Suy Niệm Tin Mừng Thứ 5 Tuần Thánh ABC Bài 51-100: Chúa Rửa Chân

Thứ hai - 26/03/2018 10:43
Suy Niệm Tin Mừng Thứ 5 Tuần Thánh ABC Bài 51-100: Chúa Rửa Chân cho các môn đệ
Suy Niệm Tin Mừng Thứ 5 Tuần Thánh ABC Bài 51-100: Chúa Rửa Chân cho các môn đệ
Suy Niệm Tin Mừng Thứ 5 Tuần Thánh ABC Bài 51-100 Chúa rửa chân cho các môn đệ
Thứ 5-51: THÁNH LỄ TIỆC LY.. 2
Thứ 5-52: Bữa Tiệc Giao Ước. 4
Thứ 5-53: Rửa chân cho môn đệ và cử hành bữa tiệc Thánh Thể đầu tiên. 10
Thứ 5-54: Đỉnh cao của tình yêu cứu độ. 13
Thứ 5-55: Thầy làm gương cho các con. 15
Thứ 5-56: Chữ Yêu. 17
Thứ 5-57: Bữa Tiệc Giao Ước. 20
Thứ 5-58: Thánh Thể, quà tặng tình yêu bằng giá máu: 30
Thứ 5-59: Sống mầu nhiệm Thánh thể hôm nay: 34
Thứ 5-60: Yêu và cách yêu. 36
Thứ 5-61:  Rửa chân cho nhau. 40
Thứ 5-62: Tình yêu trọn hảo. 42
Thứ 5-63: Tình Chúa - tình người 44
Thứ 5-64: Tình yêu đến cùng : Rửa chân và Thánh Thể. 46
Thứ 5-65:  “YÊU THƯƠNG ĐẾN CÙNG”. 51
Thứ 5-66: THẬP GIÁ: CON ĐƯỜNG SỰ SỐNG VÀ HẠNH PHÚC.. 53
Thứ 5-67:  NHỜ ĐỨC KI-TÔ, CÙNG VỚI ĐỨC KI-TÔ.. 56
Thứ 5-68: XIN ĐƯỢC SỐNG YÊU THƯƠNG.. 72
Thứ 5-69: CUỘC KHỔ NẠN VÀ PHỤC SINH.. 76
Thứ 5-70: RỬA CHÂN.. 79
Thứ 5-71: LINH MỤC, DẤU CHỈ CỦA YÊU THƯƠNG VÀ PHỤC VỤ.. 81
Thứ 5-72: XEM TRỜI GIẢI NGHĨA YÊU.. 84
Thứ 5-73: KHI CHÚA RỮA CHÂN CHO CON NGƯỜI 86
Thứ 5-74: ĐỨC KITÔ ĐÃ CỨU ĐỘ CHÚNG TA ĐIỀU ĐÓ NGHĨA LÀ GÌ 88
Thứ 5-75: PHẢI RỮA CHÂN CHO NHAU.. 95
Thứ 5-76: LỄ VƯỢT QUA MỚI 98
Thứ 5-77: Thánh Thể Bí Tích Phục Vụ. 99
Thứ 5-78: Bí tích Thánh Thể. 102
Thứ 5-79: NHỮNG ĐIỀU CẦN LƯU Ý LIÊN QUAN TỚI PHỤNG VỤ.. 103
Thứ 5-80: Chúa Giê-su biết giờ của Người đã đến. 107
Thứ 5-81: Ðức Giêsu thiết lập Giao Ước mới 108
Thứ 5-82: Thứ 5-83: GIỚI THIỆU.. 109
Thứ 5-83: LỊCH SỬ.. 110
Thứ 5-84: Thứ Năm Tuần Thánh. 110
Thứ 5-85: ĐÂY LÀ MẦU NHIỆM ĐỨC TIN.. 111
Thứ 5-86: RA ĐI VỚI “CHIẾC LỌ MỎNG DÒN”. 114
Thứ 5-87: BÀI HỌC TÌNH YÊU.. 117
Thứ 5-88: CHÚA GIÊSU RỬA CHÂN CHO CÁC MÔN ĐỆ CỦA NGƯỜI 118
Thứ 5-89: NGHỊCH LÝ CUỘC TÌNH.. 121
Thứ 5-90: NGẬP TRÀN TÌNH YÊU THƯƠNG.. 122
Thứ 5-91: DẤU TÌNH.. 125
Thứ 5-92: HÃY YÊU NHƯ GIÊ-SU.. 130
Thứ 5-93: SỐNG YÊU THƯƠNG VÀ PHỤC VỤ.. 132
Thứ 5-94: TÂM TƯ PHÚT CUỐI 134
Thứ 5-95: NỖI BUỒN GIUĐA.. 136
Thứ 5-96: YÊU THƯƠNG ĐẾN CÙNG.. 138
Thứ 5-97: SUY NIỆM THỨ NĂM TUẦN THÁNH.. 140
Thứ 5-98: DI CHÚC TÌNH YÊU PHỤC VỤ.. 143
Thứ 5-99: NGƯỜI YÊU THƯƠNG HỌ ĐẾN CÙNG.. 146
Thứ 5-100:  LỜI THẦY NĂM XƯA.. 147

 

Thứ 5-51: THÁNH LỄ TIỆC LY

BÍ TÍCH THÁNH THỂ, THIÊN CHỨC LINH MỤC VÀ GIỚI LUẬT YÊU THƯƠNG
 

Thánh Lễ Tiệc Ly đưa chúng ta vào Tam Nhật Thánh. “Thánh” vì chúng ta cử hành việc tưởng niệm: Thứ 5-51

Thánh Lễ Tiệc Ly đưa chúng ta vào Tam Nhật Thánh. “Thánh” vì chúng ta cử hành việc tưởng niệm những biến cố trọng đại nhất trong Đạo và rất Thánh của chúng ta, cụ thể như: Chúa Giêsu thiết lập Bí Tích Thánh Thể – cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá – sự sống lại vinh hiển của Đấng Cứu Thế.
Chúa Giêsu đã nhập thể làm người, chấp nhận trở nên một con người hoàn toàn như chúng ta, ngoại trừ tội lỗi. Ngài mang trên vai những thăng trầm và hy vọng của nhân sinh trong mọi thời đại. Irénée đã nói: "Người đã trở nên giống chúng ta, để chúng ta trở thành như Người". Về sau, Clément ( Alexandrie ) và Grégoire ( Naziance ) đã quả quyết: "Thiên Chúa đã làm người để con người làm chúa".
Quả thật, Thiên Chúa đã yêu thương nhân loại đến nỗi trần gian này không có ngòi bút nào có thể diễn tả hoặc viết ra hết tình thương ấy, trong những ngày cuối đời của “kiếp người” lầm than và cay đắng. Vì yêu, Chúa Giêsu đã lập Bí Tích Thánh Thể, lấy chính Thịt Máu Mình làm của ăn của uống nuôi dưỡng chúng ta. Để tiếp tục yêu thương và tha thứ cho con người, Chúa lập thiên chức Linh Mục đời đời. Và cũng chính hôm nay, Chúa truyền dạy chúng ta phải yêu thương nhau như Chúa đã yêu.
Các con hãy lãnh nhận mà ăn, này là Mình Ta… Các con hãy cầm lấy mà uống, chén này là Tân Ước trong Máu Ta” ( 1 Cr 11, 24 – 25 ). Thật không thể hiểu nổi, Thiên Chúa yêu nhân loại biết là chừng nào. Ngài đã yêu bằng một Tình Yêu trao ban, hy sinh và tận hiến. Khi lập Bí Tích Thánh Thể, Chúa hiến chính thân mình làm lương thực nuôi dưỡng chúng ta, ở với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế. Không những thế, Chúa còn cho chúng ta tham dự vào Sự Sống của chính Ngài khi rước Mình và Máu Thánh Ngài, để được sống đời đời.
Sau khi lập Bí Tích Thánh Thể, Chúa Giêsu cũng lập luôn Bí Tích Truyền Chức Thánh khi Người nói với các Tông Đồ hiện diện: “Các con hãy làm việc này để nhớ đến Thầy” ( Lc 22, 19 ; 1 Cr 11, 24 ). Với lời trên, Ngài cho thấy Thiên Chúa tiếp tục yêu thương và tín nhiệm con người. Mặc dù phàm nhân bất xứng, Chúa vẫn ủy thác cho sứ mạng thay mặt Chúa hiện tại hóa Hy Tế Thập Giá trên bàn thờ mỗi ngày, tất cả là chỉ vì yêu chúng ta.
Khi Ngài rửa chân xong cho các môn đệ, một lần nữa, Ngài mời gọi chúng ta: “Thầy đã làm gương cho các con, để các con cũng bắt chước mà làm như Thầy đã làm cho các con” ( Ga 13, 15 ). Bằng cách này, Ngài thiết lập một sự liên kết thân mật giữa Bí Tích Thánh Thể, Bí Tích của quà tặng hy sinh và huấn lệnh yêu thương.
Hôm nay, kỷ niệm ngày Chúa Giêsu thiết lập thiên chức Linh Mục, chúng ta có nhiều dịp nhắc đi nhắc lại một câu rất sâu sắc nhưng cũng cần phải tìm hiểu thêm: Không có Thánh Thể thì không có chức Linh mục – không có chức Linh mục thì cũng không có Bí Tích Thánh Thể ( chỉ một lần rồi thôi ). Hai điều đó gắn chặt, liên kết với nhau nhờ Đức Bác Ái. Không thể tham dự Thánh Thể nếu không có Tư Tế, nhưng cũng không thể tham dự Thánh Thể nếu không có đức Bác Ái và sự Tha Thứ. Trong Bí Tích Thánh Thể, tất cả chúng ta đều tham dự vào một Mình Thánh, một Máu Thánh, trở nên một thì chúng ta không còn tách biệt nữa.
Ai tham dự bàn tiệc của Chúa thì người đó không thể tách rời khỏi bổn phận yêu thương anh chị em mình. Mỗi lần chúng ta tham dự bàn tiệc Thánh Thể, chúng ta cũng nói “Amen” trước Mình và Máu Thánh Chúa, như thế, chúng ta cam kết thực hiện điều Ðức Kitô đã làm, là “rửa chân” cho anh chị em, trở nên một hình ảnh thực sự và tỏ tường của Ðấng “đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ” ( Pl 2, 7 ).
Tình yêu là di sản cao quý nhất mà Chúa Giêsu để lại cho những ai được Ngài kêu gọi bước theo Ngài. Chính tình yêu của Ngài, được chia sẻ bởi các môn đệ, là điều được ban tặng cho tất cả nhân loại trong buổi chiều nay.
Thánh Thể là một ban tặng cao cả, nhưng cũng là một trách nhiệm lớn lao cho những ai tiếp nhận. Ðứng trước Phêrô, người đã từ chối không chịu để được rửa chân, Ðức Giêsu đã nhấn mạnh đến nhu cầu phải nên thanh sạch để có thể dự phần vào bàn tiệc Thánh Thể.
Nghi thức rửa chân nói lên sự khiêm tốn của mình đối với người khác, nhìn nhận rằng mình là người có tội, nếu có điều gì là do tôi chứ không phải do anh em, tha nhân thật sự là anh chị em của tôi. Bác ái không phải là chối từ việc người khác không có lỗi, nếu lỗi là có lỗi với Chúa. “Rửa chân cho nhau” chứ không phải rửa chân cho người trên hay cho người dưới, tất cả đều là tha thứ, yêu thương và giúp đỡ nhau.
Lạy Chúa Giêsu, chúng con nguyện xin Chúa cho Thánh Lễ cử hành chiều hôm nay, đưa chúng con vào trong ba Mầu nhiệm: Mầu nhiệm của Bí Tích Thánh Thể, Mầu nhiệm của thiên chức Linh Mục, và giới răn trọng nhất là Bác Ai Yêu Thương. Chúng con sẽ cố gắng ghi nhớ những điều này để đưa vào trong cuộc sống hàng ngày của mỗi người chúng con. Amen.
Lm. Antôn NGUYỄN VĂN ĐỘ

 

Thứ 5-52: Bữa Tiệc Giao Ước

Thứ Năm Tuần Thánh B
Xh 12,1-8.11-14; 1C 11,23-26; Yn 13,1-15
 

Phụng vụ chiều thứ Năm Tuần Thánh vẽ lại trước mắt chúng ta quang cảnh bữa tiệc ly, lúc mà Chúa: Thứ 5-52

Phụng vụ chiều thứ Năm Tuần Thánh vẽ lại trước mắt chúng ta quang cảnh bữa tiệc ly, lúc mà Chúa Yêsu thết đãi các môn đệ bữa tiệc Giao ước mới trong khuôn khổ bữa tiệc Vượt qua của truyền thống Do thái. Bầu khí Phụng vụ hôm nay, cũng như cả Tuần Thánh này, mang một vẻ trang trọng, bi thống, phản ảnh phần nào bầu khí bi thống, trầm trọng vào những ngày cuối cùng trong cuộc đời dương thế của Chúa Yêsu. Lúc ấy cả thành Yêrusalem xôn xao, náo nhiệt, đón mừng ngày lễ lớn nhất của niên lịch Phụng vụ. Từng đoàn người hành hương, gốc Do thái cũng như Hy lạp, tuôn về thành Thánh (Yn 11,55-57; 12,20). Giới lãnh đạo tìm kế ám hại Chúa Yêsu (Yn 11,57) trong lúc phần đông dân chúng lại ngưỡng mộ Người và đã dành cho Người một cuộc tiếp đón hết sức nồng nhiệt (Yn 12,12-19). Bầu khí căng thẳng kịch liệt… chắc chắn sẽ xảy ra một biến cố quan trọng gì đây.
Phía Ðức Yêsu: Người biết rõ giờ Người đã điểm (Yn 12,23; 13,1) và Người đi vào giờ định mệnh ấy với tất cả ý thức sáng suốt và quả cảm. Người biết: Người sẽ chết. Nhưng là một cái chết vô cùng hệ trọng: một cái chết tự nguyện để tuân hành thánh ý Chúa Cha; một cái chết vô tội để chuộc tội cho cả loài người. Những hành động Người sắp làm sẽ đánh dấu khúc quẹo định đoạt của lịch sử cứu độ: Người hoàn tất những gì Thiên Chúa đã bắt đầu với dân Do thái trong quá khứ và khai mạc một kỷ nguyên cho tương lai nhân loại: kỷ nguyên Giao ước mới và vĩnh viễn. Ta phải suy niệm về ý nghĩa bữa tiệc Giao ước trong bối cảnh ấy.
I. Bữa Tiệc Vượt Qua Của Người Do Thái
Chúa Yêsu là một người Do thái. Ðã bao lần Người cử hành lễ Vượt qua với gia đình và đồng bào của Người. Nay là lần cuối cùng (Lc 22,15-16). Người ăn bữa tiệc cổ truyền tưởng niệm cuộc giải phóng dân tộc Người khỏi ách nô lệ Ai cập. Biến cố chính trị xã hội ấy đã xảy ra 13 thế kỷ trước đó và hàm chứa những ý nghĩa tôn giáo, mà truyền thống tiên tri và tư tế đã dần dà khai triển thành một nền thần học linh động, bén rễ sâu xa trong đời sống phụng vụ và xã hội của mọi tầng lớp quần chúng. Cuộc giải phóng ấy là cơ hội cho dân Do thái cảm nghiệm hồng ân của vị thần linh toàn năng duy nhất đã thương cứu vớt, quy tụ, hướng dẫn và thanh luyện họ để lập giao ước ân tình với họ. Người là Thiên Chúa sống động đã chứng tỏ sự hiện diện của mình qua những hành vi lịch sử.
Ý Nghĩa Nguyên Thủy Của Lễ Vượt Qua: (Xh 12,1-8.11-14). Từ ban đầu việc cử hành lễ Vượt qua hằng năm vào mùa Xuân gồm nghi thức sát tế chiên con, lấy máu bôi lên cửa làm dấu hiệu cho Thiên Chúa thấy mà bỏ qua, không giết hại các trưởng nam Do thái, khi Người đi qua đất Ai cập để trừng phạt những kẻ áp bức Dân Người. Bởi đó dân Do thái đáng được gọi là “Trưởng tử của Yavê” vì đã được Người để cho sống và đánh đổi với các trưởng tử Ai cập. Nhưng phần trọng tâm của cuộc lễ chính là bữa tiệc hiệp thông giữa các thành phần Dân Chúa. Hành động cứu thoát của Thiên Chúa đã khai sinh ra một dân tộc tự do, thì bữa tiệc hằng năm tưởng niệm cuộc Vượt qua ấy nhằm tạo lại và củng cố ý thức cộng đoàn dân tộc. Trong bữa tiệc, tất cả mọi người Do thái biểu dương tình đoàn kết liên đới với nhau và sự hiệp thông với vị Thiên Chúa cứu độ họ. Số người dự tiệc phải đạt tới một mức tối thiểu nào đó – thường là một nhóm từ 10 đến 12 người -, không phải chỉ để ăn cho hết một con chiên nướng, nhưng còn để nói lên tính cách tập thể của ơn cứu độ. Khung cảnh bình thường là gia đình, và chính gia trưởng chủ tọa bữa tiệc. Ðể cho đủ túc số, gia trưởng phải mời những người đồng đạo trong thôn xóm tới để chia sẻ bữa tiệc tưởng niệm hồng ân nhưng không ấy của Thiên Chúa.
Cuộc giải phóng ra khỏi Ai cập xảy ra một cách vội vã trong một bầu khí căng thẳng: Dân phải cảnh giác, phải hành động nhanh chóng và ở trong tư thế sẵn sàng lên đường để được cứu thoát. Chính Thiên Chúa cũng đã canh thức để kịp thời đến tiếp cứu Dân mình. Là những du mục và lữ khác, họ phải dùng bánh không men, ăn lễ Vượt qua, vì họ không có đủ giờ để cho men dậy, và nhất là vì thứ bánh ấy tượng trưng cho tâm hồn trong sạch, thanh thoát, không dính bén, không sa lầy trong kiếp sống nô lệ. Rau diếp đắng nhắc lại khía cạnh chua xót của kiếp vong nô của người Do thái ghi nhớ hồng ân cứu độ, và tăng cường cho ý nghĩa thanh luyện tâm hồn để họ xứng đáng đón nhận những hồng ân khác của Người.
Thật vậy, bữa tiệc Vượt qua của truyền thống Do thái hiện đại hóa hành động cứu độ của Thiên Chúa đã khai sáng ra họ thành một dân tộc tự do và bữa tiệc ấy cũng mở ra một viễn tượng tương lai cho họ: họ hy vọng, chờ đợi những hành động lớn lao của Thiên Chúa tiếp tục hướng dẫn họ, như sau khi họ đã lên đường xuất hành, Người còn ra tay giúp họ vượt qua Biển Ðỏ, thoát khỏi tầm tay kẻ thù.
Ý Nghĩa Nới Rộng Của Lễ Vượt Qua: Qua các thời đại, Bữa tiệc Vượt qua vẫn là một nghi lễ tưởng niệm: máu chiên sát tế bôi lên cửa nhà tư nhân – hoặc sau này rưới lên bàn thờ trong Ðền thánh – là dấu hiệu nhắc Thiên Chúa nhớ lại lòng thương của Người, để Người tiếp tục cứu độ Dân, cũng như cầu vồng là dấu hiệu nhắc Người nhớ lại giao ước đã ban cho Noe (Kn 9,16-17), nghi thức cắt bì là dấu hiệu nhắc lại Giao ước với Abraham (Kn 17,11) và ngày hưu lễ Sabbat là dấu hiệu của Giao ước Sinai (Ez 20,12). Các dấu hiệu ấy cũng nhắc nhở dân nhớ lại các hồng ân họ đã nhận được, để cảm tạ, ngợi khen Thiên Chúa và để tuân giữ các điều lệ của giao ước một cách trung thành.
Các suy tư thần học qua các thế hệ, nhất là các thế hệ hậu lưu vong từ thế kỷ thứ 6, đã ghép thêm vào lễ Vượt qua những ý nghĩa khác nữa. Ngay ý nghĩa giải phóng cũng đặt thêm chiều rộng và chiều sâu; một tiên tri Ezêkiel đã không ngần ngại đồng hóa Ai cập với đất tội lỗi, và như thế giải thoát khỏi Ai cập có nghĩa là giải thoát khỏi ách nô lệ (Ez 20,7-9). Cuộc giải phóng khỏi Ai cập cũng được xem như là một cuộc tạo dựng, vì Thiên Chúa đã khai sáng ra một dân tộc tự do. Lễ Vượt qua mà người Do thái cử hành hàng năm nhằm hiện-đại-hóa cuộc sáng tạo ấy đối với tập thể dân Chúa và đối với từng cá nhân, khi họ xác tín rằng Thiên Chúa sẽ tái tạo tim cho họ (Tv 51,12; Ez 36,26-27).
Chính cái kinh nghiệm thiết thân ấy về hành động “cứu độ-sáng tạo” của Thiên Chúa đã giúp dân Do thái đón nhận và hiểu được những ý tưởng về việc tạo thiên lập địa. Thật vậy, xét về thứ tự thời gian, họ đã được cảm nghiệm khía cạnh cứu thế trước khi ý thức về khía cạnh tạo hóa của mầu nhiệm Ðức Yavê. Và khi suy niệm về hoạt động sáng tạo của Người, họ có một cái nhìn rộng lớn bao trùm cả nguồn gốc lẫn cánh chung, cả quá khứ lẫn tương lai, vì theo họ, Thiên Chúa là Ðấng Tạo Hóa từ nguyên thủy cho đến chung tận, và Người không ngừng hoạt động để thiết lập vương quyền của Người khắp hoàn vũ và trên mọi tâm hồn. Còn máu chiên sát tế của lễ Vượt qua thì làm cho họ liên tưởng tới ý định của tổ phụ Abraham tế con một yêu dấu của mình (Kn 22). Hình ảnh Isaac cam lòng chịu chết có một cái gì giống như con chiên hy sinh của lễ Vượt qua. Và khuôn mặt của Abraham trong thời khai nguyên lịch sử cứu độ cũng như khuôn mặt của Môsê trong cuộc xuất hành hướng về Ðất Hứa luôn gợi lại Giao Ước của Yavê ban cho Dân Người.
Tóm lại: Bữa tiệc Vượt qua của người Do thái mà Chúa Yêsu ăn lần cuối cùng với các môn đệ tại Yêrusalem năm 30 mang tất cả các ý nghĩa ấy, đó là: tưởng niệm và hiện-đại-hóa cuộc giải phóng khỏi ách nô lệ Ai cập và ách nô lệ tội lỗi; tưởng niệm và hiện-đại-hóa hành động cứu độ, sáng tạo ra Dân Chúa và sáng tạo ra tâm hồn mới cho mọi người; tưởng niệm và hiện-đại-hóa Giao Ước tình yêu Thiên Chúa ban cho dân Người đã tuyển chọn. Bữa tiệc Vượt qua còn mang thêm một nguyện ước; cho Nước Trời trị đến. Chính Chúa Yêsu đã làm chứng cho điều ấy lúc Người nói với các môn đệ:
“Ta sẽ không còn ăn lễ Vượt qua này nữa, cho đến khi nó sẽ hoàn tất trong Nước Trời” (Lc 22,16).
Chặng đầu của tiến trình hoàn thành ấy là cái chết của Chúa Yêsu, mà bữa tiệc Thánh Thể là nghi lễ tưởng niệm; còn chặng cuối cùng sẽ là bữa tiệc Thiên quốc mà các thánh sẽ cùng ăn với Chúa Yêsu Phục sinh nơi Trời mới và Ðất mới.
II. Bữa Tiệc Giao Ước Mới Và Vĩnh Viễn
Lần cuối cùng, Chúa Yêsu ăn Bữa tiệc Vượt qua theo truyền thống Do thái với các môn đệ. Nhưng trước và sau bữa tiệc ấy, Người thết đãi họ thêm một món ăn và một món uống làm thành Bữa Tiệc Thánh Thể ám chỉ cuộc Vượt qua của Người. Chính Người không ăn bữa tiệc phụ trội ấy, vì Người vừa là chủ đãi tiệc vừa là của ăn đem ra thết đãi thực khách; Người vừa là tư tế vừa là của lễ. Trong bữa tiệc Vượt qua truyền thống Do thái, người gia trưởng chủ tọa cuộc lễ, nhưng ông không phải là của lễ. Cả cộng đoàn cùng làm hành động tế tự ấy, vì tất cả đều tham dự vào chức vụ tư tế phổ quát của dân được Thiên Chúa tuyển chọn và thánh hiến. Trái lại khi thiết lập bí tích Thánh Thể, Chúa Yêsu hành động với tư cách tư tế thượng phẩm, một tư tế thượng phẩm độc đáo, vì Người tự hiến tế mình như của lễ để làm lương thực cho các môn đệ trong bữa tiệc hiệp thông của Giao ước mới. Người là tư tế, nhưng là tư tế của Giao ước mới.
Tấm bánh miến được Người đồng hóa với Thân Thể Người – Thân Thể sắp bị phó nộp chịu chết cho mọi người (1C 11,24; Lc 22,19).
Chén rượu nho được Người đồng hóa với Máu Người – Máu sắp đổ ra để xóa tội trần gian (Mt 26,28).
Tấm bánh Thánh Thể ấy quả thật là của ăn thiêng liêng nuôi sống tâm hồn, vì Chúa Yêsu chính là “Sự Thật và Sự Sống” (Yn 14,6); Người là hiện thân của Mạc khải (Hr 1,2), của Lề luật; Người là Lời của Thiên Chúa (Yn 1,1), Lời mang sự sống (Yn 1,2), đúng như trong truyền thống Do thái tấm bánh tượng trưng cho Sách Thánh, chứa đựng Lời Chúa và Lề luật. Tấm bánh ấy là do hạt lúa miến đã chết đi dưới lòng đất để làm xuất hiện những hạt lúa miến chắc nịch khác (Yn 14,24), cũng bị nghiền nát đi mà kết tinh thành. Tấm bánh ấy lại bị bẻ ra trước khi được trao ban cho các môn đệ ăn. Thân Mình Chúa Yêsu cũng chỉ trở nên của ăn thiêng liêng khi đã bị đập nát và bẻ gãy trên Thập giá, bị chôn vùi dưới lòng đất để phục sinh với sức sống mới của Thần Khí. Ăn Bánh Thánh Thể là đón nhận lấy Thần Khí tác sinh của Ðức Kitô Phục sinh.
Chén rượu nho đồng hóa với Máu Chúa Yêsu được gọi là “Máu Giao Ước” (Mc 14,24; Mt 26,28), “Chén Giao Ước Mới được ký kết trong Máu Người” (1C 11,25; Lc 22,20). Khi chia sẻ Chén Thánh ấy, các môn đệ được kéo vào trong Giao Ước Mới, nghĩa là được giao hòa với Chúa Cha qua sự môi giới của Chúa Yêsu, giống như dân Do thái ngày xưa, khi được Môsê rảy máu chiên sát tế, đã được giao hòa với Ðức Yavê qua sự môi giới của Môsê trong Giao ước Sinai (Xh 24,8). Trong cả hai cuộc ký kết Giao ước, máu là máu của một tế vật bị giết chết để niêm ấn các điều lệ chứa trong Giao ước. Máu chiên xưa đã đóng ấn chính thức vào bảng Thập giới của Giao ước Sinai. Nay Máu Chúa Yêsu đóng ấn vĩnh viễn vào Giới răn mới Người trối lại cho các môn đệ: “Các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con”. (Yn 13,34). Máu Giao ước mới là Máu Con Thiên Chúa, nên có giá trị cứu độ muôn đời, vì thế lá thư gửi các tín hữu Do thái đã gọi đó là “Giao ước vĩnh viễn” (Hr 13,20).
Khi ra lệnh cho các môn đệ “hãy làm việc này mà nhớ đến Ta” (1C 11,24-25; Lc 22,19), Chúa Yêsu muốn rằng cộng đoàn Kitô hữu phải cử hành bữa tiệc Giao ước mới và vĩnh viễn ấy để tưởng niệm cuộc Vượt qua của Người: Người vượt qua cái chết để Phục sinh và về với Chúa Cha (Yn 13,1). Qua cái chết tự nguyện và vô tội để đền tội và chết thay cho ta, Người tháo gỡ khỏi ta dây tròng ràng buộc của tội và giải thoát ta khỏi cái chết vĩnh cửu là hậu quả của tội. Khi ta tin vào Người và để cho Người giải hòa ta với Chúa Cha, thì ta được dẫn vào cõi trường sinh bằng cách tham dự vào cuộc Phục sinh của Người. Bữa tiệc Thánh Thể nhằm mục đích tưởng niệm và hiện-đại-hóa cuộc Vượt qua của Chúa Yêsu. Bởi thế dự tiệc Thánh Thể là thông phần vào mầu nhiệm Vượt qua của Người.
Tấm Bánh – Mình Người và Chén Rượu – Máu Người, quả thật chứa sự sống thần linh. Người phải là Con Thiên Chúa và Chúa Tể mới nói được những lời hiệu nghiệm đầy sức sáng tạo, như khi “Thiên Chúa phán, mọi loài liền có; lệnh Người truyền ra, mọi sự được dựng nên” (Tv 33,9). Lời Chúa Yêsu là những lời sáng tạo, có khả năng làm cho Bánh thành Thịt và Rượu thành Máu Thánh Người. Và lời mời gọi các tông đồ uống Máu Người cũng chứng tỏ uy quyền thần linh của Người. Chính Thánh Kinh đã cấm người ta uống máu, vì máu mang sự sống, và như thế máu thuộc phạm vi độc quyền của Thiên Chúa. Nay Chúa Yêsu muốn ban cho các môn đệ chính sự sống thần linh chứa đựng trong Máu Người đổ ra trên Thập giá, khi vượt qua cái chết để phục sinh, về với Chúa Cha.
Mệnh lệnh cử hành nghi lễ tưởng niệm còn hàm chứa ý định của Chúa Yêsu muốn tấn phong chức tư tế thừa tác của chế độ Tân Ước cho các Tông đồ, và ban cho các ngài năng quyền công bố những lời nói hiệu nghiệm làm nên bí tích Thánh Thể cũng như tẩy xóa được tội khiên (Mt 18,18; Yn 20,23). Chúa Kitô là tư tế thượng phẩm theo kiểu Melkisêđê (Kn 14,18; Tv 110,4). Truyền thống Do thái như Thánh vịnh 110 phản ảnh lại, đã liên kết khuôn mặt Ðấng Thiên Sai với phẩm hàm tư tế của Melkisêđê. Chính Chúa Yêsu đã áp dụng Thánh vịnh đó cho mình (Mt 22,44; 26,64) và thư gửu các tín hữu Do thái đã hiểu đúng ý hướng ấy khi khai triển chủ đề thần học về chức tư tế tối cao và vĩnh cửu của Chúa Cứu thế (Hr 5;7;8;9). Khi lấy bánh miến và rượu nho lập phép Thánh Thể, Người ý thức rằng mình đang làm một hành vi tư tế, như Melkisêđê ngày xưa đã đem bánh miến và rượu nho tặng cho Abraham, kèm với những lời chúc lành do một tư tế của Ðấng Tối Cao (Kn 14,18-19). Hành vi dâng hiến cũng như tặng phẩm của Chúa Yêsu mang một ý nghĩa và hiệu năng vượt xa hành vi và tặng vật của Melkisêđê vì Người là tư tế tối cao của Giao ước mới và vĩnh viễn, và bánh miến rượu nho Người ban tặng đã được quyền năng thần linh của Người biến thành Thịt và Máu Người. Khác với Melkisêđê, Người vừa là tư tế vừa là của lễ tế hiến để “xóa tội trần gian” (Mt 26,28; Yn 1,29) và để làm lương thực đem sự sống vĩnh cửu cho loài người (Yn 6,54).
III. Bữa Tiệc Thánh Thể Của Ta Hôm Nay
Bữa tiệc Giao ước mới do Chúa Yêsu thết đãi các môn đệ, gắn liền với bữa tiệc vượt qua của truyền thống Do thái. Do đó bữa tiệc Thánh Thể của ta hôm nay cũng mang tất cả mọi ý nghĩa của bữa tiệc Giao ước cũ. Lễ Vượt qua của truyền thống Do thái nhận được sự viên mãn trong cuộc Vượt qua của Chúa Kitô. Chính Người, trong hành động chết và sống lại, là hiện thân của Giao ước mới và vĩnh viễn. Mầu nhiệm Vượt qua biểu lộ bản chất và định hướng đời sống của Người: Người hiện hữu cho Chúa Cha và cho loài người. Người sinh ra, hoạt động, rồi chết và sống lại, trở về cùng Chúa Cha: trong tất cả moị sự, Người tuân hành thánh ý Chúa Cha và tìm vinh danh cho Cha, và Người đến để phục vụ mọi người bằng cách chết thay và chuộc tội cho ta, giải hòa ta lại với Chúa Cha và lấy Thịt Máu mình nuôi sống ta. Ðến cả khi phục sinh, Người cũng đã sống lại vì ta. Ðời sống của Người được dệt thành bởi những quan hệ phục vụ, hướng về kẻ khác. Người có đó, là để cho kẻ khác “ăn” Người đi. Bí tích Thánh Thể, cũng như cử chỉ rửa chân cho các môn đệ (Yn 13,1-15) chứng minh chân lý ấy.
Do đó, mỗi lúc cử hành bí tích Thánh Thể, chúng ta tưởng niệm và hiện-đại-hóa cái chết và cuộc Phục sinh của Ðức Kitô cho ta, để chuyển ơn cứu độ chảy theo dòng Máu và Nước từ trái tim bị đâm thủng của Người vào lòng ta. Ơn Thánh chảy vào lòng ta, thì Nước Trời cũng đang đến với ta, và qua ta, đến với thế giới. Mỗi lần cử hành Thánh lễ, chúng ta tuyên xưng cái chết cứu độ và cuộc Phục sinh đầy sức sáng tạo của Chúa Kitô trong năng lực Chúa Thánh Thần, cho tới khi Người lại đến để hoàn thành Nước Trời bằng cách siêu thăng và biến dạng thế giới này và dâng tất cả lịch sử loài người cho Chúa Cha.
Bí tích Thánh Thể, vì thế, là bí tích của những người hành hương đang xây dựng Nước Trời giữa lòng thế giới. Sự đóng góp của người Kitô hữu cho lịch sử loài người luôn mang ấn tín của mầu nhiệm Vượt qua: hành động của họ được đánh dấu bởi sự thánh hiến cho Thiên Chúa qua bí tích Thánh Tẩy; nghị lực của họ được củng cố bởi sức mạnh Chúa Thánh Thần qua bí tích Thêm sức; đời sống của họ được nuôi dưỡng bởi Mình và Máu Chúa Kitô qua bí tích Thánh Thể. Họ xây dựng thế giới, nhưng là một thế giới như con đường đi, chứ không phải cái gì như một thành trì cố định. Trong ý nhắm “Vượt qua” và tinh thần hành hương ấy, họ lãnh nhận Thánh Thể như của ăn đàng. Ý nghĩa đó được tượng trưng bởi cử chỉ của người tín hữu tiến lên bàn thờ, đứng rước lễ trong tư thế sẵn sàng ra đi, như người Do thái ngày xưa đứng ăn lễ Vượt qua, với bị gậy sắp sẵn, để lên đường Xuất hành (Xh 12,11).
Bí tích Thánh Thể, muốn lôi kéo đời sống nhân loại vào trong chuyển động của cuộc hành hương vĩ đại về Trời mới Ðất mới, và không hề hàm ý khước từ một giá trị trần thế nào, trái lại đón nhận và thánh hiến tất cả mọi thực tại, kể cả vật chất mà bánh miến, rượu nho là những mẫu tượng trưng. Bí tích Thánh Thể kết tụ mọi lao nhọc, mọi thất bại, mọi thành công của loài người để sát nhập chúng vào mầu nhiệm chết và phục sinh của Chúa Kitô, và biến chúng thành lời kinh tạ ơn vô tận dâng lên Chúa Cha. Mọi người dự tiệc Thánh Thể đều đi vào cuộc Vượt qua của mình, không phải một cách đơn độc, nhưng với cộng đoàn Giáo hội là Dân Thiên Chúa đang trên đường hành hương; bởi vì chính Thánh Thể làm ra Giáo hội, khi Giáo hội họp mừng cử hành Thánh Thể.

 

Thứ 5-53: Rửa chân cho môn đệ và cử hành bữa tiệc Thánh Thể đầu tiên

Buổi chiều hôm nay, chúng ta họp nhau lại đây, không phải để cử hành một Thánh lễ như mọi khi. Thứ 5-53

Buổi chiều hôm nay, chúng ta họp nhau lại đây, không phải để cử hành một Thánh lễ như mọi khi. Chúng ta sẽ chiêm ngưỡng Chúa trong hai hành vi: rửa chân cho môn đệ và cử hành bữa tiệc Thánh Thể đầu tiên trong lịch sử loài người.
Chúa muốn chúng ta bắt chước Người rửa chân cho nhau, như lời Phúc Âm chúng ta vừa nghe đọc. Nhưng không tiện làm công việc đó hằng ngày, Giáo hội muốn chúng ta hằng năm phải làm hành vi này theo ý Chúa và trong tinh thần của Chúa. Phúc Âm cho ta biết: hôm nay, Chúa đi vào giờ của Người. Nghĩa là đã đến giờ Người ra tay hành động để cứu thế. Do đó mọi việc Người làm trong giờ này và kể từ giờ này sẽ có giá trị vô song, sẽ quyết định dứt khoát vận mệnh của tất cả thế giới. Ta chỉ cần đọc lại mấy lời mở đầu bài Phúc Âm hôm nay là thấy rõ Chúa đã chuẩn bị giờ phút này thế nào và Người đánh giá rất cao những công việc mình sắp làm. Người biết đã đến giờ bỏ thế gian về cùng Chúa Cha nên Người muốn tỏ lòng yêu thương các môn đệ cho đến cùng. Ðồng thời Người cũng ý thức rõ Chúa Cha đã ban cho Người mọi sự trong tay, nên Người có thể làm được mọi sự mình muốn. Như vậy những việc mà Người sắp làm đây là những việc có khả năng yêu thương các môn đệ hơn hết. Và chúng ta phải hiểu các việc này dưới khía cạnh của tình yêu, đến nỗi bàn tiệc Thánh Thể cũng là bàn tiệc yêu thương, và buổi chiều hôm nay là thời gian để biểu thị đức bác ái tột độ.
Chính trong bầu khí yêu thương, mà Ðức Kitô đã đứng lên cầm nước đi rửa chân cho môn đệ. Mọi người đều sửng sốt. Sao Thầy lại làm như vậy? Vì sao để tỏ dấu yêu thương, lại phải bắt đầu bằng việc rửa chân người mình muốn thương? Phêrô không hiểu gì cả, nên đã hỏi. Chúa đã trả lời nhưng Người nói rõ: bây giờ chưa hiểu được đâu; nhưng sau này sẽ hiểu. Người muốn cho chúng ta phải suy nghĩ về ý nghĩa công việc Người làm, và phải tìm hiểu ơn Thánh Thần sẽ đến sau ngày Phục sinh. Chính Thánh Thần sẽ cho chúng ta biết: Chúa làm mọi việc vì yêu thương ta. Và vì yêu thương ta, nên Người đã cứu độ ta. Buổi chiều hôm nay, Chúa ra tay cứu thế. Người nhìn môn đệ đang ngồi ở bàn tiệc. Lễ Vượt qua sắp bắt đầu. Nhưng họ đã có tâm hồn để làm lễ Vượt qua với Người chưa? Người thấy cần phải thanh tẩy cho họ, nên Người cầm chậu nước đi rửa chân cho môn đệ. Người có thể bảo họ đi rửa chân lấy, tự làm lấy việc sám hối ăn năn. Nhưng chẳng ai rửa được tâm hồn mình sạch tội, trừ được chính ơn của Chúa cứu chuộc rửa cho.
Hôm nay Chúa rửa chân cho môn đệ trước khi cử hành Thánh Thể, để việc thống hối ăn năn của ta trước Thánh lễ luôn luôn nhận được ơn tha thứ. Không thanh tẩy tâm hồn, không có khả năng dâng lễ. Và chính Chúa đã bảo ta phải thống hối những tội nào đặc biệt trước khi dâng lễ vật; nếu chúng con sực nhớ mình còn bất hòa với ai, hãy đặt của lễ đó, đi làm hòa với anh em đã, rồi trở lại dâng lễ sau.
Chính vì vậy mà lễ nghi rửa chân hôm nay vừa có ý nghĩa thanh tẩy vừa muốn diễn tả tình bác ái huynh đệ. Người ta không thể dâng lễ xứng đáng, khi không muốn cùng với mọi người khác làm thành một cộng đoàn trong sạch và bác ái. Thánh Thể sẽ biến mọi người tham dự thành các chi thể của một Thân Mình Chúa, thì lễ nghi rửa chân, nghi thức thống hối trước Thánh lễ phải làm cho người ta có tâm tình anh em với nhau trong sự thánh thiện. Thế nên Phụng vụ Giáo hội hôm nay muốn rằng người đứng đầu các cộng đoàn phải tự mình làm nghi lễ rửa chân. Họ phải nhớ và thực hành Lời Chúa: ai lớn nhất trong anh em, phải phục vụ như người rốt bét. Xin anh em hãy cầu nguyện cho tôi trong giờ phút trang trọng này, để khi cử hành nghi lễ rửa chân, tôi ý thức địa vị của tôi ở trong Giáo hội là để phục vụ. Xin Chúa và anh em tha thứ cho tôi, vì nhiều lần ở cương vị mình, tôi không có tâm tình phục vụ đủ. Và xin mọi người chia sẻ trách nhiệm Giáo hội, xã hội, gia đình với tôi, hãy đi vào tâm tình của Chúa Cứu thế trong hành vi rửa chân cho môn đệ, để chúng ta ăn năn về thái độ quan cách trong quá khứ, và nhận thức từ nay phải phục vụ khiêm tốn và yêu thương hơn. Và như vậy, chúng ta mới xứng đáng đi vào mầu nhiệm Thánh Thể.
Chắc chắn chúng ta không thể diễn tả nhiều về mầu nhiệm này. Chính Giáo hội biết như vậy, nên mặc dầu cho ta nhiều giờ chầu sau lễ để ta suy niệm thêm về ơn Thánh Thể mà Chúa ban cho ta hôm nay; sau các tuần lễ Phục sinh, Giáo hội sẽ cử hành lễ Thánh Thể một cách long trọng đặc biệt, để bù đắp cho sự thiếu sót hôm nay. Nhưng như câu kết của bài đọc II mà ta đã nghe đọc, phụng vụ chiều nay muốn chúng ta nhìn vào Thánh Thể như nhìn vào lễ Vượt qua của Chúa Kitô. Người đã chọn khung cảnh lễ Vượt qua của người Do thái để thiết lập bí tích Thánh Thể. Người làm tăng giá trị của lễ ấy khi biến nó nên hình ảnh báo trước cuộc Vượt qua của mình.
Hôm nay Người làm lễ Vượt qua thực sự, khi chấp nhận từ bỏ đời này, từ bỏ mạng sống, từ bỏ thân thể hữu hình để vượt qua mọi biên giới trần gian về cùng Cha mình ở trên trời. Bàn tiệc Thánh Thể vì thế đượm mầu tiệc ly. Người uống chén rượu nho lần chót ở đời này để về trời trước, chờ đợi môn đệ mình đến sau. Người Do thái xưa ăn lễ Vượt qua trong tin tưởng sâu xa vào Lời Chúa, nhưng không biết rõ sự việc sẽ xảy ra. Còn Ðức Kitô, Người biết rõ con đường thánh giá đang chờ đợi mình. Người cầm chén rượu, nhưng đã nhìn thấy đó là chén máu. Nên cuộc Vượt qua, lễ Thánh Thể của Người là một cuộc đau thương, một lễ tử hình. Ngày thứ Sáu Tuần Thánh với cây Thập giá đã hiện diện đầy đủ trong bàn tiệc Thánh Thể hôm nay. Giá trị của ngày thứ Sáu nằm sẵn trong hành vi Thánh Thể hôm nay rồi, vì ngày mai Chúa đã ở trong tay kẻ dữ, và một phần nào Người không còn tự do, tự nguyện. Nhưng chính vì hôm nay Người tự do, tự nguyện chấp nhận ra đi chịu chết, nên án tử hình của Người trong ngày mai vẫn là lễ dâng tự ý hoàn toàn. Ngày thứ Sáu chỉ diễn tả ra bên ngoài những gì đã xảy ra trong tâm hồn của Chúa Kitô chiều hôm thứ Năm. Thánh Thể vì vậy không phải chỉ là bàn tiệc ly, nhưng đã là lễ tế trên Thánh giá. Và vì Thánh giá ở đâu thì mầu nhiệm Phục sinh cũng đã tàng ẩn ở đó, nên khi tuyên bố: đây là chén Tân Ước vĩnh cửu, Chúa Cứu thế đã cho ta nhìn thấy hiệu quả của Thánh Thể, là đổi mới tất cả chúng ta trong một tương quan mới về Thiên Chúa. Chúng ta được trở thành tạo vật mới trong lễ Vượt qua của Ðức Kitô, vì Ðức Kitô không chỉ ra đi chịu chết, nhưng để về cùng Thiên Chúa Cha, Ðấng sẽ phục sinh Ngài trong Thánh Thần. Như vậy, mầu nhiệm Phục sinh đã tiềm ẩn trong bàn tiệc ly, đó là mục đích của lễ Vượt qua mà Ðức Kitô đã cử hành; đó là tột đỉnh của lòng Người thương yêu môn đệ. Người cúi xuống rửa chân cho họ, đưa họ vào mầu nhiệm Thánh Thể hy sinh của Người, là để cuối cùng họ được cùng Người phục sinh trong Giao ước mới, tức là trong mối tình thắm thiết mới giữa Thiên Chúa và loài người.
Giờ đây chúng ta sắp cử hành tất cả những công việc trọng đại ấy. Chúng ta hãy cầu xin cho nhau được từ bỏ con người cũ trong nghi thức rửa chân này, để tiến sang việc kết hợp mật thiết mới với Thiên Chúa trong mầu nhiệm Thánh Thể, hầu sau đó chúng ta sống cuộc đời mới yêu thương anh em trong nỗ lực phục vụ khiêm cung và mỗi ngày mỗi tiến lên trong ý thức thánh thiện kết hợp với Ðức Kitô trong mầu nhiệm Vượt qua mà chúng ta cùng nhau sốt sắng cử hành bây giờ.

 

Thứ 5-54: Đỉnh cao của tình yêu cứu độ

Lm Giuse Nguyễn Hữu An
 

Sau bữa Tiệc Ly, vào khoảng gần nửa đêm, Đức Giêsu cùng các môn đệ rời nhà tiệc ly đi về vườn: Thứ 5-54

Sau bữa Tiệc Ly, vào khoảng gần nửa đêm, Đức Giêsu cùng các môn đệ rời nhà tiệc ly đi về vườn Giếtsêmani. Đoàn người lầm lũi đi theo hướng Bắc tiến về suối Cedron. Dọc đường, Đức Giêsu còn căn dặn các môn đệ những lời cuối cùng: “Đêm nay tất cả anh em sẽ vấp ngã vì Thầy, vì có lời đã chép: Ta sẽ đánh người chăn chiên và đàn chiên sẽ tan tác” (Mt 26,31). Phêrô nhiệt tình sôi nổi: “Dầu tất cả có vấp ngã vì Thầy đi nữa, thì con đây cũng sẽ không bao giờ vấp ngã”. Đức Giêsu bảo ông: “Thầy bảo thật anh: nội đêm nay, gà chưa kịp gáy, thì anh đã chối Thầy ba lần” (Mt 26,33-34). Phêrô khẳng định lần nữa: “Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy”; và không chỉ Phêrô thề thốt mà thôi, các môn đệ cũng đều nói như thế (x. Mt 26,35).
Ðức Giêsu đi ra núi cây dầu cầu nguyện. Cầu nguyện xong thì Giuđa, kẻ phản bội dẫn một toán lính đền thờ đến bắt Ðức Giêsu bằng một dấu hiệu là cái hôn giả dối.
Ðể bảo vệ Thầy “Ông Simon Phêrô có sẵn một thanh gươm, bèn tuốt ra, nhằm người đầy tớ vị thượng tế, mà chém đứt tai phải của y. Người đầy tớ ấy tên là Mancô” (Ga 18,10; Mc 14,46).  Phêrô nghĩ rằng, bảo vệ Chúa để Chúa được sống và ông đã rút gươm.
Phêrô thật vụng về, ông không chém được ai sáng giá cả, chỉ chém được người đầy tớ. Sao không chém những người có gươm giáo? Người đầy tớ thì chém làm gì. Ông chém đứt cái tai. Phêrô chém kiểu nào mà chỉ làm đứt tai tên đầy tớ thôi, mà không làm bị thương ở vai hay ở cổ?
Hay phải dịch là Phêrô “xẻo tai” tên đầy tớ ? Mà xẻo tai thì lại không thực tế trong trường hợp này. Ðể xẻo tai, một tay cần phải cầm tai của tên đầy tớ, còn tay kia cầm gươm để xẻo thì mới có điểm tựa. Nếu vậy, đối phương thấy đau sẽ vùng vẫy để tẩu thoát. Còn nếu nhờ các tông đồ khác kìm kẹp hắn lại để thực hiện việc xẻo, thì cũng không giúp được gì, bởi vì quân lính đi bắt Ðức Giêsu thế nào cũng phải đông hơn và có khí giới lợi hại hơn để áp đảo nhóm Mười Một.
Nếu Phêrô bổ thẳng từ trên xuống dưới thì thế nào cũng làm bị thương vai của tên đầy tớ. Nếu chém chéo thì không những làm đứt tai mà còn làm bị thương cả đầu và cổ nữa. Nếu tai cụp gần vào đầu thì rất khó chém. Có lẽ tên đầy tớ có tai vảnh ra như tai lừa nên mới dễ chém như vậy!
Để chém đứt tai tên đầy tớ, Phêrô phải có võ thuật. Làm nghề chài lưới ở biển hồ Tibêria phải biết chút võ nghệ để đề phòng hải tặc. Như vậy khi chém tên đầy tớ, Phêrô đã phải dùng nội lực, trường hợp này chỉ vận dụng ít nội công để cho thanh gươm dừng lại ở điểm nào đó cho khỏi làm bị thương cổ hoặc vai của tên đầy tớ. Nói cách khác, Phêrô vận dụng trí óc để điều khiển thần kinh, rồi thần kinh phối trí với nhãn quan và bắp thịt cánh tay để điều khiển hướng đi của thanh gươm. Như thế Phêrô chỉ chém để cảnh cáo quân lính đến bắt Thầy mình như là ngụ ý nói với chúng: Tụi bay đừng có đụng đến Thầy của chúng ta, kẻo phải chịu chung số phận. May thay, “ Đức Giêsu sờ vào tai tên đầy tớ mà chữa lành” (Lc 22,51).
Tuy nhiên, đường lối của Ðức Giêsu thì khác với đường lối loài người. Ðường lối của Ðức Giêsu là vâng phục thánh ý Chúa Cha. Vì thế, Người bảo Phêrô dừng lại và xỏ gươm vào bao. (Mt 26,52).
Thánh ý Chúa Cha là con đường thập giá. Trên thập giá, Đức Giêsu gọi giờ tử nạn là giờ Ngài được tôn vinh: “Giờ đây, Con Người được tôn vinh” (Ga 13, 31). Ngài bị phản bội, bị ruồng bỏ, bị cáo gian, bị hành hình, bị treo trên thập giá. Cả một bầu khí thù hận vây bọc muốn quật ngã Ngài. Nhưng Ngài vẫn đáp lại bằng tình yêu. Trên thập giá, Đức Giêsu chiến thắng sự hận thù bằng lòng bao dung. Ngài yêu thương và tha thứ tất cả. Người tha thiết cầu xin Chúa Cha: “Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23, 34). Đó là cuộc chiến thắng của tình yêu.
Trên thập giá, Đức Giêsu chiến thắng nổi đau đớn thể xác và đau khổ tinh thần. Đối mặt với cuộc khổ nạn, không một thách thức nào làm cho Đức Giêsu lùi bước; không một đe doạ nào làm cho Đức Giêsu khiếp sợ; không một sỉ nhục nào làm cho Đức Giêsu nổi giận hay mất bình an; không hận thù nào tiêu huỷ được lòng bao dung vô bờ bến của Ngài. Cái chết yêu thương mở ra một đời sống mới: vị tha, yêu thương, tha thứ, tin yêu, hi vọng. Từ đó Ngài nâng đời sống con người lên sự sống của con cái Thiên Chúa. Đó là cuộc chiến thắng của sự sống.
Đức Giêsu đã đạt đến đỉnh cao của tình yêu cứu độ. Thập giá là đường lối khôn ngoan của Thiên Chúa. Một chân trời bình an rộng mở đón nhận niềm vui Phục Sinh.

 

Thứ 5-55: Thầy làm gương cho các con

Lm. Jos Tạ duy Tuyền
 

Thánh lễ hôm nay vẫn gọi là thánh lễ tiệc ly. Vì nó gợi nhớ lại bữa tiệc cuối cùng của Chúa Giê su: Thứ 5-55

Thánh lễ hôm nay vẫn gọi là thánh lễ tiệc ly. Vì nó gợi nhớ lại bữa tiệc cuối cùng của Chúa Giê su với các môn sinh của mình. Đây là bữa tiệc của hoà giải, của hiến tế. Đây là bữa tiệc không đơn thuần là bữa tiệc ăn cho vui và để nhớ đến nhau mà là bữa tiệc mang nặng tính giáo dục các môn sinh của mình.
Khởi đầu là hành vi lấy nước rửa chân cho các môn sinh. Trước bữa ăn người ta đâu cần rửa chân, có chăng rửa tay, rửa mặt để ăn cho sảng khoái và ăn cho ngon miệng. Thế mà, Chúa lại rửa chân cho các môn sinh. Rửa chân là việc làm của kẻ tôi tớ. Rửa chân là sự phục vụ hèn kém. Chúa chấp nhận cúi mình rửa chân. Rửa đôi chân đã lắm bụi đời. Rửa đôi chân đã từng bước đi trong vũng bùn tội lỗi. Chúa khiêm tốn rửa chân để các ông sửa lại lỗi lầm. Chúa rửa chân còn là tấm gương của yêu thương và phục vụ. Sự phục vụ trong khiêm tốn để dạy các môn sinh bài học yêu thương. “Nếu Thầy là Chúa và là Thầy mà còn rửa chân cho các con, các con cũng hãy rửa chân cho nhau”. Chúa rửa chân để các ông cũng hãy rửa chân cho nhau. Hãy dùng tình yêu để rửa xoá những lầm lỗi cho nhau. Kẻ làm lớn hãy dùng tình yêu để phục vụ. Chỉ có tình yêu mới hoán cải lòng người. Chỉ có tình yêu mới dám hết mình phục vụ cho nhau. Chính Chúa đã làm gương. Dù biết rằng Giu-đa sẽ phản bội. Dù biết rằng các môn đệ sẽ bỏ Thầy trong cơn nguy biến. Việc Chúa làm hôm nay để các ông ghi khắc mãi trong tim. Cho dù đôi chân của các ông có bước tới tận bùn sâu của lầm lỗi. Chúa vẫn thứ tha. Chúa vẫn tiếp tục cúi xuống rửa chân cho các ông. Tiếc thay, “ngựa quen đường cũ”. Tình thương của Chúa đã không níu kéo được Giu-đa. Lối mòn của tội lỗi đã dẫn dắt Giu-đa bước đi trong bóng đêm của lầm lạc và dẫn đến tuyệt vọng. Nhưng đáng mừng là Phê rô đã trở lại. Phê rô sa ngã vì yếu đuối. Phê rô không có lối mòn của tội lỗi. Phê rô chỉ vấp té nhưng ông đã nhận ra ánh mắt đầy trìu mến của Thầy Giê su. Ông đã trỗi dậy và làm lại cuộc đời. Ông đã dành phần cuộc đời còn lại để thực hiện di chúc của Thầy chí Thánh dành cho ông. “Ngày nào con trở lại, con hãy củng cố đức tin anh em con”.
Tiếp theo là hành vi trao bánh và rượu. Bánh và rượu là hoa màu ruộng đất, là lao công con người. Bánh và rượu được làm ra để nuôi sống con người. Bánh và rượu không kén chọn người hưởng dùng. Không là đặc sản dành cho một giai cấp nào. Ai cũng có nhu cầu ăn. Ai cũng có nhu cầu uống. Ai cũng cần đến lương thực và nguồn nước. Chúa Giê su đã chọn bánh và rượu trở nên Mình và Máu Thánh Chúa. Trao ban chính thân thể mình trở nên nguồn sống cho nhân trần. Đó là tình yêu tự hiến đến quên mình vì “không có tình yêu nào cao quý hơn tình yêu của người bạn hữu chết cho người mình yêu”. Đó là tình yêu của trao ban. Trao ban nguồn sống cho tha nhân bằng chính Máu Thịt mình. Qua đó, Chúa cũng mời gọi các môn sinh: “mỗi lần anh em ăn bánh và uống chén này, là anh em loan truyền Chúa đã chịu chết”.
Qua hành vi cúi xuống rửa chân và trao ban bánh, rượu. Chúa Giê-su muốn mời gọi các môn đệ đi sâu vào tình yêu của Thầy Chí Thánh. Hãy ở lại trong tình yêu của Thầy. Như cành liền cây để sinh hoa trái. Hoa trái của yêu thương, của dâng hiến, của trao ban. Chúa mời gọi các môn sinh nhận ra tình yêu của Chúa thì hãy theo gương Chúa mà phục vụ tha nhân. Hãy trở nên người tôi tớ trong khiêm tốn phục vụ. Hãy trở nên tấm bánh để trao ban sự sống và hạnh phúc cho tha nhân. Vâng, Chúa đã trở thành tấm bánh, trở thành của ăn nuôi dưỡng cho anh em, anh em hãy biến mình trở thành tấm bánh đem lại niềm vui và hạnh phúc cho nhau.
Ước gì những cử chỉ cao đẹp mà Thầy Chí Thánh đã làm luôn tồn tại trong thế giới hôm nay, qua các nghĩa cử đầy yêu thương thắm đượm tình Chúa tình người mà chúng ta trao tặng cho nhau. Ước gì lời nói: “Hãy yêu thương nhau” không phải là khẩu chiệu hô cho vang trời đất mà là một lối sống đi sâu vào từng ngõ ngách cuộc đời. Khởi đi từ gia đình, xứ đạo và lan toả cho đến tận cùng trái đất. Amen.

 

Thứ 5-56: Chữ Yêu

Trầm Thiên Thu
 

Xưa nay, từ cổ chí kim, chưa có một định nghĩa nào về tình yêu trọn vẹn nhất khiến người ta thỏa: Thứ 5-56

Xưa nay, từ cổ chí kim, chưa có một định nghĩa nào về tình yêu trọn vẹn nhất khiến người ta thỏa mãn. Chữ Yêu rất đơn giản mà cũng rất nhiêu khê. Chỉ có một tình yêu đích thực, nhưng được nhìn với nhiều lăng kính, mỗi người yêu mỗi cách và mức độ cũng rất khác nhau. Nói chung, yêu là CHO nhiều hơn NHẬN, yêu đến quên mình, đó mới là Tình Yêu chân chính. Việt Nam có chuyện tình Đồi Thông Hai Mộ và chuyện tình Lan và Điệp, còn Tây phương có chuyện tình Romeo và Juliette. Những chuyện tình thật lãng mạn và đẹp, nhưng cũng đầy chất bi thương!
Yêu là chết trong lòng một ít. Yêu là khổ, không yêu thì lỗ, nên thà chịu khổ hơn chịu lỗ. Người ta còn có cách gọi đó là “thú đau thương”. Chúa Giêsu đã xác định: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15:13). Sau những ngày tháng hoang đàng, Thánh Giám mục Tiến sĩ Augustinô đã hối tiếc: “Con yêu Chúa quá muộn màng”, và rồi ngài nói: “Mức độ yêu Chúa là yêu vô hạn”. Một mức độ kỳ lạ: mức-độ-không-giới-hạn!
DẤU HIỆU TÌNH YÊU
Trình thuật sách Xuất hành (Xh 12:1-8, 11-14) cho biết chi tiết: “Đức Chúa phán với ông Môsê và ông Aharon trên đất Ai Cập: “Tháng này, các ngươi phải kể là tháng đứng đầu các tháng, tháng thứ nhất trong năm. Hãy nói với toàn thể cộng đồng Ít-ra-en: Mồng mười tháng này, ai nấy phải bắt một con chiên cho gia đình mình, mỗi nhà một con. Nếu nhà ít người, không ăn hết một con, thì chung với người hàng xóm gần nhà mình nhất, tuỳ theo số người. Các ngươi sẽ tuỳ theo sức mỗi người ăn được bao nhiêu mà chọn con chiên. Con chiên đó phải toàn vẹn, phải là con đực, không quá một tuổi. Các ngươi bắt chiên hay dê cũng được. Phải nhốt nó cho tới ngày mười bốn tháng này, rồi toàn thể đại hội cộng đồng Ít-ra-en đem sát tế vào lúc xế chiều, lấy máu bôi lên khung cửa những nhà có ăn thịt chiên. Còn thịt, sẽ ăn ngay đêm ấy, nướng lên, ăn với bánh không men và rau đắng”. Luật cũ chú trọng cách sống tự nhiên của con người, và cách hành lễ cũng “thực tế” hơn ngày nay, nhưng đó là thể hiện sự vâng lời – vâng lời Chúa nghĩa là yêu mến Chúa.
Cách ăn cũng có luật: lưng thắt gọn, chân đi dép, tay cầm gậy. Cách ăn “lạ” nhất là “phải ăn vội vã”, vì đó là lễ Vượt Qua mừng Đức Chúa. Đêm ấy Thiên Chúa rảo khắp đất Ai Cập, sát hại các con đầu lòng trong đất Ai Cập, từ loài người cho đến loài thú vật, và sẽ trị tội chư thần Ai Cập. Nghe vậy chúng ta cảm thấy Chúa “dữ tợn” quá. Nhưng không, luật cũ là luật tự nhiên, những gì là “đầu tiên” được dành ưu tiên cho Thiên Chúa, gọi là “của lễ đầu mùa”, kể cả con đầu lòng. Ngày nay, một số dân tộc vẫn có cách mừng thu hoạch như lễ mừng lúa mới, lễ mừng thu hoạch,…
Vết máu bôi trên nhà là dấu hiệu “giữ luật”, là “dấu hiệu tình yêu”, và người trong nhà đó sẽ không bị tai ương tiêu diệt khi Thiên Chúa giáng hoạ trên đất Ai Cập. Ngày đó được chọn làm ngày tưởng niệm, ngày đại lễ mừng Đức Chúa. Đó là luật quy định cho đến muôn đời. Luật đó là hồng ân Chúa ban. Ngài ban đủ thứ ân sủng để con người đủ sức “vượt qua” biển đời. Thiên Chúa YÊU nhiều nên CHO nhiều, còn chúng ta NHẬN quá nhiều, thế nên:
Lấy chi đáp đền Chúa đây
Vì bao ân huệ chính Ngài đã ban? (Tv 116:12)

Dù thật lòng muốn đền đáp ơn Chúa nhưng chẳng có gì để dâng, nếu có cũng chẳng có gì xứng đáng. Thân phận bụi tro mọn hèn cả dám thân thưa:
Con nâng chén hồng ân cứu độ
Mà xưng tụng danh Chúa mãi thôi (Tv 116:13)

Thời quân chủ, thần dân không được ngước nhìn Long Nhan, ai nhìn sẽ bị tội khi quân và phải chết. Thần dân muốn tâu trình điều gì phải quay hướng khác và không được tâu trực tiếp mà chỉ được tâu với cái “bệ rồng” Vua ngồi: “Muôn tâu bệ hạ”. Thế nhưng, đối với Thiên Chúa là Vua các vua và Chúa các chúa, thân sâu bọ chúng ta lại được diện kiến Tôn Nhan thì quả là vô cùng diễm phúc: “Trước Thánh Nhan thật là quý giá, cái chết của những ai hiếu nghĩa với Ngài” (Tv 116:15). Chúng ta chỉ là tôi tớ Ngài, con của nữ tỳ Ngài, mà được diễm phúc thì phải ghi nhớ thâm ân: “Con sẽ dâng hiến lễ tạ ơn mà xưng tụng danh Chúa” (Tv 116:17), đồng thời tự thề hứa: “Lời khấn nguyền với Chúa, con xin giữ trọn, trước toàn thể Dân Ngài” (Tv 116:18).
THỂ HIỆN TÌNH YÊU
Thánh Phaolô cho biết: “Điều tôi đã lãnh nhận từ nơi Chúa, tôi xin truyền lại cho anh em” (1 Cr 11:23). Rồi ngài kể lại việc Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng tạ ơn, rồi bẻ ra và nói: “Anh em cầm lấy mà ăn, đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em; anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy”, và cuối bữa thì Chúa Giêsu nói: “Đây là chén Máu Thầy, Máu đổ ra để lập Giao Ước Mới; mỗi khi uống, anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy” (1 Cr 11:24-25). Thánh Phaolô giải thích: “Từ nay cho tới ngày Chúa đến, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, là anh em loan truyền Chúa đã chịu chết” (1 Cr 11:26), do đó mà chúng ta hằng ngày tuyên tín trong mỗi Thánh lễ: “Lạy Chúa, chúng con loan truyền Chúa chịu chết, và tuyên xưng Chúa sống lại, cho tới khi Chúa đến”, hoặc “Lạy Chúa, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, chúng con loan truyền Chúa chịu chết cho tới khi Chúa đến” (Ga 13:1-15).
Trước lễ Vượt Qua, Đức Giêsu biết “giờ của Ngài” đã đến, đó là giờ Ngài phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Ngài yêu thương mọi người đến giọt Nước và giọt Máu cuối cùng.
Đức Giêsu biết rõ Giuđa nghĩ gì, tính toán ra sao, và sắp làm gì. Nhưng Thánh Ý Chúa Cha nhiệm mầu. Chúa Giêsu bởi Thiên Chúa mà đến, và Ngài sắp trở về cùng Thiên Chúa. Do đó, trong một bữa ăn, Ngài đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, và lấy khăn mà thắt lưng. Rồi Ngài đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau. Chắc hẳn môn đệ nào cũng ngạc nhiên vô cùng khi thấy Sư phụ hành động “kỳ cục nhất thế gian”.
Thế nên, khi Ngài đến chỗ ông Simôn Phêrô, ông liền thưa: “Thưa Thầy! Thầy mà lại rửa chân cho con sao?” (Ga 13:6). Không hề có bề trên nào dám làm chuyện “ngược đời” và “động trời” như vậy. Nghe Phêrô nói, Đức Giêsu trả lời: “Việc Thầy làm, bây giờ anh chưa hiểu, nhưng sau này anh sẽ hiểu” (Ga 13:7). Ông Phêrô chưa thể hiểu nên lại thưa: “Thầy mà rửa chân cho con, không đời nào con chịu đâu!” (Ga 13:8a). Đức Giêsu đáp: “Nếu Thầy không rửa cho anh, anh sẽ chẳng được chung phần với Thầy” (Ga 13:8b). Nghe Thầy nói “không được chung phần” thì ông Phêrô liền thưa: “Vậy, thưa Thầy, xin cứ rửa, không những chân, mà cả tay và đầu con nữa” (Ga 13:9). Nhưng Đức Giêsu bảo ông: “Ai đã tắm rồi, thì không cần phải rửa nữa; toàn thân người ấy đã sạch. Về phần anh em, anh em đã sạch, nhưng không phải tất cả đâu!” (Ga 13:10). Ông Phêrô cụt hứng, như bị tạt ca nước lạnh. Rõ ràng Ý Chúa hoàn toàn khác ý loài người. Ngài rất thâm ý nên mới nói: “Không phải tất cả anh em đều sạch”.
Rửa chân cho các môn đệ xong, Ngài mặc áo vào, về chỗ và nói: “Anh em có hiểu việc Thầy mới làm cho anh em không?” (Ga 13:11). Hỏi vậy thôi, chứ Ngài biết tỏng là chẳng ai hiểu, vì ông nào cũng “mắt chữ O và miệng chữ A” và như trời trồng hết thảy. Thế nên Ngài nói luôn: “Anh em gọi Thầy là Thầy, là Chúa, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” (Ga 13:13-15).
Thầy mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em. Đó là Luật Yêu của Chúa. Nhẹ nhàng mà thâm thúy. Và đó cũng là điều chúng ta phải suy nghĩ, nhất là vì Chúa đã làm gương.
Chữ Yêu bắt đầu bằng mẫu tự Y có hình “ngã ba”, nghĩa là có 3 hướng: Hướng lên Chúa, hướng tới tha nhân, và hướng về chính mình. Yêu Chúa hết linh hồn và hết trí khôn, yêu người như chính mình, không được yêu mình thái quá (tự ái là yêu mình thái quá, là ích kỷ). Yêu có những hệ lụy quan yếu. Yêu là điều luôn cần thiết: Cần thiết à thiết tha à tha thứ. Đó là chu-trình-yêu. Và một hệ lụy khác lại phát sinh: YÊU thì phải KÍNH, KÍNH thì phải NỂ, NỂ thì phải TRỌNG, TRỌNG thì phải VỌNG (mong), MONG thì thấy NHỚ, NHỚ nghĩa là YÊU. Đó là vòng-tròn-yêu bắt đầu và kết thúc bằng động từ YÊU. Chúa nhớ chúng ta và chúng ta cũng phải nhớ Chúa, mà nhớ Ngài thì phải thực thi Thánh Ý Ngài.
Như nói về gia đình, chúng ta áp dụng “hiếu đễ”. HIẾU thì phải ĐỄ (nhường), NHƯỜNG thì phải NHỊN. Nhờ đó mà “trong ấm, ngoài êm”, tạo nên “tổ ấm”, tạo nên hạnh phúc gia đình. Xã hội cũng vậy. Cộng đoàn cũng thế. Nói chung, tất cả tóm gọn trong một chữ YÊU. Yêu cũng chính là biết thương xót.
Lạy Chúa Giêsu, xin đổi mới trái tim chúng con nên giống Chúa mỗi ngày càng nhiều “máu yêu” hơn, để chúng con vừa yêu Chúa vừa yêu tha nhân, đồng thời dám sống và hành động “ngược đời” như Ngài. Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời. Amen.

 

Thứ 5-57: Bữa Tiệc Giao Ước

Lễ Chiều Thứ Năm Tuần Thánh B
 (Xh 12,1-8.11-14; 1C 11,23-26; Yn 13,1-15)
             Phúc Âm: Yn 13, 1-15
"Ngài yêu thương họ đến cùng".
 

Trước ngày Lễ Vượt Qua, Chúa Giêsu biết đã đến giờ Mình phải bỏ thế gian mà về cùng Chúa Cha: Thứ 5-57

Trước ngày Lễ Vượt Qua, Chúa Giêsu biết đã đến giờ Mình phải bỏ thế gian mà về cùng Chúa Cha, Người vốn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn đang ở thế gian, thì đã yêu thương họ đến cùng. Sau bữa ăn tối, ma quỷ gieo vào lòng Giuđa Iscariô, con Simon, ý định nộp Người. Người biết rằng Chúa Cha đã trao phó mọi sự trong tay mình, và vì Người bởi Thiên Chúa mà đến và sẽ trở về cùng Thiên Chúa. Người chỗi dậy, cởi áo, lấy khăn thắt lưng, rồi đổ nước vào chậu; Người liền rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau. Vậy Người đến chỗ Simon Phêrô, ông này thưa Người rằng: "Lạy Thầy, Thầy định rửa chân cho con ư?" Chúa Giêsu đáp: "Việc Thầy làm bây giờ con chưa hiểu, nhưng sau sẽ hiểu". Phêrô thưa lại: "Không đời nào Thầy sẽ rửa chân cho con". Chúa Giêsu bảo: "Nếu Thầy không rửa chân cho con, con sẽ không được dự phần với Thầy". Phêrô liền thưa: "Vậy xin Thầy hãy rửa không những chân con, mà cả tay và đầu nữa". Chúa Giêsu nói: "Kẻ mới tắm rồi chỉ cần rửa chân, vì cả mình đã sạch. Tuy các con đã sạch, nhưng không phải hết thảy đâu". Vì Người biết ai sẽ nộp Người nên mới nói: "Không phải tất cả các con đều sạch đâu".
Sau khi đã rửa chân cho các ông, Người mặc áo lại, và khi đã trở về chỗ cũ, Người nói: "Các con có hiểu biết việc Thầy vừa làm cho các con chăng? Các con gọi Ta là Thầy và là Chúa thì phải lắm, vì đúng thật Thầy như vậy. Vậy nếu Ta là Chúa và là Thầy mà còn rửa chân cho các con, thì các con cũng phải rửa chân cho nhau. Vì Thầy đã làm gương cho các con để các con cũng bắt chước mà làm như Thầy đã làm cho các con".
 
Suy Niệm: Bữa Tiệc Giao Ước
Thứ Năm Tuần Thánh B
Xh 12,1-8.11-14; 1C 11,23-26; Yn 13,1-15
Phụng vụ chiều thứ Năm Tuần Thánh vẽ lại trước mắt chúng ta quang cảnh bữa tiệc ly, lúc mà Chúa Yêsu thết đãi các môn đệ bữa tiệc Giao ước mới trong khuôn khổ bữa tiệc Vượt qua của truyền thống Dothái. Bầu khí Phụng vụ hôm nay, cũng như cả Tuần Thánh này, mang một vẻ trang trọng, bi thống, phản ảnh phần nào bầu khí bi thống, trầm trọng vào những ngày cuối cùng trong cuộc đời dương thế của Chúa Yêsu. Lúc ấy cả thành Yêrusalem xôn xao, náo nhiệt, đón mừng ngày lễ lớn nhất của niên lịch Phụng vụ. Từng đoàn người hành hương, gốc Dothái cũng như Hylạp, tuôn về thành Thánh (Yn 11,55-57; 12,20). Giới lãnh đạo tìm kế ám hại Chúa Yêsu (Yn 11,57) trong lúc phần đông dân chúng lại ngưỡng mộ Người và đã dành cho Người một cuộc tiếp đón hết sức nồng nhiệt (Yn 12,12-19). Bầu khí căng thẳng kịch liệt... chắc chắn sẽ xảy ra một biến cố quan trọng gì đây.
Phía Ðức Yêsu: Người biết rõ giờ Người đã điểm (Yn 12,23; 13,1) và Người đi vào giờ định mệnh ấy với tất cả ý thức sáng suốt và quả cảm. Người biết: Người sẽ chết. Nhưng là một cái chết vô cùng hệ trọng: một cái chết tự nguyện để tuân hành thánh ý Chúa Cha; một cái chết vô tội để chuộc tội cho cả loài người. Những hành động Người sắp làm sẽ đánh dấu khúc quẹo định đoạt của lịch sử cứu độ: Người hoàn tất những gì Thiên Chúa đã bắt đầu với dân Dothái trong quá khứ và khai mạc một kỷ nguyên cho tương lai nhân loại: kỷ nguyên Giao ước mới và vĩnh viễn. Ta phải suy niệm về ý nghĩa bữa tiệc Giao ước trong bối cảnh ấy.
 
I. Bữa Tiệc Vượt Qua Của Người Do Thái
Chúa Yêsu là một người Dothái. Ðã bao lần Người cử hành lễ Vượt qua với gia đình và đồng bào của Người. Nay là lần cuối cùng (Lc 22,15-16). Người ăn bữa tiệc cổ truyền tưởng niệm cuộc giải phóng dân tộc Người khỏi ách nô lệ Aicập. Biến cố chính trị xã hội ấy đã xảy ra 13 thế kỷ trước đó và hàm chứa những ý nghĩa tôn giáo, mà truyền thống tiên tri và tư tế đã dần dà khai triển thành một nền thần học linh động, bén rễ sâu xa trong đời sống phụng vụ và xã hội của mọi tầng lớp quần chúng. Cuộc giải phóng ấy là cơ hội cho dân Dothái cảm nghiệm hồng ân của vị thần linh toàn năng duy nhất đã thương cứu vớt, quy tụ, hướng dẫn và thanh luyện họ để lập giao ước ân tình với họ. Người là Thiên Chúa sống động đã chứng tỏ sự hiện diện của mình qua những hành vi lịch sử.
Ý Nghĩa Nguyên Thủy Của Lễ Vượt Qua: (Xh 12,1-8.11-14). Từ ban đầu việc cử hành lễ Vượt qua hằng năm vào mùa Xuân gồm nghi thức sát tế chiên con, lấy máu bôi lên cửa làm dấu hiệu cho Thiên Chúa thấy mà bỏ qua, không giết hại các trưởng nam Dothái, khi Người đi qua đất Aicập để trừng phạt những kẻ áp bức Dân Người. Bởi đó dân Dothái đáng được gọi là "Trưởng tử của Yavê" vì đã được Người để cho sống và đánh đổi với các trưởng tử Aicập. Nhưng phần trọng tâm của cuộc lễ chính là bữa tiệc hiệp thông giữa các thành phần Dân Chúa. Hành động cứu thoát của Thiên Chúa đã khai sinh ra một dân tộc tự do, thì bữa tiệc hằng năm tưởng niệm cuộc Vượt qua ấy nhằm tạo lại và củng cố ý thức cộng đoàn dân tộc. Trong bữa tiệc, tất cả mọi người Dothái biểu dương tình đoàn kết liên đới với nhau và sự hiệp thông với vị Thiên Chúa cứu độ họ. Số người dự tiệc phải đạt tới một mức tối thiểu nào đó - thường là một nhóm từ 10 đến 12 người -, không phải chỉ để ăn cho hết một con chiên nướng, nhưng còn để nói lên tính cách tập thể của ơn cứu độ. Khung cảnh bình thường là gia đình, và chính gia trưởng chủ tọa bữa tiệc. Ðể cho đủ túc số, gia trưởng phải mời những người đồng đạo trong thôn xóm tới để chia sẻ bữa tiệc tưởng niệm hồng ân nhưng không ấy của Thiên Chúa.
Cuộc giải phóng ra khỏi Aicập xảy ra một cách vội vã trong một bầu khí căng thẳng: Dân phải cảnh giác, phải hành động nhanh chóng và ở trong tư thế sẵn sàng lên đường để được cứu thoát. Chính Thiên Chúa cũng đã canh thức để kịp thời đến tiếp cứu Dân mình. Là những du mục và lữ khác, họ phải dùng bánh không men, ăn lễ Vượt qua, vì họ không có đủ giờ để cho men dậy, và nhất là vì thứ bánh ấy tượng trưng cho tâm hồn trong sạch, thanh thoát, không dính bén, không sa lầy trong kiếp sống nô lệ. Rau diếp đắng nhắc lại khía cạnh chua xót của kiếp vong nô của người Dothái ghi nhớ hồng ân cứu độ, và tăng cường cho ý nghĩa thanh luyện tâm hồn để họ xứng đáng đón nhận những hồng ân khác của Người.
Thật vậy, bữa tiệc Vượt qua của truyền thống Dothái hiện đại hóa hành động cứu độ của Thiên Chúa đã khai sáng ra họ thành một dân tộc tự do và bữa tiệc ấy cũng mở ra một viễn tượng tương lai cho họ: họ hy vọng, chờ đợi những hành động lớn lao của Thiên Chúa tiếp tục hướng dẫn họ, như sau khi họ đã lên đường xuất hành, Người còn ra tay giúp họ vượt qua Biển Ðỏ, thoát khỏi tầm tay kẻ thù.
Ý Nghĩa Nới Rộng Của Lễ Vượt Qua: Qua các thời đại, Bữa tiệc Vượt qua vẫn là một nghi lễ tưởng niệm: máu chiên sát tế bôi lên cửa nhà tư nhân - hoặc sau này rưới lên bàn thờ trong Ðền thánh - là dấu hiệu nhắc Thiên Chúa nhớ lại lòng thương của Người, để Người tiếp tục cứu độ Dân, cũng như cầu vồng là dấu hiệu nhắc Người nhớ lại giao ước đã ban cho Noe (Kn 9,16-17), nghi thức cắt bì là dấu hiệu nhắc lại Giao ước với Abraham (Kn 17,11) và ngày hưu lễ Sabbat là dấu hiệu của Giao ước Sinai (Ez 20,12). Các dấu hiệu ấy cũng nhắc nhở dân nhớ lại các hồng ân họ đã nhận được, để cảm tạ, ngợi khen Thiên Chúa và để tuân giữ các điều lệ của giao ước một cách trung thành.
Các suy tư thần học qua các thế hệ, nhất là các thế hệ hậu lưu vong từ thế kỷ thứ 6, đã ghép thêm vào lễ Vượt qua những ý nghĩa khác nữa. Ngay ý nghĩa giải phóng cũng đặt thêm chiều rộng và chiều sâu; một tiên tri Ezêkiel đã không ngần ngại đồng hóa Aicập với đất tội lỗi, và như thế giải thoát khỏi Aicập có nghĩa là giải thoát khỏi ách nô lệ (Ez 20,7-9). Cuộc giải phóng khỏi Aicập cũng được xem như là một cuộc tạo dựng, vì Thiên Chúa đã khai sáng ra một dân tộc tự do. Lễ Vượt qua mà người Dothái cử hành hàng năm nhằm hiện-đại-hóa cuộc sáng tạo ấy đối với tập thể dân Chúa và đối với từng cá nhân, khi họ xác tín rằng Thiên Chúa sẽ tái tạo tim cho họ (Tv 51,12; Ez 36,26-27).
Chính cái kinh nghiệm thiết thân ấy về hành động "cứu độ-sáng tạo" của Thiên Chúa đã giúp dân Dothái đón nhận và hiểu được những ý tưởng về việc tạo thiên lập địa. Thật vậy, xét về thứ tự thời gian, họ đã được cảm nghiệm khía cạnh cứu thế trước khi ý thức về khía cạnh tạo hóa của mầu nhiệm Ðức Yavê. Và khi suy niệm về hoạt động sáng tạo của Người, họ có một cái nhìn rộng lớn bao trùm cả nguồn gốc lẫn cánh chung, cả quá khứ lẫn tương lai, vì theo họ, Thiên Chúa là Ðấng Tạo Hóa từ nguyên thủy cho đến chung tận, và Người không ngừng hoạt động để thiết lập vương quyền của Người khắp hoàn vũ và trên mọi tâm hồn. Còn máu chiên sát tế của lễ Vượt qua thì làm cho họ liên tưởng tới ý định của tổ phụ Abraham tế con một yêu dấu của mình (Kn 22). Hình ảnh Isaac cam lòng chịu chết có một cái gì giống như con chiên hy sinh của lễ Vượt qua. Và khuôn mặt của Abraham trong thời khai nguyên lịch sử cứu độ cũng như khuôn mặt của Môsê trong cuộc xuất hành hướng về Ðất Hứa luôn gợi lại Giao Ước của Yavê ban cho Dân Người.
Tóm lại: Bữa tiệc Vượt qua của người Dothái mà Chúa Yêsu ăn lần cuối cùng với các môn đệ tại Yêrusalem năm 30 mang tất cả các ý nghĩa ấy, đó là: tưởng niệm và hiện-đại-hóa cuộc giải phóng khỏi ách nô lệ Aicập và ách nô lệ tội lỗi; tưởng niệm và hiện-đại-hóa hành động cứu độ, sáng tạo ra Dân Chúa và sáng tạo ra tâm hồn mới cho mọi người; tưởng niệm và hiện-đại-hóa Giao Ước tình yêu Thiên Chúa ban cho dân Người đã tuyển chọn. Bữa tiệc Vượt qua còn mang thêm một nguyện ước; cho Nước Trời trị đến. Chính Chúa Yêsu đã làm chứng cho điều ấy lúc Người nói với các môn đệ:
"Ta sẽ không còn ăn lễ Vượt qua này nữa, cho đến khi nó sẽ hoàn tất trong Nước Trời" (Lc 22,16).
Chặng đầu của tiến trình hoàn thành ấy là cái chết của Chúa Yêsu, mà bữa tiệc Thánh Thể là nghi lễ tưởng niệm; còn chặng cuối cùng sẽ là bữa tiệc Thiên quốc mà các thánh sẽ cùng ăn với Chúa Yêsu Phục sinh nơi Trời mới và Ðất mới.
 
II. Bữa Tiệc Giao Ước Mới Và Vĩnh Viễn
Lần cuối cùng, Chúa Yêsu ăn Bữa tiệc Vượt qua theo truyền thống Dothái với các môn đệ. Nhưng trước và sau bữa tiệc ấy, Người thết đãi họ thêm một món ăn và một món uống làm thành Bữa Tiệc Thánh Thể ám chỉ cuộc Vượt qua của Người. Chính Người không ăn bữa tiệc phụ trội ấy, vì Người vừa là chủ đãi tiệc vừa là của ăn đem ra thết đãi thực khách; Người vừa là tư tế vừa là của lễ. Trong bữa tiệc Vượt qua truyền thống Dothái, người gia trưởng chủ tọa cuộc lễ, nhưng ông không phải là của lễ. Cả cộng đoàn cùng làm hành động tế tự ấy, vì tất cả đều tham dự vào chức vụ tư tế phổ quát của dân được Thiên Chúa tuyển chọn và thánh hiến. Trái lại khi thiết lập bí tích Thánh Thể, Chúa Yêsu hành động với tư cách tư tế thượng phẩm, một tư tế thượng phẩm độc đáo, vì Người tự hiến tế mình như của lễ để làm lương thực cho các môn đệ trong bữa tiệc hiệp thông của Giao ước mới. Người là tư tế, nhưng là tư tế của Giao ước mới.
Tấm bánh miến được Người đồng hóa với Thân Thể Người - Thân Thể sắp bị phó nộp chịu chết cho mọi người (1C 11,24; Lc 22,19).
Chén rượu nho được Người đồng hóa với Máu Người - Máu sắp đổ ra để xóa tội trần gian (Mt 26,28).
Tấm bánh Thánh Thể ấy quả thật là của ăn thiêng liêng nuôi sống tâm hồn, vì Chúa Yêsu chính là "Sự Thật và Sự Sống" (Yn 14,6); Người là hiện thân của Mạc khải (Hr 1,2), của Lề luật; Người là Lời của Thiên Chúa (Yn 1,1), Lời mang sự sống (Yn 1,2), đúng như trong truyền thống Dothái tấm bánh tượng trưng cho Sách Thánh, chứa đựng Lời Chúa và Lề luật. Tấm bánh ấy là do hạt lúa miến đã chết đi dưới lòng đất để làm xuất hiện những hạt lúa miến chắc nịch khác (Yn 14,24), cũng bị nghiền nát đi mà kết tinh thành. Tấm bánh ấy lại bị bẻ ra trước khi được trao ban cho các môn đệ ăn. Thân Mình Chúa Yêsu cũng chỉ trở nên của ăn thiêng liêng khi đã bị đập nát và bẻ gãy trên Thập giá, bị chôn vùi dưới lòng đất để phục sinh với sức sống mới của Thần Khí. Ăn Bánh Thánh Thể là đón nhận lấy Thần Khí tác sinh của Ðức Kitô Phục sinh.
Chén rượu nho đồng hóa với Máu Chúa Yêsu được gọi là "Máu Giao Ước" (Mc 14,24; Mt 26,28), "Chén Giao Ước Mới được ký kết trong Máu Người" (1C 11,25; Lc 22,20). Khi chia sẻ Chén Thánh ấy, các môn đệ được kéo vào trong Giao Ước Mới, nghĩa là được giao hòa với Chúa Cha qua sự môi giới của Chúa Yêsu, giống như dân Dothái ngày xưa, khi được Môsê rảy máu chiên sát tế, đã được giao hòa với Ðức Yavê qua sự môi giới của Môsê trong Giao ước Sinai (Xh 24,8). Trong cả hai cuộc ký kết Giao ước, máu là máu của một tế vật bị giết chết để niêm ấn các điều lệ chứa trong Giao ước. Máu chiên xưa đã đóng ấn chính thức vào bảng Thập giới của Giao ước Sinai. Nay Máu Chúa Yêsu đóng ấn vĩnh viễn vào Giới răn mới Người trối lại cho các môn đệ: "Các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con". (Yn 13,34). Máu Giao ước mới là Máu Con Thiên Chúa, nên có giá trị cứu độ muôn đời, vì thế lá thư gửi các tín hữu Dothái đã gọi đó là "Giao ước vĩnh viễn" (Hr 13,20).
Khi ra lệnh cho các môn đệ "hãy làm việc này mà nhớ đến Ta" (1C 11,24-25; Lc 22,19), Chúa Yêsu muốn rằng cộng đoàn Kitô hữu phải cử hành bữa tiệc Giao ước mới và vĩnh viễn ấy để tưởng niệm cuộc Vượt qua của Người: Người vượt qua cái chết để Phục sinh và về với Chúa Cha (Yn 13,1). Qua cái chết tự nguyện và vô tội để đền tội và chết thay cho ta, Người tháo gỡ khỏi ta dây tròng ràng buộc của tội và giải thoát ta khỏi cái chết vĩnh cửu là hậu quả của tội. Khi ta tin vào Người và để cho Người giải hòa ta với Chúa Cha, thì ta được dẫn vào cõi trường sinh bằng cách tham dự vào cuộc Phục sinh của Người. Bữa tiệc Thánh Thể nhằm mục đích tưởng niệm và hiện-đại-hóa cuộc Vượt qua của Chúa Yêsu. Bởi thế dự tiệc Thánh Thể là thông phần vào mầu nhiệm Vượt qua của Người.
Tấm Bánh - Mình Người và Chén Rượu - Máu Người, quả thật chứa sự sống thần linh. Người phải là Con Thiên Chúa và Chúa Tể mới nói được những lời hiệu nghiệm đầy sức sáng tạo, như khi "Thiên Chúa phán, mọi loài liền có; lệnh Người truyền ra, mọi sự được dựng nên" (Tv 33,9). Lời Chúa Yêsu là những lời sáng tạo, có khả năng làm cho Bánh thành Thịt và Rượu thành Máu Thánh Người. Và lời mời gọi các tông đồ uống Máu Người cũng chứng tỏ uy quyền thần linh của Người. Chính Thánh Kinh đã cấm người ta uống máu, vì máu mang sự sống, và như thế máu thuộc phạm vi độc quyền của Thiên Chúa. Nay Chúa Yêsu muốn ban cho các môn đệ chính sự sống thần linh chứa đựng trong Máu Người đổ ra trên Thập giá, khi vượt qua cái chết để phục sinh, về với Chúa Cha.
Mệnh lệnh cử hành nghi lễ tưởng niệm còn hàm chứa ý định của Chúa Yêsu muốn tấn phong chức tư tế thừa tác của chế độ Tân Ước cho các Tông đồ, và ban cho các ngài năng quyền công bố những lời nói hiệu nghiệm làm nên bí tích Thánh Thể cũng như tẩy xóa được tội khiên (Mt 18,18; Yn 20,23). Chúa Kitô là tư tế thượng phẩm theo kiểu Melkisêđê (Kn 14,18; Tv 110,4). Truyền thống Dothái như Thánh vịnh 110 phản ảnh lại, đã liên kết khuôn mặt Ðấng Thiên Sai với phẩm hàm tư tế của Melkisêđê. Chính Chúa Yêsu đã áp dụng Thánh vịnh đó cho mình (Mt 22,44; 26,64) và thư gửu các tín hữu Dothái đã hiểu đúng ý hướng ấy khi khai triển chủ đề thần học về chức tư tế tối cao và vĩnh cửu của Chúa Cứu thế (Hr 5;7;8;9). Khi lấy bánh miến và rượu nho lập phép Thánh Thể, Người ý thức rằng mình đang làm một hành vi tư tế, như Melkisêđê ngày xưa đã đem bánh miến và rượu nho tặng cho Abraham, kèm với những lời chúc lành do một tư tế của Ðấng Tối Cao (Kn 14,18-19). Hành vi dâng hiến cũng như tặng phẩm của Chúa Yêsu mang một ý nghĩa và hiệu năng vượt xa hành vi và tặng vật của Melkisêđê vì Người là tư tế tối cao của Giao ước mới và vĩnh viễn, và bánh miến rượu nho Người ban tặng đã được quyền năng thần linh của Người biến thành Thịt và Máu Người. Khác với Melkisêđê, Người vừa là tư tế vừa là của lễ tế hiến để "xóa tội trần gian" (Mt 26,28; Yn 1,29) và để làm lương thực đem sự sống vĩnh cửu cho loài người (Yn 6,54).
 
III. Bữa Tiệc Thánh Thể Của Ta Hôm Nay
Bữa tiệc Giao ước mới do Chúa Yêsu thết đãi các môn đệ, gắn liền với bữa tiệc vượt qua của truyền thống Dothái. Do đó bữa tiệc Thánh Thể của ta hôm nay cũng mang tất cả mọi ý nghĩa của bữa tiệc Giao ước cũ. Lễ Vượt qua của truyền thống Dothái nhận được sự viên mãn trong cuộc Vượt qua của Chúa Kitô. Chính Người, trong hành động chết và sống lại, là hiện thân của Giao ước mới và vĩnh viễn. Mầu nhiệm Vượt qua biểu lộ bản chất và định hướng đời sống của Người: Người hiện hữu cho Chúa Cha và cho loài người. Người sinh ra, hoạt động, rồi chết và sống lại, trở về cùng Chúa Cha: trong tất cả moị sự, Người tuân hành thánh ý Chúa Cha và tìm vinh danh cho Cha, và Người đến để phục vụ mọi người bằng cách chết thay và chuộc tội cho ta, giải hòa ta lại với Chúa Cha và lấy Thịt Máu mình nuôi sống ta. Ðến cả khi phục sinh, Người cũng đã sống lại vì ta. Ðời sống của Người được dệt thành bởi những quan hệ phục vụ, hướng về kẻ khác. Người có đó, là để cho kẻ khác "ăn" Người đi. Bí tích Thánh Thể, cũng như cử chỉ rửa chân cho các môn đệ (Yn 13,1-15) chứng minh chân lý ấy.
Do đó, mỗi lúc cử hành bí tích Thánh Thể, chúng ta tưởng niệm và hiện-đại-hóa cái chết và cuộc Phục sinh của Ðức Kitô cho ta, để chuyển ơn cứu độ chảy theo dòng Máu và Nước từ trái tim bị đâm thủng của Người vào lòng ta. Ơn Thánh chảy vào lòng ta, thì Nước Trời cũng đang đến với ta, và qua ta, đến với thế giới. Mỗi lần cử hành Thánh lễ, chúng ta tuyên xưng cái chết cứu độ và cuộc Phục sinh đầy sức sáng tạo của Chúa Kitô trong năng lực Chúa Thánh Thần, cho tới khi Người lại đến để hoàn thành Nước Trời bằng cách siêu thăng và biến dạng thế giới này và dâng tất cả lịch sử loài người cho Chúa Cha.
Bí tích Thánh Thể, vì thế, là bí tích của những người hành hương đang xây dựng Nước Trời giữa lòng thế giới. Sự đóng góp của người Kitô hữu cho lịch sử loài người luôn mang ấn tín của mầu nhiệm Vượt qua: hành động của họ được đánh dấu bởi sự thánh hiến cho Thiên Chúa qua bí tích Thánh Tẩy; nghị lực của họ được củng cố bởi sức mạnh Chúa Thánh Thần qua bí tích Thêm sức; đời sống của họ được nuôi dưỡng bởi Mình và Máu Chúa Kitô qua bí tích Thánh Thể. Họ xây dựng thế giới, nhưng là một thế giới như con đường đi, chứ không phải cái gì như một thành trì cố định. Trong ý nhắm "Vượt qua" và tinh thần hành hương ấy, họ lãnh nhận Thánh Thể như của ăn đàng. Ý nghĩa đó được tượng trưng bởi cử chỉ của người tín hữu tiến lên bàn thờ, đứng rước lễ trong tư thế sẵn sàng ra đi, như người Dothái ngày xưa đứng ăn lễ Vượt qua, với bị gậy sắp sẵn, để lên đường Xuất hành (Xh 12,11).
Bí tích Thánh Thể, muốn lôi kéo đời sống nhân loại vào trong chuyển động của cuộc hành hương vĩ đại về Trời mới Ðất mới, và không hề hàm ý khước từ một giá trị trần thế nào, trái lại đón nhận và thánh hiến tất cả mọi thực tại, kể cả vật chất mà bánh miến, rượu nho là những mẫu tượng trưng. Bí tích Thánh Thể kết tụ mọi lao nhọc, mọi thất bại, mọi thành công của loài người để sát nhập chúng vào mầu nhiệm chết và phục sinh của Chúa Kitô, và biến chúng thành lời kinh tạ ơn vô tận dâng lên Chúa Cha. Mọi người dự tiệc Thánh Thể đều đi vào cuộc Vượt qua của mình, không phải một cách đơn độc, nhưng với cộng đoàn Giáo hội là Dân Thiên Chúa đang trên đường hành hương; bởi vì chính Thánh Thể làm ra Giáo hội, khi Giáo hội họp mừng cử hành Thánh Thể.
 
Giảng Lễ
Buổi chiều hôm nay, chúng ta họp nhau lại đây, không phải để cử hành một Thánh lễ như mọi khi. Chúng ta sẽ chiêm ngưỡng Chúa trong hai hành vi: rửa chân cho môn đệ và cử hành bữa tiệc Thánh Thể đầu tiên trong lịch sử loài người.
Chúa muốn chúng ta bắt chước Người rửa chân cho nhau, như lời Phúc Âm chúng ta vừa nghe đọc. Nhưng không tiện làm công việc đó hằng ngày, Giáo hội muốn chúng ta hằng năm phải làm hành vi này theo ý Chúa và trong tinh thần của Chúa. Phúc Âm cho ta biết: hôm nay, Chúa đi vào giờ của Người. Nghĩa là đã đến giờ Người ra tay hành động để cứu thế. Do đó mọi việc Người làm trong giờ này và kể từ giờ này sẽ có giá trị vô song, sẽ quyết định dứt khoát vận mệnh của tất cả thế giới. Ta chỉ cần đọc lại mấy lời mở đầu bài Phúc Âm hôm nay là thấy rõ Chúa đã chuẩn bị giờ phút này thế nào và Người đánh giá rất cao những công việc mình sắp làm. Người biết đã đến giờ bỏ thế gian về cùng Chúa Cha nên Người muốn tỏ lòng yêu thương các môn đệ cho đến cùng. Ðồng thời Người cũng ý thức rõ Chúa Cha đã ban cho Người mọi sự trong tay, nên Người có thể làm được mọi sự mình muốn. Như vậy những việc mà Người sắp làm đây là những việc có khả năng yêu thương các môn đệ hơn hết. Và chúng ta phải hiểu các việc này dưới khía cạnh của tình yêu, đến nỗi bàn tiệc Thánh Thể cũng là bàn tiệc yêu thương, và buổi chiều hôm nay là thời gian để biểu thị đức bác ái tột độ.
Chính trong bầu khí yêu thương, mà Ðức Kitô đã đứng lên cầm nước đi rửa chân cho môn đệ. Mọi người đều sửng sốt. Sao Thầy lại làm như vậy? Vì sao để tỏ dấu yêu thương, lại phải bắt đầu bằng việc rửa chân người mình muốn thương? Phêrô không hiểu gì cả, nên đã hỏi. Chúa đã trả lời nhưng Người nói rõ: bây giờ chưa hiểu được đâu; nhưng sau này sẽ hiểu. Người muốn cho chúng ta phải suy nghĩ về ý nghĩa công việc Người làm, và phải tìm hiểu ơn Thánh Thần sẽ đến sau ngày Phục sinh. Chính Thánh Thần sẽ cho chúng ta biết: Chúa làm mọi việc vì yêu thương ta. Và vì yêu thương ta, nên Người đã cứu độ ta. Buổi chiều hôm nay, Chúa ra tay cứu thế. Người nhìn môn đệ đang ngồi ở bàn tiệc. Lễ Vượt qua sắp bắt đầu. Nhưng họ đã có tâm hồn để làm lễ Vượt qua với Người chưa? Người thấy cần phải thanh tẩy cho họ, nên Người cầm chậu nước đi rửa chân cho môn đệ. Người có thể bảo họ đi rửa chân lấy, tự làm lấy việc sám hối ăn năn. Nhưng chẳng ai rửa được tâm hồn mình sạch tội, trừ được chính ơn của Chúa cứu chuộc rửa cho.
Hôm nay Chúa rửa chân cho môn đệ trước khi cử hành Thánh Thể, để việc thống hối ăn năn của ta trước Thánh lễ luôn luôn nhận được ơn tha thứ. Không thanh tẩy tâm hồn, không có khả năng dâng lễ. Và chính Chúa đã bảo ta phải thống hối những tội nào đặc biệt trước khi dâng lễ vật; nếu chúng con sực nhớ mình còn bất hòa với ai, hãy đặt của lễ đó, đi làm hòa với anh em đã, rồi trở lại dâng lễ sau.
Chính vì vậy mà lễ nghi rửa chân hôm nay vừa có ý nghĩa thanh tẩy vừa muốn diễn tả tình bác ái huynh đệ. Người ta không thể dâng lễ xứng đáng, khi không muốn cùng với mọi người khác làm thành một cộng đoàn trong sạch và bác ái. Thánh Thể sẽ biến mọi người tham dự thành các chi thể của một Thân Mình Chúa, thì lễ nghi rửa chân, nghi thức thống hối trước Thánh lễ phải làm cho người ta có tâm tình anh em với nhau trong sự thánh thiện. Thế nên Phụng vụ Giáo hội hôm nay muốn rằng người đứng đầu các cộng đoàn phải tự mình làm nghi lễ rửa chân. Họ phải nhớ và thực hành Lời Chúa: ai lớn nhất trong anh em, phải phục vụ như người rốt bét. Xin anh em hãy cầu nguyện cho tôi trong giờ phút trang trọng này, để khi cử hành nghi lễ rửa chân, tôi ý thức địa vị của tôi ở trong Giáo hội là để phục vụ. Xin Chúa và anh em tha thứ cho tôi, vì nhiều lần ở cương vị mình, tôi không có tâm tình phục vụ đủ. Và xin mọi người chia sẻ trách nhiệm Giáo hội, xã hội, gia đình với tôi, hãy đi vào tâm tình của Chúa Cứu thế trong hành vi rửa chân cho môn đệ, để chúng ta ăn năn về thái độ quan cách trong quá khứ, và nhận thức từ nay phải phục vụ khiêm tốn và yêu thương hơn. Và như vậy, chúng ta mới xứng đáng đi vào mầu nhiệm Thánh Thể.
Chắc chắn chúng ta không thể diễn tả nhiều về mầu nhiệm này. Chính Giáo hội biết như vậy, nên mặc dầu cho ta nhiều giờ chầu sau lễ để ta suy niệm thêm về ơn Thánh Thể mà Chúa ban cho ta hôm nay; sau các tuần lễ Phục sinh, Giáo hội sẽ cử hành lễ Thánh Thể một cách long trọng đặc biệt, để bù đắp cho sự thiếu sót hôm nay. Nhưng như câu kết của bài đọc II mà ta đã nghe đọc, phụng vụ chiều nay muốn chúng ta nhìn vào Thánh Thể như nhìn vào lễ Vượt qua của Chúa Kitô. Người đã chọn khung cảnh lễ Vượt qua của người Dothái để thiết lập bí tích Thánh Thể. Người làm tăng giá trị của lễ ấy khi biến nó nên hình ảnh báo trước cuộc Vượt qua của mình.
Hôm nay Người làm lễ Vượt qua thực sự, khi chấp nhận từ bỏ đời này, từ bỏ mạng sống, từ bỏ thân thể hữu hình để vượt qua mọi biên giới trần gian về cùng Cha mình ở trên trời. Bàn tiệc Thánh Thể vì thế đượm mầu tiệc ly. Người uống chén rượu nho lần chót ở đời này để về trời trước, chờ đợi môn đệ mình đến sau. Người Dothái xưa ăn lễ Vượt qua trong tin tưởng sâu xa vào Lời Chúa, nhưng không biết rõ sự việc sẽ xảy ra. Còn Ðức Kitô, Người biết rõ con đường thánh giá đang chờ đợi mình. Người cầm chén rượu, nhưng đã nhìn thấy đó là chén máu. Nên cuộc Vượt qua, lễ Thánh Thể của Người là một cuộc đau thương, một lễ tử hình. Ngày thứ Sáu Tuần Thánh với cây Thập giá đã hiện diện đầy đủ trong bàn tiệc Thánh Thể hôm nay. Giá trị của ngày thứ Sáu nằm sẵn trong hành vi Thánh Thể hôm nay rồi, vì ngày mai Chúa đã ở trong tay kẻ dữ, và một phần nào Người không còn tự do, tự nguyện. Nhưng chính vì hôm nay Người tự do, tự nguyện chấp nhận ra đi chịu chết, nên án tử hình của Người trong ngày mai vẫn là lễ dâng tự ý hoàn toàn. Ngày thứ Sáu chỉ diễn tả ra bên ngoài những gì đã xảy ra trong tâm hồn của Chúa Kitô chiều hôm thứ Năm. Thánh Thể vì vậy không phải chỉ là bàn tiệc ly, nhưng đã là lễ tế trên Thánh giá. Và vì Thánh giá ở đâu thì mầu nhiệm Phục sinh cũng đã tàng ẩn ở đó, nên khi tuyên bố: đây là chén Tân Ước vĩnh cửu, Chúa Cứu thế đã cho ta nhìn thấy hiệu quả của Thánh Thể, là đổi mới tất cả chúng ta trong một tương quan mới về Thiên Chúa. Chúng ta được trở thành tạo vật mới trong lễ Vượt qua của Ðức Kitô, vì Ðức Kitô không chỉ ra đi chịu chết, nhưng để về cùng Thiên Chúa Cha, Ðấng sẽ phục sinh Ngài trong Thánh Thần. Như vậy, mầu nhiệm Phục sinh đã tiềm ẩn trong bàn tiệc ly, đó là mục đích của lễ Vượt qua mà Ðức Kitô đã cử hành; đó là tột đỉnh của lòng Người thương yêu môn đệ. Người cúi xuống rửa chân cho họ, đưa họ vào mầu nhiệm Thánh Thể hy sinh của Người, là để cuối cùng họ được cùng Người phục sinh trong Giao ước mới, tức là trong mối tình thắm thiết mới giữa Thiên Chúa và loài người.
Giờ đây chúng ta sắp cử hành tất cả những công việc trọng đại ấy. Chúng ta hãy cầu xin cho nhau được từ bỏ con người cũ trong nghi thức rửa chân này, để tiến sang việc kết hợp mật thiết mới với Thiên Chúa trong mầu nhiệm Thánh Thể, hầu sau đó chúng ta sống cuộc đời mới yêu thương anh em trong nỗ lực phục vụ khiêm cung và mỗi ngày mỗi tiến lên trong ý thức thánh thiện kết hợp với Ðức Kitô trong mầu nhiệm Vượt qua mà chúng ta cùng nhau sốt sắng cử hành bây giờ.
 (Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa của Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)
 
 

Thứ 5-58: Thánh Thể, quà tặng tình yêu bằng giá máu:

 Trong tuyển tập thơ “Có ai về Cát minh” của thi sĩ linh mục Trăng Thập Tự, có một bài thơ mà tôi Thứ 5-58

Trong tuyển tập thơ “Có ai về Cát minh” của thi sĩ linh mục Trăng Thập Tự, có một bài thơ mà tôi rất thích, bài thơ mang tựa đề “ĐÁP LỄ”. Nội dung của bài thơ tác giả ngụ ý rằng: trong chính bữa tiệc tại nhà của chị em cô Mác-ta ở Bê-ta-ni-a, trong một giây phút xuất thần khi đang cầm chén rượu, Chúa Kitô đã chợt liên tưởng tới “Tấm Bánh-Ly rượu Thánh Thể” Ngài sẽ ban tặng như một “đáp lễ” cho nghĩa cử thân tình của chị em nhà Mác-ta. Đây là bài thơ đó:
  
Cầm trên tay lưng chén rượu nồng,
Ngài như chợt quên đời đi một lúc.
Sóng sánh khổ đau hòa hạnh phúc,
Giữa cao lương mỹ vị với tình người.
 
Có hương trầm, nến sáng, hoa tươi,
những hơi ấm, những mắt nhìn trìu mến.
Chỉ phút chốc, Ngài chìm trong hiện diện,
Lời ca ngừng, nhạc cũng lặng im theo.
 
Ta đã dặn con khoản đãi người nghèo,
Lời ta dạy, hôm nay con khéo nhớ:
Mời đúng kẻ trôi sông lạc chợ,
Kẻ sinh ra cuối phố đầu đường,
 
Ngày không nhà, đêm ngủ dưới sương,
Suốt đời chẳng một đồng xu dính túi,
Đến trần gian và ra đi trần trụi.
Thì ra con khéo nhớ lời Ta !
 
Con làm ta lúng túng Mác-ta !
Đúng là ta không có gì để trả lại.
Ôi, thì ta sẽ đem thịt máu mình ra khoản đãi !
Phải rồi, phải rồi, tại sao không ?
 
Ta sẽ trao chén máu tươi hồng
Và sự sống run trong từng thớ thịt.
Ai nếm thử, sẽ đời đời không chết,
Đúng hơn, nó sẽ sống đời đời.
 
Và ơ kìa, Maria nữa con ơi !
Con đập vỡ cả bình dầu thơm phức
Từng ngón chân ta, từng ngón chân, con xức.
Dầu con thơm hay tóc con thơm ?
 
Giữa khi cuộc đời thiếu áo thèm cơm,
Con trút cả gia tài lên chân Ta mà thách thức.
Và gục xuống, con hôn không dứt,
Con yêu thật à ? Lẽ nào ta thua con !
 
Ta cũng mang theo đây chiếc lọ mỏng dòn
Nhốt sẵn chất thơm của ngàn muôn thế kỷ.
Ta sẽ đập vỡ mà không lo uổng phí
Vì ta cần xức dầu thơm ta lên khắp cả vũ hoàn.
 
Lạy Cha, lòng con rất hân hoan,
Xin hãy thực hiện đúng như Cha hằng muốn.
Và có tiếng đáp:
Thật đẹp lòng Ta, vì đúng như ta muốn.
 
Quả thật, đúng như ngụ ý của bài thơ, Thánh Thể chính là một “Đáp Lễ” trọn vẹn cao vời của Thiên Chúa dành cho nhân loại; hay đúng hơn, Thánh Thể chính là một Quà Tặng tuyệt vời theo như định nghĩa của Đức Cố GH G.P.II trong Thông điệp về Thánh Thể: “Hội Thánh đã đón nhận Thánh Thể từ Đức Kitô, Chúa của mình, không như một quà tặng – dẫu quí giá – giữa nhiều quà tặng khác, nhưng là quà tặng trỗi vượt, vì quà tặng đó chính là bản thân Người, quà tặng của một ngôi vị trong nhân tính thần linh, đồng thời cũng là quà tặng của công trình cứu độ...”.
 Tuy nhiên, đó lại là “một quà tặng tình yêu đòi giá máu”, là “Bánh Hằng Sống từ trời xuống” mà ngay từ đầu đã làm dị ứng nhiều người.
 Thì ra, “Quà tặng tình yêu” đó, “Bánh Hằng sống” đó, “lương thực trường sinh đó”, lại chính là con người Đức Kitô, là Giêsu người Na-da-rét, là Con ông Giuse thợ mộc và bà Maria, là Đấng đã hiên ngang xưng rằng: “Ta là mục tử tốt lành…sẵn sàng hy sinh vì đoàn chiên”, là Đấng sẵn sàng đón nhận chén đắng cho dù phải trải qua con đường khổ nạn, là Đấng chấp nhận “bị treo lên để kéo mọi người lên với mình”, là Đấng yêu thương đến đổi hiến ban mạng sống. là quà tặng tuyệt vời của Thiên Chúa gởi tặng con người, quà tặng tình yêu: “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nổi đã ban Con Một…” và là Đấng mà chút nữa đây, ngay trên bàn thờ nầy, một lần nữa nói với chúng ta: “Tất cả các con hãy nhận lấy mà ăn, vì nầy là Mình Thầy sẽ bị nộp vì các con…Tất cả các con hãy nhận lấy mà uống, vì nầy là Chén Máu Thầy…”
 Mầu nhiệm Thánh Thể cũng chỉ có thể được định nghĩa trong chiều kích sâu thẳm nhất đó chính là “Quà Tặng tình Yêu”, đó chính là nghĩa cử của lòng thương xót vô bờ bến. Đức G.P. II đã xác quyết trong thông điệp về Thánh Thể: “Tôi muốn nhắc lại chân lý nầy một lần nữa và cùng với anh chị em yêu dấu, tôn thờ mầu nhiệm nầy: mầu nhiệm cao cả, mầu nhiệm của lòng thương xót. Đức Giêsu còn có thể làm gì cho chúng ta hơn nữa chăng ? Thật thế, trong Thánh Thể, Người tỏ bày cho chúng ta một tình yêu “cho đến cùng” (Ga 13,1), một tình yêu không thể đo lường được.” Quả thật chỉ có Thiên Chúa mới dám nghĩ ra Thứ quà tặng độc đáo nầy, một thứ quà tặng gắn liền với hy sinh, với máu đào hy tế để làm cho chúng ta được “thần hóa” thực sự, được thanh tẩy để “xứng đáng phụng thờ Thiên Chúa” và “lãnh nhận gia nghiệp vĩnh cửu”, được cứu độ và giải thoát khỏi kiếp sống nô lệ tội lỗi…như đã từng được tiên báo trong Con Chiên Vượt qua của dân Ít-ra-en ngày xưa trong biến cố Xuất Hành của họ. (BĐ 1). Hơn nữa, quà tặng nầy lại còn là một kỷ niệm, một chúc thư sâu xa và tuyệt vời nhất trong ký ức của Hội Thánh về Đấng đã khai sinh ra mình, và là trọng tâm của mọi lời rao giảng như lời Thánh Phaolô trong Bđ 2 hôm nay: “Thật vậy, cho tới ngày Chúa đến, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén nầy, là anh em loan truyền Chúa đã chịu chết”.

 

Thứ 5-59: Sống mầu nhiệm Thánh thể hôm nay:

 Trong một thế giới mà nhu cầu vật chất được đề cao quá mức, sự hưởng thụ lạc thú trần gian luôn là Thứ 5-59

Trong một thế giới mà nhu cầu vật chất được đề cao quá mức, sự hưởng thụ lạc thú trần gian luôn là một cám dỗ mạnh mẽ, Bí Tích Thánh thể, “Manna trường sinh” của người kitô hữu quả là một thách đố lớn lao cho nhiều người. Ngày xưa, cách đây 2000 năm, sau bài giảng “Bánh Hằng Sống” của Đức Kitô, đã có không ít người càm ràm: “Lời gì nghe chói tai quá” và một số môn đệ đã bỏ thầy ra đi. Ngày hôm nay, sau 2000 năm, chắc cũng có rất nhiều người có thái độ “bỏ đi” như thế, khi không cảm nhận được Thánh Thể có một sức thu hút nào, một, ích lợi nào, một lợi nhuận nào cho cuộc sống. (Bằng chứng là ngay ở đây, tại nhà thờ Tuy Hòa nầy, khi cộng đoàn cử hành nghi thức Rước lễ, thì có không ít người ngang nhiên ra ngoài tán gẫu, hút thuốc, coi việc rước lễ như chẳng liên hệ gì đến mình !).
 Thiết tưởng, cử hành mầu nhiệm Thánh Thể hôm nay, là dịp để mỗi người chúng ta xác định lại không chỉ bằng một lời tuyên xưng suông về sự hiện diện của Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể; nhưng là bằng một cam kết dấn thân sống cho và sống với sự hiện diện của “Bánh Hằng Sống” được trao ban trong mỗi bước đi của cuộc đời.
 Nói cách khác,
 - Nếu bản thân tôi, gia đình mạnh mẽ tin và tích cực sống mầu nhiệm Đức Kitô chính là Bánh Hằng Sống, biết trân trọng đón nhận quà tặng tuyệt vời là Thánh Thể được ban tặng hằng ngày, thì lẽ nào tôi lại khô khan, gia đình tôi lại nguội lạnh, thờ ơ trong việc thực hành sống đạo ?
 - Nếu tôi biết “sẵn sàng quỳ xuống rửa chân cho anh em” như lời Đức Kitô trăn trối trong Bữa Tiệc Thánh Thể đầu tiên, thì làm sao mọi người chung quanh tôi lại ác cảm, dị ứng hay đố kỵ với đạo, với chân lý cứu độ của Tin Mừng ?.
 - Nếu tôi sẵn sàng mỗi ngày trở nên “tấm bánh được bẻ ra” của tình chồng vợ hy sinh cho nhau, của cha mẹ hy sinh cho con cái, của bạn bè, làng xóm giúp đỡ, sẻ chia, của giáo lý viên, của chức việc họ quản đại phục vụ cộng đoàn...như Đức Kitô chính là Bánh hằng Sống đã yêu thương và yêu thương đến cùng khi hiến thân trên thánh giá thì chắc chắn gương mặt của Mẹ Hội Thánh phải đẹp hơn, duyên dáng và thuyết phục hơn đối với con người.
 Trong ngày Thứ Năm Tuần Thánh khai mạc Tam Nhật Vượt Qua nầy, Phụng vụ của Hội Thánh còn mời gọi chúng ta hướng về Chức linh mục thừa tác và tất cả những ai đang quảng đại dấn thân trong thánh chức nầy. Cũng chính trong ý nghĩa nầy mà cứ mỗi một lần “Thứ Năm Tuần Thánh trở về” là Đức Cố Giáo Hoàng G.P. II lại gởi cho các linh mục trên toàn thế giới một bức tâm thư như những lời tâm sự thấm đậm tình nghĩa phụ tử. Chúng ta thử đọc một đoạn ngắn trong bức thư Thứ Năm Tuần Thánh cuối cùng của Ngài gởi cho các linh mục được Ngài viết trước khi qua đời không bao lâu:
 “Không thể nào lặp lại những lời truyền phép mà không cảm thấy chính mình rúng động trong cử chỉ thiêng liêng này. Trong một nghĩa nào đó, khi vị linh mục nói những lời: “hãy cầm lấy mà ăn”, ngài phải học biết cách áp dụng những lời này cho chính mình, và nói lên những lời này trong sự thật và lòng quảng đại. Nếu ngài có thể cho đi chính mình như một tặng vật, đặt mình dưới quyền sử dụng của cộng đoàn và dưới sự phục vụ bất cứ ai cần, cuộc sống của ngài đạt đến ý nghĩa trung thực của nó.”
 Chúng ta cầu xin cho các linh mục, thừa tác viên chính thức của mầu nhiệm Thánh Thể, được không ngừng trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô, Đấng sẵn sàng trở nên Tâm Bánh được bẻ ra cho muôn người được hồng ân cứu độ.
 Sau hết, nếu hai đệ trên đường Emmau ngày xưa, khi tham dự “lễ bẻ bánh” trong quán trọ với người “khách lạ” đã chợt nhận ra gương mặt của Thầy Chí Thánh, thì hôm nay, ở đây, trong Thánh lễ nầy, với đức tin bé bỏng yếu mềm, chúng ta hãy cầu xin cho nhau cũng được nhận ra gương mặt của Chúa Giêsu đang hiện diện giữa chúng ta và cùng với mỗi người chúng ta đồng hành trên mọi nẽo đường cuộc sống.
 Lạy Chúa Giêsu, có cái gì tương tự
Giữa phận làm người và phận làm bánh của Chúa.
Xin cho chúng con biết cách
Đến với con người hôm nay:
 Đơn sơ, khiêm hạ,
Không chút vinh quang hay quyền lực.
Nhờ ăn tấm bánh của Chúa,
Chúng con cũng trở nên tấm bánh ngon,
Được bẻ ra đẻ đáp ứng khẩu vị của nhiều người.
 
Uớc gì chúng con dám rước Chúa
Đi vào mọi vùng mờ tối của lòng mình,
Để sự hiện diện của Chúa trong con được lớn lên.
 
Và ước gì chúng con trở thành
Những Nhà Tạm di động,
Đem Chúa đến cho đồng bào
Và quê hương chúng con. Amen.

 

Thứ 5-60: Yêu và cách yêu

 Tình yêu là danh từ trừu tượng, thuộc lĩnh vực vô hình, nghĩa là không thể thấy, cũng không thể sờ, Thứ 5-60

Tình yêu là danh từ trừu tượng, thuộc lĩnh vực vô hình, nghĩa là không thể thấy, cũng không thể sờ, thế nhưng lại khả dĩ cảm nhận. Yêu là một động từ có vẻ dễ thực hiện nhưng lại rất khó sống trọn vẹn. Rất kỳ lạ!
 Hôm nay là ngày vui mừng, với ba sự kiện lạ, cũng là ba bài học sâu sắc: Bí tích Thánh Thể, chức linh mục, và việc rửa chân. Bí tích Thánh Thể dạy chúng ta phải hy sinh, quên mình vì người khác; chức linh mục dạy chúng ta phải dấn thân phục vụ tha nhân; và việc rửa chân dạy chúng ta phải yêu thương bất cứ ai, nhất là đối với những người hèn mọn. Bài học nào cũng vô giá.
 Đó là tình yêu ba-trong-một. Tất cả tóm gọn chỉ bằng một chữ YÊU. Tuy nhiên, yêu cũng phải biết cách, yêu cũng có phương pháp vậy.
 Thứ Năm Tuần Thánh (Maundy Thursday) còn gọi là Thứ Năm Giao Ước, Thứ Năm Tuyệt Đối, hoặc Thứ Năm của các Mầu Nhiệm. Theo La ngữ, chữ Maundy nghĩa là “mệnh lệnh”. Thứ Năm Tuần Thánh muốn nói tới mệnh lệnh mà Chúa Giêsu truyền cho các môn đệ trong Bữa Tiệc Ly: “Hãy yêu thương nhau” (Ga 13:34; Ga 15:12; Ga 15:17). Và Ngài gọi đó là Điều Răn Mới. Có thể gọi Thứ Năm Tuần Thánh là Ngày Tình Yêu Thánh của các Kitô hữu.
 Về cách mừng lễ, Đức Chúa phán với ông Môsê và ông Aharon trên đất Ai Cập: “Tháng này, các ngươi phải kể là tháng đứng đầu các tháng, tháng thứ nhất trong năm. Hãy nói với toàn thể cộng đồng Ít-ra-en: Mồng mười tháng này, ai nấy phải bắt một con chiên cho gia đình mình, mỗi nhà một con. Nếu nhà ít người, không ăn hết một con, thì chung với người hàng xóm gần nhà mình nhất, tuỳ theo số người. Các ngươi sẽ tuỳ theo sức mỗi người ăn được bao nhiêu mà chọn con chiên” (Xh 12:1-4). Con chiên đó phải có các đặc điểm: toàn vẹn, giống đực, không quá một tuổi. Nếu không tìm được con chiên đủ các điều kiện đó thì có thể thay thế bằng con dê.
 Về cách thực hiện, Đức Chúa cho biết: “Phải nhốt nó cho tới ngày mười bốn tháng này, rồi toàn thể đại hội cộng đồng Ít-ra-en đem sát tế vào lúc xế chiều, lấy máu bôi lên khung cửa những nhà có ăn thịt chiên. Còn thịt, sẽ ăn ngay đêm ấy, nướng lên, ăn với bánh không men và rau đắng” (Xh 12:6-8).
 Cách ăn mừng lễ cũng khác hẳn, “lưng thắt gọn, chân đi dép, tay cầm gậy, và ăn vội vã” (Xh 12:11). Lý do đơn giản: Đó là lễ Vượt Qua mừng Đức Chúa. Và Đức Chúa còn cho biết thêm: “Đêm ấy Ta sẽ rảo khắp đất Ai-cập, sẽ sát hại các con đầu lòng trong đất Ai-cập, từ loài người cho đến loài thú vật, và sẽ trị tội chư thần Ai-cập: vì Ta là Đức Chúa. Còn vết máu trên nhà các ngươi sẽ là dấu hiệu cho biết có các ngươi ở đó. Thấy máu, Ta sẽ vượt qua, và các ngươi sẽ không bị tai ương tiêu diệt khi Ta giáng hoạ trên đất Ai-cập. Các ngươi phải lấy ngày đó làm ngày tưởng niệm, ngày đại lễ mừng Đức Chúa. Qua mọi thế hệ, các ngươi phải mừng ngày lễ này: đó là luật quy định cho đến muôn đời” (Xh 12:12-14). Vết máu là dấu chỉ “chuyện chẳng lành”, nhưng ở đây, vết máu lại là điềm tốt lành cho dân chúng.
 Bữa Tiệc Ly là dạ tiệc, nhưng không chỉ là dạ tiệc mừng lễ Vượt Qua bình thường, mà là Dạ Tiệc Thánh – Tiệc Thánh Thể. Thánh Phaolô nói: “Chén chúc tụng là sự thông hiệp Máu Chúa Kitô” (1 Cr 10:16).
 Ăn và uống là hai hành động không thể tách rời, Việt ngữ gọi là ăn uống. Ăn uống để duy trì sự sống, nhưng vào thời điểm này hơn hai ngàn năm trước, Chúa Giêsu đã cho chúng ta loại ẩm thực đặc biệt, không chỉ nuôi sống thể lý mà còn nuôi dưỡng linh hồn: Mình Máu Thánh. Quả là đại hồng ân đối với chúng ta, nhưng chúng ta chỉ là những kẻ trắng tay: “Biết lấy chi đền đáp Chúa bây giờ vì mọi ơn lành Người đã ban cho?” (Tv 116:12). Chắc hẳn không gì hơn là “nâng chén mừng ơn cứu độ và kêu cầu thánh danh Chúa” (Tv 116:13).
 Biết ơn và muốn cảm tạ, nhưng lại không có gì để chứng tỏ. Thật buồn cho kiếp con người. Thế nhưng cũng với tâm trạng đó, học giả Rabindranath Tagore (Rabīndranātha Thākura, 1861-1941, Ấn Độ) lại có ước mong rất tuyệt vời: “Chỉ mong tôi chẳng còn gì, nhờ thế Người là tất cả của tôi. Chỉ mong ý muốn trong tôi chẳng còn gì, nhờ thế tôi cảm thấy Người ở mọi nơi, đến với Người trong mọi sự, và dâng Người tình yêu trong mọi lúc. Chỉ mong tôi chẳng còn gì, nhờ thế tôi không bao giờ muốn tránh gặp Người. Chỉ mong mọi ràng buộc trong tôi chẳng còn gì, nhờ đó tôi gắn bó với ý muốn của Người, và thực hiện ý Người trong suốt đời tôi”. Ước gì mỗi chúng ta cũng thực sự có ước muốn như vậy, nhất là trong Đêm Thánh hôm nay, khi chúng ta lặng lẽ chầu kính Thánh Thể.
 Chắc hẳn đêm nay rất kỳ diệu, cảm giác rất khó tả, nhất là khi chúng ta kiệu Mình Thánh và cùng chúc tụng Chúa qua bài thánh ca Pange Lingua (*) của Thánh Thomas Aquinas (1225-1274), Linh mục, Tiến sĩ Giáo hội.
 Thánh Phaolô vừa chia sẻ cảm nghiệm vừa xác nhận việc làm chứng nhân: “Thật vậy, điều tôi đã lãnh nhận từ nơi Chúa, tôi xin truyền lại cho anh em: trong đêm bị nộp, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng tạ ơn, rồi bẻ ra và nói: ‘Anh em cầm lấy mà ăn, đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em; anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy’. Cũng thế, cuối bữa ăn, Người nâng chén và nói: ‘Đây là chén Máu Thầy, Máu đổ ra để lập Giao Ước Mới; mỗi khi uống, anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy’. Thật vậy, cho tới ngày Chúa đến, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, là anh em loan truyền Chúa đã chịu chết” (1 Cr 11:23-25). Những lời này không lạ, nếu không muốn nói là quen, nhưng hôm nay nghe hoặc đọc lại, chúng ta thấy có điều khác lạ.
 Điều quan trọng cần lưu ý là lời cảnh báo của Thánh Phaolô: “Bất cứ ai ăn Bánh hay uống Chén của Chúa cách bất xứng thì cũng phạm đến Mình và Máu Chúa” (1 Cr 11:26-27). Nghe rất bình thường mà lại rất khác thường, vì liên quan “vận mệnh” của chúng ta ngày sau!
 Trình thuật Ga 13:1-15 nói về tình yêu thương và cách yêu thương mà Chúa Giêsu thể hiện, nhưng có ý nghĩa mạnh mẽ hơn: “Trước lễ Vượt Qua, Đức Giêsu biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng”. Điểm nhấn mạnh ở đâu? Đó là tình yêu tuyệt đối của Chúa Giêsu, với cách yêu thương là “yêu thương đến cùng”. Đã yêu là mãi yêu, dù người được yêu hoàn toàn bất xứng, và Ngài luôn cho họ có nhiều cơ hội chấn chỉnh chứ không chỉ một cơ hội. Phàm nhân có mấy ai?
 Mỗi năm chúng ta nghe đoạn Phúc Âm này ít nhất một lần vào chiều Thứ Năm Tuần Thánh. Nhưng có lẽ chúng ta ít khi cảm thấy “sự lạ” trong đó. Con người chúng ta thật phức tạp, và cũng thật tệ! Chúng ta chưa xin mà Thiên Chúa vẫn cho chúng ta có thêm cơ hội để tu tâm sửa tính.
 Cảnh vui chưa trọn, cảnh buồn vội nối theo. Đêm định mệnh năm xưa, ma quỷ đã gieo ý định nộp Đức Giêsu vào lòng môn đệ Giuđa, con ông Simôn Ítcariốt. Đức Giêsu biết rằng Chúa Cha đã giao phó mọi sự trong tay Ngài, Ngài bởi Thiên Chúa mà đến, và sắp trở về cùng Thiên Chúa.
 Cũng trong đêm định mệnh đó, khi Thầy trò cùng ăn mừng lễ, Ngài đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, lấy khăn mà thắt lưng, rồi đổ nước vào chậu, Ngài bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau.
 Khi Ngài đến chỗ ông Simôn Phêrô, ông ngạc nhiên và nói: “Thưa Thầy! Thầy mà lại rửa chân cho con sao?”. Đức Giêsu trả lời: “Việc Thầy làm, bây giờ anh chưa hiểu, nhưng sau này anh sẽ hiểu”. Ông Phêrô nhất định không chịu. Nhưng Đức Giêsu nghiêm giọng: “Nếu Thầy không rửa cho anh, anh sẽ chẳng được chung phần với Thầy”. Ôi, thế thì không ổn rồi! Thế là ông liền phấn khởi nói: “Vậy, thưa Thầy, xin cứ rửa, không những chân mà cả tay và đầu con nữa”. Chả trật đi đâu, y như rằng người nóng tính là người mau mắn.
 Tuy nhiên, Đức Giêsu lại khác hẳn, không như người ta tưởng. Ngài phân tích: “Ai đã tắm rồi thì không cần phải rửa nữa; toàn thân người ấy đã sạch. Về phần anh em, anh em đã sạch, nhưng không phải tất cả đâu!”. Câu nói thật là thâm thúy, vì Ngài biết ai sẽ nộp Ngài. Với tính từ “sạch”, người ta chỉ hiểu theo nghĩa đen, nhưng Chúa Giêsu nói theo nghĩa bóng.
 Khi rửa chân cho các môn đệ xong, Đức Giêsu mặc áo vào và về chỗ. Ngài âu yếm nhìn các môn đệ và ôn tồn nói: “Anh em có hiểu việc Thầy mới làm cho anh em không? Anh em gọi Thầy là ‘Thầy’, là ‘Chúa’, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em”.
 Đoạn Phúc Âm dừng lại như màn kéo che sân khấu sau mỗi cảnh. Câu hỏi của Chúa Giêsu đặt ra vẫn còn vang vọng mãi: “Anh em có hiểu việc Thầy mới làm cho anh em không?”. Và mỗi người phải tự trả lời với Ngài về chữ YÊU và CÁCH YÊU của chính mình.
 Lạy Chúa Giêsu, xin thương tha thứ về việc chúng con chưa thực sự yêu mến Thánh Thể Ngài và chưa thực hiện đúng “Điều Răn Mới” mà Ngài truyền dạy. Xin biến đổi chúng con và giúp chúng con biết cách yêu cho đúng ý Ngài muốn. Nhờ đó, chúng con biết loan báo về Ngài và xứng đáng là môn đệ của Ngài tại trần gian này. Ngài là Đấng hằng sinh và hiển trị cùng Thiên Chúa Cha, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần, đến muôn thuở muôn đời. Amen.
 TRẦM THIÊN THU

 

Thứ 5-61:  Rửa chân cho nhau

 Tình yêu là căn tính của niềm tin Kitô giáo… “Chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh, chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân.”
Lm. HK
 

 Đức Khổng tử đi chơi núi Thái sơn, gặp ông Vinh Khải Kỳ ngao du ở ngoài đồng, mặc áo cừu thắt lưng dây, Thứ 5-61

Đức Khổng tử đi chơi núi Thái sơn, gặp ông Vinh Khải Kỳ ngao du ở ngoài đồng, mặc áo cừu thắt lưng dây, tay gảy đàn cầm, vừa đi vừa hát. Đức Khổng tử hỏi: “Tiên sinh làm thế nào mà thường vui vẻ thế?”
 Ông Vinh Khải Kỳ nói: “Trời sinh muôn vật, loài người quý nhất, mà ta được làm người, đó là một điều đáng vui. Trong loài người, đàn ông quý hơn đàn bà, mà ta được làm đàn ông, đó là hai điều đáng vui. Người ta sinh ra có người đui què, có người non yểu, mà ta hoàn toàn khoẻ mạnh nay đã chín mươi tuổi; thế là ba điều đáng vui… Còn cái nghèo là sự thường của thế gian, cái chết là sự hết của đời người. Ta nay xử cảnh thường, đợi lúc hết, thì có gì là lo buồn?”
 Đức Khổng tử nói: “Phải lắm! Tiên sinh thế là biết cách tự làm cho khoan khoái mà hưởng sự vui thú ở đời.”
 Xưa nay người ta thường thán phục ông Vinh Khải Kỳ vì đã có một quan niệm sống rất lạc quan, coi đó như là một sáng kiến thực sự đem lại hạnh phúc cho cuộc sống nhân loại có nhiều bất toàn. Nhưng để ý một chút ta thấy cái đáng vui của ông vẫn bị “hổng chân”, vì đó là những cái vui dựa trên sự trổi vượt của mình so với người khác, ngay cả khi sự trổi vượt đó bao hàm cả sự bất hạnh của người khác.
 Cái vui, cái phúc thật là hài lòng, thoả mãn về những gì mình là và mình có:“Ngươi không được ham muốn vợ người ta, ngươi không được thèm muốn nhà của người ta, đồng ruộng, tôi tớ nam nữ, con bò con lừa, hay bất cứ vật gì của người ta” (Đnl 5,21).
 Còn hơn thế nữa, vì được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa, cái phúc thật nơi con người không dựa trên một điều gì khác ngoài sự hiệp thông với Thiên Chúa, chia sẻ sự sống Thiên Chúa bằng đời sống yêu thương: “Thiên Chúa là tình yêu, và ai sống trong tình yêu là sống trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa sống trong người ấy” (1Ga 4,16).
 ĐGH Bênêđíctô XVI đã dùng câu Lời Chúa trên để mở đầu thông điệp đầu tiên cho triều đại Giáo hoàng của ngài: “Những lời từ thư thứ nhất của thánh Gioan này diễn tả một cách hết sức rõ ràng tâm điểm của đức tin Kitô giáo: chúng ta đã được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa, để nhờ đó chúng ta có thể phản ảnh tình yêu Thiên Chúa và đó là lý do tại sao chúng ta được dựng nên (…) Qua những lời này người Kitô hữu có thể bày tỏ một quyết định căn bản về cuộc đời của mình.”
 Nói cách khác, tình yêu là căn tính của niềm tin Kitô giáo. Đó là lý do tại sao những lời nói sau hết và những việc làm cuối cùng của Đức Kitô đều hướng lòng trí các môn đệ về đời sống yêu thương, một tình yêu sẵn lòng thí mạng vì người mình yêu.
 Lời nói và việc làm sau cùng của Đức Kitô trước cuộc khổ nạn trình bày một cách rõ ràng và đầy sức thuyết phục vẻ đẹp linh thánh của tình yêu đó. Là Thầy và là Chúa, Đức Kitô rửa chân các môn đệ, kể cả cho Giuđa mà Chúa biết rõ sự phản bội, cho Phêrô mà Chúa đã thấy sự yếu đuối. Tất cả cho thấy điểm đặc biệt của tình yêu Kitô giáo là dung hòa vị kỷ với vị tha: người ta sống cho mình nhiều nhất khi hướng đến tha nhân, cũng như không ai có thể yêu người khác mà lại không yêu mình. Thánh Phanxicô Assisi đã cô đọng tinh thần đó trong lời Kinh Hoà bình: “Chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh, chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân.”
 Tình yêu đó lên đến tột đỉnh trong việc thiết lập bí tích Thánh Thể, khi Đức Kitô coi sự sống và hạnh phúc của phàm nhân như là hạnh phúc và ý nghĩa sống của Ngài“Đây là Mình Thầy, hiến dâng vì anh em… Chén này là Giao ước mới, lập bằng Máu Thầy; mỗi khi uống, anh em hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy” (1Cr 11,24-25).
 Tình yêu Đức Kitô còn đó giữa trần gian mãi cho đến tận thế nhờ bí tích Truyền Chức. Cho đến ngàn sau, chức linh mục vẫn là hồng ân và phép lạ Chúa đã và đang thực hiện cho cả thế giới, cho mỗi tín hữu: Đức Kitô không còn là một câu chuyện xúc động đã qua mà là phúc lành đến từ trời cao, nằm trong tầm tay với của mỗi người.
 Trong cuốn “Lời kinh thắp sáng cuộc đời”, cha Michel Quoist đã diễn tả tình yêu vị tha Chúa đòi hỏi nơi mỗi linh mục, qua lời nguyện chiều Chúa nhật của một linh mục:
 “Lạy Chúa, chiều nay con trơ trọi, những tiếng động trong nhà thờ lịm tắt dần. Những người đi chầu đi lễ đã về hết rồi và con cũng lủi thủi trở về nhà xứ, một thân, một bóng…
“Yên lặng làm con ngạt thở, cô đơn làm con bực dọc.
 “Lạy Chúa, con cũng có một thân xác như bao nhiêu người khác, với những bàn tay để làm việc, với một quả tim được dành để yêu thương.”
 Kỳ diệu làm sao cái tình yêu Chúa mang xuống trần gian! Với tình yêu, Chúa đã thực hiện một phép rửa không phải bằng nước, mà bằng lửa, một phép rửa thanh tẩy tôi sạch hẳn mọi vết nhơ tội lỗi: “Người sẽ làm phép rửa cho các anh trong Thánh Thần và lửa.” (Mt 3,11)
 Chúa đã “mang lửa xuống trần gian” để thực hiện phép rửa đó. Ngọn lửa được trao cho tôi. Tôi có tiếp lửa đó, yêu như Chúa yêu, hay để lụi tàn?
 
 

Thứ 5-62: Tình yêu trọn hảo

+Gm Giuse Vũ Văn Thiên
 

 Với kinh Vinh Danh được long trọng xướng lên trong thánh lễ chiều nay, chúng ta cùng với Giáo Thứ 5-62

Với kinh Vinh Danh được long trọng xướng lên trong thánh lễ chiều nay, chúng ta cùng với Giáo Hội bước vào Tam nhật thánh. Khởi đi từ căn nhà nay được gọi là “Nhà tiệc ly”, Chúa Giêsu bắt đầu bước vào cuộc khổ nạn.
Bức tranh do danh họa Leonardo Da Vinci, người Italia, mang tựa đề “Tiệc Ly” hay “Bữa tối cuối cùng – Last supper” là bức tranh sơn tường đầu tiên được khởi vẽ năm 1495 và hoàn thành năm 1498, trên bức tường của một phòng ăn tập thể ở Nữ tu viện Santa Maria delle Grazie, Milan, Ý. Đây là một tác phẩm bất hủ đã góp phần đem lại danh tiếng cho nhà họa sĩ. Các tông đồ được chia làm bốn nhóm, mỗi nhóm ba người. Mỗi vị tông đồ đều được diễn tả trong tâm trạng ngỡ ngàng đến mức thất kinh, hoảng sợ. Họ vừa nghe Chúa nói: “Có một kẻ trong anh em sẽ nộp Thày ”(Ga 13,22). Riêng Giuđa, kẻ bán thày, thì vẫn thản nhiên. Sự lạnh lùng được thể hiện rõ trên khuôn mặt. Không những thế, họa sĩ còn thể hiện khuôn mặt Giuđa với màu sậm. Phải chăng, ông muốn diễn tả, sự giảo quyệt gian dối hiện rõ cả nơi khuôn mặt của người tông đồ phản bội?
 Trong bối cảnh đó, Đức Giêsu được diễn tả như một người bình thản. Người điềm tĩnh giữa phong ba, như Người vẫn điềm tĩnh khi thuyền gặp bão trên biển hồ, khi phải đối diện với Philatô, với Hêrôđê, với những người biệt phái và dân chúng bị kích động đang căm ghét Chúa.
 Chính trong bối cảnh này, Chúa Giêsu hiến mình làm của ăn của uống cho các môn đệ, và qua các môn đệ, Chúa Giêsu nuôi dưỡng ngàn thế hệ mai sau. Người ta thường trao quà tặng trong lúc vui vẻ hạnh phúc và cho những người trung thành có công trạng. Chúa Giêsu trao ban chính mình trong một bữa ăn mà mọi người tham dự đều có tâm trạng hoảng loạn và có người phản bội. Chúa trao ban thân mình để bày tỏ tình yêu thương và giúp họ can đảm đón nhận mầu nhiệm thập giá gần kề.
 Ngày hôm nay, hai mươi thế kỷ sau biến cố Tiệc ly, Chúa Giêsu vẫn tiếp tục trao ban thân mình cho nhân loại. Mỗi khi linh mục dâng lễ, qua lời truyền phép, bánh trở nên Mình Chúa, rượu trở nên Máu Chúa. Bức tranh “Tiệc ly” cũng vẫn đang thể hiện cuộc đời này. Trước lời mời gọi đến đón nhận Mình Thánh Chúa Giêsu, có nhiều người nhiệt thành sốt sắng, nhưng cũng có những kẻ dửng dưng lạnh lùng, thậm chí có người lại lộng ngôn phạm thượng. Tại “Bàn-tiệc-cuộc-đời” này, tôi mang khuôn mặt nào trong số các tông đồ? Trong “cõi người ta” đầy bon chen bận rộn, Thánh Thể vẫn hiện diện, âm thầm và sâu lắng, như bằng chứng của một tình yêu tự hiến, yêu cho đến cùng, yêu hết mọi người dù gặp nhiều phản bội dối gian.
 Thánh Thể là Bí tích của tình yêu thương. Ai đón nhận bí tích này đều được mời gọi thực hành đức bác ái. Người tín hữu không có đức bác ái sẽ đi ngược với ý nghĩa của bí tích này. Trong khi các tông đồ hoảng loạn thất kinh, Chúa Giêsu đã làm một việc không ai ngờ tới: Người bưng chậu nước đi rửa chân cho từng người trong họ, kể cả chân Giuđa, người tông đồ phản bội. Chúa không chỉ rửa chân cho những người luôn ở bên cạnh Chúa như Phêrô, Gioan và Giacôbê mà bỏ rơi những tông đồ khác. Đó là cách hành xử của con người theo kiểu sòng phẳng có trao có nhận. Chúa bao dung và nhân hậu với hết mọi người. Cử chỉ rửa chân được chính Chúa lý giải liền sau đó: “Nếu Thày là Chúa, là Thày, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thày đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thày đã làm cho anh em” (Ga 13,14-15). Như thế là đã rõ, cử chỉ của Chúa Giêsu vừa là nghĩa cử khiêm nhường yêu thương, vừa là một bài học nêu gương và một lệnh truyền cho các tông đồ hãy bắt chước người.
 Hãy thinh lặng âm thầm cầu nguyện bên Thánh Thể để học sống yêu thương và hy sinh cho người khác. Chúa Giêsu hiến thân vì con người, nhưng con người lại quá so đo tính toán khi hiến thân cho Chúa. Đức Thánh Cha Phanxicô, trong Sứ điệp Mùa Chay năm 2015 này, đã nói đến sự dửng dưng vô cảm của con người đối với Thiên Chúa và đối với đồng loại. Thiên Chúa không bao giờ dửng dưng trước nỗi đau của con người. Chúng ta hãy học nơi Thánh Thể tình yêu thương và sự hy sinh, phục vụ vì hạnh phúc của những người xung quanh.
 Sống màu nhiệm Thánh Thể không dừng lại ở việc rước Mình Thánh Chúa, mà còn được thể hiện qua những nghĩa cử yêu thương, tha thứ, hài hòa trong cách đối xử với tha nhân. Đó là tình yêu trọn hảo và là lời mời gọi của thánh lễ chiều thứ Năm Tuần thánh.

 

Thứ 5-63: Tình Chúa - tình người

- Lm. Giuse Dương Hữu Tình
 

 Nếu đọc Tin Mừng của thánh Luca, tôi rất cám ơn ngài vì ngài là người duy nhất đã ghi lại lời Thứ 5-63

Nếu đọc Tin Mừng của thánh Luca, tôi rất cám ơn ngài vì ngài là người duy nhất đã ghi lại lời Chúa Giêsu dạy về dụ ngôn người cha nhân hậu (x.Lc 15,11-31), thì tôi cũng rất biết ơn thánh sử Gioan vì ngài cũng là thánh sử duy nhất ghi lại sự kiện vô cùng ý nghĩa xảy ra trước giờ phút Chúa chịu tử nạn, đó là việc Người rửa chân cho các môn đệ (x.Ga 13,1-20).
 Đây là một sự kiện đã trở thành nguồn suối vô tận cho biết bao suy tư đạo đức như bài học về đức khiêm nhường, tinh thần phục vụ, tình yêu thương; cũng như trở thành một linh đạo, một chân lý sống cho biết bao người. Đúng như thế, chính thánh sử Gioan đã ghi lại lời Chúa nói hôm ấy như sau: “Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” (Ga 13,15). Sự kiện rõ ràng như vậy, nhưng dưới cái nhìn thần học của thánh Gioan, ta không được phép dừng lại ở những bài học đạo đức luân lý, vì chắc chắn thánh Gioan hiểu Chúa Giêsu không phải chỉ là một vị thầy dạy về luân thường đạo lý như biết bao vị sáng lập các tôn giáo khác, có điều gì đó vượt xa hơn thế rất nhiều.
 Thật vậy, Thánh Gioan, “con chim phượng hoàng” của dòng thần học từ trên xuống, dường như muốn chúng ta cất cánh bay cao hơn, tới tận biên giới của vương quốc Thiên Chúa. Bởi thế, trước khi kể lại sự kiện Chúa rửa chân cho các môn đệ, ngài đã cẩn thận nói thế này: “Trước lễ Vượt Qua, Đức Giêsu biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha” (Ga 13,1). Đó, những câu “Vượt Qua” và “về với Cha” như muốn khẳng định ngay với chúng ta về nguồn gốc thần linh của Chúa Giêsu. Sự ra đi của Người chính là một cuộc Vượt Qua, Vượt Qua để về với Thiên Chúa Cha, về với chính huyền nhiệm sâu thẳm vốn có của Người. Nguồn gốc ấy cho thấy rõ con người thật của Người. Người đích thực là ai? Người là vị Thiên Chúa mà dân It-ra-en không dám gọi bằng tên, không dám tới gần, là vị Thiên Chúa từng được sách Khôn Ngoan ca ngợi rằng: “tỏa ra từ quyền năng Thiên Chúa và rực lên trong ngần từ vinh hiển Đấng Toàn Năng” (Kn 7,25). Nhưng Người cũng là một vị Thiên Chúa đang hiện diện giữa loài người, mang tên là Em-ma-nu-en mà tiên tri I-sa-ia đã tiên báo (Is 7,14). Đức Giêsu chính là vị Thiên Chúa đó, vị Thiên Chúa đang ở với loài người và sắp “phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha”.
 Thánh Gioan đưa ra lý do để ta có thể hiểu tại sao Người lại rửa chân cho các môn đệ: “Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian và Người yêu thương họ đến cùng”. Nếu không đưa ra lý do này, ta sẽ dễ dàng hiểu việc Chúa sắp làm chỉ là một cử chỉ giáo dục đạo đức, một việc làm có tính cách tượng trưng. Và như thế, chúng ta dễ bị cám dỗ đánh đồng việc Chúa làm với những việc giáo dục đạo đức, với những lời chỉ dạy luân lý thông thường. Trong một thời đại mà người ta dễ dàng đưa ra những lời dạy rất hay về lẽ sống, cách sống, kỹ năng sống.... nhưng thực tế lại không sống hay không sổng nổi như thế, thì việc hiểu hành động Chúa làm chỉ là một bài học đạo đức luân lý sẽ rất nguy hiểm.
 Không, Chúa Giêsu là vị Thiên Chúa làm người. Sau hơn ba mươi ba năm ở trần gian, Người sẽ trở về với nguồn gốc đích thực của mình. Trước khi ra đi, Người muốn một lần nữa tỏ cho các môn đệ biết khuôn mặt đích thật của Thiên Chúa. Một Thiên Chúa mà con người phải ngỡ ngàng cúi đầu tôn thờ. Thiên Chúa đó đã rửa chân cho từng môn đệ để họ có cơ hội nhận ra Thiên Chúa thật khi họ cúi xuống nhìn Người. Làm sao có thể có được một kinh nghiệm vô cùng lạ lùng đến như vậy. Từ trước tới nay, con người phải cố ngẩng cao đầu, cố hướng mắt nhìn lên tận nơi cao xa may ra có thể chiêm ngưỡng Thiên Chúa phần nào. Nay các môn đệ lại phải cúi đầu xuống mới có thể nhận ra Người, một Thiên Chúa mà khuôn mặt đang rất sát bàn chân và đầu gối của họ. Kinh nghiệm lạ lùng này, các môn đệ sẽ chỉ có thể nghiệm được lần thứ hai. Và lần này không còn phải cúi xuống mà là nhìn lên, nhìn lên lại để chiêm ngưỡng một Thiên Chúa trong thân phận một tử tội.
 Hai kinh nghiệm cách nhau chưa đầy hai mươi tư tiếng đồng hồ nhưng là cả một huyền nhiệm vô cùng lớn lao về Thiên Chúa. Đó là kinh nghiệm về một Thiên Chúa yêu thương. Ngôn ngữ của con người thật rất giới hạn, nhưng sẽ không có một lời giải thích nào thỏa đáng nếu không dùng đến ngôn ngữ của tình yêu. Vì yêu thương, Thiên Chúa sẵn sàng làm tất cả những gì có thể cho con người. Rõ ràng thánh sử Gioan đã ghi lại lời Chúa dạy: “Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau”, nhưng chắc chắn Chúa sẽ không hỏi chúng ta đã rửa chân cho được bao nhiêu người, nhưng Chúa sẽ hỏi đôi bàn tay chúng ta đã giúp đỡ sẻ chia cho được những ai! Chúa sẽ không hỏi chúng ta đã hôn được bao nhiêu bàn chân, nhưng Chúa sẽ hỏi môi miệng chúng ta đã làm cho bao nhiêu người được hạnh phúc. Chúa không muốn chúng ta trở thành những người thợ làm thuê (rửa chân- hôn chân thuê), những robot, người máy của thời hiện đại, nhưng muốn chúng ta thực sự trở thành những con trai con gái của một vị Thiên Chúa yêu thương, yêu thương đến cùng. 
 
 

Thứ 5-64: Tình yêu đến cùng : Rửa chân và Thánh Thể

 Để chiêm ngắm, có thể nói “mầu nhiệm rửa chân” hơn, bởi vì Đức Giê-su nói với thánh Phê-rô: Thứ 5-64

Để chiêm ngắm, có thể nói “mầu nhiệm rửa chân” hơn, bởi vì Đức Giê-su nói với thánh Phê-rô: “việc Thầy làm, bây giờ anh chưa hiểu”, chúng ta được mời gọi chú ý đến bối cảnh. Đức Giê-su rửa chân cho các các môn đệ trong bối cảnh, Người “biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng”.
 Đức Giê-su từ cung lòng của Thiên Chúa Cha, sinh ra trong thế giới của chúng ta bởi quyền năng của Thánh Thần, và từ thế giới của chúng ta, Người về với Chúa Cha, sứ mạng của Người là bày tỏ “tình yêu đến cùng” của Ba Ngôi Thiên Chúa cho loài người và cho từng người. Như thế, hành vi “rửa chân” của Đức Giê-su hướng tới mầu nhiệm Vượt Qua, để diễn tả mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa. Khi chiêm ngắm “mầu nhiệm rửa chân”, xin Chúa ban cho chúng ta ơn nhận ra điều Chúa muốn thông truyền cho chúng ta, chính là tình yêu đến cùng và sự sống viễn mãn của Người, và để cho con tim của chúng ta được chinh phục hôm nay, suốt đời và mãi mãi; như Người nói với thánh Phê-rô:
 Nếu Thầy không rửa cho anh,
anh sẽ chẳng được chung phần với Thầy.

 
1. Đức Giê-su rửa chân (c. 1-5)
 a. “Mầu nhiệm rửa chân” và bí tích Thánh Thể
Tại sao thánh sử Gioan không tường thuật biến cố Đức Giê-su lập bí tích Thánh Thể ? Có thể là vì ba Tin Mừng nhất lãm đã tường thuật rồi, nên thánh Gioan cảm thấy không cần phải nhắc lại, nhưng muốn làm bật lên ý nghĩa « hiện sinh » của mầu nhiệm Thánh Thể, nghĩa là Giáo Hội được mời gọi không chỉ cử hành, nhưng còn sống mầu nhiệm Thánh Thể ; hay đúng hơn, cử hành và sống mầu nhiệm Thánh Thể phải là hai chiều kích hướng về nhau trong cùng một hành trình đi theo Đức Ki-tô trong cuộc sống. Hơn nữa, đối với thánh Gioan, lòng ước ao trao ban chính mình như là của ăn và của uống, đã có từ rất sớm và đã được Chúa bày tỏ rồi (x. Ga 6).
Như thế, thay vì chỉ hiểu hành vi rửa chân như là một bài học thực hành, một gương mẫu, về việc phục vụ khiêm tốn, chúng ta được mời gọi hiểu dưới ánh sáng của mầu nhiệm Thánh Thể :



 So sánh hai trình thuật, chúng ta có thể nhận ra rằng hành vi rửa chân cho các môn đệ mang tầm mức Thánh Thể : một bên, Đức Giêsu trở nên của ăn, một bên, Ngài trở nên người tôi tớ phục vụ bàn ăn. Cả hai đều là hành vi trao ban chính ngôi vị : một đàng là sự sống, một đàng là danh dự. Cả hai cử chỉ đều diễn tả tình yêu tuyệt đỉnh : « Người yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng » (c. 1). Chính vì thế mà, Đức Giêsu nói với Phêrô : « việc Thầy làm bây giờ anh chưa hiểu, nhưng sau này anh sẽ hiểu ».

Như thế, cũng như mầu nhiệm Thánh Thể, hành vi rửa chân muốn diễn tả tình yêu đến cùng của Đức Giê-su dành cho các môn đệ. Tuy nhiên, như chính hành vi rửa sạch gợi ra, qua hành vi rửa chân, Đức Giê-su làm cho các môn đệ trở nên thanh sạch tận căn, làm cho chúng ta nên công chính tận căn, bằng chính ngôi vị của Ngài, bằng sự sống của Ngài, bằng máu của Ngài.
 b. “Mầu nhiệm rửa chân” và hành vi phản bội
“Trình thuật rửa chân” của Tin Mừng theo thánh Gioan được đánh dấu rõ nét bởi hành vi phản bội: ở phần đầu (c. 2), phần cuối (c 18) và phần giữa (c. 11).
 - “Ma quỉ đã gieo vào lòng Giu-đa…” (c. 2 và 27), ở đây Giuđa được nhìn như là nạn nhân của Sự Dữ.
- “Người biết ai sẽ nộp Người” (c. 11), trong lời tường thuật này của thánh sử Gioan, Giuđa được nhìn như là tác nhân.
- “Nhưng phải ứng nghiệm lời Kinh Thánh sau đây: Kẻ đã cùng con chia cơm sẻ bánh lại giơ gót đạp con” (c. 18; trích Tv 41, 10). Trong lời nói này của chính Đức Giê-su, Giuđa được nhìn trong Kế Hoạch cứu độ của Thiên Chúa.
 Như thế, bản chất đích thực của hành vi phản bội phức tạp hơn chúng ta tưởng ; thực vậy, cùng với Giuđa, còn có ma quỉ và hơn nữa cả hai được tháp vào trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Giuđa, và cùng với Giu-đa là Satan, không những không ngăn cản được tình yêu của Đức Giêsu, nhưng vô tình làm cho tình yêu ấy trở nên tuyệt đối và đi đến cùng. Tình yêu đến cùng dành cho các môn đệ, trong đó có Giuđa, cho từng người chúng ta.
 c. Chiêm ngắm Đức Giê-su rửa chân
Vậy, chúng ta hãy dừng lại thật lâu để chiêm ngắm Đức Giê-su rửa chân: Nhìn Đức Giê-su và từng người; lắng nghe sự thinh lặng và tiếng nói nội tâm; quan sát cử chỉ rửa chân và phản ứng của từng người. Và nếu Đức Giê-su rửa chân cho tôi thì sao?
 Chúa muốn nói gì với chúng ta ngang qua hành vi rửa chân? “Đôi chân” của chúng ta ở vị trí nào trong cơ thể, sạch đẹp ra sao, dùng để làm gì, nói lên điều gì, mang những ý nghĩa nào? (thấp nhất, bẩn nhất, hay đi “lung tung”, mang nhiều dấu ấn và dấu vết cuộc đời nhất…). Ngài không nói, nhưng chúng ta có nghe tiếng lòng của Ngài không, nghe được tiếng lòng của các môn đệ không? Không có mùi thơm của nước hoa (ngược lại là mùi hôi chân!), nhưng chúng ta có ngửi ra được mùi thơm tình yêu cho đi đến cùng và một cách nhưng không của Đức Giê-su không? Chúng ta có nếm được sự ngọt ngào của tình yêu này không? Đức Giê-su đụng đến chân của các tông đồ: lòng của ngài xúc động thế nào, lòng các môn đệ và lòng chúng ta có xao động không? Chúng ta có kinh nghiệm được Chúa “rửa chân” chưa?
 Đặc biệt là Ngài rửa chân cho từng người (chứ không phải, Ngài rửa chân cho một môn đệ, rồi môn đệ này rửa chân cho môn đệ kia). Ngài tự làm lấy tất cả. Hành vi này tương ứng với hành vi trao “bánh” cho các môn đệ trong các trình thuật Nhất Lãm. Qua hành vi này, Ngài ước ao chia sẻ chính ngôi vị của Ngài và những gì thuộc về Ngài, như Ngài sẽ nói với tông đồ: “Nếu Thầy không rửa chân cho anh, Ngài nói với Phêrô, anh sẽ chẳng được chung phần với Thầy” (c. 8). Chứ không phải chỉ là làm mẫu cho chúng ta bắt chước. Chúng ta đừng quên ánh mắt và tâm tình của các môn đệ.
 2. Không hiểu (c. 6-11)
Không có tông đồ nào phản ứng, chỉ có một mình tông đồ Phêrô thôi. Thật đáng khâm phục ! Vì không thể để cho Thầy của mình, Chúa của mình cúi xuống rửa chân cho mình được. Chúng ta hãy lắng nghe cuộc đối thoại giữa ông Phê-rô và Đức Giê-su: “Thầy mà rửa chân cho con sao?” Trong câu trả lời, Đức Giêsu nói rằng: “việc Thầy làm, bây giờ anh chưa hiểu”. Thật lạ lùng, đồng thời cũng diễn tả tình yêu đến cùng của Người: ông chưa hiểu, nhưng Ngài vẫn cứ rửa, vẫn cứ trao ban; như hàng ngày Đức Giêsu vẫn cứ rửa cho chúng ta qua rất nhiều ân huệ, nhất là qua Mình và Máu Ngài, cho dù chúng ta không hiểu, hay đúng hơn, không thèm hiểu. Đó là bởi vì, Ngài hi vọng rằng, có một ngày “đẹp trời” nào đó, chúng ta sẽ hiểu ra. Ngoài ra, nơi Phê-rô và các môn đệ, không chỉ có vấn đề không hiểu, nhưng còn có vấn đề chưa hoàn hảo. Ngài vẫn “rửa chân” cho chúng ta, trong bí tích Thánh Thể, như thế đó. Bởi vì ơn huệ ở ngọn nguồn, luôn luôn là ơn huệ nhưng không.

Phêrô vẫn chưa chịu, vì ông đóng kín mình trong cách hiểu của mình: “Thầy mà rửa chân cho con, không đời nào con chịu đâu”. Đức Giêsu đành phải mặc khải cho ông lời hứa chung phần. Mặc khải quá lớn, nhưng điều kiện cũng không kém lớn: đó là để cho Thầy cúi xuống rửa chân, để cho Thầy trở thành lương thực cho anh, để Thầy trở thành sự sống cho anh.

Lời hứa “chung phần”, nhưng là phần gì đây, đối với Phêrô và đối với chúng ta? Có vẻ Phêrô ngộ ra, nên ông chịu để cho Thầy rửa chân. Nhưng lời của ông để lộ ra cách ông hiểu vẫn còn nhiều vấn đề: “Vậy, thưa Thầy, xin cứ rửa, không những chân, mà cả tay và đầu con nữa”. Rửa “nhiều phần” như vậy, phải chẳng là để được “nhiều phần” hơn người khác. Và “nhiều phần”, phải chăng là chỗ ngồi bên phải hay chỗ ngồi bên trái, bên phải, là bổng lộc, là đỗ đạt, là vinh dự…?
 
3. Đức Giê-su giải thích (c. 12-15)
Hãy lắng nghe lời giải thích của Đức Giê-su. Chúng ta có thể chú ý đặc biệt đến lời sau đây: “Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em”. “Như Thầy đã làm cho anh em”, nghĩa là như Thầy đã “rửa chân” cho từng người trong anh em. Vì thế, lời của Đức Giê-su không dừng lại ở mức độ, Ngài đã nêu gương hạ mình phục vụ, và chúng ta được mời gọi bắt chước. Điều này cũng đúng nhưng chưa đủ, vì Thầy và trò vẫn còn ở bên ngoài nhau, và trò bắt chước Thầy một hồi là đuối! Chính chúng ta phải có kinh nghiệm được Đức Giê-su đích thân “rửa chân”, lúc ấy chúng ta mới có lòng ước ao và có sức mạnh nội tâm “rửa chân” cho nhau.

Nhưng rửa chân có nghĩa là gì, phải chăng là một nghi thức mà mỗi năm chúng ta lập lại một lần hay nghe kể lại một lần? “Như Thầy đã làm cho anh em”, cho từng người trong anh em, là một điều không dễ hiểu, như Đức Giêsu vừa nói với Phêrô: “việc Thầy làm bây giờ anh chưa hiểu, nhưng sau này anh sẽ hiểu”; và càng không dễ đón nhận, vì quá nhưng không. Chúng ta thích cái gì sòng phẳng hơn, vì như thế mình làm chủ được. Hành vi “rửa chân” được Tin Mừng Gioan đặt vào chỗ của mầu nhiệm Thánh Thể, nên cũng là một mầu nhiệm: Ngài trao ban chính sự sống và ngôi vị cho chúng ta, dù chúng ta ở trong tình trạng nào, để chúng ta “được chung phần” với Ngài. Chính tình yêu nhưng không này mới làm cho chúng ta có thể “rửa chân” cho nhau theo cách của Đức Giê-su.
 Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc

 

Thứ 5-65:  “YÊU THƯƠNG ĐẾN CÙNG”

Ý nghĩa của ngày Thứ Năm Tuần Thánh được thể hiện thật rõ ràng trong các bài đọc lời Chúa hôm nay. Thứ 5-65

Ý nghĩa của ngày Thứ Năm Tuần Thánh được thể hiện thật rõ ràng trong các bài đọc lời Chúa hôm nay.
Trước hết là việc Đức Giêsu lập Bí tích Thánh Thể để tiệp tục hiện diện và nuôi dưỡng con người. Thánh Phaolô trường thuật lại như sau: “Trong đêm bị nộp, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi bẻ ra và nói: “Đây là Mình Thầy, hiến dâng vì anh em”… Người cầm lấy chén rượu và nói: “Chén này là Giao Ước mới lập bằng Máu Thầy”. (1Cr 11, 23-25).
Cũng trong đêm cực trọng này, Đức Giêsu đã lập Bí tích Truyền chức thánh để có một số người tiệp tục hy tế cứu độ của Ngài trên trần gian này. Sau khi lập Bí tích Thánh Thể, Ngài đã phán: “Anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy” (1Cr 11, 24b. 25b).
Sau cùng là việc Ngài ban truyền giới luật yêu thương: “Thầy Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” (Ga13, 14-15).
Tất cả những hành động này đều vì: “Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng” (Ga 13, 1b).
Yêu thương họ đến cùng, nên Ngài đã lập Bí tích Thánh Thể. Yêu thương họ đến cùng, nên Ngài đã lập Bí tích Truyền chức thánh. Yêu thương họ đến cùng nên Ngài dạy họ phải biết yêu thương.
“Đức Giêsu Kitô là hình ảnh của Thiên Chúa Cha, Đấng giàu lòng thương xót”. Vì vậy qua Bí tích Thánh Thể, Bí tích Truyền chức thánh và việc yêu thương phục vụ mà Đức Giêsu đã để lại, chúng ta nhận ra được Lòng thương xót của Chúa Cha.
 
  1.       Để họ được sống và và sống dồi dào.
Xưa trong sa mạc, Thiên Chúa đã nuôi dân chúng bằng manna, bằng chim cút, bằng mạch nước Mêriba… Những hình ảnh cụ thể này cho chúng ta thấy Thiên Chúa luôn muốn con người được no thỏa. Đến thời Chúa Giêsu, Ngài đã nuôi dân chúng bằng việc hóa bánh ra nhiều, để bảo đảm rằng họ không thiếu lương thực khi đi theo nghe Ngài giảng dạy…
Đó chỉ là những lương thực vật chất. Đức Giêsu cho biết ý định của Chúa Cha không phải dừng lại ở đó, mà còn là: “Ta đến để chiên được sống và sống dồi dào”. Sự sống mà Đức Giêsu đã chuộc lại bằng máu của Ngài chính là sự sống thần linh. Sự sống này được nuôi dưỡng bởi việc gắn bó mật thiết với Đức Giêsu.
Vì yêu thương và để con người được gắn bó với Ngài, nên trước khi chịu khổ hình, Đức Giêsu đã lập Bí tích Thánh Thể để hiện diện thực sự trong tấm bánh và ly rượu. Chính vì thế, Bí tích Thánh Thể là minh chứng lòng thương xót của Thiên Chúa Cha dành cho con người qua Đức Giêsu Kitô.
 
  1.       Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy
Trong suốt lịch sử dân Do thái, lúc nào Thiên Chúa cũng cho họ những vị lãnh đạo để làm trung gian giữa Thiên Chúa với con người. Những vị này đại diện cho dân tế lễ cho Thiên Chúa, và nói lại những lời của Thiên Chúa cho dân.
Trước khi rời bỏ thế gian, Đức Giêsu đã nâng những con người được chọn làm trung gian giữa Thiên Chúa với con người lên một vị trí “đồng hình đồng dạng với Đức Kitô”. Nghĩa là cho họ được làm chính hành động yêu thương của Ngài như thể Ngài đang thực hiện. Vì thế khi truyền phép, linh mục không nói: “Này là Mình Đức Giêsu, này là Máu Đức Giêsu”, nhưng nói chính lời của Ngài: “Này là Mình Thầy, này là Máu Thầy”. Họ hành động nhân danh Đức Giêsu để thể hiện tình yêu thương của Ngài cho nhân loại. Chính vì thế, Bí tích Truyền chức thánh là minh chứng lòng thương xót của Thiên Chúa Cha và Linh mục chính là hiện thân của lòng thương xót đó.
 
  1.       Thầy đã nêu gương cho anh em
Biến cố Vượt Qua là minh chứng hùng hồn nhất của tình yêu Thiên Chúa dành cho dân Do Thái. Biến cố đó đã được Đức Giêsu tiếp nối qua cuộc Vượt Qua của chính bản thân Ngài. Trước khi bước vào cuộc Vượt Qua đó, Đức Giêsu đã rửa chân cho các môn đệ để dạy cho các ông bài học yêu thương là phải phục vụ người khác như Ngài đã làm cho họ. Chính vì thế hành động phục vụ là minh chứng lòng thương xót của Thiên Chúa rõ nét nhất.
 
  1.       Tình yêu đáp đề tình yêu
Tham dự vào những mầu nhiệm thánh của ngày Thứ Năm Tuần Thánh hôm nay, chúng ta không chỉ chiêm ngắm tình yêu của Đức Giêsu, mà còn phải sống giống như Đức Giêsu để thực sự trở thành môn đệ của Ngài. Lời mời gọi đó càng đặc biệt hơn trong năm thánh lòng thương xót này.
 
  1. Để trước hết biết quý trọng lương thực cao cả mà Chúa đã ban, chính là Bí tích Thánh Thể. Khi biết quý trọng Bí tích Thánh Thể là con người đáp trả lại tình yêu của Chúa. Họ sẽ giữ linh hồn của mình được sạch trong để đón rước Chúa vào lòng. Họ sẽ siêng năng đến với nhà chầu để viếng thăm Ngài. Cụ thể đêm nay, ít ra họ sẽ thức với Chúa một giờ vì họ cảm thấu được lời của Đức Giêsu: “Anh em không thức nổi với Thầy một giờ sao?”.
  2.       Để các Linh mục của Chúa biết ý thức sứ vụ cao cả mà Chúa đã ban cho mình chính là hành động thay Đức Kitô để trao ban tình yêu thương nơi các Bí tích, nhất là Bí tích Thánh Thể và Bí tích Giải tội. Hơn thế nữa, để ý thức bậc sống của mình là lời mời gọi linh thánh để mọi hành động của các ngài cũng phải linh thánh…
Để dân Chúa biết chạy đến với các mục tử trong tình yêu thương chân thành để đón nhận những điều linh thánh mà Chúa sẽ ban qua bàn tay của các ngài.
Khi các linh mục biết thực hiện những nghĩa cử yêu thương như Đức Giêsu, khi dân Chúa biết tìm đến với Đức Giêsu qua những vị đại diện của Ngài bằng lòng khao khát những giá trị linh thánh, thì chính lúc đó lòng thương xót của Chúa Cha được thể hiện.
 
  1.       Để các môn đệ của Đức Giêsu phải có một nét riêng, là yêu thương và phục vụ. “Người ta cứ dấu này mà nhận biết anh em là môn đệ của Thầy, là anh em hãy yêu thương nhau”. Trong năm thánh lòng thương xót này, tình yêu đó được mời gọi mãnh liệt hơn dành cho những người yếu đuối, tội lỗi, khô khan, nguội lạnh; những người bị loại trừ dưới nhiều hình thức. Trên hết tất cả, tình yêu sẽ chiến thắng.
 

Thứ 5-66: THẬP GIÁ: CON ĐƯỜNG SỰ SỐNG VÀ HẠNH PHÚC

Nếu bảo “Thập Giá là con đường sự sống” thì thật là chuyện ngược đời đối với con người ngày nay, Thứ 5-66

Nếu bảo “Thập Giá là con đường sự sống” thì thật là chuyện ngược đời đối với con người ngày nay, bởi con người từ xưa đến nay quan niệm rằng Thập Giá là dụng cụ giết người, là án tử hình, là biểu tượng của sự đau khổ... Vậy tại sao Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô 2 đã xác quyết mạnh mẽ: “Thập Giá như là con đường của sự sống và của hạnh phúc” ? ( Sứ Điệp Ngày Giới Trẻ Thế Giới lần thứ 16 ). Phải chăng Thập Giá còn là biểu thị của một giá trị sống cao cả nào nữa ?
THẬP GIÁ LOẠI TRỪ ÍCH KỶ: “Ta đến để chiên ta được sống...” ( Ga 10, 10)
1. Khi ta yêu ai, ta không muốn cho người ấy chết
Gabriel Marcel đã diễn tả: Khi một cậu con trai nói với một cô gái “Anh yêu em“ có nghĩa là anh không muốn em chết. Yêu ai là muốn giữ người yêu lại, không muốn mất đi và còn hơn thế nữa, yêu ai là muốn người ấy sống và sống hạnh phúc. Thiên Chúa yêu thương con người, “Người muốn con người được sống và sống dồi dào”. Yêu mà không làm cho người mình yêu sống mãi là thất bại. Chính Chúa Giê-su đã nói và thực hiện điều nầy.
2. Chúa Giê-su yêu con người
Chúa Giê-su đã nói: ”Như Cha đã yêu Thầy, Thầy cũng yêu các con” ( Ga 15, 9 ) và “Hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu các con”. ( Ga 15, 12 ). Vì yêu và muốn con người được hạnh phúc, Chúa Giê-su đứng về phía con người, bênh vực con người; nhất là những con người nghèo khổ, cô thế, cô thân.
- Người đặt con người trên ngày hưu lễ ( Mc 2, 23... ; Mc 3, 3 – 6; Ga 5, 1 – 18; 9, 1 – 41 )
- Người thương những người có tội bị xã hội lên án, khinh miệt, loại trừ ( Mc 2, 15 – 17; Ga 8, 1 – 11 )
- Người không dành ưu tiên cho người đồng hương ( Lc 4, 23 – 30 )
Do đó, Chúa Giê-su không được nhà cầm quyền tôn giáo chấp nhận. Họ đã kết án ngài, qua sự chuẩn y của Phi-la-tô, nhà cầm quyền dân sự.
3. Thập Giá, án tử hình
Cha Duquoc đã viết: “Chúa Giê-su bị kết án không phải bởi thiên Chúa, mà là do loài người loại bỏ. Người bị các nhà cầm quyền dân sự và tôn giáo kết án”. Phi-la-tô biết rõ rằng giới cầm quyền tôn giáo thấy dân chúng theo ông Giê-su... nên họ ganh tị ( Ga 11, 45 – 53; Mc 15, 12 – 19 ). Họ muốn dùng Phi-la-tô để trừ khử Chúa Giê-su, vì họ không có quyền giết Chúa Giê-su, chiếu theo luật. Cá nhân Phi-la-tô cũng muốn giết Chúa Giê-su, vì ông sợ dân chúng nổi loạn, nếu như ông không làm như vậy. Bởi ông thừa biết rằng, nếu đem Chúa Giê-su ra so sánh với Baraba thì dân chúng cũng xin giết Chúa Giê-su thôi: “Đóng đinh nó vào Thập Giá !”
Vậy án tử hình của Chúa Giê-su, xét phương diện loài người, là để củng cố địa vị của giới cầm quyền đạo và đời lúc đó. Nhưng xét phương diện ơn cứu độ, thì nó lại chiến thắng của Tình Yêu.
4. Chiến thắng của Tình Yêu
Cao điểm cuộc đời Chúa Giê-su là Thập Giá. Cái chết trên Thập Giá của Chúa Giê-su không phải là cái chết bất công, không phải là cái chết oan uổng, hay bị kẻ thù hãm hại; nhưng cái chết của Người có một mục đích: Người hy sinh thân Người để đem Ơn Cứu Chuộc cho muôn người. Cái chết của Người là để thực hiện Tình Yêu của Thiên Chúa. Thiên Chúa yêu thương nhân loại, và không muốn cho một tội nhân nào phải chết vì tội của họ, mà muốn cho họ được sống. Chính Con Thiên Chúa đã chết thay cho tất cả loài người phạm tội.
Đó là chiến thắng cũa Tình Yêu: Con người được sống chính Sự Sống Phục Sinh của Chúa Giê-su. “Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi” ( Ga 12, 32 ). Vì thế, ta có thể xác quyết: Thập Giá là ngọn cờ chiến thắng của Tình Yêu. “Không có Tình Yêu nào lớn hơn Tình Yêu của người hy sinh mạng sống mình cho người mình yêu” ( Ga 15, 13 ). Và cũng vì thế mà Thập Giá là con đường sống cao nhất của Tình Yêu.
THẬP GIÁ, CON ĐƯỜNG SỐNG CAO NHẤT CỦA TÌNH YÊU: “...để ai tin vào Người thì được sống muôn đời” ( Ga 3, 15 )
1. Thập Giá là quy luật tự nhiên: chọn lựa là từ bỏ
Muốn có cuộc sống cao hơn, phải bỏ đi cuộc sống thấp. Chọn cái này phải bỏ cái kia. Con người muốn làm con Thiên Chúa thì phải buông đi kiếp làm người của mình. Muốn đạt được hạnh phúc vĩnh cửu, phải buông đi những lạc thú, những vinh hoa chóng tàn. Chắc chắn không có một sự từ bỏ nào mà không đau khổ. Hạt giống gieo xuống đất phải chết đi mới sinh nhiều bông hạt. ( Ga 12, 24 )
Bởi đó, có chấp nhận trong từ bỏ mới đạt được vinh quang vĩnh cửu. Cha Rey-Mermet giải thích: “Đau khổ không phải là hình phạt để đền tội, nhưng đau khổ là một sự biến đổi triệt để, một sự nổ tung ra, nứt rạn, xé rách, chết... đưa đến cuộc sống khác”.
2. Thập Giá 1à cách sống cao nhất của Tình Yêu
Cây Thập Giá của Chúa Giê-su nói cho mọi người biết rằng Ngài đã cho hết tất cả, Ngài đã trao hiến cái cao nhất của mình. Đó là Sự Sống. Như Áp-ra-ham xưa, ông đã dám hiến tế con mình là I-xa-ác. Đó chính là sự sống của ông. Ông dâng con ông cho Thiên Chúa, vì ông coi Thiên Chúa là “Tuyệt Đối” đối với ông.
Thập Giá là cách sống cao nhất của Tình Yêu vì lấy người mình yêu làm trung tâm cuộc sống của mình: Yêu người bằng Tình Yêu vị tha. Cha Rey-Mermet nói: “Đối với Thiên Chúa, sống chính là yêu thương. Yêu thương là ra khỏi mình... Sự chết là ra khỏi mình triệt để. Thiên Chúa chết vì người mình yêu”.
3. Thập Giá là lửa thanh luyện Tình Yêu:
Thanh luyện thế nào ? Đau khổ là khí cụ duy nhất để thanh luyện ta, là phương thế không thể không có để giảm thiểu lòng ích kỷ nơi mình và làm nảy sinh ra Tình Yêu. Tình Yêu chỉ được đạt tới nhờ Thập Giá. Nói chung, ta cần phải thiêu hủy điều phải thiêu hủy đi, ngõ hầu Thiên Chúa có thể làm chủ nơi ta được. Vì thế, đau khổ không phải là một đều bất đắc dĩ, một tai họa đáng buồn, chất thêm vào gánh nặng, mà đau khổ là con đường Sự Sống.
4. Thập Giá là ra khỏi mình để Thiên Chúa chiếm trọn mình:
Marciel Blonden nói: “Nếu không ai có thể yêu mến Thiên Chúa mà không phải đau khổ, thì không ai có thể thấy Thiên Chúa mà không chết được. Không gì chạm đến Người mà không sống lại; vì không có ý muốn nào tốt cả, nếu không ra khỏi mình, để có thể nhường chỗ cho sự xâm nhập hoàn toàn của ý muốn Thiên Chúa”.
“Ôi đồi Can-vê nhuộm máu đào,
Cho nguồn ơn thánh rót vào tim con”.
Lạy Chúa Giê-su, xin cho con biết đóng đinh tính ích kỷ tự cao của con lại. Xin cho con biết đóng đinh đôi tay, và cả đôi mắt của con lại. Xin đừng để con nhảy xuống khỏi Thập Giá mà con đã muốn vác theo Chúa. Xin cho Thập Giá con đang mang là dấu chỉ đường về Nước Trời: con đường Sự Sống và Hạnh Phúc.
Lm. PHẠM VĂN BÉ, Giáo Phận Vĩnh Long

 

Thứ 5-67:  NHỜ ĐỨC KI-TÔ, CÙNG VỚI ĐỨC KI-TÔ

VÀ TRONG ĐỨC KI-TÔ
“Hãy vác Thập Giá mình mà theo Thầy”
 

Khi bị cám dỗ ở trên núi, Chúa Giê-su đã trả lời ba cơn cám dỗ đó, rồi đuổi Xa-tan đi. Phúc Âm Thứ 5-67

Khi bị cám dỗ ở trên núi, Chúa Giê-su đã trả lời ba cơn cám dỗ đó, rồi đuổi Xa-tan đi. Phúc Âm Thánh Lu-ca nói thế này: “Xa-tan rút lui nhưng chờ thời cơ khác”. Thua keo này còn keo khác. Và cái keo khác nó sẽ đến khi Chúa Giê-su đối diện với cách chết tại Giê-ru-sa-lem. Người sẽ nói: “Đây là Giờ của Xa-tan, nhưng đây cũng là Giờ của Thầy. Và Thầy thấy Xa-tan trên trời rơi xuống như ánh chớp”.
Chúa Nhật thứ 3 Mùa Chay vừa qua, chúng ta đã suy gẫm cuộc đối thoại của Chúa Giê-su với bà Sa-ma-ri về Nước Ban Sự Sống. Sau đó, khi các Tông Đồ mời Chúa Giê-su dùng bữa, Người bảo: “Thức ăn của Thầy, đó là làm theo ý Cha Thầy”. Câu nói này rất quan trọng... Rồi cuối chuyến đi rao giảng ở Ga-li-lê, Chúa Giê-su hỏi các Tông Đồ: “Người ta nói gì về Thầy ?” Phê-rô đại diện anh em tuyên xưng: “Thưa Thầy, chúng con biết Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống”. Chúa Giê-su vui mừng quá, khen Phê-rô và nói: “Đây không phải là người phàm nơi anh, xác thịt của anh nói, nhưng Cha Thầy nói ở trong anh”.
Và Chúa Giê-su nói tiếp liền: “Này đây Con Người – Đấng Ki-tô mà Phê-rô tuyên xứng đó, sẽ phải lên Giê-ru-sa-lem, sẽ phải chịu bắt bớ nộp cho dân ngoại, sẽ phải đóng đinh trên thập giá và chết, nhưng ba ngày sau sẽ sống lại”. Bốn chữ phải để nói lên thánh ý của Cha mà Người phải chu toàn. Phê-rô lúc bấy giờ can gián Chúa Giê-su: “Thưa Thầy, không phải Thầy, không phải Thầy”. Chúa Giê-su mắng Phê-rô liền: “Xa-tan !” Xa-tan nghĩa là người cản trở. “Anh cản trở đường Thầy đi. Hãy lui ra sau !”, nghĩa là hãy lui ra phía sau mà đi theo. Và Chúa Giê-su nói: “Ai muốn theo Thầy hãy vác thập giá mình mà theo”.
 Ngày nay chúng ta thường yên ủi nhau: “Chịu khó một chút, vác thập giá đi anh, vác thập giá đi chị, vác thập giá đi con...” Nhưng đối với Chúa Giê-su và các Tông Đồ thì biết rõ cái thập giá và vác thập giá nó là thế nào. Tại Giê-ru-sa-lem, người ra thấy cảnh tượng người Rô-ma đóng đinh kẻ phản loạn trần truồng trên cây thập giá, đám đông đứng đó chứng kiến, coi tử tội nó hấp hối, nó chết kinh khủng ra làm sao. Một sự độc ác mà người ta có lẽ không bao giờ làm cho bất cứ con vật nào, vậy mà người ta lại làm cho con người. Và người ta đã làm như thế cho Chúa Giê-su. Chúa Giê-su thấy trước chuyện đó. Và Người bảo các Tông Đồ: “Ai muốn theo Thầy, hãy vác thập giá mình”, tức là vác cái án tử hình thập giá của mình mà theo Người.
Chúng ta nghe Phúc Âm Lu-ca nói thế này: “Khi đã tới những ngày Đức Giê-su được rước lên, được đưa lên, Chúa Giê-su nhất quyết lên Giê-ru-sa-lem”. Chúa Giê-su còn nhắc lại lúc khác: ”Phần tôi, một khi tôi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ lôi kéo mọi người đến với tôi”. Sau đó, khi Người lên núi Ta-bo, và tỏ mình ra sáng láng giữa các ông Phê-rô, Gia-cô-bê, và Gio-an là những người đại diện Chúa chính chúng ta.
Lúc bấy giờ có ông Mô-sê là người sáng lập Cựu Ước, có ông Ê-li-a là ngôn sứ hâm nóng lại Cựu Ước đứng nói chuyện với Chúa Giê-su về cuộc Ra Đi của Người sắp xảy ra tại Giê-ru-sa-lem. Cuộc Ra Đi, nói cách khác là Xuất Hành. Cuộc Xuất Hành mới của Chúa Giê-su ra đi trong cái chết và ra đi trong sự Phục Sinh vinh quang của Người. Chúa Giê-su thấy rằng đã tới ngày Người được rước lên, được đưa lên. Người nhất quyết lên Giê-ru-sa-lem.
Phúc Âm Thánh Mác-cô lại nói đến một chữ khác: “Đức Giê-su và các môn đệ bắt đầu lên Giê-ru-sa-lem. Đức Giê-su dẫn đầu”. Các môn đệ kinh hoàng. Đám đông theo sau Người cũng khiếp sợ. Nhưng Chúa Giê-su dẫn đầu, Chúa Giê-su nhất quyết lên Giê-ru-sa-lem để chu toàn ý của Cha. Và ở trên đường lên Giê-ru-sa-lem, trong Phúc Âm Thánh Lu-ca, Chúa Giê-su nói: “Thầy đến để quăng lửa vào thế giới, và lòng Thầy những khắc khoải, những khát mong phải chi lửa ấy đã bùng ra rồi, nhưng Thầy còn phải chịu một phép dìm. Chịu một phép dìm, dìm trong máu của Thầy, dìm trong cái chết của Thầy để rồi Phục Sinh, lãnh lấy lửa sự sống bởi trời và ném lửa xuống thế giới”.
Chúa Giê-su lên Giê-ru-sa-lem lần cuối cùng. Người đã cho La-da-rô được sống lại thì nhất định Người phải lên. Các Tông Đồ cũng khiếp sợ nhưng có một Tô-ma thật tuyệt vời. Thường thường hễ nói đến ông Tô-ma chúng ta hay bảo cái ông này kém tin, không tin Chúa Giê-su Phục Sinh. Vậy mà lúc này Tô-ma đã dám nói: “Chúng ta hãy cùng lên Giê-ru-sa-lem, nếu cần chúng ta sẽ cùng chết với Người”. Các Tông Đồ chưa đo lường, chưa lượng được sức của mình. Phê-rô sẽ nói với Chúa: “Lạy Thầy, cho dầu anh em chúng con có bỏ Thầy thì Phê-rô này vẫn không bỏ”. Chúa Giê-su mỉm cười: ”Tối nay anh sẽ biết”.
Còn Gia-cô-bê và Gio-an là người thứ hai, người thứ ba đã ở trên núi Ta-bo-rê với Chúa, hình như các ông không nuốt nổi chuyện Chúa Giê-su phải chịu nạn, chịu chết trên cây thập giá, nên mới nói với Người rằng: “Lạy Thầy, khi nào Thầy vào trong nước của Thầy, xin Thầy cho hai anh em chúng con, một người ngồi bên hữu, một người ngồi bên tả”. Chắc chắn Phê-rô và các vị khác lúc bấy giờ rất là khó chịu, chưa gì mà đã dành chỗ nhất chỗ nhì rồi. Nhưng Chúa Giê-su nói: “Các anh không biết điều các anh xin. Các anh có sẵn sàng uống cái chén Thầy sẽ uống hay không ? Các anh có sẵn sàng chịu cái phép dìm Thầy sẽ phải chịu hay không ?” Các ông nói: “Dạ, chúng con sẵn sàng”. Có lẽ các ông vẫn chưa hiểu được. Nhưng không sao, sau này các ông sẽ hiểu...
Sau này Tô-ma sẽ quỳ xuống trước mặt Chúa Giê-su: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con”. Và Phê-rô sau này sẽ nói với Người ba lần: “Lạy Thầy, Thầy biết con yêu mến Thầy”. Và Phê-rô không dám nói chữ yêu mến, nó cao quá, mà là dùng chữ thương. Phê-rô chỉ dám nói: “Dạ thưa Thầy, Thầy biết con thương Thầy”. Đến lần thứ ba Chúa Giê-su lại hỏi: “Phê-rô, con ông Gio-an, có thật là con thương Thầy không ?” Phê-rô hơi bực bực một chút: “Dạ Thầy, Thầy biết rõ mọi sự, Thầy biết con thương Thầy”. Đây chính là tình thương sau khi Chúa Giê-su đã chết để cứu chuộc, tình thương sau khi Chúa Giê-su từ dinh Cai-pha nhìn ra Phê-rô và Phê-rô đã khóc hết nước mắt. Và Gio-an sau này giảng về tình thương của Chúa Giê-su cách tuyệt vời.
Trên đây là lược qua những hình ảnh của những con người theo Chúa Giê-su khi Người lên Giê-ru-sa-lem để chu toàn thánh ý của Chúa Cha.
Trong nhà Tiệc Ly, chúng ta nghe nói Chúa Giê-su đã đi cái bước đi cuối cùng để cho thế gian biết rằng “Thầy yêu mến Cha Thầy và làm tất cả những gì Cha Thầy bảo Thầy phải làm. Chúng ta hãy đứng dậy, hãy ra khỏi đây”. Và Đường Thánh Giá bắt đầu.
Khi Phê-rô thấy người ta bắt bớ Chúa Giê-su, đã tuốt gươm ra nhưng Người bảo: “Hãy cất gươm vào vỏ. Thầy không cần phải thế đâu. Anh không biết rằng Thầy chỉ rnói một tiếng là Cha Thầy sẽ sai mười hai sư đoàn thiên thần trên trời xuống tiêu diệt cả bọn này sao ?” Nhưng như thế thì làm sao chu toàn thánh ý. Và trên cây thập giá, tiếng nói cuối cùng của Chúa Giê-su sẽ là: “Đã hoàn tất. Mọi sự đã hoàn tất” – nghĩa là “Những gì Cha bảo Con làm, Con đã hoàn tất. Con xin giao phó hơi thở cuối cùng trong tay Cha...”
Hôm nay Chúa Giê-su nói chúng ta hãy theo Người, theo Người trong Mầu Nhiệm Thập Giá, cùng chịu cái phép dìm của Người ấy, cùng uống cái chén đắng ấy của Người để rồi cùng theo Người vào trong vinh quang Phục Sinh, để hưởng sự vinh quang Phục Sinh, và đem vinh quang Phục Sinh ấy chia sẻ cho người khác. Đó là ý nghĩa của ngày Chúa Nhật Lễ Lá.
Chúa Nhật Lễ Lá, mỗi anh chị em chúng ta sẽ cầm lá trên tay, cầm nhánh hoa trên tay, hoa tươi, lá tươi để nói lên sự sống mới, để tung hô Chúa là Đấng Chiến Thắng. Nghi thức Rước Lá mà chúng ta thường gọi là Kiệu Lá, là một nghi thức Nhập Lễ long trọng. Chủ Tế sẽ làm phép lá cho chúng ra. Chúng ta sẽ cầm nhành lá ấy đem về nhà, sẽ đặt trên bàn thờ, bên cây thập giá gia đình. Lá cũ ta thay bằng lá mới nếu được.
Và ngày nào, người nào, anh em nào ở trong chúng ta qua đời, chúng ta sẽ để nhành lá ấy trên thi hài người đó khi ôm trong tay cái cây Thánh Giá và xâu chuỗi. Phải để cái lá ấy trên tay người ấy, dưới tay người ấy. Không còn lá thì để hoa tươi. Và anh em bạn hữu chúng ta sẽ đem vòng hoa tới, đem lá tới, đem hoa tới để xung quanh cái thi hài của người qua đời, để nói lên rằng người này suốt cuộc đời cầm lá theo Chúa Giê-su để tung hô Người chiến thắng trong cuộc sống và cái chết, để theo Người trong cuộc Phục Sinh; và đây, trong cái chết này, người Ki-tô hữu vẫn cầm nhành lá trên tay của mình.
Rồi bạn hữu sẽ tiễn đưa tới nghĩa trang, và sẽ ném nhành lá ấy xuống huyệt người qua đời. Người ta lấp huyệt lại. Những hoa lá ấy sẽ nói lên ý nghĩa gì ? Người Ki-tô hữu theo Chúa Giê-su với nhành lá trên ngực, nhành lá trên tay ôm cây Thánh Giá. Người Ki-tô hữu sẽ theo Chúa Giê-su cho đến cùng trong cái chết của mình để được theo Chúa Giê-su trong sự Phục Sinh của mình.
Vì thế cho nên khi chúng ta nói kiệu Chúa Giê-su, cầm lá kiệu Chúa Giê-su, chúng ta nói rước Chúa Giê-su cũng không đúng lắm đâu. Chúng ta họp với nhau ở ngoài Nhà Thờ và khi Chủ Tế làm phép lá thì chúng ta thấy Thánh Giá đi trước. Khi chúng ta kiệu ai thì đoàn chúng ta đi trước rồi cái người được chúng ta rước, chúng ta kiệu người đó đi sau. Chúng ta đi trước nghĩa là chúng ta rước, chúng ta kiệu. Còn Thánh Giá nến cao đi trước, vị Chủ Tế là người anh cả của chúng ta sẽ làm gương cho chúng ta, cầm đầu chúng ta theo Thánh Giá, rồi chúng ta đi theo, cũng là đi theo Chúa Giê-su.
Đây là một Nhập Lễ rất quan trọng. Nhưng chúng ta không phải diễn tuồng đâu. chúng ta sống cái mầu nhiệm. Chúng ta cầm lá lên để theo Chúa Giê-su trong cuộc sống, cái chết và cuộc sống lại của Người. Và ngày hôm đó, Kinh Chiều sẽ hát lên bài Thánh Thi khải hoàn rực rỡ diệu kỳ:
“Cờ Vua Cả tung bay phất phới
Thánh Giá Người chói lọi oai phong,
Ai ngờ chính Đấng Hóa Công
Thân treo thập giá lạ lùng xuiết bao !”
Mừng Chúa Giê-su chiến thắng trong cái chết của Người. Mừng Chúa Giê-su sống lại trong sự Phục Sinh của Người. Đó là ý nghĩa của cuộc Kiệu Lá.
Mỗi người đem nhánh lá tới là hay nhất, còn không thì chủ tế làm phép lá rồi trao nhánh lá cho mình. Nhánh lá anh em cầm được chủ tế làm phép, anh em mang về nhà giữ nó trên bàn thờ, sau đó anh em để trên ngực người qua đời, rồi anh em ném nhánh lá đó xuống mộ người qua đời ( nhánh lá đó nếu khô héo quá thì thay thế bằng hoa tươi hay lá tươi ) để nói lên cuộc đời người Ki-tô hữu chúng tôi sẽ theo Chúa Giê-su cho dầu chúng tôi có trung thành, có chân thành như Tô-ma, như Phê-rô, và cũng cảm thấy có lúc yếu đuối phải bỏ chạy hết khi Chúa Giê-su bị nạn. Đó cũng là chuyện bình thường.
Có khi chúng ta chạy theo Chúa Giê-su để được vinh vang như là Gia-cô-bê, Gio-an, nhưng không sao. Một khi chúng ta suy gẫm Chúa Giê-su đi đến cùng cho đến cái chết của Ngài thì chúng ta không thể vinh vang được nữa. Chúng ta sẽ theo Người. Chúng ta sống mầu nhiệm mà Chúa Giê-su đã hứa trước với chúng ta, đó là Mầu Nhiệm Thập Giá Chúa trao cho chúng ta. Mỗi người anh em chúng ta trong mấy ngày hôm nay sẽ nghĩ lại Mầu Nhiệm Thập Giá thực tế của mình để rồi chúng ta cầm nhành lá để đi theo Chúa Giê-su. Và cái hoa, cái lá cuối cùng để tôn vinh Chúa Giê-su đó là chính bản thân chúng ta khi sống cũng như khi chết.
“Hãy phục vụ như Thầy đã phục vụ”
Chúa Giê-su đến không phải để được người ta phục vụ nhưng là để phục vụ và đem cả mạng sống mình làm giá chuộc để phục vụ Ơn Cứu Chuộc muôn người, Ơn Cứu Chuộc Thế giới. Chúng ta là đại gia đình DCCT – nghĩa là Dòng Chúa Cứu Chuộc Thế Giới – Với cái giá rất đắt, đó là chính mạng sống của mình.
Để dễ nhớ những điều chúng ta đã suy gẫm với nhau hôm qua, chúng ta hãy nhớ lại trong cuộc đời Chúa Giê-su, trong cuộc đời rao giảng của Người, có năm cái núi: Cái núi đầu tiên là cái núi cám dỗ. Chúa Giê-su đã đuổi Xa-tan đi. Từ núi cám dỗ, chắc Chúa Giê-su nhìn về núi Can-vê, nơi đó Xa-tan đang chờ – chúng ta gọi trên đây là “cái keo khác” – nơi đó Chúa Giê-su sẽ nói lên Người thắng thế gian, và Người thấy Xa-tan trên trời rơi xuống như ánh chớp.
Và từ trên núi Can-vê, Chúa Giê-su – ta tưởng tượng như Người đang hướng nhìn sang núi Ô-li-vê-tê, nơi đó Chúa Cha đáp lại sự hy sinh phục vụ của Chúa Giê-su và Chúa Cha đã nâng Người lên tận trời ngự bên hữu Chúa Cha, và đặt cho Người cái tước hiệu là Đức Chúa, và khi đó Chúa Giê-su hạ bệ Xa-tan vĩnh viễn. Và Chúa Giê-su dạy chúng ta đi theo Người.
Theo Người bằng cách nào ? Chúng ta sẽ có một ngọn núi khác, núi Can-vê, quen gọi là Núi Sọ, thực ra chỉ là một ngọn đồi mà thôi, nằm trên bờ biển Ti-bê-ri-a gần Ca-phác-na-um. Có thể nói đó là cái đồi Tám Mối Phúc Thật. Chúa Giê-su dạy chúng ta, muốn theo Người thì sống theo Tám Mối Phúc Thật. Và người làm gương trước cho chúng ta.
Hồi xưa, vào một ngày thứ năm trước ngày Sa-bát, khi Chúa Giê-su mới 12 tuổi, Người đã lên Giê-ru-sa-lem cùng với Thánh Giu-se và Đức Mẹ. Gia đình Người cùng vài người bà con tậu một con chiên đem tới Đền Thờ cho vị tư tế thọc huyết, rồi vị tư tế lấy bộ lòng đem vào đốt trong Cung Thánh, đốt dâng lên cho Chúa. Còn phần thịt thì được đem về nhà, đem về cái nhà trọ nào đó quay đi để rồi ăn tiệc Vượt Qua. Đến khi trưởng thành, năm nào Chúa Giê-su cũng làm lại y như vậy. Người sống điều gì trong mầu nhiệm này ? Người quá biết con chiên này là hình ảnh của chính Người. Trong ba năm đi rao giảng, Người không quên được lời Thánh Gio-an Tẩy Giả, nhờ ơn Thánh Thần soi sáng đã nói, đã giới thiệu về Người: “Đây là Con Chiên của Thiên Chúa, đây Đấng xóa bỏ tội trần gian”.
Thế rồi trong ba năm sống với các Tông Đồ, đến ngày Thứ Năm Thánh này, buổi sáng thầy trò cũng kiếm cho ra một con chiên, đem tới giao cho vị thượng tế, giao cho các tư tế thọc huyết v.v... Chúa Giê-su nghĩ gì lúc bấy giờ ? Ngài là Đền Thờ thật, Ngài biết mình là Tư Tế thật, Ngài biết mình là Con Chiên thật. Cho tới lúc này Người vẫn còn sống trong cái vỏ của Cựu Ước, nhưng thật sự thì Người đã là Rượu mới rồi !
Và thầy trò trong hai năm trước vẫn ăn Lễ Vượt Qua với nhau. Ngài đã nói gì, Ngài dạy những gì, Ngài cảm thấy điều gì ? Nhưng bây giờ chúng ta đang cùng với Người đứng ở năm sau hết.
Thì sáng hôm Thứ Năm Tuần Thánh ấy – cứ nói như vậy cho dễ hình dung – thầy trò cũng đem con chiên tới cho vị tư tế thọc huyết, cho vị tư tế lấy cái bộ đồ lòng đốt đi dâng lên cho Chúa như của lễ toàn thiêu, rồi thầy trò đem con chiên về, kiếm một gian nhà trọ nào đó Chúa Giê-su đã quen để quay con chiên ấy. Ai quay ? Có khi có Đức Mẹ ở trong đó. Chúa Giê-su nghĩ gì ? Thì tối hôm ấy, thầy trò ngồi vào bàn, suốt buổi ăn ấy không thấy nói gì về con chiên cả, nhưng Chúa Giê-su sẽ nói toạc ra, Người mới là Con Chiên thật. Và đây là lễ tế thật.
Nhưng chúng ta nhớ, Chúa Giê-su nói trong Phúc Âm theo Thánh Lu-ca: Con Người đến không phải để người ta phục vụ nhưng là để phục vụ và đem cả mạng sống mình làm giá chuộc muôn người. Thì bây giờ, cũng Phúc Âm theo Thánh Lu-ca, trong Nhà Tiệc Ly, Chúa Giê-su thấy các môn đệ vẫn còn dành chỗ nhất chỗ nhì, Người nhắc lại bài học đã dạy về tinh thần phục vụ, Người còn đặt thêm vấn đề: “Anh em nghĩ đi, người phục vụ lớn hơn hay là người được phục vụ lớn hơn ?” Cái chữ phục vụ đây có nghĩa là giúp bàn, dọn bàn ăn, đi rửa chén. “Phải chăng là người ngồi ăn lớn hơn ? Thế mà bấy lâu nay, Thầy ở giữa anh em như là một người phục vụ. Vậy anh em hãy phục vụ lẫn nhau đi. Người làm lớn hãy phục vụ anh em”.
Rồi hơn nữa, chúng ta thấy Phúc Âm theo Thánh Gio-an đoạn 13, Chúa Giê-su đối diện với Mầu Nhiệm Thập Giá rồi đấy. Trước Lễ Vượt Qua, Chúa Giê-su biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà lên cùng Chúa Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng. Người sẽ nói: “Giới răn của Thầy đó là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy yêu thương anh em. Không có tình thương nào lớn bằng tình thương của kẻ hy sinh mạng sống mình cho kẻ mình thương. Vậy Thầy hy sinh mạng sống cho anh em. Anh em hãy hy sinh mạng sống cho nhau”.
Rồi Chúa Giê-su biết rằng Chúa Cha đã giao phó mọi sự trong tay Người. Người bởi Thiên Chúa mà đến và sắp trở về cùng Thiên Chúa. Trong bữa ăn, Người đứng dậy, cởi áo ngoài ra, lấy khăn mà thắt lưng, đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ, và Người còn lấy khăn thắt lưng mà lau. Đó là một công việc của đầy tớ, của nô lệ khi tiếp khách. Chúa Giê-su bây giờ làm đầy tớ cho các môn đệ của mình. Và Chúa Giê-su bảo: “Anh em gọi Thầy là Thầy, là Chúa, anh em nói đúng lắm; Thầy là Thầy, là Chúa. Nhưng mà Thầy là Thầy, là Chúa mà còn rửa chân cho anh em, anh em hãy rửa chân cho nhau”.
Ngày Thứ Năm Tuần Thánh, sau bài Phúc Âm, thường thì vị chủ tế được làm một nghi lễ rất là cảm động, Người rửa chân cho mười hai người tượng trưng cho chúng ta. Giáo Hội chỉ cho chọn mười hai người đàn ông, còn nữ giới thì không, nhưng tất cả chúng ta, đàn ông hay đàn bà, lớn hay nhỏ, hãy tưởng tượng rằng, chủ tế đang rửa chân cho chính mình. Và chẳng những vậy, mà ngày hôm nay chính Chúa Giê-su đang rửa chân cho chúng ta. Mỗi người chúng ta sẽ ngồi lại hát với nhau bài “Đâu có tình yêu thương”. Không có tình yêu nào lớn bằng tình yêu của những người hy sinh mạng sống của kẻ mà mình yêu mến.
Nghi lễ rửa chân thật cảm động. Trước kia, trong các Tu Viện, Đan Viện, Bề Trên rửa chân cho mọi anh em trong nhà, rồi anh em nào được rửa chân thì đứng lên rửa chân cho anh em khác, y như Chúa dạy: “Thầy đã rửa chân cho anh em, Thầy làm gương cho anh em để anh em cũng hãy rửa chân cho nhau. Chứ không chỉ có bề trên rửa chân cho anh em. Anh em hãy rửa chân cho nhau”. Đấy, chúng ta hãy rửa chân cho nhau !
Tôi nhớ, một lần nọ tôi về thăm ông già, bà gia. Tôi có đứa em gái lớn, nó rất cần cù trong gia đình, làm mọi việc, nuôi heo cũng nó, nấu bếp cũng nó, giặt đồ cũng nó. Có một bữa nó mệt quá, nó ngồi nó thở ra: “Thật con bây giờ như là đứa đầy tớ trong nhà...” Cha tôi bảo ngay: “Con à, sao con lại nói như vậy ? Con thấy không, con coi đi, con thấy rằng có những việc ba má đã làm cho chúng con, những việc mà ba má không dám nhờ đến đầy tớ làm cho chúng con...” Và em gái tôi đã làm thinh. Nó quá biết, và tất cả cũng quá biết, khi chúng ta đã được cha mẹ phục vụ mình, đem cả cái mạng sống mình, chẳng những làm đầy tớ cho con, mà còn làm cha làm mẹ của các con. Và con cái trong nhà thì chẳng những làm đầy tớ, mà còn làm hơn đầy tớ nhiều, làm những việc không dám nhờ đến đầy tớ làm, làm anh làm em của nhau !
Trong mấy ngày này chúng ta nhớ đến những anh chị em đồng bào đói khổ trong đất nước chúng ta. Chúng ta sẽ chia sẻ cho họ với cái tinh thần này đây, tinh thần làm đầy tớ này: Làm đầy tớ cho nhau, rửa chân cho nhau, nhân Danh Chúa Giê-su, trong Danh Chúa Giê-su, để Chúa Giê-su trong chúng ta, Người cũng rửa chân cho những anh chị em đang đói khổ và cho muôn người...
Trở về với nhà Tiệc Ly, trong bữa ăn Chúa Giê-su không hề nói gì về con chiên. Người cầm bánh lên, ngước mắt lên trời, tạ ơn Chúa Cha. Người tạ ơn điều gì vậy ? Đó là toàn bộ công trình Cứu Chuộc mà Người đang thực hiện, cả cái Ơn Cứu Chuộc đang tập trung nơi chính mình Người. Người chính là Ơn Cứu Chuộc.
Người bẻ tấm bánh ra trao cho các môn đệ, và Người nói: “Anh em cầm lấy ăn đi, đây là Mình Thầy hy sinh vì anh em”. Hy sinh, hiến tế, bị nộp. Những từ ngữ ấy nói lên nhiều ý nghĩa lắm. “Đây là Mình Thầy đã bị bắt nộp, đã chịu tự nộp vì anh em. Đây là Mình Thầy đem thí cho anh em. Đây là Mình Thầy hy sinh cho anh em. Đây là Mình Thầy hy sinh dâng lên cho Cha vì anh em. Anh em cầm lấy mà ăn đi, để anh em nên một với Thầy”. Một của lễ hy sinh.
Rồi Chúa Giê-su cầm chén rượu lên, Người nói: “Đây là Chén Máu của Thầy, Máu giao ước mới, giao ước vĩnh cửu sẽ đổ ra cho anh em, và muôn người, và mọi người được tha tội. Anh em cầm lấy uống đi, để anh em được cùng nên một xương một thịt với Thầy, cùng một máu với Thầy”.
Ồ ! Chúng ta đừng cạn nghĩ mà nói như người Do-thái: “Ông này nói kỳ cục quá !” Máu này không phải là loại máu đem cân xem bao nhiêu kí-lô, đem đong xem bao nhiêu lít. Máu này là máu đầy cả Thần Khí, là máu Phục Sinh của một con người đã trở thành Đức Chúa, đã trở thành Của Lễ dâng lên cho Cha trên bàn thờ Thiên Quốc. Máu này ngày mai sẽ đổ ra, và thân này ngày mai sẽ được tế lễ, sẽ bị chôn trong lòng đất, rồi sẽ được phục sinh, rồi sẽ lên trời ngự bên hữu Chúa Cha như Vị Thượng Tế Muôn Đời, như Của Lễ Muôn Đời, như là Đền Thờ Muôn Đời chiếu theo những bài học của thư Do-thái.
Và Chúa Giê-su bảo chúng ta: “Anh em hãy làm lại việc này mà tưởng nhớ đến Thầy”. Đây chính là điều chúng ta phải thinh lặng trọn ngày Thứ Năm Tuần Thánh, và cả ngày Thứ Sáu Tuần Thánh để mà suy nghĩ. Điều này là Bí Tích nói lên cuộc Chúa Giê-su chịu nạn chịu chết trên cây thập giá, cuộc Chúa Giê-su Phục Sinh, Chúa Giê-su lên trời vinh hiển, và Chúa Giê-su vẫn tiếp tục ở giữa chúng ta. Và Chúa Giê-su ngày nào đó sẽ đến, Chúa tỏ mình ra cho chúng ta và đưa chúng ta về cùng Cha. “Tôi tuyên xưng Chúa đã chết. Tôi tuyên xưng Chúa đã sống lại. Tôi tuyên xưng Chúa sẽ đến với tôi trong ngày sau hết”.
Chúng ta đã nên một máu, một huyết với Đức Giê-su, Con Chiên mới, và chúng ta đã trở thành con chiên trong Đức Giê-su. Để hiểu được mầu nhiệm này, chúng ta hãy nhớ lại những chuyện trong chính gia đình mình.
Tôi xin phép kể lại trong gia đình tôi. Ở nhà tôi có cái thói quen, cha mẹ tôi dặn: “Con người ta chung quanh nghèo lắm, người ta không có gì mà ăn, tụi con nhớ khi ăn, hột cơm nào, miếng rau nào mà rơi xuống đất thì thôi, để cho chó. Còn hạt nào rơi trên bàn thì bốc bỏ vào chén ăn đi...” Cha tôi nói: “Đấy là máu huyết của ba má đó tụi con !” Mà đúng như vậy. Chén cơm chia sẻ với nhau trong gia đình, đấy là máu huyết của ba ma sẽ trở thành máu huyết của con cái, để tất cả chúng ta thành một dòng máu với nhau, mà chúng ta đã trở thành một dòng máu với nhau rồi. Ôi ! Cái bữa ăn trong gia đình nó cao quý biết chừng nào. Nó là hình ảnh tuyệt vời của Bí Tích Thánh Thể. Bí Tích Thánh Thể cao quý biết bao nhiêu, nói cho chúng ta biết bao nhiêu điều. Bí Tích Thánh Thể chứa đựng cuộc Thương Khó, cuộc Sống Lại và Lên Trời của Chúa Giê-su, và Người đang ở giữa chúng ta, đang biến đổi chúng ta, chờ đợi Ngài đến để đưa chúng ta về.
Đây là cái ý nghĩa của hai chữ phục vụ. “Chúa Giê-su đã hạ mình xuống để ở giữa chúng ta làm thân phận con người, hạ mình cho đến chết, và chết trên thập giá. Vì thế Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban cho Người một danh hiệu trên hết mọi danh hiệu để từ đây khi nghe Danh Thánh Giê-su, cả trên trời dưới đất, mọi miệng đều tuyên xưng, mọi gối đều quỳ xuống: Giê-su Ki-tô là Đức Chúa hầu tôn vinh Thiên Chúa là Cha”. Tuyệt vời !
“Hãy yêu thương nhau...”
Chúng ta bước vào Tuần Thánh, chúng ta sẽ nghe Chúa nói rất nhiều, và chúng ta sẽ nhìn những việc Chúa làm cho chúng ta, và đó cũng là một cách Chúa nói cho chúng ta. Chúng ta sẽ thấy Đức Mẹ đi theo Chúa và đó là cách Đức Mẹ đã làm. Và chúng ta cũng sẽ cùng với Đức Mẹ bước vào Cuộc Thương Khó của Chúa Giê-su. Phụng Vụ của Giáo Hội cho chúng ta biết Mùa Chay kết thúc khi ngày Thứ Năm Tuần Thánh kết thúc. Và Thứ Năm Tuần Thánh kết thúc khi Thánh Lễ Tiệc Ly bắt đầu. Thánh Lễ Tiệc Ly khai mạc Đại Lễ Tam Nhật Vượt Qua, kỷ niệm cuộc Thương Khó của Chúa Giê-su vào ngày Thứ Sáu. Chúa chịu chết, chịu chôn trong mồ và rồi Người sống lại. Đó là Đại Lễ Vượt Qua, Tam Nhật Vượt Qua. Ngày Thứ Năm Tuần Thánh, Giáo Hội mặc áo trắng, Giáo Hội hát Ca Nhập Lễ một cách long trọng nhập lễ, Giáo Hội hát Vinh Danh, và đang khi hát vinh danh như vậy, có bao nhiêu đàn, đem ra đánh hết, có chuông thì giật chuông, chuông lớn, chuông nhỏ. Nếu có trống thì đánh trống luôn, tại vì đây là Đại Lễ Vượt Qua.
Ngày xưa, tôi nhớ khi học với các chị Nữ Tu, họ hỏi: “Tụi con có biết tại sao đầu Lễ Thứ Năm Tuần Thánh đánh trống giật chuông, rồi sau đó làm thinh không ?” Khi nhỏ mình đâu có biết gì. Các chị nữ tu mới nói: “Để bắt đầu thì giật chuông, đánh trống, đánh đàn cho đã đi, la hét cho đã đi, rồi sau đó nghỉ, làm thinh để bước vào cuộc Thương Khó của Chúa Giê-su”. Nói như vậy cũng dễ thương nhưng không đúng lắm đâu. Đó là vì chúng ta khai mạc Đại Lễ Vượt Qua, và rồi Lễ Thứ Năm Tuần Thánh là mở đầu cho ngày Thứ Sáu Tuần Thánh. Thánh lễ Tiệc Ly không thuộc về ngày Thứ Năm nữa, mà là thuộc về ngày Thứ Sáu, hướng về cuộc Thương Khó của Chúa Giê-su. Thánh Lễ Thứ Năm Tuần Thánh lần lần chìm sâu vào sự thinh lặng để chúng ta kết hiệp với Chúa Giê-su.
Và rồi sau khi đã Rước Lễ thì Giáo Hội đem cất Mình Thánh Chúa sang một Nhà Nguyện phụ. Đây là một cái thói quen của Giáo Hội có từ ngày xưa. Cử hành Thánh Lễ xong là dọn dẹp bàn thờ, lột khăn, cất hoa hết, chỉ để bàn thờ trống trơn vậy thôi. Mình Thánh Chúa được đem cất ở một Nhà Tạm nào đó, để dành cho kẻ liệt, cho các bệnh nhân... Nghi lễ cất Mình Thánh Chúa ngày Thứ Năm Tuần Thánh mang một ý nghĩa rất đặc biệt. Khi kết thúc Lễ Tiệc Ly, chúng ta để ý Chúa Giê-su nói: “Thầy không còn nói nhiều với anh em nữa bởi vì thủ lãnh thế gian đang đến, đã hẳn nó không làm gì được Thầy nhưng chuyện đó xảy ra là để cho thế gian biết rằng: Thầy yêu mến Chúa Cha và làm đúng như Chúa Cha truyền cho Thầy. “Đứng dậy, ta đi ra khỏi đây”. Đường Thánh Giá bắt đầu. Tất cả đều nói lên rằng: chúng ta hãy tiếà nội sâu vào trong sự thinh lặng, theo sát Chúa Giê-su vào cuộc Thương Khó của Người.
Ở Giê-ru-sa-lem trong mấy thế kỷ đầu tiên, theo chứng từ của một nữ bá tước, sau khi bổn đạo đã dâng Lễ ngay tại Nhà Nguyện Tiệc Ly ngày xưa, họ lại đi đúng con đường như Chúa Giê-su đã đi, vào trong động Bô-mông, một cái động khá lớn trong núi, bằng cả một cái Nhà Thờ của chúng ta bây giờ. Bổn đạo đọc với nhau và suy gẫm với nhau những lời cuối cùng Chúa Giê-su để lại. Đó là Tin Mừng theo Thánh Gio-an các đoạn 15, 16, 17.
Chúng ta hôm nay cũng thế, trong các giờ Chầu Thánh Thể đêm Thứ Năm Tuần Thánh, chúng ta sẽ nghe Chúa Giê-su nói những lời trăn trối sau hết trong Tin Mừng theo Thánh Gio-an y như Giáo Hội tiên khởi ngày xưa... Tôi xin đọc một đoạn: “Đây là điều răn của Thầy, anh em hãy yêu thương nhau như Thầy yêu thương anh em. Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng mình vì bạn hữu. Anh em là bạn hữu của Thầy...”
Bạn hữu, tiếng Việt của mình, chữ Nho, hữu là có, sở hữu là có của riêng, của riêng mình có, nhưng chữ “hữu”, một chữ khác của chữ Nho, là được có, là thuộc về ai. Đó là Ki-tô hữu, thân hữu. Vậy chúng ta là những người Ki-tô hữu – Ki-tô hữu viết khác, nghĩa là được Chúa Giê-su có. Thánh Phao-lô nói: “Tôi coi tất cả là thiệt thòi so với cái mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Ki-tô, vì Người tôi đành mất hết, tôi coi tất cả là rác để biết được có Đức Ki-tô và được thuộc về Người, được làm của riêng Người, được Người có...” – “Thầy không gọi anh em là anh em nữa. Thầy không gọi anh em là tôi tớ nữa. Thầy gọi anh em là bạn hữu, là Ki-tô hữu, là sở hữu, là thân hữu của Thầy”.
Sau đó, bổn đạo đầu tiên kéo nhau vào vườn Ghết-si-ma-ni đọc những bài Phúc Âm thuật lại Chúa Giê-su cầu nguyện thế nào trong vườn Ghết-si-ma-ni khi đứng trước cái chết của Người. Cả con người của Người nao núng, rúng động và đổ mồ hôi máu. Người nói với Cha: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén giờ này, nhưng xin Cha đừng theo ý con, nhưng con xin theo ý Cha...” Sau đó Chúa Giê-su bị bắt, Giáo Hội đọc và suy gẫm việc Chúa Giê-su đã bị người Do-thái bắt làm sao, Giu-đa tới nộp làm sao, Phê-rô đã cố gắng bênh vực Chúa Giê-su làm sao, và Chúa Giê-su bảo: “Hãy cất gươm vào vỏ, Thầy không cần, tại vì Thầy có thể nói một lời mà thôi, Chúa Cha sẽ sai mười hai sư đoàn thiên thần xuống tiêu diệt cả bọn này, nhưng làm như thế thì làm sao chu toàn thánh ý ?”
Và rồi ngày xưa quân dữ bắt Chúa Giê-su đưa vào dinh Cai-pha, thì bổn đạo kéo lên nửa con dốc núi Ô-li-vê-tê băng qua xứ Xê-đrông. Chỗ ấy nằm xung quanh dinh Cai-pha bây giờ thành cái Nhà Nguyện, ở đó, cha với con, Đức Giám Mục với bổn đạo đọc với nhau bài Phúc Âm Chúa Giê-su ở trong dinh Cai-pha. Cai-pha đã nói phải diệt cái ông này đi, thà rằng cho một người chết thay cho toàn dân, chẳng thà để cho quân Rô-ma giết tất cả dân này. Và Cai-pha đã có ý đồ diệt Chúa Giê-su bằng cách tố cáo Người với chính quyền Rô-ma lúc bấy giờ để rồi thay vì ném đá theo luật Do-thái thì Người sẽ bị đóng đinh trần truồng trên thập giá để hạ nhục tối đa cho bằng được. Còn ở ngoài cổng, Phê-rô đã chối Chúa Giê-su như Chúa Giê-su đã báo trước. Rồi từ trong dinh Cai-pha, Chúa Giê-su nhìn ra Phê-rô, Phê-rô mới biết rõ mình, Phê-rô khóc hết nước mắt. Ngày hôm nay, chúng tãyc chính là Phê-rô đấy !
Lúc bấy giờ, kể như là đã nửa đêm. Đức Giám Mục chủ sự mới bảo: “Thôi, anh em, về ngủ, về nghỉ đi, vì ngày mai sáu giờ sáng, hừng đông, anh em sẽ họp nhau lại ở dinh Phi-la-tô...” Và bổn đạo đành đi về nhà ngủ nghỉ. Nhưng mà vẫn còn có một số người khác cứ lẩn quẩn trong cái vườn của Cai-pha để cùng nhau cầu nguyện, để cùng nhau đi Đàng Thánh Giá. Họ sống cái mầu nhiệm Chúa chết, họ không tài nào ngủ được...
Rồi hôm sau khi vừa tảng sáng, cha con lại họp nhau ở nơi là dinh Phi-la-tô ngày xưa. Rồi người ta đọc những bài Phúc Âm thuật lại chuyện tổng trấn Phi-la-tô tố cáo Chúa Giê-su. Phi-la-tô biết Chúa Giê-su còn ở dưới quyền của vua Hê-rô-đê thì Phi-la-tô bảo điệu Chúa Giê-su qua dinh Hê-rô-đê. Và ở đó, cha con lại suy gẫm với nhau bài Phúc Âm nói về việc Chúa Giê-su bị Hê-rô-đê bảo phải làm vài phép lạ biểu diễn cho vui để ông ta coi rồi sẽ tha cho. Chúa Giê-su làm thinh không trả lời gì hết. Hê-rô-đê cho Chúa Giê-su mặc chiếc áo trắng, cho là đồ khùng và bảo đưa trở về cho Phi-la-tô. Thế là cha con lại cùng nhau kéo trở về dinh Phi-la-tô.
Khi đó đọc đoạn Phúc Âm tường thuật việc cả dân Do-thái mới trước đó đã hoan hô Chúa Giê-su, té ra bây giờ thấy Người chẳng làm được cái gì cả, chẳng lật đổ chính quyền, chẳng giải phóng cho dân, chỉ làm thinh, thì dân ngã lòng, và các thượng tế liền xúi giục để họ dân hét lên: “Đóng đinh nó đi, đóng đinh nó đi. Nó phản loạn chống lại chánh quyền của Rô-ma !” Chà ! Người Do-thái bây giờ lại tỏ ra bênh vực quyền của đế quốc Rô-ma dữ thật !
Và cuối cùng, Phi-la-tô đã chịu thua, nộp Chúa Giê-su cho dân Do-thái muốn làm chi thì làm. Dân Do-thái đã tìm mọi cách giết Chúa Giê-su theo luật Rô-ma. Trước hết, đánh đập Chúa Giê-su cho nhừ đòn, và phải đánh cho thật nhiều để Chúa Giê-su phải chết cơ. Ngay chiều hôm nay là đã phải chết rồi để họ có thể bắt đầu cử hành Đại Lễ Vượt Qua ! Sau đó, bọn họ chụp cái mũ gai cho Chúa Giê-su. Trong khi đó, Phi-la-tô lại cố gắng tìm cách cứu Chúa Giê-su cho bằng được, ông đưa Người lên sân thượng và nói: “Ecce Homo, đây là Người, đây là Con Người !” Dân Do-thái liền la to: “Đóng đinh nó đi, đóng đinh nó đi, đóng đinh nó đi !” Phi-la-tô đành rửa tay: “Thôi cứ đem ông này đi mà giết tùy ý mấy ông !” Và người ta đã điệu Chúa Giê-su đi.
Đến đây thì Đức Giám Mục và các bổn đạo, cha con từ dinh Phi-la-tô kéo nhau đi qua mấy ngôi nhà trong thành Giê-ru-sa-lem, theo hướng đó mà đi lên núi Can-vê. Không xa lắm đâu, khoảng hơn một cây số thôi. Chúa Giê-su vác thập giá đi. Cây thập giá ấy không phải như chúng ta thấy bây giờ. Phần chân cây thập giá chắc chắn là đã cắm sẵn ở đâu trên núi Can-vê rồi, bây giờ chỉ phải vác một cái đòn dài. Chúa Giê-su bị buộc vào cái đòn nằm ngang đó và người ta điệu Chúa Giê-su đi. Người không còn sức nữa để vác đi. Phải nhờ ông già Si-mon người Ki-rê-nê đỡ giùm.
Đàng Thánh Giá chúng ta bây giờ có kể Chúa Giê-su ngã xuống đất ba lần. Phúc Âm không thấy nói bao nhiêu lần đâu. Thế nhưng bổn đạo có lòng đạo đức nên quyết là phải ba lần ngã ! Phúc Âm cũng không kể rằng Đức Mẹ có gặp Chúa Giê-su dọc đường, nhưng chúng ta lý luận: chắc thế nào cũng có dịp để mẹ con nhìn mặt nhau. Tuy nhiên Phúc Âm có nói đếọch các bà phụ nữ Giê-ru-sa-lem đã yên ủi Chúa Giê-su. Riêng chuyện bà Vê-rô-ni-ca thì không có, sau này người ta đã đưa thêm vào.
Các phụ nữ yên ủi Chúa Giê-su rồi sau đó cùng lên núi Can-vê. Các bổn đạo bây giờ cũng ở lại trên núi ấy cả buổi trưa, đọc đoạn Phúc Âm lúc Chúa Giê-su hấp hối, Chúa Giê-su nói những lời gì, rồi Chúa Giê-su tắt hơi, Chúa Giê-su bị đâm vào cạnh nương long... Cho tới ba giờ chiều thì hạ xác Chúa Giê-su xuống. Nghĩa là cả một ngày Hội Thánh Giê-ru-sa-lem và chúng ta đi Đàng Thánh Giá, sống mầu nhiệm Chúa Giê-su trên cây thập giá.
Tới đây, đề cập đến cây thập giá, tôi xin dừng lại một chút. Trong Phụng Vụ bây giờ, khi đã đưa Mình Thánh Chúa cất trong Nhà Tạm sau Lễ tối Thứ Năm Tuần Thánh thì Giáo Hội bảo: hãy lấy vải phủ cây thập giá lại. Tại sao trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, chúng ta đi Đàng Thánh Giá, suy gẫm Cuộc Thương Khó Chúa Giê-su, Giáo Hội lại bảo lấy khăn che Thánh Giá lại ? Vô lý hết sức !
Thật ra không phải vô lý đâu. Ngày xưa trong những thế kỷ đầu, đế quốc Rô-ma hay đóng đinh những kẻ phản loạn lắm, ai cũng thấy hết rồi, hiểu rõ hình phạt ấy kinh khủng thế nào rồi, không cần phải làm tượng ảnh Chúa Giê-su bị đóng đinh thập giá nữa. Những chuyện đó đã in đậm, đã va đập dữ dội vào trí tưởng tượng của người ta rồi. Không cần suy nghĩ, không cần tưởng tượng nhiều.
Thế nhưng hồi bấy giờ, ngay từ thời Thánh Phao-lô, ngài đã nói: “Vinh quang của tôi là thập giá Đức Ki-tô, chớ gì tôi sẽ không có tự hào về những gì ngoài thập giá Chúa Ki-tô chịu đóng đinh, và đối với tôi, thế gian đã chịu xử tử đối với tôi. Và tôi đã chịu đóng đinh đối với thế gian. Vinh quang thập giá ! Vinh quang thập giá !”
Tới thời vua Công-xtan-ti-nô vào thế kỷ thứ ba, người ta mới dám làm cây Thánh Giá, mà là một cây Thánh Giá vinh quang, Thánh Giá bằng vàng, hoặc bằng gỗ rất đẹp rất quý. Đó là cây Thánh Giá là ngọn cờ chiến thắng, như chúng ta vẫn hát: “Cờ Vua Cả tung bay phất phới, Thánh Giá Người chói lọi oai phong...”
Và rồi về sau lần lần người ta đặt Chúa Giê-su chịu đóng đinh lên trên cây Thánh Giá. Thế nhưng người ta cảm thấy rằng: không cần phải đặt Chúa Giê-su lên đó như là một tử tội đang chết tức tưởi và rách nát tả tơi. Người ta đã thấy tận mắt hằng ngày những kẻ bị xử tử như thế rồi.  Người ta nghĩ phải đặt Chúa Giê-su lên trên cây Thánh Giá như thể ngự lên một ngai tòa vinh quang. Chúa Giê-su đứng trên cây Thánh Giá như là vị thượng tế, Chúa Giê-su đang sống trên Thiên Đàng, đã Phục Sinh, đang sống và mang trên mình những vết tích vinh quang. Dưới chân Chúa Giê-su lại còn có một cái bệ, Người đứng trên Thánh Giá như Vua đứng trên bệ.
Chúng ta thấy bây giờ người ta đã làm tượng Thánh Giá sai mất một chi tiết ở cái bệ chân ấy, như thể Chúa Giê-su đã bị đóng đinh đôi bàn chân vào một cái bệ. Không phải vậy đâu. Cái bệ là để Chúa Giê-su đứng lên trên cơ. Người Do-thái và dân Rô-ma ngày xưa đã đóng đinh Chúa Giê-su quặt hai bàn chân vào cây gỗ, chứ đâu có được đứng trên cái bệ như vậy. Nhưng vì là Chúa Giê-su vinh quang, Chúa Giê-su chịu đóng đinh nhưng đã sống lại vinh quang, nên phải để cho Người đứng trên cái bệ.
Rồi ở dưới cái bệ ấy, chúng ta thấy có một cái đầu lâu với hai cái xương dài vắt chéo. Đó là nói như lời Thánh Phao-lô nói trong thư thứ nhất gửi Cô-rin-tô: “Thật vậy, Đức Ki-tô phải nắm vương quyền cho đến khi Thiên Chúa đặt mọi thù địch dước chân Người. Thù địch cuối cùng bị tiêu diệt là sự chết. Thiên Chúa đã đặt muôn loài dưới chân Chúa Ki-tô...” Thành ra Chúa Giê-su đứng trên một cái bệ, một vị nhà vua trên cái ngai thập giá nhưng dưới chân lại là cái đầu lâu, ý nói Chúa Giê-su thắng sự chết và đạp sự chết dưới chân của Người.
Thế nhưng từ thế kỷ thứ 10 trở đi, khi vua Công-xtan-ti-nô không cho đóng đinh ai trên thập giá nữa, thì Giáo Hội khi cần, phải đi Đàng Thánh Giá lại. Phải suy gẫm từng chút một cái thương khó, cái đau thương Chúa Giê-su đã chịu, và hồi ấy người ta đã tạc ra hình ảnh Chúa Giê-su chịu Thương Khó hết sức đau thương. Chúng ta nhớ Thánh Phan-xi-cô Khó Nghèo có nói đến chuyện đi hành hương ở Giê-ru-sa-lem, đi lại Đàng Thánh Giá. Đến thời này người ta mới đặt ra 12 chặng Đàng Thánh Giá. Và chặng thứ 12 là chặng Chúa Giê-su chết tức tưởi trên thập giá chính là để người ta suy gẫm và hình dung cho bằng được Chúa Giê-su đã chịu chết một cách tức tưởi đến mức nào.
Vậy đó, ngày Thứ Sáu Tuần Thánh bây giờ, Giáo Hội bảo lấy khăn che khuất hình ảnh Chúa Giê-su vinh quang đi. Llấy khăn che đi là để bổn đạo còn đi Đàng Thánh Giá mà suy gẫm sự đau thương của Chúa Giê-su đã phải chịu. Rồi đến chiều, từ ba giờ trở đi, Giáo Hội đã suy gẫm việc Chúa Giê-su được hạ xuống và chôn trong mồ. Đức Giám Mục Giê-ru-sa-lem, từ 3 giờ đến 6 giờ chiều, bảo: “Thôi bây giờ anh em về nghỉ đi. Về nghỉ một chút đi. Và anh em để ý, ngày này năm xưa, Chúa Giê-su dĩ nhiên đã không ăn gì cả, các môn đệ cũng không nuốt được miếng nào... Lát nữa sáu giờ họp lại, ta sẽ suy tôn Thánh Giá...”  Có thể nói ngày hôm đó là ngày ăn không được chứ không phải không được ăn !
Đó chính là ý nghĩa việc bây giờ chúng ta ăn chay ngày Thứ Sáu Tuần Thánh và Thứ Bảy Tuần Thánh. Trong bốn mươi ngày chay, chúng ta bảo Nhau: hãy hãm mình, không được ăn. Còn ngày Thứ Sáu Tuần Thánh là ngày ăn không được. Chúng ta hãy nhớ lấy cái tinh thần đó, ý nghĩa sâu xa ấy. Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh tôi đi Đàng Thánh Giá với Chúa Giê-su, tôi không còn sức nào để mà ăn.
Trong nghi thức Suy Tôn Thánh Giá chiều Thứ Sáu Tuần Thánh có phần thứ nhất là phần đọc lại cuộc Thương Khó của Chúa Giê-su theo Phúc Âm Thánh Gio-an. Trong đó chúng ta sẽ thấy Chúa Giê-su yêu mến Cha, Chúa Giê-su yêu mến chúng ta tới mức nào. Mà chúng ta thấy Chúa Giê-su hoàn toàn chủ động trong cuộc Thương Khó của Người.
Sau đó thì vị chủ sự có vài lời giảng. Và rồi Giáo Hội dâng những ý cầu nguyện: Xin Chúa Giê-su đã chịu nạn chịu chết trên cây Thánh Giá vì chúng con, ban Ơn Cứu Chuộc, đem phân phát Ơn Cứu Chuộc cho mọi nơi, cho mọi giới ở trên thế gian này. Đó là trên 10 lời cầu nguyện chúng ta đọc với vị chủ tế sau khi đã nghe, đã ôn lại Cuộc Thương Khó Chúa Giê-su.
Rồi đến phần suy tôn Thánh Giá. Vị chủ tế ra phía đằng sau kiệu lại cây Thánh Giá vinh quang, cây Thánh Giá vinh quang sáng láng, vì Chúa Giê-su vinh quang đang sống, đã sống lại trên cây Thánh Giá, đứng ở trên cái bệ chứ không phải là cái xác Chúa Giê-su đã đem quàn đâu. Người ta kiệu Chúa Giê-su vinh quang vào trong Nhà Thờ, đặt đứng giữa Nhà Thờ. Khi đó người ta mới hát: “Vinh quang của ta là Thánh Giá Đức Ki-tô, nơi Người Ơn Cứu Độ của ta, sức sống của ta, Phục Sinh của ta...”“Thập giá ngất cao ở trên thế gian này, ôi hỡi thập giá Chúa Giê-su...”
Chúa Giê-su trên thập giá như đang nói với chúng ta với tất cả tình thương... Rồi vị chủ tôi cùng với chúng ta ôm Thánh Giá mà hôn chân Chúa Giê-su. Không phải ôm hôn một thi hài, nhưng là ôm hôn một Đấng đã phục sinh, đã chiến thắng sự chết. Mà Việt Nam chúng ta thì cần chi mà... hôn ? Thật ra, lúc này là lúc chúng ta cầu nguyện. Chúng ta nói với Chúa như Thánh Tô-ma: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, con yêu mến Chúa, con cám ơn Chúa, xin ban cho con lòng dạ của Chúa. Bây giờ con là người của Chúa, xin Chúa chiếm hữu con...”
Chúng ta ôm hôn Thánh Giá như thế nào đây ? Chúng ta đặt trán mình vào chân Chúa Giê-su, để xin Người thấm nhập cả hồn cả xác chúng ta, để thờ lạy, để hiến cả cuộc đời chúng ta cho Chúa Giê-su. Và đang khi đó, ca đoàn hát một bài theo dạng đối thoại... Tôi nhớ khi nhỏ, tôi có giọng cũng hơi tốt tốt, nên cha sở bảo tôi hát: “Nhân sao Chúa Giê-su chịu đóng đinh làm vậy...” Cha tôi, ông cũng hát khá lắm: “Tao chịu đóng đinh cho đặng chuộc tội vì mày...”  Tôi hát đáp lại: Nhưng sao Chúa Giê-su...” 
Hai cha con tôi cứ hát đối qua đáp lại như vậy rất là hay. Cuộc đối thoại đời xưa, bây giờ vẫn còn, nhưng đã đổi nhạc khác: “Dân Ta ơi, dân Ta ơi ! Ta đã làm gì cho ngươi...” Rồi khi đó Chúa Giê-su mới nói: “Ta đã đưa ngươi ra khỏi Ai-cập. Sao ngươi nộp Ta cho quân dữ ?” Cả Nhà Thờ hát lên: “Lạy Thiên Chúa chí thánh, lạy Thiên Chúa oai hùng, lạy Thiên Chúa muôn đời hằng hữu, xin thương xót chúng con...” Không phải “lạy Chúa Cha” mà là “lạy Chúa Giê-su, Thiên Chúa chí thánh, lạy Chúa Giê-su là Thiên Chúa oai hùng, lạy Chúa Giê-su là Thiên Chúa muôn đời hằng hữu, Chúa đã chiến thắng trên thập giá. Và bây giờ, xin Chúa thương xót chúng con...” Còn Chúa Giê-su nói: “Ta đã đập vào chân núi Si-nai cho có nước cho ngươi uống xưa kia, mà sao nay ngươi cho Ta uống giấm chua mật đắng ?”
Và lúc ấy chúng ta cái trán chúng ta vào chân Chúa Giê-su. Một cuộc đối thoại tuyệt vời. Trước đó là lột tấm khăn che Thánh Giá ra để cho thấy Chúa Giê-su vinh quang mà tôn thờ. Sau khi đã tôn thờ thập giá thì Giáo Hội Rước Lễ chứ không có tế lễ như mọi ngày. Cả Đàng Thánh Giá đã là lễ tế thiêng liêng rồi. Bây giờ Giáo Hội mới lấy Mình Thánh Chúa ra để chúng ta ăn uống chính Chúa Giê-su là Đấng đã chết, đã phục sinh và đang có mặt trong Bí Tích Thánh Thể để chúng ta được Người chiếm hữu, để chúng ta trở thành Ki-tô hữu... Amen.
Lm. NGUYỄN HỮU PHÚ, DCCT, 3.2005, Gs. PHẠM VĂN LƯỢNG ghi lại từ băng cassette

 

Thứ 5-68: XIN ĐƯỢC SỐNG YÊU THƯƠNG

Trong bài thơ “Thói đời”, Nguyễn Bỉnh Khiêm có một vần thơ lột tả sự tráo trở trong thái độ sống của con Thứ 5-68

Trong bài thơ “Thói đời”, Nguyễn Bỉnh Khiêm có một vần thơ lột tả sự tráo trở trong thái độ sống của con người: “Được thời thân thích chen chân đến / Thất thế hương lân ngoảnh mặt đi”. Suy niệm cuộc Thương Khó của Chúa Giê-su càng thấy rõ nhân tình thế thái, thấy sự tráo trở, đổi trắng thay đen của lòng dạ con người.
1. Đám đông dân chúng
Dân thành Giê-ru-sa-lem nô nức phấn khởi, trải áo choàng, chặt những nhánh lá cây rải trên đường để Chúa đi qua, tay cầm cành lá, miệng reo hò tung hô Chúa, họ dành cho Chúa một nghi lễ đón rước như cho một vị vua của họ. Họ vừa đi vừa tung hô: “Hoan hô con vua Đa-vít”, “Vạn tuế Đấng nhân danh Thiên Chúa mà đến”. Thế mà sau đó không lâu, nghe lời xúi giục của tư tế, kinh sư, Pha-ri-sêu, họ lại biểu tình đả đảo, chống đối, hò la, gào thét đòi “đóng đinh nó đi !” Hai thái độ trái ngược nhau của dân chúng: hoan hô và đả đảo, đưa Chúa lên ngai vua và hạ bệ Chúa trên thập giá. Đám đông thường nông nổi nhẹ dạ, vô ý thức và do đó vô trách nhiệm. Đám đông thường dễ bị lôi cuốn: người ta hoan hô, mình hoan hô, người ta đả đảo mình đả đảo, người ta làm gì mình làm nấy mà nhiều khi chẳng biết tại sao.
2. Giu-đa It-ca-ri-ốt
Trong Ki-tô Giáo, Giu-đa phản bội Thầy là một sự kiện nổi tiếng. Nổi tiếng vì bán Thầy với giá ba mươi đồng bạc ( Mt 27, 3 ). Một môn đệ được tuyển chọn, được huấn luyện, Giu-đa vinh dự thuộc về nhóm 12, được giao trọng trách quản lý. Nhưng lòng tham lam của cải vật chất đã đẩy Giu-đa đến chỗ phản bội. Giu-đa đi gặp các thượng tế và nói: "Tôi sẽ được gì nếu tôi nộp Ngài cho các ông ?” Họ đã trả cho hắn ba mươi đồng bạc, và từ đó hắn tìm dịp để nộp Chúa Giê-su cho họ” ( Mt 26, 16 ). Một cuộc buôn bán lớn nhất trong mọi thời đại nhưng chỉ được ba mươi đồng bạc là giá của một nô lệ vào thời đó ! Khi giá cả đã thoả thuận, các thượng tế mang ba mươi đồng bạc và đặt vào tay Giu-đa.
Tám trăm năm trước, Gia-ca-ri-a đã nói tiên tri: “Nếu các ông thấy là được thì trả công cho tôi; nếu không thì thôi. Và họ đã trả công cho tôi là ba mươi đồng bạc” ( Dcr 11, 12 ). Trong bữa tối vào ngày hôm sau, Chúa Giê-su tỏ ra buồn phiền: “Có người trong các con sắp phản Thầy” ( Mt 26, 21 ). Các môn đệ nhìn nhau và hỏi: “Có phải con không, Thưa Thầy ?” Giu-đa cũng hỏi: Thưa Thầy, có phải con không ? Chúa trả lời: “Con nói đúng đó !” Giu-đa đi ra, “lúc đó là đêm tối”...
Bằng nụ hôn giả dối, Giu-đa chỉ điểm để quân lính bắt Chúa Giê-su trong vườn Cây Dầu ( Lc 22, 50 ). Giu-đa có quyền dự tiệc bê béo, nhưng lại chọn thờ lạy bò vàng. Chứng kiến cuộc khổ nạn của Thầy, lòng Giu-đa đầy hối hận ( Mt 27, 3 ). Tội ác vừa phạm xong, Giu-đa đã thấy chán chường. Hối hận tận đáy thâm sâu của tâm hồn, Giu-đa đem mối sầu ấy đi gởi chỗ không đáng gởi “Giu-đa ném các đồng bạc trả lại vào mặt các thượng tế và nói: Tôi đã phản bội, nộp máu người vô tội". ( Mt 27, 4 ).
Trước sự tráo trở của các thượng tế và kỳ lão: “Can chi đến chúng tôi, mặc kệ anh” ( Mt 27, 4 ), Giu-đa ném những đồng bạc đó vào Đền Thờ và ra đi xuống thung lũng Hin-nom, thung lũng đầy kỷ kiệm khủng khiếp của âm ty. Giu-đa bước đi trên đất lạnh cát sỏi, giữa những tảng đá nhọn sắc, những cây cối cong queo gầy guộc như tâm hồn trĩu nặng nỗi đớn đau. Giu-đa cởi dây lưng quăng một đầu dây vào vào một cành cây to, đầu dây kia quàng quanh cổ. Tiếng gió rì rào như thầm nhắc lời mà Giu-đa đã từng nghe: “Hỡi những ai khó nhọc gánh nặng, hãy đến cùng Ta, tâm hồn các con sẽ được bình an”.
Than ôi ! Giu-đa hối hận vì chính mình nên chọn cái chết để kết liễu lầm lạc. Mặt trời nghiêng bóng tối dần. Ở Si-on, từ hai phía đối diện, có hai cây đi vào lịch sử, một cây ở núi sọ: cây hy vọng, một cây ở Hinmon: cây thất vọng. Trên cây hy vọng, Đấng Chịu Đóng Đinh liên kết đất trời; trên cây thất vọng, người bị treo xa đất xa trời. Hối hận của Giu-đa không đúng nghĩa hối hận. Chán chường tội lỗi không đủ mà cần phải ăn năn thống hối nữa. Tỉnh ngộ và chán chường mới chỉ là bước đầu, cần phải sám hối trở về đón nhận ơn tha thứ, tìm lại sự sống.
3. Giới lãnh đạo Do-thái
Vì ghen ghét mà giới lãnh đạo tôn giáo Do-thái đã chủ mưu trong vụ án giết Chúa Giê-su ( Mt 27, 18 ). Dân chúng mến phục ủng hộ, nhiều người tin vào Chúa Giê-su. Ảnh hưởng của Người ngày càng lớn trên dân chúng. Cuộc xung đột không những về quan niệm tôn giáo mà còn liên quan đến quyền lợi vật chất của giới lãnh đạo nên họ quyết tâm giết Chúa Giê-su. Đạo Do-thái là đạo của đền thờ, đạo của lễ tế. Dịch vụ lễ tế là một dịch vụ quan trọng về phương diện tôn giáo và cả về kinh tế. Hàng tư tế sống nhờ vào lễ tế. Lễ tế của dân, dịch vụ cung cấp những phương tiện lễ tế như bán chiên bò cừu bồ câu hương hoa và cả dịch vụ đổi tiền. Gia đình các tư tế, con dâu con rễ của họ độc quyền khai thác dịch vụ này.
Vậy mà Chúa Giê-su lại dám xua đuổi họ không cho buôn bán trong khuôn viên Đền Thờ. Người còn thách thức: “Cứ phá huỷ Đền Thờ này đi, nội trong ba ngày tôi sẽ xây dựng lại.” Theo Gio-an, lời thách thức quyền bính của Chúa Giê-su có ý ám chỉ đến cái chết và sự phục sinh của Người ( Ga 2, 21 – 22 ). Nhưng giới lãnh đạo hiểu là đền thờ Giê-ru-sa-lem nên họ coi là sự xúc phạm Đền Thờ. Thách thức phá huỷ Đền Thờ, dẹp bỏ những phương tiện của lễ tế, quả thật là tội không thể tha thứ. Vì thế mà họ căm thù và tìm cách giết Người cho bằng được. Những người Pha-ri-sêu sống trong thế giới tách biệt, không chấp nhận dân ngoại, loại trừ người tội lỗi, giữ luật cách máy móc nô lệ. Còn Chúa Giê-su thì sống hoà mình giữa những người tội lỗi, đồng hành, đồng bàn ăn uống với họ, đến với dân ngoại. Người phê bình sự giả hình của người Pha-ri-sêu. Người lại còn không giữ luật ngày Sa-bát, vì đối với Người “Ngày Sa-bát đựoc lập ra vì con người, chứ không phải con người vì ngày Sa-bát” ( Mt 2, 27 ). Người còn xưng mình là Con Thiên Chúa ( Mt 26, 61; Mc 14, 58 ).
Trước bao nhiêu là “tội trạng” của Chúa Giê-su, Thượng Hội Đồng đã tuyên án. Nhưng họ không còn quyền lên án và xử tử bất cứ ai vì quyền đó thuộc quyền của toà án chính quyền bảo hộ. Vì thế họ phải nộp Chúa Giê-su cho Tổng Trấn Phi-la-tô. Theo Mác-cô và Mát-thêu thì Chúa Giê-su bị thẩm vấn về hai tội danh: một là Người đã xúc phạm đến Đền Thờ khi tuyên bố “Tôi sẽ phá huỷ Đền Thờ này, rồi nội trong ba ngày sẽ xây dựng lại” ( Mt 26, 61; Mc 14, 58 ); hai là tự xưng mình là Đấng Ki-tô Con Thiên Chúa ( Mt 26, 63; Mc 14, 61 ). Trong Tin Mừng theo Lu-ca chỉ thấy nói nói đến tội danh thứ hai ( Lc 22, 67 ).
Trong Tin Mừng theo Gio-an nói tới việc thượng tế hỏi Chúa Giê-su về các môn đệ và giáo huấn của Người ( Ga 18, 19 ). Họ tài tình khéo léo khi biến tội danh tôn giáo thành tội danh chính trị “Chúng tôi phát giác ra tên này xách động dân tộc chúng tôi, và ngăn cản dân chúng nộp thuế cho hoàng đế Xê-da, lại còn xưng mình là Mê-si-a, là vua nữa” ( Lc 23, 2 ). Tội xúi giục nổi loạn, tội ngăn cản dân nộp thuế cho nhà vua, tội xưng mình là vua. Cả ba tội đều đáng chết, không một chính quyền nào có thể dung tha. Vụ án Chúa Giê-su rõ ràng là vụ án tôn giáo chứ không phải là một vụ án chính trị, mặc dầu hình thức xử tử và tội danh được ghi trên đầu Chúa Giê-su là như thế. Người bị đóng đinh, theo luật Rô-ma và với tội danh là “Vua dân Do-thái” chứ không bị ném đá theo luật Do-thái và với tội danh Con Thiên Chúa. Chủ mưu trong vụ án là dân Do-thái, nhất là những người lãnh đạo của họ, Thượng Hội Đồng. Họ đã thành công, sung sướng mãn nguyện khi dẹp yên một chướng ngại lớn lao.
4. Tổng Trấn Phi-la-tô
Vì hèn nhát mà Phi-la-tô đã đổ máu người vô tội. Trách nhiệm chính trong cuộc xét xử đứng về mặt pháp lý là Phi-la-tô, ông ta ý thức rõ điều đó ( x. Ga 19, 10 ). Biết Chúa Giê-su vô tội mà vẫn kết án ( x. Ga 18, 38; 19, 4.6 ). Kẻ đại diện cho công lý lại chà đạp công lý. Phi-la-tô hèn nhát không dám tha vì sợ quần chúng đang cuồng nộ. Lo sợ nguy hiểm cho chức quyền của mình nên chủ trương thà bảo vệ chức quyền hơn bảo vệ công lý. Trước áp lực ghê ghớm của đám đông đang bị hàng tư tế xách động, Phi-la-tô đã chiều theo ý họ để giữ lấy cái ghế Tổng Trấn của mình. Ong đã kết án tử hình cho Chúa Giê-su, trao Người cho dân Do thái điệu lên đồi Gôngôtha để đóng đinh. Phi-la-tô rữa tay phân bua mình vô tội trong vụ án này ( Mt 27, 24 ).
5. Xin được sống yêu thương
Suy nghĩ về vài nhân vật, ít sự kiện trong cuộc Thương Khó của Chúa Giê-su, cũng đủ thấy con người hay thay lòng đổi dạ, đổi trắng thay đen dễ như trở bàn tay. Vì tham lam, vì bổng lộc cá nhân, vì lợi lộc đảng phái, vì quyền lợi giai cấp, con người ta không từ một thủ đoạn nào. Có khi còn bán rẻ lương tri để mua một chút vinh hoa trần thế.
Giữa Chúa Nhật Lễ Lá và Thứ Sáu Tuần Thánh có thể phản chiếu cả cuộc đời của người tín hữu. Hôm nay hoan hô, chúc tụng Chúa: vạn tuế, vạn tuế. Có thể ngày mai gào thét: đả đảo, hãy đóng đinh, hãy đóng đinh nó vào thập giá. Hôm nay yêu thương, ngày mai oán ghét. Hôm nay hân hoan, ngày mai buồn sầu. Hôm nay hiền hòa, ngày mai hung dữ. Hôm nay tin tưởng, ngày mai hoài nghi. Danh sách các mâu thuẫn giữa thiện và ác còn có thể tiếp tục nối dài.
Cuộc sống có nhiều tiêu cực hơn tích cực ? Con người làm khổ nhau nhiều hơn là làm đẹp lòng nhau ? Người ta xích mích, gây chia rẽ bất hòa nhiều hơn là xây dựng, yêu thương ? Tôn vinh Chúa ở trong Nhà Thờ nhưng có sống Tin Mừng trong cuộc đời không ?
Chúa Giê-su bị phản bội, bị hiểu lầm, bị ghen ghét, chịu kết án cách bất công để cứu nhân loại khỏi án phạt đời đời. Người đã chết để đền tội, để chuộc tội, để gánh tội, để cứu độ con người. Người cho chúng ta được thông phần cuộc sống của Đấng “là Đường, là Sự Thật, và là Sự Sống”, cho chúng ta “được sống dồi dào”.
Con người được dựng nên để sống và sống để yêu Chúa và để yêu nhau. Thiên Chúa là tình yêu nên đã sáng tạo muôn loài, đã tạo dựng và cứu chuộc con người. Nhập Thể và Cứu Chuộc là mầu nhiệm của tình yêu. Chúa Giê-su đã chấp nhận đau thương để đem lại yêu thương cho con người. Người đã biến đổi viên mãn của đau thương thành viên mãn của yêu thương qua cuộc khổ nạn ( x. 1 Cr 15, 26 . 54; Dt 2, 14 ), để từ trong cái chết vì tình yêu, sự sống vươn lên tươi đẹp như một mùa lúa mới ( Ga 12, 24 ).
Xin Chúa cho chúng con luôn sống yêu thương, biết đem Tin Mừng bình an đi xây dựng cuộc đời.
 Lm. NGUYỄN HỮU AN, Giáo Phận Phan Thiết

 

Thứ 5-69: CUỘC KHỔ NẠN VÀ PHỤC SINH

Lm Giacobe Tạ Chúc
 

Ba ngày đầu Tháng 4 năm nay là Tam Nhật Vượt Qua với Đại Lễ Phục Sinh-chóp đỉnh của năm Thứ 5-69

Ba ngày đầu Tháng 4 năm nay là Tam Nhật Vượt Qua với Đại Lễ Phục Sinh-chóp đỉnh của năm phụng vụ. Tam Nhật Vượt Qua là cuộc khổ nạn và phục sinh của Chúa Giêsu-nguồn phát sinh ơn cứu độ cho chúng ta. Nhịp sống đạo tháng này mời gọi mọi người đi vào mầu nhiệm cao cả ấy.

Nói đến cuộc đời của Đức Giê-su, những người tin hay không tin Ngài đều có thể chấp nhận cái chết của Chúa Giê-su là một điều hết sức thật. Nhưng sẽ là thiếu xót nếu không nói đến sự Phục sinh khi nhắc đến cuộc khổ nạn. Sự sống lại của Đức Giê-su là trung tâm và là nền tảng của Ki-tô giáo. Như Thánh Phao-lô Tông đồ đã viết trong thư thứ nhất gởi Giáo đoàn Cô-rin-tô: “ Nếu Đức Ki-tô đã không chỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng” và “ những người đã chết cũng tiêu vong”(1Cr15,14.17 ).

Khổ nạn và Phục sinh là hai đề tài gây nhiều tranh cãi cho các nhà Thần học và cho tất cả những ai muốn khám phá con người Giê-su Nazareth. Riêng với những tín hữu Công giáo, thì Thập Giá là nguồn ơn cứu độ và Phục sinh là hệ quả của ơn ban ấy.

Cuộc Khổ nạn của Chúa Giêsu
Có nhiều lý do đưa đến cái chết của Chúa Giê-su. Thế nhưng nổi lên trên hết và dễ dàng nhìn thấy được là Đức Giêsu đã chấp nhận đau khổ và chết một cách nhục nhã:
Vì trung tín với Chúa Cha
Vì liên đới với các tội nhân
Vì liên đới với những người nghèo
Vì trung tín với Chúa Cha
Tất cả cuộc đời của Chúa Giêsu, sứ điệp và hoạt động đều quy hướng về Thiên Chúa. Ngài hằng vâng phục Cha trong mọi sự. Chính sự vâng phục này đã đưa Ngài đến cái chết, và sự trút bỏ tất cả vinh quang và quyền năng của mình một cách hiện sinh và cụ thể. Một bài thánh ca lâu đời mà Phao-lô còn giữ lại có đoạn viết:
“ Đức Giêsu Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa
Mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì
Địa vị ngang hàng với Thiên Chúa
Nhưng Người đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang...
Người lại còn hạ mình vâng lời,
Cho đến nỗi bằng lòng chịu chết,
Chết trên cây Thập Tự” (Pl 2, 6-8 )

Vì liên đới với các tội nhân
Đức Giêsu đã chết vì trung tín với Thiên Chúa: điều đó cũng có nghĩa là Người trung tín với khuôn mặt của Thiên Chúa mà Người rao giảng. Đó là kết luận mà chúng ta thấy được khi nhìn vào thái độ của Chúa Giêsu đối với các tội nhân và sự chống đối đa dạng mà Người gây ra chung quanh mình. Bằng cách sống cũng như bằng lời rao giảng, Đức Giêsu tuyên bố rằng Thiên Chúa, Đấng sắp đến cứu độ, sẽ không loại bỏ một ai; chính Thiên Chúa đang đi tìm kiếm những người tội lỗi với tấm lòng đầy nhân ái. Ấy thế, nhưng lại chính tội lỗi của con người đưa Đức Giêsu đến cái chết: “ Này Con người bị nộp vào tay phường tội lỗi” (Mc 14,41).

Thánh Phê-rô Tông đồ, trong thứ thứ nhất của mình cũng đã khẳng định:
“ Người không hề phạm tội;
Chẳng ai thấy miệng Người nói một lời gian dối,
Bị nguyền rủa, Người không nguyền rủa lại,
Đau khổ mà chẳng ngăm đe;
Nhưng một bề phó thác cho Đấng xét xử công bình,
Tội lỗi chúng ta,
Chính Người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây Thập giá” (1 Pr 2, 22-24 ).

Vì liên đới với người nghèo
Khi chấp nhận một cái chết của kẻ hèn mọn nhất, giữa những người trộm cướp, những người mình trần, thân trụi. Đức Giêsu đã đồng hóa mình với tầng lớp những người nghèo đói, cô thân cô thế, những người không có quyền lợi và không được ai bênh đỡ. Người hoàn toàn trút bỏ mọi vinh quang, và tự nguyện chết treo trên Thập Tự giá, một hình phạt dành riêng cho những người nô lệ. Trong cuộc đời công khai rao giảng Nước Trời, những người đau khổ, đói nghèo và bệnh tật là đối tượng của tình liên đới mà Đức Giêsu hằng ưu ái, khi dành tất cả tình yêu thương. Nơi con người và trong định mạng của Đức Giêsu, chúng ta thấy khuôn mặt của Thiên Chúa qua tình yêu đồng cảm với những nỗi xâu xé của những người anh em đang bị hành hạ do lòng độc ác và tàn bạo của những người anh em đồng loại.

Và sự Phục sinh của Ngài
“Sống lại” là một trong những ý niệm cơ bản của khoa Thần học. Như đã trình bày trong phần mở đầu, sự sống lại của Đức Giêsu là trung tâm và là nền tảng của Ki-tô giáo ( 1Cr 15, 14.17). Niềm tin vào Đức Giêsu sống lại và lòng mong đợi ngày kẻ chết sống lại ăn sâu vào trong những lời tuyên tín của Giáo hội.

Ngay những thế kỷ đầu, Giáo hội sơ khai chỉ cử hành Mầu nhiệm Phục sinh. Các bài Kerygma của các Tông đồ chỉ xoáy vào một đề tài cơ bản: Đức Ki-tô đã Phục sinh (Cv 2, 22-40; 3, 12-16; 4, 8-12; 5,29-32...). Lời rao giảng của các Tông đồ nhấn mạnh tới việc Kinh Thánh được ứng nghiệm: Đấng Mêsia đã chiến thắng sự chết. Phê-rô và các Tông đồ tuyên bố họ là những chứng nhân của Tin Mừng Phục sinh. Tin mừng nhất lãm và Tin mừng của Gioan đều thuật lại sự kiện Ngôi mộ trống và những lần hiện ra của Chúa Giêsu, sau khi từ trong cõi chết.

Sống Mầu nhiệm Vượt qua là sống chính sự chết của Đức Giêsu trên đỉnh cao Thập Giá. Còn sống Mầu nhiệm Phục sinh cùa Ngài là sống niềm hy vọng hạnh phúc đời đời trong Nước trời. Con người của mọi thời vẫn trải qua sự sống và cái chết. Nhưng thử hỏi có mấy ai dám tin và đón nhận cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu? Họa chăng một người cùng chịu đóng đinh với Chúa Giêsu, khi anh thưa lên rằng: “ Thưa Ngài, khi vào nước Trời xin nhớ đến tôi”. Và người nói với anh ta: “ Ta bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với Ta trên thiên đàng” (Lc 23, 42-43).

 

Thứ 5-70: RỬA CHÂN

Rửa chân chỉ là một nghi thức trong Thánh lễ Tiệc Ly của ngày thứ năm Tuần Thánh. Thế nhưng, Thứ 5-70

Rửa chân chỉ là một nghi thức trong Thánh lễ Tiệc Ly của ngày thứ năm Tuần Thánh. Thế nhưng, với việc cử hành này, đã nói lên biết bao điều gởi trao của Chúa Giê-su, trước cuộc Khổ nạn của Ngài. Chúa Giê-su gởi trao cho các môn đệ ba điều:
Gởi trao tình yêu
Gởi trao sự phục vụ khiêm tốn
Gởi trao niềm hy vọng, hạnh phúc Nước trời.
Gởi trao tình yêu
Tin Mừng của Gioan cho ta thấy rõ điều này là: “Trước lễ Vượt Qua, Chúa Giê-su biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc vế mình còn ở thế gian, và Người vẫn yêu thương họ đến cùng”(Ga 13, 1). Chỉ trong một bối cảnh hết sức đặc biệt này mà các môn đệ có thể nhận ra Thầy yêu thương họ như thế nào. Chúa Giê-su biết cuộc ra đi của Ngài, nên đây là một bữa ăn cuối cùng, bữa ăn mang đậm nét biệt ly. Rồi đây, giữa dòng đời đầy phong ba, bão nổi, các môn đệ không còn có Thầy bên cạnh nữa. Một điều quan trọng không thể thiếu để các học trò có thể đứng vững đó là: “Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em”(Ga 15, 12). Vâng chỉ với tình yêu cháy bỏng và mãnh liệt của các môn đệ mới có thể là bằng chứng sống động của sự hiện diện của Thiên Chúa trải qua dòng thời gian. Từ gởi trao lòng mến Chúa Giê-su thực hiện một cử chỉ mà xem ra ít có người thủ lãnh, người lãnh đạo nào cũng có thể làm: Rửa chân cho các môn đệ.

Gởi trao sự phục vụ khiêm tốn
Ông Phê-rô kịch liệt phản đối: Vậy Người đến chỗ ông Si-mon Phê-rô, ông liền thưa với Người: “Thưa Thầy! Thầy mà lại rửa chân cho con sao?”(Ga 13, 6). Làm sao con có thể chấp nhận được khi trong con là người tội lỗi, còn Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa. Suy nghĩ cũa Phê-rô hoàn toàn có lý và có tình. Không thể với con người nhưng với Thiên Chúa là điều có thể. Từ trong vinh quang và quyền năng không thể thấu đạt, ấy vậy mà Thiên Chúa đành bỏ tất cả vinh hoa phú quý để đến với con người, trong phận kiếp là một người tôi tớ. Quả vậy, Chúa Giê-su vẫn biết các môn đệ cững chưa thể thoát ra được những danh vọng, quyền lực và lạc thú trần gian đang cám dỗ họ. Nên đây là một hành động hết sức có ý nghĩa để từ đây trong các môn đệ, ai muốn làm đầu, thì hãy làm người phục vụ anh chị em mình. Sau khi đã rửa chân cho các môn đệ, chúa Giê-su bảo họ: “Anh em gọi Thầy là Thầy và là Chúa, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy và là Chúa. Vậy nếu Thầy là Chúa là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” (Ga 13, 12-14).
Và sau cùng, Chúa Giê-su gởi trao cho họ:

Niềm hy vọng, hạnh phúc nước Trời.
Trước sự ngỡ ngàng và đầy hoang mang của các môn đệ, Chúa Giê-su đã trấn an họ: “Thầy nói với anh em điều đó ngay từ lúc này, để khi sự việc xảy ra, anh em tin là Thầy Hằng Hữu” (Ga 13, 19). Hay ở những đoạn tiếp theo trong diễn từ ly biệt, chúng ta có thể thấy rất rõ Chúa Giê-su đang chuẩn bị hạnh phúc Nước Trời cho những ai yêu mến và tuân giữ lời của Ngài: “Lòng anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha của Thầy có nhiều chỗ ở; nếu không Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó” (Ga 14, 1-3).

Cử chỉ của Chúa Giê-su vẫn đang được đón nhận và trao ban trong cuộc sống hằng ngày của các môn đệ, những người đi theo Chúa. Chỉ với tình yêu thương, con người mới có thể chấp nhận tha nhân như là đối tượng để quên mình, hy sinh phục vụ, và chỉ trong niềm tin vào ơn cứu rỗi, thì mỗi ngưới mới có thể rửa chân cho nhau trong tình yêu cao độ nhất.
Lm Giacobe Tạ Chúc

 

Thứ 5-71: LINH MỤC, DẤU CHỈ CỦA YÊU THƯƠNG VÀ PHỤC VỤ

Lm. Micae Hoàng Đô Đốc
 

Thứ Năm Tuần Thánh, toàn thể Giáo Hội Công Giáo kỷ niệm lại bữa Tiệc Ly của Đức Giêsu cùng Thứ 5-71

Thứ Năm Tuần Thánh, toàn thể Giáo Hội Công Giáo kỷ niệm lại bữa Tiệc Ly của Đức Giêsu cùng với các tông đồ, vì cũng ngày này năm xưa trong bữa ăn tối cuối cùng với các tông đồ trước khi đi vào cuộc khổ hình, Đức Giêsu đã lập Bí tích Thánh Thể để làm thần lương nuôi dưỡng người Kitô hữu. Ngài cũng lập Bí tích Truyền Chức Thánh, để thông ban chức linh mục thượng phẩm đời đời cho một số nam nhân được tuyển chọn, tiếp nối sứ mạng của Đức Giêsu là đem ơn Cứu Độ cho nhân loại. Trong thánh lễ chiều hôm nay xin mời cộng đoàn cùng suy tư về đề tài: Linh mục, dấu chỉ của yêu thương và phục vụ.

Kính thưa cộng đoàn,
Vào thế kỷ 19, bên Pháp có một linh mục nổi tiếng tên là Gioan Maria Vianney, cha sở họ Ars. Ngày nay trên lộ trình hành hương về xứ Ars, tại một ngã ba đường người ta đã dựng một bức tượng ghi dấu cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa ngài, một cha sở mới về nhận xứ với một chú bé đang đứng ở bên vệ đường cùng với câu nói nổi tiếng: “Con hãy chỉ cho cha đường tới nhà thờ, cha sẽ chỉ cho con đường lên thiên đàng”. Bằng cách nào mà cha Vianney đã chỉ không những cho một chú bé đang tuổi mê chơi mà ngài còn chỉ cho cả giáo dân xứ Ars và rồi sau đó chỉ dẫn cho tất cả những ai đến với ngài đường lên thiên đàng. Cha Vianney đã dùng nhiều phương cách, nhưng nhất là qua hai bí tích Giải Tội và Thánh Thể, cha đã đem nhiều linh hồn về cho Chúa. Tiểu sử của ngài đã ghi lại, mỗi ngày cha Vianney đã giải tội khoảng 18 tiếng đồng hồ và mỗi buổi sáng, ngài đều dọn mình dâng lễ rất sốt sắng. Một hôm có một giáo dân từ nơi xa đến dự lễ của cha Vianney, khi ra về, ông ta đã phải thốt lên: “Tôi đã thấy Thiên Chúa trong một con người”.
Hình ảnh và mẫu gương phục vụ đoàn chiên của cha Gioan Maria Vianney chính là hình ảnh của Đức Giêsu, linh mục thượng phẩm đời đời, là Đấng đã lập nên Bí tích Thánh Thể và Bí tích Truyền Chức Thánh mà chúng ta kỷ niệm lại trong buổi chiều hôm nay. Với ba bài Kinh Thánh mà chúng ta vừa nghe, đã trình bày một cách đầy đủ về ý nghĩa và sự liên kết mật thiết của hai bí tích quan trọng này đối với người Kitô hữu.
Bài đọc thứ nhất được trích trong Sách Xuất Hành, đã tường thuật về bữa ăn Vượt Qua của người Do Thái trước khi xuất hành từ Ai Cập trở về Đất Hứa. Theo lệnh của ông Môisen, mỗi nhà phải giết một con chiên đực vào lúc xế chiều, lấy máu bôi lên khung cửa, còn thịt sẽ nướng lên và ăn ngay trong đêm ấy với bánh không men và rau đắng. Mọi người phải ăn vội vã. Đêm ấy Thiên Thần Chúa sẽ rảo qua khắp đất nước Ai cập, sẽ sát hại các con đầu lòng, còn dấu máu chiên bôi lên cửa nhà người Do Thái sẽ là dấu hiệu để họ được cứu thoát. Cũng trong đêm ấy vua Pharaô đã cho phép người Do Thái trở về Đất Hứa.
Bài đọc thứ hai trích từ thư thứ 2 của thánh Phaolô Tông đồ gửi cho tín hữu Côrintô, tông đồ Phaolô đã nhắc lại cho những người tín hữu biết về bữa ăn sau cùng của Đức Giêsu, một bữa ăn “Vượt Qua” của thời Tân Ước: “Trong đêm bị nộp, Chúa Giêsu đã cầm lấy bánh, dâng lời Tạ ơn, rồi bẻ ra và nói: “Đây là Mình Thầy, hiến dâng vì anh em… Cũng thế, sau bữa ăn, Người cầm lấy chén rượu và nói: “Chén này là Giao Ước mới, lập bằng Máu Thầy; mỗi khi uống, anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy” (2Cr 11, 23.24). Như thế với những lời nói và hành động của Đức Giêsu trong bữa tiệc ly, Chúa đã lập nên Bí tích Thánh Thể để nuôi dưỡng nhân loại bằng chính Mình Máu Thánh của Ngài. Và với lệnh truyền: “Anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy”, Đức Giêsu đã lập nên Bí tích Truyền Chức Thánh để có những con người tiếp nối sứ vụ phục vụ đoàn chiên như chính mẫu gương của Chúa.
Bài Tin Mừng qua lời tường thuật của thánh Gioan tông đồ, người môn đệ yêu dấu của Đức Giêsu, đã kể lại giờ phút sau cùng của Chúa tại nhà Tiệc Ly, trước khi Chúa đi vào vườn cây dầu để bắt đầu hành trình thập giá. Trong bữa ăn tối này, Đức Giêsu đã thực hiện một việc rất ý nghĩa cho các tông đồ để nhắc nhở các ông về bổn phận khi làm người phục vụ đoàn chiên, Chúa đã lấy nước rửa chân cho các ông: “Trong bữa ăn, Người đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, và lấy khăn mà thắt lưng. Rồi Đức Giêsu đổ nước vào chậu và bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau” (Ga 13, 4-5). Hành động phục vụ của Đức Giêsu làm cho các tông đồ ngỡ ngàng: rửa chân là công việc của người đầy tớ phải phục vụ ông chủ, thế mà chính Chúa lại đi rửa chân cho các môn đệ. Sau khi đã hoàn tất công việc rửa chân, Đức Giêsu đã nói với các ông: “Anh em có hiểu biết việc Thầy vừa mới làm cho anh em không? Anh em gọi Thầy là Thầy, là Chúa, điều đó phải lắm, vì quả thật Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau” (Ga 13, 13-14). Đây là một lệnh truyền và cũng là một di chúc của Đức Giêsu để lại cho các tông đồ phải thực hiện.
Thư Mục vụ của HĐGMVN năm 2006 đã lấy chủ đề “Sống Đạo Hôm Nay” để làm đường hướng mục vụ cho toàn thể Giáo Hội Công Giáo Việt Nam. Trong thư mục vụ này, các vị chủ chăn đã kêu gọi mọi thành phần dân Chúa hãy thể hiện việc sống đạo qua tinh thần yêu thương và phục vụ. Nhắc đến vai trò của linh mục và tu sĩ, các vị chủ chăn đã nhắn nhủ: “Chúng tôi kêu gọi anh chị em hãy nỗ lực và kiên trì dấn thân, để vừa xoa dịu nỗi khổ đau của anh chị em đồng loại, vừa làm cho Chúa Giêsu thực sự hiện diện trong lòng xã hội chúng ta đang sống” (TMV số 8). Để việc phục vụ được thể hiện một cách kiên trì và rõ nét thì đòi hỏi những người dấn thân phải có tinh thần yêu thương như chính Đức Giêsu, qua việc Chúa đã rửa chân cho các tông đồ mà cộng đoàn chúng ta sẽ chứng kiến lại việc rửa chân này ngay sau bài chia sẻ.
Kính thưa cộng đoàn,
Con đường về trời mà cha thánh Gioan Maria Vianney đã chỉ cho chú bé làng Ars khi xưa, chính là con đường mà Đức Giêsu đã thể hiện trong cuộc sống trên trần gian, đặc biệt là trong nhưng giờ phút sau cùng của cuộc đời của Chúa. Chính Chúa đã lập Bí tích Thánh Thể để vừa làm thần lương nuôi dưỡng những ai đi trên con đường nên thánh và cũng để ở với nhân loại cho đến ngày tận thế. Và để có những người hướng đạo, những người dẫn đường, Đức Giêsu đã lập Bí tích Truyền Chức thánh, nhờ đó Giáo Hội mới có những nam nhân được tuyển chọn, tiếp nối công việc yêu thương và phục vụ như chính Chúa mời gọi. Vì thế cuộc sống của người linh mục, những người đã được thông ban thiên chức linh mục, phải là dấu chỉ của yêu thương và phục vụ nhân loại giữa lòng thế giới hôm nay.
Tuy nhiên thực tế cuộc sống hằng ngày, là những linh mục, chúng tôi ý thức rằng chính bản thân còn rất nhiều những yếu đuối và bất toàn. Thiên chức linh mục thì cao trọng, nhưng con người được trao ban thì lại quá tầm thường. Do đó chúng tôi rất cần đến những lời cầu nguyện và sự nâng đỡ của anh chị em, nhờ đó thiên chức mà chúng tôi được thông ban trong ngày thụ phong linh mục, sẽ là lời mời gọi để chúng tôi nên thánh và dẫn dắt các linh hồn tìm về nẻo ngay đường ngay. Xin cám ơn cộng đoàn về những sự nâng đỡ anh em linh mục chúng tôi đang phục vụ tại giáo xứ trong thời gian qua. Những sự nâng đỡ rất quý báu về cả tinh thần lẫn vật chất, nhờ đó chúng tôi mới có thể chu toàn việc phục vụ trong yêu thương.
Nguyện xin Đức Giêsu, Linh Mục Thượng Phẩm đời đời, ban cho mỗi người tín hữu trong cộng đoàn giáo xứ thân yêu của chúng ta muôn hồng phúc trong Tam Nhật Thánh này, nhờ đó chúng ta sẽ xứng đáng hơn với hồng ân Phục Sinh sắp đến. Amen.
(Tỉnh Dòng Thừa Sai Đức Tin Việt Nam)
Lm. Micae Hoàng Đô Đốc

 

Thứ 5-72: XEM TRỜI GIẢI NGHĨA YÊU

Lm. Ignatiô Trần Ngà
 

Người ta đề cập rất nhiều về tình yêu, phân tích tình yêu dưới nhiều góc độ, tốn nhiều giấy mực để Thứ 5-72

Người ta đề cập rất nhiều về tình yêu, phân tích tình yêu dưới nhiều góc độ, tốn nhiều giấy mực để lý giải tình yêu… nhưng có lẽ rất ít người hiểu cho đúng tình yêu là gì.
Ngay cả thi sĩ Xuân Diệu, người được xem là nhà thơ của tình yêu, có những cảm nhận rất tinh tế về tình yêu và tâm lý con người, cũng thú nhận là không thể giải nghĩa được tình yêu. Ông viết:
“Làm sao giải nghĩa được tình yêu…
Có nghĩa gì đâu, một buổi chiều
Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt…”
Và khi con người không lý giải được tình yêu thì có lẽ phải viện tới Trời. Vì thế, Hàn Mặc Tử, một nhà thơ công giáo trứ danh, khuyên chúng ta -trong bài “Đà Lạt trăng mờ” - như sau:
“Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều,
Để nghe dưới đáy, nước hồ reo
Để nghe tơ liễu run trong gió
Và để xem Trời giải nghĩa yêu.”
“Và để xem Trời giải nghĩa yêu!” Đúng vậy, Thiên Chúa là Tình Yêu. Tình Yêu là bản chất của Thiên Chúa nên chỉ có Thiên Chúa mới biết thế nào là yêu và chỉ có Người mới có đủ thẩm quyền để “giải nghĩa yêu.”
Chúa Giê-su “giải nghĩa yêu” khi Người ngỏ lời với ông Nicôđêmô: “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một Người để tất cả những ai tin vào Con của Người thì không phải hư mất nhưng được sống đời đời” (Ga 3,16).
Chúa Giê-su cũng đã “giải nghĩa yêu” khi Người nói: “Không có tình yêu nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu mình.” (Ga 15, 13)
Thế là ý nghĩa của tình yêu giờ đây đã được sáng tỏ: yêu thương là trao ban, là hy sinh, là cống hiến, là cho đi… Thiên Chúa Cha yêu thương thế gian nên đã trao ban Người Con Một cho thế gian; Chúa Giê-su đã yêu thương thế gian nên Ngài đã hy sinh tính mạng cho thế gian.
Nhưng Chúa Giê-su không chỉ giải nghĩa yêu bằng những lời hoa mĩ. Người thể hiện lòng yêu thương qua cuộc sống. Tin Mừng hôm nay cho biết rằng: “Người vốn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng… Người đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, và lấy khăn thắt lưng. Rồi Đức Giê-su đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau.” (Ga 13, 1.4-5).
Thế mới hiểu rằng:
Yêu là hạ mình làm tôi tớ người khác, là “đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau.”
Yêu là bẻ thân mình làm bánh trao ban cho bạn: “Nầy là Mình Thầy sẽ bị nộp vì các con”
Yêu là rót máu mình như rượu hiến ban cho người khác được sống còn: “Nầy là Máu Thầy sẽ đổ ra cho các con và nhiều người được tha tội.”
Yêu là nộp mình chết thay cho người mình yêu thương được sống: “Thà một người chết thay cho dân còn hơn là để toàn dân phải bị tiêu diệt” (Ga 11, 50).
Lạy Chúa Giê-su,
Thế ra lâu nay chúng con đã ngộ nhận rất nhiều về tình yêu.
Chúng con ngỡ rằng yêu là say mê, là khai thác, là chiếm đoạt đối tượng mình yêu mến.
Hôm nay, nhờ bài học yêu thương Chúa dạy, chúng con mới hiểu rằng tình yêu đúng nghĩa là hy sinh, là quên mình để phục vụ, là cống hiến không ngừng cho tha nhân được hạnh phúc; và câu tỏ tình hay nhất, chân thật nhất, ý nghĩa nhất trên cõi đời nầy là:
“Nầy là Mình Thầy sẽ bị nộp vì các con… Nầy là chén Máu Thầy… sẽ đổ ra cho các con và nhiều người được tha tội…”.
Và hôm nay, khi mời gọi “các con hãy làm việc nầy mà nhớ đến Thầy, Chúa tha thiết kêu mời chúng con hãy sống yêu thương theo cách yêu thương của Chúa; Chúa muốn chúng con nói lời yêu thương theo cách thức Chúa đã tỏ bày, nghĩa là:
“Nầy là thời giờ của tôi, sức lực tôi, tim óc tôi, xin hy sinh vì bạn.
Nầy là thân xác tôi, trọn cuộc sống tôi, xin cống hiến cho cha mẹ, cho người bạn đời, cho con cái và cho tha nhân.”
Lm. Ignatiô Trần Ngà

 

Thứ 5-73: KHI CHÚA RỮA CHÂN CHO CON NGƯỜI

Lm. JB Nguyễn Quốc Tuấn
1. Dấu ấn Tiệc Ly
 

Nhiều người trong chúng ta khi nhắc đến “Tiệc Ly” (Bữa tiệc cuối cùng của Chúa Giêsu với các Thứ 5-73

Nhiều người trong chúng ta khi nhắc đến “Tiệc Ly” (Bữa tiệc cuối cùng của Chúa Giêsu với các môn đệ Người), vẫn nghĩ đó như một bữa tiệc giã biệt huynh – đệ thông thường. Đối với người Kitô hữu, ý nghĩa của “Tiệc Ly” không thể dừng lại ở đó. Nét bao trùm toàn khung cảnh của BỮA TIỆC CUỐI CÙNG giữa Đức Giêsu và các môn đệ chính là thông điệp Yêu Thương – Phục Vụ. Đây là trọng tâm của Tin Mừng Ga (13, 1-15), mời gọi chúng ta đồng hành với Đức KiTô trong yêu thương phục vụ muôn người.
Đức Giêsu đã mở ra cho nhân loại linh đạo tình thương kỳ diệu khi Ngài làm gương cúi xuống rửa chân cho các môn đệ trước lúc giã biệt các ông để đi vào cuộc Thương Khó.
“…trong một bữa ăn, Người đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, và lấy khăn mà thắt lưng. Rồi Người đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau” (Ga 13, 4 – 5).
Đấng tự biết mình là Vua cả muôn loài lại tự hạ làm một việc quá đỗi tầm thường của người tôi tớ. Lẽ ra, khi biết mọi sự đã được giao phó trong tay Ngài, giờ Ngài được tôn vinh đã cận kề, Chúa Giêsu đã ngẩng cao đầu tự hào về vị thế của mình ? Nhưng không, chính trong thời khắc nhạy cảm ấy, Ngài lại cúi mình rửa chân cho các môn đệ. Cử chỉ khiêm hạ của Chúa Giêsu được khởi phát từ tấm lòng bao dung, nhân hậu, giàu tinh thương tự hiến cho đối tượng đã được Chúa Cha trao phó.
“Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng” (Ga 13, 1b).
Lẽ ra, trước lúc bước vào khổ nạn, Chúa Giêsu đã căm hận, thù ghét những kẻ bên cạnh mình, khi biết họ đang ra tay phản bội, chối bỏ Ngài cách nghiệt ngã ? Không, giữa lúc đắng cay dày xé tâm can ấy, “lòng Ngài tuôn trào một một tình thương cao cả hơn bao giờ hết. Điều lạ lùng khiến chúng ta phải ngạc nhiên, đó là loài người càng gây tổn hại cho Chúa Giêsu bao nhiêu, Ngài lại càng thương yêu họ bấy nhiêu. Tức giận với kẻ làm sai, cay cú với kẻ sỉ nhục, làm tổn thương ta, đó là điều hết sức dễ dàng và tự nhiên. Nhưng Chúa Giêsu đã đối phó với sự tổn thương lớn nhất cùng sự bất trung tệ bạc nhất bằng thái độ khiêm hạ nhất và bằng tình yêu cao cả hơn hết” (William Barclay, Tin Mừng Theo Thánh Gioan)
Hôm nay, chúng ta có thể ngạc nhiên như Si-mon Phêrô xưa trước hành động khiêm hạ tột bậc của Chúa Giêsu. Chúng ta có thể chất vất về một “Thiên Chúa ẩn mình” lại có thể làm một việc hèn hạ như thế ? Chúng ta có thể nghi ngờ về quyền năng của Ngài trước sự dữ, sự ác…
Chính cuộc khổ nạn và Phục Sinh của Đức Kitô là câu trả lời thuyết phục nhất cho chúng ta.
2. Lời Chúa mời gọi tôi.
Giữa bộn bề cuộc sống, giữa cơn ác mộng của quyền lực, danh vọng, Chúa vẫn đang mời gọi tôi làm người phục vụ anh em:
“…Vậy nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau” (Ga 13, 14)
Hành động cao cả của Chúa Giêsu khiến tôi phải suy nghĩ. Nhiều khi tôi vẫn viển vông nghĩ về quyền cao, chức trọng, nghĩ về những chiếc ghế danh dự với ngàn vạn lời chúc vinh nồng nhiệt, nhưng tôi lại rùng mình sợ hãi khi nghĩ đến hai từ “phục vụ” đúng nghĩa.
Tôi có thể vui vẻ cúi xuống xúc nhát đất đầu tiên trong ngày khởi công một công trình lớn trước ống kính máy quay. Tôi có thể đĩnh đạc đi dưới trời mưa bão với danh nghĩa “thăm hỏi đồng bào” để có được những thước phim truyền hình ấn tượng. Nhưng tôi lại co mình nhát đảm khi được mời vào phục vụ tình nguyện trong những trung tâm có người mắc bệnh lây nhiễm.
Tôi thích được dõng dạc nói những lời hay ý đẹp trước đông đảo công chúng, nhưng lại ẩn mình, sợ phải đặt chân đến những nơi mà công lý, sự thật đang bị trấn áp, để bênh vực cho những người vô tội thấp cổ bé miệng…
Quả thực, tôi thích được người ta “rửa chân” mình, nhưng lại sợ và hoàn toàn không muốn “rửa chân” người.
Trước cám dỗ về địa vị, danh giá, quyền lợi của riêng mình, bức tranh Đức Giêsu – Con Chúa “rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn mà lau” (Ga 13, 5b) thực sự đã lay động tôi.
Gương khiêm hạ của Chúa Giêsu đã dạy cho tôi bài học quý về sự cao trọng của phục vụ. Nó chỉ thực sự thành tựu nơi tôi khi tôi biết lắng nghe lời mời gọi của Tin Mừng với tâm tình và hành động của người môn đệ đã được Chúa Giêsu thương yêu và biết phục vụ như Người.
Lm. JB Nguyễn Quốc Tuấn

 

Thứ 5-74: ĐỨC KITÔ ĐÃ CỨU ĐỘ CHÚNG TA ĐIỀU ĐÓ NGHĨA LÀ GÌ

Lm. Nguyễn Hữu Thy
 

Chúng ta đang sống Tuần Thánh, tuần lễ trọng đại nhất trong năm đối với đời sống Kitô hữu: Đức Thứ 5-74

Chúng ta đang sống Tuần Thánh, tuần lễ trọng đại nhất trong năm đối với đời sống Kitô hữu: Đức Kitô đã tự hiến thân chấp nhận cuộc khổ nạn và cái chết đau thương trên thập giá để cứu độ chúng ta, hầu cho ta khỏi bị hư mất đời đời, nhưng được sống trong hạnh phúc vĩnh cửu. Vậy, chúng ta thử tìm hiểu tổng thể cuộc diễn biến đó có ý nghĩa gì.
1. Phải chăng từ „cứu độ“ hay „cứu rỗi“ là một từ ngữ xa lạ? Suốt trong các bản văn phụng vụ chúng ta luôn gặp đi gặp lại từ „cứu độ“, „cứu chuộc“, hay „cứu rỗi“. Trong Mùa Vọng, chúng ta nói đến sự chờ đợi Đấng Cứu Thế hay Đấng Cứu Độ và trong Mùa Chay chúng ta lại đề cập tới mầu nhiệm cứu độ, sự cứu chuộc nhân loại bằng giá máu của chính Con Thiên Chúa.
Nhưng ở đây, chúng ta cũng không nên quên rằng ngày nay trong ngôn ngữ trao đổi hằng ngày, những từ ngữ thường quen thuộc trong phụng vụ đã bị lạm dụng và đã bị làm sai lạc ý nghĩa nguyên thủy của chúng và gán cho chúng những ý nghĩa mới, nhưng chúng ta lại không để ý. Ví dụ: từ „cứu rỗi“ cũng như từ „tội lỗi“ mà chúng ta thường nghe trong khi cử hành Thánh Lễ: „Lạy Chiên Thiên Chúa, Đấng gánh tội trần gian“, hay: „Đây là chén máu Ta, máu Tân Ước vĩnh cửu, sẽ đổ ra cho các con và nhiều người được tha tội“. Đúng thế, ý nghĩa tôn giáo của từ „tội lỗi“ đã bị biến mất, khi người ta cho rằng một người phụ nữ đã lỡ phạm phải một tội khó lòng thông cảm được là đã „làm hại đến vóc dáng mảnh mai“ của mình, vì cô đã ăn uống quá nhiều, hay: một người lái xe đã phạm tội giao thông vì đã lái quá nhanh, vì thế bằng lái của anh bị cảnh sát giao thông bấm lỗ trừ điểm, hay: một người phạm tội trốn thuê, nên bị ty thuế vụ phạt nặng, v.v... Trong khi đó, ý nghĩa của tội lỗi trước hết phải được hiểu là thái độ con người chối từ hay chống đối Thiên Chúa.
Phải chăng chúng ta, những con người tân tiến ngày nay, còn cảm nhận được rằng mình là những kẻ cần đến sự tha thứ tội lỗi và được cứu rỗi? Phải chăng tất cả chúng ta có thể xác tín cho rằng mình đang sống một cách đàng hoàng và đúng đắn, mặc dù không ít người trong chúng ta luôn đinh ninh rằng nếu vì tôi mà thôi thì Đức Kitô không cần phải chịu chết một cách đau thương như thế, có lẽ quá lắm chỉ vì những người khác, những người đang sống trong tội lỗi nặng nề mà thôi?
Nếu vậy, chúng ta cần tự hỏi mình: „Cứu rỗi“ nghĩa là gì? Và: Phải chăng tôi cũng cần phải được cứu rỗi?
Trong Thánh Kinh, sự bất khả cứu rỗi hay bất khả cứu sống của con người đã được diễn tả bằng nhiều từ ngữ và bằng nhiều hình ảnh khác nhau: chẳng hạn con người cảm nhận được sự bất khả cứu thoát của mình trong cơn đói khát, trong cảnh nô lệ, bệnh tật hay trước sự chết. Tuy nhiên, sự cùng cực về tinh thần và tâm linh còn chua xót, còn đau thương và còn giày vò lương tâm con người hơn sự cùng cực về thể xác bội phần, như: tâm trạng triền miên lo lắng sợ hãi, sự thống trị của ma quỷ, tội lỗi và những giờ phút tâm hồn đầy u sầu, khắc khoải và bất an, khi con người phạm tội bất công chống lại Thiên Chúa và loài người.
Tuy nhiên, chính trong lúc cùng cực như thế, con người vẫn còn có lối thoát, chứ chưa phải đã rơi vào con đường cùng, đó là lúc con người cần phải can đảm và tin tưởng kêu cầu sự cứu thoát và sự tha thứ của Thiên Chúa, Đấng luôn dang rộng cánh tay như một người cha đầy lòng yêu thương đón chờ con người trở về với Người (x. Lc 15,11-32). Và trong Cựu Ước hành động cứu rỗi của Thiên Chúa được gọi là „cứu thoát“, „cứu chuộc“, „phù trợ“, „đưa ra khỏi“ hay „giải phóng“ (khỏi cảnh tù đày và nộ lệ). Và phần Tân Ước lại tiếp nhận những tư tưởng đó của Cựu Ước.

2. Sự cứu rỗi duy chỉ đến từ một mình thiên Chúa
Đấng Cứu Chuộc hay Đấng Cứu Thế chân chính luôn luôn chỉ một mình Thiên Chúa mà thôi (x. Is 45,8). Và Thiên Chúa luôn muốn cho con người ăn năn hối cải để được sống, chứ Người tuyệt đối không hề vui khi nhìn thấy con người bị hư mất hay phải sống trong sự khốn cùng (x. Ed 18,23). Chính vì thế, ngay sau khi Nguyên Tổ phạm tội chống lại Thiên Chúa và những hậu quả tai hại của nó đã xâm nhập vào thế gian, tức: sự chết, những căng thẳng và phân rẽ giữa các phái tính, tội giết hại những người cùng ruột thịt và sự hận thù (x. St 4,8tt; 3,3.16; 4,24), thì Thiên Chúa đã hứa ban Đấng Cứu Chuộc, Đấng sẽ đạp nát đầu con rắn, tức ma quỷ, đầu mối mọi tội lỗi (x. St 3,15).
Như thế, sự cứu rỗi đã được bắt đầu từ đó, tức lúc Thiên Chúa mặc khải cho „những kẻ phụng thờ các thần linh khác“ (Gs 24,2b) biết rằng chỉ mình Người là Thiên Chúa thật, Đấng Toàn Năng có thể cứu rỗi và ban cho con người sự sống vĩnh cửu. Trong khi đó, các thần linh giả dối hay các tà thần khác, thì hoàn toàn không thể cứu rỗi được ai và cũng không thể ban cho bất cứ ai sự sống chân thật. Thế nhưng con người lại thường dễ đặt hết hy vọng vào các tà thần ấy và hương khói nghi ngút trước các bàn thờ chúng.
Một dẫn chứng điển hình về Thiên Chúa cứu độ, đó là việc Người đã giải thoát con cái Ít-ra-en ra khỏi nhà nô lệ Ai-cập bằng những điềm thiêng dấu lạ vĩ đại qua bàn tay người tôi trung của Người là Tổ phụ Mô-sê. Người đã trực tiếp can thiệp đưa dân tuyển chọn đi qua sa mạc để tiến vào đất hứa. Người cũng đã ban cho dân Người và các vua chúa cai trị họ quyền lực và sự phồn thịnh. Nhưng chính con cái Ít-ra-en, dân tộc Người yêu thương và tuyển chọn, lại thường cho rằng không cần có sự trợ lực của Thiên Chúa Jahwe họ cũng có thể tự tìm gặp được cuộc sống hạnh phúc, thịnh vượng và an bình bền lâu. Vâng, mặc dù họ đã thề hứa tuyệt đối trung thành tôn thờ một mình Jahwe mà thôi và „thực thi tất cả những gì Đức Chúa đã truyền ban cho họ“ (x.Xh 24,3), họ lại sống theo thói tục của các dân ngoại và thờ kính các tà thần của những dân này.
Bởi vậy, dân Ít-ra-en đã phải nhận thức được rằng họ đã bị thất sủng với Thiên Chúa, đã bị Người „quay lưng lại“ với họ, và điều đó có nghĩa là họ phải đối mặt với chiến tranh, bị thua trận nhục nhã, bị thống trị bởi các dân tộc khác và phải sống cuộc đời bất hạnh trong cảnh nô lệ. Nói cách khác, sự phản bội lại giao ước với Thiên Chúa Jahwe cũng tương tự như sự phản bội trong giao ước hôn nhân, là một tội lỗi, tội hủy bỏ một sự quan hệ, một giao ước mà mình đã thề hứa với người yêu mến tin tưởng.
Những điều vừa nói cũng muốn khẳng định rằng dân tuyển chọn của Thiên Chúa, dân Ít-ra-en, đã luôn luôn nhận thức được rằng việc tâm hồn họ xa lìa và chối từ Thiên Chúa là cả một tai họa, một bất hạnh và là con đường dẫn họ tới chỗ diệt vong, mà những dấu chỉ bên ngoài của sự bất hạnh đó là đau ốm bệnh tật, nghèo đói và chết chóc về thể xác. Vì thế, họ cầu mong được cứu rỗi. Và nhu cầu mong được cứu rỗi đó đã khiến toàn thể con cái Ít-ra-en chờ đợi Đấng Messias, chờ đợi Đấng Thiên Sai, từ hàng bao ngàn năm qua, và chính Đấng Thiên Sai đó đã xuất hiện hữu hình và thực tiễn trong con người Đức Giê-su Na-da-rét lịch sử. Người đã chữa lành các người đau ốm bệnh tật, cho người phong cùi được lành mạnh, cho người đói được ăn no nê. Người cũng đã cho người chết được sống lại và nhất là qua chính sự sống lại của Người, Đức Giê-su Kitô đã mang lại cho tất cả mọi người niềm hy vọng vào cuộc sống vĩnh cửu.
Trong khi rao giảng Nước Trời cho dân chúng, Đức Giê-su Kitô đã thương giải cứu nhiều người khỏi những đau khổ thể xác và tâm thần. Người nói với hết mọi người: „Tất cả các ngươi, những người đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến với Ta, Ta muốn bổ sức cho các ngươi“ (Mt 11,28). Nhưng là cả một sai lầm khi cho rằng sứ vụ cứu thế của Đức Kitô chủ yếu là nhằm giải thoát con người khỏi tất cả mọi khó khăn, mọi thiếu thốn và mọi đau khổ về phương diện thể xác. Thật vậy, việc Đức Kitô chữa lành cho nhiều người khỏi các thứ bệnh tật, cho người đói khát được ăn uống no nê, làm cho nhiều người đã chết được sống lại, v.v… như thế là biểu tượng cho sứ mệnh chính yếu của Người khi đến trong thế gian là giải cứu con người khỏi sự tiêu diệt đời đời do tội lỗi họ gây ra. Một biến cố mà Phúc Âm đã tường thuật lại đã chứng minh điều đó, số là khi Người dạy dỗ dân chúng, thì người ta đã mang đến cho Người một người bị bại liệt toàn thân để xin Người chữa lành. Nhưng vì đám dân chúng quá đông đúc khiến họ không sao mang người bệnh đến với Người được, người ta đã cho khoét một lỗ hổng trên mái nhà ngay chỗ Đức Giêsu ngồi và thả người bệnh nằm trên chõng xuống. Thấy họ có lòng tin mạnh mẽ như thế, Đức Kitô đã không nói với người bệnh: „Này con, con đã được chữa lành bệnh rồi“ như tất cả mọi người có mặt lúc bấy giờ chờ đợi, nhưng người đã nói: „Này con, con đã được tha tội rồi“. Và lập tức người bị bại liệt có thể đứng dậy và đi lại được (x. Mc 2,2-12).
Qua hành động đó, Đức Giêsu Kitô muốn nói cho mọi người hay rằng Người là chính Đấng Thiên Sai, là Con Thiên Chúa hằng sống; Người có quyền chữa lành mọi bệnh tật thể xác cũng như có quyền tha mọi tội lỗi nếu con người tin vào Người, nghĩa là đức tin là điều kiên tiên quyết để được hưởng ơn cứu độ. Nhất là đối với Người, sự tha tội, tức sự giải cứu con người ra khỏi vòng nô lệ tội lỗi và quyền thống trị của ma quỷ còn quan trọng hơn sự chữa lành bệnh tật thể xác bội phần. Đó là điều thánh sử Gio-an đã viết: „Sở dĩ Con Thiên Chúa xuất hiện, là để phá hủy công việc của ma quỷ“ (1Ga 3,8b) và theo thánh Phaolô, Con Thiên Chúa đã trở nên phàm nhân để „nhờ cái chết của Người, Người đã tiêu diệt tên lãnh chúa gây ra sự chết, tức ma quỷ“ (Dt 2,14).
Nói tóm lại, trong vai trò là Đấng Thiên Sai, Đức Kitô chiến đấu chống lại cả những nỗi cùng cực thể xác, nhưng trước hết Người luôn chiến đấu không hề mệt mỏi trong công cuộc loại trừ tất cả mọi ảnh hưởng tinh thần của sự dữ và của tội lỗi, vì nỗi cùng cực thực sự của con người nằm sâu trong tận trái tim, trong tận nội tâm con người.

3. Sự chết và sự phục sinh của Đức Kitô là tột điểm của sự kiện cứu rỗi
Trong suốt phần Kinh Thánh Cựu Ước chúng ta luôn cảm nhận được một cách rõ ràng chân lý này là Thiên chúa hằng tìm cách giải cứu con người khỏi sự bất hạnh thể xác (đói nghèo, bệnh tật, sự chết) và khỏi sự cùng khổ tinh thần (sự lầm lạc, tội lỗi). Trong Đức Kitô, công trình cứu độ đã đạt tới cao điểm của nó. Công trình cứu độ ấy đã bắt đầu với biến cố nhập thể của Ngôi Hai Thiên Chúa hằng sống, và qua việc mặc lấy xác phàm ấy trong con người Đức Giê-su Kitô, Thiên Chúa và con người đã đi tới một sự hiệp nhất bất khả phân ly.
Vì thế, trong Thư Thánh Gio-an đã viết: „Điều vẫn có từ lúc khởi đầu, điều chúng tôi đã nghe… đó là Lời sự sống… và sự sống ấy, sự sống vĩnh cửu, vốn ở nơi Chúa Cha và nay đã đã xuất hiện cho chúng tôi“ (1Ga 1,1tt). Nhưng hành động cứu độ thực sự đã xảy ra qua cuộc khổ nạn thập giá: Đức Kitô đã chịu chết „vì tội lội chúng ta“. Với sự tuyên tín này, các Tông đồ đã bắt đầu loan báo tin mừng trong những năm đầu tiên sau các biến cố đã xảy ra cho Đức Kitô tại Giê-ru-sa-lem (x. 1Cr 15,3-6), và Đức Giê-su đã đổ máu mình ra để chúng ta và nhiều người khác được hưởng ơn tha tội (x. Mt 26,28) như chúng ta luôn được nghe trong Thánh Lễ.
Nhưng ở đây, chúng ta có thể tự hỏi: Tại sao Đức Kitô phải hy sinh mạng sống mình một đau đớn nhục nhã như thế để loài người chúng ta được tha tội?
Sự cứu rỗi nhân loại đòi phải được trả bằng một cái giá như chính Đức Kitô đã nói: „Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống làm giá cứu chuộc nhiều người“ (Mc 10,45); x. 1Tm 2,6). Vâng, sự cứu rỗi đòi hỏi phải được trả lại bằng một cái giá, nhưng không phải bằng „vàng bạc“, nhưng bằng „máu châu báu của Đức Kitô“ (1Pr 1,18tt). Còn thánh Phaolô cũng nhắc nhủ các tín hữu ở Cô-rin-tô: „Thiên Chúa đã phải trả đắt mà chuộc lấy anh em“ (1Cr 6,20; 7,23).
Nhưng ở đây một câu hỏi cần phải đuợc đặt ra: „Thiên Chúa là tình yêu", nhưng tại sao Người lại không thể tha thứ cho con người bằng một lời nói đơn giản, không thể dùng lòng từ nhân mà ân xá cho con người, mà lại nhất thiết đòi hỏi phải được trả bằng một giá đắt như vậy cho sự hòa giải, và giá đắt đó là chính cái chết của Con Một Người? Phải chăng Thiên Chúa chỉ là một nhà kế toán rởm, không biết tính toán, lại còn đòi hỏi mỗi tội đã phạm phải được trả giá bằng một sự đền bù quá đắt? Thiên Chúa có thể thay vì đòi hỏi một cái chết quá đau thương của Đức Kitô, thì chỉ bằng lòng với một của lễ thiêu bình thường nào đó?
Trước khi thử đi tìm lời giải đáp cho những câu hỏi trên, chúng ta không nên quên rằng không ai có thể hiểu trọn vẹn được mọi đường lối của Thiên Chúa hay chỉ rõi theo sự an bài của Người bằng tư tưởng một cách lý thuyết suông mà thôi, chứ không bằng các hành động thực tiễn. Vì thế, thánh tiến sĩ Thomas Aquinô đã nói rằng chì một giọt máu châu báu của Đức Kitô cũng có thể cứu rỗi được nhân loại. Nhưng giả thử Thiên Chúa cứu chuộc con người một cách quá „đơn giản“ hay với một giá „quá rẻ“, liệu chúng ta còn có thể cảm nhận được rằng Thiên Chúa đã „quá yêu thương“ loài người chúng ta (x. Ga 3,16) và đồng thời còn cảm nhận được tội lỗi độc hại như thế nào cũng như việc tiêu diệt được nó đã đòi Thiên Chúa phải tổn hại ra sao?
Người ta cũng phải tự hỏi là đứng trước sự ngạo mạn và thách thức của tội lỗi nhân loại như thế, Thiên Chúa cần phải hành động thế nào? Phải chăng Thiên Chúa công minh phải khoan hồng ân xá cho tất cả, tức đều tỏ lòng thương xót và tha thứ cho tất cả mọi kẻ tội lỗi như nhau: các tên đao phủ cũng như các người nạn nhân (trong các trại cải tạo, trong các trại tập trung hay những nơi đày ải), hay cả những kẻ từ chối sự ăn năn hối cải?
Bởi vì, tự mình con người không thể cứu rỗi được chính mình, không thể tạo cho mình được sự hòa giải, nên chính Con Thiên Chúa phải thay thế vào vị trí con người để cứu rỗi con người và mang lại cho con người sự hòa giải. Dĩ nhiên trong sự hòa giải đó, không phải tính cách rùng rợn và nặng nề của cuộc khổ nạn mà Đức Kitô đã phải gánh vác thay cho ta là yếu tố quyết định, nhưng là tình yêu vô biên của Đức Kitô, Đấng vừa là Thiên Chúa thật vừa là người thật, đối với Thiên Chúa Cha cũng như đối với các anh chị em nhân loại của Người, và qua đó Người trở nên vị Trung Gian hòa giải cả hai lại với nhau, toàn thể nhân loại và Chúa Cha, và sự vâng lời của Người đối với thánh ý Chúa Cha, một sự vâng lời tuyệt đối và đã được minh chứng qua cuộc khổ nạn thập giá (x. Pl 2,8; Dt 5,8).
Nếu vì một người mà sự ác đã được thu nhập vào thế gian qua sự bất tuân phục và sự vô cảm, thì cũng nhờ một người, tức Đức Kitô, Con Thiên Chúa làm người, sự ác lại bị tiêu diệt và con người được cải thiện. Tất cả điều đó muốn khẳng định rằng Thiên Chúa chỉ cứu rỗi con người khi con người cùng cộng tác với Người mà thôi. Thánh tiến sĩ Augustinô đã diễn tả điều đó như sau: Đấng đã dựng nên con đã không cần có con, nhưng Người không muốn cứu rỗi con, nếu không có con.

4. Các cấp độ của sự cứu rỗi
Ban ân xá cho một tội nhân có nghĩa là bãi bỏ án phạt cho người ấy, và thường vào một dịp may thuận tiện nào đó. Ví dụ: một tù nhân được thả tự do nhân dịp lễ sinh nhật của nhà vua hay lễ quốc khánh của quốc gia. Dĩ nhiên ân xá chưa hẳn là sự cứu rỗi và sự hòa giải đích thực, vì liệu người có tội được ân xá kia có thực tâm tin tưởng vào Thiên Chúa và yêu mến Người hết lòng – những điều kiện để được hòa giải và tha tội – không?
Tiếp đến, công trình cứu rỗi được hoàn tất trọn vẹn với sự sống lại toàn diện trong ngày sau hết. Trong ngày ấy, không chỉ linh hồn nhưng cả thể xác con người cũng được tham phần vào cuộc sống vĩnh cửu. Vì thể, để loại bỏ quan niệm lệch lạc của một số nhóm người chủ trương thù ghét thân xác, nhất là những người theo duy trí hay ngộ đạo chủ nghĩa (Gnostique), cho rằng tự bản chất, thể xác thì xấu xa và không thể được hiển linh cùng với linh hồn. Và hậu quả tất nhiên của chủ trương ấy là chối bỏ mầu nhiệm nhập thể của Con Thiên Chúa. Họ cho rằng Thiên Chúa toàn năng và thánh thiện không thể xuống thế mặc lấy xác phàm, tức mặc lấy cái xấu xa được, và cũng vì thế không thể có sự sống lại.
Trước khi chúng ta đạt tới được mục đích của sự cứu rỗi trọn vẹn nơi Thiên Chúa, tức không phải bằng đức tin nữa, nhưng thực sự được ở trong tình trạng chiêm ngưỡng, chúng ta phải trải qua giai đoạn đức tin. Trong giai đoạn ấy chúng ta mở rộng mình ra và vươn tới thực tại tương lai, một thực mà hiện tại chúng ta đang phải tham phần vào bằng đức tin.Đức Giê-su là Đấng đã chiến thắng tội lỗi và sự chết. Vì thế, nhờ vào ơn được thanh tẩy khỏi tội lỗi do cuộc khổ nạn thập giá của Đức Kitô đã mang lại, chúng ta mới có được sự kết hiệp mật thiết và tâm linh với Đấng Phục Sinh, đến nỗi qua đó ngay bây giờ chúng ta đã thực sự có thể vượt qua được cái chết về tâm linh, tức thực sự được cứu rỗi trong đức tin, mặc dù chúng ta chưa được hạnh phúc bước vào tình trạng chiêm ngưỡng Thiên Chúa nhãn tiền.
(Suy niệm Tuần Thánh 2010)
Lm. Nguyễn Hữu Thy

 

Thứ 5-75: PHẢI RỮA CHÂN CHO NHAU

  1.   Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ
X LỜI CHÚA: Ga 13, 1-15 
1 Trước lễ Vượt Qua, Đức Giê-su biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng.
 
2 Ma quỷ đã gieo vào lòng Giu-đa, con ông Si-môn Ít-ca-ri-ốt, ý định nộp Đức Giê-su.3 Đức Giê-su biết rằng: Chúa Cha đã giao phó mọi sự trong tay Người, Người bởi Thiên Chúa mà đến, và sắp trở về cùng Thiên Chúa,4 nên trong một bữa ăn, Người đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, và lấy khăn mà thắt lưng.5 Rồi Đức Giê-su đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau. 

 
6 Vậy, Người đến chỗ ông Si-môn Phê-rô, ông liền thưa với Người: "Thưa Thầy! Thầy mà lại rửa chân cho con sao? "7 Đức Giê-su trả lời: "Việc Thầy làm, bây giờ anh chưa hiểu, nhưng sau này anh sẽ hiểu."8 Ông Phê-rô lại thưa: "Thầy mà rửa chân cho con, không đời nào con chịu đâu! " Đức Giê-su đáp: "Nếu Thầy không rửa cho anh, anh sẽ chẳng được chung phần với Thầy."9 Ông Si-môn Phê-rô liền thưa: "Vậy, thưa Thầy, xin cứ rửa, không những chân, mà cả tay và đầu con nữa."10 Đức Giê-su bảo ông: "Ai đã tắm rồi, thì không cần phải rửa nữa; toàn thân người ấy đã sạch. Về phần anh em, anh em đã sạch, nhưng không phải tất cả đâu! "11 Thật vậy, Người biết ai sẽ nộp Người, nên mới nói: "Không phải tất cả anh em đều sạch."

 
12 Khi rửa chân cho các môn đệ xong, Đức Giê-su mặc áo vào, về chỗ và nói: "Anh em có hiểu việc Thầy mới làm cho anh em không?13 Anh em gọi Thầy là "Thầy", là "Chúa", điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa.14 Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau.15 Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em.
 


X SUY NIỆM 
 

Người biết mình sắp qua đời thường để lại di chúc cho con cái. Di chúc nói lên ước nguyện, lời Thứ 5-75

Người biết mình sắp qua đời thường để lại di chúc cho con cái. Di chúc nói lên ước nguyện, lời nhắn nhủ hay lệnh truyền của người sắp ra đi. Có thể  nói Thầy Giêsu khi biết cuộc Khổ Nạn gần đến cũng đã  để lại một di chúc kép cho các môn đệ dấu yêu: Ngài  đã rửa chân cho các môn đệ và nhất là Ngài  đã lập bí tích Thánh Thể. Thứ  Năm Tuần Thánh là ngày chúng ta đặc biệt nhớ  đến di chúc ấy.
Sống di chúc của Chúa Giêsu là cách biểu lộ tình yêu đối với Ngài. Có nhiều  điểm giống nhau nơi việc Rửa chân và lập Bí tích Thánh Thể. Cả hai đều là những cử chỉ Thầy Giêsu làm lúc cận kề cái chết. Cả hai đều được làm trong bầu khí một bữa ăn tối gần lễ Vượt Qua. Vào lúc cuối  đời, sau bao năm tận tụy với sứ mạng phục vụ, Thầy Giêsu muốn gói ghém trong hai cử chỉ đơn giản ấy lễ hiến dâng đời mình. Cả hai đều tượng trưng cho cái chết tự hạ trên thập giá.
Rửa chân đòi Thầy phải cúi xuống rất sâu, phải trở thành tôi tớ phục vụ. Rửa chân là điều mà tôi tớ không hẳn phải làm cho chủ, thì bây giờ Thầy làm cho trò. Cái chết trên thập giá là sự phục vụ cao nhất  được diễn tả qua việc rửa chân. Bí tích Thánh Thể còn diễn tả cách tuyệt vời hơn cái chết hy sinh ấy. Trong bí tích này, tấm bánh trở nên Mình Thầy bị bẻ  ra và trao đi. Rượu trở  nên Máu Thầy, Máu sẽ bị đổ ra cho muôn người trên thế giới. 
Trong cả  hai biến cố Rửa chân và Bí tích Thánh Thể, Thầy Giêsu đều mời các môn đệ tham dự cách tích cực. Tham dự  vào cái chết của Thầy bằng cách để cho Thầy rửa chân, hay tham dự  bằng cách ăn uống Mình và Máu Ngài. Hai biến cố trên không phải là chuyện chỉ xảy ra một lần bởi Thầy Giêsu. Thầy mời các môn đệ cũng làm như Thầy, và lặp đi lặp lại những cử chỉ đó.
“Anh em cũng phải rửa chân cho nhau” (Ga 13, 14).
“Anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy (Lc 22, 19).
Cúi xuống phục vụ tha nhân và lãnh nhận Bí Tích Thánh Thể
sẽ giúp chúng ta tham dự vào cái chết và sự Phục sinh của Chúa Giêsu. Muốn  ở lại trong tình thương của Thầy Giêsu, cần giữ  lệnh Thầy truyền (Ga 15, 10). Mà “đây là lệnh truyền của Thầy, anh em hãy yêu thương nhau như Thầy  đã yêu thương anh em” (Ga 15, 12). Hơn nữa, Thầy Giêsu còn cho ta một cách khác để ở lại trong Thầy :
“Ai ăn Thịt và uống Máu tôi, thì ở lại trong tôi,
và tôi  ở lại trong người ấy” (Ga 6, 56). 
Thứ  Năm Tuần Thánh là ngày lễ của Tình Yêu theo đúng nghĩa nhất. Yêu là  cúi xuống phục vụ, yêu là bẻ đời mình cho tha nhân như Thầy Giêsu. Ước gì chúng ta được ở lại trong tình yêu của Giêsu nhờ biết yêu. 

X LỜI NGUYỆN    
Lạy Thầy Giêsu, khi Thầy rửa chân cho các môn đệ chúng con hiểu rằng Thầy đã làm một cuộc cách mạng lớn. Thày dạy chúng con một bài học rất ấn tượng khi Thầy bưng chậu nước, bất ngờ  đến với các môn đệ trong bữa  ăn, khi Thầy cúi xuống, dùng bàn tay của mình để rửa chân rồi lau chân cho họ.
Chắc Thầy  đã nhìn thật sâu vào mắt của từng môn đệ và gọi tên từng người.
Giây phút  được rửa chân là giây phút ngỡ  ngàng và linh thánh. 
Lạy Thầy Giêsu, thế  giới chúng con đang sống rất thấm bài học của Thầy. Chúng con vẫn xâu xé nhau chỉ  vì chức tước và những đặc quyền, đặc lợi. Ai cũng sợ phải xóa mình, quên mình. Ai cũng muốn vun vén cho cái tôi bất chấp lương tri và  lẽ phải. Khi nhìn Thầy rửa chân, chúng con hiểu mình phải thay đổi cách cư xử. Không phải là ban bố như một  ân nhân, nhưng khiêm hạ  như một tôi tớ. Từ  khi Thầy cúi xuống rửa chân cho anh Giuđa, kẻ sắp nộp Thầy, chúng con thấy chẳng ai là không xứng đáng cho chúng con phục vụ. 
Lạy Thầy Giêsu, Thầy  để lại cho chúng con một di chúc bằng hành động. Thầy  đã nêu gương cho chúng con noi theo, để rửa chân chẳng còn là chuyện nhục nhã, nhưng là mối phúc. Xin cho chúng con thấy Thầy vẫn cúi xuống trên đời từng người chúng con, để nhờ  đó chúng con có thể cúi xuống trên đời những ai khổ đau bất hạnh.
 
  1.   Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ
 

Thứ 5-76: LỄ VƯỢT QUA MỚI

Gn 13,1-15
Gp. Vĩnh Long
 

Xưa kia, Môsê đưa dân do thái vượt qua biển đỏ, thoát khỏi ách nô lệ ai cập. Ngày nay, chúng ta Thứ 5-76

Xưa kia, Môsê đưa dân do thái vượt qua biển đỏ, thoát khỏi ách nô lệ ai cập. Ngày nay, chúng ta có Chúa Giêsu dẫn chúng ta vượt qua biển trần gian, thoát khỏi ách nô lệ tội lỗi và sự chết. Ai nghe lời Chúa Giêsu và đi theo đường Ngài chỉ thì không lạc lối nhưng an toàn về đất hứa.
Thật vậy, Đức Giêsu là Môsê mới, đã không ngại đối đầu với quyền lực thế gian. ngài đã chiến thắng mọi mưu chước thế gian và trở nên khuôn mẫu cho chúng ta noi theo. Khuôn mẫu về lòng kính sợ Thiên Chúa, nhân từ, khôn ngoan, bác ái, vô tỳ tích… vì yêu thương chúng ta, Đức Giêsu đã không từ nan việc chịu nạn vì chúng ta. Ngài đã chuẩn bị cho việc đó từ lâu. Ngài sắp xếp để có phòng dọn tiệc ly, và sai các tông đồ đến gặp chủ nhà để chuẩn bị bữa tiệc vượt qua trước một ngày. Ngài biết không thể ở mãi với các môn đệ. Nên trong bữa ăn tối, Ngài đã trối lại cho các môn đệ một điều hết sức quan trọng: đó là sống phục vụ: Anh em gọi Thầy là "Thầy", là "Chúa", điều đó phải lắm. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em. Và gương phục vụ lớn nhất của Ngài là sẵn sàng chết thay cho loài người. Ngài đã tự nguyện lãnh án phạt mà lẽ ra loài người đáng phải chịu vì tội của mình (tội lớn nhất là chối từ Thiên Chúa, Đấng Tạo Thành mình và không vâng nghe lời Người). Ngài đã đền tội thay cho chúng ta và nêu gương yêu thương qua việc tiếp tục ở với loài người nơi hình bánh hình rượu trong Bí Tích Thánh Thể. Ngài hiện diện cách khả giác để an ủi, ban ơn nuôi dưỡng linh hồn chúng ta.
Chúa yêu thương chúng ta và luôn nghĩ đến chúng ta. Còn chúng ta, ngày hôm nay, chúng ta đã rửa chân cho nhau, phục vụ cho nhau theo lời dạy của Chúa Giêsu hay chưa?
Nếu chúng ta chưa làm được như vậy, chúng ta hãy cầu xin Chúa mỗi ngày cho chúng ta thấm thía được tình thương hy sinh của Chúa Giêsu đối với từng người. Chúng ta hãy cố gắng chu toàn bổn phận của mình đối với Chúa, với tha nhân, với chính mình. Xin Chúa trợ giúp bằng ân sủng Chúa và thanh luyện chúng con, cho chúng con lớn lên trong đức tin và tình thương.
Ðặc biệt hôm nay, thứ năm Tuần thánh này, ngày Chúa thiết lập Bí tích Tình yêu. Xin soi sáng và nâng đỡ chúng con thi hành tốt đẹp mệnh lệnh sống yêu thương của Chúa. Xin cho mỗi người chúng con biết siêng năng đến với Chúa trong Bí tích Thánh thể để có đủ sức mạnh mà thực hiện những điều đẹp ý Chúa, đó là thực thi giới luật mến Chúa và yêu thương anh em.
Chúa Giêsu là Con của Chúa Cha. Là người duy nhất thấy Chúa Cha, biết rõ đường về nhà Cha. Chính Chúa Giêsu đã nói rõ: không Thầy chúng con không thể làm gì được. Không đi theo Chúa Giêsu thì chúng con không thể về tới nhà Cha trên trời; không nhờ Chúa trợ giúp chúng con không thể sống giới răn của Chúa như Chúa đã nêu gương cho chúng con.
Lạy Chúa Giêsu, xin hãy mở trí mở lòng chúng con, cho chúng con biết chiêm ngắm các hành vi mà Phụng Vụ chiều nay cử hành để thán phục, thật lòng ngợi khen, và sống tâm tình biết ơn Chúa đã cứu chuộc chúng con. Amen

 

Thứ 5-77: Thánh Thể Bí Tích Phục Vụ

Mẹ Têrêsa thành Calcutta có lần kể lại câu chuyện nầy: Một hôm có một thiếu nữ tìm đến xin gia Thứ 5-77

Mẹ Têrêsa thành Calcutta có lần kể lại câu chuyện nầy:
Một hôm có một thiếu nữ tìm đến xin gia nhập Dòng Thừa Sai Bác Ái của Mẹ. Theo luật dòng, ngày đầu tiên khi mới đến, tất cả những ai muốn sống trong dòng, cũng đều được mời sang nhà hấp hối – tức là nhà tiếp đón những người sắp chết. Vì thế, cô thiếu nữ nầy được mời sang nhà hấp hối. Mẹ Têrêsa nói với cô ấy:
“Con đã nhìn thấy linh mục dâng Thánh lễ chứ? Con đã thấy các ngài sờ đến Thánh Thể Chúa với biết bao chăm chú và yêu thương. Con cũng hãy đi và làm như thế, tại nhà hấp hối, bởi vì con sẽ tìm thấy Chúa Giêsu trong thân thể của những người anh em khốn khổ đó”.
Cô thiếu nữ ra đi và đã làm như vậy… Một thời gian sau, cô trở lại với một nụ cười rạng rỡ có lẽ chưa bao giờ trông thấy. Cô vui vẻ thốt lên với Mẹ Têrêsa: “Thưa Mẹ, con đã sờ được thân thể Chúa trong suốt ba tiếng đồng hồ”.
Mẹ Têrêsa mới hỏi lại sự thể đã diễn ra như thế nào? Cô ta đáp? “Thưa Mẹ, con vừa đến nhà hấp hối thì thấy người ta mang đến một người vừa ngã xuống một hố sâu, mình mẩy đầy những vết thương và bùn đất hôi thối… Con đã đến và con đã tắm rửa cho anh ta. Con biết rằng làm như thế là chạm đến thân thể của Đức Kitô”.
Thưa anh chị em, Thánh lễ là trung tâm của cuộc sống và cuộc sống hằng ngày là một Thánh lễ nối dài. Đức Kitô không chỉ muốn chúng ta gặp gỡ nhau trong Thánh lễ mà còn muốn chúng ta gặp gỡ Ngài qua tất cả mọi sinh hoạt và gặp gỡ khác trong cuộc sống. Từng cuộc gặp gỡ với tha nhân, nhất là những người nghèo hèn nhất, phải là một cuộc gặp gỡ với Đức Kitô.
Ngay trong bữa tối Thứ Năm Thánh nầy, trước khi lập Bí tích Thánh Thể, Chúa Giêsu đã cúi xuống rửa chân cho các môn đệ. Việc nầy làm nổi bật một ý nghĩa lớn của Bí tích Thánh Thể, đó là Thánh Thể là bí tích phục vụ. Thánh Thể là phương thế Chúa Giêsu chọn để thể hiện ý muốn phục vụ của Ngài. Để phục vụ, Ngài phải trả một giá rất đắt. Để phục vụ, Ngài đã tự hiến làm lễ vật giao hoà, làm Chiên Vượt Qua chịu sát tế vì sự sống của thế giới. Để phục vụ, Ngài chấp nhận trở nên lương thực cho loài người sử dụng. Thiên Chúa đã trở nên phương thế phục vụ sự sống của con người. Vì “Ngài yêu thương chúng ta đến tận cùng”.
Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta phục vụ như Ngài. Bởi vì, một khi đã đồng hoá mình với Chúa Giêsu trong Thánh Thể, chúng ta phải sống như Ngài. Nếu không sẵn lòng phục vụ thì đó là dấu chứng chúng ta không thực lòng tham dự Thánh Thể. Không phục vụ là chưa gặp được Chúa Giêsu thật, chưa đón nhận Ngài, chưa thật sự nên một với Ngài. Trái lại, phục vụ là dấu sự sống của Chúa Giêsu Thánh Thể đã thực sự biến đổi chúng ta, làm cho chúng ta nên một con người mới.
Để làm gương mẫu phục vụ cụ thể, Chúa Giêsu đã quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ và mời gọi chúng ta hãy rửa chân cho nhau: “Nếu Thầy là Chúa, là Thầy mà con rửa chân cho anh em, thì anh em phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em”.
Trong xã hội Do Thái, chỉ có đầy tớ, nô lệ rửa chân cho chủ. Ở đây, Thầy lại rửa chân cho trò. Còn hơn thế nữa, Thiên Chúa đi rửa chân cho con người, mà lại là con người tội lỗi. Chúa Giêsu đã quỳ xuống rửa chân cho Phêrô, kẻ chối Thầy; rửa chân cho tất cả những người còn lại là “những kẻ sẽ bỏ Thầy mà trốn chạy hết”.
Ngài làm như vậy để được gì? Không được gì cả! Chỉ để minh chứng một Thiên Chúa là như thế đó: một Thiên Chúa “đến để phục vụ con người và hiến mạng sống để cứu chuộc con người”. Một Thiên Chúa thay vì tiêu diệt bọn tội lỗi, lại quỳ xuống trước mặt họ, hôn chân họ. Một Thiên Chúa thay vì trả thù, lại đã đổ máu để minh chứng sự tha thứ yêu thương. Một Thiên Chúa thật lạ lùng! Một đạo lý ngược đời, một con đường khó bước theo. Thế nhưng, Ngài đã làm và kêu gọi chúng ta cũng làm y như vậy: “Ai muốn làm đầu thì phải hầu thiên hạ. Ai muốn làm lớn thì phải làm tôi tớ mọi người”.
Ở đời, người ta dễ dàng quỳ xuống trước người quyền quý, sang trọng, vì người ta còn hy vọng ở một sự ban bố lợi lộc. Người ta dễ dàng quỳ xuống trước một người đẹp để xin bố thí một chút tình yêu. Và quỳ xuống trước một người thánh thiện để cầu mong một ân huệ. Tất cả những cái quỳ xuống đó là để van xin cho mình, để có lợi cho mình. Nhưng mấy ai quỳ xuống trước kẻ thù, quỳ xuống trước người ốm đau, bệnh tật, quỳ xuống rửa chân lở loét của những người phong cùi!
Còn Chúa Giêsu, Ngài quỳ xuống trước tội nhân. Ngài muốn cái gì đây? Là Thiên Chúa, có khi Ngài còn thiếu thốn gì chăng? Là kẻ ban phát tình yêu, không lẽ Ngài lại thiếu thốn để độ phải van xin? Không, Ngài không van xin gì cả. Quỳ xuống trước mặt con người chỉ vì Ngài quý trọng con người. Ngài yêu thương con người. Ngài muốn cho con người được sống và sống thật hạnh phúc. Khi con người biết sống cho người khác được hạnh phúc là họ đã theo gương rửa chân của Chúa. đây là bài học sống cho người Kitô hữu. Nơi Chúa Giêsu, tình yêu đã chiến thắng tội lỗi của con người, đã vượt lên trên tội lỗi, để phục vụ đến độ hy sinh mạng sống mình cho chính tội nhân.
Anh chị em thân mến, muốn phục vụ như Chúa Giêsu, chúng ta cũng phải hiến thân như Ngài. Đây là điều khó, điều thường làm chúng ta hoảng sợ, chùn chân không dám đi tới cùng. Nhất là hiến thân vì anh em, rửa chân cho anh em. Tuy nhiên, dù chưa dám làm hoặc chưa làm được, ít nhất chúng ta cũng phải thừa nhận ra rằng; phục vụ và hiến thân là những đòi hỏi không thể thiếu của Bí tích Thánh Thể.
Do đó, trong cuộc sống mỗi ngày, nhất là những khi dự Tiệc Thánh Thể, chúng ta hãy để cho những đòi hỏi đó day dứt trong lòng chúng ta, day dứt như một vết thương không bao giờ lành, khiến cho chúng ta không bao giờ dám an tâm trong hững hờ vị kỷ với mọi người anh em.

 

Thứ 5-78: Bí tích Thánh Thể

Tại một ngôi làng nhỏ bên Tây Đức, trước năm 1940 là nơi gặp gỡ của các danh họa Âu Châu, nhưng Thứ 5-78

Tại một ngôi làng nhỏ bên Tây Đức, trước năm 1940 là nơi gặp gỡ của các danh họa Âu Châu, nhưng kể từ thế chiến thứ hai, nó trở thành nhà tù giam giữ những phạm nhân của Đức Quốc xã, có mặt một Phó tế được phong chức linh mục tại đây. Sau khi chết, ngài để lại chúc thư “Tình yêu và đền bù”. Thế rồi 15 năm sau, nhà tù đó biến thành Dòng kín Carmel, các nữ tu đến đó để sống cho lý tưởng tình yêu và đền bù.
Tình yêu chính là ý nghĩa của Bí tích Thánh Thể. Trong Bữa tiệc ly, Chúa Giêsu đã quỳ gối rửa chân cho các Tông đồ và cũng trong Bữa tiệc ly Ngài đã thiết lập Bí tích Thánh Thể cũng như loan báo về cái chết của Ngài. Phêrô đại diện các Tông đồ đã có lý khi khước từ Chúa Giêsu rửa chân cho ông vì đây là công việc của tôi tớ trong nhà. Theo tục lệ người Do Thái, trước khi vào bàn ăn tôi tớ trong nhà phải đi rửa chân cho khách. Chúa Giêsu đã muốn thực hiện cử chỉ ấy để thực thi chính điều Ngài đã nói: Con Người không đến để được hầu hạ, những để hầu hạ và hiến mạng sống làm giá cứu chuộc nhiều người.
Cử chỉ yêu thương mà Chúa Giêsu đã làm cho các Tông đồ là một quyết tâm sống trọn ý nghĩa yêu thương của Ngài, cũng như người tôi tớ không sống cho mình mà cho người khác. Nhưng Ngài chưa lấy làm đủ, Ngài còn biểu lộ tình yêu qua hình ảnh một miếng bánh trao ban để ở mãi với con người. Bị bẻ ra và tiêu tan, Chúa Giêsu đã sống đến cùng những đòi hỏi của yêu thương. Thánh Gioan đã tóm gọn cuộc sống Chúa Giêsu qua câu: “Ngài đã yêu các kẻ thuộc về Ngài và đã yêu đến cùng”, nghĩa là sẵn sàng sống chết cho người mình yêu. Tình yêu đến cùng ấy, Chúa Giêsu đã thể hiện qua cái chết trên Thập giá, và Ngài còn muốn tái diễn hàng ngày dưới hình dạng Bánh và Rượu trong bí tích Thánh Thể. Cũng như tôi tớ chỉ sống và chết cho người khác, chiếc bánh chỉ hiện hữu để được ăn, được hao mòn, được tiêu tán. Dưới hình thức lương thực, Chúa Giêsu muốn thể hiện tình yêu của Ngài đối với chúng ta; tiếp nhận Ngài qua bí tích Thánh Thể, chúng ta sống bằng chính sự sống của Ngài; ăn uống Ngài, chúng ta cũng được mời gọi nên giống Ngài và san sẻ sự sống của Ngài cho người khác.
Sống và chết cho người khác, nên một với Ngài là thực hiện sứ mệnh của Ngài tức là phục vụ và phục vụ cho đến cùng. Sứ mệnh phục vụ ấy Chúa Giêsu muốn truyền lại cho chúng ta qua Bí tích Truyền chức Linh mục là người được ủy thác để lặp lại lời của Chúa Giêsu. “Các con hãy làm việc này, mà nhớ đến Ta”. Làm việc này không những là cử hành Bí tích Thánh Thể để Chúa Giêsu luôn ở mãi giữa nhân loại, mà còn chu toàn sứ mệnh phục vụ của Ngài. Không chỉ riêng linh mục, nhưng tất cả những ai nhờ phép rửa được tháp nhập vào sự sống Đức Kitô, nghĩa là mọi kitô hữu trong lời nói và hành động cũng yêu thương và chết để nhớ đến Ngài. Mỗi cử chỉ và hành vi bác ái đều là một nghĩa cử tưởng nhớ đến Chúa Giêsu, đều là một tiếp tục, hay đúng hơn là một hiến lễ được dâng trên bàn thờ.
Tưởng nhở việc Chúa lập Bí tích Thánh Thể và truyền chức linh mục trong ngày thứ năm tuần thánh, chúng ta nhớ đến cách đặc biệt các linh mục. Xin Chúa ban cho các ngài luôn trung thành với sứ mệnh phục vụ. Xin cho tình yêu Chúa luôn ngự trị trong tâm hồn chúng ta để chúng ta cũng sống yêu thương và phục vụ.
(Trích trong ‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)

 

Thứ 5-79: NHỮNG ĐIỀU CẦN LƯU Ý LIÊN QUAN TỚI PHỤNG VỤ

TAM NHẬT VƯỢT QUA và MÙA PHỤC SINH
Lm. Phêrô Phạm Minh Tâm 
1/ TAM NHẬT THÁNH:
 

Trong tam nhật thánh không cử hành bất cứ thánh lễ nào kể cả an táng, nhưng có thể cử hành nghi thức an táng  Thứ 5-79 (Lưu Ý về Luật)

          -- Trong tam nhật thánh không cử hành bất cứ thánh lễ nào kể cả an táng, nhưng có thể cử hành nghi thức an táng.
          -- Nếu một cha phụ trách nhiều giáo xứ nhỏ nên quy tụ giáo dân về nhà thờ chính để dự lễ.
          -- Tuy nhiên nếu một cha phụ trách nhiều giáo xứ lớn, trong đó có đông giáo dân tham dự và các nghi thức có thể cử hành một cách long trọng và xứng đáng, thì cha xứ có thể cử hành các nghi lễ tam nhật vượt qua lần thứ hai ở hai nhà thờ khác nhau.
          -- Xin quý cha hủy dầu cũ và sử dụng dầu mới.
 
2/ THỨ NĂM TUẦN THÁNH:
          -- Cấm cử hành thánh lễ không có giáo dân tham dự.
          -- Có nghi thức rửa chân cho những người đàn ông giáo dân đã được tuyển chọn –  Không mặc áo phỏng theo y phục giám mục.
          -- Đọc kinh vinh danh nhưng không đọc kinh tin kính.
          -- Sau lời nguyện hiệp lễ, bỏ hương, xông hương Mình Thánh Chúa, nhận khăn choàng phủ bình đựng Mình Thánh, cầm bình Mình Thánh lên và kiệu sang bàn thờ phụ.
          -- Phải có nhà Tạm đóng kín.
          -- Không trưng bày Mình Thánh Chúa ra hay đặt trong mặt nhật để chầu.
          -- Nơi lưu trữ Mình Thánh chỉ nhằm lưu giữ Mình Thánh cho việc rước lễ ngày hôm sau, chứ không nhằm biểu thị mồ Chúa. Tránh kiểu trang trí như nhà mồ hay gọi đó là vườn Gethsêmani.
          -- Từ nửa đêm trở đi không tổ chức chầu MTC trọng thể.
          -- Không tổ chức rước kiệu và đặt MTC trong các nhà thờ không cử hành nghi lễ chiều thứ Sáu tưởng niệm cuộc thương khó của Chúa.
 
3/ THỨ SÁU TUẦN THÁNH:
          -- Sau bài thương khó có xướng “Đó là lời Chúa”.
          -- Chỉ dùng một Thánh Giá duy nhất trong Nghi thức Kính Thờ. Nếu vì dân chúng đông, mỗi người không thể lên hôn kính Thánh Giá được, thì sau khi một phần tín hữu đã hôn kính. Linh Mục cầm Thánh Giá lên đứng trước bàn thờ, nói ít lời kêu mời dân chúng Kính Thờ Thánh Giá, rồi nâng cao Thánh Giá trong giây lát để mọi người thinh lặng tôn thờ.
          -- Không được rước nẻ, bốc nẻ... có tính cách mê tín dị đoan. Thay thế vào đó có thể dùng hoa tươi đặt cạnh Tượng Chúa.
 
4/ THỨ BẢY TUẦN THÁNH – VỌNG PHỤC SINH:
          -- Không được phép cử hành Thánh lễ mà không có nghi thức Canh Thức Vượt Qua.
          -- Có thể cử hành Canh Thức Vượt Qua tại các Nhà thờ và Nhà Nguyện đã không cử hành các nghi thức ngày thứ 5 và thứ 6. Ngược lại tại các nơi cử hành các Nghi thức thứ 5 và Thứ 6, có thể bỏ qua không cử hành Canh Thức Vượt Qua.
          -- Để duy trì tính chân thật của dấu chỉ, diễn tả Chúa Kitô là Ánh Sáng thật soi chiếu thế gian nên nến Phục Sinh phải được làm bằng sáp nguyên tuyền và còn mới.
          -- Về việc rước nến PS:
**** Người cầm nến đi đầu, mọi người theo sau. Nếu có hương thì người cầm bình hương có bỏ hương đi trước người cầm nến.
**** Sau khi người cầm nến xướng lần thứ hai câu: ÁNH SÁNG CHÚA KITÔ thì lấy lửa từ nến PS thắp cho mọi người.
**** Sau khi người cầm nến xướng lần thứ ba câu: ÁNH SÁNG CHÚA KITÔ thì thắp tất cả các đèn trong nhà thờ.
          -- Bài công bố tin mừng PS có thể do một ca viên nhưng người này không xin linh mục chủ tế ban phép lành. Bỏ câu: ”Vậy giờ đây… cho đến hết lời kêu gọi kể cả lời chào ‘Chúa ở cùng anh chị em’ ”.
          -- Khi đọc các bài đọc mọi người tắt nến.
          -- Phải đọc ít nhất ba bài cựu ước. Trường hợp gấp rút có thể đọc hai bài nhưng không được bỏ bài trích sách Xuất hành.
          -- Có thể xông hương khi đọc Phúc Âm nhưng không mang đèn nến.
 
5/ MÙA PHỤC SINH
          -- Các ngày trong tuần Bát Nhật, mừng như lễ trọng kính Chúa, nhưng không đọc kinh Tin Kính trong Thánh Lễ (AC 24).
          -- Trong tuần bát nhật chỉ được cử hành Thánh lễ an táng mà thôi.
          -- Các Chúa Nhật Mùa PS không được cử hành các thánh lễ khác, kể cả lễ an táng.
 
6/ VỀ VIỆC RƯỚC LỄ TRONG MÙA PS:
          -- Tại VIỆT NAM, thời gian cần thiết để giữ luật buộc rước lễ trong Mùa Phục Sinh là từ thứ TƯ - LỄ TRO cho đến hết lễ Chúa Ba Ngôi, chiếu theo điều 217 của Công Đồng Đông Dương lần thứ I, năm 1934 và Thông báo của Ủy Ban Giám Mục về Phụng Vụ, số VII, ngày 10/08/1971.
 
7/ VỀ VIỆC XƯNG TỘI:
          -- Giáo luật điều 989 dạy: Mọi tín hữu sau khi đến tuổi khôn, buộc phải trung thành giữ luật xưng các TỘI TRỌNG, một năm ít là một lần".
 
8/ GIẢI ĐÁP MỘT VÀI THẮC MẮC: 
1.- Có thể làm phép mấy cây nến?
          -- Những sách và những chỉ dẫn phụng vụ lưu ý rất nhiều là chỉ một cây nến phục sinh được chuẩn bị cho việc cử hành. Ví dụ, Thư Luân Lưu 1988 về việc chuẩn bị Lễ Phục Sinh do Bộ Phụng Tự phổ biến có nói:
"Phải chuẩn bị cây nến phục sinh, cây nến đó, muốn cho sự biểu trưng được hiệu nghiệm, phải được làm bằng sáp ong, không bao giờ được giả tạo, phải thay mỗi năm, chỉ một thôi, và phải có chiều to đủ, ngõ hầu có thể gợi ý rằng Chúa Kitô là ánh sáng thế gian. Cây nến phục sinh được làm phép với những dấu và những lời được qui định trong Sách Lễ hay là bởi Hội Đồng Giám Mục."
          -- Sự nhấn mạnh này phải được thực hiện, để biểu trưng một ánh sáng là Chúa Kitô từ đó mọi cây nến khác được thắp lên.
          -- Theo Cha Edward McNamara, giáo sư Phụng vụ tại đại học Regina Apostolorum: Trong trường hợp cần một cây nến nữa để đặt trong một nhà thờ không cử hành canh thức Vượt Qua, vị mục tử có thể làm phép riêng và chuẩn bị cây nến khác lúc thích hợp sau Vọng Phục Sinh và chỉ đặt cây nến đó trong giáo xứ khác trước Thánh lễ thứ nhất mà không có nghi thức gì đặc biệt. Tuy nhiên, nên xông hương cây nến một lượt và bàn thờ khi bắt đầu Thánh Lễ.
 
2.- Có được đốt nến Phục Sinh quanh năm không?
          -- Lịch Công giáo có hướng dẫn:
“Nến PS đặt gần giảng đài hoặc gần bàn thờ và được thắp sáng trong các giờ cử hành phụng vụ trọng thể hơn của mùa này, tức là trong thánh lễ, giờ kinh sáng và giờ kinh chiều cho đến hết lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống.” (tr. 69)
“Sau lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, nến PS được đặt tại Giếng Rửa Tội, để khi rửa tội thì đốt lên và châm nến cho những người lãnh bí tích. Trong nghi lễ an táng, Nến PS được đặt gần quan tài để nói lên rằng cái chết của người Kitô hữu là một cuộc Vượt Qua đích thực”(CE 372 và Thông Tư Bộ Phượng Tự ngày 16-1-1988 số 99).
Ngoài mùa PS, không được đặt và đốt nến PS trên cung thánh (tr. 84).
          -- Như vậy, theo quy định của Bộ Phượng Tự thì nến PS chỉ dùng trong mùa PS, khi ban bí tích rửa tội và khi cử hành lễ an táng, chứ không được đặt và đốt quanh năm.

 

Thứ 5-80: Chúa Giê-su biết giờ của Người đã đến. 

(Gio-an 13:1)
 

Hôm nay chúng ta đọc câu chuyện Chúa Giê-su rửa chân cho các môn đệ.  Đó là một hành vi hết mực Thứ 5-80

Hôm nay chúng ta đọc câu chuyện Chúa Giê-su rửa chân cho các môn đệ.  Đó là một hành vi hết mực khiêm nhường làm cho họ vô cùng bỡ ngỡ.  Do đó Người đã hỏi họ:  “Anh em có hiểu việc Thầy mới làm cho anh em không?... Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” (Gio-an 13:12.15).
          Vậy có phải đây là bài học cuối cùng không?  Có phải việc Chúa Giê-su rửa chân cho các môn đệ là cách kêu gọi họ hãy cố gắng sống đời khiêm nhường phục vụ hay không?  Phải và không phải.
          Phải, Chúa Giê-su đã khuyến khích các môn đệ hãy trở nên những tôi tớ khiêm nhường như chính Người, nên Người đã làm việc rửa chân một cách đặc biệt cảm động bằng một cử chỉ dạy dỗ.  Nhưng đó không phải là tất cả những gì Chúa Giê-su đã làm.  Bạn hãy nhìn cách thánh Gio-an giới thiệu câu chuyện:  “Chúa Giê-su biết giờ của Người đã đến… Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng” (Gio-an 13:1).
          Chúa Giê-su đã biết cuối đời Người sắp đến.  Vậy mà thay vì dành những giờ cuối cùng này cho bản thân, Người lại quên mình đi để tỏ cho các môn đệ thấy Người đã yêu thương họ đến chừng nào.  Người biết rằng lời nói suông sẽ chẳng làm nên công chuyện gì.  Lời nói có thể dễ dàng bị quên lãng.  Cho nên Người đã chọn cử chỉ dạy dỗ để gây cho họ một ấn tượng sâu xa.  Người đã chọn thực hiện một hành vi chỉ có những kẻ nô lệ mới làm.  Người đã chọn một hành vi sẽ được in sâu vào ký ức các môn đệ như là chứng từ tình yêu và dấn thân của Người đối với họ.  Với hành vi ấy, Chúa Giê-su đã vượt trên cả giới hạn của khiêm nhường.  Đó là cách để Người nói với họ:  “Thầy đã yêu thương anh em cho đến tận cùng những ngày cuối đời của Thầy trên trần gian.  Thầy tin tưởng anh em.  Thầy ký thác Giáo Hội của Thầy cho anh em.  Giờ đây anh em hãy đi và hãy dẫn dắt người ta như Thầy đã dẫn dắt anh em”.
          Phụng vụ tối hôm nay dành một lúc cho vị chủ tế rửa chân một số tín hữu của ngài.  Đó là cách ngài chiếu tỏa tấm gương của Chúa Giê-su.  Đó là cách ngài cho chúng ta dấu hiệu nói lên Chúa Giê-su đã dấn thân cho chúng ta đến chừng nào và tình Người yêu thương chúng ta mạnh mẽ biết chừng nào.  Với nghi thức đặc biệt tối nay, bạn thử tưởng tượng chính Chúa Giê-su đang hiện diện, nói với hết thảy chúng ta:  “Thầy yêu thương chúng con thật nhiều.  Chúng con có thể tin tưởng Thầy trong mọi hoàn cảnh”.
          “Lạy Chúa Giê-su, con thật sung sướng biết bao nhờ tình Chúa yêu thương con!”

 

Thứ 5-81: Ðức Giêsu thiết lập Giao Ước mới

Hôm nay, toàn thể Giáo Hội bắt đầu bước vào tam nhật Thánh, tưởng niệm việc Ðức Giêsu thiết Thứ 5-81

Hôm nay, toàn thể Giáo Hội bắt đầu bước vào tam nhật Thánh, tưởng niệm việc Ðức Giêsu thiết lập Giao Ước mới trong Mình và Máu Thánh Chúa. Việc Chúa lập Bí Tích Thánh Th, và lập bí tích Truyền chức thánh, và trao giới răn mới như trăn trối cuối cùng của Ðức Giêsu, trước khi Ngài giã từ trần thế. Ðức Giêsu đã yêu mến các kẻ thuộc về Ngài còn ở trong thế gian. Ngài đã yêu họ đến cùng. Tình yêu được diễn tả bằng việc rửa chân môn đệ.
Tình yêu phải như vết dầu loang lan tỏa tới khắp cả mọi người. Tình yêu càng rộng, cuộc chiến thắng của Ðức Giêsu càng mau tới giai đoạn hoàn tất.
 Cầu Nguyện:
Lạy Chúa Giêsu, trong ngôi vị Thiên Chúa, nhưng Ngài đã trở nên thấp hèn để cảm thông, chia sẻ với chúng con. Còn chúng con cùng trong thân phận làm người như nhau, đáng lẽ chúng con phải biết yêu thương đùm bọc lẫn nhau. Nhưng chúng con thường để cho ganh ghét, hận thù thắng thế. Ðiều răn mới Chúa truyền cho chúng con: hãy yêu thương. Xin cho chúng con mau mắn thi hành điều Chúa truyền trong gia đình, trong xóm đạo, nơi công sở... của chúng con. Ước gì nước Tình Yêu Chúa mau hiển trị. Amen.

 

Thứ 5-82: Thứ 5-83: GIỚI THIỆU

 Tam nhật Vượt qua – gồm Thứ Năm Tuần Thánh (Maundy Thursday), Thứ Sáu Tuần Thánh (Good Thứ 5-82

Tam nhật Vượt qua – gồm Thứ Năm Tuần Thánh (Maundy Thursday), Thứ Sáu Tuần Thánh (Good Friday), Thứ Bảy Tuần Thánh (Holy Saturday), và Lễ Phục Sinh (Easter). Điều này bao gồm Đêm Vọng Phục Sinh (Great Easter Vigil), đỉnh cao của Tam Nhật Thánh. Từ Triduum có gốc tiếng Latin nghĩa là “ba ngày”. Tam Nhật Thánh bắt đầu từ bắt đầu từ chiều Thứ Năm Tuần Thánh và kết thúc vào kinh chiều (Evening Prayer) của Chúa Nhật Phục Sinh. Như vậy, Tam Nhật Thánh gồm 3 ngày trọn vẹn bắt đầu và khết thúc vào chiều tối. Tam Nhật Thánh là một phần của Mùa Chay (ít là theo phụng vụ), nhưng Thứ Năm Tuần Thánh, Thứ Sáu Tuần Thánh và Thứ Bảy Tuần Thánh vẫn được tính vào 40 ngày Mùa Chay truyền thống. Tam Nhật Thánh cử hành trung tâm điểm của đức tin và ơn cứu độ: Sự chết và sự phục sinh của Đức Kitô. Như vậy, Tam Nhật Thánh tưởng niệm Bí tích Thánh Thể (Bí tích của các Bí tích), cuộc khổ nạn, sự đóng đinh, sự chết và sự phục sinh vinh quang của Chúa Giêsu vào sáng Chúa Nhật Phục Sinh. Cùng với việc Thăng Thiên, các sự kiện quan trọng này tạo nên Mầu nhiệm Vượt Qua (Paschal Mystery).
 Mặc dù năm phụng vụ khởi đầu vào Mùa Vọng nhưng vẫn đạt tới đỉnh cao trong Tam Nhật Thánh, đặc biệt vào Lễ Phục Sinh, lễ trọng của các lễ trọng, gọi là đại lễ. Giáo lý Công giáo mô tả tầm quan trọng của Tam Nhật Thánh thế này:
 Bắt đầu bằng Tam Nhật Thánh như nguồn ánh sáng, thời đại mới của sự phục sinh đổ đầy cả năm phụng vụ bằng sự rực rỡ của ánh sáng. Dần dần, về phương diện khác của nguồn gốc này, năm được tôn lên bằng phụng vụ. Đây thực sự là “năm của ân sủng Thiên Chúa”. Sự cứu độ hoạt động trong khung thời gian, nhưng vì sự viên mãn trong cuộc Vượt Qua của Chúa Giêsu và sự tràn đầy Thánh Thần, đỉnh cao của lịch sử được tiên báo là “sự nếm trước” và Vương quốc của Thiên Chúa đến trong thời đại của chúng ta (Giáo lý Công giáo, số 1168

 

Thứ 5-83: LỊCH SỬ

 Các Kitô hữu tưởng niệm cuộc tử nạn và sự phục sinh của Chúa Giêsu từ thời các Tông đồ, vì Thứ 5-83

Các Kitô hữu tưởng niệm cuộc tử nạn và sự phục sinh của Chúa Giêsu từ thời các Tông đồ, vì sự chết và sự sống lại của Ngài là trung tâm ơn cứu độ Kitô giáo. Ít là vào thế kỷ II, các Kitô hữu đã cử hành Đêm Vọng Phục Sinh, bắt đầu đêm thứ Bảy, tiếp tục đến sáng lễ Phục Sinh. Trong Đêm Vọng Phục Sinh, các Kitô hữu tưởng niệm lịch sử ơn cứu độ, chờ đợi sự trở lại của Chúa Giêsu, và cử hành sự phục sinh của Chúa Giêsu vào sáng sớm Chúa Nhật Phục Sinh. Trong Đêm Vọng Phục Sinh, các tân tòng lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy và Bí tích Thánh Thể lần đầu tiên.
 Từ việc cải cách phụng vụ của Công đồng Vatican II, Đêm Vọng Phục Sinh và Tam Nhật Thánh lại đạt được vị thế ưu tiên trong lịch Phụng vụ Công giáo Tây phương. Luật năm Phụng vụ và lịch Phụng vụ đã tái tiết lập Tam Nhật Thánh là mùa sau Mùa Chay trong Giáo hội Công giáo. Nhiều Giáo hội Tin Lành không coi Tam Nhật Thánh là mùa phụng vụ, và cử hành Mùa Chay cho tới trước Đêm Vọng Phục sinh.
 
 

Thứ 5-84: Thứ Năm Tuần Thánh

Thứ Năm Tuần Thánh (Maundy Thursday hoặc Holy Thursday) khởi đầu Tam Nhật Vượt Qua – ba Thứ 5-84

Thứ Năm Tuần Thánh (Maundy Thursday hoặc Holy Thursday) khởi đầu Tam Nhật Vượt Qua – ba ngày quan trọng nhất trong năm phụng vụ. Thời gian này kỷ niệm Bữa Tiệc Ly, Cuộc Khổ Nạn, và Sự Phục Sinh của Đức Kitô.
 Trong khi dùng Tiệc Vượt Qua, Chúa Giêsu cầm lấy bánh và rượu, rồi trao cho các môn đệ. Các Kitô hữu tiếp tục cùng chia sẻ bánh và rượu là một phần trong việc thờ phượng trong Giáo hội. Đó là Thánh Thể Đức Kitô.
 Bữa Tiệc Ly là tiệc Vượt Qua – bữa ăn mà người Do Thái chia sẻ với nhau để kỷ niệm thời gian Thiên Chúa giải thoát dân khỏi ách nô lệ người Ai Cập. Đêm Thứ Năm Tuần Thánh là đêm Chúa Giêsu bị môn đệ Giuđa phản bội tại Vườn Gết-sê-ma-ni (Vườn Dầu).
 Chữ Maundy có gốc tiếng Latin là “mandatum”, nghĩa là “điều răn” hoặc “mệnh lệnh”. Trong Bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu truyền lệnh: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13:34).
 Trong Bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu rửa chân cho các môn đệ. Hành động này đôi khi được thực hiện theo nghĩa đen như một cách tốt để nhắc nhở những người cai trị rằng họ có chức có quyền là để phục vụ mọi người chứ không phải để được phục vụ hoặc hưởng thụ.
 Tại Anh quốc, thói quen Quốc vương rửa chân cho người khác được thể hiện tới năm 1689. Lúc đó Hoàng đế hoặc Nữ hoàng rửa chân cho người nghèo vào ngày Thứ Năm Tuần Thánh tại Tu viện Westminster. Tuy nhiên, nên lưu ý rằng các chủ tiệm giặt quần áo phải rửa chân cho người khác trước khi Quốc vương phải rửa và hôn chân họ. Thực phẩm và quần áo được trao tặng cho người nghèo.
 Ngày nay, tại Anh quốc, Nữ hoàng theo truyền thống là “lì xì” tiền cho những người hưu trí, gọi là Maundy Money (tạm dịch “tiền lệnh”). Truyền thống “lì xì” tiền cho người nghèo có từ thế kỷ XIII, thời Vua Edward I.
 Có một thời, những người nhận tiền phải cùng phái tính với Quốc vương, nhưng từ thế kỷ VIII, luật này không còn. Hằng năm, vào ngày này, Nữ hoàng tham dự Lễ Hoàng Gia (Royal Maundy service) tại một trong các đại giáo đường trong nước. “Tiền lệnh” được “lì xì” cho quý ông và quý bà hưu trí ở gần nhà thờ đó.
 Các vệ sĩ đựng “tiền lệnh” trong các ví da đỏ và trắng trên khay vàng để trên đầu. Tiền trong ví đỏ là tiền thay cho thực phẩm và quần áo, còn tiền trong ví trắng là tiền đồng bằng kim loại dùng để “lì xì”. Năm 2009, mỗi người nhận được trao 2 ví – ví đỏ có đồng 5 Bảng Anh, kỷ niệm lần thứ 500 ngày lên ngôi của Vua Henry VIII và đồng 50 xu để kỷ niệm ngày thành lập Vườn Kew, còn ví trắng có 83 xu vì Nữ hoàng được 83 tuổi.
 Nhiều Kitô hữu kỷ niệm Bữa Tiệc Ly là cử hành Thánh lễ chiều Thứ Năm Tuần Thánh. Tại nhiều nhà thờ có nghi thức rửa chân. Sau Thánh lễ, bàn thờ được bỏ khăn. Nhiều nơi tổ chức chầu Thánh Thể suốt đêm cho tới sáng, với ý thông phần đau khổ với Đức Kitô trong những giờ cuối đời của Ngài tại Vườn Dầu, trước khi Ngài bị xử tử vào Thứ Sáu Tuần Thánh
.Hãy cầm lấy tấm-bánh-cuộc-đời-mình, tạ ơn Chúa, bẻ ra và trao cho nhau, để thực hiện mệnh lệnh yêu thương của Thầy Chí Thánh Giêsu!

 

Thứ 5-85: ĐÂY LÀ MẦU NHIỆM ĐỨC TIN

Lm. Uyên Nguyen
 

Đêm nay cũng nói được như vậy, ‘đêm mầu nhiệm đức tin’. Ngày nay, cứ mỗi thánh lễ, sau khi vị Thứ 5-85

Đêm nay cũng nói được như vậy, ‘đêm mầu nhiệm đức tin’. Ngày nay, cứ mỗi thánh lễ, sau khi vị chủ tế đọc lời truyền phép trên bánh và rượu, câu xướng này được tung hô: ‘Đây là mầu nhiệm đức tin’. Mầu nhiệm đức tin mà GH tuyên xưng ngày nay là mầu nhiệm đức tin vào chiều đêm thứ năm này, nhưng không phải thứ năm nào cũng được mà phải là đêm thứ năm ĐGS cùng ăn bữa tối cuối cùng tự ý Người muốn cùng với 12 tông đồ.
Chính đêm nay được gọi là đêm thứ năm Tuần Thánh, nghĩa là thứ năm trong tuần mà ở đó tất cả những gì được diễn ra trong đêm này cũng như hai ngày đêm nối tiếp cuối tuần đều thật thánh. Bao gồm tất cả lời nói hành vi cử chỉ của ĐGS được phô diễn vừa mang tính hiện thực vừa mang tính thực hiện mà cứu cánh của tất cả đều dành cho con người, đem lại vĩnh phúc cho con người. Thứ năm thuộc vào tuần duy nhất này được gọi là thứ năm tuần Thánh. Tuần Thánh là tuần dừng chân của ĐGS, tuần kết thúc sứ vụ trần thế của Người, sứ vụ loan báo và thể hiện tin vui. Tin vui nghe thì mừng, hớn hở hỉ hoan, nhưng nhìn ngắm thì rất sốc bởi do có sự nghịch lý và mâu thuẫn lớn lao giữa hai sự thật vừa mơ hồ mênh mang siêu nhiệm vừa  không thể chối cãi. Đó là giữa sự chết của ĐGS và sự sống vĩnh phúc của con người. Thường chết là sự hủy diệt, sống là sự tạo thành mới. Thế nhưng ở đây sự sống và nhất là sự sống đặc thù bất diệt lại nảy sinh từ trong sự chết hủy diệt ấy. Có nghĩa là con người sẽ nhận ra và tìm được sự sống trường sinh bất tử của mình từ trong cái chết hủy diệt đã cất đi mạng sống ĐGS khỏi trần gian.
Riêng đêm thứ năm nay, tuần tự ĐGS thực hiện những hành vi rất trái ngược khác thói đời nhưng cũng hàm chứa những bài học siêu đẳng. Cử chỉ đầu tiên được gặp thấy là hành vi Người rửa chân cho các tông đồ. Người chỗi dậy, cởi áo, lấy dây thắt lưng, đổ nước vào chậu rửa chân, lấy dây thắt lưng mà lau khô. Với hành vi này Người dạy cho các tông đồ là những đại biểu nhân loại hai bài học đắt giá. Bài học nên sạch để dùng bữa mà Người đang chuẩn bị cho các ông như Người đã nói với Phêrô khi ông này phản đối việc Thầy rửa chân cho ông: “Việc Thầy làm bây giờ anh chưa hiểu!…Nếu Thầy không rửa chân cho anh, anh sẽ không được dự phần với Thầy”. Bài học thứ hai có tâm tình từ tốn phục vụ, Người chỉ dạy rõ ràng sau khi mặc áo lại, qua câu hỏi gợi ý các ông: “Anh em có biết việc Thầy vừa làm cho anh em không?. Từ đó Người dạy cho các ông: “Anh em gọi Ta là Thầy và là Chúa thì phải lắm vì đúng thật Thầy như vậy! Vậy nếu Ta là Cha và là thầy mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Vì Thầy đã làm gương cho anh em để anh em cũng noi theo mà làm như Thầy đã làm cho anh em”. Hai bài học này gói gọn trong cùng một hành vi rửa chân nhưng không đơn độc rời rạc riêng lẻ, không chút hàm chứa nào với bữa ăn Người sắp thực hiện thiết đãi các ông.
Tiếp theo là bữa ăn tối. Bữa ăn tuy bên ngoài không cao lương sơn hào hải vị chỉ có bánh và rượu. Thức ăn thức uống bữa ăn thật khác thường nhưng lại là bữa ăn mang tính lưu tồn và hiện thực mỗi khi tái diễn. Bữa ăn mang đậm chất dấu chỉ biểu trưng. Điều này sẽ được nhận ra khi phân tích những gì mà Phaolô trong bài đọc 2 của nghi lễ chiều đêm nay mô tả về việc Thầy dùng bữa với các tông đồ cùng với những lời truyền dạy các ông. Trước tiên, Phaolô không chút hoài nghi những gì ngài đã dạy cho các kitô hữu nơi giáo đoàn Corintô. Ngài đã đoan chắc, điều ngài dạy không do từ ngài mà do từ ngài đã lãnh nhận nơi ĐGS. Ngài quả quyết: “Tôi đã lãnh nhận nơi Chúa những gì tôi truyền dạy anh em”. Và điều mà Phaolô lãnh nhận để truyền lại là: “Chúa Giêsu trong đêm bị nộp, Người cầm lấy bánh và tạ ơn, bẻ ra và phán: anh em hãy lãnh nhận mà ăn, này là mình Ta, sẽ bị nộp vì anh em, anh em hãy làm việc này mà nhớ đến Ta”. Như vậy chưa phải là hết, Phaolô tường thuật tiếp: “Cùng một thể thức ấy,sau bữa ăn tối, Người cầm lấy chén và phán: Chén này là Tân Ước trong Máu Ta. Mỗi khi anh em uống, anh em hãy làm việc này mà nhớ đến Ta”.Qua những nét chấm phá mô tả bữa ăn của Thầy cùng với các tông đồ như vậy, Phaolô cố làm sáng tỏ ý sâu sắc là nối kết những gì đang diễn ra ở hiện tại với những gì sắp diễn ra ở tương lai là một. Thế nên ta nhận ra hàm ý của Phaolô khi ngài chủ ý viết: “Trong đêm bị nộp”. Những điều như vậy người ta hiểu ra là bữa ăn tối giờ đây cùng với các tông đồ đích thật trong giờ phút của đêm chưa bị nộp là chính những gì sẽ xảy ra trong ngày mai thứ sáu mang tính chất thí ban mạng sống chết trên thập giá làm nên bữa ăn nuôi sống muôn người, như lời Thầy nói khi trao bánh và rượu cho các ông ăn và ướng: ‘Bánh là Mình Ta sẽ bị nộp’, ‘Rượu là Máu Ta sẽ đổ ra’. Bữa ăn mà Chúa đãi các tông đồ, không mang tính nuôi xác thể mà bữa ăn Nước Trời, bữa ăn mang tính hiệp thông với Chúa trong đời sống vĩnh hằng và vĩnh phúc trường tồn qua cái chết thí mạng vì phục vụ bạn hữu. Tham dự bữa ăn như vậy, ai ăn phải được sạch. Bây giờ thì các tông đồ không thể hiểu nhưng rồi các ông sẽ có cảm nghiệm và xác tin.
Còn lại việc của các ông là bổn phận, bổn phận sống, bảo tồn và lưu truyền hằng ngày rập khuôn mọi hành vi cử chỉ của Thầy để tái hiện thực cái chết thí ban để nhớ đến Thầy, nhất là, qua đó ai tin và tiếp nhận, sẽ có được ơn phúc mà Thầy đã hi sinh thí mạng phục vụ họ để họ được bồi dưỡng sự sống TC trường sinh, mới khả thi đạt được sự kiết hiệp với TC trong nước Ngài. Vì điều này Phaolô trong tường thuật của ngài, đã hai lần nhắc lại lời Thầy nói với các tông đồ là: “Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”. Ngày nay, vì sự vâng phục, GH trong lời đó của Thầy vì được trao quyền tư tế Linh mục, không ngừng cử hành bữa ăn xa xưa ấy giữa Thầy với các tông đồ hằng ngày ở mọi nơi mọi lúc, bữa ăn đêm thứ năm là hình thức báo trước sự hi sinh của Chúa thí mạng chết trên thập giá ở giữa ngày thứ sáu vì cứu cánh hạnh phúc nhân loại: ‘Ai ăn bánh này sẽ được sống đời đời’.
Với chúng ta ngày nay, theo những gì đã được nói trên, ai không rước lễ có thể là sự từ chối mọi ơn phúc mà Chúa dọn sẵn cho họ, cũng có nghĩa là xem thường ý muốn thiện hảo và công khó Chúa đã vì yêu tự nguyện hy sinh vì phục vụ họ nên đã làm nên và ban của ăncho họ.
Ăn thịt và uống máu Chúa qua mỗi thánh lễ là sự tham dự bữa ăn đêm thứ năm tuần thánh, đêm mầu nhiệm đực tin, để như các tông đồ kết hợp với Chúa, là mong ước đón nhân sự sống vĩnh phúc trong nước trời, là củng cố lẽ sống và hoạt động vì vinh quang TC và hạnh phúc bất tận của chính mình.

 

Thứ 5-86: RA ĐI VỚI “CHIẾC LỌ MỎNG DÒN”

Lm. Giuse Trương Đình Hiền
 

Tin mừng Thánh Gioan mà chúng ta vừa nghe đã mở đầu bằng một mệnh đề mà trong đó có tới 2 Thứ 5-86

Tin mừng Thánh Gioan mà chúng ta vừa nghe đã mở đầu bằng một mệnh đề mà trong đó có tới 2 từ “GIỜ” được nhấn mạnh : “Trước lễ Vượt Qua, Đức Giêsu biết “GIỜ” của Người đã đến, “GIỜ” phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha.”
Chúng ta biết, Thánh Tông Đồ Gioan đã khéo léo tổng hợp ý nghĩa thần học về khái niệm “Giờ” của Thánh Kinh bao gồm 2 ý niệm : “Giờ” cánh chung của chương trình cứu độ (Cánh chung luận) và “Giờ” khổ nạn của Đấng Cứu Thế (Ki-Tô luận).( )
Thật vậy, với Thánh Gioan, Đức Kitô chính là Đấng được Chúa Cha sai đến để thực hiện chương trình cứu độ (tôn vinh Thiên Chúa – Cứu độ con người) ; và Ngài đã thực hiện hoàn tất chương trình đó qua con đường “vượt qua” của mình (Khổ nạn-chết-sống lại-lên trời). Chính trong viễn tượng đó, Thánh Gioan đã trình bày một Đức Kitô dấn thân vào hành trình khổ nạn như tiến tới đĩnh điểm của cuộc tôn vinh, của ngày toàn thắng, của sự mạc khải tối hậu chân dung và sứ mạng của Ngài :
“Đã đến giờ Con Người được tôn vinh” (Ga 12,23).
“Lạy Cha, giờ đã đến ! xin Cha tôn vinh Con Cha, để Con Cha tôn vinh Cha ! (Ga 17,1)
Và chính qua khung cảnh phụng vụ của Thánh lễ Tiệc Ly nầy, Lời Chúa và cách “giải trình” của các nghi thức phụng vụ đã cho chúng ta từng bước đi sâu vào huyền nhiệm “Giờ” của Đức Kitô, để từ đó, chúng ta sống cái “giờ” của Ngài trong chính đời thường của chúng ta hôm nay.
Trước hết, trích đoạn sách Xuất Hành tường thuật lại nghi lễ Vượt Qua mà Chúa truyền cho Mô-sê và A-ha-ron thông báo cho dân Ít-ra-en thực hiện trước khi “xuất Ai Cập” lên đường về đất hứa. Dấu chỉ đặc trưng của “bữa ăn Vượt Qua” nguyên thủy nầy chính là “Con chiên bị sát tế” và “máu chiên ghi trên khung cửa nhà”. Cũng như bao người Do Thái khác, Đức Kitô hằng năm đã cử hành Lễ Vượt Qua nầy; và chính trong bữa ăn Vượt qua cuối cùng – Giờ đã đến- (mà hôm nay Phụng Vụ đang tái diễn), Đức Kitô đã biến mình thành “con chiên vượt qua bị sát tế” khi biến bánh thành thịt và rượu thành máu. Lễ Vượt qua của giao ước cũ (Cựu Ước) mang giá trị tiên báo nay đã được hoàn tất và hiện thực qua Tiệc Thánh Thể của Giao ước Mới. “Máu Giao ước mới và vĩnh cửu sẽ đổ ra cho các con và nhiều người được tha tội…” ( )
Và chúng ta cũng biết rằng : sau khi cử hành Lễ Vượt Qua, dân Ít-ra-en đã cùng với Mô-sê lên đường, vượt qua kiếp đời nô lệ để tìm về đất hứa của tự do trong đời sống của một dân tộc được Chúa tuyển chọn. Trong khi đó, sau Tiệc Thánh Thể, Chúa Kitô đã dấn thân vào con đường khổ nạn-chết trên thánh giá và phục sinh để mang ơn cứu độ cho đoàn Dân Mới được cứu chuộc : “Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi.”(Ga 12,32).
Còn chúng ta thì sao ? Thánh Phaolô trong thư gởi giáo đoàn Cô-rin-tô nơi BĐ 2 đã nhắc nhở : “Cho tới ngày Chúa đến, mỗi lần ăn bánh và uống chén nầy, là anh em loan truyền Chúa chịu chết”. (1 Cr 11,26). “Loan truyền Chúa chịu chết” phải chăng là làm chứng về cuộc khổ nạn của Chúa bằng việc chết cho tội lỗi của chính mình, bằng việc đón nhận những thương đau khổ lụy xảy đến giữa đời thường với tất cả tình yêu và trung tín, bằng việc biến cuộc sống trở nên “tấm bánh được bẻ ra” qua sự dấn thân sẻ chia và phục vụ mọi người trong tinh thần quảng đại, vị tha, bác ái…
Và đó lại chính là điều mà Tin Mừng Thánh Gioan được trích đọc trong Lễ Tiệc Ly hôm nay nhắm đến, khi Ngài cố ý không nhắc tới việc “Truyền Phép” mà lại nhấn mạnh tới dấu chỉ “Rửa Chân”. Vâng, Thánh Thể chính là sự hạ mình thẳm sâu của Đấng là Mục Tử tối cao sẵn sàng vì đoàn chiên mà trở nên “hạt lúa mì mục nát trong lòng đất”, của Đấng là “Tấm bánh được bẻ ra” để nên “lương thực trường sinh nuôi sống con người”, của Đấng là Thầy, là Chúa mà sẵn sàng cúi xuống, cởi bỏ vinh quang Thiên Chúa để trở thành tôi tớ “rửa chân cho anh em”…
Chính nghi thức “Rửa Chân” được đan xen vào Lễ Tiệc Ly hôm nay đã nói lên tất cả chiều kích mục vụ của mầu nhiệm Thánh Thể ; và phải chăng đó cũng chính là mối tương quan mật thiết giữa Thánh Thể và chức linh mục thừa tác : “Hãy làm việc nầy mà nhớ đến Thầy”. Đã là linh mục thì không thể xa lìa Thánh Thể ; và đã cử hành Thánh Thể thì không thể lìa xa Đức Kitô. Cho nên, chúng ta không chỉ quy tụ chung quanh linh mục để cử hành Thánh Thể cho riêng mình mà còn phải hiệp thông và cầu nguyện cho chính các Ngài được luôn trở nên “những mục tử như lòng Chúa mong ước”, những mục tử sẵn sàng “hy sinh mạng sống vì đàn chiên” (Ga 10,11).
Sau tiếng chuông trống rộn ràng của bài ca Vinh Danh hôm nay, Phụng Vụ sẽ dẫn cộng đoàn chúng ta đi vào trong cái im lặng thánh thiêng của “phòng Tiệc Ly”, của “đêm hấp hối trong Vườn Dầu” và của “chiều ảm đạm trên đồi Sọ”. Chắc chắn những phút giây lặng thầm bên Nhà Tạm sau Thánh lễ sẽ là những thời khắc thật quý hóa và sâu lắng để chúng ta cùng với Dân Chúa khắp nơi suy niệm và cầu nguyện về sự Thương Khó, về tình yêu thẳm sâu, về những phản bội của loài người qua những gương mặt như Giuđa, Phêrô, về những thái độ và tâm tình yêu mến của Mẹ Maria, ông Simon, bà Vêrônica…
Như vậy, cử hành Lễ Tiệc Ly hôm nay, mỗi người chúng ta được một lần nữa đón nhận chính “quà tặng tuyệt vời nhất”( ) để nhờ đó kết hợp với đời mình và toàn thể dân Chúa làm nên “Lễ Tạ Ơn” trọn hảo như đúng tên gọi của bí tích Thánh Thể : EUCHARISTIA : LỄ TẠ ƠN ; và một lần nữa được gọi mời sống chính cái “Giờ” đặc biệt của Chúa Giêsu, Giờ yêu thương tự hiến, Giờ phục vụ khiêm hạ, Giờ cứu độ vinh quang…, cái “Giờ” mà diễn tả theo ngôn ngữ thi ca của nhà thơ Trăng Thập Tự, đó chính là “Giờ” :
… ta sẽ đem thịt máu mình ra khoản đãi !
Phải rồi, phải rồi, tại sao không ?
Ta sẽ trao chén máu tươi hồng
Và sự sống run trong từng thớ thịt.
Ai nếm thử, sẽ đời đời không chết,
Đúng hơn, nó sẽ sống đời đời.

Ta cũng mang theo đây chiếc lọ mỏng dòn
Nhốt sẵn chất thơm của ngàn muôn thế kỷ.
Ta sẽ đập vỡ mà không lo uổng phí
Vì ta cần xức dầu thơm ta lên khắp cả vũ hoàn…( )
Vâng, thế giới hôm nay cần được xức lên hương thơm từ “chiếc lọ mỏng dòn” là chính Thân Mình của Đức Kitô, là chính Thánh Thể của Đức Kitô. Và mỗi người chúng ta, sau mệnh lệnh : “ITE MISSA EST” (Lễ đã xong, nào hãy lên đường), có trách nhiệm mang “chiếc lọ mỏng dòn đó” giới thiệu và chia sẻ cho anh em trên mọi nẻo đường trần thế. Amen.

 

Thứ 5-87: BÀI HỌC TÌNH YÊU

Hồng Lan
 

Khác với các bữa ăn với gia đình chị em Macta, hay bữa ăn tại nhà ông Lêvi. Trước khi chịu khổ Nạn, Thứ 5-87

Khác với các bữa ăn với gia đình chị em Macta, hay bữa ăn tại nhà ông Lêvi. Trước khi chịu khổ Nạn, Chúa Giêsu đã cùng với các môn đệ ăn bữa ăn cuối cùng. Bữa ăn hôm nay, Chúa Giêsu nói cho các môn đệ về câu chuyện tình yêu qua sự phục vụ.
Giới hạn của tình yêu là yêu không giới hạn
Khi Chúa Giêsu biết Người sẽ phải lìa xa những người bạn thân tín. Người để chứng tỏ tình yêu của Người. Vì thế, Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng”. Người yêu Phêrô, một kẻ đã chối Người. Người yêu Giuđa, kẻ phản bội Ngài. Người yêu thương từng con người chúng ta.
Tình yêu bằng phục vụ
Tình yêu không chỉ bằng lời nói mà tình yêu còn phải thể hiện bằng việc làm cụ thể. Hôm nay, trong bữa ăn Chúa Giêsu đã làm một việc khiến các môn đệ hết sức ngạc nhiên. Người “đứng dậy,rời bàn ăn, cởi áo, lấy khăn, đổ nước vào chậu đi đến từng người rửa chân cho các môn đệ” (x. Ga 13, 4-5). Người đã làm công việc của một đầy tớ đối với ông chủ, của một đệ tử đồi với một người thầy. Tình yêu của Người không còn khoảng cách, Người đã đi ra khỏi vị trí của một vị Thiên Chúa để trở thành người phục vụ mọi người. Một tình yêu khiêm hạ mà Chúa Giêsu đã dành cho từng người chúng ta.
Khi Chúa Giêsu đến rửa chân cho Phêrô thì ông không chịu “Thầy mà rửa chân cho con, không đời nào con chịu đâu?” (?) Ông cảm thấy áy náy và rất ái ngại vì ông chưa hiểu việc Chúa làm. Thầy Giêsu không chỉ là rửa đôi chân, nhưng Người rửa đôi chân đã nhuốm đầy bụi trần là những tội lỗi mà Phêrô đã phạm, bởi thế mà Người nói “Nếu Thầy không rửa cho anh, anh sẽ chẳng được chung phần với Thầy” (?) . Người cũng nói với mỗi người chúng ta hãy để cho Người được rửa tâm hồn chúng ta sạch khỏi mọi tội lỗi. Người đã làm như thế để chúng  ta cùng được với Người chung hưởng niềm vui trên nước trời mai sau. Chúa Giêsu đã làm gương là để chúng ta noi gương. Chúng ta cũng hãy rửa chân cho nhau, hãy phục vụ nhau bằng tất cả tình yêu.
Tình yêu hiến tế
Trong bữa ăn cuối cùng này, Chúa Giêsu thiết lập mối tương giao của tình yêu Thiên Chúa với con người. Người đã lập Bí Tích Thánh Thể để chúng ta được Người nuôi dưỡng bằng chính Mình và Máu Thánh của Người. Người cũng lập Bí Tích Truyền Chức Linh Mục để Linh Mục là hiện thân của Người phục vụ anh em. Tình yêu của Thiên Chúa là thế đó. Người chấp nhận làm Tấm Bánh nhỏ được bẻ ra nuôi sống chúng ta, chấp nhận là một con người sống giữa thế gian nhưng không thuộc về thế gian, chấp nhận trở thành tôi tớ phục vụ tất cả chỉ vì yêu chúng ta.
Vậy tình yêu của mỗi người chúng ta dành cho Chúa, cho tha nhân như thế nào? Nếu tình yêu của ta đang nồng nàn thì hãy làm cho nó được tỏa hương. Còn nếu tình yêu của chúng ta đã nhạt phai thì hãy mau hâm nóng lại bằng cách hãy trao ban yêu thương. Hãy thể hiện tình yêu ấy bằng hành động trong cuộc sống hiện tại.
Lạy Chúa Giêsu xin Chúa rửa sạch đôi chân nhuốm đầy bụi trần của con để con cũng được chung phần với Chúa. Xin cho con khắc sâu bài học yêu thương trong phục vụ để con thực thi lệnh truyền qua các công việc con làm mỗi ngày. Amen.

 

Thứ 5-88: CHÚA GIÊSU RỬA CHÂN CHO CÁC MÔN ĐỆ CỦA NGƯỜI

P. Trần Đình Phan Tiến
Thưa quý vị, thưa các bạn
 

Thứ Năm Tuần Thánh là ngày kỷ niệm một biến cố,  vâng, hay nói đúng hơn là nhiều biến cố, trong Thứ 5-88

Thứ Năm Tuần Thánh là ngày kỷ niệm một biến cố,  vâng, hay nói đúng hơn là nhiều biến cố, trong đó việc “ Chúa Giêsu rửa chân cho các môn đệ ” là biến cố nổi bật nhất Chúa. Vâng, đây là bữa tiệc cuối cùng, gọi là Tiệc Ly.
Trong bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu đã để lại những giáo huấn gì ?! Thưa chỉ một giáo huấn duy nhất, đó là : “ YÊU THƯƠNG “. Yêu thương là chủ đề nới Thiên Chúa, yêu thương là mục đích cứu độ, yêu thương là dấu chỉ khổ nạn và phục sinh. Vâng, yêu thương xuất phát từ Thiên Chúa qua Đấng Cứu Chuộc làm Người Giêsu. Điều ấy quá rõ rồi.
Nhưng, đặc biệt ngày mà “Thầy và trò ly biệt ”, có thể nói, ngày “buồn bã” nhất, Tiệc thì phải vui mừng, nhưng tiệc chia tay, tứ là TIỆC LY , thì khỏi phải nói cái “buồn “ của nó.
Vâng, thưa quý vị, trong bữa Tiệc Ly ấy, Chúa Giêsu làm gì ?! Thưa, Tin Mừng thuật lại : “ Người rời bàn ăn, cởi lấy áo ngoài, lấy khăn thắt lưng, tay bưng chậu nước đến từng người môn đệ mà rửa chân cho họ rồi lấy khăn mà lau .” ( Ga 13, 4 -5 )
Vâng, hai  câu 4- 5, thánh Gioan ghi lại thật tỉ mỷ việc ( hành động ) Chúa Giêsu rửa chân cho các môn đệ. Tại sao vậy? ! Thưa quý vị, Thưa , vì : “Người yêu thương họ đến cùng”.
Vâng, một cử chỉ “yêu thương” mà suốt hơn hai ngàn năm qua, chấn động cả đất trời, cho dù thế giới tối tăm có tìm cách che lấp cũng không thể che lấp nỗi. Bởi vì, nghĩa cử yêu thương ấy của một Ngôi Vị Thiên Chúa làm Người chứ không phải là của một nhân vật nào khác. Nhân vật Giêsu đã làm một nghĩa cử đầu tiên và duy nhất. Bởi vì, việc “rửa chân “ là việc của đầy tớ, việc của nô lệ, ngày nay, người ta gọi là ô-sin.
Vâng, như vậy, Chúa Giêsu  “đã trở nên” đầy tớ  chứ không phải ông Chủ qua nghĩa cử rửa chân. Vâng, ngay cả thời bấy giờ và suốt hơn hai ngàn năm nay. Việc rửa chân cho người khác, hơn nữa người bề dưới của mình , vẫn bị cho là việc “ hèn kém “. Nhưng, chính Chúa Giêsu đã làm cho môn đệ của Người.
Vâng, qua đoạn Lời Chúa hôm nay ( Ga 13, 1-15), cuộc đối đáp giữa Chúa Giêsu với thánh Phero, và sự giải thích việc làm của Người ( từ c 6 – c 15). Chúng ta thấy, hết sức rõ ràng, cuối cùng Người đưa ra “kết luận “ : “ Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em “ ( c 15). Vâng, chính Chúa đã thực hiện điều Người day, đến đây chúng ta nhớ lại câu : “ Chứng nhân thì cần hơn thầy dạy ”, vì dạy điều mà minh không bao giờ thực thi chắc chắn không có hiệu quả.
Như vậy,Thánh Lễ Tiệc Ly chính là thời gian và địa điểm xuất phát Bí Tích Thánh Thể và Thánh Chức Linh Mục. Nhưng, Việc “Rửa Chân” cho các mộn đệ của Chúa Giêsu kiện toàn nên hai “Bí Tích “ấy. Như vậy, việc “ Rửa chân” chính là ” Bí Tích Tình Yêu ”.
Bí Tích Thánh Thể và Thánh Chức Linh Mục là hai trong một, nhưng, nếu không để thi hành vì “yêu thương”, thì cọi như “phản tác dụng”. Biết được điều ấy, Chúa Giêsu đã “ minh chứng” một  nghĩa cử yêu thương.
Việc “Rửa Chân” cho các môn đệ không được nhìn nhận như một Bí Tích, bởi vì việc làm nầy không thể giới hạn, ai cũng làm được, nhứng , ý nghĩa thần học nơi việc làm của Chúa Gie6su, vì chính Người thực hiện, thì dấu chỉ ấy nằm nơi “ Bí Tích yêu thương“. Chúng ta đọc và suy niệm kỹ Đoạn Tin Mừng ( Ga 13, 1- 15)  hôm nay, chúng ta sẽ chiêm niệm được một “ Bí Tích “, bởi vì, chính Chúa Giêsu đã “làm và nói ” một hành động mà thế nhân cho là “ hèn kém “. Chắc chắn từ câu 6 đến câu 15 là Đoan tin Mừng “đóng khung” để suy gẫm.
Như vậy, Đoạn Gioan 13, là một Đoạn Tin Mừng thánh Gioan chỉ ghi hai điều chính, một là : ”Chúa Giêsu rửa chân cho các môn đệ “. Hai là : “ Chúa Giêsu  loan báo Giu-đa sẽ phản bội”.
Như vậy, suy niệm Tin Mừng theo thánh Gioan ( Ga 13, 1- 15) trong ngày Lễ Tiệc Ly Thứ Năm Tuần Thánh, rõ ràng không có chi tiết Chúa Giêsu “ lập Phép Thánh Thể và chức linh mục ”. Điều đó cho thấy , thánh Gioan chú trọng đến “ Lời truyền yêu thương “ qua nghĩa cử “Rửa Chân “ cho các môn đệ của Người. Cụ thể , nếu ngày nay, ai được một vị giám mục, hay giáo hoàng rửa chân cho, thì người ấy cảm thấy hạnh phúc như thế nào ? Thực thi cách tích cực như Thầy Chí Thánh, Đức Giáo Hoàng Phanxico đã thực hiện việc rửa chân nầy cho các tù nhân và Thứ Năm tuần Thánh năm nay, ngài vẫn giữ tiền lệ ấy.
Vâng, vì “ Chúa Giêsu đã yêu thương họ đến cùng”, nên làm môn đệ Chúa, chúng ta không thể đi ngược lại. Thứ Năm Tuần Thánh không phải là dịp diễn lại cho vui,mà là dịp để suy niệm, để sống  “ mầu nhiệm yêu thương”. Chúng ta không phải sống để yêu thương cụ thể một cá nhân nào đó, mà là vì “ Ai “ mà chúng ta yêu thương họ, như Người đã yêu thương chúng ta đến cùng.
Chúng ta không có dịp áp dụng nghĩa cử “rửa chân “ theo nghĩa đen, nhưng, chúng ta luôn áp dụng theo nghĩa bóng  đối với tất cả những người chúng ta gặp, từ trong gia đình ra đến xã hội. Vì, nghĩa cử Chúa dạy áp dụng theo tình thần thì hạnh phúc hơn. Nếu chúng ta chỉ “ rửa chân “ cho nhau theo nghĩa đen , có nghĩa là theo hình thức, thì điều ấy chỉ có tác dụng nhất thời, nhưng, nếu chúng ta thực thi theo ý nghĩa tình thần thì tuyệt vời !
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã dạy cho chúng con bài học yêu thương muôn thuở, xin cho chúng con biết thực thi Lời Chúa như Chúa đã làm, hầu xứng đáng là môn đệ của Chúa, để thế gian nhận biết mà tôn vinh Cha trên Trời, và để  “ người ta cứ dấu nầy mà nhận biết các con là môn đệ Thầy, là các con yêu thương nhau “  Amen.

 

Thứ 5-89: NGHỊCH LÝ CUỘC TÌNH

Lm. DĐH.
 

Biết nhiều khổ nhiều, có yêu mới khổ vì yêu, làm phúc phải tội, chắc không phải là những lời “than Thứ 5-89

Biết nhiều khổ nhiều, có yêu mới khổ vì yêu, làm phúc phải tội, chắc không phải là những lời “than thân trách phận” vu vơ, đôi khi vì tình đời trái ngang mà ta thốt lên: thật mấy ai học được “chữ ngờ” ! Có những sự lạ tưởng đang mơ, anh hàng xóm của tôi quá túng nghèo bỗng trở nên giầu khác thường, người xưa gọi với mỹ danh là: lên như diều gặp gió. Có những đôi vợ chồng trong héo ngoài tươi, chỉ vì không muốn ảnh hưởng đến việc học tập của con cái, do đó họ phải hy sinh, phải khổ đau nhiều mà con cái không hề hay biết.
Cha ông chúng ta nói rằng: trời đánh còn tránh bữa ăn, vậy đó, Đức Giêsu năm xưa đã đi ra ngoài quy luật, đang khi ăn Ngài đứng dậy cởi áo ngoài, thắt lưng cho gọn lại, lấy nước rửa chân cho các học trò. Đã vậy, tại sao Ngài không rửa đôi tay cho sạch mà lại rửa chân ? Nghịch lý mà ngay người trong cuộc không thể hiểu nổi hành động của Thầy mình: uống rượu mà không say, rửa chân nhưng sẽ sạch cả tâm hồn ; không để Thầy rửa, các con sẽ không được thông phần với Thầy. Nếu các con không đón nhận tình yêu thương của Thầy, các con sẽ không biết yêu như Thầy yêu. Thầy Giêsu ăn tiệc với các học trò, nhưng không say rượu mà say tình, Thầy Giêsu không rửa mắt, hay rửa mặt cho các đệ tử, nhưng nhất định rửa đôi chân nhằm giúp các môn sinh đứng vững trước sứ mạng tông đồ được giao phó.
Tham dự vào “Đại tam nhật vượt qua”, phụng vụ không giới thiệu về sự cao siêu huyền bí nơi tình yêu cha mẹ, tình yêu quê hương, mà lưu ý chúng ta đến tính bất ngờ giữa tình thầy trò Giêsu. Các môn đệ hoảng hốt giật mình vì tình thầy lạ kỳ đến độ dám quỳ gối rửa chân cho các đệ tử, ngay trong bữa ăn. Ngài không cùng các học trò bày mưu lập kế để thu phục đám đông, để phát triển hài hòa tình làng nghĩa xóm, đúng hơn Ngài kêu gọi mọi người cùng xây dựng một tình yêu bền vững. Trong khi xã hội chủ trương né tránh khổ đau, tìm kiếm hạnh phúc trần thế, minh chứng cho mọi người biết thế nào là công thành danh toại, Đức Giêsu lại diễn tả cường độ yêu đến cùng tận. “Chết cho người mình yêu”.
Nâng cao mức độ hiểu biết cho các học trò, tăng khả năng miễn nhiễm do dự cho tinh thần phục vụ của các học trò tưởng là cần thiết. Nhưng không, Ngài cho biết: Thầy là Thầy, là Chúa mà còn rửa chân cho các con, vậy các con hãy thường xuyên rửa chân cho nhau. Một nghịch lý khiến các môn đệ xưa kia và các môn đệ hôm nay không khỏi hãi sợ, càng làm lớn, càng phải hy sinh hãm mình nhiều, hiểu biết nhiều thì phải chia sẻ nhiều, phục vụ nhiều. Thầy Giêsu không rửa đôi tay cho các môn đệ, nhằm giúp các ông đưa của ăn thức uống vào miệng cho vệ sinh, mà lại rửa đôi chân cho các ông. Một hành động, khiến Phêrô phải kêu lên: vậy “xin Thầy không những rửa chân, mà hãy rửa cả tay, cả đầu con nữa”.
Nghịch lý mà người đời vẫn cho rằng: ăn lúc đói, nói lúc say, hoặc như các chị em phụ nữ thường kêu ca: rượu vào lời ra, Đức Giêsu chưa ăn, chưa uống đã say rồi ! Và phải một thời gian, các môn đệ mới hiểu Thầy của họ say tình, tửu lượng của Thầy cao đến độ khiến các môn đệ, cả những ai yêu mến Ngài, rồi cũng say tình như Ngài. Mâu thuẫn của Đức Giêsu đến độ gọi là “bất thường”, Ngài rửa chân cho các học trò, nhưng là nhắm đến sẽ sạch tấm lòng, giải tỏa được những “lăn tăn” cho các môn đệ việc bán Chúa phản Thầy. Thứ tình mà người đời cho rằng: tình là tình nhiều lúc có nhưng không, thứ tình nơi Đức Giêsu không chỉ là tình tha thứ, tình “có mãi và tràn đầy” trong những ai yêu mến Ngài. Thứ tình lạ kỳ đến độ ngày hôm nay vẫn có biết bao nam thanh nữ tú, không ngần ngại bỏ tất cả để được xả thân phục vụ “say như Thầy đã say. Amen.

 

Thứ 5-90: NGẬP TRÀN TÌNH YÊU THƯƠNG

Lm. Giuse Đỗ Đức Trí
 

Ngày 14/2 hằng năm được gọi là ngày Valentine, ngày Tình yêu, bởi vì phát xuất từ một tình yêu hy Thứ 5-90

Ngày 14/2 hằng năm được gọi là ngày Valentine, ngày Tình yêu, bởi vì phát xuất từ một tình yêu hy sinh quên mình vì hạnh phúc của người khác, do một linh mục tên là Valentino. Bất chấp lệnh cấm kết hôn đối với những người đang độ tuổi quân dịch, linh mục Valentino đã âm thầm chứng hôn cho một đôi bạn trẻ yêu nhau. Sự việc đến tai hoàng đế, ông đã ra lệnh bắt và tử hình vị linh mục can đảm này. Từ đó, ngày tử đạo của ông được gọi là ngày Valentine để tôn vinh những con người dám hy sinh tính mạng vì tình yêu và hạnh phúc của người khác.
Nếu như ngày Valentine được cả thế giới tổ chức, như một ngày của tình yêu, thì có thể nói ngày Thứ Năm Tuần Thánh phải là ngày ngập tràn tình yêu cho tất cả nhân loại. Vì trong ngày này, không phải là một người hy sinh cho một đôi tình nhân, nhưng chính Đức Giêsu – Thiên Chúa làm người, đã hy sinh, hiến dâng cả mạng sống, máu thịt mình cho hạnh phúc và sự sống đời đời của cả nhân loại. Vì thế, cho đến muôn đời, ngày hôm nay mãi mãi được gọi là Thứ Năm Thánh.
Bầu khí của buổi chiều hôm nay có vẻ trầm trầm nhưng không buồn bã u ám, mà là vẻ thâm trầm, sâu lắng, nhưng hùng tráng của một bản trường ca tình yêu Đức Giêsu dành cho nhân loại. Bản trường ca tình yêu này kể lại với nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau. Tin Mừng Gioan cho thấy, Chúa Giêsu hoàn toàn ý thức và chủ động thể hiện tình yêu của Ngài với tất cả mọi người hiện diện hôm đó. Chúa Giêsu biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng. Có lẽ không còn có thể có từ ngữ nào trong nhân loại để diễn tả tình yêu của Chúa Giêsu trong giờ phút này. Thánh Gioan chỉ có thể diễn tả bằng cụm từ: Người yêu thương họ đến cùng.
Yêu đến cùng, là tình yêu của cha mẹ dành cho con, của người thầy dành cho các học trò. Vì không muốn xa rời, nhưng phải chia tay, vì vậy, tâm trạng của Chúa Giêsu lúc này thật khó tả. Chúa Giêsu đã làm tất cả những gì có thể làm trong những giờ phút còn lại, để thể hiện tình yêu thương tột cùng dành cho các môn đệ. Chúa Giêsu và các môn đệ cùng tham dự bữa tiệc Vượt qua là bữa tiệc thánh theo truyền thống đạo Do Thái, để tưởng niệm việc Thiên Chúa giải thoát dân Do Thái khỏi cảnh nô lệ Ai Cập. Trong bữa ăn này, Chúa Giêsu còn đi xa hơn và sâu hơn ý nghĩa của việc giải thoát, khi Ngài biến bánh và rượu trở nên thịt và máu của Ngài để làm của ăn cho nhân loại và để tẩy rửa tội lỗi và giải thoát nhân loại khỏi ách nô lệ của ma quỷ và tội lỗi.
Ngày cầm bánh và rượu, tạ ơn, bẻ ra, trao cho các môn đệ và nói: Đây là mình Thầy, anh em hãy cầm lấy mà ăn. Đây là máu Thầy, anh em hãy cầm lấy mà uống, máu đổ ra để muôn người được tha tội. Với việc lập Bí tích Thánh Thể, trao ban thịt máu mình làm của ăn của uống cho nhân loại, Chúa Giêsu đã chấp nhận sự hy sinh đến cùng, hy sinh đến độ trao ban tất cả con người, mạng sống, hơi thở, máu thịt cho những người mình yêu thương. Hơn nữa, biến mình thành của ăn của uống, Chúa Giêsu muốn được các môn đệ hằng ngày nhớ đến Ngài, ăn Ngài, để cho Ngài được đi vào trong thể xác và tâm hồn, nên một với mỗi người và làm nên chất dinh dưỡng nuôi sống cả xác hồn nhân loại.
Biến bánh và rượu nên máu thịt của mình, đồng thời lại làm cho máu thịt vẫn giữ nguyên hình dàng bánh và rượu, Chúa Giêsu muốn thực hiện phép lạ kỳ diệu này, để được ở lại với nhân loại cho đến ngày tận thế. Để có thể hiện diện mãi với những kẻ mình yêu thương, Chúa Giêsu đã có một sáng kiến vượt sức tưởng tượng, đó là trao cho các môn đệ của mình quyền năng của chính Ngài khi nói với các ông: Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy. Với mệnh lệnh lênh này, Chúa Giêsu lập nên chức Linh Mục và trao ban cho các linh mục được quyền nhân danh Chúa tiếp tục cử hành màu nhiệm Thánh Thể và nối dài sự hy sinh và tình yêu đến cùng của Chúa mỗi ngày nơi bàn thờ.
Chúa Giêsu trao cho các học trò một nhiệm vụ vô cùng cao trọng đó là tiếp tục nhân danh Ngài cử hành và sống màu nhiệm tình yêu tự hiến của Chúa cho đến ngày tận thế. Chúa thừa biết rằng, các môn đệ của Chúa là những người bất toàn, Chúa biết các ông hèn nhát, sẽ bỏ chạy khi gặp kháo khăn, sẽ phản bội khi gặp thử thách, nhưng Chúa vẫn hết mực tin tương nơi các ông. Cho đến ngày hôm nay, các giám mục, các linh mục vẫn mãi là những người trần mắt thịt, yếu đuối, tội lỗi sai lầm, nhưng Thiên Chúa vẫn muốn sử dụng những con người này, để cử hành màu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa và cũng để nhân danh Thiên Chúa tiếp tục yêu thương nhân loại cho đến cùng theo gương của Chúa Giêsu.
Để cụ thể bài học yêu cho đến tận cùng, Chúa Giêsu đã làm một việc, mà các tông đồ không thể chấp nhận được. Simon Phêrô đã phản ứng quyết liệt: Thưa Thầy, không thể như thế được, Thầy không thể rửa chân cho con như thế được. Thánh Gioan kể lại: Chúa Giêsu chỗi dậy, rời khỏi bàn ăn, cởi áo ngoài ra, lấy khăn thắt lưng, đổ nước vào chậu và cúi xuống rửa chân cho các môn đệ. Từng động tác của Chúa Giêsu được tác giả Tin Mừng cảm nhận và ghi lại chi tiết. Ngài đã chỗi dậy, không chỉ rời khỏi bàn ăn, mà còn rời bỏ địa vì là Thầy, là chủ và là Chúa, để bước đến với những con người thấp hèn bé nhỏ. Ngài cởi áo choàng ra, lấy khăn thắt lưng: Đây là một sự cởi bỏ khỏi sự tự ái khỏi cái tôi, giũ bỏ cả địa vị cao trọng để lấy khăn thắt lưng, chấp nhận biến mình trở thành một người hầu, người phục vụ, kẻ nô lệ cho học trò của mình.
Sau khi bài học về phục được được dạy bằng việc làm cụ thể cho các môn đệ, Chúa Giêsu trở về với vị trí của một người thầy, Ngài mặc áo lại, trở về chỗ và giải thích cho các môn đệ: Anh em gọi Thầy là Thầy, là Chúa. Nếu Thầy là Chúa, là Thầy mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau… Anh em hãy làm như Thầy đã làm cho anh em. Trăm nghe không bằng một thấy; Lời nói mau qua, gương lành lôi kéo. Chúa Giêsu đã dạy cho các môn đệ bài học yêu thương phục vụ một cách hết sức cụ thể. Để có thể phục vụ anh em giống như Chúa, đòi mỗi người cũng phải dám từ bỏ địa vị hiện tại của mình là ông nọ bà kia, dù mình là ai…, để có thể cúi xuống rửa chân cho anh em. Rửa chân cho anh em, là dám chấp nhận gạt bỏ mọi sự tự ái, cái tôi, kể cả danh dự, để cúi xuống phục vụ, không so bì tính toán thiệt hơn và không vì một mục đích nào khác là yêu thương và muốn người mình yêu được hạnh phúc.
Ngày Thứ Năm Thánh hôm nay phải là ngày mỗi chúng ta, dù là linh mục hay giáo dân, cảm nhận được niềm vui và hạnh phúc vì được ngụp lặn trong biển trời yêu thương của Chúa Giêsu. Chỉ khi mỗi người thực sự cảm nhận, thục sự đụng chạm được tình yêu của Chúa, thì mới có thể hiểu được một tình yêu vĩ đại Chúa Giêsu dành cho mỗi chúng ta. Hiểu và cảm nhận được tình yêu của Chúa, chúng ta sẽ được sống trong hạnh phúc ngay hôm nay vì biết rằng mình là người được Chúa yêu thương bằng một tình yêu đến cùng. Cũng đừng ngại ngùng và tự hào vì mình là người yêu của Chúa, được Chúa yêu, vì  sự tự hào này sẽ giúp chúng ta sống xứng đáng với tình yêu của Chúa và sống giống với tình yêu của Chúa. Sống xứng đáng và sống giống tình yêu của Chúa, có nghĩa là chúng ta được mời gọi để yêu thương vợ, chồng, con cái và mọi người bằng tình yêu đến cùng giống như Chúa; Chấp nhận sự hy sinh, thiệt thòi, sức khỏe, thời giờ kể cả mạng sống, cho vợ chồng con cái và cho anh chị em chung quanh. Mỗi người cần vun đắp và làm cho gia đình trở thành nơi ngập tràn tình yêu thương và sự linh thánh như căn phòng tiệc ly của Chúa Giêsu và các môn đệ.
Hãy nhận lấy mà ăn; Hãy cầm lấy mà uống, là lời thiết tha Chúa đang mời gọi mỗi người. Xin Cho chúng ta luôn tin tưởng đến đón nhận tình yêu thương tận hiến của Chúa nới Bí Tích cực trọng này để chúng ta có đủ sức mạnh yêu thương, hy sinh tận hiến cho nhau. Amen.


 

Thứ 5-91: DẤU TÌNH

Trầm Thiên Thu
 

Thứ Năm Tuần Thánh (Maundy Thursday) còn gọi là Thứ Năm Giao Ước, Thứ Năm Tuyệt Đối, hoặc Thứ 5-91

Thứ Năm Tuần Thánh (Maundy Thursday) còn gọi là Thứ Năm Giao Ước, Thứ Năm Tuyệt Đối, hoặc Thứ Năm của các Mầu Nhiệm. Theo La ngữ, chữ Mandatum (Anh ngữ là Maundy) có nghĩa là “điều răn” hoặc “mệnh lệnh”. Thứ Năm Tuần Thánh muốn nói tới mệnh lệnh mà Chúa Giêsu truyền cho các môn đệ trong Bữa Tiệc Ly: “Hãy yêu thương nhau” (Ga 13:34; Ga 15:12; Ga 15:17). Đó là DẤU TÌNH được Chúa Giêsu “khắc ghi” qua Bí tích Thánh Thể (chân thành yêu thương) và Rửa Chân (khiêm nhường phục vụ). Và Ngài gọi đó là Điều Răn Mới. Có thể gọi Thứ Năm Tuần Thánh là Ngày Tình Yêu Thánh của các Kitô hữu.
Tuần Thánh khởi đầu, đỉnh cao là Tam Nhật Vượt Qua – ba ngày cao điểm của Phụng Vụ, với các sắc màu khác nhau: khởi đầu là Thứ Năm Tuần Thánh mang sắc màu Vui, tiếp theo là Thứ Sáu Tuần Thánh mang sắc màu Thương, và đêm Thứ Bảy Tuần Thánh mang sắc màu Mừng.
Như chúng ta biết, Thứ Năm Tuần Thánh là ngày Vui, buổi sáng là Thánh Lễ Truyền Dầu, rồi buổi chiều là Thánh Lễ kỷ niệm Chúa Giêsu thiết lập Bí tích Thánh Thể và chức linh mục, cũng là ngày tưởng nhớ Bữa Tiệc Ly. Trong niềm vui có lẫn nỗi buồn, tạo cảm giác rất khó tả, đặc biệt là trong đó có sự quyến luyến của cuộc chia tay giữa Thầy và trò.
Còn nữa, Thứ Năm Tuần Thánh còn là ngày Chúa Giêsu dạy bài học yêu thương độc đáo, vì Ngài không chỉ dạy bằng lời nói mà dạy bằng HÀNH ĐỘNG cụ thể, chứng minh lời Ngài đã nói: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20:28; Mc 10:45). Yêu thương và Phục vụ là hai “điểm nhấn” của ngày Thứ Năm Tuần Thánh. Ai yêu thương thì sẵn sàng phục vụ, ai phục vụ là chứng tỏ yêu thương. Mối tương tác tất yếu tuyệt vời!
Khi còn sinh thời, Thánh GH Gioan Phaolô II đã nhấn mạnh đến chức vụ phục vụ của mình là “Tôi Tớ của Các Tôi Tớ của Chúa – Servus Servorum Dei”. Ngài không tự xưng bằng đại danh từ “chúng tôi” như các giáo hoàng trước mà dùng đại danh từ “tôi”. Ngài chọn làm một lễ tấn phong đơn giản chứ không rườm rà, và không đội mũ giáo hoàng khi đảm nhiệm. Là giáo hoàng nhưng ngài không muốn được phục vụ, thể hiện đức khiêm nhường. Khi nhậm chức giáo hoàng, các hồng y quỳ gối trước ngài để tuyên hứa và hôn nhẫn, nhưng ngài đứng dậy khi ĐHY Stefan Wyszyński (người Ba Lan) quỳ gối, ngăn hồng y này hôn nhẫn và ôm hồng y này. ĐGH Phanxicô cũng đã thể hiện rõ nét khiêm nhường, nghèo khó, và cũng không muốn ai phục vụ mình. Đó là các tấm gương sáng về nhân đức khiêm nhường và tinh thần phục vụ.
Ngày xưa, Đức Chúa phán với ông Mô-sê và ông A-ha-ron trên đất Ai-cập: “Tháng này, các ngươi phải kể là tháng đứng đầu các tháng, tháng thứ nhất trong năm. Hãy nói với toàn thể cộng đồng Ít-ra-en: Mồng mười tháng này, ai nấy phải bắt một con chiên cho gia đình mình, mỗi nhà một con. Nếu nhà ít người, không ăn hết một con thì chung với người hàng xóm gần nhà mình nhất, tuỳ theo số người. Các ngươi sẽ tuỳ theo sức mỗi người ăn được bao nhiêu mà chọn con chiên. Con chiên đó phải toàn vẹn, phải là con đực, không quá một tuổi. Các ngươi bắt chiên hay dê cũng được. Phải nhốt nó cho tới ngày mười bốn tháng này, rồi toàn thể đại hội cộng đồng Ít-ra-en đem sát tế vào lúc xế chiều, lấy máu bôi lên khung cửa những nhà có ăn thịt chiên. Còn thịt, sẽ ăn ngay đêm ấy, nướng lên, ăn với bánh không men và rau đắng” (Xh 12:1-8).
Dân nào cũng có những phong tục khác nhau theo văn hóa của mình. Với dân Chúa, cách ăn uống cũng khác, họ làm theo lời Chúa căn dặn: “Các ngươi phải ăn thế này: lưng thắt gọn, chân đi dép, tay cầm gậy. Các ngươi phải ăn vội vã, Đó là lễ Vượt Qua mừng Đức Chúa” (Xh 12:11).
Đối với dân tộc Việt Nam, chúng ta không có tục lệ như vậy, nhưng vẫn không thấy lạ. Chiên hay dê một tuổi là con vật còn nhỏ, còn toàn vẹn và vô tư như đứa trẻ, máu của con vật tinh tuyền được bôi lên cửa làm dấu hiệu để gia đình đó được thoát tai họa: “Đêm ấy Ta sẽ rảo khắp đất Ai-cập, sẽ sát hại các con đầu lòng trong đất Ai-cập, từ loài người cho đến loài thú vật, và sẽ trị tội chư thần Ai-cập: vì Ta là Đức Chúa. Còn vết máu trên nhà các ngươi sẽ là dấu hiệu cho biết có các ngươi ở đó. Thấy máu, Ta sẽ vượt qua, và các ngươi sẽ không bị tai ương tiêu diệt khi Ta giáng hoạ trên đất Ai-cập. Các ngươi phải lấy ngày đó làm ngày tưởng niệm, ngày đại lễ mừng Đức Chúa. Qua mọi thế hệ, các ngươi phải mừng ngày lễ này. Đó là luật quy định cho đến muôn đời” (Xh 12:12-14).
Đã được báo trước về cách tránh tai họa như vậy thì thật là đại phước. Ai không làm theo là cố chấp, ai làm theo là biết vâng phục và tất nhiên được hưởng lợi ích. Đối với Thiên Chúa, chúng ta chẳng là gì cả, nhưng chúng ta vẫn không ngừng được Ngài ban tặng biết bao hồng ân. Thánh Vịnh gia cũng đã có kinh nghiệm đó nên tự hỏi và tự quyết định: “Biết lấy chi đền đáp Chúa bây giờ vì mọi ơn lành Người đã ban cho? Con xin nâng chén mừng ơn cứu độ và kêu cầu thánh danh Chúa” (Tv 116:12-13). Vâng, chắc chắn không lễ vật nào xứng đáng bằng những gì đến từ Thiên Chúa.
Thánh Vịnh gia thành tâm khấn hứa: “Lời khấn nguyền với Chúa, con xin giữ trọn, trước toàn thể dân Người. Đối với Chúa thật là đắt giá cái chết của những ai trung hiếu với Người. Vâng lạy Chúa, thân này là tôi tớ, tôi tớ Ngài, con của nữ tỳ Ngài, xiềng xích trói buộc con, Ngài đã tháo cởi” (Tv 116:15-16). Để phù hợp với Cựu ước, Chúa Giêsu cũng đã nói: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15:13).
Cuộc sống có nhiều cách chết, chúng ta cũng phải “chết” cho nhau hằng ngày, vì mọi người đều là “người yêu” của nhau. Trong ngày trọng đại này, mỗi chúng ta hãy cùng với Thánh Vịnh gia chân thành thân thưa với Thiên Chúa: “Con sẽ dâng lễ tế tạ ơn và kêu cầu thánh danh Chúa. Lời khấn nguyền với Chúa, con xin giữ trọn, trước toàn thể dân Người” (Tv 116:17-18). Lòng biết ơn rất quan trọng nhưng người ta lại hay quên – có khi vô tình, có lúc cố ý. Và vẫn còn đó gương mười người được ơn chữa lành nhưng chỉ có một người biết ơn, mà người này lại là người ngoại! (x. Lc 17:11-19).
Cũng với tâm tình tri ân, Thánh Phaolô nói: “Thật vậy, điều tôi đã lãnh nhận từ nơi Chúa, tôi xin truyền lại cho anh em: trong đêm bị nộp, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng tạ ơn, rồi bẻ ra và nói: ‘Anh em cầm lấy mà ăn, đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em; anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy’. Cũng thế, cuối bữa ăn, Người nâng chén và nói: ‘Đây là chén Máu Thầy, Máu đổ ra để lập Giao Ước Mới; mỗi khi uống, anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy’. Thật vậy, cho tới ngày Chúa đến, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, là anh em loan truyền Chúa đã chịu chết” (1 Cr 11:23-26).
Thánh Phaolô trình bày lại khung cảnh Bữa Tiệc Ly năm xưa đầy ắp thâm tình. Cách riêng, bữa dạ tiệc này có hai loại “món” vô cùng đặc biệt: Yêu Thương và Phục Vụ. Hai món này rất ngon, chắc chắn ai cũng thích dùng, thế nhưng lại rất khó chế biến.
Có một điều xác định rất lạ. Chết là buồn đau, là chiến bại, là cùng đường, vậy mà lại cần loan truyền ư? Đây là loại nghịch-lý-thuận sẽ không thể hiểu nếu không có đức tin Kitô giáo. Chết không như người ta lầm tưởng, chết ngỡ như thua thiệt, là thất bại ê chề, nhưng chính cái chết lại là biên giới qua Bến Phục Sinh, là nhịp cầu tới Miền Sự Sống, là cửa ngõ vào Cõi Trường Sinh. Vô cùng kỳ diệu!
Trước khi vào Cõi Sinh (vùng sống) phải qua Cõi Tử (miền chết), nhưng trước khi qua Vùng Chết phải trải nghiệm Ải Đau Khổ. Đó là loại Tam Giác đặc biệt: Tam-Giác-Sống-Chết.
Trình thuật Ga 13:1-15 cho biết: Trước lễ Vượt Qua, Đức Giêsu biết giờ của Ngài đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Ngài vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Ngài yêu thương họ đến cùng. Với nhân tính, chắc hẳn Ngài cũng lưu luyến lắm, nhất là với các đệ tử đã chia ngọt sẻ bùi suốt ba năm ròng. Nhưng điều gì đến sẽ đến, cuộc vui nào cũng tàn, sum họp rồi chia ly, đó là lẽ thường ở đời thôi!
Tuy nhiên, ma quỷ đã gieo vào lòng tông đồ Giu-đa, con ông Si-môn Ít-ca-ri-ốt, ý định nộp Thầy Giêsu. Đức Giêsu biết rằng Chúa Cha đã giao phó mọi sự trong tay Ngài, Ngài bởi Thiên Chúa mà đến và sắp trở về cùng Thiên Chúa. Trong tiệc mừng Lễ Vượt Qua với các môn đệ, và cũng là Bữa Tiệc Ly, bữa ăn cuối cùng của Ngài trên thế gian và bữa cuối cùng đồng bàn với các môn đệ, Ngài đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra và lấy khăn mà thắt lưng, rồi Ngài đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau. Một hành động rất lạ, chắc hẳn các môn đệ cũng chỉ thấy lạ chứ không thể biết đó là “điềm báo” của một người sắp chết.
Chuyện kể hôm nay là câu chuyện mà ai cũng thuộc nằm lòng, mặc dù có thể không chính xác từng chữ. Khỏi kể lại thì ai cũng đã biết, bởi vì mới nghe kể câu đầu đã có thể biết rõ kết thúc. Thế nhưng câu chuyện này vẫn luôn thu hút bất kỳ ai. Từ Phòng Tiệc Ly tới Vường Dầu, từ Vườn Dầu tới Dinh Cai-pha và Phi-la-tô, và từ đó tới Đồi Sọ, ai cũng biết diễn biến thế nào, thế nhưng người ta cứ nghe mãi và đọc mãi cuốn truyện đó mà không chán. Một điều rất lạ!
Một cuốn truyện hoặc một bộ phim hay tới mức nào thì người ta cũng chỉ đọc hoặc xem một lần, nhiều lắm cũng chỉ hai lần là thấy nhàm chán. Vậy mà với bộ Phúc Âm (và Kinh Thánh), người ta càng đọc càng thấy thú vị, càng nhận thấy cái mới. Tương tự, đối với Thánh Lễ cũng vậy, dù không tham dự cũng biết trình tự như thế nào. Thế mà càng tham dự càng thu hút, chẳng ai chán vì đi lễ nhiều bao giờ. Đúng là phép lạ thật!
Và câu chuyện bi hùng được tiếp diễn…
Ngay khi Chúa Giêsu bưng chậu nước đến chỗ ông Phêrô, ông liền thưa: “Thưa Thầy! Thầy mà lại rửa chân cho con sao?”. Nhưng Ngài bảo: “Việc Thầy làm, bây giờ anh chưa hiểu, nhưng sau này anh sẽ hiểu”. Ông Phêrô cương quyết không để cho Thầy rửa chân cho mình, vì có đời nào lại có chuyện ngược đời như vậy được! Nhưng Ngài nghiêm giọng: “Nếu Thầy không rửa cho anh, anh sẽ chẳng được chung phần với Thầy”. Nghe vậy, ông Phêrô nói ngay: “Thế thì xin Thầy cứ rửa, không chỉ rửa chân mà rửa cả tay và đầu con nữa”. Đúng là người có bản tính “thẳng như ruột ngựa”, nghĩ sao nói vậy. Đức Giêsu bảo ông: “Ai đã tắm rồi thì không cần phải rửa nữa; toàn thân người ấy đã sạch. Về phần anh em, anh em đã sạch, nhưng không phải tất cả đâu!”. Thật vậy, Ngài biết ai sẽ nộp Ngài nên mới nói: “Không phải tất cả anh em đều sạch”.
Sau khi rửa chân cho các môn đệ xong, Đức Giêsu mặc áo vào rồi về chỗ, và Ngài nói: “Anh em có hiểu việc Thầy mới làm cho anh em không? Anh em gọi Thầy là Thầy, là Chúa, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy mà còn rửa chân cho anh em thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” (Ga 13:12-15). Những lời Chúa Giêsu nói nghe rất nhẹ nhàng nhưng lại có sức khiến chúng ta “nhức tai”, “buốt óc” và “nhói tim” lắm! Thật vậy, chữ Yêu Thương rất ngắn gọn, xem chừng rất đơn giản, nhưng để thực hành cho đúng ý Thầy Giêsu thì không hề đơn giản, vì vậy mà chúng ta phải cố gắng không ngừng, phải cố gắng qua từng nhịp thở vậy.
Tương tự, chữ Phục Vụ cũng ngắn gọn lắm, nhưng có hai vế: Phục vụ và được phục vụ. Không ai “ưa” vế thứ nhất, nhưng ai cũng thích vế thứ nhì. Bản tính con người đâu dễ “lèo lái”, do đó mà thực hiện “bổn phận phục vụ” mãi vẫn thấy “căng” lắm, thậm chí có người còn chỉ “chăm chú” làm ngược lại là “thích được người khác phục vụ”. Ôi, lạy Thiên Chúa!
Được biết, tại phòng thánh của nhà dòng, Mẹ Thánh Teresa Calcutta đã ghi lời nhắc nhở: “Xin các linh mục hãy dâng mỗi Thánh lễ như Thánh lễ đầu tiên và như Thánh lễ cuối cùng trong đời”. Đúng là ý tưởng của thánh nhân, thật là thâm thúy đầy tính tâm linh, nhưng đó cũng là lời nhắc nhở “đáng phải giật mình” lắm đấy, bất kể là ai – tức là cả giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân!
Thứ Năm Tuần Thánh là một ngày đặc biệt để xét mình về bài học Yêu Thương và Phục Vụ mà Chúa Giêsu đã dạy, bài học vô giá đó vẫn luôn nóng bỏng ngay trong thời đại ngày nay. Ai cũng phải thuộc lòng và thi hành triệt để bài học này của Thầy Giêsu. Yêu mến Chúa và lưu luyến Ngài thì phải thực hiện lệnh Ngài truyền, đó là điều hoàn toàn hợp lý, vì có vậy mới chứng tỏ tình yêu mà chúng ta dành cho Ngài!
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, xin đổi mới con nên giống Chúa mỗi ngày một hơn, xin khơi “lửa tình” để con say yêu Thánh Thể, nguồn sống dồi dào cho con vì biết nhờ Ngài, với Ngài và trong Ngài, đồng thời xin giúp con quyết tâm thực hiện bài học Yêu Thương và Phục Vụ đúng theo Tôn Ý Ngài. Con tin kính Ngài là Đấng cứu độ, hằng sinh và hiển trị với Chúa Cha, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời. Amen.

 

Thứ 5-92: HÃY YÊU NHƯ GIÊ-SU

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền
 

Có ai đó nói rằng: “bạn cứ yêu đi, bạn sẽ biết phải làm gì?”. Tình yêu là sức mạnh để con người sống Thứ 5-92

Có ai đó nói rằng: “bạn cứ yêu đi, bạn sẽ biết phải làm gì?”. Tình yêu là sức mạnh để con người sống và hành động. Có tình yêu người ta mới sống hết mình. Có tình yêu người ta mới không quản ngại nắng mưa hay đường xá xa xôi, gập gềnh. Quả đúng như cha ông ta nói: “Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo – Mấy sông cũng lội – Mấy đèo cũng qua”.
Chuyện ngụ ngôn về tình yêu của loài bướm được kể lại rằng: Một ngày nọ, chú bướm đực đề nghị: “Chúng ta bắt đầu một trò chơi nhỏ nhé!”. Bướm cái đồng ý. Chú nói tiếp: “Ai là người đầu tiên ngồi trong bông hoa này vào sáng sớm mai sẽ là người yêu người kia nhiều hơn”. Bướm cái gật đầu.
Sáng hôm sau, bướm đực đến từ sớm, đợi bông hoa nở ra và chú có thể ngồi vào đó trước khi con cái tới. Cuối cùng, bông hoa cũng mở… và chú nhìn thấy một cảnh tượng vô cùng kinh khủng.
Người yêu của chú đã chết bên trong bông hoa. Cô ấy đã ở đó cả đêm, để sáng hôm sau khi nhìn thấy người yêu, cô sẽ bay đến và nói rằng cô yêu chú biết nhường nào!

Tình yêu làm cho cuộc đời thêm thi vị và hạnh phúc. Sống trong tình yêu ai cũng vui tươi, hân hoan. Khi yêu người ta mới thấy đời thật hạnh phúc. Khi tình yêu bị mất thì cuộc đời cũng chìm trong tăm tối cô đơn. Tình yêu không còn thì lòng người cũng tê tái buồn đau như Nguyễn Du đã từng viết:
“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.

Hôm nay Thứ Năm Tuần Thánh, là dịp nhắc nhở chúng ta về tình yêu cao vời của Thầy Chí Thánh Giê-su. Một tình yêu dám chết cho người mình yêu. Một tình yêu không so đo tính toán nhưng chỉ biết yêu là cho đi, cho đi đến cùng. Ngài cho đi không chỉ sức lực, trí tuệ để phục vụ mà còn cho đi chính bản thân mình làm của ăn của uống cho con người. Ngài đã sống trọn vẹn tình yêu là “chết cho người mình yêu”.
Tình yêu ấy Ngài cũng mời gọi chúng ta hãy làm việc “Này” mà nhớ đến Ngài. Hãy lập lại tình yêu dâng hiến mà Ngài đã hiến thân vì nhân loại. Hãy lập lại tình yêu hy sinh mà Ngài đã cống hiến cho nhân trần. Hãy sống một cuộc đời như Chúa để tình yêu của Ngài mãi ở lại trên thế gian.
Năm nay với chủ đề “gia đình hãy là dấu chỉ lòng thương xót” như mời gọi cách riêng các gia đình hãy biết chăm sóc nhau. Vợ chồng hãy chăm sóc và phục vụ nhau theo gương Thầy chí Thánh Giê-su. Bởi vì khi kết hôn là chúng ta mong được chăm sóc và bảo vệ nhau suốt đời. Đây là tình yêu dâng hiến, tình yêu vị tha như Đức Giê-su đã tận hiến cho người mình yêu.
Mới đây trên cộng đồng mạng loan truyền nhau thông điệp: “Phụ nữ ơi! Hãy ngừng hy sinh”. Họ lý giải cho lời hiệu triệu này là: “Từ ngàn năm dưới lũy tre làng, ‘con trâu đi trước, cái cày theo sau’, người ta đã mặc nhiên thừa nhận rằng, ngay từ khi cất tiếng khóc oe oe thì thân phận của người phụ nữ đã gắn chặt với hai từ ‘hy sinh'”.
“Nghĩ cho cùng, khi kêu gọi người phụ nữ hãy cứ tiếp tục ‘hy sinh’, đó chỉ là sự ích kỷ của đàn ông muốn đè nặng âu lo trên vai em gầy guộc mà thôi”, tác giả nhắn gửi. Thông điệp này ngay sau đó được cư dân mạng đã có những phản ứng trái chiều với nhau. Kẻ cỗ vũ người phàn nàn. Kẻ ủng hộ, người kết án . . .
Thực ra phụ nữ hay nam giới đều phải  hy sinh. Mỗi giới mỗi vẻ. Mỗi giới đều thể hiện sự hy sinh, lòng quảng đại của mình khác nhau. Hình ảnh người nữ thêu thùa, người chồng gánh nước bổ củi vẫn là những nét đẹp của gia đình. Hình ảnh người chồng cầy ruộng, người vợ cấy lúa vẫn là những bức tranh thập đẹp về sự hy sinh tần tảo của mái ấm gia đình. Trong thế giới văn mình hôm nay ta vẫn cần những hình ảnh vợ chồng cùng chia sẻ việc dọn nhà, bếp núc, giặt giũ . . . Đó là những việc không tê nhưng sẽ làm cho gia đình ấm áp hạnh phúc hơn. Thế nên, bình đẳng giới tính không có nghĩa là làm cho phụ nữ biến thành đàn ông, mà quan yếu mỗi người đều phải biết sống hết mình với giá trị của mình trong hai chữ hy sinh.
Khi Chúa Giê-su cúi xuống rửa chân cho các môn đệ dường như Ngài cũng nhắc phải có hai chữ hy sinh để có thể khiêm tốn cúi xuống chăm sóc nhau. Vợ chồng quan tâm chăm sóc nhau khi mạnh khỏe cũng như lúc ốm đau. Cả hai đều phải biết cúi xuống để thấy nhu cầu của nhau mà chia sẻ, mà quan tâm cho nhau.
Khi Chúa Giê-su cầm bánh và nói: “Này là Mình Thầy, các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”. Dường như Ngài cũng nhắc tới hai chữ hy sinh cần phải có trong đời sống lứa đôi. Vợ chồng phải biết bẻ cuộc đời mình như tấm bánh thơm ngon mang lại hạnh phúc cho nhau.  Vợ chồng phải hiến dâng cho nhau sự hy sinh, sự quan tâm, sự phục vụ để mang lại niềm vui hạnh phúc cho người mình yêu.
Ước gì các đôi vợ chồng hãy thể hiện sự quan tâm chăm sóc nhau bằng những nghĩa cử cao đẹp. Cách riêng trong năm “gia đình hãy là dấu chỉ lòng thương xót” sẽ khơi gợi lên lòng cảm mến yêu thương dành cho nhau không chỉ bằng lời nói mà bằng chính hành động cúi xuống rửa chân cho nhau để mang lại niềm vui và hạnh phúc cho nhau. Xin Chúa chúc lành cho các gia đình và thêm sức mạnh tình yêu để mỗi người biết hiến dâng cho người mình yêu được hạnh phúc hơn. Amen

 

Thứ 5-93: SỐNG YÊU THƯƠNG VÀ PHỤC VỤ

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
 

Hôm nay chúng ta tái diễn ngày Thứ Năm Tuần Thánh đầu tiên của lịch sử, ngày Chúa Giêsu Kitô Thứ 5-93

Hôm nay chúng ta tái diễn ngày Thứ Năm Tuần Thánh đầu tiên của lịch sử, ngày Chúa Giêsu Kitô qui tụ các môn đệ của mình để cử hành lễ Vượt Qua. Lúc ấy, Chúa đã khai mở Lễ Vượt Qua mới của Tân Ước, mà chính Người tự ý nộp mình chịu khổ hình để cứu độ chúng ta.
Trong Bữa Tiệc Ly Thánh, Chúa Kitô đã thiết lập Bí tích Thánh Thể. Lời thánh Phaolô nói về điều nầy được coi như là bài tường thuật cổ xưa nhất về bửa Tiệc Ly của Chúa, có ghi lại rằng Chúa Giêsu, “trong đêm Người bị phản bội, đã cầm lấy bánh và sau khi dâng lời chúc tụng, thì bẻ bánh ra và nói : “Ðây là Mình Ta, được trao ban cho chúng con; hãy làm việc nầy mà nhớ đến Ta”; Cũng vậy , vào cuối bửa ăn, Chúa cầm lấy chén rượu và nói: “Ðây là chén của giao ước mới trong Máu Ta; hãy làm việc nầy, mỗi lần anh em uống chén nầy, để nhớ đến Ta”. Thật vậy, mỗi lần anh em ăn bánh và uống chén nầy, anh em loan truyền việc Chúa chịu chết, cho đến khi Người lại đến” (x. 1 Cr 11, 23- 26). Ðó là những lời long trọng trong đó được thông truyền qua các thế kỷ chứng tích kỷ niệm việc thiết lập bí tích Thánh Thể. Mỗi năm, vào ngày thứ Năm Tuần Thánh, chúng ta nhớ lại điều nầy, và trong tinh thần, chúng ta hướng về Căn Phòng Tiệc Ly.
Cùng một lúc Chúa Giêsu đã thiết lập Bí tích Truyền chức linh mục, để qua các linh mục, Thánh lễ được tiếp tục. Kinh Tiền Tụng của Thánh Lễ làm phép Dầu hôm nay mạc khải cho chúng ta ý nghĩa ấy : “Chúa đã tuyển chọn một số người để họ tham gia thánh của của Người nhờ việc đặt tay. Chúa muốn họ nhân danh Người tái diễn hy lễ cứu độ…dọn cho con cái Cha bàn tiệc Vượt Qua, lấy Lời Cha nuôi dưỡng và dùng các bí tích bồi bổ dân thánh của Chúa”.
Với việc thiết lập bí tích Thánh Thể, Chúa Giêsu thông truyền cho các Tông đồ việc tham dự thừa tác vào chức linh mục của Người, chức tư tế của Giao Ước Mới và vĩnh cữu, nhờ đó đến phiên mình, các tông đồ được biến đổi thành những tác viên của mầu nhiệm tuyệt vời của đức tin, mầu nhiệm được kéo dài mãi cho đến tận cùng thế gian. Ðồng thời các ngài trở thành những kẻ phục vụ cho tất cả những ai sẽ thông phần vào hồng ân và mầu nhiệm to lớn như vậy.
Và chính ngày Thứ Năm này, Chúa đã ban truyền cho chúng ta giới luật yêu thương : “Các con hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương các con” (Ga 13,34). Nếu tình yêu xưa kia đã từng dựa trên sự đối trác, hoặc hoàn thành một tiêu chuẩn đã đặt định trước. Thì giờ đây tình yêu Kitô giáo được xây dựng trên nền tảng Tình Yêu là chính Chúa Kitô. Người đã yêu thương nhân loại đến cùng, đến cùng ở đây là cái chết, yêu đến thí mạng vì chúng ta : đây phải là thước đo tình yêu của người môn đệ đối với Thầy mình và là dấu hiệu để người ngoài nhận biết chúng ta là người Kitô hữu.
Yêu thương, không đơn giản là kết quả của những nỗ lực bản thân, nhưng một món quà từ Thiên Chúa. Hạnh phúc thay cho chúng ta có được Thiên Chúa là Tình Yêu, là nguồn suối tình yêu, Người đã tự hiến mình nơi Bí tích Thánh Thể để nuôi dưỡng chúng ta.
Cuối cùng, hôm nay chúng ta chiêm ngưỡng việc Chúa rửa chân cho các môn đề. Chúa Giêsu đã mặc lấy thái độ của một người đầy tớ, cúi mình và quì xuống, và rửa chân cho các Tông Đồ trong Căn phòng Tiệc Ly, và truyền cho họ làm như vậy với nhau (x. Ga 13,14). Chúng ta nhìn thấy lại việc Chúa Giêsu đang rửa chân, mà theo nền văn hóa Do thái là công việc riêng của những người tôi tớ và của người thấp hèn nhất trong gia đình. Thánh Phêrô mới đầu đã lên tiếng từ chối. Nhưng Chúa thuyết phục ông, và thánh Phêrô chịu để Chúa rửa chân cho mình, cùng với những môn đệ khác. Liền sau đó, sau khi đã mặc lại áo và ngồi vào bàn, Chúa Giêsu giải thích ý nghĩa của hành động Người vừa làm như sau : “Chúng con gọi Ta là Thầy và là Chúa; và điều nầy đúng lắm, bởi vì Ta là Thầy và là Chúa. Vậy, nếu Ta là Thầy và là Chúa, mà rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau” (Ga 13, 12- 14). Trong cử chỉ này của Thầy Chí Thánh, Chúa Giêsu đã dạy chúng ta một bài học quí giá về sự khiêm nhường. Đúng như dự đoán, vì là biểu tượng Cuộc Khổ Nạn, Chúa Giêsu đã hạ mình cho đến chết để cứu độ chúng ta.
Thần học gia Romano Guardini nói rằng : “thái độ của người nhỏ quì xuống trước người lớn, không phải là khiêm nhường. Đơn giản, đó chỉ là sự thật. Người khiêm nhường thực sự là người lớn mà lại hạ mình xuống trước một kẻ nhỏ”. Đây là lý do tại sao nói Chúa Giêsu Kitô là Đấng khiêm nhường thật trong lòng. Trước Chúa Kitô là Đấng khiêm nhường, mô hình truyền thống bị phá vỡ. Người đã đảo ngược các giá trị thuần túy của con người và mời gọi chúng ta đi theo Người để xây dựng một thế giới mới, dựa trên sự phục vụ.
Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con biết sống yêu thương và phục vụ lẫn nhau như Chúa truyền dạy. Amen.

 

Thứ 5-94: TÂM TƯ PHÚT CUỐI

JB. Lê Đình Nam
 

Trước giờ chịu khổ nạn của mình Chúa Giêsu đã luôn gần gủi và dành hết thời giờ với các môn đệ. Thứ 5-94

Trước giờ chịu khổ nạn của mình Chúa Giêsu đã luôn gần gủi và dành hết thời giờ với các môn đệ. Ngài muốn tâm sự những cảm xúc mà Ngài đang trải nghiệm với họ trước thử thách lớn lao ấy. Nhưng với các môn đệ thì khác, họ vẫn chẳng hiểu Chúa Giêsu đang nói gì.  Trước những buồn sầu và trăn trối của Thầy mình họ vẫn tỏ ra hờ hững, vô tâm.
Thật đáng thương cho Chúa Giêsu trong khung cảnh ấy! Khi mà cái chết cận kề, đến cả những môn đệ thân tín nhất vẫn chẳng thể hiểu và sẻ chia nỗi niềm tâm tư với mình. Dường như đối với họ, theo thầy Giêsu là sẽ đi đến con đường vinh quang của tiền tài vật chất, của tham vọng và quyền lực. Họ vẫn không hiểu đó là con đường cứu độ bằng cái chết trên thập giá của Thầy mình. Những lợi lộc, địa vị trong mơ tưởng đã che lấp tâm trí của họ, đến nỗi cả tâm trạng của Thầy mình lúc đó mà họ cũng không còn nắm bắt được.
Nhiều lần và nhiều cách, Chúa Giêsu đã nghẹn ngào bày tỏ nỗi lòng sâu kín của mình cho các môn đệ nhưng chẳng ai hiểu. Giờ chết đang cận kề, trong thân phận con người, Ngài trải nghiệm sự sợ hãi và lo lắng biết chừng nào. Ngài cũng cần được chia sẻ, cần được ủi ai giữa lúc cô đơn, lạc lõng thế này.
Ngài đã trải nghiệm cuộc sống như một con người thực sự để thấu hiểu con người. Ấy thế mà nỗi buồn của Ngài thì chẳng ai hiểu, cho đến cả những môn đệ thân cận của mình. Chẳng ai thèm lưu luyến, bứt rứt khi Thầy chỉ ở với họ còn có ít giờ nữa. Chẳng ai thèm quan tâm đến con đường thập giá Thầy mình sắp trải qua. Thầy Giêsu vẫn cứ cô đơn một mình!
Đôi khi trong cuộc sống hôm nay, Giêsu vẫn còn đó những nỗi niềm, ưu tư về ta nhưng ta đâu để ý đến Ngài. Ngài vẫn cô đơn nơi nhà Tạm vì ta quá bận rộn với đời sống thường nhật. Ngài vẫn lạc lõng giữa những ngôi Thánh đường to lớn vì ta chẳng thèm lui tới viếng thăm. Ngài vẫn hiện diện nơi những mảnh đời éo le trong cuộc sống nhưng chẳng ai trong ta đến động viên, giúp đỡ.
Dòng đời là thế, ta quá bận rộn với những toan tính thế sự. Ta quá mãi mê với những thú vui trần thế. Ta bỏ rơi Giêsu lẻ loi một mình cùng với những nổi niềm riêng. Ta chỉ biết đến Ngài mỗi khi ta cần điều gì đó. Ta chỉ chạy đến Ngài mỗi lúc cho muốn xin cái này cái kia. Những lúc như thế, nỗi cô đơn của Giêsu càng bị dày vò và day dứt hơn.
Hững hờ và vô tâm dần đưa ta xa Chúa. Ngài vẫn luôn hiểu ta nhưng ta chẳng bao giờ muốn hiểu Ngài. Tâm tư Giêsu vẫn luôn thổn thức vì ta. Trái lại có khi nào ta cố gắng dành chút thời giờ để gặp gỡ, sẻ chia và tâm sự với Ngài hay không?
Tâm điểm của Tuần Thánh đang cận kề, hãy nhanh chân chạy đến với Giêsu! Đừng để Ngài cô đơn một mình trước cái chết; đừng để nỗi niềm và thao thức của Ngài ngày một to lớn vì sự xa lánh của ta.

 

Thứ 5-95: NỖI BUỒN GIUĐA

Lm Giuse Hoàng Kim Toan
 

Một nhân vật xuất hiện trong sự kiện dẫn đến cuộc tử nạn của Chúa, chỉ trong chốc lát khi anh nộp Thứ 5-95

Một nhân vật xuất hiện trong sự kiện dẫn đến cuộc tử nạn của Chúa, chỉ trong chốc lát khi anh nộp Chúa bằng nụ hôn, rồi ra đi, gợi lên nhiều suy nghĩ.
Một câu hỏi của lương tâm.
Có người nói vì tham tiền, Giuđa bán Chúa với ba mươi đồng bạc. Có người thì bảo vì cần có một người đứng lên lật đổ chính quyền Roma, để đưa Chúa đến đường cùng phải ra tay. Tiền – quyền – hưởng thụ. Tất cả đều là những cám dỗ thường ngày của nhiều người, chứ không riêng gì đối với Giuđa. Giuđa là đại diện cho một con người bị lương tâm tra vấn khi dự định xấu bắt đầu được thực hiện, không thể dừng lại được nữa. Có những con người gây ra đau khổ, bất công, sự chết cho người vô tội mà vẫn nhởn nhơ, giương mặt kiêu căng thách thức, lương tâm đã chết từ lâu, vẫn còn lu loa đổ lỗi cho người vô tội. Họ còn ghê gớm hơn cả Giuđa vẫn đang đang sống trên cả pháp luật và kiêu hãnh với lương tâm chai lỳ của mình.
Giuđa và ruộng máu
Đồng tiền của Giuđa vất ra, các quan chức thượng tế, kinh sư đã tậu lấy một thửa ruộng, gọi là ruộng máu (Xem Mt 27, 3 – 10 ). Đồng tiền đã nhuốm máu người vô tội, ngày nay người ta không sử dụng đồng tiền này mua thửa đất để chôn cất người ngoại kiều; mà mua lấy đất, xây những biệt thự, dát vàng, mua lấy kim cương cho mình. Có lẽ thời đại xã hội đang sống đã đi vào một chỗ tệ hại rồi sao? Một bi kịch không phải của người công chính mà bi kịch của người đứng lỳ trong tội lỗi của mình. Lấy cái vỏ bọc hào nhoáng của biệt thự, siêu xe để che cái tội tệ nhân phẩm; lấy cái hưởng thụ xa hoa để lấp đi tiếng kêu oan, tiếng khóc của những người chịu áp bức, bị cưỡng chế, vu oan, tù tội…
Giuđa, người bị lợi dụng.
Sự thất vọng của Giuđa ra đi và vất tiền trả lại cho thượng tế và kinh sư, có lẽ anh nhận ra mình đã bị bọn quan chức kia lợi dụng? Cái đau khổ thất vọng của con người rơi vào một thảm trạng như Giuđa khám phá ra mình bị lợi dụng cho ý đồ đen tối của người khác, cũng có những hành động như vậy. Trong một cái đau khổ, không thể đứng ra tố cáo kẻ đã lợi dụng mình để đánh đập, chửi bới, vu oan, nộp người vô tội… là một sự thất vọng chán chường nhất vì chính mình. Giuđa rất thất vọng, thất vọng về mình đã bị lừa và cũng vì một phần lòng tham của mình, nghe theo sự dụ dỗ của kẻ sẵn sàng chi tiền cho mình làm điều ác không ngờ tới. Chỉ một nụ hôn thôi và được ba mươi đồng, chỉ cần một chút xíu tư lợi thôi, cũng sẵn sàng làm càn, bán mình cho người khác sử dụng vào việc làm hại, giết chết người khác.
Giuđa đi thắt cổ.
Thắt cổ, tự vẫn, một câu hỏi có đúng là như thế không, nơi mà người ta không biết chịu đánh đập dã man, xử lý mạnh tay dẫn đến cái chết của người tội nhân hay vô tội. Giuđa đi thắt cổ, là chính anh đi tự trừng phạt mình. Đó là một tòa án lương tâm khắc nghiệt nơi chính anh, không thể chấp nhận ngay cả chính mình phạm sai lầm cách thô thiển như thế. Có lẽ, anh cũng thất vọng với những tòa án, nơi mà anh không đủ can đảm chứng kiến, đóng đinh người vô tội. Anh không đủ can đảm nhìn đám đông gào thét, đòi đóng đinh người vô tội vào thập gía. Quá nhiều bất công, quá nhiều sự xấu bị đầu độc vào những con người bản chất là hiền lành. Vào thời điểm sự dữ dường như đang chiến thắng, những tội ác xảy ra từng ngày, không ai đứng ra xử cho công minh, chính trực, mà người ta phải tự xử lấy trong tức giận.
Giuđa và lòng thương xót của Chúa.  
Giuđa là một bi kịch. Trong kết thúc của bi kịch đó là tự vẫn. Nhưng tự vẫn chỉ là điều người ta thấy bên ngoài. Như Lời Chúa trong sách Samuel khi đi tuyển chọn Đavit: “Ðừng nhìn đến dáng vẻ của nó, hay tầm vóc cao lớn của nó, vì Ta không màng đến nó; không phải người phàm nhìn sao, Thiên Chúa cũng không nhìn thế, bởi người phàm chỉ trông thấy (điều lộ trước) mắt, còn Yavê trông thấy (điều ẩn đáy) lòng” (1 Sm 16, 6). Lòng thương xót của Chúa là cửa ngõ cuối cùng cho con người, ai cũng có thể vào ngưỡng cửa ấy, kể cả những kẻ cả cuộc đời làm điều xấu, gây những điều tai hại khác, họ cũng được vào ngưỡng cửa của lòng thương xót. Chỉ cần có một điều, sám hối tự nhận ra trách nhiệm của mình ngay trước khi cái chết ập đến, như kẻ trộm: “Phần ta, thực tế phải lẽ, ta chuốc lấy đáng tội đã làm; nhưng ông này, ông không hề làm điều gì trái!” 42 Và hắn nói: “Lạy Ðức Yêsu, xin nhớ tôi, khi Ngài đến trong Nước của Ngài!” (Lc 23, 41 – 42).
Ghen tỵ với kẻ tội lỗi ăn năn sám hối chăng?
Chúa có cách đền trả cho kẻ tội lỗi đã gây ra bất công, làm thiệt hại cho người khác trong thời gian sống của họ. Việc làm của Chúa cũng xuất phát từ cõi lòng ăn năn của người sám hối trước khi mất, có thể thấy như sự đền bù của ông GiaKêu: “ “Này nửa phần của cải tôi, thưa Ngài, tôi xin bố thí cho kẻ khó, và nếu tôi đã gian lận gì của ai, tôi xin đền lại gấp bốn” (Lc 19, 8). Hãy cầu nguyện cho người tội lỗi biết ăn năn, dù sớm hay muộn! Chúa có cách của Người.
Lạy Chúa. Chúng con cần cầu nguyện và dâng những hy sinh nhiều hơn nữa cho quê hương, đất nước của chúng con, khi thấy còn nhiều điều sự dữ tràn lan, xảy ra từng ngày. Cầu nguyện để Chúa thực hiện, thức tỉnh lương tâm, biến đổi sự xấu ra sự lành. Dâng những hy sinh để Chúa làm cho tình yêu chiến thắng thù hận, cho con người được sống dồi dào trong tình thương mến cùng với thiên nhiên hiền hòa.

 

Thứ 5-96: YÊU THƯƠNG ĐẾN CÙNG

Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty
 

Tông đồ Gio-an khảng định: giờ Đức Giê-su ra đi chịu chết chính là đỉnh điểm (kairos) của đời Thứ 5-96

Tông đồ Gio-an khảng định: giờ Đức Giê-su ra đi chịu chết chính là đỉnh điểm (kairos) của đời sống Con Người (xem Ga chương 12 câu 27-34). Đó là thời điểm và cách thức mà Giê-su – Cứu Chúa có thể diễn đạt tình yêu của Thiên Chúa cách trọn vẹn nhất; “Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng”. Tình yêu đó sẽ ôm ấp mọi con người, không loại trừ bất cứ ai, trong trường hợp cụ thể lúc đó kể cả Giu-đa lẫn Phê-rô, những kẻ đang rắp tâm phản bội hoặc yếu đuối bội phản Thầy. Tình yêu Thiên Chúa bao dung và rộng mở không biên giới; nhưng vấn đề chính ở đây là liệu người ta có sẵn lòng đón nhận tình yêu đó hay không. Vấn đề này về mặt lý thuyết xem ra rất đơn giản, nhưng trên thực tế lại không dễ dàng được chấp nhận. Câu chuyện Gio-an tường thuật là một minh họa rất rõ nét: trước khi lên đường đi chịu chết Đức Giê-su đã cúi xuống rửa chân cho các môn đệ Người. Điều gì đã xẩy ra vào buổi chiều hôm đó cũng có thể xảy ra cho bất kỳ ai, ở bất cứ đâu và vào bất cứ thời đại nào.
Trong tấn kịch này, vai diễn của Phê-rô có phần nổi trội hơn tất cả. Phản ứng của ông có thể là hoàn toàn tư riêng, nhưng chắc chắn nó cũng biểu lộ thái độ chung mà nhiều môn đệ khác cùng chia sẻ: “Thầy mà lại rửa chân cho con sao?… Không đời nào con chịu đâu!” Phản ứng này xem ra hoàn toàn hợp lý: làm sao người môn đệ có thể để ông thầy cúi xuống rửa chân cho mình? Nếu Đức Giê-su không nài ép, “nếu Thầy không rửa chân cho anh, anh sẽ chẳng được vào chung phần với Thầy”, thì có lẽ Phê-rô sẽ chẳng bao giờ chịu chấp nhận, và các môn đệ khác cũng không nốt.
Thế đấy! Tin và chấp nhận một Thiên Chúa khiêm hạ tới độ hủy mình ra như không, chỉ vì yêu thương tôi, một con người tội lỗi thấp hèn, là không dễ chút nào. Tôi dễ dàng chấp nhận một Thiên Chúa uy nghi cao cả đòi buộc tôi phải giữ phải tránh điều này điều nọ, một Thiên Chúa phán truyền mệnh lệnh, một Thiên Chúa thưởng phạt công minh…, nói chung một Thiên Chúa bề trên, kẻ cả; nhưng tôi lại thấy thật không thể chấp nhận nổi một Thiên Chúa đặt mình dưới cả tôi, cúi xuống trở nên thấp hèn hơn tôi, và sẵn sàng bị tước đoạt đi tất cả…, một Thiên Chúa kèo dưới… chỉ để yêu thương tôi. Tôi luôn có khuynh hướng tôn thờ, kính sợ Thiên Chúa, nhưng lại rất ái ngại đi sâu hơn nữa vào ‘lòng thương xót đến cùng’ của Người. Xét cho cùng thì tôi vẫn thấy ‘thái độ kính sợ Đức Chúa’ của Cựu Ước nói riêng, và của mọi tôn giáo nói chung, dễ chấp nhận hơn là tinh thần tự hủy của Tân Ước, như Đức Ki-tô Giê-su đã từng thể hiện trên thập giá. Thiết tưởng đây chính là ‘cớ vấp phạm’ lớn nhất của thập giá Đức Ki-tô mà Phao-lô đã đề cập tới, đặc biệt đối với những ai xưng mình là Ki-tô hữu (= người có đạo), là môn đệ (= linh mục tu sĩ) qua mọi thời.
Thế nhưng, đối với Đức Ki-tô, thì ‘cớ vấp phạm” ấy lại là một điều kiện tiên quyết (sine qua non), vì “nếu Thầy không rửa chân cho anh, anh sẽ chẳng được vào chung phần với Thầy”. Câu này là một khảng định chắc nịch chứ không chỉ là một lời mời gọi chung chung, một lời khuyên… không thi hành cũng được. Và ‘chung phần với Thầy’ chính là tham gia vào cái thứ tình yêu độc nhất vô nhị mà chỉ một mình Thiên Chúa trong Đức Ki-tô Giê-su thập giá mới có, tức là yêu thương đến cùng, là yêu tới độ hủy mình ra như không, đặt mình vào chỗ thấp nhất trong thiên hạ hầu có thể trao ban và phục vụ.
Thiết nghĩ ít ai trong chúng ta đã không vấp phạm về điều này ít là một lần trong đời. Lấy một thí dụ nhỏ, có mấy ai trong chúng ta nghĩ rằng: các việc bác ái mình làm nhiều khi thật nông cạn và chẳng Tin Mừng tí nào không? Bao lâu ta còn chưa chịu để cho Chúa ‘rửa chân’ cho, bấy lâu ta còn thi hành một thứ bác ái trịch thượng của bậc kẻ cả, phục vụ đấy mà trên thế thượng phong ban phát. Riêng với các linh mục cảm nghiệm này còn phải cụ thể và thường xuyên hơn nữa; chẳng hạn, có bao giờ linh mục ngồi vào tòa giải tội trong tư thế mình còn thấp hèn hơn cả các hối nhân tới xưng tội, hoặc tiến ra cử hành Thánh Lễ mà cảm thấy Chúa đang cúi xuống rửa chân cho mình…, hoặc khi rước mình và máu thánh Chúa mà nghiệm thấy quá bất xứng vì  được Chúa biến thành miếng ăn nuôi sống con người tội lỗi và bất toàn như mình chăng? Nhiều lần khi cho rước lễ tôi đã tận mắt chứng kiến việc Chúa đi vào các môi miệng, được trao vào các bàn tay mà đôi khi chính bản thân mình còn cảm thấy rờn rợn? Thế đấy, chính vì ‘để Thày rửa chân cho’ thường xuyên bị lãng quên mà bác ái phục vụ rất ít khi thực sự là quên mình, là cúi xuống; Thánh Lễ lúc đó sẽ nặng về tính thờ phượng kính tôn hơn là “Người yêu thương đến cùng”, ‘Alter Christus’ mang nặng nội dung chức thánh địa vị hơn là ‘mục tử tự hiến’, “vào chung phần với Thầy” được cắt nghĩa là vào hưởng vinh quang thiên quốc hơn là tham dự vào tình yêu thập giá tự hủy của Đức Ki-tô, và còn nhiều điều khác nữa…
Bài học ‘rửa chân’ thật mấu chốt và quan trọng biết bao! Thế nhưng thật đáng tiếc nó thường bị coi (kể cả bởi các chủ tế cử hành) chỉ như một biểu tượng cá biệt hơn là diễn tả hoàn hảo một mạc khải về tình yêu trao hiến phục vụ đích thực. Tệ hơn nữa nó còn bị thu hẹp thành một nghi thức phụng vụ được cử hành trong Thánh Lễ ngày Thứ Năm Tuần Thánh… và sau đó là kết thúc luôn, không còn được thực thi cách cụ thể trong cuộc sống đức tin của cuộc sống thường ngày.
Lạy Chúa Giê-su khiêm hạ vì yêu thương, xin cho con biết để cho chính con được Chúa rửa chân cho mỗi khi tiến ra cử hành Thánh Lễ, để con cũng được ‘chung phần’ với yêu đến cùng của Thập Giá. Vinh quang thập giá chính là vinh quang của tự hủy phải được tỏ rạng nơi mọi linh mục của Chúa, bây giờ và luôn mãi. Xin cho con, trước khi dám ‘cùng chết với Chúa’, biết khiêm tốn chấp nhận để Chúa chết và tự hủy ra như không vì con và cho con. A-men.

 

Thứ 5-97: SUY NIỆM THỨ NĂM TUẦN THÁNH

Lm. Anthony Trung Thành
 

Chiều hôm nay là buổi chiều của Tình Yêu. Tình yêu của một vị Thiên Chúa đối với nhân loại. Đây Thứ 5-97

Chiều hôm nay là buổi chiều của Tình Yêu. Tình yêu của một vị Thiên Chúa đối với nhân loại. Đây là một tình yêu cao cả, một tình yêu tròn đầy. Tình yêu đó được thể hiện qua ba việc làm của Đức Giêsu: Rửa chân, lập phép Thánh Thể và chức linh mục. Cả ba việc làm này đều hết sức quan trọng và liên hệ mật thiết với nhau: Linh mục là Đức Kitô thứ hai, Thánh Thể là Mình Máu Thánh Đức Giêsu Kitô và rửa chân là sứ mạng của Đức Giêsu và cũng chính là sứ mạng của linh mục.
Vì linh mục (Đức Kitô thứ hai) là người cử hành thánh lễ, làm nên Thánh Thể và tiếp tục sứ mạng “rửa chân” như lời Đức Giêsu đã truyền. Chính vì thế, buổi chiều hôm nay chúng ta hãy nhớ cầu nguyện cách đặc biệt cho các linh mục.
Trước hết, chúng cầu nguyện cho có nhiều linh mục: Theo Niên giám Thống kê của Giáo Hội năm 2015, có 5.304 giám mục, 415.656 linh mục. Trên toàn cầu, con số linh mục chịu chức đã tăng 0,83% trong các năm từ 2010 đến 2015. Tuy nhiên, hơn một nửa các cộng đồng của Giáo Hội Công Giáo trên thế giới không có linh mục trú sở. Giáo phận Xingú ở vùng Pará, Ba Tây, chẳng hạn, có 800 giáo xứ trong một khu vực truyền giáo xét về lãnh thổ lớn bằng nước Đức, nhưng chỉ có 27 linh mục, điều này có nghĩa hơn 2 phần 3 tín hữu chỉ được tham dự thánh lễ Chúa Nhật 2 hoặc 3 lần trong một năm. Chính vì thế, chúng ta cầu nguyện cho có thêm nhiều linh mục để đáp ứng nhu cầu của các tín hữu. (Nguồn: conggiao.info)
Đồng thời chúng ta cũng cầu nguyện cho các linh mục trở thành những linh mục như lòng Chúa mong muốn. Đó là cầu nguyện cho các linh mục chu toàn sứ mạng mà Chúa và Giáo Hội trao phó. Linh mục có ba sứ mạng chính: Sứ mạng Ngôn sứ, sứ mạng Tư tế và sứ mạng Mục tử.
Chúng ta cầu nguyện cho các linh mục chu toàn sứ mạng ngôn sứ: Trong ngày truyền chức, Đức Giám Mục nhắn nhủ các tiến chức rằng: “Con hãy tin điều con đọc, dạy điều con tin và sống điều con dạy.” Vì vậy, việc đọc, suy niệm, giảng dạy và sống Lời Chúa phải là bổn phận hàng đầu của linh mục. Linh mục phải rao giảng Lời Chúa với tinh thần trách nhiệm. Linh mục phải rao giảng Lời Chúa lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện. Thánh Phaolô đã nói: “Hãy rao giảng lời Chúa, hãy lên tiếng, lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện; hãy biện bác, ngăm đe, khuyên nhủ, với tất cả lòng nhẫn nại và chủ tâm dạy dỗ” (2Tm 4,2). Linh mục rao giảng Lời Chúa trong nhà thờ, rao giảng Lời Chúa nơi các lớp giáo lý, rao giảng Lời Chúa khắp mọi nơi khi cần thiết. Linh mục rao giảng Lời Chúa cho những người có đạo, rao giảng Lời Chúa cho những người lương dân, rao giảng Lời Chúa cho những người chống đối, rao giảng Lời Chúa cả những khi bị cấm cách, bắt bớ. Chính các Tông đồ ngày xưa đã làm như vậy: Trước thượng hồi đồng Do Thái cấm không cho các Tông đồ rao giảng về danh Đức Giêsu nữa, Thánh Phêrô và Thánh Gioan đã nói: “Phần chúng tôi, những gì tai đã nghe, mắt đã thấy, chúng tôi không thể không nói ra” (Cv 4,20). Vì sứ mạng ngôn sứ, nên nhiều linh mục vẫn can đảm nói thẳng nói thật để lên án những bất công trong xã hội, bênh vực cho công lý và sự thật cho dù phải chịu bách hại, bắt bớ, thậm chí có khi nguy hiểm đến tính mạng của mình.
Chúng ta cầu nguyện cho các linh mục chu toàn sứ mạng Tư tế: Tất cả các Kitô hữu là tư tế cộng đồng, còn các linh mục là tư tế thừa tác của Đức Kitô. Linh mục thi hành Chức Tư Tế qua việc cử hành các mầu nhiệm thánh. Đó là cử hành phụng vụ, nhất là phụng vụ các Bí tích. Các Bí tích là máng chuyển thông ơn Thiên Chúa. Ơn Thiên Chúa qua Bí tích bị khóa lại, chỉ có linh mục mới có thể mở ra được. Vì thế, Thánh Gioan Viannay khẳng định rằng: “Nếu không có linh mục, thì sự thương khó và sự chết của Chúa không giúp gì cho ta.” Ngài nói: “Nếu trong rương có đầy vàng mà không có ai mở ra, nào có ích gì? cũng vậy, nếu không có linh mục, sẽ không có Bí tích giải tội, không có Mình Thánh Chúa…ai là nguyên cớ để bánh trở nên Mình Thánh Chúa? Ai thanh tẩy tâm hồn ta? Ai dọn linh hồn người chết ra đi thanh thản…nếu không phải là linh mục.”
Linh mục cần thiết như thế đó. Linh mục cần cho linh mục. Linh mục cần cho mọi người. Nhờ linh mục, ơn thánh qua các Bí tích tuôn chảy đến với con người. Vì vậy, chúng ta cầu xin cho các linh mục thi hành tốt nhiệm vụ tư tế, để các Bí tích mang lại hiệu quả dồi dào cho mỗi người chúng ta. Đồng thời, mỗi chúng ta cũng cần sống đầy đủ ý nghĩa của các Bí tích, bằng cách: chuẩn bị xa, dọn mình gần và còn kéo dài ơn Bí tích sau khi lãnh nhận.
Chúng ta cầu nguyện cho các linh mục chu toàn sứ mạng Mục tử: Linh mục luôn được gọi là Người của đoàn chiên. Được xức dầu Thánh Thần, như Đức Kitô là Đầu và là Mục tử, linh mục được sai đến với mọi người trong tư cách là mục tử tốt lành của đoàn chiên. Vì thế, noi gương Đức Kitô – Thủ lãnh các Mục tử, linh mục có trách nhiệm yêu thương gắn bó, lo lắng, tận tuỵ và hy sinh vì đoàn chiên. Linh mục đến là để chiên được sống và sống dồi dào. Đoàn chiên này bao gồm cả những tín hữu lẫn những người chưa gia nhập Hội Thánh. Vì vậy, linh mục luôn cần có Đức Ái mục vụ. Với Đức Ái mục vụ, linh mục diễn tả hành vi và phong cách của Đức Kitô Mục tử đến chỗ tận hiến mình để mưu ích cho đoàn chiên. Thái độ căn bản của người mục tử là luôn tin tưởng vào sứ mạng của mình: làm Vinh Danh Chúa và cứu rỗi các linh hồn. Sứ mạng này được thực hiện trong hy sinh thập giá và chắc chắn sẽ kết trái trong vinh quang phục sinh. Có tin tưởng vào sứ mạng, linh mục mới phấn khởi thi hành tác vụ tôi tớ và mới dám liều mạng sống mình vì Chúa và vì đoàn chiên. (x. Chỉ nam linh mục, Gp. Thái Bình).
Mặc dầu linh mục được lãnh nhận những sứ mạng cao cả như vậy, nhưng linh mục cũng là những con người vớ những yếu đuối của con người. Nói theo kiểu Thánh Phaolô, những sứ mạng cao cả ấy lại chứa đựng trong một chiếc bình sành dễ vỡ là thân xác linh mục (x. 2Cr 4,7). Chính vì vậy, ngoài việc cố gắng nổ lực của bản thân, linh mục cần lời cầu nguyện và sự giúp đỡ của mọi thành phần dân Chúa. Cầu nguyện cho các linh mục chu toàn sứ mạng của mình. Cầu nguyện cho các linh mục thực sự là những linh mục thánh thiện. Chân phước linh mục Antone Chevrier (Pháp) đã nói:
– Xin hãy giúp tôi xây dựng một ngôi thánh đường. Chỉ có ngôi thánh đường này mới cứu được thế giới.
Người ta ngạc nhiên bèn hỏi: – Thưa Cha, ngôi thánh đường nào vậy ?
Ngài nói tiếp:
– Tôi muốn làm hết sức để xây một ngôi thánh đường mà nền móng là những linh mục thánh thiện, các cột đỡ cũng là những linh mục thánh thiện, nhà tạm cũng là những linh mục thánh thiện, tòa giảng cũng là những linh mục thánh thiện và bàn thờ cũng là những linh mục thánh thiện.
Chỉ có ngôi thánh đường này mới cần thiết cho mọi người, ở mọi nơi và trong mọi lúc!
Lạy Chúa Giêsu, chúng con cảm tạ Chúa đã thiết lập chức linh mục để ở lại với chúng con. Xin cho các linh mục biết chu toàn các sứ mạng của mình, trở thành những linh mục thánh thiện, hầu mưu ích cho dân Chúa. Amen.

 

Thứ 5-98: DI CHÚC TÌNH YÊU PHỤC VỤ

JM. Lam Thy
 

Kể từ ngày đăng quang Giáo hoàng (13/3/2013), ĐTC Phan-xi-cô quyết định không cử hành Thánh Thứ 5-98

Kể từ ngày đăng quang Giáo hoàng (13/3/2013), ĐTC Phan-xi-cô quyết định không cử hành Thánh lễ Tiệc ly trong khung cảnh uy nghi của Vương cung thánh đường Thánh Gio-an La-tê-ra-nô, nhưng đã chọn một nơi khiêm tốn, kề bên những khổ đau của con người: * Ngày 28/3/2013, khi vừa được bầu làm Giáo hoàng, ĐTC đã gây bất ngờ khi cử hành Thánh lễ Tiệc ly tại Trung tâm giam giữ trẻ vị thành niên Casal del Marmo ở ngoại ô phía bắc Rô-ma và rửa chân cho các tù nhân trẻ tại đây, cả nam và nữ. * Ngày 18/4/2014, lần thứ hai trong tư cách Giáo hoàng, ĐTC đã chọn cử hành Thánh lễ Tiệc ly tại một trung tâm chăm sóc người già và khuyết tật ở Rô-ma: Trung tâm “Mẹ Maria Chúa Quan Phòng”, do tổ chức Don Carlo Gnocchi điều hành. * Ngày 02/4/2015, ĐTC đã đến nhà tù Rebbibia ở mạn đông Rô-ma để cử hành Thánh lễ Tiệc ly và rửa chân cho các tù nhân. * Ngày 25/3/2016 ĐTC cử hành Thánh lễ Tiệc ly tại Trung tâm đón tiếp người tị nạn Castelnuovo di Porto cách Rô-ma 30 km về phía Bắc.
Trong bài giảng Thánh lễ Tiệc Ly tại Castelnuovo di Porto (ngày 25/3/2016), ĐTC nhấn mạnh: “Di sản mà Chúa Giê-su để lại cho chúng ta là: hãy là người tôi tớ phục vụ nhau. Bây giờ tôi sẽ thực hiện cử chỉ này, nhưng tất cả chúng ta hãy nghĩ đến người khác: làm sao để phục vụ họ tốt hơn, đó là điều Chúa Giê-su muốn chúng ta thực hiện.” ĐTC nói thêm: “Chúng ta vừa nghe trong bài đọc điều Chúa Giê-su đã làm trong bữa Tiệc Ly, cử chỉ ly biệt này là một lời di chúc. Lời di chúc đó là: “Thiên Chúa trở thành người tôi tớ. Vậy anh em phải trở nên tôi tớ phục vụ lẫn nhau, phục vụ trong yêu thương. Cử chỉ này càng mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc vì chỉ có người nô lệ, người tôi tớ mới làm công việc rửa chân, và Chúa Giê-su trong Bữa Tiệc Ly, khi lập bí tích Thánh Thể, đã dùng cử chỉ rửa chân này để nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta phải là người tôi tớ phục vụ lẫn nhau.” (nguồn: Vatican.net)
Bài Tin Mừng trong Thánh lễ chiều Thứ Năm Tuần Thánh (Ga 13, 1-15) trình thuật về “Bữa ăn cuối cùng của Đức Giê-su và các môn đệ”. Như vậy là Đức Giê-su đã không ăn lễ Vượt Qua theo nghi thức Do-thái, mà là muốn nhân dịp này, Người từ biệt các môn đệ để bước vào cuộc Vượt Qua của chính mình (vượt qua sự chết, chiến thắng tội lỗi, phục sinh vinh hiển). Bữa tiệc lễ Vượt Qua đã trở thành bữa Tiệc Ly và những lời huấn dụ cuối cùng của Đức Giê-su chính là những di ngôn (ĐTC Phanxicô gọi là “lời di chúc” – xc “Bài giảng” -nt-). Giáo hội đã coi những lời di chúc đó là lời “trối trăng” (“Lạy Chúa, trong bữa tiệc ly trọng đại, trước ngày tự hiến thân chịu khổ hình, Ðức Giê-su đã trối cho Hội Thánh một hy lễ mới muôn đời tồn tại làm bằng chứng tình thương của Người.” – Lời nguyện nhập lễ Thánh lễ Tiệc Ly). Bản di chúc đó để lại di sản cho các môn đệ. Di sản cao quý ấy chính là 2 việc làm mang ý nghĩa vô cùng sâu sắc:
1- Rửa chân cho các môn đệ: “Người đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, và lấy khăn mà thắt lưng. Rồi Đức Giê-su đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau.” (Ga 13, 4-5). Sau đó, Người đã giải thích rõ ràng việc làm này: “Anh em có hiểu việc Thầy mới làm cho anh em không? Anh em gọi Thầy là “Thầy”, là “Chúa”, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em. Thật, Thầy bảo thật anh em: tôi tớ không lớn hơn chủ nhà, kẻ được sai đi không lớn hơn người sai đi. Anh em đã biết những điều đó, nếu anh em thực hành, thì thật phúc cho anh em!” (Ga 12, 12-17).
Trong cuộc sống, vấn đề rửa chân chỉ có thể xảy ra khi người chủ hoặc vua chúa quan quyền bắt nô lệ, tôi tớ phục vụ, hoặc những con cháu tỏ lòng hiếu thảo rửa chân cho cha mẹ, ông bà khi các ngài già yếu bệnh tật. Ở đây Đức Giê-su là Thầy, là Chúa, mà lại quỳ xuông rửa chân cho các môn đệ, không những chỉ dạy cho người môn đệ hiểu được cách sống khiêm tốn phục vụ, mà còn có tác dụng giáo dục về đức Mến (là nhân đức cao trọng nhất trong 3 nhân đức đối thần: Tin, Cậy, Mến – “Hiện nay Đức Tin , Đức Cậy Đức Mến cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là Đức Mến” – 1Cr 13, 13). Con người sống trên đời khi yêu quý bản thân tất nhiên sẽ mong muốn thân thể mình phải sạch sẽ. Cả thân thể sạch sẽ mà để đôi chân dơ dáy thì có coi được không? Vì thế, ai cũng rất siêng năng rửa chân cho bản thân mình. Thiên Chúa lại dạy: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi, ngươi phải yêu người thân cận như chính mình.” (Mt 22, 37). Như vậy, để yêu được tha nhân như yêu chính mình (“ái nhân như ái thân”), thì “anh em cũng phải rửa chân cho nhau” là điều đương nhiên rồi.
2- Lập Bí tích Thánh Thể: “Trong đêm bị nộp, Chúa Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng tạ ơn, rồi bẻ ra và nói: “Anh em cầm lấy mà ăn, đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em; anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy.” Cũng thế, cuối bữa ăn, Người nâng chén và nói: “Đây là chén Máu Thầy, Máu đổ ra để lập Giao Ước Mới; mỗi khi uống, anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy.” (1Cr 11, 23-25). Trước đây, trên núi Si-nai, Thiên Chúa đã lập Giao Ước và ban bia đá 10 Điều Răn (Mến Chúa yêu người) cho Dân Người thông qua ngôn sứ Mô-sê (Xh 24, 12-18); thì giờ đây, Đức Giê-su Thiên Chúa lại lập một Giao Ước Mới ban chính Thịt Máu mình làm hy tế Thập giá cứu độ nhân loại, đồng thời làm của dưỡng nuôi linh hồn đàn chiên tín hữu đến muôn đời muôn kiếp. Rõ ràng Thiên Chúa, thông qua Con Một Người, lại một lần nữa lập Giao Ước Tinh Yêu với toàn thể nhân loại (nói chung) và cách riêng với những người tin (tín hữu).
Xét cho cùng, cả 2 việc Đức Ki-tô thực hiện trong đêm bị nộp đều nói lên Tình Yêu vô bờ bến của Thiên Chúa, Người luôn luôn mong mỏi con cái của Người sống trọn vẹn trong Tình Yêu cao vời khôn ví đó. Mà nếu con cái của Người biết vâng nghe Lời Người, thực hành đúng những điều Người truyền dạy, thì đó chính là sống quây quần đùm bọc lấy nhau, yêu thương gắn kết với nhau nên một. Hoá cho nên chính trong bữa tiệc “Ly biệt”, Chúa Giê-su lại muốn các môn đệ, tín hữu “Đoàn tụ” (tất cả đoàn tụ yêu thương nhau, như các chi thể hiệp nhất nên một thân thể Ki-tô ở dưới thế, để rồi sẽ được đoàn tụ với nhau trong Nước Trời mai sau). Lời Đức Giê-su cầu nguyện cùng Chúa Cha (“Con không chỉ cầu nguyện cho những người này, nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con, để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta.” – Ga 17, 20-21), cho thấy “những người này” là các Tông đồ và “những ai … tin vào Con” chính là những Ki-tô hữu. Nói khác hơn, đó là những người tin vào Con Thiên Chúa nhờ lời rao giảng của các Tông đồ, đã được chính Đức Ki-tô Thiên Chúa cầu nguyện cho vậy.
Chung quy, những lời dậy và việc làm của Đức Giê-su trong bữa Tiệc Ly đã nói lên đầy đủ ý nghĩa cốt tuỷ của Ki-tô Giáo, đó là tinh thần “Phục Vụ Trong Yêu Thương”. Thiên Chúa đã yêu thương nhân loại đến nỗi ban chính Con Một xuống thế làm người để phục vụ cho hạnh phúc của nhân loại. Vâng, “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20, 28). Quả thực “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì người mình yêu.” (Ga 15, 13). Từ những việc làm thực tế, những vật thể hữu hình (nước rửa chân, khăn lau, miếng bánh, ly rượu), Đức Giê-su đã dạy các tín hữu hãy noi gương Người mà phục vụ lẫn nhau trong Chân Lý Tình Yêu.
Để có thể kết hợp với Đức Ki-tô, ngõ hầu trở nên đồng hình đồng dạng với Người (Pl 3, 9-10), người Ki-tô hữu cần phải biết “Ơn riêng Thiên Chúa đã ban, mỗi người trong anh em phải dùng mà phục vụ kẻ khác” (1Pr 4, 10); “đừng lợi dụng tự do để sống theo tính xác thịt, nhưng hãy lấy đức mến mà phục vụ lẫn nhau” (Gl 5, 13). Một cách cụ thể là hãy đem Lời Chân Lý (Bánh Hằng Sống) đến cho mọi người, đồng thời cũng đừng quên đem cơm bánh vật chất đến cho những kẻ khó nghèo bệnh tật. Vâng, “Trước một thế giới đang yêu cầu các Ki-tô hữu đưa ra một chứng tá mới mẻ về tình yêu và lòng trung thành với Chúa, mọi Ki-tô hữu đều cảm thấy phải cấp bách ganh đua với nhau trong đời sống bác ái, trong việc phục vụ và làm các việc lành (x. Hr 6,10). Lời nhắc nhở này đặc biệt thúc bách trong mùa thánh chuẩn bị mừng lễ Phục Sinh.” (Sđ Mùa Chay 2012, phần kết luận).
Mong rằng tất cả đàn chiên trong ràn chiên Giáo Hội, hãy theo chân vị Giáo-Hoàng-của-người-nghèo là ĐTC Phan-xi-cô, mà đến với những người nghèo khó vật chất (thiếu cơm ăn áo mặc) kể cả những kẻ đói ăn tinh thần (thiếu vắng hoặc chưa biết đến Lời Chúa), để thực hiện những chứng tá bác ái “trong việc phục vụ và làm các việc lành”. Ôi! “Lạy Chúa, trong bữa tiệc ly trọng đại, trước ngày tự hiến thân chịu khổ hình, Ðức Giê-su đã trối cho Hội Thánh một hy lễ mới muôn đời tồn tại làm bằng chứng tình thương của Người. Chiều nay, chúng con đến tham dự yến tiệc cực thánh, như lời Người truyền dạy, xin Chúa cho tất cả chúng con được tràn đầy tình yêu và sức sống viên mãn của Người. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời. Amen.” (Lời nguyện nhập lễ Thánh lễ Tiệc Ly).

 

Thứ 5-99: NGƯỜI YÊU THƯƠNG HỌ ĐẾN CÙNG

Lm. Giuse Nguyễn Văn Thông
 

Cũng theo vị tông đồ này thì việc Chúa lập phép Thánh Thể và rửa chân cho các môn đệ là để thể Thứ 5-99

Cũng theo vị tông đồ này thì việc Chúa lập phép Thánh Thể và rửa chân cho các môn đệ là để thể hiện tình yêu thương những kẻ thuộc về mình và là tình yêu thương đến cùng. Chính vì thế, Bí tích Thánh Thể còn được gọi là Bí tích Tình Yêu và rửa chân là tình yêu đến cùng. Nếu Bí tích Thánh Thể là sự hiệp thông trọn vẹn giữa Chúa Giêsu và các môn đệ, thì việc rửa chân cũng làm cho họ được chung phần với Thầy. Nếu Bí tích Thánh Thể là sự trao ban chính mình, thì việc rửa chân lại là sự từ hạ và từ bỏ tuyệt đối. Tất cả đều là sự cho đi, tự hiến vô điều kiện, vô vị lợi và đến cùng. Tất cả đều diễn tả đặc tính của một tình yêu đích thực.
Với Thánh lễ chiều nay, chúng ta bước vào Tam Nhật Vượt Qua. Chúng ta hãy xin ơn Chúa để biết mở lòng đón nhận tình yêu Chúa đang muốn ban tặng chúng ta, để nhờ đó mà được hiệp thông sự sống với Người.

 

Thứ 5-100:  LỜI THẦY NĂM XƯA

Lm. Jos. DĐH
 

Không ai đủ khả năng để tổng hợp những “lời hay ý đẹp”, áp dụng vào cuộc sống của mình, chia sẻ Thứ 5-100

Không ai đủ khả năng để tổng hợp những “lời hay ý đẹp”, áp dụng vào cuộc sống của mình, chia sẻ cho đời. Chung quanh ta nhiều tài năng phong phú, có giá trị như bị lãng quên, phải chăng vì lý do chưa phù hợp với hoàn cảnh. Có khá nhiều cơ hội vụt qua, nhanh đến độ bất ngờ, để lại hối tiếc mà thôi. Tình yêu cao quý nhất là thủy chung, tình người trân trọng hơn cả vẫn là chữ tín, và chỉ khi hiểu nhau, tình thầy trò, hay tình huynh đệ mới thực sự không phai mờ.
Tục ngữ có câu : dốt đến đâu, học lâu cũng biết. Đức Giêsu đến thực thi đức yêu thương, Ngài không chọn tìm học trò khôn ngoan hay khờ dại. Mà những ai thuộc về Đức Giêsu đều được gắn liền với đức ái mục tử. Ngài lưu ý các học trò về tinh thần khim tốn, sống yêu thương, giúp nhau rửa sạch vết nhơ tội lỗi. Trong bữa tiệc cuối cùng, Chúa Giêsu không dùng những lời ngọt ngào yêu thương, nhưng Ngài vô cùng cương quyết : “nếu Thầy không rửa chân cho anh em, anh em sẽ không được dự phần với Thầy”.
Bữa tiệc chia tay hôm đó, Thầy Giêsu không tuyên dương hay có ý khiển trách người học trò phản bội hay chối Chúa, Thầy đã làm gương sáng cho các học trò về hành động yêu thương. “Ta là Thầy là Chúa mà còn rửa chân cho anh em, vậy anh em hãy rửa chân cho nhau”. Lời Thầy Giêsu làm lệch hướng các học trò về quyền bính, và cụ thể hóa bằng hành động cúi mình rửa chân : “anh em có hiểu biết việc Thầy vừa làm cho các con chăng ?”
Lời Thầy Giêsu không khỏi làm các học trò ưu tư, ăn uống thì cần rửa tay, mà ở đây Thầy lại chủ động rửa chân cho các ông. Lời Thầy nhẹ nhàng nhưng sâu rộng, tay và đầu sạch rồi, nhưng chân cần phải sạch để bước theo Thầy vững vàng hơn. Lời Thầy không thể mơ hồ đến độ cứ rửa đôi chân sạch bụi đời là đủ, nhưng hãy theo gương Thầy sống yêu thương phục vụ đến cùng. Lời Thầy đầy ắp yêu thương và không thiếu cương quyết : “việc Thầy làm bây giờ anh em không hiểu, nhưng sau sẽ hiểu”.
Trọng Thầy mới làm được thầy, dù khó chấp nhận việc Thầy mình làm, nhưng kẻ bộc trực như Phêrô còn phải khuất phục. Rõ ràng bài học vâng phục, bác ái, không thể là hành động tùy tiện chọn lựa của người tông đồ. Thương mến ai, người ta cho kiến thức, địa vị, tài sản; giao lưu tiệc tùng, người ta thích kẻ đồng bàn với mình phải là hiểu nhau, là bè bạn thân thích cùng khả năng. Chúa rửa chân cho các học trò không phân biệt, như một lời nhắn gởi Chúa sẽ còn cùng các học trò đi khắp nơi rửa chân cho những người đau khổ, bệnh tật, cả những tâm hồn tội lỗi nữa.
Buổi hội họp sau hết với các học trò không phải là tìm phương án đối phó với những kẻ chống đối, mà là mở ra một hướng đi mới cho các học trò cùng hành động yêu thương. Mơ ước của Chúa Giêsu là các môn đệ phải thấm nhuần bài học anh em hãy yêu thương nhau, để rồi người người, nhà nhà biết tiếp tục lời Thầy : hãy yêu như Thầy yêu. Lời Thầy năm xưa sẽ còn là lời nhắc nhớ, hãy lấy tình bác ái để cư xử với nhau, lấy tinh thần người làm lớn phục vụ rửa chân cho nhau nên tinh sạch. Người môn đệ theo Chúa mãi mãi là hành động đẹp, khi mỗi người biết yêu thương nhau. Amen.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây