Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật LỄ LÁ ABC Bài 1-50 Chúa vào thành Jer

Thứ tư - 21/03/2018 04:51
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật LỄ LÁ ABC Bài 1-50: Chúa vào thành Giêrusalem
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật LỄ LÁ ABC Bài 1-50: Chúa vào thành Giêrusalem
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật Lễ Lá ABC 1-50 Chúa vào thành Giêrusalem
Lễ_lá-1: Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem.. 2
Lễ_lá-2: CON ĐƯỜNG THƯƠNG KHÓ.. 3
Lễ_lá-3: CUỘC KHỔ NẠN.. 5
Lễ_lá-4: ĐỨC GIÊSU LÀ NGƯỜI TÔI TỚ CỦA THIÊN CHÚA.. 9
Lễ_lá-5: Chúng con hãy làm việc này mà nhớ Thầy. 12
Lễ_lá-6: Đức Giêsu đến Jêrusalem.. 13
Lễ_lá-7: QUẢ THỰC NGÀI LÀ CON THIÊN CHÚA Mt 27. 11- 54. 22
Lễ_lá-8: HÃY LÀM CHO NHÀ BẠN THÀNH MỘT NHÀ THỜ. 24
Lễ_lá-9: THẬP GIÁ ĐỨC KITÔ.. 25
Lễ_lá-10: YÊU CHO ĐẾN CÙNG - NTDY/192. 28
Lễ_lá-11: NGƯỜI TÔI TỚ - ASTY/88. 29
Lễ_lá-12: NHÂN TÌNH  - NMSCMN/48. 30
Lễ_lá-13: ĐỨC GIÊSU VÀO THÀNH GIÊRUSALEM... 32
Lễ_lá-14: TIN VUI THỜI ĐIỂM 2000 - Lm Trần Cao Tường. 35
Lễ_lá-15: PHÂN BIỆT ĐIỀU CHÍNH ĐIỀU PHỤ.. 39
Lễ_lá-16: Đức Giêsu vào thành Giêrusalem.. 41
Lễ_lá-17: CON NGƯỜI DỄ THAY ĐỔI - NCK.. 42
Lễ_lá-18: CHIẾC GHẾ LẮC LƯ - Dòng Đồng Công : 45
Lễ_lá-19: NHỮNG KẺ GIẾT ĐỨC GIÊSU.. 46
Lễ_lá-20: DẤU VẾT ĐỂ LẠI 48
Lễ_lá-21: SỰ IM LẶNG DAI DẲNG.. 50
Lễ_lá-22: CHÚA GIÊSU VÀO THÀNH GIÊRUSALEM... 52
Lễ_lá-23: Trong thâm tâm, các vị lãnh đạo tôn giáo Do Thái 62
Lễ_lá-24: HÌNH ẢNH NGƯỜI TÔI TỚ CHÚA.. 65
Lễ_lá-25: Khi kẻ cám dỗ đưa Chúa Kitô lên núi cao và để Chúa xem.. 66
Lễ_lá-26: THƯƠNG KHÓ : MẦU NHIỆM CỨU CHUỘC.. 68
Lễ_lá-27: TÌNH YÊU VÀ SỰ CHẾT - Sr Yakira. 70
Lễ_lá-28: CON ĐƯỜNG TÌNH YÊU.. 72
Lễ_lá-29: BÀI GIẢNG TRƯỚC KHI KIỆU LÁ.. 76
Lễ_lá-30: BÀI GIẢNG SAU BÀI THƯƠNG KHÓ.. 77
Lễ_lá-31: CON ĐƯỜNG CHÚA ĐI - GM Giuse Ngô Quang Kiệt M... 79
Lễ_lá-32: THẬP GIÁ.. 81
Lễ_lá-33: NGƯỜI TÔI TỚ CỦA THIÊN CHÚA / dẫn lễ. 82
LễLá-34. TRUNG THÀNH VỚI LỜI TUNG HÔ.. 87
LễLá-35. PV/ 193CUỘC KHỔ NẠN.. 89
LễLá-36. PV/196- TỘI LỖI CỦA TA.. 90
LễLá-37. PV/197- THÁI ĐỘ.. 91
LễLá-38. CSTM / 101- VỤ ÁN.. 92
LễLá-39. HRK / 88- VÀO THÀNH.. 94
LễLá-40. ĐỨC GIÊSU KITÔ LÀ ĐẤNG THIÊN SAI 96
LễLá-41 Tuần lễ mang lại ơn Cứu độ - Lm Trần Bình Trọng. 98
LễLá-42. Đức Giêsu ban ơn cứu độ - Lm. Đan Vinh/ dẫn lễ. 99
LễLá-43. Đức Giêsu chịu đóng đinh trên thập giá - JKN.. 105
LễLá-44. Những khuôn mặt môn đệ – Gier. Nguyễn Văn Nội 109
LễLá-45. Suy Niệm của Lm. Trọng Hương. 113
LễLá-46. NHỮNG CHIẾC LÁ PHẤT PHƠ - Lm. VIKINI 114
LễLá-47. Hoan hô con Vua Đavít - Huyền Đồng. 116
LễLá-48. Đức Giêsu chịu đóng đinh trên thập giá - JKN.. 118
LễLá-49. Cuộc thương khó của Chúa Giêsu. 120
LễLá-50. Nghịch lý của Thập Giá. 124

 

Lễ_lá-1: Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem

Mt 21,1-11
A. Hạt giống...
 

Bài Tin Mừng tường thuật việc Chúa Giêsu chuẩn bị vào thành Giêrusalem và cuộc đón rước: Lễ_lá-1

Bài Tin Mừng tường thuật việc Chúa Giêsu chuẩn bị vào thành Giêrusalem và cuộc đón rước Ngài vào thành :
- Về việc chuẩn bị : chính Chúa Giêsu chỉ dẫn mọi chi tiết cho các môn đệ, bởi vì cuộc vào thành có ý nghĩa rất quan trọng nên Ngài phải đích thân thu xếp. Việc chuẩn bị được thực hiện trong vòng bí mật, vì khi đó bầu khí rất nguy hiển, những lãnh tụ do thái đang tìm bắt Ngài.
- Chúa Giêsu cởi lừa tiến vào thành để cho thấy Ngài chính là Vua Messia. Nhưng Ngài không cởi ngực mà cởi lừa để cho thấy Ngài không phải là một vị vua chiến tranh nhưng là một vị vua hòa bình.
B.... nẩy mầm.
1. Tất cả mọi việc làm của Đức Giêsu đều hướng về việc tiến vào Giêrusalem hôm nay. Vào thành này, Ngài sẽ bị bắt, bị hành hạ và giết chết. Nhưng bởi vì đó là sứ mạng của Ngài nên Ngài không ngại và còn vui mừng khi việc này sắp được thực hiện. Ngài quan tâm đến nỗi đích thân thu xếp từng chi tiết nhỏ.
Ước gì chúng ta cũng không bao giờ quên sứ mạng của mình và làm mọi việc để cho sứ mạng ấy được hoàn thành, cho dù hoàn thành bằng cái giá là những đau thương khổ sở.
2. Đức Giêsu là vua, nhưng không giống những ông vua trần thế thích chiến tranh, ưa thống trị, mà là một vị vua khiêm tốn và hiền lành cỡi trên lưng một con lừa nhỏ.
Đức Giêsu là vua đang “cai trị” chúng ta, không bằng uy quyền và kỹ luật sắt, mà bằng tình thương. Lẽ ra chúng ta phải vì thế mà kính mến Ngài, nhưng chúng ta lại vì thế mà coi thường Ngài !
3. Bắt đầu Tuần Thánh, Giáo Hội trình bày Đức Giêsu là vua. Chúng ta phải luôn nhớ điều căn bản này khi theo dõi những diễn biến trong cuộc chịu nạn của Ngài : dù Ngài bị bắt, bị đánh đòn, bị nhục mạ và bị giết chết, Ngài vẫn là vua và mãi mãi là vua. Bởi vì một vị vua đích thực phải là người yêu thương chăm lo cho dân mình, cho dù phải hy sinh bất cứ điều gì.
4. Một ông vua nọ muốn nhìn thấy Chúa. Ông đe dọa tất cả các linh mục và các nhà thông thái là nếu không chỉ cho ông thấy Chúa, họ sẽ bị trừng phạt nặng nề.
Trong lúc các vị suy nghĩ tìm cách, thì một người chăn cừu dẫn vua đến bãi cỏ, chi lên mặt trời và nói : “Hãy chăm chú nhìn”. Vua cố gắng cách cực khổ rồi gục đầu xuống và hét lên : “Ngươi muốn cho Ta mù phải không ?”
- Tâu bệ hạ, mặt trời chỉ là một tạo vật của Chúa, một hình ảnh mờ nhạt của Người. Nếu ngài không thể nhìn vào mặt trời, làm sao ngài có thể nhìn vào Chúa. (Góp nhặt).
5. Mầm khác :

 

Lễ_lá-2: CON ĐƯỜNG THƯƠNG KHÓ

 “Con người ra đi như đã viết về người”
 

Phụng vụ hôm nay nói được là đã đọc lại cho chúng ta 3 bài “Thương Khó" của Chúa Giêsu: Lễ_lá-2

Phụng vụ hôm nay nói được là đã đọc lại cho chúng ta 3 bài “Thương Khó" của Chúa Giêsu: một bài của tiên tội lsaia, một bài của Thánh Phaolô và một bài của Thánh Mathêô.
 Vào thế kỷ thứ VI, dưới thời Lưu đày, một nhằn đại tiên tri xuất hiện. Đó là tiên tri lsaia, một nhân tài và một nhà chiếm nghiệm. Qua bức màn thời gian, người thấy hình bóng một người “đầy tớ” vô tội và đau khổ. Ngài mô tả một cách chính xác đến nỗi người ta có cảm tưởng sự kiện được viết ra dưới chân thập giá mặc dầu thế kỷ đã trôi qua. Cuộc tử nạn theo Isaia là một bản tiền Phúc âm, là chóp đỉnh mạc khải về đấng Messia, Đấng “Tôi tớ đau khổ” đã đến dạy cho chúng ta ý nghĩa sự đau khổ. "Tôiôi đã đưa lưng cho kẻ đánh tôi, đã đưa má cho kẻ giật râu, tôi đã không che dấu mặt mũi, tránh những lời nhạo cười và những người phỉ nhổ” (Is 50); “Chân tay tôi chúng đã chọc thủng...có thể đếm được mọi đốt xương tôi” (Tv 21,17-18), lời của nhà Thánh vịnh.
Thánh Phao lô. nói về cuộc tử nạn của Chúa Giêsu bằng một bài ca tuyệt diệu trong thánh thư gửi giáo đoàn Philiphê. Ngài mô tả con đường đi của Con Thiên Chúa, từ Đức Chúa Cha xuống đến thân phận một tôi đòi, từ Ngôi Lời hiên Chúa đến một người phàm hèn chịu khổ hình chết trên thập giá; để rồi lại trở về với Thiên Chúa trong vinh quang, được suy tôn là Chúa tể trên trời dưới đất. Và Thánh Tông đồ kết luận bằng lời kêu gọi: "Anh em haỹ có nơi anh em tâm tư như đã có Kitô Giêsu"
Sau cùng, thánh Mathêô mô tả cuộc tử nạn của Chúa Giêsu như một chứng nhân. Cuộc tử nạn ấy xảy ra, nếu đem đối chiếu với các tường thuật khác và ngày thứ sáu mồng 7 tháng tư năm 30, ngày áp lễ Vượt qua Do Thái hay là ngày 14 Nisan. Tuy nhiên, Thánh nhân không chú trọng đến giòng lịch sử biên niên, cho bằng ý nghĩa của cuộc tử nạn dưới ánh sáng của Thánh Kinh. Người nhắc đi nhắc lại rằng biến cố xảy ra "để ứng nghiệm lời các Tiên tri ".
Cuộc thương khó khởi đầu với bữa tiệc Pasca, ở đó Chúa Giêsu lập phép Thánh Thể. Chúa báo trước các môn đệ sẽ bỏ Ngài, để ứng nghiệm lời tiên tri Giacaria: "Ta đánh kẻ chăn và đoàn chiên tan tác” (13,7)  Ngày hấp hối, mồ hôi chan hòa lẫn máu, như lời Thánh vịnh: “Trong tôi, tâm hồn tôi tan vỡ” (42,7). Ngài bị bắt và dẫn đi giữa bóng đêm như một tên gian phi, “để ứng nghiệm lời các Tiên tri đã loan báo”, “Người bị kể người gian hiểm” (Is 53,12)
Trong ngày thứ Sáu tử nạn, Ngài đã tuyên xưng danh tánh trước của án Caipha bằng lời tiên báo của Đanien: “các ngươi sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Tối Cao và sẽ đến trên mây trời” (Dn 7,13). Chính cái hiên ngang tuyên bố ấy trước tòa án đã định đoạt số phận của Ngài: “Nó đáng chết”.
 Và trong dinh Philatô, mọi diễn tiến đều được Thánh Kinh ám chỉ. Người im lặng (Is 53,7) khi quan tổng trấn rửa tay (Nhị Luật 21,69), dân chúng la ó: “Máu người này đổ xuống trên chúng tôi, chúng tôi cam chịu” (2S 1,16). Trên thập giá, Ngài bị uống dấm chua pha mật đắng (Tv 69, 22); áo xống bị phân chia (Tv 22,19); Ngài kêu lớn tiếng (Tv 22,2) giữa tiếng nguyền rủa của dân chúng (Khôn ngoan 2,18-20) .
Ngài vừa tắt thở thì màn trong đền thờ xé thành hai, tăm tối bao phủ, đất chuyển động, nhiều người thời xưa sống lại. Xác Ngài được chôn cất trong phần mộ một người bạn giàu có. Tất ca, nhất cử nhất động, đều diễn ra cheo Thiên ý của Đức Chúa Cha (ls 53,9).
Cuộc Tử nạn thật bi ai thảm thiết, nhưng là để ứng nghiệm chương trình tình yêu Của Thiên Chúa đối với nhân loại. Chúa yêu thương ta tận cùng, ta hãy đáp đền lại. Dưới thời Hoàng đế Nêron, Giáo hội bị bắt bớ gắt gao. Phêrô, vị thủ lãnh bị tầm nã, định rời khỏi thành Roma một thời gian cho qua cơn sóng gió. Trên con đường Annia, Ngài gặp hình bóng Thầy đi vô. Phêrô hỏi: “Thầy đi đâu? Quo vadis?” Chúa trả lời: “Thầy đi vào thành Roma để chết thay cho con”. Phêrô hiểu ý quay gót trở lại, chấp nhận mọi gian khổ, củng cố Đức Tin anh em và chết năm 67.
Mỗi người chúng ta đều được mời đi lại con đường thương khó của Chúa. Mỗi người chúng ta đều có một ngày thứ Sáu tử nạn. “Xin Chúa ban cho chúng ta biết noi  loài học nhẫn nhục của Người và được thông phần sự sống lại của Người” (Lời nguyện)
Chúa nhật Phục sinh

 

Lễ_lá-3: CUỘC KHỔ NẠN

Mt 26,14 - 27,66
 

Trong khi viết câu chuyện về Cuộc Khổ Nạn, Mátthêu trước hết không thực hiện một bài: Lễ_lá-3

 Trong khi viết câu chuyện về Cuộc Khổ Nạn, Mátthêu trước hết không thực hiện một bài phóng sự, hay một biên niên xử án, về hai mươi bốn giờ sau cùng của Đức Giêsu. Ông thực hiện một giải thích thần học về một biến cố chính yếu. Khi ông biên soạn,  thì ông biết rằng người chịu khổ hình thập giá là người được sống lại. Ông nêu ra, trong truyện kể nhiều trích dẫn kinh Thánh để chứng minh rằng Thiên Chúa hướng dẫn tất cả lịch sử. Ông không tìm cách làm cho chúng ta xúc động nhưng làm cho chúng ta thờ phụng: chịu biết bao tủi hổ, Đức Giêsu vẫn là Đức Chúa uy nghi và chủ tể, là người làm chủ các biến cố...
Ngày thứ nhất trong Tuần Bánh không men, các môn đệ thưa với Đức Giêsu: "Thầy muốn chúng con dọn cho Thầy ăn lễ Vượt Qua ở đâu?  Người bảo: "Các anh đi vào thành đến nhà một người kia và nói với ông ấy: Thầy nhắn, thời của Thầy đã gần đến, Thầy sẽ đến nhà ông ấy để ăn mừng Lễ Vượt Qua với các môn đệ của Thầy."
Cuộc giáo đầu thật trang trọng. Sự thấy trước thuộc về thiên tính của Đức Giêsu được nhấn mạnh:  “thời giờ của Thầy đã gần Người biết rằng điều gì đang đến. Đó là Lễ Vượt Qua, cuộc đi qua.
Tính vô danh của ngôi nhà này, ngôi nhà của  một ai Đó mời chúng ta trở nên “người Đó" Đức Giêsu ước ao ăn Lễ Vượt Qua với các môn đệ của Người .  
“Thầy bảo thật anh em, một người trong anh em sẽ nộp Thầy". “Có phải con không, Thưa Thầy?". "Chính anh là ngươi đã nói điều Đó."
Đức Giêsu không phán đoán, không kết án: Chính anh là người đã nói điều Đó người có tội tự chỉ mình Đức Kitô chỉ khiến người ta trở về với lương tâm mình. Hai lần khác chúng ta sẽ nghe từ miệng Chúa nói ra câu này:
Chính anh là người đã nói điều ấy. Về chuyện thượng tế (Mt 26,64), và về Philatô (Mt 27,11) mỗi người phải nhận lấy trách nhiệm của mình bạn phải thấy, bạn phải nhận lấy trách nhiệm của mình bạn phải thấy, bạn phải quyết định! Điều Đó được nhắc lại cho chúng ta.
Trong bữa ăn, Đức Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho môn đệ và nói: "Anh em hãy cầm  lấy mà anh, đây là mình Thầy" rồi Người lấy chén, dâng lời tạ ơn trao cho môn đệ và nói: "Tất cả anh em hãy uống chén này, vì đây là  máu Thầy, máu Giao ước, đổ ra cho muôn người được tha tội”. Thầy bảo cho anh em biết: từ nay Thầy không còn uống thứ sản phẩm này của cây nho, cho đến ngày  Thầy cùng anh em uống thứ rượu  mới trong Nước  của  Cha Thầy”
 Đức Giêsu hoàn toàn biết Người sắp chết: Đó là bữa ăn cuối cùng của Người.. ly rượu tình bạn hữu cuối cùng, Người nói: Thầy không còn uống thứ sản phẩm của cây nho này nữa thế mà cái chết gần kề này lại không gây nên nơi Người một tình cảm hồi hộp hay sợ hãi nào; Người chúc tụng Cha, cảm tạ.. người "cử hành lễ Thánh Thế", Người cám ơn Cha tại sao ? Trong khoảnh khắc này, nội dung của lời cảm tạ này là gì ? Những tiếng được nhấn mạnh trong câu Đức Giêsu thốt ra cho chúng ta đối tượng của lời khen ngợi này, lời được phát ra từ cõi lòng Người vào giờ phút cô đọng ngoại lệ này, và cũng chính là lời, trong các nghi thức Thánh Thế Chúa Nhật, mãi mãi được thực hiện Đức Giêsu cảm tạ vì Giao ước kỳ diệu giữa Thiên Chúa và loài người... vì sự phong nhiêu trong cái chết của Người sẽ cứu giải nhiều người... vì sự tha tội mà thập giá của Người tác động... vì sự hoàn tất của Nước Chúa, một ngày kia, trong ánh sáng của Thiên Chúa, khi sẽ không còn nước mắt, kêu khóc và tang chế.
Tiệc Thánh Thế, chính là bữa ăn của những người tội lỗi... chính là sự thứ tha được dành cho mọi người... Đức Giêsu biết rằng tất cả mọi người đều là những tội nhân (tất cả họ sắp bỏ Người trong ít phút nữa, ngay sau lễ hiệp thông đầu tiên của họ) Đức Giêsu biết rằng cộng đoàn Giáo Hội của Người gồm có những đàn ông và đàn bà không trung tín, một tập đoàn những tội nhân, thực như thế các Kitô hữu không phải là những người tốt hơn những Người khác họ chỉ có một cơ may duy nhất, là đến dự bữa ăn và lễ hiến tế được dâng lên để tha tội, để tha thứ tội lỗi của họ.
Hát Thánh Vịnh xong, Đức Giêsu và các môn đệ ra đi lên núi Ôliu.
Bằng tình yêu có lẽ chúng ta phải hát Thánh Vịnh, nhưng bài Thánh ca được linh ứng mà chính Đức Giêsu đã hát: chiều tối hôm ấy, tôi nghe thấy tiếng thật hay của Người đang hát... và tối ngâm nga lập lại những tiếng Ngài đã hát. Giờ kinh Thánh Vịnh, chính là lời cầu nguyện của Đức Giêsu.   
Đức Giêsu nói với các ông: “Đêm nay tất cả anh em sẽ vấp ngã vì Thầy... Nội đêm này gà chưa gáy, thì anh đã chối Thầy ba lần."
Tất cả những ai theo Đức Giêsu đều  được thử thách. Thử thách đặc biệt của các môn đệ Đức Giêsu, chính là thử thách về đức tin ngã xuống, vấp té trên những đau khổ của Đức Kitô chính ông Phêrô, cho dù vai trò của ông và sự vững vàng của ông, không thoát khỏi thử thách này.
Đức Giêsu đi cùng với các ông một thửa đất tên là Ghếtsêmani người nói với các môn đệ: “Anh em ngồi lại đây, Thầy đến đàng kia cầu nguyện" rồi Người đưa ông Phêrô và hai người con ông Zêbêđê đi theo người  cảm thấy buồn rầu xao xuyến. Bấy giờ Người nói với các ông: "Tâm hồn Thầy buồn đền chết được. Anh em ở lại đây mà canh thức với Thầy Người đi xa hơn một chút, sấp mặt xuống đất mà cầu nguyện rằng: "Lạy Cha,  nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uổng chén này. Tuy vậy xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha".
Cơn hấp hối của Đức Giêsu tại vườn ôliu chỉ là lời nguyện lâu dài, theo Thánh Mátthêu.. Năm lần, Người nói lên tiếng: cầun nguyện! Đức Giêsu hấp hối đang lúc cầu nguyện. Đức Giêsu hấp hối trong lúc sống kết hợp mãnh liệt với Cha Ngài. Nhưng vì thế, Đức Giêsu cũng sống cơn hấp hối với những thân thuộc của Người: ba lần Người trở lại với họ để mời họ cùng cầu nguyện với Người, canh thức với Người (Mt 26,36 ; 38,40).
Khi Đó Giua, một người trong Nhóm Mười Hai đã đến.. cùng với đám đông người mang theo gươm giáo gậy gộc.. “Này bạn, bạn đến đây làm gì thì cứ làm đi"... Anh tưởng là Thầy  không thể kêu cứu với Cha sao? Người sẽ cấp ngay cho Thầy hơn mười hai đạo binh thiên thần nhưng như thế thì nói Kinh Thánh ứng nghiệm sao được? Vì theo Đó mọi sự phải xảy ra như vậy?
Và Mátthêu đã đan dệt chuyện ông kể bằng những đoạn trưng dẫn Kinh Thánh. Không, cuộc Khổ Nạn của Đức Giêsu không phải là một tai nạn lịch sử bất hạnh Đó là hoàn tất một dự tính huyền nhiệm của Thiên Chúa, đã được tiên liệu và lưu ý từ lâu. Thiên Chúa không bị bất ngờ bởi thập giá chính Người đã muốn và đã quyết định như thế.. Người sẽ không phái các cơ binh thiên thần đi, Người cũng không cần đến phép lạ như thế, làm sao chúng  ta có thế nghĩ rằng tất cả mọi chuyện có thế phải diễn ra một cách khác trong cuộc đời chúng ta.. Lạy Chúa, xin  giúp chúng con sống những thử thách của chúng con, những  sự bỏ buộc chúng con, ngõ hầu chúng con  tuân phục một cách tự do ý chí nhiệm mầu của Chúa Cha.. đấng không ngừng yêu thương chúng con không ngừng yêu mến Con của Người trên thập giá.. đấng chịu đau khổ với Người, Đấng Cứu độ cùng với Người
Bấy giờ các môn đệ bỏ Người mà trốn đi hết. Họ  bắt Đức Giêsu, rồi điều đến thượng đế Caipha các  kinh sư và kỳ mục tề tựu sẵn Đó: 
Phêrô theo xa xa và bước vào trong sân để xem sự việc kết thúc thế  nào... những nhân chứng gian trá cáo giác Đức Giêsu đã nói rằng Người có thế phá huỷ Đền Thờ và xây lại trong ba ngáy.
Nhưng Đức Giêsu vẫn làm thinh. Vị Thượng tế nói với Người: "Nhân danh Thiên Chúa hằng sống, tôi truyền cho ông phải nói cho chúng tôi biết ông có phải là Đức Kitô Con Thiên Chúa không?”. Đức Giêsu trả lời: “Chính Ngài vừa nói. Hơn nữa tôi nói cho các ông hay: từ nay, ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng và ngự giá mây trời mà đến..." 
Vâng đấy vẫn là một câu trích dẫn Kinh Thánh người ta trịnh trọng khẩn khoản xin Người đừng nhận căn tính cuả mình, Đức Giêsu đã dùng một câu trích từ ngôn sứ Đanien (7,13) để trả lời. Người nhận mình là Đấng Mêsia được người ta trông đợi, nhưng Người cũng làm cho người ta cảm thấy rằng Người không phải là Mêsia theo các chuẩn mực của các phán quan về Người: chính trong tư thế của Người bị cáo tử hình, mà Người dám tuyên bố rằng từ nay trở đi sự hiện tỏ của người, sự quang lâm của Người gần đến. Chính khi Đó xảy đến việc Phêrô chối Chúa và ông đã sám hối.. rồi đến việc Giuđa tuyệt vọng... sắp tự treo cổ vì lòng hối hận khi thấy Đức Giêsu bị kết án, và anh thú nhận: "Tôi đã phạm tội giao nộp một người vô tội cho cái chết”. Giuđa thật  đáng thương! Đức Giêsu có lẽ đã quá tốt với anh, nếu anh đã biết khóc lóc thảm thiết, như Phêrô đáng thương. Huyền nhiệm tự do của con  người, có thế tự nhận mình có tội, và Đó là một điều trọng đại khi nói được tôi đã phạm tội...nhưng cũng có thể tuyệt vọng, nghĩa là thông tin vào lòng thương xót của Thiên Chúa.
Sáu vụ kiện thứ nhất, về tôn giáo, trước thượng tế Cai pha và Thượng Hội Đồng.. Bây giờ là vụ kiện thứ hai, về dân sự, trước viên tổng trấn Rôma là Philatô. Khác với các nhà chức trách Do Thái, viên chức  ngoại  giáo này, đã làm mọi cách để  cứu Đức Giêsu.
-Ông ta cố thả Đức Giêsu bằng cách đánh đổi một tù nhân khác, là Baraba...
 -Người vợ của Philatô đến biện hộ với chồng bà để ông ta không nhúng tay vào cái chết này.
-Sau cùng, Philatô ra tay, để có ý nói rằng ông ta không chịu trách nhiệm về tội ác (của giới lãnh đạo tôn giáo)
Thực sự trong chính cơn tuyệt vọng không làm cho Đức Giêsu được miễn tố mà viên tổng trấn cuối cùng phải thuận theo những tiếng kêu gào của đám đông trong cuộc Khổ Nạn, chính Đức Giêsu thực sự là trung tâm điểm. Dầu vậy cũng cần phải lưu ý về những danh hiệu được người tạ đặt cho Người bốn mươi lần, người được gọi tên Giêsu, như muốn nói cho chúng ta, vào thời điểm đặc biệt này, ý nghĩa theo nguyên tự của tiếng này (Yeshoua, tiếng Do Thái) và Đó cũng là tên mà các thiên thần đã đặt ngay từ đầu: Thiên Chúa Cứu Độ (Mt l,23). Và về sau, người ta cũng đặt " tên Người bằng danh hiệu Con Thiên Chúa (Mt 26,63 ; 27,40-43-54) và hai tiếng “Cha tôi”  có tác dụng nhấn mạnh đến sự hiệp thông trọn vẹn với ý muốn của Thiên Chúa, tức là  tập trung ý nghĩa vào Cuộc Thụ Nạn (Mt 26,29 – 39-42-53).
Sau hết, nạn nhân bị nhạo báng bởi con người lại được chào bằng "Đức Chúa" (Mt 26,22). Và Đức Giêsu, thực sự, không ngưng hành xử theo phẩm giá thần thánh này. Người biết, Người ra lệnh, Người thống trị hoàn toàn các biến cố (Mt 26,10-19-25-50-52-54) Mátthêu  muốn gợi cho chúng ta thấy sự vĩ đại khôn tả của Đấng chịu đau khổ và chết, đã khiến xảy ra một hiện tượng địa chấn, cuộc động đất, và nhấn mạnh đến chiêu kích vũ trụ của sự cố diễn ra (Mt 27,51-54) ba lần khác, ông xử dụng từ địa chấn này (Mt 8,24 - 21,10 – 28,2). Khi nghe đọc về cuộc khổ nạn, khi suy niệm một cách cá nhân,  ta đừng nên chỉ dừng lại mức độ nhạy cảm và đau khổ của con người mà thôi. Ta hãy để cho tâm tình thờ phụng và cảm tạ hồng ân cuốn hút chính ta đi nữa!

 

Lễ_lá-4: ĐỨC GIÊSU LÀ NGƯỜI TÔI TỚ CỦA THIÊN CHÚA

GỢI Ý GIẢNG
. Lên và xuống.
 

Đoạn thư Philipphê ngầm so sánh Đức Giêsu với Adam và nói lên cái nghịch lý giữa: Lễ_lá-4

Đoạn thư Philipphê ngầm so sánh Đức Giêsu với Adam và nói lên cái nghịch lý giữa "lên" và "xuống": Adam đã muốn lên "bằng Thiên Chúa" và kết quả là đẩy loài người xuống vực sâu. Còn Đức Giêsu tuy vẫn là Thiên Chúa mà không nhất quyết phải đòi cho luôn luôn được ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã khước từ tất cả, mặc lấy thân nô lệ thấp hèn". Kết quả là Thiên Chúa đã siêu tôn Ngài và tặng ban chính hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu...” Thật đúng như lời Đức Giêsu đã nói “Ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống, ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên.”
Chúng ta cũng thường theo con đường của Ađam tưởng rằng khẳng định được mình khi nâng mình lên trước mặt những người khác. Những cái "mình" mà ta khẳng định ấy chỉ là những dáng vẻ bề ngoài chứ không phải là bản thân thực sự của mình. 
Hãy theo con đường của Đức Giêsu, con đường vâng lời và từ bỏ. Qua con đường này, Ngài đã được Thiên Chúa tôn lên làm Đức Chúa.
Thánh Phanxicô Assisi dã xác tín điều ấy: "Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân".
2. Bài học của Đức Giêsu chịu đau khổ. 
Chúng ta nghĩ gì khi nghe bài tường thuật cuộc thương khó của Đức Giêsu? Phải chăng chúng ta xúc động vì một người vô tội mà phải gánh chịu biết bao đau khổ như thế? Phải chăng chúng ta giật mình nhìn lại bản thân để xem coi mình thuộc về loại "cây khô" gồm những kẻ lạnh lùng hành khổ Ngài, hay "cây xanh”  đang vui lòng chịu khổ như Ngài?
Nhưng còn một bài học khác đáng chúng ta để ý hơn: Đức Giêsu đã tha thứ cho tất cả những kẻ làm khổ Ngài, những người có mặt hôm đó cũng như những người của các thế hệ về sau, trong đó có chính chúng ta nữa.
Bài học Chúa dạy là phải liên kết lại cả 3 yếu tố: đau khổ, tình yêu và tha thứ.
3. Lời nguyện xin tha
Trong trại tù Auschwitz, một trại tù nổi tiếng của Đức Quốc Xã giam giữ những người Do thái, người ta đã tìm được một lời cầu nguyện rất cảm động như sau: Lạy Chúa, xin đừng chỉ nhớ đến những người thiện chí, mà hãy nhớ cả những kẻ ác tâm.
Đừng chỉ nhớ những nỗi khổ đã đổ dồn xuống chúng con, mà cũng hãy nhớ đến những hoa trái mà các đau khổ ấy đã sinh ra cho chúng con: tình bạn chân thành, sự khiêm tốn, lòng can đảm, tính quảng đại và con tim nhân ái.
Khi những người hành hạ chúng con phải ra trước toà Chúa phán xét, xin cho tất cả những hoa trái ấy thành những lời xin ơn tha thứ cho họ.
4. Xử án Thiên Chúa
Tôi có một giấc mơ. Tôi mơ thấy ngày tận thế. Hàng tỉ tỉ người tập trung tại một cánh đồng rộng lớn trước toà Thiên Chúa để chờ Ngài xét xử. Nhiều người sợ hãi. Nhưng nhiều khác nổi giận.
Một phụ nữ nói: "Sao Chúa có thể xét xử chúng tôi được? Ngài có biết gì về đau khổ đâu! Chúng tôi đã phải chịu khủng bố, đánh đập, tra tấn và giết chết?” Vừa nói bà vừa vạch tay áo cho thấy một con số do một trại tập trung Đức quốc xã xâm vào cánh tay bà.
Tiếp theo, một người đàn ông da đen cúi đầu xuống, để lộ một sợi dây thừng đang quấn quanh cổ ông: "Tôi đã bị buộc cổ như thế này chỉ vì tội làm người da đen, bị rứt khỏi những người thân yêu, rồi bị dẫn xuống chiếc tàu chật cứng như nêm, bị bán làm nô lệ, làm việc nặng nhọc cho đến chết".
Sau đó, một cô gái với dòng chữ  “con hoang" khắc trên trán lên tiếng: “Tôi phải chịu đựng sự sỉ nhục này vượt sức... vượt sức...” Cô nghẹn ngào không nói tiếp được.
Nhiều tiếng nói khác tiếp theo... Mọi người đều trách Chúa vì những khổ đau họ đã gánh chịu khi còn sống. Ngài sung sướng quá vì cứ sống ở trên trời chỉ toàn ngọt ngào và sáng láng, chẳng hề có một chút mồ hôi, nước mắt, đói khát, sợ hãi, hận thù. Bởi vậy Ngài có biết gì về những nỗi khổ của loài người đâu?
Thế rồi họ nhất trí xử Ngài phải xuống sống ở trần gian. Tuy nhiên phải làm sao cho Ngài sống y như một người thường không ai biết Ngài là Thiên Chúa, và cũng không cho Ngài sử dụng quyền phép Thiên Chúa của Ngài. Rất nhiều góp ý được đưa ra:
-Hãy cho Ngài làm một người Do thái.
-Làm sao cho người ta nghĩ Ngài là một đứa con hoang, để không  biết Cha thật của Ngài là ai.
-Ngài phải làm việc rất bận rộn đến nỗi bà con Ngài tưởng Ngài bị mất trí.
-Ngài phải nếm nỗi đau bị những bạn thân nhất phản bội.
-Ngài phải bị đưa ra một toà án có sẵn bảng luận tội Ngài.
-Ngài phải bị kết án là tay lừa đảo và bị xử tử.
-Trước khi chết, Ngài còn phải nếm mùi tra tấn và lăng nhục.
-Cuối cùng phải cho Ngài biết cảnh chết trong hoàn toàn cô đơn là khủng khiếp đến mức nào
-Lời góp ý cuối cùng đưa ra xong, mọi người im lặng... Và bỗng nhiên họ nhận ra rằng Chúa đã thi hành bản án ấy của họ từ lâu?

 

Lễ_lá-5: Chúng con hãy làm việc này mà nhớ Thầy

Trích Chúa nhật lễ lá tập I
 “Chúng con hãy làm việc này mà nhớ Thầy”.
 

Đó là mục đích Chúa Giêsu lập Thánh lễ Misa, mà chúng ta dự hằng ngày. Mỗi sáng chúng ta: Lễ_lá-5

Đó là mục đích Chúa Giêsu lập Thánh lễ Misa, mà chúng ta dự hằng ngày. Mỗi sáng chúng ta đi dự Thánh lễ, là mỗi sáng ta cùng nhau nhắc lại việc Chúa Giêsu đã thương yêu chúng ta, chết vì chúng ta, chẳng những hiến mình để đền tội cho ta, còn hiến chính mình Ngài làm của ăn nuôi dưỡng nhân loại qua các thời đại. Và cũng để hiện diện thực sự giữa chúng ta mọi ngày cho tới tận thế.
Tuy nhiên trong một năm, Giáo Hội còn dành riêng một tuần lễ, gọi là Tuần Thánh. Tuần Thánh bắt đầu từ Chúa nhật lễ lá, để cử hành những nghi thức phụng đặc biệt, nhắc lại cuộc tử nạn Chúa, thôi thúc các tín hữu lưu ý tới các chi tiết của cuộc khổ nạn này.
Chúa vào Giêrusalem cách trịnh trọng,
Chúa lập Bí tích Thánh Thể,
Chúa tử nạn trên Thập giá,
Chúa được an táng trong mồ,
và Chúa sống lại hiển vinh.
Chúng ta tưởng niệm cuộc tử nạn Chúa cảm tạ Chúa đã yêu chúng ta, mà sẵn sàng chịu mọi đau khổ vì ta.
Chúng ta tưởng niệm cuộc tử nạn Chúa để nhận ra tội lỗi chúng ta, cũng như tội lỗi mọi người thật nặng nề, nặng nề tới nỗi đã gây ra cái chết của con Thiên Chúa, của một đấng cao cả quyền năng vô cùng.
Chúng ta tưởng niệm cuộc tử nạn Chúa để suốt đời ta, ta biết vui lòng đón nhận mọi Thánh giá Chúa gửi đến cho ta. Không bao giờ chúng ta được thắc mắc: Tại sao Chúa lại muốn thế! Tại sao Chúa định thế! Lý do: chính con Thiên Chúa, xuống thế làm người, mà Thiên Chúa Cha còn bắt Ngài phải vâng lời cho đến chết, chết ô nhục trên Thánh giá, thì chúng ta đâu có quyền thắc mắc, phàn nàn trước những khó khăn của cuộc đời ta.
Những ngày trong Tuần Thánh, chúng ta hãy sốt sắng tham dự các nghi lễ tưởng niệm cuộc khổ nạn Chúa, để xin Chúa cho chúng ta biết thông cảm những đau khổ Chúa đã chịu, biết xa lánh tội lỗi, đền đáp công ơn Chúa, và nhất là xin Chúa đừng để cho hiệu quả ơn cứu chuộc trở thành vô ích đối với phần rỗi chúng ta.

 

Lễ_lá-6: Đức Giêsu đến Jêrusalem

Ngày CN Lễ Lá, chúng ta đọc một trang trong tin mừng theo thánh Gioan: Hôm sau, dân chúng: Lễ_lá-6

Ngày CN Lễ Lá, chúng ta đọc một trang trong tin mừng theo thánh Gioan:
Hôm sau, dân chúng lại lũ lượt tuôn đến mừng lễ. Thoạt nghe tin Đức Giêsu đến Jêrusalem, họ cầm nhành lá thiên tuế ra đón người và reo hò: Hoan hô! Hoan hô! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Chúa! Chúc tụng vua Israel".
Đức Giêsu gặp một con lừa nhỏ, liền cỡi lên như có lời chép: "Hỡi thiếu nữ Sion, đừng sợ! Này Đức Vua của ngươi ngự đến, ngồi trên lưng lừa con”.(Zac. 9,9)
Lúc đầu, các môn đệ không hiểu những điều ấy. Nhưng sau khi Đức Giêsu được tôn vinh, các ông mới nhớ lại lời Kinh thánh đã chép những điều đó về Người, và dân chúng đã làm cho Người đúng y như vậy"  (12,12-16).
Khi đi với lời tung hô Đức Kitô vua chiến thắng, Phụng vụ không biết đến sự đau buồn, điều này có thể hình như kỳ lạ. Biến cố Khổ nạn là cuộc chiến thắng vì từ nay trở đi Đức Giêsu đã vượt lên trên cái chết và không sợ nó nữa. Điều này giải thích tại sao ta chiêm ngắm Ngài khi Ngài can đảm và tự do đi vào thành phố đang âm mưu chống đối Ngài.
Đoạn Kinh thánh được tin mừng theo Thánh Gioan tường thuật chỉ rõ hoàn cảnh: đám đông đến Jêrusalem để mừng lễ Vượt qua của người Do Thái đươc người ta cử hành vài ngày sau đó.
Trong trình thuật này chúng ta gặp 3 nhân vật chủ chốt: đám đông, Đức Giêsu và các môn đệ.
- Đám đông: có tầm quan trọng và gồm những người trung hậu, đơn sơ, đạo đức. Những người này vào Thành thánh trước để "được thanh tẩy", sống lễ Vượt qua với sự trong sạch mang tính chất phụng tự, nghi thức và luân lý.
- Những người đau khổ về những sự dữ thường ngày: bệnh tật, nghèo khổ, không có công ăn việc làm, những thảm kịch gia đình. Ho còn chịu đau khổ vì những áp lực chính trị trong xứ sở, áp lực thuế má quá đáng, nạn tham nhũng, trộm cắp, làm băng hoại xử sở. Sự đau khổ đưa họ đến sự mong đợi một điều gì đ tốt hơn, nhìn mỗi biến cố mới với niềm hy vọng. Bỗng nhiên đám đông được biết Đức Giêsu sẽ đến Jêrusalem mừng lễ. Nhiều lần trước đây Ngài đã từng đến thành thánh, nhưng lần này là lần cuối cùng, Ngài làm một cử chỉ táo bạo, mạnh dạn nhưng đầy nguy hiểm. Vài ngày trước đó thánh Toma tông đồ khi biết được Đức Giêsu đến Bêtania trên đường đi Jérusalem đã phải kêu lên: “Cả chúng ta nữa, chúng ta cũng đi để cùng chết với Thầy”(Gio. 11,16) . Ông hiểu rằng Thành Giêrusalem đầy dẫy những đe dọa đối với Thầy. Dẫu vậy vẫn cứ đến, thách thức lệnh của thầy Thượng tế và các thầy Pharisêu ban ra là thấy Ngài  đâu thì phải báo để họ bắt Ngài".
Ngài chấp nhận mạo hiểm và đám đông cảm động, nhiệt tình chạy đến gặp Ngài tay cầm những cành lá thiên tuế. Từ thời thượng cổ, cành lá thiên tuế là dấu chỉ chiến thắng. Trong một vài ngày lễ của người Do Thái, người ta vẩy cành lá thiên tuế để tung hô Thiên Chúa, Chúa trời đất, Thiên Chúa cứu độ dân Ngài.
Những người đứng dọc theo các đường đi đã tạo nên cuộc lễ bất ngờ này, tôn vinh Đức Giêsu nổi danh là người đại diện cho Thiên Chúa. "Hosanna" có nghĩa: “Lạy Chúa xin ban ơn cứu độ và chiến thắng. Và cũng có nghĩa: "Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Chúa".
Cuộc tiếp đón dành cho Đức Giêsu, sự kiện tung hô Ngài như vị vua và Đấng Mêsia không chỉ đơn thuần là sự tán dương tôn giáo; nó còn ám chỉ rõ ràng đến những chờ mong mang tính văn hóa và xã hội của những người không sợ hoan hô Ngài nhiệt liệt cách công khai ngay thủ đô, dưới mắt những nhà cầm quyền. Bởi vì từ nay trở đi họ mệt mỏi với một nền chính trị của những người xa lạ làm phương hai họ. Nên họ muốn một người mà họ hoàn toàn tín nhiệm.
-Đức Giêsu làm gì? Ngài đã không tránh cuộc biểu dương này như Ngài đã từng làm ở Galilê sau khi hóa bánh ra nhiều, người Do thái đến tôn phong Ngài làm vua.
Ngài tự bộc lộ qua một cử chỉ khiêm tốn, không cần nói: thay vì đi bộ vào thành, Ngài chọn việc cỡi trên lưng một con lừa, một con vật khiêm tốn, một con vật phục vụ để làm cho người ta hiểu rằng vẻ uy nghi của Ngài không phải là vẻ uy nghi chinh chiến hay thống trị, nhưng là vẻ uy nghi phục vụ.
Tuy nhiên các môn đệ "đã không hiểu". Một đàng Đức Giêsu đã không hãm lại sự phấn khởi của đám đông, như họ có thể hình dung điều đó vì những lần khác cả họ thấy Ngài đến lẩn tránh. Đàng khác, Ngài lại không buông mình theo sự phấn khởi như thế. Có lẽ, một vài môn đệ hy vọng rằng Ngài lợi dụng cơ hội để đứng đầu một phong trào quần chúng, và khôi phục lại vương quyền Israel chống lại kẻ thù.
-Các tông đồ cảm thấy cuộc sống của Đức Giêsu mang tính nhị nguyên: mặt thứ nhất làm Ngài hành động, thực hiện những dấu lạ, chiến thắng quyền lực đối nghịch. Cuộc sống đó làm ta hài lòng và ngây ngất vì ta có cảm giác hiểu được. Mặt thứ hai khởi đầu với CN Lễ Lá lại thấy Đức Giêsu không làm gì cả cho con người, Ngài không thực hiện những dấu lạ, không đọc diễn văn, không tự bảo vệ mình.
Trong thực tế, Ngài chấp nhận ý nghĩa tôn giáo của việc dân chúng phấn khởi tung hô Ngài, chứ không chấp nhận ý nghĩa chính trị của việc làm đó. Với nhiều biện phân như thế chính là điều các môn đệ không hiểu. Chỉ muộn màng sau này họ mới thấy rằng ngày hôm đó khi vào thành Jêusalem, Đức Giêsu cư xử cùng một lúc như một vị vua Mêsia, vị Chúa của lịch sử và như một Đức Chúa khiêm tốn phục vụ nhân loại
Ta ghi nhận Đức Giêsu vào thành Jérusalem với tư cách là một người tự do, thoải mái, thung dung và thanh thản. Tự do vì Ngài không bị sai khiến bởi con người, Ngài chẳng sợ ai cũng chẳng sợ chết. Tất cả chúng ta đều muốn có được sự tự do tối thượng của Ngài. Tự do của thực sự hòa hợp với chính mình, là không sợ điều người khác có thể nói và làm. Chỉ mình cuộc sống tự do mới có khả năng yêu thương, tận hiến và hiến mình.
Mầu nhiệm của Đức Giêsu được vén mở, đó là mầu nhiệm của sự khiêm nhu, đau khổ và vinh quang. Nó cũng chính là mầu nhiệm cuộc đời của chúng ta nếu ta đón nhận và cảm nghiệm từng tí một. Như Thánh Phaolô nói, đây là mầu nhiệm “bị che dấu khi mọi quyền lực thế gian này; nếu không thì họ đã không đóng đinh Đức Chúa vinh quang".
Như Thánh sử Matheu đã nói, đây là mầu nhiệm “được mặc khải cho những người bé mọn và thánh thiện", cho những ai đang sống trong đau khổ, bị áp bức và nhận ra đâu là khuôn mặt thật của Thiên Chúa
Nhưng dòng suy tư về cuộc khổ nạn và thập giá, không lẫn tránh được trong cuộc sống mỗi người, không tạo nên bước đầu tiên cũng như bước cuối cùng: nó nằm ở giữa hai thời điểm tích cực của khởi đầu và kết thúc, của sáng tạo và ơn cứu độ chung cuộc. Thập giá không phải là lời cuối cùng. Điều đó cho thấy tại sao người ta có thể  trong đau khổ và niềm vui
II. SỰ TỐI THƯỢNG CỦA LƯƠNG TÂM
Trong số nhiều trình thuật Kinh thánh mà Phụng vụ của Giáo hội đề nghị cho những ngày trước Tam nhật Vượt qua và Lễ Phục sinh, chúng ta đặc biệt chọn một bản văn trích sách Tobia trong Kinh thánh Cựu ước.
Vào thời kỳ thành Jêrusalem bị phá hủy, ông Tobit, cha của Tobia đã bị đi lưu đày cùng với những người Do thái khác sang phương đông, tại thành Ninivê, trong vùng đồng bằng hai sông Tigre và Euphrate, ông đã sống cuộc sống giản dị với một người lưu đày giàu có
“Dưới triều Asarhaddon, tôi trở lại nhà tôi nơi tôi gặp lại vợ và con trai tôi là Tobia. Vào ngày lễ Năm mươi là lễ các Tuần, tôi được một bữa ăn thịnh soạn; tôi đã ngả mình xuống dùng bữa và người ta dọn cho tôi rất nhiều món ăn. Bấy giờ tôi mới bảo con trai tôi là Tobia: "Này con, con hãy đi kiếm cho cha nơi những người anh em ta bị lưu đày ở Ninivê một người nghèo nhưng có lòng trung thành với Chúa, con hãy dẫn người đó về đây để họ dùng bữa với cha"
"Này con, cha đợi con về đó " Tobia ra đi tìm kiếm một người nghèo khó trong hàng anh em chúng tôi. Nhưng nó trở về nhanh chóng nói với tôi: "Thưa cha!" Tôi trả lời nó: "Gì đó con?”- N trả lời: Này có một người thuộc chúng ta vừa bị sát hại. Người ta đã thắt cổ anh ta và xác anh ta nằm ngoài bùng binh chợ nơi anh ta bị quăng ở đó". Tôi liền đứng dậy ngay, chưa đụng tới bữa ăn, tôi cất xác người ấy khỏi nơi đang nằm và đặt xác đó trong một căn phòng cho đến khi mặt trờì lặn, sau đó chôn cất. Rồi tôi quay trở về nhà, tắm rửa và dùng cơm trong buồn sầu khi nhớ lạo lời ngôn sứ Amos nói về Béthel: "Ta đổi những ngày lễ của các ngươi thành tang chế, những bài thánh ca thành những bài ai ca" (Am. 8,10) Và tôi đã khóc thổn thức. Khi mặt trời lặn, tôi đi đào huyệt đem chôn cái xác đó những người hàng xóm chê cười tôi mà nói:  “Hắn vẫn chưa sợ. Bởi vì hắn đã suýt mất mạng vì chuyện tương tự. Hắn đã bỏ trốn, thế mà hắn lại vừa chôn cất người chết!” (Tob. 2,1-8)
Kế đó bản văn lại tiếp tục diễn tả nhiều về những đau khổ của Tobia, một người trung tín, bác ái, rất quan tâm đến người khác. Ông bị một thử thách dữ dội nhưng đã ra khỏi cơn thử thách sau một loạt những biến cố được tường thuật trong sách Tobia.
Qua đoạn Kinh thánh trên, sứ điệp được gửi đến chúng ta đó là sự tối thượng của lương tâm. Đây là một người nghèo, bị lưu đày có thể sợ mình sẽ bị truy nã và bị bỏ tù. Đứng trước sự kiện liên quan đến người lân cận, một người anh em bị giêt, không ai muốn đụng tới, nhưng ông ta đã vâng theo tiếng lương tâm và chôn cất người bị hại, dám đương đầu với mọi hậu quả có thể xảy ra đối với cử chỉ của mình.
Cử chỉ này nhấn mạnh đến sự tối thượng của lương tâm, những giá trị mà con người cảm thấy trong nội tâm. Nhưng cũng thú vị đi tiếp con đường này cho đến việc mô tả câu chuyện Khổ nạn, lúc Đức Giêsu người Nagiareth bị hỏi cung về căn tính của mình trước mặt Thượng hội đồng, Ngài đã tự tuyến bố cách công khai mình là Con Thiên Chúa, thế là đương đầu với cái chết. Điều này cũng thuộc về tính tối thượng của lương tâm là một khía cạnh người ta gặp thấy trong thế giới hiện nay của chúng ta.
Một khái niệm giản lược về lương lâm đôi khi dẫn ta đến việc nói về lương tâm với sự hoài nghi hay khinh dễ và lẫn lộn lương tâm với tính chủ quan thuần túy: tôi hành động theo những điều mà cá nhân tôi xem như chính đáng, theo điều làm tôi hài lòng hay ích lợi cho tôi.
Trong thực tế lương tâm làm tôi nhận ra một lề luật được hoàn thành trong lòng yêu mến Chúa và yêu thương tha nhân. Một lề luật nền tảng, được Thiên Chúa truyền vào trong cõi lòng chúng ta. Lương lâm không phải là điều xảy đến cho tinh thần của ta, nhưng là nguyên lý tối thượng được nới rộng theo chiều kích của Thiên Chúa. Ta có thể gọi lương tâm là nguyên lý của tình liên đới. Sự kính trọng tha nhân, danh dự, sự liện kết. Thiên Chúa là tình yêu, sự trung tín, sự bảo đảm thiết yếu cho mọi chân lý. Ngài đi vào sự thân tình với con người và trở nên nguồn hành động và biện phân. Nên lương tâm là một cái gì không thể xâm phạm được, cũng không bông lông, kỳ lạ hay bất ngờ. Nó nhìn nhận giới răn quan trọng về lòng yêu mến Thiên Chúa và yêu thương tha nhân: những giá trị lớn của chân lý, tính lương thiện, sự công bằng, bác ái, khi được hiểu biết và cảm nhận chúng trở thành nguồn mạch sự sống, sự phán đoán và hành động cùng với Thiên Chúa.
Công đồng Vatican II đã viết: trung thành với lương tâm, người Kitô giáo liên kết với những người khác để tìm kiếm chân lý và giải quyết trong chân lý biết bao vấn đề luân lý được đăt ra trong đời sống cá nhân cũng như trong giao tiếp xã hội" (GS số 16). Lương tâm không phải là hiện tượng phân tán nhưng ngược lại nó thực hiện sự hiệp nhất. Nhân danh cũng chính lương tâm, người tín hữu và người không tin liện kết với nhau để tìm kiếm những con đường hoàn thành những giá trị như sự phục vụ, danh dự, trung thực và kính trọng tha nhân.
Người ta thường đưa lương tâm về một giọng nói nhắc nhở ta lề luật chỉ cần áp dụng là đủ. Nhưng đời sống con người có những tình huống mới lạ, những vấn đề mới mà nếu chỉ phó thác vào một lề luật trừu tượng thì lại không đủ. Trên nền tảng cơ bản của tình mến Chúa yêu người, ta nên tìm kiếm cách hành động kiểu này, nó làm cuộc sống triển nở, phục vụ sự hiệp nhất giữa các dân tộc. Kiến tạo những mối tương quan hòa bình và làm cho những người thiện chí sống hài hòa và thường xuyên đối thoại với nhau, cách hành động này tốt hơn tất cả những cách khác.
Vì mọi người có cùng một khái niệm về các giá trị, Đức Gioan 23 đã gởi một vài thông điệp cho những người đàn ông và phụ nữ thiện chí chứ không chỉ nguyên cho các Giám mục và những người Kitô hữu mà thôi.
Vì lý do này, ta nên giáo dục thế hệ trẻ thực hiện một vài chọn lựa để tránh những chọn lựa khác và để khỏi có một vài cách xử sự. Việc huấn luyện lương tâm cho giới trẻ thông qua sự thinh lặng, cầu nguyên, suy niệm, suy tư... Sự nhất dạng hóa tiếng ồn, tình trạng vô danh, làm sơ cứng và ngăn can giới trẻ tự ý thức về bản thân mình, ngăn cản họ tự tìm thấy bản thân và chú ý đến chính bản thân. Ta đang ở khúc quanh của nền văn minh tây phương và thế giới trong đó tương lai sẽ được thực hiện với lương tâm trong sáng.
Tôi thường xuyên lập lại rằng tương lai thế giới sẽ dựa trên những thông tin và trên việc quản lý tốt những thông tin. Tất cả những quyết định của con người sẽ theo chọn lựa luôn ý thức hơn và có khả năng đặt kế hoạch cho tương lai của thế giới. Tương lai của thế giới sẽ được thực hiện với ý thức, trong cuộc sống nội tâm và với khả năng nhìn nhận những gì là giá trị. Nếu ngày xưa người ta có thể hướng dẫn đám đông với những khểu hiệu mơ hồ, dùng cưỡng ép để khuất phục họ, thì từ nay trở đi chúng ta chứng kiến sự sụp đổ của những hệ thống tồn tại nhiều thập niên qua. Cá nhân tìm lại được ý nghĩa của tự do, ý nghĩa tâm quan trọng của chính họ và nối dây chống lại những cưỡng bức thuần túy bên ngoài.
Điều thường xuyên cải thiện con người phải thông qua xác tín nội tâm, ý thức, ta có được chúng qua những lúc thinh lặng, suy niệm và suy tư. Cũng như xuyên qua những mối tương quan giữa con người với nhau trong đó lương tri, việc quý trọng con người cách sâu sắc, sự thăng tiến các giá trị nổi bật lên, và qua sự liên kết, lòng trung thành, sự trung thực của những người đòi hỏi những cách ứng xử như thế. Ý thức được lan truyền qaa những cá tính mạnh mẽ đào tạo những cá tính khác. Trong những ngày trước lễ Vượt qua, giáo hội hoàn tất công việc suy niệm lớn lao bằng cách mời gọi mỗi người nhìn vào đời sống nội tâm, sự gắn bị với cái chết, những mục tiêu rõ ràng, chiều kích rộng lớn nơi quan điểm của con người và Thiên Chúa về định mệnh cá nhân, tất cả đều sáng, trung thực cho đến mức hy sinh sự sống. Nhờ đó, huyền niệm Thiên Chúa, và tình yên của Ngài được diễn tả bằng ngôn ngữ nhân loại cách rõ ràng.
III. LƯƠNG TÂM U TỐI CỦA CAIPHA
Sau đoạn trích sách Tobit ta đề cập đến một đoạn trong tin mừng theo thánh Gioan xảy ra trước việc tường thuật Đức Giêsu vào thành Jérusalem và được dân chúng tung hô. Tuy nhiên, Phụng vụ cho đọc trong những ngày theo sau CN Lễ Lá những gì diễn tả việc người ta cương quyết giêt Đức Giêsu.
Vậy các Thượng Tế là các người Pharisêu triệu tập Thượng hội đồng và nói: “Chúng ta phải làm gì đây? Người này làm nhiều dấu lạ. Nếu chúng ta cứ để ông ấy tiếp tục, mọi người sẽ tin vào ông ấy, rồi người Roma sẽ đến phá huỷ cả nơi thánh của ta lẫn dân tộc ta". Một người trong Thượng hội đồng tên là Caipha, làm Thượng tế năm ấy, nói rằng:  “Các ông không hiểu gì cả, các ông cũng chẳng nghĩ đến điều lợi ích cho các ông là: thà một người chết thay cho dân còn hơn là toàn dân bị tiêu diệt: Điều đó, ông không tự mình nói ra, nhưng vì ông là Thượng tế năm ấy, nên đã nói tiên tri là Đức Giêsu sắp phải chết thay cho dân, và không chỉ thay cho dân mà thôi, nhưng còn để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi về một mối. Từ ngày đó, họ quyết định giêt Đức Giêsu. Vậy Đức Giêsu không đi lại công khai giữa người Do thái nữa; nhưng từ nơi ấy, Người đến một vùng gần hoang địa, tới một thành gọi là Ephraim, Người ở lại đó với các môn đệ (Gio. 11,47-54)
Các thượng tế rất quan tâm đến việc Đức Gíêsu làm cho Lagiarô sống lại. Họ họp Thượng hội đồng lại (Hội đồng các quan chức Do Thái cao cấp nhất được thiết lập vào cuối thế kỷ thứ hai trước công nguyên). Chúng ta đứng trước một bản văn rất cô đọng về mặt thần học, có lẽ đây là một trong những bản văn cô đọng nhất.
Phản ứng của những người lãnh đạo dân chúng là sự hoang mang báo động: ta phải làm gì đây? Nếu điều đó tiếp diễn, ta sẽ phải làm gì?
Sợ hãi và xúc động ngự trị. Phản ứng thiếu tất cả những phân tích khách quan đối với Tình hình. Không có sự lắng nghe người khác, không có toan tính thử đặt lại những biến cố trong trật tự. Chỉ có sự sợ hãi xuất hiện chồng chéo lên nhau, lần lượt nổi lên trong buổi họp.
Những phản ứng đầy cảm xúc nuôi dưỡng nhau cho đến khi làm cho mọi người hiện diện bối rối: "Rồi người Rôma sẽ đến phá hủy cả nơi thánh của ta lẫn dân tộc ta (Gio. 11,48) Đây là trường hợp điển hình về sự hốt hoảng của một hội đồng, một nghị viện, một buổi họp công khai trong đó có sự kiểm soát và tiếp cận với tình hình thực tế đã biến mất, còn các mối xúc động lại chiếm thượng phong.
Gợi ý của Caipha chợt đến trong bối cảnh đó.
- Những lời của Caipha bên ngoài chú ý soi sáng tình hình, giải quyết những gì xảy ra: Các ông không hiểu gì cả, tôi sẽ giải thích điều đó cho các ông! Chỉ có một luồng sáng, một giải pháp đơn giản chợt xuất hiện từ tất cả những điều vừa nói.
 Lời gợi ý Caipha có thể được đọc đi đọc lại với nội dung nó rất phong phú và soi sáng lịch sử trước đó của dân Israel.
Trước hết lời cố vấn của Achitophel trong câu chuyện của David đến với Tâm trí tôi (x. 2 Sam. l7). Ông ta khuyên Absalom, con của David điều tương tự; tình trạng xảy đến đòi hỏi một người nào đó phải chết thay cho tất cả. Theo lời khuyên của Achitophel thì chính cha của Absalom phải chết! Đó là một cuộc chiếu hình mang tính thiên sai: một người nào đó phải chết thay cho tất cả để dân chúng được an bình.
Trở ngược về trước trong lịch sử Thánh Kinh, ta có thể nhận thấy bản chấtt Thánh Kinh trong lời khuyên của Caipha khi so sánh nó với lời gợi ý của con rắn trong vườn địa đàng. Con rắn nói với Eva khởi đi từ một giả thuyết dối trá: Thiên Chúa cấm bà ăn mọi thứ cây trong vườn. Nó dẫn vào một yếu tố cảm xúc và chối từ. Từ đó đi đến một chủ đề lầm lạc: nếu bà ăn trái cây này, bà sẽ trở nên giống như các thần linh.
Cũng cách tương tự như thế, Caipha lý luận khởi đi tìm một giả thuyết dối trá, từ một song đề giả dối: phải hy sinh một cá nhân hay cả một dân tộc.
Ta hiểu song để như thế giống như sự dọa nạt, khả ố khi tạo nên một tình trạng trông đợi mọi sự chọn lựa đều rơi vào trong nỗi lo âu chết người. Bạn thích một người chết hay mọi người chết.
Làm sao ngôi ta có thể trả lời một câu hỏi bi thảm như về!
Khía cạnh quỉ quyệt của nó đã đẩy hội đông đến tình trạng bế tắc hệ tại ở chỗ chọn lựa điều xấu ít hơn dưới mắt họ. Từ song luận dí trá trên người ta đi đến độc tài sai lạc: nếu các ông giựt người này, người Roma sẽ không can thiệp vào!
Lời gợi ý của Caipha được tô điểm bằng đường lối chính trị cởi mở, lý do quốc sự, và sự cần thiết phải sống còn. Nó hàm chứa cách say mê những con người liên kết mật thiết với dân tộc mình bằng cách đưa ra lời hù dọa đụng chạm đến sâu thẳm của sự sống của họ để buộc họ phải theo. Có lẽ những vị đại biểu này không xứng đáng lắm, nhưng họ yêu quí dân tộc, quốc gia mình và họ không muốn lãnh trách nhiệm chống lại tương lai của chính họ. Các lý luận quỉ quái ấy làm họ bị mắc bẫy: nếu các ông muốn cứu dân tộc thì phải hy sinh Đức Giêsu.
Ở đây bộc lộ con đường của Satan dẫn chúng ta vào ngõ cụt, nó làm ta bối rối bởi những cảm xúc không trong sạch và cắt đứt chúng ta ra khỏi thực tế. Để dứt điểm, nó dẫn ta đến những hành vi xem như đối với Ta không phải là tốt, nhưng không thể tránh được với nhưng lý do quan trọng hơn.
- Sau lời khuyên đầy kịch tính của Caipha, chúng ta ngạc nhiên về lời giải thích của thánh sử.
Gioan không đưa ra một ý nghĩa luân lý, như chúng ta thử làm. Ngài thực hiện một cú nhảy mang tính thần học, giáo thuyết, bất ngờ: “ông không tự mình nói ra...ông đã nói tiên tri"
Một chương trình hành động xuất phát từ những điều bất tất nơi con người trong đó có vô vàn những điều đáng xấu hổ xảy ra. Chẳng xá kể gì đến chúng, chương trình quan phòng của Thiên Chúa vẫn cứ tiếp diễn.
Chính vì thế tôi mới nói đoạn Kinh thánh này là một trong những đoạn cô đọng nhất và cao nhất về mặt thần học.
 Dọc thEo những điều bất tất nơi con người, chương trình cứu độ và ý định cUa Thiên Chúa vẫn cử diễn ra. bên cạnh lời khuyên quỉ quyệt của Caipha thì lại gặp thấy lời khuyên cứu độ. Cũng với mối liên hệ tương tự, lời khuyên mang tính nhân loại của Caipha được nâng lên bậc lời tiên tri, ngay cả khi những lời nói một cách nào đó mang ý nghĩa mỉa mai, thậm chí là cay độc. “Không phải ông tự mình nói ra điều đó", nhưng đtíng hơn là theo chức vụ của mình với đặc quyền là người lãnh đạo dân chúng.
Quyền năng Thiên Chúa không lật đổ ngay những chức vụ theo phẩm trật, nhưng lưu tâm nhiều đến thứ tự các tình trạng và xử dụng chúng cho mục tiêu của mình.
 "Ông nói tiên tri là Đức Giêsu phải chết thay cho dân. Và không chỉ thay cho dân mà thôi, nhưng còn để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi về một mối (Gio. 11, 51-52)
Người ta không thể diễn tả với những từ người mạnh hơn ý nghĩa hành động của Đức Giêsu và thần học cứu chuộc.
“Chết thay cho dân" là kiểu nói được chuyển sang Kinh tin kính: "Vì loài người chúng tôi, Ngài đã chết" để cứu độ chúng tôi.
Ngài làm điều đó “để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi". Ta phải suy niệm lâu dài những lời này khởi đi từ tiếng Hy lạp: quy tụ, thống nhất lại.
Còn đến với tâm trí chúng ta những lời khác của Đức Giêsu: “Jêrusalem...biết bao lần Ta muốn tập họp con cái người lại, như gà mẹ tập họp gà con dưới cánh, mà các người không chịu" (Mt. 23,37; Lời Chúa. 13,34). Hay dụ ngôn mẻ cá kỳ diệu dưới biển gom mọi loài cá lại cho sự viên mãn của ngày tận thế (Mt. 13,47). Hay "ở đâu có hai hay ba người họp nhau lại nhân danh Ta thì Ta ở giữa họ" (Mt. 18,20)
Đức Giêsu có khuynh hướng họp, qui tụ người ta lại. Đó là ý định của Ngài mà ta có thể nêu đặc tính lịch sử chứ không chỉ nguyên đặc tính thần học thiêng liêng mà thôi. Đó là qui tụ mọi dân tộc trong sự hiệp nhất, hiệp nhất sự khác biệt lại. Một dụ định như thể bắt rễ trong quan điểm hiệp nhất xuất phát từ Cựu ước, td. Sách ngôn sứ Jérímia chương 31: "Này Ta sẽ đưa chúng lại từ tận cùng trái đất để mừng lễ Vượt qua. Theo truyền thống Do Thái chịu ảnh hưởng văn hóa Hy lạp thì qui tụ những kẻ tản mác có mối liên hệ với lễ Vượt qua.
Nên ta hiểu được nền tảng thần học, thiên sai, cứu dộ khi Caipha loan báo lời tiên tri và được đón nhận. Lễ Vượt qua đã gần đến. Vào ngay thời điểm người ta hoàn tất một hành vi tội lỗi mang tính chất chính trị, dân sự và xã hội, thì Thiên Chúa lại qui tụ dân của mình theo lời hứa của Ngài, nơi Người Con của Ngài trong sự hiệp nhất giữa sự sống và sự chết, trong sự hiệp nhất sẽ như sự hiệp nhất giữa Chúa Cha và Chúa Con: " để tất cả nên một, như, lạy Cha, cha ở trong con và con ở trong Cha" (Gio. 17, 21a)
Như để trả lời cho tầm nhìn cao siêu của thánh sử một câu nói bi kịch đưa ta quay trở lại lời nói trong phần lời tựa: "Người đã đến nhà mình, nhưng người đã chẳng chịu đón nhận (Gio 1,11). Còn ở đây người ta lại nói: “Từ ngày đó họ quyết định giêt Đức Giêsu" (Gio. 11,53)
Ở đây ánh sáng và bóng tối, sự sống và cái chết, hiệp nhất và chia rẽ, ý muốn hiệp thông và sự đối nghịch hoàn toàn với ước vọng hiệp nhất đối chọi nhau.
- Câu kết đoạn Kinh thánh này (Gio. 11,54) dạy cho ta biết buổi tối hôm trước những biến cố lại thảm sát gần đến Ngài, Đức Giêsu cảm thấy nhu cầu một dân nữa phải rút lui vào trong thinh lặng. Để có thời gian sống thân mật với những người của Ngài ngõ hầu với ý thức  hoàn toàn ngài sẽ đương đầu với những ngày đang chờ đón ngài.
- Ta cũng cần thinh lặng và hồi tâm để hiểu được rằng mình đứng về phía Đức Giêsu thực sự, hay về phía những người không còn đạt tới việc nhận biết và sống chân lý chỉ vì những đòi hỏi của đức tin làm họ bối rối và lúng túng.

 

Lễ_lá-7: QUẢ THỰC NGÀI LÀ CON THIÊN CHÚA Mt 27. 11- 54

Hội Thánh tưởng niệm việc Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem để hoàn tất công trình cứu độ: Lễ_lá-7

Hội Thánh tưởng niệm việc Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem để hoàn tất công trình cứu độ của Ngài trên trần gian này. Do đó mỗi người Kitô hữu chúng ta đều được mời gọi vào cuộc rước này, không phải bằng cách tập lại một vài cử chỉ để tỏ lòng mộ mến Chúa, nhưng là để đón nhận những hồng ân to lớn Chúa đã mang lại qua mầu nhiệm Vượt Qua của Ngài.
Rõ ràng đây không phải là một cuộc trẩy hội như mọi người Do Thái vẫn làm trong dịp Lễ Bánh Không Men, Lễ Ngũ Tuần hay Lễ Lều. Chính Chúa Giêsu sắp xếp cho cuộc rước vào thành Giêrusalem như được thể hiện qua đời sống trong Cựu ước, như lời ngôn sức Zacharia đã liên báo: "Nào thiếu nữ Sion hãy vui mừng hơn nữa. Hỡi thiếu nữ Giêrusalem hãy vui sướng reo hò, vì kìa Đứca Chúa của người đang đến với ngươi. Người là Đấng chính trực, Đấng toàn thắng khiêm tốn ngồi trên lưng một con lừa".
Vậy, Chúa Giêsu thể hiện đời sống này khi sai các môn đệ dắt lừa mẹ và lừa con cột sẵn trong làng để Người coi vào thành Giêrusalem. Thế là đám người rất đông lấy áo mình trải xuống đất, một số khác lại chặt nhành tá và trải trên lối đi. Tin Mừng thánh Gioan cho biết, họ là những người đã có mặt khi Chúa Giêsu gọi anh Tazarô ra khỏi mồ và làm cho anh chỗi dậy từ cõi chết.
Sở dĩ dân chúng đón Người, vì họ nghe biết Người đã làm phép lạ. Lúc ấy chẳng ai nghĩ tới những lời sấm trên, nhưng dân chúng đều nhận ra Chúa Giêsu chính là vị cứu tinh Thiên Chúa đã hứa, nên họ đã hoan hô Người: "Hoan hô Con vua David, chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến. Nhân danh nước Chúa, hoan hô trên các tầng trời ".
Vậy Chúa Giêsu vào thành như vị cứu tinh, nhưng Người cứu dân Người khỏi tội như thế nào? Những biến cố mà Tuần Thánh tưởng niệm giúp chúng ta trả lời được câu hỏi này. Nhưng chính người Kitô hữu phải cảm nghiệm được phần nào những đau khổ mà Chúa Giêsu đã gánh chịu, cũng như niềm vui lớn tao Người đã dành được do việc chiến thắng tội lỗi và sự Phục Sinh vinh thắng của Ngài.
Đó là kinh nghiệm được khơi dậy do Thánh lễ mà các người Kitô hữu hiệp chung với nhau, nhất làThánh lễ trong Tuần Thánh, chúng ta được mời gọi để chia sẻ với nhau trong sự hiệp thông với thân mình mầu nhiệm của Chúa Giêsu, Đấng đã hy sinh chịu chết để cùng được với Người chiến thắng tội lỗi.
Vậy, vấn đề là tham dự tối đa vào công trình thiết tập nước Thiên Chúa do Người lãnh đạo. Hành động Người khởi sự là hành động tích cực để khai trương nước Thiên Chúa. Lời rao giảng đầu tiên của Chúa Giêsu là: "Anh em hãy thống hối vì Nước Trời đã gần đến. Hãy khử trừ tội lỗi ra khỏi con người mình, thì nước Thiên Chúa mới tháp nhập được vào trong cuộc đời của chúng ta". Chính Chúa Giêsu là vị cứu tinh đứng ra lãnh đạo cuộc chiến chống lại tội lỗi từ hơn 20 thế kỷ qua.
Đó là một cuộc chiến cam go, nhưng Chúa luôn dành được chiến thắng cho những ai bước theo Ngài.
Phải thay đổi lòng dạ là điều kiện tiên quyết như Chúa Giêsu đã nêu: "Nếu anh em không giống nên như trẻ nhỏ thì chẳng được vào Nước Trời ". Lời này cũng tương đương với mối phúc thật thứ nhất là: "Phúc cho ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ".
Phải hoàn toàn lệ thuộc vào Thiên Chúa như trẻ em lệ thuộc vào người lớn để được ấm no, và muốn chiếm được hạnh phúc đích thật cần phải cậy dựa vào một mình Thiên Chúa mà thôi. Cậy dựa vào bất cứ của cải vật chất hoặc tinh thần nào ngoài Thiên Chúa thì sẽ bị thất vọng, vì Chúa Giêsu thiết tập nước Thiên Chúa ngay với mối phúc đó. Những ai được sai đi rao giảng Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn, đó là hồng ân Thiên Chúa ban nhưng không cho họ. Giả như khi gặp phe chống đối từ phía các người biệt phái, Chúa Giêsu vẫn tiếp tục chu toàn thánh ý yêu thương của Thiên Chúa Cha bằng cách hạ mình đồng hoá với tất cả những người nghèo khó, những người bị bỏ rơi để làm nên nước Thiên Chúa.
Tuy nhiên, chính những chống đối, hận thù của những kẻ muốn giết Chúa góp phần làm nổi bật hình ảnh người tôi tớ đau khổ của vị cứu tinh hiến mạng sống mình vì nhân loại. Đáp lại sự căm thù của kẻ tập mưa giết Chúa Giêsu là tình yêu hoàn toàn tự nguyện.
Trước hết là tình yêu của Thiên Chúa Cha: "Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi ban Con Một mình cho thế gian". Tình yêu ấy một khi đã ban không bao giờ rút lại, dù Con có vang lên lời than vãn trên Thập giá: "Lạy Thiên Chúa, Lạy Thiên Chúa của Con, sao Ngài bỏ Con?"
Thứ đến lời tình yêu tự hiến của Chúa Giêsu được thực hiện đúng như lời Ngài đã tuyên bố. "Mạng sống của Tôi không ai lấy đi được, nhưng chính Tôi tự hiến mạng sống Tôi. Tôi chính là Mục Tử nhân lành, Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên" (Ga 10,11).
Cũng chính tình yêu tự hiến của Chúa Giêsu cần trở nên sống động nơi các môn đệ của Ngài: "Đây là Mình Thầy hiến tế vì anh em. Anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy. Chén này là giao tước tập bằng Máu Thầy, Máu đổ ra vì anh em".
Việc tưởng nhớ mà Chúa Giêsu yêu cầu các môn đệ thực hiện bao hàm biết bao tình yêu mà Chúa Giêsu đã mang lại, Và tình yêu ấy vẫn luôn trao ban lại cho tất cả mọi người trong niềm vui của Chúa Giêsu Kitô Phục Sinh.

 

Lễ_lá-8: HÃY LÀM CHO NHÀ BẠN THÀNH MỘT NHÀ THỜ.

Ông Thomas More là một Kitô hữu giáo dân rất nổi tiếng, sống cách đây hơn 400 năm: Lễ_lá-8

Ông Thomas More là một Kitô hữu giáo dân rất nổi tiếng, sống cách đây hơn 400 năm. Ông là người giáo dân đầu tiên được bổ nhiệm làm quan chưởng ấn của triều Vua Henry VIII, nước Anh. Nhà vua rất quí mến Thomas More vì tài cao học rộng của ông, vì chí thông minh và đức tính thân hữu của ông. Nhưng Thomas More đã thất sủng cùng Vua khi ông từ chối công nhận Vua là Giáo chủ Anh giáo, và phản đối việc vua ly dị để kết hôn nữa. Vua Henry VIII đã xử trảm Thomas More năm 1535.
400 năm sau, Giáo hội công giáo đã tuyên phong Thomas More lên bậc hiển thánh. Có lẽ các bạn đã xem cuốn phim về cuộc đời thánh Thomas More, gọi là “Người của mọi mùa”.
Thánh Tomas More đã điều khiển gia đình sống đích thực là công giáo. Gia đình hàng ngày cầu nguyện cùng với bài đọc Kinh thánh ngắn. Ngài bàn luận về những tư tưởng thiêng liêng với vợ, con và những bạn bè đến thăm viếng. Ngài tham dự Thánh lễ hàng ngày, và đọc kinh Nhật tụng Đức Mẹ. Ngài cùng hát với Ca đoàn nhà thờ, và đôi khi giúp lễ nữa. Ngài niềm nở đón tiếp những người nghèo khổ, túng thiếu, cũng như những người học thức tài ba. Đó là một hoàn cảnh thật lý tưởng. Nhà thờ giúp đỡ Ngài, và Ngài giúp đỡ nhà thờ.
Tôi xin đề nghị là, chúng ta hãy làm điều gì giống như thế. Bạn có thể tham dự các cử hành Phụng vụ ở nhà thờ trong những ngày đang tới, hay thi hành Tuần thánh trong gia đình. Hãy bắt đầu hôm nay. Hãy đặt cành lá ở nơi xứng đáng, chẳng hạn để ở trong bình đặt trên bàn hay trên máy truyền hình. Hãy nói về ý nghĩa của nó – chúng ta tôn vinh Chúa Kitô là Vua với đám đông dân chúng trong ngày Chúa nhật lễ lá đầu tiên.
Thời gian từ bây giờ cho đến thứ năm tuần thánh, việc cầu nguyện trong gia đình phải dồi dào ý nghĩa và sốt sắng hơn. Bạn có rhể đọc một phần bài tường thuật về cuộc khổ nạn và sự chết của Chúa Kitô, như được công bố cho chúng ta nhiều lần trong tuần này.
Vào ngày thứ Năm Tuần Thánh. Bạn hãy tổ chức bữa ăn chung trong gia đình. Trong bữa ăn, một người, tốt nhất là người cha, nhắc lại cho mọi người về điều đã xảy ra vào ngày thứ năm Tuần Thánh đầu tiên: Chúa Giêsu cử hành Thánh lễ thứ nhất. Đó là lần đầu tiên Chúa Giêsu trao ban chính mình trong sự rước lễ. Chúa thiết lập chức linh mục công giáo. bạn hãy cầu nguyện cho các linh mục.
Mỗi gia đình công giáo thật phải có một tượng chịu nạn. Hãy đặt thánh giá ở nơi đặc biệt trong ngày thứ sáu Thánh này, để nhấn mạnh ý nghĩa của nó: nói về sự chết của Chúa Giêsu vì phần rỗi tất cả chúng ta. Thỉnh thoảng bạn hãy đứng hay quì trước tình yêu chịu treo trên Thánh giá vì bạn và cầu nguyện: “Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã chịu cực hình vì con, con muốn đáp lại lòng thương yêu. Trên hết, con sẽ cố gắng tham dự thánh lễ sốt sắng hơn. Ngày thứ năm và thứ sáu Tuần Thánh vẫn còn sống động cho con”.
Ngày thứ bảy, bạn hãy thắp một ngọn nến ở nơi đặc biệt trong nhà để làm tiêu biểu về Chúa Kitô, ánh sáng thế gian, ánh sáng chiếu rọi mọi chốn tối tăm của thế gian. Bạn hãy suy nghĩ , nhìn về ý nghĩa Lễ phục sinh.
Phải, gia đình bạn là nhà thờ. Bạn hãy cố gắng đổi mới mọi sự vì Chúa Kitô. Bạn hãy bắt đầu ở gia đình. Bạn hãy cử hành tuần thánh ở đó. Bạn cũng hãy cố gắng hiện diện ở đây, trong nhà thờ này. Bạn hãy làm mọi sự có thể để tưởng niệm những chân lý cao cả mà chúng ta là một sống lại trong tuần lễ đang tới.
Xin Chúa chúc lành  cho các bạn.

 

Lễ_lá-9: THẬP GIÁ ĐỨC KITÔ

Lc 19,28-40
LỄ LÁ
 

Chúng ta đã bước vào tuần thánh và câu hỏi chính yếu được đặt ra, đó là: - Tại sao Chúa Giêsu: Lễ_lá-9

Chúng ta đã bước vào tuần thánh và câu hỏi chính yếu được đặt ra, đó là :
- Tại sao Chúa Giêsu lại phải chịu đau khổ như  thế ?
Câu trả lời duy nhất, đó là :
- Chỉ vì yêu thương chúng ta mà thôi.
Phải, Chúa Giêsu đã mặc lấy thân phận yếu đuối của con người, đã phải chịu đau khổ và chết trên thập giá để cứu chuộc chúng ta, để giải thoát chúng ta khỏi án phạt đời đời. Kể từ khi thập giá được dựng lên trên đỉnh đồi Canvê,  thì một niềm hy vọng đã bừng lên và chúng ta không còn phải bước đi trong tuyệt vọng với một ngõ cụt chắn ngang cuộc đời ở phía trước.
Chúa Giêsu đã vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá. Hành động khiêm nhường này có sức tẩy xóa tội kiêu ngạo của Adong Eva ngày xưa và của chúng ta hôm nay. Sự chết của Ngài chính là cái giá Ngài đã phải trả cho tội lỗi của chúng ta, như lời thánh Phaolô đã diễn tả
- Là Thiên Chúa uy quyền, Ngài đã cam chịu mọi yếu đuối, để con người yếu đuối chúng ta được trở nên uy quyền. Là Thiên Chúa thánh thiện, Ngài đã mặc lấy thân phận tội nhân để con người tội lỗi chúng ta được trở nên thánh thiện. Là Thiên Chúa hằng sống, Ngài đã chấp nhận cái chết trên thập giá, để con người phải chết chúng ta được sống muôn đời. Là Con Thiên Chúa, Ngài đã mang lấy xác phàm nhân loại, để con người nhân loại chúng ta được trờ nên con Thiên Chúa.
Hy lễ mà vì yêu thương Ngài đã dâng trên bàn thờ thập giá đã được Thiên Chúa chấp nhận, để trao ban cho chúng ta ơn tha thứ. Là Đấng vô tội, Ngài đã phải trải qua những giây phút hấp hối kinh hoàng tại vườn Cây Dầu với những giọt mồ hôi máy chảy ra, đã phải chịu đựng những lằn roi thù hận, những gai nhọn cắm sâu vào đầu và những cực hình dã man khác nữa. Và sau cùng, Ngài đã chết một cách tủi hổ trên thập giá.
Ngài đã đến không phải chỉ để ở giữa chúng ta mà thôi, mà hơn thế nữa còn để chết cho mỗi người chúng ta, nhờ đó chúng ta được giao hòa cùng Thiên Chúa và được sống muôn đời.
Để hiểu được phần nào tình yêu bao la Ngài đã dành cho chúng ta qua cuộc tử nạn, tôi xin kể lại một câu chuyện thật đẹp và thật cảm động, đó là câu chuyện về cha Đa miêng, vị tông đồ người hủi.
Vào một buổi sáng đẹp trời, Đức Giám mục đã sai cha tới hải đảo Molokai, một hải đải xa xôi và hẻo lánh được dành riêng cho những người mắc bệnh phong cùi. Đây là một thế giới của khổ đau và tuyệt vọng, một vùng đất chết giữa những người còn lay lất sống.
Nghe tin này, những người phong cùi vội chạy tới nhà nguyện để xem sự gì đã xảy ra. Bấy giờ, đứng trước mặt họ và bằng một giọng nói đầy xúc động, Đức Giám mục đã giới thiệu cha Đa miêng với họ :
- Các con rất thân mến, các con là những người bị bỏ rơi trên hải đảo này, xa quê hương, xa gia đình. Cha chia sẻ những khổ đau của các con và hôm nay dẫn đến với các con một vị Linh mục. Ngài sẽ là người cha của các con. Ngài đã ưng thuận tới đây để sống và để chết giữa các con chỉ vì yêu thương các con mà thôi.
Tiếp theo là một sự yên lặng , rồi sau đó nhưng tiếng xì xào bàn tán mỗi lúc một lớn và át đi cả tiếng nói của Đức Giám mục.
- Có thể nào một người cao lớn, khỏe mạnh như thế kia lại chấp nhận sống giữa những kẻ phong cùi, bị coi như là những thây ma biết di động.
Những người phong cùi chen lấn nhau đến trước bàn thờ để được nhìn xem vị thừa sai. Họ sờ vào tay ngài, họ ngắm nghía khuôn mặt của ngài. Phải chăng họ đã khám phá ra một vài dấu vết của căn bệnh đớn đau ấy ? Không. Cha Đa miêng là một người hoàn toàn khỏe mạnh, nhưng đã đến với họ chỉ vì yêu thương họ mà thôi. Họ bắt đầu kêu lên :
- Nakua Kamiano, nakua Kamiano, nghĩa là Cha Đa miêng, Cha Đa miêng…
Và nhiều người đã bật khóc vì xúc động. Kể từ ngày hôm ấy, Molokai, hải đảo của những người phong cùi không còn là một hỏa ngục nữa, bởi vì một đã đến giữa họ. Người ấy đã ở lại với họ, đã yêu thương họ và sẵn sàng chết cho họ.
Chúa Giêsu cũng đã đến ở với nhân loại, một nhân loại đang bị dày vò đau đớn bởi tội lỗi, một nhân loại tuyệt vọng vì đã phải mang lấy bản án của sự chết. Chỉ mình Ngài mới là Đấng thánh thiện tuyệt vời như lời Ngài đã nói với dân Do thái :
- Ai trong các ngươi có thể bắt lỗi Ta được điều gì ?
Nếu những người phong cùi ở hải đảo Molokai đã hiểu được sự hy sinh mà cha Đa miêng đã dành cho họ, thì chúng ta cũng phải hiểu được những điều cao cả mà Chúa Giêsu đã thực hiện cho chúng ta, nhất là qua cuộc tử nạn, để chuộc lại tội lỗi, đó là làm cho chúng ta trở nên con cái Thiên Chúa và được hưởng phần gia nghiệp Nước trời.
Đúng thế, để tẩy xóa những ý đồ đen tối của chúng ta, đầu Ngài đã bị những gai nhọn đâm vào. Để tẩy xóa những tình cảm vẩn đục của chúng ta, trái tim Ngài đã bị lưỡi đòng đâm thâu qua. Để tẩy xóa mọi tội lỗi chúng ta vấp phạm, tay chân Ngài đã bị đóng vào thập giá và thân xác Ngài đã phải chết một cách tủi nhục ê chề.
Và như thế, thập giá Đức Kitô là niềm hy vọng cho những ai sầu khổ, là nỗi mừng vui cho những người công chính và là ơn tha thứ cho nhưng kẻ tội lỗi.

 

Lễ_lá-10: YÊU CHO ĐẾN CÙNG - NTDY/192

Tại nhà thờ chính tòa Nuzburg trong miền Baviere, Tây Đức, có một tượng thánh giá rất nổi: Lễ_lá-10

Tại nhà thờ chính tòa Nuzburg trong miền Baviere, Tây Đức, có một tượng thánh giá rất nổi tiếng được chạm trổ vào khoảng thế kỷ thứ 14. Hai cánh tay đã rút khỏi lỗ đinh và vòng ra phía trước như ôm một con người.
Tương truyền rằng có một tội nhân hết lòng sám hối ăn năn, xin Chúa thứ tha tội lỗi. Nhưng vì tội ông quá lớn, quá nhiều nên ông vẫn còn nghi ngờ lòng thương xót của Người. Chúa liền đưa tay ra ôm chầm lấy ông trong vòng tay âu yếm để bày tỏ lòng Chúa khoan dung hải hà.
Trong suốt cuộc đời công khai rao giảng, rất nhiều lần, Đức Giêsu đã bày tỏ tấm lòng yêu thương con người : Người đã thực hiện các phép lạ, chữa lành bệnh tật, xua trừ ma quỉ, dạy dỗ dân chúng, âu yếm trẻ thơ, và tha thứ cho tội nhân. Hôm nay, Người quyết định bước vào đoạn cuối của tình yêu, đỉnh cao của dâng hiến, Người quyết định yêu cho đến cùng, bằng cuộc khổ nạn và cái chết đau thương của Người.
Nhưng trước hết, Người phải chịu một cơn cám dỗ cuối cùng. Cơn cám dỗ là Luca đã báo trước : “Quỉ rút lui để chờ dịp khác”. Dịp ấy, hôm nay để đến. Satan nhập vào Giuđa, để người môn đệ bất trung, tham của này dùng cái hôn nộp thầy. Satan sàng Phêrô và các môn đệ như sàng gạo, để Phêrô thì chối Thầy, còn các ông khác bỏ trốn. Vườn Ghếtsêmani quả thật là nơi giao tranh giữa Đức Giêsu và quyền lực tối tăm, giữa sự thiện và cái ác. Người dùng phương thế hữu hiệu là cầu nguyện để thắng cám dỗ. Nhưng dường như trong cuộc chiến nội tâm của Người rất căng thẳng, nên Người đã xin Chúa Cha tha cho Người khỏi uống chén này. Người lên cơn xao xuyến bồi hồi đến nỗi mồ hôi như những giọt máu rơi xuống đất.
Thế nhưng, Người vẫn nhân từ, thực hiện nghĩa cử yêu thương cuối cùng, trước khi hoàn toàn dâng hiến trên thập giá : Người hiền hòa ra đón Giuđa, và dịu dàng nhắc nhở ông về tình nghĩa thầy trò. Người chữa lành tên đầy tớ bị Phêrô chém đứt tai. Người quay nhìn Phêrô với ánh mắt tha thứ khi ông chối Thầy. Người an ủi những phụ nữ thương khóc Người. Người xin Chúa Cha tha thứ cho những kẻ đóng đinh Người. Người ban thiên đàng cho tên trôm biết sám hối.
Cuối cùng, Người đã hoàn toàn dâng hiến trên thập giá để cứu chuộc tất cả muôn người. Sinh thời Người đã nói : “không có tình yêu nào cao quí cho bằng người hy sinh mạng sống vì bạn hữu”. Vậy, Người đã yêu thương con người cho đến giọt máu cuối cùng. Thánh Gioan viết : “ Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian,và Người yêu thương họ đến cùng”.

 

Lễ_lá-11: NGƯỜI TÔI TỚ - ASTY/88

Trong một ngôi nhà thờ bên Tây Ban Nha, có một tượng Thánh Giá cổ được giáo hữu rất tôn: Lễ_lá-11

Trong một ngôi nhà thờ bên Tây Ban Nha, có một tượng Thánh Giá cổ được giáo hữu rất tôn sùng, đó là tượng Thánh Giá Tha Tội. Tượng Chúa Giêsu chịu đónh đinh có cánh tay phi rời khỏi thập giá và hạ thấp xuống.
Người ta kể rằng : Dưới chân Thánh giá này, một lần nọ có một tín hữu rất tội lỗi tìm đến xưng tội với cha xứ. Khi ông xưng thú tất cả tội lỗi với tấm lòng ăn năn, cha giải tội lưỡng lự không biết có nên tha tội cho ông không ? Vì thấy ông ta phạm quá nhiều tội. Sau cùng cha nghiêm nghị bảo ông :
- Tôi ban phép tha tội cho ông, nhưng mà trong tương lai thì phải để ý.
Ông ta hứu với cha xứ là sẽ cố gắng sửa mình và tránh mọi tôi lỗi.
Nhưng vì yếu đuối quá, nên sau một thời gian ông lại tìm đến xưng tội. Lần này thì cha xứ nói với ông với giọng quyết liệt :
- Tôi ban phép giải tội cho ông lần này nữa, và đây cũng là lần cuối cùng nghe chưa ?
Vài tháng tôi qua, ông lại tìm đến quỳ xuống dưới chân cha xứ và năn nỉ :
- Thưa cha, con thống hối tận đáy lòng, lần nào con cũng nhất quyết thề hứa, nhưng mà con yếu đuối quá nên xin cha tha tội cho con một lần nữa.
Cha xứ quát :
- Đâu có thể đùa giỡn với Chúa được. Tôi không ban phép giải tội cho ông nữa.
Khi đó cha bỗng nghe có tiếng nức nở nghẹn ngào từ trên thập giá, và ban tay phải của Chúa Giêsu từ từ hạ xuống làm phép tha tội cho người tín hữu thống hối.
Rồi Chúa Giêsu quay qua nói với vị linh mục :
- Chính Cha đ đổi máu ra để cưu chuộc ông ấy chứ không phải con.
Và cũng từ ngày để bàn tay của Chúa Giêsu chịu đóng đinh ở trong tư thế ban phép giải tội.
“Chính Cha đã đổi máu ra để cứu chuộc con”. Lời ấy Chúa Giêsu nói lại vỡi mỗi người trong chúng ta. Phụng phụ Lễ Lá hôm nay tưởng niệm biến cố Chúa Giêsu khải hoàn vào thành Thánh Jérusalem để sau đó vài ngày, Người chịu đóng đanh và chịu chết trên thập giá, trao ban sự sống mới cho chúng ta.
Trong Cựu Ước tiên tri Isaia để miêu tả Đấng Cứu Thế là người tôi tớ đau khổ của Giavê Thiên Chúa. Còn trong thời Tân Ước, người tôi tớ đau khổ ấy là hình ảnh của Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Thế chịu khổ nạn và đóng đinh. Cũng giống như cuộc sống lưu đầy, Thập giá xem ra là dấu chỉ của khổ nhục và thất bại. Nhưng Thiên Chúa đã biến đổi nó trở thành dấu chỉ của ơn cứu độ và là nguồn ơn thánh mà Ngài ban xuống cho con người. Khi tuyệt đối trung thành với thánh ý và chương trình cứu độ của Thiên Chúa Cha, đến sẵn sàng chấp nhận khổ đau và cái chết khổ nhục trên thập giá, Chúa Giêsu dạy cho chúng ta biết ý nghĩa và giá trị cứu độ của khổ đau.
Tất cả những chuẩn bị trong Mùa Chay vừa qua, sẽ không nên ích gì cho chúng ta nếu chúng ta không có những quyết định cụ thể trong việc từ bỏ những tật xấu của mình để sống kết hợp mật thiết với Chúa, để trở nên giống Chúa trong mọi nơi và mọi lúc. Chắc chắn chúng ta sẽ phải đối diện với hy sinh, những từ bỏ, những thử thách, những đau khổ đủ loại vì đức tin của chúng ta vào Thiên Chúa.
Lời mời gọi vác Thập giá theo Chúa Giêsu luôn luôn thôi thúc ta, lời mời gọi đó vẫn còn vang dội cho mỗi người chúng ta. Nếm muốn làm người đồ đệ đích thực của Chúa, chúng ta không thể làm ngơ hay tránh né những thập giá này hằng ngày. Xin Chúa giúp chúng ta can đảm, can đảm của lòng yêu thương để theo Chúa cho đến cùng. Amen

 

Lễ_lá-12: NHÂN TÌNH  - NMSCMN/48

Một nhà hiền triết đi tới một đô thị và được biết ở đó có một người rất mến khách. Bất cứ: Lễ_lá-12

Một nhà hiền triết đi tới một đô thị và được biết ở đó có một người rất mến khách. Bất cứ người bộ hành nào đến cũng đều được ông ta chiêu đãi, ăn uống tử tế. Nhà hiền triết bèn tới với một bộ quần áo rách rưới. Thấy thế, chủ nhà chẳng những không kính trọng, mà còn tỏ vẻ khinh miệt, hất hủi nữa. Nhà hiền triết mượn được một bộ đồ tươm tất, sạch sẽ, mặc vào rồi lại đến. Lần này, chủ nhân đon đả tiếp đón và sai dọn tiệc thiết đãi. Nhà hiền triết ngồi trên tấm thảm quí và cứ bốc thức ăn bỏ vào vạt áo mà không bỏ vào miệng. Thấy lạ, người chủ hỏi : “ Ngài làm gì vậy ? “ Nhà hiền triết mới ngẩng đầu lên thong thả đáp : “Hôm qua, tôi đến đây mặc quần áo cũ rách nát, chẳng được ăn uống gì. Hôm nay, tôi được thiết đãi linh đình như thế này, chẳng qua là nhờ bộ đồ mới này, cho nên tôi phải khao nó”. Nghe thế, ông chủ nhà ngượng quá không dám nói gì.
Cái cách sử sự của nhà hiền triết là để minh chứng một sự thật phũ phàng là tình đời thật đen bạc. Nó đen bạc, một phần là do trên cõi đời này có lắm chuyện, lắm điều dường như khó hiểu, khó tin, khó ngờ, thế mà vẫn cứ xảy ra khiết chúng ta không biết như thế nào để lường, để đoán nữ ; phần khác là do lòng con người đổi trắng thay đen đến độ không còn ai muốn tin nữa.
Tuy nhiên, mọi rắc rối, mọi phũ phàng đau thương, mọi hiểu lầm chống đối chung qui đều bắt nguồn từ nơi con người. Bởi vì, tất cả mọi sự việc ở đời tự chúng không thể biết hóa thành trắng hay đen, nhưng do nơi con người điều khiển chúng thành trắng hay đen mà thôi. Nói khác đi, một khi lòng con người bị nhuộm màu gian tham độc ác, mù quáng cố chấp, hẹp hòi nông cạn, mưu mô xảo quyệt sẽ dễ dàng bóp méo hay vo tròn, đổi trắng thay đen mọi sự theo ý mình.
Vì thế, không lạ lùng gì khi chúng ta thấy những phản ứng khác nhau của con người trong biến cố Chúa long trọng vào Thành Thánh. Có những người như các môn đệ và mọi kẻ thiệt tâm thì hoan hô Chúa thật tình. Bên cạnh đó, lại có những người do bầu khí phấn khởi cũng hùa vào tung hô Chúa cho vui. Trái lại, có những người dư Biệt Phái, Luật sĩ thì đả đảo, chưởi bới, căm tức.
Tại sao, cũng một con người, nhất là con người đó là Một Ngôi Vị Thiên Chúa, không có chi sai trái, chí công vô tư, nhân ái hiền lành, lại khiến cho kẻ ghét người thương ? Như thế, sự đối sử đầy mâu thuẫn này không tại nơi Chúa mà là do lòng con người phát sinh.
Lòng con người thật khó hiểu ! Hôm nay tốt, mai đã xấu. Anh hùng can đảm có thừa, nhưng hèn nhát sợ sệt cũng không thiếu. Mới trong sạch thánh thiện đấy, lại xấu xa bẩn thỉu ngay. Như thế, sự mâu thuẫn luôn có trong con người. Ánh sáng và bóng tối lẫn lộn khiến con người nhìn đời, nhìn sự việc cũng hay thay đổi tùy theo ý nghĩ và cảm xúc của mình.
Vì thế, trên con đường tin và sống theo Chúa cũng như trong cách cư xử với tha nhân, nếu muốn thành công, nghĩa là đi đúng và trung thành với ơn gọi làm con cái Chúa, sống đúng và làm tròn trách nhiệm công bằng, bác ái với tha nhân, thì mỗi người chúng ta phải làm thế nào, phải sống làm sao để phần thánh thiện, trong sạch ngay thẳng luôn luôn vượt trội hơn, nổi bật lên trên phần đam mê xấu xa, hư hèn tội lỗi.
Vì thế, bao lâu chúng ta cứ quen thói dầm mình trong ham mê sự đời, cứ muông chiều bản năng hạ cấp là bấy lâu chúng ta chẳng những cố tình đối xửa bất công với Chúa, với mọi người mà còn sẽ tự chuốc lấy mọi tai họa kiếp này lẫn kiếp khác.
Đối với Chúa, vì lười biếng khô khăn, nhờ ơ trễ nải, chúng ta hay khinh thường lời Chúa dạy, ngạo mạn chối lại thánh ý Ngài. Đôi khi, vì hèn nhát sợ sệt chúng ta lại cố tình bêu xấu danh dự Thiên Chúa, từ chối thánh danh Người trước mặt thiên hạ.
Còn đối anh em là những con người yếu đuối đáng thương thế mà chúng ta cứ đang tâm đối xửa ác cảm với họ, nhỏ nhen bẩn thỉu triệt hạ lẫn nhau, gian tham xảo quyệt tranh dành nhau, nghi ngờ đổ tội làm khổ nhau.
Như thế, phải chăng loài người là loài không  đáng tin cậy, không đáng quí trọng như người ta thường đề cao ? Dĩ nhiên, không phải tất cả đều bại hoại, xu thời, hay thay đổi, nhưng vẫn có những con người trung kiên, một dạ một lòng, luôn trong sáng, đầy nhân ái từ bi. Nếu họ có yếu đuối xa ngã như các Tông đồ, nhưng đã biết đứng dậy từ lầm lỗi để làm lại cuộc đời cách thành tựu.
Dù đời có đổi trắng thay đen, dù ai có thay lòng đổi dạ thì những người con đích thực của Chúa vẫn luôn kiên vững trong đức tin, nồng nàn trong tình mến và son mắt trong cậy trông.

 

Lễ_lá-13: ĐỨC GIÊSU VÀO THÀNH GIÊRUSALEM

 - Lm Augustine, SJ. (Taiwan)
 

Chắc chắn Đức Giêsu đã lên Giêrusalem nhiều lần trong đời Ngài, nhưng thánh Luca đã muốn: Lễ_lá-13

Chắc chắn Đức Giêsu đã lên Giêrusalem nhiều lần trong đời Ngài, nhưng thánh Luca đã muốn cô đọng lại thành một cuộc hành trình duy nhất. Dưới cái nhìn thần học của Luca, cuộc đời Đức Giêsu không gì khác hơn là một cuộc hành trình lên Giêrusalem; nơi đây Ngài hiến dâng chính mình để cứu độ nhân loại. Giêrusalem cũng là nơi Đức Giêsu Phục Sinh hiện ra và là nơi từ đó Giáo Hội lan rộng khắp hoàn cầu (Lc 24,47). Giêrusalem có chỗ quan trọng trong trái tim Đức Giêsu. Những gì sẽ xảy ra ở đó vẫn thường xuyên canh cánh bên lòng Ngài (12,50). Ngay cả trong lúc Ngài được vinh quang trên núi cùng với Môsê và Elia, thì đề tài trao đổi vẫn là cuộc xuất hành của Ngài sắp được thực hiện ở Giêrusalem (9,31). Tiến về thành đô để chết ở đó, đó là điều Ngài ý thức rõ rệt: "Ta phải theo đuổi con đường của Ta, hôm nay, ngày mai và ngày mốt, vì không thể nào một ngôn sứ mà lại chết ngoài thành Giêrusalem" (13,33).
Đoạn Tin Mừng hôm nay cho chúng ta hình ảnh Đức Giêsu "đi đầu lên Giêrusalem" (19,28). Như thế ở vào giai đoạn cuối của cuộc hành trình, Đức Giêsu vẫn có thái độ quả quyết như lúc đầu: "Ngài đanh mặt lại để lên Giêrusalem" (9,51). Đến với Giêrusalem bây giờ là đem thân vào chốn hiểm nghèo, nơi những kẻ thù ghét Ngài đang rình rập để hãm hại. Đức Giêsu đã chuẩn bị tìm cho Ngài một con lừa con chưa ai cỡi bao giờ, một con vật như thế thường được dùng cho mục đích tôn giáo (Ds 19,2; 1S 6,7). Đặc biệt thánh Luca không nhắc đến việc dân chúng cầm cành lá đi rước Chúa như các thánh sử khác. Các môn đệ, chứ không phải đám đông, hân hoan ca tụng Thiên Chúa vì những phép lạ họ đã chứng kiến (x. 18,43; 7,16). Thật ra, đây cũng là những lời ca tụng Đức Giêsu. Ngài được tôn là Vua, Đấng ngự đến nhân danh Chúa (19,38). Những người Pharisêu khó chịu trước các lời tung hô đó. Họ muốn Đức Giêsu quở trách các môn đệ của Ngài. Nhưng bây giờ Ngài không bắt các môn đệ phải thinh lặng giữ kín nữa (9,21). Đây là lúc Ngài khẳng định vương quyền của mình. Vương quyền đó phải được công bố, không gì cản nổi: "Họ mà làm thinh thì sỏi đá cũng sẽ kêu lên" (x.Hb 2,11).
Lễ Lá là một lễ vui, nhưng ai có ngờ được giữa lúc Đức Giêsu đang ung dung, hiền hoà, ngồi trên lừa con tiến về Giêrusalem, giữa tiếng tung hô vang trời dậy đất, thì Ngài lại bật khóc (19,41). Ngài khóc khi nhìn thấy thánh đô. Những giọt nước mắt của Ngài hẳn đã làm mọi người chưng hửng. Ngài không khóc vì tủi thân. Ngài khóc vì thấy ngày Giêrusalem bị bao vây, bị triệt hạ thành bình địa. Những giọt nước mắt đầy yêu thương đối với thánh đô mà Ngài coi như máu thịt. Con người có tự do để từ chối ơn cứu độ và Đấng Cứu Độ. Đức Giêsu cảm nhận được thế nào là nỗi đau khi Tình Yêu bị từ chối.
Chắc có những người trong đám đông tung hô hôm nay sẽ trở thành kẻ gào thét đòi đóng đinh Đức Giêsu trước mặt Philatô vài ngày sau đó (23,18.21). Có thể họ bị các nhà lãnh đạo giật dây, có thể họ bị thất vọng khi thấy "Vua Giêsu" chẳng phải là vị vua đem lại sự giải phóng mà họ mong đợi. Khi đi rước lá, chúng ta xin ơn vững bước theo chân Đức Giêsu trong mọi cảnh ngộ của cuộc sống, trong suốt hành trình về Nước Trời.
Cuộc Khổ Nạn của Đức Giêsu theo Thánh Luca
Chúng ta cần sống mầu nhiệm Khổ Nạn của Đức Giêsu trong đời mình. "Vác thập giá của mình hàng ngày mà theo Thầy": đó là định mệnh của Kitô hữu (x.9,24). "Tôi đã cùng chịu đóng đinh thập giá với Đức Kitô"
(Gl 2,19). Không vác thập giá, không chịu đóng đinh, không chết với Đức Kitô, thì cũng chẳng được hưởng sự sống vinh quang với Ngài. "Nếu ta cùng chết với Ngài, ta sẽ sống với Ngài" (2Tm 2,11).
Trong Tuần Thánh, chúng ta được mời gọi chiêm ngắm cuộc Khổ Nạn của Đức Giêsu. Bạn cần nhìn thật lâu cách phản ứng của Đức Giêsu trước những đau khổ xảy đến cho Ngài. Thái độ của Ngài có thể làm bạn thay đổi, và lòng bạn mềm lại. Bạn vẫn cảm nghiệm những đau đớn Ngài phải chịu trên thân xác: bị đánh đòn, bị đóng đinh… nhưng bạn đừng quên những nỗi đau sâu kín của trái tim Ngài. Đôi khi chúng ta tưởng Đức Giêsu là người thánh thiện quá đến nỗi chẳng còn biết xấu hổ, nhục nhã trước những xúc phạm, khinh chê của kẻ thù. Chính Ngài đã cứu độ chúng ta bằng nỗi đau khi Giuđa hôn Ngài bằng nụ hôn phản bội, khi Phêrô chối Ngài ba lần, khi Ngài bị bịt mặt để chơi trò bói xem ai đánh mình (Lc 22,63-65). Chúng ta cần thấm thía nỗi cô đơn của Đức Giêsu đường lên núi Sọ, sự mắc cở của Ngài khi bị lột quần áo, nỗi đắng cay khi bị người qua kẻ lại châm chọc chế diễu. Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, không xa lạ với nỗi khổ đau của phận người. Ngài không "giải quyết" mầu nhiệm đau khổ như một triết gia; Ngài đón lấy đau khổ và cho một ý nghĩa, vì Ngài đón nhận nó trong tình yêu. Chúng ta đừng quên cảm nghiệm Tình Yêu của Đức Giêsu ẩn dưới mọi khổ đau Ngài chịu. Và Tình Yêu ấy dành cho từng người chúng ta. Thánh Phaolô đã cảm thấy Đức Giêsu chịu hy sinh là vì mình: "Đấng đã yêu mến tôi và đã phó nộp mình vì tôi" (Ga 2,20). Cuộc khổ nạn của Đức Giêsu cũng đụng chạm đến bản thân tôi hôm nay.
Cuộc Khổ Nạn như một vở kịch, có nhiều vai diễn. Chúng ta thấy mình có nét nào đó giống với họ, và qua vấp ngã của họ, chúng ta học được nhiều điều.
Trong số các môn đệ, Phêrô là người ở gần Đức Giêsu hơn cả, lúc Ngài ở dinh Thượng Tế. Nhưng ông lại là người xa Thầy. Ông chối không ở với Thầy, cũng chẳng thuộc về nhóm môn đệ của Thầy. Cái nhìn của Đức Giêsu nối lại mối dây tình nghĩa với ông. Chính lúc ông bỏ Thầy mà đi thì ông lại gặp Thầy trong nước mắt (Lc 22,54-62). Chỉ trong hơn một giờ, Phêrô đã chối bỏ ba năm trung tín. Ông đã nói dối, nhưng lời nói dối của ông chất chứa sự thật. Đúng là ông đã tách khỏi Đức Giêsu và các môn đệ khác. Đúng là ông đã trở nên xa lạ với Thầy mình sắp chịu tử hình. Khi nghe gà gáy và thấy ánh mắt của Thầy, Phêrô ý thức mình đã nói thật, và ông khóc.
Philatô là mẫu người không dứt khoát. Ba lần ông khẳng định là Đức Giêsu vô tội, nhưng ông vẫn cho đánh đòn Ngài (23,16). Ông tưởng làm thế là xoa dịu đám đông. Thật ra điều đó chỉ làm lộ ra sự yếu đuối của ông. Đám đông không bỏ lỡ cơ hội, đòi ông phải đóng đinh Đức Giêsu, và ông đã chiều ý họ. Chúng ta không thể vừa muốn làm đẹp lòng Thiên Chúa, vừa muốn làm đẹp lòng người đời. Cái chết của Đức Giêsu tạo ra một sự phân cách giữa những kẻ theo Ngài và những kẻ khước từ Ngài. Mỗi nhóm đều có những người ở hai phe: một tên cướp chế diễu, còn một tên lại tin vào Ngài; các người lính sỉ nhục Ngài, còn viên bách quan lại tôn vinh Thiên Chúa; các nhà lãnh đạo Do Thái nhạo báng Ngài, còn Giuse Arimathia lại dành cho Ngài ngôi mộ mới của mình; các bà từng theo Ngài ở Galilê vẫn theo đến cùng, còn các môn đệ thì chẳng thấy bóng dáng đâu.
Ước gì chúng ta đồng hành với Đức Giêsu trên đường thánh giá, chúng ta cũng đồng hành với nhân loại khổ đau hôm nay. Biết bao người trên thế giới vẫn mang thân phận của Đức Giêsu: bị vu khống, kết án, làm nhục, tra tấn, và bị xóa tên trên mặt đất. Vẫn mãi mãi cần những Simon Kyrênê, vác đỡ thánh giá cho những người đau khổ trên thế giới.

 

Lễ_lá-14: TIN VUI THỜI ĐIỂM 2000 - Lm Trần Cao Tường

Nhìn dấu chỉ thời đại và chụp ghi dưới ánh sáng Tin Vui (Vui Mừng và Hy Vọng #4)
TIN VUI NGƯỢC ĐỜI
 

Để tìm thuốc chữa chạy tình trạng thiếu niên phạm pháp mỗi ngày mỗi tồi tệ và trở thành: Lễ_lá-14

Để tìm thuốc chữa chạy tình trạng thiếu niên phạm pháp mỗi ngày mỗi tồi tệ và trở thành "quốc nạn" theo ngôn ngữ của ngài Clinton, tiểu bang Louisiana đã chi 70 triệu tiền Mỹ thêm lên trong năm 1996 cho nhà tù và những dịch vụ liên hệ. Tính ra trung bình nhà nước phải chi mỗi năm trên 20 ngàn tiền Mỹ để giữ chân một thiếu niên phạm pháp trong nhà tù. Tiền này do chúng ta đóng thuế chứ còn bởi đâu. Đấy là chưa nói tới những bang lớn như Cali, Texas, New York... Vậy mà cũng theo báo cáo trên, thì trên 60% đám trẻ này sau thời gian nhốt tù được thả ra lại trở lại nhà tù nữa! Kỳ lạ chưa?! Giải quyết quẩn như vậy mà cứ phải làm, và cãi nhau để chi thêm tiền, không thì lại loạn hơn!
BUÔNG XUÔI THEO ĐÀ
Thực ra thì căn bệnh ung thối từ cả một hệ thống xã hội. Đám trẻ được quá nuông chiều, thả cho tự do bừa bãi không còn khuôn phép gì, và không ai dám dùng một thứ kỷ luật tối thiểu để sửa phạt trong gia đình, lơ mơ là bị lôi ra tòa về tội hành hung con nít. Vậy mà phần lớn các vụ bắn giết bây giờ lại do các "đấng" con nít này mới phiền chứ. Cả một cái đà buông thả, lớp trẻ được đẩy vào cái trớn không cần biết phải phục vụ làm ích cho ai, chả cần có lý tưởng gì cao hơn miếng Big Mac và đôi giầy Nike Air. Quá dư nhiệt nên phải rửng mỡ. Trẻ bây giờ bị quá nhiều sức ép: bắt phải theo đà như nhiều đứa khác! Không theo thì bị chế diễu là khờ, cù lần, chỉ biết rúc ở nha, không giống ai...
Người Do Thái có lối huấn luyện lớp trẻ rất ngược với kiểu Âu Mỹ hiện tại: sau thời gian huấn luyện kham khổ về những gì căn bản nhất để được gọi là một người Do Thái, hướng đạo sinh phải đeo ba lô đi bộ ba ngày trong vất vả đổ mồ hôi để đi đến một địa điểm ở đồi Massada nơi cha ông họ đã thà chết chẳng thà đầu hàng. Chập tối, họ được lệnh cắm lều ngủ đêm trong tình trạng "sắp sẵn", và sau nửa đêm họ lại được lệnh đeo ba lô leo lên đỉnh đồi. Ở đó họ làm nghi thức tuyên thệ dưới những bó đuốc bập bùng như sức sống của tiền nhân bao đời vẫn đang hiển hiện. Lời tuyên thệ vang lên: "Massada không bao giờ thất thủ lần thứ hai"! Và khi tuyên thệ xong, họ được phát một cuốn Kinh Thánh là cuốn kinh dân tộc Do Thái, tức là một bộ niềm tin chung có sức qui tụ và làm nên sức mạnh của lớp dân mình.
Nhiều sắc dân Nam Mỹ cũng có lối huấn luyện cho đứa trẻ làm người lớn cũng gần giống như vậy. Đứa bé phải qua một nghi lễ "chết đi và sống lại". Sau khi được học tập đầy đủ những gì căn bản nhất của lớp dân mình, đứa trẻ được dẫn vào một hang động, tức là đi vào huyền nhiệm để có thể nối được vào cuống nhau lớp dân mình và nối được vào dòng sống siêu việt. Ở đó nó phải đương đầu với kiến lửa, rắn rết, bọ cạp, để mà sống sót. Và chỉ sau khi trải qua như vậy, nó mới được phát "chứng chỉ" làm người lớn có thể lập gia đình.
Cả hai đường lối huấn luyện trên đều nhấn mạnh yếu tố phải học tập những gì căn bản nhất về căn tính dân tộc, cảm thấy hãnh diện mình thuộc về một lờp dân. Và được đặt nền trên bộ kinh tin, thể hiện ra thành một đạo sống, phong tục lễ nghi. Rồi phải thực tập trải qua gian khổ, tập cho biết chết đi, biết hy sinh chịu đựng thì mới có thể làm người lớn được.
Vậy mà ở xã hội Âu Mỹ, giới trẻ được nhồi một não trạng rất bất thường và bệnh hoạn. Làm "người nhớn" có nghĩa là biết sống buông thả phóng túng không muốn thuộc về ai nữa, biết hưởng thụ bừa bãi. Dấu chỉ tập làm "người nhớn" là thuốc, rượu, quần áo, tình dục, có bồ sớm, xe riêng, nhà riêng, thoát ly quyền cha mẹ, và chả cần thuộc về đâu nữa trừ ra nhóm đang cùng đam mê một cái gì! Vì thế dễ thành băng đảng. Và nhiều bậc cha mẹ tỏ ra đầu hàng, buông xuôi theo đà chả biết làm sao hơn được!
DẤU CHỈ CHẲNG GIỐNG AI
Đường lối đào tạo lớp trẻ cũng như chính những tiêu chuẩn mà xã hội áp đặt lên mọi người có cái gì sai trệch từ căn bản. Con đường hay lối sống vốn phô trương là tiến bộ hợp thời làm cho mọi người hạnh phúc an bình má không được như vậy thì tất nhiên phải có gì sai trầm trọng. Phim Forrest Gump (tạm đọc là Phó Gẫm) là một dấu chỉ lật ngược mọi tiêu chuẩn giá trị xã hội. Phim đã thật ăn khách, thu được cả trên 660 triệu tiền Mỹ nhờ dấu lật ngược này.
Chất ăn khách của Phó Gẫm là cho một cái nhìn về cuộc đời, khác với cái nhìn mọi người đang nhìn. Mọi sự xẩy ra vẫn cứ vậy thôi. Nhưng mình nhìn sao thì phản ứng vậy. Sở dĩ mình không hạnh phúc, hay la hét giẫy giụa là vì mình đang "bị" đeo một tầng kính nhìn do xã hội áp đặt. Bắt mình phải thế này, phải thế kia mới hạnh phúc. Như hồi Phó Gẫm còn tàng tật, chân phải kẹp sắt mới đi được, mọi người xem ra xa tránh và coi thường. Buổi đầu tiên đi học nó lết lên được xe chở học sinh, tìm chỗ mãi mới được Diên-Nhi cho ngồi bên cạnh. Câu đầu tiên mà Diên-Nhi hỏi là "chân mày làm sao vậy?". Phó Gẫm trả lời tỉnh bơ: "Chẳng sao cả".
Thì ra mọi người đã xếp hạng sẵn, cái gì là may, cái gì là xui. Bị què là xui. Bị đi lính đánh nhau nơi nguy hiểm là xui. Nhiều cái xui lắm.... Nếu nhìn như vậy thì cuộc sống đúng là bể khổ và khó lòng mà vui được. Điều gì đang xẩy ra thì là đang xẩy ra thôi. Có gì mà phải lý luận. Tại sao cứ phải ăn mặc đúng "tiêu chuẩn".
Cứ tưởng tượng trời mùa hè ở New Orleans nóng hơn Sài Gòn, mà mấy dân đi làm thương mại cứ phải đóng đồ bộ dầy cộm và thắt cà vạt đến nghẹt thở, mồ hôi nhễ nhãi thật tội nghiệp. Nhưng xem ra không thể cưỡng lại cái "lệnh" vô hình này của xã hội được mới chết. Phải có áo Polo. Phải đi xe mốt mới.
Chẳng bù cho Phó Gẫm nhà ta: cũng mặc đồ bộ, nhưng lại mang đôi ba-ta cũ, chẳng giống ai. Nó cũng mong có một đôi giầy êm cỡ giầy hiệu S.A.S như cô y tá đang mang kia chứ. Nhưng có sao thì vui vậy. Thế thôi. Tại sao lại cứ phải "giống ai" để mà khổ, rồi lại lý luận: sinh ra là khổ, bệnh cũng khổ, già là khổ, chết là khổ!
Mâu thuẫn chưa? "Chẳng giống ai" mà sung sướng thì đó là chất ăn khách của Phó Gẫm. Ai muốn sống hạnh phúc phải mua cái nhìn như vậy: trên 660 triệu tiền Mỹ đấy! Thì ra, "thế giới sẽ hoàn toàn đổi khác, một khi bạn nhìn qua con mắt của Phó Gẫm".
TIN VUI LẬT NGƯỢC CHO NĂM 2000
Theo truyền thống Công Giáo, mở đầu cho tuần lễ trọng nhất trong năm phụng vụ gọi là Tuần Thánh, người tin Đạo đón rước Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem với cành lá trên tay và miệng vang lên lời hoan hô xưng tụng vinh danh. Mà không phải chỉ xưng tụng ngoài miệng mà còn là nhận ra Ngài là Đường, là dấu chỉ thời đại, là mẫu "minh tinh" chói sáng, để tiến bước theo trong những ngày trọng đại này.
Nhưng dấu chỉ nơi Ngài lại quá ngược đời làm sao nhận định kịp: một ông vua cỡi lừa? Thường vua chúa khải hoàn tiến vào thủ đô phải ngồi trên ngựa chiến, ngự trên ngai vàng có cẩm bào oai vệ, tướng lãnh chỉ huy thắng trận Vùng Vịnh về tiến vào Nữu Ước với đoàn chiến xa hùng dũng và ngàn vạn bong bóng đủ màu bay rợp trời.
Chúa Giêsu không chỉ nói về dấu chỉ, mà Ngài đã trở thành chính dấu chỉ lật ngược mọi tiêu chuẩn bình thường. Đó là "Con Đường Ít Người Đi" như tựa đề cuốn sách về tâm lý bán chạy nhất trong nhiều năm của Scott Peck. Có con đường nào khác nữa đâu? Đó cũng là con "đường tình đó Ngài dành cho con" như lời một bài hát rất phổ thông của nhạc sĩ Văn Chi.
Bà Sue Bender đã kể lại trong cuốn "Plain and Simple" (Giản Đơn) về kinh nghiệm sống với dân Amish ở miền bắc nước Mỹ với lối sống lật ngược mọi tiêu chuẩn Mỹ hiện tại. Lớp dân này sống thật an bình vui tươi giữa một xã hội Mỹ đầy bất trắc rối loạn. Và bà đã thử áp dụng ngay trong cuộc sống bình thường khi trở lại nhà mình: dọn lại phòng, bếp; cho bớt đi những gì rườm rà ứ đọng, để ý săn sóc những gì xem ra rất tầm thường mọi ngày. Và tự nhiên bà ta nhận ra thật nhiều phép lạ trong đời sống với lối nhìn mới, lật ngược lại mọi khi. Đúng là cũng cần phải "không giống ai" một tí.
Để sửa soạn cho thời điểm năm 2000 như một khúc quặt và một dấu chỉ lật ngược, hội thánh Công Giáo đã dành ra cả một thời gian 3 năm để nhìn cho rõ, để tu luyện và bước theo một con đường đã được thể hiện từ 2000 năm nay do chính Chúa Giêsu. Vì thế năm 1997 là năm hội thánh đặt nền trên việc học hỏi để bước theo Chúa Giêsu, vẫn mãi mãi là dấu cho nhiều người vấp ngã và nhiều người bước tới được như lời ông Simeon đã nói trước khi Ngài được đưa vào đền thờ lúc còn bé thơ.
Vậy mình thử bắt đầu ngay lúc này ngay hôm nay một vài việc xem ra chẳng giống ai, lật ngược lại tiêu chuẩn bình thường. Nhất định không theo đám đông nữa, không để ai có quyền xỏ mũi lôi mình đi nữa. Con đường theo đà nhiều người đang đi chỉ đưa đến bất ổn đổ vỡ thì tại sao mình lại cứ nhắm mắt để cho người ta lôi dẫn đi?
Lạy Chúa, con đường nào Chúa đã đi qua? Xin cho con bước đi với Ngài, để được sống với Ngài vinh quang. Con đang lên đường bước theo chân Chúa vào Giêrusalem. Con đang giã từ con đường thênh thang buông thả theo đà trớn để dám bắt đầu đi "con đường ít người đi" này. Đây là một khúc quặt đời con, cuộc sống chắc chắn tìm được hướng đi mới. Và đây là con đường dẫn con và nhiều người vào thiên kỷ 3 với một nhãn quan mới.

 

Lễ_lá-15: PHÂN BIỆT ĐIỀU CHÍNH ĐIỀU PHỤ

- Lm. Giê-rô-ni-mô Nguyễn Văn Nội
Suy tư gợi ý:
1. Phân biệt điều chính điều phụ:
 

Thường thường người giáo dân chúng ta dễ bị lôi cuốn bởi những chi tiết bên ngoài, phụ thuộc: Lễ_lá-15

Thường thường người giáo dân chúng ta dễ bị lôi cuốn bởi những chi tiết bên ngoài, phụ thuộc và dễ gây cảm xúc của biến cố Tử Nạn của Đức Giê-su, mà ít quan tâm đến yếu tố trọng tâm và ít đi vào chiều sâu của biến cố, cũng là của Mầu Nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh của Con Một Thiên Chúa. Chúng ta thường dừng lại ở cảnh đón rước Chúa tưng bừng của dân chúng thành Giê-ru-sa-lem, cảnh cô đơn và đau khổ của Đức Giê-su trong cuộc Khổ Nạn…Tất cả những chi tiết, những quang cảnh ấy đều có giá trị nhưng điều quan trọng và đáng chúng ta chú ý nhất là Thiên Chúa Nhập Thể Làm Người nơi Đức Giê-su đã sống cuộc Khổ Nạn ấy như thế nào và tại sao Người lại chấp nhận cuộc Khổ Nạn ấy?
2. Đức Giê-su đã sống cuộc Khổ Nạn như thế nào?
Dựa vào Kinh Thánh Cựu và Tân Ước chúng ta thấy nổi bật những yếu tố sau đây:
2.1 Đức Giê-su đã biết trước cuộc khổ nạn, nghĩa là Người rất ý thức và tỉnh táo trước cuộc Khổ Nạn và đã chuẩn bị mọi việc chu đáo trước ngày xẩy ra biến cố trọng đại ấy:
a) Đức Giê-su đã loan báo ít nhất là ba lần biến cố Khổ Nạn và Phục Sinh của Người để chuẩn bị tâm hồn các Tông đồ biết đón nhận và hiểu được rằng biến cố ấy nằm trong Chương Trình của Thiên Chúa và có ý nghĩa Cứu Độ chúng sinh.
b) Đức Giê-su đã để lại một bài học sống động, cụ thể về tình thương yêu huynh đệ, về tinh thần và cung cách phục vụ lẫn nhau trong cộng đoàn, qua việc Người quì xuống rửa chân cho Nhóm Mười Hai
c) Đức Giê-su đã lập Phép Thánh Thể và Truyền Chức để duy tri sự hiện diện "bí tích" của Ngài giữa cộng đoàn môn đệ thay cho sự hiện diện thể lý. Sự hiện diện thể lý là sự hiện diện bằng xương bằng thịt mà giác quan chúng ta cảm nhận được. Còn sự hiện diện "bí tích" là sự hiện diện siêu hình nhưng có thật và chúng ta chỉ cảm nhận được bằng đời sống tâm linh và bằng Đức Tin mà thôi.
2.2 Đức Giê-su đã chấp nhận mọi Khổ Đau (thể xác, tinh thần, tâm linh) một cách bình tĩnh, can trường, khiêm hạ và vâng phục.
a) Đức Giê-su đi đầu Nhóm Tông Đồ ra đón đám quân lính được sai đến bắt Người.
b) Đức Giê-su không kêu than, van vỉ, không phản bội sứ mạng khi bị tra tấn, đánh đập, xí nhục, bị kết án và bị đóng đinh trên Cây Thập Tự.
c) Đức Giê-su phó thác xác hồn và sự nghiệp của Người vào tay Thiên Chúa Cha.
3. Tại sao Đức Giê-su lại chấp nhận cuộc Khổ Nạn ấy?
3.1 Trước hết vì Đức Giê-su vâng phục Thiên Chúa Cha.
3.2 Kế tiếp là vì Đức Giê-su phó thác tin tưởng vào Thiên Chúa Cha Quyền Năng và Thượng Trí khi Thiên Chúa Cha để sự việc xẩy ra như vậy.
3.3 Và sau cùng là vì Đức Giê-su muốn thể hiện Sức Mạnh và Sự Điên Cuồng của Thiên Chúa là Tình Yêu (Deus Caritas est) khi chấp nhận là một tử tội, yếu đuối, hèn hạ trước mắt loài người.
NGUYỆN:
Lạy Thiên Chúa Cha là Đấng đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một Người cho thế gian (Ga 3, 16), chúng con cảm tạ, chúc tụng và ngợi khen Cha!
Lạy Chúa Giê-su Ki-tô là Đấng đã yêu thương những kẻ thuộc về Người và đã yêu thương họ đến cùng (Ga 13, 1), chúng ta cảm tạ, chúc tụng và ngợi khen Chúa!
Lạy Chúa Thánh Thần là Sức Mạnh và là Tình Yêu của Thiên Chúa, Đấng đã làm cho cuộc Khổ Nạn của Đức Giê-su có Sức Mạnh cứu độ chúng con, chúng con cảm tạ, chúc tụng và ngợi khen Chúa!

 

Lễ_lá-16: Đức Giêsu vào thành Giêrusalem

Lc 19,28-40

A. Hạt giống...

 

Trong đoạn này, Luca gói ghém 3 ý tưởng chính: 1. Đức Giêsu đích thân thu xếp cuộc vào thành: Lễ_lá-16

Trong đoạn này, Luca gói ghém 3 ý tưởng chính:

1. Đức Giêsu đích thân thu xếp cuộc vào thành Giêrusalem, Ngài căn dặn các môn đệ từng chi tiết nhỏ như đi vào làng, tìm gặp một con lừa đã cột sẵn ở một chỗ, cách trả lời với người chủ lừa v.v. Điều này chứng tỏ Ngài coi việc vào thành là quan trọng.

2. Quan trọng thế nào? Vì qua cuộc vào thành lần này, Ngài sẽ tỏ cho mọi người biết Ngài là vua. Ý nghĩa này thể hiện qua các chi tiết đám rước long trọng (lưng lừa và con đường được lót áo, dân chúng tung hô, lời hoan hô "Chúc tụng Đức Vua" v.v.

3. Thế nhưng một số người thưộc nhóm Pharisêu vẫn không công nhận vương quyền Ngài và còn đề nghị Ngài quở trách các môn đệ đã tung hô Ngài. Nhưng Đức Giêsu đáp "Họ mà làm thinh thì sỏi đá cũng sẽ kêu lên", nghĩa là dù một số người không công nhận Ngài là vua thì thực chất Ngài cũng vẫn là vua.

B.... nẩy mầm.

1. Theo Tin Mừng Luca, tất cả mọi việc làm của Đức Giêsu đều hướng về việc tiến vào Giêrusalem hôm nay. Vào thành này, Ngài sẽ bị bắt, bị hành hạ và giết chết. Nhưng bởi vì đó là sứ mạng của Ngài nên Ngài không ngại và còn vui mừng khi việc này sắp được thực hiện. Ngài quan tâm đến nỗi đích thân thu xếp từng chi tiết nhỏ.

Ước gì chúng ta cũng không bao giờ quên sứ mạng của mình và làm mọi việc để cho sứ mạng ấy được hoàn thành, cho dù hoàn thành bằng cái giá là những đau thương khổ sở.

2. Đức Giêsu là vua, nhưng không giống những ông vua trần thế thích chiến tranh, ưa thống trị, mà là một vị vua khiêm tốn và hiền lành cỡi trên lưng một con lừa nhỏ.

Đức Giêsu là vua đang "cai trị" chúng ta, không bằng uy quyền và kỹ luật sắt, mà bằng tình thương. Lẽ ra chúng ta phải vì thế mà kính mến Ngài, nhưng chúng ta lại vì thế mà coi thường Ngài!

3. Bắt đầu Tuần Thánh, Giáo Hội trình bày Đức Giêsu là vua. Chúng ta phải luôn nhớ điều căn bản này khi theo dõi những diễn biến trong cuộc chịu nạn của Ngài: dù Ngài bị bắt, bị đánh đòn, bị nhục mạ và bị giết chết, Ngài vẫn là vua và mãi mãi là vua. Bởi vì một vị vua đích thực phải là người yêu thương chăm lo cho dân mình, cho dù phải hy sinh bất cứ điều gì.

4. Một ông vua nọ muốn nhìn thấy Chúa. Ông đe dọa tất cả các linh mục và các nhà thông thái là nếu không chỉ cho ông thấy Chúa, họ sẽ bị trừng phạt nặng nề.

Trong lúc các vị suy nghĩ tìm cách, thì một người chăn cừu dẫn vua đến bãi cỏ, chỉ lên mặt trời và nói: "Hãy chăm chú nhìn". Vua cố gắng cách cực khổ rồi gục đầu xuống và hét lên: "Ngươi muốn cho Ta mù phải không?"

- Tâu bệ hạ, mặt trời chỉ là một tạo vật của Chúa, một hình ảnh mờ nhạt của Người. Nếu ngài không thể nhìn vào mặt trời, làm sao ngài có thể nhìn vào Chúa. (Góp nhặt).

Lm. Trọng Hương (Việt Nam)

Tài Liệu Riêng Của Người Tín Hữu


 

Lễ_lá-17: CON NGƯỜI DỄ THAY ĐỔI - NCK

Suy tư gợi ý :
1. Con người dễ thay đổi
 

Trong bài Tin Mừng của nghi thức rước lá, ta thấy thái độ của người Do Thái là nhiệt tình tung: Lễ_lá-17

Trong bài Tin Mừng của nghi thức rước lá, ta thấy thái độ của người Do Thái là nhiệt tình tung hô Đức Ki-tô, như muốn tôn Ngài làm vua. Nhưng trong bài Tin Mừng thương khó, ta lại thấy thái độ của họ là đòi giết Ngài mà tha Ba-ra-ba. Hai sự kiện, hai thái độ đó xảy ra cách nhau không bao lâu. Điều nhiều khi làm tôi rất ngạc nhiên là tại sao dân chúng lại thay đổi thái độ nhanh như vậy đối với Đức Ki-tô? Tương tự, đầu bài thương khó, ta thấy Phê-rô quả quyết: "Thưa Thầy, dù có phải vào tù hay phải chết với Thầy đi nữa, con cũng sẵn sàng". Nhưng chỉ mấy tiếng đồng hồ sau, ông đã chối Thầy mình tới ba lần, chỉ vì sợ người ta biết mình là môn đệ của Thầy, cho dù lúc đầu chỉ là một đứa đầy tớ gái của vị thượng tế hỏi ông.
Đôi khi tôi tự hỏi: liệu mình có thể thay đổi thái độ nhanh chóng như thế không? Tôi thường tự nhủ rằng mình sẽ không thay đổi, sẽ trước sau như một, sẽ trung thành với Chúa, với lập trường của mình, sẽ chung thủy với người bạn trăm năm của mình mãi mãi, v.v… Và tôi nghĩ rằng mình sẽ không bao giờ thay đổi. Nhưng kìa chung quanh tôi có biết bao người đã thay đổi!
2. Kinh nghiệm của tôi
Có những người tôi tưởng rằng sẽ không bao giờ thay đổi, vì tôi đã từng nghe họ tâm sự một cách chân thành về sự quyết tâm không thay đổi của họ. Thế mà họ đã thay đổi! Có những người tỏ ra bất mãn cực độ về thái độ đáng ghét của một người khác, khiến tôi tưởng rằng họ sẽ không bao giờ có thái độ như thế với ai. Nhưng tôi thấy khi họ ở vào địa vị hay trường hợp giống như người kia, thì họ cũng lại hành xử y như thế.
Đọc lịch sử, tôi thấy có những ông vua: khi còn phải nằm gai nếm mật để chiến đấu với kẻ thù, thì tỏ ra hết mực yêu thương dân chúng, quý trọng những thuộc hạ cùng sống chết với mình, và lúc nào cũng sẵn sàng hy sinh cả mạng sống cho họ. Nhưng khi đã lên ngôi vua, thì chẳng bao lâu tính tình ông vua thay đổi, trở nên hống hách, tàn ác, sẵn sàng giết hại thuộc cấp, bóc lột dân chúng. Tôi đã từng gặp những người khi còn là chủng sinh hay tu sĩ thì thật là khiêm nhường, dễ thương, tinh thần phục vụ rất cao, nhưng chỉ một vài năm sau khi làm nên danh này phận nọ, thì tính tình và cách xử sự của họ tự nhiên thay đổi hẳn. Có những cặp vợ chồng trước đám cưới thì thề non hẹn biển, dù thế nào đi nữa cũng quyết chung thủy với nhau trọn đời, thế mà chỉ sống với nhau được vài năm thì đã có người thay dạ đổi lòng. Biết bao nhiêu kinh nghiệm khác tương tự như thế!
Những kinh nghiệm ấy làm tôi không còn dám quả quyết rằng mình sẽ không bao giờ thay đổi. Và cũng không dám kết án những ai thay đổi, làm như thể mình là người không thể thay đổi. Tôi cảm thấy cần phải bao dung, thông cảm cho sự thay đổi của người khác, vì bản tính yếu đuối của con người. Chúng ta hãy xem thái độ của Đức Ki-tô như thế nào đối với Phê-rô, kẻ đã phản bội vì chối Ngài tới 3 lần. Thấy ông hối lỗi, Đức Ki-tô không những đã không phiền trách ông, mà còn tín nhiệm ông hơn nữa, Ngài đã đặt ông làm thủ lãnh của cả nhóm 12 tông đồ.
3. Con người bị giới hạn về đủ mọi mặt và lệ thuộc vào nhiều điều kiện bên ngoài
Dù không sa ngã, nhưng Đức Giê-su đã cảm nghiệm được sự yếu đuối trong thân phận con người của Ngài. Nhờ sự minh mẫn của thần tính, nên với kinh nghiệm về sự yếu đuối ấy, Ngài hiểu rõ hơn ai hết sự yếu đuối và giới hạn của con người. Vì thế, Ngài luôn luôn thông cảm với những lầm lỗi, tính hay thay đổi, sự bất trung của con người. Thái độ của Ngài đối với Phê-rô, đối với những người đàn bà ngoại tình, tội lỗi, được diễn tả bằng thái độ của người cha trong dụ ngôn đứa con hoang đàng, nói lên sự bao dung đầy tính thông cảm của Ngài. Chúng ta cũng nên tập cho mình thái độ bao dung và thông cảm ấy, nhất là khi chính ta cũng là con người yếu đuối, chẳng dám tự hào mạnh mẽ hơn ai.
Khi tự xét bản thân, tôi thấy có những lúc tinh thần tôi lên rất cao, nhưng cũng có lúc tinh thần xuống rất thấp. Điều này tùy thuộc khá nhiều vào ngoại cảnh. Tinh thần tôi thường lên cao vào những dịp tĩnh tâm, khi được một ai đó khích lệ, hay khi sống gần những người đức hạnh, gương mẫu, v.v… Nhưng tinh thần tôi xuống rất thấp khi sức khỏe tôi suy yếu, khi gặp toàn những thất bại, hay khi gặp quá nhiều khó khăn, thử thách, cám dỗ, v.v… Tôi nhận thấy độ cứng của lương tâm tôi có giới hạn, nó có thể đứng vững trước những cám dỗ bình thường, nhưng có lẽ nó sẽ bị gẫy trước những cám dỗ nặng nề và kéo dài. Có thể tôi không bán rẻ lương tâm với giá 10 triệu, 20 triệu, nhưng rất có thể trước những mối lợi trị giá 100 triệu, 200 triệu, tôi sẵn sàng bán lương tâm của tôi. Quả thật, tôi không dám mạnh miệng tuyên bố là tôi luôn đứng vững. Câu Kinh Thánh "Ai tưởng mình đứng vững, hãy coi chừng kẻo ngã" (1Cr 10,12) khiến tôi không dám tự hào và chê bai hay kết án ai. Biết bao người thiện chí hơn tôi, thánh thiện hơn tôi rất nhiều đã sa ngã. Tôi chỉ còn biết trông cậy vào ơn Chúa, Chúa có gìn giữ tôi thì tôi mới đứng vững, mới không sa ngã, còn tự sức tôi thì thật đáng nghi ngờ.
4. Trong chính bản thân tôi, có hai lực lượng đối kháng nhau
Lúc nào tôi cũng thấy trong tôi có hai lực ngược nhau tác động trên tôi: một lực kéo tôi lên, khuyến khích tôi làm những việc tốt đẹp, cao thượng, vị tha, một lực trì tôi xuống, thúc đẩy tôi làm những chuyện xấu xa, bỉ ổi, ích kỷ. Muốn làm theo lực kéo tôi lên thì tôi phải cố gắng rất nhiều, phải làm ngược lại ý riêng, bản năng, dục vọng của tôi, điều này thật khó. Còn muốn làm theo lực kéo xuống thì tôi cảm thấy rất dễ dàng, thậm chí thật hấp dẫn, chẳng cần phải cố gắng gì cả. Chính vì thế, tôi luôn luôn cảm nghiệm y hệt như Phao-lô: "Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn thì tôi lại cứ làm" (Rm 7,19).
Như vậy, trong tôi luôn luôn có khuynh hướng xấu, ác. Chính những lúc tôi nghĩ mình yếu đuối, sợ mình không thắng nổi sự ác, nên tôi cậy trông vào Chúa, thì tôi lại không làm điều ác. Nhưng chính những lúc tôi tưởng mình mạnh mẽ, tự cho mình là công chính, nghĩ mình đã hơn được rất nhiều người, tự hào về chính mình, cho rằng mình có khả năng thắng sự ác một cách dễ dàng, thì lại là lúc tôi làm nhiều điều xấu ác, nhiều điều ngu xuẩn, hớ hênh hơn lúc nào hết. Chính vì thế, tôi rất cảm thông với sự yếu đuối khiến người ta thay đổi như những trường hợp đã nói trên.
Cầu nguyện
Lạy Chúa, trong tuần thánh này, xin cho con nhận ra sự yếu đuối và sự dễ dàng thay đổi của con, để con đừng bao giờ tự hào mình mạnh mẽ hơn người, mà luôn trông cậy vào sức mạnh của Chúa. Xin cho con học được bài học của Phao-lô: chính lúc khiêm nhường tự nhận ra mình yếu đuối, lại là lúc mạnh mẽ nhất vì đã bám vào Chúa.

 

Lễ_lá-18: CHIẾC GHẾ LẮC LƯ - Dòng Đồng Công :

Một hiệu trưởng của một trường trung học tại Dallas, Texas có một chiếc ghế lắc lư cổ trong: Lễ_lá-18

Một hiệu trưởng của một trường trung học tại Dallas, Texas có một chiếc ghế lắc lư cổ trong văn phòng ông. Khi có ai hỏi về chiếc ghế đó thì ông trả lời là chiếc ghế đó là của bà ngoại ông. Chiếc ghế đó nằm trong phòng khách của bà và trên chiếc ghế mấy thước thì có một tượng chịu nạn treo trên tường.
Một đêm nọ bà ông kể cho ông nghe về Chúa Giê-su và Chúa đã chết trên thập tự như thế nào. Ông nghe kể về Chúa, ông rất cảm động. Đêm đó ông không ngủ được. Ông cứ lăn lộn trên giường, suy nghĩ về Chúa bị đóng đinh. Sáng sớm hôm sau, ông vội vàng chạy ra phòng khách. Ông leo lên ghế và gỡ tượng chịu nạn xuống khỏi tường. Ông quỳ xuống bên tượng và ông dùng dao cố gắng gỡ các đinh ra khỏi tay chân của Chúa, nhưng ông làm không được. Ông òa lên khóc.
Lúc này thì bà ngoại nghe ông khóc và vội ra khỏi phòng ngủ. Khi thấy cây thánh giá dưới đất và cháu mình đang khóc, bà hỏi : “Sao vậy cháu, tại sao cháu khóc vậy ?”.
Nức nở ông trả lời: “Bà ơi, cháu muốn gỡ đinh ra cho Chúa, Chúa bị đóng đinh bất công quá bà ơi”.
Nghe vậy, bà ngoại bồng ông lên và ngồi xuống chiếc ghế lắc lư. Ôm lấy cháu, bà bắt đầu lắc chiếc ghế. Khi ông đã hết khóc, bà nói : “Này cháu, bà biết bây giờ cháu còn trẻ quá, cháu chưa hiểu tại sao Chúa phải chịu đóng đinh trên thập giá. Đến một ngày nào đó, khi cháu lớn lên, cháu sẽ hiểu. Ngày đó, cây thập giá sẽ không là một cái gì xấu xa nhưng sẽ là một cái gì rất đẹp vì nó sẽ nhắc cho cháu biết Chúa yêu cháu dường nào”. Ông hiệu trưởng nói: “Sáng hôm đó, ngồi trong lòng bà, trên chiếc ghế tôi đã hiểu được ý nghĩa sâu xa của cuộc tử nạn”.
Đây là một câu chuyện hay, không những vì nó đơn sơ đẹp đẽ nhưng nó còn biểu lộ một nền thần học rất vững. Vững vì nó chú trọng đến điều can hệ của việc Chúa bị đóng đinh. Nó không đề cao những nỗi khổ của Chúa đã phải chịu nhưng là tình yêu của Chúa mà thúc đẩy Chúa chịu như thế. Nó chú trọng đến ý nghĩa sâu xa của cuộc tử nạn. Ý nghĩa này có thể nói tóm trong ba điều sau :
Thứ nhất, cuộc đóng đinh biểu lộ tình yêu của Chúa. Cuộc đóng đinh nói cho ta biết Chúa yêu ta đến mức như Chúa đã nói: “Không ai có tình thương lớn hơn tình thương của người hy sinh mạng sống mình cho bạn hữu”.
Thứ hai, cuộc đóng đinh là một lời mời gọi tình yêu. Nó kêu mời ta bắt chước Chúa Giê-su. Nó mời gọi ta hãy yêu mến nhau như Chúa đã yêu thương chúng ta. Chúa nói : “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga. 15, 12).
Cuối cùng, cuộc đóng đinh là một mạc khải về tình yêu. Nó nhắc nhớ cho ta rằng tình yêu phải có hy sinh. Chúa dạy: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mc. 8, 34)
Trong mùa chay, chúng ta không nhấn mạnh đến những thống khổ Chúa phải chịu nhưng đến tình yêu của Chúa muốn chịu khổ vì người mình yêu. Đây cũng là thông điệp Chúa muốn dạy chúng ta trong Tuần Thánh này. Thông điệp này là tình yêu Chúa đã dành cho chúng ta, một tình yêu khiến Chúa hy sinh cả mạng sống. Và đây cũng là lời mời gọi chúng ta hãy yêu thương nhau như Chúa đã yêu thương chúng ta.
Chúng ta hãy kết thúc bằng một bài thơ của Linh mục Titus Brandsma: “Con đường hiu quạnh Chúa đã đi hồi xưa giúp con hiểu đau khổ ... Tình yêu của Chúa đã chiếu sáng con đường tối tăm con đang đi... Lạy Chúa Giê-su, xin hãy ở với con, con không sợ nếu con biết Chúa ở bên con”.

 

Lễ_lá-19: NHỮNG KẺ GIẾT ĐỨC GIÊSU

Vào cuối cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai, người ta lập ra một toà án quân sự quốc tế tại: Lễ_lá-19

Vào cuối cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai, người ta lập ra một toà án quân sự quốc tế tại Nuremberg để xét xử các thành viên lãnh đạo chế độ Đức Quốc Xã bị buộc tội chống lại con người. Đây là những kẻ khiến toàn châu Âu rụng rời khiếp sợ. Mặc dầu vậy họ không phải là quỷ dữ hiện thân. Họ chỉ là những kẻ chọn sự dữ. Một quan sát viên, khi được hỏi những bị cáo đó trông như thế nào, ông đáp rằng : “Họ trông cũng bình thường, giống như những người ngồi xổm suốt đêm trong toa xe hoả hạng ba.”
Những kẻ giết Đức Giêsu không là lũ người độc ác quái dị, hành động theo những động cơ xấu xa nhất có thể có được. Họ là những con người bình thường. Họ cũng thuộc một gia đình nhân loại như chúng ta. Trong mỗi con người ấy, chúng ta thoáng thấy điều gì đó của chính mình : những thiếu sót, nhu cầu về ân sủng. Điều giống nhau này có thể làm chúng ta bối rối nhưng chúng ta không thể bác bỏ sự việc ấy.
Chúng ta hãy duyệt qua những nhân vật chính trong câu chuyện ngày thương khó và những động cơ khiến họ hành động.
Những người Pharisêu : Đây là những người khổ hạnh và sùng đạo, họ dâng hiến tất cả nghị lực để làm việc lành và nghiên cứu luật Chúa. Thế nhưng, họ tin vào sự công chính của mình và lịch sử cho thấy những người như vậy có khả năng làm điều dữ kinh hoàng nhất. Ví dụ Phaolô khi chưa trở lại, các cuộc Thập tự chinh, toà án dị giáo, các nhà cầm quyền tra tấn những kẻ tình nghi, những hành động dã man của quân du kích.
Caipha : Có lẽ điều quan tâm chủ yếu của ông là tính chính thống của tôn giáo. Và người ta dễ dàng lầm đường lạc lối biết bao bởi những messia giả. Giáo hội đã kết án những kẻ dị giáo và đưa họ lên giàn hoả thiêu vì nghĩ rằng đó là việc phục vụ Thiên Chúa.
Philatô : Ông nghĩ đến chức quyền của mình, đến việc bảo vệ luật pháp và duy trì trật tự vào thời điểm hết sức phức tạp. Ông biết Đức Giêsu vô tội nhưng ông sợ những rắc rối sẽ xảy ra nếu ông không cho phép giới lãnh đạo tôn giáo làm điều họ muốn. Chắc chắn là ông cũng nghĩ đến công việc của  ông. Phần đông chúng ta đều biết điều gì là đúng, nhưng không phải lúc nào chúng ta cũng có can đảm để thực hiện.
Giuđa : Có thể nói chắc ông là người bị vỡ mộng. Cho dầu đã nhận ra và lên án tội ác mình làm, ông cũng không thể sống với niềm day dứt vì đã giết người vô tội. Thời nay có lẽ nhiều người không đặt điều đó thành vấn đề. Hãy nghĩ đến những đao phủ, những người phá thai, những kẻ khủng bố, những cái chết tập thể. Nhiều khi nếu không phản bạn, tất cả chúng ta cũng đã phản bội lý tưởng của mình.
Phêrô : Đơn giản đây là một người yếu đuối và nhát gan. Bất cứ ai trong chúng ta có lẽ cũng sẽ chối Chúa Giêsu trong những hoàn cảnh tương tự. Ít nhất Phêrô đã khóc về tội chối Chúa. Có bao nhiêu người trong chúng ta biết khóc về tội chối Chúa ?
Những người lính : Họ chỉ thực hiện theo mệnh lệnh. Những người lãnh đạo đảng Quốc Xã đều có lời xin lỗi như thế. Tại toà án Nuremberg, họ cố gắng thuyết phục các công tố viên tin rằng họ thực sự là những người tốt, tội duy nhất của họ là lòng trung thành. Chúng ta cũng hay đổ tội mình cho người khác. Chúng ta chối không nhận trách nhiệm về các hành động hèn nhát và sự thoái thác của mình.
Dân chúng : Đây là một dịp kích động cao độ. Họ dễ dàng bị lôi cuốn. Họ thực sự không biết điều gì đang xảy ra. Chúng ta không thường ẩn náu trong đám dân đó hay sao? Chúng ta phản kháng : “Mọi người đều làm như vậy.”
Nhưng chúng ta không được quên nhìn vào nhân vật trung tâm trong câu chuyện này, đó chính là Đức Giêsu. Người cho chúng ta thấy rằng cách thế duy nhất chiến thắng tội lỗi, đó là làm việc lành. Người yêu thương chúng ta đến nỗi chết vì chúng ta.
Bóng tối tội lỗi đang ngủ trong tất cả chúng ta. Tuần Thánh giúp chúng ta có cơ hội nhìn lại điều đó. Đức Kitô sẽ giúp chúng ta đối phó với tội lỗi ở trong ta và vượt thắng nó. Nhưng đó chỉ là phần tiêu cực. Còn mặt tích cực, Người sẽ giúp chúng ta trở nên khí cụ của chân lý, công bình, an hoà và tình yêu trong thế giới này.

 

Lễ_lá-20: DẤU VẾT ĐỂ LẠI

Vào một buổi chiều mùa đông, các cánh đồng phủ lớp trắng tuyết xốp mềm. Trên tuyết đầy: Lễ_lá-20

Vào một buổi chiều mùa đông, các cánh đồng phủ lớp trắng tuyết xốp mềm. Trên tuyết đầy những dấu chân chim và muông thú. Nhìn kỹ những dấu chân này có thể nhận ra một số loài chim thú và thậm chí biết chúng đang làm gì.
Hầu hết những gì các bạn thấy chẳng có hại gì, những dấu chân của các sinh vật bé nhỏ đang cố gắng để sống còn trong thời tiết khắc nghiệt. Chẳng hạn, vết cào bới tìm kiếm sâu bọ của các chú chim sẻ, và dấu vết sục sạo kiếm cỏ của các chú thỏ. Thế rồi những đốm máu tung toé trên tuyết, chỗ một con cáo hay con chim săn đã giết mồi.
Nếu các bạn đi qua đi lại trên những cánh đồng này vào một ngày thường, các bạn sẽ không thấy dấu vết hoạt động của loài chim thú nào cả. Mọi sự đều bị che phủ. Nhưng vào ngày mùa đông này, chúng không bị che phủ nữa và mọi thứ đều bị lộ ra. Mọi thứ đều được viết lại trên tuyết – đơn sơ, vui tươi, khéo léo, khó nhọc, xảo quyệt và tàn sát đẫm máu.
Những điều tương tự cũng có thể xảy ra trong thế giới loài người. Những điều xảy ra trong cộng đoàn hay nơi làm việc, và người ta buộc phải tỏ rõ lập trường. Thình lình những gì phủ lấp họ bị cuốn tung đi, lộ ra những sắc màu thực của họ. Một số  trông thật đẹp, nhưng một số khác tỏ hiện ra trong ánh sáng mờ nhạt.
Phiên toà và cuộc hành hình Đức Kitô là một trong những sự kiện làm hiển lộ những suy nghĩ và tâm hồn con người. Đức Kitô là người vô tội rõ ràng đến nỗi khi Người bị kết án, những hạt tuyết vô tội của Người, từ trời rơi xuống, phủ kín trái đất. Tất cả mọi người ở khắp nơi trong ngày đó đều để lại những dấu vết rõ ràng phía sau họ. Tất cả những gì che phủ họ đều đã được cuốn tung đi.
Vào ngày đó không phải Đức Kitô đã bị xét xử. Mà là các môn đệ của Người, đặc biệt là những kẻ tố cáo và hành hình Người. Nhưng cũng không phải Người xét xử họ. Chính họ tự xét xử họ – do dấu vết họ đã để lại. Nhìn vào những dấu vết này, ngay cả một đứa trẻ cũng có thể nói được trong ngày ấy đứng về phía Đức Kitô và ai chống lại Người.
Nhìn vào những dấu vết này chúng ta thấy gì ? Chúng ta thấy những điều xấu xa. Chúng ta thấy lòng hận thù và cuồng tín của Caipha và của các nhà lãnh đạo tôn giáo đã âm mưu giết Người ; sự lạnh lùng, toan tính tội lỗi của Giuđa, kẻ phản bội Người ; sự yếu đuối của Phêrô, kẻ đã chối Người ; sự tàn ác của Hêrôđê, kẻ chế nhạo Người ; sự hèn nhát của Philatô, dù biết Người vô tội, vẫn ký lệnh giết Người ; sự thù nghịch vô ý thức của đám đông dân chúng, những kẻ đã la lớn : “Đóng đinh nó ! Đóng đinh nó !” ; sự vâng phục với ý thức chấp hành mệnh lệnh của đám binh lính thực hiện việc hành hình.
Nhưng chúng ta cũng thấy một vài điều tốt đẹp. Chúng ta thấy bà Vêrônica thương xót lau mặt Chúa, Simon thành Kyrênê can đảm giúp Người vác thập giá, các phụ nữ Giêrusalem cảm thông khóc thương Người, một nhóm ít bạn hữu trung thành theo Người đến cùng, trong số này có mẹ Người và môn đệ Gioan.
Tất cả chúng ta đều để lại dấu vết phía sau mình. Tuần Thánh này cho chúng ta có cơ hội bỏ hành lý xuống và nhìn lại các dấu vết chúng ta để lại phía sau. Phải chăng chúng là những dấu vết của sự nhát đảm, đạo đức giả, hay của ai đó chỉ biết sống cho mình ? Hoặc phải chăng chúng là những dấu vết của một con người can đảm, quảng đại, là người không hổ thẹn khi tự nhận mình là môn đệ của Đức Giêsu.
Chúng ta sẽ thấy rằng chúng ta đứng về phía Đức Kitô chừng nào chúng ta đứng về phía anh chị em mình, hoặc chúng ta chống lại Đức Kitô bởi vì chúng ta thù nghịch với anh chị em mình.
Chúng ta cũng xác định được mức độ nhân đức của chúng ta, không phải là dựa trên những gì chúng ta thực hiện được trong những hoàn cảnh đặc biệt, nhưng qua thái độ bình thường của chúng ta. Đó là những sự việc bình dị xảy ra hằng ngày hơn là những việc phi thường, hầu hết những việc đó tỏ hiện và hình thành nhân cách chúng ta.
Tuy nhiên, chúng ta không được quên nhìn vào nhân vật trọng tâm trong câu chuyện lễ Lá, chính là Đức Giêsu. Người cho chúng ta thấy phương cách duy nhất thắng vượt tội lỗi là làm điều lành. Người tha thứ cho những kẻ giết Người.
Và từ nơi thẳm sâu đau đớn của Người, Người đã đến với người khác. Người cảm thông với các phụ nữ Giêrusalem. Người đem hy vọng đến cho tên trộm biết thống hối. Người nghĩ về mẹ Người và nhờ Gioan chăm sóc bà. Có những người y như những cây mía : ngay cả khi hoàn toàn bị vắt kiệt, bị nghiền nát, thì họ vẫn mang lại những gì là ngọt ngào.

 

Lễ_lá-21: SỰ IM LẶNG DAI DẲNG

Tôi có một giấc mơ về ngày tận thế. Có hàng tỉ tỉ người tụ họp trên một cánh đồng mênh: Lễ_lá-21

Tôi có một giấc mơ về ngày tận thế. Có hàng tỉ tỉ người tụ họp trên một cánh đồng mênh mông trước ngai toà Thiên Chúa, chờ Thiên Chúa xét xử. Có người thì sợ hãi, có kẻ thì giận dữ.
Một phụ nữ nói : “Làm sao Thiên Chúa có thể xét xử chúng tôi được ? Người biết gì về đau khổ ? Chúng tôi đã phải sợ hãi, đã bị đánh đập, bị tra tấn và chịu chết.” Thế rồi bà vén tay áo để lộ ra một con số xâm trên cánh tay hồi bà ở trong trại tập trung của bọn Đức Quốc Xã.
Rồi một người da đen kéo cổ áo xuống để lộ ra những vết sẹo chằng chịt quanh cổ do bị dây thừng xiết. Ông hỏi : “Đây là cái gì ? Là dấu vết hành hạ dã man không vì một lỗi phạm gì mà chỉ vì màu da đen. Chúng tôi bị nhét chật cứng trong những con tàu buôn nô lệ, phải lìa xa những người thân yêu, phải làm việc quần quật không ngơi nghỉ cho đến chết.”
Tiếp theo là một thiếu nữ với hàng chữ “bất hợp pháp” in trên trán, cô nói : “Để chịu sự sỉ nhục cũng là quá sức rồi…” và tiếng nói của cô bị những tiếng nói khác lấn át đi.
Mọi người đều phàn nàn than trách Chúa vì Người đã cho phép những điều tàn ác và đau khổ xảy đến trong cuộc đời dương gian của họ. Thiên Chúa sung sướng, may mắn quá ; Người được sống trên trời nơi toàn là những sự ngọt ngào và sáng láng, nơi không hề có khóc than, sợ hãi, đói khát, hận thù. Thiên Chúa đã biết gì về những đau khổ của kiếp người ?
Họ nhất trí quyết định Thiên Chúa phải bị đày xuống trần gian sống như con người. Thế nhưng vì Người là Thiên Chúa, nên họ phải quy định một số điều để bảo đảm rằng Người không sử dụng quyền phép của Người mà trợ giúp mình.
Hãy để Thiên Chúa sinh ra là một người Do Thái. Hãy để người ta nghi ngờ về sự sinh hạ của Người đến nỗi không biết ai thực là cha của Người. Hãy bắt Người phải làm một công việc thật khó khăn đến nỗi gia đình Người cũng phải nghĩ rằng Người bị mất trí vì cố làm việc đó.
Hãy để Thiên Chúa bị những người bạn thân tín nhất phản bội. Hãy để Người bị truy tố về những tội Người không phạm, bị xét xử trước một hội đồng đầy thành kiến, bị kết án bởi một quan toà hèn nhát.
Cuối cùng, hãy để Thiên Chúa bị mọi loài mọi vật bỏ rơi cho biết nỗi cô đơn khủng khiếp đến thế nào. Hãy để Người bị tra tấn và nhạo báng. Rồi hãy cứ để Người phải chết. Hãy để Người chết thực sự đến nỗi không ai có thể nghi ngờ. Hãy để cho có một đám rất đông nhân chứng xác thực chuyện đó.
Khi mỗi điều khoản của bản án được công bố, những tiếng xì xầm tán thành của đám đông tụ tập lại rộ lên. Thế rồi họ chấm dứt phần tuyên án. Sau đó là một khoảng im lặng kéo dài. Không ai nói một lời. Không ai động đậy. Bởi vì thình lình tất cả đều đã nhận ra: Thiên Chúa đã thực hiện hết bản án đó của Người rồi.
Thật là một niềm an ủi lớn lao cho chúng ta khi biết rằng Đức Kitô, mặc dù là Đấng không có tội có lỗi gì, nhưng đã hạ mình đi trên con đường đau khổ trước chúng ta, và đi cho tới cùng. Trên thập giá, Người đã thu tập mọi nỗi đau của nhân loại và nhận nó làm của Người.
Mặc dù con đường đau khổ là con đường hẹp và khó đi, nhưng nay không còn nguyên như vậy nữa vì Đức Kitô đã đi qua rồi. Một ánh sáng rạng ngời chiếu soi nó. Và cho dẫu có dẫn đến đồi Canvê, nó cũng không dừng lại ở đó. Điểm dừng là Phục Sinh.
Những ai biết liên kết đau khổ của họ với đau khổ của Đức Kitô, họ sẽ trở nên nguồn mạch ân sủng cho người khác, và sẽ chia phần vinh quang của Đức Kitô Phục Sinh.
LỜI NGUYỆN CHUNG
Chủ tế : Khởi đầu tuần Thương Khó của Đức Kitô, chúng ta hãy cầu xin Chúa ban cho chúng ta những ơn cần thiết.
Xướng : Xin cho các Kitô hữu biết đáp ứng cho những khổ đau của những người xung quanh bằng sự cảm thương chia sẻ.
Xướng : Xin cho các thẩm phán và các cán bộ lãnh đạo biết cố gắng thực thi công lý trong mọi trường hợp.
Xướng : Xin cho những người phải chịu bất công và những người đang đau khổ về mọi phương diện biết liên kết nỗi đau khổ của họ với đau khổ của Đức Kitô, nhờ thế họ nhận ra sức mạnh của Người trong sự yếu đuối của họ.
Chủ tế : Lạy Cha, xin giúp chúng con bước theo Đức Kitô Con Cha trên con đường lên đồi Canvê để chúng con có thể chia phần vinh quang phục sinh của Người. Người là Thiên Chúa hằng sống, hằng trị đến muôn thuở muôn đời.

 

Lễ_lá-22: CHÚA GIÊSU VÀO THÀNH GIÊRUSALEM

Lc 19,28-40
 

Cả bốn phúc âm đều ghi lại việc Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem, nhưng có rất nhiều khác biệt: Lễlá-22

Cả bốn phúc âm đều ghi lại việc Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem, nhưng có rất nhiều khác biệt. Có những khác biệt có thể nhận ra ngay từ đầu, có những khác biệt tinh vi, đòi hỏi nhiều chú ý hơn. Mỗi một dị biệt này chỉ có ý nghĩa trong mỗi phúc âm. Để quán triệt ý nghĩa mỗi trang phúc âm, điều quan trọng là phải làm quen với những phản ứng của tác giả tiềm tàng trong bản văn và làm cho bản văn được phong phú nhờ những tiềm năng của chúng. Cần tham chiếu văn mạch để xác nhận một yếu tố với toàn thể của nó.
Dựa vào những nguyên tắc trên, chúng tôi bắt đầu nghiên cứu bằng cách phân tích ngôn ngữ được dùng trong bốn trình thuật phúc âm.
I. CÁC NGUỒN CỦA NGÔN NGỮ
Các trình thuật khác nhau về việc vào Giêrusalem có dùng một ngôn ngữ chung, gồm nhiều điểm biểu tượng và văn hóa, mà chúng ta phải phân tích trước hết. Kết quả của cuộc phân tích này, cho dù nhỏ bé đến đâu cũng giúp chúng ta hiểu rõ hơn các “hệ thống” phúc âm và sức hoạt động nội tại của chúng.
1/ Núi cây dầu và Đấng Messia
Dựa trên các quan niệm Do thái đương thời, việc Chúa Giêsu đến tạm trú trên núi cây dầu có thể mang một tính cách thiên sai. Bản văn sau đây của Zacaria đệ nhị có thể là khởi điểm của một truyền thuyết, hoặc là chứng tá của một niềm tin liên hệ với Đấng Messia: “Ngày ấy, chân Ngài đứng trên núi cây dầu, đối diện với Giêrusalem về phía đông. Núi cây dầu sẽ bị rẽ ra chính giữa từ đông sang tây, làm thành một thung lũng thật lớn...” (14,4).
Những lời đó mô tả việc Giavê can thiệp trong trận chiến cánh chung mà Giêrusalem sẽ là chiến trường (x. Ez 11,23). F. Josèphe, sử gia Do thái nổi tiếng, đương thời với các tác giả phúc âm đã nói đến trào lưu tư tưởng này trong cuốn “Antiquites juives": “Lúc bấy giờ một người Ai cập tự xưng là tiên tri đến tại Giêrusalem và khuyên bảo dân chúng cùng với ông tiến về núi cây dầu đối diện với thành phố cách xa năm dặm. Thật vậy, ông đã nói cho dân chúng rằng: theo lệnh truyền của ông, các bức thành Gierusalem sẽ sụp đổ và từ đó ông hứa sẽ khai thông cho họ một lối đi”.
Như thế, vào thời Chúa Giêsu và các tác giả phúc âm, có lẽ sấm ngôn của Zac 14,4 đã được liên kết với cách trình bày quen thuộc về biến cố thiên sai. Trong sách chú giải (midrash haggadique) “Sepher Eliyahu”, ta nhắc lại tầm quan trọng của chương 14 Zac trên các bản văn thiên sai khác của CƯ mà núi Cây Dầu (c.4) là trung tâm điểm. Từ đó, ta nhận ra ý nghĩa thiên sai trong trình thuật của Mc nói về hoạt động của Chúa Giêsu tại Giêrusalem và việc Ngài cùng với các môn đệ lưu lại trên núi Cây dầu (Mc 11,11tt).
2/ Bêthania và Bethphagé
Cũng như vị trí của chúng trên bản đồ, nguyên ngữ của 2 địa danh thật có lợi cho việc tìm hiểu bản văn. Bêtania (tiếng Do thái: Bet - ani) có nghĩa là “nhà của người nghèo”, “của người khiêm nhu” hay “của người đau khổ": trong mạch văn của Mc nói về việc tiến vào Giêrusalem (nghĩa là toàn thể trình thuật khổ nạn), các ý nghĩa của địa danh này rất quan trọng. Dù được dân chúng tung hô, Chúa Giêsu không dừng lại ở Giêrusalem; ngay buổi tối sau khi vào thành cách trọng thể (Mc 11,11), Ngài lui về Bêtania.
Bethphagé (theo tiếng aramêô: Bet-pagge) có thể hiểu là “nhà của trái vả”, đây là một dữ kiện khác cần chú ý, nếu ta biết rằng trong Mc, những đoạn nói về việc vào thành Giêrusalem và việc trú ngụ ban đêm ở Bêthania được tiếp nối bằng đoạn nói về cây vả không có trái (11,12-14).
3/ Con lừa
Thời cổ xưa ở Trung Đông, con lừa được gắn liền vối thần thoại và tế tự thần linh, chẳng hạn thần thoại Ai Cập của Typhon (hay Set) thần sự dữ, đối thủ của Osiris, thần sự lành. Trong thần thoại này con vật linh thánh của Typhon là con lừa. Lừa vẫn là con thú thần Dionysios cưỡi ...
Trong CƯ, con lừa có mặt trong nhiều trình thuật của truyền thuyết các tổ phụ; nó cũng là con vật để vua cưỡi và từ đó là con vật để đấng Messia cưỡi. Cần phải trích dẫn hai bản văn được truyền thống Do thái giải thích theo hướng thiên sai: sấm ngôn của Giuda trong St 49,11: “người cột lừa con vào gốc nho...” và Zac 9,9: “Này đây vua ngươi đến với ngươi, Ngài công minh, chiến thắng, khiêm tốn cưỡi trên lừa mẹ”.
Văn chương chú giải (midras) liên kết hai bản văn này trong các bài giảng giải về Đấng Messia và việc Ngài đến. Ta có thể đọc thấy trong Bereshit Rabbah 98 như sau: “người cột lừa con vào gốc nho...” (St 49,11). Câu này được các thầy giải nghĩa là: Tc phán: “Ta cột vào vườn nho (nghĩa là Israel) và vào trái nho của thành nó (tức là Giêrusalem) một con lừa con, để khi Đấng (được Zac 9,9 gọi là Đấng khiêm tốn và cưỡi lừa) sẽ đến...”
Chắc hẳn giáo huấn này được viết ra nhiều năm sau khi phúc âm đã được biên soạn. Nhưng các phản ứng thần học đã ảnh hưởng đến việc hình thành và truyền đạt các phúc âm cũng có thể giúp chúng ta đang nghiên cứu.
4/ Con vật linh thánh, chưa bao giờ được dùng
Chi tiết này chỉ được Mc và Lc minh nhiên ghi nhận. Dưới ánh sáng lịch sử các tôn giáo, người ta thấy được ý nghĩa linh thánh của con vật chưa bao giờ được xử dụng. Con vật được dùng cho việc hiến tế hay cho việc thánh, phải là thanh khiết, chưa bị xử dụng cách trần tục. Văn chương ngoại giáo làm chứng điều đó, như đoạn “Metamorphoses” của Ovide sau đây: “Phoebus nói cùng con là Agénor rằng: con sẽ gặp trong các cánh đồng trơ trụi một con bò cái tơ chưa bao giờ mang ách và kéo cày. Con hãy theo đường nó đi và trong các đồng cỏ xanh tươi nơi nó nghỉ ngơi, con hãy đào móng xây thành lũy và đặt tên là Béotien”
Mệnh lệnh Chúa Giêsu ban cho các môn đệ có thể xuất phát từ một văn mạch như thế, nhưng nhất là được trực tiếp cảm nhận từ khoản luật trong kinh thánh mà Ds 19,2 ghi lại: “Một con bò cái..không tì ố, và chưa bao giờ mang ách...” (X.Đnl 15,19; 21,3; 1S 6,7).
5/ Dư âm lễ đăng quang trong Kinh thánh.
Trình tuật về việc vào thành Giêrusalem nhắc lại nhiều bản văn CƯ, như 2V 9,13: “Lập tức, họ lấy áo trải ra, đồng thời thổi tù và và hô lớn: Jehu là Vua”, nhưng nhất là 1V 1,13: khi Đavit ban các lệnh liên quan đến việc tấn phong Salomon: “Hãy đem đội thị vệ, hãy đưa Salomon con ta lên ngồi trên lưng con la riêng của ta và rước về Gihôn”.
Động từ “épibibazô” (đưa lên) chỉ tìm thấy trong TƯ nơi Lc và Công vụ (Lc 10,34; 19,35; Cv 23,24). Động từ này còn có trong trình thuật của Lc nói về việc vào thành Giêrusalem (19,35): “Họ đưa Chúa Giêsu lên” (epibizah). Còn ba tác giả phúc âm kia viết: “Ngài ngồi” (ékathisen: Mt 21,7; Mc 11,7; Ga 12,14).
6/ Việc “giá lâm” của các hoàng đế Hy lạp
Không thể tách rời Mc 11,1-10 và các bản song song khỏi bối cảnh các cuộc tiếp đón hoàng đế trong các đô thị Hy lạp. Bản văn sau đây trích từ cuốn “Guerre des Juifs” của F.Josèph là một ví dụ sống động: “Khi biết Titus gần đến, dân Antiokia vui mừng, không chịu ở lại trong thành; tất cả đổ xô ra đón hoàng tử. Họ đi gần ba mươi dặm, và không chỉ đàn ông thôi, nhưng cả đàn bà và con nít nữa. Khi thấy Titus tiến đến, họ đứng hai bên đường, đưa tay phía hoàng tử và hoan hô, rồi theo hoàng tử vào thành, vừa đi vừa chúc tụng. Thành ngữ “ra đón” được thấy lại hầu như nguyên văn trong trình thuật của Gioan nói về việc vào thành Giêrusalem (Ga 12,13; x. Mt 8,34 và 25,1)
Trong thế giới Hy la, cuộc tiến vào đó là một phần trong nghi lễ “giá lâm” (Parousia); “Giá lâm” là việc nhà vua chính thức thăm viếng một tỉnh hay một thành phố. Vào thời tôn thờ hoàng đế, từ ngữ này mang một ý nghĩa vừa chính trị vừa tôn giáo. Trong chiếu chỉ của một thành thuộc vương quốc Pergame, có đoạn viết: “Các tư tế nam nữ phải tiến ra đón hoàng đế”. Vì thế, L.Kerfaux đã có thể viết: “Việc Chúa Giêsu tiến vào thành Giêrusalem có cùng một đặc điểm như việc Messia viếng thăm kinh đô của Ngài”
7/ Hosanna
Các câu 25 và 26 của thánh vịnh 118 đều được cả bốn tác giả phúc âm trích dẫn và được sửa chữa theo quan niệm riêng của mỗi vị (Mt 21,9; Lc 19,38; Ga 12,13). Thánh vịnh 118 là thánh vịnh cuối cùng của “Hallel” là chữ mà một hội đường xa xưa gán cho một nhóm thánh vịnh (113-118). Những thánh vịnh này được dùng để ca tụng Thiên Chúa trong một vài đại lễ hay hành hương (dịp lễ Vượt qua, ngũ tuần, trong tám ngày Lễ Lều và Cung hiến), vào lúc hiến tế ban sáng. Điệu hát của “Halleluia” đặc biệt nhấn mạnh nghi lễ vượt qua, nhất là nghi thức bữa tiệc (x. Mt 26,30; Mc 14,26)
Trong dip lễ lều, điệu hát này mang một vẻ rất long trọng. Sau một vài câu, cả hội đường lắc “lulab” là bó hoa gồm nhiều lá dừa và lá liễu, theo như Lv 23,40 (những nhánh của “lulab” đôi lúc gọi là “hosanna"). J.T.Nelis viết: “Vào thời TƯ, cuốn biên khảo Sukkat (3,9) đã ghi lại một vài tập tục đặc biệt. Trước hết người ta lắc “lulab”. Nghi thức này xuất hiện lúc hiến tế ban sáng, khi các thày Lêvi xướng Halleluia, bắt đầu thánh vịnh 118 và khi họ hát đến câu 25 và 28 của thánh vịnh đó (x. 2M0,7)
“Hosanna” là phiên âm Hy lạp của tiếng arameô “hosha-na” dịch từ tiếng Hy bá “hoshi"a-(n)na” có nghĩa “hãy cứu”. Tiếng này nói lên lời van nài liên lỉ hay lời tung hô có tính cách phụng vụ. Trong Lễ Lều, đó là lời xin trời đổ mưa; nhưng trong các phúc âm, đó là tiếng ngợi khen: “Cũng như chữ Halleluia, Hosanna là từ ngữ trong phụng vụ Kitô giáo thời biên soạn phúc âm”, P.Bonnard đã viết như thế.
8/ Đấng đang đến
Cũng như trong Mt 11,2 và Lc 7,19 (việc Gioan sai các môn đệ mình đến cùng Chúa Giêsu), phân từ: ho erchomenos, đấng đang đến, chắc chắn nhắm đến Đấng Messia. Tuy nhiên cách ám chỉ Messia như “Đấng đang đến” không phải là thường xuyên. Sau khi được dùng làm tước hiệu của Đấng Messia, phân từ này chắc chắn đã góp phần vào việc móc nối St 49,10-11 (vương trượng không rời xa Giuda...cho tới khi Ngài đến...Ngài cột lừa vào gốc nho ...) với Zac 9,9 “Nầy đây vua ngươi tiến đến cùng ngươi”.
9/ Lá vạn tuế
Chỉ Gioan nói đến lá vạn tuế. Như đã nói, theo Lv 23,40 và những dư âm sau này trong Do thái giáo. Những cành lá vạn tuế làm thành “lulab” được dùng đến trong lễ lều (so sánh với Neh 8,15). Liên hệ giữa lá vạn tuế với Lễ Lều Tạm được thấy trong việc trang hoàng nhà hội Do thái cổ xưa.
Việc dùng lá vạn tuế có một lịch sử lâu dài, có liên hệ với tiền tệ, và ý nghĩa tượng trưng của nó thay đổi tùy không gian và thời gian. Người ta thấy hình lá vạn tuế trên đồng tiền của Vespasien và Nerva, để kỷ niệm cuộc chiến thắng các người Do thái nổi loạn lần thứ hai, đồng tiền của họ có hình lá vạn tuế, ám chỉ một hoài bão hy vọng dân tộc sẽ chiến thắng. Theo các nguồn văn chương sau này, cây vạn tuế là biểu tượng của Israel, trước cuộc nổi loạn lần thứ nhất (dưới thời vua Hêrođe Antipas) biểu tượng của cây này không có tính cách chính trị.
Việc dùng lá vạn tuế trong phụng vụ đưa chúng ta trở lại thời hưng thịnh của chủ nghĩa quốc gia của Macabeô. Tiếng Baion ("cành vạn tuế") chỉ tìm thấy trong thánh kinh nơi 1M,51 khi nói về Simon vào thành Giêrusalem cách khải hoàn: “Dân Do thái vào (thành thánh) ngày 28 tháng thứ hai năm 171 với những tiếng hoan hô và cành lá vạn tuế... vì một đối phương vĩ đại đã bị đuổi xa khỏi Israel.
Còn tiếng phoinix (cây vạn tuế, lá vạn tuế), nếu được dùng nhiều lần trong CƯ, thì trong TƯ chỉ có ở Ga 12,13 và Kh 7,9. Sách Macabê thứ hai nhắc đến nó trong nghi thức Cung hiến, nghi thức được thiết lập để kỷ niệm việc tinh luyện và cung hiến đền thánh sau chiến thắng của Macabeô (x. 1M 4,54tt). Nghi lễ đã dựa vào nghi thức của lễ lều tạm: “Họ hân hoan dâng lễ trong suốt 8 ngày theo cách lễ lều tạm...cầm những cành cây và lá vạn tuế (phoinikas), họ dâng lên lời ca lên Đấng đã thanh luyện thánh điện của Ngài” (1M 10,6-7).
Thành ngữ “cành lá vạn tuế” (baia phonikon) của Gioan được giữ lại nguyên văn trong ngụy thư ("Testament de Nephtali” 5,4-5). Đoạn ngụy thư này kể lại việc trao lá vạn tuế cho Lêvi như là biểu tượng uy quyền của ông trên toàn Israel. Vậy chắc chắn lá vạn tuế nói lên cuộc chiến thắng, cuộc khải hoàn vương đế và đồng thời biểu hiện cho quyền uy của Israel. Nhưng nhờ việc rung hoa (lulab) lá vạn tuế cũng có tương quan với việc cử hành lễ nghi phụng vụ.
Việc nghiên cứu trên đây giúp chúng ta hiểu thêm các tài liệu mà 4 trình thuật của 4 phúc âm đã dùng để ghi lại việc Chúa Giêsu tiến vào thành Giêrusalem. Mỗi một trình thuật nói lên một mầu sắc sống động về Đấng thiên sai: việc nhìn núi Cây dầu với tất cả ý nghĩa Do thái của nó, hình ảnh con lừa với những truyền thuyết về nó, kể cả tước hiệu “Đấng đang đến”. Mỗi tác giả phúc âm làm nổi bật màu sắc đó tùy cảm thức và ý hướng riêng tư của mình. Như vậy, Lc phản ảnh các trình thuật cổ xưa về việc đăng quang hay phong vương trong kinh thánh, còn Gioan cảm hứng từ những nghi lễ “Giá lâm” của các hoàng đế Hy la.
Là một biến cố thiên sai, cảnh này cũng mặc lấy, trong bốn phúc âm, một đặc tính phụng vụ không thể chối cãi. Việc trích dẫn thánh vịnh 118 làm liên tưởng đến các đại lễ lớn của Israel và điệu hát “Halleluia”. Việc nhắc đến lá vạn tuế, chỉ có nơi Gioan, hình như muốn xác định đó là một cử hành có tính cách quốc gia và do đó có tính cách chính trị hơn.
Dù giống hay khác nhau, tất cả những dữ kiện này chỉ là cái đà giúp giải thích các bản văn đứng đắn hơn.
(người dịch đã bỏ 3 trình thuật kia vì không có trong năm C. Xin xem chú giải phúc âm Chúa nhật năm A,B)
II. TRÌNH THUẬT LUCA 19,28-40
1. Không tiến vào thành Giêrusalem
Trong phần đầu của trình thuật (c.28-35), Lc theo khá sát bản văn Mc, nhưng có sửa đổi đôi chút. Các câu 37-40 thì thuộc một nguồn cảm hứng khác và tạo cho toàn thể diễn từ Lc nét độc đáo và sống động riêng biệt.
Trước hết, cần để ý rằng Lc không nói đến cuộc “tiến vào thành Giêrusalem”. Ông chỉ nói (c.28 và 41) Chúa Giêsu tiến về hướng hay tới gần thành ấy. Chính “trong đền thờ” (c.45, eis to hieron) mà tác giả phúc âm mới đưa Chúa vào. Nhận xét này thật quan trọng đối với toàn bộ tác phẩm Lc; thật vậy, phúc âm thứ ba bắt đầu và kết thúc trong đền thờ (chương 1 và chương 24,53).
Một nét khác đáng chú ý trong câu đầu của trình thuật là việc dùng tiếng Hy lạp “Hierosolyma” để chỉ thành thánh. Lc ít dùng chữ đó hơn các tác giả phúc âm khác. Tiếng ông quen dùng là tiếng “Hierousalêm”, là chữ chỉ gặp được một lần nơi ba tác giả phúc âm khác, trong Mt 23,27 (ngược lại: 26 lần trong Lc và 39 lần trong Cv). Hình như Lc dùng chữ “Hierousalem” khi muốn nói đến ý nghĩa thần học của Thành, nghĩa là khi muốn nói nó đóng một vai trò rõ ràng trong lịch sử cứu rỗi mà Chúa Giêsu là trung tâm.
Luật trừ này còn củng cố luật chung không ? Và phải chăng Lc muốn lưu tâm đến đền thờ hơn Giêrusalem ? Nếu có, thì tại sao ? Những phân tích sau đây sẽ trả lời. Một hiện tượng tương tự đã xảy ra trong trình thuật dâng Chúa Giêsu vào đền thờ (2,22tt). Trình thuật này là đoạn duy nhất (trong 6 đoạn của các chương 1-2) dùng chữ Hy lạp “Hierosolyma”. Không phải chính trong đền thờ mà Simeon “đã được Thánh Thần thúc đẩy” (2,27) đi đến gặp Chúa Giêsu đang được cha mẹ bồng đến...để làm theo điều lệ Luật dạy” và loan báo “ơn cứu độ” (2,30) đã đến cho muôn dân sao ?
Đàng khác, Lc 19,28-40 là dư âm của Lc 13,35: “Nhưng Ta bảo các ngươi, các ngươi sẽ chẳng thấy Ta cho đến khi các ngươi nói: “Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến”. Câu này thật đáng lưu ý vì là câu kết luận lời than trách Giêrusalem ("Giêrusalem, Giêrusalem..."). Mt đặt lời than trách này (được kết thúc như nơi Lc bằng Thánh vịnh 118,26), ngay trước bài diễn từ cánh chung, nghĩa là sau việc tiến vào thành Giêrusalem (23,37-39). Bây giờ, cần phải rút tỉa mối tương quan giữa Lc 13,35 và Lc 19,28-40.
Câu 37 là một câu có nhiều chi tiết đặc biệt của riêng Lc. Trước hết, là việc nói đến núi Cây Dầu mà ông đã tiên báo trong c.29 (x. Mt và Mc song song): việc ghi lại địa danh này cho thấy một biến cố mới sắp bắt đầu. Cũng thế, động từ “đến gần” ("khi Ngài đã đến gần”, eggizontos de autou) cũng chỉ là lặp lại của c.29 ("khi Ngài đã tới gần” hôs êggisen)
Thành ngữ “tất cả đoàn lũ” (hapan to plêthos) cũng đặc biệt thuộc về Lc. Từ ngữ “đoàn thể các môn đồ” (to plêthos tôn mathetôn) trong Cv 6,2 được dùng để chỉ cộng đoàn Kitô hữu. Liên quan giữa phác âm thứ ba và Cv rất hữu ích để hiểu rõ Lc 19,37. Thật vậy, trong toàn bộ tác phẩm Lc, Kitô học và giáo hội học xem lẫn nhau ở mỗi một trang, đến nỗi cần phải đọc Lc và Cv một lượt mới có thể hiểu rõ hệ thống các ý nghĩa tạo nên tác phẩm của ông. Như thế, người ta tự hỏi phải chăng trong Lc 19,37, “đoàn lũ môn đệ” đã không ám chỉ cộng đoàn tín hữu của dân TC mới, được Chúa Giêsu thành lập sao ?
Động từ “ca ngợi” cũng là của riêng Lc. Mối liên lạc giữa động từ “ca ngợi” và “thấy” thật đáng lưu tâm; người ta còn thấy liên lạc này nơi khác, chẳng hạn trong Lc 2,20; 18,43 và Cv 3,9. Bảng sau đây nêu lên tương quan mật thiết giữa bốn bản văn:
 
Lc 2,20 Lc 18,43 Lc 19,37 Cv 3,9
Các mục dồng (1) Toàn dân (1) Đoàn lũ môn đồ (1) Toàn dân (1)
tôn vinh và thấy vậy (4) bắt đầu… thấy nó đi (4)
ca ngợi (2) ngợi khen (2) ca ngợi (2) và ngợi khen (2)
Thiên Chúa  (3) Thiên Chúa (3) Thiên Chúa (3) Thiên Chúa (3)
vì mọi điều   vì mọi phép lạ  
đã được nghe   họ đã được thấy (4)  
thấy      

Mỗi đoạn đều được kết cấu bởi bốn yếu tố giống nhau: chủ từ (1) thay đổi nhưng có một chủ từ được lặp lại (Lc 18 và Cv) mỗi khi nói đến việc chữa bệnh: “toàn dân”; một đối tượng không thay đổi: “TC” (3); một hoạt động (2): “Ngợi khen” (TC); và một động lực (4) diễn tả qua động từ “thấy” (những công việc của TC). TC là đối tượng của lời ngợi khen, và vì các sự nghiệp vĩ đại Ngài thực hiện, Ngài cũng là nguồn mạch và nguyên nhân của việc ngợi khen đó.
Như thế, theo nhãn giói của Lc, Chúa Giêsu và các tín hữu liên đới với số phận Ngài đã không muốn vào Giêrusalem như một ông vua vì những hoài bão trần tục. Vì vậy, người ta hiểu được lý do tại sao Lc đã bỏ việc tiến vào thành Giêrusalem và qua đó ông đã làm nổi bật việc tiến vào đền thờ, nơi cư ngụ của TC; và hiểu được tại sao Tv 118,26 ("chúc tụng Đấng...") được trích ra ở đây lần thứ hai và lần cuối cùng khác hẳn với Mt. Tiếng “cho đến khi” của Lc 13,35 đã đạt đến mục đích và cao điểm của nó ở đây rồi.
2. Những nhân vật của một phụng vụ thiên quốc
Câu 38 với công thức “Ngài là Vua” (ho Basileus), chắc chắn là chìa khóa để hiểu đoạn này. Ý nghĩa và tầm quan trọng của tước hiệu này - khác hẳn nơi Mt, Mc và Ga - được hiểu nhờ câu 37 (đã được phân tích) và câu 38b: “Bình an rên trời và vinh quang trên chốn cao vời”. Tính cách song song đối với Lc 1-2 ở đây còn rõ ràng hơn nữa:

 
Lc 2,13-14 Lc 19,37-38
Đoàn lũ (plêthos) cơ binh Đoàn lũ (plêthos)
trên trời… môn đồ…
Vinh quang Thiên Chúa Bình an trên trời
trên trời cao thẳm  
bình an dưới đất và vinh quang trên
cho kẻ người thương chốn cao vời

Đầu đời cũng như cuối đời Chúa Giêsu, khung cảnh đều như nhau. Chắc chắn có tương quan giữa “đoàn lũ (plêthos) cơ binh trên trời” và “đoàn lũ (plêthos) môn đồ”; trong cả hai trường hợp, người ta đang đứng trước các nhân vật của một phụng vụ thiên quốc. Ngoài ra, Lc là tác giả phúc âm duy nhất đã loại bỏ chữ “Hosanna” trong trình thuật tiến lên Giêrusalem (19,38) như để tránh những gì có thể gợi lại những cuộc hành hương trần tục và những âm hưởng chính trị. Nhưng qua những dấu chỉ cho thấy mối liên hệ giữa hai bản văn này ("vinh quang... trên các tầng trời") cần phải để ý những gì tạo nên sự khác biệt giữa hai bản văn. Một bên, “bình an dưới đất” (2,14), một bên, “bình an trên trời” (19,38). Trong động lực duy nhất mạc khải vinh quang TC, người ta thấy hai chuyển động tự hạ và nâng lên. Cũng thế, “TC” (2,14) nhường chỗ của ngài cho “Vua” (trong 19,38): đây là một thay đổi tất có ý nghĩa. Cũng vậy, những lời chúc tụng và vinh quang đi từ miệng các thiên thần (2,14) sang miệng “các môn đệ” (19,38); qua sự kiện này, các môn đệ vừa thay thế mục đồng, vừa thay thế các thiên thần. Xa nhau khi Chúa Giêsu tự hạ sinh ra ở Belem, hai loại người này giờ đây, lúc Ngài được nâng lên, nối kết thành một, thành “đoàn lũ môn đệ”, nghĩ là, như trong Cv 6,2, các tín hữu của Chúa Giêsu Kitô. Bảng sau đây nêu rõ các yếu tố này:
 
Lc 2,14.20 Lc 19,37-38
Cơ binh trên trời (c.14) Đoàn lũ môn đệ (c.37)
  * vinh quang trên trời cao thẳm   * thấy hết các phép lạ
        / Thiên Chúa  
  * bình an dưới đất cho người   * ngợi khen Thiên Chúa
Các mục đồng (c.20) Đoàn lũ môn đệ (c.38)
  * thấy mọi điều   * vinh quang trên chốn cao vời
           / Vua
  * ngợi khen Thiên Chúa Bình an trên trời
Văn mạch của đoạn Lc 19,28-40 có liên hệ đến bản văn diễn tả lại cách độc đáo việc tiến vào thành Giêrusalem đó. Câu 28 ("Nói thế rồi...") liên kết trình thuật này với dụ ngôn các Yến bạc (19,11-27) là dụ ngôn riêng của phúc âm thứ ba. Lời nhập đề của dụ ngôn này cho thấy dụ ngôn muốn diễn tả một cách ẩn dụ (allégoriquement) việc Chúa Giêsu Kitô được nâng lên (c.12), biến cố mà trình thuật Lc về việc tiến vào (hay đúng hơn: việc - không - tiến - vào) Giêrusalem không còn là lời ẩn dụ (allégorie) mà là trình thuật tiên báo, tiên báo việc nâng lên đích thật của ngày phục sinh.
Bản Pháp ngữ của André Paul,
Assemblées du Seigneur số 19.

 

Lễ_lá-23: Trong thâm tâm, các vị lãnh đạo tôn giáo Do Thái

và Phi-la-tô có nhìn nhận  - JKN
Câu hỏi gợi ý:
 

Trong thâm tâm, các vị lãnh đạo tôn giáo Do Thái và Phi-la-tô có nhìn nhận Đức Giê-su là vô tội không?: Lễ_lá-23

1. Trong thâm tâm, các vị lãnh đạo tôn giáo Do Thái và Phi-la-tô có nhìn nhận Đức Giê-su là vô tội không? Tại sao họ lại kết án Ngài?
2. Phi-la-tô rửa tay để làm gì? Ông muốn chứng tỏ điều gì? Có thật là ông vô can trong việc đổ máu Đức Giê-su không?
3. Trong đời sống thường ngày, chúng ta có hành động theo kiểu các vị lãnh đạo tôn giáo Do Thái và Phi-la-tô không?
SUY NIỆM
1. Đức Giê-su bị án tử hình, dù ai cũng nhận thấy Ngài vô tội
Cả cuộc đời Đức Giê-su, Ngài không làm một điều gì nên tội, nhưng Ngài đã bị kết án ở mức độ nặng nhất: tử hình. Lý do chính khiến Ngài bị kết án chính là sự ganh ghét của giới lãnh đạo tôn giáo (x. Mt 27,18), và sự hèn nhát của cơ quan công quyền mà đại diện là Phi-la-tô. Giới lãnh đạo tôn giáo biết Ngài vô tội: "Các thượng tế và toàn thể Thượng Hội Đồng tìm chứng gian buộc tội Đức Giê-su để lên án tử hình. Nhưng họ tìm không ra, mặc dầu có nhiều kẻ đã đứng ra làm chứng gian" (Mt 26,59-60). Nhưng họ quyết tâm giết Ngài vì Ngài được dân chúng mến phục và ủng hộ: việc đón rước Ngài vào thành long trọng chứng tỏ điều ấy. Dân chúng còn đánh giá giáo huấn của Ngài cao hơn của họ: "Thiên hạ sửng sốt về lời giảng dạy của Người, vì Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền, chứ không như các kinh sư" (Mc 1,22). Ảnh hưởng của Ngài trên dân chúng ngày càng lớn, lấn át ảnh hưởng của họ, và họ cảm thấy điều ấy rất nguy hiểm cho "chiếc ghế" cũng như quyền lợi của họ. Vì thế, để tự bảo vệ, họ quyết tâm giết Ngài, vì Ngài, mặc dù chẳng làm chi sai trái, đã trở thành đối thủ rất nguy hiểm của họ.
Họ muốn giết Ngài, nhưng họ không thể tự ý làm điều ấy, vì làm như thế họ sẽ bị chính quyền truy tố trước pháp luật. Họ đã khôn ngoan bằng cách dùng chính tay chính quyền để giết Ngài. Và họ đã thành công. Phi-la-tô - kẻ đại diện cho công lý, pháp quyền của đế quốc Rô-ma - biết Ngài vô tội: "ông thừa biết chỉ vì ghen tị mà họ nộp Người" (Mt 26,27). Nhưng ông hèn nhát không dám tha Ngài vì sợ quần chúng đang bị giới lãnh đạo tôn giáo sách động. Ông lo sợ nguy hiểm cho "chiếc ghế" của mình, và ông đã chủ trương thà bảo vệ "chiếc ghế" hơn bảo vệ công lý.
Điều đó cũng có thể thông cảm được với một người ngoại giáo như ông, vốn không được giáo dục tâm linh như các nhà lãnh đạo tôn giáo. Nhưng điều đáng ghê tởm là sự thiếu thẳng thắn và giả hình của ông: ông "lấy nước rửa tay trước mặt đám đông mà nói: "Ta vô can trong vụ đổ máu người này. Mặc các người liệu lấy!". Ông là đại diện cho công lý mà không chịu lên tiếng bênh vực công lý, để cho công lý bị chà đạp. Tội của ông rành rành ra đấy: đồng loã với sự ác để giết một người vô tội, nhưng ông lại muốn được mọi người coi là vô tội. Ông muốn biện minh cho hành động vô trách nhiệm của mình. Thật ra, cứ nhận rằng mình hèn nhát, mình ham địa vị thì lại đỡ tội, nhưng ông lại còn muốn tỏ ra mình vô tội, nên tội ông nặng lên rất nhiều. Tương tự như ý nghĩa của câu: "Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng : "Chúng tôi thấy", nên tội các ông vẫn còn!" (Ga 9,41). Trước mặt Thiên Chúa, chính cái tội giả hình, "muốn tỏ ra mình vô tội" ấy còn nặng hơn tội hèn nhát và vô trách nhiệm kia rất nhiều. Khi tôi còn nhỏ, hễ tôi phạm một lỗi nào, cha tôi chỉ đánh một hai roi, nhưng nếu đã phạm mà lại chối, thì lỗi nặng lên gấp hai ba lần, có thể bị phạt tới 5 hay 10 roi, vì đã phạm tới hai lỗi, mà lỗi sau nặng hơn rất nhiều.
2. Ta có hành động như Phi-la-tô hay các tư tế không?
Thấy người lại nghĩ đến ta. Ta thấy Đức Giê-su đã bị giết bởi giới lãnh đạo tôn giáo Do Thái vì lòng ganh tị của họ và bởi Phi-la-tô vì sự hèn nhát của ông. Nhưng liệu ta có hành động như thế đối với các ngôn sứ đồng thời với mình không? Có thể ta sẽ nói như bọn kinh sư ngày xưa: "Nếu như chúng ta sống vào thời của tổ tiên, hẳn chúng ta đã không thông đồng với các ngài mà đổ máu các ngôn sứ" (Mt 23,29). Nhưng họ có ngờ đâu họ lại phạm chính tội mà tổ tiên họ đã phạm, cái tội mà họ đang dựa vào để chê trách tổ tiên. Và họ còn phạm nặng nề hơn tổ tiên họ rất nhiều, vì họ giết chính Đấng Mê-si-a mà họ đang trông chờ. Tại sao? Chỉ vì cái mối tội muốn bảo vệ "cái ghế" của mình hơn bảo vệ công lý, mối tội ấy họ cũng có không kém gì cha ông mình. Và cái mối tội thứ hai còn lớn hơn thế nữa là đã có tội, lại còn muốn chứng minh mình vô tội. Khi muốn chứng minh mình vô tội, hay muốn biện minh cho tội của mình, người ta dễ có khuynh hướng tìm cho ra một tội nào đấy để gán ghép cho kẻ vô tội mà mình không muốn bênh vực, hầu chứng tỏ sự im lặng hay kết án của mình là hợp lý.
Rất có thể ta cũng đang hành động như thế trong đời sống thường ngày của ta. Nhiệm vụ làm chứng - tức chức năng ngôn sứ - mà ta đã lãnh nhận khi lãnh bí tích rửa tội, thêm sức, hoặc truyền chức đòi buộc ta phải làm chứng cho Thiên Chúa, cho chân lý, công lý và tình thương. Nhiệm vụ hay chức năng ấy đòi hỏi ta phải sống đúng điều mình chủ trương và rao giảng. Ta rao giảng rằng những thực tại siêu nhiên, những giá trị tâm linh cao quí hơn những thực tại trần gian, thậm chí hơn cả mạng sống: "Được cả thế giới mà mất linh hồn thì ích lợi gì?" (Mt 16,26). Nhưng trong đời sống thực tế, qua hành động và cách sống của ta, ta lại đích thực coi những thực tại trần gian cao quí hơn những thực tại mà ta vô cùng đề cao khi rao giảng. Ta sẵn sàng hy sinh những giá trị tâm linh để đổi lấy những thực tại cụ thể của trần gian: tiền bạc, quyền lực, địa vị, lạc thú… Để bảo vệ những thứ ấy, ta sẵn sàng phạm chính cái tội của các vị lãnh đạo tôn giáo Do Thái sẵn sàng hãm hại hoặc giết "những Đức Ki-tô" trong chính thời đại của chúng ta, hoặc của Phi-la-tô xưa đã im lặng đồng lõa để người vô tội bị hãm hại. "Những Đức Ki-tô" ấy có thể là những kẻ thấp cổ bé miệng đang chịu đủ thứ bất công trong xã hội cũng như Giáo Hội, có thể là những người công chính mà sự có mặt hay hành động của họ đang ảnh hưởng bất lợi cho "cái ghế" của ta…
Nếu nhận ra mình đang lỗi bổn phận làm chứng theo chức năng ngôn sứ của người Ki-tô hữu, ta hãy thành thực nhận lỗi của mình và tìm cách sửa chữa. Không nên làm như Phi-la-tô, đã có tội lại còn muốn chứng tỏ mình vô tội, khiến ta lại càng lún sâu hơn vào tội lỗi hơn.
Cầu nguyện
Lạy Cha, con là người yếu đuối, con rất dễ trở nên hèn nhát. Điều đó chắc hẳn Cha, cũng như Đức Giê-su, rất dễ cảm thông và tha thứ cho con. Nhưng xin đừng để con hành động như Phi-la-tô, đã hèn nhát không dám bênh vực người vô tội, để mặc người vô tội bị giết, lại còn rửa tay để chứng tỏ mình vô tội. Xin đừng để con mắc tội giả hình như thế, là tội mà Đức Giê-su ghét hơn tất cả mọi thứ tội. Amen.

 

Lễ_lá-24: HÌNH ẢNH NGƯỜI TÔI TỚ CHÚA

 - Lm Bênađô Nguyễn Tiến Huân
 

Bài thương khó Chúa Giêsu Kitô chúng ta đọc hôm nay tóm tắt những biến cố từ lúc Người ăn: Lễ_lá-24

Bài thương khó Chúa Giêsu Kitô chúng ta đọc hôm nay tóm tắt những biến cố từ lúc Người ăn bữa Tiệc Ly từ giã các môn đệ tối thứ Năm cho tới khi Người bị chôn trong mồ chiều thứ Sáu. Quãng thời gian chỉ một ngày một đêm đã dồn dập xẩy ra không biết bao nhiêu đau khổ cho Chúa Giêsu: Bị Giuđa bán đứng: "Giuđa Iscariot đến gặp các Thượng tế và thưa với họ: các ông cho tôi bao nhiêu tiền, tôi sẽ nộp Người cho các ông... Giuđa kẻ phản bội cũng đến thưa Chúa Giêsu rằng: Thưa Thầy có phải con chăng và Người đáp: Đúng như con nói" (Mt 26:14-15,25).
Thấy tội lỗi thiên hạ quá nặng nề, Người lo buồn tới hấp hối: "Linh hồn Thầy buồn sầu đến nỗi chết được..." (c. 38). Người lo buồn sầu não mà các Môn đệ thân yêu chẳng ai yên ủi còn lăn ra ngủ như những kẻ vô tình (c. 40,43). Giuđa dẫn quân lính đến bắt Người còn giả vờ mỉa mai hôn mặt để nộp Người ( c47-49). Nguời bị bắt như kẻ trộm cướp: "Các ngươi cầm gậy gộc gươm giáo đi bắt Ta như bắt một tên trộm cướp ư?" (c. 55). Người để cho họ bắt, còn các Môn đệ thì bỏ Người và chạy trốn hết (c 56). Sau đó nộp cho Caipha rồi Philato, bị cáo gian, bị vu khống là nói những lời lộng ngôn "bị chúng nhổ vào mặt, bị đấm đánh, bị tát vả" (c.57-67). Bị chính người Môn đệ lão thành và thân cận nhất là Phêrô chối bỏ 3 lần (c 61-74). Bị coi rẻ hơn là tên tướng cướp Baraba (c.16,20). Bị đánh đòn, bị đội mão gai, bị chế giễu nhạo báng (c. 26,30). Cuối cùng bị vác thánh giá chịu đóng đinh và chịu chết trần truồng trên Thánh Giá giữa hai tên trộm cướp (c. 32-36).
Chúa Giêsu đã tự nguyện và yên lặng chịu tất cả những sĩ nhục đau khổ ấy đúng như Tiên tri Isaia đã tiên báo về "Người tôi tớ Chúa": Tôi đã đưa lưng cho kẻ đánh tôi, đưa má cho kẻ giật râu tôi, đã không che giấu mặt để tránh những lời nhạo cười và phỉ nhổ tôi... tôi trơ mặt chai như đá" (Is 50:5-7).
Và đúng như Thánh vịnh 21 diễn tả: "Bao người thấy tôi đều mỉa mai tôi... Đứng quanh tôi là đàn ưng khuyển, một lũ côn đồ bao bọc lấy tôi. Chân tay tôi chúng đều chọc thủng, tôi có thể đến được mọi đốt xương tôi... Chúng đem y phục của tôi chia nhau còn tấm áo dài thì chúng rút thăm" (Tv 21). Với một kiểu nói khác, thánh Phaolô tóm tắt về Người: "Người đã hủy bỏ chính mình mà nhận lấy thân phận tôi đòi, đã trở nên giống như loài người... đã tự hạ mình mà vâng lời cho đến chết và chết trên Thập giá " (Pl 2:6-9).
Người chết, nhưng không phải là đã hết vì cái chết của Người là chìa khóa mở ra một kỷ nguyên mới của ơn Cứu độ, của sự sống lại và chiến thắng vinh quanh. Người chết đi nhưng ngày thứ 3 Nguời đã sống lại như chính Người đã tuyến bố lúc còn sinh thời: "Ta chết đi nhưng sau ba ngày Ta sẽ sống lại".
Sau tất cả những đau khổ và cái chết ô nhục, Người đã chiến thắng tội lỗi và sự chết để khi về Trời, Người được "Thiên Chúa Cha tôn vinh và ban cho Người một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu, để khi nghe tên Giêsu, mọi loài trên Trời dưới đất và trong địa ngục phải quì gối xuống và mọi miệng lưỡi phải tuyên xưng Đức Giêsus Kitô là Chúa" (Pl 2:10-11). "Thiên Chúa tôn Người làm quan án xét xử kẻ sống và kẻ chết... Tất cả những ai tin vào Người thì nhờ danh Người mà được Cứu độ" (Tđcv 10:42).
Đó là hình ảnh Chúa Giêsu Kitô, Người tôi tớ Chúa mà chúng ta sẽ suy ngắm trong tuần nầy.

 

Lễ_lá-25: Khi kẻ cám dỗ đưa Chúa Kitô lên núi cao và để Chúa xem

  - Lm Nguyễn Bình An
 

Khi kẻ cám dỗ đưa Chúa Kitô lên núi cao và để Chúa xem mọi vinh quang của các nước, hắn: Lễ_lá-25

Khi kẻ cám dỗ đưa Chúa Kitô lên núi cao và để Chúa xem mọi vinh quang của các nước, hắn hứa sẽ cho Chúa tất cả vinh quang ấy, nếu Chúa bằng lòng tôn thờ hắn. Chúa Kitô đã gọi đích danh tên Satan, yêu cầu hắn "cút đi" và xác định rõ lập trường "ngươi phải thờ lậy Thiên Chúa và duy mình Chúa mà thôi". Biết đời, danh chức và vinh quang "như mây nổi, như gió thổi, như chiêm bao" nên dù được tiền hô hậu ủng và vinh quang khi tiến vào Giêrusalem, Đức Kitô vẫn lãnh đạm. Hơn bao giờ hết, Ngài ý thức là chung cuộc đời Ngài đang ở trong tầm tay.
Đức Kitô cưỡi lừa, tay cầm lá vạn tuế tiến vào thành Giêrusalem như vị vua hòa bình. Lừa và lá vạn tuế là dấu chỉ và vương trượng của vị vua thái bình và triều đại của ngài được xây dựng trên chân lý, công bình, bác ái, yêu thương và hợp nhất. Pilatô vì nhận bản phúc trình "người này xúi dân làm loạn và có mưu đồ làm vua" nên đã tra vấn Đức Kitô "Ông có phải là vua dân Do Thái không?" Đức Kitô thẳng thắn đáp: "Đúng vậy, nhưng nước tôi không ở trần thế". Pilatô đã muốn tha vì biết Ngài vô tội. Nhưng áp lực chính trị và tôn giáo, danh vọng và quyền thế không cho phép ông thực hiện ý muốn.
Đức Tổng Giám Mục Phaolô Nguyễn Văn Bình, trong câu trả lời báo Sài Gòn Giải Phóng ngày 29 tháng 4 năm 1995: "Cụ có sợ Cộng Sản không?", đã đáp rằng: "Tôi vẫn còn sợ".
Ai cũng sợ khi phải trực diện với khổ đau, tù tội, bắt bớ, bấp bênh và cái chết. Dù đã cầu "xin cho ý Cha thành toàn", Đức Kitô cũng đã sợ đến mướt máu trong giờ hấp hối và đã một lần khẩn khoản "xin cất chén đắng này cho con". Ngài cảm thấy lẻ loi trong cơn cùng cực: Chúa Cha lạnh lùng, môn đệ hờ hững và trốn chạy, nên than thở cùng Chúa Cha: "Lama, lama sabactani" (Cha ơi Cha! Sao cha bỏ con!!).
Cả nước Mỹ hoảng hốt khi tin Tổng Thống Kennedy bị ám sát. Cả nước Ai Cập rung chuyển khi Anwa Sadat bị giết. Cả nước Do Thái đau buồn khi Yitzhak Rabin tử thương. Người quốc gia chân chính tiếc thương khi Ngô Đình Diệm bị bức tử. Vinh quang và chức vị trần thế chấm dứt bằng nhiều hình thức khác nhau, không ai tại chức vĩnh viễn. Nhưng cái vinh quang bấp bênh và dễ tan này đang làm các lãnh tụ vẫn còn sợ. Sợ bị đảo chánh. Sợ bị ám sát. Sợ bị lưu đầy. Sợ vì ra đi là mất mát, là bị hủy diệt, là đi vào cõi hư không của lịch sử, sợ bị mạ lị và bị chê trách là bất nhân, phản quốc và đê hèn. Sợ vì phải đương đầu với một thực tế phũ phàng, thân bại danh liệt và tan gia bại sản.
Một Giêsu nằm xuống, cả ức triệu Kitô hữu khác dấn thân và tiến tới. Một Thánh giá mang thân hình Giêsu được dựng lên, thì khắp thế giới danh Giêsu vang dậy và được tôn thờ bằng mọi ngôn ngữ, trong mọi chủng tộc, nơi mọi quốc gia. Chúng ta, những người tin Chúa, đừng bao giờ coi nhẹ và trốn chạy Thánh Giá. Đâu có Thánh Giá, đó có chiến thắng vinh quang và có ơn cứu độ. Tôi vẫn còn sợ... chúng ta vẫn còn sợ... nhưng không bao giờ quên lời Chúa nhắn nhủ "ai không vác thập giá mà theo Ta, thì không đáng là môn đệ Ta" (Mt 10:38).
Thánh giá siêu hình là phản bội, là cáo gian, là hiểu lầm, là chống đối, là nhục mạ, là bất trung, là bất hiếu, là những tờ lá cải rớt rơi.
Thánh giá hữu hình là tù tội, là tra tấn, bị bỏ đói và bỏ khát, bị đâm lén và bắn tỉa, bị giết hay thủ tiêu.
Những thánh giá này Đức Kitô đã nếm đủ trong cuộc khổ nạn.
Hôm nay, những tín hữu đang mang trong mình những thánh giá tương tự. Họ đang chết dần chết mòn một cách anh hùng, cao thượng và không tiếc xót. Như Chúa, họ không tìm vinh quang, chức lộc và quyền thế nay còn mai mất. Nhưng họ bằng lòng bị bóc vỏ để nhẹ cánh bay bổng về vinh quang bất diệt.
Họ là ai? Họ là chúng ta, là ông, là bà, là anh, là chị. Chúng ta hãy chuẩn bị cho cuộc thọ hình vào giờ thứ 24, giờ của tối đen bao phủ mặt đất, giờ bất lực của đời người, giờ thất bại của cá nhân, giờ vinh quang quá tầm tay với. Nhưng là giờ bước vào cuộc chiến thắng khải hoàn và vinh quang bất diệt vì "Lậy Cha, mọi sự đã hoàn tất".

 

Lễ_lá-26: THƯƠNG KHÓ : MẦU NHIỆM CỨU CHUỘC

 - Sr Christine H., OP
 

Hai chữ "thương khó" cho thấy tình yêu và đau khổ có một liên hệ mật thiết với nhau. Không: Lễ_lá-26

Hai chữ "thương khó" cho thấy tình yêu và đau khổ có một liên hệ mật thiết với nhau. Không có tình yêu nào mà không có đau khổ; đau khổ không thể tách rời tình yêu. Ta thường nghe các đôi bạn trẻ than rằng: "Yêu thì khổ. Không yêu thì lỗ. Thà khổ còn hơn lỗ."
Vì yêu mà Chúa Cứu Thế đến nộp mình chịu chết trên cây thánh giá. Bài thương khó vừa đọc hôm nay cho thấy, trong vòng không đầy ba ngày mà Chúa Giêsu chịu bao nhiêu sự khốn khó dồn dập đổ xuống trên mình:
bị người môn đệ thân cận phản bội, bán rẻ thầy mình bằng giá một tên nô lệ;
bị vây bắt như một tên cướp giữa đêm khuya;
bị Phêrô chối bỏ không quen biết;
bị lên án là tên phạm thượng và đáng án tử;
và khi đã bị treo trên thập giá, thân xác và tâm hồn tan nát, vẫn chưa được buông tha;
dân chúng đứng dưới thách đố, nhục mạ: "Nếu nó là con Thiên Chúa thì Thiên Chúa hãy cứu nó đi...!!" (Mt 27:43).
Chúa Giêsu đã đón nhận tất cả với một lòng yêu thương trắc ẩn.
Vì yêu mà Con Chúa đã xuống thế mang thân phận mỏng dòn của người hoàn toàn giống chúng ta, ngoại trừ tội lỗi. Rồi cũng vì yêu ta, Chúa đã tự nguyện đi vào cuộc tử nạn và chết nhục nhã trên thập giá.
Còn chúng ta thì sao?
Có đúng không, khi gặp sự khó chúng ta thường có thái độ tránh né? Tệ hơn nữa là than trách cả Thiên Chúa?: "Nếu Chúa quả là Đấng nhân từ, sao Ngài lại để chồng con chết cách thảm thương?... Vợ bị bịnh không đường cứu chữa? ... Con cái bỏ nhà ra đi?... Để con mất việc?... Nếu Chúa yêu tôi sao để tôi chịu khổ...?" Những lời than trách này có khác gì với lời của những kẻ đứng dưới chân thánh giá : "Nếu Ngài (Thiên Chúa) thương nó thì bây giờ Ngài hãy cứu nó".
Chúa Giêsu và Mẹ Maria cũng trải qua những đau khổ khôn lường: "Một lưỡi gươm đâm thâu lòng bà" (Lc 2:35), và "Linh hồn Thầy buồn rầu đến chết được!" (Mt 26:38). Dầu vậy các Ngài không buông một lời oán trách. Có ta thán thì cũng chỉ là lời trách yêu của người con thảo: "Lạy Cha, Cha bỏ con sao?" và, "Cha ơi, nếu được, xin cho chén này rời khỏi con. Nhưng xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha". "Fiat!". Xin vâng ý Cha là điều mà các bậc cha mẹ hằng mong muốn nơi con cái mình. Đó là hy tế trọn hảo Chúa Kitô và Mẹ Ngài đã dâng lên Thiên Chúa Cha.
Nếu chỉ nhìn vào con người của chính mình và các khốn khó ta phải chịu mà than trách, ta sẽ thấy mình bất hạnh, bị dồn nén tư bề không lối thoát, cô đơn thất vọng, không màng đến sự sống nữa. Ngược lại, nếu biết hướng nhìn lên Chúa Giêsu trên Thánh giá, chắc chắn ta sẽ tìm được nguồn an ủi dồi dào. Thánh Đaminh quả quyết: "Thánh giá là cuốn sách luôn mở rộng. Ai đọc sẽ học được bài học quý giá. Mọi nguồn trợ lực của ta đến từ cây thập giá Chúa Kitô". Các thánh của bao thời đại, gần nhất là các thánh tử đạo tại quê hương Việt Nam, đã là những chứng nhân sống động cho chân lý này. Các ngài đã chịu bao cực hình dã man: bỏ đói rũ tù, voi giầy, gông cùm, kìm kẹp, chém đầu, phanh thây. Vậy mà khi ra pháp trường miệng vẫn còn ca hát, ngợi khen, và chúc tụng Thiên Chúa. Sức mạnh nào đã khiến các thánh nhân vui chịu các cực hình đó? Phải chăng là tình yêu phát xuất từ thập giá Đức Kitô? Một "Tình yêu hùng mạnh như tử thần; cho dù thác lũ cũng không thể dập tắt, dù hồng thủy cũng không thể nhận chìm". Ai đã vác và vui lòng chịu đựng đau khổ sẽ thấy thánh giá nhẹ nhàng. Đó là mầu nhiệm của tình yêu và đau khổ!
"Hãy mang lấy ách của Ta. Vì ách Ta thì êm ái, gánh Ta thì nhẹ nhàng, rồi tâm hồn các con sẽ được bồi dưỡng và yên hàn".

 

Lễ_lá-27: TÌNH YÊU VÀ SỰ CHẾT - Sr Yakira

Các cụ ta thường dùng thành ngữ "Mùa chay nào cũng có nước mắt" để chỉ những người hay: Lễ_lá-27

Các cụ ta thường dùng thành ngữ "Mùa chay nào cũng có nước mắt" để chỉ những người hay giây mình vào mọi chuyện thiên hạ. Tuy nhiên, thành ngữ này cũng chỉ một thực tại không thể chối cãi được vì quả thực mỗi khi đọc bài Thương Khó cũng đều có người khóc. Riêng tôi, mỗi lần tưởng tượng ra hình ảnh Chúa Giêsu sau trận đòn chí tử được Philatô chỉ cho dân xem và nói "Này là Người!" cũng không cầm nổi nước mắt và cảm thấy tim mình buốt nhói. Có người khóc vì thương mến Chúa Giêsu, nhưng cũng có người khóc thương hại nữa. Thật sự, Chúa Giêsu vừa đáng cho ta thương theo cả hai cách, thương hại và thương mến. Khi thấy một người bị đánh thân xác rách nát bèo nhèo, chúng ta sẽ thấy lòng mình đau quặn xót thương. Nếu người đó là một trong những người thân thương của ta nữa thì chúng ta lại càng đau hơn, nhưng đau là vì thương mến muốn đáp trả lại tình Người thương ta.
Cũng theo lối suy luận đó, chúng ta thấy có hai cách Chúa Giêsu thương chúng ta, thương hại và thương mến.
"Chúng ta xin Chúa Giêsu một hạt cát,
Người đã cho ta cả một sa mạc.
Chúng ta xin Người một giọt nước,
Người trao cho cả một đại dương.
Chúng ta xin trái tim của Người,
Người đã tặng ban hết cả xác hồn".
Bài thơ trên đây diễn tả lòng Chúa Giêsu yêu thương chúng ta nhiều vô cùng tận. Còn gì nữa mà Người đã không cho ta. Còn gì hơn nữa mà Người đã chẳng làm cho chúng ta. Thường mỗi khi được hỏi tại sao Chúa Giêsu bằng lòng chịu chết, nhiều người cho rằng Chúa Giêsu chết để chuộc tội cho chúng ta, vì họ nghĩ rằng Chúa Giêsu thương hại chúng ta đang bị khổ sở nhục nhằn trong gông cùm tù ngục tội lỗi. Nhưng thực ra Chúa chịu chết chỉ vì muốn tỏ ra lòng Người yêu ta vô cùng. Vì Chúa Giêsu là Chúa, nên Ngài có thể dùng quyền năng vô cùng của Ngài để cứu chúng ta khỏi ách nô lệ của tội lỗi. Nhưng nếu làm theo cách đó, loài người chúng ta sẽ lý luận rằng Chúa không thương chúng ta thật, Ngài không cảm được nỗi đau của ta. Cho nên, Chúa cũng theo lối suy tính đó mà tự nguyện từ bỏ mọi thứ quyền phép sung sướng trên thiên đàng mà hạ mình xuống thế làm một người giống như chúng ta mọi phần, ngoại trừ tội lỗi (vì Chúa Giêsu vẫn còn là Chúa nên Người không bị một quyền lực nào khác thống trị). Người đã mang thân xác giống như thân xác của ta và có một trái tim bằng thịt như của ta. Người đã vui nỗi vui của ta. Người đã đau nỗi đau của ta. Người còn đi xa, đi sâu hơn nữa trong tình yêu ta khi nhận hết tội của ta, gánh hết mọi hình khổ ta đáng chịu vì tội lỗi, và vui lòng chịu chết vì ta.
Cũng có nhiều người hay lấy cái chết để tỏ ra lòng yêu thương của mình. Có một cô gái tuổi mười sáu trăng tròn lẻ ngồi nghe bà nội già móm mém của mình kể chuyện tình duyên một thời con gái của bà, ".. cháu hổng biết chứ hồi đó có anh trong số mấy anh theo riết nội còn nói rằng nếu mà nội lấy ông của cháu thì ảnh thề là ảnh sẽ chết...". Cô cháu cắt ngang và hỏi dồn, "Rồi...rồi... ảnh có chết không nội?" "Có chứ,"bà lão chậm rãi, "mới năm ngoái hè!!".
Trên đây chỉ là câu chuyện vui nhưng cũng có những chuyện thật mà người ta muốn dùng cái chết để chứng tỏ tình yêu như chuyện tình Rômêo-Juliet, chuyện anh chàng luật sư giả dạng chết thay cho chồng của người mình yêu trong chuyện "huyền thoại của hai thành phố" thời Cách Mạng Pháp ngày xưa và những vụ bắn chết người yêu rồi tự tử vẫn nhan nhản thấy đăng trên các nhật báo ngày nay. Chúng ta, những người mang danh Chúa Kitô, không nên làm thế, vì như thánh Phanxicô đệ Salê nói: "Thật đáng buồn cho những cái chết không có tình yêu của Đấng Cứu Thế và cũng thật đáng buồn nếu tình yêu không có cái chết của Ngài". Như vậy đó là những cái chết đáng buồn vì không có tình yêu của Đấng Cứu Thế. Đó cũng là những tình yêu đáng buồn vì không được cái chết của Chúa Giêsu thánh hóa.
Cũng có những cái chết đáng vui vì tràn ngập tình yêu Chúa Giêsu, những cái chết đẫm máu của các vị thánh tử đạo anh hùng. Và tình yêu của các Ngài đã được cái chết của Chúa Giêsu thánh hóa. Tình yêu đó thể hiện trong cuộc sống thánh thiện thường ngày của các ngài. Tình yêu này luôn mang lại niềm vui và sự sống cho những người chung quanh. Là Kitô hữu, chúng ta cần bắt chước những người này. Chúng ta hãy mang trong mình, trong cuộc sống, một tình yêu đã được cái chết của Chúa Giêsu thánh hóa và đóng ấn. Tình yêu kiên nhẫn, tha thứ, chia sẻ, nhân từ, hiền hòa. Tình yêu mang lại sự sống, niềm vui, và hạnh phúc cho người mình yêu. Nếu chúng ta có phải chết để chứng tỏ tình yêu của ta, chúng ta hãy vui lòng chết trong tình yêu của Chúa Cứu Thế. Vì biết rằng Chúa sẽ thêm sức cho ta trong khi đang chết và nhận lấy linh hồn ta và đưa vào nơi "đầy ánh sáng diệu huyền", "chốn vui vẻ đời đời".
Hãy yêu như Chúa Giêsu đã yêu. Hãy chết như Ngài đã chết. Và Ngài sẽ cho ta sống như Ngài vẫn sống.

 

Lễ_lá-28: CON ĐƯỜNG TÌNH YÊU

Nghi thức tuần thánh khởi đầu bằng một cuộc kiệu Lá để tưởng niệm việc Chúa Giê-su vào: Lễ_lá-28

Nghi thức tuần thánh khởi đầu bằng một cuộc kiệu Lá để tưởng niệm việc Chúa Giê-su vào thành Giê-ru-sa-lem. Một cuộc kiệu tưng bừng tiếng tung hô: “Hoan hô thái tử nhà Đa-vít! Chúc tụng Vua Ít-ra-en”, nhưng lại nhuốm buồn vì liền ngay sau đó chúng ta được nghe trình thuật về cuộc thương khó của Chúa. Trong suốt Tuần Thánh này, có ba cuộc kiệu như thế. Hai cuộc kiệu còn lại vào chiều thứ Năm tuần thánh – kiệu Mình Thánh Chúa, và Đêm Vọng Phục Sinh – kiệu Nến Phục Sinh. Những cuộc kiệu trong khung cảnh cuộc thương khó vừa mở ra trước mặt chúng ta một con đường, vừa như là một nhắc nhớ: đằng sau buồn thương có niềm vui cứu độ, qua khổ nạn sẽ là Phục Sinh.
Đường đưa tới vinh quan
Bài thương khó theo thánh Mát-thêu đã gợi lên những hình ảnh xem ra hoàn toàn trái ngược với cuộc khải hoàn vào thành Giê-ru-sa-lem. Thật vậy, việc Chúa được dân chúng tung hô đón rước khi Ngài vào thành thánh chỉ là hình ảnh báo trước vinh quang đích thực Ngài sẽ nhận được khi Chúa Cha cho Ngài sống lại từ cõi chết. Nhưng để được vinh quang ấy, Đức Giê-su phải đi vào con đường khổ nạn, phải tự hiến mình làm hy lễ dâng lên đẹp lòng Cha.
Rất nhiều lần chiêm ngắm bức ảnh Chúa hấp hối, chúng ta thấy được gì phía sau hình ảnh một Chúa Giê-su đẹp đẽ uy nghi quì gối bên một phiến đá dưới ánh trăng vàng đầy thơ mộng ? Chúng ta có nhận thấy một Đức Ki-tô đang gập mình xuống đất, oằn oại trong cơn khủng hoảng vượt quá sức mình ? Chúng ta có hiểu được lời Ngài thổ lộ với các môn đệ: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được” ( Mt 26, 38 ) và cả tiếng kêu thống thiết trên thập giá: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con ?” ( Mt 27, 46 ).
Nỗi đắng cay như vây kín và xiết chặt lấy Ngài, đắng cay của người bị bạn mình phản bội, của Thầy bị môn đệ chối từ và bỏ rơi, của Đấng cứu tinh bị dân mình loại trừ. Tất cả đều do sự ích kỷ, lòng kiêu căng và nỗi tham vọng của con người. Thân xác Chúa khổ sầu đến nỗi mồ hôi máu đổ ra và tâm hồn Ngài gần như tan nát không phải vì những roi đòn và nhục mạ, nhưng chính là gánh nặng của tội lỗi nhân loại. “Người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta” ( Is 53, 4 ).
Qua khổ nạn mới đến Phục Sinh. Đó chính là chương trình mầu nhiệm của Thiên Chúa, nhờ đó Chúa Cha và Chúa Con được tôn vinh. Còn trong thực tế cuộc sống, có nhiều người lại muốn đạt đến vinh quang bằng những con đường ngắn nhất và dễ nhất. Cuối cùng, những gì mà họ có được chỉ là hư ảo, tầm thường nhất và cũng mau qua nhất.
Đường nở hoa tình yêu
Đức Giê-su chịu chết khổ hình nhằm cứu chuộc nhân loại và cũng để tôn vinh Thiên Chúa Cha. Nhiều khi ta tự hỏi: có cần phải như thế với một Thiên Chúa quyền năng ? Hẳn rằng điều làm cho Hiến Lễ Thập Giá của Đức Giê-su trở nên có giá trị và đem lại ơn Cứu Độ không phải là đau khổ hay sự chết, mà là tâm tình vâng phục trong yêu mến đối với Chúa Cha; nhưng chính đau khổ và Thập Giá lại là cách thế diễn tả tâm tình đó thật tuyệt vời.
Sự vâng phục yêu mến của Đức Giê-su đã được I-sai-a báo trước qua hình ảnh người tôi trung: “Đức Chúa là Chúa Thượng đã mở tai tôi, còn tôi, tôi không cưỡng lại, cũng chẳng tháo lui” ( Is 50, 5 ). Còn thánh Phao-lô đã ca ngợi: “Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” ( Pl 2, 7 – 8 ). Lời cầu nguyện của Đức Giê-su thưa với Chúa Cha trong vườn cây Dầu đã nói lên tất cả sự vâng phục yêu mến: “Lạy Cha, nếu con cứ phải uống chén này mà không sao tránh khỏi, thì xin vâng ý Cha” ( Mt 26, 42 ).
Con Thiên Chúa đâu có lạ gì với những đau khổ của phận người khi bước vào trần gian. Đứng trước con đường khổ nạn, Ngài không hỏi tại sao cũng chẳng buông lời nguyền rủa, nhưng Ngài đã bước đi và đi tới cùng với tất cả tình yêu, tình yêu thật lớn lao dành cho Cha và nhân loại, và lập tức bao nhiêu đau khổ kia trở nên ý nghĩa. Con đường Thập Giá bỗng nở hoa rộn ràng. Cây Thánh Giá đã trở nên lộng lẫy với vương miện tình yêu. Qua đó, Đức Giê-su cũng dạy cho con người một bí quyết để sống hạnh phúc, để có hòa bình: Tình yêu và tha thứ.
Như thế, con đường mà Phụng Vụ Tuần Thánh đang mở ra cho chúng ta chẳng phải là “con đường có lá me bay, chiều chiều ta lại cầm tay nhau về”, nhưng là con đường đã in dấu chân, đã thấm mồ hôi và đã mang cả trái tim của Thầy Giê-su – Con Đường Thập Giá.
Cùng Chúa ta lên đường
Lời Chúa hôm nay muốn đưa chúng ta vào mầu nhiệm thánh giá của Đức Giê-su không phải để gợi lên trong ta niềm thương cảm đau xót, nhưng là muốn mời gọi chúng ta hãy can đảm bước theo Đức Giê-su trên con đường thập giá. Rước lá đi theo Chúa trong vài giờ là điều dễ. Theo Chúa giữa lúc Ngài được tung hô, chẳng khó khăn gì. Nhưng tiếp tục theo Ngài và ở lại khi Ngài bị mọi người bỏ rơi, điều đó khó hơn nhiều.
Pascal đã nói: “Chúa Giê-su sẽ còn hấp hối đến tận thế”. Mỗi năm có hàng triệu thai nhi bị loại khỏi lòng mẹ một cách bất công. Và còn bao nhiêu người đang ở trong điều kiện sống chẳng xứng với phẩm giá của mình. Đó chính là Đức Ki-tô đang hấp hối giữa thế giới hiện đại. Chúng ta vẫn gặp những ki-tô hữu đang bị lo lắng, buồn rầu, ấm ức... dày vò nghiền nát. Đó chính là Đức Ki-tô đang hấp hối trong nhiệm thể Ngài. Và chính đời sống chúng ta nhiều khi cũng nhuốm phiền muộn, bất an, lo sợ, nghi ngại và xáo trộn. Nếu ta biết đón nhận với lòng khiêm tốn và tình yêu để cứu rỗi thế gian thì trong ta, Đức Ki-tô cũng đang tiếp tục hấp hối và thân thưa với Chúa Cha rằng: “Xin đừng theo ý con, nhưng xin vâng ý Cha hoàn toàn”.
Đã 2000 năm rồi, tất cả những gì đã xảy ra dường như vẫn đang còn diễn lại. Chúng ta vẫn đang cùng Đức Giê-su đi vào đời và ở trong đời với lý tưởng cứu thế. Chớ gì lời Đức Giê-su mời gọi: “Hãy vác thập giá mình hằng ngày” ( Lc 9, 23 ) luôn vang vọng bên tai chúng ta mỗi khi phải đối mặt với thử thách hay khi bị lăng nhục nhạo cười... Sau khi đã hiểu thấu ý nghĩa cuộc khổ nạn của Chúa, hẳn chúng ta sẽ thấy yêu Thánh Giá của Chúa hơn, và cũng mến Thánh Giá của mình hơn, đồng thời biết kính trọng Thánh Giá của người khác nữa.
Chiêm ngắm Đức Giê-su chịu Thương Khó, có lẽ mỗi người chúng ta đều rất sốt sắng với lời hát: “Ôi bởi con mà Chúa mang thảm hình... Xin giúp con đường thiêng liêng theo lối...” Chớ gì chúng ta luôn có được tâm tình của Đức Giê-su hôm nay, để hân hoan tiến bước vào đời tiếp tục con đường nên Thánh và cứu thế của Ngài, Con Đường Tình Yêu dẫn tới Giê-ru-sa-lem Thiên Quốc.
Lm. KIỀU CÔNG TÙNG ( Giáo Xứ Bùi Phát, Sài-gòn )
CÂU TRUYỆN: XỬ ÁN THIÊN CHÚA
Ngày tận thế, hàng tỉ tỉ người tập trung tại một cánh đồng mênh mông trước tòa Thiên Chúa để chờ Ngài xét xử. Ai cũng hồi hộp lo lắng, nhưng có nhiều người lại nổi giận.
Một phụ nữ nói: “Sao Chúa có thể xét xử chúng tôi được ? Ngài có biết gì về đau khổ đâu ? Chúng tôi đã phải chịu khủng bố, đánh đập, tra tấn và giết chết”. Vừa nói chị vừa vạch tay áo cho thấy một con số do một trại tập trung Đức Quốc Xã xâm vào cánh tay chị. Kế đến, một người đàn ông da đen cúi đầu xuống, để lộ sợi dây thừng đang quấn quanh cổ ông: “Tôi đã bị buộc cổ như thế này chỉ vì tội làm người da đen. Tôi bị tách khỏi những người thân yêu, rồi bị dẫn xuống chiếc tàu chật cứng như nêm, bị bán làm nô lệ, làm việc cực nhọc cho đến chết”.
Sau đó, một cô gái với dòng chữ “con hoang” khắc trên trán lên tiếng: “Tôi phải chịu đựng sự sỉ nhục này vượt sức... vượt sức...” Cô nghẹn ngào không nói tiếp được. Nhiều tiếng nói khác tiếp theo... Mọi người đều trách Chúa vì những khổ đau họ gánh chịu khi còn sống. Ngài quá sung sướng vì cứ ở trên trời với những ngọt ngào và sáng láng; chẳng hề có một chút mồ hôi, nước mắt, đói khát, sợ hãi, hận thù. Bởi thế, Ngài có biết gì về nỗi khổ của con người đâu !
Thế rồi, họ nhất trí xử Ngài phải xuống sống ở trần gian. Tất nhiên, phải làm sao cho Ngài sống y như một người thường, không ai biết Ngài là Thiên Chúa, và cũng không cho Ngài sử dụng quyền phép Thiên Chúa của Ngài. Rất nhiều ý kiến được đưa ra:
-        Ngài phải là một người Do-thái.
-           Làm sao cho người ta nghĩ Ngài là một đứa con hoang, không ai biết đến cha thật của Ngài là ai.
-        Ngài phải làm việc bận rộn không có giờ nghỉ ngơi ăn uống.
-        Ngài phải nếm nỗi đau bị những người thân thiết phản bội.
-        Ngài phải bị đưa ra một tòa án có sẵn bản luận tội bất công.
-        Ngài phải bị kết án là tay lừa đảo và bị xử tử.
-        Trước khi chết, Ngài phải nếm mùi tra tấn và lăng nhục.
-        Cuối cùng, Ngài phải biết cảnh chết trong cô đơn là khủng khiếp đến mức nào.
Quyết định cuối cùng được đưa ra, mọi người đều im lặng... Và bỗng nhiên họ nhận ra rằng Chúa đã thi hành bản án ấy của họ từ lâu rồi !
FLOR McCARTHY
CẦU NGUYỆN: XIN DẪN CON ĐI
Lạy Chúa, xin chiếu tỏa trên con ánh sáng của Chúa và dạy con bước đi ngay trong đêm tối cũng như giữa ban ngày. Xin truyền cho con sức mạnh của Người. Ước gì những cánh tay rã rời vì thất bại của con tìm lại được sức trẻ, để gieo trồng hàng ngàn cây xanh cho một thế giới mới. Ước gì mồ hôi con pha lẫn mồ hôi của Chúa trong vườn cây Dầu. Ước gì máu con hòa lẫn với Máu Chúa trên núi Sọ, để tưới gội cho mảnh đất đã bị khô cằn vì bất công và ích kỷ.
Chúc tụng Chúa là Cha, đã dẫn con đi tới cùng, đến tận Em-mau, nơi Chúa hiển dung với tràn trề bình an và niềm vui.
 ĐHY. ROGER ETCHEGARAY

 

 Lễ_lá-29: BÀI GIẢNG TRƯỚC KHI KIỆU LÁ

Giờ đây chúng ta khai mạc tuần lễ đặc biệt nhất trong năm Phụng Vu, tuần cử hành Mầu: Lễ_lá-29

Giờ đây chúng ta khai mạc tuần lễ đặc biệt nhất trong năm Phụng Vụ, tuần cử hành Mầu Nhiệm trọng nhất, do đó đáng đựơc gọi là Tuần Thánh, với những lễ nghi diễn tả một cách khá cụ thể, giúp chúng ta như đang tham dự, đang chứng kiến các sự kiện lúc chúng diễn ra, nhờ đó chúng ta dễ gắn bó, dễ rung động với điều mình cử hành. Nghi thức đầu tiên của Phụng Vụ hôm nay là làm phép lá và kiệu lá. Qua nghi thứ này, chúng ta tưởng niệm hôm Đức Giê-su là Đấng Cứu Thế, tiến vào Giê-ru-sa-lem, hình ảnh của thế gian để thực hiện việc cứu chuộc thế gian.
Khi Ngài tiến vào thành, đám đông chia làm 2 hạng người:
Một hạng hồ hởi tung hô Ngài, đón tiếp Ngài như một hoàng đế theo kiểu Đông Phương, họ tập trung đông đảo kẻ trứơc người sau, trải áo trên đường, rắc lá cho thêm sang trọng và reo hò inh ỏi. Họ tin nhận và tung hô Ngài là Thiên Sai, là Đấng Cứu Thế. Đây là thái độ và phản ứng của quần chúng, của những kẻ đơn sơ, khó nghèo và chân thành.
Hạng thứ hai thì lạnh lùng, thậm chí căm ghét đối với Ngài. Đó là hạng giàu sang, hạng nắm quyền, như tư tế, biệt phái, luật sĩ, họ không niềm nở đón tiếp đấng Thiên Sai hiền từ khiêm nhu đang cưỡi trên lưng lừa.
Thái độ và biểu hiện của hạng người thứ hai này khiến chúng ta nghĩ ngay đến thân phận của Chúa, của Hội Thánh, và của các kẻ tin ở giữa thế gian: mặc dù Chúa đến để yêu thương và cứu độ, nhưng Giê-ru-sa-lem cũ, tức là thế gian, luôn đi nghịch và không muốn chấp nhận. Mặc dù Hội Thánh chỉ hiện hữu để nối tiếp sứ mạng yêu thương và phục vụ của Chúa, thế gian thường ngờ vực và hiểu lầm Hội Thánh. Mặc dù các Ki-tô hữu cố gắng sống theo và làm chứng cho các giá trị của Tin Mừng, nhưng nhiều nơi họ đã từng gặp khó khăn.
Thái độ và biểu hiện của hạng người thứ hai này cũng gợi đến tội của thế gian: đó là con người chỉ thường muốn yên ổn trong các quyền lợi và thói quen của mình, họ dễ ác cảm với những kẻ đến để khuấy động nếp sống của họ, soi dọi vào các khuyết điểm, đặt vấn đề về nhiều suy nghĩ hay hành vi cố hữu của họ, nhất là họ không có can đảm từ bỏ những tiêu cực, không có hứng khởi hướng lên mà chỉ thích hướng tới những giá trị cao đẹp, mà chỉ thích tiếp tục sống xoàng xĩnh như đang sống.
Điều đáng suy nghĩ là có khi thái độ của Giê-ru-sa-lem cũ, của thế gian đó lại đã hoặc đang là thái độ của chính chúng ta: nghĩa là cũng như thế gian, bản thân chúng ta chẳng nồng nàn gì với Chúa, trái lại đang hững hờ, thậm chí quên lãng hoặc loại trừ Chúa khỏi cuộc sống của ta nữa. Đó là điều ta phải tự hỏi trong cả Tuần Thánh năm nay, cách riêng trong cuộc kiệu lá giờ đây: Đức Giê-su đang muốn đi vào đời tôi, đang đến để cứu chuộc tôi, phía tôi, tôi đang ra đón tiếp Ngài với thái độ và tâm tình nào ?

 

Lễ_lá-30: BÀI GIẢNG SAU BÀI THƯƠNG KHÓ

Chúng ta dễ thắc mắc rằng tại sao ngay sau nghi thức kiệu lá tưởng niệm việc Đức Giê-su: Lễ_lá-30

I. Chúng ta dễ thắc mắc rằng tại sao ngay sau nghi thức kiệu lá, tưởng niệm việc Đức Giê-su vào thành Giê-ru-sa-lem long trọng, Phụng Vụ lại lập tức cho ta nghe bài Thương Khó ?
Đó là vì mục đích chính của Tuần Thánh này là tập trung vào việc chiêm ngắm cuộc Khổ Nạn của Chúa, bởi chính từ cuộc khổ nạn mà có cuộc Phục Sinh, mà lóe lên sự sáng Phục Sinh.
Lý do thứ hai thứ yếu và gián tiếp hơn liên quan đến lòng dạ con người: Ở đời biết bao lần đã xảy ra cảnh khen đó rồi chê đó cũng như vừa mới đó người ta tung hô Chúa, rồi liền ngay đó, người ta la ó đòi giết chết Chúa.
II. Năm nay Phụng Vụ cho ta nghe bài Thương Khó theo thánh Mát-thêu. Một trong những nét đặc biệt của bài tường thuật của thánh Mát-thêu là sự xấu xa, bỉ ổi của lòng người, của thế gian lộ rõ và đối chọi sâu sắc với sự vô tội của Đức Giê-su.
Trước hết, bài Thương Khó bắt đầu với cuộc trao đổi lén lút giữa Giu-đa và các thượng tế, để ấn định giá bán Đức Giê-su. Chi tiết này chúng tỏ vụ án Đức Giê-su là một âm mưu và một cuộc buôn bán bẩn thỉu, thủ phạm lại chính là một trong các môn đệ thân tín của Chúa.
Kế đó, bài Thương Khó kể ra hàng loạt hành vi tội lỗi của hàng lãnh đạo Do-thái: Như bản tính loại trừ Đức Giê-su bằng mọi giá chỉ vì ghen tỵ sự nổi tiếng của Ngài. Do đó họ nhắc lại nhưng xuyên tạc, bóp méo hành động, lời nói của Chúa, nhất là câu Chúa nói về việc phá đền thờ cũ – hoặc họ chọn lựa, mua chuộc trước một số kẻ đứng ra làm chứng dối – hoặc xúi dục, ép buộc dân đen la ó, đòi hỏi theo ý họ – thậm chí đe dọa, gây sức ép với mọi kẻ không cùng ý kiến với mình, kể cả với quan Phi-la-tô, để ông sợ không dám tha Đức Giê-su.
Một dạng tội khác của thế gian được gợi đến ở đây là tính hèn nhát, a dua của đám đông: Có lẽ nhiều lúc, người ta thấy việc mình làm không đúng nhưng bởi sợ sệt, người ta vẫn làm theo kẻ sai bậy, đó là trường hợp người ta la ó đòi đóng đinh Đức Giê-su vào thập giá, hay trường hợp bọn thuộc hạ của các thượng tế và bọn lính tráng chế nhạo, dỡn cợt, thậm chí hành hạ Đức Giê-su, không thương tiếc vùi dập một kẻ yếu thế.
Trong khi đó, bài Thương Khó càng lúc càng làm nổi bật sự vô tội và thánh thiện của Đức Giê-su. Ngay từ đầu, Ngài trọn niềm tuân phục thánh ý và chương trình của Chúa Cha. Tuy quý sự sống và có quyền tránh cuộc khổ nạn, Ngài vẫn phủ phục và đón nhận chén đắng Chúa Cha trao, vẫn để cho Giu-đa thực hiện kế hoạch xấu xa của nó. Tuy vô tội, như Thiên Chúa biết và nói qua giấc mộng của vợ quan Phi-la-tô, Ngài vẫn mang lấy tội lỗi loài người để họ được cứu độ. Thánh Mát-thêu nhắc lại nhiều chi tiết để cho thấy Đức Giê-su chính là Người Tôi Tớ Thống Khổ mà Cựu Ước từng báo trước: Ngài hiền lành nhẫn nhục con chiên. Ngài im lặng, như chiên để cho thợ xén lông, khi đứng trước toà án Do-thái và trước quan Phi-la-tô – khi bị lăng nhục khinh bỉ.
Vậy, khi nghe bài Thương Khó chúng ta đã nghĩ gì ?
Có lẽ nhiều lúc chúng ta đã chê bai Giu-đa, đã lên án dân Do-thái, nhất là hàng lãnh đạo dân ấy. Có lẽ nhiều lúc ta thương hại Đức Giê-su, ta ước có thể bảo vệ cho Ngài, biện hộ cho Ngài. Ta không muốn hành động giống nhóm kẻ thù thời Chúa, ta không chấp nhận thái độ và tâm địa của họ.
Chớ gì đó không phải là những điều ta nghĩ suông. Xin Chúa giúp mọi người chúng ta, kể từ Tuần Thánh năm nay và trong đời sống mình. Ta đừng giống như Giu-đa, được phúc làm môn đệ nghĩa thiết của Chúa, mà để lòng tin mến của mình ngày một sa sút, đến độ trở thành kẻ phản nộp Thầy. Ta đừng chiều theo đám đông, cả nể bạn bè xấu, nhu nhược làm theo những điều sai bậy. Ta đừng trở thành một người xấu, làm tăng thêm số cho những kẻ coi thường Chúa, dè bỉu những ai sống đàng hoàng, và thầm mọi người cũng chấp nhận lối sống và cách nghĩ nhiều khi sai bậy của mình – như hiện tượng đang xảy ra trong xã hội, trong môi trường của chúng ta hôm nay.

 

Lễ_lá-31: CON ĐƯỜNG CHÚA ĐI - GM Giuse Ngô Quang Kiệt M

Lễ Lá có một khởi đầu vui nhưng lại có một kết cục buồn. Khởi đầu Đức Giê-su long trọng: Lễ_lá-31 FB

Lễ Lá có một khởi đầu vui nhưng lại có một kết cục buồn. Khởi đầu Đức Giê-su long trọng vào thành Giê-ru-xa-lem. Kết cục, Đức Giê-su chịu kết án, chịu khổ hình và chết trên thập giá. Con đường vào thành của Người là con đường vinh quang vương giả. Nhưng con đường lên Núi Sọ lại là con đường của kẻ tội đồ.
ĐÁM RƯỚC TƯNG BỪNG NGÀY Lễ LÁ MỜI GỌI TA CÙNG TIẾN BƯỚC THEO CHÚA.
Tiến bước theo Chúa để hiểu rằng hành trình không kết thúc tại cổng thành Giê-ru-xa-lem với đám đông ngưỡng mộ, với cành lá và quần áo trải thảm đường đi, nhưng kết thúc trên Núi Sọ với thập giá, với những lời nhục mạ, với hai tội nhân đồng hành. Đức Giê-su không xưng vương trước đám đông cuồng nhiệt nghênh đón, nhưng lại xưng vương trước mặt Phi-la-tô, khi tay đã bị trói, khi thân thể đã tan nát không còn hình tượng con người, khi đã mất hết uy tín, đứng trước vành móng ngựa như một phạm nhân. Danh hiệu là Vua chỉ được chính thức ghi bằng chữ viết khi Người bị treo trên thập giá.

Hành trình của Chúa là một hành trình gian khổ. Đích điểm chỉ đạt tới sau khi đã từ bỏ tất cả, không phải chỉ là nhà cửa, y phục mà cả những người thân, cả thành công, cả danh dự, cả mạng sống.

Tiến bước theo Chúa để chứng kiến sự thay đổi nhanh chóng của lòng người. Cũng đám đông ấy, hôm trước vừa vung tay vung chân hoan hô Chúa, hôm sau đã vội vung tay vung chân kết án Chúa. Cũng đám đông ấy hôm trước vừa reo hò chúc tụng Chúa, hôm sau cũng vẫn reo hò, nhưng để buộc tội Chúa. Cũng đám đông ấy, hôm trước vừa chen lấn nhau để nghênh đón Chúa, hôm sau đã xúm đông xúm đỏ để hành hạ Chúa. Cũng đám đông ấy, hôm trước vừa cởi áo, chặt cành lá lót đường Chúa đi, hôm sau đã lột áo Chúa, chặt cành gai cuốn lên đầu Chúa.

Tiến bước theo Chúa để dứt khóat lựa chọn cho mình một con đường. Đường vào Giê-ru-xa-lem chỉ có một và rộng thênh thang. Mọi người đều tụ tập và cùng chung lối bước. Nhưng đường lên Núi Sọ chật hẹp và chia ra muôn ngả. Mỗi người đi theo con đường của mình. Đường vào Giê-ru-xa-lem đông vui và phấn khởi vì mọi người ca hát tưng bừng. Nhưng đường lên Núi Sọ thật buồn thảm, chỉ có tiếng roi vọt, tiếng than khóc, tiếng chửi rủa. Đường vào Giê-ru-xa-lem mọi người đều theo Chúa, mọi người đều là môn đệ Chúa. Nhưng đường lên Núi Sọ chỉ còn ít người theo Chúa. Có những người đã phản bội. Có những người đã trốn chạy. Có những người đã chối bỏ Thày. Đường vào Giê-ru-xa-lem có con lừa chở Chúa. Nhưng đường lên Núi Sọ Chúa phải vác thánh giá.

ĐI THEO CHÚA TRÊN ĐƯỜNG VÀO GIÊ-RU-XA-LEM THÌ DỄ DÀNG VÀ VUI VẺ. NHƯNG THEO CHÚA TRÊN CON ĐƯỜNG NÚI SỌ MớI THẬT CHÔNG GAI.
Nếu tôi có mặt ở đó, tôi sẽ dễ dàng hoà nhập vào đoàn người cầm cành lá đón rước Chúa. Nhưng khi Chúa đi lên Núi Sọ, tôi sẽ rẽ sang đường nào ? Tôi sẽ rẽ sang con đường phản bội của Giu-đa ? Tôi sẽ rẽ sang con đường chối Chúa của Phê-rô ? Tôi sẽ rẽ sang những con hẻm in dấu chân trốn chạy của các môn đệ ? Tôi sẽ phụ hoạ với đám đông kết án Chúa ? Hay tôi cũng theo quân lính đánh đập Chúa ? Trước sau gì tôi cũng phải lựa chọn một con đường.

Lạy Chúa, xin cho con luôn tiến bước theo Chúa trên mọi nẻo đường Chúa đi. Xin thêm sức cho con để con kiên trì theo Chúa trên đường lên Núi Sọ. Amen.

+ GM Giuse Ngô Quang Kiệt


 

Lễ_lá-32: THẬP GIÁ

Khi một vị quốc trưởng đến thăm một nước bạn, ông sẽ được tiếp đón một cách chính thức với: Lễ_lá-32

Khi một vị quốc trưởng đến thăm một nước bạn, ông sẽ được tiếp đón một cách chính thức với hai mươi bốn phát đại bác, theo đúng với nghi lễ ngoại giao. Khi một vị tướng lãnh tới thăm một đơn vị của mình, ông sẽ được tiếp đón theo nghi lễ quân cách với ban nhạc dàn chào. Cả hai cách tiếp đón này đều được hoạch định một cách tỉ mỉ và kỹ càng với những chi tiết cần thiết, nhờ đó cuộc tiếp đón được bảo đảm an ninh cũng như được thêm phần trang trọng.
Thế nhưng ngay hôm nay, Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem một cách long trọng, lại chẳng có một chương trình, hay một nghi lễ nào cả.
Ngày nay, các vị quốc trưởng thường đi máy bay phản lực, hay ngồi trong những chiếc xe sang trọng với một đoàn tùy tùng đông đảo. Trong khi đó, Chúa Giêsu chỉ ngồi trên lưng một con lừa, chung quanh Ngài là đám đông dân chúng đầy nhiệt tình và hăng say. Họ trải áo xuống đường, tay cầm cành lá và miệng không ngừng hô lớn :
- Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến, hoan hô Chúa trên các tầng trời.
Đúng lý ra, các thày cả thượng phẩm và những viên chức thay mặt dân chúng đã phải tiếp đón Ngài, thì họ lại hậm hực tức rtối và tìm cách giết hại Ngài và ngăn chặn mối  nhiệt tình của dân chúng. Nhưng Chúa Giêsu đã bình tĩnh và ôn tồn trả lời:
- Nếu hôm nay họ thinh lặng, thì những hòn đá này sẽ kêu lên.
Chúa Giêsu là vua và Giêrusalem là thành trì của Ngài. Ngài đến để tiếp nhận. Cho dù mấy ngày sau, Ngài có bị đóng đanh vào thập giá, thì Ngài cũng vẫn sẵn sàng tiếp nhận vì tình thương yêu.
Từ những sự việc kể trên, chúng ta nhận thấy : vinh quang và đau khổ dường như là hai cái gì luôn đi song song với nhau trong cuộc sống của Ngài, thế nhưng cả hai đều chứng tỏ quyền năng vô song của Ngài.
Ngài mãi mãi là vua giữa những tiếng tung hô, cũng như giữa những lời nhạo báng. Ngài mãi mãi là vua giữa những tiếng chúc tụng Hosana, cũng như giữa những tiếng hò hét : Đóng đanh nó vào cây thập giá. Ngài mãi mãi là vua với những cành lá tung hô, cũng như với mạo gai trên đầu. Và sự thật này vẫn còn tiếp diễn cho đến tận cùng thời gian.
Tại một thành phố nọ, người ta xây một rạp chiếu bóng hiện đại bên cạnh một ngôi thánh đường cổ. Sự kiện này như muốn nói với chúng ta rằng : Chân lý ngàn đời luôn ở bên cạnh những dối trá trần gian.
Hình ảnh cây thập giá bên cạnh những  hình ảnh quảng cáo rực rỡ, Đức Kitô bên cạnh những chàng  cao bồi và tướng cướp. Tình thương của Ngài bên cạnh những đồi trụy và sa đọa. Phải chăng đó cũng chính là kinh nghiệm Hosana và đóng đanh nó vào cây thập giá, mà Chúa Giêsu đã trải qua.
Nhưng dù sao chăng nữa, vượt lên trên mọi bối cảnh, mọi không gian và thời gian, Chúa Giêsu mãi mãi vẫn là vua.
Điều quan trọng chúng ta cần phải xác tín trong ngày hôm nay, đó là dù hỏa ngục có gào thét thì cũng không thể làm cho vương quyền của Chúa bị chao đảo. Dù hoàn cảnh có đen tối đến đâu chăng nữa, thì cũng không thể làm lu mờ địa vị của Chúa.
Hãy đón nhận Chúa, không phải bằng nghi lễ ngoại giao hay nghi lễ quân cách, nhưng bằng những tình cảm chân thành của cõi lòng. Mặc dù bên ngoài, Ngài có bị đánh đòn, bị đội mạo gai và bị đóng đanh vào thập giá, thì Ngài vẫn là vua của tâm hồn chúng ta, bởi vì Ngài đã tự ý chấp nhận tất cả vì yêu thương chúng ta và để cứu chuộc chúng ta, như lời thánh Phaolô đã xác quyết : Chúa đã yêu thương tôi và đã nộp mình chịu chết vì tôi.
Đức Kitô là Thiên Chúa hằng sống, đã chấp nhận cái chết tủi nhục, để chúng ta, những con người phải chết, được sống muôn đời.

 

Lễ_lá-33: NGƯỜI TÔI TỚ CỦA THIÊN CHÚA / dẫn lễ

(có thể dùng để gợi ý tĩnh tâm)
Thái độ và tâm tình khi bước vào Tuần Thánh.
 

Đem hết lòng thành tâm tìm kiếm Chúa vì Chúa đã phán : “Ai khát hãy đến với tôi, ai tin vào tôi: Lễ_lá-33

- Đem hết lòng thành tâm tìm kiếm Chúa vì Chúa đã phán : “Ai khát hãy đến với tôi, ai tin vào tôi, hãy đến mà uống !” (Ga 7, 37). Hãy khao khát Chúa, khao khát thật sự chứ không phải theo ý thích của mình.
- Thinh lặng : giúp tâm sự với Chúa, vì Thiên Chúa không ở nơi ồn ào. Cần có sự thinh lặng bên ngoài mới có thinh lặng bên trong. Hãy tìm Chúa trong cõi thinh lặng.
CHỦ NHẬT LỄ LÁ
NGƯỜI TÔI TỚ CỦA THIÊN CHÚA (1 Is 50, 4-7)
“Tôi đã không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ, tôi biết mình sẽ không phải thẹn thùng”.
Thời nay có nhiều hạng tôi tớ, nhưng không có hạng tôi tớ nào tự nguyện chịu bị đánh đập, bị khinh miệt, bị sỉ nhục, và không một ai tình nguyện làm tôi tớ, nếu không vì quyền lợi...
Chúa Giêsu đã trở nên người tôi tớ của Thiên Chúa, đã tự nguyện trở nên người tôi tớ trong thân phận con người như chúng ta. Tiên tri Isaia đã cho chúng ta thấy hình tượng của một tôi tớ trong con người của Đức Giêsu Kitô : “Tôi đã đưa lưng cho người ta đánh đòn, giơ má cho người ta giật râu...”
Chúng ta là những người tôi tớ của Thiên Chúa, và qua cái chết của Đức Kitô, chúng ta trở nên con cái của Ngài.
Có nhiều hạng tôi tớ, nhưng tôi tớ tự nguyện đáng để cho mỗi người trong chúng ta suy tư và chiêm ngắm, đó chính là vị tôi tớ tự nguyện của Thiên Chúa : Đức Kitô.
Chúng ta có ba đề mục nhỏ để suy tư :
1. Người tôi tớ của Thiên Chúa : Đức Kitô.
2. Người tôi tớ của anh em : Đức Kitô.
3. Đầy tớ vô dụng.

A. Suy niệm.
1. Người tôi tớ của Thiên Chúa : Đức Kitô.
Tuần Thánh, tự nó đã trở nên một gợi ý thánh thiện.
Tuần Thánh, tự nó cũng nói lên tất cả tính chất thánh thiện của một tôn giáo, không phải do loài người sáng lập, nhưng do Thiên Chúa sáng lập cho con người và vì con người.
Hôm nay là ngày bắt đầu của Tuần Thánh, ngày mà Chúa Giêsu Kitô khải hoàn vào thành thánh Giêrusalem cách long trọng, không ai thấy nơi Ngài là người tôi tớ chịu sỉ nhục, bị đánh đòn, bị khạc nhổ...
Hôm nay là ngày mà mọi nhà thờ trên thế giới đều cử hành cách long trọng Chúa Giêsu vào đền thánh Giêrusalem, một biến cố lịch sử có một không hai trên thế giới : Đấng Thiên Sai bởi Thiên Chúa mà đến với nhân loại.
Hôm nay, mọi người Kitô hữu đều hân hoan đón nhận vị vua khiêm tốn đến ngự trong nhà mình, vị vua nhân ái và uy nghiêm cỡi trên lừa mẹ giữa tiếng hoan hô chúc tụng của mọi người...
Chúng ta được trở nên con cái của hoàng tộc -dân thánh- không phải bởi tổ tiên chúng ta là hoàng tộc, nhưng là bởi Đức Kitô đã trở nên người tôi tớ của Thiên Chúa, chịu tất cả mọi sự sỉ nhục vì chúng ta, và cuối cùng, người tôi tớ ấy đã chết để cho chúng ta -những tội nhân- được sống trong tình yêu của Thiên Chúa.
Người tôi tớ ấy, hôm qua là như một vị vua uy nghiêm tiến vào thành thánh Giêrusalem giữa tiếng hoan hô của đám đông quần chúng, hôm nay cũng đám đông ấy đã nhất loạt đồng lòng với các thượng tế, biệt phái hô hào lên án đóng đinh Ngài vào thập giá, Ngài thật sự đã trở nên người tôi tớ của Thiên Chúa, để chúng ta được làm con của Ngài.
“Tôi đã không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ, tôi biết mình sẽ không phải thẹn thùng”. Không một tôi tớ nào của loài người tự nguyện chịu sỉ nhục, có chăng cũng là vì miếng cơm manh áo, đồng tiền; có chăng cũng chỉ là chịu đựng với một tấm lòng oán hờn thù hận, và chắc chắn là không có tình yêu.
Nhưng người tôi tớ của Thiên Chúa là Đức Kitô đã làm được điều ấy, Ngài vốn dĩ là Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ trở nên giống phàm nhân...(Pl 2, 6-7). Qua đoạn văn này của thánh Phaolô Tông Đồ chúng ta có thể hình dung ra một người tôi tớ đau khổ mà tiên tri Isaia đã loan báo trước. Quả thật, Ngài đã gánh chịu tất cả, hi sinh tất cả vì chúng ta, những tội nhân của tội nhân là ma quỷ và sự dữ. Vì yêu Cha và vì yêu nhân loại tội lỗi, Đức Kitô đã vâng phục Cha nên đã tự nguyện làm một tôi tớ thấp hèn để cứu chuộc nhân loại, một sự hi sinh cao độ để nhân loại được hưởng hông cứu chuộc : trở nên con cái của Thiên Chúa.
2. Người tôi tớ của anh em : Đức Kitô.
Khi mang thân phận con người, Đức Kitô đã thật sự là con người như mọi người, với tất cả tình cảm, buồn vui của Ngài trong cuộc sống đều chứng tỏ Ngài là một con người. Và vì thế, Ngài đã trở nên người anh em của chúng ta.
Người tôi tớ của Thiên Chúa đã trở thành tôi tớ của anh em khi ngài cúi xuống rữa chân cho các anh em của Ngài là các tông đồ : “...nên trong bữa ăn tối, Người đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, và lấy khăn mà thắt lưng. Rồi Đức Giêsu đổ nước vào chậu, bắt đầu rữa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau” (Ga 13, 4-5).
Một Đấng Thiên Sai, một vị vua uy nghiêm nhưng rất khiêm nhường giờ đây đã trở nên tôi tớ của người anh em mình, và khi cúi xuống rữa chân cho các môn đệ, chính Ngài đã dạy cho chúng ta một bài học : trở nên người tôi tớ phục vụ anh em chị em trong cuộc sống.
Không ai tưởng tượng ra nổi câu chuyện lạ lùng này : vị Thiên Chúa đã trở nên tôi tớ phục vụ con người, Đấng là vua lại trở nên người tôi tớ của anh em, nhưng với tình yêu thì mọi chuyện sẽ tốt đẹp, tình yêu làm khoảng cách ngắn lại, tình yêu làm cho Thiên Chúa trở nên tôi tớ, đó chính là Đức Kitô.
3. Đầy tớ vô dụng.
Chúa Giêsu, Đấng Thiên Chúa đã huỷ mình ra không để trở nên một tôi tớ của Thiên Chúa, Ngài hiểu rất rõ ràng và cụ thể bổn phận của một tôi tớ : phục vụ.
Ngài vâng phục thánh ý của Cha để phục vụ nhân loại, phục vụ cho đến chết và chết trần truồng trên thập giá, tức là Ngài đã hạ xuống đến mức không còn ra hình tượng người nữa, có nghĩa là Ngài đã trở thành một đầy tớ vô dụng trước mặt loài người : “Tôi đã đưa lưng cho người ta đánh đòn, giơ má cho người ta giật râu” (1 Is 50, 4-7).
Ngài đã trở nên đầy tớ vô dụng làm việc chỉ vì vinh danh Cha mà thôi : “Phần tôi, tôi không tìm vinh quang cho mình” (Ga 8, 50). Vì không tìm vinh quang cho mình, nên Đức Kitô đã không lên tiếng chửi mắng, xỉ vả những người lên án tử và đóng đinh mình vào thập giá, trái lại, Ngài hiền lành như con viên bị đem đi sát tế. Nơi Ngài ánh sáng tình yêu và khiêm tốn của một đầy tớ vô dụng được nổi bật cao chót vót khi bị dựng đứng trên núi Sọ giữa bầu trời âm u, giữa những tiếng nguyền rủa của quân lính và tiếng hò hét la lối của đám đông dân chúng, mà chính họ, đã lãnh nhận từ ơn này đến ơn khác của Ngài ban cho...
Chúng ta là những tội nhân, nhưng hình như trong cuộc sống chúng ta chưa nhận ra mình là một tội nhân bởi vì chúng ta luôn muốn trở thành quan toà phán xét anh em, phán xét người không cùng sở thích, không cùng chính kiến với chúng ta. Chúa Giêsu không xét xữ người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình, Ngài cũng không hầm hè lên án GiaKêu là quân thu thuế tội lỗi, nhưng Ngài trở nên thân thiết với họ, vừa là Chúa là Thầy và là bạn hữu với họ. Cuối cùng, Ngài bị treo chết trên thập giá, hoàn tất mọi sự và an bình phó thác linh hồn trong tay Cha từ đây dưới con mắt của nhân loại, Ngài trở thành đầy tớ vô dụng của Thiên Chúa.
“Đầy tớ vô dụng” không phải là không biết làm gì cả, nhưng tất cả việc làm của họ đều là làm cho và làm vì Thiên Chúa -Đấng sáng tạo- cho nên sau khi hoàn tất công việc được giao phó, thì họ nói như lời Chúa Giêsu dạy : “Đối với anh em cũng vậy : khi đã làm tất cả những gì theo lệnh phải làm, thì hãy nói : chúng tôi là những đầy tớ vô dụng, chúng tôi đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi” (Lc 17, 10).
Biết mình là tôi tớ của Thiên Chúa, nên Đức Kitô đã chu toàn bổn phận của mình. Cũng vậy, mỗi người trong chúng ta không là gì cả, quyền cao chức trọng, học vị tiến sĩ, thạc sĩ.v.v... tất cả đều bởi Thiên Chúa mà đến, cho nên khi làm được việc gì cho ai đó, thì không nên khoe khoang tự mãn tự đắc nói lên mặt dạy đời anh em chị em, nhưng tự trong thâm tâm nên cám ơn Chúa đã dùng mình như một khí cụ để thay Ngài giúp đỡ tha nhân. Mỗi ngày chúng ta sẽ nhìn thấy rất rõ ràng mình là khí cụ của Thiên Chúa, là đầy tớ vô dụng của Ngài, nếu chúng ta thành tâm khiêm tốn suy gẫm về cuộc đời quá khứ và hiện tại của mình rồi đối chiếu, so sánh, thì sẽ thấy : tất cà đều là hồng ân của Thiên Chúa ban cho, lúc đó chúng ta mới hân hoan vui vẻ, nhiệt tình nói với Chúa : Con chỉ là đầy tơ quá vô dụng của Chúa.
A. Cầu nguyện.
Lạy Chúa Giêsu, hôm nay là ngày mở đầu cho Tuần Thánh, với việc long trọng cử hành Chúa tiến vào thành thánh Giêrusalem, để cho chúng con xác tín rằng : Chúa là vua, vị vua hiền từ và khiêm tốn của những tâm hồn hiền từ khiêm tốn, để rồi ngày mai ngày mốt, chúng con chia sẽ sâu xa mầu nhiệm khổ nạn của Chúa trong Tuần Thánh này.
Chúng con đang suy tư về Chúa là Thiên Chúa và là người tôi tớ đau khổ của Thiên Chúa, là Con Chiên hiền lành bị đem đi sát tế không phải để cứu mình, nhưng là để cứu nhân loại tội lỗi, trong đó có chúng con.
Hôm nay chúng con áo quần mặc và trang điểm như ngày hội, cũng đúng thôi, vì chúng con đang đi rước vị Vua của các vua, chúng con đang hân hoan chúc tụng Chúa là Thiên Chúa của nhân loại, của toàn thể vũ trụ. Chúng con đang hiệp cùng dân Do Thái xưa kia tung hô vạn tuế Con Vua David đã đến. Thật hạnh phúc cho chúng con.
Nhưng Chúa muốn chúng con đừng như những người Do Thái ấy, hôm nay tung hô Chúa là vua, ngày mai cũng chính họ miệng hét tay vung đòi đóng đinh Chúa vào thập giá. Chúa muốn chúng con học hỏi nơi Chúa tinh thần của một đầy tớ vô dụng, biết khiêm tốn chu toàn bổn phận của mình trong yêu thương, trong vui vẻ và tích cực. Chúa cũng muốn chúng con nhìn thấy Chúa nơi những người anh em bất hạnh để phục vụ Chúa qua con người của họ.
Lạy Chúa, xin nhậm lời chúng con, và làm cho chúng con trở thành đầy tớ vô dụng của Chúa, không những trong Tuần Thánh này, mà còn trong suốt cả cuộc đời của chúng con. Amen
C. Gợi ý.
a. Tôi có giống như người Do Thái, hôm nay hoan hô Chúa, ngày mai đóng đinh Chúa vào thập giá vì những tội lỗi của mình.
b. Tôi có tâm tình và quyết tâm gì trong Tuần Thánh năm nay ? Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.

 

LễLá-34. TRUNG THÀNH VỚI LỜI TUNG HÔ

Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến. Với thái độ tung hô vạn tuế của dân chúng trong ngày: LễLá-34

Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến. Với thái độ tung hô vạn tuế của dân chúng trong ngày hôm nay, chúng ta đã xác tín Đức Kitô là vị vua phải đến để kiến tạo hòa bình, để trả lại cho con người sự tự do hầu có thể phát triển toàn diện nhân phẩm của mình. Ngài là niềm hy vọng của những kẻ nghèo khó, bất hạnh và khổ đau, Ngài là niềm an ủi của những kẻ bị bóc lột, bị bạc đãi, bị xúc phạm và bị ném ra bên ngoài xã hội.
Đồng thời chúng ta tuyên xưng Ngài là vị lãnh đạo, xử dụng tình thương làm khí cụ để xây dựng một xã hội loài người trên công bình.
Nếu tham dự vào cuộc rước kiệu trong Chúa nhật lễ lá với lời hoan hô chúc tụng Chúa Giêsu là Đấng nhân danh Thiên Chúa mà đến, thì chúng ta có bổn phận phải tiếp tục bước theo Ngài.
Bởi vì con đường Ngài đã đi cũng phải là con đường chúng ta bước theo, mặc dầu chúng ta biết con đường này là con đường sỏi đá, con đường gai góc, con đường thập giá. Chính con đường này sẽ dẫn chúng ta tới đỉnh đồi Canvê, để rồi qua những khổ đau và nhất là qua cái chết trên thập giá, chúng ta cũng sẽ được tiến đến cuộc chiến thắng Phục sinh.
Vì thế, có người đã viết về sự liên quan giữa Chúa nhật lễ lá và ngày thứ sáu tuần thánh như sau :
- Giữa Chúa nhật lễ lá và ngày thứ sáu tuần thánh có một sự phản ảnh cho cuộc đời người Kitô hữu.
Thực vậy, hôm nay chúng ta tung hô chúc tụng Chúa, nhưng ngày mai chúng ta có thể sẽ gào thét đóng đinh Chúa vào thập giá. Hôm nay chúng ta yêu thương Ngài, nhưng ngày mai có thể chúng ta sẽ ghét bỏ Ngài. Hôm nay chúng ta hân hoan, nhưng ngày mai chúng ta lại buồn sầu. Hôm nay chúng ta hiền hòa, nhưng ngày mai chúng ta lại gian ác. Hôm nay chúng ta tin tưởng, nhưng ngày mai chúng ta lại thất vọng.
Phải, danh sách các mâu thuẫn giữa thiện và ác còn có thể tiếp tục nối dài và thực sự giữa Chúa nhật lễ lá và thứ sáu tuần thánh, là cả một đời người tín hữu được phản chiếu.
Để làm sáng tỏ những tư tưởng này, một diễn giả đã dùng hình ảnh cành lá dừa. Cành lá dừa xanh tươi, tượng trưng cho những đặc tính tích cực của Chúa nhật lễ lá, như hoan hô chúc tụng Chúa, yêu thương, hân hoan, hiền hòa và tin tưởng. Thế nhưng mỗi lần nêu lên một điểm tiêu cực của ngày thứ sáu tuần thánh cũng như của chính cuộc sống như : Oán ghét, hoài nghi, gian ác, buồn phiền và khước từ Chúa, thì diễn giả ấy liền tước bỏ phần lá xanh, và chỉ để lại chiếc cọng của nó mà thôi.
Cuối cùng, cành lá dừa xanh tươi đã trở thành một bó roi cỏ để dùng để hành hạ nhau, biến thiên đàng thành địa ngục.
Ước chi tuần thánh là thời gian chúng ta được hướng dẫn để tiếp tục bước theo những dấu chân cuối cùng của Chúa Giêsu nơi dương thế, để chúng ta luôn trung thành gắn bó với đấng chúng ta tuyên xưng hôm nay : Chúc tụng đấng nhân danh Chúa mà đến.

 

LễLá-35. PV/ 193CUỘC KHỔ NẠN

Trong suốt ba năm, Đức Giêsu đã đi từ ngôi làng này đến ngôi làng khác, làm việc lành, giảng: LễLá-35

Trong suốt ba năm, Đức Giêsu đã đi từ ngôi làng này đến ngôi làng khác, làm việc lành, giảng dạy, và chữa bệnh cho dân chúng. Khi đi đến bất cứ nơi đâu, Đức Giêsu cũng đều được đám đông vây quanh lắng nghe và tìm kiếm nhiều điều nơi Người. Đây là ba năm mà Người đã hoạt động một cách trọn vẹn và tích cực ngoài sức tưởng tượng. Tuy nhiên, trong suốt thời gian đó, Đức Giêsu vẫn ở thế chủ động. Người đã đi đây đi đó ít nhiều theo ý của Người.
Nhưng khi Người giao nộp mình vào tay kẻ thù trong Giệtsimani (Người bị một trong những môn đệ của Người giao nộp), thì tất cả thế chủ động của Người chấm dứt. Điều này tượng trưng cho một điểm xoay chuyển trong sứ vụ của Người. Kể từ đây, Người bắt đầu phải chịu đựng đau khổ. Và đó là lúc bắt đầu cuộc khổ nạn của Người. Từ thời điểm đó, Người không còn làm chủ những điều đang diễn tiến nữa. Bấy giờ, các sự việc được thực hiện nhắm vào Người, hơn là do người.
Từ đó, Người bị ngăn chặn, giam giữ và giải đến cho Hêrôđê, Cai pha, Philatô thẩm vấn, đánh đập, đội mão gai, bắt vác thánh giá, lột quần áo, đóng đinh, bị chế nhạo… và cuối cùng, Người đã chịu chết. Đức Giêsu đã hoàn tất sứ vụ của Người, không chỉ bằng những hành động của Người, mà đặc biệt hơn, còn bằng những điều người ta làm cho Người nữa – bằng cuộc khổ nạn của Người. Chúng ta phải hiểu rõ một điều : Chúa Cha không ném Người vào tay những kẻ độc ác. Đức Giêsu đã chịu chết một cách tự nguyện. Người đã hiến mạng sống của Người.
Nhiều lúc, cuộc sống của chúng ta được xác định bằng những điều xảy đến với chúng ta, hơn là những việc chúng ta thực hiện : theo một ý nghĩa rất thật, thì đâu chính là cuộc khổ nạn của chúng ta. Nếu chúng ta có thể thực sự chấp nhận được cuộc khổ nạn này, cũng như những hành động của chúng ta, thì điều đó sẽ dẫn đến sự cứu độ cho chúng ta.
Điều quan trọng là nhận ra phạm vi mà chúng ta hoạt động. Khi còn bé, chúng ta chỉ biết trông cậy vào “lòng thương xót” của những người lớn. Trong hành trình cuộc đời, chúng ta còn có số phận, sự phản bội, những rủi ro, đủ mọi loại bệnh tật, mất mát tình bạn, thất bại trong các tương quan, thất vọng đối với người bạn đời hoặc con cái, cái chết của những người thân yêu, công việc làm ăn vất vả v.v…
Tất nhiên, chúng ta cũng có những lúc vui vẻ và những giai đoạn được sống an bình. Nhưng sự thật là vẫn có nhiều điều vượt ra ngoài tầm kiểm soát của chúng ta. Đó là những yếu tố làm nên kiếp người. Tuy nhiên, chúng ta vẫn có sự chọn lựa trong cách thức đáp trả lại những gì mà cuộc sống gửi đến chúng ta. Cách đáp trả này có thể làm nên con người chúng ta, hoặc bẻ gãy chúng ta.
Đức Giêsu vẫn tồn tại với tư cách là chính bản thân Người, đầy sức mạnh, trong sạch, và tốt đẹp. Chúng ta sẽ trở thành con người nào, nếu cảnh mất mát, khủng hoảng, hoặc những sự tước đoạt thì giờ đã lấy đi của chúng ta vẻ bên ngoài thành công, tầm quan trọng cá nhân, thậm chí ngay cả nhân cách nữa ?
Câu chuyện Cuộc Khổ Nạn chứng tỏ cách thế Đức Giêsu đáp trả lại những điều xảy đến với Người. Người đã chấp nhận tất cả cảnh bạo lực, biến đổi chúng, và chuyển chúng thành tình yêu và ơn tha thứ. Đây là sự chiến thắng của tình yêu vượt lên trên tất cả những sức mạnh tàn phá. Không có gì ngoài tình yêu nơi Đức Giêsu. Ngay cả khi người ta đóng đinh vào tay chân Người. Người vẫn yêu thương. Điều này giúp chúng ta suy nghĩ đến những lúc chúng ta trải qua cảnh khó khăn.

 

LễLá-36. PV/196- TỘI LỖI CỦA TA

Đó là vào đầu tháng 11, lá cây phủ đầy các con đường, rải rác trên mặt đất. Người ta kêu gọi: LễLá-36

Đó là vào đầu tháng 11, lá cây phủ đầy các con đường, rải rác trên mặt đất. Người ta kêu gọi mỗi gia đình thu gom những lá cây của nhà mình vào những giỏ nhựa, và chuyển đến cho những người hốt rác. Bây giờ, khi sử dụng những lá cây như một biểu tượng của tội lỗi, chúng ta hãy nhận xét xem sự việc diễn tiến ra sao.
Một số người không hề cảm thấy phiền toái gì cả, khi nhìn thấy những lá cây rơi xuống, phủ đầy trên bãi cỏ, bồn hoa và lối đi. Họ nhìn thấy chúng ta bắt đầu mục nát và làm cho không khí bốc mùi hôi thối. Nhưng mỗi ngày, họ đều bước lên trên những lá cây thối rữa đó, dường như thể chúng chưa bao giờ hiện diện. Đây là những người mà đối với họ, tội lỗi không là gì cả. Hêrôđê là một trong những người này.
Một người quét ra ngoài đường những lá cây trên bãi cỏ và lối đi cả nhà họ. Tại đó, chúng trở thành một đống xấu xí khó coi, và tạo ra một mối nguy hại đối với các tài xế. Nhưng người đó không hề bận tâm, họ cứ để mặc cho người khác đến dọn sạch đống rác đó đi. Người này nhắc nhở chúng ta về những kẻ làm phiền người khác vì tội lỗi của họ. Philatô, bọn quân lính và đám đông thuộc loại người này.
Hầu hết người ta thường quan tâm đến việc dọn dẹp những lá cây của nhà họ, nhưng họ không màng đến việc nhặt một chiếc lá trên bãi cỏ nhà hàng xóm. Đây là phần đất và trách nhiệm của người đó. Loại người này đại diện cho những người biết nhận trách nhiệm đối với tội lỗi của mình. Phêrô là một ví dụ.
Cuối cùng, có một người đang chú ý. Người này không chỉ thu gom những lá cây trên bãi cỏ nhà mình, mà còn thu gom cả những lá cây ngoài đường nữa. Và người đó làm công việc này một cách âm thầm, không hề phàn nàn gì cả. Người đó nhắc nhở chúng ta đôi chút về Đức Kitô, Đấng đã chịu chết vì tất cả chúng ta. Nhưng Đức Kitô là một người duy nhất không hề phạm tội.
Tuần Thánh không phải là một tuần lễ để chúng ta ẩn núp phía sau người khác. Chúng ta phải nhận trách nhiệm đối với tội lỗi của mình. Nếu biết nhìn nhận tội lỗi của mình, chúng ta không có gì phải sợ hãi, bởi vì Đức Kitô đã đến gánh tất cả tội lỗi của chúng ta. Sau đó. ít nhất chúng ta có thể cố gắng cảm thấy một số trách nhiệm đối với tội lỗi của đồng loại và của cả thế giới nói chung.
Không ai là một hòn đảo. Mỗi người chúng ta đều là một phần tử ở trên mảnh đất của nhân loại.

 

LễLá-37. PV/197- THÁI ĐỘ

Không có điểm nào trong việc trở nên nhạy cảm về nỗi đau khổ. Người ta có thể quá bị đụng: LễLá-37

Không có điểm nào trong việc trở nên nhạy cảm về nỗi đau khổ. Người ta có thể quá bị đụng chạm, đến nỗi họ trở nên cay cú, và sẽ không bù đắp lại được. “Một sự hy sinh quá lâu dài, có thể làm cho trái tim trở thành chai đá” (W.B. Yeats).
Tuy nhiên, nỗi đau khổ có thể trở thành một cơ hội. Đây không phải là vấn đề lý tưởng hóa nỗi đau khổ, nhưng là đương đầu với nó trong niềm hy vọng. Giá trị của nỗi đau khổ không hệ tại ở cảm giác đau đớn của nó, nhưng hệ tại ở thái độ của người chịu đau khổ. Nỗi đau khổ có thể thanh tẩy linh hồn con người, và biến đổi tính cách của người đó. Nỗi đau đớn có thể mang lại hiệu quả. Nỗi đau khổ là một phần thiết yếu trong quá trình trở thành con người thực sự, nghĩa là một người có lòng thương xót và trưởng thành.
Chúng ta không được coi nỗi đau khổ như là một sự trừng phạt của Thiên Chúa. Thiên Chúa không trừng phạt bất cứ ai. Quả thật Thiên Chúa để cho chúng ta chịu đau khổ, chỉ vì điều tốt đẹp có thể xuất phát từ nỗi đau khổ mà thôi. Nỗi đau khổ có thể đưa chúng ta đến gần với Người hơn. Qua đau khổ, chúng ta cảm nghiệm được sức mạnh và tình yêu của Người.
Thật là một sự an ủi lớn lao cho chúng ta, khi nhận biết rằng Đức Kitô, Đấng Vô Tội và Không Hề Phạm Tội, lại đi trên con đường đau khổ trước chúng ta, và Người đã đi đến tận cùng. Trên thánh giá, Người gom tất cả nỗi đau của nhân loại, và biến thành của riêng Người.
Trong suốt thời cộng sản, thi sĩ Irina Ratushinkaya đã sống một thời gian trong các trại lao động ảm đạm ở nước Nga. Bà nói “Cách thức tốt nhất để giữ được nhân cách của bạn trong các trại này, là quan tâm nhiều hơn đến nỗi đau khổ của người khác, hơn là của bản thân bạn” Chúng ta không thể học hỏi được về lòng thương xót, nếu không biết đau khổ.
Trong Cuộc Khổ Nạn của Người, chúng ta nhận thấy cách thức Đức Kitô quan tâm đến người khác – Người quan tâm đến những phụ nữ thành Giêrusalem đồng cảm với Người, Người quan tâm đến tên trộm, và tất nhiên Người quan tâm đến mẹ của Người. Nơi Người, không có gì khác ngoài tấm lòng yêu thương. Ngay cả khi bị đóng đinh tay chân trên thánh giá, Người vẫn tiếp tục yêu thương.
Đức Giêsu không chịu chết để giải thoát chúng ta khỏi đau khổ. Người đã chết để dạy cho chúng ta cách thức chịu đau khổ. Mặc dù con đường đau khổ chật hẹp và khó khăn, nhưng từ khi Đức Giêsu đi qua đó, thì nó không còn như vậy nữa. Một ánh sáng rạng ngời chiếu tỏa trên nó. Những ai biết liên kết những đau khổ của mình với những đau khổ của Đức Kitô, thì những đau khổ đó sẽ trở thành nguồn ân sủng cho toàn thể cộng đồng, và họ sẽ được chia sẻ vinh quang Phục sinh của Đức Kitô.

 

LễLá-38. CSTM / 101- VỤ ÁN

Chúa Giêsu đã bị kết án tử hình hơn hai ngàn năm rồi. Thế mà hồ sơ vụ án kể như chưa kết thúc: LễLá-38

Chúa Giêsu đã bị kết án tử hình hơn hai ngàn năm rồi. Thế mà hồ sơ vụ án kể như chưa kết thúc. Một số người trong chúng ta vẫn chưa hiểu thấu hết nội dung cũng như bối cảnh lịch sử của “vụ án” này. Bài tường thuật cuộc thương khó của Chúa đã kể lại đầy đủ mọi chi tiết. Vì thế mỗi khi đọc lại bài thương khó này là chúng ta lật lại hồ sơ của vụ án Chúa Giêsu. Đề nghị mỗi người ngày hôm nay cũng như những ngày trong Tuần Thánh hãy tìm hiểu để hiểu rõ hơn và xác tín hơn nữa ý nghĩa và giá trị cuộc thương khó và cái chết của Chúa Giêsu.
Trước hết, chúng ta biết : Chúa Giêsu bị bắt vào đêm thứ năm. Ngài lần lượt bị đưa ra xét xử trước tòa án Do thái, tòa án Philatô, tòa án Hêrôđê, rồi trở lại tòa án Philatô. Chúng ta hãy theo Chúa đến các tòa án này để xem người ta xét xử Chúa ra sao.
Trước khi chính thức bị đưa ra tòa án để xét xử, Chúa Giêsu đã bị áp giải đến dinh cựu thượng tế Anna, là người rất có uy tín thời đó, nhưng lại có ác cảm với Chúa Giêsu. Theo một số sử gia, chính Anna là người có trách nhiệm lớn nhất trong vụ án này. Ông muốn điều tra Chúa Giêsu, nhưng ông không khai thác được gì, vì Chúa Giêsu chỉ một mực giữ thái độ im lặng. Bực tức, ông truyền áp giải Chúa sang Caipha, là con rể ông, đang làm thượng tế năm ấy. Caipha nổi tiếng là một nhà chính trị có tài. Tức khắc ông cho triệu tập 72 thành viên của Thượng hội đồng và cũng là tòa án tối cao của người Do thái. Trước tòa, có nhiều người đứng lên tố cáo Chúa. Những lời tố cáo của họ đều xoay quanh những vấn đề liên quan tới đạo Do thái. Họ cho rằng Chúa đã lộng ngôn phạm thượng khi công khai tuyên bố phá đền thờ Giêrusalem; đã vi phạm nhiều lần luật ngày Sabát; đã không giữ những tục lệ truyền thống tổ tiên để lại… Trước những lời tố cáo đó, Chúa Giêsu chỉ im lặng, không hề biện hộ một lời nào. Cuối cùng, Caipha đưa ra một câu hỏi có tính quyết định. Nhân danh Thiên Chúa, ông hỏi Chúa Giêsu có phải là “Đấng Kitô, Con Thiên Chúa” không ? Tôn trọng tư cách thượng tế của quan tòa, Chúa trả lời : “Đúng như lời ngài nói”, tức là Chúa Giêsu xác nhận Ngài là Con Thiên Chúa. Nghe vậy, lập tức Caipha xé áo bên ngoài từ cổ tới bụng, chừng ba mươi phân, theo tục lệ Do thái, để phản ứng lại lời nhận tội mà ông cho là lộng ngôn phạm thượng. Ông nói : “Hắn nói phạm thượng ! Chúng ta cần gì nhân chứng nữa ? Đấy, quí vị vừa nghe hắn nói phạm đến Thiên Chúa”. Theo luật Do thái : “Hễ ai nói phạm thượng thì người đó đáng chết”. Số phận của Chúa Giêsu đến đây coi như đã được quyết định : Ngài bị kết án tử hình.
Nhưng kể từ khi bị người Rôma đô hộ, người Do thái không có quyền kết án tử hình bất cứ ai, nếu không có sự đồng ý của chính quyền Rôma. Nên sáng sớm ngày hôm sau, họ áp giải Chúa tới tổng trấn Philatô, là một viên chức cao cấp nhất, đại diện cho chính quyền Rôma tại nước Do thái để xin chuẩn nhận bản án tử hình.
Trước tòa Philatô, người Do thái đã phơi bày hết ác tâm của họ. Để Philatô chuẩn nhận bản án tử hình, họ đã đổi những lời tố cáo từ lãnh vực tôn giáo sang lãnh vực chính trị, nghĩa là họ dứt khoát muốn Philatô giết Chúa như một kẻ tội phạm chính trị chống lại đế quốc Rôma. Chúng ta thấy rõ ràng : khi hỏi Chúa Giêsu thì họ giải thích danh hiệu Mêsia bằng danh hiệu Con Thiên Chúa; còn khi tố cáo trước tòa Philatô, thì họ lại giải thích bằng danh hiệu vua, để lôi kéo Philatô vào trò chơi gian ác của họ. Nhưng Philatô trả lời họ rằng : ông không thấy người này có gì đáng kết tội. Họ càng tố cáo mạnh hơn, nhai lại một luận điệu chụp mũ, vu khống và quyết liệt đòi đóng đinh Chúa vào thập giá.
Thấy tình hình có vẻ căng thẳng, Philatô muốn gỡ mình ra khỏi trò chơi nguy hiểm này. Ông thảy trái banh cho Hêrôđê, tức là ông yêu cầu đưa Chúa Giêsu qua cho Hêrôđê xét xử để tránh mọi phiền phức. Hêrôđê từ lâu đã mong gặp Chúa Giêsu, nhưng ông chỉ mong gặp để thỏa mãn sự tò mò và tính ham vui mà thôi. Thấy Chúa Giêsu ông mừng lắm. Nhưng rồi ông thất vọng vì Chúa Giêsu không đáp ứng điều gì ông trông đợi. Để trả thù, ông nhập bọn với lính hầu của ông mà chế diễu Chúa, rồi ông truyền trao trả Chúa Giêsu lại cho Philatô. Philatô lại phải nát óc tìm cách thoát thân : làm sao một đàng vừa để trấn an, làm hài lòng những người tố cáo quá khích; đàng khác lại vừa không kết án bất công người vô tội. Nên ông tuyên bố rằng: ông chẳng thấy có điều gì để kết án người này. Vậy ông cho đánh đòn Chúa một trận rồi tha về. Đánh đòn rồi dân Do thái vẫn khăng khăng gào thét dữ dội hơn, đòi kết án tử hình Chúa. Thế là Philatô sợ hãi, hèn nhát rửa tay thanh minh mình vô tội trong việc đổ máu Chúa và ông buông xuôi trao Chúa cho họ hành động theo ý họ. Họ bắt Chúa vác thập giá, rồi đóng đinh vào thập giá. Và Chúa đã chết trên thập giá.
Đọc lại hồ sơ vụ án, chúng ta thấy Philatô và Hêrôđê là những nhà cầm quyền chính trị, không tìm thấy điều gì để kết án Chúa. Chỉ có giới lãnh đạo Do thái muốn giết Chúa mà không cần tội trạng nào cả. Vì thế, trách nhiệm chính trong vụ giết người này là giới lãnh đạo Do thái, đúng như Chúa đã báo trước.
Nói theo tôn giáo, đối với chúng ta hôm nay, rõ ràng vụ án Chúa Giêsu không phải là một vụ án chính trị mà là một vụ án tôn giáo : Chúa Giêsu chết không phải vì xưng mình là vua nhưng vì đã xưng mình là Con Thiên Chúa. Và đó chính là ý nghĩa và giá trị cái chết của Chúa Giêsu. Ngài là Con Thiên Chúa, nên cái chết của Ngài có ý nghĩa vô cùng, cái chết của Ngài có giá trị cứu chuộc mọi người. Chính vì thế mà thánh Phaolô đã nói : “Máu của Chúa đổ ra để muôn người được cứu độ”. Lẽ ra loài người phải chết vì đã phạm tội, nhưng Thiên Chúa đã dủ lòng thương, sai Con Ngài đến để chết thay cho chúng ta.

 

LễLá-39. HRK / 88- VÀO THÀNH

Trong một trung tâm cải tạo tại Hoa kỳ, người ta có thể đọc bài thơ vô danh như sau: LễLá-39

Trong một trung tâm cải tạo tại Hoa kỳ, người ta có thể đọc bài thơ vô danh như sau :
Tôi đã kêu xin Thiên Chúa cho tôi sức mạnh để đạt thành công, Ngài đã khiến tôi trở thành yếu đuối để tôi học vâng lời trong khiêm tốn. Tôi đã xin cho được sức vóc để làm những việc trọng đại, Ngài đã cho tôi tật nguyền để tôi làm những điều tốt lành hơn. Tôi đã xin Chúa cho tôi của cải giàu sang để được sung sướng, Ngài đã cho tôi cái nghèo khó để tôi biết sống khôn ngoan. Tôi đã xin được chức quyền để mọi người kiêng nể kính trọng và Ngài đã cho tôi sự yếu đuối để tôi cảm thấy tôi cần đến Thiên Chúa.
Tôi đã xin có bạn đường để khỏi phải sống lẻ loi, Ngài đã cho tôi một con tim để yêu thương hết mọi người. Tôi đã kêu xin những điều khiến cho cuộc đời tôi vui sướng, Ngài đã cho tôi cuộc sống. Để tìm vui trong mọi sự, tôi đã không nhận được gì trong số những điều tôi kêu xin cùng Thiên Chúa, nhưng tôi đã nhận được những gì tôi hy vọng. Các lời nguyện không thành, lời của tôi đã được khứng nhận và tôi là người hạnh phúc nhất trên trần gian.
Lời cầu nguyện của người vô danh trên đây cho chúng ta thấy một cái nhìn khác về cuộc đời và các giá trị đích thực vượt xa nhãn quang chúng ta hiểu. Sứ điệp Mẹ Giáo hội muốn nhắn gởi chúng ta qua Phụng vụ Chúa nhật lễ lá đó là biết nhận ra các chiến thắng của Chúa Giêsu và của tình yêu trong những thất bại ê chề bề ngoài của một người tử tội. Ngôn sứ Isaia và bài ca thứ ba trong bốn bài ca trình bày gương mặt của người tôi tớ khổ đau, nó diễn tả kinh nghiệm bị bắt bớ mà ngôn sứ phải gánh chịu là người loan báo Lời Chúa cho những kẻ thất vọng. Ngôn sứ nêu gương sống tin yêu và hy vọng khi nhẫn nhục chịu đựng cảnh đối xử.
Qua đó, bài ca nêu bật các đặc thái sau đây của người tôi tớ Giavê :
Thứ nhất người tôi tớ được đưa vào trong khung trời mầu nhiệm của Thiên Chúa và sẵn sàng chấp nhận thực hiện ơn cứu độ Thiên Chúa muốn ban cho dân Ngài.
Thứ hai để thực hiện chương trình ấy theo ý muốn và nhãn quan của Thiên Chúa, người tôi tớ sống đón nhận thánh ý của Ngài mà không phản đối cũng không chần chừ tìm cách thoái thác và viện dẫn lý do.
Thứ ba tuy là người vô cùng khôn ngoan, người có Lời Chúa trong mình, người tôi tớ chứng nhận mọi xỉ nhục, mọi khinh bỉ. Bị xỉ nhổ, bị đánh đòn như người điên dại và không còn phẩm giá gì nữa và nhất là không chấp nhận dàn xếp lèo lái để tránh né cái khó khăn và khổ đau xuất phát từ sứ mệnh đã lãnh nhận từ Thiên Chúa Cha.
Thái độ sống đó của người tôi tớ khổ đau diễn tả cách hành xử siêu việt khác hẳn cách hành xử kiêu căng hiếu chiến của loài người. Cách hành xử đấy đưa nhân loại vào vòng bạo lực không có lối thoát.
Rồi trong bài đọc II Chúa nhật Lễ lá trong thơ gởi giáo đoàn Philipphê thánh Phaolô đã mời gọi tín hữu hãy noi gương cách hành xử của Chúa Giêsu Kitô và sống theo tinh thần của Ngài, tinh thần của người tôi tớ đau khổ. Thánh Phaolô đã lấy lại bài ca diễn tả lại lòng tin của cộng đoàn tiên khởi vào Chúa Kitô. Bài ca nêu bật bản tính Thiên Chúa và cuộc sống đời đời của Chúa Kitô trong liên hệ với Thiên Chúa Cha và nhấn mạnh đến ý nghĩa cuộc đời dương thế và bản tính nhân loại của Ngài. Đó là một bài khảo luận Kitô học súc tích. Từ ngữ nòng cốt trình bày mấu điểm thần học căn bản trên đây là sự từ bỏ trọn vẹn, đổ hết ra làm cho trống rỗng đi.
Tuy phận mình là Thiên Chúa, khi nhập thể làm người để hiện thực chương trình cứu độ của Thiên Chúa Cha, Chúa Giêsu đã lột bỏ mọi vinh quang siêu việt thần thiêng của Ngài. Chúa đã đổ hết bản tính Thiên Chúa của Ngài, đã trở thành trống rỗng hoàn toàn để chia sẻ thân phận yếu hèn thấp kém và tội lỗi vong  thân của con người.
Chúa Giêsu đã ra khỏi chính mình để hoàn toàn sống vâng phục thánh ý Thiên Chúa Cha là Đấng đã dùng chính cái chết và thập giá của con Ngài để trao ban ơn cứu rỗi cho nhân loại. Chính thái độ khiêm hạ vô cùng và tự hủy bỏ mình đó đã khiến Thiên Chúa Cha tôn vinh Chúa Kitô và trao ban trở lại cho Ngài mọi phẩm giá cao trọng và một quyền bính trên trời dưới đất. Phẩm giá cao trọng và quyền năng ấy trong cách hành xử của Thiên Chúa không phải là kết quả sức mạnh của con người, mà là hoa trái của khổ đau và nhục nhã khiêm cung.
Chúa Giêsu Kitô được đặt làm Chúa và là Đấng Cứu thế. Người đã từ bỏ điều kiện Thiên Chúa của mình để sống như người phàm, như người tôi tớ đau khổ. Từ nay trở đi loài người chỉ có thể gặp gỡ Thiên Chúa qua chính cuộc đời của Chúa Giêsu và thập giá. Thập giá giúp chúng ta tẩy rửa lòng tin của mình khỏi mọi thần tượng do chính chúng ta đã tạo ra trong cuộc đời mình. Thiên Chúa của thập giá là một người Thiên Chúa tự lột bỏ, tự đổ dốc hết phẩm giá cao vời của mình đi để chia sẻ thân phận tội lỗi khốn cùng của con người.
Thiên Chúa của thập giá không phải là một vị Thiên Chúa luôn kéo chúng ta ra khỏi lòng cuộc sống trần gian và thế giới này, nhưng Ngài là Đấng bước vào trong lịch sử con người để yêu thương, hoán cải và trao ban cho lịch sử loài người một ý nghĩa. Khi trở thành người anh em của chúng ta, Ngài cống hiến cho chúng ta sự hiệp thông thần linh của Ngài và kêu mời chúng ta trở thành anh chị em với nhau.
Trong tuần lễ đặc biệt sắp tới này, chúng ta hãy xin Chúa giúp cho chúng ta được theo Chúa cho đến cùng trên con đường thập giá Chúa đã đi qua.

 

LễLá-40. ĐỨC GIÊSU KITÔ LÀ ĐẤNG THIÊN SAI

 - Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
 

Đi vào Lễ lá, nhân loại như đang đối diện với một con người bằng xương bằng thịt. Một con: LễLá-40

Đi vào Lễ lá, nhân loại như đang đối diện với một con người bằng xương bằng thịt. Một con người có tên Giêsu. Những hành vi, cử chỉ của tuần thánh qua linh mục như thể Chúa Giêsu Kitô đang làm. Con người như được sờ tới, đụng tới những sự việc mà Đức Kitô đã làm khi xưa để mang lại ơn cứu độ cho nhân loại. Đức Giêsu Kitô thật là Đấng Mêsia, Đấng thiên sai, một Đấng cứu thế đem lại sự an bình cho con người, cho loài người, cho nhân loại. Chúa cứu thế không mang lại sự bất ổn mà Ngài chỉ đem lại sự bình an cho con người, cho con người.
Chúa Giêsu cưỡi lừa vào thành Giêrusalem
Tin Mừng thánh Gioan đoạn 11, 57 thuật lại rằng: "...Bất cứ ai biết Đức Giêsu ở đâu thì phải báo cáo ngay để họ bắt Ngài". Cuộc hành trình đi về Giêrusalem của Chúa Giêsu và các môn đệ làm mọi người lo âu, hồi hộp, sợ hãi. Tin Mừng thánh Gioan sau đó viết: "Đức Giêsu tìm thấy một con lừa và cưỡi lên nó, đúng như lời Kinh Thánh dậy: Hỡi thành Sion, đừng sợ, này đây vua ngươi đến, Ngài đang cưỡi lên một chú lừa con" ( Ga 12, 14-15 ). Chúa vào thành như một vị vua oai phong, nhưng hiền lành, khiêm nhượng. Dân chúng và trẻ con Do Thái cầm trên tay những cành thiên tuế, miệng reo hò: " Hosanna ! Vạn tuế Đấng nhân danh Chúa mà đến ! Hoan hô, hỡi vua Israen" ( Ga 12, 13 ). Môn đệ Đức Giêsu quả thực chưa hiểu điều này, mãi sau này khi Chúa được tôn vinh, họ mới hiểu và các ông làm chứng cho Chúa Giêsu ( Ga 12, 16 ). Chúa Giêsu đã cưỡi lừa vì lừa là loài vật hiền khác với ngựa, tượng trưng cho sự oai phong, kiêu hùng và chinh chiến. Tiên tri Giacaria đã tiên báo về vị cứu tinh sẽ cưỡi trên mình lừa. Điều này khác với quan niệm của những người mong chờ một Đấng oai phong đến sát phạt dân và hồi phục vương quốc Israen. Họ quan niệm vị vua ngồi trên ngai báu, bắt dân hầu hạ. Nhưng Chúa đến sẵn sàng cúi mình, rửa chân cho các môn đệ.
Đức Giêsu Kitô hoàn toàn khiêm nhượng và hiền lành
Chúa Giêsu đã tới trần gian để qui tụ mọi dân, mọi nước chống lại nghèo đói, thù hận và bất công, gây hấn. Ngài đến không phải để kết án mà để tha thứ, cảm thông, chia sẻ. Chúa Giêsu đến để làm cho lề luật nên hoàn thiện và làm cho những giấc mơ của dân nên hiện thực, làm đẹp lại những mơ ước của dân. Chúa mời gọi dân chứ không cưỡng bức, bắt buộc dân theo Ngài.
Chờ đón một vị vua Giêsu với tất cả tâm hồn đơn thành, với cung cách của người đầy tớ, nhân loại hiểu ra rằng Chúa Giêsu đang hiện diện giữa chúng ta và đang nói với ta những điều tốt đẹp nhất để ta đi vào những ngày thánh cách sốt sắng, đạo đức và thánh thiện khi ta cùng với Giáo Hội cử hành nghi thức rước lá.
" Hosanna ! vạn tuế Đấng nhân danh Chúa mà đến ".

 

LễLá-41 Tuần lễ mang lại ơn Cứu độ - Lm Trần Bình Trọng

Cùng với Giáo Hội, hôm nay người tín hữu bước vào Tuần thánh. Tuần thánh bắt đầu từ Chúa: LễLá-41

Cùng với Giáo Hội, hôm nay người tín hữu bước vào Tuần thánh. Tuần thánh bắt đầu từ Chúa nhật Thương Khó đến Chúa nhật Phục sinh, là tuần lễ quan trọng nhất trong năm phụng vụ. Đó là tuần lễ ghi lại nhiều biến cố nhất trong những ngày cuối cùng của cuộc đời Chúa Cứu Thế ở trần gian. Trong Tuần thánh, Giáo hội cử hành những màu nhiệm cứu độ mà Chúa Kitô đã hoàn tất vào những ngày cuối cùng của cuộc đời Người tại thế, từ lúc vào thành Giêrusalem trong ngày Lễ Lá, đến cuộc khổ nạn và phục sinh của Người.
Chúa Nhật Thương Khó, ta được nghe và suy niệm Bài Thương khó của Chúa (Mc 14:1-15:47) khiến ta cảm động, khóc thương Chúa. Đi ngắm 15 Sự Thương Khó Chúa, không phải để nghe ai ngắm giọng Bắc, ai giọng Trung, ai giọng Nam, ai ngâm cung triều, ai ngâm cung dòng. Việc suy niệm về cuộc khải hoàn của Chúa vào thành Giêrusalem, về cuộc khổ nạn trong vườn câu dầu, về cuộc khổ hình thập giá, về cuộc phục sinh vinh hiển của Chúa, chỉ mang lại ý nghĩa, nếu ta biết đem ra áp dụng vào đời sống.
Phúc Âm Thứ Hai Tuần thánh kể lại câu chuyện Chúa đến dùng bữa tại nhà ba chị em Marta, Maria và Lazarô. Giuđa phản đối việc Maria làm khi bà đem một cân dầu thơm cam tùng hảo hạng mà xức chân Chúa, rồi lấy tóc mà lau (Ga 1:3). Giu-đa nại cớ để dành tiền cho người nghèo, nhưng thực sự Giu-đa không quan tâm gì đến người nghèo (Ga 1:4-5). Việc Maria làm Chúa bảo cứ để bà làm công việc ám chỉ về ngày táng xác Chúa. Hôm nay là thời giờ giúp ta suy niệm cái kinh nghiệm sống đức tin của mỗi người, để tìm ra những yếu điểm của mình và để xem ta có sống trung thực với lòng mình không ?
Phúc Âm Thứ Ba Tuần thánh tiên đoán cái tội bán Thày của Giuđa và cái tội chối Thày của Phêrô. Nếu trung thực với lòng mình, ta phải nhận có lúc ta giống Giuđa, có lúc giống Phêrô. Ta giống Giuđa khi ta khước từ ơn Chúa, rồi đóng thêm đinh vào mình Chúa bằng cách sa phạm tội. Ta giống Phêrô khi không dám bày tỏ đức tin, không dám tỏ ra mình là người công giáo.
Phúc Am Thứ Tư Tuần thánh nêu đích danh Giuđa là người sẽ nộp Chúa và cảnh cáo về cái hậu quả trầm luân của kẻ nộp Chúa khốn cho kẻ nộp Con Người, thà kẻ ấy đừng sinh ra thì hơn (Mt 26:24). Tuy nhiên Giuđa vẫn một mực theo đuổi tội phản bội. Ta thấy tội của Giuđa và tội của Phêrô không khác nhau bao nhiêu. Tuy nhiên lòng thống hối của Phêrô - ông ra ngoài khóc lóc thảm thiết (Mt 26:75) - tạo ra một trời khác biệt.
Thứ Năm Tuần thánh kỷ niệm việc Chúa rửa chân cho các tông đồ để dạy họ bài học khiêm tốn. Chúa còn bảo các tông đồ rửa chân cho nhau nghĩa là phục vụ lẫn nhau. Hôm nay Chúa còn thiết lập Bí Tích Thánh Thể. Và để tiếp tục Bí Tích Thánh Thể, Chúa còn lập Chức linh mục. Như vậy ta thấy Bí Tích Thánh Thể và Chức linh mục đi liền với nhau vì không thể có Bí Tích Thánh thể nếu không có linh mục.
Thứ Sáu Tuần thánh kỷ niệm cuộc tử nạn của Chúa trên thập giá để làm giá cứu chuộc nhân loại. Hôm nay là ngày ăn chay kiêng thịt. Chúa đã chết cho tội lỗi loài người. Còn ta có cùng với Chúa chết đi cho tội lỗi và các thứ tính mê nết xấu không?
Vẻ trầm lặng của Thứ Bay Tuần Thánh giúp ta tiếp tục suy niệm về cuộc tử nạn của Chúa và mong được sống lại về phần linh hồn cùng với Chúa sống lại vào CHÚA NHẬT PHỤC SINH.

 

LễLá-42. Đức Giêsu ban ơn cứu độ - Lm. Đan Vinh/ dẫn lễ

I. Tìm hiểu Lời Chúa
1) Ý chính : Đức Giêsu, Vua hòa bình đến ban ơn cứu độ nhờ thập giá
 

Phụng Vụ Lễ Lá hôm nay gồm hai phần: - Phần thứ nhất (Mc 11,1-11) : Đức Giêsu vào: LễLá-42

Phụng Vụ Lễ Lá hôm nay gồm hai phần :
- Phần thứ nhất (Mc 11,1-11) : Đức Giêsu vào thành Giêrusalem với tư cách là Đấng Thiên Sai, được dân chúng đi theo và hoan hô như đón mừng một ông Vua khải hoàn vào thành để lên ngôi vương quyền. Nhưng Đức Giêsu lại không đáp ứng khát mong của dân Do Thái về một Vua Thiên Sai trần thế, nhưng Người lại chọn thái độ khiêm nhu hiền hoà của một vị vua mục tử bằng việc ngồi trên lưng lừa thay vì trên ngựa chiến.
- Phần thứ hai (Mc 14,1-15,47) : Đức Giêsu chính là Tôi Tớ đau khổ của Đức Chúa. Người đến không đòi người ta hầu hạ, nhưng đã rửa chân phục vụ môn đồ và chấp nhận con đường cứu độ là qua đau khổ thập giá để vào vinh quang phục sinh. Người thể hiện tình yêu tột đỉnh khi lập phép Thánh Thể để ban Mình Máu Người làm lương thực nuôi dưỡng đức Tin của chúng ta, và sẵn sàng hy sinh mạng sống, chấp nhận chết đau thương trên cây thập giá để đền tội thay cho nhân loại, và sống lại để ban sự sống đời đời cho họ.
2) Chú thích : Mc 11,1-11
- Khi Đức Giêsu và các môn đệ đến gần thành Giêrusalem, gần làng Bếtphaghê và Bêtania bên triền núi Oliu, Người sai hai môn đệ và bảo : "Các anh đi vào làng trước mặt kia. Tới nơi, sẽ thấy ngay một con lừa con chưa ai cỡi bao giờ, đang cột sẵn đó. Các anh tháo dây ra và đem nó về đây. Và nếu có ai bảo : "Tại sao các anh làm như vậy ?" thì cứ nói là Chúa cần đến nó và Người sẽ gởi lại đây ngay" (Mc 11,1-3) :
+ Bếtphaghê và Bêtania : Đây là hai làng gần thủ đô Giêrusalem. Làng Bếtphaghê nằm về bên sườn phía Đông của núi Oliu. Còn làng Bêtania nằm ở phía Đông thủ đô Giêrusalem và ở xa thủ đô hơn làng Bếtphaghê.
+ Núi Oliu : hay Núi Cây Dầu, nằm về phía Đông thành Giêrusalem. Thời Cựu Uớc, Vua Salomon đã cho dựng nhiều bàn thờ tà thần cho các hầu thiếp ngoại giáo ở trên núi này (x. 1 V 11,7; 2 V 23,13). Thời Tân Ước, tại núi này, Đức Giêsu đã tiên báo về việc thành Giêrusalem sẽ bị tàn phá là hình bóng của ngày Tận Thế (x. Mt 42,1-14). Tại đây, Đức Giêsu đã trải qua giờ phút hấp hối trước khi bị bắt (x. Mc 14,26-50). Sau khi sống lại, Chúa Giêsu cũng đã ban huấn lệnh cuối cùng trước khi về trời (x. Cv 1,12).
+ Một con lừa con chưa ai cỡi bao giờ : Đức Giêsu dùng con lừa con thay vì lừa mẹ, vì lừa mẹ đã được dùng trong việc thường ngày. Còn lừa con chưa bị ai cỡi, nên mới xứng đáng được Đức Giêsu xử dụng trong nghi thức trong đại lên ngôi vương quyền trở thành Đấng Mesia khải hoàn vào thành Giêrusalem.
+ "Chúa" : "Chúa" ("Chúa Thượng" : "Kyrios") và "Đức Chúa" ("Adonai"), là hai tước hiệu dành để kêu cầu Thiên Chúa và Đấng Thiên Sai. Khi tự gán cho mình tước hiệu "Chúa Thượng" (x. Tv 110,1-7), Đức Giêsu muốn nói với người Do Thái rằng : Tuy là "Con Đavít", Người vẫn cao trọng hơn Đavít và có trước ông (x. Mt 22,43-45). Thánh Phaolô cũng đã tuyên xưng : "Đức Giêsu là Chúa" (Rm 10,9). Tước hiệu "Kyrios" ("Chúa Thượng"), ám chỉ quyền tối cao của Đức Kitô ngang hàng với Thiên Chúa (x.Pl 2,10).
+ Cần đến nó, và Người sẽ gởi lại đây ngay : Đức Giêsu cần sử dụng con lừa vào lúc này. Người sắp cỡi trên lưng lừa và khải hoàn vào thành thánh. Hình ảnh Đức Giêsu cỡi lừa thay vì cỡi ngựa thể hiện vai trò làm Vua Mêsia khiêm nhu hiền từ như lời ngôn sứ Dacaria : "Vì kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi : Người là Đấng Chính Trực, Đấng Toàn Thắng, khiêm tốn ngồi trên lưng lừa, một con lừa vẫn còn theo mẹ" (Dcr 9,9)
- Các ông ra đi và thấy một con lừa con cột ngoài cửa ngõ, ngay mặt đường. Các ông liền tháo dây lừa ra. Mấy người đứng đó nói với các ông : "Các anh tháo lừa ra làm gì vậy ?" Hai ông trả lời như Đức Giêsu đã dặn. Và họ để mặc các ông. Hai ông đem con lừa về cho Đức Giêsu, lấy áo choàng của mình trải lên lưng nó, và Đức Giêsu cởi lên. Nhiều người cũng trải áo họ xuống mặt đường, một số khác lại chặt nhành chặt lá ngoài đồng mà rải (Mc 11,4-8) :
+ Thấy một lừa con cột ngoài cửa ngõ : Hai môn đệ nhìn thấy lừa con đúng như Thầy Giêsu đã bảo các ông. Điều này cho thấy Đức Giêsu có cái nhìn vượt qua không gian và thời gian. Giống như Người đã nhìn thấy Nathanaen đang ngồi dưới cây vả trước khi Philípphê đến mời gọi anh theo Đức Giêsu (x. Ga 1,48). Người cũng thấy trước một người mang vò nước, khi sai các môn đệ đi dọn bàn ăn để thầy trò mừng lễ Vượt Qua (x. Lc 22,10-13).
+ Họ để mặc các ông : Có lẽ những người này đã quen biết Đức Giêsu và các môn đệ, nên họ dễ dàng cho Người mượn lừa.
+ Nhiều người trải áo họ xuống mặt đường ... Chặt nhành lá ngoài đồng mà rải : Bên Cận Đông, dân chúng thường trải áo hay chặt cành lá trải trên đường để tỏ lòng tôn kính đối với Đức Vua hay vị tướng chiến thắng từ mặt trận trở về. Chẳng hạn : Khi tôn Giêhu làm vua, các thuộc hạ "lấy áo choàng trải lên đầu thềm cấp dưới chân ông. Họ thổi tù và, rồi hô lên : Giêhu làm vua!" (2 V 9,13). Trường hợp này, dân chúng đón rước Đức Giêsu như một ông vua Mêsia. Họ hy vọng Người đến để giải phóng dân Do Thái khỏi ách thống trị của đế quốc Rôma.
- Người đi trước, kẻ theo sau, reo hò vang dậy : "Hoan hô ! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa ! Chúc tụng triều đại đang tới, triều đại vua Đavít tổ phụ chúng ta. Hoan hô trên các tầng trời !" Đức Giêsu vào Giêrusalem và đi vào Đền Thờ. Người rảo mắt nhìn xem mọi sự, và vì giờ đã muộn, Người đi ra Bêtania cùng với nhóm Mười Hai (Mc 11,9-11) :
+ Hoan hô ! : Dịch từ chữ Hosanna. Chữ này bắt nguồn từ chữ "Hosianah" nghĩa là "Xin ban ơn cứu độ" (x. Tv 118,25). Hosanna là một lời kinh cầu cứu, hay một tiếng kêu diễn tả niềm vui. Lời tung hô : "Hosanna!", nghĩa là "Hoan hô!" hay "vạn tuế!". Khi Đức Giêsu vào thành Giêrusalem, dân chúng hoan hô Người : "Hosanna Con Vua Đavít!", "Hosanna trên các tầng trời!" (Mt 21,9).
+ Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa! : Là lời chúc tụng rút ra từ Thánh Vịnh (x. Tv 118,25-26). Những lời hoan hô chúc tụng này nhằm tôn vinh Đức Giêsu là Đấng Thiên Sai.
+ Chúc tụng triều đại đang tới, triều đại vua Đavít tổ phụ chúng ta : Vị Thiên Sai mà dân chúng đang mong chờ là con cháu hoàng tộc Đavít, có sứ mệnh tái lập vương quyền của vua Đavít. Chính vì quan niệm sai lầm về sứ mạng cứu thếcủa đức Giêsu như vậy, nên không lạ gì khi mấy ngày sau, đám đông dân chúng lại vào hùa với bọn đầu mục Do Thái đối nghịch với đức Giêsu để đả đảo Ngừơi, đòi tổng trấn Philatô phải lên án tử hình cho Người như sau : "Đóng đinh nó vào thập giá! Đóng đinh nó vào thập giá !" (Mc15,13-14).
+ Người đi vào Đền Thờ. Người rảo mắt nhìn xem mọi sự : Đền Thờ đây là hành lang Đền Thờ, nơi lương dân có thể ra vào được. Người đưa mắt nhìn xem những điều trái tai gai mắt do bọn con buôn gây ra tại nơi trang nghiêm dành riêng cho việc thờ phượng. Điều này báo trước việc Đức Giêsu sắp làm là xua đuổi bọn con buôn ra khỏi Đền Thờ. (x. Mc11,15-19).
II. Học sống Lời Chúa
1) Đức Giêsu là Vua Mêsia hòa bình :
- Suy niệm :
Ngôn sứ Giacaria đã tiên báo Đấng Mesia sẽ cỡi lừa tiến vào Giêrusalem. Giờ đây Đức Giêsu đang thực hiện lời tiên báo ấy. Làm như thế là Người chính thức biểu lộ là Đấng Thiên Sai (Mêsia) mà dân Ítraen đang mong đợi và đồng thời mặc khải cho biết sứ mệnh Thiên Sai của Người là gì ?
Vào thời bấy giờ, nhiều người Do Thái nghĩ rằng : Sứ mệnh của Đấng Thiên Sai là thiết lập một Triều Đại Mới giống như vua Đavít hay vua Salomon đã làm ngày xưa, để lãnh đạo dân Do Thái đánh đuổi quân Rôma ra khỏi đất nước Do Thái. Nhưng khi chọn cỡi trên lưng lừa thay vì ngồi trên mình ngựa, Đức Giêsu đã tỏ cho thấy Người là ông vua hoà bình.
Người là vua mục tử đến không đòi được thần dân hầu hạ, mà đến để phục vụ họ, như người mục tử chăm sóc đàn chiên của mình. Đức Giêsu không đến để cầm quân đi giao chiến với các dân khác như sự mong đợi của dân Do Thái thời bấy giờ, nhưng là chống lại với ba kẻ thù về thiêng liêng tinh thần là: ma quỷ, thế gian và xác thịt. Người kêu gọi mọi người chiến đấu để tiêu diệt các tệ nạn xã hội và các đam mê lạc thú bất chính.
Người đến không phải để lên án, khai trừ kẻ có tội, mà để thứ tha cho những tội nhân thật lòng thống hối ăn năn. Người không muốn ép buộc người ta phải đi theo mình mà chỉ mời gọi họ : "Ai muốn theo Ta phải bỏ mình, vác thập giá mình màđi theo".
- Quyết tâm : Còn chúng ta thì sao ? Để đi theo Đức Giêsu Vua hiền lành khiêm tốn thì ta phải làm gì khi nghe biết có người nói xấu sau lưng ta? Để góp phần kiến tạo Vương Quốc yêu thương và an bình mà Đức Giêsu đang thực hiện, ta phải hợp tác với các người có trách nhiệm hay các tổ chức thiện nguyện, đẩy lùi các sự gian ác thuộc về Nước Xatan như : sự nghèo đói lạc hậu, mê tín dốt nát, thù hận hiếu chiến, bất công gian ác, bất tín gian dối ... Cụ thể là xua trừ các tệ nạn xã hội như : sì ke ma tuý, cờ bạc, rượu chè, đi điếm ... ra khỏi môi trường ta đang sống là gia đình, khu xóm, trường học, xí nghiệp và giáo xứ của ta?
2) "Hoan hô ! Chúc tung Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa!" (Mc 11,9). - "Đóng đinh nó vào thập giá!" (Mc 15,13) :
- Suy niệm :
Khi Đức Giêsu khải hoàn vào thành Giêrusalem, các môn đệ của Người và dân chúng Do Thái nô nức đi theo Người. Họ đón rước Đức Giêsu như một ông vua đăng quang, hay một vi tướng chiến thắng quân thù và khải hoàn vào thành. Họ trải áo trên đường đi, tay cầm cành lá, miệng phấn khởi reo hò những lời hoan hô chúc tụng ... Nhưng rồi chỉ vài ngày sau, họ đã có thái độ xoay chiều : Trong số các môn đệ của Đức Giêsu, kẻ thì bán nộp Thầy, hầu hết đều bỏ Thầy chạy trốn, có kẻ lại hèn nhát chối không biết Thầy là ai. Còn dân chúng thì vào hùa với các kẻ thù ghét Đức Giêsu là các đầu mục Do Thái mà chống lại Người. Họ đồng thanh xin tha cho tên tội phạm Baraba và đòi Philatô kết án tử hình thập giá cho Đức Giêsu, mặc dù trước đó Philatô xét thấy Người vô tội muốn tha cho Người. Họ tiếp tục hành hạ và chế giễu Người khi Người đang chịu treo trên thập giá ...
Tại sao các môn đệ của Đức Giêsu và đám đông Do Thái lại có thái độ bất nhất như thế? Trước hết là do họ bị thất vọng : Họ đang trông chờ một ông vua Mêsia theo ước muốn của họ, nghĩa là phải là người cầm quân chống lại đế quốc Rôma. Thế mà Đức Giêsu lại xuất hiện như một ông vua hiền lành và khiêm hạ, chấp nhận bị bắt và chịu xỉ nhục ...
Những người này tượng trưng cho hạng người theo đạo vì gạo, vì vợ, vì chức ... nên khi đã đạt được mục đích là họ thôi không giữ đạo nữa như người ta thường châm biếm : "Cúi đầu lạy Chúa Ba Ngôi, cho tôi được vợ tôi thôi nhà thờ!". Những người theo đạo mà thiếu đức tin như vậy thì khi gặp những điều trái ý, gặp những hoàn cảnh khó khăn mà cầu xin không được như ý, là họ dễ dàng có thái độ phản Chúa : "Hữu sự vái tứ phương". Họ sớm bỏ Chúa để chạy theo các thầy bùa ngải, thầy pháp và cầu xin khấn vái tà thần ma quỷ.
- Xét mình và quyết tâm :
Hãy cho biết tại sao bạn theo đạo Công Giáo ? (Vì được cha mẹ cho chịu phép rửa tội làm con cái Chúa ngay từ khi mới sinh; Vì muốn kết hôn với một người công giáo mà theo đạo là điều kiện tiên quyết để được gia đình người ấy chấp thuận ; Vì tôi đã nhận được một ơn như ý tôi ước mong ; Vì tự nhiên thấy thích đi lễ nhà thờ nên khi có điều kiện là đi theo :Vì đã nghiên cứu đọc nhiều sách về các đạo giáo và thấy Đạo Công Giáo là phù hợp với suy nghĩ của mình nên xin theo đạo ... )
Bạn sẽ làm gì trong Tuần Thánh này để đi con đường của Đức Giêsu là Qua đau khổ để vào vinh quang ? (Xin Chúa gia tăng Đức Tin, sưởi ấm lòng mến, để xứng đáng tham dự các nghi lễ tưởng niệm việc Chúa rửa chân cho môn đệ và lập Bí Tích Thánh Thể chiều Thứ Năm Tuần Thánh ; Tham dự các nghi thức tưởng niệm việc Chúa Giêsu bị kết án bất công và chịu chết trên cây thập giá và được an táng trong mồ chiều Thứ Sáu Tuần Thánh ; Tham dự lễ Vọng Phục Sinh tưởng niệm mầu nhiệm Phục sinh và hứa lại lời hứa từ bỏ ma quỷ tuyên xưng đức Tin ngày chịu phép Rửa Tội. Chúng ta nhất định chọn Chúa, đời đời chọn Chúa, mãi mãi trung thành với đức Tin và với Giáo Hội.
III. Hiệp sống nguyện cầu
1) Lạy Chúa Giêsu, trong ngày Lễ Lá hôm nay, Chúa chọn ngồi trên lưng lừa thay vì trên mình ngựa để khải hoàn vào thành Giêrusalem. Chúa muốn biểu lộ sứ mệnh của Chúa là một ông Vua Thiên Sai hiền lành : Chúa đến không phải để thống trị, nhưng để phục vụ; Chúa đến để ban bình an và chia sẻ vui buồn với nhân loại chúng con.
Xin cho chúng con luôn biết quên mình để nghĩ đến người khác. Xin cho chúng con biết cư xử hiền hoà với mọi người, cho chúng con biết luôn chịu đựng và tha thứ vô điều kiện những xúc phạm của kẻ khác đối với chúng con để chúng con xứng đáng là những đứa con hoàn thiện của Chúa Cha trên trời, là những môn đệ đích thực của Chúa và là anh chị em của hết mọi người như Chúa đã dạy.
X) Hiệp cùng Mẹ Maria - Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con
2) Lạy Mẹ Maria . Trong cuộc đón rước Chúa Giêsu và thành Giêrusalem, đám đông dân chúng nô nức đi theo và tung hô Chúa : Nhưng họ theo Chúa với hy vọng được Chúa chữa bệnh không tốn tiền, hy vọng được Chúa cho ăn bánh mà không phải lao nhọc vất vả, hy vọng được Chúa chia sẻ quyền hành và lợi lộc vật chất cho. Cũng có người theo Chúa để được chứng kiến Chúa làm phép lạ đánh đuổi quân Rôma ra khỏi đất nước Do Thái. Nói chung, người ta đi theo và ca tụng Chúa vì chính bản thân họ hơn vì lòng tin yêu Chúa. Do đi theo Chúa vì ích kỷ vụ lợi như vậy, nên khi thấy Chúa không lên làm vua theo ý họ, nên họ bị thất vọng, và họ đã đứng về phía những kẻ thù ghét Chúa, vào hùa với bọn đầu mục Do Thái để chống lại Chúa và làm áp lực đòi Philatô lên án tử hình thập giá cho Chúa!
Lạy Mẹ, xem ra đức tin của chúng con cũng không hơn gì dân Do Thái xưa : Chúng con theo Chúa cũng vì ích kỷ vụ lợi. Nhưng qua việc Chúa làm và lời Chúa dạy hôm nay, chúng con mới ý thức rằng : Tình yêu chân chính đòi chúng con phải biết quên mình để tìm ích lợi cho kẻ mình yêu. Giống như Chúa đã yêu thương con không phải vì con mang lại ích lợi cho Chúa, nhưng chỉ vì tình thương và muốn ban ơn cứu độ con.
Vậy xin Mẹ giúp con sống tình yêu thương vị tha của Chúa : luôn quên mình để nghĩ đến người khác, khiêm tốn phục vụ tha nhân, sẵn sàng bỏ ý riêng để xin vâng ý Chúa, chấp nhận những gian khổ gặp phải trên đường đời. Vì biết rằng : Nếu chúng con cùng chết với Chúa, thì chúng con cũng sẽ cùng được sống lại với Người sau này.
X) Hiệp cùng Mẹ Maria - Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con

 

LễLá-43. Đức Giêsu chịu đóng đinh trên thập giá - JKN

Câu hỏi gợi ý:
 

Đức Giêsu có run sợ trước đau khổ và sự chết không? Cuộc khổ nạn và cái chết của Ngài là do: LễLá-43

1. Đức Giêsu có run sợ trước đau khổ và sự chết không? Cuộc khổ nạn và cái chết của Ngài là do Ngài bị ép buộc hay do tự nguyện? Động lực khiến Ngài tự nguyện là gì?
2. Cái chết khủng khiếp của Đức Giêsu nói lên điều gì? Có phải vừa nói lên sự công thẳng và nghiêm túc của Thiên Chúa đối với tội lỗi, vừa nói lên tình thương bao la của Thiên Chúa đối với con người không? Công thẳng ở chỗ nào? Tình thương ở chỗ nào?
3. Bài học thực tế mà chúng ta học được qua mầu nhiệm Vượt Qua được cử hành trong Tuần Thánh là gì? Thiên Chúa và Đức Giêsu yêu thương và hy sinh cho chúng ta như thế, các Ngài mong ước điều gì nơi chúng ta?
Chia sẻ
1. Đức Giêsu chịu đau khổ để cứu nhân loại khỏi đau khổ
Mầu nhiệm được cử hành trong Tuần Thánh - làm cho chúng ta hết sức cảm động - là Đức Giêsu đã chấp nhận chịu đau khổ và chết thay cho chúng ta, để giải thoát chúng ta khỏi đau khổ và sự chết trong cảnh giới vĩnh cửu. Tất cả đều vì yêu thương chúng ta: «Tội lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây thập giá, để một khi đã chết đối với tội, chúng ta sống cuộc đời công chính. Nhờ Người mang những vết thương của anh em mà anh em đã được chữa lành» (1Pr 2,24).
Theo niềm tin Kitô giáo, Đức Giêsu chính là Con Thiên Chúa. Ngài chẳng những là người hoàn toàn vô tội, mà còn là một con người hoàn hảo nhất của nhân loại. Thế nhưng Ngài lại phải chịu những cực hình khủng khiếp, đau đớn nhất của con người. Những đau khổ ấy, Ngài đã tự nguyện chịu, mặc dù từ thâm tâm Ngài cũng rất sợ hãi trước đau khổ. Việc Ngài lo buồn đến mức đổ mồ hôi máu trong vườn Cây Dầu (x. Lc 22,44) nói lên nỗi sợ hãi hết sức cao độ ấy. Nhưng dù biết trước những cực hình khủng khiếp đã khiến Ngài phải sợ hãi như thế, Ngài vẫn tự nguyện đón nhận, vì muốn hoàn thành thánh ý Chúa Cha là cứu độ loài người, và vì chính Ngài cũng yêu thương con người, muốn cứu họ khỏi tội lỗi và hậu quả khủng khiếp của tội lỗi. Dù bản năng có ham sống sợ chết, ham sướng sợ khổ, Ngài vẫn vui lòng chấp nhận đau khổ và chết, để con người được sống và sống hạnh phúc: «Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha» (Mt 26,39).
2. Đức Giêsu thực hiện sự công bình và tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại tội lỗi
Vì tội của nguyên tổ và của riêng từng người, đáng lẽ nhân loại chẳng những bị mất hạnh phúc vĩnh cửu mà còn phải chịu đau khổ đời đời. Sự công bình nơi bản tính của Thiên Chúa đòi buộc mọi tội lỗi đều phải đền trả, nghĩa là con người phải chịu hình phạt xứng đáng. Nếu thế con người sẽ phải đau khổ đời đời! Nhưng tình yêu vô biên của Ngài đối với con người đòi hỏi Ngài phải ra tay cứu họ, nếu không thì không còn là tình yêu nữa! Vừa bắt con người phải đền tội, vừa phải ra tay cứu họ, đối với trí óc của con người điều đó quả là mâu thuẫn và nan giải! Nhưng sự khôn ngoan vô biên của Ngài đã giải quyết nan đề ấy bằng cách cho Con của Ngài xuống thế làm người, đại diện cho toàn nhân loại, chịu đau khổ và chết, để đền tội thay cho cả loài người. Theo cách đó, sự công bằng và tình yêu của Ngài đều được thỏa mãn.
Đức Giêsu - là Ngôi Hai, Con Thiên Chúa, cũng là Thiên Chúa trong bản tính nhân loại - đã đảm trách việc hòa giải giữa hai đòi hỏi trái ngược nhau của sự công bằng và tình yêu Thiên Chúa, và cũng là hòa giải giữa con người với Thiên Chúa. Vì thế, sứ mạng của Đức Giêsu là phải làm sao cho con người thấy được công lý của Thiên Chúa phải được thực hiện nghiêm túc thế nào, đồng thời cũng biểu lộ cho con người thấy tình yêu của Thiên Chúa đối với con người bao la thế nào.
Chân lý, công lý và tình thương, đó là những thuộc tính hết sức quan trọng trong bản tính Thiên Chúa. Thiết tưởng người Kitô hữu - là người ý thức hơn ai hết con người là hình ảnh của Thiên Chúa - cần phải phản ánh và thể hiện ba thuộc tính ấy trong đời sống của mình. Đức Giêsu đã nhấn mạnh sự quan trọng của ba thuộc tính ấy: «Những điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công lý, tình thương và tính chân thật » (Mt 23,23).
3. Tình yêu của Thiên Chúa được biểu hiện nơi Đức Giêsu
Thiên Chúa yêu thương con người, điều ấy đã được Thánh Kinh nói đến rất nhiều: «Anh em hãy xem Chúa Cha yêu chúng ta dường nào: Người yêu đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa mà thực sự chúng ta là con Thiên Chúa» (1Ga 3,1); «Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời» (Ga 3,16); «Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta được biểu lộ như thế này: Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống» (1Ga 4,9); «Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta» (Rm 5,8).
Tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại được thể hiện cụ thể qua tình yêu của Đức Giêsu đối với con người: «Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy» (Ga 15,9); «Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng » (Ga 13,1).
4. Hãy thể hiện tình yêu của Thiên Chúa ra cho tha nhân
Đức Giêsu đã chấp nhận đau khổ để con người được hạnh phúc, chấp nhận chết để con người được sống. Chính tình yêu đối với con người đã thúc đẩy Ngài làm điều ấy. Sự việc ấy cho thấy đau khổ của ta có thể biến thành hạnh phúc cho người khác, cái chết của ta có thể biến thành sự sống cho người khác. Nghĩa là ta có thể chấp nhận đau khổ để người mình yêu được hạnh phúc, chấp nhận chết để người mình yêu được sống. Vì thế, đau khổ và chết cho người mình yêu là cách tuyệt hảo nhất để biểu lộ và thể hiện tình yêu: «Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình» (Ga 15,13). Thiết tưởng người Kitô hữu cần sử dụng thường xuyên cách biểu lộ và thể hiện tình yêu tuyệt hảo này trong đời sống (đáng lẽ phải) đầy tràn yêu thương của mình.
Cũng như tình yêu của Chúa Cha đối với Đức Giêsu là gương mẫu cho tình yêu của Ngài đối với nhân loại: «Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy» (Ga 15,9); thì Ngài rất mong tình yêu của Ngài đối với chúng ta cũng là gương mẫu để chúng ta yêu thương nhau: «Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em» (Ga 15,12). Thánh Gioan đã diễn tả ý tưởng trên như sau: «Nếu Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta như thế thì chúng ta cũng phải yêu thương nhau» (1Ga 4,11); «Chúng ta hãy yêu thương nhau, vì Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước» (1Ga 4,19); «Đức Kitô đã thí mạng vì chúng ta. Như vậy, cả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải thí mạng vì anh em» (1Ga 3,16). Vậy, chúng ta hãy áp dụng tinh thần yêu thương và hy sinh cho người mình yêu, trước hết và đặc biệt cho những người gần gũi với chúng ta nhất: cha mẹ, vợ con, anh chị em, bạn bè... sau đó cho những người xa hơn, và cuối cùng cho cả những người ghét và làm hại chúng ta. «Anh em hãy mang gánh nặng cho nhau, như vậy là anh em chu toàn Luật Đức Kitô» (Gl 6,2).
Tóm lại, hãy trở nên hiện thân cho tình yêu Thiên Chúa giữa tha nhân, giữa trần gian. Thiết tưởng đó là những điều thực tế mà trong Tuần Thánh này chúng ta phải quyết tâm thực hiện trong đời sống mình. Nếu không Tuần Thánh này cũng chỉ là một tuần vô bổ, trôi qua không dấu vết trong đời sống chúng ta.
Cầu nguyện
Tôi nghe thấy tiếng Chúa nói với tôi: «Con ơi, Cha yêu con, yêu con vô cùng. Cuộc tử nạn và cái chết của Đức Giêsu chính là bằng chứng rõ rệt cho tình yêu của Cha. Cha mong mỏi con đáp lại tình yêu của Cha như một tình nhân mong được người mình yêu đáp trả lại bằng tình yêu. Cách đáp trả tình yêu mà Cha mong muốn nhất nơi con, chính là con ban rải yêu thương một cách thật quảng đại, thậm chí phung phí, cho những người sống chung quanh con, những người con thường gặp hằng ngày. Hãy trở nên hiện thân của tình yêu Cha giữa mọi người».

 

LễLá-44. Những khuôn mặt môn đệ – Gier. Nguyễn Văn Nội

Chúa Nhật Lễ Lá dẫn chúng ta vào Tuần Thánh với những ngày cực Thánh là Thứ Năm, Sáu: LễLá-44

Chúa Nhật Lễ Lá dẫn chúng ta vào Tuần Thánh với những ngày cực Thánh là Thứ Năm, Sáu, Bẩy và Chúa Nhật Phục sinh. Đức Giêsu Kitô Thiên Chúa nhập thể làm người, Con Yêu Dấu của Chúa Cha đã bị kẻ thù -vì ghen ghét và hiểu lầm- đã bắt giữ, tra vấn, kết án và đóng đinh vào thập giá như một tên trọng tội. Người đã chết như một người thất bại. Nhưng Người đã sống lại vì chẳng những Người là Đấng vô tội và bị giết oan mà còn vì là Người đã chết thay cho những người có tội, để mọi người được sống với Người và nhờ Người.
Tìm hiểu Lời Chúa
1. Bài đọc 1: Is 50,4-7: Ngôn sứ Isaia nói về sứ vụ mà Thiên Chúa giao cho ông và mô tả cách Thiên Chúa đối xứ rất thân thương, khiến ông hoàn toàn tin tưởng phó thác vào Chúa và chịu đựng mọi tệ bạc của người ta. Isaia là hình bóng của Đức Giêsu vì những gì Isaia nói về mình thì cũng là những điều đã xẩy ra cho Đức Giêsu trong cuộc Khổ Nạn Thập Giá: "Tôi không cưỡng lại cũng chẳng tháo lui. Tôi đã đưa lưng cho người ta đánh đòn, giơ má cho người ta giật râu. Tôi đã không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ... Tôi đã không hổ thẹn, tôi trơ mặt ra như đá. Tôi biết mình sẽ không phải thẹn thùng".
2. Bài đọc 2: Pl 2,6-11: Dưới tác động của Thánh Thần Thánh Phaolô đã viết nên một bài ca tuyệt diệu về sự tự hạ tột cùng của Đức Giêsu, Con Thiên Chúa làm người: "Vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết treo trên cây thập tự". Để thưởng công cho sự tự hạ ấy của Đức Giêsu, Thiên Chúa Cha đã siêu tôn Người và đặt Người làm Chúa của muôn loài muôn vật trên trời dưới đất.
3. Bài Tin Mừng: Mc 14,1-15,47: Là bài Thương Khó của Tin Mừng Máccô. Trước hết Máccô dẫn chúng ta từ bữa ăn tại nhà ông Simon Cùi ở Bêtania đến bữa ăn cuối cùng của Đức Giêsu ở Giêrusalem. Bữa ăn tại nhà ông Simon Cùi có xẩy ra chuyện một phụ nữ lấy dầu thơm xức trên đầu Người, loan báo thân xác Người sẽ được ướp và chôn cất trong ba bốn ngày tới. Bữa ăn cuối cùng của Đức Giêsu với các môn đệ trong một phòng rộng rãi trên lầu với việc Đức Giêsu lập Bí tích Thánh Thể để Người ở lại mãi mãi với chúng ta và để chúng ta luôn có một chứng từ cụ thể, khả giác về Tình Yêu của Người. Cũng trong bữa ăn đó, Đức Giêsu đã loan báo việc một trong số các môn đệ sẽ phản bội Người. Trước đó Máccô đã cho chúng ta biết về âm mưu giết hại Người của giới lãnh đạo Do Thái và về sự phản bội của Giuđa Ítcariốt. Giuđa quyết tâm bán Thày cho các thượng tế. Rồi Máccô đưa chúng ta đến núi Oliu ở đó Đức Giêsu đã phải trải qua những giây phút thật khủng khiếp trước viễn tượng cái chết cô đơn trên thập giá: "Tâm hồn Thày buồn đến chết được". Người đã xin Cha "cất chén đắng" cho Người: "Nhưng xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha".
Sau đó là những diễn tiến dồn dập của Cuộc Thương Khó: quân lính xuất hiện với Giuđa và bắt Đức Giêsu, đem Người đến vị thượng tế: ở đây các vị thượng tế và Thượng Hội Đồng Do Thái buộc tội Người để lên án tử hình. Vì không tìm ra chứng thật, họ đã phải “bịa ra” chứng giả nhưng không thuyết phục được ai, kể cả chính bản thân họ và Đức Giêsu. Trước sự im lặng của Đức Giêsu, vị thượng tế tìm mọi cách để Đức Giêsu phải nói và Đức Giêsu đã nói một cách dõng dạc chưa từng có: "Phải, tôi là Đấng Kitô, Con của Đấng Đáng Chúc Tụng. Rồi các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng và ngự giá mây trời mà đến".Đức Giêsu đã chết vì lời công bố mặc khải Sự Thật ấy. Điều trớ trêu là trước cảnh hùng vĩ của lời công bố ấy thì các giới lãnh đạo đền thờ và dân chúng lại khạc nhổ, bịt mặt, phỉ báng, chế nhạo Người. Còn môn đệ số một là Phêrô thì chối Thày "như đỉa phải vôi". Các thượng tế, kỳ mục và kinh sư đã tìm ra Cớ để giết hại Đức Giêsu. Có đó là Người đã có lời lộng ngôn, đã phạm thượng tức xúc phạm đến Thiên Chúa. Nhưng họ không có quyền quyết định trên sự sống của Người, nên phải "vuốt mặt làm lành" chạy đến cầu cạnh với Philatô để tìm một đồng lõa, đề nghị một thỏa hiệp "hai bên cùng có lợi" để khử trừ Đức Giêsu. Và Philatô- vì sợ mất chức mất quyền, đã hèn nhát biến mình thành đồng lõa, tòng phạm với giới lãnh đạo Do Thái. Philatô còn biến mình thành công cụ của giới lãnh đạo đền thờ Do Thái trong cái chết của Đức Giêsu. Khi mọi chuyện đã được đạo diễn một cách ăn khớp với nhau, thì chỉ còn việc Người Vô Tội ra hành hình, càng sớm càng tốt, để bảo đảm an ninh và tránh mọi rắc rối. Đức Giêsu đã được giao cho lý hình và lính tráng đã điệu Người đến nơi hành quyết...Trên đường cũng như chung quanh Núi Sọ, thay vì những lời cảm thông, tán tụng, biết ơn, ngưỡng mộ, giờ đây chỉ còn tiếng nhục mạ, chế diễu, nói xỏ nói xiên... Đức Giêsu đã tắt thở trên thập giá sau khi không còn sức chịu đựng cực hình, trong nỗi cô đơn tột cùng: "Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?"
Một chi tiết đáng suy nghĩ: Máccô chỉ nhắc đến mấy người phụ nữ đứng xa xa mà nhìn, chứ không nói gì đến sự có mặt của các môn đệ khi Đức Giêsu bị đóng đinh và treo trên cây thập giá. Chẳng những thế sau khi Đức Giêsu đã tắt thở, người đứng ra xin xác Đức Giêsu lại cũng không phải là một trong Mười Một Tông đồ mà là ông Giôxép, người thành Arimathê, thành viên có thế gía của Hội đồng Do Thái. Các môn đệ của Đức Giêsu ở đâu lúc ấy? Họ còn nhát gan hơn các môn đệ của Gioan Tẩy Giả trước đó 3 năm, vì sau khi nghe tin Thày bị chém đầu, các môn đệ của Gioan đã dám đứng ra xin xác Thày đem về chôn cất.
Một gợi ý suy niệm:
Từ Bài Thương Khó của Máccô, chúng ta có thể rút ra cho mình nhiều đề tài suy niệm. Riêng tôi, tôi chọn cho mình và đề nghị quí độc giả hãy chọn với tôi đề tài suy niệm này: Những khuôn mặt môn đệ chung quanh Đức Giêsu trong Cuộc Thương Khó của Người.
1. Khuôn mặt thứ nhất là vài thực khách cùng dùng bữa với Đức Giêsu tại nhà ông Simon Cùi ở Bêtania: Họ tỏ ra khó chịu, bực tức và gắt gỏng với người phụ nữ đã đập vỡ bình bạch ngọc đựng dầu thơm cam tùng nguyên chất thứ đắt tiền và đổ dầu trên đầu Đức Giêsu, vì họ cho rằng chị ta làm như thế là phung phí: "Phí dầu thơm như thế để làm gì? Dầu đó có thể đem bán lấy trên ba trăm quan tiền mà thí cho người nghèo".Thật ra họ chẳng quan tâm đến người nghèo, chẳng quan tâm đến người phụ nữ làm chướng mắt họ, chẳng quan tâm đến Đức Giêsu. Cái họ quan tâm là chính bản thân họ. Họ che dấu tâm địa bủn xỉn và ích kỷ của họ bằng những lời lẽ giả nhân gỉa nghĩa. Trong khuôn mặt của mấy người này tôi có nhận ra khuôn mặt của tôi không? Tôi có sống giả hình, ích kỷ, keo kiệt, khắt khe với tha nhân không?
2. Khuôn mặt thứ hai là khuôn mặt của Giuđa Ítcariốt. Giuđa Ítcariốt là một trong Mười Hai môn đệ đã được Đức Giêsu chọn làm Tông đồ và là người đã bán Thày với số tiền còm. Có phải vì Giuđa tham tiền không? Có thể lắm chứ vì ai mà không tham tiền! Nhưng cũng có thể là Giuđa không tham tiền đến độ bán Thày để chỉ lấy mấy chục đồng. Giải thích dễ chấp nhận và phù hợp với bối cảnh lịch sử và văn mạch Thánh Kinh nhất là Giuđa tìm cách cưỡng bức Thày dùng vũ lực và quyền năng để làm cho thiên hạ phải bái phục. Giuđa muốn ép Đức Giêsu chọn con đường Mêsia chính trị trong khi Nguời chọn con đường Mêsia đau khổ. Nghĩa là Giuđa muốn dồn Đức Giêsu vào chân tường để Người phải dùng tới quyền năng thần linh của Thiên Chúa cho thấy Người là ai, trong khi Đức Giêsu lại chọn con đường tự hủy, tự hiến để mặc khải Sức Mạnh và Tình Yêu Cứu độ của Thiên Chúa. Giuđa bị cám dỗ y như chính Đức Giêsu đã từng bị Satan cám dỗ trong hoang địa: "biến hòn đá này thành bánh" và "hãy gieo mình xuống" (từ nóc đền thờ). Nhưng Đức Giêsu đã gạt phắt cám dỗ ấy đi, còn Giuđa thì đã sa chước nó. Trong khuôn mặt của Giuđa tôi có nhận ra khuôn mặt của mình không? Có bao giờ tôi cũng muốn Đức Giêsu làm theo ý tôi không? Có bao giờ tôi đã cam tâm bán rẻ Đức Giêsu và Đạo của Người để lấy một chút vinh hoa, phú quí, quyền chức, tiền bạc hay thú vui không?
3. Khuôn mặt thứ ba là khuôn mặt của Phêrô. Phêrô là một trong bốn môn đệ đầu tiên, là một trong Mười Hai môn đệ đã được Đức Giêsu chọn làm Tông đồ và làm Tông đồ Trưởng. Nhưng Phêrô đã chối Thày ba lần. Mới trước đó Phêrô còn khăng khăng quả quyết với Đức Giêsu: "Dầu tất cả có vấp ngã đi chăng nữa, thì con cũng nhất định là không?" Nhưng chỉ mấy giờ sau thì Phêrô đã chối phăng mối liên hệ của mình với Thày Giêsu khi bị một đứa tớ gái trong dinh thượng tế hạch hỏi: "Tôi chẳng biết, chẳng hiểu cô muốn nói gì! Tôi thề là không có biết người mà các ông nói đó!"Trong khuôn mặt của Phêrô tôi có nhận ra khuôn mặt của mình? Tôi có ỷ sức mình, có hợm mình, có tự cao, tự đại, kiêu căng mà coi thường sự giòn mỏng của bản thân mình không? Tôi có sợ bị liên lụy với Đức Giêsu không? Sau mỗi lần sa ngã, chối Chúa, tôi có bắt chước Phêrô mà ăn năn sám hối và hoán cải trở về xin Chúa Thứ tha và tin tưởng phó thác vào lòng Thương Yêu tha thứ của Chúa không? Tôi có bắt chước Phêrô mà bù đắp lỗi lầm của mình bằng một lòng yêu thương lớn gấp ba gấp bốn không?
4. Khuôn mặt thứ bốn là khuôn mặt của các Tông đồ khác: Trừ ông Phêrô (đã chối Chúa) và ông Giuđa Ítcariốt (đã bán Chúa), còn 10 Tông đồ khác nữa. Đó là ông Giacôbê con ông Dêbêđê, ông Gioan em ông Giacôbê, ông Anrê, ông Philípphê, ông Batôlômêô, ông Mátthêu, ông Tôma, ông Giacôbê con ông An-phê, ông Tađêô và ông Simon thuộc Nhóm Quá Khích. Nếu ông Gioan có mặt bên Đức Mẹ dưới chân thập giá (theo Tin Mừng Gioan) thì chín ông kia đâu? Thánh Máccô chép lại là họ sợ hãi chạy trốn hết! Trong khuôn mặt của chín Tông đồ kể trên tôi có nhận ra khuôn mặt của mình không? Tôi có nhát đảm, có sợ bị thiệt thòi, sợ bị sa thải mất việc làm, sợ bị trù dập, sợ bị mang tiếng là người duy tâm lạc hậu khi người ta biết tôi là người Công giáo, là Kitô hữu không?
5. Khuôn mặt thứ sáu là khuôn mặt của ông Giôxép, người thành Arimathê, thành viên có thế giá của Hội đồng Do Thái và cũng là người mong đợi Triều Đại của Thiên Chúa. Giôxép đã dũng cảm công khai hóa mối liên hệ của ông với kẻ vừa bị giết chết trên thập giá là tên Giêsu Nadarét mà đứng ra xin xác Người và mai táng chu đáo. Trong khuôn mặt của Giôxép, tôi có nhận ra khuôn mặt của tôi không? Tôi có dũng cảm xác định mối quan hệ của tôi với Chúa Giêsu trong cuộc sống gia đình và xã hội không? Tôi có đón nhận, chăm sóc, yêu thương và phục vụ "những kẻ bé mọn nhất" của Chúa Giêsu như chính Chúa Giêsu không?

 

LễLá-45. Suy Niệm của Lm. Trọng Hương

A. Hạt giống...
 

Bài Tin Mừng tường thuật cuộc chịu nạn chịu chết đau đớn của Chúa Giêsu. Bài đọc 1 (trích sách: LễLá-45

Bài Tin Mừng tường thuật cuộc chịu nạn chịu chết đau đớn của Chúa Giêsu. Bài đọc 1 (trích sách Isaia) cho chúng ta biết lý do của cái chết ấy : vì Chúa Giêsu muốn làm như Người Tôi Tớ Thiên Chúa mà Cựu Ước đã báo trước, tự ý gánh lấy đau khổ để chuộc tội cho loài người. Bài đọc 2 (trích thư Philipphê) cho biết giá trị của cái chết ấy : “Đức Kitô đã vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá. Vì thế Thiên Chúa đã tôn vinh Ngài và ban cho Ngài một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu”
B. ... nẩy mầm.
1/ Đức Hồng Y Carlo Maria Martini đề nghị một cách suy gẫm cuộc thương khó của Chúa Giêsu như sau : suy gẫm 1 số trong 14 thái độ của con người đối với Chúa Giêsu trên Thập giá :
01. Thái độ của Giuđa
02. Thái độ của những người gác dinh thượng tế.
03. Thái độ của Thượng Hội Đồng.
04. Thái độ của Phêrô.
05. Thái độ của Philatô.
06. Thái độ của Baraba và dân chúng.
07. Thái độ của những người lính.
08. Thái độ của Simon Kyrênê.
09. Thái độ của những kẻ đóng đinh Người.
10. Thái độ của những kẻ nhạo báng Người.
11. Thái độ của Chúa Cha.
12. Thái độ của viện đại đội trưởng.
13. Thái độ của các phụ nữ dưới chân thập giá.
14. Thái độ của các bạn hữu Người.
2/ Chúa Giêsu trong cơn đau khổ đã rất giống với bất cứ người nào trong chúng ta : Ngài cảm thấy sợ hãi, cô đơn và hầu như tuyệt vọng : “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cất chén đắng này đi”, “Lạy Chúa, sao Chúa bỏ con ?”. Nhưng Ngài cũng rất can đảm. Ngài không bỏ cuộc, Ngài chịu đựng cho đến hoàn tất. Chính vì thế mà những đau đớn của Ngài mới trở thành nguồn ơn cứu độ cho loài người. Chúa Giêsu rất giống tôi trong đau khổ, đồng thời cũng là Thầy dạy tôi cách chịu đựng đau khổ.

 

LễLá-46. NHỮNG CHIẾC LÁ PHẤT PHƠ - Lm. VIKINI

Tôi đang nhìn thấy những chiếc lá phất phơ trên tay những cụ già đầu tóc bạc phơ đến tay những: LễLá-46

Tôi đang nhìn thấy những chiếc lá phất phơ trên tay những cụ già đầu tóc bạc phơ đến tay những bé thơ còn măng sữa, trên tay những mái đầu xanh cường tráng đến tay những mái tóc rủ liễu yếu đào tơ.
Những chiếc lá này bao nhiêu năm đã phất phơ, vật vờ, xơ xác, tung lên, nhào xuống, quay cuồng theo chiều gió bão táp, thật tội nghiệp !
Hôm nay, dân Do thái đã reo hò vang dậy : Hoan hô, chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa, chúc tụng triều đại đang tới, triều đại vua David tổ phụ chúng ta. Hoan hô trên các tầng trời với một rừng lá giương cao phất phơ, vùng vẫy như trên đỉnh gió hú.
Cơn lốc ầm ầm đó không do khí trời mà do khí người bị dồn ép bao nhiêu năm, nay được dịp bùng lên : Dịp Đức Giêsu vào thành Giêrusalem khác thường, Ngài ngồi trên lừa con, như Salomon ngồi trên lừa của cha là David để vào thành Sion làm vua (1V. 1, 33). Dân chúng tưởng triều đại David đã vùng dậy, vinh quang của Israel đã đến rồi, không còn nô lệ, không còn khổ dịch ô nhục nữa, không còn chết nữa. Thiên Chúa đã thực hiện lời hứa cho dòng dõi David lên ngai vương quyền kiên vững đến muôn đời (2Sm. 12). “Thiên Chúa ban quyền xét xử cho vua, và cho hoàng tử đức công minh … Ngài thống trị từ biển này qua biển khác, từ sông cả đến mút cùng cõi đất ! … Vua chúa Tarsis, Saba sẽ đem triều cống lại chầu, vua chúa hết thảy sẽ bái lậy Ngài, tất cả muôn dân sẽ làm tôi Ngài” (Tv. 72, 1. 8. 10-11).
Nhưng than ôi, giấc mộng vàng muôn thuở chóng tan như mây khói. Họ chẳng thấy Ngài ra tay thực hiện chi cả, chỉ thấy Ngài xua đuổi con buôn đang đem lại giàu sang phú quý cho đền thánh. Ngài lại bị các thượng tế, kinh sư, thủ lãnh tra hỏi. Ngài bảo của Xêda trả cho Xêda, của Thiên Chúa trả cho Thiên Chúa, dân còn gì sống đây ! Đế quốc đã bóc lột hết, lấy đâu mà trả Thiên Chúa. Ngài lại loan báo những điều quái gở : Đền thờ sẽ không còn tảng đá nào trên tảng đá nào. Mặt trời mặt trăng không còn chiếu sáng, tinh tú sẽ rơi xuống kinh hoàng (Mc. 11, 13). Tận thế rồi ! Họ còn mong ở Ngài gì nữa ! Họ tuyệt vọng, xa tránh Ngài, Ngài xúc phạm đến đền thờ, xúc phạm đến trời đất. Ghê gớm hơn nữa Ngài là thứ gì, đã dám cho mình là có trước Abraham và xưng mình là Thiên Chúa. Tội tầy trời ! Không thể tha thứ. Toàn quyền Philatô chỉ treo hình hoàng đế Xêda trong khuôn viên đền thờ, dân đã nổi loạn chiến đấu với quân Rôma, dù phải đóng đinh họ vẫn bất chấp, huống chi thanh niên con bác thợ mộc dám xưng mình là Thiên Chúa tại đền thờ trong tuần đại lễ của toàn dân. Ghê gớm kinh khủng ! cho nên đành tha tướng cướp Baraba giết người còn hơn tha Giêsu. Thế là họ la hét : “Đóng đinh nó đi, đóng đinh nó đi”.
Ôi lạy Cha, xin tha cho họ vì họ lầm chẳng biết !
Họ như những chiếc lá phất phơ, vật vờ ray rứt, tung lên, nhào xuống giữa phong ba bão táp, những cơn cuồng phong dục vọng đam mê mù quáng đang bùng dậy trong lòng họ, trong lòng dân, trong lòng trần thế, xô đẩy vùi dập nhân thế xuống sâu trong lòng ham hố, giành giựt, mơ ước vinh quang bụi trần.
Ôi lạy Chúa, xin thương xót con. Đời là bể khổ, giòng đời cuồn cuộn trôi dạt, không biết trôi về đâu. Bao nhiêu thuyết … duy tâm, duy vật, duy dân, duy tân … tương đối, biến dịch, biến hóa chẳng bao giờ thấy chỗ thủy chung. Chẳng thấy cùng đích, chẳng bao giờ thấy nền tảng vững vàng, rõ ràng, luôn luôn là giả thuyết mơ hồ, mò mẫm, tối tăm, tịch diệt cuộc đời, thật khủng khiếp sống trong cảnh bể khổ trần ai như thế. Chẳng lạ gì, họ đã giải quyết, đã xử lý Ngài bằng đóng đinh thập giá, treo Ngài trên đỉnh gió hú : “Trong bóng tối bao phủ, mặt trời tối đi” (Lc. 23, 44-45) “Đất rung đá vỡ, mồ mả lật tung” (Mt. 27, 52).
Ôi lạy Ngài, ai bảo Ngài không ở lại thiên đường, nơi ánh sáng vinh quang, nơi chân lý ngàn đời, nơi hằng hữu trường tồn, nơi bất biến, bất diệt, nơi thỏa mãn mọi giấc mơ. Ai xui Ngài xuống cõi u minh trần tục, cõi tịch diệt đắng cay, mang thân phận nô lệ phàm nhân. Ai xui Ngài tự hạ sống giữa sói rừng, chúng cấu xé Ngài, bắt Ngài phải tùng phục cho đến chết, chết trên thập giá (Pl. 2, 6-11).
Lạy Ngài, xin thương xót chúng con, xin muôn vàn thương xót ! Chúng con chỉ còn trông cậy vào lòng thương xót vô lượng vô biên của Ngài. Chính vì lòng thương xót vô lượng vô biên mà Ngài đến thế gian, dầu bất cứ giá nào, dầu phải thí mạng sống Ngài cũng đến cứu sống chúng con. Cho chúng con được hằng sống, được tồn tại bền vững trong ánh sáng phục sinh vinh phúc của Ngài. Chúng con xin trọn đời cảm tạ Ngài. Amen.

 

LễLá-47. Hoan hô con Vua Đavít - Huyền Đồng

Chúa Nhật Lễ Lá Palm Sunday of the Lord's Passion
Lời Chúa cho hôm nay : Hoan hô con Vua Đavít * Hosanna to the Son of David *
*Bài đọc 1: Isaia 50, 4- 7 = Sự đau khổ của Đức Kitô: Con Người (Đức Giêsu) đến để phục vụ, không phải được phục vụ và hiến mạng sống mình cho nhiều ngườị Christ's suffering: The Son of Man came not to be served but to serve and to give His life for the ransom of manỵ ( Mat. 20, 28 )
* Bài đọc 2: Phil. 2, 6- 11 = Lòng Khiêm nhường: Suy niệm về Chúa bị đau khổ và chết trên thập giá bởi sự vâng lời, nên Thiên Chúa đã siêu tôn Ngườị Humility: Meditating on the Lord's suffering and death on the cross....
*Tin mừng(Gospel): Mc.11, 1- 10 =Đức Giêsu vào Thành: Ngài là con vua Davit. Ngài là vua khiêm nhường và bình an. Jesus enters the capital, He is Son of Davit, Jesus is a humble and peaceful king.
Ạ Bạn và tôi Cảm nghiệm Sống và chia sẻ ba bài đọc trên: ( Reflections, live out and share )
 

Trước khi vào thành, Đức Giêsu bảo các môn đệ: "Các anh đi vào làng trước mặt kia, sẽ thấy một: LễLá-47

1/ Trước khi vào thành, Đức Giêsu bảo các môn đệ: "Các anh đi vào làng trước mặt kia, sẽ thấy một con lừa chưa ai cưỡi bao giợcác anh tháo dây ra và đem nó về đâỵ" Chúa muốn dậy tôi hãy thực hành đức khiêm nhường trong mọi lúc, ở trong gia đình cũng như ngoài xã hộị Đức khiêm tốn có cần thiết không? Kể việc làm khiêm tốn khi chăm sóc trong gia đình cho chồng, vợ, con, cha mẹ haỳ phục vụ giáo xử Go to the village straight ahead of yoụ there a colt on which no one has riđen. Untie it and bring it back. (Mc. 11, 2 )
2/ Khi Chúa vào thành được mọi người tiếp đón: "Người đi trước, kẻ theo sau, reo hò vang dậy: Hoan hô! Chúc tụng đấng ngự đến nhân danh Đức Chúạ" Hôm nay họ tung hô Chúa, mai họ giết Ngàị Nay nguời ta ca ngợi bạn, mai họ hạ nhục bạn. Bạn cho biết một hai trường hợp bạn tha thứ khi bị người ta ghét bo Those preceding Him as well as those who followed cried out: Hosanna! Blessed be He who comes... (Mc. 11, 9)
3/ Tâm tình tuyệt vời của Đức Kitô được thánh Phaolô diễn tả: "Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên ChúạNgười lại còn hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết..." Ngài đã trở nên giống tôi và mọi người, nghĩa là đã chia sẻ con người đói khát mệt nhọc như tôi, và còn chết cho tôi, chỉ trừ tội lỗị Tại sao tôi còn cậy mình,hống hách với anh em? Nói vài tâm tình của tôi trong bổn phận tương quan hàng ngàỵ ...though He was in the form of God..that He humbled Himself, obediently accepting even death. (Phil.2. 6- 8 )
4/ Trong bài ca Người tôi trung, tiên tri Isaia viết: "Tôi đã đưa lưng cho người ta đánh đòn, dơ má cho người ta giật râụ Tôi đã không che mặt khi người ta mắng nhiếc phỉ nhộ" Trong cuộc sống với tha nhân bạn có phản ứng, nói năng, hành động giống Chúa không? Bạn nói một hai việc làm vì lòng mến Chúạ I gave my back to those who beat Me, My cheeks to those who plucked My beard; My face did not shield... (Is. 50, 6 )
B. Câu Kinh Thánh thúc đẩy tôi chọn để Sống với Chúa tuần này: (The Best God's Word )
Người còn hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết... (Phil. 2, 8 ) He humbled Himself, obediently accepting even death, death on a cross!
C.Ngay hôm nay tôi cần làm gì để nên giống Đức Kitô: ( So what am I doing / For Action)
a/ Tôi có thể chọn 1 trong 4 Gợi ý Cảm nghiệm Sống và chia sẻ ở phần để áp dụng vào đời sống. b/ Bạn cần bỏ ngay tính xấu kiêu căng, hách dịch, độc tài, lấn áp quyền hành trong gia đình và giáo xự
D.Tôi cầu nguyện với Lời Chúa và Sống lời tôi cầu xin: ( I pray and practice / Pray in Action )
1/ Lạy Cha, Đức Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúạ Xin dạy cho con thực hành đức khiêm nhường của Chúa Giêsu trong đời sống hàng ngàỵ 2/ Trong bài ca thứ ba, tiên tri Isaia đã cho con thấy Đức Giêsu yêu con bằng hành động là đưa lưng cho người ta đánh đòn, dơ má cho họ dật râụ Xin giúp con biết bền chí theo Chúa trong mọi lúc đau khộ
Lời hay ý đẹp: Khi bạn cùng bước với Chúa, người ta sẽ thấy Ngài trong bạn  When you are walking with Christ, others will sense that He is with yoụ 
Huyền Đồng

 

LễLá-48. Đức Giêsu chịu đóng đinh trên thập giá - JKN

Chia sẻ
1. Đức Giêsu chịu đau khổ để cứu nhân loại khỏi đau khổ
 

Mầu nhiệm được cử hành trong Tuần Thánh - làm cho chúng ta hết sức cảm động - là Đức Giêsu: LễLá-48

Mầu nhiệm được cử hành trong Tuần Thánh - làm cho chúng ta hết sức cảm động - là Đức Giêsu đã chấp nhận chịu đau khổ và chết thay cho chúng ta, để giải thoát chúng ta khỏi đau khổ và sự chết trong cảnh giới vĩnh cửu. Tất cả đều vì yêu thương chúng ta: «Tội lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây thập giá, để một khi đã chết đối với tội, chúng ta sống cuộc đời công chính. Nhờ Người mang những vết thương của anh em mà anh em đã được chữa lành» (1Pr 2,24).
Theo niềm tin Kitô giáo, Đức Giêsu chính là Con Thiên Chúa. Ngài chẳng những là người hoàn toàn vô tội, mà còn là một con người hoàn hảo nhất của nhân loại. Thế nhưng Ngài lại phải chịu những cực hình khủng khiếp, đau đớn nhất của con người. Những đau khổ ấy, Ngài đã tự nguyện chịu, mặc dù từ thâm tâm Ngài cũng rất sợ hãi trước đau khổ. Việc Ngài lo buồn đến mức đổ mồ hôi máu trong vườn Cây Dầu (x. Lc 22,44) nói lên nỗi sợ hãi hết sức cao độ ấy. Nhưng dù biết trước những cực hình khủng khiếp đã khiến Ngài phải sợ hãi như thế, Ngài vẫn tự nguyện đón nhận, vì muốn hoàn thành thánh ý Chúa Cha là cứu độ loài người, và vì chính Ngài cũng yêu thương con người, muốn cứu họ khỏi tội lỗi và hậu quả khủng khiếp của tội lỗi. Dù bản năng có ham sống sợ chết, ham sướng sợ khổ, Ngài vẫn vui lòng chấp nhận đau khổ và chết, để con người được sống và sống hạnh phúc: «Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha» (Mt 26,39).
2. Đức Giêsu thực hiện sự công bình và tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại tội lỗi
Vì tội của nguyên tổ và của riêng từng người, đáng lẽ nhân loại chẳng những bị mất hạnh phúc vĩnh cửu mà còn phải chịu đau khổ đời đời. Sự công bình nơi bản tính của Thiên Chúa đòi buộc mọi tội lỗi đều phải đền trả, nghĩa là con người phải chịu hình phạt xứng đáng. Nếu thế con người sẽ phải đau khổ đời đời! Nhưng tình yêu vô biên của Ngài đối với con người đòi hỏi Ngài phải ra tay cứu họ, nếu không thì không còn là tình yêu nữa! Vừa bắt con người phải đền tội, vừa phải ra tay cứu họ, đối với trí óc của con người điều đó quả là mâu thuẫn và nan giải! Nhưng sự khôn ngoan vô biên của Ngài đã giải quyết nan đề ấy bằng cách cho Con của Ngài xuống thế làm người, đại diện cho toàn nhân loại, chịu đau khổ và chết, để đền tội thay cho cả loài người. Theo cách đó, sự công bằng và tình yêu của Ngài đều được thỏa mãn.
Đức Giêsu - là Ngôi Hai, Con Thiên Chúa, cũng là Thiên Chúa trong bản tính nhân loại - đã đảm trách việc hòa giải giữa hai đòi hỏi trái ngược nhau của sự công bằng và tình yêu Thiên Chúa, và cũng là hòa giải giữa con người với Thiên Chúa. Vì thế, sứ mạng của Đức Giêsu là phải làm sao cho con người thấy được công lý của Thiên Chúa phải được thực hiện nghiêm túc thế nào, đồng thời cũng biểu lộ cho con người thấy tình yêu của Thiên Chúa đối với con người bao la thế nào.
Chân lý, công lý và tình thương, đó là những thuộc tính hết sức quan trọng trong bản tính Thiên Chúa. Thiết tưởng người Kitô hữu - là người ý thức hơn ai hết con người là hình ảnh của Thiên Chúa - cần phải phản ánh và thể hiện ba thuộc tính ấy trong đời sống của mình. Đức Giêsu đã nhấn mạnh sự quan trọng của ba thuộc tính ấy: «Những điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công lý, tình thương và tính chân thật » (Mt 23,23).
3. Tình yêu của Thiên Chúa được biểu hiện nơi Đức Giêsu
Thiên Chúa yêu thương con người, điều ấy đã được Thánh Kinh nói đến rất nhiều: «Anh em hãy xem Chúa Cha yêu chúng ta dường nào: Người yêu đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa mà thực sự chúng ta là con Thiên Chúa» (1Ga 3,1); «Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời» (Ga 3,16); «Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta được biểu lộ như thế này: Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống» (1Ga 4,9); «Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta» (Rm 5,8).
Tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại được thể hiện cụ thể qua tình yêu của Đức Giêsu đối với con người: «Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy» (Ga 15,9); «Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng » (Ga 13,1).
4. Hãy thể hiện tình yêu của Thiên Chúa ra cho tha nhân
Đức Giêsu đã chấp nhận đau khổ để con người được hạnh phúc, chấp nhận chết để con người được sống. Chính tình yêu đối với con người đã thúc đẩy Ngài làm điều ấy. Sự việc ấy cho thấy đau khổ của ta có thể biến thành hạnh phúc cho người khác, cái chết của ta có thể biến thành sự sống cho người khác. Nghĩa là ta có thể chấp nhận đau khổ để người mình yêu được hạnh phúc, chấp nhận chết để người mình yêu được sống. Vì thế, đau khổ và chết cho người mình yêu là cách tuyệt hảo nhất để biểu lộ và thể hiện tình yêu: «Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình» (Ga 15,13). Thiết tưởng người Kitô hữu cần sử dụng thường xuyên cách biểu lộ và thể hiện tình yêu tuyệt hảo này trong đời sống (đáng lẽ phải) đầy tràn yêu thương của mình.
Cũng như tình yêu của Chúa Cha đối với Đức Giêsu là gương mẫu cho tình yêu của Ngài đối với nhân loại: «Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy» (Ga 15,9); thì Ngài rất mong tình yêu của Ngài đối với chúng ta cũng là gương mẫu để chúng ta yêu thương nhau: «Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em» (Ga 15,12). Thánh Gioan đã diễn tả ý tưởng trên như sau: «Nếu Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta như thế thì chúng ta cũng phải yêu thương nhau» (1Ga 4,11); «Chúng ta hãy yêu thương nhau, vì Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước» (1Ga 4,19); «Đức Kitô đã thí mạng vì chúng ta. Như vậy, cả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải thí mạng vì anh em» (1Ga 3,16). Vậy, chúng ta hãy áp dụng tinh thần yêu thương và hy sinh cho người mình yêu, trước hết và đặc biệt cho những người gần gũi với chúng ta nhất: cha mẹ, vợ con, anh chị em, bạn bè... sau đó cho những người xa hơn, và cuối cùng cho cả những người ghét và làm hại chúng ta. «Anh em hãy mang gánh nặng cho nhau, như vậy là anh em chu toàn Luật Đức Kitô» (Gl 6,2).

 

LễLá-49. Cuộc thương khó của Chúa Giêsu

Mc 14, 1-47
Thưa quí vị.
 

Phụng vụ tuần này rất phong phú về nghi lễ và các bài đọc Kinh thánh, vì thế, cũng rất khó lựa: LễLá-49

Phụng vụ tuần này rất phong phú về nghi lễ và các bài đọc Kinh thánh, vì thế, cũng rất khó lựa chọn đề tài rao giảng: Bỏ chi, giảng gì? Chọn tất cả thì loãng, tập trung vào chi tiết thì thiếu xót, phiếm diện trong khi nhu cầu phụng vụ cần khá nhiều suy tư và diễn giải. Tôi xin phép chọn đề tài theo sách các bài đọc : Chúa nhật lễ lá, tưởng niệm cuộc thương khó của Chúa. Xem ra có hai tên, hai tâm trạng khác nhau. Một vui mừng hoan hỷ, một buồn thảm đau thương. Người rao giảng hẳn là gặp khó khăn. Vui mừng vì Chúa vào thành thánh Giêrusalem vinh hiển. Buồn thảm vì Chúa chịu khổ nạn. Mặc cho lễ nghi hôm nay khá dài, nhưng chẳng vì thế mà bỏ bài giáo huấn, cho dù chỉ nên giảng ngắn.
Trước hết xin bàn một chút về vai trò của phụng vụ trong các bài đọc. Bởi vì tuần này Giáo hội có rất nhiều nghi lễ đặc biệt. Chúng ta phải hiểu để có thể nắm bắt được nội dung của chúng. Thường thường thánh Marcô viết rất ngắn và gọn gàng, nhưng trình thuật của Ngài hôm nay về cuộc thương khó của Chúa Giêsu lại kéo dài khác thường. Có lẽ thánh nhân muốn nhấn mạnh cuộc khổ nạn của Chúa trong tác phẩm ông viết. Ông coi điều đó là quan trọng, nếu không tại sao ông lại vượt ra khỏi thói thường? Trong sách các bài đọc được phép chọn phần ngắn hơn. Nhưng tôi không thích cắt ngắn những gì tác giả đã viết. Theo truyền thống thì có 3 người đọc bài thương khó, phân công mỗi người một vai. Người thứ nhất giữ vai Chúa Giêsu. Người thứ hai dân chúng Do thái, các thượng tế và quan Philatô. Người thứ ba giữ vai kể truyện. Ba người này nên được lựa chọn kỹ, tập dượt thành thạo, kẻo làm cho cộng đoàn chia trí. Tôi không thích in những tờ rời. Chúng chẳng ích lợi gì ở đây. Nghe là tốt hơn cả. Bởi Phúc âm là để nghe, chứ không phải để xem. Một bất tiện khác là người theo dõi cứ vùi đầu vào sách vở rồi mở trang soàn soạt, mất hết vẻ trang nghiêm, trịnh trọng. Cộng đoàn có thể hát tung hô các lúc thích hợp của câu truyện. Khi ấy tờ rời không mấy gây phiền hà. Nhưng phải tập dượt kỹ càng ngay từ ban đầu.
Tin mừng mở màn cuộc rước kiệu, tưởng nhớ Chúa Giêsu vào thành thánh Giêrusalem hôm nay, trích từ sách Marcô 11, 1-10. Đoạn Phúc âm này chứa đựng đầy hy vọng thiên sai của người Do thái, và nay được ứng nghiệm. Nó có rất nhiều ám chỉ đến những lời tiên tri về Đấng Cứu Thế thuộc dòng tộc Đavit. Thí dụ: Chúa Giêsu dùng đặc quyền hoàng gia truyền thống cưỡi lừa con vào thành (Za 9,9). Trước đó, khi mượn lừa Ngài đã dặn các môn đệ trả lời: "Thầy cần đến nó, và người sẽ gởi lại đây ngay." Câu này làm yên tâm mấy người đứng gần. Họ hỏi: "Các anh cởi con lừa ra làm gì vậy?" Điều này chứng tỏ Chúa Giêsu hoàn toàn làm chủ được tình thế. Ngài biết trước mọi điều sẽ xảy ra và quyền uy vương giả của Ngài được khẳng định. Khi nghe đọc bài Tin mừng hẳn chúng ta liên tưởng tức thời đến sự kiện Chúa Giêsu là con vua Đavit đích thực, Đấng Thiên Sai, các ngôn sứ đã tiên báo.
Không ai bảo ai, dân chúng theo Ngài trải áo khoác và cành lá ngoài đồng trên lối đi và hô lớn "Hosanna" (2V 9,13). Từ này nghĩa gốc là xin cứu vớt chúng tôi. Nay nó trở nên tiếng ngợi khen, tung hô. Như vậy sự hoan hô của dân chúng lúc đó có hai ý nghĩa: ngợi khen và kêu cứu. Ngày nay chúng ta có hai tước hiệu để tung hô Chúa Giêsu trong Thánh lễ. Ngài là Đấng Cứu Thế và là Vua hiển vinh. Dân chúng thời ấy đã nếm trước Triều Đại Nước Trời đang đến. Họ nhìn nơi Chúa Giêsu giây phút vinh hiển của con vua Đavit, trước mắt mình. Ngài phải xuất hiện để trị vì muôn dân muôn nước trong an bình và yêu thương. Lúc khởi đầu nghi lễ phụng vụ là như vậy, nhưng khi nghe đọc trình thuật về khổ nạn thì cũng chính đám đông hô lớn trước quan Philatô: "Đóng đanh Nó, đóng đanh Nó vào cây thập tự". Phải hiểu thế nào và phải rao giảng làm sao về thái độ thay đổi nhanh chóng của đám đông? Lúc này thì ủng hộ Chúa Giêsu, khi khác lại mau mắn đả đảo? Âu đó cũng là chuyện thường tình, xưa nay vẫn vậy. Chỉ nhìn và định giá theo dáng vẻ bề ngoài, ít ai thấy được sự thật bên trong. Suy nghĩ cẩn thận về hiện tượng này, tôi có nhận xét là đám đông tung hô Chúa ở ngoài thành thánh Giêrusalem (11,1). Nhưng khi vào trong thành thì thánh Marcô cho biết: "Ngài vào một mình. Đức Giêsu vào Giêrusalem và đi vào Đền Thờ. Người rảo mắt nhìn xem mọi sự, và vì giờ đã muộn, Người đi ra Bêtania cùng với nhóm Mười hai." (11,11). Cho nên sự kích động là bởi những ai ở ngoài Giêrusalem, còn chức sắc bên trong thì không. Chúa Giêsu vào thành và Ngài đã gặp chống đối quyết liệt, dẫn đến cái chết thê thảm.
Do đó tôi có suy nghĩ chỉ những phần tử ngoài lề (xã hội, giáo hội) mới thấy phấn khởi về Chúa Giêsu. Xin hãy tưởng tượng tới những nỗi tuyệt vọng của họ trong suốt cuộc đời ! Phải chăng họ là những người được Tin mừng viết cho mình? Những người mà chẳng bao giờ được đặc ân ngồi chỗ nhất trong các bàn tiệc, chỗ vinh dự trong các nhà thờ, nơi hội họp? Sứ vụ của Chúa Giêsu là để phục vụ họ chăng? Lúc này họ nghe thấy, cảm nghiệm rằng số phận của Ngài cũng là số phận của mình ! Cuối cùng thì Thiên Chúa đã nói với họ qua Chúa Giêsu rằng Ngài không bỏ quên họ, trái lại tìm kiếm và yêu thương họ. Với quyền năng của một thượng đế, Chúa Giêsu đã nhận ra họ, chữa lành các bệnh tật cho họ, hàn gắn những nỗi đau của họ và thứ tha các lỗi lầm cho họ ! Họ cũng biết rằng Đức Giêsu, người Nazareth, cũng là một kẻ ngoài lề (Giêrusalem), đồng hội đồng thuyền với mình. Như tiên tri Zacharia loan báo trước, Thiên Chúa đã gây dựng Ngài lên và sai đến Giêrusalem trên lưng lừa con.
Chúa Nhật thứ 3 thường niên vừa qua, khi khởi sự đọc Phúc âm theo thánh Marcô, chúng ta được nghe Chúa Giêsu rao giảng Tin mừng tại miền Galilê, sau khi Gioan Tẩy Giả bị tống ngục: "Thời đã mãn, triều đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Phúc âm" (1,15). Lúc này gần kết thúc cũng một Tin mừng đó. Chúa Giêsu vinh hiển tiến vào thành Giêrusalem và chỉ trong khoảnh khắc tình thế thay đổi ngược hẳn: Ngài bị trao nộp, bị bắt, chịu khổ hình và chết nhục nhã trên thập giá. Vậy thì lời hứa ban đầu của Ngài có ý nghĩa ra sao? Điều chi đã xảy đến cho lời hứa ấy? Phải chăng sụp đổ hoàn toàn là "thời giờ đã mãn"? Nếu đúng như vậy thì quả là ngược đời. Một lời hứa tươi sáng lúc khai mào, kết thúc bằng thất bại thê thảm ! Tuy nhiên nếu chịu cực theo dõi và suy ngắm giai đoạn Ngài thi hành sứ vụ, học hỏi về căn tính của Chúa, bản chất triều đại Ngài và những điều kiện để theo Ngài, thì chúng ta sẽ hiểu được "thời gian đã mãn" là thế nào (sau Phục sinh, phụng vụ sẽ trở lại đọc Phúc âm Marcô). Thời gian đã mãn, trên thực tế, đã mặc lấy xác thịt nơi Đức Ki-tô. Ngài chính là kết thúc của mọi điều các ngôn sứ hứa trong Cựu ước. Ngài thể hiện Nước Đức Chúa Trời trong chính bản thân mình. Mọi điều Thiên Chúa hứa đã được làm tròn nơi Ngài. Không như các kinh sư, lãnh đạo tôn giáo Do thái mong đợi.
Suốt cuộc đời Ngài đã bày tỏ quyền năng của mình trên bệnh tật, quỷ dữ và các đối thủ. Ngài cũng hoàn toàn làm chủ được cuộc tiến vào thành thánh cách vinh hiển. Lúc này, khi chịu khổ nạn, Ngài vẫn thi hành quyền năng đó, nhưng không theo đường lối thế gian, mà để phục vụ nhân loại hết tấm lòng nhân ái của Ngài. Ngài tự nguyện hy sinh sự sống để mưu lợi ích cho mọi người. Như vậy Ngài hành quyền theo kiểu cách mới, khác hẳn thế gian, tức trên tội lỗi và sự dữ, mà không áp bức bất cứ một ai. Chiến thắng của Ngài không phải là đè bẹp kẻ khác, nhưng là tự nguyện hy sinh vì lợi ích tha nhân. Quyền bính Ngài thi hành không phải là ép buộc kẻ khác, nhưng để chúng ta noi gương lựa chọn con đường Ngài đã đi, qua cái chết đến sự sống muôn đời. Hiện thời, thế gian thực hiện quyền bính của mình bằng tiền tài và sức mạnh quân sự. Ngược lại, Chúa Kitô bằng con đường khiêm hạ, tự biến mình ra không trước mặt Thiên Chúa và loài người. Thánh Phaolô đã chỉ rõ rằng Chúa Giêsu sẵn lòng ban cho chúng ta tất cả bản thân Ngài, không giữ lại điều gì. Chẳng có hy sinh nào quá lớn đối với Ngài, miễn là nhân loại được trở về với Thiên Chúa, bước đi trên con đường thánh thiện. Đó cũng là tình yêu Thiên Chúa tỏ ra cho chúng ta ! Hội thánh Philip đang chịu một lúc hai cuộc khổ nạn, bất hoà bên trong và bách hại bên ngoài (1,28-29). Những tín hữu gốc Do thái bó buộc các tân tòng dân ngoại tuân giữ luật Môisen. Thánh Phaolô nhắc nhớ họ rằng Chúa Kitô đã hy sinh mọi sự cho họ, ngay cả quyền ngang hàng với Thiên Chúa ! Đó là một hy sinh rất lớn, cộng đoàn nên suy gẫm, từ đó có thể bỏ đi những khác biệt về nguồn gốc và tranh cãi thần học.
Cộng đoàn thánh Marcô cũng vậy, chẳng nên ngạc nhiên về thế lực đền thờ khước từ, hành hạ và đóng đanh Ngài vào thập giá. Chuyện đó phải xảy ra do tư duy, lối sống của họ và tội lỗi của chúng ta. Chúa Giêsu chết để tố cáo nhân loại phản bội, bày tỏ tình thương của Đức Chúa Trời và chỉ dạy phải trung thành với Thiên Chúa ra sao để được cứu rỗi, nghia là đến hơi thở cuối cùng, bất chấp mọi khổ đau, kể cả cái chết. Nội dung chính yếu của câu truyện tuần này là cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Nó phải là niềm an ủi cho cộng đoàn thánh Marcô ngày xưa, và mọi giáo dân khắp hoàn cầu hôm nay. Đức tin và sự liên kết với Chúa đòi hỏi phải trả giá bằng hy sinh cá nhân. Làm khác đi là một hành trình dối trá không thể chấp nhận.
Khi nghe đọc bài thương khó, chúng ta nhận ra ngay có sự thay đổi lớn trong Tin mừng. Chúa Giêsu đầy uy quyền và vinh hiển phút chốc trở nên tội phạm nhục nhã! Ngài hứng chịu mọi gian ác của con người : Âm mưu, gian dối, chối từ, phản bội, bắt bớ, tra tấn, hành xích, kết án, đóng đinh, chết và mai táng. Còn đau khổ nào của nhân loại mà Ngài không kinh qua? Như vậy Ngài kết hợp với mọi linh hồn đang chịu trà đạp trên trần gian. Chúng ta gọi Chúa nhật này là cuộc thương khó của Chúa ( Dominica in passione Domini). Từ passio có nghĩa gốc là "đau khổ", chịu đựng người ta hành hạ. Lúc này trên thế giới, hàng tỷ người đang gánh chịu đau thương. Họ không có lựa chọn nào khác: Chiến tranh, bệnh tật, nghèo đói, áp bức, bóc lột, tuổi già... họ chịu áp lực của hoàn cảnh mà chẳng thể nào thay đổi được số phận, cho nên họ đồng hoá với Chúa Giêsu, nhận sức mạnh từ Ngài trong cuộc thương khó. Xin hãy cầu nguyện để đừng ai phản bội đau khổ của mình. Từ passio cũng còn có nghĩa là đam mê. Trong ý nghĩa này Chúa Giêsu là người khai sáng. Ngài đam mê Thiên Chúa và đam mê nhân loại. Ngài cảm nhận một lực đẩy mạnh mẽ thi hành ý muốn của Thiên Chúa, để mưu ích cho loài người. Ngài đã "chai mặt trơ như đá" để đi con đường Thiên Chúa, rao giảng Tin mừng cho những kẻ ngoài lề. Chẳng chi ngăn cản được Ngài hoàn thành sứ vụ trong chiều hướng đó, dù phải hy sinh cả mạng sống. Amen. 
Lm.Jude Siciliano,OP.

 

LễLá-50. Nghịch lý của Thập Giá

Với việc rước lá hôm nay, tuần Thánh đã bắt đầu.
 

Suy nghĩ các bài Thương khó trong tuần Thánh, sao tôi thấy có quá nhiều trái ngược. Những trái: LễLá-50

Suy nghĩ các bài Thương khó trong tuần Thánh, sao tôi thấy có quá nhiều trái ngược. Những trái ngược ấy lớn cho đến mức trở thành những nghịch lý. Và lớn hơn nữa: trở thành mâu thuẫn đến nỗi có những lúc như tàn nhẫn, như đớn đau.
1. Đó là nghịch lý xuất phát từ phía dân chúng: Cuộc tiến vào Giêrusalem giữa một đám đông dân chúng hân hoan, nô nức, tay vẫy cao cành lá, còn có kẻ tỏ lòng mộ mến đã trải áo xuống đường, miệng thì không ngớt tung hô: "Hoan hô con vua Đavit" để long trọng rước Chúa Giêsu vào thủ đô Giêrusalem.
Nhưng có ai ngờ rằng, giữa những tiếng tung hô dậy trời ấy, giữa mọi cử chỉ, mọi hành động vô cùng tốt đẹp ấy, giữa cảnh tượng huy hoàng tưởng như Chúa Kitô đang chiến thắng, đang khải hoàn, và ngay giữa lòng dân chúng có vẻ như chỉ có niềm vui chan chứa, lại đang chất chứa cả một sự phản bội ghê gớm, một sự phản bội như dồn, như thúc để sau đó sẽ bùng nổ dữ dội trước mặt Tổng Trấn Philatô trong tiếng gào thét và những bàn tay nắm chặt đưa lên một cách quyết tâm: "Đóng đinh nó đi! Đóng đinh nó đi! Đóng đinh nó vào thập giá". Dù cho Philatô có thật lòng và ngàn lần muốn tha bỗng đi nữa, thì sự quyết tâm đóng đinh Giêsu một cách mãnh liệt như thế, sẽ không có chỗ cho ông thực hiện ý muốn của mình, đừng nói gì đến chuyện một Philatô lòng vẫn còn đó đầy dẫy ham hố quyền - danh - lợi.
Cứ như thế, hết thời đại này đến thời đại khác, bất công nối tiếp bất công chỉ vì quyền - danh - lợi ấy.
2. Đó cũng là những nghịch lý khởi đi từ phía các môn đệ: Bao nhiêu tháng ngày được hướng dẫn, dạy dỗ, nhìn xem Thầy làm biết bao nhiêu phép lạ, chứng kiến Thầy hiển dung uy nghi trên núi cao..., vậy mà những lời dạy thân thương, những việc làm tốt đẹp ấy đã tan biến đâu hết rồi. Đến giờ này, chính trong hàng ngũ những môn đệ thân tín nhất của Chúa Giêsu lại xuất hiện những tâm hồn rắp tâm phản bội người Thầy khả ái và khả kính của mình. Không biết 30 đồng thời ấy so với 30 đồng thời nay, khoảng cách chênh lệch đến mức nào, nhưng dẫu cho giá trị có lớn đến đâu, thì khi bán đứng Thầy mình cho chính những người đang hận Thầy đến phát điên lên, Giuđatrở thành biểu tượng của kẻ phản bội. Hình ảnh thọ ơn và trả ơn bằng bội ơn không nghịch lý lắm sao. Nghịch lý ấy đã làm cho đời sống, không phải chỉ trong thời Chúa Giêsu, nhưng là mọi thời, trở nên nhiều lẽ xấu hơn, lòng người tệ bạc hơn.
Sự yếu đuối của thánh Phêrô cũng là một nghịch lý. Được Thầy yêu thương lắm, nên đã biến Phêrô thành người học trò hàng đầu, làm tông đồ trưởng, sau này sẽ là giáo hoàng tiên khởi của Giáo Hội. Vậy mà trước quyền lực của thế gian, đã làm thánh Phêrô sợ hãi đến độ chối Thầy Ba lần. Nhưng không phải ba lần trong ba tháng hay ba ngày, nhưng ba lần liên tục trong vài giờ đồng hồ, chỉ cách nhau có hai canh gà mà thôi. Nghịch lý về sự chối Thầy của Phêrô đối diện với lòng thương vô cùng của Chúa Giêsu, sao cứ mãi là nghịch lý khi loài người đã không biết ơn Thiên Chúa, không chỉ vô tâm với lòng thương xót của Thiên Chúa, mà còn đi xa hơn trong lầm lạc: phủ nhận và chối từ chính Thiên Chúa!
3. Đó còn là nghịch lý trong phiên tòa Philatô. Chúa Kitô, Thiên Chúa làm người, bản thân Ngài đã là một nghịch lý: Từ một vì Thiên Chúa cao sang, quyền năng vô biên, lại hóa thân làm người sống như chính con người là người, đã là một sự khiêm hạ khó hiểu. Vậy mà Thiên Chúa quyền năng vô biên ấy giờ lại để cho loài người "xử án". Một nghịch lý nhiệm mầu quá đỗi!
Phiên tòa Philatô đại diện cho cả loài người tàn nhẫn, bạo ngược đồng loạt tuyên án tử chính Thiên Chúa của mình. Bởi thế, Phiên tòa Philatô là một phiên tòa hết sức bất công, hết sức ngược ngạo, chỉ có một không hai từ thủơ tạo thiên lập địa cho đến ngàn đời sau: Con người "xử tội" Thiên Chúa, một vì Thiên Chúa đã tạo dựng chính con người, và nắm quyền xét xử con người.
Dù ngày hôm nay, không còn những phiên tòa mặc nhiên xét xử Thiên Chúa như Philatô đã từng xét xử Chúa Giêsu, nhưng vẫn còn đó những lời phạm thượng, những hàng động, những lối suy nghĩ mà trong đó hàm chứa sự oán trách và kết án Thiên Chúa.
Vẫn còn đó những phiên tòa xét xử, kết án những người vô tội, người nghèo khổ, cô thân cô thế không một quyền bính nào bảo vệ, dù quyền bính đó có thể là pháp luật. Và đôi lúc chính chúng ta cũng đã lên án nhau. Dù không nói ra, nhưng lương tâm ta đã từng lên án những cô gái điếm, những em bé nghèo cơ nhỡ phải trộm cắp, những thanh niên nghiện nghập, những nạn nhân của nhiều vụ tự tử hay của con bệnh AIDS.
4. Hình ảnh Đức Maria cùng với thánh Gioan hiện diện giữa pháp trường cũng lại là một nghịc lý lớn không kém. Có ai ngờ rằng, những thanh niên trai tráng như các thánh tông đồ, tưởng chừng đầy sức mạnh, đầy can trường, khó có một trở ngại nào làm chùng bước, làm thoái lui. Vậy mà khi Thầy lâm nạn, đã trở thành những kẻ bạc nhược, khiếp đảm và run sợ. Các ngài không hiểu nỗi tại sao bình thường Chúa Giêsu quyền năng là thế, có sức thu hút là thế, đã có lần những hào quang ấy làm cho các ngài tưởng mình đã mạnh mẽ lắm, nên đã phát ngôn có khi nghe chướng tai: "Thầy có muốn chúng con khiến lửa từ trời xuống thiêu hủy chúng nó không?" (Lc 9, 54). Sao bây giờ phải chứng kiến Chúa Giêsu ngã gục dưới làn roi, dưới thập giá, dưới những lời phỉ báng ô nhục...Ao ảnh về một cứu chúa trần thế huy hoàng sụp đổ, đã kéo tinh thần của các thánh tông đồ đổ quị theo.
Chỉ có Đức Maria, một phụ nữ chân yếu tay mềm như mọi phụ nữ, vì tình yêu đối với Con của mình đã trở nên mạnh mẽ, bất chấp mọi nguy hiểm, mọi sĩ nhục, mọi đớn đau..., đối mặt với thập giá kinh hoàng. Người phụ nữ ấy đã kiên trung, đã can đảm đến cùng, để chứng kiến cho bằng được người con ruột thịt yêu quí của mình quằng quại trên thập giá. Chứng kiến cảnh đau cõi xót lòng khi người con duy nhất của mình trao linh hồn cho Chúa Cha và thở hơi lần cuối trong sức tàn. Chính vì tình yêu màlúc những mũi đinh đau đớn treo Con của Mẹ, lúc Chúa Giêsu đang lịm dần, lúc máu chảy tràn từ cạnh nương long, cũng là lúc Mẹ chết từng giây và tan nát tâm hồn.
Cũng thế, thánh Gioan chỉ là một người em út trong đoàn tông đồ, đã can đảm không kém để cùng với Mẹ Chúa Giêsu chứng kiến đến giây phút sau cùng của một đời làm người của Chúa Giêsu. Thánh Gioan thật xứng đáng với chức vị của "Người môn đệ được Chúa yêu". Bởi vậy, Nhìn vào quang cảnh ấy, một lần nữa ta lại phát hiện ra rằng, chia sẻ thập giá Chúa, sao chỉ có những người yếu đuối về sức lực, nhỏ bé về thể xác lại lớn lao quá đổi về sức chịu đựng, quá đổi về sự dũng mãnh và can trường. Tất cả có được chỉ nhờ tình yêu. Hãy yêu để vác thập giá giữa đời mà bước đi với Chúa Kitô. Hãy yêu để xác quyết đức tin nơi thập giá cứu độ tuyệt vời ấy. Hãy yêu và hãy tin để sức mạnh của tình yêu và sức mạnh của niềm tin nâng đỡ sức người. Nhờ đó, cho dù bé nhỏ, mỏng dòn đến đâu, sức người vẫn có thể chấp nhận sức nặng của thập giá, không phải một lần mà một đời.
5. Kết luận: Nếu chỉ nhìn bằng cái nhìn hiện thực và lịch sử, bất cứ ai góp phần đưa đến cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá, cụ thể là những người Do-thái và La-mã của thời Chúa Giêsu, là hành động tội ác.
Nhưng nếu nhìn bằng ánh mắt đức tin, cái chết bi thương trên thập giá của Chúa Giêsu là một mầu nhiệm. Mầu nhiệm là bởi bạn và tôi đều cảm nhận rằng, ngay cả ngày hôm nay, bạn và tôi cùng có mặt trong vụ án Chúa Giêsu để cùng tham dự vào việc đóng đinh Ngài. Dẫu ta vẫn cùng nhau tuyên xưng rằng, Chúa chịu đóng đinh vì ta, thì ngay trong lời tuyên xưng ấy đủ để tố cáo chúng ta: bởi tội lỗi, cho nên đã cách xa hai ngàn năm, ta vẫn là một kẻ chối bỏ, một tiếng reo hò, một lời cáo gian, một sự sỉ vả hoặc chính là một cái đinh đóng vào thân thể Chúa Giêsu.
Nghịch lý về thập giá Chúa Kitô, một nghịch lý mà muôn đời sau phải ghi nhớ: nghịch lý về một Thiên Chúa vì yêu đã làm người, cúi xuống nâng phận người bé nhỏ lên. Nghịch lý về một Thiên Chúa tình yêu đã làm người chết thay cho muôn người. Nghịch lý về một Thiên Chúa đã sử dụng chính hành vi tội ác của con người để làm nên hoa trái của ơn cứu chuộc, quay lại cứu chuộc chính con người.
Từ những suy nghĩ về thập giá và nghịch lý của thập giá như thế, tôi muốn mời bạn cùng tôi cầu nguyện bằng một lời cầu nguyện ai đó đã viết khi ngắm nhìn những nghịch lý của thập giá Chúa Kitô:
Lạy Chúa,
Sao cứ để con giàu có dư dật
Nhưng lại mời gọi con phải sống khó nghèo?
Sao cứ cho con thành công, danh giá
Nhưng lại bảo con phải sống khiêm nhường?
Sao ban cho con một trí khôn minh mẫn
Nhưng lại để con "ngu dốt" trong tình
Ngài yêu con? Sao đặt trong con một quả tim muốn độc chiếm
Nhưng lại muốn con phải mở ra với mọi người?
Sao dựng nên con một thân xác muốm hưởng thụ
Nhưng lại khuyên con phải phục vụ, hy sinh?
Sao để trong con mạnh mẽ một cá tính
Nhưng lại bảo con phải bỏ ý riêng mình?...

Và tại sao ban cho con tất cả
Rồi lại dạy con phải bỏ hết để theo Ngài?

***
Chúa ơi, bây giờ con mới biết
Chỉ khi nào sống được nghịch lý này
Con mới hiểu ra một nghịch lý khác:
Nghịch lý về một kẻ phạm tội
Nhưng một người khác lại đền tội vì yêu!. 

Lm. JB Nguyễn Minh Hùng
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây