Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật Lễ Lá ABC Bài 351-390 Chúa Giêsu vào

Thứ năm - 11/04/2019 09:11
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật Lễ Lá ABC Bài 351-390 Hoan Hô Con Vua Đavít
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật Lễ Lá ABC Bài 351-390 Hoan Hô Con Vua Đavít
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật Lễ Lá ABC Bài 351-390 Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem

------------------------
Lễlá-351: CON ĐƯỜNG THẬP GIÁ.. 2
Lễlá-352: Con lừa. 5
Lễlá-353: Những ngã rẽ nguy hiểm.. 6
Lễlá-354: MỘT NIỀM TÍN TRUNG.. 9
Lễlá-355: CÁI CHẾT CỦA LƯƠNG TÂM... 11
Lễlá-356: MÀU XANH HY VỌNG.. 13
Lễlá-357: NỀM VUI – THẬP GIÁ – VÀ ƠN CỨU ĐỘ.. 17
Lễlá-358: TỪ THẬP GIÁ ĐẾN THÁNH GIÁ.. 20
Lễlá-359: CON ĐƯỜNG THẬP GIÁ.. 23
Lễlá-360: TẤT CẢ VÌ YÊU.. 26
Lễlá-361: CHÚA VÀO THÀNH GIÊRUSALEM... 27
Lễlá-362: CÙNG CHẾT VỚI ĐỨC KITÔ ĐỂ CÙNG SỐNG LẠI VỚI NGƯỜI 30
Lễlá-363: CÁI ÁC LÊN NGÔI VÀ GIẢI PHÁP CỦA THIÊN CHÚA.. 33
Lễlá-364: ĐAU KHỔ – VINH QUANG.. 36
Lễlá-365: GIÁ TRỊ CỦA ĐAU KHỔ.. 37
Lễlá-366: BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NHI - CN LỄ LÁ.. 44
Lễlá-367: Người tôi tớ khổ đau của Giavê. 46
Lễlá-368: CHÚA NHẬT LỄ LÁ – C 2013. 49
Lễlá-369: QUA ĐAU KHỔ VÀO TRONG VINH QUANG.. 54
Lễlá-370: Suy Niệm CHÚA NHẬT LỄ LÁ NĂM C.. 59
Lễlá-371: Người yêu thương đến cùng. 61
Lễlá-372: NHỮNG ĐỔI THAY ĐẾN NGỠ NGÀNG.. 63
Lễlá-373: ĐƯỜNG TÌNH YÊU.. 67
Lễlá-374: ĐÁM ĐÔNG CUỘC ĐỜI 68
Lễlá-375: CHÚA NHẬT LỄ LÁ.. 71
Lễlá-376: Cuộc khổ nạn của Chúa. 73
Lễlá-377: Thập giá vinh quang - Lm. Carolô Hồ Bạc Xái 74
Lễlá-378: Phêrô. 78
Lễlá-379: Nhiệt thành của thập giá. 80
Lễlá-380: Ta là ai trong cuộc Thương Khó. 82
Lễlá-381: Chọn lựa. 86
Lễlá-382: Suy niệm của Lm. Anthony Trung Thành. 87
Lễlá-383:  Vụ án Baraba và Chúa Giêsu. 90
Lễlá-384: Sự Thương Khó của Chúa. 91
Lễlá-385: Từ những nghịch lý. 95
Lễlá-386: Hành trình đau khổ - Trầm Thiên Thu. 97
Lễlá-387: Ai là bạn của tôi?. 102
Lễlá-388: Mặc khải - Lm Vũ Đình Tường. 104
Lễlá-389: Tại làm sao Chúa chết?. 106
Lễlá-390: Baraba và Đức Giêsu. 108

------------------------
 

Lễlá-351: CON ĐƯỜNG THẬP GIÁ


(Chúa Nhật Lễ Lá)

 

Ở Tây Ban Nha, trong một Thánh Đường, có cây thập giá đặc biệt, nhiều người đến chiêm ngắm tôn Lễlá-351


Ở Tây Ban Nha, trong một Thánh Đường, có cây thập giá đặc biệt, nhiều người đến chiêm ngắm tôn thờ. Chúa Giêsu bị đóng đinh tay trái, còn tay phải lại buông thõng xuống. Truyền thuyết kể lại: có một người tội lỗi tìm đến với cha xứ. Tuy ông đã xưng thú mọi tội lỗi với lòng sám hối, nhưng cha xứ lưỡng lự không biết có nên tha hay không, vì thấy ông ấy phạm quá nhiều tội. Sau cùng, cha nghiêm giọng nói: "Tôi ban Bí Tích Hòa Giải cho ông, nhưng trong tương lai ông phải cố gắng sửa mình." Ông hứa với cha xứ, nhưng vì yếu đuối ông lại sa ngã và một thời gian sau lại tìm đến tòa cáo giải. Lần này thì cha xứ nói với ông bằng một giọng nghiêm khắc: "Tôi ban Bí Tích Hòa Giải cho ông lần này là lần cuối cùng. Ông đã nghe thấy chưa?"

Vài tháng sau, ông lại đến quỳ dưới chân cha xứ và năn nỉ: "Con thực lòng ăn năn, xin cha tha tội cho con một lần nữa." Cha xứ đáp: "Đừng đùa giỡn với Chúa. Tôi không ban Bí Tích Hòa Giải cho ông nữa đâu". Khi nói thế, cha bỗng nghe thấy có tiếng nấc nghẹn ngào. Rồi từ trên thập giá, cánh tay phải của Chúa từ từ hạ xuống và ban Bí Tích Hòa Giải cho người tín hữu thành tâm sám hối. Và Ngài nói với vị Linh Mục: "Chính Ta đổ máu ra để cứu chuộc ông ấy chứ đâu phải là con."

Và cũng từ ngày đó, cánh tay phải của Chúa thõng xuống trong tư thế ban phép tha tội.

"Chính Ta đã đổ máu ra để cứu chuộc con". Chúa đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời tuyên xưng: "Vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta, Người đã từ Trời xuống thế... Người chịu đóng đinh vào Thập Giá vì chúng tôi". Nội dung chính yếu của cử hành Phụng Vụ Tuần Thánh là cuộc thương khó của Chúa Giêsu. Ngài là người tôi tớ đau khổ của Đức Giavê. Ngài đón nhận Thập Giá tủi nhục thất bại, và đã biến đổi Thập Giá thành nguồn Ơn Cứu Độ, tình thương tha thứ cho nhân loại tội lỗi.

Phụng Vụ bước vào Tuần Thánh với khởi đầu là Chúa Nhật Lễ Lá. Cử hành Phụng Vụ hôm nay khởi sự bằng việc làm phép lá và đi kiệu lá. Cộng đoàn đi kiệu để tưởng niệm việc Chúa Cứu Thế khải hoàn tiến vào thành Giêrusalem. Ngay sau đó là Thánh Lễ tưởng niệm cuộc Thương Khó, đặc biệt với việc đọc Bài Thương Khó. Việc cử hành hôm nay mang hai sắc thái có vẻ nghịch nhau: mới mừng cuộc khải hoàn của Chúa Kitô, rồi lại cảm thông nỗi thống khổ của Người. Phụng Vụ hôm nay kết hợp hai khoảnh khắc trái ngược nhau: cuộc chào đón Đức Giêsu vào Giêrusalem và thảm kịch Thương Khó; lễ hội “Hosanna” và những tiếng la ó lặp đi lặp lại “Đóng đinh nó vào thập giá”; cuộc khải hoàn và sự thất bại bề ngoài qua cái chết trên thập giá.

Bài Thương Khó kể lại từng chặng đường đau thương của Đấng Cứu Thế. Ba môn đệ thân tín đã bỏ rơi Thầy. Giuđa chỉ điểm bắt Thầy bằng một nụ hôn giả dối. Các môn đệ sợ hãi bỏ Thầy mà chạy trốn. Phêrô thề là không hề quen biết Thầy. Chúa Giêsu cô đơn trước đám đông cuồng nộ. Họ bị kích động đòi đóng đinh Ngài. Họ coi Ngài còn thua Baraba là tên phiến loạn. Họ khạc nhổ, đánh đập, vả tát vào mặt, dùng roi quất vào da thịt. Đôi bàn tay bầm tím xuyên thâu những mũi đinh nhọn. Đôi bàn chân bị đinh đóng xuyên qua cây gỗ. Đầu đội mão gai nhọn. Lưỡi đòng đâm cạnh sườn, máu và nước chảy ra.

Một người bị lột bỏ trần trụi. Hai tay bị giang thẳng trói xiết chặt vào thanh gỗ ngang. Hai chân bị trói vào thanh gỗ dọc phơi ngoài trời nắng gắt cho đến chết. Chết vì nghẹt thở do các cơ vòng ngực, cơ bắp tay không còn sức trương ra và co vào để có thể thu nhận dưỡng khí và tống thán khí ra. Tử tội bị đóng đinh nơi cổ tay, nơi bàn chân càng thê thảm bội phần vì đau đớn nhức nhối, sức người rướn lên để thở, sẽ mau kiệt sức và chóng chết.

Bị sỉ nhục. Bị cười nhạo báng. Bị khinh khi. Kẻ qua người lại đều nhục mạ Ngài, vừa lắc đầu vừa nói: mi là kẻ phá được Đền Thờ, và nội trong ba ngày xây lại được, hãy cứu lấy mình đi! Nếu mi là Con Thiên Chúa, thì xuống khỏi thập giá xem nào! Các thượng tế kinh sư và kỳ mục cũng chế giễu Ngài mà nói: Hắn cứu được thiên hạ, mà chẳng cứu nổi mình. Hắn là vua Israel! Bây giờ hắn cứ xuống khỏi thập gía đi, thì chúng ta tin hắn liền!  Cả những tên cướp cùng chịu đóng đinh cũng sỉ vả Ngài như thế.

Cái chết cô đơn, cái chết đau khổ đến với Chúa Giêsu như một chén đắng mà Chúa Cha trao phó. Chúa Giêsu xin vâng ý Cha, nhưng không vì thế mà bớt sự đau đớn. Trong Vườn Cây Dầu, Chúa Giêsu than thở: “Cha ơi, nếu được, xin cho chén này rời khỏi con. Nhưng xin đừng theo ý Con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26, 39). Theo thánh ý Chúa Cha, “Chúa Giêsu đã hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết và chết trên cây Thập giá” ( Pl 2, 8).

Cuộc khải hoàn rước lá của Chúa Giêsu là một dấu chỉ của chiến thắng vinh quang chung cuộc. Việc kiệu lá cho thấy rõ ý nghĩa đích thực của đau khổ và thập giá. Tương tự trong sự kiện “biến hình” trên núi Tabo: Chúa Giêsu cho ba Tông Đồ thoáng thấy vinh quang thần tính. Khi xuống núi, Ngài ra lệnh cho ba Tông Đồ phải bảo mật cho đến khi Con Người sống lại từ cõi chết, nghĩa là cho đến khi ý nghĩa của biến cố này được tỏ bày. Cũng chính ba Tông Đồ thân tín chứng kiến cơn hấp hối của Chúa ở vườn Cây Dầu. Sau Phục sinh, Chúa Kitô cũng giải thích cho hai môn đệ trên đường Emmau: “Đức Kitô không phải chịu đau khổ như thế rồi mới vào vinh quang của Người sao?” (Lc 24, 26).

Như vậy, ngay từ Lễ Lá, hai sắc thái, hai cục diện của mầu nhiệm Vượt Qua được trình bày rõ ràng. Lễ Lá trình bày hai cục diện theo thứ tự đảo ngược: vinh quang trước, khổ nạn sau. Nhưng thứ tự đó biểu lộ thực chất của mầu nhiệm Vượt Qua. Mầu nhiệm Vượt Qua cơ bản là một mầu nhiệm đạt tới vinh quang và sự sống. Sự chết chỉ là bước đi qua, là phương tiện để đạt tới mục đích là vinh quang Phục Sinh.

Bước vào Tuần Thánh, chúng ta cùng theo Chúa Giêsu trên con đường Thập Giá. Theo Chúa không chỉ khi gặp may mắn, thành công, bình an mà còn chấp nhận khi bị bỏ rơi, khước từ, đau khổ, thất bại. Theo Chúa không là con đường “xuôi chèo mát mái” hoàn toàn hạnh phúc an lành, mà còn là con đường chọn lựa quyết liệt với những quyến rũ của vật chất, đam mê, hưởng thụ, danh vọng, quyền lực thế gian.

Theo Chúa Giêsu là đi con đường thập giá vừa lên dốc, vừa nhiều ổ gà ổ voi và vừa là con đường một chiều. Con đường ấy hẹp chứ không thênh thang theo những trào lưu dễ dãi, giả dối, ích kỷ, hận thù, bạo lực... nên cần phải sống từ bỏ, hy sinh, trung thực, yêu thương, bao dung.

Tuần Thánh, cùng đi vào hành trình thương khó của Chúa, chúng ta gặp thấy nhiều tình huống tăm tối của “nhân tình thế thái” như vu khống, phản bội, ghen tương, bất công, nhục nhã, đau khổ, sợ hãi, cô đơn, hèn nhát, cái chết. Nhưng trên hết, chúng ta gặp được một tình yêu. Tình Yêu của Đấng Chịu Đóng Đinh đối với Chúa Cha và lòng xót thương với nhân loại. Chỉ có tình yêu mới làm cho mọi khổ đau có giá trị cứu độ. Cảm nếm và thông phần với nỗi khổ đau thân xác và tinh thần của Chúa Giêsu, nhưng vẫn luôn nhận ra lòng xót thương nằm ẩn dưới từng phản ứng của Ngài theo Tin Mừng kể lại. Càng suy nghĩ về cuộc khổ nạn, chúng ta càng yêu Thập giá của Chúa hơn, yêu thập giá của mình hơn và kính trọng thập giá của người khác hơn.

Theo Chúa Giêsu trên con đường thập giá là một thách đố lớn trong bối cảnh thời nay. Xác tín rằng, có Chúa cùng đồng hành, Ngài luôn thấu hiểu nâng đỡ, Ngài chia sẻ những khó khăn, thử thách, đau khổ với chúng ta trên hành trình theo Ngài. Nếu can đảm cùng chịu đau khổ và đóng đinh cùng Ngài, chúng ta sẽ được hạnh phúc và vinh quang phục sinh với Ngài.

Lm. Giuse NGUYỄN HỮU AN
 
----------------------------

 

Lễlá-352: Con lừa.

 

Hôm nay, Chúa Giêsu cưỡi trên lưng một con lừa để tiến vào thành Giêrusalem giữa những tiếng Lễlá-352


Hôm nay, Chúa Giêsu cưỡi trên lưng một con lừa để tiến vào thành Giêrusalem giữa những tiếng tung hô vạn tuế. Chính vì thế, chúng ta cùng nhau chia sẻ về hình ảnh con lừa.

Đối với nhiều người, hình ảnh con lừa chẳng phải là một hình ảnh hấp dẫn, bởi vì lừa là một con vật đần độn và ưa nặng. Tuy nhiên, trong một bài thơ, Chesterton diễn tả một chú lừa đã quan sát vẻ xấu xí của mình và tự nhủ:

"Chắc hẳn tôi đã được sinh ra khi mảnh trăng nhuốm máu, khi cá lượn trên không, lúc cây rừng cất bước và cây vả trổ gai. Ôi chiếc đầu kỳ quái, tiếng kêu ghê tởm, đôi tai khác nào cặp cánh lạc loài và dáng đi kỳ cục nhất trong các loài động vật bốn chân. Thế nhưng, tôi cũng có giờ của tôi chứ. Một giờ thật oanh liệt và êm dịu, khi bên tai tôi văng vẳng tiếng reo hò và ngành thiên tuế chập chờn dưới bước chân tôi đấy".

Và chú lừa đã thốt lên:

"Quí vị cứ cười nhạo tôi đi, nhưng nên nhớ rằng tôi đã được chọn trong tất cả thú vật trần gian, để cõng trên mình Đấng Cứu Độ nhân loại".

Mặc dù chúng ta thường nhạo báng giống lừa, nhưng các nhân vật trong Kinh Thánh lại ngợi khen chúng. Lừa là một giống vật hiền hoà, khác hẳn với loài ngựa, là giống vật dành cho chiến tranh. Tiên tri Giacaria đã tiên báo: Đấng Messia, tức là Đấng Thiên Sai, sẽ cưỡi trên lưng lừa mà tiến vào thánh Giêrusalem.

Và hôm nay, Chúa Giêsu đã thực hiện lời tiên báo ấy. Làm như thế, Ngài đã chu toàn hai điều xác quyết sau đây: Điều xác quyết thứ nhất, Ngài xác nhận mình là Đấng Thiên Sai, Đấng Messia của dân Do Thái. Điều xác quyết thứ hai, Ngài mạc khải cho chúng ta biết sứ mạng thiên sai của Ngài là gì?

Vào thời Chúa Giêsu, việc mạc khải này có thể dẫn tới những hiểu lầm tai hại. Thực vậy, có nhiều người nghĩ rằng sứ mạng của Đấng Thiên Sai hệ tại việc đoàn kết dân chúng lại, để đánh đuổi quân xâm lược Rôma ra khỏi đất nước họ. Thế nhưng, Chúa Giêsu cưỡi trên lưng con vật hiền lành mà tiến vào thành Giêrusalem. Hành động này đi ngược lại với ý tưởng trên. Đồng thời còn cho thấy Đấng Thiên Sai không phải là một ông vua chinh chiến, bắt kẻ thù phải làm nô lệ cho mình.

Ngài đến và đã quỳ gối rửa chân cho thần dân của Ngài, chứ không phải là để ngồi trên ngai vàng, rồi bắt mọi người phải hầu hạ mình. Ngài đoàn kết dân chúng sau lưng mình, không phải là để đi giao tranh với các dân tộc khác, nhưng liên kết họ để chiến đấu chống lại nghèo khổ, đói khát, thu hận và mọi hình thức bất công.

Ngài đến không phải để kết án, nhưng để tha thứ. Ngài đến không phải để phá đổ những giấc mơ của dân chúng, nhưng để làm cho những giấc mơ ấy trở thành hiện thực bằng một phương cách lạ lùng nhất. Ngài không cưỡng bức, nhưng kêu mời chúng ta bước theo Ngài.

Thế nhưng, chúng ta có đáp trả lời mời gọi ấy hay không, thì đó là việc làm riêng tư của mỗi người chúng ta. Còn giờ đây, chúng ta hãy vui mừng và cùng với các tín hữu ở khắp mọi nơi, hãy tung hô Chúa: Vạn tuế Đấng Nhân Danh Chúa mà đến.
 
----------------------------

 

Lễlá-353: Những ngã rẽ nguy hiểm


(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

 

Lễ Lá có một khởi đầu vui và một kết thúc buồn. Đức Giêsu long trọng vào thành thánh Giêrusalem trong Lễlá-353


Lễ Lá có một khởi đầu vui và một kết thúc buồn. Đức Giêsu long trọng vào thành thánh Giêrusalem trong lời hoan hô chúc tụng và sau đó chịu kết án, chịu khổ hình và chết trên thập giá.

Con đường vào thành Giêrusalem vinh quang vương giả với đám đông ngưỡng mộ, cành lá và quần áo trải thảm đường đi. Con đường lên Núi Sọ với thân kẻ tội đồ vác thập giá, những lời nhục mạ, roi đòn tơi tả và hai tội nhân đồng hành.

Tiến bước theo Chúa trên đường thương khó để chứng kiến sự thay đổi nhanh chóng của lòng người.

Từ Chúa Nhật Lễ Lá đến Thứ Sáu Tuần Thánh thời gian không dài, nhưng biết bao người đã thay lòng đổi dạ. Từ cổng thành đến Núi Sọ đường đất không xa, nhưng biết bao người đã rẽ lối khác. Tại sao như thế?

Theo dấu vết của những người bỏ cuộc để nhận diện những ngã rẽ trên hành trình cuộc đời. ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt suy tư về ba ngã rẽ tiêu biểu, của Giuđa, Phêrô và đám đông.

1. Ngã rẽ của đám đông.

Dân thành Giêrusalem nô nức phấn khởi, trải áo choàng, chặt những cành lá cây rải trên đường để Chúa đi qua, tay cầm cành lá, miệng reo hò tung hô Chúa, họ dành cho Chúa một nghi lễ đón rước như cho một vị vua của họ. Họ vừa đi vừa tung hô: “Hoan hô con vua Đavít”, “Vạn tuế Đấng nhân danh Thiên Chúa mà đến”. Thế mà sau đó không lâu, nghe lời xúi giục của tư tế, kinh sư, pharisiêu, họ lại biểu tình đả đảo, chống đối, hò la, gào thét đòi “đóng đinh nó đi!”. Hàng vạn người đã theo Chúa, mê mệt nghe đến mấy ngày quên ăn, quên về. Biết bao người reo mừng nghênh đón Chúa ngày long trọng vào thành. Thế mà trên Núi Sọ chỉ thấy những người đến sỉ vả, chê bai, nhạo cười.

Đám đông đã rẽ sang lối nào? Thưa họ rẽ sang lối dư luận. Thiếu lập trường, chạy theo đám đông. Thấy người ta đi nghe Chúa thì cũng đi. Thấy người ta nhạo cười Chúa thì cũng cười nhạo. Thấy người ta kết án Chúa thì cũng kết án. Đám đông thật nông nổi nhẹ dạ. Đám đông thường dễ bị lôi cuốn, người ta làm gì mình làm nấy mà nhiều khi chẳng biết tại sao. Có nhiều người trong đám đông đó không hề thù ghét Chúa Giêsu. Có lẽ còn có nhiều người đã từng nhận ân huệ của Chúa Giêsu! Thế nhưng, họ đã bị đám đông lôi cuốn vào việc kết án người công chính. Giữa cuộc đời hôm nay, biết bao người công chính, thanh liêm, trung trực, chính nghĩa đã chịu vu vạ cáo gian dẫn đến tù tội do đám đông nông nổi bị lừa dối, bị tuyên truyền!!!

2. Ngã rẽ của Giuđa

Giuđa là môn đệ trung tín theo Chúa trong suốt ba năm. Ông còn được Chúa tin cẩn trao phó cho công việc quản lý. Một ngày kia Chúa Giêsu đang cùng các môn đệ dùng bữa tại nhà ông Simon, bỗng có một phụ nữ đem đến một chai dầu thơm quí giá, rồi chị lấy dầu xức lên chân Chúa. Giuđa phản đối “Sao lại phí thế! Đem chai dầu bán cũng được hơn 300 đồng bạc, lấy số tiền đó đi giúp người nghèo có phải thực tế hơn không?”. Giuđa có đầu óc biết tính toán và thực tế của người quản lý tài chánh.

Ngày Lễ Lá chắc chắn ông có mặt. Nhưng khi Chúa chịu chết thì ông biệt vắng. Ông đã rẽ sang lối khác. Lối rẽ theo tiền bạc vật chất. Theo tiếng gọi của tiền bạc, ông đã đưa chân đi những bước xa lạ. Ông đi vào con đường khác. Ông trở thành con người khác. Ông bỏ Chúa vì tiền. Tệ hơn nữa ông bán Chúa để lấy tiền. Một con người bạc bẽo, vô tình vô nghĩa. Trong tình yêu có gì đẹp bằng nụ hôn! Vậy mà Giuđa dùng nụ hôn làm dấu hiệu nộp Thầy. Trong tình yêu, tội phản bội làm tổn thương và đau đớn vô cùng. Tình yêu càng lớn lao bao nhiêu, khi bị phản bội càng đau đớn bấy nhiêu. Ngã rẽ Giuđa biểu tượng cho những người quá say mê của cải vật chất ở đời này đến mức quên tình quên nghĩa, phản bội người khác, kể cả ân nhân của mình.

3. Ngã rẽ của Phêrô.

Phêrô là môn đệ thân tín của Chúa. Là người đứng đầu tông đồ đoàn. Ông thề rằng dù mọi người có bỏ Chúa thì ông vẫn trung thành với Chúa. Ngày Lễ Lá, Phêrô ở bên Chúa. Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, chẳng thấy bóng ông đâu. Phêrô đã rẽ sang lối khác: lối rẽ lười biếng, thích hưởng thụ và sợ bị liên lụy. Lười biếng vì khi vào vườn Giêtsimani, Chúa kêu gọi ông hãy thức cầu nguyện với Chúa, vậy mà ông cứ ngủ. Hưởng thụ vì trong sân tòa án, thay vì theo dõi cuộc xét xử Thầy thì ông lại vào tìm hơi ấm nơi đống lửa giữa sân. An nhàn hưởng thụ đã kéo ông xa Chúa. An nhàn hưởng thụ đã đẩy ông đến chỗ chối Chúa. Phêrô chối Chúa cũng vì ông sợ bị liên lụy. Nếu những người hỏi ông không phải là những người của vị Thượng Tế đang xét xử Chúa Giêsu thì chắc Phêrô vẫn mạnh dạn nhìn nhận mình là môn đệ Đức Giêsu. Nhưng vì họ là người của Thượng Tế nên ông phải chối, kẻo họ báo cáo rồi ông cũng bị bắt luôn.

Phêrô đã theo Chúa Giêsu suốt ba năm. Phêrô nếm trải biết bao gian khổ, ông đón nhận tất cả mà không kêu ca nề hà gì. Nhưng hôm nay ông chối Chúa vì sợ bị liên lụy, vì an toàn của sinh mạng. Ông chấp nhận từ bỏ và hy sinh, nhưng chỉ đến một giới hạn nào đó thôi.

Phêrô là người được Chúa Giêsu yêu thương, chăm sóc, lo lắng, và được Ngài ban cho biết bao là ân huệ. Nào là vai trò thủ lãnh của Nhóm Mười Hai, nào là nhiệm vụ cầm giữ chìa khóa Nước Trời: “Dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy” (Mt 16,19); và còn được gọi là Kêpha, nghĩa là đá … vậy mà khi đối mặt với một đứa hầu gái vô danh tiểu tốt, đá lại mềm ra như bún, ông chối phăng không biết Giêsu là ai, ông lại còn dám cả gan thề độc: "Tôi thề là không có biết người các ông nói đó!” (Mc 14,71). Ông là người nhiệt tình nhất với Chúa Giêsu, thế mà cuối cùng cũng chối Thầy. Thế mới biết, bất cứ ai cũng yếu đuối và cũng có thể sa ngã nặng nề. Phêrô đã sa ngã. Vậy mà ông cứ luôn tưởng rằng mình mạnh mẽ.

Để tự nhiên, chắc chắn không ai nỡ nhẫn tâm bán Chúa, chối Chúa, lên án Chúa. Người ta thay lòng đổi dạ do tác động của tiền bạc, của hưởng thụ, sợ bị liên lụy và của theo hướng của dư luận. Đó là những ngã rẽ nguy hiểm.

Nếu có mặt trong ngày Chúa chịu khổ nạn, tôi và bạn có rẽ sang lối nào không? Tôi và bạn sẽ rẽ sang con đường phản bội của Giuđa? Tôi và bạn sẽ rẽ sang con đường chối Chúa của Phêrô? Tôi và bạn sẽ rẽ sang những con hẻm in dấu chân trốn chạy của các môn đệ? Tôi và bạn sẽ phụ hoạ với đám đông kết án Chúa? Hay tôi và bạn cũng theo quân lính đánh đập Chúa? Tôi và bạn có kết án bất công như Philatô không? Tôi và bạn có hùa với kẻ mạnh đàn áp bắt nạt người thấp cổ bé miệng như đám đông dân chúng không? Tôi và bạn phải dứt khoát lựa chọn một con đường.

Con đường theo Chúa không êm ái nhẹ nhàng và thênh thang đâu. Đó là con đường thập giá: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hàng ngày mà theo” (Lc 9,23). Đường thập giá là đường một chiều. Đường thập giá là đường lên dốc. Và đường thập giá là đường có nhiều ổ gà dằn xóc. Vì thế mà có nhiều người bỏ cuộc nên rẽ sang một hướng đi khác. Nhận diện những ngã rẽ nguy hiểm của tiền bạc dẫn lối, thích an nhàn hưởng thụ, sợ liên lụy bản thân và hùa theo dư luận để chúng ta tỉnh táo mà bước đi trên hành trình đức tin cuộc đời. Vác thập giá hôm nay chính là đón nhận những bệnh tật, thất bại, đau khổ, bất công… như những thử thách của lòng tin để vững bước theo Chúa đến cùng.

Tuần Thánh, chúng ta cùng dõi bước theo con đường thập giá của Chúa Giêsu. Đó là con đường đau khổ, nhưng cũng là con đường tình yêu và là con đường cứu độ.

Lạy Chúa, xin cho con luôn mạnh mẽ và kiên trì tiến bước theo Chúa trên mọi nẻo đường Chúa dẫn con đi. Amen.

 ----------------------------

 

Lễlá-354: MỘT NIỀM TÍN TRUNG


Gm Giuse Vũ Văn Thiên

 

Cùng với tất cả các Kitô hữu trên toàn thế giới, chúng ta bước vào Tuần Thánh. Ngày lễ này Lễlá-354


Cùng với tất cả các Kitô hữu trên toàn thế giới, chúng ta bước vào Tuần Thánh. Ngày lễ này được gọi là “Lễ Lá” bởi sự kiện dân chúng cầm ngành lá thiên tuế đi đón Chúa Giêsu khi Người long trọng tiến vào thành Giêrusalem. Thánh lễ khởi đầu với bầu không khí hân hoan tưng bừng và kết thúc trong trầm buồn lặng lẽ, để mời gọi các tín hữu suy tư mầu nhiệm thương khó và thập giá sẽ được cử hành trong Tuần Thánh.

 Bài Thương khó theo Tin Mừng thánh Mátthêu khởi đầu bằng sự phản bội của Giuđa, một trong mười hai tông đồ. Giuđa đã được Chúa gọi, nuôi dưỡng và dạy dỗ. Vì tham tiền bạc mà ông đã phản bội Thày mình. Không chỉ có Giuđa, chúng ta còn thấy một số kỳ lão, người biệt phái, luật sĩ và đám đông dân chúng cũng đua nhau tố cáo Chúa. “Hội chứng đám đông” đã khiến những người này hăng hái và liên kết lại với nhau để vu khống cho Chúa đủ điều. Các môn đệ hằng ngày thân thiết và hăng hái với Thày, lúc này xem ra cũng yếu đuối, run sợ, thậm chí còn chối Thày như trường hợp Phêrô.

 Đối lại với một Giuđa phản bội và một đám đông dân chúng đang bừng bừng căm giận, Chúa Giêsu vẫn khiêm tốn và trung thành. Người chấp nhận đi cho đến cùng chặng đường sứ mạng Thiên sai. Người không dùng bạo lực để đối lại với bạo lực. Cuộc xét xử bất công của Công nghị Do Thái đã lên án người vô tội. Chúa Giêsu đã chết trên thập giá để đền thay cho tội lỗi loài người. Người đã đau khổ cho con người hạnh phúc, đã chết cho con người được sống.

 Hai bài đọc (Bài đọc I và bài đọc II) đều nhắc đến hình ảnh người Tôi tớ Trung thành trong đau khổ. Giáo Hội Kitô đã nhận ra Người Tôi tớ đau khổ mà ngôn sứ Isaia tiên báo nơi Đức Giêsu Kitô. Người đã mang trên thân mình những đau khổ của cả nhân loại mà không than van (Bài đọc I). Người đã “hủy mình ra không” để trở nên thân phận tôi đòi (Bài đọc II). Đức Giêsu chấp nhận tất cả những điều đó, vì vâng lời Chúa Cha và vì yêu thương nhân loại. Người cũng làm gương cho chúng ta, để rồi, trong cuộc sống còn nhiều gian nan thử thách này, chúng ta biết vác thập giá đời mình và vác thập giá cho nhau.

 Hai mươi thế kỷ sau cái chết của Đức Giêsu, Giáo Hội Kitô vẫn không ngừng tôn vinh cây thập giá, như cờ hiệu chiến thắng và như biểu tượng tình yêu. Khi tham dự phụng vụ hôm nay, mỗi người được mời gọi suy tư về thái độ sống của mình. Nghi thức làm phép lá và kiệu lá nhắc chúng ta, cuộc thương khó của Chúa vẫn đang diễn ra nơi những người đau khổ, nghèo hèn, bệnh tật, bị áp bức và thiệt thòi bất công trong xã hội hôm nay. Chúa đang đi qua cuộc đời này. Có những người đón tiếp Chúa, nhưng cũng có những người dửng dưng trước việc Chúa đi ngang qua cuộc đời họ, thậm chí có những người từ chối Chúa và gạt Người ra bên lề cuộc sống. Tiếng gọi của Chúa là tiếng gọi khiêm tốn, đôi khi bị lấn át bởi biết bao âm thanh hỗn tạp của “biển đời” đầy bon chen và giành giật. Vì thế, để lắng nghe lời của Người, chúng ta phải trút bớt khỏi tâm hồn những toan tính, tham vọng. Chúa thường tâm sự với những ai biết chuyên tâm cầu nguyện và những tâm hồn thích sống trong lắng đọng nội tâm. Ngày lễ Lá giúp chúng ta tự vấn lương tâm: chúng ta đón Chúa với tâm tình nào? Phải chăng là dửng dưng như một số người dân thành Giêrusalem năm xưa? Hoặc như một số người nhiệt thành tung hô Chúa, nhưng rồi sau đó thay lòng đổi dạ, giơ tay tố cáo Chúa và xin Philatô đóng đinh Người trên thập giá? Lời Chúa hôm nay vừa nêu cao hình ảnh Đức Giêsu như một Tôi tớ tín trung của Thiên Chúa, vừa mời gọi chúng ta hãy noi gương Người, trung thành và kiên vững trong đời sống đức tin.

 Sau khi tham dự Lễ Lá, chúng ta sẽ mang theo một vài cành lá đã được làm phép về nhà. Cành lá này nhắc lại điều chúng ta đã hát: “Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến”. Cành lá này cũng nhắc chúng ta về lòng trung thành với Chúa trong đời sống. Sứ mạng của mỗi Kitô hữu là sống và làm chứng cho Chúa trong cuộc sống hằng ngày. Người muốn chúng ta hãy là chứng nhân loan báo sự chết và phục sinh của Người cho đến tận cùng thế giới. Người muốn mỗi chúng ta cũng biết hy sinh cho nhau, để cuộc sống này trở nên nhân ái và công bình hơn. Người còn muốn chúng ta hãy tiếp nối sứ mạng của Người xây dựng Nước Trời, một công trình được thực hiện ngay ở đời này và sẽ hoàn thành khi Người lại đến trong vinh quang. Trong suốt Tuần Thánh này, chúng ta hãy liên kết mật thiết với Chúa trong lời cầu nguyện.

 Mỗi khi cử hành Hy lễ Tạ ơn, chúng ta được đón nhận những hoa trái của cuộc thương khó Đức Giêsu. Người ban cho chúng ta không chỉ Mình và Máu Người, mà còn sự kết hợp mật thiết với Chúa Cha. Người  đã khởi đầu nơi chúng ta một cuộc sống quảng đại và sự liên kết tiến tới sự thân tình trọn vẹn với Thiên Chúa là Cha của Người.
 
----------------------------

 

Lễlá-355: CÁI CHẾT CỦA LƯƠNG TÂM


Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

 

Trong chuyến thăm vùng biển Vũng Áng, Hà Tĩnh, chứng kiến cảnh chết chóc tràn bờ, Đức Cha Lễlá-355


Trong chuyến thăm vùng biển Vũng Áng, Hà Tĩnh, chứng kiến cảnh chết chóc tràn bờ, Đức Cha Giuse Ngô Quang Kiệt đã viết:

“Khi chứng kiến tất cả đời sống của họ cũng như đi thăm tất cả các bờ biển, tôi cảm thấy đau xót, có thể nói là một cảnh chết chóc. Tôi vào một nhà nghỉ khá lớn của Hà Tĩnh thấy khách vắng hoe, chả thấy khách đâu cả. Rồi đi ra bãi biển thấy thuyền nằm chất đống ở đó, có những con thuyền chỉ còn đậy những tấm vải y hệt như những thân thể bị liệt thì đúng là một cảnh chết chóc. Ở bờ biển không có một sinh vật nào cả, trên bãi cát không có một con dã tràng nào. Tôi thấy ở các bãi biển đều có những con vật nhỏ li ti như con dã tràng, con cua, con ốc thì bãi biển này hoàn toàn chết hết rồi, không còn một tí gì là sự sống nữa. Khi chúng tôi xuống biển, tất cả mọi người đều hết sức đề phòng để cho nước biển không được dính vào chân. Họ kéo thuyền thật cao trên bãi cát, xong rồi thì có thể bước lên bờ để chân mình khó có thể dính nước biển… Cả một sự chết chóc như vậy”.

Cái chết ấy cho tới hôm nay vẫn chưa sống lại. Làng chài vẫn trống vắng. Nước thải độc hại vẫn tràn lan. Nguyên nhân cá chết vẫn chưa ai thực lòng nhận lỗi. Điều tệ hại là cái chết về lương tâm và luân lý khiến chẳng ai quan tâm khắc phục hậu quả để mang lại môi trường trong sạch cho vạn vật sinh sống. Con người vì lợi ích cá nhân vẫn tiếp tục hủy hoại môi trường sống và gián tiếp giết chết sự sống con người.

Khi lương tâm con người đã chết thì người ta đâu còn hổ thẹn về việc mình làm. Người ta càng không cắn rứt lương tâm khi gây nên những cái chết cho anh em. Người ta cũng bàng quan trước nỗi bất hạnh của anh em. Người ta sống theo chủ nghĩa “mackeno” để rửa tay nói mình vô tội trong những cái chết oan khiên mà đáng lý với quyền hạn và trách nhiệm chúng ta có thể bảo vệ, nhưng chúng ta đã làm ngơ cho sự ác lên ngôi.

Hôm nay khởi đầu Tuần Thánh chúng ta cũng có dịp nhìn lại một cái chết của lương tâm, của luân lý, của lý trí, của chính trị thời Chúa Giê-su. Từ dân chúng cho tới quan quyền. Từ người thất học cho tới thành phần ưu việt đều nhân danh công lý để giết hại người vô tội. Lương tâm và luân lý của họ đã chết nên họ lấy mục đích mà biện minh cho phương tiện: “thà một người chết thay cho cả dân được nhờ”. Lý trí đã bị quyền lợi lấn át để rồi chỉ còn thấy cái gì có lợi thì ủng hộ, bất lợi thì đạp đổ. Nhất là cả một hệ thống chính trị đã không còn bảo vệ công lý và còn làm ngơ cho sự dữ hoành hành khi Philato rửa tay và nói: “Ta vô can về chuyện người này”.

Kính thưa, quý OBACE,

Nhìn vào cái chết của Chúa Giê su xét theo tính nhân loại thì Ngài là nạn nhân của thái độ nhu nhược và thoả hiệp chính trị giữa Pha-ri-sêu và Philato. Ngài là nạn nhân của thói ghen tỵ, độc ác và nham hiểm của những kẻ có chức, có quyền. Ngài cũng là nạn nhân của đám đông dân chúng chỉ tìm kiếm nơi Ngài ân huệ, bổng lộc, và khi Ngài không đáp ứng những ước vọng của họ, họ liền quay lại, giơ tay ủng hộ cho án tử hình Ngài.

Cuộc đời hôm nay vẫn còn đó những bóng tối của lòng người. Dòng đời hôm nay vẫn còn đó những con người công chính, lương thiện vẫn bị hãm hại bởi những cái chết của lương tâm, của luân lý  . . . Biết bao người đã để cho bóng tối của lòng tham nổi loạn đến nỗi sẵn sàng chà đạp và lường gạt anh em của mình. Biết bao người chỉ vì lòng tham, chỉ vì tính ghen tỵ, chỉ vì thói tự mãn kiêu căng vẫn đang tìm cách làm hại cuộc đời của nhau. Bao lâu chúng ta còn nuôi dưỡng những ý đồ bất chính, những thủ đoạn lừa gạt, những ích kỷ nhỏ nhen là bấy lâu vẫn còn đó những con người lương thiện bị đe doạ, bị hành hạ và loại trừ.

Bước vào tuần thương khó ước mong mỗi người chúng ta hãy rà xét lại lối sống của mình để ăn năn thống hối về lời nói, việc làm của mình, dù là vô tình hay hữu ý đã và đang gây đau khổ cho người khác. Nguyện xin Đức Giê su, Đấng đã chết vì tội lỗi chúng ta ban ơn tha thứ và giúp chúng ta chỉnh sửa lại lối sống của mình cho xứng với lòng ăn năn sám hối. Xin cho chúng ta can đảm sống cho sự thật và làm chứng cho sự thật. Xin đừng vì nhu nhược mà để cho sự dữ hoành hành và người lương thiện lại chìm đắm trong oan khiên của dòng đời. Amen.
 
----------------------------

 

Lễlá-356: MÀU XANH HY VỌNG


Trầm Thiên Thu

 

Hy vọng là khởi đầu ước mơ, là đường dẫn tới mục đích. Hy vọng rất cần cho cuộc sống. Có bốn Lễlá-356


Hy vọng là khởi đầu ước mơ, là đường dẫn tới mục đích. Hy vọng rất cần cho cuộc sống. Có bốn ý tưởng hay đối với cuộc sống: Nhìn lại phía sau để rút kinh nghiệm, nhìn lên phía trước để có hy vọng, nhìn ra xung quanh để thấy thực tế, nhìn vào nội tâm để thấy chính mình.

Màu xanh tượng trưng cho niềm hy vọng. Lễ Lá là khởi đầu Tuần Thánh, khởi đầu khoảng buồn thương vô tận, đầy tang tóc và chết chóc, nhưng màu xanh của lá cho chúng ta niềm hy vọng tràn trề: Đức Kitô phục sinh.

Trước lễ Vượt Qua một tuần, Chúa Giêsu cưỡi một con lừa nhỏ vào Thành Giêrusalem, có các môn đệ lội bộ theo sau. Thánh Gioan nói rõ: “Dân chúng lũ lượt tuôn đến mừng lễ. Thoạt nghe tin Đức Giêsu tới Giêrusalem, họ cầm nhành lá thiên tuế ra đón Người và reo hò: Hoan hô! Hoan hô! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Chúa! Chúc tụng vua Ít-ra-en!” (Ga 12:12-13).

Buồn để rồi vui. Buồn càng nhiều, vui càng rộn rã. Cũng vậy, đau khổ để rồi hạnh phúc. Đau khổ càng nhiều, hạnh phúc càng lớn. Đó là sự tất yếu, và cũng là Thánh Ý Thiên Chúa mầu nhiệm.

Trình thuật Is 50:4-7 là phần đầu của bài thứ ba trong số các Bài Ca Người Tôi Trung. Đó là nói về đau khổ của Người Tôi Trung – Người Tôi Tớ Đau Khổ: “Đức Chúa là Chúa Thượng đã cho tôi nói năng như một người môn đệ, để tôi biết lựa lời nâng đỡ ai rã rời kiệt sức. Sáng sáng Người đánh thức, Người đánh thức tôi để tôi lắng tai nghe như một người môn đệ. Đức Chúa là Chúa Thượng đã mở tai tôi, còn tôi, tôi không cưỡng lại, cũng chẳng tháo lui. Tôi đã đưa lưng cho người ta đánh đòn, giơ má cho người ta giật râu. Tôi đã không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ”. Những động thái đó không phải là miễn cưỡng, nhưng là tự nguyện – vì yêu thương và thương xót những người mà Người Tôi Trung quý mến. Kẻ được yêu đó là chính mỗi tội nhân chúng ta.

Đau khổ lắm. Đau khổ đến tột cùng. Phàm ngôn không đủ lời để diễn tả. Nhưng dù đau khổ tới đâu, Người Tôi Trung vẫn một lòng tín thành và tín thác: “Có Đức Chúa là Chúa Thượng phù trợ tôi, vì thế, tôi đã không hổ thẹn, vì thế, tôi trơ mặt ra như đá. Tôi biết mình sẽ không phải thẹn thùng”. Chẳng ai muốn khổ, chẳng ai mong sầu, nhưng có đau khổ mới biết thương người khác. Nếu chưa đau khổ, người ta không thể hình dung ra đau khổ thế nào. Chưa đi tù thì không thể hiểu hết cảnh tù đày, chưa hiểu hết nghĩa của sự tự do. Bị tù là bị khổ.

Có lẽ chúng ta nghe Kinh Thánh kể hoặc nghe nói về cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu nhiều lần rồi, hầu như thuộc lòng, nhưng có thể nói rằng vẫn có chút gì đó “mơ hồ” nếu chưa xem phim “The Passion of Christ” (Cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu) của đạo diễn Mel Gibson (1). Xem cảnh quân lính đánh đập Chúa Giêsu rất dã man, khó có ai có thể tưởng tượng được như vậy. Mel Gibson có trí óc rất tinh tế. Giỏi thật!

Khi gặp đau khổ, người kiêu ngạo thì nguyền rủa – nguyền rủa người khác, trách móc đất trời, và vùng vẫy như con giun bị đạp; còn người khiêm nhường thì cam chịu, tủi thân, có trách thì chỉ trách mình mà thôi: “Thân sâu bọ chứ người đâu phải, con bị đời mắng chửi dể duôi, thấy con ai cũng chê cười, lắc đầu bĩu mỏ buông lời mỉa mai: Nó cậy Chúa, mặc Người cứu nó! Người có thương, giải gỡ đi nào!” (Tv 22:7-9). Buồn lắm, buồn đến chết được!

Phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí. Chuỗi buồn này tiếp chuỗi sầu khác. Nước mắt không chỉ mặn, mà còn chua và cay. Cô đơn và lạc loài, thế mà đau khổ cứ tiếp tục chồng lên đau khổ: “Quanh con bầy chó đã bao chặt rồi. Bọn ác đó trong ngoài vây bủa, chúng đâm con thủng cả chân tay, xương con đếm được vắn dài; chúng đưa cặp mắt cứ hoài ngó xem. Áo mặc ngoài chúng đem chia chác, còn áo trong cũng bắt thăm luôn. Chúa là sức mạnh con nương, cứu mau, lạy Chúa, xin đừng đứng xa!” (Tv 22:17-20). Đó là Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa. Dù là Con Yêu Dấu của Thiên Chúa Cha, nhưng Ngài vẫn phải chịu đau khổ đến tột cùng để làm trọn sứ vụ cứu độ chúng sinh. Chắc chắn không một phàm nhân nào phải chịu đau khổ như Ngài. Nhân tính nơi Ngài cũng phải chịu đựng lắm, cả tinh thần và thể lý, chúng ta không thể tưởng tượng được. Ngay cả những người chịu đóng đinh trong lễ hội Cutud (Philippines) chỉ là một phần nhỏ so với Con Người Giêsu mà thôi, chưa thấm vào đâu!

Dù cô đơn, lạc loài, nhục nhã, đau khổ, nhưng Người Tôi Trung vẫn quyết vì Danh Chúa. Hình ảnh này đã và đang được thể hiện nơi các vị tử đạo. Một lần hứa là trọn trăm năm, trước sau như một, không gì có thể lay chuyển: “Con nguyện sẽ loan truyền danh Chúa cho anh em tất cả được hay, và trong đại hội dân Ngài, con xin dâng tiến một bài tán dương” (Tv 22:23).

Thánh Phaolô cho chúng ta biết về sự tự nguyện của Người-Tôi-Trung-Đau-Khổ: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2:6-8). Sự tự nguyện luôn cao cả, quý giá, đáng khâm phục, đáng noi gương. Dù là loại tình yêu nào thì cũng phải tiết ra “chất” hy sinh, nếu không có sự hy sinh thì không đáng gọi là tình yêu. Hy sinh cao nhất là “dám chết” vì người khác. Thật vậy, khi nói về tình yêu, Chúa Giêsu đã xác định: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15:13).

Đức Giêsu Kitô đã nêu gương để chúng ta noi theo. Thánh Phaolô giải thích và kết luận: “Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ; và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: Đức Giêsu Kitô là Chúa” (Pl 2:9-11).

 Thật lạ, chuỗi đau khổ bắt đầu chính từ khoảnh khắc hiển hách. Trình thuật Mc 14:1-15 như một đoạn phim sống động, cho chúng ta thấy rõ điều đó: Hai ngày trước lễ Vượt Qua và lễ Bánh Không Men, các thượng tế và kinh sư tìm cách dùng mưu bắt Đức Giêsu và giết đi, vì họ nói: “Đừng làm vào chính ngày lễ, kẻo dân chúng náo động”. Họ muốn giết Ngài trước ngày lễ, nhưng không thể: “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”.

Lúc đó, ngay tại nhà ông Simon Cùi ở làng Bêtania. Giữa lúc Đức Giêsu dùng bữa, có một phụ nữ đến với chiếc bình bạch ngọc đựng dầu thơm cam tùng (2) nguyên chất, thứ đắt tiền. Cô đập ra, đổ dầu thơm trên đầu Người. Chắc hẳn cô biết mình tội lỗi, nhưng cô không có ý “mua chuộc” hoặc “lấy lòng” Chúa Giêsu. Không biết cô có biết Đức Giêsu là Con Thiên Chúa hay không, nhưng cô thực sự tâm phục khẩu phục Con Người thánh thiện và cao cả này. Cô tin nên cô mới “ngồi lì” để xin Ngài thương xót. Niềm hy vọng của cô rất lớn, rất cao, rất rộng, rất sâu.

Đám bạn của ông Simon Cùi biết rõ cô nàng này, thế nên có vài người lấy làm bực tức và xì xầm: “Phí dầu thơm như thế để làm gì? Dầu đó có thể đem bán lấy trên ba trăm quan tiền mà bố thí cho người nghèo”. Ra cái điều nhân đức lắm. Bảo là thương người nghèo hay tiếc của? Họ hy vọng điều gì? Chúng ta cũng thường có động thái này khi muốn chứng tỏ “bản lĩnh đạo đức” của mình, nhưng ngày nay “phong cách” của chúng ta tinh vi hơn thời xưa. Thử “nhìn” các thành viên trong hội này hoặc đoàn nọ mà xem. Chẳng oan uổng chi mô!

Tức trong lòng chưa đủ, họ còn thốt ra lời họ gắt gỏng với cô. Lòng ghen tức của con người kinh khủng, thật đáng sợ! Nhưng Đức Giêsu ôn tồn bảo họ: “Cứ để cho cô làm. Sao lại muốn gây chuyện? Cô ấy vừa làm cho tôi một việc nghĩa. Người nghèo thì lúc nào các ông chẳng có bên cạnh mình, các ông muốn làm phúc cho họ bao giờ mà chẳng được! Còn tôi, các ông chẳng có mãi đâu! Điều gì làm được thì cô đã làm: cô đã lấy dầu thơm ướp xác tôi, để chuẩn bị ngày mai táng. Tôi bảo thật các ông: Hễ Tin Mừng được loan báo đến đâu trong khắp thiên hạ thì nơi đó việc cô vừa làm cũng sẽ được kể lại để nhớ tới cô”. Chúa Giêsu không thích nói nhiều, nhưng lúc này Ngài phải nói “dài hơi” một chút để những người có “óc bã đậu” (dốt thật hoặc cố chấp) có thể hiểu.

Nữ tội nhân này bị chúng ta khinh miệt và ghét bỏ, nhưng Chúa Giêsu đã làm cho cô hãnh diện: “Hễ Tin Mừng được loan báo đến đâu trong khắp thiên hạ thì nơi đó việc cô vừa làm cũng sẽ được kể lại để nhớ tới cô”.

Điều gì sẽ đến rồi sẽ đến. Thánh sử Mác-cô kể ngắn gọn sang một cảnh khác: “Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, một người trong Nhóm Mười Hai, đi gặp các thượng tế để nộp Người cho họ. Nghe hắn nói, họ rất mừng và hứa cho tiền. Giu-đa liền tìm cách nộp Người sao cho tiện” (Mc 14:10-11). Vì mê tiền, ông Giu-đa đã “đi đêm” với bọn bất lương. Ông cũng có cách hy vọng riêng: Có tiền tiêu xài hoặc làm việc gì đó. Tiền dù rất “bạc bẽo” nhưng nó có ma lực cực mạnh, khó có thể cưỡng lại, và Thánh Phaolô đã xác định: “Cội rễ sinh ra mọi điều ác là lòng ham muốn tiền bạc, vì buông theo lòng ham muốn đó, nhiều người đã lạc xa đức tin và chuốc lấy bao nỗi đớn đau xâu xé” (1 Tm 6:10). Lơ là một thoáng là chết chắc – bất kỳ ai!

Rồi đến hôm đó là ngày thứ nhất trong tuần Bánh Không Men, ngày sát tế Chiên Vượt Qua, các môn đệ thưa với Đức Giêsu: “Thầy muốn chúng con đi dọn cho Thầy ăn lễ Vượt Qua ở đâu?”. Người sai hai môn đệ đi, và dặn họ vào thành, sẽ có một người mang vò nước đón gặp họ, và bảo họ cứ đi theo người đó. Người đó vào nhà nào thì họ vào theo và hỏi chủ nhà xem phòng dành cho Ngài ăn lễ Vượt Qua với các môn đệ ở đâu. Chúa Giêsu cho biết rằng chính ông ấy sẽ chỉ cho một phòng rộng rãi trên lầu, đã được chuẩn bị sẵn sàng, và họ có nhiệm vụ dọn tiệc.

Chiều đến, Đức Giêsu và Nhóm Mười Hai cùng tới. Đang khi dùng bữa, Người nói: “Thầy bảo thật anh em, có người trong anh em sẽ nộp Thầy, mà lại là người đang cùng ăn với Thầy”. Tá hỏa tam tinh. Giòi trong xương giòi ra thật ư? Đáng sợ thật! Kẻ thù thì dễ thấy mà đề phòng, người thân thiết thì biết họ trở tay lúc nào mà đề phòng? Rất nguy hiểm. Quả thật, bạn bè và người thân đôi khi còn đáng sợ hơn kẻ thù!

Và rồi sau Bữa Tiệc Ly, qua việc chỉ điểm của ông Giu-đa, bọn thủ ác đã tra tay bắt Chúa Giêsu. Thấy chướng mắt, ông Phêrô có sẵn gươm liền tuốt ra, vung chém đứt tai tên đầy tớ của thượng tế. Hú hồn! Có lẽ Phêrô chỉ hoảng mà chém đại thôi, chứ cũng đang run thí mồ! Nhưng rồi Chúa Giêsu bảo ông cất gươm, rồi Ngài chữa lành tai cho nạn nhân. Thế mà chúng vẫn cứng lòng tin, không chịu sám hối, vẫn quyết bắt giết Con Thiên Chúa!

Đoạn phim buồn chưa khép lại ở “khoảng tối” này, và còn một “khoảng đen” khác, nhưng cuối cùng sẽ là “vùng sáng” huy hoàng. Màu xanh hy vọng vẫn tươi sắc xanh biếc…

Lạy Thiên Chúa, xin giúp chúng con biết chấp nhận đau khổ với lòng tự nguyện, vì yêu Chúa, vì thương người, vì muốn cứu các linh hồn và để đền tội chính mình. Xin ban thêm lòng can đảm để chúng con đủ sức duy trì niềm hy vọng vào Danh Đức Giêsu Kitô cho tới hơi thở cuối cùng. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ chúng con. Amen.

———————-
(1) Phim lồng tiếng Việt – https://www.youtube.com/watch?v=YthiJ07xRAs
(2) Cam tùng (tên khoa học là Nardostachys) là một chi thực vật thuộc họ Kim Ngân. Chi này gồm hai loại có thể gọi là cam tùng hoặc cam tùng hương, được sử dụng để chiết xuất lấy tinh dầu màu hổ phách, mùi rất thơm.

----------------------------

 

Lễlá-357: NỀM VUI – THẬP GIÁ – VÀ ƠN CỨU ĐỘ


Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

 

Với Chúa nhật Lễ Lá, khai mạc Tuần Thánh, trung tâm của Năm Phụng Vụ, trong tuần này chúng Lễlá-357


Với Chúa nhật Lễ Lá, khai mạc Tuần Thánh, trung tâm của Năm Phụng Vụ, trong tuần này chúng ta dõi theo hành trình thương khó của Chúa Giêsu, chết và sống lại.

Niềm vui

Hoan hô Thái Tử nhà Đa-vít! Chúc tụng Ðấng ngự đến nhân danh Chúa! (Mt 21,9)

Nghe đọc những lời trên lúc mở đầu nghi thức làm phép kiệu lá, tưởng nhớ tới sự kiện Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem, dân chúng rủ nhau ra mà đón: “Đông đảo dân chúng trải áo xuống mặt đường , một số khác lại chặt cành chặt lá rải lên lối đi. Dân chúng, người đi trước, kẻ theo sau, reo hò vạng dậy: “Chúc tụng Đấng Chúc tụng Ðấng ngự đến nhân danh Chúa! Hoan hô Chúa trên các tầng trời” (Mt 21,8-9). Giờ đây mỗi người cầm cành lá trong tay vừa đi vừa hát “Hoan hô…” thấy thật là vui.

Đám đông dân chúng đón rước Chúa lúc đó hân hoan, ngợi khen, chúc tụng. Đúng là một bầu khí vui mừng mà chúng ta cảm nghiệm được khi tái cử hành biến cố năm xưa hôm nay. Chúa Giêsu, Thái Tử nhà Đavít tiến vào Giêrusalem đã khơi lên bao nhiêu niềm hy vọng nơi tâm hồn những người đơn sơ, nghèo khổ, bị lãng quên, những người không đáng kể gì trong xã hội. Người thấu hiểu và cảm thông cảnh lầm than khốn khổ của họ, cúi mình xuống chữa lành những vết thương thể xác cũng như tâm hồn và tỏ lòng từ bi đối với họ.

Đúng như lời ngôn sứ I-sai-a nói: “Người đã mang lấy các tật nguyền của ta và gánh lấy các bệnh hoạn của ta” (Mt 8,17). Đó là tình thương cao cả của Chúa Giêsu, Người đã mang tình thương ấy đi vào thành Giêrusalem. Chúng ta thật vui mừng và tràn đầy hy vọng, vì thế giới chúng ta sống đang rất cần tình thương đó.

Thập giá

Niềm vui của dân chúng đang hân hoan, tung hô, chúc tụng Chúa, bỗng sự đấu tố, đòn vọt, vòng gai và thập giá bao trùm, những lời của Tiên tri Isaia, bài tường thuật của thánh sử Mátthêu, và những bài đọc phụng vụ khác dẫn đưa chúng ta vào trong mầu nhiệm Thương Khó và cái chết của Chúa Giêsu. Isaia mô tả cho chúng ta hình ảnh của một người bị đánh đòn và chịu vả mặt nhục nhã (x. Is 50, 6). Lời đáp ca: “Lạy Chúa tôi, lạy Chúa tôi, sao Chúa bỏ rơi tôi?” Giúp chúng ta chiêm ngắm cơn hấp hối của Chúa Giêsu trên thập giá (Mt 27,46). Nơi bài đọc II, thánh Phaolô tông đồ giúp chúng ta hiểu sâu xa hơn mầu nhiệm Vượt Qua: Chúa Giêsu, “dù là Thiên Chúa, nhưng không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân phận nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, và chết trên cây thập tự” (Phil 2, 6- 8).

Một vị Vua cưỡi trên con lừa con, không có đoàn tùy tùng đi theo, không có một binh đoàn biểu tượng quyền lực tiến vào thành Giêrusalem là Chúa Giêsu. Người không vào Thành Thánh để nhận vinh dự dành cho các vua trần thế, cho kẻ có quyền bính, cho kẻ thống trị; Người vào thành để chịu đánh đòn, lăng mạ và xúc phạm, như Isaia đã tiên báo (x. Is 50,6); Người vào để chịu đội mão gai và mặc áo choàng đỏ, vương quyền của Người là đối tượng cho sự nhạo cười; Người vào để bước lên đồi Canvê vai vác khổ giá; Người vào thành Giêrusalem để chịu chết trên Thập giá. Thập giá là ngai vàng của Người, Người mang lấy Thập giá trên mình, mang vào mình sự ác, cùng với sự nhơ bẩn, tội lỗi của trần thế và cả tội chúng ta nữa. Với lòng từ bi và tình thương của Thiên Chúa, Người lấy máu mình mà tẩy rửa cho sạch. Vì thế, Thập giá được Chúa Giêsu đón nhận với tình thương không bao giờ đưa tới sầu muộn, nhưng dẫn đến niềm vui, niềm vui được cứu độ.

Sống Tuần Thánh

Bước vào Tuần Thánh, Giáo hội cùng với con cái mình dõi theo Chúa Giêsu trên hành trình tiến lên đồi Canvê với Thập giá và sự sống lại của Người. Sống Tuần Thánh là đi vào tình thương hiến thân của Chúa Giêsu hầu mang lại sự sống cho con người

Lúc sinh thời, Chúa Giêsu đã rong ruổi trên khắp nẻo đường, với lòng tin, Người đã chọn gọi 12 người đơn sơ để họ ở với và tiếp tục sứ mạng yêu thương của Người. Trong Tuần Thánh chúng ta sống trọn vẹn cuộc hành trình này. Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem để thi hành sứ mạng yêu thương ấy.

Người không sống cách thụ động tình thương dẫn đến hy sinh, hoặc như một định mệnh không thể tránh được; Người không che giấu được sự xao xuyến sâu xa của một con người trước cái chết dữ dằn, nhưng phó thác hoàn toàn nơi Chúa Cha. Chúa Giêsu tự ý nộp mình chịu khổ hình và chịu chết, để chứng tỏ tình thương của Thiên Chúa đối với thế gian. Thánh Phaolô cảm nghiệm được rằng, trên Thập giá, Chúa Giêsu “đã yêu thương tôi và hiến mình vì tôi” (Gl 2,20). Mỗi người chúng ta có thể nói: Người đã yêu thương tôi và đã phó nộp mình vì tôi.

Nhìn vào Chúa Giêsu trong cuộc thương khó, chúng ta khám phá ra những đau khổ của nhân loại nói chung và những đau khổ của chính cá nhân mình nói riêng. Chúa Giêsu, dù vô tội, đã nhận mang lấy vào thân điều mà con người không thể chịu được như: sự bất công, sự dữ, tội lỗi, hận thù, đau khổ và cuối cùng là sự chết. Trong Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa phải chịu nhục nhã và đau khổ để chứng tỏ rằng Thiên Chúa yêu thương tất cả, tha thứ cho tất cả và mang đến cho con người ý nghĩa cuối cùng của cuộc sống.

Mỗi năm, với Tuần Thánh, Giáo Hội bước vào trong Mầu nhiệm Vượt Qua, Mầu nhiệm tưởng niệm cái chết và sự sống lại của Chúa Giêsu. Chính nhờ sức mạnh của Mầu Nhiệm Vượt Qua mà Giáo Hội có thể công bố cho thế giới bằng lời nói và bằng những việc làm tốt của những con cái mình rằng: “Chúa Giêsu Kitô là Chúa, để Thiên Chúa Cha được vinh hiển” (Phil 2,11). Phải, Chúa Giêsu Kitô là Chúa, Người là Chúa của thời gian và của lịch sử; là Ðấng Cứu Chuộc con người; Người là Ðấng Cứu Thế! Chúc tụng Ðấng nhân danh Chúa mà đến! Hosanna!

Cùng với Mẹ Maria, chúng ta hãy xin với Mẹ là Ðấng đã theo Chúa Giêsu Con Mẹ  trong suốt chặng đường dẫn tới Canvê trong đức tin, giúp con cái Mẹ vác thập giá với niềm thanh thản và yêu thương bước theo Chúa, để đạt được niềm vui của lễ Phục Sinh. Amen.

 ----------------------------

 

Lễlá-358: TỪ THẬP GIÁ ĐẾN THÁNH GIÁ


P. Trần Đình Phan Tiến

Vâng kính thưa quý vị, thưa các bạn

 

Lễ Lá đến cho chúng ta điều gì ? Thưa, Lễ Lá đến cho chúng ta hai điều: Một là: Sự tung hô Lễlá-358


Lễ Lá đến cho chúng ta điều gì ? Thưa, Lễ Lá đến cho chúng ta hai điều:

Một là: Sự tung hô chúc tụng giả dối của thế nhân.

Hai là: Kết thúc hành trình thi hành sứ vụ cứu chuộc của Đức Kitô nơi trần thế.

Lễ lá cho chúng ta tâm hồn chuẩn bị đón chờ “TUẦN THƯƠNG KHÓ” của Đức Kitô, được gọi là “TUẦN THÁNH “. Tuần Thánh là Tuần đầy “ bi thương “ của Ngôi Lời làm Người, Tuần tưởng niệm “cái chết”, hay nói cách khác , chính là Tuần mà Đấng Cứu Thế thi hành “sứ vụ Cứu Chuộc” của Người.

Vâng , Tuần lễ cao điểm của Phụng Vụ Thánh. Được gọi là “TAM NHẬT VƯỢT QUA”.

Bài Thương Khó theo thánh Matthuê hôm nay ( Mt 26, 14 – 27, 66) không trình thuật chi tiết “dân chúng” tung hô Chúa Giêsu, như Tin Mừng thánh Gioan sẽ được đọc trong Tứ Sáu Tuần Thánh.

Như chúng ta biết , sau khi Chúa Giêsu cho Lazaro sống lại, người ta ( dân chúng )muốn suy tôn Người lên làm Vua, nhưng,  những người thủ lãnh dân Dothai ( đạo và đời) thì rất “ ghét” Chúa Giêsu.

Một mặt họ cho rằng, Người sẽ thống trị họ theo nghĩa đen, một mặt, họ sợ người đời sẽ nghe theo Chúa Giêsu sẽ bỏ họ, tất yếu “bổng lộc quyền thế” phút chốc tiêu tan. Như vậy, danh lợi của họ bấy lâu nay trở thành mây khói. Theo đó, “âm mưu” giết Chúa Giêsu là tất yếu.

Chi tiết Tin Mừng trình thuật thật rõ ràng, diễn tiến sự việc không thiếu mạch lạc, vì vậy, Lễ Lá thường suy niệm ngắn gọn.

Hôm nay, con xin chia sẻ hai ý chính nêu trên.

Một là: Sự tung hô giả dối của thế nhân.

Tại sao , khi thấy Chúa Giêsu làm cho Lazaro sống lại, người ta không nhận ra chỉ có Thiên Chúa mới làm được điều đó. Không thể một phàm nhân nào có thể làm được như vậy. họ nghĩ rằng , họ có thể “lên án“ rồi giết đi một Con Người đã cho kẻ chết sống lại, thì Người ấy làm sao “để” cho họ thỏa mãn điều mà họ muốn làm.

Nhưng, Thiên Chúa đã chọn Thập giá, để biến đổi thành Thánh Gía. Thập giá là bản án của kẻ có tội. Thiên Chúa không dung “Thánh giá để biến đổi nên Thập giá”, mà là dùng Thập giá để biến đổi nên Thánh giá.

Thánh Gía phải từ Thập giá, chứ Thánh giá không từ sự “vạn tuế” của dân chúng. Thiên Chúa không đem đến Thánh giá mà không có Thập giá. Chúng ta hiểu được cụ thế qua sự việc “tung hô” Con vua Đavit hôm nay. Nếu , người ta tung hô Người, thì người ta phải tôn thờ Người. Nhưng, người ta lại loại trừ Người.

Người đem đến cho họ một “ơn giải” thoát không phải là “sự tung hô” của họ, mà là “THẬP GIÁ”. Thập giá biểu tượng của sự ô nhục, sự đền tội của tội nhân, giá phải trả cao nhất của nhân loại tội lỗi. Cực hình nầy, người Dothai đã nghĩ ra để xử phạt con người có tội.

Bản thân Thập giá là “tội ác” phải đền bù. Đó là sự “trừng phạt” của thế nhân đối với nhân thế. Như vậy, Đức Kitô, Đấng vô tội phải được tung hô theo kiểu của thế gian, được đưa lên ngai vàng, nhưng, họ lại đưa Người lên Thập giá. Để từ đây, Thập giá không còn là phương tiện trừng phạt nữa, mà là phương tiện “yêu thương”. Chúa Giêsu đã xóa bỏ Thập giá trong lịch sử loài người, để mang lại một Thánh giá vinh quang, trong bài Tin Mừng nêu khá chi tiết về sự nhục nhã, cũng như về sự đau khổ trên hành trình Thập giá, đến Núi Sọ Golgotha. Sự mạ lỵ, sự đánh đòn, sự chịu đội mão gai, sự khạc nhổ , sỉ vả, sự cáo gian, sự vác thập giá, sự đóng đinh, sự chịu uống giấm chua mật đắng, sự chịu lưỡi đòng đâm thủng nương long ,Máu và Nước chảy ra. Chịu môn đệ chối từ, bội phản và bán rẻ ba mươi đồng bạc.

Rõ ràng chúng ta thấy, Chúa Giêsu phục sinh Lazaro, thì nơi Người sự chết không thể xuất hiện. Nhưng, để biến đổi mầu nhiệm Thập Gía trở nên Thánh giá là một sứ vụ cứu chuộc của Người. Vì, một người chưa chết, thì không thể được gọi là phục sinh.

Mầu nhiệm Phục Sinh không đơn thuần chỉ là một sự “biến hóa” giữa cái chết và sự sống nơi một con người mà thôi. Nhưng, sự phục sinh cho thấy chính Người là Thiên Chúa trời đất đến trong thế gian. Sự làm cho kẻ khác phục sinh hay sự Phục Sinh nơi Chúa Giêsu, chính là mầu nhiệm cho xác loài người ngày sau sống lại của Thiên Chúa.

Đọc bài Thương Khó của Chúa Giêsu, chúng ta không dừng lại nơi những thất bại của nhân thế, mà là suy tưởng đến mầu nhiệm toàn thắng của Thiên Chúa qua mầu nhiệm Thập giá, vì rõ ràng là “ mầu nhiệm khổ hình sinh ơn cứu độ” của Thiên Chúa qua đức Kitô- Giêsu.

Một Thiên Chúa duy nhất đem đến cho con người sự yêu thương và hoàn hảo, đó là mầu nhiệm từ thập giá đến Thánh giá của Chúa Giêsu. Vâng, đó là giá trị vĩnh cửu, chứ không phải sự tôn vinh của người đời hôm nay, ngày mai lại tuyên bố “đóng đinh vào thập giá” “ Đóng đinh nó đi… đóng đinh nó đi …”.

Hai là: Sự kết thúc hành trinh sứ vụ cứu chuộc của Đức Kitô.

Chúng ta thấy, trên Thập giá, Chúa Giêsu nói: “ Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ nhầm không biết …” ( Lc 23, 34), vâng, chỉ duy nhất thánh Luca ghi lại câu nầy.

Là Thiên Chúa, trong thân phận làm Người để cứu chuộc loài người, nỗi đau thương quá sức chịu đựng, Người phải thốt lên: “ Ê loi, ê loi lam masa bac ta ni..”  Nghĩa là: “ Lạy Cha, là Chúa Trời con, sao Cha nỡ bỏ con …”  ( Mt 27, 46), ( Mc 15, 34).

Vâng, kết thúc một hành trình đầy đau thương, có thể nói sức người không chịu đựng nỗi. Nhưng, chính Ngôi Lời đã vượt qua. Cuối cùng là  sự ” tha thứ ”, tha thứ, đó là kết thúc hành trình cứu chuộc của Đức Kitô dành cho nhân loại.

Lạy Chúa Giêsu, xin tha thứ tội lỗi cho chúng con, qua cuộc khổ hình sinh ơn cứu độ, chính là mầu nhiệm phục sinh từ Chúa là nguồn yêu thương cho chúng con, vì Người là Nguồn Sống và làm cho chúng con được sống./. Amen.
 
----------------------------

 

Lễlá-359: CON ĐƯỜNG THẬP GIÁ


JM. Lam Thy

 

Tuần Thánh mở đầu bằng Lễ Lá, Vui trong gang tấc, đã buồn đau. Nhân tình thế thái luôn thay Lễlá-359


Tuần Thánh mở đầu bằng Lễ Lá,

Vui trong gang tấc, đã buồn đau.
Nhân tình thế thái luôn thay đổi,
Lòng dạ con người chẳng khác đâu.
Đả đảo hoan hô thường nối tiếp,
Tôn vinh hạ bệ gắn liền nhau.
Con đường Thập Giá là như vậy,
Chịu khổ trước, rồi hưởng Phúc sau.

Giáo Hội ấn định Phụng vụ Chúa nhật Lễ Lá dành để tưởng niệm Chúa Giê-su Ki-tô vào thành Giê-ru-sa-lem để hoàn tất Mầu nhiệm Vượt Qua. Ngày lễ hôm nay gồm 2 phần chính: Phần đầu là cuộc rước kiệu lá kính nhớ Đức Giê-su vào Giê-ru-sa-lem với tư cách là Đấng Mê-si-a (Mt 21, 1-10); phần thứ hai là Thánh lễ tưởng niệm cuộc thương khó của Chúa. Có một nhận định xem ra có vẻ khó hiểu và khắc nghiệt: “Giữa Chúa nhật Lễ Lá và Thứ sáu Tuần Thánh phản ánh cả cuộc đời Ki-tô hữu”. Tuy nhiên, bình tâm mà suy xét sẽ thấy tuy khó hiểu và khắc nghiệt, nhưng lại rất chính xác. Nói cách cụ thể thì Chúa nhật Lễ Lá và Thứ sáu Tuần Thánh phản ánh đúng thực chất tâm trạng con người (nói chung), và cách riêng là các Ki-tô hữu.

Chúa nhật Lễ Lá dân chúng Do thái hoan hô, chúc tụng Chúa Ki-tô rất nồng nhiệt, bằng những lời lẽ tưởng chừng như chân thành nhất (“Hoan hô Con vua Đa-vít! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa! Hoan hô trên các tầng trời.” – Mt 21, 9); vậy mà chỉ mấy ngày sau, cũng chính những người hoan hô ấy lại hò reo: “Đóng đinh nó vào thập giá!” Thậm chí khi Tổng trấn Phi-la-tô thấy không cứu vãn được tình thế, đã lấy nước rửa tay trước mặt đám đông mà nói: “Ta vô can trong vụ đổ máu người này. Mặc các người liệu lấy!” thì đám đông còn gào thét như thách thức: “Máu hắn cứ đổ xuống đầu chúng tôi và con cháu chúng tôi!” (Mt 27, 24-25). Thế đấy! Thì ra giữa hoan hô và đả đảo chỉ là một khoảng cách rất mong manh, mong manh còn hơn cả một “sợi tóc”.

Nhân nói đến “sợi tóc” chợt nhớ đến truyện ngắn “Sợi Tóc” của Thạch Lam (trong Tự Lực Văn Đoàn – tiền chiến). Truyện “Sợi Tóc” thuật lại câu chuyện của một nhân vật tên Thành tự thuật tâm trạng của mình trong một lần định chôm (ăn cắp) ví tiền của bạn. Từ ý định nảy sinh khi thấy bạn để nhiều tiền trong ví (bóp), đến những toan tính, những kế hoạch tiến hành, và cả đến những dự phòng rủi ro khi bị phát giác, đều được Thạch Lam miêu tả rất tinh tế và tỉ mỉ. Cuối cùng thì Thành không thực hiện ý đồ ăn cắp, và ngạc nhiên tự hỏi “tại sao mình vẫn còn là người lương thiện?”. Thành nghĩ: “Tôi cảm thấy một cái thú khoái lạc kỳ dị, khe khẽ và thầm lặng rung động trong người, có lẽ là cái khoái lạc bị cám dỗ, mà cũng có lẽ là cái khoái lạc đã đè nén được sự cám dỗ.” Cái “khoái lạc bị cám dỗ” chính là cái “ác tâm” muốn chiếm đoạt tiền của người khác; còn “cái khoái lạc đã đè nén được sự cám dỗ.”chính là cái “thiện tâm”; như tác giả kết luận: “ranh giới giữa cái ‘thiện’ và cái ‘ác’ chỉ là một ‘sợi tóc’ mong manh, không hơn không kém”. Quả thật ranh giới giữa cái “thiện” và cái “ác” ở cuộc đời này rất mong manh, mong manh như một sợi tóc.

Đến như khoảng cách giữa hoan hô và đả đảo thì cũng chẳng khác gì. Hôm nay hoan hô, ngày mai đả đảo; sáng mới hoan hô, chiều đã đả đảo; thậm chí vừa mới hoan hô đấy, lại đả đảo liền, lập trường cứ xoay như chong chóng. Lại phải chua xót nhắc lại ở đây: nhân tình thế thái là thế, xưa hay nay cũng vậy thôi. Đó mới chỉ là nói về những sự kiện hữu hình xảy ra trên bình diện xã hội loài người, riêng về mặt tâm linh thì còn hơn thế nữa kia. Trong khi vừa ở toà hoà giải ăn năn sám hối về những lỗi phạm của mình, mới chỉ bước ra khỏi toà vài bước, nếu gặp chuyện trái ý thì ngay lập tức nổi đoá văng tục liền (dù có thể chưa văng thành lời nói trên miệng, thì cũng thầm thĩ trong lòng!); vừa mới rước lễ trong thánh lễ, ra khỏi nhà thờ gặp phải một “người bạn quấy rầy” (hành khất) cứ liên lỉ quấy rối (xin tiền), hoặc những cảnh trái tai gai mắt; thì lập tức biểu lộ “nộ khí xung thiên” ngay.

Ôi chao! Nhiều, nhiều lắm những cảnh vừa mới tuyên xưng đức tin, tôn vinh Thiên Chúa, thì ngay lập tức đã chối bỏ. Như thế thì chẳng phải cái ranh giới giữa hoan hô và đả đảo còn mong manh hơn cả sợi tóc đó sao? Cứ nhìn vào các Tông đồ tiên khởi thì đủ biết: Vì sao các ngài đi theo Đức Ki-tô? Vì tin tưởng Người chính là vị cứu tinh cho cuộc đời của mình. Cụ thể như Phê-rô khi nghe Đức Ki-tô hỏi: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” thì tuyên xưng liền: “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống.” (Mt 16, 16) và khi nghe Thầy tiên báo sẽ chối Thầy, thì ngay lập tức khẳng định chắc nịch: “Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy”. Thực ra, cũng không chỉ có một mình Phê-rô đâu, mà “Tất cả các môn đệ cũng đều nói như vậy” (Mt 26, 35). Như vậy thì chẳng phải là hoan hô đó sao? Nhưng đến khi Thầy gặp nạn thì “Bấy giờ các môn đệ bỏ Người mà chạy trốn hết” (Mt 26, 56), còn Phê-rô lẽo đẽo theo sau và chỉ cần một tớ gái nhà Cai-pha vặn hỏi đã vội vàng chối “Tôi thề là không biết người ấy.” (Mt 26, 74) không chỉ một lần mà tới ba lần trong một đêm. Bỏ trốn hết, chối Thầy như vậy thì có khác gì đả đảo?

Ngày xưa thì như thế, còn ngày nay hẳn là còn hơn thế nữa là cái chắc. Ở Việt Nam tuy có gần 130.000 người chấp nhận cái chết, chớ không chịu đả đảo Ki-tô (bước qua hoặc đạp lên thánh giá, bỏ đạo), nhưng con số người sẵn sàng đạp lên thánh giá (chớ đừng nói chỉ bước qua), sẵn sàng gỡ bỏ bàn thờ để chưng hình lãnh tụ (đả đảo Giê-su, hoan hô lãnh tụ), sẵn sàng ghi vào sơ yếu lý lịch là “không tôn giáo”… thì không hiểu còn đông gấp bao nhiêu lần? Ngay đến cả những người bề ngoài thi rất siêng năng đi lễ, đọc kinh, cầu nguyện, nhưng chỉ cần một người nghèo khó (một hành khất chẳng hạn) đến “quấy rầy” thì ngay lập tức “Không có gì hết! Cút đi chỗ khác!” Than ôi! “Ngày xưa Ta khát…, Ta đói… ” thì ngươi đã đối xử như vậy đó! Vậy thì ai hoan hô, ai đả đảo? Hoan hô và đả đảo có cách xa nhau không?

Chúa nhật Lễ Lá mở đầu Tuần Thánh và kỷ niệm việc Chúa Giê-su được tung hô, nhưng đồng thời Chúa nhật Lễ Lá cũng còn được gọi là Chúa nhật Chịu Nạn (Chúa Giê-su bị đả đảo). Trong một Chúa nhật tưởng niệm hai mặt trái ngược nhau của cuộc đời. Ôi! Lạy Chúa! Con vẫn nhớ như in trong lòng Lời Chúa: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: “Lạy Chúa! lạy Chúa!” là được vào Nước Trời cả đâu!” (Mt 7, 21). Vậy mà con vẫn cứ hoài “ngôn hành bất nhất”, miệng thì không ngớt tung hô Chúa, nhưng trong lòng thì lạnh tanh, chẳng một chút cảm xúc. Thậm chí, ngoài miệng nói một đàng, trong lòng nghĩ một nẻo (“Bề ngoài thơn thớt nói cười, Mà trong nham hiểm giết người không đao” – “Kiều” – Nguyễn Du). Con vừa mới hoan hô, tung hô Chúa nơi thánh đường, về tới khu xóm con đã hiềm khích, đố kỵ, ghen ghét với người này nguời khác, thậm chí cả với người thân trong gia đình, như thế thì nào có khác gì con đả đảo Chúa?

Ối! Lạy Chúa! Xin cho chúng con học và làm theo lời dạy của ĐTC Phan-xi-cô trong  bài giảng Chúa Nhật Lễ Lá ngày 20/3/2016: “Con đường của Thiên Chúa hành động rất khác với cách của chúng ta. Ngài tự hủy vì chúng ta, còn chúng ta lại thật khó để quên mình dù chỉ một chút. Ngài đến để cứu độ chúng ta, chúng ta được gọi để chọn đường lối của Ngài, con đường phục vụ, trao ban, quên mình. Chúng ta được mời gọi hãy đi con đường này bằng cách hướng mắt  về Thập giá, về “ngai vàng của Chúa”, để học biết tình yêu tự hạ để cứu độ và ban sự sống, học biết để chúng ta có thể từ bỏ những ích kỷ, từ bỏ thói tìm quyền lực và danh vọng. Khi tự hạ mình, Chúa Giê-su mời gọi chúng ta đi theo con đường của Chúa. Chúng ta hãy ngước nhìn lên Ngài, khấn xin ơn để học biết mầu nhiệm đau khổ mà Chúa Giê-su đã gánh lấy cho chúng ta. Và trong thinh lặng, chúng ta hãy chiêm ngưỡng mầu nhiệm này trong Tuần Thánh.” (nguồn: Vatican.net)

Ôi! “Lạy Chúa, con đường nào Chúa đã đi qua, con đường nào Ngài ra pháp trường, mão gai nào hẳn sâu trên trán. Lạy Chúa, Thánh Giá nào Ngài vác trên vai, đau thương nào phủ kín tâm tư, đường tình đó Ngài dành cho con. ĐK: Lạy Chúa, xin cho con bước đi theo Ngài, xin cho con cùng vác với Ngài, Thập Gía trên đường đời con đi. Lạy Chúa, xin cho con đóng đinh với Ngài, xin cho con cùng chết với Ngài, để được sống với Ngài vinh quang.” (TCCĐ “Con đường Chúa đã đi” của Văn Chi).
 
----------------------------

 

Lễlá-360: TẤT CẢ VÌ YÊU


Lm. Jos. DĐH.

 

Cha mẹ thương con biển hồ lai láng, cha là núi, mẹ là sông, công cha nghĩa mẹ, ơn thầy…, đó là Lễlá-360


Cha mẹ thương con biển hồ lai láng, cha là núi, mẹ là sông, công cha nghĩa mẹ, ơn thầy…, đó là những câu danh ngôn đã từng đụng chạm đến tâm tư của người biết yêu và được yêu. Những người làm con sẽ không bao giờ cảm thấy bất ngờ vì được ấp ủ nơi vòng tay người mẹ ; con cái thành đạt, có mấy ai còn chú ý tới lời người xưa: con hơn cha nhà có phúc. Sự nông cạn của con cháu về việc sống đạo hiếu, chúng dễ lầm tưởng là cứ cho tiền, cho quà, là chúng đã đền đáp ơn nghĩa sinh thành. Sự vô tình đáng tiếc của bậc làm cha mẹ là dám hy sinh chịu đựng gian khổ, để con được giầu sang phú quý, cho dù con cháu có hơi vô tình vô tâm.

Chính vì muốn con tim lên tiếng, người thanh niên thanh nữ vẫn biểu lộ bằng hành động: thương nhau cau sáu bổ ba ; thương nhau tam tứ núi cũng trèo. Không thể vô tình mà người Do-thái xưa kia đã lấy áo trải xuống đường, tay cầm nhành lá, miệng hoan hô Con Vua Đavít, tâm tư thì chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến. Chắc chắn Đức Giêsu không muốn người ta hoan hô Con Vua Đavít bằng môi miệng, hoặc chúc tụng Đấng đang ngự đến như một phong trào thiếu tính bền vững. Đám đông Do-thái hôm xưa và người Kitô hữu chúng ta hôm đều có cơ hội đạt tới hạnh phúc đời đời. Theo Đức Giêsu vào Giêrusalem, hay đi vào tuần thương khó với Đức Kitô, nhất định phải có lập trường vững chắc nơi Đức Giêsu là tình yêu, là Thầy là Đấng cứu độ trần gian.

Đau khổ rắc rối ở đời này, không phải là điều xa lạ, bị ghét bỏ, hiểu lầm, chúng ta đã từng đối diện, nhưng chết vì đau bệnh, chết vì tai nạn nghề nghiệp, chẳng ai gọi là chết anh hùng. Đức Giêsu không có tham vọng biến tất cả cái chết ở đời này thành cái chết anh hùng, nhưng là hãy theo Ngài để biết chết đi cho tội lỗi của mình để có sự sống đời đời. Đức Giêsu vào thành Giêrusalem là vì yêu, Ngài để dân chúng mộ mến tung hô, cũng vì yêu, dù Ngài ý thức sẽ không mua lấy hư danh như người đời: được tiếng khen, ho hen chẳng còn. Vì yêu, Đức Giêsu đến trần gian, vì yêu, Đức Giêsu ý thức sẽ vâng phục thánh ý Chúa Cha, vượt qua khổ đau thập giá để nên ơn cứu độ cho toàn thế giới.

Đau khổ về tinh thần hay thể xác đều đáng sợ, thông thường người ta vẫn xem đau khổ tinh thần sẽ “nhức nhối hơn”. Đức Giêsu cho chúng ta thấy Ngài phải đối diện với sự bội phản của môn đệ, bán Thầy, chối Thầy, tìm lối thoát thân. Nếu theo lý luận của người đời, Đức Giêsu đủ khôn ngoan để sa thải Giuđa ngay từ ban đầu. Đức Giêsu có thể dùng uy quyền hạ gục kẻ xấu, xuống khỏi thập giá, thiết lập vương quốc trần gian. Tất cả vì yêu không tính toán, trong bữa tiệc Vượt Qua, Đức Giêsu lập Bí Tích Thánh Thể, trao ban Mình Máu Ngài làm của ăn của uống cho các học trò.

Tại bữa ăn Vượt Qua, Đức Giêsu không oán phạt các học trò vì tội phản Thầy, qua đó, Ngài cho thấy bài học tha thứ vô cùng cao quý: không có đức tính nào vĩ đại hơn tình yêu không hận thù. Tại vườn Cây Dầu, Đức Giêsu đã cho các môn đệ cảm nhận Ngài cũng sợ đau khổ, sợ chết vì mang thân phận con người. Ngài đã cầu nguyện: “lạy Cha, nếu được, xin cho Con khỏi uống chén này, nhưng đừng theo ý Con muốn, một theo ý Cha”. Tại cuộc sống hôm nay, tình yêu vâng phục luôn là mời gọi cho tất cả những ai tin Đức Giêsu là Thầy là Chúa, hãy thông hiệp và sống mầu nhiệm tử nạn phục sinh với Đấng hằng yêu thương ta.

Người xưa có câu: tương tư chẳng ốm cũng sầu, con ruồi đậu mép chẳng đau cũng buồn. Tội nhỏ, tội to, cũng là hành vi đóng đinh Chúa ; tìm lối thoát thân vì sợ mất mạng sống, hay bỏ Thầy, chối Thầy, vì niềm tin Thầy là Chúa đã phai nhạt đều đáng chết. Đức Giêsu đau khổ vì đức tin hời hợt của đám đông Do-thái nay tung hô mai đả đảo, dù tình yêu của Ngài không dừng lại nơi dân chúng hôm đó. Đức Giêsu sẽ còn lấy Máu của Ngài để rửa sạch tội lỗi cho chúng ta, Ngài tiếp tục tha thứ quảng đại bao lâu ta còn do dự về tình yêu Chúa.

Lịch sự Việt Nam có nói đến một vị anh hùng dám khoác áo cẩm bào hy sinh mạng sống mình cứu minh chủ và nghĩa quân đang bị giặc Minh vây hãm. Tình yêu của Lê Lai năm xưa tại núi Chí Linh đã giải cứu được nghĩa quân Lam Sơn khỏi phải chết thê thảm. Vì yêu Đức Giêsu chịu đau khổ thập giá, chịu chết, không phải vì nghĩa lớn cho cuộc nổi dậy của một số môn đệ sau này như khởi nghĩa Lam Sơn. Tình yêu của Đức Giêsu là tình yêu vâng phục, tình yêu cứu độ mà con người không thể hiểu bằng ngôn ngữ lý luận. Tinh yêu của Chúa sẽ không chỉ dừng lại ở dân tộc Do-thái, ở khổ đau thập giá, hay ở nơi thất bại chết chóc. Tất cả vì yêu, Chúa Giêsu hướng muôn dân trên khắp địa cầu tự do tin nhận Ngài là Con Thiên Chúa, là Đấng cứu độ trần gian, hãy đến với Ngài để được sống đời đời. Amen.
 
----------------------------

 

Lễlá-361: CHÚA VÀO THÀNH GIÊRUSALEM


Lm Giuse Hoàng Kim Toan

 

Cuộc hành trình của Chúa Giêsu vào Giêrusalem lần cuối được đón tiếp long trọng. Dân chúng đứng Lễlá-361


Cuộc hành trình của Chúa Giêsu vào Giêrusalem lần cuối được đón tiếp long trọng. Dân chúng đứng vệ đường cầm những nhành lá tung hô con vua Đavit. Bản chất của những chiếc lá biểu lộ phồn vinh và hạnh phúc. Người đón Chúa có thể mang hai lòng mong đợi khác nhau: Một niềm mong đợi Chúa đến để mang lại sự phồn vinh, hạnh phúc về kinh tế, lập một vương quốc mới; phần khác niềm mong đợi như Chúa đã hứa: Giờ Con Người được tôn vinh, Giờ con người được kéo lên cùng Chúa.

Mong đợi theo suy nghĩ của con người.

Bước cùng theo Chúa trên con đường lên Giêrusalem, nơi mà người Do Thái nghĩ rằng gần Thiên Chúa nhất, nơi kỷ niệm ngày Chúa đưa dân ra khỏi đất Ai Cập. Hôm nay người Kitô hữu cũng đi theo con đường lên dốc này. Con đường lên đến gần Thiên Chúa dường như vượt sức của con người. Xưa kia Adam – Eva cũng muốn bằng Thiên Chúa, lên tới Thiên Chúa, nhưng con đường lựa chọn của Adam đã bị Satan lôi theo hướng đi của chúng và mọi ước mơ bị đổ bể.

Con người ngày nay cũng bị lôi kéo như thế, họ muốn bằng Thiên Chúa, làm ra những kiệt tác sáng tạo, có thể bay xa, tiếng nói đi cùng trời cuối bể… Song song những thành tựu đó lại cũng có những vũ khí hạt nhân, vũ khí hóa học, vũ khí vi trùng, ít hơn nữa những công nghệ vi phạm đến sự sống con người… Con người muốn độc lập với Thiên Chúa, tự mình quyết định cho vận mệnh.

Con người như kéo Thiên Chúa về phe mình hoặc tìm cách loại trừ Ngài để tự do làm điều dữ, lực cuốn hút này cũng mạnh như đã thấy đám đông hét to lên: “Đóng đinh nó vào thập giá!”

Một nền văn hóa loại trừ, rác thải đang là vấn đề của con người thời nay. Bất cứ điều gì và ngay cả con người cũng có thể coi như cặn bã, rác thải, cần loại bỏ, hơn là chữa trị, tái sử dụng..

Sự phồn vinh và hạnh phúc giả tạo của con người xây dựng trên những thân phận của những người nghèo, những người thấp cổ bé họng, Phúc Âm nhắc đến họ là những con người phận nhỏ. Con đường lên Giêrusalem của Chúa, bị gài đặt những âm mưu sát hại. Người cầm quyền đưa ra một thứ bánh vẽ: “thà một người bị chết còn hơn toàn dân bị giết” (Ga 11, 50). Câu nói này ám chỉ đến Chúa Giêsu như một người nổi loạn, vì thế cần loại trừ, tống giam, để chính thượng tế, kinh sư, kỳ lão trong dân  khỏi rơi vào tay trừng trị của Đế quốc Roma. Chúng ta cũng thấy những tình cảnh tương tự như thế trong những sự kiện như Formosa, dân oan, bán đứng người dân để đổi lấy lợi ích cá nhân.… Số phận của những con người vô tội bị sát hại cho lòng tham, sự ích kỷ, lợi ích cá nhân của một số người.

Cần có một lực kéo con người lên.

Thập giá, Con Người vô tội bị treo trên đó, nhưng cũng là Con Người giang hai tay ôm rộng mọi người để kéo lên khỏi những lực hút của sự dữ.

Nơi Chúa Giê su, sự vâng phục của Ngài, tỏ bày một Thiên Chúa xuống tận cùng của kiếp nhân sinh để kéo con người lên: “Sự thật, chính người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta… Chính người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm; người đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành” (Is 53, 4-5).

Con người cần loại bỏ nơi mình tính kiêu căng và học bài học khiêm nhường nơi chính Chúa, mới có thể xây dựng hòa bình, bình an đích thật trên trái đất. Hãy đặt tay mình vào bàn tay Chúa, Chúa kéo con người lên, cho đôi tay tinh tuyền, cho trái tim rộng mở, đặt con người vào đúng hướng khi phát triển khả năng của mình, để phục vụ sự sống.

Khi tung hô “ Hoan hô con Vua Đavit ! Chúc tụng Đấng nhân Danh Chúa ngự đến!”, câu tung hô đó cần khởi sự với tất cả lòng yêu mến Chúa, nhận ra việc Chúa đến giải thoát con người ra khỏi chốn tội lỗi, những sự xấu của con người. Từ cõi lòng yêu mến Chúa, để tuân giữ các giới răn, nghe Lời Chúa đem ra thực hành, một khao khát không nguôi tìm kiếm Thiên Chúa, nguồn hạnh phúc duy nhất cuộc đời mình. Tiếng tung hô đó, sẽ rung động các tầng trời từ một rung động nhỏ bé của một trái tìm, yêu mến Chúa và tha nhân, hết lòng hết sức, hết cả trí khôn.

Nào ta cùng lên núi Chúa, như một niềm hân han cùng Chúa vào thành, với tâm tình Thánh vịnh 24:  “Ai được lên núi Chúa? Ai được ở trong đền thánh của Người? Đó là kẻ tay sạch lòng thanh, chẳng mê theo ngẫu tượng, không thề gian thề dối. Người ấy sẽ được Chúa ban phúc lành, được Thiên Chúa cứu độ thưởng công xứng đáng. Đây chính là dòng dõi những kẻ kiếm tìm Người, tìm thánh nhan Thiên Chúa nhà Gia-cóp. Hỡi cửa đền, hãy cất cao lên, cao lên nữa, hỡi cửa đền cổ kính, để Đức Vua  vinh hiển ngự vào.  Đức Vua vinh hiển đó là ai? Là Đức Chúa mạnh mẽ oai hùng Đức Chúa oai hùng khi xuất trận.” (Tv 24, 3 – 8).

Vào thành cùng Chúa, xin cho chúng con giữ vững niềm tin cây, yêu mến, để có tay sạch, lòng thanh, theo Chúa lên đỉnh đồi Calvê, được đổi mới trong Người.
 
----------------------------

 

Lễlá-362: CÙNG CHẾT VỚI ĐỨC KITÔ ĐỂ CÙNG SỐNG LẠI VỚI NGƯỜI


Lm. Giuse Nguyễn

 

40 thanh niên Công giáo người Ấn Độ đã khởi hành chuyến hành hương đi đàng Thánh Giá với Lễlá-362


40 thanh niên Công giáo người Ấn Độ đã khởi hành chuyến hành hương đi đàng Thánh Giá với quãng đường dài 400 km từ hôm 01/04/2017 và đã kết thúc vào ngày 04/04/2017 vừa qua. Đây không chỉ là một cuộc thử thách sức lực thể chất mà thôi, mục tiêu chính cuả cuộc “hành hương” là “Đổi mới tinh thần và chia sẻ tin mừng của Chúa Kitô”.

Chúng ta vừa nghe bài thương khó của Đức Giêsu Kitô theo trình thuật của thánh Matthêu. Tuy không kéo dài đến 4 ngày với quãng đường 400 km, mà chỉ đứng yên một chỗ trong một khoảng thời gian chưa đầy nửa giờ, nhưng đối với chúng ta cũng là một thử thách, một chuyến hành hương.

Sau khi nghe cuộc thương khó của Đức Giêsu, chúng ta cũng hãy đặt ra mục tiêu cho mình là “Đổi mới tinh thần và chia sẻ Tin mừng của Chúa Kitô”. Để có thể làm được điều đó, chúng ta phải cùng chết với Đức Kitô để được cùng sống lại với Ngài. Sự sống lại chính là việc đổi mới cuộc đời chúng ta, và khi được đổi mới, chắc chắn chúng ta sẽ vui mừng để chia sẻ với người khác về niềm vui đó.

Hãy đặt mình vào vị trí của một vài nhân vật trong cuộc thương khó Đức Giêsu, xem họ đã “sống – chết” với Ngài như thế nào để chúng ta có được một vài tâm tình làm động lực “đổi mới tinh thần và chia sẻ tin mừng của Chúa Kitô”.

  NHỮNG NGƯỜI LIÊN QUAN ĐẾN CUỘC THƯƠNG KHÓ CỦA ĐỨC GIÊSU

Theo tường thuật của Tin mừng, có nhiều người liên quan đến cuộc thương khó của Đức Giêsu, trong số đó phải kể đến một số Luật sĩ, Biệt phái, Pharisêu và các Thượng tế là những người đã có âm mưu tiêu diệt Đức Giêsu vì tầm ảnh hưởng của Ngài. Cộng tác với họ, đứng về “phe cánh tả” còn có vua Hêrôđê, tổng trấn Philatô, quân lính, và nhất là Giuđa Iscariô, một trong 12 Tông đồ của Ngài. Đứng về “phe cánh hữu”, những người có mặt trong cuộc thương khó của Đức Giêsu để than khóc, tiếp giúp hoặc ít ra là không muốn Ngài phải bị như vậy là các Tông đồ, ông Simon vác đỡ thánh giá Chúa, bà Vêrônica, những phụ nữ đạo đức, và nhất là Đức Maria. Những người “trung dung”, nghĩa là những người bàng quan, đứng bên ngoài để nhìn hoặc hùa theo đám đông cũng hiện diện trong cuộc thương khó này. Đó là dân chúng và hai tên gian phi.

  HAI KHUÔN MẶT ĐỂ SUY GẪM TRONG NĂM GIA ĐÌNH 2017

Những nhân vật kể trên ít nhiều cũng đã liên quan hoặc nhìn thấy cuộc khổ nạn của Đức Giêsu. Trong năm Gia đình 2017 với chủ để chuẩn bị cho người trẻ bước vào đời sống hôn nhân, chúng ta hãy cùng nhau khám phá 2 khuôn mặt với 2 tính cách có liên quan đến đời sống nói chung và gia đình kitô hữu nói riêng.

Giuđa Iscariô

Để diễn tả tính cách của Giuđa, trong tác phẩm “từ trên Thánh Giá nhìn xuống” được Linh mục Carôlô Hồ Bặc Xái dịch từ tiếng Việt đã viết: “Giuđa là một con người nhiều tham vọng, muốn có một địa vị cao. Anh rất hồ hởi khi thấy Chúa Giêsu làm phép lạ nên đã đi theo Người. Có lẽ anh tự nhủ: “Với quyền làm phép lạ như vậy, chắc  hẳn Đức Giêsu sẽ kéo hết mọi người về với Người. Dân chúng sẽ tôn Người làm vua. Người sẽ đánh đuổi quân Rôma xâm lược. Còn mình là một trong số những kẻ thân tín của Người. Nếu mình chu toàn trách nhiệm quản lý cho Người thì mình sẽ còn được đặt làm Bộ Truởng Tài chính. Rồi mình sẽ giàu sang, quyền thế. Ôi sung sướng biết bao!” Tắt một lời, Giuđa là một con người ham mê tiền bạc và danh vọng, ông theo Đức Giêsu cũng chỉ vì mục đích đó. Cuộc thương khó của Đức Giêsu cũng là hậu quả những toan tính của Giuđa để ông có đạt được mục đích của mình.

Ham mê tiền bạc và danh vọng, làm mọi cách để có những điều đó cũng chính là một trong những nguyên nhân làm cho gia đình không hạnh phúc. Hơn thế nữa, cũng chính tiền bạc, giàu sang, quyền lực đã che mờ đi hạnh phúc đời sau, và vì thế họ không còn nổ lực sống đạo nữa.

Mađalêna

Cũng trong tác phẩm “từ trên Thánh Giá nhìn xuống” con người của Mađalêna được diễn tả một cách ngắn gọn: “Trong thành Mađalêna, người ta không khen ngợi cô, trái lại còn nói xấu cô vì cô sống buông thả, tội lỗi, lại còn lôi kéo nhiều người đàn ông vào đường tội lỗi”. Nói thế cũng đủ biết Mađalêna là người như thế nào.

Cũng chính lối sống tội lỗi, buông thả, đắm mình trong những đam mê dục vọng đã làm đổ vỡ biết bao gia đình.

  CÙNG CHẾT VỚI ĐỨC KITÔ ĐỂ CÙNG SỐNG LẠI VỚI NGÀI

Hình ảnh của Giuđa và Madalena hoàn toàn trái ngược nhau. Giuđa có một quá khứ tốt với nét nổi bật nhất là Tông Đồ của Đức Giêsu, nhưng kết cục cuộc đời ông là một cái chết thê thảm vì ông đã không đạt được mục đích của mình. Giuđa đã không cùng chết với Chúa nên ông đã chết mãi mãi

Ngược lại Madalena có một quá khứ không tốt đẹp, nhưng nhờ nhận ra một tình yêu chân thật, nhận ra Đức Giêsu là Đấng được sai đến để thực hiện tình yêu đó, nên cô đã dấn thân theo Ngài và đã được sự sống mới. Madalena đã cùng chết với Chúa qua việc chôn lấp những tội lỗi của mình nên cô đã được sống lại với Ngài trong đời sống mới.

Bước vào Tuần Thánh, một lần nữa mỗi người chúng ta hãy xét lại những điều làm ảnh hưởng đến đời sống đức tin, nhất là đời sống gia đình từ hình ảnh của Giuđa và Madalena.

Có khi nào tôi bất chấp tất cả, kể cả những điều sai trái, tội lỗi để có tiền bạc, chức vụ và những điều thuận lợi trong cuộc sống không? Có khi nào vì lo kiếm tiền, vì công danh sự nghiệp mà tôi quên gia đình nhỏ bé của tôi không? Có khi nào vì gia đình nghèo khổ mà tôi đã đành đoạn từ bỏ người bạn đời và những đứa con để ra đi tìm kiếm hạnh phúc khác không?…

“Phải chăng đôi khi tôi cũng có phần nào giống như Madalena buông mình tìm kiếm thú vui nhục dục: nói chuyện tục tĩu, xem sách báo phim ảnh khiêu dâm làm những việc ô uế…?” Có khi nào vì ham mê nhục dục thể xác mà tôi đã không tôn trọng người bạn, người yêu của tôi không?…

Giuđa đã không nhìn thấy cái sai của mình, mà chỉ bất mãn vì mình không đạt được mục đích. Madalena đã biết mình sai nên hối hận và sửa đổi cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều có những sai lỗi. Hãy tận dụng những ngày trong Tuần Thánh này để ăn năn sám hối và mau chóng đến với tòa giải tội xưng thú lỗi lầm để được ơn tha tội.

Khi chúng ta nhận ra tội lỗi của mình, chúng ta quyết tâm chừa bỏ là lúc chúng ta đang chết với Đức Kitô. Khi Đức Kitô sống lại, Ngài cũng ban cho tôi sự sống mới, thể hiện qua việc tôi được sống trong ân nghĩa của Chúa, và làm những việc lành phúc đức để bù đắp lại những tháng ngày bội nghĩa vong ân.

“Lạy Chúa, xin cho con bước đi với Ngài, xin cho con cùng vác với Ngài thập giá trên đường đời con đi. Lạy Chúa, xin cho con đóng đinh với Ngài, xin cho con cùng chết với Ngài, để được sống với Ngài vinh quang.”
 
----------------------------

 

Lễlá-363: CÁI ÁC LÊN NGÔI VÀ GIẢI PHÁP CỦA THIÊN CHÚA


Lm. Giuse Đỗ Đức Trí, GP. Xuân Lộc

 

Một trong các vần đề mà các nhà xã hội quan tâm, đó là tình trạng gia tăng của cái ác trong xã Lễlá-363


Một trong các vần đề mà các nhà xã hội quan tâm, đó là tình trạng gia tăng của cái ác trong xã hội. Trên mặt báo dường như ngày nào cũng có những bản tin giết chóc, trả thù độc ác, xử lý băng đảng. Cái ác không chỉ xảy ra giữa các băng đảng trả thù lẫn nhau, mà nó còn xảy ra giữa những người thân thiết nhau, và xảy ra cả ở những nơi công quyền nữa. Cái điều đáng lo hơn là vì dường như những bản tin như thế quá thường xuyên đến độ nó trở thành như những sự kiện bình thường trong xã hội, khiến xã hội lúc đầu còn thấy như là một chấn động mỗi khi có giết chóc xảy ra và dần đi đến chỗ chấp nhận nó và không quan tâm đến nó nữa. Vì đã trở nên quen thuộc nên người dân mất đi phản ứng về sự ác và chán nản không muốn và không dám bênh vực cho sư thật, sự thiện nữa.

Trong vụ án của Chúa Giêsu cách đây hơn hai ngàn năm, chúng ta cũng thấy được cái ác dường như được đẩy lên đến đỉnh cao và dường như đã thắng thế. Theo dõi bản án mà chúng ta vừa nghe trong Bài Thương Khó, động lực sâu xa thúc đẩy những người Do Thái âm mưu thực hiện bản án này, đó là sự tự tôn, thù hằn, ghen tỵ. Vì tự tôn cho mình là nhất, cho mình là những người thánh thiện, nên những luật sĩ và biệt phái đã nhân danh sự thánh thiện của bản thân và họ còn nhân danh cả Thiên Chúa để gieo đau khổ và chết chóc xuống cho người vô tội. Vì sự thù hằn ghen tỵ vì thấy ông Giêsu này được nhiều người ủng hộ vì rao giảng một lối sống khác với lối sống của mình, nên những thượng tế và luật sĩ đã không chấp nhận và muốn loại trừ Người. Sự thù hằn khởi đầu từ một nhóm rất nhỏ, và nó được thổi bùng lên vào dịp lễ Vượt Qua năm đó, khi các luật sĩ và biệt phái đã kích động được cả một đám đông mù quáng và cuồng nhiệt để gây áp lực đưa đến sự hành hạ và cái chết cho Đức Giêsu. Không chỉ như thế, cái ác nó còn được bọc bên ngoài bằng một sự thánh thiện khi những người Do Thái này nghĩ rằng họ gieo đau khổ chết chóc cho ông Giêsu là họ đang bảo vệ giới răn lề luật của Thiên Chúa và bảo vệ truyền thống của cha ông. Vì thế họ đã mưu mô mượn tay người Rôma để thực hiện mưu đồ gian ác của mình, mà chúng ta có thể thấy sự tráo trở lật lọng của những người chủ mưu trong chuyện này.

Khởi đầu, họ đã dàn dựng nên một vụ bắt bớ tưởng chừng như là đơn thuần, nhưng sau đó họ đã nhanh chóng bộc lộ ác tâm và mưu đồ của mình khi đưa Đức Giêsu đến dinh thày thượng tế, để ở đây, bằng một phiên tòa bỏ túi mang tính các nội bộ tôn giáo xảy ra ngay trong đêm, họ đã đưa ra bản án rằng: Nó phải chết. Việc tổ chức một phiên tòa chóng vánh trong đêm khuya như thế đã đủ để cho thấy những con người này đang bị chi phối bởi quyền lực của bóng tối là ma quỷ. Từ đây cái ác cứ gia tăng khi họ rắp tâm thực hiện mưu đồ loại trừ Chúa Giêsu, và để chứng minh sự vô tội của mình, thì những người Do Thái mà chủ mưu là các tư tế và luật sĩ, biệt phái đã mượn tay của người Roma để thực hiện mưu đồ này. Họ đã chuyển Chúa Chúa Giêsu đến cho Philatô, biến những tranh luận mang tính tôn giáo thành bản án chính trị. Từ nơi dinh Philatô sự ác được gia tăng đến cực độ bằng những trận mưa roi đòn, hành hạ, nhục mạ.

Cũng ở sân dinh Philatô người Do Thái công khai khẳng định mình đứng về phía thế gian, bắt tay với cái ác, khi tuyên bố: Chúng tôi không có một vua nào khác ngoài Cêsa. Một khi con người đã bắt tay với sự ác, đồng lõa với ma quỷ thì sẽ hoàn toàn bị sự chi phối của nó. Những người Do Thái đã không chấp nhận một giải pháp dung hòa hay sự nhân đạo theo đề nghị của Philatô: Cho đánh đòn rồi tha, nhưng trái lại họ gào thét như điên khùng: Đóng đinh nó vào thập giá. Với đòi hỏi này mục tiêu của ác tâm của những người do Thái đã được thực hiện. Philatô đã trao Đức Giêsu cho họ đem đi đóng đinh theo ý của họ.

Suy niệm một vài nét trong cuộc thương khó của Chúa Giêsu như thế, đôi khi trong chúng ta cũng cảm thấy bức xức trước cách hành xử của người Do Thái và của cả quan Philatô là cơ quan công quyền có trách nhiệm bênh vực công lý vì họ đã không làm gì trước những bất công. Theo thói đời, người ta thường dùng sự ác để đối lại với cái ác, dùng bạo lực để đương đầu với bạo lực, thế nhưng đó lại không phải là cách phản ửng của Thiên Chúa. Nhiều khi chúng ta cứ cảm thấy băn khoăn khó hiểu và đặt câu hỏi tại sao Thiên Chúa lại cứ im lặng trước cái ác, cụ thể là tại sao Thiên Chúa không có phản ứng gì mạnh mẽ trước cái bất công mà Con của Ngài đang phải chịu? Thiên Chúa dường như tỏ ra lép vế trước cái ác chăng ?

 Đó là suy nghĩ theo kiểu của con người, còn Thiên Chúa lại có cách hành xử và phản ứng hoàn toàn khác. Thiên Chúa không dùng bạo lực để đối lại bạo lực, vì như thế chỉ làm cho bạo lực càng gia tăng. Nhưng Thiên Chúa đã dùng tình yêu để đương đầu với bạo lực, dùng sự tha thứ để đối lại với bất công, dùng sư kiên nhẫn để đối lại với mưu mô của ma quỷ và sự ác, và dùng đau khổ để biến thành vinh quang, dùng cái chết của Đức Giêsu để biến thành sự sống mới, dùng sự thất bại của thập giá để biến nó trở nên cờ hiệu chiến thắng. Đó chính là câu trả lời của Thiên Chúa cho những băn khoăn thắc mắc của con người về vấn đề đau khổ và sự ác.

Đức Giêsu, một vị Thiên Chúa quyền năng sáng tạo mọi loài mọi vật đã thực hiện theo con đường đó. Ngay từ đầu, khi mà sự ác, hận thù đang tràn ngập trên cuộc sống của con người, thì chính Đức Giêsu đã chấp nhận mang lấy thân xác con người để có thể “cảm nghiệm” đến tột cùng thân phận con người. Tiên tri Isai đã mô tả điều này qua hình ảnh của một người Tôi Tớ của Thiên Chúa, một con người và cũng là một người con, hoàn toàn yêu mến Thiên Chúa và vâng phục Thiên Chúa như đầy tớ vâng lời ông chủ, và sẵn sàng làm tất cả những gì mà ông chủ muốn, đồng thời chấp nhận tất cả những roi đòn, sự nhục mạ tủi hổ mà người khác gây ra cho mình, vì có Thiên Chúa là sức mạnh và là nguồn trợ lực.

Cũng trong cái nhìn đó, thánh Phaolô còn đi xa hơn khi nhìn thấy sự khôn ngoan kỳ diệu và quyền năng của Thiên Chúa đã thực hiện qua Chúa Giêsu và cuộc khổ hình của Người: Ngài vốn dĩ là Thiên Chúa, nhưng không nghĩ phải đòi cho được địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ….Ngài còn vâng lời cho đến nỗi chấp nhận chịu chết, chết trên cây thập giá. Chính vì thế Thiên Chúa đã siêu tôn Người, ban cho Người một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu. Đó là cách Thiên Chúa vốn thực hiện không chỉ cho Đức Giêsu mà còn cho tất cả những ai dám nên giống như Đức Giêsu, và những ai bước theo con đường của Đức Giêsu.

Thưa quý OBACE, đối diện với đau khổ, sự ác ngày nay, chúng ta cũng rất dễ bị cám dỗ để sử dụng các biện pháp của con người, chúng ta muốn có một giải pháp ngay tức khắc, mà khi theo đuổi giải pháp này chúng ta lại gây thêm oán thù và làm gia tăng sự ác. Dĩ nhiên chúng ta không thể làm ngơ trước sự xấu và sự ác, càng không bao giờ được tán đồng, cũng không bắt tay, và kể cả không thể im lặng trước sự tội và sự ác. Vì khi chúng ta im lặng hoặc làm ngơ trước sự xấu và sự ác là chúng ta đồng lõa với nó. Như vậy vấn đề ở chỗ là chúng ta phải có phản ứng và cách hành xử như thế nào trước sự xấu và sự ác ?

Sự xấu và sự ác ngày hôm nay đang diễn ra dưới rất nhiều hình thức, nhiều cấp độ, từ trong tâm hồn và hành động của mỗi người, đến những hành động và cách sống trong gia đình. Các bậc làm cha mẹ hãy mạnh dạn để từ chối sự dữ và sự ác trong gia đình, đừng bao giờ dùng bạo lực hay nhục mạ nhau để giải quyết những căng thẳng trong gia đình và xóm ngõ, đừng bao giờ tán đồng với sự sai trái của con cái, và đừng bao giờ làm ngơ trước sự làm ăn gian dối hay cư xử bất công của những người thân trong gia đình. Hãy lấy tình yêu thương của Chúa, sự nhẫn nại để khuyên bảo, điều chỉnh cho nhau, và hãy dùng tình yêu thương để biến đổi, hãy cư xử quảng đại và tha thứ cho nhau, vì chỉ có tha thứ mới có thể chữa lành những vết thương do hận thù, chỉ có sự quảng đại mới thắng vượt được sự nhỏ nhen ích kỷ. Hãy gieo thật nhiều những hạt mầm yêu thương, công bằng và sự thật trong gia đình, trong công ty xí nghiệp, chúng ta sẽ gặt được yêu thương.

Cũng thế, đối với các bạn trẻ và những người làm con, hãy học nơi Chúa Giêsu sự hiền hòa và khiêm nhường, hãy dùng tình bác ái Kitô giáo để cư xử với nhau. Đừng bao giờ cộng tác với sự xấu, sự dữ dưới bất cứ hình thức nào ; hãy cùng nhau để xua trừ sự dữ sự ác trong xã hội, đừng bao giờ ấp ủ trong mình sự nóng nảy, tự ái, giận hờn, vì cả giận thì mất khôn, trái lại chúng ta hãy nuôi dưỡng và làm cho trái tim của mình được lớn lên, cho đôi vòng tay được mở rộng để có thể yêu thương mà không giới hạn, đón nhận sự khác biệt và tha thứ cho sự xúc phạm. Thực hiện như thế không biến chúng ta thành nhu nhược, nhưng làm cho chúng ta lớn lên và mạnh mẽ hơn.

Mỗi người Công Giáo cùng sống và thực hiện như thế, là chúng ta đang cùng với Đức Kitô để đẩy lui sự dữ và sự ác và cả sự chết ra khỏi thế giới và làm cho Tin Mừng của Đức Kitô được nảy mầm khắp nơi. Amen.
 
----------------------------

 

Lễlá-364: ĐAU KHỔ – VINH QUANG


Lm. Jos.DĐH, GP. Xuân Lộc

 

Với đôi mắt bình thường, người ta có thể nhìn thấy “dấu thập”, nhìn thấy “dấu cộng” ở xung Lễlá-364


Với đôi mắt bình thường, người ta có thể nhìn thấy “dấu thập”, nhìn thấy “dấu cộng” ở xung quanh chúng ta cách dễ dàng. Bằng cảm nhận “tình yêu”, người ta không còn thấy điều xấu, và “tâm” đã yêu ở đâu chúng ta cũng thấy người tốt, người đáng yêu. Theo quan niệm của xã hội, nếu thất bại, không gặp may, bị tai nạn gọi là khổ đau…. Phật giáo cho rằng: đời là bể khổ, nghĩa là bao lâu còn ở trần gian là còn đau khổ, dù bạn thành công, nhiều tiền của, địa vị, sức khỏe….

Bước vào Tuần Thánh, phụng vụ mời gọi người tín hữu theo Chúa Giêsu tiến vào Giêrusalem ăn mừng lễ Vượt Qua, cũng là hứa hẹn cùng chúng ta ăn lễ Vượt Qua trên Thiên Quốc. Chúa Giêsu đi trước, đông đảo môn đệ, người già người trẻ đang từ từ bước theo….., mỗi người đều hiểu thập giá không đơn thuần là “dấu cộng” hay “dấu thập” nữa; chính xác Chúa Giêsu đã biến đổi “thập giá” khổ đau ấy thành “Thánh Giá”. Chúa Giêsu không hứa hẹn đi theo Chúa sẽ không còn đối diện với khổ đau, mà Chúa nói: “ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình vác thập giá mình hàng ngày mà theo Ta”.

Vấn nạn được đặt ra, tại sao cuộc đời này đầy “mầu xám” khổ đau như vậy ? đau khổ từ đâu mà có ? Chúa Giêsu đến trần gian, sao Ngài không tiêu diệt đau khổ chết chóc ? câu trả lời là có chứ ! Chúa Giêsu không chiến đấu bằng “binh lực”, Chúa diệt trừ đau khổ sự chết bằng tình yêu vâng phục. Đức Phật lúc sinh thời cũng dạy các học trò: “lấy oán đền oán, oán còn mãi; lấy oán đền ơn, oán tiêu tan”. Chúa Giêsu không chủ trương một Vương Quốc đau khổ, không đề cao sự ác độc vô tâm, mà với lòng nhân từ bao dung, Chúa đã “yêu đến cùng” để cứu nhân loại khỏi phải hư mất.

Cuộc thương khó của Chúa Giêsu lần lượt lý giải “Thiên Chúa là tình yêu”. Ngài không ra tay tiêu diệt người học trò Giuđa phản bội; không xóa sổ nhóm 12 nhút nhát yếu đuối bỏ Thầy để thoát thân. Chúa không dùng quyền phép quật ngã đám lý hình tàn bạo, không lật tẩy những kẻ âm mưu “ném đá dấu tay”. Chúa qui tụ nhóm 12 để dâng “Mình” làm của lễ Vượt Qua nuôi người dương thế; cùng với những lời giáo huấn về bác ái trước và trong bữa ăn, các môn đệ hiểu rõ hơn quyền bính là để phục vụ, lấy tâm lấy đức xây dựng niềm tin cho muôn nước muôn dân.

Đau khổ về vật chất hay đau khổ về tinh thần đều đau cả, mà thông thường người ta vẫn cho rằng đau đớn về tinh thần vẫn khủng khiếp hơn. Giới lãnh đạo, đám đông dân chúng từ chối tình yêu của Chúa Giêsu, các môn đệ tản mác mỗi người một phương, chúng ta tưởng chừng Chúa quá cô đơn….nhưng Chúa đã cho nhân loại thấy như thế nào là “tình yêu mạnh hơn sự chết” ! Đau đớn tột cùng, chính là yêu đến cùng của Con Thiên Chúa làm người mà không ai có thể cân đo đong đếm, nếu người ấy không có đủ tình yêu để cảm nhận.

Người Kitô hữu chúng ta gọi đau khổ là mầu nhiệm, Chúa Giêsu rực rỡ ánh quang sau khi đã trút hơi thở, kết thúc phận người như “tử tội” treo trên cây thập giá. Viên sĩ quan cùng với một số lính canh làm nhiệm vụ đứng gần thập giá, họ không thể nói khác được: “đúng người này là Con Thiên Chúa”. Các phụ nữ, một số các môn đệ từ từ khám phá thế nào là “mầu nhiệm tình yêu”. Đau khổ và vinh quang không xa nhau, nhưng thật đáng sợ nếu người Kitô hữu chúng ta thiếu ơn Chúa, thiếu tình yêu của Đấng Phục Sinh, không một ai có thể đạt đến hạnh phúc đời đời mà Chúa hứa ban.

Đau khổ hôm nay và hạnh phúc mai sau là một, mến Chúa yêu người không là hai nữa mà là một, bởi mỗi chúng ta đều mang hình ảnh Chúa. Vinh quang trần thế, hạnh phúc trần thế thật xa lạ với đau khổ thập giá và vinh quang thiên quốc. Người Tín hữu sẽ nghĩ gì và hiểu như thế nào, nếu không thể hiện niềm tin vào Đức Kitô, Đấng vừa mang hình ảnh con người, hình ảnh Thiên Chúa. Con đường theo Chúa là con đường lên Giêrusalem Thiên Quốc, con đường chật hẹp, khổ đau mới là con đường được dẫn đến hạnh phúc thật. Xin Chúa Giêsu tiếp tục ban ơn để mỗi người kitô hữu chúng ta biết hiệp thông với tuần thương khó của Chúa cách xứng đáng và trọn vẹn.

 ----------------------------

 

Lễlá-365: GIÁ TRỊ CỦA ĐAU KHỔ


Trầm Thiên Thu

 

Cũng như tình yêu, có lẽ chẳng ai định nghĩa được “đau khổ là gì” một cách chính xác và thỏa Lễlá-365


Cũng như tình yêu, có lẽ chẳng ai định nghĩa được “đau khổ là gì” một cách chính xác và thỏa mãn nhất, vì đau khổ đa dạng lắm. Thiết tưởng có thể hiểu đơn giản theo phương trình: Đau khổ = Ưu sầu + Nước mắt. Tất nhiên phải “trừ” loại nước mắt vui mừng, dù hai loại nước mắt đều có vị mặn. Người ta dễ dàng lấy vạt áo lau khô những “giọt mặn” rỉ ra từ đôi mắt, nhưng rất khó xóa “vết mặn” khỏi trái tim mình. Thật vậy, sướng hay khổ còn do mỗi người có khái niệm riêng. Có những triết lý dễ hiểu, có những triết lý khó hiểu, thậm chí là không thể hiểu: Triết lý Thập Giá. Đó cũng là loại triết lý của sự đau khổ.

Chẳng ai thích đau khổ, nhưng đau khổ vẫn luôn có giá trị tích cực mà chúng ta phải cố gắng hiểu suốt cả đời. Đại văn hào Victor Hugo nhận xét: “Đau khổ cũng như hoa quả. Chúa không khiến nó mọc lên trên những cành quá yếu ớt để chịu nổi nó”. Còn Elbert Hubbard nói: “Nếu bạn đau khổ, hãy cảm ơn trời! Vì đó là dấu hiệu chắc chắn cho thấy bạn đang sống”. Chính đau khổ lại khiến người ta nên khôn, lạ thật!

Những con người đẹp nhất là những người từng bị đánh bại, từng đau khổ, từng tranh đấu, từng mất mát, và họ đã tìm được con đường ra khỏi vực sâu. Những con người này có lòng cảm kích, sự nhạy cảm và thấu hiểu đối với cuộc đời, chính cuộc đời đã làm họ tràn đầy sự cảm thông, sự dịu dàng và quan tâm yêu thương sâu sắc. Như vậy, “người đẹp” không thể tự nhiên mà có.

Triết lý đau khổ thật kỳ diệu. Hung tin dồn dập, nhưng ông Gióp vẫn bình tĩnh. Ông trỗi dậy, xé áo mình ra, cạo đầu, sấp mình xuống đất, sụp lạy và cầu nguyện: “Thân trần truồng sinh từ lòng mẹ, con sẽ trở về đó cũng trần truồng. Đức Chúa đã ban cho, Đức Chúa lại lấy đi: xin chúc tụng danh Đức Chúa!” (G 1:21). Dù đau khổ cùng cực, nhưng “ông Gióp không hề phạm tội cũng không buông lời trách móc phạm đến Thiên Chúa” (G 1:22). Hiểu được như vậy thì cuộc đời sẽ thanh thản.

Người đời có câu: “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt, còn hơn le lói suốt trăm năm”. Đó là cách “tự an ủi” của người đời. Nhưng chúng ta cũng có thể hiểu theo góc độ nào đó về Chúa-Giêsu-làm-người. Cuộc đời Ngài đầy đau khổ ê chề, thế nhưng Ngài vẫn có được khoảnh khắc huy hoàng là được thiên hạ tung hô lúc Ngài cưỡi trên lưng lừa khi vào Thành Giêrusalem.

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay được Giáo hội sử dụng là bài ca thứ ba trong các “Bài Ca Của Người Tôi Trung”, ngắn gọn mà ý nghĩa: “Đức Chúa là Chúa Thượng đã cho tôi nói năng như một người môn đệ, để tôi biết lựa lời nâng đỡ ai rã rời kiệt sức. Sáng sáng Người đánh thức, Người đánh thức tôi để tôi lắng tai nghe như một người môn đệ. Đức Chúa là Chúa Thượng đã mở tai tôi, còn tôi, tôi không cưỡng lại, cũng chẳng tháo lui” (Is 50:4-5). Thật là không dễ mà vẫn giữ lòng trung tín ngay trong lúc đau khổ như vậy!

Đau khổ không làm người ta yếu đuối mà lại như loại “nước tăng lực” làm tăng sức chịu đựng: “Tôi đã đưa lưng cho người ta đánh đòn, giơ má cho người ta giật râu. Tôi đã không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ. Có Đức Chúa là Chúa Thượng phù trợ tôi, vì thế, tôi đã không hổ thẹn, vì thế, tôi trơ mặt ra như đá. Tôi biết mình sẽ không phải thẹn thùng” (Is 50:6-7). Thật là kỳ diệu, những người không có niềm tin Kitô giáo chắc chắn không thể hiểu được, và sẽ cho những người chịu đau khổ là những người điên khùng.

Tác giả Thánh Vịnh than thở: “Thân sâu bọ chứ người đâu phải, con bị đời mắng chửi dể duôi, thấy con ai cũng chê cười, lắc đầu bĩu mỏ buông lời mỉa mai: “Nó cậy Chúa, mặc Người cứu nó! Người có thương, giải gỡ đi nào!” (Tv 22:7-9). Thách thứ quá lớn, khoảng cô đơn quá rộng, nỗi nhục nhã ê chề!

Đúng là “phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí”. Không khác quy luật muôn thuở, giống như định mệnh vậy. Đau khổ này chồng lên đau khổ khác: “Quanh con bầy chó đã bao chặt rồi. Bọn ác đó trong ngoài vây bủa, chúng đâm con thủng cả chân tay, xương con đếm được vắn dài; chúng đưa cặp mắt cứ hoài ngó xem. Áo mặc ngoài chúng đem chia chác, còn áo trong cũng bắt thăm luôn. Chúa là sức mạnh con nương, cứu mau, lạy Chúa, xin đừng đứng xa (Tv 22:17-20). Không còn gì để mất nữa, khốn khổ tột cùng, lo sợ run cả người, nguyện cầu không ngừng, thế nhưng vẫn chẳng nghe động tĩnh gì!

Dù có thế nào thì vẫn một lòng tín thác, vẫn xưng tụng Thiên Chúa, vì đó là mục đích sống: “Con nguyện sẽ loan truyền danh Chúa cho anh em tất cả được hay, và trong đại hội dân Ngài, con xin dâng tiến một bài tán dương. Hỡi những ai kính sợ Đức Chúa, hãy ca tụng Người đi! Hỡi toàn thể giống nòi Gia-cóp, nào hãy tôn vinh Người! Dòng dõi Ít-ra-en tất cả, nào một dạ khiếp oai!” (Tv 22:23-24).

Cầu nguyện là lương thực nuôi dưỡng đời sống tâm linh. Cầu nguyện mà không nghe động tĩnh gì, đó là dấu chỉ chắc chắn rằng Chúa đang xót thương. Lại thêm một điều kỳ diệu. Muốn hiểu được triết lý này, đòi hỏi phải có niềm tin Kitô giáo. Với người ngoài Kitô giáo hoặc vô thần, họ cho đó là “bùa mê, thuốc lú”, ai tin như vậy đều bị họ coi là dại dột, là dốt nát, là ngu xuẩn hoặc điên rồ.

Thánh Phaolô phân tích: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế” (Pl 2:6-7). Chúa Giêsu không chỉ tự nguyện như vậy, mà còn hơn thế nữa: “Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2:8). Đúng là mầu nhiệm, do đó mà khó hiểu thật. Nhưng chỉ là “khó hiểu” chứ không phải là “không thể hiểu”.

Tình yêu nào cũng cần “chất” đau khổ, có đau khổ mới chứng tỏ tình yêu chân chính. Đại văn hào Victor Hugo nói: “Ai khổ vì yêu, hãy yêu hơn nữa; chết vì yêu là sống trong tình yêu”. Chết mà là sống. Lạ thật, người đời mà còn nhận định được như vậy đấy!

Đau khổ có giá trị nhất định và rất độc đáo. Gian nan là nhịp cầu dẫn tới thành công, đau khổ là nhịp cầu dẫn tới vinh quang. Cũng vậy, sự chết là con đường dẫn tới sự sống, là cửa ngõ bước vào cõi trường sinh. Thánh Phaolô kết luận: “Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ; và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: “Đức Giêsu Kitô là Chúa” (Pl 2:9-11).

Chúa Giêsu hiển hách vào Thành Giêrusalem là đi vào cõi đau khổ, nhưng từ “biên giới” đầy gian khổ là Vườn Dầu, từ đó lại tiếp tục dẫn tới “cửa ải” sự chết là Can-vê. Nhưng từ nơi Can-vê “chết chóc” ấy lại dẫn tới cửa sự sống là Nước Trời. Một bản đồ lòng vòng như mê cung nhưng lại thú vị và hấp dẫn, có bao người khao khát sử dụng loại bản đồ này, có nhiều người đã đạt được mục đích sống đó: Các thánh nhân, đặc biệt là các vị tử đạo.

Chuyện gì đến sẽ đến, dù vui hay buồn, dù tốt hay xấu. Đó là điều tất yếu của cuộc sống. Bài thương khó hôm nay là một bộ phim buồn khiến lòng người trĩu nặng…

Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, một người trong Nhóm Mười Hai, đành lòng bán Thầy mình để lấy một số tiền. Từ lúc đó, gã cố tìm dịp thuận tiện để nộp Thầy mình. Vật chất và tiền bạc có ma lực cực mạnh khiến người ta mù quáng, không còn đủ lý trí sáng suốt để phân biệt đâu là phải hay trái. Ma lực đó rất khó cưỡng lại!

Ngày thứ nhất trong tuần bánh không men, các môn đệ đến thưa với Đức Giêsu xem Ngài muốn họ dọn Tiệc Vượt Qua ở đâu. Ngài dặn dò họ kỹ lưỡng từng chi tiết.

Chiều đến, Đức Giêsu vào bàn tiệc với mười hai môn đệ. Đang tiệc vui, bỗng dưng Ngài bảo có người sẽ nộp Ngài. Các môn đệ tá hỏa tam tinh và rầu thúi ruột, Họ hỏi nhỏ nhau xem ai là thủ phạm. Chẳng ai biết. Ngài nói: “Kẻ giơ tay chấm chung một đĩa với Thầy, đó là kẻ nộp Thầy. Đã hẳn Con Người ra đi theo như lời đã chép về Người, nhưng khốn cho kẻ nào nộp Con Người: thà nó đừng sinh ra thì hơn!” (Mt 26:23-24). Giu-đa nhột gáy, nhưng vẫn giả nai: “Thầy ơi, chẳng lẽ con sao?”. Ngài xác nhận là đúng!

Cũng trong bữa ăn đó, Đức Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho môn đệ và nói: “Anh em cầm lấy mà ăn, đây là mình Thầy” (Mt 26:26). Rồi Người cầm lấy chén, dâng lời tạ ơn, trao cho môn đệ và nói: “Tất cả anh em hãy uống chén này, vì đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội” (Mt 26:27-28). Đây là lúc thật linh thiêng và xúc động, nhưng lại có nỗi buồn khi Ngài bảo: “Từ nay, Thầy không còn uống thứ sản phẩm này của cây nho, cho đến ngày Thầy cùng anh em uống thứ rượu mới trong Nước của Cha Thầy” (Mt 26:29).

Sau khi hát thánh vịnh xong, Thầy trò cùng ra núi Ô-liu. Bấy giờ Đức Giêsu nói với các ông về nhiều điều cần thiết, vừa cảnh báo vừa trăn trối. Nghe Thầy nói đích danh mình là sẽ chối Thầy ba lần. Ông Phêrô nói chắc: “Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy” (Mt 26:35). Tất cả các môn đệ cũng đều nói như vậy. Nhưng rồi… điều gì đến vẫn cứ đến!

Vào vùng đất Ghết-sê-ma-ni, Ngài bảo mọi người ở lại, chỉ dẫn theo Phêrô và hai người con ông Dê-bê-đê đi theo. Ngài bắt đầu cảm thấy buồn rầu xao xuyến cực độ nên phải thốt lên: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được. Anh em ở lại đây mà canh thức với Thầy” (Mt 26:38). Ngài đi xa hơn một chút, sấp mặt xuống, cầu nguyện: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26:39). Nhân tính thật yếu đuối, nhưng Ngài vẫn quyết tuân phục Ý Cha cho đến cùng.

Ngài trở lại chỗ ba đệ tử ruột, ôi thôi, họ lăn ra ngủ khò. Ngài nói với Phêrô: “Thế ra anh em không thể canh thức nổi với Thầy một giờ sao? Anh em hãy canh thức và cầu nguyện, để khỏi lâm vào cơn cám dỗ. Vì tinh thần thì hăng say, nhưng thể xác lại yếu hèn” (Mt 26:40-41). Phêrô còn ngái ngủ, chỉ biết gãi đầu thôi. Ngại ghê đi!

Rồi Ngài lại đi cầu nguyện lần thứ hai: “Lạy Cha, nếu con cứ phải uống chén này mà không sao tránh khỏi, thì xin vâng ý Cha” (Mt 26:42). Ngài quay lại, thấy các môn đệ vẫn đang ngon giấc, mắt họ nặng trĩu. Có lẽ họ thấm mệt vì có chút men và trời đã quá khuya. Ngài để mặc các ông ngủ mà đi cầu nguyện lần thứ ba, cũng với lời như trước. Rồi Ngài đến chỗ các môn đệ, đúng lúc kẻ nộp Ngài vừa tới!

Giu-đa tỏ ra lịch sự đến chào và hôn Thầy, nhưng là để “chỉ điểm” cho những kẻ thủ ác bắt Thầy. Phêrô nóng gáy lấy gươm chém đứt tai Man-khô, đầy tớ của thầy thượng tế. Nhưng Chúa Giêsu chữa lành cho gã và bảo Phêrô cất gươm đi. Họ ập tới bắt trói Ngài. Thấy vậy, các môn đệ tá hỏa và bỏ của chạy lấy người, có kẻ mất dép, có kẻ tuột cả áo xống mà chạy tồng ngồng đi trốn. Nói thì mạnh lắm, cuối cùng cũng chỉ “lẻo mép”. Phàm nhân yếu đuối và nhát đảm quá!

Họ bắt Đức Giêsu và điệu đến thượng tế Cai-pha. Phêrô đi theo xa xa, đến tận dinh thượng tế, rồi vào bên trong ngồi với bọn thuộc hạ, xem kết cuộc ra sao.

Họ chất vấn Đức Giêsu đủ điều, nhưng Ngài vẫn im lặng. Vì có nói với họ thì cũng như nước đổ lá môn, nói với đầu gối còn hơn. Cuối cùng, vị thượng tế nói: “Nhân danh Thiên Chúa hằng sống, tôi truyền cho ông phải nói cho chúng tôi biết: ông có phải là Đấng Kitô Con Thiên Chúa không?” (Mt 26:63). Nghe chừng đạo đức lắm vì ông ta dám “nhân danh Chúa” mà tra xét. Lúc này Đức Giêsu mới lên tiếng: “Chính ngài vừa nói. Hơn nữa, tôi nói cho các ông hay: từ nay, các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng và ngự giá mây trời mà đến” Mt 26:64). Như giọt nước làm tràn ly, vị thượng tế liền xé áo mình ra và bảo Đức Giêsu nói phạm thượng, rồi ông ta hỏi mọi người nghĩ sao, họ liền đồng thanh: “Hắn đáng chết!”.

Sau đó, kẻ thì khạc nhổ vào mặt và đấm đánh Ngài, kẻ lại tát Ngài, rồi họ nguyền rủa và lăng mạ Ngài đủ thứ.

Và cũng vậy, chuyện gì sẽ đến cũng lại đến. Phêrô được Thầy báo trước, nhưng cũng không thể vượt qua chính mình. Thiên hạ thấy ông nên bàn tán xì xầm, ông sợ nên không dám nhận mình là người quen với Đức Giêsu, và còn thề độc là không hề quen với người đang bị hành hạ bên trong kia. Và rồi có tiếng gà gáy, ông sực nhớ lời Đức Giêsu đã nói: “Gà chưa kịp gáy thì anh đã chối Thầy ba lần”. Ông ra ngoài, khóc lóc thảm thiết. Chắc hẳn từ đó, ông rất sợ tiếng gà gáy sáng, nhưng ông cũng phải cảm ơn tiếng gà gáy đó.

Vào mỗi dịp lễ lớn, tổng trấn có lệ phóng thích cho dân chúng một người tù, tuỳ ý dân. Khi ấy có một người tù khét tiếng tên là Ba-ra-ba. Người ta đồng ý thả Ba-ra-ba và cương quyết giết Đức Giêsu. Phi-la-tô thừa biết chỉ vì ghen tị mà họ nộp Ngài, thế nhưng vì địa vị chức tước mà ông làm ngơ với công lý, vợ ông bảo đừng nhúng tay vào vụ xử vụ này, ông đi rửa tay để chứng tỏ mình vô can. Nhưng đó chỉ là giả hình, hèn nhát!

Thật vậy, chính Phi-la-tô đem Đức Giêsu vào trong dinh và tập trung cả cơ đội quanh Ngài. Chúng lột áo Ngài ra, khoác cho Ngài tấm áo choàng đỏ, rồi kết một vòng gai làm vương miện đặt lên đầu Người, và trao vào tay mặt Ngài một cây sậy. Chúng quỳ gối trước mặt Người mà nhạo báng, chúng khạc nhổ vào Ngài và lấy cây sậy mà đập vào đầu Ngài. Chế giễu chán, chúng lột áo choàng ra, cho Ngài mặc áo lại như trước, rồi điệu Người đi đóng đinh vào thập giá.

Trên đường, chúng gặp một người Ky-rê-nê tên là Si-môn, chúng bắt ông vác thập giá của Ngài, vì thấy Ngài yếu sức, sợ không đến nơi hành hình. Những người nói mạnh hứa chắc đâu cả rồi? Những người tín cẩn của Đức Giêsu đâu cả rồi? Những người được Đức Giêsu chữa lành đâu cả rồi? Những người được Đức Giêsu cho ăn no nê đâu cả rồi? Sao chỉ có mình ông Si-môn ngoại giáo vác đỡ Thập Giá cho Ngài? Đời là thế ư?

Khi đến Gôn-gô-tha, nghĩa là Đồi Sọ, chúng cho Ngài uống rượu pha mật đắng, nhưng Ngài chỉ nếm một chút mà không chịu uống. Đóng đinh Ngài vào thập giá xong, chúng đem áo Ngài ra bắt thăm mà chia nhau, rồi ngồi đó mà canh giữ Ngài. Cùng bị đóng đinh với Ngài là hai tên cướp, một tên bên phải, một tên bên trái.

Kẻ qua người lại đều nhục mạ và thách thức Ngài. Các thượng tế, kinh sư và kỳ mục cũng chế giễu Ngài vì họ tưởng mình đã hành động đúng và hả hê chiến thắng! Thậm chí một tên cướp cùng bị đóng đinh với Ngài cũng không tiếc lời sỉ vả và thách thức Ngài.

Bỗng dưng bóng tối bao phủ cả mặt đất từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín (12 giờ trưa tới 3 giờ chiều). Vào giờ thứ chín, trong nỗi cô đơn quá lớn, Đức Giêsu kêu lớn tiếng: “Ê-li, Ê-li, lê-ma xa-bác-tha-ni – lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mt 27:46). Người ta cứ tưởng Ngài gọi ông Ê-li-a, rồi một người trong bọn chạy đi lấy miếng bọt biển, thấm đầy giấm, buộc vào đầu cây sậy và đưa lên cho Ngài uống. Rồi Đức Giêsu lại kêu một tiếng lớn, rồi trút linh hồn!

Ngay lúc đó, bức màn trướng trong Đền Thờ xé ra làm hai từ trên xuống dưới, đất rung đá vỡ, mồ mả bật tung, xác của nhiều vị thánh đã an nghỉ được trỗi dậy. Thấy động đất và các sự lạ, viên đại đội trưởng và những người cùng ông canh giữ Đức Giêsu đều rất đỗi sợ hãi và phải thú nhận: “Quả thật ông này là Con Thiên Chúa” (Mt 27:54). Ít ra cũng là thế, muộn cũng còn hơn không.

Sự thật mãi là sự thật, dù người ta cố ý bóp méo thế nào thì cũng không thể. Thắng và Thua đều cùng vần T. Sự đời lạ lắm, có những khi cứ tưởng Thắng mà hóa Thua, nhưng có khi thấy Thua mà lại là Thắng. Và chuyện gì sẽ đến cũng lại đến!

Ước gì mỗi chúng ta đều như những chiếc lá luôn xanh biếc đức tin, luôn khiêm nhường đón Đức Kitô trong mọi hoàn cảnh, trong lúc vui đã đành, trong lúc buồn mới thực sự có giá trị.

Lạy Thiên Chúa toàn năng, xin ban Thánh Linh để chúng con có thể hiểu được giá trị của đau khổ, hiểu được triết lý của Thập Giá, nhờ đó chúng con đủ sức bước theo Ngài đi xuyên qua đau khổ. Xin  giúp chúng con can đảm cùng chết với Đức Kitô để xứng đáng được phục sinh vinh quang với Ngài. Chúng con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa Cứu Độ của chúng con. Amen.
 
----------------------------

 

Lễlá-366: BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NHI - CN LỄ LÁ


Thiếu nhi chúng con thân mến,

 

Chúng con vừa nghe thánh Luca thuật lại cho chúng ta một câu chuyện rất cảm động xảy ra Lễlá-366


Chúng con vừa nghe thánh Luca thuật lại cho chúng ta một câu chuyện rất cảm động xảy ra vào những ngày cuối đời của Chúa Giêsu trên trần thế.

Cha hỏi chúng con: Qua câu chuyện hôm nay chúng con thấy được cái gì nổi bật nhất?

Chúng con cho cha ý kiến nào.

- Chúng con thấy lòng dạ của người ta thay đổi nhanh quá.

- Đúng! Cha cũng thấy vậy. Nhanh quá! Không thể tưởng tượng nổi.

-  Sao mà người ta ác quá!

- Đúng. Người ta ác với Chúa Giêsu quá. Chúa Giêsu đâu có thù hằn gì với ai. Nhiều người còn chịu ơn Chúa. Vậy mà sao họ nỡ tâm đối xứ ác với Chúa như thế.

- Thật là buồn lòng cho Chúa! Riêng đối với cha, điều cha cảm phục nhất là cách Chúa phản ứng và đối xử với mọi việc xảy ra một cách hết sức bình thản và đầy lòng yêu thương. Đây cha chứng minh cho chúng con.

 Trước hết chúng con thấy Chúa thanh thản và chủ động bước vào cuộc Thương khó khi Người nói với các môn đệ: “Thầy ước ao dự bữa tiệc Vượt qua với các con”. Đứng trước cái chết, con người ai mà chẳng run sợ, vì con người nghĩ rằng chết là hết, chẳng có gì tồn tại. Nhưng với Chúa Giêsu, chết là đi về cùng Chúa Cha. Chúa yêu mến Chúa Cha, khao khát kết hiệp với Chúa Cha, nên Người thanh thản bước vào cuộc khổ nạn để được về cùng Chúa Cha.

Lúc quân lính hung hăng đến bắt Chúa, Chúa vẫn hiền hòa không kháng cự.

 Bị vây bọc trong bầu khí sát máu, Chúa vẫn cư xử với lòng nhân hậu khoan dung. Chúa chẳng lo cho an toàn của bản thân: nên giữa lúc khó khăn khốn đốn Chúa vẫn mở rộng bàn tay nhân ái chữa lành vành tai bị đứt của người đày tớ vị thượng tế.

Khi Giuđa đến hôn mặt Chúa, Chúa vẫn đối xử một cách lịch sự, tế nhị. Đối lại tội phản nghịch tày trời, Chúa chỉ nhẹ nhàng nhắc nhở, hi vọng đánh thức lương tâm người học trò mê tiền mà đi đến phản bội.

Lúc đang bị xét xử, dù phải chịu nhục nhã đắng cay, Chúa vẫn quan tâm đưa mắt nhìn  Phêrô. Vị đại diện các tông đồ, sau khi chối Thầy, đã nhận được ánh mắt kín đáo của Thầy. Ánh mắt hiền dịu mà đau khổ. Ánh mắt trách móc thì ít mà tha thiết van xin thì nhiều. Ánh mắt nhân từ tha thứ đã khiến Phêrô ray rứt khôn nguôi.

 Rồi trên con đường lên Núi Sọ, dù vai phải mang cây thánh giá nặng nề, dù bản thân yếu mệt và tủi nhục, Chúa vẫn còn đứng lại an ủi những người phụ nữ khóc lóc, an ủi đám dân đã tố cáo, đã kết án Chúa.

 Trên thập giá, lúc đớn đau đã thấm vào đến tận xương tuỷ, lúc sức lực đã cạn kiệt, vậy mà Chúa vẫn còn quan tâm lắng nghe người trộm lành. Ôi sao mà lạ lúng quá. Thật là tuyệt vời!

 Và còn hơn thế nữa, Chúa đã tha thứ cho những sĩ quan, những binh lính hành hạ Chúa. Chúa không chỉ tha thứ mà còn cầu nguyện xin Chúa Cha tha cho tất cả mọi người có dính líu đến việc xử án Chúa.

Cha hỏi chúng con Chúa làm tất cả những điều ấy để với mọi người điều gì?

Câu trả lời không khó. Chúa muốn cho mọi người thấy tình yêu của Chúa.

Tình yêu ấy là làn ánh sáng xé tan bóng đêm thù hận, chiếu soi vào lòng của cả những người ghét ghen. Cha nhớ Đức Cha Fulton Sheen một tông đồ của Tin Mừng đã nói một câu rất hay: Tình yêu thương của Chúa giống như loài gỗ quí nhuốm cả hương thơm vào lưỡi búa đã đốn ngã nó.

Giữa những hung hãn tàn bạo, Chúa vẫn hiền lành khiêm nhường.

Giữa những hận thù, Chúa vẫn yêu thương.

Giữa những phản bội, Chúa vẫn tha thứ.

Tình yêu của Chúa đã thắng.

Có một nhà tư tưởng lớn Karl Menninger nói: "Tình yêu là liều thuốc kỳ diệu chữa trị mọi vết thương của cả người cho lẫn người nhận"

Nhà văn lớn người Nga tên là Lev Tolstoy còn nói mạnh hơn"Tình yêu kỳ diệu. Ở đâu có tình yêu, ở đó có sự sống".

Nói tới đây cha nhớ đến một câu chuyện. Câu chuyện này thật đẹp. Câu chuyện như thế này: Một hiệp sỹ dũng cảm kia tên là Hidebrand bị một bạn đồng nghiệp tên là Bruno nhục mạ nặng nề. Hidebrand thề sẽ trả thù đích đáng. Ông suy nghĩ và chuẩn bị kỹ lưỡng chương trình hành động. Cuối cùng ông chọn địa điểm và thời giờ thuận lợi đễ ra tay. Ông thức dậy sớm giữa đêm, một mình võ trong đầy đủ, đi đến một nơi thanh vằng mà ông biết Bruno sẽ đi ngang qua. Trên đường đi ông gặp thấy một nhà nguyện nhỏ còn mở cửa. Ông vào đó để chờ sáng, và trong khi chờ đợi ông giải trí bằng cách đi quan sát các bức tranh trong nhà nguyện.

Bức tranh thứ nhất vẽ Chúa Giêsu mặc áo choàng đỏ, đầu đội mão gai, phía dưới có ghi câu này bằng tiếng Latinh:“Bị lăng nhục, Ngài không đáp trả lại bằng lăng nhục”.

Bức thứ hai, nhắc lại cảnh đau buồn khi Chúa bị đánh đòn, với hàng chữ “Khi chịu những khổ đau như thế, Ngài không hề đe dọa”.

Và cuối cùng, bức thứ ba vẽ Chúa Giêsu trên Thập giá, hàng chữ là: “Lạy Cha xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm”. Nhìn liên tiếp ba bức tranh như thế, tâm hồn Hidebrand bị xúc động mạnh. Ông quỳ gối xuống và bắt đầu cầu nguyện. Dần dần cơn hận thù giảm đi, rồi biến mất. Ông còn ngồi lại đó chờ kẻ thù của ông đến, nhưng chờ để tha thứ tận tình và để làm hoà với bạn. (Góp nhặt)

Cha chúc chúng con biết yêu thương như Chúa để cuộc đời chúng con giống Chúa nhiều hơn. Amen.
 
----------------------------

 

Lễlá-367: Người tôi tớ khổ đau của Giavê


(Trích trong ‘Suy Niệm Lời Chúa’ – Radio Veritas Asia)

 

Trong một ngôi nhà thờ bên Tây Ban Nha, có một thập giá cổ được giáo hữu rất tôn sùng. Đó là Lễlá-367


Trong một ngôi nhà thờ bên Tây Ban Nha, có một thập giá cổ được giáo hữu rất tôn sùng. Đó là tượng thập giá tha tội, tượng Chúa Giêsu bị đóng đinh có cánh tay phải rời khỏi thập giá và hạ thấp xuống. Người ta có kể rằng dưới chân cây thánh giá này, có một người tội lỗi đến với cha xứ. Tuy ông xưng thú mọi tội lỗi với lòng thống hối ăn năn, cha giải tội lưỡng lự không biết có nên tha cho ông không, vì thấy ông phạm quá nhiều tội. Sau cùng, cha nghiêm nghị bảo ông: “Tôi ban phép giải tội cho ông nhưng mà trong tương lai thì phải để ý”.

Ông ta hứa với cha xứ là sẽ cố gắng sửa mình và tránh mọi tội lỗi. Nhưng vì yếu đuối quá, sau một thời gian ông lại tìm đến xưng tội, Lần này thì cha xứ nói với ông giọng quả quyết: “Tôi ban phép giải tội cho ông lần này nữa là lần cuối cùng đó nghe”. Vài tháng trôi qua, ông lại tìm đến cha xứ và quỳ xuống chân cha năn nỉ: “Thưa cha, con thống hối đến tận đáy tâm lòng. Lần nào con cãng nhất quyết giữ lời hứa, nhưng con yếu đuối quá, xin cha tha tội cho con một lần nữa”. Cha xứ đáp: “Đâu có thể đùa giỡn với Chúa được. Tôi không ban phép giải tội cho ông nữa”. Khi đó cha nghe có tiếng nấc nghẹn ngào. Từ trên thánh giá, bàn tay phải của Chúa Giêsu hạ xuống làm phép tha tội trên đầu người tín hữu thống hối. Rồi Chúa Giêsu nói với vị linh mục: “Chính Cha đã đổ máu ra để cứu chuộc ông ấy chứ không phải con”. Và cũng từ ngày ấy, bàn tay của Chúa Giêsu chịu đóng đinh ở trong tư thế ban phép xá giải.

“Chính Cha đã đổ máu ra để cứu chuộc con”. Lời ấy chính Chúa Giêsu đã nói với mỗi người trong chúng ta trong Tuần Thánh, với biến cố Chúa Giêsu khải hoàn vào thành Giêrusalem, để sau đó vài ngày chịu đóng đinh và chết trên thập giá, hầu trao ban sự sống mới cho chúng ta.

Chương 50,4-7, sách ngôn sứ Isaia là một trong bốn bài ca miêu tả người tôi tớ của Giavê Thiên Chúa. Trong tuyền thống Kitô, người tôi tớ Giavê là danh hiệu ám chỉ người hiến hoàn toàn cuộc sống mình để phụng sự Thiên Chúa và Lời Ngài, luôn kiếm tìm thi hành ý của Thiên Chúa cho dù có phải chịu đau khổ và bắt bớ đi nữa. Do đó trong lịch sử chú giải Kinh Thánh, khi thì người tôi tớ đó được đồng hóa với ngôn sứ Isaia, khi thì là Giêrêmia, khi khác nữa lại là Đấng Cứu Thế toàn dân Israel.

Tuy nhiên, các chương sách Isaia II, tức các chương từ 40-55, đề cập đến cảnh sống lưu đày bên Babylon của dân Israel, do đó có thể bài ca này ám chỉ cách sống đày ải khổ đau của dân Do Thái. Để miêu tả cảnh khổ đau này, bài ca trên đây dùng kiểu nói diễn tả nỗi khổ nhục thê thảm của kiếp sống lưu đày: Đưa lưng cho người ta đánh đòn, ám chỉ hình phạt dành cho người ngu dại bị coi như đồng hạng với thú vật; giơ má cho người ta vặt râu, ám chỉ đến danh dự và lột mất phẩm giá của một người; chường mặt cho người ta phỉ nhổ, ám chỉ mọi hành động xúc phạm và khinh rẻ phẩm giá của một người cũng như sự sống của một người. Tất cả cảnh sống trên đây diễn tả cảnh sống nhục nhã, bị khinh miệt và khổ đau dân Do Thái phải chịu trong thời lưu đày.

Tuy nhiên trong tình trạng sống buồn thương ấy, dân Do Thái vẫn ý thức được sự can thiệp của Thiên Chúa. Bởi vì thực ra, chỉ có Thiên Chúa là có thể biến đổi được tình trạng sống khổ đau ấy trở thành suối nguồn trao ban ơn cứu độ cho họ. Qua đau khổ, Thiên Chúa giáo dục cho con người biết sống thái độ sẵn sàng đón nhận thánh ý Ngài. Khi chấp nhận sống lưu đày, dân Israel chấp nhận tự thanh tẩy chính mình khỏi mọi bất trung và tội lỗi đã sai phạm. Họ cảm nghiệm được sâu xa hơn Thiên Chúa là Đấng hướng dẫn và dùng mọi biến cố lịch sử để làm ích lợi cho con người.

Trong thời Tân Ước, người tôi tớ khổ đau ấy là hình ảnh của Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Thế chịu khổ nạn và đóng đinh. Thánh Giá xem ra là dấu chỉ của ơn cứu độ và ơn thánh Ngài ban cho con người. Khi tuyệt đối trung thành với thánh gia, chương trình cứu độ của Thiên Chúa Cha, đến sẵn sàng chấp nhận khổ đau và cái chết khổ nhục trên thánh giá. Chúa Giêsu dạy cho chúng ta biết ý nghĩa và giá trị cứu độ của khổ đau.

Trong chương 2,6-11 thư gởi tín hữu Philipphê, thánh Phaolô dùng tước hiệu người tôi tớ ấy để nói về Chúa Kitô. Khi nhập thể làm người, Chúa Kitô đã đi ngược lại lộ trình mà Ađam đã đi xưa kia. Nếu Ađam là hình ảnh diễn tả toàn nhân loại đã từ chối địa vị thụ tạo của mình và muốn trở thành Thiên Chúa, nên phá hủy chương trình Thiên Chúa có đối với loài người trong thời tạo dựng. Thì giờ đây, từ địa vị Thiên Chúa, Đức Giêsu hạ mình làm người, chấp nhận khổ nhục y như một tên nô lệ, một người tôi tớ để trao ban cho loài người cuộc sống hạnh phúc thần thiêng. Con đường Thiên Chúa đi là đại lộ kinh hoàng, là con đường của khổ đau và thập giá, là con đường của khiêm hạ và thất bại. Nhưng nó là con lộ duy nhất dẫn đến ơn cứu độ.

Thật vậy, thánh giá khổ nhục và khiêm hạ đánh đổ được kiêu căng tội lỗi đã khiến con người xa rời Thiên Chúa và đánh mất đi cuộc sống hạnh phúc của mình. Nhưng con đường khiêm hạ được Thiên Chúa can thiệp và đảm bảo với biến cố Phục sinh. Thiên Chúa đã đặt để Chúa Kitô, Ađam mới trong chốn vinh quang, trong nơi danh dự mà Ađam loài người xưa kia đã không đạt tới được. Nội dung con đường trao ban ơn cứu độ ấy được ghi lại trong trình thuật của bốn Phúc Âm, nó là phần nòng cốt được biên soạn ra trước tiên và sau này được các thánh sử khai triển theo hướng thần học riêng của mình.

Trong chương 22,14-23,56 thánh Luca trình bày cuộc khổ nạn như một trận chiến quyết liệt cuối cùng của Satan, như là phần kết thúc các cám dỗ nó đã khởi sự trước khi Chúa Giêsu công khai loan báo Tin Mừng Nước Trời. Kết thúc trình thuật ma quỷ cám dỗ Chúa Giêsu trong sa mạc, thánh Luca viết trong chương 4,13: “ma quỷ rời bỏ Ngài để trở lại vào thời điểm đã định”. Cuộc khổ nạn là thời điểm Satan trở lại để lại vào giao đấu với Chúa Giêsu lần cuối cùng. Ngoài ra, trong nhãn quan thần học của thánh sử Luca, cuộc khổ nạn cũng ghi lại chặng cuối cùng, đồng thời là đạt đỉnh con đường loan báo Tin Mừng của Chúa Giêsu khởi đầu từ Galilê và kết thúc tại Giêrusalem.

Cuộc khổ nạn cũng là lúc diễn tả rõ rệt nhất các nét đặc thù trong gương mặt của Chúa Giêsu. Theo thánh sử Luca, trước hết là tinh thần cầu nguyện. Chúa Giêsu đã gia tăng lời cầu nguyện trong những ngày và những giây phút cuối đời của Ngài. Lời cầu hấp hối kéo dài trong vườn cây Dầu trước khi Chúa Giêsu bị bắt là chứng tích rõ ràng nhất. Càng phải đương đầu với thử thách bắt bớ và khổ đau, Chúa Giêsu càng tín thác tha thiết kết hợp với Thiên Chúa Cha cho dù Ngài có cảm tưởng Thiên Chúa làm thinh và cũng đã bỏ rơi Ngài.

Tiếp đến là lòng nhân từ thương xót của Chúa Giêsu Kitô đối với những người tội lỗi. Chúa Giêsu thương chữa tên đầy tớ thầy thượng phẩm bị chém đứt tai. Nhân từ thương xót với thánh Phêrô đã chối Ngài ba lần, Chúa Giêsu quay lại nhìn Phêrô nhân từ, thương xót. Đối với những người đã đóng đinh Ngài: “Lạy Cha xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm”. Nhân từ thương xót với người ăn trộm bị xử cùng lúc với Ngài: “Hôm nay ngươi sẽ ở cùng Ta trên Thiên Đàng”.

Sau cùng thánh sử Luca nêu bật thái độ vâng lời triệt để của Chúa Giêsu đối với thánh ý của Thiên Chúa Cha. Theo thánh sử, cuộc tử nạn của Chúa Giêsu không do con người muốn, mà nằm trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa Cha. Thánh Luca chỉ qui tội cho giới lãnh đạo Do Thái mà thôi, ngay cả quan tổng trấn Philatô cũng được thánh sử châm chước. Nghĩa là theo quan điểm thần học, Chúa Giêsu hoàn toàn vâng phục chương trình cứu độ do Thiên Chúa Cha hoạch định, do đó cuộc khổ nạn và cái chết trên thập giá là điểm tới thành toàn. Chúa Giêsu phải chết không phải do một định mệnh dã man và khắt khe, cũng không phải do quyết định của một người trần gian nào khác, vì Ngài muốn tuân hành thánh ý và chương trình cứu độ của Thiên Chúa Cha. Chương trình cứu độ ấy được thành toàn trên thập giá và qua cái chết hiến dâng đền tội của Chúa Giêsu Kitô, người tôi tớ khổ đau của Giavê Thiên Chúa.
 
----------------------------

 

Lễlá-368: CHÚA NHẬT LỄ LÁ – C 2013


ĐÔI DÒNG SUY TƯ

Antôn Lương Văn Liêm

 

Lễ lá hay còn gọi là lễ Chúa Giêsu tiến vào thành thánh Giêrusalem với tư cách là Đấng Messia. Đức Lễlá-368


Lễ lá hay còn gọi là lễ Chúa Giêsu tiến vào thành thánh Giêrusalem với tư cách là Đấng Messia. Đức Giêsu tiến vào thành thánh Giêrusalem không để cho người đời tung hô, bái chào, nhưng Ngài tiến vào thành thánh Giêrusalem để hoàn thành chương trình cứu độ nhân loại mà Chúa Cha đã hoạch định từ ngàn xưa bằng con đường thập giá. Có thể nói, Thiên Chúa vẽ chữ Yêu ngang qua Đức Giêsu. Nét vẽ đầu tiên khởi đi từ máng cỏ Belem và kết thúc trên đỉnh đồi  Gôngôtha.

Phụng vụ Lời Chúa trong lễ lá qua các bài đọc gợi mở và mời gọi ta chiêm ngắm dung mạo của Đức Giêsu và cuộc thương khó của Ngài.

Bài đọc 1: Trước Chúa Giêsu sinh ra, ngôn sứ Isaia đã tiên báo dung mạo Đức Giêsu là Người Tôi Trung của Thiên Chúa: “Đức Chúa là Chúa Thượng, đã cho tôi nói năng như người môn đệ, để tôi biết lựa lời nâng đỡ ai rã rời kiệt sức. Sáng sáng Người đánh thức tôi, Người mở tai tôi để tôi nghe lời giáo huấn. Thiên Chúa đã mở tai tôi, còn tôi, tôi không cưỡng lại, cũng chẳng thoái lui. Tôi đã đưa lưng cho người ta đánh đòn, giơ má cho người ta giựt râu. Tôi đã không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ…” (Is.50,4-7).

Bài đọc 2: Thánh Phaolô giới thiệu dung mạo và đời sống khiêm hạ của Đức Giêsu: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự…” (Pl.2,6-11).

Bài Thương Khó: Thánh sử Luca lược thuật hành trình thập giá và cuộc tử nạn của Đức Giêsu. Qua và trong cuộc tử nạn của Đức Giêsu, thánh nhân vẽ, giới thiệu hình ảnh, gương mặt và những cái tên đã trực tiếp, gián tiếp gây nên sự cô đơn, đau khổ và cái chết cho Đức Giêsu.

Qua bài Thương Khó và qua những khuôn mặt, những cái tên mà thánh sử Luca trình thuật. Giờ đây dừng lại đôi chút trong cõi lặng, trong sự soi dẫn của Chúa Thánh Thần, ta cùng nhau điểm lại từng khuôn mặt, cái tên trong trình thuật Thương Khó. Qua đó, một phần nào ta sẽ nhận ra chính hình ảnh và cái tên của mình trong cuộc thương khó của Đức Giêsu.

Gương mặt của nhóm môn đệ thân tín.

Nơi vườn cây dầu, trong lúc lo âu, sợ hãi về những gì sắp xảy đến, Đức Giêsu cần một lời an ủi, động viên, cần một lời cầu nguyện. Ấy thế mà các môn đệ thân tín nhất không vượt qua được những đam mê, họ bỏ mặc Thầy, họ thỏa mãn cho bản thân qua việc ngủ say như chết! Trong cuộc sống, không ít lần ta vì những đam mê, thú vui riêng mà bỏ mặc Chúa qua hình ảnh của những người thân, người anh em.

Vượt qua nỗi đau, nỗi cô đơn khi các môn đệ ngủ vùi, Đức Giêsu đón nhận nỗi đau xé lòng khi Giuđa, một đồ đệ được Ngài mời gọi, tin tưởng giao trọng trách giữ hầu bao của cả nhóm. Ấy thế mà giờ đây chỉ vì tiền mà đang tâm bán đứng Thầy mình, đau đớn hơn nữa là Giuđa dùng nụ hôn để chỉ điểm, để nộp Thầy. Trước tình cảnh đau thương này  Đức Giêsu đã thốt lên: “Giuđa ơi, anh dùng cái hôn mà nộp Con Người sao?!”. Khác chi Giuđa, vì tiền, danh và lợi nhiều khi ta bán đứng anh em mình bằng cái bắt tay, bằng một lời chào, một chữ ký….

 Dưới  nhãn quan của Đức Giêsu, trong số 12 môn đệ, ông Phêrô là người được cất nhắc lên hàng thủ lĩnh, người được Thầy Giêsu trao cho chìa khóa Nước Trời. Thật đau đớn thay cho Đức Giêsu, vì bạc nhược, sợ liên lụy, sợ chết đã đang tâm chối Thầy không chỉ một lần nhưng đến ba lần. Trong sứ vụ loan báo Tin Mừng, sứ vụ làm chứng cho sự thật giữa thế gian, xã hội, không ít lần ta cũng sợ hãi, sợ chết, sợ tù đày làm ta không dám lên tiếng. Đây chính là lúc ta chối Thầy Giêsu như Phêrô năm xưa.

Gương mặt của thượng tế, kinh sư và biệt phái.

Là những người am hiểu Kinh Thánh, những người đại diện cho tầng lớp dân chúng trong lĩnh vực tôn giáo, dại diện dân riêng của Chúa trong việc tế tự nơi đền thờ. Đáng lý ra họ cùng cộng tác với Đức Giêsu trong việc cứu giúp những người cùng khổ cơ hàn, giúp mọi người nhận ra dung mạo thật của Thiên Chúa qua những việc lành, những lời giáo huấn của Đức Giêsu. Nhưng không, họ đã quên đi giới luật yêu thương của Thiên Chúa, họ sợ mất chân đứng, vị thế của mình giữa đám đông dân chúng. Vì thế, họ họp bàn nhau triệt hạ Đức Giêsu với lý do duy nhất là họ sợ hình ảnh và vai trò của Đức Giêsu làm mất đi tất cả những danh, quyền, lợi mà họ đang có được qua việc giữ luật và bắt người ta thi hành luật. Là những người có trọng trách trong mọi lĩnh vực từ gia đình trở đi, đôi khi ta vì quyền, vì lợi, danh mà ta chèn ép, triệt hạ anh em mình…

Gương mặt của đám đông dân chúng.

Mới ngày nào, hình ảnh của một Giêsu thành Narareth in đậm trong tâm trí của những người dân chân chất qua những lời giáo huấn, những phép lạ: hóa nước thành rượu, chữa lành người bất toại, phong hủi, quỷ ám, ấn tượng nhất là phép lạ hóa bánh ra nhiều cho trên dưới 4.000 – 5.000 người đàn ông chưa kể phụ nữ và trẻ em ăn no nê…. Chính những người dân đã nói về Đức Giêsu: “Ông ấy giảng dạy như một người có uy quyền…” (x.Mc.1,27 ), đã không ít lần họ mong ước Đức Giêsu trở thành vua của họ (x.Ga.16,15).

Thế nhưng, khi Đức Giêsu bị những người lãnh đạo tôn giáo, những người đại diện cho chính quyền bắt giữ, kết án tử. Bị kích động bởi những người biệt phái, kinh sư và thượng tế, khi đôi tay Đức Giêsu bị khóa trái, bị nhạo cười, sỉ nhục và nhất là hình ảnh và vai trò của Đức Giêsu không còn là mối lợi. Đám đông dân chúng đã đồng thanh la lớn: “Hãy tha cho Baraba, đừng tha Giêsu, đem đi, đem đi đóng đinh nó vào thập giá, ông Giêsu ấy không phải là vua chúng tôi….!” . Quả đúng như người thường nói: “ Bạc như dân, bất nhân như lính”.

Trong đời sống tin và bước theo Đức Giêsu, đôi khi ta đến với Ngài vì những dấu lạ, những gì cần thiết cho cuộc sống thực tại qua hình thức cầu nguyện, xin lễ… Ta chạy theo đám đông từ đền nọ tới đền kia để thỏa mãn nhãn quan, hiếu kỳ. Nhưng! Thật đáng buồn khi không được thỏa mãn ý riêng, ta cũng dễ dàng từ bỏ Ngài chạy theo bói toán, cầu cơ, chạy theo thần của thế gian… Ta hùa theo đám đông để lên án Đức Giêsu qua Giáo Hội, qua anh em…

Gương mặt của những người lính.

Nơi dòng sông Giođan năm xưa, khi ông Gioan Tẩy Giả rao giảng, loan báo và kêu gọi mọi người sám hối những người lính đã tìm đến và hỏi: “ Chúng tôi phải làm gì?” . Ông Gioan đã trả lời: “Chớ hà hiếp ai, cũng đừng tống tiền người ta, hãy an phận với số lương của mình”. Khi những thương tế, kinh sư sai những người lính đi bắt và điệu Đức Giêsu về, họ ra đi và trở về tay không, họ đã nói về Đức Giê su: “ Xưa nay chưa hề có ai nói năng như người ấy…”(x.Ga.7,45-46).

 Ấy thế mà giờ đây khi Đức Giêsu bị trao nộp vào tay của những người lãnh đạo đời cũng như đạo, vì những lời hứa ban tặng bổng lộc…Những người lính dường như đã quên hết tất cả những gì tốt đẹp nơi Đức Giêsu. Họ mạnh tay tra tấn, đánh đập, coi Đức Giêsu như một chú hề để họ tiêu khiển. Nhìn vào đời sống thực, chắc có lẽ không ít lần ta như những người lính năm xưa, vì nghề nghiệp, vì bổng lộc, chức danh mà đôi khi ta quên mất hình ảnh và dung mạo của Đức Giê su trong đời sống ta.

Gương mặt của Philatô và Hêrôđê.

Hêrôđê, người đã tống ngục và chém đầu ông Gioan Tẩy Giả, người mà chính Đức Giêsu gọi là “con cáo già”. Ông ta rất muốn gặp Đức Giêsu để thỏa mãn những thắc mắc và cũng là để mục kích một con người được người Do Thái đồn thổi qua cung cách giảng dạy và những phép lạ… Vâng! Ông đã được gặp Đức Giêsu, Người mà đôi tay và chân bị khóa bằng xiềng xích. Ông cứ nghĩ rằng với cương vị là một vị vua ông có thể ra lệnh cho Đức Giêsu thực hiện một vài phép lạ. Nhưng! Ông đã lầm, điều ông nhận được là sự im lặng của Đức Giêsu. Để trả thù, ông đã cùng với thuộc hạ chế giễu và sau đó ông trao Đức Giêsu về cho tổng trấn Philatô như món quà để hàn gắn những rạn nứt giữa ông và Philatô.

  Tồng trấn Philatô, một người ngoại bang, tên của ông ta chỉ được nhắc tới hai lần trong Tin Mừng. Lần thứ nhất trong trình thuật của thánh sử Luca khi ngài trình thuật sứ vụ rao giảng của ông Gioan Tẩy Giả (x. Lc.3,1). Lần hai trong cuộc thương khó của Đức Giêsu, qua tra khảo và xét xử theo thẩm quyền, Philatô nhận ra Đức Giêsu là người vô tội. Nhưng tiếc thay! Philatô đã không vượt qua được rào cản dư luận, vượt qua sự vinh hoa phú quý đem lại cho ông nơi chiếc ghế tổng trấn và thế là ông phó mặc, ông đồng thuận với cái ác kết án và giết người vô tội. Quả thật, Hêrôđê và Philatô là hai con người “cầm cân nảy mực” cho công lý và sự thật. Thế nhưng một người vì nhu nhược, một người xảo trá đã để cho cái ác và giả dối lên ngôi qua việc kết án và giết người vô tội là Đức Giêsu.

Hình ảnh, cách hành xử của Hêrôđê và Philatô không thiếu giữa xã hội hôm nay, đôi khi chính ta là Hêrôđê, là Philatô qua cách sống dối trá, nhu nhược để rồi ta giả điếc, giả ngơ khi sự ác lên ngôi nơi ta và ngoài xã hội…

Bước vào lễ lá và tam nhật thánh. Thiên Chúa ngang qua Giáo Hội không chỉ mời gọi ta tưởng nhớ cuộc khổ nạn, phục sinh của Đức Giêsu như một kỷ niệm buồn, đáng trân trọng. Nhưng là để thực tại hóa những biến cố ấy, hầu nhắc nhở ta ý thức hơn nữa về tình yêu mà Thiên Chúa dành cho ta, nhắc nhở ta ý thức một điều quan trọng: Đó là do ta yếu đuối, lỗi lầm mà Đức Giêsu cứ mãi chịu thương khó vì ta và cho ta. Ngày qua ngày Đức Giêsu vẫn phải vác thập giá, chịu đòn roi và cuối cùng là chịu treo trên thập giá như một tử tội chỉ vì muốn ta được sống, được nên trọn lành. Ngài ước mong cho thế giới này luôn an vui và hạnh phúc.

Qua mầu nhiệm Tử nạn và Phục Sinh của Đức Kitô, ta được mời gọi đáp trả tình yêu của Chúa dành cho ta bằng đời sống dấn thân, hiến thân, biết quên mình đi, biết chết đi con người tội lỗi, ích kỷ, cao ngạo để cho Chúa được sống. Đức Giêsu luôn ở quanh ta qua những người anh em, qua người chồng, vợ, con, ông bà, cha mẹ…

Lạy Chúa Giêsu!  Bấy nhiêu tuổi đời là bấy nhiêu lần con cùng với gia đình và mọi người tham dự, tưởng nhớ cuộc khổ nạn của Chúa. Nhưng, Chúa ơi, lắm khi con đến tham dự các nghi thức cho qua lần chiếu lệ, con đến vì hiếu kỳ. Vì thế, con chưa cảm ra được tình yêu mà Chúa dành cho con qua cái chết của Ngài, không cảm thì làm sao con có thể đáp trả bằng sự ăn năn, bằng hy sinh và thực thi những gì Chúa luôn mời gọi con.

Xin Chúa giúp con ý thức hơn nữa về thân phận yếu đuối của mình, giúp con nhận ra tình yêu mà Chúa dành cho con và cuối cùng giúp con đền đáp tình Chúa qua cách sống hằng ngày của con. Amen.
 
----------------------------

 

Lễlá-369: QUA ĐAU KHỔ VÀO TRONG VINH QUANG


LM ĐAN VINH

I.HỌC LỜI CHÚA

1. TIN MỪNG: Lc 19,28-40

(28) Đức Giê-su nói những lời ấy xong, Người đi đầu, tiến lên Giê-ru-sa-lem. (29) Khi đến gần làng Bết-pha-ghê và làng Bê-ta-ni-a, bên triền núi gọi là núi Ô-liu, Người sai hai môn đệ và bảo: (30) “Các anh đi vào làng trước mặt kia. Khi vào sẽ thấy một con lừa con chưa ai cỡi bao giờ, đang cột sẵn đó. Các anh tháo dây ra và dắt nó đi. (31) Và nếu có ai hỏi: “Tại sao các anh tháo lừa người ta ra”, thì cứ nói: “Chúa cần đến nó”. (32) Hai người được sai ấy ra đi và thấy y như Người đã nói. (33) Các ông đang tháo dây lừa, thì những người chủ con lừa nói với các ông: “Tại sao các anh lại tháo con lừa ra?” (34) Hai ông đáp: “Chúa cần đến nó”. (35) Các ông dắt lừa về cho Đức Giê-su, rồi lấy áo choàng của mình phủ lên lưng lừa, và đặt Đức Giê-su lên. (36) Người tới đâu, người ta cũng lấy áo mình trải xuống đường. (37) Khi Người đến gần chỗ dốc xuống núi Ô-liu, tất cả đoàn môn đệ vui mừng bắt đầu lớn tiếng ca tụng Thiên Chúa, vì các phép lạ họ đã được thấy. (38) Họ hô lên: “Chúc tụng Đức vua, Đấng ngự đến nhân danh Chúa! Bình an trên cõi trời cao, vinh quang trên các tầng trời!”(39) Trong đám đông có vài người thuộc nhóm Pha-ri-sêu nói với Đức Giê-su: “Thưa Thầy, Thầy quở trách môn đệ Thầy đi chứ!” (40) Người đáp: “Tôi bảo các ông: Họ mà làm thinh, thì sỏi đá cũng sẽ kêu lên!”.

2. Ý CHÍNH:

 

Hai bài Tin mừng Chúa Nhật Lễ Lá hôm nay gồm hai phần: - Phần thứ nhất (Lc 19,28-40): Tường thuật Lễlá-369


Hai bài Tin mừng Chúa Nhật Lễ Lá hôm nay gồm hai phần:

- Phần thứ nhất (Lc 19,28-40): Tường thuật việc Đức Giê-su khải hoàn vào thành Giê-ru-sa-lem để làm vua Thiên Sai.

- Phần thứ hai (Lc 22,14-23,56): Tường thuật việc Đức Giê-su thi hành sứ vụ Thiên Sai bằng con đường “Qua đau khổ vào trong vinh quang”. Bài Thương Khó quá dài nên sẽ được đọc trong sách Tân Ước hay trong Bài Tin Mừng CN Lễ Lá năm C.

3. CHÚ THÍCH:

- C 28-34: + Người đi đầu: Với tư cách là Vua Mê-si-a, Đức Giê-su can đảm đi đầu như một mục tử đi trước dẫn đường cho đoàn chiên theo sau (x. Ga 10,4). + Tiến lên Giê-ru-sa-lem: Đức Giê-su từ thành Giê-ri-cô tiến lên thủ đô Giê-ru-sa-lem. Giê-ru-sa-lem nằm trên đỉnh núi cao hơn mặt biển 700 mét, nơi Đức Giê-su sẽ hoàn tất sứ vụ cứu độ bằng việc chịu chết và sống lại. + Làng Bê-ta-ni-a: Tên một ngôi làng nhỏ nằm trên triền núi Ô-liu về hướng Đông, cách Giê-ru-sa-lem khoảng 5 cây số. Làng này có nhà của ba chị em là Mát-ta, Ma-ri-a và La-da-rô. Đức Giê-su và các môn đệ thường nghỉ lại đây mỗi lần hành hương về Giê-ru-sa-lem (x. Mt 21,17). + Con lừa: Theo quan niệm của Cựu ước, lừa là một con vật giống như con ngựa, dành cho đức vua và các nhà quý tộc cưỡi. Áp-sa-lôm là con trai vua Đa-vít cũng đã cưỡi lừa trong cuộc nổi loạn chống lại vua cha Đa-vít (x. 2 Sm 18,9). + Chưa ai cưỡi bao giờ: Nghĩa là đang còn tinh tuyền chưa bị mang ách trên cổ (x. Ds 19,2), nên xứng đáng cho Vua Thiên Sai sử dụng (x.1 Sm 6,7). + Vì “Chúa” cần đến nó: Dưới ánh sáng mầu nhiệm Phục Sinh, Đức Giê-su được môn đệ gọi là “Chúa” hay “Chủ”. Đây là tước hiệu được gán cho Đức Giê-su từ thời Giáo hội sơ khai. Từ ngữ này diễn tả mầu nhiệm Đức Giê-su vừa là Con Người vừa là Con Thiên Chúa (x. Rm 10,9 ; Pl 2,10-11).

- C 35-38: + Các ông dắt lừa về, lấy áo choàng của mình phủ lên lưng lừa, và đặt Đức Giê-su lên: Những chi tiết này gợi lại cuộc đăng quang lên làm vua của nhà vua Sa-lo-mon do vua cha là Đa-vít đã chuẩn bị trước (x. 1V 1,33.38.40). Việc Đức Giê-su ngồi trên mình lừa thay vì ngựa chiến nhằm diễn tả sứ vụ của Người là vua Thiên Sai hòa bình, chinh phục lòng người bằng tình yêu thương thay vì bằng bạo lực chiến tranh. + “Chúc tụng Đức Vua.”..: là lời Thánh vịnh 117,25-26 được hát ca tụng Đức Chúa trong các buổi lễ long trọng khi đòan rước tiến vào Đền thờ.

- C 39-40: + Thưa Thầy, Thầy quở mắng môn đệ Thầy đi chứ: những người Pharisêu nhắc Đức Giê-su cấm môn đệ hò hét tôn vinh Người, vì họ không tin Người là Vua Thiên Sai. + “Họ mà làm thinh thì sỏi đá cũng sẽ kêu lên”: Không gì có thể ngăn cản thành Giê-ru-sa-lem nghênh đón Đức Giê-su vào Thành đăng quang như một Đấng Thiên Sai. Số phận của Thành Giê-ru-sa-lem là sẽ bị tàn phá bình địa vì tội đã từ chối đón nhận Đức Giê-su là Đấng Thiên Sai (x. Lc 19,44).

4. MẤY GỢI Y SUY NIỆM TIN MỪNG LUCA (Lc 22,14-23,56):

+ Đức Giê-su tình nguyện chịu chết để cho tội nhân được sống: Theo Lu-ca, thập giá là dấu chỉ của lòng thương xót của Chúa, thể hiện qua cuộc khổ nạn của Người: Cuộc khổ nạn chính là “Giờ của kẻ thù và của quyền lực tối tăm” (x. Lc 22,53). Chính khi đón nhận chén đắng thập giá, Đức Giê-su đã biểu lộ tình thương đối với các tội nhân khi chữa tên đầy tớ thầy cả thượng phẩm bị các môn đệ chém đứt tai (x. Lc 22,51), khi nhìn ông Phê-rô để nhắc ông về tội vừa chối Thầy ba lần (x. Lc 22,61), khi xin Chúa Cha tha tội cho những kẻ giết hại mình (x. Lc 23,34), khi hứa ban phần thưởng thiên đàng cho kr3 trộm lành có lòng hối cải (x. Lc 23,43)… Như vậy: Đức Giê-su đã tình nguyện chịu chết trên thập giá để đền tội thay và sống lại để ban sự sống cho lòai người chúng ta.

+ Đức Giê-su là “Chúa”: Trong khu vườn tại núi Ô-liu, các môn đệ đã gọi Đức Giê-su là Chúa khi hỏi: “Lạy Chúa, chúng con tuốt gươm chém được không?” (x. Lc 22,49); Tại phiên tòa của Thượng Hội đồng Do thái, các quan tòa cũng hỏi Đức Giê-su về tước vị Con Thiên Chúa như sau: “Vậy ông là Con Thiên Chúa sao ?” (x. Lc 22,70).

+ Đức Giê-su giữ im lặng trước Hê-rô-đê: Hê-rô-đê nghe đồn về tài làm phép lạ của Đức Giê-su và muốn gặp Người, hy vọng được xem Người làm phép lạ. Nhưng Người đã giữ im lặng khiến nhà vua tức giận và truyền mặc áo trắng cho Người (x. Lc 23,8-9). Trong suốt cuộc sống, Đức Giê-su thường không thỏa mãn những đòi hỏi Người làm phép lạ như vậy (x.Lc 4,9-12).

+ Đức Giê-su nêu gương cầu nguyện và vâng phục thánh ý Chúa Cha: Trước khi bị bắt, Người đã cầu nguyện và trải qua cơn đau khổ tột cùng (x. Lc 22,39-46). Cuộc khổ nạn của Đức Giê-su nằm trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa (x. Lc 22,46). Trước khi tắt thở, Người đã cầu nguyện phó dâng linh hồn vào trong tay Chúa Cha (x. Lc 23,46). Người luôn vâng phục thánh ý Chúa Cha qua lời cầu nguyện: “Xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (x. Lc 22,42).

+ Đức Giê-su muốn mọi người đều được gia nhập vào Nước Trời để được hưởng ơn cứu độ: Chỉ những kẻ bất tín, và làm tay sai cho ma quỷ như các đầu mục dân Do thái mới bị loại ra khỏi Nước Trời (x. Lc 11,40-54). Họ đã đòi quan tổng trấn Phi-la-tô kết án tử hình cho Người cách bất công (x. Lc 23,2), đang khi ông “không tìm ra một tội nào đáng phải chết” và muốn tha cho Người. Khi chứng kiến các sự việc xảy ra, viên đại đội trưởng Rô-ma đã phải thốt lên rằng: “Đây thật là một người công chính!” (Lc 23,47); Còn dân chúng Do thái thì bỏ ra về, vừa đi vừa đấm ngực ăn năn vì đã trót vào hùa với những kẻ gian ác để giết hại một người công chính (x. Lc 23,48).

II.SỐNG LỜI CHÚA

1. LỜI CHÚA: “Sau khi ăn miếng bánh,Giu-đa liền đi ra. Lúc đó trời đã tối”(Ga 13,30).

2. CÂU CHUYỆN: MỘT CUỘC SĂN ĐÊM

Tuần báo THIS WEEK đã đăng bài giới thiệu với độc giả một vườn bách thú nổi tiếng tên là Nai Hăng Tinh (Night Hunting)- “Cuộc săn đêm”. Đây là một vườn bách thú duy nhất trên thế giới mở cửa vào mỗi buổi tối từ 19g30 đến 24g00. Vườn tọa lạc trên một khu đất rộng khoảng 40 mẫu tây. Vườn bách thú này hiện có trên 1000 con thú thuộc 100 chủng loại khác nhau,. Chúng đến từ khắp các quốc gia trên thế giới. Trong số này có khoảng 40 con thuộc lọai thú quý hiếm. Mỗi đêm có khỏang 3000 du khách đến tham quan cảnh sống của các thú vật về đêm. Dưới ánh sáng mờ ảo, thú vật xem ra đang chìm đắm trong giấc ngủ thư thái và bình an.

Tuy nhiên ông giám đốc vườn bách thú lại cho biết suy nghĩ của ông như sau: “Một trong những điều đáng lo ngại của chúng tôi là hành động nghịch phá của một số du khách. Chẳng hạn: Một số người thì đập mạnh vào chuồng của thú dữ, số khác thì la lối om sòm phá tan sự thinh lặng cần cho việc thưởng lãm vẻ đẹp tự nhiên”. Và tờ báo bình luận bằng một câu đáng cho chúng ta suy nghĩ, và cũng phù hợp với tâm tình người tín hữu phải có trong Tuần Thánh này: “Bóng đêm làm cho nhiều loài thú hoang thiếp ngủ, nhưng lại làm cho thú tính trong lòng một số người thức dậy !”.

3. SUY NIỆM:

1) Ý nghĩa của Lễ Lá: Phụng vụ Lễ Lá gợi lên cho chúng ta ba ý nghĩa như sau.

-Một là “Giờ đã đến”: Lễ Lá tưởng niệm cuộc khải hòan của Đức Giê-su vào thành Giê-ru-sa-lem trước khi chịu khổ nạn, là dấu chỉ “giờ” đã đến: Đức Giê-su biết mình phải làm gì và đã chấp nhận đi con đường Chúa Cha đã định là “qua đau khổ thập giá để vào vinh quang phục sinh”, như hạt lúa mì rơi xuống đất có chết đi mới sinh nhiều bông hạt.

-Hai là tôn vinh Vua hòa bình. Ðây là lần đầu tiên Đức Giê-su để cho dân chúng tung hô Người: "Chúc tụng Ðấng nhân danh Chúa mà đến. Hoan hô trên các tầng trời". Người ngồi trên lừa khải hòan vào thành Giê-ru-sa-lem. Cũng vì việc này mà sau đó Người đã bị xét xử và bị kết án tử hình thập giá. Bản án của Người được viết bằng ba thứ tiếng: Do thái, La tinh và Hy lạp như sau: "Giê-su Na-da-rét Vua dân Do Thái". khai mào một vương quốc của sự thật và sự sống, vương quốc của yêu thương và an bình như Người đã nói với Phi-la-tô: "Tôi sinh ra và đến trong thế gian này là để làm chứng cho sự thật. Ai tôn trọng sự thật thì nghe tiếng tôi".

-Ba là suy niệm về cuộc khổ nạn của Đức Giê-su: Qua bài Thương Khó, Hội Thánh nhắc nhở các tín hữu hãy liên kết sự đau khổ gặp phải trong cuộc sống hằng ngày với sự đau khổ của Đức Giê-su trên cây thập giá. Khi chấp nhận chịu đựng các điều trái ý gặp phải hằng ngày là chúng ta cùng chia sẻ gánh nặng của Đức Giê-su. Từ nay đau khổ và sự chết không làm cho con gười thất vọng, nhưng là đường dẫn đưa vào trong vinh quang phục sinh.

2) Chúng ta phải làm gì?:

-Kết hiệp với cuộc tử nạn của Đức Giê-su: Chấp nhận đi theo Đức Giê-su trên đường thánh giá là chúng ta sẵn sàng đón nhận mọi nỗi đau khổ do bệnh tật cũng như các tai nạn và những điều trái ý gặp phải trong cuộc sống hằng ngày, liên kết với sự đau khổ của Đức Giê-su trong cuộc khổ nạn. Hãy năng cầu nguyện với Chúa Cha noi gương Chúa Giê-su trong vườn Cây Dầu: "Lạy Cha, nếu có thể được, xin cất chén đắng này xa Con, nhưng xin đừng theo ý Con một theo ý Cha mà thôi".

-Tỉnh thức và cầu nguyện luôn: Chúa Giê-su đã kêu gọi các môn đệ “Phải tỉnh thức và cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ! Vì tinh thần thì mau lẹ, nhưng xác thịt lại yếu hèn !” Tỉnh thức và cầu nguyện đồng nghĩa với bước đi trong ánh sáng của Chúa Giê-su là Mặt Trời Công Chính. Ánh sáng đó chính là Lời Chúa. Chỉ có Chúa Giê-su mới “là con đường, là sự thật và là sự sống”. Bước đi trong ánh sáng của Người, vâng nghe Lời Người, chắc chắn chúng ta sẽ không bị lạc lối, sẽ chiến thắng được các cơn cám dỗ của ma quỷ và sẽ đạt tới quê trời hạnh phúc muôn đời.

-Quyết tâm sống tình yêu thương cụ thể: bằng việc giúp đỡ một người đang gặp khó khăn hoặc người đang đau khổ tinh thần lấy lại niềm vui và hy vọng. Tập nhìn những người đau khổ bệnh tật không được chăm sóc như Chúa Giê-su bị bỏ rơi trên cây thập gía, và nhiệt tình phục vụ họ như phục vụ chính Chúa Giê-su, để sau này được Người ban thưởng hạnh phúc Nước Trời (x Mt 25,40).

4. THẢO LUẬN: Trong những ngày mùa Chay này, mỗi người chúng ta nên làm những việc cụ thể nào để xua trừ bóng tối tội lỗi ra khỏi con người của chúng ta?

5. NGUYỆN CẦU

LẠY CHÚA GIÊ-SU,

Vì Chúa đã lập phép Thánh Thể để làm của ăn nuôi dưỡng chúng con, xin cho những người nghèo luôn có cơm ăn áo mặc hằng ngày.
Vì Chúa đã xao xuyến trong vườn cây Dầu, xin cho chúng con đủ sức đương đầu với những khó khăn gặp phải trong cuộc sống.
Vì Chúa đã bị kết án bất công, xin cho chúng con biết can đảm bênh vực công lý.
Vì Chúa đã bị xỉ nhục và nhạo báng, xin cho các người bé mọn được tôn trọng nhân phẩm.
Vì Chúa đã chịu vác thập giá nặng nề, xin cho những ai đang đau khổ trên giường bệnh, nhận được sự nâng đỡ ủi an.
Vì Chúa đã bị lột áo và bị đóng đinh vào thập giá, xin cho sự hiền hòa nhân ái luôn chiến thắng bạo lực hung tàn.
Vì Chúa đã giang tay chịu chết trên thập giá, xin cho các đôi vợ chồng đang xa lìa được nối lại tình yêu ban đầu.
Vì Chúa đã phục sinh trong niềm vui hân hoan, xin cho chúng con biết vui vẻ đón nhận mọi sự khó xảy đến và phó thác cậy trông vào tình thương quan phòng của Chúa.
 
----------------------------

 

Lễlá-370: Suy Niệm CHÚA NHẬT LỄ LÁ NĂM C

 

Cuộc thương khó của Đức Giêsu Kitô do bốn tác giả Tin mừng tường thuật lại. Ngày thứ Sáu Lễlá-370


Cuộc thương khó của Đức Giêsu Kitô do bốn tác giả Tin mừng tường thuật lại. Ngày thứ Sáu tuần thánh, Giáo hội cho chúng ta đọc Tin mừng của Thánh Gioan. Chúa nhật lễ lá, đọc Tin mừng Nhất Lãm theo chu kỳ A,B,C.

Chúng ta vừa nghe bài thương khó của Thánh Luca. Mỗi lần nghe lại bài thương khó, chúng ta cảm nghiệm được tình yêu vô bờ bến của Đức Giêsu Kitô, đồng thời chúng ta thấy ẩn hiện thái độ của chúng ta nơi những nhân vật mà các thánh ký kể lại.

 Thật vậy, mục đích xuống thế làm người của Đức  Giêsu Kitô là để cứu độ thế gian. Trong Kinh Tin Kính chúng ta tuyên xưng: “Vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta, Người đã từ trời xuống thế”. Đọc Tin mừng chúng ta thấy, Chúa Giêsu luôn biết trước mọi biến cố xảy ra trong cuộc đời của Ngài. Chính Ngài đã nói với hai môn đệ chuẩn bị những gì sắp diễn ra như Tin mừng Thánh Luca vừa kể lại(x. Lc 19, 28-40). Ít nhất, ba lần Ngài báo trước về cuộc khổ nạn của mình: “Con Người phải chịu đau khổ nhiều”. Nhưng Ngài tự nguyện bước vào cuộc khổ nạn ấy, chính là để làm trọn thánh ý Chúa Cha: "Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cất chén này xa con. Tuy vậy, xin đừng làm theo ý con, mà làm theo ý Cha"(Lc 22, 42). Mặc dầu bị nộp, bị đánh đạp, bị tra tấn, nhưng suốt hành trình cuộc khổ nạn, chúng ta vẫn thấy Ngài xử lý những biến cố xảy ra xung quanh Ngài một cách hết sức bình thản. Biết Giuđa phản bội, Ngài nhắc khéo rằng:“Kẻ nộp Ta đang ở gần Ta, ngay trên bàn này”(Lc 22,21). Khi Giuđa dẫn một toán quân đến bắt Ngài, Ngài nói: "Giu-đa ơi, anh dùng cái hôn mà nộp Con Người sao?”(Lc 22,48). Ngài nhắc cho Phêrô: "Simon, Simon, này ma quỷ đã đòi sàng các con như sàng gạo, nhưng Ta đã cầu nguyện để con khỏi mất đức tin. Và phần con, khi đã trở lại, con hãy làm cho anh em con vững tin"(Lc 22,31-32). Ngài còn báo trước cho Phêrô biết, ông sẽ chối Thầy(x. Lc 22,34). Đúng như lời tiên báo, Phêrô đã chối Thầy ba lần trước một cô gái, nhưng Ngài vẫn nhìn Phêrô với ánh mắt yêu thương, thông cảm và tha thứ. Khi thấy các môn đệ ngủ mê, Ngài nhắc nhở họ:“Hãy dậy và cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ”(Lc 22,40). Ngài vẫn bình tĩnh chữa cho tên đầy tớ bị Phêrô chém đứt tai (x. Lc 22,51). Trên đường đi lên núi Sọ, vai vác thập giá, thân thể nát tan, mình lấm đầy máu do bị đánh đập nhiều, nhưng Ngài vẫn dừng lại để yên ủi các phụ nữ Giêruzalem. Trên núi Sọ, trước khi trút hơi thở cuối cùng, Ngài đã tha thứ cho kẻ trộm lành, đồng thời xin Chúa Cha tha thứ cho những kẻ làm hại mình (x. Lc 23,34). Tất cả những lời nói, cử chỉ và hành động của Chúa Giêsu trong cuộc khổ nạn cho chúng ta thấy thái độ của một vị Thiên Chúa đầy tình yêu thương nhân loại.

 Đức Giêsu yêu thương nhân loại hết mức. Nhưng qua mọi thời đại, nơi con người vẫn còn đó những thái độ từ chối lòng tốt của Người, giống như thái độ của đa số các nhân vật trong bài thương khó mà các thánh ký kể lại. Đó cũng là thái độ của mỗi chúng ta hôm nay.

 Thật vậy, các môn đệ là những người được Chúa Giêsu yêu thương gọi, chọn, huấn luyện để tiếp tục sứ mạng của Ngài. Nhưng trước cuộc khổ nạn, không còn có vị nào giữ trọn sự trung thành với Thầy mình. Giuđa đã phản bội, bán thầy với giá ba mươi đồng bạc. Khi dẫn một toán quân đến bắt Thầy, để che đậy tội ác của mình, ông đã dã tâm ôm hôn Thầy. Còn Phêrô, vị tông đồ trưởng, nhanh nhẹn, hoạt bát, luôn đại diện cho nhóm Mười Hai để trả lời các câu hỏi mà Thầy đưa ra. Ông đã thề thốt:“Sẵn sàng theo Thầy, dù vào tù hay đi chịu chết”(Lc 22,33). Thế mà, khi Thầy bị quân lính bắt, ông chỉ đứng xa xa nhìn Thầy. Chỉ một cô gái hỏi về mối liên quan giữa ông với Thầy Giêsu, Phêrô đã chối phăng là “Tôi không biết người ấy là ai”, không những một lần mà là ba lần (x. Lc 22, 54-62). Khi Thầy bị bắt, hầu hết các môn đệ khác đều chạy trốn. Dưới chân thập giá, chỉ còn lại Thánh Gioan và Mẹ Người.

 Ngày hôm nay, khi đọc lại bài thương khó, nhiều người vẫn trách các môn đệ, đám đông, Philatô, Hêrôđê…Nhưng nếu xét mình lại, chúng ta vẫn thấy mình nơi Giuđa, khi chúng ta đặt tiền bạc, quyền lợi bản thân lên trên Chúa. Chúng ta thấy mình nơi Phêrô, khi chúng ta chỉ theo Chúa, gắn bó với Chúa lúc vui, lúc bình yên. Nhưng, chúng ta lại đứng xa xa, thậm chí bỏ Chúa, chối Chúa khi gặp thử thách gian nan.

Chúng ta thấy mình nơi thái độ của đám đông, khi chúng ta sống theo chủ nghĩa cơ hội. Thấy Chúa làm phép lạ hoá bánh ra nhiều, thì tôn Chúa lên làm vua. Thấy Chúa cỡi trên lưng lừa tiến vào thành Giêrusalem uy nghi, thì cỡi áo, bẻ lá trải lót đường để Chúa đi. Và lớn tiếng rằng: “Hoan hô con vua Đavít”, “Vạn tuế Đấng nhân danh Chúa mà đến”(x. Lc 18,38). Nhưng khi Chúa bị điệu đến trước Philatô thì sẵn sàng đồng thanh hô lớn tiếng tha cho Baraba và giết Đức Giêsu: “Đóng đinh nó đi, đóng đinh nó vào thập giá”(Lc 23, 21).

 Chúng ta thấy mình nơi thái độ của Philatô, khi chúng ta sợ mất chức quyền danh vọng, nên bỏ mặc cho người vô tội phải chết. Chúng ta thấy mình nơi Hêrôđê, khi chúng ta thất vọng vì không gặp được một Đức Kitô theo ý mình.

 Xin cho chúng ta có được tấm lòng thống hối của Phêrô và của người trộm lành. Xin cho chúng ta biết chịu mọi sự khó bằng lòng như ông Simon vác thánh giá đỡ Đức Giêsu. Xin cho chúng ta có tấm lòng bình thản như Chúa Giêsu để vâng theo thánh ý Chúa Cha, chấp nhận mọi biến cố xảy ra trong cuộc đời một cách vui vẻ.

 Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã chấp nhận bước vào cuộc khổ nạn để cứu độ nhân loại chúng con. Xin cho mỗi chúng con luôn biết noi gương Chúa, đón nhận đau khổ trong cuộc đời để cứu độ chúng con và làm sáng danh Chúa. Amen.

 Lm. Anthony Trung Thành
 
----------------------------

 

Lễlá-371: Người yêu thương đến cùng

 

Ác tâm đã đổ dồn vào Chúa Giêsu càng ngày càng lan rộng và trở nên bạo lực mù quáng. Trước hết Lễlá-371


Ác tâm đã đổ dồn vào Chúa Giêsu càng ngày càng lan rộng và trở nên bạo lực mù quáng. Trước hết là cơn giận ghét của các bậc kỳ lão trong dân thuộc phái Pharisieu và phái Saduceo. Và sau đó cơn giận dữ đó càng mạnh lên khi đám đông dân chúng gào thét lên bằng một tiếng kêu lớn trước tòa án Philato: “Đóng đanh nó đi! Đóng đanh nó đi!”.

Chúa Giêsu bị tố cáo về 2 vụ kiện khác nhau:

- Vụ kiện về tôn giáo trước mặt các bậc kỳ lão và các thượng tế.

- Vụ kiện về chính trị trước mặt tổng trấn Philato thay mặt hoàng đế Roma.

Qua 2 vụ kiện này, Chúa Giêsu mặc khải căn tính đích thực của Người cho chúng ta.

Chúa Giêsu, bậc thầy của những lời lẽ đáp trả, không bao giờ đánh mất một luận chứng nào trước đối phương. Ngài chỉ nói tóm gọn có 3 lần suốt cả 2 vụ kiện này. Đôi lúc Ngài im lặng trước những câu hỏi mà họ đặt ra cho Ngài:

- Trước mặt Thầy cả thượng phẩm, Người khẳng định Người là Đấng Mesia, là Con Thiên Chúa.

- Trước mặt Philato, Người xác nhận Người là vua dân Dothái, nhưng không như các vua ở trần gian này.

- Trên thập giá, Người lặp lại tiếng kêu than của Isaia, tôi tớ đau khổ: “Lạy Chúa tôi, lạy Chúa tôi, sao Chúa bỏ tôi”?

Thánh Marco mô tả những yếu tố nhân loại xúc động nhất mà Chúa Giêsu phải chịu trong cuộc khổ nạn.

- Tại vườn Cây Dầu: “Chúa buồn đến chết đươc”, Ngài bắt đầu cảm thấy kinh hoàng và khiếp sợ, Ngài cầu xin Cha cho khỏi uống chén đắng này. Ngài không tìm được ai an ủi  (có 3 người bạn thân tín nhất thì lại đang ngủ). Ngài đã bị trao nộp, bị ghét bỏ và các môn đệ đều bỏ trốn. Ngài bị đánh đập tàn nhẫn.

- Trên đồi Canve. Ngài đã phải chịu đau khổ vì bị đóng đinh đã đành, người ta còn buông ra những lời chửi rủa lăng nhục Ngài. Có mấy phụ nữ đạo đức của Ngài chỉ dám quan sát từ xa. Cuối cùng, Ngài cảm giác rằng chính Thiên Chúa đã bỏ rơi Ngài.

Chúng ta có thể nói được rằng: Tất cả những đau khổ, nước mắt, nỗi lo sợ kinh hoàng của đời sống, hình như đang bóp nghẹt thế giới chúng ta, đang đặt ra trước mặt Ngài. Thiên Chúa bình đẳng với chúng ta và Ngài cũng chịu đựng tất cả.

Các bài đọc của Chủ nhật hôm nay giới thiệu cho chúng ta 2 cuộc rước;

Cuộc rước thứ nhất, rước Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem với lòng nhiệt huyết tung hô: “Hoan hô con vua Đavit”. Và cuộc rước thứ hai, dẫn Chúa ra khỏi thành, lên án tử hình Chúa trên cây thập giá.

Trong phần phụng vụ làm phép lá và rước lá, Chúa được tung hô là “Con Vua Đavit, Đấng nhân danh Thiên Chúa mà đến”. Trong cuộc rước khổ nạn, dân chúng đả đảo Chúa và trút cơn giận lên Chúa: kết án tử hình Chúa  trên thập giá: “Đóng đinh nó đi! Đóng đinh nó đi”

Cuộc rước thứ nhất, dân chúng trải áo ra đường đón Chúa. Nhưng trong cuộc rước khổ nạn, họ lột áo Chúa và mặc cho Chúa những vết thương tích, những lời nhạo cười và chửi rủa.

Đó là lời đáp trả có tính hai mặt người ta dành cho Thiên Chúa trải qua dòng lịch sử. Thỉnh thoảng, chúng ta cũng có thái độ như vậy đó! Có lúc chúng ta mời Thiên Chúa vào nhà chúng ta, nhưng cũng có khi chúng ta lại đuổi Ngài ra khỏi đời sống chúng ta.

Theo Thánh Marco, ý nghĩa đích thực của Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa được mặc khải rõ nét trên thập giá. Tâm tình của đại úy Roma được phát ra nơi miệng ông: “Thật, người này là Con Thiên Chúa”. Đúng thật là thế!

Trong suốt cuộc đời công khai của Chúa Giêsu, Chúa đều yêu cầu người ta giữ im lặng về căn tính của Ngài, vì người ta chỉ có thể hiểu rõ Thiên Chúa khi ngắm nhìn Thập giá: Ngài là Con Thiên Chúa, Ngài là vua, Ngài là tất cả tình yêu, Ngài là tình yêu tuyệt đối, Ngài đã chết vì nhân loại. Ngài là vị vua phục vụ không vụ lợi, không toan tính: “Ngài đến để phục vụ chứ không phải để được phục vụ”.

Đó là cách thế mà Chúa Giêsu trao ban sự sống của Ngài cho chúng ta. Ngài đi đến cùng của tình yêu, đi đến cái chết trên thập giá để chứng tỏ Ngài là Con Thiên Chúa. Tất cả quyền lực của Ngài chính là  tình yêu Thập giá: “Ngài đã yêu thương những kẻ thuộc về Ngài còn ở trần gian, và Ngài đã yêu thương họ đến cùng”

Lm. Gioan Đặng Văn Nghĩa

 ----------------------------

 

Lễlá-372: NHỮNG ĐỔI THAY ĐẾN NGỠ NGÀNG


(Is 50, 4-7; Pl 2, 6-11; Mc 14,1 – 15,47)

 

Sau 40 ngày Mùa Chay, hôm nay, cùng với Giáo Hội, chúng ta bước vào Tuần Thánh là tuần Lễlá-372


Sau 40 ngày Mùa Chay, hôm nay, cùng với Giáo Hội, chúng ta bước vào Tuần Thánh là tuần cao điểm của năm Phụng Vụ, bởi vì đây là tuần cả Giáo Hội sống lại mầu nhiệm thương khó, tử nạn và phục sinh của Đức Giêsu cách đặc biệt.

Tin Mừng hôm nay trình thuật cuộc thương khó của Đức Giêsu, khởi đi từ việc Ngài tiến vào thành Giêrusalem giữa tiếng hoan hô vang lừng của dân chúng.

Tuy nhiên, sự tung hô, tôn vinh ấy chẳng được bao lâu, thì Ngài đã phải chết. Nguyên nhân chính dẫn đến sự kiện đau lòng này chính là những sự đổi thay của lòng người!

1. Những đổi thay của lòng người

Ca dao Việt Nam có câu: “Dò sông, dò biển dễ dò. Lòng người nham hiểm ai đo cho cùng!”. Chính vì lòng dạ con người như thế, nên người xưa, nhất là những người quân tử thường hay dùng người: cho ở xa để đem lòng trung, cho ở gần để đem lòng kính, sai làm nhiều việc để xem cái tài, hỏi lúc vội vàng để xem cái trí, hẹn cho ngặt ngày để xem có tín, ủy cho tiền của để xem có nhân, giao cho việc nguy biến để xem có tiết, cho đánh chén say sưa để xem cử chỉ, cho ở chỗ phiền tạp để xem thần sắc. Xem người đại khái như vậy, thì họa mới có thể biết được người!

Đức Giêsu cũng đã biết rõ lòng dạ con người nham hiểm, khó lường…, nên Ngài đã tìm mọi cách với hy vọng những gì mắt thấy, tai nghe, sẽ làm cho người môn đệ cũng như mọi người hướng thiện và sống tốt. Nhưng ai ngờ, do những tác động ngoại cảnh làm cho lòng người đổi thay theo, vì thế, cuộc thương khó của Đức Giêsu ngày càng leo thang!

Người đổi thay đầu tiên được kể đến, chính là Giuđa. Ông là người Đức Giêsu yêu thương và tuyển chọn. Ngài cũng đã dạy dỗ ông nhiều điều, nhất là những bài học về từ bỏ, thanh thoát. Hơn nữa, còn tín nhiệm và trao cho ông chức vụ quản lý của Nhóm Mười Hai.

Tuy nhiên, thay vì coi đồng tiền là tôi tớ, là phương tiện, thì đằng này, ông đã coi nó là ông chủ, là mục đích. Vì thế, chính đồng tiền đã đè bẹp ông, khiến lòng dạ ông đổi thay. Chỉ với 30 đồng bạc, ông đã chấp nhận đánh đổi vị trí của mình: từ chỗ là môn đệ, thành kẻ phản bội khi bán Thầy của mình bằng cái hôn giả tạo và với giá rẻ mạt. Ôi một sự đổi thay đến đau điếng!

Thứ đến là sự thay đổi của Tông đồ trưởng Phêrô. Đức Giêsu rất thương Phêrô, bởi lẽ ông là một con người bộc trực, nhưng thẳng thắn, chân thành. Điều này lý giải cho việc tại sao Ngài thường đem ông và hai môn đệ khác đi riêng với mình để mặc khải cho ông những sự kiện quan trọng.

Khi ưu ái ông cách đặc biệt như vậy, ấy là vì Ngài muốn ông mục kích tận mắt và thấy tỏ tường quy luật: “Qua đau khổ mới tới vinh quang”. Hơn nữa, khi đưa ông vào trong mối tương quan thân tình với Ngài như vậy, đó là để có dịp tập cho ông những đức tính cần có của người lãnh đạo.

Tuy nhiên, sự hèn nhát, sợ hãi, đã làm tê liệt ngọn lửa mến nơi ông. Sự trung thành đã không còn nữa. Ông đã sẵn sàng chối Thầy của mình trước toán lính quèn đang sưởi khi chúng gặng hỏi thân thế và mối liên hệ giữa ông với Đức Giêsu. Ôi lại một sự đổi thay khó hiểu!!!

Tiếp theo là sự đổi thay của đám đông. Đám đông này là những người thụ ơn Đức Giêsu. Họ là những người đã được Ngài chữa bệnh, trừ quỷ, dạy dỗ, cho ăn no nê…. Vì thế, khi nghe tin Đức Giêsu vào thành, họ đã tuôn đến như thác lũ và vang tiếng tung hô dạy cả một vùng trời! “Hoan hô Con Vua Đavít, chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến”.

Tuy nhiên, sẵn trong lòng sự hưởng thụ, nên họ đã vẽ lên trong tâm tưởng một Đức Giêsu theo ý của họ: Ngài phải là vua thống trị và giải thoát bằng quyền uy cũng như đem lại cho họ sự giàu có vượt trội! Nhưng khi Đức Giêsu không đáp ứng điều họ mong muốn, thế là đám dân này đã đi vào vết xe đổ vô ơn của tổ tiên họ nơi sa mạc khi xưa. Vì thế, họ đã coi Ngài như một kẻ xa lạ, là tội đồ của dân tộc, và, họ đã không ngần ngại đả đảo Ngài tới cùng “Đem đi! Đóng đinh nó vào thập giá”. Ôi một sự đổi thay đến xót xa!

Cuối cùng là sự đổi thay của quan tổng trấn Philatô. Ông là một vị quan toàn quyền Rôma thời bấy giờ. Lẽ ra, ông phải là người cầm cân nảy mực, bênh vực người nghèo và bảo vệ công lý.

Thế nhưng, trước sức ép của đám đông, trước sự tấn công của các Thượng tế, Biệt phái…, ông đã không nghe theo tiếng Lương Tâm mách bảo, nhưng đã trở thành kẻ đê hèn đến độ thuận theo cái ác để trù dập, loại trừ sự thiện và chấp nhận để “Lẽ phải thuộc về kẻ mạnh”. Ôi một sự đổi thay đầy nhục nhã!

Như vậy, qua các cuộc đổi thay của lòng người, ta nhận thấy một mẫu số chung, đó là:

“Chút lợi danh, tính toan mưu kế
Mà lãng quên chữ nghĩa, chữ nhân”.

Và:

“Vẫn chạy theo sa hoa, hào nhoáng.
Người sang kết bạn, kẻ khó quay lưng”.

2. Những đổi thay của chính chúng ta

Đọc và lắng nghe bài thương khó của Đức Giêsu hôm nay, nhiều người chúng ta không khỏi bức xúc trước thái độ đổi thay của lòng người thời Đức Giêsu!

Tuy nhiên, trải qua suốt dọc dài lịch sử nhân loại, những thái độ đó lại nhan nhản nơi xã hội hôm nay!

Nhưng điều đáng nói hơn cả, đó là những thái độ ấy lại đang hiển hiện lên thật rõ nét ngay nơi mỗi người chúng ta.

Thật vậy, nhiều khi chính tôi chứ không ai khác! Hình ảnh một Giuđa ham tiền, hám bạc, phản bội lại hiện lên trong tâm hồn tôi khi tôi vẫn còn ham hố và bất chấp, để sẵn sàng chạy đua trên cuộc đua kiếm tiền bằng mọi cách. Vì thế, nhiều lúc tôi đã “đánh lận con đen” để ngụy biện cho hành vi đen tối của mình.

Nhiều khi chính tôi chứ không ai khác! Một Phêrô thời hiện đại với đầy đủ sự hèn nhát, ham sống, sợ chết, đang ẩn hiện trong con người tôi khi tôi không dám can đảm tuyên xưng niềm tin nơi môi trường sống của mình. Tôi cũng đã thất trung với Chúa khi không trung tín giữ giao ước với Ngài.

Nhiều khi chính tôi chứ không phải ai khác! Khi hình ảnh và lựa chọn của đám đông xưa kia cũng chính là lựa chọn của tôi hôm nay. Thật vậy, đã biết bao lần, tôi theo và tin Chúa chỉ vì cái bụng, nên: “Khi vui thì vỗ tay vào, gian nan hoạn nạn thì lìa nhau ra”.

Đã có lúc, tôi tạo ra một vị Thiên Chúa theo ý mình, để rồi yêu cầu Ngài phải đáp ứng đúng như yêu sách mà tôi đã đặt ra! Khi không đạt được, tôi đã sẵn sàng bỏ Chúa để đi tìm đến với một vị thần nào đó…! Những lúc như thế, tôi thuộc hạng người “ba phải”.

Nhiều khi chính tôi chứ không phải ai khác! Khi hình ảnh và thái độ hèn nhát của quan Philatô đang ẩn hiện trong con người tôi, khi tôi sợ không dám bảo vệ cho sự thật, công lý. Không dám đứng về phía người nghèo để bênh vực họ. Nhiều khi tôi đã hùa theo “hiệu ứng đám đông” mà quên đi lẽ công bằng, tình yêu thương, bác ái với anh chị em. Có những lúc tôi đã nhắm mắt để nói “có” thành “không” và nói “không” thành “có”, nhằm vu vạ cáo gian cho anh chị em tôi. Những lúc như thế, tôi thật hèn nhát, vì tôi thuộc dạng người “sợ tiếng chửi, ăn mày tiếng khen…”.

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy bước vào Tuần Thánh và đi theo Chúa trên con đường khổ nạn với tâm tình của Mẹ Maria; của người môn đệ Đức Giêsu yêu mến; của các Phụ nữ Giêrusalem; của ông Simong; bà Veronica và  ông Giuse Arimathia….

Lạy Chúa Giêsu, xin Chúa tha thứ tội lỗi cho chúng con và ban ơn giúp sức, để chúng con trung thành đi theo Chúa đến cùng trên đường thương khó, ngõ hầu chúng con cùng chết với Chúa để được cùng Ngài sống lại trong vinh quang. Amen.

Tu sĩ: Jos. Vinc. Ngọc Biển, S.S.P.
 
----------------------------

 

Lễlá-373: ĐƯỜNG TÌNH YÊU


Mc 15, 1 – 39

 

Mùa chay dần khép lại, hôm nay toàn thể Giáo Hội bước vào Tuần Thánh. Trong Tin Mừng hôm Lễlá-373


Mùa chay dần khép lại, hôm nay toàn thể Giáo Hội bước vào Tuần Thánh. Trong Tin Mừng hôm nay, thánh sử Maccô tường thuật “hành trình đau khổ” đầy chông gai của Đức Giêsu, từ khi Người bị bắt cho đến khi tắt thở trên thập giá. Đây là “đường trường đầy đau đớn khổ nhục cho đến chết”, nhưng là ĐƯỜNG TÌNH YÊU, Ngài đã nhẫn nhục chịu đựng trong vâng phục Chúa Cha để cứu độ con người tội lỗi.

Sau khi bị bắt, Người bị lôi hết tòa án này đến tòa án khác, bị tra hỏi, tạt vả. Trước tòa án Philatô, Ngài bị xử bất công, phải xử án chết oan nghiệt thay cho tên cướp Baraba, bởi sóng người hô hào đả đảo cùng các thượng tế nhà đạo. Tên cướp được tha bổng, còn Người vô tội thì phải chịu hành hình. Mấy năm trời bôn ba rao giảng cứu chữa, làm ơn cho đủ mọi hạng người, để đến hôm nay Thầy Giêsu phải tự vác Thập giá tủi nhục đớn đau, rồi bị căng thây đóng đinh vào đó mà treo lên cùng với hai tên trộm cướp.

Chúa nhật Lễ Lá hôm nay mời gọi mỗi người chúng con nhìn lại bản thân mình. Con có thể là một trong số các môn đệ, khi Thầy giảng dạy như một Đấng có uy quyền thì hăng hái theo bước. Khi Thầy bị bắt bớ thì bỏ cuộc trốn chạy, chối từ như chưa bao giờ biết Thầy kẻo bị vạ lây. Con có thể là những người trong đám dân, khi vui thì sẵn sàng trải áo làm đường rước, hết lời tung hô ca ngợi, nhưng lúc khác lại hùa theo số đông mà trở lòng đả đảo chống đối, kết án xấu tha nhân... Nhưng có thể con cũng là một Simon Kyrênê sẵn lòng vác đỡ thập giá cho người khổ đau.

Đức Giêsu cam lòng chịu đựng tất cả vì tình yêu con người và vâng phục Ý Cha cho đến chết trên thập tự, đó là một minh chứng, tận cùng cho một tình yêu, yêu cho đến chết, mà chết cũng chỉ vì yêu. “Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục; và khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người” (Dt 5, 7-9). Bước theo Đức Giêsu trên con đường thập giá là lội ngược dòng đời, vác thập giá theo Chúa không phải dễ, nhưng có Chúa đồng hành và đỡ nâng, chúng con cũng từ thập giá bước vào vinh quang với Chúa.

Ôi Chúa Giêsu của lòng con Chúa ơi! Chiêm ngắm Chúa chịu căng thây trên thập giá, con nhận ra chẳng có tình yêu nào như tình Chúa yêu con. Chúa chết cho con sống muôn đời. Chúa chết vì yêu con. Vì con Chúa quên thân mình, đời con dám mơ gì hơn? Xin cho con tâm hồn chìm lắng trong cái chết của Chúa, để bao tội lỗi, đau khổ của con chìm xuống hòa nhập vào mầu nhiệm Thập giá, để Chúa ôm trọn lấy con trong tình yêu bao dung tha thứ. Xin cho con bước đi theo Chúa từng ngày trên CON ĐƯỜNG TÌNH YÊU. Xin cho con được yêu mãi Người, Giêsu ơi!
Én Nhỏ

 ----------------------------

 

Lễlá-374: ĐÁM ĐÔNG CUỘC ĐỜI


Gm Giuse Vũ Văn Thiên

 

Bài Thương khó được đọc trong phụng vụ Chúa nhật Lễ Lá giống như một vở kịch dài có nhiều Lễlá-374


Bài Thương khó được đọc trong phụng vụ Chúa nhật Lễ Lá giống như một vở kịch dài có nhiều tình tiết, chương đoạn. Đức Giêsu Kitô thành Nagiarét là nhân vật chính của vở kịch này. Khi lắng nghe và suy tư Bài Thương khó, tôi lưu ý đến sự hiện diện của đám đông, là những nhân vật phụ nhưng không kém phần quan trọng để làm nên vở kịch này.

Họ là ai?

Họ là những kinh sư, luật sĩ và biệt phái. Đây là những người học hành uyên thâm. Họ có vị trí ưu tiên trong các buổi hội họp. Họ được công chúng kính trọng và coi là những bậc nhân đức, thánh thiện. Tuy vậy, những người này nhiều lần bị Chúa Giêsu lên án kịch liệt. Người phê phán họ là những kẻ giả hình, giống như những nấm mồ tô vôi, bên ngoài hào nhoáng, nhưng bên trong đầy thối tha. Họ cũng bị lên án vì hay chất lên vai người ta những gánh nặng chính bản thân mình không mang nổi. Họ là những người áp dụng một cách cứng nhắc các khoản luật, thậm chí còn bày đặt thêm những quy định để bắt người ta tuân giữ. Trong đám đông này, vị Thượng tế là người đứng đầu trong dân của Do Thái giáo. Nhưng vị thượng tế cũng đã lạm dụng chức năng cầm cân nảy mực trong vụ lên án Chúa Giêsu, người đang bị vu khống cách bất công.

Chủ tọa phiên tòa là Philatô, quan tổng trấn. Ông là đại diện của đế quốc Rôma. Ông cũng là người đại diện của luật pháp, có quyền tha bổng và có quyền kết án một con người, như chính ông đã nói với Chúa Giêsu. (x. Ga, 19-10). Vậy mà trước sức ép của đám đông, ông đã không can đảm bênh vực người vô tội. Philatô đại diện cho những người cầm quyền nhưng hèn nhát và nhụt bước trước bạo quyền. “Lẽ phải thuộc về kẻ mạnh” là như thế đó.

Tôi còn thấy những người dân thành Giêrusalem. Trong số này, có những kẻ xu thời, “khi vui thì vỗ tay vào, đến khi hoạn nạn thì nào thấy ai”. Lúc Chúa Giêsu vinh quang tiến vào thành thánh, họ vui mừng vỗ tay ủng hộ, vì coi Người như Đavít tái giáng để lật đổ quyền thống trị của Rôma. Thế nhưng, trước tòa Philatô, họ lại giơ cao những cánh tay để xin tha cho Baraba, lên án tử hình cho Chúa.

Tôi thấy những môn đệ của Thày Giêsu. Họ vui mừng lúc cùng Chúa bước vào thành thánh, nhưng đó lại sợ hãi hoang mang và bỏ chạy thoát thân. Thế mới biết “khi hoạn nạn mới biết ai là bạn thật”. Trong số họ, có người can đảm như Phêrô, mạnh mẽ kiên quyết là thế, mà lại chịu đầu hàng trước câu nói vu vơ của một cô hầu. Sau này, lúc Chúa chịu đóng đinh, ông và vài môn đệ chỉ đứng xa xa, không dám đến gần (x. Ga 23,49).

Tôi còn thấy những người phụ nữ và trẻ em trong đám đông này. Họ là những người dân thành Giêsusalem thương cảm trước một người bị đem đi giết. Có lẽ họ chẳng có dịp được nghe những lời tố cáo của các kỳ mục Do Thái. Họ cũng không cần biết người này có tội hay không. Trước mắt họ là một con người bầm dập, tàn tạ và bị bạo hành dã man. Một người phụ nữ trong họ, Bà Vêrônica, đã mạnh dạn len qua giữa đám đông để lau mặt Chúa. Thế rồi, cũng có một người đàn ông nông dân, đi làm đồng về, bị quân lính bắt vác đỡ thập giá cho Chúa Giêsu. Đây là những người chân chất, thật thà và ngay thẳng. Họ chẳng cần triết lý cao siêu. Họ chỉ hành động theo lời mách bảo của trái tim và lòng nhân hậu.

Trong số đám đông hỗn tạp ấy, Chúa Giêsu vác thập giá bước đi. Trước những lời phỉ nhổ chế nhạo, Người vẫn âm thầm, thinh lặng, như con chiên bị đem đi giết. Đây là lúc Chúa thực hiện điều chính Người đã giáo huấn: “Anh em hãy tha thứ cho kẻ thù!”; Hãy học cùng tôi vì tôi hiền lành và khiêm nhường trong lòng”; “Ai theo tôi, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo”. Trước đám người đang thương cảm, Chúa an ủi họ và nhắc bảo hãy nghĩ đến cuộc đời của chính họ.

Và, may thay, trong đám đông này, vẫn có những tâm hồn cao thượng và trung thành. Họ là Nicôđêmô, trước đây chỉ âm thầm thiện cảm với Chúa, nhưng sau cái chết của Chúa, ông đã công khai nhận mình là môn đệ. Họ là Giuse Arimathia, là những người phụ nữ từ trước đi theo và giúp đỡ Chúa. Trong đám đông, còn có những người vì miếng cơm manh áo phải cộng tác trong việc giết Chúa, nhưng chứng kiến cái chết của Chúa, họ đã giác ngộ và nhận ra Người là Con Thiên Chúa (x. Mt 27,54). Họ còn là Maria Mađalêna, một nữ môn đệ trung thành với Chúa. Bà là người đầu tiên được gặp Chúa phục sinh.

Đã hai ngàn năm, đám đông trong ngày Đức Giêsu chịu khổ nạn vẫn còn đó. Đó chính là đám-đông-cuộc-đời. Trong đám đông hỗn loạn ấy, tôi thấy chính tôi. Có những lúc tôi nhát đảm như Philatô, không dám bênh vực người vô tội. Có những lúc tôi hừng hực căm thù, như những kỳ mục Do Thái. Lòng ghen ghét đã làm mờ lương tâm của họ, cố tình nói “có” thành “không”. Có những lúc tôi giống như những người “ba phải” ở Giêrusalem, lúc vui thì ủng hộ, lúc trái ý thì chống đối. Có lúc tôi không dám nhận mình là môn đệ của Chúa, như Phêrô đã chối thầy mình. Tôi tìm thấy tôi trong đám đông cuộc đời này. Tuy vậy, tôi không thất vọng, vì Chúa đã đưa mắt bao dung nhìn Phêrô ngay khi ông vừa chối Chúa, Chúa cũng đưa mắt nhìn tôi như thay lời muốn nói: “Ta tha tội cho con, vì Ta yêu con từ ngàn đời”. Lời nói của Chúa giúp lau khô dòng lệ sám hối và ban cho tôi niềm vui khôn tả của sự tha thứ. Tuy vậy, tôi phải luôn thận trọng và tỉnh thức, vì trong đám đông cuộc đời, giữa tiếng hò la, nhiều khi tôi để mình bị  đám đông lôi kéo. Đây là một hiện tượng xã hội mang tên “tâm lý đám đông”, có nghĩa là một hành động xấu, nhưng xung quanh tôi người ta đều làm thế cả, bỗng dưng trở thành một hành động bình thường được mọi người chấp nhận. Đám đông là môi trường làm tôi dễ “đánh lận con đen”, là nơi “vàng thau lẫn lộn”. Đám đông cuộc đời vừa là cơ hội giúp tôi học hỏi, vừa là nguy cơ làm tôi đánh mất chính mình.

Ngày hôm nay, Chúa Giêsu vẫn đang vác thập giá trong lòng cuộc đời. Gương mặt tàn tạ của Người đang tái hiện nơi những người già cô đơn, nơi những người phong cùi, những người nghèo khó bất hạnh cần sự nâng đỡ. Chúa đang mời gọi tôi lau mặt cho Chúa hoặc vác đỡ thập giá cho Người nơi những anh chị em đó. Cây thập giá rất đẹp khi tôi đeo như đồ trang sức, nhưng rất nặng nề khi chấp nhận dấn thân để  nên giống Đấng đã chịu chết trên thập giá vì tôi.

Đã hai ngàn năm, vẫn còn đó những kẻ lên án, vẫn còn đó những kẻ sợ sệt, vẫn còn đó những người đe dọa đóng đinh Chúa và còn tuyên bố Chúa đã chết lâu rồi. Ánh sáng và bóng tối vẫn giao tranh quyết liệt. Sự sống và sự chết vẫn chiến đấu không ngừng. Tin Chúa Giêsu là can đảm đứng về phía ánh sáng và sự sống, nhờ đó, chắc chắn tôi sẽ tìm được niềm vui và an bình.

 ----------------------------

 

Lễlá-375: CHÚA NHẬT LỄ LÁ


Lm. Giuse Dương Hữu Tình

 

Sau bốn mươi ngày chay thánh, chúng ta cùng cả Giáo hội bước vào tuần thánh. Tuần thánh khai Lễlá-375


Sau bốn mươi ngày chay thánh, chúng ta cùng cả Giáo hội bước vào tuần thánh. Tuần thánh khai mạc bằng Lễ Lá với nghi thức làm phép lá và rước lá. Tuy nhiên, nếu để ý, chúng ta sẽ nhận ra thánh lễ hôm nay gồm hai phần, phần làm phép lá, rước lá và phần thánh lễ. Xét bề ngoài, hai phần này có hai bầu khí khác nhau. Phần làm phép lá và rước lá thì vui tươi, phấn khởi, tưởng niệm Chúa Giêsu vào thành thánh cách trọng thể. Còn phần thánh lễ với bài thương khó dài, bầu khí mang màu sắc tử nạn đau thương. Khi đặt hai sự kiện trong cùng một thánh lễ, Giáo hội đã muốn trình bày cho chúng ta khuôn mặt của một Đấng Mêsia đích thực. Nhưng trước tiên chúng ta hãy trở lại với phần nghi thức đầu tiên, đó là nghi thức làm phép lá và rước lá.

Dầu không tường thuật sự kiện một cách hoành tráng như thánh sử Mát-thêu (21,1-11),  thánh Mác-cô vẫn có thể giúp chúng ta hình dung lại sự kiện này một cách khá đầy đủ: Chúa Giêsu cỡi trên một con lừa con, nhiều người lấy áo choàng trải xuống mặt đường cho Chúa đi, một số khác thì chặt cành chặt lá mà trải xuống đường. “Người đi trước, kẻ theo sau, reo hò vang dậy: “Hoan hô! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa…”. Chúng ta vẫn quen gọi sự kiện Chúa vào thành thánh như vậy là trọng thể. Nhưng có bao giờ chúng ta tự hỏi: Trọng thể ở chỗ nào? Tiến vào thành thánh như vậy mà đáng gọi là trọng thể sao? Một cuộc rước như thế chỉ tổ làm cho mấy anh lính Rôma phì cười. Bởi họ quá quen những cuộc đón rước hoàng đế với không biết bao đoàn kỵ binh hộ tống, dân chúng reo hò tung hô hai bên đường dễ dài đến 30 dặm. Không nói ở Rôma mà ngay tại Giê-ru-sa-lem này, mỗi khi quan Philatô diễu hành ngoài phố, quan ngồi trên một cỗ xe do bốn con ngựa kéo, hai bên là một đoàn kỵ binh 666 lính với đầy đủ khí giới. Đoàn diễu hành đi tới đâu là hò hét vang tới đó.

Như thế ta mới thấy cuộc vào thánh thánh của Chúa không thể so sánh với các cuộc diễu hành của quan chức bấy giờ. Tuy nhiên, một điều lạ lùng mà ta không thể không nhận ra, đây lại là một sự kiện được cả bốn thánh sử ghi lại một cách rất hào hứng. Chứng tỏ các ngài cũng như những người Do-thái khác đã có cái một nhìn rất khác về sự kiện này.

Trước tiên, lịch sử cũng vén mở cho chúng ta hay rằng mỗi khi quan Philatô đi diễu hành trở về, ông đều cảm thấy rất nhục nhã và uất ức, ức đến nổ ruột. Tại sao vậy? Là vì khi đi diễu hành, diễu hành để thị uy, để biểu dương lực lượng, để hù dọa người dân bị áp bức, Philatô đều thấy rõ những người dân này không sợ, lại còn tỏ vẻ coi thường, người thì nhắm mắt không thèm nhìn, kẻ thì quay đi. Dân này xem ra không bao giờ chịu khuất phục người đang đô hộ mình. Vũ lực quân sự không làm cho dân này kinh sợ. Họ không mong đợi ở sức mạnh quân sự mà mong đợi một điều khác, một điều đã được tiên báo và được truyền thống hàng nghìn năm truyền lại. Họ đợi Đấng phải đến, Đấng từ Thiên Chúa mà đến. Bởi thế khi họ thấy Chúa Giêsu xuất hiện trong dịp lễ, vị mà họ đã nghe rất nhiều, ít là đã ba năm nay, họ hy vọng và chờ đợi. Bỗng họ thấy Người cỡi trên một con lừa con mà tiến vào thành thánh, họ giật mình sực nhớ ngay lời tiên báo trong sách tiên tri Da-ca-ri-a: “Nào thiếu nữ Xi-on, hãy vui mừng hoan hỉ! Hỡi thiếu nữ Giê-ru-sa-lem, hãy vui sướng reo hò! Vì kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi:

Người là Đấng Chính Trực, Đấng Toàn Thắng, khiêm tốn ngồi trên lưng lừa, một con lừa con vẫn còn theo mẹ” (Dcr 9,9-10). Lại thêm chi tiết làm họ không còn nghi ngờ gì nữa, Đấng phải đến đang đến, đó chính là nơi Chúa xuất phát để vào thành thánh. Chính nơi này, khoảng một nghìn năm về trước, vua thánh Đa-vít cũng được rước vào thành thánh cách long trọng. Hai dấu hiệu đó làm người Do-thái giật mình nhận ra: thôi chết rồi, chính người này là Đấng Chính Trực, Đấng Toàn Thắng được Thiên Chúa sai đến. Thế là người già, con trẻ bảo nhau cởi áo khoác trải xuống đường, người thì vội chạy chặt cành chặt lá trải hết ra đường cho Người đi. Đây là những cử chỉ rất giàu ý nghĩa. Áo của người dân nghèo chính là thảm. Con không có tiền mua thảm thì đây áo của con chính là thảm. Cành lá được trải xuống đường, được cầm tung hô reo hò vì lá chính là cờ của dân nghèo. Cành lá nói lên nguyện vọng, yêu sách của dân nghèo. Nó là biểu tượng nói lên khát vọng của dân nghèo, những người thấp cổ bé miệng của con cái Thiên Chúa. Khi giơ cao những cành lá để tung hô, đón Chúa, người dân nghèo như muốn thốt lên với chính Đấng được Thiên Chúa sai đến: Lạy Chúa, chỉ có Chúa mới là Đấng có thể đáp ứng mọi nhu cầu, mọi khát vọng của loài người chúng con.

Khát vọng này sẽ được lấp đầy khi chúng ta bước vào phần thánh lễ. Người Do-thái sẽ ngỡ ngàng khi thấy Chúa không làm gì khác lạ sau sự kiện vừa rồi. Họ thất vọng, và nghĩ có lẽ đây không phải là Đấng được Thiên Chúa sai đến. Những biến cố đau thương và tử nạn liên quan tới Người, đối với họ như một lời xác nhận họ nghĩ đúng. Chắc chắn đây không phải là Đấng được Thiên Chúa sai đến. Nhưng họ đâu ngờ được rằng, chính trong sự kiện thương khó và tử nạn này, lời tiên báo của Người đã trở thành sự thực: “Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi”. Thứ sáu tuần này, chúng ta cùng cả Giáo hội sẽ tưởng niệm sự kiện trọng đại này, sự kiện Người được giương cao lên khỏi mặt đất và cũng là sự kiện Người chính thức giơ hai tay kéo cả nhân loại lên với Người. Đó chính là giờ ơn cứu chuộc tuôn trào xuống thế gian như một dòng thác, là giờ sức mạnh của ân sủng tẩy xóa hết mọi nhơ bẩn của thế trần, là giờ của sự giải phóng đích thực và cũng là giờ Thiên Chúa tỏ hiện rõ nhất: Ngài là một Thiên Chúa Tình Yêu.

 ----------------------------

 

Lễlá-376: Cuộc khổ nạn của Chúa


 Lm. GB Nguyễn Văn Hiếu
 
 

Trước hết có một vài điển ngữ chúng ta nên biết:  1. Con Lừa: Bên Trung Đông thời xưa, hình: Lễlá-376


Trước hết có một vài điển ngữ chúng ta nên biết:

1. Con Lừa: Bên Trung Đông thời xưa, hình ảnh con lừa được gắn liền với thần thoại và việc tế tự thần linh. Trong Cựu Ước con lừa được đề cập nhiều trong những truyền thuyết về các tổ phụ. Lừa cũng là con vật để cho vua cỡi. Chính từ điểm này mà về sau, người ta muốn xem hình ảnh vua cỡi lừa là bóng dáng của Đấng Mê-si-a.

Một vài câu Kinh Thánh có liên hệ tới con lừa, cũng được giải thích trong chiều hướng về Đấng Mê-si-a như thế:

  - “Người buộc con lừa của mình vào gốc nho, buộc lừa con của mình vào cây nho quý” (St 49,11). ‘Nho’ ở đây chính là dân Ít-ra-en, con dân của Thiên Chúa.

  - “Kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi: Người là Đấng Chính Trực, Đấng Toàn Thắng, khiêm tốn ngồi trên lưng lừa, một con lừa con vẫn còn theo mẹ” (Dcr 9,9).

2. Chúc tụng: Thánh Vịnh 118 là một Thánh Vịnh cuối cùng trong kinh Ha-len (Hallel ~gồm các Tv 113-118). Vào những dịp lễ Vượt Qua, Ngũ Tuần, Lều và Cung Hiến, người Do-thái hát kinh này để tôn vinh Thiên Chúa, đặc biệt nhấn mạnh những nghi thức bữa tiệc Vượt Qua. dịp lễ Lều, sau khi hát vài câu, cả Hội Đường lắc phất phới bó hoa Lu-láp (Lulab) là bó hoa kết bằng nhiều lá Dừa và lá Liễu. Thánh Gio-an thì nói lá Vạn Tuế. Những nhánh của Lu-láp có khi còn gọi là Hô-sa-na (Hosanna). Hô-sa-na theo nguyên ngữ có nghĩa là “Hãy cứu”. Tiếng Hô-sa-na như vậy, đã vọng lên lời van xin liên lỉ hay những lời tung hô, chúc tụng có tính cách phụng vụ.

Qua vài nét như vậy, chúng ta thấy được ơn cứu độ do Chúa Giê-su đem tới, đã được đặt trong chương trình của Thiên Chúa từ trước. Đức Giê-su chính là Đấng Mê-si-a. Người là Vua khiêm tốn, công minh và chiến thắng. Người đang cỡi lừa tiến về Giê-ru-sa-lem. Thánh Lu-ca không nói Đức Giê-su ‘vào’ thành Giê-ru-sa-lem. Người chỉ nói ‘tiến’ về hay ‘hướng’ tới gần Thành Thánh mà thôi.

Chúng ta cũng nên lưu ý điều này nữa, là Thánh Lu-ca đã bắt đầu cũng như kết thúc trình thuật Tin Mừng đều ở trong Đền Thờ. Do đó, chính trong Đền Thờ, mới là nơi Thánh Lu-ca đưa Đức Giê-su vào (19,45).

Theo Thánh Lu-ca, vì các việc lớn lao Thiên Chúa đã thực hiện, Người là Đấng phải được chúc tụng. Người cũng chính là nguồn mạch và nguyên nhân cho việc chúc tụng đó. Chúa Giê-su không muốn vào Giê-ru-sa-lem kiểu như ông vua với những hoài bão trần tục, mong được người ta chúc tụng, khen ngợi. Chính vì thế, chúng ta mới hiểu được tại sao Thánh Lu-ca đã làm nổi bật việc Chúa Giê-su vào Đền Thờ ~nơi Thiên Chúa ngự trị~ và hiểu được tại sao ngoài câu 19,38, lời “Chúc tụng Đức Vua, Đấng ngự đến nhân Danh Chúa” của Thánh Vịnh 118,26 lại được trích ở đây là lần thứ 2.

Trong tinh thần của ngày lễ Lá hôm nay, xin cho chúng ta biết chúc tụng Thiên Chúa luôn mãi, đồng thời cộng tác với Chúa Giê-su, hầu đón nhận ơn cứu độ Chúa đem tới, bằng cách tích cực tu sửa những tính ươn hèn tật xấu của mình, để biết siêng năng cầu nguyện và lãnh nhận các bí tích của Chúa, nhất là bí tích Thánh Thể và Hoà Giải, nhờ đó, chúng ta được đón rước và chúc tụng Thiên Chúa luôn mãi trong cuộc đời chúng ta.

 ----------------------------

 

Lễlá-377: Thập giá vinh quang - Lm. Carolô Hồ Bạc Xái


Vinh quang của Chúa Giêsu
 
 

Cuộc rước Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem đã biểu dương vinh quang của Ngài. Nhưng vinh: Lễlá-377


Cuộc rước Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem đã biểu dương vinh quang của Ngài. Nhưng vinh quang hôm nay chỉ thoáng qua và chóng lụi tàn vì vài ngày sau thì Ngài bị giết chết nhục nhã trên thập giá. Vinh quang thực sự của Chúa Giêsu chỉ biểu lộ trọn vẹn khi Ngài sống lại và tiến vào Giêrusalem trên trời.

Hôm nay chúng ta cầm lá đi kiệu và biểu dương vinh quang của Chúa Giêsu. Tuy nhiên chúng ta hãy nhớ rằng chúng ta chỉ thực sự biểu dương vinh quang Chúa Giêsu khi để cho Ngài thực sự làm vua ngự trị trong lòng mình, bằng cách tuân giữ những giới răn của Ngài và sống theo tinh thần của Ngài.

Tinh thần của Chúa Giêsu chính là tinh thần của Người Tôi Tớ được diễn tả trong các bài đọc hôm nay: sẵn sàng tự hạ, chấp nhận hy sinh để bước theo Ngài và cùng chết với Ngài để được cùng sống lại với Ngài.

Làm chứng cho Đức Kitô giữa nơi công cộng

Hôm Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem, các môn đệ đã công khai bày tỏ lòng tin tưởng và trung thành với Ngài. Điều đáng khen là các ông đã làm điều ấy trước mặt những người biệt phái đang quyết liệt chống đối Chúa Giêsu. Khi những người biệt phái nói với Chúa Giêsu hãy bảo môn đệ im đi, thì Ngài trả lời: "Họ mà làm thinh thì sỏi đá cũng sẽ kêu lên". Nhiều khi cũng cần có những sự ủng hộ công khai. Bởi thế thông thường Chúa Giêsu rất âm thầm nhưng hôm nay Ngài tán thành việc làm của các môn đệ.

Tuy nhiên trong thái độ của các môn đệ cũng có điều đáng nghi ngờ. Không phải nghi ngờ về lòng trung thành của các ông, mà nghi ngờ vì đó là một phản ứng theo đám đông. Phản ứng theo đám đông thì thường là ồn ào, nhưng không sâu sắc.

Chúng ta dễ làm chứng cho Chúa Giêsu trong Nhà thờ, vì nơi đây chúng ta đang ở giữa những người cùng quan điểm với mình. Nhưng không dễ chút nào khi phải làm chứng cho Ngài giữa một môi trường rất khác với mình và có khi còn thù nghịch với mình nữa. Dù vậy nhiều khi chúng ta cần phải can đảm làm chứng trong hoàn cảnh khó khăn như thế.

Thực ra, sỏi đá không thể kêu lên. Chỉ con người mới kêu lên được. Có nhiều trường hợp chúng ta được im lặng mà phải nói lên: nói lên để bênh vực một người đang bị đối xử bất công, nói lên để khích lệ một người đang âm thầm đóng góp cho việc chung, nói lên sự thật để đầy lùi những lời dối trá...

Chúng ta đang làm chứng cho Chúa trong Nhà thờ. Nhưng đừng quên làm chứng cho Ngài ở giữa chợ đời. Chúa Giêsu đã từng tuyên bố: "Ai tuyên xưng Ta trước mặt người khác thì Ta sẽ tuyên xưng người ấy trước mặt Cha Ta trên trời". (FM)
Con đường vinh quang

Trong bài đọc II, Thánh Phaolô đã ngầm so sánh Chúa Giêsu với Ađam.

Ađam đã đi tìm vinh quang bằng cách muốn được "ngang hàng với Thiên Chúa". Nhiều người chúng ta cũng tìm vinh quang bằng cách khẳng định chính mình. Đây là con đường chắc chắn sẽ dẫn đến thất bại.

Còn Chúa Giêsu thì chỉ biết làm theo ý Thiên Chúa nên sẵn sàng tự hạ mình xuống đến nỗi bằng lòng chịu chết và chết trên Thập giá. Nhưng đây là con đường đưa đến vinh quang thật. Chính nhờ thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Ngài và tặng ban danh hiệu trổi vượt mọi danh hiệu... khiến mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng Chúa Giêsu Kitô là Chúa".

Ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên.

Yêu cho đến cùng

Tại nhà thờ chính toà Nuzburg trong miền Baviere, Tây Đức, có một tượng thánh giá nổi tiếng được chạm trỗ vào khoảng thế kỷ thứ 14. Hai cánh tay đã rút khỏi lỗ đinh và vòng ra phía trước như ôm một con người.

Tương truyền rằng có một tội nhân hết lòng sám hối ăn năn, xin Chúa thứ tha tội lỗi. Nhưng vì tội ông quá lớn, quá nhiều nên ông vẫn còn nghi ngờ lòng thương xót của Người. Chúa liền đưa tay ra ôm chầm lấy ông trong vòng tay âu yếm để bày tỏ lòng Chúa khoan dung hải hà.

Trong suốt cuộc đời công khai rao giảng, rất nhiều lần, Chúa Giêsu đã bày tỏ tấm lòng yêu thương con người: Người đã thực hiện các phép lạ, chữa lành bệnh tật, xua trừ ma quỉ, dạy dỗ dân chúng, âu yếm trẻ thơ, và tha thứ cho tội nhân. Hôm nay, Người quyết định bước vào đoạn cuối của tình yêu, đỉnh cao của dâng hiến. Người quyết định yêu cho đến cùng, bằng cuộc khổ nạn và cái chết đau thương của Người.

Nhưng trước hết, Người phải chịu một cơn cám dỗ cuối cùng. Cơn cám dỗ mà Luca đã báo trước: "Quỉ rút lui để chờ dịp khác" (4,13). Dịp ấy, hôm nay đã đến. Satan nhập vào Giuđa, để người môn đệ bất trung, tham của này đùng cái hôn nộp thầy. Satan sàng Phêrô và các môn đệ như sàng gạo để Phêrô thì chối thầy, còn các ông khác thì bỏ trốn. Vườn Ghếtsêmani quả thật là nơi giao tranh giữa Chúa Giêsu và quyền lực tối tăm, giữa sự thiện và cái ác. Người dùng phương thế hữu hiệu là cầu nguyện để thắng cám dỗ. Nhưng dường như trong cuộc chiến nội tâm của Người rất căng thẳng, nên Người đã xin Chúa Cha tha cho Người khỏi uống chén này. Người lên cơn xao xuyến bồi hồi đến nỗi mồ hôi như những giọt máu rơi xuống đất.

Thế nhưng, Người vẫn nhân từ thực hiện nghĩa cử yêu thương cuối cùng, trước khi hoàn toàn dâng hiến trên thập giá: Người hiền hoà ra đón Giuđa, và dịu dàng nhắc nhở ông về tình nghĩa thầy trò. Người chữa lành tên đầy tớ bị Phêrô chém đứt tai. Người quay nhìn Phêrô với ánh mắt tha thứ khi ông chối Thầy. Người an ủi những phụ nữ thương khóc người. Người xin Chúa Cha tha thứ cho những kẻ đóng đinh Người. Người ban thiên đàng cho tên trộm biết sám hối.

Cuối cùng, Người đã hoàn toàn dâng hiến trên thập giá để cứu chuộc tất cả muôn người. Sinh thời Người đã nói: "Không có tình yêu nào cao quí bằng người hy sinh mạng sống vì bạn hữu" (Ga 15,13). Vậy, Người đã yêu thương con người cho đến giọt máu cuối cùng. Thánh Gioan viết: "Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng" (Ga 13,1b).

Lạy Chúa Giêsu, chính vì vâng theo thánh ý Cha và cũng vì yêu chúng con mà Chúa đã sẵn lòng vác thánh giá, vui chịu mọi khổ đau nhục hình. Xin cho chúng con từ nay cũng biết yêu Chúa hơn yêu bạn thân, và yêu Chúa chỉ vì Chúa chứ không mong phần thưởng nào khác.

Xin cho chúng con nhận ra thánh giá của Chúa trong mọi đau khổ của cuộc đời chúng con, và vững bước theo Chúa trên đường thánh giá, miễn là chúng con đang chu toàn thánh ý Chúa. Amen.

Chiến thắng của Tình yêu

Mỗi năm đến ngày Chúa nhật Lễ Lá là chúng ta lại được nghe Bài Thương khó của Chúa Giêsu. Chúng ta nhớ lại sự hèn nhát của những môn đệ Ngài: họ đã bỏ Ngài ngay giữa lúc Ngài cần họ ở bên cạnh nhất; chúng ta nhớ lại lòng dạ xấu xa của những nhà lãnh đạo Do Thái: họ đã tìm cách để giết Ngài; chúng ta cũng nhớ lại sự hung dữ của những người lính: họ đã hành hạ Ngài rất tàn nhẫn. Chúng ta phải nhớ những điều ấy, bởi vì chúng có liên hệ với chúng ta.

Tuy nhiên, đó không phải là mục đích chính của những bài tường thuật việc Chúa Giêsu chịu nạn chịu chết. Điểm nhấn mạnh của những tường thuật này không phải là ở chỗ đó, mà là ở tấm lòng của Chúa Giêsu, nhân vật chính của các bài tường thuật ấy. Điều mà các tác giả Tin Mừng muốn chúng ta nhớ nhiều nhất, đó là lòng trung thành, lòng can đảm và lòng nhân từ của Chúa Giêsu. Trên nền trời u ám của đồi Canvê, lòng nhân từ của Chúa Giêsu càng chiếu tỏa sáng ngời.

Nhìn bề ngoài thì xem ra Chúa Giêsu đã thất bại. Nhưng thực ra, đó là một chiến thắng, chiến thắng của sự Thiện trên sự dữ, của Tình yêu trên hận thù, của ánh sáng trên bóng tối, của sự sống trên sự chết. Trong lòng Ngài lúc đó, chẳng có tình cảm nào khác ngoài Tình yêu. Nếu không có Tình yêu thì tất cả những khổ đau Ngài chịu đều vô ích. Không phải những đau khổ của Chúa Giêsu mang lại ơn cứu độ, mà chính Tình yêu của Ngài. Ai nói rằng mình thích chịu đau khổ thì đó là người khùng, bởi vì ai cũng muốn tránh đau khổ, tuy nhiên vì yêu mà người ta sẵn sàng chịu đau khổ cho người mình yêu. Chính Tình yêu làm cho đau khổ có ý nghĩa. Hơn nữa, tình yêu còn đem lại niềm vui ngay giữa những đau khổ.

Noi gương Chúa Giêsu, kitô hữu chúng ta hãy chấp nhận những đau khổ. Nhưng không chỉ có thế, chúng ta hãy thánh hóa những đau khổ ấy. Tình yêu làm cho đau khổ được thánh hóa.

Những đau khổ của Chúa Giêsu và của chúng ta

Một buổi tối, một người trên đường từ sở làm về nhà. Khi đi ngang một nhà thờ, người ấy như bị thúc đẩy bước vào. Hình ảnh đầu tiên đập vào đôi mắt anh là Chúa Giêsu trên thánh giá. Thoạt nhìn, anh cảm thấy ghê sợ và muốn thụt lùi. Nhưng sau đó, anh nhận ra có một mối giây liên kết giữa người đang chịu đóng đinh trên thánh giá với những người mẹ khóc con bị chết vì chiến tranh, với những trẻ em sắp chết đói bên Châu Phi, với những gia đình có người thân chết vì tai nạn, với những bệnh nhân thể xác và tâm thần... Hình như tất cả những khổ đau của loài người đều được gom lại trên thân thể của Người đang chịu đóng đinh trên thánh giá.

Sau đó anh nhìn chung quanh mình và thấy cũng có một số người đang quỳ cầu nguyện trong thinh lặng. Một bà cao tuổi bước đến bên Thánh Giá và kính cẩn hôn những vết thương của Chúa Giêsu. Sau đó Bà rời nhà thờ, vẻ mặt thanh thản, bình an, có vẻ như Bà đã tìm lại được sức mạnh, hy vọng và tình yêu cho cuộc sống. Từ trước đến nay, anh không biết cầu nguyện. Nhưng hôm đó, lần đầu tiên anh đã cầu nguyện. Và anh khám phá rằng thập giá của sự khủng khiếp đã biến thành Thánh giá của hy vọng, thân thể bì hành hạ của Chúa Giêsu biến thành thánh thể của sự sống mới, những vết thương mở toang của Ngài trở thành nguồn thứ tha, cứu chữa và hòa giải... Khi bước ra khỏi nhà thờ, anh cảm thấy lòng mình rất bình an thanh thản.

Cuộc chịu nạn của Chúa Giêsu không phải là một màn kịch mà là một sự thật. Ngài đã chịu rất nhiều đau khổ, trong than xác và trong tinh thần. Nhưng tất cả những đau khổ ấy Ngài tự ý tự nguyện gánh chịu, vì yêu.

Khi chúng ta liên kết những đau khổ của chúng ta với những đau khổ của Chúa Giêsu trên Thánh Giá, chúng ta sẽ tìm được bình an. Chúng ta biết rằng chúng ta không cô đơn trong đau khổ, mà có Chúa cùng chịu đau khổ với chúng ta. Ngài chính là Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta.

----------------------------

 

 Lễlá-378: Phêrô

 

Bài tường thuật sự thương khó Chúa Giêsu, tự bản chất đã chứa đựng rất nhiều điều đáng cho chúng: Lễlá-378


Bài tường thuật sự thương khó Chúa Giêsu, tự bản chất đã chứa đựng rất nhiều điều đáng cho chúng ta suy gẫm. Bởi đó, phải đọc trong tinh thần cầu nguyện, để sống lại những chặng đường Chúa Giêsu đã đi qua, để những khổ đau của Chúa thấm vào tâm hồn chúng ta, cũng như hãy mở rộng cõi lòng để đón nhận sứ điệp của Chúa. Trong một vài phút ngắn ngủi này, chúng ta dừng lại ở kinh nghiệm khác thường của Phêrô, vị tông đồ vừa tự phụ, vừa yếu đuối lại vừa sám hối ăn năn.

Qua những giờ phút cuối cùng của Chúa Giêsu, chúng ta nhận thấy nơi Phêrô có những mâu thuẫn. Một đàng ông nhất quyết trung thành với Chúa và tìm mọi cách để bảo vệ Ngài. Đàng khác ông không nghĩ tới mưu chước cám dỗ bất ngờ ập xuống một cách dữ dội, vì quá tin tưởng vào sức riêng, nên thay vì vâng lời Chúa, thì ông lại phản đối lại lời Ngài. Thực vậy Chúa báo trước cho ông hay các môn đệ sẽ lìa bỏ Chúa, nhưng ông lại cho đó là chuyện khó tin, không thể xảy ra được. Chúa còn nói thêm rằng: Chính ông sẽ chối bỏ Ngài trước khi gà gáy. Lẽ ra ông phải lo sợ, phải cầu xin cho khỏi sa ngã, thì ông lại phản ứng một cách mạnh mẽ và hết sức tự tin. Ông cảm thấy như không có gì lay chuyển nổi tình yêu của ông đối với Chúa, nên ông không thể nào chấp nhận lời tiên báo rằng ông sẽ sa ngã, ông sẽ phản bội. Cuối cùng khi Chúa dặn ông phải tỉnh thức và cầu nguyện thì ông lại ngủ vùi, cho dù tận đáy lòng, ông vẫn một mực tin tưởng vào mình.

Từ những vấp ngã ấy, ông đã rút ra một kinh nghiệm đau thương, được phảng phất qua lời khuyên nhủ sau đây: Anh em hãy sống tiết độ và tỉnh thức, vì ma quỷ, kẻ thù của anh em, như sư tử gầm thét rảo quanh tìm mồi cắn xé.

Kẻ thù ồn ào và gào thét đã tấn công vào Phêrô, đó là đám đông đi bắt Chúa và tìm mọi cách để tỏ lộ sự căm phẫn đối với Ngài. Phêrô lo sợ mà không biết mình lo sợ. Vì không biết mình nên ông đã không thấy rõ sự yếu đuối của mình, do đó ông đã liều lĩnh theo Chúa xa xa, đến dinh thầy cả thượng phẩm, ông cả dám mon men đến gần dịp tội. Ông tưởng rằng sự việc rồi cũng kết thúc êm đẹp như bao lần Chúa đã chấm dứt những hành vi gây hấn của bọn biệt phái. Ông chờ đợi mà không đề phòng, cho nên đã sa ngã chỉ vì một câu hỏi của người đàn bà. Ông bối rối, ông sợ hãi và ông đã chối bỏ Chúa Giêsu.

Tuy nhiên, điều đáng cho chúng ta suy nghĩ đó là Phêrô đã hối hận. Tiếng gà gáy làm cho ông nhớ lại lời tiên báo của Chúa Giêsu. Ở đây, vẻ cao quý của Phêrô là lòng khiêm nhường, thành thực và tin tưởng dù đã sa ngã.

Ông khiêm nhường vì nhận ngay mình có tội mà không cần phân tích lỗi lầm để tìm cớ chữa mình. Ông thành thực vì không quanh co trong việc nhìn nhận một lỗi lầm đã nghịch lại lời cam kết với Chúa. Ông tin tướng vì cảm nhận rằng nhờ nhận lỗi mình một cách thành thật, ông được Chúa khoan dung tha thứ. Ông khóc vì cảm động. Và đối với một người khí phách như ông, thì đó có lẽ là cách duy nhất để xin lỗi.

Phêrô sám hối, đã được Chúa tha thứ và hơn thế nữa còn được Chúa đặt làm đầu Giáo Hội. Chính vì thế, chúng ta hãy tin tưởng chạy đến với Chúa, dù tội lỗi chúng ta có nặng nề tới đâu, nếu chúng ta biết sám hối ăn năn, chắc chắn chúng ta sẽ được Chúa tha thứ.

----------------------------

 

 Lễlá-379: Nhiệt thành của thập giá.


(Suy niệm của ĐGM. Phêrô Nguyễn Văn Khảm)
 
 

Tuần Thánh bắt đầu với Chúa nhật Lễ Lá và Phụng vụ Lễ Lá lại tiến hành với hai nhịp tương phản.: Lễlá-379


Tuần Thánh bắt đầu với Chúa nhật Lễ Lá và Phụng vụ Lễ Lá lại tiến hành với hai nhịp tương phản. Bắt đầu là cử hành việc Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem trong tư cách một vị vua, được dân chúng đón tiếp trọng thể, ngập tràn tiếng reo vui. Rồi ngay sau đó trong Thánh Lễ, thay cho bài Tin Mừng lại là bài tường thuật cuộc thương khó của Chúa, cuộc thương khó đầy máu và nước mắt. Hội Thánh có ý gì khi liên kết hai sự kiện tương phản này? Tại sao không đợi đến Thứ Sáu Tuần Thánh để công bố bài thương khó mà phải đọc ngay từ Chúa nhật Lễ Lá? Đã hẳn có nhiều ý nghĩa phong phú hàm chứa ở đây cần được khai triển. Một trong những nội dung đáng quan tâm là Hội Thánh muốn làm nổi bật đường lối cứu thế của Chúa Giêsu và mời gọi con cái mình bước theo Thầy.

Khi kể lại việc Chúa Giêsu thanh tẩy Đền thờ Giê-ru-sa-lem, thánh Gioan ghi nhận: “Các môn đệ của Người nhớ lại lời đã chép trong Kinh Thánh: Vì nhiệt thành lo việc Nhà Chúa mà tôi đây phải thiệt thân” (Ga 2,17). Một số Kitô hữu đã liên kết từ “nhiệt thành” ở đây – cũng như việc Chúa Giêsu được đón rước trọng thể vào thành Giêrusalem trong tư cách một vị vua – với phong trào chính trị được gọi là “Nhiệt Thành-zelos” thời bấy giờ. Ngoài ra người ta còn kết nối sự kiện này với lời các thượng tế tố cáo Chúa Giêsu trước tòa Philatô: “Ai xưng mình là vua thì chống lại Cêsarê” (Ga 19,12). Tất cả để dẫn đến kết luận Chúa Giêsu là nhà cách mạng chính trị.

Phong trào chính trị có tên gọi “Nhiệt Thành” được khơi nguồn từ ông Mattathias, cha của anh em nhà Macabê. Vào thời đó, vua Antiôkô cưỡng bức người Do Thái phải chối đạo và tế thần trên bàn thờ, nhưng ông Mattathias tuyên bố: “Chúng tôi sẽ không tuân theo lệnh vua mà bỏ việc thờ phượng của chúng tôi để xiêu bên phải, vẹo bên trái” (1 Mac 2,22). Và khi có một người Do Thái tiến ra tế thần trên bàn thờ theo chỉ dụ của nhà vua, thì sách Macabê kể lại: “Ông Mattathias bừng lửa nhiệt thành… ông nhào tới hạ sát hắn ngay tại bàn thờ. Ông cũng giết luôn viên chức của vua có nhiệm vụ cưỡng bức người Do Thái tế thần, rồi ông phá đổ bàn thờ”. Sau đó sách Macabê kết luận: “Ông bừng lửa nhiệt thành đối với Lề Luật giống như ông Pinêát trong vụ Dimri, con của Xalu” (2,23-26). Kể từ lúc đó, từ ngữ “nhiệt thành-zelos” trở thành khẩu hiệu diễn tả quyết tâm dùng sức mạnh và bạo lực để bảo vệ đức tin, bảo vệ Lề Luật.

Vào thời Chúa Giêsu, không ít người Do Thái đi theo phong trào này, chủ trương dùng bạo lực để xua đuổi đế quốc Rôma, giành lại chủ quyền và độc lập của dân tộc. Dựa vào một số chi tiết trong các sách Tin Mừng, người ta cũng nhìn Chúa Giêsu như một nhà cách mạng chủ trương dùng bạo lực để xây dựng một vương quốc chính trị. Đồng thời, dọc dài lịch sử Giáo Hội, hình ảnh Chúa Giêsu như một nhà cách mạng cũng được vận dụng để biện minh cho việc sử dụng bạo lực nhằm xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn.

Thế nhưng đây có thực sự là ý hướng của Chúa Giêsu? Khi suy niệm về việc Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem cách trọng thể, Đức Bênêđictô XVI trả lời: “Không. Làm cách mạng bằng bạo lực, nhân danh Thiên Chúa để giết người, đó không phải là đường lối của Chúa. Lòng nhiệt thành của Người đối với vương quốc Thiên Chúa được thể hiện bằng cách thức hoàn toàn khác”.

Trong ngày Lễ Lá, hình ảnh Chúa Giêsu cỡi trên lưng lừa tiến vào Giêrusalem làm dội lại lời tiên tri Zacaria: “Nào thiếu nữ Sion, hãy vui mừng hoan hỉ! Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy vui sướng reo hò! Vì kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi. Người là Đấng chính trực, Đấng toàn thắng; khiêm tốn ngồi trên lưng lừa, một con lừa con vẫn còn theo mẹ” (9,9). Vào thời tiên tri Zacaria cũng như vào thời Chúa Giêsu, con ngựa mới là biểu tượng của sức mạnh, còn lừa là phương tiện của người nghèo. Vì thế hình ảnh Vua Giêsu ngồi trên lưng lừa diễn tả một vị vua hoàn toàn khác. Người là vua của hòa bình, vua của người nghèo, vị vua đơn sơ và khiêm tốn.

Cũng lúc ấy, chúng ta khám phá lý do tại sao Phụng vụ Lễ Lá được bắt đầu bằng việc tưởng niệm Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem trong vinh quang, rồi được tiếp nối bằng việc công bố bài thương khó. Để thấy rõ hơn chân dung của vị vua hòa bình. Để thấy rõ hơn ý nghĩa của “sự nhiệt thành”, không phải thứ nhiệt thành của bạo lực nhằm xây dựng một vương quốc trần thế, nhưng là sự nhiệt thành của Thập Giá, nhiệt thành của tình yêu tự hiến trọn vẹn.

Sự nhiệt thành ấy cũng chất vấn cách nhìn và cách sống của người môn đệ Chúa Giêsu ở mọi thời đại và trong mọi hoàn cảnh. Có những lúc người môn đệ Chúa cũng bị cám dỗ sử dụng bạo lực để gọi là phục vụ Nước Chúa. Nếu chưa phải là những hành động bạo lực thì cũng là những lời nói và ứng xử bạo lực. Dù là hành động hay lời nói thì gốc rễ vẫn là sự căm thù chất chứa trong tâm hồn, đôi khi được ẩn giấu dưới lớp áo nhiệt thành, và sự căm thù ấy đã dẫn đến biết bao hậu quả tai hại cho chính Hội Thánh của Chúa. “Chúng ta đã biết quá rõ những hậu quả tàn ác của thứ bạo lực với động cơ tôn giáo. Bạo lực không xây dựng vương quốc Thiên Chúa, vương quốc của nhân tính. Ngược lại, bạo lực là khí cụ ưa thích của tên phản-Kitô, cho dù nó núp bóng tôn giáo. Nó không phục vụ nhân loại mà phục vụ sự phi nhân” (Benedict XVI, Jesus of Nazareth, tome II, 15).

“Chúa Giêsu đã thiết lập tiêu chuẩn đánh giá lòng nhiệt thành chân chính, đó là lòng nhiệt thành của tình yêu tự hiến, và sự nhiệt thành này phải trở nên mục tiêu của đời sống Kitô hữu”. Suy tư này của Đức Bênêđictô XVI đáng cho mỗi người Kitô hữu ghi nhớ để soi sáng lời nói và hành động của mình. Nhất là trong Tuần Thánh, khi đi đàng Thánh Giá, khi ôn lại những chặng đường trong cuộc khổ nạn của Chúa chúng ta.

----------------------------

 

Lễlá-380: Ta là ai trong cuộc Thương Khó


(Suy niệm của Huệ Minh)

Tin Mừng (Mc 14: 1;15: 1-39):

 

Trong tuần thánh và đặc biệt trong Lễ Lá này! Chúng ta làm sống động lại cuộc đời của Chúa Giêsu Lễlá-380


Trong tuần thánh và đặc biệt trong Lễ Lá này! Chúng ta làm sống động lại cuộc đời của Chúa Giêsu. Và chúng ta cùng với Chúa Giêsu đi vào cuộc thương khó, như chính là nguồn ơn cứu độ cho nhân loại.

Thời gian nó đi mãi, nó không chờ ai hết.

 Ngày hôm nay, chúng ta bước vào Chúa Nhật Lễ Lá. Để cái Lễ Lá này đưa chúng ta vào tuần thánh.

 Có thể nói: đây là tuần quan trọng nhất của suốt năm Phụng Vụ. Cũng như Chúa Nhật Phục Sinh chính là đỉnh của các Chúa Nhật.

Trong tuần thánh và đặc biệt trong Lễ Lá này! Chúng ta làm sống động lại cuộc đời của Chúa Giêsu. Và chúng ta cùng với Chúa Giêsu đi vào cuộc thương khó, như chính là nguồn ơn cứu độ cho nhân loại. Mỗi người chúng ta, cũng như người dân do Thái ngày xưa cũng đi vào đền Giêrusalem, tay cầm lá để rước Chúa Giêsu. Chúng ta sống lại sự kiện của Chúa Giêsu, chúng ta cùng đi vào Giêrusalem với Ngài.

 Và hôm nay cùng với Giáo Hội, chúng ta lắng nghe lại bài tường thuật Khổ Nạn của Chúa Giêsu. Sự kiện này là một sự kiện lịch sử, sự kiện xảy ra trong 1 lịch sử của thế giới.

 Để phản bác việc Chúa Giêsu lên Giêrusalem chịu khổ hình. Thì có một phong trào, người ta dựa vào quyển tiểu thuyết Bí Mật Da Vinci. Để rồi, người ta cố gắng người ta làm một cái phim để mà gây hoang mang, cũng như đánh mất đi ý nghĩa, cũng như niềm tin, nền tảng vào sự xuất hiện của Chúa Giêsu, cũng như Kitô giáo. Và họ coi Kitô giáo như là một chuyện tưởng tượng thôi!

 Và rồi sự kiện này chúng ta cử hành là một sự kiện lịch sử. Không chỉ dựa vào các sách Tin Mừng dựa vào các sử gia; ở ngoài Kitô giáo, chúng ta cũng thấy được cái sự kiện này. Sự kiện này đã diễn ra trong lịch sử của thế giới, và đặc biệt thế giới của Do Thái.

 Khi đặt niềm tin vào lịch sử như thế! để chúng ta mới thấy niềm tin vào Đức Kitô của mỗi người chúng ta, niềm tin ấy không phải là một niềm tin vu vơ, không phải là một niềm tin vớ vẩn nhưng làm một niềm tin đích thực có thật chứ không phải là niềm tin tưởng tượng. Nếu chỉ dừng lại ở cái chuyện đi theo Chúa Giêsu vào Giêrusalem, như một viễn tượng của lịch sử thì không cần Kitô giáo.

 Và rồi chúng ta bước đi trong tuần thánh này, khi chúng ta nghe lại cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu là chúng ta làm cho biến cố lịch sử đó trở nên không chỉ là bên ngoài mà là chúng ta nội tâm hóa cái biến cố lịch sử đó, trong cuộc đời của mỗi người chúng ta. Nói cách khác là chúng ta nội tâm hóa biến cố Lịch sử đó!

 Khi chúng ta nghe lại cuộc trình thuật về cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu. Chúng ta nhìn thấy hình ảnh khuôn mặt của Philatô, Phêrô, Giuđa và đặc biệt của dân chúng. Và qua hình ảnh Philatô, Phêrô, Giuđa và của dân chúng này. Chúng ta khám phá ra khuôn mặt của chúng ta trong đó, để chúng ta sống cái đời sống đức tin của chúng ta trong đó!

 Có nghĩa rằng khi khám phá ra như vậy, chúng ta thấy được khuôn mặt của tham lam, của gian ác, của chối từ, của độc ác, của những người đó thấp thoáng đâu đó, cũng có khuôn mặt của mỗi người chúng ta trong đó! Chúng ta không ngừng lại biến cố đó như một biến cố Lịch sử, mà nội tâm hóa để trở thành thực tại sống động trong cuộc đời của mỗi người chúng ta.

 Chúng ta đọc Cuộc Thương Khó, chúng ta xem các phim không phải với thái độ bàng quan của chúng ta. Suy nghĩ, chúng ta coi coi có dính dáng tới đời của chúng ta hay không? Có ảnh hưởng đời của chúng ta hay không?

 Tiếp cận với sự phẫn nộ những người lên án Chúa Giêsu, sự phản bội của Giuđa. Chúng ta không dừng lại ở sự bực bội nhưng nó có liên quan tới thái độ sống đức tin của chúng ta. Khi tiếp cận sự thương khó, mà nếu như không có tác động, thì chúng ta cảm thấy nó rất là vô cảm.

 Và rồi khi xem phim với tất cả những cái kỹ thuật làm cho nhiều người chảy nước mắt nhưng mà liệu rằng cái dòng nước mắt đó có thay đổi gì tâm tư của người ta hay không?

 Và đặc biệt với cái phim Cuộc thương khó Chúa Giêsu, nó không phải như những phim khác, người ta xem xong rồi người ta ra về, nhưng xem xong cái cuộc thương khó của Chúa Giêsu nhiều người còn nán lại. Bởi lẽ họ còn đánh đọng những cái tâm tư, hình ảnh và tình cảm của những người nhân vật trong đó và xem phim này họ lặng lẽ ra về trong sâu lắng.

 Thế nhưng mà, cái tác động tình cảm nó không có dừng lại ở bên ngoài bằng những giọt nước mắt, bằng những lời nuối tiếc, nhưng nó phải đi sâu vào trong tâm hồn của người môn đệ, của người đi theo Chúa Giêsu.

 Và rồi mỗi người Kitô Hữu chúng ta được mời gọi: gọi là hội nhập vào cái Cuộc Thương Khó đó! Và rồi, làm sao để mà hội nhập được, nếu như chúng ta không suy nghĩ và chúng ta không nghiên cứu, chúng ta không nhìn ở bên dưới của những hành động của những con người đó!

 Chúng ta thấy trong Cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu:

 Một Philatô vô cảm: Ông ta đã rửa tay với cái chết của Chúa Giêsu. Dẫu rằng, biết rằng Chúa Giêsu vô tội. Vợ của ông ta cũng ra khuyên, ông ta đừng nhúng tay vào, vì đây là người công chính. Ông biết rằng, ông có thể tha đuợc Chúa Giêsu, thế nhưng ông đã không chịu được cái sức ép của dân chúng, của áp lực, của cộng đồng...để rồi ông sợ mất ghế, sợ mất quyền lợi, và ông đã rửa tay để cho Chúa Giêsu đi vào một cái chết.

 Và rồi Chúng ta thử coi, cái bóng dáng của Philatô đó, có trong cuộc đời của chúng ta hay không? Khi chỉ vì tiền, quyền, lợi; chúng ta không dám nói ra sự thật. Chúng ta không chiến đấu với sự thật, chúng ta không sống với sự thật, với những người xung quanh chúng ta.

 Với Giuda, chúng ta thấy: dấu hiệu của tình yêu. Giuda đã biến đổi thành dấu hiệu của sự phản bội.

 Chúng ta xem coi chúng ta có phản bội vợ chồng của chúng ta chúng ta có phản bội cha mẹ của chúng ta chúng ta có thể phản bội anh chị em chúng ta hay không có thể chỉ vài 30 ngàn đồng bạc, 3 triệu đồng bạc 30 triệu thậm chí 3 tỷ bạc. Chúng ta có can đảm bán đứt cái tình nghĩa vợ chồng bạn bè họ hàng của chúng ta hay không?

 Có đó chứ? Không nói ra thôi chứ! Nhưng mà có! Nhưng mà chúng ta có nhìn ra hình ảnh của chúng ta trong cái sự buôn bán đó hay không? Dám bán đứng thầy mình hay không?

 Và với Phêrô chúng ta nhìn thấy đó là một con người rất là mạnh dạn: Ai bỏ Thầy chứ tôi đây không bỏ Thầy! Nhưng mà chỉ cần vài tiếng đồng hồ sau đó, đứng trước mặt của một đứa tớ gái thôi! một đứa tớ gái chỉ cần hắn giọng thôi Phêrô đã chấp nhận từ bỏ cái lời tuyên xưng đức tin của mình, về thầy mình và chấp nhận khước từ thầy, chối thầy.

 Chúng ta cũng vậy, nhiều lần nhiều lúc khi ra khỏi nhà thờ. Lời tuyên xưng đức tin của chúng ta chưa khô họng. Nhưng, cũng chỉ vì những giá trị của trần gian chúng ta đã can đảm chối từ tuyên xưng đức tin. Bởi vì nếu tuyên xưng Đức tin, chúng ta không dám buôn gian bán lận, nói hành, nói xấu, hạ nhục người khác. Chúng ta đã chối bỏ Thiên Chúa một cách rất là dễ dàng! Chúng ta chối bỏ anh chị em chúng ta một cách rất là nhẹ nhàng!

 Và ngày hôm nay, chúng ta cùng tham dự vào Cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu, không phải là tham dự bằng một cái cách bàng quan nhưng tham dự bằng cái cung cách hội nhập. Khóc lóc, ỉ ôi, sướt mướt đó cũng chỉ là cái thái độ bên ngoài thôi.

 Nhưng điều Chúa cần nơi chúng ta, và chúng ta cần đó là chúng ta khám phá ra chính mình nơi vụ án Chúa Giêsu. Chúng Ta khám phá ra khuôn mặt của Giuda, của Phêrô, của Hêrôđê, của những người dân chúng hùng hổ đòi đóng đinh người vô tội, thì chúng ta mới cảm thấy tội lỗi và chúng ta Sám Hối. Có như thế chúng ta mới thay đổi cuộc đời của mình.

 Và rồi trong cái cao điểm của tuần thánh: Ước gì chúng ta không cử hành tuần thánh như một nghi thức, như một hoài niệm biến cố Lịch sử, mà chúng ta sống lại cái Cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu trong chính cuộc đời của mình: bằng Sám Hối, bằng sự trở về với Thiên Chúa là vua, là Chúa tình yêu của đời chúng ta. Amen.

---------------

 

Lễlá-381: Chọn lựa


(Suy niệm của Lm. Vũ Phan Long, OFM)

Tin Mừng (Mc 14: 1; 15: 1-39):

 

Với Chúa nhật hôm nay, bắt đầu tuần lễ trọng đại nhất của năm phụng vụ, đó là “Tuần thánh”. Phụng Lễlá-381


Với Chúa nhật hôm nay, bắt đầu tuần lễ trọng đại nhất của năm phụng vụ, đó là “Tuần thánh”. Phụng vụ hôm nay mở ra với việc tưởng niệm Đức Giêsu đi vào thành Giêrusalem.

Với Chúa nhật hôm nay, bắt đầu tuần lễ trọng đại nhất của năm phụng vụ, đó là “Tuần thánh”. Phụng vụ hôm nay mở ra với việc tưởng niệm Đức Giêsu đi vào thành Giêrusalem. Cả ba Tin mừng Nhất lãm đều kể rằng Đức Giêsu đi vào Thành thánh trên lưng một con lừa. Điều này nhắc nhớ đến sấm ngôn Dcr 9,9-10: Đức Giêsu chính là Đấng Mêsia mà Dân Chúa vẫn trông mong; Người đến cách khiêm tốn. Tuy nhiên hình ảnh Đức Giêsu ngồi trên lưng lừa cũng có thể gợi nhớ đến hình ảnh Salômôn ngồi trên lưng con la cái để đi đến nơi được phong vương. Đức Giêsu đi lừa là hình ảnh quét sạch thời đại của những con người đi ngựa (bởi vì tất cả các vua kế tiếp Salômôn đều dùng ngựa, là con vật chính Salômôn đã du nhập từ Ai Cập và Cơ-vê: x. 1V 10,26-29): vậy Đức Giêsu là Đấng Mêsia tái lập triều đại Đavít.

Ngoài ra Maccô còn nói đến một “con lừa con được cột”. Nhận xét này quy chiếu về St 49,11. Ở đoạn văn Sáng thế này, chi tiết “con lừa được cột” gợi lên sự giàu sang và phồn vinh của thời đại thiên sai: chỉ có thứ cây quý (cây nho) mới được tuyển mà cột con lừa. Trong các Tin mừng Nhất lãm, chi tiết này liên hệ đến con lừa con của Đấng Mêsia, xuất thân từ dòng họ Giuđa, dòng họ luôn làm chủ vương trượng (St 49,10). Cả điểm này cũng nêu lên một hình ảnh vương giả về Đức Giêsu. Cuối cùng Đức Giêsu đã được dân chúng tung hô như một “vị vua”. Danh hiệu này sẽ được nhắm tới như điểm nòng cốt trong cả ba Tin mừng Nhất lãm (x. Mt 27,36; Mc 15,26; Lc 23,28).

Con lừa của Đức Giêsu lại “chưa ai cỡi bao giờ”. Chi tiết này nêu bật tư cách linh thánh của Đấng ngồi trên lưng lừa: Người đúng là Đấng được Thiên Chúa sai phái đến, là “Đấng ngự đến nhân danh Chúa”, là chính “vị Chúa tể đi vào Thánh điện của Người” (Ml 3,1; x. 11,3.11).
Vậy việc Đức Giêsu vào Thành Giêrusalem chính là hành vi Đức Giêsu long trọng tiến vào Thành trong tư cách là vua người Do Thái cho dù không phải là vua để thống trị, nhưng là vua để phục vụ và hiến mạng sống để cứu chuộc nhân loại.
Hiểu như thế, chúng ta có điểm tựa vững chắc để hiểu bài Thương khó.

-------------------------

 

Lễlá-382: Suy niệm của Lm. Anthony Trung Thành

 

Một trong những điểm nổi bật và làm rơi nước mắt của bao nhiêu người khi xem bộ phim về cuộc Lễlá-382


Một trong những điểm nổi bật và làm rơi nước mắt của bao nhiêu người khi xem bộ phim về cuộc khổ nạn của Đức Giêsu đó là cảnh bạo lực.

Người Do Thái dùng bạo lực một cách khủng khiếp đối với Đức Giêsu. Họ bắt Ngài phải vác thập giá. Họ đánh đòn Ngài. Họ khạc nhổ vào mặt Ngài. Họ bắt Ngài đội mạo gai. Họ đóng đinh chân tay Ngài vào thập giá. Họ còn lấy lưỡi gươm đâm thấu cạnh sườn Ngài thấu cả trái tim. Người Do thái thời bấy giờ quả thật là quá tàn nhẫn với Đức Giêsu Con Thiên Chúa xuống thế làm người. Xem cảnh bạo lực đó, có lẽ không ai không trách móc người Do thái sao họ lại làm như thế với Đức Giêsu? Nhưng nếu để ý thì chúng ta vẫn thấy những cảnh bảo lực người ta gây nên cho Đức Giêsu vẫn được tái diễn lại nơi các Tông đồ và các môn đệ của Ngài suốt hơn 2000 năm qua. Và ngày hôm nay, bạo lực vẫn còn tái diễn lại trong các gia đình, nơi học đường, nơi mỗi môi trường sống của xã hội hôm nay.

Thật vậy, trong số các Tông đồ, chỉ có Thánh Gioan bị bỏ vào vạt dầu sôi không chết, còn 11 vị khác đều chịu chết vì đạo, nghĩa là các Ngài đã phải chịu cảnh bạo lực trước khi chết. Rồi suốt 2000 năm qua, vô vàn vô số các kitô hữu đã phải chịu nhục hình vì Chúa. Chỉ riêng ở Việt Nam chúng ta, với gần 300 năm bách hại đạo, có khoảng 150 ngàn kitô hữu chịu chết tử vì đạo, trong số đó đã có 117 vị thánh đã được phong hiển thánh và 1 vị được phong chân phước. Sau đây là hình khổ mà các vị tử đạo Việt Nam phải chịu: 1 vị chịu bá đao, tức là bị lý hình dùng dao cắt xẻo từng miếng thịt trên thân thể cho đủ 100 miếng; 4 vị chịu lăng trì, tức là bị chặt chân chặt tay trước khi chém đầu; 6 vị chịu thiêu sinh, tức là bị thiêu sống; 75 vị chịu xử trảm, tức là bị chém đầu; 22 vị chịu xử giảo, tức là bị tròng dây vào cổ và bị lý hình kéo hai đầu dây cho đến chết; 9 vị chịu chết rủ tù, tức là bị tra tấn, hành hạ đủ cách đủ kiểu, rồi bị bỏ đói cho tới khi kiệt sức và chết gục trong tù.

Ngày hôm nay, người ta vẫn dùng bạo lực để bạch hại các kitô hữu đây đó trên thế giới. Người ta không chỉ dùng bạo lực đối với các kitô hữu mà người ta còn dùng bạo lực để giải quyết mọi vấn đề giữa con người với nhau trong gia đình, nơi trường học, nơi các cơ quan công quyền và nơi mọi môi trường sống.

Trước hết, bạo lực trong gia đình: Theo thống kê của Vụ Gia đình (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) Việt Nam cho thấy trong 5 năm trở lại đây, số vụ bạo lực gia đình được ghi nhận khoảng 20.000 vụ/năm. Chỉ riêng trong năm 2015 có 31 phụ nữ, 7 trẻ em bị người thân giết hại. Số liệu báo cáo của các tổ chức phi chính phủ năm 2014 cũng cho thấy cứ 2-3 ngày lại có một người bị giết liên quan đến bạo lực gia đình, mà nạn nhân đa phần là phụ nữ và trẻ em (theo www.rfa.org). Xin nêu lên một số vụ nổi cộm như: Bố tẩm xăng đốt hai con gái tại Hải Phòng; con giết cha tại Đăk Nông; giết chồng để đi theo người tình tại Lâm Đồng; đâm chồng 18 nhát rồi vứt xác xuống sông tại Thái Nguyên; cha giết 2 con rồi tự sát tại Nam Định; chồng đánh vợ gẫy 8 xương sườn, chấn thương sọ não tại Hạ Long (Theo phununews.vn).

Thứ hai, bạo lực ở học đường: Theo số liệu thống kê đầu năm 2015 của Bộ GD&ĐT, trong một năm học, toàn quốc xảy ra khoảng 1.600 vụ học sinh đánh nhau ở cả trong và ngoài phạm vi nhà trường, tương đương khoảng 5 vụ đánh nhau trong một ngày. Nguyên nhân xẩy ra bạo lực có đôi khi không đáng là gì. Chẳng hạn: Vì viết sai chính tả, một học sinh lớp 1 bị cô giáo đánh tím mặt; vì thiếu 5 nghìn đồng “nộp tô”, một nam sinh cấp 2 bị đánh hội đồng dã man; 6 nam sinh bị giáo viên đánh chỉ vì một cái ghế gãy; 6 nữ sinh lớp 9 Trường THCS Quỳnh Long đánh 2 nữ sinh Trường THCS Quỳnh Thuận, Quỳnh Lưu, Nghệ An bằng dép, tát và đối phương dùng chân đạp liên tiếp vào người đối phương như phim hành động (theo dantri.com).

Thứ ba, bạo lực tại các đồn công an: Những năm gần đây người ta thường đồng hóa công an với côn đồ. Bởi vì, công an giả dạng côn đồ hay côn đồ được công an bảo kê để đi đánh người dân. Mặt khác, nhiều người dân được mời đến trụ sở công an, rồi bị đánh cho đến trọng thương, thậm chí bị đánh cho đến chết: Vụ 5 công an dùng nhục hình gây chết người ở Phú Yên; Nam Sinh Tu Ngọc Thạch (14 tuổi, học sinh lớp 9) bị công an đánh chết tại trụ sở công an xã Vạn Long, huyện Vạn Ninh, Tỉnh Khánh Hòa…

Ngoài ra, bạo lực còn xảy ra nơi mọi môi trường chúng ta đang sống: trên đường đi, nơi làm việc, nơi quán ăn nhậu, nơi quán cà phê…Chẳng hạn như: Bảo vệ dân phố sát hại bé trai 6 tuổi ở Sài Gòn; nam thanh niên sát hại người tình tại Royal City - Hà Nội; bé trai 6 tuổi tử vong với nhiều vết thương trên người ở Quảng Bình; nam thanh niên bị đâm chết khi đi dự đám cưới tại Nghĩa Đàn, Nghệ An; nam thanh niên giết người vì đèn pha xe mấy dõi vào mặt ở Nghĩa đàn… (theo kenh14.vn).

Chúng ta phải có thái độ nào trước bạo lực? Chúng ta hãy học gương của các Tông đồ, các thánh Tử đạo và đặc biệt gương của Đức Giêsu, các Ngài không bao giờ chủ trương bạo lực, các Ngài còn lên án bạo lực và khi đứng trước bạo lực mà con người gây ra cho các Ngài, các Ngài vẫn bình tĩnh và chấp nhận theo thánh ý Thiên Chúa. Với Đức Giêsu, trước khi bước vào cuộc khổ nạn, Ngài đã cầu nguyện rằng: “Lạy Cha, xin cất cho con khỏi chén đắng này, nhưng đừng theo ý con một làm theo ý Cha”. Thái độ của Đức Giêsu trước bạo lực cũng được diễn tả trong bài đọc I hôm nay: Người tôi tớ đau khổ ở đây chính là Ngài; Ngài chấp nhận sự bách hại, tra tấn, phỉ nhổ, cô đơn; Ngài nhịn nhục chịu đựng, không dùng bạo lực chống lại bạo lực; đặc biệt, Ngài tin tưởng phó thác vào Thiên Chúa là Đấng sẽ đến giải thoát mình.

Còn chúng ta thì sao? Chúng ta có chủ trương bạo lực không? Hãy xét lại thái độ sống của chúng ta đối với những người thân trong gia đình, với bà con làng xóm láng giềng, với bạn bè và đồng nghiệp nơi chúng ta làm việc và với mọi người chúng ta gặp gỡ. Có khi nào chúng ta dùng bạo lực để giải quyết các vấn đề không? Chồng có dùng bạo lực đối với vợ không? Vợ có dùng bạo lực đối với chồng không? Cha mẹ có dùng bạo lực với con cái không? Con cái có dùng bạo lực đối với cha mẹ không? Anh chị em có dùng bạo lực đối với nhau không?

Hãy quyết tâm: Không được gây ra bạo lực; không được dùng bạo lực để chống lại bạo lực; hãy xây dựng sự hòa thuận trong gia đình và các mối tương quan bằng cách sống hiền lành và khiêm nhường.

Thánh Phanxico Salesio có bẩm tính rất nóng nảy, họ hàng bè bạn ai cũng biết thế …

Một hôm, có người đến Toà Giám Mục Annecy để thăm thánh nhân. Trong câu chuyện trao đổi hai bên, ông ta nhiều lần lớn tiếng cãi vã, đấm bàn đấm ghế, chỉ trích phê bình và mắng nhiếc thánh nhân thậm tệ. Thế nhưng, thánh Phanxicô vẫn cứ ngồi nghe cách thinh lặng, thỉnh thoảng lại nhã nhặn mời ông khách xơi trà, hút thuốc. Trước những câu nói nặng nề xấc láo, thánh nhân vẫn đáp lại bằng những lời lẽ hết sức dịu dàng, khiến ông khách qúy bắt đầu cảm thấy thẹn thùng rồi từ từ rút lui.

Người anh của thánh nhân ngồi ở phòng sau chăm chú theo dõi câu chuyện hai bên. Khi người khách vừa ra khỏi cổng, ông phóng ngay ra phòng thánh nhân và lạ thay…. Phanxicô vẫn tươi cười bình tĩnh! Ông liền nói:

- Nè, chú Phanxicô, xưa nay chú tính nóng như lửa, sao độ này lại hiền từ nhịn nhục đến thế? Tôi ở phòng sau nghe lão ta nói mà sốt ruột lộn gan, muốn nhào ra đánh một trận cho vỡ mặt hắn ra. Ðồ lếu láo mất dạy!

- Anh à, ai cũng có máu Adong cả. Em cũng bực tức xung giận lắm, nhưng em cố gắng theo gương Chúa Giêsu, hiền lành và khiêm nhường trong lòng. Cứ mỗi dịp như vừa rồi, em lại tập thêm được một chút ít bằng cách tự bảo: này hỡi Phanxicô, hãy đậy kỹ vung, đừng mở, đừng nói gì ráo! Cuối cùng em thấy rằng: lấy một giọt mật, bắt được cả bầy ruồi; chứ lấy cả thùng giấm, chẳng tóm được một con. (Trích: chuyện ĐHY Fx Nguyễn Văn Thuận kể)

Lạy Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường xin uốn lòng chúng con nên giống Chúa.

--------------------------

 

Lễlá-383:  Vụ án Baraba và Chúa Giêsu


(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Quốc Quang - Joshepus Quang Nguyễn)

 

Trong Bài Thương Khó, Thánh Máccô viết: “Vì muốn chiều lòng đám đông, ông Phi-la-tô phóng Lễlá-383


Trong Bài Thương Khó, Thánh Máccô viết: “Vì muốn chiều lòng đám đông, ông Phi-la-tô phóng thích tên Ba-ra-ba, truyền đánh đòn Đức Giê-su, rồi trao Người cho họ đóng đinh vào thập giá”. Vậy Baraba là ai? Theo thánh Mátthêu Baraba là một phạm nhân khét tiếng (Mt 27,16), thánh Máccô lại cho rằng Baraba là một tên phiến loạn (Mc 15,7) và thánh Gioan gọi là một tên trộm cướp (Ga 18,40). Từ những chứng cứ trên, ta có thể nói rằng rằng Baraba là một phạm nhân chính trị, một chiến sĩ tham gia vào cuộc chiến dành độc lập cho dân tộc Israel và có lẽ đã giết chết nhiều quân Rôma trong một cuộc nổi dậy. Vì thế bị quân Rôma bắt giữ và lên án. Hiểu như thế thì Baraba là biểu tượng giải phóng dân tộc bằng đường lối quen thuộc, đó là đường lối của bạo lực và gươm giáo. Và như vậy, khi người Do Thái đòi thả Baraba mà đóng đinh Giêsu là họ đã phủ nhận niềm hy vọng về Nước Trời mà Đức Giêsu loan báo là tình thương, phục vụ và tha thứ để rồi đặt tất cả mọi cư xử bằng bạo lực.

Vụ án đó hôm nay vẫn diễn ra trong tâm hồn chúng ta, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta cùng đi với Người trên nẻo tình thương và những giá trị Tin Mừng, nhưng có những lúc chúng ta thấy nẻo đướng ấy xa xôi quá, những thực tại xã hội này rất gần gũi và hấp dẫn nhiều vì thế đã nhiều lần chúng ta chối Chúa Giêsu và đòi đóng đinh giá trị Tin Mừng, cho nên chúng ta buông mình cho những đam mê tội lỗi. Cụ thể, xã hội này mà Chúa còn bảo thật thà, xã hội này mà Chúa bảo chớ gian dối, hay xã hội này mà Chúa cấm phá thai... Những thứ này ai ai cũng làm được mà, tại sao người công giáo lại không?!

Lạy Chúa Giêsu, xin tha lỗi cho chúng con bởi vì tuy mang danh Kitô hữu nhưng có lúc đã phủ nhận những gì Ngài loan báo, xin cho chúng con được lớn lên trong niềm xác tín rằng: đường thập giá, đường Chúa đi là đường hy vọng bình an và đầy tình thương.

Lạy Chúa Giêsu, xin tha lỗi cho chúng con vì con hèn nhát lắm, xin cho chúng con một tâm hồn đại độ biết cho đi mà không cần tính toán, biết chiến đấu mà không ngại thương đau, biết làm việc mà không tìm an nghỉ, biết tiêu hao chính mình cho tha nhân mà không đợi một phần thưởng nào khác hơn là chính Chúa vì Chúa là hy vọng của chúng con.

Lạy Chúa Giêsu, xin tha lỗi cho chúng con vì chúng con ích kỷ lắm, trên cây thập giá này, Chúa đã đi cho đến tận cùng nẻo đường của một Thiên Chúa muốn hủy mình ra không để thánh ý của Cha và hạnh phúc của nhân loại trở thành tất cả lẽ sống của đời Chúa. Xin Chúa dạy cho chúng con cũng được chia sẻ thập giá của Chúa bằng cách mỗi ngày chúng con biết ra khỏi chính mình con để mở lòng ra với Thiên Chúa và với anh chị em con qua việc yêu thương, phục vụ và tha thứ. Amen.

--------------------------

 

Lễlá-384: Sự Thương Khó của Chúa

(Suy niệm của Lm. Trầm Phúc)

 

Cuộc tử nạn của Chúa Giêsu được cả bốn thánh sử kể lại, mỗi người một ý hướng riêng, một chủ Lễlá-384


Cuộc tử nạn của Chúa Giêsu được cả bốn thánh sử kể lại, mỗi người một ý hướng riêng, một chủ đích riêng. Chúng ta thường muốn phối hợp cả bốn thánh sử lại để có một bản duy nhất, đầy đủ mọi chi tiết. Làm như thế, chúng ta không hiểu được ý hướng và chủ đích của mỗi tác giả.

Hôm nay, chúng ta được mời gọi đi vào cuộc tử nạn của Chúa Giêsu với thánh Máccô.

Trình thuật của thánh Máccô ngắn gọn hơn các thánh sử khác. Máccô nhấn mạnh đến những nhục nhã và thống khổ của Chúa Giêsu hơn tất cả những trình thuật khác. Máccô không sợ phơi bày hình ảnh của một Chúa Giêsu bị nhục mạ, bị chối từ và bị ruồng bỏ…

Chúng ta hãy đọc lại từ từ… Chúng ta sẽ thấy rằng Máccô có dụng ý làm nổi bật vai trò cứu thế của Chúa Giêsu.

Nơi Máccô, chúng ta thấy hình ảnh của một con người đau khổ đến tột độ, nhưng Ngài vẫn hiên ngang tuyên bố khi Caipha, Thầy Thượng Tế hỏi Ngài: “Ông có phải là Đấng Kitô, Con của Đấng đáng chúc tụng không?” Ngài tuyên bố: “Phải, chính thế. Rồi các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng, và ngự giá mây trời mà đến”.

Một lời tuyên bố long trọng giữa Hội Đồng Do Thái. Ngài biết rõ họ sẽ dùng chính lời của Ngài để buộc tội Ngài, nhưng Ngài vẫn hiên ngang, không rụt rè e ngại. Lời tuyên bố long trọng này, không ai chấp nhận và đã trở thành án tử hình cho Ngài, nhưng đó chính là vinh quang. Án tử hình đó thực hiện chương trình cứu độ của Thiên Chúa.

Sau đó, Máccô chỉ nói ngắn gọn: “họ khạc nhổ vào Người, bịt mắt Người lại, vừa đánh đấm Người”.

Ngài đã trở thành nạn nhân của hận thù, của sự dã man của con người. Để cứu con người, Ngài đã trở thành nạn nhân của con người. Trong số đó có chúng ta không?

Trong đêm đó… Phêrô chối Thầy, các môn đệ đều bỏ Thầy…

Chúa Giêsu đi vào cuộc tử nạn một mình…

“Linh hồn Thầy buồn đến chết được!”

Chúng ta có cảm thấy nghẹn ngào khi nghe tiếng nói đau thương này không?

“Buồn đến chết được!” Nỗi buồn như một làn sóng ào ạt trên tâm hồn Ngài, đến nỗi Ngài phải thốt lên một lời than thở não nuột như thế.

Chúng ta làm sao đo được chiều kích của một tâm hồn đang phải vật lộn với cả khối tội ác khổng lồ của thế gian?

Ba người đã nghe tiếng than đó là Phêrô, Giacôbê và Gioan. Nhưng họ có hiểu không? Chúng ta có hiểu không?

Chắc họ cũng như chúng ta… Họ ngủ hết…

Chúng ta cũng ngủ hay vô tình. Vô can!

Ngài đi xa hơn một chút, sấp mình xuống đất và cầu nguyện …

Ngài chỉ còn một nơi nương tựa: Đó là Chúa Cha.

“Lạy Cha…xin cất chén này xa Con…” Ngài sợ chén Cha trao. Ngài sợ đến nỗi phải van xin, như bệnh nhân ung thư vừa được bác sĩ cho biết là không còn hy vọng.

Dưới ánh trăng lạnh của Tuần lễ Vượt Qua, Chúa Giêsu đối mặt với cơn thủy triều đau đớn… Trước mắt Ngài, hình ảnh cây thập giá đang hiện rõ… Phải đi tới cùng, không thể lùi bước: “Chính vì giờ này mà Con đến”. “Nhưng xin đừng làm theo ý con muốn, mà làm theo ý Cha muốn”.

Sự vâng phục can đảm không thể tưởng được! Vâng phục trong cơn sợ hãi lạnh người! Sự vâng phục tuyệt đối này đã đưa Ngài đi thật xa, đến sự bỏ mình, chấp nhận tất cả nhục hình và cái chết thống khổ.

Những khổ hình bên ngoài chỉ là dấu hiệu của một khổ hình đáng sợ hơn là cuộc khổ hình trong tâm hồn. Ngài gánh chịu tất cả khối tội ác của con người.

Đau khổ của Chúa Giêsu là một vực thẳm không ai dò thấu… Chúng ta cũng không thể hiểu với khả năng của con người. Chúng ta chỉ có thể hiểu được phần nào dưới ánh sáng của Thánh Thần Tình Yêu mà thôi. Xin Ngài dẫn đưa chúng ta vào sâu trong mầu nhiệm đau thương này để thấy rằng chúng ta được “yêu đến tận cùng”.

Các thánh như Anphongsô, thánh Gioan Thánh Giá… khuyến khích chúng ta năng suy gẫm cuộc tử nạn của Chúa để nhờ đó yêu mến Chúa hơn.

Philatô, một viên chức cao cấp của Rôma, sau khi tỏ ra hết sức ngay thẳng đã đầu hàng. Ông sợ cho chiếc ghế của ông và đứng trước áp lực của đám dân hò hét, ông đã nhượng bộ. Ông trao cho lính Rôma hành hình Chúa Giêsu, người mà ông cho là vô tội: “Ông ấy đã làm gì gian ác?” Đứng trước lợi lộc trần gian, chúng ta có lẽ cũng như Philatô thôi. Chúng ta cũng có thể bỏ quên lương tâm, bỏ quên công bằng, bác ái, bỏ quên cả phẩm chất thiêng liêng của chúng ta. Đừng vội lên án những con người yếu đuối, hãy nhìn vào con người thật của chúng ta. Hãy lên án chính mình trước.

Hành hình xong, bọn lính lại tiếp tục một trò chơi “lính tráng”, là tôn vinh Vua Do Thái. Họ biến Ngài thành một ông vua hề, để nhạo cười, lăng nhục Ngài. Vô tình, chắc hẳn là vô tình, bọn lính đã tôn vinh Chúa Giêsu với tước hiệu vua dân Do Thái. Dân Do Thái đã tố cáo Ngài là vua dân Do Thái. Philatô lặp đi lặp lại tước hiệu này hai lần. Bảng án ghi rõ: “Vua người Do Thái”. Khi Ngài đang chịu treo trên thập giá, các thượng tế, kinh sư cũng nhạo cười Ngài với tước hiệu vua đó: “Ông Kitô, Vua Israel”.

Vô tình hay hữu ý, họ đã tôn vinh Ngài là Vua. Thánh Maccô không vô tình khi viết lại điều này, vì đối với Maccô hay với chúng ta, Chúa Giêsu chịu chết với tước hiệu là vua trên hết các vua. Vương quyền của Ngài không phải như vương quyền nhỏ bé, mong manh của các vua trần thế. Vương quyền Ngài là vương quyền bất diệt, vương quyền của sự thật và sự sống. Ngài chấp nhận chết đau thương như thế vì Ngài phải chinh phục lại giang sơn của Ngài đã rơi vào tay “đầu mục thế gian”.

Hôm nay, chúng ta lên đồi Canvê với Ngài để nhìn Ngài chết.

Chúng ta nghĩ gì?

Cái chết nhục nhã của Ngài có ý nghĩa gì với chúng ta hôm nay?

Chúng ta ở đâu khi Ngài “buồn đến chết được”?

Chúng ta ở đâu khi Ngài bị đánh đòn, nhục mạ không thương xót? Khi Ngài bị bỏ rơi trên thập giá? Khi Ngài bị ngạo nghễ chà đạp?

Giờ đây, khi sống lại với Ngài những giờ phút đau thương tột đỉnh của Ngài, chúng ta có cảm thấy thương Ngài hơn không? Chúng ta có cảm thấy trách nhiệm của chúng ta không? Vì chúng ta mà Ngài đã trở nên “thân sâu bọ”, chịu đựng tất cả sự tàn ác dã man của con người.

Chúng ta vẫn ung dung chơi đùa vô tư, vẫn yêu mến tội lỗi của mình sao? Chúng ta hãy nhìn về “Đấng đã yêu thương chúng ta và đã liều mạng cho chúng ta”.

Hãy tạ ơn Ngài mà thôi; vì chính nhờ Ngài mà chúng ta nhận được sự sống, chính nhờ Ngài mà chúng ta tìm thấy hy vọng được hạnh phúc. Cuộc sống hôm nay của chúng ta sẽ tươi đẹp hơn và chúng ta sẽ không sợ hãi trước cuộc sống và gánh nặng của nó.

Cuộc sống của chúng ta hôm nay sẽ là Chúa Kitô, mà là Chúa Kitô chịu đóng đinh như thánh Phaolô đã nói. Nhờ vậy, chúng ta sẽ can đảm hơn, hy sinh hơn.

Hôm nay, chúng ta đã tung hô Chúa và đón tiếp Ngài nồng nhiệt như dân Do Thái xưa, và sẽ yêu mến Ngài chân thành hơn, sâu đậm hơn, vì Ngài chẳng những chết cho chúng ta mà còn trở nên của ăn ban sự sống đời đời cho chúng ta nữa.

Hãy tiếp tục sống với ngày những ngày sống trần gian đầy lao nhọc này và làm cho Ngài được yêu thương hơn.

--------------------------

 

Lễlá-385: Từ những nghịch lý

(Suy niệm của AM Trần Bình An)

 

Cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu xem chừng tràn ngập những nghịch lý khó hiểu dưới con mắt Lễlá-385


Cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu xem chừng tràn ngập những nghịch lý khó hiểu dưới con mắt thế gian. Không riêng gì với những người ngoài Ki tô giáo, mà có thể cả những tín hữu, con chiên của Chúa cũng cảm nhận như thế.

1. Nghịch lý từ quần chúng.

Sau khi tưng bừng hoan hỉ đón chào Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem như vị minh quân đáng kính, tái hiện lại hình ảnh vua Salomon cưỡi con la cái của vua Đavit xuống Ghi khôn (1V 1, 38), dân chúng Israel lại sớm hùa theo các thầy thượng tế, Biệt Phái, quay lưng trở cờ lên án, kết tội Chúa và thậm chí còn quá khích, đòi đóng đinh Người.

Một sự phản bội trắng trợn đầy kịch tính và đau xót vô cùng. Nhớ lại một thuở dân chúng đã từng mê say, háo hức đi theo Chúa, vì thấy Người đầy quyền năng, giảng dạy, chữa bệnh, trừ quỷ, nuôi ăn… Nay Chúa bị bắt, bị tra khảo, đánh đập, bị lăng nhục, thì quần chúng quay ra phỉ nhổ, khinh miệt và tố cáo. Dĩ nhiên họ chịu tác động từ các thầy thượng tế, Biết Phái cùng đồng bọn thù hằn với Đấng Cửu Thế.

Từ nghịch lý này gợi lên tính phù vân của quyền lực và vinh quang nay còn mai mất, chứng tỏ lòng dạ con người dễ thay đổi, bất trung, dễ dàng phản bội, lấy oán báo ân.

Từ nghịch lý này, tưởng chừng như bóng tồi đã che khuất hoàn toàn ánh sáng. Sự ác đã thắng thế trên thế gian. Nhưng làm sao thế gian biết được rằng sự tột cùng của cái ác lại nảy sinh ra Tình Yêu vĩ đại. Đó là chính Chúa Giêsu đã tự nguyện nhập thế, gánh hết tội lỗi, cứu rỗi mọi người, "Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi" (Ga 12, 32).

2. Nghịch lý từ tình nghĩa thầy trò.

Người môn đệ được giao tay hòm chìa khóa, lại tráo trở, phản phúc, âm mưu, cùng đồng lõa với giới lãnh đạo tôn giáo đã thoái hóa, biến chất, để bán đứng Thầy mình, lấy 30 đồng bạc. Phải chăng Chúa đã lầm lẫn, không biết tuyển chọn kỹ càng các môn đệ, mới để Giuđa Iscariot cùng đồng hành suốt 3 năm?

Còn thêm một môn đệ nữa, cũng được Chúa Giêsu tin cậy, ưu ái, đã chối bỏ Chúa trước mặt đám gia nhân 3 lần trước khi gà gáy 2 lần. Mặc dù ông Phêrô đã được Chúa cảnh báo trước đó không lâu, cũng như ông đã từng thề thốt trung thành với Người. May thay ông còn kịp sám hối, ăn năn trở lại, vì còn tin cậy vào lòng Thương Xót của Chúa.

Từ nghịch lý này chứng minh lòng tham, lòng ham mê của cải vật chất, ham mê hưởng lạc, lòng bất trung, bất nghĩa, có thể xuất hiện ở bất cứ nơi đâu, bất cứ người nào, cho dù phải bán đi, hay gây đổ máu cả người thân, một khi xa lìa Chúa, đánh mất đi mối hiệp thông sâu xa và bền vững.

Từ nghịch lý này, cũng minh chứng cái bản năng sinh tồn còn mạnh mẽ hơn cả tình nghĩa thầy trò. Cái thói tham sống sợ chết có lẽ đã nằm trong gien di truyền của loài thọ tạo. Thế mà Chúa lại dạy: “Ai qúy mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được.” (Ga 12, 25) Người đã hé mở cho thế gian biết đâu là hơn thiệt.

3. Nghịch lý từ công lý thế gian

Từ dinh thầy cả Caipha, sang dinh Hêrôđê, đến dinh tổng trấn Philatô, chẳng có bản án chính thức nào có thể buộc tội Chúa Giêsu. Đến nỗi quan tổng trấn Philatô thấy Người quá oan ức, chẳng có tội tình gì, đã toan tha bổng, nhưng chính cánh quần chúng tự phát cứ một mực đồng thanh la lên, đòi đóng đinh Chúa Giêsu.

Ôi! công lý của thế gian là thế đó, nó uốn cong theo sức mạnh quyền lực và tài lực, nó chỉ răm rắp thỏa mãn cái dã tâm của nhà cầm quyền, hay tập thể lãnh đạo nào đó. Chính nghịch lý này khiến cho con người bao đời luôn luôn đói khát tìm kiếm sự thật và công lý. Điều chỉ có ở Đấng Thiên Sai mà thôi. Chính Chúa Giêsu đã công khai công bố: “Thầy là đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14,6). Chỉ đến với Người, con người mới nhận được Công lý thật.

Lạy Chúa Giê su, mầu nhiệm cuộc Khổ Nạn còn biết bao điều kỳ diệu, mà con chưa thể khám phá và hiểu thấu đáo. Xin cho con được hiệp thông phần nào, qua những khó nhọc, đau khổ hằng ngày, hầu con được ơn cứu rỗi.

Lạy Mẹ Maria từ bi nhân ái, xin chỉ dạy con ý nghĩa sự đau khổ, cho con sẵn lòng chấp nhận, hầu ăn năn sám hối tội lỗi, lánh xa dịp tội. Biết sống trung thành với Chúa luôn mãi. Amen.

--------------------------

 

Lễlá-386: Hành trình đau khổ - Trầm Thiên Thu

 

Người ta thường nói: “Khổ ải trần gian” hoặc “Đời là bể khổ”. Vâng, “biển khổ” chứ không phải Lễlá-386


Người ta thường nói: “Khổ ải trần gian” hoặc “Đời là bể khổ”. Vâng, “biển khổ” chứ không phải “sông khổ” hoặc “ao khổ”. Điều đó cho thấy kiếp người không ngừng nối tiếp đau khổ, là một hành trình đau khổ triền miên. Có lẽ do vậy mà khi sinh ra không ai cười, ai cũng “cất tiếng khóc chào đời”. Biết chấp nhận thì có thể “hóa giải” đau khổ thành niềm vui, nếu không thì càng chồng chất thêm đau khổ mà thôi.

Hơn 2000 năm trước, Thích Ca Mâu Ni là người sống trong cung vàng điện ngọc, nhưng ông đã “giác ngộ” sau khi nhìn thấy những cảnh khổ của kiếp người, thế nên ông quyết ngồi thiền dưới gốc bồ đề để tu thân và “tâm niệm” Tứ Diệu Đế: Sinh là khổ, Bệnh là khổ, Lão là khổ, và Khổ là khổ. Ông đã siêu thoát và được người ta tôn vinh là Đức Phật. Muốn thoát đau khổ không gì hơn là đi xuyên qua đau khổ. Chúa Giêsu cưỡi lừa vào thành Giêrusalem, được người ta tung hô khi tay họ cầm lá thiên tuế chào đón. Nhưng đó cũng là lúc Ngài khởi đầu “hành trình đau khổ”.

TÔI TỚ ĐAU KHỔ

Ngôn sứ Isaia nhiều lần tiên báo về “người tôi tớ đau khổ”. Ông cảm thấy Đức Chúa là Chúa Thượng đã cho ông nói năng như một người môn đệ, để ông biết lựa lời nâng đỡ ai rã rời kiệt sức. Ông xác nhận: “Sáng sáng Người đánh thức tôi để tôi lắng tai nghe như một người môn đệ” (Is 50:4). Ông cho biết thêm: “Đức Chúa là Chúa Thượng đã mở tai tôi, còn tôi, tôi không cưỡng lại, cũng chẳng tháo lui” (Is 50:5).

Ngôn sứ Isaia “không cưỡng lại” và “không thoái lui” dù ông phải “đưa lưng cho người ta đánh đòn, giơ má cho người ta giật râu” và “không che mặt khi bị mắng nhiếc, phỉ nhổ” (Is 50:6). Ông tin mình “có Đức Chúa là Chúa Thượng phù trợ”, vì thế, ông “không hổ thẹn” mà cứ “trơ mặt ra như đá”. Thế nên ông biết mình sẽ “không phải thẹn thùng” (Is 50:7). Ông là hình ảnh của Đức Kitô, con người của đau khổ, khởi đầu “hành trình đau khổ” từ Giêrusalem, ngay khi được người ta cầm những cành thiên tuế tung hô là vua.

Tác giả Thánh vịnh mô tả về tình trạng chịu nhục nhã ê chề:

Thấy con ai cũng chê cười
Lắc đầu, bĩu mỏ, buông lời mỉa mai:

“Nó trông cậy Đức Chúa Trời
Cứ để mặc Người giải cứu nó đi!” (Tv 22:8-9)

Người-Tôi-Tớ-Đau-Khổ không chỉ bị khiêu khích, bị đau khổ về tinh thần mà còn bị đau khổ về thể lý:

Quanh con bầy chó bao chặt chẽ
Bọn ác nhân vây bủa trong ngoài
Chúng đâm con thủng chân tay
Xương con đếm được vắn dài, chúng xem (Tv 22:17-18)

Người-Tôi-Tớ-Đau-Khổ bị đau khổ đến tận cùng, nhưng vẫn luôn trông cậy vào Thiên Chúa:

Áo mặc ngoài chúng đem chia chác
Còn áo trong cũng bắt thăm luôn
Chúa là sức mạnh con nương
Cứu mau, lạy Chúa, xin đừng đứng xa! (Tv 22:19-20)

Đồng thời vẫn muốn tôn vinh Thiên Chúa trong chính những đau khổ của mình:

Con nguyện sẽ loan truyền danh Chúa
Cho anh em tất cả được hay
Và trong đại hội dân Ngài
Con xin dâng tiến một bài tán dương (Tv 22:23)

Người-Tôi-Tớ-Đau-Khổ luôn trung tín với Thiên Chúa, tự động viên mình và khuyến khích người khác: “Hỡi những ai kính sợ Đức Chúa, hãy ca tụng Người đi! Hỡi toàn thể giống nòi Gia-cóp, nào hãy tôn vinh Người! Dòng dõi Ítraen tất cả, nào một dạ khiếp oai!” (Tv 22:24).

CHẤP NHẬN ĐAU KHỔ

Thánh Phaolô vừa phân tích vừa xác định: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế” (Pl 2:6). Đạo cũng như đời, người quyền cao chức trọng có mấy ai dám “vi hành” để hiểu rõ cảnh khổ của người dân?

Trong tác phẩm Authority: Its Use and Abuse (*) có kể một số “điểm son” của Đức cố GM Irumpen, GP Palakkad (Ấn Độ), đáng để chúng ta noi gương: Mỗi Chúa nhật, ngài đến một giáo xứ nào đó mà không báo trước, ngồi tòa giải tội khoảng 15-20 phút, dâng lễ, giảng lễ, dạy giáo lý, và chuyện trò với giáo dân và linh mục quản xứ; ngài không bao giờ cho phép người ta tổ chức tiếp tân chào mừng ngài tại các giáo xứ. Và tại tòa giám mục hay ở bất cứ nơi đâu mà ngài ghé thăm, ngài không nhận bất cứ sự biệt đãi nào dành cho mình; ngài cho rằng sự hào nhoáng bên ngoài (kiểu như đoàn xe đưa rước trong những dịp đặc biệt) không phải là chứng nhân Tin Mừng mà là chứng nhân của văn hóa thế tục; hằng ngày ngài dành thời gian từ 9 giờ đến 12 giờ để tiếp bất cứ ai đến gặp, không cần hẹn trước; ngài không bao giờ nghỉ trưa; ngài chỉ dự những lễ kỷ niệm chịu chức hay khấn dòng nếu những lễ ấy tổ chức ở nhà thờ chính tòa; ngài không tổ chức mừng ngày kỷ niệm thụ phong giám mục của mình.

Năm nào ngài cũng mừng lễ bổn mạng, dịp các linh mục tĩnh tâm tháng vào ngày 19-3. Linh mục đoàn cùng nâng cốc chúc mừng và nhâm nhi chút bánh ngọt; ngài không đưa lên bảng thông tin giáo phận các tin về hoạt động hay đi lại của ngài trong giáo phận, mà chỉ thông tin cho mọi người biết trước về những trường hợp ngài phải ra ngoài giáo phận quá một ngày, chẳng hạn khi ngài sắp đi dự họp Hội Đồng Giám Mục,...; ngài không bao giờ đi nước ngoài, trừ phi đó là bổn phận bắt buộc như về Rôma dịp Ad limina. Ngài không bao giờ đi nước ngoài để quyên tiền. Ngài nói rằng các nhu cầu căn bản của giáo phận cần phải được gánh vác bởi chính giáo dân trong giáo phận; không bao giờ có chuyện “phạt treo”, chẳng hạn không cấp giấy chứng chỉ hôn phối vì người ta chưa đóng góp quĩ; ngài luôn ăn mặc giản dị, ăn chay trường, và chẳng ai thấy hình ảnh của ngài trên báo chí; ngài hưu trí tại nhà hưu của các linh mục cao niên. Cuộc đời ngài thật đơn giản, tất cả đồ đạc xếp gọn trong một chuyến xe nhỏ; giáo phận tặng ngài một ô tô dịp ngài về hưu, nhưng ngài không nhận, chỉ muốn được trợ cấp hưu bổng đúng theo mức hưu dưỡng như các linh mục khác trong giáo phận; ngài không muốn xin viện trợ từ bên ngoài để xây các nhà thờ to lớn. Nếu ai dâng hiến đất, ngài sẽ xây một nhà thờ vừa phải với sự hỗ trợ của chính các giáo dân địa phương; văn phòng của ngài là một gian phòng nhỏ trong một ngôi nhà cũ kỹ, không có bất cứ món trang trí nào; ngài là một chứng nhân Tin Mừng, sống điều ngài rao giảng, cách sống của ngài cho thấy rõ quyền bính là để phục vụ.

Tại Việt Nam có gương sáng của Đức cố GM Cassaigne (người Pháp, quen gọi cha Sanh, nguyên giám mục GP Saigon), vị tông đồ của người cùi. Ngài cũng đã từng rong ruổi khắp khu dân cư nghèo để thấy rõ thực tế, cửa tòa giám mục cũng luôn rộng mở đón tiếp mọi người.

Những chứng nhân như vậy thật đáng khâm phục vì đúng là những mục tử của Chúa, dám quên mình vì đoàn chiên.

Chúa Giêsu không chỉ là Người-Tôi-Tớ-Đau-Khổ mà còn là Người-Tôi-Tớ-Đau-Khổ-Khiêm-Nhường: “Ngài lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2:7). Cái chết của Ngài khác thường là “chết trên thập giá”, loại khổ hình nhục nhã nhất thời đó. Chính vì Ngài chịu đau khổ đến tột cùng mà “Thiên Chúa đã siêu tôn Ngài và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu” (Pl 2:9), danh hiệu ấy cao cả và quyền năng đến nỗi “khi vừa nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ” (Pl 2:10). Để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: “Đức Giêsu Kitô là Chúa” (Pl 2:11).

Trong cuộc sống, không ai muốn đau khổ, nghĩa là ai cũng muốn sống sung sướng, muốn tận hưởng niềm hạnh phúc – tận hưởng bằng mọi cách và càng nhiều càng tốt. Vì thế mà con người miệt mài đêm ngày đi tìm hạnh phúc. Đau khổ luôn là điều bí ẩn đối với cuộc sống. Thậm chí những người chấp nhận đau khổ có thể bị coi là “ngu xuẩn”, là “dại dột”, là “điên khùng”.

Bất kỳ ở quốc gia nào, một bị cáo đứng trước vành móng ngựa cũng có luật sư bào chữa. Trong Giáo hội Công giáo, trước khi phong thánh cho ai thì cũng có 2 “phe”, một phe đưa ra các điều tốt và một phe đưa ra các điều xấu – được gọi là “luật sư của quỷ”, phe luật sư này sẽ đưa ra mọi thứ “bất lợi” cho ứng viên đến khi “chịu thua” mới thôi. Chẳng hạn trường hợp của Chân phước GH Gioan XXIII, luật-sư-của-quỷ đã hết cách nên đành “tố cáo” Gioan XXIII hồi nhỏ hay chơi diều.

Còn Chúa Giêsu, khi bị xét xử, dù không ai thấy Ngài có tội gì ngoài “tội làm điều tốt”, không hề có luật sư bào chữa. Phúc âm theo thánh sử Mác-cô ghi rõ rằng vừa tảng sáng, các thượng tế đã họp bàn với các kỳ mục và kinh sư, tức là toàn thể Thượng Hội Đồng. Sau đó, họ trói Đức Giêsu lại và giải đi nộp cho ông Philatô. Ông Philatô hỏi Ngài: “Ông là vua dân Do Thái sao?” (Mc 15:2a). Chúa Giêsu trả lời: “Đúng như ngài nói đó” (Mc 15:2b). “Đúng như ngài nói đó”, một câu nói đơn giản mà thâm thúy và khiêm nhường. Chúa Giêsu không hề tự nhận là Vua-dân-Do-Thái mà tại người ta nói vậy. Ngài chỉ tự nhận” là Con-Số-Không: “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu” (Mt 8:20; Lc 9:58) và “Tôi đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mc 10:45).

Các thượng tế tố cáo Người nhiều tội, nên ông Philatô lại hỏi: “Ông không trả lời gì sao? Nghe kìa, họ tố cáo ông biết bao nhiêu tội!” (Mc 10:4). Nhưng Đức Giêsu không trả lời gì nữa, khiến ông Philatô phải ngạc nhiên. Người hiểu thì không cần giải thích, người không hiểu thì giải thích cũng vô ích.

Vào mỗi dịp lễ lớn, ông Philatô thường phóng thích cho dân một người tù, tuỳ ý họ xin. Khi ấy có tử tù “khét tiếng” Baraba đang bị giam với những tên phiến loạn đã giết người trong một vụ nổi dậy. Đám đông kéo nhau lên yêu cầu tổng trấn ban ân xá như thường lệ. Ông Philatô hỏi: “Các ông có muốn ta phóng thích cho các ông vua dân Do Thái không?” (Mc 10:9). Ông thừa biết chỉ vì ghen tị mà các thượng tế nộp Ngài. Nhưng các thượng tế xách động đám đông đòi ông Philatô phóng thích Baraba. Bị áp lực mạnh nên ông Philatô lại hỏi: “Vậy ta phải xử thế nào với người mà các ông gọi là vua dân Do Thái?”. Họ la lên: “Đóng đinh nó vào thập giá!” (Mc 10:13). Ông Philatô muốn tha Chúa Giêsu vì thấy Ngài vô tội, nhưng ông ta hèn nhát và sợ mất chức quyền, ông cù cưa: “Nhưng ông ấy đã làm điều gì gian ác?” (Mc 10:14a). Nhưng họ càng la to: “Đóng đinh nó vào thập giá!” (Mc 10:14b).

Vì muốn chiều lòng đám đông, ông Philatô phóng thích Baraba và truyền đánh đòn Đức Giêsu, rồi trao Ngài cho họ đóng đinh vào thập giá. Lính điệu Đức Giêsu vào bên trong dinh tổng trấn, và tập trung cả cơ đội lại. Chúng khoác cho Ngài một tấm áo điều, và kết một vòng gai làm vương miện đặt lên đầu Ngài, rồi mỉa mai: “Vạn tuế đức vua dân Do Thái!” (Mc 10:18). Chúng lấy cây sậy đập lên đầu Ngài, khạc nhổ vào Ngài. Chế giễu chán, chúng lột áo điều ra, và cho Ngài mặc áo lại như trước. Vải dính vào những vết thương sẽ rất đau đớn khi bị giật áo ra. Cảnh tượng thật hãi hùng!

Thường thì các tử tội được ân huệ sau cùng, nhưng Chúa Giêsu không hề được ân huệ cuối cùng nào, có chăng chỉ là chút giấm chua. Bị hành hạ đủ kiểu, thương tích đầy mình, thế mà Ngài còn phải tự vác thập giá đi lên đồi. Lúc ấy, có một người tên Simôn (gốc Kyrênê, từ miền quê lên) đi ngang qua đó. Chúng bắt ông vác thập giá đỡ Đức Giêsu. Tới Gôngôtha, nghĩa là Đồi Sọ, chúng trao rượu pha mộc dược cho Ngài, nhưng Ngài không uống. Chúng đè Ngài xuống và đóng đinh vào thập giá, rồi đem áo Ngài ra bắt thăm mà chia nhau. Lúc chúng đóng đinh Người là giờ thứ ba (khoảng 9 giờ sáng).

Cùng bị đóng đinh với Ngài là hai tên cướp. Ngài bị liệt vào hạng những tên phạm pháp. Kẻ qua người lại đều nhục mạ Ngài, vừa lắc đầu vừa nói: “Ê, mi là kẻ phá Đền Thờ, và nội trong ba ngày xây lại được, có giỏi thì xuống khỏi thập giá mà cứu mình đi!” (Mc 10:29-30). Các thượng tế và kinh sư cũng chế giễu Ngài như vậy, và kháo nhau: “Hắn cứu được thiên hạ, mà chẳng cứu nổi mình”. Rồi họ thách thức: “Ông Kitô vua Ít-ra-en, cứ xuống khỏi thập giá ngay bây giờ đi, để chúng ta thấy và tin” (Mc 10:31-32). Thậm chí cả một tên cùng chịu đóng đinh với Ngài cũng không biết thân mà còn nhục mạ Ngài.

Bóng tối bao phủ khắp mặt đất từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín (khoảng 12 giờ tới 15 giờ). Một hiện tượng thiên nhiên bất thường, vô cùng kỳ lạ. Vào giờ thứ chín, Đức Giêsu kêu lớn tiếng: “Ê-lôi, Ê-lôi, la-ma-xa-bác-tha-ni!” – nghĩa là: “Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mc 10:34). Nghe vậy, một vài người đứng đó liền nói: “Kìa hắn kêu cứu ông Êlia”. Có kẻ chạy đi lấy một miếng bọt biển, thấm đầy giấm, cắm vào một cây sậy, đưa lên cho Người uống mà nói: “Để xem ông Êlia có đến đem hắn xuống không”.

Đức Giêsu lại kêu lên một tiếng lớn, rồi tắt thở. Bức màn trướng trong Đền Thờ bỗng xé ra làm hai từ trên xuống dưới. Lại một sự kiện lạ lùng nữa. Chính viên đại đội trưởng đứng đối diện với Đức Giêsu, thấy Ngài tắt thở như vậy liền nói: “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa” (Mc 10:39). Thế là hoàn tất hành-trình-đau-khổ. Người không tin thì đó là thất bại ê chề của Đức Kitô, nhưng họ lầm to. Đối với những người tin Ngài thì đó là Ơn Cứu Độ. Giáo hội cùng chịu Đại Tang, không chỉ là quốc tang mà còn là thế giới tang!

Lạy Chúa, chúng con thành tâm sám hối và xin lỗi Chúa, xin thương xót và tha thứ. Xin cảm tạ Chúa Cha đã ban Đấng Cứu Thế cho chúng con. Chúng con thật may mắn và hạnh phúc vì được tận hưởng Lòng Thương Xót vô biên qua cái chết của Đức Kitô. Xin giúp chúng con can đảm sống xứng đáng với Ơn Cứu Độ, kiên trì đi trọn hành trình đau khổ và làm chứng nhân của Lòng Chúa Thương Xót, để chúng con cũng được cùng phục sinh với Chúa Con. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng con. Amen.

********
(*) Authority: Its Use and Abuse (Sử dụng và Lạm dụng quyền bính), sách của LM C.P. Varkey (NXB The Bombay Saint Paul Society, 1999).

--------------------------

 

Lễlá-387: Ai là bạn của tôi?


(Suy niệm của Lm. Jos Tạ Duy Tuyền)

 

Có ai đó nói rằng: “Trời mưa rồi, mới biết ai sẽ là người đưa dù cho bạn. Gặp chuyện rồi, mới Lễlá-387


Có ai đó nói rằng: “Trời mưa rồi, mới biết ai sẽ là người đưa dù cho bạn. Gặp chuyện rồi, mới biết ai sẽ là người đối đãi với bạn thật lòng. Có những người chỉ biết thêu hoa trên gấm, chứ không biết đưa than trong những ngày đông. Lại có những người chỉ biết thêm dầu vào lửa, chứ không biết đối đãi chân thành”.

Nhiều người vẫn tự hào có đông bạn bè, nhưng người thật sự hết lòng vì mình liệu có được mấy ai?

Có một người kể rằng vì vấn đề trong làm ăn nên anh đang cần gấp một số tiền. Anh liền gọi điện cho những bạn bè thân thiết của anh. Đều được trả lời là không thể giúp với nhiều lý do. Anh đã dựa vào độ thân thiết mà gọi 9 cuộc điện thoại kêu cứu, nhưng càng gọi về sau thì càng không có lòng tin. Cho tới cuộc gọi thứ 10 chỉ là thử vận may mà thôi, thế mà anh lại được một người bạn ít thân thiết sẵn lòng cho mượn.

Cuối cùng anh kết luận rằng: “Nếu không phải lần mượn tiền này, tôi còn tưởng rằng mình có rất nhiều bạn bè, bây giờ tôi mới hiểu thì ra tôi cô đơn đến như vậy!”

Đời người, gặp nhau là do duyên Trời, ấm áp bởi tình, tan rã bởi thiếu chia sẻ với nhau, tệ hơn là bạn bè nhưng lại chơi xấu nhau. Đời thị phi là vậy. Con người chỉ nghĩ đến lợi cho bản thân. Khi chơi với ai có lợi thì thân. Ngược lại khi mối lợi không còn thì tình thân cũng tan biến. Có khi còn vì bản thân mà đạp đổ danh dự của nhau...

Chúa Giê-su dường như cũng nếm trải nỗi đau của chơi xấu, của bỏ rơi nơi các môn đệ. Giu-đa môn đệ được tin tưởng giao cho làm thủ quỹ thì biển thủ, thì tham lam, cho tới khi có cơ hội lại bán Thầy với giả rẻ mạt chỉ 30 đồng thôi. Các môn đệ khác thì bỏ mặc Thầy trong nguy khó. Một mình Thầy cô đơn. Một mình Thầy trải qua cuộc thương khó. Có chăng Gioan và Phê-rô theo Thầy, nhưng chỉ lén lút đi trong đêm tối, và rồi khi đối diện với khó khăn, Phê-rô đã chối Thầy đến 3 lần.

Đúng như người ta nói: “Lúc khó khăn mới biết ai là bạn, khi hoạn nạn mới hiểu bạn là ai!”. Con người ta chỉ một lần sa cơ, mới biết ai thật lòng, ai quan tâm đến mình nhất. Điều mà thời gian lưu lại không phải là tài phú, không phải là vẻ đẹp, mà là sự chân thật dành cho nhau. Hoa nở rồi sẽ tàn, thời gian trôi đi sẽ không quay trở lại. Lâu ngày không hẳn sẽ sinh tình, nhưng nhất định sẽ thấy được lòng người chân thành hay chỉ là đãi bôi.

Quang cảnh lễ lá hôm nay cũng tương phản với hình ảnh thứ sáu tuần thánh nơi dân thành Giê-ru-sa-lem. Hôm nay họ trải lá lót đường đón Chúa. Ngày mai họ ném đá đòi đóng đinh Chúa. Hôm nay họ tung hô Chúa là vua, ngày mai họ đóng đinh Ngài vào thập giá. Xem ra Chúa vẫn cô đơn trong tiếng reo hò của hàng ngàn người dân thành Giê-ru-sa-lem. Ngày lễ lá họ reo mừng vì thấy Chúa là mối lợi cho dân tộc. Ngày thứ sáu họ kết án vì muốn lợi dụng Ngài “chết thay cho cả dân được nhờ”. Chúa vẫn cô đơn trong chính dân tộc của mình và ngay cả nơi nhóm nhỏ môn đệ thân tín của Ngài.

Hình như hôm nay Chúa vẫn cô đơn trong nhà thờ, vì người ta đến với Chúa chỉ vì thói quen, vì muốn tìm cái phao cứu mình khỏi khó khăn?

Hình như hôm nay Chúa vẫn cô đơn trong dòng đời, vì đâu mấy ai dám hy sinh cho Ngài khi phục vụ giúp đỡ người ốm đau, nghèo khó hay tật nguyền?

Hình như hôm nay Chúa vẫn cô đơn trong các mái gia đình, vì còn mấy gia đình vẫn sáng lễ chiều kinh, nhưng họ chỉ dành thời gian cho công việc và nghỉ ngơi?

Con người hôm nay tính toán với Chúa nên họ cũng tính toán với nhau. Có bao nhiêu người sống với nhau lấy tình nghĩa làm đầu? Liệu rằng ở giữa hàng ngàn, hàng vạn người kia có mấy ai là tri kỷ, mấy ai là người thật lòng đáng cho ta tin tưởng? Có tiền là có tất cả nhưng có mấy ai đem tiền để mua lấy tình thân? Tình người dường như không được mua và càng không thể cho không!

Xin Chúa giúp chúng ta biết đi vào tuần thương khó trong sự hy sinh hãm mình để đồng cảm với Chúa Giê-su. Xin cho chúng ta cũng đừng bao giờ lấy lợi nhuận để mà cân đo đong đếm tình yêu. Vì tình yêu luôn phải cho không, biếu không mới là tình yêu đích thực. Ước gì chúng ta luôn là người môn đệ trung tín với Chúa dầu phải bước đi trong khổ giá vẫn trung kiên. Amen.

--------------------------

 

Lễlá-388: Mặc khải - Lm Vũ Đình Tường

 

Nhìn vào lá cành người ta có thể học biết được nhiều điều. Dù không chuyên về thực vật học Lễlá-388


Nhìn vào lá cành người ta có thể học biết được nhiều điều. Dù không chuyên về thực vật học, nhìn vào lá cây, người ta cũng có thể biết được nhiều điều. Lá cây cho biết về thời tiết trong thời gian qua. Lá xanh, tươi tốt; mưa nhiều; lá khô, cằn cỗi, nắng hạn; lá rách tả tơi, cành cây sơ xác, bão tố vừa qua. Nhìn vào lá người ta còn có thể nói về tình trạng của cây. Lá xanh mát, tươi đẹp cây được chăm sóc cẩn thận, cắt tỉa đàng hoàng; lá cằn cỗi, già chát, cây thiếu nước, thiếu chăm sóc, lâu ngày không xén tỉa. Lá rỗ chằng, rỗ chịt cho biết cây bị sâu rầy phá hoại mà không ai chăm lo xịt thuốc sâu. Lá không những cần cho cây sinh sống, làm mát mắt, tạo sinh khí sống động cho khung cảnh mà còn sinh ích cho chim muông, sâu bọ và ngay cả cho con người dùng lá lợp nhà, che vách. Sau khi dùng xong lá bị vất rơi bên vệ đường.

Không phải ngẫu nhiên các trẻ em Do Thái bẻ cành lá đón Đức Kitô vào thành thánh Giêrusalem. Việc các em đón rước Đức Kitô cho biết 'giờ của Ngài sắp đến'. Vinh quang của Ngài sắp được tỏ hiện. Đây cũng là điềm báo trước 'giờ' các nhà lãnh đạo Đền Thờ âm thầm hội họp quyết định thi hành dã tâm mượn tay nhà cầm quyền lợi dụng chức vụ có trong tay đưa ra bản án bất công, ra tay tiêu diệt người vô tội vì chỉ muốn làm vừa lòng các nhà lãnh đạo đền thờ. Họ sẵn sàng để tay dính máu hòng làm vừa lòng người khác.

Thánh Marcô nhắc đến nhiều địa danh Đức Kitô đi qua như Galilê, Bêthania hoặc núi cây dầu cho biết dân chúng tung hô, chúc tụng Ngài là Đấng Cứu Thế. Những nông dân, công nhân, dù không có học thức nhưng khi nói đến đức tin họ sáng suốt nhận định; trong khi những nhà lãnh đạo Đền thờ, lãnh đạo đất nước tự nhận mình là người có học thức, có bằng cấp lại trở thành người không nhận biết Đức Kitô là Con Thiên Chúa và họ lại chống đối bằng cách ra tay giết chết, để tỏ ra nhóm họ có quyền sinh sát trong tay. Họ dùng luật hiện hành để thi hành bản án bất công nhưng pháp luật không thể làm gì được họ vì họ là kẻ cầm cán cân công lí, họ muốn cho cán cân nghiêng về bên nào thì bên đó thắng. Dân chúng đi trên đường may mắn cùng lúc Đức Kitô và các môn đệ Ngài tiến vào thành thành Giêrusalem và họ bẻ cành lá bên đường tung hô chúc tụng Đức Kitô- Hoan hô con Vua Đavít- Câu này chính là câu mà người mù từ lúc mới sinh ngồi bên vệ đường nghe tin Đức Kitô đi qua, anh lớn tiếng hô Hoan hô Con Vua Đavít, xin cứu đến con- Đức Kitô đã chữa sáng mắt anh. Người bên đường mắt sáng nhận ra Đức Kitô Luc 18,38; Anh đâu biết Đức Kitô đến cứu phần xác anh và cứu phần hồn nhân loại. Kẻ lãnh đạo hội đường tự nhận mắt sáng, họ nhìn thấy tiền buôn bán trong đền thờ nhưng tại tối mắt không nhìn thấy Đức Kitô. Họ mù quáng đến độ không nhìn ra Người mở mắt cho người mù đến nỗi chính người mù cũng thắc mắc làm sao Đấng mở mắt cho anh quyền phép thế mà các nhà lãnh đạo đền thờ lại không nhận ra Ngài. Thành thánh Giêrusalem là chặng đường cuối cùng của cuộc đời công khai rao giảng của Đức Kitô. Lúc 12 tuổi Ngài bắt đầu trả lời thắc mắc của các kinh sư và lãnh đạo đền thờ và họ đã kinh ngạc về giáo lí của Ngài. Hai mươi mốt năm sau cũng tại nơi đây họ kết án Ngài. Đối với các tông đồ Giêrusalem là nơi các Ngài khởi đầu hành trình rao giảng về Đức Kitô Phục Sinh, khởi đầu cuộc đời truyền giáo cho muôn dân. Các tông đồ trên đường Emaus cũng nhận ra Đức Kitô Phục Sinh khi Ngài bẻ bánh trên đường họ đi về quê. Điều này cho biết Đức Kitô là đường và ai đi cùng đường sẽ nhận biết Thiên Chúa và cuối đường sẽ được vào chung hưởng vinh quang Phục Sinh với Ngài.

Chúa Nhật lễ Lá cho biết vương quyển của Đức Kitô. Đối với xã hội trần thế kẻ thuộc quyền tổ chức dân chúng đón chào vua chiến thắng vinh quang trở về. Đối với Đức Kitô dân chúng trên đường gặp Ngài họ vui mừng đón tiếp, dân lời ca chúc mừng, ngọi khen. Họ đâu biết rằng việc họ làm tác động bởi Thánh Thần Chúa đón tiếp vị vua cao cả sắp sửa chiến thắng tội lỗi, dẹp tan sự chết, đè bẹp chúng, bắt chúng nhốt vào ngục tối còn Đức Kitô bước ra khỏi ngục tối, khỏi mồ, sống lại vinh quang. Vương quyền của Đức Kitô là phục vụ, là hy sinh, là hiến thân cho người mình yêu để làm hoà với họ và đón nhận họ vào trong nước Chúa. Kitô hữu, môn đệ Đức Kitô, khi làm việc tông đồ cũng cần đi qua con đường đó, con đuờng dấn thân phục vụ có giá phải trả. Đức Kitô trả giá đó bằng chính mạng sống mình bằng vác thập giá, đổ máu mình ra; môn đệ Đức Kitô không phải đổ máu mình ra nhưng đổ mồi hôi và nước mắt làm chứng cho sự thật, đau khổ vì làm chứng cho công lí và bị thiệt hại và sống công bằng, nhân ái. Cái giá đó nhiều khi rất cao nhưng đâu sánh bằng được hưởng vinh quang Phục Sinh của Đức Kitô. Vinh quang đó không mất mát trần gian nào có thể sánh bằng vinh quang Phục Sinh, sống muôn đời trong nhà Chúa Cha.

--------------------------

 

Lễlá-389: Tại làm sao Chúa chết?


(Suy niệm của Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

 

Sau khi đọc bài tường thuật đầy đủ về cuộc Thương Khó của Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta theo Lễlá-389


Sau khi đọc bài tường thuật đầy đủ về cuộc Thương Khó của Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta theo thánh Marcô. Chúng ta không thể không màng chi đến những sự xảy ra trước đó. Nhiều người không khỏi thắc mắc: một con người như vậy sao lại kết thúc trên Thánh giá? Đâu là nguyên do dẫn đến cái chết và ai là người chịu trách nhiệm về cái chết của Chúa Giêsu?

Theo một lý thuyết lưu hành vào thế kỷ 20 sau thảm kịch Shoah, Hitler tiêu diệt những người Do thái, người ta qui trách nhiệm về cái chết của Chúa Giêsu cho người Do thái, Philatô và các thẩm quyền Rôma thời ấy, mà động lực thúc đẩy thuộc bản chất chính trị hơn là tôn giáo.

Bằng chứng là Hội đồng Do thái, đứng đầu là các thượng tế và luật sĩ “ tìm mưu bắt giết Chúa Giêsu” (Mc 14, 1); “tìm chứng cáo Chúa Giêsu để giết Người” (Mc 14, 55), chứng gian tìm không ra, lời chứng lại không khớp, phải nại đến vị thượng tế đứng lên giữa công nghị hỏi Chúa Giêsu: “ Ông có phải là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa đáng chúc tụng chăng?” (Mc 14, 61). Chúa Giêsu đáp:“Phải, chính Ta! Rồi các ông sẽ thấy Con Người ngồi bên hữu Đấng toàn năng và ngự đến trên đám mây” (Mc 14, 61). Ông liền đứng lên xé áo mình và kết án: “Chúng ta còn cần chi đến nhân chứng nữa? Các ông đã nghe lời nói lộng ngôn, các ông nghĩ sao?” (Mc 14, 62) Họ quyết định lên án tử cho Người (Mc 14, 64).

Nhưng chuyện không đơn giản, vì muốn giết được Chúa Giêsu phải qua tay tổng trấn Rôma là Philatô, nên họ “ đã trói Chúa Giêsu và giải nạp Người cho Philatô” (Mc 15, 1). Philatô không phải là người quan tâm tới sự công chính đến nỗi âu lo về số phận của một người Do thái không tên tuổi; ông ta là một mẫu người cứng cỏi, độc ác, sẵn sàng đổ máu nếu có một dấu vết rất nhỏ nổi loạn (x. Lc 13, 1-9). Tất cả sự này là hoàn toàn đúng. Tuy nhiên, ông không ra sức cứu sống Chúa Giêsu vì thương cảm nạn nhân, nhưng chỉ để ghi một điểm thắng chống lại những kẻ tố cáo Chúa Giêsu, với họ ông đã có xung đột từ ngày tới đất Giuđêa. Dĩ nhiên, sự này không giảm bớt trách nhiệm của Pilatô trong việc lên án Chúa Giêsu, một trách nhiệm ông đã chia sẻ với những nhà lãnh đạo Do thái.

Khi gặp Chúa Giêsu, Philatô hỏi: “Ông có phải là vua dân Do thái không?” Chúa Giêsu đáp: “ Ông nói đúng” (Mt 15, 2). Câu trả lời của Chúa Giêsu không giúp Chúa thoát khỏi vụ án mà lại như thêm dầu vào lửa, khiến các thầy thượng tế lại tố cáo thêm, nhưng Chúa không đáp lại một lời nào.

Đối diện với những kẻ đòi giết Chúa Giêsu, Philatô không biết làm sao nên hỏi dân “Các ngươi có muốn ta phóng thích cho các ngươi Vua dân Do-thái không?” (Mc 15, 9); “Các ngươi muốn Ta làm gì cho vua dân Do-thái?" (Mc 15, 12). Những câu hỏi trên chẳng những không cứu được Chúa Giêsu mà còn như thể gia tăng lòng quyết xử tử Người: “Đóng đinh nó đi” (Mc 15, 13). Lúc ấy trong khám đang có sẵn kẻ giết người tên là Baraba, Philatô nghĩ ra trò tráo mạng Giêsu để may chăng dân chúng tha cho Chúa Giêsu, nhưng ông đã lầm, dân chúng càng hô to hơn: “Đóng đinh nó đi” (Mc 15, 14). Philatô nhượng bộ hoàn toàn: “ Ông liền tha Baraba và trao Chúa Giêsu cho họ mang đi đánh đòn và đóng đanh vào thập giá” (Mc 15, 15).

Khi quyết định trao nộp Chúa Giêsu thì ông cũng đi vào cái vòng di chuyển của họ. Tin Mừng được giả thiết là đã minh oan cho Philatô và tố cáo những người lãnh đạo Do thái chủ mưu giết Chúa. Chính thánh Phaolô khi tường thuật về án tử của Chúa Giêsu giống như các sách Tin Mừng mô tả, ông viết “những người Do thái đã giết Chúa Giêsu” (1 Tx 2,15).

Từ những tường thuật về cái chết của Chúa Giêsu trong Talmud và trong những tài liệu Do thái khác, truyền thống Do thái không bao giờ từ chối sự tham gia của các nhà lãnh đạo tôn giáo thời đó trong việc lên án Chúa Giêsu. Họ không bênh vực mình bằng sự chối bỏ hành động, nhưng nếu có hành động nào, họ đã chối hành động đó, từ viễn ảnh Do thái, làm thành một tội ác và án tử Chúa Kitô Giêsu là một án bất công.

Như vậy, đối với câu hỏi, “tại sao Chúa chết? ” Sau tất cả những nghiên cứu và những sự lựa chọn được đề nghị, chúng ta phải đưa ra cũng một câu trả lời như trong các Tin Mừng là Người bị kết án vì những lý do tôn giáo. Kết luận, các thẩm quyền tôn giáo và các thẩm quyền chính trị, các thủ lãnh Công Nghị và quan tổng trấn Roma, cả hai đã tham gia, vì những lý do khác nhau, trong sự xử án Chúa Kitô.

Phần chúng ta, những người tin Chúa Giêsu đều nghĩ rằng chính những người Do thái đã giết Chúa. Chúng ta cũng thường qui kết cho Giuđa là kẻ phản bội đã bán đứng Thấy, kẻ tiếp tay cho các thượng tế và kinh sư bắt nộp Chúa.

Mỗi khi Tuần Thánh về, đọc lại bài Thương Khó Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, Giáo hội muốn mỗi người chúng ta, thay vì đổ tội cho người Do thái, thì nhìn thấy trách nhiệm của mình trong cái chết của Chúa Giêsu. Chúa đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Thánh Kinh. Tội lỗi làm cho chúng ta xa lìa Thiên Chúa và tha nhân, chống lại Thiên Chúa và chống lại nhau, dẫn đến nguy cơ mất ơn cứu độ. Nên Thiên Chúa đã “vì loài người chúng ta, và để cứu độ chúng ta, Người đã từ trời xuống thế…” chịu đóng đanh, chị chết để chuộc tội cho chúng ta (x. Kinh Tin Kính).

Khi ta từ chối Chúa và chương trình thiêng liêng của Người, hay khi ta xúc phạm đến Chúa, không sống xứng đáng là con Thiên Chúa, chúng ta chịu trách nhiệm cách đặc biệt hơn vào cái chết của Chúa. Mỗi lần chúng ta phạm tội bất công, lỗi đức bác ái, gây gương mù gương xấu, cộng tác với sự dữ gây tác hại trực tiếp cho tha nhân, làm hại bản thân, gây thiệt hại cho cả Hội Thánh nữa là chúng ta làm khổ nhau, nhất là làm cho Chúa phải đau phiền và phải chết.

Ước gì khi suy niệm về cái chết của Chúa Giêsu, mỗi người chúng ta thêm lòng tin vào Chúa, yêu mến Chúa cách mãnh liệt hơn, và đặt tất cả lòng cậy trông vào Chúa. Chúng ta tin Chúa Giêsu đã chết vì tội lỗi chúng ta, nhưng Thiên Chúa đã cho Người sống lại từ cõi chết. Amen.

--------------------------

 

Lễlá-390: Baraba và Đức Giêsu.


(Suy niệm của Lm Phanxicô Xavie Lê Văn Nhạc. - Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’)

Tin Mừng (Mc 14: 1; 15: 1-39):

 

Dưới cái nhìn lịch sử thì quả thực cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá là hành động tội ác Lễlá-390


Dưới cái nhìn lịch sử thì quả thực cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá là hành động tội ác của những người Do Thái và La Mã cách đây hai ngàn năm.

Văn sĩ Fabran Lagerkvist của Thụy Điển đã đoạt giải Nobel văn chương năm 1966 nhờ quyển tiểu thuyết nổi tiếng có tựa đề là “Baraba”. Baraba là một tên cướp được nhắc đến trong vụ án của Chúa Giêsu. Theo các sách Tin Mừng kể lại: Baraba là một tên cướp khét tiếng đã phạm nhiều tội ác và sa lưới pháp luật. Hằng năm vào những ngày lễ lớn, quan Tổng trấn đại diện cho Đế quốc Rôma tại Palestina có thói quen ân xá cho một tội nhân. Năm đó, Tổng trấn Philatô đã đưa Chúa Giêsu và Baraba ra trước mặt dân chúng và hỏi họ nên tha cho ai. Toàn dân đã la lớn: tha cho Baraba và đóng đinh Chúa Giêsu.

Dựa vào sự kiện lịch sử này, văn sĩ Lagerkvist đã tưởng tượng ra quãng đời còn lại của Baraba. Baraba đã trở nên một con người quyền thế được mọi người biết đến. Baraba có được tất cả, bởi vì chính Chúa Giêsu đã chết thay cho ông. Thế nhưng ông không hề muốn nhắc đến Chúa Giêsu và cũng không muốn biết Ngài là ai.

Lý do khiến văn sĩ Lagerkvist được trao giải Nobel văn chương là vì qua nhân vật Baraba, ông đã họa được chân dung đích thực của con người. Baraba chính là con người được cứu độ nhờ Chúa Giêsu, nhưng vẫn không hiểu lý do tại sao. Con người ngày nay không tin vào Chúa Kitô và nhất là muốn loại bỏ Ngài ra khỏi con người thời đại. Với những tiến bộ vượt bực trong khoa học kỹ thuật, con người chẳng khác nào một thứ Baraba trong tác phẩm của Lagerkvist: con người tưởng mình là Đấng cứu độ của chính mình, con người tưởng mình có thể loại bỏ mọi chiều kích siêu việt của cuộc sống, con người tưởng mình có thể sống mà không cần một Đấng cứu độ nào.

Thưa anh chị em,

Dưới cái nhìn lịch sử thì quả thực cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá là hành động tội ác của những người Do Thái và La Mã cách đây hai ngàn năm. Những người Do Thái đã cuồng tín kêu gào đóng đinh Chúa Giêsu vào thập giá. Các binh sĩ La Mã đã đánh đập, hành hung Ngài và cuối cùng treo Ngài trên thập giá.
Nhưng dưới cái nhìn của người có niềm tin, thì cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá là một mầu nhiệm. Mầu nhiệm bởi vì một cách nào đó, người có niềm tin cũng cảm thấy mình đã thực sự tham dự vào việc đóng đinh ấy. Chúng ta tuyên xưng rằng Ngài đã chịu đóng đinh vì chúng ta và để cứu rỗi chúng ta, nghĩa là do chính tội lỗi của chúng ta ngày nay, cho dù cách xa hai ngàn năm, vẫn là một chối bỏ, một tiếng reo hò, một sỉ vả hoặc chính là một cái đinh đóng vào thân thể Chúa Giêsu.

Thử hỏi nếu tôi là người đương thời có liên quan đến vụ án Chúa Giêsu, tôi sẽ đứng trong nhóm người nào và với thái độ nào? Phải thú nhận rằng tôi không dễ gì làm được như ông Simon thành Syrênê đã vác thập giá đỡ Chúa Giêsu. Nhưng cũng đừng vội vã quả quyết rằng tôi không thể đứng về phía đám quần chúng đả đảo Chúa, không thể là Phêrô chối Chúa, hoặc là nhóm môn đệ trốn chạy, hay là Philatô lên án người vô tội, hoặc là đám quân lính đánh đòn và đóng đinh Chúa. Trái lại, kinh nghiệm bản thân tôi cho thấy rõ ràng tôi rất yếu đuối, dễ dàng về phe kẻ mạnh thế, không dám can đảm bênh vực công lý và dễ dàng trung thành với Chúa trên môi miệng cũng như khi mọi sự đều xuôi chảy, nhưng lại phản bội Chúa dễ dàng trong hành động cụ thể và khi gặp nghịch cảnh.

Anh chị em thân mến,

Với Chúa Nhật hôm nay, Tuần Thánh đã bắt đầu. Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem để hoàn tất mầu nhiệm Vượt Qua đem lại ơn cứu độ cho loài người. Bề ngoài, cuộc tiến vào thủ đô Giêrusalem giữa tiếng tung hô của đám đông nô nức phất cao càch lá “Hoan hô con Vua Đavít” có vẻ một cuộc toàn thắngvang dội. Thực ra đây là một cuộc mở màn thương khó mỉa mai nhất và có lẽ cũng là giai đoạn bi thương nhất của cuộc thương khó. Bởi vì chúa biết rõ trong niềm phấn khởi chóng qua của dân chúng đã chất chứa một sức phản bội sẽ bùng nổ dữ dội trước mặt Tổng trấn Philatô, trong tiếng kêu gào với những bàn tay nắm chặt đưa lên: “Đả đảo! Đóng đinh nó đi! Đóng đinh nó vào thập giá!”

Rước là đi theo Chúa Giêsu trong vài giờ không phải là một điều khó khăn cho lắm. Đi theo Chuá giữa lúc Ngài được tung hô chúc tụng là điều dễ dàng. Nhưng tiếp tục đi theo Ngài khi Ngài đã bị mọi người bỏ rời và lên án, điều đó khó hơn nhiều. Tin Mừng không thấy nói đến một ai dám lên tiếng bênh vực cho Chúa Giêsu vào lúc đó, mà chỉ thấy lên tiếng đòi phóng thích cho tên đạo tặc Baraba. nếu kitô hữu được định nghĩa là người đi theo Chúa kitô thì chắc chắn chúng ta sẽ có lúc nghiệm thấy nỗi khó khăn khi phải đến nơi mà mình không muốn đến. Con đường bước theo Chúa có lúc vui, lúc buốn. Chúng ta phải có mặt ở trong đám đông hoan hô Chúa khi vào thành và cũng không được vắng mặt khi Ngài hấp hối trên thập giá.

Trong những ngày thánh này, chúng ta hãy tìm thời giờ đọc lại chậm rãi chương 14 và chương 15 của Tin Mừng theo Thánh Marcô. Hãy để cho tâm tình, lời nói và hành động của Chúa Giêsu thấm nhuần và biến đổi chúng ta. Trong cuộc khổ nạn của Chúa, chúng ta bắt gặp rất nhiều tình huống tăm tối của đời thường: vu khống, phản bội, ghen tương, bất công, nhục nhã, đau khổ, sợ hãi, cô đơn, hèn nhát, cái chết. Nhưng trên hết, chúng ta bắt gặp một tình yêu. Tình yêu vô cùng lớn của Chúa Giêsu đối với Chúa Cha và nhân loại. Chỉ có tình yêu mới làm cho mọi khổ đau có giá trị cứu độ.

Đừng đọc vội vã, hãy ngừng lại khi Chúa có điều muốn nói với chúng ta, đừng ngắt lời Ngài. Chúng ta có thể thấy mình giống với Giuđa, Phêrô hay Philatô. Chúng ta không ai vô tội trước cái chết của Con Thiên Chúa. Ngài vẫn còn hấp hối cho đến tận thế.

Đừng theo Chúa như một người quay vidéo cho đám tang, bởi lẽ mọi sự Ngài chịu là vì chúng ta và cho chúng ta. Sau khi đã suy niệm lâu dài về cuộc khổ nạn, chúng ta sẽ thấy mình yêu Thánh giá của Chúa hơn, yêu thánh giá của mình hơn và trân trọng thánh giá của người khác hơn.

--------------------------

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây