Suy Niệm Tin Mừng Thứ Tư Lễ Tro ABC Bài 151-165 Hãy Ăn Năn SámHối

Thứ ba - 25/02/2020 10:04
Suy Niệm Tin Mừng Thứ Tư Lễ Tro ABC Bài 151-165 Hãy Ăn Năn Sám Hối và Tin Vào Tin Mừng
Suy Niệm Tin Mừng Thứ Tư Lễ Tro ABC Bài 151-165 Hãy Ăn Năn Sám Hối và Tin Vào Tin Mừng
Suy Niệm Tin Mừng Thứ Tư Lễ Tro ABC Bài 151-165 Hãy Ăn Năn Sám Hối và Tin Vào Tin Mừng
Lễ_tro-151: Ý NGHĨA MÙA CHAY THÁNH 2019 – THỨ TƯ LỄ TRO: 1
Lễ_tro-152: THẦY BẢO THẬT ANH EM... 2
Lễ_tro-153: CẦU NGUYỆN THÀNH TÂM... 8
Lễ_tro-154: Hoán cải nội tâm.. 10
Lễ_tro-155: THỨ TƯ LỄ TRO 2019. 12
Lễ_tro-156: Mùa Chay. 16
Lễ_tro-157: CON LÀ THÂN TRO BỤI 20
Lễ_tro-158: Tinh thần bác ái 30
Lễ_tro-159: TRỞ VỀ VỚI BẢN THÂN – VỚI CHÚA – VỚI THA NHÂN.. 31
Lễ_tro-160: XÉ LÒNG ĐỪNG XÉ ÁO.. 33
Lễ_tro-161: XỨC TRO TỎ LÒNG SÁM HỐI 35
Lễ_tro-162: ÔI! CÁT BỤI TUYỆT VỜI! 36
Lễ_tro-163: HÀNH TRÌNH HOÁN CẢI 41
Lễ_tro-164: MÙA CHAY NÓI CHUYỆN ĂN CHAY.. 45
Lễ_tro-165: Thanh luyện. 47
 

Lễ_tro-151: Ý NGHĨA MÙA CHAY THÁNH 2019 – THỨ TƯ LỄ TRO:

MÙA CHAY là mùa ăn năn thống hối tội lỗi, cải thiện đời sống, cùng chết với Chúa Kitô để Lễ_tro-151

MÙA CHAY là mùa ăn năn thống hối tội lỗi, cải thiện đời sống, cùng chết với Chúa Kitô để được sống lại vinh hiển với Ngài. Việc lãnh nhận một chút tro trên đầu nhắc lại một thực hành thời xa xưa khi những tội nhân tỏ lòng ăn năn thống hối bằng cách mặc áo nhặm và bỏ tro trên đầu.

HÃY NHỚ NGƯƠI LÀ BỤI ĐẤT:
Hãy nhớ ngươi là bụi đất…” Hãy nhớ! Dù được nhắc nhở, đôi khi ta vẫn quên điều này: không có Chúa, ta chẳng là gì cả.
“Không có Chúa, tất cả sự vĩ đại của con người chỉ là nhúm tro bụi, nằm trên chiếc đĩa đặt cạnh bàn thờ trong ngày Thứ Tư lễ Tro. Đó là thứ mà Hội Thánh dùng để ghi dấu trên trán chúng ta”.
Việc xức tro trên đầu nhắc nhở chúng ta về thân phận hữu hạn, tro bụi của kiếp người. Vì thế, Tổ Phụ Abraham đã thưa với Chúa: “Con chỉ là thân tro bụi” (St 18, 27).
Thật vậy, con người được hiện hữu trên trần gian này là do tình thương của Thiên Chúa. Nhưng tiếc thay, tình thương ấy đã bị con người lạm dụng và hướng chiều về tội lỗi thay vì biết ơn! Mỗi khi xức tro, Giáo Hội nhắc chúng ta: “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1, 14) để được Thiên Chúa tha thứ.
Hôm nay, ngày lễ Tro như muốn nhắc nhở về thân phận mỏng dòn của kiếp người. Thân phận tro bụi rồi cũng trở về bụi tro.
Kiếm tìm công danh sự nghiệp rồi cũng có ngày buông tay để trở về với bụi đất. Vun quén của cải trần gian rồi cũng ra đi với hai bàn tay trắng.
Quá mải miết tìm kiếm danh lợi thú để rồi cũng có ngày nuối tiếc vì mình quá bận tâm với của phù vân. Cuộc đời thật vắn vỏi nhưng con người lại chẳng an hưởng hiện tại mà lao công vất vả tìm kiếm những thứ chẳng trường tồn.

“ĂN CHAY – KIÊNG THỊT”:
TUỔI GIỮ CHAY: Từ 18 tuổi trọn đến hết 59 tuổi.
TUỔI KIÊNG THỊT: Từ 14 tuổi trở lên
CÁCH GIỮ CHAY: Trong ngày chay chỉ được ăn một bữa no (chọn bữa nào cũng được), còn những bữa khác chỉ được ăn chút ít để bụng còn đói. Trong ngày chay không được ăn vặt như kẹo, bánh v.v
CÁCH KIÊNG THỊT: Cấm ăn thịt loài máu nóng (heo, bò, gà, vịt…) bao gồm thịt và tất cả những thứ khác như tim, gan, lòng chay…. Nhưng được dùng các nước thịt và các đồ ăn có pha chất thịt, như cháo nước thịt. Được ăn cá và loài máu lạnh (như ếch, rùa, sò, cua, tôm). Ngày kiêng thịt cũng được phép dùng trứng và các sản phẩm từ sữa như bơ và phó mát …
NGÀY BUỘC GIỮ CHAY VÀ KIÊNG THỊT : Thứ Tư Lễ Tro và Thứ Sáu Tuần Thánh.
Cầu xin cho tất cả Kitô hữu được tràn đầy hồng ân Chúa trong Mùa Chay thánh 2019 này.
 

Lễ_tro-152: THẦY BẢO THẬT ANH EM

BÀI CHIA SẺ (Mt 6, 1-6. 16-18)

Có một công thức được lặp đi lặp lại ở đây sau mỗi ý: “ …….THẦY BẢO THẬT ANH EM, CHÚNG Lễ_tro-152

Có một công thức được lặp đi lặp lại ở đây sau mỗi ý:
“ …….THẦY BẢO THẬT ANH EM, CHÚNG ĐÃ ĐƯỢC PHẦN THƯỞNG RỒI.
CÒN ANH …… VÀ CHA CỦA ANH, ĐẤNG THẤU SUỐT NHỮNG GÌ KÍN ĐÁO, SẼ TRẢ LẠI CHO ANH.”
Công thức này áp dụng cho cả 03 công việc đạo đức được đề cập trong Bài Tin mừng (tương ứng vị trí chấm chấm). Công thức gồm có 02 vế:

1/. VẾ ĐẦU: CHÚNG ĐÃ ĐƯỢC PHẦN THƯỞNG RỒI
Áp dụng cho việc đạo đức được làm với thái độ PHÔ TRƯƠNG và GIẢ HÌNH, làm với mục đích cho người ta nhìn thấy. Đức Giêsu nói, họ đã được phần thưởng rồi.
Nhưng ai sẽ là người thưởng công cho họ? thưa: NGƯỜI ĐỜI.
Cụm từ “đã được phần thưởng rồi” thật mai mỉa, vì thưởng công rồi sẽ không còn thưởng nữa.
Người ta chỉ thưởng 01 lần cho 01 công việc, mà phần thưởng ở đây là phần thưởng của người đời, phần thưởng đó cũng mỏng dòn chóng qua, như thân phận của người thưởng nó. Hóa ra, người làm việc đạo đức với thái độ phô trương, giả hình ta chẳng được gì hết, nó rất xứng với cách làm việc đạo đức như vậy.
Matthêu còn sâu sắc ở chỗ khi ông dùng cụm từ “ĐÃ ĐƯỢC PHẦN THƯỞNG RỒI”, nó giống như cuộc mua bán, trao đổi. Người làm việc đạo đức với thái độ giả hình, coi như họ đã bán việc đạo đức để lấy phần thưởng, họ không còn việc đạo đức đó vì đã bán, họ sẽ lấy phần thưởng, nhưng đó lại là thứ tiền mau hư nát. Cuối cùng họ chẳng được gì.
Và sau khi chấm dứt cuộc đời này, đối diện với tòa Chúa phán xét, họ chẳng có gì hết. Đây mới là sự trừng phạt khủng khiếp cho người làm việc đạo đức với thái độ giả hình, lấy tiếng.

2/. VẾ SAU: ĐẤNG THẤU SUỐT NHỮNG GÌ KÍN ĐÁO, SẼ TRẢ LẠI CHO ANH
Áp dụng cho việc đạo đức được làm trong sự KHIÊM TỐN và KÍN ĐÁO, làm chỉ mình Thiên Chúa biết, vì Ngài là Đấng thấu suốt những gì kín đáo.
Ở đây Matthêu không nói, Thiên Chúa sẽ thưởng cho người ấy, nhưng ông nói: Ngài sẽ “SẼ TRẢ LẠI CHO ANH”.
Cụm từ “TRẢ LẠI” có nghĩa, nó hoàn toàn không phải chuyện mua bán. Người làm việc đạo đức với tinh thần khiêm tốn và kín đáo, khi làm xong, cho dù việc đó có biến mất, không còn nữa, nhưng người ấy sẽ được Thiên Chúa “TRẢ LẠI” trong ngày sau hết, như vậy việc họ làm sẽ còn mãi. Đây chính là phần thưởng rất lớn khi họ ra trước tòa Chúa phán xét.
Và khi nói Thiên Chúa “TRẢ LẠI”, bao giờ cái trả lại cũng lớn gấp bội so với việc lành phúc đức mà người khiêm tốn đã làm, đó là điều chắc chắn, vì không lẽ lòng quảng đại của Thiên Chúa lại thua sự tử tế của con người sao!
Những việc làm cụ thể để thể hiện lòng sám hối, thể hiện quyết tâm thay đổi cuộc đời bằng ba việc mà Bài Tin mừng hôm nay đã nêu ra:

A/. BỐ THÍ
“VẬY KHI BỐ THÍ, ĐỪNG CÓ KHUA CHIÊNG ĐÁNH TRỐNG, NHƯ BỌN ĐẠO ĐỨC GIẢ THƯỜNG BIỂU DIỄN TRONG HỘI ĐƯỜNG VÀ NGOÀI PHỐ XÁ, CỐT ĐỂ NGƯỜI TA KHEN.
THẦY BẢO THẬT ANH EM, CHÚNG ĐÃ ĐƯỢC PHầN THƯỞNG RỒI. CÒN ANH, KHI BỐ THÍ, ĐỪNG CHO TAY TRÁI BIẾT VIỆC TAY PHẢI LÀM, ĐỂ VIỆC ANH BỐ THÍ ĐƯỢC KÍN ĐÁO. VÀ CHA CỦA ANH, ĐẤNG THẤU SUỐT NHỮNG GÌ KÍN ĐÁO, SẼ TRẢ LẠI CHO ANH.”
Việc bố thí đã phổ biến thời Đức Giêsu, đó là công việc chính yếu trong các việc đạo đức tương quan với tha nhân.
Tại sao ta phải bố thí?
thưa: Vì trong cuộc sống, qua mọi thời đại luôn có người giàu, người nghèo. Người lắm bạc nhiều tiền, nhưng bên cạnh đó, là vô số người nghèo, người cơ nhỡ, người bất hạnh.
Sự chênh lệch này thường khác nhau trong mỗi quốc gia, quốc gia nào mà nạn tham nhũng hoành hành, nạn con ông cháu cha trở thành phổ biến, như xã hội Việt Nam hôm nay thì chênh lệch đó sẽ càng khủng khiếp.
Như vậy, việc bố thí phải hiểu là sự thể hiện mối tương quan với tha nhân, và đối với môn đệ Đức Giêsu, nó còn nâng lên mức cao hơn nữa, vì khi ta giúp đỡ cho người anh em là ta làm cho chính Chúa.
“KHI BỐ THÍ, ĐỪNG CÓ KHUA CHIÊNG ĐÁNH TRỐNG, NHƯ BỌN ĐẠO ĐỨC GIẢ”
Có người nghĩ: Đức Giêsu đang ám chỉ người Pharisêu, vì Ngài đã từng lên án họ giả hình trong suốt chương 23 của Matthêu. Nhưng ở đây không có bằng chứng nào xác nhận.
Còn việc “KHUA CHIÊNG ĐÁNH TRỐNG” khi làm các việc đạo đức, đó chỉ là cách nói, ám chỉ về những người làm việc bố thí thích khoe khoang, phô trương cho người ta thấy, chứ không có tài liệu nào xác nhận khua chiêng đánh trống như vậy. Dường như nó có tính khuếch đại để nhấn mạnh hơn nữa lời giáo huấn của Đức Giêsu.
“BIỂU DIỄN TRONG HỘI ĐƯỜNG VÀ NGOÀI PHỐ XÁ, CỐT ĐỂ NGƯỜI TA KHEN”.
Sự giả hình đã len lỏi mọi ngõ ngách: trong hội đường, trong nhà thờ và ngoài phố xá. Càng ở những nơi nghiêm trang, những nơi đạo đức, người ta càng giả hình nhiều hơn vì đó là dịp làm cho người ta chú ý hơn. Thiên Chúa thật ghê tởm những con người đó.
KHI BỐ THÍ, ĐỪNG CHO TAY TRÁI BIẾT VIỆC TAY PHẢI LÀM
Cụm từ “đừng cho tay trái biết việc tay phải làm” là một kiểu nói, có nghĩa phải giữ kín, giữ kín tuyệt đối việc tốt mình đã làm. Tay trái không biết việc tay phải làm, cụm từ thật sâu sắc và ấn tượng, ngay chính mình cũng không biết việc mình làm, huống chi người khác. Chỉ có “CHA CỦA ANH, ĐẤNG THẤU SUỐT NHỮNG GÌ KÍN ĐÁO, SẼ TRẢ LẠI CHO ANH”

B/. CẦU NGUYỆN.
“VÀ KHI CẦU NGUYỆN, ANH EM ĐỪNG LÀM NHƯ BỌN ĐẠO ĐỨC GIẢ: CHÚNG THÍCH ĐỨNG CẦU NGUYỆN TRONG CÁC HỘI ĐƯỜNG, HOẶC NGOÀI CÁC NGÃ BA NGÃ TƯ, CHO NGƯỜI TA THẤY. THẦY BẢO THẬT ANH EM: CHÚNG ĐÃ ĐƯỢC PHẦN THƯỞNG RỒI”
Cầu nguyện, đó là giây phút ta sống thân mật với Chúa, tâm sự với Chúa. Đó là những giây phút riêng tư. Nó rất cần thiết cho đời sống người môn đệ Đức Giêsu, vì từ giây phút cầu nguyện, ta mới kín múc ân sủng từ Thiên Chúa cho cuộc sống trần gian đầy thử thách cam go này.
Đối với Đức Giêsu, việc cầu nguyện phải có các đặc tính sau:
+ Phải khiêm tốn trước Thiên Chúa và người đời (Lc 18, 10-14; Mt 6, 5-6)
+ Phải chân thành, phát xuất tự đáy lòng (Mt 6, 7).
+ Phải tin tưởng vào lòng nhân từ của Thiên Chúa (Mt 6, 8; 7, 7-11)
+ Phải kiên trì nài xin (Lc 11, 5-8; 18,1-8)
Nhưng ta hãy chú ý: Đức Giêsu không bao giờ đả phá việc cầu nguyện công khai và cộng đồng như trong các buổi cầu nguyện chung trong cộng đoàn, nơi nhà thờ, nơi các Trung tâm hành hương,…. Ngài chỉ lên án bọn đạo đức giả, họ dùng việc cầu nguyện để khoe khoang.
CHÚNG THÍCH ĐỨNG CẦU NGUYỆN
Matthêu rất sâu sắc khi dùng cụm từ “chúng thích đứng cầu nguyện”, tư thế “ĐỨNG” là tư thế muốn nhô lên, muốn nổi bật, muốn cho mọi người nhìn thấy.
Tại sao họ không “QUỲ”?
Vì thói thích phô trương luôn đẩy họ đứng lên để cho mọi người thấy.
“CÁC NGÃ BA NGÃ TƯ”
Đã đứng như vậy, họ còn thích đứng nơi các ngã ba ngã tư. Có nghĩa thích đứng ở nơi ai cũng thấy! ở đây Đức Giêsu nói: chỉ vì muốn cho người ta thấy. Và dĩ nhiên khi cầu nguyện với tư thế như vậy, họ chỉ nói chuyện với họ hoặc với nhau, chứ không nói chuyện với Chúa..
“CÒN ANH, KHI CẦU NGUYỆN, HÃY VÀO PHÒNG, ĐÓNG CỬA LẠI, VÀ CẦU NGUYỆN CÙNG CHA CỦA ANH, ĐẤNG HIỆN DIỆN NƠI KÍN ĐÁO. VÀ CHA CỦA ANH, ĐẤNG THẤU SUỐT NHỮNG GÌ KÍN ĐÁO, SẼ TRẢ LẠI CHO ANH.”
Đoạn này thuộc về công thức ta đã phân tích, nên không cần nhắc lại.

C/. ĂN CHAY: CHỚ LÀM BỘ RẦU RĨ NHƯ BỌN ĐẠO ĐỨC GIẢ
“RỒI KHI ĂN CHAY, ANH EM CHỚ LÀM BỘ RẦU RĨ NHƯ BỌN ĐẠO ĐỨC GIẢ: CHÚNG LÀM CHO RA VẺ THIỂU NÃO, ĐỂ THIÊN HẠ THẤY LÀ CHÚNG ĂN CHAY. THẦY BẢO THẬT ANH EM, CHÚNG ĐÃ ĐƯỢC PHẦN THƯỞNG RỒI.
CÒN ANH, KHI ĂN CHAY, NÊN RỬA MẶT CHO SẠCH, CHẢI ĐẦU CHO THƠM, ĐỂ KHÔNG AI THẤY LÀ ANH ĂN CHAY NGOẠI TRỪ CHA CỦA ANH, ĐẤNG HIỆN DIỆN NƠI KÍN ĐÁO. VÀ CHA CỦA ANH, ĐẤNG THẤU SUỐT NHỮNG GÌ KÍN ĐÁO, SẼ TRẢ LẠI CHO ANH.”
Từ rất lâu, dân Is-ra-en có thói quen ăn chay mỗi khi có tang chế (2 Sm 3,35), khi cầu xin Chúa một ơn đặc biệt (2Sm 12,16). Ăn chay theo luật Mô-sê là nhịn ăn uống vào ban ngày.Trong thời gian ăn chay, người ta không được tắm rửa, phải để râu tóc mọc dài, và mặc một loại quần áo bằng vải thô đặc biệt.
Thời Đức Giê-su, dân Do thái chỉ buộc phải ăn chay trong ngày lễ Xá tội (Lv 16, 29-31; Cv 27, 9), và trong ngày kỷ niệm Đền thờ bị tàn phá hoặc trong những lúc gặp thiên tai. Riêng các người Pha-ri-sêu còn tự nguyện ăn chay thêm mỗi tuần hai lần (Lc 18,12).
Đức Giêsu lên án thói giả hình, đạo đức giả. Họ làm ra “RA VẺ THIỂU NÃO”, để thiên hạ thấy họ ăn chay. Ngài dạy, các môn đệ của Ngài và cả chúng ta nữa, không được làm như thế, “khi ăn chay, nên rửa mặt cho sạch, chải đầu cho thơm, để không ai thấy là anh ăn chay ngoại trừ Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo”.
Ăn chay là cuộc trở về với Chúa ngay trong tâm hồn mình, chứ không ở những hình thức bên ngoài. Chỉ mình Chúa và mình ta biết, thế là đủ, đâu cần cho người khác biết, mà người khác biết để làm gì! Nếu cần nên rửa mặt cho sạch, chải đầu cho thơm, để không ai nghĩ ta ăn chay. Chỉ mình Chúa và ta biết mà thôi.
Lễ Tro khởi đầu Mùa Chay Thánh, là dịp để mọi Ki-tô hữu làm mới lại cách sống của mình theo tinh thần Phúc Âm qua ba phương thế đạo đức: ăn chay, cầu nguyện và làm việc lành phúc đức. Ăn chay thì có thể làm kín đáo, cầu nguyện thì có thể “vào phòng đóng cửa lại”.
Còn làm phúc bố thí thì làm sao có thể “không cho tay trái biết việc tay phải làm” được?
Thật ra, Chúa dạy ta phải làm những việc tốt đẹp, để giống như “ánh sáng chiếu giãi trước mặt thiên hạ,”người ta “xem thấy mà ngợi khen Cha anh em ở trên trời” (Mt 5,16). Vì thế điểm phân biệt việc làm phúc thật với việc “làm phúc giả” chính là ở ý hướng và thái độ của người làm: làm việc lành phúc đức không phải để “phô trương cho thiên hạ thấy” mà chỉ vì vinh danh Chúa.
Lạy Chúa, xin giúp con khi làm việc lành phúc đức biết loại bỏ những ý hướng tìm kiếm hư danh, nhưng biết chia sẻ bằng chính tấm lòng bác ái chân thành để làm vinh danh Chúa, nhờ đó trong Mùa Chay Thánh này chúng con được đổi mới và hưởng trọn vẹn niềm vui Ơn Cứu Độ. Amen.
 

Lễ_tro-153: CẦU NGUYỆN THÀNH TÂM

(Mt 6, 1-6 : 16 -18)

Thưa quý vị, thưa các bạn,

Cầu nguyện ai cũng biết, ai cũng làm được, ngày nay người ta luôn nhắc nhở nhau cầu nguyện, qua Lễ_tro-153

Cầu nguyện ai cũng biết, ai cũng làm được, ngày nay người ta luôn nhắc nhở nhau cầu nguyện, qua lời giáo huấn của Chúa Giêsu, Giáo Hội luôn cầu nguyện và dạy con cái mình cầu nguyện mỗi giờ, mỗi ngày, mỗi khắc.
Tin Mừng theo thánh Mat-thêu hôm nay, được trình thuật hằng năm vào Thứ Tư Lễ Tro, cho chúng ta một sự khởi đầu để bước vào Mùa Chay Thánh. Vậy, Mùa Chay Thánh là gì? Thưa là “ Mùa luyện tập chiến đấu thiêng liêng”.
Như chúng ta biết, Mùa Chay trong Cựu Ứơc nhắc nhớ con dân Israel nhớ đến thân phận lưu đày bốn mươi năm trong sa mạc. Thiên Chúa đã nuôi dưỡng, săn sóc, bảo bọc, dẫn đường về “Đất Hứa”. Ngày thì cho Man-na, (bánh như sương sa từ trời rơi xuống), và thịt chim cút xà xuống, để cho dân chúng có lương thực mà ăn.
Chúng ta thấy, một Vị Thiên Chúa quá đỗi thương xót con người là thụ tạo của Ngài, để giải thoát khỏi sự áp lực của một đế chế đàn áp.
Theo đó, theo lịch phụng vụ của Giáo Hội, chúng ta có 5 Mùa trong một chu kỳ năm phụng vụ, là 02 Mùa Thường Niên, Mùa Chay, Mùa Phục Sinh, Mùa Vọng, Mùa Giáng Sinh.
Như vậy, khi đến Mùa Chay là thời kỳ Giáo Hội nhắc nhớ chuẩn bị tâm hồn để tưởng niệm Cuộc Thương Khó của Đức Giêsu- Kitô, đồng thời hướng đến Lễ Phục Sinh Vinh Quang của Người.
Qua đó, Mùa Chay như một hành trình nhắc nhớ lại lịch sử Cựu Ứơc của dân Thiên Chúa. khởi đi từ bài đọc I hôm nay ( Ge 2, 12 -18). Tiên Tri Gio-en kêu gọi dân chúng ăn chay một cách thành tâm “ Hãy xé lòng, đừng xé áo”, và “ hãy thành tâm trở về với Thiên Chúa”.
Chúng ta thấy, Thiên Chúa rất đỗi “ hạ mình”, Ngài biểu lộ một lòng trắc ẩn bao la, một Lòng Thương Xót hải hà vô bờ bến cho kẻ thành tâm.
Sở dĩ mà Chúa Giêsu dạy cho chúng ta cách ăn chay, làm phúc bố thí và cầu nguyện là người Dothai  họ làm những việc đạo đức nầy theo hình thức, họ chuộng hình thức bên ngoài. Việc ăn chay của họ rất lộ liễu, họ đập đầu vào vách tường, than khóc ở những nơi công cộng phố xá, la rống to tiếng, để cho mọi người biết. thì việc bố thí làm phúc cũng vậy, họ khua chiêng, đánh mõ, để cho thiên hạ chú ý. Cùng lúc việc cầu nguyện của họ cũng ầm ĩ không kém, họ mang sách kinh ra ngoài đường vừa đi, vừa đọc, việc cầu nguyện của họ thường biểu lộ ra bên ngoài, bất cứ nơi đâu. Nhưng, những việc đạo đức của họ không có thật tâm, giống như “ đạo đức giả”, giống như “ thùng rỗng kêu to”. Khi đến Mùa Chay của dân Dothai là xã hội gần như “ náo loạn”. tất cả những việc làm của họ không mang lại giá trị tâm linh, chỉ như một thông lệ làm lấy vui, chứ không xuất phát từ tâm, điều mà Thiên Chúa đòi hỏi.
(Một cảnh như đi lễ hội đền chùa một cách nhốn nháo, đến nơi tâm linh dùng tiền đổi lấy lộc,gây mất trật tự vào những ngày đầu năm tại Việt Nam, mà VTV 1 đã đưa tin, trong đó có nhiều vị chức sắc của các tôn giáo, như những vị Thượng Tọa, Đại Đức của Đaọ Phật đã lên tiếng xác nhận là mê tín. Những, tập tục ấy chỉ là theo tín ngưỡng dân gian truyền miệng, chứ giáo lý Đạo Phật không có.)
Vì vậy, Chúa Giêsu “lên án“ họ, người Dothai, bởi vì nếu làm việc đạo đức, mà không xuất phát từ lòng thành tâm, thì chỉ là “cái mã tô vôi”.Nên chi, Chúa Giêsu đã giáo huấn chúng ta khi làm việc làm phúc đức thì đừng khoe khoang, tất cả những việc lành phúc đức như cầu nguyện, ăn chay hãm mình, làm phúc bố thí là chúng ta làm cho chính chúng ta, hầu làm cách kín đáo để Thiên Chúa là Đấng thấu suốt mọi bí ẩn sẽ trả công cho chúng ta, chứ những việc đạo đức không phải chúng ta làm cho Chúa, chúng ta làm vì Chúa, nhưng lợi ích cho chúng ta.
Như vậy, cầu nguyện thành tâm là “thông hiệp “ với Thiên Chúa, Đấng vô cùng “ bí ẩn”. Theo đó, cầu nguyện thành tâm là như thế nào? Vào tại sao phải cầu nguyện?
Thưa : Cầu nguyện thành tâm là :
Thông hiệp với Thiên Chúa
Kín múc tình yêu và sự can đảm từ Thiên Chúa
Phát sinh ân sủng, có ân sủng là có tất cả
Như chúng ta biết, con người cần giao tiếp, mới có sự hiệp thông, Thiên Chúa  đứng trên muôn loài, muôn vật, Đấng Hằng Hữu, Đấng Nguyên Thủy, Đấng Tạo Thành, nhưng Ngài siêu nhiên, bởi vì Ngài là Đấng Vô Biên, nghĩa là không có giới hạn. Loài người hữu hạn, tức hữu hình, có giới hạn, làm sao vượt qua Đấng Vô Biên. Vì vậy, muốn “Thông hiệp” với Ngài, chúng ta phải cầu nguyện, đó là “ phương pháp tối ưu và duy nhất” đế đến cùng Thiên Chúa. Vậy, cầu nguyện thành tâm chính là “ ân sủng siêu nhiên”, không thể đổi lấy bằng bất cứ giá nào ngoài “ thành tâm”. Như vậy, ân sủng chính là Thiên Chúa được phát sinh từ tình yêu vô điều kiện, và sức mạnh từ Thiên Chúa, sức mạnh công chính và vô biên, thì không thế lực nào làm hại được, dù thế gian, ma quỷ, thần dữ mưu mô.
Như vậy, cầu nguyện là phương pháp hữu hiệu để “có “ Thiên Chúa bên mình. Sở dĩ, có nhiều người cầu nguyện, nhưng chưa nhận được ân sủng, là chưa cầu nguyện thành tâm, như Lời dạy của Chúa Giêsu, Đấng đến từ Thiên Chúa.
Nếu chúng ta biết được ba yếu tố của việc cầu nguyện thành tâm, chắc chắn lời cầu nguyện của chúng ta sẽ đạt được gía trị.
Theo đó, việc cầu nguyện chân thành không phải là “xin ơn”, mà là được “ thông hiệp “ với Thiên Chúa, vì có Thiên Chúa là có tất cả.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết cầu nguyện thành tâm như Chúa dạy, vì như vậy, chúng con mới được diễm phúc thông hiệp với Chúa như cành liền cây,dù cho có bão táp mưa sa, sóng gió cuộc đời, chúng con sẽ không bị chìm bây giờ và mãi mãi.
Xin cho những ai chưa biết giá trị của việc cầu nguyện thành tâm, họ sẽ có người hướng dẫn đến với Chúa, để họ biết cầu nguyện theo Ý Chúa . Amen
P.Trần Đình Phan Tiến
 

Lễ_tro-154: Hoán cải nội tâm

Thứ Tư Lễ Tro
(Ge 2,13; 2Cr 5,20-6,2; Mt 6, 1-6, 16 -18)

Mùa Chay là mùa sám hối đặc biệt để chuẩn bị mừng lễ Vượt Qua của Đức Kitô. Lời Chúa thứ Lễ_tro-154

Mùa Chay là mùa sám hối đặc biệt để chuẩn bị mừng lễ Vượt Qua của Đức Kitô. Lời Chúa thứ Tư Lễ Tro nhắc nhở chúng ta về thân phận mỏng dòn yếu đuối của con người, đồng thời mời gọi mỗi người hoán cải nội tâm trong tương quan với Thiên Chúa và tha nhân.
Con người dễ hướng chiều về sự dữ và sa ngã phạm tội lỗi nghĩa với Thiên Chúa và xúc phạm đến người khác. Do vậy, con người dần trở nên xa cách, có khi lìa xa Thiên Chúa và sống không tốt mối tương quan với mọi người. Nhận thức được điều này, chúng ta luôn cần sự hoán cải tự bên trong để có thể nối lại mối dây hiệp thông với Thiên Chúa. Muốn vậy, chúng ta cần khiêm tốn cầu nguyện lên Chúa "Lạy Chúa, xin thương xót con, vì con đã xúc phạm đến Chúa". Đó là lời cầu nguyện đẹp lòng Chúa vì diễn tả tâm tình khiêm tốn tin cậy nơi lòng nhân hậu của Thiên Chúa, và chắc chắn sẽ được Thiên Chúa nhận lời. Bên cạnh đó, chúng ta không thể giao hoà với Thiên Chúa mà lại không hòa giải với tha nhân. Do vậy, nếu chúng ta cầu mong ơn giải hòa với Thiên Chúa, chúng ta cũng hãy tìm mọi cách xóa đi những xích mích, bất hòa hờn giận với người khác.
Sự hoán cải nội tâm cần thiết phải được thể hiện cách sâu xa tận đáy lòng mình và được thể hiện bằng những hành động cụ thể như từ bỏ tập quán xấu, kìm hãm con người xác thịt, thực hành chay tịnh. Nói cách khác, mỗi người cần thiết phải thay đổi cái nhìn, thay đổi tư tưởng và ước muốn sao cho phù hợp với giao ước tình yêu của Thiên Chúa. Theo như lời tên tri Giôen đã tuyên sấm: “Các ngươi hãy hết lòng trở về với Ta, hãy ăn chay, khóc lóc, và thống thiết than van. Đừng xé áo nhưng hãy xé lòng”. Bới Thiên Chúa luôn thấu hiểu tâm can mỗi người từng gang tấc nên việc hối cải nội tâm đòi hỏi phải loại trừ đi những thói giả hình, phô trương, đạo đức giả trước mắt người ta.
Chúa Giêsu trong bài Tin Mừng đã nói rất tỉ mỉ cho các môn đệ thực hành làm việc bác ái, cầu nguyện và ăn chay: “Khi làm việc lành phúc đức, anh em phải coi chừng, chớ có phô trương cho thiên hạ thấy,… Vậy khi bố thí, đừng có khua chiêng đánh trống, như bọn đạo đức giả thường biểu diễn trong hội đường và ngoài phố xá cốt để người ta khen”. Và khi cầu nguyện, Chúa Giêsu bảo các ông “hãy vào phòng, đóng cửa lại và cầu nguyện cùng Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo”. Rồi khi ăn chay, Chúa Giêsu cũng khuyên nhủ "anh em chớ làm bộ rầu rĩ như bọn đạo đức giả...”
Thánh Phaolô đã nói Mùa Chay là thời gian đặc biệt: “Đây là lúc thuận tiện, đây là ngày cứu độ” (2 Cr 6,2). Quả thật, đây là thời gian thuận tiện để mỗi người quyết tâm hoán cải, tăng cường việc lắng nghe Lời Chúa, cầu nguyện, thống hối, mở rộng tâm hồn đón nhận thánh ý Chúa, quảng đại giúp đỡ tha nhân. Ngày hôm nay, với việc xức tro là để nhắc nhở mỗi người ý thức về thân phận thụ tạo mỏng dòn yếu đuối chóng qua, vì thế phải sống với thái độ khiêm tốn trước mặt Chúa để nhận ra và sám hối về những lầm lỗi thiếu sót của mình. Ngoài ra, việc ăn chay hãm mình và giúp đỡ người khác là để cho mỗi người tập luyện chiến đấu thiêng liêng, được thêm vững mạnh để chiến thắng được ác thần.
 Trong sứ điệp Mùa Chay năm 2019, ĐGH Phanxicô mong muốn: "Mùa Chay mời gọi các Kitô hữu thể hiện mầu nhiệm Vượt Qua cách sâu sắc và cụ thể hơn trong đời sống cá nhân, gia đình và xã hội của họ, trên hết qua việc ăn chay, cầu nguyện và bố thí". Xin Chúa giúp chúng con biết sống tâm tình mùa Chay sao cho xứng đáng để có thể đón nhận được nhiều hồng phúc của Chúa Kitô Phục Sinh.
 

Lễ_tro-155: THỨ TƯ LỄ TRO 2019

Mùa Chay là thời gian linh thiêng đong đầy tình yêu để cầu nguyện, để ăn năn sám hối và để Lễ_tro-155

Mùa Chay là thời gian linh thiêng đong đầy tình yêu để cầu nguyện, để ăn năn sám hối và để hy sinh hãm mình, nhờ đó mà canh tân bản thân mình ngày mỗi hoàn thiện hơn. "Mùa Chay mời gọi các Kitô hữu thể hiện mầu nhiệm Vượt Qua cách sâu sắc và cụ thể hơn trong đời sống cá nhân, gia đình và xã hội của họ, trên hết qua việc ăn chay, cầu nguyện và bố thí." (Sứ điệp Mùa Chay năm 2019, số 3).

1.    Mùa Chay linh thiêng
Mùa Chay linh thiêng lại về với đời sống tín hữu Công giáo. Mùa Chay là thời gian 40 ngày dọn lòng mừng lễ Phục Sinh, trải dài từ Lễ Tro cho đến Tuần Thánh, lặp lại thời gian 40 ngày chay tịnh của Chúa Giêsu năm xưa khi chuẩn bị bước vào đời công khai rao giảng Tin Mừng (Mt 4,2). Con số 40 còn lặp lại nhiều biến cố khác trong lịch sử cứu độ như 40 ngày của Êlia trên núi Horeb dọn mình thực thi sứ vụ Chúa trao (1 V 19,8), như 40 ngày của Môsê trên núi Sinai chuẩn bị đón nhận thập điều Chúa dạy (Xh 34,28), và như 40 năm dân Chúa lưu lạc trong hoang địa dọn lòng đặt chân vào đất hứa. Mùa Chay như vậy là thời điểm thuận lợi để sống mầu nhiệm Tử Nạn của Chúa Kitô thông qua việc chay tịnh để sẵn sàng mừng lễ Phục Sinh. Nhưng Mùa Chay không chỉ là việc chay tịnh, cho dẫu khởi đầu và kết thúc Mùa Chay được diễn ra bằng việc buộc ăn chay và kiêng thịt thứ tư Lễ Tro và thứ sáu Tuần Thánh. Mùa Chay còn là mùa xuân tâm hồn với những sinh hoạt đổi mới đời sống đức tin.
Cầu nguyện, canh tân, chia sẻ: đó là ba sinh hoạt mỗi người chúng ta cố gắng thực hiện trong Mùa Chay năm nay, cũng là ba chiều kích với Chúa, với mình, với tha nhân dệt nên nhịp sống Giáo Hội.
Mùa Chay là thời gian đặc biệt như lời Thánh Phaolô nói: “Đây là lúc thuận tiện, đây là ngày cứu độ” (2 Cr 6,2). Đây là thời gian thuận tiện để mỗi người quyết tâm hoán cải, tăng cường việc lắng nghe Lời Chúa, cầu nguyện, thống hối, mở rộng tâm hồn đón nhận thánh ý Chúa, quảng đại giúp đỡ tha nhân.

2.    Mùa Chay là mùa tình thương
Hành trình thiêng liêng của Mùa Chay bắt đầu từ tình thương: cầu nguyện, chay tịnh để sống đức ái chia sẻ.
Mùa Chay với hành trình bốn mươi ngày là “thì mạnh” của Năm Phụng Vụ, là “thời Thiên Chúa thi ân và là ngày Thiên Chúa cứu độ” (2Cr 6,2). Bước vào Mùa Chay, Giáo Hội nhấn mạnh đến những cách thế hy sinh hãm mình để qui hướng về Thiên Chúa, tôn vinh Người, đồng thời cũng qui hướng về tha nhân, để lưu tâm giúp đỡ, sống tình bác ái huynh đệ.
Mùa Chay là thời điểm mà Chúa Giêsu Kitô tuôn đổ muôn vàn ân sủng cho Giáo Hội qua mầu nhiệm Thánh Giá. Mùa Chay thúc đẩy mỗi tín hữu sống tinh thần hy sinh, sám hối và hòa giải cách chân thành và triệt để hơn, theo đúng tinh thần Tin Mừng.
Ngay đầu Mùa Chay, Phụng vụ đã nhắc nhở ta cần phải trầm tư để chiêm niệm về thân phận: "Hỡi người, hãy nhớ mình là bụi tro và sẽ trở về tro bụi". Ý nghĩa của Lời Chúa quá rõ ràng: mọi người sẽ phải chết. Vậy ta lao tâm khổ trí, vất vả ngược xuôi, ganh đua tranh dành để tìm kiếm của cải, danh vọng, thú vui..., ta nỗ lực học hỏi, tìm tòi, phát minh, xây dựng... nhưng khi cái chết đến, ta mang theo được thứ gì, tất cả có nghĩa gì cho ta? Cuối cùng thì cái gì là đáng quan tâm nhất trong đời? Ðâu là bậc thang giá trị đời ta?
Xin đừng sống dửng dưng, thờ ơ, khép kín trước người nghèo. Hãy luôn chạnh lòng xót thương như Chúa Giêsu đã thương những người cùng khốn. Hãy sống quảng đại cho đi, vui vẻ chia sớt, không chỉ của cải vật chất mà có khi chỉ là một nụ cười thân thiện, một cái bắt tay khích lệ, một lời nói an ủi đở nâng, một lần viếng thăm, một cuộc gặp gỡ kiến tạo sự hiệp nhất bình an. Khi chia nụ cười, ta sẽ nhận về vô số niềm vui. Khi chia vòng tay, ta sẽ nhận về mênh mông ấm áp. Khi chia quan tâm, ta sẽ nhận về bao la yêu thương. Khi chia yêu thương, ta sẽ nhận về rất nhiều hạnh phúc.

3.    Mùa Chay và các việc đạo đức
Ba việc đạo đức được nhắc nhở rất nhiều trong Mùa Chay là: bác ái, ăn chay và cầu nguyện. Đây là ba vũ khí tuyệt hảo để chống lại sự tấn công của ma quỷ và đền bù tội lỗi mình. Những việc lành phúc đức này, khi được thi hành thì hãy làm với tất cả tấm lòng của mình; không làm để khoe khoang. Chỉ cần Thiên Chúa thấu hiểu và biết cho chúng ta là đã đủ rồi. Đừng làm để được người đời khen và vì thế mà chúng ta mất đi lời khen tặng của Thiên Chúa. (x.Mt 6,1-6).
Ăn chay và kiêng thịt, chịu tro chỉ là hình thức bên ngoài mà thôi. Canh tân nội tâm vẫn là trọng tâm của Mùa Chay. Kiêng bớt các tội là điều mà Thiên Chúa mong muốn. Sửa đổi tính nết để trở thành người tốt hơn, đạo đức hơn, thánh thiện hơn. Bớt nói hành, giảm nói xấu, siêng năng việc đạo đức.
Trong sứ điệp Mùa Chay 2019, Đức Thánh cha Phanxicô đề nghị những việc làm cụ thể để những thực hành Mùa Chay truyền thống này mang một ý nghĩa mới: “Ăn chay có nghĩa là học để thay đổi thái độ của chúng ta đối với người khác cũng như đối với mọi loài thụ tạo: từ cơn cám dỗ muốn “ngấu nghiến” mọi thứ để thỏa mãn sự thèm muốn của mình, đến chỗ có khả năng hy sinh vì tình yêu, và khả năng lấp đầy sự trống rỗng của con tim chúng ta. Cầu nguyện để học biết cách khước từ sự sùng bái thần tượng cũng như tự mãn về cái tôi của mình, đồng thời thú nhận rằng, chúng ta cần tới Thiên Chúa và Lòng thương xót của Ngài. Chia sẻ bác ái để tự giải thoát khỏi tính ngông cuồng, khiến chúng ta chỉ sống cho mình, với ảo tưởng rằng mình sẽ có được một tương lai bảo đảm, trong khi tương lai đó không thuộc về chúng ta” (số 3).
Theo lời dạy của Đức Thánh Cha, chúng ta sống Mùa Chay năm nay trong niềm vui bằng việc ăn chay và cầu nguyện được liên kết với việc làm phúc bố thí. Qua đó chúng ta đem niềm vui có Chúa đồng hành đến với người nghèo, làm cho họ nhận ra sự hiện diện của một vị Thiên Chúa tình yêu luôn quan tâm săn sóc họ và còn tự đồng hóa với họ qua Con yêu dấu của Ngài là Đức Giêsu Kitô.
Tình yêu là một đề tài vừa phong phú, vừa hấp dẫn của văn chương, nghệ thuật, phim ảnh… và luôn mang tính thời sự. Thử hỏi thế nào là yêu thương thì quả thật không dễ trả lời cách rõ ràng và có tính thuyết phục. Ngay cả những việc to lớn như “đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí hay nộp cả thân xác để chịu thiêu đốt” thì cũng chưa hẳn là đã yêu thương (x.1Cor 13,3).
Tình yêu là huyền nhiệm vì “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1Ga 4,8). “Tình yêu cốt ở điều này: Không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” (1Ga 4,10). Như thế, có thể nói yêu thương là thực hiện điều tốt đẹp nhất cho người mình yêu.
Yêu thương thể hiện bằng hành vi cụ thể, thực tế. Đã yêu là yêu đến cùng. Hoa trái của tình yêu là kết quả của nhiều nỗ lực hy sinh, quên mình. Yêu thương cách đích thực thì sẵn sàng hiến dâng cả mạng sống (x.Ga 15,13).
Ngôi Lời nhập thể là cách Thiên Chúa diễn tả tình yêu của Người đối với nhân loại. Tình yêu Thiên Chúa đã bước xuống, chấp nhận nhập thể để làm người. “Người đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân phận nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế” (Pl 2,7).Tình yêu được diễn tả như vậy nói lên sự từ bỏ mình vì yêu thương. Sự từ bỏ mình như thế là chọn lựa rất tự do của Thiên Chúa toàn năng, vô cùng khôn ngoan, vô cùng sáng suốt, vô cùng thông hiểu. Chính vì thế, mà chọn lựa ấy là vô cùng cao quý.
Mùa Chay giúp ta sống hy sinh từ bỏ, thực hành yêu thương.
Tình yêu đích thực là tình yêu dâng hiến, tình yêu hy sinh quên mình, tình yêu sẵn sàng chết cho kẻ mình yêu. Tình yêu chân chính đòi hỏi phải chết đi mỗi ngày cho tính ích kỷ và sự hẹp hòi nơi bản thân. Hôm qua cầm trái cây, thấy đẹp cắt ra, bị sâu bên trong. Hư cả trái phải vất bỏ. Ích kỷ, chỉ nghĩ tới mình, chỉ lo cho mình: đó là con sâu nằm trong quả ngọt tình yêu, đục khoét tình yêu.  Đức Thánh Cha Phanxicô viết: “Trong Tông Huấn Niềm Vui Tin Mừng, tôi đã tìm cách mô tả những dấu hiệu rõ nhất về những dấu hiện thiếu vắng tình yêu này: ích kỷ và tinh thần lười biếng, bi quan vô ích, cám dỗ chỉ quan tâm đến mình, chiến tranh liên lỉ giữa chúng ta và tinh thần thế gian khiến chúng ta chỉ quan tâm đến vẻ bề ngoài, và do đó giảm đi lòng nhiệt thành truyền giáo của chúng ta” (Tông Huấn Niềm Vui Tin Mừng, 76-109).
 “Chúng ta đừng để mùa hồng ân này trôi qua vô ích! Chúng ta hãy xin Chúa giúp chúng ta cất bước trên con đường hoán cải thực sự. Chúng ta hãy bỏ lại sau lưng tính ích kỷ và sự tự hấp thụ vào chính mình, nhưng hướng đến sự Phục sinh của Chúa Giêsu. Chúng ta hãy đứng bên cạnh những anh chị em đang túng thiếu của chúng ta, chia sẻ những của cải tinh thần và vật chất của chúng ta với họ” (Sứ điệp Mùa Chay 2019).
Thánh Phaolô nói đến những đặc tính của tình yêu là: nhẫn nhục, hiền hậu, khiêm nhường, không ghen tương, không nóng giận, không tìm tư lợi, luôn tin tưởng nhau, chịu đựng nhau và tha thứ cho nhau (x.l Cr 12,31-13,8).
Mùa Chay thêm đức tin cho những ai sống yêu thương. Đặc biệt các đôi bạn trẻ bước vào đời sống hôn nhân.Tình yêu phải có niềm tin. Tin nhau để trao tay cho nhau, thề hứa chung thủy trọn đời trước mặt Thiên Chúa. Gởi ai một đồ quý giá là đã tin tưởng người ấy. Tin yêu là đôi mắt cho đôi bạn nhìn thấu lòng nhau. Tin yêu là đôi chân giúp đôi bạn vượt qua mọi khó khăn. Tin và yêu là đôi cánh giúp đôi bạn nắm tay nhau bay vào bầu trời hạnh phúc. Yêu thì phải tin. Tin sẽ càng yêu. Không tin sẽ khó mà yêu. Không yêu thì không thể tin được.
Tin Chúa đôi bạn sẽ biết tin nhau vì Chúa là Sự Thật, là sự Trung Tín. Tin Chúa đôi bạn sẽ tránh xa những giả tạo và ích kỷ. Yêu Chúa đôi bạn sẽ biết yêu nhau, vì Chúa là Tình Yêu, một tình yêu lớn lao đến nỗi đã hy sinh mạng sống cho người mình yêu. Yêu Chúa đôi bạn sẽ biết hy sinh quên mình quảng đại trong một tình yêu chân thực.
Mùa Chay thiêng liêng là mùa xuân tâm hồn cho những ai sống vững vàng trong đức tin và dạt dào lòng yêu mến.  
 Lm Giuse Nguyễn Hữu An
 

Lễ_tro-156: Mùa Chay

1. Mùa Chay và Mùa Xuân

Ngày hôm nay, Giáo Hội mời gọi chúng ta cử hành Thứ Tư Lễ Tro để bước vào mùa chay, ngay Lễ_tro-156

Ngày hôm nay, Giáo Hội mời gọi chúng ta cử hành Thứ Tư Lễ Tro để bước vào mùa chay, ngay sau thời gian chúng ta đón mừng Năm Mới, nghĩa là ngay trong bầu khí của mùa xuân diễn tả sự sống mới. Chính vì thế, chúng ta có thể nhận ra nhiều tương phản.
 – Tương phản giữa việc chiêm ngắm hoa xuân rực rỡ đủ loại và hiện diện ở khắp nơi, trong nhà, khuôn viên nhà xứ, nơi công cộng, ngoài đường phố… và việc phải đối diện với nắm tro tàn!
– Tương phản giữa tiếng cười đón nhận phong bì lì xì cùng với những lời chúc tốt lành cho năm mới và sự thinh lặng đón nhận vết tro được ghi trên trán, với lời mời gọi: “Hãy ăn năn sám hối và đón nhận Tin Mừng”!
– Và tương phản giữa những bữa ăn xum họp, những bữa tiệc mừng tất niên, tân niên và việc giữ chay kiêng thịt để bước vào hành trình bốn mươi ngày ăn chay hãm mình.
Tuy nhiên, đó lại là khuôn mặt thật của sự sống, mà chúng ta đang sống và phải sống. Bởi vì, tro tàn nói lên thân phận chóng qua của chúng ta: chúng ta đang hiện hữu, nhưng có lúc đã không hiện hữu và đến một lúc sẽ không còn hiện hữu, và chúng ta không biết lúc nào và như thế nào, nhưng chắc chắn sẽ đến, và nhiều khi rất bất ngờ, đau thương và cả bi đát nữa.
Vì thế, trong Thánh Lễ hôm nay và trong suốt mùa chay, chúng ta được mời gọi nhìn ngắm nắm tro tàn sẽ được xức lên đầu chúng ta, để suy niệm về ý nghĩa của bụi tro đối với sự sống và hành trình làm người của chúng ta. Và để định hướng cho hành trình làm người, để tìm kiếm ý nghĩa, nhất là niềm vui, bình an và hạnh phúc bền vững, chúng ta dựa vào đâu, nếu không phải là dựa vào một điểm qui chiếm tuyệt đối là chính Thiên Chúa. Chỉ có một mình Thiên Chúa là tuyệt đối và vĩnh hằng; nhưng Người không hề xa lạ với chúng ta:
Thiên Chúa tỏ mình ra ngang qua những điều kì lạ và kì diệu, và nhất là khởi đi từ những gì chúng ta đón nhận, những ân huệ, không thể đến từ con người.
Thiên Chúa tỏ mình ra nhất là nơi Đức Giê-su Ki-tô, để đi vào tương quan thiết thân, để trở nên một với chúng ta, qua Lời của Ngài và Mình Thánh của Ngài, để tỏ bày tình yêu đến cùng và mở ra cho chúng ta niềm hi vọng về sự sống viên mãn cùng nhau trong tình yêu.
Xin cho mỗi người chúng ta, trong mùa chay thánh này, được nhận ra và tín thác nơi tình yêu và lòng thương xót muôn ngàn đời của Thiên Chúa, được thể hiện nơi Đức Giê-su Ki-tô, ngay trong thân phận tro bụi đầy thách đố của chúng ta, và quảng đại đáp lại với tâm tình của lời kinh Dâng Hiến: “Lạy Chúa, Chúa đã ban cho con tất cả, con xin dâng lại cho Chúa tất cả. Tất cả đều là của Chúa” (Linh Thao, số 234).
Đó là con đường chắc chắn, hợp lẽ và đáng sống dẫn chúng ta đến với chính Thiên Chúa, Mùa Xuân đích thật và vĩnh cửu.

2.  Bố thí, cầu nguyện và ăn chay
a. Chữ và Lời
Bài Tin Mừng của ngày Lễ Tro hôm nay, là một phần của Bài Giảng Trên Núi theo Tin Mừng của thánh Mát-thêu. Đó là bài giảng đầu tiên của Đức Giê-su; và vì thế, có tầm quan trọng đặc biệt. Thật vậy, trong bài giảng này, Đức Giê-su công bố thân phận con người như thế đó, là mối phúc (x. Mt 5, 1-12), và Người mời gọi những người đi theo Ngài thuộc mọi thời, trong đó có chúng ta hôm nay, “kiện toàn” Lề Luật (x. Mt 5, 17-48), bằng cách đặt nền tảng cho đời sống của chúng ta, cá nhân cũng như cộng đoàn, không phải chỉ trên chữ của Luật, nhưng còn trên lời của Ngài.
Chữ của Luật, như chúng ta biết, là một nguyên tắc vô tư áp dụng cho mọi người và trong mọi hoàn cảnh; vì thế, ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm về sự “nặng nề” của Lề Luật và sự “yếu đuối” của chính mình. Trong khi đó, lời của Đức Giê-su là tiếng nói sống động của một Ngôi Vị ngỏ với từng người chúng ta, vốn cũng là một ngôi vị tự do. Cùng với lời mời gọi lắng nghe và sống theo lời của Ngài, để cho chúng ta được sống và sống dồi dào, Ngài xây dựng tương quan tình yêu với chúng ta: Ngài yêu mến chúng ta đến cùng và Ngài mời gọi chúng ta ở lại trong tình thương của Ngài (x. Ga 13 và 15). Và tình yêu này được lập lại và làm mới lại mỗi ngày trong Thánh Lễ và trong mỗi ngày sống của chúng ta.
Trong hành trình 40 ngày của Mùa Chay, chúng ta hãy xin Chúa cho chúng ta hiểu biết và cảm nếm sâu xa hơn tình yêu của Chúa dành cho chúng ta, để chúng ta yêu mến Ngài hơn. Bởi vì, chỉ có tình yêu mới làm cho LỜI của Ngài trở nên rực sáng và êm ái, mới làm cho việc chúng ta lắng nghe và sống lời của Ngài trở nên nhẹ nhàng và mang lại cho chúng ta bình an, niềm vui và hạnh phúc (x. Mt 11, 28-30).
Và lời đầu tiên của Đức Giê-su ngỏ với chúng ta trong Mùa Chay, là lời giảng dạy về bố thí, cầu nguyện và ăn chay.

 b. “Đừng như những người giả hình”
Lời giảng dạy của Đức Giêsu về ba việc đạo đức căn bản này được công bố cho chúng ta vào thứ tư Lễ Tro. Vì thế, những lời này của Đức Giêsu có giá trị định hướng cho toàn bộ hành trình Mùa Chay của chúng ta. Trong mùa chay, hiển nhiên là chúng ta sẽ, ở cấp độ cá nhân và cộng đoàn, bố thí, cầu nguyện và ăn chay nhiều hơn bình thường. Tuy nhiên, lời của Đức Giêsu không nhấn mạnh đến số lượng, nghĩa là phải bố thí bao nhiêu, phải cầu nguyện bao lâu và phải ăn chay như thế nào và bao nhiêu lần (vốn là chức năng của Lề Luật), nhưng đến cách thức chúng ta thực hành ba việc đạo đức căn bản này.
Bố thí, cầu nguyện và ăn chay là ba việc đạo đức căn bản không chỉ của Do Thái giáo, nhưng trong mọi tôn giáo, trong đó có Kitô giáo của chúng ta.
 – Bố thí diễn tả tương quan của chúng ta với tha nhân.
 – Cầu nguyện diễn tả tương quan của chúng ta với Thiên Chúa.
 – Ăn chay diễn tả tương quan của chúng ta với chính mình.
Trong cả ba việc đạo đức này, Đức Giê-su mời gọi chúng ta một cách thật mạnh mẽ:
Anh em đừng bố thí, cầu nguyện và ăn chay
như những người giả hình. (c. 2.5.16)
Giả hình là chỉ có bề ngoài thôi, không có bên trong, không có sự thật. Thật vậy, những người muốn tỏ ra mình là người đạo đức, trong mọi tôn giáo và thuộc mọi thời, thường thực hành những việc này một cách phô trương; phô trương là làm vì người khác và tìm sự chú ý của người khác. Hoàn toàn không có chiều kích “thiêng liêng”, nghĩa là vì Thiên Chúa, hướng về Thiên Chúa và trong Thiên Chúa.

 3. Thiên Chúa là “Đấng kín đáo”
Thay vì phô trương, Đức Giêsu mời gọi chúng ta thực hành các việc đạo đức một cách kín đáo. Trong bài Tin Mừng, Đức Giê-su dùng tới sáu lần từ “kín đáo”, trong đó 5 lần được dùng để nói về Thiên Chúa Cha:
Còn anh, khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm, để việc anh bố thí được kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh.
Còn anh, khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh.
Còn anh, khi ăn chay, nên rửa mặt cho sạch, chải đầu cho thơm, để không ai thấy là anh ăn chay ngoại trừ Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh.
(c. 4.6 và 18)
Chúng ta cứ nghiệm lại mà xem: Thiên Chúa hiện diện và hành động kín đáo biết bao trong sáng tạo, trong lịch sử loài người, nơi cuộc đời chúng ta, trong mỗi ngày sống của chúng ta và nhất là nơi bí tích Thánh Thể, diễn tả và được hoàn tất nơi mầu nhiệm Thập Giá của Đức Giê-su. Chúng ta phải có ngũ quan biết chiêm niệm, như các tác giả Thánh Vịnh (x. Tv 8; 19; 139..), mới nhận ra Thiên Chúa hiện diện, lên tiếng và hành động được.
*  *  *
Như thế, Thiên Chúa, Cha của Đức Giêsu và cũng là Cha của chúng ta, là “Đấng kín đáo” và Ngài mời gọi chúng ta cũng trở nên “những người con kín đáo” như Cha của mình. Không phải để thi thố hay chứng tỏ thứ bậc khiêm nhường, nhưng để trở nên giống Cha của mình là Thiên Chúa, Đấng hiện diện nơi kín đáo và hành động một cách kín đáo.
Như chúng ta đều biết và có kinh nghiệm, phụ nữ vốn “kín đáo”. Vì thế, các Ma Sơ, các Dì các bà và các cô gần với Thiên Chúa hơn và dễ trở nên giống Thiên Chúa hơn! Và điều này hoàn toàn phù hợp với mặc khải về ơn sáng tạo người phụ nữ, vốn được tạo thành từ “tinh hoa của tạo vật”, nghĩa là từ xương từ thịt con người thay vì từ bùn đất! (x. St 2, 21-22)
Mùa Chay 2019
Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc
 

Lễ_tro-157: CON LÀ THÂN TRO BỤI

Hôm nay là Thứ Tư lễ Tro, ngày khai mạc Mùa Chay thánh. Theo lời thánh Phaolô : Đây là lúc Lễ_tro-157

Hôm nay là Thứ Tư lễ Tro, ngày khai mạc Mùa Chay thánh. Theo lời thánh Phaolô : Đây là lúc thuận tiện, đây là ngày cứu độ” (2Cr 6,2b)). Mùa Chay giúp chúng ta thực hành tinh thần thống hối, điều chỉnh lại hướng đi của mình và biết quay trở về với Chúa.
          Mỗi người được xức tro trên đầu để chỉ sự khiêm nhường thống hối. Chúng ta hãy tìm hiểu ý nghĩa việc xức tro, đồng thời cầu xin Chúa giúp sức  để thi hành trong Mùa Chay này những lời Chúa dạy trong bài Tin Mừng hôm nay là cầu nguyện, ăn chay và làm phúc bố thí.
TÓM TẮT VỀ LỄ TRO
           Ngày Thứ Tư lễ Tro, chúng ta nghe văng vẳng lời thánh ca từ sách Sáng thế :”Hỡi người hãy nhớ mình là bụi tro và sẽ trở về bụi tro”. Lời Kinh Thánh này nhắc nhở chúng ta ý thức về thân phận con người, biểu hiệu “bụi tro” được dùng trong Kinh Thánh và trong lễ nghi Thứ Tư đầu Mùa Chay.
          Về nghi thức làm phép tro và xức tro, qua thời gian  lễ nghi này đã có sự biến đổi từ một nghi thức thống hối trong định chế về tập tục thống hối công cộng ngày xưa. Theo đó, những người đã phạm một số tội nặng công khai, mà mọi người biết, như chối bỏ đức tin, giết người, ngoại tình… là những người bị loại ra khỏi cộng đoàn tín hữu. Để được nhận lại trong cộng đoàn, họ phải làm việc thống hối công cộng : vào ngày thứ tư trước Chúa nhật thứ nhất Mùa Chay, họ tập trung tại nhà thờ chính tòa để, sau khi xưng thú tội mình, Đức Giám mục trao cho chiếc áo nhâm mang trên mình, rồi lãnh nhận tro trên đầu và trên mình.
          Sau đó họ bị đuổi ra khỏi nhà thờ và được chỉ định tới một tu viện để ở đó và thi hành một số việc thống hối đã ra cho họ.  Vào sáng thư Năm Tuần thánh, các hối nhân này tụ tập tại nhà thờ chính tòa, được Đức Giám mục xem xét việc thực hành sám hối của họ trong Mùa Chay, sau đó ngài đọc lời xá giải tội lỗi của họ để giao hòa với cộng đoàn. Từ dây, họ được quyền tham dự các buổi cử hành bí tích.
          Sau một thời gian lễ nghi tiếp tục biến chuyển. Vào năm 1091, công đồng Benevento (Nam Italia) đã truyền cử hành nghi lễ xức tro cho tất cả các nơi trong Giáo hội.  Trong khi xức tro, vị Linh mục đọc :”Ta là thân cát bụi và sẽ trở về cát bụi” (St 3,19). Tro này lấy từ những cành lá  đã được làm phép trong ngày Lễ Lá năm trước để lại.
          Trước công cuộc canh tân phụng vụ của công đồng Vatican II, lễ nghi làm phép tro và xức tro được cử hành trước lễ.  Vào năm 1970, khi công bố sách lễ Rôma được tu chỉnh, thì lễ nghi này được cử hành sau phần phụng vụ Lời Chúa. Ngoài câu trích từ sách Sáng thế, còn có thêm một công thức khác dùng khi xức tro, lấy từ Phúc âm :”Hãy ăn năn sám hối và đón nhận Tin Mừng”(Mc 1,15).
 Ý NGHĨA VIỆC XỨC TRO
  Tro chỉ sự thống hối
            Trong Cựu ước, việc xức tro và mặc áo nhâm được dùng để thực hành và biểu lộ lòng thống hối cá nhân hay toàn thể cộng đoàn dân Israel.
          Ngày xưa, khi ai làm việc gì không chính đáng, họ thường xức tro trên đầu để tỏ dấu chỉ ăn năn hối lỗi, quyết tâm làm điều lành, lánh sự dữ.
          Tro là tập tục biểu hiệu của lòng ăn năn sám hối bên Trung Đông. Theo tập tục bên Do thái, trong Kinh Thánh còn ghi lại : Tro được dự trữ làm nước tẩy uế (Ds 19,9). Ông Abraham đã khiêm hạ trước mặt Thiên Chúa nhận mình là thân tro bụi (St 18,27). Rắc tro trên đầu cũng là lễ nghi sám hối trong niềm tin đạo giáo văn hóa thời xa xưa bên Do thái (2Sm 13,19; Mac 3,47).  Mặc áo vải thô và rắc tro trên đầu là dấu chỉ lòng ăn năn thống hối của con người với Thiên Chúa (Eth 4,1; Mt 11,21).
          Từ đây chúng ta nhận ra, trước tiên Giáo hội đã đặt nền tảng cho việc thống hối, đó là nhìn nhận lại tình trạng nguyên tuyền của ơn thánh đã bị mất do tội nguyên tổ, và hậu quả là con người xa Chúa, trốn tránh Thiên Chúa.  Con ngươi sẽ phải chết như là hậu quả của tội lỗi. Vì thế cần phải “quay trở lại” một cách tận căn, như ý nghĩa diễn tả qua từ “canh tân” trong ngôn ngữ Do thái, là quay ngược lại với 360 độ.
Tro chỉ sự chóng qua
          Việc xức tro mời gọi chúng ta ý thức về thân phận nhỏ nhoi mỏng dòn nơi bản tính con người của mình, vốn dễ bị tội lỗi thống trị.  Nghi thức xức tro chính là nghi thức khai mạc Mùa Chay, nó là hành động hữu hiệu và cụ thể nhất nhắc nhở ta về thân phận và kiếp người mỏng dòn ấy : thân phận con người là tro bụi.
          Trong lễ an táng, chúng ta thường hát bài thánh vịnh đáp ca 102. Bài thánh vịnh nói lên sự mong manh của kiếp con người, đời sống con người giống như loài hoa sớm nở chiều tàn, không có gì là bền vững :
Kiếp phù sinh, tháng ngày vắn vỏi,
Tươi thắm như cỏ nội hoa đồng,
Một cơn gió thoảng là xong
Chốn xưa mình ở cũng không biết mình.
                                    (Tv 102, 15-16)
          Thi sĩ Nguyễn Khuyến, nhìn cuộc đời chóng qua của kiếp người cũng phải kêu lên bằng những hình ảnh sống động :
Ôi ! nhân sinh là thế ấy !
Như bóng đèn, như mây nổi,
Như gió thổi, như chiêm bao !
           Trong bài “Cát bụi” nhạc sĩ Trịnh công Sơn cũng nói lên kiếp mong manh của con người : Cát bụi, con người chỉ là cát bụi.  Hạt bụi tuyệt vời khi hóa kiếp thân tôi. Hạt bụi mệt nhoài khi tôi trở về làm cát bụi.  Một vòng quay. Trăm năm một kiếp người có là mấy :”Chợt một chiều tóc trắng như vôi”…
          Trịnh công Sơn không bi quan. Ông chỉ nói lên điều ông cảm nghiệm thấm thía về sự mong manh của kiếp người. Cuộc đời đẹp biết bao ! Sự sống cao quí biết bao !  Nhưng cũng chỉ như một “đóa hoa vô thường” như tên gọi của một bài hát khác của ông. Đó là thực tế, nhìn nhận đúng thực tế đó, đối diện với nó một cách can đảm có thể đưa đến một cuộc sống tốt đẹp và hữu ích hơn.
          Tro không những chỉ được dùng trong lễ nghi thống hối xức tro hằng năm, mà còn được dùng trong nghi lễ  nhậm chức đăng quang của Đức Giáo hoàng mới được bầu lên.  Theo tập tục lễ nghi, vị hồng y niên trưởng  đốt những sợi chỉ ra tro để nhắc nhở vị tân Giáo hoàng với câu :”Sic transit mundi gloria” : vinh quang thế gian cũng mau qua như thế.
Tro nhắc nhở về sự chết
           Trong Cựu ước, tro chỉ thân xác chúng ta  là tro bụi và sẽ phải chết :”Ngươi sẽ phải đổ mồ hôi trán mới có bánh ăn, cho đến khi trở về với đất, vì từ đất, ngươi đã được lấy ra. Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất” (St 3,19. x. Gb 34,4 ; Gr 6,26; Is 58,5).
          Chết là án lệnh của Thiên Chúa sau khi nguyên tổ phạm tội :”Người sẽ trở về với bụi đất”(St 3,19). Vì thế không ai có thể tránh được cái chết.
          Người Á Đông quan niệm : con người phải trải qua 4 giai đoạn là sinh, lão, bệnh, tử.  Có người thoát được lão và bệnh vì chết quá sớm, còn không ai thoát được tử, vì đã có sinh thì phải có tử, sinh tử luôn nối kết với nhau.
          Kinh nghiệm ngàn đời đã giúp ông Văn Thiên Trường suy nghĩ về cuộc sống mong manh của con người nên đã phát biểu ý kiến bằng một câu để đời :
Nhân sinh tự cổ thùy vô tử,
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh.
Ngàn xưa, người thế ai không chết,
Chết, để lòng son rạng sử xanh.
          Vì thế, trong truyền thống các đan sĩ và tu viện, tro được dùng để nói lên mối liên hệ với sự chết và khiêm nhường thống hối trước mặt Chúa.  Do đó, các tu sĩ, các đan sĩ có tục lệ tại một số nơi, muốn nằm trên đống tro với chiếc áo nhặm để chết. Thánh Martinô thành Tours ở bên Pháp đã nói :”Không gì xứng hợp hơn cho một tu sĩ là việc nằm chết trên đống tro bụi”.  Các vị này lấy tro đã được làm phép trong ngày Thứ Tư Lễ Tro, rồi vẽ hình thánh giá trên đất, trên đó con trải thêm áo nhặm và rồi các vị nằm trên đó khi hấp hối và khi chết.
          Chớ gì việc xức tro trên đầu khiến cho chúng suy nghĩ về sự chết để biết dọn mình sẵn sàng vì giờ chết đến như kẻ trộm, luôn có tinh cách bất ngờ như người ta nói :
                                      Sinh hữu hạn, tử bất kỳ.
           Ai cũng mong đời sống của mình được trở thành “cây bách niên” (agavé). Người ta cho biết : cứ một trăm năm một lần nở hoa, nhưng hoa đẹp lạ lùng. Trong một thế kỷ cây ấy đã sửa soạn cho cái ngày tươi đẹp ấy, nó dồn sức lực, nó trang điểm, nó làm cho đẹp, bằng công việc kín đáo, không ai trông thấy. Cả một thế kỷ ! Và khi đã hết thời nó nở những cánh hoa trắng muốt để làm đẹp lòng người đến xem cái phi thường của nó.
III. MÙA CHAY VÀ THÂN TRO BỤI
           Trong việc xức tro hôm nay Giáo hội đã đặt nền tảng cho việc thống hối, đó là nhìn nhận lại tình trạng nguyên tuyền của ơn thánh đã bị mất do tội nguyên tổ, và hậu quả là con người lìa xa Chúa, trốn tránh Thiên Chúa.  Con người sẽ phải chết như là hậu quả của tội lỗi. Vì thế, phải “quay trở lại” một cách tận căn, như ý nghĩa diễn tả qua từ “canh tân” trong ngôn ngữ Do thái, là quay ngược lại với 360 độ.
          Để thể hiện sự thống hối trong Mùa Chay, chúng ta phải làm gì ? Chắc chắn có nhiều việc phải làm và mỗi người có một chương trình riêng, nhưng thiết tưởng chúng ta phải thực hiện 3 điều mà Chúa Giêsu muốn cho chúng ta thực hành theo bài Tin Mừng hôm nay : đó là cầu nguyện, ăn chay và làm phúc bố thí.
Hãy cầu nguyện
          Cầu nguyện là một việc làm đẹp ý Chúa, mà ai cũng có thể làm được, ở đâu ta cũng có thể cầu nguyện được; chính vì thế Chúa Giêsu đã  dạy :”Các con hãy cầu nguyện luôn kẻo sa chước cám dỗ”(Lc 22,40). Mà không những Chúa chỉ dạy chúng ta cầu nguyện, mà Chúa còn làm gương cầu nguyện nữa, nhiều chỗ trong Tin Mừng đã nói rõ (Lc 22,42; Ga 11,41-42). Còn rất nhiều đoạn khác trong Tin Mừng nói về việc Chúa Giêsu cầu nguyện,  đặc biệt Chúa dạy chúng ta kinh Lạy Cha (Mt 6,9-13).
          Cầu nguyện là một vấn đề cần thiết và rất quan trọng, nó là vấn đề sinh tử.
          Thánh Gioan Kim Khẩu đã so sánh sự cần thiết của lời cầu nguyện với chuyện cá trong nước. Bao lâu cá ở trong nước, nó vẫn sống, hoạt động và tăng trưởng, nhưng nếu nó bị bắt ra ngoài, chắc chắn nó sẽ chết.  Cũng vậy, con người muốn sống siêu nhiên thì phải cầu nguyện, nếu không cầu nguyện họ sẽ mất ơn Chúa giúp, rồi dần dà họ sẽ mất sự sống siêu nhiên không khác nào  cá phải chết vì không có nước.
          Thánh Bênađô cũng đã so sánh sự hô hấp cần thiết cho con người như thế nào, thì lời cầu nguyện cũng cần thiết cho con người như vậy. Đối với linh hồn, cầu nguyện cần thiết cũng như hô hấp cần cho cơ thể con người. Nếu con người hô hấp khó khăn thì thân xác sẽ trở thành tiều tụy, và nếu hô hấp đình chỉ thì con người sẽ chết. Cũng thế, khi ta ít cầu nguyện, thì linh hồn biến thành bạc nhược, và khi ta không cầu nguyện tí nào, thì linh hồn ta sẽ chết trước mặt Chúa.
          Thế nào là cầu nguyện ?
          Các nhà tu đức học thường định  nghĩa cầu nguyện là nâng tâm hồn lên cùng Chúa, hay cầu nguyện là cuộc trò chuyện giữa ta với Chúa. Thật thế,  cầu nguyện là tâm tình với Chúa, thưa truyện với Chúa bằng tâm tư và ngôn ngữ của chính ta, như con cái thỏ thẻ với cha mẹ những tình cảm yêu mến, những nhu cầu xin Chúa thương ban, hoặc kể cho Chúa nghe những tâm sự vui buồn, lòng biết ơn…
           Có những khi ta vui quá, hay buồn quá tự lòng ta không biết nói gì với Chúa, hoặc khi có đông người muốn có chung một lời cầu nguyện thì Giáo hội mới lập nên những lời kinh chung giúp chúng ta cùng nhau cầu nguyện.  Do đó, cầu nguyện không chỉ là đọc kinh, đọc những công thức một cách máy móc, còn lòng trí thì để vào chuyện đâu đâu. Với kinh nguyện thì miệng đọc lòng ta phải kết hợp với lời kinh để suy gẫm với Chúa, với Đức Mẹ, các thánh… theo nguyên tắc “khẩu tụng tâm suy”.
          Chúng ta thường nghe rất nhiều, đôi khi đã tham dự buổi cầu nguyện nhờ những kỹ thuật như : thiền, yoga, cầu nguyện theo cách của cộng đoàn Taizé, Béatitude (cộng đoàn Phúc thật), Chemin neuf (Con đường mới)… Những buổi tổ chức cầu nguyện như thế càng ngày càng được nhiều nơi tổ chức và hấp dẫn nhiều người vì những lợi ích sau : làm cho chúng ta “dễ nâng lòng lên với Chúa” , tạo cho chúng ta những bầu khí và tâm tình sốt sắng, ham thích cầu nguyện và thấy như Thiên Chúa ở bên chúng ta, lắng nghe chúng ta và an ủi chúng ta thật nhiều.  Tóm lại, những kỹ thuật này  góp phần tích cực vào cho buổi cầu nguyện. Điều này không ai có thể chối cãi được.
           Nhưng nếu, cầu nguyện là trò chuyện với Chúa như bạn bè, cũng như tình bạn bè không cần kỹ thuật, thì cầu nguyện cũng không cần theo một kỹ thuật nào mà nó phải phát xuất tự trong lòng với những tâm tình riêng tư một cách tự nhiên và chân thành.
Truyện : Con chỉ nghe.
          Một cụ già có thói quen ngồi bất động hằng giờ ở cuối nhà thờ. Một ngày nọ, cha xứ hỏi cụ là Chúa đã nói gì với cụ . Cụ trả lời :
      – Thưa cha, Chúa chả nói gì cả, Ngài chỉ nghe con.
      – Vậy à ? Thế thì cụ nói gì với Chúa ?
      – Dạ, con cũng chẳng nói gì, con chỉ nghe Chúa !
          Thực ra, đỉnh cao của cầu nguyện là hoàn toàn kết hợp với Chúa, lúc đó không còn ai nói ai nghe mà chỉ có sự im lặng, để con tim nói với nhau.  Chúng ta có thể nói đây là một sự thinh lặng hùng biện, không nói gì mà lại nói rất nhiều. Vì thế cầu nguyện có 4 mức độ :
– Tôi nói, Chúa nghe.
– Chúa nói, tôi nghe.
– Không ai nói, cả hai cùng nghe.
– Không ai nói, không ai nghe. Đây là sự thinh lặng tuyệ đối.
          Phải chăng người đời cũng hiểu sự thinh lặng hùng biện  là thế nào :
 Nước mắt nói lời của mắt,
Hương hoa nói lời của hoa,
Lặng im nói lời đôi ta !
          Ngoài ra chúng ta còn thực hiện lời Chúa dạy :”Các con hãy cầu nguyện luôn kẻo sa chước cám dỗ”(Lc 22,40). Làm sao chúng ta có thể cầu nguyện luôn khi chúng ta có trăm ngàn công việc phải làm ?  Cầu nguyện ở đây là biến mọi công việc thành lời nguyện.
          Cầu nguyện đẹp lòng Chúa nhất là trong mọi công việc hằng ngày, ta hãy có tâm lòng cùng làm việc với Chúa, và làm vì yêu mến Chúa và phục vụ tha nhân. Qua đó những việc ta làm, những lời ta nói luôn luôn hướng về Chúa, cho Chúa và cho tha nhân… biến những lời nói việc làm của ta  thành những việc lành, việc thiện như thánh nữ Têrêsa Hài Đồng nhặt một cọng rác, khâu một mũi kim cũng làm vì mến Chúa. Chúa muốn ta cầu nguyện liên tục là như vậy, chứ Chúa không bảo ta  đọc kinh liên tục để khỏi sa chước cám dỗ đâu !
Hãy ăn chay
          Chúng ta bắt đầu bước vào Mùa Chay, đã là Mùa Chay thì phải ăn chay. Nhưng phải ăn chay như thế nào thì mới đúng cách và hữu ích ?
          Mùa Chay gợi nhớ 40 ngày chay tịnh của Chúa Giêsu trong hoang địa, mà Ngài đã trải qua  trước khi đi vào sứ vụ công khai. Chúng ta đọc thấy trong Tin mừng :”Đức Giêsu được Thần Khí dẫn vào trong hoang địa, để chịu quỉ cám dỗ. Ngài ăn chay ròng rã 40 đêm ngày, và sau đó,  Ngài thấy đói” (Mt 4,1-2).
          Giống như ông Maisen đã ăn chay trước khi đón nhận những tấm bia lề luật (x.Xh 34,28), và việc ông Êlia ăn chay trước khi gặp Chúa ở núi Horép (x. 1V 19,8).  Đức Giêsu cũng vậy, qua việc cầu nguyện và ăn chay, đã chuẩn bị cho sứ vụ  đặt trước mặt Ngài, sứ vụ được đánh dấu vào lúc khởi đầu, bằng một cuộc chiến đấu nghiêm trọng với kẻ cám dỗ.
          Tôn giáo nào cũng có ăn chay như Do thái giáo, Hồi giáo, Phật giáo… nhưng phương cách và mục đích của họ lại khác nhau.
          Người Do thái ăn chay bằng cách nhịn ăn từ sáng đến chiều (Giona 3,7-8; Samuel 14,24). Tập tục ăn chay bằng cách nhịn ăn từ rạng đông cho đến khi mặt trời lặn, ngày nay vẫn còn được  anh chị em Hồi giáo tuân giữ trong suốt tháng Ramadan. Trong khi ấy, anh chị em Phật giáo lại ăn chay vào mồng một và ngày rằm, bằng cách vẫn ăn no, nhưng kiêng không ăn thịt của bất cứ động vật nào, chỉ ăn thực vật.
          Ngày xưa, người Công giáo cũng ăn chay giống như người Do thái là nhịn ăn từ sáng cho đến chiều.  Ngày nay người Công giáo chúng ta ăn chay một năm có hai lần vào ngày thứ Tư Lễ Tro và Thứ sáu Tuần thanh, và chỉ cần ăn ít đi vào buổi sáng và buổi chiều, đồng thời kiêng thịt vào hai ngày đó.
          Chúng ta thấy việc ăn chay ngày nay rất đơn giản, đơn giản hơn các tôn giáo khác, nhưng việc ăn chay này có ý nghĩa nào đối với người Kitô hữu ? Thánh Tôma tiến sĩ đã giải thích cho chúng ta :
          – Thứ nhất : để kềm chế sự thèm muốn  của xác thịt. Nhờ chay tịnh, sẽ giữ được sự trong sạch. Trong Cựu ước cũng đề cập đến :”Sự thèm muốn bị kềm chế lại bởi kiêng rượu, thịt”.
          – Thứ hai : nhờ vào sự chay tịnh  để tâm hồn chúng ta  gia tăng một cách tự do, hướng đến sự chiêm niệm về những điều thiện hảo của thiên đàng. Tiên tri Daniel cũng được Thiên Chúa mạc khải sau khi ăn chay ba tuần lễ.
          – Thứ ba : ăn chay để đến bù  cho những tội lỗi của mình. “Hãy đến với ta bằng cách thay đổi hoàn toàn tâm hồn ngươi, trong chay tịnh và trong khóc lóc”.
          Thánh Augustinô cũng đã nhấn mạnh trong một bài giảng về cầu nguyện và ăn chay :”Chay tịnh làm sạch sẽ tâm hồn, gia tăng trí khôn, hướng xác thịt đến thần linh, thể hiện con tim thống hối và khiêm nhường, chẻ nhỏ những đám mây thèm muốn, dập tắt đám lửa dâm dục và đốt lên ánh sáng thật sự của đức ái”.
           Từ xa xưa, tiên tri Isaia đã có ý kiến về việc ăn chay và đã vạch vẽ cho dân Do thái biết cách ăn chay cho đẹp lòng Thiên Chúa :”Chính ngày các ngươi muốn ăn chay để tiếng các người kêu tới trời cao thẳm, thì các ngươi lại ăn chay  không đúng cách. Phải chăng đó là cách ăn chay mà Ta ưa chuộng  trong ngày các ngươi phải thực hành khổ chế ? Cúi rạp đầu như cây sậy cây lau, nằm trên vải thô và tro bụi, phải chăng như thế mà gọi là ăn chay  trong ngày các ngươi muốn đẹp lòng Đức Chúa” ?
          “Cách ăn chay mà Ta ưa thích chẳng phải là thế này sao : mở xiềng xích bạo tàn, tháo gông cùm trói buộc, trả tự do cho người bị áp bức, đập tan mọi gông cùm ? Chẳng phải là chia cơm cho người đói, rước vào nhà những người nghèo không nơi trú ngụ, thấy ai mình trần thì cho áo che thân, không ngoảnh mặt làm ngơ  trước người anh em cốt nhục ? Bấy giờ ánh sáng ngươi sẽ bừng lên như rạng đông, vết thương ngươi sẽ mau lành”(Is 58,4-8).
          Trong sứ điệp Mùa Chay 2009, Đức Thánh Cha bênêdictô XVI đã nói :”Trong thời đại chúng ta, chay tịnh dường như đã đánh mất  điều gì thuộc về ý nghĩa thiêng liêng, và trong một nền văn hóa có đặc điểm là tìm kiếm hạnh phúc vật chất, nó đảm nhiệm vai trò chữa bệnh để chăm sóc thân thể. Chắc hẳn chay tịnh đem lại lợi ích cho hạnh phúc thể lý, nhưng đối với người tín hữu, trước tiên nó là “một phương thế chữa trị” để chữa lành tất cả những gì ngăn cản họ sống phù hợp với thánh ý Thiên Chúa.  Trong tông hiến Paenitemini năm 1966, Người Tôi Tớ Thiên Chúa Phaolô VI thấy nhu cầu trình bầy chay tịnh trong khuôn khổ ơn gọi của mọi Kito hữu “không còn sống cho chính mình, nhưng cho Đấng đã yêu thương và hiến thân vì mình, và sống cho anh chị em của mình”(x. Ch. 1).
          Như vậy ăn chay thể xác không quan trọng bằng ăn chay tinh thần, nghĩa là từ bỏ ý riêng của mình để sống theo ý Chúa, loại bỏ tính ích kỷ và mở rộng con tim để yêu mến và đón nhận tha nhân, phục vụ anh chị em và đem hạnh phúc đến cho mọi người. Đúng là :
                             “An mặn nói ngay, còn hơn ăn chay nói dối” (Tục ngữ).
         Hãy làm phúc bố thí
          Mùa Chay là thời gian khám phá ra các nhu cầu của anh chị em mình và nhắc nhở chúng ta tìm mọi cách để gặp gỡ và giúp đỡ những người đau khổ thể xác cũng như tinh thần.            
          Trong sứ đệp Mùa Chay năm 2002, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II trích dẫn câu nói của thánh Phaolô trong thư thứ nhất gửi cho tín hữu Côrintô :”Bạn có gì mà bạn đã không lãnh nhận(1Cr 4,7). Và ngài tiếp :”Một khi đã nhìn nhận như thế thì bạn phải yêu mến anh chị em và hy sinh cho họ”.
          Làm phúc bố thí và ăn chay là những phương thế liên hệ mật thiết với nhau để giúp chúng ta ăn năn hối cải. Làm phúc bố thí có nghĩa là chia vui sẻ buồn với người khác, giúp đỡ người ta, nhất là những ai lâm cảnh thiếu thốn, phân phát cho người ta không nguyên của cải vật chất mà cả tinh thần nữa.  Chính vì thế, chúng ta phải tỏ ra cởi mở đối với người khác, biết nhận ra những nhu cầu của họ và cảm thông những nỗi đau buồn của họ, đồng thời tìm cách đáp ứng những nhu cầu đó và làm cho những đau thương của họ vơi nhẹ đi.
          Như vậy, cầu nguyện để kết hợp với Thiên Chúa đồng thời cũng hướng chúng ta tới tha nhân. Khi chúng ta đòi hỏi đối với bản thân và quảng đại đối với tha nhân, nhất là đối với những ai đau khổ và thiếu thốn là chúng ta sống kết hợp với Đức Kitô chịu đau khổ và bị đóng đinh  vì Người tự đồng hóa với họ như Người nói :”Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi từ thưở tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát các ngươi đã cho uống; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã viếng thăm; Ta ngồi tù, các ngươi đã hỏi han”(Mt 25,35-36).
 Truyện : Cho đi tất cả.
          Một người kia rất nghèo và vẫn thường nghĩ mình là người nghèo khổ nhất trên khắp mặt đất này. Thế rồi, một hôm ông ta lên đường và gặp một người hành khất khác còn nghèo khổ hơn mình hơn nữa. Ông dừng lại chào hỏi và nói :
          – Từ trước tới nay tôi vẫn tưởng mình là người nghèo khổ nhất trong thiên hạ, thế mà hôm nay gặp anh tôi thấy anh còn nghèo hơn tôi nữa,  vì đến cái che nắng che mưa trên đầu anh cũng không có.          Người hành khất đáp :
          – Này ông bạn ơi, xin ông đừng quên rằng mỗi người nghèo trên đường đi của mình đều gặp thấy những người khác còn nghèo khổ hơn nữa. Đó là điều duy nhất an ủi chúng ta hơn cả, bởi vì mình vẫn còn có thể cho đi người khác một cái gì đó.
          Nghe vậy, người ấy liền giơ tay lên đầu lấy mũ trao cho người nghèo không có mũ. Dọc đường, người ấy lại gặp một người khác nghèo hơn nữa không có manh áo che thân, và người ấy liền cởi áo mình ra  trao cho người kia. Tiếp tục con đường hành trình, người ấy lại gặp những người khác nghèo hơn nữa và trao cho mỗi người một chút cái mình có. Sau cùng, người ấy chỉ còn đôi dép trong chân và cảm thấy hài lòng sung sướng vì còn có thể tiếp tục đường đi.
          Khi hoàn tất cuộc hành trình, người nghèo ấy  thấy mình đến trước cửa thiên đàng và nhận ra mình chỉ còn  hai bàn chân đi đất, thân mình hoàn toàn ở trần
          Mẩu truyện trên đây nói lên ý nghĩa sâu xa của tinh thần nghèo khó là gì. Thật vậy, chúng ta thường nghe nói :”Không ai nghèo khó đến nỗi không có gì để cho đi và cũng không ai giầu có đến nỗi không có thể lãnh nhận được gì thêm nữa”.
          Cái phải cho đi khó hơn là chính bản thân mình, khi nào chúng ta chưa biết cho đi chính mình chúng ta vẫn chưa phải là người nghèo khó nhất. Cho đi chính bản thân mình mới là điều kiện căn bản không thể thiếu sót để nhận lãnh tất cả, tức là nhận lấy tình yêu và chọn con đường yêu thương.
          Làm sao có thể chọn yêu thươngkhi chúng ta cảm nghiệm được tình thương quá ít ỏi, khi chung quanh chúng ta  vẫn còn nhiều hận thù và mọi hình thức ích kỷ ?
          Phải, chúng ta vẫn có thể chọn yêu thương bắt đầu từ những bước nho nhỏ có thể được. Có thể bắt đầu từ một nụ cười, từ một lời nói âu yếm, một lời khích lệ cảm thông, một lời chào hỏi thân tình, một sự quan tâm chú ý, một đồng tiền nhỏ bé, một món quà đơn sơ. Đó là những bước tiến nho nhỏ trên con đường yêu thương, như những cái chấm nối lại thành một đường thẳng. Cũng vậy, những hành động yêu thương nho nhỏ sẽ ghép lại thành con đường yêu thương dài cho đến khi đạt tới nguồn tình yêu là chính Thiên Chúa (R. Veritas).
          Mùa Chay đòi hỏi chúng ta thống hối để kết hiệp mật thiết vào cuộc tử nạn của Chúa Giêsu, để cùng hưởng sự Phục sinh vinh hiển của Người. Vì vậy, cầu nguyện, ăn chay và làm phúc bố thí là thực hành sống những điều cốt yếu của tinh thần Mùa Chay.
Lm Giuse Đinh lập Liễm
 

Lễ_tro-158: Tinh thần bác ái

Các việc đạo đức nhằm thể hiện tinh thần bác ái, cầu nguyện, làm chủ bản thân. Mùa Chay giúp Lễ_tro-158

Các việc đạo đức nhằm thể hiện tinh thần bác ái, cầu nguyện, làm chủ bản thân. Mùa Chay giúp ta làm các việc ấy cách thật lòng trước mặt Cha, với ý hướng thi hành Thánh Ý Cha.
1.Ghi nhớ: “Khi làm việc lành phúc đức, anh em phải coi chừng, chớ có phô trương cho thiên hạ thấy. Bằng không anh em sẽ chẳng được Cha của anh em, Đấng ngự trên trời ban thưởng” (Mt 6,1).
2.Suy niệm: Ăn chay, cầu nguyện, bố thí là ba việc đạo đức được nhắc nhở thực hành trong suốt mùa Chay. Lời Chúa Giêsu dạy ta biết giá trị của nền đạo đức đích thực, và thi hành như thế nào thì mới phù hợp với tinh thần của Chúa. Cái cốt lõi của các việc đạo đức là sống thật trước mặt Chúa và cần phải được thực hiện bằng cả tấm lòng. Việc bố thí chẳng hạn, cần phải thực hiện bằng tấm lòng yêu mến tha nhân; còn nếu làm để khoe khoang, thì việc làm này mất hết công phúc.
3.Sống Lời Chúa: Ăn chay để hãm dẹp dục vọng, cầu nguyện để gặp gỡ Chúa và bố thí là yêu thương tha nhân.
4.Cầu nguyện: Lạy Chúa, xin cho con luôn biết yêu thương trong khiêm tốn để việc làm của con luôn là vì tình yêu thương chứ không vì phô trương công đức. Amen.
Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, cùng với toàn thể Hội Thánh, con bước vào mùa Chay để sám hối trở về cùng Chúa. Con tạ ơn Chúa đã cho con thời gian thuận tiện này để duyệt xét lại cuộc đời và chấn chỉnh những thiếu xót, lệch lạc, thái quá. Con đặt mình trước Tôn Nhan Chúa, xin Chúa chiếu dọi ánh sáng của Chúa để con nhìn rõ con người của con. Và nhất là xin Chúa ban ơn nâng đỡ sự yếu hèn của con. Chỉ có ơn Chúa mới có thể làm cho con chỗi dậy trở về với Chúa để canh tân đời sống.
     Xin Chúa giúp con biết sống tinh thần bác ái của Chúa. Con thường sống khép kín, ích kỷ, thường bỏ rơi, xúc phạm đến chính Chúa đang hiện diện nơi anh chị em con. Đôi lúc con làm được vài việc bác ái, nhưng lại muốn hãnh diện phô trương. Xin Chúa mở rộng trái tim con để con yêu mến tha nhân cách chân thành và quảng đại.
     Lạy Chúa, xin dạy con biết sống tinh thần cầu nguyện. Con không muốn dừng lại ở vài câu kinh hoặc những hình thúc lễ nghi, nhưng con muốn đi sâu vào lòng Chúa và kết hợp mật thiết với Chúa. Xin Chúa tỏ Tôn Nhan Chúa cho con, xin cho con cảm mến sự ngọt ngào được sống trong Chúa.
     Và sau hết, trong mùa Chay này, xin Chúa giúp con chế ngự bản thân. Bao nhiêu những đam mê lệch lạc, vị kỷ, thấp hèn, bao nhiêu những khuynh hướng xấu, xin Chúa giúp con loại bỏ tất cả. Xin Chúa dạy con sống tinh thần hy sinh, từ bỏ theo gương Chúa.
     Lạy Chúa Giêsu, xin hãy thánh hóa con. Amen.
 

Lễ_tro-159: TRỞ VỀ VỚI BẢN THÂN – VỚI CHÚA – VỚI THA NHÂN

Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên

Mùa Chay đã về. Sắc tím của phẩm phục phụng vụ, cung điệu của các bài thánh ca cũng như các Lễ_tro-159

Mùa Chay đã về. Sắc tím của phẩm phục phụng vụ, cung điệu của các bài thánh ca cũng như các lời kinh cầu nguyện tạo cho ta một cảm giác trầm buồn, sâu lắng. Trong nghi lễ khai mạc Mùa Chay, khi khiêm tốn đón nhận một chút tro bụi trên đầu, lời thánh ca gọi ta về với thực tại của thân phận con người:
“Hỡi người hãy nhớ, mình là bụi tro,
Một mai người sẽ trở về bụi tro”
Những bài thánh ca cùng chung một tâm trạng, vừa thống thiết than van vừa quyết tâm mãnh liệt: Con nay trở về, trở về cùng Chúa Chúa ơi!
Sự trở về dựa trên lòng thương xót vô bờ của Thiên Chúa: Ngài là Thiên Chúa, rất nhân hậu và hay tha thứ.
Khi nhìn lên thánh giá, chúng ta tưởng niệm một sự kiện lịch sử đã xảy ra cách đây hai ngàn năm, qua lời kinh cầu nguyện thống thiết:
-Chúa Giêsu chịu các quan lấy hết áo chia nhau
-Chúa Giêsu còn trên thánh giá chịu thiên hạ nhạo cười (Kinh cầu Chịu nạn).
Cảm nhận thân phận tội lỗi, con người thấy cần được ơn thứ tha. Mùa Chay là mùa sám hối, là mùa trở về để được sống trong tình thân nghĩa với Chúa và với anh chị em mình.
Khi phạm tội, con người hối hận và dằn vặt khôn nguôi, vì tội không chỉ là xúc phạm đến đồng loại mà còn xúc phạm đến Chúa. Người phạm tội chạy trốn chính bản thân mình, đi đâu cũng không thể tìm được nơi ẩn nấp. Tội ác luôn bám sát và ám ảnh tội nhân. Chỉ có tâm tình sám hối và khiêm nhường xưng thú tội lỗi qua bí tích Hòa giải mới có thể đem lại cho họ sự thanh thản, bình an. Cùng với vua Đavít trong Thánh vịnh 50, chúng ta thú tội với Chúa qua lời kinh sám hối đẫm lệ, được thốt lên với tâm trạng hối hận day dứt:
“Vâng, con biết tội mình đã phạm,
Lỗi lầm cứ ám ảnh ngày đêm.
Con đắc tội với Chúa, với một mình Chúa,
Dám làm điều dữ  trái mắt Ngài” (Tv 50, 5-6).
Những tâm tình được trải nghiệm trên đây giúp chúng ta trở về với Chúa. Tuy vậy, trước khi trở về với Chúa, chúng ta cần phải hồi tâm cảnh tỉnh, phải trở về với chính mình, nhìn nhận thân phận con người còn vương nhiều lầm lỗi cần được thương xót thứ tha. Trong cuộc sống bon chen quay cuồng, con người có nguy cơ quên mất chính bản thân, thậm chí đánh mất chính mình. Vì không ý thức mình là ai nên người ta dễ kiêu ngạo. Vì cho mình là chuẩn mực nên người ta dễ phủ nhận và loại trừ người khác. Trở về với chính mình để xem xét lại hành vi cử chỉ đã làm, để canh tân sửa đổi, nên con người tốt hơn. Trở về với chính mình còn là việc nhận ra những điểm tốt nơi anh chị em, cảm thông những khiếm khuyết của họ, xây tình liên đới để nâng đỡ và bổ túc cho nhau. Chỉ sau khi đã hồi tâm cảnh tỉnh, chúng ta mới có thể trở về với Chúa, tôn nhận Ngài là chủ đích của đời sống chúng ta và chuyên tâm tuân giữ lời Ngài dạy. Thiên Chúa như người Cha luôn chờ đợi chúng ta trở về.
Một điều kiện căn bản để chứng minh chúng ta có lòng sám hối thật, đó là chúng ta trở về với anh chị em mình. Trở về để nhận ra những người xung quanh là anh chị em con cùng một Cha trên trời, là khiêm tốn nhìn nhận nhiều lần mình đã làm tổn thương họ. Sám hối ăn năn mà không làm hòa với đồng loại, thì chỉ là sám hối giả tạo bề ngoài. Kêu van: Lạy Chúa! Lạy Chúa! mà không thực thi lời Ngài dạy, thì chỉ là những tiếng kêu suông mà thôi. Mùa chay như điểm dừng của người lữ khách để nhìn lại quãng đường đã đi. Mùa chay còn là cơ hội để rũ bỏ mọi lỗi lầm bất xứng. Lòng sám hối giúp ta lấy lại nghị lực và niềm tin để tiếp bước lên đường trong sự thanh thản và bình an.
Nghi thức khai mạc Mùa Chay là lời kêu gọi sám hối trở về. Qua nghi thức lãnh nhận tro trên đầu, chúng ta cảm nhận nguồn cội của mình. Qua việc tưởng niệm Chúa chịu chết, chúng ta tuyên xưng tình Chúa yêu thương. Những thực hành truyền thống trong Mùa Chay như ăn chay, cầu nguyện và chia sẻ, phải hướng chúng ta đến canh tân hối cải, nếu không, sẽ giống như diễn kịch hay trò chơi giải trí hay những hình thức giả tạo bề ngoài (x.Tin Mừng Lễ Tro).
Như người con thứ hoang đàng nhận ra mình lầm lỗi, chúng ta hãy xin Chúa thương tha thứ và ban cho chúng ta niềm vui được sống trong tình Chúa và tình người.
Con người là sa ngã, nhưng thiên thần thì chỗi dậy (Thánh Mary Euphrasia Pelletier)
 

Lễ_tro-160: XÉ LÒNG ĐỪNG XÉ ÁO

Lm. Giuse Hoàng Kim Toan

Một tấm lòng tan nát khiêm cung” (Tv 51, 19), một lễ phẩm mùa chay dâng Chúa chẳng kinh chê Lễ_tro-160

“Một tấm lòng tan nát khiêm cung” (Tv 51, 19), một lễ phẩm mùa chay dâng Chúa chẳng kinh chê. Hành vi trở về với chính mình với lòng sám hối ăn năn, để tìm lại chính mình trong tương quan với Chúa, với anh chị em, sửa lại lỗi lầm, nên hoàn thiện như Chúa mời gọi. Đó là con đường mùa chay, xé lòng chứ đừng xé áo, khó khăn và nhọc nhằn của từng mùa sám hối.

Xé lòng.
Tại sao cần xé lòng chứ đừng xé áo. Chúa mời gọi nhìn vào trong con người thật của mình để sám hối và loại bỏ những hành vi xé áo như đổ lỗi cho người khác, rút lui vào phòng thủ, hoặc dựa vào số đông.
Như Chúa dạy: “Người tốt thì lấy ra cái tốt từ kho tàng tốt của lòng mình; kẻ xấu thì lấy ra cái xấu từ kho tàng xấu. Vì lòng có đầy, miệng mới nói ra.” (Xem Lc 6, 45). Người hay xét đoán người khác, họ đang phóng chiếu cái xấu của mình trên người khác như một tấm bình phong để che đậy cái xấu của mình. Trong một xã hội sống nhiều phức tạp, né tránh về chính mình, đổ lỗi trên người khác là một phóng chiếu thường xuyên.
Thu về phòng thủ. Như người ta thường nhận định về lối sống đối phó và cô lập. Trong hành vi đối phó như những nhà độc tài, thu vào vỏ ốc tiền của, quyền lực, cái tôi của mình để phòng thủ. Nghi ngờ và xem ai cũng như kẻ thù đang tìm cách tấn công mình. Không thể sống với người khác cách hài hoà, lúc nào cũng sống giả tạo với người khác mà lòng đầy những ức chế, thù nghịch. Giống như người tâm bệnh, khổ não, muộn phiền, kéo lê cuộc sống bị ức chế.
Từ bỏ cái tôi. Như người thanh niên giàu có, đến hỏi Chúa “Tôi phải làm gì để nên trọn lành?”. Dễ thôi, buông bỏ cái tôi ích kỷ của mình đi! Không chỉ là không phạm các giới răn nào, mà cuộc sống còn cần sống với người khác, cho người khác và vì người khác, nên Chúa mời gọi người thanh niên: “Về bán tất cả những gì anh có rồi đi theo Chúa” (xem Mc 10, 17 – 27)
Dựa vào số đông. Phô trương cho người khác thấy công đức tu hành của mình như những người đạo đức giả (Mt 6, 5). Một lối sống lấy cái hào nhoáng bên ngoài che lấp cái xấu xa, bỉ ổi con người mình bên trong, như Chúa nói giống “Mồ mả tô vôi” (Mt 23, 27).
Việc chống đối người khác cũng giống như người phóng chiếu lỗi lầm của mình lên người khác, nhưng ở đây có thêm những hành động, lời nói tấn công. Sự chống đối này biểu hiện ở nơi những kinh sư và kỳ lão, họ không thể làm gì được Chúa Giêsu, họ dựa vào lề luật, dựa và truyền thống cha ông để chống đối Chúa công khai. Chúa vẫn ôn tồn dạy các ông: “Sự thật sẽ giải thoát” (Ga 8, 23) và sự thật đó là trở về để nghe tiếng Chúa: “Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi”  (Ga 18, 37)
Dựa vào số đông. Trong lịch sử nhiều lần chứng minh: Sự giả dối lên tiếng nhiều lần, nhiều cách, đến một khi người ta cũng nghĩ đó là sự thật. Đó là sự thật của giả dối lên ngôi. Trong cuộc sống nhiều sự giả dối lên ngôi, không có tội trở nên có tội, điển hình nhất là thập tự giá dành cho Chúa Giêsu, Người vô tội chết như kẻ có tội. Sự giả dối ấy lên ngôi vì lười biếng suy nghĩ, thích những gì người khác mồi sẵn. Lười biếng truy tìm chân lý, để công lý sai lầm chiếm ngôi.
Không dám chịu trách nhiệm về mình, đồng hoá với số đông: “Ai cũng như thế cả!”. Chúa dạy: “Hãy để ý tới điều anh em nghe. Anh em đong đấu nào, thì Thiên Chúa cũng sẽ đong đấu ấy cho anh em, và còn cho anh em hơn nữa.” (Mc 4, 24).
Trở về với chính mình: Xé lòng đừng xé áo. Không ích gì cứ xé áo bên ngoài, sống với anh chị em với lòng ích kỷ, thu về mình, lợi ích cá nhân, mất tính hiệp thông, sống giả hình với Chúa, với anh chị em… Trờ về để sống thật thà, tử tế, yêu thương, gắn bó với Chúa, với tha nhân, sửa chữa lỗi làm chính mình và khiêm cung với lòng sám hối.
Xin Chúa giúp con xé lòng đừng xé áo! Sống điều tích cực hơn, để thấy sự sống Chúa ban phong phú và dồi dào hơn!
 

Lễ_tro-161: XỨC TRO TỎ LÒNG SÁM HỐI

Lm.Jos Tạ Duy Tuyền

Một câu chuyện dạy con  xin lỗi với bà lão bán vé số lan nhanh như “virus” trên mạng xã hội Lễ_tro-161

Một câu chuyện dạy con  xin lỗi với bà lão bán vé số lan nhanh như “virus” trên mạng xã hội Facebook trong những ngày gần đây. Câu chuyện chỉ xảy ra trong một thời gian rất ngắn, xoay quanh 3 nhân vật: đứa con trai, bà mẹ và bà lão bán vé số nhưng chứa đựng trong đó rất nhiều triết lý nhân sinh về lòng thương người, biết nói lời xin lỗi, và đặc biệt là cách giáo dục con của bà mẹ Việt khiến mọi người đầy ngưỡng mộ.
Câu chuyện được diễn ra vào buổi tối hôm ấy trongquán ăncó bà mẹ và đứa con trai đang ngồi ănsángg. Chợt có bà cụ bán vé số tới mời mua, bà mẹ nhẹ nhàng mỉm cười và mua cho bà 2 tờ. Bà thấy thằng nhóc kế bên bà nựng nó tí. Thế là nó la lên và hất bà cụ ra tỏ vẻ khóchịu. Bà mẹ thấy thế xin lỗi bà cụ rối rít. Bà cụ gật đầu và lủi thủi đi trong sự im lặng. Có 1 điều làm tôi khá bất ngờ, nếu đứng ở khía cạnh khác, người mẹ đã la đứa con hay tỏ vẻ khó chịu. Nhưng không, bà mẹ nói với con trai: “Nếu sau này mẹ già mẹ ra ngoài đường bán vé số, bị người ta làm như vậy con sẽ làm gì?”. Cậu con trai bối rối im lặng và thủ thỉ xin lỗi mẹ, mai mốt cậu không làm như vậy nữa. Hai mẹ con mỉm cười và tiếp tục ăn tiếp.
Có thể nói cách giáo dục của bà mẹ này rất hay, không la con, nói từ tốn nhẹ nhàng nhưng làm cho cậu nhóc đau, và hiểu được những gì mình đã gây ra. Đôikhi những lời nhắc nhẹ nhàng của cha mẹ, thầy cô, bạn bè lại giúp chúng ta sửa đổi nhiều hơn là những lời răn đe roi vọt. Từ những chuyện nhỏ nhặt cho đến chuyện lớn lờidạy của mọi người đã làm cho chúng ta thay đổi rất nhiều.
Đúng là không phải ngẫu nhiên mà câu chuyện nhỏ được chia sẻ trên mạng xã hội này lại khiến nhiều người phải suy ngẫm đến thế! Mỗi người khi đọc câu chuyện này đều có những suy nghĩ khác nhau… Có thể là một bài học về cách giáo dục con, hay là về lời xin lỗi của bà lão, và cũng có thể là lờixin lỗi đầy hối hận như cậu bé.
Nhiều lần trong cuộc sống, chúng ta đã “đóng vai” cậu con bé ích kỷ đó. Dè bỉu, coi thường, thậm chí là có những lời nói hoặc hành động xúc phạm đến những người ăn xin, người bán hàng rong,… Có bao giờ sau mỗi lần như thế, về nhà chúng ta ngẫm nghĩ lại: Họ là những người không may mắn như chúng ta, không được đến trường, không có một công việc ổn định, “cơm ăn không đủ no, áo mặc không đủ ấm”, nên chúng ta chí ít cũng phải tỏra cảm thông với những người mảnhđời lầm than đó!
Hôm nay, ngày khởi đầu cho mùa chay thánh,vớihành vi xức tro trên đầu như nhắc nhở chúng ta: “Hỡi người hãy nhớ mình là tro bụi và sẽ trở về bụi tro”. Tro bụi là biểu tượng của sự dòn mỏng của con người, nay còn mai mất, nên khi nhận một ít tro, người tín hữu phải nhớ mình là kiếp phù du. Hãybiết sống đẹp trước mặt mọi người khi ta đang có cơ hội sống bên nhau. Hànhvi này cũng nhắc nhở các tín hữu về nguồn gốc của mình “Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi và con người trở nên một sinh vật”.
Nghi thức xức tro cũng là khởi đầu của mùa thống hối, gợi nhớ cho tín hữu về một thời điểm quan trọng đang bắt đầu liên hệ tới ơn cứu rỗi của họ, đó là Mùa Chay. Tro là dấu chỉ để mỗi người chúng ta đều nhìn nhận mình là tội nhân. Nếu chúng ta thú nhận tội lỗi, Thiên Chúa sẽ tha tội cho chúng ta và sẽ thanh tẩy chúng ta sạch mọi điều bất chính.Với điều kiện chúng ta phải biết nhìn nhận tội lỗi của mình để xin lỗi Chúa và với anh em mà mình đã lỗi phạm.
Tóm lại, mặc dù nguồn gốc của con người hèn kém như tro, như bụi đất nhưng con người được Thiên Chúa yêu thương, cứu chuộc và sau này sẽ được sống lại để hưởng phúc đờiđời. Vì vậy, hãy cố gắng ăn năn đền tội, lập công phúc để được hạnh phúc muôn đời.
Ước gì người ky-tô hữu chúng ta luôn có một lương tâm ngay chính để có thể nhận ra lỗi lầm của mình mà sám hối ăn năn trước mặt Chúa, mà xin lỗi tha nhân. Ước gì đời sống của chúng ta luôn nhận ra sự bất toàn của mình để trông cậy vào ơn Chúa để thắng vượt những cám dỗ của ma quỷ, để luôn trung tín với Chúa. Amen
 

Lễ_tro-162: ÔI! CÁT BỤI TUYỆT VỜI!

Lm. Giuse Đinh Lập Liễm

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã sáng tác được nhiều bài hát có giá trị. Những bài hát đó còn sống với Lễ_tro-162

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã sáng tác được nhiều bài hát có giá trị. Những bài hát đó còn sống với thời gian, nghe mãi không chán. Những bài hát đó không những có giá trị về phương diện âm nhạc, mà nhiều bài còn có giá trị về triết lý nhân sinh, một số bài lại bàng bạc tư tưởng Thánh Kinh. Một trong các bài hát của ông là bài “Kiếp con người” đã mang mầu sắc của sách Sáng thế khi ông mở đầu bằng câu: “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai vươn hình hài lớn dậy”.
    Nhân dịp Lễ Tro sắp tới, ngâm nga và cảm hứng theo bài hát trên, chúng tôi có một vài suy tư về ngày lễ đó để chuẩn bị tâm hồn chúng ta đi vào Mùa Chay thánh mà Hội thánh sắp mở ra cho chúng ta.

I. THIÊN CHÚA DỰNG NÊN CON NGƯỜI
1. “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi – Để một mai vươn hình hài lớn dậy”
     Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn không phải là người Công giáo, nhưng ông có những tư tưởng về kiếp sống con người như chúng ta.
     Sách Sáng thế nói đến việc Thiên Chúa dựng nên trời đất vạn vật từ hư không. Sau khi hoàn tất công việc tạo dựng, Thiên Chúa mới dựng nên con người. Thiên Chúa phán: “Chúng ta làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để con người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất” (St 1,26). Thiên Chúa đã dựng nên con người như thế nào? Thì đây, sách Sáng thế đã mô tả: “Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người” (St 2,7).
    Theo định nghĩa thì “Bụi” là tên chung cho các vật chất rắn có đường kính nhỏ cỡ vài micromét đến nửa milimét. Nghĩa là nhỏ lắm! Với mắt phàm xác thịt thì không thể nào ta nhìn thấy hạt bụi được. Cho dù bạn có đi cắt mắt bằng tia Laser, hoặc đi thẩm mỹ viện sửa mắt cho to thành hai ba mí cũng không thể nào thấy hạt bụi nhỏ li ti này được. Nhưng bạn sẽ “cảm thấy” rất rõ ràng nếu hạt bụi này vướng trong mắt…
    Đối với con người, bụi là cái gì dơ bẩn, là biểu hiệu của cái gì hoang tàn và chết chóc. Thế mà Thiên Chúa đã dựng nên con người bằng những hạt bụi li ti như vậy đó. Vì thế, ngày nay người ta thường nói về thân xác con người là “xác đất vật hèn”.

 2. “Ôi! cát bụi tuyệt vời”
    Là người Công giáo, chúng ta tin là nếu hạt bụi có được hoá kiếp là nhờ tình thương của Thiên Chúa. Vì nếu không, muôn đời hạt bụi vẫn mãi mãi là hạt bụi.

    Sách Sáng thế đoạn 2 câu 7 nói rõ: “Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật” (St 2,7).
    Con người sinh ra từ bụi đất nhưng con người không bằng bụi đất, vì con người có hơi thở và hơi thở này là hơi thở sự sống của Thiên Chúa, đến từ Thiên Chúa. Các muông thú động vật cũng có hơi thở, nhưng sẽ chết đi và biến thành tro bụi. Con người khác xa các loài thụ tạo, vì sự sống của con người đến từ Thiên Chúa, Đấng hằng sống. Ngài là sự sống: “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ” (St 1,27).
    Con người được Thiên Chúa dựng nên giống Ngài, nên con người cũng sẽ được như Ngài là sống bất diệt, chứ không phải để chết như vạn vật. Chính vì tình yêu mà Thiên Chúa đã biến đổi thân phận của hạt bụi. Và hạt bụi đó được Thiên Chúa biến hoá thành con người giống hình ảnh Chúa để được sống và sống dồi dào trong tình Chúa yêu thương, trong sự thuận hoà với đồng loại.
    Ôi! Cát bụi tuyệt vời! Cảm nghiệm về tình yêu Thiên Chúa đối với con người hèn mọn, từ đời đời đã yêu thương và đưa con người lên làm bạn thân thiết với Ngài, nhất là cho con người được tham gia vào chức vụ linh mục của Chúa Kitô, linh mục nhạc sĩ Kim Long đã sáng tác bài “Tình yêu Thiên Chúa”, trong đó có câu:
Bụi tro, ôi thân con là bụi tro đâu đáng
Mà Chúa cao siêu ngập tầng trời
Đã khắc tên con vào lòng Người
Nên bạn tâm phúc từ đây
Giữa hàng khanh tướng quyền uy.

II. NHƯNG CON NGƯỜI ĐÃ ĐI HOANG
    “Bao nhiêu năm làm kiếp con người – Chợt một chiều tóc trắng như vôi”
    Thiên Chúa là Đấng thiện hảo. Sau khi dựng nên vạn vật và con người, Thiên Chúa rất hài lòng: “Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra là rất tốt đẹp” (St 1,31)
    Sau khi đã dựng nên con người, Thiên Chúa đã đặt con người vào trong vườn địa đàng, để hưởng mọi thành quả Thiên Chúa đã dựng nên, và Ngài lại còn ban cho con người có quyền trên tất cả.
    Tuy thế, con người cũng phải bị thử thách xem có trung thành với Chúa không. Người phán với con người: “Hết mọi trái cây trong vườn, ngươi cứ ăn, nhưng trái cây cho biết điều thiện điều ác, thì ngươi không được ăn, vì ngày nào ngươi ăn, chắc chắn ngươi sẽ phải chết” (St 2,16-17).
    Nhưng con người đã không tuân lệnh Chúa, theo lời khuyên nhủ của con rắn là ma quỉ, đã cả gan ăn trái cấm đó. Con người đã bị đuổi ra khỏi vườn địa đàng và mất hết mọi hồng ân hồn xác mà Thiên Chúa đã ban cho lúc ban đầu.
    Thiên Chúa đã ban mọi hồng ân cho con người, trong các hồng ân ấy sự tự do, một hồng ân mà Thiên Chúa chỉ dành cho con người. Nhưng sau khi con người dùng sự tự do đó mà đi nghịch lại với ý muốn của Thiên Chúa, thì con người đã từ chối sự thánh thiện và sự tốt lành mà Thiên Chúa ban. Con người đã đi vào hư vô, vào quãng “không”. Có nghĩa là con người chìm đắm trong những sự không tốt lành, không thánh thiện, không yêu thương, không bền vững. Con người bị rơi vào vùng bóng tối, vào kiếp đoạ đầy: “Người sẽ phải đổ mô hôi trán mới có bánh ăn, cho đến khi trở về với đất, vì từ đất, người đã được lấy ra. Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất” (St 3,19).
    Làm kiếp con người là vậy đó! Cái sự đau khổ của con người chịu, càng đau khổ hơn vì con người đã được nếm mùi hạnh phúc, đã biết thế nào là được yêu. Cũng như khi bị tù đầy mới khát khao những ngày được tự do; khi bị thất tình mới biết giá trị của những ngày sống hạnh phúc trong tình yêu.
    Tuy con người đã lìa bỏ Chúa, nhưng Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi con người. Thiên Chúa vẫn yêu thương, vẫn mời gọi, vẫn chờ đợi con người. Ngài đã sai Con của Ngài đến giải thoát chúng ta, để toàn thể con người không còn phải trở về kiếp bụi nữa. Chúa Giêsu sẽ cho chúng ta được phục sinh vinh hiển với Ngài. Đó là giao ước của Ngài với con người, với điều kiện là con người biết trở về với Ngài và biết bác ái yêu thương nhau. Nhưng, cũng phải kiên nhẫn đợi chờ. Thiên Chúa như người cha già hằng ngày đợi chờ mong ngóng tin vui chúng ta trở lại với Chúa.

III. CON NGƯỜI CẦN PHẢI TRỞ VỀ
    “Xin úp mặt bùi ngùi – Từng ngày qua mỏi ngóng tin vui”
    Hôm nay là ngày Thứ tư Lễ Tro, bắt đầu Mùa Chay thánh, thời gian thuận tiện giúp con người có dịp nhớ lại mình mà làm hoà với Chúa. Con người vì đi hoang nên hay quên bản thân mình, không nhớ mình là bụi tro và có thể trở về với bụi tro bất cứ lúc nào:
Nhiều khi quên thân mình bụi tro
Con người say tìm bóng phù du
Kìa xem, núi cao lên rồi mòn
Hoa tươi lên rồi tàn qua mau ngàn giấc mơ vàng. (Bụi tro – Phanxicô)
    Thái độ của chúng ta lúc này phải chăng là “úp mặt bùi ngùi” để xin ơn tha thứ? Đúng vậy, Thiên Chúa sẽ thứ tha cho tất cả những ai biết ăn năn sám hối vì người ta thường nói: “Đánh kẻ chạy đi, không đánh người chạy lại”. Đang khi sám hối quay về với Chúa là chúng ta đang “Từng ngày qua mong ngóng tin vui”. Chắc chắn tin vui phải đến với con người sám hối, vì Thiên Chúa như người cha đang mong ngóng đứa con đi hoang trở về.
    Chúng ta tin tưởng vào Chúa Giêsu. Ngài là Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người. Ngài sẽ giao hoà chúng ta với Chúa Cha. Ngài đóng một vai trò rất đắc lực trong việc hoà giải này.
    Chúng ta còn nhớ đoạn Kinh thánh nói về việc ông Abraham can thiệp cho thành Sôđôma. Ông có tài cù cưa mặc cả với Chúa. Ông nại lý do thân con chỉ là… tro bụi, xin Chúa tha cho anh em đồng loại “cả thành”. Để Thiên Chúa nghe mà mủi lòng. Ông nói: “Mặc dầu con chỉ là tro bụi, con cũng xin mạn phép thưa với Chúa: giả như trong số năm mươi người lành lại thiếu mất năm, vì năm người đó, Ngài sẽ phá huỷ thành sao?” Chúa đáp: “Không, Ta sẽ không phá huỷ, nếu Ta tìm được bốn mươi lăm người” (St 18,27-28).
    Đọc Kinh thánh ta thấy, đây không phải là một lần đầu, mà cả ngàn lần sau này con người cứ xin lỗi rồi phạm tội, cứ hứa rồi lại thất hứa với Thiên Chúa. Nhưng Thiên Chúa đầy tình thương, Ngài biết thừa con người thề hứa như thế đấy, mà không phải thế. Ngài đã biết tỏng con người là hay sa ngã, hay phạm tội, hay thất hứa, vẫn chứng nào tật ấy, nhưng Chúa vẫn cứ thương.
    Trong thánh lễ hôm nay, mỗi người sẽ nhận được một chút tro xức trên đầu. Trong Cựu ước, việc xức tro và mặc áo nhặm được dùng, để thực hành và biểu lộ lòng thống hối cá nhân hay toàn thể cộng đồng Israel. Tro chỉ thân xác chúng ta là tro bụi, sẽ phải chết (St 3,18-27; Gb 6,26; Est 4,13; Giona 3,6).
    Ngày xưa, khi ai làm việc gì không chính đáng, họ thường xức tro trên đầu, để tỏ dấu chỉ ăn năn thống hối quyết tâm làm điều lành, tránh sự xấu. Tro là dấu chỉ lòng ăn năn thống hối. Mỗi khi trông thấy tro bụi chúng ta liên tưởng ngay đến những gì đã qua, như một cánh đồng, một căn nhà, một khu phố sau cơn hoả hoạn chỉ còn lại đống tro tàn.
    Xức tro là để tỏ lòng ăn năn sám hối. Ngày nay, Giáo hội chỉ dùng một chút tro tượng trưng để nhắc nhở ta. Xức tro trên đầu không quan trọng bằng xức tro trong tâm hồn. Hãy xức tro vào tâm hồn để ta thấy tâm hồn mình đã ra hoen ố vì tội lỗi. Hãy xức tro vào tâm hồn, để ta thấy rõ ta đã bôi tro trát trấu vào khuôn mặt Thiên Chúa, làm lem luốc khuôn mặt Hội thánh, làm ô danh cho đạo thánh Chúa. Hãy xức tro vào tâm hồn, để ta thấy rõ ta đã làm cho mối quan hệ với tha nhân bị vẩn đục vì những tham nhũng, những ích kỷ, những nhỏ nhen của ta. Hãy xức tro vào tâm hồn, để lòng ta xót xa, đau đớn, hối hận vì những tội lỗi đã phạm.
    Do đó, Mùa Chay phải là mùa chúng ta biết “úp mặt bùi ngùi”, biết nhắc nhở mình là thân tro bụi, biết Chúa đã tha tội và đang mong mỏi chúng ta trở về, để ăn năn thống hối những lỗi lầm đã xúc phạm đến Chúa.
    Khi được xức tro trên đầu, chúng ta sẽ được nghe một câu nhắc nhở: “Hãy ăn năn sám hối và đón nhận Tin mừng” (Mc 1,15). Thái độ cúi đầu nhận tro là bước đầu để chúng ta tỏ lòng khiêm nhường, hạ mình nhìn nhận thân phận hèn yếu, rất cần tình thương và ơn cứu độ của Chúa. Đó cũng là dấu hiệu tỏ ra chúng ta muốn trở về với Ngài.
    Ôi! Cát bụi tuyệt vời! Nhờ Chúa Giêsu mà hạt bụi tôi đây, không còn phải trở về kiếp bụi nữa, mà tôi sẽ được phục sinh. Nhờ Chúa Giêsu mà chúng ta sẽ được sống vinh hiển như Ngài. Chúng ta đã hơn vạn vật là Chúa đã cho chúng ta cùng trở về, lại được sống hoà thuận với mọi người trong nhà Chúa.
    Như vậy tro bụi hôm nay sẽ luôn nhắc nhở ta là hãy ăn năn sám hối, hãy luôn bỏ đường tội lỗi, hãy luôn sống thánh thiện, luôn yêu thương anh em, để lúc nào chúng ta cũng sẵn sàng về cùng Thiên Chúa, để được phục sinh vinh hiển, để được hưởng hạnh phúc trường sinh với Ngài trên thiên quốc.
 

Lễ_tro-163: HÀNH TRÌNH HOÁN CẢI

JM. Lam Thy

Trong Sứ điệp Mùa Chay 2017, Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô viết: “Mùa Chay dẫn đưa chúng ta Lễ_tro-163

Trong Sứ điệp Mùa Chay 2017, Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô viết: “Mùa Chay dẫn đưa chúng ta vào một cuộc hành trình thực sự của hoán cải, qua đó chúng ta có thể tìm lại hồng ân Lời Chúa, được thanh tẩy khỏi những tội lỗi làm mờ mắt chúng ta, và phục vụ Chúa Ki-tô hiện diện nơi những anh chị em cùng quẫn của chúng ta.” Sang đến Sứ điệp Mùa Chay 2018, ĐTC nhấn mạnh: “Nhất là tôi mời gọi các phần tử của Giáo Hội hãy nhiệt thành tiến bước trên hành trình Mùa Chay, được nâng đỡ nhờ các hoạt động làm phúc bố thí, chay tịnh và kinh nguyện. Nếu đôi khi lòng bác ái dường như bị tắt lịm trong bao nhiêu tâm hồn, thì nó vẫn không bị lịm đi trong con tim của Thiên Chúa! Ngài luôn ban cho chúng ta những cơ hội mới để chúng ta có thể tái bắt đầu yêu thương.” Như vậy, “cuộc hành trình thực sự của hoán cải” chinh là “hành trình Mùa Chay”.
Mở đầu hành trinh Mùa Chay là Lễ Tro. Nghi thức xức tro trong Lễ Tro cốt ý nhắc nhở các tín hữu: “Hãy nhớ rằng: ngươi là bụi tro và sẽ trở về bụi tro”. Đúng vậy, thân con “chỉ là thân tro bụi” (St 18, 27). Nhưng tại sao lại có quan niệm đó? Quả thực cuộc sống con người trôi nổi phù phiếm (phù thế nhân sinh: ) chẳng khác gì “cát bụi” (trần ai: ). Ngoài “cát bụi”, còn có “bụi đời” (trần thế: ), “trong đám bụi” (trần gian: ), “cõi trần” (trần hoàn: ), “cõi đời” (trần giới: ),“bụi hồng” (hồng trần: ) … đều chung một nghĩa: cuộc đời cát bụi. Vì thế nên mới gọi cuộc đời là cõi trần ai, cõi trần thế, cõi hồng trần, hoặc vắn tắt hơn: Cõi trần, cõi thế. Vâng, “Cuộc sống con người nơi dương thế, chẳng phải là thời khổ dịch sao?” (G 7, 1) và vì thế cuộc đời được coi là bể trầm luân, bể khổ (“Đời là bể khổ”), nên khi con người quá đau khổ thường than thở mình lâm cảnh “trần ai đau khổ, kêu trời chẳng thấu!”. Điều này không phải chỉ do con người tự bi thảm hoá cuộc sống mong manh, đau khổ của mình, mà còn được chính Ông Trời khẳng định: “Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất” (St 3, 19).
Thân xác con người được tạo thành từ bụi đất (“Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật” – St 2, 7), nên khi thân xác hư nát sẽ trở về đất bụi. Cũng bởi vì Nguyên tổ loài người nghe lời xúi giục của ma quỷ mà vi phạm giới luật, nên Thiên Chúa đã phán: “Ngươi sẽ phải đổ mồ hôi trán mới có bánh ăn, cho đến khi trở về với đất, vì từ đất, ngươi đã được lấy ra. Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất.” (St 3, 19). Tổ phụ Ap-ra-ham cũng đã thưa với Chúa: “Con chỉ là thân tro bụi”(St 18, 27), ngụ ý thân xác mình được tạo thành từ tro bụi thì khi chết cũng trở về bụi tro mà thôi. Còn tiên tri Giê-rê-mi-a thì mô tả cái chết là “thung lũng tử thi và tro thiêu xác” (Gr 31, 40). Quả đúng là “thân xác dễ hư nát này khiến linh hồn ra nặng, cái vỏ bằng đất này làm tinh thần trĩu xuống vì lo nghĩ trăm bề.” (Kn 9, 15).
Đó là lý do giải thích tại sao trong Cựu Ước có thói quen dùng tro để thực hành khổ chế trong cách ăn chay hãm mình để làm đẹp lòng Thiên Chúa, như ngôn sứ Isaia đã viết: “Phải chăng đó là cách ăn chay mà Ta ưa chuộng trong ngày con người phải thực hành khổ chế? Cúi rạp đầu như cây sậy cây lau, nằm trên vải thô và tro bụi, phải chăng như thế mà gọi là ăn chay trong ngày các ngươi muốn đẹp lòng Đức Chúa?” (Is 58, 5). Có thể đọc thấy ý nghĩa này trong rất nhiều sách Kinh Thánh Cựu Ước (Gr 6, 26; Is 58, 5; Đn 9, 3; Gn 3, 6; Gđt 4, 11-15.9, 1; Mcb 3, 47…). Sang đến Tân Ước, thì chính Đức Giê-su khi quở trách các thành (Kho-ra-din, Bết-xai-đa) đã chứng kiến nhiều phép lạ Người làm mà không chịu ăn năn hối cải, Người đã nhắc đến việc dùng vải thô và tro để biểu thị sự sám hối: “Khốn cho ngươi, hỡi Kho-ra-din! Khốn cho ngươi, hỡi Bết-xai-đa! Vì nếu các phép lạ đã làm nơi các ngươi mà được làm tại Tia và Xi-đôn, họ đã mặc áo vải thô và rắc tro lên đầu tỏ lòng sám hối.” (Mt 11, 21; Lc 10, 13).
Dựa theo truyền thống đó, Giáo hội thiết lập Phụng Vụ Mùa Chay. Theo “Normæ de Anno Liturgico et Calendario” (AC : Những Quy luật tổng quát về Năm Phụng vụ và Niên lịch) thì “Phụng Vụ Mùa Chay nhằm giúp các dự tòng và các tín hữu chuẩn bị cử hành Lễ Vượt Qua. Các dự tòng được chuẩn bị qua những giai đoạn khác nhau của việc nhập đạo, còn các tín hữu thì qua vịêc tưởng niệm bí tích Thánh Tẩy và việc sám hối.” (AC 27). Như vậy thì có thể hiểu Mùa Chay là mùa toàn Giáo hội thực hiện đời sống chay tịnh (thanh tẩy + sám hối), chuẩn bị tâm hồn đón mừng Chúa Phục Sinh. Sống chay tịnh không chỉ giới hạn trong việc “ăn chay” (Từ nguyên: “ăn không dùng thịt, cá và các chế phẩm từ thịt, cá”), mà còn bao gồm sống ngay thẳng, thật thà (nên tục ngữ VN mói có câu “Ăn mặn nói ngay hơn ăn chay nói dối”) và nhất là sống tinh thần bác ái Ki-tô giáo. Tuy nhiên, theo thói quen, người ta thường dùng tiếng ăn chay để chỉ việc hãm mình ép xác, tu thân tích đức. Vì thế, cứ tới Mùa Chay là ai cũng nghĩ tới việc ăn chay. Vấn đề đặt ra là phải suy nghĩ xem nên ăn chay như thế nào cho đúng tinh thần Ki-tô giáo, đúng tinh thần Phúc Âm.
Tìm hiểu ý nghĩa và mục đích việc ăn chay trong Thánh Kinh thấy rất đa dạng: Các tín hữu ăn chay là để thờ phượng Thiên Chúa, làm đẹp lòng Thiên Chúa như một nghi thức tôn giáo, một việc đạo đức; để được Thiên Chúa nhậm lời khi cầu nguyện, đi kèm với cầu nguyện để khu trừ ma quỷ; để tỏ lòng ăn năn, sám hối và đi kèm với than khóc để bày tỏ sự buồn bã, hối hận, thương tiếc, lo sợ; đồng thời để đền vì tội lỗi đã phạm, cầu xin Thiên Chúa tha tội. Thật không thể ngờ cách đây hơn 2500 năm, ngôn sứ Isaia đã có một quan niệm rất mới về ăn chay: Ăn chay với mục đích đầy tính nhân đạo là thực hiện công bằng và bác ái (“Cách ăn chay mà Ta ưa thích chẳng phải là thế này sao: mở xiềng xích bạo tàn, tháo gông cùm trói buộc, trả tự do cho người bị áp bức, đập tan mọi gông cùm? Chẳng phải là chia cơm cho người đói, rước vào nhà những người nghèo không nơi trú ngụ; thấy ai mình trần thì cho áo che thân, không ngoảnh mặt làm ngơ trước người anh em cốt nhục.” – Is 58, 6-7). Với mục đích ấy, ngôn sứ Isaia lên án cách ăn chay chuộng hình thức bề ngoài mà thực chất bên trong chỉ lo kiếm lợi cho mình, áp bức kẻ khác, ăn chay để  “mồm loa mép giải” cãi vã, hoặc “thượng cẳng chân hạ cẳng tay” đánh lộn tàn bạo (“Này, ngày ăn chay, các ngươi vẫn lo kiếm lợi, vẫn áp bức mọi kẻ làm công cho mình. Này, các ngươi ăn chay để mà đôi co cãi vã, để nắm tay đánh đấm thật bạo tàn.” – Is 58, 3-4).
Dùng vải thô và xức tro lên đầu là những hình thức bên ngoài biểu lộ tâm tình ăn năn sám hối bên trong. Nhưng nếu chỉ thực hành như kiểu phô trương “ra vẻ ta đây”, mà trong lòng vẫn “lo kiếm lợi…, áp bức bóc lột…, đôi co cãi vã…, đánh đấm bạo tàn…” (ibid), thì cũng kể như không. Như vậy là đã rõ, ăn chay cốt yếu là một việc làm trong nội tâm hơn là việc thể hiện ra bên ngoài. Ăn chay cần kín đáo chứ không cần phô trương (“Còn khi ăn chay, anh em chớ làm bộ rầu rĩ như bọn đạo đức giả: chúng làm cho ra vẻ thiểu não, để thiên hạ thấy là chúng ăn chay. Còn anh, khi ăn chay, nên rửa mặt cho sạch, chải đầu cho thơm, để không ai thấy là anh ăn chay ngoại trừ Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh.” – Mt 6, 16-18).
Ăn chay phải là “Đừng xé áo, nhưng hãy xé lòng. Hãy trở về cùng Đức Chúa là Thiên Chúa của anh em” (Ge 2, 13). Điều quan trọng là ăn năn hối cải (xé lòng) trở về với Thiên Chúa, hơn là hình thức phô trương bên ngoài (xé áo). Nói như thế không có nghĩa là không cần ăn chay mà chỉ cần đối xử với nhau cho có tình nghĩa, hay chỉ cần thực hiện công lý và bác ái thôi. Thiên Chúa muốn rằng “các điều này vẫn cứ phải làm, mà các điều kia thì không được bỏ” (Mt 23, 23). Vì hình thức và nội dung phải đi đôi và gắn kết với nhau: cả hai phải vừa là tiền đề vừa là kết quả của nhau. Vì thế, khi ăn chay, chúng ta vừa ép xác (nhịn ăn hoặc ăn ít) để thực hiện sự khổ chế, đồng thời phải thực hiện nội dung là hãm mình (tránh xa mọi chuớc cám dỗ, sám hối mọi lỗi lầm, và nhất là thực thi những “chứng tá bác ái”). Điểm cần lưu ý là “Nội dung quyết định hình thức và chỉ có nội dung thiện hảo mới làm cho hình thức thể hiện bên ngoài có giá trị”. Nếu chỉ có hình thức bên ngoài, thì hình thức đó hoàn toàn vô giá trị.
Ăn chay hãm mình chính là thực hành việc ăn năn sám hối, nhưng cần phải xác tín là thông qua việc làm thiết thực ấy, con người của mình phải được đổi mới toàn diện trong niềm tín thác và hy vọng vào Tin Mừng Cứu Độ. Kiên định với niềm tin ấy, “quan hệ với Chúa Ki-tô ngày càng vững chắc hơn, vì chỉ trong Người mới có sự chắc chắn để hướng nhìn về tương lai và bảo đảm một tình yêu chân thực và lâu bền.” (Tông thư “Porta Fidei”, số 15). Vì thế, “Trong thời ấy, anh em sẽ được hân hoan vui mừng, mặc dầu còn phải ưu phiền ít lâu giữa trăm chiều thử thách. Những thử thách đó nhằm tinh luyện đức tin của anh em là thứ quý hơn vàng gấp bội, – vàng là của phù vân, mà còn phải chịu thử lửa. Nhờ thế, khi Đức Ki-tô tỏ hiện, đức tin đã được tinh luyện đó sẽ trở thành lời khen ngợi, và đem lại vinh quang, danh dự. Tuy không thấy Người, anh em vẫn yêu mền, tuy chưa được giáp mặt mà lòng vẫn kính tin. Vì vậy, anh em được chan chứa một niềm vui khôn tả, rực rỡ vinh quang, bởi đã nhận được thành quả của đức tin, là ơn cứu độ con người.” (1Pr 1, 6-9).
Tóm lại, người Ki-tô hữu không chỉ ăn chay trong thời gian Mùa Chay, mà hãy ăn chay nhiều hơn, thậm chí ăn chay trong suốt cả lộ trình trần thế, bằng cách ăn năn sám hối vì tội lỗi đã mắc phạm với Thiên Chúa, với anh em; đồng thời thực hành “Chứng tá Bác Ái” đúng Lời Chúa dạy: “Gặp anh em đói thì cho ăn, khát thì cho uống, anh em là khách lạ thì tiếp rước tử tế, anh em trần truồng thì cho mặc, đau yếu thì tới viếng thăm, bị tù đày thì hỏi han chia sẻ.” (Mt 25, 35-37). Muốn được vậy, hãy phó thác thời điểm hồng phúc này cho Mẹ Thiên Chúa, được tuyên xưng là “người có phúc” vì Mẹ “đã tin” (“Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em.” – Lc  1, 45). Xin lắng nghe và thực hành theo lời hướng dẫn của ĐGH Phan-xi-cô:
“Mùa Chay” của Con Thiên Chúa chính là sự bước vào sa mạc của thế giới thụ tạo, để làm cho sa mạc ấy tái trở thành mảnh vườn của sự hiệp thông với Thiên Chúa, mà mảnh vườn ấy vốn đã từng là mảnh vườn của sự hiệp thông trước khi con người sa ngã phạm tội (xc. Mc 1,12-13; Is 51,3). Trong Mùa Chay của mình, một lần nữa chúng ta lại muốn cùng đi trên một con đường, để mang đến cho thế giới niềm hy vọng của Chúa Ki-tô rằng, “nó sẽ được giải thoát , không còn phải lệ thuộc vào cảnh hư nát, nhưng được cùng với con cái Thiên Chúa, chung hưởng tự do và vinh quang” (Rm 8,21). Chúng ta đừng để cho thời gian thuận tiện này trôi đi cách vô ích! Chúng ta hãy cầu xin Thiên Chúa giúp sức để chúng ta biết chọn đi theo con đường hoán cải đích thực.” (Sứ điệp Mùa Chay 2019). Ước được như vậy.
Ôi! “Lạy Chúa, ngày hôm nay, tất cả chúng con ăn chay hãm mình, để bước vào mùa tập luyện chiến đấu thiêng liêng. Xin giúp chúng con hằng biết sống khắc khổ, để ngày thêm vững mạnh mà chiến thắng ác thần. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con. Amen.” (Lời nguyện nhập lễ Lễ Tro).
 

Lễ_tro-164: MÙA CHAY NÓI CHUYỆN ĂN CHAY

Fx. Đỗ Công Minh

Còn nhớ những ngày còn thơ ấu, chúng tôi nghe nói đến thứ tư lễ tro là trong lòng cảm thấy rộn Lễ_tro-164

Còn nhớ những ngày còn thơ ấu, chúng tôi nghe nói đến thứ tư lễ tro là trong lòng cảm thấy rộn lên một niềm vui. Vui vì những ngày ấy, vào tối thứ ba trước đó, bố tôi gọi là thứ ba béo, được ăn thêm bữa đêm, quãng 10 giờ với cháo gà, xôi nóng để bụng no, ngày mai ăn chay, kiêng thịt. Sáng ra chúng tôi được ăn uống bình thường (ăn xôi tối hôm trước ) tức là không phải nhịn ăn sang, trong lúc bố mẹ và các anh chị lớn thì giữ chay. Bữa cơm trưa thế nào cũng có món canh chua cá lóc hay tôm luộc cưốn bánh tráng, chả cá., mực xào. Ngoài ra còn Salad trôn dầu dấm. Xem ra còn ngon hơn ngày thường. Bữa tối thì ăn ít hay ăn nhẹ nên ai nấy đều ăn trưa cho no căng bụng. Thế cũng là hoàn tất một ngày ăn chay.
      Còn khoản nhận tro, bọn trẻ chúng tôi được dịp đi lễ rồi chạy ra ngoài chơi, vì chờ người lớn vào nhận tro xức trên đầu. Đứa nào đứa nấy vạch đầu nhau xem tro đen hay xám; xem có đứa nào bị dính nhọ nồi do than cạo ra không, vì cứ nghĩ cha lấy tro trong bếp nhà xứ ra bôi trên đầu giáo hữu .
      Lớn lên thêm một chút, đến tuổi Khôn, tôi bắt đầu phải giữ chay như người lớn. Không biết người khác thế nào chứ tôi thấy ngày chay tịnh sao ma quỉ cám dỗ ghê gớm. Những ngày thường, có khi tôi không ăn sáng mà trưa đến cũng chẳng thấy đói. Thế nhưng, ngày chay mới quãng 10 giờ là thấy kiến bò bụng. Còn tối đến, gọi là ăn ít đi, thay vì mọi hôm 3 chén cơm, tôi chỉ ăn một chén thật đầy mà vẫn thòm thèm.
     Tôi cũng chẳng rõ ai đặt ra cách ăn chay như thế, chỉ biết cha mẹ dạy thì làm theo. Có lần tôi hỏi mẹ, mẹ bảo đó là luật đạo có từ thời mẹ chưa đẻ nữa kìa. Thôi thì đi đạo phải giữ luật đạo. Điều đó thì cũng phải thôi. Nhưng tôi vẫn thắc mắc ăn chay để làm gì? Sau này trưởng thành, tôi vẫn giữ chay nhưng không còn máy móc như thế. Ngày ăn chay dĩ nhiên là kiêng thịt, tôi nhắc mẹ lúc này cũng đã chớm già là: đi chợ không mua đồ ăn ngon hơn ăn thịt, theo kiểu cá lóc nướng trui, tôm hùm hay cua xào chua ngọt, mà cần nhín ăn, như cơm cá kho, cá khô hay trứng chiên, đậu hũ, rau luộc chấm nước mắm dằm trứng vịt luộc. Cô em tôi là một ca viên thì còn tích cực hơn, cô đặt vấn đề: dè xẻn để ngày mai ăn bù thì cũng như không. Theo cô, mỗi người phải biết hy sinh phần mình trong việc ăn uống để giúp cho người nghèo khó hay góp vào công tác bác ái từ thiện. Trong ngày ăn chay phải biết hãm mình nhưng không ủ rũ, than trách thì mới được phúc. Cô trưng dẫn lời Chúa trong Phúc âm, nào là Chúa dạy khi ăn chay thì đừng tỏ ra lầm lì, buồn sầu ra bộ thiểu não để kể công với Chúa. Nào là ăn chay thì phải giữ mồm giữ miệng, không chửi bới, nói hành nói xấu lẫn nhau, không vu vạ cáo gian cho ai, không chỉ ngày chay mà tập luyện để mỗi ngày đều giữ như vậy. Ăn chay còn là giúp nhau làm một việc tốt cho ai đó trong ngày. Ăn chay còn là quyết tâm từ bỏ một tật xấu nào đó. Ăn chay là làm hòa với những người mình hiềm khích. . .Cô nói một tràng khiến mẹ tôi ngạc nhiên: Con học ở đâu vậy? Cô trả lời: Con học Giáo lý bao đồng, Giáo lý viên dạy và cha sở cũng dạy như thế. Cha còn dạy : thuở bé thì thật thà, lễ phép, giữ gìn kỷ luật nơi nhà trường, đoàn hội, gia đình; vâng lời cha mẹ, bề trên. Nay lớn rồi thì phải biết tuân giữ pháp luật, luật lệ giao thông, tôn trọng và giúp đỡ người khác nhất là những người tàn tật, già cả. Lớn hơn nữa, khi ra đời không làm ăn gian dối, lọc lừa, không chè chén say sưa, giữ gìn gia phong, gia đạo. . . đó mới là sống Đạo thật.
         À ! Thì ra như vậy. Bấy giờ, lúc đã ngoài 40 tuổi tôi mới hiểu rõ ý nghĩa việc ăn chay. Mẹ tôi thì cứ than thở: Ai mà biết, cứ tưởng ăn chay kiêng thịt như ông bà dạy là phải đạo. Thôi từ nay gia đình mình phải đổi cách sống, ăn chay là để chia sẻ phần mình có cho người nghèo, ăn chay là thay đổi tính mê nết xấu đấy nhé!
         Thế đấy, gia đình tôi đã hiểu thêm được nhiều, chỉ vì không chịu học giáo lý và nghe lời các cha giảng đâm ra . . . ăn chay sai cả đám . Mẹ tôi cười :”Thôi thì từ nay sửa nhé! Chúa giàu lòng thương xót mà”.
 

Lễ_tro-165: Thanh luyện

Thứ Tư Lễ Tro:
Còn anh, khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh là Đấng hiện diện nơi kín đáo. (Mt 6,1-6.16-18)

Mẹ Terêsa Calcutta dạy: “Hãy cầu nguyện để có thể hiểu Chúa Giêsu đã yêu thương chúng ta Lễ_tro-165

Mẹ Terêsa Calcutta dạy: “Hãy cầu nguyện để có thể hiểu Chúa Giêsu đã yêu thương chúng ta như thế nào, và để có thể yêu thương những kẻ khác giống như vậy; và hãy cầu nguyện, ngõ hầu chúng ta không ngăn cản công việc của Thiên Chúa”.
Qua đoạn Tin Mừng, Đức Giêsu mời gọi mọi người hãy thanh luyện bản thân bằng những lời cầu nguyện cách kín đáo. Quả thế, mối tương quan thân mật với Thiên Chúa chỉ tồn tại khi người ta có đời sống cầu nguyện đích thực. Trong cầu nguyện, chúng ta đi vào cuộc đối thoại với Người, và được sống trong sự hiện diện của Người: “Anh e hãy ở lại trong Thầy, như Thầy ở trong anh em”. Lúc này mối thân tình với Thiên Chúa trở thành trung tâm của đời sống đức tin, làm cho chúng ta biết sống theo gương thánh thiện của Người.
Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết sống đẹp ý Chúa bằng cách thực hiện những gì Ngài mời gọi. Amen.
Suy niệm Tin Mừng hằng ngày,
Chấm nối chấm…
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây