Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật Lễ Lá ABC Bài 351-381 Chúa vào thành

Thứ năm - 11/04/2019 09:11
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật Lễ Lá ABC Bài 351-381 Chúa vào thành Giêrusalem
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật Lễ Lá ABC Bài 351-381 Chúa vào thành Giêrusalem
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật Lễ Lá ABC Bài 351-381 Chúa vào thành Giêrusalem
Lễlá-351: CON ĐƯỜNG THẬP GIÁ.. 1
Lễlá-352: Con lừa. 5
Lễlá-353: Những ngã rẽ nguy hiểm.. 6
Lễlá-354: MỘT NIỀM TÍN TRUNG.. 9
Lễlá-355: CÁI CHẾT CỦA LƯƠNG TÂM... 11
Lễlá-356: BẢN ÁN BẤT CÔNG.. 13
Lễlá-357: NỀM VUI – THẬP GIÁ – VÀ ƠN CỨU ĐỘ.. 15
Lễlá-358: TỪ THẬP GIÁ ĐẾN THÁNH GIÁ.. 17
Lễlá-359: CON ĐƯỜNG THẬP GIÁ.. 20
Lễlá-360: TẤT CẢ VÌ YÊU.. 23
Lễlá-361: CHÚA VÀO THÀNH GIÊRUSALEM... 25
Lễlá-362: CÙNG CHẾT VỚI ĐỨC KITÔ ĐỂ CÙNG SỐNG LẠI VỚI NGƯỜI 27
Lễlá-363: CÁI ÁC LÊN NGÔI VÀ GIẢI PHÁP CỦA THIÊN CHÚA.. 30
Lễlá-364: ĐAU KHỔ – VINH QUANG.. 34
Lễlá-365: GIÁ TRỊ CỦA ĐAU KHỔ.. 35
Lễlá-366: BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NHI - CN LỄ LÁ.. 42
Lễlá-367: Người tôi tớ khổ đau của Giavê. 44
Lễlá-368: CHÚA NHẬT LỄ LÁ – C 2013. 47
Lễlá-369: QUA ĐAU KHỔ VÀO TRONG VINH QUANG.. 52
Lễlá-370: Suy Niệm CHÚA NHẬT LỄ LÁ NĂM C.. 57
Lễlá-371: Người yêu thương đến cùng. 59
Lễlá-372: NHỮNG ĐỔI THAY ĐẾN NGỠ NGÀNG.. 61
Lễlá-373: ĐƯỜNG TÌNH YÊU.. 65
Lễlá-374: ĐÁM ĐÔNG CUỘC ĐỜI 66
Lễlá-375: CHÚA NHẬT LỄ LÁ.. 69
Lễlá-376: MÀU XANH HY VỌNG.. 71
Lễlá-377: LÝ KẺ MẠNH.. 75
Lễlá-378: SỰ THÚC ĐẨY CỦA TÌNH YÊU.. 77
Lễlá-379: CHÚA NHẬT LỄ LÁ NĂM B.. 80
Lễlá-380: Dõi Theo Cuộc Thương Khó Của Chúa Giêsu. 82
Lễlá-381: ĐƯỜNG THƯƠNG XÓT CỦA THIÊN CHÚA.. 86
 

Lễlá-351: CON ĐƯỜNG THẬP GIÁ

(Chúa Nhật Lễ Lá)

Ở Tây Ban Nha, trong một Thánh Đường, có cây thập giá đặc biệt, nhiều người đến chiêm ngắm tôn Lễlá-351

Ở Tây Ban Nha, trong một Thánh Đường, có cây thập giá đặc biệt, nhiều người đến chiêm ngắm tôn thờ. Chúa Giêsu bị đóng đinh tay trái, còn tay phải lại buông thõng xuống. Truyền thuyết kể lại: có một người tội lỗi tìm đến với cha xứ. Tuy ông đã xưng thú mọi tội lỗi với lòng sám hối, nhưng cha xứ lưỡng lự không biết có nên tha hay không, vì thấy ông ấy phạm quá nhiều tội. Sau cùng, cha nghiêm giọng nói: "Tôi ban Bí Tích Hòa Giải cho ông, nhưng trong tương lai ông phải cố gắng sửa mình." Ông hứa với cha xứ, nhưng vì yếu đuối ông lại sa ngã và một thời gian sau lại tìm đến tòa cáo giải. Lần này thì cha xứ nói với ông bằng một giọng nghiêm khắc: "Tôi ban Bí Tích Hòa Giải cho ông lần này là lần cuối cùng. Ông đã nghe thấy chưa?"
Vài tháng sau, ông lại đến quỳ dưới chân cha xứ và năn nỉ: "Con thực lòng ăn năn, xin cha tha tội cho con một lần nữa." Cha xứ đáp: "Đừng đùa giỡn với Chúa. Tôi không ban Bí Tích Hòa Giải cho ông nữa đâu". Khi nói thế, cha bỗng nghe thấy có tiếng nấc nghẹn ngào. Rồi từ trên thập giá, cánh tay phải của Chúa từ từ hạ xuống và ban Bí Tích Hòa Giải cho người tín hữu thành tâm sám hối. Và Ngài nói với vị Linh Mục: "Chính Ta đổ máu ra để cứu chuộc ông ấy chứ đâu phải là con."
Và cũng từ ngày đó, cánh tay phải của Chúa thõng xuống trong tư thế ban phép tha tội.
"Chính Ta đã đổ máu ra để cứu chuộc con". Chúa đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời tuyên xưng: "Vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta, Người đã từ Trời xuống thế... Người chịu đóng đinh vào Thập Giá vì chúng tôi". Nội dung chính yếu của cử hành Phụng Vụ Tuần Thánh là cuộc thương khó của Chúa Giêsu. Ngài là người tôi tớ đau khổ của Đức Giavê. Ngài đón nhận Thập Giá tủi nhục thất bại, và đã biến đổi Thập Giá thành nguồn Ơn Cứu Độ, tình thương tha thứ cho nhân loại tội lỗi.
Phụng Vụ bước vào Tuần Thánh với khởi đầu là Chúa Nhật Lễ Lá. Cử hành Phụng Vụ hôm nay khởi sự bằng việc làm phép lá và đi kiệu lá. Cộng đoàn đi kiệu để tưởng niệm việc Chúa Cứu Thế khải hoàn tiến vào thành Giêrusalem. Ngay sau đó là Thánh Lễ tưởng niệm cuộc Thương Khó, đặc biệt với việc đọc Bài Thương Khó. Việc cử hành hôm nay mang hai sắc thái có vẻ nghịch nhau: mới mừng cuộc khải hoàn của Chúa Kitô, rồi lại cảm thông nỗi thống khổ của Người. Phụng Vụ hôm nay kết hợp hai khoảnh khắc trái ngược nhau: cuộc chào đón Đức Giêsu vào Giêrusalem và thảm kịch Thương Khó; lễ hội “Hosanna” và những tiếng la ó lặp đi lặp lại “Đóng đinh nó vào thập giá”; cuộc khải hoàn và sự thất bại bề ngoài qua cái chết trên thập giá.
Bài Thương Khó kể lại từng chặng đường đau thương của Đấng Cứu Thế. Ba môn đệ thân tín đã bỏ rơi Thầy. Giuđa chỉ điểm bắt Thầy bằng một nụ hôn giả dối. Các môn đệ sợ hãi bỏ Thầy mà chạy trốn. Phêrô thề là không hề quen biết Thầy. Chúa Giêsu cô đơn trước đám đông cuồng nộ. Họ bị kích động đòi đóng đinh Ngài. Họ coi Ngài còn thua Baraba là tên phiến loạn. Họ khạc nhổ, đánh đập, vả tát vào mặt, dùng roi quất vào da thịt. Đôi bàn tay bầm tím xuyên thâu những mũi đinh nhọn. Đôi bàn chân bị đinh đóng xuyên qua cây gỗ. Đầu đội mão gai nhọn. Lưỡi đòng đâm cạnh sườn, máu và nước chảy ra.
Một người bị lột bỏ trần trụi. Hai tay bị giang thẳng trói xiết chặt vào thanh gỗ ngang. Hai chân bị trói vào thanh gỗ dọc phơi ngoài trời nắng gắt cho đến chết. Chết vì nghẹt thở do các cơ vòng ngực, cơ bắp tay không còn sức trương ra và co vào để có thể thu nhận dưỡng khí và tống thán khí ra. Tử tội bị đóng đinh nơi cổ tay, nơi bàn chân càng thê thảm bội phần vì đau đớn nhức nhối, sức người rướn lên để thở, sẽ mau kiệt sức và chóng chết.
Bị sỉ nhục. Bị cười nhạo báng. Bị khinh khi. Kẻ qua người lại đều nhục mạ Ngài, vừa lắc đầu vừa nói: mi là kẻ phá được Đền Thờ, và nội trong ba ngày xây lại được, hãy cứu lấy mình đi! Nếu mi là Con Thiên Chúa, thì xuống khỏi thập giá xem nào! Các thượng tế kinh sư và kỳ mục cũng chế giễu Ngài mà nói: Hắn cứu được thiên hạ, mà chẳng cứu nổi mình. Hắn là vua Israel! Bây giờ hắn cứ xuống khỏi thập gía đi, thì chúng ta tin hắn liền!  Cả những tên cướp cùng chịu đóng đinh cũng sỉ vả Ngài như thế.
Cái chết cô đơn, cái chết đau khổ đến với Chúa Giêsu như một chén đắng mà Chúa Cha trao phó. Chúa Giêsu xin vâng ý Cha, nhưng không vì thế mà bớt sự đau đớn. Trong Vườn Cây Dầu, Chúa Giêsu than thở: “Cha ơi, nếu được, xin cho chén này rời khỏi con. Nhưng xin đừng theo ý Con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26, 39). Theo thánh ý Chúa Cha, “Chúa Giêsu đã hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết và chết trên cây Thập giá” ( Pl 2, 8).
Cuộc khải hoàn rước lá của Chúa Giêsu là một dấu chỉ của chiến thắng vinh quang chung cuộc. Việc kiệu lá cho thấy rõ ý nghĩa đích thực của đau khổ và thập giá. Tương tự trong sự kiện “biến hình” trên núi Tabo: Chúa Giêsu cho ba Tông Đồ thoáng thấy vinh quang thần tính. Khi xuống núi, Ngài ra lệnh cho ba Tông Đồ phải bảo mật cho đến khi Con Người sống lại từ cõi chết, nghĩa là cho đến khi ý nghĩa của biến cố này được tỏ bày. Cũng chính ba Tông Đồ thân tín chứng kiến cơn hấp hối của Chúa ở vườn Cây Dầu. Sau Phục sinh, Chúa Kitô cũng giải thích cho hai môn đệ trên đường Emmau: “Đức Kitô không phải chịu đau khổ như thế rồi mới vào vinh quang của Người sao?” (Lc 24, 26).
Như vậy, ngay từ Lễ Lá, hai sắc thái, hai cục diện của mầu nhiệm Vượt Qua được trình bày rõ ràng. Lễ Lá trình bày hai cục diện theo thứ tự đảo ngược: vinh quang trước, khổ nạn sau. Nhưng thứ tự đó biểu lộ thực chất của mầu nhiệm Vượt Qua. Mầu nhiệm Vượt Qua cơ bản là một mầu nhiệm đạt tới vinh quang và sự sống. Sự chết chỉ là bước đi qua, là phương tiện để đạt tới mục đích là vinh quang Phục Sinh.
Bước vào Tuần Thánh, chúng ta cùng theo Chúa Giêsu trên con đường Thập Giá. Theo Chúa không chỉ khi gặp may mắn, thành công, bình an mà còn chấp nhận khi bị bỏ rơi, khước từ, đau khổ, thất bại. Theo Chúa không là con đường “xuôi chèo mát mái” hoàn toàn hạnh phúc an lành, mà còn là con đường chọn lựa quyết liệt với những quyến rũ của vật chất, đam mê, hưởng thụ, danh vọng, quyền lực thế gian.
Theo Chúa Giêsu là đi con đường thập giá vừa lên dốc, vừa nhiều ổ gà ổ voi và vừa là con đường một chiều. Con đường ấy hẹp chứ không thênh thang theo những trào lưu dễ dãi, giả dối, ích kỷ, hận thù, bạo lực... nên cần phải sống từ bỏ, hy sinh, trung thực, yêu thương, bao dung.
Tuần Thánh, cùng đi vào hành trình thương khó của Chúa, chúng ta gặp thấy nhiều tình huống tăm tối của “nhân tình thế thái” như vu khống, phản bội, ghen tương, bất công, nhục nhã, đau khổ, sợ hãi, cô đơn, hèn nhát, cái chết. Nhưng trên hết, chúng ta gặp được một tình yêu. Tình Yêu của Đấng Chịu Đóng Đinh đối với Chúa Cha và lòng xót thương với nhân loại. Chỉ có tình yêu mới làm cho mọi khổ đau có giá trị cứu độ. Cảm nếm và thông phần với nỗi khổ đau thân xác và tinh thần của Chúa Giêsu, nhưng vẫn luôn nhận ra lòng xót thương nằm ẩn dưới từng phản ứng của Ngài theo Tin Mừng kể lại. Càng suy nghĩ về cuộc khổ nạn, chúng ta càng yêu Thập giá của Chúa hơn, yêu thập giá của mình hơn và kính trọng thập giá của người khác hơn.
Theo Chúa Giêsu trên con đường thập giá là một thách đố lớn trong bối cảnh thời nay. Xác tín rằng, có Chúa cùng đồng hành, Ngài luôn thấu hiểu nâng đỡ, Ngài chia sẻ những khó khăn, thử thách, đau khổ với chúng ta trên hành trình theo Ngài. Nếu can đảm cùng chịu đau khổ và đóng đinh cùng Ngài, chúng ta sẽ được hạnh phúc và vinh quang phục sinh với Ngài.
Lm. Giuse NGUYỄN HỮU AN
 

Lễlá-352: Con lừa.

Hôm nay, Chúa Giêsu cưỡi trên lưng một con lừa để tiến vào thành Giêrusalem giữa những tiếng Lễlá-352

Hôm nay, Chúa Giêsu cưỡi trên lưng một con lừa để tiến vào thành Giêrusalem giữa những tiếng tung hô vạn tuế. Chính vì thế, chúng ta cùng nhau chia sẻ về hình ảnh con lừa.
Đối với nhiều người, hình ảnh con lừa chẳng phải là một hình ảnh hấp dẫn, bởi vì lừa là một con vật đần độn và ưa nặng. Tuy nhiên, trong một bài thơ, Chesterton diễn tả một chú lừa đã quan sát vẻ xấu xí của mình và tự nhủ:
"Chắc hẳn tôi đã được sinh ra khi mảnh trăng nhuốm máu, khi cá lượn trên không, lúc cây rừng cất bước và cây vả trổ gai. Ôi chiếc đầu kỳ quái, tiếng kêu ghê tởm, đôi tai khác nào cặp cánh lạc loài và dáng đi kỳ cục nhất trong các loài động vật bốn chân. Thế nhưng, tôi cũng có giờ của tôi chứ. Một giờ thật oanh liệt và êm dịu, khi bên tai tôi văng vẳng tiếng reo hò và ngành thiên tuế chập chờn dưới bước chân tôi đấy".
Và chú lừa đã thốt lên:
"Quí vị cứ cười nhạo tôi đi, nhưng nên nhớ rằng tôi đã được chọn trong tất cả thú vật trần gian, để cõng trên mình Đấng Cứu Độ nhân loại".
Mặc dù chúng ta thường nhạo báng giống lừa, nhưng các nhân vật trong Kinh Thánh lại ngợi khen chúng. Lừa là một giống vật hiền hoà, khác hẳn với loài ngựa, là giống vật dành cho chiến tranh. Tiên tri Giacaria đã tiên báo: Đấng Messia, tức là Đấng Thiên Sai, sẽ cưỡi trên lưng lừa mà tiến vào thánh Giêrusalem.
Và hôm nay, Chúa Giêsu đã thực hiện lời tiên báo ấy. Làm như thế, Ngài đã chu toàn hai điều xác quyết sau đây: Điều xác quyết thứ nhất, Ngài xác nhận mình là Đấng Thiên Sai, Đấng Messia của dân Do Thái. Điều xác quyết thứ hai, Ngài mạc khải cho chúng ta biết sứ mạng thiên sai của Ngài là gì?
Vào thời Chúa Giêsu, việc mạc khải này có thể dẫn tới những hiểu lầm tai hại. Thực vậy, có nhiều người nghĩ rằng sứ mạng của Đấng Thiên Sai hệ tại việc đoàn kết dân chúng lại, để đánh đuổi quân xâm lược Rôma ra khỏi đất nước họ. Thế nhưng, Chúa Giêsu cưỡi trên lưng con vật hiền lành mà tiến vào thành Giêrusalem. Hành động này đi ngược lại với ý tưởng trên. Đồng thời còn cho thấy Đấng Thiên Sai không phải là một ông vua chinh chiến, bắt kẻ thù phải làm nô lệ cho mình.
Ngài đến và đã quỳ gối rửa chân cho thần dân của Ngài, chứ không phải là để ngồi trên ngai vàng, rồi bắt mọi người phải hầu hạ mình. Ngài đoàn kết dân chúng sau lưng mình, không phải là để đi giao tranh với các dân tộc khác, nhưng liên kết họ để chiến đấu chống lại nghèo khổ, đói khát, thu hận và mọi hình thức bất công.
Ngài đến không phải để kết án, nhưng để tha thứ. Ngài đến không phải để phá đổ những giấc mơ của dân chúng, nhưng để làm cho những giấc mơ ấy trở thành hiện thực bằng một phương cách lạ lùng nhất. Ngài không cưỡng bức, nhưng kêu mời chúng ta bước theo Ngài.
Thế nhưng, chúng ta có đáp trả lời mời gọi ấy hay không, thì đó là việc làm riêng tư của mỗi người chúng ta. Còn giờ đây, chúng ta hãy vui mừng và cùng với các tín hữu ở khắp mọi nơi, hãy tung hô Chúa: Vạn tuế Đấng Nhân Danh Chúa mà đến.
 

Lễlá-353: Những ngã rẽ nguy hiểm

(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

Lễ Lá có một khởi đầu vui và một kết thúc buồn. Đức Giêsu long trọng vào thành thánh Giêrusalem trong Lễlá-353

Lễ Lá có một khởi đầu vui và một kết thúc buồn. Đức Giêsu long trọng vào thành thánh Giêrusalem trong lời hoan hô chúc tụng và sau đó chịu kết án, chịu khổ hình và chết trên thập giá.
Con đường vào thành Giêrusalem vinh quang vương giả với đám đông ngưỡng mộ, cành lá và quần áo trải thảm đường đi. Con đường lên Núi Sọ với thân kẻ tội đồ vác thập giá, những lời nhục mạ, roi đòn tơi tả và hai tội nhân đồng hành.
Tiến bước theo Chúa trên đường thương khó để chứng kiến sự thay đổi nhanh chóng của lòng người.
Từ Chúa Nhật Lễ Lá đến Thứ Sáu Tuần Thánh thời gian không dài, nhưng biết bao người đã thay lòng đổi dạ. Từ cổng thành đến Núi Sọ đường đất không xa, nhưng biết bao người đã rẽ lối khác. Tại sao như thế?
Theo dấu vết của những người bỏ cuộc để nhận diện những ngã rẽ trên hành trình cuộc đời. ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt suy tư về ba ngã rẽ tiêu biểu, của Giuđa, Phêrô và đám đông.
1. Ngã rẽ của đám đông.
Dân thành Giêrusalem nô nức phấn khởi, trải áo choàng, chặt những cành lá cây rải trên đường để Chúa đi qua, tay cầm cành lá, miệng reo hò tung hô Chúa, họ dành cho Chúa một nghi lễ đón rước như cho một vị vua của họ. Họ vừa đi vừa tung hô: “Hoan hô con vua Đavít”, “Vạn tuế Đấng nhân danh Thiên Chúa mà đến”. Thế mà sau đó không lâu, nghe lời xúi giục của tư tế, kinh sư, pharisiêu, họ lại biểu tình đả đảo, chống đối, hò la, gào thét đòi “đóng đinh nó đi!”. Hàng vạn người đã theo Chúa, mê mệt nghe đến mấy ngày quên ăn, quên về. Biết bao người reo mừng nghênh đón Chúa ngày long trọng vào thành. Thế mà trên Núi Sọ chỉ thấy những người đến sỉ vả, chê bai, nhạo cười.
Đám đông đã rẽ sang lối nào? Thưa họ rẽ sang lối dư luận. Thiếu lập trường, chạy theo đám đông. Thấy người ta đi nghe Chúa thì cũng đi. Thấy người ta nhạo cười Chúa thì cũng cười nhạo. Thấy người ta kết án Chúa thì cũng kết án. Đám đông thật nông nổi nhẹ dạ. Đám đông thường dễ bị lôi cuốn, người ta làm gì mình làm nấy mà nhiều khi chẳng biết tại sao. Có nhiều người trong đám đông đó không hề thù ghét Chúa Giêsu. Có lẽ còn có nhiều người đã từng nhận ân huệ của Chúa Giêsu! Thế nhưng, họ đã bị đám đông lôi cuốn vào việc kết án người công chính. Giữa cuộc đời hôm nay, biết bao người công chính, thanh liêm, trung trực, chính nghĩa đã chịu vu vạ cáo gian dẫn đến tù tội do đám đông nông nổi bị lừa dối, bị tuyên truyền!!!
2. Ngã rẽ của Giuđa
Giuđa là môn đệ trung tín theo Chúa trong suốt ba năm. Ông còn được Chúa tin cẩn trao phó cho công việc quản lý. Một ngày kia Chúa Giêsu đang cùng các môn đệ dùng bữa tại nhà ông Simon, bỗng có một phụ nữ đem đến một chai dầu thơm quí giá, rồi chị lấy dầu xức lên chân Chúa. Giuđa phản đối “Sao lại phí thế! Đem chai dầu bán cũng được hơn 300 đồng bạc, lấy số tiền đó đi giúp người nghèo có phải thực tế hơn không?”. Giuđa có đầu óc biết tính toán và thực tế của người quản lý tài chánh.
Ngày Lễ Lá chắc chắn ông có mặt. Nhưng khi Chúa chịu chết thì ông biệt vắng. Ông đã rẽ sang lối khác. Lối rẽ theo tiền bạc vật chất. Theo tiếng gọi của tiền bạc, ông đã đưa chân đi những bước xa lạ. Ông đi vào con đường khác. Ông trở thành con người khác. Ông bỏ Chúa vì tiền. Tệ hơn nữa ông bán Chúa để lấy tiền. Một con người bạc bẽo, vô tình vô nghĩa. Trong tình yêu có gì đẹp bằng nụ hôn! Vậy mà Giuđa dùng nụ hôn làm dấu hiệu nộp Thầy. Trong tình yêu, tội phản bội làm tổn thương và đau đớn vô cùng. Tình yêu càng lớn lao bao nhiêu, khi bị phản bội càng đau đớn bấy nhiêu. Ngã rẽ Giuđa biểu tượng cho những người quá say mê của cải vật chất ở đời này đến mức quên tình quên nghĩa, phản bội người khác, kể cả ân nhân của mình.
3. Ngã rẽ của Phêrô.
Phêrô là môn đệ thân tín của Chúa. Là người đứng đầu tông đồ đoàn. Ông thề rằng dù mọi người có bỏ Chúa thì ông vẫn trung thành với Chúa. Ngày Lễ Lá, Phêrô ở bên Chúa. Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, chẳng thấy bóng ông đâu. Phêrô đã rẽ sang lối khác: lối rẽ lười biếng, thích hưởng thụ và sợ bị liên lụy. Lười biếng vì khi vào vườn Giêtsimani, Chúa kêu gọi ông hãy thức cầu nguyện với Chúa, vậy mà ông cứ ngủ. Hưởng thụ vì trong sân tòa án, thay vì theo dõi cuộc xét xử Thầy thì ông lại vào tìm hơi ấm nơi đống lửa giữa sân. An nhàn hưởng thụ đã kéo ông xa Chúa. An nhàn hưởng thụ đã đẩy ông đến chỗ chối Chúa. Phêrô chối Chúa cũng vì ông sợ bị liên lụy. Nếu những người hỏi ông không phải là những người của vị Thượng Tế đang xét xử Chúa Giêsu thì chắc Phêrô vẫn mạnh dạn nhìn nhận mình là môn đệ Đức Giêsu. Nhưng vì họ là người của Thượng Tế nên ông phải chối, kẻo họ báo cáo rồi ông cũng bị bắt luôn.
Phêrô đã theo Chúa Giêsu suốt ba năm. Phêrô nếm trải biết bao gian khổ, ông đón nhận tất cả mà không kêu ca nề hà gì. Nhưng hôm nay ông chối Chúa vì sợ bị liên lụy, vì an toàn của sinh mạng. Ông chấp nhận từ bỏ và hy sinh, nhưng chỉ đến một giới hạn nào đó thôi.
Phêrô là người được Chúa Giêsu yêu thương, chăm sóc, lo lắng, và được Ngài ban cho biết bao là ân huệ. Nào là vai trò thủ lãnh của Nhóm Mười Hai, nào là nhiệm vụ cầm giữ chìa khóa Nước Trời: “Dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy” (Mt 16,19); và còn được gọi là Kêpha, nghĩa là đá … vậy mà khi đối mặt với một đứa hầu gái vô danh tiểu tốt, đá lại mềm ra như bún, ông chối phăng không biết Giêsu là ai, ông lại còn dám cả gan thề độc: "Tôi thề là không có biết người các ông nói đó!” (Mc 14,71). Ông là người nhiệt tình nhất với Chúa Giêsu, thế mà cuối cùng cũng chối Thầy. Thế mới biết, bất cứ ai cũng yếu đuối và cũng có thể sa ngã nặng nề. Phêrô đã sa ngã. Vậy mà ông cứ luôn tưởng rằng mình mạnh mẽ.
Để tự nhiên, chắc chắn không ai nỡ nhẫn tâm bán Chúa, chối Chúa, lên án Chúa. Người ta thay lòng đổi dạ do tác động của tiền bạc, của hưởng thụ, sợ bị liên lụy và của theo hướng của dư luận. Đó là những ngã rẽ nguy hiểm.
Nếu có mặt trong ngày Chúa chịu khổ nạn, tôi và bạn có rẽ sang lối nào không? Tôi và bạn sẽ rẽ sang con đường phản bội của Giuđa? Tôi và bạn sẽ rẽ sang con đường chối Chúa của Phêrô? Tôi và bạn sẽ rẽ sang những con hẻm in dấu chân trốn chạy của các môn đệ? Tôi và bạn sẽ phụ hoạ với đám đông kết án Chúa? Hay tôi và bạn cũng theo quân lính đánh đập Chúa? Tôi và bạn có kết án bất công như Philatô không? Tôi và bạn có hùa với kẻ mạnh đàn áp bắt nạt người thấp cổ bé miệng như đám đông dân chúng không? Tôi và bạn phải dứt khoát lựa chọn một con đường.
Con đường theo Chúa không êm ái nhẹ nhàng và thênh thang đâu. Đó là con đường thập giá: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hàng ngày mà theo” (Lc 9,23). Đường thập giá là đường một chiều. Đường thập giá là đường lên dốc. Và đường thập giá là đường có nhiều ổ gà dằn xóc. Vì thế mà có nhiều người bỏ cuộc nên rẽ sang một hướng đi khác. Nhận diện những ngã rẽ nguy hiểm của tiền bạc dẫn lối, thích an nhàn hưởng thụ, sợ liên lụy bản thân và hùa theo dư luận để chúng ta tỉnh táo mà bước đi trên hành trình đức tin cuộc đời. Vác thập giá hôm nay chính là đón nhận những bệnh tật, thất bại, đau khổ, bất công… như những thử thách của lòng tin để vững bước theo Chúa đến cùng.
Tuần Thánh, chúng ta cùng dõi bước theo con đường thập giá của Chúa Giêsu. Đó là con đường đau khổ, nhưng cũng là con đường tình yêu và là con đường cứu độ.
Lạy Chúa, xin cho con luôn mạnh mẽ và kiên trì tiến bước theo Chúa trên mọi nẻo đường Chúa dẫn con đi. Amen.
 

Lễlá-354: MỘT NIỀM TÍN TRUNG

Gm Giuse Vũ Văn Thiên

Cùng với tất cả các Kitô hữu trên toàn thế giới, chúng ta bước vào Tuần Thánh. Ngày lễ này Lễlá-354

Cùng với tất cả các Kitô hữu trên toàn thế giới, chúng ta bước vào Tuần Thánh. Ngày lễ này được gọi là “Lễ Lá” bởi sự kiện dân chúng cầm ngành lá thiên tuế đi đón Chúa Giêsu khi Người long trọng tiến vào thành Giêrusalem. Thánh lễ khởi đầu với bầu không khí hân hoan tưng bừng và kết thúc trong trầm buồn lặng lẽ, để mời gọi các tín hữu suy tư mầu nhiệm thương khó và thập giá sẽ được cử hành trong Tuần Thánh.
 Bài Thương khó theo Tin Mừng thánh Mátthêu khởi đầu bằng sự phản bội của Giuđa, một trong mười hai tông đồ. Giuđa đã được Chúa gọi, nuôi dưỡng và dạy dỗ. Vì tham tiền bạc mà ông đã phản bội Thày mình. Không chỉ có Giuđa, chúng ta còn thấy một số kỳ lão, người biệt phái, luật sĩ và đám đông dân chúng cũng đua nhau tố cáo Chúa. “Hội chứng đám đông” đã khiến những người này hăng hái và liên kết lại với nhau để vu khống cho Chúa đủ điều. Các môn đệ hằng ngày thân thiết và hăng hái với Thày, lúc này xem ra cũng yếu đuối, run sợ, thậm chí còn chối Thày như trường hợp Phêrô.
 Đối lại với một Giuđa phản bội và một đám đông dân chúng đang bừng bừng căm giận, Chúa Giêsu vẫn khiêm tốn và trung thành. Người chấp nhận đi cho đến cùng chặng đường sứ mạng Thiên sai. Người không dùng bạo lực để đối lại với bạo lực. Cuộc xét xử bất công của Công nghị Do Thái đã lên án người vô tội. Chúa Giêsu đã chết trên thập giá để đền thay cho tội lỗi loài người. Người đã đau khổ cho con người hạnh phúc, đã chết cho con người được sống.
 Hai bài đọc (Bài đọc I và bài đọc II) đều nhắc đến hình ảnh người Tôi tớ Trung thành trong đau khổ. Giáo Hội Kitô đã nhận ra Người Tôi tớ đau khổ mà ngôn sứ Isaia tiên báo nơi Đức Giêsu Kitô. Người đã mang trên thân mình những đau khổ của cả nhân loại mà không than van (Bài đọc I). Người đã “hủy mình ra không” để trở nên thân phận tôi đòi (Bài đọc II). Đức Giêsu chấp nhận tất cả những điều đó, vì vâng lời Chúa Cha và vì yêu thương nhân loại. Người cũng làm gương cho chúng ta, để rồi, trong cuộc sống còn nhiều gian nan thử thách này, chúng ta biết vác thập giá đời mình và vác thập giá cho nhau.
 Hai mươi thế kỷ sau cái chết của Đức Giêsu, Giáo Hội Kitô vẫn không ngừng tôn vinh cây thập giá, như cờ hiệu chiến thắng và như biểu tượng tình yêu. Khi tham dự phụng vụ hôm nay, mỗi người được mời gọi suy tư về thái độ sống của mình. Nghi thức làm phép lá và kiệu lá nhắc chúng ta, cuộc thương khó của Chúa vẫn đang diễn ra nơi những người đau khổ, nghèo hèn, bệnh tật, bị áp bức và thiệt thòi bất công trong xã hội hôm nay. Chúa đang đi qua cuộc đời này. Có những người đón tiếp Chúa, nhưng cũng có những người dửng dưng trước việc Chúa đi ngang qua cuộc đời họ, thậm chí có những người từ chối Chúa và gạt Người ra bên lề cuộc sống. Tiếng gọi của Chúa là tiếng gọi khiêm tốn, đôi khi bị lấn át bởi biết bao âm thanh hỗn tạp của “biển đời” đầy bon chen và giành giật. Vì thế, để lắng nghe lời của Người, chúng ta phải trút bớt khỏi tâm hồn những toan tính, tham vọng. Chúa thường tâm sự với những ai biết chuyên tâm cầu nguyện và những tâm hồn thích sống trong lắng đọng nội tâm. Ngày lễ Lá giúp chúng ta tự vấn lương tâm: chúng ta đón Chúa với tâm tình nào? Phải chăng là dửng dưng như một số người dân thành Giêrusalem năm xưa? Hoặc như một số người nhiệt thành tung hô Chúa, nhưng rồi sau đó thay lòng đổi dạ, giơ tay tố cáo Chúa và xin Philatô đóng đinh Người trên thập giá? Lời Chúa hôm nay vừa nêu cao hình ảnh Đức Giêsu như một Tôi tớ tín trung của Thiên Chúa, vừa mời gọi chúng ta hãy noi gương Người, trung thành và kiên vững trong đời sống đức tin.
 Sau khi tham dự Lễ Lá, chúng ta sẽ mang theo một vài cành lá đã được làm phép về nhà. Cành lá này nhắc lại điều chúng ta đã hát: “Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến”. Cành lá này cũng nhắc chúng ta về lòng trung thành với Chúa trong đời sống. Sứ mạng của mỗi Kitô hữu là sống và làm chứng cho Chúa trong cuộc sống hằng ngày. Người muốn chúng ta hãy là chứng nhân loan báo sự chết và phục sinh của Người cho đến tận cùng thế giới. Người muốn mỗi chúng ta cũng biết hy sinh cho nhau, để cuộc sống này trở nên nhân ái và công bình hơn. Người còn muốn chúng ta hãy tiếp nối sứ mạng của Người xây dựng Nước Trời, một công trình được thực hiện ngay ở đời này và sẽ hoàn thành khi Người lại đến trong vinh quang. Trong suốt Tuần Thánh này, chúng ta hãy liên kết mật thiết với Chúa trong lời cầu nguyện.
 Mỗi khi cử hành Hy lễ Tạ ơn, chúng ta được đón nhận những hoa trái của cuộc thương khó Đức Giêsu. Người ban cho chúng ta không chỉ Mình và Máu Người, mà còn sự kết hợp mật thiết với Chúa Cha. Người  đã khởi đầu nơi chúng ta một cuộc sống quảng đại và sự liên kết tiến tới sự thân tình trọn vẹn với Thiên Chúa là Cha của Người.
 

Lễlá-355: CÁI CHẾT CỦA LƯƠNG TÂM

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Trong chuyến thăm vùng biển Vũng Áng, Hà Tĩnh, chứng kiến cảnh chết chóc tràn bờ, Đức Cha Lễlá-355

Trong chuyến thăm vùng biển Vũng Áng, Hà Tĩnh, chứng kiến cảnh chết chóc tràn bờ, Đức Cha Giuse Ngô Quang Kiệt đã viết:
“Khi chứng kiến tất cả đời sống của họ cũng như đi thăm tất cả các bờ biển, tôi cảm thấy đau xót, có thể nói là một cảnh chết chóc. Tôi vào một nhà nghỉ khá lớn của Hà Tĩnh thấy khách vắng hoe, chả thấy khách đâu cả. Rồi đi ra bãi biển thấy thuyền nằm chất đống ở đó, có những con thuyền chỉ còn đậy những tấm vải y hệt như những thân thể bị liệt thì đúng là một cảnh chết chóc. Ở bờ biển không có một sinh vật nào cả, trên bãi cát không có một con dã tràng nào. Tôi thấy ở các bãi biển đều có những con vật nhỏ li ti như con dã tràng, con cua, con ốc thì bãi biển này hoàn toàn chết hết rồi, không còn một tí gì là sự sống nữa. Khi chúng tôi xuống biển, tất cả mọi người đều hết sức đề phòng để cho nước biển không được dính vào chân. Họ kéo thuyền thật cao trên bãi cát, xong rồi thì có thể bước lên bờ để chân mình khó có thể dính nước biển… Cả một sự chết chóc như vậy”.
Cái chết ấy cho tới hôm nay vẫn chưa sống lại. Làng chài vẫn trống vắng. Nước thải độc hại vẫn tràn lan. Nguyên nhân cá chết vẫn chưa ai thực lòng nhận lỗi. Điều tệ hại là cái chết về lương tâm và luân lý khiến chẳng ai quan tâm khắc phục hậu quả để mang lại môi trường trong sạch cho vạn vật sinh sống. Con người vì lợi ích cá nhân vẫn tiếp tục hủy hoại môi trường sống và gián tiếp giết chết sự sống con người.
Khi lương tâm con người đã chết thì người ta đâu còn hổ thẹn về việc mình làm. Người ta càng không cắn rứt lương tâm khi gây nên những cái chết cho anh em. Người ta cũng bàng quan trước nỗi bất hạnh của anh em. Người ta sống theo chủ nghĩa “mackeno” để rửa tay nói mình vô tội trong những cái chết oan khiên mà đáng lý với quyền hạn và trách nhiệm chúng ta có thể bảo vệ, nhưng chúng ta đã làm ngơ cho sự ác lên ngôi.
Hôm nay khởi đầu Tuần Thánh chúng ta cũng có dịp nhìn lại một cái chết của lương tâm, của luân lý, của lý trí, của chính trị thời Chúa Giê-su. Từ dân chúng cho tới quan quyền. Từ người thất học cho tới thành phần ưu việt đều nhân danh công lý để giết hại người vô tội. Lương tâm và luân lý của họ đã chết nên họ lấy mục đích mà biện minh cho phương tiện: “thà một người chết thay cho cả dân được nhờ”. Lý trí đã bị quyền lợi lấn át để rồi chỉ còn thấy cái gì có lợi thì ủng hộ, bất lợi thì đạp đổ. Nhất là cả một hệ thống chính trị đã không còn bảo vệ công lý và còn làm ngơ cho sự dữ hoành hành khi Philato rửa tay và nói: “Ta vô can về chuyện người này”.
Kính thưa, quý OBACE,
Nhìn vào cái chết của Chúa Giê su xét theo tính nhân loại thì Ngài là nạn nhân của thái độ nhu nhược và thoả hiệp chính trị giữa Pha-ri-sêu và Philato. Ngài là nạn nhân của thói ghen tỵ, độc ác và nham hiểm của những kẻ có chức, có quyền. Ngài cũng là nạn nhân của đám đông dân chúng chỉ tìm kiếm nơi Ngài ân huệ, bổng lộc, và khi Ngài không đáp ứng những ước vọng của họ, họ liền quay lại, giơ tay ủng hộ cho án tử hình Ngài.
Cuộc đời hôm nay vẫn còn đó những bóng tối của lòng người. Dòng đời hôm nay vẫn còn đó những con người công chính, lương thiện vẫn bị hãm hại bởi những cái chết của lương tâm, của luân lý  . . . Biết bao người đã để cho bóng tối của lòng tham nổi loạn đến nỗi sẵn sàng chà đạp và lường gạt anh em của mình. Biết bao người chỉ vì lòng tham, chỉ vì tính ghen tỵ, chỉ vì thói tự mãn kiêu căng vẫn đang tìm cách làm hại cuộc đời của nhau. Bao lâu chúng ta còn nuôi dưỡng những ý đồ bất chính, những thủ đoạn lừa gạt, những ích kỷ nhỏ nhen là bấy lâu vẫn còn đó những con người lương thiện bị đe doạ, bị hành hạ và loại trừ.
Bước vào tuần thương khó ước mong mỗi người chúng ta hãy rà xét lại lối sống của mình để ăn năn thống hối về lời nói, việc làm của mình, dù là vô tình hay hữu ý đã và đang gây đau khổ cho người khác. Nguyện xin Đức Giê su, Đấng đã chết vì tội lỗi chúng ta ban ơn tha thứ và giúp chúng ta chỉnh sửa lại lối sống của mình cho xứng với lòng ăn năn sám hối. Xin cho chúng ta can đảm sống cho sự thật và làm chứng cho sự thật. Xin đừng vì nhu nhược mà để cho sự dữ hoành hành và người lương thiện lại chìm đắm trong oan khiên của dòng đời. Amen.
 

Lễlá-356: BẢN ÁN BẤT CÔNG

Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi

Ngày hôm, Phụng vụ cho chúng ta thấy “ Đức Giêsu mạc khải Ngài là Đấng Thiên Sai. Tuy nhiên Lễlá-356

Ngày hôm, Phụng vụ cho chúng ta thấy “ Đức Giêsu mạc khải Ngài là Đấng Thiên Sai. Tuy nhiên, Ngài là Đấng Thiên Sai đem an bình, hòa giải, Đấng Thiên Sai giầu lòng thương xót chứ không phải là Đấng Thiên Sai mang sự chinh chiến “. Đức Giêsu là Đấng Thiên Sai đem hòa bình cho nhân loại, nhưng thực tế, người Do Thái cứng lòng,đặc biệt những vị lãnh đạo tôn giáo, các Kinh sư, Biệt phái và Pharisêu lúc đó đã căm thù, ghen ghét Ngài vì Ngài không đi theo đường lối của họ…Do đó mới có bản án bất công…
Đọc Tin Mừng Nhất Lãm và Tin Mừng của Thánh Gioan chúng ta hiểu được thế nào sự can đảm của Đức Giêsu khi Ngài tiến vào Giêrusalem, vào Giêrusalem đồng nghĩa với việc chấp nhận cái chết. Chúa Giêsu phải can đảm sâu xa, mạnh mẽ khi tiến về Giêruasalem vào dịp lễ Vượt Qua. Ngài can đảm đến dộ anh hùng như Tin Mừng của Thánh Gioan giải thích :” Sắp đến lễ Vượt Qua, và rất nhiều người đi Giêrusalem…Họ đang tìm Đức Giêsu…và hỏi han nhau “ Bạn nghĩ thế nào, bạn nghĩ sao ? Chắc Ngài chẳng đến dự lễ đâu !”. Bọn tư tế và biệt phái đã ra lệnh : bất cứ ai biết Đức Giêsu ở đâu thì phải báo cáo ngay để họ bắt Ngài “ ( Ga 11,55-57 ). Chính vì thế, mọi người đều có quyền lo ngại cho Đức Giêsu khi Ngài cứ tiến vào thành Giêrusalem. Vậy, ý nghĩa sâu xa về việc Đức Giêsu đi vào Giêrusalem và cách thức dân chúng tung hô, đón tiếp Ngài ? Chúng ta hãy lắng nghe thánh Gioan diễn tả :” Đức Giêsu tìm thấy một con lừa và cỡi lên nó, đúng như lời Kinh Thánh dạy : Hỡi thành Sion, đừng sợ, này đây Vua ngươi đến, Ngài đang cỡi trên một chú lừa con “ ( Ga 12, 14-15 ). Chúa tiến vào thành, dân chúng trải áo trên đường, trẻ con, người lớn cầm trên tay những cành lá thiên tuế và reo lên :” Hosanna! Vạn tuế Đấng nhân danh Chúa mà đến ! Hoan hô Vua Israen ! “ ( Ga 12,13 ). Thánh Gioan lại kết thúc bài mô tả bằng cách khác thường :” Lúc đó các môn đệ Đức Giêsu chưa hiểu điều ấy, nhưng khi Đức Giêsu đã được tôn vinh, họ mới nhớ lại lời Thánh Kinh viết điều này về Ngài và chính họ đã thực hiện điều ấy cho Ngài “ ( Ga 12, 16 ).
Giacaria đã loan báo trước Đấng Mêsia sẽ cưỡi lừa tiến vào Giêrusalem. Giờ đây Chúa Giêsu đang thực hiện lời tiên báo của Giacaria. Ngài xác nhận Ngài là Đấng Mêsia và Ngài mạc khải cho biết sứ mệnh thiên sai của Ngài.Đức
Giêsu đã được dân chúng tung hô, reo hò mừng rỡ và sau đó, chính đám đông lại la hét, kết án Chúa Giêsu dù Ngài không có tội tình nào ! Dân chúng không hiểu biết gì chỉ nghe lời xúi giục của những lãnh đạo, các tư tế, thượng tế, ký lục , kỳ mục để hò hét, chống đối và lên án Chúa Giêsu. Phiên tòa được mở ra một cách vội vã dù rằng ai cũng biết Chúa Giêsu chẳng hề có tội gì. Thẩm phán của phiên tòa là ông Philatô, công tố viên là các thượng tế và kỳ mục, còn bị cáo là Chúa Giêsu. Dân chúng dự phiên tòa bất công này đều là những người được mua chuộc. Phiên tòa thật kỳ cục, là người công chính, thánh thiện lại bị xử như một tên tội đồ. Thay vì, tòa án phải tìm kiếm, phải bảo vệ sự thật nhưng thực tế vì ganh ghét, tỵ hiềm, hận thù, tư lợi, các thượng tế, kỳ mục đã toa rập cáo gian Chúa Giêsu . Vì sợ mất chức, mất quyền hành, mất địa vị, Philatô dù biết rõ Chúa Giêsu vô tội nhưng ông không dám bảo vệ Chúa. Bởi vì Philatô đang ngồi trên tòa xét xử thì bà vợ sai người đến nói với ông :” Ông đừng nhúng tay vào vụ người công chính ấy, vì hồi hôm, tôi phải khổ nhiều trong mộng vì người ấy “ ( Mt 27, 19 ) và “ Bởi ông đã biết là vì ganh tị mà họ đã nộp Ngài “ ( Mt 27, 18 ). Philatô hoàn toàn im lặng, đồng lõa với sự gian dối, không hề bênh vực Chúa Giêsu. Philatô đã lấy nước lã rửa tay trước mặt dân và nói :” Ta vô tội về máu người này; các người tự liệu lấy “ ( Mt 27, 24 ). Chính vì tư lợi và ghen ghét, Philatô đã bóp chết sự thật.Ông đã hèn nhát, vô liêm sỉ khi im lặng trước lời vu cáo của dân chúng. vÀ dân chúng đã bất công la hét, kết án, cáo gian, vu khống cho Chúa Giêsu.
Thật vậy, tòa án và bản án bất công đã được gán ghép cho Chúa Giêsu, nhưng Ngài đã im lặng vì yêu thương nhân loại và chấp nhận ý định của Thiên Chúa để cứu rỗi nhân loại, cứu độ con người.
Vâng, con người muôn thời vẫn còn những chuyện như thời Chúa Giêsu. Mỗi lần con người đó kỵ, hận thù, hiềm khích, đặt điều, nói xấu và kết tôi nhau là con người lại gán cho nhau những bản án bất công.
Hôm nay chúng ta cũng đang đón mừng một Đức Giêsu, Đấng Thiên Sai, Đấng Cứu Độ. Ngài muốn đi sâu vào tâm hồn chúng ta một cách đặc biệt trong Tuần Thánh này. Chính Đức Giêsu , Đấng Cứu Thế đang hiện diện giữa chúng ta ngay lúc này, tại đây khi chúng ta bắt đầu nghi thức rước lá.
Lạy Chúa Giêsu, Đấng Cứu Độ. Vạn tuế Đấng nhân danh Chúa mà đến ! Vạn tuế Đức Vua của Israen ! Amen.
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
1.Chúa Giêsu đi vào thành thánh Giêrusalem để làm gì ?
2.Ngài đi bằng gì vào Giêrusalem ?
3.Dân chúng đã làm gì ?
4.Philatô có dám bênh vực Chúa Giêsu không ? Tại sao ?
5.Tuần Thánh nói gì cho chúng ta ?
 

Lễlá-357: NỀM VUI – THẬP GIÁ – VÀ ƠN CỨU ĐỘ

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Với Chúa nhật Lễ Lá, khai mạc Tuần Thánh, trung tâm của Năm Phụng Vụ, trong tuần này chúng Lễlá-357

Với Chúa nhật Lễ Lá, khai mạc Tuần Thánh, trung tâm của Năm Phụng Vụ, trong tuần này chúng ta dõi theo hành trình thương khó của Chúa Giêsu, chết và sống lại.
Niềm vui
Hoan hô Thái Tử nhà Đa-vít! Chúc tụng Ðấng ngự đến nhân danh Chúa! (Mt 21,9)
Nghe đọc những lời trên lúc mở đầu nghi thức làm phép kiệu lá, tưởng nhớ tới sự kiện Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem, dân chúng rủ nhau ra mà đón : “Đông đảo dân chúng trải áo xuống mặt đường , một số khác lại chặt cành chặt lá rải lên lối đi. Dân chúng, người đi trước, kẻ theo sau, reo hò vạng dậy : “Chúc tụng Đấng Chúc tụng Ðấng ngự đến nhân danh Chúa! Hoan hô Chúa trên các tầng trời” (Mt 21,8-9). Giờ đây mỗi người cầm cành lá trong tay vừa đi vừa hát “Hoan hô…” thấy thật là vui.
Đám đông dân chúng đón rước Chúa lúc đó hân hoan, ngợi khen, chúc tụng. Đúng là một bầu khí vui mừng mà chúng ta cảm nghiệm được khi tái cử hành biến cố năm xưa hôm nay. Chúa Giêsu, Thái Tử nhà Đavít tiến vào Giêrusalem đã khơi lên bao nhiêu niềm hy vọng nơi tâm hồn những người đơn sơ, nghèo khổ, bị lãng quên, những người không đáng kể gì trong xã hội. Người thấu hiểu và cảm thông cảnh lầm than khốn khổ của họ, cúi mình xuống chữa lành những vết thương thể xác cũng như tâm hồn và tỏ lòng từ bi đối với họ.
Đúng như lời ngôn sứ I-sai-a nói : “Người đã mang lấy các tật nguyền của ta và gánh lấy các bệnh hoạn của ta” (Mt 8,17). Đó là tình thương cao cả của Chúa Giêsu, Người đã mang tình thương ấy đi vào thành Giêrusalem. Chúng ta thật vui mừng và tràn đầy hy vọng, vì thế giới chúng ta sống đang rất cần tình thương đó.
Thập giá
Niềm vui của dân chúng đang hân hoan, tung hô, chúc tụng Chúa, bỗng sự đấu tố, đòn vọt, vòng gai và thập giá bao trùm, những lời của Tiên tri Isaia, bài tường thuật của thánh sử Mátthêu, và những bài đọc phụng vụ khác dẫn đưa chúng ta vào trong mầu nhiệm Thương Khó và cái chết của Chúa Giêsu. Isaia mô tả cho chúng ta hình ảnh của một người bị đánh đòn và chịu vả mặt nhục nhã (x. Is 50, 6). Lời đáp ca: “Lạy Chúa tôi, lạy Chúa tôi, sao Chúa bỏ rơi tôi?” Giúp chúng ta chiêm ngắm cơn hấp hối của Chúa Giêsu trên thập giá (Mt 27,46). Nơi bài đọc II, thánh Phaolô tông đồ giúp chúng ta hiểu sâu xa hơn mầu nhiệm Vượt Qua: Chúa Giêsu, “dù là Thiên Chúa, nhưng không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân phận nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, và chết trên cây thập tự” (Phil 2, 6- 8).
Một vị Vua cưỡi trên con lừa con, không có đoàn tùy tùng đi theo, không có một binh đoàn biểu tượng quyền lực tiến vào thành Giêrusalem là Chúa Giêsu. Người không vào Thành Thánh để nhận vinh dự dành cho các vua trần thế, cho kẻ có quyền bính, cho kẻ thống trị; Người vào thành để chịu đánh đòn, lăng mạ và xúc phạm, như Isaia đã tiên báo (x. Is 50,6); Người vào để chịu đội mão gai và mặc áo choàng đỏ, vương quyền của Người là đối tượng cho sự nhạo cười; Người vào để bước lên đồi Canvê vai vác khổ giá; Người vào thành Giêrusalem để chịu chết trên Thập giá. Thập giá là ngai vàng của Người, Người mang lấy Thập giá trên mình, mang vào mình sự ác, cùng với sự nhơ bẩn, tội lỗi của trần thế và cả tội chúng ta nữa. Với lòng từ bi và tình thương của Thiên Chúa, Người lấy máu mình mà tẩy rửa cho sạch. Vì thế, Thập giá được Chúa Giêsu đón nhận với tình thương không bao giờ đưa tới sầu muộn, nhưng dẫn đến niềm vui, niềm vui được cứu độ.
Sống Tuần Thánh
Bước vào Tuần Thánh, Giáo hội cùng với con cái mình dõi theo Chúa Giêsu trên hành trình tiến lên đồi Canvê với Thập giá và sự sống lại của Người. Sống Tuần Thánh là đi vào tình thương hiến thân của Chúa Giêsu hầu mang lại sự sống cho con người
Lúc sinh thời, Chúa Giêsu đã rong ruổi trên khắp nẻo đường, với lòng tin, Người đã chọn gọi 12 người đơn sơ để họ ở với và tiếp tục sứ mạng yêu thương của Người. Trong Tuần Thánh chúng ta sống trọn vẹn cuộc hành trình này. Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem để thi hành sứ mạng yêu thương ấy.
Người không sống cách thụ động tình thương dẫn đến hy sinh, hoặc như một định mệnh không thể tránh được; Người không che giấu được sự xao xuyến sâu xa của một con người trước cái chết dữ dằn, nhưng phó thác hoàn toàn nơi Chúa Cha. Chúa Giêsu tự ý nộp mình chịu khổ hình và chịu chết, để chứng tỏ tình thương của Thiên Chúa đối với thế gian. Thánh Phaolô cảm nghiệm được rằng, trên Thập giá, Chúa Giêsu “đã yêu thương tôi và hiến mình vì tôi” (Gl 2,20). Mỗi người chúng ta có thể nói: Người đã yêu thương tôi và đã phó nộp mình vì tôi.
Nhìn vào Chúa Giêsu trong cuộc thương khó, chúng ta khám phá ra những đau khổ của nhân loại nói chung và những đau khổ của chính cá nhân mình nói riêng. Chúa Giêsu, dù vô tội, đã nhận mang lấy vào thân điều mà con người không thể chịu được như : sự bất công, sự dữ, tội lỗi, hận thù, đau khổ và cuối cùng là sự chết. Trong Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa phải chịu nhục nhã và đau khổ để chứng tỏ rằng Thiên Chúa yêu thương tất cả, tha thứ cho tất cả và mang đến cho con người ý nghĩa cuối cùng của cuộc sống.
Mỗi năm, với Tuần Thánh, Giáo Hội bước vào trong Mầu nhiệm Vượt Qua, Mầu nhiệm tưởng niệm cái chết và sự sống lại của Chúa Giêsu. Chính nhờ sức mạnh của Mầu Nhiệm Vượt Qua mà Giáo Hội có thể công bố cho thế giới bằng lời nói và bằng những việc làm tốt của những con cái mình rằng: “Chúa Giêsu Kitô là Chúa, để Thiên Chúa Cha được vinh hiển” (Phil 2,11). Phải, Chúa Giêsu Kitô là Chúa, Người là Chúa của thời gian và của lịch sử; là Ðấng Cứu Chuộc con người; Người là Ðấng Cứu Thế! Chúc tụng Ðấng nhân danh Chúa mà đến! Hosanna!
Cùng với Mẹ Maria, chúng ta hãy xin với Mẹ là Ðấng đã theo Chúa Giêsu Con Mẹ  trong suốt chặng đường dẫn tới Canvê trong đức tin, giúp con cái Mẹ vác thập giá với niềm thanh thản và yêu thương bước theo Chúa, để đạt được niềm vui của lễ Phục Sinh. Amen.
 

Lễlá-358: TỪ THẬP GIÁ ĐẾN THÁNH GIÁ

P. Trần Đình Phan Tiến
Vâng kính thưa quý vị, thưa các bạn

Lễ Lá đến cho chúng ta điều gì ? Thưa, Lễ Lá đến cho chúng ta hai điều : Một là : Sự tung hô Lễlá-358

Lễ Lá đến cho chúng ta điều gì ? Thưa, Lễ Lá đến cho chúng ta hai điều :
Một là : Sự tung hô chúc tụng giả dối của thế nhân.
Hai là: Kết thúc hành trình thi hành sứ vụ cứu chuộc của Đức Kitô nơi trần thế.
Lễ lá cho chúng ta tâm hồn chuẩn bị đón chờ “TUẦN THƯƠNG KHÓ” của Đức Kitô, được gọi là “TUẦN THÁNH “. Tuần Thánh là Tuần đầy “ bi thương “ của Ngôi Lời làm Người, Tuần tưởng niệm “cái chết”, hay nói cách khác , chính là Tuần mà Đấng Cứu Thế thi hành “sứ vụ Cứu Chuộc” của Người.
Vâng , Tuần lễ cao điểm của Phụng Vụ Thánh. Được gọi là “TAM NHẬT VƯỢT QUA”.
Bài Thương Khó theo thánh Matthuê hôm nay ( Mt 26, 14 – 27, 66) không trình thuật chi tiết “dân chúng” tung hô Chúa Giêsu, như Tin Mừng thánh Gioan sẽ được đọc trong Tứ Sáu Tuần Thánh.
Như chúng ta biết , sau khi Chúa Giêsu cho Lazaro sống lại, người ta ( dân chúng )muốn suy tôn Người lên làm Vua, nhưng,  những người thủ lãnh dân Dothai ( đạo và đời) thì rất “ ghét” Chúa Giêsu.
Một mặt họ cho rằng, Người sẽ thống trị họ theo nghĩa đen, một mặt, họ sợ người đời sẽ nghe theo Chúa Giêsu sẽ bỏ họ, tất yếu “bổng lộc quyền thế” phút chốc tiêu tan. Như vậy, danh lợi của họ bấy lâu nay trở thành mây khói. Theo đó, “âm mưu” giết Chúa Giêsu là tất yếu.
Chi tiết Tin Mừng trình thuật thật rõ ràng, diễn tiến sự việc không thiếu mạch lạc, vì vậy, Lễ Lá thường suy niệm ngắn gọn.
Hôm nay, con xin chia sẻ hai ý chính nêu trên.
Một là: Sự tung hô giả dối của thế nhân.
Tại sao , khi thấy Chúa Giêsu làm cho Lazaro sống lại, người ta không nhận ra chỉ có Thiên Chúa mới làm được điều đó. Không thể một phàm nhân nào có thể làm được như vậy. họ nghĩ rằng , họ có thể “lên án“ rồi giết đi một Con Người đã cho kẻ chết sống lại, thì Người ấy làm sao “để” cho họ thỏa mãn điều mà họ muốn làm.
Nhưng, Thiên Chúa đã chọn Thập giá, để biến đổi thành Thánh Gía. Thập giá là bản án của kẻ có tội. Thiên Chúa không dung “Thánh giá để biến đổi nên Thập giá”, mà là dùng Thập giá để biến đổi nên Thánh giá.
Thánh Gía phải từ Thập giá, chứ Thánh giá không từ sự “vạn tuế” của dân chúng. Thiên Chúa không đem đến Thánh giá mà không có Thập giá. Chúng ta hiểu được cụ thế qua sự việc “tung hô” Con vua Đavit hôm nay. Nếu , người ta tung hô Người, thì người ta phải tôn thờ Người. Nhưng, người ta lại loại trừ Người.
Người đem đến cho họ một “ơn giải” thoát không phải là “sự tung hô” của họ, mà là “THẬP GIÁ”. Thập giá biểu tượng của sự ô nhục, sự đền tội của tội nhân, giá phải trả cao nhất của nhân loại tội lỗi. Cực hình nầy, người Dothai đã nghĩ ra để xử phạt con người có tội.
Bản thân Thập giá là “tội ác” phải đền bù. Đó là sự “trừng phạt” của thế nhân đối với nhân thế. Như vậy, Đức Kitô, Đấng vô tội phải được tung hô theo kiểu của thế gian, được đưa lên ngai vàng, nhưng, họ lại đưa Người lên Thập giá. Để từ đây, Thập giá không còn là phương tiện trừng phạt nữa, mà là phương tiện “yêu thương”. Chúa Giêsu đã xóa bỏ Thập giá trong lịch sử loài người, để mang lại một Thánh giá vinh quang, trong bài Tin Mừng nêu khá chi tiết về sự nhục nhã, cũng như về sự đau khổ trên hành trình Thập giá, đến Núi Sọ Golgotha. Sự mạ lỵ, sự đánh đòn, sự chịu đội mão gai, sự khạc nhổ , sỉ vả, sự cáo gian, sự vác thập giá, sự đóng đinh, sự chịu uống giấm chua mật đắng, sự chịu lưỡi đòng đâm thủng nương long ,Máu và Nước chảy ra. Chịu môn đệ chối từ, bội phản và bán rẻ ba mươi đồng bạc.
Rõ ràng chúng ta thấy, Chúa Giêsu phục sinh Lazaro, thì nơi Người sự chết không thể xuất hiện. Nhưng, để biến đổi mầu nhiệm Thập Gía trở nên Thánh giá là một sứ vụ cứu chuộc của Người. Vì, một người chưa chết, thì không thể được gọi là phục sinh.
Mầu nhiệm Phục Sinh không đơn thuần chỉ là một sự “biến hóa” giữa cái chết và sự sống nơi một con người mà thôi. Nhưng, sự phục sinh cho thấy chính Người là Thiên Chúa trời đất đến trong thế gian. Sự làm cho kẻ khác phục sinh hay sự Phục Sinh nơi Chúa Giêsu, chính là mầu nhiệm cho xác loài người ngày sau sống lại của Thiên Chúa.
Đọc bài Thương Khó của Chúa Giêsu, chúng ta không dừng lại nơi những thất bại của nhân thế, mà là suy tưởng đến mầu nhiệm toàn thắng của Thiên Chúa qua mầu nhiệm Thập giá, vì rõ ràng là “ mầu nhiệm khổ hình sinh ơn cứu độ” của Thiên Chúa qua đức Kitô- Giêsu.
Một Thiên Chúa duy nhất đem đến cho con người sự yêu thương và hoàn hảo, đó là mầu nhiệm từ thập giá đến Thánh giá của Chúa Giêsu. Vâng, đó là giá trị vĩnh cửu, chứ không phải sự tôn vinh của người đời hôm nay, ngày mai lại tuyên bố “đóng đinh vào thập giá” “ Đóng đinh nó đi… đóng đinh nó đi …”.
Hai là : Sự kết thúc hành trinh sứ vụ cứu chuộc của Đức Kitô.
Chúng ta thấy, trên Thập giá, Chúa Giêsu nói : “ Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ nhầm không biết …” ( Lc 23, 34), vâng, chỉ duy nhất thánh Luca ghi lại câu nầy.
Là Thiên Chúa, trong thân phận làm Người để cứu chuộc loài người, nỗi đau thương quá sức chịu đựng, Người phải thốt lên : “ Ê loi, ê loi lam masa bac ta ni..”  Nghĩa là : “ Lạy Cha, là Chúa Trời con, sao Cha nỡ bỏ con …”  ( Mt 27, 46), ( Mc 15, 34).
Vâng, kết thúc một hành trình đầy đau thương, có thể nói sức người không chịu đựng nỗi. Nhưng, chính Ngôi Lời đã vượt qua. Cuối cùng là  sự ” tha thứ ”, tha thứ, đó là kết thúc hành trình cứu chuộc của Đức Kitô dành cho nhân loại.
Lạy Chúa Giêsu, xin tha thứ tội lỗi cho chúng con, qua cuộc khổ hình sinh ơn cứu độ, chính là mầu nhiệm phục sinh từ Chúa là nguồn yêu thương cho chúng con, vì Người là Nguồn Sống và làm cho chúng con được sống./. Amen.
 

Lễlá-359: CON ĐƯỜNG THẬP GIÁ

JM. Lam Thy

Tuần Thánh mở đầu bằng Lễ Lá, Vui trong gang tấc, đã buồn đau. Nhân tình thế thái luôn thay Lễlá-359

Tuần Thánh mở đầu bằng Lễ Lá,
Vui trong gang tấc, đã buồn đau.
Nhân tình thế thái luôn thay đổi,
Lòng dạ con người chẳng khác đâu.
Đả đảo hoan hô thường nối tiếp,
Tôn vinh hạ bệ gắn liền nhau.
Con đường Thập Giá là như vậy,
Chịu khổ trước, rồi hưởng Phúc sau.
Giáo Hội ấn định Phụng vụ Chúa nhật Lễ Lá dành để tưởng niệm Chúa Giê-su Ki-tô vào thành Giê-ru-sa-lem để hoàn tất Mầu nhiệm Vượt Qua. Ngày lễ hôm nay gồm 2 phần chính: Phần đầu là cuộc rước kiệu lá kính nhớ Đức Giê-su vào Giê-ru-sa-lem với tư cách là Đấng Mê-si-a (Mt 21, 1-10); phần thứ hai là Thánh lễ tưởng niệm cuộc thương khó của Chúa. Có một nhận định xem ra có vẻ khó hiểu và khắc nghiệt: “Giữa Chúa nhật Lễ Lá và Thứ sáu Tuần Thánh phản ánh cả cuộc đời Ki-tô hữu”. Tuy nhiên, bình tâm mà suy xét sẽ thấy tuy khó hiểu và khắc nghiệt, nhưng lại rất chính xác. Nói cách cụ thể thì Chúa nhật Lễ Lá và Thứ sáu Tuần Thánh phản ánh đúng thực chất tâm trạng con người (nói chung), và cách riêng là các Ki-tô hữu. 
Chúa nhật Lễ Lá dân chúng Do thái hoan hô, chúc tụng Chúa Ki-tô rất nồng nhiệt, bằng những lời lẽ tưởng chừng như chân thành nhất (“Hoan hô Con vua Đa-vít! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa! Hoan hô trên các tầng trời.” – Mt 21, 9); vậy mà chỉ mấy ngày sau, cũng chính những người hoan hô ấy lại hò reo: “Đóng đinh nó vào thập giá!” Thậm chí khi Tổng trấn Phi-la-tô thấy không cứu vãn được tình thế, đã lấy nước rửa tay trước mặt đám đông mà nói: “Ta vô can trong vụ đổ máu người này. Mặc các người liệu lấy!” thì đám đông còn gào thét như thách thức: “Máu hắn cứ đổ xuống đầu chúng tôi và con cháu chúng tôi!” (Mt 27, 24-25). Thế đấy! Thì ra giữa hoan hô và đả đảo chỉ là một khoảng cách rất mong manh, mong manh còn hơn cả một “sợi tóc”. 
Nhân nói đến “sợi tóc” chợt nhớ đến truyện ngắn “Sợi Tóc” của Thạch Lam (trong Tự Lực Văn Đoàn – tiền chiến). Truyện “Sợi Tóc” thuật lại câu chuyện của một nhân vật tên Thành tự thuật tâm trạng của mình trong một lần định chôm (ăn cắp) ví tiền của bạn. Từ ý định nảy sinh khi thấy bạn để nhiều tiền trong ví (bóp), đến những toan tính, những kế hoạch tiến hành, và cả đến những dự phòng rủi ro khi bị phát giác, đều được Thạch Lam miêu tả rất tinh tế và tỉ mỉ. Cuối cùng thì Thành không thực hiện ý đồ ăn cắp, và ngạc nhiên tự hỏi “tại sao mình vẫn còn là người lương thiện?”. Thành nghĩ: “Tôi cảm thấy một cái thú khoái lạc kỳ dị, khe khẽ và thầm lặng rung động trong người, có lẽ là cái khoái lạc bị cám dỗ, mà cũng có lẽ là cái khoái lạc đã đè nén được sự cám dỗ.” Cái “khoái lạc bị cám dỗ” chính là cái “ác tâm” muốn chiếm đoạt tiền của người khác; còn “cái khoái lạc đã đè nén được sự cám dỗ.”chính là cái “thiện tâm”; như tác giả kết luận: “ranh giới giữa cái ‘thiện’ và cái ‘ác’ chỉ là một ‘sợi tóc’ mong manh, không hơn không kém”. Quả thật ranh giới giữa cái “thiện” và cái “ác” ở cuộc đời này rất mong manh, mong manh như một sợi tóc. 
Đến như khoảng cách giữa hoan hô và đả đảo thì cũng chẳng khác gì. Hôm nay hoan hô, ngày mai đả đảo; sáng mới hoan hô, chiều đã đả đảo; thậm chí vừa mới hoan hô đấy, lại đả đảo liền, lập trường cứ xoay như chong chóng. Lại phải chua xót nhắc lại ở đây: nhân tình thế thái là thế, xưa hay nay cũng vậy thôi. Đó mới chỉ là nói về những sự kiện hữu hình xảy ra trên bình diện xã hội loài người, riêng về mặt tâm linh thì còn hơn thế nữa kia. Trong khi vừa ở toà hoà giải ăn năn sám hối về những lỗi phạm của mình, mới chỉ bước ra khỏi toà vài bước, nếu gặp chuyện trái ý thì ngay lập tức nổi đoá văng tục liền (dù có thể chưa văng thành lời nói trên miệng, thì cũng thầm thĩ trong lòng!); vừa mới rước lễ trong thánh lễ, ra khỏi nhà thờ gặp phải một “người bạn quấy rầy” (hành khất) cứ liên lỉ quấy rối (xin tiền), hoặc những cảnh trái tai gai mắt; thì lập tức biểu lộ “nộ khí xung thiên” ngay.
Ôi chao! Nhiều, nhiều lắm những cảnh vừa mới tuyên xưng đức tin, tôn vinh Thiên Chúa, thì ngay lập tức đã chối bỏ. Như thế thì chẳng phải cái ranh giới giữa hoan hô và đả đảo còn mong manh hơn cả sợi tóc đó sao? Cứ nhìn vào các Tông đồ tiên khởi thì đủ biết: Vì sao các ngài đi theo Đức Ki-tô? Vì tin tưởng Người chính là vị cứu tinh cho cuộc đời của mình. Cụ thể như Phê-rô khi nghe Đức Ki-tô hỏi: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” thì tuyên xưng liền: “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống.” (Mt 16, 16) và khi nghe Thầy tiên báo sẽ chối Thầy, thì ngay lập tức khẳng định chắc nịch: “Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy”. Thực ra, cũng không chỉ có một mình Phê-rô đâu, mà “Tất cả các môn đệ cũng đều nói như vậy” (Mt 26, 35). Như vậy thì chẳng phải là hoan hô đó sao? Nhưng đến khi Thầy gặp nạn thì “Bấy giờ các môn đệ bỏ Người mà chạy trốn hết” (Mt 26, 56), còn Phê-rô lẽo đẽo theo sau và chỉ cần một tớ gái nhà Cai-pha vặn hỏi đã vội vàng chối “Tôi thề là không biết người ấy.” (Mt 26, 74) không chỉ một lần mà tới ba lần trong một đêm. Bỏ trốn hết, chối Thầy như vậy thì có khác gì đả đảo? 
Ngày xưa thì như thế, còn ngày nay hẳn là còn hơn thế nữa là cái chắc. Ở Việt Nam tuy có gần 130.000 người chấp nhận cái chết, chớ không chịu đả đảo Ki-tô (bước qua hoặc đạp lên thánh giá, bỏ đạo), nhưng con số người sẵn sàng đạp lên thánh giá (chớ đừng nói chỉ bước qua), sẵn sàng gỡ bỏ bàn thờ để chưng hình lãnh tụ (đả đảo Giê-su, hoan hô lãnh tụ), sẵn sàng ghi vào sơ yếu lý lịch là “không tôn giáo”… thì không hiểu còn đông gấp bao nhiêu lần? Ngay đến cả những người bề ngoài thi rất siêng năng đi lễ, đọc kinh, cầu nguyện, nhưng chỉ cần một người nghèo khó (một hành khất chẳng hạn) đến “quấy rầy” thì ngay lập tức “Không có gì hết! Cút đi chỗ khác!” Than ôi! “Ngày xưa Ta khát…, Ta đói… ” thì ngươi đã đối xử như vậy đó! Vậy thì ai hoan hô, ai đả đảo? Hoan hô và đả đảo có cách xa nhau không?
Chúa nhật Lễ Lá mở đầu Tuần Thánh và kỷ niệm việc Chúa Giê-su được tung hô, nhưng đồng thời Chúa nhật Lễ Lá cũng còn được gọi là Chúa nhật Chịu Nạn (Chúa Giê-su bị đả đảo). Trong một Chúa nhật tưởng niệm hai mặt trái ngược nhau của cuộc đời. Ôi! Lạy Chúa! Con vẫn nhớ như in trong lòng Lời Chúa: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: “Lạy Chúa! lạy Chúa!” là được vào Nước Trời cả đâu!” (Mt 7, 21). Vậy mà con vẫn cứ hoài “ngôn hành bất nhất”, miệng thì không ngớt tung hô Chúa, nhưng trong lòng thì lạnh tanh, chẳng một chút cảm xúc. Thậm chí, ngoài miệng nói một đàng, trong lòng nghĩ một nẻo (“Bề ngoài thơn thớt nói cười, Mà trong nham hiểm giết người không đao” – “Kiều” – Nguyễn Du). Con vừa mới hoan hô, tung hô Chúa nơi thánh đường, về tới khu xóm con đã hiềm khích, đố kỵ, ghen ghét với người này nguời khác, thậm chí cả với người thân trong gia đình, như thế thì nào có khác gì con đả đảo Chúa? 
Ối! Lạy Chúa! Xin cho chúng con học và làm theo lời dạy của ĐTC Phan-xi-cô trong  bài giảng Chúa Nhật Lễ Lá ngày 20/3/2016: “Con đường của Thiên Chúa hành động rất khác với cách của chúng ta. Ngài tự hủy vì chúng ta, còn chúng ta lại thật khó để quên mình dù chỉ một chút. Ngài đến để cứu độ chúng ta, chúng ta được gọi để chọn đường lối của Ngài, con đường phục vụ, trao ban, quên mình. Chúng ta được mời gọi hãy đi con đường này bằng cách hướng mắt  về Thập giá, về “ngai vàng của Chúa”, để học biết tình yêu tự hạ để cứu độ và ban sự sống, học biết để chúng ta có thể từ bỏ những ích kỷ, từ bỏ thói tìm quyền lực và danh vọng. Khi tự hạ mình, Chúa Giê-su mời gọi chúng ta đi theo con đường của Chúa. Chúng ta hãy ngước nhìn lên Ngài, khấn xin ơn để học biết mầu nhiệm đau khổ mà Chúa Giê-su đã gánh lấy cho chúng ta. Và trong thinh lặng, chúng ta hãy chiêm ngưỡng mầu nhiệm này trong Tuần Thánh.” (nguồn: Vatican.net)
Ôi! “Lạy Chúa, con đường nào Chúa đã đi qua, con đường nào Ngài ra pháp trường, mão gai nào hẳn sâu trên trán. Lạy Chúa, Thánh Giá nào Ngài vác trên vai, đau thương nào phủ kín tâm tư, đường tình đó Ngài dành cho con. ĐK: Lạy Chúa, xin cho con bước đi theo Ngài, xin cho con cùng vác với Ngài, Thập Gía trên đường đời con đi. Lạy Chúa, xin cho con đóng đinh với Ngài, xin cho con cùng chết với Ngài, để được sống với Ngài vinh quang.” (TCCĐ “Con đường Chúa đã đi” của Văn Chi).
 

Lễlá-360: TẤT CẢ VÌ YÊU

Lm. Jos. DĐH.

Cha mẹ thương con biển hồ lai láng, cha là núi, mẹ là sông, công cha nghĩa mẹ, ơn thầy…, đó là Lễlá-360

Cha mẹ thương con biển hồ lai láng, cha là núi, mẹ là sông, công cha nghĩa mẹ, ơn thầy…, đó là những câu danh ngôn đã từng đụng chạm đến tâm tư của người biết yêu và được yêu. Những người làm con sẽ không bao giờ cảm thấy bất ngờ vì được ấp ủ nơi vòng tay người mẹ ; con cái thành đạt, có mấy ai còn chú ý tới lời người xưa: con hơn cha nhà có phúc. Sự nông cạn của con cháu về việc sống đạo hiếu, chúng dễ lầm tưởng là cứ cho tiền, cho quà, là chúng đã đền đáp ơn nghĩa sinh thành. Sự vô tình đáng tiếc của bậc làm cha mẹ là dám hy sinh chịu đựng gian khổ, để con được giầu sang phú quý, cho dù con cháu có hơi vô tình vô tâm.
Chính vì muốn con tim lên tiếng, người thanh niên thanh nữ vẫn biểu lộ bằng hành động: thương nhau cau sáu bổ ba ; thương nhau tam tứ núi cũng trèo. Không thể vô tình mà người Do-thái xưa kia đã lấy áo trải xuống đường, tay cầm nhành lá, miệng hoan hô Con Vua Đavít, tâm tư thì chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến. Chắc chắn Đức Giêsu không muốn người ta hoan hô Con Vua Đavít bằng môi miệng, hoặc chúc tụng Đấng đang ngự đến như một phong trào thiếu tính bền vững. Đám đông Do-thái hôm xưa và người Kitô hữu chúng ta hôm đều có cơ hội đạt tới hạnh phúc đời đời. Theo Đức Giêsu vào Giêrusalem, hay đi vào tuần thương khó với Đức Kitô, nhất định phải có lập trường vững chắc nơi Đức Giêsu là tình yêu, là Thầy là Đấng cứu độ trần gian.
Đau khổ rắc rối ở đời này, không phải là điều xa lạ, bị ghét bỏ, hiểu lầm, chúng ta đã từng đối diện, nhưng chết vì đau bệnh, chết vì tai nạn nghề nghiệp, chẳng ai gọi là chết anh hùng. Đức Giêsu không có tham vọng biến tất cả cái chết ở đời này thành cái chết anh hùng, nhưng là hãy theo Ngài để biết chết đi cho tội lỗi của mình để có sự sống đời đời. Đức Giêsu vào thành Giêrusalem là vì yêu, Ngài để dân chúng mộ mến tung hô, cũng vì yêu, dù Ngài ý thức sẽ không mua lấy hư danh như người đời: được tiếng khen, ho hen chẳng còn. Vì yêu, Đức Giêsu đến trần gian, vì yêu, Đức Giêsu ý thức sẽ vâng phục thánh ý Chúa Cha, vượt qua khổ đau thập giá để nên ơn cứu độ cho toàn thế giới.
Đau khổ về tinh thần hay thể xác đều đáng sợ, thông thường người ta vẫn xem đau khổ tinh thần sẽ “nhức nhối hơn”. Đức Giêsu cho chúng ta thấy Ngài phải đối diện với sự bội phản của môn đệ, bán Thầy, chối Thầy, tìm lối thoát thân. Nếu theo lý luận của người đời, Đức Giêsu đủ khôn ngoan để sa thải Giuđa ngay từ ban đầu. Đức Giêsu có thể dùng uy quyền hạ gục kẻ xấu, xuống khỏi thập giá, thiết lập vương quốc trần gian. Tất cả vì yêu không tính toán, trong bữa tiệc Vượt Qua, Đức Giêsu lập Bí Tích Thánh Thể, trao ban Mình Máu Ngài làm của ăn của uống cho các học trò.
Tại bữa ăn Vượt Qua, Đức Giêsu không oán phạt các học trò vì tội phản Thầy, qua đó, Ngài cho thấy bài học tha thứ vô cùng cao quý: không có đức tính nào vĩ đại hơn tình yêu không hận thù. Tại vườn Cây Dầu, Đức Giêsu đã cho các môn đệ cảm nhận Ngài cũng sợ đau khổ, sợ chết vì mang thân phận con người. Ngài đã cầu nguyện: “lạy Cha, nếu được, xin cho Con khỏi uống chén này, nhưng đừng theo ý Con muốn, một theo ý Cha”. Tại cuộc sống hôm nay, tình yêu vâng phục luôn là mời gọi cho tất cả những ai tin Đức Giêsu là Thầy là Chúa, hãy thông hiệp và sống mầu nhiệm tử nạn phục sinh với Đấng hằng yêu thương ta.
Người xưa có câu: tương tư chẳng ốm cũng sầu, con ruồi đậu mép chẳng đau cũng buồn. Tội nhỏ, tội to, cũng là hành vi đóng đinh Chúa ; tìm lối thoát thân vì sợ mất mạng sống, hay bỏ Thầy, chối Thầy, vì niềm tin Thầy là Chúa đã phai nhạt đều đáng chết. Đức Giêsu đau khổ vì đức tin hời hợt của đám đông Do-thái nay tung hô mai đả đảo, dù tình yêu của Ngài không dừng lại nơi dân chúng hôm đó. Đức Giêsu sẽ còn lấy Máu của Ngài để rửa sạch tội lỗi cho chúng ta, Ngài tiếp tục tha thứ quảng đại bao lâu ta còn do dự về tình yêu Chúa.
Lịch sự Việt Nam có nói đến một vị anh hùng dám khoác áo cẩm bào hy sinh mạng sống mình cứu minh chủ và nghĩa quân đang bị giặc Minh vây hãm. Tình yêu của Lê Lai năm xưa tại núi Chí Linh đã giải cứu được nghĩa quân Lam Sơn khỏi phải chết thê thảm. Vì yêu Đức Giêsu chịu đau khổ thập giá, chịu chết, không phải vì nghĩa lớn cho cuộc nổi dậy của một số môn đệ sau này như khởi nghĩa Lam Sơn. Tình yêu của Đức Giêsu là tình yêu vâng phục, tình yêu cứu độ mà con người không thể hiểu bằng ngôn ngữ lý luận. Tinh yêu của Chúa sẽ không chỉ dừng lại ở dân tộc Do-thái, ở khổ đau thập giá, hay ở nơi thất bại chết chóc. Tất cả vì yêu, Chúa Giêsu hướng muôn dân trên khắp địa cầu tự do tin nhận Ngài là Con Thiên Chúa, là Đấng cứu độ trần gian, hãy đến với Ngài để được sống đời đời. Amen.
 

Lễlá-361: CHÚA VÀO THÀNH GIÊRUSALEM

Lm Giuse Hoàng Kim Toan

Cuộc hành trình của Chúa Giêsu vào Giêrusalem lần cuối được đón tiếp long trọng. Dân chúng đứng Lễlá-361

Cuộc hành trình của Chúa Giêsu vào Giêrusalem lần cuối được đón tiếp long trọng. Dân chúng đứng vệ đường cầm những nhành lá tung hô con vua Đavit. Bản chất của những chiếc lá biểu lộ phồn vinh và hạnh phúc. Người đón Chúa có thể mang hai lòng mong đợi khác nhau: Một niềm mong đợi Chúa đến để mang lại sự phồn vinh, hạnh phúc về kinh tế, lập một vương quốc mới; phần khác niềm mong đợi như Chúa đã hứa: Giờ Con Người được tôn vinh, Giờ con người được kéo lên cùng Chúa.
Mong đợi theo suy nghĩ của con người.
Bước cùng theo Chúa trên con đường lên Giêrusalem, nơi mà người Do Thái nghĩ rằng gần Thiên Chúa nhất, nơi kỷ niệm ngày Chúa đưa dân ra khỏi đất Ai Cập. Hôm nay người Kitô hữu cũng đi theo con đường lên dốc này. Con đường lên đến gần Thiên Chúa dường như vượt sức của con người. Xưa kia Adam – Eva cũng muốn bằng Thiên Chúa, lên tới Thiên Chúa, nhưng con đường lựa chọn của Adam đã bị Satan lôi theo hướng đi của chúng và mọi ước mơ bị đổ bể.
Con người ngày nay cũng bị lôi kéo như thế, họ muốn bằng Thiên Chúa, làm ra những kiệt tác sáng tạo, có thể bay xa, tiếng nói đi cùng trời cuối bể… Song song những thành tựu đó lại cũng có những vũ khí hạt nhân, vũ khí hóa học, vũ khí vi trùng, ít hơn nữa những công nghệ vi phạm đến sự sống con người… Con người muốn độc lập với Thiên Chúa, tự mình quyết định cho vận mệnh.
Con người như kéo Thiên Chúa về phe mình hoặc tìm cách loại trừ Ngài để tự do làm điều dữ, lực cuốn hút này cũng mạnh như đã thấy đám đông hét to lên: “Đóng đinh nó vào thập giá!”
Một nền văn hóa loại trừ, rác thải đang là vấn đề của con người thời nay. Bất cứ điều gì và ngay cả con người cũng có thể coi như cặn bã, rác thải, cần loại bỏ, hơn là chữa trị, tái sử dụng..
Sự phồn vinh và hạnh phúc giả tạo của con người xây dựng trên những thân phận của những người nghèo, những người thấp cổ bé họng, Phúc Âm nhắc đến họ là những con người phận nhỏ. Con đường lên Giêrusalem của Chúa, bị gài đặt những âm mưu sát hại. Người cầm quyền đưa ra một thứ bánh vẽ: “thà một người bị chết còn hơn toàn dân bị giết” (Ga 11, 50). Câu nói này ám chỉ đến Chúa Giêsu như một người nổi loạn, vì thế cần loại trừ, tống giam, để chính thượng tế, kinh sư, kỳ lão trong dân  khỏi rơi vào tay trừng trị của Đế quốc Roma. Chúng ta cũng thấy những tình cảnh tương tự như thế trong những sự kiện như Formosa, dân oan, bán đứng người dân để đổi lấy lợi ích cá nhân.… Số phận của những con người vô tội bị sát hại cho lòng tham, sự ích kỷ, lợi ích cá nhân của một số người.
Cần có một lực kéo con người lên.
Thập giá, Con Người vô tội bị treo trên đó, nhưng cũng là Con Người giang hai tay ôm rộng mọi người để kéo lên khỏi những lực hút của sự dữ.
Nơi Chúa Giê su, sự vâng phục của Ngài, tỏ bày một Thiên Chúa xuống tận cùng của kiếp nhân sinh để kéo con người lên: “Sự thật, chính người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta… Chính người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm; người đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành” (Is 53, 4-5).
Con người cần loại bỏ nơi mình tính kiêu căng và học bài học khiêm nhường nơi chính Chúa, mới có thể xây dựng hòa bình, bình an đích thật trên trái đất. Hãy đặt tay mình vào bàn tay Chúa, Chúa kéo con người lên, cho đôi tay tinh tuyền, cho trái tim rộng mở, đặt con người vào đúng hướng khi phát triển khả năng của mình, để phục vụ sự sống.
Khi tung hô “ Hoan hô con Vua Đavit ! Chúc tụng Đấng nhân Danh Chúa ngự đến!”, câu tung hô đó cần khởi sự với tất cả lòng yêu mến Chúa, nhận ra việc Chúa đến giải thoát con người ra khỏi chốn tội lỗi, những sự xấu của con người. Từ cõi lòng yêu mến Chúa, để tuân giữ các giới răn, nghe Lời Chúa đem ra thực hành, một khao khát không nguôi tìm kiếm Thiên Chúa, nguồn hạnh phúc duy nhất cuộc đời mình. Tiếng tung hô đó, sẽ rung động các tầng trời từ một rung động nhỏ bé của một trái tìm, yêu mến Chúa và tha nhân, hết lòng hết sức, hết cả trí khôn.
Nào ta cùng lên núi Chúa, như một niềm hân han cùng Chúa vào thành, với tâm tình Thánh vịnh 24:  “Ai được lên núi Chúa? Ai được ở trong đền thánh của Người? Đó là kẻ tay sạch lòng thanh, chẳng mê theo ngẫu tượng, không thề gian thề dối. Người ấy sẽ được Chúa ban phúc lành, được Thiên Chúa cứu độ thưởng công xứng đáng. Đây chính là dòng dõi những kẻ kiếm tìm Người, tìm thánh nhan Thiên Chúa nhà Gia-cóp. Hỡi cửa đền, hãy cất cao lên, cao lên nữa, hỡi cửa đền cổ kính, để Đức Vua  vinh hiển ngự vào.  Đức Vua vinh hiển đó là ai? Là Đức Chúa mạnh mẽ oai hùng Đức Chúa oai hùng khi xuất trận.” (Tv 24, 3 – 8).
Vào thành cùng Chúa, xin cho chúng con giữ vững niềm tin cây, yêu mến, để có tay sạch, lòng thanh, theo Chúa lên đỉnh đồi Calvê, được đổi mới trong Người.
 

Lễlá-362: CÙNG CHẾT VỚI ĐỨC KITÔ ĐỂ CÙNG SỐNG LẠI VỚI NGƯỜI

Lm. Giuse Nguyễn

40 thanh niên Công giáo người Ấn Độ đã khởi hành chuyến hành hương đi đàng Thánh Giá với Lễlá-362

40 thanh niên Công giáo người Ấn Độ đã khởi hành chuyến hành hương đi đàng Thánh Giá với quãng đường dài 400 km từ hôm 01/04/2017 và đã kết thúc vào ngày 04/04/2017 vừa qua. Đây không chỉ là một cuộc thử thách sức lực thể chất mà thôi, mục tiêu chính cuả cuộc “hành hương” là “Đổi mới tinh thần và chia sẻ tin mừng của Chúa Kitô”.
Chúng ta vừa nghe bài thương khó của Đức Giêsu Kitô theo trình thuật của thánh Matthêu. Tuy không kéo dài đến 4 ngày với quãng đường 400 km, mà chỉ đứng yên một chỗ trong một khoảng thời gian chưa đầy nửa giờ, nhưng đối với chúng ta cũng là một thử thách, một chuyến hành hương.
Sau khi nghe cuộc thương khó của Đức Giêsu, chúng ta cũng hãy đặt ra mục tiêu cho mình là “Đổi mới tinh thần và chia sẻ Tin mừng của Chúa Kitô”. Để có thể làm được điều đó, chúng ta phải cùng chết với Đức Kitô để được cùng sống lại với Ngài. Sự sống lại chính là việc đổi mới cuộc đời chúng ta, và khi được đổi mới, chắc chắn chúng ta sẽ vui mừng để chia sẻ với người khác về niềm vui đó.
Hãy đặt mình vào vị trí của một vài nhân vật trong cuộc thương khó Đức Giêsu, xem họ đã “sống – chết” với Ngài như thế nào để chúng ta có được một vài tâm tình làm động lực “đổi mới tinh thần và chia sẻ tin mừng của Chúa Kitô”.
  1.   NHỮNG NGƯỜI LIÊN QUAN ĐẾN CUỘC THƯƠNG KHÓ CỦA ĐỨC GIÊSU
Theo tường thuật của Tin mừng, có nhiều người liên quan đến cuộc thương khó của Đức Giêsu, trong số đó phải kể đến một số Luật sĩ, Biệt phái, Pharisêu và các Thượng tế là những người đã có âm mưu tiêu diệt Đức Giêsu vì tầm ảnh hưởng của Ngài. Cộng tác với họ, đứng về “phe cánh tả” còn có vua Hêrôđê, tổng trấn Philatô, quân lính, và nhất là Giuđa Iscariô, một trong 12 Tông đồ của Ngài. Đứng về “phe cánh hữu”, những người có mặt trong cuộc thương khó của Đức Giêsu để than khóc, tiếp giúp hoặc ít ra là không muốn Ngài phải bị như vậy là các Tông đồ, ông Simon vác đỡ thánh giá Chúa, bà Vêrônica, những phụ nữ đạo đức, và nhất là Đức Maria. Những người “trung dung”, nghĩa là những người bàng quan, đứng bên ngoài để nhìn hoặc hùa theo đám đông cũng hiện diện trong cuộc thương khó này. Đó là dân chúng và hai tên gian phi.
  1.   HAI KHUÔN MẶT ĐỂ SUY GẪM TRONG NĂM GIA ĐÌNH 2017
Những nhân vật kể trên ít nhiều cũng đã liên quan hoặc nhìn thấy cuộc khổ nạn của Đức Giêsu. Trong năm Gia đình 2017 với chủ để chuẩn bị cho người trẻ bước vào đời sống hôn nhân, chúng ta hãy cùng nhau khám phá 2 khuôn mặt với 2 tính cách có liên quan đến đời sống nói chung và gia đình kitô hữu nói riêng.
Giuđa Iscariô
Để diễn tả tính cách của Giuđa, trong tác phẩm “từ trên Thánh Giá nhìn xuống” được Linh mục Carôlô Hồ Bặc Xái dịch từ tiếng Việt đã viết: “Giuđa là một con người nhiều tham vọng, muốn có một địa vị cao. Anh rất hồ hởi khi thấy Chúa Giêsu làm phép lạ nên đã đi theo Người. Có lẽ anh tự nhủ: “Với quyền làm phép lạ như vậy, chắc  hẳn Đức Giêsu sẽ kéo hết mọi người về với Người. Dân chúng sẽ tôn Người làm vua. Người sẽ đánh đuổi quân Rôma xâm lược. Còn mình là một trong số những kẻ thân tín của Người. Nếu mình chu toàn trách nhiệm quản lý cho Người thì mình sẽ còn được đặt làm Bộ Truởng Tài chính. Rồi mình sẽ giàu sang, quyền thế. Ôi sung sướng biết bao!” Tắt một lời, Giuđa là một con người ham mê tiền bạc và danh vọng, ông theo Đức Giêsu cũng chỉ vì mục đích đó. Cuộc thương khó của Đức Giêsu cũng là hậu quả những toan tính của Giuđa để ông có đạt được mục đích của mình.
Ham mê tiền bạc và danh vọng, làm mọi cách để có những điều đó cũng chính là một trong những nguyên nhân làm cho gia đình không hạnh phúc. Hơn thế nữa, cũng chính tiền bạc, giàu sang, quyền lực đã che mờ đi hạnh phúc đời sau, và vì thế họ không còn nổ lực sống đạo nữa.
Mađalêna
Cũng trong tác phẩm “từ trên Thánh Giá nhìn xuống” con người của Mađalêna được diễn tả một cách ngắn gọn: “Trong thành Mađalêna, người ta không khen ngợi cô, trái lại còn nói xấu cô vì cô sống buông thả, tội lỗi, lại còn lôi kéo nhiều người đàn ông vào đường tội lỗi”. Nói thế cũng đủ biết Mađalêna là người như thế nào.
Cũng chính lối sống tội lỗi, buông thả, đắm mình trong những đam mê dục vọng đã làm đổ vỡ biết bao gia đình.
  1.   CÙNG CHẾT VỚI ĐỨC KITÔ ĐỂ CÙNG SỐNG LẠI VỚI NGÀI
Hình ảnh của Giuđa và Madalena hoàn toàn trái ngược nhau. Giuđa có một quá khứ tốt với nét nổi bật nhất là Tông Đồ của Đức Giêsu, nhưng kết cục cuộc đời ông là một cái chết thê thảm vì ông đã không đạt được mục đích của mình. Giuđa đã không cùng chết với Chúa nên ông đã chết mãi mãi
Ngược lại Madalena có một quá khứ không tốt đẹp, nhưng nhờ nhận ra một tình yêu chân thật, nhận ra Đức Giêsu là Đấng được sai đến để thực hiện tình yêu đó, nên cô đã dấn thân theo Ngài và đã được sự sống mới. Madalena đã cùng chết với Chúa qua việc chôn lấp những tội lỗi của mình nên cô đã được sống lại với Ngài trong đời sống mới.
Bước vào Tuần Thánh, một lần nữa mỗi người chúng ta hãy xét lại những điều làm ảnh hưởng đến đời sống đức tin, nhất là đời sống gia đình từ hình ảnh của Giuđa và Madalena.
Có khi nào tôi bất chấp tất cả, kể cả những điều sai trái, tội lỗi để có tiền bạc, chức vụ và những điều thuận lợi trong cuộc sống không? Có khi nào vì lo kiếm tiền, vì công danh sự nghiệp mà tôi quên gia đình nhỏ bé của tôi không? Có khi nào vì gia đình nghèo khổ mà tôi đã đành đoạn từ bỏ người bạn đời và những đứa con để ra đi tìm kiếm hạnh phúc khác không?…
“Phải chăng đôi khi tôi cũng có phần nào giống như Madalena buông mình tìm kiếm thú vui nhục dục: nói chuyện tục tĩu, xem sách báo phim ảnh khiêu dâm làm những việc ô uế…?” Có khi nào vì ham mê nhục dục thể xác mà tôi đã không tôn trọng người bạn, người yêu của tôi không?…
Giuđa đã không nhìn thấy cái sai của mình, mà chỉ bất mãn vì mình không đạt được mục đích. Madalena đã biết mình sai nên hối hận và sửa đổi cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều có những sai lỗi. Hãy tận dụng những ngày trong Tuần Thánh này để ăn năn sám hối và mau chóng đến với tòa giải tội xưng thú lỗi lầm để được ơn tha tội.
Khi chúng ta nhận ra tội lỗi của mình, chúng ta quyết tâm chừa bỏ là lúc chúng ta đang chết với Đức Kitô. Khi Đức Kitô sống lại, Ngài cũng ban cho tôi sự sống mới, thể hiện qua việc tôi được sống trong ân nghĩa của Chúa, và làm những việc lành phúc đức để bù đắp lại những tháng ngày bội nghĩa vong ân.
“Lạy Chúa, xin cho con bước đi với Ngài, xin cho con cùng vác với Ngài thập giá trên đường đời con đi. Lạy Chúa, xin cho con đóng đinh với Ngài, xin cho con cùng chết với Ngài, để được sống với Ngài vinh quang.”
 

Lễlá-363: CÁI ÁC LÊN NGÔI VÀ GIẢI PHÁP CỦA THIÊN CHÚA

Lm. Giuse Đỗ Đức Trí, GP. Xuân Lộc

Một trong các vần đề mà các nhà xã hội quan tâm, đó là tình trạng gia tăng của cái ác trong xã Lễlá-363

Một trong các vần đề mà các nhà xã hội quan tâm, đó là tình trạng gia tăng của cái ác trong xã hội. Trên mặt báo dường như ngày nào cũng có những bản tin giết chóc, trả thù độc ác, xử lý băng đảng. Cái ác không chỉ xảy ra giữa các băng đảng trả thù lẫn nhau, mà nó còn xảy ra giữa những người thân thiết nhau, và xảy ra cả ở những nơi công quyền nữa. Cái điều đáng lo hơn là vì dường như những bản tin như thế quá thường xuyên đến độ nó trở thành như những sự kiện bình thường trong xã hội, khiến xã hội lúc đầu còn thấy như là một chấn động mỗi khi có giết chóc xảy ra và dần đi đến chỗ chấp nhận nó và không quan tâm đến nó nữa. Vì đã trở nên quen thuộc nên người dân mất đi phản ứng về sự ác và chán nản không muốn và không dám bênh vực cho sư thật, sự thiện nữa.
Trong vụ án của Chúa Giêsu cách đây hơn hai ngàn năm, chúng ta cũng thấy được cái ác dường như được đẩy lên đến đỉnh cao và dường như đã thắng thế. Theo dõi bản án mà chúng ta vừa nghe trong Bài Thương Khó, động lực sâu xa thúc đẩy những người Do Thái âm mưu thực hiện bản án này, đó là sự tự tôn, thù hằn, ghen tỵ. Vì tự tôn cho mình là nhất, cho mình là những người thánh thiện, nên những luật sĩ và biệt phái đã nhân danh sự thánh thiện của bản thân và họ còn nhân danh cả Thiên Chúa để gieo đau khổ và chết chóc xuống cho người vô tội. Vì sự thù hằn ghen tỵ vì thấy ông Giêsu này được nhiều người ủng hộ vì rao giảng một lối sống khác với lối sống của mình, nên những thượng tế và luật sĩ đã không chấp nhận và muốn loại trừ Người. Sự thù hằn khởi đầu từ một nhóm rất nhỏ, và nó được thổi bùng lên vào dịp lễ Vượt Qua năm đó, khi các luật sĩ và biệt phái đã kích động được cả một đám đông mù quáng và cuồng nhiệt để gây áp lực đưa đến sự hành hạ và cái chết cho Đức Giêsu. Không chỉ như thế, cái ác nó còn được bọc bên ngoài bằng một sự thánh thiện khi những người Do Thái này nghĩ rằng họ gieo đau khổ chết chóc cho ông Giêsu là họ đang bảo vệ giới răn lề luật của Thiên Chúa và bảo vệ truyền thống của cha ông. Vì thế họ đã mưu mô mượn tay người Rôma để thực hiện mưu đồ gian ác của mình, mà chúng ta có thể thấy sự tráo trở lật lọng của những người chủ mưu trong chuyện này.
Khởi đầu, họ đã dàn dựng nên một vụ bắt bớ tưởng chừng như là đơn thuần, nhưng sau đó họ đã nhanh chóng bộc lộ ác tâm và mưu đồ của mình khi đưa Đức Giêsu đến dinh thày thượng tế, để ở đây, bằng một phiên tòa bỏ túi mang tính các nội bộ tôn giáo xảy ra ngay trong đêm, họ đã đưa ra bản án rằng : Nó phải chết. Việc tổ chức một phiên tòa chóng vánh trong đêm khuya như thế đã đủ để cho thấy những con người này đang bị chi phối bởi quyền lực của bóng tối là ma quỷ. Từ đây cái ác cứ gia tăng khi họ rắp tâm thực hiện mưu đồ loại trừ Chúa Giêsu, và để chứng minh sự vô tội của mình, thì những người Do Thái mà chủ mưu là các tư tế và luật sĩ, biệt phái đã mượn tay của người Roma để thực hiện mưu đồ này. Họ đã chuyển Chúa Chúa Giêsu đến cho Philatô, biến những tranh luận mang tính tôn giáo thành bản án chính trị. Từ nơi dinh Philatô sự ác được gia tăng đến cực độ bằng những trận mưa roi đòn, hành hạ, nhục mạ.
Cũng ở sân dinh Philatô người Do Thái công khai khẳng định mình đứng về phía thế gian, bắt tay với cái ác, khi tuyên bố: Chúng tôi không có một vua nào khác ngoài Cêsa. Một khi con người đã bắt tay với sự ác, đồng lõa với ma quỷ thì sẽ hoàn toàn bị sự chi phối của nó. Những người Do Thái đã không chấp nhận một giải pháp dung hòa hay sự nhân đạo theo đề nghị của Philatô : Cho đánh đòn rồi tha, nhưng trái lại họ gào thét như điên khùng : Đóng đinh nó vào thập giá. Với đòi hỏi này mục tiêu của ác tâm của những người do Thái đã được thực hiện. Philatô đã trao Đức Giêsu cho họ đem đi đóng đinh theo ý của họ.
Suy niệm một vài nét trong cuộc thương khó của Chúa Giêsu như thế, đôi khi trong chúng ta cũng cảm thấy bức xức trước cách hành xử của người Do Thái và của cả quan Philatô là cơ quan công quyền có trách nhiệm bênh vực công lý vì họ đã không làm gì trước những bất công. Theo thói đời, người ta thường dùng sự ác để đối lại với cái ác, dùng bạo lực để đương đầu với bạo lực, thế nhưng đó lại không phải là cách phản ửng của Thiên Chúa. Nhiều khi chúng ta cứ cảm thấy băn khoăn khó hiểu và đặt câu hỏi tại sao Thiên Chúa lại cứ im lặng trước cái ác, cụ thể là tại sao Thiên Chúa không có phản ứng gì mạnh mẽ trước cái bất công mà Con của Ngài đang phải chịu? Thiên Chúa dường như tỏ ra lép vế trước cái ác chăng ?
 Đó là suy nghĩ theo kiểu của con người, còn Thiên Chúa lại có cách hành xử và phản ứng hoàn toàn khác. Thiên Chúa không dùng bạo lực để đối lại bạo lực, vì như thế chỉ làm cho bạo lực càng gia tăng. Nhưng Thiên Chúa đã dùng tình yêu để đương đầu với bạo lực, dùng sự tha thứ để đối lại với bất công, dùng sư kiên nhẫn để đối lại với mưu mô của ma quỷ và sự ác, và dùng đau khổ để biến thành vinh quang, dùng cái chết của Đức Giêsu để biến thành sự sống mới, dùng sự thất bại của thập giá để biến nó trở nên cờ hiệu chiến thắng. Đó chính là câu trả lời của Thiên Chúa cho những băn khoăn thắc mắc của con người về vấn đề đau khổ và sự ác.
Đức Giêsu, một vị Thiên Chúa quyền năng sáng tạo mọi loài mọi vật đã thực hiện theo con đường đó. Ngay từ đầu, khi mà sự ác, hận thù đang tràn ngập trên cuộc sống của con người, thì chính Đức Giêsu đã chấp nhận mang lấy thân xác con người để có thể “cảm nghiệm” đến tột cùng thân phận con người. Tiên tri Isai đã mô tả điều này qua hình ảnh của một người Tôi Tớ của Thiên Chúa, một con người và cũng là một người con, hoàn toàn yêu mến Thiên Chúa và vâng phục Thiên Chúa như đầy tớ vâng lời ông chủ, và sẵn sàng làm tất cả những gì mà ông chủ muốn, đồng thời chấp nhận tất cả những roi đòn, sự nhục mạ tủi hổ mà người khác gây ra cho mình, vì có Thiên Chúa là sức mạnh và là nguồn trợ lực.
Cũng trong cái nhìn đó, thánh Phaolô còn đi xa hơn khi nhìn thấy sự khôn ngoan kỳ diệu và quyền năng của Thiên Chúa đã thực hiện qua Chúa Giêsu và cuộc khổ hình của Người : Ngài vốn dĩ là Thiên Chúa, nhưng không nghĩ phải đòi cho được địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ….Ngài còn vâng lời cho đến nỗi chấp nhận chịu chết, chết trên cây thập giá. Chính vì thế Thiên Chúa đã siêu tôn Người, ban cho Người một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu. Đó là cách Thiên Chúa vốn thực hiện không chỉ cho Đức Giêsu mà còn cho tất cả những ai dám nên giống như Đức Giêsu, và những ai bước theo con đường của Đức Giêsu.
Thưa quý OBACE, đối diện với đau khổ, sự ác ngày nay, chúng ta cũng rất dễ bị cám dỗ để sử dụng các biện pháp của con người, chúng ta muốn có một giải pháp ngay tức khắc, mà khi theo đuổi giải pháp này chúng ta lại gây thêm oán thù và làm gia tăng sự ác. Dĩ nhiên chúng ta không thể làm ngơ trước sự xấu và sự ác, càng không bao giờ được tán đồng, cũng không bắt tay, và kể cả không thể im lặng trước sự tội và sự ác. Vì khi chúng ta im lặng hoặc làm ngơ trước sự xấu và sự ác là chúng ta đồng lõa với nó. Như vậy vấn đề ở chỗ là chúng ta phải có phản ứng và cách hành xử như thế nào trước sự xấu và sự ác ?
Sự xấu và sự ác ngày hôm nay đang diễn ra dưới rất nhiều hình thức, nhiều cấp độ, từ trong tâm hồn và hành động của mỗi người, đến những hành động và cách sống trong gia đình. Các bậc làm cha mẹ hãy mạnh dạn để từ chối sự dữ và sự ác trong gia đình, đừng bao giờ dùng bạo lực hay nhục mạ nhau để giải quyết những căng thẳng trong gia đình và xóm ngõ, đừng bao giờ tán đồng với sự sai trái của con cái, và đừng bao giờ làm ngơ trước sự làm ăn gian dối hay cư xử bất công của những người thân trong gia đình. Hãy lấy tình yêu thương của Chúa, sự nhẫn nại để khuyên bảo, điều chỉnh cho nhau, và hãy dùng tình yêu thương để biến đổi, hãy cư xử quảng đại và tha thứ cho nhau, vì chỉ có tha thứ mới có thể chữa lành những vết thương do hận thù, chỉ có sự quảng đại mới thắng vượt được sự nhỏ nhen ích kỷ. Hãy gieo thật nhiều những hạt mầm yêu thương, công bằng và sự thật trong gia đình, trong công ty xí nghiệp, chúng ta sẽ gặt được yêu thương.
Cũng thế, đối với các bạn trẻ và những người làm con, hãy học nơi Chúa Giêsu sự hiền hòa và khiêm nhường, hãy dùng tình bác ái Kitô giáo để cư xử với nhau. Đừng bao giờ cộng tác với sự xấu, sự dữ dưới bất cứ hình thức nào ; hãy cùng nhau để xua trừ sự dữ sự ác trong xã hội, đừng bao giờ ấp ủ trong mình sự nóng nảy, tự ái, giận hờn, vì cả giận thì mất khôn, trái lại chúng ta hãy nuôi dưỡng và làm cho trái tim của mình được lớn lên, cho đôi vòng tay được mở rộng để có thể yêu thương mà không giới hạn, đón nhận sự khác biệt và tha thứ cho sự xúc phạm. Thực hiện như thế không biến chúng ta thành nhu nhược, nhưng làm cho chúng ta lớn lên và mạnh mẽ hơn.
Mỗi người Công Giáo cùng sống và thực hiện như thế, là chúng ta đang cùng với Đức Kitô để đẩy lui sự dữ và sự ác và cả sự chết ra khỏi thế giới và làm cho Tin Mừng của Đức Kitô được nảy mầm khắp nơi. Amen.
 

Lễlá-364: ĐAU KHỔ – VINH QUANG

Lm. Jos.DĐH, GP. Xuân Lộc

Với đôi mắt bình thường, người ta có thể nhìn thấy “dấu thập”, nhìn thấy “dấu cộng” ở xung Lễlá-364

Với đôi mắt bình thường, người ta có thể nhìn thấy “dấu thập”, nhìn thấy “dấu cộng” ở xung quanh chúng ta cách dễ dàng. Bằng cảm nhận “tình yêu”, người ta không còn thấy điều xấu, và “tâm” đã yêu ở đâu chúng ta cũng thấy người tốt, người đáng yêu. Theo quan niệm của xã hội, nếu thất bại, không gặp may, bị tai nạn gọi là khổ đau…. Phật giáo cho rằng : đời là bể khổ, nghĩa là bao lâu còn ở trần gian là còn đau khổ, dù bạn thành công, nhiều tiền của, địa vị, sức khỏe….
Bước vào Tuần Thánh, phụng vụ mời gọi người tín hữu theo Chúa Giêsu tiến vào Giêrusalem ăn mừng lễ Vượt Qua, cũng là hứa hẹn cùng chúng ta ăn lễ Vượt Qua trên Thiên Quốc. Chúa Giêsu đi trước, đông đảo môn đệ, người già người trẻ đang từ từ bước theo….., mỗi người đều hiểu thập giá không đơn thuần là “dấu cộng” hay “dấu thập” nữa; chính xác Chúa Giêsu đã biến đổi “thập giá” khổ đau ấy thành “Thánh Giá”. Chúa Giêsu không hứa hẹn đi theo Chúa sẽ không còn đối diện với khổ đau, mà Chúa nói : “ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình vác thập giá mình hàng ngày mà theo Ta”.
Vấn nạn được đặt ra, tại sao cuộc đời này đầy “mầu xám” khổ đau như vậy ? đau khổ từ đâu mà có ? Chúa Giêsu đến trần gian, sao Ngài không tiêu diệt đau khổ chết chóc ? câu trả lời là có chứ ! Chúa Giêsu không chiến đấu bằng “binh lực”, Chúa diệt trừ đau khổ sự chết bằng tình yêu vâng phục. Đức Phật lúc sinh thời cũng dạy các học trò : “lấy oán đền oán, oán còn mãi; lấy oán đền ơn, oán tiêu tan”. Chúa Giêsu không chủ trương một Vương Quốc đau khổ, không đề cao sự ác độc vô tâm, mà với lòng nhân từ bao dung, Chúa đã “yêu đến cùng” để cứu nhân loại khỏi phải hư mất.
Cuộc thương khó của Chúa Giêsu lần lượt lý giải “Thiên Chúa là tình yêu”. Ngài không ra tay tiêu diệt người học trò Giuđa phản bội; không xóa sổ nhóm 12 nhút nhát yếu đuối bỏ Thầy để thoát thân. Chúa không dùng quyền phép quật ngã đám lý hình tàn bạo, không lật tẩy những kẻ âm mưu “ném đá dấu tay”. Chúa qui tụ nhóm 12 để dâng “Mình” làm của lễ Vượt Qua nuôi người dương thế; cùng với những lời giáo huấn về bác ái trước và trong bữa ăn, các môn đệ hiểu rõ hơn quyền bính là để phục vụ, lấy tâm lấy đức xây dựng niềm tin cho muôn nước muôn dân.
Đau khổ về vật chất hay đau khổ về tinh thần đều đau cả, mà thông thường người ta vẫn cho rằng đau đớn về tinh thần vẫn khủng khiếp hơn. Giới lãnh đạo, đám đông dân chúng từ chối tình yêu của Chúa Giêsu, các môn đệ tản mác mỗi người một phương, chúng ta tưởng chừng Chúa quá cô đơn….nhưng Chúa đã cho nhân loại thấy như thế nào là “tình yêu mạnh hơn sự chết” ! Đau đớn tột cùng, chính là yêu đến cùng của Con Thiên Chúa làm người mà không ai có thể cân đo đong đếm, nếu người ấy không có đủ tình yêu để cảm nhận.
Người Kitô hữu chúng ta gọi đau khổ là mầu nhiệm, Chúa Giêsu rực rỡ ánh quang sau khi đã trút hơi thở, kết thúc phận người như “tử tội” treo trên cây thập giá. Viên sĩ quan cùng với một số lính canh làm nhiệm vụ đứng gần thập giá, họ không thể nói khác được : “đúng người này là Con Thiên Chúa”. Các phụ nữ, một số các môn đệ từ từ khám phá thế nào là “mầu nhiệm tình yêu”. Đau khổ và vinh quang không xa nhau, nhưng thật đáng sợ nếu người Kitô hữu chúng ta thiếu ơn Chúa, thiếu tình yêu của Đấng Phục Sinh, không một ai có thể đạt đến hạnh phúc đời đời mà Chúa hứa ban.
Đau khổ hôm nay và hạnh phúc mai sau là một, mến Chúa yêu người không là hai nữa mà là một, bởi mỗi chúng ta đều mang hình ảnh Chúa. Vinh quang trần thế, hạnh phúc trần thế thật xa lạ với đau khổ thập giá và vinh quang thiên quốc. Người Tín hữu sẽ nghĩ gì và hiểu như thế nào, nếu không thể hiện niềm tin vào Đức Kitô, Đấng vừa mang hình ảnh con người, hình ảnh Thiên Chúa. Con đường theo Chúa là con đường lên Giêrusalem Thiên Quốc, con đường chật hẹp, khổ đau mới là con đường được dẫn đến hạnh phúc thật. Xin Chúa Giêsu tiếp tục ban ơn để mỗi người kitô hữu chúng ta biết hiệp thông với tuần thương khó của Chúa cách xứng đáng và trọn vẹn.
 

Lễlá-365: GIÁ TRỊ CỦA ĐAU KHỔ

Trầm Thiên Thu

Cũng như tình yêu, có lẽ chẳng ai định nghĩa được “đau khổ là gì” một cách chính xác và thỏa Lễlá-365

Cũng như tình yêu, có lẽ chẳng ai định nghĩa được “đau khổ là gì” một cách chính xác và thỏa mãn nhất, vì đau khổ đa dạng lắm. Thiết tưởng có thể hiểu đơn giản theo phương trình: Đau khổ = Ưu sầu + Nước mắt. Tất nhiên phải “trừ” loại nước mắt vui mừng, dù hai loại nước mắt đều có vị mặn. Người ta dễ dàng lấy vạt áo lau khô những “giọt mặn” rỉ ra từ đôi mắt, nhưng rất khó xóa “vết mặn” khỏi trái tim mình. Thật vậy, sướng hay khổ còn do mỗi người có khái niệm riêng. Có những triết lý dễ hiểu, có những triết lý khó hiểu, thậm chí là không thể hiểu: Triết lý Thập Giá. Đó cũng là loại triết lý của sự đau khổ.
Chẳng ai thích đau khổ, nhưng đau khổ vẫn luôn có giá trị tích cực mà chúng ta phải cố gắng hiểu suốt cả đời. Đại văn hào Victor Hugo nhận xét: “Đau khổ cũng như hoa quả. Chúa không khiến nó mọc lên trên những cành quá yếu ớt để chịu nổi nó”. Còn Elbert Hubbard nói: “Nếu bạn đau khổ, hãy cảm ơn trời! Vì đó là dấu hiệu chắc chắn cho thấy bạn đang sống”. Chính đau khổ lại khiến người ta nên khôn, lạ thật!
Những con người đẹp nhất là những người từng bị đánh bại, từng đau khổ, từng tranh đấu, từng mất mát, và họ đã tìm được con đường ra khỏi vực sâu. Những con người này có lòng cảm kích, sự nhạy cảm và thấu hiểu đối với cuộc đời, chính cuộc đời đã làm họ tràn đầy sự cảm thông, sự dịu dàng và quan tâm yêu thương sâu sắc. Như vậy, “người đẹp” không thể tự nhiên mà có.
Triết lý đau khổ thật kỳ diệu. Hung tin dồn dập, nhưng ông Gióp vẫn bình tĩnh. Ông trỗi dậy, xé áo mình ra, cạo đầu, sấp mình xuống đất, sụp lạy và cầu nguyện: “Thân trần truồng sinh từ lòng mẹ, con sẽ trở về đó cũng trần truồng. Đức Chúa đã ban cho, Đức Chúa lại lấy đi: xin chúc tụng danh Đức Chúa!” (G 1:21). Dù đau khổ cùng cực, nhưng “ông Gióp không hề phạm tội cũng không buông lời trách móc phạm đến Thiên Chúa” (G 1:22). Hiểu được như vậy thì cuộc đời sẽ thanh thản.
Người đời có câu: “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt, còn hơn le lói suốt trăm năm”. Đó là cách “tự an ủi” của người đời. Nhưng chúng ta cũng có thể hiểu theo góc độ nào đó về Chúa-Giêsu-làm-người. Cuộc đời Ngài đầy đau khổ ê chề, thế nhưng Ngài vẫn có được khoảnh khắc huy hoàng là được thiên hạ tung hô lúc Ngài cưỡi trên lưng lừa khi vào Thành Giêrusalem.
Phụng vụ Lời Chúa hôm nay được Giáo hội sử dụng là bài ca thứ ba trong các “Bài Ca Của Người Tôi Trung”, ngắn gọn mà ý nghĩa: “Đức Chúa là Chúa Thượng đã cho tôi nói năng như một người môn đệ, để tôi biết lựa lời nâng đỡ ai rã rời kiệt sức. Sáng sáng Người đánh thức, Người đánh thức tôi để tôi lắng tai nghe như một người môn đệ. Đức Chúa là Chúa Thượng đã mở tai tôi, còn tôi, tôi không cưỡng lại, cũng chẳng tháo lui” (Is 50:4-5). Thật là không dễ mà vẫn giữ lòng trung tín ngay trong lúc đau khổ như vậy!
Đau khổ không làm người ta yếu đuối mà lại như loại “nước tăng lực” làm tăng sức chịu đựng: “Tôi đã đưa lưng cho người ta đánh đòn, giơ má cho người ta giật râu. Tôi đã không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ. Có Đức Chúa là Chúa Thượng phù trợ tôi, vì thế, tôi đã không hổ thẹn, vì thế, tôi trơ mặt ra như đá. Tôi biết mình sẽ không phải thẹn thùng” (Is 50:6-7). Thật là kỳ diệu, những người không có niềm tin Kitô giáo chắc chắn không thể hiểu được, và sẽ cho những người chịu đau khổ là những người điên khùng.
Tác giả Thánh Vịnh than thở: “Thân sâu bọ chứ người đâu phải, con bị đời mắng chửi dể duôi, thấy con ai cũng chê cười, lắc đầu bĩu mỏ buông lời mỉa mai: “Nó cậy Chúa, mặc Người cứu nó! Người có thương, giải gỡ đi nào!” (Tv 22:7-9). Thách thứ quá lớn, khoảng cô đơn quá rộng, nỗi nhục nhã ê chề!
Đúng là “phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí”. Không khác quy luật muôn thuở, giống như định mệnh vậy. Đau khổ này chồng lên đau khổ khác: “Quanh con bầy chó đã bao chặt rồi. Bọn ác đó trong ngoài vây bủa, chúng đâm con thủng cả chân tay, xương con đếm được vắn dài; chúng đưa cặp mắt cứ hoài ngó xem. Áo mặc ngoài chúng đem chia chác, còn áo trong cũng bắt thăm luôn. Chúa là sức mạnh con nương, cứu mau, lạy Chúa, xin đừng đứng xa (Tv 22:17-20). Không còn gì để mất nữa, khốn khổ tột cùng, lo sợ run cả người, nguyện cầu không ngừng, thế nhưng vẫn chẳng nghe động tĩnh gì!
Dù có thế nào thì vẫn một lòng tín thác, vẫn xưng tụng Thiên Chúa, vì đó là mục đích sống: “Con nguyện sẽ loan truyền danh Chúa cho anh em tất cả được hay, và trong đại hội dân Ngài, con xin dâng tiến một bài tán dương. Hỡi những ai kính sợ Đức Chúa, hãy ca tụng Người đi! Hỡi toàn thể giống nòi Gia-cóp, nào hãy tôn vinh Người! Dòng dõi Ít-ra-en tất cả, nào một dạ khiếp oai!” (Tv 22:23-24).
Cầu nguyện là lương thực nuôi dưỡng đời sống tâm linh. Cầu nguyện mà không nghe động tĩnh gì, đó là dấu chỉ chắc chắn rằng Chúa đang xót thương. Lại thêm một điều kỳ diệu. Muốn hiểu được triết lý này, đòi hỏi phải có niềm tin Kitô giáo. Với người ngoài Kitô giáo hoặc vô thần, họ cho đó là “bùa mê, thuốc lú”, ai tin như vậy đều bị họ coi là dại dột, là dốt nát, là ngu xuẩn hoặc điên rồ.
Thánh Phaolô phân tích: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế” (Pl 2:6-7). Chúa Giêsu không chỉ tự nguyện như vậy, mà còn hơn thế nữa: “Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2:8). Đúng là mầu nhiệm, do đó mà khó hiểu thật. Nhưng chỉ là “khó hiểu” chứ không phải là “không thể hiểu”.
Tình yêu nào cũng cần “chất” đau khổ, có đau khổ mới chứng tỏ tình yêu chân chính. Đại văn hào Victor Hugo nói: “Ai khổ vì yêu, hãy yêu hơn nữa; chết vì yêu là sống trong tình yêu”. Chết mà là sống. Lạ thật, người đời mà còn nhận định được như vậy đấy!
Đau khổ có giá trị nhất định và rất độc đáo. Gian nan là nhịp cầu dẫn tới thành công, đau khổ là nhịp cầu dẫn tới vinh quang. Cũng vậy, sự chết là con đường dẫn tới sự sống, là cửa ngõ bước vào cõi trường sinh. Thánh Phaolô kết luận: “Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ; và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: “Đức Giêsu Kitô là Chúa” (Pl 2:9-11).
Chúa Giêsu hiển hách vào Thành Giêrusalem là đi vào cõi đau khổ, nhưng từ “biên giới” đầy gian khổ là Vườn Dầu, từ đó lại tiếp tục dẫn tới “cửa ải” sự chết là Can-vê. Nhưng từ nơi Can-vê “chết chóc” ấy lại dẫn tới cửa sự sống là Nước Trời. Một bản đồ lòng vòng như mê cung nhưng lại thú vị và hấp dẫn, có bao người khao khát sử dụng loại bản đồ này, có nhiều người đã đạt được mục đích sống đó: Các thánh nhân, đặc biệt là các vị tử đạo.
Chuyện gì đến sẽ đến, dù vui hay buồn, dù tốt hay xấu. Đó là điều tất yếu của cuộc sống. Bài thương khó hôm nay là một bộ phim buồn khiến lòng người trĩu nặng…
Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, một người trong Nhóm Mười Hai, đành lòng bán Thầy mình để lấy một số tiền. Từ lúc đó, gã cố tìm dịp thuận tiện để nộp Thầy mình. Vật chất và tiền bạc có ma lực cực mạnh khiến người ta mù quáng, không còn đủ lý trí sáng suốt để phân biệt đâu là phải hay trái. Ma lực đó rất khó cưỡng lại!
Ngày thứ nhất trong tuần bánh không men, các môn đệ đến thưa với Đức Giêsu xem Ngài muốn họ dọn Tiệc Vượt Qua ở đâu. Ngài dặn dò họ kỹ lưỡng từng chi tiết.
Chiều đến, Đức Giêsu vào bàn tiệc với mười hai môn đệ. Đang tiệc vui, bỗng dưng Ngài bảo có người sẽ nộp Ngài. Các môn đệ tá hỏa tam tinh và rầu thúi ruột, Họ hỏi nhỏ nhau xem ai là thủ phạm. Chẳng ai biết. Ngài nói: “Kẻ giơ tay chấm chung một đĩa với Thầy, đó là kẻ nộp Thầy. Đã hẳn Con Người ra đi theo như lời đã chép về Người, nhưng khốn cho kẻ nào nộp Con Người: thà nó đừng sinh ra thì hơn!” (Mt 26:23-24). Giu-đa nhột gáy, nhưng vẫn giả nai: “Thầy ơi, chẳng lẽ con sao?”. Ngài xác nhận là đúng!
Cũng trong bữa ăn đó, Đức Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho môn đệ và nói: “Anh em cầm lấy mà ăn, đây là mình Thầy” (Mt 26:26). Rồi Người cầm lấy chén, dâng lời tạ ơn, trao cho môn đệ và nói: “Tất cả anh em hãy uống chén này, vì đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội” (Mt 26:27-28). Đây là lúc thật linh thiêng và xúc động, nhưng lại có nỗi buồn khi Ngài bảo: “Từ nay, Thầy không còn uống thứ sản phẩm này của cây nho, cho đến ngày Thầy cùng anh em uống thứ rượu mới trong Nước của Cha Thầy” (Mt 26:29).
Sau khi hát thánh vịnh xong, Thầy trò cùng ra núi Ô-liu. Bấy giờ Đức Giêsu nói với các ông về nhiều điều cần thiết, vừa cảnh báo vừa trăn trối. Nghe Thầy nói đích danh mình là sẽ chối Thầy ba lần. Ông Phêrô nói chắc: “Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy” (Mt 26:35). Tất cả các môn đệ cũng đều nói như vậy. Nhưng rồi… điều gì đến vẫn cứ đến!
Vào vùng đất Ghết-sê-ma-ni, Ngài bảo mọi người ở lại, chỉ dẫn theo Phêrô và hai người con ông Dê-bê-đê đi theo. Ngài bắt đầu cảm thấy buồn rầu xao xuyến cực độ nên phải thốt lên: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được. Anh em ở lại đây mà canh thức với Thầy” (Mt 26:38). Ngài đi xa hơn một chút, sấp mặt xuống, cầu nguyện: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26:39). Nhân tính thật yếu đuối, nhưng Ngài vẫn quyết tuân phục Ý Cha cho đến cùng.
Ngài trở lại chỗ ba đệ tử ruột, ôi thôi, họ lăn ra ngủ khò. Ngài nói với Phêrô: “Thế ra anh em không thể canh thức nổi với Thầy một giờ sao? Anh em hãy canh thức và cầu nguyện, để khỏi lâm vào cơn cám dỗ. Vì tinh thần thì hăng say, nhưng thể xác lại yếu hèn” (Mt 26:40-41). Phêrô còn ngái ngủ, chỉ biết gãi đầu thôi. Ngại ghê đi!
Rồi Ngài lại đi cầu nguyện lần thứ hai: “Lạy Cha, nếu con cứ phải uống chén này mà không sao tránh khỏi, thì xin vâng ý Cha” (Mt 26:42). Ngài quay lại, thấy các môn đệ vẫn đang ngon giấc, mắt họ nặng trĩu. Có lẽ họ thấm mệt vì có chút men và trời đã quá khuya. Ngài để mặc các ông ngủ mà đi cầu nguyện lần thứ ba, cũng với lời như trước. Rồi Ngài đến chỗ các môn đệ, đúng lúc kẻ nộp Ngài vừa tới!
Giu-đa tỏ ra lịch sự đến chào và hôn Thầy, nhưng là để “chỉ điểm” cho những kẻ thủ ác bắt Thầy. Phêrô nóng gáy lấy gươm chém đứt tai Man-khô, đầy tớ của thầy thượng tế. Nhưng Chúa Giêsu chữa lành cho gã và bảo Phêrô cất gươm đi. Họ ập tới bắt trói Ngài. Thấy vậy, các môn đệ tá hỏa và bỏ của chạy lấy người, có kẻ mất dép, có kẻ tuột cả áo xống mà chạy tồng ngồng đi trốn. Nói thì mạnh lắm, cuối cùng cũng chỉ “lẻo mép”. Phàm nhân yếu đuối và nhát đảm quá!
Họ bắt Đức Giêsu và điệu đến thượng tế Cai-pha. Phêrô đi theo xa xa, đến tận dinh thượng tế, rồi vào bên trong ngồi với bọn thuộc hạ, xem kết cuộc ra sao.
Họ chất vấn Đức Giêsu đủ điều, nhưng Ngài vẫn im lặng. Vì có nói với họ thì cũng như nước đổ lá môn, nói với đầu gối còn hơn. Cuối cùng, vị thượng tế nói: “Nhân danh Thiên Chúa hằng sống, tôi truyền cho ông phải nói cho chúng tôi biết: ông có phải là Đấng Kitô Con Thiên Chúa không?” (Mt 26:63). Nghe chừng đạo đức lắm vì ông ta dám “nhân danh Chúa” mà tra xét. Lúc này Đức Giêsu mới lên tiếng: “Chính ngài vừa nói. Hơn nữa, tôi nói cho các ông hay: từ nay, các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng và ngự giá mây trời mà đến” Mt 26:64). Như giọt nước làm tràn ly, vị thượng tế liền xé áo mình ra và bảo Đức Giêsu nói phạm thượng, rồi ông ta hỏi mọi người nghĩ sao, họ liền đồng thanh: “Hắn đáng chết!”.
Sau đó, kẻ thì khạc nhổ vào mặt và đấm đánh Ngài, kẻ lại tát Ngài, rồi họ nguyền rủa và lăng mạ Ngài đủ thứ.
Và cũng vậy, chuyện gì sẽ đến cũng lại đến. Phêrô được Thầy báo trước, nhưng cũng không thể vượt qua chính mình. Thiên hạ thấy ông nên bàn tán xì xầm, ông sợ nên không dám nhận mình là người quen với Đức Giêsu, và còn thề độc là không hề quen với người đang bị hành hạ bên trong kia. Và rồi có tiếng gà gáy, ông sực nhớ lời Đức Giêsu đã nói: “Gà chưa kịp gáy thì anh đã chối Thầy ba lần”. Ông ra ngoài, khóc lóc thảm thiết. Chắc hẳn từ đó, ông rất sợ tiếng gà gáy sáng, nhưng ông cũng phải cảm ơn tiếng gà gáy đó.
Vào mỗi dịp lễ lớn, tổng trấn có lệ phóng thích cho dân chúng một người tù, tuỳ ý dân. Khi ấy có một người tù khét tiếng tên là Ba-ra-ba. Người ta đồng ý thả Ba-ra-ba và cương quyết giết Đức Giêsu. Phi-la-tô thừa biết chỉ vì ghen tị mà họ nộp Ngài, thế nhưng vì địa vị chức tước mà ông làm ngơ với công lý, vợ ông bảo đừng nhúng tay vào vụ xử vụ này, ông đi rửa tay để chứng tỏ mình vô can. Nhưng đó chỉ là giả hình, hèn nhát!
Thật vậy, chính Phi-la-tô đem Đức Giêsu vào trong dinh và tập trung cả cơ đội quanh Ngài. Chúng lột áo Ngài ra, khoác cho Ngài tấm áo choàng đỏ, rồi kết một vòng gai làm vương miện đặt lên đầu Người, và trao vào tay mặt Ngài một cây sậy. Chúng quỳ gối trước mặt Người mà nhạo báng, chúng khạc nhổ vào Ngài và lấy cây sậy mà đập vào đầu Ngài. Chế giễu chán, chúng lột áo choàng ra, cho Ngài mặc áo lại như trước, rồi điệu Người đi đóng đinh vào thập giá.
Trên đường, chúng gặp một người Ky-rê-nê tên là Si-môn, chúng bắt ông vác thập giá của Ngài, vì thấy Ngài yếu sức, sợ không đến nơi hành hình. Những người nói mạnh hứa chắc đâu cả rồi? Những người tín cẩn của Đức Giêsu đâu cả rồi? Những người được Đức Giêsu chữa lành đâu cả rồi? Những người được Đức Giêsu cho ăn no nê đâu cả rồi? Sao chỉ có mình ông Si-môn ngoại giáo vác đỡ Thập Giá cho Ngài? Đời là thế ư?
Khi đến Gôn-gô-tha, nghĩa là Đồi Sọ, chúng cho Ngài uống rượu pha mật đắng, nhưng Ngài chỉ nếm một chút mà không chịu uống. Đóng đinh Ngài vào thập giá xong, chúng đem áo Ngài ra bắt thăm mà chia nhau, rồi ngồi đó mà canh giữ Ngài. Cùng bị đóng đinh với Ngài là hai tên cướp, một tên bên phải, một tên bên trái.
Kẻ qua người lại đều nhục mạ và thách thức Ngài. Các thượng tế, kinh sư và kỳ mục cũng chế giễu Ngài vì họ tưởng mình đã hành động đúng và hả hê chiến thắng! Thậm chí một tên cướp cùng bị đóng đinh với Ngài cũng không tiếc lời sỉ vả và thách thức Ngài.
Bỗng dưng bóng tối bao phủ cả mặt đất từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín (12 giờ trưa tới 3 giờ chiều). Vào giờ thứ chín, trong nỗi cô đơn quá lớn, Đức Giêsu kêu lớn tiếng: “Ê-li, Ê-li, lê-ma xa-bác-tha-ni – lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mt 27:46). Người ta cứ tưởng Ngài gọi ông Ê-li-a, rồi một người trong bọn chạy đi lấy miếng bọt biển, thấm đầy giấm, buộc vào đầu cây sậy và đưa lên cho Ngài uống. Rồi Đức Giêsu lại kêu một tiếng lớn, rồi trút linh hồn!
Ngay lúc đó, bức màn trướng trong Đền Thờ xé ra làm hai từ trên xuống dưới, đất rung đá vỡ, mồ mả bật tung, xác của nhiều vị thánh đã an nghỉ được trỗi dậy. Thấy động đất và các sự lạ, viên đại đội trưởng và những người cùng ông canh giữ Đức Giêsu đều rất đỗi sợ hãi và phải thú nhận: “Quả thật ông này là Con Thiên Chúa” (Mt 27:54). Ít ra cũng là thế, muộn cũng còn hơn không.
Sự thật mãi là sự thật, dù người ta cố ý bóp méo thế nào thì cũng không thể. Thắng và Thua đều cùng vần T. Sự đời lạ lắm, có những khi cứ tưởng Thắng mà hóa Thua, nhưng có khi thấy Thua mà lại là Thắng. Và chuyện gì sẽ đến cũng lại đến!
Ước gì mỗi chúng ta đều như những chiếc lá luôn xanh biếc đức tin, luôn khiêm nhường đón Đức Kitô trong mọi hoàn cảnh, trong lúc vui đã đành, trong lúc buồn mới thực sự có giá trị.
Lạy Thiên Chúa toàn năng, xin ban Thánh Linh để chúng con có thể hiểu được giá trị của đau khổ, hiểu được triết lý của Thập Giá, nhờ đó chúng con đủ sức bước theo Ngài đi xuyên qua đau khổ. Xin  giúp chúng con can đảm cùng chết với Đức Kitô để xứng đáng được phục sinh vinh quang với Ngài. Chúng con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa Cứu Độ của chúng con. Amen.
 

Lễlá-366: BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NHI - CN LỄ LÁ

Thiếu nhi chúng con thân mến,

Chúng con vừa nghe thánh Luca thuật lại cho chúng ta một câu chuyện rất cảm động xảy ra Lễlá-366

Chúng con vừa nghe thánh Luca thuật lại cho chúng ta một câu chuyện rất cảm động xảy ra vào những ngày cuối đời của Chúa Giêsu trên trần thế.
Cha hỏi chúng con: Qua câu chuyện hôm nay chúng con thấy được cái gì nổi bật nhất?
Chúng con cho cha ý kiến nào.
- Chúng con thấy lòng dạ của người ta thay đổi nhanh quá.
- Đúng! Cha cũng thấy vậy. Nhanh quá! Không thể tưởng tượng nổi.
-  Sao mà người ta ác quá!
- Đúng. Người ta ác với Chúa Giêsu quá. Chúa Giêsu đâu có thù hằn gì với ai. Nhiều người còn chịu ơn Chúa. Vậy mà sao họ nỡ tâm đối xứ ác với Chúa như thế.
- Thật là buồn lòng cho Chúa! Riêng đối với cha, điều cha cảm phục nhất là cách Chúa phản ứng và đối xử với mọi việc xảy ra một cách hết sức bình thản và đầy lòng yêu thương. Đây cha chứng minh cho chúng con.
 Trước hết chúng con thấy Chúa thanh thản và chủ động bước vào cuộc Thương khó khi Người nói với các môn đệ: “Thầy ước ao dự bữa tiệc Vượt qua với các con”. Đứng trước cái chết, con người ai mà chẳng run sợ, vì con người nghĩ rằng chết là hết, chẳng có gì tồn tại. Nhưng với Chúa Giêsu, chết là đi về cùng Chúa Cha. Chúa yêu mến Chúa Cha, khao khát kết hiệp với Chúa Cha, nên Người thanh thản bước vào cuộc khổ nạn để được về cùng Chúa Cha.
Lúc quân lính hung hăng đến bắt Chúa, Chúa vẫn hiền hòa không kháng cự.
 Bị vây bọc trong bầu khí sát máu, Chúa vẫn cư xử với lòng nhân hậu khoan dung. Chúa chẳng lo cho an toàn của bản thân: nên giữa lúc khó khăn khốn đốn Chúa vẫn mở rộng bàn tay nhân ái chữa lành vành tai bị đứt của người đày tớ vị thượng tế.
Khi Giuđa đến hôn mặt Chúa, Chúa vẫn đối xử một cách lịch sự, tế nhị. Đối lại tội phản nghịch tày trời, Chúa chỉ nhẹ nhàng nhắc nhở, hi vọng đánh thức lương tâm người học trò mê tiền mà đi đến phản bội.
Lúc đang bị xét xử, dù phải chịu nhục nhã đắng cay, Chúa vẫn quan tâm đưa mắt nhìn  Phêrô. Vị đại diện các tông đồ, sau khi chối Thầy, đã nhận được ánh mắt kín đáo của Thầy. Ánh mắt hiền dịu mà đau khổ. Ánh mắt trách móc thì ít mà tha thiết van xin thì nhiều. Ánh mắt nhân từ tha thứ đã khiến Phêrô ray rứt khôn nguôi.
 Rồi trên con đường lên Núi Sọ, dù vai phải mang cây thánh giá nặng nề, dù bản thân yếu mệt và tủi nhục, Chúa vẫn còn đứng lại an ủi những người phụ nữ khóc lóc, an ủi đám dân đã tố cáo, đã kết án Chúa.
 Trên thập giá, lúc đớn đau đã thấm vào đến tận xương tuỷ, lúc sức lực đã cạn kiệt, vậy mà Chúa vẫn còn quan tâm lắng nghe người trộm lành. Ôi sao mà lạ lúng quá. Thật là tuyệt vời!
 Và còn hơn thế nữa, Chúa đã tha thứ cho những sĩ quan, những binh lính hành hạ Chúa. Chúa không chỉ tha thứ mà còn cầu nguyện xin Chúa Cha tha cho tất cả mọi người có dính líu đến việc xử án Chúa.
Cha hỏi chúng con Chúa làm tất cả những điều ấy để với mọi người điều gì?
Câu trả lời không khó. Chúa muốn cho mọi người thấy tình yêu của Chúa.
Tình yêu ấy là làn ánh sáng xé tan bóng đêm thù hận, chiếu soi vào lòng của cả những người ghét ghen. Cha nhớ Đức Cha Fulton Sheen một tông đồ của Tin Mừng đã nói một câu rất hay: Tình yêu thương của Chúa giống như loài gỗ quí nhuốm cả hương thơm vào lưỡi búa đã đốn ngã nó.
Giữa những hung hãn tàn bạo, Chúa vẫn hiền lành khiêm nhường.
Giữa những hận thù, Chúa vẫn yêu thương.
Giữa những phản bội, Chúa vẫn tha thứ.
Tình yêu của Chúa đã thắng.
Có một nhà tư tưởng lớn Karl Menninger nói: "Tình yêu là liều thuốc kỳ diệu chữa trị mọi vết thương của cả người cho lẫn người nhận"
Nhà văn lớn người Nga tên là Lev Tolstoy còn nói mạnh hơn"Tình yêu kỳ diệu. Ở đâu có tình yêu, ở đó có sự sống".
Nói tới đây cha nhớ đến một câu chuyện. Câu chuyện này thật đẹp. Câu chuyện như thế này: Một hiệp sỹ dũng cảm kia tên là Hidebrand bị một bạn đồng nghiệp tên là Bruno nhục mạ nặng nề. Hidebrand thề sẽ trả thù đích đáng. Ông suy nghĩ và chuẩn bị kỹ lưỡng chương trình hành động. Cuối cùng ông chọn địa điểm và thời giờ thuận lợi đễ ra tay. Ông thức dậy sớm giữa đêm, một mình võ trong đầy đủ, đi đến một nơi thanh vằng mà ông biết Bruno sẽ đi ngang qua. Trên đường đi ông gặp thấy một nhà nguyện nhỏ còn mở cửa. Ông vào đó để chờ sáng, và trong khi chờ đợi ông giải trí bằng cách đi quan sát các bức tranh trong nhà nguyện.
Bức tranh thứ nhất vẽ Chúa Giêsu mặc áo choàng đỏ, đầu đội mão gai, phía dưới có ghi câu này bằng tiếng Latinh:“Bị lăng nhục, Ngài không đáp trả lại bằng lăng nhục”.
Bức thứ hai, nhắc lại cảnh đau buồn khi Chúa bị đánh đòn, với hàng chữ “Khi chịu những khổ đau như thế, Ngài không hề đe dọa”.
Và cuối cùng, bức thứ ba vẽ Chúa Giêsu trên Thập giá, hàng chữ là: “Lạy Cha xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm”. Nhìn liên tiếp ba bức tranh như thế, tâm hồn Hidebrand bị xúc động mạnh. Ông quỳ gối xuống và bắt đầu cầu nguyện. Dần dần cơn hận thù giảm đi, rồi biến mất. Ông còn ngồi lại đó chờ kẻ thù của ông đến, nhưng chờ để tha thứ tận tình và để làm hoà với bạn. (Góp nhặt)
Cha chúc chúng con biết yêu thương như Chúa để cuộc đời chúng con giống Chúa nhiều hơn. Amen.
 

Lễlá-367: Người tôi tớ khổ đau của Giavê

(Trích trong ‘Suy Niệm Lời Chúa’ – Radio Veritas Asia)

Trong một ngôi nhà thờ bên Tây Ban Nha, có một thập giá cổ được giáo hữu rất tôn sùng. Đó là Lễlá-367

Trong một ngôi nhà thờ bên Tây Ban Nha, có một thập giá cổ được giáo hữu rất tôn sùng. Đó là tượng thập giá tha tội, tượng Chúa Giêsu bị đóng đinh có cánh tay phải rời khỏi thập giá và hạ thấp xuống. Người ta có kể rằng dưới chân cây thánh giá này, có một người tội lỗi đến với cha xứ. Tuy ông xưng thú mọi tội lỗi với lòng thống hối ăn năn, cha giải tội lưỡng lự không biết có nên tha cho ông không, vì thấy ông phạm quá nhiều tội. Sau cùng, cha nghiêm nghị bảo ông: “Tôi ban phép giải tội cho ông nhưng mà trong tương lai thì phải để ý”.
Ông ta hứa với cha xứ là sẽ cố gắng sửa mình và tránh mọi tội lỗi. Nhưng vì yếu đuối quá, sau một thời gian ông lại tìm đến xưng tội, Lần này thì cha xứ nói với ông giọng quả quyết: “Tôi ban phép giải tội cho ông lần này nữa là lần cuối cùng đó nghe”. Vài tháng trôi qua, ông lại tìm đến cha xứ và quỳ xuống chân cha năn nỉ: “Thưa cha, con thống hối đến tận đáy tâm lòng. Lần nào con cãng nhất quyết giữ lời hứa, nhưng con yếu đuối quá, xin cha tha tội cho con một lần nữa”. Cha xứ đáp: “Đâu có thể đùa giỡn với Chúa được. Tôi không ban phép giải tội cho ông nữa”. Khi đó cha nghe có tiếng nấc nghẹn ngào. Từ trên thánh giá, bàn tay phải của Chúa Giêsu hạ xuống làm phép tha tội trên đầu người tín hữu thống hối. Rồi Chúa Giêsu nói với vị linh mục: “Chính Cha đã đổ máu ra để cứu chuộc ông ấy chứ không phải con”. Và cũng từ ngày ấy, bàn tay của Chúa Giêsu chịu đóng đinh ở trong tư thế ban phép xá giải.
“Chính Cha đã đổ máu ra để cứu chuộc con”. Lời ấy chính Chúa Giêsu đã nói với mỗi người trong chúng ta trong Tuần Thánh, với biến cố Chúa Giêsu khải hoàn vào thành Giêrusalem, để sau đó vài ngày chịu đóng đinh và chết trên thập giá, hầu trao ban sự sống mới cho chúng ta.
Chương 50,4-7, sách ngôn sứ Isaia là một trong bốn bài ca miêu tả người tôi tớ của Giavê Thiên Chúa. Trong tuyền thống Kitô, người tôi tớ Giavê là danh hiệu ám chỉ người hiến hoàn toàn cuộc sống mình để phụng sự Thiên Chúa và Lời Ngài, luôn kiếm tìm thi hành ý của Thiên Chúa cho dù có phải chịu đau khổ và bắt bớ đi nữa. Do đó trong lịch sử chú giải Kinh Thánh, khi thì người tôi tớ đó được đồng hóa với ngôn sứ Isaia, khi thì là Giêrêmia, khi khác nữa lại là Đấng Cứu Thế toàn dân Israel.
Tuy nhiên, các chương sách Isaia II, tức các chương từ 40-55, đề cập đến cảnh sống lưu đày bên Babylon của dân Israel, do đó có thể bài ca này ám chỉ cách sống đày ải khổ đau của dân Do Thái. Để miêu tả cảnh khổ đau này, bài ca trên đây dùng kiểu nói diễn tả nỗi khổ nhục thê thảm của kiếp sống lưu đày: Đưa lưng cho người ta đánh đòn, ám chỉ hình phạt dành cho người ngu dại bị coi như đồng hạng với thú vật; giơ má cho người ta vặt râu, ám chỉ đến danh dự và lột mất phẩm giá của một người; chường mặt cho người ta phỉ nhổ, ám chỉ mọi hành động xúc phạm và khinh rẻ phẩm giá của một người cũng như sự sống của một người. Tất cả cảnh sống trên đây diễn tả cảnh sống nhục nhã, bị khinh miệt và khổ đau dân Do Thái phải chịu trong thời lưu đày.
Tuy nhiên trong tình trạng sống buồn thương ấy, dân Do Thái vẫn ý thức được sự can thiệp của Thiên Chúa. Bởi vì thực ra, chỉ có Thiên Chúa là có thể biến đổi được tình trạng sống khổ đau ấy trở thành suối nguồn trao ban ơn cứu độ cho họ. Qua đau khổ, Thiên Chúa giáo dục cho con người biết sống thái độ sẵn sàng đón nhận thánh ý Ngài. Khi chấp nhận sống lưu đày, dân Israel chấp nhận tự thanh tẩy chính mình khỏi mọi bất trung và tội lỗi đã sai phạm. Họ cảm nghiệm được sâu xa hơn Thiên Chúa là Đấng hướng dẫn và dùng mọi biến cố lịch sử để làm ích lợi cho con người.
Trong thời Tân Ước, người tôi tớ khổ đau ấy là hình ảnh của Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Thế chịu khổ nạn và đóng đinh. Thánh Giá xem ra là dấu chỉ của ơn cứu độ và ơn thánh Ngài ban cho con người. Khi tuyệt đối trung thành với thánh gia, chương trình cứu độ của Thiên Chúa Cha, đến sẵn sàng chấp nhận khổ đau và cái chết khổ nhục trên thánh giá. Chúa Giêsu dạy cho chúng ta biết ý nghĩa và giá trị cứu độ của khổ đau.
Trong chương 2,6-11 thư gởi tín hữu Philipphê, thánh Phaolô dùng tước hiệu người tôi tớ ấy để nói về Chúa Kitô. Khi nhập thể làm người, Chúa Kitô đã đi ngược lại lộ trình mà Ađam đã đi xưa kia. Nếu Ađam là hình ảnh diễn tả toàn nhân loại đã từ chối địa vị thụ tạo của mình và muốn trở thành Thiên Chúa, nên phá hủy chương trình Thiên Chúa có đối với loài người trong thời tạo dựng. Thì giờ đây, từ địa vị Thiên Chúa, Đức Giêsu hạ mình làm người, chấp nhận khổ nhục y như một tên nô lệ, một người tôi tớ để trao ban cho loài người cuộc sống hạnh phúc thần thiêng. Con đường Thiên Chúa đi là đại lộ kinh hoàng, là con đường của khổ đau và thập giá, là con đường của khiêm hạ và thất bại. Nhưng nó là con lộ duy nhất dẫn đến ơn cứu độ.
Thật vậy, thánh giá khổ nhục và khiêm hạ đánh đổ được kiêu căng tội lỗi đã khiến con người xa rời Thiên Chúa và đánh mất đi cuộc sống hạnh phúc của mình. Nhưng con đường khiêm hạ được Thiên Chúa can thiệp và đảm bảo với biến cố Phục sinh. Thiên Chúa đã đặt để Chúa Kitô, Ađam mới trong chốn vinh quang, trong nơi danh dự mà Ađam loài người xưa kia đã không đạt tới được. Nội dung con đường trao ban ơn cứu độ ấy được ghi lại trong trình thuật của bốn Phúc Âm, nó là phần nòng cốt được biên soạn ra trước tiên và sau này được các thánh sử khai triển theo hướng thần học riêng của mình.
Trong chương 22,14-23,56 thánh Luca trình bày cuộc khổ nạn như một trận chiến quyết liệt cuối cùng của Satan, như là phần kết thúc các cám dỗ nó đã khởi sự trước khi Chúa Giêsu công khai loan báo Tin Mừng Nước Trời. Kết thúc trình thuật ma quỷ cám dỗ Chúa Giêsu trong sa mạc, thánh Luca viết trong chương 4,13: “ma quỷ rời bỏ Ngài để trở lại vào thời điểm đã định”. Cuộc khổ nạn là thời điểm Satan trở lại để lại vào giao đấu với Chúa Giêsu lần cuối cùng. Ngoài ra, trong nhãn quan thần học của thánh sử Luca, cuộc khổ nạn cũng ghi lại chặng cuối cùng, đồng thời là đạt đỉnh con đường loan báo Tin Mừng của Chúa Giêsu khởi đầu từ Galilê và kết thúc tại Giêrusalem.
Cuộc khổ nạn cũng là lúc diễn tả rõ rệt nhất các nét đặc thù trong gương mặt của Chúa Giêsu. Theo thánh sử Luca, trước hết là tinh thần cầu nguyện. Chúa Giêsu đã gia tăng lời cầu nguyện trong những ngày và những giây phút cuối đời của Ngài. Lời cầu hấp hối kéo dài trong vườn cây Dầu trước khi Chúa Giêsu bị bắt là chứng tích rõ ràng nhất. Càng phải đương đầu với thử thách bắt bớ và khổ đau, Chúa Giêsu càng tín thác tha thiết kết hợp với Thiên Chúa Cha cho dù Ngài có cảm tưởng Thiên Chúa làm thinh và cũng đã bỏ rơi Ngài.
Tiếp đến là lòng nhân từ thương xót của Chúa Giêsu Kitô đối với những người tội lỗi. Chúa Giêsu thương chữa tên đầy tớ thầy thượng phẩm bị chém đứt tai. Nhân từ thương xót với thánh Phêrô đã chối Ngài ba lần, Chúa Giêsu quay lại nhìn Phêrô nhân từ, thương xót. Đối với những người đã đóng đinh Ngài: “Lạy Cha xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm”. Nhân từ thương xót với người ăn trộm bị xử cùng lúc với Ngài: “Hôm nay ngươi sẽ ở cùng Ta trên Thiên Đàng”.
Sau cùng thánh sử Luca nêu bật thái độ vâng lời triệt để của Chúa Giêsu đối với thánh ý của Thiên Chúa Cha. Theo thánh sử, cuộc tử nạn của Chúa Giêsu không do con người muốn, mà nằm trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa Cha. Thánh Luca chỉ qui tội cho giới lãnh đạo Do Thái mà thôi, ngay cả quan tổng trấn Philatô cũng được thánh sử châm chước. Nghĩa là theo quan điểm thần học, Chúa Giêsu hoàn toàn vâng phục chương trình cứu độ do Thiên Chúa Cha hoạch định, do đó cuộc khổ nạn và cái chết trên thập giá là điểm tới thành toàn. Chúa Giêsu phải chết không phải do một định mệnh dã man và khắt khe, cũng không phải do quyết định của một người trần gian nào khác, vì Ngài muốn tuân hành thánh ý và chương trình cứu độ của Thiên Chúa Cha. Chương trình cứu độ ấy được thành toàn trên thập giá và qua cái chết hiến dâng đền tội của Chúa Giêsu Kitô, người tôi tớ khổ đau của Giavê Thiên Chúa.
 

Lễlá-368: CHÚA NHẬT LỄ LÁ – C 2013

ĐÔI DÒNG SUY TƯ
Antôn Lương Văn Liêm

Lễ lá hay còn gọi là lễ Chúa Giêsu tiến vào thành thánh Giêrusalem với tư cách là Đấng Messia. Đức Lễlá-368

Lễ lá hay còn gọi là lễ Chúa Giêsu tiến vào thành thánh Giêrusalem với tư cách là Đấng Messia. Đức Giêsu tiến vào thành thánh Giêrusalem không để cho người đời tung hô, bái chào, nhưng Ngài tiến vào thành thánh Giêrusalem để hoàn thành chương trình cứu độ nhân loại mà Chúa Cha đã hoạch định từ ngàn xưa bằng con đường thập giá. Có thể nói, Thiên Chúa vẽ chữ Yêu ngang qua Đức Giêsu. Nét vẽ đầu tiên khởi đi từ máng cỏ Belem và kết thúc trên đỉnh đồi  Gôngôtha.
Phụng vụ Lời Chúa trong lễ lá qua các bài đọc gợi mở và mời gọi ta chiêm ngắm dung mạo của Đức Giêsu và cuộc thương khó của Ngài.
Bài đọc 1: Trước Chúa Giêsu sinh ra, ngôn sứ Isaia đã tiên báo dung mạo Đức Giêsu là Người Tôi Trung của Thiên Chúa: “Đức Chúa là Chúa Thượng, đã cho tôi nói năng như người môn đệ, để tôi biết lựa lời nâng đỡ ai rã rời kiệt sức. Sáng sáng Người đánh thức tôi, Người mở tai tôi để tôi nghe lời giáo huấn. Thiên Chúa đã mở tai tôi, còn tôi, tôi không cưỡng lại, cũng chẳng thoái lui. Tôi đã đưa lưng cho người ta đánh đòn, giơ má cho người ta giựt râu. Tôi đã không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ…” (Is.50,4-7).
Bài đọc 2: Thánh Phaolô giới thiệu dung mạo và đời sống khiêm hạ của Đức Giêsu: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự…” (Pl.2,6-11).
Bài Thương Khó: Thánh sử Luca lược thuật hành trình thập giá và cuộc tử nạn của Đức Giêsu. Qua và trong cuộc tử nạn của Đức Giêsu, thánh nhân vẽ, giới thiệu hình ảnh, gương mặt và những cái tên đã trực tiếp, gián tiếp gây nên sự cô đơn, đau khổ và cái chết cho Đức Giêsu.
Qua bài Thương Khó và qua những khuôn mặt, những cái tên mà thánh sử Luca trình thuật. Giờ đây dừng lại đôi chút trong cõi lặng, trong sự soi dẫn của Chúa Thánh Thần, ta cùng nhau điểm lại từng khuôn mặt, cái tên trong trình thuật Thương Khó. Qua đó, một phần nào ta sẽ nhận ra chính hình ảnh và cái tên của mình trong cuộc thương khó của Đức Giêsu.
Gương mặt của nhóm môn đệ thân tín.
Nơi vườn cây dầu, trong lúc lo âu, sợ hãi về những gì sắp xảy đến, Đức Giêsu cần một lời an ủi, động viên, cần một lời cầu nguyện. Ấy thế mà các môn đệ thân tín nhất không vượt qua được những đam mê, họ bỏ mặc Thầy, họ thỏa mãn cho bản thân qua việc ngủ say như chết! Trong cuộc sống, không ít lần ta vì những đam mê, thú vui riêng mà bỏ mặc Chúa qua hình ảnh của những người thân, người anh em.
Vượt qua nỗi đau, nỗi cô đơn khi các môn đệ ngủ vùi, Đức Giêsu đón nhận nỗi đau xé lòng khi Giuđa, một đồ đệ được Ngài mời gọi, tin tưởng giao trọng trách giữ hầu bao của cả nhóm. Ấy thế mà giờ đây chỉ vì tiền mà đang tâm bán đứng Thầy mình, đau đớn hơn nữa là Giuđa dùng nụ hôn để chỉ điểm, để nộp Thầy. Trước tình cảnh đau thương này  Đức Giêsu đã thốt lên: “Giuđa ơi, anh dùng cái hôn mà nộp Con Người sao?!”. Khác chi Giuđa, vì tiền, danh và lợi nhiều khi ta bán đứng anh em mình bằng cái bắt tay, bằng một lời chào, một chữ ký….
 Dưới  nhãn quan của Đức Giêsu, trong số 12 môn đệ, ông Phêrô là người được cất nhắc lên hàng thủ lĩnh, người được Thầy Giêsu trao cho chìa khóa Nước Trời. Thật đau đớn thay cho Đức Giêsu, vì bạc nhược, sợ liên lụy, sợ chết đã đang tâm chối Thầy không chỉ một lần nhưng đến ba lần. Trong sứ vụ loan báo Tin Mừng, sứ vụ làm chứng cho sự thật giữa thế gian, xã hội, không ít lần ta cũng sợ hãi, sợ chết, sợ tù đày làm ta không dám lên tiếng. Đây chính là lúc ta chối Thầy Giêsu như Phêrô năm xưa.
Gương mặt của thượng tế, kinh sư và biệt phái.
Là những người am hiểu Kinh Thánh, những người đại diện cho tầng lớp dân chúng trong lĩnh vực tôn giáo, dại diện dân riêng của Chúa trong việc tế tự nơi đền thờ. Đáng lý ra họ cùng cộng tác với Đức Giêsu trong việc cứu giúp những người cùng khổ cơ hàn, giúp mọi người nhận ra dung mạo thật của Thiên Chúa qua những việc lành, những lời giáo huấn của Đức Giêsu. Nhưng không, họ đã quên đi giới luật yêu thương của Thiên Chúa, họ sợ mất chân đứng, vị thế của mình giữa đám đông dân chúng. Vì thế, họ họp bàn nhau triệt hạ Đức Giêsu với lý do duy nhất là họ sợ hình ảnh và vai trò của Đức Giêsu làm mất đi tất cả những danh, quyền, lợi mà họ đang có được qua việc giữ luật và bắt người ta thi hành luật. Là những người có trọng trách trong mọi lĩnh vực từ gia đình trở đi, đôi khi ta vì quyền, vì lợi, danh mà ta chèn ép, triệt hạ anh em mình…
Gương mặt của đám đông dân chúng.
Mới ngày nào, hình ảnh của một Giêsu thành Narareth in đậm trong tâm trí của những người dân chân chất qua những lời giáo huấn, những phép lạ: hóa nước thành rượu, chữa lành người bất toại, phong hủi, quỷ ám, ấn tượng nhất là phép lạ hóa bánh ra nhiều cho trên dưới 4.000 – 5.000 người đàn ông chưa kể phụ nữ và trẻ em ăn no nê…. Chính những người dân đã nói về Đức Giêsu: “Ông ấy giảng dạy như một người có uy quyền…” (x.Mc.1,27 ), đã không ít lần họ mong ước Đức Giêsu trở thành vua của họ (x.Ga.16,15).
Thế nhưng, khi Đức Giêsu bị những người lãnh đạo tôn giáo, những người đại diện cho chính quyền bắt giữ, kết án tử. Bị kích động bởi những người biệt phái, kinh sư và thượng tế, khi đôi tay Đức Giêsu bị khóa trái, bị nhạo cười, sỉ nhục và nhất là hình ảnh và vai trò của Đức Giêsu không còn là mối lợi. Đám đông dân chúng đã đồng thanh la lớn: “Hãy tha cho Baraba, đừng tha Giêsu, đem đi, đem đi đóng đinh nó vào thập giá, ông Giêsu ấy không phải là vua chúng tôi….!” . Quả đúng như người thường nói: “ Bạc như dân, bất nhân như lính”.
Trong đời sống tin và bước theo Đức Giêsu, đôi khi ta đến với Ngài vì những dấu lạ, những gì cần thiết cho cuộc sống thực tại qua hình thức cầu nguyện, xin lễ… Ta chạy theo đám đông từ đền nọ tới đền kia để thỏa mãn nhãn quan, hiếu kỳ. Nhưng! Thật đáng buồn khi không được thỏa mãn ý riêng, ta cũng dễ dàng từ bỏ Ngài chạy theo bói toán, cầu cơ, chạy theo thần của thế gian… Ta hùa theo đám đông để lên án Đức Giêsu qua Giáo Hội, qua anh em…
Gương mặt của những người lính.
Nơi dòng sông Giođan năm xưa, khi ông Gioan Tẩy Giả rao giảng, loan báo và kêu gọi mọi người sám hối những người lính đã tìm đến và hỏi: “ Chúng tôi phải làm gì?” . Ông Gioan đã trả lời: “Chớ hà hiếp ai, cũng đừng tống tiền người ta, hãy an phận với số lương của mình”. Khi những thương tế, kinh sư sai những người lính đi bắt và điệu Đức Giêsu về, họ ra đi và trở về tay không, họ đã nói về Đức Giê su: “ Xưa nay chưa hề có ai nói năng như người ấy…”(x.Ga.7,45-46).
 Ấy thế mà giờ đây khi Đức Giêsu bị trao nộp vào tay của những người lãnh đạo đời cũng như đạo, vì những lời hứa ban tặng bổng lộc…Những người lính dường như đã quên hết tất cả những gì tốt đẹp nơi Đức Giêsu. Họ mạnh tay tra tấn, đánh đập, coi Đức Giêsu như một chú hề để họ tiêu khiển. Nhìn vào đời sống thực, chắc có lẽ không ít lần ta như những người lính năm xưa, vì nghề nghiệp, vì bổng lộc, chức danh mà đôi khi ta quên mất hình ảnh và dung mạo của Đức Giê su trong đời sống ta.
Gương mặt của Philatô và Hêrôđê.
Hêrôđê, người đã tống ngục và chém đầu ông Gioan Tẩy Giả, người mà chính Đức Giêsu gọi là “con cáo già”. Ông ta rất muốn gặp Đức Giêsu để thỏa mãn những thắc mắc và cũng là để mục kích một con người được người Do Thái đồn thổi qua cung cách giảng dạy và những phép lạ… Vâng! Ông đã được gặp Đức Giêsu, Người mà đôi tay và chân bị khóa bằng xiềng xích. Ông cứ nghĩ rằng với cương vị là một vị vua ông có thể ra lệnh cho Đức Giêsu thực hiện một vài phép lạ. Nhưng! Ông đã lầm, điều ông nhận được là sự im lặng của Đức Giêsu. Để trả thù, ông đã cùng với thuộc hạ chế giễu và sau đó ông trao Đức Giêsu về cho tổng trấn Philatô như món quà để hàn gắn những rạn nứt giữa ông và Philatô.
  Tồng trấn Philatô, một người ngoại bang, tên của ông ta chỉ được nhắc tới hai lần trong Tin Mừng. Lần thứ nhất trong trình thuật của thánh sử Luca khi ngài trình thuật sứ vụ rao giảng của ông Gioan Tẩy Giả (x. Lc.3,1). Lần hai trong cuộc thương khó của Đức Giêsu, qua tra khảo và xét xử theo thẩm quyền, Philatô nhận ra Đức Giêsu là người vô tội. Nhưng tiếc thay! Philatô đã không vượt qua được rào cản dư luận, vượt qua sự vinh hoa phú quý đem lại cho ông nơi chiếc ghế tổng trấn và thế là ông phó mặc, ông đồng thuận với cái ác kết án và giết người vô tội. Quả thật, Hêrôđê và Philatô là hai con người “cầm cân nảy mực” cho công lý và sự thật. Thế nhưng một người vì nhu nhược, một người xảo trá đã để cho cái ác và giả dối lên ngôi qua việc kết án và giết người vô tội là Đức Giêsu.
Hình ảnh, cách hành xử của Hêrôđê và Philatô không thiếu giữa xã hội hôm nay, đôi khi chính ta là Hêrôđê, là Philatô qua cách sống dối trá, nhu nhược để rồi ta giả điếc, giả ngơ khi sự ác lên ngôi nơi ta và ngoài xã hội…
Bước vào lễ lá và tam nhật thánh. Thiên Chúa ngang qua Giáo Hội không chỉ mời gọi ta tưởng nhớ cuộc khổ nạn, phục sinh của Đức Giêsu như một kỷ niệm buồn, đáng trân trọng. Nhưng là để thực tại hóa những biến cố ấy, hầu nhắc nhở ta ý thức hơn nữa về tình yêu mà Thiên Chúa dành cho ta, nhắc nhở ta ý thức một điều quan trọng: Đó là do ta yếu đuối, lỗi lầm mà Đức Giêsu cứ mãi chịu thương khó vì ta và cho ta. Ngày qua ngày Đức Giêsu vẫn phải vác thập giá, chịu đòn roi và cuối cùng là chịu treo trên thập giá như một tử tội chỉ vì muốn ta được sống, được nên trọn lành. Ngài ước mong cho thế giới này luôn an vui và hạnh phúc.
Qua mầu nhiệm Tử nạn và Phục Sinh của Đức Kitô, ta được mời gọi đáp trả tình yêu của Chúa dành cho ta bằng đời sống dấn thân, hiến thân, biết quên mình đi, biết chết đi con người tội lỗi, ích kỷ, cao ngạo để cho Chúa được sống. Đức Giêsu luôn ở quanh ta qua những người anh em, qua người chồng, vợ, con, ông bà, cha mẹ…
Lạy Chúa Giêsu!  Bấy nhiêu tuổi đời là bấy nhiêu lần con cùng với gia đình và mọi người tham dự, tưởng nhớ cuộc khổ nạn của Chúa. Nhưng, Chúa ơi, lắm khi con đến tham dự các nghi thức cho qua lần chiếu lệ, con đến vì hiếu kỳ. Vì thế, con chưa cảm ra được tình yêu mà Chúa dành cho con qua cái chết của Ngài, không cảm thì làm sao con có thể đáp trả bằng sự ăn năn, bằng hy sinh và thực thi những gì Chúa luôn mời gọi con.
Xin Chúa giúp con ý thức hơn nữa về thân phận yếu đuối của mình, giúp con nhận ra tình yêu mà Chúa dành cho con và cuối cùng giúp con đền đáp tình Chúa qua cách sống hằng ngày của con. Amen.
 

Lễlá-369: QUA ĐAU KHỔ VÀO TRONG VINH QUANG

LM ĐAN VINH
I.HỌC LỜI CHÚA
1. TIN MỪNG: Lc 19,28-40
(28) Đức Giê-su nói những lời ấy xong, Người đi đầu, tiến lên Giê-ru-sa-lem. (29) Khi đến gần làng Bết-pha-ghê và làng Bê-ta-ni-a, bên triền núi gọi là núi Ô-liu, Người sai hai môn đệ và bảo: (30) “Các anh đi vào làng trước mặt kia. Khi vào sẽ thấy một con lừa con chưa ai cỡi bao giờ, đang cột sẵn đó. Các anh tháo dây ra và dắt nó đi. (31) Và nếu có ai hỏi: “Tại sao các anh tháo lừa người ta ra”, thì cứ nói: “Chúa cần đến nó”. (32) Hai người được sai ấy ra đi và thấy y như Người đã nói. (33) Các ông đang tháo dây lừa, thì những người chủ con lừa nói với các ông: “Tại sao các anh lại tháo con lừa ra?” (34) Hai ông đáp: “Chúa cần đến nó”. (35) Các ông dắt lừa về cho Đức Giê-su, rồi lấy áo choàng của mình phủ lên lưng lừa, và đặt Đức Giê-su lên. (36) Người tới đâu, người ta cũng lấy áo mình trải xuống đường. (37) Khi Người đến gần chỗ dốc xuống núi Ô-liu, tất cả đoàn môn đệ vui mừng bắt đầu lớn tiếng ca tụng Thiên Chúa, vì các phép lạ họ đã được thấy. (38) Họ hô lên: “Chúc tụng Đức vua, Đấng ngự đến nhân danh Chúa! Bình an trên cõi trời cao, vinh quang trên các tầng trời!”(39) Trong đám đông có vài người thuộc nhóm Pha-ri-sêu nói với Đức Giê-su: “Thưa Thầy, Thầy quở trách môn đệ Thầy đi chứ!” (40) Người đáp: “Tôi bảo các ông: Họ mà làm thinh, thì sỏi đá cũng sẽ kêu lên!”.
2. Ý CHÍNH:

Hai bài Tin mừng Chúa Nhật Lễ Lá hôm nay gồm hai phần: - Phần thứ nhất (Lc 19,28-40): Tường thuật Lễlá-369

Hai bài Tin mừng Chúa Nhật Lễ Lá hôm nay gồm hai phần:
- Phần thứ nhất (Lc 19,28-40): Tường thuật việc Đức Giê-su khải hoàn vào thành Giê-ru-sa-lem để làm vua Thiên Sai.
- Phần thứ hai (Lc 22,14-23,56): Tường thuật việc Đức Giê-su thi hành sứ vụ Thiên Sai bằng con đường “Qua đau khổ vào trong vinh quang”. Bài Thương Khó quá dài nên sẽ được đọc trong sách Tân Ước hay trong Bài Tin Mừng CN Lễ Lá năm C.
3. CHÚ THÍCH:
- C 28-34: + Người đi đầu: Với tư cách là Vua Mê-si-a, Đức Giê-su can đảm đi đầu như một mục tử đi trước dẫn đường cho đoàn chiên theo sau (x. Ga 10,4). + Tiến lên Giê-ru-sa-lem: Đức Giê-su từ thành Giê-ri-cô tiến lên thủ đô Giê-ru-sa-lem. Giê-ru-sa-lem nằm trên đỉnh núi cao hơn mặt biển 700 mét, nơi Đức Giê-su sẽ hoàn tất sứ vụ cứu độ bằng việc chịu chết và sống lại. + Làng Bê-ta-ni-a: Tên một ngôi làng nhỏ nằm trên triền núi Ô-liu về hướng Đông, cách Giê-ru-sa-lem khoảng 5 cây số. Làng này có nhà của ba chị em là Mát-ta, Ma-ri-a và La-da-rô. Đức Giê-su và các môn đệ thường nghỉ lại đây mỗi lần hành hương về Giê-ru-sa-lem (x. Mt 21,17). + Con lừa: Theo quan niệm của Cựu ước, lừa là một con vật giống như con ngựa, dành cho đức vua và các nhà quý tộc cưỡi. Áp-sa-lôm là con trai vua Đa-vít cũng đã cưỡi lừa trong cuộc nổi loạn chống lại vua cha Đa-vít (x. 2 Sm 18,9). + Chưa ai cưỡi bao giờ: Nghĩa là đang còn tinh tuyền chưa bị mang ách trên cổ (x. Ds 19,2), nên xứng đáng cho Vua Thiên Sai sử dụng (x.1 Sm 6,7). + Vì “Chúa” cần đến nó: Dưới ánh sáng mầu nhiệm Phục Sinh, Đức Giê-su được môn đệ gọi là “Chúa” hay “Chủ”. Đây là tước hiệu được gán cho Đức Giê-su từ thời Giáo hội sơ khai. Từ ngữ này diễn tả mầu nhiệm Đức Giê-su vừa là Con Người vừa là Con Thiên Chúa (x. Rm 10,9 ; Pl 2,10-11).
- C 35-38: + Các ông dắt lừa về, lấy áo choàng của mình phủ lên lưng lừa, và đặt Đức Giê-su lên: Những chi tiết này gợi lại cuộc đăng quang lên làm vua của nhà vua Sa-lo-mon do vua cha là Đa-vít đã chuẩn bị trước (x. 1V 1,33.38.40). Việc Đức Giê-su ngồi trên mình lừa thay vì ngựa chiến nhằm diễn tả sứ vụ của Người là vua Thiên Sai hòa bình, chinh phục lòng người bằng tình yêu thương thay vì bằng bạo lực chiến tranh. + “Chúc tụng Đức Vua.”..: là lời Thánh vịnh 117,25-26 được hát ca tụng Đức Chúa trong các buổi lễ long trọng khi đòan rước tiến vào Đền thờ.
- C 39-40: + Thưa Thầy, Thầy quở mắng môn đệ Thầy đi chứ: những người Pharisêu nhắc Đức Giê-su cấm môn đệ hò hét tôn vinh Người, vì họ không tin Người là Vua Thiên Sai. + “Họ mà làm thinh thì sỏi đá cũng sẽ kêu lên”: Không gì có thể ngăn cản thành Giê-ru-sa-lem nghênh đón Đức Giê-su vào Thành đăng quang như một Đấng Thiên Sai. Số phận của Thành Giê-ru-sa-lem là sẽ bị tàn phá bình địa vì tội đã từ chối đón nhận Đức Giê-su là Đấng Thiên Sai (x. Lc 19,44).
4. MẤY GỢI Y SUY NIỆM TIN MỪNG LUCA (Lc 22,14-23,56) :
+ Đức Giê-su tình nguyện chịu chết để cho tội nhân được sống: Theo Lu-ca, thập giá là dấu chỉ của lòng thương xót của Chúa, thể hiện qua cuộc khổ nạn của Người: Cuộc khổ nạn chính là “Giờ của kẻ thù và của quyền lực tối tăm” (x. Lc 22,53). Chính khi đón nhận chén đắng thập giá, Đức Giê-su đã biểu lộ tình thương đối với các tội nhân khi chữa tên đầy tớ thầy cả thượng phẩm bị các môn đệ chém đứt tai (x. Lc 22,51), khi nhìn ông Phê-rô để nhắc ông về tội vừa chối Thầy ba lần (x. Lc 22,61), khi xin Chúa Cha tha tội cho những kẻ giết hại mình (x. Lc 23,34), khi hứa ban phần thưởng thiên đàng cho kr3 trộm lành có lòng hối cải (x. Lc 23,43)… Như vậy: Đức Giê-su đã tình nguyện chịu chết trên thập giá để đền tội thay và sống lại để ban sự sống cho lòai người chúng ta.
+ Đức Giê-su là “Chúa”: Trong khu vườn tại núi Ô-liu, các môn đệ đã gọi Đức Giê-su là Chúa khi hỏi: “Lạy Chúa, chúng con tuốt gươm chém được không?” (x. Lc 22,49); Tại phiên tòa của Thượng Hội đồng Do thái, các quan tòa cũng hỏi Đức Giê-su về tước vị Con Thiên Chúa như sau: “Vậy ông là Con Thiên Chúa sao ?” (x. Lc 22,70).
+ Đức Giê-su giữ im lặng trước Hê-rô-đê: Hê-rô-đê nghe đồn về tài làm phép lạ của Đức Giê-su và muốn gặp Người, hy vọng được xem Người làm phép lạ. Nhưng Người đã giữ im lặng khiến nhà vua tức giận và truyền mặc áo trắng cho Người (x. Lc 23,8-9). Trong suốt cuộc sống, Đức Giê-su thường không thỏa mãn những đòi hỏi Người làm phép lạ như vậy (x.Lc 4,9-12).
+ Đức Giê-su nêu gương cầu nguyện và vâng phục thánh ý Chúa Cha: Trước khi bị bắt, Người đã cầu nguyện và trải qua cơn đau khổ tột cùng (x. Lc 22,39-46). Cuộc khổ nạn của Đức Giê-su nằm trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa (x. Lc 22,46). Trước khi tắt thở, Người đã cầu nguyện phó dâng linh hồn vào trong tay Chúa Cha (x. Lc 23,46). Người luôn vâng phục thánh ý Chúa Cha qua lời cầu nguyện: “Xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (x. Lc 22,42).
+ Đức Giê-su muốn mọi người đều được gia nhập vào Nước Trời để được hưởng ơn cứu độ: Chỉ những kẻ bất tín, và làm tay sai cho ma quỷ như các đầu mục dân Do thái mới bị loại ra khỏi Nước Trời (x. Lc 11,40-54). Họ đã đòi quan tổng trấn Phi-la-tô kết án tử hình cho Người cách bất công (x. Lc 23,2), đang khi ông “không tìm ra một tội nào đáng phải chết” và muốn tha cho Người. Khi chứng kiến các sự việc xảy ra, viên đại đội trưởng Rô-ma đã phải thốt lên rằng: “Đây thật là một người công chính!” (Lc 23,47); Còn dân chúng Do thái thì bỏ ra về, vừa đi vừa đấm ngực ăn năn vì đã trót vào hùa với những kẻ gian ác để giết hại một người công chính (x. Lc 23,48).
II.SỐNG LỜI CHÚA
1. LỜI CHÚA: “Sau khi ăn miếng bánh,Giu-đa liền đi ra. Lúc đó trời đã tối”(Ga 13,30).
2. CÂU CHUYỆN: MỘT CUỘC SĂN ĐÊM
Tuần báo THIS WEEK đã đăng bài giới thiệu với độc giả một vườn bách thú nổi tiếng tên là Nai Hăng Tinh (Night Hunting)- “Cuộc săn đêm”. Đây là một vườn bách thú duy nhất trên thế giới mở cửa vào mỗi buổi tối từ 19g30 đến 24g00. Vườn tọa lạc trên một khu đất rộng khoảng 40 mẫu tây. Vườn bách thú này hiện có trên 1000 con thú thuộc 100 chủng loại khác nhau,. Chúng đến từ khắp các quốc gia trên thế giới. Trong số này có khoảng 40 con thuộc lọai thú quý hiếm. Mỗi đêm có khỏang 3000 du khách đến tham quan cảnh sống của các thú vật về đêm. Dưới ánh sáng mờ ảo, thú vật xem ra đang chìm đắm trong giấc ngủ thư thái và bình an.
Tuy nhiên ông giám đốc vườn bách thú lại cho biết suy nghĩ của ông như sau: “Một trong những điều đáng lo ngại của chúng tôi là hành động nghịch phá của một số du khách. Chẳng hạn: Một số người thì đập mạnh vào chuồng của thú dữ, số khác thì la lối om sòm phá tan sự thinh lặng cần cho việc thưởng lãm vẻ đẹp tự nhiên”. Và tờ báo bình luận bằng một câu đáng cho chúng ta suy nghĩ, và cũng phù hợp với tâm tình người tín hữu phải có trong Tuần Thánh này: “Bóng đêm làm cho nhiều loài thú hoang thiếp ngủ, nhưng lại làm cho thú tính trong lòng một số người thức dậy !”.
3. SUY NIỆM:
1) Ý nghĩa của Lễ Lá: Phụng vụ Lễ Lá gợi lên cho chúng ta ba ý nghĩa như sau.
-Một là “Giờ đã đến”: Lễ Lá tưởng niệm cuộc khải hòan của Đức Giê-su vào thành Giê-ru-sa-lem trước khi chịu khổ nạn, là dấu chỉ “giờ” đã đến: Đức Giê-su biết mình phải làm gì và đã chấp nhận đi con đường Chúa Cha đã định là “qua đau khổ thập giá để vào vinh quang phục sinh”, như hạt lúa mì rơi xuống đất có chết đi mới sinh nhiều bông hạt.
-Hai là tôn vinh Vua hòa bình. Ðây là lần đầu tiên Đức Giê-su để cho dân chúng tung hô Người: "Chúc tụng Ðấng nhân danh Chúa mà đến. Hoan hô trên các tầng trời". Người ngồi trên lừa khải hòan vào thành Giê-ru-sa-lem. Cũng vì việc này mà sau đó Người đã bị xét xử và bị kết án tử hình thập giá. Bản án của Người được viết bằng ba thứ tiếng: Do thái, La tinh và Hy lạp như sau: "Giê-su Na-da-rét Vua dân Do Thái". khai mào một vương quốc của sự thật và sự sống, vương quốc của yêu thương và an bình như Người đã nói với Phi-la-tô: "Tôi sinh ra và đến trong thế gian này là để làm chứng cho sự thật. Ai tôn trọng sự thật thì nghe tiếng tôi".
-Ba là suy niệm về cuộc khổ nạn của Đức Giê-su: Qua bài Thương Khó, Hội Thánh nhắc nhở các tín hữu hãy liên kết sự đau khổ gặp phải trong cuộc sống hằng ngày với sự đau khổ của Đức Giê-su trên cây thập giá. Khi chấp nhận chịu đựng các điều trái ý gặp phải hằng ngày là chúng ta cùng chia sẻ gánh nặng của Đức Giê-su. Từ nay đau khổ và sự chết không làm cho con gười thất vọng, nhưng là đường dẫn đưa vào trong vinh quang phục sinh.
2) Chúng ta phải làm gì?:
-Kết hiệp với cuộc tử nạn của Đức Giê-su: Chấp nhận đi theo Đức Giê-su trên đường thánh giá là chúng ta sẵn sàng đón nhận mọi nỗi đau khổ do bệnh tật cũng như các tai nạn và những điều trái ý gặp phải trong cuộc sống hằng ngày, liên kết với sự đau khổ của Đức Giê-su trong cuộc khổ nạn. Hãy năng cầu nguyện với Chúa Cha noi gương Chúa Giê-su trong vườn Cây Dầu: "Lạy Cha, nếu có thể được, xin cất chén đắng này xa Con, nhưng xin đừng theo ý Con một theo ý Cha mà thôi".
-Tỉnh thức và cầu nguyện luôn: Chúa Giê-su đã kêu gọi các môn đệ “Phải tỉnh thức và cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ! Vì tinh thần thì mau lẹ, nhưng xác thịt lại yếu hèn !” Tỉnh thức và cầu nguyện đồng nghĩa với bước đi trong ánh sáng của Chúa Giê-su là Mặt Trời Công Chính. Ánh sáng đó chính là Lời Chúa. Chỉ có Chúa Giê-su mới “là con đường, là sự thật và là sự sống”. Bước đi trong ánh sáng của Người, vâng nghe Lời Người, chắc chắn chúng ta sẽ không bị lạc lối, sẽ chiến thắng được các cơn cám dỗ của ma quỷ và sẽ đạt tới quê trời hạnh phúc muôn đời.
-Quyết tâm sống tình yêu thương cụ thể: bằng việc giúp đỡ một người đang gặp khó khăn hoặc người đang đau khổ tinh thần lấy lại niềm vui và hy vọng. Tập nhìn những người đau khổ bệnh tật không được chăm sóc như Chúa Giê-su bị bỏ rơi trên cây thập gía, và nhiệt tình phục vụ họ như phục vụ chính Chúa Giê-su, để sau này được Người ban thưởng hạnh phúc Nước Trời (x Mt 25,40).
4. THẢO LUẬN: Trong những ngày mùa Chay này, mỗi người chúng ta nên làm những việc cụ thể nào để xua trừ bóng tối tội lỗi ra khỏi con người của chúng ta?
5. NGUYỆN CẦU
LẠY CHÚA GIÊ-SU,
Vì Chúa đã lập phép Thánh Thể để làm của ăn nuôi dưỡng chúng con, xin cho những người nghèo luôn có cơm ăn áo mặc hằng ngày.
Vì Chúa đã xao xuyến trong vườn cây Dầu, xin cho chúng con đủ sức đương đầu với những khó khăn gặp phải trong cuộc sống.
Vì Chúa đã bị kết án bất công, xin cho chúng con biết can đảm bênh vực công lý.
Vì Chúa đã bị xỉ nhục và nhạo báng, xin cho các người bé mọn được tôn trọng nhân phẩm.
Vì Chúa đã chịu vác thập giá nặng nề, xin cho những ai đang đau khổ trên giường bệnh, nhận được sự nâng đỡ ủi an.
Vì Chúa đã bị lột áo và bị đóng đinh vào thập giá, xin cho sự hiền hòa nhân ái luôn chiến thắng bạo lực hung tàn.
Vì Chúa đã giang tay chịu chết trên thập giá, xin cho các đôi vợ chồng đang xa lìa được nối lại tình yêu ban đầu.
Vì Chúa đã phục sinh trong niềm vui hân hoan, xin cho chúng con biết vui vẻ đón nhận mọi sự khó xảy đến và phó thác cậy trông vào tình thương quan phòng của Chúa.
 

Lễlá-370: Suy Niệm CHÚA NHẬT LỄ LÁ NĂM C

Cuộc thương khó của Đức Giêsu Kitô do bốn tác giả Tin mừng tường thuật lại. Ngày thứ Sáu Lễlá-370

Cuộc thương khó của Đức Giêsu Kitô do bốn tác giả Tin mừng tường thuật lại. Ngày thứ Sáu tuần thánh, Giáo hội cho chúng ta đọc Tin mừng của Thánh Gioan. Chúa nhật lễ lá, đọc Tin mừng Nhất Lãm theo chu kỳ A,B,C.
Chúng ta vừa nghe bài thương khó của Thánh Luca. Mỗi lần nghe lại bài thương khó, chúng ta cảm nghiệm được tình yêu vô bờ bến của Đức Giêsu Kitô, đồng thời chúng ta thấy ẩn hiện thái độ của chúng ta nơi những nhân vật mà các thánh ký kể lại.
 Thật vậy, mục đích xuống thế làm người của Đức  Giêsu Kitô là để cứu độ thế gian. Trong Kinh Tin Kính chúng ta tuyên xưng: “Vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta, Người đã từ trời xuống thế”. Đọc Tin mừng chúng ta thấy, Chúa Giêsu luôn biết trước mọi biến cố xảy ra trong cuộc đời của Ngài. Chính Ngài đã nói với hai môn đệ chuẩn bị những gì sắp diễn ra như Tin mừng Thánh Luca vừa kể lại(x. Lc 19, 28-40). Ít nhất, ba lần Ngài báo trước về cuộc khổ nạn của mình: “Con Người phải chịu đau khổ nhiều”. Nhưng Ngài tự nguyện bước vào cuộc khổ nạn ấy, chính là để làm trọn thánh ý Chúa Cha: "Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cất chén này xa con. Tuy vậy, xin đừng làm theo ý con, mà làm theo ý Cha"(Lc 22, 42). Mặc dầu bị nộp, bị đánh đạp, bị tra tấn, nhưng suốt hành trình cuộc khổ nạn, chúng ta vẫn thấy Ngài xử lý những biến cố xảy ra xung quanh Ngài một cách hết sức bình thản. Biết Giuđa phản bội, Ngài nhắc khéo rằng:“Kẻ nộp Ta đang ở gần Ta, ngay trên bàn này”(Lc 22,21). Khi Giuđa dẫn một toán quân đến bắt Ngài, Ngài nói: "Giu-đa ơi, anh dùng cái hôn mà nộp Con Người sao?”(Lc 22,48). Ngài nhắc cho Phêrô : "Simon, Simon, này ma quỷ đã đòi sàng các con như sàng gạo, nhưng Ta đã cầu nguyện để con khỏi mất đức tin. Và phần con, khi đã trở lại, con hãy làm cho anh em con vững tin"(Lc 22,31-32). Ngài còn báo trước cho Phêrô biết, ông sẽ chối Thầy(x. Lc 22,34). Đúng như lời tiên báo, Phêrô đã chối Thầy ba lần trước một cô gái, nhưng Ngài vẫn nhìn Phêrô với ánh mắt yêu thương, thông cảm và tha thứ. Khi thấy các môn đệ ngủ mê, Ngài nhắc nhở họ:“Hãy dậy và cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ”(Lc 22,40). Ngài vẫn bình tĩnh chữa cho tên đầy tớ bị Phêrô chém đứt tai (x. Lc 22,51). Trên đường đi lên núi Sọ, vai vác thập giá, thân thể nát tan, mình lấm đầy máu do bị đánh đập nhiều, nhưng Ngài vẫn dừng lại để yên ủi các phụ nữ Giêruzalem. Trên núi Sọ, trước khi trút hơi thở cuối cùng, Ngài đã tha thứ cho kẻ trộm lành, đồng thời xin Chúa Cha tha thứ cho những kẻ làm hại mình (x. Lc 23,34). Tất cả những lời nói, cử chỉ và hành động của Chúa Giêsu trong cuộc khổ nạn cho chúng ta thấy thái độ của một vị Thiên Chúa đầy tình yêu thương nhân loại.
 Đức Giêsu yêu thương nhân loại hết mức. Nhưng qua mọi thời đại, nơi con người vẫn còn đó những thái độ từ chối lòng tốt của Người, giống như thái độ của đa số các nhân vật trong bài thương khó mà các thánh ký kể lại. Đó cũng là thái độ của mỗi chúng ta hôm nay.
 Thật vậy, các môn đệ là những người được Chúa Giêsu yêu thương gọi, chọn, huấn luyện để tiếp tục sứ mạng của Ngài. Nhưng trước cuộc khổ nạn, không còn có vị nào giữ trọn sự trung thành với Thầy mình. Giuđa đã phản bội, bán thầy với giá ba mươi đồng bạc. Khi dẫn một toán quân đến bắt Thầy, để che đậy tội ác của mình, ông đã dã tâm ôm hôn Thầy. Còn Phêrô, vị tông đồ trưởng, nhanh nhẹn, hoạt bát, luôn đại diện cho nhóm Mười Hai để trả lời các câu hỏi mà Thầy đưa ra. Ông đã thề thốt:“Sẵn sàng theo Thầy, dù vào tù hay đi chịu chết”(Lc 22,33). Thế mà, khi Thầy bị quân lính bắt, ông chỉ đứng xa xa nhìn Thầy. Chỉ một cô gái hỏi về mối liên quan giữa ông với Thầy Giêsu, Phêrô đã chối phăng là “Tôi không biết người ấy là ai”, không những một lần mà là ba lần (x. Lc 22, 54-62). Khi Thầy bị bắt, hầu hết các môn đệ khác đều chạy trốn. Dưới chân thập giá, chỉ còn lại Thánh Gioan và Mẹ Người.
 Ngày hôm nay, khi đọc lại bài thương khó, nhiều người vẫn trách các môn đệ, đám đông, Philatô, Hêrôđê…Nhưng nếu xét mình lại, chúng ta vẫn thấy mình nơi Giuđa, khi chúng ta đặt tiền bạc, quyền lợi bản thân lên trên Chúa. Chúng ta thấy mình nơi Phêrô, khi chúng ta chỉ theo Chúa, gắn bó với Chúa lúc vui, lúc bình yên. Nhưng, chúng ta lại đứng xa xa, thậm chí bỏ Chúa, chối Chúa khi gặp thử thách gian nan.
Chúng ta thấy mình nơi thái độ của đám đông, khi chúng ta sống theo chủ nghĩa cơ hội. Thấy Chúa làm phép lạ hoá bánh ra nhiều, thì tôn Chúa lên làm vua. Thấy Chúa cỡi trên lưng lừa tiến vào thành Giêrusalem uy nghi, thì cỡi áo, bẻ lá trải lót đường để Chúa đi. Và lớn tiếng rằng : “Hoan hô con vua Đavít”, “Vạn tuế Đấng nhân danh Chúa mà đến”(x. Lc 18,38). Nhưng khi Chúa bị điệu đến trước Philatô thì sẵn sàng đồng thanh hô lớn tiếng tha cho Baraba và giết Đức Giêsu: “Đóng đinh nó đi, đóng đinh nó vào thập giá”(Lc 23, 21).
 Chúng ta thấy mình nơi thái độ của Philatô, khi chúng ta sợ mất chức quyền danh vọng, nên bỏ mặc cho người vô tội phải chết. Chúng ta thấy mình nơi Hêrôđê, khi chúng ta thất vọng vì không gặp được một Đức Kitô theo ý mình.
 Xin cho chúng ta có được tấm lòng thống hối của Phêrô và của người trộm lành. Xin cho chúng ta biết chịu mọi sự khó bằng lòng như ông Simon vác thánh giá đỡ Đức Giêsu. Xin cho chúng ta có tấm lòng bình thản như Chúa Giêsu để vâng theo thánh ý Chúa Cha, chấp nhận mọi biến cố xảy ra trong cuộc đời một cách vui vẻ.
 Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã chấp nhận bước vào cuộc khổ nạn để cứu độ nhân loại chúng con. Xin cho mỗi chúng con luôn biết noi gương Chúa, đón nhận đau khổ trong cuộc đời để cứu độ chúng con và làm sáng danh Chúa. Amen.
 Lm. Anthony Trung Thành
 

Lễlá-371: Người yêu thương đến cùng

Ác tâm đã đổ dồn vào Chúa Giêsu càng ngày càng lan rộng và trở nên bạo lực mù quáng. Trước hết Lễlá-371

Ác tâm đã đổ dồn vào Chúa Giêsu càng ngày càng lan rộng và trở nên bạo lực mù quáng. Trước hết là cơn giận ghét của các bậc kỳ lão trong dân thuộc phái Pharisieu và phái Saduceo. Và sau đó cơn giận dữ đó càng mạnh lên khi đám đông dân chúng gào thét lên bằng một tiếng kêu lớn trước tòa án Philato : “Đóng đanh nó đi! Đóng đanh nó đi!”.
Chúa Giêsu bị tố cáo về 2 vụ kiện khác nhau:
- Vụ kiện về tôn giáo trước mặt các bậc kỳ lão và các thượng tế.
- Vụ kiện về chính trị trước mặt tổng trấn Philato thay mặt hoàng đế Roma.
Qua 2 vụ kiện này, Chúa Giêsu mặc khải căn tính đích thực của Người cho chúng ta.
Chúa Giêsu, bậc thầy của những lời lẽ đáp trả, không bao giờ đánh mất một luận chứng nào trước đối phương. Ngài chỉ nói tóm gọn có 3 lần suốt cả 2 vụ kiện này. Đôi lúc Ngài im lặng trước những câu hỏi mà họ đặt ra cho Ngài:
- Trước mặt Thầy cả thượng phẩm, Người khẳng định Người là Đấng Mesia, là Con Thiên Chúa.
- Trước mặt Philato, Người xác nhận Người là vua dân Dothái, nhưng không như các vua ở trần gian này.
- Trên thập giá, Người lặp lại tiếng kêu than của Isaia, tôi tớ đau khổ: “Lạy Chúa tôi, lạy Chúa tôi, sao Chúa bỏ tôi”?
Thánh Marco mô tả những yếu tố nhân loại xúc động nhất mà Chúa Giêsu phải chịu trong cuộc khổ nạn.
- Tại vườn Cây Dầu: “Chúa buồn đến chết đươc”, Ngài bắt đầu cảm thấy kinh hoàng và khiếp sợ, Ngài cầu xin Cha cho khỏi uống chén đắng này. Ngài không tìm được ai an ủi  (có 3 người bạn thân tín nhất thì lại đang ngủ). Ngài đã bị trao nộp, bị ghét bỏ và các môn đệ đều bỏ trốn. Ngài bị đánh đập tàn nhẫn.
- Trên đồi Canve. Ngài đã phải chịu đau khổ vì bị đóng đinh đã đành, người ta còn buông ra những lời chửi rủa lăng nhục Ngài. Có mấy phụ nữ đạo đức của Ngài chỉ dám quan sát từ xa. Cuối cùng, Ngài cảm giác rằng chính Thiên Chúa đã bỏ rơi Ngài.
Chúng ta có thể nói được rằng: Tất cả những đau khổ, nước mắt, nỗi lo sợ kinh hoàng của đời sống, hình như đang bóp nghẹt thế giới chúng ta, đang đặt ra trước mặt Ngài. Thiên Chúa bình đẳng với chúng ta và Ngài cũng chịu đựng tất cả.
Các bài đọc của Chủ nhật hôm nay giới thiệu cho chúng ta 2 cuộc rước;
Cuộc rước thứ nhất, rước Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem với lòng nhiệt huyết tung hô: “Hoan hô con vua Đavit”. Và cuộc rước thứ hai, dẫn Chúa ra khỏi thành, lên án tử hình Chúa trên cây thập giá.
Trong phần phụng vụ làm phép lá và rước lá, Chúa được tung hô là “Con Vua Đavit, Đấng nhân danh Thiên Chúa mà đến”. Trong cuộc rước khổ nạn, dân chúng đả đảo Chúa và trút cơn giận lên Chúa: kết án tử hình Chúa  trên thập giá: “Đóng đinh nó đi! Đóng đinh nó đi”
Cuộc rước thứ nhất, dân chúng trải áo ra đường đón Chúa. Nhưng trong cuộc rước khổ nạn, họ lột áo Chúa và mặc cho Chúa những vết thương tích, những lời nhạo cười và chửi rủa.
Đó là lời đáp trả có tính hai mặt người ta dành cho Thiên Chúa trải qua dòng lịch sử. Thỉnh thoảng, chúng ta cũng có thái độ như vậy đó! Có lúc chúng ta mời Thiên Chúa vào nhà chúng ta, nhưng cũng có khi chúng ta lại đuổi Ngài ra khỏi đời sống chúng ta.
Theo Thánh Marco, ý nghĩa đích thực của Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa được mặc khải rõ nét trên thập giá. Tâm tình của đại úy Roma được phát ra nơi miệng ông: “Thật, người này là Con Thiên Chúa”. Đúng thật là thế!
Trong suốt cuộc đời công khai của Chúa Giêsu, Chúa đều yêu cầu người ta giữ im lặng về căn tính của Ngài, vì người ta chỉ có thể hiểu rõ Thiên Chúa khi ngắm nhìn Thập giá: Ngài là Con Thiên Chúa, Ngài là vua, Ngài là tất cả tình yêu, Ngài là tình yêu tuyệt đối, Ngài đã chết vì nhân loại. Ngài là vị vua phục vụ không vụ lợi, không toan tính: “Ngài đến để phục vụ chứ không phải để được phục vụ”.
Đó là cách thế mà Chúa Giêsu trao ban sự sống của Ngài cho chúng ta. Ngài đi đến cùng của tình yêu, đi đến cái chết trên thập giá để chứng tỏ Ngài là Con Thiên Chúa. Tất cả quyền lực của Ngài chính là  tình yêu Thập giá: “Ngài đã yêu thương những kẻ thuộc về Ngài còn ở trần gian, và Ngài đã yêu thương họ đến cùng”
Lm. Gioan Đặng Văn Nghĩa
 

Lễlá-372: NHỮNG ĐỔI THAY ĐẾN NGỠ NGÀNG

(Is 50, 4-7; Pl 2, 6-11; Mc 14,1 – 15,47)

Sau 40 ngày Mùa Chay, hôm nay, cùng với Giáo Hội, chúng ta bước vào Tuần Thánh là tuần Lễlá-372

Sau 40 ngày Mùa Chay, hôm nay, cùng với Giáo Hội, chúng ta bước vào Tuần Thánh là tuần cao điểm của năm Phụng Vụ, bởi vì đây là tuần cả Giáo Hội sống lại mầu nhiệm thương khó, tử nạn và phục sinh của Đức Giêsu cách đặc biệt.
Tin Mừng hôm nay trình thuật cuộc thương khó của Đức Giêsu, khởi đi từ việc Ngài tiến vào thành Giêrusalem giữa tiếng hoan hô vang lừng của dân chúng.
Tuy nhiên, sự tung hô, tôn vinh ấy chẳng được bao lâu, thì Ngài đã phải chết. Nguyên nhân chính dẫn đến sự kiện đau lòng này chính là những sự đổi thay của lòng người!
1. Những đổi thay của lòng người
Ca dao Việt Nam có câu: “Dò sông, dò biển dễ dò. Lòng người nham hiểm ai đo cho cùng!”. Chính vì lòng dạ con người như thế, nên người xưa, nhất là những người quân tử thường hay dùng người: cho ở xa để đem lòng trung, cho ở gần để đem lòng kính, sai làm nhiều việc để xem cái tài, hỏi lúc vội vàng để xem cái trí, hẹn cho ngặt ngày để xem có tín, ủy cho tiền của để xem có nhân, giao cho việc nguy biến để xem có tiết, cho đánh chén say sưa để xem cử chỉ, cho ở chỗ phiền tạp để xem thần sắc. Xem người đại khái như vậy, thì họa mới có thể biết được người!
Đức Giêsu cũng đã biết rõ lòng dạ con người nham hiểm, khó lường…, nên Ngài đã tìm mọi cách với hy vọng những gì mắt thấy, tai nghe, sẽ làm cho người môn đệ cũng như mọi người hướng thiện và sống tốt. Nhưng ai ngờ, do những tác động ngoại cảnh làm cho lòng người đổi thay theo, vì thế, cuộc thương khó của Đức Giêsu ngày càng leo thang!
Người đổi thay đầu tiên được kể đến, chính là Giuđa. Ông là người Đức Giêsu yêu thương và tuyển chọn. Ngài cũng đã dạy dỗ ông nhiều điều, nhất là những bài học về từ bỏ, thanh thoát. Hơn nữa, còn tín nhiệm và trao cho ông chức vụ quản lý của Nhóm Mười Hai.
Tuy nhiên, thay vì coi đồng tiền là tôi tớ, là phương tiện, thì đằng này, ông đã coi nó là ông chủ, là mục đích. Vì thế, chính đồng tiền đã đè bẹp ông, khiến lòng dạ ông đổi thay. Chỉ với 30 đồng bạc, ông đã chấp nhận đánh đổi vị trí của mình: từ chỗ là môn đệ, thành kẻ phản bội khi bán Thầy của mình bằng cái hôn giả tạo và với giá rẻ mạt. Ôi một sự đổi thay đến đau điếng!
Thứ đến là sự thay đổi của Tông đồ trưởng Phêrô. Đức Giêsu rất thương Phêrô, bởi lẽ ông là một con người bộc trực, nhưng thẳng thắn, chân thành. Điều này lý giải cho việc tại sao Ngài thường đem ông và hai môn đệ khác đi riêng với mình để mặc khải cho ông những sự kiện quan trọng.
Khi ưu ái ông cách đặc biệt như vậy, ấy là vì Ngài muốn ông mục kích tận mắt và thấy tỏ tường quy luật: “Qua đau khổ mới tới vinh quang”. Hơn nữa, khi đưa ông vào trong mối tương quan thân tình với Ngài như vậy, đó là để có dịp tập cho ông những đức tính cần có của người lãnh đạo.
Tuy nhiên, sự hèn nhát, sợ hãi, đã làm tê liệt ngọn lửa mến nơi ông. Sự trung thành đã không còn nữa. Ông đã sẵn sàng chối Thầy của mình trước toán lính quèn đang sưởi khi chúng gặng hỏi thân thế và mối liên hệ giữa ông với Đức Giêsu. Ôi lại một sự đổi thay khó hiểu!!!
Tiếp theo là sự đổi thay của đám đông. Đám đông này là những người thụ ơn Đức Giêsu. Họ là những người đã được Ngài chữa bệnh, trừ quỷ, dạy dỗ, cho ăn no nê…. Vì thế, khi nghe tin Đức Giêsu vào thành, họ đã tuôn đến như thác lũ và vang tiếng tung hô dạy cả một vùng trời! “Hoan hô Con Vua Đavít, chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến”.
Tuy nhiên, sẵn trong lòng sự hưởng thụ, nên họ đã vẽ lên trong tâm tưởng một Đức Giêsu theo ý của họ: Ngài phải là vua thống trị và giải thoát bằng quyền uy cũng như đem lại cho họ sự giàu có vượt trội! Nhưng khi Đức Giêsu không đáp ứng điều họ mong muốn, thế là đám dân này đã đi vào vết xe đổ vô ơn của tổ tiên họ nơi sa mạc khi xưa. Vì thế, họ đã coi Ngài như một kẻ xa lạ, là tội đồ của dân tộc, và, họ đã không ngần ngại đả đảo Ngài tới cùng “Đem đi! Đóng đinh nó vào thập giá”. Ôi một sự đổi thay đến xót xa!
Cuối cùng là sự đổi thay của quan tổng trấn Philatô. Ông là một vị quan toàn quyền Rôma thời bấy giờ. Lẽ ra, ông phải là người cầm cân nảy mực, bênh vực người nghèo và bảo vệ công lý.
Thế nhưng, trước sức ép của đám đông, trước sự tấn công của các Thượng tế, Biệt phái…, ông đã không nghe theo tiếng Lương Tâm mách bảo, nhưng đã trở thành kẻ đê hèn đến độ thuận theo cái ác để trù dập, loại trừ sự thiện và chấp nhận để “Lẽ phải thuộc về kẻ mạnh”. Ôi một sự đổi thay đầy nhục nhã!
Như vậy, qua các cuộc đổi thay của lòng người, ta nhận thấy một mẫu số chung, đó là:
“Chút lợi danh, tính toan mưu kế
Mà lãng quên chữ nghĩa, chữ nhân”.
Và:
“Vẫn chạy theo sa hoa, hào nhoáng.
Người sang kết bạn, kẻ khó quay lưng”.
2. Những đổi thay của chính chúng ta
Đọc và lắng nghe bài thương khó của Đức Giêsu hôm nay, nhiều người chúng ta không khỏi bức xúc trước thái độ đổi thay của lòng người thời Đức Giêsu!
Tuy nhiên, trải qua suốt dọc dài lịch sử nhân loại, những thái độ đó lại nhan nhản nơi xã hội hôm nay!
Nhưng điều đáng nói hơn cả, đó là những thái độ ấy lại đang hiển hiện lên thật rõ nét ngay nơi mỗi người chúng ta.
Thật vậy, nhiều khi chính tôi chứ không ai khác! Hình ảnh một Giuđa ham tiền, hám bạc, phản bội lại hiện lên trong tâm hồn tôi khi tôi vẫn còn ham hố và bất chấp, để sẵn sàng chạy đua trên cuộc đua kiếm tiền bằng mọi cách. Vì thế, nhiều lúc tôi đã “đánh lận con đen” để ngụy biện cho hành vi đen tối của mình.
Nhiều khi chính tôi chứ không ai khác! Một Phêrô thời hiện đại với đầy đủ sự hèn nhát, ham sống, sợ chết, đang ẩn hiện trong con người tôi khi tôi không dám can đảm tuyên xưng niềm tin nơi môi trường sống của mình. Tôi cũng đã thất trung với Chúa khi không trung tín giữ giao ước với Ngài.
Nhiều khi chính tôi chứ không phải ai khác! Khi hình ảnh và lựa chọn của đám đông xưa kia cũng chính là lựa chọn của tôi hôm nay. Thật vậy, đã biết bao lần, tôi theo và tin Chúa chỉ vì cái bụng, nên: “Khi vui thì vỗ tay vào, gian nan hoạn nạn thì lìa nhau ra”.
Đã có lúc, tôi tạo ra một vị Thiên Chúa theo ý mình, để rồi yêu cầu Ngài phải đáp ứng đúng như yêu sách mà tôi đã đặt ra! Khi không đạt được, tôi đã sẵn sàng bỏ Chúa để đi tìm đến với một vị thần nào đó…! Những lúc như thế, tôi thuộc hạng người “ba phải”.

Nhiều khi chính tôi chứ không phải ai khác! Khi hình ảnh và thái độ hèn nhát của quan Philatô đang ẩn hiện trong con người tôi, khi tôi sợ không dám bảo vệ cho sự thật, công lý. Không dám đứng về phía người nghèo để bênh vực họ. Nhiều khi tôi đã hùa theo “hiệu ứng đám đông” mà quên đi lẽ công bằng, tình yêu thương, bác ái với anh chị em. Có những lúc tôi đã nhắm mắt để nói “có” thành “không” và nói “không” thành “có”, nhằm vu vạ cáo gian cho anh chị em tôi. Những lúc như thế, tôi thật hèn nhát, vì tôi thuộc dạng người “sợ tiếng chửi, ăn mày tiếng khen…”.
Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy bước vào Tuần Thánh và đi theo Chúa trên con đường khổ nạn với tâm tình của Mẹ Maria; của người môn đệ Đức Giêsu yêu mến; của các Phụ nữ Giêrusalem; của ông Simong; bà Veronica và  ông Giuse Arimathia….
Lạy Chúa Giêsu, xin Chúa tha thứ tội lỗi cho chúng con và ban ơn giúp sức, để chúng con trung thành đi theo Chúa đến cùng trên đường thương khó, ngõ hầu chúng con cùng chết với Chúa để được cùng Ngài sống lại trong vinh quang. Amen.
Tu sĩ: Jos. Vinc. Ngọc Biển, S.S.P.
 

Lễlá-373: ĐƯỜNG TÌNH YÊU

Mc 15, 1 - 39

Mùa chay dần khép lại, hôm nay toàn thể Giáo Hội bước vào Tuần Thánh. Trong Tin Mừng hôm Lễlá-373

Mùa chay dần khép lại, hôm nay toàn thể Giáo Hội bước vào Tuần Thánh. Trong Tin Mừng hôm nay, thánh sử Maccô tường thuật “hành trình đau khổ” đầy chông gai của Đức Giêsu, từ khi Người bị bắt cho đến khi tắt thở trên thập giá. Đây là “đường trường đầy đau đớn khổ nhục cho đến chết”, nhưng là ĐƯỜNG TÌNH YÊU, Ngài đã nhẫn nhục chịu đựng trong vâng phục Chúa Cha để cứu độ con người tội lỗi.
Sau khi bị bắt, Người bị lôi hết tòa án này đến tòa án khác, bị tra hỏi, tạt vả. Trước tòa án Philatô, Ngài bị xử bất công, phải xử án chết oan nghiệt thay cho tên cướp Baraba, bởi sóng người hô hào đả đảo cùng các thượng tế nhà đạo. Tên cướp được tha bổng, còn Người vô tội thì phải chịu hành hình. Mấy năm trời bôn ba rao giảng cứu chữa, làm ơn cho đủ mọi hạng người, để đến hôm nay Thầy Giêsu phải tự vác Thập giá tủi nhục đớn đau, rồi bị căng thây đóng đinh vào đó mà treo lên cùng với hai tên trộm cướp.
Chúa nhật Lễ Lá hôm nay mời gọi mỗi người chúng con nhìn lại bản thân mình. Con có thể là một trong số các môn đệ, khi Thầy giảng dạy như một Đấng có uy quyền thì hăng hái theo bước. Khi Thầy bị bắt bớ thì bỏ cuộc trốn chạy, chối từ như chưa bao giờ biết Thầy kẻo bị vạ lây. Con có thể là những người trong đám dân, khi vui thì sẵn sàng trải áo làm đường rước, hết lời tung hô ca ngợi, nhưng lúc khác lại hùa theo số đông mà trở lòng đả đảo chống đối, kết án xấu tha nhân... Nhưng có thể con cũng là một Simon Kyrênê sẵn lòng vác đỡ thập giá cho người khổ đau.
Đức Giêsu cam lòng chịu đựng tất cả vì tình yêu con người và vâng phục Ý Cha cho đến chết trên thập tự, đó là một minh chứng, tận cùng cho một tình yêu, yêu cho đến chết, mà chết cũng chỉ vì yêu. “Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục; và khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người” (Dt 5, 7-9). Bước theo Đức Giêsu trên con đường thập giá là lội ngược dòng đời, vác thập giá theo Chúa không phải dễ, nhưng có Chúa đồng hành và đỡ nâng, chúng con cũng từ thập giá bước vào vinh quang với Chúa.
Ôi Chúa Giêsu của lòng con Chúa ơi! Chiêm ngắm Chúa chịu căng thây trên thập giá, con nhận ra chẳng có tình yêu nào như tình Chúa yêu con. Chúa chết cho con sống muôn đời. Chúa chết vì yêu con. Vì con Chúa quên thân mình, đời con dám mơ gì hơn? Xin cho con tâm hồn chìm lắng trong cái chết của Chúa, để bao tội lỗi, đau khổ của con chìm xuống hòa nhập vào mầu nhiệm Thập giá, để Chúa ôm trọn lấy con trong tình yêu bao dung tha thứ. Xin cho con bước đi theo Chúa từng ngày trên CON ĐƯỜNG TÌNH YÊU. Xin cho con được yêu mãi Người, Giêsu ơi!
Én Nhỏ
 

Lễlá-374: ĐÁM ĐÔNG CUỘC ĐỜI

Gm Giuse Vũ Văn Thiên

Bài Thương khó được đọc trong phụng vụ Chúa nhật Lễ Lá giống như một vở kịch dài có nhiều Lễlá-374

Bài Thương khó được đọc trong phụng vụ Chúa nhật Lễ Lá giống như một vở kịch dài có nhiều tình tiết, chương đoạn. Đức Giêsu Kitô thành Nagiarét là nhân vật chính của vở kịch này. Khi lắng nghe và suy tư Bài Thương khó, tôi lưu ý đến sự hiện diện của đám đông, là những nhân vật phụ nhưng không kém phần quan trọng để làm nên vở kịch này.
Họ là ai?
Họ là những kinh sư, luật sĩ và biệt phái. Đây là những người học hành uyên thâm. Họ có vị trí ưu tiên trong các buổi hội họp. Họ được công chúng kính trọng và coi là những bậc nhân đức, thánh thiện. Tuy vậy, những người này nhiều lần bị Chúa Giêsu lên án kịch liệt. Người phê phán họ là những kẻ giả hình, giống như những nấm mồ tô vôi, bên ngoài hào nhoáng, nhưng bên trong đầy thối tha. Họ cũng bị lên án vì hay chất lên vai người ta những gánh nặng chính bản thân mình không mang nổi. Họ là những người áp dụng một cách cứng nhắc các khoản luật, thậm chí còn bày đặt thêm những quy định để bắt người ta tuân giữ. Trong đám đông này, vị Thượng tế là người đứng đầu trong dân của Do Thái giáo. Nhưng vị thượng tế cũng đã lạm dụng chức năng cầm cân nảy mực trong vụ lên án Chúa Giêsu, người đang bị vu khống cách bất công.
Chủ tọa phiên tòa là Philatô, quan tổng trấn. Ông là đại diện của đế quốc Rôma. Ông cũng là người đại diện của luật pháp, có quyền tha bổng và có quyền kết án một con người, như chính ông đã nói với Chúa Giêsu. (x. Ga, 19-10). Vậy mà trước sức ép của đám đông, ông đã không can đảm bênh vực người vô tội. Philatô đại diện cho những người cầm quyền nhưng hèn nhát và nhụt bước trước bạo quyền. “Lẽ phải thuộc về kẻ mạnh” là như thế đó.
Tôi còn thấy những người dân thành Giêrusalem. Trong số này, có những kẻ xu thời, “khi vui thì vỗ tay vào, đến khi hoạn nạn thì nào thấy ai”. Lúc Chúa Giêsu vinh quang tiến vào thành thánh, họ vui mừng vỗ tay ủng hộ, vì coi Người như Đavít tái giáng để lật đổ quyền thống trị của Rôma. Thế nhưng, trước tòa Philatô, họ lại giơ cao những cánh tay để xin tha cho Baraba, lên án tử hình cho Chúa.
Tôi thấy những môn đệ của Thày Giêsu. Họ vui mừng lúc cùng Chúa bước vào thành thánh, nhưng đó lại sợ hãi hoang mang và bỏ chạy thoát thân. Thế mới biết “khi hoạn nạn mới biết ai là bạn thật”. Trong số họ, có người can đảm như Phêrô, mạnh mẽ kiên quyết là thế, mà lại chịu đầu hàng trước câu nói vu vơ của một cô hầu. Sau này, lúc Chúa chịu đóng đinh, ông và vài môn đệ chỉ đứng xa xa, không dám đến gần (x. Ga 23,49).
Tôi còn thấy những người phụ nữ và trẻ em trong đám đông này. Họ là những người dân thành Giêsusalem thương cảm trước một người bị đem đi giết. Có lẽ họ chẳng có dịp được nghe những lời tố cáo của các kỳ mục Do Thái. Họ cũng không cần biết người này có tội hay không. Trước mắt họ là một con người bầm dập, tàn tạ và bị bạo hành dã man. Một người phụ nữ trong họ, Bà Vêrônica, đã mạnh dạn len qua giữa đám đông để lau mặt Chúa. Thế rồi, cũng có một người đàn ông nông dân, đi làm đồng về, bị quân lính bắt vác đỡ thập giá cho Chúa Giêsu. Đây là những người chân chất, thật thà và ngay thẳng. Họ chẳng cần triết lý cao siêu. Họ chỉ hành động theo lời mách bảo của trái tim và lòng nhân hậu.
Trong số đám đông hỗn tạp ấy, Chúa Giêsu vác thập giá bước đi. Trước những lời phỉ nhổ chế nhạo, Người vẫn âm thầm, thinh lặng, như con chiên bị đem đi giết. Đây là lúc Chúa thực hiện điều chính Người đã giáo huấn: “Anh em hãy tha thứ cho kẻ thù!”; Hãy học cùng tôi vì tôi hiền lành và khiêm nhường trong lòng”; “Ai theo tôi, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo”. Trước đám người đang thương cảm, Chúa an ủi họ và nhắc bảo hãy nghĩ đến cuộc đời của chính họ.
Và, may thay, trong đám đông này, vẫn có những tâm hồn cao thượng và trung thành. Họ là Nicôđêmô, trước đây chỉ âm thầm thiện cảm với Chúa, nhưng sau cái chết của Chúa, ông đã công khai nhận mình là môn đệ. Họ là Giuse Arimathia, là những người phụ nữ từ trước đi theo và giúp đỡ Chúa. Trong đám đông, còn có những người vì miếng cơm manh áo phải cộng tác trong việc giết Chúa, nhưng chứng kiến cái chết của Chúa, họ đã giác ngộ và nhận ra Người là Con Thiên Chúa (x. Mt 27,54). Họ còn là Maria Mađalêna, một nữ môn đệ trung thành với Chúa. Bà là người đầu tiên được gặp Chúa phục sinh.
Đã hai ngàn năm, đám đông trong ngày Đức Giêsu chịu khổ nạn vẫn còn đó. Đó chính là đám-đông-cuộc-đời. Trong đám đông hỗn loạn ấy, tôi thấy chính tôi. Có những lúc tôi nhát đảm như Philatô, không dám bênh vực người vô tội. Có những lúc tôi hừng hực căm thù, như những kỳ mục Do Thái. Lòng ghen ghét đã làm mờ lương tâm của họ, cố tình nói “có” thành “không”. Có những lúc tôi giống như những người “ba phải” ở Giêrusalem, lúc vui thì ủng hộ, lúc trái ý thì chống đối. Có lúc tôi không dám nhận mình là môn đệ của Chúa, như Phêrô đã chối thầy mình. Tôi tìm thấy tôi trong đám đông cuộc đời này. Tuy vậy, tôi không thất vọng, vì Chúa đã đưa mắt bao dung nhìn Phêrô ngay khi ông vừa chối Chúa, Chúa cũng đưa mắt nhìn tôi như thay lời muốn nói: “Ta tha tội cho con, vì Ta yêu con từ ngàn đời”. Lời nói của Chúa giúp lau khô dòng lệ sám hối và ban cho tôi niềm vui khôn tả của sự tha thứ. Tuy vậy, tôi phải luôn thận trọng và tỉnh thức, vì trong đám đông cuộc đời, giữa tiếng hò la, nhiều khi tôi để mình bị  đám đông lôi kéo. Đây là một hiện tượng xã hội mang tên “tâm lý đám đông”, có nghĩa là một hành động xấu, nhưng xung quanh tôi người ta đều làm thế cả, bỗng dưng trở thành một hành động bình thường được mọi người chấp nhận. Đám đông là môi trường làm tôi dễ “đánh lận con đen”, là nơi “vàng thau lẫn lộn”. Đám đông cuộc đời vừa là cơ hội giúp tôi học hỏi, vừa là nguy cơ làm tôi đánh mất chính mình.
Ngày hôm nay, Chúa Giêsu vẫn đang vác thập giá trong lòng cuộc đời. Gương mặt tàn tạ của Người đang tái hiện nơi những người già cô đơn, nơi những người phong cùi, những người nghèo khó bất hạnh cần sự nâng đỡ. Chúa đang mời gọi tôi lau mặt cho Chúa hoặc vác đỡ thập giá cho Người nơi những anh chị em đó. Cây thập giá rất đẹp khi tôi đeo như đồ trang sức, nhưng rất nặng nề khi chấp nhận dấn thân để  nên giống Đấng đã chịu chết trên thập giá vì tôi.
Đã hai ngàn năm, vẫn còn đó những kẻ lên án, vẫn còn đó những kẻ sợ sệt, vẫn còn đó những người đe dọa đóng đinh Chúa và còn tuyên bố Chúa đã chết lâu rồi. Ánh sáng và bóng tối vẫn giao tranh quyết liệt. Sự sống và sự chết vẫn chiến đấu không ngừng. Tin Chúa Giêsu là can đảm đứng về phía ánh sáng và sự sống, nhờ đó, chắc chắn tôi sẽ tìm được niềm vui và an bình.
 

Lễlá-375: CHÚA NHẬT LỄ LÁ

Lm. Giuse Dương Hữu Tình

Sau bốn mươi ngày chay thánh, chúng ta cùng cả Giáo hội bước vào tuần thánh. Tuần thánh khai Lễlá-375

Sau bốn mươi ngày chay thánh, chúng ta cùng cả Giáo hội bước vào tuần thánh. Tuần thánh khai mạc bằng Lễ Lá với nghi thức làm phép lá và rước lá. Tuy nhiên, nếu để ý, chúng ta sẽ nhận ra thánh lễ hôm nay gồm hai phần, phần làm phép lá, rước lá và phần thánh lễ. Xét bề ngoài, hai phần này có hai bầu khí khác nhau. Phần làm phép lá và rước lá thì vui tươi, phấn khởi, tưởng niệm Chúa Giêsu vào thành thánh cách trọng thể. Còn phần thánh lễ với bài thương khó dài, bầu khí mang màu sắc tử nạn đau thương. Khi đặt hai sự kiện trong cùng một thánh lễ, Giáo hội đã muốn trình bày cho chúng ta khuôn mặt của một Đấng Mêsia đích thực. Nhưng trước tiên chúng ta hãy trở lại với phần nghi thức đầu tiên, đó là nghi thức làm phép lá và rước lá.
Dầu không tường thuật sự kiện một cách hoành tráng như thánh sử Mát-thêu (21,1-11),  thánh Mác-cô vẫn có thể giúp chúng ta hình dung lại sự kiện này một cách khá đầy đủ: Chúa Giêsu cỡi trên một con lừa con, nhiều người lấy áo choàng trải xuống mặt đường cho Chúa đi, một số khác thì chặt cành chặt lá mà trải xuống đường. “Người đi trước, kẻ theo sau, reo hò vang dậy: “Hoan hô! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa…”. Chúng ta vẫn quen gọi sự kiện Chúa vào thành thánh như vậy là trọng thể. Nhưng có bao giờ chúng ta tự hỏi: Trọng thể ở chỗ nào? Tiến vào thành thánh như vậy mà đáng gọi là trọng thể sao? Một cuộc rước như thế chỉ tổ làm cho mấy anh lính Rôma phì cười. Bởi họ quá quen những cuộc đón rước hoàng đế với không biết bao đoàn kỵ binh hộ tống, dân chúng reo hò tung hô hai bên đường dễ dài đến 30 dặm. Không nói ở Rôma mà ngay tại Giê-ru-sa-lem này, mỗi khi quan Philatô diễu hành ngoài phố, quan ngồi trên một cỗ xe do bốn con ngựa kéo, hai bên là một đoàn kỵ binh 666 lính với đầy đủ khí giới. Đoàn diễu hành đi tới đâu là hò hét vang tới đó.
Như thế ta mới thấy cuộc vào thánh thánh của Chúa không thể so sánh với các cuộc diễu hành của quan chức bấy giờ. Tuy nhiên, một điều lạ lùng mà ta không thể không nhận ra, đây lại là một sự kiện được cả bốn thánh sử ghi lại một cách rất hào hứng. Chứng tỏ các ngài cũng như những người Do-thái khác đã có cái một nhìn rất khác về sự kiện này.
Trước tiên, lịch sử cũng vén mở cho chúng ta hay rằng mỗi khi quan Philatô đi diễu hành trở về, ông đều cảm thấy rất nhục nhã và uất ức, ức đến nổ ruột. Tại sao vậy? Là vì khi đi diễu hành, diễu hành để thị uy, để biểu dương lực lượng, để hù dọa người dân bị áp bức, Philatô đều thấy rõ những người dân này không sợ, lại còn tỏ vẻ coi thường, người thì nhắm mắt không thèm nhìn, kẻ thì quay đi. Dân này xem ra không bao giờ chịu khuất phục người đang đô hộ mình. Vũ lực quân sự không làm cho dân này kinh sợ. Họ không mong đợi ở sức mạnh quân sự mà mong đợi một điều khác, một điều đã được tiên báo và được truyền thống hàng nghìn năm truyền lại. Họ đợi Đấng phải đến, Đấng từ Thiên Chúa mà đến. Bởi thế khi họ thấy Chúa Giêsu xuất hiện trong dịp lễ, vị mà họ đã nghe rất nhiều, ít là đã ba năm nay, họ hy vọng và chờ đợi. Bỗng họ thấy Người cỡi trên một con lừa con mà tiến vào thành thánh, họ giật mình sực nhớ ngay lời tiên báo trong sách tiên tri Da-ca-ri-a: “Nào thiếu nữ Xi-on, hãy vui mừng hoan hỉ! Hỡi thiếu nữ Giê-ru-sa-lem, hãy vui sướng reo hò! Vì kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi: Người là Đấng Chính Trực, Đấng Toàn Thắng, khiêm tốn ngồi trên lưng lừa, một con lừa con vẫn còn theo mẹ” (Dcr 9,9-10). Lại thêm chi tiết làm họ không còn nghi ngờ gì nữa, Đấng phải đến đang đến, đó chính là nơi Chúa xuất phát để vào thành thánh. Chính nơi này, khoảng một nghìn năm về trước, vua thánh Đa-vít cũng được rước vào thành thánh cách long trọng. Hai dấu hiệu đó làm người Do-thái giật mình nhận ra: thôi chết rồi, chính người này là Đấng Chính Trực, Đấng Toàn Thắng được Thiên Chúa sai đến. Thế là người già, con trẻ bảo nhau cởi áo khoác trải xuống đường, người thì vội chạy chặt cành chặt lá trải hết ra đường cho Người đi. Đây là những cử chỉ rất giàu ý nghĩa. Áo của người dân nghèo chính là thảm. Con không có tiền mua thảm thì đây áo của con chính là thảm. Cành lá được trải xuống đường, được cầm tung hô reo hò vì lá chính là cờ của dân nghèo. Cành lá nói lên nguyện vọng, yêu sách của dân nghèo. Nó là biểu tượng nói lên khát vọng của dân nghèo, những người thấp cổ bé miệng của con cái Thiên Chúa. Khi giơ cao những cành lá để tung hô, đón Chúa, người dân nghèo như muốn thốt lên với chính Đấng được Thiên Chúa sai đến: Lạy Chúa, chỉ có Chúa mới là Đấng có thể đáp ứng mọi nhu cầu, mọi khát vọng của loài người chúng con.
Khát vọng này sẽ được lấp đầy khi chúng ta bước vào phần thánh lễ. Người Do-thái sẽ ngỡ ngàng khi thấy Chúa không làm gì khác lạ sau sự kiện vừa rồi. Họ thất vọng, và nghĩ có lẽ đây không phải là Đấng được Thiên Chúa sai đến. Những biến cố đau thương và tử nạn liên quan tới Người, đối với họ như một lời xác nhận họ nghĩ đúng. Chắc chắn đây không phải là Đấng được Thiên Chúa sai đến. Nhưng họ đâu ngờ được rằng, chính trong sự kiện thương khó và tử nạn này, lời tiên báo của Người đã trở thành sự thực: “Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi”. Thứ sáu tuần này, chúng ta cùng cả Giáo hội sẽ tưởng niệm sự kiện trọng đại này, sự kiện Người được giương cao lên khỏi mặt đất và cũng là sự kiện Người chính thức giơ hai tay kéo cả nhân loại lên với Người. Đó chính là giờ ơn cứu chuộc tuôn trào xuống thế gian như một dòng thác, là giờ sức mạnh của ân sủng tẩy xóa hết mọi nhơ bẩn của thế trần, là giờ của sự giải phóng đích thực và cũng là giờ Thiên Chúa tỏ hiện rõ nhất: Ngài là một Thiên Chúa Tình Yêu.
 

Lễlá-376: MÀU XANH HY VỌNG

Trầm Thiên Thu

Hy vọng là khởi đầu ước mơ, là đường dẫn tới mục đích. Hy vọng rất cần cho cuộc sống. Có bốn Lễlá-376

Hy vọng là khởi đầu ước mơ, là đường dẫn tới mục đích. Hy vọng rất cần cho cuộc sống. Có bốn ý tưởng hay đối với cuộc sống: Nhìn lại phía sau để rút kinh nghiệm, nhìn lên phía trước để có hy vọng, nhìn ra xung quanh để thấy thực tế, nhìn vào nội tâm để thấy chính mình.
Màu xanh tượng trưng cho niềm hy vọng. Lễ Lá là khởi đầu Tuần Thánh, khởi đầu khoảng buồn thương vô tận, đầy tang tóc và chết chóc, nhưng màu xanh của lá cho chúng ta niềm hy vọng tràn trề: Đức Kitô phục sinh.
Trước lễ Vượt Qua một tuần, Chúa Giêsu cưỡi một con lừa nhỏ vào Thành Giêrusalem, có các môn đệ lội bộ theo sau. Thánh Gioan nói rõ: “Dân chúng lũ lượt tuôn đến mừng lễ. Thoạt nghe tin Đức Giêsu tới Giêrusalem, họ cầm nhành lá thiên tuế ra đón Người và reo hò: Hoan hô! Hoan hô! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Chúa! Chúc tụng vua Ít-ra-en!” (Ga 12:12-13).
Buồn để rồi vui. Buồn càng nhiều, vui càng rộn rã. Cũng vậy, đau khổ để rồi hạnh phúc. Đau khổ càng nhiều, hạnh phúc càng lớn. Đó là sự tất yếu, và cũng là Thánh Ý Thiên Chúa mầu nhiệm.
Trình thuật Is 50:4-7 là phần đầu của bài thứ ba trong số các Bài Ca Người Tôi Trung. Đó là nói về đau khổ của Người Tôi Trung – Người Tôi Tớ Đau Khổ: “Đức Chúa là Chúa Thượng đã cho tôi nói năng như một người môn đệ, để tôi biết lựa lời nâng đỡ ai rã rời kiệt sức. Sáng sáng Người đánh thức, Người đánh thức tôi để tôi lắng tai nghe như một người môn đệ. Đức Chúa là Chúa Thượng đã mở tai tôi, còn tôi, tôi không cưỡng lại, cũng chẳng tháo lui. Tôi đã đưa lưng cho người ta đánh đòn, giơ má cho người ta giật râu. Tôi đã không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ”. Những động thái đó không phải là miễn cưỡng, nhưng là tự nguyện – vì yêu thương và thương xót những người mà Người Tôi Trung quý mến. Kẻ được yêu đó là chính mỗi tội nhân chúng ta.
Đau khổ lắm. Đau khổ đến tột cùng. Phàm ngôn không đủ lời để diễn tả. Nhưng dù đau khổ tới đâu, Người Tôi Trung vẫn một lòng tín thành và tín thác: “Có Đức Chúa là Chúa Thượng phù trợ tôi, vì thế, tôi đã không hổ thẹn, vì thế, tôi trơ mặt ra như đá. Tôi biết mình sẽ không phải thẹn thùng”. Chẳng ai muốn khổ, chẳng ai mong sầu, nhưng có đau khổ mới biết thương người khác. Nếu chưa đau khổ, người ta không thể hình dung ra đau khổ thế nào. Chưa đi tù thì không thể hiểu hết cảnh tù đày, chưa hiểu hết nghĩa của sự tự do. Bị tù là bị khổ.
Có lẽ chúng ta nghe Kinh Thánh kể hoặc nghe nói về cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu nhiều lần rồi, hầu như thuộc lòng, nhưng có thể nói rằng vẫn có chút gì đó “mơ hồ” nếu chưa xem phim “The Passion of Christ” (Cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu) của đạo diễn Mel Gibson (1). Xem cảnh quân lính đánh đập Chúa Giêsu rất dã man, khó có ai có thể tưởng tượng được như vậy. Mel Gibson có trí óc rất tinh tế. Giỏi thật!
Khi gặp đau khổ, người kiêu ngạo thì nguyền rủa – nguyền rủa người khác, trách móc đất trời, và vùng vẫy như con giun bị đạp; còn người khiêm nhường thì cam chịu, tủi thân, có trách thì chỉ trách mình mà thôi: “Thân sâu bọ chứ người đâu phải, con bị đời mắng chửi dể duôi, thấy con ai cũng chê cười, lắc đầu bĩu mỏ buông lời mỉa mai: Nó cậy Chúa, mặc Người cứu nó! Người có thương, giải gỡ đi nào!” (Tv 22:7-9). Buồn lắm, buồn đến chết được!
Phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí. Chuỗi buồn này tiếp chuỗi sầu khác. Nước mắt không chỉ mặn, mà còn chua và cay. Cô đơn và lạc loài, thế mà đau khổ cứ tiếp tục chồng lên đau khổ: “Quanh con bầy chó đã bao chặt rồi. Bọn ác đó trong ngoài vây bủa, chúng đâm con thủng cả chân tay, xương con đếm được vắn dài; chúng đưa cặp mắt cứ hoài ngó xem. Áo mặc ngoài chúng đem chia chác, còn áo trong cũng bắt thăm luôn. Chúa là sức mạnh con nương, cứu mau, lạy Chúa, xin đừng đứng xa!” (Tv 22:17-20). Đó là Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa. Dù là Con Yêu Dấu của Thiên Chúa Cha, nhưng Ngài vẫn phải chịu đau khổ đến tột cùng để làm trọn sứ vụ cứu độ chúng sinh. Chắc chắn không một phàm nhân nào phải chịu đau khổ như Ngài. Nhân tính nơi Ngài cũng phải chịu đựng lắm, cả tinh thần và thể lý, chúng ta không thể tưởng tượng được. Ngay cả những người chịu đóng đinh trong lễ hội Cutud (Philippines) chỉ là một phần nhỏ so với Con Người Giêsu mà thôi, chưa thấm vào đâu!
Dù cô đơn, lạc loài, nhục nhã, đau khổ, nhưng Người Tôi Trung vẫn quyết vì Danh Chúa. Hình ảnh này đã và đang được thể hiện nơi các vị tử đạo. Một lần hứa là trọn trăm năm, trước sau như một, không gì có thể lay chuyển: “Con nguyện sẽ loan truyền danh Chúa cho anh em tất cả được hay, và trong đại hội dân Ngài, con xin dâng tiến một bài tán dương” (Tv 22:23).
Thánh Phaolô cho chúng ta biết về sự tự nguyện của Người-Tôi-Trung-Đau-Khổ: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2:6-8). Sự tự nguyện luôn cao cả, quý giá, đáng khâm phục, đáng noi gương. Dù là loại tình yêu nào thì cũng phải tiết ra “chất” hy sinh, nếu không có sự hy sinh thì không đáng gọi là tình yêu. Hy sinh cao nhất là “dám chết” vì người khác. Thật vậy, khi nói về tình yêu, Chúa Giêsu đã xác định: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15:13).
Đức Giêsu Kitô đã nêu gương để chúng ta noi theo. Thánh Phaolô giải thích và kết luận: “Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ; và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: Đức Giêsu Kitô là Chúa” (Pl 2:9-11).
 Thật lạ, chuỗi đau khổ bắt đầu chính từ khoảnh khắc hiển hách. Trình thuật Mc 14:1-15 như một đoạn phim sống động, cho chúng ta thấy rõ điều đó: Hai ngày trước lễ Vượt Qua và lễ Bánh Không Men, các thượng tế và kinh sư tìm cách dùng mưu bắt Đức Giêsu và giết đi, vì họ nói: “Đừng làm vào chính ngày lễ, kẻo dân chúng náo động”. Họ muốn giết Ngài trước ngày lễ, nhưng không thể: “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”.
Lúc đó, ngay tại nhà ông Simon Cùi ở làng Bêtania. Giữa lúc Đức Giêsu dùng bữa, có một phụ nữ đến với chiếc bình bạch ngọc đựng dầu thơm cam tùng (2) nguyên chất, thứ đắt tiền. Cô đập ra, đổ dầu thơm trên đầu Người. Chắc hẳn cô biết mình tội lỗi, nhưng cô không có ý “mua chuộc” hoặc “lấy lòng” Chúa Giêsu. Không biết cô có biết Đức Giêsu là Con Thiên Chúa hay không, nhưng cô thực sự tâm phục khẩu phục Con Người thánh thiện và cao cả này. Cô tin nên cô mới “ngồi lì” để xin Ngài thương xót. Niềm hy vọng của cô rất lớn, rất cao, rất rộng, rất sâu.
Đám bạn của ông Simon Cùi biết rõ cô nàng này, thế nên có vài người lấy làm bực tức và xì xầm: “Phí dầu thơm như thế để làm gì? Dầu đó có thể đem bán lấy trên ba trăm quan tiền mà bố thí cho người nghèo”. Ra cái điều nhân đức lắm. Bảo là thương người nghèo hay tiếc của? Họ hy vọng điều gì? Chúng ta cũng thường có động thái này khi muốn chứng tỏ “bản lĩnh đạo đức” của mình, nhưng ngày nay “phong cách” của chúng ta tinh vi hơn thời xưa. Thử “nhìn” các thành viên trong hội này hoặc đoàn nọ mà xem. Chẳng oan uổng chi mô!
Tức trong lòng chưa đủ, họ còn thốt ra lời họ gắt gỏng với cô. Lòng ghen tức của con người kinh khủng, thật đáng sợ! Nhưng Đức Giêsu ôn tồn bảo họ: “Cứ để cho cô làm. Sao lại muốn gây chuyện? Cô ấy vừa làm cho tôi một việc nghĩa. Người nghèo thì lúc nào các ông chẳng có bên cạnh mình, các ông muốn làm phúc cho họ bao giờ mà chẳng được! Còn tôi, các ông chẳng có mãi đâu! Điều gì làm được thì cô đã làm: cô đã lấy dầu thơm ướp xác tôi, để chuẩn bị ngày mai táng. Tôi bảo thật các ông: Hễ Tin Mừng được loan báo đến đâu trong khắp thiên hạ thì nơi đó việc cô vừa làm cũng sẽ được kể lại để nhớ tới cô”. Chúa Giêsu không thích nói nhiều, nhưng lúc này Ngài phải nói “dài hơi” một chút để những người có “óc bã đậu” (dốt thật hoặc cố chấp) có thể hiểu.
Nữ tội nhân này bị chúng ta khinh miệt và ghét bỏ, nhưng Chúa Giêsu đã làm cho cô hãnh diện: “Hễ Tin Mừng được loan báo đến đâu trong khắp thiên hạ thì nơi đó việc cô vừa làm cũng sẽ được kể lại để nhớ tới cô”.
Điều gì sẽ đến rồi sẽ đến. Thánh sử Mác-cô kể ngắn gọn sang một cảnh khác: “Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, một người trong Nhóm Mười Hai, đi gặp các thượng tế để nộp Người cho họ. Nghe hắn nói, họ rất mừng và hứa cho tiền. Giu-đa liền tìm cách nộp Người sao cho tiện” (Mc 14:10-11). Vì mê tiền, ông Giu-đa đã “đi đêm” với bọn bất lương. Ông cũng có cách hy vọng riêng: Có tiền tiêu xài hoặc làm việc gì đó. Tiền dù rất “bạc bẽo” nhưng nó có ma lực cực mạnh, khó có thể cưỡng lại, và Thánh Phaolô đã xác định: “Cội rễ sinh ra mọi điều ác là lòng ham muốn tiền bạc, vì buông theo lòng ham muốn đó, nhiều người đã lạc xa đức tin và chuốc lấy bao nỗi đớn đau xâu xé” (1 Tm 6:10). Lơ là một thoáng là chết chắc – bất kỳ ai!
Rồi đến hôm đó là ngày thứ nhất trong tuần Bánh Không Men, ngày sát tế Chiên Vượt Qua, các môn đệ thưa với Đức Giêsu: “Thầy muốn chúng con đi dọn cho Thầy ăn lễ Vượt Qua ở đâu?”. Người sai hai môn đệ đi, và dặn họ vào thành, sẽ có một người mang vò nước đón gặp họ, và bảo họ cứ đi theo người đó. Người đó vào nhà nào thì họ vào theo và hỏi chủ nhà xem phòng dành cho Ngài ăn lễ Vượt Qua với các môn đệ ở đâu. Chúa Giêsu cho biết rằng chính ông ấy sẽ chỉ cho một phòng rộng rãi trên lầu, đã được chuẩn bị sẵn sàng, và họ có nhiệm vụ dọn tiệc.
Chiều đến, Đức Giêsu và Nhóm Mười Hai cùng tới. Đang khi dùng bữa, Người nói: “Thầy bảo thật anh em, có người trong anh em sẽ nộp Thầy, mà lại là người đang cùng ăn với Thầy”. Tá hỏa tam tinh. Giòi trong xương giòi ra thật ư? Đáng sợ thật! Kẻ thù thì dễ thấy mà đề phòng, người thân thiết thì biết họ trở tay lúc nào mà đề phòng? Rất nguy hiểm. Quả thật, bạn bè và người thân đôi khi còn đáng sợ hơn kẻ thù!
Và rồi sau Bữa Tiệc Ly, qua việc chỉ điểm của ông Giu-đa, bọn thủ ác đã tra tay bắt Chúa Giêsu. Thấy chướng mắt, ông Phêrô có sẵn gươm liền tuốt ra, vung chém đứt tai tên đầy tớ của thượng tế. Hú hồn! Có lẽ Phêrô chỉ hoảng mà chém đại thôi, chứ cũng đang run thí mồ! Nhưng rồi Chúa Giêsu bảo ông cất gươm, rồi Ngài chữa lành tai cho nạn nhân. Thế mà chúng vẫn cứng lòng tin, không chịu sám hối, vẫn quyết bắt giết Con Thiên Chúa!
Đoạn phim buồn chưa khép lại ở “khoảng tối” này, và còn một “khoảng đen” khác, nhưng cuối cùng sẽ là “vùng sáng” huy hoàng. Màu xanh hy vọng vẫn tươi sắc xanh biếc…
Lạy Thiên Chúa, xin giúp chúng con biết chấp nhận đau khổ với lòng tự nguyện, vì yêu Chúa, vì thương người, vì muốn cứu các linh hồn và để đền tội chính mình. Xin ban thêm lòng can đảm để chúng con đủ sức duy trì niềm hy vọng vào Danh Đức Giêsu Kitô cho tới hơi thở cuối cùng. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ chúng con. Amen.
———————-
(1) Phim lồng tiếng Việt – https://www.youtube.com/watch?v=YthiJ07xRAs
(2) Cam tùng (tên khoa học là Nardostachys) là một chi thực vật thuộc họ Kim Ngân. Chi này gồm hai loại có thể gọi là cam tùng hoặc cam tùng hương, được sử dụng để chiết xuất lấy tinh dầu màu hổ phách, mùi rất thơm.
 

Lễlá-377: LÝ KẺ MẠNH

Lm. Jos. DĐH.

Nhất lé nhì lùn, hay nhất lý nhì lỳ, từ trong gia đình tới ngoài xã hội đều phải nể; người có sức Lễlá-377

Nhất lé nhì lùn, hay nhất lý nhì lỳ, từ trong gia đình tới ngoài xã hội đều phải nể; người có sức mạnh về tiền của, sức mạnh cơ bắp, hay sức mạnh tâm trí, luôn được coi là một lợi thế. Ở thời nào cũng vậy, bạo động hay bạo lực đều đáng sợ, nguyên nhân dẫn tới bạo động, bạo lực, là do không hiểu biết, hoặc thiếu lập trường. Chẳng ai có thể sống an vui trong hoàn cảnh : một gia đình hai chủ, một đất nước hai vua ! Gia đình xã hội theo bản chất phải gồm những người yêu thương nhau mà tiền nhân ta gọi là tứ hải giai huynh đệ, vì mọi người đều có quyền lợi và nghĩa vụ giúp nhau đạt tới hạnh phúc.
Để dĩ hòa vi quí trong ứng xử, các bậc tiền bối đã để lại kinh nghiệm cho con cháu câu thành ngữ : khôn làm cột cái, dại làm cột con. Nếu chấp nhận được nguyên lý ấy, gia đình, xã hội, sẽ không còn phải sử dụng lý lẽ, thay vào đó văn hóa ứng xử luôn có cụm từ đáng yêu : bổn phận, nghĩa vụ. Bước vào Tuần Thánh, người Kitô hữu được nhắc nhớ về lập trường tin-yêu và sống-đạo của mình, cho dù là em bé, hay người lớn chúng ta đều hiểu Chúa Giêsu chịu chết là vì tội lỗi của ta của nhân loại.
Đi sâu vào mầu nhiệm thương khó hôm nay, chúng ta sẽ đối diện với nhiều phức tạp, có người cho rằng Đức Giêsu bị đóng đinh trên thập giá thuộc về trách nhiệm của các luật sĩ biệt phái và đám đông dân Do-thái. Các nhà đạo đức cho rằng Đức Giêsu chịu chết là vì yêu nhân loại, vì muốn giải thoát con người khỏi tội lỗi sự chết. Sẽ không bao giờ bình thường đối với lý của kẻ mạnh, tình của người đang yêu, và kinh nghiệm của tiền nhân còn cho biết : khôn ngoan đừng cãi người già, chớ dại mà chửi nhau với người trẻ.
Giới lãnh đạo tôn giáo đã dùng sức mạnh của quyền lực, dùng mưu mô kích động dân chúng, kết án Đức Giêsu phải chết và tha Baraba. Đức Giêsu thì sẵn lòng chịu chết để diễn tả tình yêu Thiên Chúa, đó là lý chứng mạnh mẽ và vĩ đại nhất. Rất nhiều người đã đọc và hiểu : chân lý không thuộc về đám đông, thế mà không phải xưa, mà nay, thiên hạ vẫn lên án người tốt một cách vô căn cứ…
Nếu hiểu theo lý lẽ tự nhiên : cha mẹ hy sinh cho con cháu không bao giờ là vô nghĩa, con cái nhớ tới công sinh thành dưỡng dục sẽ chẳng khi nào mất ơn phúc. Chúa Giêsu vì yêu các tông đồ, vì yêu thương nhân loại, nên dù hiểu sai, dù đám đông dân chúng có a-dua tham dự vào việc giết Chúa, cuộc tử nạn phục sinh của Chúa vẫn mang lại giá trị cứu độ cho những ai biết thật lòng sám hối ăn năn.
Từ lâu người ta vẫn nói : quân tử phòng thân, chứ không ai nói : quân tử liều thân, hay không bao giờ người quân tử tự đi tìm cho mình cái chết vô lý…. Đồng ý rằng ai sống trên đời rồi cũng phải chết, và Chúa Giêsu có từ chối không để người Do-thái đóng đinh thập giá, thì mang thân xác loài người, Đức Giêsu cũng sẽ đối diện với sinh lão bệnh tử. Sở dĩ có Tuần Thánh là để con người suy xét về cách sống niềm tin của mình, biết đến căn nguyên tội lỗi của mình. Hiểu biết tình yêu của Chúa mạnh hơn sự chết, mọi người luôn cần được cứu độ, được hưởng ánh sáng tự nhiên, nên rất cần được ánh sáng phục sinh soi chiếu tâm hồn và cuộc đời hiện tại.
Nhiều người đã chia sẻ, tôi thấy thật là khủng khiếp khi nghĩ tới gánh nặng gia đình : còn tiền còn của, thì còn anh anh, em em, hết tiền hết tình, hết vợ hết chồng, hết con yêu ! Đúng, chỉ một số ít người theo Đức Giêsu tới chân thập thập giá đồi Canvê, còn lại vì sợ liên luỵ, sợ nguy hiểm tới tính mạng, kể cả 12 tông đồ, lúc ấy các ông cũng nhát như thỏ mà thôi. Trong đời sống siêu nhiên, lý của kẻ mạnh nhất định không phải do tài giỏi, giầu có, sức khỏe cơ bắp; lý của kẻ mạnh là biết khiêm tốn cậy trông vào sức mạnh của đau khổ thập giá Đức Kitô.
Không biết có khi nào chúng ta đặt vấn đề, nếu tôi có mặt ở thời Chúa Giêsu, tôi có là một Philatô sợ mất ảnh hưởng ? tôi có là môn đệ nhút nhát ? hay tôi sẽ là một người dân vô tội dửng dưng đứng ngoài cuộc ? Gợi lên như thế, cũng là dịp để chúng ta suy xét về con người thật của mình vô cùng yếu đuối, là dễ dàng đứng về phe kẻ mạnh thế, khó lòng đủ can đảm đứng lên bênh vực cho công lý tình yêu thương.
Xã hội hôm nay cho rằng, người khôn ngoan là người biết sống quan điểm : gió chiều nào theo chiều ấy, đỉa bám chân ai, tự người ấy gỡ. Đức Giêsu bị án chết, thế là đủ, không nên kéo theo kẻ khác phải đau khổ, chết thê thảm theo làm gì. Hiện thân của Chúa Giêsu thời nào cũng là người công chính, người dám sống cho sự thật, tuy nhiên người nghèo, người không có địa vị, họ vẫn đang bị đối xử thiếu công bằng, liệu ai trong chúng ta dám bênh vực cho công lý tình yêu thương ? Sau hết, vì tình yêu của Đức Kitô được ban cho người Kitô hữu, chúng ta phải có trách nhiệm làm cho tình yêu của Đức Kitô được lớn mạnh lên như một bổn phận, ta hãy sống yêu thương như Đức Kitô đã yêu thương chúng ta. Amen.
 

Lễlá-378: SỰ THÚC ĐẨY CỦA TÌNH YÊU

Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

Các nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ sẽ còn phải tốn rất nhiều thời gian và giấy mực để viết về đề Lễlá-378

Các nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ sẽ còn phải tốn rất nhiều thời gian và giấy mực để viết về đề tài tình yêu, vì người ta sẽ không thể nào giải thích, cũng không thể diễn tả hết được tình yêu cha mẹ dành cho con cái, tình yêu đôi bạn trẻ dành cho nhau. Người ta sẽ không thể giải thích được tại sao có những đôi bạn trẻ dám chấp nhận mọi nguy hiểm kể cả mạng sống để có thể đến được với nhau, hay những người cha, người mẹ chấp nhận đau khổ, hao mòn và cả cái chết để cho con mình được sống. Ngược lại, xã hội không thể hình dung được có những người con đang tâm đem mẹ già bỏ ngoài vỉa hè trong mùa đông giá rét, sau đó, người mẹ chết thì không đứa con nào muốn đưa xác mẹ vào nhà.
Tin Mừng Marcô hôm nay cũng cho thấy những mảng sáng và mảng tối trong một bức tranh về tình yêu, trong đó bao gồm cả sự ngưỡng mộ, yêu mến lẫn sự phản bội bẽ bàng đối với tình yêu của Chúa Giêsu.
Bằng một giọng văn chân chất, tác giả cho thấy tình yêu của Chúa Giêsu dành cho các môn đệ và nhân loại như một dòng chảy tự nhiên xuất phát từ trái tim của một người cha dành cho con. Chúa Giêsu được trình bày như một người cha cặm cụi chuẩn bị từng chi tiết, lo lắng hy sinh cho con đủ điều và kết cục là chấp nhận cả cái chết để cho con mình hạnh phúc. Trước khi kể về cuộc thương khó của Chúa Giêsu, Thánh sử đã kể lại hai biến cố tương phản nhau để cho thấy sự đáp trả của con người đối với tình yêu Thiên Chúa.
Trước hết là câu chuyện xảy ra ở Betania, tại nhà ông Simon Cùi. Sự kiện là, đang khi mọi người dùng bữa, thì có một phụ nữ xuất hiện. Trong mắt mọi người, cô ấy là một đứa lăng loàn mất nết, vậy mà, phụ nữ này đã dám đập bể một bình dầu thơm cam tùng hảo hạng để xức chân Chúa. Việc làm này khiến nhiều người ở đó cho là vô lý và phí của. Họ trách cô rằng : Tại sao không bán bình dầu lấy tiền cho người nghèo ? Họ đã mượn danh người nghèo để phê bình hành động của cô, vì người ta không thể hiểu tại sao cô làm như thế. Nhưng Chúa Giêsu đã hiểu, đã cảm nhận được và còn biết thấu tâm hồn cô, Ngài đã nói với mọi người rằng cứ để cho cô làm. Vì những người này đã lấy những lý luận thông thường của lý trí để xét đoán hành động của người khác, còn Chúa Giêsu, Ngài nhìn hành động của người khác bằng con mắt của trái tim để thấu cảm với họ.
Chúa Giêsu cũng điều chỉnh thái độ mượn danh người nghèo để phê bình hành động của người khác khi nói với họ : Người nghèo thì anh em luôn có bên cạnh, còn tôi thì các ông chẳng có mãi đâu. Cô ấy lấy dầu thơm xức chân tôi là dấu chỉ của việc mai táng… thiên hạ sẽ nhớ đến việc làm này của cô.
Nếu như câu chuyện thứ nhất đem lại cho Chúa Giêsu sự an ủi, thì câu chuyện thứ hai lại gây tổn thương, đau lòng cho Ngài. Giuđa là một trong những môn đệ của Chúa lại trở thành kẻ phản bội, môi giới trao nộp Thầy với cái giá bán một tên nô lệ. Cái đau khổ nhất trong tình yêu đó là khi thấy mình bị phản bội, mà kẻ phản bội lại là kẻ gần gũi nhất với mình. Chúa Giêsu đã trải qua nỗi đau bị phản bội ấy. Tuy nhiên, Chúa Giêsu vẫn hy vọng anh ta hối hận khi Ngài dành cho anh cử chỉ của tình yêu. Ngài nhiều lần nhắc anh trong bữa Tiệc Ly, nhưng anh không nhận ra tín hiệu yêu thương của Chúa, anh đã từ chối ánh sáng để chọn bước vào bóng tối. Dù bị phản bội và vấp phải sự cứng lòng của Giuđa, nhưng Chúa Giêsu vẫn không ngừng bày tỏ tình yêu của Ngài dành cho các môn đệ.
Cao điểm của bữa tiệc Vượt Qua cuối cùng này, Chúa Giêsu đã thực hiện hết tất cả những gì trái tim mách bảo và tình yêu thúc đẩy. Ngài cầm lấy bánh, đọc lời chúc tụng, trao cho các môn đệ và nói : Anh em hãy cầm lấy, đây là mình Thầy. Ngài cầm chén và trao cho các ông : Đây là chén máu Thầy, máu giao ước đổ ra vì muôn người. Với việc làm cho bánh rượu trở nên mình và máu rồi trao cho các môn đệ để các ông cầm lấy mà ăn mà uống, Chúa Giêsu đã trao cho các ông trọn vẹn cả con người của mình, trở nên như một quà tặng đặt vào tay các ông. Nếu như người phụ nữ chỉ đập bể một bình dầu, các ông đã lấy làm xót xa, thì giờ đây, Chúa còn bẻ nát cả con người của mình để trao cho các tông đồ làm của ăn của uống nuôi các ông. Hành động này chỉ có thể hiểu được bằng trái tim mà thôi.
Liền sau đó, Tin Mừng thuật lại chi tiết việc Chúa Giêsu bước vào cuộc khổ nạn : kẻ phản bội thực hiện ý đồ của mình ; những thượng tế và luật sĩ là những kẻ chủ mưu thì hả hê vì chiến thắng ; các môn đệ, những người được yêu, thì dửng dưng nằm ngủ, rồi khi thức dậy thì sợ hãi bỏ trốn hết. Lúc này, Thánh Marcô muốn cho thấy : Chúa Giêsu đã bằng lòng bước vào trần gian vì yêu nhân loại, thì giờ đây, Ngài cũng bằng lòng đi hết con đường trần gian vì yêu nhân loại. Đoạn đừng cuối cùng ở trần gian của chúa Giêsu lại là đoạn đường bi thương nhất do chính những kẻ được yêu gây ra cho Ngài. Những luật sĩ, thượng tế đã muốn loại trừ Ngài ra khỏi cộng đồng. Họ hành hạ Ngài cho thỏa cái ác trong lòng họ. Họ trút xuống trên Ngài sự thù hận mà họ nuôi dưỡng.
Câu chuyên Tin Mừng cho thấy một bên là tình yêu tột cùng của Thiên Chúa dành cho nhân loại, Ngài hy sinh tất cả, chịu đựng tất cả ; còn bên kia là bộ mặt thật của con người khi bị cái ác điều khiển, bị ma quỷ thống lĩnh, khi lương tâm không còn nhạy bén, khi sự thù hằn lên đến đỉnh cao thì sẽ dẫn đế tình trạng loại trừ người khác và hành động dã man như thế.
Sự dã man, gian ác đang nằm sẵn trong mỗi người và ma quỷ là kẻ rất xảo quyệt, khéo léo khơi dậy cái ác và sự dã man trong mỗi con người. Cùng với ma quỷ là tình trạng tội lỗi sẽ làm cho lương tâm con người bị chai lì và bóp nghẹt trái tim khiến con người trở nên vô cảm trước nỗi đau của anh em đồng loại. Tình trạng này đang diễn ra ở nhiều nơi và nhiều tâm hồn con người.
Thật đáng buồn khi ta thấy cái ác đang diễn ra trong xã hội và ngay trong khu vực chúng ta đang sống. Cái ác đang xảy ra ngay trong xóm đạo, trong gia đình những người Công Giáo. Điều đó chứng tỏ rằng, nơi đó đang thiếu vắng tình yêu, nhất là thiếu vắng Thiên Chúa. Họ thiếu vắng Thiên Chúa không phải vì Thiên Chúa không có mặt ở nơi đó, mà là do chính những con người ấy đã muốn loại trừ Thiên Chúa ra khỏi tâm hồn và cuộc sống của họ. Họ không muốn Thiên Chúa can thiệp vào đời sống và công việc của họ.
Bạo lực cũng đang xảy ra nơi gia đình. Nhiều cha mẹ đã không còn tình yêu quảng đại và sự hy sinh dành cho con cái, thay vào đó là sự ích kỷ, nghĩ đến mình nhiều hơn nghĩ đến con cái. Nhiều vợ chồng không còn muốn hy sinh cho nhau, nhiều cha mẹ ngại hy sinh, sợ vất vả vì con. Vì thế, họ đã biến gia đình thành nơi để trút xả những cơn giận dữ. Họ chửi bới, khiến cho gia đình không còn là mái ấm tình yêu nữa. Cũng vậy, nhiều bạn trẻ đã để cho bản năng và sự ác điều khiển, khiến dễ dàng cư xử với nhau bằng bạo lực, cơ bắp, bằng sự nóng nảy thay vì bằng tình yêu thương, sự quảng đại và tha thứ.
Chỉ có tình yêu mới có thể đem đến hòa bình, chỉ có tha thứ mới có thể chữa lành được vết thương của hận thù. Xin cho mỗi người bước vào Tuần Thánh, nhìn lên thập giá Chúa Giêsu để học nơi Chúa bài học yêu thương và tha thứ. Hãy đón Chúa Giêsu Thánh Thể vào lòng và để Ngài hướng dẫn mọi hành động của chúng ta. Xin cho chúng ta cũng biết để cho trái tim và tình yêu thúc đẩy, để mỗi người dám hành động vì tình yêu dù có phải chấp nhận hy sinh. Amen.
 

Lễlá-379: CHÚA NHẬT LỄ LÁ NĂM B

Lm. Antôn
Ông bà anh chị em thân mến.

Sau 40 ngày chay thánh, hôm nay cùng với Giáo hội chúng ta bước vào Tuần thánh, kỷ niệm sự thương Lễlá-379

Sau 40 ngày chay thánh, hôm nay cùng với Giáo hội chúng ta bước vào Tuần thánh, kỷ niệm sự thương khó, tử nạn và phục sinh của Chúa Giêsu Kitô. Chúng ta suy niệm cuộc đời của Chúa Giê-su trong những ngày cuối cùng của Người. Tất cả lời nói, hành động và việc làm của Người trong tuần thánh này đều có chung một mục đích nói lên và diễn tả tình yêu cao vời của Thiên Chúa đối với chúng ta, trong kế hoạch cứu độ nhân loại. Chúa nhận, chịu tất cả những sự thương khó và chết sỉ nhục trên thập giá vì yêu thương chúng ta.
Nghi thức hôm nay có hai phần: kiệu lá và Thánh lễ. Phần kiệu lá nêu cao vương quyền của Chúa Giêsu, đồng thời giúp chúng ta sống lại cảnh Người khải hoàn vào thành Giêrusalem để hoàn tất công cuộc cứu độ, và được dân chúng hoan hô đón rước nồng nhiệt, vì họ tưởng Người đến để lãnh đạo họ và giải phóng họ khỏi sự xâm lăng và đàn áp của đế quốc La mã. Nhưng sau đó họ biết Người là một Vua hiền hòa và khiêm tốn, đến mang ơn cứu độ và giải thoát nhân loại khỏi tội lỗi, cho nên vì thất vọng và tức giận, họ thay đổi thái độ lên tiếng kết án, chung lời phỉ báng, cùng đánh đập, bắt Người vác và đóng đinh Người trên thập giá.
Ông bà anh chị em thân mến. Lời Chúa trong Lễ Lá hôm nay phơi bày và cho chúng ta thấy sự thay đổi tâm dạ con người, từ sự đồng thanh hoan hô đến lời đả đảo, phỉ báng Chúa; từ sự tâng bốc, đưa Chúa lên ngai vua đến sự hạ bệ, đóng đinh và treo Chúa trên thập giá. Đặc biệt qua Bài Thương Khó, chúng ta biết và cảm nghiệm những giờ phút kinh hoàng căng thẳng và cô đơn sau cùng của Chúa. Trong Vườn Cây Dầu, ba môn đệ thân tín xin đi với Chúa, nhưng không lâu sau đó, họ đã ngủ say để Chúa một mình. Môn đệ Giuđa phản bội bán Thầy 30 đồng bạc, giá của một người nô lệ, bằng một nụ hôn lừa dối. Phêrô đã chối và thề không quen biết Thầy 3 lần trước một đầy tớ gái. Các môn đệ khác sợ hãi bỏ chạy trốn, để Thầy một mình với những người độc ác và với đám đông cuồng nộ, gào thét: “Đóng đinh nó đi.” Họ đã coi Chúa Giêsu ngang hàng hay tệ hơn cả Baraba là một tên phiến loạn giết người.
Chúng ta còn có thể cảm nghiệm được những đau khổ phần xác và tinh thần thật ghê sợ mà Chúa Giêsu đã chịu trong giờ sau hết. Thứ nhất là đau khổ về thân xác. Chúa bị đánh đập, vả tát vào mặt, dùng roi quất vào thân mình. Đầu của Người bị đội mão gai nhọn đâm vào máu chảy xuống mặt. Đôi bàn tay của Chúa bị bầm tím đâm xuyên thâu bởi những mũi đinh nhọn. Đôi bàn chân của Người bị quân lính đóng đinh xuyên qua cây gỗ. Thân mình của Người đã bị lưỡi đòng đâm vào cạnh sườn, máu và nước chảy ra. Và đau khổ thứ hai là về tinh thần. Chúa đã bị người ta khạc nhổ vào mặt, bị sỉ nhục, nhạo báng và khinh khi. Khi bị đóng đinh treo trên thập giá, Chúa đã bị kẻ qua, người lại phỉ bang và nhục mạ. Chúa đã chết, một cái chết cô đơn và tủi nhục trên thập giá. Nhưng ba ngày sau đó, Người đã kết thúc kế hoạch cứu độ bằng việc sống lại. Chúa đã phục sinh. Người đã chiến thắng tội lỗi và sự chết, đem ơn cứu độ muôn đời cho nhân loại chúng ta.
Ông bà anh chị em thân mến. Chúa đã nhận, chịu khổ hình và chết trên thập giá vì yêu thương nhân loại, như Người đã nói “Không có tình yêu nào cao quí cho bằng chết cho người mình yêu thương.” Đó là lý lẽ của một con tim yêu thương và nhân từ. Chính tình yêu, chứ không phải đau khổ, đã biến thập giá tủi nhục thành Thánh Giá vinh quang. Chính tình yêu của Chúa Giê-su, chứ không phải cuộc khổ nạn mà chúng ta được Cứu Độ (Ga 3,17), và được giải thoát mọi xích xiềng tội lỗi. Như vậy, cuộc thương khó của Chúa Giê-su là một hành trình của ân sủng tình yêu tiến tới sự sống và hạnh phúc cho nhân loại chúng ta.
Chúng ta cầu xin Chúa trong Tuần Thánh này biết nhận ra và cảm nghiệm được tình yêu cao siêu của Chúa Giêsu Kitô trên Thánh Giá, để chúng ta luôn trung thành với Vua Giêsu, và cam đảm sống lời Chúa dạy, trở thành chứng nhân cho Chúa. Chúng ta nhận biết, muốn trở thành môn đệ chân chính của Chúa, chúng ta phải vác thập giá và đi theo con đường Chúa đã đi. Xin Chúa giúp chúng ta cùng chết với Chúa, tránh xa những gương xấu của dân chúng xưa, biết hy sinh, quảng đại và chấp nhận, chịu nhiều khó khăn, đau khổ và thiệt thòi, để sống cho Chúa, vì Chúa đã thương yêu và hy sinh hoàn toàn cho chúng ta, và để chúng ta cùng được sống lại vinh quang với Người. Cầu chúc tất cả mọi người một Tuần Thánh sốt sắng, trong ân sủng tình yêu của Chúa Giê-su Ki-tô.
 

Lễlá-380: Dõi Theo Cuộc Thương Khó Của Chúa Giêsu

Suy niệm Lễ Lá (Lc 22, 14-23, 56)
Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Khi Chúa vào Thành Thánh, Chúa Giêsu muốn tất cả thật đơn giản, nhưng giầu ý nghĩa về tính Lễlá-380

Khi Chúa vào Thành Thánh, Chúa Giêsu muốn tất cả thật đơn giản, nhưng giầu ý nghĩa về tính thiên sai. Trái lại, đám đông từ Galilêa đến dự lễ Vượt Qua lại vui mừng phấn khởi. Chúa Giêsu tiến vào Thành Thánh, đám đông và đoàn môn đệ cất tiếng ngợi ca: "Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến! Bình an trên trời và vinh quang trên các tầng trời", làm cho chúng ta nhớ lại lời thiên thần đã hát trong đêm Giáng sinh: "Vinh danh Thiên Chúa trên trời và bình an dưới thế cho người thiện tâm" (Lc 2, 14).
Sự nhiệt tình của đám đông gặp phải sự chỉ trích của một số người Biệt Phái. Chúa Giêsu chấp nhận sự nhiệt tình này bởi nó phát xuất từ trái tim, cho dù có phù du đi chăng nữa (x. Lc 19,39-40).
Một ngôn ngữ loài người
Toàn bộ sứ mạng của Người Tôi Tớ Đau Khổ được Isaia tóm lại: lắng nghe để huấn luyện, huấn luyện để loan báo: "Người thức tỉnh tai tôi, để nghe lời Người giáo huấn... Chúa đã ban cho tôi miệng lưỡi đã được huấn luyện, để tôi biết dùng lời nói nâng đỡ kẻ nhọc nhằn" (x. Is 50, 4-7). Thật dễ để mà nói, "tôi đã không che giấu mặt mũi, tránh những lời nhạo cười và những người phỉ nhổ tôi" (Is 50, 6), nhưng không dễ để mà sống. Vì thế, ta phải không ngừng lắng nghe Thiên Chúa và con người, để Thiên Chúa và con người huấn luyện ta, loan báo Thiên Chúa cho anh em.
Người đã không lấy lại
Chúa Giêsu vốn dĩ là Thiên Chúa, chia sẻ tất cả vinh quang của loài người và vinh quang Thiên Chúa: "Đã trở nên giống như loài người, với cách thức bề ngoài như một người phàm" (Pl 2,7). Chúa Giêsu chấp nhận tất cả sự thật. Là con người, một tạo vật có giới hạn trong thời gian, gắn liền với khổ đau, ngược đãi và bị giết chết. Vì đã đảm nhận, nên với cách thức phàm nhân, Chúa Giêsu đã "vâng lời cho đến chết" (Pl  2,8), ngoại trừ tội lỗi, đành mất tất cả để có được vinh quang trở về với Thiên Chúa.
Khởi đầu chặng Đàng Thánh Giá
Thánh lễ ngày Thứ Năm Tuần Thánh như là điểm khởi đầu con đường thập giá, chứ không phải vườn Cây Dầu. Bởi vì con đường này chính là Vương Quốc. Đây là nét đặc trưng của bài Thương Khó theo Tin Mừng Luca.
Chúa Giêsu nói với các môn đệ: "Cho đến khi triều đại Thiên Chúa đến, vương quốc của Thiên Chúa". Và đối với những người bị kết án trên thập giá cùng Chúa Giêsu, Nước Thiên Chúa đến ngay lập tức, người trộm lành hỏi: "Lạy Ngài, khi nào về nước Ngài, xin nhớ đến tôi ?" (Lc 23, 43) Chúa Giêsu trả lời: " Ngay hôm nay... " (Lc 23, 43). Thánh Thể thực hiện hy tế của Thiên Chúa và ban tặng cho chúng ta những quả phúc tuyệt vời ngay tức khắc. Mỗi khi cử hành, chúng ta thưa: "Xin đoái nhìn hiến lễ Hội Thánh dâng lên Chúa và khi Chúa nhận đây chính là của lễ Con Cha đã dâng tiến" (Kinh Nguyện Thánh Thể III) Chúa Giêsu nói với các môn đệ: "Chén này là Tân ước trong Máu Ta" (Lc 22,20).
Trong vườn Giệtsimani
Trong thư gửi tín hữu Do thái Chúa Giêsu nói: "Con đến để làm theo Ý Cha" (Dt 10,9-10) lấy lại những lời Thánh Vịnh (Tv 39, 8). Nhưng lời đó vẫn tiếp tục và đặt chúng ta vào trong lễ dâng hiến của Chúa Kitô. Chính trong ý Chúa Cha, Chúa Giêsu đã dâng hiến chính thân mình làm của lễ để cứu chuộc chúng ta.
Có lần chúng ta bước trượt, lúc đó bàn tay ta không có gì để nắm. Có lúc trái tim ta bồi hồi trong ta, cuộc sống mất đi ý nghĩa, khi tình yêu tan rã, tâm trí chúng ta mất hướng. Chúa biết rằng trong vườn cây Dầu, có các môn đệ ở gần, Người vẫn cảm thấy cô đơn: "Tại sao các con ngủ?" (Lc 22, 46).
Nhưng sự cô đơn không phủ kín trên Người, mà đưa Người đến với lễ vật tự hiến phổ quát. Thánh Phaolô viết cho tín hữu Philipphê "Để mọi miệng lưỡi phải tuyên xưng" ((Pl  2, 11). Chúng ta phải ra khỏi chính mình, vượt ra ngoài bóng đêm để tìm kiếm Thiên Chúa đầy lòng trắc ẩn, tìm ánh sáng của Ngài.
Chối Chúa
Phêrô với thanh gươm cầm sẵn trong tay, tin tưởng vào sức riêng mình, ông đặt tất cả vào sức mạnh và sự nhiệt tình với Chúa Kitô. Và giờ đây ông tìm lại chính mình. Ông biết rõ người mà tên đầy tớ nữ hỏi ông, nhưng ông vẫn nói: "Này chị, tôi đâu quen biết người ấy" (Lc 22,57).
Con gà là con vật không màng chi đến giờ giấc, vào thời điểm đó đã cất tiếng gáy. Phêrô sau khi chối Chúa, quay lại nhìn Chúa Giêsu, ông sợ hãi. Lúc này, Chúa không đến nắm lấy tay Phêrô như ngày ông bị chìm trên biển khi đang đến cùng Chúa. Với cái nhìn yêu thương, giờ đây Chúa Giêsu nhắc nhở Phêrô, ông quay lại và nhìn Chúa, cái nhìn lén lút, gặp ánh mắt "yêu thương", ông sực nhớ lời Chúa Giêsu đã nói với ông : "Khi gà chưa gáy, con đã chối ta ba lần" (Lc 22, 61).
Chúng ta hãy để Chúa Giêsu nhìn chúng ta, cho chúng ta tính xác thực của tình yêu thương xót vượt trên sự yếu hèn của chúng ta.
Các ông nói, quan nói
Trước Công Nghị, giới lãnh đạo Do thái hỏi Chúa Giêsu xem có phải Người là Đức Kitô không? Chúa Giêsu trả lời : "Nếu Tôi có nói, các ông cũng chẳng tin tôi, và nếu tôi có hỏi, các ông cũng chẳng trả lời" (Lc 22, 67-68). Người buộc họ lên tiếng : "Vậy ông là Con Thiên Chúa ư ?" Chúa Giêsu đáp : "Các ông nói đúng, Ta là Con Thiên Chúa" (Lc 22, 70).
Với Philatô, ông lồng chính trị vào khi hỏi Chúa Giêsu: "Ông có phải là Vua dân Do Thái không?" (Lc 23,3). Chúa Giêsu vẫn giữ thái độ và hành vi tương tự như trước cộng nghị: " Ông nói tôi là vua" (Lc 23,3).
Chúa cũng yêu cầu chúng ta trả lời cùng một câu hỏi, mà Chúa hỏi các môn đệ: "Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai ?"
Chúa Giêsu không đòi cho mình
Từ nay, Chúa Giêsu trong tư cách là con người bị bỏ rơi và bị ngược đãi. Người bị nộp vào tay kẻ dữ, bị mạc cả với kẻ sát nhân, phải vác thánh giá nặng nhục nhã và bị nhạo báng như tên nô lệ. Người khiêm nhường đến độ không còn được tôn trọng. Người đã tự hủy mình ra không, không còn sức để vác cây thập giá.
Chúa không đòi cho mình một đặc quyền đặc lợi nào, chẳng là gì trước sự tàn bạo của binh lính, kể cả Simon người Cyrênê, Chúa cũng chẳng là gì, ông kề vai vác đỡ, chẳng qua ông bị bắt vác mà thôi. Ông không biết ý nghĩa, cử chỉ vác thánh giá này. Những người nhạo báng hay tên lính lấy bọt biển nhúng giấm cho Chúa uống, họ có hiểu được không?
Ba năm mỏi chân đi giảng đạo cho muôn dân, với những phép lạ Chúa làm, an ủi những người ốm đau, bệnh tật, nghèo nàn đã không làm cho họ khám phá con người thật của Chúa Giêsu. Trong vườn Cây Dầu, một mình đối diện với Chúa Cha, Chúa không xin điều gì : ngoại trừ xin ơn tha thứ cho những ai làm khốn mình, vì Chúa đến để mang ơn tha thứ cho mọi người : "Lạy Cha, xin tha cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm" (Lc 23, 34).
Cuộc đối thoại bất ngờ
Cùng chịu đóng đanh với Chúa Giêsu có hai tên trộm cướp, một đứa bên trái, một đứa bên phải. Chúa nghe hai tên đối thoại với nhau, một kẻ nhạo báng Chúa, còn kẻ kia thừa nhận mình là kẻ có tội : "Chúng ta phải chịu xứng với việc chúng ta đã làm" (Lc 23, 41), như chúng ta vẫn đọc trước khi cử hành Thánh lễ : "Tôi thú nhận cùng Thiên Chúa toàn năng và cùng anh chị em tôi đã phạm tội".
Một trong hai tên trộm thưa Chúa Giêsu rằng:  "Xin nhớ đến tôi cùng..." (Lc 23, 41); còn chúng ta, chúng ta xin anh chị em "cầu nguyện cho tôi, trước tòa Thiên Chúa, Chúa chúng ta". Trong khoảng khắc khó nói những lời ấy vì Chúa Giêsu cũng bị tra tấn, mà tên trộm lành đã kêu lên với Chúa Giêsu là Chúa với cả con người anh. Chúa Giêsu trả lời ngay lập tức : "Quả thật, Ta bảo ngươi: ngay hôm nay, ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta" (Lc 23, 42).
Bóng tối và màn Đền Thờ bị xé
"Vào khoảng giờ thứ sáu, tối tăm liền bao trùm cả mặt đất cho đến giờ thứ chín...màn trong đền thờ xé ra" (Lc 23,44-45). Chúa Giêsu trút hơi thở trao phó linh hồn trong tay Chúa Cha và từ nay, chắc chắn Người là tác nhân Phục Sinh, hoàn tất điều có thể trao ban. Tên lính đã ngợi khen vinh quang Thiên Chúa. Đám đông cảm thấy nhu cầu cần thiết phải được tha thứ liền đấm ngực ăn năn trở về mừng lễ Vượt Qua.
Giuse người Arimathia với tư cách là môn đệ đã quyết định tự mình đến xin Philatô cho được tháo đanh táng xác Chúa. Những người phụ nữ thánh thiện về nhà chuẩn bị thuốc thơm vì hôm sau là lễ Vượt Qua. Các đèn chiếu sáng ngày Sabát của lễ Vượt Qua bắt đầu tỏa sáng. Nhưng nó vẫn còn tối.
Vinh quang Thiên Chúa sẽ chiếu tỏa vào buối sáng ngày Phục Sinh khi tấm cửa mộ bị lăn ra như bức màn của đền thờ bị xé. Ngày thứ nhất trong tuần, sau khi sống lại, Chúa đến giữa họ, chia sẻ bánh trên đường Emmau, và một miếng cá nướng (x.Lc 24,13-49).
Chúa đã nói với họ vào tối Thứ Năm Tuần Thánh: "Thầy đã tha thiết ước ao ăn Lễ Vượt Qua này với các con trước khi chịu khổ nạn. Thầy bảo các con, Thầy sẽ chẳng bao giờ ăn lễ này nữa, cho đến khi lễ này được thực hiện trong nước Thiên Chúa" (Lc 22, 15-16). Nước Thiên Chúa đã bắt đầu.
Lạy Chúa, chúng con vừa cử hành các mầu nhiệm thánh, Chúa đã ban cho chúng con được thỏa chí toại lòng. Nhờ Con Một Chúa chịu khổ hình thập giá, Chúa làm cho chúng con tin tưởng vững vàng sẽ được ơn cứu độ, thì nhờ mầu nhiệm Người đã phục sinh, xin cho chúng con đạt tới quê trời như lòng hằng mong ước. Amen.
Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
 

Lễlá-381: ĐƯỜNG THƯƠNG XÓT CỦA THIÊN CHÚA

CHÚA NHẬT LỄ LÁ, NĂM C (Is 50,4-7; Pl 2,6-11; Lc 22,14—23,56)
Jos. Vinc. Ngọc Biển

Hôm nay, phụng vụ Giáo Hội chính thức bước vào Tuần Thánh với biến cố Chúa Giêsu vào thành Lễlá-381

Hôm nay, phụng vụ Giáo Hội chính thức bước vào Tuần Thánh với biến cố Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem, khởi đầu hành trình thương khó trong chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa.
Cuộc thương khó của Chúa Giêsu là một nghịch lý, ô nhục, điên rồ với người Do thái, là nỗi thất vọng cho các môn đệ và nhiều người... Tuy nhiên, con đường bất thường này lại làm lộ hiện dung mạo, khuôn mặt, tâm tư và lòng dạ thương xót phi thường của Thiên Chúa ngang qua con người, sứ vụ và nhất là cuộc thương khó của Chúa Giêsu.
Muốn hiểu thêm về cuộc thương khó, chúng ta cùng nhau tìm hiểu nơi các đối tượng, động lực, hành vi của những kẻ gây nên cái chết bi thương cho Người Công Chính, để thấy được mục đích gian ác của con người thời đó và chương trình yêu thương của Thiên Chúa cũng như sự liên hệ của chúng ta trong mầu nhiệm cứu chuộc hôm nay.
Con đường thương xót của Thiên Chúa ngang qua bàn tay gian ác của con người
Những kẻ gây nên cái chết cho Chúa Giêsu chính là những nhà lãnh đạo tôn giáo thời bấy giờ. Họ là những Luật Sĩ, Thượng Tế và Pharisêu. Những con người này có mối thù sâu sắc với Chúa Giêsu, nên quyết không đội trời chung với Ngài!
Những mâu thuẫn được khởi đi từ chuyện Chúa Giêsu vạch trần lối sống giả hình, kiêu ngạo, ích kỷ, dã tâm nơi giới lãnh đạo tôn giáo thời bấy giờ. Đây là điều mà họ cảm thấy bất lợi và có nguy cơ bại lộ lối sống giả nhân giả nghĩa theo kiểu: dùng phương tiện xấu để biện minh cho mục đích tốt!
Chúa Giêsu đã không chấp nhận, vì thế, họ đã quyết loại trừ Ngài ra khỏi xã hội của họ bằng cái chết.
Tuy nhiên, điều mà họ muốn thì chính bản thân họ hay dân tộc họ không thể làm được, bởi lẽ, dân Dothái đang bị đô hộ bởi Đế quốc Rôma, vì thế, muốn giết Chúa Giêsu, họ phải mượn tay của Đế quốc, mà người đại diện là Philatô!
Bản án mà họ trình lên quan Tổng trấn để xin ông xét xử, đó là tội: khi quân, phản loạn, sách động dân chúng, lật đổ chế độ, rồi tự xưng mình là vua...!!!
Với ngần ấy cái "mũ" mà họ chụp lên đầu Chúa Giêsu, chắc chắn cuộc thương khó sẽ xảy ra và cái chết là kết cục cho Ngài!
Để thuận lợi, giới lãnh đạo tôn giáo đã âm thầm đề nghị Giuđa, một người trong nhóm môn đệ của Chúa Giêsu là nội gián, tiếp tay từ bên trong. Quả thật, Giuđa đã nhận lời và chấp nhận trở thành nội thù khi bán Thầy với giá 30 đồng bạc qua dấu chỉ một cái hôn.
Ôi một sự chua xót và đau đớn vô cùng, bởi lẽ, nụ hôn là biểu lộ của tình yêu. Yêu ai thì mới trao cho nhau nụ hôn, ai ngờ nụ hôn của trò với Thầy lại là dấu chỉ đẩy Thầy vào chỗ chết!!!
Khi đã được Giuđa chỉ điểm và cho dấu hiệu, họ đã bắt Chúa Giêsu và trao nộp cho Philatô. Từ đây, Philatô cũng là những người có can hệ đến cuộc thương khó của Chúa Giêsu, bởi vì ông là người đại diện cho luật pháp, có trách nhiệm cầm cân nảy mực... Thế nhưng, thay vì làm việc mang tính công minh chính đại, ông lại bị sức ép từ phía dân chúng, sợ mất chức, mất quyền... nên đã phủi tay, không còn can đảm nghe theo tiếng Lương Tâm để bênh vực Người Công Chính, bảo vệ lẽ công bằng và đứng về phía người vô tội.
Thế là bản án tử hình được trao tặng cho Chúa Giêsu.
Như vậy, nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của những người can dự vào cuộc thương khó Chúa Giêsu chính là: kiêu ngạo, hèn nhát, gian dối, tham lam và sợ hãi...
Con người càng tàn bạo, lòng thương xót của Thiên Chúa càng rõ nét
Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở đây, có lẽ chúng ta sẽ nghĩ rằng: Thiên Chúa đã thất bại trước sự ác của con người! Công chính, công lý và sự thật đã nhường bước cho sự ác lên ngôi và lộng hành... Không! Chính lúc Con Thiên Chúa bị treo trên thập giá, ấy là lúc Thiên Chúa đang biểu lộ quyền năng và lòng thương xót của Người rõ nét hơn bao giờ hết!
Như đã nói: cuộc thương khó của Chúa Giêsu là một cuộc thương khó vô cùng nghịch lý, nhưng nó lại hợp lý đối với lòng dạ Thiên Chúa, bởi vì: "Thiên Chúa là Tình Yêu" (1 Ga 4, 16).
Quả thật, vì yêu, Người đã chấp nhận trao ban Con Một của mình cho nhân loại. Vì yêu, Chúa Giêsu đã xuống thế làm người như chúng ta, ngoại trừ tội lỗi, để cứu chuộc chúng ta. Vì yêu, Chúa Giêsu đã một đời rao giảng lời Tình Yêu; Lời Hằng Sống; Lời Cứu Chuộc. Vì yêu, Ngài đã chữa lành và giải thoát con người khỏi bệnh tật phần xác, giải phóng cảnh nô lệ phần hồn.
Đỉnh cao của con đường thương xót, ấy là: Thiên Chúa muốn Con của Người đón nhận cái chết đau thương để giải thoát nhân loại cách toàn diện. Chúa Giêsu đã đón nhận con đường thương xót ấy trong tâm tình vâng phục và yêu mến, để lòng dạ xót thương của Thiên Chúa được lộ hiện...
Như vậy, qua cái chết của Chúa Giêsu hoàn toàn không phải là sự thất bại, nhưng là sự chiến thắng. Chiến thắng trong và do lòng thương xót của Thiên Chúa.
Chúng ta được mời gọi đi trên con đường của lòng thương xót mà Chúa Giêsu đã đi
Qua cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu, chúng ta hãy dừng lại để suy tư về hành trình theo Chúa của mỗi người chúng ta:
Bấy lâu nay, chúng ta đi theo Chúa trên con đường nào?
Trên con đường thương xót hay hận thù? Yêu thương hay ích kỷ? Hướng tha hay vụ lợi? Sứ vụ hay danh vọng?
Làm một cuộc cật vấn Lương Tâm như thế để thấy rõ con người thật của chính mình..., bởi vì có biết bao nhiêu mục đích, lựa chọn khác nhau như:
Có nhiều người theo Chúa như những nhà lãnh đạo tôn giáo thời bấy giờ. Họ là những người Công Giáo, thường xuyên đi lễ, nhà thờ, luôn tỏ vẻ đạo đức, nhưng thực ra những điều đó chỉ là bình phong cho một ý đồ đen tối, để khi thuận tiện, sẵn sàng làm hại Giáo Hội, coi rẻ Lương Tâm, bán đứng anh chị em mình... Sẵn sàng trở thành nội gián để tiếp tay cho những kẻ chống phá Giáo Hội! Những người này theo Chúa không phải vì yêu mến, kính trọng hay phần rỗi, nhưng theo Chúa để tìm dịp thuận tiện nộp Ngài, chẳng khác gì Giuđa!
Có những người theo Chúa, nhưng theo xa xa, theo nửa vời. Họ như dân Dothái xưa: khi hay thì vỗ tay vào, đến khi hoạn nạn thì rời nhau ra... Vì thế, chúng ta không lạ gì khi vẫn còn đó những kẻ theo khi thuận tiện, những lúc khó khăn là rút lui... Không những thế, việc trối bỏ đức tin ngang qua những lựa chọn bất chính là điều dễ dàng xảy ra đối với những người này...
Cũng không thiếu những người theo Chúa như Philatô, họ theo vì nhu cầu lợi lộc, thực dụng. Vì thế, họ sống theo kiểu: "Sợ tiếng chửi và ăn mày tiếng khen". Nếu vì Chúa mà ảnh hưởng đến cuộc sống, sự nghiệp, chức quyền...là họ "rửa tay" như Philatô.
Mong sao, ngày càng có nhiều người Kitô hữu theo Chúa như Đức Mẹ, thánh Gioan, bà Verônica, ông Simong, hay như một số phụ nữ... Các ngài theo vì lòng yêu mến, hiệp thông, để cảm, để thấu và muốn được cùng Thầy trở thành chứng nhân của lòng thương xót.
Lạy Chúa Giêsu, khi nghe bài Thương Khó hôn nay, xin cho chúng con không chỉ dừng lại ở sự xót xa nơi những lời vu khống không thương tiếc, những lằn roi tê tái, những lời nhục mạ bỉ ổi và những nhát đinh chết người mà con người dành cho Chúa!
Nhưng điều quan trọng, xin Chúa ban cho chúng con biết sống sứ điệp của Chúa ngang qua cuộc thương khó, để ước gì thế giới này được chan chứa tình yêu và hy vọng qua cuộc sống chứng nhân của chúng con. Amen.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây