổ.
Tôi xin đưa ra một thí dụ. Chẳng hạn một ông chồng đam mê cờ bạc. Ai cũng thấy rằng hoàn cảnh kinh tế hiện nay đang gặp phải rất nhiều khó khăn. Làm không đủ ăn, lo không đủ mặc. Nếu không khéo thu quén và lo liệu thì dường như ngân quĩ gia đình lúc nào cũng bị thiếu hụt. Thế nhưng, ông chồng ấy vẫn cứ ung dung ném tiền vào sòng bạc. Nếu không có tiền thì vay mượn. Nếu vay mượn không được thì về nhà đánh vợ chửi con và làm đủ mọi cách để có tiền hầu tiếp tục cuộc chơi, mặc cho tiếng khóc năn nỉ của vợ con.
Khóc có thể là một thói xấu như khóc nhè. Nhưng khóc cũng có thể là một tính tốt, đem lại nhiều lợi ích cho tâm hồn. Điều quan trọng là phải biết khóc đúng nơi và đúng lúc, nhất là phải biết khóc vì những tội lỗi của mình. Bởi vì những giọt nước mắt sám hối sẽ là như một cái gì quí giá nhất đối với Thiên Chúa.
Thực vậy, những giọt nước mắt sám hối, mặc cù có làm nhòe đôi mắt, nhưng lại làm sáng tâm hồn. Và nhất là những giọt nước mắt ấy Chúa sẽ chẳng bao giờ khinh chê.

 

MC5-A31. TÌNH YÊU VÀ SỰ SỐNG - CS/44

Đức Phật Thích Ca đã nói về cuộc đời này rằng : Đời là bể khổ. Còn chúng ta, chúng ta gọi: MC5-A31

Đức Phật Thích Ca đã nói về cuộc đời này rằng : Đời là bể khổ. Còn chúng ta, chúng ta gọi trần gian này là nơi lưu đày. Thật vậy, ai trong chúng ta cũng đã từng có kinh nghiệm về đau khổ. Nỗi khổ của thân xác, nỗi khổ của tinh thần. Biết bao nỗi khổ luôn gắn liền với ta như hình với bóng. Nhiều người đã không thể chịu đựng nổi những đau khổ trong đời, nên đã tìm đến cái chết như một sự giải thoát.
Nhưng nếu cuộc đời này bi đát như thế thì Chúa Giêsu đã cho ông Lazarô sống lại để làm gì ? Chẳng  lẽ  lại nỡ tâm bắt ông kéo dài thêm một cuộc đời đầy nghiệt ngã và đắng cay này hay sao ? Và nếu Người có quyền năng cho ông Lazarô sống lại thì tại sao chính Người cũng phải chết ? Và tại sao Người phải chết mà lại dám tuyên bố : “Ai tin tôi sẽ không phải chết bao giờ”.
Vâng, Chúa Giêsu đã cho ông Lazarô sống lại. Đó là một sự thật. Rồi Chúa Giêsu đã bị giết chết, đó là một sự thật nữa. Và dù biết rằng mình sẽ bị giết chết, nhưng Chúa Giêsu vẫn tuyên bố : “Ai tin tôi sẽ không phải chết bao giời”. Và mặc dầu Chúa Giêsu tuyên bố như thế, nhưng những người tin Chúa không ai đã thoát khỏi cái chết. Như vậy lời tuyên bố của Chúa Giêsu có ý nghĩa gì và sự sống mà Chúa Giêsu nói tới là sự sống nào ? Thưa rằng Chúa Giêsu không có ý nói tới sự sống của thân xác nhưng là một sự sống khác. Việc ban lại cho ông Lazarô sự sống phần xác chỉ là hình ảnh diễn tả sự sống ấy, một sự sống cao hơn, và sự sống này sẽ tồn tại cho tới vô cùng dù thân xác người ta có chết đi.
Thánh Gioan đã viết : “Chúng ta biết rằng chúng ta đã vượt qua sự chết mà vào sự sống vì chúng ta yêu thương anh em. Ai không yêu thương thì ở lại trong sự chết”. Thì ra sự sống mà Chúa Giêsu muốn nói tới chính là tình yêu. Chúa Giêsu đã dùng cả cuộc đời trần thế của Người để xây dựng và vun đắp cho sự sống tình yêu này. Người đã chấp nhận chết để tình yêu được lên ngôi. Bởi vì, nếu lòng ta chan chứa tình yêu thương thì sự sống sẽ phong phú nơi ta, và dầu ta có chết, sự sống ấy vẫn không mất đi nhưng tồn tài cho đến đời đời.
Nếu tình yêu chính là sự sống thì bất cứ những gì đi ngược lại với tình yêu thì đều là sự chết, và là những nấm mồ chôn vùi con người. Những nấm mồ ích kỷ, những nấm mồ ganh gét hận thù, những nấm mồ vu oan giáng họa, và những nấm mồ yêu thương giả đối, bất trung…
Hiểu giá trị của sự sống là tình yêu như thế, khi nhìn vào cuộc đời ta sẽ thấy không chỉ có nấm mồ của ông Lazarô mà là vô vàn nấm mồ, trong đó có cả nấm mồ của mỗi người chúng ta. Vì vậy mà cuộc đời này bỗng trở thành một nghĩa địa bao la, dù tất cả chúng ta vẫn còn đang sống. Chúa Giêsu đang gọi chúng ta ra khỏi những nấm mồ ấy như Người đã gọi anh Lazarô : “Hãy ra khỏi đây”. Chúng ta có nghe thấy tiếng gọi của Người không ?

 

MC5-A32. SỐNG LẠI - STM/85

Chúa Giêsu đã chết và đã sống lại, chúng ta cũng sẽ phải chết và được sống lại với Chúa.: MC5-A32

Chúa Giêsu đã chết và đã sống lại, chúng ta cũng sẽ phải chết và được sống lại với Chúa. Khi nói về sự sống lại thì nhiều người anh chị em chúng ta có lẽ nghe khó tin. Mới đây tập hợp điều tra về niềm tin của những người công giáo bên Italia về sự sống đời sau sau cái chết, kết quả cho biết rằng, mặc xù đa số tin có Thiên Chúa, nhưng khi được hỏi về niềm tin của họ vào sự sống đời đời thì họ tỏ vẻ do sự. Quan tâm của họ về sự sống đời đời xem ra như càng ngày càng ít đi, dường như có hai hoàn cảnh làm cho con người dễ xa lìa Thiên Chúa, quên đi cuộc sống đời đời. Đó là khi con người giàu sang, quyền quí hoặc khi gặp cạnh cùng cực thái quá. Giàu quá dễ bị cám dỗ quyên Chúa và nghèo cùng quá cũng làm con người tuyệt vọng.
Bài Phúc Âm hôm nay ghi lại biến cố Chúa Giêsu đến với gia đình chị em Martha, Maria và Lazarô để mặc khải cho họ sự thật căn bản về sự sống đời đời : “Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin Ta thì dù có chết cũng sẽ được sống. Ai sống mà tin Ta sẽ không chết bao giờ”.
Vào hoàn cảnh mà Chúa Giêsu chọn để mạc khải sự thật này cho chị em Martha, Maria là cái chết của Lazarô người được Chúa thương. Đây có thể nói là một biến cố không thuận lợi chút nào, Lazarô đã bị đau cần Chúa đến nâng đỡ chữa chị thì Chúa không đến, xem ra như lơ là hai chị em đã nhắn tin cho Chúa Giêsu biết hoàn cảnh đau yếu của Lazarô, nhưng Chúa vẫn trì hoãn cảnh đau yếu của Lazarô, nhưng Chúa vẫn trì hoãn không đáp lại. Một thử thách cho người bạn của Chúa, chờ đợi Chúa mau mắn đáp lại và ỷ lại vào tình bạn với Ngài, nhưng Chúa đã không đáp lại như lòng họ mong ước : “Nếu thầy có mặt ở đây thì em con không chết”.
Rồi sau khi Lazarô chết rồi, gia đình Martha và Maria đang sống trong sự tang chế đau buồn thì Chúa lại đến, và thay vì nói lời an ủi hay là một điều gì liền ngay theo như mong ước thường tình của con người trong hoàn cảnh tương tự như vậy, thì Chúa Giêsu lại nói điều mà Martha và Maria cả hai người đều không nghĩ đến, đó là Chúa mạc khải sự thật và sự sống đời đời, kêu gọi hãy tin vào Chúa, tin vào sự thật Chúa mạc khải : “Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin Ta sẽ không chết bao giờ”.
Có thể nói là những lời nói chói tai, không hợp thời, lạc đề xem từ phía con người đang phải chịu thử thách, đang gặp phải những đau thương : “Nếu thầy có mặt thì em con không chết”. Sự đáp trả của hai chị em Martha, Maria và của hai người Do Thái đến chia buồn lúc đầu chưa được trọn hảo. Martha nghĩ đến sự sống lại ngày sau hết, còn hai người Do Thái có mặt ở đó quan sát xem Chúa Giêsu có làm gì để thay đổi hoàn cảnh hay không ? Martha và Maria ra khỏi hoành cảnh cụ thể của mình để đến với Chúa, để gặp Chúa ở nơi mà Chúa muốn ở ngoài hoàn cảnh tang thương, tang chế của họ vào lúc đó để được Chúa hoán cải, để tuyên xưng : “Lạy Thầy con tin”.
Chúng ta đã biết những gì xảy ra sau lời tuyên xưng đức tin đầy khiêm tốn và can đảm của hai chị em Martha và Maria. Sống mà không có niềm tin thì kể như là đã chết. Trong biến cố mà Phúc âm thánh Gioan ghi lại cho chúng ta hôm nay, chúng ta thấy Chúa Giêsu làm phép lạ không phải chỉ cho Lazarô được sống lại mà thôi, mà cho ba người được sống lại, đó là Martha, Maira và Lazarô.
Sống lại đầu tiên đó là sống lại với niềm tin vào Chúa, có thể nhiều người trong chúng ta cũng đã chết trong niềm tin vào Chúa và không còn tin Chúa nữa. Chúng ta cần Chúa cho chúng ta được sống lại, sống lại trong niềm tin vào Ngài như Martha, Maria : “Lạy Thầy, con tin”. Nhờ lời tuyên xưng của Martha và Maria mà tiếp sau đó Chúa Giêsu cho Lazarô trời lại cuộc sống. Tất cả qui hướng chúng ta về quan điểm cuối cùng, đó là Chúa Giêsu làm Con Thiên Chúa, là Thiên Chúa, Ngài là Chúa, là chủ sự sống và có quyền năng trao ban sự sống cho con người.
Vì biến cố phép lạ Lazarô chuẩn bị cho biến cố lạ lùng nhất sắp diễn ra là biến cố chính Chúa chết và sống lại mà chúng ta sẽ cử hành trong Tuần Thánh sắp đến. Chúa chết và sống lại để hoàn tất công trình cứu chuộc con người, để ban cho chúng ta được sống và sống lại với Chúa : “Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin Ta thì dù có chết cũng sẽ được sống, và ai sống và tin vào Ta sẽ không chết bao giời. Con có tin điều đó không ?”. Chúa Giêsu sẽ hỏi chúng ta : phần con, con có tin điều đó hay không ?

 

MC5-A33. CHÚA KHÓC - CSTM/84

Chúa đã khóc thương Lagiarô mà người Do thái coi đó là dấu chỉ Chúa yêu thương ông cách: MC5-A33

Chúa đã khóc thương Lagiarô mà người Do thái coi đó là dấu chỉ Chúa yêu thương ông cách riêng. Hơn nữa, chúng ta có thể nói rằng : Chúa khóc vì thấy thần chết đang khống chế loài người. Chúa khóc vì chính Lagiarô sẽ là dịp cho người Do thái ghen tức vấp phạm. Chúa khóc vì sự ngoan cố, cứng lòng, cố chấp của nhóm Pharisêu phủ nhận uy quyền Thiên Chúa của Ngài. Chúa khóc vì lòng tin của chị em Marta chưa được hoàn hảo. Đó là những lý do đã khiến Chúa khóc.
Còn chúng ta có khóc không? Và chúng ta thường khóc vì lý do gì? Sinh ra làm người, ai cũng khóc, và suốt dọc cuộc đời, có biết bao nhiêu nước mắt đầy vơi. Chính vì thế mà Kinh thánh nói thế gian là thung lũng nước mắt. Sở dĩ người ta khóc vì người ta gặp phải đau khổ và cơ cực. Đau khổ của con người thường được biểu lộ qua tiếng khóc và những dòng nước mắt. Vì vậy, khóc là tiếng nói của con người trong đau thương. Có bao nhiêu đau thương thì có bấy nhiêu tiếng khóc : tiếng khóc lo âu, tiếng khóc nghèo đói, tiếng khóc phụ bạc, tiếng khóc bất hiếu vô ơn, tiếng khóc cô đơn lạc lõng trong cuộc sống, tiếng khóc mất mát, tiếng khóc chia ly, tiếng khóc lặng lẽ của cõi lòng chán chường, tiếng khóc được che kín bằng tiếng cười ở giữa đám đông… Tiếng khóc có mặt ở khắp nơi và có nhiều ý nghĩa khác nhau.
Chẳng hạn : Khi một người thân yêu chết, chúng ta khóc thảm thiết hay ngậm ngùi vì thương tiếc. Và cũng có thể, trước cái chết của người thân, chúng ta khóc, chưa hẳn vì thương tiếc cố nhân. Nhưng có khi vì thương chính mình, là kẻ còn lại, cô đơn, bơ vơ, không còn chỗ nương tựa, nên khóc để nỗi lòng nhẹ vơi. Nhưng cũng có những người chưa biết khóc đúng lúc, đúng việc : Có một số người khóc vì mất một số của cải, nhưng lại chẳng khóc khi mất Chúa. Có người khóc vì bị ngăn cản một ước mơ chính đáng, nhưng lại chẳng khóc khi bỏ lỡ một giấc mơ chính đáng đã đi qua mà không thực hiện. Cũng có những người, khóc đi khóc lại mà không sinh ích lợi gì. Chính vì thế, có người khóc mà người khác lại nói : Nước mắt của họ là nước mắt cá sấu. Trái lại, có những người khóc mà nước mắt của họ rất có giá trị. Đó là nước mắt của những người mẹ. Chẳng hạn : Những giọt nước mắt của thánh Mônica đã tuôn rơi để cầu nguyện cho sự hoán cải của người con trai là thánh Âu tinh. Nhưng muốn khóc gì thì khóc, điều quan trọng nhất là chúng ta phải khóc vì tội lỗi đời mình. Đó là những giọt nước mắt quí, rất có duyên, rất hữu tình và hợp lý. Những giọt nước mắt làm nhòe đôi mắt, nhưng làm sáng tâm hồn. Đó là những giọt nước mắt ăn năn được tha thứ, như nước mắt của ông Phêrô, của Marđalêna. Phêrô không nói gì với Chúa khi Chúa nhìn ông, nhưng chỉ khóc. Marđalêna không nói gì, chỉ đổ nước mắt trên chân Chúa. Các ngài chẳng nói, nhưng nước mắt đã nói tất cả. Đó là những giọt nước mắt sám hối. Những giọt nước mắt khi biết mình lầm lỗi, bao giờ cũng có giá trị cứu rỗi.
Chúng ta có thể nói thêm rằng : lầm lỗi và yếu đuối gây thương tích cho hạnh phúc. Thương tích nơi hạnh phúc chỉ được xoa dịu và tái sinh bằng nước mắt ăn năn. Vì thế, nếu chúng ta không biết khóc, không biết xót xa, thì chúng ta chẳng bao giờ lấy lại được hạnh phúc chúng ta đã đánh mất.
Trong một quyển sách tuyển tập các ngụ ngôn, tác giả người Ý, ông Giacob Basavanti, kể một câu chuyện như sau : Một tướng cướp khét tiếng kia, sau một thời gian tung hoành ngang dọc muốn trút bỏ gánh nặng tội lỗi đang đè nặng trên lương tâm, anh đã tìm đến xưng tội với một vị linh mục. Vị linh mục giải tội cho anh, và chỉ cho anh việc đền tội thật khác thường. Là hãy đi chôn cất tất cả những người chết mà anh gặp thấy, đồng thời hãy khóc lóc như thể đó chính là những người thân yêu của anh. Và để làm bằng chứng, vị linh mục trao cho anh một cái chai nhỏ để hứng nước mắt của anh. Anh ra về và nghe bất cứ nơi nào có đám tang, anh cũng tìm đến, nhưng mắt anh luôn khô ráo, không thể nhỏ được một giọt nước mắt nào. Cho đến một hôm, anh tình cờ đứng trước một thập giá, trên đó Chúa Giêsu chịu đóng đinh đang khóc, anh liền than thở với Chúa về nỗi khổ đau là anh không thể nào khóc được. Thật là bất ngờ anh thấy từ khóe mắt Chúa có những giọt nước mắt long lanh chảy xuống, chính lúc đó, tự nhiên nước mắt anh trào ra và anh đong đầy cái chai mà vị linh mục đã trao cho anh, anh liền hiểu được thế nào là sám hối và từ đó anh sống một cuộc đời rất lương thiện. Bên kia mọi tội lỗi, tình yêu thương và lòng tha thứ của Chúa vẫn khỏa lấp được sự yếu hèn của con người. Chỉ có tình yêu thương và lòng tha thứ của Chúa mới có thể khơi dậy nơi lòng con người những giọt nước mắt ăn năn sám hối đích thực. Xin Chúa cho tất cả chúng ta đều biết khóc về tội lỗi đời mình để đón nhận ơn tha thứ và tình thương của Chúa trong mùa chay này.

 

MC5-A34. CHÚA LÀ SỰ SỐNG LẠI - Lm. VIKINI

Bao nhiêu lần chúng ta rất đau khổ chứng kiến cái chết của những người thân yêu. Thế giới: MC5-A34

Bao nhiêu lần chúng ta rất đau khổ chứng kiến cái chết của những người thân yêu. Thế giới này đã chứng kiến hàng tỉ người chết, người ta tính từ khi có loài người tới giờ có tới gần 100 tỉ người chết. Gia đình hai chị em Matta và Maria chứng kiến cái chết của đứa em ruột rất yêu dấu. Trước nỗi khổ cực của những người thân mến, Đức Giêsu cũng khóc. Cái khóc của Người không bất lực như ta, Người đã cho Ladarô sống lại, dù đã chôn bốn ngày trong mộ hôi thối rồi.
Trước phép lạ chưa từng thấy trong lịch sử loài người, cả thủ đô Giêrusalem reo mừng hân hoan. Họ tung hô đón rước Người vào thành làm vua, kẻ phất cành lá vạn tuế, kẻ trải áo làm thảm cho Người đi qua. Đức Giêsu không làm vua, làm chúa chính trị để cai trị dân. Nhưng phép lạ cho Ladarô chết sống lại chứng tỏ Đức Giêsu nắm quyền làm chủ sự sống và sự chết của muôn loài. Đó là quyền của Thiên Chúa, không ai có quyền đó.
Các nhà khoa học đã tính được hơn một triệu loài vật sống trên thế giới này, mỗi loài có hàng tỉ con, mỗi con lại có hàng tỉ tỉ tế bào sống. Mỗi người chúng ta được xây bằng 30.000 tỉ tế bào sống. Ta thử nhân sự sống của mỗi tế bào với hàng tỉ người với hàng tỉ tỉ loài vật, ta sẽ không thể tưởng tượng được sự sống đó vô cùng lạ lùng như thế nào. Đấng ban phát sự sống đó vô cùng, vô cùng lạ lùng như thế nào nữa !
Nhìn thấy rõ muôn hình vạn trạng của sự sống cực kỳ linh diệu, thế mà vẫn còn nhiều người không tin có Đấng ban sự sống, không tin có Thiên Chúa hằng sống. Họ giống như những chức trách Do thái thấy Ladarô chết chôn trong mồ bốn ngày được Chúa cho sống lại, thì họ càng thù ghét Người. Họ tìm cách giết Người và giết cả Ladarô. Tuy Người cho họ giết thân xác tạm thời này trong ba ngày, rồi Người lại sống lại vinh quang muôn đời, vì Người là sự sống lại và là sự sống, như Người đã nói : “Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin Ta, dù đã chết, cũng sẽ được sống”. Cho nên nhiều lần Người trấn an chúng ta : “Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng hơn, anh em hãy sợ Đấng có thể giết cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục” (Mt. 10, 28).
Giáo Hội Công Giáo ngày nay đang tranh đấu cứu sống cho hàng triệu trẻ em vô tội bị giết. Trong thế chiến thứ hai, nhà bác học vĩ đại Einstein đã ca tụng Giáo hội Công Giáo : "Hội Thánh Công Giáo là tiếng nói độc nhất chống lại cuộc tàn sát của Hitler trong thế chiến thứ hai. Tôi tỏ lòng thán phục và biết ơn sâu xa Hội thánh này”. Chắc chắn trong thiên niên kỷ 3000, nhân loại cũng sẽ biết ơn Hội thánh như Einstein vậy.
Sự sống quý báu nhất trên đời, sự sống lại đời đời còn quý giá vô cùng hơn nữa vì ta không còn chết nữa.
Lạy Chúa, xin cho muôn người được sống và được sống dồi dào trong vinh quang nước Chúa, như Chúa đã hứa : “Ta đến cho thế gian được sống và được sống dồi dào”.

 

MC5-A35. THEO CHÚA SẼ TỚI ĐƯỢC SỰ SỐNG - Lm. Trọng Hương

"Ta là sự sống lại và là sự sống"
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
 

Chúng ta đang ngày càng đi sâu vào Mùa Chay. Trong thời gian này, nhiều tín hữu đã sám: MC5-A35

Chúng ta đang ngày càng đi sâu vào Mùa Chay. Trong thời gian này, nhiều tín hữu đã sám hối trở lại cùng Chúa, nhiều dự tòng đang chuẩn bị đón nhận cuộc sống mới. Chúng ta có thực sự tin rằng Đức Giêsu Kitô đã chết và sống lại vì chúng ta không?
Hy vọng rằng qua Thánh lễ này Ngài sẽ ban thêm đức tin cho chúng ta, một đức tin đủ mạnh để chúng ta can đảm đối diện với những khó khăn trong cuộc sống này và dẫn chúng ta đến cõi sống muôn đời.
II. GỢI Ý SÁM HỐI
- Chúng ta là những người tội lỗi vì đã nhiều lần hoài nghi tình thương của Chúa khi chúng ta gặp những khó khăn trong cuộc sống.
- Chúng ta là những người tội lỗi vì đã coi trọng sự sống phần xác hơn sự sống linh hồn.
III. LỜI CHÚA
1. Bài đọc Cựu Ước: Êd 37,12-14
- Dân Israel đang bị lưu đày bên Babylon, tâm trạng chán chường tuyệt vọng. Họ nói "Xương chúng tôi đã khô. Hy vọng tiêu ma". Nói "xương" nhưng phải hiểu là toàn thể con người. Cho nên câu này có 2 nghĩa: a/ Họ bị chết về tinh thần: hoàn toàn tuyệt vọng rồi. b/ Thân xác của họ cũng như chết luôn, vì sống nô lệ thì cũng như chết mà thôi.
- Thiên Chúa bảo ngôn sứ Êdêkien an ủi họ: "Ta sẽ đem các người lên khỏi mồ, hỡi dân Ta. Ta sẽ dẫn các ngươi về lại thửa đất của Israel... Ta sẽ ban Thần khí của Ta xuống trong các ngươi và các ngươi sẽ được sống". Câu này là một lời tiên tri hứa ban sự phục sinh và cũng mang 2 nghĩa: a/ Phục sinh tinh thần: họ sẽ được hồi hương; b/ Phục sinh thể xác.
- Lịch sử sau này cho thấy Thiên Chúa đã thực hiện ý nghĩa thứ nhất: họ đã được hồi hương vào năm 539. Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy Đức Giêsu sẽ thực hiện luôn ý nghĩa thứ hai.
2. Đáp ca: Tv 129
Trong cơn gian nan, tác giả Thánh vịnh tưởng như mình bị rơi xuống một vực thẳm tối tăm. Tác giả còn tưởng mình như đã chết. Nhưng tác giả tin tưởng Thiên Chúa sẽ kéo mình lên và ban lại cho mình sự sống.
3. Bài Tin Mừng: Ga 11,1-45
- Đức Giêsu thực hiện lời hứa phục sinh theo nghĩa thứ hai: phục sinh thể xác.
- Việc cứu sống Ladarô là sự phục sinh thể xác cho chính Ladarô, và còn báo trước sự phục sinh thể xác của Đức Giêsu và của mọi người.
- Hai bài đọc Cựu Ước và Tân Ước cho thấy: Thiên Chúa "là sự sống lại và là sự sống" (câu 25a); và "ai tin vào Ngài thì dù đã chết cũng sẽ được sống" (câu 25b).
4. Bài Thánh Thư: Rm 8,8-11
Thánh Phaolô triển khai giáo lý về sự sống:
- "Anh em không bị tính xác thịt chi phối, mà được Thần khí chi phối" (c 9): con người có hai sự sống: sự sống theo xác thịt và sự sống theo Thần khí. Sự sống theo Thần khí quan trọng hơn.
- "Nếu Đức Kitô ở trong anh em thì dù thân xác anh em có phải chết vì tội đã phạm, Thần khí cũng ban cho anh em được sống" (c 10)
- "Đấng đã làm cho Đức Kitô sống lại từ cõi chết, cũng sẽ dùng Thần khí của Ngài đang ngự trong anh em mà làm cho thân xác anh em được sự sống mới" (c 11): sự sống thần khí có thể chết vì tội, nhưng có thể sống lại nhờ Thiên Chúa.
IV. GỢI Ý GIẢNG
1. Sự sống của thể xác:
- Hầu hết những quan tâm của chúng ta đều là lo cho cuộc sống thể xác: ăn uống, tiền bạc, thuốc men, sung sướng. Và rất nhiều tội ta phạm cũng vì quá lo cho cuộc sống thể xác này.
- Thánh Phaolô nói sự sống thần khí quan trọng hơn sự sống thể xác; và chúng ta vẫn tuyên xưng "Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại". Nhưng hình như ta không sống đúng theo niềm tin ấy. Nếu ta thực sự tin như thế thì:
Ta đâu có quá sợ chết
Ta đâu có quá bám víu vào những thứ nuôi cuộc sống thân xác này
- Đức Giêsu nói "Ai dám liều bỏ sự sống (thể xác) thì sẽ được sự sống đời đời".
2. Sự sống thần linh:
- Được ban ngày ta lãnh nhận bí tích Rửa tội.
- Được lớn dần lên nhờ cầu nguyện, nhờ Thánh Thể, nhờ kết hợp với Chúa hàng ngày.
- Ta có lo bồi dưỡng nó không?
3. Lời cầu nguyện của Đức Giêsu trước mồ Ladarô đáng ta bắt chước:
- Thông thường, thứ tự của lời ta cầu xin là: a/ Trình bày nhu cầu của mình; b/ Xin Chúa giúp; c/ Nếu được Chúa ban thì ta cám ơn. Thứ tự lời Đức Giêsu cầu nguyện ngược hẳn lại: a/ Tạ ơn "Lạy Cha, con cảm tạ Cha" (c 41a); b/ Không cần trình bày yêu cầu (vì hiểu ngầm Chúa Cha đã biết); c/ Tin chắc lời xin của mình đã được nhậm lời "vì cha đã nhậm lời con" (c 41b).
- Tại sao? Đức Giêsu và Chúa Cha kết hợp mật thiết nên một: Đức Giêsu muốn cũng là Chúa Cha muốn, người xin cũng là người ban, nên chắc chắn lời xin sẽ được thực hiện.
- Chúng ta có được như thế không? Được, nếu như ta cũng kết hợp mật thiết với Đức Giêsu và qua Ngài với Chúa Cha, và do đó ta chỉ muốn điều Chúa muốn.
* Mùa Chay chuẩn bị chúng ta chia sẻ cuộc phục sinh của Đức Giêsu. Cuộc sống thần linh của chúng ta có thể đã chết hay chưa sống dồi dào. Ta hãy kết hợp với Đức Giêsu mà xin được phục sinh. Và hãy tin chắc ta sẽ được, miễn là ta thực sự muốn mình phục sinh.
4. Một người bạn đặc biệt
Đức Giêsu là bạn thân thiết của Ladarô. Điều này hiển nhiên vì chính Ngài đã khóc trước mồ Ladarô, và dân chúng hôm đó đã xác nhận như thế ("Kìa xem, ông ta thương Ladarô biết mấy").
Nhưng dù vậy, Ngài đã không làm gì để ngăn chận Ladarô khỏi chết: "Sau khi được tin ông Ladarô lâm bệnh, Ngài còn lưu lại thêm hai ngày tại nơi đang ở". Thái độ của Ngài đã khiến Matta phiền trách: "Nếu có Thầy ở đây thì em con đã không chết". Chúng ta cũng giống Matta: khi gặp gian nan, thử thách, khổ đau, chúng ta bị cám dỗ phiền trách Chúa, thậm chí nói phạm tới Ngài.
Tuy nhiên, không ngăn chận Ladarô khỏi chết không có nghĩa là để cho ông đi vào ngõ cụt, không có nghĩa là không cứu sống ông. Bài đọc I hôm nay cho thấy Thiên Chúa cũng hành xử như thế đối với dân Israel: Ngài không ngăn chận những diễn biến tất nhiên phải đến theo lôgic lịch sử cứu độ: họ đã bất trung, đã băng hoại nên đất nước họ sụp đổ, họ phải đi lưu đày. Thế nhưng con đường đó không phải là con đường dẫn đến ngõ cụt mà là con đường cứu độ: cuối cùng thì Israel đã được hồi hương và Ladarô được sống lại. Khoảng thời gian "chết" của Israel và của Ladarô chính là thời gian người ta học được rất nhiều bài học quý giá. Tác giả Tv 116 đã hiểu thế nên đã hát lên: "Quý thay trước mắt Yavê, cái chết của những ai thành tín với Ngài" (Tv 116,15).
5. Chết và sống
Chết và sống liên đới chặt chẽ với nhau: Đức Giêsu đã làm cho Ladarô sống lại. Nhưng chính sự sống lại của ông lại là cớ khiến Đức Giêsu phải chết (x. Ga 11,47-50: sau chuyện này, Thượng Hội Đồng Do Thái quyết định giết Đức Giêsu).
Chúa chết để chúng ta được sống.
Phần tội lỗi trong con người chúng ta phải chết để cho phần thần linh sống mạnh.
"Ai muốn cứu mạng sống mình (mạng sống thể xác) thì sẽ mất mạng sống (mạng sống thần linh); còn ai liều mất mạng sống mình (mạng sống thể xác) vì Thầy thì sẽ tìm được mạng sống (mạng sống thần linh)" (Mt 16,25).
6. Giêsu là ai?
Là một nhà diễn thuyết hấp dẫn: "Thiên hạ sửng sốt về lời giảng dạy của Ngài, vì Ngài giảng dạy như một đấng có thẩm quyền, chứ không như các kinh sư" (Mc 1,21).
Là một vĩ nhân đầy quyền phép: "Mọi người đều kinh ngạc đến nỗi họ bàn tán với nhau: Thế nghĩa là gì?.. Ông ấy ra lệnh cho cả các thần ô uế và chúng phải tuân lệnh" (Mc 1,27).
Nhưng không phải chỉ có thế, bài Tin Mừng này cho ta biết thêm Ngài chính là sự sống: "Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin Ta thì dù có chết cũng sẽ được sống. Ai sống và tin Ta thì sẽ không phải chết bao giờ" (câu 25-26). Sau khi tuyên bố như thế, Đức Giêsu hỏi Matta: "Con có tin như thế không?" (câu 27). Đó cũng chính là câu Ngài hỏi chúng ta.
7. Tôi tin vào sự chết
Tôi tin vào sự chết
Tôi tin rằng sự chết là một phần của sự sống
Tôi tin rằng chúng ta được sinh ra để chết, chết để có thể sống trọn vẹn hơn.
Tôi tin rằng chúng ta được sinh ra để chết, mỗi ngày chết một phần: một phần ích kỷ, một phần tự phụ, một phần tội lỗi.
Tôi tin rằng mỗi khi chúng ta bước từ giai đoạn này sang giai đoạn khác của cuộc đời, thì đều có một cái gì đó chết đi và một cái gì đó mới sinh ra.
Tôi tin rằng chúng ta nếm mùi sự chết trong những lúc cô đơn, phiền muộn, thất vọng, thất bại, bị ruồng bỏ.
Tôi tin rằng mỗi ngày chính chúng ta tạo ra cái chết cho mình bằng cung cách chúng ta sống.
Với đức tin của người tín hữu, tôi tin rằng cái chết không dập tắt được ánh sáng, mà chỉ là tắt đèn đi ngủ (Anon, "I believe in death")
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
CT: Anh chị em thân mến
Đức Giêsu là sự sống lại và là sự sống. Ai tin Người thì dù đã chết cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Người thì sẽ không bao giờ phải chết. Tin tưởng vào mầu nhiệm kẻ chết sống lại, chúng ta cùng dâng lời cầu xin.
1. Đức Kitô đã hiến mình trên thập giá / lấy máu cùng nước từ cạnh sườn mà thanh tẩy và thánh hoá Hội Thánh / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho Hội Thánh không ngừng canh tân / và mãi mãi tinh tuyền / nhờ lòng thống hối ăn năn.
2. Chết chóc gây ra biết bao cảnh chia ly làm tan nát cõi lòng / đem đến vô vàn đau khổ cho những người còn đang sống / lắm lúc còn làm cho đức tin của người kitô hữu bị lung lay dữ dội / Chúng ta hiệp lời cầu xin / cho những anh chị em đang gặp tang tóc buồn phiền / biết luôn vững tin vào tình thương và sự quan phòng của Chúa.
3. Đối với người kitô hữu / chết không phải là hết mà là bước sang một thế giới khác / và cuộc sống trần gian hôm nay quyết định số phận mai ngày của những ai tin Chúa / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các tín hữu / biết tích cực chuẩn bị cho cuộc sống đời sau / bằng một nếp sống thắm đượm tình bác ái yêu thương.
4. "Vui với người vui và khóc với người khóc" / phải là những việc làm thường xuyên của người kitô hữu / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết cố gắng sống theo lời dạy của vị tông đồ dân ngoại.
CT: Lạy Chúa Giêsu, vì yêu thương nhân loại, Chúa đã hiến thân chịu khổ hình thập giá. Xin ban ơn trợ giúp để chúng con biết noi gương Chúa mà hết lòng yêu thương anh chị em chúng con. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.
VI. TRONG THÁNH LỄ
- Trước kinh Lạy Cha: Có người cha nào mà không thương con mình? Huống chi Thiên Chúa, người Cha vừa nhân lành vừa quyền năng của chúng ta. Chúng ta hãy hết lòng tin tưởng dâng lên Ngài những lời nguyện xin của chúng ta.
VII. GIẢI TÁN
Đức Giêsu là sự sống lại và là sự sống. Chúc anh chị em ra về bình an trong niềm tin tuyệt vời ấy.

 

MC5-A36. CHÚNG TA KHÔNG CÔ ĐỘC

Mọi người cần có bạn – ngay cả Chúa Giêsu. Ở làng Bêtania, Chúa Giêsu có ba người bạn: MC5-A36

Mọi người cần có bạn – ngay cả Chúa Giêsu. Ở làng Bêtania, Chúa Giêsu có ba người bạn rất đặc biệt – hai chị em Matta và Maria, và người em là Lagiarô. Nhà của họ thường xuyên mở cửa đón tiếp Người trong khi nhiều nhà khác lại đóng cửa chối từ Người.
Khi Lagiarô bị bệnh, tự nhiên người đầu tiên mà hai chị em chạy đến để xin giúp đỡ là Chúa Giêsu. Họ đã gởi một lời nhắn khẩn cấp tới Người, được diễn tả bằng một lời đơn giản nhưng cân nhắc để đánh động lòng Người : "Lạy Thầy, người Thầy yêu đang đau nặng." Hy vọng của họ là Người sẽ bỏ mọi việc để tới và chữa bệnh cho Lagiarô.
Nhưng rất ngạc nhiên là Chúa Giêsu đã không làm như thế để đến ngay với người bạn đang hấp hối của Người. Người vẫn ở lại nơi đó trong hai ngày. Chúng ta không biết tại sao. Sự trì hoãn không đến của Người ắt hẳn làm cho Matta và Maria đau lòng lắm. Ngay trước mắt ho,ỉ sự sống của cậu em đang bị suy sụp. Và người mà họ tin rằng có thể cứu vãn tình trạng này lúc đó lại không có mặt.
Lagiarô đã chết thật. Tin Mừng cho thấy sự đau khổ của Matta và Maria do cái chết của cậu. Trong hai người, Maria dường như bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Thậm chí cô không rời khỏi nhà. Lúc này, chung quanh hai chị em là những người đến để cảm thông, trong khi người mà họ cần hiện diện bên họ nhất là Chúa Giêsu lại vắng mặt. Nhưng cuối cùng thì Người đã đến, họ nghĩ rằng chắc hẳn Người có thể ngăn chặn được cái chết này : "Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết."
Kinh nghiệm đau thương của Matta và Maria cũng là kinh nghiệm của nhiều người trong chúng ta. Và khi điều xấu xảy đến với chúng ta hoặc với người thân yêu của chúng ta, chúng ta không thể không nghĩ rằng nếu Thiên Chúa thật sự quan tâm đến chúng ta, nếu Người thật sự yêu chúng ta, thì Người đã không cho phép những điều đó xảy ra. Chúng ta cảm thấy bị Thiên Chúa bỏ rơi và Người để chúng ta một mình.
Vậy chúng ta có thể làm được gì ? Chúng ta phải cố gắng bắt chước Matta. Câu chuyện trình bày về cô như kiểu mẫu của đức tin. Trong giờ phút thương đau của cô, cô chạy đến với Thiên Chúa và trao tất cả sự đau buồn của cô cho Người. Và khi Người thách thức niềm tin của cô, cô đã nói lời tuyên xưng đức tin tuyệt vời : "Con vẫn tin Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian."
Vậy điều mà chúng ta phải làm là hướng về Thiên Chúa. Chúng ta phải tiếp tục cầu nguyện, tiếp tục tin vào Thiên Chúa. Cần thiết để cứu một người khỏi chết không do bởi một cuộc sống tốt đẹp, cũng không do sự tương quan mật thiết với Thiên Chúa. Trong khi đối diện với nỗi đau của chúng ta, điều duy nhất chúng ta có thể làm là phó thác trọn vẹn cho Thiên Chúa và để Người chăm sóc chúng ta.
Khi chúng ta đau khổ thì dường như Thiên Chúa vắng mặt. Nhưng khi chúng ta cầu nguyện, chúng ta ý thức rằng Thiên Chúa không vắng mặt, Người hiện diện trong sự đau khổ của chúng ta. Thiên Chúa ở với chúng ta như niềm hy vọng của chúng ta trong nghịch cảnh và như sức mạnh của chúng ta trong sự yếu đuối.
Câu chuyện cho thấy Chúa Giêsu như người bạn trung thành, thậm chí ngay trong cái chết chúng ta vẫn có thể được Người thương giúp. Người đã không để Matta và Maria đau khổ một mình, nhưng Người đã tới với họ khi họ đau khổ ở mức tột độ. Người chia sẻ nỗi buồn của họ và cho họ niềm hy vọng khi loan báo một đời sống vĩnh cửu dành cho những ai tin vào Người.
Người cũng không để chúng ta một mình. Người bao bọc chúng ta với tình yêu và sự nâng đỡ của cộng đoàn. Và Người mời gọi chúng ta tin nơi Người : "Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Ta sẽ không bao giờ phải chết đời đời." Tin không có nghĩa là chúng ta phải biết tất cả mọi lời giải đáp.
Chúa Giêsu hiểu nỗi thống khổ bởi cái chết gây ra và chính Người kinh nghiệm điều này. Người đã khuất phục cái chết, không phải bằng cách tránh nó nhưng bằng cách đón nhận và vượt qua. Vì vậy Người trở nên người dẫn đường và ánh sáng hy vọng cho chúng ta.

 

MC5-A37. PHÉP CHỮA BỆNH CỦA NƯỚC MẮT

Một trong những điều làm chúng ta ngạc nhiên nhất trong câu chuyện Ladarô sống lại là việc: MC5-A37

Một trong những điều làm chúng ta ngạc nhiên nhất trong câu chuyện Ladarô sống lại là việc Chúa Giêsu xúc động và bật khóc. Tại sao lại xảy ra như vậy ?
Có lẽ cảnh tượng một người đàn ông khóc giữa công chúng làm chúng ta ngạc nhiên. Nói chung, cánh đàn ông không có tài biểu lộ cảm xúc. Đã là đàn ông thì phải chịu được các cú va chạm. Có người dựng lên một bức tường để che giấu những gì là yếu ớt nơi họ, những tình cảm sâu xa nhất của họ về cuộc đời và về người khác. Những người thuộc phái khắc kỷ thời xưa lấy làm hãnh diện về khả năng che giấu tình cảm của mình. Họ không để lộ cho người khác thấy sự nóng giận, buồn bực và ngay cả niềm vui của họ.
Nền văn hoá của chúng ta không mặn mòi với nước mắt. Người ta có khuynh hướng xem nước mắt là dấu hiệu của sự yếu đuối. Nhưng thử hỏi có cái gì tự nhiên, đúng đắn và lành mạnh cho bằng nước mắt khi chúng ta mất đi một người thân yêu ? Bên cạnh đó, nước mắt còn có tác dụng chữa bệnh rất hiệu quả miễn là phải thật lòng, chứ không chỉ là tình cảm uỷ mị mà thôi.
Chúa Giêsu đã không che giấu tình cảm của mình. Tin Mừng cho thấy rõ điều đó. Người động lòng thương xót trước những cảnh ngộ bất hạnh của con người. Người khóc thương thành Giêrusalem vì thấy nó đang đi dần đến chỗ huỷ diệt. Và Người khóc trên đường đến mộ Ladarô.
Có những nhà lãnh đạo biểu lộ nỗi đau buồn trước công chúng mà không hề bị giảm thế giá trong con mắt dân chúng, ngược lại là đằng khác. Chính vì ông có thể bị tổn thương nên ông lại càng thêm thu hút. Đức Giêsu đúng là như thế đó. Chúa Giêsu hết lòng thông cảm với Matta và Maria, Người liên đới với họ. Sự kiện Người xúc động nói lên điều đó còn mạnh mẽ hơn cả ngàn lời nói.
Câu chuyện này cũng cho thấy nỗi thống khổ của Matta và Maria trước cái chết của em mình. Họ không ngại bày tỏ nỗi đau khổ của mình, mặc dù mỗi người mỗi cách. Dẫu sao, Matta vẫn tiếp tục bổn phận của mình, tự ép mình tiếp tục sống. Còn Maria thì thu mình vào thế giới của cô. Chúng ta phải giúp cho tiến trình ấy ; phải cố gắng tự giúp mình ; phải để người khác giúp mình.
Đau khổ là một trong những cảm xúc mạnh nhất mà chúng ta đã có thể cảm nghiệm. Có người lấy làm ngượng ngùng khi bày tỏ nỗi đau trước đám đông. Vì tin rằng họ phải là người đứng vững trước mọi nghịch cảnh, nên họ đè nén nỗi đau. Nói chung ngày nay người ta công nhận rằng đè nén đau buồn không chỉ là điều xấu mà còn nguy hại nữa, và có lẽ nó sẽ dẫn đến những vấn đề nghiêm trọng về tình cảm sau này.
Cách ứng phó với đau khổ không phải là chạy trốn nó, hay làm bộ như không có nó, nhưng là đối diện với nó và vượt qua đau khổ với lòng chân thành và yêu thương hết sức có thể. Thật là đắng cay khi để tuôn rơi nước mắt, nhưng còn cay đắng hơn khi nước mắt không thể tuôn rơi !
Đức Giêsu đồng cảm với Matta và Maria. Người chia sẻ niềm đau với họ. Đồng thời Người đòi họ phải tin : “Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin Ta, dầu có chết cũng sẽ được sống. Và kẻ nào sống mà tin Ta, sẽ không chết bao giờ. Con có tin điều đó không ?” Và Matta đáp lại : “Thưa Thầy : vâng, con tin Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống đã đến trong thế gian.”
Đức tin là đồng minh quan trọng khi phải đương đầu với cái chết. Tin không có nghĩa là chúng ta có mọi câu trả lời. Đức tin không miễn trừ cho chúng ta khỏi chịu những đau khổ đắng cay. Tuy nhiên đức tin thêm vào cho đau khổ một yếu tố quyết định, đó là hy vọng. Chúng ta có đau buồn, nhưng đau buồn trong tư cách những người tin rằng cái chết không phải là tiếng nói cuối cùng.
Đức tin cũng giúp chúng ta chấp nhận cái chết của chính mình. Ngày nay cuộc sống nhiều người là một gánh nặng đoạ đày vì họ đã xua đuổi sự chết ra khỏi suy nghĩ và nhận thức của mình. Chúng ta phải tìm cách suy nghĩ về cái chết sao cho có thể đưa nó vào cuộc sống thay vì tìm cách loại trừ nó.
Hoà giải được với cái chết là một ân sủng rất lớn lao. Từ đó dẫn đến một cuộc sống sâu sắc hơn, nhân bản hơn cũng như xua tan mọi sợ hãi.
Trong một cuốn sách của nhà văn quá cố Bryan Mc. Malon, tác giả có kể lại cuộc viếng thăm một cụ già sắp chết.
Ông hỏi cụ : “Cụ có sợ chết không ?”
Cụ đáp : “Không ! Thiên Chúa toàn năng đã phủ mền bao bọc tôi khi tôi bước vào thế giới nên tôi không nhớ lúc tôi được sinh ra. Người cũng sẽ lại phủ mền bao bọc tôi khi tôi ra khỏi thế giới, và tôi sẽ không còn nhớ chút gì về cái chết.”

 

MC5-A38. MÙA XUÂN BẤT DIỆT

Câu chuyện Tin Mừng đưa ra một cảnh sao quá đỗi thân thuộc với chúng ta– cảnh khóc than: MC5-A38

Câu chuyện Tin Mừng đưa ra một cảnh sao quá đỗi thân thuộc với chúng ta – cảnh khóc than trước cái chết của một người thân yêu. Trong tất cả các nguyên nhân làm tuôn rơi nước mắt, sự chết là thủ phạm chính.
Sự chết giống như mùa đông – chỉ có sự tệ hại. Trong mùa đông của đất trời, mặc dù cảnh bên ngoài có trái nghịch nhưng sự sống vẫn không dừng lại mà chỉ ẩn núp cách kín đáo dưới mặt đất. Vỏ ngoài dẫu có chết nhưng cái lõi thì không. Còn trong mùa đông của sự chết, sự sống dường như ngưng nghỉ hoàn toàn. Cái chết dường như tước đoạt hết mọi sự của chúng ta.
Khi mùa đông sự chết đến với Ladarô, hai chị em ông là Matta và Maria ngập chìm trong sầu khổ. Có sầu khổ khi cái chết cướp đi một người bạn hay một thành viên trong gia đình thì cũng là lẽ tự nhiên, chính đáng và lành mạnh thôi. Thế nhưng Đức Giêsu đã không để mặc họ trong nỗi sầu buồn, Người đến và chia sẻ nỗi khổ với họ. Người đau buồn đến độ thổn thức xúc động. Hành vi thổn thức xúc động nói lên lòng cảm thông chân thành và sự liên đới còn mạnh mẽ hơn ngàn lời nói.
Nhưng Đức Giêsu đã không dừng tại đó. Người đòi hỏi họ phải tin vào Người. Người bảo họ : “Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin Ta, dầu có chết cũng sẽ được sống. Và kẻ nào sống mà tin Ta, sẽ không chết bao giờ. Con có tin điều đó không ?” Và Matta đáp lại : “Thưa Thầy : vâng, con tin Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống đã đến trong thế gian.”
Thật chẳng dễ dàng gì để hai chị em tin khi mà mọi lý chứng đều chống lại họ. Tuy thế, họ vẫn tin. Chúng ta cũng chẳng dễ dàng gì mà có được đức tin. Cái chết là cuộc sát hạch khắt khe niềm tin của chúng ta.
 “Ta là sự sống lại và là sự sống.” Đây là một trong những câu quan trọng nhất của Tin Mừng. Như thế có nghĩa là Đức Giêsu nắm giữ chìa khoá sự sống và sự chết. Mặc dù chính Người cũng phải trải qua mùa đông sự chết, nhưng Người đã vĩnh viễn bẻ gãy sức mạnh thần chết khi từ cõi chết sống lại trong nhân tính phải chết của chúng ta. Người bước vào bóng tối vương quốc sự chết, và vinh hiển chỗi dậy. Vì vậy, Người trở thành người mở đường dẫn lối cho chúng ta. Người tạo nên một mùa xuân mới bất diệt hé mở cho tất cả những ai tin vào Người.
Chúng ta cảm thấy u buồn khi mùa đông đến. Và thật khó tin rằng có một mùa xuân khi chúng ta thấy tuyết phủ trắng đồi và gió rét buốt mặt. Tuy nhiên, chúng ta không quá nản lòng vì biết rằng cuối cùng mùa xuân cũng sẽ đến và đổi mới mọi sự. Cũng vậy, chúng ta buồn sầu khi mùa đông sự chết lấy đi mạng sống một người thân yêu cũng như khi nghĩ về cái chết của chính mình. Tuy thế, chúng ta không bị đè bẹp. Chúng ta được nâng đỡ nhờ niềm tin vào Đức Giêsu, Người là sự sống lại và là sự sống.
Như sự mong đợi mùa xuân tiêu diệt nọc độc mùa đông, thì sự sống lại của Đức Giêsu cũng tiêu diệt nọc độc sự chết cho chúng ta.
Cuộc sống đời đời không khởi đầu khi chúng ta chết. Nó bắt đầu ngay lúc chúng ta nghe tiếng Đức Giêsu và tin vào Người. Thế nên, cho dù ngay giữa những ngày đông thì chúng ta cũng biết rằng mùa xuân đã âm thầm hoạt động, mặc dù cảnh hoa xuân bừng nở còn nằm ở tương lai.
LỜI NGUYỆN CHUNG
 Chủ tế : Với sự tin tưởng, chúng ta dâng lời nguyện của chúng ta lên Thiên Chúa là Đấng thương xót và giàu ơn cứu độ.
Xướng : Xin cho Giáo Hội loan báo Tin Mừng về sự sống đời đời mà Đức Giêsu Kitô đã dành cho chúng ta.
Xướng : Cầu cho các nhà lãnh đạo chính trị : xin cho họ tạo sự thuận lợi cho những người đang dấn thân vào việc chăm sóc và bảo vệ sự sống.
Xướng : Chúng ta hãy cầu nguyện cho những ai đang đau khổ vì cái chết của người thân yêu.
Xướng : Cầu nguyện cho chính chúng ta : xin cho chúng ta biết quý trọng sự tốt đẹp nhưng mỏng giòn của hồng ân sự sống.
Chủ tế : Lạy Chúa, qua sự phục sinh của Con Chúa, Chúa đã thắp lên trong tâm hồn chúng con niềm hy vọng sự sống đời đời. Xin bảo vệ niềm hy vọng này bằng ân sủng của Chúa và mang nó tới sự thành toàn trong Nước Trời. Chúng con xin ơn này nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.

 

MC5-A39. HẠNH PHÚC

Là con người ai cũng khao khát sống thật lâu dài trong sung sướng hạnh phúc. Cuộc sống: MC5-A39

Là con người ai cũng khao khát sống thật lâu dài trong sung sướng hạnh phúc. Cuộc sống trong xã hội kỹ nghệ hóa thời nay đều phải chạy đua với máy móc, với đà phát triển của khoa học kỹ thuật. Cộng thêm hằng ngày trên tivi, radio, sách báo và phim ảnh có hàng ngàn quảng cáo hấp dẫn hối thúc con người cần mua cái này, sắm cái kia, rồi tậu cái nọ cho hợp thời, cho đúng điệu! Cả thế giới ngưỡng mộ những người tài giỏi nhất, và ngày càng phải tài giỏi hơn để phá kỷ lục! Vô tình cả xã hội con người bị cuốn hút theo cái vận tốc chóng mặt đó! Trái lại ngày tháng cứ vô tình lặng lẽ trôi qua, khi chợt nhìn lại mới hiểu ra rằng cả một cuộc đời toàn là tất bật bôn ba, ráo riết đến hụt hơi mà tiếng Anh diễn tả bằng hình ảnh 'rat race', nghĩa là như chuột chạy đua! Và có quá nhiều người nghĩ rằng sống là chỉ có vậy!
Với tất cả mọi cố công gắng sức đó, người ta chỉ mong tìm cho kỳ được một cuộc sống hạnh phúc trường cửu. Nhưng vì người ta quá tin và ỷ lại vào chính khả năng của mình nên đã quên mất đấng Tạo Hóa, là nguồn sống duy nhất đã ban cho mỗi người ngay từ giây phút đầu tiên sức sống huyền vi nơi Ngài, và vẫn âm thầm tiếp tục công trình sáng tạo của Ngài. Con người đang có khuynh hướng muốn đi tìm sự sống bên ngoài Thiên Chúa, ngoài nguồn sống mà họ đã từng nhận và vẫn đang nhận! Vậy hỏi rằng thế giới văn minh này đang đi về đâu?! Lời của Chúa Giêsu vừa chỉ vẽ vừa tha thiết mời gọi các tín hữu đừng mãi miết tìm sự sống bằng bon chen tối mặt, nhưng cần đặt trọn tin yêu nơi Ngài, mới mong gặp được điều mình đang tha thiết kiếm tìm: "Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết cũng sẽ được sống."

 

MC5-A40. ĐA SỐ CÁC VẬN ĐỘNG VIÊN ĐỀU KHÓC - Mark Link S.J.

Chủ đề: "Nhân tính Chúa Giêsu đem lại cảm hứng cho chúng ta. Thiên tính của Ngài ban quyền lực cho chúng ta. Chính Ngài ban cho chúng ta sự sống và niềm hy vọng mới."
 

Tại Thế vận hội Olympics ở Los Angeles mùa hè 1984, một trong những giây phút cảm động: MC5-A40

Tại Thế vận hội Olympics ở Los Angeles mùa hè 1984, một trong những giây phút cảm động nhất Thế vận hội đã xảy ra một cách bất ngờ. Sự việc xảy ra được chiếu lại trên màn hình tivi ban tối, sau khi võ sĩ Jeff Blatnik của Hoa Kỳ đã đánh bại võ sĩ Thomas Johansson của Thụy Điển để dành huy chương vàng về bộ môn đô vật Graeco-Roman (Hy La).
Sau khi trận đấu kết thúc, Blatnik đã không vui mừng nhảy lên nhảy xuống, không vung tay cao lên trời, không hể hả cúi chào đám đông. Anh chỉ đơn giản quì gối, làm dấu thánh giá, cúi đầu cầu nguyện. Khi máy thu hình tập trung chiếu vào khuôn mặt Blatnik, hàng triệu khán giả đã trông thấy giòng suối lệ đổ xuống đôi gò má của anh. Blatnik có đủ lý do để khóc nhưng không phải khóc vì đã đoạt được huy chương vàng mà trước đây Mỹ Quốc chưa bao giờ đoạt được. Lý do còn to tát hơn như thế. Hai năm trước, Jeff Blatnik bị bệnh ung thư. Trước trận đấu 18 tháng anh phải giải phẫu. Vậy mà giờ đây khi dấn thân vào trận đấu võ quan trọng này. Anh đã đoạt được chiến thắng lớn nhất lần thứ hai trong đời mình.
Ngày hôm sau tất cả các tờ báo lớn đều đăng tải câu chuyện của Blatnik. Bàn luận những giọt lệ của Blatnik, phóng viên thể thao Bill Lyons đã viết như sau: “Một trong những điều đáng giá nhất của Thế vận hội Olumpics này là nó cho chúng ta thấy những giọt nước mắt khóc vì những lý do cao thượng có giá trị tẩy rửa và chữa bệnh… khi các vận động viên đoạt huy chương vàng bước lên bục vinh quang, quay mặt về lá cờ của họ, lắng nghe bản quốc thiều của đất nước họ, thì ngay lúc ấy mắt họ bắt đầu nhoà lệ… Dầu có khéo léo, khỏe mạnh, hay nhanh nhẹn, không ai ngăn được giọt lệ. Và trong khi biểu lộ sự mềm lòng do bản tính con người như thế, họ càng trở nên hấp dẫn lôi cuốn hơn”.
Đây là điều đã xảy ra trong trường hợp Blatnik Jeeff Blatnik đã trở thành một vị anh hùng tức khắc không phải vì anh đã chiến thắng Johansson, không phải vì anh đã chiến thắng bệnh ung thư, nhưng vì anh đã biết tỏ ra mềm lòng vì có bản tính con người như tất cả chúng ta. Bỗng chốc chàng khổng lồ nặng 220 cân Anh (cở 105ký) này trở thành giống như mọi người chúng ta một cách thật tuyệt vời đầy cảm động.
Trong bài Phúc âm hôm nay, chúng ta cũng thấy loại nét đẹp đầy cảm động như thế nới Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, đã khóc tại nấm mồ NaZarô. Đây là một trong những pha cảm động nhất trong toàn bộ Phúc âm, lý do là vì Chúa Giêsu cũng tỏ ra nhân tính y như chúng ta. Chúng ta thường hay quên mất nhân tính nơi Chúa Giêsu. Chúng ta thường hay quên rằng Chúa Giêsu từng bị đói trong hoang mạc, từng bị khát trên thập giá, từng bị mệt mỏi trên đường đến xứ Samaria, từng đau đớn nơi vườn Giêtsêmani.
Tại sao chúng ta cần phải nhớ đến những cảnh như thế trong toàn bộ Phúc âm ? tại sao chúng ta cần phải nhận thức những giọt lệ lăn dài trên gò má Chúa Giêsu? Tại sao chúng ta cần phải ghi khắc vào tâm trí nhân tính của Chúa Giêsu?
Bởi vì nhân tính của Chúa Giêsu là điều khiến cho Ngài trở nên giống y như chúng ta.  Bởi vì Chúa Giêsu từng chịu đói chịu khát, từng chịu mệt lả và đau đớn, nên chúng ta biết rằng Ngài hiểu được chúng ta khi chúng ta lâm vào những tình trạng tương tự  như thế. Nghĩa là chúng ta biết rằng Ngài hiểu rõ thân phận con người. Và chính sự hiểu biết này đem lại cho chúng ta niềm hy vọng.
Tuy nhiên bài Phúc âm hôm nay còn chứa đựng một điểm quan trọng hơn nữa về Chúa Giêsu, đó là Ngài không chỉ khóc thương Lazarô mà Ngài còn làm cho anh ta được sống lại. Như thế rõ ràng bài Phúc âm cho thấy Chúa Giêsu không chỉ là một con người như bao kẻ khác mà Ngài còn là Con Thiên Chúa. Ngài không chỉ đem lại nguồn cảm hứng cho chúng ta qua nhân tính Ngài mà còn thông ban sức mạnh cho chúng ta qua thiên tính của Ngài. Ngài có thể tác động trên cuộc đời chúng ta bằng một cách thức mà không một ai khác có thể làm được. Chúng ta hãy trưng ra một ví dụ:
Sau thế chiến thứ hai, Cha Robert Mcafee Brown là tuyên uý trên một chiếc tàu chuyển quân Mỹ. Chiếc tàu này chở binh lính từ Nhật trở về nước. Một số thủy thủ yêu cầu Cha Brown cùng tham dự với họ những buổi Thánh Kinh hằng ngày. Ngày nọ, nhóm người này đang học hỏi về câu chuyện Chúa làm cho Lazarô sống lại ra khỏi mồ. Sau buổi học hỏi, một anh thuỷ thủ trẻ tuổi đến tâm sự với cha: “Hình như Chúa ngỏ lời với con qua câu chuyện chàng Lazarô hôm nay”. Anh này giải thích rằng một hôm khi còn ở Nhật, anh gặp phải một cơn khủng hoảng trầm trọng. Lúc đó, anh bị một tội riêng mà anh đã phạm, mặc dù anh không còn nhớ rõ tình tiết, đè nặng trên lương tâm anh đến độ suýt nữa anh đã tự sát rồi.
Anh thủy thủ nói rằng trong suốt thời gian học hỏi Kinh Thánh, anh ta mới bắt đầu nhận thức được rằng Chúa Giêsu hiểu rõ hoàn cảnh của anh vì Ngài cũng là người. Và hơn thế nữa, anh nhận thức được Chúa Giêsu cũng là Thiên Chúa, nên Ngài có thể giúp đỡ anh một cách kỳ diệu khôn tưởng. Ngài có thể làm cho anh sống lại để sống một cuộc sống mới như Ngài đã từng làm cho Lazarô. Giữa lúc tội lỗi đè nặng, anh lính thủy đã khám phá ra Chúa Giêsu “là sự sống  lại và là sự sống” không chỉ trong cuộc sống mai hậu, mà ngay trong cuộc sống dương trần này.
Câu chuyện Thế vận hội Olumpics về Jeff Blatnik, câu chuyện Phúc âm về chàng Lazarô và câu chuyện thời chiến nói về anh  lính thủy, cả ba câu chuyện nói cho chúng ta về Chúa Giêsu theo hai cách thức đặc biệt:
Trước hết, các câu chuyện trên nhắc nhớ chúng ta Chúa Giêsu cũng làm một con người, nên Ngài cũng có nhân tính như chúng ta, vì thế Ngài đem lại cho chúng ta nguồn cảm hứng và hy vọng. Đồng thời, các câu chuyện cũng nhắc nhớ chúng ta Chúa Giêsu còn là Con Thiên Chúa. Ngài có thể giúp đỡ chúng ta theo một cách thức mà không ai khác có thể làm nổi, một cách thức vượt quá mọi mơ ước to lớn nhất của chúng ta. Ngài có thể đưa chúng ta đến một cuộc sống mới như Ngài đã Phục sinh Lazarô vậy.
Đó là Tin Mừng trong các bài đọc hôm nay. Tin mừng này nói rằng nhân tính của Chúa Giêsu là nguồn cảm hứng cho chúng ta, vì thiên tính của Ngài ban cho chúng ta nguồn sức mạnh. Vì Ngài là Đấng đưa chúng ta đến cuộc sống mới.
Để kết thúc, chúng ta nhắc lại lời Thiên Chúa hứa với dân Israel và ngang qua dân Israel, Ngài cũng đã hứa với chúng ta trong bài đọc thứ nhất hôm nay:
Thiên Chúa đã phán như sau: “Hỡi dân Ta, Ta sẽ mở cửa huyệt cho các ngươi và sẽ truyền cho các ngươi sống dậy ra khỏi mồ… Ta sẽ đặt Thần khí Ta trong các ngươi để các ngươi được sống.
Lúc bấy giờ các ngươi sẽ biết rằng Ta là Chúa. Thiên Chúa phán: Ta đã hứa và Ta sẽ thi hành”.

 

MC5-A41. SỰ SỐNG VÀ SỰ SỐNG LẠI

Chủ Đề Các Bài Đọc
 

Phụng vụ hôm nay đều nói về sự sống và sự sống lại, nhờ đức tin và nhờ Chúa Thánh Thần: MC5-A41

Phụng vụ hôm nay đều nói về sự sống và sự sống lại, nhờ đức tin và nhờ Chúa Thánh Thần, như một chuẩn bị cho mầu nhiệm phục sinh. Trong thị kiến đầy ấn tượng của ngôn sứ Êdêkien, ông đã nghe tiếng phán với ông: “Ta sẽ đặt Thần Khí ta vào trong các ngươi, và các ngươi sẽ được hồi sinh.” “Lại nữa, nếu Thần Khí ngự trong anh em, Thần Khí của Đấng đã làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết, cũng sẽ dùng Thần Khí của Người đang ngự trong anh em, mà làm cho thân xác của anh em được sự sống mới”, Thánh Phaolô đã nói như thế trong thư gởi tín hữu Rôma. Và trong bài tin mừng theo thánh Gioan, Đức Giêsu nói với Matta: “Chính Thầy là sự sống lại,” để bảo đảm với bà rằng Lagiarô, em bà, sẽ được cho sống lại.
Sứ Điệp Niềm Tin
Thiên Chúa của do Thái giáo và của Kitô giáo là Thiên Chúa của sự sống. Ngài là Chúa của sự sống. Ngài là Chúa của kẻ sống và kẻ chết. Như lời thánh Irênê nói, vinh quang của Thiên Chúa chính là con người sống trong sự viên mãn. Để thực hiện việc này, Chúa dùng mọi phương cách cùng với lòng nhẫn nại và trung tín, như được phản ánh trong suốt dòng lịch sử của mối tương quan giữa Thiên Chúa và dân Ítraen. Một giai đoạn tương ứng với cuộc lưu đày Babylon, giữa cuộc tàn phá Đền Thờ và Thành Giêrusalem. Bị lưu đày ở Babylon, cùng với dân chúng, niềm hy vọng vào tương lai đi dần đến chỗ héo tàn. Tình trạng đó được biểu tượng bằng hình ảnh những bộ xương khô đét. Qua ngôn sứ Êdêkien, Thiên Chúa mạc khải cho dân biết rằng Ngài sẽ vực họ dậy tự vực thẳm, sẽ ban cho họ sự sống mới và mang họ về miền đất sự sống, Đất Hứa. Biểu tượng trong thị kiến của Êdêkien trở thành sự thật nơi trường hợp của Lagiarô. Ông là một người bằng xương bằng thịt, là em của Matta và Maria quê làng Bêtania. Ông đã ngã bệnh và chết. Khi Đức Giêsu đến Bêtania, ông đã được chôn trong mồ bốn ngày rồi, một khoảng thời gian đủ theo não trạng người do thái, để chứng tỏ rằng ông đã chết thật. Nhưng Đức Giêsu là sự sống, và đồng thời Ngài thương Lagiarô như bạn thân. Đức Giêsu làm được gì bây giờ? Ngài ra mồ và kêu lớn: “Anh Lagiarô! Hãy ra khỏi mồ!” Và Lagiarô đã sống trở lại. Dĩ nhiên, về phần Lagiarô, ông đã phải nhờ đến một thực tại siêu việt: cái chết và sự phục sinh của Đức Giêsu Kitô, sẽ được cử hành trong hai tuần nữa, và sự sống mới mà Đức Kitô mang lại cho con người một cách viên mãn, cả về mặt thể lý và tâm linh nhờ tác động của Thánh Thần. Ý niệm về sự sống lại và sự sống cũng đi theo một tiến trình như trên: trước tiên có biểu tượng của sự giải thoát và sự thông hiệp vào cuộc sống hạnh phúc vui sướng trên trần đời do Chúa ban cho “các tổ phụ”. Kế đến là giai đoạn lịch sử đi từ sự chết đến sự sống, nhưng là một cuộc sống có kết thúc bằng nấm mồ. Giai đoạn này mặc lấy một hình thái thực sự viên mãn và mới mẽ nơi Đức Kitô, Đấng đã chết, vượt qua cái chết để sống mãi mãi. Sau cùng, nơi trần đời này, người kitô hữu thông phần vào sự sống của Đức Kitô phục sinh, nhờ ân sủng trong Chúa Thánh Thần, và cũng sẽ chia sẻ sự vĩnh cữu với Chúa. Đó là lý do tại sao cái chết của người kitô hữu là cuộc biến đổi cách sống, gây ấn tượng cho ta vì ta chưa biết rõ, tuy nhiên ta biết chắc rằng đó là cuộc “sống cho Chúa”.
Gợi Ý Mục Vụ
Trong Mùa Chay, những chủ đề chính của phụng vụ thường là sám hối, cầu nguyện, tỉnh thức, ăn chay… Phụng vụ hôm nay có sự thay đổi, để giúp ta suy nghĩ trước về mầu nhiệm Đức Kitô sống lại và được tràn niềm vui. Đây là niềm vui của người biết cởi bỏ con người cũ của mình và mặc lấy con người mới, trong bầu khí yêu thương và sự thật, biết trao ban cho các anh chị em mình. Chúa Nhật hôm nay như là một cao điểm trong cuộc hành trình, Đức Giêsu dạy ta: Thiên Chúa là sự sống. Thực tại quan trọng nhất của kitô giáo chính là sự sống mà Thiên Chúa thông ban cho ta như Ngài đã ban cho dân Ítraen và cho Lagiarô xưa. Cùng với sự sống ta tràn đầy niềm vui vì có sự sống của Chúa trong ta, tình thương và lòng thương xót của Ngài dành cho ta. Nhờ Thánh Thần ở trong ta mà ta được như thế; là kitô hữu, ta cần ý thức rằng chính Thánh Thần ban sự sống, ngày qua ngày phù trợ và nâng đỡ ta. Giáo dân trong giáo xứ bạn ý thức ra sao về sự hiện diện hữu hiệu của Thánh Thần trong đời sống của mỗi tín hữu và trong lòng Hội thánh? Có lẽ nơi vài cộng đoàn người ta tìm thấy một đời sống kitô buồn chán và ảo tưởng như trong xứ đạo, trong giáo phận, giữa các bạn trẻ, trong các đoàn thể giáo xứ, hoặc trong các phong trào của giáo hội. Có lúc chỉ thấy những vấn nạn, những căng thẳng, lỗi lầm, những yếu kém con người, những giới hạn, những thiếu sót về mặt đạo lý cũng như luân lý…trong những sinh hoạt xứ đạo. Hôm nay Đức Kitô nói với tất cả chúng ta: “Thầy là sự sống lại.” Hãy lưu tâm đến sự sống, đến tất cả những gì tốt đẹp, đến những hoa trái mà niềm tin kitô giáo mang lại cho nhiều người. Hãy lưu tâm đến sự “sống lại”, đến sự biến đổi mà Đức Kitô thực hiện nơi một số người bạn quen biết. Hãy lưu tâm đến tất cả những ai cầu nguyện, những người sống đạo lý kitô một cách lạc quan, những kẻ đang sống với bộ mặt của những người được trở lại cuộc sống, dù còn giữa muôn vàn đau khổ. Cùng hoạt động và chiến đấu chung với các anh chị em khác trong niềm tin, để sự sống kitô triển nở nơi giáo xứ của bạn và những vùng xung quanh. Biết bao điều thiện hảo có thể được thực hiện, khi ta có cái nhìn trong sáng và dễ mến, một lời khuyến khích, khi ta sống mẫu gương cầu nguyện, lạc quan, và tình yêu đối với Chúa cũng như đối với người thân cận!

 

MC5-A42. TÌNH YÊU CỦA CHÚA GIÊSU - Nữ tu Nguyễn thị Ngọc Điệp

Có một điểm quan trọng mà chúng ta cần lưu ý: Chúng ta không nên chú tâm vào nỗi đau khổ: MC5-A42

Có một điểm quan trọng mà chúng ta cần lưu ý: Chúng ta không nên chú tâm vào nỗi đau khổ của Chúa Giêsu trong suốt Tuần Thánh sắp tới, mà nên chú tâm đến tình yêu Ngài đã biểu lộ ra cho chúng ta qua sự đau khổ của Ngài. Sự đau khổ của Chúa Giêsu cho chúng ta thấy tình yêu của Ngài theo ba cách:
Thứ nhất đó là dấu chỉ của tình yêu. Nỗi đau khổ Chúa Giêsu đang chịu, nói cho chúng ta một cách hết sức rõ ràng điều mà chính Chúa Giêsu đã từng ngỏ với chúng ta lúc Ngài còn ở dương trần: “Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của kẻ hiến mạng sống mình vì bạn hữu” (Ga 15,13).
Thứ đến, nỗi đau khổ của Chúa Giêsu mời gọi chúng ta đáp trả tình yêu. Nó cũng nói lên một cách rõ ràng điều Chúa Giêsu đã từng truyền dạy: “Các con hãy yêu thương nhau như Ta đã yêu thương các con” (Ga 15,12).
Cuối cùng, nỗi đau đớn của Chúa Giêsu là một mạc khải về tình yêu. Nó cho chúng ta biết tình yêu bao giờ cũng gắn liền với đau khổ, Chúa Giêsu đã từng nhấn mạnh điều này qua câu nói: “Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình đi rồi vác thập giá mình mà theo Ta” (Mc 8,34).
Chúng ta cần nhấn mạnh đến giáo huấn này của Chúa Giêsu như chính Ngài đã từng nhấn mạnh. Chúng ta cần suy đi gẫm lại điều ấy vì đó là điều mà chúng ta thường hay bỏ quên. Trong kỷ nguyên có đủ loại phương tiện giảm đau hoặc có thể làm dứt hẳn cơn đau ngay lập tức này, chúng ta hy vọng rằng người ta có thể thoát khỏi đau khổ, thế nhưng điều này không thể xảy ra được. Có một số sự việc trong đời không thể nào tránh khỏi đau khổ bởi vì tự bản chất của chúng là đau khổ. Chúng ta thử đưa ra một vài ví dụ. Chẳng hạn:
- Thật là khổ khi phải khơi lại một tương quan đã bắt đầu nguội lạnh.
- Thật là khổ khi phải cởi mở giao thiệp với một kẻ nào đó không muốn nghe chúng ta nói.
- Thật là khổ khi phải sống với một kẻ luôn luôn đòi hỏi đến mức phi lý.
- Thật là khổ khi ngày nào cũng phải can đảm đương đầu với một thế giới cứ muốn phớt lờ chúng ta.
Anh chị em cũng như tôi không thể bước vào hệ thống năng lượng để đi ngược thời gian đến đồi Calvê trong tuần thánh này. Chúng ta cũng không thể leo lên một chiếc máy bay đi một vòng đến thánh địa. Nhưng chúng ta vẫn có thể suy niệm về những bài Phúc âm tuần thánh. Một cách thiêng liêng, chúng ta có thể lần bước theo Chúa Giêsu trong tuần thánh của Ngài. Chúng ta có thể học được bài học tình yêu chứa đựng trong nỗi đau khổ của Chúa Giêsu. Chúng ta có thể biết được rằng nỗi đau khổ của Chúa Giêsu là một mạc khải về tình yêu: một tình yêu đích thực luôn luôn gắn liền với đau khổ như Chúa Giêsu từng nói: “Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình đi, hãy vác thập giá mình mà theo Ta”.
Cuối cùng, chúng ta có thể biết được rằng nỗi đau khổ của Chúa Giêsu cũng là lời mời gọi chúng ta yêu thương anh chị em của mình như lời Ngài từng dạy: “Các con hãy yêu thương nhau như Ta đã yêu thương các con”. Đây là sứ điệp chứa đựng trong các bài đọc của Chúa nhật chịu nạn hôm nay. Đây là bài học yêu thương Chúa Giêsu muốn chia sẻ với chúng ta trong tuần lễ sắp tới.
Chúng ta hãy kết thúc với lời cầu nguyện quen thuộc:
“Lạy Chúa xin dạy chúng con yêu thương,
Xin dạy chúng con yêu thương như Ngài đã từng yêu thương chúng con:
Để chúng con biết cho đi mà không tính toán,
biết chiến đấu mà không sợ thương tích,
biết làm việc mà không tìm yên nghỉ,
biết xả thân mà không tìm một phần thưởng nào khác ngoài việc biết rằng chúng con đang thi thành thánh ý Chúa”.

 

MC5-A43. Ta Là Sự Sống Lại Và Là Sự Sống

Trong cuốn sách, Tình Yêu Vô Điều Kiện, cha John Powell kể lại một câu truyện về Tommy: MC5-A43

Trong cuốn sách, Tình Yêu Vô Điều Kiện, cha John Powell kể lại một câu truyện về Tommy, một trong những học sinh của cha.
Tommy là một người tự xưng là vô thần. Anh không tin bất cứ một sự kiện gì cả. Anh đặc biệt lên án ý tưởng rằng Thiên Chúa có thể yêu thương nhân loại một cách vô điều kiện.
Sau cùng, mùa học đã tới lúc mãn khóa. Khi Tommy nộp bài thi cuối năm, anh nói với cha một cách nhạo báng, "Cha thử nghĩ coi, tôi có thể tìm thấy Thiên Chúa không?" Cha đáp lại, "Không, Tommy ơi, anh không thể tìm thấy Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa sẽ tìm thấy anh." Anh chỉ nhún vai và bỏ đi.
Vài năm sau, cha được tin là Tommy đang sắp sửa chết vì bệnh ung thư. Trước khi cha có thể liên lạc với Tommy, Tommy đã liên lạc với Cha.
Khi Tommy đến gặp cha, cha nhận thấy thân xác của anh đã rã rời và bộ tóc của anh đã rụng hết do các thuốc chữa ung thư mà anh uống. Tommy nói:
"Con đến với Cha, vì những gì Cha đã nói với con trong buổi học sau cùng. Cha nói, con không thể tìm thấy Thiên Chúa, nhưng chính Thiên Chúa sẽ tìm thấy con.
"Đúng thế, khi bác sĩ cho con biết con chỉ còn một thời gian ngắn để sống, con đã làm một việc mà con không bao giờ nghĩ là con sẽ làm. Con đã bắt đầu cầu nguyện rất nhiều với Thiên Chúa. Thế nhưng không có chuyện gì xảy ra cả. Không một ai trả lời con.
"Con cố gắng nhiều hơn nữa! Thế nhưng cũng vậy, không gì xảy ra cả. Không ai trả lời con cả. Sau cùng, sau khi đã cố gắng thêm một vài lần nữa, con đã đầu hàng bỏ cuộc.
"Con nghĩ rằng, thật là bất hạnh cho một người chết đi mà không có tình yêu; thật là bất hạnh cho một người chết đi mà chưa nói với người mình yêu thương rằng mình thật sự thương yêu họ. Con đã quyết định làm việc đó.
"Con bắt đầu từ một người khó chịu nhất: chính là ba con. Một đêm nọ, trong khi chúng con ở nhà một mình, con đã nói với ba về việc con cảm nghĩ thế nào về ông. Sau đó, ông đã làm việc mà con không thể ngờ. Ông đã khóc và ôm con vào lòng. Chúng con đã nói chuyện suốt đêm, mặc dù ba con phải dậy đi làm sáng hôm sau.
"Khi nói với mẹ con và các anh em con rằng con yêu mến họ thì thật dễ dàng hơn. Giống như ba con, họ cũng khóc và ôm chầm lấy con.
"Sau đó, một sự kiện bất ngờ xảy ra. Không biết từ đâu, Thiên Chúa đã đến với đời sống của con. Ngài đến với một sức mạnh và quyền lực mà con không thể nào không nhận thức được. Đúng thế, thưa Cha, Ngài đã tìm thấy con! Ngài đã thật sự tìm thấy con!"
Ít lâu sau, Tommy đã qua đời, nhưng anh đã khởi sự một cuộc sống trong một phương thức khác. Anh khởi sự sống trong cách thức mà Chúa Giêsu đã nói: "Ta là sự sống lại và là sự sống."
Trong trường hợp phép lạ của Lazarô, điểm quan trọng không phải là việc Chúa làm cho một người bạn sống lại. Điểm quan trọng là, Chúa Giêsu muốn dùng phép lạ này để dạy dỗ cho ta điều gì.
Chúa Giêsu muốn dùng nó để nói lên một cách tượng hình những gì mà Ngài đã nói với Martha: "Ta là sự sống lại và là sự sống; ai tin vào Ta, thì dù có chết, cũng sẽ sống."
Những gì mà Chúa Giêsu đã làm cho Tommy và Lazarô, thì Ngài cũng muốn làm cho chúng ta. Ngài muốn ban cho chúng ta một sự sống mới. Ngài muốn chia sẻ cho chúng ta chính sự sống của Ngài. Ngài muốn làm cho chúng ta sống lại trong đời sống vĩnh cửu.
Đây chính là sứ điệp của Mùa Chay. Nó có ý nói về việc mở rộng tâm hồn của chúng ta với tha nhân, giống như Tommy đã làm với gia đình của anh, hầu qua đó Chúa Giêsu có thể thực hiện cho chúng ta những gì Ngài đã có thể làm cho Tommy.
Nó có ý nói về việc đón nhận một đời sống mới từ Chúa Giêsu trong ngày hôm nay, hầu chúng ta có thể đón nhận đời sống vĩnh cửu từ Chúa Giêsu trong ngày sau cùng.
 

MC5-A44. ROLLING STONES ! (Những hòn đá lăn)

Những hòn đá lăn” là ban nhạc không chỉ nổi tiếng với những giai điệu tuyệt vời do bốn thành: MC5-A44

“Những hòn đá lăn” là ban nhạc không chỉ nổi tiếng với những giai điệu tuyệt vời do bốn thành viên thuộc thế hệ đầu tiên là Mick Jagger, Keith Richards, Ron Wood và Charles Watts biểu diễn, mà còn nổi tiếng vì sau 40 năm họ vẫn bên nhau khác xa với sự hợp tan khá nhanh chóng của các ban nhạc lừng danh khác như: The Beattles, Abba, v.v... Nhưng hôm nay chúng ta không nói về Ban Nhạc Rolling Stones hoặc những “hòn đá” nào cả, mà chỉ để nghe và vâng theo lời Chúa Giê-su đã nói với chị em Mác-ta và Ma-ri-a khi Chúa sắp cho ông La-da-rô sống lại từ kẻ chết: ”Hãy cất phiến đá đi !”
Tại sao lại phải cất phiến đá đi ? – Vì đây là điều kiện cộng tác “tiên quyết” của người đang sống, để Chúa có thể cứu người đã chết. Bao lâu cửa mồ còn bị lấp bởi tảng đá do con người lăn bít lại thì Chúa Giê-su chẳng thể làm gì được, khác với khi Chúa sống lại bằng chính quyền năng của Người. Phản ứng tự nhiên ( cũng do lòng kính trọng của Mác-ta đối với Chúa Giê-su ) là ngăn cản, vì biết rõ mùi hôi thối không thể tránh được.
Ngay cả Mác-ta, người chị rất mực yêu thương cậu em trai duy nhất, cũng không chịu nỗi mùi xác chết đang thối rữa. Nhưng Chúa Giê-su thì chịu được và “phải” chịu vì Người quyết định đem La-da-rô ra khỏi cái chết. Đó chính là điều khơi gợi niềm tin và hy vọng của chúng ta nơi Chúa. Ngay cả khi người ta chán ngán, tuyệt vọng về chúng ta, không thể “ngửi” nổi cuộc sống, hành động, thái độ của chúng ta, hoặc khi chúng ta tránh xa một ai, vì “đã quá nặng mùi”, cho rằng không thể làm được gì để vực dậy, để hồi sinh nữa, thì Chúa đó ! Chúa chỉ cần chúng ta:
- Giúp nhấc tảng đá, ăn nó sang một bên, không còn bít hy vọng của anh em, của tha nhân nữa, thì Người sẽ “chịu” mọi hôi thối tanh tưởi nhất, để hồi sinh từ cõi chết. Khi ấy, nếu vì bất cứ lý do gì, chúng ta vẫn muốn tảng đá lấp kín tâm hồn và cuộc đời anh em, tha nhân, thì người bị phán xử, người chết sẽ là chúng ta !
- Hãy nhấc tảng đá và để Chúa hành động với lòng tin tưởng cho dù chính chúng ta cũng tự thấy “khó mà ngửi mùi hôi thối” của tâm hồn mình. Tự nhận ra được tình trạng “chết” và “thối rữa” của bản thân cũng là điều kiện để được cho “sống lại”. Chỉ cần ước ao và nhấc tảng đá đi, là phép lạ sẽ xảy đến.
Nhưng liệu tảng đá ấy có khi nào do chính chúng ta lăn để lấp bít anh em, không muốn cho anh em được sống mà muốn anh em “chết” và “thối rữa” mãi, nhất là không đến được với ta nữa ? Chúa Giê-su muốn và lệnh cho chúng ta phải cất khỏi anh em:
- Phiến đá nghi kỵ, định kiến, thành kiến dày đặc mà ta áp đặt lên anh em có khi một cách võ đoán, bất công.
- Phiến đá ích kỷ, kiêu căng, công khai hoặc âm thầm coi anh em như nấc thang để nâng mình lên.
“Nặng mùi lắm rồi !”: Tật xấu của ta, sự xa cách anh em, tội lỗi của ta, thành kiến, kiêu căng, ích kỷ, v.v... đã chôn chặt ta trong mộ và bít kín lại quá lâu khiến tâm hồn ta thối rữa nặng mùi. Và quả thật, chỉ có Chúa mới nói: ”Ta đã chẳng bảo rằng nếu con tin...” và đó là điều kiện để Chúa cho sống lại, mạnh mẽ, tươi tốt, thơm tho.
Hãy nhìn những đứa con ngỗ nghịch đem nướng hết tài sản của cha mẹ trên chiếu bạc hoặc trong ma túy, để rồi thân tàn ma dại, tù tội, bị xã hội khinh bỉ, khai trừ. Nhưng người mẹ vẫn yêu thương, hy vọng và tha thứ !
Hãy nhìn những thân thể gầy còm, ghẻ chốc, biến dạng vì căn bệnh Aids do đa phần chính họ tự rước hoạ vào mình: kẻ thì xa lánh, người thì kiêng dè đề phòng, người mẹ vẫn chăm sóc âu yếm. Những người giàu tình thương và hy sinh, vẫn gần gũi chăm no, an ủi đến cùng.
Tại sao ta còn lưỡng lự, hồ nghi nơi Chúa ?
Đã gần hết Mùa Chay rồi. Đây là lúc chúng ta phải quyết định chọn lựa hoà giải, nghĩa là cho mình một con đường sống lại trong Ơn Thánh. Và Hoà Giải là gì, nếu chẳng phải là: Con người tự cất khỏi mình phiến đá đã lấp bít cuộc đời và linh hồn mình ? Xin Chúa cất phiến đá án phạt mà ta đáng chịu, để ta chui ra khỏi mồ và được sống lại ?
Rolling Stones ! Điều kiện vẫn là: Hãy cất phiến đá đi !
Gs. NGUYỄN THẾ BÀI, ĐTĐSTY 91

 

MC5-A45. TA LÀ SỰ SỐNG LẠI VÀ LÀ SỰ SỐNG

Ý chính:
 

Nghe tin người bạn thân là La-da-rô đau nặng. Đức Giê-su còn ở lại nơi đang giảng đạo thêm hai: MC5-A45

Nghe tin người bạn thân là La-da-rô đau nặng. Đức Giê-su còn ở lại nơi đang giảng đạo thêm hai ngày, nên về đến làng Bê-ta-ni-a thì La-da-rô đã chết và chôn được bốn ngày. Gặp hai bà Mác-ta và Ma-ri-a là chị người chết đang khóc thương em, Đức Giê-su đã trấn an họ bằng cầu: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết cũng sẽ được sống” ( c. 25 ). Khi ra thăm mộ của La-da-rô, Đức Giê-su đã truyền đem phiến đá che cửa mộ sang một bên và cầu nguyện với Chúa Cha, sau đó Người đã truyền cho La-da-rô hãy ra khỏi mồ ( c. 43 ) và lập tức người chết liền đi ra ngoài. Với phép lạ phục sinh La-da-rô này, Đức Giê-su đã mạc khải Người chính là Đấng Thiên Sai Con Thiên Chúa và là chính Thiên Chúa. Người sẽ ban sự sống và sự sống lại cho tất cả những ai đặt trọn niềm tin cậy nơi Người.
Chú thích:
Câu 1: Có một người bị đau nặng, tên là La-da-rô, quê ở Bê-ta-ni-a, làng của hai chị em cô Mác-ta và Ma-ri-a.
Câu 2: Cô Ma-ri-a là người sau này sẽ sức dầu thơm cho Chúa, và lấy tóc lau chân người. Anh La-da-rô, người bị đau nặng, là em của cô:
+ La-da-rô là tên của một người bạn thân với Đức Giê-su, ở làng Be-ta-ni-a ( x. Lc 16, 20 ).
+ Bê-ta-ni-a là một làng nằm ở phía Đông núi Cây Dầu, cách Giê-ru-sa-lem chưa đầy ba cây số ( x. Ga 11, 18 ). Đức Giê-su thường đến trọ tại làng này mỗi khi có dịp lên Giê-ru-sa-lem. Ngoài ra, còn một Bê-ta-ni-a khác là nơi Đức Giê-su chịu phép Rửa của Gio-an ( x. Ga 1, 28 ).
+ Mác-ta là chị cả của ba chị em. Bà có tính năng nổ và tích cực hoạt động biểu lộ khi đón tiếp Đức Giê-su ( x. Lc 10, 38 – 42 ).
+ Ma-ri-a là em của Mác-ta, có tính trầm lặng hướng nội, sẵn sàng hy sinh chai dầu thơm quý giá sức chân người tại nhà Si-mon cùi ( x. Mt 26, 6 – 13; Ga 12, 1 – 8 ). Ta cần phân biệt bà Ma-ri-a này với ba người phụ nữ khác: Bà không phải là người đàn bà tội lỗi ( x. Lc 7, 36 – 50 ). Bà cũng không phải là người phụ nữ ngoại tình ( x. Ga 8, 3 – 11 ). Bà cũng không phải là Ma-ri-a Ma-đa-lê-na ( Ma-ri-a quê ở thành Mác-đa-la ), là người được trừ khỏi bảy quỷ ám ( x. Lc 8, 2 ), đứng bên Thánh giá ( x. Ga 19, 25 ) và được Chúa Phục Sinh hiện ra lần đầu tiên ( x. Ga 20, 11 – 17 ) và được sai đi loan Tin Mừng cho các Tông Đồ ( x. Ga 20, 18 ).
Câu 3: Hai cô cho người đến nói với Đức Giê-su: “Thưa Thy, người Thy thương mến đang b đau nng”. Tin Mừng Gio-an nhấn mạnh tình cảm của Đức Giê-su dành cho ba chị em Mác-ta, Ma-ri-a và La-da-rô này ( câu 5.36 ).
Câu 4: Nghe vậy, Đức Giê-su bảo: “Bệnh này không đến nỗi chết đâu, nhưng là dịp để bày tỏ vinh quang của Thiên Chúa: qua cơn bệnh này, Con Thiên Chúa được tôn vinh”. Đức Giê-su nói đến cái chết thể xác không phải là chết vình viễn, nhưng là cơ hội để Người làm phép lạ để biểu lộ vinh quang Thiên Chúa và qua đó, Người cũng được Cha tôn vinh.
Câu 5: Đức Giê-su quý mến cô Mác-ta, cùng hai người em là cô Ma-ri-a và anh La-da-rô. Câu 6: tuy nhiên, sau khi được tin anh La-da-rô lâm bệnh, Người còn lưu lại thêm hai ngày tại nơi đang ở.
+ Lưu lại thêm hai ngày: Khi Mác-ta nhờ người đến báo tin thì La-da-rô chưa chết. Vì vậy Đức Giê-su nán lại thêm hai ngày nữa, như đợi cho anh ta chết, rồi mới đến cứu. Nơi đang ở là Pê-rê bên kia sông Gio-đan về hướng đông.
+ Lý do Đức Giê-su không đến ngay: vì Giờ chưa đến ( x. Ga 7, 8 – 10; 2 – 4 ) và vì Người luôn theo ý Cha và Giờ mà Cha ấn định ( x. Ga 4, 34; 7, 30; 8, 20; 13, 1 ).
Câu 7: Rồi sau đó, Người nói với các môn đệ: “Nào, chúng ta cùng trở li min Giu-đê !” Trở lại Giu-đê là ngầm ám chỉ cuộc khổ nạn và Phục Sinh sắp thực hiện tại Giê-ru-sa-lem.
Câu 8: Các môn đệ nói: “Thưa Thầy, mới đây người Do-thái tìm cách ném đá Thầy, mà Thầy lại còn đến đó sao ?”
Câu 9: Đức Giê-su trả lời: “Ban ngày chẳng có mười hai giờ đó sao ? Ai đi ban ngày thì không vấp ngã, vì thấy ánh sáng của thế gian này”.
Câu 10: “Còn ai đi ban đêm, thì vấp ngã vì không có ánh sáng nơi mình !”
+ “Mới đây người Do-thái ném đá Thầy”: Các môn đệ mang tâm trạng sợ hãi vì ý thức nguy hiểm Thầy có thể bị kẻ thù giết hại nếu về Giê-ru-sa-lem.
+ “Ban ngày chẳng có 12 giờ đó sao ?”: Đức Giê-su quyết tâm theo chương trình Chúa Cha đã truyền. Thời gian làm việc trong một ngày kéo dài từ khi mặt trời mọc đến khi lặn, kéo dài 12 giờ. Ban ngày là bao lâu còn sống, tượng trưng thời kỳ Thiên Chúa định cho sứ mạng của Đức Giê-su, thì Người là ánh sáng thế gian ( x. Ga 7, 28 – 29. 33 ). Đức Giê-su mang lại cho con người ánh sáng giúp họ bước đi vững chắc và an toàn. Đêm tối chỉ về cái chết, là Giờ của ma quỷ. Bấy giờ người ta sẽ không làm chi được nữa ! ( Ga 13, 30; 17, 1; Lc 22, 53 ).
Câu 11: Người nói những lời này, sau đó Người lại bảo họ: “La-da-rô, bạn ca chúng ta, đang yên gic. Tuy vy, Thy đi đánh thc anh y đây”. Đức Giê-su cũng dùng chữ “ngủ” để ám chỉ cái chết, giống như trường hợp của con gái ông Gia-ia ( x. Mc 5, 39 ). Thánh Phao-lô cũng coi cái chết chỉ là một giấc ngủ ( x. 1 Tx 4, 14 ), là một bước vượt qua sự sống lại ( x. Ep 5, 14 ).
Câu 12: Các môn đệ nói với Người: “Thưa Thầy, nếu anh ấy yên giấc được, anh ấy sẽ khoẻ lại”.
Câu 13: Đức Giê-su nói về cái chết của anh La-da-rô, còn họ tưởng Người nói về giấc ngủ thường.
Câu 14: Bấy giờ Người mới nói rõ: “La-da-rô đã chết”. Các môn đệ chỉ hiểu giấc ngủ theo nghĩa thông thường, nên Đức Giê-su phải nói rõ cho các ông biết là La-da-rô đã chết.
Câu 15: “Thầy mng cho anh em, vì Thy đã không có mt đó, đ anh em tin. Thôi, nào chúng ta đến vi anh y”. Đức Giê-su mừng cho các môn đồ, vì họ sắp được chứng kiến quyền năng của Người là cho La-da-rô được sống lại, để nhờ đó các ông vững tin nơi Người.
Câu 16: Ông Tô-ma, gọi là Đi-đy-mô, nói với các bạn đồng môn: “Cả chúng ta na, chúng ta cùng đi đ cùng chết vi Thy !” Đi-đy-mô là tên băng tiếng Hy-lạp của Tô-ma, có nghĩa là “sinh đôi”, nhưng không nói rõ sinh đôi với ai. Tô-ma thường bị coi là kém lòng tin, nên ở đây Gio-an viết như vậy để bù lại. Về sau mọi môn đệ đều chịu chết với Người ( x. Ga 12, 24 – 26 ).
Câu 17: Khi đến nơi, Đức Giê-su thấy anh La-da-rô đã chôn trong mồ được bốn ngày rồi.
Câu 18: Bê-ta-ni-a cách Giê-ru-sa-lem không đầy ba cây số. Theo phong tục người Do-thái thì người chết thường được chôn ngay trong ngày chết ( x. Cv 5, 6 ). Người Do-thái tin rằng trong ba ngày đầu, hòn vía người chết còn lảng vảng gần xác chết. Sang ngày thứ tư khi xác thối rữa, nó mới tan đi. Con số bốn ngày ở đây như muốn nói La-da-rô đã chết thực sự.
Câu 19: Nhiều người Do-thái đến chia buồn với hai cô Mác-ta và Ma-ri-a, vì em các cô mới qua đời. Sau khi chôn cất, bà con xa gần đến thăm an ủi tang gia có khi đến cả tuần lễ.
Câu 20: Vừa được tin Đức Giê-su đến, cô Mác-ta liền ra đón Người. Còn cô Ma-ri-a thì ngồi ở nhà.
Câu 21: Cô Mác-ta nói với Đức Giê-su: “Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết”.
Câu 22: Nhưng bây giờ con biết: “Bất cứ điều gì Thầy xin cùng Thiên Chúa, Người cũng sẽ ban cho Thầy”. Mác-ta tin rằng: nếu Đức Giê-su có mặt khi La-da-rô ốm nặng thì chắc em chị đã khỏi chết. Nhưng bây giờ Người vẫn có thể xin Thiên Chúa cứu em chị.
Câu 23: Đức Giê-su nói: “Em chị s sng li !”
Câu 24: Cô Mác-ta thưa: “Con biết em con s sng li, khi k chết sng li trong ngày sau hết”. Thời Cựu Ước, nhiều người tin có sự kẻ chết sống lại ( x. Đn 12, 2 – 3; 2 Mcb 7, 23; 12, 43 ). Đến thời Đức Giê-su, nhóm Pha-ri-sêu cũng tin như vậy, nhưng nhóm Xa-đốc thì không tin ( Cv 23, 8 ). Riêng Mác-ta tuy tin kẻ chết sẽ sống lại trong ngày tận thế, nhưng vẫn muốn Đức Giê-su cứu sống em chị bây giờ.
Câu 25: Đức Giê-su liền phán: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống”.
Câu 26: “Ai sống và tin vào Thy, s không bao gi phi chết. Ch có tin thế không ?” Đức Giê-su là sự sống phát xuất từ Chúa Cha ( x. Ga 5, 26 ). Người cũng làm cho những kẻ tin Người được sống đời đời ( x. Ga 5, 24 – 25 ). Người cũng sẽ ban cho những kẻ tin được sống lại vào Ngày Cánh Chung, dù xác của họ đã chết ( x. Ga 5, 28 – 29 ).
Câu 27: Cô Mác-ta đáp: “Thưa Thầy, có. Con vẫn tin Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian”. Nói “Thầy là Đức Ki-tô, Đấng phải đến” cũng đồng nghĩa tuyên xưng Đức Giê-su là Đấng Thiên Sai ( x. Ga 1, 19; Mt 11, 3 ).
Câu 28: Nói xong, cô đi gọi em là Ma-ri-a, và nói nhỏ: “Thầy đến ri, Thy gi em đy !” Có lẽ Mác-ta đoán chừng Đức Giê-su muốn gặp em, và cũng muốn chia sẻ niềm vui với em.
Câu 29: Nghe vậy, cô Ma-ri-a vội đứng lên và đến với Đức Giê-su.
Câu 30: Lúc đó, Người chưa vào làng, nhưng vẫn còn ở chỗ cô Mác-ta đã ra đón Người.
Câu 31: Những người Do-thái đang ở trong nhà với cô Ma-ri-a để chia buồn, thấy cô vội vã đứng dậy đi ra, liền đi theo, tưởng rằng cô ra mộ khóc em.
Câu 32: Khi đến gần Đức Giê-su, cô Ma-ri-a vừa thấy Người, liền phủ phục dưới chân và nói: “Thưa Thy, nếu có Thy đây, em con đã không chết”.
Câu 33: Thấy cô khóc, và những người Do-thái đi với cô cũng khóc, Đức Giê-su thổn thức trong lòng và xao xuyến. Theo thói tục của người Do-thái, khi có khách đến viếng xác, thì người nhà bật khóc to, và khách cũng tự nhiên phát khóc lên theo như vậy.
Câu 34: Người hỏi: “Các người để xác anh ấy ở đâu ?” Họ trả lời: “Thưa Thầy, mời Thầy đến mà xem”.
Câu 35: Đức Giê-su liền khóc.
Câu 36: Người Do-thái mới nói: “Kìa xem ! Ông ta thương anh La-da-rô biết mấy !”
Câu 37: Có vài người trong nhóm họ nói: “Ông ta đã mở mắt cho người mù, lại không thể làm cho anh ấy khỏi chết ư ?”
 
      • Câu 38: Đức Giê-su thổn thức trong lòng. Người đi tới mộ. Ngôi mộ đó là một cái hang có phiến đá đậy lại. Trước sự đau khổ của tang gia, Đức Giê-su tỏ ta thái độ cảm thông đầy tình người: Người thổn thức trong lòng và xai xuyến... Người liền khóc... Nhưng thực ra nguyên nhân sâu xa khiến Đức Giê-su phải khóc lên một phần vì sự cứng lòng tin của những người hiện diện ( x. câu 37 ) và vì niềm tin nửa vời của hai chị em Mác-ta và Ma-ri-a ( x. câu 39 ).
Câu 39: Đức Giê-su nói: “Đem phiến đá này đi”. Cô Mác-ta là chị người chết liền nói: “Thưa Thầy, nặng mùi rồi, vì em con ở trong mồ đã được bốn ngày”. Câu 40 Đức Giê-su bảo: “Nào Thầy đã chẳng nói với chị rằng nếu chị tin, chị sẽ được thấy vinh quang của Thiên Chúa sao ?”
+ “Đem phiến đá này đi”: Phần mộ của người Do-thái giàu có thườngkhoét vào núi đá. Sau khi tắm rửa, xác chết được xức thuốc thơm, cuốn băng và phủ khăn liệm, đưa vào phòng chôn rồi lấp cửa ngoài bằng một tảng đá lơn giống như khi an táng Đức Giê-su ( x. Ga 19, 40 – 42 ).
+ “Thưa Thầy, nặng mùi rồi...”: Tuy Mác-ta vừa tuyên xưng đức tin, nhưng lại nghi ngờ quyền nắng ấy. Điều này khiến Đức Giê-su phải nói lời khích lệ: “Nào Thầy đã chẳng nói với chị rằng nếu chị tin, chị sẽ được thấy vinh quang của Thiên Chúa sao ?” Vinh quang ở đây là quyền năng Thiên Chúa tỏ hiện qua việc Người sắp làm cho La-da-rô chết bốn ngày được sống lại.
Câu 41: Rồi người ta đem phiến đá đi. Đức Giê-su ngước mắt lên và nói: “Lạy Cha, con cm t Cha, vì Cha đã nhm li con”.
Câu 42: “Phần con, con biết Cha hng nhm li con, nhưng vì dân chúng đng quanh đây, nên con đã nói đ h tin là Cha đã sai con”. Người Do-thái khi cầu nguyện thì quay mặt về hướng đền thờ Giê-ru-sa-lem. Còn ở đây Đức Giê-su lại ngước mắt nhìn lên trời. Đây là lối cầu nguyện của Ki-tô giáo sau này.
Câu 43: Nói xong, Người kêu lớn tiếng: “Anh La-da-rô, hãy ra khỏi m !” Đức Giê-su ra lệnh cho người chết sống lại. Điều đó cho thấy Người có quyền trên sự chết.
Câu 44: Người chết liền ra, chân tay còn quấn vải, và mặt còn phủ khăn. Đức Giê-su bảo: “Cởi khăn và vi cho anh y, ri đ anh y đi”. Trong số những người Do-thái đến thăm cô Ma-ri-a và được chứng kiến việc Đức Giê-su làm, có nhiều kẻ đã tin vào người. La-da-rô sau khi sống lại phải được người khác cởi khăn và vải liệm. Còn Đức Giê-su sau khi Phục Sinh, tảng đá được lăn khỏi mộ ( x. Ga 20, 1 b ), những băng vải còn để ở đó, và khăn che đầu Người được cuốn lại và xếp riêng ra một nơi ( x. Ga 20, 5 – 7 ). “Nhiều người chng kiến phép l Đức Giê-su làm đã tin vào người”: Đó cũng là chủ đích mà tác giả Tin Mừng muốn nói với chúng ta.
Lm. ĐINH VĂN VÃNG, Giáo Phận Sài-gòn

 

MC5-A46. CHẾT? - Lm Vũ Xuân Hạnh

CHẾT? - Lm Vũ Xuân Hạnh
 

Là người như bao nhiêu người, Chúa Giêsu cũng xót thương, cũng rung động trước nỗi mất mát của: MC5-A46

Là người như bao nhiêu người, Chúa Giêsu cũng xót thương, cũng rung động trước nỗi mất mát của người thân, của bạn hữu. Và Chúa đã thật sự xót thương, thật sự rung động trước cái chết của chàng trai Lazarô, bạn của Chúa. Thế nhưng điều mà Tin Mừng muốn nói không dừng lại ở việc Chúa xúc động. Vượt trên cái chết rất đỗi bình thường của Lazarô, là sự khẳng định quá sức phi thường của Chúa Giêsu: “Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin Ta, dù có chết cũng sẽ được sống. Và kẻ nào sống mà tin Ta, sẽ không chết bao giờ”.

Nhưng lời khẳng định của Chúa có xác đáng không, khi mà thực tế, chết là đau xót, là chia cắt? Chứng kiến cái chết của người thân nhiều khi làm lòng ta se thắt lại. Ta muốn làm một cái gì đó để cứu giúp họ nhưng hoàn toàn bó tay. Thử hỏi lời Chúa Giêsu: “Ai tin Ta, dù có chết cũng sẽ được sống. Và kẻ nào sống mà tin Ta, sẽ không chết bao giờ” có là lời chân thật? Nếu đó là lời xác đáng, thì sự sống mà Chúa Giêsu nói là sự sống nào mà lại “không chết bao giờ”?

Trong một một bài viết mang tên Cõi đi về, mở đầu cho những lời ngậm ngùi tiếc xót một Chủng sinh đã an giấc, linh mục Giuse Nguyễn Hữu An không giấu nổi niềm đau của mình: “Mọi đám tang đều gieo vào lòng tôi một nỗi buồn tê tái”. Nhất là nhìn cảnh Thầy - “một thanh niên đang tuổi xuân ra đi mà mẹ già mắt mờ, lưng còng, tóc bạc đưa tiễn”, thì “chỉ có đau thương, chỉ có buồn sầu và tiếng khóc, chỉ có nghẹn ngào và nước mắt” là đúng lắm. Chết là một mất mát. Lứa tuổi cao niên, chết vẫn thấy đời người dang dở, lứa tuổi xuân thì còn dang dở biết bao nhiêu!

Cái chết của Lazarô, người bạn của Chúa Giêsu, người được gọi là “người Thầy yêu”, không chỉ làm cho hai chị của mình và những người quen biết khóc thương, mà còn làm cho Chúa Giêsu, dù biết rằng sẽ cho anh sống lại, cũng đã “thổn thức và xúc động”. Điều đó càng làm nổi bật cái bi, cái khổ của nỗi chết.

Nếu chỉ suy nghĩ như thế thôi, lời của Chúa Giêsu: “Ai tin Ta…”, đúng là không xác đáng.

Nhưng không đúng! Lời ấy phải được suy niệm bằng đức tin, vì là lời của ĐỨC TIN. Chúa không hề bảo rằng: “Ai suy nghĩ về Ta…”, mà lại nói rằng: “Ai tin Ta…”. Vì thế đọc Lời Chúa, bạn và tôi đừng dừng lại ở chỗ chỉ suy nghĩ mà hãy tiến xa hơn đến chỗ suy niệm. Vì điều quan trọng không nằm ở chỗ biết suy nghĩ, nhưng quan trọng là suy nghĩ trong đức tin. Chỉ trong đức tin, lời của Chúa Giêsu không những là lời xác đáng mà còn là lời ban niềm hy vọng. Một niềm hy vọng mãnh liệt vào sự sống phía sau cái chết, một sự sống “không chết bao giờ”.

Không ai sinh ra là để sống ở trần gian đời đời cả, nhưng sinh ra để rồi chết. Nếu không có đức tin, không mảy may biết một chút gì đến sự sống đời sau, thì rõ ràng, cuộc đời là bi đát. Vì sao lại bi đát? Là vì cuộc sống trần gian giống như một chuyến đi. Ở cuối hành trình của cuộc đời mỗi người không phải danh vọng, địa vị, hưởng thụ, giàu sang, tiền rừng, bạc bể..., mà là cái chết. Chấm dứt tất cả. Giết chết tất cả. Bị cướp mất tất cả.

Trong cái chết, có lẽ con người ta cô đơn nhất. Dẫu có hai người sát cạnh nhau cùng chết, cũng khó có thể nói rằng: chết cùng, chết với. Mỗi người là một cái chết, rất tư riêng, không bao giờ hòa trộn, không bao giờ lẫn lộn. Trong cái chết, con người ta trở thành nghèo nhất: bỏ lại tất cả, chỉ có hai bàn tay trắng. Điều còn lại chỉ là một cái xác không hồn. Nhưng cái xác không hồn này rồi cũng phải bị vùi dập, hay thiêu đốt lập tức, vì nó sẽ thối rữa đến đến tan nát, đến mất mát, đến không còn gì. Rõ ràng bi đát, rất bi đát…

Nhưng người Kitô hữu có đức tin. Họ xác tín mạnh mẽ vào Đấng là Thiên Chúa đã làm người chia sẻ đến cùng kiếp sống con người của họ. Người đã chết thật, nhưng đã đi bước trước để dạy họ bài học của sự sống đàng sau cái chết: đó là chính Chúa đã sống lại thật. Sự sống đàng sau cái chết mới là sống thật, sống vĩnh cửu. Một sự sống không có sự chết. Đấng Phục Sinh ấy, hôm nay, trong Tin Mừng, đã nói một cách tường tận, thẳng thắn với Martha, cũng là nói với bạn và tôi: “Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin Ta, dù có chết cũng sẽ được sống. Và kẻ nào sống mà tin Ta sẽ không chết bao giờ”.

Tin vào Đấng tự mình phục sinh và hứa ban ơn phục sinh cho những ai tin, người Kitô hữu cảm nhận bình an trong cuộc sống. Đức tin giúp họ hiểu rằng, cái chết chỉ là một sự biến đổi để trở về cùng Thiên Chúa. Nhờ đức tin, chúng ta nhận ra ý nghĩa của cuộc đời. Những cố gắng xây dựng cuộc đời sẽ cho ta hạnh phúc tương lai. Nếu hiểu như thế, cuộc đời không bi đát, nhưng đáng yêu.

Bạn và tôi có quyền hy vọng điều mà Chúa đã hứa: “Ai tin Ta sẽ không chết đời đời”!!

Đức tin là chìa khóa mở cửa cho niềm hy vọng của chúng ta.


 

MC5-A47. CHÚA GIÊSU ĐẤNG BAN SỰ SỐNG - Sr Mai An Linh, OP

Jn.11,1-46
 

Chúa Giêsu mạc khải Ngài là Đấng ban sự sống, đó là ý tưởng xuyên suốt phụng vụ Lời Chúa Chúa: MC5-A47

Chúa Giêsu mạc khải Ngài là Đấng ban sự sống, đó là ý tưởng xuyên suốt phụng vụ Lời Chúa Chúa Nhật V Mùa Chay năm A này. Thật vậy, ngay từ bài đọc I trích từ sách tiên tri Ez.37,12-14, tác giả lên tiếng “ Ta mở cửa mồ các ngươi và kéo các ngươi ra khỏi mồ, Ta sẽ cho các ngươi thần trí của Ta và các ngươi được sống”. Qua bài đọc II, thư của Thánh Phaolô tông đồ gửi cho Giáo đòan Roma, Ngài cũng nói : “Thánh Thần của Đấng làm cho Đức Giêsu Kitô từ cõi chết sống lại ở trong anh em”(c. 11). Và nhất là bài Tin Mừng theo Thánh Gioan 11, 1-45 Chúa Giêsu xác quyết : “ Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin Ta dầu có chết cũng sẽ được sống “.

Vâng, Chúa Giêsu chính là sự sống, là Đấng ban sự sống cho những ai tin vào Ngài, điều này được chứng minh qua phép lạ làm cho Lazarô sống lại. Đây là trình thuật dài nhất trong Tin Mừng Gioan và phép lạ chỉ xẩy ra ở lúc cuối, còn phần đầu là chuẩn bị. Cả trình thuật là một thảm kịch được dàn dựng từng hồi, càng lúc càng căng thẳng, cho đến khi được kết cục trong hành vi cuối cùng : Chúa Giêsu mạc khải Ngài là Đấng ban sự sống và đòi con người phải đáp trả bằng niềm tin.

Trong thảm kịch này nhân vật chính không phải là Lazarô mà là Chúa Giêsu, vai trò của Lazarô chỉ là để đưa các nhân vật khác trình diện Chúa Giêsu, như các môn đệ, Matta, Maria và các người Do Thái. Tất cả những người này đều mời gọi đến đức tin.

Trước tiên Matta và Maria nhắn tin cho Chúa Giêsu : “ người Thầy yêu đau liệt ”(c.3), họ không nói sắp chết, cũng không giục phải đến mau vì hai chị em biết rõ Đức Giêsu yêu Lazarô lắm, và chỉ cần nói như thế Đức Giêsu đã biết tình trạng của họ và đã biết cách làm thế nào rồi. Nghĩa là hai chị em đã tin Đức Giêsu là tiên tri, không cần phải nói rõ, Người biết cách hơn họ biết. Ngài biết điều gì cần cần hơn, tốt hơn cho họ…Họ chỉ có niềm tin và tín nhiệm vào Chúa Giêsu.

Và Chúa Giêsu bảo “ bệnh này không đến nỗi chết…Lazarô bạn chúng ta đang ngủ”(c.4a.11b). Chúa Giêsu nói thế không phải là Người không biết Lazarô chết, nhưng Chúa Giêsu muốn nói rằng : những ai chết trong niềm tin vào Đức Kitô thì chỉ là đang ngủ, những ai đang ngủ trong Đức Giêsu, Thiên Chúa sẽ đem họ họ đi làm một với Ngài (x.IThess.4,14), vì Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết, của đầu mùa của những ai đang ngủ(ICor.15,20).

Sau đó Chúa Giêsu muốn cho các môn đệ thấy vinh quang Thiên Chúa và giúp cho các ông thêm lòng tin vào Người nên, khi nghe tin Lazarô đau nặng Ngài còn lưu lại hai ngày và sự việc là Lazarô chết : Họ phải chứng kiến việc Lazarô thực sự đã chết - có mùi rồi - 4 ngày - là cần thiết. Có lẽ chính vì Lazarô là người yêu của Người, gia đình Bêtania là gia đình Người thương mến mà Người đã để cho họ được tham dự vào sứ mạng của Người. Người không đến ngay vì nếu Người đến Người không chịu đựng được việc để bạn Người chết và việc gia đình Matta và Maria phải đau khổ. Chứng cớ là Người đã thổn thức nhiều lần. Rõ ràng Đức Giêsu vừa rất Thiên Chúa vừa rất con người.

Khi đến Bêtania Chúa Giêsu đã mạc khải cho Matta biết chính Ngài là sự sống lại và là sự sống(x. câu 25), các môn đệ cũng nghe điều này. Dĩ nhiên là Chúa Giêsu có ý nói sống lại về phần linh hồn chứ không phải thể xác như Lazarô. Chúa Giêsu sẽ dùng sự việc phục sinh cho Lazarô để nói đến việc Ngài phục sinh phần hồn cho những ai tin vào Ngài. Matta đã mạnh dạn tuyên xưng : “ vâng thưa Thầy con tin”(c.27), chính niềm tin mạnh mẽ này nên Ngài đã làm cho Lazarô chết đã bốn ngày sống lại.

Tuy nhiên để các môn đệ và những người Do Thái tin vào Ngài nên Ngài đã lớn tiếng “ nhưng vì dân chúng đứng quanh đây, nên con đã nói để họ tin là Cha đã sai con”(c.42), đã rõ Chúa Giêsu làm cho Lazarô sống lại phần xác là để mọi người tin vào Ngài, Ngài hô lớn tiếng : “ Lazarô hãy ra ngòai”(c.43). Mọi người đều vui mừng, và kinh ngạc mở mắt to ra nhìn mà không thốt lên lời.

Sứ điệp Tin Mừng :

Qua bài Tin Mừng hôm nay cho chúng ta thấy :

Chúa Giêsu không dửng dưng với tạo vật mà Ngài đã tạo dựng, nên Ngài cũng xúc động, khóc cùng với nước mắt con người. Người không xa lạ với chúng ta mà rất gần gũi, vì cũng là người như chúng ta.

Chúa Giêsu cũng muốn cho con người cộng tác vào những việc lạ lùng mà người làm, nên mời gọi người ta “cất hòn đá đi ” “ hãy cởi ra cho ông ấy”. Vì thế, Thiên Chúa không ngừng mời gọi con người khám phá vũ trụ.

Cầu nguyện đừng dài lời, chỉ cần nói ít như Matta đã cầu nguyện “ kẻ Thầy yêu đau liệt”.Chúa Giêsu phục sinh Lazarô, chính bởi vì Ngài là Lời tạo dựng của Thiên Chúa. Ấy thế mà Ngài sắp phải chết. Đấng vốn là chủ của sự sống, mà nay lại phải mang ách tử thần. Chúa Giêsu muốn thế vì Ngài muốn chiến thắng sự chết bằng cái chết, và Ngài không muốn cứu lấy chính bản thân Ngài mà thôi, nhưng còn cứu tất cả chúng ta nữa.

Lạy Chúa, tảng đá kiêu căng, tự ái đã ngăn cản ơn Chúa hành động nơi chúng con, khép kín tâm hồn chúng con trước những hồng ân diệu vợi của Chúa, và chặn bước chúng con đến với tha nhân. Xin cho chúng con biết giúp đỡ nhau cất bỏ những dịp tội, để Chúa cải biến chúng con thành những tạo vật mới của tình thương và lòng nhân hậu.
 Sr. Mai an Linh OP


 

MC5-A48. EM CHỊ SẼ SỐNG LẠI - Phó tế Nguyễn Định

CHÚA NHẬT 5 MÙA CHAY A / 5th Sunday of Lent

Lời Chúa cho hôm nay: EM CHỊ SẼ SỐNG LẠI - Phó tế Nguyễn Định

* Your brother will rise *

* Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết. Chị có tin thế không? (Gioan 11, 26)

 
  • BÀI ĐỌC 1 : Ê-dê-ki-en 37, 12-14= Ta sẽ đặt Thần Khí của Ta vào trong lòng các ngươi và các ngươi sẽ được hồi sinh./ I will put my Spirit in you that you may live.
  • BÀI ĐỌC 2: Rô-ma 8, 8-11= Anh em không bị tính xác thị chi phối, mà được Thần Khí chi phối. You are not in the flesh, on the contrary, you are in Spirit.
  • TIN MỪNG (Gospel) : Gioan 11, 1-45= Lazarô, bạn của chúng ta đang yên giấc; tuy vậy, Thầy đi đánh thức anh ấy dậy. / Our friend Lazarus is asleep, but I’ m going there to awaken him.
A-Gợi ý Cảm nghiệm Sống và chia sẻ ba bài đọc trên : (Some points of Reflection, live out and share)
 

Mọi ngưòi sẽ sống lại: Theo bài Tin Mừng, cô Mác-ta tỏ ra như trách Chúa đã không đến nhà mình sớm: MC5-A48

1- Mọi ngưòi sẽ sống lại: Theo bài Tin Mừng, cô Mác-ta tỏ ra như trách Chúa đã không đến nhà mình sớm, để đến nỗi em mình chết; nhưng cô cũng tỏ ra rất tin tưởng vào quyền năng và lời của Đức Kitô. Cô thưa: “Con biết em con sẽ sống lại, khi kẻ chết sống lại ngày sau hết.” (Ga 11,24) Theo ảnh hưởng đạo lý của người Pharisêu, người Do thái chỉ tin mọi người sẽ sống lại vào ngày Cánh chung. Nhưng đây Chúa muốn tôi cần sống lại tâm hồn của mình bằng thay đổi đời sống mới, phục vụ tha nhân để sống lại ngay bây giờ, chứ không phải ngày sau hết mới được sống lại. Vì khi tôi thực hành giới răn của Chúa là tôi đã có sự sống của Ngài. Cảm nghiệm thấy sự sống laị của tôi lúc này.

2- Chúa là sự Sống Laị: Thấy lòng tin ngây thơ và chân thành của Mác-ta, Đức Giêsu liền nói: “Chính Thầy là sự Sống lại và là sự Sống. Ai tin vào Thầy thì dù đã chết cũng sẽ được sống.”( Ga 11,24-25) Bà thánh Têrêsa đả cảm nghiệm được sự sống trong Chúa từ giây phút hiện tại, nên trước khi qua đời chị đã yên ủi chị em là đừng có khóc như những kẻ không có niềm tin cậy: “ tôi không chết, tôi vào cõi sống.”. Vi thế bạn có thể chia sẻ với gia đình người quá cố: là vô cùng thương tiếc, hoăc thành kính phân ưu, chứ đừng nói: “thật là mất mát to lớn ”, nhưng nói là: “Ngày trở về nhà Cha, Ngày biến đổi, ngày giải phóng khỏi tội lỗi”. Với niềm tin, bạn đón nhận sự chết sẽ đến như thế naò?

3- Nhờ Thần Khí sẽ hồi sinh: Mọi người chết sẽ được Chúa mở huyệt ra, cho họ lên khỏi huyệt và sau đó: “Ta sẽ đặt Thần Khí của Ta vào trong các ngươi và các ngươi sẽ được hồi sinh.” (Êd 37,14) Thánh Phaolô nói rõ: Thần Khí Thiên Chúa đã cho Đức Kitô sống lại thế nào, Người cũng dùng quyền năng đó làm cho tôi được sống lại. Anh em là đền thờ của Chúa Thánh Thần, chính Ngài đang ngự trong anh em. Khi chịu phép Rửa tội là tôi đã được mai táng với Đức Kitô và được sống lại với Người nhờ các ân sủng. Chúa Thánh Thần hoạt động trong tôi qua những gì.

4- Ơn phục sinh của bạn: Xác thịt là sự chết vì tội lỗi; nhưng Thần Khí lại là sự sống vì được ơn để nên công chính. Vì thế Thánh Phaolô nói: “Nhưng nếu Đức Kitô ở trong anh em, thì dầu thân xác anh em có phải chết vì tôị đã phạm, Thần Khí cũng ban cho anh em được sống.” (Rôma 8, 10) Vâng, Thần Khí là nguyên lý làm cho sống trong đời sống hiện tại và bảo đảm được Phục sinh trong tương lai của người tín hữu. Sự Phục sinh này của bạn sẽ được liên quan chặt chẽ với sự Phục sinh của Đức Kitô là nhờ Thần Khí. Chia sẻ ơn Phục sinh của bạn làm con cái Chúa.

B- Câu Kinh Thánh thúc đẩy bạn và tôi chọn làm Châm ngôn Sống Lại tuần này: (The Best of God’s Word)

AI TIN VÀO THẦY THÌ DÙ ĐÃ CHẾT CŨNG SẼ ĐƯỢC SỐNG (Gioan 11, 25)

Whoever believes in me, though he should die, will come to life

C- Ngay bây giờ bạn và tôi phải làm gì để ăn năn, sửa mình: (Today’s suggested penance / For Action)

a/ bỏ tật nói nhiều, nóng giận khi không vừa ý. b/ Nhịn nhục, tha thứ cho ai làm tôi buồn khổ c/ Tỏ ra quảng đại khi bất công, chèn ép, bạo hành. d/ Vui mừng, mến yêu khi bị hiểu lầm, bỏ vạ, vu khống.

D-Cầu nguyện với Lời Chúa và Sống Cầu nguyện: (I pray and practice/ Pray in Action )

Lạy Cha, Cha đã đặt Thần Khí của Cha vào trong con, để con được hồi sinh. Xin giúp con đừng sống theo tính xác thịt thì sẽ chết; nhưng luôn để Thần Khí Cha canh tân đổi mới tâm hồn, để con đuợc phục sinh không phải sau khi chết, mà ngay từ bây giờ trong Đức Kitô là Chúa chúng con. Amen.

Hoa thơm cỏ lạ: CHÚA CHA BAN THÁNH LINH CHO BẠN, ĐỂ BIẾN BẠN NÊN GIỐNG CON CỦA NGÀI
The Father gave you the Holy Spirit to make you like His Son

 

MC5-A49. Đức Giêsu, sự sống muôn đời - Lm Trần Thanh Sơn

Bài đọc 1: Ez 37, 12-14

Bài đọc 2: Rm 8, 8-11

Tin mừng: Ga 11, 1-45 (11, 3-7. 17. 20-27. 33b-45)

Đức Giêsu, sự sống muôn đời - Lm Trần Thanh Sơn

 

Khởi đầu mùa Chay, phụng vụ đã mời gọi từng người chúng ta theo bước Đức Giêsu vào sa mạc: MC5-A49

Khởi đầu mùa Chay, phụng vụ đã mời gọi từng người chúng ta theo bước Đức Giêsu vào sa mạc để học nơi Ngài cách thức chiến thắng cơn cám dỗ (CN I). Đó là một hành trình bỏ mình để chọn Thánh Ý của Thiên Chúa, một hành trình thập giá (CN II). Tuy nhiên đi trọn con đường thập giá này trong cuộc sống mỗi ngày không phải là chuyện dễ dàng. Nó đòi hỏi mỗi người chúng ta một đức tin thật mãnh liệt vào Đức Giêsu, Con Thiên Chúa. Đức tin này không chỉ là một lời tuyên xưng nơi môi miệng, lệ thuộc vào đền thờ, nhưng là một đức tin được xây dựng trên mối tương quan riêng tư của từng người chúng ta với Thiên Chúa trong “Tinh thần và Chân lý”, như lời Đức Giêsu nói với chị phụ nữ thành Samaria, mà chúng ta đã cùng nhau suy niệm trong Chúa Nhật III mùa Chay.

Gắn bó với Đức Giêsu, mỗi người chúng ta sẽ không phải đi trong tối tăm, và cũng không sợ phải lầm đường lạc lối, bởi lẽ chúng ta sẽ được ánh sáng của Ngài soi đường chỉ lối (CN IV). Và tuyệt vời hơn nữa, khi thuật lại câu chuyện Đức Giêsu làm cho Lazarô sống lại hôm nay, phụng vụ cho chúng ta thấy ánh sáng của Đức Giêsu không chỉ soi đường dẫn lối cho mỗi người chúng ta trong cuộc sống hiện tại, nhưng ánh sáng đó sẽ tiếp tục dẫn đưa chúng ta đến sự sống muôn đời.

1. Mầu nhiệm sự dữ:

Theo cái nhìn công bằng tự nhiên, chúng ta thường gắn liền đau khổ, hình phạt với các lầm lỗi. Có tội là có hình phạt, và sự chết chính là hình phạt nặng nề nhất của tội. Chính vì thế, đau khổ, sự chết luôn là một điều đáng sợ, và là một vấn nạn cho con người từ xưa đến nay. Đặc biệt là khi phải đối diện với sự chết, nhất là cái chết của một người thân yêu trong gia đình, thì nét bi thương này lại khơi lên trong lòng chúng ta một nỗi đau khôn nguôi, và vấn nạn về các vấn đề sự dữ lại trở nên như một thử thách to lớn cho đời sống đức tin của mỗi người chúng ta.

Tuy nhiên, với Đức Giêsu, đau khổ, sự chết không chỉ là hậu quả của tội, nó còn là cơ hội để làm vinh danh Thiên Chúa. Trong bài Tin mừng, khi nghe tin Lazarô đau nặng, Đức Giêsu đã nói: “Bệnh này không đến nỗi chết, nhưng để làm sáng danh Thiên Chúa và do đó, Con Thiên Chúa được vinh hiển”. Vâng, Đức Giêsu đã không đến ngay khi hay tin Lazarô đau nặng khiến ông phải chết. Trước mắt mọi người, cái chết của Lazarô đã khiến cho hai người chị là Matta và Maria phải đau lòng, than khóc, nhưng đồng thời, nó cũng là cơ hội để thanh luyện và làm cho đức tin của hai chị em Matta và Maria ngày càng trở nên tinh tuyền và vững chắc hơn. Nó đã dẫn đưa đức tin của Matta từ chỗ coi Đức Giêsu như một người cầu bầu quyền thế trước mặt Thiên Chúa, khi chị thưa với Đức Giêsu: “Thưa Thầy, nếu Thầy có mặt ở đây thì em con không chết. Truy nhiên, ngay cả bây giờ, con biết Thầy xin gì cùng Thiên Chúa, Thiên Chúa cũng sẽ ban cho Thầy”, đến chỗ tuyên xưng: “Con tin Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống đã đến trong thế gian”. Và rồi khi Đức Giêsu cho Lazarô đã chết bốn ngày được sống lại, thì không chỉ Matta và Maria tin vào Ngài, nhưng “một số người Do thái đến thăm Maria, khi được chứng kiến những việc Chúa Giêsu làm, cũng đã tin vào Người”.Thiên Chúa đã dùng tất cả mọi sự để thanh luyện đức tin của chúng ta, và làm cho Danh Ngài được tỏ lộ. Ngay cả cái chết, biểu trưng cho quyền lực tối cao của sự dữ, cũng là cơ hội để Thiên Chúa biểu lộ vinh quang của Ngài. Giờ đây, Đức Giêsu đã trở nên niềm hy vọng cho tất cả những ai đang bước đi trong đau khổ, thử thách. Hơn nữa, với việc làm cho Lazarô sống lại, Đức Giêsu thực sự chứng tỏ, Ngài chính là nguồn của sự sống muôn đời.

2. Đức Giêsu, sự sống muôn đời:

Trong thế giới này, không có điều gì xảy ra ngoài vòng tay yêu thương của Thiên Chúa (x. Rm 8, 28). Chính trong niềm tin tưởng và cậy trông vào lòng nhân từ hay thương xót của Thiên Chúa, ngôn sứ Êdêkien đã loan báo cho dân lưu đày niềm hy vọng sẽ được hồi hương, được phục hồi lại sự sống, trở thành những con người tự do: “Hỡi dân Ta, nầy Ta sẽ mở cửa mồ các ngươi, Ta sẽ kéo các ngươi ra khỏi mồ và dẫn dắt các ngươi vào đất Israel… Ta sẽ làm cho các ngươi an cư trên đất các ngươi”.

Không chỉ là giải thoát con người khỏi thân phận nô lệ về mặt thân xác, nhờ Đức Giêsu, con người được giải thoát khỏi ách nô lệ của tội lỗi, nguyên nhân của mọi đau khổ và cái chết. Trở lại với bài Tin mừng, chúng ta thấy trước nỗi đau khổ, bi thương tột cùng của Matta khi phải từ giã người em thân yêu, Đức Giêsu đã nói với chị: “Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin Ta, dầu có chết cũng sẽ được sống. Vậy kẻ nào sống mà tin Ta, sẽ không chết bao giờ”. Vâng, Đức Giêsu chính là niềm hy vọng và là Đấng duy nhất có khả năng đem lại sự sống vĩnh cửu cho những ai tin vào Ngài. Thánh Phaolô còn khẳng định: “Nếu Đức Kitô ở trong anh em, cho dù thân xác đã chết vì tội, nhưng tinh thần vẫn sống vì đức công chính”. Thánh nhân xác tín, nếu có Đức Giêsu ở cùng, thì cho dù hiện tại có đau khổ, thử thách, gian truân, chúng ta vẫn không tuyệt vọng, cùng đường, vì “Nếu Thánh Thần của Đấng đã làm cho Đức Giêsu Kitô từ cõi chết sống lại ở trong anh em, thì Đấng đã làm cho Đức Giêsu Kitô từ cõi chết sống lại cũng cho xác phàm hay chết của anh em được sống, nhờ Thánh Thần Người ngự trong anh em”

3. Lời mời gọi gắn bó với Đức Giêsu:

“Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin Ta, dầu có chết cũng sẽ được sống. Và kẻ nào sống mà tin Ta, sẽ không chết bao giờ.”, đó là lời hứa của Đức Giêsu, một lời hứa đem lại niềm hy vọng cho biết bao người qua muôn thế hệ. Các tông đồ thấy dấu lạ nước hoá thành rượu ở Cana thì đã tin vào Đức Giêsu. Những người Do thái khi thấy Đức Giêsu mở mắt người mù từ thuở mới sinh và hôm nay họ lại chứng kiến việc Đức Giêsu làm cho Lazarô sống lại, thì cũng đã tin vào Người. Và chính nhờ tin vào Đức Giêsu, biết bao nhiêu người đã có đủ can đảm, để vượt qua mọi thử thách, đau khổ trong cuộc sống hàng ngày. Còn tôi và quý OBACE hôm nay thì sao? Mỗi ngày chúng ta cũng đang chứng kiến biết bao nhiêu là dấu lạ Thiên Chúa đang thực hiện quanh ta, thế nhưng chúng ta có tin không?

Một mầm cây mới mọc, một nụ hoa hé nở, một em bé chào đời, một tia nắng sáng, một giọt sương mai lung linh trên lá, và ngay cả một trận cuồng phong, một cơn động đất, sóng thần… tất cả đều là dấu chỉ Thiên Chúa gởi đến để nhắc bảo và nói cho chúng ta biết về tình yêu và quyền năng của Ngài. Thế nhưng, chúng ta có nhận ra tiếng nói của Thiên Chúa và có dám đặt trọn con người và cuộc sống của chúng ta trong tay Ngài không?

Lắng nghe lời Chúa hôm nay, chớ gì ngay từ giờ phút này, mỗi người chúng ta xác tín hơn vào tình yêu và sự quan phòng của Thiên Chúa. Chúng ta hãy quyết tâm gắn bó với Chúa nhiều hơn qua việc siêng năng và sốt sắng tham dự Thánh lễ và hiệp lễ, để nhờ có Đức Giêsu trong mình, mỗi người chúng ta cũng sẽ nhận được sự sống muôn đời, như lời Ngài đã hứa. Amen.


 

MC5-A50. TÔI TIN XÁC LOÀI NGƯỜI SẼ SỐNG LẠI

Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb
TÔI TIN XÁC LOÀI NGƯỜI SẼ SỐNG LẠI - Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb

Ga 11, 1-45

 

Trên đường rao giảng Tin mừng, Chúa Giêsu không ít lần thực hiện phép lạ hầu đem đến cho con người: MC5-A50

Trên đường rao giảng Tin mừng, Chúa Giêsu không ít lần thực hiện phép lạ hầu đem đến cho con người sự bình an đích thực và cũng là dịp để họ nhận ra Người chính là Con Thiên Chúa, Đấng phải đến. Tuy nhiên, Tin mừng Gioan chỉ ghi lại bảy phép lạ tiêu biểu mà thôi và, phép lạ cho Ladarô sống lại là phép lại cuối cùng để nói lên quyền năng của Người.

Bêtania, ngôi làng nằm bên sườn núi Ôliu, chỉ cách Giêrusalem gần 3 cây số về phía đông, ngày hôm nay chứng kiến phép lạ siêu phàm Chúa Giêsu thực hiện cho gia đình của Mácta và Maria: Ladarô, người em thân yêu của họ sống lại khi đã chết trong mồ bốn ngày! Việc kẻ chết sống lại do quyền năng của Thiên Chúa được Kinh thánh ghi lại không hiếm. Chúng ta có thể thấy một lần Ngôn sứ Êlia làm cho con trai của bà goá ở Xarépta sống lại; một lần Ngôn sứ Êlisa cho cậu quý tử của bà Sunêm sống; và một lần thánh Phêrô khi còn ở Lốt và Giaphô đã khiến cho bà Linh Dương (Tabitha) ở Giaphô sống lại (x. 1V 17, 17-24; 2V 4, 18-37; Cv 9, 36-43). Tin mừng ghi lại ba lần Chúa Giêsu cho kẻ chết sống lại. Một lần cho con gái ông Giaia, một lần cho con trai bà goá thành Nain và lần này cho Ladarô. (x. Mc 5, 21-43; Lc 7, 11-17).

Rõ ràng giáo lý về sự sống lại đã có từ lâu nhưng phải đợi đến trường hợp của Ladarô, Chúa Giêsu mới tỏ hiện giáo lý ấy cách đầy đủ và sẽ hoàn thiện nó cách toàn hảo khi Người chỗi dậy từ cõi chết. Giáo lý đó Chúa Giêsu muốn gửi đến cho chúng ta mà hôm nay Mácta, chị Ladarô là đại diện.

Ai cũng biết tình cảm của Chúa Giêsu dành cho gia đình của Ladarô rất thân thiết. Thế nhưng khi nghe tin Ladarô bị bệnh, Chúa Giêsu không đi ngay, Người vẫn ở lại Épraim đến hai ngày. Điều này thật tai hại. Vì như chúng ta biết khi Chúa Giêsu đến Bêtania thì Ladarô đã chết và được chôn cất đến 4 ngày! Ngay Mácta vốn rất yêu quý Chúa Giêsu nhưng khi ra đón Chúa, câu nói của cô có gì đó chứa đựng sự trách móc, giận hờn : “Nếu có Thầy ở đây thì em con đã không chết”. Trách móc cũng phải thôi nhưng đó lại chính là khởi điểm cho một giáo huấn về sự sống lại mà Chúa Giêsu muốn dành cho chị cũng như cho mỗi người chúng ta.

Tin mừng Gioan luôn làm nổi bật mối tương quan giữa niềm tin và phép lạ. Phép lạ đưa đến niềm tin và ngược lại. Trong trường hợp Ladarô, chính niềm tin, lời tuyên tín của Mácta đưa đến phép lạ. Đây là điểm giáo lý rất quan trọng. Phép lạ đưa đến niềm tin không cần bàn cãi nhiều. Bởi chính Chúa Giêsu đã dùng nhiều phép lạ như những bằng chứng hữu hình cho thấy chính Người là Đấng Mêsia mà Cựu ước đã loan báo và để dân chúng thấy và tin theo Người. Tuy nhiên, đây chỉ là lối tiếp cận niềm tin ở mức độ thấp mà thôi, nghĩa là thấy mới tin. Chúa Giêsu muốn chúng ta tiếp cận niềm tin ở mức độ cao hơn như Người đã quả quyết với thánh Tôma ngay sau khi phục sinh : “Phúc thay những ai không thấy mà tin” (Ga 20, 29b). Trước khi cho Ladarô sống lại, điều Chúa Giêsu muốn Mácta là phải TIN. Chính Mácta đã tuyên tín niềm tin đó với tình yêu và lòng mến chân thành : “Thưa Thầy, con vẫn tin Thầy là Đức Kytô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian”. Hiệu quả của niềm tin chính là việc Ladarô, em chị được sống lại. Đây chính là niềm tin trưởng thành. Niềm tin không cần đến phép lạ. Niềm tin ấy dẫn dắt Giáo hội suốt hơn hai ngàn năm qua và sẽ mãi tiếp tục cho đến thời viên mãn.

Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại”. Lời tuyên xưng ấy chính là niềm tin của chúng ta, niềm tin của Giáo hội lữ hành. Chúng ta có thể nói rằng : Nếu không có sự sống đời sau, nếu xác loài người không sống lại, thì niềm tin của chúng ta quả là điên khùng. Biến cố Ladarô sống lại và không lâu sau đó, chính Chúa Giêsu cũng chỗi dậy từ cõi chết là dấu chứng hùng hồn, không thể phai mờ cho niềm tin của chúng ta. Lạy Chúa, chúng con loan truyền Chúa đã chịu chết và tuyên xưng việc Chúa sống lại cho đến khi Chúa lại đến.

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây