Suy Niệm Tin Mừng Thứ 6 Tuần Thánh ABC Bài 51-100 Cuộc khổnạnChúa

Thứ hai - 26/03/2018 11:07
Suy Niệm Tin Mừng Thứ 6 Tuần Thánh ABC Bài 51-100 Cuộc khổ nạn của Chúa
Suy Niệm Tin Mừng Thứ 6 Tuần Thánh ABC Bài 51-100 Cuộc khổ nạn của Chúa
Suy Niệm Tin Mừng Thứ 6 Tuần Thánh ABC Bài 51-100 Suy tôn Thánh Giá
Tuầnthánh 6-51: Người Tôi Tớ Của Thiên Chúa. 2
Tuầnthánh 6-52:  MỘT LINH MỤC BỊ GIÁO DÂN GIẾT CHẾT.. 7
Tuầnthánh 6-53: Thứ Sáu Tuần Thánh: Người tôi tớ. 11
Tuầnthánh 6-54: NGHỊCH LÝ CỦA THẬP GIÁ.. 14
Tuầnthánh 6-55: Thứ Sáu Tuần Thánh là đỉnh cao của Ơn Cứu Độ. 17
Tuầnthánh 6-56: Cần gì Chúa phải chết thay. 23
Tuầnthánh 6-57: Tình yêu và Thập Giá. 25
Tuầnthánh 6-58:  Chúa Cô Đơn. 27
Tuầnthánh 6-59:  Tình Yêu Mạnh Hơn Cái Chết 29
Tuầnthánh 6-60: THỨ SÁU TUẦN THÁNH.. 36
Tuầnthánh 6-61:  HOÁN CẢI ĐỂ ĐƯỢC XÓT THƯƠNG.. 38
Tuầnthánh 6-62: DUNG MẠO NGƯỜI TÔI TỚ ĐAU KHỔ.. 40
Tuầnthánh 6-63: NGHỊCH LÝ CỦA THẬP GIÁ.. 43
Tuầnthánh 6-64: Đây là người! 44
Tuầnthánh 6-65: Ðức Giêsu chịu hiến tế. 45
Tuầnthánh 6-66:  Thứ Sáu Tuần Thánh. 46
Tuầnthánh 6-67: SỨC MẠNH NƠI KHỔ ĐAU.. 48
Tuầnthánh 6-68: NGƯỜI CHẾT VÌ YÊU.. 49
Tuầnthánh 6-69: THẬP GIÁ TÌNH YÊU.. 51
Tuầnthánh 6-70:  ĐỈNH ĐỒI THƯƠNG XÓT.. 53
Tuầnthánh 6-71: BẠC NHƯ VÔI! 60
Tuầnthánh 6-72:  TRAO HIẾN VÌ YÊU THƯƠNG.. 62
Tuầnthánh 6-73:  SỐNG CAO ĐẸP CHẾT KHÔNG CÙNG.. 64
Tuầnthánh 6-74:  NHÌN NGẮM THÁNH GIÁ KHÁM PHÁ TÌNH YÊU.. 66
Tuầnthánh 6-75: TIẾNG NÓI CỦA TÌNH YÊU THƯƠNG.. 68
Tuầnthánh 6-76: NGHỊCH LÝ CỦA THÁNH GIÁ.. 72
Tuầnthánh 6-77: SUY NIỆM THỨ SÁU TUẦN THÁNH.. 74
Tuầnthánh 6-78: GIỜ THƯƠNG XÓT.. 75
Tuầnthánh 6-79: CHIẾN THẮNG ĐAU KHỔ.. 83
Tuầnthánh 6-80:  TÌNH YÊU CAO VỜI 85
Tuầnthánh 6-81: NGƯỜI TÔI TỚ.. 86
Tuầnthánh 6-82: NƠI THÁNH GIÁ THIÊN CHÚA TRAO TÌNH YÊU.. 89
Tuầnthánh 6-83: TÌNH YÊU VƯỢT TRÊN SỰ CHẾT.. 90
Tuầnthánh 6-84: SUY NIỆM THỨ SÁU TUẦN THÁNH.. 91
Tuầnthánh 6-85: Nghi Thức Tưởng Niệm Cuộc Thương Khó. 93
Tuầnthánh 6-86: VÌ CHÚNG TA ĐỨC KITÔ ĐÃ CHẾT.. 96
Tuầnthánh 6-87: Chúa tận hiến hy sinh trọn vẹn vì tội chúng ta. 98
Tuầnthánh 6-88: Sự thinh lặng của Thập Giá. 99
Tuầnthánh 6-89: Thôi đừng giết Chúa. 100
Tuầnthánh 6-90: Những khác biệt giữa quan niệm về tình yêu. 102
Tuầnthánh 6-91: NGẮM NHÌN THẬP GIÁ.. 104
Tuầnthánh 6-92:  Thứ Sáu Tuần Thánh : Thế Là Đã Hoàn Tất 106
Tuầnthánh 6-93: KHÁT TÌNH.. 108
Tuầnthánh 6-94: SUY NIỆM THỨ SÁU TUẦN THÁNH 2017. 115
Tuầnthánh 6-95: SỨC MẠNH CỦA THÁNH GIÁ.. 117
Tuầnthánh 6-96: “HỌ NHÌN XEM ĐẤNG HỌ ĐÃ ĐÂM THÂU QUA”. 120
Tuầnthánh 6-97: TÌNH YÊU ĐÃ TOÀN THẮNG.. 122
Tuầnthánh 6-98: THẬP GIÁ CỦA CHÚA – THẬP GIÁ CỦA TÔI 126
Tuầnthánh 6-99: SỰ VÔ CẢM ĐẾN NHẪN TÂM CỦA CON NGƯỜI 128
Tuầnthánh 6-100: GIÁ MÁU.. 131

 

Tuầnthánh 6-51: Người Tôi Tớ Của Thiên Chúa

Phụng Vụ Thứ Sáu Tuần Thánh A
 (Ys 52,13-53,12; Hr 4,14-16;5,7-9; Yn 18,1-19,42)
Phụng Vụ Thứ Sáu Tuần Thánh A
Ys 52,13-53,12; Hr 4,14-16;5,7-9; Yn 18,1-19,42
 

Phụng vụ hôm nay không phải là Phụng vụ Thánh Thể mà là Phụng vụ Thánh Giá. Cao điểm của: Tuầnthánh 6-51

Phụng vụ hôm nay không phải là Phụng vụ Thánh Thể mà là Phụng vụ Thánh Giá. Cao điểm của buổi phụng vụ này là nghi thức mở Thánh Giá và thờ lạy Thánh Giá. Nhưng để giúp chúng ta hiểu biết mầu nhiệm Thánh Giá, ba bài Kinh Thánh vừa nghe lần lượt giới thiệu với chúng ta những khía cạnh của Thánh gía Đức Kitô, cũng là những nét chính trên khuôn mặt Đức Kitô ở trên Thánh giá. Là vì từ ngày Người bị đóng đinh, thập giá đã trở thành Thánh giá khi mang xác thánh Người; và như lời thánh Phaolô nói, chúng ta cũng chẳng biết một Đức Kitô nào khác ngoài chính Đức Kitô đã bị đóng đinh vào Thập giá. Nên suy nghĩ về Thánh giá, là chiêm ngưỡng Đức Kitô chịu đóng đinh. Qua những bài Kinh Thánh vừa nghe, Phụng vụ muốn chúng ta nhìn ngắm Đức Kitô trên Thánh giá như là Người Tôi Tớ của Thiên Chúa, như là Vị Thượng Tế của Đạo Mới, và như là Đấng Hoàng Đế đã cứu chuộc chúng ta.
 A. Người Tôi Tớ Của Thiên Chúa
Isaia có một đoạn sách rất mầu nhiệm, đoạn mà chúng ta vừa nghe đọc. Cho đến ngày Đức Kitô chịu treo trên Thập giá, người ta chẳng hiểu gì về đoạn sách này. Tác giả nói đến một người Tôi Tớ của Đức Yavê. Người có đủ mọi tư cách của một người công chính và của một vị tiên tri. Hơn nữa đó còn là Vị Tiên tri công chính đặc biệt. Chẳng người công chính và vị tiên tri nào trong lịch sử hội đủ những tư cách của Người. Phải nói Người là vị thánh duy nhất và là Người của Thiên Chúa có một không hai. Bản chất của con người của Người đã rất mầu nhiệm vì dường như Người không phải là một cá nhân nhưng là toàn dân Thiên Chúa ở nơi Người. Định mệnh của Người còn mầu nhiệm hơn nữa. Người đạo đức thánh thiện tuyệt vời, thế mà không hiểu sao lại bị đánh đập, mắng chửi, ruồng rẫy, vất bỏ như một tên vô đạo, như một kẻ bất lương. Và cực hình Người phải chịu dữ dằn đến nỗi làm nát khuôn mặt Người, khiến ai nhìn vào cũng phải rùng rợn ngó đi nơi khác. Thế rồi Người được tôn vinh, tôn vinh đến cùng độ khiến cả thiên hạ phải ngỡ ngàng. Ai hiểu được con người lạ lùng ấy? Isaia viết ra theo ơn linh hứng cũng phải bàng hoàng. Ông suy nghĩ và táo bạo viết thêm chính vì tội lỗi loài người mà Vị công chính kia phải chịu khổ như vậy. Người là bầy tôi Thiên Chúa dùng để gánh vác các khổ đau của chúng ta, hầu trở nên Vị trung gian cầu bầu cho tội nhân. Isaia được linh hứng viết đoạn trên, nhưng ông cũng như mọi độc giả đều ngậm tăm, chẳng biết nhân vật mình mô tả đó là ai. Lời tiên tri trên còn chờ mạc khải.
Nay Đức Kitô chịu treo trên Thập giá. Và chính lúc ấy trời đất chuyển động. Nhiều kẻ đấm ngực ăn năn thú nhận: Người bị treo kia thật là Con Thiên Chúa. Mầu nhiệm Phục sinh tiếp đến chứng thực cho lời thú nhận trên. Và bài sách Isaia nay được ứng nghiệm. Đức Kitô bị đóng đinh chính là Đấng Thánh đã mang lấy tội lỗi và khổ đau của loài người. Người bị đánh đập, ruồng rẫy, vứt bỏ như viên đá mà thợ xây quẳng đi. Nhưng Thiên Chúa đã nhặt lại làm đá góc xây nên Đền thờ mới là Hội Thánh hiện thời. Đức Kitô Chúa chúng ta đã hoàn tất lời tiên tri; đã làm trọn thời Cựu ước; đã trở nên phương xá cứu rỗi loài người.
Bài sách Isaia ít nhất khuyên nhủ chúng ta điều này: mỗi khi nhìn vào Thập giá Đức Kitô, lập tức chúng ta phải nghĩ đến tội lỗi lớn lao và khổ đau dữ dằn của loài người. Không có tội lỗi và hậu quả của nó, thì không có việc Đức Kitô phải đập đánh và khổ đau trên Thập giá. Thân thể rách nát của Người nhắc nhở chúng ta ý thức sự kiện tội lỗi tràn lan mọi nơi, mọi thời một cách thật độc dữ. Và trước hết chính mỗi người chúng ta phải nhận thức lương tâm và đời sống nhiều khi còn tội lỗi của mình. Thiếu sự công nhận này là phủ nhận Thánh giá Đức Kitô; là không chấp nhận ý nghĩa cứu thế của việc Người tử nạn; là cho rằng việc Người chịu chết thật vô ích, nếu không phải chỉ có hệ tới Người. Và như vậy rõ rệt là phạm thượng và xúc phạm.
Ngược lại, ai có cái nhìn như Isaia, ai nhận thức rằng Đấng bị treo trên Thập giá đã phải khổ hình vì tội lỗi chúng ta, người đó dễ nhận ra Đức Kitô bị đóng đinh hiện nay là Vị trung gian cầu bầu cho kẻ có tội. Khi ấy Thập giá của Người trở nên Thánh giá, trở thành phương xa cứu độ loài người tội nhân.
Thế nên thái độ đầu tiên phải có để cử hành Phụng vụ Thánh giá hôm nay là tâm tình nhận thức mình là tội nhân và Đấng bị đóng đinh kia đang đau khổ vì mình; chúng ta đến với Thập giá vừa khiêm cung vừa cảm mến. Cái hôn nồng nàn đặt vào chân Đấng bị đóng đinh sẽ có giá trị tha tội khác nào những cái hôn đầy nước mắt của bà Maria đặt vào chân Chúa khi Người còn sống. Đó là những cái hôn thú nhận tội lỗi và trao phó chúng cho Đấng đầy yêu thương muốn gánh đỡ hết tội lỗi của loài người.
Tuy nhiên bài sách Isaia mới đem đến thái độ mở đầu. Chúng ta còn phải đi xa hơn nữa vào Phụng vụ Thánh giá hôm nay. Và bài thư Hipri tiếp sau gợi lên một tâm tình mới.
 B. Vị Thượng Tế Của Đạo Mới
Tác giả thư Hipri nói với chúng ta: Đức Kitô bị đóng đinh Thập giá là Vị Thượng tế đã tiến vào thiên cung. Không giống như bất cứ vị thượng tế nào trong đạo cũ, hay đã gặp ở trần gian này, Vị Thượng tế của chúng ta độc nhất vô song và đáng tin cậy hoàn toàn, vì lẽ Người đã chịu khổ nạn.
Ý tác giả muốn nói gì? Mấy lời thư chúng ta vừa nghe chỉ nêu lên một ý tưởng. Theo ông, cuộc khổ nạn Đức Kitô đã chịu chứng tỏ Người có lòng tôn kính vâng phục Thiên Chúa. Người đã khiêm nhường sấp mình nài van Đấng có thể cứu thoát Người khỏi chết. Lòng vâng phục của Người đã khiến Người được chấp nhận. Và cũng nhờ sự vâng phục cho đến chết như thế, Người đã trở nên phương xá tội tất cả những ai tùng phục Người.
Muốn hiểu ý tác giả một cách đơn sơ, có lẽ chúng ta có thể nói theo như đã học biết. Thánh Kinh dạy loài người đã sa ngã phạm tội bất vâng phục Thiên Chúa và càng đi càng vấp váp nặng nề. Đức Kitô đến gánh vác mọi tội lỗi trần gian. Người phải tỏ ra vâng phục hết mình, tức là phải vâng phục cho đến chết và chết trên Thập giá. Khi đó Người mới được nâng lên, trở thành phương xá cứu độ tất cả những ai chấp nhận tinh thần vâng phục của Người. Nói một cách vắn tắt hơn, như vì sự bất tuân phục của một người mà cả loài người phải chết, thì nay nhờ sự vâng phục của một người khác mà cả nhân loại lại được sống. Nhiều tác giả đạo đức còn suy nghĩ thêm: như loài người đã hư đi vì một người đã bất tuân phục nơi cây trái cấm, thì nay nhân loại được cứu chuộc nhờ một người khác đã vâng phục cho đến chết và chết trên cây gỗ. Do đó, Thánh giá Đức Kitô đã trở thành cây thang đưa người ta trở về Thiên Quốc. Và Đức Kitô cũng chỉ có thể lên nơi vinh hiển qua nhiều gian khổ đớn đau để học biết vâng phục.
Tuy nhiên như vậy chúng ta vẫn chưa nói đủ về tư cách Thượng tế của Đức Kitô như bài Thánh thư hôm nay muốn. Tác giả nghĩ đến ngày xá tội trong dân Dothái. Ông thấy đạo cũ đặt cả tin tưởng vào vị thượng tế, khi ngài bước vào cung cực thánh, dâng máu chiên máu bò để xin ơn tha tội. Đó là lễ xá tội lớn nhất của đạo cũ. Đó là ngày thượng tế thi hành đặc quyền của mình. Nhưng nếu chỉ có vậy, thì sánh làm sao được với lễ xá tội trong Đạo Mới? Hay nói cách khác, lễ đền tội trên Thánh giá tỏ ra trổi vượt hơn biết bao! Ở đây không phải là vị thượng tế thường, nhưng là vị Thượng tế tuyệt vời. Ở đây không phải chỉ là máu chiên máu bò, nhưng là chính Máu Thánh Đức Kitô. Ở đây vị Thượng tế không khách quan dùng một hy lễ ngoài mình để dâng lên, nhưng dâng chính sự đau khổ và sự chết của mình làm Hy tế. Nhất định vị Thượng tế này thật là trổi vượt, Hy tế của Người thật là giá trị. Thế nên chúng ta hãy tin tưởng đến gần ngai ân sủng để được cứu độ. Và để lòng tin tưởng không bị một nghi ngờ nào có thể làm lung lay, thì chúng ta cũng cần biết: Vị Thượng tế của chúng ta thông cảm vô ngần, vì Người đã kinh nghiệm nơi cuộc đời và thân thể của Người mọi nỗi khổ đau của chúng ta ngoài trừ tội lỗi.
Nói đúng ra, khi nêu lên lý do tin tưởng này, tác giả cũng hàm ý bảo chúng ta: muốn tin tưởng đến gần ngai ân sủng, chúng ta cũng phải cảm thông những đau khổ đớn đau của Người. Cũng như khi gợi lên giá trị của sự vâng lời trong cuộc Khổ nạn của Đức Kitô, tác giả đã khuyên ta chỉ mong được cứu độ khi chúng ta tuân phục Người.
Như vậy bài thư Hipri đã đi xa hơn bài sách Isaia nhiều. Nhìn vào Thánh giá Đức Kitô không những chúng ta phải nhận thức rằng chính vì tội lỗi của loài người chúng ta mà Người Tôi Tớ Thiên Chúa đã phải cực hình như vậy; nhưng sau bài thư Hipri, chúng ta còn thấy rõ hơn; Đức Kitô đã phải đi qua nhiều đau khổ và chết trên Thập giá để học biết và chứng tỏ lòng vâng phục hầu chuộc tội bất tuân phục, khiến một đàng Người trở thành vị Thượng tế duy nhất có thể ban ơn tha tội và đàng khác chúng ta chỉ có thể đến gần ngai ân sủng nếu tùng phục Đấng đã bị đóng đinh, tức là tham gia vào cuộc Khổ nạn của Người. Tư tưởng cuối cùng này dẫn ta sang bài tường thuật việc Chúa chịu nạn theo Tin Mừng Yoan.
 C. Đấng Hoàng Đế Cứu Độ
Như đã có lần chúng ta nói: mỗi tác giả Tin Mừng có một lối riêng để trình bày việc Chúa chịu chết. Nhờ vậy chúng ta có những bài tường thuật phong phú và độc đáo. Cách thánh Yoan thuật lại việc Chúa chịu nạn cũng thật là của người. Ở đây chúng ta chỉ làm nổi bật lên hai tư tưởng: Đức Kitô là Thượng Tế và là Hoàng Đế.
Nếu tác giả thư Hipri còn nhận thấy Chúa chịu đóng đinh là Thượng tế tuyệt vời, thì huống nữa là tác giả Tin Mừng Yoan. Cuốn Tin Mừng sau chót này luôn có khuynh hướng phụng vụ: làm sao lại có thể không nhận ra khuôn mặt Tư tế của Đức Kitô trong cuộc Người thương khó?
Theo Yoan, sau khi bị bắt, Đức Yêsu bị điệu đến nhà Hanna là thân phụ của vị thượng tế năm ấy là Caipha. Và khi Người ở trước mặt ông này, Yoan dùng đi dùng lại danh từ thượng tế để chúng ta thấy rõ tư cách trổi vượt của Đức Yêsu, khiến chúng ta công nhận chức thượng tế của đạo cũ không còn giá trị gì nữa.
Rồi Yoan phân biệt rõ trong số y phục của Chúa mà lý hình đem ra chia nhau, có cái áo dài một đường chỉ. Lý hình đã để nguyên và rút thăm. Cái áo ấy gợi lên hình ảnh cái áo dài của thầy thượng tế. Và như vậy, Yoan muốn cho chúng ta nhìn nhận nơi Đức Kitô chịu đóng đinh, vị Thượng tế ở trên bàn thờ Thánh giá.
Mà quả thật Thánh giá đã trở thành bàn thờ của Đạo Mới. Khi người lính không đánh dập ống chân Chúa như đã làm cho hai người tử tội hai bên, Yoan đã nhận ra Người là Chiên Vượt qua, mà khi hy tế không được để gẫy một cái xương nào.
Hơn nữa, lúc người lính cầm đòng đâm cạnh sườn Chúa, Yoan thấy nước với máu chảy ra. Ông thấy ngay đó là Đền thờ Yêrusalem mới, có nước sinh sống chảy ra từ bên hông, đem sự sống mới đến phục sinh mọi loài.
Như vậy Yoan đã kín đáo nhưng rất tài tình và sâu sắc giới thiệu Đức Kitô chịu cực hình là Thượng tế, là Đền thờ, là Hy lễ, tức là tất cả tôn giáo mới của chúng ta. Ông đồng ý với tác giả thư Hipri. Cũng như ông nhắc lại một câu trong sách Isaia để chứng tỏ ông coi Đức Kitô chịu nạn đây là Người Tôi Tớ Thiên Chúa: "Chúng sẽ trông lên Người chúng đã đâm".
Nhưng khi trông lên Đấng đã bị đâm, Yoan còn nhìn thấy Người là Hoàng đế muôn dân trông đợi. Tác giả sách Tin Mừng thứ tư có cái nhìn đặc biệt này: ngay khi thấy Đức Yêsu còn sinh hoạt ở trần gian này, ông đã nhìn ra vinh quang của Người là Ngôi Lời Thiên Chúa. Lúc nào Người cũng có vẻ uy nghi, mặc dầu kín đáo, vì Ngôi Lời đã hóa thành xác phàm. Thế nên cả trong cuộc Khổ nạn này, Đức Kitô uy nghi, lẫm liệt, và có thể nói, hơn bao giờ hết. Một mình Yoan đã nói lên cái oai của Đức Kitô nơi vườn Cây Dầu. Tiếng của Người vừa phán, bọn lính đã ngã lăn ra. Mà không phải chỉ một lần! Thái độ của Người ở trước tòa Caipha cũng vậy. Đặc biệt cuộc đối thoại giữa Người với Philatô. Yoan thuật lại tỉ mỉ và ông đã giải thích vương quyền của Chúa là gì. Đến nỗi Philatô bị ám ảnh. Hay bị chinh phục? Ông đã đưa Đức Kitô ra trước mặt dân, chỉ vào Người mà tuyên bố: Đây là Người. Nhưng ông cũng đã nói: Đây là Vua các ngươi! Rồi một mình tác giả Tin Mừng thứ tư nhấn mạnh việc Philatô từ chối không sửa lại bảng viết đặt trên đầu Thánh giá Đức Yêsu. Ông muốn muôn đời người ta nhìn nhận Đấng chịu đóng đanh đây là Hoàng đế cứu độ muôn dân. Ông ngồi ghế quan tòa, mà cuối cùng đã thú nhận người bị xét xử kia là Vua! Cũng như Caipha là thượng tế đã bị mất mặt trước Vị Thượng tế mới!
Vậy, nếu chúng ta phải tóm tắt những tư tưởng và tâm tình của Phụng vụ muốn chúng ta phải có khi đến với Thánh giá Đức Kitô, thì chúng ta có thể nói:
* Mọi người hãy như Isaia nhìn lên Thập giá mà nhận thức rằng: Thân thể tan nát kia là nạn nhân của tội lỗi. Đó là Người Tôi Tớ Thiên Chúa đã gánh chịu mọi tội lỗi và hậu quả của trần gian. Không thể tôn thờ Thánh giá mà không nhìn nhận phần trách nhiệm tội lỗi của mình; nên phải thống hối ăn năn đến với Thánh giá Chúa Kitô.
* Khi đó, theo lời thư Hipri, chúng ta sẽ được dạn dĩ, tin tưởng đến gần ngai ân sủng vì có Đức Kitô làm Thượng tế. Người đã chịu đóng đinh để tiến vào thiên cung với Máu Thánh của Người, hầu cầu bầu ơn tha thứ cho chúng ta với một tấm lòng rất thông cảm mọi sự yếu đuối của chúng ta.
* Như vậy, chúng ta hãy để Đức Kitô chịu đóng đinh kéo mình lên với Người. Chính Người đã phán: khi nào Ta bị treo lên, Ta sẽ kéo mọi sự lên cùng Ta. Người thống nhất mọi sự khi ở trên Thánh giá. Người chinh phục mọi người khi hy sinh đến cả mạng sống cho người mình yêu. Người là Vua Tình yêu khi chịu đóng đinh.
Phụng vụ hôm nay quy tụ chúng ta lại bên Thánh giá. Chúng ta hãy nhìn lên Đấng đã bị đóng đinh và bị lưỡi đòng đâm thâu. Người đang khẩn khoản nài xin Chúa Cha tha tội cho chúng ta. Và ơn tha tội ấy như đang chảy ra từ cạnh sườn Người trong Nước và Máu để rửa sạch và tưới mát chúng ta thành tạo vật mới. Như vậy Đấng bị đóng đinh vừa là Của Lễ Đền Tội, vừa là Vị Thượng Tế ban ơn cứu độ và là Thủ Cấp của một cơ thể mới, hay là Vua của Dân Thánh Mới. Chúng ta đến với Thánh giá không những trong tâm tình ăn năn thống hối, nhưng còn để được đổi mới canh tân và ý thức từ nay phải liên kết với Vị Thủ Lãnh của mình đang giang tay trên Thập giá để cầu bầu cho nhân loại và đang để mở cạnh sườn cho thiên hạ thấy tình yêu to lớn đã hy sinh phục vụ cho đến chết và chết trên Thập giá. Liên kết với Đấng yêu thương loài người như vậy, chúng ta hãy đứng lên cầu nguyện cho mọi hạng người, mong mọi người đến thờ lạy Thánh giá Chúa Kitô.
 (Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa của Đức cố Giám Mục Bart

 

Tuầnthánh 6-52:  MỘT LINH MỤC BỊ GIÁO DÂN GIẾT CHẾT

Một người linh mục là bạn rất thân của tôi đã bị những người giáo dân là chính con chiên: Tuầnthánh 6-52 CHUYỆN

Một người linh mục là bạn rất thân của tôi đã bị những người giáo dân là chính con chiên của mình giết chết !
Giáo dân là con chiên của Ngài đã giết Ngài một cách dã man, tàn nhẫn. Họ đánh đập Ngài không nương tay. Những vết thương bầm dập và máu me chảy ra phát sợ. Vì vết thương quá nhiều nên Ngài đã qua đời rất nhanh chóng. Tôi không nghĩ rằng giáo dân của Ngài lại độc ác, tàn nhẫn đến như thế. Tôi cứ thắc mắc cùng với bao người khác….
Nguyên do từ những xích mích ban đầu giữa hai bên, ban đầu tuy rất nhỏ nhưng ngày một tăng dần lên. Ban đầu là vì mấy câu nói khó nghe, mấy việc làm gai mắt,…làm cho sự hiểu lầm nghi kỵ, hằn thù cứ thế tăng lên cao độ. Giáo dân trong giáo xứ cảm thấy bị mất lòng, tự ái. Cuối cùng, từ chức sắc tới thường dân đã quyết định lập thành một phe nhóm để giết chết cha xứ của mình. Làm được chuyện đó họ hả hê vui mừng như vừa giết được một kẻ thù số một của mình.
Khi nghe tin này, tôi bị đứng tim, dựng tóc gáy và vô cùng hoảng hốt. Đúng là sét đánh mang tai. Ban đầu tôi không thể tin nổi. Ban biên tập các trang báo nhận được tin này cũng sửng sốt, ngỡ ngàng và ngã ngửa ra. Nhưng sự thật là như thế. Thật xót xa cho người bạn của tôi. Đến nay, thỉnh thoảng nhớ đến cái chết của bạn mình, tôi lại bật khóc và buồn thương day dứt.
Chúng tôi quen biết nhau từ nhỏ. Ngài làm linh mục trước tôi. Ngài lớn tuổi hơn tôi đã chọn kết thân với tôi. Tôi không dám chọn chơi với Ngài. Nhưng vì Ngài thích tôi nên chọn tôi làm bạn. Thế là đương nhiên tôi là bạn của Ngài.
Linh mục này đang phụ trách một giáo xứ rất quan trọng. Lại là cha xứ tiên khởi nữa. Đây là một giáo xứ kỳ cựu, nổi tiếng và có một không hai trong giáo phận. Nhưng thời gian vừa rồi Ngài đã bị con chiên trong giáo xứ giết chết. Ngài chết ở tuổi rất trẻ. Ngài chết ở tuổi đời linh mục sớm hơn tôi. Ngài chết đang khi rất thành công. Một linh mục dầy dặn kinh nghiệm và có đủ mọi chuyên môn ; đặc biêt rất hiền lành, thánh thiện, chịu khó làm việc, nhất là những công việc bác ái chăm lo cho người nghèo.
Khi Ngài còn sống, lúc xa nhau chúng tôi vẫn trao đổi thư từ, điện thoại nối mạng internet. Chúng tôi vẫn thường tâm sự về công việc mục vụ hằng ngày của nhau. Ngài đi trước nên có kinh nghiêm và hay khuyên tôi : bạn ơi, cố gắng lên nhé. Cứ phục vụ cho tốt, còn việc sống chết kiểu gì chẳng biết được đâu. Tôi vẫn nhớ lời này mãi. Và cho đến nay, khi cái chết dã man xảy đến cho Ngài tôi mới gẫm lại những lời ấy khi xưa. Lời đó đã xảy đến cho Ngài trước rồi, vậy có lẽ cũng đang chờ mình đây?! Tôi cũng sợ nhỡ ra mai mốt lại đến lượt mình cũng như vậy thì sao? Không biết mình có chịu nổi không đây?
Tôi hơi lo nghĩ nhưng lại tự nhủ : không lẽ bạn mình đã sẵn sàng can đảm như thế mà mình lại thua sao? Bạn mình sống tốt làm việc hay như thế mà lại chết như thế thì số phận của mình thế nào đây? Mình làm việc không thể bằng bạn của mình được thì chắc chắn không thể được giáo dân đối xử tốt hơn, vậy thì những cú đòn mạnh hơn đang chờ mình là cái chắc! Nhiều câu hỏi khác cứ miên man trong đầu tôi. Thế là tôi lại tiếp tục kể chuyện về bạn tôi cho người khác. Câu chuyện này tôi quá quen thuộc nên mình kể dễ dàng và sống động. Tùy vào tâm lý, lứa tuổi khác nhau mà mình diễn tả khác nhau, miễn là không sai nội dung. Có nhiều người nghe đi nghe lại chuyện này nhiều lần thì họ biết là tôi rất yêu người bạn của tôi đã phải chết nhục nhã đau thương như vậy.
Dù vụ việc xảy ra cũng khá lâu nhưng hiện nay người ta vẫn đang tiếp tục điều tra về nguyên nhân vụ án. Về phía chính quyền đáng lẽ phải nhúng tay can thiệp ngay, rồi điều tra và chịu trách nhiệm thì mới đúng; nhưng đàng này, nhất là chính quyền địa phương của địa bàn giáo xứ ấy không thèm quan tâm đếm xỉa gì cả. Có nhiều kẻ còn tìm cách ỉm đi. Tệ thật. Còn phía nhà nước thì cho đến nay hoàn toàn im lặng. Thôi, đấy là chuyện của họ. Tôi cũng không dám trách họ nữa. Chỉ kể ra đây mấy điều liên quan đến vụ án cho thêm phần thảm thương xót xa mà thôi, vì dầu sao thì chuyện cũng đã rồi.
Tôi thương tiếc cho Bà Cố của Ngài. Sinh được mỗi cậu con trai đã sẵn sàng quảng đại hy sinh dâng hiến cho Chúa thì nay lại bị giáo dân giết chết. Giá như Ngài bị tai nạn hay ốm đau bệnh tật rồi chết thì cũng bình thường nhưng đàng này bị con chiên của mình phản bội mới đau đớn chứ. Bà Cố như bị cắt đứt từng khúc ruột. Bà Cố chỉ muốn chết theo con mình. Ôi thật xót xa cho thân phận của Ngài. Biết làm sao đây?
Người Bạn ơi! Hãy nói cho tôi đi. Tôi thấy thật buồn và sợ hãi. Suy nghĩ miên man như thế và tôi lại tiếp tục công việc mục vụ ở giáo xứ của mình. Tôi quyết định loan tin thêm và viết thành câu chuyện để đời cho người ta biết.
Bà Cố của Ngài vốn là người kín đáo, tế nhị, khiêm nhu nên can ngăn tôi thôi sự việc đã rồi đừng làm rùm beng lên nữa vì cũng chẳng cứu vãn được. Tôi hiểu ý Bà Cố. Nhưng sau khi nghe tôi giải thích đây không phải có ý làm rùm beng lên mà chỉ muốn loan báo, kể chuyện thêm để nêu gương sáng cho mọi người nhất là các linh mục bây giờ phải can đảm và dám chấp nhận hy sinh kể cả cái chết; và để giáo dân thêm lòng mộ mến siêng năng đến cầu nguyện với Ngài thôi. Bà Cố hiểu ý tốt lành của tôi nên đã để cho tôi viết. Không những thế, bà cố còn cung cấp thêm tư liệu mà chỉ có mình Bà Cố biết vì là Mẹ của linh mục đó mà. Tôi hết sức cảm động và biết ơn Bà Cố vì nhờ có những nguồn tư liệu đó dần đần tôi mới hiểu chính xác hơn nguyên nhân về cái chết của Ngài.
Tôi cố gắng dùng hết mọi lời lẽ để yên ủi Bà Cố. Nhưng xem ra tình cảm của người mẹ dạt dào lắm, làm sao mà cầm lòng được chứ. Bà thương nhớ con mình đêm ngày. Hết năm này qua năm khác vẫn hồi tưởng lại chuyện cũ và trong lòng cứ sôi lên như điên như dại. Thế rồi, tôi xin Bà Cố hãy nhận tôi làm người con thay cho người con linh mục đã bị giết. Bà Cố thấy được yên ủi phần nào và sẵn sàng nhận. Từ đó, hai mẹ con tôi hay tâm sự yên ủi nhau nhiều hơn. Tôi nghĩ dù sao mình cũng có thêm người mẹ nữa càng tốt, lại là người mẹ của linh mục bạn thân của mình nên chắc chắn mối liên hệ thiêng liêng sẽ rất cao quý và mãnh liệt. Tôi coi Bà Cố như mẹ ruột tôi vậy và có khi còn hơn nữa. Mẹ ruột tôi biết chuyện này nên rất thích và cảm thấy an tâm cho con trai mình có thêm một chỗ dựa tinh thần nữa. Từ nay tôi có hai người mẹ trong đời linh mục. Người mẹ nào cũng hay. Người mẹ nào cũng cần. Người mẹ nào cũng tốt. Người mẹ nào cũng đứng đắn, tế nhị, dạt dào tình cảm.
Tính Bà Cố rất cẩn thận. Khi tôi viết xong, Bà Cố đòi xem lại có đúng không vì sợ người ta hiểu lầm về con bà hoặc nghi oan cho con Bà. Điều đó cũng đúng thôi. Người mẹ nào mà chẳng bênh con. Sự thật thì tôi viết đúng như những gì đã xảy ra và như lời Bà Cố kể. Cả hai bên đều hài lòng và chấp nhận nội dung câu chuyện ấy.
Một hôm đứng cầu nguyện trước mộ của người bạn linh mục. Tôi khoe với Ngài chuyện ấy. Tôi xin Ngài đã về với Thiên Chúa thì xin phù hộ cho mẹ con chúng tôi còn đang phải chiến đấu vác thánh giá trong đời. Tôi xin Ngài phù hộ cho tôi cũng sẵn sàng chuẩn bị tư thế để đón nhận cái chết như Ngài. Tôi xin Ngài an ủi cho hai người mẹ của tôi đang còn sống.
Dịp khác đến thăm hiện trường thì chỉ còn biết đứng nhìn và viếng mộ Ngài mà thôi. Bấy giờ, lòng tôi lại trào dâng nghẹn ngào cảm xúc và không cầm được nước mắt. Những giọt lệ lại từ từ chảy trên gò má. Tôi cầu nguyện rất nhiều, rất lâu trước ngôi mộ của Ngài và cứ băn khoăn tự hỏi : tại sao lại như thế? Tôi lại khóc bạn và xin bạn cầu nguyện nhiều cho tôi. Những người dân đứng xung quanh thấy tôi khóc họ cũng khóc theo. Họ cũng cầu nguyện, niệm hương, dâng hoa tỏ lòng thành kính ngưỡng mộ Ngài. Qủa thật, một con người bị chết như thế ai chẳng thương tiếc. Một linh mục tận tụy, hy sinh, quảng đại, thánh thiện như thế ai mà chẳng cần. Thế mà tại sao giáo dân của Ngài lại bảo nhau giết Ngài một cách tàn nhẫn như thế? Tôi vẫn chưa hiểu nổi. Và quên hết cả nguyên nhân ở trên luôn.
Có những người bạn không cùng tôn giáo trong đó có cả nhà sư và những người vô thần, những bạn học văn hóa ngày xưa với tôi cũng hay hỏi thăm về cái chết của linh mục bạn tôi nhất là mỗi dịp giỗ của Ngài. Những dịp này, tôi vẫn thường mời họ đến chơi và thăm mộ của Ngài. Trong những câu chuyện, tôi vẫn kể cho họ nghe lại về cái chết của linh mục ấy. Họ cũng tỏ ra cảm phục, mến yêu và kính trọng Ngài. Nhưng không thấy họ nói chuyện gì với Ngài trước mộ.
Gần đây, có một số chuyên viên là đạo diễn, nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, họa sĩ, điêu khắc gia…đã xin tôi nội dung câu chuyện và bài viết này để về dựng thành phim truyện, thơ ca và tạo vẽ hình,…Tôi vô cùng sung sướng và sẵn sàng cung cấp cho họ. Tôi dặn họ nếu cần tư liệu nữa tôi sẽ hỏi Bà Cố để có thêm thông tin chính xác đầy đủ hơn. Chỉ mong sao cho cuộc đời và cái chết của người bạn linh mục của tôi được mọi người biết đến ở mọi phương diện. Đó cũng là ao ước duy nhất của tôi bây giờ. Chẳng hiểu sao, từ sau cái chết của Ngài, lúc nào bất cứ làm gì, nói gì tôi cũng làm và nói trong ý hướng về cái chết của người bạn đáng mến phục này.
Sau cùng, có mấy người hỏi tôi nhiều câu hỏi khác nhau. Tại sao hai linh mục lại quen nhau? Tại sao hai linh mục lại thân nhau? Gia đình của linh mục bị giết kia thế nào? Người thân của linh mục bị giết kia đâu cả rồi ? Chuyện này giải quyết tới đâu? Kẻ giết Ngài bị phạt như thế nào? Gia đình nạn nhân có được bồi thường không?... Tôi cứ để cho họ hỏi tự nhiên thoải mái. Nhưng có một câu hỏi cuối cùng : Tại sao vị linh mục ấy bị nhiều vết thương khủng khiếp trên người và có một vết dao đâm ở ngực nữa? Lúc ấy tôi mới trả lời : vì linh mục này có tên gọi là Giêsu!!!...
Tuần thánh 2012
Lm. Pet. Bùi Trọng Khẩn

 

Tuầnthánh 6-53: Thứ Sáu Tuần Thánh: Người tôi tớ

Thứ Sáu Tuần Thánh: Người tôi tớ (Is 52, 13-53.12; Dt 4, 14-16. 5,7-9; Ga 18, 1-19.42).
Lm. Giuse Trần Việt Hùng
 

Tiên tri Isaia đã trình bày bài ca thứ tư về người Tôi Tớ Chúa rất bi thương. Người tôi tớ mang lấy: Tuầnthánh 6-53

Tiên tri Isaia đã trình bày bài ca thứ tư về người Tôi Tớ Chúa rất bi thương. Người tôi tớ mang lấy sự đau yếu hèn mọn và tội lỗi của nhân loại. Isaia tả chân dung của người tôi tớ với hình ảnh thảm thương: Người tàn tạ, mất hết vẻ người, dung nhan không còn, bị người đời khinh dể như kẻ thấp hèn, như kẻ đau đớn nhất, như kẻ bệnh hoạn, như một người bị che mặt và bị khinh dể, bị coi như kẻ phong cùi, bị Thiên Chúa đánh phạt và làm cho nhuốc hổ. Người hiến thân tình nguyện và không mở miệng, chẳng hé môi như con chiên bị đem đi giết.
Con đường Thiên Chúa chọn để đến với con người là con đường khiêm hạ. Một Thiên Chúa cao cả vĩ đại hạ thân làm một con người xác phàm, ngoại trừ tội lỗi. Chúa chọn sinh ra trong khó nghèo, sống đơn sơ đạm bạc, gặp gỡ giới bình dân nghèo khổ và chọn lựa các môn đệ từ những người chài lưới, lao động và ít học. Chúa Giêsu xuất hiện là một Đấng Messia âm thầm và kín đáo. Chúa rao giảng về Nước Trời cho những kẻ đơn sơ bé mọn. Từ mấy trăm năm trước, các tác giả Thánh Vịnh đã nói về Ngài như một đấng bị khinh bỉ và chối từ. Một vị Thiên Chúa giáng trần như bị lạc lõng giữa cõi đời: Thân sâu bọ chứ người đâu phải, con bị đời mắng chửi dể duôi, thấy con ai cũng chê cười, lắc đầu bĩu mỏ buông lời mỉa mai (Tv 22, 7-8).

Người tôi tớ bị đối xử cách bất công. Tinh thần của người tôi tớ bị áp đảo, thân xác bị đòn đánh và áo choàng bị cắt xẻ chia chắc cho nhau. Bọn ác đó trong ngoài vây bủa, chúng đâm con thủng cả chân tay, xương con đếm được vắn dài; chúng đưa cặp mắt cứ hoài ngó xem. Áo mặc ngoài chúng đem chia chác, còn áo trong cũng bắt thăm luôn (Tv 22, 17-19). Mọi người từ Vua quan đến hàng Tư tế và dân chúng hùa nhau la hét và lên án tử hình. Hình ảnh người tôi tớ là hình ảnh của chính Chúa Giêsu trên đường chịu nạn. Không còn thiếu một hình khổ nào mà Chúa không phải chịu. Tất cả mọi lời tiên tri đã được hoàn tất nơi con người của Chúa Giêsu.

Lời than của Thánh Vịnh: Con bị tai ương, người thân kẻ nghĩa chẳng tới gần, bà con ruột thịt cũng đứng xa. Kẻ tìm giết con bủa giăng cạm bẫy, đứa mưu hại con buông lời độc địa, suốt ngày chúng nghĩ kế phỉnh gạt con (Tv 38, 12-13). Chúa hiểu rõ sứ mệnh của người tôi tớ. Chúa không hóa giải hoặc trốn lánh những đau khổ sẽ phải chịu. Mọi sự xảy đến tự nhiên, không ai sắp đặt nhưng đã được tiên báo mọi chi tiết diễn tiến của người tôi tớ dâng mình làm hiến lễ. Đêm hôm Chúa bị bắt, trong số các môn đệ thân tín có kẻ phản bội, kẻ chối Chúa, nhiều kẻ bỏ chạy và có kẻ đứng xa xa ngóng nhìn. Thật sự, giữa sức mạnh của cường quyền và áp lực xã hội, các tông đồ phải rút lui và trốn chạy, đây là lẽ thường. Sau khi hoàn tất chén đắng, Chúa Giêsu đã phục sinh từ cõi chết. Chúa đã qui tụ các tông đồ và ban Thánh Thần cho họ. Các Tông đồ đã trở thành những chứng nhân đích thực rao giảng tin mừng Nước Trời. Đây chính là chương trình cứu độ của Chúa.

Tư tưởng của Chúa không phải tư tưởng của con người. Đường lối của Chúa đi không là đường của thế gian. Chúa hạ thân làm người. Chúa chấp nhận thân phận của người tôi tớ phục vụ. Chúa đã đến gặp gỡ tất cả các tầng lớp cùng đinh và người sầu khổ. Từ đáy vực thẳm, Chúa nâng con người lên. Chúa Giêsu trở thành trung gian hòa giải giữa Thiên Chúa và loài người: Bởi vậy, Người là trung gian của một Giao Ước Mới, lấy cái chết của mình mà chuộc tội lỗi người ta đã phạm trong thời giao ước cũ, và đem lại cho những ai được Thiên Chúa kêu gọi quyền lãnh nhận gia nghiệp vĩnh cửu Thiên Chúa đã hứa (Dt 9,15). Chỉ có Chúa Kitô mới đền bù đầy đủ tội lỗi do con người mắc phạm.

Ngày xưa cha ông chúng ta đã dùng các con thú vật để tiến lễ toàn thiêu lên Thiên Chúa. Qua các nghi lễ đền tội, các tư tế đánh đập các con vật để gánh tội mình, rồi xua chúng vào hoang mạc cho chết dần. Máu của chiên bò tanh hôi có thể dùng như dấu chỉ thay thế sự hy sinh bản thân. Nay Chúa Giêsu đã dùng chính máu mình để hiến dâng lễ hiến tế đền tội cho nhân loại. Chỉ một lần là đủ: Người đã vào cung thánh không phải với máu các con dê, con bò, nhưng với chính máu của mình, Người vào chỉ một lần thôi, và đã lãnh được ơn cứu chuộc vĩnh viễn cho chúng ta (Dt 9,12).

Giá máu hy tế của Con Thiên Chúa xóa bỏ tội lỗi của con người: Cũng vậy, Đức Kitô đã tự hiến tế chỉ một lần, để xoá bỏ tội lỗi muôn người. Người sẽ xuất hiện lần thứ hai, nhưng lần này không phải để xoá bỏ tội lỗi, mà để cứu độ những ai trông đợi Người (Dt 9,28). Công cuộc cứu độ của Chúa mở rộng cho mọi người, nhưng chỉ những ai sống, thực hành và mong đợi thì được ơn cứu độ. Ví như dòng sông ân sủng bao la tươi mát như nước nguồn tuôn chảy không ngừng, nhưng nếu chúng ta không uống và không nhận lãnh, chúng ta sẽ bị chết khô, chết khát. Và nếu chúng ta không ngụp lặn và tắm gội trong ân sủng, chúng ta sẽ chẳng được lành sạch và no thỏa.

Hy tế của Giêsu trên thập giá là Giao Ước mới trọn vẹn và hoàn hảo. Xưa cây thập giá thường để treo các tội nhân bị tử hình, nay thập giá trở thành giá treo Đấng Cứu Độ. Chúa Giêsu chấp nhận một xử hình bị xem là nhục nhã và thấp hèn nhất. Chúa đã vác cây thập giá thật, bị đóng đinh chân tay vào thập giá và đã chết trên thập giá. Cây thập giá trở thành giá cứu chuộc. Vào mỗi Thứ Sáu Tuần Thánh, khi Giáo Hội cử hành nghi thức Suy Tôn Thánh Giá, mỗi người chúng ta lại có cơ hội đến thờ lạy và hôn kính Thánh Giá của Chúa. Linh mục nâng cao Thánh giá và ca lên: Đây là cây gỗ giá, nơi treo Đấng cứu Độ trần gian, chúng ta hãy đến thờ lạy.

Mỗi thứ Sáu, chúng ta có thói quen đọc và suy niệm 14 chặng đàng thánh giá. Mỗi chặng đường, chúng ta nguyện: Chúng con thờ lạy và ngợi khen Chúa Kitô vì Chúa đã dùng Thánh Giá Chúa mà chuộc tội cho Thiên hạ. Chúa Kitô đã dùng Thánh Giá để cứu độ. Thánh Giá là giá máu. Thánh giá là bảo chứng của tình yêu. Thánh giá là biểu tượng của niềm tin. Thánh giá là dấu chỉ của niềm hy vọng. Thánh giá là sự chiến thắng tội lỗi. Qua thánh giá, chúng ta sẽ nhận lãnh triều thiên vinh quang. Thánh giá là đường dẫn đến sự sống. Làm dấu thánh giá, chúng ta tuyên xưng mầu nhiệm Một Thiên Chúa Ba Ngôi.

Chúng ta cùng tôn thờ thánh giá Chúa. Hãy ý thức mỗi khi chúng ta tuyên xưng mầu nhiệm một Thiên Chúa Ba Ngôi. Chúng ta hãy làm dấu thánh giá trên mình một cách kính cẩn. Chúng ta mang thánh giá trên cổ, trên ngực và trên người cách tôn trọng. Các mục tử ban phép lành hình thánh giá một cách trang nghiêm và thánh thiện. Thánh giá là gia bảo của mọi tín hữu. Đặt thánh giá nơi tôn kính trên bàn thờ, trong phòng hoặc trong nhà. Thánh giá được dương lên cao khắp nơi. Nơi nào có người Kitô hữu, nơi đó có thánh giá. Nơi nào có thánh giá, nơi đó đã có hạt giống đức tin. Đã có biết bao đấng bậc cha ông của chúng ta đã dám hy sinh mạng sống giữ vững đức tin: Thà chết, chứ không bước qua thánh giá.

Lạy Chúa, Chúa đã dùng thánh giá để chuộc tội cho thiên hạ. Xin cho chúng con biết vác thánh giá hàng ngày mà theo Chúa: Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được (Lc 14,27). Mang thánh giá là mang thân phận của người tôi tớ. Tôi tớ thì biết phục vụ. Tôi tớ thì phải chịu thua thiệt. Xin giúp chúng con biết dấn thân phục vụ anh chị em trong tình yêu.
Lm. Giuse Trần Việt Hùng
Bronx, New York

 

Tuầnthánh 6-54: NGHỊCH LÝ CỦA THẬP GIÁ

Buổi chiều Tuần Thánh hôm nay, Giáo Hội tưởng niệm Đức Giêsu chịu chết để chuộc tội thiên hạ. Buổi: Tuầnthánh 6-54

Buổi chiều Tuần Thánh hôm nay, Giáo Hội tưởng niệm Đức Giêsu chịu chết để chuộc tội thiên hạ. Buổi chiều hôm nay là “giờ” của Thiên Chúa Cha đã định, và cũng là “giờ” của Đức Giêsu hoàn tất chương trình cứu chuộc nhân loại; “giờ” của người Tôi Trung mà Ngôn Sứ Isaia đã loan báo. “Giờ” đó được hoàn tất trên Thánh Giá. Vì thế, Phụng Vụ chiều hôm nay đều quy chiếu về Thánh Giá Đức Kitô như một sợi chỉ xuyên suốt từ đầu đến cuối.
1. Nghịch lý của Thánh Giá
Trong thư gửi tín hữu Philipphê, Thánh Phaolô đã nói: Đức Giêsu Kitô đã hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự ( x. Pl 2, 8 ); và Ngài đã chết theo như lời Thánh Kinh ( x. 1 Cr 15, 3 ).
Cái chết của Đức Giêsu trên thập giá đã là nguyên nhân để nhiều người được cứu độ, nhưng cũng không thiếu những kẻ cứng lòng, cố chấp và chai lỳ trong ích kỷ, kiêu ngạo. Những người như thế, họ coi đó như là hình phạt mà Đức Giêsu là người đáng phải chịu do tội mình gây nên.
Thật vậy, khi thập giá được dựng lên, và khi Đức Giêsu chịu treo trên đó, đã không biết bao người tin theo và suy tôn. Tuy nhiên, cũng không thiếu những lời chê bai dè bỉu và khinh thường. Họ coi thập giá như là thứ tội hình đáng sợ để trừng phạt những tên tử tội nguy hiểm... Suy nghĩ như thế, thì cái chết của Đức Giêsu không có công trạng gì, mà chỉ như là một hình phạt đích đáng được dành cho một kẻ đã từng bị kết án vì tội “xách động dân chúng; tìm cách lật đổ đế quốc và nói lời phạm thượng”. Và, những người theo Đức Giêsu phải chăng là bọn người cuồng tín khi tuyên xưng niềm tin của mình vào kẻ bị treo trên cây gỗ như một tử tội ?
Thật vậy, thập giá của Đức Giêsu hôm nay được tôn vinh, đã làm không ít người cảm thấy ngỡ ngàng, bởi vì xét theo người đời, thì đây chính là sự ô nhục, hận thù, đáng ghê tởm... là biểu tượng của sự chết chóc, và thập giá vẫn chỉ là thứ công cụ rùng rợn để xử tử tội nhân mà thôi.
Thế nhưng đối với Thiên Chúa, thập giá lại chính là sự khôn ngoan khôn dò thấu của Người. Con Thiên Chúa chết trên thập giá là một trong những đường lối khôn ngoan sâu thẳm mà không một ai dò thấu ( x. Rm 11, 33 ), Người đã dùng thập giá như một nghịch lý để cứu độ con người.
Thực ra thập giá luôn là nghịch lý, bởi vì nó tuyên dương quyền năng thượng trí của Thiên Chúa ở ngay nơi mà người đời coi là điên rồ.
Đối với người tin, hẳn sự cảm nghiệm, suy nghĩ và thái độ sẽ hoàn toàn ngược lại, thập giá khổ hình đã trở thành Thánh Giá, phương dược của Thiên Chúa để qua đó Đức Giêsu chuộc tội thay toàn thể nhân loại.
Nếu xưa kia trong vườn Địa Đàng, Ađam đã ngã gục trước Cây Trái Cấm, và di truyền lại tội lỗi cho nhân loại, thì giờ đây, trên cây Thánh Giá, Đức Giêsu đã chuộc lại tất cả những gì mà Ađam đã đánh mất và đem đến ơn cứu độ cho thế giới.
Như vậy, từ Cây Trái Cấm, sự chết đã tiêu diệt thế gian, và Trái Cấm là rào cản lớn đến độ con người không thể vượt qua, thì giờ đây, Đức Giêsu đã làm cho Thánh Giá trở thành cây Sự Sống, thành quả Phúc Trường Sinh.
Chính Đức Giêsu đã khẳng định rõ điều này khi nói: “Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi" ( Ga 12, 32 ).  Vì thế, không lạ gì khi Thánh Phaolô đã khẳng khái tuyên xưng niềm tin vào Thập Giá: “Thật thế, lời rao giảng về thập giá là một sự điên rồ đối với những kẻ đang trên đà hư mất, nhưng đối với chúng ta là những người được cứu độ, thì đó lại là sức mạnh của Thiên Chúa [...] Thiên Chúa đã muốn dùng lời rao giảng điên rồ để cứu những người tin. Trong khi người Do Thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hy Lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan,  thì chúng tôi lại rao giảng một Ðấng Kitô bị đóng đinh, điều mà người Do Thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ. Nhưng cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người” ( x. 1 Cr 1, 18 – 25 ).
Vì thế, "Nhờ máu Người đổ ra trên Thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời" ( Cl 1, 20 ).
2. Đón nhận Thánh Giá như nguồn ơn cứu rỗi
Cuộc đời của người Kitô hữu, những người tin và theo Đức Giêsu, hẳn là luôn nghe thấy lời mời gọi của Ngài: "Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy. Vì được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì người ta nào có lợi gì ?" ( Mc 8, 34 – 36 ); và: "Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy" ( Mt 10, 38 ).
Lời mời gọi đó đã được gióng lên ngày chúng ta lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội cũng như suốt cuộc đời của mỗi người chúng ta. Như vậy, Thánh Giá trở nên cứu cánh và việc vác chính Thập Giá của mình trở thành điều kiện cần của chúng ta trên hành trình dõi bước theo Đức Giêsu.
Thập Giá mà mỗi chúng ta phải vác ở đây chính là bổn phận phải chu toàn, là từ bỏ những thứ không cần thiết trên hành trình tin Chúa, là từ bỏ ý riêng... và phục vụ trong yêu thương. Làm được như thế, ấy là chúng ta sáp nhập cuộc đời của mình vào cuộc đời của Đức Giêsu. Đặt bước chân của ta vào dấu chân của Chúa, để sẵn sàng chấp nhận những đòi hỏi của Tin Mừng.
Như vậy, trong ta có Chúa và trong Chúa có ta. Thánh Phaolô đã diễn tả tâm tình ấy khi tuyên xưng: “Tôi cùng chịu đóng đinh với Ðức Kitô vào thập giá [...] Và tôi sống, nhưng không còn là tôi, mà là Ðức Kitô sống trong tôi" ( Gl 2, 19 – 20 ).
Mặc lấy tâm tình của Đức Giêsu, người Kitô hữu sẽ từ bỏ con đường tội lỗi, để được hiệp thông cách trọn vẹn vào cuộc khổ nạn của Đức Giêsu, và như một định luật đối với những người tin và theo Đức Giêsu: có trải qua đau khổ thì mới được vào vinh quang.
Lạy Chúa Giêsu, Đấng chịu treo trên Thánh Giá, xin thương xót và cứu chuộc chúng con. Amen.
 Tu Sĩ Jos. Vinc. NGỌC BIỂN
 

Tuầnthánh 6-55: Thứ Sáu Tuần Thánh là đỉnh cao của Ơn Cứu Độ

Thứ Sáu Tuần Thánh là đỉnh cao của Ơn Cứu Độ, đặc biệt là Giờ Thứ Chín (tức 3 giờ chiều), giờ của: Tuầnthánh 6-55

Thứ Sáu Tuần Thánh là đỉnh cao của Ơn Cứu Độ, đặc biệt là Giờ Thứ Chín (tức 3 giờ chiều), giờ của Lòng Chúa Thương Xót. Nếu không có Lòng Chúa Thương Xót thì nhân loại chỉ là hư vô!
Biệt ly – hai tiếng trĩu buồn
Lệ sầu, lưu luyến, nguồn cơn đoạn trường!
Cuộc chia ly nào cũng bịn rịn, lưu luyến, đau khổ và nước mắt, nhất là cảnh biệt ly khi người thân về bên kia thế giới. Lúc hấp hối là “phút cuối” của một con người, là lúc xúc động nhất đời người – dù người đó đáng yêu hay đáng ghét. Càng xúc động hơn khi thấy người hấp hối chịu đau nhức quằn quại từng cơn, có những người toát mồ hôi hột nhưng âm thầm chịu đựng, có những người phải la hét dữ dội. Giây phút biệt ly là khoảnh khắc ngắn ngủi, chỉ trong tích tắc, nhưng lại nặng nề trôi… Và phút cuối là lúc người ta nói thật nhất.
Chúa Giêsu có 2 bản tính: Thiên tính và nhân tính. Và theo nhân tính, Ngài cũng rất đau đớn vì đã kiệt sức do đòn roi, vác Thập giá lên đồi cao theo đường ngoằn ngoèo, té lên té xuống nhiều lần, rồi không chỉ chịu đói chịu khát mà còn bị những gai nhọn đâm thấu đầu, tiếp theo lại bị đinh ghim chặt chân tay và lưỡi đòng đâm thâu tim. Rất đau đớn. Rất nhức buốt. Thân xác Ngài tàn tạ, chảy ra đến giọt Máu và giọt Nước cuối cùng. Chúng ta chỉ bị cái dằm đâm vào tay cũng la toáng lên rồi!

CON CHIÊN VÔ TỘI
Thiên Chúa xác định: “Người tôi trung của Ta sẽ thành đạt, sẽ vươn cao, nổi bật, và được suy tôn đến tột cùng” dù cho “tôi trung của Ta mặt mày tan nát chẳng ra người, không còn dáng vẻ người ta nữa” (Is 52:13-14). Nhưng mọi người đều phải sửng sốt khi thế cờ đảo ngược hoàn toàn. Người tôi trung đó làm cho “muôn dân phải sững sờ, vua chúa phải câm miệng” (Is 52:15). Người tôi trung đó là Đức Kitô, cũng chính là Người-Tôi-Tớ-Đau-Khổ, “như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, Ngài chẳng mở miệng kêu ca” (Is 53:6; Cv 8:32).
Chúng ta đã được biết về “hành trình đau khổ” của Chúa Giêsu, nhưng có lẽ khó mà cảm nhận hết mức đau khổ, thậm chí có thể nghe nhiều năm đã quen tai nên thấy… bình thường, và cũng chỉ là “chuyện nhỏ”. Kinh thánh nói: “Điều chúng ta đã nghe, ai mà tin được?” (Is 53:1). Thật khó tin, nhưng lại là sự thật!
Ngôn sứ Isaia mô tả: “Người tôi trung đã lớn lên tựa chồi cây trước Nhan Thánh, như khúc rễ trên đất khô cằn. Người chẳng còn dáng vẻ, chẳng còn oai phong đáng chúng ta ngắm nhìn, dung mạo chẳng còn gì khiến chúng ta ưa thích. Người bị đời khinh khi ruồng rẫy, phải đau khổ triền miên và nếm mùi bệnh tật. Người như kẻ ai thấy cũng che mặt không nhìn, bị chúng ta khinh khi, không đếm xỉa tới” (Is 53:2-3). Tuy nhiên, “chính người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta, còn chúng ta lại tưởng Ngài bị phạt, bị Thiên Chúa giáng hoạ, phải nhục nhã ê chề” (Is 53:4). Thật nghịch lý, có lẽ vì chúng ta quá ảo tưởng!
Bảng đối chiếu liệt kê rõ: “Chính Ngài đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, Ngài bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm, Ngài đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, Ngài đã phải mang thương tích để chúng ta được chữa lành” (Is 53:5). Trí óc loài người không thể tưởng tượng nổi có một Con Người lạ lùng như vậy. Nếu cuộc đời có ai gần giống như vậy thì ắt chúng ta cho là “dại dột”, là “ngu xuẩn”, là “điên khùng”, là “mất trí”, là “tâm thần”. Thiên Chúa thấy “tất cả chúng ta lạc lõng như chiên cừu, lang thang mỗi người một ngả”, nhưng Đức Chúa đã đổ tội lỗi của tất cả chúng ta lên đầu Người-Tôi-Trung kia. Người Ấy bị lũ-người-ghen-tị “ngược đãi mà vẫn cam chịu nhục, chẳng mở miệng kêu ca; như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, Người Ấy chẳng hề mở miệng” (Is 53:6). Người Ấy còn “bị ức hiếp, bị buộc tội, rồi bị thủ tiêu” (Is 53:8a). Thậm chí “Người Ấy còn bị khai trừ khỏi cõi nhân sinh”, và “vì tội lỗi của dân, Người Ấy bị đánh phạt” (Is 53:8b).
Cuối cùng, Người Ấy đã “bị chôn cất giữa bọn ác ôn, bị mai táng với người giàu có, dù đã chẳng làm chi tàn bạo và miệng không hề nói chuyện điêu ngoa” (Is 53:9). Nhưng đó là Thánh Ý nhiệm mầu của Thiên Chúa, để nhờ Người Ấy mà Ý Chúa được nên trọn. Thiên Chúa xác định: “Vì đã nếm mùi đau khổ, người công chính, tôi trung của Ta, sẽ làm cho muôn người nên công chính và sẽ gánh lấy tội lỗi của họ” (Is 53:11). Đức Giêsu đã “hiến thân chịu chết, đã bị liệt vào hàng tội nhân; nhưng thực ra Ngài đã mang lấy tội muôn người và can thiệp cho những kẻ tội lỗi” (Is 53:12). Trong “núi tội” đó có nhiều tội của mỗi chúng ta!
Thánh vịnh đã nói lời cuối của người hấp hối: “Con ẩn náu bên Ngài, lạy Chúa, xin đừng để con phải tủi nhục bao giờ. Bởi vì Ngài công chính, xin giải thoát con. Trong tay Ngài, con xin phó thác hồn con, Ngài đã cứu chuộc con, lạy Chúa Trời thành tín” (Tv 31:2 & 6). Người Ấy tâm sự với Chúa về cuộc đời mình: “Con đã nên trò cười cho thù địch và cho cả hàng xóm láng giềng. Bạn bè thân thích đều kinh hãi, thấy con ngoài đường, ai cũng tránh xa. Bị lãng quên, như kẻ chết không người tưởng nhớ, con hoá thành đồ hư vất bỏ” (Tv 31:12-13). Là con người thì ai cũng cảm thấy cô đơn tột cùng khi ai cũng khinh ghét và bỏ rơi mình nên nói vậy thôi, nhưng vẫn tin tưởng vào Chúa, cho nên mới dám thân thưa: “Ngài là Thượng Đế của con. Số phận con ở trong tay ngài. Xin giải thoát con khỏi tay địch thủ, khỏi người bách hại con” (Tv 31:15-16).
Người Ấy chấp nhận mọi thiệt thòi và cầu khấn: “Xin toả ánh tôn nhan rạng ngời trên tôi tớ Ngài đây, và lấy tình thương mà cứu độ” (Tv 31:17), đồng thời mạnh dạn chia sẻ với những người khác như một lời khuyên: “Hỡi mọi người cậy trông vào Chúa, mạnh bạo lên, can đảm lên nào!” (Tv 31:25). Người Ấy đã nêu gương sáng cho chúng ta, vì chúng ta cũng phải nên giống Người Ấy: “Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước” (Ga 15:18).
Thánh Phaolô nói: “Chúng ta có một vị Thượng Tế siêu phàm đã băng qua các tầng trời, là Đức Giêsu, Con Thiên Chúa” (Dt 4:14). Thánh Phaolô khuyên chúng ta hãy giữ vững lời tuyên xưng đức tin, và giải thích: “Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Ngài đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội. Bởi thế, chúng ta hãy mạnh dạn tiến lại gần ngai Thiên Chúa là nguồn ân sủng, để được xót thương và lãnh ơn trợ giúp mỗi khi cần” (Dt 4:15-16). Trong các ân sủng, Lòng Chúa Thương Xót là hồng ân cao cả và kỳ lạ vô cùng! Chúa Giêsu đã trải qua nỗi đau khổ tột cùng nên Ngài rất thương xót chúng ta.
Khi còn sống kiếp phàm nhân, Đức Giêsu cũng đã từng lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Ngài khỏi chết. Ngài đã được nhậm lời vì có lòng tôn kính. Vâng phục không là điều dễ, vì phàm nhân chúng ta đầy tự ái và kiêu sa, ngay cả Con Thiên Chúa cũng đã “phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục” (Dt 5:7). Thật không hề đơn giản chút nào! Nhưng chính lúc đó là lúc bản thân đạt tới mức thập toàn để rồi “Ngài trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Ngài” (Dt 5:9). Trước khi vinh quang và được coi là công trạng thì luôn phải trải qua chặng đường gian khổ. Đức Kitô cũng đã trải qua “chặng đàng Thánh Giá” và cái chết mới tới sự phục sinh vinh quang.

CHẤP NHẬN TANG THƯƠNG
Phúc âm hôm nay là tấn bi kịch, là bộ phim dài sầu thảm, Giáo hội gọi là Bài Thương Khó, thuật lại đầy đủ cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Bi kịch thảm thiết như vậy mà lại gọi là Phúc Âm, là Tin Mừng. Thật kỳ diệu!
Chúng ta thường nói: “Dòi trong xương dòi ra”. Một trong 12 môn đệ “ruột” là Giuđa đã dùng nụ hôn để “chỉ điểm” mà bán rẻ Thầy mình với giá quá bèo. Người ta lục soát, tìm cách gài bẫy và đi bắt Chúa Giêsu như một tên côn đồ. Họ ghen tị và sợ Ngài tiếm ngôi, giành quyền lực, lấy mất “ghế”, thế nên họ làm mọi cách để hạ nhục Ngài đủ kiểu. Hàng ngày Ngài thường tụ họp với các môn đệ công khai mà họ không bắt, thế mà họ lại cấu kết với đám thuộc hạ của các thượng tế và nhóm Pharisêu để đi tìm bắt Ngài trong đêm tối, dùng vũ khí để đối với một người tay không và thân cô thế cô – vì các môn đệ bỏ trốn hết. Thật là tồi và hèn hạ!
Ngài hỏi: “Các anh tìm ai?”, thì họ đáp: “Tìm Giêsu Nadarét”. Ngài vừa nói “chính tôi đây”, thì họ lùi lại và ngã xuống đất. Ngoạn mục thật! Có lẽ lúc này Giuđa đắc chí nhất, vì có thể ông cũng rất tin rằng Thầy mình “ngon” lắm, quyền phép đầy mình, chúng chẳng làm gì được, mà ông lại có tiền tiêu xài. Thế nhưng Ngài không dùng thần quyền của Ngài vào chuyện không cần thiết. Đó là “cách lạ” của Ngài!
Ngài lại hỏi một lần nữa: “Các anh tìm ai?”. Họ vẫn cương quyết: “Tìm Giêsu Nadarét”, mà không hề tởn chút nào. Lì thật! Đức Giêsu thản nhiên: “Tôi đã bảo các anh là chính tôi đây. Vậy, nếu các anh tìm bắt tôi, thì hãy để cho những người này đi” (Ga 18:8). Ngài không muốn bất kỳ ai phải liên lụy vì Ngài. Nhưng điều đó ứng nghiệm lời Ngài đã nói: “Những người Cha đã ban cho con, con không để mất một ai” (Ga 18:9). Tính nóng hơn Trương Phi, ông Simôn Phêrô bèn tuốt gươm ra, nhằm người đầy tớ vị thượng tế mà “chơi” một phát đứt tai phải của Man-khô. Một đường gươm tuyệt hảo y như xiếc! Thấy vậy, Đức Giêsu bảo ông Phêrô: “Hãy xỏ gươm vào bao. Chén mà Chúa Cha đã trao cho Thầy, lẽ nào Thầy chẳng uống?” (Ga 18:11). Nghe vậy chưa chắc ai hiểu ý Ngài nói.
Họ bắt trói Ngài lại, rồi điệu Ngài đến ông Kha-nan là nhạc phụ ông Cai-pha. Ông Cai-pha làm thượng tế năm đó. Chính ông này đã đề nghị với người Do Thái: “Nên để một người chết thay cho dân thì hơn” (Ga 18:14). Nghe chừng nhân đạo nhưng lại vô cùng thâm độc. Lúc đó có ông Simôn Phêrô và người môn đệ khác (tức Gioan) đi theo Đức Giêsu. Gioan quen biết vị thượng tế nên được vào sân trong của tư dinh của thượng tế. Còn ông Phêrô phải đứng ở phía ngoài, gần cổng. Gioan ra nói với chị giữ cổng, rồi dẫn ông Phêrô vào. Gioan cũng “oai” thật, quen biết có khác!
Nhưng vấn đề là người tớ gái giữ cổng nhận ra ông Phêrô “thuộc nhóm của Chúa Giêsu” nên ông chối ngay: “Đâu phải”. Và ông chối phắt bất kỳ ai nhận ra ông, tổng công 3 lần trước khi gà gáy. Với bản tính nhân loại nên ông rất sợ, sợ đến nỗi phát run ngay cả với mấy phụ nữ chân yếu tay mềm. Tội nghiệp! Ông Phêrô nóng tính, thẳng như ruột ngựa, nhưng cũng rất yếu đuối. Đó là “biểu tượng” của chúng ta ngày nay!
Chúa Giêsu bị bắt, bị trói, bị đánh đập, bị tra xét, bị hành hạ,… nhưng Ngài vẫn thản nhiên và không nói gì, không tự biện minh cho mình là đúng, không một lời kêu oan.
Đến khi bị tra hỏi về các môn đệ và giáo huấn, Đức Giêsu mới trả lời: “Tôi đã nói công khai trước mặt thiên hạ; tôi hằng giảng dạy trong hội đường và tại Đền Thờ, nơi mọi người Do Thái tụ họp. Tôi không hề nói điều gì lén lút. Sao ông lại hỏi tôi? Điều tôi đã nói, xin cứ hỏi những người đã nghe tôi. Chính họ biết tôi đã nói gì” (Ga 18:19-21). Ngài vừa dứt lời thì một tên trong nhóm thuộc hạ vả vào mặt Ngài: “Anh trả lời vị thượng tế như thế ư?” (Ga 18:22). Hỗn láo thật! Nhưng Ngài vẫn thản nhiên lý luận: “Nếu tôi nói sai, anh chứng minh xem sai ở chỗ nào; còn nếu tôi nói phải, sao anh lại đánh tôi?” (Ga 18:23). Cách đối đáp và lý luận của Chúa Giêsu tuyệt vời quá!
Sau đó, ông Kha-nan cho giải Ngài đến thượng tế Cai-pha, Ngài vẫn bị trói. Lúc đó trời vừa sáng. Họ không vào dinh vì sợ bị nhiễm uế mà không ăn lễ Vượt Qua được. Họ chỉ lo giữ bề ngoài mà không chú trọng bề trong. Đó là một dạng động thái giả hình. Tổng trấn Philatô ra ngoài gặp họ và hỏi xem họ tố cáo Chúa Giêsu về tội gì, nhưng họ đáp: “Nếu ông này không làm điều ác, thì chúng tôi đã chẳng đem nộp cho quan” (Ga 18:30). Họ cố chấp và cố tình không thèm nhận những hành động tốt của Chúa Giêsu. Trước áp lực của dân, ông Philatô hỏi Chúa Giêsu: “Ông có phải là vua dân Do Thái không?”. Đức Giêsu không nhận và nói: “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do Thái. Nhưng thật ra Nước tôi không thuộc chốn này” (Ga 18:36). Vậy mà ông Philatô vẫn không hiểu nên hỏi: “Vậy ông là vua sao?”. Đức Giêsu đáp: “Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích là làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi” (Ga 18:37). Ông Philatô “dốt đặc cán mai” nên ngớ ngẩn hỏi: “Sự thật là gì?” (Ga 18:38).
Theo tục lệ Do Thái, vào dịp lễ Vượt Qua, thường có một tội nhân được tha. Ông Philatô hỏi họ muốn tha Chúa Giêsu hay không, thì họ la lên: “Đừng tha nó, nhưng xin tha Baraba!” (Ga 18:40). Baraba là một tên cướp khét tiếng, vậy mà họ còn thương và quý hơn là Chúa Giêsu.
Thế là tổng trấn Philatô truyền đem Đức Giêsu đi mà đánh đòn. Họ chụp lên đầu Ngài một vòng gai và khoác cho Người một áo choàng đỏ, rồi mỉa mai: “Kính chào Vua dân Do Thái!”, và vả vào mặt Ngài. Như vậy, nhân vị của Ngài bị khinh miệt, nhân phẩm của Ngài bị chà đạp, và nhân quyền của Ngài cũng bị tước đoạt. Ông Philatô dẫn Chúa Giêsu ra ngoài để đám đông thấy Ngài không còn hình tượng một con người mà thương. Nhưng vừa thấy Ngài, các thượng tế cùng các thuộc hạ liền kêu lên rằng: “Đóng đinh nó vào thập giá!” (Ga 19:6). Một lần nữa, ông Philatô lại khiếp nhược nên bảo họ: “Các người cứ đem ông này đi mà đóng đinh vào thập giá, vì phần ta, ta không tìm thấy lý do để kết tội ông ấy” (Ga 19:6). Một người nắm quyền trong tay và biết rõ bị cáo không có tội mà vẫn không dám tha, thì quả là bất tài, vô dụng, ích kỷ, chỉ lo giữ “cái ghế” của mình, chỉ muốn lợi cho mình mà chà đạp người khác. Đó là một dạng bóc lột, không tôn trọng công lý. Vậy người đó có đáng được tôn trọng? Người nắm quyền lực mà không đề cao nhân vị, nhân phẩm và nhân quyền, không lấy dân làm gốc, làm sao quốc thái dân an?
Ai nói gì Chúa Giêsu cũng chỉ im lặng. Ngài biết rằng có nói cũng vô ích, chỉ như nước đổ lá môn, kông bằng nói với đầu gối. Sau khi tòa tuyên án, bị cáo nào cũng có quyền kháng cáo, nhưng “bị cáo” Giêsu lại không có quyền tối thiểu đó. Nhân quyền của Ngài hoàn toàn bị tước đoạt! Và Chúa Giêsu nói với ông Philatô: “Ngài không có quyền gì đối với tôi, nếu Trời chẳng ban cho ngài. Vì thế, kẻ nộp tôi cho ngài thì mắc tội nặng hơn” (Ga 19:11). Nghe vậy, ông Philatô cũng thấy “nổi gai óc” nên tìm cách tha Ngài, nhưng ông vẫn không dám quyết định theo quyền hạn của mình vì áp lực dân chúng. Cách xử sự hèn nhát của Philatô cũng chính là động thái hèn hạ của chúng ta ngày nay đối với tha nhân.
Cuối cùng, ông Philatô đành cho thi hành án tử đối với Chúa Giêsu. Họ bắt Ngài tự vác Thập giá lên đồi Gôngôtha, nghĩa là Cái Sọ – cũng gọi là Đồi Sọ, Can-vê, nơi xử tử các tội nhân. Đồng án tử với Ngài có hai người khác nữa, hai người hai bên Chúa Giêsu. Tấm bảng ghi “Giêsu Nadarét, Vua dân Do Thái” treo phía trên đầu Ngài, được viết bằng 3 ngôn ngữ: Hípri, La Tinh và Hy Lạp. Các thượng tế không đồng ý gọi Chúa Giêsu là “Vua dân Do Thái”, nhưng ông Philatô nói: “Ta viết sao, cứ để vậy!” (Ga 19:22). Philatô chỉ lăm le với người dưới quyền chứ không dám “nói mạnh” với đám đông nổi loạn, dù họ chỉ là đám dân đen!
Đóng đinh Đức Giêsu vào thập giá xong, họ chia chác quần áo của Ngài. Họ muốn chế nhạo Ngài chứ có gì đáng giá đâu! Lúc đó, Chúa Giêsu bắt đầu kiệt sức. Ngài trối Đức Mẹ cho Gioan và trao Gioan cho Đức Mẹ. Đức Giêsu biết là mọi sự đã hoàn tất. Mất máu nhiều nên Ngài nói: “Tôi khát!” (Ga 19:28). Nhưng người ta lại nỡ lấy miếng bọt biển thấm giấm chua mà cho Ngài giải khát. Nhắp xong, Đức Giêsu nói: “Thế là đã hoàn tất!” (Ga 19:32). Rồi Ngài gục đầu xuống và dâng trao Thần Khí.
Thứ Sáu Tuần Thánh là ngày Đại Tang của Giáo hội. Sự kiện hôm nay là “nghi lễ của mọi nghi lễ”, là “hiến lễ của mọi hiến lễ”, là “thánh lễ của mọi thánh lễ”. Vì thế Giáo hội không cử hành thánh lễ hôm nay mà chỉ có phụng vụ Lời Chúa, tôn kính Thánh giá và rước lễ.
Tình Giêsu là “tình cho không biếu không”, nhưng chúng ta thường có khuynh hướng “tội nghiệp” Chúa Giêsu hơn là tội nghiệp chính mình. Khi Chúa Giêsu thấy có nhiều phụ nữ, vừa đấm ngực vừa than khóc, trong đám đông đi xem Ngài lên đồi chịu xử tử, nên Ngài đã quay lại và nói: “Hỡi chị em thành Giêrusalem, đừng khóc thương tôi làm gì. Có khóc thì khóc cho phận mình và cho con cháu” (Lc 23:28).
Một điểm khác chúng ta cần lưu ý là “tính a dua”, như người ta thường nói: “Người ta làm sao thì tôi làm vậy, người ta làm bậy thì tôi… làm theo”. Rất nguy hiểm, vì đó là lối sống quá tiêu cực, không có lập trường, mạnh đâu âu đó!
Lạy Chúa, chúng con thật khốn nạn mà vẫn tưởng mình tốt lành hơn người khác, chúng con đã a dua và đồng lõa với cái ác mà cứ tưởng mình chân chính hơn người khác. Chúng con chân thành nhận mọi lỗi lầm, thành tâm xin lỗi Chúa và xin lỗi tha nhân. Xin thương xót chúng con và ban cho chúng con được hưởng nhờ Ơn Cứu Độ của Con Chúa. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng con. Amen.

Trầm Thiên Thu

 

Tuầnthánh 6-56: Cần gì Chúa phải chết thay

Suy niệm thứ sáu tuần thánh
 

Có một số người phê phán: “Chúa Cha là người Cha tàn ác vì đã bắt người Con Một của mình phả: Tuầnthánh 6-56

Có một số người phê phán: “Chúa Cha là người Cha tàn ác vì đã bắt người Con Một của mình phải chết đau thương trên thập giá.”
Một số ki-tô hữu khác cũng tự hỏi: “Tại sao Chúa Giê-su phải chịu chết bằng một cực hình hết sức khủng khiếp trên thập giá? Nếu Thiên Chúa muốn tha thứ tội lỗi cho loài người thì Người cứ việc tuyên bố một lời là xong, cần chi phải nhọc công chết thay để đền tội loài người cách đau thương đến thế? Thiên Chúa toàn năng thì làm gì mà chẳng được! Có nhất thiết Ngôi Hai Thiên Chúa phải chịu khổ nạn hết sức đau thương mới có thể tha tội và cứu sống loài người được chăng? 
                                                          
Thiên Chúa điều hành mọi vận hành trong vũ trụ bằng quy luật, y như ta điều hành mọi hoạt động của máy vi tính bằng một hệ điều hành. Mọi sự trong hoàn vũ đều phải vận hành theo những quy luật bất di bất dịch mà Thiên Chúa đã “cài đặt” cho chúng. Một trong những quy luật đó là: tội lỗi gây ra sự chết. Ai có tội thì người đó phải chết.
Quy luật nầy đã được tiên tri Ê-dê-ki-ên công bố từ ngàn xưa: "Ai phạm tội, người ấy phải chết" (Ê-dê-ki-ên 18,20)
Quy luật nầy lại được thánh Phao-lô lặp lại trong thư Rôma: "Chỉ vì một người mà tội lỗi đã đột nhập trần gian và tội lỗi gây nên cái chết" (Rm 5, 12),
"Thật vậy, lương bổng mà tội lỗi trả cho người ta là cái chết" (Rm 6, 23)
và thư Galát:  "Ai gieo giống nào thì sẽ gặt giống ấy. Ai theo tính xác thịt mà gieo điều xấu thì sẽ gặt được hậu quả của tính xác thịt là sự hư nát"  (Galat 6,7)
Quy luật nầy cũng  được thánh Giacôbê nhắc lại: "dục vọng sinh ra tội lỗi; còn khi đã phạm tội thì sinh ra cái chết" (Gia-cô-bê 1, 15)
 
Tiếc thay, mọi người trên cõi đời nầy, từ tổ tông loài người là Ađam-Evà cho đến hết thảy con cháu sau nầy đều sa ngã phạm tội và chiếu theo luật thì đều phải chết.
Vốn là Đấng rất nhân lành và giàu lòng yêu thương, Thiên Chúa không thể chịu nổi khi loài người là con chí ái của Người đều lần lượt kẻ trước người sau sa vào cõi trầm luân không lối thoát!
Nhưng nếu con người phạm tội mà Thiên Chúa vẫn cứ tha bổng cho họ, để họ khỏi chết, thì như thế, Thiên Chúa lại phá bỏ quy luật mà Người đã ban hành.
Vậy làm sao cứu con người đã phạm tội thoát chết, mà vẫn tôn trọng quy luật đã ban hành? Chỉ có cách là phải có người chết thay cho họ mà thôi.
 
Biện pháp chết thay
Để thực hiện kế hoạch nầy, Ngôi Hai Thiên Chúa tình nguyện xuống thế làm người, trở thành "Anh Cả của mọi người", trở thành vị Đại Diện xứng đáng nhất cho loài người. Người trở nên "Chiên Thiên Chúa đến gánh tội trần gian"(Ga 1,29), mang lấy tội lỗi nhân loại nơi thân mình Người. Những ai tin vào Chúa Ki-tô thì Người sẽ gánh lấy tội lỗi cho họ.
Thế là Đức Giê-su Ki-tô là "Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Người." (2 Co 5, 21)
 
Và một khi Chúa Ki-tô gánh lấy tội lỗi vô vàn của chúng ta, Người trở thành con người mang đầy tội lỗi, nên Người phải chịu những cực hình hết sức đau thương cho cân xứng với tội lỗi lớn lao mà Người đã mang vào thân.
Và thế rồi, quy luật “ai có tội thì phải chết” cũng phải được thể hiện nơi Chúa Giê-su. Người phải bị hành hình và xử tử vì tội lỗi chúng ta:  
“Tội lỗi của chúng ta,
Chính Người đã mang vào thân thể
Mà đưa lên cây thập giá
Để một khi đã chết đối với tội,
Chúng ta sống cuộc đời công chính.
Vì Người phải mang những vết thương
Mà anh em đã được chữa lành.” (1 Pr 2,21-24)
 
Thế là vì quá yêu thương loài người, Chúa Cha đã để cho Con Một Người mang lấy tội lỗi của họ, chịu đòn vọt, chịu khổ nạn vì họ, để nhờ đó, muôn người được cứu sống.
 
Lạy Thiên Chúa Ngôi Hai ngàn trùng cao cả,
Chúa đã lấy Đời Chúa để đổi lấy cuộc đời chúng con. Chúa đã hy sinh Mạng Sống Chúa để cứu lấy mạng sống hèn hạ của chúng con.
Xin cho chúng con biết dâng hiến mạng sống mỏng giòn của mình để đáp đền Mạng Sống cao siêu của Chúa; xin cho chúng con biết lấy tình thương nhỏ bé của mình để đáp trả Tình Thương vô bờ Chúa dành cho chúng con.  
 
Linh Mục Inhaxiô Trần Ngà


 

Tuầnthánh 6-57: Tình yêu và Thập Giá

Hôm nay, Giáo hội, Hiền Thê yêu dấu nhìn ngắm Chúa Giêsu vị Phu Quân của mình bị treo trên: Tuầnthánh 6-57

Hôm nay, Giáo hội, Hiền Thê yêu dấu nhìn ngắm Chúa Giêsu vị Phu Quân của mình bị treo trên thập giá, chân tay đanh nhọn đâm thâu, cạnh sườn lưỡi đòng đâm thủng, máu cùng nước chảy ra làm cho Giáo hội nhớ đến ngày mình được sinh ra từ cạnh sườn Chúa, lúc Chúa ngủ trên Thánh Giá. Bởi theo thánh Ambrosiô, khi Ađam đang ngủ Thiên Chúa đã lấy xương sườn của ông để tạo dựng Evà, Giáo hội cũng được sinh ra từ Trái Tim bị đâm thủng của Chúa Giêsu khi ngài chết trên Thánh Giá, và Giáo hội mời gọi chúng ta tưởng nhớ tình yêu dâng trào ấy.
Chúa đã chết vì yêu
Thật không thể hiểu nổi Thiên Chúa yêu thương chúng ta biết chừng nào. Người đã yêu chúng ta bằng tình yêu vô bờ bến, tình yêu thương xót và thứ tha, khi phải mang trên mình những đau khổ vì tội lỗi chúng ta. Bài ca thứ tư của người Tôi Tớ Chúa được Isaia mô tả : « Người chẳng còn hình dáng, cũng chẳng còn sắc đẹp để chúng ta nhìn ngắm, không còn vẻ bên ngoài, để chúng ta yêu thích; bị người đời khinh dể như kẻ thấp hèn nhất, như kẻ đớn đau nhất, như kẻ bệnh hoạn, như một người bị che mặt và bị khinh dể, bởi đó, chúng ta không kể chi đến người.
Thật sự, người đã mang lấy sự đau yếu của chúng ta, người đã gánh lấy sự đau khổ của chúng ta. Mà chúng ta lại coi người như kẻ phong cùi, bị Thiên Chúa đánh phạt và làm cho nhuốc hổ. Nhưng người đã bị thương tích vì tội lỗi chúng ta, bị tan nát vì sự gian ác chúng ta. Người lãnh lấy hình phạt cho chúng ta được bình an, và bởi thương tích người mà chúng ta được chữa lành. Tất cả chúng ta lang thang như chiên cừu, mỗi người một ngả. Chúa đã chất trên người tội ác của tất cả chúng ta » (Is 53, 2-6).
Người ta nói rằng : nếu tất cả Thánh Kinh trên trái đất này bị hủy diệt bởi tai biến nào đó hay bởi một cơn thịnh nộ phá hủy các hình tượng tôn giáo và chỉ còn một bản Kinh Thánh, và bản còn lại đó cũng bị hư hại đến mức chỉ còn một trang, và nếu trang đó nhăn nheo đến độ chỉ còn một dòng có thể đọc được, và nếu dòng đó là thư thứ nhất của thánh Gioan viết “Thiên Chúa là Tình Yêu”, thì coi như toàn bộ Thánh Kinh được khôi phục, bởi vì toàn bộ nội dung là ở đó. Mầu Nhiệm Thập Giá mà chúng ta cử hành là bằng chứng. Vì thế, khi suy tôn Thánh giá Chúa, kính nhớ Chúa chịu chết, chúng ta cảm nhận được sự thật rằng : “Thiên Chúa là Tình Yêu”.
Thờ lạy Thánh Giá Chúa
Phần tiếp theo của nghi thức chiều nay là thờ lạy Thánh Giá, tiến xướng chúng ta hát : Lạy Chúa, chúng con tôn thờ Thánh Giá Chúa… vì nhờ gỗ này mà cả vũ trụ được hân hoan. Tại sao vậy ?
Với khí giới của riêng mình là cây Thánh Giá, Chúa Giêsu đã chiến thắng cách diệu kỳ. Người đã chiến thắng ma quỉ bằng phương cách do chính ma quỉ dùng để chiến thắng thế gian. Chúng ta thấy : Một người nữ, cây gỗ, sự chết, là những phương tiện và khí cụ làm con người thất bại. Người nữ ấy là Evà đã không còn biết đến Adam; cây trái cấm, và bản án tử hình đối với người đầu tiên. Một người nữ, cây gỗ, sự chết, là những phương tiện và khí cụ làm chúng ta thất bại đã trở nên phương tiện và khí cụ giúp chúng ta chiến thắng. Đức Maria đã thay thế Evà; gỗ thánh giá, gỗ của cây biết lành biết dữ ; sự chết của Chúa Giêsu Kitô, cái chết của Adam. Ma quỷ đã bị đánh bại bởi cùng một phương tiện mà nó đã chiến thắng. Ma quỉ đã dùng cây để quật ngã Adam, Chúa Giêsu Kitô đã dùng cây Thánh Giá để đánh bại quỉ ma. Cây trái cấm đã ném con người vào vực thẳm, nay gỗ Thánh Giá kéo con người lên. Cây đã làm cho con người mất đi tình thân nghĩa thiết với Thiên Chúa, tống con người vào ngục ; nay gỗ Thánh Giá tước lấy vũ khí của ma quỉ đã chiến thắng con người, giúp con người vượt qua trần thế. Cái chết của Adam đã kéo theo con cháu mình là kẻ sinh sau ông ; sự chết của Chúa Giêsu Kitô mang lại sự sống cho những kẻ sinh ra trước Người.
Nhờ những ân huệ và kỳ công từ cây Thập Giá, chúng ta đã từ cái chết đến cõi trường sinh. Thập Giá đã mang lại chiến thắng cho chúng ta; chúng ta hãy học để chiến thắng mà không phải chiến đấu, không phải dàn trận, vũ khí không dính máu, chúng ta không bị thương vong nhưng lại giành chiến thắng : Thiên Chúa chiến đấu, còn vương niệm chiến thắng chúng ta nhận.
Từ đó chiến thắng là của chúng ta, hãy để niềm vui dâng trào như những người lính, hát bài ca chiến thắng để ngợi khen Thiên Chúa: "Sự chết đã bị vùi trong toàn thắng. Tử thần hỡi, đắc thắng của ngươi đâu? Tử thần hỡi, nọc của ngươi đâu? "( 1Cr 15, 54-55).
Đây là những lợi ích mà chúng ta có được từ cây Thập Giá; Thánh Giá là cờ vua cả toàn thắng đã cứu chúng ta cho khỏi tay ma quỉ, là vũ khí chông lại tội lỗi, là thanh gươm sắc bén Chúa Giêsu dùng để chiến thắng con rắn xưa. Thánh Giá là ý Chúa Cha, là vinh quang của Chúa Con độc nhất, là chiến thắng của Thánh Thần Thiên Chúa, là niềm vinh dự của các thiên thần, là sự an toàn của Giáo hội, là bức tường thành của các vị thánh, niềm tự hào của thánh Phaolô, là ánh sáng chiếu soi trên toàn thế giới.
Thật vậy, để xua tan bóng tối của một ngôi nhà tăm tối, chúng ta thắp một ngọn nến hay nâng cao ngọn đuốc ; chính Chúa Giêsu Kitô đã thắp sáng và nâng cao cây thánh giá như một ngọn đuốc để xua tan bóng tối nhân gian. Thế giới khi nhìn xem Con Thiên Chúa chịu đóng đinh, rùng mình, trời đất động địa, đã vỡ ra ; nhưng trái tim của những người Do Thái, cứng hơn đá vẫn không động đậy. Các màn trong đền thờ bị xé ra; nhưng các âm mưu phạm tội vẫn không bị phá vỡ. Tại sao màn che bị xé ? Phải chăng đền thờ đau đớn khi chứng kiến cảnh Thiên Chúa bị giết bên ngoài trên bàn thờ Thập Giá; và khăn che trong đền thờ xé ra như muốn nói với mọi người rằng: sẽ có nhiều đền thờ trở nên hoang vắng và bị bỏ rơi.
Lạy Chúa, chúng con tôn thờ Thánh Giá Chúa. Xin Chúa cho chúng con khi nhìn lên Thánh Giá Chúa, biết khám phá ra rằng Thiên Chúa đã chết chỉ vì yêu, để chúng con biết yêu thương nhau hầu chứng tỏ rằng chúng con yêu Chúa, vì đó là cốt lõi của Đạo Chúa. Amen.
Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

 

Tuầnthánh 6-58:  Chúa Cô Đơn

Có những khi ta cảm thấy bơ vơ giữa cuộc đời. Một mình lang thang. Một mình ngồi nơi góc khuất. Tuầnthánh 6-58

Có những khi ta cảm thấy bơ vơ giữa cuộc đời. Một mình lang thang. Một mình ngồi nơi góc khuất. Một mình chìm trong nỗi cô đơn thất vọng. Giữa bao người nhưng chẳng ai cùng nhịp với mình, chẳng ai hiểu mình và cũng chẳng ai yêu mình. Ở giữa bao người, họ vẫn cười, vẫn nói nhưng chẳng để ý tới sự hiện diện của ta. Giữa những đau khổ, bất hạnh mà chẳng ai quan tâm, nâng đỡ, cảm thông với chúng ta. Đó là nỗi cô đơn mà trong đời ai cũng có thể trải qua. Đó là nỗi quặn đau thấu vào tới con tim, vào tâm hồn của chúng ta. Nỗi đau ấy chẳng biết diễn tả thế nào cho đủ như ai đó đã nói:
“Ta lấy thời gian đo nỗi nhớ
Lấy biển khơi đo độ rộng tâm hồn
Lấy cuộc đời đo tình yêu dang dở
Nhưng biết lấy gì để đo nỗi cô đơn?”
Chúa Giê-su cũng đã từng đi qua nỗi đau của cô đơn tột cùng. Bị người đời nguyền rủa, khinh chê mà chẳng được ai an ủi cảm thông. Bị người đời khước từ, tẩy chay, hành hạ mà chẳng được ai ra tay bênh đỡ. Họ vẫn vui chơi. Họ vẫn nô đùa mặc cho nỗi đau dằng xé nát tâm can. Chúa Giê-su vẫn một mình đơn côi trải qua tuần thương khó.
Trong chuyến hành hương Giê-ru-sa-lem, chúng tôi có dịp đi qua 14 nơi thương khó. Chúng tôi tôn kính từng nơi. Quỳ gối, bái thờ. Chúng tôi đi lại tuần thương khó giữa một thế giới ồn ào, tấp nập buôn bán, cười nói và xem ra chẳng ai quan tâm đến bước đường chúng tôi đi. Họ vẫn nói cười. Họ vẫn buôn bán mặc cho chúng tôi quỳ lạy, tôn kính trước những bước đường Chúa đã đi qua. Qua đó, chúng tôi càng hiểu rõ hơn về sự cô đơn, lạc lõng của Chúa khi vác thánh giá quanh thành Giê-ru-sa-lem. Chúa vác thập giá đi qua những dửng dưng, thờ ơ của dân thành Giê-ru-sa-lem. Sự cô đơn của Chúa càng tột cùng khi chính những người đồ đệ thân thích vẫn bỏ rơi, mặc Thầy chịu biết bao khốn khó, mặc Thầy chịu những đòn roi.
Cuộc đời chúng ta ai cũng sợ cô đơn. Vì cô đơn làm cho chúng ta hụt hẫng giữa biển người bao la mà chẳng tìm được ai yêu thương, cảm thông với chúng ta. Sự cô đơn đưa chúng ta đến ngõ cụt cuộc đời, đến ngõ vắng đơn côi khiến chúng ta thất vọng, buông xuôi. Những lúc như thế chúng ta cần lắm một bàn tay chìa ra nâng đỡ chúng ta. Cần lắm một lời an ủi, động viên của đồng loại. Cần lắm sự quan tâm khích lệ từ những người thân trong gia đình.
Cảm nhận sự cô đơn làm tê tái cõi lòng để chúng ta đồng cảm với Chúa Giê-su trong tuần thương khó. Đồng cảm với Ngài trong sự cô đơn bị bỏ rơi, bị khước từ của đồng loại. Chúa Giê-su đã trải qua những cay đắng tủi nhục khi bị người đời bỏ rơi. Ngài cô đơn giữa biển người, vì dường như ai cũng quay lưng lại với Ngài.
Hôm nay Chúa Giê-su vẫn có thể cô đơn khi chúng ta sống thiếu hiệp thông với Ngài bởi tội lỗi, bởi đam mê. Chúng ta vẫn đẩy Ngài ra khỏi cuộc đời bởi tranh dành danh lợi thú trần gian. Chúng ta vẫn có thể gào thét đóng đinh Chúa khi chúng ta không dành cho Ngài quyền tối thượng được tôn thờ trên hết mọi sự.
Xin Chúa giúp chúng ta biết đi vào những ngày thánh này trong sự hy sinh hãm mình để đồng cảm với Chúa Giê-su. Xin cho chúng ta cũng đừng bao giờ đẩy anh em mình vào đường cùng của sự cô đơn khước từ. Ước gì chúng ta luôn là người môn đệ Chúa yêu đi bên cạnh Chúa trên đường thương khó khi vì Chúa mà từ khước những phù vân tội lỗi. Amen
Lm Jos Tạ Duy Tuyền

 

Tuầnthánh 6-59:  Tình Yêu Mạnh Hơn Cái Chết

Phụng Vụ Thứ Sáu Tuần Thánh B
(Ys 52,13-53,12; Hr 4,14-16;5,7-9; Yn 18,1-19,42)
 Phụng Vụ Thứ Sáu Tuần Thánh B
Ys 52,13-53,12; Hr 4,14-16;5,7-9; Yn 18,1-19,42
Suy niệm: Tình Yêu Mạnh Hơn Cái Chết
 

Một trong những điều xem ra ngược đời nhất, là giữa tình yêu và cái chết có sự liên lạc chặt chẽ. Kể: Tuầnthánh 6-59

Một trong những điều xem ra ngược đời nhất, là giữa tình yêu và cái chết có sự liên lạc chặt chẽ. Kể cũng lạ kỳ: tình yêu là một giá trị tích cực, một khía cạnh phong phú của cuộc đời, là cao điểm của sự sống, thì tại sao khi nói tới tình yêu, người ta lại liên tưởng đến sự chết, là một mãnh lực phá hoại và dìm sự sống xuống đáy sâu? Quả thật, một chân lý càng sâu sắc, thì càng có vẻ nghịch lý và không ngớt làm cho người ta bỡ ngỡ. Tình yêu càng ở cao độ, càng có những đòi hỏi gắt gao và hầu như đặt con người trong thế chiến đấu: chiến đấu để loại trừ các chướng ngại, chiến đấu để đạt tới đối tượng của lòng mình. Nhưng vì là một cuộc chiến đấu cam go, nguy hiểm, nên thường kết thúc bằng cái chết. Do đó mà có những cái chết vì yêu: chết vì tình không được toại nguyện; chết vì muốn chung thủy với tình yêu; chết vì yêu thương quá đỗi. Nhưng vì sao lại nói: Tình yêu mạnh hơn cái chết?
 
1. Chết Và Mãnh Lực Của Tội
Chúng ta suy niệm về tình yêu và cái chết trong bối cảnh phụng vụ ngày thứ Sáu Tuần Thánh. Ngày ấy, bóng Thập giá bao trùm lên khắp mặt địa cầu. Một xác người treo trên cây gỗ. Những giọt máu từ các vết thương loang lỗ chảy thấm xuống lòng đất. Uy tín Con Thiên Chúa bị chôn vùi trong ô nhục. Ðó là một cái chết quá ư bi thảm! Nhưng vì sao Người phải chết như thế?
Phải chăng vì ông Yêsu đã xách động quần chúng nổi loạn (Lc 23,2-5)? Vì ông đã có ý tưởng phá hủy Ðền thờ Yêrusalem (Mc 14,58; Mt 26,61)? Vì ông đã phạm thượng khi tự xưng là Ðấng Thiên Sai, Con Thiên Chúa (Mt 26,65; Mc 14,64; Lc 22,71; Yn 19,7)? Hoặc vì các kỳ lão ghen tương (Mc 15,10) và sợ dân chúng bỏ họ đi theo ông (Lc 22,2) hay vì môn đệ Yuđa muốn bán Thầy mình (Mc 14,10; Mt 26,14; Lc 22,3)? Xét về các lý do chính trị, xã hội, chính Philatô xác nhận: Ông Yêsu đã không làm điều gì đáng chết (Lc 22,14-23; Yn 19,4); và lời tự thú của Yuđa cũng chứng minh cho sự vô tội của Người: "Tôi đã nhúng tay vào một cuộc đổ máu oan uổng" (Mt 27,4).
Tất cả các hành vi phản bội, hận thù, ghen tương, cáo gian, bỏ vạ, hèn nhát, sợ sệt kia đều là những khía cạnh của tội, một mãnh lực làm cho lòng người ra tối tăm và bị kiềm chế trong vòng nô lệ. Ðức Yêsu chính là Người Ðầy Tớ Ðau Khổ của Yavê (Is 52,13-53,12) và chỉ là nạn nhân vô tội của tội ác loài người.
Muốn hiểu đúng ý nghĩa cái chết trên Thập giá cũng như toàn bộ mầu nhiệm Ðức Kitô, ta phải chọn cái nhìn thần học, nghĩa là nhìn như Thiên Chúa nhìn vào công việc Người làm. Nhãn quan đó cho ta thấy: Ðức Kitô đã chịu chết vì tội thế gian. Người vô tội, đã tình nguyện trở thành tội vì ta và gánh chịu hậu quả của tội là cái chết trên Thập giá (2C 5,21). Thánh Phaolô mô tả tội như một mãnh lực độc hại, chỉ tổ gây ra chết chóc (Rm 6,23; 1C 15,55tt). Với cái chết như khí giới nguy hiểm ấy, tội đã thống trị loài người (Rm 5,12-21; 6,20-23).
Theo quan niệm Thánh Kinh, tội là hành động phản bội Giao ước tình yêu, và như thế cắt đứt mạch sống nối liền chúng ta với trái tim Thiên Chúa. Tội gây ra chết chóc toàn diện và vĩnh viễn cho loài người, nếu Thiên Chúa không tự động tái lập sự sống. Người Dothái trong Cựu Ước đã ý thức được điều đó. Họ biết rằng tội và sự chết là những thực tại hệ trọng đến nỗi không thể dùng các lý lẽ thuần túy nhân bản để giải thích hết được. Họ thoáng thấy: có bàn tay hắc ám của một mãnh lực ma quái nào đó đã nhúng vào và gây nên cơ sự ấy. Sách Khôn ngoan viết: "Vì qủy dữ ghen tương, nên sự chết đã đột nhập vào thế gian" (Kn 2,24). Sự chết đây không phải là cái chết thể lý thuộc bản tính tự nhiên của con người như một tạo vật làm bằng bụi tro và sẽ trở về tro bụi (Kn 3,19), nhưng là chết trong tâm hồn, chết vĩnh cửu, mà cái chết thể lý từ nay chỉ là một hình ảnh. Theo thánh Yoan, con rắn trong vườn Ðịa đàng chính là hiện thân của Satan, "đứa mê hoặc thiên hạ" (Kh 12,9; 20,2). Còn theo thánh Phaolô, chính tội loài người phạm từ nguyên thủy dưới ảnh hưởng độc hại của Satan đã mở cửa cho sự chết đột nhập vào đời và dìm tất cả trong bóng tối tử thần (Rm 5,12-21). Như một phản ứng dây chuyền, một khi tội xuất hiện, thì càng ngày càng chồng chất dồn dập và gieo rắc sự chết khắp nơi. Tội mạnh như thác lũ và cái chết là bằng chứng chiến thắng của nó. Nhưng hỏi rằng: Tội có thắng nổi tình yêu?
 
2. Sức Mạnh Sáng Tạo Của Tình Yêu
Tình yêu luôn sáng tạo và tìm ra được nhiều cách biểu hiện, lắm khi cũng bất ngờ. Ðể thắng tội kiêu căng, Ðức Kitô đã chọn sống khiêm hạ và tự hư-vô-hóa (Ph 2,6). Ðể thắng tội tham lam hưởng thụ, Người đã chọn sống khó nghèo (2C 8,9). Ðể thắng tính háo danh trần tục, Người đã như điên rồ chọn cái chết ô nhục trên Thập giá (1C1,23). Thiên Chúa hành động cách ngược đời, và vì Người là tình yêu, nên tình yêu thắng được tội và mạnh hơn cả cái chết.
Tình yêu bao hàm chiến đấu. Chiến đấu đòi phải có năng lực. Quả thật, Nước Trời chỉ dành riêng cho những người mạnh (Mt 11,12) và chính Tin Mừng là một sức mạnh giải phóng (Rm 1,16). Thiên Chúa là Ðấng dũng mạnh, vì Người đầy lòng yêu thương. Cái chết trên Thập giá của Ðức Kitô là một cái chết tự nguyện vì tình yêu: Người yêu mến Chúa Cha và yêu thương chúng ta. Người chết vì vâng lời Chúa Cha để chuộc tội nhân loại.
Ðàng sau cây Thập giá xảy ra một cuộc chiến đấu vô hình giành quyền sống chết giữa tình yêu và tội ác. Một chiến thuật đánh đổi rất ngược đời đã bẻ gãy mũi nhọn của tội và vô-hiệu-hóa sức tàn phá của nó. Thân xác Ðức Kitô đã chết lạnh, và trở thành bất động trên cây gỗ. Về mặt nhân loại, Người đã thua. Người đã thực nghiệm trong chính bản thân mình sự bất lực tột độ, sự yếu nhược tận cùng của thân phận làm người là cái chết thể lý. Mãnh lực tối đa của tội là gây ra cảnh chết: cái chết vĩnh viễn của tâm hồn, mà cái chết trong thời gian của thân xác là một hình ảnh. Chúa Kitô vô tội không thể trải qua cái chết vĩnh cửu của tâm hồn. Nhưng Người có thể dùng cái chết của thể xác mình thay cho cái chết vĩnh cửu của tâm hồn ta. - Người chết thay cho ta là như thế - Cuộc đánh đổi ấy chỉ có thực hiện được bởi vị Thiên-Chúa-làm-người, vì mầu nhiệm Ðức Kitô thuộc cơ cấu bí tích, trong đó yếu tố nhân loại hữu hình là dấu chỉ và khí cụ của yếu tố thần linh vô hình (Vat II, GH 8). Người chết về thể xác trong thời gian, để ta khỏi chết về tâm hồn trong vĩnh cửu. "Người mặc lấy bản tính nhân loại từ nơi lòng Mẹ Maria, để giải thoát loài người khỏi tội lỗi nhờ các mầu nhiệm của thân xác Người" (Vat II, GH 55), nhất là nhờ mầu nhiệm cái chết của Người trên Thập giá.
Người đã bị sức mạnh của tội đẩy lui đến tận cùng: Người chịu chết trong thể xác, vì yêu ta. Chính Người thực hiện điều Người đã nói: không thể yêu hơn là yêu đến chết vì yêu (Yn 15,13). Chịu đựng được tột mức như thế không phải là bất lực, nhưng là dấu hiệu nói lên sức mạnh vô biên. Tình yêu có bị giết chết cũng vẫn không chết. Còn tội chỉ gây ra được cái chết là hết sức mình: đó là cái chết vĩnh cửu của tâm hồn ta, từ nay được đánh đổi với cái chết thể xác trên Thập giá của Con Thiên Chúa. Nơi đây, tội bị mãnh lực vô biên của tình yêu giết chết và tiêu diệt tận căn: "Tội bị kết án nơi thân xác Ðức Kitô" trên cây gỗ (Rm 8,3).
Chính tình yêu - được chứng minh bởi ý chí tự nguyện chịu chết vì vâng lời Chúa Cha - là sức mạnh làm cho thân xác Ðức Yêsu sống lại vinh hiển, nghĩa là biến hình (Mc 9,1-9) từ trạng thái thân xác thường tình bị chi phối bởi các định luật thể lý, đến trạng thái thân xác sáng láng sống theo định luật của Thần Khí tự do. Xuyên qua cái chết tự nguyện vì tình yêu, Ðức Yêsu đã vượt từ thân phận tôi đòi của kiếp người trần thế đến thiên chức Chúa Tể được siêu thăng để bá chủ muôn loài, hầu làm rạng rỡ Chúa Cha (Ph 2,7-11). "Vượt qua", theo thần học thánh Yoan, có nghĩa là "trở về với Chúa Cha" (Yn 13,1). Chính sức mạnh tình yêu, sức mạnh của Thần Khí Chúa Kitô và Chúa Cha, đã tái sinh tâm hồn ta qua bí tích Thánh Tẩy. Cũng chính sức mạnh tình yêu ấy đang tiếp tục biến đổi tâm hồn ta nhờ Thánh Thể và lời tha tội, và sẽ biến hình cả thân xác ta khi ta sống lại trong ngày sau hết.
Tình yêu mạnh hơn cái chết, vì tình yêu tiêu diệt được Tội là căn nguyên sinh ra nó. Hỡi tử thần, chiến thắng của ngươi đâu? Nọc độc của ngươi còn đâu? (1C 15,55).
 
3. Suy Tôn Thánh Giá
Ngày thứ Sáu Tuần Thánh, trên Núi Sọ, bóng Thập giá bao trùm lên khắp mặt địa cầu. Một xác người treo trên cây gỗ...
Thập giá ô nhục đã trở nên Thánh giá vinh quang, ngai tòa vương quyền tình yêu, vì con người treo trên cây gỗ ấy là Con Thiên Chúa, tự nguyện chịu chết vì vâng lời Chúa Cha để chuộc tội thiên hạ. Vinh quang Thiên Chúa biểu hiện trong tình yêu. Ách thống trị của tình yêu luôn êm ái nhẹ nhàng (Mt 11,30).
Nhưng tình yêu của Chúa Kitô mạnh mẽ hơn cái chết, vì tình yêu đã thắng được tội ác. Tình yêu ấy có tham vọng chinh phục lòng mọi người để lấp đầy bằng sự sống mới: sự sống bởi Thần Khí tự do, là Ðấng biến đổi chúng ta thành con cái Chúa Cha. Vì thế Thập giá ô nhục đã trở nên cây ban sự sống.
Thập giá ô nhục cũng đã trở nên ngai tòa phán xét: "Tội đã bị kết án nơi thân xác Ðức Kitô". Tòa án thế gian đã phán xét Người và lên án tử cho Người; nhưng chính khi chịu đóng đinh trên Thập giá, Người, vô tội, đã lên án tội ác thế gian. Song là một bản án khoan hồng, tha bổng cho những người sám hối ăn năn. Người vừa phán xét, vừa cầu ân cho những kẻ phạm tội giết Người, mà không biết mình giết Con Thiên Chúa (Lc 23,34). Từ nay Thập giá được dựng lên giữa lịch sử loài người để trở thành phương tiện thánh hóa và cứu độ. Ai ngước mắt nhìn lên thánh giá Ðức Kitô mà tin nhận Người là Chúa Cứu thế, thì sự sống vĩnh cữu sẽ chảy tràn vào lòng họ. Chính thái độ đối với Thập giá đã định đoạt số mệnh mọi người.
Trong lịch sử nhân loại chỉ có một người - mà người ấy lại chính là Con Thiên Chúa - đã chịu chết ô nhục trên thập giá vì yêu thương. Tình yêu ngược đời ấy đã đảo ngược thế sự: từ nay mọi tủi nhục, uất ức, mọi chết chóc oan uổng, mọi thua thiệt đắng cay không còn vĩnh viễn luống công một cách phi lý, vì lúc mà lý trí loài người không hiểu nổi nữa, thì chính Thiên Chúa tìm ra được một sáng kiến lạ lùng: thâu dụng những cái nghịch lý ấy vào kế hoạch cứu thế của Người. Thập giá Ðức Kitô là điểm quy tụ và siêu thăng tất cả mọi tủi nhục uất ức, mọi thua thiệt oan uổng của loài người, nhất là của những người không nói lên được với ai tiếng nói và nỗi lòng mình, lại cũng chẳng được ai hiểu biết, để làm nên sự thành công tối hậu, sau cái vẻ thất bại trước mắt, và đem lại vinh dự vinh hiển cho họ. Bởi vì sức mạnh của Thiên Chúa tự biểu dương ra trong cảnh bất lực; khôn ngoan của Thiên Chúa thích khoác chiếc áo điên rồ. Nhưng trong sự điên rồ, có tiềm ẩn một triết lý sâu xa; triết lý của tình yêu cứu độ được viết ra trên Thập giá.
Mọi người mang dấu Thánh giá trong lòng đều là chi thể của Chúa Cứu thế. Họ làm thành Dân Thiên Chúa, quy tụ trong Giáo hội. Họ xây dựng Nước Trời giữa lòng thế giới bằng cách làm cho tình yêu thống trị khắp hoàn vũ. Từ trên Núi Sọ ngày thứ Sáu Tuần Thánh, bóng Thập giá bao trùm mặt địa cầu, để quy tụ mọi con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi (Yn 12,51-52). Thập giá Chúa Kitô là trung tâm điểm của lịch sử cứu độ, nhờ tình yêu đã thắng vượt cái chết.
Tình yêu mạnh hơn cái chết, vì Thập giá Chúa Kitô đã toàn thắng tội lỗi.
 
Giảng Lễ
Chiều nay chúng ta họp nhau lại đây, không phải để dâng lễ, nhưng để tưởng niệm cuộc Khổ nạn và đặc biệt, tôn thờ Thánh giá Chúa Yêsu. Chúng ta đã nghe bài Phúc Âm tường thuật cuộc Khổ nạn của Chúa. Và hai bài đọc trước đã cho chúng ta biết ý nghĩa cuộc Khổ nạn này. Giờ đây, chúng ta cầm trí suy niệm những lời Thánh Kinh ấy, trước khi suy tôn Thánh giá Chúa Kitô để được ơn cứu độ.
Bài sách Isaia thật quý giá. Ðó chính là lời tiên tri. Tác giả sống trước Ðức Kitô có tới 5, 6 trăm năm, thế mà ông đã như được nhìn thấy tận mắt thân hình Người nằm trên Thánh giá. Ông viết: dân chúng phải kinh hoàng khi nhìn thấy Người, vì mặt Người đã đổi thay, không còn giống con người chút nào nữa. Philatô đã làm chứng: Ðức Kitô quả thật đã như vậy. Người bị bọn lý hình đập đánh và đóng mão gai vào đầu, đến nỗi ông phải kinh hoàng vì tưởng rằng chỉ cần đưa Người ra cho quần chúng thấy là họ phải động lòng trắc ẩn đòi tha Người ngay. Nên ông đã cho điệu Người ra công đường với bộ mặt đầy máu me và đau đớn ấy. Ông chỉ vào Người và bảo: "Này là Người". Ông có ý nói: Người trước đây thế nào mà bây giờ như thế? Có thể tưởng tượng được không? Quả thật, Người đã rách nát tất cả mặt mũi và thân hình rồi. Isaia viết: Người không còn gì để mắt ta có thể nhìn được nữa. Và ông nói: "Người giống như một người cùi, một người bị bệnh phong, nhìn thấy ai cũng phải ngoảnh mặt đi".
Phải, Ðức Kitô của chúng ta đã bị đập đánh dã man, khốn khó và tiều tụy như thế đó! Mà không phải chỉ có thân thể Người bị hành hạ như vậy đâu! Cây Thập giá, và chỗ đứng của Người ở giữa hai tên tử tội, còn như muốn bêu xấu danh dự của Người nữa. Thân phận của Người đã mất mát tất cả về phần xác. Và bản án kia với những lời xỉ vả riếc róc còn muốn chôn cả tên tuổi Người xuống lòng đất. Người là tên tử tội, bị tống ra khỏi thành để treo trên Thập giá! Ðau thương và nhục nhã biết chừng nào!
Ðang khi Người có làm gì nên tội! Philatô lúng túng khi muốn tìm ra tội Người. Cuối cùng ông đành rửa tay bảo mình không dính dáng gì tới máu người vô tội này. Các người Dothái cũng chẳng tìm được cớ nào để ghép tội. Nhưng họ cứ lớn tiếng đòi giết Người, vì lẽ như lời Caipha nói: Phải có một người chết đi thay cho toàn dân. Không ngờ ông đã thực hiện lời Isaia. Nhà tiên tri cách ông 5, 6 thế kỷ đã viết: Sở dĩ Người bị hành hạ, đánh đập tan nát, là vì tội lỗi của ta. Người mang lấy tội của toàn dân để cho chúng ta được sạch tội. Ðó là câu giải thích cuộc Khổ nạn của Chúa mà chúng ta phải đào sâu để tìm ra ý nghĩa.
Gợi lại những đau thương của Chúa trong ngày hôm nay, Phụng vụ Giáo hội cũng không muốn gì hơn là làm cho chúng ta hiểu được vì sao Chúa lại phải chết như vậy. Dĩ nhiên, Người không có tội nào rồi. Và Người chết như vậy là vì ta. Nhưng tương quan giữa cái chết của Người và tội lỗi của ta như thế nào? Ðó là mầu nhiệm mà bao lâu còn sống chúng ta phải suy nghĩ, để khỏi tỏ ra bực bội với người đã chết vì ta và nhất là để được ơn cứu chuộc khỏi tội. Thường tình, tội ai người ấy chịu. Nhưng đó chỉ là câu tục ngữ của thế giới loài người. Ở trước mặt Chúa, không thể như vậy. Adong ngày trước phạm tội xong đã phải đi ẩn. Nghe Chúa gọi, ông chẳng dám mang tội ra. Ông vẫn nấp ở trong lùm cây. Giữa Thiên Chúa và tội nhân không thể có liên lạc trực tiếp nữa. Không phải vì Chúa hẹp hòi không muốn tha thứ. Người muốn lắm chứ, nên mới đến tìm Adong. Nhưng chính Adong mới không dám ra trước mặt Người. Dơ bẩn làm sao dám giơ mặt ra ánh sáng!
Chính Chúa Kitô cũng nói: tội nhân ưa tối tăm hơn ánh sáng; tội nhân chỉ muốn sống trong tối tăm và sợ ánh sáng phơi bày công việc xấu xa của họ ra. Tội nhân không thể tự cứu mình... ngược lại càng ngày càng đi sâu vào con đường tối tăm, giống như người mặc áo mới, cố giữ sạch, nhưng khi phải một vết nhơ, tự nhiên hết muốn giữ gìn, để cho bẩn luôn rồi giặt một thể. Nhưng khốn nạn, tội lỗi không dễ giặt như vậy. Và kinh nghiệm tội càng nhiều, càng ngã sâu, xác thịt càng bất lực, không thể chỗi dậy được nữa. Phải có người không có tội, và không thể phạm tội, liều mình dấn thân vào nơi tối tăm, đi xuống vực thẳm, kéo người tội lỗi lên. Ðó là việc Chúa đã làm. Người đã xuống thế, chấp nhận thân phận tội nhân, chịu mọi đau thương của kẻ có tội, để tìm gặp tội nhân ngay chính nơi họ đang sống, nói đúng hơn, chính nơi họ đang chết, để làm cho họ sống lại, mà đi vào thế giới mới, thế giới của sự thánh thiện. Isaia ví chúng ta như các con chiên lạc, đi vào các hẻm tội lỗi. Chúa là mục tử nhân lành; Người bỏ đoàn thiên thần thánh thiện, xuống thế đi tìm chúng ta về. Mà vì chúng ta chui rúc trong bụi gai, lạc vào những chỗ hiểm hóc, nên con đường cứu thế của Chúa chúng ta là con đường hẹp, đầy gian khổ, làm đổ máu.
Hơn nữa, chúng ta không chỉ phạm tội nơi tối tăm này, chốn hẻo lánh kia, mà còn phạm tội ngay trên thân xác mình, trong đầu óc và tận lòng trí mình, nên Ðức Kitô phải chết nơi thân xác, chịu lưỡi đòng đâm vào tận tim, để cứu chuộc cả đến thân xác chúng ta hầu sau này nó cũng được phục sinh vinh quang. Thế nên, chính tội lỗi của ta đã đóng đinh Con Một Chúa. Chính tội lỗi loài người đã giết chết Con Ðức Chúa Trời. Buổi chiều hôm nay phụng vụ kêu mời tất cả chúng ta nhìn lên Thánh Giá Chúa Kitô để ý thức điều đó, để ghét bỏ tội lỗi, để dốc lòng hối cải, để cảm mến Chúa đã chịu thương tích vì ta. Và tâm hồn chúng ta sẽ được thư thái; vì ơn cứu độ sẽ đến với kẻ sám hối ăn năn, vì kìa trên Thánh giá, Ðức Kitô đã cầu xin Chúa Cha tha cho kẻ có tội, như lời thánh Phaolô hôm nay nói và như bài tường thuật cuộc Khổ nạn chúng ta vừa nghe. Thánh Phaolô bảo chúng ta nhìn mà xem: Chúa cứu thế rất thông cảm; Người quá biết thân phận con người chúng ta; Người đã chấp nhận từ khước chẳng từ khước khổ hình Thập giá, để chúng ta được cứu độ. Chính vì vậy mà bây giờ Phụng vụ mời chúng ta sắp sửa đứng lên cầu nguyện cho hết mọi hạng người trong Hội Thánh và trên thế giới, để ơn cứu độ hôm nay tuôn đổ xuống trên họ, để từ nay họ nhìn vào Thánh giá Chúa như nguồn ơn cứu vớt, để chạy đến quỳ hôn, hứng lấy tất cẳ nguồn mạch phong phú của Chúa Cứu chuộc, trước khi nhận lấy Mình Thánh là bảo chứng của Mầu nhiệm Cứu thế.
Như vậy, hôm nay chúng ta sẽ tôn kính thờ lạy Thánh giá Chúa với tất cả lòng mến cậy trông. Và trước hết, chúng ta hãy cầu nguyện cho mọi người, xin Chúa đưa họ cùng chúng ta đến với Thánh giá, hầu tất cả thế giới chiều nay được thêm ơn cứu độ.
 (Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa của Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)

 

Tuầnthánh 6-60: THỨ SÁU TUẦN THÁNH

 Trong ngày Lễ Lá vừa rồi, biết bao nhiêu người Do Thái ra đĩn mừng Chúa. Cả một bầu khí tưng: Tuầnthánh 6-60

Trong ngày Lễ Lá vừa rồi, biết bao nhiêu người Do Thái ra đĩn mừng Chúa. Cả một bầu khí tưng bừng, hăng say, kính mến. Sự hăng say bột phát qua việc cầm cành lá, qua lời tung hơ đĩn chào Chúa. Thật là một bầu khí cuồng nhiệt. Người Do thái lúc ấy biểu lộ lịng kính mến thật hồn nhiên, thật dễ thương. Khơng khác gì giáo dân chúng ta hơm nay.
Nhưng bầu khí ngày thứ sáu hơm nay cũng khiến chúng ta phải suy nghĩ khơng ít vì những biến cố quá trái ngược. Chúa vừa vinh hiển vào thành chưa được bao lâu đã phải tủi nhục chết trên thập giá. Tại cổng thành cĩ biết bao người ra chào đĩn tung hơ, nhưng trên Núi Sọ chẳng cịn mấy người theo Chúa. Từ chúa nhật Lễ Lá đến thứ Sáu tuần thánh thời gian khơng dài, nhưng biết bao người đã thay lịng đổi dạ. Từ cổng thành đến Núi Sọ đường đất khơng xa, nhưng biết bao người đã rẽ đường, đi ngang, về tắt. Tại sao thế ? Ta hãy lần theo vết chân của những người bỏ cuộc để nhận diện những ngã rẽ cuộc đời. Cĩ ba ngã rẽ tiêu biểu.
1. Ngã rẽ của Giuđa. Giuđa là mơn đệ trung tín theo Chúa trong suốt 3 năm Chúa đi rao giảng. Ơng cịn được Chúa tin cẩn trao phĩ cho cơng việc quan trọng: nắm giữ tài chánh. Ngày Lễ Lá chắc chắn ơng cĩ mặt. Nhưng khi Chúa chịu chết thì ơng vắng mặt. Ơng đã rẽ sang lối khác. Lối rẽ đuổi theo tiền bạc vật chất. Theo tiếng gọi của tiền bạc, ơng đã đưa chân đi những bước xa lạ. Ơng đi vào con đường khác. Ơng trở thành con người khác. Ơng bỏ Chúa vì tiền. Tệ hơn nữa ơng bán Chúa để lấy tiền.
2. Ngã rẽ của Phêrơ. Phêrơ là mơn đệ rất thân thiết của Chúa. Là người đứng đầu tơng đồ đồn. Ơng thề rằng dù mọi người cĩ bỏ Chúa thì ơng vẫn trung thành với Chúa. Ngày Lễ Lá chắc chắn ơng ở bên Chúa. Nhưng ngày thứ sáu tuần thánh hơm nay, khơng thấy ơng đâu. Ơng đã rẽ sang lối khác : lối rẽ lười biếng và hưởng thụ. Lười biếng vì khi vào vườn Giêtsimani, Chúa kêu gọi ơng hãy thức cầu nguyện với Chúa, vậy mà ơng cứ ngủ. Hưởng thụ vì trong sân tịa án, thay vì theo dõi cuộc xét xử Chúa thì ơng lại vào tìm hơi ấm nơi đống lửa giữa sân. An nhàn hưởng thụ đã kéo ơng xa Chúa. An nhàn hưởng thụ đã đẩy ơng đến chỗ chối Chúa.
3. Ngã rẽ của đám đơng. Hàng vạn người đã theo Chúa, nghe Ngài giảng, mê mệt đến mấy ngày quên ăn, quên về. Biết bao người reo mừng nghênh đĩn Chúa ngày long trọng vào thành. Thế mà trên Núi Sọ chỉ thấy những người đến sỉ vả, chê bai, nhạo cười. Đám đơng đã rẽ sang lối nào ? Thưa họ rẽ sang lối dư luận. Thiếu lập trường, chạy theo đám đơng. Thấy người ta đi nghe Chúa thì cũng đi. Thấy người ta nhạo cười Chúa thì cũng cười nhạo. Thấy người ta kết án Chúa thì cũng kết án.
Để tự nhiên, chắc chắn khơng ai nỡ nhẫn tâm bán Chúa, chối Chúa, lên án Chúa. Nhưng người ta thay lịng đổi dạ do tác động của tiền bạc, của hưởng thụ, của dư luận. Đĩ là những ngã rẽ cuộc đời.
Những gì đã xảy ra cho Giuđa, cho Phêrơ và cho đám đơng năm xưa vẫn cĩ thể xảy ra cho chúng ta hơm nay. Làm sao để chúng ta luơn đi trên đường theo Chúa và trung thành với Chúa?
Ước mong sao trong những ngày Tuần Thánh nầy, trên khuơn mặt và trong trái tim của mỗi người chúng ta vẫn cịn phảng phất một chút gì đĩ nỗi xĩt thương ngậm ngùi của Đức Mẹ, nỗi xĩt xa thống hối của Phêrơ, nỗi thương đau giúp đỡ của Simêon, nỗi đồng cảm hiệp thơng của những người phụ nữ Giêrusalem, của mơn đệ Gioan, niềm xác tín và tràn trề hy vọng của tên trộm lành… Mà khơng phải chỉ để sống lại một thái độ và tâm tình sướt mướt ủy mị, nhưng là một thái độ đức tin sâu xa và can đảm sẵn sàng chết đi cho những tăm tối tội lỗi yếu hèn, để thật sự sống lại với Đức Kitơ Phục sinh trong nỗi vui ngút ngàn vang vọng từ bài ca Exultet trong đêm Vọng Phục sinh.
Cảm nghiệm được tình yêu thương của Chúa, chúng ta sẽ biết đáp lại. Và sẽ trung thành với con đường theo Chúa đến chân Thập gía, chứ khơng bị lơi cuốn bước sang những ngã rẽ của cuộc đời này.
Lm. Phaolô Vũ Đức Vượng

 

Tuầnthánh 6-61:  HOÁN CẢI ĐỂ ĐƯỢC XÓT THƯƠNG

Đức Hồng Y Gualtiero Bassetti, Tổng Giám Mục Perugia, ở miền Trung nước Ý, người được chọn Tuầnthánh 6-61

Đức Hồng Y Gualtiero Bassetti, Tổng Giám Mục Perugia, ở miền Trung nước Ý, người được chọn để viết suy niệm đàng thánh giá do Đức Thánh Cha chủ sự vào Thứ Sáu Tuần Thánh tại hí trường Côlôsê đã nói: “Con người ngày nay, đối với tôi, có vẻ bất hạnh và đau khổ một cách bi đát”. Ngài giải thích rằng: “đau khổ có thể nhìn ra dễ dàng nơi những người nghèo, những người nhập cư, người bệnh, những người cô đơn và bị bỏ rơi. Nhưng đồng thời, chúng ta cũng gặp những người giàu có, những kẻ dường như có tất cả mọi thứ, nhưng trong thực tế, không có gì - họ sống một cuộc sống trống rỗng, và trong một số trường hợp, thậm chí muốn chết cho xong. Như một người nào đó đã từng viết, sự ác, do đó, ‘có gì là lạ đâu’, nhưng Chúa Giêsu trên thập giá đem đến cho cuộc sống một ý nghĩa khác và chỉ cho chúng ta thấy một con đường khác: con đường hoán cải”. 
Chỉ có con đường hoán cải mới đưa chúng ta về đúng ý nghĩa của cuộc đời mình.
Trong cuộc thương khó của Đức Giêsu, Tin mừng đã cho chúng ta chiêm ngắm một số nhân vật đã biết hoán cải, nhờ thế họ đã tìm lại ý nghĩa của cuộc đời mình, và vì vậy họ được hưởng lòng thương xót của Chúa.
Đó là một trong 2 tên gian phi cùng bị đóng đinh với Đức Giêsu. Nói ví von theo lời Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, đến lúc cuối đời, hắn còn hành nghề ăn trộm, nhưng là ăn trộm nước thiên đàng. Đó còn là viên đại đội trưởng: “Thấy sự việc xảy ra như thế, viên đại đội trưởng cất tiếng tôn vinh Thiên Chúa” (Lc 23, 47). Đó còn là đám đông dân chúng “Đã kéo đến xem cảnh tượng ấy, khi thấy sự việc đã xảy ra, đều đấm ngực trở về” (Lc 23, 48).
Cụ thể trong bài thương khó hôm nay, chúng ta chiêm ngắm sự hoán cải của Phêrô. Mới trước đó ông đã hăng hái, nhiệt thành để bảo vệ thầy: dùng gươm chém đứt tai bên phải tên đầy tớ của vị thượng tế. Nhưng trong những diễn biến sau đó, Phêrô tỏ ra nhát đảm, ngược hẳn với tính khí của ông. Ông đã chối thầy 3 lần trước mặt đứa tớ gái và những tên đầy tớ của thầy thượng tế với cùng câu nói: “Đâu phải” để từ chối mối tương quan với Thầy Giêsu. Hình ảnh này giống như một trang chiến binh đánh đông dẹp bắc lẫy lừng, nhưng lại sợ chuột, sợ thằn lằn…
Gioan rất tinh tế trong tường thuật này, ông viết: “và ngay lúc ấy, gà liền gáy”. Để ứng nghiệm lời của Đức Giêsu, khi Phêrô hăng hái tuyên bố: “Dù ai có bỏ Thầy mặc kệ, nhưng con thì không, con sẽ liều mạng vì Thầy”. Đức Giêsu đã nói trước cho ông: “Ta bảo thật cho con biết, trước khi gà gáy 2 lần, con đã chối thầy 3 lần”.
Trong tường thuật của Matthêu còn ghi rõ, khi nhớ đến những lời tiên báo của Đức Giêsu: “Ông ra ngoài, khóc lóc thảm thiết”. Đây là những giọt nước mắt ăn năn thống hối. Chắc có lẽ đối với Phêrô thà đổ máu còn hơn rơi lệ. Vậy mà hôm nay “ông đã khóc lóc thảm thiết”. Con người thật của ông đã được phơi bày ra. Sự mạnh mẽ bao lâu nay chỉ là chiếc áo khoác bên ngoài để che đậy sự yếu đuối bên trong của ông. Thế nhưng, dù ông có qua mắt được nhiều người, khiến anh em phải khiếp sợ tính khí hung hăng của ông, nhưng Đức Giêsu biết hết, biết rõ, nên đã nói trước sự thật cho ông: “con sẽ chối Thầy 3 lần”. Nhưng ông và cả anh em không ai nghĩ đến chuyện đó. “Làm gì có chuyện Phêrô mà chối Thầy”.
Tuy nhiên chính khi ông biết rõ con người của mình như thế lại là lúc ông tìm đúng ý nghĩa của cuộc đời mình. Ông biết rằng trước đến giờ mình chỉ sống cho cái tôi riêng tư của mình, đó là tâm lý muốn làm đầu, muốn thống trị người khác. Ông luôn luôn thể hiện mình là người mạnh mẽ, vì yểu điệu người ta nói mình yếu; là người thẳng thắn, dám nói thật để che dấu sự yếu đuối bên trong của ông; chứng tỏ mình là nơi nương tựa cho người khác, kể cả Thầy mình. Ông tỏ ra là người quán xuyến tất cả mọi chuyện. Ông phủ đầu hết mọi người. Ông ghét những ai gian dối dám qua mặt ông… Tất cả những điều đó, nếu không có tiếng gà gáy hôm nay, Phêrô cứ mãi mãi tưởng là nét đẹp riêng tư của mình, không ai được đụng đến, vì nó được bao bọc bằng vàng, và ngày càng được che chắn kỹ lưỡng hơn. Mọi người chung quanh cũng nhìn thấy như vậy và nể nang tính khí của ông.
Sự hoán cải của Phêrô khởi đi từ quyền năng của Đức Giêsu, vì Ngài đã biết hết mọi sự và đã nói trước điều đó. Khi nhớ lại, Phêrô phải sợ hãi quyền năng của Chúa.
Kế đến là từ ánh mắt nhân từ của Ngài. Ánh mắt đó kèm theo lời răn dạy: “Thấy chưa, Thầy nói trước với con rồi, đừng tự hào tự đắc về mình, đừng ham muốn thống trị người khác, vì thực sự con yếu đuối lắm, những việc con làm chỉ để che đậy sự nhu nhược bên trong của con mà thôi. Con bắt người khác phải lệ thuộc mình, phải giống mình, kẻo họ hơn mình thì sao! Con muốn mọi sự phải nằm trong vòng tay của mình, kẻo vượt ra ngoài con không kiểm soát được…”
Và trong ánh mắt đó còn có lời thỏ thẻ, thủ thỉ: “Không sao đâu, thầy chọn con không phải vì con mạnh mẽ, không phải vì con đứng ra bảo vệ Thầy, không phải vì con làm được những chuyện lớn lao… nhưng đơn giản vì Thầy muốn con làm môn đệ của Thầy. Hãy chỗi dậy và đi!”.
Kết quả của sự hoán cải đó được chứng minh bằng một cuộc sống hoàn toàn khác sau biến cố Tử nạn và Phục sinh của Đức Giêsu. Vì vậy thập giá của Đức Kitô đã giải phóng được con người của Phêrô. Vẫn là con người đó, vẫn với tính khí đó, nhưng không phải được bao bọc bằng vàng để mọi người chiêm ngưỡng hâm mộ, không phải được xây bằng xi măng cốt thép để không ai đụng đến được, nhưng nó đã được thập giá của Đức Giêsu chống đỡ, máu và nước của Ngài bao bọc lấy để ông trở nên hiền lành, ngoan ngoãn và chấp nhận đi theo đường lối của Chúa. Kết quả rõ ràng nhất của sự hoán cải là con người ta sẽ khiêm tốn hơn trong mọi sự.
Từ sự hoán cải của Phêrô cho chúng ta nhận ra sự thật: Không gì và không ai có thể qua mắt được Thiên Chúa, chẳng qua Ngài thinh lặng để chờ đợi sự hoán cải, chờ đợi chúng ta chấp nhận sự thật nơi chính bản thân và mọi sự việc để rồi khóc lóc ăn năn và sửa đổi.
Sự hoán cải chỉ có thể diễn ra trong mầu nhiệm đau khổ của Đức Kitô. Vì vậy sự khổ chế là điều kiện tất yếu cho những ai muốn hoán cải. Không ai muốn mình có những đam mê, những tật xấu, nhưng không ai tránh được. Tuy nhiên muốn bỏ được thì không phải là chuyện dễ dàng, vì nó phải qua mầu nhiệm thập giá của Đức Kitô, phải có sự khổ chế của bản thân.
Sức mạnh của thập giá là ở chỗ nó sẽ biến đổi tất cả mọi sự trở nên tốt đẹp hơn. Vì vậy, những ai vui lòng vác thập giá hằng ngày thì chắc chắn sẽ nên thánh. Ngược lại, những ai muốn làm môn đệ Đức Kitô mà không muốn vác thập giá thì không bao giờ theo Ngài cho đến cùng được. Đó là điều kiện chứ không phải sự thỏa hiệp, nghĩa là phải như vậy chứ không còn gì khác.
Hôm nay, một lần nữa chúng ta tưởng niệm cuộc thương khó của Đức Giêsu. Lần tưởng niệm này giúp chúng ta sống lại mầu nhiệm hoán cải nhờ thập giá Đức Giêsu, để chúng ta xác quyết hơn sức mạnh của cây thập giá. Từ đó, tôi và anh chị em hãy quyết tâm để cho thập giá Đức Giêsu biến đổi bản thân mình, bằng việc chấp nhận những hy sinh, những khổ chế không phải một năm 2 lần trong dịp Lễ Tro và Thứ Sáu Tuần Thánh, mà là liên lỉ trong cuộc đời mình. Khi chấp nhận hy sinh khổ chế là chúng ta đang vác thập giá theo Thầy của chúng ta để làm môn đệ của Ngài. Khi chấp nhận vác thập giá cũng là lúc chúng ta chấp nhận sự hoán cải để trở nên tốt đẹp hơn.

 

Tuầnthánh 6-62: DUNG MẠO NGƯỜI TÔI TỚ ĐAU KHỔ

Lm. Giuse Nguyễn Thành Long
 

Trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, Giáo Hội cho chúng ta đi lại hành trình thương khó của Chúa Giêsu Tuầnthánh 6-62

Trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, Giáo Hội cho chúng ta đi lại hành trình thương khó của Chúa Giêsu trên dương thế. Trong hành trình đó, chúng ta gặp được dung mạo của một Đức Kitô đau khổ, đau khổ tột cùng.

1. Những đau khổ mà Đức Kitô phải chịu là gì ?
Trong khoa tâm lý học, người ta phân biệt 2 loại đau khổ: đau khổ về thể lý và đau khổ về tinh thần hay tâm linh. Đau khổ nào cũng là khổ đau. Đau khổ nào cũng có sức huỷ hoại sự sống con người cả. Nơi cuộc thương khó của Chúa Giêsu, chúng ta thấy có đủ cả 2 loại đau khổ này.
 
  • Đau khổ về mặt thể lý: Bị lý hình đánh đập hành hạ bằng những đòn roi tàn bạo. Bị những vòng gai nhọn đâm sâu vào đầu. Theo lời sách ngắm thì vòng gai có đến 72 cái gai do quân dữ đánh lọt vào óc (chỉ vài cái đã đau đớn lắm rồi đàng này 72 cái). Bị cái đói cái khát dày vò. Bởi vì máu càng ra nhiều bao nhiêu, thì càng khát nước bấy nhiêu. Nhất là bị đóng đinh căng thây trên cây thập giá, tay chân đinh nhọn xuyên qua.
  • Đau khổ về mặt tinh thần: Bị dân chúng trở mặt lên án, đòi đóng đinh vào Thập giá. Trong số đó, có cả những kẻ mà mình đã thi ân giáng phúc. Bị quân lính xỉ nhục lăng mạ. Bị các môn đệ bỏ rơi, đặc biệt là bị chính những người thân tín nhất chối từ, bội phản. Một Giuđa, kẻ được tín nhiệm trao cho việc quản lý tài chánh, không ngại ngùng dùng chính cái hôn để phản nộp sư phụ của mình. Một Phêrô, người được trọng dụng cất nhắc lên địa vị trưởng Tông Đồ đoàn, cũng chẳng thẹn thùng chối bai chối bải Thầy mình không những một lần mà đến ba lần. Chắc là không còn nỗi đau nào hơn thế.
2. Chúa Giêsu đã đón nhận đau khổ với thái độ nào ?
Chúa Giêsu đã đón nhận tất cả những đau khổ đó với thái độ tự hạ, tự hiến nhằm dâng lên Thiên Chúa Cha của lễ hy sinh làm giá cứu chuộc nhân loại. Ngài như con chiên hiền lành bị đem đi giết mà không một lời kêu ca. Bị hành hạ, Ngài không một lời kêu than. Bị xỉ nhục, Ngài không mắng chửi. Bị vác thập giá, Ngài không vừa vác vừa càm ràm than trách. Bị ngã lên ngã xuống, Ngài không thở dài tuyệt vọng. Bị treo trần trụi trên thập giá, Ngài không nguyền rủa. Các sử gia La mã (Seneca, Cicêrô) cho biết những kẻ bị đóng đinh thường la hét và chửi rủa. Do đó có khi phải cắt lưỡi kẻ bị đóng đinh, để y khỏi thốt ra những lời xúc phạm, lăng mạ kinh tởm… Nhóm Luật sĩ và Biệt phái chắc cũng chờ đợi: từ thập giá Đức Giêsu sẽ thốt ra những tiếng kêu la và nguyền rủa! Nhưng không phải thế. Những lời của Đức Giêsu lại tràn đầy dịu dàng và yêu thương: “Lạy Cha, xin tha cho chúng, vì chúng chẳng hiểu biết việc chúng làm”. Ngài còn hướng về kẻ trộm lành, đại diện cho những người có tâm tình hoán cải: “Hôm nay, người sẽ được ở trên thiên đàng với Ta”.

Ở đời người ta vẫn thường nói: “Yêu là khổ”. Câu nói này rất đúng với trường hợp của Chúa Giêsu. Nhìn vào cuộc thương khó của Chúa Giêsu, ta không thể tìm được một lý do nào thích hợp hơn để lý giải, ngoại trừ lý do yêu thương. Nói cách khác, hành trình thương khó của Chúa Giêsu là hành trình của tình yêu. Vì yêu nên Ngài đã sẵn lòng đón nhận mọi khổ đau, vui lòng chấp nhận mọi hy sinh, và bằng lòng cho đi đến cùng.

Trên thập giá, Chúa Giêsu đã trao hiến tất cả: y phục, Ngài trao cho lý hình; uy quền trần thế, Ngài trao cho Hêrôđê; thân mẫu, Ngài trao cho một người môn đệ; ngay cả sự sống, Ngài trao cũng lại cho Thiên Chúa Cha. Tắt một lời, Ngài không còn giữ lại gì cho mình.

Và chính vì yêu bằng một tình yêu hiến trao tất cả như thế, nên Thập giá của Chúa Giêsu đã nở hoa, hoa cứu độ, hoa đem lại sự sống trường sinh cho con người.

3. Thái độ của chúng ta ra sao khi đối diện với đau khổ ?
Cuộc sống của con người cũng luôn đầy dẫy những khổ đau. Đức Phật đã nói: “Đời là bể khổ”. Vậy làm gì trước những đau khổ của mình và của người khác ? Nếu chúng ta biết vui lòng đón nhận và liên kết với đau khổ của Chúa Giêsu thì những đau khổ mà chúng ta chịu sẽ mang lại giá trị cứu độ. Nếu chúng ta biết chia sẻ và cố gắng làm vơi bớt đi những đau khổ của người khác, thì chắc chắn chúng ta sẽ được Chúa ân thưởng bội hậu mai sau.

Thế nhưng, trên thực tế ta thấy rằng khi gặp thử thách gian truân, ta thường hay kêu ca và phản kháng. Gặp thánh giá, ta thường than vắn thở dài, muốn vứt bỏ càng sớm càng tốt. Gặp thất bại, ta thường nãn lòng oán trách. Gặp những gì trái ý, ta thường bực bội cau có. Chính vì thế, thập giá khổ đau càng thêm nặng, vả lại chúng ta lại mất hết công phúc.

Xin cho mỗi người chúng ta biết năng suy ngắm cuộc thương khó của Chúa Giêsu, nhất là biết nhìn lên Thánh giá Chúa để hiểu rõ hơn ý nghĩa của đau khổ, đồng thời tìm được nghị lực và sức mạnh hầu có thể vác thập giá mà theo chân Chúa cho đến cùng. Amen.    (Phan Thiết, Tuần Thánh 2010)

 

Tuầnthánh 6-63: NGHỊCH LÝ CỦA THẬP GIÁ

Ga 18,1 - 19,42
Gp. Vĩnh Long
 

Trong các vị sáng lập tôn giáo, tôi chưa thấy vị nào có thời gian rao giảng ngắn ngủi (chỉ có 3 năm) và Tuầnthánh 6-63

Trong các vị sáng lập tôn giáo, tôi chưa thấy vị nào có thời gian rao giảng ngắn ngủi (chỉ có 3 năm) và cuối đời bị xử tử đau thương như Đức Giêsu.
Xét theo người đời thì Đức Giêsu trước mắt đã thất bại hoàn toàn. Còn các thủ lãnh biệt phái, luật sĩ, tư tế đã thành công trong việc mưu hại Đức Giêsu và các môn đệ của Ngài. Đức Giêsu thì họ giết chết, rồi những người quảng bá giáo lý của Đức Giêsu cũng bị giết đi để bịt miệng. Các môn đệ Chúa Giêsu không được rao giảng công khai, thậm chí còn bị kết án tử chỉ vì đã dám thuật lại lời dạy thánh thiện của Đức Giêsu. Thủ lãnh thế gian cho mình đã có những biện pháp khôn khéo để ngăn chặn lời chân lý và nghĩ rằng họ sẽ loại trừ được đạo Chúa bằng biện pháp bạo lực: bỏ tù, hành hạ và cấm đoán.
Trong thời gian đầu của Kitô giáo, đế quốc Rôma đã bách hại Kitô giáo bằng những hình thức tàn ác như cho thú dữ cắn xé, thiêu sống, đánh đập… Mặc dù các Kitô hữu không có lỗi gì với quốc gia, không có lỗi gì với xã hội vì họ vẫn một lòng yêu mến dân tộc mình. Họ chịu tử hình chỉ vì mang danh là kitô hữu! Để rồi sau 300 năm bách hại, người ta bắt đầu nhận ra sai lầm của mình và gia nhập Kitô giáo rất đông, đến gần như toàn tòng.
Thời gian Kitô giáo mới truyền vào Việt Nam cũng vậy, có vua đối xử tốt, nhưng cũng có những vị tìm cách ngăn cản chỉ vì đạo kitô giáo du nhập từ nước ngoài, không giống đạo vua đã biết từ nhỏ. Tàn bạo nhất là thời vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Các vua này bắt tất cả những người có đạo phải bước qua thập giá, tu sĩ linh mục thì hành hạ, còn giáo dân bị thích 2 chữ “tả đạo” lên trán hoặc bị tịch thu tài sản, bị làm khó dễ…
Các vị thủ lãnh trần gian cho rằng mình đúng khi đối xử tệ bạc với những người Kitô giáo vốn vô tội. Còn kitô hữu dù bị đối xử tệ nhưng vẫn một lòng tha thứ và chủ trương sống yêu thương kể cả những kẻ bách hại mình.
Xét theo phương diện trần gian thì lẽ ra với sự đối xử tàn bạo đó, Kitô hữu yếu thế và đã mai một từ lâu vì: vị sáng lập đã bị giết, các môn đệ của Ngài sau một thời gian rao giảng cũng bị giết. Riêng ở Việt Nam, lúc đạo mới truyền vào cũng gặp nhiều kỳ thị vì thành kiến vô lý của một số vua quan.
Thế nhưng, chính lúc thế gian bách hại và kitô hữu phải gặp nhiều khó khăn như vậy mà chúng ta thấy rõ được bàn tay của thiên Chúa can thiệp trong Giáo hội của Người. Chính Chúa ban sức mạnh cho con cái mình trong những lúc gặp gian nan khốn khó. Chính Chúa giữ vững con thuyền giáo hội giữa lúc phong ba bão táp mà theo cái nhìn của loài người là không thể nào qua khỏi. Chính lúc Kitô hữu bị thế gian bách hại là lúc họ chứng tỏ được niềm tin vào sự sống lại và giúp cho nhiều người nhận thấy giá trị của sự sống đời sau và lòng vị tha, bác ái của Kitô hữu. họ đã trở nên giống Đức Giêsu khi bị treo trên thập giá đã nói những lời yêu thương tha thứ cho kẻ giết hại mình. Các Kitô hữu ra pháp trường mà vẫn vui tươi hát thánh ca và tỏ lòng tha thứ cho vua quan đang bách hại mình.
Hôm nay thứ 6 tuần thánh, chúng ta cùng tưởng niệm Chúa Giêsu chịu thương khó và hãy tin tưởng vào sức mạnh của thiên Chúa, tin tưởng và vâng theo sự hoạt động của Chúa Thánh Thần trong thế giới. Chúng ta hãy năng suy gẫm về tình thương của Chúa Giêsu và vác thánh giá với ngài để mai ngày chúng ta cũng được phục sinh và hưởng hạnh phúc đời đời với Chúa trên thiên quốc.

 

Tuầnthánh 6-64: Đây là người! 

(Gio-an 19:5)
 

Khi Phi-la-tô nói những lời này vào ngày Thứ Sáu Tuần Thánh đầu tiên, ông đã cố gắng chứng minh Tuầnthánh 6-64

Khi Phi-la-tô nói những lời này vào ngày Thứ Sáu Tuần Thánh đầu tiên, ông đã cố gắng chứng minh là Chúa Giê-su vô tội.  Ông đã xử vụ án của Chúa và ông không thấy nơi Người có điều gì đáng phải chịu tử hình theo như Thượng Hội Đồng Do-thái yêu cầu.  “Tôi đã tra hỏi ông ta.  Tôi còn trừng phạt ông ta về bất cứ tội ác nào các ông nghĩ là ông ta đã phạm.  Giờ đây các ông hãy nhìn ông ta mà xem!  Tôi đã làm tất cả những gì phải làm.  Bây giờ hãy để cho ông ta được yên, và cả tôi nữa!”
          Nhưng vẫn chưa đủ.  Bị khích động tới độ gần như nổi loạn, đám đông dân chúng đã đòi hỏi rằng Chúa Giê-su phải chết.  Thế là Phi-la-tô, muôn đời bị coi là một viên chức ý chí yếu ớt, đã nhượng bộ.
          Hai ngàn năm sau, những lời của Phi-la-tô vẫn còn tiếp tục vang lên vào lúc này với ý nghĩa mới và đầy tính cách tiên tri.  Hôm nay và hơn hết mọi ngày, Thiên Chúa đang đòi chúng ta phải tuyên xưng con người ấy.  Thiên Chúa đòi chúng ta phải nhìn vào Chúa Giê-su – Đấng mang thương tích, bầm giập, chịu đội vòng gai – và nhìn nhận Người là Đấng Cứu độ, là Chúa và là Vua của chúng ta.
          Phải, đây là Người!  Người đứng trước mặt bạn như một nạn nhân vô tội.  Đây chính là người mang lấy những ưu sầu, chứa đầy những phiền muộn, và bạn hãy nhìn Đấng đã gánh lấy tất cả tội lỗi của bạn.  Bạn hãy đăm đăm nhìn vào Người và hãy nhận ra ơn cứu độ dành cho bạn.  Hãy nhìn những bước đường dài Thiên Chúa đã đi qua để cứu bạn khỏi sự chết.  Bạn hãy nhìn tình yêu của Chúa Ki-tô – một tình yêu say mê muốn chịu cực hình thập giá để cứu độ bạn.  Đây là người, và bạn hãy biết rằng Người đã chịu chết vì Người yêu thương bạn.
          Nhưng còn nữa.  Khi bạn tuyên xưng Người, bạn cũng nhận ra chính bản tính nhân loại.  Bạn sẽ thấy tội lỗi, ghen tương, ích kỷ của chúng ta như thế nào.  Bạn sẽ thấy một bức tranh mô tả tội lỗi đã làm tổn thương chúng ta như thế nào.  Giống như người bị đánh và để nửa sống nửa chết bên vệ đường cho tới khi người Sa-ma-ri nhân hậu đến cứu, Chúa Giê-su đang đứng trước mặt bạn lúc này, cho bạn thấy nếu không có Người thì chúng ta sẽ tuyệt vọng và thiếu thốn biết chừng nào.  Người cho bạn thấy những gì tội lỗi tác hại nơi bạn, hy vọng bạn sẽ phó thác hoàn toàn cho Người hôm nay.  Vậy bạn hãy tuyên xưng Người và hãy nhìn coi những gì Người đã cứu bạn thoát khỏi.
          Phải, đây là Người hôm nay.  Bạn hãy ngợi khen Người.  Hãy cảm tạ Người.  Hãy thờ phượng Người.  Hãy dâng lên Người cuộc sống của bạn hôm nay, vì Người đã hoàn toàn hiến thân cho bạn.
          “Lạy Chúa Giê-su, khi con chăm chú nhìn vào Chúa, xin Chúa ban cho con được thấy ơn cứu độ Chúa đã mang lại cho con.  Lạy Chúa, con muốn thuộc về một mình Chúa mà thôi!”

 

Tuầnthánh 6-65: Ðức Giêsu chịu hiến tế

Hôm nay, Giáo Hội tưởng niệm Ðức Giêsu chịu hiến tế. Như con chiên được đưa tới lò sát để làm hiến Tuầnthánh 6-65

Hôm nay, Giáo Hội tưởng niệm Ðức Giêsu chịu hiến tế. Như con chiên được đưa tới lò sát để làm hiến vật. Ðức Giêsu là Chiên Vượt Qua. Ngài đã chịu khổ nạn và chịu chết trên Thập Giá để đem ơn Cứu Ðộ đến cho chúng ta. Giáo Hội tôn kính Thánh Giá, vì Thánh Giá là biểu tượng của tình yêu Thiên Chúa tự hiến cho con người. Thánh Giá không còn là đồ chúc dữ nữa. Thánh Giá không phải là một thất bại, nhưng Thánh Giá là cờ chiến thắng mà Thầy Giêsu oai phong trong máu và nước mắt đã dành được cho chúng ta. Thánh Giá được treo trên tháp đỉnh, được đặt trên bàn, treo trên tường, nhất là Thánh Giá được vạch trên con người chúng ta. Thánh Giá chính là niềm vinh dự của chúng ta. Vì nhờ Thánh Giá Ðức Giêsu, chúng ta được ơn cứu độ.
 Cầu Nguyện:
Lạy Chúa Giêsu, con thật sung sướng, cảm động trước tình thương vô bờ Chúa dành cho nhân loại tội lỗi chúng con. Như Bồ Nông nuôi con bằng máu mình, cũng vậy vì yêu con, Chúa đã hiến đến giọt máu cuối cùng cho nhân loại chúng con được hạnh phúc. Lạy Chúa, xin cho chúng con tự do đi vào trong quĩ đạo yêu thương, cụ thể bằng cuộc sống hằng ngày trong gia đình, trong cộng đoàn... Chúng con biết sống chan hòa với mọi người. Xin Chúa đưa anh chị em chưa biết Chúa được trở về cùng Giáo Hội. Xin Chúa cho Giáo Hội chúng con được sống hiệp nhất để chỉ có một Chúa và một đoàn chiên. Amen.

 

Tuầnthánh 6-66:  Thứ Sáu Tuần Thánh

Tại sao Thứ Sáu Tuần Thánh tốt lành? Thứ Sáu là ngày Chúa Giêsu bị đóng đinh, vậy tại sao là tốt Tuầnthánh 6-66

Tại sao Thứ Sáu Tuần Thánh tốt lành? Thứ Sáu là ngày Chúa Giêsu bị đóng đinh, vậy tại sao là tốt lành?
 Đây là vấn đề gây “rối trí” không chỉ đối với trẻ em mà cả nhiều người lớn. Chúng ta không nói Thứ Sáu Tuần Thánh là tốt, vì đó là ngày Chúa Giêsu chịu chết trên Thập Giá. Làm sao Thứ Sáu Tuần Thánh có thể là tốt khi mà chính tội lỗi chúng ta đã giết chết Thiên Chúa?
 Nhưng Thứ Sáu Tuần Thánh tốt lành vì Đức Kitô, qua cái chết của Ngài, đã tỏ lòng thương xót bao la đối với nhân loại, và đã cứu chuộc chúng ta. Tốt lành ở đây có nghĩa là thánh, Thứ Sáu Tuần Thánh là ngày thánh và quan trọng đối với các Kitô hữu Đông phương, cả Công giáo và Chính thống giáo. Thứ Sáu Tuần Thánh cũng được gọi là ngày thánh trong ngôn ngữ Rôma.
 Anh ngữ gọi Thứ Sáu Tuần Thánh là Thứ Sáu Tốt Lành (Good Friday). Không rõ nguồn gốc, một số người cho là do cách nói “God's Friday” (Thứ Sáu của Chúa) mà thành; một số người khác lại cho là do Đức ngữ là Gute Freitag, chứ không là gốc Anh ngữ. Đôi khi, ngày này được người Anglo-Saxons gọi là “Thứ Sáu Dài” (Long Friday), trong tiếng Đan Mạch cũng vậy. Đức ngữ gọi ngày Thứ Sáu Tốt Lành là Karfreitag – nghĩa là Thứ Sáu Đau Buồn hoặc Thứ Sáu Đau Khổ.
 Chẳng ai rõ nguồn gốc, nhưng lý lẽ thần học rất giống cách diễn tả trong Giáo lý Baltimore: Thứ Sáu Tuần Thánh là tốt vì chính cái chết của Đức Kitô dẫn tới sự sống lại trong Chúa Nhật Phục Sinh, đem lại sự sống mới cho những người tin.
 Thứ Sáu Tuần Thánh có là ngày buộc? Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, người Công giáo tưởng niệm sự đóng đinh và sự chết của Đức Kitô, gọi là Cuộc Khổ Nạn. Người Công giáo được khuyến khích tham dự nghi thức tưởng niệm cuộc khổ nạn của Đức Kitô vào Thứ Sáu Tuần Thánh để chuẩn bị đầy đủ cho sự sống lại của Đức Kitô vào Chúa Nhật Phục Sinh, như vậy Thứ Sáu Tuần Thánh không là ngày buộc. Tuy nhiên, đây lại là ngày buộc ăn chay và kiêng thịt.
 Tháng 7-2007, cựu giáo hoàng Biển Đức XVI, trong Tự sắc Summorum Pontificum, đã duy trì Thánh lễ Latin Truyền thống là một trong hai dạng Thánh lễ được duy trì, người ta cho rằng ngài cũng sẽ xem lại các “Lời nguyện Trọng thể” (Solemn Prayers) dùng trong Thứ Sáu Tuần Thánh. Các lời nguyện này cầu cho Giáo hội và mọi người Công giáo, rồi cầu cho các Kitô hữu ngoài Công giáo, cầu cho người Do Thái, và cuối cùng cầu cho người ngoại giáo.
 Các lời nguyện khác nhau nhưng có điểm chung: Nhận biết Đức Kitô, qua cái chết và sự phục sinh của Ngài, là Đấng Cứu Độ của nhân loại. Do đó, các lời cầu xin cho người Công giáo mạnh mẽ trong đức tin, các Kitô hữu ngoài Công giáo trở về hiệp nhất trong đức tin Công giáo, người Do Thái và ngoại giáo nhận biết Đức Kitô là Thiên Chúa cứu độ họ. Nói cách khác, hy vọng mọi người được cứu độ nhờ tin vào Đức Kitô.
 Thứ Hai, ngày 4-2-2008, Thư ký Tòa thánh thông báo rằng cựu giáo hoàng Biển Đức đã xem lại lời nguyện này, và bản chỉnh sửa được dùng trong nghi thức Thứ Sáu Tuần Thánh theo sách lễ truyền thống là Sách Lễ Rôma (Missale Romanum) xuất bản năm 1962.
 Trong thư gởi Giáo đoàn Rôma, Thánh Phaolô viết: “Nếu bạn vốn là cành của cây ô-liu dại, mà còn được chặt đi và tháp vào cây ô-liu tốt, trái lẽ tự nhiên, thì phương chi họ vốn là những cành của cây ô-liu chính, họ lại càng có thể được tháp vào cây cũ. Thưa anh em, tôi không muốn anh em chẳng hay biết mầu nhiệm này, để anh em đừng tự cho mình là khôn, đó là: một phần dân Ít-ra-en đã ra cứng lòng, cho đến khi các dân ngoại gia nhập đông đủ. Như vậy, toàn thể Ít-ra-en sẽ được cứu độ, như có lời chép: Từ núi Sion, vị Cứu Tinh sẽ đến, Người sẽ loại bỏ những điều vô đạo khỏi nhà Gia-cóp” (Rm 11:24-26).
 Theo Thánh Phaolô, Ơn Cứu Độ chỉ đến từ Đức Kitô, do đó, bác ái Kitô giáo đòi buộc chúng ta cầu nguyện cho mọi người cùng trở lại. Sẽ là sai nếu chúng ta tin Đức Kitô là Đấng cứu chuộc nhân loại mà lại loại trừ người Do Thái. Chúa Giêsu đã vì mọi người mà chịu chết để cứu độ mọi người tin vào Ngài.

 

Tuầnthánh 6-67: SỨC MẠNH NƠI KHỔ ĐAU

Lm. DĐH.
 

Sức mạnh đồng tiền làm điên đảo nhiều tâm hồn, sức mạnh quyền lực có thể làm thay trắng đổi đen, Tuầnthánh 6-67

Sức mạnh đồng tiền làm điên đảo nhiều tâm hồn, sức mạnh quyền lực có thể làm thay trắng đổi đen, sức mạnh khổ đau khiến người ta bật khóc hoặc nuôi dưỡng họ thêm ý chí quyết tâm đứng lên sau lần vấp té. Đau khổ là gì ? tại sao có vấp ngã, sai lầm ? Có thể ai cũng bị thuyết phục bởi tình yêu, vì tình yêu không thể thiếu nơi cuộc sống này, nhưng chắc chắn chỉ Kitô giáo chúng ta mới nói tới sức mạnh của tình yêu nơi thập giá. Được sinh ra làm người, ai cũng có hai bậc sống để chọn lựa: đi tu hay lập gia đình, tuy nhiên chẳng thời đại nào cho ta hai gia đình: hạnh phúc hay đau khổ để chọn lựa.
Tu là cõi phúc, tình là giây oan, quan niệm đó nhiều người cho rằng không phù hợp nữa, vì đau khổ vẫn tràn lan vào cả đời tu lẫn đời sống gia đình. Chiều hôm nay, nghe đọc bài thương khó, các em thiếu nhi đơn sơ sẽ nói bài đọc dài thế ? Người trẻ lại có cảm nghĩ xã hội Do-thái thời Chúa Giêsu bất công quá, ác độc quá ! Các ông bà đạo đức thì thường than thở, nhân loại tội lỗi, phản bội Chúa, lại còn cả gan đóng đinh giết Chúa ! Cũng có một số người thiện cảm với “bậc tù trì” nói rằng, Chúa mà người ta còn đóng đinh, huống chi các giám mục, linh mục, tu sĩ, ngày nay chúng không đóng đinh, làm khổ đó mới là chuyện lạ!
Mầu nhiệm đau khổ thập giá nơi Đức Giêsu, chẳng ai đọc thấy sự ốm đau bệnh tật trong đó, nhưng người ta dễ nhận ra sự bất trung, phản bội, ngay trong hàng ngũ các tông đồ. Trong số đó có cả đám đông dân chúng đã từng chịu ơn Đức Giêsu, họ cũng hò la đòi đóng đinh giết Chúa. Sức nặng thập giá làm con người khiếp sợ, muốn tìm lối thoát thân, dẫn đến việc từ chối con đường theo Chúa, nhưng tội lỗi mới là nguyên nhân khiến con người phải chết đời đời. Chúa Giêsu không thuyết phục các môn đệ hãy mạnh dạn cùng chết với Thầy, Ngài còn lệnh cho Phêrô: “hãy xỏ gươm vào bao, vì chén Cha trao ban lẽ nào Thầy không uống ?” Câu trả lời hay nhất cho Phêrô và cho những tâm hồn tội lỗi, chắc chắn Phêrô và chúng ta đã biết là tự tình yêu và lòng sám hối của ta.
Chúa Giêsu chiến thắng thập giá nhờ sức mạnh của tình yêu hiệp nhất với Chúa Cha, nhờ ý chí quyết tâm cứu nhân loại tội lỗi khỏi chết đời đời. Ngày hôm nay người đời vẫn cho rằng đau khổ thập giá là những đau khổ về vật chất tiền của, về áp lực việc bổn phận, có khi là những áp bức bóc lột giữa người địa vị với dân đen ít học. Đức Giêsu mang vác thập giá để cứu nhân loại tội lỗi, vì vậy mà sức mạnh thập giá vẫn đang cần thiết để biến đổi tâm hồn chúng ta nên thánh thiện, nên giống Chúa. Sức mạnh thập giá không phải là vật chất, quyền lực, mà là tình yêu kết hiệp với Đấng chịu đau khổ, Đấng đã chết đi cho tội lỗi của chúng ta.
Lầm đường lạc lối, yếu đuối vấp té thì ai cũng có kinh nghiệm, nhưng để quay lại vạch xuất phát, phải trở lại với cõi lòng mình, nhất định phải có ý chí, tức là phải có đủ sức mạnh tình yêu Chúa. Như thế nào là sống đúng, sống có ý nghĩa, có thể rõ nhất là con cháu, những người thân quen, nhưng bình an, hài lòng về lời nói việc làm của một tâm hồn, Chúa mới thấu tỏ. Thành công về mặt tri thức, thành công về đời sống tâm linh, cũng chỉ là một khái niệm tương đối, biết tin theo Chúa, biết khiêm tốn đấm ngực mình để đừng xa cách Chúa, điều đó thực tế hơn cả.
Trên cây khổ giá là minh chứng tột cùng Chúa Giêsu yêu nhân loại, dù còn chút hơi sức, Chúa vẫn hứa thiên đàng cho người trộm có lòng ăn năn hối cải, Chúa cũng không kết án anh trộm bên tả, có chăng là chúng ta kết tội anh ta thôi. Phêrô chối Thầy, Giuđa bán Chúa, chúng ta vẫn gọi là trọng tội, nhưng cơ hội cho tất cả những tội nhân đều như nhau: sám hối, cậy nhờ sức mạnh nơi thập giá, chúng ta sẽ thấy thế nào là tình yêu. Chúa Giêsu ghét tội, nhưng Chúa không kỳ thị, không từ chối lòng sám hối của bất kỳ tội nhân nào, dù còn lăn tăn hay ngờ vực thì “mầu nhiệm thập giá” của Chúa Kitô mới là câu trả lời đúng nhất. Xin Đức Kitô chịu đóng đinh vì tội lỗi chúng con, xin ban ơn khôn ngoan đừng để chúng con bỏ lỡ cơ hội trong ngày thánh này. Amen.

 

Tuầnthánh 6-68: NGƯỜI CHẾT VÌ YÊU

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền
 

Con người sống phải yêu. Yêu là hơi thở, là lý do sống của con người. Có tình yêu thì cuộc đời mới Tuầnthánh 6-68

Con người sống phải yêu. Yêu là hơi thở, là lý do sống của con người. Có tình yêu thì cuộc đời mới đáng sống, cho dẫu phải trải qua đau thương, tan nát, sầu phiền. . . Vì yêu mà con người sẵn lòng nếm trải những đắng cay muộn phiền. Thế nên, có ai đó nói rằng:
“Yêu là một loại cảm nhận, dù có thống khổ vẫn cảm thấy hạnh phúc.
Yêu là một loại nhận thức, dù có tan nát cõi lòng nhưng vẫn cảm thấy ngọt.
Yêu là sự từng trải, dù có bị nghiền nát vẫn cảm thấy tươi đẹp.”
Có một cô gái đã kể với tôi như sau:
“Bạn con, 25 tuổi lấy chồng. 27 tuổi sinh đứa con đầu lòng. 31 tuổi xây nhà.
Cuộc đời cô ấy diễn ra luôn được hoạch định trước. Năm nay làm gì, sang năm mua gì. Mọi thứ đều nằm trong kế hoạch được lên sẵn.
Nhưng cuộc đời đâu mãi là màu hồng. 3 tháng trước, cô ấy đi khám thai lại phát hiện mình bị ung thư. May mắn là bệnh mới ở giai đoạn đầu, nghĩa là cô ấy có khả năng kéo dài sự sống. Điều lạ là con đến thăm cô ấy luôn  lạc quan yêu đời và còn đùa rằng: “Thế là tao tránh được nỗi lo tuổi già rồi. Không sợ xấu, sợ nhăn nữa…. Bệnh tật, vốn không nằm trong toan tính của đời người. Nhưng tao vẫn yêu, vẫn vui để bé ra đời trong hạnh phúc ngay từ trong trứng nước”.
Tình yêu đã chiến thắng khổ đau. Tình yêu còn mang dáng dấp của sự bất tử. Cô gái trên đang mang trong mình hoa trái của tình yêu, điều đó đã khiến cô luôn vui tươi lạc quan ngay trong đau khổ bệnh tật. Tình yêu giúp cô tận hiến cả bản thân đến nỗi quên đi cái đau của bệnh tật để sống vì mầm sống tương lai.
Cuộc đời không bao giờ theo ý ta mong đợi. Đôi khi cái xui, cái khổ, cái đắng cay cứ theo nhau chồng chất lên cuộc đời ta. Điều quan yếu là ta phải sống có mục đích, có lý tưởng, có tình yêu để vượt thắng tất cả hầu đạt được mục đích của mình.
Hôm nay chúng ta chiêm ngắm hành trình cuộc thương khó của Chúa Giê-su như là mẫu gương cho cuộc đời chúng ta. Ngài đã đi vào cuộc thương khó trong chén đắng với lời xin vâng theo thánh ý Chúa Cha. Mục đích của Ngài đến trần gian là để cứu độ nhân gian. Lý tưởng của Ngài là trở nên mọi sự cho mọi người. Tình yêu của Ngài dành trọn vẹn cho Thiên Chúa Cha. Thế nên, cuộc thương khó là “Giờ” của tình yêu mà Ngài sẽ tỏ bày với Chúa Cha. Ngài vẫn hằng mong mỏi Giờ này để tôn vinh Chúa Cha. Ngài từng nói vì “Giờ” này mà tôi đã đến thế gian.
Cuộc đời sẽ đẹp biết bao nếu mỗi người đều chọn sống cho tình yêu và vì tình yêu. Cách sống vì tình yêu sẽ mang lại cho người mình yêu niềm vui và hạnh phúc. Cách sống cho tình yêu sẽ mang lại cho đời những nghĩa cử cao đẹp khi cống hiến cho người mình yêu.
Xin cám ơn tình yêu cao vởi của Thầy Giê-su mà nhân loại được giao hòa với Chúa Cha và được trở nên con cái Ngài.
Xin cám ơn tình yêu hy sinh một nắng hai sương của cha mẹ mà con cái được no đầy hạnh phúc yêu thương.
Cám ơn tình yêu của những đôi vợ chồng son sắt thủy chung luôn chia sẻ ngọt bùi với nhau trong mọi thăng trầm cuộc đời.
Xin cám ơn tình yêu của những tông đồ nhiệt thành đang phục vụ giáo xứ, phục vụ cộng đoàn mà chẳng cần đền đáp.
Tất cả những tình yêu hy sinh ấy đã tô đẹp cho cuộc đời. Tất cả những tình yêu hy sinh ấy đã mang lại cho đời hương thơm của hạnh phúc để làm vơi đi nhứng gánh nặng khổ đau.
Xin Chúa là tình yêu giúp chúng ta biết sống theo gương Chúa luôn sống cho tình yêu và dâng hiến cho tình yêu. Xin cho chúng ta biết chết đi cái tôi của mình để sống cho người mình yêu. Amen

 

Tuầnthánh 6-69: THẬP GIÁ TÌNH YÊU

JB. Lê Đình Nam
 

Tâm điểm của Tuần Thánh chính là Thập giá, nơi Đức Kitô bị đóng đinh, chịu treo và chết vì tội lỗi Tuầnthánh 6-69

Tâm điểm của Tuần Thánh chính là Thập giá, nơi Đức Kitô bị đóng đinh, chịu treo và chết vì tội lỗi của mỗi người chúng ta.
Hình ảnh thập giá luôn cho ta một trải nghiệm đau đớn, một cảm giác ghê rợn và một cái nhìn về sự thất bại. Nhưng không! Thập giá Đức Kitô thì hoàn toàn khác. Đó là đỉnh cao của tình yêu mà Thiên Chúa biểu lộ cho con người.
Chính nơi Thập giá ấy, Chúa Giêsu đã đưa ta trở lại ơn gọi làm con Chúa. Mối tương quan giữa Thiên Chúa và con người được nối lại, tình người và tình Chúa được hòa quyện.
Chính nơi Thập giá ấy, Chúa Giêsu đã thể hiện lòng thương xót hải hà của Thiên Chúa với con người. Nơi đó, tình yêu đã chiến thắng tội lỗi, sự tha thứ đã chiến thắng hận thù và phận hèn mọn của con người được nâng lên.
Và cũng chính nơi Thập giá ấy, Máu Thánh của Chúa Giêsu đã tuôn trào để đem lại cho chúng ta một cuộc sống mới và một trang sử mới của nhân loại được bắt đầu.
Chiêm ngắm Thập giá Đức Kitô chính là nhận ra tình yêu của Thiên Chúa và giúp ta sống tình yêu đó giữa dòng đời lắm đau khổ và nhiều u buồn của ngày hôm nay. Tình yêu là trung tâm của đời sống Kitô hữu. Tình yêu là nền tảng cho một cuộc sống hướng đến niềm vui và bình an.
Ngắm nhìn Thập giá Đức Kitô để ta ý thức lại tương quan của mình với Thiên Chúa. Mỗi chúng ta đã đáp lại tình yêu của Ngài như thế nào? Hay chính chúng ta lại xúc phạm đến tình yêu đó bằng một đời sống đạo khô khan, tẻ nhạt; hay bằng những việc làm vô luân đi ngược với những giới răn của Ngài.
Nhìn lên Thập giá Đức Kitô để chúng ta học sống tình yêu mỗi một ngày trong đời. Là Kitô hữu, ta được mời gọi sống yêu thương, san sẻ để đốt cháy những băng giá vô cảm, vô tâm nơi xã hội. Là con Thiên Chúa, ta được mời gọi sống bao dung tha thứ để xóa tan những tranh chấp, hận thù đang xảy ra trên khắp thế giới và ngay trong con người chúng ta. Là con người với nhau, ta được mời gọi sẻ chia và giúp đỡ những mảnh đời bất hạnh xung quanh mình.
Thập giá Đức Kitô chính là tâm điểm cho hành trình Đức tin, là biểu tượng niềm tin cho mỗi một người Kitô hữu. Thật vậy, nó không chỉ dừng lại ở hình ảnh của sự thất vọng nhưng là dấu chỉ của niềm hy vọng. Nó không chỉ dừng lại ở sự đau khổ và tội lỗi nhưng là bằng chứng sống động về tình yêu nhưng không của Thiên Chúa. Và nó không chỉ dừng lại ở cái chết khốn khổ ấy nhưng sẽ hướng đến sự Phục sinh viên mãn.
Thứ Sáu Tuần Thánh một lần nữa mời gọi chúng ta ngước nhìn Thập giá Đức Kitô – Thập giá tình yêu, để nơi đó chúng ta có một niềm cậy trông, một viễn cảnh hy vọng và một bài học lớn lao về tình yêu.
Hãy chiêm ngắm Thập giá Đức Kitô, tin tưởng nơi Thập giá, hy vọng vào Thập giá và sống tình yêu Thập giá mỗi giây phút trong đời!

 

Tuầnthánh 6-70:  ĐỈNH ĐỒI THƯƠNG XÓT

Trầm Thiên Thu
 

Nắng vàng nhuộm cả hoàng hôn Biệt ly mẫu tử, đoạn trường ai gây? Đỉnh đồi thương xót là đây Tuầnthánh 6-70

Nắng vàng nhuộm cả hoàng hôn
Biệt ly mẫu tử, đoạn trường ai gây?
Đỉnh đồi thương xót là đây
Giêsu chịu chết cứu loài tội nhân
Không gì sầu thảm hơn cuộc chia ly, nhất là cuộc chia ly đó là khoảng cách sinh tử của Mẫu Tử tình thâm, ở đây còn có sự chia ly của tình nghĩa Thầy Trò. Nỗi buồn thật khôn tả!
Thứ Sáu Tuần Thánh là ngày phủ màu tím rịm, ngày u buồn của những người mang danh Kitô hữu. Tuy nhiên, trong nỗi buồn “đậm đặc” ấy lại chứa đầy ắp niềm hy vọng để bước qua cửa ải sự chết và hân hoan tiến vào Miền Vĩnh Sinh trong tiếng ca vang Alleluia. Và điều này hoàn toàn chắc chắn!
Cách nói “Thứ Sáu Tuần Thánh” của Việt ngữ không lột tả được thâm ý như Anh ngữ: Good Friday – Thứ Sáu Tốt Lành. Nhưng người Đức gọi Thứ Sáu Tuần Thánh là Karfreitag, nghĩa là “ngày đau buồn” (tiếp đầu ngữ Kar nghĩa là than khóc, sầu khổ). Thứ Sáu là “ngày chết chóc”, ngày xui xẻo, ảm đạm và thê thảm, thế mà lại được coi là Ngày Tốt Lành, thật là kỳ diệu biết bao!
Đã đành và minh nhiên là chúng ta cũng đã và đang góp phần bán đứng Đức Kitô, nhẫn tâm đóng đinh giết chết Chúa Giêsu nhiều lần qua việc những lần phạm tội, hằng ngày chúng ta còn nỡ lòng đóng đinh nhau bằng nhiều loại đinh: Chỉ trích, gièm pha, khích bác, phe cánh, ghen ghét, đố kỵ, áp bức, bóc lột,… Trong các loại “đinh” đó, có đinh gỉ sét, có đinh sắc bén, có đinh dài thoòng, có đinh xoắn,… với rất nhiều kích cỡ khác nhau.
Quả thật là không hề dễ dàng nhổ ra các loại đinh đó một khi chúng được “đóng” vào ai đó! Có lẽ vì vậy mà khi thấy các phụ nữ Giê-ru-sa-lem khóc thương Ngài, Chúa Giêsu dừng lại với cây Thập Giá trên vai và nói thật lòng với họ: “Hỡi chị em thành Giê-ru-sa-lem, đừng khóc thương tôi làm gì. Có khóc thì khóc cho phận mình và cho con cháu” (Lc 23:28). Và đó cũng chính là lời Chúa Giêsu nhắn nhủ mỗi chúng ta hôm nay. Thật vậy, đừng tổ chức đám tang cho Chúa Giêsu mà hãy làm đám tang cho chính mình, đừng lo phô trương vẻ đạo đức bình dân bề ngoài mà coi thường phần nội tâm chính yếu!
Trước đó, Chúa Giêsu đã từng xác định: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15:13). Chính điều này đã được Ngài chứng minh bằng cái chết bi hùng vào chiều ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, chính xác giờ thọ hình là 3 giờ chiều trên Đồi Sọ vào ngày 3 tháng 4 năm 33 (sau công nguyên). Thời điểm và ngày tháng Chúa Giêsu chịu chết đã được Tạp chí Địa Chất Quốc tế thực hiện cuộc nghiên cứu để xác định “ngày giỗ” của Chúa Giêsu. Cuộc nghiên cứu này dựa vào nền tảng Phúc Âm, đồng thời kết hợp với các tài liệu về địa chất và thiên văn học, các nhà nghiên cứu đã đủ cơ sở để xác định như vậy.
Yêu thương và thương xót có mức độc chăng? Và thế nào là mức độ yêu thương? Mức độ yêu là YÊU VÔ HẠN, yêu như điên, yêu phát khùng, yêu cuồng nhiệt, yêu đến nỗi bị coi là dại dột, đó là si tình. Chuyện đời có mối tình của Romeo va Juliet của văn hào Shakespeare (1582-1616, Anh quốc), Việt Nam có mối tình Lan và Điệp, còn văn hào Victor Marie Hugo (1802-1885, Pháp quốc) yêu say đắm cô hàng xóm Adele Foucher nhưng bị mẹ cấm, sau khi mẹ mất, ông đã kết hôn với Adele. Tuy có vợ rồi nhưng ông lại “phải lòng” cô Juliette Drouet, và Juliette Drouet đã viết cho ông khoảng 1.700 lá thư tình. Ở đây chỉ muốn nói tới khối tình si của những trái tim yêu hết mình mà thôi. Dày dạn kinh nghiệm tình trường, Victor Hugo đã kết luận: “Chết cho tình yêu là sống cho tình yêu”.
Chúa Giêsu cũng là người si tình thứ thiệt, độc nhất vô nhị, một người điên dại vì yêu, và Ngài mệnh danh là Người Tôi Trung mà ngôn sứ Isaia đã đề cập: “Này đây, Người Tôi Trung của Ta sẽ thành đạt, sẽ vươn cao, nổi bật, và được suy tôn đến tột cùng. Cũng như bao kẻ đã sửng sốt khi thấy Tôi Trung của Ta mặt mày tan nát chẳng ra người, không còn dáng vẻ người ta nữa, cũng vậy, nó sẽ làm cho muôn dân phải sững sờ, vua chúa phải câm miệng, vì được thấy điều chưa ai kể lại, được hiểu điều chưa nghe nói bao giờ” (Is 52:13-15). Người Tôi Trung có những động thái trái ngược rất lạ lùng, chúng ta không thể nào hiểu nổi. Người ta có si mê thì cũng si mê người đẹp, người khôn, người ngoan, người tài, người giỏi, đằng này Chúa Giêsu lại si mê kẻ không ra gì – tức là chính tội nhân xấu xa, kẻ đó là mỗi chúng ta!
Thật lạ lùng là chính Người Tôi Trung ấy lại “lớn lên tựa chồi cây trước Nhan Thánh, như khúc rễ trên đất khô cằn, chẳng còn dáng vẻ, chẳng còn oai phong đáng chúng ta ngắm nhìn, dung mạo chẳng còn gì khiến chúng ta ưa thích” (Is 53:1-2). Không chỉ vậy, Người Tôi Trung ấy còn “bị đời khinh khi ruồng rẫy, phải đau khổ triền miên và nếm mùi bệnh tật, như kẻ ai thấy cũng che mặt không nhìn, bị chúng ta khinh khi, không đếm xỉa tới” (Is 53:3). Đâu ai ngờ sự thật là “chính người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta, còn chúng ta, chúng ta lại tưởng người bị phạt, bị Thiên Chúa giáng hoạ, phải nhục nhã ê chề” (Is 53:4). Đây là “điểm nóng” để chúng ta phải tự chấn chỉnh cách nhìn của mình đã và đang dành cho tha nhân.
Cuộc đời của Người Tôi Trung là Bản Trường Ca Đau Khổ, là Liên Khúc Bi Tráng Ca. Thật vậy, họa vô đơn chí, đau khổ cứ chồng chất lên đau khổ, theo cách nhìn phàm tục thì đúng là cuộc chiến bại ê chề, thê thảm.
Chính Người Tôi Trung “đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm, đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành” (Is 53:5). Trong tình trạng Người Tôi Trung bị coi là te tua tơi tả như vậy thì “tất cả chúng ta lạc lõng như chiên cừu, lang thang mỗi người một ngả, nhưng Đức Chúa đã đổ trên đầu người mọi tội lỗi của tất cả chúng ta”, để rồi Người Tôi Trung tiếp tục “bị ngược đãi, cam chịu nhục, nhưng chẳng mở miệng kêu ca, như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, người chẳng hề mở miệng” (Is 53:6-7).
Mặc dù bị nhục nhã ê chề đến vậy mà Người Tôi Trung vẫn chưa yên thân: “Người đã bị ức hiếp, buộc tội, rồi bị thủ tiêu. Dòng dõi của người, ai nào nghĩ tới? Người đã bị khai trừ khỏi cõi nhân sinh, vì tội lỗi của dân, người bị đánh phạt. Người đã bị chôn cất giữa bọn ác ôn, bị mai táng với người giàu có, dù đã chẳng làm chi tàn bạo và miệng không hề nói chuyện điêu ngoa” (Is 53:8-9). Tột cùng đau khổ. Quả thật, kinh hãi quá, phàm nhân chúng ta không thể tưởng tượng nổi và không thể đủ sức chịu đựng như vậy!
Nhưng đó là Thánh Ý Thiên Chúa: “Đức Chúa đã muốn người phải bị nghiền nát vì đau khổ. Nếu người hiến thân làm lễ vật đền tội, người sẽ được thấy kẻ nối dõi, sẽ được trường tồn, và nhờ người, ý muốn của Đức Chúa sẽ thành tựu. Nhờ nỗi thống khổ của mình, người sẽ nhìn thấy ánh sáng và được mãn nguyện. Vì đã nếm mùi đau khổ, người công chính, tôi trung của Ta, sẽ làm cho muôn người nên công chính và sẽ gánh lấy tội lỗi của họ” (Is 53:10-11). Ý Chúa đã vậy, đáng khâm phục là đức vâng lời của Người Tôi Trung. Đúng là “vâng lời trọng hơn của lễ” (1 Sm 15:22; Tv 50:8-9).
Cả một bài đọc dài với đủ dạng đau khổ như thế mà không thấy câu chữ nào vô nghĩa, người nghe cũng không cảm thấy nhàm chán. Kỳ diệu quá sức! Nhưng câu cuối cùng thấy có màu “sáng” nhất: “Vì thế, Ta sẽ ban cho nó muôn người làm gia sản, và cùng với những bậc anh hùng hào kiệt, nó sẽ được chia chiến lợi phẩm, bởi vì nó đã hiến thân chịu chết, đã bị liệt vào hàng tội nhân; nhưng thực ra, nó đã mang lấy tội muôn người và can thiệp cho những kẻ tội lỗi” (Is 53:12). Và đó là hệ lụy tất yếu cho những người-tôi-trung-ngay-khi-gian-khổ.
Người Tôi Trung luôn một lòng tin tưởng Thiên Chúa, dù gặp bao trắc trở nhưng vẫn trung tín và kiên tâm cầu nguyện, như Thánh Vịnh gia thổ lộ: “Con ẩn náu bên Ngài, lạy Chúa, xin đừng để con phải tủi nhục bao giờ. Bởi vì Ngài công chính, xin giải thoát con” (Tv 31:2). Ngay cả cái chết cũng không tách Người Tôi Trung khỏi lòng mến yêu Chúa: “Trong tay Ngài, con xin phó thác hồn con, Ngài đã cứu chuộc con, lạy Chúa Trời thành tín” (Tv 31:6).
Được biết rõ ràng là mình chỉ “nên trò cười cho thù địch và cho cả hàng xóm láng giềng, bạn bè thân thích đều kinh hãi, tránh xa, bị lãng quên như kẻ chết không người tưởng nhớ, hoá thành đồ hư vất bỏ” (Tv 31:12-13), nhưng Người Tôi Trung “vẫn tin tưởng nơi Chúa, vẫn can đảm thân thưa thưa: ‘Ngài là Thượng Đế của con. Số phận con ở trong tay ngài. Xin giải thoát con khỏi tay địch thủ, khỏi người bách hại con. Xin toả ánh tôn nhan rạng ngời trên tôi tớ Ngài đây, và lấy tình thương mà cứu độ’ ” (Tv 31:15-17). Và như Người Tôi Trung, Thánh Vịnh gia tha thiết mời gọi mỗi chúng ta: “Hỡi mọi người cậy trông vào Chúa, mạnh bạo lên, can đảm lên nào!” (Tv 31:25). Hôm nay là dịp thuận tiện, là ngày tốt, là thời điểm hợp lý để chúng ta thể hiện điều đó.
Thánh Phaolô giải thích và chia sẻ kinh nghiệm tâm linh: “Chúng ta có một vị Thượng Tế siêu phàm đã băng qua các tầng trời, là Đức Giêsu, Con Thiên Chúa. Vậy chúng ta hãy giữ vững lời tuyên xưng đức tin. Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội. Bởi thế, ta hãy mạnh dạn tiến lại gần ngai Thiên Chúa là nguồn ân sủng để được xót thương và lãnh ơn trợ giúp mỗi khi cần” (Dt 4:14-16). Qua đó, chúng ta thấy Đức Giêsu đã mặc xác phàm yếu đuối như chúng ta để đồng lao cộng khổ với chúng ta, đặc biệt là để động viên chúng ta vượt qua mọi “ngưỡng” đau khổ, nhất là vượt qua cửa ải sự chết.
Tiếp tục phân tích, Thánh Phaolô cho biết thêm: “Khi còn sống kiếp phàm nhân, Đức Giêsu đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết. Người đã được nhậm lời, vì có lòng tôn kính. Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục; và khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người” (Dt 5:7-9). Bài học quá đắt giá, nhưng cái gì càng đắt giá thì càng giá trị cao!
Hôm nay, Bài Thương Khó là đoạn Phúc Âm buồn thảm nhất trong Kinh Thánh. Người Tôi Trung Đau Khổ Giêsu là nhân vật độc nhất vô nhị, nổi tiếng nhất trong lịch sử xưa nay và đến mãi tận thế. Càng ngày người ta càng phải công nhận, bằng cách này hay cách khác, ngay cả những người cố ý tỏ ra không công nhận nhưng thực ra trong thâm tâm họ vẫn công nhận.
Trình thuật Phúc Âm Ga 19:1-42 cho chúng ta biết về “chuyến đau khổ” của Chúa Giêsu bắt đầu từ Vườn Dầu, tức là Ghết-sê-ma-ni.
Sau Bữa Tiệc Ly, Ngài đi ra cùng với các môn đệ sang bên kia suối Kít-rôn, vào một thửa vườn. Giu-đa cũng biết nơi này, vì lâu nay Thầy trò thường quy tụ ở đó.
Ngay đêm Thứ Năm, Giu-đa tới đó và dẫn một toán quân với đám thuộc hạ của các thượng tế cùng nhóm Pha-ri-sêu. Họ mang theo đèn đuốc và khí giới. Đức Giêsu biết mọi việc sắp xảy đến cho mình, nên tiến ra và hỏi: họ tìm ai. Họ nói ngay là tìm Giêsu Na-da-rét. Ngài nhận ngay: “Chính tôi đây”. Mới nghe vậy, họ liền lùi lại và ngã xuống đất. Ngài hỏi lại, họ vẫn nói là tìm Giêsu Na-da-rét. Ngài vẫn nhận mình là người họ tìm, chấp nhận cho họ bắt Ngài nhưng Ngài yêu cầu không bắt bất cứ ai đi với Ngài. Điều này ứng nghiệm lời Ngài đã nói: “Những người Cha đã ban cho con, con không để mất một ai”.
Ông Phêrô có sẵn thanh gươm liền tuốt ra và chém đứt tai phải của Man-khô, đầy tớ của vị thượng tế. Ngài bảo ông Phêrô xỏ gươm vào bao, và giải thích rằng Ngài sẵn sàng uống chén mà Chúa Cha đã trao. Họ bắt Ngài và dẫn Ngài đến ông Kha-nan, nhạc phụ của thượng tế Cai-pha. Chính Cai-pha đã đề nghị với người Do-thái là “nên để một người chết thay cho dân thì hơn”. Một lời đề nghị ích kỷ và bất công vô cùng!
Mặc dù bị chất vấn và tra khảo, nhưng Chúa Giêsu vẫn nói thẳng và nói thật chứ không run sợ trước thế lực của họ, có người vả vào mặt Ngài, nhưng Ngài vẫn hỏi vặn lại: “Nếu tôi nói sai, anh chứng minh xem sai ở chỗ nào; còn nếu tôi nói phải, sao anh lại đánh tôi?” (Ga 18:23). Tất nhiên họ chẳng nói lại được gì, mà chỉ “cả vú lấp miệng em”. Rồi ông Kha-nan cho giải Ngài đến thượng tế Cai-pha trong khi Ngài vẫn bị trói.
Trong khi đó, ở ngoài sân, ông Phêrô bị người ta phát hiện thuộc nhóm của Chúa Giêsu nên ông sợ và chối thẳng thừng, không chỉ một mà tới ba lần. May có tiếng gà gáy sáng, và ông đã ăn năn.
Người Do-thái lại điệu Chúa Giêsu từ nhà ông Cai-pha đến dinh tổng trấn Phi-la-tô khi trời vừa mới sáng. Họ không vào dinh vì sợ bị nhiễm uế mà không ăn lễ Vượt Qua được. Bề trong không lo mà chỉ lo bề ngoài, thật là tồi tệ!
Ông Phi-la-tô hỏi đủ điều nhưng Ngài chỉ im lặng. Ông Phi-la-tô cũng nhận thấy Ngài không có tội gì và có ý phóng thích Ngài, nhưng ông ta vẫn không dám làm theo tiếng nói lương tâm vì ngại với đám đông, sợ mất chiếc ghế chức tước và quyền lực. Nghe Chúa Giêsu nói về sự thật, ông ta còn “giả nai” hỏi lại: “Sự thật là gì?” (Ga 18:38). Bà vợ bảo ông ta đừng nhúng tay vào vụ án xử Chúa Giêsu, ông ta đi lấy nước rửa tay, ý ông ta muốn chứng tỏ mình vô can.
Chắc hẳn chúng ta cho rằng ông Phi-la-tô đúng là một kẻ hèn nhát, coi thường công lý và làm ngơ nỗi khổ của người khác, thế nhưng chính chúng ta cũng đã từng có những lần hèn nhát y như ông ta, đó là khi chúng ta im lặng trước bất công của tha nhân. Ai sao thì sao, tôi bình an là được. Động thái của ông Phi-la-tô là lời cảnh báo đối với mỗi chúng ta là phải cảnh giác trong mỗi động thái của mình, nhất là đối với những gì liên quan sự thật và công lý.
Vào mỗi dịp lễ Vượt Qua, và theo tục lệ của người Do-thái, người ta thường tha một phạm nhân nào đó. Người ta hùa nhau xin tha cho tướng cướp khét tiếng Ba-ra-ba, nhưng lại xin giết chết Đức Giêsu. Trước đó không lâu, người ta mới tung hô “vạn tuế Đấng nhân danh Chúa mà đến” ở Thành Giê-ru-sa-lem, thế mà giờ đây lại quyết xin đóng đinh người mà họ đã tôn vinh.
Không biết xử trí ra sao, ông Phi-la-tô liền truyền đem Đức Giêsu đi và đánh đòn Ngài. Họ hành hạ Ngài với những kiểu dã man nhất. Sau đó, ông Phi-la-tô dẫn Chúa Giêsu ra ngoài cho người ta thấy Ngài thê thảm thế nào với vòng gai trên đầu mà thôi kết án Ngài. Thế nhưng họ vẫn không chút mủi lòng, cho rằng Ngài lộng ngôn khi nhận mình là Con Thiên Chúa. Họ càng thấy Ngài bị hành hạ tơi tả thì họ càng vui sướng: “Đóng đinh nó vào thập giá!”.
Nghe lời đó, ông Phi-la-tô càng sợ hơn nữa. Sơ gì? Sợ mất chức, mất chức thì mất bổng lộc và mất quyền. Ông ta bảo ông có quyền tha và có quyền đóng đinh Đức Giêsu vào thập giá. Nhưng Đức Giêsu nói ngay: “Ông không có quyền gì đối với tôi, nếu Trời chẳng ban cho ông. Vì thế, kẻ nộp tôi cho ông thì mắc tội nặng hơn”. Ông Phi-la-tô tìm cách tha Ngài nhưng vẫn không dám thực hiện vì bị áp lực của đám đông.
Họ bắt Ngài tự vác lấy thập giá đi đến Đồi Sọ, tiếng Híp-ri là Gôn-gô-tha. Cùng chung hình phạt đóng đinh vào thập giá với Ngài là hai tên gian phi khét tiếng. Phía trên thập giá có ghi: “Giêsu Na-da-rét, Vua dân Do-thái” (*). Vô tình mà họ đã phải công nhận Chúa Giêsu là Vua dân Do-thái. Bảng đó được ghi bằng đa ngữ: Tiếng Híp-ri, La-tinh và Hy-lạp. Các thượng tế của người Do-thái muốn ghi kiểu khác, nhưng ông Phi-la-tô không chiều theo ý họ. Đó là ý Chúa vậy!
Từ trên Thập Giá, Đức Giêsu trao phó Đức Mẹ cho ông Gioan chăm sóc, và xin Đức Mẹ nhận chàng trai Gioan làm con. Nghe những lời trăn trối như vậy thì hẳn ai cũng phải động lòng. Sau đó, Đức Giêsu biết là mọi sự đã hoàn tất. Ngài kêu: “Tôi khát!”. Nghe vậy mà người ta lại nhẫn tâm lấy miếng bọt biển có thấm đầy giấm, buộc vào một nhành hương thảo, rồi đưa lên miệng Ngài. Nhắp xong, Đức Giêsu nói: “Thế là đã hoàn tất! – Tetelestai!”. Rồi Ngài gục đầu xuống và trao Thần Khí.
Lời kêu khát của Chúa Giêsu nhắc chúng ta về niềm khát khao của Ngài dành cho chúng ta là chúng ta phải cố gắng NÊN THÁNH, nhắc nhở chúng ta yêu mến THÁNH THỂ, đồng thời cũng nhắc nhở chúng ta đừng làm ngơ trước những nỗi khát khao của tha nhân – nhất là đối với những CON NGƯỜI HÈN MỌN luôn ở bên chúng ta hằng ngày.
Hôm đó là ngày áp lễ, người Do-thái không muốn để xác chết trên thập giá trong ngày đại lễ sa-bát. Vì thế họ xin ông Phi-la-tô cho đánh giập ống chân các người bị đóng đinh cho họ mau chết để rồi lấy xác xuống cho kịp trước khi đêm xuống. Họ đánh giập ống chân hai người cùng bị đóng đinh với Đức Giêsu. Khi đến gần Đức Giêsu và thấy Ngài đã chết, họ không đánh giập ống chân Ngài. Nhưng một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Ngài, tức thì, MÁU cùng NƯỚC chảy ra. Tứ đó, Nguồn Suối Lòng Thương Xót tuôn chảy mãi cho đến tận thế để ai nhìn lên Ngài và thành tâm tín thác thì sẽ được hưởng Ơn Cứu Độ.
Sau đó, Đức Giêsu được hạ xác xuống khỏi Thập Giá, được đưa đi an táng theo tục lệ chôn cất của người Do-thái tại một thửa vườn. Nỗi buồn “dừng lại” nhưng vẫn âm ỉ trong lòng mọi người. Tuy nhiên, Ngày Thứ Sáu Buồn Thảm này lại chính là Ngày Thứ Sáu Tốt Lành, ngày hướng về Cõi Trường Sinh. Chúa Giêsu chịu đau khổ để chúng ta được hạnh phúc, Ngài chịu thua cuộc để chúng ta chiến thắng, Ngài chịu chết để chúng ta được sống. Chúng ta tưởng niệm cái chết của Ngài nhưng không phải là để thương xót Ngài mà là thương xót chính số phận của chúng ta, nhờ đó mà cố vượt qua chính mình hằng ngày.
Quả thật là niềm hạnh phúc vô tận đối với chúng ta – những tội nhân khốn nạn, bởi vì Thánh Phaolô đã xác định: “Trong Đức Kitô, Thiên Chúa đã cho thế gian được hoà giải với Người. Người không còn chấp tội nhân loại nữa” (2 Cr 5:19). Thứ Sáu Tuần Thánh là “cột mốc” đánh dấu lời hứa đó, như Thánh Vịnh gia đặt vấn đề: “Nếu như Ngài chấp tội, nào có ai đứng vững được chăng?” (Tv 130:3). Một câu nghi vấn nhưng là một cách xác định. Thật là đại phúc cho chúng ta. Tạ ơn Chúa, Deo Gratias!
Tuy nhiên, chúng ta không được “dừng chân” ở đó, mà phải cố gắng lên tới Đỉnh Đồi Thương Xót cùng với Đức Giêsu Kitô, tức là phải chết vì yêu thương và vì thương xót. Như vậy mới khả dĩ giải nghĩa hết chữ yêu.
Lạy Thiên Chúa Cha, xin thương xót và tha thứ tội nhân con. Lạy Thiên Tử Giêsu, Đấng Cứu Thế, con cảm tạ Ngài đã chịu chết để cứu chuộc nhân loại, xin giúp con nhổ bật những chiếc đinh gỉ sét mà chính con đóng vào chân tay Ngài và đóng vào cuộc đời tha nhân. Xin Chúa ban ơn dồi dào để mọi người luôn sống đúng bổn phận của mình, và xin Ngài đặc biệt thương xót Việt Nam bé nhỏ này. Con chân thành và tha thiết cầu xin nhân danh Người Tôi Trung Đau Khổ là Đấng Cứu Thế Giêsu Kitô. Amen.
-----------------------------
(*) INRI:
= Iēsus Nazarēnus, Rēx Iūdaeōrum (tiếng Latin),
= Ο Ιησούς από τη Ναζαρέτ, ο βασιλιάς των Εβραίων (tiếng Hy Lạp – INBI),
=  תשוועמנצרת, מלךהיהודים (tiếng Do Thái),
= Jesus the Nazarene, King of the Jews (tiếng Anh),
= Jésus le Nazaréen, le Roi des Juifs (tiếng Pháp).


 

Tuầnthánh 6-71: BẠC NHƯ VÔI!

P.Trần Đình Phan Tiến
 

Vâng , kính thưa quý vị, “ Tình đời bạc trắng như vôi “, vốn lẽ thường, hay tình đời thay trằng đổi Tuầnthánh 6-71

Vâng , kính thưa quý vị, “ Tình đời bạc trắng như vôi “, vốn lẽ thường, hay tình đời thay trằng đổi đen, vốn bản chất “tự có ” của nhân thế là vậy sao ?!
Vâng, sự bạc bẽo của thế nhân chính là những ”triết lý” mà các nhạc sĩ đã sử dụng để viết lên những ca khúc đi vào lòng người. theo đó, dường như nhân loại thật vô tình, thật thờ ơ, vô cảm dẫn đến “bạc như vôi”. Tình đời thật bạc, dường như xảy ra từng giây, từng phút trong cuộc đời.
Cũng chính vì như vậy, sự bạc bẽo của thế nhân dường như là quá quen hóa nhàm, nhưng, kỳ thực nó rất nguy hiểm, nó chính là mầm mống của “tội ác”. Sự bạc bẽo đối với cha mẹ, thầy cô, bạn bè, anh em, vợ chồng, nó chính là cái “tôi” khủng khiếp, đề tài muôn thuở, mầm mống của tội ác.
Thật vậy, hơn hai ngàn năn qua, một “Bản án bất công”, hay một “Bi kịch” đau thương vô lý của một “Con Người “ Tên là Giêsu , Nazaret , Đấng Cứu Thế làm Người, đã mang lấy.
Tứ Sáu Tuần Thánh không phải là dịp để nhắc lại sự ”thù hận“ mà là để “tha thứ”. Tại sao vậy, thưa quý vị? Thưa , bởi vì là trong chính chúng ta, kể cả môn đệ thân tín, kể cả bạn hữu của Thầy Chí Thánh Giêsu là chính chúng ta đã, đang và sẽ đóng vai trò “lên án “ và giết Chúa Giêsu. Vì mỗi lần chúng ta lên án , muốn hại ai, là mỗi lần chúng ta lên án , hãm hại chính Chúa Giêsu. Vì, Người chịu bản án bất công nhất trong tư cách của một người “yếu thế” cô độc. Rõ ràng, Chúa Giêsu đã nói : “ Nước Tôi không thuộc thế gian nầy. Nếu Nước Tôi thuộc về thế gian nầy, thuộc hạ của tôi sẽ chiến đấu…” (Ga 19, 36).
Như vậy, Chúa Giêsu bị kết án bất công trong lúc yếu thế, đơn độc. Họ bày ra một tuồng kịch, nhưng, ơn Cứu Độ là một Mầu Nhiệm được hoàn tất.
Như vậy, ơn Cứu Độ là một chân lý, hay là để biểu thị chân lý từ Thiên Chúa, một chân lý tuyệt hảo chỉ được thể hiện qua ơn Cứu Độ, ơn Cứu Độ lại được biểu thị qua cuộc Tử Nạn của Người vô tội. Rõ ràng, Ơn Cứu Độ càng hiển nhiên, càng minh bạch, càng có giá trị tuyệt đối. Bởi vì, tình yêu đáp trả tình yêu. Nhưng, tình yêu đáp lại hận thù, thì giá trị cao siêu biết mấy !
Điều nầy không dễ chu toàn, nhưng, chính Đức Kitô đã thực thi. Trên Núi Sọ, cảnh Thập giá có ba , nhưng cái chết của Chúa Giêsu cho thế giới loài người biết rằng: Thiên Chúa đã minh chứng Lời của Người, Thiên Chúa đã thể hiện sự “có mặt” nơi trần gian nầy. Thiên Chúa cứu chuộc cách nhãn tiền, chứ không phải là “ẩn mặt”.
Đấng là hiện thân của “sự thật” lại thua tên cướp khét tiếng là Barabar sao ?! Đại diện công lý trần gian lại thua những người “xảo trá” sao ?! Công lý thế trần, môn đệ thân tín, bạn hữu của Người đâu rồi?! phải chăng một sự cô độc “duy nhất” có một không hai, mà Chúa Giêsu đã vác lấy đó sao ?! Nó còn nặng trĩu và đau đớn hơn cây Thập giá và vòng gai Người chịu.
Bạc như vôi vốn dĩ tình đời, Thiên Chúa biếtt rõ , nhưng, Người đã cam tâm vác lấy. Người đời khi vui thì vỗ tay vào, khi “chẳng có lợi” thì chùi tay ra. Cùng thì “ bàn tay”, nhưng, lại ném đá, đánh đập, vả vào mặt, trói vào cột đá, đóng đinh, xé áo, đâm vào cạnh sườn. Thay vào đó, cũng bàn tay , ban ơn cứu độ, chữa lành người mù, người què được đi, kẻ bất toại lành mạnh, kẻ chết sống lại. Bàn tay bẻ bánh phân phát, trao cho môn đệ trong ngày Tiệc Ly. Cũng bàn tay ấy chữa lành đứt tai của kẻ quân dữ.
Như vậy, “Bàn Tay” Thiên Chúa và bàn tay thế nhân khác xa, một “bàn tay cứu chữa” và một “ bàn tay nhuốm máu”. Chúng ta thấy, tội lỗi nhân loại không thể dùng để xử lý bàn tay nhân loại tội lỗi, vì bàn tay tội lỗi không thể xử lý người vô tội được. Thiên Chúa không cho phép điều ấy xảy ra, bởi vì Người là chân lý. Chân lý hiện sinh ấy, Người đã trả giá ngày Thứ Sáu Tuần Thánh bi thương.
Chúng ta cảm nghiệm như vậy, và đặt trọn niềm tin như thế vào Đấng Cứu Độ Giêsu – Kitô.
Suy niệm Thập Gía là suy niệm cuộc khổ hình của Đức Kitô, trong đó sự cô độc, sự chịu sỉ vả, sự chịu đánh đòn, sự chịu thẩm vấn bất công, bị điệu ra trước tòa Philato, cịu sự cáo gian, chịu sự khinh miệt, chịu môn đệ bán rẻ, và chối từ, chịu đội mão gai, chịu vác thập giá, chịu đóng đinh, chịu treo lên chịu khát khao, chịu uống mật đắng, cuối cùng chịu đâm thủng cạnh sườn, để minh chứng sự sống vĩnh hằng tồn tại muôn thuở.
Chúa Giêsu “Khát” sự thật được tỏ bày, được thực thi, “Khát “ tình yêu được thể hiện , được ban tặng, ơn Cứ độ được đón nhận khắp nơi, chân lý được lan truyền và được đón nhận, qua cuộc Tử Nạn của Người. Chúa Giêsu “khát khao” ơn cứu độ của Người không uổng phí, không giới hạn. Vì, ai khát khao chân lý, thì nghe tiếng Người. Nếu không như thế, tình đời vẫn bạc như vôi, và Ơn Cứu Độ không có tác dụng gì với thế nhân.
Chúng ta suy niệm Cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu trong ngày THƯƠNG KHÓ, là chúng ta soi mình vào những gương phản bội, hay chối từ, gương đánh đòn Chúa, hay gương sỉ vả Người, gương đóng đinh, hay gương đâm thủng cạnh sườn Người. Chắc chắn chúng ta không dám, hay không được phép, nhưng, chúng ta không thể không làm những hành động trên đối với Chúa Giêsu VÌ TỘI LỖI CỦA CHÚNG TA.
Bằng sự suy niệm nầy, chúng ta thật tình hết lòng ăn năn sám hối, xin Chúa thứ tha qua cuộc Thương Khó của Người, một cách sâu sắc, hầu chúng ta xứng đáng bước vào mầu nhiệm Phục Sinh của Người, nếu không chúng ta cũng bạc như vôi ./. Amen.

 

Tuầnthánh 6-72:  TRAO HIẾN VÌ YÊU THƯƠNG

Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty
 

Phụng vụ luôn dành trình thuật thương khó của Gio-an cho ngày Thứ Sáu Tuần Thánh vì bài này có Tuầnthánh 6-72

Phụng vụ luôn dành trình thuật thương khó của Gio-an cho ngày Thứ Sáu Tuần Thánh vì bài này có một số chi tiết khác với các Phúc âm Nhất lãm. Tuy nhiên sự khác biệt lớn hơn hết có lẽ chính là giọng văn và tình cảm của một nhân chứng đã tận mắt chứng kiến biến cố trọng đại này. Chính tác giả Gio-an đã công khai tuyên bố: “Người đã xem thấy việc này đã làm chứng, và lời chứng của người ấy xác thực; và người ấy biết mình nói sự thật để cho cả anh em nữa cũng tin”.
Tất cả các chi tiết Gio-an mô tả trong bài thương khó của ông đều rất cụ thể và sống động, chẳng hạn như chi tiết “Tôi khát!” Được chính mình trải nghiệm trong giờ hấp hối, tôi thấy điều này thật cụ thể: cơn khát của một người sắp chết thật khủng khiếp. Nói gì thì nói, trong cơn khát cháy họng, hầu như cả mạng sống của một con người lệ thuộc vào vài giọt nước mát… Cụ thể và xác thực biết bao!
Nhưng trong số các chi tiết ông ghi nhận về cuộc thương khó, Gio-an đặc biệt quan tâm tới: “một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người, tức thì máu cùng nước chảy ra”. Gio-an khảng định chính mắt mình đã chứng kiến cảnh tượng này, vì đó là biến cố hầu như đã thay đổi sâu xa lối suy nghĩ, và có lẽ chính cuộc sống của ông. Đó cũng là cốt lõi của sứ điệp mà ông đã dành trọn phần còn lại của đời mình để loan truyền cho mọi người: “Điều chúng tôi đã nghe, điều chúng tôi đã thấy tận mắt, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng, và tay chúng tôi đã chạm đến… chúng tôi loan báo cho cả anh em nữa.” (1Ga 1,1.3) “Phần chúng tôi, chúng tôi đã chiêm ngưỡng và làm chứng rằng: Chúa Cha đã sai Con của Người đến làm Đấng cứu độ thế gian.” (1Ga 4,14)
Để trả lời cho vấn nạn: ‘sự cứu độ đó là như thế nào?’ Gio-an đã khảng định: thưa, đó là một tình yêu dâng hiến trọn vẹn, yêu tới giọt máu cuối cùng, yêu bằng cả mạng sống mình. Và đối tượng của tình yêu đó là ai? Là một người đáng yêu, người tốt lành, cao thượng chăng? Thưa, không! Gioan tiếp tục: “Thiên Chúa là tình yêu. Tình yêu của Thiên Chúa được biểu lộ như thế này: Thiên Chúa đã sai Con Một của Người đến thế gian để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống. Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính người đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta.” (1Ga 4,8-10) Nếu Gio-an đã từng được mệnh danh là Tông Đồ tình yêu, thì là vì ông đã được tận mắt chứng kiến cảnh tình yêu đó được biểu lộ cách huy hoàng và triệt để nhất trên thập giá, trên đó Giê-su đã đổ tới giọt máu cùng nước cuối cùng.
Phao-lô, tuy không có dịp được chiêm ngắm thập giá trực tiếp như Gio-an, nhưng tất cả những gì ông biết được về Đức Ki-tô Giê-su lại chính là ‘Đức Ki-tô Thập Giá’, mà ông luôn miệng khảng định: ‘tôi không biết một Đức Ki-tô nào khác’. Nhìn lên thập giá, Phao-lô đã nhận ra: “Đức Giê-su Ki-tô, vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân phận nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự.” (Pl 2,6-8) Riêng với bản thân, Phao-lô đã cảm nghiệm cách thâm sâu: “tôi đặt niềm tin vào Đức Giê-su Ki-tô, Đấng yêu thương tôi và phó nộp mình cho tôi, ngay cả khi tôi phảm nghịch cùng Người”.
Nếu thế thì chính tôi, trong tư cách một linh mục, tôi nhận thấy điều gì nơi Thập giá? Hơn cả Gio-an chỉ đứng nhìn, hàng ngày tôi cử hành Thánh Lễ. Mỗi khi uống cạn chén Máu Thánh, được trực tiếp chạm vào máu và nước từ cạnh sườn Đức Giê-su chảy ra, tôi có nhận ra tình yêu tột cùng của Thiên Chúa dành cho một tội nhân như tôi? Đối với tôi thập giá mang ý nghĩa sống còn, hay chỉ là một biểu tượng chung chung? Tôi có còn mơ ước hay khâm phục một Giê-su nào khác, một Giê-su làm phép lạ, một Giê-su ban ân huệ này nọ, một Giê-su thông thái giảng dạy, một Giê-su uy nghi đến trong vinh quang để xét xử… hơn là một Giê-su chịu đóng đinh vì yêu thương tôi? Tôi sẽ chưa phải là linh mục của Đức Ki-tô, nếu tôi chưa chịu đóng đinh, chịu hiến mình… tới giọt máu cuối cùng. Được gọi là Linh Mục của Đức Ki-tô, và hàng ngày cử hành Thánh Lễ, thực tế tôi đang là gì và làm gì?
Lạy Đấng chịu đóng đinh và phó nộp cả mạng sống mình cho con, xin làm cho con được, như Gio-an, tựa đầu vào lồng ngực đầy yêu thương, để rồi nhận ra trong đó đang thoi thóp một quả tim đã cạn kiệt tới giọt máu cuối cùng vì yêu thương con. Con cảm tạ Chúa vì hồng ân linh mục con đã được trao ban, trước hết là vì lợi ích của chính con: được diễm phúc cử hành hiến tế Thập Giá mỗi ngày. Xin cho con có cắp mắt vả cõi lòng của Gio-an. Xin soi sáng và củng cố con để có được niềm xác tín và nhận thức của Phao-lô, nhờ thế Thập giá, phải, chính thập giá chứ không gì khác, sẽ trở nên gia sản và vinh quang lớn nhất của đời con. Amen.

 

Tuầnthánh 6-73:  SỐNG CAO ĐẸP CHẾT KHÔNG CÙNG

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền
 

Đời người, ai cũng chết, nghĩa là ai cũng sẽ một lần nhắm mắt xuôi tay. Từ giã bạn bè, người thân Tuầnthánh 6-73

Đời người, ai cũng chết, nghĩa là ai cũng sẽ một lần nhắm mắt xuôi tay. Từ giã bạn bè, người thân ra đi biền biệt. Cái chết là phận số của con người. Không ai mà không chết. Điều quan yếu là chết cách nào? Chết để người đời thương nhớ, lưu danh hay chết là niềm vui của xã hội vì đã loại được một người ăn bám xã hội và hại người.
Người ta nói nghĩa tử là nghĩa tận nhưng xem ra vẫn chưa tận. Vì sau cái chết vẫn còn những lời xì xầm bình loạn của thế gian. Lắm khi cái ác mà người chết gây ra quá lớn thì dẫu chết cũng chưa tận, trong nỗi đau đã khoét sâu trong lòng người sống, khiến số đông không cam lòng. Và, chỉ có thể là “tận nghĩa” giữa cuộc tiễn đưa vắng bóng người, thậm chí không có nước mắt tiếc thương.
Có lẽ nhiều người cũng sợ cái chết của mình chưa tận với miệng lưỡi thế gian, nên trang mạng Facebook đang lan truyền ứng dụng Sát Thủ- chết bất hủ.  Sát thủ – chết bất hủ là một ứng dụng dự đoán vui về kết thúc cuối đời của người tham gia. Những lý do chết mà ứng dụng tiên đoán đều khiến người xem bật cười ngay lần đọc đầu tiên. Kiểu như Chết cháy vì táy máy vào ổ điện, Ngủm vì ngửi phải mùi thum thủm, Chết vì nghĩa tình đã hết, Ra đi vì vợ nghi cặp bồ, Thăng vì rụng hết răng không ăn được, Nghẻo vì trèo cây cao, Thăng vì quá lăng nhăng. . .
Thực ra chết cách nào không quan trọng mà là sống thế nào để khi chết vẫn còn có người thương nhớ. Người chết không “tận” nơi người sống mà họ vẫn ở lại trong trái tim người sống về những hình ảnh yêu thương phục vụ của người ra đi. Họ đã sống đẹp cho đời thì hình ảnh đẹp ấy vẫn được người đời muôn đời ca tụng.
Con người và cuộc đời Chúa Giê-su dường như không kết thúc. Ngài vẫn sống trong lòng nhân loại dầu Ngài đã hiến tế cuộc đời trên đồi Golgotha cách đây hơn 2000 năm. Ngài vẫn ở lại trong trái tim từng người vì Ngài đã hiến dâng mạng sống mình vì loài người chúng ta.
Nhìn vào cuộc đời của Chúa Giê-su chúng ta chỉ thấy hai chữ hy sinh. Ngài hy sinh nên nhập thể làm người. Ngài hy sinh nên dong ruổi suốt dọc dài đất nước Palestine để thi ân, để cúi xuống phục vụ mọi mảnh đời khổ đau. Sự hy sinh của Ngài nên tới đỉnh điểm là chết cho người mình yêu. Ngài có thể tháo lui trước nhục hình. Ngài có thể từ chối uống chén đắng vì Ngài là Thiên Chúa, nhưng Ngài đã dùng cái chết để mở ra cho nhân loại một con đường về với trời cao. Ngài chết để minh chứng về Chúa Cha, và vì vâng phục Chúa Cha mà Ngài bằng lòng chịu chết. Sự chết của Ngài đã giao hòa con người với Thiên Chúa Cha, để từ nay nhờ hiến tế của Con Thiên Chúa mà con người được trở về nhà Cha.
Hôm nay chúng ta suy tôn thánh giá Chúa. Suy tôn tình yêu tự hiến hy sinh của Chúa. Nhờ hiến tế trên đồi Calve mà con người được sống trong ân nghĩa cùng Chúa Cha. Trong Phúc âm ghi lại: “Họ sẽ nhìn ngắm Ðấng mà họ đã đâm thâu qua” (Ga 19,37). Ngắm nhìn xem Đấng đã bị đâm thâu để thấy tình yêu hiến dâng đến quên cả tính mạng cho người mình yêu. Ngắm nhìn xem Đấng đã bị đâm thâu để thấy mình cũng có trách nhiệm trong cuộc thương khó của Chúa, trong nỗi đau của anh chị em mình. Ngắm nhìn Đấng đã bị đâm thâu để biết sống bù đắp những lỗi lầm của mình đã và đang gây đau khổ cho anh chị em mình.
Nguyện xin Đức Giêsu, Đấng đã chết và đã phục sinh giúp chúng con mỗi lần ngắm nhìn Chúa biết giục lòng ăn năn thống hối và can đảm đứng lên làm lại cuộc đời. Xin cho cuộc đời chúng ta sẽ mãi không “tận” trong lòng anh em, mà sống mãi trong mọi người nhờ những hy sinh đóng góp của chúng ta. Amen.

 

Tuầnthánh 6-74:  NHÌN NGẮM THÁNH GIÁ KHÁM PHÁ TÌNH YÊU

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
 

Hôm nay, Giáo hội, Hiền Thê yêu dấu nhìn lên Thánh Giá nơi treo Chúa Giêsu vị Phu Quân của Tuầnthánh 6-74

Hôm nay, Giáo hội, Hiền Thê yêu dấu nhìn lên Thánh Giá nơi treo Chúa Giêsu vị Phu Quân của mình, chân tay đanh nhọn đâm thâu, cạnh sườn lưỡi đòng đâm thủng, máu cùng nước chảy ra làm cho Giáo hội nhớ đến ngày mình được sinh ra từ cạnh sườn Chúa, lúc Chúa ngủ trên Thánh Giá với tất cả tình yêu. Bởi theo thánh Ambrosiô, lúc Ađam đang ngủ Thiên Chúa đã lấy xương sườn của ông để tạo dựng Evà thế nào, thì lúc Chúa Giêsu chết nằm trên Thánh Giá, Giáo hội cũng được sinh ra từ Trái Tim bị đâm thủng của Chúa Giêsu như vậy, và Giáo hội tưởng nhớ đến tình yêu dâng trào ấy.
Câu chuyện tình yêu
Giảng trong Thánh lễ sáng thứ ba ngày 15/03.2016, tại nguyện đường Thánh Marta, Đức Thánh Cha Phanxicô nói : “Nếu muốn biết ‘câu chuyện tình’ mà Thiên Chúa dành cho nhân loại, chúng ta phải ngắm nhìn Thánh Giá, nơi ấy có một vị Thiên Chúa đã hoàn toàn ‘trút bỏ vinh quang’, sẵn sàng bị ‘vấy bẩn’ bởi tội lỗi con người để cứu con người khỏi chết“.
Thật không thể hiểu nổi Thiên Chúa yêu thương chúng ta biết chừng nào. Người đã yêu chúng ta bằng tình yêu vô bờ bến, tình yêu thương xót và thứ tha, khi phải mang trên mình những đau khổ vì tội lỗi chúng ta. Bài ca thứ tư của người Tôi Tớ Chúa được Isaia mô tả : “Người chẳng còn hình dáng, cũng chẳng còn sắc đẹp để chúng ta nhìn ngắm, không còn vẻ bên ngoài, để chúng ta yêu thích; bị người đời khinh dể như kẻ thấp hèn nhất, như kẻ đớn đau nhất, như kẻ bệnh hoạn, như một người bị che mặt và bị khinh dể, bởi đó, chúng ta không kể chi đến người.
Thật sự, người đã mang lấy sự đau yếu của chúng ta, người đã gánh lấy sự đau khổ của chúng ta. Mà chúng ta lại coi người như kẻ phong cùi, bị Thiên Chúa đánh phạt và làm cho nhuốc hổ. Nhưng người đã bị thương tích vì tội lỗi chúng ta, bị tan nát vì sự gian ác chúng ta. Người lãnh lấy hình phạt cho chúng ta được bình an, và bởi thương tích người mà chúng ta được chữa lành. Tất cả chúng ta lang thang như chiên cừu, mỗi người một ngả. Chúa đã chất trên người tội ác của tất cả chúng ta” (Is 53, 2-6).
Người ta nói rằng : nếu tất cả Thánh Kinh trên trái đất này bị hủy diệt bởi tai biến nào đó hay bởi một cơn thịnh nộ phá hủy các hình tượng tôn giáo và chỉ còn một bản Kinh Thánh, và bản còn lại đó cũng bị hư hại đến mức chỉ còn một trang, và nếu trang đó nhăn nheo đến độ chỉ còn một dòng có thể đọc được, và nếu dòng đó là thư thứ nhất của thánh Gioan viết  “Thiên Chúa là Tình Yêu “, thì coi như toàn bộ Thánh Kinh được khôi phục, bởi vì toàn bộ nội dung là ở đó. Mầu Nhiệm Thập Giá mà chúng ta cử hành là bằng chứng. Vì thế, khi suy tôn Thánh giá Chúa, kính nhớ Chúa chịu chết, chúng ta cảm nhận được sự thật rằng : “Thiên Chúa là Tình Yêu“. 
Thờ lạy Thánh Giá Chúa
Phần tiếp theo của nghi thức chiều nay là thờ lạy Thánh Giá, tiến xướng chúng ta hát : Lạy Chúa, chúng con tôn thờ Thánh Giá Chúa… vì nhờ gỗ này mà cả vũ trụ được hân hoan. Tại sao vậy ?
Thưa, Thánh Giá không phải là đồ trang sức, không phải là một công trình nghệ thuật được đính nhiều đá quý và kim cương lấp lánh. Nhưng như chúng ta thấy, Thánh Giá là mầu nhiệm tự hủy của Thiên Chúa vì yêu thương. Đây chính là câu chuyện về ơn cứu độ của chúng ta. Đây cũng là chuyện tình của Thiên Chúa.
Với khí giới của riêng mình là cây Thánh Giá, Chúa Giêsu đã chiến thắng cách diệu kỳ. Nếu như đã có một người nữ tên là Evà bị thất bại trước khí cụ của con rắn xưa là cây trái cấm, đem sự chết vào thế gian, Ađam phải chết. Thì nay, Đức Maria, thay thế Evà, cũng với cây sự sống, cây biết lành biết dữ làm gỗ giá treo Chúa Giêsu lên, Người đã đánh bại tử thần, sống lại hiển vinh, cứu con cháu Ađam khỏi chết. Ma quỷ đã bị đánh bại bởi cùng một phương tiện mà nó đã chiến thắng. Ma quỉ đã dùng cây để quật ngã Adam, Chúa Giêsu Kitô đã dùng cây Thánh Giá để đánh bại Nó. Cây trái cấm đã ném con người vào vực thẳm, nay gỗ Thánh Giá kéo con người lên. Cây trái cấm đã làm cho con người mất đi tình thân nghĩa thiết với Thiên Chúa, tống con người vào ngục ; nay gỗ Thánh Giá tước lấy vũ khí của ma quỉ đã chiến thắng con người, giúp con người vượt qua trần thế. Cái chết của Adam đã kéo theo con cháu mình là kẻ sinh sau ông ; sự chết của Chúa Giêsu Kitô mang lại sự sống cho những kẻ sinh ra trước Người. Quả làm một tuyệt phẩm về tình yêu giữa Thiên Chúa với nhân loại từ cây Thánh Giá.
Thánh Giá là cờ vua cả toàn thắng đã cứu chúng ta cho khỏi tay ma quỉ, là vũ khí chông lại tội lỗi, là thanh gươm sắc bén Chúa Giêsu dùng để chiến thắng con rắn xưa. Thánh Giá là ý Chúa Cha, là vinh quang của Chúa Con độc nhất, là chiến thắng của Thánh Thần Thiên Chúa, là niềm vinh dự của các thiên thần, là sự an toàn của Giáo hội, là bức tường thành của các vị thánh, niềm tự hào của thánh Phaolô, là ánh sáng chiếu soi trên toàn thế giới. Từ đây, “sự chết đã bị vùi trong toàn thắng. Tử thần hỡi, đắc thắng của ngươi đâu? Tử thần hỡi, nọc của ngươi đâu?” (1Cr 15, 54-55).
Thế giới khi nhìn xem Con Thiên Chúa chịu đóng đinh, rùng mình, trời đất động địa, đã vỡ ra ; nhưng trái tim của những người Do Thái, cứng hơn đá vẫn không động đậy. Các màn trong đền thờ bị xé ra; nhưng các âm mưu phạm tội vẫn không bị phá vỡ. Tại sao màn che bị xé ? Phải chăng đền thờ đau đớn khi chứng kiến cảnh Thiên Chúa bị giết bên ngoài trên bàn thờ Thập Giá; và khăn che trong đền thờ xé ra như muốn nói với mọi người rằng: sẽ có nhiều đền thờ trở nên hoang vắng và bị bỏ rơi. Chúng ta hãy học để chiến thắng mà không phải chiến đấu, không phải dàn trận, vũ khí không dính máu, chúng ta không bị thương vong nhưng lại giành chiến thắng : Thiên Chúa chiến đấu, còn vương niệm chiến thắng chúng ta nhận.
Lạy Chúa, chúng con tôn thờ Thánh Giá Chúa. Xin Chúa cho chúng con khi nhìn ngắm Thánh Giá Chúa, biết khám phá ra rằng, Thiên Chúa đã chết chỉ vì yêu, để chúng con biết yêu thương nhau hầu chứng tỏ rằng chúng con yêu Chúa, vì đó là cốt lõi của Đạo Chúa. Amen.

 

Tuầnthánh 6-75: TIẾNG NÓI CỦA TÌNH YÊU THƯƠNG

Lm. Giuse Đỗ Đức Trí
 

Nếu như người ta vẫn nói trái tim có lý lẽ của nó, thì chúng ta cũng có thể nói : Tình yêu cũng có Tuầnthánh 6-75

Nếu như người ta vẫn nói trái tim có lý lẽ của nó, thì chúng ta cũng có thể nói : Tình yêu cũng có ngôn ngữ riêng của nó. Ngôn ngữ của tình yêu không chỉ là những lời lẽ ngọt ngào, mà còn là những ngôn ngữ không lời, những dấu chỉ không thành tiếng. Ngôn ngữ của tình yêu, không chỉ được nghe bằng tai, mà còn bằng sự cảm nhận của trái tim, ngắm nhìn bằng con mắt và tiếp xúc bằng các giác quan.
Có thể nói bầu khí phụng vụ của ngày Thứ sáu Tuần thánh mang những màu sắc và cung điệu trầm buồn, nhưng trong sự trầm lắng này, chúng ta như có thể nghe được tiếng nói và đụng chạm được đến tình yêu của Thiên Chúa qua cuộc tử nạn đau thương của Chúa Giêsu.
Có những người cho rằng, phải chăng cái ác và sự bất công luôn thắng thế ? Phải chăng Thiên Chúa cũng chịu thua trước sức mạnh của ma quỷ và sự dữ ? Tại sao một Thiên Chúa vô tội lại phải chịu một bản án bất công như vậy ? Chúng ta sẽ không thể trả lời được bằng những lý lẽ thông thường, mà chỉ có thể trả lời rằng : Thiên Chúa có cách riêng của Ngài để bày tỏ tình yêu thương đối với con người.
Tiên tri Isai đã thấy trước và đã nói về Chúa Giêsu trong hình ảnh của một người tôi tớ chịu đau khổ. Người tôi tớ này một mực trung thành với Thiên Chúa. Nhìn dáng vẻ bề ngoài, người ta chỉ có thể thấy một gương mặt tan nát, một thân xác tả tơi vì bị hành hạ. Ngài hoàn toàn im lặng đón nhận tất cả sự xỉ nhục, hành hạ của kẻ dữ mà không buông một lời oán trách. Ngài đón nhận tất cả tội vạ của muôn dân, gánh chịu muôn nhục hình do tội nhân loại. Bị ngược đãi, Ngài không mở miệng phản kháng, giống như chiên cừu khi bị xén lông. Tiên tri Isai cho thấy, Người Tôi tớ của Thiên Chúa chịu tất cả những hành hạ ấy, chỉ vì một lòng hiếu trung với Thiên Chúa, để cho Thiên Chúa được vinh danh và để đem lại sự sống và ơn tha thứ cho nhân loại.
Hình ảnh Người Tôi Trung đã ứng nghiệm nơi Chúa Giêsu và được thánh Gioan thuật lại trong bài thương khó hôm nay. Có người đặt vấn đề : Chúa Giêsu có thể tránh cuộc khổ nạn và dùng cách khác để cứu chuộc nhân loại không ? Chắc chắn Chúa có thể dùng cách khác để cứu chuộc nhân loại, nhưng Chúa đã không tìm cách tránh né. Ngài đối diện và đón nhận thập giá với lòng yêu mến, vâng phục tuyệt đối dành cho Thiên Chúa Cha và tình yêu vô hạn dành cho con người, là những kẻ được Chúa yêu thương.
Trong cuộc khổ hình thập giá, Chúa Giêsu không chỉ đau khổ thể xác bởi sự hành hạ dã man của những tên lính, thánh Gioan còn cho thấy, Chúa Giêsu vô cùng đau khổ trong tâm hồn bởi những người Ngài thương yêu đã gây tổn thương cho Ngài. Ngay từ bữa tiệc ly tối hôm qua, Chúa đã thể hiện tình yêu đến cùng dành cho các môn đệ, qua việc trao ban chính con người và mạng sống để làm của ăn của uống cho nhân loại. Ngài đã cúi xuống rửa chân cho các tông đồ để thể hiện tình yêu thương và dạy các ông bài học phục vụ. Trong lúc đó, các tông đồ dường như không quan tâm, họ tỏ ra dửng dưng trước hành động của Chúa Giêsu và quay sang bàn với nhau về chuyện khác.
Tiếp đến, Chúa Giêsu đau đớn với tâm trạng bị phản bội bởi kẻ Ngài yêu thương là Giuđa. Ngài đã tin tưởng anh, đã yêu thương anh như những môn đệ khác, vậy mà giờ đây, chính anh lại đưa các thượng tế và quân lính đến bắt Thầy mình. Anh đã trở thành kẻ chỉ điểm để người ta bắt Thầy, anh đã lấy cái hôn làm dấu chỉ để phản bội Thầy. Người ta chỉ hôn nhau khi thể hiện tình yêu thương, nhưng Giuđa lại dùng cái hôn để làm dấu chỉ phản bội. Cái hôn ấy chẳng khác gì cái tát vào mặt Chúa Giêsu.
Không chỉ sự phản bội của Giuđa gây đau khổ trong tâm hồn Chúa Giêsu, các tông đồ khác cũng không khá hơn. Các ông trước đây có người từng thề sống thề chết với Thầy, thì giờ đây, chỉ một chút sợ hãi, các ông đã bỏ trốn hết. Simon Phêrô là người được Chúa tin tưởng đặt làm đầu trong anh em, ông chỉ dám đi theo Chúa xa xa vì sợ liên lụy. Khi thử thách đến, Phêrô đã không ngại ngần từ chối mối liên hệ của mình với Thầy Giêsu, Đấng đã yêu thương ông.
Một đau khổ khác mà Chúa Giêsu phải chịu, đó là sự vô ơn và vô cảm của đám đông. Trong những người la hét đòi đóng đinh Chúa, không thiếu những kẻ mới mấy ngày trước họ hoan hô, vỗ tay reo mừng khi Chúa vào thành Giêrusalem, tung hô Ngài là con vua Đavít. Thế mà trước dinh Philatô, họ đã trở mặt và tuyên bố : Chúng tôi không có một vua nào khác ngoài Cesare.
 Trong lúc chịu đau khổ cùng cực trong tâm hồn và thể xác, chúng ta nhận thấy lòng thương xót của Chúa Giêsu vẫn tuôn trào qua hành động đón nhận tất cả những cực hình và qua ánh mắt yêu thương, tha thứ của Chúa. Trong lúc quân dữ đang hùng hổ tìm bắt Chúa, Chúa Giêsu hết sức ôn tồn, bình tĩnh bước ra gặp chúng và hỏi : Các anh tìm ai ? Nó đáp : Tìm Giêsu Nazareth. Ngài đáp : Chính tôi đây. Một lời nói với đầy sức mạnh và uy quyền đã khiến chúng bật ngã ra đàng sau. Lúc chúng ra tay bắt Chúa, Đức Giêsu đã không nghĩ đến mình, nhưng Ngài nghĩ đến các tông đồ và nói với chúng : Nếu các anh tìm bắt tôi, thì hãy để những người này đi.
Lúc dân chúng tố cáo Chúa Giêsu trước mặt các Thượng tế về các bài giảng của Ngài, Chúa Giêsu đã không lên tiếng biện hộ cho mình, nhưng Ngài nghĩ đến các tông đồ và nói với những kẻ tra hỏi Người : Tôi giảng dạy công khai trong đền thờ, tôi không nói gì lén lút cả, xin các ông cứ hỏi những người đã nghe tôi, chính họ biết tôi đã nói gì. Thánh Gioan đã tinh tế cho thấy : Trong khi trong dinh thượng tế, Chúa Giêsu vẫn hết lòng tin tưởng và yêu mến những kẻ Ngài đã tuyển chọn, thì bên ngoài, Phêrô, kẻ được Ngài tuyển chọn, lại công khai từ chối Chúa tới ba lần trước mặt một đứa đầy tớ gái. Lúc này, tình yêu thương của Thiên Chúa đã thể hiện qua cái nhìn của Chúa Giêsu. Ánh mắt yêu thương của Chúa đã gặp được ánh mắt sợ hãi, phản bội của Phêrô, khiến cho Phêrô cảm thấy ân hận suốt đời trước một tình yêu quá lớn lao.
Trước dinh Philatô, Chúa Giêsu cảm nhận sâu xa và đau đớn vô cùng bởi sự bội bạc, vô ơn của đám dân chúng. Họ đã chọn đứng về phía sự ác và sự dữ khi đòi tha Baraba và giết Giêsu. Họ công khai từ chối thẩm quyền của Thiên Chúa để quy phục quyền bính của một ông vua đang đô hộ họ. Những người Do Thái đã rắp tâm loại trừ Chúa Giêsu và họ đã tìm mọi cách gây áp lực để đạt được ý đồ gian ác của họ. Khi Chúa Giêsu phải vác thập giá trên vai, bước đi những bước nhọc nhằn, thì quân lính và dân chúng hả hê, thỏa mãn vì đã đạt được mưu đồ của họ là vùi dập một con người cho đến chết. Cái ác dường như thắng thế, công lý dường như bất lực, Thiên Chúa dường như cũng im lặng trước khổ đau của Chúa Giêsu. Nhưng trong khung cảnh tối tăm của sự ác ấy, ánh sáng của tình yêu vẫn không hề bị dập tắt.
Thánh Gioan, vị tông đồ được Chúa yêu, đã cảm nhận được sự đau khổ và tình yêu của Chúa qua hành trình thập giá. Mỗi bước đi, mỗi chặng dừng, từ dinh Thượng tế Anna đến Caipha, từ dinh Philatô đến dinh Herode và từ dinh Philatô đến cái chết thảm thương trên thập giá đồi Calvariô, là một chặng đường dài của lòng xót thương của Thiên Chúa dành cho nhân loại. Nếu chỉ nghe hoặc xem lại cuộc thương khó của Chúa, chúng ta sẽ chỉ thấy một cuộc hành hình bất công, đầy hung ác, tàn bạo và máu me. Nhưng nếu chúng ta nghe bài thương khó này bằng trái tim và bằng sự cảm nhận của tâm hồn, chúng ta sẽ được đụng chạm đến tình thương của Thiên Chúa. Và, nếu chúng ta lắng nghe cuộc thương khó của Chúa trong thinh lặng, để cho trái tim mở ra, chúng ta sẽ nhận ra hình ảnh và trách nhiệm của mình có liên quan trong cuộc hành hình này.
Cuộc thương khó của Chúa Giêsu mà chúng ta suy niệm chiều nay là cách thức Thiên Chúa nói với con người về một tình yêu bao la, về lòng xót thương vô bờ của Thiên Chúa dành cho con người. Với tiếng nói tình yêu này, chúng ta không chỉ nghe bằng tai, nhưng xin cho trái tim của chúng ta cũng biết lắng nghe, biết mở ra để cho lòng thương xót của Chúa đổ tràn trong chúng ta. Xin cho chúng ta đừng bao giờ biến mình trở thành kẻ dửng dưng vô tình trước tình yêu của Chúa và cũng đừng bao giờ đóng cửa trái tim trước nỗi khổ đau của anh chị em. Amen.

 

Tuầnthánh 6-76: NGHỊCH LÝ CỦA THÁNH GIÁ

Jos. Vinc. Ngọc Biển
 

Buổi chiều hôm nay, Giáo Hội tưởng niệm Đức Giêsu chịu chết để chuộc tội thiên hạ. Buổi chiều Tuầnthánh 6-76

Buổi chiều hôm nay, Giáo Hội tưởng niệm Đức Giêsu chịu chết để chuộc tội thiên hạ. Buổi chiều hôm nay là “giờ” của Thiên Chúa Cha đã định, và cũng là “giờ” của Đức Giêsu hoàn tất chương trình cứu chuộc nhân loại; “giờ” của người Tôi Trung mà tiên tri Isaia đã loan báo. “Giờ” đó được hoàn tất trên Thánh Giá. Vì thế, phụng vụ chiều hôm nay đều quy chiếu về Thánh Giá Đức Kitô như một sợi chỉ xuyên suốt từ đầu đến cuối.
     Nghịch lý của Thánh Giá
Trong thư gửi tín hữu Philipphê, thánh Phaolô đã nói: Đức Giêsu Kitô đã hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự (x. Pl 2,8); và Ngài đã chết theo như lời Thánh Kinh (x. 1Cr 15,3).
Cái chết của Đức Giêsu trên thập giá đã là nguyên nhân để nhiều người được cứu độ, nhưng cũng không thiếu những kẻ cứng lòng, cố chấp và trai lỳ trong ích kỷ, kiêu ngạo. Những người như thế, họ coi đó như là hình phạt mà Đức Giêsu là người đáng phải chịu do tội mình gây nên.
Thật vậy, khi thập giá được dựng lên, và khi Đức Giêsu chịu treo trên đó, đã không biết bao người tin theo và suy tôn. Tuy nhiên, cũng không thiếu những lời chê bai dè bửu và khinh thường. Họ coi thập giá như là thứ đồ tể đáng sợ để trừng phạt những tử tội oái oăm, khét tiếng và nguy hiểm… Suy nghĩ như thế, thì cái chết của Đức Giêsu không có công trạng gì, mà chỉ như là một hình phạt đích đáng được dành cho một kẻ đã từng bị kết án vì tội “sách động dân chúng; tìm cách lật đổ chế độ và nói lời phạm thượng”. Và, những người theo Đức Giêsu phải chăng họ là bọn người cuồng tín khi tuyên xưng niềm tin của mình vào một kẻ bị treo trên cây gỗ như một tử tội!
Thật vậy, thập giá của Đức Giêsu hôm nay được tôn vinh, đã làm không ít người cảm thấy ngỡ ngàng, bởi vì xét theo người đời, thì đây chính là sự ô nhục, hận thù, đáng ghét… là biểu tượng của sự chết chóc và thập giá vẫn chỉ là dụng cụ ghê rợn được dùng để sử tử tội nhân mà thôi.
Nhưng đối với Thiên Chúa, thì đây chính là sự khôn ngoan khôn dò thấu của Người. Thánh Phaolô đã nói: “Con Thiên Chúa chết trên thập giá là một trong những đường lối khôn ngoan sâu thẳm mà không một ai dò thấu” (x. Rm 11,33). Bởi vì Thiên Chúa đã dùng thập giá như một sự nghịch lý để cứu độ con người.
Thực ra thập giá luôn mang tính nghịch lý, bởi vì nó tuyên dương quyền năng thượng trí của Thiên Chúa ở nơi mà người đời coi là điên rồ.
Nhưng với những người tin, hẳn sự cảm nghiệm, suy nghĩ và thái độ hoàn toàn ngược lại. Những người đó sẽ coi thập giá trở thành Thánh Giá và Thánh Giá lúc này trở thành phương dược, để qua đó Đức Giêsu chuộc tội thay con người và cứu độ nhân loại.
Nếu xưa kia trong vườn Địa Đàng, Ađam đã ngã gục trước Cây Trái Cấm, và gieo rắc tội lỗi cho nhân loại, thì giờ đây, trên cây Thánh Giá, Đức Giêsu đã chuộc lại những gì mà Ađam đã đánh mất và để lại hậu quả cho nhân loại.
Như vậy, từ Cây Trái Cấm, sự chết đã tiêu diệt thế gian, và Trái Cấm là rào cản lớn đến độ con người không thể vượt qua, thì giờ đây, từ cây Thánh Giá, Đức Giêsu đã chuộc lại những gì đã mất do Nguyên Tổ gây nên và mặc cho nó thành cây Sự Sống, quả Phúc Trường Sinh.
Chính Đức Giêsu đã khẳng định rõ điều này khi nói: “Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi” (Ga 12, 32).  Vì thế, không lạ gì khi thánh Phaolô đã khẳng khái tuyên xưng niềm tin và ơn cứu chuộc của mình nơi Thánh Giá, ngài nói: “Thật thế, lời rao giảng về thập giá là một sự điên rồ đối với những kẻ đang trên đà hư mất, nhưng đối với chúng ta là những người được cứu độ, thì đó lại là sức mạnh của Thiên Chúa […] Thiên Chúa đã muốn dùng lời rao giảng điên rồ để cứu những người tin. Trong khi người Dothái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hylạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan,  thì chúng tôi lại rao giảng một Ðấng Kitô bị đóng đinh, điều mà người Dothái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ. (nhưng) cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người” (x. 1Cr 1,18-25).
Vì thế, “Nhờ máu Người đổ ra trên Thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời” (Cl 1,20).
2. Đón nhận Thánh Giá như nguồn ơn cứu rỗi
Cuộc đời của người Kitô hữu, tức là cuộc đời của những người tin và theo Đức Giêsu, hẳn mỗi người luôn nghe thấy lời mời gọi của Ngài: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy. Vì được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì người ta nào có lợi gì? “ (Mc 8,34-36); và: “Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy” (Mt 10,38).
Lời mời gọi đó đã được gióng lên ngày chúng ta lãnh nhận phép Rửa tội cũng như suốt cuộc đời của mỗi người chúng ta. Như vậy, Thánh Giá trở nên cứu cánh và việc vác Thánh Giá trở thành điều kiện cần của chúng ta trên hành trình dõi bước theo Đức Giêsu.
Thánh Giá mà mỗi chúng ta phải vác ở đây chính là bổn phận phải chu toàn; là từ bỏ những thứ không cần thiết trên hành trình tin Chúa; là từ bỏ ý riêng… và phục vụ trong yêu thương.
Làm được như thế, ấy là chúng ta sáp nhập cuộc đời của mình vào cuộc đời của Đức Giêsu. Đặt bước chân của ta vào dấu chân của Chúa, để sẵn sàng chấp nhận những đòi hỏi của Tin Mừng.
Như vậy, trong ta có Chúa và trong Chúa có ta. Thánh Phaolô đã diễn tả tâm tình ấy khi tuyên xưng: “ Tôi cùng chịu đóng đinh với Ðức Kitô vào thập giá […] (Và) tôi sống, nhưng không còn là tôi, mà là Ðức Kitô sống trong tôi ” (Gl 2,19-20).
Mặc lấy tâm tình của Đức Giêsu, người kitô hữu chúng ta sẽ từ bỏ con đường tội lỗi, để được hiệp thông cách trọn vẹn vào cuộc khổ nạn của Ngài, và như một định luật đối với những người tin và theo Đức Giêsu là: qua đau khổ thì mới được vào vinh quang.
Lạy Chúa Giêsu, Đấng chịu treo trên Thánh Giá, xin thương xót và cứu chuộc chúng con. Amen.

 

Tuầnthánh 6-77: SUY NIỆM THỨ SÁU TUẦN THÁNH

Lm. Giuse Trực
 

Con là ai trong hành trình thương khó của Chúa? Con có phải là những Thượng tế, những biệt Tuầnthánh 6-77

Con là ai trong hành trình thương khó của Chúa?
Con có phải là những Thượng tế, những biệt phái và Pharisêu muốn tiêu diệt Chúa để đừng làm phiền, đừng ai nhắc nhở những sai trái của con không?
Con có phải là dân chúng bàng quang, hoặc có tâm lý hùa theo đám đông mà không dám nói lên chính kiến của mình, để sẵn sàng làm ngơ hoặc hùa theo để kết án người khác?
Con có phải là những tên lính đã đánh đòn, đóng đinh, hành hạ Chúa cho hả cơn giận của con, mặc dù con biết Chúa không có tội gì. Có những bực bội, bức bối gì, về nhà con đổ trên đầu những người thân mà con có vẻ “trên cơ” họ?
Con có phải là những người phụ nữ thành Giêrusalem khóc thương chỉ vì tội nghiệp Chúa chứ chưa biết phải làm sao để cho Chúa hết đau?
Con có phải là tên trộm oán trách cuộc đời và thách thức Chúa: “Ông là con Thiên Chúa thì tự cứu mình và cứu chúng tôi với”?
Hay con là Simon sẵn sàng vác lấy thánh giá Chúa bằng cách san sẻ nỗi đau với người khác?
Hay con là Đức Mẹ, mạnh dạn, can trường bước theo con đường đau khổ của Chúa, không một vẻ yếu nhược, không một lời than thở, không một chút kêu than?
Hay con là Gioan đón lấy sứ mạng của Chúa để sẵn sàng hiến thân mình cho những chương trình, hoạch định của Chúa?
Có lẽ, lạy Chúa, xin cho con giống như viên đại đội trưởng: “Thấy sự việc xảy ra như thế, viên đại đội trưởng cất tiếng tôn vinh Thiên Chúa” (Lc 23, 47). Đã biết bao lần con ngước nhìn lên Chúa bị đóng đinh, nhưng con đã xác tín niềm tin vào Chúa chưa? Câu hỏi này tiếp tục vang vọng trong tâm hồn con. Vang mãi, vang mãi cho đến chết.

 

Tuầnthánh 6-78: GIỜ THƯƠNG XÓT

Trầm Thiên Thu
 

Bửu Huyết Giêsu tươi màu Cứu Độ Oan khiên thế giới hóa sắc trong ngần Thứ Sáu Tuần Thánh Tuầnthánh 6-78

Bửu Huyết Giêsu tươi màu Cứu Độ
Oan khiên thế giới hóa sắc trong ngần
Thứ Sáu Tuần Thánh là Ngày Đại Tang của Kitô giáo – nói riêng, và của cả nhân loại – nói chung. Thứ Sáu Tuần Thánh là đỉnh cao của Ơn Cứu Độ, đặc biệt là Giờ Thứ Chín (tức 3 giờ chiều), giờ của Lòng Chúa Thương Xót. Không có Lòng Chúa Thương Xót thì nhân loại chỉ là hư vô!
Cuộc chia ly nào cũng bịn rịn, lưu luyến, đau khổ và đãm đầy nước mắt, nhất là cảnh biệt ly khi người thân về bên kia thế giới. Lúc hấp hối là “phút cuối” của một con người, là lúc xúc động nhất đời người – dù người đó đáng yêu hay đáng ghét. Càng xúc động hơn khi thấy người hấp hối chịu đau nhức quằn quại từng cơn, có những người toát mồ hôi hột nhưng âm thầm chịu đựng, có những người phải la hét dữ dội. Giây phút biệt ly thường là khoảnh khắc ngắn ngủi, chỉ trong chốc lát, nhưng lại nặng nề trôi… ngỡ như thăm thẳm! Và giây phút cuối đời cũng là lúc người ta nói thật nhất.
Chúa Giêsu có hai bản tính: Thần Tính và Nhân Tính (1). Về nhân tính, Ngài cũng rất đau đớn vì đã kiệt sức do đòn roi suốt đêm, vác Thập Giá lên đồi cao theo con đường gập ghềnh, ngoằn ngoèo, Ngài té lên té xuống nhiều lần, trong khi phải chịu đói chịu khát vì mất máu nhiều, Ngài còn bị những gai nhọn đâm thấu đầu, tiếp theo lại bị đinh ghim chặt chân tay, và cuối cùng bị lưỡi đòng đâm thâu tim. Rất đau đớn. Rất nhức buốt. Chúng ta không thể tưởng tượng nổi. Thân xác Ngài tàn tạ, tiều tụy, tơi tả, đến giọt Máu và giọt Nước cuối cùng cũng chảy ra hết vì thương xót nhân loại. Chúng ta chỉ bị cái dằm đâm vào tay cũng la toáng lên rồi!
CON CHIÊN HÀM OAN
Từ ngàn xưa, qua ngôn sứ Isaia, Thiên Chúa đã minh định: “Người tôi trung của Ta sẽ thành đạt, sẽ vươn cao, nổi bật, và được suy tôn đến tột cùng” dù cho “tôi trung của Ta mặt mày tan nát chẳng ra người, không còn dáng vẻ người ta nữa” (Is 52:13-14). Nhưng mọi người đều phải sửng sốt khi thế cờ đảo ngược hoàn toàn. Người tôi trung đó làm cho “muôn dân phải sững sờ, vua chúa phải câm miệng” (Is 52:15). Người tôi trung đó là Đức Kitô, cũng chính là Người-Tôi-Tớ-Đau-Khổ, Người-Tôi-Trung-Đau-Khổ, “như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, Ngài chẳng mở miệng kêu ca” (Is 53:6; Cv 8:32).
Chúng ta đã được biết về “hành trình đau khổ” của Chúa Giêsu, nhưng có lẽ khó mà cảm nhận hết mức đau khổ, thậm chí có thể nghe nhiều năm đã quen tai nên vẫn thấy… bình thường, và cũng chỉ là “chuyện nhỏ”. Kinh Thánh cũng đã nói: “Điều chúng ta đã nghe, ai mà tin được?” (Is 53:1). Thật khó tin, nhưng lại hoàn toàn là sự thật!
Ngôn sứ Isaia mô tả chi tiết: “Người tôi trung đã lớn lên tựa chồi cây trước Nhan Thánh, như khúc rễ trên đất khô cằn. Người chẳng còn dáng vẻ, chẳng còn oai phong đáng chúng ta ngắm nhìn, dung mạo chẳng còn gì khiến chúng ta ưa thích. Người bị đời khinh khi ruồng rẫy, phải đau khổ triền miên và nếm mùi bệnh tật. Người như kẻ ai thấy cũng che mặt không nhìn, bị chúng ta khinh khi, không đếm xỉa tới” (Is 53:2-3). Tuy nhiên, “chính người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta, còn chúng ta lại tưởng Ngài bị phạt, bị Thiên Chúa giáng hoạ, phải nhục nhã ê chề” (Is 53:4). Thật nghịch lý, có lẽ vì chúng ta quá ảo tưởng!
Bảng đối chiếu liệt kê rõ ràng: “Chính Ngài đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, Ngài bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm, Ngài đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, Ngài đã phải mang thương tích để chúng ta được chữa lành” (Is 53:5). Trí óc loài người không thể tưởng tượng nổi có một Con Người lạ lùng như vậy. Nếu cuộc đời có ai gần giống như vậy thì ắt chúng ta cho là “dại dột”, là “ngu xuẩn”, là “điên khùng”, là “mất trí”, là “tâm thần”. Thiên Chúa thấy “tất cả chúng ta lạc lõng như chiên cừu, lang thang mỗi người một ngả”, nhưng Đức Chúa đã đổ tội lỗi của tất cả chúng ta lên đầu Người-Tôi-Trung kia. Người Ấy bị lũ-người-ghen-tị “ngược đãi mà vẫn cam chịu nhục, chẳng mở miệng kêu ca; như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, Người Ấy chẳng hề mở miệng” (Is 53:6). Người Ấy còn “bị ức hiếp, bị buộc tội, rồi bị thủ tiêu” (Is 53:8a). Thậm chí “Người Ấy còn bị khai trừ khỏi cõi nhân sinh”, và “vì tội lỗi của dân, Người Ấy bị đánh phạt” (Is 53:8b). Người Ấy chịu đủ thứ khổ hình vì các tội nhân là chúng ta, chứ Người Ấy chỉ bị hàm oan, vì Người Ấy hoàn toàn vô tội.
Cuối cùng, Người Ấy đã “bị chôn cất giữa bọn ác ôn, bị mai táng với người giàu có, dù đã chẳng làm chi tàn bạo và miệng không hề nói chuyện điêu ngoa” (Is 53:9). Nhưng đó là Thánh Ý nhiệm mầu của Thiên Chúa, để nhờ Người Ấy mà Ý Chúa được nên trọn. Thiên Chúa xác định: “Vì đã nếm mùi đau khổ, người công chính, tôi trung của Ta, sẽ làm cho muôn người nên công chính và sẽ gánh lấy tội lỗi của họ” (Is 53:11). Đức Giêsu đã “hiến thân chịu chết, đã bị liệt vào hàng tội nhân; nhưng thực ra Ngài đã mang lấy tội muôn người và can thiệp cho những kẻ tội lỗi” (Is 53:12). Trong “núi tội” đó có rất nhiều tội lỗi của mỗi chúng ta!
Thánh Vịnh đã nói lời cuối của Người Ấy – một người trong cơn hấp hối: “Con ẩn náu bên Ngài, lạy Chúa, xin đừng để con phải tủi nhục bao giờ. Bởi vì Ngài công chính, xin giải thoát con. Trong tay Ngài, con xin phó thác hồn con, Ngài đã cứu chuộc con, lạy Chúa Trời thành tín” (Tv 31:2 & 6). Người Ấy tâm sự với Chúa về cuộc đời mình: “Con đã nên trò cười cho thù địch và cho cả hàng xóm láng giềng. Bạn bè thân thích đều kinh hãi, thấy con ngoài đường, ai cũng tránh xa. Bị lãng quên, như kẻ chết không người tưởng nhớ, con hoá thành đồ hư vất bỏ” (Tv 31:12-13). Là con người thì ai cũng cảm thấy cô đơn tột cùng khi ai cũng khinh ghét và bỏ rơi mình nên nói vậy thôi, nhưng vẫn tin tưởng vào Chúa, cho nên mới dám thân thưa: “Ngài là Thượng Đế của con. Số phận con ở trong tay ngài. Xin giải thoát con khỏi tay địch thủ, khỏi người bách hại con” (Tv 31:15-16).
Người Ấy chấp nhận mọi thiệt thòi và luôn vững tin cầu khấn: “Xin toả ánh tôn nhan rạng ngời trên tôi tớ Ngài đây, và lấy tình thương mà cứu độ” (Tv 31:17), đồng thời mạnh dạn chia sẻ với những người khác như một lời khuyên: “Hỡi mọi người cậy trông vào Chúa, mạnh bạo lên, can đảm lên nào!” (Tv 31:25). Người Ấy đã nêu gương sáng cho chúng ta, vì chúng ta cũng phải nên giống Người Ấy: “Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước” (Ga 15:18). Người Ấy là ai? Là Đức Kitô, là Thầy Giêsu, là Chúa của chúng ta.
Thánh Phaolô minh định: “Chúng ta có một vị Thượng Tế siêu phàm đã băng qua các tầng trời, là Đức Giêsu, Con Thiên Chúa” (Dt 4:14). Thánh Phaolô khuyên chúng ta hãy giữ vững lời tuyên xưng đức tin, và giải thích: “Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Ngài đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội. Bởi thế, chúng ta hãy mạnh dạn tiến lại gần ngai Thiên Chúa là nguồn ân sủng, để được xót thương và lãnh ơn trợ giúp mỗi khi cần” (Dt 4:15-16). Trong các ân sủng, Lòng Chúa Thương Xót là hồng ân cao cả và kỳ lạ vô cùng! Chúa Giêsu đã trải qua nỗi đau khổ tột cùng nên Ngài rất thương xót chúng ta.
Khi còn sống kiếp phàm nhân, và theo nhân tính, Đức Giêsu cũng đã từng lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Ngài khỏi chết. Ngài đã được nhậm lời vì có lòng tôn kính. Vâng phục không là điều dễ, vì phàm nhân chúng ta đầy tự ái và kiêu sa, ngay cả Con Thiên Chúa cũng đã “phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục” (Dt 5:7). Thật không hề đơn giản chút nào! Nhưng chính lúc đó là lúc bản thân đạt tới mức thập toàn để rồi “Ngài trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Ngài” (Dt 5:9). Trước khi vinh quang và được coi là công trạng thì luôn phải trải qua chặng đường gian khổ. Đức Kitô cũng đã trải qua “chặng đàng Thánh Giá” và cái chết mới tới sự phục sinh vinh quang.
ĐÓN NHẬN ĐAU KHỔ
Phúc Âm hôm nay là bài trường ca đau khổ, là tấn bi kịch trầm hùng, là bộ phim dài sầu thảm, Giáo hội gọi là Bài Thương Khó, thuật lại đầy đủ cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Bi kịch thảm thiết như vậy mà lại gọi là Phúc Âm, là Tin Mừng. Thật kỳ diệu biết bao!
Chúng ta thường nói: “Dòi trong xương dòi ra”. Một trong mười hai đệ tử “ruột” là Giuđa đã dùng nụ hôn để “chỉ điểm” mà bán rẻ Thầy mình với giá quá bèo – không đáng bao nhiêu so với bình dầu cam tùng mà cô Maria (Ga 12:1-8; x. Ga 11:1-2) đã xức chân Thầy Giêsu tại Bê-ta-ni-a.
Người ta đã tìm mọi cách gài bẫy, lục soát, và đi bắt Chúa Giêsu như một tên côn đồ. Họ ghen tị và sợ Ngài tiếm ngôi, giành quyền lực, lấy mất “chiếc ghế quyền lực”, thế nên họ làm mọi cách hạ nhục Ngài đủ mưu đủ chước. Hàng ngày Ngài thường tụ họp với các môn đệ công khai mà họ không bắt, thế mà họ lại cấu kết với đám thuộc hạ của các thượng tế và nhóm Pharisêu để đi tìm bắt Ngài trong đêm tối, dùng vũ khí để đối với một người tay không và thân cô thế cô – vì các môn đệ bỏ trốn hết. Thật là tồi và hèn hạ!
Khi Ngài điềm nhiên hỏi họ tìm ai, họ ngang nhiên đáp: “Tìm Giêsu Nadarét”. Ngài vừa nói “chính tôi đây”, họ lùi lại và ngã xuống đất. Ngoạn mục thật! Ấy thế mà họ vẫn cố chấp, cố ý nhắm mắt chứ không chịu mở mắt. Có lẽ lúc này Giuđa là người đắc chí nhất, vì có thể ông cũng rất tin rằng Thầy mình “ngon” lắm, quyền phép đầy mình, chúng chẳng làm gì được, mà ông lại có tiền tiêu xài – tức là bọn thủ ác bị mắc lừa. Thế nhưng Ngài không dùng thần quyền của Ngài vào chuyện không cần thiết. Đó là “cách lạ” của Ngài. Trí óc phàm nhân chúng ta không thể nào hiểu nổi!
Họ lồm cồm bò dậy. Ngài lại hỏi một lần nữa: “Các anh tìm ai?”. Họ vẫn cương quyết như đinh đóng cột: “Tìm Giêsu Nadarét”. Họ vẫn không hề tởn chút nào. Gan cóc tía. Lì thật! Và rồi Đức Giêsu thản nhiên nói: “Tôi đã bảo các anh là chính tôi đây. Vậy, nếu các anh tìm bắt tôi thì hãy để cho những người này đi” (Ga 18:8). Ngài không muốn bất kỳ ai phải liên lụy vì Ngài. Nhưng điều đó ứng nghiệm lời Ngài đã nói: “Những người Cha đã ban cho con, con không để mất một ai” (Ga 18:9). Tính nóng hơn Trương Phi, ông Simôn Phêrô bèn tuốt gươm ra, nhằm người đầy tớ vị thượng tế mà “chơi” một phát đứt tai phải của Man-khô. Một đường gươm tuyệt hảo y như xiếc! Thấy vậy, Đức Giêsu bảo ông Phêrô: “Hãy xỏ gươm vào bao. Chén mà Chúa Cha đã trao cho Thầy, lẽ nào Thầy chẳng uống?” (Ga 18:11). Nghe vậy chưa chắc ai hiểu ý Ngài nói.
Họ bắt trói Ngài lại, rồi điệu Ngài đến ông Kha-nan là nhạc phụ ông Cai-pha. Ông Cai-pha làm thượng tế năm đó. Chính ông này đã đề nghị với người Do Thái: “Nên để một người chết thay cho dân thì hơn” (Ga 18:14). Nghe chừng nhân đạo nhưng lại vô cùng thâm độc. Lúc đó có ông Simôn Phêrô và người môn đệ khác (tức Gioan) đi theo Đức Giêsu. Gioan quen biết vị thượng tế nên được vào sân trong của tư dinh của thượng tế. Còn ông Phêrô phải đứng ở phía ngoài, gần cổng. Gioan ra nói với chị giữ cổng, rồi dẫn ông Phêrô vào. Gioan cũng “oai” thật, quen biết có khác!
Nhưng vấn đề là người tớ gái giữ cổng nhận ra ông Phêrô “thuộc nhóm của Chúa Giêsu” nên ông chối ngay: “Đâu phải”. Và ông chối phắt bất kỳ ai nhận ra ông, tổng công 3 lần trước khi gà gáy. Với bản tính nhân loại nên ông rất sợ, sợ đến nỗi phát run ngay cả với mấy phụ nữ chân yếu tay mềm. Tội nghiệp! Ông Phêrô nóng tính, thẳng như ruột ngựa, nhưng cũng rất yếu đuối. Đó là “biểu tượng” của chúng ta ngày nay!
Mặc dù Chúa Giêsu bị bắt, bị trói, bị đánh đập, bị tra xét, bị hành hạ,… nhưng Ngài vẫn thản nhiên và không nói gì, không nửa lời tự biện minh cho mình là đúng, không một lời kêu oan nào!
Đến khi bị tra hỏi về các môn đệ và giáo huấn, Đức Giêsu mới trả lời: “Tôi đã nói công khai trước mặt thiên hạ; tôi hằng giảng dạy trong hội đường và tại Đền Thờ, nơi mọi người Do Thái tụ họp. Tôi không hề nói điều gì lén lút. Sao ông lại hỏi tôi? Điều tôi đã nói, xin cứ hỏi những người đã nghe tôi. Chính họ biết tôi đã nói gì” (Ga 18:19-21). Ngài vừa dứt lời thì một tên trong nhóm thuộc hạ vả vào mặt Ngài: “Anh trả lời vị thượng tế như thế ư?” (Ga 18:22). Hỗn láo thật! Nhưng Ngài vẫn thản nhiên lý luận: “Nếu tôi nói sai, anh chứng minh xem sai ở chỗ nào; còn nếu tôi nói phải, sao anh lại đánh tôi?” (Ga 18:23). Cách đối đáp và lý luận của Chúa Giêsu tuyệt vời quá!
Sau đó, ông Kha-nan cho giải Ngài đến thượng tế Cai-pha, Ngài vẫn bị trói. Lúc đó trời vừa sáng. Họ không vào dinh vì sợ bị nhiễm uế mà không ăn lễ Vượt Qua được. Họ chỉ lo giữ bề ngoài mà không chú trọng bề trong. Đó là một dạng động thái giả hình. Tổng trấn Philatô ra ngoài gặp họ và hỏi xem họ tố cáo Chúa Giêsu về tội gì, nhưng họ đáp: “Nếu ông này không làm điều ác, thì chúng tôi đã chẳng đem nộp cho quan” (Ga 18:30). Họ cố chấp và cố tình không thèm nhận những hành động tốt của Chúa Giêsu. Trước áp lực của dân, ông Philatô hỏi Chúa Giêsu: “Ông có phải là vua dân Do Thái không?”. Đức Giêsu không nhận và nói: “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do Thái. Nhưng thật ra Nước tôi không thuộc chốn này” (Ga 18:36). Vậy mà ông Philatô vẫn không hiểu nên hỏi: “Vậy ông là vua sao?”. Đức Giêsu đáp: “Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích là làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi” (Ga 18:37). Ông Philatô “dốt đặc cán mai” nên ngớ ngẩn hỏi: “Sự thật là gì?” (Ga 18:38).
Theo tục lệ của người Do Thái, vào mỗi dịp Lễ Vượt Qua, họ thường phóng thích cho một tội nhân. Ông Philatô hỏi họ muốn tha Chúa Giêsu hay không, họ la to: “Đừng tha nó, nhưng xin tha Baraba!” (Ga 18:40). Baraba là một tên cướp khét tiếng, vậy mà họ còn thương mến và yêu quý hơn là Chúa Giêsu. Lạy Chúa tôi!
Thế là tổng trấn Philatô truyền đem Đức Giêsu đi mà đánh đòn. Họ chụp lên đầu Ngài một vòng gai và khoác cho Người một áo choàng đỏ, rồi mỉa mai: “Kính chào Vua dân Do Thái!”, và vả vào mặt Ngài. Như vậy, nhân vị của Ngài đã bị khinh miệt, nhân phẩm của Ngài bị chà đạp, và nhân quyền của Ngài cũng bị tước đoạt. Ông Philatô dẫn Chúa Giêsu ra ngoài để đám đông thấy Ngài không còn hình tượng một con người mà thương. Nhưng vừa thấy Ngài, các thượng tế cùng các thuộc hạ liền kêu lên rằng: “Đóng đinh nó vào thập giá!” (Ga 19:6). Một lần nữa, ông Philatô lại khiếp nhược nên bảo họ: “Các người cứ đem ông này đi mà đóng đinh vào thập giá, vì phần ta, ta không tìm thấy lý do để kết tội ông ấy” (Ga 19:6).
Một người nắm quyền trong tay và biết rõ bị cáo không có tội mà vẫn không dám tha, người đó quả là bất tài, vô dụng, ích kỷ, chỉ lo giữ “cái ghế” của mình, chỉ muốn lợi cho mình mà chà đạp người khác. Đó là một dạng bóc lột, không tôn trọng công lý. Vậy người đó có đáng được tôn trọng? Người nắm quyền lực mà không tôn trọng nhân vị, nhân phẩm và nhân quyền, không lấy dân làm gốc, làm sao quốc thái dân an?
Dù ai nói ngả, nói nghiêng, nói xuôi, nói ngược, nói tới, nói lui, và họ có nói gì thì Chúa Giêsu cũng chỉ im lặng. Ngài biết rằng có nói cũng vô ích, chỉ như nước đổ lá môn, không bằng nói với đầu gối. Sau khi tòa tuyên án, bị cáo nào cũng có quyền kháng cáo, nhưng “bị cáo” Giêsu lại không có quyền tối thiểu đó. Nhân quyền của Ngài hoàn toàn bị tước đoạt! Và Chúa Giêsu nói với ông Philatô: “Ngài không có quyền gì đối với tôi, nếu Trời chẳng ban cho ngài. Vì thế, kẻ nộp tôi cho ngài thì mắc tội nặng hơn” (Ga 19:11). Nghe vậy, ông Philatô cũng thấy “nổi gai óc” nên tìm cách tha Ngài, nhưng ông vẫn không dám quyết định theo quyền hạn của mình vì áp lực dân chúng. Cách xử sự hèn nhát của Philatô cũng chính là động thái hèn hạ của chúng ta ngày nay đối với tha nhân.
Cuối cùng, ông Philatô cũng đành cho thi hành án tử đối với “tử tội công chính” là Chúa Giêsu. Họ bắt Ngài tự vác Thập Giá lên đồi Gôngôtha, nghĩa là Cái Sọ – cũng gọi là Đồi Sọ, Can-vê, nơi xử tử các tội nhân. Đồng án tử với Ngài có hai người khác nữa, hai người hai bên Chúa Giêsu. Tấm bảng ghi “Giêsu Nadarét, Vua dân Do Thái” treo phía trên đầu Ngài, được viết bằng 3 ngôn ngữ: Hípri, La Tinh và Hy Lạp (2). Các thượng tế không đồng ý gọi Chúa Giêsu là “Vua dân Do Thái”, nhưng ông Philatô nói: “Ta viết sao, cứ để vậy!” (Ga 19:22). Philatô chỉ lăm le với người dưới quyền chứ không dám “nói mạnh” với đám đông nổi loạn, dù họ chỉ là đám dân đen!
Đóng đinh Đức Giêsu vào thập giá xong, họ chia chác quần áo của Ngài. Họ muốn chế nhạo Ngài chứ có gì đáng giá đâu! Lúc đó, Chúa Giêsu bắt đầu kiệt sức. Ngài trối Đức Mẹ cho Gioan và trao Gioan cho Đức Mẹ. Đức Giêsu biết là mọi sự đã hoàn tất. Mất máu nhiều nên Ngài nói: “Tôi khát!” (Ga 19:28). Nhưng người ta lại nỡ lấy miếng bọt biển thấm giấm chua mà cho Ngài giải khát. Nhắp xong, Đức Giêsu nói: “Thế là đã hoàn tất!” (Ga 19:32). Rồi Ngài gục đầu xuống và dâng trao Thần Khí.
Thứ Sáu Tuần Thánh là ngày Đại Tang của Giáo hội. Sự kiện hôm nay là “nghi lễ của mọi nghi lễ”, là “hiến lễ của mọi hiến lễ”, là “thánh lễ của mọi thánh lễ”. Vì thế, Giáo hội không cử hành thánh lễ mà chỉ có phụng vụ Lời Chúa, tôn kính Thánh Giá và rước lễ.
Tình Giêsu là “tình cho không biếu không”, nhưng chúng ta thường có khuynh hướng “tội nghiệp” Chúa Giêsu hơn là tội nghiệp chính mình. Khi Chúa Giêsu thấy có nhiều phụ nữ, vừa đấm ngực vừa than khóc, trong đám đông đi xem Ngài lên đồi chịu xử tử, nên Ngài đã quay lại và nói: “Hỡi chị em thành Giêrusalem, đừng khóc thương tôi làm gì. Có khóc thì khóc cho phận mình và cho con cháu” (Lc 23:28).
Một điểm khác chúng ta cần lưu ý là “tính a dua”, như người ta thường nói: “Người ta làm sao thì tôi làm vậy, người ta làm bậy thì tôi… làm theo”. Ui da! Thật là nguy hiểm, vì đó là lối sống quá tiêu cực, không có lập trường, mạnh đâu âu đó!
Giờ Thương Xót đã điểm. Người được lãnh Hồng Ân Thương Xót đầu tiên là tướng cướp Dismas, tử tội cùng bị đóng đinh với Chúa Giêsu: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23:43). Diễm phúc biết bao!
Hôm nay, khi tưởng niệm cuộc khổ nạn và sự chết của Đức Giêsu Kitô, Giáo hội cầu nguyện cho mọi tầng lớp trong xã hội, ước gì chúng ta cũng quyết tâm thực hành lời Thánh Vịnh: “Hãy bênh quyền lợi kẻ mồ côi, người hèn mọn; minh oan cho người khốn khổ, kẻ bần cùng, giải phóng ai hèn mọn, ai nghèo túng, cứu khỏi nanh vuốt bọn ác nhân” (Tv 82:3-4). Đó là sống lòng thương xót. Chúng ta đã được Chúa Giêsu thương xót, chúng ta không thể không thương xót người khác!
Ơn Cứu Độ thật tuyệt vời: Máu Chúa đỏ tươi đã tẩy rửa tội nhân chúng ta nên trắng ngần. Xin trọn đời tạ ơn Lòng Chúa Thương Xót.
Lạy Thiên Chúa giàu lòng thương xót, chúng con thật khốn nạn mà vẫn tưởng mình tốt lành hơn người khác, chúng con đã a dua và đồng lõa với cái ác mà cứ tưởng mình chân chính hơn người khác. Chúng con chân thành thú nhận mọi lỗi lầm, thành tâm xin lỗi Chúa và xin lỗi tha nhân. Xin thương xót chúng con và ban cho chúng con được hưởng nhờ Ơn Cứu Độ của Con Chúa. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ của chúng con. Amen.
-----------------------
 (1) Thần Tính và Nhân Tính (8+8=16) của Chúa Giêsu:
 THẦN TÍNH: Ngài được tôn thờ (Mt 2:2 và 11;14:33); Ngài được gọi là Chúa (Ga 20:28;Dt 1:8); Ngài được gọi là Con Thiên Chúa (Mc 1:1); Ngài được người ta cầu xin (Cv 7:59); Ngài vô tội (1 Pr 2:22; Dt 4:15); Ngài biết mọi sự (Ga 21:17); Ngài ban sự sống đời đời (Ga 10:28); Sự viên mãn của thần tính có nơi Ngài (Cl 2:9).
 NHÂN TÍNH: Ngài tôn thờ Chúa Cha (Ga 17); Ngài được gọi là người (Mc 15:39;Ga 19:5); Ngài được gọi là Con Người (Ga 9:35-37); Ngài cầu nguyện với Chúa Cha (Ga 17); Ngài bị cám dỗ (Mt 4:1); Ngài lớn lên trong sự khôn ngoan (Lc 2:52); Ngài chịu chết (Rm 5:8); Ngài có xương thịt (Lc 24:39).
(2) Híp-ri: יסוע נצריא מלכא דיהודיא; Latin: Iēsus Nazarēnus, Rēx Iūdaeōrum; Hy Lạp: Ιησουσ Ο Ναζωρεοσ Ο Βασιλευσ Των Ιουδαιων.
Đường Lên Thánh Giá: https://www.youtube.com/watch?v=VJ-2CkFUhBI
Mầu Nhiệm Thập Giá: https://www.youtube.com/watch?v=oXhiEd1PmhY

 

Tuầnthánh 6-79: CHIẾN THẮNG ĐAU KHỔ

Lm. Jos. DĐH
 

Vui thì cười, buồn thì khóc, có sinh ắt có tử, đó là quy luật; trong cuộc sống có đau khổ, buồn chán, Tuầnthánh 6-79

Vui thì cười, buồn thì khóc, có sinh ắt có tử, đó là quy luật; trong cuộc sống có đau khổ, buồn chán, thất vọng, nhưng phía sau đó có bình an, có được vinh quang hạnh phúc, còn tùy mỗi người. Các bậc làm cha mẹ kể về thành tích cho con cháu nghe, bao giờ cũng dễ hơn là kể về thất bại của họ. Người đời cho rằng : con hư tại mẹ cháu hư tại bà, ngụ ý là con cái hư hỏng, bất hiếu là vì cha mẹ thiếu quan tâm chăm sóc giáo dục. Cũng không ít người lại đổ lỗi cho môi trường xã hội, là nguyên nhân làm thay đổi tâm tính con người : nhân chi sơ tính bổn thiện. (Mạnh Tử).
Chiều hôm nay phụng vụ mời gọi chúng ta suy niệm cuộc thương khó của Chúa Giêsu, nhằm hướng lòng chúng ta có cái nhìn lạc quan hơn về thiện ác. Trước hết, Chúa Giêsu chịu đau khổ thập giá, chịu chết, hầu cứu con người khỏi án chết, đó không phải là hận thù, cũng chẳng phải là quy luật. Cuộc thương khó nhắc nhớ con người về Đấng đến trần gian thực hiện ơn cứu độ, Thiên Chúa yêu con người đến cùng tận. Mang bản tính con người giới hạn, khi gặp đau khổ, im lặng đã là khó rồi, nói chi đủ bình tĩnh để nói đến yêu thương tha thứ.
Xung quanh chúng ta, hàng ngày biết bao người vĩnh viễn ra đi vì già lão bệnh tật, đôi khi vì tai nạn nghề nghiệp, vì giao thông…. Có những cái chết thật đau thương như câu ca dao : lá vàng đeo đẳng trên cây, lá xanh rụng xuống trời ơi hỡi trời. Cuộc thương khó chúng ta đang suy niệm cho thấy có sự kỳ lạ, ba người bị treo trên thập giá, trong đó có hai trường hợp bị kết tội trộm cướp, Chúa Giêsu thì có bản án ghi trên đầu : “Giêsu Nagiarét, vua dân Do-thái”. Dân chúng đóng đinh vua nhất định phải là phản loạn, con cái lên án cha mẹ thì gọi là bất hiếu, con người tội lỗi mà xử án chết Thiên Chúa thì gọi là gì ?
Nhiều người vẫn thắc mắc, sao Đức Giêsu không xuống khỏi thập giá để trị tội những kẻ tội lỗi dám xúc phạm đến Thiên Chúa. Xin thưa là bài thương khó cũng có nói rất nhiều người ở dưới cây thập giá lúc đó, cả anh trộm dữ treo bên tả Chúa cũng xỉ vả như vậy ! Thật ra, Kitô giáo chúng ta gọi là mầu nhiệm đau khổ, mầu nhiệm thập giá hoàn toàn chính xác. Nếu không phải là vì yêu, hẳn Đức Giêsu đã xuống khỏi thập giá để trị tội những kẻ gian ác rồi.
Với niềm tin Kitô giáo chúng ta, Đức Giêsu vô tội mà chịu đau khổ, chịu chết cho con người, nhất định phải là một minh chứng tình yêu mà họ đang mong chờ. Khi Đức Giêsu bị xét xử, số người âm thầm tin tưởng vào Ngài thì quá khiêm tốn, họ là người dân bình thường, nhưng lại trung thành theo Chúa Giêsu đến cùng. Dù sao số người tin yêu Chúa cũng là chút an ủi bé nhỏ con người danh cho Thiên Chúa, ngôn ngữ bình dân gọi là có còn hơn không.
Dưới mắt trần xác thịt, Đức Giêsu chịu bản án chết là thất bại hoàn toàn, nhưng người tin vào Đức Giêsu là Thiên Chúa, Ngài thực sự đã vượt qua được đau khổ thập giá để đến vinh quang. Thập giá cuộc đời của mỗi người hôm nay, vẫn có đau khổ, sợ hãi, có cám dỗ bỏ cuộc, chỉ khi mắt tâm hồn ta rộng mở, ta mới thấy thập giá luôn có Chúa Giêsu hiện diện nâng đỡ.
Đức Giêsu trên thập giá thật sự đã dang tay yêu thương, chờ đón con người. Ngay từ đầu, Ngài có thể từ chối đau khổ thập giá, hoặc có thể loại trừ các học trò hư hỏng, hèn nhát bỏ Thầy bán Chúa. Ngài không xử như thế, Thiên Chúa là tình yêu, và yêu đến cùng tận, là yêu đến độ dám hy sinh mạng sống mình vì người mình yêu là thế ! Nếu người trộm lành năm xưa thấy được Đức Giêsu là Thiên Chúa yêu thương, lẽ nào chúng ta hôm nay lại không nhận ra Ngài đang chờ đợi mỗi người hay hành động sám hối như anh trộm lành. Xin Chúa Giêsu chịu đóng đinh, hướng dẫn từng người chúng ta biết đi sâu vào trong mầu nhiệm tình yêu hiệp thông của Ngài. Amen.

 

Tuầnthánh 6-80:  TÌNH YÊU CAO VỜI

Lm. Inhaxiô Trần Ngà
 

Chúa Giê-su phán: “Không có tình yêu nào cao cả cho bằng tình.... Đúng vậy, Ngôi Hai Thiên Chúa Tuầnthánh 6-80

Chúa Giê-su phán: “Không có tình yêu nào cao cả cho bằng tình yêu của người hiến mạng sống cho bạn hữu mình” (Ga 9,13).
Đúng vậy, Ngôi Hai Thiên Chúa đã dâng hiến mạng sống Ngài cho loài người tội lỗi để cứu họ khỏi hư mất đời đời. Vì thế, tình yêu của Ngài thật cao vời khôn ví.
Chỉ vì muốn cứu chúng ta khỏi hư mất đời đời, Ngôi Hai Thiên Chúa, là Đấng cùng với Chúa Cha tạo dựng nên vũ trụ càn khôn, tạo dựng nên mọi người trên thế gian này, đã hạ mình xuống thế làm người phàm yếu đuối, mang lấy tội lỗi của nhân loại vào thân và vì thế, phải chịu khổ nạn đau thương để đền tội thay, chết thay cho chúng ta.
Chỉ vì muốn cứu chúng ta khỏi án phạt đời đời, Ngôi Hai Thiên Chúa là Vua muôn vua, là Chúa muôn loài, đã để cho con người hèn hạ lùng bắt Ngài giữa đêm đen, buộc trói Ngài lại và điệu đi như một tên gian ác.
Chỉ vì muốn đền tội cho chúng ta, Ngôi Hai Thiên Chúa là Vị Thẩm Phán uy nghi trên cõi trời cao, là Đấng ngự trên toà tối cao phán xét cả thiên thần lẫn loài người, đã để cho những tên phàm phu tục tử, đê hèn và đốn mạt đứng ra xét xử Ngài, xỉ vả, nhiếc mắng, vung tay tát vào mặt Ngài, thậm chí khạc nhổ lên khuôn mặt cao quý thánh thiện của Ngài.
Chỉ vì muốn đền tội cho chúng ta, Ngôi Hai Thiên Chúa là Chúa Tể cả vũ trụ càn khôn, là Đấng đầy quyền năng phép tắc, đã để cho con người hèn mọn lột áo Ngài ra, quất lên thân thể Ngài những ngọn roi ác nghiệt. Ôi, những lằn roi ác nghiệt làm cho máu thánh Ngài tươm ra khắp toàn thân!
Chỉ vì muốn đền tội cho chúng ta, Ngôi Hai Thiên Chúa, Đấng đầy quyền năng và sức mạnh, chỉ phán một lời đủ làm cho bão tố phải lặng yên, lại chấp nhận làm “Con Chiên” đền tội, để cho người ta đóng đinh tay chân Ngài vào Thập tự giá. Một khi chịu treo lên Thập tự giá, Ngài trở nên yếu đuối hơn cả những người yếu đuối nhất: Dù muốn xua đuổi ruồi mòng bâu vào các vết thương, chích hút máu mủ của mình, Ngài cũng không làm được.
Chỉ vì muốn cứu chuộc chúng ta, Ngôi Hai Thiên Chúa, Đấng bá chủ đất trời, là chủ nhân của mọi kho báu trong hoàn vũ, lại trở nên người nghèo thiếu hơn mọi người nghèo nhất thế gian: Chết trần, chết trụi không mảnh vải che thân.
Chỉ vì muốn cho chúng ta được sống đời đời, Ngôi Hai Thiên Chúa là Đấng tạo dựng và thông ban sự sống cho các thiên thần và loài người, giờ đây chỉ còn là một xác chết, để cho người ta an táng trong mồ.
Một Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ càn khôn, một Thiên Chúa đầy quyền năng phép tắc, một Đấng trao ban sự sống cho muôn vật muôn loài… đã trở thành một thi hài im lìm bất động, không chút hơi thở, không còn sự sống, nằm im lìm trong lòng đất!
Tất cả chỉ vì để đền tội và cứu chuộc chúng ta.
Giờ đây, trước Thánh giá Chúa Giê-su, chúng ta hãy tự hỏi mình:
Chúa Cứu Thế đã hy sinh tột bậc, hy sinh tất cả, từ bỏ tất cả vì ta, chúng ta phải báo đáp thế nào cho cân xứng?
Chúng ta phải dốc lòng chừa tội là nguyên nhân gây ra cuộc khổ nạn đau thương của Chúa hay cứ tiếp tục phạm tội để Chúa phải đau khổ triền miên?
Lạy Chúa Giê-su,
Chúa đã chịu đau khổ quá mức rồi, xin cho chúng con đừng tay lại, đừng phạm tội nữa để khỏi chất lên thân mình Chúa thêm nhiều cực hình và đau thương.
Chúa đã trả giá quá cao để cứu linh hồn chúng con khỏi tội lỗi và khỏi án phạt đời đời trong hoả ngục, xin cho chúng con quyết tâm chừa tội để khỏi làm lãng phí công trình cứu chuộc của Chúa.

 

Tuầnthánh 6-81: NGƯỜI TÔI TỚ

Huệ Minh
 

Hôm nay toàn thể Giáo Hội tưởng niệm việc Chúa Giêsu chịu chết. Việc tưởng niệm cái chết của Tuầnthánh 6-81

Hôm nay toàn thể Giáo Hội tưởng niệm việc Chúa Giêsu chịu chết. Việc tưởng niệm cái chết của Chúa Giêsu không phải là ôn lại một kỷ niệm trong quá khứ, nhưng để chiêm ngắm việc Người chịu chết để ta khám phá ra Tình Vô tận mà Thiên Chúa dành cho nhân loại. Cái chết của Chúa Giêsu không phải như cái chết của một ông vua, một nhà lãnh tụ của quốc gia, của một nhân vật nổi tiếng trong lịch sử của loài người. Cái chết Chúa Giêsu là cái chết của Người Con Một, Người Con Duy Nhất của Thiên Chúa.
Giáo hội như muốn mời gọi chúng ta đi vào thinh lặng, từ các trang trí cho đến những bài ca phụng vụ, tất cả đều đưa chúng ta vào cõi thinh lặng. Thinh lặng để nhìn ngắm Chúa Giêsu trên Thập Giá, thinh lặng để lắng nghe tiếng nói từ Thập Giá. Thập Giá vẫn mãi mãi là một mầu nhiệm. Tại sao điều đó có thể xảy ra cho Thiên Chúa? Tại sao Con Một Thiên Chúa lại có thể chịu chết treo trên Thập Giá?
Cái chết của Chúa Giêsu mang nhiều ý nghĩa : Đó là cái chết được báo trước : “Con Người sẽ bị nộp cho các Thượng tế và Kinh sĩ. Họ sẽ lên án xử tử Người và sẽ nộp Người cho dân ngoại. Họ sẽ nhạo báng Người, khạc nhổ vào Người, sẽ đánh đòn và giết chết Người.” (Mc 10, 33-34). Đó là cái chết vì yêu mến Chúa Cha, để vâng phục thánh ý Chúa Cha.
Chúa Giêsu chịu chết để tiêu diệt thần chết là ma quỷ và sự dữ.
Chúa Giêsu chịu chết vì tội lỗi của nhân loại, vì yêu thương và muốn cứu chuộc nhân loại. Nhờ sự chết của Chúa, loài người được giao hòa với Thiên Chúa. Nhờ sự chết của Chúa, con người được sống và được tham dự vào sự phục sinh của Người. Thật vậy, Chúa chịu chết để cho con người được hưởng vinh quang trong Nước Trời.
Cho dù có phải hy sinh, tủi nhục, đau khổ, bị bỏ rơi, Chúa vẫn sẵn sàng đi trọn con đường đau thương, vẫn trung thành vác thập giá và nhất là phải chết trên thập giá.
Trên thập giá, Chúa Giêsu trở nên “Chiên Thiên Chúa đến gánh tội trần gian” (Ga 1,29), mang lấy tội lỗi nhân loại nơi thân mình Người. “Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Người.” (2 Cr 5,21)
Thiên Chúa đã chết vì tội chúng ta. Thiên Chúa đã phải trả giá quá đắt để cứu loài người khỏi chết. Thiên Chúa đã yêu thương thế gian như thế đó! Vậy mà tôi vẫn vô tâm !
Về cuộc tử nạn và cái chết của Chúa Giêsu, thiết tưởng chúng ta chỉ nên giữ thinh lặng. Trong thinh lặng, chúng ta mới cảm nhận được cái nhìn yêu thương trìu mến của Chúa Giêsu. Và trong cái nhìn ấy chúng ta mới nghe được chính tiếng nói của Ngài. Chỉ có kẻ đau khổ mới có thể đưa chúng ta vào nỗi khổ đau của họ. Chỉ có Chúa Giêsu mới có thể đưa chúng ta vào những nỗi khổ đau của Ngài. Sự thinh lặng đưa chúng ta vào mầu nhiệm của khổ đau.
Trong hai người cùng chịu treo trên Thập Giá bên cạnh Chúa Giêsu, một người đã không ngừng lên tiếng kêu gào rửa xả, trong khi đó kẻ được mệnh danh là trộm lành chỉ biết thốt lên lời van xin cứu vớt. Ðối với chúng ta, điều đó thật là phải lẽ, xứng với tội lỗi chúng ta. Kẻ trộm lành quả thực đã đi sâu vào mầu nhiệm của Thập Giá, ông đã nhận ra thân phận tội lỗi của mình.
Cái chết của Chúa Giêsu trên Thập Giá trước tiên là một bày tỏ về bộ mặt tội lỗi của nhân loại. Mãi mãi Thập Giá vẫn là biểu trưng của sự độc ác của con người. Ðó là đỉnh cao trí tuệ của con người trong việc sáng chế ra những phương thế để hành hạ nhau, để loại trừ nhau, để chém giết nhau. Ðó là bản án của tội lỗi nhân loại trải qua mọi thời đại.
Nhìn lên Thập Giá Chúa Giêsu, mỗi người chúng ta chỉ có thể đấm ngực ăn năn về chính tội lỗi của mình mà thôi. Thập Giá của Chúa Giêsu vẫn luôn có đó để chiếu rọi vào thân phận tội lỗi của con người. Thập Giá không chỉ là mạc khải về tội lỗi của con người, nhưng tội lỗi còn là mặt trái của một nguồn ánh sáng vô biên.
Ðó là ánh sáng của tình yêu. Cái chết của Chúa Giêsu trên Thập Giá là biểu tỏ của một tình yêu tha thứ cho đến cùng. Có lẽ người trộm lành đã hiểu được điều đó khi ông quay nhìn sang Chúa Giêsu trên Thập Giá. Trong ánh mắt của Chúa Giêsu, người trộm lành chỉ có thể thấy bừng lên tình yêu nhân từ và tha thứ khi được tình yêu Chúa Giêsu chiếu dọi vào. Bên cạnh Chúa Giêsu, người trộm lành được ôm ấp với cái nhìn trìu mến và tha thứ của Ngài.
Ta còn được mời gọi nhìn thấy chính cây giá gỗ, trên đó Đức Giêsu chịu đóng đinh như là một dụng cụ nhục hình và tử hình. Thập giá là hình phạt tiêu biểu mà Lề Luật dành cho người phạm trọng tội. Vì thế, Thập Giá là biểu tượng cho công lí của con người.
Ấy vậy mà, người chịu đóng đinh là chính Đức Giêsu, Đấng hoàn toàn vô tội, Đấng công chính hoàn hảo; vì thế, sự công chính của con người chỉ là giả tạo, gian dối và chỉ có vẻ bề ngoài.
Nơi Thập Giá, Đức Kitô muốn giải thoát ta một cách chính xác khỏi sự công chính giả tạo nhân danh Lề Luật, sự công chính bề ngoài đến từ chính chúng ta, để trao ban cho chúng ta sự công chính của chính Ngài, sự công chính đích thật của con Thiên Chúa.
Nơi Thập Giá, Đức Kitô mang vào mình mọi “bệnh hoạn tật nguyền” của chúng ta, để làm cho chúng ta trở nên lành mạnh, nên công chính cách nhưng không, như bài ca về “Người Tôi Tớ Đau Khổ” đã loan báo. Vì thế, trên tất cả, nơi thập giá của Đức Kitô, chúng ta được mời gọi nhìn ra trong tín thác và bình an thẳm sâu “Khuôn Mặt đích thật” của chính Thiên Chúa.
Và rồi khi khám phá ra khuôn mặt đích thực của Thiên Chúa, ta thấy một Tình Yêu vô tận đã yêu thương ta. Nhận ra như vậy, ta lại sống như thế nào đó cho xứng đáng với sự hy sinh tột cùng của Tình Yêu vô tận đó.

 

Tuầnthánh 6-82: NƠI THÁNH GIÁ THIÊN CHÚA TRAO TÌNH YÊU

Lm. JB Nguyễn Minh Hùng
 

Nhìn lên thánh giá, suy nghĩ nông cạn và non nớt của loài người dễ cho rằng, đó là một thất bại to Tuầnthánh 6-82

Nhìn lên thánh giá, suy nghĩ nông cạn và non nớt của loài người dễ cho rằng, đó là một thất bại to lớn.
Thực ra, đối với Kitô hữu, Thánh giá chính là hiện thân, là sự thành công lớn lao của một tình yêu tận cùng, một tình yêu vượt hết mọi rào cảng, vượt thắng tất cả sự tàn nhẫn và tội ác của con người. Đó là một tình yêu hạ mình, một tình yêu mà Thiên Chúa là Chúa trời đất hiến dâng chính mình để cứu lấy con người.
Thánh Gioan ghi nhận lời của Chúa Giêsu, cũng chính là ghi nhận lời của Tình Yêu không cùng ấy: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một mình, để tất cả những ai tin ở Người Con ấy thì không phải chết, nhưng được sống đời đời” (Ga 3, 16).
“Yêu… đến nỗi đã ban”, cụm từ tuy đơn giản nhưng khắc họa sự lớn lao hết sức của tình yêu, đủ nói lên tất cả sức mạnh, tất cả sự tha thiết, tất cả sự mãnh liệt của một tấm lòng yêu thương.
Còn hơn cả một lòng yêu thương, bởi tình yêu của Đấng đã “Yêu… đến nỗi đã ban” ấy không phải như tình yêu con người dành cho nhau, nhưng là tình yêu của Đấng Tạo Thành dành cho thụ tạo của mình. Đó là Tình Yêu của Thiên Chúa hiến dâng cho loài người.
Và tình yêu mà Thiên Chúa đã ban, không phải là một cái gì bên ngoài Thiên Chúa, nhưng là chính bản thân Thiên Chúa, là chính Đấng phát xuất từ giữa cung lòng Thiên Chúa. Chúa Giêsu Kitô, Thiên Chúa làm người, là hiện thân khôn tả của tình yêu vô cùng mà Thiên Chúa dành cho loài người.
Vì thế, khuôn mặt thập giá của Chúa Kitô là bằng chứng hùng hồn nhất, là tiếng nói mạnh mẽ nhất, là nét bút tuyệt vời nhất, là vết khắc sâu sắc nhất về một tình yêu bền vững có một không hai trong lịch sử nhân loại, tình yêu của Thiên Chúa từ trời cao dành cho người trần thế.
Bởi vậy, cái chết của Con Người chịu đóng đinh kia, cho thấy chiến thắng của tình yêu siêu phàm. Cái chết uy hùng kia biểu dương một tình yêu mạnh hơn sự chết, có sức tiêu diệt hận thù và làm phát sinh từ trong cái chết của tội lỗi loài người một nguồn sống vô tận cho cả loài người.
Hôm nay, trong nghi thức tôn thờ Thánh Giá Chúa Giêsu, nhất là cùng nhau đến hôn kính chân tượng chịu nạn, chúng ta hãy mang hết tâm hồn đặt dưới chân Chúa để cảm tạ Người.
Trao dâng Con của mình, tức là Thiên Chúa trao tặng chính mình, trao tặng chính sự hy sinh lớn lao của bản thân để cứu độ chúng ta. Vì thế, chúng ta hãy cảm tạ Thiên Chúa đến vô cùng, hãy cảm tạ Thiên Chúa không phải bằng lời, nhưng bằng cả cõi lòng mình. Hãy ý thức thật sâu lắng và mạnh mẽ: Chúa yêu thương ta đến nỗi không còn kể mình nữa, miễn là ta được sống. Ý thức thật nhiều, để niềm ý thức ấy trở nên nung đốt tâm tình cảm tạ trong ta thật mãnh liệt, thật dồi dào, thật trào tràn.
Lạy Chúa, chúng con tôn thờ Thánh Giá Chúa. Chúng con ca tụng Tình Yêu diệu kỳ của Chúa đã làm cho chúng con được tái sinh trong sự sống. Xin cho chúng con luôn ý thức Tình Yêu mà Chúa dành cho chúng con, để chúng con sống suốt đời cho Tình Yêu của Chúa, và ngày càng xứng đáng với mối tình siêu nhiên ấy. Amen.

 

Tuầnthánh 6-83: TÌNH YÊU VƯỢT TRÊN SỰ CHẾT

Ga 18,1-19.42
 

Ngày hôm nay, Giáo Hội tưởng niệm việc Chúa Giêsu chịu Hiến tế, chịu chết trên Thập giá để cứu Tuầnthánh 6-83

Ngày hôm nay, Giáo Hội tưởng niệm việc Chúa Giêsu chịu Hiến tế, chịu chết trên Thập giá để cứu chuộc chúng ta. Ngày mà Ngài hoàn tất chương trình cứu chuộc đã được Cha sai đến trần gian. Vì yêu, Ngài đã đến thế gian để ở với chúng ta, chia sẻ kiếp người với chúng ta. Vì yêu chúng ta đến cùng  mà Ngài đón nhận cái chết như là quà tặng Cha ban để cứu chuộc chúng ta. Thật là một tình yêu cao cả và vĩ đại, một tình yêu vượt trên cả sự chết.
Nhìn lên Thánh giá, chúng ta thấy vị Thiên Chúa làm người, Ngài chịu trên thập giá để đền tội thay cho chúng ta. Cái chết của Ngài không giống như những cái chết của một con người bình thường chết vì tội lỗi của mình mà cái chết của Ngài là cái chết tự nguyện, chết có mục đích và ý nghĩa. Ngài chết để cứu chuộc chúng ta, để chúng ta được sống và sống dồi dào hạnh phúc. Ngài chết vì Ngài muốn yêu và vì yêu chúng ta, một tình yêu có sức cuốn hút Ngài đi vào con đường hy sinh mạng sống cho toàn thể nhân loại, đúng là tình yêu vượt trên sự chết.
Tình yêu Chúa dối với chúng ta như thế. Nhưng có mấy khi chúng ta đón nhận để rồi chúng ta trao ban lại cho tha nhân. Thế mà nhiều lúc cúng ta còn chối từ, còn phản bội để đi vào con đường tội lỗi,
 Hôm nay, giáo Hội mời gọi ta suy tôn thánh giá. chúng ta hãy thật sự thinh lặng cõi lòng mình. Hãy mở con mắt đức tin để chiêm ngắm Chúa. Chiêm ngắm tình yêu thương tha thứ vô biên của Chúa dành cho chúng ta. Một tình yêu vượt trên cả sự chết. Vì“không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình (Ga,13)
Do đó, chúng ta hãy sống cho xứng đáng với tình yêu Chúa dành cho ta bằng cách diệt trừ tội lỗi trong ta mà mau quay gót trở về bên tình yêu dịu hiền của Chúa. Hãy sống thánh thiện, như Cha trên trời là đấng hoàn thiện .và hãy yêu tha nhân như Chúa đã yêu chúng ta, một tình yêu vị tha, quảng đại và quên cả chính mình.
 Vậy bạn có quyết tâm sống thế nào khi tham dự nghi lễ suy tôn Thánh giá. tưởng nhớ Mầu Nhiệm tình yêu cứu chuộc của Chúa, một tình yêu vượt trên cả sự chết?
Lạy Chúa, xin cho chúng con luôn cảm nghiệm được tình Chúa yêu con, Ngài đã chết vì tội lỗi chúng con để chúng con luôn sống gắn bó mật thiết với Chúa, biết tránh xa dịp tội. Hầu không những chúng con luôn biết quay gót trở về với Chúa mà còn đưa tha nhân, anh chi em chúng con cùng trở về với Chúa như chính tình yêu Chúa dành cho con.
 Nt. Madalena Nguyễn Thị Lan O.P

 

Tuầnthánh 6-84: SUY NIỆM THỨ SÁU TUẦN THÁNH

LỜI CHÚA : Ga 18,1-19,42
"Người xem thấy việc này đã làm chứng, và lời chứng của người ấy xác thực." (Ga 19,35)
CHÚA GIÊSU CHẾT VÌ TỘI LỖI CỦA NHÂN LOẠI
 

Như bao người trần thế, Chúa Giêsu đã chết và chết thật. Hôm nay toàn thể Giáo Hội tưởng niệm việc Tuầnthánh 6-84

Như bao người trần thế, Chúa Giêsu đã chết và chết thật.
Hôm nay toàn thể Giáo Hội tưởng niệm việc Chúa Giêsu chịu chết. Việc tưởng niệm cái chết của Chúa Giêsu không phải là ôn lại một kỷ niệm trong quá khứ, nhưng để chiêm ngắm việc Người chịu chết, không phải như cái chết của một ông vua, một nhà lãnh tụ của quốc gia, của một nhân vật nổi tiếng trong lịch sử của loài người. Cái chết Chúa Giêsu là cái chết của Người Con Một, Người Con Duy Nhất của Thiên Chúa.
Sự chết của Chúa Giêsu mang nhiều ý nghĩa : Đó là cái chết được báo trước : “Con Người sẽ bị nộp cho các Thượng tế và Kinh sĩ. Họ sẽ lên án xử tử Người và sẽ nộp Người cho dân ngoại. Họ sẽ nhạo báng Người, khạc nhổ vào Người, sẽ đánh đòn và giết chết Người." (Mc 10,33-34). Đó là cái chết vì yêu mến Chúa Cha, để vâng phục thánh ý Chúa Cha.
Chúa Giêsu chịu chết để tiêu diệt thần chết là ma quỷ và sự dữ.
Chúa Giêsu chịu chết vì tội lỗi của nhân loại, vì yêu thương và muốn cứu chuộc nhân loại. Nhờ sự chết của Chúa, loài người được giao hòa với Thiên Chúa. Nhờ sự chết của Chúa, con người được sống và được tham dự vào sự phục sinh của Người. Thật vậy, Chúa chịu chết để cho con người được hưởng vinh quang trong Nước Trời.
Cho dù có phải hy sinh, tủi nhục, đau khổ, bị bỏ rơi, Chúa vẫn sẵn sàng đi trọn con đường đau thương, vẫn trung thành vác thập giá và nhất là phải chết trên thập giá.
Trên thập giá, Chúa Giêsu trở nên "Chiên Thiên Chúa đến gánh tội trần gian" (Ga 1,29), mang lấy tội lỗi nhân loại nơi thân mình Người. "Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Người." (2 Cr 5,21)
Thiên Chúa đã chết vì tội chúng ta. Thiên Chúa đã phải trả giá quá đắt để cứu loài người khỏi chết. Thiên Chúa đã yêu thương thế gian như thế đó! Vậy mà tôi vẫn vô tâm !
Lẽ nào tôi vẫn tiếp tục vui hưởng cuộc đời và tiếp tục phạm thêm tội lỗi để mặc cho Chúa cứ phải triền miên đau khổ vì tôi?
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã chết vì yêu thương và cứu chuộc chúng con. Chúng con xin chân thành cảm tạ tình yêu cao cả của Chúa. Xin cho chúng con biết sống xứng đáng với tình thương của Chúa và mãi trung thành với hồng ân cao quí Chúa đã dành cho chúng con. Amen.
Lm. Duy Khang

 

Tuầnthánh 6-85: Nghi Thức Tưởng Niệm Cuộc Thương Khó

1. Thập Giá và Lịch Sử Cứu Độ
 

Giống như Bí Tích Thánh Thể, chúng ta chỉ có thể chiêm ngắm, hiểu biết và cảm nếm cuộc Thương Tuầnthánh 6-85

Giống như Bí Tích Thánh Thể, chúng ta chỉ có thể chiêm ngắm, hiểu biết và cảm nếm cuộc Thương Khó với tất cả tầm mức “dài, rộng, cao, sâu”, khi khởi đi Lịch Sử Cứu Độ. Thật vậy, với thân xác mỏng manh của Con Thiên Chúa nhập thể, Đức Giê-su được mời gọi bày tỏ Khuôn Mặt Rạng Người của Thiên Chúa Cha, một khuôn mặt đã bị hiểu lệch lạc, bị bóp méo, ngay từ nguồn gốc sự sống (x. St 3, 1-7: Thiên Chúa “lừa dối” con người, khi đưa ra “lệnh truyền”!), nhưng không phải bằng những kì công lớn lao, hay những phép lạ cả thể, bởi vì lịch sử Dân Do Thái và cuộc đời của Đức Giê-su cho thấy rằng, những kì công lớn lao và những phép lạ cả thể không những không mang lại lòng tin, nhưng còn khơi dậy lòng ham muốn không cùng những điều lạ, ngoài ra còn bị Sự Dữ xen vào khơi dậy những cách hiểu và hành động lệch lạc.
Vì thế, trong cuộc Thương Khó, Đức Giê-su đã bày tỏ Khuôn Mặt Rạng Ngời của Thiên Chúa Cha theo một cách khác, “một cách điên rồ”, nhưng là sự điên rồ của tình yêu và khôn ngoan thần linh, qua việc:
nhận hết vào mình thân phận của loài người chúng ta,
đảm nhận một số phận đầy tai họa,
gánh lấy mọi tội lỗi của loài người
và đối diện với chính Sự Dữ biểu dương ở mức độ tuyệt đối.
Xin cho chúng ta nhận ra hết những điều này, qua đó nhận ra bản thân mình, như mình là, nhỏ bé, giới hạn, yếu đuối, tội lỗi, nhưng hiện diện cách trọn vẹn, được đón nhận cách trọn vẹn và được bao dung cách trọn vẹn trên đôi vai của Đức Giê-su, trong ánh mắt của Đức Giê-su, trong trái tim của Đức Giê-su.

2. Thập Giá: Sự Dữ hiện hình
Nghi thức tưởng niệm cuộc Thương Khó của Đức Giêsu mà chúng ta đang cử hành, đạt tới đỉnh cao, hay nói theo nghi thức phụng vụ, phần long trọng nhất, khi chúng ta thực hiện cử chỉ kính thờ Thánh Giá: cụ thể là chúng ta sẽ quì hoặc cúi mình hôn hình tượng “Đức Giêsu Chịu Đóng Đinh”. Nhưng cử chỉ tôn kính này chỉ tròn đầy khi chúng ta hiểu được trong nội tâm điều gì đã dẫn Đức Giêsu đến cái chết thảm thương trên Thập Giá, và Đức Giêsu để mình bị dẫn đến nơi hành hình với ý hướng nào. Các trình thuật Thương Khó, trong đó có trình thuật theo Tin Mừng theo thánh Gioan vừa được công bố cho chúng ta cách long trọng, được viết ra chính là để giúp chúng ta hiểu Thập Giá Đức Giêsu được dương cao vì những lí do gì và nhằm mục đích gì.
Thập Giá Đức Kitô được dựng trên đồi cao, và ngày nay Thập Giá cũng được treo hoặc dựng trên cao ở khắp nơi (chẳng hạn Thánh Giá ở Núi Bãi Dâu), chính là để mọi người nhìn thấy. Nhưng mọi người có nhìn thấy không? Và nếu có nhìn thấy, thì nhìn thấy những gì? Chúng ta thường vội nhìn ra những điều vô hình (thiên đàng, luyện tội, hỏa ngục…), hay nghĩ đến những tư tưởng cao siêu (bản tính, nhân tính, thiên tính, ngôi hiệp…); hoặc lòng đầy mặc cảm, khi vội nghĩ đến tội của mình, hay mặt đầy nước mắt, vì thương cảm với những đau khổ tinh thần về thể xác Chúa phải chịu.
Tuy nhiên, Đức Giê-su để cho mình bị treo trên thập giá, được đặt trên đồi cao, thân thể nát tan, chính là để chúng ta nhìn thấy những điều thật hữu hình, thật cụ thể, đập vào mắt mỗi người chúng ta. Thực vậy, trong cuộc Thương Khó, chúng ta cần nhận ra rằng Đức Giêsu bị dẫn tới thập giá bởi nhiều ý muốn của con người và cuộc «Thương Khó » (Passion) của Đức Giê-su, chính là « hành động » (action) của con người. Vậy chúng ta hãy hướng lên Đức Ki-tô chịu đóng đinh và nhìn vào những gì thật hữu hình:
Cây thập giá, đến từ vụ xét xửa gian dối, vô trách nhiệm, từ những lời tố cáo và kết án nhân danh lề luật.
Chữ INRI (Iesus Nazarenus, Rex Iudaeorum : Giê-su Nadarét, Vua người Do Thái) vừa là bản án bất công, vừa là lời diễu cợt trên ngôi vị và trên cả một dân tộc.
Thân thể nát tan vì roi vọt, kết quả của tình cảnh bị bỏ rơi, lòng ghen ghét, của sự phản bội, của sự bất trung.
Thân thể trần trụi, đầu đội mạo gai, diễn tả sự sỉ nhục, những lời nhạo báng, sỉ nhục, diễu cợt trên ngôi vị.
Chân tay bị đanh đâm thủng và ghim vào giá gỗ, nói lên rằng con người đã đánh mất nhân tính và hành động theo thú tính.
Thập Giá một cách “cụ thể” là như thế đó và không ai có thể phủ nhận, vì là một mặc khải của Thiên Chúa, nhưng khởi từ những biến cố lịch sử: đó là Sự Dữ hiện ra nguyên hình dưới mọi hình thức và cấp độ! Thế mà tất cả những gì chúng ta nhìn thấy nơi Thập Giá vẫn còn tồn tại mạnh mẽ trong thế giới loài người: tương quan của mỗi người với bản thân (qua việc đối xử bạo lực với bản thân) và tương quan giữa chúng ta với nhau. Sự Dữ vốn hay ẩn nấp, nhưng lại hiện hình rất rõ ràng và cụ thể nơi Thập Gía Đức Kitô. Chúng ta sẽ được giải thoát khỏi Sự Dữ khi nhìn thấy nó hiện hình nơi thân thể nát tan nhưng thánh thiện của Đức Kitô (x. Ds 21, 4-9 và Ga 3, 13-17), bởi vì con người được dựng nên theo Sự Thiện và cho Sự Thiện, nên không thể tương hợp với Sự Dữ hiện ra nguyên hình. Nhưng ai có thể mang vào mình cùng một lúc tất cả những điều này, nếu không phải là chính Thiên Chúa vô cùng bao dung và thương xót?

3. Thập Giá: Khuôn Mặt của Thiên Chúa
Chúng ta còn được mời gọi nhìn thấy chính cây giá gỗ, trên đó Đức Giêsu chịu đóng đinh như là một dụng cụ nhục hình và tử hình. Thập giá là hình phạt tiêu biểu mà Lề Luật dành cho người phạm trọng tội. Vì thế, Thập Giá là biểu tượng cho công lí của con người. Thế mà, người chịu đóng đinh là chính Đức Giêsu, Đấng hoàn toàn vô tội, Đấng công chính hoàn hảo; vì thế, sự công chính của con người chỉ là giả tạo, gian dối và chỉ có vẻ bề ngoài. Nơi Thập Gía, Đức Kitô muốn giải thoát chúng ta một cách chính xác khỏi sự công chính giả tạo nhân danh Lề Luật, sự công chính bề ngoài đến từ chính chúng ta, để trao ban cho chúng ta sự công chính của chính Ngài, sự công chính đích thật của con Thiên Chúa.
Nơi Thập Giá, Đức Kitô mang vào mình mọi “bệnh hoạn tật nguyền” của chúng ta, để làm cho chúng ta trở nên lành mạnh, nên công chính cách nhưng không, như bài ca về “Người Tôi Tớ Đau Khổ” đã loan báo. Vì thế, trên tất cả, nơi thập giá của Đức Kitô, chúng ta được mời gọi nhìn ra trong tín thác và bình an thẳm sâu “Khuôn Mặt đích thật” của chính Thiên Chúa.
Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc

 

Tuầnthánh 6-86: VÌ CHÚNG TA ĐỨC KITÔ ĐÃ CHẾT

 Trích thư gửi tín hữu Philíphê 2,8-9
Đức Giê-su Ki-tô
vốn dĩ là Thiên Chúa
mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì
địa vị ngang hàng với Thiên Chúa,
nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang
mặc lấy thân nô lệ,
trở nên giống phàm nhân
sống như người trần thế.
Người lại còn hạ mình,
vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết,
chết trên cây thập tự.
Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người
và tặng ban danh hiệu
trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. 
 
Suy niệm 
 

Đức Kitô là Ngôi Lời Thiên Chúa tức con yêu quý duy nhất của Thiên Chúa, đã mặc lấy nhân tính. Tuầnthánh 6-86

Đức Kitô là Ngôi Lời Thiên Chúa tức con yêu quý duy nhất của Thiên Chúa, đã mặc lấy nhân tính. Mang một thân xác có đời sống giới hạn. Có cảm giác biết đau. Có tâm hồn biết vui, biết giận biết yêu, biết thương, biết sợ, biết ghét, biết ham muốn, để có thể hoà mình vào đời sống nhân loại và sau đó hiến thân chết vì ta và thay ta. Đã phải quằn quại dưới làn mưa roi, phải nhức nhối vì mũ gai, phải khát khô cổ, khi mất nhiều máu, phải bần thần vì ngạt thở, khi các bắp thịt bị căng thẳng tối đa và suốt ba giờ, đón nhận mọi đau khổ do các mũi đanh ghim thân mình Chúa vào khổ giá.
Còn tâm hồn Chúa cũng khổ đau hơn vì sự phản bội của Giuđa, vì sự hèn nhát của các môn đệ khi bỏ chạy lấy thân để một mình Chúa cô đơn, đón nhận mọi sự khinh dể, mọi lời nhiếc mắng của bọn gian ác, báo thù, và cũng xót xa thương thân mẫu Ngài, đứng bên khổ giá chia sẻ mọi đau khổ và xỉ nhục vì con với con.
Sau cùng, vì khổ đau hết mức, Chúa mất hết máu và nước trong cơ thể không còn đủ lưu thông, Chúa đã chết thảm trên khổ giá, để chúng ta được tái sinh trong hạnh phúc. Chúa chết nhục nhã cho chúng ta được sống lại vinh quang. Chúa đã chết như một tội nhân bị án tử nặng nhất để ta được tái sinh trở nên con cái Thiên Chúa. 
Cầu nguyện 
1. Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể! Con sám hối, đền tạ và kính mến biết ơn Chúa đã chết khổ đau vì chúng con.
*Hát: Ôi bởi con mà Chúa mang thảm hình. Con đớn đau nhìn vũ trụ tự hối, quyết từ đây thờ Chúa hết tâm hồn.
2. Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể! Chúa đã chịu đòn tan nát thịt da vì tội lỗi chúng con, con chân thành sám hối tội lỗi.
*Hát: Ôi bởi con mà Chúa mang thảm hình. Con đớn đau nhìn vũ trụ tự hối, quyết từ đây thờ Chúa hết tâm hồn.
3. Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể! Vì tội lỗi chúng con mà thân thể Chúa đã bị treo vào khổ giá, quằn quại trong đau khổ suốt 3 giờ, con thành tâm sám hối.
*Hát: Ôi bởi con mà Chúa mang thảm hình. Con đớn đau nhìn vũ trụ tự hối, quyết từ đây thờ Chúa hết tâm hồn.
4. Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể! xin Chúa thứ tha mọi lỗi cho con và cho tất cả mọi người.
*Hát: Ôi bởi con mà Chúa mang thảm hình. Con đớn đau nhìn vũ trụ tự hối, quyết từ đây thờ Chúa hết tâm hồn.
Lm. Phêrô Nguyễn Châu Hải,SSS

 

Tuầnthánh 6-87: Chúa tận hiến hy sinh trọn vẹn vì tội chúng ta

Thật đau buồn khi tưởng niệm những biến cố ngày hôm nay, một ngày cử hành long trọng. Vì Tuầnthánh 6-87

Thật đau buồn khi tưởng niệm những biến cố ngày hôm nay, một ngày cử hành long trọng. Vì chúng ta không thể nghĩ về Thánh Giá nếu không hồi tưởng lại những gì về sự chết của Chúa Giêsu đã hoàn thành vì chúng ta. Chúa Giêsu Kitô, vị thượng tế cao cả, đã biết đến sự yếu hèn của chúng ta nên đã tận hiến hy sinh trọn vẹn vì tội chúng ta. Cái chết của Người là sự giải hoà chúng ta với Thiên Chúa. Thánh Giá Ngài là nhịp cầu bắc qua vực thẳm bị khắc sâu bởi tội, đặt chúng ta vào cõi chết vì chống lại Thiên Chúa và kết hiệp chúng ta một lần nữa với tình yêu thương của Chúa Cha. Trên chiếc cầu này, xin cho chúng ta cùng với Chúa Giêsu đi qua cõi chết để vào cõi trường sinh.
Chúa Giêsu là Ðấng hoàn tất mọi lời tiên tri, lời hứa và ý định của Chúa Cha. Thánh Giá Ngài là nơi gặp gỡ của sự công bằng và lòng thương xót, của sự phán xét và quyền tối thượng. Không có Thánh Giá sẽ không có sự cứu độ, không có Giáo Hội, không có sự tha thứ, không có hòa giải, không có hy vọng. Mọi sự là trung tâm điểm nơi sự chết và Phục sinh của Người.
Thánh Giá, là trung tâm đời sống của Chúa Giêsu, cũng có nghĩa là trung tâm đời sống chúng ta nữa. Mọi chúc lành chúng ta nhận nơi Thiên Chúa, mọi bài học Ngài dạy chúng ta, mọi ân sủng Ngài ban cho chúng ta để lánh xa đời sống cũ; tất cả có nghĩa là mang chúng ta lại gần đến cây Thánh Giá ban sự sống. Mọi biến cố trong cuộc đời chúng ta là một cơ hội để tiến bước tới Thập Giá.
Mọi hành động yêu thương đối với tha nhân mà chúng ta dành ra trong cuộc sống, mang chúng ta tiến bước gần tới cây Thập Giá. Ở đó, nơi cây Thập Giá, chúng ta bước vào cuộc sống mới, đem lại tình mật thiết mới với Thiên Chúa mà Chúa Giêsu đã mang lại chúng ta.
Hôm nay, vào ngày Thánh này, liệu chúng ta có thể miệt mài hơn ôm cây Thánh Giá không? Chúng ta có cầu xin Chúa Giêsu để diệt trừ tội lỗi nơi chúng ta không? Ðó là lý do mà Ngài đã đến và đã chết. Ðó là lý do sau mỗi phép lạ Ngài thi hành, sau mỗi dụ ngôn Ngài đã nói, và sau mỗi một điều luật Ngài trao ban. Hãy ôm trọn cây Thập Giá của Ngài và nhận mọi hồng ân Ngài muốn trao ban cho chúng ta.
"Lạy Chúa, con là chi mà Chúa phải ân cần khước từ đời sống của Chúa vì con? Cảm tạ Chúa đã ban cho con ân sủng để kéo con lại gần Chúa và tự thú tội những tội con. Với lòng tin nơi tình yêu của Chúa, con xin mở tâm hồn con cho Chúa. Xin hãy đến và tỏ cho con thấy mọi điều đã làm con xa lìa Chúa. Xin hãy thay thế mọi phương cách tư lợi của con bằng tình yêu thương của Chúa."

 

Tuầnthánh 6-88: Sự thinh lặng của Thập Giá

R. Veritas
 

Trong suốt ngày thứ Sáu Tuần Thánh, Giáo Hội như muốn mời gọi chúng ta đi vào thinh lặng, từ các Tuầnthánh 6-88

Trong suốt ngày thứ Sáu Tuần Thánh, Giáo Hội như muốn mời gọi chúng ta đi vào thinh lặng, từ các trang trí cho đến những bài ca Phụng vụ, tất cả đều đưa chúng ta đi vào cõi thinh lặng. Thinh lặng để nhìn ngắm Chúa Giêsu trên Thập Giá, thinh lặng để lắng nghe tiếng nói từ Thập Giá. Thập Giá vẫn mãi mãi là một mầu nhiệm. Tại sao điều đó có thể xảy ra cho Thiên Chúa? Tại sao Con Một Thiên Chúa lại có thể chịu chết treo trên Thập Giá ?
Trong một cuộc đối thoại tưởng tượng với người trộm lành chịu treo bên phải Chúa Giêsu, thánh Augustinô đã hỏi người đó như sau: “Làm sao ông có thể hiểu được những gì xảy ra bên cạnh ông, trong khi đó chúng tôi là những nhà chuyên môn, là những nhà tiến sĩ luật, chúng tôi lại không hiểu được những lời ứng nghiệm của Thánh Kinh ngay trước mắt chúng tôi. Ông có đọc Thánh Kinh không? Ông có biết tiên tri Isaia đã loan báo về cuộc tử nạn của Chúa như thế nào không?” Người trộm lành mới trả lời như sau: “Không, tôi chưa bao giờ học hỏi về Kinh Thánh, nhưng Chúa Giêsu đã nhìn tôi và trong cái nhìn của Ngài, tôi đã hiểu tất cả mọi sự.”
Một vị Hồng y già trong cơn hấp hối đã nhắn nhủ như sau: “Chúng ta đã nói rất nhiều lời hay ý đẹp về sự đau khổ, tôi cũng đã từng hăng say làm như thế, nhưng xin hãy nhắn với các linh mục: Đừng nói gì cả, chúng ta không biết gì về đau khổ cả.”
Về cuộc tử nạn và cái chết của Chúa Giêsu, thiết tưởng chúng ta chỉ nên giữ thinh lặng. Trong thinh lặng, chúng ta mới cảm nhận được cái nhìn yêu thương trìu mến của Chúa Giêsu. Và trong cái nhìn ấy chúng ta mới nghe được chính tiếng nói của Ngài. Chỉ có kẻ đau khổ mới có thể đưa chúng ta vào nỗi đau của họ. Chỉ có Chúa Giêsu mới có thể đưa chúng ta vào những nỗi đau khổ của Ngài. Sự thinh lặng đưa chúng ta vào mầu nhiệm của khổ đau.
Trong hai người cùng chịu treo trên thập giá bên cạnh Chúa Giêsu, một người đã không ngừng lên tiếng kêu gào chửi rủa, trong khi đó kẻ được mệnh danh là trộm lành chỉ biết thốt lên lời van xin cứu vớt. Đối với chúng ta, điều đó thật phải lẽ, xứng với tội lỗi chúng ta. Kẻ trộm lành qủa thực đã đi sâu vào mầu nhiệm của Thập giá, ông đã nhận ra thân phận tội lỗi của mình. Cái chết của Chúa Giêsu trên Thập Giá trước tiên là một bày tỏ về bộ mặt tội lỗi của nhân loại. Mãi mãi Thập Giá vẫn là biểu trưng của sự độc ác của con người. Đó là phát minh của con người trong việc sáng chế ra những phương thế để hành hạ nhau, để loại trừ nhau, để chém giết nhau. Đó là bản án của tội lỗi nhân loại trải qua mọi thời đại.
Nhìn lên Thập Giá Chúa Giêsu, mỗi người chúng ta chỉ có thể đấm ngực ăn năn về chính tội lỗi của mình mà thôi. Thập Giá của Chúa Giêsu vẫn luôn có đó để chiếu rọi vào thân phận tội lỗi của con người. Thập Giá không chỉ là mạc khải về tội lỗi của con người, nhưng tội lỗi còn là mặt trái của một nguồn ánh sáng vô biên. Đó là ánh sáng của tình yêu. Cái chết của Chúa Giêsu trên Thập Giá là biểu tỏ của một tình yêu tha thứ cho đến cùng. Có lẽ người trộm lành đã hiểu được điều đó khi ông quay nhìn sang Chúa Giêsu trên Thập Giá. Trong ánh mắt của Chúa Giêsu, người trộm lành được ôm ấp với cái nhìn trìu mến và tha thứ của Ngài.
Dưới chân Thập Giá của Ngài còn có Mẹ và một số người bạn dõi theo Ngài cho đến cùng. Mẹ và những người đó đứng nhìn lên Chúa trong lặng yên. Với Mẹ và những người bạn đó, Chúa Giêsu cũng tôn trọng bằng ánh mắt yêu thương, trìu mến của Ngài. Ngài cũng đưa Mẹ Maria và những người đó vào trong mầu nhiệm khổ đau của Ngài. Cùng với Mẹ, chúng ta cũng hãy để cho tâm hồn chìm lắng xuống, hãy để cho bao bận tâm, sầu muộn và khổ đau riêng tư chìm xuống và hoà nhập vào mầu nhiệm Thập Giá của Chúa Giêsu. Hãy để cho Ngài ôm ấp trọn lấy chúng ta trong tình yêu bao dung, tha thứ của Ngài. Hãy để cho ánh mắt yêu thương của Ngài đốt cháy tâm hồn khô lạnh vì tội lỗi và ích kỷ của chúng ta.

 

Tuầnthánh 6-89: Thôi đừng giết Chúa

ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
 

Khi đến gần Chúa Giêsu và thấy Ngài đã chết, họ ......... Chiêm ngắm dòng nước và máu tuôn chảy ra Tuầnthánh 6-89

“Khi đến gần Chúa Giêsu và thấy Ngài đã chết, họ không đánh giập ống chân Ngài. Nhưng một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Ngài. Tức thì, máu cùng nước chảy ra.” Chiêm ngắm dòng nước và máu tuôn chảy ra cả sau khi đã tắt thở, ta hiểu được tình yêu của Chúa. Yêu cho đến chết. Yêu cho đến cả sau khi chết. Chết rồi vẫn còn tuôn chảy dòng máu và nước. Như muốn vắt hết tất cả những gì còn lại để dâng hiến đến cùng. Yêu không còn giữ lại chút nào. Đúng như lời thánh Gioan diễn tả : “Ngài đã yêu thương những kẻ thuộc về Ngài thì Ngài yêu thương họ đến cùng.” Yêu cho đến cùng tận của bản thân Ngài. Tất cả những gì có thể làm để yêu thương thì Chúa đã làm hết. Không còn có thể làm thêm gì được nữa. Yêu cho đến tận cùng con người. Không có con người nào ở ngoài tình yêu của Chúa. Yêu cả người tội lỗi. Yêu cả kẻ phản bội. Yêu cả người thù địch làm hại mình. Nếu Chúa đã nói : “Không có tình yêu nào lớn lao hơn tình yêu của người dám hi sinh tính mạng vì bạn hữu.” Thì còn hơn thế nữa, Chúa đã hi sinh tính mạng cả vì người phản bội, người thù ghét, người làm hại Chúa nữa.
Yêu thương như thế nhưng Chúa lại nhận được sự phản bội, sự thù ghét, sự thay đổi, sự dửng dưng và bị giết chết. Nhìn lại cuộc xử án Chúa ta thấy những thái độ sau đây đã góp phần giết chết Chúa.
- Thái độ thù ghét của các Thượng tế và Biệt phái. Vì ghen tương, thù hận họ đã bày mưu, xúi giục dân chúng và quan quyền lên án Chúa.
- Thái độ nhập nhằng của Philatô. Biết Chúa là người vô tội. Muốn cứu Chúa nhưng lại sợ mất chức quyền, nên đã kết án Chúa.
- Thái độ phản bội của Giuđa. Đã theo Chúa nhưng lại ham mê tiền bạc đến nỗi bán Chúa.
- Thái độ hay thay đổi của dân chúng. Ngày Lễ Lá thì phấn khởi, tưng bừng đón rước Chúa vào thành, nhưng đến ngày Thứ Sáu Tuần Thánh lại hò hét kết án Chúa.
Nếu chúng ta có mặt hôm xử án Chúa, có lẽ chúng ta cũng đã kết án Chúa. Vì tuy chúng ta không thù ghét Chúa như các Thượng tế và Biệt phái, nhưng chúng ta có thể giống như Philatô nhập nhằng trong thái độ. Philatô vì sợ mất quyền lợi nên đã kết án Chúa. Chúng ta cũng thế, trong đời sống hiện tại, biết bao lần chúng ta đã đặt địa vị của mình lên trên sự thật, đặt quyền lợi của mình lên trên công lý. Không bảo vệ sự thật và công lý nhưng chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân và gia đình mình.
Chúng ta cũng có thể giống Giuđa, coi trọng tiền bạn hơn đạo nghĩa. Biết bao lần chúng ta đã vì tiền bạc mà đánh mất tình nghĩa, vì tiền bạc mà bán rẻ lương tâm, vì tiền bạc mà tha hóa gian giáo, lừa đảo.
Chúng ta cũng có thể giống đám đông luôn thay lòng đổi dạ. Không có lập trường nên sợ dư luận, chỉ biết chạy theo đám đông. Sống giữa những người không tin nên không dám bày tỏ đức tin của mình. Thay đổi đức tin, thay đổi tình nghĩa như thay đổi quần áo. Sống hời hợt theo hình thức bên ngoài, thiếu chiều sâu và nền tảng bên trong.
Với lối sống như thế, ta chẳng khác gì Philatô, Giuđa và đám đông. Sống như thế, ta đang tiếp tục giết Chúa hằng ngày hằng giờ ở khắp nơi.
Hôm nay trên Thánh Giá tất tưởi, Chúa đang nài van chúng ta thôi đừng giết Chúa nữa. Đừng tiếp tục lối sống cũ theo Philatô, theo Giuđa, theo đám đông. Hãy sống đời sống mới theo Chúa Giêsu. Sống theo Chúa Giêsu luôn yêu thương, yêu thương cho đến cùng. Sống theo Chúa Giêsu luôn tìm thánh ý Chúa Cha, tìm ích lợi của Hội Thánh. Sống theo Chúa Giêsu luôn tìm quên mình, tìm những giá trị thiêng liêng cao quí. Sống theo Chúa Giêsu luôn trung thành với lựa chọn của mình, trung tín đến hi sinh cuộc đời mình, trung tín cho đến chết.
Lạy Chúa Giêsu chịu đóng đinh, xin thương xót chúng con. Amen.

 

Tuầnthánh 6-90: Những khác biệt giữa quan niệm về tình yêu

1- Sứ điệp nguyên thủy :
 

Phụng vụ Lời Chúa Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh hôm nay mặc khải cho chúng ta : a) những khác biệt Tuầnthánh 6-90

(1) Phụng vụ Lời Chúa Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh hôm nay mặc khải cho chúng ta : a) những khác biệt giữa quan niệm về tình yêu của Thiên Chúa và quan niệm về tình yêu của phàm nhân : đối với Thiên Chúa, hạnh phúc và niềm vui, hệ quả của Tinh yêu, phát xuất từ sự dâng hiến, tự sự cho đi tất cả, kể cả chính bản thân mình, và mang lấy khổ đau của tha nhân (xem Ga 18, 8-9), là nghỉ đến hạnh phúc của tha nhân trước khi nghỉ đến hạnh phúc của riêng mình (Ga 19, 26); đối với phàm nhân, hạnh phúc và niềm vui là sở hữu, là chiếm đoạt tha nhân, là dồn khổ đau cho tha nhân (Is 52, 13 – 53, 12; Ga 18, 1 – 19, 42).; b) vì thế, đối với Thiên Chúa, con đường đi đến vinh quang phục sinh phải đi qua con đường hy sinh khổ nhục của thập giá (Is 52, 13 – 53, 12; Dt 4, 14-16; 5, 7-9; Ga 18, 1 – 19, 42).; c) chính lúc cho đi tất cả là lúc nhận lại tất cả, vì thế, trong biến cố Thập giá-Phục sinh, sau khi đã hiến dâng tất cả, Đức Giêsu-Kitô, trở thành “nguồn ơn siêu độ vĩnh hằng cho tất cả những ai tuân phục Ngài”, hay những ai đi theo Ngài và ở trong Ngài (Is 53, 11-12; Dt 5, 9).
 (2) Một số yếu tố đặc thù được rút ra từ Tường thuật Thụ nạn theo Gioan (Ga 18, 1 – 19, 42) : nói chung, về mặt cơ bản, tường thuật Thụ nạn của Gioan cũng gần giống với các tường thuật Thụ nạn theo Matthêu (Mt 26, 1 – 27, 66), theo Marcô (Mc 14, 1 – 15, 47) và theo Luca (Lc 22, 47 – 23, 56).
 Tuy nhiên, tường thuật Thụ nạn theo Gioan có một số nét đặc biệt : a) thái độ tích cực và chủ động của Đức Giêsu trước các biến cố (Ga 18, 1-11.19-23.33-37; 19, 11.26-30); b) tư cách là Vua của Đức Giêsu được Gioan nhấn mạnh nhiều hơn (Ga 18, 33-39 – 19, 1-3.14-15.19-22); c) trách nhiệm chính về cái chết của Đức Giêsu được qui về cho các nhà Lãnh đạo tôn giáo của người Do thái và nhóm Biệt phái (Ga 18, 3.12-14.19-24.28.30-31.35-36.40 – 19,6-7.12.15-16.21.31); d) dung mạo Philatô được trình bày như một con người có thiện cảm với Đức Giêsu, nhưng vì quyền lợi chính trị cá nhân của mình, nên đành chấp nhận để một con người vô tội bị giết chết (Ga 18, 38-39 – 19, 4-6.12.15-16.19-22); đ) vai trò của Vua Hêrôđê hoàn toàn vắng bóng; e) vai trò của Giuđa Iscariốt, trong tường thuật Thụ nạn của Gioan, có vẻ khá mờ nhạt và ít bị ác cảm hơn (Ga 18, 2-3); h) dung mạo của một số nhân vật được miêu tả rõ nét hơn (có lẽ nhờ vào những mối quan hệ cá nhân giữa tác giả tường thuật và các nhân vật nầy và cả hoàn cảnh ở trong cuộc của chính tác giả Gioan) : Gioan cho biết rõ người chém đứt tai đó là Phêrô và nạn nhân đó là Mankhô, đầy tớ vị thượng tế (Ga 18, 10); việc Phêrô xâm nhập được vào sân trong tư dinh của vị thượng tế chính là nhờ một môn đệ nặc danh có quen biết vị thượng tế (truyền thống xưa nay vẫn cho đó là chính là Gioan, tác giả của sách Tin mừng thứ tư nầy) dẫn vào (Ga 18, 15-16) : nếu người môn đệ kia là Gioan, chi tiết nầy cho thấy nỗi sợ hãi vu vơ và thái độ rất hèn nhát của Phêrô, đồng thời cho thấy thái độ bình tĩnh và can đảm của Gioan, vì chắc là những người vặn hỏi Phêrô hẳn cũng biết Gioan là môn đệ của Đức Giêsu; dung mạo của những kẻ nêu ra thắc mắc về lai lịch của Phêrô cũng rõ nét hơn (Ga 18, 17.25-26); đứng gần Thập giá, có 4 nhân vật được nêu danh tính rõ ràng : Đức Maria, thân mẫu của Đức Giêsu, bà Maria vợ ông Klêôpha, chị em với mẹ Ngài, bà Maria Macđala, và cả chính Gioan (Ga 19, 25-27); việc tẩm liệm và an táng thi hài của Đức Giêsu được thực hiện không phải bởi những người thân hay các môn đệ chính danh của Ngài, mà trái lại, bởi những môn đệ ẩn danh của Ngài, đó là Giuse quê Arimathia và Nicôđêmô (Ga 19, 38-41).
 (3) Tường thuật Thụ nạn của tác giả Gioan, ngoài ra, còn để lộ cho thấy một số nét đặc thù liên quan tấn bi kịch muôn đời của con người mọi nơi và mọi thời : a) các lãnh đạo tôn giáo Do thái và Nhóm Biệt phái đang giết Thiên Chúa và hạ bệ Ngài mà lại cứ đinh ninh mình đang bảo vệ và tôn vinh Thiên Chúa (Ga 19, 4-7); b) những người nầy thường ngày vẫn tự cho mình là những người ái quốc, chống ách ngoại xâm La mã, nhưng trong vụ án xử Đức Giêsu họ tỏ ra còn “La mã” hơn cả những người La mã (Ga 18, 30-31 – 19, 12-15); c) nhóm Mười Hai, trong hơn ba năm ròng rã vẫn thường ngày chung sống, ăn ở với Đức Giêsu, nhưng trong “Giờ Thập giá”, chẳng có mấy ai ở cùng Ngài, ngoài ba người phụ nữ và Gioan (Ga 19, 25-27); d) nghĩa tử là nghĩa tận, nhưng trong “Giờ Thập giá” chẳng có môn đệ nào trong Nhóm Mười Hai dám ra mặt xin Philatô hạ và chôn cất xác của Thầy mình, ngoại trừ hai môn đệ thường ngày vẫn ẩn danh là Giuse quê thành Arimathia và Nicôđêmô (Ga 19, 38-41).
 2- Sứ điệp cho ngày hôm nay :
 (1) Bao lâu vẫn còn chỉ biết lo nghĩ cho mình, người ta không thể nào có được một thứ tình yêu đích thực, nhưng không, vô vị lợi, vô điều kiện và vô biên giới được (Is 52, 13 – 53, 12; Dt 4, 15 – 5, 8-9; Ga 18, 8.14 – 19, 26-27.30).
 (2) Qui luật tất yếu muôn đời : Muốn đạt đến vinh quang của Phục sinh phải đi qua con đường tự hủy mình đi, con đường tình yêu dâng hiến, con đường khổ nhục của Thập giá (Is 52, 10-12; Dt 4, 14-16; Ga 19, 30).
Lm. Phêrô Nguyễn Thiên Cung

 

Tuầnthánh 6-91: NGẮM NHÌN THẬP GIÁ

Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền
 
 

Chết là hết. Sự thường là vậy. Sau cái chết mọi sự sẽ nguôi ngoai. Không gì tồn tại và bền lâu. Thế Tuầnthánh 6-91

Chết là hết. Sự thường là vậy. Sau cái chết mọi sự sẽ nguôi ngoai. Không gì tồn tại và bền lâu. Thế nhưng sau cái chết của Chúa Giêsu thì không vậy. Lời các ngôn sứ đã nói từ xưa: “Họ sẽ ngắm nhìn Đấng mà họ đã đâm thâu qua”. Ai sẽ ngắm nhìn. Nhân loại của thời đó hay nhân loại hôm nay? Phải chăng họ ngắm nhìn một thây ma trơ trụi trên thập giá ? Chắc là không. Vì thây ma chỉ làm người ta khiếp sợ. Thế mà hơn 2000 năm nay họ vẫn đang ngắm nhìn. Ngắm nhìn một tình yêu tự hiến chết cho người mình yêu. Ngắm nhìn để cảm nhận tình yêu thẳm sâu của Thầy Chí Thánh Giêsu.  Ngắm nhìn Đấng mà họ đã đâm thâu, để giục lòng ăn năn sám hối. Ngắm nhìn để thấy sự sống đang chồi sinh sau cái chết của Con Thiên Chúa. 
 Ngắm nhìn một tình yêu tự hiến: đó là cái nhìn của Mẹ Maria. Mẹ nhìn con đau khổ. Mẹ cảm thương nỗi đau của con. Thân xác con tan nát. Trái tim Mẹ lại se thắt từng cơn, nuốt nghẹn đến tận tâm can. Máu con tuôn rơi trên cây thập tự. Nước mắt Mẹ tuôn rơi trên đồi Calvê. Mẹ đã dâng nỗi đau của mình nên một với nỗi đau của con để làm hiến tế tôn vinh Chúa Cha. Ngày hôm nay cũng có biết bao người đang đau khổ, đang nhìn lên thập giá Chúa để tìm sự nâng đỡ ủi an. Đón nhận đau khổ như Đức Giêsu và Mẹ Maria là đón nhận thập giá của bổn phận, của trách nhiệm trong hy sinh, tự hiến cho gia đình, xứ đạo và cộng đồng nhân loại.
 Ngắm nhìn để cảm nhận tình yêu thẳm sâu của Thầy Chí Thánh Giêsu: Đó là cái nhìn nuối tiếc của các môn đệ. Tiếc nuối vì cả một đời theo Thầy, nhận được biết bao ân huệ của Thầy, thế mà chỉ một chút nghi nan đã bỏ mặc Thầy cô đơn trong đau đớn tột cùng. Nhìn để làm lại cuộc đời. Nhìn để chuộc lại lỗi lầm, để dám chết cho niềm tin của mình. Điển hình là Phêrô. Dù ông muốn bỏ chạy vì sự truy sát của Nêrón, nhưng ông đã kịp quay trở lại thành để chịu tử đạo, vì nhìn thấy Thầy một lần nữa vác thập giá vào thành. Ngày nay có biết bao người vẫn đang sống trong nuối tiếc ân hận, mặc cảm vì một quá khứ lầm lỡ. Mặc cảm vì một lần vô ơn bạc nghĩa đã gieo vãi sầu đau cho tha nhân. Hãy ngước nhìn lên Chúa để sám hối ăn năn, chuộc lại lỗi lầm. Hãy đền đáp tình yêu bằng trao tặng tình yêu của mình cho tha nhân.
 Ngắm nhìn để giục lòng ăn năn: đó là cái nhìn của đám đông dân chúng bị mua chuộc, xúi giục la ó “đóng đinh nó vào thập giá”. Đó là cái nhìn thống hối của Philatô. Một người có chức có quyền nhưng hèn nhát, thiếu bản lĩnh, và nhu nhược đã để đám đông lấn áp đến nỗi chẳng dám nói một câu bênh đỡ cho người công chính khỏi án chết bất công. Dù ông biết rõ “người này vô tội”. Ngày nay cũng có biết bao người đang đóng đinh cuộc đời nhau vì xu thời, hèn nhát, thiếu trách nhiệm đã và đang dầy xéo cuộc đời anh chị em mình. Liệu rằng có mấy ai biết nhìn lại để cúi mình ăn năn? Vì tội lỗi tôi mà Chúa mang thảm sầu. Vì lối sống thiếu trách nhiệm của tôi mà gia đình tan nát, xào xáo, cơm chẳng lành canh chẳng ngọt chăng?
Ngắm nhìn để thấy sự sống đang chồi sinh sau cái chết của Con Thiên Chúa. Đó là cái nhìn của viên đội trưởng Rôma, của các người phụ nữ, của các môn đệ. Trong cái chết nhục hình, họ đã nhận ra một sụ chiến thắng của Chúa Giêsu. Thập giá đã không còn là biểu tượng của tủi nhục mà là dấu chỉ một tình yêu. Một tình yêu dám chết cho người mình yêu. Một tình yêu dám tha thứ cho cả kẻ hành hạ, giầy xéo cuộc đời mình cho đến chết. “Lạy Cha xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm”. Một tình yêu bằng lòng chịu chết để tôn vinh Chúa Cha và cứu độ nhân loại. Nhân loại ngày nay vẫn đang cần những con người dám hy sinh cho nhau, dám quên đi sự an nhàn bản thân để hiến thân cho bạn hữu của mình. Nhân loại ngày nay vẫn đang cần một tình yêu thứ tha để có thể giải hoà những đổ vỡ, những ngăn cách đang làm cho các gia đình đau khổ, đang làm cho xã hội bất an vì những thù oán nhỏ nhen.
 Ngắm nhìn xem Đấng họ đã đâm thâu. Chúng ta có nhận ra tội lỗi của mình đang tiếp tục làm khổ Chúa, làm khổ nhau? Khi ngắm nhìn Đấng đã bị đâm thâu chúng ta có áy náy lương tâm hay vẫn dửng dưng bàng quang như khách qua đường tại thành Giêrusalem?  Ngắm nhìn xem Đấng đã bị đâm thâu để chúng ta thấy mình cũng có trách nhiệm trong cuộc thương khó của Chúa, trong nỗi đau của anh chị em mình. Ngắm nhìn Đấng đã bị đâm thâu để chúng ta biết sống bù đắp những lỗi lầm của mình đã và đang gây đau khổ cho anh chị em mình.
 Nguyện xin Đức Giêsu, Đấng đã chết và đã phục sinh giúp chúng con mỗi lần ngắm nhìn Chúa biết giục lòng ăn năn thống hối và can đảm đứng lên làm lại cuộc đời. Amen
 Lm.Jos Tạ Duy Tuyền

 

Tuầnthánh 6-92:  Thứ Sáu Tuần Thánh : Thế Là Đã Hoàn Tất

Mùa Chay với Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II
Người tôi trung đã hiến thân chịu chế,
đã mang lấy tội muôn người . (x.Is 52: 13-53:12)
Lạy Cha, con phó mạng sống con trong tay Cha. (x.Tv 30)
Người đã học vâng phục và trở nên nguồn ơn cứu độ
cho tất cả những ai vâng phục Người. (x.Dt 4:14-16; 5:7-9)
Bài Thương Khó (x.18:1-19:42) “Thế là hoàn tất” (x.Ga 19:30).
 

Khi chiêm ngắm khuôn mặt Chúa Giêsu, chúng ta đối diện với khía cạnh nghịch lý nhất trong mầu Tuầnthánh 6-92

Khi chiêm ngắm khuôn mặt Chúa Giêsu, chúng ta đối diện với khía cạnh nghịch lý nhất trong mầu nhiệm của Người; khía cạng ấy xuất hiện vào giờ sau hết của Người trên thập giá. Mầu nhiệm trong mầu nhiệm. Trước mầu nhiệm ấy, chúng ta chỉ có thể phủ phục tôn thờ.
Cường độ của trường đoạn trong vườn Ôliu diễn ra trước mắt chúng ta. Bị áp lực bởi biết trước cuộc xét xử đang chờ đợi Người, và cảm thất cô đơn trước Chúa Cha, Chúa Giêsu kêu lên với Chúa Cha bằng lời diễn tả sự tin cậy quen thuộc và đầy lòng yêu mến: “Abba, Cha ơi”. Người xin Cha nếu có thể thì lấy chén đau khổ này đi (x. Mc 14:36). Nhưng Chúa Cha dường như không chú ý tới tiếng kêu của người Con. Để đưa con người về lại với khuôn mặt Chúa Cha, Chúa Giêsu không những phải nhận lấy khuôn mặt của con người, mà còn mang nặng gánh “khuôn mặt” của tội lỗi. “Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Người” (2Cr 5:21).
Chúng ta không bao giờ có thể thấu hiểu chiều sâu của mầu nhiệm này. Chúng ta có thể thấy tất cả tính khắc nghiệt của sự nghịch lý trong tiếng kêu hầu như tuyệt vọng của Chúa Giêsu: “Lạy Chúa, lạy Chúa, sao Chúa bỏ con?” (Mc 15:34). Thật khó mà mường tượng được một cuộc hấp hối nào bi thảm hơn, một bóng tối nào dày đặc hơn. Thật vậy, tiếng kêu “tại sao” đau đớn thốt lên với Chúa Cha trong lới mở đầu thánh vịnh 22 diễn tả tất cả thực tại của nổi đau khổ không thể nói lên được; nhưng lại được soi sáng bởi ý nghĩa của toàn bộ lời cầu nguyện đó, lời cầu nguyện mà trong đó tác giả đã nối kết đau khổ với niềm tin, trong sự pha trộn cảm xúc thật cảm động. Thật thế, thánh vịnh tiếp tục: “Xưa tổ phụ vẫn hoài cậy Chúa, họ cậy trông, Ngài đã độ trì…Xa con Ngài đứng sao đành, nguy hiểm bên mình không kẻ giúp cho” (Tv 22:5, 12).
Anh chị em thân mến, tiếng kêu của Chúa Giêsu trên thập giá không phải là tiếng kêu đau đớn của con người đã mất hết hi vọng, nhưng là lời cầu nguyện của người Con hiến dâng sự sống cho Chúa Cha trong tình yêu, để cứu độ mọi người. Chính trong lúc Người đồng hóa với tội lỗi của chúng ta, “bị Chúa Cha bỏ rơi”, Người “trao phó” chính mình trong tay Chúa Cha. Ngàn năm thứ ba đang đến, 25, 26.
“Trong tay Ngài, lạy Chúa, con xin phó thác hồn con”. Những lời này là tiếng kêu cuối cùng của Chúa Kitô trên thập giá. Đó là những lời đóng lại mầu nhiệm khổ nạn và mở vào mầu nhiệm giải phóng qua sự chết, một mầu nhiệm sẽ được thực hiện trong sự phục sinh. Đó là những lời quan trọng. Ý thức được tầm quan trọng ấy, Giáo hội đã đưa những lời ấy vào trong Phụng vụ các giờ kinh kết thúc một ngày: “Trong tay Ngài, lạy Chúa, con xin phó thác hồn con”.
Hôm nay, chúng tôi muốn đặt những lời này vào môi miệng nhân loại…Những lời ấy mang ý nghĩa mở ra đến tương lai. Chúng tôi hi vọng rằng vào cuối ngày Thứ Sáu tuần thánh này, và ngày Canh thức Phục sinh…những lời “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” sẽ là những lời cuối cùng đối với chúng ta, những lời sẽ mở cánh cửa vĩnh cửu cho chúng ta.
Bài giảng, Thứ Sáu Tuần thánh, 02-04-1999
+ Đức Gioan Phaolô II
Giuse Nguyễn Văn Chữ, OP chuyển ngữ

 

Tuầnthánh 6-93: KHÁT TÌNH

(Thứ Sáu Tuần Thánh)
BỬU HUYẾT GIÊSU TƯƠI MÀU CỨU ĐỘ
OAN KHIÊN THẾ GIỚI HÓA SẮC TINH TUYỀN
 

Có nhiều dạng khát – bao gồm cả nghĩa đen và nghĩa bóng, nhưng có lẽ mạnh mẽ và ray rứt nhất Tuầnthánh 6-93

Có nhiều dạng khát – bao gồm cả nghĩa đen và nghĩa bóng, nhưng có lẽ mạnh mẽ và ray rứt nhất là dạng “khát tình”. Thật vậy, chính Chúa Giêsu cũng đã phải thốt lên trong những giây phút cuối cùng: “TÔI KHÁT!” (Ga 19, 28) – khát cả thể lý lẫn tinh thần.
Tam Nhật Vượt Qua là “đỉnh cao” của Mùa Chay, còn gọi là Tam Nhật Thánh (Triduum). Trong đó, ngày Thứ Sáu Tuần Thánh là Ngày Đại Tang, là đỉnh cao của Ơn Cứu Độ, đặc biệt là Giờ Thứ Chín (tức 15 giờ), giờ của Lòng Chúa Thương Xót.
Khoảnh khắc hấp hối là “phút cuối” của một con người, là lúc lắng đọng và xúc động nhất đời người – dù người đó đáng yêu hay đáng ghét. Càng xúc động hơn khi thấy người hấp hối chịu đau nhức quằn quại từng cơn, có những người toát mồ hôi hột nhưng âm thầm chịu đựng, có những người phải la hét dữ dội. Phút cuối là khoảnh khắc ngắn ngủi, chỉ trong tích tắc, nhưng lại nặng nề trôi… Và phút cuối là lúc người ta bịn rịn nhất, cũng là lúc nói thật nhất của một con người.
Đối với Chúa Giêsu, Ngài có 2 bản tính: Thần tính và nhân tính. Và theo nhân tính, Ngài nên giống chúng ta mọi sự – trừ tội lỗi. Tất nhiên Ngài cũng rất đau đớn và rời rã vì kiệt sức do đòn roi, phải tự vác Thập giá lên đồi, té lên té xuống nhiều lần, chịu đói khát, bị những gai nhọn đâm thấu đầu, bị đinh ghim chặt chân tay và lưỡi đòng đâm thâu tim. Rất đau đớn, không thể tưởng tượng nổi, đến nỗi thân xác Ngài chảy ra đến giọt Máu và giọt Nước cuối cùng. Thật thê thảm!
CHIÊN CON HIỀN LÀNH
Chiên con là “cừu nhỏ” – chỉ 1 năm trở xuống, còn cừu là “chiên lớn” (hơn 1 năm trở lên). Chiên con không chỉ nhỏ bé, ngây thơ, mà còn hiền lành. Khi nói về Chiên Thiên Chúa, Đức Chúa đã mô tả: “Này đây, người tôi trung của Ta sẽ thành đạt, sẽ vươn cao, nổi bật, và được suy tôn đến tột cùng. Cũng như bao kẻ đã sửng sốt khi thấy tôi trung của Ta mặt mày tan nát chẳng ra người, không còn dáng vẻ người ta nữa” (Is 52, 13-14 – Bài ca thứ tư về Người Tôi Trung). Mặc dù vậy, mọi người vẫn phải sửng sốt khi thế cờ đảo ngược hoàn toàn. Chính Người-Tôi-Trung đó làm cho “muôn dân phải sững sờ, vua chúa phải câm miệng” (Is 52, 15). Người-Tôi-Trung đó là Đức Kitô, cũng chính là Người-Tôi-Tớ-Đau-Khổ, “như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, Ngài chẳng mở miệng kêu ca” (Is 53, 6; Cv 8, 32).
Ngày nay, chúng ta đã được biết về “hành trình đau khổ” của Chúa Giêsu, nhưng có lẽ khó mà cảm nhận hết mức đau khổ trong cuộc khổ nạn tang thương của Ngài, thậm chí có thể nghe nhiều năm đã quen tai nên cảm thấy… bình thường, và cũng cho đó là “chuyện nhỏ”. Có thể có người đặt vấn đề: “Điều chúng ta đã nghe, ai mà tin được?” (Is 53, 1). Đúng là khó tin thật, thế nhưng đó lại là sự thật minh nhiên, không thể chối cãi!
Từ ngàn xưa, Ngôn Sứ Isaia mô tả: “Người tôi trung đã lớn lên tựa chồi cây trước Nhan Thánh, như khúc rễ trên đất khô cằn. Người chẳng còn dáng vẻ, chẳng còn oai phong đáng chúng ta ngắm nhìn, dung mạo chẳng còn gì khiến chúng ta ưa thích. Người bị đời khinh khi ruồng rẫy, phải đau khổ triền miên và nếm mùi bệnh tật. Người như kẻ ai thấy cũng che mặt không nhìn, bị chúng ta khinh khi, không đếm xỉa tới” (Is 53, 2-3). Tuy nhiên, “chính người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta, còn chúng ta lại tưởng Ngài bị phạt, bị Thiên Chúa giáng hoạ, phải nhục nhã ê chề” (Is 53, 4). Thật là nghịch lý quá, có lẽ vì chúng ta ảo tưởng quá chăng?
Ngôn sứ Isaia đưa ra bảng đối chiếu và liệt kê rõ ràng: “Chính Ngài đã bị đâm VÌ chúng ta phạm tội, Ngài bị nghiền nát VÌ chúng ta lỗi lầm, Ngài đã chịu sửa trị ĐỂ chúng ta được bình an, Ngài đã phải mang thương tích ĐỂ chúng ta được chữa lành” (Is 53, 5). Bốn “cặp đối” rất tuyệt vời, chứng tỏ Lòng Thương Xót của Thiên Chúa. Chắc chắn trí óc loài người chúng ta không thể tưởng tượng nổi có một Con Người lạ lùng như vậy. Nếu cuộc đời có ai gần giống như vậy thì ắt chúng ta cho là “dại dột”, là “ngu xuẩn”, là “điên khùng”, là “mất trí”, là “tâm thần”. Thiên Chúa thấy “tất cả chúng ta lạc lõng như chiên cừu, lang thang mỗi người một ngả”, nhưng Đức Chúa đã đổ tội lỗi của tất cả chúng ta lên đầu Người-Tôi-Trung kia. Người Ấy bị lũ-người-ghen-tị “ngược đãi mà vẫn cam chịu nhục, chẳng mở miệng kêu ca; như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, Người Ấy chẳng hề mở miệng” (Is 53, 6). Người Ấy còn “bị ức hiếp, bị buộc tội, rồi bị thủ tiêu” (Is 53, 8a). Thậm chí “Người Ấy còn bị khai trừ khỏi cõi nhân sinh”, và “vì tội lỗi của dân, Người Ấy bị đánh phạt” (Is 53, 8b). Người Ấy bị hàm oan chỉ vì chúng ta quá khốn nạn!
Và cuối cùng, Người Ấy đã “bị chôn cất giữa bọn ác ôn, bị mai táng với người giàu có, dù đã chẳng làm chi tàn bạo và miệng không hề nói chuyện điêu ngoa” (Is 53, 9). Nhưng đó là Thánh Ý nhiệm mầu của Thiên Chúa, để nhờ Người Ấy mà Ý Chúa được nên trọn. Thiên Chúa xác định: “Vì đã nếm mùi đau khổ, người công chính, tôi trung của Ta, sẽ làm cho muôn người nên công chính và sẽ gánh lấy tội lỗi của họ” (Is 53, 11). Đức Giêsu đã “hiến thân chịu chết, đã bị liệt vào hàng tội nhân; nhưng thực ra Ngài đã mang lấy tội muôn người và can thiệp cho những kẻ tội lỗi” (Is 53, 12). Trong “núi tội” đó có nhiều tội của mỗi chúng ta!
Qua miệng lưỡi của Thánh Vịnh gia, Người Ấy đã nói lời cuối của Con Người hấp hối: “Con ẩn náu bên Ngài, lạy Chúa, xin đừng để con phải tủi nhục bao giờ. Bởi vì Ngài công chính, xin giải thoát con. Trong tay Ngài, con xin phó thác hồn con, Ngài đã cứu chuộc con, lạy Chúa Trời thành tín” (Tv 31, 2 & 6). Người Ấy tâm sự với Chúa về cuộc đời mình: “Con đã nên trò cười cho thù địch và cho cả hàng xóm láng giềng. Bạn bè thân thích đều kinh hãi, thấy con ngoài đường, ai cũng tránh xa. Bị lãng quên, như kẻ chết không người tưởng nhớ, con hoá thành đồ hư vất bỏ” (Tv 31, 12-13). Là con người thì ai cũng cảm thấy cô đơn tột cùng khi ai cũng khinh ghét và bỏ rơi mình nên nói vậy thôi, nhưng vẫn tin tưởng vào Chúa, cho nên mới dám thân thưa: “Ngài là Thượng Đế của con. Số phận con ở trong tay ngài. Xin giải thoát con khỏi tay địch thủ, khỏi người bách hại con” (Tv 31, 15-16).
Dù cho thế nào thì Người Ấy vẫn chấp nhận mọi thiệt thòi, vui chịu chứ không cam chịu, và thành tâm cầu khấn: “Xin toả ánh tôn nhan rạng ngời trên tôi tớ Ngài đây, và lấy tình thương mà cứu độ” (Tv 31:17), đồng thời mạnh dạn chia sẻ với những người khác như một lời khuyên: “Hỡi mọi người cậy trông vào Chúa, mạnh bạo lên, can đảm lên nào!” (Tv 31, 25). Người Ấy đã nêu gương sáng cho chúng ta, vì chúng ta cũng phải nên giống Người Ấy: “Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước” (Ga 15, 18).
Lời minh định của Thánh Phaolô rất rạch ròi: “Chúng ta có một vị Thượng Tế siêu phàm đã băng qua các tầng trời, là Đức Giêsu, Con Thiên Chúa” (Dt 4, 14). Thánh Phaolô khuyên chúng ta hãy giữ vững lời tuyên xưng đức tin, và giải thích: “Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Ngài đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội. Bởi thế, chúng ta hãy mạnh dạn tiến lại gần ngai Thiên Chúa là nguồn ân sủng, để được xót thương và lãnh ơn trợ giúp mỗi khi cần” (Dt 4, 15-16). Trong tất cả các ân sủng, Lòng Chúa Thương Xót là hồng ân cao cả và kỳ lạ vô cùng! Chính Chúa Giêsu đã trải qua nỗi đau khổ tột cùng nên Ngài rất thương xót chúng ta, những con người còn phải đối mặt với đủ loại “khổ não trần ai” của kiếp này.
Lúc còn sinh thời của kiếp phàm nhân, Đức Giêsu cũng đã từng lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Ngài khỏi chết. Ngài đã được nhậm lời vì có lòng tôn kính. Vâng phục không là điều dễ, vì phàm nhân chúng ta đầy tự ái và kiêu sa, ngay cả Con Thiên Chúa cũng đã “phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục” (Dt 5, 7). Thật không hề đơn giản chút nào khi phải miệt mài chịu đau khổ như vậy!
Tuy nhiên, chính lúc đó lại là lúc bản thân đạt tới mức thập toàn để rồi “Ngài trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Ngài” (Dt 5, 9). Trước khi vinh quang và được coi là công trạng thì luôn phải trải qua chặng đường gian khổ. Đức Kitô cũng đã trải qua “chặng đàng Thánh Giá” và cái chết mới tới sự phục sinh vinh quang. Chúng ta không thể không “nhâm nhi chén đắng” để trải nghiệm đau khổ. Không có hạnh phúc nào không có đau khổ, thiếu vắng hy sinh. Chắc chắn không thể cứ tà tà mà được tận hưởng.
Thánh Gregorio Khandzta (759-861, người thành lập nhiều cộng đoàn tu trì tại Tao-Klarjeti, thuộc Tây Nam Georgia) đã tha thiết cầu nguyện: “Lạy Chúa Giêsu, Ngài đã BỊ CÁM DỖ và CHỊU ĐAU KHỔ. Ngài là Đấng quyền năng đã đến để CỨU GIÚP những người đang bị xiềng xích bởi ma qủy, vì Ngài luôn nâng đỡ những kẻ đi theo Ngài. Lạy Chúa, xin GÌN GIỮ những kẻ tin vào Danh Thánh Ngài trong cánh tay Ngài. Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ, mà ban niềm hoan lạc bất diệt”.
CHIÊN CON BỊ GIẾT
Trình thuật Phúc Âm hôm nay là tấn bi kịch, là bộ phim dài sầu thảm, Giáo Hội gọi là Bài Thương Khó, thuật lại đầy đủ cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Bi kịch thảm thiết như vậy mà lại gọi là Phúc Âm, là Tin Mừng, quả thật là điều kỳ diệu!
Chúng ta thường nói: “Dòi trong xương dòi ra”. Một trong 12 môn đệ “ruột” là Giuđa đã dùng nụ hôn để “chỉ điểm” mà bán rẻ Thầy mình với giá quá bèo. Người ta lục soát, tìm cách gài bẫy và đi bắt Chúa Giêsu như một tên côn đồ. Họ ghen tị và sợ Ngài tiếm ngôi, giành quyền lực, lấy mất “ghế”, thế nên họ làm mọi cách để hạ nhục Ngài đủ kiểu. Hàng ngày Ngài thường tụ họp với các môn đệ công khai mà họ không bắt, thế mà họ lại cấu kết với đám thuộc hạ của các thượng tế và nhóm Pharisêu để đi tìm bắt Ngài trong đêm tối, dùng vũ khí để đối với một người tay không và thân cô thế cô – vì các môn đệ bỏ trốn hết. Thật là tồi và hèn hạ!
Ngài hỏi: “Các anh tìm ai?” thì họ đáp: “Tìm Giêsu Nadarét”. Ngài vừa nói “chính tôi đây”, thì họ lùi lại và ngã xuống đất. Ngoạn mục thật! Có lẽ lúc này Giuđa đắc chí nhất, vì có thể ông cũng rất tin rằng Thầy mình “ngon” lắm, quyền phép đầy mình, chúng chẳng làm gì được, mà ông lại có tiền tiêu xài. Thế nhưng Ngài không dùng thần quyền của Ngài vào chuyện không cần thiết. Đó là “cách lạ” của Ngài!
Ngài lại hỏi họ muốn tìm ai. Họ vẫn cương quyết là tìm Giêsu Nadarét, họ không hề thấy tởn chút nào. Lì thật! Đức Giêsu thản nhiên xác nhận: “Tôi đã bảo các anh là chính tôi đây. Vậy, nếu các anh tìm bắt tôi, thì hãy để cho những người này đi” (Ga 18, 8). Ngài không muốn bất kỳ ai phải liên lụy vì Ngài. Nhưng điều đó ứng nghiệm lời Ngài đã nói: “Những người Cha đã ban cho con, con không để mất một ai” (Ga 18, 9). Tính nóng hơn Trương Phi, ông Simôn Phêrô bèn tuốt gươm ra, nhằm người đầy tớ vị thượng tế mà “chơi” một phát đứt tai phải của Mankhô. Một đường gươm tuyệt hảo y như xiếc! Thấy vậy, Đức Giêsu bảo ông Phêrô: “Hãy xỏ gươm vào bao. Chén mà Chúa Cha đã trao cho Thầy, lẽ nào Thầy chẳng uống?” (Ga 18, 11). Nghe vậy chưa chắc ai hiểu ý Ngài nói.
Cơn tức giận dâng cao, nỗi hận thù đầy ắp, họ liền bắt trói Ngài lại, rồi điệu Ngài đến ông Khanan – nhạc phụ ông Caipha. Năm đó ông Caipha làm thượng tế. Chính ông này đã nói với người Do Thái một đề nghị tồi tệ: “Nên để một người chết thay cho dân thì hơn” (Ga 18, 14). Nghe chừng nhân đạo nhưng lại vô cùng thâm độc. Lúc đó có ông Simôn Phêrô và người môn đệ khác (tức Gioan) đi theo Đức Giêsu. Gioan quen biết vị thượng tế nên được vào sân trong của tư dinh của thượng tế. Còn ông Phêrô phải đứng ở phía ngoài, gần cổng. Gioan ra nói với chị giữ cổng, rồi dẫn ông Phêrô vào. Gioan cũng “oai” thật, quen biết có khác!
Thế nhưng vấn đề là người tớ gái giữ cổng nhận ra ông Phêrô “thuộc nhóm của Chúa Giêsu” nên ông chối ngay: “Không phải đâu!” Và ông chối phắt bất kỳ ai nhận ra ông, tổng cộng 3 lần trước khi gà gáy. Với bản tính nhân loại nên ông rất sợ, sợ đến nỗi phát run ngay cả với mấy phụ nữ chân yếu tay mềm. Thật tội nghiệp! Ông Phêrô nóng tính, thẳng như ruột ngựa, nhưng cũng rất yếu đuối. Đó là “biểu tượng” của chúng ta ngày nay. Buồn thế đấy!
Tuy Chúa Giêsu bị bắt, bị trói, bị đánh đập, bị tra xét, bị hành hạ, … nhưng Ngài vẫn thản nhiên và không nói chi cả, không tự biện minh cho mình là đúng, cũng chẳng một lời kêu oan hoặc oán trách. Chiên Con hiền lành lắm!
Mãi tới lúc bị tra hỏi về các môn đệ và giáo huấn – nghĩa là liên quan người khác, Ngài mới trả lời: “Tôi đã nói công khai trước mặt thiên hạ; tôi hằng giảng dạy trong hội đường và tại Đền Thờ, nơi mọi người Do Thái tụ họp. Tôi không hề nói điều gì lén lút. Sao ông lại hỏi tôi? Điều tôi đã nói, xin cứ hỏi những người đã nghe tôi. Chính họ biết tôi đã nói gì” (Ga 18, 19-21). Ngài vừa dứt lời thì một tên trong nhóm thuộc hạ vả vào mặt Ngài: “Anh trả lời vị thượng tế như thế ư?” (Ga 18, 22). Hỗn láo và ngang ngược thật! Ngày nay người ta cũng hống hách kiểu như vậy khi đối xử với đồng loại. Mặc dù bị xử tệ, Ngài vẫn thản nhiên lý luận: “Nếu tôi nói sai, anh chứng minh xem sai ở chỗ nào; còn nếu tôi nói phải, sao anh lại đánh tôi?” (Ga 18, 23). Cách đối đáp và lý luận của Chúa Giêsu tuyệt vời quá. Và tất nhiên họ phải câm họng thôi!
Sau đó, ông Khanan cho giải Ngài đến thượng tế Caipha, Ngài vẫn bị trói. Lúc đó trời vừa sáng. Họ không vào dinh vì sợ bị nhiễm uế mà không ăn lễ Vượt Qua được. Họ chỉ lo giữ bề ngoài mà không chú trọng bề trong. Đó là một dạng động thái giả hình. Tổng trấn Philatô ra ngoài gặp họ và hỏi xem họ tố cáo Chúa Giêsu về tội gì, nhưng họ đáp: “Nếu ông này không làm điều ác, thì chúng tôi đã chẳng đem nộp cho quan” (Ga 18, 30). Họ cố chấp và cố tình không thèm nhận những hành động tốt của Chúa Giêsu. Trước áp lực của dân, ông Philatô hỏi Chúa Giêsu: “Ông có phải là vua dân Do Thái không?” Đức Giêsu không trả lời đúng hay sai, mà bình thản nói: “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do Thái. Nhưng thật ra Nước tôi không thuộc chốn này” (Ga 18, 36). Ui da, thế mà lão Philatô vẫn không hiểu ất giáp chi cả, mà còn hỏi: “Vậy ông là vua sao?” Đức Giêsu ôn tồn: “Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích là làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi” (Ga 18, 37). Ông Philatô tỏ ra ngớ ngẩn nên hỏi: “Sự thật là gì?” (Ga 18, 38). Đúng là “dốt đặc cán mai” mà!
Vào dịp lễ Vượt Qua và theo tục lệ Do Thái, người ta thường ân xá cho một tội nhân. Ông Philatô hỏi họ muốn tha Chúa Giêsu hay không, họ liền la to: “Đừng tha nó, nhưng xin tha Baraba!” (Ga 18, 40). Baraba là một tên cướp khét tiếng, vậy mà họ còn thương và quý hơn là Chúa Giêsu – dù chính Philatô hai lần xác định là Chúa Giêsu “không có tội gì” (Lc 23, 4 và 22).
Và rồi Philatô truyền đem Ngài đi mà đánh đòn. Họ chụp lên đầu Ngài một vòng gai và khoác cho Người một áo choàng đỏ, rồi mỉa mai: “Kính chào Vua dân Do Thái”, và vả vào mặt Ngài. Như vậy, nhân vị của Ngài bị khinh miệt, nhân phẩm của Ngài bị chà đạp, và nhân quyền của Ngài cũng bị tước đoạt. Ông Philatô dẫn Chúa Giêsu ra ngoài để đám đông thấy Ngài không còn hình tượng một con người mà thương. Nhưng vừa thấy Ngài, các thượng tế cùng các thuộc hạ liền kêu lên rằng: “Đóng đinh nó vào thập giá!” (Ga 19, 6).
Một lần nữa, ông Philatô lại khiếp nhược nên bảo họ: “Các người cứ đem ông này đi mà đóng đinh vào thập giá, vì phần ta, ta không tìm thấy lý do để kết tội ông ấy” (Ga 19, 6). Một người nắm quyền trong tay và biết rõ bị cáo không có tội mà vẫn không dám tha, thì quả là bất tài, vô dụng, ích kỷ, chỉ lo giữ “cái ghế” của mình, chỉ muốn lợi cho mình mà chà đạp người khác. Đó là một dạng bóc lột, không tôn trọng công lý. Vậy người đó có đáng được tôn trọng? Người nắm quyền lực mà không đề cao nhân vị, nhân phẩm và nhân quyền, không lấy dân làm gốc, làm sao quốc thái dân an?
Dù ai nói gì thì nói, Chúa Giêsu vẫn im lặng. Ngài biết rằng có nói cũng vô ích, chỉ như nước đổ lá môn, không bằng nói với đầu gối. Sau khi tòa tuyên án, bị cáo nào cũng có quyền kháng cáo, nhưng “bị cáo” Giêsu lại không có quyền tối thiểu đó. Bất nhân quá! Nhân quyền của Ngài hoàn toàn bị tước đoạt. Nhưng Ngài nói thẳng với ông Philatô: “Ngài không có quyền gì đối với tôi, nếu Trời chẳng ban cho ngài. Vì thế, kẻ nộp tôi cho ngài thì mắc tội nặng hơn” (Ga 19, 11). Nghe vậy, ông Philatô cũng thấy “nổi gai óc” nên tìm cách tha Ngài, nhưng ông vẫn không dám quyết định theo quyền hạn của mình vì áp lực dân chúng. Cách xử sự hèn nhát của Philatô cũng chính là động thái hèn hạ của chúng ta ngày nay đối với tha nhân.
Cuối cùng, ông Philatô đành cho thi hành án tử đối với Chúa Giêsu. Họ bắt Ngài tự vác Thập giá lên đồi Gôngôtha, nghĩa là Cái Sọ – cũng gọi là Đồi Sọ, Canvê, nơi xử tử các tội nhân. Đồng án tử với Ngài có hai người khác nữa, hai người hai bên Chúa Giêsu. Tấm bảng ghi “Giêsu Nadarét, Vua dân Do Thái” treo phía trên đầu Ngài, được viết bằng 3 ngôn ngữ: Hípri, La Tinh và Hy Lạp. Các thượng tế không đồng ý gọi Chúa Giêsu là “Vua dân Do Thái”, nhưng ông Philatô nói: “Ta viết sao, cứ để vậy!” (Ga 19, 22). Tấm bảng đó nhằm mỉa mai nhưng chính nó lại là lời xác nhận công khai rằng “Chúa Giêsu là Vua dân Do Thái”. Lão Philatô chỉ lăm le với người dưới quyền chứ không dám “nói mạnh” với đám đông nổi loạn, dù họ chỉ là đám dân đen. Hèn!
Đóng đinh Đức Giêsu vào thập giá xong, họ chia chác quần áo của Ngài. Họ muốn chế nhạo Ngài chứ có gì đáng giá đâu! Lúc đó, Chúa Giêsu bắt đầu kiệt sức. Ngài trối Đức Mẹ cho Gioan và trao Gioan cho Đức Mẹ. Đức Giêsu biết là mọi sự đã hoàn tất. Mất máu nhiều nên Ngài nói: “Tôi khát!” (Ga 19, 28). Nhưng người ta lại nỡ lấy miếng bọt biển thấm giấm chua mà cho Ngài giải khát. Nhắp xong, Đức Giêsu nói: “Tetelestai! Mọi sự đã hoàn tất!” (Ga 19, 30). Rồi Ngài gục đầu xuống và dâng trao Thần Khí. Tang thương bao trùm, đất trời rung động!
Sự kiện bi thương hôm nay là “nghi lễ của mọi nghi lễ”, là “hiến lễ của mọi hiến lễ”, là “Thánh Lễ của mọi Thánh Lễ”. Vì thế Giáo Hội không cử hành Thánh Lễ hôm nay mà chỉ có Phụng Vụ Lời Chúa, tôn kính Thánh Giá và rước lễ.
Thiên Tình Giêsu là “tình cho không biếu không”, nhưng chúng ta thường có khuynh hướng “tội nghiệp” Chúa Giêsu hơn là tội nghiệp chính mình. Thật vậy, khi Chúa Giêsu thấy có nhiều phụ nữ, vừa đấm ngực vừa than khóc, trong đám đông đi xem Ngài lên đồi chịu xử tử, chính Ngài đã quay lại và nói: “Hỡi chị em thành Giêrusalem, đừng khóc thương tôi làm gì. Có khóc thì khóc cho phận mình và cho con cháu” (Lc 23, 28). Chính chúng ta mới là những kẻ đáng phải khóc thương!
Và có một điểm khác mà chúng ta cần lưu ý là “tính a dua”, như người ta thường nói: “Người ta làm sao thì tôi làm vậy, người ta làm bậy thì tôi… làm theo”. Kiểu này rất nguy hiểm, vì đó là lối sống quá tiêu cực, không có lập trường, mạnh đâu âu đó. Cần chấn chỉnh và cần can đảm là chính mình, đặc biệt là phải biết khát và nhận ra cơn khát của người khác để cố gắng giúp họ thỏa cơn khát!
Lạy Thiên Chúa giàu lòng thương xót, chính con là kẻ khốn nạn mà vẫn tưởng mình tốt lành hơn người khác, con đã hèn nhát khi a dua và đồng lõa với cái ác mà cứ tưởng mình chân chính hơn người khác. Hôm nay, con chân thành nhận lỗi, xin lỗi Ngài và xin lỗi mọi người. Xin Ngài thương xót con mà đại lượng ban cho con được hưởng nhờ Ơn Cứu Độ của Con Yêu Dấu của Ngài. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ duy nhất của nhân loại. Amen.
TRẦM THIÊN THU

 

 Tuầnthánh 6-94: SUY NIỆM THỨ SÁU TUẦN THÁNH 2017

Chúng ta vừa nghe Thánh Gioan tường thuật lại Cuộc Khổ Nạn đẫm máu của Đức Giêsu qua bài Tuầnthánh 6-94

Chúng ta vừa nghe Thánh Gioan tường thuật lại Cuộc Khổ Nạn đẫm máu của Đức Giêsu qua bài Thương Khó. Qua đó, chúng ta thấy được hình phạt tàn nhẫn mà con người nghĩ ra để đối xử với Con Thiên Chúa như thế nào. Chúng ta biết, vào thời của Đức Giêsu, thập giá là một hình phạt dành cho các trọng tội, họ thuộc lớp bần đinh hoặc nô lệ, các tên đại tặc hoặc là phiến loạn. Tội nhân thường bị đánh đòn, và sau đó phải vác thập giá đến pháp trường. Thông thường tử tội bị lột hết áo xống, và bị cột hoặc đóng đinh vào khổ giá.
Hình phạt cách chung chung là như vậy. Nhưng khi thi hành án, người ta còn nghĩ ra nhiều cách khác nữa để làm cho tội nhân thêm đau đớn như chúng ta vừa nghe Thánh Gioan tường thuật lại Cuộc Thương Khó của Đức Giêsu. Ngài không chỉ phải vác thập giá, chịu đóng đinh mà Ngài còn phải chịu trăm nghìn hình khổ khác: bị Philatô xét xử như một tử tội, bị tên vệ binh vả mặt, sự vô ơn của đám đông, bị người ta nhạo cười là “vua dân Do Thái”, bị trói, bị người ta kết vòng gai đội trên đầu, chịu roi đòn suốt đêm ngày, chịu vác thập giá, chịu đóng đinh, chịu uống dấm chua, bị đâm thủng cạnh sườn dầu đã chết…Họ tìm mọi cách để hạ nhục Đức Giêsu. Họ làm cho Ngài trở thành thân tàn ma dại, không còn ai nhận ra. Tiên tri Isaia đã thấy trước những đau khổ tột cùng của Đức Giêsu qua bài ca thứ tư của người tôi tớ đau khổ rằng: “Người chẳng còn hình dáng, cũng chẳng còn sắc đẹp để chúng ta nhìn ngắm, không còn vẻ bên ngoài, để chúng ta yêu thích; bị người đời khinh dể như kẻ thấp hèn nhất, như kẻ đớn đau nhất, như kẻ bệnh hoạn, như một người bị che mặt và bị khinh dể, bởi đó, chúng ta không kể chi đến người” (Is 53, 2-3).
Càng suy niệm về sự đau khổ của Đức Giêsu, chúng ta lại càng cảm nhận được tình yêu bao la vô bờ bến của Thiên Chúa đối với nhân loại chúng ta. Có nhiều định nghĩa về Thiên Chúa, nhưng có lẽ định nghĩa đầy đủ và ý nghĩa nhất đó là của Thánh Gioan Tông đồ, Ngài cho biết: “Thiên Chúa là tình yêu.” (x. 1Ga 4,16). Thật vậy, vì tình yêu nên Thiên Chúa đã dựng nên chúng ta. Vì tình yêu nên Ngài đã sai Con Một Xuống Thế làm người để cứu chuộc nhân loại chúng ta. Tình yêu đó được diễn tả một cách rõ nét nhất qua các nghi thức của Tam Nhật Vượt Qua trong Tuần Thánh, mà cao điểm là nghi thức chiều thứ sáu hôm nay. Thật vậy, vì tình yêu nên Con Thiên Chúa đã chấp nhận bước vào cuộc khổ nạn. Vì tình yêu nên Ngài đã chấp nhận chịu vác thập giá. Vì tình yêu nên Ngài chấp nhận chịu đội mạo gai. Vì tình yêu nên Ngài đã chấp nhận chịu đóng đinh thân mình vào Thập giá. Vì tình yêu nên Ngài đã để cho một tên lính lấy ngọn giáo đâm thủng cạnh nương long. Vì tình yêu nên Ngài đã tha thứ tội lỗi cho Phêrô, cho các môn đệ, cho những kẻ đóng đinh Ngài.
Tóm lại, Đức Giêsu đã chấp nhận đau khổ vì yêu thương nhân loại chúng ta. Trong bài đọc II, tác giả thư Do Thái cho chúng ta biết: “Người đã học vâng phục do những đau khổ Người chịu, và khi hoàn tất, Người đã trở nên căn nguyên ơn cứu độ đời đời.” (Dt 5,8-9).
Vậy trước tình yêu bao la của Thiên Chúa, chúng ta phải làm gì?
Thứ nhất, chúng ta hãy luôn suy niệm Cuộc Thương Khó của Đức Giêsu để cảm nhận được tình yêu của Ngài đã dành cho chúng ta, để từ đó chúng ta luôn biết dâng lời cám tạ Ngài. Vì, “Không có tình yêu nào cao cả cho bằng tình yêu của người hiến mạng sống cho bạn hữu mình” (Ga 9,13).
Thứ hai, chúng ta hãy đến với Chúa để lãnh nhận nguồn ân sủng qua các Bí tích nhất là Bí tích Giao hòa và Thánh Thể. Thư Do Thái cho chúng ta biết: “Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội. Bởi thế, ta hãy mạnh dạn tiến lại gần ngai Thiên Chúa là nguồn ân sủng, để được xót thương và lãnh ơn trợ giúp mỗi khi cần.” (Dt 4,15-16).
Thứ ba, chúng ta hãy tránh xa các dịp tội và luôn giục lòng sám hối vì những tội lỗi chúng ta đã phạm như người trộm lành trên thánh giá, vì tội lỗi đã góp phần vào sự đau khổ của Đức Giêsu: “Chính Ngài đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, Ngài bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm” (Is 53,5).
Thứ tư, chúng ta không dùng bạo lực để gây đau khổ cho người khác, trái lại cố gắng đóng góp phần mình làm giảm bớt đau khổ cho anh chị em mình, tránh thái độ vô cảm với khổ đau của người khác, như lời Thánh Vịnh: “Hãy bênh quyền lợi kẻ mồ côi, người hèn mọn; minh oan cho người khốn khổ, kẻ bần cùng, giải phóng ai hèn mọn, ai nghèo túng, cứu khỏi nanh vuốt bọn ác nhân” (Tv 82, 3-4).
Thứ năm, chấp nhận thập giá mình để cộng tác với Đức Giêsu trong việc cứu độ nhân loại, nhất là để xứng đáng với môn đệ Đức Giêsu, vì “Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy” (Mt 10,38).
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã vâng phục Chúa Cha trong việc chấp nhận bước vào cuộc khổ nạn để nên duyên cớ cứu độ nhân loại chúng con. Xin cho chúng con khi nhìn ngắm Thánh giá biết nhận ra tình yêu của Chúa dành cho chúng con, để chúng con biết yêu Chúa và chấp nhận những thập giá trong cuộc đời chúng con. Amen.
Lm. Anthony Trung Thành

 

Tuầnthánh 6-95: SỨC MẠNH CỦA THÁNH GIÁ

Kể từ sau ngày 11.9.2001, hàng năm, ngày này trở thành ngày giỗ của trên 3.000 nạn nhân bị Tuầnthánh 6-95

Kể từ sau ngày 11.9.2001, hàng năm, ngày này trở thành ngày giỗ của trên 3.000 nạn nhân bị khủng bố giết hại tại tòa Tháp đôi Trung tâm Thương mại Quốc tế ở New York của Mỹ.
Ngày này cả nước Mỹ hướng về biến cố đau thương này, cử hành nghi thức tưởng niệm long trọng vừa như tưởng niệm các nạn nhân, vừa như nhắc nhau nhớ mãi sự kiện lịch sử nhói lòng bởi những bàn tay bất nhân, đêm ngày chỉ biết nhuộm máu đồng loại.
Có thể nói, từ ngày đó cho đến nay, người Mỹ giảm thiểu bình an. Dù rằng Mỹ rất mạnh về kinh tế, nỗi bậc về vũ khí và quân sự… dư sức đem quân đi đánh quốc gia của người khác, nhưng tại Mỹ, dân chúng vẫn thắp thỏm, hoang mang, bởi khủng bố có thể đe dọa bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu.
Bạn cứ nghĩ mà xem, con người ta sống mà cứ phải cảnh giác, cảnh giác, cảnh giác… thì bình an ở đâu. Thiếu vắng bình an sẽ là đau khổ, sẽ là sợ hãi, sẽ là tăm tối. Bình an không còn trong lòng người, không còn bảo đảm cho nơi mình phải sống, không còn là cứu cánh cho cuộc đời nhiều gai góc, chắc chắn cuộc sống sẽ khó khăn hơn, lòng người nhiều chao đảo, chới với hơn.
Có thể nói, hai tòa tháp đôi ấy là biểu tượng của nền văn minh hiện đại của nhân loại, biểu tượng của sự khôn ngoan, là sức mạnh vững vàng, là niềm kiêu hãnh của con người… Vậy mà chỉ trong nháy mắt, hai tòa tháp khổng lồ biến thành đống gạch vụn, vùi lấp trong lòng nó đến hơn 3.000 sinh mạng cùng biết bao nhiêu của cải khác.
Nói với bạn về biến cố 11.9.2001 trong những ngày tuần Thánh, những ngày đặc biệt tưởng nhớ Chúa Kitô Thánh Giá, tôi muốn làm một so sánh, chẳng phải lớn lao gì, nhưng đủ để thấy sức mạnh vạn năng của Tình yêu Thiên Chúa trong những gì tầm thường nhất, nhỏ bé nhất.
Cứ ngước nhìn Thánh Giá mà xem, bạn sẽ thấy ở đó một hình tượng thảm khốc: một người chết gục đầu, chết trần trụi, không đủ một tấm áo che thân; thân xác gắn chặt vào những chiếc đinh oan nghiệt; chết tức tưởi, chết ô nhục, thân xác thâm bầm đầy thương tích, lồng ngực mở rộng, trái tim bị đâm thủng, gai nhọn cài nát đầu, chết đơn độc treo giữa trời và đất…
Người đó là ai? Là Thiên Chúa làm người. Nhưng tất cả sao chỉ là là đau đớn ê chề. Tưởng chừng chỉ là thất bại?
Thánh Giá – đó là phương tiện của tội lỗi, phương tiện của sự chết, người ta dùng nó để giết người, và loài người dùng nó để giết chết Chúa của mình.
Bạn cứ nhìn và sẽ thấy, cây Thánh Giá thật là yếu ớt, mong manh, nhỏ bé.
Nhưng không: không thất bại! Không yếu ớt! Đối người tin, đó lại là sức mạnh lớn lao của tình yêu, của ơn cứu chuộc.
Từ một dụng cụ độc ác, đê hèn, loài người nghĩ ra để hành hạ người khác, Chúa Giêsu biến nó thành dấu chứng của tình yêu lớn khôn cùng: tình yêu vâng phục đối với Chúa Cha, tình yêu dâng hiến cho nhân loại.
Nếu chỉ nhìn bằng ánh mắt phàm trần, so với công trình lớn lao của nhân loại, Thánh Giá có đáng gì đâu. Nhưng sức mạnh của Thánh Giá là sức mạnh ngàn đời.
Văn minh của loài người dẫu lớn đến đâu, niềm kiêu hãnh; sự khôn ngoan của họ dẫu mạnh cách mấy; những công trình trần thế dẫu có nguy nga, dẫu được coi là xây dựng vững vàng, nhưng chỉ một hành vi phá hoại mà thôi, tất cả tan biến như bọt biển. Chỉ có Thánh Giá Chúa Kitô mới muôn đời tồn tại.
Hay dẫu thế gian này có qua đi, dẫu cả loài người có tàn hơi, kiệt sức, hay nền khoa học hiện đại này được con người ca tụng là phát triển rực rỡ, một ngày nào đó cũng sẽ là tro bụi. Tất cả chỉ là tạm bợ, là hư nát. Chỉ có Thánh Giá được giương cao mãi mãi trên khắp thế giới, là cây gỗ duy nhất đáng để chúng ta tôn thờ.
Dẫu cho bất kỳ thời đại nào, con người có thù nghịch với Thánh Giá, Thánh Giá vẫn còn đó. Biết bao nhiêu lần trong lịch sử Hội Thánh và lịch sử nhân loại, người ta đã bắt bớ, bách hại Hội Thánh, cố tình đặt mối hận thù với Thánh Giá Chúa Kitô, Thánh Giá không vì thế mà mất đi, Hội Thánh không vì thế mà lụng bại.
Trái lại, Thánh Giá vẫn còn đó, muôn đời là dấu chứng của tình yêu, của lòng thương xót vô cùng mà Thiên Chúa dành cho loài người, và Hội Thánh của Chúa Kitô vẫn mãi mãi là dấu chỉ của ơn cứu độ, mà từ nơi Thánh Giá, Thiên Chúa ban cho trần gian.
Thánh Phaolô đã đúc kết những suy nghĩ của mình trong những dòng chữ ngắn gọn, nhưng đầy ý nghĩa:
“Lời rao giảng về thập giá là một sự điên rồ đối với những kẻ đang trên đà hư mất, nhưng đối với chúng ta, là những người được cứu độ, thì đó lại là sức mạnh của Thiên Chúa…. Trong khi người Do thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hy lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Chúa Kitô bị đóng đinh, điều mà người Do thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ… Vì cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người” (1Cr 1, 18- 25).
Do những lời trên của thánh Phaolô cho phép ta có quyền nói mạnh rằng: Thiên Chúa đã dùng chính cái mà con người cho là điên rồ, là yếu đuối để lật đổ chính sự không ngoan và mạnh mẽ của họ.
Thế mới hay: tất cả chỉ là tạm bợ, còn Thánh Giá Chúa Kitô được giương cao mãi mãi trên khắp thế giới. Thánh Giá, cây gỗ duy nhất mà muôn đời chúng ta tôn thờ.
Dẫu cho thời gian có qua đi, vạn vật có qua đi, thì Thánh Giá vẫn còn mãi như dấu chỉ và sức mạnh của tình yêu mà Thiên Chúa không ngừng yêu thương con người.
Ta hãy ngước nhìn Thánh Giá để biết ơn Thiên Chúa, và cảm tạ tình yêu lớn lao của Người. Vì “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 8, 16).
Chính tình yêu làm nên ơn cứu độ. Thiên Chúa yêu cho đến mức, ngay chính người Con Duy Nhất của mình, Người cũng chẳng tiếc, để tất cả được trao ban cho ta.
Yêu trần gian đến thế, cho nên mọi sáng kiến đều nhằm một mục đích duy nhất là chuộc trần gian về với mình: “Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian , không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người mà được cứu độ” (Ga 8, 17).
Bạn thân mến, để kết thúc những gì bạn và tôi vừa suy niệm, một lần nữa ta hãy ngước nhìn Thánh Giá và học nơi đó bài học của yêu thương và tha thứ, bài học lớn lao của sự chấp nhận và hy sinh – chấp nhận tan biến để mưu cầu lợi ích cho anh chị em và dám hy sinh để biết từ bỏ những gì cản trở ta vươn lên trong việc thực hiện yêu thương. Ngước nhìn Thánh Giá, bạn và tôi còn học nơi đó tất cả lòng khiêm nhu, khó nghèo, vâng phục… Và chính nơi Thánh Giá Chúa Giêsu, chúng ta sẽ tìm được sức mạnh và sự nâng đỡ để tiếp tục vác thập giá đời mình bước đi với Chúa Kitô trên con đường thương khó.

 

Tuầnthánh 6-96: “HỌ NHÌN XEM ĐẤNG HỌ ĐÃ ĐÂM THÂU QUA”

Lm GB Nguyễn Minh Hùng
 

Cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá thật thê thảm, nhưng cũng thật sâu thẳm nhiều người biết Tuầnthánh 6-96

Cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá thật thê thảm, nhưng cũng thật sâu thẳm nhiều người biết đến. Trải qua năm này sang năm khác chúng ta lại nghe bài thương khó và nhìn lại biến cố đau thương này.
Nhưng nếu chỉ nghĩ đến khía cạnh thê thảm về cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá thôi, thì nhiều người sợ không muốn theo đạo, hoặc không muốn nhìn lên cây Thập giá. Vì thế, điều căn bản và sâu thẳm khi SUY TÔN Thánh giá là chúng ta SUY TÔN TÌNH YÊU CỦA NGÀI.
- Trước hết, vì tội lỗi nhân loại nên con người phải chết. Chúa Kitô đã nhập thể. Ngài cũng chấp nhận cái chết. Nhưng cái chết của Ngài là vì “yêu những kẻ thuộc về Người đang ở thế gian này và Người đã yêu họ đến cùng”.
- Đó cũng là điều căn bản mà chiều nay chúng ta cử hành, chúng ta chiêm ngắm: chiêm ngắm Tình Yêu được biểu lộ ra bên ngoài, Tình Yêu chiến thắng đến cùng, chiến thắng sự chết và chiến thắng tội lỗi.
- Vâng, chiều nay chúng ta cử hành cuộc chiến thắng của một VỊ VUA, VUA TÌNH YÊU được thể hiện trên cây thập giá để chúng ta ngắm nhìn.
- Đó là một sự kinh ngạc đến nỗi viên sỹ quan ngoại giáo đã phải kêu lên: “Thật, người này là Con Thiên Chúa”. Liệu chúng ta có ngây dại hoặc đần độn mãi không? Chắc chắn rằng không! Người ta đã đâm thâu trái tim Con duy nhất, Con Thiên Chúa. Và chúng ta đã khám phá ra TÌNH YÊU của Ngài được thể hiện ở đó. “Trong trái tim Chúa yêu muôn đời, con xin được một chỗ nghỉ ngơi”.
- Yêu đến cùng! Vâng, Ngài đã chết; Vua vũ trụ đã chết vì một sức mạnh và ngọt ngào vô biên:  Mọi sự đã hoàn tất. Chúng ta chiêm ngắm Đấng đã chết vì Tình Yêu.
- Chúng ta thấy trong bàn tay bị đóng đinh của Chúa Giêsu trên thập giá, có cả những bàn tay khép kín, sợ sệt của chúng ta chẳng có gì để mà yêu, để mà mở ra. Hãy xin Chúa ban cho chúng ta ơn tha thứ và biết mở bàn tay ra để yêu!
- Chúng ta thấy trên bàn chân Chúa bị đóng đinh, có cả những bước chân chối từ của chúng ta không muốn để Chúa dẫn đi, để vâng lời Ngài và tin tưởng vào Ngài. Chúng ta đã phạm tội vì không để Chúa dẫn đi trên con đường tình Yêu Thập giá. Hãy xin Chúa ban cho chúng ta ơn phó thác.
- Chúng ta thấy trong trái tim Chúa bị đâm thâu, có cả những thiếu sót của tình yêu chúng ta: tình yêu ty tiện và vụ lợi. Hãy xin ơn biết mở trái tim chúng ta ra cho Chúa và cho anh chị em chúng ta!
- Vâng, chiều nay chúng ta mệt nhọc vì tội lỗi chúng ta; chúng ta như Phêrô chối Chúa và trốn chạy. Nhưng trước tình yêu cao cả của Chúa, như Phêrô, chúng ta hãy khóc. Những giọt nước mắt thống hối và bình an để tình yêu Chúa lấp đầy; những giọt nước mắt của trái tim trẻ thơ sẽ tìm lại được tình yêu. Và cuối cùng chúng ta được yêu, được yêu đến cùng. Mọi sự được hoàn tất!
- Một lát nữa, chúng ta suy tôn Thánh giá; khi suy tôn chúng ta sẽ lãnh nhận hoa quả của Thập giá. Và khi suy tôn, chúng ta liên tưởng đến Mẹ Maria, người Mẹ liên kết thẳm sâu với Thập giá chừng nào!
- Vì thế, chúng ta hãy đón nhận Đức Maria như người mẹ của chúng ta! Món quà tuyệt vời! Mẹ Maria đứng dưới chân thập giá, chắc chắn Mẹ cũng đứng dưới chân những đau khổ của chúng ta, dưới cả những tội lỗi của chúng ta. Mẹ khóc vì chúng ta và cho chúng ta!
- Chiều nay, khi suy tôn Thập giá, chúng ta có thể nói với Chúa Giêsu về tình yêu của chúng ta bằng hương thơm trái tim chúng ta, hay nói cụ thể hơn bằng lời cầu nguyện sâu xa, chăm chú, đầy tình yêu. Hoa quả của Thập giá, chính là tình yêu được canh tân vì Chúa Kito.
- Hơn nữa, hoa quả vĩ đại nhất của thập giá, chính là có thể đón nhận thân thể Chúa Giêsu như Giuse Arimathia. Thân thể Chúa Giêsu chỉ muốn nên một với chúng ta, đó là Thánh Thể quý giá chừng nào mà một lát nữa chúng ta đón nhận và cố gắng đón nhận mỗi ngày.
- Trên con đường theo Chúa Kito, đôi lúc chúng ta có thể như Nicođemo đến với Chúa Giêsu ban đêm vì sợ người do-thái; nhưng từ nay chúng ta hãy là Nicodemo xuất hiện giữa công nghị để bảo vệ đức tin chúng ta, bảo vệ danh Chúa Kito, như Ngài đã bảo vệ chúng ta vì chúng ta không còn sợ nữa.
Tôn kính Thánh giá, đón nhận thánh giá, đó là trở nên nhân chứng của Chúa Kito.
Lạy Chúa Giêsu Kito, giờ đây chúng ta xin phó thác vào Chúa, vị VUA VŨ TRỤ của chúng con! Xin Chúa tạo dựng lại thế giới, đặt sự sống mới vào mọi nơi và mọi người. Xin Chúa làm sống lại tất cả những gì đã chết. Xin Chúa làm cho trái tim tội lỗi của chúng con biết mở ra cho tương lai Phục sinh!

 

Tuầnthánh 6-97: TÌNH YÊU ĐÃ TOÀN THẮNG

Lm. Gioan Đặng Văn Nghĩa
(Is 52,13-  53,12; Dt 4,14-  16-  5,7- 9; Ga 18, 1 -  19, 42)
 

Trong xã hội hiện đại, nhiều người không muốn nhắc tới Thánh Giá, bởi vì họ không nhìn thấy Tuầnthánh 6-97

Trong xã hội hiện đại, nhiều người không muốn nhắc tới Thánh Giá, bởi vì họ không nhìn thấy sứ điệp tình yêu và cứu chuộc của Thiên Chúa dành cho nhân loại ngang qua Thánh Giá và Đấng chịu treo trên đó! Ngược lại, họ chỉ nhìn Thánh Giá như một thập giá là dụng cụ mà những nhà thi hành pháp của Dothái khi xưa dùng để hành hình án tử cho các tử tội nguy hiểm như Đức Giêsu.
Tuy nhiên, với người Công Giáo, thập giá khổ đau ấy đã trở thành Thánh Giá khi Đức Giêsu đón nhận và dùng làm phương thế cứu chuộc nhân loại. Chính vì vậy, Thánh Giá từ đó trở thành biểu tượng của niềm tin và ơn cứu chuộc của chúng ta.
Đây là niềm vinh dự lớn lao, là biểu tượng của sự chiến thắng tội lỗi và ma quỷ, là dấu chứng tình yêu vĩ đại của Thiên Chúa dành cho nhân loại và là niềm hy vọng của mọi người Tín Hữu.
Với tâm tình đó, chiều hôm nay, chúng ta cùng nhau suy niệm để khám phá ra sứ điệp yêu thương mà Thiên Chúa muốn gửi đến cho nhân loại qua Đức Giêsu, Đấng chịu treo trên Thánh Giá để cứu chuộc nhân loại.
Đức Giêsu chết để tiêu diệt ma quỷ
Ngay từ khi Đức Giêsu nhập thể và nhập thế, Ngài đã lựa chọn con đường của hạt lúa gieo vào lòng đất và chấp nhận mục nát đi, để từ đó sự sống mới phát sinh như thánh Phaolô nói: “Đức Giê-su Kitô, vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2,6-8). Nhưng ma quỷ, kẻ thù của Thiên Chúa, luôn luôn tìm mọi cách để ngăn cản kế hoạch của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu. Vì thế, nó không bỏ lỡ một cơ hội thuận tiện nào mà không cám dỗ Đức Giêsu từ bỏ con đường thập giá… Nó chẳng khác gì như sư tử gầm thét đi tìm mồi. Chúng dùng đủ mọi ngón đòn bằng chính nanh vuốt và nọc độc gian trá để miễn sao đạt được mục đích. Nhưng, khi Đức Giêsu đón nhận thập giá và cái chết trong sự vâng phục Thiên Chúa Cha để chuộc tội thiên hạ và tẩy rửa tội lỗi cũng như giao hòa con người với Thiên Chúa, thì cùng một trật, Đức Giêsu đã hoàn toàn chiến thắng ma quỷ khi tiêu diệt ý định và kế hoạch của chúng. Thánh Giá chính là cờ chiến thắng được dựng lên trên đồi Canvê để làm cho ma quỷ và những ý định quỷ quyệt của chúng bị tê liệt, bất lực.
Nói cách khác, khi Thánh Giá được dựng lên thì đồng nghĩa với việc Đức Giêsu đẩy lui quyền lực của sự dữ và sự chết, để thay vào đó là chìa khóa mở vào cõi sống. Cũng chính từ khi Đức Giêsu bị treo trên thập giá, chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa Cha được hoàn tất và tình yêu cứu độ được trải dài đến tận chân trời góc bể.
Đức Giêsu chết để nêu cao tình yêu
Trong toàn bộ Kinh Thánh, chúng ta thấy rất nhiều chỗ nói về tình yêu của Thiên Chúa dành cho nhân loại.
Chẳng hạn như trong Tin Mừng Gioan, tác giả đã trình bày: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16). Chính vì yêu thương nhân loại đến trao ban ngay cả Con mình như vậy, nên Đức Giêsu khi đến trần gian, Ngài đã tiếp tục con đường ấy. Vì thế, Ngài đã nói: “Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13).
Qua cái chết đau thương của Ngài trên thập giá, tình yêu của Thiên Chúa được tỏ hiện rõ nét hơn bao giờ hết. Bởi vì nơi đó, tình yêu được trở nên vẹn toàn khi đi đến tận cùng của cái chết. Sự vẹn toàn và phổ quát đó được dành cho hết mọi người. Vì thế, tình thương ấy không chỉ dành riêng cho những người tốt lành, mà là cho hết mọi người, và ngay cả những người tội lỗi. Điều này đã được thánh Phaolô viết: “Hầu như không ai chết vì người công chính, hoạ may có ai dám chết vì một người lương thiện chăng. Thế mà Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta” (Rm 5, 7-8).
Thật vậy, Đức Giêsu đã hiến mạng sống mình qua cái chết, hơn nữa, vì yêu thương nhân loại, nên Ngài đã bị liệt vào hàng tội lỗi và sẵn sàng mang lấy tội lỗi của nhân loại trên thân mình Ngài để cầu nguyện và đền tội thay cho mọi người (x. Is 53,4-11). Vì thế, Ngài đã trở thành Chiên vượt qua (x. 1Cr 5,7),  đến gánh tội trần gian (x. Ga 1,29), thành vật hiến tế (x.1Ga 4,10), để làm của lễ “chuộc tội đời đời” (x. Dt 9, 12.10,10).
Như vậy, thập giá là biểu tượng của đau khổ và chết chóc, nhưng từ khi Đức Giêsu đón lấy bằng tình yêu đối với Thiên Chúa Cha và với con người, thì thập giá ấy có một tên khác, đó là Thánh Giá cứu chuộc.
Sống mầu nhiệm Thánh Giá trong cuộc đời
Mỗi khi cử hành mầu nhiệm Thánh Giá, chúng ta không tôn vinh sự đau khổ, không cổ súy cho sự ác lên ngôi. Nhưng, chúng ta tôn vinh và chiêm ngưỡng tình yêu của Thiên Chúa trong lịch sử cứu chuộc, và qua đó, mỗi người biết sống mầu nhiệm Thánh Giá trong cuộc đời của mình để được ơn tha thứ.
Tự bản chất, đau khổ không có giá trị cứu chuộc. Tuy nhiên, Đức Giêsu đã chỉ ra cho chúng ta chìa khóa hạnh phúc ngay trong đau khổ, đó là tình yêu. Điều này đã được Đức Giêsu thi hành ngay trong cuộc đời của Ngài. Đỉnh cao của tình yêu chính là cái chết trên thập giá. Qua cái chết vì yêu đến cùng này, Ngài đã khai mở cho chúng ta sự sống vĩnh cửu.
Vì vậy, mỗi khi nhìn lên Thánh Giá, chúng ta được mời gọi chiêm ngắm tình yêu kỳ diệu của Thiên Chúa. Một tình yêu hướng tha và luôn luôn đi bước trước. Một tình yêu không phân biệt. Một tình yêu chết cho người mình yêu. Mặt khác, chúng ta cũng rất cần một hành động thống hối vì những tội lỗi của mình gây nên.
Chẳng hạn như những tội phạm tới Thiên Chúa: nhiều khi chúng ta vô ơn với tình yêu của Thiên Chúa; không màng chi đến lời mời gọi của Ngài; không tin tưởng Thiên Chúa tuyệt đối, nhưng thay vào đó là thầy bùa, thày ngải, thày bói, thày mo cũng như những hành vi tôn thờ ngẫu tượng khác…
Tội phạm đến anh chị em đồng loại như: lạnh nhạt, dửng dưng, vô cảm trước nỗi khổ đau của anh chị em; đôi khi vì đồng tiền, địa vị mà sẵn sàng bẻ cong ngòi bút hay sẵn sàng làm chứng gian, vu vạ cho người vô tội; hoặc chỉ vì miếng cơm manh áo, mà sẵn sàng làm đủ mọi thủ đoạn xấu xa nhằm trục lợi cho bản thân.
Nhìn lên Thánh Giá, Giáo Hội còn mời gọi chúng ta hãy trở thành hiện thân của Đức Giêsu, Đấng đã vì yêu mà mang vào mình mọi “bệnh hoạn tật nguyền” của chúng ta, để làm cho chúng ta trở nên lành mạnh, nên công chính cách nhưng không, như bài ca về “Người Tôi Tớ Đau Khổ” đã loan báo.
Vì thế, đến lượt chúng ta, thiết nghĩ, không có gì diễm tả rõ nét về tình yêu của Thiên Chúa cho bằng mang trong mình những ưu sầu, lo lắng và đau khổ của anh chị em mình, để cảm thấu, để nâng đỡ, để yêu thương, để hành động.
Lạy Chúa Giêsu, chúng con cảm tạ Chúa vì Chúa đã dùng Thánh Giá mà cứu chuộc nhân loại. Xin Chúa ban cho chúng con cảm nghiệm được tình yêu sâu đậm của Chúa nơi Thánh Giá, để chúng con biết sống xứng đáng là con cái của Chúa, Đấng đã cứu chuộc chúng con bằng chính máu của mình. Amen.

 

Tuầnthánh 6-98: THẬP GIÁ CỦA CHÚA – THẬP GIÁ CỦA TÔI

 Gm. Giuse Vũ Văn Thiên
 

Lễ nghi chiều thứ Sáu Tuần Thánh được đề nghị cử hành vào lúc 3 giờ chiều (đối với những nơi Tuầnthánh 6-98

Lễ nghi chiều thứ Sáu Tuần Thánh được đề nghị cử hành vào lúc 3 giờ chiều (đối với những nơi phù hợp), vì theo truyền thống, Đức Giêsu trút hơi thở cuối cùng trên cây thập giá vào lúc giờ thứ chín (x. Mt 27,45-46). Phụng vụ hôm nay mang màu sắc đau thương, nhưng không hoàn toàn bi thảm, vì thập giá của Đức Giêsu vừa là dụng cụ khổ hình, vừa là cờ hiệu chiến thắng.
 Chúa Giêsu đã tự vác thập giá, từ dinh quan Philatô đến núi Canvê. Theo những khám phá từ tấm khăn liệm thành Turinô và những nghiên cứu sử học, thì người bị kết án tử hình phải vác cây gỗ ngang, còn cây gỗ dọc thì đóng sẵn trên đồi. Việc vác cây gỗ ngang nhằm tránh tử tội trốn thoát, đồng thời cũng là một nhục hình để trừng phạt. Truyền thống Giáo Hội diễn tả con đường thập giá của Chúa Giêsu qua 14 hình ảnh được gọi là “Mười bốn chặng đàng Thánh Giá”. Trên con đường này, nhiều biến cố đã xảy đến với Chúa Giêsu. Từ cuộc gặp gỡ với Đức Mẹ đến cuộc gặp gỡ với những người dân thành Giêrusalem. Từ  những người ghen ghét chê bai nhạo cười đến những người cảm thương và giúp đỡ. Ông Simon và bà Vêrônica là hai người  xa lạ và có địa vị thấp kém trong xã hội, lại là những người giúp Chúa, một người vác đỡ thập giá, một người lau mặt Chúa đang đầm đìa mồ hôi và máu. Trong hành trình thập giá, Chúa ngã ba lần, nhưng Người lại gượng dạy bước đi. Có lẽ, lời nguyện cùng Chúa Cha trong vườn Cây Dầu luôn vang lên trong tâm trí Chúa: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26,39). Đó là một cuộc giằng co khốc liệt giữa sự yếu đuối của con người và sự mạnh mẽ của Ngôi Hai nhập thể. Chúa Giêsu đã dứt khoát thi hành ý Chúa Cha, chấp nhận mọi nhục hình và gian nan khốn khó. Thập giá chính là bằng chứng của sự tuân phục và hy sinh của Người.
 Khi chiêm ngắm Đấng chịu treo trên thập giá, tôi nhận ra Chúa Giêsu đang nhìn tôi với cái nhìn đầy yêu thương. Trong thinh lặng, Chúa nói với tôi: “Ta tha thứ mọi tội lỗi cho con”. Vì thế, chiêm ngắm Chúa trên thập giá đem lại cho tôi hạnh phúc vì thấy mình được yêu thương. Trong giáo huấn Tin Mừng, Chúa Giêsu đã dạy hãy tha thứ cho kẻ thù. Giờ đây, trên thập giá, Chúa dạy tôi bài học tha thứ. Lúc này, Người thực hiện lời giáo huấn ấy khi xin Chúa Cha tha tội cho những kẻ hành hạ mình. Biết bao lần tôi cố chấp muốn tự khẳng định vị thế của mình trong gia đình và trong xã hội. Sự cố chấp làm tôi mù quáng, không nhìn ra đâu lẽ phải, không nhận ra ai là anh em. Chúa Giêsu đã tha thứ trong lúc trái tim rướm máu. Điều đó cho thấy, để có thể tha thứ, phải chấp nhận hy sinh. Khi tha thứ, nhiều khi tôi phải chịu tiếng là hèn nhát, có khi tôi phải hạ mình và mất thanh danh. Tuy vậy, dù thế nào đi nữa, khi tôi tha thứ, chắc chắn tôi tìm được sự an bình thanh thản trong tâm hồn.
 Khi chiêm ngắm Đấng chịu treo trên thập giá, tôi nhận ra Người là Con Thiên Chúa. Viên bách quan đội trưởng là người đã tham gia vào vụ hành hình Chúa. Vậy mà vào lúc Chúa tắt thở, ông ta lại nhận ra thân thế đích thật của Người và hô lên: “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa” (Mc 15,39). Một Thiên Chúa trần trụi, bị khinh khi, khổ nhục và chịu chết vì yêu thương con người. Thập giá dạy tôi một cách nhìn nhận mới về đau khổ: Thiên Chúa đau khổ cho con người hạnh phúc. Người chết cho con người được sống. Như vậy, nếu muốn đem lại hạnh phúc cho những người xung quanh, tôi không thể trốn tránh đau khổ. Muốn yêu Chúa Giêsu, tôi không được khước từ thập giá. Thập giá không có Chúa Giêsu chỉ là một cây gỗ vô hồn; Chúa Giêsu không có thập giá không phải là Chúa Giêsu của Đức Tin.
 Khi tôi chiêm ngắm Đấng chịu đóng đinh, tôi thấy những anh chị em Kitô hữu của tôi ở nhiều nơi đang bị bách hại. Chúa nhật Lễ Lá vừa qua (29-3-2015), tại quảng trường Thánh Phêrô ở Rôma, Đức Thánh Cha Phanxicô đã kêu gọi các tín hữu trên toàn thế giới hãy cầu nguyện cho những tín hữu bị giết tại một số quốc gia trên thế giới. Họ là những thừa sai, những linh mục, tu sĩ và có nhiều tín hữu giáo dân. Họ đã chết chỉ vì một lý do đơn giản: họ là Kitô hữu. Qua Đấng chịu đóng đinh, tôi cũng nhìn thấy những mảnh đời bất hạnh, những người nghèo nàn, bệnh tật, đau khổ. Họ quằn quại trong nỗi đau của kiếp người mà chưa có lối thoát. Chúa Giêsu vẫn đang chịu đóng đinh nơi những người bất hạnh này. Thập giá là lời kêu gọi hãy ngưng bạo lực, hãy xử với nhau cho đúng phẩm giá con người và hãy liên đới nâng đỡ nhau trong cuộc sống.
“Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi” (Ga 12, 32). Khi chiêm ngắm Chúa Giêsu trên thập giá, tôi thấy Người mời gọi tôi hãy vươn cao, hãy sống cao thượng, hãy hướng về trời. Dù tôi yếu đuối và tội lỗi, tôi vẫn có thể vươn cao, vì Chúa lôi kéo tôi bằng sự trợ giúp thiêng liêng. Tuy vậy, vươn cao để gặp Chúa đòi hỏi nhiều hy sinh. Phải can đảm dứt bỏ những gì đang ràng buộc. “Ai theo Tôi, hãy từ bỏ mình, vác thập giá hằng ngày mà theo” (Lc 9,23). Theo Chúa Giêsu là đi trên con đường hy sinh của thập giá. Như thế, thập giá không phải một kỷ niệm vô hồn của quá khứ xa vời, nhưng là chính cuộc sống hằng ngày của tôi. Mỗi ngày sống, tôi đều có cơ hội tiếp cận thập giá, điều quan trọng là thái độ của tôi thế nào trước cây gỗ mà trên đó Con Thiên Chúa đã chịu đau đớn và đã chịu chết vì yêu tôi.
 Lễ nghi chiều Thứ Sáu Tuần Thánh nhắc bảo tôi: Thập giá của Chúa cũng là thập giá của tôi. Khi suy niệm mầu nhiệm Mân Côi, thứ bốn của Năm Sự Thương, tôi cầu nguyện: xin cho tôi được vác thánh giá theo chân Chúa. Vâng,“Đây là gỗ thánh giá, nơi treo Đấng Cứu chuộc trần gian!” Tôi đến để tôn kính và thờ lạy. Tôi tin chắc Đấng đóng đinh sẽ ở bên tôi. Niềm xác tín ấy giúp tôi tìm thấy thư thái và an bình.

 

Tuầnthánh 6-99: SỰ VÔ CẢM ĐẾN NHẪN TÂM CỦA CON NGƯỜI

Lm. Giuse Đỗ Đức Trí
 

Trong sứ điệp Mùa Chay 2015, Đức Thánh Cha Fancis cảnh báo về lối sống đang diễn ra trong Tuầnthánh 6-99

Trong sứ điệp Mùa Chay 2015, Đức Thánh Cha Fancis cảnh báo về lối sống đang diễn ra trong xã hội và thế giới hôm nay. Đó là lối sống dửng dưng vô cảm, thiếu quan tâm đến người khác. Ngài nhắc lại câu chuyện Cain và Abel trong Cựu Ước. Cain vì ghen tỵ, nghĩ là Thiên Chúa thương Abel hơn mình, nên đã tìm cách thủ tiêu Abel. Sau khi gây ra điều ác, Cain lẩn trốn Thiên Chúa, nhưng ánh mắt của Thiên Chúa vẫn dõi theo anh. Chúa hỏi anh : Cain ơi ! Em ngươi đâu ? Cain đã trả lời hết sức nhẫn tâm : Tôi không biết ! Tôi không phải là người canh giữ em tôi !
 Đức Thánh Cha cho thấy sự vô tâm, vô cảm đang ảnh hưởng trên nhiều cá nhân. Hơn nữa, nó còn mang tầm mức xã hội, quốc gia và thế giới. Nó thể hiện qua việc con người chỉ lo tìm kiếm phần lợi về cho mình mà không quan tâm đến hậu quả mình gây ra hoặc những điều đang xảy ra cho anh em. Lý do là vì khi con người cảm thấy an toàn, thoải mái trong sự hưởng thụ của mình, thì người ta quên những vấn đề của người khác cùng những đau khổ, bất công mà họ phải chịu… Những lúc ấy, con người rơi vào tình trạng dửng dưng.
 Thái độ ích kỷ, dửng dưng trở nên hết sức nguy hiểm khi trở thành một lối sống trong xã hội. Ngày nay, con người tỏ ra dửng dưng với các sự kiện đang xảy ra, coi thường chân lý và sự thật, không lên tiếng phản đối những bất công để bảo vệ công lý. Từ dửng dưng với tha nhân sẽ dẫn đến dửng dưng với Thiên Chúa.
 Bài Thương khó hôm nay cho thấy tình yêu hy sinh đến cùng của Thiên Chúa. Vì yêu con người, muốn cho con người hạnh phúc, Chúa Giêsu đã chấp nhận một cuộc hành hình đau đớn và cuối cùng là cái chết nhục nhã trên thánh giá. Cũng qua bài thương khó này, tác giả còn cho thấy sự dửng dưng, vô cảm của con người, của xã hội trước bản án bất công mà giới lãnh đạo đã cố tình áp đặt trên một người công chính.
 Trước hết là sự dửng dưng, vô cảm của các môn đệ. Các ông là những người gần Chúa Giêsu nhất, đáng lẽ các ông phải là người hiểu và cảm thông với Chúa hơn mọi người. Thực tế thì ngược lại, các ông chỉ quan tâm đến bản thân, mà không hề đồng cảm với Chúa Giêsu khi Ngài phải đối diện với cuộc thương khó. Trong lúc Chúa đau khổ đến nỗi có thể chết được, thì các tông đồ vẫn còn say trong giấc ngủ, mắt các ông còn mơ màng. Khi Giuda dẫn người Do Thái đến bắt Chúa, Chúa Giêsu hết sức bênh vực cho các tông đồ, Ngài còn đề nghị với chúng : Các anh bắt tôi thì cứ bắt, nhưng hãy để cho những người này đi. Còn các tông đồ như vừa giật mình thức giấc, các ông phản ứng một cách yếu ớt. Cuối cùng, tất cả đều bỏ trốn, mặc cho Chúa Giêsu một mình bị quân dữ bắt trói và lôi đi.
 Sự vô tâm của Giuda đã dẫn đến sự nhẫn tâm, tàn ác khi anh ta vì chút ít tiền, đã chấp nhận làm môi giới để quân lính bắt Thầy mình, đẩy Thầy vào con đường chết. Biết trước Thầy sẽ bị bắt, nhưng anh vẫn thản nhiên bước đến chào và hôn Thầy. Cái hôn này không còn là dấu chỉ biểu lộ tình yêu thương nồng ấm, nhưng đã trở thành cái hôn lạnh lùng, thành dấu chỉ của sự phản bội. Việc làm này của Giuda đã góp phần làm tổn thương Chúa Giêsu, làm cho đau khổ của Ngài không chỉ là nỗi đau thể xác, mà còn là nỗi đau thấu trong tâm hồn khi bị phản bội bởi chính người mình yêu quý.
 Thứ đến là sự dửng dưng, vô cảm của những người lãnh đạo Do Thái. Thánh Gioan cho thấy, những người lãnh đạo chỉ muốn tìm mọi cách để đạt được mục đích của mình là loại trừ Chúa Giêsu. Vì thế, họ đã bất chấp công lý, từ chối sự thật. Họ biết rõ Chúa Giêsu không làm gì sai trái. Họ muốn giết Chúa chỉ vì Ngài đã lên tiếng bênh vực chân lý, chỉ ra những sai trái của họ, khiến họ cảm thấy khó chịu. Hơn nữa, các thượng tế và luật sĩ đã coi mình như những người nắm giữ giáo lý, sở hữu chân lý. Vì thế, họ không chấp nhận một người nào khác nói về Thiên Chúa. Vậy nên khi Chúa Giêsu xuất hiện, Ngài nói về một Thiên Chúa là Cha yêu thương, là Thiên Chúa nhân từ, thì các thương tế và luật sĩ đã tìm cách loại trừ Chúa. Họ thản nhiên tuyên bố : Nó phải chết !
 Từ các thượng tế và luật sĩ, sự dửng dưng vô cảm đã lan truyền đến dân chúng. Trong số những người đứng biểu tình, la hét trước dinh Philatô đòi giết Chúa Giêsu, có nhiều người đã từng biết Chúa Giêsu, nghe Ngài giảng dạy. Thậm chí, nhiều kẻ đã từng được ăn bánh hoặc được hưởng phép lạ Chúa làm cho họ. Thế nhưng, trước dinh Philatô, họ thản nhiên kêu gào : Giết đi ! Giết nó đi ! Đóng đinh nó vào thập giá ! Sự dửng dưng, vô cảm của đám đông dân chúng đã trở thành nhẫn tâm, thành dã man khi họ quyết tâm loại trừ người công chính là Chúa Giêsu để chấp nhận kẻ gian ác là Baraba. Họ chấp nhận từ chối Thiên Chúa để làm nô lệ cho đế quốc khi họ kêu gào : Chúng tôi chỉ có một vua là Cesare ! Cuối cùng, họ hồ hởi đi theo để xem một con người chịu đau khổ, bị hành hạ và bị kết án tử hình giống như thể mình là những người vô can. Trong đám đông dân chúng, có kẻ còn buông những lời độc địa, mỉa mai Đấng đã từng làm ơn cho mình.
 Con người thường tỏ ra dửng dưng, vô cảm và đối xử nhẫn tâm với nhau, nhưng Thiên Chúa thì không bao giờ như thế. Thiên Chúa luôn quan tâm đến con người và những đau khổ của họ. Thiên Chúa đã nhìn thấy con người đang phải đau khổ trong tội và bị kìm hãm, trói buộc bởi ma quỷ. Ngài đã tìm đến với con người, xoa dịu những đau khổ thể xác, chữa trị những vết thương trong tâm hồn và giành lại tự do, hạnh phúc cho con người.
 Mặc dù chịu một bản án bất công và dã man nhưng Ngài không một lời than trách. Ngài vẫn tạo những cơ hội giúp con người nhìn lại đời sống và hành động của mình. Ngài đã đặt cho các tông đồ câu hỏi để giúp các ông thức tỉnh : Đến giờ này mà anh em còn ngủ được sao ? Ngài cũng hỏi Giuda : Ngươi định dùng cái hôn để nộp con người sao ? Trong lúc các môn đệ bỏ trốn hết vì sợ, Chúa Giêsu vẫn nhớ đến các ông và tin tưởng ở các ông. Ngài đã trả lời cho thầy thượng tế rằng : Điều tôi đã nói, ông cứ hỏi những người đã nghe tôi. Họ biết tôi đã nói gì.
 Trên cây thập giá, khi bị treo cùng với hai tên trộm, Chúa Giêsu vẫn quan tâm tới lời cầu xin của tên trộm lành : Khi nào về Nước Trời, xin nhớ đến tôi ! Chúa Giêsu đã hứa với anh : Ngay hôm nay, anh sẽ được ở trên Thiên Đàng với tôi. Ngài quan tâm đến những tên lính, vì mệnh lệnh mà hành khổ Ngài, bằng lời cầu xin : Lạy Cha, xin tha cho chúng, vì chúng lầm không biết ! Trong giờ phút đau khổ nhất, Chúa Giêsu còn quan tâm đến Mẹ Maria và các môn đệ khi trao phó Mẹ cho Thánh Gion : Đây là con của Bà và đây là Mẹ con !
 Nghe bài Thương khó của chúa Giêsu, chúng ta nhận ra rằng : Thiên Chúa luôn quan tâm đến con người, chỉ có con người thường dửng dưng, vô cảm với nhau và dửng dưng, vô cảm với Thiên Chúa. Sự dửng dưng, vô cảm ấy bắt đầu từ lối sống ích kỷ, chỉ nghĩ đến bản thân, đến lợi ích cá nhân mà bỏ quên người bên cạnh. Lối sống này cũng đang diễn ra ngay trong các gia đình, khi các thành viên chỉ nghĩ đến mình mà không nghĩ đến những người khác. Có nhiều người cha, người mẹ hoặc con cái bị bỏ quên trong gia đình, bị gạt ra khỏi sự quan tâm, chăm sóc, có khi còn lạnh lùng gây đau khổ cho nhau. Trong xã hội, nhiều người đã cố tình làm ngơ trước sự dữ, sự ác ; nhiều người đã cộng tác với những bất công mà loại trừ những anh chị em đau khổ.
Nguyên nhân sâu xa của lối sống dửng dung này là vì con người dửng dưng với Thiên Chúa, nên họ cũng dửng dưng, vô cảm với anh em. Một khi con người loại trừ Thiên Chúa ra khỏi tâm hồn mình thì chắc chắn sự dữ và sự ác sẽ đến trong tâm hồn. Một khi trái tim con người đóng kín trước lời mời gọi của Thiên Chúa thì cũng sẽ đóng kín trước những nhu cầu của anh chị em.
 Cử hành cuộc thương khó của Chúa Giêsu hôm nay, xin Chúa biến đổi tâm hồn và cuộc sống chúng ta. Xin cho mỗi người trở nên mềm lòng trước tình yêu của Thiên Chúa. Xin cho chúng ta có một trái tim thật mềm để biết chạnh thương, rung động trước những đau khổ của anh em, và có một tâm hồn thật nhạy bén để biết quan tâm và cảm thông. Amen.

 

Tuầnthánh 6-100: GIÁ MÁU

Trầm Thiên Thu
 

Hôm nay là ngày Đại Tang của Công giáo và của những người có niềm tin vào Đức Giêsu Kitô. Nếu Tuầnthánh 6-100

Hôm nay là ngày Đại Tang của Công giáo và của những người có niềm tin vào Đức Giêsu Kitô. Nếu cuộc đời là một bộ phim thì cảnh tượng hôm nay là bộ phim buồn nhất, thê lương nhất.
 Cái gì cũng có cái giá của nó,hạnh phúc cũng phải “mua” bằng ít nhiều đau khổ, nhưng không gì mắc bằng “giá máu”. Máu màu đỏ, giúp cơ thể sống: Thiếu máu thì yếu, mất máu thì chết.
 Mỗi phút, trái tim của một người trưởng thành, khoẻ mạnh bình thường, đập khoảng 70 lần, mỗi lần đẩy ra 150 ml máu. Mỗi ngày tim đập 105.000 lần và bơm hơn 6.000 lít máu vào các mạch máu dài 96.000 km. Trong suốt đời người, tim lần lượt đập khoảng 3 tỷ nhịp, bơm ra cả triệu thùng máu. Tim và máu liên quan lẫn nhau. Vô cùng kỳ diệu!
 Sách ngôn sứ Isaia có bốn “Bài Ca Người Tôi Trung” (Is 42:1-9; Is 49:1-7; Is 50:4-11; Is 52:13-15), nói về nỗi đau khổ của Người Tôi Trung, thế nên cũng gọi là Người Tôi Tớ Đau Khổ.
 Bài đọc I trong nghi thức Đại Tang hôm nay là một trình thuật dài. Đây là bài ca thứ tư trong số các “Bài Ca Người Tôi Trung”, và là bài ca dài nhất: “Này đây, người tôi trung của Ta sẽ thành đạt, sẽ vươn cao, nổi bật, và được suy tôn đến tột cùng. Cũng như bao kẻ đã sửng sốt khi thấy tôi trung của Ta mặt mày tan nát chẳng ra người, không còn dáng vẻ người ta nữa, cũng vậy, nó sẽ làm cho muôn dân phải sững sờ, vua chúa phải câm miệng, vì được thấy điều chưa ai kể lại, được hiểu điều chưa nghe nói bao giờ”. Người Tôi Trung chịu đủ thứ đau khổ, từ tinh thần đến thể lý, và không còn gì là hình dạng một con người nữa! (*)
 Sau đó, trình thuật Is 53:1-12 cho biết chuỗi đau khổ nối tiếp của Người Tôi Trung. Ngôn sứ Isaia đã đặt vấn đề: “Điều chúng ta đã nghe, ai mà tin được? Cánh tay uy quyền của Đức Chúa đã được tỏ cho ai?” (Is 53:1). Vâng, thật không thể tin nổi lại có người chịu nhục hình quá đỗi đến như vậy, và cũng chẳng thể tin nổi lại có những kẻ tàn ác đến thế. Họ không chỉ thay phiên nhau đánh Chúa Giêsu, mà còn đánh hội đồng, đánh không nương tay với những chùm dây da có gắn nhiều cục chì hoặc móc. Kinh khủng vô cùng!
 Hôm nay, trước khi hôn kính Thánh Giá, chúng ta hãy lắng nghe thật kỹ chuyện về Người Tôi Tớ Đau Khổ để thấy chính mình trong đó, để thương khóc cho tội lỗi mình, chứ Chúa Giêsu không cần chúng ta khóc thương Ngài đâu!
 Người Tôi Trung đã lớn lên tựa chồi cây trước Nhan Thánh, như khúc rễ trên đất khô cằn, nhưng chẳng còn dáng vẻ, chẳng còn oai phong đáng chúng ta ngắm nhìn, dung mạo chẳng còn gì khiến chúng ta ưa thích. Người bị đời khinh khi ruồng rẫy, phải đau khổ triền miên và nếm mùi bệnh tật. Người như kẻ ai thấy cũng che mặt không nhìn, bị chúng ta khinh khi, không đếm xỉa tới. Sự thật, chính người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta, còn chúng ta, chúng ta lại tưởng người bị phạt, bị Thiên Chúa giáng hoạ, phải nhục nhã ê chề.
 Chính người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm; người đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành. Tất cả chúng ta lạc lõng như chiên cừu, lang thang mỗi người một ngả. Nhưng Đức Chúa đã đổ trên đầu người tội lỗi của tất cả chúng ta. Bị ngược đãi, người cam chịu nhục, chẳng mở miệng kêu ca; như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, người chẳng hề mở miệng.
 Người đã bị ức hiếp, buộc tội, rồi bị thủ tiêu. Dòng dõi của người, ai nào nghĩ tới? Người đã bị khai trừ khỏi cõi nhân sinh, vì tội lỗi của dân, người bị đánh phạt. Người đã bị chôn cất giữa bọn ác ôn, bị mai táng với người giàu có, dù đã chẳng làm chi tàn bạo và miệng không hề nói chuyện điêu ngoa. Đức Chúa đã muốn người phải bị nghiền nát vì đau khổ. Nếu người hiến thân làm lễ vật đền tội, người sẽ được thấy kẻ nối dõi, sẽ được trường tồn, và nhờ người, ý muốn của Đức Chúa sẽ thành tựu. Nhờ nỗi thống khổ của mình, người sẽ nhìn thấy ánh sáng và được mãn nguyện. Vì đã nếm mùi đau khổ, người công chính, tôi trung của Ta, sẽ làm cho muôn người nên công chính và sẽ gánh lấy tội lỗi của họ. Vì thế, Ta sẽ ban cho nó muôn người làm gia sản, và cùng với những bậc anh hùng hào kiệt, nó sẽ được chia chiến lợi phẩm, bởi vì nó đã hiến thân chịu chết, đã bị liệt vào hàng tội nhân; nhưng thực ra, nó đã mang lấy tội muôn người và can thiệp cho những kẻ tội lỗi.
 Nghe từng câu, thấm từng lời, chúng ta sẽ thấy mình khốn nạn, nhưng Chúa Giêsu vẫn chịu tất cả vì yêu chúng ta.
 Dù chịu đựng nỗi đau khổ tột cùng, Người Tôi Trung vẫn một lòng thành tín: “Con ẩn náu bên Ngài, lạy Chúa, xin đừng để con phải tủi nhục bao giờ. Trong tay Ngài, con xin phó thác hồn con, Ngài đã cứu chuộc con, lạy Chúa Trời thành tín” (Tv 31:2 và 6).
Và dù “nên trò cười cho thù địch và cho cả hàng xóm láng giềng” bị “bạn bè thân thích kinh hãi”, dù “ai cũng tránh xa”, hoặc bị lãng quên như kẻ chết không người tưởng nhớ” và “hoá thành đồ hư vất bỏ”, nhưng Người Tôi Trung “vẫn tin tưởng nơi Ngài”, vẫn dám thưa rằng: “Ngài là Thượng Đế của con” (Tv 31:12-15). Số phận có thế nào thì cũng là do Thiên Chúa định liệu, Người Tôi Trung nhất quyết trao phó cuộc đời mình cho Thiên Chúa: “Xin giải thoát con khỏi tay địch thủ, khỏi người bách hại con. Xin toả ánh tôn nhan rạng ngời trên tôi tớ Ngài đây, và lấy tình thương mà cứu độ” (Tv 31:16-17).
 Hôm nay, một lần nữa, chúng ta hãy nhìn lại chính mình, và hãy lắng nghe lời động viên: “Hỡi mọi người! Hãy cậy trông vào Chúa, mạnh bạo lên, can đảm lên nào!” (Tv 31:25).
 Vâng, hãy cậy tin vào Ngài! Thánh Phaolô vừa phân tích vừa động viên: “Chúng ta có một vị Thượng Tế siêu phàm đã băng qua các tầng trời, là Đức Giêsu, Con Thiên Chúa. Vậy chúng ta hãy giữ vững lời tuyên xưng đức tin. Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội. Bởi thế, ta hãy mạnh dạn tiến lại gần ngai Thiên Chúa là nguồn ân sủng, để được xót thương và lãnh ơn trợ giúp mỗi khi cần” (Dt 4:14-16).
 Nói đến đau khổ thì vô cùng, đau khổ quá nhiều, đủ hình dạng, đủ kiểu cách. Gặp đau khổ thì ai cũng sợ, chán ngán hơn bất cứ thứ gì khác, nhưng nếu không có đau khổ, cuộc đời chúng ta sẽ nhàm chán. Thánh Phaolô cho biết: “Khi còn sống kiếp phàm nhân, Đức Giêsu đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết. Người đã được nhậm lời, vì có lòng tôn kính. Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục; và khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người” (Dt 5:7-9). Vâng phục là nhân đức quan trọng, nhưng để học được bài học vâng phục thì phải trả giá rất đắt. Và chính Chúa Giêsu đã phải trả bằng GIÁ MÁU.
 Trình thuật Ga 18:1–19:42 như một bộ phim dài, kể từ đêm Vườn Dầu cho tới chiều Đồi Sọ. Trong đó biết bao là tình tiết, nếu làm phim thì phải là bộ phim nhiều tập nói về bi kịch của một Con Người Công Chính – Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.
 Khi ông Giuđa dẫn đầu một toán quân cùng đám thuộc hạ của các thượng tế và nhóm Pha-ri-sêu, có vũ trang đầy đủ. Đức Giêsu tiến ra và hỏi họ tìm ai. Họ nói thẳng là tìm Giêsu Nadarét. Ngài nói ngay: “Chính tôi đây”. Nghe vậy, họ lùi lại và ngã xuống đất – trong đó có cả Giuđa. Vậy mà họ vẫn không sợ. Đức Giêsu lại hỏi họ tìm ai. Họ vẫn khăng khăng là tìm Giêsu Nadarét. Đức Giêsu cho họ bắt, nhưng xin không bắt các đệ tử. Thế là ứng nghiệm lời Ngài đã nói: “Những người Cha đã ban cho con, con không để mất một ai”.
 Khi đó, ông Phêrô máu bốc tới chỏm đầu, ông liền vung gươm chém đứt tai phải của Man-khô, đầy tớ của thầy thượng tế. Đức Giêsu bảo ông Phêrô xỏ gươm vào bao, vì Ngài chấp nhận uống Chén Đắng mà Chúa Cha đã trao. Rồi họ trói và dẫn độ Đức Giêsu đến ông Kha-nan, nhạc phụ của thượng tế Cai-pha. Ông Phêrô và một môn đệ khác (Gioan) đi theo Đức Giêsu. Người môn đệ này quen biết vị thượng tế nên được vào sân trong của tư dinh. Còn ông Phêrô đứng ở phía ngoài, gần cổng. Người môn đệ kia quen biết vị thượng tế ra nói với chị giữ cổng, rồi dẫn ông Phêrô vào. Người tớ gái giữ cổng nhận ra ông Phêrô thuộc nhóm môn đệ, nhưng ông liền chối phăng. Vì trời lạnh, các đầy tớ và thuộc hạ đốt than và đứng sưởi ở đó, ông Phêrô cũng đứng sưởi với họ.
 Thượng tế Caipha tra hỏi Đức Giêsu về các môn đệ và giáo huấn của Ngài, nhưng Ngài nói: “Tôi đã nói công khai trước mặt thiên hạ; tôi hằng giảng dạy trong hội đường và tại Đền Thờ, nơi mọi người Do-thái tụ họp. Tôi không hề nói điều gì lén lút. Sao ông lại hỏi tôi? Điều tôi đã nói, xin cứ hỏi những người đã nghe tôi. Chính họ biết tôi đã nói gì”. Đức Giêsu vừa dứt lời, một tên trong nhóm thuộc hạ đứng đó vả vào mặt Ngài vì cho Ngài trả lời như thế là vô lễ với thượng tế. Nhưng Ngài hỏi vặn lại: “Nếu tôi nói sai, anh chứng minh xem sai ở chỗ nào; còn nếu tôi nói phải, sao anh lại đánh tôi?”. Tất nhiên họ câm họng. Họ chỉ muốn dùng quyền lực mà thay trắng đổi đen thôi!
 Những kẻ thủ ác tội lỗi ngập đầu mà dám xét xử và kết án người vô tội. Chúng ta có như họ? Có đấy. Chúng ta không xét xử Chúa Giêsu nhưng chúng ta xét nét và khinh chê tha nhân, mà ghét người khác tức là ghét Chúa.
 Trong khi đó, ông Phêrô vẫn đứng sưởi, chợt có người khác nhận ra ông thuộc nhóm môn đệ của Chúa Giêsu, và ông cũng lại chối ngay lập tức. Một trong các đầy tớ của vị thượng tế, có họ với người bị ông Phêrô chém đứt tai, cũng nhận ra ông Phêrô, nhưng ông vẫn nhất quyết nói không quen với Đức Giêsu. Ngay lúc ấy gà liền gáy. Ông Phêrô giật mình nhớ lại lời Thầy, và ông chạy ra chỗ khác mà khóc òa…
 Sau đó, họ điệu Đức Giêsu tới dinh tổng trấn Philatô. Lúc đó trời vừa sáng. Ông Philatô hỏi họ tố cáo Đức Giêsu về tội gì. Họ không trả lời rõ mà vòng vo: “Nếu ông này không làm điều ác thì chúng tôi đã chẳng đem nộp cho quan”. Ông Philatô bảo họ cứ xét xử theo luật của họ, nhưng họ nói rằng họ không có quyền xử tử ai.
Ông Philatô hỏi Đức Giêsu có phải là vua hay không, nhưng Ngài bảo đó là chính Philatô nói, và Nước của Ngài không thuộc về thế gian này, Ngài sinh ra và đã đến thế gian này là để làm chứng cho sự thật. Không biết dốt thật hay cố ý mà ông Philatô đã hỏi: “Sự thật là gì?”. Ngày nay, vẫn có nhiều người cố ý “giả nai” như vậy!
 Tục lệ của người Do-thái thường tha một người nào đó vào dịp lễ Vượt Qua. Ông Philatô hỏi họ muốn tha “vua Do-thái” hay không, họ la toáng lên: “Đừng tha nó, nhưng xin tha Baraba!”. Thật tồi tệ, vì Chúa Giêsu đã bị họ ghét còn hơn tên cướp khét tiếng Baraba.
 Vì hèn nhát, ông Philatô chiều ý họ mà truyền đem Đức Giêsu đi và đánh đòn Ngài. Họ kết vòng gai làm vương miện đặt lên đầu Ngài, và khoác cho Ngài chiếc áo choàng đỏ, rồi vừa mỉa mai vừa vả vào mặt Ngài: “Kính chào Vua dân Do-thái!” (βασιλες τν ουδαίων). Sau đó, ông Philatô dẫn Đức Giêsu ra ngoài cho thấy mà thương, và muốn cho họ biết ông ta không tìm thấy lý do nào để kết tội Đức Giêsu. Nhưng vừa thấy Ngài, các thượng tế cùng các thuộc hạ liền kêu lên: “Đóng đinh, đóng đinh nó vào thập giá!”. Ông Philatô lắc đầu, đành giao Ngài cho họ. Ông Philatô không dám hành động vì công lý, không dám bảo vệ sự thật, không có lập trường. Còn chúng ta? Đã bao lần chúng ta hèn nhát như ông Philatô?
Họ bắt chính Đức Giêsu vác lấy thập giá đến Đồi Sọ, tiếng Do-thái gọi là Gôn-gô-tha. Tại đây, họ đã đóng đinh Ngài vào thập giá. Cùng bị đóng đinh với Ngài là hai tử tội khác.
 Trước đó, tổng trấn Philatô đã cho viết một tấm bảng bằng ba ngôn ngữ – Do Thái, Latin và Hy Lạp. Bảng đó ghi rõ: “Giêsu Nadarét, Vua dân Do Thái” (Ga 19:20). Tiếng Do Thái: תשווע מנצרת, מלך היהודים; tiếng Latin: INRI hoặc IN-RI (Iēsus Nazarēnus, Rēx Iūdaeōrum); tiếng Hy Lạp: ΙΝΒΙ (Ο Ιησούς από τη Ναζαρέτ, ο βασιλιάς των Εβραίων) – và tiếng Anh: Jesus the Nazarene, King of the Jews; tiếng Pháp: Jésus le Nazaréen, roi des Juifs. Tấm bảng này được treo ngay phía bên trên đầu Chúa Giêsu. Họ cũng không muốn viết vậy nhưng ông Philatô quyết không thay đổi. Họ cũng không có ý xác nhận, mà họ có ý mỉa mai. Nhưng, tất cả không ngoài Thánh Ý Chúa.
 Đóng đinh Đức Giêsu xong, lính tráng chia nhau y phục của Đức Giêsu. Tay nào cũng hí hửng, cười toe toét, nhưng vẫn không giấu được nét bặm trợn của những kẻ tà tâm. Thiên Chúa vẫn tôn trọng quyền tự do của họ.
 Đứng gần Thập Giá có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Maria vợ ông Cơlôpát, cùng với bà Maria Mácđala. Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giêsu đã trao Đức Mẹ cho Gioan, và xác nhận Đức Mẹ là mẹ của Gioan. Sau đó, Đức Giêsu kêu: “Tôi khát!”. Người ta lấy miếng bọt biển có thấm đầy giấm, buộc vào một nhành hương thảo, rồi đưa lên miệng Ngài. Nhắp xong, Đức Giêsu nói: “Thế là đã hoàn tất!”. Rồi Ngài gục đầu xuống và trao Thần Khí.
 Trời nắng chang chang mà bỗng tối sầm lại, sấm chớp rung động cả đất trời. Nhiều người đấm ngực ăn năn và nhận biết chính tử tội Giêsu là Con Thiên Chúa. Lạy Chúa, xin tha thứ và thương xót chúng con!
 Hôm đó là ngày áp lễ, người Do-thái không muốn để xác chết trên thập giá trong ngày sa-bát, mà ngày sa-bát đó lại là ngày lễ lớn. Vì thế, họ xin ông Philatô cho đánh giập ống chân các người bị đóng đinh và lấy xác xuống. Quân lính đến, đánh giập ống chân người thứ nhất và người thứ hai cùng bị đóng đinh với Đức Giêsu. Khi đến gần Đức Giêsu, họ thấy Ngài đã chết nên không đánh giập ống chân Ngài, nhưng một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Ngài. Tức thì, máu cùng nước chảy ra.
 Sau đó, ông Giô-xếp, người A-ri-ma-thê, cũng là môn đệ theo Đức Giêsu, nhưng cách kín đáo, vì sợ người Do-thái. Ông Giô-xếp và ông Ni-cô-đê-mô hạ thi hài Ngài xuống. Họ lấy băng vải tẩm thuốc thơm mà quấn, theo tục lệ chôn cất của người Do-thái, các ông mai táng Đức Giêsu tại một ngôi mộ trong khu vườn gần đó. Người đời thấy vậy là hết. Chấm hết. Nhưng với Thiên Chúa thì đó lại là một khởi đầu mới của điều lạ mới…
 Hôm nay, khi tưởng niệm cuộc khổ nạn và sự chết của Chúa Giêsu, chúng ta hãy cầu nguyện theo cách của Thánh nữ Bernadette: “Con không xin thoát khỏi khổ đau, nhưng xin Ngài đừng bỏ mặc con trong lúc khổ đau”.
 Lạy Thiên Chúa, chúng con xin lỗi Ngài, xin tha thứ và giúp chúng con biết đi qua thung lũng đau khổ để có thể tới miền ánh sáng. Xin giúp chúng con biết chết cho tội lỗi mình hằng ngày để sống xứng đáng với Giá Máu của Con Yêu Dấu của Ngài. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ chúng con. Amen.
 ---------
(*) Xem phim “Cuộc Khổ Nạn Của Chúa Giêsu” có lồng tiếng Việt –
https://www.youtube.com/watch?v=YthiJ07xRAs
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây