Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật I MC ABC Bài 351-400 Chúa để quỉcámdỗ

Thứ bảy - 29/02/2020 01:20
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật I MC ABC Bài 351-400 Chúa để ma quỉ cám dỗ
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật I MC ABC Bài 351-400 Chúa để ma quỉ cám dỗ
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật I MC ABC Bài 351-400 Chúa để quỉcámdỗ
MC1-351: Cuộc Chiến Nội Tâm.. 2
MC1-352: Đừng để bị cám dỗ. 3
MC1-353: Nếu chay tịnh là để … thì đi tu là yêu đời …... 7
MC1-354: CÁM DỖ.. 11
MC1-355: CHIẾN ĐẤU! 14
MC1-356: CHÚA NHẬT I MÙA CHAY NĂM B.. 16
MC1-357: CHÚA NHẬT I MÙA CHAY B.. 17
MC1-358: ĐỨC GIÊSU CHỊU XATAN CÁM DỖ.. 20
MC1-359: CÁM DỖ.. 21
MC1-360: CHÚA NHẬT 1 MÙA CHAY.. 23
MC1-361: VÀO HOANG ĐỊA VỚI ĐỨC GIÊSU.. 24
MC1-362: THÁCH ĐẤU.. 26
MC1-363: VÀO VƯỜN ĐỊA ĐÀNG MỚI 28
MC1-364: ‘SÁM HỐI’ LIÊN QUAN GÌ TỚI  ‘TIN VÀO TIN MỪNG’?. 31
MC1-365: CHIẾN THẮNG LÒNG THAM... 33
MC1-366: SA MẠC KHÔNG NÓNG.. 35
MC1-367: Cải thiện. 36
MC1-368: Đức Giêsu chia sẻ thân phận con người 37
MC1-369:Cám dỗ trong hoang địa –. 39
MC1-370: Đức Giêsu trong hoang địa. 41
MC1-371: Ăn chay – Lm. Vũ Đình Tường. 45
MC1-372: CHÚA GIÊSU BỊ CÁM DỖ.. 46
MC1-373: CHÚA NHẬT I MÙA CHAY.. 48
MC1-374: Sống tinh thần mùa Chay với Chúa Giê-su. 50
MC1-375: Người Ở Trong Hoang Địa. 52
MC1-376: Chúa Nhật I mùa Chay,B.. 53
MC1-377: CHÚA NHẬT 1 MÙA CHAY.. 57
MC1-378: Chúa Nhật I mùa Chay - B.. 60
MC1-379: Sự cám dỗ. 62
MC1-380: Ba cạm bẫy của ma quỷ. 63
MC1-381: Chay tịnh và cầu nguyện. 65
MC1-382: Lòng thương cảm sâu xa – Peter Feldmier 68
MC1-383: Thần lành, thần dữ. 70
MC1-384: HÃY HỒI TÂM ĐỔI MỚI 72
MC1-385: Sau cơn hồng thủy. 73
MC1-386: NOI GƯƠNG CHÚA ĐỂ CHIẾN THẮNG CÁM DỖ.. 75
MC1-387: CHIẾN THẮNG MA QUỶ CÁM DỖ.. 78
MC1-388: CHÚA NHẬT I MÙA CHAY.. 84
MC1-389: Hai lối sống - ViKiNi 87
MC1-390: Cám dỗ trong đời sống con người 90
MC1-391: Cám dỗ. 92
MC1-392: Suy niệm của Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền. 93
MC1-393: Đừng tự mãn - Lm. Jos Tạ Duy Tuyền. 94
MC1-394: Khiêm tốn sám hối và sửa mình - Huệ Minh. 95
MC1-395: Suy niệm của Lm. Anthony Trung Thành. 98
MC1-396: Vượt thắng cám dỗ – Lm Giuse Nguyễn Hữu An. 100
MC1-397: Đương đầu với cám dỗ. 104
MC1-398: Cám dỗ. 108
MC1-399: Cám dỗ – Lm. Bùi Quang Tuấn. 108
MC1-400: Cùng Đức Kitô vượt qua thử thách trong đời 110

 

MC1-351: Cuộc Chiến Nội Tâm

Cuộc đời mỗi người được ví như một chiến trường, ở đó con người phải luôn chiến đấu với: B89 MC1-351

Cuộc đời mỗi người được ví như một chiến trường, ở đó con người phải luôn chiến đấu với những trận chiến đôi khi rất cam go và quyết liệt, và là nguyên nhân làm cho con người đau khổ: Chiến đấu với ngoại cảnh, chiến đấu mọi mặt, mọi lúc và mọi nơi... nhất là chiến đấu với chính mình, bởi đàng sau chiến trường đó còn ẩn hiện một sức mạnh vô hình của Xa-tan với những cơn cám dỗ mà sức con người tưởng chừng không thể thắng được. Là thân phận con người, ai ai cũng bị giằng co, xâu xé bởi hai khuynh hướng mâu thuẫn nhau: một bên thì kéo con người lên, một bên lại muốn kéo con người xuống. Hai khuynh hướng đó khiến cho nội tâm con người trở thành bãi chiến trường.
Trong từng ngày sống, mỗi người chúng ta đều đối diện với nhiều cơn cám dỗ: cám dỗ về vật chất, cám dỗ về quyền lực danh vọng, cám dỗ về lòng tin v.v... Trong những lúc gặp khó khăn, thử thách, buồn khổ, ta thường than trách Chúa, thường cầu xin theo ý của ta. Ít ai xin Chúa ban ơn can đảm để chấp nhận và nỗ lực vượt qua thử thách.
Tôi có một người bạn gái đã lập gia đình và có bốn người con. Sống trong hoàn cảnh khó khăn về vật chất, làm bữa nào ăn bữa nấy, đến khi chị bạn tôi có thai người con thứ năm thì chị nghĩ đến chuyện phá thai. Chị đến gặp tôi tâm sự nỗi niềm, tôi khuyên chị: bằng bất cứ giá nào chị phải giữ lại đứa con của chị, đứa con chị đã tạo nên bằng chính máu huyết của mình, đứa con Thiên Chúa đã trao tặng cho vợ chồng chị... Chị nghe lời tôi ra về trong an vui. Nhưng chỉ một tháng sau, chị lại đến nói với tôi là có người bạn làm khoa sản phụ sẽ giúp chị giải quyết cái thai một cách nhẹ nhàng nhanh chóng. Thế là chị mang tâm trạng bất an và giằng co. Tôi khuyên chị hết lời. Sau cùng tôi bảo chị hãy tha thiết cầu nguyện trước khi thực hiện. Khoảng bốn tháng sau chị lại đến gặp tôi, kể cho tôi nghe câu chuyện chị đi phá thai. Chị kể:
- Chị Tâm ơi! Em xin lỗi vì đã không nghe lời chị khuyên bảo. Em đã nghe lời người xấu, và đã đi phá thai như ý định.
Tôi tròn mắt:
- Tại sao lại như thế?
- Chị đừng vội giận, bình tĩnh nghe em kể. Chị biết không? Ngày em đến gặp chị và chị khuyên em hãy tha thiết cầu nguyện trước khi thực hiện. Em đã làm như lời chị khuyên, em cầu nguyện thật nhiều. Nhưng không hiểu sao em vẫn bị cám dỗ một cách mãnh liệt là phải phá cái thai đó đi. Lúc đó em nghĩ: chỉ có đi phá thai thì cuộc sống mới tạm ổn đôi chút... Bên cạnh đó người bạn em lại luôn khích lệ và ủng hộ em. Thế là em nhận lời. Nhưng không hiểu sao cứ mỗi lần em dong chiếc xe ra đến cửa thì lại có chuyện trục trặc: lúc thì xe hư không đạp được, có hôm chạy được một quãng đường thì bánh xe bị xì, em phải quay về nhà. Cho đến một hôm em lại xách xe đi. Trên đường đi em bỗng thấy tâm hồn mình nó làm sao í! Như có một cái gì thật nặng đè trên em, và đôi chân chùn lại, em không còn sự hăng hái như lúc đầu nữa. Em đứng giữa đường trong sự giằng co dằn vặt của tâm hồn, nửa muốn bước đi, nửa chân chùn lại. Phải đến gần nửa giờ đồng hồ em đứng giữa đường với tâm trạng như thế. Sau cùng như có một sức bật, em quyết định quay trở về.
Đức Giêsu khi chấp nhận mang thân phận con người cũng không được miễn trừ định luật đó, Người cũng bị cám dỗ, cũng có những nỗi giằng co xâu xé tâm can khi đứng trước cơn cám dỗ. Chúa đã được Thần Khí đưa vào hoang địa để bị thử thách, bị cám dỗ, nghĩa là bị đặt vào tình huống phải chọn lựa gắt gao, và Người đã chiến thắng bởi Người đã được Chúa Cha nâng đỡ qua lời cầu nguyện.
Lạy Chúa trong Mùa Chay Thánh này, xin cho con được thần Khí Chúa dẫn con vào hoang địa nội tâm sâu kín. Ở đó con sẽ được nâng đỡ và tìm được sự chiến thắng qua đời sống cầu nguyện. Amen
Sr. GM. Lệ Tâm

 

MC1-352: Đừng để bị cám dỗ

(Mc. 1:12-15)
 

Năm 1974, ông bà Margulies bị mất một bức tranh trị giá 100 ngàn Dollas, Ông bà đã mua: B90 MC1-352

Năm 1974, ông bà Margulies bị mất một bức tranh trị giá 100 ngàn Dollas, Ông bà đã mua lại được với giá 200 ngàn Dollas. Sau khi điều tra, cảnh sát cho hay người ăn trộm bức tranh chính là con trai (20 tuổi) của ông bà.
Rùng rợn hơn nữa là khi tra vấn quan tòa đã khám phá ra ý định của cậu là dùng 20 ngàn Dollas đặt cọc cho người giết bố mẹ. Ngày phiên tòa xử tội, ông bà có mặt. Người cha biện hộ trước tòa là:
- Con tôi đã mất ý thức việc nó đã làm. Từ nay tôi xin chịu trách nhiệm cho nó.
Quan tòa hỏi cách phân vân:
- Ông không biết ông làm vậy thì mạng sống của ông sẽ bị đe dọa không? Ông bố gật đầu:
- Có. Quan tòa nói tiếp:
- Vậy ông muốn liều mạng vì con ông sao?
- Vâng.
Thái độ của ông giúp chúng ta hiểu ý nghĩa quan trọng của Mùa Chay. Ông bố nói: "Con tôi đã mất ý thức về việc nó làm". Ông không muốn kiện con, nhưng ông muốn con ông tìm ra ý nghĩa việc mình làm. Ông muốn con ông tìm ra giá trị của việc mình làm. Ông muốn con ông hiểu về tội lỗi nó đã lỗi phạm tới cha mẹ, để nó hối hận mà trở về: "Xin cha tiếp tục thương con".
Mùa Chay nhắc nhở ta trở về với Chúa, sau một thời gian lỗi phạm mà Ngài còn thương tha thứ.
Bài Phúc Âm mời gọi chúng ta suy niệm giai đoạn Chúa bị ma quỉ cám dỗ. Nhưng Chúa đã phản ứng ra sao?
- Nếu ông có quyền thì hãy biến cục đá này nên bánh mà ăn.
- Nếu ông có quyền thì hãy nhảy xuống, xức mấy mà ông bị xẩy chân.
- Nếu ông có quyền thì hãy thờ lạy ta, chẳng mất mát gì cả, mà ông lại được cả thế gian này nữa.
Chúa đã không chọn đường lối mà có lẽ ta lựa chọn. Nếu ta có cuốn sách ước thì ta sẽ ước:
- Có của ăn uống cao lương mỹ vị, ngon, khoái khẩu.
- Có xe hơi nhà lầu, khỏi đi bộ, hơn người.
- Có đồ dùng đầy đủ khỏi túng, khỏi xin.
- Có danh vọng quyền cao, ăn trên ngồi trốc....
Tóm lại, Chúa bằng lòng sống theo thân phận con người, vâng theo định luật của Thiên Chúa: Cứ đói cào cấu, cứ đi mượn, đi xin, cứ một manh áo che thân, cứ đi chân không, chết không chỗ chôn để chỉ phụng sự một mình Thiên Chúa thôi.
Câu chuyện ông bà Margulies cho ta thấy: Người con trai ông đã quên đi tình thương của cha mẹ sinh thành, đã ngỗ nghịch theo nhân tính muốn đoạt gia tài, muốn phung phí của cải và muốn bất nhân bội bạc. Thái độ của con người chúng ta cũng thế: Sau bao ngày sống dong duổi chốn trần gian này, ta đã phạm tội bất hiếu với chúa Mẹ, đã oán trách Thiên ý đã dành cho mình nơi trần gian. Đã ao ước sự đời và vồn vã thụ hưởng, đã quên đi ý nghĩa tôn thời Thiên Chúa để theo thần tượng, của cải, danh vọng tiền tình tài danh và trăm sự tội khác.. .. ..
Đã quên rằng Thiên Chúa vẫn rất nhân từ vẫn thương xem, vẫn giúp đỡ, che chở cho ta trong mọi nỗi khó khăn cuộc sống, vẫn đánh động lương tâm để ta trở về với Ngài.
Bài đọc thứ nhất "Ta sẽ đặt cầu vồng làm giao ước tình thương và không phạt dữ dội như lụt đại hồng thủy nữa."
Mùa Chay này là mùa trở về, là mùa thống hối đón nhận tình thương, ăn năn lỗi lầm để hòa giải, Ý thức sự đời chóng qua để tìm lại đời vĩnh cửu sau này.
Mùa Chay nhắc nhớ ta đặt lại giá trị của đời sống, nhắc nhớ lại mối liên hệ tình thương giữa Thiên Chúa và chúng ta. Đừng để lòng mình bị lôi cuốn và chết chìm trong lụt cả thời Noe mà cái lụt của thời nay là vật chất, văn minh, tiện nghi, dục tình, xã hội băng hoại......
Ước chi mỗi người chúng ta ý thức được ý nghĩa của mùa kêu gọi, duyệt lại đời mình từ bộ óc, con tim, từ hành động, ý hướng để dẹp bỏ những cái không đâu, dư thừa, lộn xộn, để trở về với tình thương tha thứ của Chúa. Ca lên: Lạy Chúa đoái thương nghe tiềng con phàn nàn.
Ai trong chúng ta cũng hiểu ý nghĩa của Mùa Chay này như Thánh Gioan Tiền Hô đã gọi là mùa hối cải. Thánh Augustinô gọi là mùa trở về với lòng mình, trở về với nguyên thủy nhận biết mình là tội lỗi. Thánh Gioan Thánh Giá gọi là mùa ăn năn đền tội. Đức Thánh Cha Gioan 23 gọi là mùa lột xác, mùa cải đổi con người.
Bài Phúc Âm hôm nay nói đến việc Chúa biến hình, cũng mang ý nghĩa của một mùa nhìn vào sự thật của mình. Sự thật của Chúa Giêsu mặc xác thể loài người, còn chính Ngài là Thiên Chúa, sáng láng oai nghi, đáng tôn đáng kính. Sự thật của loài người là hình ảnh tốt lành của Thiên Chúa, bị tội lỗi phá vỡ sự tốt đẹp đó.
Nhân lễ Chúa Biến Hình, tôi cống hiến quý vị một mẩu chuyện sống giữa xã hội loài người, để chúng ta cùng nhau suy nghĩ. Chuyện kể rằng: Lệ Hoa, nàng là một họa sĩ trẻ đẹp, tốt nghiệp cao đẳng Mỹ Thuật và Hoàng Minh, một trang thanh niên tuấn tú, hiền lành, đẹp trai và đầy đủ giáng dấp của một mẫu người đáng mến. Chàng đã được nàng ưng chọn làm mẫu để vẽ lại nét dịu hiền đáng mến của thánh Gioan trong bức tranh Tiệc Ly, Chúa ngự giữa 12 tông đồ.
Chưa tìm được gương mặt bạo hành dữ tợn đề vẽ gương mặt Giuda, kẻ phản bội Thầy, thì nàng đã theo ơn Chúa gọi vào Dòng tu. Để lại gia đình bức tranh Tiệc Ly thiếu một gương mặt. Ba năm sau, Hùng Minh vì theo sự thúc đẩy của con tim, chàng đã trở thành một tên nghiện ngập và lao mình vào nghề sát nhân du đãng. Bữa kia vào ăn cướp nhà của vị thân sinh nữ tu Lệ Hoa. Thấy gương mặt hung tàn bạo ngược của tên tướng cướp chịu làm mẫu để ông vẽ nốt gương mặt Giuda trên bức tranh Tiệc Ly mà con gái ông còn để thiếu với số tiền công khá bội. Khi ngồi vào ghế, nhìn bức tranh, tên cướp đã nhìn ra gương mặt thơ ngây dịu hiền của mình hồi xưa trong vai Gioan mà cô Lệ Hoa đã mời chàng ngồi làm mẫu.
Chàng suy tư, xúc động và hối hận vô cùng. Bỗng dưng gương mặt hung tợn, lì lợm của chàng biến đổi, biến đổi một cách lạ lùng khiến ông chủ không thể thực hiện được bộ mặt Giuđa nữa.
Cái gì đã khiến tên tướng cướp thay đổi? Chính là sự suy tư, xúc động và hối hận cuộc sống đớn mạt, cuộc sống lỗi lằm, cuộc sống sa đọa của mình, đã làm thay đổi diện mạo, những nét phong sương của tuổi đời.
Nếu chúng ta muốn có gương mặt hiều hòa duyên dáng, nếu chúng ta muốn có thái độ an vui, bình yên tâm hồn. Nếu chúng ta muốn có một tâm hồn nhẹ nhõm, thanh thơi, một linh hồn trong trắng và hào quang huy hoàng trong ngày đến trước mặt Chúa. Đôi lúc chúng ta cũng phải dừng lại trước những đam mê của tội lỗi, của cuộc sống xa hoa, của yêu cuồng sống vội, của ăn chơi trác tán, của tính nết cộc cằn, nóng nảy, quyền quý, danh vọng.. .. ..
Để nhìn lại guôn mặt hồn nhiên, thanh sạch trọng thời thơ ấu. Để nhìn lại gương mặt kiêu hùng sáng chói hy vọng của thời thanh xuân. Để nhìn lại mặt thật của đời mình, mà thay hình đổi dạng, mà biến đổi cuộc sống, mà bỏ đi những tội lỗi hiện tại, mà mặc lấy dáng nét thanh sạch của tâm hồn, mặc lấy một tinh thần trinh trong trước nhan Chúa, mặc lấy nhân đức trọn lành thánh thiện của con người Chúa đã được tẩy sạch qua phép Rửa Tội.
Chúng ta hãy lợi dụng Mùa Chay Thánh, Mùa mọi người đều hối cải, mùa mọi người đều ăn năn, mùa mọi người đều trở về với lòng mình, mà không sợ ai chê, ai cười, để làm hòa cùng Thiên Chúa, để dọn lòng đón chờ ngày Phục Sinh của ta.
Hãy biến cải con người và thay đổi diện mạo thể xác, đổi cách sống, hầu xứng đáng đón nhận là môn đệ Chúa Kitô trong lễ vượt qua, trong vinh hiển và biến dạng cùng Ngài. Chúa muốn tấm lòng chứ không muốn bộ áo khoác bề ngoài.
Lm. Thu Băng, CMC

 

MC1-353: Nếu chay tịnh là để … thì đi tu là yêu đời …

Niên lịch phụng vụ của Giáo Hội đã chính thức bước Mùa Chay được bắt đầu từ Thứ Tư Lễ: B91 MC1-353

Niên lịch phụng vụ của Giáo Hội đã chính thức bước Mùa Chay được bắt đầu từ Thứ Tư Lễ Tro. Bài Phúc Âm Chúa Nhật Thứ Nhất Mùa Chay bao giờ cũng về biến cố Chúa Giêsu chay tịnh 40 đêm ngày trong sa mạc và chịu ma quỉ cám dỗ. Tuy nhiên, bài Phúc Âm của Thánh Marcô cho Phụng Vụ Chu Kỳ Năm B, không dài dòng như Phúc Âm Thánh Mathêu và Thánh Luca đi sâu vào diễn tiến Người bị cám dỗ ra sao, chỉ nhắc đến sự kiện Chúa Giêsu bị ma quỉ cám dỗ mà thôi: “Thần Linh đưa Chúa Giêsu vào sa mạc. Người ở trong nơi hoang vắng này 40 ngày, bị Satan cám dỗ. Người ở giữa những hoang thú, và được các thiên thần hầu cận”. Giáo Hội đã lợi dụng cái ngắn gọn của Phúc Âm Thánh Marcô ở chỗ này để thêm một chi tiết rất quan trọng vào ngay sau khi Chúa Giêsu chay tịnh và chịu cám dỗ, một chi tiết mà dường như Giáo Hội muốn con cái mình phải nhận thức là việc chay tịnh phải hướng đến vấn đề truyền đạt sự sống nội tâm, nghĩa là để làm việc tông đồ: “Sau khi Gioan bị bắt giam, Chúa Giêsu xuất hiện ở Galilêa loan báo tin mừng của Thiên Chúa: ‘Đây là thời gian viên trọn. Triều đại Thiên Chúa đã đến! Hãy cải thiện đời sống và tin vào tin mừng!’”
Về sự kiện Chúa Giêsu chay tịnh và bị Satan cám dỗ, Phúc Âm Thánh Marcô còn thêm một chi tiết không có trong Phúc Âm Thánh Mathêu, nhất là trong Phúc Âm Thánh Luca. Chi tiết đó là “Người ở giữa những hoang thú, và được các thiên thần hầu cận”. Căn cứ vào câu Phúc Âm của Thánh Marcô đây, thì chi tiết thứ hai, “và được các thiên thần hầu cận”, tự nhiên làm cho người đọc khách quan, chẳng hạn những người không phải Kitô hữu, sẽ nghĩ rằng, Chúa Giêsu chay tịnh kiểu đó thì ai mà chẳng chay tịnh được, chay tịnh kiểu có các thiên thần hầu cận, một sự kiện có thể hiểu được là hễ bao giờ thân xác của Người cảm thấy đói quá hay khát quá theo bản tính yếu đuối hạn hữu của loài người thì các thiên thần đem bánh trái cho Người ăn hay nước nôi cho Người uống. Thế nhưng, về vấn đề Chúa Giêsu có ăn uống gì không trong 40 ngày này, Phúc Âm Thánh Luca đã ghi nhận như sau: “Trong thời gian đó, Người đã không ăn uống gì nên sau đó Người cảm thấy đói” (4:2). Còn vấn đề các thiên thần hầu cận Người có cho Người ăn trong thời gian này chăng, Phúc Âm Thánh Mathêu ghi nhận là sau khi “ma qủi bỏ Người mà đi thì các thiên thần đã đến phục dịch Người” (4:11).
Tuy nhiên, ở đây, trong đoạn trình thuật rất ngắn ngủi của Thánh Marcô về biến cố 40 ngày trước khi Chúa Giêsu chính thức bước vào cuộc đời công khai của Người, Phúc Âm đã cho chúng ta thấy được tất cả mọi sự đã được Thiên Chúa dựng nên ngay từ ban đầu, bao gồm hết mọi loài. Trước hết là khoáng vật, được biểu hiệu nơi cảnh “sa mạc” đầy những đất đá khô cằn, (bởi thế Satan đã lợi dụng những gì có sẵn ở đó như “đá” để cám dỗ Chúa Giêsu biến đá thành bánh mà ăn cho đỡ đói, như được Phúc Âm Thánh Mathêu và Luca đều thuật lại ở đoạn 4 câu 3). Thứ đến là thực vật cây cối là những gì tuy không minh nhiên được nói đến theo ngôn từ như chữ “sa mạc” trên đây, nhưng sự kiện có những loài hoang thú ở với Người đã chứng tỏ nơi Người ở có thể là một khu rừng “hoang vắng” không ai sinh sống. Sau nữa là đến loài vật, như rõ ràng được Phúc Âm ghi nhận, nhưng là hoang thú dữ tợn, “ăn tươi nuốt sống” theo luật rừng, theo bản năng, chứ không phải như loài gia súc thuần thục hiền lành quen sống bên con người. Sau hết là loài thần thiêng vô hình được Phúc Âm nói đến, thành phần hầu cận Chúa Giêsu. Chưa hết, loài thần thiêng ở đây, trong trường hợp này, không phải chỉ có thần lành mà còn có cả thần dữ là Satan nữa. Tất nhiên loài người ở đây được hiện thân ngay nơi bản thân Chúa Giêsu, một con người lịch sử, một con người có xác thịt thật sự, cũng cảm thấy đói khát như ai. Cũng chính ở đoạn Phúc Âm của Thánh Marcô ngắn ngủi này, chúng ta còn thấy những ý nghĩa hết sức sâu xa sau đây.
Trước hết, thân phận loài người là thân phận đệ nhất trong tất cả mọi tạo vật, một thân phận chẳng những chủ trái đất (x Gen 1:28), mà còn được thiên thần hầu cận nữa. Thật ra, các thiên thần đến hầu cận Chúa Giêsu vì Người chẳng những là người thật mà còn là Thiên Chúa thật của các vị nữa. Thế nhưng, vấn đề ở đây là các vị không hầu cận một Vị Thiên Chúa Vô Cùng cao cả trên thiên đình, mà là hầu cận một Vị Thiên Chúa Làm Người, một Vị Thiên Chúa không mặc lấy bản tính của các vị mà là bản tính của một loài hèn kém hơn các vị. Có thể nói, nhân tính của Chúa Giêsu là các tầng trời và thân xác của Người là ngai tòa Vị Thiên Chúa Cao Cả ngự trị để các thần trời chầu chực tôn thờ. So sánh với cấu trúc của Lều Tạm (x Heb 9:2) hay đền thờ Giêrusalem thì có thể ví nhân tính của Chúa Giêsu là nơi cực thánh (x Heb 9:3) và thân xác của Người là hòm bia được các tượng thần cherubim rủ cánh (x Heb 9:5) ở trong nơi cực thánh biểu hiệu cho nơi Thiên Chúa ngự này. Nếu so sánh với các nguyện đường Công Giáo thì nhân tính của Người là cung thánh và thân xác của Người là nhà tạm Thánh Thể vậy.
Sau nữa, hình ảnh Chúa Giêsu sống giữa các con hoang thú này đã gợi lại cảnh địa đàng khi con người mới được tạo dựng, đúng hơn khi mà con người đầu tiên Adong còn đang sống cô đơn lẻ loi giữa loài thú, một con người đang làm chủ chúng và thấu biết từng con, qua việc đặt tên cho chúng thế nào thì chúng nên như vậy (x Gen 2:18-20). Việc các con hoang thú vốn sống theo bản năng dữ tợn ở chung quanh Chúa Giêsu mà không cắn xé Người cũng chứng tỏ cho thấy chúng nhận biết Vị Thiên Chúa Làm Người này, và chúng chỉ phục tùng những con người nào biết làm chủ bản thân mình như Người, tức biết làm theo ý Đấng Tạo Thành là đệ nhất chủ tể của chúng. Thật vậy, nếu hoang thú biểu hiệu cho bản năng lăng loàn, mà con người tràn đầy Thần Linh có thể làm chủ được bản năng của mình, thì không phải là họ có khả năng làm chủ hoang thú, ở chỗ, làm cho chúng thuần phục họ, không phải thuần phục một con người thuần túy, mà là một con người chỉ biết làm theo ý Chúa, tức một con người sống động phản ảnh Vị Chúa Tể của chúng hay sao?

Sau hết, sự kiện Satan xuất hiện ở đây chẳng những cho thấy việc chúng hồ nghi con người Chúa Giêsu vô cùng lạ đời này chính là “miêu duệ người nữ… sẽ đáp nát đầu hắn” (Gen 3:15), mà còn gợi lại cảnh địa đường, nơi hắn lấy hình con rắn để cám dỗ nữ nguyên tổ Evà. Thế nhưng, nếu Evà bị sa ngã vì theo ý riêng của bà, theo sở thích tự nhiên của con người bà thúc đẩy thế nào thì ở đây Chúa Giêsu đã thắng được chước cám dỗ vì Người lúc nào cũng chỉ làm theo Ý Cha của Người, cũng làm theo Thần Linh thúc đẩy như vậy. Ở chỗ, dù đói, tức dù Người được phép ăn và được quyền ăn để bảo vệ sự sống, Người vẫn nhất định không ăn, chẳng những không ăn theo bản năng tự nhiên, mà nhất là không ăn khi đang bị ma quỉ cám dỗ, bằng không, việc ăn uống của Người bấy giờ là việc ăn uống theo chước cám dỗ, theo ý Satan, theo bản năng như con vật là loài sẽ không phục Người nữa vì Người cũng chẳng hơn gì chúng. Việc các thiên thần đến hầu cận Chúa Giêsu sau khi Người thắng được tất cả mọi chước cám dỗ, cách riêng chước cám dỗ đầu tiên về xác thịt, cho chúng ta thấy Người chỉ tìm của ăn không hư nát, đúng như Người đã cho Satan biết rằng: “Con người sống không nguyên bởi bánh, mà còn bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra” (Mt 4:4; x Lk 4:4).
Thật thế, chỉ có bao giờ con người biết làm chủ mình, biết khao khát và sống bởi Lời Chúa, sống theo ý Chúa, sống theo Thần Linh như Chúa Giêsu Kitô trong bài Phúc Âm hôm nay, họ mới có thể rao giảng lời Chúa, loan báo Tin Mừng Cứu Độ mà thôi. Chúng ta nên để ý là, trước khi công khai thực hiện công cuộc loan báo Nước Trời và rao giảng Phúc Âm, Chúa Giêsu đã làm hai việc, việc thứ nhất liên quan đến phần hồn, đó là việc lãnh nhận phép rửa của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả ở Sông Dược-Đăng, và việc thứ hai liên quan đến phần xác, đó là việc chay tịnh 40 ngày trong hoang địa. Việc Chúa Giêsu lãnh nhận phép rửa và chay tịnh này, đối với Người, một con người hoàn toàn vô tội, một Thiên Chúa Làm Người, hoàn toàn là những gì không cần thiết, nếu không muốn nói là bất xứng hợp. Tuy nhiên, sở dĩ Người cần phải thực hiện những hành động tiền Phúc Âm này là vì những lý do sau đây. Lý do thứ nhất, đó là Người muốn tỏ mình ra qua nhân tính tràn đầy Thần Linh của Người, hay nói cách khác, Người muốn nhân tính của Người nói chung và thân xác của Người nói riêng mỗi ngày một trào tràn Thần Linh, cho đến nhân tính này, qua thân xác phục sinh của Người, trở thành phương tiện thông ban Thần Linh cho loài người: “Bấy giờ Người thở hơi trên các vị mà nói: ‘Các con hãy nhận lấy Thánh Linh’” (x Jn 20:21-22). Lý do thứ hai, đó là Người muốn làm gương cho thành phần môn đệ của Người, thành phần muốn theo Người, thành phần sẽ tiếp tục và sẽ thay Người thực hiện sứ mệnh loan báo Nước Trời và rao giảng Tin Mừng của Người khắp thế gian cho đến tận cùng trái đất.
Như thế, việc Chúa Giêsu chay tịnh trước khi chính thức nhập cuộc loan báo Nước Trời và rao giảng Thống Hối, như bài Phúc Âm Chúa Nhật Thứ Nhất Mùa Chay Năm B hôm nay cho thấy, là một chứng cớ hùng hồn cho thấy nhưng sự thật sau đây.
Trước hết, đời sống nội tâm phải là nguồn mạch của hoạt động tông đồ truyền giáo, bằng không, không biết hay không đủ khả năng làm chủ mình, sống theo Thần Linh thúc đẩy, sống theo ý Chúa, con người tông đồ tự động sẽ, một là ngã gục, gẫy cánh, bỏ cuộc vì bị gánh nặng tông đồ đè bẹp, nhất là khi gặp chống đối, trở ngại, hai là, thậm chí có thể đi đến chỗ làm gương mù, như nạn linh mục làm dụng tình dục ở Hoa Kỳ bùng nổ từ đầu năm 2002, hay là trở thành cấp tiến, rối đạo và phá đạo, như một số vị giáo sư dạy trong các đại học Công Giáo, hay như một số thần học gia phổ biến những chủ trương phản tinh thần Chúa Kitô và Giáo Huấn Tông Truyền của Giáo Hội. Thử hỏi, những con người Kitô hữu phá giới hay cấp tiến này có thể tỏ ra những hành động phản tông đồ tác hại cho cả bản thân cũng như cho Giáo Hội này hay chăng, nếu họ có một đời sống nội tâm, được thể hiện qua việc năng lãnh nhận các bí tích, như gương Chúa Giêsu đã lãnh nhận phép rửa thống hối của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả, cũng như qua việc chay tịnh, hy sinh, hãm mình, nguyện cầu như Người đã làm trong hoang địa 40 ngày?
Sau nữa, việc chay tịnh không phải là để làm khổ hay làm hại thân xác cao quí của con người, mà là, đúng hơn, để sửa soạn cho nó phục sinh vinh hiển tốt lành như thân xác của Chúa Kitô. Chính vì chay tịnh liên quan đến Phục Sinh mà việc này đã được Chúa Giêsu, trong bài Phúc Âm Thứ VIII Mùa Thường Niên Năm B, liên kết nó với việc ra đi tử nạn của Người (x Mk 2:19-20), một cuộc ra đi không phải để chết mà là để phục sinh vinh hiển, để làm chủ tội lỗi và sự chết. Bất cứ việc chay tịnh, hãm mình nào không nhắm đến hay đưa đến niềm vui phục sinh, không sinh hoa trái tông đồ, đều là những việc hủy hoại bản thân, ngược lại với tinh thần Chúa Kitô và đường hướng Phúc Âm. Chay tịnh chính đáng và thực sự chẳng khác gì như việc của một hạt lúa miến được gieo xuống đất mục nát đi để nhờ đó có khả năng sinh nhiều hoa trái (x Jn 12:24). Đó là lý do ơn gọi tu trì Kitô giáo không phải là ơn gọi sống siêu thoát một mình, trái lại, ơn gọi này là một ơn gọi tông đồ, ơn gọi phục vụ, ở chỗ bỏ mình đi để dấn thân cho đời, phục vụ đời: “Không phải các con đã chọn Thày, song chính Thày đã chọn các con và sai các con đi để các con sinh hoa trái” (Jn 15:16). Như thế, hành động bỏ thế gian đi tu của người môn đệ Chúa Kitô là hành động yêu đời và cho đời, là việc “đến để phục vụ” như Thày chí thánh của họ vậy (x Mt 20:28)!
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

 

MC1-354: CÁM DỖ

Bài đọc 1: Xh 9,8-15
Bài đọc 2: 1 Pr 3,18-22
Tin mừng: 1,12-15
 

Thanh niên tên Tuấn đã kể lại đời mình sau thời gian cai nghiện thành công: Câu chuyện được: B92 MC1-354

Thanh niên tên Tuấn đã kể lại đời mình sau thời gian cai nghiện thành công: Câu chuyện được Tuấn chia thành ba phần tựa như bài luận văn hồi còn học cấp hai ở trường, cũng có nhập đề, thân bài và kết luận:
Khúc ngoặt đầu đời là giai đoạn bị cám dỗ, nghe theo lời dụ dỗ và chấp thuận hút, chích. Sa đọa vào nghiện ngập, các tệ nạn và tội ác tiếp tục chồng chất lên nhau cứ mỗi lần lên cơn mà không có “đô”. Sau đó, với quyết tâm của chính mình và đồng hành với những lời động viên của gia đình. Tuấn vào trường cai nghiện. Sau khóa cai nghiện, Tuấn trở về với thân thể cường tráng, đầy tự tin và bắt đầu làm lại cuộc đời. Thế nhưng, đoạn kết của bài luận ở trường ngày nào thì ngắn ngủi. Nhưng đoạn kết của sự đổi đời này nơi Tuấn lại quá dài, phải nói được rằng sẽ dài mãi cho đến hết đời của Tuấn. Đó chính là lúc hòa nhập với cuộc sống mới và cũng là cơ hội để Tuấn nhập cuộc lại với tật cũ. Cho nên, Tuấn đã phải trả giá bằng nghị lực, bằng lòng dũng cảm và ý chí quyết liệt. Ngay chiều hôm Tuấn trở về, bạn bè hút sách cũ lại đến rủ rê, gọi mời. Những mối trước kia Tuấn từng đến lấy hàng, nay cũng xuất hiện để chào mời người khách sau thời gian dài vắng bóng.
Cám dỗ lúc này với Tuấn mới thật căng. Trước kia chưa biết đã đành, bây giờ đã biết, đã quen. Thật khốn khổ và khó giữ mình khi miếng mỡ được đặt trước miệng mèo. Con hổ đang nhỏ rãi trước con mồi trong lúc đang đói bụng. Liệu mèo có ăn mỡ, và cọp có vồ mồi không? Câu chuyện đã qua với Tuấn đến nay được trên chục năm trời. Giờ đây Tuấn đã có gia đình với 3 cháu: hai trai một gái. Đến thăm, tôi phải thầm khen ngợi anh, vì ý chí và lập trường kiên vững của Tuấn. Quyết tâm và thành tâm đã vực cuộc đời anh đứng dậy, đứng vững và tiếp tục bước đi trong cuộc sống.
Hôm nay, chúa nhật thứ nhất mùa chay, Giáo hội đồng hành với Tin mừng thánh Máccô trình thuật lại việc Chúa Giêsu sau khi chịu phép rửa, Người đã trải qua 40 ngày đêm chay tịnh. Sa tan đã cám dỗ Ngài. Qua 3 lần, Ngài hoàn toàn chiến thắng.
Chúng ta, những con cái Thiên Chúa qua phép rửa tội. Ma quỷ cũng đang tìm đủ mọi cách để cách ly, chia lìa chúng ta ra khỏi tình yêu Thiên Chúa. Chúng ta hãy cùng chiến đấu và tấn công để chiến thắng. Từng bước một, chúng ta bước vào từng giai đoạn của cuộc chiến:
1/ Chiến đấu với cám dỗ:
Từ vườn diệu quang, nơi nguyên tổ hoan hưởng hạnh phúc. Bẫy cám dỗ ma quỷ đặt gài đã làm cho ông bà sập bẫy. Những lời dụ ngọt, khích bác đã rót vào lòng ham muốn khiến bà Evà đã nghe rắn già và quay nhìn, đã bước đến gần, đã đưa tay hái trái, đã đặt trái cấm vào miệng, đã nhai, đã ăn và vui vẻ hái về đem đến “cám dỗ” ông Adong. Từng bước, từng bước một, ma quỷ đã thành công lớn trong việc cám dỗ nguyên tổ chúng ta.
Với: vui, giận, buồn, sợ, yêu, ghét, muốn chính là bảy mối trở thành những “con giun mồi” để ma quỷ gắn vào lưỡi câu và quăng vào biển đời trần gian để câu những người con riêng của Thiên Chúa. Đấng đối lập với ma quỷ.
Chiến đấu với cám dỗ, trước hết chúng ta hãy xét đến tật xấu trong ta. Hãy lọc ra những đam mê nào nổi nhất? Ham ăn uống, ham bài bạc, ham tiền tài, ham sắc dục, ham danh vọng… Biết được rồi, chiêu thức tiếp theo là sử dụng chiêu “đào vi thượng sách”. Nếu bà Evà đừng đến gần cây trái cấm vì tò mò thì đâu đến nỗi trái lệnh Chúa cấm! Nếu ông Giuđa không ham tiền thì nào đến nỗi phải phản bội qua việc bán Thầy? Tuy nhiên dù có lánh mặt xa lòng khi ta không có ý chí, nghị lực quyết tâm, tất cũng có lúc sa phạm. Then chốt nhất là tự giữ mình, phán đoán và lường lấy sức mình. Xét xem việc này tốt hay xấu, nên làm hay không làm, phân tích tội phát sinh chỗ nào để tránh. Chúa Giêsu đối đầu ba lần với cám dỗ Ngài vẫn thắng. Anh Tuấn qua câu chuyện kể trên, anh cũng đã thắng. Như vậy cái thắng hệ ở sự quyết tâm, can trường và vững mãi lập trường.
2/ Tấn công cơn cám dỗ:
Chẳng may bạn rơi xuống dòng sông, nếu như không biết bơi mà bạn cứ cựa quậy, đạp, vẫy vùng liên tục, hẳn bạn sẽ khó chìm hơn người không làm một động tác nào cả. Sách viết bàn về Đường trọn lành đã cho biết: “Kẻ ở nhưng dễ phát sinh dịp tội”.Trong chiến tranh, trận chiến làm cho từ chỉ huy đến thuộc quyền lo sợ và không ngờ được đó là những lối đánh du kích, những bãi mìn gài sẵn, những cuộc khủng bố… Ma quỷ cũng tìm mọi cách để giăng bẫy hầu bắt lấy linh hồn chúng ta. Cách để không sập bẫy ma quỷ đó là:
- Đề cao cảnh giác, tránh bước vào bẫy.
- Chẳng may phải đối mặt với chước cám dỗ đừng như bà Evà nhẹ dạ, cả tin. Nhưng hãy lặp lại lời chống trả mãnh liệt của Đức Kitô.
- Cầu nguyện để xin Chúa tiếp cứu, bang trợ.
- Dựa vào lời của David nói với Goliat xưa lúc giao chiến: “Mi cậy vào sức mạnh của mi, còn ta, ta dựa vào quyền năng Thiên Chúa”. Như chúng ta biết, cuộc chiến thắng đã giành phần cho David.
3/ Chiến thắng cám dỗ:
- Không nhùng nhằng với dịp tội. Giả như bà Evà không nghe lời rắn, không bước đến gần cây cấm, không đưa mắt nhìn trái cấm hấp dẫn bà, không thò tay hái thì đâu ra nông nỗi?!
- Không dùng trí tưởng tượng để thêu dệt ham muốn. Đấy chính là những giây phút truyền tin, thời gian phát tín hiệu của ma quỷ. Hãy đề cao cảnh giác.
- Không nể vì ai, không khiếp sợ ai, không quy lụy ai. Nếu bất kỳ ai nên dịp cho ta sa ngã, vấp phạm.
Nhưng:
- Hãy khoét mắt, hãy chặt tay nếu vì chúng mà hồn ta phải vào hỏa ngục.
- Hãy tức khắc lánh xa dịp tội.
- Hãy trông cậy, dựa nương vào Chúa, vào Đức mẹ. Chúa và Mẹ sẽ giải gỡ vụ khó khăn cho chúng ta. Vì xin sẽ được, gõ sẽ mở, khóc lóc sẽ được ủi an.
- Hãy chấp nhận ngay cả cái chết nếu cần. Đó chính là phúc tử đạo, đó là phi thuyền máu để bay thẳng vào nước trời. Đừng vì lời lãi thế gian mà mất linh hồn nào được ích gì bạn ơi?
Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi, xin ban cho con luôn biết hướng tâm lên vì Chúa. Chỉ Thiên Chúa là duy nhất và là tất cả đời con. Xin giúp con nên thánh. Xin chớ để con sa chước cám dỗ.
Lạy Đức Trinh nữ rất thánh Mẹ Maria, xin cho con được tình yêu kiên vững như Mẹ, ngõ hầu lời Xin Vâng của Mẹ luôn đồng hành với con trong cuộc sống. Xin Mẹ giúp con lướt thắng các cơn cám dỗ, các dịp cám dỗ trong thân xác, trong tư tưởng, trong cuộc sống của con. Amen.
Phaolô Maria Nguyễn Kim Thanh CMC

 

MC1-355: CHIẾN ĐẤU!

Mc 1, 12 - 15
 

Sống là một cuộc chiến đấu trường kỳ và cam go. Và cuộc chiến đấu cam go nhất của con : B93 MC1-355

Sống là một cuộc chiến đấu trường kỳ và cam go. Và cuộc chiến đấu cam go nhất của con người là cuộc chiến đấu đối với bản thân mình. Kẻ thù không ở đâu xa, kẻ thù đó đang ấn núp ngay trong bản thân mình. Bởi vậy, khi làm người, Chúa Giêsu cũng không thoát khỏi nguyên lý này. Ngài đã chiến đấu quyết liệt và chiến thắng vẻ vang.
Khởi đầu Chúa nhật thứ nhất mùa Chay, hôm nay, thánh sử Macco trình bày việc Chúa Giêsu đã chiến đấu với sự dữ. Cuộc chiến đấu này không mấy dễ dàng. Tuy nhiên, Ngài đã can đảm chiến đấu và đã chiến thắng. Bởi lẽ, mang thân phận con người, Chúa Giêsu không tránh khỏi cám dỗ của ma quỷ, của sự dữ. Macco trình bày một bức tranh thời Tân Ước có đôi nét giống thời Cựu Ước. Trong bức tranh đó, nhân vật nổi bật là chính Chúa Giêsu, Ngài được ví như Ađam mới, khác xa Ađam cũ.  Ađam xưa trong vườn địa đàng đã nghe theo xúi giục của ma quỷ đội lốt con rắn, đã bất tuân không vâng lệnh Thiên Chúa, vì không muốn làm người mà muốn làm Thiên Chúa, chối bỏ tình thương Thiên Chúa. Ông đã sa ngã trước thử thách, kéo theo hậu quả thảm hại muôn đời cho con cháu loài người. Bên cạnh đó, dân Do Thái đi trong Samạc bốn mươi năm cũng đã sa ngã. Đó là thời gian thử thách lâu dài đối với họ. Họ cũng đã sa ngã trước thử thách, bao lần phản loạn, chống đối Môisen, kêu trách Thiên Chúa; bao lần họ bị cám dỗ muốn trở lại Ai Cập làm kiếp nô lệ hơn là tiến về Đất Hứa. Tất cả đã sa ngã trước thử thách.
Ngược lại, còn Chúa Giêsu khi khởi đầu bước vào đời sống công khai, Ngài được Chúa Thánh Thần đưa vào Samạc để chịu thử thách. Sống trong sa mạc bốn mươi đêm ngày, Chúa Giêsu đã cương quyết trung thành với Thiên Chúa, dứt khoát chọn lựa đứng về phía Thiên Chúa. Theo Matthêu và Luca thì Satan đã dùng cơm bánh, quyền phép và danh vọng để cám dỗ Chúa Giêsu. Nhưng Chúa Giêsu đã dùng Lời Kinh Thánh để cương quyết khước từ cám dỗ và nói lên ý muốn dứt khoát chọn lựa con đường của thánh ý Chúa Cha, con đường khổ nạn thập giá. Cuối cùng ma quỷ phải rút lui. Chúa Giêsu đã chiến thắng cám dỗ. Sức mạnh làm cho Ngài chiến thắng chính là Lời Kinh Thánh và thái độ cương quyết đứng về phía Thiên Chúa, thực thi ý muốn của Chúa Cha.
Phần chúng ta, là những người Công Giáo, chúng ta cũng có thể chiến thắng như Chúa Giêsu nếu chúng ta biết chọn đứng về phía Thiên Chúa, lắng nghe Lời Chúa và để Lời Chúa hướng dẫn đời sống chúng ta. Cuộc chiến thắng của Chúa Giêsu đã cho chúng ta bài học kinh nghiệm là con người chúng ta có thể chiến thắng các thế lực sự dữ và các cám dỗ của ma quỷ nếu chúng ta một lòng biết cậy dựa vào sức mạnh chủa Thiên Chúa. Bắt chước Chúa Giêsu, chúng ta không chấp nhận thách thức Thiên Chúa, nhưng ngược lại chúng ta hoàn toàn vâng phục sống theo thánh ý Chúa quan phòng an bày cho cuộc đời của mình. Chúng ta cũng không nên sống đạo Công Giáo, theo đạo Chúa chỉ vì miếng ăn, chỉ vì cơm bánh tầm thường hằng ngày, hay chỉ vì lợi lộc vật chất, theo kiểu theo đạo được vợ, theo đạo được đất, được ruộng... Chúng ta không theo Chúa để bắt Chúa và Giáo Hội lo phục vụ chúng ta, phục vụ theo ý muốn ích kỷ của chúng ta. Chúng ta cũng không coi Thiên Chúa như những tên phù thuỷ chuyên làm phép lạ làm những việc phi thường, hay những nhà ảo thuật đại tài biểu diễn những pha ngoạn mục. Chúng ta cũng không coi trọng danh dự, uy quyền, thế giá; không luồn cúi ma quỷ, sự dữ, tiền của để được làm Chúa thiên hạ. Chính Thiên Chúa mới là Chủ Tể vũ trụ, là Chúa của muôn loài, là Chúa của lòng ta.
Lời Chúa trong Chúa nhật hôm nay giúp chúng ta hãy đi vào cõi lòng mình, nơi đó chúng ta sẽ nhận ra nhiều thứ xấu xa của kiếp người, đủ thứ cám dỗ của ma quỷ, đủ thứ mời mọc hấp dẫn của sự dữ. Chúng ta hãy để Lời Chúa soi dẫn chúng ta. Lời Chúa sẽ giúp chúng ta phân định việc tốt xấu, việc từ bỏ và những việc nên làm. Lời Chúa là sức mạnh giúp chúng ta can đảm đứng về phía Thiên Chúa, khước từ sự cám dỗ của ma quỷ và sự dữ. Lời Chúa giúp chúng ta nhận ra chân lý, Sự Thật và Tình yêu để chúng ta bước di. Lời Chúa giúp cho chúng ta dám sống cho những đòi hỏi của Tin mừng, dám sống cho anh chị em tha nhân. Chúng ta hãy theo gương Chúa Giêsu, chọn Chúa là lý tưởng và lẽ sống cho cuộc đời mình. Chúng ta chọn Chúa là sức mạnh để can đảm chiến đấu chống trả lội lỗi, các thế lực sự dữ và sống gắn bó với Thiên Chúa.
Ngoài ra, thử thách còn là để thanh luyện tâm hồn mình. Chúng ta hãy tiếp tục dùng Mùa chay mà Giáo Hội mời gọi để trở về với lòng mình, sám hối và quyết tâm can đảm đứng về phía Thiên Chúa. Ước mong Mùa Chay này sẽ giúp cho chúng ta biết lắng nghe tiếng Chúa, trở về với Thiên Chúa, sống lại mối tình mà Thiên Chúa yêu thương dành cho chúng ta. Đồng thời chúng ta cũng biết mạnh dạn đến với anh em để sống yêu thương và phục vụ họ.
Lạy Chúa Giêsu, Ngài là chủ của chúng con. Xin cho chúng con biết khiêm tốn chấp nhận giới hạn của mình để chúng con biết cậy dựa vào sức mạnh của Chúa trong cuộc chiến đấu với ba thù là thế gian, ma quỷ và xác thịt yếu đuối của chúng con. Xin Chúa trở thành sức mạnh duy nhất của niềm tin đang hướng về Chúa của chúng con để chúng con luôn chiến đấu và chiến thắng như Chúa Giêsu yêu mến của chúng con. Amen. 

 

MC1-356: CHÚA NHẬT I MÙA CHAY NĂM B

Mc. 1 , 12 - 15
Anh chị em thân mến.
 

Nếu chúng ta có đi ngang qua bến phà Mỹ Thuận cách đây khoảng mười năm, chúng ta sẽ thấy: B94 MC1-356

Nếu chúng ta có đi ngang qua bến phà Mỹ Thuận cách đây khoảng mười năm, chúng ta sẽ thấy công trình Cầu mỗi ngày một hoàn chỉnh thêm. Mọi người đều vui mừng chờ ngày được đặt chân vượt qua chiếc cầu để sang sông mà không phải chờ đợi từng chuyến phà để vượt giòng nước chảy như cắt nữa. Nhưng tôi suy nghĩ một điều : rồi đây sẽ có một số người không biết phải làm gì khi chiếc cầu đã được thông thương. Trong số đó có những người bán hàng rong hằng ngày, những người có những hàng quán cố định để phục vụ cho người đi lại qua bến phà. Chắc chắn giờ đây họ phải ngồi lại, suy tính để tìm một giải pháp thích hợp cho cuộc sống mới. Ngày giờ sẽ đến và họ không thể làm gì khác hơn là phải thay đỗi cuộc sống. Tôi thiết nghĩ : không ai ngoan cố đến nỗi, vẫn cứ bám lấy cuộc sống cũ, vẫn cứ thi hành nghề nghiệp cũ của mình, cho dù thời thế có thay đỗi thế nào đi nữa. Nếu như thế thì họ đã chọn con đường tự đào hố để chôn chính mình. Không ai muốn như thế bao giờ. Trái lại ngay từ bây giờ, và có lẽ đã từ lâu, họ đã chuẩn bị để từ bỏ nếp sống cũ, bước vào đời sống mới tốt đẹ hơn. Đó là sự khôn ngoan thông thường của cuộc sống.
" Thời kỳ đã mãn, nước Thiên Chúa đã gần đến, anh em hãy ăn năn sấm hối và tin vào tin mừng." Lời Chúa đã kêu gọi đân Do Thái cách đây 2000 năm. Kêu gọi họ ăn năn sấm hối, quây trở về với Chúa, bỏ nếp sống cũ mà thi hành đời sống mới tốt đẹp hơn. Chúa Giêsu không chỉ kêu gọi suông, nhưng Ngài đã làm gương, đã vào sa mạc yên tĩnh, để nhìn lại đời sống đã qua và tìm hướng đi tốt cho những ngày sắp tới. Ngài đã làm hết mọi cách, những gì có thể làm được, không bao giờ Ngài từ chối, cho dù phải hy sinh đến cả mạng sống. Nhưng Ngài cũng hoàn toàn tôn trọng sự tự do của con người. Mọi sự Ngài đã chuẩn bị sẵn sàng, chỉ cần con người biết nghe theo và hành động nữa thì tất cả mọi sự sẽ tốt đẹp. Nhưng đã trải qua 2000 năm lịch sử, mặc dù có rất nhiều người đã thay đỗi cuộc sống. Đồng thời cũng có rất nhiều người vẫn cứ liều mình bám vào đời sống chẵng mấy tốt đẹp, mặc dù họ vẫn biết đó là con đường tự tiêu diệt chính mình. Họ vẫn cứ bám lấy và không chịu thay đỗi.
Hôm nay chúng ta đã bước vào mùa chay. Thiên Chúa kêu gọi mỗi người ăn năn sám hối, vì nước trời đã gần đến. Không phải nước trời đến cho chúng ta nhìn thấy. Nhưng nước trời đến bất chợt đối với từng người trong chúng ta. Ai trong chúng ta cũng biết điều đó và biết rất rỏ. Vậy mà lời kêu mời nầy đã vang động bên tai chúng ta không biết bao lâu và cũng không biết bao nhiêu lần. Thế mà dường như chúng ta chẵng cần biết đến làm gì, vì nó làm cho chúng ta cảm thấy khó chịu khi phải nghe những lời như thế. Đôi khi nó còn làm cho mình quen quá hóa ra nhàm chán và không cần để ý đến. Vậy chúng ta cũng giống như những người ở bến phà Mỹ thuận, biết làm ăn không được mà vẫn cứ cố lì không chịu tìm cách để thay đỗi cuộc sống cho thích hợp. Chúng ta cứ suy nghĩ xem : Đã bao nhiêu mùa chay đã qua trong đời sống của mình rồi, chúng ta đã nghe bao nhiêu lần lời kêu gọi ăn năn sám hối. Chúng ta cũng nghe không biết bao nhiêu lần lời thông báo nước trời đã gần đến. Có lẽ chúng ta nghĩ rằng : đó chỉ là lời nói cho người khác, chứ không phải nói cho chính mình. Thử nhìn lại cuộc sống của mình xem, chúng ta đã thực hiện như thế nào đối với lời mời gọi đó. Nếu đới sống chúng ta vẫn cứ bình thường như từ trước đến nay, không có gì đỗi mới cũng không có gì tiến bộ, đó là mình chưa ăn năn sám hối, chưa biết thay đỗi cuộc sống cho tốt đẹp. Nhưng mà, tôi có gì đâu để sám hối, tôi có làm gì xấu đâu để mà thay đỗi, ông nọ bà kia mới cần thay đỗi , mới cần sám hối. Đó là những lời chúng ta thường tự nói với chính mình như thế. Nhưng đó cũng là một cách làm cho con người của mình trở nên chai lì khô cứng không thể thay đỗi được. Như vậy làm sao chúng ta có thể chuẩn bị sẵn sàng, để đón nước Thiên Chúa đã gần đến. Nếu giờ nầy bất ngờ Chúa kêu gọi, mỗi người sẽ trả lời ra sao về sự chuẩn bị của mình.
Chúng ta cùng nhau cầu xin Chúa cho mỗi người biết lắng nghe lời Chúa và biết nhìn thấy chính mình thật sự, để biết đỗi mới đời sống cho xứng đáng bước vào nước trời.

 

MC1-357: CHÚA NHẬT I MÙA CHAY B

Mc 1, 12-15   
 

Theo chu kỳ của phụng vụ,  Mùa Chay bao giờ cũng bắt đầu bàng thứ tư Lễ Tro. Và hôm nay: B95 MC1-357

Theo chu kỳ của phụng vụ,  Mùa Chay bao giờ cũng bắt đầu bàng thứ tư Lễ Tro. Và hôm nay, chúng ta chính thức bước vào Chúa nhật thứ nhất của Mùa Chay. Ai trong chúng ta chẳng biết rằng Mùa Chay là mùa của sám hối và hoán cải. Nói cách khác, mùa chay là một hành trình của hoán cải. Hành trình đó được khởi đi từ trong sa mạc. Sa mạc là mảnh đất mênh mông đầy những thế lực thù nghịch. Sa mạc là nơi hoang vu, không nhà cửa, không người thân, không bạn bè, không lương thực, và còn nhiều cái không khác nữa. Vì thế một người khi bước vào trong sa mạc là bước vào 1 cuộc chiến đấu và đối diện với những cái không đó. Khó khăn! Thử thách! Cô đơn! Nhưng bên cạnh đó, sa mạc cũng còn là nơi gặp gỡ Thiên Chúa nữa.
Hôm nay thánh Marcô nói rằng Chúa Giêsu vào trong sa mạc để chịu ma quỷ cám dỗ. Người ở trong hoang địa 40 đêm ngày sống giữa loài dã thú. Thời gian 40 đêm ngày không phài là dài lắm. Nhưng với một người đang chịu thử thách, phải đối diện với những khó khăn, phải sống trong cô cơn thì đó là khỏang thời gian không phải là ngắn. Theo ngôn ngữ của Kinh Thánh: số 40 là con số hàm chứa nhiều ý nghĩa: là con số tượng trưng sửa soạn cho một cuộc khởi đầu mới. Nó gọi về những giai đoạn và cột mốc quan trọng trong lịch sử cứu độ: nước Đại hồng thuỷ đã tràn ngập mặt đất 40 ngày và 40 đêm, trước khi Thên Chúa lập giao ước với ông Noe và dòng dõi. Trong suốt 40 ngày và 40 đêm là khoảng thời gian ông Môsê chuẩn bị trên núi Sinai lãnh nhận lề luật của Giao ước trước khi truyền lại cho dân. Trong suốt 40 năm, đám con cháu và dòng dõi của tổ phụ Abraham và Giacóp được Chúa giải thoát khỏi ách nô lệ bên Ai cập đã dong duỗi hành trình  trong sa mạc trước khi tiến vào đất Hứa. Cũng trong khoảng thời gian 40 đêm ngày, ngôn sứ Elia đã đi bộ về núi Hôrép, núi của Thiên Chúa để lãnh nhận sứ mạng tái lập Giao ước.
Chúa Giêsu đã trải qua một gai đoạn đầy cam go và thử thách trong sa mạc . Và chính vì phải sống trong giai đoạn như thế, nên trong nội tâm của  Chúa Giêsu lập tức xuất hiện một cám dỗ muốn tìm một  thoải mái, dễ chịu. Một cám dỗ rất người và rất đời thường! Thế nhưng Chúa Giêsu của chúng ta đã vượt qua. Người đã thắng được cái nóng cái, cái lạnh, cái đói, cái khát và đã hoàn tòan làm chủ được bản thân trước những nhu cầu của thân xác. Có lẽ anh chị em và các bạn nói rằng : Tại vì Đức Giêsu là Chúa mà nên Người dễ dàng vượt qua những cám dỗ đó, đồng thời chế ngự được những đòi hỏi của xác thân. Nhưng xin anh chị em đừng quên. Xin đừng quên rằng ngoài bản tính là Thiên Chúa, thì ở bên cạnh và bên trong một Thiên Chúa đó vẫn còn có đó một Giêsu rất người. Người vẫn có những nhu cầu và những đòi hỏi của thân xác giống như chúng ta. Bằng chứng là sau cơn cám dỗ đó, Người cảm thấy đói. Hơn nữa, ỏ trong vuờn Giêtsêmani, khi đứng trước khổ hình thập giá, Người đã khiếp sợ. Sợ đến chảy mồ hôi, nặng như những giọt máu rơi xuống đất. Và cũng chính trong giây phút hoảng sợ đó, chính người đã phải thốt lên một lời rất thê thảm nhưng rất đẹp: " Abba! Cha ơi! Cha làm được mọi sự, xin cất chén này xa con. Nhưng xin đừng làm điều con muốn, mà làm điều cha muốn" Ở đời ai dại gì lại tìm cho mình đau khổ, mất mát thiệt thòi mà không thích tìm sự tiện nghi thoải mái và dễ chịu. Vì đó là nhu cầu của thân xác.
Và để có được sự tiên nghi, thoải mái và dễ chịu thì phải có tiền, phải có quyền. Bởi lẽ, người ta thường nghĩ rằng khi tôi có tiền thì tôi sẽ có tất cả. Khi tôi có quyền thì tôi tha hồ mà tự tung tự tác, tha hồ tác quai tác quái. Thế cho nên những cám dỗ mà Chúa Giêsu trải qua hôm nay , mặc dù thánh Marco không nói chi tiết cho bằng thánh Matthêu và thánh Luca, nhưng tôi tưởng rằng đấy là những cơn cám dỗ của tiền bạc, của quyền lợi, của kỷ thuật( khuyng hướng của thời đại hôm nay, người ta muốn thay thế và chối bỏ quyền của Thiên Chúa bằng Kỷ Thuật trị ( Technocracy), mà người ta quen gọi là những cám dỗ của danh, lợi, thú, thì lúc nào cũng vẫn là những cám dỗ rất lớn và rất mạnh của mọi thời và cho mọi người.
Và chính vì nhu cầu căn bản mà lại rất lớn đó mà người ta tìm đủ cách để đáp ứng cho bằng được bằng nhiều cách, bằng nhiều con đường khác nhau. kể cả bằng những con đường phi nhân nhất, tàn bạo nhất, mất đạo đức nhất.
Kính thưa ông bà, anh chị em và các bạn, hôm nay, trong sa mạc, Chúa Giêsu đã vượt qua được những cám dỗ là những đòi hỏi của thân xác. Hình ảnh sa mạc ngày xưa của Chúa Giêsu gọi về những sa mạc hôm nay trong đó luôn luôn có những cám dỗ bủa vây chúng ta.
Những cám dỗ mới hay cám dỗ cũ dưới lớp áo mới .
Cám dỗ của chọn lựa giữa cái tốt và cái xấu .
Cám dỗ muốn tách mình ra khỏi quỹ đạo của Thiên Chúa.
Cám dỗ của sự khước từ Thiên Chúa và thay thế bằng thần Mamon và con người muốn làm trung tâm của thế giới.
Cám dỗ của khép kín, chỉ nghĩ đến mình và chỉ sống cho mình.
Cám dỗ của im lặng vì sợ liên luỵ
Cám dỗ giả mù trước thật hiển nhiên.
Cám dỗ của thỏa hiệp với sự dữ  để được yên thân.
Cám dỗ muốn sống một đời tầm thường và buông thả
Cám dỗ của hưởng thụ và tiện nghi.
Cám dỗ của tiền
Cám  dỗ của quyền
Cám dỗ của thế gian. .....................  
Và cám dỗ nào cũng rất tinh vi.
Vậy làm sao để ta nhận diện đâu là những cám dỗ đó. Và bằng cách nào để ta vượt qua?
Kính thưa ông bà anh, chị em và các bạn!
Hôm nay khi thuật lại việc Chúa Giêsu đi vào trong sa mạc để chịu ma quỷ cám dỗ, có một chi tiết không thể bỏ qua. Chi tiết này đáng lý tôi phải nói đầu tiên trong bài chia sẻ này, nhưng tôi cố ý nói sau cùng. Chi tiết đó là: Thánh Marco bắt đầu câu chuyện Tin Mừng bằng cách nói rằng: Thánh Thần liền đẩy Người vào trong sa mạc. Hay lắm! Cho nên tất cả 40 ngày trong sa mạc, trong chay tịnh và những cơn cám dỗ mà Chúa Giêsu đã trải qua và Người đã chiến thắng là nằm trong tác động của Thánh Thần. Tác động của Thánh Thần chính là điều mà người công giáo vẫn quen gọi bằng một cụm từ khác thay thế: đời sống thiêng liêng, đời sống thuộc linh- thuộc về Chúa Thánh Thần.
Thế cho nên, thưa ông bà, anh chị em và các bạn! Trong Chúa nhật thứ nhất của Mùa Chay này, tôi nghĩ lời chúa nói với chúng ta không gì khác hơn là một lời mời gọi chúng ta: Hãy lấy lại kinh nghiệm của Chúa Giêsu. Đó là kinh nghiệm lắng nghe tác động của Thánh Thần. Đó là kim chỉ nam hướng dẫn chúng ta khi đối diện với những cám dỗ của đời thường, chắc chắn chúng ta sẽ vượt qua. Và Thánh thần nói với chúng ta khi nào và ở đâu, nếu không phải là trong sa mạc và trong thinh lặng.
Cuối cùng! Ước gì chúng ta hãy buông mình để cho Thánh Thần tác động. Và một khi chúng mình được Thánh Thần tác động, tâm hồn ta sẽ được đổi mới, được bình an, thanh thoát và nhẹ nhàng. Nếu được như thế, chúng ta sẽ cảm nhận bên cạnh mùa sám hối và hoán cải, mùa chay còn là "Mùa Xuân Thánh Thiện".Amen.

 

MC1-358: ĐỨC GIÊSU CHỊU XATAN CÁM DỖ

Mc 1, 12-15   
 

Sau khi chịu phép Rửa, Đức Giêsu được Chúa Thánh Thần thúc đẩy đi vào hoang địa, ở đó Chúa: B96 MC1-358

Sau khi chịu phép Rửa, Đức Giêsu được Chúa Thánh Thần thúc đẩy đi vào hoang địa, ở đó Chúa Giêsu chịu ma quỷ cám dỗ nhưng Ngài đã chiến thắng. Chúa Giêsu đi vào hoang địa là ý muốn của Thiên Chúa, có Chúa Thánh Thần hướng dẫn. Chúa Giêsu không bao giờ hành động một mình mà luôn có Chúa Cha và Chúa Thánh Thần cùng hiện diện trong hoạt động của Chúa Giêsu.
Thế nhưng, tại sao Chúa Giêsu chịu ma quỷ cám dỗ ? Đây là dịp cho chúng ta thấy thêm ý nghĩa sâu xa của mầu nhiệm nhập thể nơi Đức Giêsu. Đức Giêsu vốn là Con Thiên Chúa đã xuống thế làm người và tệ hơn nữa là làm một người nghèo cô thế cô thân, không có một ngôi nhà đàng hoàng ấm cúng để sinh ra, rồi lại phải sớm chạy nạn trốn sang Aicập để tránh hoạ sát thân.
Khi hoà nhập vào dòng người tội lỗi đang bước xuống dòng sông Gioa-đan để chịu thanh tẩy mình bởi phép rửa của Gioan Tẩy Giả, Chúa Giêsu đã tự đồng hoá mình với những con người tội lỗi trong thế gian dù Ngài chẳng có tội tình gì.
Hôm nay Chúa Giêsu chịu cám dỗ là Ngài đứng trong thân phận con người để cùng với con người Ngài cũng chịu cám dỗ để đồng thân phận với con người tro bụi, mỏng dòn yếu đuối, dễ thay đổi, dễ sa ngã. Nhưng có một điều khác là con người chúng ta thì dễ sa ngã truớc cám dỗ; còn Chúa Giêsu đã mở môt con đướng mới: đó là Ngài đã chiến thắng cám dỗ nghĩa là chiến thắng ma quỷ.
Ma quỷ vốn là tên cám dỗ đã có mặt trong lịch sử, đã gieo mầm tội lỗi nơi con người và nó vẫn còn họat động mạnh mẽ trong nhân loại nhưng nay tên cám dỗ đã bị Chúa Giêsu đánh gục, và trong tương lai nó vẫn còn tiếp tục thất bại dài dài.
Chiêm ngưỡng hành động của Chúa Giêsu hôm nay, chúng ta hay dâng lên Chúa tâm tình vui mừng và lời cảm tạ vì tình thương lớn lao Chúa đã dành cho nhân loại tội lỗi chúng ta. Trong thân phận con người Chúa Giêsu đã không ngừng đi sâu vào mầu nhiệm nhập thể mỗi ngày một triệt để hơn, để cảm thông, để yêu thương, để mở đường cho con người đi về cùng Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã chiến thắng tên cám dỗ, bước theo Chúa Giêsu, chúng ta cũng phải hạ tên cám dỗ như Thầy của mình.
Ngoài tâm tình tạ ơn, chúng ta còn phải học nơi Chúa bài học chiến thắng những cám dỗ của ma quỷ. Trong đời sống con người, chúng ta phải đối diện với vô vàn những cám dỗ lúc nào cũng vây quanh chúng ta với nhiều hình thúc khác nhau có khi còn rất tinh vi, có khi cám dỗ được nguỵ trang kín đáo bằng một việc xem ra hoàn toàn tốt đẹp kiến chúng ta không thể nhận ra được đó là một cám dỗ của ma quỷ. Những cám dỗ đó có thể là miếng ăn, tấm áo, có thể là danh vọng quyền lực hay là tiền bạc, cũng có thể là một thứ tình cảm nào đó....Cám dỗ thì vô vàn vì đó là việc làm của ma quỷ mà, nó phải ra sức làm việc để lôi kéo con người về phía nó, để những ai nghe theo chúng thì sẽ dần dần xa lìa Thiên Chúa và thuộc trọn quyền của ma quỷ.
Chúng ta phải làm gì đây ? Phải đề cao cảnh giác, phải nghe Lời Chúa và Hội Thánh dạy trong Mùa Chay là hãy thường xuyên chay tịnh, hãm mình ép xác, nhìn nhận thân phận mòng giòn yếu đuối, dễ sa ngã, dễ phạm tội của chúng ta; làm thế không phải để mạc cảm nhưng để ý thức rõ về mình để bám chặt vào Chúa hơn. Siêng năng lãnh nhận các bí tích nhất là bí tích Giải tội và Thánh Thể, làm các việc lành phúc đức, đem Lời Chúa thực hành trong đời sống để múc lấy sức mạnh từ trên cao hầu chiến thắng mưu mô của tên cám dỗ.

 

MC1-359: CÁM DỖ

Mc 1, 12-15   
 

Dân gian ta có câu : "Lửa thử vàng, gian nan thử sức". Dùng lửa để thử vàng, là một phương: B97 MC1-359

1. Dân gian ta có câu : "Lửa thử vàng, gian nan thử sức". Dùng lửa để thử vàng, là một phương cách có từ xưa để xem vàng thật hay giả, có gian nan mới biết ai có khả năng, bản lĩnh để vượt qua. Thiết nghĩ con đường theo Chúa mà hoàn toàn thuận lợi, dễ dàng thì đạt hạnh phúc Nước Trời không có giá trị gì, bởi ai cũng như ai ! Nhưng thực tế trong đời sống đạo, những thử thách, những cám dỗ luôn tồn tại. Chúng ta đừng bi quan, mà hãy xem nhũng lúc như thế là lúc toi luyện lòng thành của chúng ta đối với Thiên Chúa.
2. Kẻ thù của Thiên Chúa cám dỗ không trừ một ai, trong bài Tin Mừng theo Thánh Mác-cô chúng ta vừa nghe, Đức Giêsu trong thân phận Thiên Chúa làm người, vào hoang mạc để cầu nguyện 40 đêm ngày, cũng chính thời gian ấy, Ngài bị cám dỗ. Máccô trình bày sơ qua thôi, còn Luca và Mátthêu trình bày rõ 3 cơn cám dỗ mà Đức Giêsu phải chịu : Đá biến thành bánh ; nhảy xuống từ trên cao để Thiên Chúa ra tay nâng đỡ ; và thờ lạy ma quỷ để nó "ban cho" tất cả ! Nói chung, là ma quỷ cám dỗ Đức Giêsu để Ngài bỏ đường lối của Thiên Chúa, con đường khiêm hạ và đau khổ để chọn con đường dễ dãi trong công việc cứu chuộc loài người. Làm sao Ngài đã thắng được cám dỗ ? Thưa nhờ cầu nguyện gắn bó cùng Cha, dưới sự nâng đỡ của Thánh Thần. Đó cũng là bài học quý báu cho mỗi người chúng ta.
3. Cám dỗ là một điều gắn liền với con người, có thể nói từ khi con người xuất hiện là có cám dỗ, để lôi kéo con người ra khỏi tình thương của Thiên Chúa, và nó sẽ còn tồn tại với con người ở trần gian này. Hẳn ai trong chúng ta cũng rõ Adong, Evà bị cám dỗ và thánh Gióp trong Cựu Ước đã bị ma quỷ xin phép Thiên Chúa cám dỗ để xem lòng trung thành của ông đối với Thiên Chúa. Nhưng Adong, Evà đã bị thất bại vì nghe lời ma quỷ, còn thánh Gióp thì kiên trì trong thử thách, quyết trung thành với Thiên Chúa vì thế ma quỷ đã chào thua !
Ngày nay chúng ta thấy nhiều người quỵ ngã trước cám dỗ, kể cả các Kitô hữu. Thực ra, không phải con người yếu đuối hơn thời xưa. Nhưng sống trong một xã hội càng văn minh, tiến bộ người ta dễ bị lôi cuốn vào nhu cầu hưởng thụ, dễ dãi :
- Chọn loại băng dĩa nào đây ? Loại lành mạnh hay là những loại "tươi mát" nhằm thoả mãn dục vọng ?
- Chọn loại giải trí nào đây ? Cờ bạc, đá gà, hay tìm đến những loại giải trí, môn thể thao hữu ích ?
- Chọn ưu tiên đi đâu đây vào ngày Chúa Nhật ? Đi lễ nhà thờ hay đi chơi, đi du lịch ? v.v..
Ngày nay người ta đề cao tự do, nhưng rồi lèo lái để làm cả những việc sai trái, xem thường cả luân thường đạo lý : Tự do luyến ái trước hôn nhân, tự do sống với người khác như vợ như chồng của mình, tự do châm biếm đả kích người khác v.v...
4. Đối với người Kitô hữu, về phương diện nào đó, cám dỗ là một điều cần thiết trong cuộc sống. Từ xưa, người ta biết dùng lửa để thử vàng thật giả, người ta biết đáng giá lòng người, sức người qua thử thách. Vì thế bước đường theo Chúa cám dỗ không hẳn luôn là có hại, mà là phương thế để toi luyện lòng người. Ta vẫn nghe câu nói:"bạn trong lúc khó khăn mới là bạn tốt". Trong đời sống thiêng liêng, giữa muôn vàn thử thách, nếu chúng ta vẫn trung thành với lời Thiên Chúa dạy, vẫn chọn Người là trên hết, thì chúng ta mới là người con thảo của Người, là người bạn thân của Đức Giêsu. Các thánh, nhất là các thánh tử đạo đã minh chứng cho chúng ta rất rõ điều này, chúng ta vẫn có thể thực hiện điều này trong cuộc sống chứng nhân giữa đời thường.
5. Đức Giêsu, Ngài không những nêu gương mà còn chỉ rất rõ con đường để chúng ta khỏi rơi vào cạm bẫy của ma quỷ, như trong đoạn Tin Mừng chúng ta vừa nghe, chính Ngài đã dạy : "Hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng". Như thế nhìn nhận lỗi lầm của chúng ta (ăn năn, vì chúng ta để mình rơi vào cám dỗ của ma qủy) chưa đủ, mà còn phải thay đổi nếp sống cũ bằng cách tin vào Đức Giêsu và tích cực thực hiện những điều Người dạy.
Cụ thể trong Mùa Chay này, nhờ ơn Chúa giúp, mỗi người chúng ta ra sức thực hiện: ăn chay (đền tội) ; cầu nguyện (gia tăng sự gắng bó với Thiên Chúa) ; và thực thi bác ái (gia tăng tình liên đới với tha nhân). Đây là những phương thế hữu hiệu để khỏi rơi vào chước cám dỗ và dẫn đưa chúng ta đến con đường trọn lành. Amen.

 

MC1-360: CHÚA NHẬT 1 MÙA CHAY

Mc 1, 12-15   
 

Bước vào Mùa Chay, Giáo Hội kêu gọi chúng ta phải an năn sám hối, sống lại kinh nghiệm 40 năm: B98 MC1-360

Bước vào Mùa Chay, Giáo Hội kêu gọi chúng ta phải an năn sám hối, sống lại kinh nghiệm 40 năm sa mạc của người Do Thái, sống 40 ngày chay tịnh của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu được Thánh Thần đưa vào hoang địa, 40 ngày ăn chay và chịu ma quỷ cám dỗ, để nêu cao lòng trung tín của Người với Thiên Chúa Cha.
Ma quỷ không nhằm xúi giục Chúa Giêsu vào tội tham ăn, ham mê của cải, danh lợi ở trần gian nhưng nó muốn cám dỗ Chúa Giêsu quên đi sứ mạng cứu thế của mình: từ chối con đường thập giá mà Cha đã trao phó. Đó là cơn cám dỗ Messia. Tại sao Chúa Giêsu phải chịu cám dỗ? Vì Chúa Giêsu muốn dạy chúng ta cách chống trả cám dỗ. Và hôm nay ma quỷ cũng cám dỗ ta cách khéo léo, tinh vi với mọi hình thức khác nhau, không trừ một cơ hội nào. trong xã hội hưởng thụ ngày nay, con người luôn bị cám dỗ giữa việc xem tivi với việc đọc kinh hôm, kinh mai; giữa vui chơi giải trí và đi lễ; giữa ăn xài phung phí với giúp đỡ người nghèo; giữa gian dối và thành thật, giữa việc học hành và trốn học, quay cóp. Chúng ta bị cám dỗ làm ngơ trước những đau khổ của người khác, im lặng trước những bất công vì sợ liên lụy, làm ngơ trước sự thật, thỏa hiệp với sự dữ để được yên thân, sống buông thả và đeo đuổi những ước vọng, lợi lộc bằng đủ mọi âm mưu mạo hiểm, khiến chúng ta không còn nhận ra Chúa nơi người ăn xin trước cửa nhà, trong khu xóm. Và còn biết bao cám dỗ mời mọc khác, chúng ta chỉ nghĩ đến mình và lo cho mình.
Ma quỷ không làm cho chúng ta bỏ Chúa, nhưng làm lệch hướng đi của chúng ta, khiến chúng ta có những suy nghĩ sai lạc về Thiên Chúa, bắt Thiên Chúa phục vụ cho những lợi ích riêng của mình; nó làm cho chúng ta cảm thấy chán nản, lười biếng, thờ ơ các việc bổn phận, việc đạo đức, làm cho lòng mến Chúa trong chúng ta phai mờ đi.
Cám dỗ là một thực tế chúng ta không thể nào lẫn tránh được. Vì thế, chúng ta phải luôn sám hối và nhìn lại cách sống của mình để chiến đấu với cám dỗ. Nhưng bằng cách nào? Hãy nhìn Chúa Giêsu, một mẫu gương tuyệt vời, Ngài đã chiến thắng ma quỷ bằng việc ăn chay, cầu nguyện và lắng nghe Lời Chúa để làm theo thánh ý Cha. Phần chúng ta, cũng phải siêng năng cầu nguyện, lắng nghe tiếng Chúa qua việc tham dự thánh lễ cách sốt sắng, đọc kinh trong gia đình, biết hy sinh hãm mình làm việc bác ái. Chính những lúc thuận tiện này chúng ta gặp gỡ Chúa để Ngài ban sức mạnh cho ta. Xin Chúa Thánh Thần giúp sức cho ta vượt thắng các cám dỗ, xin cho mỗi người chúng ta luôn biết trông cậy vào Chúa, nhờ đó chúng ta mới có thể đứng vững trước những cám dỗ của ma quỷ, của thế gian, của xác thịt.
CÂU HỎI GỢI Ý:
Khoa học càng tiến bộ, con người càng cần có bản lãnh để làm chủ. Bạn thấy khi nào con người bị coi là làm nô lệ cho của cải vật chất?
Không những phải chống lại cơn cám dỗ, mà còn phải xa tránh những nơi, những người có thể đưa đến cám dỗ. Theo bạn, người trẻ hay bị cám dỗ ở đâu? Với ai?

 

MC1-361: VÀO HOANG ĐỊA VỚI ĐỨC GIÊSU

Mc 1, 12-15
 

Mùa chay là dịp, là cơ hội thuận tiện nhất để chúng ta quay về với chúa, và nhận ra vô vàn: B99 MC1-361

Mùa chay là dịp, là cơ hội thuận tiện nhất để chúng ta quay về với chúa, và nhận ra vô vàn cám dỗ đang bủa vây chúng ta. Những cám dỗ này dù được trá hình dưới bất cứ hình thức nào thì nó vẫn là những vật làm cản trở bước tiến của chúng ta đến với Chúa và đến với anh chị em của chúng ta. Chúa nhật I mùa chay, năm B, mời gọi chúng ta hãy vào sa mạc với Đức Kitô để ăn chay, cầu nguyện và với sự tác động của Chúa Thánh Thần, chắc chắn chúng ta sẽ lướt thắng ma quỉ và những mưu mô trá hình của chúng. Chúng ta cũng sẽ như Đức Kitô với ý của Chúa Cha, chúng ta quyết định cuộc đời của chúng ta...
Sau khi lãnh nhận phép rửa thống của Gioan Tẩy Giả bên dòng sông Giorđăng, Chúa Giêsu đã khai mạc sứ vụ công khai của Ngài bằng lời mời gọi: " Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng " ( Mc 1, 15 ). Rồi cũng chính thời gian đó, Thánh Thần đã dẫn đưa Ngài đến nơi thanh vắng, nơi hoang địa để ăn chay, cầu nguyện. Đây là cuộc tĩnh tâm của Chúa Giêsu kéo dài trong vòng 40 đêm ngày. Và chính trong cuộc tĩnh tâm này, Chúa đã định hướng rõ ràng cho sứ vụ cứu thế của Ngài và cũng chính nơi hoang địa Chúa chịu ma quỉ cám dỗ, và Ngài đã chiến thắng ma quỉ để khai mở sứ vụ rao giảng và cứu độ của Ngài.
Trong sứ vụ rao giảng Nước Trời, Chúa Giêsu đã cho thấy: " Biến cố lớn lao về sự chết và phục sinh của Ngài được gọi là Mầu Nhiệm Vượt Qua ". Do đó, phép rửa là Bí tích lớn lao Mùa chay gợi lên bởi vì qua phép rửa chúng ta được kết hiệp với Mầu Nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô.Bài đọc I thánh Phêrô cho chúng ta thấy chúng ta đã được cứu chuộc qua Bí tích rửa tội như Thiên Chúa đã cứu ông Noe và gia đình khỏi cơn đại hồng thủy. Qua cơn đại hồng thủy, Thiên Chúa đã thiết lập một giao ước tình yêu với dân của Người.. Nước rửa tội giúp chúng ta từ tình trạng tội lỗi bị chết như mọi người, chúng ta được tái sinh trong đời sống mới của Đức Kitô và chúng ta được sống cuộc sống mới và đi vào sự sống vĩnh cửu đời đời. Khi lãnh nhận Bí tích rửa tội, chúng ta nên trong trắng, nên tinh tuyền, sạch mọi vết nhơ tội lỗi nhưng vì là con người chúng ta vẫn còn lỗi phạm và hay sa ngã, tuy nhiên chúa đã giải hòa chúng ta qua Bí tích giải tội, bí tích lớn lao chúng ta luôn phải nghĩ, luôn phải mau mắn đến với Bí tích này trong Mùa chay.
Bí tích hòa giải nhằm giúp chúng ta làm hòa với Chúa và làm hòa với anh chị em của chúng ta. 
Là Kitô hữu, chúng ta đang mặc lấy con người mới là Đức Kitô. Tuy nhiên là con người mang thân phận yếu hèn, tội lỗi, chúng ta luôn bị ma quỉ, sự dữ bủa vây. Những cám dỗ luôn là những thử thách, những thách đố cho chúng ta. Những cám dỗ có thể nói luôn nhiều, luôn đầy dẫy. Ma quỉ dưới nhiều hình thù quai ác dẽ làm mê hoặc đời sống của chúng ta. Xưa ma quỉ đã dùng tiền tài, danh vọng, phù hoa, phú quí để cám dỗ Chúa. Ngày nay, chúng con dùng nhiều cám dỗ tinh vi, thủ đoạn hơn nữa để thúc giục con người sa ngã, phạm tội. Nên, chúng ta phải có ơn Chúa đễ biết chọn lựa điều tốt, điều xấu, việc nên làm và việc không nên làm vv...Ngày nay, với khoa học tiến bộ vượt bực, với Internet, với những kiểu dụ dỗ tinh vi như ma túy, sì ke, như bài bạc, như ăn mặc hở hang, như những chất kích dục, những hình ảnh sex đang làm mê hoặc rất nhiều người.
Thắng được cám dỗ là điều đòi hỏi cử chỉ, thái độ anh hùng, thái độ từ bỏ, hy sinh...Thắng thể xác nhiều khi còn dễ hơn thắng cám dỗ tinh thần. Do đó, chúng ta cần phải có ơn Chúa, cần phải từ bỏ và hy sinh tập luyện không ngừng.
Cám dỗ nào cũng khiến chúng ta chỉ nghĩ tới mình, và nhiều khi chúng ta im lặng, mù quáng để phạm tội, để chấp nhận. Chúng ta phải biết ăn chay, cầu nguyện và thực hành đức ái, nghĩ tới tha nhân bằng việc bố thí. Chỉ khi nào chúng ta bám chặt lấy Chúa thực sự chúng ta mới dễ dàng lướt thắng và thắng được những cám dỗ đang kéo chúng ta dần xa Chúa và xa anh em.
Lạy Thiên Chúa toàn năng, hằng năm Chúa ban cho chúng con bốn mươi ngày chay thánh, để tôi luyện hồn xác chúng con. Xin giúp chúng con sống những ngày khắc khổ ấy, để học biết Đức Kitô, và dõi theo gương Người, hầu xứng đáng hưởng ơn Người cứu độ. ( Lời nguyện nhập lễ, Chúa nhật I mùa chay ).
Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

 

MC1-362: THÁCH ĐẤU

Mc 1,12-15
 

Thách đấu là một hình thức khiêu chiến. Một bên muốn đánh, bên kia muốn hoà. Để diễn tả: B100 MC1-362

Thách đấu là một hình thức khiêu chiến. Một bên muốn đánh, bên kia muốn hoà. Để diễn tả một cách ôn hoà, văn vẻ hơn chính là câu nói,
Cây muốn lặng nhưng gió chẳng ngừng. 
Kẻ thách đấu thường là kẻ hiếu chiến. Vì hiếu chiến nên mới thách thức, thích bạo động. Hiếu chiến đến từ tính kiêu ngạo. Tự cho mình hơn người. Tự nhận tài giỏi và tự tin là sẽ chiến thắng vinh quang. 
Trong tu đức thách đấu luôn khởi nguồn từ ma quỉ vì bản chất hiếu chiến, hung hăng, thích bạo động của chúng. Đó là những hình thức khác nhau của các cơn cám dỗ, chước cám dỗ phát sinh bởi bản tính tính kiêu ngạo của ma quỉ. Bản chất của chúng là tự kiêu, cao ngạo, kiêu căng nên không từ cơ hội nào, không chừa ai, lớn bé, già trẻ chúng đều trêu ghẹo tìm cách cám dỗ. 
Ma quỉ cám dỗ con người dưới nhiều hình thức, đa dạng. Chúng không thách thức con người một cách vô í thức mà có chủ trương, thủ đoạn của từng lần cám dỗ. Thủ đoạn của chúng là nghiên cứu con người đó mạnh yếu phần nào. Đâu là yếu điểm, đâu là nhược điểm của con người đó. Chúng lợi dụng cả người thân, bạn đường, người ta tin tưởng, tình bạn để lung lạc mong đạt cơn cám dỗ. Rất nhiều trường hợp lạc đường, sai lối do bạn bè quyến rũ, rủ rê, dẫn vào cuộc đời ăn chơi trác táng, sa đọa. Không phải người đó cố tình gây tai ương cho mình mà chính là động lực ngầm của ma quỉ thúc đẩy, bày mưu, gài bẫy.
Yếu điểm chính là các điểm trọng yếu của người đó. Bởi là điểm trọng yếu nên ma quỉ thường tránh không muốn đụng chạm đến. Chúng không ngu dại gì húc đầu vào tường đá, bể sọ chết. Như thế ma quỉ thường tấn công, triệt để, khai thác nhược điểm của người đó bởi vì nhược điểm là điểm dễ tấn công và kết quả thành công cao hơn nhiều. Như thế ma quỉ vừa kiêu ngạo, vừa ranh mãnh. Chúng lại có nhiều thời gian và cơ hội để tấn công một người. Vì thế ta không lấy làm lạ một người trước đây đạo đức, sau này gặp lại, lại trở thành sa đọa. Từ tình trạng đạo đức, tốt lành, thánh thiện biến sang tình trạng khô khan, nguội lạnh, biếng nhác. 
Trái lại cũng nhiều trường hợp trước đây coi thường đạo nghĩa, sống buông thả. Một thời gian sau thay đổi biến thành đạo đức sốt sắng, tốt lành. Tình trạng này có được vì người đó may mắn sau những lần thua các cơn cám dỗ nhận biết nhược điểm của mình. Khiêm nhường nhận biết mình tài hèn, sức mọn không đồng nghĩa với nhu nhược mà là hiểu rõ con người mình hơn. Biết mình, biết người là bước đầu của thành công. Bởi biết mình yếu đuối nên không tự cậy sức riêng mà phó thác trong tay Chúa, phó dâng cuộc đời cho Chúa và cậy trông vào sức mạnh của lời cầu nguyện và ân sủng của các bí tích thánh, giúp họ sống trên con đường lành thánh. Một cách để nhận biết ta thuộc về Chúa hay thuộc về ma quỉ chính là nhìn vào các cơn cám dỗ. Từ chối cám dỗ là dấu hiệu cho biết ta còn thuộc về Chúa. Sa chước cám dỗ là dấu chỉ cho thấy ta đang bị ma quỉ cầm giữ, trói buộc. 
Phúc âm thánh Marcô hôm nay cho biết không ai tránh khỏi chước cám dỗ. Kẻ chiến thắng chước cám dỗ là kẻ biết tự lượng sức mình. Lượng sức bằng cách vừa chống lại chước cám dỗ vừa dựa vào sức mạnh Lời Chúa tăng sức. Như thế sau mỗi chiến thắng chước cám dỗ người đó luôn sống trong tâm tình tạ ơn Thiên Chúa vì nhờ sức mạnh Lời Chúa mà có được chiến thắng, tránh khỏi sa chước cám dỗ. Đây là một kinh nghiệm quí báu cho các Kitô hữu tin cậy vào Chúa. Bài học quí trọng này cho biết sức mạnh của ta đến từ Chúa. Ta tự tin lần cám dỗ kế tiếp ta cũng sẽ chiến thắng vì có sức mạnh Lời Chúa hỗ trợ. Kinh nghiệm sống đạo này một ngày một giầu mạnh và gắn bó ta mật thiết hơn với Chúa. Điều này rất cần vì ma quỉ không dễ đầu hàng, từ bỏ cám dỗ. Thua keo này chúng rình rập, tìm cơ hội bày keo kế tiếp. Thua nữa, chúng lại bày kế khác vì bản tính hung hăng kiêu ngạo trong chúng luôn thúc đẩy chúng tấn công ta. Càng thua, chúng càng bực dọc, càng trở nên hung bạo đến điên cuồng. Cơn cám dỗ, lời thách đấu của kẻ điên nằm ngoài giải thích hợp lí, lí lẽ bình thường. Kinh nghiệm bị cám dỗ thường xuyên cho biết ma quỉ đang thua đặm, càng thua chúng càng hung hăng. Chúng càng hung hăng ta càng cần trông cậy vào Chúa nhiều hơn.
Các thánh khi còn sống tại thế cầu nguyện hàng ngày, cầu nguyện liên tục là vì các ngài luôn phải tranh đấu, triền miên chống lại các cơn cám dỗ.
Sống thánh thiện chính là gắn bó đời ta với Lời Chúa. Chúng ta xin ơn biết lắng nghe Lời Chúa trong mọi hoàn cảnh, mọi nơi, mọi lúc.
Lm Vũ đình Tường (Nguồn vietcatholic.org)

 

MC1-363: VÀO VƯỜN ĐỊA ĐÀNG MỚI

PM. Cao Huy Hoàng
Vườn địa đàng mới của Đức Kitô
 

Hình ảnh một vườn địa đàng mới đang mở ra cho chúng ta trong trình thuật của Thánh Marco: B101 MC1-363

Hình ảnh một vườn địa đàng mới đang mở ra cho chúng ta trong trình thuật của Thánh Marco hôm nay Mc 1, 12-15, Tin Mừng chúa nhật thứ nhất, mùa chay thánh.
Vườn địa đàng cũ của Adong là một vườn hoa thơm cỏ lạ, cây trái sum suê, màu xanh mơn mởn tràn đầy sự sống. Những con dã thú hiền lành ngoan ngoãn là những tạo vật xinh đẹp trước mắt Thiên Chúa. Thiên Chúa xuống dạo chơi nơi vườn địa đàng. Satan, thế lực chống lại Thiên Chúa muốn làm băng hoại công trình của Ngài, đã cám dỗ Adong Eva bất tuân Thiên Chúa, và ông bà đã thất trận. Vườn địa đàng trở thành nơi âm u của những đau khổ và chết chóc. Dã thú hiền lành trở nên hung dữ. Satan hã hê cười đắc chí.
Vườn địa đàng mới của Đức Giêsu là một hoang địa, một sa mạc nắng cháy, gió cát mênh mang, không một bóng cây, không một bóng người. Có thú dữ, có Satan và cũng có các thiên thần bên cạnh Người.
Vườn địa đàng của lòng khiêm tốn, vâng phục, chiến đấu và chiến thắng
Vừa nhận phép rửa của Thánh Gioan, Chúa Thánh Thần đã đẩy Đức Giêsu vào hoang địa để chịu bao thử thách trước khi thi hành nhiệm vụ của Đấng Messia. “Sau khi Đức Giê-su chịu phép rửa, Thần Khí liền đẩy Người vào hoang địa. Người ở trong hoang địa bốn mươi ngày, chịu Xa-tan cám dỗ, sống giữa loài dã thú và có các thiên sứ hầu hạ Người” (Mc 1, 12-13). Nói một cách chua chát hơn, theo hàm ý của Thánh Marco khi dùng động từ Hy-lạp ekballô, “quăng ra; đuổi; kéo ra”, là Thiên Chúa Cha đã thẳng tay trừng phạt Con Yêu Dấu của mình một cách không thương tiếc, không nhân nhượng, không vị thân. Đức Giêsu phải chiến đấu với bản thân mình suốt 40 ngày trước nỗi cô đơn như là bị Chúa Cha bỏ rơi, trước cơn đói khát thể lý, trước một môi trường khó khăn ê chề, và trước những lời dỗ ngọt của Satan. Đức Giêsu không thuận theo ý của Satan, vì Ngài vẫn luôn tin tưởng và kết hiệp với Cha trên trời. Vì thế, Con Thiên Chúa đã biến những con thú dữ gầm gừ ăn tươi nuốt sống Ngài, thành những người bạn thân thiết trong cùng cảnh ngộ. Lòng khiêm tốn đã múc được sức mạnh từ Thánh Thần, tình yêu của Chúa Cha, giúp Ngài can đảm không chỉ lên án Satan, và vạch mặt tính kiêu ngạo, sự dối trá, cách hành xử lếu láo của nó “Ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi”-"Xa-tan kia, xéo đi! Vì đã có lời chép rằng: Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi", mà còn  khẳng định về sự sống mới của người Con Yêu Dấu là thi hành ý Cha “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra.” (x. Mt 4,1-11). Vườn địa đàng mới của Đức Giêsu đầy đau khổ, nhưng lại là một địa đàng của sự khiêm tốn vâng phục và chiến thắng.
Vườn địa đàng mới của chúng ta
Thuở xưa, Thiên Chúa đã thiết lập Giao Ước với Noê “mọi xác phàm sẽ không còn bị nước hồng thủy hủy diệt, và cũng sẽ không còn có hồng thủy để tàn phá mặt đất nữa.” (St 9,11). Và nhờ nước hồng thủy đã hủy diệt mọi sự  tồi tệ trên trần gian, mà gia đình Noe bước vào một cuộc sống mới với Thiên Chúa. Thánh Phêrô giải thích thêm cho chúng ta rằng: “Trong con tầu ấy, một số ít, cả thảy là tám người, được cứu thoát nhờ nước. Nước đó là hình bóng phép rửa nay cứu thoát anh em. Lãnh nhận phép rửa, không phải là được tẩy sạch vết nhơ thân xác, mà là cam kết với Thiên Chúa sẽ giữ lương tâm trong trắng, nhờ sự phục sinh của Đức Giê-su Ki-tô”  (1 Pr 3, 20-21).
Mỗi tín hữu đều đã được rửa tội, được trở nên con cái yêu dấu của Thiên Chúa. Mỗi lần tham dự bí tích rửa tội, chúng ta không khỏi vui mừng có thêm những con cái của Chúa. Có người vui mừng đến khóc được, vì chồng, vì vợ, vì người thân chấp nhận lãnh bí tích rửa tội sau bao nhiêu năm chần chừ. Nhưng, qua Lời Chúa hôm nay cho thấy, được rửa tội “không chỉ là được tẩy sạch vết nhơ, mà còn cam kết với Thiên Chúa giữ lương tâm trong trắng, như giữ một vườn địa đàng mới luôn xinh đẹp”. Như Đức Giêsu, không chỉ được rửa tội, mà còn phải chiến đấu và chiến thắng các mưu toan của Satan để trung thành với Thiên Chúa  Cha, đấng tuyên bố “Đây là Con Ta Yêu Dấu”.
Được mời gọi vào vườn địa đàng mới
Được trở nên con cái Thiên Chúa, mỗi tín hữu cũng được mời gọi vào vườn địa đàng mới của Đức Giêsu, địa đàng của lòng khiêm tốn, vâng phục, của những thử thách lòng trung thành, địa đàng của chiến đấu và chiến thắng.
Thời nào cũng có Satan. Chỗ nào cũng có những mưu ma chước quỉ. Tín hữu nào cũng gặp những cơn cám dỗ. Ma quỉ không không loại trừ ai. Chúng luôn theo sát rình rập  và mời gọi mọi con cái Chúa quay lưng lại với Chúa, đi sai đường lối của Chúa, bỏ Chúa.
- Có những cơn cám dỗ đau đớn của nghèo đói, của bệnh tật, của tủi hổ vì nợ nần, vì danh dự bị tổn thương dẫn đến tuyệt vọng không còn nhìn thấy sự can thiệp và tình thương của Chúa.
- Có những cơn cám dỗ ngọt ngào của đam mê, xa hoa, của sắc đẹp tài năng, trí tuệ, của sự giàu sang, quyền thế hơn người dẫn đến cao vọng làm mờ con mắt, cũng không nhìn thấy được sự can thiệp và tình thương của Chúa.
- Bình an ảo, hạnh phúc ảo, lý tưởng ảo, nhiệt tình ảo, chứng nhân ảo, đạo đức ảo, từ thiện ảo, … được xây dựng trên tiêu chuẩn chủ quan  là  cơn cám dỗ hiện đại của mưu ma chước quỉ dối trá. Satan lừa đảo con người bằng cách làm cho con người tự đặt cho mình một tiêu chuẩn đạo đức mà cho  là tiêu chuẩn của Thiên Chúa.
Quả thật trong đời sống tín hữu không  biết bao nhiêu thử thách về lòng trung thành với Đức tin công giáo, với Tin Mừng Chúa Giêsu. Cơn cám dỗ tinh vi hiện đại nhất  hôm nay là  kiêu ngạo dưới hình thức khiêm nhường, giả dối mang tên sự thật, và hèn nhát mà liều lĩnh dưới nhãn hiệu can đảm. Lòng kiêu ngạo khiến ta sống trong sự giả dối, và ngại chiến đấu, nếu không nói là hèn nhát trước cuộc chiến đấu. Lòng kiêu ngạo ngăn cản sự kết hiệp với Đức Giêsu khiêm tốn, rào bít con đường Sự Thật của Chúa Giêsu, và mở ra sự  buông xuôi khỏe hơn là chiến đấu … Ngược lại, lòng khiêm tốn cho ta kết hiệp với Chúa Giêsu trong cuộc chiến đấu của mình, để nhờ Lời Sự Thật  mà vượt thắng những lôi cuốn hư hèn.
Những cơn cám dỗ trở nên tuyệt vời trong hành trình nên thánh của các tín hữu. Vì thắng vượt được những chước cám dỗ trong đời, làm cho các  tín hữu tiến gần tới sự kết hiệp với Thiên Chúa toàn thiện.  Niềm vui mỗi lần chiến thắng chước cám dỗ, là niềm vui vĩnh cửu trong  vườn địa đàng mới với Chúa Giêsu Kitô.
40 ngày quyết định
40 ngày mùa chay, con số biểu tượng cho cả một đời người tín hữu trong hành trình tiến về sự phục sinh. Lời Chúa khẩn thiết kêu gọi con cái Chúa sám hối những lần ngại chiến đấu và buông xuôi thất trận, sám hối những lần lẩn tránh sự thật, lẩn tránh ánh mắt nhìn của Thiên Chúa, sám hối sự bội ước với lời thề hứa rửa tội “từ bỏ ma quỉ và các việc của ma quỉ”, sám hối vì đã đi xa khỏi hoặc bất cần lòng thương xót của Chúa… Để việc sám hối ấy tích cực thành một quyết tâm nối lại mối tương quan đã bị chia lìa, Lời Chúa mời gọi “hãy tin vào Tin Mừng”. Tin vào Tin Mừng là kết hiệp hoàn toàn với  Chúa Giêsu bằng lòng tin, cậy, mến, để cùng Ngài vào hoang địa cuộc đời, cùng chiến đấu và tin tưởng cùng chiến thắng.
40 ngày mùa Chay, là một đời trở về với Tình Yêu Chúa và thể hiện sự cam kết trung thành với Thiên Chúa, bằng cách mỗi ngày , mỗi giờ, đều phải ghi một chiến công của lòng tin, cậy, mến vô biên.
Lạy Chúa Giêsu, địa đàng mới Chúa tái lập cho chúng con, là địa đàng của một cuộc chiến đấu đầy gian khổ. Xin Chúa Giêsu giúp chúng con không ngại chiến đấu và tin tưởng, với Chúa, chúng con chiến thắng những cám dỗ trong đời. A men.
PM. Cao Huy Hoàng

 

MC1-364: ‘SÁM HỐI’ LIÊN QUAN GÌ TỚI  ‘TIN VÀO TIN MỪNG’?

Lm Gioan Nguyễn Văn Ty SDB
 

Sứ điệp Mùa Chay xem ra đã rõ ràng: “Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng!”. Công : B102 MC1-364

Sứ điệp Mùa Chay xem ra đã rõ ràng: “Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng!”. Công việc phải làm trong thời gian này cũng đã từng được xác định từ thời xa xưa, là phải giữ chay tịnh trong suốt bốn mươi đêm ngày trước lễ Phục Sinh, noi gương đức Giê-su ‘được Thần Khí thúc đẩy, Người ở trong hoang điạ bốn mươi ngày’ [như Thánh Giáo hoàng Lê-ô (+461) đã viết: “ut apostolica institutio quadraginta dierum jejuniis impleatur” (P.L., LIV, 633)]. Ngày nay thì ‘apostolica institutio’ đó hầu như đã biến mất, đồng thời tôi cũng được nhắc nhở: sứ điệp nói trên không chỉ dành cho Mùa Chay, mà là cho toàn thể đời Ki-tô hữu. Chính vì thế mà tôi càng muốn tìm hiểu rõ, mình cần làm gì trong thời gian 40 ngày này (NB. Tiếng Anh gọi thời gian này là Lenten Season; trong ngôn ngữ Celt cổ nó có nghĩa là ‘spring time - mùa xuân’, không như các ngôn ngữ Âu Châu khác dùng các từ có gốc La tinh hay Hy lạp liên quan tới con số 40 như Carême hay Quaregima).
          Nếu trong thời gian được gọi là ‘Mùa Chay’ mà giữ chay tịnh lại không phải là điều chính yếu, và nếu Tin Mừng không hệ tại ở việc hãm mình ép xác, giữ tiết độ hay diệt dục (xem Lc 5, 33-39), thì trong thời gian cao điểm này nói riêng và suốt đời Ki-tô hữu nói chung, điều gì mới thực là chính yếu? Nói cách khác, sứ điệp ‘hãy sám hối và tin vào Tin Mừng’ phải được hiểu theo nghĩa nào?
          Thoạt tiên ta có thể hiểu sám hối và tin vào Tin Mừng như hai hành động song hành, hai điều cần làm để được cứu rỗi. Trước hết ‘hãy sám hối’ thường được hiểu như một lời kêu mời có nội dung luân lý, hãy từ bỏ con đường gian tà, hãy chỉnh đốn đời sống để làm cho mình lại được nên công chính như xưa. Hiểu như thế, và rất thường khi ta vẫn hiểu như vậy, nên quả thực ta cho sám hối là điều tối cần, thiết yếu tới độ chỉ cần sám hối chân thành đã đủ để một người có thể được lên thiên đàng. Đức Giê-su đến để kêu gọi sám hối, và trước Ngài, nhiều tiên tri - cao điểm là Gio-an Tiền Hô - cũng đã từng kêu gọi như thế. Nếu vậy sứ điệp này có gì là quan trọng? Thứ đến ‘tin vào Tin Mừng’, nếu được hiểu là giữ đạo, là sống các điều răn để có thể được rỗi linh hồn, thì vai trò của đức Giê-su cũng lại rất mờ nhạt mà thôi. Đơn thuần Người chỉ đóng vai trò một ông thầy dạy đỗ những điều phải làm, chỉ bảo cho biết các điều phải giữ… rồi thì Người không còn cần thiết nữa; vì người ta có thể được cứu rỗi căn cứ vào các việc giữ và làm (tương tự như Mô-sê trong Cựu Ước, với bộ giới răn và lề luật của ông). Chắc hẳn sứ điệp không thể hiểu như thế, nếu không muốn Tin Mừng đức Giê-su trở thành điều gì quá tầm thường.
Sức mạnh của sứ điệp đưa ta tới thẳng Thiên Chúa thứ tha, và đặt niềm tin tuyệt đối vào đức Giê-su Ki-tô thập gía cứu độ. Trong nội dung đó, ‘hãy sám hối’ phải được hiểu là ‘hãy chân thành nhìn nhận mình thấp hèn trong tội lỗi, để cảm thấy khát vọng và nhu cầu được cứu vớt thứ tha. Lúc đó hối nhân sẽ không nhất thiết phải là người đã cải tà qui chính, cho bằng là người tuyệt đối tin tưởng đón nhận ơn cứu độ’. Trong nội dung này hai vế ‘hãy sám hối’ và ‘tin vào Tin Mừng’ sẽ có liên hệ mật thiết với nhau. Một người càng khiêm tốn sám hối bao nhiêu thì càng tin vào Tin Mừng cứu rỗi bấy nhiêu, và ngược lại người tin vào Tin Mừng, trong bất kì hoàn cảnh nào cũng sẽ luôn trong tư thế khiêm nhường sám hối. Đồng thời cả hai hành động chỉ có một mục tiêu duy nhất là đón lấy ơn cứu độ nơi Thiên Chúa từ nhân được thực hiện trong thập giá đức Ki-tô Giê-su. Tác giả Mác-cô quả thật có lý khi dành cho sứ điệp này một tầm quan trọng tuyệt đối vì nó gói ghém toàn bộ nội dung rao giảng và hành động của đức Giê-su. ‘Sau khi ông Gio-an bị bắt, đức Giê-su đến miền Ga-li-lê rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa. Người nói: “Thời kỳ đã viên mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối, và tin vào Tin Mừng”.
Trong tư cách là một tu sĩ - linh mục đã lớn tuổi, tôi có thật sự vẫn xác tín rằng mình cần phải khiêm nhường sám hối? Và tôi có đánh giá sự thánh thiện của mình theo thước đo của khát vọng đón nhận hồng ân cứu độ? Mùa Chay chính là thời gian dành cho tôi để kiểm điểm lại hai điều này.
Lạy Thiên Chúa cứu độ của con, Chúa kêu gọi con sám hối không phải để con được xứng đáng đến gần Chúa, nhưng để càng cảm thấy mình bất xứng và do đó khao khát đón lấy hồng ân cứu độ do lòng nhân lành thương xót Chúa trao ban. Xin cho sứ điệp “hãy sám hối và tin vào Tin Mừng’ luôn vang vọng ngày càng mãnh liệt hơn trong suốt đời Ki-tô hữu của con, và đặc biệt cấp bách và khẩn thiết hơn trong mỗi Mùa Chay thánh. Xin hãy luôn mở rộng tâm hồn con đón lấy tình thương vô biên Chúa. Amen
Lm Gioan Nguyễn Văn Ty SDB

 

MC1-365: CHIẾN THẮNG LÒNG THAM

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền
 

Thông thường con người chúng ta thường hay ghen ghét, bất hoà, tranh chấp và có khi giết: B103 MC1-365

Thông thường con người chúng ta thường hay ghen ghét, bất hoà, tranh chấp và có khi giết hại lẫn nhau vì những điều gì?
Thưa, về danh vọng và tiền tài. Ngay trong gia đình cũng có thể bị đảo lộn tất cả những nề nếp gia phong vì danh vọng và đồng tiền. Con cái bỏ cha mẹ, cha mẹ từ chối con cái. Vợ kết án chồng, chồng ruồng bỏ vợ, anh em bạn hữu chém giết nhau cũng chỉ vì đồng tiền, bát gạo, và người ta cũng có thể chà đạp nhau, bất kể là thân hay quen, là bạn hữu xa gần chỉ vì một ngai vàng là địa vị, là quyền lực trong xã hội.
Thực vậy, có những kẻ vì tiền mà mê muội. Có những người vì tình mà hoá dại. Có những người vì quyền lực mà đánh mất tính người. Nhưng có lẽ, cái cám dỗ lớn nhất của con người qua mọi thời đại chính là đồng tiền, vì có tiền là có tất cả
Vì tham lam đồng tiền mà họ sẵn sàng đánh đổi tất cả: danh dự, phẩm giá và tình làng nghĩa xóm, tình cha nghĩa mẹ, tình nghĩa thầy trò cũng không bằng ma lực của đồng tiền, như cha ông ta đã từng nói : “Còn tiền còn bạc còn đệ tử – Hết tiền hết gạo hết ông tôi”. Thật vậy, có biết bao kẻ đã bạc tình, bạc nghĩa chỉ vì đặt đồng tiền lên trên mọi mối quan hệ giữa người với người. Đồng tiền là đối tượng duy nhất để tôn thờ vì thế dân gian mới có câu: “Ông tiền , ông Phật,  ông Tiên – Ba ông đứng lại, ông tiền cao hơn”.
 Ngày xưa, có người ở nước Tề thích vàng đến mê vàng. Sáng sớm thay áo quần đi ra chợ. Tới hàng đổi tiền, thì liền chộp vội một khối vàng rồi chạy đi. Người ta bắt anh ta lại và hỏi :
- Tại sao giữa đám đông mà anh lại dám cướp vàng của kẻ khác như thế ?
Anh ta trả lời :
- Lúc thấy vàng, tôi đâu còn thấy thiên hạ chung quanh nữa. Trước mặt tôi, chỉ có vàng mà thôi.
Đồng tiền liền khúc ruột nên họ lao mình vào lửa, bất chấp mọi khó khăn gian khổ, bất chấp mọi thủ đoạn mánh mung, cho dù phải chà đạp lên người khác bằng những phương thế bóc lột và bất công, miễn sao vơ vét, vun quén về cho đầy túi tham của mình.
Bài phúc âm hôm nay, thánh Marco nói về việc Chúa Giêsu chiến thắng cám dỗ. Vậy ma quỷ đã cám dỗ Chúa Giêsu điều gì? Thưa, ma qủy đã tìm cách lôi kéo Chuá Giêsu quay lưng lại với Chuá Cha. Từ khước sống vâng phục thánh ý Chúa để được thoả mãn cái bụng của mình. Nó hướng mở cho Chúa một tương lai đầy hứa hẹn không chỉ có của ăn dư đầy từ những hòn đất hòn đá cũng biến thành của ăn, từ sỏi đá cũng thành cơm, mà vượt xa hơn nữa là nắm gọn trong tay thiên hạ, kẻ hầu người hạ và thừa hưởng mọi vinh hoa lợi lộc trần gian. Năm xưa trong vườn địa đàng nó đã thắng ông bà nguyên tổ, khi nó đưa ra những lời dụ dỗ đầy ngọt ngào, đầy hấp dẫn, nhưng hôm nay, màn trình diễn này đã hoàn toàn thất bại bởi người Con duy nhất của Thiên Chúa là Đức Giêsu, Ngài không những đã khước từ những lời mời mọc của ma quỷ nhưng còn cho ma qủy nhận ra rằng không có gì cao qúy hơn là được sống trong tình nghĩa với Thiên Chúa, sống trong sự quy phục Thiên Chúa, vì: “người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng còn bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra”.
Những cám dỗ mà ma qủy tuy đã thất bại với Chúa Giêsu nhưng nó vẫn dùng những chiêu thức đó để tấn công con người hôm nay. Trước tiên nó gieo vào lòng ta mối nghi ngờ Thiên Chúa, về lòng thương xót và quan phòng của Thiên Chúa. Nó mở ra cho chúng ta một sự so sánh, tính toán thiệt hơn và cuối cùng là đưa ra một con mồi để quyến rũ chúng ta là: danh vọng, tiền tài, địa vị, thú vui. Kết quả là nhiều người vì ham tiền, ham lợi lộc đã trở thành tay sai cho ma qủy, không chỉ mình làm điều ác mà còn lôi kéo, dẫn dụ nhiều người khác đi vào con đường tội lỗi. Ma qủy đã thành công khi sai khiến chúng ta làm sự dữ, là những điều trái với luân thường đạo lý như: trộm cắp, đánh nhau, hận thù ghen ghét, tự cao tự đại .. . Đó là những mối tội đầu đã gây nên biết bao đau khổ cho chính mình và những người chung quanh.
Ở khởi đầu mùa chay khi cho chúng ta chiêm ngắm Chúa Giêsu bị ma qủy cám dỗ, Giáo hội mời gọi chúng ta ý thức về thân phận tội lỗi của mình và sức mạnh của sự dữ, của ma qủy luôn rình rập để lôi kéo chúng ta xa rời Thiên Chúa, đi trong tối tăm của đam mê lầm lạc. Vì thế, chúng ta luôn phải sám hối và tin vào tình yêu của Chuá. Sám hối để nhận ra sự khiếm khuyết của mình mà cầu xin ơn Chuá bổ túc những thiếu sót của chúng ta. Sám hối để canh tân đời sống sao cho phù hợp với tin mừng của Chuá. Sám hối để chúng ta nhận ra sự giới hạn của kiếp người để nhờ ơn Chúa giúp chúng ta sẽ hoàn thiện con người của mình nên thánh thiện tinh tuyền như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện.
Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên con giống hình ảnh Chúa. Xin cho con biết gìn giữ phẩm giá con người của mình bằng việc tránh xa những thói hư tật xấu, luôn nói không với tội lỗi và luôn giữ lòng trong sạch để xứng đáng nhìn xem Thiên Chuá. Amen
Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

 

MC1-366: SA MẠC KHÔNG NÓNG

CHÚA NHẬT I MÙA CHAY
Mc 1,12 -15
 

Có nhiều thứ hoang mạc: Có hoang mạc chỉ toàn là cát, có hoang mạc chỉ toàn là đất và đá màu vàng: B104 MC1-366

          Có nhiều thứ hoang mạc: Có hoang mạc chỉ toàn là cát, có hoang mạc chỉ toàn là đất và đá màu vàng, nhưng không một cây cỏ nào có thể mọc được như hoang mạc ở phía bắc Israel . Có hoang mạc chỉ là những bãi sình lầy lồi lõm; phèn chua, chỉ có cỏ lăn là sống được. Nói chung lại, hoang mạc là một vùng đất hoang vắng, tĩnh lặng. Vì vậy, người ta thường nghĩ hoang mạc là một vùng đất chết.
          Thực ra, thì không phải thế. Ẩn sau cái bên ngoài hoang vu chết chóc ấy, hoang mạc, lại là nơi thuận tiện, để cho sự sống phát sinh. Bao nhiêu phát minh khoa học, đã được tìm thấy, trong những căn phòng lặng im, bền bỉ. Bao nhiêu những thành công cả về kinh tế, lẫn quân sự, cũng đã được khơi nguồn, từ những tháng ngày lặng yên, suy tính.
          Trước khi bước vào đời sống công khai rao giảng. Hôm nay, Chúa Giêsu cũng được Chúa Thánh Thần đưa vào hoang địa để ăn chay cầu nguyện suốt bốn mươi đêm ngày. Vào đó, để gặp gỡ với Thiên Chúa Cha, để dự phòng, sắp xếp, cân nhắc, cho công việc chính yếu của công trình cứu độ nhân loại:  Đi rao giảng. Nhìn việc Chúa làm. Ta hiểu được một chân lí quan trọng: Trong cuộc đời, phải có những giây phút trở về trong thinh lặng, nhất là khi đứng trước những công việc hệ trọng.
          Sau 40 đêm ngày chìm trong yên tịch và cầu nguyện, cũng như ăn chay và hãm mình. Chúa bắt đầu bước đi rao giảng. Lời nói đầu tiên là: “Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”.Đó là cánh cửa trước hết và duy nhất để có thể bước vào cuộc sống mới, một cuộc sống cao thượng và phong phú. Nhưng sao lại phải sám hối? Bởi mình nhiều thiếu sót và lầm lỗi.
          Nhưng để có thể sám hối, người ta cũng phải đi vào vùng hoang địa của hồn mình. Trong đó, lặng lẽ ta gặp lại chính ta, ta nhìn lại chính ta. Ta nhìn thấy những bước chân sai. Sai lạc trong cái nhìn, sai lạc trong chiều kích suy tư, sai lạc trong lời nói, sai lạc trong quyết định, sai lạc trong cư xử, và sai lạc trong hành động của mình.  Chìm sâu trong những sai lạc đó, ta hất chúng đi, sửa lại, và sầu buồn về những thiếu sót của mình. Rồi từ đó, ta sám hối. Giọt nước mắt ăn năn, lặng lẽ nhỏ vào hồn mình. Với ơn Chúa, rửa sạch hồn ta cho thanh sạch. Thế là hồn ta nhẹ nhàng, tươi mới. Ta cố vươn lên về phía mặt trời cứu rỗi. Và thế là cuộc sống mới bắt đầu một cuộc sống mới đầy tràn ân sủng và chân lý. Một cuộc sống bình an sâu thẳm, và chứa chan hạnh phúc nhiệm mầu.
          Gợi ý suy niệm:
          1- Bạn có ý muốn, trở về với hoang mạc đời mình không?
          2- Bạn có nghĩ rằng bạn đang cần sám hối?
Lm Đaminh Đỗ Văn Thiêm Long Xuyên

 

MC1-367: Cải thiện

http://www.giaophanvinhlong.net/SUY-NIEM-LOI-CHUA-CN-1-MC-B.html
 

Có một chàng thanh niên, vừa nghiện ma tuý, lại can tội giết người, nên bị kết án chung thân: B105 MC1-367

1. Cải thiện
Có một chàng thanh niên, vừa nghiện ma tuý, lại can tội giết người, nên bị kết án chung thân. Đêm kia anh đang nằm trên giường tại phòng giam, thì đột nhiên anh nghĩ tới tình trạng hỗn loạn mà anh đã gây ra trong đời anh. Anh cảm thấy có một ước muốn mãnh liệt là cầu nguyện. Đợi cho người bạn nằm cùng giường ngủ yên, anh mới quỳ xuống cầu nguyện: Lạy Chúa, con xin tỏ bày cùng Chúa những gì chất chứa trong trái tim con. Anh nói với Ngài bằng những lời lẽ đơn sơ mộc mạc tất cả những gì anh muốn, từ những hy vọng đến những thất bại, từ những vui mừng đến những khổ đau. Sau khi anh cầu nguyện xong, người bạn tưởng chừng như đã ngủ buột miệng kêu lên: Amen. Và người bạn nói tiêp: Tôi cũng tin Chúa. Tôi nghĩ rằng Ngài luôn ở với chúng ta, chỉ có chúng ta là không ở với Ngài mà thôi.
 Từ câu chuyện trên, chúng ta đi vào lời Chúa truyền dạy: Hãy sám hối, nghĩa là hãy cải thiện đời sống, thành tâm thú nhận những gì xấu, không tốt, không đẹp trong đời sống chúng ta, rồi sau đó là từ bỏ chúng, quay lưng lại với chúng, nói khác đi là thẳng thắn đối diện với những tội lỗi trong đời sống, rồi cương quyết uốn nắn sửa đổi.
 Hẳn rằng có những lúc chúng ta cũng đã ý thức về những hỗn loạn xảy ra trong tâm hồn và trong cuộc sống chúng ta. Chẳng hạn về tính ích kỷ, luôn đặt nhu cầu của chúng ta trên quyền lợi của người khác. Chẳng hạn về tính kiêu căng, không muốn nhìn nhận những sai lỗi của mình. Chẳng hạn về sự lười biếng, không muốn giúp đỡ một ai.
 Kinh nghiệm cho thấy: Những nhà truyền giáo thành công nhất trong việc làm cho người khác hối cải, đều là những người thực hiện theo đoạn Tin Mừng hôm nay. Họ làm cho người khác nhìn nhận rằng mình chỉ là những kẻ tội lỗi, rồi từ đó giúp họ quay trở về cùng Đức Kitô mà làm lại cuộc đời. Bởi vì nếu không phải là người tội lỗi, thì cần chi đến Đức Kitô.
 Từ khởi điểm này, hôm nay chúng ta cùng nhau bước vào mùa Chay, là thời gian đặc biệt Chúa tuôn đổ muôn vàn ơn sủng và giúp chúng ta cải thiện đời sống. Nếu như mùa Chay trở về, chúng ta biết cố gắng cải thiện đời sống, uốn nắn lấy một thói hư tật xấu mà thôi, thì có lẽ lúc này chúng ta đã trở nên một con người khác, đạo đức hơn, thánh thiện hơn, yêu thương hơn.

 

MC1-368: Đức Giêsu chia sẻ thân phận con người

(Suy niệm của Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm)
 

Chúng ta đang ở trong Chúa Nhật thứ nhất mùa chay. Giáo Hội giúp chúng ta cảm nhận tình yêu:  B106 MC1-368

Chúng ta đang ở trong Chúa Nhật thứ nhất mùa chay. Giáo Hội giúp chúng ta cảm nhận tình yêu Thiên Chúa với chúng ta qua việc nhìn ngắm Đức Giêsu sống thân phận con người.
 
I. Cám dỗ nơi con người và nơi Đức Giêsu
Đức Giêsu mà cũng bị cám dỗ sao?
Ngài chấp nhận sống với dã thú sao?
Là người, nghĩa là, với thể xác và tinh thần, con người luôn có thể bị cám dỗ. Ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm về điều này.
 Cám dỗ là khuynh chiều đòi thỏa mãn những đòi hỏi của thân xác và của tinh thần, không muốn đáp trả tiếng gọi từ trên. Chẳng hạn người ta nhận thấy nơi mình những đòi hỏi của thân xác về tính dục hay khuynh hướng muốn mình giầu hơn người khác, hoặc những đòi hỏi của tinh thần muốn mình trổi trang hơn người khác...
 Khuynh chiều đi tìm và dừng lại nơi danh lợi tiền bạc địa vị, không muốn vươn lên điều tốt hơn nhưng dừng lại ở cái tầm thường, đó là những cám dỗ thường xảy ra trong đời mỗi người.
 Muốn trổi trang, không là tội, nhưng còn là điều tốt. Chỉ xấu, chỉ là tội, khi mình coi mình là nhất, đòi mình trên người khác hoặc trên Thiên Chúa, và xúc phạm người khác.
 Không ai thoát cám dỗ, nhưng con người tự do trước cám dỗ, con người có thể không thuận theo cám dỗ. "Ví thử đường đời bằng phẳng cả, anh hùng hào kiệt có hơn ai?". "Ơn Ta đủ cho con" (2Cor.12, 8-9).
Chúa không hứa cho chúng ta khỏi bị cám dỗ, nhưng Chúa hứa sẽ giải phóng chúng ta, nếu chúng ta bám vào Ngài: "cứ xin thì được, tìm sẽ gặp, gõ cửa thì sẽ được mở cho" (Mt.7,7).
 Thiên Chúa là tinh thần, Ngài mời gọi con người vươn lên Ngài qua những giá trị tinh thần con người thấy được qua lý trí.
 
II. Phép rửa khởi đầu đời sống mới
Dù chúng ta có thuộc về thế gian và ma qủy trong những chọn lựa ở qúa khứ, thì bây giờ Thiên Chúa mời gọi chúng ta trở lại, để chúng ta khởi đầu một đời sống mới, hầu chúng ta sống hạnh phúc.
 Đức Giêsu đã chịu phép rửa ở sông Yordan (Mc.1, 9), và Ngài cũng đã chịu một phép rửa rất đặc biệt (Lc.12, 50). Mỗi người chúng ta cũng đã chịu phép rửa nhân danh Đức Giêsu, nhân danh Ba Ngôi Thiên Chúa (Mt.28, 19), chính phép rửa này đã làm chúng ta thành một thụ tạo mới.
 Phép rửa đã làm chúng ta thuộc trọn về Thiên Chúa, chúng ta là tạo vật mới, được được Thiên Chúa cứu chuộc qua Đức Giêsu Kitô. Nhận phép rửa nhân danh Đức Giêsu, là dìm mình trong cái chết của Ngài và sống lại trong sự sống của Ngài.
 Với phép rửa, Thiên Chúa ghi ấn tín trong tâm hồn chúng ta, dấu chỉ chúng ta thuộc về Thiên Chúa, chúng ta được Thiên Chúa yêu thương.
 
III. Giao ước biểu lộ tình yêu của Thiên Chúa
Con người là gì mà Thiên Chúa phải ký kết giao ước với! Chẳng lẽ người nặn bình gốm lại phải ký kết với bình gốm?
Thiên Chúa ký kết giao ước với con người, để không bao giờ tiêu diệt con người nữa! Ôi tình yêu của Thiên Chúa đối với con người thật tuyệt vời biết bao. Những gì Thiên Chúa đã nói, thì Ngài trung thành thực hiện, không bao giờ thất tín. Ngài vẫn trung thành dù con người có bất trung phản bội.
 Tình thương của Thiên Chúa đối với con người, được thể hiện trong suốt dòng lịch sử. Lịch sử ghi dấu con người phản bội, nhưng lịch sử lại ghi dấu tình thương nhân từ tha thứ cho con người. Lịch sử, là lịch sử Thiên Chúa cứu độ con người.
 Lịch sử đánh dấu những giao ước Thiên Chúa thực hiện đối với con người. Lịch sử cũng cho thấy Thiên Chúa điều khiển dòng lịch sử, can thiệp vào lịch sử dân Do thái để cứu dân, và qua đó cứu độ tất cả loài người.
 Biến cố Đức Giêsu Kitô, là biến cố đỉnh cao cho thấy tình yêu của Thiên Chúa đối với con người. Cũng với chính Đức Giêsu, con người tìm được con đường để nên thánh, con người được bảo đảm mình được yêu thương và sẽ là thánh, được thuộc trọn về Thiên Chúa.
Đức Giêsu là Thiên Chúa nhập thể làm người. Ngài bị cám dỗ, Ngài vượt qua, "Ngài là đường, là sự thật và là sự sống". Ngài là thầy, và không có Ngài, không có ai là thầy đích thực. Nếu có ai trên trần gian này là thầy, là người đó được tham gia "chức thầy" của Đức Giêsu.
 Chúa Giêsu là mẫu mực, là thầy dạy của chúng ta. Chúng ta hãy xin Chúa cho chúng ta được theo gương Ngài, được hoàn toàn tin tưởng và phó thác tất cả cho Ngài.

 

MC1-369:Cám dỗ trong hoang địa –

 Cố Lm. Hồng Phúc
 

Hôm nay là Chúa nhật thứ nhất Mùa Chay. Tất cả lời Chúa hôm nay gồm tóm trong câu Chúa tuyên bố: B107 MC1-369

Hôm nay là Chúa nhật thứ nhất Mùa Chay. Tất cả lời Chúa hôm nay gồm tóm trong câu Chúa tuyên bố trong bài Phúc âm: “Thời giờ đã mãn và Nước Thiên Chúa đã gần đến. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.”
 Trước hết, thời giờ đã mãn, Nước Trời sắp đến. Mùa Chay là mùa hy vọng, mùa tình thương. Thánh Phaolô, trong Thư gửi Giáo đoàn Roma, đã nói lên một câu khiến cho chúng ta tràn đầy hy vọng: “Ở đâu tội lỗi tràn ngập thì ơn Chúa đã dồn mọi người hết thảy vào đàng bất tuân (tội lỗi), ngõ hầu Người dủ lòng thương hết mọi người” (Rom 11, 32).
 Thánh Phêrô, trong bài đọc hôm nay có tính cách như một bài giáo huấn cho tân tòng sắp chịu phép rửa tội, cũng nói lên ơn cứu chuộc tràn đầy rằng: “Chúa Kitô đã chết một lần cho tội lỗi chúng ta… thay cho chúng ta là kẻ bất công, để hiến dâng chúng ta cho Thiên Chúa.” Ám chỉ phép rửa tội, Thánh Tông đồ nhắc lại sự tích ông Noe xưa, vâng lời Chúa đóng một chiếc tàu giữa tiếng bàn tán, dị nghị, chế riễu, nhưng nhờ đó mà gia đình ông được cứu sống. Thì ngày nay, nhờ phép rửa tội chúng ta cũng được cứu thoát, nhờ công nghiệp Chúa Kitô phục sinh. Ngài đã thắng sự chết và tội lỗi để ban cho chúng ta sự sống của chính Thiên Chúa. Ở đâu tội lỗi tràn ngập thì ơn Chúa cũng tràn đầy.
 Trong ba tường thuật của Phúc Âm nhất lãm về việc Chúa bị ma quỉ cám dỗ, Phúc Âm của Marcô ngắn gọn và chỉ có ý đưa dẫn đến sứ vụ Tông đồ của Chúa. Ngài chỉ viết: “Thánh Thần thúc đẩy Chúa Giêsu vào hoang địa và Ngài ở đó suốt bốn mươi đêm ngày, chịu sata cám dỗ, sống chung với dã thú và các Thiên Thần hầu hạ Ngài”.
 Hoang địa hay sa mạc là chốn thinh không, là nơi không có tiếng nói ngoài tiếng gió vi vu hay tiếng kêu cầm thú. Một nơi im lặng nhưng không phải là không có tiếng kêu cầm thú. Một nơi im lặng nhưng không phải là không có tiếng nói và có nhiều thứ tiếng nói sẽ vọng lên. Tiếng nói của chính lương tâm mình, tiếng nói của dĩ vãng, của một đoạn đời đã qua, một khoảng đời sắp tới. Nhất là tiếng nói của Chúa, vì “Người thích nói trong im lặng”. Vì thế, ngày xưa bao nhiêu vị Thánh đã vào trong hoang địa Thebes bên Ai cập để sống đời khổ tu, hoặc như Thánh Hiêrônimô xa lánh sự ồn ào thành phố Lamã để vào trong sa mạc gần Nagiarét suy niệm Thánh Kinh.
 Nhưng hoang địa cũng là nơi thần bí, như lời Chúa phán: “Khi tà thần ra khỏi người nào, thì nó đi dong dài những nơi khô cháy tìm chỗ nghỉ ngơi…”. Trong chốn thinh không im lặng, ma quỉ thường hay hoạt động, quấy phá. Ma quỉ đã hiện ra nhiều lần dưới nhiều hình quái ghê sợ để buộc Thánh Antôn bỏ cuộc nhưng ngài đã xua đuổi và trở nên tổ phụ đời sống tu trì. Về đêm, trong im lặng, ma quỉ quấy phá Thánh Vianney trong 35 năm.
 Sở dĩ như vậy vì trước đây, Marcô nói, “Thánh Thần thúc đẩy Chúa Giêsu vào hoang địa và Ngài ở đó bốn mươi đêm ngày, chịu satan cám dỗ”. Vị Thánh Sử không nói đến diễn tiến của cuộc cám dỗ nhưng chúng ta cũng hiểu được qua các cuộc đương đầu với ma quỉ trong khi Ngài ra giảng đạo. Marcô còn thêm một chi tiết: Ngài sống chung với dã thú và các Thiên Thần hầu hạ Ngài. Phải chăng Marcô muốn ám chỉ quang cảnh an bình mà Chúa Giêsu, vị Adam mới, đã sống. Ngài đã toàn thắng con rắn hoả ngục dữ tợn muốn cám dỗ Ngài bỏ cuộc, và mở cửa trời cho chúng ta vào hưởng hạnh phúc với các Thiên Thần.
Sau cùng, lời rao giảng của Chúa Giêsu gồm tóm trong hai điểm: Hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng. Ta phải ăn năn sám hối tội lỗi. Đó là phần tiêu cực của mọi cuộc trở lại. Nhưng không phải chỉ có thế, có biết bao nhiêu đạo giáo còn đòi hỏi sự hảm mình phạt xác hơn chúng ta. Nhưng điều tích cực là TIN vào Chúa Kitô, chỉ có Chúa mới có thể cứu vãn chúng ta. Đức tin và sám hối là hai yếu tố của mọi cuộc trở lại.
 Charles de Foucaul đến gặp một vị linh mục quen là cha Huvelin và tâm sự: Từ ngày lên 15 tuổi, tôi như mất đức tin. Cha Huvelin nhìn con người về từ sa mạc đó và nói: Anh hãy quì xuống xưng tội đi đã. Foucauld đã vâng lời, khiêm tốn làm việc sám hối. Và từ đó, đời của vị sĩ quan ấy đã hoàn toàn đổi mới. “Khi tôi vừa hiểu rằng có một Thiên Chúa thì tôi cũng hiểu rằng tôi không thể làm gì khác hơn là chỉ sống vì Người”.
 “Hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng.”

 

 MC1-370: Đức Giêsu trong hoang địa

(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Thể Hiện)
 

Bài Tin Mừng hôm nay (Mc 1,12-15) gồm hai phần: Đức Giêsu ở trong hoang địa (cc.12-13) và: B108 MC1-370

Bài Tin Mừng hôm nay (Mc 1,12-15) gồm hai phần: Đức Giêsu ở trong hoang địa (cc.12-13) và Đức Giêsu khai mạc công việc rao giảng (cc.14-15). Vì chúng ta mới suy niệm cc.14-15 trong Chúa Nhật III Thường Niên, nên hôm nay, bài suy niệm này sẽ chỉ tập trung vào phần nói về sự kiện Đức Giêsu ở trong hoang địa. Và những gì sắp được trình bày trong bài suy niệm này sẽ chỉ là một trong những cách hiểu có thể có về sự kiện ấy theo cách diễn tả của tác giả Mc.
 Câu chuyện xảy ra ngay sau khi Đức Giêsu chịu phép rửa tại sông Giorđan: “Thần Khí liền đẩy Người vào hoang địa. Người ở trong hoang địa bốn mươi ngày, chịu Satan cám dỗ, sống giữa loài dã thú, và có các thiên sứ hầu hạ Người” (cc.12-13).
 Thần Khí, sức mạnh của Thiên Chúa, “đẩy” Đức Giêsu vào hoang địa. “Đẩy” ở đây là một ẩn dụ chỉ sự thúc đẩy thần linh mà Đức Giêsu trải nghiệm; đó là sự thúc đẩy bên trong, mạnh mẽ, không thể cưỡng lại được. Sức mạnh của Thần Khí tràn ngập nơi Đức Giêsu và đặt Người, một cách chắc chắn, vào trong “hoang địa”. Và vì là tác động thần linh của chính Thiên Chúa, sự thúc đẩy và đặt để đó hẳn nhiên sẽ phù hợp với chương trình của Thiên Chúa về Đức Giêsu. Chương trình đó đã từng được tác giả Mc trình bày ngay từ những dòng đầu tiên của cuốn sách như một con đường (1,2). “Hoang địa” mà Thần Khí đẩy Đức Giêsu vào, vì thế, là nơi chốn mà ở đó Người phải thực hiện cuộc hành trình của Người.
 Về bản chất, hoang địa này khác hẳn hoang địa của ông Gioan Tẩy Giả. Trong trường hợp của ông Gioan, đó là một nơi chốn địa dư, gần sông Giorđan, không dân cư và tách biệt hẳn xã hội con người; nhưng khi ông Gioan ở đó thì xảy đến hàng loạt những hoạt động do sự xuất hiện của các thành phần xã hội từ bên ngoài kéo đến: ông giảng dạy, ông làm phép rửa và người ta lãnh ơn tha thứ… Còn hoang địa mà Thần Khí đẩy Đức Giêsu vào thì không được xác định rõ ràng. Đức Giêsu đi vào trong hoang địa này bởi tác động của Thần Khí, ở lại đó trong một giai đoạn dài và thuần nhất (40 ngày), chịu cám dỗ, sống giữa các loài dã thú và được các thiên sứ phục vụ. Tác giả không kể bất cứ hoạt động nào của Người, kể cả việc cầu nguyện và ăn chay. Trong hoang địa này, bên cạnh Đức Giêsu, có sự hiện diện của ba loại “cư dân”: Satan, các loài dã thú và các thiên sứ. Tính chất và sự hiện diện đồng thời của ba loại “cư dân” này quanh Đức Giêsu khiến cho hoang địa này không còn mang tính chất địa dư – lịch sử nữa, mà là một hình ảnh ẩn dụ mang tính biểu tượng – thần học.
 Đức Giêsu, theo chương trình của Thiên Chúa, đang thực hiện cuộc hành trình của Người, đang đi trên con đường của Người (x.1,2). Đỉnh điểm của cuộc xuất hành của Người sẽ là biến cố tử nạn – phục sinh. Xưa, hoang địa là nơi chốn của cuộc xuất hành của dân Israel đi về đất hứa. Nay, “hoang địa” cũng là nơi chốn diễn ra cuộc hành trình hướng đến biến cố tử nạn – phục sinh của Đức Giêsu. Sự kiện Người sẽ ở trong hoang địa bốn mươi ngày (c.13) củng cố cho cách hiểu này. Mà nếu thế thì “hoang địa” nói đây chính là cái xã hội – tôn giáo Do Thái, trong đó Đức Giêsu sống và hoạt động cho đến khi Người bước vào cuộc tử nạn – phục sinh của Người. Chính Thần Khí đẩy Người đi vào trong cái xã hội – tôn giáo đó.
 Nhưng hoang địa, tự bản chất, là hình ảnh của một nơi chốn tách biệt khỏi xã hội. Trong trường hợp của Đức Giêsu, sự tách biệt này, vì thế, phải được hiểu theo nghĩa của sự tách biệt về các nguyên tắc và giá trị. Đức Giêsu ở trong “hoang địa”, tức là Người tuyệt đối không chia sẻ các giá trị giả dối và sai lầm của cái xã hội – tôn giáo Do Thái và không chấp nhận những nguyên tắc và giá trị đó. Có một sự cắt đứt, một sự đoạn tục, một sự tách lìa giữa Đức Giêsu với các nguyên tắc và giá trị đó. Tính chất của ẩn dụ “hoang địa” cho phép chúng ta hiểu như thế.
 Bắt đầu Mùa Chay thánh, chúng ta cũng đang được Thần Khí đẩy vào “hoang địa” để thực hiện cuộc xuất hành của chính mình và của cộng đoàn mình. Đối với tuyệt đại đa số chúng ta, đây sẽ không phải là một hoang địa theo nghĩa nơi chốn địa dư, mà là theo nghĩa biểu tượng – thần học. Đó là nơi chúng ta thực hiện cuộc hành trình đời mình như dân Israel xưa thực hiện cuộc hành trình đi từ cõi nô lệ Ai Cập về miền đất hứa “chảy tràn sữa và mật”. Đó là nơi xảy đến cuộc xuất hành của chúng ta, cuộc xuất hành đưa chúng ta vào trong đất hứa là Nước Thiên Chúa. Hoang địa, theo nghĩa đó, là chính môi trường sống và làm việc cụ thể của chúng ta trong hiện tại.
 Nhưng “hoang địa” mà Thần Khí đang đẩy chúng ta vào cũng có nghĩa là một chốn tách biệt, như xưa đã xảy ra với Đức Giêsu. Trong ý nghĩa sự “đi vào hoang địa” là biểu tượng cho một sự tách biệt, một sự giữ khoảng cách đối với những nguyên lý và giá trị sai lầm đang chi phối xã hội, thì việc Đức Giêsu vào hoang địa, như chúng ta đã nói, là việc Người không chấp nhận hành xử theo các nguyên lý và giá trị sai lầm của xã hội và tôn giáo Do Thái đương thời. Đối với chúng ta cũng vậy. Thần Khí đang đẩy chúng ta vào hoang địa, cách riêng là trong Mùa Chay thánh này, tức là Thần Khí thúc đẩy chúng ta không thỏa hiệp và không sống theo những nguyên lý và giá trị tầm thường thế gian, ngay trong những môi trường xã hội và môi trường làm việc hiện tại của chúng ta: những ý thức hệ sai lạc, những giá trị ảo của chủ nghĩa hưởng thụ, hay những não trạng duy vật và duy khoái lạc…
 Đức Giêsu đã làm theo sự thúc đẩy của Thần Khí. “Người ở trong hoang địa bốn mươi ngày, chịu Satan cám dỗ, sống giữa loài dã thú, và có các thiên sứ hầu hạ Người” (c.13).
Trong Cựu Ước, con số “bốn mươi” thường được dùng để chỉ một giai đoạn trong đó diễn ra một tình trạng thuần nhất nào đó như thời hòa bình hay thời của một triều đại… Thí dụ trong Tl 3,11; 5,31; 8,28; 13,1; 2V 8,17; 12,2 chẳng hạn. Một điều chắc chắn là con số bốn mươi luôn ám chỉ đến bốn mươi năm con cái Israel đi trong hoang địa, tức là giai đoạn họ đi từ chốn nô lệ Ai Cập về đất hứa (x. Ds 14,33.34; 33,38; Đnl 1,3; 2,7; 29,4; Gs 14,17; Tv 95,10; Am 2,10; 5,25…). Vì thế, chi tiết “Đức Giêsu ở trong hoang địa bốn mươi ngày” rõ ràng mang giá trị biểu tượng, chỉ về cuộc xuất hành của Người, tức là cuộc hành trình đưa Người đi đến đỉnh điểm là cuộc tử nạn và phục sinh của Người.
 Trong “hoang địa”, Đức Giêsu chịu Satan cám dỗ suốt bốn mươi ngày. “Satan” là một hạn từ Hípri. Thoạt kỳ thủy, hạn từ này về căn bản có nghĩa là một kẻ chống đối hay một đối thủ chuyên cáo tội trong các vụ án (x. Tv 109,6; 1Mcb 1,36). Từ đó nó có nghĩa chỉ về một thành viên của triều đình thiên thai, chuyên cáo tội con người trước mặt Thiên Chúa (x. G 1,6-12; 2,1-7). Vào thời Đức Giêsu, người ta không còn nghĩ Satan là một thành viên của triều đình thiên thai nữa, nhưng có thể hiểu như là một tinh thần thù nghịch của con người, luôn tìm cách đẩy con người đến chỗ sai lạc và luôn muốn tàn phá công trình của Thiên Chúa. Trong cái xã hội Do Thái được ẩn dụ trong bài Tin Mừng bằng hình ảnh “hoang địa”, thì Satan, trong vai kẻ cám dỗ Đức Giêsu, chính là những thế lực/nhân vật liên tục tìm cách làm cho Đức Giêsu phản bội lại chương trình của Thiên Chúa về Người. Trong Mc 8,33 Đức Giêsu sẽ gọi Phêrô là Satan vì ông ta ngăn cản Đức Giêsu thực hiện chương trình của Thiên Chúa và muốn Người đi theo “tư tưởng của loài người”. Trong cuộc đời hoạt động công khai của Người trước khi đi vào cuộc tử nạn – phục sinh, giữa “hoang địa” là xã hội và tôn giáo Do Thái, Đức Giêsu sẽ phải liên tục đối diện với những thế lực/nhân vật như thế. Bài Tin Mừng hôm nay gọi là “Người chịu Satan cám dỗ”.
 Loại “cư dân” thứ hai trong “hoang địa” mà bài Tin Mừng hôm nay nhắc đến, là các loài dã thú: Đức Giêsu “sống giữa loài dã thú”. Thông thường, các loài dã thú được hình dung trong đặc điểm hung dữ của chúng: chúng tấn công và thậm chí ăn thịt con người. Vì thế, trong các sách ngôn sứ, ẩn dụ dã thú thường được dùng để nói về tai ương, ví dụ trong Is 18,6; 56,9; Gr 7,33; 12,9; 16,4; Ed 32,4; 34,5. Nhưng rõ ràng đó không phải là trường hợp của Mc 1,13. Có một bản văn ngôn sứ nói về tình trạng tốt lành của việc sống chung với dã thú, là bản văn Is 11,6-9. Nhưng nếu chúng ta chấp nhận cách hiểu ẩn dụ “hoang địa” ở đây ám chỉ xã hội Do Thái đương thời và “các loài dã thú” là một thành phần trong đó, thì cũng rõ ràng là không thể hiểu Mc 1,13 dựa theo Is 11,6-9 được.
 Trong số các bản văn Cựu Ước sử dụng ẩn dụ dã thú, đáng chú ý là Đn 7. Trong đó, các dã thú là ẩn dụ chỉ những quyền lực chính trị kinh khủng của các đế quốc ngoại giáo. Hiểu như là một thành phần trong khung cảnh xã hội Do Thái (“hoang địa”), theo nghĩa tương tự như trong Đn 7, các loài dã thú ở đây là ẩn dụ của những thế lực và ảnh hưởng chính trị khác nhau của các phong trào và các ý thức hệ khác nhau. Đó là những thứ quyền lực chính trị – xã hội – tôn giáo áp bức, hay ít là gây sức ép, trên những con người đang sống trong xã hội đó. Chúng tác động trên con người, từ bên ngoài; và chúng sẽ thi thố sức mạnh của mình, ít là về mặt thể lý, để đẩy Đức Giêsu đến cái chết thảm thương trên thập giá sau này. Đức Giêsu “sống giữa loài dã thú” tức là chấp nhận làm đối tượng mà các thứ quyền lực ấy nhắm đến và không ngừng tìm cách tác động, gây ảnh hưởng.
 Loại “cư dân” thứ ba trong “hoang địa” mà Mc 1,13 nói đến là các “thiên sứ” (aggelos). Trong Tin Mừng Mc, lần đầu tiên “thiên sứ” được nói đến, chính là ở 1,2. Và hình ảnh của aggelos đó được thể hiện một cách cụ thể – lịch sử nơi Gioan Tẩy Giả (1,4). Như thế, trong Mc, “aggelos” vẫn có thể là con người chứ không nhất thiết phải là hữu thể thiêng liêng. Nếu chúng ta chấp nhận cách giải thích phía trên về ba hình ảnh “hoang địa”, “Satan” và “dã thú”, thì chúng ta cũng sẽ dễ dàng chấp nhận cách giải thích, theo đó, ẩn dụ “các thiên sứ” ở đây ám chỉ một nhóm người nào đó trong cuộc đời hoạt động công khai của Đức Giêsu. Nhóm này có chức năng cộng tác với Đức Giêsu, kể cả việc phục vụ Người. Vậy, có thể hiểu “các thiên sứ” ở c.13 là hình ảnh ẩn dụ của những con người gắn bó với Đức Giêsu, giúp đỡ Người khi Người thi hành sứ vụ và cộng tác với Người trong công cuộc của Người. Đức Giêsu chấp nhận sự phục vụ của các thiên sứ trong hoang địa có nghĩa là người chấp nhận sự phục vụ, giúp đỡ và cộng tác của những con người đó trong khi Người thực hiện chương trình cứu độ của Thiên Chúa.
 Tóm lại, trong phần đầu bài Tin Mừng hôm nay, tác giả Mc đã sử dụng những hình ảnh ẩn dụ rất phong phú và sâu sắc. Tất nhiên, cách giải thích vừa được trình bày vẫn chỉ là một trong những cách hiểu về những hình ảnh được tác giả Mc sử dụng. Nhưng dù sao, trong khung cảnh của phụng vụ Chúa Nhật I Mùa Chay hôm nay, cách hiểu này gợi ý cho chúng ta nhiều suy tư thiết nghĩ là rất đáng chú ý, liên quan đến cuộc sống và việc thi hành sứ mạng của các Kitô hữu chúng ta. Chúng ta được mời gọi hãy để cho chính Chúa Giêsu (như được khắc họa trong bài Tin Mừng hôm nay) nói với chúng ta về những gì chúng ta phải sống cách đặc biệt trong Mùa Chay thánh này.
 “Thần Khí đẩy Người vào hoang địa. Người ở trong hoang địa bốn mươi ngày, chịu Satan cám dỗ, sống giữa loài dã thú, và có các thiên sứ hầu hạ Người” (Mc 1,12-13).

 

MC1-371: Ăn chay – Lm. Vũ Đình Tường

Có người ăn chay nhưng không hãm mình. Có người hãm mình nhưng không ăn chay. Có  B109 MC1-371

Có người ăn chay nhưng không hãm mình.
Có người hãm mình nhưng không ăn chay.
Có người vừa ăn chay vừa hãm mình.
Có người không chay cũng chẳng hãm.
Ăn chay và hãm mình thuộc về tâm hồn, nội tâm. Thực tâm đến mức nào chỉ mình mình biết, mình mình hay. Ăn chay hãm mình thật phải là việc làm tự nguyện, thành tâm và làm với lòng mến. Ăn chay thực cần đi đôi với hãm mình. Thiếu hãm mình không thể nào là ăn chay vì bản chất của chay tịnh là tự chế, tự chủ. Tuy nhiên không phải tất cả các tự chế, tự chủ đều là ăn chay. Do vậy người ta có thể hãm mình nhưng không cần ăn chay. Ăn chay thiếu hãm mình là ngoài mặt ăn chay nhưng tâm nghĩ mặn.
Nói đến ăn chay chúng ta nghĩ đến việc kiêng ăn, kiêng uống. Sự việc không đơn giản thế. Ăn chay là việc làm tự nguyện, tự chủ và làm với lòng yêu mến Thiên Chúa. Điều răn quan trọng nhất Chúa Giêsu dậy là: Mến Chúa hết sức, hết linh hồn, hết trí khôn và yêu thương anh em như chính mình. Toàn thể con người từ trong ra ngoài đều thể hiện lòng mến và việc làm đi đôi với yêu tha nhân. Ngoài việc kiêng ăn, bớt uống và hạn chế hút sách chúng ta cần kềm hãm các giác quan khác trong con người.
Hãm mắt nhìn sự việc xấu.
Hãm tai nghe điều tệ hại.
Hãm miệng nói điều chua ngoa, gian xảo.
Hãm chân đi đến những nơi tồi bại.
Hãm tay làm những việc bất công.
Hãm óc nghĩ đến những tư tưởng gian tà.
Hãm cảm nhận những cảm xúc bất chính.
Hãm chiều theo đòi hỏi của thân xác.
Hãm không cho cái tôi làm chủ.
Ăn chay chính là làm chủ con người anh em. Mọi tư tưởng lời nói, việc làm và ngay cả cảm xúc đều bị kềm hãm. Trước đây anh em nghe theo chúng giờ đây bắt chúng phải lắng nghe lời anh em. Chúng phải làm theo mệnh lệnh của anh em. Chúng phải là công cụ phục vụ anh em để điều răn Chúa dậy được thể hiện trong cuộc sống của anh em đó là mến Chúa và yêu tha nhân.
Như thế ăn chay có giới hạn nhưng hãm mình thì vô hạn vì lúc nào con người cũng cần làm chủ đời mình.

 

MC1-372: CHÚA GIÊSU BỊ CÁM DỖ

http://www.simonhoadalat.com/Suyniem/chunhat/NamB/NamB.html
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT
CHÚA NHẬT I MÙA CHAY, năm B
St 9,8-15 1Pr 3, 18-22  Mc 1, 12-15
 

Lansperge le Chartreux viết :” Tất cả những gì Chúa Giêsu đã muốn làm và chịu đau khổ, là để giáo:  B110 MC1-372

Lansperge le Chartreux viết :” Tất cả những gì Chúa Giêsu đã muốn làm và chịu đau khổ, là để giáo huấn chúng ta, để uốn nắn chúng ta và để sinh ích cho chúng ta. Vì Người biết rằng chúng ta sẽ rút ra được nhiều hoa trái cho sự hiểu biết, và điều đó sẽ khích lệ chúng ta.Người đã không muốn bỏ qua một cái gì có thể có lợi ích cho chúng ta”. Chúa nhật thứ nhất mùa chay…
Lại bắt đầu một cuộc hành trình đức tin với Đức Giêsu Kitô. Bởi vì, mùa chay mời gọi mọi Kitô hữu cải thiện đời sống, đổi mới để lãnh nhận ân sủng của Thiên Chúa. Mùa chay dẫn người tín hữu của Chúa đi vào mầu nhiệm chết và phục sinh của Chúa Giêsu.  Do đó, mùa chay là mùa Thiên Chúa ban hồng ân cách đặc biệt, nhưng đồng thời mùa chay cũng mời gọi chúng ta cải thiện đời sống, đổi mới cuộc đời, thay đổi lối sống tốt hơn, cởi bỏ con người cũ để mặc lấy Đức Kitô.
 Khai mạc sứ vụ công khai rao giảng nước Thiên Chúa bằng phép rửa bởi tay Gioan Tẩy Giả, Chúa Giêsu đã kêu gọi các môn đệ xung quanh Ngài, Chúa Giêsu đã hướng về Giêrusalem. Chúa Giêsu đã cho nhân loại thấy rõ ý định của Cha Ngài. Bởi vì Thiên Chúa Cha sai Ngài đến trần gian không phải để làm theo ý của mình mà là làm theo ý của Chúa Cha. Cả cuộc đời của Ngài là chuẩn bị cho sự chết để cứu độ nhân loại và phục sinh để làm vinh danh Thiên Chúa Cha. Do đó, ngay từ khi còn ở trong cung lòng Đức Trinh nữ Maria, Chúa Giêsu đã sẵn sàng cho cuộc hành trình của Ngài dẫn đến thánh giá, và khi đi vào cuộc đời rao giảng Chúa Giêsu đã chuẩn bị bằng cuộc ăn chay, hãm mình 40 đêm ngày trong hoang địa. Đây là cuộc chuẩn bị rất kỹ càng, Ngài đã kết hợp mật thiết với Chúa Cha để nghe Lời Chúa Cha và thực hiện ý Chúa Cha. Chúa Giêsu đã chuẩn bị cho cuộc hành trình bằng cuộc hành trình vượt qua hay là mầu nhiệm vượt qua. Trong thánh lễ lúc tuyên xưng đức tin chúng ta đọc rõ ràng :” Con tuyên xưng Chúa đã chết đi, con tuyên xưng Ngài đã sống lại…” và “ Lạy Chúa Cứu Thế, Chúa đã chịu khổ hình thập giá và sống lại vinh quang để giải thoát muôn người, xin cứu độ chúng con “.
 Chúa Giêsu đã nhận phép rửa của Gioan ở sông Giorđan. Đây là phép rửa sám hối, xin ơn tha tội. Chúa làm thế để nói cho nhân loại Ngài cảm thông với nỗi yếu hèn của con người.Và từ đó chúng ta qua bí tích rửa tội được chia sẻ mầu nhiệm vượt qua của Chúa Giêsu.Thánh Phêrô trong thứ thứ nhất của Người nhấn mạnh:” Chúng ta được cứu rỗi, được tẩy sạch tội lỗi qua phép rửa tội như Thiên Chúa đã cứu ông Noe và gia đình ông khỏi nạn đại hồng thủy “. Phép rửa đem lại bình an và ơn tha thứ :” Bằng sự chết, Ngài đã phá hủy sự chết của chúng ta; bằng sự sống lại, Ngài phục hồi sự sống của chúng ta “. Con người thật yếu đuối,quyết tâm đó nhưng rồi lại luôn sa ngã, tuy nhiên Chúa luôn yêu thương và giải thoát chúng ta qua bí tích giải tội. Bí tích giao hòa đem chúng ta thiết lập lại giao ước tình yêu của chúng ta đối với Chúa khi chúng ta chịu phép rửa.
 Mùa chay là thời gian quay trở về, là thời gian hồi tâm để nhìn vào Chúa hơn là nhìn vào mình. Nhìn vào Chúa để thấy mình con quá khiếm khuyết phải cố gắng vươn tiến.Mùa chay cũng là lúc dừng lại để nhận ra những cạm bẫy, những thử thách, những cám dỗ đang bủa vây xung quanh chúng ta. Tỉnh thức để dễ dàng tránh những cạm bẫy. Cầu nguyện để không sa bẫy của ma quỷ. Chính Chúa Giêsu cũng luôn phải cảnh tỉnh :” Người ở trong hoang địa bốn mươi ngày, chịu Satan cám dỗ “ ( Mc 1, 13 ). Chính vì thế, chúng ta phải biết cậy dựa vào Chúa.
Đời là một cuộc chiến đấu liên lỉ, có Chúa chúng ta sẽ luôn đứng vững.Chúa kêu gọi :” Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng “. Chúng ta tin vào Thiên Chúa, tin vào ơn cứu rỗi, tin vào sự sống Chúa mang đến, do đó, chúng ta sẵn sàng sám hối.
 Lansperge le Chartreux thuật tiếp :” …Người đã được dẫn vào nơi hoang địa, chắc chắn là do bởi Chúa Thánh Thần. Quả thật, Thánh THần đã muốn dẫn người vào đó, nơi mà ma quỷ có thể gặp Người và dám đến gần người để cám dỗ …Điều thứ nhất chúng ta học được ở đây, đó là “ cuộc sống con người trên mặt đất này là một cuộc chiến không ngừng. Bài học thứ hai là Đức Kitô đã muốn làm gương cho chúng ta, là chúng ta sẽ không dễ dàng hứng chịu cơn cám dỗ.Ý thức được sự yếu hèn của chúng ta, chúng ta sẽ cố gắng không bước vào cơn cám dỗ, chúng ta sẽ cầu nguyện và xa tránh những cơ hội dễ bị cám dỗ “.
 GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ  :
 
1.Mùa chay là mùa gì ?
2.Tại sao Chúa Giêsu lại chịu để cho Gioan Tẩy Giả rửa tội cho mình ở dòng sông Giođan ?
3.Chúa Giêsu bị ma quỷ cám dỗ điều gì ?
4.Cái nặng nhất ma quỷ cám dỗ Chúa Giêsu là điều gì ?
5.Chúa Giêsu chiến thắng ma quỷ nhờ ai ?

 

MC1-373: CHÚA NHẬT I MÙA CHAY

Cuộc đời Ki-tô hữu đầy cám dỗ và chống trả
Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Mác-cô 1:12-15)
 

Có một điều khiến chúng ta thắc mắc không ít, là khác với hai trình thuật tương tự của thánh Mát-thêu: B111  MC1-373

Có một điều khiến chúng ta thắc mắc không ít, là khác với hai trình thuật tương tự của thánh Mát-thêu và Lu-ca kể lại việc Chúa Giê-su bị cám dỗ trong sa mạc, đoạn Tin Mừng Mác-cô hôm nay chỉ nhắc tới biến cố chứ không thuật lại chi tiết cuộc cám dỗ như thế nào.  Trong vỏn vẹn hai câu Kinh Thánh với những hình ảnh sống động, Mác-cô đã trình bày bối cảnh cuộc đời và sứ vụ của Chúa Giê-su.  Đang khi thi hành sứ mệnh cứu độ nhân loại, Chúa Giê-su không tránh khỏi những cám dỗ.  Tuy nhiên bên cạnh những phấn đấu chống trả, Chúa Giê-su cũng đã nhận được những an ủi trợ giúp của Thiên Chúa.  Người chính là gương mẫu cho cuộc đời Ki-tô hữu chúng ta trước những thử thách của ma quỷ và cám dỗ.
          Biến cố Chúa Giê-su chịu phép rửa của Gio-an khởi đầu cho sứ vụ của Người dưới sự dẫn dắt của Thánh Thần.  Thánh Thần đã ngự xuống trên Đức Trinh Nữ ngày Truyền Tin để Ngôi Lời được làm người, giờ đây vẫn tiếp tục “đẩy” Chúa Giê-su vào hoang địa.  Khung cảnh hoang địa vẽ ra một không gian đầy thử thách, ở đó Chúa Giê-su sẽ thi hành sứ vụ rao giảng Tin Mừng và sẽ tiêu diệt sức mạnh của Xa-tan để mở mang Triều Đại Thiên Chúa.  Bốn mươi ngày, con số tròn đầy nói lên tất cả khoảng thời gian cuộc đời trần thế của Chúa Giê-su.  Vậy trong khoảng thời gian và không gian ngắn ngủi ấy, cuộc đời Chúa Giê-su sẽ như thế nào? Thánh Mác-cô trả lời:  Người chịu Xa-tan cám dỗ, sống giữa loài dã thú, và có các thiên sứ hầu hạ Người.
          Chúng ta thử suy nghĩ thêm một chút ba cái nhìn về cuộc đời công khai của Chúa Giê-su.  Trước hết, “Người chịu Xa-tan cám dỗ”.  Xa-tan cám dỗ không chỉ là một vài dịp đặc biệt, nhưng là cả một tình trạng kéo dài suốt cuộc đời, có khi khá yên lặng, có khi nổi lên như cơn bão táp.  Cám dỗ Chúa Giê-su chịu là thứ cám dỗ Người hãy hành động theo ý riêng và kế hoạch riêng của Người, chứ đừng theo kế hoạch của Thiên Chúa.  Người bị cám dỗ hãy đi con đường tắt quyền năng Thiên Chúa mà cứu độ nhân loại, thay vì phải “bị nộp, bị giết và sống lại ngày thứ ba”.  Người bị cám dỗ khi dân chúng định bắt người phải làm vua sau những phép lạ được thực hiện để tỏ ra tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa.  Người bị cám dỗ khi chính những môn đệ thân tín can gián Người đừng lên Giê-ru-sa-lem để chịu cuộc Thương khó.  Và cơn cám dỗ cuối cùng trên thập giá, Người đã không dùng quyền năng Thiên Chúa để “bước xuống khỏi thập giá” cho thiên hạ tin Người là Con Thiên Chúa!
          Thứ hai, “Người sống giữa loài dã thú”.  Bên cạnh những thử thách của ma quỷ là những thử thách của thế gian này.  Đúng vậy, thế gian này đầy dã thú, không phải trong rừng rú, nhưng ngay bên cạnh chúng ta.  Ma quỷ đội lốt dã thú “như sư tử gần thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé” (1 Phê-rô 5:8).  Những quyến rũ của thế gian cũng mang hình dã thú để sẵn sàng tấn công chúng ta.  Đặc biệt đối với Chúa Giê-su, dã thú chính là những chống đối của kẻ thù trước giáo lý và gương sống của Người.  Đã bao lần Chúa Giê-su phải “thở dài”, thậm chí “giận dữ” trước thái độ ngoan cố của kẻ thù Người, vì họ không muốn nhìn nhận sứ mệnh của Người và chống lại Thiên Chúa.
          Thứ ba, “có các thiên sứ hầu hạ Người”.  Cuộc đời Chúa Giê-su đâu phải chỉ có bóng đêm!  Nhưng còn có tình yêu và sự trợ giúp của Thiên Chúa dưới hình thức “các thiên sứ hầu hạ”.  Phải, đây chỉ là cách nói diễn tả những an ủi nâng đỡ Thiên Chúa dành Con Một Người cũng như cho tất cả những ai trung thành chiến đấu chống lại cám dỗ.
          Trong một bối cảnh sôi động ấy, Chúa Giê-su đã thi hành sứ mệnh “Rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa” và khai mở “Triều Đại Thiên Chúa”!
Sống sứ điệp Tin Mừng
          Thật tuyệt vời khi Phụng vụ Lời Chúa đầu mùa Chay trình bày cuộc đời công khai của Chúa Giê-su như một mẫu gương cho cuộc đời Ki-tô hữu chúng ta.  Chúa Giê-su đã chiến thắng cám dỗ vì chúng ta, hoặc nói như thánh Phê-rô, “Đức Ki-tô đã chịu chết một lần vì tội lỗi, hầu dẫn đưa chúng ta đến cùng Thiên Chúa” (bài đọc 2).  Người là “Đầu” của chúng ta và đã chiến thắng vinh quang, thì chúng ta là chi thể cũng phải như vậy!
              Lm. Đa-minh Trần đình Nhi

 

MC1-374: Sống tinh thần mùa Chay với Chúa Giê-su

CHÚA NHẬT I MÙA CHAY
 Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Mác-cô 1:12-15)
 

Bài Tin Mừng thật ngắn gọn hôm nay cho chúng ta hai hình ảnh về Chúa Giê-su:  Người chịu cám: B112   MC1-374

Bài Tin Mừng thật ngắn gọn hôm nay cho chúng ta hai hình ảnh về Chúa Giê-su:  Người chịu cám dỗ trong hoang địa và Người ra đi rao giảng Tin Mừng.  Với ít nét chấm phá, thánh sử Mác-cô đã có thể trình bày chân dung rất sống động của Chúa Giê-su.  Chúng ta cùng chiêm ngưỡng hình ảnh Chúa, nhưng cũng không quên tự hỏi Phụng vụ Lời Chúa hôm nay muốn nói gì với chúng ta khi đưa đoạn Tin Mừng này vào phần bài đọc.
          Chúa Giê-su trong hoang địa không phải là một khung cảnh thiếu màu xanh cây cỏ hay sự sống động vật như chúng ta thường thấy.  Trái lại ở đấy có sự hiện diện của Thánh Thần, Đấng đã “đẩy” Chúa Giê-su vào hoang địa và ở lại để hướng dẫn Người.  Đối đầu với Thánh Thần là Xa-tan, kẻ cám dỗ.  Bên cạnh hai “lực lượng” chủ yếu này, còn có những nhân vật phụ như loài dã thú và các thiên sứ.  Nếu các loài dã thú hùa với Xa-tan để áp đảo Chúa Giê-su, thì phía bên này lại có các thiên sứ hiệp với Thánh Thần sẵn sàng yên ủi và hầu hạ Chúa Giê-su.  Chúa Giê-su đang ở giữa mặt trận cám dỗ của ma quỷ.  Dĩ nhiên có sự nâng đỡ của Thánh Thần, nhưng chìa khóa thắng trận tùy thuộc vào ý chí tự do của Chúa Giê-su giữa hai lựa chọn:  đi theo đường lối của Thiên Chúa hay ngả theo những hứa hẹn của Xa-tan?  Kết quả cuộc chiến giữa Chúa Giê-su và Xa-tan như thế nào?  Ai thắng ai bại?  Thánh Mác-cô không nói đến, nhưng qua các thánh sử khác, chúng ta biết Chúa Giê-su đã chiến thắng vinh quang và Xa-tan bỏ đi để chờ dịp khác!  Có lẽ lý do thánh Mác-cô không nói là vì ngài muốn để cho chúng ta có dịp suy gẫm về chiến thắng ấy một cách sáng tạo hơn.
          Hình ảnh thứ hai về Chúa Giê-su là Người ra đi thi hành sứ vụ.  Thánh Mác-cô xác định thời gian cho việc thi hành sứ vụ của Chúa là “sau khi ông Gio-an bị nộp”.  Đây là thời điểm tiếp nối giữa sứ mệnh của hai nhân vật quan trọng:  sứ mệnh của Gio-an chấm dứt để bắt đầu sứ mệnh của Chúa Giê-su.  Trong lịch sử cứu độ, không có sự ngắt quãng, nhưng là tiếp nối, vì Thiên Chúa vẫn luôn luôn “yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Gio-an 3:16).  Sự tiếp nối ấy được thể hiện ngay cả trong lời giảng của hai vị.  Thánh Gio-an Tẩy Giả kêu gọi:  “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần” (Mát-thêu 3:2).  Giờ đây Chúa Giê-su đến rao giảng về Nước Trời cũng lặp lại:  “Thời kỳ đã mãn và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần.  Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mác-cô 1:15).  Theo cùng một cách tường thuật về việc Chúa Giê-su chịu cám dỗ, ở đây thánh Mác-cô cũng chỉ giới thiệu hình ảnh một Chúa Giê-su đi rao giảng;  còn Chúa rao giảng sám hối và kêu gọi lòng tin như thế nào thì thánh sử để dành cho chúng ta tự mình khám phá qua những trang sách Tin Mừng của ngài!
Sống sứ điệp Tin Mừng
          Chúng ta vừa mới bước vào mùa Chay thì Phụng vụ Lời Chúa đã vội vàng giới thiệu với chúng ta một Chúa Giê-su chịu cám dỗ và kêu gọi người ta sám hối.  Chắc chắn là Giáo Hội muốn nói với chúng ta sứ điệp này:  Như Chúa Giê-su đã chịu cám dỗ và đã chiến thắng như thế nào, Ki-tô hữu chúng ta cũng phải theo cùng một mẫu gương ấy mà đối phó với cám dỗ trong những ngày sống trên trần gian này.
          Tuy nhiên khi trình bày Chúa Giê-su kêu gọi người ta sám hối và tin vào Tin Mừng, Giáo Hội bảo chúng ta không chỉ dừng lại ở việc chống cám dỗ, nhưng tích cực hơn nữa, chúng ta hãy đáp lời kêu gọi của Chúa Giê-su.  Người mời gọi chúng ta bước vào một hành trình gồm hai việc liên quan và hỗ trợ nhau:  sám hối và tin vào Tin Mừng.  Nếu không sám hối và thay đổi, chúng ta không thể tin vào Tin Mừng.  Đổi lại, một khi chúng ta đã bắt đầu tin vào Tin Mừng rồi, chúng ta sẽ nhận ra nhu cầu cần phải sám hối, để sám hối giúp chúng ta tống ra khỏi tâm hồn mọi xấu xa tội lỗi và tạo môi trường thuận lợi cho Tin Mừng hoạt động mạnh mẽ trong chúng ta.  Những tín hiệu của mùa Chay:  chống cám dỗ, sám hối, tin vào Tin Mừng.  Bạn hãy đọc, hiểu và thực hành những tín hiệu ấy nhờ và với Chúa Giê-su!
         Lm. Đa-minh Trần đình Nhi

 

MC1-375: Người Ở Trong Hoang Địa

Chúa Nhật I Mùa Chay B
Mc 1:12-15: 12 Thần Khí liền đẩy Người vào hoang địa. 13 Và Người đã ở trong hoang địa bốn mươi ngày, chịu Satan cám dỗ, và đã ở giữa dã thú, và các thiên sứ hầu hạ Người.
14 Sau khi ông Gioan bị bắt, Đức Giêsu đã đến miền Galilê rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa. 15 Và Người nói: “Thời kỳ đã mãn, và Vương quốc Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.”
 

Tin Mừng của Chúa nhật nầy gồm hai đoạn nối tiếp nhau, nói đến hai sự kiện ngay sau khi Chúa:  B113  MC1-375

Tin Mừng của Chúa nhật nầy gồm hai đoạn nối tiếp nhau, nói đến hai sự kiện ngay sau khi Chúa Giêsu chịu phép rửa: vào hoang địa (1:12-13) và rao giảng sứ điệp đầu tiên (1:14-15). Chúa Giêsu tiếp tục gắn bó với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Người được Chúa Thánh Thần đẩy vào hoang địa (1:12), và sau đó, Người bắt đầu rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa (1:14-15). Marcô chỉ mô tả tình trạng của Chúa Giêsu trong hoang địa, không nói gì đến chuyện cám dỗ và phản ứng của Người. Rất ngắn, chỉ trong hai câu (x. Mt 4:1-11; Lc 4:1-13). Trong hoang địa, Người đã sống giữa mọi tương quan: với Thiên Chúa, con người, thiên thần, Satan, dã thú và thiên nhiên.
 Hoang địa được hiểu là một nơi xa chỗ con người sinh sống (6:35-36; 8:4). Là nơi trú ẩn của những dã thú và Satan (1:13). Chúng tượng trưng cho những sức mạnh thù nghịch và nguy hiểm cho sự sống của con người (Ezk 14:21; Kh 6:8). Ở đây, hoang địa gắn liền với một thời gian: bốn mươi ngày. Con số gợi nhớ bốn mươi năm thử thách của dân Israel (Dnl 8:2). Sống trong hoang địa bốn mươi ngày, Chúa Giêsu liên đới với con người trong việc bị cám dỗ, để Người có thể giúp những ai bị cám dỗ (Dth 2:18; 4:15). Nhưng dân Israel đã không bị cám dỗ triền miên suốt bốn mươi năm, họ còn kinh nghiệm nhiều điều khác hơn thế trong hoang địa.
 Hoang địa là nơi gặp gỡ Thiên Chúa. Khi Thiên Chúa giải thoát dân tộc nầy khỏi nô lệ Ai cập, Người liền đưa họ vào hoang địa để lập quốc, giao ước và để nói những lời yêu thương (Os 11:1). Nên thời gian trong hoang địa cũng là thời gian của tình yêu ban đầu. Sau nầy, mỗi khi thấy dân chạy theo ngẫu thần, Thiên Chúa muốn dẫn dân vào lại hoang địa để làm lại kinh nghiệm tình yêu của thưở ban sơ (Os 2:14; Giê 2:2). Bởi đó, Chúa Giêsu không bị cám dỗ suốt bốn mươi ngày. Người sống trong hoang địa để kéo dài kinh nghiệm tình yêu với Thiên Chúa, đã khởi đầu từ biến cố chịu phép rửa, và để từ nơi Người sẽ phát xuất một dân mới sống theo Tin Mừng mà Người sẽ rao giảng (1:14-15).
 Hoang địa luôn là nơi thuận lợi để gặp gỡ Thiên Chúa. Nơi nào có các thiên thần hiện diện, nơi đó có Thiên Chúa (8:38). Việc các ngài hầu hạ Chúa Giêsu cho thấy Chúa Cha lo lắng cho Người chừng nào (1:13). Chúa Giêsu ở giữa dã thú, mà không bị chúng làm hại. Người bị cám dỗ, mà không bị thua cuộc. Như thế, hoang địa ấy đã trở thành thiên đàng (x. Is 11:6-8; 65:25; Os 2:18; Gióp 5:22), và Chúa Giêsu đã trở thành một Ađam mới, luôn tín trung với Thiên Chúa. Kinh nghiệm sống trong hoang địa đã làm Chúa Giêsu lớn lên và mạnh mẽ trong tinh thần (Lc 1:80). Từ đó, Người thường lui tới hoang địa để cầu nguyện và cũng dạy các môn đệ của Người làm như thế (1:35.45; 6:31).
  “Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”. Tin Mừng nầy là Tin Mừng của Thiên Chúa. Chúa Giêsu và Tin Mừng gắn liền với nhau như là một. Có hai cách sám hối và tin vào Tin Mừng rất cụ thể: vác thánh giá và từ bỏ bản thân vì Chúa Giêsu và Tin mừng (8:34-35), bỏ mọi sự và đi theo làm môn đệ của Chúa Giêsu và Tin Mừng (10:29). (Xin xem thêm giải thích đoạn 1:14-15 ở Chúa Nhật III Thường Niên B).
 Tiếng kêu từ hoang địa là tiếng gọi của tình yêu. Mời gọi tin và trở về với tình yêu ban đầu (x. 1:3-4).
 Lm. Luigi Gonzaga Đặng Quang Tiến

 

MC1-376: Chúa Nhật I mùa Chay,B

2009
 

Nước cần thiết cho sự sống, nhưng nhiều khi nước cũng trở thành tai họa hoặc nguyên nhân đưa: B114 MC1-376

Nước cần thiết cho sự sống, nhưng nhiều khi nước cũng trở thành tai họa hoặc nguyên nhân đưa tới cái chết hoặc hủy diệt.  Mùa lụt nào cũng không thiếu những tai nạn chết người, hoặc chết đuối, hoặc bị nước cuốn trôi mất tích.  Trận lụt Đại hồng thủy được kể lại trong sách Sáng thế mang ý nghĩa đặc biệt thuộc lãnh vực đức tin.  Nước đã hủy diệt nhân loại tội lỗi, nhưng đồng thời nước cũng cứu thoát gia đình ông No-ê và mở ra một trật tự mới cho thế giới.  Ý nghĩa này đã được thánh Phê-rô Tông đồ nhắc đến trong thư thứ nhất của ngài và được suy diễn vào Bí tích Rửa tội.  Tuy nhiên, ta chỉ lãnh Bí tích Rửa tội thôi thì chưa đủ để được cứu rỗi, nhưng cần phải sống Bí tích ấy, nghĩa là sống tinh thần sám hối và vững tin vào Tin Mừng.
1.  Nước Hồng thủy tàn phá mặt đất và hủy diệt nhân loại, nhưng đem lại cho thế giới một trật tự mới (bài đọc Cựu Ước – St 9:8-15)
          Sau khi nước Hồng thủy rút, gia đình ông Nô-ê cùng mọi loài vật ra khỏi tàu, làm lại một cuộc sống mới.  Ngoại trừ gia đình ông Nô-ê, con nước đã cuốn đi nhân loại, sự giàu sang phú quý của họ, đồng thời cũng đem theo tất cả những xấu xa tội lỗi của con người.  Thiên Chúa lập lại lời chúc lành như khi Người tạo dựng trời đất và muôn vật thuở ban đầu:  “Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, hãy lan tràn và nảy nở thật nhiều trên mặt đất” (St 9:7).  Hơn nữa, Người còn đặt một giao ước với nhân loại sống sót, lấy cầu vồng làm dấu hiệu:  “Ta lập giao ước của Ta với các ngươi:  mọi xác phàm sẽ không còn bị nước hồng thủy hủy diệt, và cũng sẽ không còn có hồng thủy để tàn phá mặt đất nữa” (St 9:11).
          Từ gia đình ông Nô-ê, Thiên Chúa muốn tạo dựng một nhân loại mới.  Người dùng nước Hồng thủy để thanh tẩy thế giới, nhưng Người cũng dùng nước để cứu thoát gia đình ông Nô-ê.  Tác dụng của nước ở đây là thanh tẩy và làm phát sinh sự sống mới.  Hậu quả của lụt Hồng thủy thật vô cùng lớn lao đối với nhân loại, nhưng đem đến cho họ một Thiên Chúa đầy lòng thương xót và sẵn sàng tha thứ.  Thiên Chúa chấp nhận lễ toàn thiêu của Nô-ê và Người tự nhủ:  “Ta sẽ không bao giờ nguyền rủa đất đai vì con người nữa.  Lòng con người toan tính điều xấu từ khi còn trẻ, nhưng Ta sẽ không bao giờ còn sát hại mọi sinh vật như Ta đã làm!” (St 8:21).  Lòng người không chịu thay đổi để trở về với Thiên Chúa, nhưng Người vẫn chờ đợi họ đáp lại giao ước của Người để cộng tác xây dựng một trật tự mới cho thế giới.  Trong trật tự này, con người lại được trao quyền thống trị muôn loài.  Muôn loài “phải kinh hãi khiếp sợ” con người và chúng được “trao vào tay con người” (St 9:2).  Tuy nhiên trong mối tương quan giữa con người và Thiên Chúa, con người phải “được trao vào tay” Thiên Chúa, để họ luôn luôn sống xứng đáng như con cái Người.  Trật tự mới này có nghĩa là phải tái lập mối tương quan giữa muôn loài, con người và Thiên Chúa, mối tương quan đã có trước khi con người phạm tội bất tuân mệnh lệnh của Thiên Chúa, nghĩa là muôn loài phục tùng con người và con người phục tùng Thiên Chúa.
          Trật tự mới này phải được thể hiện trong đời sống Ki-tô hữu.  Muốn thế, Ki-tô hữu cần xét lại bậc thang giá trị cho mình, những gì của Thiên Chúa hãy trả lại cho Chúa và những gì của Xê-da hãy trả lại cho Xê-da.  Đời sống đức tin và đời sống vật chất phải hài hòa, nâng đỡ nhau để giúp họ phát triển con người trọn vẹn trong tương quan với Chúa, với tha nhân, với tạo vật và với chính mình.  Mùa Chay được mệnh danh là thời cơ thuận tiện để họ thực hiện điều ấy.  Sự phong phú của Lời Chúa, những thực hành đạo đức do Giáo Hội đề ra như ăn chay, cầu nguyện, làm phúc bố thí đều là những phương thế giúp họ thực hiện sự hài hòa và trật tự nói trên.  Lòng thương xót và tha thứ của Thiên Chúa sẽ là động lực giúp họ kiên trì thực hiện trật tự mới ngay trong tình trạng yếu đuối con người của họ.
2.  Từ nước Hồng thủy đến nước Rửa tội (bài đọc Tân Ước – 1 Pr 3:18-22)
          Suy niệm về biến cố lụt Hồng thủy, thánh Phê-rô Tông đồ áp dụng ý nghĩa của nước vào Bí tích Rửa tội.  Ngài khẳng định:  “Trong con tàu ấy, một số ít, cả thảy tám người, được cứu thoát nhờ nước.  Nước đó là hình bóng phép rửa nay cứu thoát anh em” (1 Pr 3:20-21).  Ông Nô-ê đã đóng một con tàu để cứu thoát gia đình ông.  Cũng thế, Chúa Giê-su đã thiết lập Giáo Hội để cứu thoát ta.  Việc cứu thoát mạng sống con cái ông Nô-ê là hình bóng ám chỉ sự cứu thoát linh hồn của ta.  Tuy nhiên thánh Phê-rô xác định rõ ràng ý nghĩa của việc lãnh nhận Bí tích Rửa tội.  Lãnh nhận Bí tích Rửa tội không đơn thuần là một nghi thức bề ngoài, giống như việc tẩy sạch vết nhơ thể xác, nhưng là sự cam kết sống lương tâm trong trắng.  Xác định này có ý nói rằng Rửa tội không chỉ cho ta được mang cái danh Ki-tô hữu, nhưng là khởi đầu cho một cuộc sống mới theo gương mẫu và lời giảng của Đức Ki-tô.  Như thế, có thiếu gì những Ki-tô hữu mang danh nghĩa là “có Đức Ki-tô” nhưng lại sống như “không có Đức Ki-tô”.  Con cháu ông Nô-ê cũng vậy, tuy tất cả đều được cứu thoát chết, nhưng có kẻ sống thảo kính cha mẹ, có kẻ lại không (St 9:18-29).
          Bí tích Rửa tội làm cho người nhận lãnh có được một “lương tâm trong trắng”.  Đấy mới là bước khởi đầu thôi.  Ơn thánh hóa là hồng ân giúp họ bắt đầu một cuộc sống thánh thiện để làm rõ nét hình ảnh Chúa nơi họ.  Ơn thánh hóa là nền tảng cho họ làm cuộc biến đổi trở nên giống với Đức Ki-tô mỗi ngày một hơn trong đời sống.  Thánh Phê-rô gọi Bí tích Rửa tội là việc “cam kết với Thiên Chúa”.  Vậy cam kết điều gì?  Đó là cam kết “giữ lương tâm trong trắng, nhờ sự phục sinh của Đức Giê-su Ki-tô”.  Đúng vậy, nhờ Chúa Ki-tô phục sinh, ta cũng được sống lại phần hồn và có được lương tâm trong trắng.  Nói khác đi, bao lâu ta hoàn toàn để cho sự phục sinh của Chúa Ki-tô tác động nơi ta là ta giữ được lương tâm mình trong trắng, hoặc ta phải cố gắng giữ lương tâm ta ở trong tình trạng được phục sinh chứ đừng để nó bị tội lỗi giết chết.  Lương tâm của Ki-tô hữu chính là lương tâm của Chúa Ki-tô, một lương tâm lấy những giá trị Tin Mừng làm tiêu chuẩn.  Giống như nước Hồng thủy, nước Rửa tội không chỉ cứu ta khỏi tội tổ tông, nhưng còn mở ra cho ta một cuộc sống mới, một trật tự mới.  Cuộc sống mới này chính là đề tài rao giảng của Chúa Giê-su khi Người thi hành sứ vụ cứu độ.
3.  “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần.  Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (bài Tin Mừng – Mc 1:15)
          Biến cố lụt Hồng thủy mở ra cho nhân loại một chân trời mới.  Cũng thế, việc Chúa Giê-su xuống thế làm người và thi hành sứ vụ cứu độ chính là “thời kỳ đã mãn và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần”.  Đây là bắt đầu thời gian Thiên Chúa thực hiện cuộc tạo dựng mới nhờ Đức Ki-tô và trong Đức Ki-tô.  Trước hết khi Chúa Giê-su rao giảng Tin Mừng, điều đầu tiên Người làm là loan báo cho nhân loại biết điều Thiên Chúa thực hiện.  Thời kỳ nhân loại bị khống chế dưới quyền lực tội lỗi đã chấm dứt.  Biến cố Ngôi Hai Thiên Chúa nhập thể làm người là thời điểm chấm dứt thời kỳ đen tối và tuyệt vọng của nhân loại, đồng thời đánh dấu khởi điểm của một triều đại mới, triều đại của ân sủng Thiên Chúa.
          Vậy tiếp đến, điều quan trọng nhân loại phải làm trong thời kỳ mới này là gì?  Chúa Giê-su trả lời:  “Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”.  Chúa Giê-su không chỉ loan báo thời cứu độ đến gần.  Thiên Chúa muốn cứu độ ta, nhưng chính ta phải tích cực đón nhận với tất cả thiện chí và cố gắng.  Cứu độ không mang tính thụ động, nghĩa là việc làm của một mình Thiên Chúa, nhưng là hành vi chủ động.  Một đàng Thiên Chúa muốn cứu thoát ta và Người đã bắt đầu hành động qua việc sai Con Một đến với nhân loại.  Đàng khác, về phía nhân loại, ta phải hành động bằng cách lãnh nhận Bí tích Rửa tội để làm con cái Chúa và đón nhận sứ điệp rao giảng của Chúa Giê-su.  Sứ điệp ấy tóm gọn trong hai điều:  sám hối và tin vào Tin Mừng.  Nghĩa là từ bỏ con đường tội lỗi để trở về sống theo những gì Chúa Giê-su dạy bảo ta.  Hoặc nói theo suy tư của thánh Phê-rô, nghĩa là “cam kết với Thiên Chúa sẽ giữ lương tâm trong trắng”, giữ tâm hồn luôn trong tình trạng được phục sinh (1 Pr 3:21).  Được rửa tội là ta được trở thành tạo vật mới.  Do đó ta phải cộng tác với ơn Chúa để làm cho con người của ta được lớn lên và biến đổi mỗi ngày một hoàn hảo hơn.  “Anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5:48).
4.  Sống Lời Chúa
          Cuộc đổi mới nào cũng hứa hẹn những điều hay điều tốt.  Người ta hứa hẹn đổi mới thì nhiều, nhưng thực hiện đổi mới thì quá ít.  Thiên Chúa không chỉ hứa hẹn suông, nhưng Người thực hiện sự thay đổi để mang lại cho ta những điều tốt đẹp.  Vì yêu thương ta, Người không muốn ta bị mất đi như những người đã chết trong cơn lụt Hồng thủy, nhưng Người muốn cứu ta như đã cứu gia đình ông Nô-ê.  Người sai chính Con Một đến để cứu thoát ta khỏi cơn lụt do tội lỗi và ban cho ta sự sống mới.  Người còn ban cho ta lương thực là Chúa Ki-tô để nuôi dưỡng sự sống mới nơi ta, giúp ta phát triển và đạt đến mức độ sung mãn trong Chúa Ki-tô và được chung phần gia nghiệp với Chúa Ki-tô.  Sứ điệp mùa Chay được gồm tóm trong lời giảng mở đầu của Chúa Giê-su:  Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.  Nhưng mùa Chay cũng là thời gian để ta đặc biệt suy nghĩ về sứ điệp này và cố gắng thực thi trong cuộc sống hằng ngày.
Suy nghĩ:  Lãnh nhận Bí tích Rửa tội là cam kết với Thiên Chúa sẽ giữ lương tâm trong trắng.  Vậy tôi có thực thi điều cam kết này không?  Mỗi ngày tôi có dành chút thời giờ để suy xét về lương tâm của tôi không?  Việc suy xét này phải được làm thế nào để có hiệu lực thay đổi đời sống của tôi?
Cầu nguyện:  Lạy Thiên Chúa toàn năng, hằng năm Chúa ban cho chúng con bốn mươi ngày chay thánh, để tôi luyện hồn xác chúng con.  Xin giúp chúng con sống những ngày khắc khổ ấy, để học biết Đức Ki-tô và dõi theo gương Người, hầu xứng đáng hưởng ơn Người cứu độ.  Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, trong sự hiệp nhất của Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời.  A-men.  (Lời nguyện Nhập lễ, Chúa Nhật I mùa Chay).
Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

 

MC1-377: CHÚA NHẬT 1 MÙA CHAY

 Thánh ca và lời nguyện mở đầu
 Kinh Thánh:      1 Phê-rô 3: 18-22
 

Để suy niệm bài đọc Tân Ước hôm nay, có lẽ chúng ta phải đặt nó trong bối cảnh của Phụng vụ Lời: B115 MC1-377

Để suy niệm bài đọc Tân Ước hôm nay, có lẽ chúng ta phải đặt nó trong bối cảnh của Phụng vụ Lời Chúa, đặc biệt trong liên hệ với bài Tin Mừng.  Bài Tin Mừng Mác-cô chỉ nhắc qua đến biến cố Chúa Giê-su chịu cám dỗ trong hoang địa, rồi nói cho chúng ta biết Chúa Giê-su khởi đầu sứ vụ rao giảng Tin Mừng bằng một sứ điệp vô cùng quan trọng:  “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.”  Tin Mừng ở đây không chỉ có nghĩa là những gì Chúa Giê-su rao giảng, mà còn là chính con người Chúa Giê-su nữa.  Đặt bài đọc Tân Ước trong liên hệ chặt chẽ với bài Tin Mừng, chúng ta sẽ thấy đoạn thư 1 Phê-rô 3:18-22 là một quảng diễn không thể thiếu, giúp chúng ta hiểu rằng tin vào Tin Mừng có nghĩa là tin Đức Ki-tô và sứ vụ cứu thế của Người.  Vậy qua đoạn thư này, thánh Phê-rô muốn trình bày điều gì về Đức Ki-tô?  Đồng thời thánh Phê-rô cũng muốn nói chúng ta phải làm gì để biểu lộ niềm tin vào Tin Mừng ấy?
 a)  Đức Ki-tô đã chịu chết một lần vì tội lỗi chúng ta, nhưng nhờ Thần Khí, Người đã được phục sinh
          Cái chết của một người thân yêu lại có thể là một “tin mừng” cho chúng ta hay sao?  Người đời nghĩ là không thể.  Nhưng nếu nhìn vào mục đích và hiệu quả cái chết của Đức Ki-tô và hiểu ý nghĩa khẳng định của Người:  “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình;  còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12:24), chúng ta sẽ thấy cái chết của Người đích thực là một tin mừng vĩ đại nhất.  Chiều kích vĩ đại của tin mừng ấy được diễn tả bằng hai yếu tố:  1) chết một lần, và 2) đền bù tất cả tội lỗi chúng ta.  Nghĩa là cái chết của Đức Ki-tô đã đem lại hiệu quả vô cùng lớn lao.  Chỉ nguyên cái chết của Người cũng đã đủ để chuộc lại lỗi lầm của toàn thể nhân loại mọi thời mọi nơi.
          Tuy nhiên, theo kế hoạch cứu rỗi của Thiên Chúa, cái chết của Chúa Ki-tô mới chỉ là bước đầu để chúng ta được sống lại từ cõi chết tội lỗi, đồng thời là căn bản để từ đó chúng ta sống một cuộc sống mới theo Thần Khí của Người.  Trong tiến trình cứu rỗi, chúng ta phải tiếp tục sống trong sự Phục Sinh của Đức Ki-tô.  Chúng ta có khuynh hướng muốn tách rời hai thực tại “chết” và “sống lại” nơi Đức Ki-tô.  Do đó, thánh Phê-rô đã cẩn thận trình bày cả hai thực tại này và liên kết lại để chúng ta có một cái nhìn nhất quán về sứ vụ cứu thế của Đức Ki-tô.  Trên con đường “dẫn đưa chúng ta đến cùng Thiên Chúa,” cả sự chết lẫn sự sống lại của Đức Ki-tô đều tác động trong chúng ta, để mỗi ngày cùng với Người, chúng ta “chết đi cho tội lỗi” và sống lại trong con người mới.
 b)  Chúng ta phải làm gì để sống niềm tin vào Tin Mừng?
          Trước khi đề cập tới những gì chúng ta phải làm để sống niềm tin vào Đức Ki-tô và Tin Mừng của Người, thánh Phê-rô không quên nhắc tới vai trò quan trọng của Bí tích Rửa tội.  Ngài đã lấy lại hình ảnh nước lụt Hồng thủy và con tàu của ông Nô-ê để nói lên nước rửa tội cứu thoát chúng ta.  Nhờ nước Rửa tội và nhờ sự sống lại của Đức Ki-tô, chúng ta được ở trong một tư thế mới để có thể “cầu xin Thiên Chúa ban cho mình một lương tâm trong trắng.”  Lương tâm trong trắng là một cách nói để diễn tả con người mới của chúng ta sau khi được rửa tội.  Tội tổ tông và cả những tội riêng của chúng ta đã được tẩy sạch nhờ nước Rửa tội.  Chúng ta được làm con cái Chúa, đồng thừa kế với Đức Ki-tô.  Chúng ta từ nay được phục hồi khả năng “đến cùng Thiên Chúa” là khả năng đã bị mất đi do tội tổ tông.  Trước đây, khoảng cách giữa Thiên Chúa và con người là khoảng cách vô hạn.  Bây giờ, nhờ Ngôi Lời nhập thể mặc lấy những hữu hạn của loài người, khoảng cách ấy đã được nối liền.  Bí tích Rửa tội là khởi đầu của hành trình trên khoảng cách đã được nối liền ấy và đưa chúng ta đến cùng Thiên Chúa.
          Giữ lương tâm trong trắng có nghĩa là làm sao giữ nguyên vẹn được hình ảnh của chúng ta sau khi được rửa tội.  Vì những khuynh hướng xấu và ảnh hưởng của tội lỗi vẫn còn hoành hành, thêm vào đó con người chúng ta vẫn có tự do để lựa chọn điều tốt hay điều xấu, cho nên chúng ta có thể sa ngã phạm tội, chết lại trong tội.  Nhưng Chúa đã chuẩn bị cho chúng ta phương thế để được sống lại sau khi đã chết trong tội, đó là Bí tích Hòa giải.  Chúa đầy lòng thương xót luôn mời gọi chúng ta chỗi dậy như người con hoang đàng trở về, để Người được vui vì “con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy” (Lc 15:24,32).
          Để khích lệ chúng ta hãy kiên trì trên đường đến cùng Thiên Chúa, thánh Phê-rô thêm vào một chi tiết đầy ý nghĩa:  Đức Ki-tô Phục Sinh ngự bên hữu Thiên Chúa, có các thiên sứ và toàn thể thần minh phục quyền.  Hình ảnh ấy là bảo đảm cho tương lai của chúng ta.  Ông Nô-ê và gia đình đã nghe theo lời dạy của Thiên Chúa nên đã được cứu sống.  Cũng thế, nếu chúng ta tin vào Đức Ki-tô và sống Tin Mừng của Người, chúng ta sẽ được chia sẻ vinh thắng với Người.
 
Câu hỏi gợi ý chia sẻ
          Sau khi trình bày về sứ vụ cứu chuộc của Chúa Ki-tô, thánh Phê-rô mời gọi chúng ta hãy đoạn tuyệt với tội lỗi và sống theo ý Chúa.  Vậy tôi đã áp dụng những đường lối nào để đoạn tuyệt với tội lỗi?  Tôi gặp những khó khăn nào?
          Đáp lại ân sủng cứu chuộc, tôi có cố gắng sống lại mỗi ngày trong con người mới không?  Tôi đã làm gì để ân sủng ấy mỗi ngày một lớn lên trong tôi?
          Những lời hứa rửa tội có là những nhắc nhở hằng ngày để tôi sống như con cái Chúa không?  Có cách nào cụ thể giúp tôi luôn tâm niệm những lời hứa ấy không?
          Cầu nguyện kết thúc
          Sau cầu nguyện bộc phát, nhóm cùng đọc lời nguyện sau đây:
 Lạy Chúa Giê-su, Con Thiên Chúa,
Chúa đã làm người như chúng con, nên Chúa hiểu gánh nặng của phận người.
Cuộc đời đầy cạm bẫy mời mọc, mà con người lại yếu đuối mong manh.
Hạnh phúc thường được trộn bằng nước mắt, và giữa ánh sáng cũng có những bóng mờ đe dọa.
Lạy Chúa Giê-su, nếu có lúc con mệt mỏi và xao xuyến, xin nhắc con nhớ rằng trong Vườn Dầu Chúa đã buồn muốn chết được.
Nếu có lúc con thấy bóng tối bủa vây, xin nhắc con nhớ rằng trên thập giá Chúa đã thốt lên:  Sao Cha bỏ con?
Xin nâng đỡ con, để con đừng bỏ cuộc.  Xin đồng hành với con để con không cô đơn.
Xin cho con yêu đời luôn dù đời chẳng luôn đáng yêu.
Xin cho con can đảm đối diện với những thách đố
vì biết rằng cuối cùng chiến thắng thuộc về người có niềm hy vọng lớn hơn.  A-men.
(Trích RABBOUNI, lời nguyện 28)
 Lm. Ðaminh Trần Ðình Nhi

 

MC1-378: Chúa Nhật I mùa Chay - B

Có lẽ chúng ta cảm thấy quen thuộc với câu truyện Chúa Giê-su chịu cám dỗ trong hoang địa được B116 MC1-378

Có lẽ chúng ta cảm thấy quen thuộc với câu truyện Chúa Giê-su chịu cám dỗ trong hoang địa được thánh Mát-thêu và Lu-ca kể lại, hơn là câu truyện do thánh Mác-cô kể lại trong bài Tin Mừng hôm nay.  Thánh Mát-thêu và Lu-ca đi vào những chi tiết và đối thoại trong ba lần cám dỗ, trong hoang địa, trên nóc Đền Thờ và trên núi cao.  Còn thánh Mác-cô chỉ vỏn vẹn kể tên một số biến cố liên tiếp, như Chúa Giê-su vào hoang địa, chịu Xa-tan cám dỗ và sống giữa dã thú, sau đó thánh sử hướng chúng ta tới điểm chính, tức là Chúa Giê-su rao giảng và sứ điệp rao giảng của Người gồm những gì.  Trình bày như thế, thánh Mác-cô muốn chúng ta thấy rõ những cám dỗ tựu chung là những thử thách Chúa Giê-su phải đương đầu khi Người thi hành sứ vụ Cứu Thế.  Hoặc nói khác đi, cho dù những cám dỗ Chúa Giê-su chịu có diễn ra trong bất cứ hình thức nào hay ở bất cứ nơi chốn nào đi nữa, thì mục tiêu duy nhất mà những cám dỗ ấy nhắm tới vẫn là làm sao khiến cho Chúa Giê-su đừng trung thành với sứ vụ Cứu Thế, đừng làm theo thánh ý và kế hoạch Chúa Cha đã phác họa.
 Để suy nghĩ về điểm này, chúng ta có thể mượn những chi tiết trong trình thuật Tin Mừng của thánh Mát-thêu và Lu-ca.  Lần cám dỗ thứ nhất trong hoang địa, ma quỷ thách Chúa Giê-su biến hòn đá thành bánh.  Nếu làm được như vậy, Chúa Giê-su sẽ có thể sử dụng quyền phép ấy để đem lại cơm no áo ấm cho đồng bào và Người sẽ trở thành một lãnh tụ chính trị nổi tiếng, thay vì đem lương thực thiêng liêng là Lời Chúa đến cho nhân loại và hiến thân làm của ăn linh hồn trong Bí tích Thánh Thể.  Lần cám dỗ thứ hai, ma quỷ đem Chúa lên nóc Đền Thờ, cho Chúa một cơ hội để Người có thể được dân chúng ngưỡng mộ tôn vinh nếu Người nhảy từ trên cao xuống mà không hề hấn gì.  Tại sao Chúa không tìm con đường tắt để được tôn vinh, chỉ cần nhảy từ trên cao xuống và được an toàn, thay vì phải chịu chống đối mọi bề, chịu cuộc khổ nạn và chết nhục nhã trên thập giá?  Lần cám dỗ thứ ba xem ra lại còn đơn giản hơn nữa.  Ma quỷ đưa Chúa lên núi cao, cho thấy tất cả sự giàu sang, lớn lao của thế giới, rồi nó bảo Người:  chỉ cần làm một cử chỉ đơn thuần là sấp mình bái lạy nó.  Dễ ợt thôi mà!  Việc gì phải tùng phục theo ý của Chúa Cha, vất vả cả một đời!  Nhưng chúng ta thấy đó!  Cả ba thứ cám dỗ kia tuy có khác nhau về hình thức, về nơi chốn, nhưng chung quy vẫn là xúi giục Chúa Giê-su cứ làm theo kế hoạch riêng của mình, chứ đừng làm theo ý Chúa Cha, hay nói tóm lại, ma quỷ xúi giục Chúa Giê-su muốn gì thì cứ làm, không cần phải làm “Con yêu dấu” của Chúa Cha!
 Những gì được nói về cám dỗ chúng ta thấy nơi con người của Chúa Giê-su thì chúng ta cũng có thể gặp thấy chính nơi chúng ta.  Thường chúng ta chỉ nhìn những cám dỗ chúng ta phải chịu như là những trường hợp riêng rẽ, không có gì móc nối giữa cám dỗ này với cám dỗ kia.  Thí dụ hôm qua tôi bị cám dỗ ngoại tình, bất trung với người bạn đường của tôi.  Hôm nay tôi bị cám dỗ ghé vào bar, uống mấy ly rượu.  Tôi vẫn nghĩ rằng:  hôm qua khác với hôm nay, cám dỗ ngoại tình khác với cám dỗ uống rượu.  Tôi không thấy có gì liên kết giữa chúng cả.  Nhưng thực ra chúng ta quên mất rằng:  con người chúng ta là một toàn bộ, những nguyên nhân, những hệ quả ràng buộc với nhau.  Cho nên những cám dỗ dưới hình thức khác nhau và trong những hoàn cảnh khác nhau chỉ là những khía cạnh khác nhau của cùng một thử thách chính, tức là thứ cám dỗ xúi giục chúng ta đừng sống như những người con cái của Thiên Chúa.
 Là người “Con Yêu Dấu” của Chúa Cha, Chúa Giê-su đã bị cám dỗ đừng thi hành sứ vụ, đừng nói cho nhân loại sứ điệp của Chúa Cha là “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.”  Ma quỷ không muốn nhân loại quay về với Thiên Chúa, nên nó phải tìm đủ cách để ngăn cản.  Nó lo sợ rằng Chúa Giê-su sẽ kêu gọi loài người từ bỏ tội lỗi để trở lại với Thiên Chúa.  Nó muốn bưng bít Tin Mừng sắp được công bố.  Cho nên nó phải cám dỗ Chúa Giê-su ráo riết để Người bỏ cuộc.  Sách Tin Mừng cho chúng ta thấy:  ma quỷ đã bại trận trong cuộc cám dỗ khốc liệt này, và Chúa Giê-su đã chiến thắng.  Thánh Mác-cô viết về cuộc chiến thắng này như sau:  “Đức Giê-su đến miền Ga-li-lê rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa.  Người nói:  ‘Thời kỳ đã mãn và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần.  Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.”  Thế là “Lời của Thiên Chúa” bắt đầu vang lên, không phải chỉ ở miền Ga-li-lê mà thôi, nhưng khắp thế giới, kêu gọi con người trở về với Thiên Chúa.
 Nhưng chúng ta sẽ đặt câu hỏi:  Vậy những cám dỗ Chúa Giê-su chịu có liên hệ gì với chúng tôi?  Có chứ.  Mà lại còn liên hệ rất chặt chẽ nữa.  Nếu ma quỷ đã thất bại trong việc “bịt miệng” Thiên Chúa để khỏi công bố sứ điệp sám hối, thì nó sẽ quay sang chúng ta để “bịt tai” chúng ta đừng nghe sứ điệp ấy.  “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” là sứ điệp Giáo Hội muốn lập lại và nhắc nhở chúng ta hãy sống, đặc biệt trong mùa Chay thánh.  Đây cũng là chủ đề suy niệm và kế hoạch sống đức tin cho tất cả mùa Chay.  Hy vọng chúng ta có cơ hội suy niệm Lời Chúa kỹ càng hơn trong chủ đề này.  Nhưng quan trọng hơn cả vẫn là làm sao đem sứ điệp của Chúa Giê-su “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” vào trong đời sống hằng ngày của chúng ta.  Thực hiện được sứ điệp ấy mỗi ngày tức là chúng ta đang dần dần thắng được cám dỗ của Xa-tan vậy.
  Lạy Chúa Giê-su, Đấng chiến thắng cám dỗ của ma quỷ, xin giúp chúng con cũng được chiến thắng cùng với Chúa.  A-men. 
Lm. Ðaminh Trần Ðình Nhi  

 

MC1-379: Sự cám dỗ

– Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền
 

Nhiều người hôm nay không tin ma quỷ, không tin sự cám dỗ của ma quỷ. Họ cho rằng tội là do mình B117 MC1-379

Nhiều người hôm nay không tin ma quỷ, không tin sự cám dỗ của ma quỷ. Họ cho rằng tội là do mình tự ý phạm. Họ tin vào sự ý thức của con người. Họ không nghĩ đến sự yếu đuối của con người là do ngã lòng chiều theo cám dỗ. Chính do sự mất cảnh giác của cám dỗ nên con người dễ mất mắc sai lầm theo chủ quan, dễ hành động theo bản năng mà không hề kiểm soát hành vi của mình. Đó cũng là điều tệ hại dẫn con người đến mất ý thức về tội. Vì lấy mình làm trung tâm nên luôn cho mình là đúng, luôn biện minh cho hành vi sai trái của mình.
Khi con người mất ý thức về tội là lúc ma quỷ chiến thắng. Nó luôn tìm cách chứng minh không hề có sự hiện của nó. Nó chỉ tác động dưới những hình thức đẹp đẽ, tốt lành để hướng con người hành động theo ý mình. Và điều tệ hại là hành động theo ý mình thì luôn sai lầm vì thích chiều theo bản năng, chiều theo sự dễ dãi mà không cần đến lề luật.
Có một nô bộc da đen hộ tống ông chủ da trắng đi săn vịt trời. Anh ta là một ky-tô hữu. Nhân dịp nói chuyện về vấn đề tôn giáo, ông chủ hỏi người ở da đen:
“Ta chẳng hiểu tại sao mày thường xuyên nói đến tội, đến chống trả cám dỗ, nói đến Ma-quỉ. Ta chẳng phải chống trả Ma-quỉ bao giờ, mà ta vẫn sống tịnh, chẳng bao giờ bị quấy phá hoặc tấn công chi cả”
Người ở da đen trả lời lại: “Tôi xin phép được giải thích việc này. Chúng ta đang đi săn vịt. Những con nào bị ông bắn và chết liền khi rơi xuống, thì tôi để yên đó. Nhưng con nào chỉ bị thương khi rơi xuống và tìm cách chạy trốn, thì tôi dùng sào này mà phang cho chết hoặc không nhúc nhích được mới thôi”.
Ông ví như vịt đã bị Ma-quỉ bắn chết rồi, nên nó để yên ông; còn tôi ví như con vịt mới bị thương và đang tìm cách trốn thoát, do đó Ma quỉ đang giơ sào và tìm mọi cách đập tôi cho thật chết mới thôi.
Ma quý cám dỗ là sự thật. Ma quỷ luôn tìm cách cám dỗ con người đi nghịch lại với đường lối Thiên Chúa. Chúa Giê-su cũng từng bị cám dỗ. Ma quỷ đã bủa vây Chúa Giê-su bằng nhiều lời hứa đường mật, nhưng luôn theo một chủ đích là từ bỏ Chúa Cha để hành động theo ý mình. Quả thực, trên đời chẳng có gì cho không. Ai cho chúng ta điều gì thì thường họ cũng muốn đòi lại chúng ta một điều nào đó, huống hồ là ma quỷ, nó sẽ không bao giờ cho không chúng ta.
Năm xưa trong vườn địa đàng ma quỷ đã chiến thắng Adam-Eva, khi hai ông bà quay lưng lại với Thiên Chúa. Ma quỷ cũng chiến thắng dân Chúa chọn trên hành trình đất hứa khi thờ bò vàng để tìm kiếm miếng ăn. Nhưng ma quỷ đã hoàn toàn thất bại trước Con Thiên Chúa làm người. Chúa Giê-su đã nhắc ma quỷ phải tuân phục Thiên Chúa. Ngài cũng nhắc ma quỷ cuộc sống này cái ăn cái mặc đáng quý nhưng thực thi ý Chúa còn quý hơn nữa.
Hôm nay khởi đầu mùa chay, Chúa Giê-su mời gọi chúng ta hãy sám hối. Sám hối vì đã có những lần chúng ta quay lưng lại với Thiên Chúa. Sám hối vì đã có những lần chúng ta chiều theo cám dỗ của ma quỷ mà hành động theo tính xác thịt, thiếu tự chủ bản thân. Sám hối là nhìn nhận sự yếu đuối của mình để trông cậy lòng thương xót và ân sủng của Thiên Chúa. Chỉ trong Thiên Chúa chúng ta mới có thể chiến thắng cám dỗ, chiến thắng những yếu đuối của bản thân.
Xin Chúa Giêsu là Đấng đã chiến thắng cám dỗ ban ơn sức mạnh để chúng ta vực dậy sau những lần vấp ngã, và canh tân đời sống theo tin mừng. Xin cho chúng ta đừng bao giờ tự phụ về khả năng tự chủ của mình nhưng luôn khiêm tốn trông cậy vào ơn Chúa giúp để nói không với sự xấu, với điều nghịch lại với lề luật của Chúa. Amen.

 

MC1-380: Ba cạm bẫy của ma quỷ

(Suy niệm của Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền)
 

Người ta nói rằng cư dân miền Bắc Cực có cách bẫy chó sói rất độc đáo. Họ mài những con dao thật bén, B118  MC1-380

Người ta nói rằng cư dân miền Bắc Cực có cách bẫy chó sói rất độc đáo. Họ mài những con dao thật bén, rồi đem nhúng dao đó vào máu súc vật cho đến khi lưỡi dao bọc toàn máu. Đêm đến, họ đem dao đó cắm ngoài đồng. Chó sói thính hơi nghe mùi máu, chạy đến liếm lưỡi dao tới tấp. Đến khi chính lưỡi nó bị dao cắt đứt, máu chảy ra, nó vẫn mải mê cắm đầu liếm mà không biết mình đang liếm máu mình cho tới lúc kiệt sức ngã lăn ra chết.
Con sói vì khát máu mà chết. Con người chúng ta đôi khi cũng khát tiền, khát tình, khát danh vọng, quyền lực mà chết. Quả đúng là “mật ngọt chết ruồi”. Danh lợi thú luôn là cạm bẫy của ma quỷ vây bắt linh hồn con người. Con người chúng ta đôi khi cũng vì những hào nhoáng bên ngoài mà vướng vào cạm bẫy của ma quỷ. Con người chúng ta đôi khi cũng đang bị chết dần mòn trong những đam mê cuồng si của mình. Bài phúc âm hôm nay cho chúng ta thấy sự chọn lựa dứt khoát của Chúa Giê-su trước những cạm bẫy của ma quỷ. Ngài không lập lờ nước đôi. Ngài cũng không tìm thoả hiệp với ma quỷ. Ngài luôn chọn lựa Chúa và ý Chúa Cha để sẵn lòng loại bỏ những gì nghịch với ý định của Thiên Chúa Cha. Ngài đã chiến thắng cám dỗ nhờ tình yêu trung tín với Chúa Cha. Ngài đã tín thác hoàn toàn vào Chúa Cha đến nỗi “lương thực của Ngài chính là thi hành ý muốn Chúa Cha.
Kính thưa, Quý OBACE
Ba cám dỗ mà Chúa Giêsu đã chiến thắng cũng là ba cám dỗ mà ma qủy vẫn tiếp tục gieo vào tâm hồn con người hôm nay.
Cám dỗ thứ nhất đó chính là của cải và cơm bánh hằng ngày. Cha ông ta vẫn nói:
“Có làm thì mới có ăn
Không dưng ai dễ mang phần cho ta”
Đó chính là sự công bằng đích thực. Có làm có hửơng. Có những ngày tháng lặn lội ngược xuôi bôn ba nơi chốn chợ hay dầm mưa dãi nắng nơi nương đồng mới có ngày nhàn hạ hưởng dùng hoa trái mình làm nên. Nhiều người đã không ý thức điều đó. Vì thói tham lam và lười biếng họ muốn “ngồi nhà mát ăn bát vàng”. Họ đang tâm làm giầu bằng thủ đoạn, bằng lừa gạt. Họ vì tiền mà đánh mất tình bạn. Họ vì miếng cơm manh áo mà đánh mất lương tri. Họ muốn biến đá thành bánh mà chẳng cần lao động cực nhọc. Lòng tham đã khiến họ quên đi phẩm giá cao đẹp của loài người là hình ảnh của Thiên Chúa, thế nên cần phải tìm kiếm những gì cao siêu hơn là những miếng bánh mau hư nát và cũng chẳng bao giờ thoả mãn lòng tham con người.
Cám dỗ thứ hai chính là tính đòi hỏi người khác phục vụ cho những đam mê sở thích của mình. Đó là lối sống hưởng thụ và thác loạn. Ngày nay người ta vẫn sợ các cậu ấm cô chiêu. Con của những người giầu có và quyền thế. Từ nhỏ đã được cha mẹ cưng phụng, chiều chuộng nên chỉ biết đua đòi, phóng khoáng. Sống ngông cuồng đến độ bất tuân phục lề luật. Sống hành xử theo ý mình, cho dù đó là những trò mạo hiểm gây hại cho bản thân và cho đồng loại như: xì kè, ma túy, mại dâm, đua xe, lạng lách... Đó chính là con đường mà ma qủy đã gieo vào lòng người: “cứ gieo mình xuống đi.... và mọi sự sẽ có các thiên sứ lo liệu...”. Lời Chúa hôm nay là lời nhắc nhở họ: “chớ thử thách Thiên Chúa”. Thiên Chúa là Đấng công thẳng. Mọi việc con người làm hôm nay đều phải trả lẽ trước mặt Chúa trong ngày sau nơi toà phán xét chí công của Thiên Chúa.
Cám dỗ thứ ba chính là lòng tự mãn, kiêu căng của con người. Ma qủy luôn cám dỗ con người “coi trời bằng vung”. Họ hành động như thể không có Thiên Chúa. Họ sống theo ý mình, tệ hại nhất chính là sự nuông chiều theo những đam mê sở thích của mình. Ma qủy luôn làm cho con người cảm thấy thoả thích trong những vinh hoa phú qúy trần gian. Nó dẫn con người đi trong những đam mê bất chính, những hưởng thụ lầm lạc. Con người vì kiêu căng muốn hưởng thụ tất cả nên dễ dàng bỏ Chúa, bỏ lề luật để tôn thờ những con bò mộng, lợn vàng là danh lợi thú trần gian. Tôn thờ những tạo vật thấp hèn nên con người cũng có những lối hành xử đê tiện và thấp hèn.
Chúa Giêsu Ngài đã chiến thắng ba cám dỗ đó trên nền tảng căn tính của con người. Con người là hình ảnh Thiên Chúa và vượt xa muôn loài thụ tạo nên chẳng có vật gì đáng cho con người phải bán rẻ lương tâm để tôn thờ. Chỉ có Thiên Chúa là Đấng đã tạo dựng nên con người, mới đáng để con người phải cúi mình tôn thờ. Thế nên, chỉ khi con người sống tôn thờ Thiên Chúa, con người mới sống đúng phẩm giá của mình hơn, vì “nhân linh ư vạn vật”. Chỉ khi con người thoát ra khỏi sự ràng buộc khỏi những tham sân si, con người mới sống an bình hơn.
Ước gì Mùa chay sẽ giúp chúng ta tìm lại đúng phẩm gía cao đẹp của chính mình. Xin Chúa Giêsu là Đấng đã chiến thắng sự dữ nâng đỡ và giúp chúng ta chiến thắng những cám dỗ đang đeo đuổi và ràng buộc tâm hồn chúng ta. Xin Chúa giúp cho mỗi người chúng ta biết thanh luyện chính mình để mỗi ngày nên hoàn thiện như cha chúng ta ở trên trời là Đấng hoàn thiện. Amen.

 

MC1-381: Chay tịnh và cầu nguyện

(Suy niệm của AM Trần Bình An)
 

Tháng Ba năm 1976, người ta chở Má từ nơi quản thúc tại gia ở Cây Vông đến nhà biệt giam Nha B119 MC1-381

Tháng Ba năm 1976, người ta chở Má từ nơi quản thúc tại gia ở Cây Vông đến nhà biệt giam Nha Trang… Má bị đưa vào ở trong một căn phòng giam nhỏ không cửa sổ, ngột ngạt, dưới chân tường chỉ có một lỗ nhỏ để thông hơi. Má thường nằm xuống đất để mũi gần đó và thở. Vài tuần sau Bảy cũng bị bắt đưa vào phòng biệt giam, cách Má bức tường ngăn. Ban đầu hai phòng hoàn toàn cách biệt, nhưng về sau người ta cho đục một cửa sổ nhỏ giữa bức tường ngăn cách, và có lệnh cấm Má và Bảy không được liên lạc với nhau qua nơi này…
Một ngày nọ qua cửa sổ, Má bảo Bảy:“Má và Bảy không biết sống chết ra sao. Má có thể ra đi bất cứ lúc nào! Má xin Bảy cho Má một ân huệ được không?” “Má cứ tự nhiên, con có thể làm gì để giúp Má?” Bảy đáp. “Má muốn tĩnh tâm ba mươi ngày, nhờ Bảy giảng cho Má.” “Má nói sao? con giảng tĩnh tâm cho Má? Con làm gì có đủ khả năng giảng cho Má. Chính Má giảng cho con chứ?” Bảy ngạc nhiên vô cùng và tưởng chừng mình nghe lầm nên hỏi lại. “Bảy cứ làm theo ý Má đi. Vì đây là ân huệ Má xin.” Má ôn tồn và nhỏ nhẹ bảo… “Má nói vậy thì con xin khiêm tốn vâng lời Má.” Bảy đáp lại. Thế là mỗi ngày Bảy giảng cho Má ba bài, bắt đầu từ lúc Chúa Giêsu sinh ra, sống cuộc đời ẩn dật và công khai rao giảng Tin Mừng, đối đáp lại những bắt bẻ của người Do Thái, dạy dỗ, kể dụ ngôn và làm phép lạ, đến lúc bị bắt, chất vấn, sỉ nhục, đánh đập, con đường khổ nạn và chết trên thập giá, rồi vinh hiển sống lại và hiện ra cho các tông đồ nhiều lần, trước khi về trời gởi Thánh Thần xuống. Mỗi bài giảng kéo dài từ hai mươi đến ba mươi phút, sáng trưa chiều. Sau đó Bảy còn kéo thêm được bài thứ tư vào buổi tối trước khi ngủ. Cứ vào những giờ giấc cố định Bảy đến bên cửa sổ, phía bên kia Má đã đứng chực đó từ lúc nào rồi. Má chăm chú lắng nghe các bài giảng, sau mỗi bài Má đều góp ý rồi cả hai cùng hát thánh ca có khi bằng tiếng Việt, hoặc La Tinh và Má dâng lời cầu nguyện kết thúc. Mỗi ngày lúc ba giờ chiều là giờ tử nạn của Chúa Giêsu, Má dâng thánh lễ với ba giọt rượu và một giọt nước trong lòng bàn tay với mẫu bánh nhỏ được bẻ vụn ra. Bên kia bức tường của phòng giam Bảy cũng làm như thế… Cuộc tĩnh tâm linh thao theo phương pháp thánh Ignatiô Loyola của Má kéo dài đúng một tháng… (Nguyễn Hồng Phúc, Câu chuyện của Má và Bảy)
ĐGM Fx Nguyễn Văn Thuận (Má) đã mời Lm Giuse Nguyễn Quang Thạnh (Bảy) giảng cấm phòng cho ngài, để chuẩn bị cuộc lữ hành gian lao ròng rã 13 năm. Ngài noi gương Thầy Giêsu vào sa mạc 40 ngày đêm, chịu Satan cám dỗ, sống giữa loài dã thú, chay tịnh cầu nguyện, chuẩn bị đi gieo Tin Mừng.
Hoang địa
Sau khi vào hoang địa 40 ngày đêm chay tịnh, Đức Giêsu vẫn còn luôn ra nơi hoang vắng để cầu nguyện trong suốt thời công khai rao giảng. Hiện nay, trong cuộc sống ồn ào, xô bồ hiếm khi được thực sự hưởng những giây phút im lặng. Có lẽ vì người ta đâm ra sợ hãi sự thinh lặng, tránh né nỗi cô đơn, không dám đối diện chính mình, nên luôn thích sống trong không gian ô nhiễm tiếng ồn. Tuy nhiên tĩnh lặng lại rất cần thiết cho tâm hồn thư giãn, tái lập quân bình. Cũng như một bản nhạc luôn cần có những dấu lặng thiết yếu, để thay đổi, chuyển sang giai điệu, tiết tấu, hòa âm, lời ca, ý nhạc mới.
Trong Thánh Lễ, có những khoảng lặng quan trọng trước kinh Cáo Mình, sau khi nghe Lời Chúa và Hiệp lễ. Đó là những giây phút nhìn lại mình, suy niệm Tin Mừng và tâm tình cùng Thánh Thể. Tất cả sự thinh lặng đó tựa như không gian thông thoáng, tĩnh mịch của hoang địa, bỏ qua, quên đi những vướng mắc, bận tâm đến thân xác, thế gian, cám dỗ phù phiếm, để có thể gần gũi, cầu nguyện, tâm sự với Chúa.
Ngoài ra, ai cũng có thể tận dụng những giây phút trước khi ngủ, hay khi vừa thức dậy để vào hoang mạc tâm hồn. Xét mình, ăn năn, sám hối và tâm tình với Chúa hằng ngày.
Chay tịnh
Theo nghĩa phổ thông, chay tịnh là giữ mình sạch sẽ, thanh khiết qua việc kiêng ăn thịt động vật, chỉ dùng rau quả cùng các sản phẩm thực vật, và nhất là qua việc giữ tâm hồn yên tĩnh, vô ưu, không vương vấn tham, sân si, lục dục, thất tình. Theo Kitô giáo, chay tịnh tuy cũng có sắc thái tương tự, nhưng kèm thêm ý nghĩa tích cực hơn nữa, là hy sinh, hãm mình, ăn năn, sám hối, xả kỷ vị tha, yêu thương và phục vụ tha nhân, hòa giải, bác ái từ thiện.
Chay tịnh là thoát ra khỏi sự chế ngự, kiềm hãm của thân xác, của bản năng, của cái tôi nhỏ mọn, vị kỷ, để hướng thượng, nâng hồn lên với Thiên Chúa, để hướng ngoại với tha nhân. Đó là hành vi bày tỏ lòng khiêm cung, niềm hy vọng và tình yêu trước Thiên Chúa và tha nhân.
Chay tịnh để hướng về Chúa với một thái độ lệ thuộc, phó thác hoàn toàn, trước khi khởi đầu một nhiệm vụ khó khăn, hay nài xin tha thứ tội lỗi đã vấp phạm, để mở lòng đón nhận ánh sáng Thiên Chúa, xin ơn cần thiết hầu hoàn thành sứ vụ.”Đaniel đừng sợ, bởi ngay từ hôm đầu, khi ngươi đem hết lòng tìm hiểu và ăn chay hãm mình trước nhan Thiên Chúa của ngươi, thì Thiên Chúa đã nghe những lời ngươi nói, và chính vì những lời ấy mà ta đến.” (Đn 10, 12)
Cầu nguyện
Khi giữ chay tịnh thật sự thì mới có thể thành tâm cầu nguyện, như Thánh Phêrô khuyên nhủ. “Anh em hãy sống chừng mực và tiết độ để có thể cầu nguyện được.” (1Pr 4, 7) Mặc dù đã tràn đầy Chúa Thánh Thần khi vào hoang mạc, Đức Giêsu vẫn siêng năng cầu nguyện sớm tối, hầu nhận được hồng ân, Thánh Ý từ Thiên Chúa Cha.
Người dạy các môn đệ cách thức cầu nguyện khiêm tốn, kín đáo và chân thành. “Khi cầu nguyện hãy vào trong phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả công cho anh.” (Mt 6, 6) Hơn nữa, Người còn ban cho các môn đệ Kinh Lạy Cha, một mẫu mực hoàn chỉnh để cầu nguyện.
“Cầu nguyện là nền tảng của đời sống thiêng liêng. Lúc cầu nguyện con nối liền, kết hợp với Thiên Chúa. Bóng điện sáng nhờ nối liền với máy phát điện.” (Đường Hy Vọng, số 120)
Lạy Chúa Giêsu, xin hướng dẫn chúng con vào hoang mạc hằng ngày, qua những phút thinh lặng, cô đơn, để hãm mình, hy sinh và cầu nguyện với Chúa luôn.
Lạy Mẹ Maria, suốt cuộc đời Mẹ là chuyến lữ hành âm thầm, chay tịnh và cầu nguyện, luôn kết hợp tâm tình với Chúa Giêsu, Con Mẹ, để lắng nghe và thực hành Thánh Ý Chúa. Kính xin Mẹ chỉ dạy, hướng dẫn, giúp đỡ chúng con noi gương Mẹ hy sinh hãm mình và cầu nguyện với Chúa luôn. Amen.

 

MC1-382: Lòng thương cảm sâu xa – Peter Feldmier

(Văn Hào, SDB chuyển ngữ)
Người đã đến rao giảng cho các vong linh bị giam cầm (1 P3, 19)
 

Sự thương hại mang dáng dấp giống như lòng thương xót, nhưng thật sự hoàn toàn khác nhau. B120  MC1-382

Sự thương hại mang dáng dấp giống như lòng thương xót, nhưng thật sự hoàn toàn khác nhau. Nhiều phật tử còn coi sự thương hại như là kẻ thù của lòng xót thương chân thật. Sự thương hại nhìn từ bên ngoài, dễ khiến chúng ta ngộ nhận, dễ bị đồng hòa với những rung cảm sâu tận từ con tim. Sự thương hại xảy ra khi nhìn thấy một người bị đau khổ, nhưng chúng ta chỉ đứng ngoài cuộc để bàng quan nhìn vào những khổ đau đó như một người hoàn toàn xa lạ. Nhiều khi chúng ta còn thốt lên “ Cám ơn Chúa, rất may là tôi không gặp những bất hạnh giống như thế’’.
Nhưng sự thương xót chân thật thì trái ngược lại. Nó đặt nền tảng trên tình yêu chân thành. Nó lôi kéo chúng ta đến với những người đau khổ, đồng hành với họ, cảm thương họ, và chia sẻ với họ về những thống khổ họ đang gánh chịu. Tín hữu phật giáo diễn tả sự thương xót đó bằng thuật ngữ Karuna, có nghĩa là “ Mang chở nơi mình một con tim biết rung động”. Trong Tân ước, chúng ta cũng gặp hạn từ Splanknizomai, nghĩa là “ Cảm thấu đến tận ruột gan” trước nỗi khổ đau của kẻ khác. Sự thương xót mời gọi chúng ta đi vào chiều sâu, biết cảm thông và biết sẻ chia một cách sâu xa trong chính trạng huống thực sự của cuộc sống con người.
Sự đồng cảm đó là một sợi dây vô hình gắn kết con người lại với nhau. Ví dụ khi chúng ta đang gặp đau khổ, tâm hồn bị bầm dập và tan nát, có một ai đó đã quảng đại, sẻ chia và thông sự vào chính đời sống chúng ta một cách cụ thể. Hoặc ngược lại, có bao giờ chúng ta đã trải nghiệm việc đồng cảm và chia sẻ thực sự với những đớn đau của người khác? Làm sao chúng ta có thể xem nỗi khổ của người khác như là nỗi đau của chính mình để thực sự biết thương cảm một cách sâu xa.
Tin mừng hôm nay kể lại biến cố Đức Giêsu lui vào hoang địa và ở đó 40 ngày, trước khi khởi sự sứ vụ rao giảng công khai. Marcô diễn tả sự kiện này chỉ với 2 câu giản đơn “ Thần khí đẩy Ngài vào hoang địa. Người ở đó 40 ngày, chịu Satan cám dỗ, sống giữa loài dã thú, và có các thiên sứ hầu hạ Ngài.” Nhìn nơi Đức Giêsu, Đấng được Thần khí đưa vào sa mạc, chịu sự tấn công của Satan, và sống giữa loài dã thú, giữa những con vật khủng khiếp nhất, đáng sợ nhất, chúng ta cảm nhận ra đó là một thân phận rất bi thương trong kiếp người. Cuộc sống của Ngài 40 ngày trong sa mạc đã không còn là cuộc sống của chính Ngài nữa.
Bài đọc hai hôm nay trích trong thơ thứ nhất của Thánh Phêrô tông đồ gửi đến các Kitô hữu mới được lãnh nhận phép rửa. Trong đoạn văn này, thánh nhân diễn tả cái chết của Đức Kitô như là phương cách chuộc tội cho con người, và cơn đại hồng thủy năm xưa là một hình ảnh tiên báo ( bài đọc 1). Trận lụt phác vẽ trước hình ảnh của bí tích rửa tội, và chính qua giếng rửa tội chúng ta được cứu chuộc. Thánh Phêrô còn nói thẳng thừng một điều xem ra rất khó hiểu: Ngài đã đến rao giảng cho các vong linh bị giam cầm (1P 3,14), tức là những con người trước đây đã phạm tội vì bất tuân phục. Tôi không có ý cắt nghĩa bản văn theo nghĩa đen của từng câu từng chữ, giống như chúng ta vẫn thường tuyên tín trong kinh Tin Kính, “sau khi chết, Người xuống ngục tổ tông đem các thánh lên thiên đàng”, hoặc cũng phản ánh một điều mà Đức Giêsu đã nói trong bài giảng trên núi. Tôi muốn mời gọi chúng ta hãy nhìn lên Con người Chịu- Đóng-Đinh, Đấng đã đem sự hiện diện cứu độ của Ngài đến những vùng tối tăm nhất của phận kiếp con người. Sheol hay cõi “lâm bô” như được nói đến trong cựu ước, được trình bày như là một thế giới mênh mông ngập trong nước, nơi không còn hy vọng, nơi không có sự sống và không có cả Thiên Chúa. Đức Giêsu đã sẻ chia kinh nghiệm của chính Ngài. Với tình yêu giải thoát, Ngài đã đi vào thế giới con người, xuống tận vực thẳm ngập sâu trong tối tăm của kiếp sống làm người.
Vào Chúa nhật thứ nhất mùa chay, chúng ta được mời gọi để cử hành suốt thời gian này để đi vào sự thương cảm với anh chị em đồng loại. Tức là chúng ta phải tiến sâu vào thân phận con người để nhìn ra những khổ đau, những bầm dập và cay đắng, hầu biết diễn bày lòng thương xót sâu xa, và để con tim chúng ta luôn biết rung động. Ba hình thái theo truyền thống của mùa chay là cầu nguyện, chay tịnh và bố thí sẽ giúp chúng ta bắt đầu mùa chay thật ý nghĩa. Chúng ta cầu nguyện để thông hiệp sâu xa hơn với Đấng đã đem chúng ta vào hiện hữu, và lôi kéo chúng ta đến với tình yêu vô tận của Ngài. Chúng ta thực hành việc chay tịnh để cảm thông với 2 triệu người trên thế giới đang đói, đang khát vì chẳng có cái gì để ăn. Chúng ta giang rộng đôi tay bố thí để giải thoát chúng ta khỏi sự keo kiệt ích kỷ, hầu chúng ta được liên đới chặt chẽ hơn với những người đang cần đến chúng ta.
Mùa chay là thời gian đặc biệt để giúp chúng ta ý thức, đồng thời khơi dậy nơi chúng ta lòng thương cảm sâu xa. Đây là thời kỳ mà Giáo hội gọi mời chúng ta phải tiến sâu hơn, đi vào sự chia sẻ đồng phận trong kiếp người, với những ai đang gặp khổ đau, để với một tình yêu chân thành, chúng ta biết sống chan hòa, và con tim chúng ta biết rung động trước những khổ đau của anh chị em mình.

 

MC1-383: Thần lành, thần dữ

(Suy niệm của Lm. Vũ Đình Tường)
 

Cuộc đời rao giảng nơi trần thế của Đức Kitô cho thấy sự khác biệt rõ ràng giữa thần lành và thần B121 MC1-383

Cuộc đời rao giảng nơi trần thế của Đức Kitô cho thấy sự khác biệt rõ ràng giữa thần lành và thần dữ. Thần lành hướng dẫn Đức Kitô vào hoang địa chuẩn bị cho cuộc đời rao giảng công khai. Trái lại thần dữ rình rập tìm cơ hội cám dỗ Đức Kitô nơi hoang địa. Còn một thần nữa Kinh Thánh không nhắc đến đó chính là thần khí của Đức Giêsu. Kinh Thánh dường như không phân biệt sự khác biệt giữa Thần Khí Thiên Chúa và Thần Khí của Đức Kitô nhưng thường dùng chung, hoán đổi cho nhau.
Trong bài giảng đầu tiên nơi hội đường, người ta đưa cho Đức Kitô sách thánh, Ngài mở ra đúng đoạn tiên tri Isaiah nói về Ngài.
Thần Khí Thiên Chúa ngự trên tôi (Lc 4,18)
Sách tiên tri Isaiah chương 62,1-2 tiên đoán về cuộc đời rao giảng của Đức Kitô trong đó nhấn mạnh đến việc
Ngài đến để mang Tin Mừng đến cho người nghèo khó, giải thoát kẻ bị giam cầm, cho người mù sáng mắt, giải thoát kẻ bị đoạ đầy và công bố năm hồng ân của Thiên Chúa.
Sứ mạng của Đức Kitô được hiểu một là ích lợi về phần xác và hai là ích lợi phần tâm linh. Đức Kitô mang thân phận con người như chúng ta nên con tim Ngài cũng có cảm giác như chúng ta cảm nghiệm. Con tim Ngài cũng biết đau khổ, sợ sệt khi đối đầu với thập giá. Con tim Ngài cũng quằn quại, dằn vặt trước bất công của xã hội, đè nén, chèn ép con người dành cho nhau. Con tim Ngài cũng thấm cảnh con người hành hạ con người, mệt mỏi khó khăn của kẻ tìm công việc. Con tim Ngài cũng biết chán nản, biết mệt mỏi khi phải mong chờ. Những lúc như thế Ngài thường tìm nơi thanh vắng tâm sự cùng Chúa Cha. Con tim Ngài cũng rung động khi ban phát tình yêu và vui mừng đón nhận yêu thương và những lúc như thế Ngài trở về hoang địa tâm hồn, tìm nơi thanh tịnh cảm tạ Chúa Cha. Vì thế để hiểu tâm tình của Đức Kitô chúng ta cũng cần có con tim biết cảm thông của Ngài. Để biết được tâm tình của Thiên Chúa Cha chúng ta cần biết tâm tình của Đức Kitô. Để trở thành môn đệ trung tín của Đức Kitô chúng ta cần tìm nơi thanh vắng tâm sự cùng Đức Kitô.
Về phương diện tâm linh Đức Kitô công bố năm hồng ân của Thiên Chúa và kêu gọi con người thống hối và tin vào Tin Mừng Mc 1,15.
Hành trình thống hối gặp khó khăn, chống đối mãnh liệt từ thần dữ vì thống hối chính là từ bỏ đường lối sống của thần dữ để trở thành con cái sự sáng. Thần dữ coi việc từ bỏ này là hành động phản bội lại chúng và chúng sẽ tìm mọi cách để cám dỗ và nếu cần phải tiêu diệt kẻ phản bội chúng sẽ không ngần ngại. Vì thế hành trình thống hối luôn gặp khó khăn, nội chiến trong tâm hồn xảy ra. Bao nhiêu tư tưởng ma quỷ đưa ra khiến ta ngập ngừng, tìm cơ hội kéo dài thời gian quyết định mong ta dùng giằng trước ngã ba hầu mệt mỏi, buông xuôi theo con đường ma quỷ muốn ta đi theo. Quyết tâm đầu tiên trong hành trình thống hối là tiến vào sa mạc, nơi thanh vắng, chỗ không người đề tâm hồn được an nghỉ. Chính nơi đó ta nghe tiếng mời gọi của Thiên Chúa rõ ràng hơn, mạch lạc hơn, trong sáng hơn bởi thế sa mạc tâm hồn là nơi ta tìm được tiếng Thiên Chúa và tình yêu Chúa.
Đức Kitô không cần thống hối, không cần vào sa mạc nhưng Ngài tự nguyện vào sa mạc để chỉ cho con người con đường thống hối, con đường sa mạc. Chính nơi đó Ngài gặp Chúa Cha nhưng vừa bước chân ra khỏi samạc ma quỷ đã chờ sẵn để cám dỗ. Đức Kitô dùng Lời Chúa đáp trả chúng và chúng đã thua. Chúng ta cũng cần học hỏi Lời Chúa để đáp trả ma quỉ khi chúng đến cám dỗ. Thống hối thật cần đi chung với Lời Chúa, không có lời Chúa đi kèm không có thống hối thật sự vì tự chúng ta không đủ sức chống lại cám dỗ của ma quỉ.
Có sự khác biệt giữa thần khi của Đức Giêsu trần thế và thần khi của Đức Kitô Phục Sinh. Thần khi nơi trần thế của Đức Giêsu nhấn mạnh đến con tim yêu thương của Thiên Chúa; Thần Khí của Đức Kitô Phục Sinh nhấn mạnh đến việc làm cho vinh quang Thiên Chúa rạng rỡ hơn. Vì thế khi nhắc đến Đức Kitô Phục Sinh là nhắc đến vinh quang, khải hoàn, chiến thắng và triều thiên vinh hiển nơi thiên quốc. Nhắc đến thần khí Đức Giêsu trần thế là nhắc đến tâm tình yêu thương, tha thứ và bác ái, từ bi, nhẫn nại.

 

MC1-384: HÃY HỒI TÂM ĐỔI MỚI

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT
Mc 1, 12 – 15
 

Mùa chay mời gọi chúng ta hồi tâm, sám hối, đổi mới để trở về với Chúa. Mùa chay cũng nhắc nhở B122 MC1-384

Mùa chay mời gọi chúng ta hồi tâm, sám hối, đổi mới để trở về với Chúa. Mùa chay cũng nhắc nhở chúng ta ý thức, tỉnh thức trước những thử thách, những cám dỗ, cạm bẫy đang bủa vây xung quanh chúng ta. Do đó, Chúa luôn cảnh tỉnh chúng ta hãy sáng suốt, hãy tỉnh thức để biết phân định đâu là cám dỗ, đâu là cạm bẫy, đâu là những gì phải chọn lựa để đi theo đúng đường lối củả Chúa.
Thánh Máccô thuật lại cho chúng ta về câu chuyện Chúa Giêsu vào sa mạc ăn chay, cầu nguyện bốn mươi đêm ngày để chuẩn bị sứ vụ công khai của Ngài. Trong hoang địa, Chúa Giêsu đã chìm đắm  trong chay tịnh, cầu nguyện thân mật với Thiên Chúa Cha. Ngài sống hòa hợp với mọi loài dã thú, mọi loài thọ tạo và với các thiên thần. Nơi sa mạc, Chúa Giêsu đã tỏ cho nhân loại, cho chúng ta biết thời kỳ đã mãn và Thiện Chúa đã tới gần. Nên, Ngài mời gọi tất cả chúng ta hãy vứt bỏ những gì là cồng kềnh, những gì là quá khổ để bước vào con đường hẹp. Những cồng kềng, quá khổ là những điều tiêu cực, ham mê tiền tài, danh vọng, địa vị, thú vui xác thịt. Ngài nói rằng đó là những cạm bẫy, những cám dỗ và là tội lỗi làm ngăn cản con người đến với Chúa. Ngài tỉnh thức con người hãy hồi tâm, thay đổi lối sống, đổi mới tư duy, lối nhìn và hành động tốt, hãy làm nhưng việc tỏa sáng. Ngài truyền cho chúng ta tin, chứ đừng cứng lòng vì Nước Thiên Chúa đã tới gần.
Vâng, ngày nay văn minh đã vượt bực, con người đang gặp phải những cạm bẫy nghiêm trọng, những cám dỗ ghê gớm. Một thế giới văn minh nhưng vì quá văn minh, nên con người sống xa Thiên Chúa. Một thế giới có nhiều những tiện nghi vật chất, con người tìm kiếm hưởng thụ, sống ích kỷ và ham hố lợi danh. Chủ nghĩa cá nhân thống trị. Con người tìm kiếm lạc thú trong những tiêu khiển vô vọng. Con người đòi hỏi xác thịt với những cám dỗ thân xác mời mọc, những khêu gợi, kích thích giác quan vv…Tội lỗi càng chồng chất, Chúa mời gọi chúng ta, mời gọi con người luôn phải cảnh giác trước những cạm bẫy giăng mắc tràn đầy.
Đức Giêsu theo Tin Mừng hôm nay trình bầy đã phải đối phó liên tục với những cám dỗ ma quỷ giăng ra trong suốt bốn mươi đêm ngày :” Người ở trong sa mạc bốn mươi đêm ngày chịu ma quỷ cám dỗ “ ( Mc 1, 13 ). Việc ma quỷ, satan cám dỗ không phải chỉ một lần là chấm dứt, là xong, nhưng ma quỷ giăng bẫy, cám dỗ liên tục con người, cám dỗ triền miên cả một kiếp người, cả một đời người.
Ngày hôm nay, tiếng Chúa vẫn vang lên và lời kêu gọi của Gioan Tẩy Giả:” Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng “ luôn có giá trị. Tin vào Thiên Chúa dù cuộc đời có là cạm bẫy, thử thách, chông giai. Tin vào Chúa, nương tựa vào Chúa là đủ như lời thánh Phaolô nói:” Tôi có thể làm được mọi sự trong Đấng ban sức mạnh cho tôi”. Hoặc như lời Chúa phán :” Ơn của Ta là đủ cho ngươi rồi”. Xung quanh chúng ta, xung quanh con người có biết bao thử thách, cám dỗ của ma quỷ, nếu con người và tất cả chúng ta không đủ can đảm, tỉnh thức và tin tưởng mãnh liệt vào Chúa, chúng ta sẽ dễ rơi vào sa ngã…Con người phải dám hồi tâm, quay về như Phêrô đã chối Chúa ba lần, nhưng thánh nhân đã khiêm tốn, can đảm quay về vì tin Thiên Chúa sẽ tha thứ cho Ngài…Như Phaolô cũng đã hồi tâm, quay về và can đảm hỏi :” Ngài là ai ?”. Có khiêm tốn và dám can đảm quay về với Chúa, chắc chắn, Ngài sẽ tha thứ và đưa tay ôm như người con hoang đàng quay về…Hãy tin tưởng vào Lòng Thương Xót và thứ tha của Thiên Chúa. Can đảm đứng dậy chứ đừng ngồi lì trong tội lỗi, trong tật xấu vv…
Chúng ta hãy nhớ dù sống trong xa hoa, giầu sang phú quý nhưng xa vắng Thiên Chúa, tất cả đều vô ích vì chỉ duy nhất Thiên Chúa mới cứu độ, mới giải thoát và ban hạnh phúc cho con người…
Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con ơn biết hối cải để chúng con luôn biết quay về với Chúa vì chỉ có Chúa mới ban ơn cứu rỗi cho chúng con.Amen.
 GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
 1.Tại sao Chúa lại bị satan cám dỗ ?
2.Ma quỷ chỉ cám dỗ một lần là buông tha con người phải không?
3.Ơn sám hối là gì ?
4.Chúng ta có cần hồi tâm, sám hối không ?
5.Ơn cứu độ là gì ?

 

MC1-385: Sau cơn hồng thủy

CHÚA NHẬT I MÙA CHAY
Lắng nghe sứ điệp Lời Chúa  (St 9:8-15;  1 Pr 3:18-22;  Mc 1:12-15)
 

Những cơn lụt lội, tuy tàn phá và gây thiệt hại đáng kể cho dân chúng, nhưng để lại một miền đất B123 MC1-385

Những cơn lụt lội, tuy tàn phá và gây thiệt hại đáng kể cho dân chúng, nhưng để lại một miền đất màu mỡ cho mùa màng những năm kế tiếp.  Nước lũ cướp đi rất nhiều thứ quý giá của chúng ta, nhưng cũng đem lại cho đất đai một khả năng canh tác mới.  Đề tài Phụng vụ Lời Chúa hôm nay xoay quanh tác động thanh tẩy của nước, từ nước của trận lụt hồng thủy đến nước sông Gio-đan của phép rửa Gio-an Tẩy giả và sau cùng là nước của bí tích Thánh tẩy.  Trong nghi thức làm phép nước Rửa tội, Giáo Hội đã không quên nhắc đến vai trò của nước lụt hồng thủy và phép rửa của Gio-an như là những hình ảnh báo trước bí tích Thánh tẩy, nhờ đó chúng ta được làm con Thiên Chúa và được Thánh Thần dẫn dắt để sống cuộc đời mới với căn tính mới.
          Tại sao có trận lụt đại hồng thủy?  Sách Sáng Thế cho ta biết lý do:  “Đức Chúa thấy rằng sự gian ác của con người quả là nhiều trên mặt đất, và lòng nó chỉ toan tính những ý định xấu suốt ngày.  Đức Chúa hối hận vì đã làm ra con người trên mặt đất, và Người buồn rầu trong lòng. Đức Chúa phán: ‘Ta sẽ xoá bỏ khỏi mặt đất con người mà Ta đã sáng tạo, từ con người cho đến gia súc, giống vật bò dưới đất và chim trời, vì Ta hối hận đã làm ra chúng’” (6:5-7).  Thế là mưa ròng rã bốn mươi đêm ngày và nước dâng cao suốt một trăm năm mươi ngày khiến không còn người hay vật nào sống sót, trừ gia đình ông Nô-ê và các loài vật ở trong tàu với ông.  Tuy nhiên quan trọng hơn cả là những gì xảy ra sau cơn lụt hồng thủy.  Ngoài việc sống sót của gia đình ông Nô-ê và các loài vật, sự kiện quan trọng là Thiên Chúa đã lập giao ước với loài người.  Thiên Chúa cam kết sẽ không bao giờ dùng nước để hủy diệt nhân loại nữa.  Cầu vồng là dấu hiệu của giao ước nói lên cam kết ấy và “nước sẽ không còn trở thành hồng thủy để tiêu diệt mọi xác phàm nữa”.  Thiên Chúa đã dùng nước hồng thủy hủy diệt những kẻ xấu và Người hy vọng ông Nô-ê và con cháu ông sẽ là một nhân loại mới như Người mong ước.  Nhưng mong ước của Chúa có thành hay không thì chúng ta đã biết rồi!  Cũng không sao, vì Người sẽ có một kế hoạch khác:  tuyển chọn Áp-ra-ham để thiết lập một “dân riêng”, để từ đó Đấng Cứu Độ xuất hiện.
          Bước sang một giai đoạn mới của lịch sử cứu độ, chúng ta thấy dường như Thiên Chúa vẫn “thất bại”!  Dân riêng của Người vẫn chứng nào tật nấy, không muốn khép mình sống theo các giới răn của Người, mặc dù Người “không ngừng sai tất cả các tôi tớ của Ta là các ngôn sứ đến với chúng;  nhưng chúng đã không nghe, cũng chẳng để tai, lại ra cứng đầu cứng cổ” (Giê-rê-mi-a 7:25, 26).  Cuối cùng, vị ngôn sứ chuyển tiếp từ Cựu Ước sang Tân Ước là ông Gio-an Tẩy Giả, đã làm phép rửa tại sông Gio-đan để kêu gọi người ta sám hối và chuẩn bị đón nhận Đấng Cứu Độ là Chúa Giê-su.  Nước sông Gio-đan mời gọi dân chúng bước vào hành trình sám hối, đồng thời nước ấy cũng đem đến cho nhân loại Đấng Cứu Độ:  “Khi Đức Giê-su chịu phép rửa xong, vừa ở dưới nước lên, thì các tầng trời mở ra. Người thấy Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu và ngự trên Người” (Mát-thêu 3:16).
          Tiếp đến, thánh Phê-rô giúp ta hiểu ý nghĩa của nước Rửa tội (bài đọc 2).  Ngài viết về nước lụt hồng thủy:  “Nước đó là hình bóng phép rửa nay cứu thoát anh em”.  Rồi ngài nói thêm về ý nghĩa bí tích Thánh tẩy:  “Lãnh nhận phép rửa, không phải là được tẩy sạch vết nhơ thể xác, mà là cam kết với Thiên Chúa sẽ giữ lương tâm trong trắng, nhờ sự phục sinh của Đức Giê-su Ki-tô”.  Chúng ta thắc mắc:  tại sao nước lụt hồng thủy và nước sông Gio-đan chỉ là hình bóng bí tích Thánh tẩy?  Là vì những cách thanh tẩy nói trên chỉ là bằng nước, còn phép rửa của Chúa Giê-su qua cái chết và sự phục sinh của Người mới là phép rửa bằng Thánh Thần, để nhờ Thánh Thần, chúng ta được kêu lên: “Áp-ba!  Cha ơi!” (Ga-lát 4:6).  Nghĩa là ta được trở nên con Chúa!
Sống sứ điệp Lời Chúa
          Chúa Giê-su sau khi chịu phép rửa và đặt mình trong sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần, đã ra đi rao giảng ơn sám hối và Tin Mừng cứu độ.  Đó chẳng phải là gương mẫu cho tất cả chúng ta, những người đã lãnh nhận bí tích Thánh tẩy sao?  Như thánh Phê-rô dạy, được rửa tội là “cam kết với Thiên Chúa sẽ giữ lương tâm trong trắng”, chúng ta cần đặt câu hỏi:  Mùa Chay này có giúp tôi nhìn lại cam kết giữa tôi với Chúa không?                 
Lm. Đa-minh Trần đình Nhi              

 

MC1-386: NOI GƯƠNG CHÚA ĐỂ CHIẾN THẮNG CÁM DỖ

CHÚA NHẬT I MÙA CHAY, NĂM B
 (St 9,8-15;1 Pr 3,18-22; Mc 1,12-15)
Tu sĩ: Jos. Vinc. Ngọc Biển, S.S.P.
 

Hôm nay, chúng ta cùng với Giáo Hội bước vào Chúa Nhật đầu tiên của Mùa Chay. Trong Chúa B124 MC1-386

Hôm nay, chúng ta cùng với Giáo Hội bước vào Chúa Nhật đầu tiên của Mùa Chay. Trong Chúa Nhật này, Giáo Hội mời gọi con cái mình hãy noi gương Đức Giêsu khi đối diện với thử thách, đồng thời cũng đưa ra cho chúng ta những phương thế hữu hiệu mà chính Đức Giêsu đã dùng để chống trả trước cám dỗ. Mặt khác, hãy đáp lại lời mời gọi của Đức Giêsu: “Sám hối và tin vào Tin Mừng để được cứu độ”.
Vì thế, với chúng ta, đây là thời thuận tiện, là: “thời Chúa thi ân, là ngày Thiên Chúa cứu độ” (2 Cr 6,2).
1.      Âm mưu cám dỗ
Khi nói đến cám dỗ, chắc chắn chúng ta đều hiểu rằng đó là một sự mưu mô, mánh khóe của kẻ chủ mưu. Nói cách khác, những trò độc hại sẽ được tung ra để đầu độc người mà tên cám dỗ muốn thuyết phục.
Vậy đâu là mục đích của các cơn cám dỗ mà ma quỷ gây ra với Đức Giêsu.
Thưa, đó là: ma quỷ tìm mọi cách để đưa Đức Giêsu đi vào vết xe của Nguyên Tổ khi xưa.
Nếu trước kia Nguyên Tổ bị ma quỷ cám dỗ về danh vọng khi hứa sẽ được sáng mắt ra và bằng Thiên Chúa, thì hôm nay, chúng cũng cám dỗ Đức Giêsu hóa đá thành bánh để ăn. Tuy nhiên, Đức Giêsu đã thắng khi nói: “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra” (Mt 4,4).
Nếu trước kia ma quỷ cám dỗ Tổ Tông chúng ta tự tin vào sức mình, và Nguyên Tổ đã mắc phải, thì hôm nay, nó cũng cám dỗ Đức Giêsu như vậy. Nhưng lần này Ngài cũng vượt qua khi nói: “Ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi” (Mt 4,7).
Nếu xưa kia Nguyên Tổ loài người đã tham lam, không chịu chấp nhận những gì mình có. Đây là lòng tham vô đáy của con người. Hôm nay, ma quỷ cũng cám dỗ Đức Giêsu về sự tham lam này khi chúng cho Ngài xem thấy các nước thiên hạ và bắt Ngài phải thờ lạy chúng. Nhưng như hai lần trước, lần này, Đức Giêsu cũng chiến thắng và Ngài tuyên bố: “Satan kia, xéo đi! Vì đã có lời chép rằng: Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi” (Mt 4, 10).
Như vậy, trải qua ba cơn cám dỗ, ma quỷ làm toát lên mục đích của chúng là cám dỗ Đức Giêsu đi sai đường lối của Thiên Chúa, nhưng Ngài đã chiến đấu dũng mạnh và chiến thắng vinh quang để đi đúng đường lối của Thiên Chúa là dấn thân vào công cuộc cứu chuộc nhân loại.
Gợi lại vài điểm mấu chốt trong cuộc cám dỗ của ma quỷ với Đức Giêsu và cũng là của chúng ta để thấy được đâu là mấu chốt của cuộc cám dỗ và đâu là chìa khóa để chúng ta vượt ra khỏi cơn cám dỗ đó.
2.      Chìa khóa để chiến thắng cám dỗ
Chìa khóa thứ nhất đó là cầu nguyện. Đức Giêsu đã cầu nguyện, sống thân tình với Thiên Chúa suốt 40 đêm ngày. Thời gian này, Ngài luôn trung thành và làm theo thánh ý Thiên Chúa.
Chìa khóa thứ hai, đó là ăn chay, hy sinh và hãm mình. Khi chúng ta giữ chay tịnh, thì đương nhiên phải hy sinh, hãm mình. Khi làm những việc đó, nó sẽ giúp chúng ta biết hướng lòng mình về với Thiên Chúa, để đón đợi Ngài đến với ta trong ngày cánh chung.