Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 1 MC-B Phần I Bài 1-50: Chúa bị cám dỗ

Thứ sáu - 16/02/2018 06:32
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 1 MC-B Phần I Bài 1-50: Chúa bị cám dỗ
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 1 MC-B Phần I Bài 1-50: Chúa bị cám dỗ
MC1-B Phần I Bài 1-50: Chúa bị cám dỗ
MC1-B1. Vào Hoang Địa. 2
MC1-B2. Đứa Con Của Kẻ Vô Thần. 3
MC1-B3. SÁM HỐI VÀ TIN VÀO TIN MỪNG -  Giêrônimô Nguyễn Văn Nội 3
MC1-B4. HÃY SÁM HỐI VÀ TIN VÀO TIN MỪNG -  Lm. Nguyễn Hưng Lợi DCCT.. 5
MC1-B5. Suy Niệm của Lm. Trọng Hương. 6
MC1-B6. SÁM HỐI VÀ TIN VÀO TIN MỪNG - Lm. VIKINI. 7
MC1-B7. ĐỨC GIÊ-SU CHỊU CÁM DỖ TRƯỚC KHI CÔNG KHAI RAO GIẢNG TIN MỪNG - JKN.. 8
MC1-B8. Từ bỏ tội lỗi và trung tín với tình yêu Thiên Chúa. 10
MC1-B9. NHỮNG CÁM DỖ CỦA MÙA CHAY - Lm. Thu Băng, CMC.. 11
MC1-B10. Con Đường Trở Về - Lm. Bùi Mạnh Tín. 11
MC1-B11. Đức Giêsu chịu cám dỗ - Lm. Đan Vinh. 12
MC1-B12. TRUNG THÀNH VỚI LỜI GIAO ƯỚC PHÉP RỬA -  Lm. Trần Bình Trọng. 15
MC1-B13. YẾU TỐ CON NGƯỜI. 15
MC1-B14. CSTM/76- CHIẾN THẮNG CÁM DỖ.. 16
MC1-B15. PV/128- NGOẠI TRỪ TỘI LỖI. 17
MC1-B16. PV 131- BỊ CÁM DỖ BỞI VIỆC LÀNH.. 17
MC1-B17. PV/133- TÁI TẠO CUỘC SỐNG.. 18
Mc1-B18: CẦU NGUYỆN – CHAY TỊNH – CHIA SẺ.. 19
Mc1-B19: ĐỨC GIÊ-SU CHỊU CÁM DỖ TRƯỚC KHI CÔNG KHAI RAO GIẢNG TIN MỪNG - JKN.. 20
Mc1-B20: VÀO HOANG ĐỊA – Tgm Giuse Kiệt 22
MC1-B21: Hãy cải thiện và hãy tin - Mark Link S.J. 23
MC1-B22: TIN LÀ CHẤP NHẬN ĐƯỜNG THẬP GÍA N. Quesson. 24
MC1-B23: NƠI HOANG ĐỊA.. 24
MC1-B24: THIÊN ĐÀNG ĐÁNH MẤT VÀ THIÊN ĐÀNG GẶP LẠI. 25
MC1-B25: Chỉ vì thương nên Thiên Chúa đơn phương ban ơn cho loài người - Lm. Carolô Hồ Bạc Xái 25
MC1-B26: Hãy cải thiện và hãy tin - Lm Mark Link SJ. 30
MC1-B27: Cát bụi tuyệt vời - Lm. Giuse Nguyễn Hữu An. 31
MC1-B28: Lòng tha thứ - Ngai vàng vô giá - Lm JB. Nguyễn Minh Hùng. 32
MC1-B29: Đức Giêsu chịu cám dỗ - Lm. Đan Vinh. 33
MC1-B30: Nước Thiên Chúa đã gần bên!Hãy hối cải và tin vào Tin Mừng. 35
MC1-B31: Triều đại Thiên Chúa đã đến gần. 36
MC1-B32: Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng. 37
MC1-B33: Hãy Quảng Đại và Chia sẻ. 37
MC1-B34: NGÀY CỦA CHÚA ĐẾN BẤT NGỜ NHƯ KẺ TRỘM... 38
MC1-B35: HÃY SÁM HỐI & TIN VÀO TIN MỪNG! 40
MC1-B36: Chúa Giêsu chịu cám dỗ. 41
MC1-B37: Hãy đến và hãy nhìn xem... 43
MC1-B38: Chiến trận của sự cám dỗ. 44
MC1-B39: Hoang địa. 45
MC1-B40: CSTM/82 - Hoang địa. 46
MC1-B41: SNLC/128 - Cuộc chiến. 47
MC1-B42: SLCVHV/110 - Dã thú. 47
MC1-B43: CSTM/70 - Cám dỗ. 49
MC1-B44: Vượt thoát sức mạnh ma quỉ - Huyền Đồng. 50
MC1-B45: Đức Giêsu chịu cám dỗ và được các thiên thần hầu hạ - Lm. Đan Vinh. 52
MC1-B46: Sr. Margareta Maria Hiền. 55
MC1-B47: ĐỪNG XÉ ÁO NHƯNG HÃY XÉ LÒNG.. 55
MC1-B48: DANH - LỢI – THÚ.. 56
MC1-B49: Hành trình Mùa Chay. 57
MC1-B50: Với Chúa Giêsu trong Hoang Địa. 59

 

MC1-B1. Vào Hoang Địa

Suy Niệm
 

Mỗi khi bắt đầu mùa Chay, Hội Thánh lại mời chúng ta vào hoang địa với Đức Giêsu. Chính: MC1-B1

Mỗi khi bắt đầu mùa Chay, Hội Thánh lại mời chúng ta vào hoang địa với Đức Giêsu. Chính Thánh Thần đã dẫn đưa Ngài đến nơi đó, ngay sau khi Ngài chịu phép rửa của Gioan và nhận được Thánh Thần để lên đường đi sứ vụ.
Bốn mươi ngày sống trong cô tịch và cầu nguyện. Một cuộc tĩnh tâm để định hướng tương lai, qua đó Đức Giêsu thấy rõ con đường Ngài phải đi, và qua đó Ngài cũng thấy mình bị Xatan cám dỗ.
Mùa Chay là thời gian trở lại với Chúa và nhận ra những cám dỗ đang bủa vây tôi, những cám dỗ mới hay cám dỗ cũ dưới lớp áo mới. Nếu đời tôi là một chuỗi những chọn lựa, thì nó cũng là một chuỗi những cám dỗ.
Tôi có tự do để chọn giữa cái tốt và cái xấu. Giữa những cái tốt, tôi có tự do để chọn cái tốt hơn. Biết mình đã lạc hướng hay lệch hướng là điều cần thiết.
Con người hôm nay không yếu đuối hơn ngày xưa. Nhưng có lẽ nó bị cám dỗ nhiều hơn xưa, vì cuộc sống tiến bộ cho người ta nhiều chọn lựa. Tôi phải chọn kênh truyền hình, chọn băng video, chọn một loại vải, một kiểu áo, chọn chỗ giải trí tối nay.
Có những áp lực đè nặng trên chọn lựa của tôi: áp lực của quảng cáo, khuyến mãi, áp lực của mode, của bạn bè, của dư luận... Có những mời mọc nhắm vào các giác quan của tôi. Các giác quan như những cánh của mở của căn nhà trống trải. Bao kích thích khêu gợi như luồng gió lùa vào nhà. Thắng được những đòi hỏi vô độ của thân xác đòi hỏi một sự tự chủ lớn lao. Thắng được những đam mê mù quáng của con tim cần có một thái độ anh hùng từ bỏ. Thắng được sự cứng cỏi, cố chấp của trí tuệ cần có một lòng khiêm tốn mở ra trước chân lý.
Cuộc đời là một cuộc chiến đấu không ngừng, vì con người vẫn nghiêng như tháp Pizza. Cần phải tập nghiêng về điều ngược lại để tạo lập được sự quân bình trong cuộc sống.
Nói cho cùng, cám dỗ nào cũng khiến con người khép kín, chỉ nghĩ đến mình và sống cho mình. Cám dỗ im lặng vì sợ liên lụy. Cám dỗ giả mù trước sự thật rành rành. Cám dỗ thỏa hiệp với sự dữ để được yên thân. Cám dỗ sống một đời sống tầm thường và buông thả. Cái cao cả của con người là chiến đấu và chiến thắng. Chỉ khi nhận Thiên Chúa và tha nhân làm trung tâm, con người mới thành người trọn vẹn.
Ước gì mỗi Kitô hữu đều có bản lãnh của Đức Giêsu để chiến thắng sự nặng nề, nhỏ mọn của mình. Nhưng trước hết, chúng ta cần ăn chay và cầu nguyện.
Gợi Ý Chia Sẻ
Khoa học kỹ thuật càng tiến bộ, con người càng cần có bản lãnh để làm chủ. Bạn thấy khi nào con người bị coi là làm nô lệ cho của cải vật chất?
Không những phải chống lại cơn cám dỗ, mà còn phải xa tránh những nơi, những con người có thể đưa đến cám dỗ. Theo ý bạn, người trẻ hay bị cám dỗ ở đâu? Với ai?
Cầu Nguyện
Như đáo sen trong đầm lầy, xin giữ tâm hồn con thanh khiết. 
Giữa một thế giới đầy hình ảnh vẩn đục, xin gìn giữ mắt con.
Giữa một thế giới tôn thờ khoái lạc, xin dạy con biết trân trọng thân xác.
Giữa một thế giới bị ám ảnh bởi tình dục, xin thanh lọc trí tưởng tượng của con.
Xin nâng con lên cao vượt qua những thèm muốn chiếm đoạt, để biết tự hiến trong yêu thương.
Xin đừng để con phung phí sức lực vào những chuyện tình cảm chóng qua,
   nhưng giúp con tự rèn luyện mình để gánh vác cuộc sống Chúa mời gọi.
Như đóa sen trong đầm lầy, xin giữ thân xác con thanh khiết.

 

MC1-B2. Đứa Con Của Kẻ Vô Thần

Vào tháng 5 năm 1980, tuần báo Time có đăng tải câu truyện nổi tiếng mang tựa đề "Đứa Con: MC1-B2

Vào tháng 5 năm 1980, tuần báo Time có đăng tải câu truyện nổi tiếng mang tựa đề "Đứa Con Của Kẻ Vô Thần Tìm Thấy Thiên Chúa". Đứa con đó là William Murray. Khi Murray đi học, mẹ cậu là bà Madalyn Murray tại Baltimore, Maryland, đã ra toà kiện chống việc cầu nguyện và đọc Thánh Kinh trong các trường học công cộng. Vụ án này đã được đến tận Toà Án Tối Cao Pháp Viện, và kết quả là mọi hình thức cầu nguyện và đọc Thánh Kinh tại các trường học công cộng của toàn quốc Hoa Kỳ phải chấm dứt.
Sau này khi lớn lên, Murray còn tiếp tục thành lập các cuộc vận động chống đối Thiên Chúa bằng việc cho xuất bản những tạp chí vô thần.
Thế nhưng, Murray đã được ơn trở lại. Một đêm vào trước Lễ Giáng Sinh, William Murray nằm mơ một giấc mộng tỏ tường về Thánh Kinh. Giấc mơ này đã thức tỉnh ông. Cảm nghiệm của giấc mơ này thật xúc động, đến nỗi ông đã chỗi dậy ra khỏi giường và lái xe đến một tiệm sách tại San Francisco. Ông viết: "Tôi đã tìm thấy cuốn Thánh Kinh. Tôi lái xe về nhà và đọc Phúc Âm theo Thánh Luca. Tại đây, tôi đã tìm thấy... Đức Giêsu Kitô." Từ đêm hôm đó, cuộc sống của Murray được biến đổi.
Sau khi trở lại, ông viết một bức thư cho tờ báo Baltimore Sun. Ông xin lỗi với toàn thể dân chúng về việc ông đến Toà Tối Cao Pháp Viện xin cấm việc cầu nguyện và đọc Kinh Thánh tại các trường học Hoa Kỳ. Ông nói trong bức thư: "Trong khi suy xét lại cuộc đời 33 năm sống ngoài đức tin, tôi chỉ còn biết cầu xin, với sự phù giúp của Chúa, cho tôi được hoàn chỉnh lại những lầm lỗi và điều xấu xa mà tôi đã gây ra do sự thiếu lòng tin của tôi."
Câu chuyện này là một bài quảng diễn sống động những gì Chúa Giêsu có ý nói đến trong bài Phúc Âm hôm nay:
"Thời giờ đã gần đến. Nước Thiên Chúa đã gần kề. Hãy thống hối, và tin vào Tin Mừng."
Đấy chính là những gì William Murray đã làm. Ông đã sám hối về tội 33 năm làm một kẻ vô thần, không tin vào Phúc Âm và không biết đặt Chúa Giêsu Kitô làm trung tâm điểm đời sống.
Những gì Murray đã làm chính là những gì mà bài Phúc Âm hôm nay kêu mời chúng ta phải thực hiện trong Chúa Nhật đầu tiên của Mùa Chay này.
Nó kêu mời chúng ta thống hối đời sống mà đã không đặt Chúa Giêsu làm trung tâm điểm. Nó kêu mời chúng ta tái khám phá ra cuốn sách mà đã chưa luôn chiếm chỗ ưu tiên trong cuộc sống của ta.
Nói một cách đơn giản hơn, bài Phúc Âm hôm nay kêu mời chúng ta hãy làm cho Mùa Chay là thời kỳ phúc lành đặc biệt của riêng từng cá nhân.
Có bao nhiêu Kitô hữu, thì có bấy nhiêu phương thức để đáp trả lại. Tuy nhiên, xin chỉ xét hai cách thức sau đây:
Phương thức đầu tiên là tìm cuốn Kinh Thánh và đọc Phúc Âm theo Thánh Luca từ đầu cho đến hết trong Mùa Chay này. Anh chị em có thể làm việc này bằng cách đọc một đoạn mỗi tối.
Phương thức thứ hai để đáp trả lại cách cụ thể là lãnh nhận Bí Tích Hoà Giải vào lúc nào đó trong Mùa Chay. Vì trong khi lãnh nhận bí tích này, chúng ta thực thi chính xác những gì Chúa Giêsu kêu mời chúng ta làm trong các bài đọc hôm nay. Chúng ta bày tỏ cách cụ thể lòng thống hối và lòng tin tưởng của ta vào Phúc Âm.
Đấy chính là bày tỏ lòng sám hối về tội lỗi và biểu lộ lòng tin tưởng của ta rằng, Chúa Giêsu Kitô ao ước tha thứ cho chúng ta và nâng đỡ chúng ta khởi đầu một đời sống mới.
Lạy Chúa, xin ban cho chúng con ánh sáng để nhìn thấy chính chúng con như Ngài thấy chúng con vậy. Trên hết mọi sự, xin ban cho chúng con ơn can đảm để biển đổi chính chúng con như chính Ngài muốn chúng con biến đổi.
 

MC1-B3. SÁM HỐI VÀ TIN VÀO TIN MỪNG -  Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

Cùng với toàn thể Giáo hội Công giáo, chúng ta bước vào Mùa Chay (năm B). Trọng tâm của: MC1-B3

Cùng với toàn thể Giáo hội Công giáo, chúng ta bước vào Mùa Chay (năm B). Trọng tâm của Mùa Chay là chuẩn bị tâm hồn đón mừng Chúa Phục sinh, đón nhận ơn cứu độ mà Thiên Chúa thương ban cho chúng ta. Các bài đọc Thánh Kinh hôm nay tập trung vào việc Thiên Chúa đã cứu vớt con người: Thiên Chúa đã cứu ông Nôê và con cái ông khỏi nạn hồng thủy (bài đọc 1); Thiên Chúa đã dùng nước (phép Rửa) để cứu toàn thể nhân loại khỏi chết, khi Thiên Chúa sai Đức Giêsu, Con Một Yêu Dấu của Người, đến trần gian để rao giảng Nước Trời, chịu chết trên thập giá và phục sinh (bài đọc 2 và bài Tin Mừng). Điều kiện để được cứu là sám hối và tin vào Tin Mừng. Đó chính là sứ điệp của Lời Chúa.
TÌM HIỂU LỜI CHÚA
1. Bài đọc 1: St 9,8-15: Tường thuật việc Thiên Chúa loan báo và cứu ông Nôê và các con ông, khỏi nạn hồng thủy, bằng một giao ước bền vững và lâu dài, không chỉ với ông Nôê mà còn với dòng dõi ông. Dấu chỉ của giao ước ấy là chiếc cầu vồng xuất hiện trên bầu trời. Nhưng dấu chỉ tuyệt vời nhất của giao ước của Thiên Chúa với dân, chính là Con Một Thiên Chúa, Đức Giêsu Nadarét, Đấng đã xuất hiện giữa loài người.
2. Bài đọc 2: 1 Pr 3,18-22: Tông đồ Trưởng Phêrô khẳng định: chúng ta được cứu là nhờ "chính Đức Kitô đã chịu chết một lần vì tội lỗi" Người là Đấng Công Chính đã chết cho kẻ bất lương hầu dẫn đưa chúng ta đến cùng Thiên Chúa.
3. Bài Tin Mừng: Mc 1,12-15: Máccô nhắc lại sự kiện sau khi chịu phép rửa bởi tay Gioan Tẩy giả, Đức Giêsu được Thánh Thần đưa vào sa mạc để chịu Xatan cám dỗ. Sau khi nghe tin Gioan bị giết hại, Đức Giêsu xuất hiện công khai ở Galilê và bắt đầu rao giảng: "Thời kỳ đã mãn và Triều đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng
Sứ điệp của Lời Chúa: Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.
1. Nhìn thoáng bên ngoài, chúng ta có cảm tưởng là vào lúc Đức Giêsu xuất hiện công khai ở Galilê, mọi người dân Ítraen đều đang ngóng đợi vị Cứu Tinh mà Thiên Chúa đã hứa ban cho họ, vào một thời điểm nào đó trong lịch sử. Khi Gioan Tẩy Giả rao giảng và làm phép rửa ở sông Gióc-đan, nhiều người thuộc đủ mọi thành phần xã hội đã đến với ông. Vậy tại sao lời rao giảng của Đức Giêsu lại là: "Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng ? Ngoài lý do mà chính Đức Giêsu đã đưa ra: "Thời kỳ đã mãn và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần", còn lý do nào khác không?
Thật ra thì số tín đồ Đạo Do Thái thật sự trông đợi sự xuất hiện của Vị Cứu Tinh và nhất là số tín đồ có một nếp sống phù hợp với lời hứa của Thiên Chúa thì chỉ là một thiểu số rất nhỏ. Số đông hơn là những người bán tín bán nghi về lời hứa của Thiên Chúa và là những người sống thờ ơ với việc chuẩn bị cho ngày trọng đại mà các ngôn sứ đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Chúng ta biết rằng lúc này Đạo Do Thái đã rơi vào thời kỳ suy tàn. Các thành phần được coi là ưu tú của Đạo (tư tế, kinh sư, luật sĩ, biệt phái) nghiêng về cách giữ đạo hình thức, bề ngoài, tuân thủ luật lệ theo nghĩa đen, tìm kiếm lợi lộc cá nhân và phe nhóm hơn là có một lòng đạo đích thực, đẹp lòng Chúa. Trong khi đó những người bé mọn chẳng những không được quan tâm nâng đỡ, mà còn trở thành nạn nhân của các cách hành đạo của các tầng lớp cai trị. Vì thế mà Đức Giêsu mới lớn tiếng công bố và kêu gọi: "Thời kỳ đã mãn, Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần, Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng".
Khi Đức Giêsu kêu mời người đương thời "Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng" thì bắt buộc họ phải hướng về, quan sát và chiêm ngắm Người, để xem Người nói năng, giảng dạy, hành động và sống như thế nào.
Vì thế sám hối trước hết là thay đổi tư duy và hành động tức không suy nghĩ và hành động theo thói quen, tập quán xói mòn nữa mà suy nghĩ và hành động theo cách mới mà Đấng Mêsia của Thiên Chúa đem đến, phù hợp với giai đoạn mới của lịch sử cứu độ. Tin vào Tin Mừng là tin vào tình thương và sự trung tín giữ lời hứa của Thiên Chúa, là tin vào Đức Giêsu Nadarét, hiện thân của Thiên Chúa, vì Người đã được Thánh Thần xức dầu và đưa vào trần gian để loan báo Tin Mừng cho người nghèo, bị áp bức bóc lột, bị lãng quên khinh rẻ.
Đọc Phúc âm, chúng ta thấy hố ngăn cách to lớn giữa cách sống xưa cũ của người Do Thái với giáo lý mới mẻ của Đức Giêsu. Không biết bao nhiêu lần, Đức Giêsu đã phải nói: "Anh em nghe người xưa nói thế này, thế này...Còn Thầy, Thầy bảo anh em hãy làm, hãy sống, hãy cư xử thế này, thế này...". Điều chỉnh cách suy nghĩ và cách sống của mình theo cách suy nghĩ và cách sống của Đức Giêsu, đó chính là sám hối. Và như thế thì sám hối không chỉ giới hạn trong lãnh vực đời sống luân lý, như nhiều giáo dân thường hiểu, mà bao hàm cả lãnh vực quan điểm, cách nhìn, cách lượng giá, cách thẩm định, cách chọn lựa ưu tiên trong đời sống cá nhân cũng như xã hội. Sám hối cũng đồng nghĩa với canh tân đổi mới: tháo bỏ những cái gì là cũ kỹ, lạc hậu (chứ không hẳn chỉ là tội lỗi) và thay bằng những cái mới, hiện đại, phù hợp với Phúc Am, với "thời đã mãn", với "triều đại Thiên Chúa đã gần"hơn.
2. Lời mời gọi: "Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng" của Đức Giêsu cách đây hơn 2000 năm vẫn là lời mời gọi của ngày hôm nay và dành riêng cho 1,6 tỷ người công giáo trên toàn thế giới, trong đó có 5.854.029 người Việt Nam (theo báo cáo tình hình các giáo phận trong kỳ họp thường niên của Hội đồng Giám mục Việt Nam vào tháng 10. 2002). Để "sám hối" thì chúng ta phải biết hướng nhìn vào ai, qui chiếu vào đâu. Nhưng có không ít người không hề biết rằng điểm qui chiếu của Kitô hữu là chính Đức Giêsu và giáo lý của Người; là giáo huấn của Công đồng Vatican II, của các Tông huấn của Đức Gioan Phaolô II và của các Thư mục vụ (hay Thư Chung) của Hội đồng Giám mục Việt Nam. Nếu như Sách Phúc âm chúng ta ít khi đọc hay chẳng bao giờ đọc, các văn kiện của Công đồng Vatican II chúng ta không biết, các Tông huấn của Đức Thánh Cha chúng ta không màng, các Thư Mục vụ hay Thư Chung của các Giám mục Việt Nam chúng ta không quan tâm...thì chúng ta qui chiếu vào đâu, đối chiếu với ai? Cách giữ đạo dựa vào thói quen, tập quán, truyền thống gia đình hay xứ đạo, nặng tình cảm - dù là tình cảm tôn giáo cao đẹp- nặng hình thức phô trương, không còn đủ sức mạnh để giúp người giáo dân sống đạo trong thời đại ngày nay. Ngày nay cần một cách sống đạo ý thức và trưởng thành, xác tín và dấn thân. Đó là cách sống đạo không chỉ giới hạn trong nhà thờ mà còn trải rộng trong đời sống gia đình và xã hội. Nói cách khác người có đạo phải thể hiện đời sống đức tin bằng đời sống nội tâm gắn bó với Chúa, bằng cách chu toàn nhiệm vụ chuyên môn trong các bệnh viện, trường học, công sở, ngân hàng, nhà máy, siêu thị và bằng cách tham gia vào việc hỗ trợ người nghèo, bảo vệ hòa bình và chống chiến tranh, bênh vực quyền con người và chống phân biệt đối xử, kỳ thị, bóc lột trong xã hội cũng như trên thế giới. Đó là cách "sám hối và tin vào Tin Mừng" của ngày hôm nay!
SỐNG LỜI CHÚA
Lời mời gọi "Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng" có âm vang gì trong tâm hồn và cuộc sống của tôi?
CẦU NGUYỆN VỚI LỜI CHÚA
* Lạy Thiên Chúa là Cha, chúng con biết rằng: đáp lại lời mời gọi "Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng" của Chúa Giêsu, là chúng con phải tin vào Tình yêu Cứu độ của Cha và tin vào Đức Giêsu Kitô mà Cha sai đến trong trần gian này. Xin Cha ban ơn cho chúng con để chúng con thực hiện được điều Cha ước muốn và chờ đợi ở chúng con.
* Lạy Chúa Giêsu, chúng con biết rằng: đáp lại lời mời gọi "Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng" của Chúa, là chúng con phải luôn chiêm ngắm, khám phá và học cùng Chúa để chúng con thay đổi cách suy nghĩ và hành động của chúng con, phỏng theo cách suy nghĩ và hành động của Chúa. Xin Chúa ban ơn cho chúng con để chúng con thực hiện được điều Chúa ước muốn và chờ đợi ở chúng con.
* Lạy Chúa Thánh Thần, chúng con biết rằng: đáp lại lời mời gọi "Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng" của Chúa Giêsu, là chúng con phải để cho Chúa hoạt động trong chúng con và biến đổi chúng con. Xin Chúa hãy canh tân đổi mới trái tim và khối óc chúng con để chúng con sống như Chúa Giêsu mời gọi và mong muốn. Amen.
 

MC1-B4. HÃY SÁM HỐI VÀ TIN VÀO TIN MỪNG -  Lm. Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Ngay khi khai mạc sứ vụ rao giảng công khai, Chúa Giêsu đã nói: "Hãy sám hối và tin vào Tin: MC1-B4

Ngay khi khai mạc sứ vụ rao giảng công khai, Chúa Giêsu đã nói: "Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng"( Mc 1, 14-15 ). Ngài đã công bố Tin Mừng về nước trời:" Hãy hối cải vì nước trời đã gần đến"( Mt 4, 17 ). Chúa nhật thứ I mùa chay hôm nay như khai mở thời gian 40 ngày, đêm để dân Chúa khắp nơi đi vào sa mạc với Chúa, ăn chay, cầu nguyện, cải hối mà sống mầu nhiệm phục sinh. Đây cũng là thời kỳ dân Chúa tưởng nhớ tới dân Do Thái đi trong sa mạc 40 năm để tiến vào đất hứa.
Nội dung của việc rao giảng :
Đoạn Tin Mừng Mc 1, 12-15 ngắn gọn nói lên nội dung của việc rao giảng của Chúa Giêsu, nơi chốn Chúa Giêsu rao giảng và điều Chúa Giêsu đòi hỏi nơi những người nghe loan báo Tin Mừng: " Hãy sám hối và tin vào Phúc Âm " ( Mc 1, 14-15 ). Chúa Giêsu loan báo Tin Mừng của Thiên Chúa, mà Tin Mừng của Thiên Chúa là tin vào chính Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, đã tới trần gian để mang ơn cứu độ cho muôn dân.
Tin Mừng của Chúa được khởi sự tại miền Galilêa lúc Gioan tẩy giả bị giao nộp. Như thế, nhân loại có cái nhìn chung về nội dung Chúa Giêsu công bố là nước trời: "Hãy tìm kiếm nước Thiên Chúa trước"( Mt 6, 31-33 ). Trong suốt thời gian loan báo Tin Mừng cứu độ, Chúa Giêsu đi vào sa mạc 40 đêm ngày: ăn chay và cầu nguyện. Tại sa mạc, Chúa Giêsu phải đương đầu với Sa tan, với ma quỷ. Đây là cuộc chiến đấu rất cam go trong suốt những ngay đêm Chúa Giêsu ở trong sa mạc ( theo thánh Marcô), còn đối với thánh Matthêu và Luca, Chúa Giêsu chỉ chịu ma quỷ cám dỗ, thử thách giai đoạn cuối của những ngày ở sa mạc. Theo thánh sử Marcô, sự thử thách Chúa Giêsu phải đương đầu trong sa mạc nói lên rằng suốt cuộc đời rao giảng của Chúa là một cuộc đương đầu triền miên.
Tin Mừng của Chúa loan báo không được con người đón nhận một cách trơn tru và dễ dàng. Người nghe Tin Mừng luôn phải phấn đấu, hy sinh, từ bỏ mới có thể lãnh nhận được Tin Mừng của Ngài. Lời loan báo của Chúa chỉ được con người đón nhận khi họ đi ra khỏi cái vỏ ốc ích kỷ, ra khỏi lòng thù hận, đi ra khỏi óc vụ luật, đi ra ngoài quan niệm sai lầm về Thiên Chúa giáng phạt, hận thù và hiểu sai về ơn cứu độ Chúa Giêsu mang lại. Chính Chúa Giêsu cũng đã phải đấu tranh quyết liệt đến nỗi Ngài đã phải chấp cái chết và chết trên khổ giá. Tuy nhiên, Chúa đã chiến thắng mọi mãnh lực của sự dữ và cả cái chết nhờ Thiên Chúa phù trợ, nâng đỡ. Chúa cũng làm cho nhân loại thoát ách nô lệ tội lỗi và làm cho nhân loại trở nên con cái tự do của Thiên Chúa (coi bài đọc 1 và 2 ). Chúa Giêsu rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa để khai mạc thời đại mới ( theo Marcô).
Chúa Giêsu chỉ khởi sự rao giảng Tin Mừng nước trời sau khi Gioan bị trao nộp( chấm dứt thời cựu ước ) và rao giảng ở Galilêa, một vùng đất đông dân nhưng không được dân Giêrusalem trọng vì cho rằng vùng đất này vô đạo và không biết gì đến lề luật. Tin Mừng của Thiên Chúa là một hồng ân phát xuất từ lòng thương xót của Thiên Chúa và có sức mạnh giải thoát. Tin Mừng này được loan báo khi thời Cựu ước đã mãn. Chúa Giêsu đòi hỏi mọi người muốn đạt được nước Chúa thì phải sám hối, trở lại, đổi mới tâm hồn, nội tâm, có cái nhìn mới, suy nghĩ mới và trở thành con người mới.
Thái độ phải có
Chúa Giêsu đặt mọi người chúng ta trước một chọn lựa đầy khẩn thiết: "Trở lại ". Đổi mới hay trở lại là những động từ quan trọng, nói lên một sự hoán cải mới, một sự cải hóa toàn diện con người. Chú chồn trong câu chuyện" Hoàng tử nhỏ" của văn hào Pháp Saint Exupéry làm ta suy nghĩ. Chú chồn được thuần hóa khi được nuôi, uốn nắn khi được đưa từ rừng về,chú chồn đang trong tình trạng hoang...Được thuần hóa, có nghĩa là đổi mới. Con người muốn trở lại phải được thuần hóa nghĩa là đổi mới: đổi mới nội tâm, đổi mới suy nghĩ, tư duy, cách nhìn để quyết tâm không còn phạm tội nữa, quyết lòng không sống xấu nữa.
Trở về cũng có nghĩa là quay về với tình trạng trong trắng ban đầu khi con người lãnh nhận bí tích rửa tội. Trở về với vườn địa đàng khi con người đầu tiên còn sạch tội, chưa bất tuân lệnh Chúa. Trở về với vẻ nguyên tuyền trinh trong của con người vừa được Chúa tạo dựng. Tuy nhiên, trở về có nghĩa là tiếp tục loan báo Tin Mừng, giới thiệu Đức Kitô cho mọi người và rao giảng bằng cuộc sống gương mẫu của mình. Và như Chúa Giêsu, con người tiếp tục giới thiệu nước trời, đồng thời loan báo thời đại mới, trật tự mới cho muôn người, muôn nước, muôn dân thiên hạ. Và để được như thế, đây lại là thái độ của cả một tập thể, cộng đoàn, giáo xứ và cách chung cả Giáo Hội.
Vì thế, mở đầu mùa chay trong năm thánh hóa gia đình: mọi gia đình hãy phấn đấu làm mới gia đình mình, để Chúa thanh luyện và những hình thức bác ái như bố thí, chia sẻ, lưu tâm đến người nghèo, người đau khổ luôn được đề cao, trân trọng. Như Giáo Hội qua Đức Thánh cha Gioan Phaolô II đã khuyến khích mọi gia đình hãy siêng năng lần chuỗi mân côi để kết hợp với Chúa Giêsu, Đấng đã tự giới thiệu:" Ta là Đường, là Sự Thật, là Sự Sống ".
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết đổi mới tâm hồn để kết hiệp với Chúa.
Gợi ý chia sẻ :
1. Bạn cảm nghiệm gì về Mùa Chay ?
2. Bạn có ý thức mình là con Chúa ? Tại sao ?

 

MC1-B5. Suy Niệm của Lm. Trọng Hương

A. Hạt giống...
 

Bài Tin Mừng ngắn này gồm 2 phần: 1. Tường thuật Chúa Giêsu chịu cám dỗ(cc 12-13) : MC1-B5

Bài Tin Mừng ngắn này gồm 2 phần :
1. Tường thuật Chúa Giêsu chịu cám dỗ (cc 12-13) : Mc không viết nhiều về những cơn cám dỗ, chỉ ghi hai chi tiết :
- Chúa Giêsu sống giữa loài dã thú : chi tiết này làm ứng nghiệm lời Isaia tiên báo về thời đại Messia (x. Is 11,6-9), đồng thời minh họa cho cảnh sống hài hòa giữa con người với muôn vật, làm sống lại hình ảnh tốt đẹp thuở ban đầu ở Vườn Địa Đàng (x. St 2,18-20). Qua chi tiết này Mc ngụ ý Chúa Giêsu đã chiến thắng cám dỗ, cám dỗ chẳng làm gì được Ngài, chẳng thế phá vỡ liên hệ hài hòa giữa Chúa Giêsu với vũ trụ vạn vật.
- Có các thiên sứ hầu hạ người : chi tiết này ngụ ý Chúa Giêsu được Thiên Chúa cứu giúp và che chở.
2. Lời rao giảng đầu tiên của Chúa Giêsu (cc 14-15) : Đây là công thức tóm lược toàn thể sứ điệp Chúa Giêsu, gồm hai việc quan trọng là sám hối và tin vào Tin Mừng.
B. ... nẩy mầm.
1. Trong tiếng do thái, chữ “cám dỗ” có nghĩa là “thử thách”, “thử tài”, giống như chữ “đi thi” của chúng ta ngày nay. Cám dỗ là đi thi : ai thắng cám dỗ là thi đậu, ai sa ngã là thi rớt. Bởi thế cám dỗ là dịp tốt để ta “lấy bằng cấp”. Tuy nhiên ta đừng khinh địch, hãy nhớ lời Chúa Giêsu căn dặn “Thứ quỷ này chỉ có thể thắng nhờ ăn chay cầu nguyện”, nhớ lời trong Kinh Lạy Cha “Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ”, và nhớ Chúa Giêsu trong bài Tin Mừng này đã chiến thắng được nhờ sự trợ giúp và che chở của Thiên Chúa.
2. Có người nói rằng đạo Công giáo đầy mặc cảm tội lỗi cho nên bao giờ cũng bắt đầu Thánh lễ bằng lời kêu gọi sám hối. Thực ra chính Chúa Giêsu cũng luôn kêu gọi sám hối. Cho nên đây không phải là mặc cảm mà là một thực tế : con người dễ đi lạc, cho nên cần luôn ý thức tình trạng lạc đường ấy để quay về.
3. Một đêm giáng sinh nọ, Thánh Giêrônimô đang quỳ bên máng cỏ để suy niệm về mầu nhiệm Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người thì bỗng Chúa Hài Đồng hiện ra trong vầng sáng chói loà. Ngài hỏi thánh nhân : 
- Giêrônimô, con có gì làm quà cho Ta trong ngày Ta giáng sinh  không ? 
- Lạy Chúa Hài Đồng, thánh nhân đáp, con xin dâng Chúa trái tim của con. 
- Được lắm, nhưng còn gì khác nữa không ? 
- Lạy Chúa, con xin dâng Chúa tất cả những gì con có và tất cả những gì con có thể.
- Con còn điều gì khác nữa không ?
- Con có điều gì khác để dâng Chúa nữa đâu. Thánh nhân khẩn khoản thưa.
Chúa Hài Đồng bảo : 
- Này Giêrônimô, hãy dâng cho ta cả những tội lỗi của con nữa.
- Ô lạy Chúa, Thánh nhân hốt hoảng hỏi lại, làm sao con dâng cho Chúa tội lỗi của con được ? 
- Được chứ ! Ta muốn con dâng cho Ta tội lỗi của con để Ta có thể tha thứ cho con. Đó là điều Ta rất mong đợi. 
Nghe thế, thánh nhân bật khóc vì sung sướng. (Trích "Món quà giáng sinh")
4. “Chúa Giêsu phán : Thời kỳ đã mãn và triều đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy thống hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1,15)
Hết ngày lại đêm. Hết làm việc lại nghỉ ngơi. Và cứ thế, một ngày như mọi ngày. Thời gian cứ trôi, cho đến ngày Chúa phán với tôi “Thời kỳ đã mãn…”.
Vâng, ngày đó sẽ đến với tôi. Ước gì trong ngày đó tôi không vội vã, không lo sợ ăn năn vì đã thống hối từng ngày. Ước gì trong ngày đó tôi vẫn vô tư như hằng đêm ngủ say, như thánh Saviô vẫn vui chơi khi Chúa đến.
Lạy Chúa, thời đại Chúa đã đến, và đang đến từng ngày trong đời con. Con xin đón nhận trong sẵn sàng (Epphata).
 

MC1-B6. SÁM HỐI VÀ TIN VÀO TIN MỪNG - Lm. VIKINI

Sám hối và tin vào Tin Mừng có thể diễn tả cụ thể như câu ca dao : “Ai ơi bưng bát cơm đầy: MC1-B6

Sám hối và tin vào Tin Mừng có thể diễn tả cụ thể như câu ca dao : “Ai ơi bưng bát cơm đầy. Dẻo thơm một hột, đắng cay muôn phần”. Hay câu : “Có công mài sắt, có ngày nên kim”. Muốn được ăn bát cơm dẻo thơm, nhà nông phải chịu biết bao nhiêu đắng cay, đổ ra bao nhiêu công sức gian khổ, muốn được cây kim xinh đẹp, người công nhân phải gò lưng mài dũa cây sắt han rỉ bao nhiêu ngày tháng !
Muốn tin được Tin Mừng, chúng ta phải sám hối với tâm hồn cay đắng, xót xa : “Họ phải thú nhận tội lỗi và ông Gioan làm phép rửa cho họ trong giòng sông Giócđan” (Mc. 1, 5). Thú tội là việc làm cay đắng, xót xa, không còn lên mặt tự phụ và kiêu ngạo, chỉ còn khiêm tốn chôn mình dưới giòng sông, nơi sâu thẳm nhất, để chuẩn bị đón rước Tin Mừng Đấng Cứu Thế.
Ông Noe cũng phải thanh tẩy trong Đại hồng thủy sau một thời gian dầy công sám hối. Ông và cả gia đình sám hối bằng việc làm, bằng bao nhiêu ngày tháng gian khổ băng rừng đốn cây, chẻ gỗ đóng tầu. Một công việc to lớn kỳ dị bị chê cười, nhạo báng như một lũ điên không giống ai. Mặc cho thế gian nguyền rủa khinh bỉ, Noe tin vào Lời Chúa sống đức nghĩa vẹn toàn giữa những người đồng thời đầy tội ác. Noe hằng đi đứng rập theo ý Thiên Chúa (St. 6, 9), nên ông sẵn sàng chịu muôn ngàn đắng cay, muôn ngàn hy sinh để chiến thắng mọi thử thách cam go. Noe và gia đình đã thực sự sám hối bằng đức tin có việc làm, chứ không chỉ đau đớn hối hận. Nhờ đó, cả gia đình ông và bao nhiêu muôn chim cầm thú đã được cứu sống. Thiên Chúa đã ký kết với ông một giao ước mới. Ông là cha một dòng dõi mới, một dân tộc mới.
Noe và dòng dõi ông là hình bóng tạm thời của Đức Giêsu là đầu một dân tộc mới, một dân tộc trường tồn muôn đời, là dân Chúa, là Giáo hội Chúa Kitô.
Bài Tin Mừng và bài đọc 2 cho thấy rõ chân lý hiển nhiên đó. Đức Giêsu, dầu là Thiên Chúa, đã đến chịu phép rửa sám hối của ông Gioan, Người cũng phải khiêm tốn chôn mình dưới sông Giócđan. Hơn nữa, Người còn phải chịu rửa bằng Thánh Thần và lửa (Mt. 3, 11) ; “Thánh Thần đã thúc đẩy Người vào hoang địa, ở đó lâu ngày, chịu satan cám dỗ, sống giữa loài dã thú”. Hoang địa là nơi phải sống khắc khổ, thiếu thốn, nghèo khổ, nhưng trong lành, và thanh thoát mọi tham lam phàm tục. Sống nghèo khó thì lại được chúc phúc : Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó vì nước Trời là của họ. Sống trong khóc lóc đắng cay thì lại được Thiên Chúa an ủi (Mt. 5, 3-5).
Satan là tướng quỷ dữ, gieo rắc chống lại Thiên Chúa, lôi kéo vào tội lỗi, vào cực hình. Phép rửa bằng Thánh Thần sẽ giúp chiến thắng Satan đem ta trở về Thiên Chúa, hướng dẫn ta vào con đường thánh thiện vinh phúc muôn thuở.
Sống giữa dã thú là sống giữa loài hung dữ, dã man, tàn ác, bằng phép rửa Thánh Thần sẽ thanh luyện ta sạch mọi dã man, gian tà, tội ác trở nên hiền hòa khả ái, nhân từ, yêu thương, an lành.
Đức Giêsu đã chịu phép rửa bằng Thánh Thần, Người hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa, trở nên Con chí ái của Đức Chúa Cha, mọi sự vâng theo thánh ý Cha như Người đã cầu nguyện : “Một theo ý Cha, đừng theo ý con”. Và Đức Chúa Cha đã hoàn toàn hài lòng về Người. Người không còn một chút bẩn nhơ bụi trần, hoàn toàn siêu thoát mọi tham lam, cho nên chiến thắng và tiêu diệt tướng quỷ dễ dàng. Người sống giữa những quân thù như dã thú mà vẫn vô cùng dịu dàng nhân ái, không ai nghe thấy tiếng Người dức lác, Người không bẻ gẫy cây sậy đã dập, không nỡ tắt tim đèn còn khói.
Thánh Phêrô còn nói : “Đức Kitô đã chịu chết vì tội chúng ta, Đấng công chính đã chết cho kẻ bất chính. Thân xác Người bị giết chết, nhưng nhờ Thánh Thần Người được phục sinh … Nhờ sự phục sinh của Đức Kitô, Người đã tiêu diệt sự chết cho chúng ta được hưởng sự sống đời đời”.
 “Đức Kitô đã chịu chết”, đó chính là phép rửa bằng lửa. Lửa bừng lên trong trái tim Người vì yêu thương chúng ta. Người đã nói : “Không có tình yêu cao quý nào bằng tình yêu chết cho người mình yêu”. Lửa tình yêu mà Đức Giêsu đã thực hiện như Người nói : “Thầy đem lửa đến trần gian, Thầy ước mong lửa ấy bừng lên. Thầy còn một phép rửa phải chịu, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất” (Lc. 12, 49-50).
Đức Giêsu đã khắc khoải sám hối thay cho nhân loại qua chịu phép rửa bằng Thánh Thần và lửa. Người đã hoàn tất. Các Tông đồ cũng đã chịu phép rửa bằng Thánh Thần và lửa trong ngày lễ Ngũ Tuần (Lễ Hiện Xuống). Thánh Thần đã thúc đẩy các ông đem lửa tình yêu của Đức Giêsu bừng cháy lên, tỏa sáng khắp thế gian, hoang địa và đã chiếu tỏa trên chúng ta, thúc đẩy chúng ta sám hối và tin vào Tin mừng. Để chúng ta cũng được chịu phép rửa bằng Thánh Thần và lửa.
Lạy Chúa, xin cho chúng con hằng kiên tâm sám hối và tin vào Tin mừng, cho chúng con được thanh tẩy, để sống trong Thánh Thần và trong lửa tình yêu của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con. Amen.
 

MC1-B7. ĐỨC GIÊ-SU CHỊU CÁM DỖ TRƯỚC KHI CÔNG KHAI RAO GIẢNG TIN MỪNG - JKN

Câu hỏi gợi ý:
 

Tại sao trước khi Đức Giê-su bước ra đời để loan báo Tin Mừng, Thánh Thần lại đẩy Ngài vào: MC1-B7

1. Tại sao trước khi Đức Giê-su bước ra đời để loan báo Tin Mừng, Thánh Thần lại đẩy Ngài vào hoang địa để Ngài chịu cám dỗ? Việc đó có cần thiết hay ích lợi cho Ngài hoặc cho ai không? Mục đích của Thánh Thần là gì?
2. Bị cám dỗ là điều tốt hay xấu? Cám dỗ hay thử thách có cần thiết cho việc nên thánh của ta không? Tại sao? Trước mặt Thiên Chúa, một người giả như chưa hề phạm tội vì chưa bị cám dỗ bao giờ có thánh thiện hơn người đã từng phạm tội vì tuy đã chống trả mãnh liệt nhưng lại thất bại không?
3. Không nhờ cám dỗ, không nhờ thử thách, ta có thể xác định sự thánh thiện hay đạo đức của mình hay của một ai không? Tại sao?
4. Cám dỗ hay thử thách là cần thiết, vậy có nên tự tìm cho mình những dịp để «được» cám dỗ không? Tại sao?
Suy tư gợi ý:
1. Đức Giê-su chịu thử thách trước khi ra đi loan báo Tin Mừng
Cám dỗ là một điều cần thiết trong cuộc sống để chúng ta có thể chứng tỏ tình yêu của mình đối với Thiên Chúa. Thật vậy, làm sao ta có thể biết tình yêu của ta đối với Thiên Chúa và tha nhân, tinh thần siêu thoát, lòng đạo đức của ta cao hay thấp và ở mức độ nào, nếu ta không được thử thách? Tương tự như nếu không dùng lửa hay a-xít để thử, làm sao ta có thể biết được những đồ trang sức của ta là vàng thật hay vàng giả, là nguyên chất hay bị pha tạp? và nếu bị pha tạp thì pha tạp ở mức độ nào? Để biết rõ một người trước khi dùng người đó, nhất là vào những chức vụ quan trọng, giám đốc nhân sự của các công ty thường thử tay nghề, thử lương tâm, thử bản lãnh, thử mức độ đáng tín nhiệm của người đó bằng nhiều phương cách khác nhau. Ông có thể dàn dựng khéo léo những cơn cám dỗ. Nhờ những thử thách đó, chẳng những viên giám đốc công ty biết rõ người mình muốn tuyển chọn, mà chính bản thân người được thử thách ấy cũng biết rõ tài đức của mình hơn. Những người đã qua được thử thách một cách thành công chắc chắn sẽ cảm thấy tự tin hơn và dễ đạt được thành quả tối ưu trong công việc của mình. Như vậy, thiết tưởng việc thử thách để biết bản lãnh về tài và đức của mình hay của người là một việc cần thiết và hết sức dễ hiểu.
Quan niệm như thế, ta thấy việc «Thần Khí đẩy Đức Giê-su vào hoang địa» để «chịu Xa-tan cám dỗ» trong «bốn mươi ngày» trước khi Ngài khai mạc công việc rao giảng Tin Mừng, là một việc dường như tất yếu phải có. Qua thử thách đó, Đức Giê-su có dịp tỏ ra cho Thiên Chúa và mọi người thấy bản lãnh của Ngài để có thể đảm trách công việc loan báo Tin Mừng và cứu chuộc nhân loại.
2. Thử thách và cám dỗ rất cần thiết trong đời sống chúng ta
Trong mùa Chay, Giáo Hội mời gọi chúng ta ý thức về tình trạng yếu kém, tội lỗi, đầy khiếm khuyết trong con người hiện tại hay «con người cũ» – vốn «bị tội lỗi thống trị» (Rm 6,6) – của chúng ta. Từ đó, ta mới quyết tâm «cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa» (Ep 4,22; x. Cl 3,9) để «mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa hầu thật sự sống công chính và thánh thiện» (Ep 4,24).
Nhiều khi chúng ta ý thức và tự xưng rằng mình tội lỗi, dù rất thật lòng, nhưng ý thức về tình trạng tội lỗi ấy nhiều khi hết sức mơ hồ. Chúng ta không biết mình tội lỗi thế nào, ở mức độ nào, tội lỗi ở chỗ nào… Chính vì thế, chúng ta không biết đường nào mà sửa mình, để rồi cuối cùng, chúng ta chẳng sửa đổi gì cả, nghĩa là «mèo vẫn hoàn mèo». May thay, nhờ có những cám dỗ xảy đến trong đời sống mà ta biết được mình tội lỗi thế nào, ở mức độ nào.
Cũng có nhiều khi ta tưởng mình đạo đức, thánh thiện, vì ta cảm thấy mình rất ít khi lỗi luật của Chúa hay của Giáo Hội. Ta có cảm tưởng ta rất tốt với bạn bè, với những người chung quanh ta, vì ta thấy mình cư xử rất lịch thiệp với họ, không hề đụng chạm tới quyền lợi họ, hay không hề cư xử bất công với họ… Ta cũng giống như Phê-rô và các tông đồ xưa, nghĩ mình là người luôn luôn trung thành với Đức Giê-su bất kỳ trong hoàn cảnh nào: «Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy» (Mt 26,35). Khi nói như thế, các ông rất thành thật, không một chút dối trá. Nhưng các ông không thể ngờ được phản ứng của các ông sau này khi Đức Giê-su bị bắt: «Các môn đệ bỏ Người mà chạy trốn hết» (Mt 26,56), còn Phê-rô, người tỏ ra sẵn sàng sống chết với Thầy mình nhất thì «gà chưa kịp gáy ông đã chối Thầy tới ba lần» (Mt 26,75).
Nhiều khi thứ đạo đức hay trong sạch của ta tương tự như độ trong của một ly nước múc từ dưới bùn lên, nhưng đã được để lắng trong nhiều ngày. Phần trên của ly nước cũng trong vắt không kém gì một ly nước suối. Nhưng khi quậy lên thì nước trong ly đục ngầu đang khi ly nước suối có quậy đến đâu cũng vẫn tiếp tục trong vắt. Nếu không quậy lên, người ta có cảm tưởng nước ở trong cả hai ly tốt như nhau. Nếu không quậy lên, làm sao biết được ly nào là trong thật sự? Cũng vậy, nếu không có cám dỗ, làm sao biết được ai đạo đức sâu xa, ai đạo đức chỉ ở bề mặt?
3. Chỉ biết mình đạo đức hay không qua những cám dỗ thử thách
Nguyễn Công Trứ viết: «Ví phỏng đường đời bằng phẳng cả, anh hùng hào kiệt có hơn ai». Thật vậy, nếu cuộc đời của mọi người đều an bình, thuận buồm xuôi gió cả, thì người có bản lãnh sẽ hành xử chẳng khác gì người không bản lãnh. Nếu các đồ vàng bạc không được thử bằng lửa hay a-xít thì chẳng sao phân biệt được vàng thật hay vàng giả. Cũng vậy, chính trong cơn hoạn nạn ta mới biết được ai là bạn tốt, bạn thật của ta: «Friend in need, friend indeed» (Bạn bè trong cơn hoạn nạn mới là bạn thật). Tương tự, chỉ khi gặp những biến cố, những hoàn cảnh khó khăn, ta mới biết được ta có đạo đức hay không. Muốn biết đạo đức của ta ở mức độ nào, ta cần phải tự xét xem phản ứng của ta thế nào…
– khi quyền lợi của ta bị va chạm một cách bất công: lúc đó ta nổi sùng lên và chửi rủa loạn xạ? hay ta bình tĩnh xét xem nguyên nhân tại đâu, suy nghĩ xem có thể giải quyết cách nào cho đẹp nhất, khôn ngoan nhất, bác ái nhất?
– khi có một quyền lợi nào đó không thể phân chia xảy đến giữa ta và người bạn của ta: lúc đó ta quyết dành quyền lợi ấy về cho mình? hay biết nhường cho bạn? Epictète đưa ra hình ảnh hai con chó có vẻ quấn quít và yêu thương nhau lắm. Nhưng khi có ai quăng cho chúng một cái xương, thì chúng quay ra cắn nhau sứt đầu chảy máu. Như vậy có thật là chúng yêu thương nhau không? Làm sao biết được chúng có yêu thương nhau thật sự không nếu không có miếng xương để thử?
– khi đứng trước một người gặp nguy khốn đang cần cứu giúp, nhưng nếu cứu giúp thì ta sẽ phải hy sinh rất nhiều: lúc đó ta sẽ cứu giúp người ấy bất chấp phải hy sinh? hay sẽ nhường việc cứu giúp ấy cho người khác?
– khi đứng trước những bất công trước mắt mà việc lên tiếng của ta có thể chặn đứng hay giảm bớt phần nào, nhưng nếu lên tiếng thì ta sẽ bị sách nhiễu, công việc của ta sẽ bị cản trở: lúc đó ta sẽ coi sự đau khổ của đồng loại quan trọng hơn sự thoải mái cá nhân ta? hay ngược lại?
– khi mà nồi cơm của ta và gia đình ta bị đe dọa nếu ta làm theo lương tâm, và làm theo lương tâm sẽ cứu được biết bao nồi cơm của những gia đình khác: lúc đó ta sẽ coi những nồi cơm của vô số gia đình kia quan trọng hơn nồi cơm của gia đình mình? hay ngược lại?
– khi có hai người giàu và nghèo đến với ta một lúc, người giàu đem lại nhiều lợi lộc cho ta, còn người nghèo đến để nhờ ta một việc khá khó khăn: lúc đó ta sẽ đối xử với hai người một cách niềm nở như nhau? hay ta sẽ đối xử một cách phân biệt hết sức rõ rệt?
– v.v…
Rất nhiều người tưởng mình tốt lành thánh thiện chỉ vì thấy mình chưa hề phạm một lỗi nào quá đáng, rồi dựa trên sự vô tội của mình họ chê bai người khác đã phạm lỗi này tội kia. Thật ra họ chỉ là người chưa phạm tội vì chưa phải ở trong những hoàn cảnh khó khăn, nhiều cám dỗ, chứ không phải họ là những người khó có thể phạm tội. Rất có thể khi gặp những hoàn cảnh khó khăn, những cơn thử thách, họ còn phạm tội nặng nề hơn những người đã từng bị họ chê trách, mặc dù hoàn cảnh khó khăn hay sự thử thách của họ chẳng nặng nề bằng những người kia. Sự thánh thiện đạo đức phải dựa trên khả năng không phạm tội khi bị cám dỗ, chứ không chỉ đơn thuần dựa trên tình trạng vô tội trong hiện tại chỉ vì chưa gặp cám dỗ.
Nhiều người tự hào khoe mình bản lãnh lắm, hoặc được mọi người coi là đã tiến rất xa trên con đường nhân đức chỉ vì tu hành đã lâu năm, hay vì được nắm giữ những chức vụ quan trọng trong Giáo Hội, v.v… Nhưng khi gặp những thách đố, khi phải đối đầu với những cám dỗ chưa từng gặp, họ mới nhận ra bản lãnh của mình còn non kém, hay đường nhân đức của mình mới chỉ ở giai đoạn đầu.
Như đã nói trên, cám dỗ và thử thách rất cần thiết cho việc nên thánh của ta. Tuy nhiên, không phải vì thế mà ta nên tự tìm cho mình những cám dỗ. Trái lại, sự khôn ngoan đòi buộc ta phải tránh xa các dịp tội, những điều kiện hay cơ hội khiến ta có thể phạm tội. Câu «dĩ đào vi thượng sách» là một phương cách rất hay trong việc tu đức hay nên thánh. Và cũng nên nhớ lời khuyên của Phao-lô: «Ai tưởng mình đứng vững, hãy coi chừng kẻo ngã» (1Cr 10,12). Nhưng khi những cám dỗ tình cờ xảy đến ngoài ý muốn của ta, ta nên sẵn sàng đón nhận, và hãy chiến đấu một cách dũng cảm, quảng đại. Rồi dù thắng hay bại, ta cũng hãy coi chúng như những hồng ân Chúa ban để giúp ta hiểu rõ mình hơn, khiêm nhường hơn, giúp ta xác định đúng hơn mình đang ở vị trí nào trên con đường nên thánh.
Cầu nguyện
Lạy Cha, nhiều khi con thầm tự hào về mình, tưởng mình đã đạo đức hay thánh thiện lắm rồi. Nhưng lắm khi chỉ cần gặp những cơn cám dỗ hơi bất thường một chút, con đã ngã gục. Con cám ơn Cha đã gửi những cám dỗ ấy đến để con ý thức về bản lãnh của con một cách chính xác hơn, nhờ đó con khiêm nhường hơn, và biết cảm thông với những yếu đuối của đồng loại hơn.
 

MC1-B8. Từ bỏ tội lỗi và trung tín với tình yêu Thiên Chúa

Không còn gì nghi ngờ nữa. Hôm nay Mùa Chay đã 'nói trúng tim đen của chúng ta' rồi đấy, và làm: MC1-B8

Không còn gì nghi ngờ nữa. Hôm nay Mùa Chay đã 'nói trúng tim đen của chúng ta' rồi đấy, và làm rung động tận chốn thâm cung tâm hồn chúng ta. Mùa Chay kêu gọi chúng ta từ bỏ tội lỗi và trung tín với tình yêu Thiên Chúa. Chay tịnh, cầu nguyện, bố thí xưa nay là những việc làm chính yếu của Mùa Chay. Đó là những khí cụ chúng ta được khuyên dùng để dễ dàng tiến lại gần bên Thiên Chúa hơn, trong khi vẫn phải hành trình tiếp tục suốt đời. Đối với một số người, thì Mùa Chay đồng nghĩa với bỏ rượu, bỏ thuốc lá, trong khi những người khác lại thấy Mùa Chay là thời gian đi nhà thờ hằng ngày... Cho dù chúng ta thực hiện kiểu chay tịnh cách nào, thì động cơ thúc đẩy chúng ta mới là quan trọng. Nếu chúng ta ăn chay hay ăn kiêng chỉ vì muốn có thân hình thon thả, hay chúng ta làm phúc bố thí chỉ vì muốn được nể vì trong cộng đồng, thì những nỗ lực của chúng ta cũng hơi uổng công vì chúng ta đã nhận được phần thưởng rồi và vẫn chưa đến gần Chúa hơn là bao.
Khi khởi đầu sứ vụ công khai, Đức Chúa Giêsu đã đi vào hoang địa suốt 40 ngày đêm - cũng vì thế mà ngày nay chúng ta tổ chức hẳn một Mùa Chay Thánh. Giáo Hội muốn mọi người hãy sống lại kinh nghiệm của Chúa Giêsu là thiết lập mối tương quan sâu đậm và tình nghĩa thân thiết hơn giữa Thiên Chúa với chúng ta. Hành trình của chúng ta là một hành trình vào sa mạc nội tâm nơi đó mình ta đối diện với Thiên Chúa trong tinh thần chân thực. Hoang mạc tâm hồn sẽ giúp chúng ta nhìn lại bản thân xem chúng ta thực sự là ai, chúng ta làm gì với những nén bạc Chúa trao, đồng thời sẽ giúp chúng ta ý thức hơn về tình trạng tội lỗi của chính mình. Nhờ đó dần dần chúng ta sẽ đau lòng mà nhận ra mình cần thay đổi và canh tân cách tranh đấu với sự dữ bằng cách cầu nguyện chay tỉnh và đền tội. Việc chúng ta đền bù tội lỗi sẽ giúp chúng ta nhận thức được rằng những mặt thiêng liêng của cuộc sống còn quan trọng hơn những khía cạnh vật chất của nó. Một khi chúng ta ý thức được những lỗi lầm của bản thân, chúng ta mới nhận ra nhu cầu cần thay đổi điều này điều khác.
Nếu chẳng may chúng ta nằm trong số những người chuyên chụp mũ cái xấu lên đầu mọi người. Thì nay đi vào hoang mạc chính là cơ hội để chúng ta nhìn kỹ lại cố tật ngồi lê đôi mách, nói hành nói tỏi, đổ vạ cáo gian của chúng ta. Chỉ cần hứa từ nay sẽ giữ mồm kín miệng là đã có một phương thuốc hữu ích rồi.
Chúng ta có thể dốc lòng làm vui lòng những người mà chúng ta thường hay xung khắc hay ít ra là chúng ta không có cảm tình. Bỏ rượu chè cờ bạc có làm cho chúng ta mất mát gì đâu nếu như những thứ đó chỉ tổ là những nguyên nhân gây xào xáo làm cho gia đình mất hạnh phúc...? Cầu nguyện hằng ngày rất quan trọng cho tất cả chúng ta vì đó là mối giây liên lạc sinh tử giữa chúng ta với Thiên Chúa. Ngay như mối liên hệ giữa chúng ta với Đức Kitô cũng không thể thành tựu nếu không thực hành cầu nguyện. Chúng ta phải dành ưu tiên số một cho việc cầu nguyện, một phương thế cũng cố đức tin đức cậy và đức mến, nghĩa là cầu nguyện sẽ giúp chúng ta tăng cường niềm tin tưởng cậy trông và đem chúng ta đến gần gũi Thiên Chúa hơn.
Mùa Chay là thời gian dành cho chúng ta tìm đến tâm linh, kêu mời chúng ta nhận ra tiếng gọi của Thiên Chúa trong mọi phương diện của cuộc sống và từng bước thực hành đương đầu với những xấu xa của tội lỗi và ích kỷ bên trong chúng ta.
Mùa Chay là mùa kêu gọi chúng ta thay đổi hành vi thái cử vì những thói hư tật xấu cố hữu trong chúng ta lâu nay làm thui chột sức tăng trưởng của chúng ta trong tình yêu của Thiên Chúa. Đây là thời gian chúng ta cần trân trọng đón nhận ân sủng, nếu chúng ta có ý muốn Mùa Chay trở nên một kinh nghiệm thanh luyện đời sống thiêng liêng. Cần nói "không " với bản thân và nói "có " với Thiên Chúa là tất cả những gì phải làm trong cuộc phấn đấu nơi hoang mạc Mùa Chay này.
 

MC1-B9. NHỮNG CÁM DỖ CỦA MÙA CHAY - Lm. Thu Băng, CMC

Mùa Chay bắt đầu vào thứ 4 Lệ Tro,  là ngày bắt đầu của một chu kỳ Phục Sinh,  một chu kỳ: MC1-B9

Mùa Chay bắt đầu vào thứ 4 Lệ Tro,  là ngày bắt đầu của một chu kỳ Phục Sinh,  một chu kỳ đầy sức sống hạnh phúc.  Mùa Chay còn được gọi là mùa "Chữa bệnh"  hơn là mùa "đền tội".  Mùa Chay theo thể lý, người ta sẽ hãm mình, hãm các đam mê thể xác, bớt ăn uống theo sở thích...  Đó là một hình thức tìm lại sự quân bình cho thân thể (Chữa bệnh phần xác).
Trong Mùa Chay,  người tín hữu cũng tìm cách hãm dẹp những tính mê nết xấu (như thích vui chơi đàng điếm, ham mê rượu chè, thú cờ bạc...), hãm dẹp những tư tưởng bất chính (trả thù, ghen ghét, hằn học, gian lận, biếng nhác...), để tìm lại một tâm hồn thảnh thơi an bình (Chữa bệnh phần hồn).
Trong Mùa Chay, người tín hữu cũng không quên gia tăng lòng đạo hạnh qua việc chu toàn bổn phận tinh thần: Đọc thêm kinh sách, cầu nguyện, tham dự các giờ Thánh Lễ, Phụng vụ chung, hành hương kính viếng nơi thánh, dành thêm thì giờ làm việc thiện, giúp đỡ mọi người, bố thí cho người nghèo....
Trong Mùa Chay ta bắt chước Chúa, lắng đọng tâm hồn như đi vào rừng vắng để dễ cầu nguyện, xây dựng đời nội tâm thêm mạnh mẽ, để có đủ sức chiến đấu với mọi cám dỗ trong đời.  Chúa Kitô trước khi thi hành sứ mệnh tông đồ, Ngài vào nơi thanh vắng nghỉ ngơi và cầu nguyện, đồng thời qủi đến cám dỗ Ngài.
Việc ma qủi cám dỗ Chúa thực là một việc thánh, vì Ngài đã kể những cách cám dỗ nơi chính mình cho chúng ta có kinh nghiệm.  Các cám dỗ đem đến cho Ngài cũng không phải là loại cám dỗ thường tình của người đời: Hóa phép cho đá thành bánh  -  Nhẩy từ trên nóc đền thờ xuống mà không chết.  Chỉ có một cái cám dỗ giống loài người là ham danh vọng: Quì xuống tôn thờ ma qủi để đoạt được quyền uy thế phiệt.  Ma quỷ đoán Ngài phải là một nhân vật rất thánh, thánh khác thường,  vì nó thấy Ngài cầu nguyện và suy nghĩ bằng những năng lực phi thường (khác lối suy nghĩ và cầu nguyện của loài người), để tìm cách chinh phục các linh hồn,  nên nó dùng phương pháp cám dỗ cũng khác thường như vậy.
Những cám dỗ này chắc cũng không phải xẩy ra một lúc,  mà suốt 40 đêm ngày suy nghĩ và ma quỷ đã đến đưa phương thế giúp Ngài giải quyết.
1. Đưa đá cho Chúa, ma quỷ giải quyết rằng Ngài có thể dùng quyền năng phi thường của mình mà biến hóa vật chất nên của quí giá làm lòa mắt người trần, đánh mạnh vào lòng ham thích vủa cải sang trọng, để lôi kéo họ theo mình.  Vì nhân loại thường dùng quyền thế, chức vị danh vọng để sai khiến nhau.
2. Cho Ngài xem thấy tất cả thế gian, ma qủy giải quyết rằng việc cai trị cả nhân loại không khó gì, chỉ cần qùy xuống xin hắn, thì hắn cho đủ quyền cai quản đó.  Vì nhân loại dễ dàng chấp nhận quy phục gian tà để có quyền gây thanh thế trên người khác.  Chúa dạy phải công chính hóa đời mình và chỉ phục quyền Đấng có quyền thật.
3. Trong cám dỗ thứ ba chúng giải quyết: Cứ nhảy xuống mà không việc gì, sẽ làm cho dân chúng thấy rùng rợn mà theo, vì phép tắc của Ngài không ai có thể vượt được.  Vì nhân loại vẫn hay dùng lối bùa phép này để dọa nạt người khác, nhưng Chúa dạy không lừa dối, gạt gẫm người ta.
Trên đường theo Chúa, giữ đạo, đôi khi chúng con thấy mình khó thắng các cám dỗ quá.  Xin Chúa thêm sức mạnh để chúng con có thể thực hiện điều Chúa dạy cách bền chí.
 

MC1-B10. Con Đường Trở Về - Lm. Bùi Mạnh Tín

"Nước Thiên Chúa gần đến.  Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng" (Mc 1,15 ).
 

Lời kêu gọi trên đây đã chính thức khai mạc sứ vụ của Chúa Kitô, đồng thời trở thành đề tài mà: MC1-B10

Lời kêu gọi trên đây đã chính thức khai mạc sứ vụ của Chúa Kitô, đồng thời trở thành đề tài mà Ngài đã triển khai  trong suốt ba năm truyền đạo của Ngài.
Vì chống lại Thiên Chúa và đi ra ngoài đường lối của Ngài, nhân loại đã trở thành nô lệ cho ma quỷ và tội lỗi.  Muốn được giải thoát, nhân loại chỉ cần có một con đường duy nhất, đó là phải nhận ra sự tai hại của tội lỗi, rồi ăn năn hối cải và quyết tâm tin theo những gì Chúa đã truyền dạy.  Lãnh nhận sứ mạng  tiếp tục loan báo Tin Mừng, Giáo Hội luôn kêu gọi nhân loại bỏ đường tội lỗi và quay trở về với Thiên Chúa.  Công việc này được chú tâm đặc biệt vào Mùa Chay, mùa ăn năn thống hối, chuẩn bị mừng Lễ Phục Sinh.  Thật vậy, vào ngày Thứ Tư khai mạc Mùa Chay hàng năm, Giáo Hội đích thân bỏ tro trên đầu từng người và nhắc lại lời kêu gọi của Chúa Giêsu:  "Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng".  Nói như vậy, Chúa Kitô và Giáo Hội muốn chúng ta ý thức rằng: chính những sai trái của chúng ta đã gây thiệt hại cho cá nhân chúng ta, cho những người khác, phá hủy mối tương giao giữa nhân loại và Thiên Chúa, đồng thời cướp đi hạnh phúc vĩnh cửu của chúng ta; vì thế, mọi người cần phải đổi mới toàn diện, dứt khoát từ bỏ nếp sống cũ và mạnh dạn tiến về phía Chúa.  Đó là những tâm tình và công việc cần được thực hiện ở cả hai khía cạnh tiêu cực và tích cực.  Tiêu cực: cần một tâm tình biết hối hận, đau buồn, chán ghét lối sống cũ, giảm bớt các thói hư tật xấu hàng ngày.  Tích cực: quyết tâm sửa chữa những sai trái, can đảm vươn tới một đời sống khá hơn, khả quan hơn, bằng sự cầu nguyện, ăn chay, thực thi việc bác ái, dâng thánh lễ, lãnh nhận bí tích hoà giải và bí tích Mình Thánh Chúa, đồng thời luôn xác tín vào Tin Mừng mà Đức Kitô đã trình bày - xác tín rằng, chính Đức Kitô là cùng đích, là Đấng Cứu Độ, là vị lãnh đạo, và cũng là đường để bước theo.  Dĩ nhiên đây là một cuộc hành trình lâu dài và nhiều cam go, không khác gì cuộc ra đi của dân Chúa từ Ai Cập về Đất Hứa.  Do đó con người cần BỀN CHÍ để đạt tới đích, cần CAN ĐẢM để thắng lướt khó khăn, cần SÁNG SUỐT để nhận ra những mưu mô của Satan luôn tìm cách lôi kéo chúng ta về "Đất Cũ Ai Cập", và sau cùng, cần GẮN BÓ với Tin Mừng để khỏi lạc đường.
Một điều khác nữa chúng ta cần biết, đó là dù chúng ta đã cố gắng hết sức, đã được Đức Kitô và Tin Mừng Ngài hướng dẫn, chúng ta vẫn phải chấp nhận những thử thách của cuộc hành trình này, trong niềm tin rằng mình sẽ được tham dự vào cuộc phục sinh chiến thắng của Đức Kitô.  Đó là kinh nghiệm của thánh Phaolô khi Ngài viết:  "Chúng ta bị dồn ép tư bề mà không bị đè bẹp, hoang mang mà không tuyệt vọng, bị ngược đãi mà không bị bỏ rơi, bị quật ngã mà không bị tiêu diệt, bởi vì chúng ta luôn mang nơi thân xác chúng ta cuộc thương khó của Chúa Kitô, để sự phục sinh chiến thắng của Ngài được biểu lộ nơi thân xác chúng ta" (2 Cr 4, 8-10).  Đây cũng chính là niềm xác tín của tác giả Thánh Vịnh:  "Dù bước đi trong thung lũng tối, tôi vẫn không sợ mắc nạn, vì Chúa ở cùng tôi.  Côn trượng của Ngài làm tôi an lòng" (TV 22,4).
Chúng ta cùng cầu xin cho mình và cho anh chị em chúng ta biết lợi dụng Mùa Chay này như thời gian 40 ngày trong sa mạc với Chúa Giêsu.  Nhờ đó, chúng ta sẽ được Chúa hướng dẫn, ban sức mạnh, để có thể trung thành với Tin Mừng của Ngài.
 

MC1-B11. Đức Giêsu chịu cám dỗ - Lm. Đan Vinh

I. Tìm hiểu Lời Chúa
 

Đức Giêsu chịu cám dỗ và được các thiên thần hầu hạ. Bài Tin Mừng gồm hai phần chính: MC1-B11

1) Ý chính : Đức Giêsu chịu cám dỗ và được các thiên thần hầu hạ.
Bài Tin Mừng gồm hai phần chính :
-Phần I (c. 12-13) : Sau khi được tấn phong làm Đấng Thiên Sai (Mê-si-a) tại sông Gio-đan, Đức Giê-su đã được Thần Khí thúc đẩy vào hoang địa để chịu thử thách và đã chiến thắng ma quỉ cám dỗ. Người là Vua Mê-si-a đã khai mạc thời kỳ thái bình đầy tình yêu thương. Trong đó mọi hận thù đều tan biến hết.
-Phần II (c. 14-15) : Sau khi bị bắt, sứ mệnh tiền hô của Gio-an chấm dứt, để nhường chỗ cho Đức Giê-su xuất hiện công khai. Người đi từ miền Nam là Giu-đê trở về miền Bắc là Ga-li-lê để rao giảng Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Nội dung Tin Mừng được tóm lại trong 3 điều sau : Một là thời kỳ Cánh Chung đã đến ; Hai là Triều Đại Thiên Chúa đã gần bên; Ba là người ta muốn được cứu độ thì phải ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng.
2) Chú thích :
- Thần Khí liền đẩy Người vào hoang địa. Người ở trong hoang địa bốn mươi ngày, chịu Xa-tan cám dỗ, sống giữa loài dã thú, và có các thiên sứ, và có các thiên sứ hầu hạ Người (Mc 1,12-13) :
+ Thần Khí liền đẩy Người : Khi chịu phép Rửa của Gioan Tẩy Giả, Đức Giê-su đã được Thần Khí hay Thánh Thần lấy hình chim bồ câu đậu xuống trên mình Người, để xức dầu thiêng liêng, phong Người làm Đấng Thiên Sai. Từ đây Người được Thần Khí hướng dẫn và ban sức mạnh để chịu thử thách cám dỗ của Xa-tan và đã chiến thắng nó.
+ Hoang địa hay sa mạc : là một khu rừng hoang vắng nằm giữa Giê-ru-sa-lem và Biển Chết, ở gần thành Giê-ri-cô.
+ Bốn mươi ngày : Con số bốn mươi tượng trưng cho một thời gian dài. Chẳng hạn :Trong Đại Hồng Thủy, ông No-e đã mở cửa sổ tàu sau khi nước rút được 40 ngày (x. St 8,6) ; Mô-sê đã lên núi tiếp xúc với Đức Chúa suốt 40 ngày đêm (x. Xh 34,28) ; Dân Ít-ra-en phải lưu lạc trong sa mạc suốt 40 năm trường (x. Ds 14,34) ; Vua Đa-vít đã cai trị trong thời gian 40 năm (2 Sm 5,4) ; Ngôn sứ Ê-li-a đã chạy trốn lên núi Khô-rếp mất 40 ngày đêm (x. 1 V 19,8) ; Đức Giê-su đã vào sa mạc và ăn chay cầu nguyện 40 ngày (x. Mc 1,13).
Hỏi : Đức Giêsu "vào sa mạc" để làm gì ?
Đáp : Để chịu Xa-tan cám dỗ.
* Dân Ít-ra-en "vào sa mạc" : Khi giải thoát con cháu Gia-cóp khỏi ách nô lệ cho người Ai Cập, Đức Chúa đã đưa họ "vào sa mạc" 40 năm, để ký một giao ước công nhận họ là dân riêng của Người, thanh luyện họ khỏi các đam mê tội lỗi. Đây cũng là thời gian thử thách lòng trung tín của họ đối với Người. Đến thời các ngôn sứ, Hô-sê đã diễn tả đúng ý nghĩa của sa mạc khi ông trình bày Đức Chúa như một người chồng luôn yêu vợ là dân Ít-ra-en. Người đã dẫn đưa dân này vào sa mạc để sống thân mật với Người (x. Hs 2,16).
* Đức Giê-su "vào sa mạc" : Sau khi được công nhận là Người Con Yêu Dấu đẹp lòng Chúa Cha và đã đón nhận được đầy Thần Khí, Đức Giê-su được Thần Khí thúc đẩy vào sa mạc, để sống thân tình với Chúa Cha bằng việc chuyên cần cầu nguyện và ăn chay suốt 40 ngày. Đây cũng là thời gian Người chịu ma quỉ thử thách cám dỗ. Nhờ luôn chọn theo lời Thánh Kinh, Đức Giê-su đã chiến thắng Xa-tan cám dỗ, và chứng minh lòng trung thành của Người đối với sứ mệnh Thiên Sai được Chúa Cha trao phó.
+ Xa-tan : Xa-tan nghĩa là "kẻ thù", "kẻ chống đối", hay còn được gọi là "ma quỉ" hay Di-a-bo-los nghĩa là "kẻ kiện cáo", "kẻ vu khống". Đây là nhân vật vô hình có hai hoạt động là : nhập vào một người để bắt họ nói hay làm theo ý của nó và cám dỗ, xúi dục người ta phạm tội chống lại Thiên Chúa.
+ Cám dỗ : Cơn cám dỗ của ma quỉ gồm 3 giai đoạn như sau : Một là gợi lên trong đầu người ta một hình ảnh hợp với nhu cầu của họ. Hai là làm cho người ta vui thích với hình ảnh ấy hoặc ước muốn làm điều xấu xa độc ác. Ba là người bị cám dỗ sẽ quyết định chiều theo hay không theo sự xúi giục của ma quỉ. Quyết định làm theo ma quỉ là đã phạm tội. Đối với Đức Giê-su, Xa-tan chỉ có thể cám dỗ ở giai đoạn thứ nhất , nghĩa lả gợi lên trong tâm trí Người một tư tưởng hay một hình ảnh phù hợp với nhu cầu. Trong đoạn này, Mác-cô đã không thuật lại diễn tiến cơn cám dỗ của ma quỉ như trong hai Tin Mừng Mát-thêu và Lu-ca (x.Mt 4,1-11; lc 4,1-13).
+ Sống giữa loài dã thú và có các thiên sứ hầu hạ Người : Đức Giê-su đã chiến thắng cơn thử thách cám dỗ của Xa-tan. Dấu chỉ cụ thể của cuộc chiến thắng ấy là Người đã được Thiên Chúa che chở để sống hòa hợp với dã thú và còn được các thiên thần đến hầu hạ phục vụ (x. Tv 91,11-13). Đây là quang cảnh của thời Thiên Sai : một thời kỳ thái bình và đầy tình yêu thương huynh đệ , trong đó mọi loài vật sẽ sống hòa hợp với nhau và sẽ không có chỗ cho sự ghen ghét và hận thù nhau (x. Is 11,6-9; 65,25).
- Sau khi ông Gio-an bị nộp, Đức Giê-su đến miền Ga-li-lê rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa. Người nói : "Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng" (Mc 1,14-15) :
+ Sau khi Gio-an bị nộp : Việc Gio-an bị bắt nói lên sứ mệnh của ông là tiền sứ hay tiền hô đã chấm dứt, để chuyển sang thời kỳ Đức Giê-su thực hiện ơn cứu độ.
+ Sang miền Ga-li-lê : Ga-li-lê là miền Bắc của nước Do Thái, nơi đây có nhiều dân ngoại sống lẫn lộn với dân Do Thái. Đức Giê-su đã rời bỏ miền Giu-đê để đi đến miền Ga-li-lê và bắt đầu rao giảng Tin Mừng Nước Thiên Chúa.
+ Lời rao giảng của Đức Giê-su được tóm kết trong 3 tư tưởng sau :
* Một là : Thời kỳ đã mãn : Các ngôn sứ chia thời gian làm hai thời kỳ là thời hiện tại và thời kỳ cánh chung. Giờ đây Đức Giê-su loan báo thời kỳ hiện tại đã kết thúc để bắt đầu một thời kỳ mới là thời cánh chung, trong đó Thiên Chúa thực hiện lời hứa cứu độ.
* Hai là : Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần : Cựu Ước nói đến Vương Quyền của Thiên Chúa đối với Ít-ra-en là dân riêng của Người (x. Is 43,15; Tv 47,3). Từ đó, dân Ít-ra-en luôn trông chờ Thiên Chúa sớm thiết lập Vương Quyền của Người. Giờ đây, Đức Giê-su đã khẳng định rằng : Nơi Người, Triều Đại của Thiên Chúa đã đến gần.
* Ba là : Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng : Sám hối hay Me-ta-noi-a, một từ Hy Lạp có nghĩa là nghĩ khác trước, đổi ý, đổi tâm tình, đổi não trạng, hối tiếc , hối hận. Ở đây, Sám Hối chính là sự thay đổi hướng đi, triệt để từ bỏ tội lỗi để quay về với Giao Ước, và bước vào một đời sống mới. Rồi tiếp theo còn phải đón nhận Tin Mừng mà Đức Giê-su rao giảng.
II. Học sống Lời Chúa
1) Thần khí liền đẩy Đức Giêsu vào hoang địa (Mc 1,12) :
- Câu chuyện : Về bốn bức tranh :
+Tại một phòng triển lãm tranh ảnh tôn giáo kia, ngoài các bức vẽ về các đề tài quen thuộc, tại gian chính còn treo 4 bức tranh khổ lớn gấp đôi bình thường, được xếp thành hai cặp song đôi với nhau như sau : Trong cặp tranh đầu thì bức bên trái vẽ cảnh vườn Địa Đàng với màu sắc hài hòa tươi đẹp. Một con suối lượn quanh khu vườn có nhiều cây hoa đang nở và nhiều cây ăn trái trĩu nặng trái cây chín mọng trên cành. Trong cảnh thiên nhiên ấy, đôi vợ chồng trẻ A-Đam E-Và với vẻ mặt gìa nua hốc hác, vầng trán nhăn nheo ướt đẫm mồ hôi, dáng người gầy yếu vì bệnh tật, đang vất vả cấy lúa giữa một cánh đồng khô cằn nhiều sỏi đá và gai góc um tùm.
Đó là bức tranh mô tả thân phận đau thương của con người sau khi phạm tội. Chính tội lỗi là nguyên nhân phá hủy sự hài hòa giữa con người với Thiên Chúa, với vạn vật thiên nhiên và với người đồng loại. Tội làm cho con người bị mất hạnh phúc sống trong vườn Địa Đàng và bị xua đuổi xuống trần gian là nơi đầy nước mắt đau khổ, chiến tranh hận thù và bệnh tật chết chóc.
+ Còn cặp tranh thứ hai thì bức bên trái vẽ cảnh sa mạc hoang vu : Đức Giê-su đang ngồi trên một tảng đá, vẻ mặt suy tư và tiều tụy sau bốn mươi ngày chay tịnh. Một thằng quỉ mặt mũi gian ác đang đứng bên phải Người. Nó ghé vào tai Người để gợi lên trong đầu Người những tư tưởng ham mê danh vọng chức quyền trần gian ( xúi Người nhảy từ nóc đền thờ xuống để được khen ngợi), ham mê lợi lộc vật chất ( cho Người xem thấy các kho tàng chứa đầy vàng bạc châu báu) và ham hưởng thụ các lạc thú xác thịt (như xúi Người làm phép ra bánh rượu thịt và chiều theo các thú vui bất chính khác)... Còn bức bên phải lại vẽ cảnh thanh bình : Đức Giê-su đang ngồi giữa bầy dã thú và bên cạnh là các loài vật hiền lành như chiên cừu, bò dê, lừa ngựa, chim chóc...
Hai bức tranh sau diễn tả sứ mệnh của Đức Giê-su : Người đến sa mạc trần gian đầy sỏi đá và đang bị ma quỉ khống chế. Người thi hành sứ mệnh cứu thế bằng việc rao giảng Tin Mừng Nước Trời và xua trừ ma quỉ, tiêu diệt sự ác. Trong cuộc chiến đấu chống lại ma quỉ, Người luôn chọn đứng về phía Thiên Chúa là nguồn Chân Thiện Mỹ. Luôn làm theo Thánh Ý Thiên Chúa thể hiện trong các Lời Chúa phán trong Kinh Thánh. Người làm phép lạ chữa lành bệnh tật, an ủi người đau khổ,đưa những người lầm đường lạc lối ăn năn trở về, và tiêu diệt sự chết, thiết lập một Nước Trời ngay từ trần gian. Qua mầu nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh, Người đã hòa giải nhân loại tội lỗi với Thiên Chúa, thiết lập một Trời Mới Đất Mới công bình, yêu thương, bình an và hạnh phúc.
- Câu hỏi thảo luận : Sách Khải Huyền đã viết về sứ mệnh cứu thế của Đức Giê-su như sau : "Bấy giờ tôi thấy Trời Mới Đất Mới, vì trời cũ đất cũ đã biến mất, và biển cũng không còn nữa... Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết, cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa. Vì những điều cũ đã biến mất" (Kh 21, 1.4)
+ Vậy mỗi người chúng ta phải làm gì để nhận được ơn cứu độ do Đức Giê-su mang lại ? (ĐÁP : Hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng).
+ Ngay từ hôm nay chúng ta phải làm gì để cộng tác với Đức Giê-su trong sứ mệnh cứu độ thế gian ? (ĐÁP : Nên nhân chứng cho Chúa bằng việc yêu thương mọi người, khiêm nhường phục vụ người đau khổ bất hạnh và giới thiệu Chúa là đường, là sự thật và là sự sống cho tha nhân).
2) Anh em hãy sám hối và tin vào Tin mừng :
- Câu chuyện : Một mẫu gương sám hối :
+ Pi-ri Tô-mát (Piri Thomas), có viết một tác phẩm mang tựa đề là "Hãy đi xuống những đường phố tồi tàn này" (Down these mean streets ). Tác phẩm mô tả cuộc đời của mình : Từ một tên tội phạm đang thi hành án trong nhà tù, một con nghiện ma túy đã từng nhúng tay vào tội ác giết người ... cuối cùng trở thành một tín hữu đạo đức thánh thiện đầy lòng nhân ái. Câu chuyện sám hối ấy như sau : Một đêm nọ, Pi-ri đang nằm trong một phòng giam đặc biệt, cùng chung giường với một tên tội phạm biệt hiệu là "Thằng Ròm", đột nhiên anh có suy nghĩ về tình trạng tội lỗi của mình. Anh cảm thấy có một ước muốn mãnh liệt phải chỗi dậy cầu nguyện với Chúa. Nhưng lúc đó anh lại đang nằm chung một giường với một bạn tù tên là "Thằng Ròm". Do đó, chờ cho "Thằng Ròm" ngủ say, anh mới từ từ bò ra khỏi giường , quì gối xuống nền nhà bằng bê-tông lạnh ngắt. Rồi anh say sưa nói với Chúa như đứa con thưa chuyện với cha của mình. Anh đã thuật lại như sau : "Tôi bày tỏ với Chúa những gì chất chứa trong lòng tôi. Tôi thưa với Ngài bằng những lời đơn sơ mộc mạc. Tôi nói với Ngài những điều tôi muốn, những lầm lỗi thiếu sót của tôi, những hy vọng và thất vọng . Lúc đó tôi cảm thấy xúc động đến nỗi suýt bật khóc, một sự xúc động mà trước đây chưa bao giờ cảm thấy. Sau khi đã cầu nguyện xong, bỗng tôi nghe có tiếng đáp khẽ : "Amen". Thì ra đó là tiếng của "Thằng Ròm". Lúc đó hắn đang nằm sấp trên giường, đầu tựa trên cánh tay khép lại bên dưới trán. Sau một lúc lâu yên lặng. Rồi "Thằng Rờm" nói nhỏ với tôi : "Này Pi-ri, tớ cũng tin Chúa!". Rồi tôi leo lên giường và hai đứa chúng tôi tiếp tục nói chuyện về niềm tin từ hồi còn thơ ấu của mình. Trước khi ngủ tiếp, tôi đã nói với "Thằng Ròm": "Chúc Chi-co ngủ ngon nhé ! Tớ nghĩ rằng : Thiên Chúa vẫn luôn ở với chúng ta, chỉ có chúng ta là không muốn ở với Người mà thôi !".
- Suy nghĩ và quyết tâm:
+ Câu chuyện này minh họa lời Đức Giê-su nói trong bài Tin Mừng hôm nay : "Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng" : Ăn năn sám hối là "cải thiện đời sống", là "cải tà qui chánh". Nghĩa là nhìn nhận những gì không tốt đẹp, xấu xa trong đời sống của mình và quyết tâm từ bỏ . Nói cách khác : Sám hối là nhìn nhận thân phận tội nhân của mình và thực lòng hoán cải, bằng cách làm những việc tốt trái ngược với thói xấu của mình. Tin vào Tin Mừng là tin Đức Giê-su là Đấng Cứu Thế Con Thiên Chúa, Đấng được Thiên Chúa sai đến để rao giảng Tin Mừng Nước Trời. Người sẽ giải thoát chúng ta khỏi làm nô lệ cho ma quỉ. Cuối cùng nhờ mầu nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh, Người đã giao hòa chúng ta với Thiên Chúa Cha và ban cho chúng ta sự sống đời đời.
+ Vậy hiện giờ tôi cần phải ăn năn sám hối về mối tội đầu nào trong kinh Cải tội bảy mối có bảy đức ? Tôi quyết tâm làm gì cụ thể để tu sửa thói hư tật xấu ấy ? Dâng một lời nguyện để xin Chúa giúp chúng ta hoán cải nên tốt hơn trong Mùa Chay này.
III. Hiệp sống nguyện cầu
1) Lạy Chúa Giêsu , con thật kính phục Chúa đã vào sa mạc để cầu nguyện và ăn chay 40 đêm ngày. Con cảm thấy hổ thẹn vì những bữa ăn nhậu thừa mứa trong dịp Tết vừa qua : Con đã ăn uống no say trong khi biết bao đồng bào Miền Trung đang đói khát vì bao thiên tai bão lụt liên tiếp đổ xuống tàn phá nhà cửa, ruộng vườn, phá hủy các ghe thuyền và các phương tiện làm ăn sinh sống khác. Bao nhiêu đứa con mất cha, vợ mất chồng, anh mất em... khiến cho nhiều gia đình rơi vào hoàn cảnh đau khổ tột cùng. Vậy trong những ngày Mùa Chay này, xin Chúa giúp chúng con có tinh thần chay tịnh khổ chế, bằng cách nhịn ăn một tô phở, nhịn uống một tách cà phê hay nhịn hút vài điếu thuốc ... để cộng tác cứu trợ bà con vượt qua hoàn cảnh đói khát túng nghèo.
X) Hiệp cùng Mẹ Maria . -Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con.
2) Lạy Thánh Mẫu Maria , xin giúp con ý thức rằng : Đức Giê-su đã vào sa mạc là để tiếp xúc và sống thân tình với Chúa Cha. Xin cho Mùa Chay này cũng là thời gian thuận tiện để con cùng vào sa mạc với Đức Giê-su. Xin cho con mỗi ngày biết dành ít phút thinh lặng để tâm tình với Thiên Chúa Cha, cho con lắng nghe lời Đức Giê-su qua các buổi Tỉnh tâm Mùa Chay tại nhà thờ. Nhờ Thần Khí Chúa thôi thúc, con sẽ siêng năng thực hành sự khổ chế, bằng việc ăn chay trong ngày Thứ Tư Lễ Tro và Thứ Sáu Tuần Thánh. Xin cho con quyết tâm làm các việc hãm mình để đền tội, bằng cách chu toàn bổn phận trong gia đình và xã hội, sẵn sàng chủ động đi bước trước để làm hòa với kẻ đang giận ghét con...để mỗi ngày con đều được Thần Khí Chúa thanh luyện khỏi các đam mê tội lỗi và các thói hư tật xấu khác. Xin Mẹ giúp con mỗi ngày biết ăn năn tội để trở nên trong sạch hơn, xứng đáng nhận được Ơn Chúa để biến đổi nên người mới trong Mùa Phục Sinh sắp tới.
X) Hiệp cùng Mẹ Maria. - Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con.
 

MC1-B12. TRUNG THÀNH VỚI LỜI GIAO ƯỚC PHÉP RỬA -  Lm. Trần Bình Trọng

Theo Thánh kinh, thì mỗi thoả thuận giữa Thiên Chúa và loài người được gọi là một giao ước. Thiên: MC1-B12

Theo Thánh kinh, thì mỗi thoả thuận giữa Thiên Chúa và loài người được gọi là một giao ước. Thiên Chúa khởi sự cái giao ước bằng việc bày tỏ tình yêu của Người cho nhân loại. Và Thiên Chúa mời gọi loài người đáp trả cái tình yêu đó. Cái giao ước đầu tiên được ghi lại trong Thánh kinh là giao ước giữaThiên Chúa và ông No-e. Còn cái giao ước quan trọng nhất trong thời Cựu Ước là giao ước trên núi Si-nai.
Trong thời Cựu Ước, qua các tiên tri, Thiên Chúa luôn nhắc nhở cho dân phải trung thành với lời giao ước. Tuy nhiên dân riêng Chúa không mấy khi giữ lời giao ước. Họ thường bất trung, phản bội. Sau cùng Thiên Chúa làm một giao ước vĩnh cửu với nhân loại qua chính Con Một Người. Và giao ước đó được ký kết, không phải bằng máu hiến tế của chiên cừu trong Cưu Ước, nhưng bằng máu Con Thiên Chúa, đổ ra để chuộc tội nhân loại.
Trong bài trích thư thứ nhất của Thánh Phê-rô tông đồ, Thánh nhân cho thấy có sự song hàng giữa giao ước Chúa kí kết với ông No-e và giao ước Chúa thiết lập trong Bí tích Rửa tội. Theo Thánh Phê-rô thì cái việc gia đình ông Noe được cứu thoát khỏi nạn lụt đại hồng thuỷ, là cái dấu báo hiệu " cũng được cứu thoát qua nước rửa tội" Hôm nay Giáo hội muốn nhắc nhở cho ta một biến cố đã xẩy ra cho mỗi người khi còn ở tuổi măng sữa : đó là Bí Tích Rửa Tội. Bí tích Rửa tội là một biến cố vĩ đại, bất kể khi rửa tội, ta còn nhỏ bé như thế nào. Các nhà tâm lý học thường nhấn mạnh đến những gì ta có kinh nghiệm, bất kể lúc còn nhỏ tuổi thế nào đi nữa, đều có ảnh hưỏng đến đời sống hiện tại. Hoặc ta chịu phép Rửa tội khi còn ở tuổi măng sữa, hay khi đã lớn, ta phải tìm cho ra cái ý nghĩa và sống ý nghĩa đó. Bài Trích Sách Sáng Thế hôm nay ghi lại sau khi Chúa cứu gia đình ông Noe khỏi nước lụt hồng thuỷ, thì Chúa cho cái cầu vồng xuất hiện như là một biểu hiệu của lòng nhân từ hay thương xót của Chúa. Cái cầu vồng là biểu hiệu của giao ước giữa Thiên Chúa và ông No-e có nghĩa là bão táp đã qua đi và nước lụt đã rút xuống. Bí Tích Rửa tội cũng là một giao ước giữa Thiên Chúa với loài người. Trong Bí tích Rửa tội, Thiên Chúa ban tình yêu và lòng thương xót, còn người chịu phép rửa tội hứa giữ lòng trung tín, lo tròn bổn phận làm con.
Theo truyền thống cổ xưa, thì Giáo hội luôn nhấn mạnh việc rửa tội người dự tòng trong mùa chay. Ngay từ đầu, Giáo hội đòi hỏi người dự tòng phải dùng suốt mùa chay để học đạo, sửa soạn cho việc rửa tội trong đêm thánh vọng phục sinh. Ngày nay giáo hội khuyến khích ta giữ cái truyền thống tinh thần mùa chay, cái thời gian ăn năn sám hối và đền tội. Cũng vào cuối mùa chay, Giáo hội mời gọi ta ôn lại lời hứa khi chịu phép rửa tội là từ bỏ ma quỉ và tội lỗi và những lời hứa hão huyền của ma quỉ.
Giáo hội thiết lập mùa chay kéo dài 40 ngày để ghi nhớ 40 ngày Chúa Giê-su ăn chay và cầu nguyện trong sa mạc, cũng để giúp ta từ bỏ tội lỗi, cải tạo đời sống và thực thi đức tin. Để sửa soạn cho cái giao ước trên núi Si-nai, Mai sen cũng ăn chay 40 ngày... Elia, vị tiên tri vĩ đại cũng ăn chay 40 ngày trong cuộc hành trình lên núi Horeb. Gio-an tiền hô cũng ăn chay 40 ngày trước khi được gọi để sửa soạn cho việc Chúa đến bằng cách kêu gọi dân chúng chịp phép rửa thống hói. Trong đêm thánh vọng Phục sinh, ta sẽ lặp lại lời hứa khi chịu phép rửa tội. Để cho cái việc ôn lại lời hưá khi chịu phép rửa tội khỏi trở thành trống rỗng, ta cần sống tinh thần mùa chay: đó là tinh thần ăn năn sám hối.
 

MC1-B13. YẾU TỐ CON NGƯỜI

Khi mẹ Têrêxa thành Calcutta, vị sáng lập dòng nữ thừa sai bác ái, khởi sự công cuộc phục vu: MC1-B13

Khi mẹ Têrêxa thành Calcutta, vị sáng lập dòng nữ thừa sai bác ái, khởi sự công cuộc phục vụ những người hấp hối tại thành phố Calcutta bên An độ, thì vấn đề lớn nhất gặp phải đó là tìm cho ra nơi chốn để chăm sóc họ. Chính quyền địa phương chỉ có thể dành cho công việc xã hội này khu nhà trọ của khách hành hương tại đền thờ kính thần Kali, mà lúc bấy giờ đang là nơi chứa chấp bọn trộm cắp và xì ke.
Thế rồi một nguồn tin bất lợi được tung ra :
- Người đàn bà ngoại quốc này có ý đồ lôi kéo những người nghèo An độ theo Công giáo.
Trước nguồn tin này, một nhóm người đã kéo đến tòa thị chính để phản đối, còn một nhóm khác thì đến trụ sở cảnh sát để yêu cầu trục xuất người đàn bà đó.
Viên cảnh sát trưởng hứa sẽ giải quyết vụ này. Đích thân ông tới xem xét ngôi nhà. Ông thấy mẹ Têrêxa đang chăm sóc một bệnh nhân có những vết thương, vì lâu ngày không được chạy chữa, nên xông ra mùi hôi thối chịu không nổi. Thế mà vị nữ tu này vẫn nghiêng mình cặm cụi rửa ráy, lau chùi và băng bó như cho chính mình vậy.
Trở về trụ sở, ông gặp lại những người biểu tình và nói :
- Tôi hứa sẽ trục xuất người đàn bà ngoại quốc này ra khỏi khu vực đền thờ kính thần Kali, nhưng trước khi hành động, tôi chỉ xin mỗi người hãy đem theo mẹ hoặc chị em tới chăm sóc cho những người hấp hối đáng thương kia, thay thế cho người mà tôi được yêu cầu để trục xuất.
Từ câu chuyện trên, chúng ta đi vào phần kết của đoạn Tin mừng hôm nay, qua đó Chúa Giêsu kêu gọi mỗi người chúng ta :
- Hãy sám hối và tin vào Phúc Am.
Thế nhưng chúng ta phải sám hối như thế nào ?
Nói tới sám hối là chúng ta nghĩ ngay tới việc ăn năn những lầm lỗi mình đã phạm để rồi quay trở về cùng Chúa.
Tuy nhiên quay trở về cùng Chúa mà thôi chưa đủ, tâm tình sám hối còn đòi hỏi chúng ta phải quay trở về cùng anh em. Hòa giải với Chúa mà thôi chưa đủ, chúng ta còn phải hòa giải với người khác, vì tất cả chúng ta đều là anh em, con cùng một cha, sống trong cùng một gia đình, đó là cộng đồng nhân loại.
Thực vậy, trong toàn thể các tạo vật thì con người được Thiên Chúa đặc biệt chú ý đến…Bởi vì con người luôn mang trong tâm hồn mình một khát vọng sâu thẳm.
Với tư cách là thụ tạo, vì được dựng nên cho Thiên Chúa, nên con người sẽ luôn thao thức cho tới khi được an nghỉ nơi Ngài. Đằng khác, vì được dựng nên do cùng một nguồn gốc, con người không thể khước từ đồng loại của mình.
Chính vì thế mà việc sám hối đòi chúng ta vừa hòa giải với Chúa, lại vừa hòa giải với anh em. Vừa trở về cùng Chúa lại vừa trở về với anh em đồng loại.
Mẹ Têrêxa thành Calcutta chăm sóc cho những người hấp hối cũng chỉ làm một công việc bình thường, đó là sống trung thực ơn sám hối toàn diện nói trên.
Hãy hòa giải cùng Chúa và hòa giải cùng người khác. Hãy trở về với Chúa và hãy trở về với anh em mình. Đó chính là sứ điệp chúng ta cần phải làm ngay trong mùa chay này.
 

MC1-B14. CSTM/76- CHIẾN THẮNG CÁM DỖ

Năm nào cũng vậy, cứ vào Chúa nhật thứ nhất Mùa chay, Giáo hội cho chúng ta nghe đọc: MC1-B14

Năm nào cũng vậy, cứ vào Chúa nhật thứ nhất Mùa chay, Giáo hội cho chúng ta nghe đọc đoạn Tin Mừng kể về việc Chúa Giêsu bị cám dỗ và chiến thắng Satan. Năm A và C, đọc Tin Mừng của thánh Matthêu và thánh Luca, kể lại sự kiện này khá dài, kể rõ ba chước cám dỗ và ba lần Chúa Giêsu chiến thắng cám dỗ. Năm nay năm B, đọc Tin Mừng của thánh Marcô, kể lại rất vắn tắt, chỉ cho biết : “Thần khí thúc đẩy Chúa Giêsu vào hoang địa. Người ở đó 40 ngày, chịu Satan cám dỗ”. Tuy thánh Marcô không trực tiếp cho biết Chúa Giêsu đã chiến thắng Satan, đã xua đuổi nó, nhưng suốt sách Tin Mừng, thánh Marcô sẽ cho thấy Chúa Giêsu đi tới đâu thì Satan bị đánh bại đến đấy. Giáo hội cho chúng ta nghe đọc đoạn Tin Mừng này để mời gọi chúng ta chiêm ngắm hình ảnh Chúa Giêsu như kiểu mẫu và bảo đảm cho chúng ta trong cuộc chiến đấu với Satan và những cám dỗ của nó.
Đời người được ví như một đấu trường, ở đó con người phải luôn chiến đấu : chiến đấu với ngoại cảnh, chiến đấu với nhiều thứ, nhất là chiến đấu với chính mình. Tại sao vậy ? Bởi vì mang thân phận con người, ai ai cũng bị giằng co, xâu xé bởi hai khuynh hướng mâu thuẫn nhau : một cái kéo con người lên và một cái lôi con người xuống. Hai khuynh hướng đó đều nội tại trong con người, khiến cho nội tâm con người trở thành chiến trường, đôi khi rất cam go làm con người đau khổ.
Khuynh hướng đi lên là khuynh hướng căn bản của ý chí con người. Ai cũng muốn mình là người tốt, ai cũng muốn mình làm điều thiện, chứ không ai muốn mình xấu hay làm điều ác cả. Nhưng muốn là một chuyện, còn có làm điều tốt hay không lại là chuyện khác. Thánh Phaolô đã nói : “Tôi không hiểu nổi việc tôi làm : điều tôi muốn thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét thì tôi lại cứ làm”. Vì thế, muốn đi lên, con người phải cố gắng, phải dùng chính sức mạnh của mình, phải hao tổn năng lực của mình.
Còn khuynh hướng đi xuống cũng ở trong nội tâm, nhưng kể từ khi nguyên tổ phạm tội, khuynh hướng này đã được ma quỉ tăng cường làm cho mạnh lên, khiến con người muốn đi lên phải chiến đấu rất vất vả. Còn muốn đi xuống thì chẳng cần phải cố gắng gì cả, chỉ cần buông thả, không cố gắng nữa là tự động đi xuống. Chính vì thế làm thiện khó hơn làm ác rất nhiều. Và cái lực hấp dẫn mọi người làm ác hoặc không làm thiện là lực của ma quỉ.
Đúng vậy, đàng sau bối cảnh chiến trường mà con người phải chiến đấu, ẩn hiện chập chờn một nhân vật rất nguy hiểm mà Kinh thánh gọi là kẻ thù, ấy là satan. Satan là quỉ, nó là “xếp xòng” của loài quỉ. Satan hay quỉ trước kia là các thiên thần, nhưng vì làm loạn cùng Thiên Chúa  nên bị tống cổ ra khỏi thiên đàng và bị đày xuống hỏa ngục. Từ ngày thất thế, Satan và bè lũ trở nên những kẻ thù nguy hại của loài người. Chúng chuyên môn áp đảo, quấy phá để làm cho người ta hư hỏng theo chúng. Chúng đã làm hư hỏng biết bao nhiêu người. Chúng đã du nhập vào trần gian đủ thứ gian tham, lừa lọc, tội ác, bất công và những lối sống lố bịch, nham nhở, nhăng nhít… Tất nhiên có người sẽ nói : có thấy Satan hay quỉ nào công khai làm những chuyện đó đâu ? Đúng thế, ngày nay chúng ta ít được chứng kiến những vụ quỉ ám nhãn tiền mà Kinh Thánh đã ghi lại. Ngày nay rất ít trường hợp Satan hiện nguyên hình trực tiếp tác oai tác quái nữa, nhưng gián tiếp điều khiển trong bóng tối. Đó là một sức mạnh vô hình luôn tác động trong tâm trí chúng ta : lôi kéo, xúi bẩy chúng ta đến chỗ hành động xấu xa, tội lỗi. Chiến thuật hay phương thế ma quỉ sử dụng là cám dỗ. Chúng không kiêng nể ai hay buông tha ai. Vì thế, không ai thoát khỏi cám dỗ của chúng.
Theo nghĩa thông thường chúng ta quen hiểu, cám dỗ là dịp phạm tội. Bị cám dỗ là khi chúng ta thấy mình hướng chiều về một điều ưa thích thuộc phạm vi cấm đoán. Chẳng hạn : một vẻ quyến rũ từ bên ngoài lôi cuốn, một sự xôn xao, rạo rực, thèm khát từ bên trong thúc đẩy; một âm mưu hay thủ đoạn bày vẽ ra trong trí khôn thúc đẩy chúng ta hành động; một sự nhắm mắt làm liều, một hành động nổi loạn của toàn thân từ chối ép mình trong trật tự… Đó là những phát hiện của cơn cám dỗ. Như vậy, bị cám dỗ, bất cứ là cám dỗ về phương diện gì, không phải là tội. Khi chúng ta bị cám dỗ thì chỉ có nghĩa là chúng ta bị thử thách thôi. Và chỉ khi nào chúng ta bị thua chước cám dỗ thì mới có tội.
Đành rằng ma quỉ cám dỗ chúng ta. Nhưng chúng chỉ là kẻ thù nguy hiểm thứ hai sau xác thịt của chúng ta : thế gian, ma quỉ và xác thịt. Đó là ba kẻ thù ghê gớm. Ma quỉ chỉ là kẻ xách động, cám dỗ, thúc đẩy, xúi giục chúng ta phạm tội, nhưng chúng có gặp được sự đồng tình đồng ý của chúng ta hay không ? Tức là chúng ta có chấp nhận và chiều theo chước cám dỗ hay không ? Nói khác đi, ma quỉ chỉ có thể cám dỗ được chúng ta khi chúng ta có nhu cầu, ham thích, đam mê đối với những thực tại trần gian. Chúng ta có làm chủ được những nhu cầu thể chất ấy chúng ta mới dễ dàng thắng lướt được những cám dỗ, và không để cho khuynh hướng xấu làm chủ mình. Từ ngày có trí khôn cho đến giờ, ai trong chúng ta cũng đều có kinh nghiệm về việc cám dỗ. Chúng ta đã bị cám dỗ nhiều lần. Có lần chúng ta đã vượt qua được, và nhiều lần đã bị vấp ngã. Đó chính là thân phận của con người yếu hèn và bất toàn. Không bao giờ vấp ngã, đó là chuyện khác thường, đặc biệt, vô cùng tạ ơn Chúa. Còn hay bị vấp ngã, đó là chuyện bình thường. Và điều quan trọng là chúng ta phải ăn năn sám hối ngay.
 

MC1-B15. PV/128- NGOẠI TRỪ TỘI LỖI

Janet Frame là một tiểu thuyết gia người New Zealand. Trong suốt những năm đầu đời, bà: MC1-B15

Janet Frame là một tiểu thuyết gia người New Zealand. Trong suốt những năm đầu đời, bà đã phải chịu đựng những chứng bệnh về tâm lý, và vừa mới thoát khỏi cảnh bị ép buộc phải phẫu thuật thùy não. Cuối cùng, bà vào một bệnh viện ở Anh để điều trị. Tại đó, bà may mắn gặp được một bác sĩ rất hiểu biết, đã giúp đỡ bà phục hồi. Bằng cách nào vị bác sĩ đó khác hẳn với nhiều bác sĩ khác mà bà đã từng gặp ? Bà nói :
“Tôi rất dễ chịu vì biết rằng bác sĩ của tôi là một người không e ngại thừa nhận và bày tỏ tư tưởng kỳ lạ rằng nói cho cùng, ông ấy cũng là con người, và ông không thể làm gì được hơn, và khi giả vờ như mình là thần thánh, thì cũng không thể thay thế được điều đó.
Trong bệnh viện đó, việc quản lý bao gồm những vị bác sĩ mà chính họ cũng bị cản trở do không đủ tư cách pháp lý. Những bác sĩ này có thể dễ dàng liên hệ với các bệnh nhân của họ”.
Chúng ta không thể học hỏi được lòng thương xót, khi không biết thế nào là đau khổ. Chúng ta không thực sự hiểu được lòng thương xót là gì, hoặc không thể an ủi một người nào đó đang chịu đau khổ, trừ phi chúng ta đã từng đau khổ. Chúng ta không thể lau khô những giọt nước mắt của người khác, trừ phi chúng ta đã từng khóc lóc. Chúng ta không thể giúp đỡ những người lầm đường lạc lối tìm được con đường của họ, trừ phi chúng ta đã từng bước đi trong tăm tối. Khi đã từng chịu đau khổ, chúng ta mới có thể trở thành một con người mở đường cho người khác.
Trong Tin Mừng, chúng ta nhận thấy Đức Giêsu đã bị cám dỗ. Bức thư gửi tín hữu Do thái nói rằng Đức Giêsu đã trở nên “hoàn toàn giống như anh em Người về mọi phương diện”. Nơi Người, chúng ta có một vị thượng tế có thể cùng với chúng ta cảm nhận được sự yếu đuối của chúng ta; bởi vì Người đã từng bị cám dỗ bằng mọi cách giống như chúng ta, mặc dù Người không phạm tội. Đức Giêsu có thể đồng hóa với chúng ta. Người giống như chúng ta trong tất cả mọi sự và mọi cách, ngoại trừ tội lỗi. Người đã bị cám dỗ giống như chúng ta. Người không được miễn khỏi bị khổ sở, đau đớn, thất vọng… Người đã nếm thử thành công, thất bại, và cả cái chết. Người không khước từ bất cứ niềm vui nào của chúng ta, Người chỉ khước từ tội lỗi mà thôi. Đây là mầu nhiệm sâu xa nhất về tình yêu của Thiên Chúa. Đức Giêsu hoàn toàn là con người, nhưng điều đó không có nghĩa là Người chỉ là người mà thôi. Sự kiện Người không phạm tội không có ý nói rằng Người thiếu bất cứ tính cách nào của nhân loại. Tội lỗi không phải là một yếu tố thuộc về bản chất con người. Trái lại. Tội lỗi là sự sa ngã nơi bản tính nhân loại. Ngoài ra, Người còn chia sẻ sự yếu đuối và chước cám dỗ của chúng ta nữa. Bởi vì chính Người đã từng bị cám dỗ, nên Người thấu hiểu chúng ta, và có thể giúp đỡ chúng ta. Do đó, chúng ta có thể tin tưởng đến gần Người, trong sự nhận biết rằng chúng ta sẽ được Người thương xót, và được đón nhận ân sủng trong những lúc chúng ta cần.
 

MC1-B16. PV 131- BỊ CÁM DỖ BỞI VIỆC LÀNH

Những côn trùng và ruồi bị hương thơm của chất ngọt quyến rũ. Nhiều lần, chúng phát hiện rằng: MC1-B16

Những côn trùng và ruồi bị hương thơm của chất ngọt quyến rũ. Nhiều lần, chúng phát hiện rằng theo sau hương thơm của chất ngọt, có thể dẫn chúng đến một cuộc sống bị giam hãm hoặc tệ hại hơn. Do không thể kháng cự lại hương thơm, chúng bò vào bên trong một bông hoa, chỉ để đắm mình trong phấn hoa, để rồi chúng không thể trở ra được nữa.
Có thể bạn nghĩ rằng điều này không bao giờ xảy ra với con người chúng ta. Chúng ta quá tinh khôn để không bị sa ngã vào điều đó. Sự kiện đáng buồn là chúng ta lại vẫn cho phép điều đó xảy ra. Giống như những con ong, chúng ta cũng bị hương thơm của chất ngọt quyến rũ.
Ý nghĩa phổ biến của chước cám dỗ là lôi kéo con người làm điều sai trái. Khi nghĩ đến chước cám dỗ, ngay tức khắc chúng ta nghĩ đến những điều xấu xa. Tuy nhiên, không chỉ có sự dữ mới có thể đưa chúng ta đi lạc đường. Những việc tốt đẹp vẫn có thể cám dỗ chúng ta một cách đầy hiệu quả. Trên thực tế, tất cả những chước cám dỗ đều đến dưới chiêu bài là việc tốt đẹp. Và sức mạnh của một chước cám dỗ tỉ lệ với sức quyến rũ của mục đích.
Không phải chỉ khi nào đường đi khó khăn và rải đầy chướng ngại vật, chúng ta mới không tiếp cận được mục đích, nhưng khi đường đi dễ dàng và trải đầy những nét quyến rũ, chúng ta cũng vẫn bị như vậy. Trong trường hợp thứ hai, chúng ta bị cám dỗ coi con đường đó như trò đùa. Chúng ta tự cho phép mình đi sai đường, sao cho trước khi nhận ra điều đó, chúng ta đã quên mất mục đích, và lãng phí sức mạnh của mình. Những vinh hoa trần thế làm mất đi sự quyến rũ của hạnh phúc thiên đàng. Trong Tin Mừng, không thiếu những ví dụ về điều này.
Một dịp kia, Đức Giêsu kêu gọi một người giàu có trở thành môn đệ của Người, nhưng người đó đã từ chối. Không phải sự dữ đã làm cho anh ta từ chối – anh ta không làm điều gì xấu xa cả. Nhưng anh ta từ chối chỉ vì một điều gì đó tốt đẹp – sự giàu có.
Khi Đức Giêsu đi vào nhà của Marta và Maria, Marta quá bận rộn, nên không thể lắng nghe Người nói được. Không phải do điều gì đó xấu xa đã làm cho bà không nghe được lời Người, mà là một việc làm tốt đẹp, thậm chí đáng khen nữa – những công việc bày tỏ lòng hiếu khách. Đức Giêsu kể một câu chuyện về những người khách từ chối lời mời đến dự tiệc. Khi từ chối, họ không hành động do những động cơ xấu xa, nhưng do những động cơ tốt đẹp. Người thì muốn đi thăm mảnh đất mà họ mới tậu được. Người khác lại muốn thử con bò mới mua. Người thứ ba thì vừa mới cưới vợ. Tuy nhiên, mặc dù những nguyên nhân của họ đều tốt hảo cả, thì hậu quả vẫn như thể họ là những người tồi tệ – họ đã để cho bữa tiệc trôi qua.
Trong dụ ngôn về người gieo hạt, Đức Giêsu nói rằng một số hạt bị chết ngạt do gai góc. Những “bụi gai” này bao gồm cái gì vậy? “Những lo lắng và quan tâm đến thế gian này, và sự quyến rũ của giàu sang”. Một lần nữa, những điều này không phải tự chúng xấu xa. Từ tất cả những điều này, chúng ta phải suy ra điều gì? Đó là chúng ta có thể có nhiều điều đáng e sợ từ việc tốt cũng như việc xấu. Sau hết, khi nhận thấy một điều nào đó rõ ràng là xấu, thì chúng ta phải cự tuyệt nhiều hơn là bị điều đó lôi cuốn. Do đó, điều này đặt ra nhiều nguy hiểm hơn. “Khi dát vàng vào đôi cánh chim, thì nó sẽ không bao giờ bay được”. Những điều cám dỗ chúng ta từ bỏ mục đích của mình không phải lúc nào cũng luôn luôn xấu xa. Thông thường, đó lại là điều tốt đẹp. Vì thế, thật khó mà kháng cự lại được. Những sự chọn lựa đau thương nhất thường ở giữa điều tốt và điều xấu. Quỉ dữ không xuất hiện giống như một nhân vật đáng ghê tởm. Nhưng nó xuất hiện như một nhân vật hấp dẫn, đáng mến, dễ thương, thậm chí là một người bạn nữa. Nó xuất hiện để đem lại ý thích tốt đẹp nhất trong tâm hồn bạn – như khi nó dâng bánh và tất cả các nước trên thế giới cho Đức Giêsu. Chúng ta cần có sự khôn ngoan và sức mạnh, để có thể kháng cự lại những chước cám dỗ, đặc biệt đối với những cám dỗ đến dưới chiêu bài tốt đẹp.
 

MC1-B17. PV/133- TÁI TẠO CUỘC SỐNG

Lần kia, một vị vua đang thả bộ trên những con đường của thành phố thủ đô, thì có một người ăn xin: MC1-B17

Lần kia, một vị vua đang thả bộ trên những con đường của thành phố thủ đô, thì có một người ăn xin đến, anh ta liền hỏi xin vị vua chút ít tiền. Vị vua không hề cho người đó một đồng nào cả. Thay vào đó, vua mời anh ta đến lâu đài thăm viếng ông. Người ăn xin nhận lời mời của nhà vua.
Đến ngày hẹn, người ăn xin tìm đường đi đến cung điện, và được đưa đến gặp nhà vua, anh ta bỗng nhận ra quần áo rách rưới của mình, và cảm thấy xấu hổ. Đây là một biểu tượng hùng hồn về tình trạng nghèo khổ trong cuộc sống của anh.
Vốn là một loại người đặc biệt, nhà vua đón tiếp anh ta một cách nồng nàn, tỏ lòng thương xót anh, và ban cho anh ta một bộ quần áo mới, cùng với những thứ khác. Tuy nhiên, vài ngày sau, người ăn xin vẫn lê lết trên đường phố xin ăn trong bộ quần áo rách nát của anh ta.
Tại sao anh ta lại bỏ bộ quần áo mới? Bởi vì anh biết rằng khi mặc bộ quần áo đó, có nghĩa là anh phải sống một cuộc sống mới. Điều đó có nghĩa là anh phải từ bỏ cuộc sống của một người ăn xin. Nhưng anh chưa được chuẩn bị để làm như vậy. Không phải là cuộc sống mới không hấp dẫn đối với anh. Nó rất hấp dẫn. Chỉ vì anh biết rằng một sự thay đổi trong cuộc sống sẽ cần phải từ từ, gây đau xót và không chắc chắn. Nói cách khác, anh quá quen thuộc với thói quen cũ, đến nỗi không thay đổi được.
Thói quen đóng một vai trò lớn trong cuộc sống của chúng ta. Người ta nói rằng chúng ta sống nửa sau cuộc đời mình, tùy thuộc vào những thói quen đã có từ nửa đầu cuộc đời mình. Điều đó sẽ đem lại sự thoải mái cho người nào có những thói quen xấu.
Mùa chay đụng chạm vào một góc cạnh nào đó trong tâm hồn của tất cả chúng ta. Hình ảnh Đức Giêsu ăn chay và cầu nguyện trong sa mạc gây xúc động cho chúng ta. Nhưng cũng bắt buộc chúng ta phải nhìn vào cuộc sống của mình. Mùa chay thách đố chúng ta cải thiện con người mình. Nhưng những nỗ lực của chúng ta trong việc đổi mới thường không đủ sâu xa. Nếu muốn mặc một cái áo mới, thì chúng ta phải vứt bỏ cái áo cũ. Việc mặc cái áo mới sẽ lôi kéo theo một lối sống mới.
Nếu mong muốn thay đổi những khía cạnh bên ngoài cuộc sống, thì trước hết, chúng ta phải thay đổi những thái độ tư tưởng bên trong của chúng ta. Sự thay đổi đòi hỏi chúng ta phải lấy những thói quen mới thay thế vào những thói quen cũ. Điều này mời gọi chúng ta phải biết làm chủ bản thân, và tự bắt mình phải thực hiện những gì cần thiết. Trước hết, thông qua sức mạnh của lời cầu nguyện, chúng ta có thể hoàn tất được sự thay đổi tâm hồn theo lời mời gọi của mùa chay.
Mặc dù sự thống hối và lời cầu nguyện luôn luôn phù hợp, nhưng những yếu tố đó lại càng đặc biệt phù hợp trong mùa chay. Đây là thời gian của ân sủng. Mùa chay là một cửa ngõ mở ra một cơ hội lớn cho mọi người. Đó là “Mùa xuân thánh thiện” của Giáo hội. Trong suốt mùa chay, những người dự tòng được chuẩn bị nhận lãnh phép Rửa tội, để được tái sinh trong Đức Kitô. Đây là một thời kỳ của sám hối và cố gắng. Nhưng cũng là thời kỳ của niềm vui lớn lao, tương tự như mùa xuân vậy. Trong khi chúng ta nỗ lực tiến tới Mùa Phục Sinh, thì mặt trời càng ngày càng tươi sáng và ấm áp hơn.
Vậy chúng ta phải làm gì ? Nói tóm lại, chúng ta phải quay trở về với sức mạnh của tình yêu. Sống tử tế, hành động theo lẽ phải, và bước đi một cách khiêm tốn cùng với Thiên Chúa. Nguyện xin Thiên Chúa giúp đỡ chúng ta dẹp bỏ được những mảnh rách của tội lỗi, để Người có thể mặc cho chúng ta chiếc áo mới của sự sống.
 

Mc1-B18: CẦU NGUYỆN – CHAY TỊNH – CHIA SẺ

Đời sống người Ki-tô chúng ta, là một cuộc sống liên tục noi gương Chúa Ki-tô: Mc1-B18

Đời sống người Ki-tô chúng ta, là một cuộc sống liên tục noi gương Chúa Ki-tô, như thế mới xứng danh là Ki-tô hữu. Và để noi gương Chúa Ki-tô, Chúng ta hãy học theo Ngài trong những trang Tin Mừng. Có người sẽ nói, Chúa dạy nhiều quá, làm sao tôi theo cho hết được. Trong phạm vi một bài viết nhỏ này, xin được tóm tắt những điều Chúa dạy ta phải làm vào ba việc mà ai trong chúng ta cũng có thể làm được, giữ được, đó là Cầu nguyện – Chay tịnh và Chia sẻ. Tóm lại là ba chữ C cho dễ nhớ.
1. Cầu nguyện:
Cầu nguyện là một việc làm rất đẹp ý Chúa, mà ai ai cũng có thể làm được, ở đâu ta cũng có thể cầu nguyện được, chính vì thế mà Chúa Giê-su đã dạy: Chúng con hãy cầu nguyện luôn kẻo sa chước cám dỗ ( Lc 22, 40 ). Mà không những Chúa chỉ dạy ta cầu nguyện, mà Chúa còn làm gương cầu nguyện nữa, nhiều chỗ trong Tin Mừng đã nói rõ ( Lc 22, 42; Ga 11, 41 – 42; Ga 17, 1 – 26 ). Còn rất nhiều đoạn khác trong Tin Mừng nói về việc Chúa Giê-su cầu nguyện... và đặc biệt nhất là Chúa dạy chúng ta cầu nguyện bằng Kinh Lạy Cha ( Mt 6, 9 – 13 ).
Thế cầu nguyện là gì ? Cầu nguyện là tâm tình với Chúa, thưa truyện với Chúa bằng tâm tư và ngôn ngữ của chính ta, như con cái thỏ thẻ với cha mẹ những tình cảm yêu mến, những nhu cầu xin Chúa thương ban, hoặc kể cho Chúa nghe những tâm sự vui buồn, lòng biết ơn v.v... Có những khi ta vui quá, hay buồn quá tự lòng ta không biết nói gì với Chúa, hoặc khi có đông người muốn cùng có chung một lời cầu nguyện thì Giáo Hội mới lập nên những lời kinh chung giúp chúng ta cùng nhau cầu nguyện. Do đó, cầu nguyện không phải chỉ là đọc kinh, đọc những công thức một cách máy móc, còn lòng trí thì để vào cái chuyện đâu đâu, với kinh nguyện thì miệng ta đọc, lòng ta phải kết hợp với lời kinh để suy gẫm với Chúa với Đức Mẹ, các thánh….
Cầu nguyện đẹp ý Chúa nhất là trong mọi công việc hàng ngày, ta hãy có tâm lòng cùng làm với Chúa, và làm vì yêu mến Chúa và phục vụ tha nhân. Qua đó những việc ta làm, những lời ta nói luôn luôn hướng về Chúa và cho Chúa, cho anh em... biến những lời nói việc làm của ta luôn thành những việc lành, việc thiện như thánh nữ Têrêsa Hài Đồng nhặt một cộng rác, khâu một mũi kim cũng làm vì mến Chúa. Chúa muốn ta cầu nguyện liên tục là như vậy, chứ Chúa không bảo ta đọc kinh liên tục để khỏi sa chước cám dỗ.
Vì thế, nhiều khi chúng ta bỏ qua bao nhiêu dịp để cầu nguyện, để cùng làm, cùng vui buồn với Chúa. Gặp lúc con kiến cắn vào chân ta, ta cau có bực bội nghiến răng lại lấy tay giết con kiến đó cho bõ ghét, thay vì ta nói với Chúa, Chúa ôi, Chúa dựng nên con kiến làm gì để nó cắn con đau vậy... Đó cũng là cầu nguyện đấy, ta cùng thưa chuyện với Chúa trong mọi nơi mọi lúc.
2. Chay tịnh:
Nói đến chay tịnh ta liên tưởng ngay đến ăn chay, cữ chay... Ngoài ăn chay ra ta còn nhiều cách phải giữ chay tịnh nếu muốn mong được cứu rỗi. Chúa Giê-su làm gương chay tịnh cho ta bằng cách Chúa vào vườn Ghết-sê-ma-ni, ăn chay 40 đêm ngày. Chúa còn dạy ta giữ chay tịnh bằng nhiều cách thức khác nhau, như Chúa nói: Ai nhìn xem người nữ bằng con mắt trái thì đã phạm tội ngoại tình trong lòng rồi ( Mt 5, 27 ) đó là chay tịnh đối với con mắt, mình cứ thả lỏng cho con mắt muốn nhìn ngó đâu thì cứ việc thoải mái, thì tội dâm dục sẽ cứ qua con mắt mà đi ra vào linh hồn ta. Rồi miệng lưỡi ta cũng vậy, ta cũng phải giữ chay tịnh cho nó, gặp đâu nói đấy, nói những lời độc địa gây chia rẽ, nói hành nói xấu anh em thì đúng là những gì từ cái miệng lưỡi xấu xa, những lời nói độc địa đó làm cho con người ra ô uế ( Mt 15, 10 ).
Để giữ chay tịnh được như ý Chúa, ta phải tự nghiêm khắc với bản thân mình, phải giữ mình, không được sống buông thả theo bản năng tự nhiên, mà phải hãm mình theo lời Chúa dạy: “Ai muốn theo Ta hãy bỏ mình, vác thánh giá hàng ngày mà theo Ta” ( Lc 14, 27 ).
Trong một xứ đạo kia, Cha Sở thông báo là trong ngày chay không ai được xem phim ảnh gì cả, đó cũng là một cách giữ chay, rồi giữ đôi tai không nghe những câu chuyện tục tĩu bậy bạ, những điều chay tịnh này chúng ta phải cố gắng kiêng giữ, không xem, không đọc sách báo xấu, không bước chân vào các quán bia ôm, cà phê ôm, không ăn uống quá độ, không bạn bè với người xấu, đó là những điều Chúa bắt ta phải giữ gìn, đừng để những thói hư tật hấu đó làm hỏng linh hồn ta, đó là cách ta phải giữ chay tịnh hàng ngày, không phải chỉ đến Mùa Chay mới phải giữ, mà là người theo Chúa Ki-tô phải có cách sống thánh thiện như Chúa là vậy.
3. Chia sẻ:
Đời sống của chúng ta không phải là đời sống cá thể mà là đời sống tập thể, chúng ta vó bổn phận phải yêu thương và quan tâm đến những người chung quanh. Yêu thương và quan tâm bằng cách chia sẻ những gì ta đang có với những người chưa có. Cái điều mà ai ai cũng có thể chia sẻ cho nhau, đó là năng cầu nguyện cho nhau, dâng lễ, rước lễ cầu nguyện cho nhau, nhất là cho người ở kế bên ta, ta hay quên lắm, thấy họ vẫn mạnh khỏe, vẫn cười nói, mà biết đâu chính họ cũng đang có nhu cầu cần ta cầu nguyện cho đó.
Như trên đây đã nói, cầu nguyện là việc rất đẹp lòng Chúa và ai ai cũng có thể làm được, ta hãy cầu nguyện cho nhau, bao nhiêu người được mạnh khỏe, hay chính bản thân ta được thế này cũng chính là do ai đó đã cầu nguyện cho ta. Nhà hàng xóm của ta, anh em ta đang gặp khó khăn, nhất là về tinh thần, ta hãy cầu nguyện cho họ và tìm cách giúp họ những gì theo khả năng ta.
Việc ăn chay là tự ta bớt xén phần ăn uống tiêu xài để dư ra được chút ít gì về vật chất. Chúa muốn những phần ta dành ra đó để giúp đỡ người khác đang thiếu thốn hơn. Có những cách ta có thể chia sẻ được mà ta không nhận ra. Thí dụ, hôm nay buổi sáng ta đi dự một thánh lễ đủ rồi, nhưng còn giờ buổi chiều ta có thể dự thêm một thánh lễ nữa, với ý đi thay cho ai đó hôm nay vì công việc vì bổn phận khác mà không thể đi dự lễ được. Tốt lắm, ta chia sẻ việc lành cho nhau, ta chia sẻ ơn Chúa cho nhau. Rồi những khi gặp nhau, ta chia sẻ cho nhau những lời thăm hỏi, những kinh nghiệm sống, những tin tức cần thiết cho nhau, đó là điều rất đẹp lòng Chúa và làm phong phú đời sống của chúng ta và của những người đang sống quanh ta…
Về vật chất cũng vậy, ta không thể nuôi nổi ai hay giúp ai được chi nhiều, nhưng Chúa sẽ dùng những cái ít ỏi của ta mà làm nên những việc kỳ lạ mà ta không tưởng tượng được. Ta còn nhớ Chúa không tự nhiên làm phép lạ biến đá thành bánh để nuôi dân khi họ đến với Chúa quá đông, nhưng Chúa lại dùng năm cái bánh và hai con cá của một em bé, phép lạ của Chúa thực hiện do lòng quảng đại, do sự chia sẻ thành tâm của một em bé.
Ngày nay, Chúa cũng không biến gạch đá để nuôi một gia đình nghèo ở đâu đó, nhưng Chúa dùng 20 hay 50 đồng bạc bé nhỏ của ta giúp họ làm vốn, từ đó Chúa làm thành, Chúa nhân ra những đồng tiền lớn hơn giúp họ tự xoay sở được... Sự chia sẻ của ta quan trọng chính là ở tấm lòng yêu thương quảng đại, chứ không phải quan trọng ở số lượng, ở giá trị tờ giấy bạc ta trao tặng, Thiên Chúa sẽ biến những đồng tiền bé nhỏ của ta thành cuộc sống của người khác mà ta sẽ không ngờ.
Lạy Chúa, Mùa Chay Thánh năm nay, là Mùa Chay thứ bao nhiêu đã đi qua đời con, mà chưa Mùa Chay nào con sống được trọn vẹn ý nghĩa của Mùa Chay như lòng Chúa mong muốn. Xin cho Mùa Chay này, con nhận ra rõ ràng hơn ý Chúa đang chờ đợi con, ý Chúa đang muốn con thực hiện trong Mùa Chay này là CẦU NGUYỆN, là CHAY TỊNH, là CHIA SẺ với anh chị em con những gì mà Chúa đã trao phó cho con, ước chi Mùa Chay năm 2002 này giúp con lớn hơn trên con đường yêu mến Chúa, và cũng được lớn hơn trên con đường phục vụ tha nhân. Amen.
                PHẠM VĂN LƯỢNG, Huynh Đoàn Ki-tô, Người Bệnh và Khuyết Tật
 

Mc1-B19: ĐỨC GIÊ-SU CHỊU CÁM DỖ TRƯỚC KHI CÔNG KHAI RAO GIẢNG TIN MỪNG - JKN

Suy tư gợi ý:
1. Đức Giê-su chịu thử thách trước khi ra đi loan báo Tin Mừng
 

Cám dỗ là một điều cần thiết trong cuộc sống để chúng ta có thể chứng tỏ tình yêu của mình đối: Mc1-B19

Cám dỗ là một điều cần thiết trong cuộc sống để chúng ta có thể chứng tỏ tình yêu của mình đối với Thiên Chúa. Thật vậy, làm sao ta có thể biết tình yêu của ta đối với Thiên Chúa và tha nhân, tinh thần siêu thoát, lòng đạo đức của ta cao hay thấp và ở mức độ nào, nếu ta không được thử thách? Tương tự như nếu không dùng lửa hay a-xít để thử, làm sao ta có thể biết được những đồ trang sức của ta là vàng thật hay vàng giả, là nguyên chất hay bị pha tạp? và nếu bị pha tạp thì pha tạp ở mức độ nào? Để biết rõ một người trước khi dùng người đó, nhất là vào những chức vụ quan trọng, giám đốc nhân sự của các công ty thường thử tay nghề, thử lương tâm, thử bản lãnh, thử mức độ đáng tín nhiệm của người đó bằng nhiều phương cách khác nhau. Ông có thể dàn dựng khéo léo những cơn cám dỗ. Nhờ những thử thách đó, chẳng những viên giám đốc công ty biết rõ người mình muốn tuyển chọn, mà chính bản thân người được thử thách ấy cũng biết rõ tài đức của mình hơn. Những người đã qua được thử thách một cách thành công chắc chắn sẽ cảm thấy tự tin hơn và dễ đạt được thành quả tối ưu trong công việc của mình. Như vậy, thiết tưởng việc thử thách để biết bản lãnh về tài và đức của mình hay của người là một việc cần thiết và hết sức dễ hiểu.
Quan niệm như thế, ta thấy việc «Thần Khí đẩy Đức Giê-su vào hoang địa» để «chịu Xa-tan cám dỗ» trong «bốn mươi ngày» trước khi Ngài khai mạc công việc rao giảng Tin Mừng, là một việc dường như tất yếu phải có. Qua thử thách đó, Đức Giê-su có dịp tỏ ra cho Thiên Chúa và mọi người thấy bản lãnh của Ngài để có thể đảm trách công việc loan báo Tin Mừng và cứu chuộc nhân loại.
2. Thử thách và cám dỗ rất cần thiết trong đời sống chúng ta
Trong mùa Chay, Giáo Hội mời gọi chúng ta ý thức về tình trạng yếu kém, tội lỗi, đầy khiếm khuyết trong con người hiện tại hay «con người cũ» – vốn «bị tội lỗi thống trị» (Rm 6,6) – của chúng ta. Từ đó, ta mới quyết tâm «cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa» (Ep 4,22; x. Cl 3,9) để «mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa hầu thật sự sống công chính và thánh thiện» (Ep 4,24).
Nhiều khi chúng ta ý thức và tự xưng rằng mình tội lỗi, dù rất thật lòng, nhưng ý thức về tình trạng tội lỗi ấy nhiều khi hết sức mơ hồ. Chúng ta không biết mình tội lỗi thế nào, ở mức độ nào, tội lỗi ở chỗ nào… Chính vì thế, chúng ta không biết đường nào mà sửa mình, để rồi cuối cùng, chúng ta chẳng sửa đổi gì cả, nghĩa là «mèo vẫn hoàn mèo». May thay, nhờ có những cám dỗ xảy đến trong đời sống mà ta biết được mình tội lỗi thế nào, ở mức độ nào.
Cũng có nhiều khi ta tưởng mình đạo đức, thánh thiện, vì ta cảm thấy mình rất ít khi lỗi luật của Chúa hay của Giáo Hội. Ta có cảm tưởng ta rất tốt với bạn bè, với những người chung quanh ta, vì ta thấy mình cư xử rất lịch thiệp với họ, không hề đụng chạm tới quyền lợi họ, hay không hề cư xử bất công với họ… Ta cũng giống như Phê-rô và các tông đồ xưa, nghĩ mình là người luôn luôn trung thành với Đức Giê-su bất kỳ trong hoàn cảnh nào: «Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy» (Mt 26,35). Khi nói như thế, các ông rất thành thật, không một chút dối trá. Nhưng các ông không thể ngờ được phản ứng của các ông sau này khi Đức Giê-su bị bắt: «Các môn đệ bỏ Người mà chạy trốn hết» (Mt 26,56), còn Phê-rô, người tỏ ra sẵn sàng sống chết với Thầy mình nhất thì «gà chưa kịp gáy ông đã chối Thầy tới ba lần» (Mt 26,75).
Nhiều khi thứ đạo đức hay trong sạch của ta tương tự như độ trong của một ly nước múc từ dưới bùn lên, nhưng đã được để lắng trong nhiều ngày. Phần trên của ly nước cũng trong vắt không kém gì một ly nước suối. Nhưng khi quậy lên thì nước trong ly đục ngầu đang khi ly nước suối có quậy đến đâu cũng vẫn tiếp tục trong vắt. Nếu không quậy lên, người ta có cảm tưởng nước ở trong cả hai ly tốt như nhau. Nếu không quậy lên, làm sao biết được ly nào là trong thật sự? Cũng vậy, nếu không có cám dỗ, làm sao biết được ai đạo đức sâu xa, ai đạo đức chỉ ở bề mặt?
3. Chỉ biết mình đạo đức hay không qua những cám dỗ thử thách
Nguyễn Công Trứ viết: «Ví phỏng đường đời bằng phẳng cả, anh hùng hào kiệt có hơn ai». Thật vậy, nếu cuộc đời của mọi người đều an bình, thuận buồm xuôi gió cả, thì người có bản lãnh sẽ hành xử chẳng khác gì người không bản lãnh. Nếu các đồ vàng bạc không được thử bằng lửa hay a-xít thì chẳng sao phân biệt được vàng thật hay vàng giả. Cũng vậy, chính trong cơn hoạn nạn ta mới biết được ai là bạn tốt, bạn thật của ta: «Friend in need, friend indeed» (Bạn bè trong cơn hoạn nạn mới là bạn thật). Tương tự, chỉ khi gặp những biến cố, những hoàn cảnh khó khăn, ta mới biết được ta có đạo đức hay không. Muốn biết đạo đức của ta ở mức độ nào, ta cần phải tự xét xem phản ứng của ta thế nào…
– khi quyền lợi của ta bị va chạm một cách bất công: lúc đó ta nổi sùng lên và chửi rủa loạn xạ? hay ta bình tĩnh xét xem nguyên nhân tại đâu, suy nghĩ xem có thể giải quyết cách nào cho đẹp nhất, khôn ngoan nhất, bác ái nhất?
– khi có một quyền lợi nào đó không thể phân chia xảy đến giữa ta và người bạn của ta: lúc đó ta quyết dành quyền lợi ấy về cho mình? hay biết nhường cho bạn? Epictète đưa ra hình ảnh hai con chó có vẻ quấn quít và yêu thương nhau lắm. Nhưng khi có ai quăng cho chúng một cái xương, thì chúng quay ra cắn nhau sứt đầu chảy máu. Như vậy có thật là chúng yêu thương nhau không? Làm sao biết được chúng có yêu thương nhau thật sự không nếu không có miếng xương để thử?
– khi đứng trước một người gặp nguy khốn đang cần cứu giúp, nhưng nếu cứu giúp thì ta sẽ phải hy sinh rất nhiều: lúc đó ta sẽ cứu giúp người ấy bất chấp phải hy sinh? hay sẽ nhường việc cứu giúp ấy cho người khác?
– khi đứng trước những bất công trước mắt mà việc lên tiếng của ta có thể chặn đứng hay giảm bớt phần nào, nhưng nếu lên tiếng thì ta sẽ bị sách nhiễu, công việc của ta sẽ bị cản trở: lúc đó ta sẽ coi sự đau khổ của đồng loại quan trọng hơn sự thoải mái cá nhân ta? hay ngược lại?
– khi mà nồi cơm của ta và gia đình ta bị đe dọa nếu ta làm theo lương tâm, và làm theo lương tâm sẽ cứu được biết bao nồi cơm của những gia đình khác: lúc đó ta sẽ coi những nồi cơm của vô số gia đình kia quan trọng hơn nồi cơm của gia đình mình? hay ngược lại?
– khi có hai người giàu và nghèo đến với ta một lúc, người giàu đem lại nhiều lợi lộc cho ta, còn người nghèo đến để nhờ ta một việc khá khó khăn: lúc đó ta sẽ đối xử với hai người một cách niềm nở như nhau? hay ta sẽ đối xử một cách phân biệt hết sức rõ rệt?
– v.v…
Rất nhiều người tưởng mình tốt lành thánh thiện chỉ vì thấy mình chưa hề phạm một lỗi nào quá đáng, rồi dựa trên sự vô tội của mình họ chê bai người khác đã phạm lỗi này tội kia. Thật ra họ chỉ là người chưa phạm tội vì chưa phải ở trong những hoàn cảnh khó khăn, nhiều cám dỗ, chứ không phải họ là những người khó có thể phạm tội. Rất có thể khi gặp những hoàn cảnh khó khăn, những cơn thử thách, họ còn phạm tội nặng nề hơn những người đã từng bị họ chê trách, mặc dù hoàn cảnh khó khăn hay sự thử thách của họ chẳng nặng nề bằng những người kia. Sự thánh thiện đạo đức phải dựa trên khả năng không phạm tội khi bị cám dỗ, chứ không chỉ đơn thuần dựa trên tình trạng vô tội trong hiện tại chỉ vì chưa gặp cám dỗ.
Nhiều người tự hào khoe mình bản lãnh lắm, hoặc được mọi người coi là đã tiến rất xa trên con đường nhân đức chỉ vì tu hành đã lâu năm, hay vì được nắm giữ những chức vụ quan trọng trong Giáo Hội, v.v… Nhưng khi gặp những thách đố, khi phải đối đầu với những cám dỗ chưa từng gặp, họ mới nhận ra bản lãnh của mình còn non kém, hay đường nhân đức của mình mới chỉ ở giai đoạn đầu.
Như đã nói trên, cám dỗ và thử thách rất cần thiết cho việc nên thánh của ta. Tuy nhiên, không phải vì thế mà ta nên tự tìm cho mình những cám dỗ. Trái lại, sự khôn ngoan đòi buộc ta phải tránh xa các dịp tội, những điều kiện hay cơ hội khiến ta có thể phạm tội. Câu «dĩ đào vi thượng sách» là một phương cách rất hay trong việc tu đức hay nên thánh. Và cũng nên nhớ lời khuyên của Phao-lô: «Ai tưởng mình đứng vững, hãy coi chừng kẻo ngã» (1Cr 10,12). Nhưng khi những cám dỗ tình cờ xảy đến ngoài ý muốn của ta, ta nên sẵn sàng đón nhận, và hãy chiến đấu một cách dũng cảm, quảng đại. Rồi dù thắng hay bại, ta cũng hãy coi chúng như những hồng ân Chúa ban để giúp ta hiểu rõ mình hơn, khiêm nhường hơn, giúp ta xác định đúng hơn mình đang ở vị trí nào trên con đường nên thánh.
 

Mc1-B20: VÀO HOANG ĐỊA – Tgm Giuse Kiệt

Ai yêu bóng đá đều say mê theo dõi những trận đấu đỉnh cao giữa các đội ngoại hạng Anh, hoặc: Mc1-B20

Ai yêu bóng đá đều say mê theo dõi những trận đấu đỉnh cao giữa các đội ngoại hạng Anh, hoặc giữa các đội tranh Cúp C1. Ta say mê vì các cầu thủ siêu hạng phô diễn kỹ thuật cá nhân điêu luyện, các đội bóng di chuyển chiến thuật kỳ ảo, các bài bản tinh vi của các huấn luyện viên bậc thầy, các pha phối hợp đẹp mắt giữa các cầu thủ. Không phải tự nhiên mà các cầu thủ chơi bóng giỏi đến mức độ nghệ thuật như thế. Họ phải mất nhiều thời gian tập luyện. Tập luyện để đạt được kỹ thuật cá nhân điêu luyện. Tập luyện để có thể lực dẻo dai. Tập luyện để có những xử lý thông minh theo tình huống. Tập luyện để hiểu nhau tiến đến những pha phối hợp nhịp nhàng ăn ý. Những buổi tập rất nghiêm ngặt, đòi hỏi cầu thủ phải có quyết tâm cao, có tinh thần kỷ luật nghiêm túc. Ai không chịu nổi các bài tập khó, sẽ bỏ cuộc. Ai vượt qua được những buổi tập nghiêm túc sẽ trở thành những cầu thủ giỏi.
Đời sống tâm linh là một cuộc chiến đấu. Chiến đấu với ba thù: ma quỷ, xác thịt, thế gian. Để có đủ khả năng chiến đấu, ta phải được rèn luyện, phải trải qua những thử thách. Đức Giêsu, sau khi chịu phép rửa, được Thánh Thần đưa vào hoang địa để chịu thử thách.
Hoang địa là nơi hoang vu không nhà không cửa, không người thân, không cây cối, tức là không có một tiện nghi tối thiểu nào, không có một nguồn trợ lực nào. Chỉ có cát đá, thú dữ, ma quỷ, tức là chỉ có những khó khăn thách đố bắt ta phải chiến đấu, phải đương đầu.
Cuộc chiến đấu thứ nhất mà Đức Giêsu phải trải qua là cuộc chiến đấu với thiên nhiên. Người sống trong hoang địa phải chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt. Tại các sa mạc cát phủ, đêm thì lạnh thấu xương, ngày thì nóng như thiêu. Hầu như không có thực phẩm. Người sống trong hoang địa phải chịu đói, chịu khát, chịu cái nóng nung người, chịu cái lạnh cắt da, chịu tất cả mọi thiếu thốn của đời sống thường ngày. Xưa, dân Do Thái được Chúa đưa vào nơi hoang địa để huấn luyện trước khi đưa họ vào Đất Hứa. Trong hoang địa, người Do Thái không chịu nổi những thiếu thốn, nên đã nhiều lần nổi loạn chống lại Chúa, chống lại ông Môsê, muốn quay trở lại làm nô lệ bên Ai cập để được ăn no ngủ kỹ. Trái lại, tổ phụ Abraham đã chấp nhận vượt qua hoang địa, nên đã tới Đất Hứa, tiên tri Êlia đã vượt qua hoang địa 40 đêm ngày, nên đã đi đến núi của Thiên Chúa. Và hôm nay, Đức Giêsu đã thắng được cái lạnh, cái nóng và nhất là đã thắng được cái đói cái khát, đã hoàn toàn làm chủ được bản thân trước những nhu cầu của thân xác.
Cuộc chiến đấu thứ hai mà Đức Giêsu phải trải qua là cuộc chiến đấu chống lại ma quỷ. Thiên Chúa cho phép ma quỷ thử thách con người. Từ tạo thiên lập địa, hai ông bà nguyên tổ đã bị ma quỷ cám dỗ và đã thua cuộc. Ông thánh Gióp cũng đã bị ma quỷ thử thách, mất hết tài sản, mất hết con cái, mất hết danh dự. Nhờ kiên quyết trung thành với Chúa đến cùng, ông đã thắng được ma quỷ. Đức Giêsu đã thắng vượt mọi cơn cám dỗ ma quỷ đưa tới nhờ Người vững lòng tin ở Thiên Chúa. Những cơn cám dỗ của ma quỷ thường là cám dỗ về đức tin. Adong và Evà không vững lòng tin nên đã sa ngã. Ông thánh Gióp vững lòng tin nên luôn đứng vững qua mọi thử thách. Đức Giêsu luôn vững niềm tin vào Chúa Cha, nên đã chiến thắng mọi cơn cám dỗ thâm độc nhất của ma quỷ.
Cuộc chiến đấu thứ ba mà Đức Giêsu đã trải qua là cuộc chiến đấu từ bỏ ý riêng để tìm thánh ý Chúa Cha. Hai ông bà nguyên tổ đã tìm ý riêng hơn ý Chúa, nên đã đi trệch đường. Đức Giêsu luôn tìm thánh ý Chúa Cha, nên Người đã từ bỏ con đường rộng để đi vào con đường hẹp, từ bỏ con đường dễ để đi vào con đường nghèo hèn, từ bỏ con đường riêng tư để đi vào con đường Chúa Cha đã định. Nên Người đã toàn thắng trong cuộc chiến đấu.
Hoang địa không phải chỉ là nơi thử thách. Hoang địa còn là nơi gặp gỡ Chúa. Sau khi đã thắng vượt tất cả các cuộc thử thách, ta sẽ gặp được Chúa, sẽ sống thân tình với Chúa và sẽ hoàn toàn thuộc về Chúa. Ông Môsê, sau 40 đêm ngày ở trên núi Sinai, đã trở nên bạn nghĩa thiết của Chúa. Mặt ông trở nên sáng láng đến nỗi dân Do Thái không dám nhìn thẳng vào. Tiên tri Êlia, sau khi đi 40 đêm ngày, đã tới núi của Chúa và đã gặp được Chúa. Đức Giêsu đã gặp gỡ Chúa Cha, đã tìm được ý Chúa Cha và đã kết hiệp mật thiết với Chúa Cha đến độ từ nay Người trọn vẹn thuộc về Chúa Cha. Thánh ý Chúa Cha đã trở thành kim chỉ nam hướng dẫn đời Người. Thi hành thánh ý Chúa Cha trở thành lương thực nuôi dưỡng Người. Người sẽ hy sinh tất cả, kể cả mạng sống để cho thánh ý Chúa Cha được nên trọn. Chính vì thế mà Người đã được gọi là “Con yêu dấu” của Chúa Cha.
Trong Mùa Chay, Giáo Hội mời gọi ta hãy vào hoang địa với Đức Giêsu để chịu thử thách, để rèn luyện đời sống tâm linh cho vững mạnh, kiên cường. Ta không có điều kiện để vào nơi hoang vắng, nhưng ta vẫn có thể vào hoang địa của cuộc đời.
Vào hoang địa của cuộc đời có nghĩa là sẵn sàng chấp nhận những khó khăn, thiếu thốn trong đời sống, dù đói nghèo vẫn giữ được tâm hồn tự do, không chịu nô lệ vật chất.
Vào hoang địa của cuộc đời có nghĩa là kiên cường chống trả mọi cơn cám dỗ ma quỷ đưa tới, luôn vững niềm tin vào Chúa dù gặp những khó khăn thử thách.
Vào hoang địa của cuộc đời có nghĩa là từ bỏ những ý riêng để luôn tìm thánh ý Chúa, sẵn sàng thực hành thánh ý Chúa, dù có phải đau đớn, thiệt thòi.
Vào hoang địa của cuộc đời có nghĩa là giữ tâm hồn bình an thanh thản để gặp gỡ Chúa, tiếp xúc thân mật với Chúa, hoàn toàn thuộc về Chúa để trở nên “Con yêu dấu” của Chúa.
Nếu ta chuyên tâm rèn luyện trong suốt mùa Chay, tâm hồn ta sẽ trở nên vững mạnh chống lại được những cám dỗ ma quỷ đưa tới; nhanh nhẹn dấn thân vào những việc đạo đức không ngại khó khăn vất vả; quen từ bỏ ý riêng để tuân theo ý Chúa và sẽ trở nên Con hiếu thảo của Chúa.
KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG
1. Bạn có quen chấp nhận những điều khó chịu không?
2. Bạn đã bị cám dỗ bao giờ chưa? Bạn đã chống trả thế nào?
3. Mùa Chay này, bạn sẽ sống thế nào để thêm lòng mến Chúa yêu người?
4. Bạn có thường từ bỏ ý riêng để theo ý Chúa không?

 

MC1-B21: Hãy cải thiện và hãy tin - Mark Link S.J.

Chủ đề: “Chúng ta phải nhìn nhận tội lỗi mình, và xin Đức Giêsu cứu giúp để từ bỏ tội lỗi đó”.
 

Piri Thomas có viết một tác phẩm nhan đề “Hãy xuống những con đường tồi tàn này” (Down: MC1-B21

Piri Thomas có viết một tác phẩm nhan đề “Hãy xuống những con đường tồi tàn này” (Down These Mean Streets). Tác phẩm mô tả việc ông cải tà qui chánh từ một người bị kết án tù, một người nghiện ma tuý, và cố tình giết người, rồi trở thành một Kitô hữu gương mẫu.
Một đêm kia, Piri đang nằm trên giường trong phòng giam của mình. Đột nhiên, anh nghĩ tới tình trạng hỗn loạn mà anh đã gây ra trong đời anh. Anh cảm thấy có một ước muốn mãnh liệt là cầu nguyện. Nhưng anh đang nằm cùng giường với một tù nhân khác mà người ta gọi là “thằng ròm”. Vì thế anh chờ đợi. Sau khi đoán chắc rằng “thằng ròm” đã ngủ, anh leo ra khỏi giường và quì xuống nền bê tông lạnh ngắt để cầu nguyện. Anh kể lại: “Tôi bầy tỏ với Chúa những gì có trong trái tim tôi… Tôi nói với Ngài những lời mộc mạc… chứ không phải những lời hoa mỹ… Tôi nói với Ngài những điều tôi muốn, những thiếu thốn của tôi, những hy vọng và thất vọng của tôi… Tôi cảm thấy dường như tôi có thể khóc được… Đó là một điều mà bao nhiêu năm nay tôi không thể làm”. Sau khi Piri cầu nguyện xong, một tiếng nói nho nhỏ đáp: “Amen”. Đó là tiếng của “thằng ròm”. Piri nói: “Thế là hắn nằm sấp xuống, đầu úp trên đôi tay khoanh lại, còn tôi vẫn quì yên lặng. Một lúc thật lâu không ai nói với ai. Rồi “Thằng ròm” nói nhỏ: “Tôi cũng tin Chúa!”. Hai người bạn trẻ nói chuyện với nhau một lúc lâu. Rồi Piri leo lên giường ngủ. Anh nói: “chúc Chico ngủ ngon nhé”. Tôi nghĩ rằng Thiên Chúa luôn luôn ở với chúng ta, chỉ có chúng ta là không ở với Ngài thôi”.
***
Câu chuyện này là một hình ảnh rất đẹp, minh hoạ những gì Đức Giêsu muốn nói trong bài Tin Mừng hôm nay khi Ngài bảo: “Hãy cải thiện đời sống và hãy tin vào Phúc Âm”. Giáo huấn của Đức Giêsu gồm hai điều: trước hết là “cải thiện” đời sống của chúng ta. Sau đó là “tin vào Phúc Âm”, chúng ta hãy bắt đầu với điểm thứ nhất: cải thiện đời sống. “Cải thiện” hay “cải tà qui chánh” nghĩa là nhìn nhận những gì xấu, không tốt đẹp trong đời sống của chúng ta, và sau đó là từ bỏ chúng, quay lưng lại với chúng, nói khác đi là thẳng thắn đối diện với tội lỗi trong đời sống của ta, rồi cương quyết không tái phạm nữa. Như thế có nghĩa là bắt chước Piri Thomas nhìn nhận tình trạng hỗn loạn mà anh đã gây ra trong đời sống của anh và quyết  định làm một điều gì tốt đẹp để sửa lại chuyện đó.
Tất cả chúng ta đều có thể có những kinh nghiệm tương tự như Piri Thomas. Chúng ta cũng ý thức về những khuynh hướng xấu thỉnh thoảng làm hỗn loạn đời sống chúng ta. Chẳng hạn chúng ta ý thức về tính ích kỷ khiến chúng ta đặt quyền lợi của mình lên trên nhu cầu của tha nhân. Chúng ta ý thức về tính cao ngạo khiến chúng ta không muốn nhìn nhận những sai trái của mình. Chúng ta ý thức về tính lười biếng khiến chúng ta ngại giúp đỡ tha nhân. “Cải thiện” nghĩa là đối diện với những khuynh hướng xấu trong đời sống chúng ta và làm một cái gì để sửa đổi những khuynh hướng đó.
Điều này dẫn chúng ta đến điểm thứ hai trong giáo huấn của Đức Giêsu. Ngòai việc cải thiện đời sống ra, Đức Giêsu còn yêu cầu chúng ta “tin vào Phúc Am”. Nghĩa là tin rằng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa và Ngài đến để cứu chúng ta. Nghĩa là tìm kiếm Đức Giêsu đặc biệt trong Bí Tích Hoà Giải, và nhận nơi Ngài sự tha thứ và chữa lành. Nghĩa là làm những gì Piri đã làm sau khi nhìn ra những gì xấu xa trong cuộc sống của anh. Anh đã quay về với Thiên Chúa để cầu cứu. Anh tin vào “Tin Mừng” cho biết rằng Thiên Chúa đã sai Đức Giêsu đến thế giới này để cứu chuộc những người tội lỗi như anh. Chính vì thế, câu chuyện của Piri Thomas là hình ảnh rất đẹp minh hoạ hai điểm trong giáo huấn của Đức Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay. Điểm thứ nhất là “cải thiện” đời sống. Điểm thứ hai là “Tin vào Tin Mừng” tin rằng Đức Giêsu đến để cứu giúp chúng ta.
Cách đây ít lâu, tác giả Kilian Mc Donnell đã thực hiện một cuộc thăm dò sâu sắc về những cuộc trở lại. Cuộc thăm dò ấy đã đáp ứng câu hỏi này: Tại sao có một vài nhà rao giảng Tin Mừng lại rất thành công trong việc làm cho thính giả hối cải như thế? Theo Mc Donnell, có một điều là họ theo giáo huấn của Đức Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay. Họ làm cho quần chúng nhìn nhận rằng mình là những kẻ tội lỗi, và họ giúp quần chúng quay về với Đức Kitô để được cứu độ. Ông nói: “Nhiều người không nhìn nhận Đức Kitô vì họ không nhìn nhận rằng chính họ là những kẻ tội lỗi. Nếu tôi không phải là người tội lỗi thì tôi đâu cần đến Đức Kitô” Mc.Donnell kết luận: “Không ai mừng kính những mầu nhiệm của Đức Kitô một cách vui mừng, nếu trước tiên người đó không buồn rầu nhìn nhận rằng mình là kẻ có tội”. Bài Tin Mừng hôm nay kêu gọi chúng ta thực hiện hai điểm quan trọng ấy. Nó mời gọi chúng ta nhìn nhận mình là những kẻ có tội, và quay về với Đức Giêsu để được cứu độ. Điều đó khiến chúng ta đi đến một nhận xét quyết định. Bài Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta như thể dẫn chúng ta vào mùa chay một cách tốt đẹp. Qua các thế kỷ, các Kitô hữu đều nhận thấy mùa chay là thời gian Thiên Chúa ban ân sủng cách đặc biệt, nhất là để giúp ta cải thiện đời sống Nếu chúng ta muốn tìm một phương thế đặc biệt để sống tinh thần mùa chay năm nay, thì không có phương thế nào tốt hơn là coi mùa chay như một cơ hội thuận tiện để tái khám phá ra quyền năng của Bí tích hoà giải và sự bình an này, chúng ta thực hiện những gì mà Đức Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta làm, chúng ta hãy nhận thức được tình trạng tội lỗi của mình và nhận Ngài làm cứu Chúa của ta. Để kết thúc, chúng ta hãy suy nghĩ về một đoạn như thư của thánh Phaolô nhận thức được tình trạng tội lỗi của mình và nhận Đức Giêsu làm Cứu Chúa của mình. Thánh Phaolô viết: “Tôi không hiểu những gì tôi làm, vì tôi không làm những gì tôi muốn làm, mà lại làm những gì tôi không muốn làm,&vì ngay cả khi tôi muốn làm điều tốt thì tôi cũng không làm được. Tôi không làm điều tốt tôi muốn làm mà lại làm điều xấu tôi không muốn làm& Thật tôi là người vô phúc biết bao. Ai sẽ cứu tôi khỏi cái thân xác đang dẫn tôi tới cái chết này?&.. Tạ ơn Thiên Chúa& người đó là Đức Giêsu Kitô!” (Rm 7: 15-25)
 

MC1-B22: TIN LÀ CHẤP NHẬN ĐƯỜNG THẬP GÍA N. Quesson

“Anh em phải sám hối và tin vào Tin Mừng”
 

Vào đầu thế kỷ 20, một văn sĩ người Anh đã kể lại trong cuốn tiểu thuyết Bầu trời và Thập giá: MC1-B22

Vào đầu thế kỷ 20, một văn sĩ người Anh đã kể lại trong cuốn tiểu thuyết “Bầu trời và Thập giá” của ông, truyện một người thù ghét Thập giá. Thấy Thập giá ở đâu là anh ta tìm cách phá huỷ. Gặp một bức vẻ có hình Thập giá là anh xé bỏ. Vợ anh mang một Thập giá nhỏ bằng vàng, anh cũng lừa giật được và ném đi. Anh bảo: “Thập giá là biểu tượng sự độc ác dã man đối nghịch với niềm vui và cuộc sống. Lòng căm ghét Thập giá ăn sâu và tâm tư anh, đến mức thấy bóng thập giá là anh như điên dại. Không chịu nổi, có lần anh leo lên tận tháp chuông nhà thờ để phá huỷ cây Thập giá trên đó. Lần khác, anh đập tan cái ban công nhà vì ở đó anh thấy nhiều chỗ có hình thập giá… Anh nhìn đâu cũng thấy thập giá. Cuối cùng anh nổi giận đốt luôn căn nhà của mình và bị chết cháy. Câu chuyện cốt đi tới một kết luân: Kể từ cái chết của Chúa Giêsu, Thập giá đã nên biểu tượng của chiến thắng, đó là chiến thắng của tình yêu. Dẹp bỏ thập giá là chối bỏ Tình yêu, nâng cao hận thù và đưa thế giới tới chết chóc, diệt vong. Thập giá là biểu tượng niềm tin Kitô hữu và cũng là một thử thách lớn lao cho niềm tin mỗi người. ngắm nhìn Chúa Giêsu trên Thập giá, con người không nhìn ra tình yêu cao cả của Thiên Chúa mà chỉ thấy vô lý khó chịu: “Nếu ông là Con Thiên Chúa thì hãy xuống khỏi Thập giá đi” (Mt 27, 40). Thử thách này còn theo dõi mỗi người chúng ta, còn tác động trên cả Giáo hội. Người ta vẫn tiềm tàng ý định đưa Chúa xuống khỏi thập giá, muốn Thiên Chúa biểu lộ quyền năng thống trị, chứ không dấu ẩn, vì “Nhập thể” là hình thức “Yếu đuối” (1 Cr, 1, 25). Một Thiên Chúa quyền uy là thông thường, là hợp lý, thích hợp với mọi tôn giáo&. Nhưng không phải Thiên Chúa chịu đóng đinh. Thật khác xa với chủ trương của Thánh Phaolô Tông đồ: “Người Do Thái đòi phép lạ, người Hy Lạp tìm sự khôn ngoan, còn chúng ta rao giảng Chúa Cứu Thế chịu đóng đinh, đó là gương xấu cho người Do Thái và là điên rồ trước mặt dân ngoại “ (1 Cr. 1, 22-23) Chúa cứu chuộc chúng ta bằng thập giá, nói thế cũng có nghĩa là Chúa cứu chuộc bằng tình yêu. Và Chúa đòi hỏi chúng ta đi vào con đường Thập giá như Chúa, nghĩa là sẵn sàng hy sinh, chịu đau khổ để biểu lộ tình yêu đối với Chúa và đối với anh em (Mt 16, 24-25). Ịó là con đường tốt nhất và duy nhất. đôi lúc ta ngại đón nhận thập giá, thì đó là thử thách lớn cho niềm tin Kitô hũư của ta “Lạy Chúa, xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ”.
 

MC1-B23: NƠI HOANG ĐỊA

Gm. Arthur Tonne
 

Richar Miller là một học sinh cấp ba vào thập niên đầu của thế kỷ 20. Chàng là một thanh niên: MC1-B23

Richar Miller là một học sinh cấp ba vào thập niên đầu của thế kỷ 20. Chàng là một thanh niên hay chống đối, coi thường quyền bính. Chàng yêu say đắm một cô gái lối xóm tên là Muriel Mc. Comber. Cha nàng sợ lối sống lập dị của Richar nên cố gắng dập tắt mối tình lãng mạn ấy. Thất vọng, Richar lui tới một quán rượu, chàng gặp một phụ nữ tên Belle. Theo ngôn ngữ thời ấy người ta gọi là “Flirt” (gái giang hồ). Một người đàn bà đùa dỡn với tình yêu không đứng đắn. Richar  uống rượu và đánh lộn với một thương gia và bị tống cổ ra khỏi quán rượu. Cha của Richar hiểu và thông cảm với con mình. Ông từ từ giúp chàng lấy lại quân bình. Nhờ một tin mật, Richar được biết Muriel thực sự yêu chàng.  Chàng quyết  định hối cải và đợi nàng. Đó là cốt truyện một vở hài kịch Eugne - O’neil viết vào năm 1933 tựa đề “Ah Wilderness “ (Nơi hoang tàn) vở kịch được trình diễn rộng rãi vì nó phát hoạ một hoàn cảnh chung, rất nhân bản trong đời sống hàng ngày, nó vẽ nên phần nào cảnh hoang dại mà chúng ta đang sống. Bài Tin Mừng hôm nay nói với chúng ta rằng Đức Giêsu đã ở trong sa mạc, nơi hoang dã 40 ngày đêm. Đó là lý do cho 40 ngày mùa chay. Sa mạc là nơi trú ẩn của thần dữ. Thú dữ, tượng trưng cho sự dữ mà Đức Kitô đã đến chế ngự. Tại sao chúng ta đọc bài Tin Mừng này vào chúa nhật thứ nhất mùa chay. Có gì liên hệ giữa nơi hoang dã Chúa Giêsu đã sống trong Mùa chay đầu, với bạn và tôi trong Mùa chay 2003 này. Đơn giản thôi, chúng ta đang sống trong một nơi “hoang dã” một thế giới ngập những tạo vật man rợ dưới hình thức con người. Có gì hung dữ hoặc xấu xa hơn sự tàn bạo của con người thời đại Ợ sát nhân không gớm tay cướp giật, đốt nhà, ngược đãi trẻ em/ có con thú dữ nào giết hại hàng triệu người mỗi năm? việc phá thai làm  đúng như thế đó. Thú dữ hình người trong hoang địa của chúng ta đang phá huỷ không những sự sống thể xác, mà còn đặc biệt sự sống tinh thần của những người gần chúng ta và thân yêu của chúng ta nữa; Xin kể một vài con thú xấu xa đó: người quảng cáo ma tuý, người xuất bản sách báo đồi truỵ. Những tác giả chuyện phim và chương trình truyền hình. Không có cách nào để kiềm chế những kẻ tàn phá thể xác và tâm hồn này sao? Dạ có, phương cách của Đức Giêsu có nhiều sự dữ Chúa Kitô đến cứu chữa. Lý do chính Chúa vào nơi hoang địa là để chiến thắng những sự dữ này bằng đền tội và cầu nguyện. Chỉ trong đường lối của Chúa, chúng ta mới chiến thắng sự dữ trong thế giới ngày nay. Chỉ bằng lời cầu nguyện xin Chúa giúp, bằng sự hy sinh để tỏ lòng mến Chúa. Chúng ta có thế kiềm chế, thuần hoá những thú dữ ở giữa chúng ta. Chúng ta cũng có thể kiềm chế những thú tính trong tâm hồn mỗi người chúng ta. Thời gian bắt đầu việc này là mùa chay. Trong tinh thần chúng ta hãy cùng sống với Đức Giêsu trong “hoang địa” ngày nay. Với Người, chúng ta thống hối và cầu nguyện. Như thế, cũng như người đã chiến thắng sự dữ trong thời của Người, chúng ta cũng sẽ chiến thắng sự dữ trong hoang địa hiện đại của chúng ta.
Xin Chúa chúc lành bạn 
 

MC1-B24: THIÊN ĐÀNG ĐÁNH MẤT VÀ THIÊN ĐÀNG GẶP LẠI

 ( Sách Thiên Chúa thật gần )
 

Thánh Thần thúc đẩy Ngài vào sa mạc. Trong phòng triển lãm tưởng tượng của chúng ta hôm nay có bày: MC1-B24

Thánh Thần thúc đẩy Ngài vào sa mạc. Trong phòng triển lãm tưởng tượng của chúng ta hôm nay có bày bức tranh tứ bình, gồm hai cặp tranh đôi một đối xứng. Hai bức đầu, một bên vẽ cảnh sa mạc hoang vắng, Chúa đang bị Satan thử thách, một bên vẽ cảnh bình yên thanh thản, Chúa đang ngồi giữa bày dã thú đã trở nên hiền như chiên cừu. Hai bức tranh sau, bên phải vẽ cảnh vườn địa đàng tươi đẹp, Adam Evà trẻ trung đầy sức sống đang vui hưởng những ngày hạnh phúc giữa một thiên nhiên hài hòa hoa thơm qủa ngọt. Bên trái, vẫn là Adam Evà, nhưng khuôn mặt hốc hác, trán nhăn nheo ướt đẫm mồ hôi, dáng hao gầy mòn mỏi vì mệt nhọc và gìa yếu, giữa một thiên nhiên khô cằn gai góc. Đó là thân phận con người sau khi sa ngã. Con người không thể sống hài hòa với Thiên Chúa, với thiên nhiên, với đồng loại và với chính mình. Nhưng Đức Giêsu đã đến để đảo ngược tình thế. Ngài sống giữa sa mạc, một thiên nhiên thù nghịch. Ngài bị thử thách gay go. Nhưng rồi ngài đã thắng nghịch cảnh và qủi dữ: ngài sống yên bình hài hòa giữa một vũ trụ đã được cảm hóa. Chỉ bằng một câu ngắn, Marcô đã vẽ nên bức tranh tứ bình đó: "Ngài ở trong hoang địa 40 ngày, chịu Satan cám dỗ, sống giữa loài dã thú, và các Thiên sứ hầu hạ Ngài". Công trình tạo dựng thứ nhất của Thiên Chúa đã bị loài người phá hỏng. Chúa đến để tái tạo lại, làm công trình tạo dựng thứ hai. " Thời kỳ đã mãn, nước Thiên Chúa đã đến gần rồi. Anh em phải sám hối và tin vào Tin Mừng". Khi Đức Giêsu chịu phép rửa, bắt đầu sứ vụ, Thần Khí Thiên Chúa đã ngự trên Ngài. Thần Khí ấy, cũng như trong ngày đầu cuộc tạo dựng, đang bay là là trên những vùng đất khô cằn khắc nghiệt, và hoang mạc đang dần dần trở nên xanh tươi, trổ hoa thơm qủa ngọt. Vậy ra thiên đàng mà Adam và Evà đã đánh mất vẫn còn đó, phía trước mỗi người. Nếu chúng ta biết "sám hối và tin vào Tin Mừng Đức Kitô"  chúng ta sẽ gặp lại thiên đàng đã mất. Mùa chay, 40 ngày thinh lặng sa mạc, hãy để lòng lắng xuống để bị cám dỗ, bị lôi cuốn bởi lòng cậy trông hy vọng tìm lại thiên đàng đã mất, nhờ Đức Kitô, con Chúa, Chúa chúng ta.
 

MC1-B25: Chỉ vì thương nên Thiên Chúa đơn phương ban ơn cho loài người - Lm. Carolô Hồ Bạc Xái

Mc 1,15
I. Dẫn vào Thánh lễ
 

Mùa Chay là "lúc thuận tiện" để lãnh nhận ơn Chúa, là "thời cứu độ". Nhưng để có thể lãnh nhận: MC1-B25

Mùa Chay là "lúc thuận tiện" để lãnh nhận ơn Chúa, là "thời cứu độ". Nhưng để có thể lãnh nhận ơn Chúa, chúng ta phải "sám hối và tin vào Tin Mừng".
Trong Thánh lễ này, chúng ta hãy lắng nghe tiếng Chúa và xin Ngài giúp chúng ta thực hiện lời Ngài.
II. Gợi ý sám hối
Ỉ Chúng ta cứ sa đi ngã lại mãi trong tội. Phải chăng vì chúng ta chưa thực lòng sám hối?
Ỉ Chúng ta có biết rằng phạm tội là để mình bị trói buộc trong xiềng xích của Satan không?
Ỉ Chúng ta có ý thức rằng phạm tội là phụ bạc với tình yêu của Đức Giêsu, Đấng đã chịu chết vì tội chúng ta không?
III. Lời Chúa
1. Bài đọc I: St 9,8-15
Sau cơn hồng thuỷ (theo St 7,12 thì kéo dài 40 ngày), Thiên Chúa lập giao ước với Nôê.
Ỉ Nội dung giao ước: sẽ không còn xảy ra một tai họa nào tương tự như thế nữa cho loài người.
Ỉ Kẻ được hưởng giao ước: "mọi xác phàm", tức tất cả các sinh vật.
Ỉ Điều kiện: đây là một giao ước đơn phương. Chỉ một mình Thiên Chúa cam kết với loài người ; loài người không bị buộc điều gì cả.
Ỉ Dấu chỉ giao ước này: cầu vòng trên trời.
2. Đáp ca: Tv 24
Tv 24 là lời cầu nguyện của một người công chính: ông bày tỏ niềm tin tưởng tuyệt đối vào Chúa ; ông xin Chúa cho biết đường lối của Ngài.
Tv này áp dụng rất đúng cho Nôê: Ông là người công chính được Chúa cứu khỏi nạn hồng thuỷ và dẫn đưa ông tới một thế giới mới.
Tv này cũng có thể dùng làm lời cầu nguyện cho các tín hữu bước vào Mùa Chay: cũng như Nôê, họ bước vào thời gian thử thách 40 ngày ; nếu họ theo đường lối Chúa thì họ sẽ tới được một thế giới mới và lập giao ước mới với Chúa.
3. Tin Mừng: Mc 1,12-15
Đoạn Tin Mừng này có 2 ý lớn:
a/ Đức Giêsu ăn chay: Ngài ăn chay 40 ngày (như thời gian xảy ra cơn lụt). Trong thời gian đó Ngài tìm hiểu đường lối Thiên Chúa (như Tv 24), và sau đó Ngài bắt đầu sứ vụ công khai.
b/ Đức Giêsu loan báo Tin Mừng: "Thời giờ đã mãn, Nước Thiên Chúa đã gần đến. Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng".
4. Bài đọc II: 1 Pr 3,18-22
Thánh Phêrô nhắc lại chuyện Hồng thuỷ xưa và coi đó là hình bóng của phép rửa tội: Ngày xưa Thiên Chúa nhân từ đã cứu sống Nôê và gia đình ; ngày nay phép rửa cũng cứu thoát con người như vậy nhờ sự phục sinh của Đức Giêsu Kitô.
IV. Gợi ý giảng
* 1. Quà và ơn
Sứ điệp thứ nhất mà Phụng vụ Lời Chúa Mùa Chay gởi đến chúng ta là: Thiên Chúa tặng quà cho chúng ta, Thiên Chúa ban ơn cho chúng ta.
Người ta thường tặng quà vào những dịp nào? Những dịp tặng quà là Tết, đám cưới, sinh nhật v.v. Thường thì ai tặng quà cho ai? Người tặng quà thường là người có liên hệ tình nghĩa thế nào đó với người được tặng, chẳng hạn cấp dưới đối với cấp trên, học trò đối với thầy cô, người chịu ơn đền đáp cho người thi ơn. Vì thế có thể nói "quà" thường là thứ "có qua có lại".
Khi "có qua" mà không "có lại" thì gọi là "ơn" (Tiếng hy lạp Charis luôn bao hàm tính cách miễn phí). Các bài đọc hôm nay kể đến 2 ơn mà Thiên Chúa ban cho loài người:
Ỉ Ơn ban sự sống (xem phần giải thích bài đọc I): vì loài người tội lỗi nên bị phạt phải chịu nạn hồng thuỷ. Nhưng Thiên Chúa đã cứu sống gia đình ông Nôe. Sau khi cơn hồng thuỷ kết thúc, Thiên Chúa lập giao ước rằng từ nay sẽ không bao giờ Ngài cho xảy ra một đại họa như thế nữa. Đây là một giao ước đơn phương: Thiên Chúa không buộc loài người làm gì cả, chỉ một mình Ngài hứa và cam kết giữ lời hứa ấy. Sau này loài người lại tiếp tục phạm tội nhưng Thiên Chúa vẫn trung thành với lới cam kết đơn phương ấy.
Ỉ Ơn ban sự sống mới qua bí tích Rửa tội (Xem phần giải thích Bài đọc 2): chúng ta đâu có công gì để được ơn này, nhưng Thiên Chúa đã ban chỉ vì yêu thương chúng ta.
Khi nhận quà thì ta mừng, khi nhận ơn thì ta cảm động. Vậy, Thiên Chúa tặng quà cho chúng ta, chúng ta có mừng không? Và còn hơn quà nữa, Thiên Chúa luôn ban ơn cho chúng ta, chúng ta có cảm động không?
* 2. Ý nghĩa Mùa Chay
a/ Một thời gian cầu nguyện: Ngày xưa, Môsê đã ở trên núi Sinai 40 ngày, ngôn sứ Êlia cũng ở trên núi Horép 40 ngày. Trong thời gian đó, các ngài đã cầu nguyện và đã gặp được Thiên Chúa. Trong thời gian 40 ngày Mùa Chay, việc đầu tiên chúng ta phải để ý làm là cầu nguyện như các ngài.
b/ Một thời gian chiến đấu: Ngày xưa ông Nôê ở trong tàu 40 ngày chiến đấu với phong ba bão táp của cơn hồng thuỷ ; Đức Giêsu sống trong sa mạc 40 ngày chiến đấu với những cơn cám dỗ của Satan. Noi gương các Ngài, chúng ta cũng hãy chiến đấu với những khuynh hướng xấu, những thói quen tội lỗi và những cám dỗ trong Mùa Chay này.
c/ Một thời gian sám hối và đón nhận Tin Mừng: Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu đã mời gọi "Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng". Sám hối là từ bỏ con đường sai lạc cũ để quay về con đường chính. Trong Mùa Chay, chúng ta cũng quan tâm hơn đến việc lắng nghe và suy gẫm Lời Chúa.
* 3. Chiếc cầu vồng
Hình ảnh chiếc cầu vồng của bài đọc I vừa đẹp vừa gợi rất nhiều ý cho chúng ta suy gẫm trong Mùa Chay:
Ỉ Chiếc cầu vồng là một đường cong bắt đầu từ đất, vươn lên trời cao, rồi lại trở xuống mặt đất. Chính vì thế mà Thiên Chúa dùng nó làm dấu chỉ giao ước giữa trời với đất, giữa Thiên Chúa với loài người.
Ỉ Sau cơn mưa, trời lại sáng và chiếc cầu vồng xuất hiện rực rỡ. Như thế, chiếc cầu vồng còn là dấu chỉ giao ước được tái lập, trở lại tình trạng tốt đẹp thuở ban đầu.
Ỉ Cầu vồng mang 7 sắc rất đẹp. Nó còn là dấu chỉ tương giao tốt đẹp giữa Thiên Chúa với con người.
Phải chăng mối tương quan giữa chúng ta với Thiên Chúa cũng rất tốt đẹp hồi thuở ban đầu, nhưng rồi do tội lỗi, chúng ta như rơi vào cơn bão lụt. Nhưng Thiên Chúa muốn cứu thoát chúng ta. Ngài kêu mời chúng ta tái lập liên hệ thân thương với Ngài trong Mùa Chay này, để rồi tình nghĩa giữa chúng ta với Ngài lại tươi đẹp như trước?
* 4. Thiên đàng đánh mất và thiên đàng gặp lại
Thánh Thần thúc đẩy Ngài vào sa mạc.
Trong phòng triển lãm tưởng tượng của chúng ta hôm nay, có bày bức tranh tứ bình, gồm hai cặp tranh đôi một đối xứng. Hai bức đầu, một bên vẽ cảnh sa mạc hoang vắng, Chúa đang bị Satan thử thách. Một bên vẽ cảnh bình yên thanh thản. Chúa đang ngồi giữa bầy dã thú đã trở nên hiền như chiên cừu. Hai bức sau, bên phải vẽ cảnh vườn địa đàng tươi đẹp. Ađam Eva trẻ trung đầy sức sống vui hưởng những ngày hạnh phúc giữa một thiên nhiên hài hòa hoa thơm quả ngọt. Bên trái, vẫn là Ađam, Eva, nhưng khuôn mặt hốc hác, trán nhăn nheo ướt đẫm mồ hôi, dáng hao gầy mòn mỏi vì mệt nhọc và già yếu, giữa một thiên nhiên khô cằn gai góc.
Đó là thân phận con người sau khi sa ngã. Con người không còn thể sống hài hòa với Thiên Chúa, với thiên nhiên, với đồng loại và với chính mình.
Nhưng Đức Giêsu đã đến để đảo ngược tình thế. Ngài sống giữa sa mạc, một thiên nhiên thù nghịch. Ngài bị thử thách gay go. Nhưng rồi Ngài đã thắng nghịch cảnh và quỉ dữ: Ngài sống yên bình hài hòa giữa một vũ tụ đã được cảm hóa.
Chỉ bằng một câu ngắn, Marcô đã vẽ nên bức tranh tứ bình đó: "Ngài ở trong hoang địa bốn mươi này, chịu Satan cám dỗ, sống giữa loài dã thú, và các Thiên sứ hầu hạ Ngài".
Công trình tạo dựng thứ nhất của Thiên Chúa đã bị loài người phá hỏng. Chúa đến để tái tạo lại, làm công trình tạo dựng thứ hai. "Thời kỳ đã mãn, Nước Thiên Chúa đã đến gần rồi. Anh em phải sám hối và tin vào Tin mừng".
Khi Đức Giêsu chịu phép rửa, bắt đầu sứ vụ, Thần Khí Chúa đã ngự trên Ngài. Thần Khí ấy, cũng như trong ngày đầu cuộc tạo dựng, đang bay là là trên những vùng đất khô cằn khắc nghiệt, và hoang mạc đang dần dần trở nên xanh tươi, trổ hoa thơm quả ngọt.
Vậy ra thiên đàng mà Ađam và Eva đã đánh mất vẫn còn đó, phía trước mỗi người. Nếu chúng ta biết "sám hối" và tin vào Tin mừng Đức Kitô" chúng ta sẽ gặp lại thiên đường đã mất.
Mùa Chay 40 ngày thinh lặng sa mạc, hãy để lòng chúng ta lắng xuống để bị cám dỗ, bị lôi cuốn bởi lòng cậy trông hy vọng tìm lại thiên đường đã mất, nhờ Đức Kitô, Con Chúa, Chúa chúng ta.
5. Dã thú và thiên thần
Câu cuối của bài Tin Mừng hôm nay là một hình ảnh rất lạ: "Người ở trong hoang địa 40 ngày, chịu Satan cám dỗ, sống giữa loài dã thú, và có các thiên sứ hầu hạ Người"
Câu này gồm 2 phần mang hai sắc thái khác hẳn nhau nhưng có liên hệ nhân quả với nhau:
Ỉ Phần đầu là một cảnh khó khăn "Người ở trong hoang địa 40 ngày, chịu Satan cám dỗ": Đức Giêsu bị Satan cám dỗ, như ngày xưa hai nguyên tổ Ađam Evà trong vườn Địa Đàng, và như dân Do Thái trong sa mạc. Nhưng Ngài chiến đấu với những cám dỗ đó và đã chiến thắng.
Ỉ Phần sau là một cảnh thoải mái "sống giữa loài dã thú, và có các thiên sứ hầu hạ Người": (1) Trước khi hai nguyên tổ phạm tội, các ngài đã sống an hòa giữa các dã thú (xem St 2,19-20) ; Sau này khi mơ tới ngày tìm lại địa đàng đã mất, ngôn sứ Isaia cũng tưởng tượng cảnh con người và dã thú sống chung hòa thuận với nhau (xem Is 11,6-8: "Bấy giờ sói sẽ ở với chiên con, beo nằm bên dê nhỏ. Bò tơ và sư tử non được nuôi chung với nhau, một cậu bé sẽ chăn dắt chúng... Bé thơ còn đang bú giỡn chơi bên hang rắn lục, trẻ thơ vừa cai sữa thọc tay vào ổ rắn hổ mang..." ; (2) Còn về hình ảnh các thiên sứ hầu hạ, Tv 91,9-12 hiểu rằng đó là ân huệ đặc biệt Thiên Chúa ban cho người nào biết nương tựa nơi Ngài ("Vì ngươi đã chọn Giavê làm nơi ẩn náu, Đấng Tối cao làm chốn dung thân... nên Người ra lệnh cho các thiên thần gìn giữ ngươi trên mọi lối ngươi đi..."
Vì Đức Giêsu đã chịu cám dỗ và chiến thắng chúng nên Ngài được hưởng sự an vui như đang sống trong vườn địa đàng và được Thiên Chúa đặc biệt che chở giữ gìn. Phần thưởng của Đức Giêsu khuyến khích chúng ta can đảm chiến đấu với các cám dỗ.
6. Cạm bẫy
Người Eskimo bắc cực có một cách bẫy chó sói rất độc đáo để lấy bộ lông làm áo da thú.
Thợ săn cáo mài một con dao thật sắc, lưỡi dao mỏng và bén đến độ chỉ cần vuốt nhẹ là cắt da lòi thấu xương. Họ nhúng con dao ấy vào trong máu súc vật, rồi đem ra ngoài trời tuyết lạnh cho máu đông lại. Họ làm như thế nhiều lần cho đến khi con dao bọc toàn máu.
Khi trời nhá nhem tối, họ đem ra cắm ngoài cánh đồng tuyết. Với cái mũi rất thính của loài sói bắc cực, nó đánh hơi mùi máu tươi đông lạnh. Vội vàng chạy tới liếm lấy liếm để, liếm tới tấp, liếm điên cuồng cho đến khi lưỡi mình đã bị dao cắt đứt mà vẫn sung sướng liếm dòng máu tươi, không hề biết mình đang liếm máu của chính mình.
Càng say máu, sói càng liếm cuồng điên, cho tới khi kiệt sức rồi lăn ra mà chết.
*
Mùa chay là thời gian hồi tâm, trở về với Chúa để định hướng cho tương lai. Mùa chay cũng là lúc dừng lại, để nhận những cám dỗ đang rình rập, những cạm bẫy đang bủa vây. Con cáo vì ham liếm máu tươi, mất cảnh giác nên đã không nhận ra được cạm bẫy chết người. Nếu cuộc đời là một chuỗi những chọn lựa, thì nó cũng là một chuỗi những cám dỗ.
Xã hội càng văn minh tiến bộ, con người càng gặp nhiều cám dỗ. Cám dỗ của thân xác đòi hỏi, hưởng thụ và chiếm đoạt. Cám dỗ của con tim mù quáng, đam mê và phóng túng. Cám dỗ của đầu óc cao ngạo, hám danh và trục lợi. Sống là một cuộc chiến đấu không ngừng. Chiến đấu với những cám dỗ khêu gợi, mời mọc, kích thích giác quan. Bao nhiêu giác quan là bấy nhiêu cánh cửa mở ra trước cạm bẫy.
Sự bất ổn của nền văn minh hiện đại, và ảo ảnh của tương lai vẫy gọi, khiến chúng ta cứ trượt dài trên con dốc tội lỗi. Người tín hữu khôn ngoan luôn cảnh giác những cạm bẫy như thủy lôi trên giòng đời.
Chính Đức Kitô đã phải liên tục đối phó với các cơn cám dỗ: "Người ở trong hoang địa bốn mươi ngày, chịu Satan cám dỗ" (Mc.1,13). Đây không phải là cám dỗ một lần thay cho một đời, nhưng là cuộc cám dỗ triền miên trọn cả kiếp người. Wendell Philips viết: "Kitô giáo là một trận chiến, chứ không phải là một giấc mơ".
Nếu đời người như cây sậy trước gió, dễ ngả nghiêng trước bao cuốn hút, chúng ta càng phải biết nương tựa vào một mình Chúa.
Nếu người đời tôn thờ khoái lạc, xa hoa hưởng thụ, chúng ta càng phải biết chay tịnh cõi lòng.
Nếu thế giới đầy hình ảnh vẫn đục, phô bày thân xác, chúng ta càng phải biết giữ gìn con mắt.
Có biết bao người mơ ước hy sinh cuộc đời nhưng lại không biết hy sinh những tật xấu của mình. Leon Tolstoi viết: "Mọi người đều nghĩ đến chuyện thay đổi nhân loại, nhưng không ai nghĩ đến chuyện thay đổi chính mình". Vì chưng có một sự thật nhức nhối này, là canh tân người khác luôn luôn dễ hơn hoán cải chính mình.
*
Lạy Chúa, Chúa đã chiến thắng những cơn cám dỗ của Satan, xin giúp chúng con can đảm lướt thắng những cạm bẫy trong cuộc đời.
Xin cho chúng con luôn xác tín rằng chỉ có Chúa mới là niềm vui và là hạnh phúc đích thực của đời chúng con. Amen. (Thiên Phúc, "Như Thầy đã yêu")
7. Đổi mới
Một hôm nhà vua đang đi dạo trên đường phố thì gặp một người ăn mày ngửa tay xin tiền. Nhà vua không cho tiền nhưng mời anh đến thăm hoàng cung. Khi vào tới hoàng cung rồi, người ăn mày vô cùng bối rối vì thấy quần áo rách rưới của mình quá tương phản với những y phục lộng lẫy của những người trong triều. Biết thế, nhà vua tặng cho anh một bộ quần áo mới.
Ít lâu sau nhà vua lại dạo phố, lại gặp người ăn mày này và ngạc nhiên khi thấy anh lại mặc bộ quần áo rách rưới trước kia. Tìm hiểu lý do thì nhà vua biết được rằng sở dĩ anh không mặc quần áo mới vì nếu như thế thì anh không thể tiếp tục sống bằng nghề cũ là ăn xin được nữa. Anh đã quá quen sinh sống bằng nghề ăn xin rồi, đến nỗi nay không biết phải làm gì nếu không tiếp tục ăn xin.
Câu chuyện trên muốn nói rằng thay đổi áo quần thì dễ nhưng thay đổi cách sống rất khó; thay đổi bên ngoài thì nhanh nhưng thay đổi bên trong rất chậm ; và nhất là rất khó thay đổi thói quen.
Mùa Chay kêu mời chúng ta đổi mới, không chỉ đổi mới bên ngoài mà phải đổi mới tận bên trong con người mình, đặc biệt là thay đổi những thói quen xấu đã ăn rễ rất sâu trong con người chúng ta.
8. Mùa Chay và Mùa Xuân
Mùa Xuân là mùa đổi mới: cỏ cây hoa lá đâm chồi, nẩy lộc và ra hoa. Nhưng muốn có thế thì trước đó chúng phải chịu đựng một mùa thu ảm đạm, lá rụng, cành xơ xác... rồi một mùa đông trơ trụi, lạnh giá.
Mùa Chay đến đúng vào Mùa Xuân và cũng chính là Mùa Xuân của tâm hồn, có thể biến chúng ta thành những con người mới.
Lạy Chúa, xin giúp con đừng sợ hãi chấp nhận để cho những chiếc lá thói quen cũ phải rụng đi
Xin giúp con đừng sợ hãi phải đối diện với cảnh nghèo nàn trơ trụi của tâm hồn
Bởi vì có như thế thì Chúa mới có thể đổi mới con thành con người mới, xứng đáng là môn đệ tốt của Chúa.
V. Lời nguyện cho mọi người
Chủ tế: Anh chị em thân mến, trong suốt mùa chay, Hội thánh mời gọi chúng ta cùng với Đức Giêsu trải qua hai kinh nghiệm là: gặp gỡ Thiên Chúa và đấu tranh với sự dữ. Chúng ta hãy cầu xin Chúa giúp chúng ta:
1. Chúng ta hãy cầu xin Chúa cho mọi người trong Hội thánh / nhờ Mùa Chay này biết sám hối thành thật / mạnh dạn đổi mới suy nghĩ và hành động / để việc truyền giáo cho thế giới được kết quả tốt đẹp hơn.
2. Chúng ta cầu xin Chúa cho các nhà cầm quyền trên thế giới / biết thành thật sám hối và sửa sai những lỗi lầm / để có thể sớm đem lại cho người dân ám no, tự do, và hạnh phúc thật.
3. Chúng ta cầu xin Chúa cho những người đang ngụp lặn trong những đam mê tiền của, xác thịt, danh vọng / được nghe lời kêu gọi sám hối để quay về với đời sống công chính và lương thiện.
4. Chúng ta cầu xin Chúa cho anh chị em trong cộng đồng xứ đạo chúng ta, nhất là những người còn đang rối rắm, bỏ mùa Phục Sinh / biết mau mắn trở về để sống xứng đáng với công ơn cứu chuộc của Chúa.
Chủ tế : Lạy Chúa xin giúp chúng con trong Mùa Chay này, biết cố gắng siêng năng cầu nguyện và đi dự lễ, để được nhiều ơn Chúa mà vượt qua mọi cơn cám dỗ. Chúng con nguyện xin nhờ Đức Kitô Chúa chúng con.
VI. Trong Thánh lễ
- Trước kinh Lạy Cha: Hôm nay khi đọc kinh Lạy Cha, chúng ta hãy đặc biệt chú ý tới lời cầu xin cuối cùng, thể hiện ước muốn của chúng ta trong Mùa Chay này: "Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ. Nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ".
- Sau kinh Lạy Cha: "Lạy Cha, xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ, xin giúp chúng con chiến đấu và chiến thắng mọi cám dỗ, xin đoái thương cho những ngày chúng con đang sống được bình an...
VII. Giải tán
Chúng ta đã bắt đầu Mùa Chay. Đây là lúc thuận tiện để chúng ta sám hối và sống theo Tin Mừng. Và cũng vì thế cho nên đây cũng là thời gian cứu độ. Chúng ta hãy sống thời gian này một cách hết sức quảng đại. Chúc anh chị em được bình an.
Trích Nguoi Tin Huu  Lm. Carolô Hồ Bạc Xái
 

MC1-B26: Hãy cải thiện và hãy tin - Lm Mark Link SJ.

Chủ đề: "Chúng ta phải nhìn nhận tội lỗi mình, và xin Đức Giêsu cứu giúp để từ bỏ tội lỗi đó"
 

Piri Thomas có viết một tác phẩm nhan đề “Trong Những Con Đường Xấu Xa” (Down These: MC1-B26

Piri Thomas có viết một tác phẩm nhan đề “Trong Những Con Đường Xấu Xa” (Down These Mean Streets). Tác phẩm mô tả việc ông cải tà qui chánh từ một người bị kết án tù, một người nghiện ma tuý, và cố tình giết người để rồi trở thành một Kitô hữu gương mẫu.
Một đêm kia, Piri đang nằm trên giường trong phòng giam của mình. Đột nhiên, anh nghĩ tới tình trạng hỗn loạn mà anh đã gây ra trong đời anh. Anh cảm thấy có một ước muốn mãnh liệt là cầu nguyện. Nhưng anh đang nằm cùng giường với một tù nhân khác mà người ta gọi là Ẫthằng ròmỮ. Vì thế anh chờ đợi. Sau khi đoán chắc rằng Ẫthằng ròmỮ đã ngủ, anh leo ra khỏi giường và quì xuống nền bê tông lạnh ngắt để cầu nguyện. Anh kể lại: ẪTôi bầy tỏ với Chúa những gì có trong trái tim tôi& Tôi nói với Ngài những lời mộc mạc& chứ không phải những lời hoa mỹ& Tôi nói với Ngài những điều tôi muốn, những thiếu thốn của tôi, những hy vọng và thất vọng của tôi,& Tôi cảm thấy dường như tôi có thể khóc được& Đó là một điều mà bao nhiêu năm nay tôi không thể làmỮ. Sau khi Piri cầu nguyện xong, một tiếng nói nho nhỏ đáp: ẪAmenỮ. Đó là tiếng của Ẫthằng ròmỮ. Piri nói: ẪThế là hắn nằm sấp xuống, đầu úp trên đôi tay khoanh lại, còn tôi vẫn quì yên lặng. Một lúc thật lâu không ai nói với ai. Rồi ẪThằng RòmỮ nói nhỏ: ẪTôi cũng tin Chúa!Ữ. Hai người bạn trẻ nói chuyện với nhau một lúc lâu. Rồi Piri leo lên giường ngủ. Anh nói: Ẫchúc Chico ngủ ngon nhé. Tôi nghĩ rằng Thiên Chúa luôn luôn ở với chúng ta, chỉ có chúng ta là không ở với Ngài thôiỮ.
***
Câu chuyện này là một hình ảnh rất đẹp, minh hoạ những gì Đức Giêsu muốn nói trong bài Tin Mừng hôm nay khi Ngài bảo: ẪHãy cải thiện đời sống và hãy tin vào Phúc ÂmỮ. Giáo huấn của Đức Giêsu gồm hai điều: trước hết là Ẫcải thiệnỮ đời sống của chúng ta. Sau đó là Ẫtin vào Phúc ÂmỮ, chúng ta hãy bắt đầu với điểm thứ nhất: cải thiện đời sống.
ẪCải thiệnỮ hay Ẫcải tà qui chánhỮ nghĩa là nhìn nhận những gì xấu, không tốt đẹp trong đời sống của chúng ta, và sau đó là từ bỏ chúng, quay lưng lại với chúng, nói khác đi là thẳng thắn đối diện với tội lỗi trong đời sống của ta, rồi cương quyết không tái phạm nữa. Như thế có nghĩa là bắt chước Piri Thomas nhìn nhận tình trạng hỗn loạn mà anh đã gây ra trong đời sống của anh và quyết định làm một điều gì tốt đẹp để sửa lại chuyện đó.
Tất cả chúng ta đều có thể có những kinh nghiệm tương tự như Piri Thomas. Chúng ta cũng ý thức về những khuynh hướng xấu thỉnh thoảng làm hỗn loạn đời sống chúng ta. Chẳng hạn chúng ta ý thức về tính ích kỷ khiến chúng ta đặt quyền lợi của mình lên trên nhu cầu của tha nhân. Chúng ta ý thức về tính cao ngạo khiến chúng ta không muốn nhìn nhận những sai trái của mình. Chúng ta ý thức về tính lười biếng khiến chúng ta ngại giúp đỡ tha nhân. ẪCải thiệnỮ nghĩa là đối diện với những khuynh hướng xấu trong đời sống chúng ta và làm một cái gì để sửa đổi những khuynh hướng đó.
Điều này dẫn chúng ta đến điểm thứ hai trong giáo huấn của Đức Giêsu. Ngòai việc cải thiện đời sống ra, Đức Giêsu còn yêu cầu chúng ta Ẫtin vào Phúc ÂmỮ. Nghĩa là tin rằng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa và Ngài đến để cứu chúng ta. Nghĩa là tìm kiếm Đức Giêsu đặc biệt trong Bí Tích Hoà Giải, và nhận nơi Ngài sự tha thứ và chữa lành. Nghĩa là làm những gì Piri đã làm sau khi nhìn ra những gì xấu xa trong cuộc sống của anh. Anh đã quay về với Thiên Chúa để cầu cứu. Anh tin vào ẪTin MừngỮ cho biết rằng Thiên Chúa đã sai Đức Giêsu đến thế giới này để cứu chuộc những người tội lỗi như anh. Chính vì thế, câu chuyện của Piri Thomas là hình ảnh rất đẹp minh hoạ hai điểm trong giáo huấn của Đức Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay. Điểm thứ nhất là Ẫcải thiệnỮ đời sống. Điểm thứ hai là ẪTin vào Tin MừngỮ tin rằng Đức Giêsu đến để cứu giúp chúng ta.
Cách đây ít lâu, tác giả Kilian Mc Donnell đã thực hiện một cuộc thăm dò sâu sắc về những cuộc trở lại. Cuộc thăm dò ấy đã đáp ứng câu hỏi này: Tại sao có một vài nhà rao giảng Tin Mừng lại rất thành công trong việc làm cho thính giả hối cải như thế? Theo Mc Donnell, có một điều là họ theo giáo huấn của Đức Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay.
Họ làm cho quần chúng nhìn nhận rằng mình là những kẻ tội lỗi, và họ giúp quần chúng quay về với Đức Kitô để được cứu độ. Ông nói: ẪNhiều người không nhìn nhận Đức Kitô vì họ không nhìn nhận rằng chính họ là những kẻ tội lỗi. Nếu tôi không phải là người tội lỗi thì tôi đâu cần đến Đức KitôỮ
Mc.Donnell kết luận: ẪKhông ai mừng kính những mầu nhiệm của Đức Kitô một cách vui mừng, nếu trước tiên người đó không buồn rầu nhìn nhận rằng mình là kẻ có tộiỮ. Bài Tin Mừng hôm nay kêu gọi chúng ta thực hiện hai điểm quan trọng ấy. Nó mời gọi chúng ta nhìn nhận mình là những kẻ có tội, và quay về với Đức Giêsu để được cứu độ.
Điều đó khiến chúng ta đi đến một nhận xét quyết định. Bài Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta như thể dẫn chúng ta vào mùa chay một cách tốt đẹp. Qua các thế kỷ, các Kitô hữu đều nhận thấy mùa chay là thời gian Thiên Chúa ban ân sủng cách đặc biệt, nhất là để giúp ta cải thiện đời sống
Nếu chúng ta muốn tìm một phương thế đặc biệt để sống tinh thần mùa chay năm nay, thì không có phương thế nào tốt hơn là coi mùa chay như một cơ hội thuận tiện để tái khám phá ra quyền năng của Bí tích hoà giải và sự bình an này, chúng ta thực hiện những gì mà Đức Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta làm, chúng ta hãy nhận thức được tình trạng tội lỗi của mình và nhận Ngài làm cứu Chúa của ta.
Để kết thúc, chúng ta hãy suy nghĩ về một đoạn như thư của thánh Phaolô nhận thức được tình trạng tội lỗi của mình và nhận Đức Giêsu làm Cứu Chúa của mình. Thánh Phaolô viết: ẪTôi không hiểu những gì tôi làm, vì tôi không làm những gì tôi muốn làm, mà lại làm những gì tôi không muốn làm,&vì ngay cả khi tôi muốn làm điều tốt thì tôi cũng không làm được. Tôi không làm điều tốt tôi muốn làm mà lại làm điều xấu tôi không muốn làm& Thật tôi là người vô phúc biết bao. Ai sẽ cứu tôi khỏi cái thân xác đang dẫn tôi tới cái chết này?&.. Tạ ơn Thiên Chúa& người đó là Đức Giêsu Kitô!Ữ (Rm 7: 15-25)
Trích Nguoi Tin Huu Lm Mark Link SJ.
 

MC1-B27: Cát bụi tuyệt vời - Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Nhạc Trịnh Công Sơn rất triết lý, Mùa Chay lại về, tôi thích nghe bài ca " Cát Bụi " : Hạt bụi nào: MC1-B27

Nhạc Trịnh Công Sơn rất triết lý, Mùa Chay lại về, tôi thích nghe bài ca " Cát Bụi " :
Hạt bụi nào hoá kiếp thân tôi, để một mai vươn hình hài lớn dậy. Ôi cát bụi tuyệt vời, mặt trời soi một kiếp rong chơi. Hạt bụi nào hoá kiếp thân tôi, để một mai tôi về làm cát bụi . Oi cát bụi mệt nhoài, tiếng động nào gõ nhịp không nguôi. Bao nhiêu năm làm kiếp con người, chợt một chiều tóc trắng như vôi Lá úa trên cao rụng đầy, cho trăm năm vào chết một ngày .
Cát bụi, con người chỉ là cát bụi, hạt bụi tuyệt vời khi hoá kiếp thân tôi, hạt bụi mệt nhoài khi tôi trở về làm cát bụi. Khi dùng hình ảnh hạt bụi để nói về thân phận con người, Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã lấy nguồn cảm hứng trong Thánh Kinh Sáng Thế : Thiên Chúa dùng bùn đất tạo dựng Adam, sau khi Adam phạm tội bất phục tùng, Thiên Chúa phạt ông và con cháu sau này cũng sẽ trở về với cát bụi ( x St 1,26-3,24)
Nghĩ cho cùng, tất cả mọi người cũng chỉ là những hạt bụi hoá thân thành kiếp nhân sinh ,sớm muộn cũng sẽ tàn lụi với thời gian. Do đó nỗi khắc khoải ngàn đời của con người là tìm kiếm ý nghĩa của sự hiện hữu, ý nghĩa của đau khổ, ý nghĩa của giải thoát, ý nghĩa của cuộc sống.Vấn nạn mà con người chưa tìm được câu trả lời :
Hạt bụi nào hoá kiếp thân tôi ? Hạt bụi nào hoá kiếp thân bạn ? Và Hạt bụi nào hoá kiếp thân xác chúng ta ?
Một vòng quay ,một trăm năm, một kiếp người có là mấy ! "Chợt một chiều tóc trắng như vôi", không phải là trắng như bông, như mây hay như tuyết mà là như vôi đổ xuống huyệt mồ. Cha Nguyễn Hồng Giáo đã nhận định : Trịnh Công Sơn không bi quan, ông chỉ nói lên điều ông cảm nghiệm thấm thía về sự mong manh của kiếp người; cuộc đời đẹp biết bao, sự sống cao quý biết dường nào, nhưng nó cũng như "đoá hoa vô thường". Ịó là một thực tế, nhìn nhận và đối diện với nó cách can đảm để có thể đưa tới một cuộc sống tốt đẹp hữu ích và có ý nghĩa.
Mùa Chay muốn nhắc nhở chúng ta quay về với sự thật của thân phận con người "Hỡi người hãy nhớ mình là bụi tro ,một mai rồi sẽ trở về bụi tro ...". Phụng vụ Giáo Hội muốn diễn tả rằng : cuộc đời này mong manh vắn vỏi, bởi thế nó rất hệ trọng. Số phận đời đời của mỗi người được quyết định trong thời gian tạm bợ này. Người theo Ịạo Phật thì tin ở sự đầu thai kiếp sau, luân hồi nghiệp báo.Nhưng người KiTô Hữu thì không ,vĩnh cữu được gieo mầm trong hiện tại ,đừng để thời gian trôi qua cách phung phí, đời người chỉ có một lần, được - mất chỉ có một cơ hội .
Thân phận mỏng dòn mà Phụng vụ Mùa Chay nhắc cho chúng ta đừng quên ,không phải chỉ có liên quan đến phần xác hay chết của phận người mà còn cả về mặt tinh thần cũng mong manh yếu đuối. Thánh Phaolô đã diễn tả kinh nghiệm đó trong thư Roma "Ịiều tôi muốn làm thì tôi lại không làm, nhưng điều tôi không muốn làm thì tôi lại cứ làm ...Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn tôi lại cứ làm ...Tôi khám phá ra luật này là khi tôi muốn làm sự thiện thì lại thấy sự ác xuất hiện ngay.Theo con người nội tâm tôi vui thích vì luật của Chúa ,nhưng trong các chi thể của tôi, tôi lại thấy một luật khác : luật này chiến đấu chống lại luật của lý trí và giam hãm tôi trong luật của tôi...tôi thật là một người khốn nạn. Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác hay chết này ?" ( Rm 7,15.19.21-24) .
Ý thức về sự yếu đuối và tội lỗi của mình,về khuynh hướng xấu, sự bất lực nơi bản thân để mỗi người nổ lực giải thoát khỏi sự thống trị khắc nghiệt của tội lỗi và đó là khởi đầu cho ơn hoán cải và ơn cứu độ .
Mùa Chay mời chúng ta vào sa mạc với Chúa Giêsu. Sa mạc là nơi hoang vu trơ trọi,mênh mông, đó người ta mất hết mọi điểm tựa, không còn chi để "chia trí ,lo ra", chẳng hạn như ngoại cảnh ồn ào, các hoạt động, các thú vui, các quan hệ xã hội; chỉ còn Ta với Ta và buộc Ta phải quay về với mình trong sự đơn độc của chính mình.Trong sự quay về đó Ta có cơ may nhìn thấy những điều cốt yếu nhất khi đối diện với chính lòng mình.
Con người chúng ta thường sống hời hợt bên ngoài, tan loãng ra trong trăm thứ linh tinh hay phụ thuộc khác. Mùa Chay mời gọi chúng ta đi vào sa mạc, nghĩa là tạo một sự trống vắng nào đó, một sự thinh lặng của các giác quan, của trí khôn và của cỏi lòng, một sự rút lui vào trong tâm khảm mình để có thể phân định đâu là cái chính - cái phụ, đâu là cái cùng đích và cái phương tiện. Ịây chính là lúc hồi tâm .
Biềt mình mỏng dòn ,nhưng con người theo Phụng vụ Mùa Chay lại không phải là con người mềm yếu, uỷ mị, ngã nghiêng theo mọi lời mời mọc cám dỗ, mà đó là con người dũng cảm chiến đấu. Như Chúa Giêsu bắt đầu cuộc đời hoạt động công khai, Chúa vào sa mạc và tuyên chiến với Satan tức là với mọi mãnh lực của sự ác một cách không khoan nhượng và Ngài đã chiến thắng. Người KiTô Hữu là người biết nói không, là người dám bơi ngược dòng " . Giữa một thế hệ gian tà sa đoạ ,anh em hãy chiếu sáng như những vì sao trên vòm trời " ( Pl 2,15). Người KiTô hữu không cố ý sống lập dị, khác người, song đứng trước điều xấu, dù là khi cả xã hội đều làm điều xấu đó, họ vẫn không được ngã theo. Họ phải can đảm từ chối một cơ hội làm giàu bất chính, một liên minh bất công, một mối quan hệ tội lỗi.... Dĩ nhiên điều đó không dễ chút nào, nhưng đã là môn đệ Ịức Giêsu, họ không có chọn lựa nào khác .
Con người theo Phụng vụ Mùa Chay biết mình tự thân chỉ là cát bụi,nhưng là "cát bụi tuyệt vời ". Nó vẫn tuyệt vời ngay khi trở về với cát bụi trong một chiều " lá úa trên cao rụng đầy ", chứ không phải chỉ tuyệt vời khi "vươn hình hài lớn dậy " mà thôi .
Ịức tin dạy cho chúng ta biết rằng "Hạt bụi" là chúng ta, được tình yêu Thiên Chúa gọi vào hiện hữu và chia sẽ sự sống bất diệt của Người. Kiếp người cho dù có đau thương, có bi đát, đôi lúc tưởng chừng bóng tối lấn lướt ánh sáng ,nhưng cuối cùng sự sống, chân lý, tình thương vẫn mạnh hơn tất cả.
Ước gì mỗi người KiTô hữu đều có bản lãnh của Ịức Giêsu để chiến thắng sự nặng nề, nhỏ mọn của bản thân; luôn luôn cậy dựa vào Thiên Chúa, sống Mùa Chay thánh thiện để đón nhận nhiều Ơn Phúc Chúa ban .
 Lm. Giuse Nguyễn Hữu An    
 

MC1-B28: Lòng tha thứ - Ngai vàng vô giá - Lm JB. Nguyễn Minh Hùng

Chỉ là một sự tình cờ, nhưng là một sự tình cờ hết sức ý nghĩa: Đúng vào dịp mùa chay năm: MC1-B28

Chỉ là một sự tình cờ, nhưng là một sự tình cờ hết sức ý nghĩa: Đúng vào dịp mùa chay năm Thánh 2000, kênh truyền hình HTV7 chiếu bộ phim dài mang tên "Hoàng Châu công chúa". Tôi lấy làm cảm động vì tác giả đã khắc họa lòng tha thứ đến mức đáng khâm phục.
Chàng trai có tên là Tiêu Kiến, suốt bộ phim đã anh hùng trong giới gian hồ, thì ở cuối bộ phim, Tiêu Kiến càng anh hùng hơn nhiều vì lòng báo hiếu cho cha mẹ, cho chính gia đình của anh đã bị kẻ thù giết hại. Cứ tưởng nỗi căm hận bao nhiêu năm tháng, thì lòng báo hiếu đòi anh phải băm nát kẻ thù mới hả dạ.
Nhưng không! Không phải báo hiếu bằng trả thù, mà bằng tha thứ. Lòng tha thứ của chàng trai gian hồ đạt đến đỉnh cao khi anh đối diện trực tiếp với kẻ thù. Đứng trước mặt vua Càng Long, người đã tiêu diệt cả gia đình anh, thì giờ đây anh phải tha thứ. Chắc chắn trong lòng anh xảy ra nhiều xung khắc, vì một bên là trách nhiệm gia đình mà mối thù đó phải được trả, còn bên kia phải tha thứ. Nhưng cuối cùng, lòng tha thứ đã chiến thắng. Hình tượng Tiêu Kiến đẹp làm sao. Và người xem bộ phim cứ phải ghi nhớ.
Lòng tha thứ vốn đã đẹp. Sự báo hiếu của một con người kết thúc một mối hận bằng một tấm lòng tha thứ cao thượng lại là một nét đẹp tuệt vời. Nhân gian rất cần những tấm lòng tha thứ như thế để cuộc đời xinh tươi hơn, sự sống đáng yêu hơn, đáng sống hơn. Lòng tha thứ sẽ đẩy lui hận thù từ bình diện nhỏ nhất là cá nhân với cá nhân đến một xã hội rộng lớn là dân tộc, quốc gia, đảng phái, cơ cấu chính trị...
Lòng tha thứ là ngai vàng của cuộc sống. Hận thù dù lớn cách mấy, chia rẻ dù cách biệt đến đâu, ngay cả nợ máu đi nữa, có một tình yêu tha thứ, là cuộc sống con người có sự bình an.
Mùa Chay lại về, nhắc lại hình tượng tha thứ từ một bộ phim chắc không là điều vô ích. Nếu lòng tha thứ là ngai vàng của cuộc sống, mùa Chay sống tinh thần chay tịnh bằng lòng tha thứ là trao tặng cho đời những chiếc ngai vô giá...
 Lm JB. Nguyễn Minh Hùng
 

MC1-B29: Đức Giêsu chịu cám dỗ - Lm. Đan Vinh

Mc 1,12-15
I.Tìm hiểu Lời Chúa
1) Ý chính : Đức Giêsu chịu cám dỗ và được các thiên thần hầu hạ.
Bài Tin Mừng gồm hai phần chính :
 

Sau khi được tấn phong làm Đấng Thiên Sai (Mê-si-a) tại sông Gio-đan, Đức Giê-su đã được: MC1-B29

-Phần I (c. 12-13) : Sau khi được tấn phong làm Đấng Thiên Sai (Mê-si-a) tại sông Gio-đan, Đức Giê-su đã được Thần Khí thúc đẩy vào hoang địa để chịu thử thách và đã chiến thắng ma quỉ cám dỗ. Người là Vua Mê-si-a đã khai mạc thời kỳ thái bình đầy tình yêu thương. Trong đó mọi hận thù đều tan biến hết. -Phần II (c. 14-15) : Sau khi bị bắt, sứ mệnh tiền hô của Gio-an chấm dứt, để nhường chỗ cho Đức Giê-su xuất hiện công khai. Người đi từ miền Nam là Giu-đê trở về miền Bắc là Ga-li-lê để rao giảng Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Nội dung Tin Mừng được tóm lại trong 3 điều sau : Một là thời kỳ Cánh Chung đã đến ; Hai là Triều Đại Thiên Chúa đã gần bên; Ba là người ta muốn được cứu độ thì phải ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng.
2) Chú thích :
- Thần Khí liền đẩy Người vào hoang địa. Người ở trong hoang địa bốn mươi ngày, chịu Xa-tan cám dỗ, sống giữa loài dã thú, và có các thiên sứ, và có các thiên sứ hầu hạ Người (Mc 1,12-13) :
+ Thần Khí liền đẩy Người : Khi chịu phép Rửa của Gioan Tẩy Giả, Đức Giê-su đã được Thần Khí hay Thánh Thần lấy hình chim bồ câu đậu xuống trên mình Người, để xức dầu thiêng liêng, phong Người làm Đấng Thiên Sai. Từ đây Người được Thần Khí hướng dẫn và ban sức mạnh để chịu thử thách cám dỗ của Xa-tan và đã chiến thắng nó.
+ Hoang địa hay sa mạc : là một khu rừng hoang vắng nằm giữa Giê-ru-sa-lem và Biển Chết, ở gần thành Giê-ri-cô.
+ Bốn mươi ngày : Con số bốn mươi tượng trưng cho một thời gian dài. Chẳng hạn :Trong Đại Hồng Thủy, ông No-e đã mở cửa sổ tàu sau khi nước rút được 40 ngày (x. St 8,6) ; Mô-sê đã lên núi tiếp xúc với Đức Chúa suốt 40 ngày đêm (x. Xh 34,28) ; Dân Ít-ra-en phải lưu lạc trong sa mạc suốt 40 năm trường (x. Ds 14,34) ; Vua Đa-vít đã cai trị trong thời gian 40 năm (2 Sm 5,4) ; Ngôn sứ Ê-li-a đã chạy trốn lên núi Khô-rếp mất 40 ngày đêm (x. 1 V 19,8) ; Đức Giê-su đã vào sa mạc và ăn chay cầu nguyện 40 ngày (x. Mc 1,13).
Hỏi : Đức Giêsu "vào sa mạc" để làm gì ?
Đáp : Để chịu Xa-tan cám dỗ.
* Dân Ít-ra-en "vào sa mạc" : Khi giải thoát con cháu Gia-cóp khỏi ách nô lệ cho người Ai Cập, Đức Chúa đã đưa họ "vào sa mạc" 40 năm, để ký một giao ước công nhận họ là dân riêng của Người, thanh luyện họ khỏi các đam mê tội lỗi. Đây cũng là thời gian thử thách lòng trung tín của họ đối với Người. Đến thời các ngôn sứ, Hô-sê đã diễn tả đúng ý nghĩa của sa mạc khi ông trình bày Đức Chúa như một người chồng luôn yêu vợ là dân Ít-ra-en. Người đã dẫn đưa dân này vào sa mạc để sống thân mật với Người (x. Hs 2,16).
* Đức Giê-su "vào sa mạc" : Sau khi được công nhận là Người Con Yêu Dấu đẹp lòng Chúa Cha và đã đón nhận được đầy Thần Khí, Đức Giê-su được Thần Khí thúc đẩy vào sa mạc, để sống thân tình với Chúa Cha bằng việc chuyên cần cầu nguyện và ăn chay suốt 40 ngày. Đây cũng là thời gian Người chịu ma quỉ thử thách cám dỗ. Nhờ luôn chọn theo lời Thánh Kinh, Đức Giê-su đã chiến thắng Xa-tan cám dỗ, và chứng minh lòng trung thành của Người đối với sứ mệnh Thiên Sai được Chúa Cha trao phó.
+ Xa-tan : Xa-tan nghĩa là "kẻ thù", "kẻ chống đối", hay còn được gọi là "ma quỉ" hay Di-a-bo-los nghĩa là "kẻ kiện cáo", "kẻ vu khống". Đây là nhân vật vô hình có hai hoạt động là : nhập vào một người để bắt họ nói hay làm theo ý của nó và cám dỗ, xúi dục người ta phạm tội chống lại Thiên Chúa.
+ Cám dỗ : Cơn cám dỗ của ma quỉ gồm 3 giai đoạn như sau : Một là gợi lên trong đầu người ta một hình ảnh hợp với nhu cầu của họ. Hai là làm cho người ta vui thích với hình ảnh ấy hoặc ước muốn làm điều xấu xa độc ác. Ba là người bị cám dỗ sẽ quyết định chiều theo hay không theo sự xúi giục của ma quỉ. Quyết định làm theo ma quỉ là đã phạm tội. Đối với Đức Giê-su, Xa-tan chỉ có thể cám dỗ ở giai đoạn thứ nhất , nghĩa lả gợi lên trong tâm trí Người một tư tưởng hay một hình ảnh phù hợp với nhu cầu. Trong đoạn này, Mác-cô đã không thuật lại diễn tiến cơn cám dỗ của ma quỉ như trong hai Tin Mừng Mát-thêu và Lu-ca (x.Mt 4,1-11; lc 4,1-13).
+ Sống giữa loài dã thú và có các thiên sứ hầu hạ Người : Đức Giê-su đã chiến thắng cơn thử thách cám dỗ của Xa-tan. Dấu chỉ cụ thể của cuộc chiến thắng ấy là Người đã được Thiên Chúa che chở để sống hòa hợp với dã thú và còn được các thiên thần đến hầu hạ phục vụ (x. Tv 91,11-13). Đây là quang cảnh của thời Thiên Sai : một thời kỳ thái bình và đầy tình yêu thương huynh đệ , trong đó mọi loài vật sẽ sống hòa hợp với nhau và sẽ không có chỗ cho sự ghen ghét và hận thù nhau (x. Is 11,6-9; 65,25).
- Sau khi ông Gio-an bị nộp, Đức Giê-su đến miền Ga-li-lê rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa. Người nói : "Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng" (Mc 1,14-15) :
+ Sau khi Gio-an bị nộp : Việc Gio-an bị bắt nói lên sứ mệnh của ông là tiền sứ hay tiền hô đã chấm dứt, để chuyển sang thời kỳ Đức Giê-su thực hiện ơn cứu độ.
+ Sang miền Ga-li-lê : Ga-li-lê là miền Bắc của nước Do Thái, nơi đây có nhiều dân ngoại sống lẫn lộn với dân Do Thái. Đức Giê-su đã rời bỏ miền Giu-đê để đi đến miền Ga-li-lê và bắt đầu rao giảng Tin Mừng Nước Thiên Chúa.
+ Lời rao giảng của Đức Giê-su được tóm kết trong 3 tư tưởng sau :
* Một là : Thời kỳ đã mãn : Các ngôn sứ chia thời gian làm hai thời kỳ là thời hiện tại và thời kỳ cánh chung. Giờ đây Đức Giê-su loan báo thời kỳ hiện tại đã kết thúc để bắt đầu một thời kỳ mới là thời cánh chung, trong đó Thiên Chúa thực hiện lời hứa cứu độ.
* Hai là : Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần : Cựu Ước nói đến Vương Quyền của Thiên Chúa đối với Ít-ra-en là dân riêng của Người (x. Is 43,15; Tv 47,3). Từ đó, dân Ít-ra-en luôn trông chờ Thiên Chúa sớm thiết lập Vương Quyền của Người. Giờ đây, Đức Giê-su đã khẳng định rằng : Nơi Người, Triều Đại của Thiên Chúa đã đến gần.
* Ba là : Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng : Sám hối hay Me-ta-noi-a, một từ Hy Lạp có nghĩa là nghĩ khác trước, đổi ý, đổi tâm tình, đổi não trạng, hối tiếc , hối hận. Ở đây, Sám Hối chính là sự thay đổi hướng đi, triệt để từ bỏ tội lỗi để quay về với Giao Ước, và bước vào một đời sống mới. Rồi tiếp theo còn phải đón nhận Tin Mừng mà Đức Giê-su rao giảng.
II.Học sống Lời Chúa
1) Thần khí liền đẩy Đức Giêsu vào hoang địa (Mc 1,12) :
- Câu chuyện : Về bốn bức tranh :
+Tại một phòng triển lãm tranh ảnh tôn giáo kia, ngoài các bức vẽ về các đề tài quen thuộc, tại gian chính còn treo 4 bức tranh khổ lớn gấp đôi bình thường, được xếp thành hai cặp song đôi với nhau như sau : Trong cặp tranh đầu thì bức bên trái vẽ cảnh vườn Địa Đàng với màu sắc hài hòa tươi đẹp. Một con suối lượn quanh khu vườn có nhiều cây hoa đang nở và nhiều cây ăn trái trĩu nặng trái cây chín mọng trên cành. Trong cảnh thiên nhiên ấy, đôi vợ chồng trẻ A-Đam E-Và với vẻ mặt gìa nua hốc hác, vầng trán nhăn nheo ướt đẫm mồ hôi, dáng người gầy yếu vì bệnh tật, đang vất vả cấy lúa giữa một cánh đồng khô cằn nhiều sỏi đá và gai góc um tùm.
Đó là bức tranh mô tả thân phận đau thương của con người sau khi phạm tội. Chính tội lỗi là nguyên nhân phá hủy sự hài hòa giữa con người với Thiên Chúa, với vạn vật thiên nhiên và với người đồng loại. Tội làm cho con người bị mất hạnh phúc sống trong vườn Địa Đàng và bị xua đuổi xuống trần gian là nơi đầy nước mắt đau khổ, chiến tranh hận thù và bệnh tật chết chóc.
+ Còn cặp tranh thứ hai thì bức bên trái vẽ cảnh sa mạc hoang vu : Đức Giê-su đang ngồi trên một tảng đá, vẻ mặt suy tư và tiều tụy sau bốn mươi ngày chay tịnh. Một thằng quỉ mặt mũi gian ác đang đứng bên phải Người. Nó ghé vào tai Người để gợi lên trong đầu Người những tư tưởng ham mê danh vọng chức quyền trần gian ( xúi Người nhảy từ nóc đền thờ xuống để được khen ngợi), ham mê lợi lộc vật chất ( cho Người xem thấy các kho tàng chứa đầy vàng bạc châu báu) và ham hưởng thụ các lạc thú xác thịt (như xúi Người làm phép ra bánh rượu thịt và chiều theo các thú vui bất chính khác)... Còn bức bên phải lại vẽ cảnh thanh bình : Đức Giê-su đang ngồi giữa bầy dã thú và bên cạnh là các loài vật hiền lành như chiên cừu, bò dê, lừa ngựa, chim chóc...
Hai bức tranh sau diễn tả sứ mệnh của Đức Giê-su : Người đến sa mạc trần gian đầy sỏi đá và đang bị ma quỉ khống chế. Người thi hành sứ mệnh cứu thế bằng việc rao giảng Tin Mừng Nước Trời và xua trừ ma quỉ, tiêu diệt sự ác. Trong cuộc chiến đấu chống lại ma quỉ, Người luôn chọn đứng về phía Thiên Chúa là nguồn Chân Thiện Mỹ. Luôn làm theo Thánh Ý Thiên Chúa thể hiện trong các Lời Chúa phán trong Kinh Thánh. Người làm phép lạ chữa lành bệnh tật, an ủi người đau khổ,đưa những người lầm đường lạc lối ăn năn trở về, và tiêu diệt sự chết, thiết lập một Nước Trời ngay từ trần gian. Qua mầu nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh, Người đã hòa giải nhân loại tội lỗi với Thiên Chúa, thiết lập một Trời Mới Đất Mới công bình, yêu thương, bình an và hạnh phúc.
- Câu hỏi thảo luận : Sách Khải Huyền đã viết về sứ mệnh cứu thế của Đức Giê-su như sau : "Bấy giờ tôi thấy Trời Mới Đất Mới, vì trời cũ đất cũ đã biến mất, và biển cũng không còn nữa... Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết, cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa. Vì những điều cũ đã biến mất" (Kh 21, 1.4)
+ Vậy mỗi người chúng ta phải làm gì để nhận được ơn cứu độ do Đức Giê-su mang lại ? (ĐÁP : Hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng).
+ Ngay từ hôm nay chúng ta phải làm gì để cộng tác với Đức Giê-su trong sứ mệnh cứu độ thế gian ? (ĐÁP : Nên nhân chứng cho Chúa bằng việc yêu thương mọi người, khiêm nhường phục vụ người đau khổ bất hạnh và giới thiệu Chúa là đường, là sự thật và là sự sống cho tha nhân).
2) Anh em hãy sám hối và tin vào Tin mừng :
- Câu chuyện : Một mẫu gương sám hối :
+ Pi-ri Tô-mát (Piri Thomas), có viết một tác phẩm mang tựa đề là "Hãy đi xuống những đường phố tồi tàn này" (Down these mean streets ). Tác phẩm mô tả cuộc đời của mình : Từ một tên tội phạm đang thi hành án trong nhà tù, một con nghiện ma túy đã từng nhúng tay vào tội ác giết người ... cuối cùng trở thành một tín hữu đạo đức thánh thiện đầy lòng nhân ái. Câu chuyện sám hối ấy như sau : Một đêm nọ, Pi-ri đang nằm trong một phòng giam đặc biệt, cùng chung giường với một tên tội phạm biệt hiệu là "Thằng Ròm", đột nhiên anh có suy nghĩ về tình trạng tội lỗi của mình. Anh cảm thấy có một ước muốn mãnh liệt phải chỗi dậy cầu nguyện với Chúa. Nhưng lúc đó anh lại đang nằm chung một giường với một bạn tù tên là "Thằng Ròm". Do đó, chờ cho "Thằng Ròm" ngủ say, anh mới từ từ bò ra khỏi giường , quì gối xuống nền nhà bằng bê-tông lạnh ngắt. Rồi anh say sưa nói với Chúa như đứa con thưa chuyện với cha của mình. Anh đã thuật lại như sau : "Tôi bày tỏ với Chúa những gì chất chứa trong lòng tôi. Tôi thưa với Ngài bằng những lời đơn sơ mộc mạc. Tôi nói với Ngài những điều tôi muốn, những lầm lỗi thiếu sót của tôi, những hy vọng và thất vọng . Lúc đó tôi cảm thấy xúc động đến nỗi suýt bật khóc, một sự xúc động mà trước đây chưa bao giờ cảm thấy. Sau khi đã cầu nguyện xong, bỗng tôi nghe có tiếng đáp khẽ : "Amen". Thì ra đó là tiếng của "Thằng Ròm". Lúc đó hắn đang nằm sấp trên giường, đầu tựa trên cánh tay khép lại bên dưới trán. Sau một lúc lâu yên lặng. Rồi "Thằng Rờm" nói nhỏ với tôi : "Này Pi-ri, tớ cũng tin Chúa!". Rồi tôi leo lên giường và hai đứa chúng tôi tiếp tục nói chuyện về niềm tin từ hồi còn thơ ấu của mình. Trước khi ngủ tiếp, tôi đã nói với "Thằng Ròm": "Chúc Chi-co ngủ ngon nhé ! Tớ nghĩ rằng : Thiên Chúa vẫn luôn ở với chúng ta, chỉ có chúng ta là không muốn ở với Người mà thôi !".
- Suy nghĩ và quyết tâm:
+ Câu chuyện này minh họa lời Đức Giê-su nói trong bài Tin Mừng hôm nay : "Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng" : Ăn năn sám hối là "cải thiện đời sống", là "cải tà qui chánh". Nghĩa là nhìn nhận những gì không tốt đẹp, xấu xa trong đời sống của mình và quyết tâm từ bỏ . Nói cách khác : Sám hối là nhìn nhận thân phận tội nhân của mình và thực lòng hoán cải, bằng cách làm những việc tốt trái ngược với thói xấu của mình. Tin vào Tin Mừng là tin Đức Giê-su là Đấng Cứu Thế Con Thiên Chúa, Đấng được Thiên Chúa sai đến để rao giảng Tin Mừng Nước Trời. Người sẽ giải thoát chúng ta khỏi làm nô lệ cho ma quỉ. Cuối cùng nhờ mầu nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh, Người đã giao hòa chúng ta với Thiên Chúa Cha và ban cho chúng ta sự sống đời đời.
+ Vậy hiện giờ tôi cần phải ăn năn sám hối về mối tội đầu nào trong kinh Cải tội bảy mối có bảy đức ? Tôi quyết tâm làm gì cụ thể để tu sửa thói hư tật xấu ấy ? Dâng một lời nguyện để xin Chúa giúp chúng ta hoán cải nên tốt hơn trong Mùa Chay này.
III.Hiệp sống nguyện cầu
1) Lạy Chúa Giêsu , con thật kính phục Chúa đã vào sa mạc để cầu nguyện và ăn chay 40 đêm ngày. Con cảm thấy hổ thẹn vì những bữa ăn nhậu thừa mứa trong dịp Tết vừa qua : Con đã ăn uống no say trong khi biết bao đồng bào Miền Trung đang đói khát vì bao thiên tai bão lụt liên tiếp đổ xuống tàn phá nhà cửa, ruộng vườn, phá hủy các ghe thuyền và các phương tiện làm ăn sinh sống khác. Bao nhiêu đứa con mất cha, vợ mất chồng, anh mất em... khiến cho nhiều gia đình rơi vào hoàn cảnh đau khổ tột cùng. Vậy trong những ngày Mùa Chay này, xin Chúa giúp chúng con có tinh thần chay tịnh khổ chế, bằng cách nhịn ăn một tô phở, nhịn uống một tách cà phê hay nhịn hút vài điếu thuốc ... để cộng tác cứu trợ bà con vượt qua hoàn cảnh đói khát túng nghèo. X) Hiệp cùng Mẹ Maria . -Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con.
2) Lạy Thánh Mẫu Maria , xin giúp con ý thức rằng : Đức Giê-su đã vào sa mạc là để tiếp xúc và sống thân tình với Chúa Cha. Xin cho Mùa Chay này cũng là thời gian thuận tiện để con cùng vào sa mạc với Đức Giê-su. Xin cho con mỗi ngày biết dành ít phút thinh lặng để tâm tình với Thiên Chúa Cha, cho con lắng nghe lời Đức Giê-su qua các buổi Tỉnh tâm Mùa Chay tại nhà thờ. Nhờ Thần Khí Chúa thôi thúc, con sẽ siêng năng thực hành sự khổ chế, bằng việc ăn chay trong ngày Thứ Tư Lễ Tro và Thứ Sáu Tuần Thánh. Xin cho con quyết tâm làm các việc hãm mình để đền tội, bằng cách chu toàn bổn phận trong gia đình và xã hội, sẵn sàng chủ động đi bước trước để làm hòa với kẻ đang giận ghét con...để mỗi ngày con đều được Thần Khí Chúa thanh luyện khỏi các đam mê tội lỗi và các thói hư tật xấu khác. Xin Mẹ giúp con mỗi ngày biết ăn năn tội để trở nên trong sạch hơn, xứng đáng nhận được Ơn Chúa để biến đổi nên người mới trong Mùa Phục Sinh sắp tới. X) Hiệp cùng Mẹ Maria. - Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con.
Lm. Đan Vinh   
 

MC1-B30: Nước Thiên Chúa đã gần bên!Hãy hối cải và tin vào Tin Mừng

Mc.1,12-15
“Ngày đó, Thần Khí xua Đức Giêsu vào sa mạc. Người ở trong sa mạc bốn mươi ngày, vì chịu satan cám dỗ, Người ở giữa dã thú”
 

Sa mạc như sào huyệt của satan. Satan thích sa mạc, satan ở đâu, nơi đó thành hoang mạc. Và: MC1-B30

Sa mạc như sào huyệt của satan. Satan thích sa mạc, satan ở đâu, nơi đó thành hoang mạc. Và Thần Khí xua Chúa Giêsu vào sa mạc, vào hang cọp để bắt cọp. Chúa ơi, chẳng cứ gì sa mạc, ngay giữa đồng ruộng, thị thành và thế giới văn minh, nơi nào satan ngự trị, ở đó vẫn là sa mạc, lòng người khô cằn, cô quạnh, làm khô cháy sự sống vật chất lẫn tinh thần.
Có phải là Chúa “ở giữa dã thú” như ngày xưa Adan khi chưa phạm tội, còn ở trong vườn địa đàng với”mọi thú vật và chim trời cùng dã thú” (St.2,20)? Ngày ấy thiên địa thái hòa, cuộc sống không mâu thuẫn, không cắn xé. Nhưng tội đã đến. Không chỉ có dã thú nhăn răng cắn xé, mà người ta với nhau cũng như dã thú.
Chúa vào sa mạc để trục xuất satan. Chúa là Adam mới. Từ sa ạmc về, Adam mới liền kêu gọi nhân loại cũ kỹ: “Thời buổi đã mãn và Nước Thiên Chúa đã gần bên! Hãy hối cải và tin vào Tin Mừng” (Mc.1,15).
Thời buổi đã mãn vì Adam mới đây rồi. Adam mới xuất hiện, tức là Nước Thiên Chúa đã ở trước cửa nhà mình rồi. Chỉ cần sám hối, đừng bám vào tấm lòng ích kỷ, buồn bã của mình nữa, nhưng tin vào Tin Mừng, thì đã bước sang Nước Thiên Chúa rồi. Nhưng con người cũ có chịu nghe Adam mới chăng?
Một nhà thơ Việt Nam đầu thế kỷ trước viết: “Thiên hạ lúc này đều ngủ cả
Việc gì mà thức một mình ta?”
Trong cái thế giới của hận thù, của khủng bố và chiến tranh, của lợi lộc làm tối mắt con người này, ai ngủ và ai thức/
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô VI cử Hồng y Etchegaray đi Irắc, cử Hồng y Pio Laghi đi Mỹ, hình như chính Ngài còn muốn mang thân già đi khắp nơi cổ võ hòa bình, âu cũng là một cách lên: “Nước Thiên Chúa đã gần, hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”.
Hãy nhìn vào Đức Giáo Hoàng như một hình ảnh phóng lớn để hiểu rằng trong tầm vóc nhỏ bé của ta, cũng cần đón nhận một lời kêu gọi tương tự. “Thiên hạ lúc này đều ngủ cả ư?” Không đâu. Ngày nay Chúa có đàn chiên của Chúa. Kể cả những con chiên còn đang ngủ, nhưng đang thèm thức giấc.
Nếu ta đã cảm thấy tính “dã thú” của một thế gian nào đó, cảm thấy tính “sa mạc” của một não trạng, một tinh thần nào đó, thì hãy bước lên theo tiếng gọi của Đức Giêsu: “Hãy theo ta, mặc cho kẻ chết chôn cất kẻ chết của họ” (Mt.8,22)

 

MC1-B31: Triều đại Thiên Chúa đã đến gần 

Mùa chay lại đến, Giáo hội kêu mời mọi tín hữu hãy hồi tâm sám hối qua lời Chúa Giêsu: MC1-B31

Mùa chay lại đến, Giáo hội kêu mời mọi tín hữu hãy hồi tâm sám hối qua lời Chúa Giêsu phán trong Tin Mừng hôm nay: ẪThời kỳ đã mãn, và triều đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.Ữ
Lời rao giảng của Chúa Giêsu loan báo một sự đổi đời, một cuộc cách mạng triệt để đang chắc chắn đến với xã hội con người. Một thời kỳ cũ không có sự hiện diện sống động của Thiên Chúa tình thương phải chấm dứt, thay vào đó là triều đại Thiên Chúa nơi tình thương và ơn tha thứ của Ngài sẽ tràn lan khắp nhân trần. Nhưng triều đại này lại không có biên cương địa lý rõ ràng như các quốc gia trên địa cầu; trái lại nó có thể xuyên thấu từng cõi lòng, từng gia đình, từng cộng đồng và từng đất nước. Chính vì nó không có ranh giới vật chất cụ thể nên không ai có thể hòng gian dối vượt tường thành hay rào kẻm gai lọt vào bên trong triều đại ấy được. Biên giới vô hình khiến con người không thể biết đâu mà lần; nó được phân định rất rõ ràng trong ánh mắt uy nghi công thẳng của Thiên Chúa.
Để có thể được ở trong triều đại của Thiên Chúa, ai cũng phải sám hối là chừa bỏ mọi tội lỗi, những điều sai quấy hay gian trá mình đang làm. Để thay thế vào đó bằng lối sống mới phù hợp giới răn mới của Tin Mừng là yêu thương và tha thứ. Vì Tin Mừng là tin mang niềm hạnh phúc, mang ơn giải thoát cho mọi con người đang lầm lũi trong tuyệt vọng, do sự khuynh đảo khủng khiếp của quyền lực sự dữ là Satan. Mầm mống của sự dữ và tội lỗi đó đã gắn chặt với thân phận con người bởi tội nguyên tổ đã kiêu căng không muốn vâng phục Thiên Chúa. Vậy sám hối và tin vào Tin Mừng không phải là một chuyện tin bằng lời nói suông, nhưng là thực hiện một cuộc cách mạnh triệt để, bắt đầu ngay từ trong thâm tâm của chính bản thân trước tiên. Có như thế, chúng ta mới cảm nhận được ân sủng quí báu của triều đại Thiên Chúa; bằng không chúng ta chẳng bao giờ có thể tìm thấy nó đâu cả!
Lm. Phêrô Trần Văn Trợ SJ
 

MC1-B32: Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng

Mc 1, 12-15
Kính thưa anh chị em,
 

Hôm nay là chủ nhật thứ nhất Mùa Chay, bài Tin Mừng hôm nay tuy ngắn, nhưng lại là lời phi: MC1-B32

Hôm nay là chủ nhật thứ nhất Mùa Chay, bài Tin Mừng hôm nay tuy ngắn, nhưng lại là lời phi lộ cho cuộc rao giảng Tin Mừng của Chúa Giêsu tại trần gian : ẪHãy sám hối và tin vào Tin MừngỮ. Sám hối và tin vào Tin Mừng là hai điều kiện để được cứu độ, và để nhận được sự tha thứ của Thiên Chúa.
ẪHãy sám hối...Ữ là lời mời gọi khẩn cấp của Chúa Giêsu, là lời cảnh cáo đầy yêu thương của một Đấng thẩm phán chí công.
Sám hối vì chúng ta là những tội nhân đã phạm không biết bao nhiêu là tội với Thiên Chúa và với anh chị em của chúng ta ; sám hối bởi vì mỗi người chúng ta đáng lẽ ra, phải chết ngay từ khi phạm một tội đầu tiên, nhưng vì tình yêu, Thiên Chúa đã kéo dài ngày chung kết để chúng ta được hồi tâm sám hối ; sám hối bởi vì không ai là thánh thiện, không ai là sạch tội ; sám hối bởi vì tình yêu của Thiên Chúa quá lớn lao thúc bách chúng ta mau trở về với Cha trên trời...
Ẫ...và tin vào Tin MừngỮ là tin vào Chúa Giêsu, tin vào lời giảng dạy của Ngài, Lời ban sự sống cho những kẻ tin vào Ngài.
Chúng ta là những người có đức tin, đức tin này đã bị Ẫmai mộtỮ với bao lo toan trong cuộc sống, đức tin này không được bồi dưỡng vun đắp vì chúng ta quá chú trọng đến cái ăn cái mặc, mà quên mất Thiên Chúa -nguồn mạch của đức tin- đang nuôi nấng và chăm sóc chúng ta.
Đức tin đòi hỏi chúng ta phải đặt Thiên Chúa ở vị trí số một trong cuộc sống.
Đức tin không phải chỉ là đi lễ ngày chủ nhật, cũng không phải chỉ là đón nhận các bí tích, hay vài tháng đi xưng tội một lần, nhưng cần phải toả sáng trong cuộc sống của mình.
Đức tin này đòi buộc tôi phải thấy Thiên Chúa tốt lành trong người anh em mà tôi không thích, có khi còn ghét thậm tệ nữa ; đức tin này đòi hỏi tôi phải cúi xuống nâng đỡ người anh em bất hạnh đang đói khổ bên vệ đường...
Tất cả những việc làm đó chính là tin vào Tin Mừng, bởi vì Tin Mừng cũng đồng thời là Đức Kitô chịu đau khổ, chịu chết và Phục Sinh. Và, bởi vì Chúa Giêsu đã làm như thế khi rao giảng Tin Mừng ở trần gian.
Tin Mừng không chỉ ở trong nhà thờ, nhưng ở ngay trên mặt trên mày của chúng ta, đó là khuôn mặt vui tươi khi bị đau khổ, đó là lời nói dễ thương khi bị chửi mắng, là nụ cười tươi khi bị hiểu lầm, Tin Mừng là như thế, là trao ban và đón nhận, là hi sinh và yêu thương.
Kính thưa anh chị em.
ẪHãy sám hối và tin vào Tin MừngỮ là mở đầu cho Mùa Chay Thánh năm nay, và đồng thời thức tỉnh chúng ta -những tâm hồn tội lỗi- biết cải quá tự tân, biết đổi mới con người cũ của mình, để cùng chết với Chúa Giêsu và cùng sống lại với Ngài.
Chúng ta có quá nhiều dự định tương lai, có quá nhiều kế hoạch rất cụ thể cho cộng đoàn, nhưng kế hoạch phải làm gì trong mùa chay thì chưa hoàn bị, bởi vì ai cũng nói chung chung : mùa chay là sám hối và ăn năn, nên chúng ta chỉ nhìn thấy mình đang sám hối ăn chay, mà chưa nhìn thấy tha nhân đang đói khổ...
Xin Thiên Chúa ban cho mỗi người trong cộng đoàn chúng ta khi sám hối thì biết bù đắp những đau khổ của Chúa Giêsu nơi những người nghèo, những người bệnh tật và già nua để Tin Mừng mà chúng ta đang tin được toả sáng đến với mọi người.
Xin Mẹ Maria luôn gìn giữ chúng ta.
Bài giảng Chủ Nhật I Mùa Chay tại nhà thờ Chúa Thánh Thần - Taiwan. -  Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
 

MC1-B33: Hãy Quảng Đại và Chia sẻ

Bước vào mùa chay thánh của một năm đầy xáo trộn và hoang mang, Đức Thánh Cha Gioan: MC1-B33

Bước vào mùa chay thánh của một năm đầy xáo trộn và hoang mang, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II ân cần gửi đến toàn thể nhân loại một sứ điệp mùa chay rất cần thiết để giúp cho cộng đồng nhân loại có thể thoát khỏi những lo âu sợ hãi về những khủng bố, chiến tranh và nghèo đói đang đe dọa nhiều nơi trên thế giới. Sứ điệp mùa chay của Đức Thánh Cha có thể được tóm gọn vào năm điểm sau đây:
1. Mùa chay là mùa cầu nguyện, chay tịnh và quan tâm một cách mãnh liệt đến những nhu cầu khẩn thiết. Lời của Đức Thánh Cha ẪNăm nay, Cha muốn anh chị em hãy suy niệm và thực hành lời Chúa lấy ra từ Sách Công Vụ Tông Đồ : _Cho đi, thì được chúc phúc hơn là nhận lãnh.Ỵ (Cv 20,35)
2. Thật là đáng buồn cho thời đại này là dửng dưng làm ngơ trước những đau khổ của người khác và còn bị lôi cuốn làm giầu cho riêng mình bằng cách bóc lột kẻ khác và quên đi việc quảng đại chia sẻ cho những người thiếu thốn.
3. “Cho đi thì được chúc phúc hơn là nhận lãnh”. Khi các tín hữu đáp lại tiếng mời gọi thâm sâu tận đáy lòng mình là tự hiến thân phục vụ tha nhân mà không mong chờ một trả đáp nào thì họ sẽ cảm nghiệm được một sự đền bù sâu dậm tận đáy lòng.
4. Con Thiên Chúa đã thương yêu chúng ta trước, khi Ẫchúng ta còn là những tội nhânỮ (Rm 5,6), bằng một tình yêu vô điều kiện không mong đền trả. Mùa chay thánh này mời gọi chúng ta làm như vậy.
5. Để hạnh phúc và yêu thương, chúng ta hãy noi gương Chúa Kitô là quên mình phục vụ tha nhân, nhất là những người nghèo khổ. Bất cứ ai giúp đỡ những người nghèo khổ thì đều được Thiên Chúa sủng ái.
Đức Thánh Cha cầu mong mọi tín hữu chúng ta là những nhân chứng của Tin Mừng Bác Ái Yêu Thương khắp mọi nơi trong mùa chay này, vì ơn gọi bác ái yêu thương là trung tâm điểm của tất cả việc rao giảng Tin Mừng. Ngài cầu xin Đức Maria, Mẹ của Giáo Hội, luôn đồng hành với chúng ta trong suốt mùa chay này. Và sau cùng, Đức Thánh Cha rất ưu ái ban Phép Lành Tòa Thánh cho tất cả mọi người.
Lm. Âutinh Nguyễn Đức Thụ SJ
 

MC1-B34: NGÀY CỦA CHÚA ĐẾN BẤT NGỜ NHƯ KẺ TRỘM

NGÀY CỦA CHÚA ĐẾN BẤT NGỜ NHƯ KẺ TRỘM

Đời sống của chúng mình tràn ngập những bất ngờ. Có những cái bất ngờ tạo cho mình cái: MC1-B34

Đời sống của chúng mình tràn ngập những bất ngờ. Có những cái bất ngờ tạo cho mình cái cảm giác hứng thú, phấn khởi và sướng tê cả người, sướng rên mé đìu hiu. Bạn thường nghe, hay chính bạn đã từng có những kinh nghiệm ấy

·“Úi giời ơi! Nàng đồng ý cái rụp khi tao ngỏ lời xin cưới mày ạ! Thật không thể ngờ số của tao lại may mắn đến như thế!”

·“Mình ơi! Hôm nay anh được tăng lương, thật không thể ngờ, ông chủ của anh lại hào phóng như vậy, lên lương một phát $2 luôn!”

·“Chị Hai ơi! Em chính mắt nhìn thấy thằng con của em đi lễ, vào xưng tội rồi rước lễ nữa. Nó còn nói là nó muốn đi tu nữa. Giêsu Maria lạy Chúa tôi, em không còn tin vào tai của mình nữa. Chúa nhậm lời em rồi chị ơi!”

Nhiều chuyện bất ngờ trong đời tôi
Mang lại niềm vui, và tiếng cười
Bất ngờ loại này thật thú vị
Đem lại hưng phấn, nhiều niềm vui.


Nhưng! Có nhiều sự bất ngờ chẳng bao giờ mang lại cho chúng mình sự dễ chịu và chút thoải mái nào cả.

·“Hôm qua, thằng Joe vừa mới nói chuyện phone với tao xong. Chừng nửa tiếng sau, má nó phone cho hay nó bị đụng xe tử thương rồi. Thiệt không ngờ!”

·“Con nhỏ đó trẻ, đẹp, bao nhiêu thằng đẹp trai theo đuổi, tán tỉnh, vậy mà nó lại lấy thằng chồng già không thể tưởng tượng nổi! Thiệt không ngờ!”

·“Ông A bà B ai cũng bảo là một cặp vợ chồng hạnh phúc, có dâu rể, cháu nội cháu ngoại rồi, vậy mà đùng một cái ông ấy ly dị bả, thiệt không ai có thể học được chữ ngờ!”

·“Thằng bé nhìn hiền lành như vậy, đùng một cái nghe tin nó bị bắt vì tội ăn cướp, giết người. Thiệt không thể tưởng tượng nổi!”

Bất ngờ có pha lẫn đắng cay
Xảy ra nhan nhãn, xảy ra đầy
Loại này đem lại đau, buồn, khổ
Cay đắng, tủi sầu, khóe mắt cay.


Còn nhiều lắm bạn ạ! Thế nhưng, trước những cái bất ngờ như trên dù chúng đem lại niềm vui hay nỗi buồn, dù cay đắng hay là ngọt ngào đi chăng nữa thì chúng cũng chóng qua thôi. Chúng đến rồi đi, không đáng ngại cho lắm!

Thế nhưng! Có một loại bất ngờ mà bạn và tôi chúng mình cần phải cẩn thận và phải hết sức lưu tâm. Đó là chết bất ngờ trong tình trạng thiếu chuẩn bị, tệ hơn nữa chết bất ưng trong tình trạng tội lỗi. Những cái chết bất ngờ trong tình trạng tội lỗi như vầy có mang lại một hậu quả rất nghiêm trọng, đó là cả xác cả hồn sẽ không bao giờ được vào Thiên Đàng hưởng sự sống đời đời (GLCG # 1035).

Chết không chuẩn bị, chết bất ngờ
Nguy hiểm vô cùng bạn tôi ơi!
Chết khi trong mình vương tội trọng
Làm gì lên được chốn nghỉ ngơi?

“Úi giời! Còn lâu mới chết, còn giờ ăn chơi cho đã để đến lúc hết xí quách hay lúc về hưu tôi sẽ vào tòa xưng tội, ăn năn thống hối là Chúa tha thứ hết. Lúc đó là lên thiên đàng cả giường lẫn chiếu!”
Nếu bạn nghĩ như vậy thì tôi cầu chúc cho bạn được … vạn sự như ý.

Thế nhưng! Tôi hỏi thật bạn nhé, nến lỡ đang trong lúc ăn chơi, đang trong lúc đắm chìm trong lạc thú, lúc bạn đang dìm mình trong vũng lầy của tội lỗi… trái tim của bạn bỗng nổi cơn tự ái không thèm đập nữa, não của bạn bỗng đình công không muốn làm việc nữa thì sao? Bạn có thời gian đi xưng tội, có kịp lãnh nhận các phép bí tích sau cùng không? Không chắc đâu! Tại sao bạn không chuẩn bị mỗi ngày đi!

Bây giờ thì xả láng chơi
Đến khi già lão, lúc chán đời
Lúc đó ta ăn năn xưng tội
Chúa tha thứ hết! Hồn thảnh thơi!
Đừng tưởng cứ khoẻ mãi bạn ơi!
Thiếu gì người trẻ giã cõi đời!
Khi chết chưa sẵn sàng chuẩn bị
Địa ngục muôn đời, chỗ nghỉ ngơi.


Hôm nay, trong bài đọc hai của Chúa Nhật thứ hai Mùa Vọng, thánh Phêrô nhắc nhở tôi và bạn rằng: Ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm!” (2 Pr 3:10). Bạn có trí khôn ngoan, bạn hãy lo tỉnh thức để chờ đón Người. Nhưng sẵn sàng tỉnh thức như thế nào để chờ đón Chúa đây? Có nhiều chuyện cần phải làm để chuẩn bị nghinh đón cuộc giáng lâm của Chúa Kitô lắm, nếu bạn không biết làm gì, chuẩn bị thế nào thì mời bạn nghe lời hướng dẫn của Thánh Phaolô trong thư gửi cho tín hữu Roma (13:12-13):

1.Hãy loại bỏ những việc làm đen tối... đừng buôn bán xì ke, ma túy, đừng cho thiên hạ ăn bánh vẽ với thịt lừa, hãy bỏ ngay những trò bịp bợm, chớ ngoại tình, gian dâm, đừng xem phim hay những hình ảnh của những người nghèo trên internet, trong phim ảnh …

2.Hãy Cầm lấy vũ khí của sự sáng để chiến đấu... Sống ngay thẳng, trung thực với chính mình và với tha nhân, luôn luôn vui vẻ với những người xung quanh, đem niềm vui đến cho mọi người và nhất là hãy siêng năng học hỏi Lời Chúa.

3.Không chè chén say sưa, không chơi bời dâm đãng, cũng không cãi cọ ghen tương... Những thú vui xác thịt này chính là những thứ thuốc mê khiến chúng ta không thể nào sống trong tỉnh thức để chờ đón Chúa đến với mình.

Nhiều việc cần phải chuẩn bị quá phải không bạn? Đúng! Vị khách càng sang trọng, càng quý phái bao nhiêu thì công việc chuẩn bị đón tiếp lại càng phải chi tiết và chu đáo bấy nhiêu.

Bạn biết Chúa Giêsu là vị khách cao quý như thế nào rồi. Trong mùa Vọng này, bạn và tôi chúng ta hãy cầu nguyện cho nhau và hãy cùng giúp nhau lo chuẩn bị thật lỹ lưỡng và chu đáo trong công việc đón tiếp Chúa Kitô. Bạn hãy năng đến lãnh nhận Bí Tích Hoà Giải, hãy đi xưng tội thường xuyên đi. Đó cũng là một cách chuẩn bị rất cần thiết. Chúc bạn một mùa Vọng thánh thiện và tràn đầy ơn Chúa.

phamtinh@yahoo.com
LM. Ansgar Phạm Tĩnh

MC1-B35: HÃY SÁM HỐI & TIN VÀO TIN MỪNG!

CHÚA NHẬT I MÙA CHAY NĂM B (05.03.2006)

I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ 
 

Mùa Chay lại trở về với muôn vàn hồng ân của Thiên Chúa. Cùng với toàn thể Giáo hội Công: MC1-B35

       Mùa Chay lại trở về với muôn vàn hồng ân của Thiên Chúa. Cùng với toàn thể Giáo hội Công giáo, chúng ta hãy bước vào Mùa Chay của Phụng vụ Năm B với tâm tình xứng hợp. Trọng tâm của Mùa Chay là chuẩn bị tâm hồn và thay đổi cuộc sống để đón nhận Chúa Giêsu Kitô Phục Sinh và ơn cứu độ của Thiên Chúa. Các bài đọc Thánh Kinh hôm nay đều tập trung vào việc Thiên Chúa đã cứu vớt con người:
         * Thiên Chúa đã cứu ông Nôê và con cái ông khỏi nước tức nạn hồng thủy (bài đọc 1),
          * Thiên Chúa đã dùng nước trong phép Rửa để cứu toàn thể nhân loại khỏi tội lỗi và sự chết, khi Thiên Chúa sai Con Một Yêu Dấu của Người, đến trần gian để rao giảng Nước Trời, lập các Bí tích, chịu chết trên thập giá và phục sinh (bài đọc 2 và bài Tin Mừng).
           * Điều kiện để được cứu là “SÁM HỐI & TIN VÀO TIN MỪNG. Đó cũng chính là Sứ điệp của Lời Chúa hôm nay.
II. LẮNG NGHE & TÌM HIỂU LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH

2.1 Lắng nghe Lời Chúa trong ba bài Thánh Kinh
(1) Bài đọc 1: St 9,8-15: Sau hồng thủy Thiên Chúa lập Giao ước với ông Nôê.
     (8) Thiên Chúa phán với ông Nôê và các con ông đang ở với ông rằng: (9) "Đây Ta lập giao ước của Ta với các ngươi, với dòng dõi các ngươi sau này, (10) và tất cả mọi sinh vật ở với các ngươi: chim chóc, gia súc, dã thú ở với các ngươi, nghĩa là mọi vật ở trong tàu đi ra, kể cả dã thú. (11) Ta lập giao ước của Ta với các ngươi: mọi xác phàm sẽ không còn bị nước hồng thủy hủy diệt, và cũng sẽ không còn có hồng thủy để tàn phá mặt đất nữa."
    (12) Thiên Chúa phán: "Đây là dấu hiệu giao ước Ta đặt giữa Ta với các ngươi, và với mọi sinh vật ở với các ngươi, cho đến muôn thế hệ mai sau: (13) Ta gác cây cung của Ta lên mây, và đó sẽ là dấu hiệu giao ước giữa Ta với cõi đất. (14) Khi Ta cho mây kéo đến trên mặt đất và cây cung xuất hiện trong mây, (15) Ta sẽ nhớ lại giao ước giữa Ta với các ngươi, và với mọi sinh vật, nghĩa là với mọi xác phàm; và nước sẽ không còn trở thành hồng thủy để tiêu diệt mọi xác phàm nữa. 
(2) Bài đọc 2: 1 Pr 3,18-22: Nước đó là phép rửa nay cứu thoát anh em.
       (18) Anh em thân mến, chính Đức Kitô đã chịu chết một lần vì tội lỗi – Đấng Công Chính đã chết cho kẻ bất lương- hầu dẫn đưa chúng ta đến cùng Thiên Chúa. Thân xác Người đã bị giết chết, nhưng nhờ Thần Khí, Người đã được phục sinh. (19) Người đã đến rao giảng cho các vong linh bị giam cầm,  (20) tức là những người xưa đã không vâng phục Thiên Chúa, trong thời Thiên Chúa kiên nhẫn chờ đợi, nghĩa là thời ông Noê đóng tầu. Trong con tầu ấy, một số ít, cả thảy là tám người, được cứu thoát nhờ nước. (21) Nước đó là hình bóng phép rửa nay cứu thoát anh em. Lãnh nhận phép rửa, không phải là được tẩy sạch vết nhơ thân xác, mà là cam kết với Thiên Chúa sẽ giữ lương tâm trong trắng, nhờ sự phục sinh của Đức Giêsu Kitô,  (22) Đấng đang ngự bên hữu Thiên Chúa sau khi đã lên trời, đã bắt các thiên sứ và toàn thể thần minh phải phục quyền.
(3) Bài Tin Mừng: Mc 1,12-15: Đức Giêsu bắt đầu sứ vụ rao giảng Tin Mừng.
      (12) Sau khi Đức Giêsu chịu phép rửa, Thần Khí liền đẩy Người vào hoang địa. (13) Người ở trong hoang địa bốn mươi ngày, chịu Xatan cám dỗ, sống giữa loài dã thú và có các thiên sứ hầu hạ Người.
     (14) Sau khi ông Gioan bị nộp, Đức Giêsu đến miền Galilê rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa. (15) Người nói: "Thời kỳ đã mãn, và Triều đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng."
2.2 Trong ba bài Thánh Kinh trên, chúng ta khám phá ra Thiên Chúa là Đấng nào?    
       (1) Trong bài đọc 1 (St 9,8-15) chúng ta thấy Thiên Chúa đã loan báo và cứu ông Nôê và các con ông, khỏi nạn hồng thủy, bằng một giao ước bền vững và lâu dài. Dấu chỉ của giao ước ấy là chiếc cầu vồng xuất hiện trên bầu trời. Nhưng Thiên Chúa không chỉ lập giao ước với ông Nôê mà còn lập giao ước với dòng dõi ông là những kẻ tin Chúa. Dấu chỉ của giao ước mới này chính là Con Một Thiên Chúa, Đức Giêsu Nadarét, Đấng đã xuất hiện giữa loài người.
    (2) Trong bài đọc 2 (1 Pr 3,18-22) Tông đồ Trưởng Phêrô khẳng định: chúng ta được cứu là nhờ “Đức Kitô đã chịu chết một lần vì tội lỗi” Người là “Đấng Công Chính đã chết cho kẻ bất lương hầu dẫn đưa chúng ta đến cùng Thiên Chúa” Phương tiện và cũng là dấu chỉ của việc cứu chuộc ấy là Nước Phép Rửa được đổ trên trán / đầu chúng ta.
  3) Trong bài Tin Mừng (Mc 1,12-15) Máccô nhắc lại với chúng ta sự kiện sau khi chịu phép rửa bởi ông Gioan Tẩy giả, Đức Giêsu được Thánh Thần đưa vào sa mạc để chịu Xatan cám dỗ. Sau khi nghe tin Gioan bị giết hại, Đức Giêsu xuất hiện công khai ở Galilê và bắt đầu rao giảng: Thời kỳ đã mãn và Triều đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”
2.3 Qua ba bài Thánh Kinh trên, Thiên Chúa muốn gửi sđiệp gì cho chúng ta?    
      Sứ điệp của Lời Chúa hôm nay là hãy sám hối và tin vào Tin Mừng, vì thời gian đã mãn và Triều đại Thiên Chúa đã gần.
      (*) Sám hối là thay đổi suy nghĩ và hành động tức không còn suy nghĩ và hành động theo thói quen và tập quán xói mòn của người đời nữa mà suy nghĩ và hành động theo tinh thần và cung cách mới của Phúc âm.
     (*) Tin vào Tin Mừng là tin vào tình thương và sự trung tín giữ lời hứa của Thiên Chúa; Cũng là tin vào lời rao giảng và con người Đức Giêsu Nadarét là Thiên Chúa làm người và đã được Thánh Thần xức dầu và đưa vào trần gian để loan báo Tin Mừng và ban ơn cứu độ cho mọi người.
III. SỐNG LỜI CHÚA HÔM NAY
Sống Lời Chúa hôm nay là kiểm điểm và thay đổi đời sống theo sự hướng dẫn và mời gọi của Chúa và của Hội Thánh. Mỗi người, mỗi cộng đoàn nên tập trung vào điểm yếu kém nhất trong đời sống tâm linh của mình để sự thay đổi có tính “quyết định” và triệt để.
IV. CẦU NGUYỆN  
Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”
Lạy Thiên Chúa là Cha, chúng con biết rằng: đáp lại lời mời của Chúa Giêsu Con Cha, là chúng con phải tin vào Tình yêu Cứu độ của Cha và tin vào Đức Giêsu Kitô mà Cha đã sai đến trần gian này. Xin Cha ban ơn sám hối và thay đổi đời sống cũng như ơn lòng tin cho chúng con.
Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”
Lạy Chúa Giêsu, chúng con biết rằng: đáp lại lời mời của Chúa, là chúng con phải luôn chiêm ngắm, khám phá và học cùng Chúa để chúng con điều chỉnh cách suy nghĩ và hành động của chúng con theo cách suy nghĩ và hành động của Chúa. Xin Chúa ban ơn sám hối và thay đổi đời sống cũng như ơn lòng tin cho chúng con.
Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”
Lạy Chúa Thánh Thần, chúng con biết rằng: đáp lại lời mời của Chúa Giêsu, Thiên Chúa làm người, là chúng con phải để cho Thánh Thần hoạt động trong chúng con và biến đổi chúng con. Xin Chúa hãy canh tân đổi mới trái tim và cõi lòng chúng con để chúng con sống như Chúa Giêsu mời gọi và mong muốn. Amen.
       Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.                                               
       Sàigòn ngày 24.02.2006
 

MC1-B36: Chúa Giêsu chịu cám dỗ

Chúa nhật 1 Mùa chay-B: Mc 1,12-15
 
  1. Hạt giống...

Bài Tin mừng này gồm hai phần: 1. Tường thuật Chúa Giêsu chịu cám dỗ (chúng con 12-13): MC1-B36

Bài Tin mừng này gồm hai phần:
1. Tường thuật Chúa Giêsu chịu cám dỗ (chúng con 12-13): Mc không viết nhiều về cơn cám dỗ, chỉ ghi hai chi tiết:
- Chúa Giêsu sống giữa loài dã thú: chi tiết này làm ứng nghiệm lời Isaia tiên báo về thời đại Messia (x.Is 11,6-9), đồng thời minh họa cho cảnh sống hài hòa giữa con người với muôn vật, làm sống lại hình ảnh tốt đẹp thuở ban đầu ở vườn địa đàng đã chiến thắng cám dỗ, cám dỗ chẳng làm gì được Ngài, chẳng thể phá vỡ liên lạc hài hòa giữa Chúa Giêsu với vũ trụ vạn vật.
- Có các thiên sứ hầu hạ người: chi tiết này ngụ ý Chúa Giêsu được Thiên Chúa cứu giúp và che chở.
2. Lời rao giảng đầu tiên của Chúa Giêsu (chúng con 14-15): Đây là công thức tóm lược toàn thể sứ điệp Chúa Giêsu, gồm hai việc quan trọng là sám hối và tin vào Tin mừng.
B...nẩy mầm.
1. Trong tiếng Do thái, chữ “cám dỗ” có nghĩa là “thử thách”, “thử tài”, giống như chữ “đi thi” của chúng ta ngày nay. Cám ỗ là đi thi: ai thắng cám dỗ là thi đậu, ai sa ngã thì thi rớt. Bởi thế cám dỗ là dịp tốt để ta “lấy bằng cấp”. Tuy nhiên ta đừng khinh địch, hãy nhớ lại Chúa Giêsu căn dặn “Thứ qủy này chỉ có thể thắnh nhờ ăn chay cầu nguyện”, nhớ lời trong kinh Lạy Cha “xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ”, và nhớ Chúa Giêsu trong bài Tin mừng này đã chiến thắng được nhờ sự trợ giúp và che chở của Thiên Chúa.
2. Có người nói rằng đạo Công giáo đầy mặc cảm tội lỗi cho nên bao giờ cũng bắt đầu Thánh lễ bằng lời câu gọi sám hối. Thực ra chính Chúa Giêsu cũng luôn kêu gọi sám hối. Cho nên đây không phải là mặc cảm mà là một thực tế: con ngườidễ đi lạc, cho nên cần luôn ý thức tình trạng lạc đường ấy để quay về.
3. Một đêm Giáng sinh nọ, Thánh Giêrônimô đang qùy bên máng cỏ để suy niệm về mầu nhiệm NgôiHhai Thiên Chúa xuống thế làm Người thì bỗng Chúa Hài Đồng hiện ra trong vầng sáng chói lòa. Ngài hỏi thánh nhân:
- Giêrônimô, con có gì làm qùa cho Ta trong ngày Ta Giáng sinh không?
- Lạy Chúa Hài Đồng, thánh nhân đáp, con xin dâng Chúa trái tim của con.
- Được lắm, nhưng còn gì khác nữa không?
- Lạy Chúa, con xin dâng Chúa tất cả những gì con có và tất cả những gì con có thể.
- Con còn điều gì khác nữa không?
- Con có gì khác để dâng Chúa nữa đâu. Thánh nhân khẩn khoản thưa.
Chúa Hài Đồng bảo:
- Này Giêrônimô, hãy dâng cho Ta cả những tội lỗi của con nữa.
- Ô lạy Chúa, Thánh nhân hốt hoảng hỏi lại, làm sao con dâng cho Chúa tội lỗi của con đuợc?
- Được chứ! Ta muốn con dâng cho Ta tội lỗi của con để Ta có thể tha thứ cho con. Đó là điều Ta rất mong đợi.
Nghe thế, thánh nhân bật khóc vì sung sướng. (Trích”món qùa Giánh sinh”)
4. “Chúa Giêsu phán: Thời kỳ đã mãn và thời đại Thiên Chúa đã gần đến. Anh em hãy thống hối và tin vào Tin mừng” (Mc1,15)
Hết ngày lại đêm. Hết làm việc lại nghỉ ngơi. Và cứ thế, một ngày như mọi ngày. Thời gian cứ trôi, cho đến ngày Chúa phán với tôi “Thời kỳ đã mãn…”
Vâng, ngày đó sẽ đến với tôi. Ước gì trong ngày đó tôi không vội vã, không ăn năn vì thống hối từng ngày. Ước gì trong ngày đó tôi vẫn vô tư như hằng đêm ngủ say, như Thánh Saviô vẫn vui chơi khi Chúa đến.
Lạy Chúa, thời đại Chúa đã đến, và đang đến từng ngày trong đời con. Con xin đón nhận trong sẵn sàng (Epphata)
5.Mầm khác:
 

MC1-B37: Hãy đến và hãy nhìn xem

Bài chia sẻ ngày Chúa Nhật I Mùa Chay, của ĐHY Schoenborn, TGM Viêna
 

VietCatholic News(26/03/2001).
 

ĐHY Schoenborn được biết đến nhiều trong Giáo hội, không những là một nhà trí thức, nhưng: MC1-B37

ĐHY Schoenborn được biết đến nhiều trong Giáo hội, không những là một nhà trí thức, nhưng nhất là đã được ĐTC đặt làm Tổng thư ký Ủy ban soạn thảo Cuốn sách Giáo lý mới của Giáo hội.

ĐHY Schoenborn là một trong các vị Hồng Y trẻ hơn cả của Viện Hồng Y. Sinh ngày 22 tháng Giêng năm 1945 tại Bohême (thuộc Cộng Hòa Tchèque), nhưng từ nhỏ di cư sang Áo quốc và nay là công dân Áo. Năm 1963, ngài vào tu Dòng Đa Minh, học Đại học Walberberg, gần thành phố Bonn (Cộng hòa Liên Bang Đức), rồi tại Sauchoir (bên Pháp); sau đó Đại Học Viena (Áo), Sorbonne (Pháp) và Institut Catholique de Paris. Thụ phong Linh mục năm 1970, Cha được chỉ định làm tuyên úy sinh viên đại học và sau đó làm giáo sư Thần học tín lý. Được bổ nhiệm làm thành viên của Ủy Ban Thần học quốc tế, thuộc quyền Bộ Giáo lý Đức tin và thành viên của “Hội Đông Phương” (Fundatio pro Oriente).

Từ năm 1987 đến 1992 giữ chức vụ Tổng thư ký Ủy Ban soạn thảo Cuốn Giáo lý mới của Giáo hội công giáo. Cuốn sách quan trọng này là một trong các thành quả cụ thể của Công đồng chung Vatican II, được công bố năm 1993, sau 10 năm công bố Bộ Giáo luật mới, thành quả thứ nhất của Công đồng. Năm 1995, ĐTC bổ nhiệm vị Linh mục lỗi lạc, nhưng rất khiêm tốn này làm TGM giáo phận Viena. Năm sau, được ĐTC chỉ định giảng Tuần Tĩnh Tâm cho Giáo triều vào Đầu Mùa Chay. Ngài là tác giả của nhiều tác phẩm về các đề tài khác nhau.

"Sự phong phú và sứ vụ nào của Châu Âu?“ Đây là đề tài được ĐHY Schoenborn trình bày Chúa nhật đầu Mùa Chay trong nhà thờ Notre-Dame de Paris. Trước hết ĐHY nói đến Ngày thế giới Thanh niên Paris (tháng 8 năm 1997), và nhắc lại đề tài suy tư của ngày này: ”Hãy đến và hãy coi xem“. (Lời Chúa Giêsu nói với môn đệ đầu tiên muốn khám phá Chúa là ai). Với lời mời này, Chúa Giêsu kêu gọi chúng ta nhìn vào những gì Chúa đã làm trong lịch sử của Châu Âu.

Áp dụng vào các thính giả, ĐHY nói: “Anh chị em hãy đến và hãy xem những kỳ công của Thiên Chúa, mùa gạt hái vô cùng lớn lao của sự thánh thiện của biết bao người nam nữ thuộc đủ mọi lứa tuổi, tầng lớp, văn hóa, chứng nhân của đời sống Chúa Phục sinh; hãy đến và hãy nhìn xem mùa gặt hái dồi dào của sứ diệp Tin Mừng của Chúa Kitô và của Mầu nhiệm ơn thánh này trong biết bao thực hiện về nghệ thuật , văn hóa, luật pháp và xã hội.

Cả ngày nay nữa, anh chị em hãy đến và hãy xem! Châu Âu không phải chỉ có con bò điên mà thôi - dĩ nhiên lo lắng là điều hợp lý - sự tan rã của gia đình, thảm kịch của nạn phá thai và của việc làm cho chết êm dịu. Dầu vậy , vẫn có những thành quả của niềm hy vọng và có rất nhiều.

Vị giảng thuyết đặt câu hỏi: Nhu cầu chính của Giáo hội của anh chị là nhu cầu nào? Học biết, tìm tòi để biết Chúa Giêsu ở đâu.

Câu hỏi khác: Nỗi lo lắng mục vụ đầu tiên của anh chị em là gì? Như thánh Phaolô nói: “Người này trồng, người kia tưới, nhưng chính Chúa làm cho mọc lên“. Chúa Kitô nói: “Chính Ta là người xây dựng Giáo hội“. Bổn phận của vị mục tử là làm cho mọi người thấy rằng Chúa muốn chúng ta cộng tác vào công việc này như thế nào.

ĐHY kết thúc: “Dốc quyết Mùa Chay của anh chị em là dốc quyết nào?”. ĐTC Gioan Phaolô II đã nói rõ trong Tông thư của ngài “Novo Millennio ineunte“ (Ngàn năm mới bắt đầu): ưu tiên đó, là lời kêu gọi tiến trên con đường thánh thiện. Sức mạnh và sự cao cả của Châu Âu phát xuất từ nguồn mạch này. Các Thánh thời nay chỉ cho chúng ta khuôn mặt đích thực của Giáo hội. Chúng ta hãy khởi công từ các nguồn mạch ơn thánh, bất cứ chúng ta thuộc địa vị nào và hoạt động nào“.

Từ những chia sẻ trên của Đức HY Schoenborn, mỗi người chúng ta có thể suy nghĩ thêm như sau: Dù thuộc cấp bậc nào trong Giáo hội: Giám mục, Linh mục, giáo dân, chúng ta, như là thành phần của Giáo hội, đều có ơn gọi và sứ vụ riêng trong việc xây dựng và phát triển Giáo hội, Nhiệm Thể Chúa Kitô, trong môi trường sống, trong lãnh vực hoạt động. Nhưng chúng ta sẽ không bao giờ thành công trong việc xây dựng và canh tân Giáo hội, nếu chúng ta không quan tâm đến ưu tiên mà ĐTC nhấn mạnh trong Tông thư Novo Millennio ineunte và được ĐHY Schoenborn nhắc lại: “tiến trên con đường thánh thiện“. Thù địch của Giáo hội không tìm đả phá Giáo hội bằng ý thức hệ, vì theo kinh nghiệm họ đã không thành công; nhưng họ tìm phá hủy Giáo hội bằng chính con cái Giáo hội, bằng việc đồi bại luân lý và bằng danh vọng, chức quyền, tiền tài... bằng mọi phương thế, nhất là qua báo chí, phát thanh và truyền hình.

Nếu chúng ta, các vị chủ chăn của mỗi Giáo hội địa phương, các linh mục của mỗi giáo xứ, Tu sĩ nam nữ của mỗi cộng đồng và anh chị em giáo dân không sớm ý thức và không được báo động kịp thời về nguy hiểm này, chúng ta sẽ không thể tránh khỏi mưu mô quỉ quyệt của thù địch Giáo hội. “Duc in altum“: Hãy ra khơi! Lời ĐTC kêu gọi con cái Giáo hội trong ngày bế mạc Năm Thánh 2000. Năm Thánh không phải là điểm tới, nhưng là điểm bắt đầu để tiến tới trong tương lai. “Duc in altum“: Hãy ra khơi, thả lưới bắt cá, dù sóng gió, biển động; Chúng ta tin chắc rằng: Chúa đang trên thuyền với chúng ta, mặc dù Người ngủ yên.
Msgr. Peter NGUYỄN VĂN TÀI

 

MC1-B38: Chiến trận của sự cám dỗ

CHÚA NHẬT I  MÙA CHAY  Máccô 1,12-15
 

Giờ vinh quang của lễ rửa qua chưa được bao lâu, tiếp đến là chiến trận của sự cám dỗ. Có một: MC1-B38

Giờ vinh quang của lễ rửa qua chưa được bao lâu, tiếp đến là chiến trận của sự cám dỗ. Có một điểm nổi bật ở đây, hết sức sống động, mà ta không thể bỏ qua, ấy chính là Chúa Thánh Thần (Thần Khí) đã đẩy Chúa Giêsu vào sa mạc để trải qua thời gian thử thách. Chính Thánh Linh vừa ngự xuống trên Ngài lúc chịu lễ rửa đã đưa Ngài vào sa mạc để chịu thử nghiệm.
Sống trên đời, chúng ta không thể nào tránh được việc tấn công của cám dỗ, nhưng điều chắc chắn là những cuộc cám dỗ không nhằm mục đích khiến chúng ta phải sa ngã, chúng được đưa đến để củng cố các gân cốt của trí tuệ, tấm lòng và linh hồn chúng ta, nhưng nhằm đem lại lợi ích cho chúng ta. Chúng không được đưa đến để nhắm tàn hại hủy diệt chúng ta. Chúng là  những phương tiện thử nghiệm để khi ra khỏi đó, chúng ta sẽ trở thành những chiến sĩ, những lực sĩ thiện chiến hơn, mạnh mẽ hơn của Thiên Chúa. Giả sử có một thanh niên chơi túc cầu thật hay trong đội dự bị và thấy có nhiều triển vọng, huấn luyện viên của cậu sẽ làm gì đây. Chắc chắn ông không xếp cho cậu đá cho đội hạng bét để suốt trận cậu chẳng cần đổ mồ hôi, nhưng ông xếp cho cậu đá đội tuyển chính thức để cậu phải chịu thử thách như chưa bao giờ chịu thử thách trước đó. Đó là mục đích mà sự cám dỗ nhắm vào, đó là cơ hội tạo cho chúng ta tự chứng minh nhân cách của mình, để khi ra khỏi đó được vững vàng, mạnh mẽ hơn cho cuộc chiến đấu.
Bốn mươi ngày là mệnh đề không nên hiểu theo nghiã đen, người Hêbơrô thường dùng từ ấy để chỉ thời gian đáng kể. Môsê được cho biết đã lên đỉnh núi với Chúa Giavê bốn mươi ngày (Xh24,18). Sau khi được bữa ăn của thiên sứ để đi trong bốn mươi ngày (1V 19,8). Người Hêbơrơ không dùng câu bốn mươi ngày theo nghĩa đen, nhưng nhằm chỉ một thời gian tương đối dài.
Chính qủy Xatan đã cám dỗ và thử thách Chúa Giêsu. Phần phát triển quan niệm về qủy Xatan rất lý thú, đáng cho chúng ta chú ý.
Từ ngữ Xatan trong Hy văn chỉ có nghiã đơn giản là chống đối, kẻ thù. Trong Cựu Ước nó vẫn được dùng nhiều lần theo nghiã là những kẻ thù thông thường, những người chống đối. Vị thiên sứ của Đức Giavê là Xatan đứng chặn đường Balaam (Ds 22,22). Dân Philitinh sợ rằng Đavit có thể trở thành Xatan của họ (2S 19,22); Đavit xem Abisai như Xatan của mình (2S 19,22). Salômôn tuyên bố rằng Thiên Chúa đã ban cho ông được hoà bình, thịnh vượng đến nỗi nhà vua không còn sa tan nào chống lại mình nữa (1V 5,4). Ban đầu từ ngữ ấy chỉ có nghĩa là kẻ thù theo nghĩa rộng nhất của nó, nhưng trên đường đi xuống nó đã thêm một bước nữa và bắt đầu có nghĩa là kẻ kiện cáo người khác. Chính theo nghiã ấy, chứ Xatan đã được dùng ở sách Gióp. Cần ghi nhận rằng trong chương đó, Xatan chính là một trong nhiều người con trai của Thiên Chúa (G 1,6), nhưng công tác đặc biệt của Xatan là soi mói, bới lông tìm vết con người (G 1,7) để tìm dịp kiện cáo họ trước mặt Chúa Trời. Việc làm của Xatan là kiếm đủ chuyện để chống lại ai đó.
Một danh hiệu khác nữa của Xatan là  ma qủy. Từ ngữ ma qủy vốn do từ diabolos, nghĩa đen là kẻ nói hành. Từ ngữ ý nghĩa về một kẻ kiếm chuyện để chống lại một người đến ý nghĩa về kẻ cố ý và qủy quyệt nói hành, nói xâú một người trước mặt Thiên Chúa chỉ có một bước ngắn. Nhưng trong Cựu Ước, Xatan hãy còn là một sứ giả của Giavê, chứ chưa phải là kẻ qủy quyệt số một của Ngài, nó chỉ là kẻ thù của loài người mà thôi.
Rồi tiếp tục con đường đi xuống của nó, từ ngữ ấy đã bước đến bước cuối cùng. Sau khi bị lưu đày, dân Dothái học hỏi được một số tư tưởng Batư. Tư tưởng Batư được lập lên nền trên quan niệm cho rằng trong vũ trụ này có hai thế lực: một thế lực của ánh sáng và một thế lực của tối tăm, một thế lực của điều thiện và một thế lực của điều ác. Toàn thể vũ trụ là bãi chiến trường của chúng, và loài người phải chọn đứng về phe nào trong cuộc tranh chấp ấy. Thật ra người ta nhìn biết và cảm thấy cuộc đời quả giống như vậy. Tóm lại, trên đời này có Chúa Trời và kẻ thù của Ngài. Hầu như không thể tránh được việc Xatan bị coi là kẻ thù số một của Ngài. Tiêu biểu cho mọi thù địch. Đó chính là nghĩa của tên nó, loài người luôn luôn hiểu về nó như thế, Xatan đã trở thành yếu tính của mọi sự chống nghịch với Thiên Chúa.
Sang Tân Ước, chúng ta thấy ma qủy hay Xatan ẩn mình sau bệnh tật và đau khổ của con người (Lc 13,16), chính Xatan quyến rũ Giuđa (Lc 22,3), ma qủy là kẻ chúng ta phải chống lại (1 Pr 5,8-9; Gc 4,7), chính quyền lực của ma qủy bị công việc của Chúa Cứu Thế đập tan (Lc 10,1-9), chính ma qủy đã định phải hủy diệt hoàn toàn vào ngày sau cùng (Mt 25,41). Xatan là thế lực chống lại Thiên Chúa.
Ở đây, chúng ta có toàn thể yếu tính về câu chuyện về sự cám dỗ. Chúa Giêsu cần quyết định phải làm công việc của mình như thế nào. Ngài biết rằng đây là một công việc phi thường và Ngài cũng ý thức đến những quyền lực phi thường. Thiên Chúa đã phán với Ngài "Hãy đem tình yêu thương của ta đến cho loài người, hãy yêu thương họ đến nỗi con sẽ vì họ mà chịu chết, hãy chinh phục họ bằng tình yêu thương không gì chiến thắng được, cả khi con phải kết thúc nó trên thập giá". Qủy Xatan bảo với Đức Giêsu "Hãy dùng quyền phép của ngươi để quét sạch loài người, hãy tiêu diệt các kẻ thù của ngươi, hãy chiếm lấy thế gian bằng sức mạnh, quyền phép và làm đổ máu". Thiên Chúa phán với Đức Giêsu "Hãy thiết lập vương quyền bằng tình yêu thương"; Xatan bảo Ngài "Hãy thiết lập một chế độ độc tài bằng bạo lực". Hôm đó, Chúa Giêsu đã phải chọn giữa phương pháp của Thiên Chúa và đường lối của kẻ thù của Thiên Chúa.
Câu chuyện ngắn gọn của Maccô kể lại việc cám dỗ chấm dứt bằng hai nét sống động.
1. Có thú rừng ở chung với Ngài.
Trong vùng sa mạc có beo, gấu, heo rừng , chó rừng lang thang khắp nơi. Người ta thường cho rằng đó là những chi tiết sống động làm tăng thêm vẻ đen tối, ghê rợn của khung cảnh. Nhưng thực sự không phải vậy, đây là một điều hết sức đẹp đẽ vì có thể nó có ý nghiã là các thú dữ đã đến để kết bạn với Chúa Giêsu. Trong giấc mơ của dân do thái về hoàng kim thời đại, họ vẫn mơ có một ngày nào đó, sự thù địch giữa loài người và loài vật sẽ không còn nữa. "Trong ngày đó, vì dân Ta, Ta sẽ thiết lập một giao ước với thú vật đồng hoang, với chim chóc trên trời, với loài bò sát dưới đất" (Hs 2,20). "Bấy giờ sói sẽ ở với chiên con, beo nằm bên dê nhỏ... Bé thơ còn đang bú giỡn chơi bên hang rắn lục, trẻ thơ vừa cai sữa thọc tay vào ổ rắn hổ mang. Sẽ không còn ai tác hại và tàn phá trên khắp núi thánh của Ta, vì sự hiểu biết Đức Chúa sẽ tràn ngập đất này, cũng như nước lấp đầy lòng biển" (Is 11,6-9). Và những ngày sau đó, thánh Phanxicô đã giảng đạo cho thú vật. Rất có thể ở đây chúng ta được nếm trước sự đẹp đẽ của thời kỳ mà con người và loài thú sẽ sống hoà bình với nhau. Có lẽ ở đây chúng ta được thấy bức tranh trong đó loài thú nhận biết trước loài người rằng Ngài là Bạn và là Vua của của chúng.
2. Có thiên sứ hầu chuyện.
Trong giờ thử thách bao giờ cũng có sự thêm sức của Chúa Trời. Lúc Êlisê và kẻ tôi tớ ông bị kẻ thù bao vây tại Đôthan và dường như chẳng còn đường nào thoát được, Êlisê xin Chúa mở mắt cho kẻ tôi tớ ông , và chàng thanh niên ấy thấy chung quanh họ những ngực và xe bằng lửa của Thiên Chúa (2V 6,17) Chúa Giêsu đã không bị bỏ mặc một mình để chiến đấu trong cô đơn, và chúng ta cũng vậy.
 

MC1-B39: Hoang địa

Thánh Thần thúc đẩy Chúa Giêsu vào hoang địa, Ngài ở đó suốt 40 đêm ngày và chịu Satan: MC1-B39

Thánh Thần thúc đẩy Chúa Giêsu vào hoang địa, Ngài ở đó suốt 40 đêm ngày và chịu Satan cám dỗ. Hoang địa hay sa mạc là một chủ đề quen thuộc trong Kinh Thánh. Vậy thì nó có ý nghĩa gì ?
Trước hết, hoang địa hay sa mạc là nơi thử thách. Thực vậy, đọc lại Cựu ước, chúng ta thấy dân Do Thái, trên đường trở về miền đất hứa, đã phải lang thang trong sa mạc suốt bốn mươi năm. Trong thời gian này, trước những gian nan thử thách, họ đã bị cám dỗ rời bỏ Chúa để chạy theo những thần tượng ngoại lai. Và rất nhiều lần họ đã bị khuất phục, đã chịu thua để rồi quỳ gối thờ lạy con bò vàng, như chúng ta đã thấy.
Còn Chúa Giêsu thì khác, chính tại hoang địa, ngài đã bị Satan cám dỗ, nhưng cả ba lần Ngài đều chiến thắng. Sự chiến thắng của Ngài là một bài học, là một mẫu gương cho chúng ta suy nghĩ và bắt chước. Hãy khiêm nhường, hãy tin tưởng vào quyền năng Chúa và hãy sám hối ăn năn để chúng ta cũng sẽ vượt qua được những cám dỗ mà chúng ta gặp phải.
Charles de Foucauld đã tâm sự với cha Huvelin như sau : Từ ngày lên 15 tuổi, tôi đã mất đức tin. Cha Huvelin nhìn con người từ sa mạc trở về và nói : Anh hãy quỳ gối xuống và xưng thú tội lỗi đã. Charles de Foucauld đã vâng lời, khiêm tốn làm việc sám hối. Và từ đó, cuộc đời của vị sĩ quan bê tha tội lỗi này đã hoàn toàn đổi mới : Khi tôi vừa hiểu rằng có một Thiên Chúa, thì tôi cũng hiểu rằng tôi không thể làm gì khác hơn là chỉ sống vì Ngài. Không phải chỉ là nơi thử thách, hoang địa hay sa mạc còn là nơi để chúng ta sống thân tình với Chúa.
Thực vậy, suốt bốn mươi năm trong sa mạc, dân Do Thái đã được Thiên Chúa thương, thực hiện biết bao nhiêu việc kỳ diệu, chẳng hạn hướng dẫn họ bằng áng mây cột lửa, đưa họ qua biển đỏ, trao ban cho họ mười điều răn làm giao ước, nuôi sống họ bằng manna bởi trời, chữa họ khỏi hiểm họa rắn độc… Thế nhưng, dân Do Thái rất nhiều lần đã không hiểu được tình thương tuyệt vời ấy, để rồi đã quay lưng chống lại Chúa.
Còn Chúa Giêsu hôm nay, Ngài vào hoang địa để sống gắn bó mật thiết với Chúa Cha trong tâm tình cầu nguyện và chay tịnh. Còn chúng ta thì sao, Thiên Chúa thường nói với chúng ta trong thinh lặng và chỉ trong thinh lặng, chúng ta mới nghe được tiếng nói của Ngài. Đồng thời chỉ trong thinh lặng, chúng ta mới tâm sự kết hiệp với Ngài. Bởi đó, giữa dòng đời huyên náo, chúng ta hãy biết dành lấy những khoảnh khắc thinh lặng để vào sa mạc, để vào hoang địa, bằng cách sống tâm tình cầu nguyện để kín múc được nguồn sinh lực, nhờ đó chúng ta sẽ vượt qua được những cám dỗ và thử thách của cuộc đời.
 

MC1-B40: CSTM/82 - Hoang địa

Đời sống tâm linh là một cuộc chiến đấu. Chiến đấu với ba thù : ma quỷ, xác thịt, thế gian. Để: MC1-B40

Đời sống tâm linh là một cuộc chiến đấu. Chiến đấu với ba thù : ma quỷ, xác thịt, thế gian. Để có đủ khả năng chiến đấu, ta phải được rèn luyện, phải trải qua những thử thách. Đức Giêsu, sau khi chịu phép rửa, được Thánh Thần đưa vào hoang địa để chịu thử thách.
Hoang địa là nơi hoang vu không nhà không cửa, không người thân, không cây cối, tức là không có một tiện nghi tối thiểu nào, không có một nguồn trợ lực nào. Chỉ có cát đá, thú dữ, ma quỷ, tức là chỉ có những khó khăn thách đố bắt ta phải chiến đấu, phải đương đầu.
Cuộc chiến đấu thứ nhất mà Đức Giêsu phải trải qua là cuộc chiến đấu với thiên nhiên. Người sống trong hoang địa phải chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt. Tại các sa mạc cát phủ, đêm thì lạnh thấu xương, ngày thì nóng như thiêu. Hầu như không có thực phẩm. Người sống trong hoang địa phải chịu đói, chịu khát, chịu cái nóng nung người, chịu cái lạnh cắt da, chịu tất cả mọi thiếu thốn của đời sống thường ngày. Xưa, dân Do Thái được Chúa đưa vào hoang địa để huấn luyện trước khi đưa họ vào Đất Hứa. Trong hoang địa, người Do Thái không chịu nổi những thiếu thốn, nên đã nhiều lần nổi loạn chống lại Chúa, chống lại ông Môsê, muốn quay trở lại làm nô lệ bên Ai cập để được ăn no ngủ kỹ. Trái lại, tổ phụ Abraham đã chấp nhận vượt qua hoang địa, nên đã tới được Đất Hứa, tiên tri Elia đã vượt qua hoang địa 40 đêm ngày, nên đã đi đến núi của Thiên Chúa. Và hôm nay, Đức Giêsu đã thắng được cái lạnh, cái nóng và nhất là đã thắng được cái đói, cái khát, đã hoàn toàn làm chủ được bản thân trước những nhu cầu của thân xác.
Cuộc chiến đấu thứ hai mà Đức Giêsu phải trải qua là cuộc chiến đấu chống lại ma quỷ. Thiên Chúa cho phép ma quỷ thử thách con người. Từ tạo thiên lập địa, hai ông bà nguyên tổ đã bị ma quỷ cám dỗ và đã thua cuộc. Ông thánh Gióp cũng đã bị ma quỷ thử thách, mất hết tài sản, mất hết con cái, mất hết danh dự. Nhờ kiên quyết trung thành với Chúa đến cùng, ông đã thắng được ma quỷ. Đức Giêsu đã thắng vượt mọi cơn cám dỗ ma quỷ đưa tới, nhờ Người vững lòng tin ở Thiên Chúa. Những cơn cám dỗ của ma quỷ thường là cám dỗ về đức tin. Adong Evà không vững lòng tin nên đã sa ngã. Ông thánh Gióp vững lòng tin nên luôn đứng vững qua mọi thử thách. Đức Giêsu luôn vững niềm tin vào Chúa Cha, nên đã chiến thắng mọi cơn cám dỗ thâm độc nhất của ma quỷ.
Cuộc chiến đấu thứ ba mà Đức Giêsu đã trải qua là cuộc chiến đấu từ bỏ ý riêng để tìm thánh ý Chúa Cha. Hai ông bà nguyên tổ đã tìm ý riêng hơn ý Chúa, nên đã đi trệch đường. Đức Giêsu luôn tìm thánh ý Chúa Cha, nên Người đã từ bỏ con đường kiêu căng để đi vào con đường khiêm nhường, từ bỏ con đường rộng để đi vào con đường hẹp, từ bỏ con đường dễ để đi vào con đường khó, từ bỏ con đường vinh quang để đi vào con đường thập giá, từ bỏ con đường giàu sang để đi vào con đường nghèo hèn, từ bỏ con đường riêng tư để đi vào con đường Chúa Cha đã định. Nên Người đã toàn thắng trong cuộc chiến đấu.
Hoang địa không phải chỉ là nơi thử thách. Hoang địa còn là nơi gặp gỡ Chúa. Sau khi đã thắng vượt tất cả các cuộc thử thách, ta sẽ gặp được Chúa, sẽ sống thân tình với Chúa và sẽ hoàn toàn thuộc về Chúa. Ông Môsê, sau 40 đêm ngày ở trên núi Sinai, đã trở nên bạn nghĩa thiết của Chúa. Mặt ông trở nên sáng láng đến nỗi dân Do Thái không dám nhìn thẳng vào. Tiên tri Elia, sau khi đi 40 đêm ngày, đã tới núi của Chúa và đã gặp được Chúa. Đức Giêsu đã gặp gỡ Chúa Cha, đã tìm được ý Chúa Cha và kết hiệp mật thiết với Chúa Cha đến độ từ nay Người trọn vẹn thuộc về Chúa Cha. Thánh ý Chúa Cha trở thành kim chỉ nam hướng dẫn đời Người. Thi hành thánh ý Chúa Cha trở thành lương thực nuôi dưỡng Người. Người sẽ hy sinh tất cả, kể cả mạng sống để cho thánh ý Chúa Cha được nên trọn. Chính vì thế mà Người đã được gọi là “Con yêu dấu” của Chúa Cha.
Trong Mùa Chay, Giáo Hội mời gọi ta hãy vào hoang địa với Đức Giêsu để chịu thử thách, để rèn luyện đời sống tâm linh cho vững mạnh, kiên cường. Ta không có điều kiện để vào nơi hoang vắng, nhưng ta vẫn có thể vào hoang địa của cuộc đời.
Vào hoang địa của cuộc đời có nghĩa là sẵn sàng chấp nhận những khó khăn, thiếu thốn trong đời sống, dù đói nghèo vẫn giữ được tâm hồn tự do, không chịu nô lệ vật chất.
Vào hoang địa của cuộc đời có nghĩa là kiên cường chống trả mọi cơn cám dỗ ma quỷ đưa tới, luôn vững niềm tin vào Chúa dù gặp những khó khăn thử thách.
Vào hoang địa của cuộc đời có nghĩa là từ bỏ ý riêng để luôn tìm thánh ý Chúa, sẵn sàng thực hành thánh ý Chúa, dù có phải đau đớn, thiệt thòi.
Vào hoang địa của cuộc đời có nghĩa là giữ tâm hồn bình an thanh thản để gặp gỡ Chúa, tiếp xúc thân mật với Chúa, hoàn toàn thuộc về Chúa để trở nên “Con yêu dấu” của Chúa.
Nếu ta chuyên tâm rèn luyện trong suốt Mùa Chay, tâm hồn ta sẽ trở nên vững mạnh chống lại được những cám dỗ ma quỷ đưa tới ; nhanh nhẹn dấn thân vào những việc đạo đức không ngại khó khăn vất vả ; quen từ bỏ ý riêng để tuân theo ý Chúa và sẽ trở nên con hiếu thảo của Chúa.
 

MC1-B41: SNLC/128 - Cuộc chiến

Sau khi Chúa Giêsu được Chúa Cha công bố là “Con yêu quý” thì “Thần Khí dẫn Người vào: MC1-B41

Sau khi Chúa Giêsu được Chúa Cha công bố là “Con yêu quý” thì “Thần Khí dẫn Người vào trong hoang địa. Người ở đó bốn mươi ngày, chịu Satan cám dỗ, sống giữa loài dã thú và có các thiên sứ hầu hạ Người”.
Thật là một đoạn văn lạ lùng ! Tại sao đoạn này được đọc cho chúng ta nghe trong Chúa Nhật đầu Mùa Chay ? Phải chăng vì nó nói đến thời gian bốn mươi ngày của Chúa Giêsu ? Có lẽ đó là một lý do nhưng còn có những ý nghĩa khác nữa.
Trong chương hai của sách Sáng Thế, trình thuật sáng tạo bắt đầu trong nơi hoang vắng và Ađam kiểm soát các loài thú vật. Hoang địa là nơi dân Israel đã bị thử thách và bị cám dỗ sau khi thoát khỏi cảnh nô lệ ở Ai Cập và được tự do. Hoang địa cũng là nơi các loài thú dữ đe dọa những người lữ khách. Nó cũng được xem là nơi các quyền lực của thần dữ thống trị được biểu tượng qua các loài thú dữ. Hoang địa là nơi Satan, kẻ thù của Thiên Chúa, ngự trị.
Với cái nhìn như thế đoạn Tin Mừng lạ lùng hôm nay trở nên đầy ý nghĩa. Thần khí đưa Chúa Giêsu vào hoang địa : Chúa Giêsu đến không phải để sống một cuộc đời dễ dãi nhưng là một cuộc sống chiến đấu với tất cả những gì là sự dữ. Chính nơi mà dân Israel đã chịu thất bại thảm thương trong cuộc thử thách thì Chúa Giêsu sẽ chiến thắng. Cũng giống như Ađam trong vườn địa đàng xưa, Chúa Giêsu là Ađam mới cũng kiểm soát các thú dữ, tức là kiểm soát được sự dữ. Trong Chúa Giêsu, Thiên Chúa chiến đấu với sự dữ, chiến thắng sự dữ và sáng tạo một cái mới.
Chúng ta cần rút ra bài học áp dụng khi đọc bài Tin Mừng này trong Chúa nhật thứ nhất Mùa Chay. Cũng giống như Chúa Giêsu, sau khi chịu bí tích Rửa tội chúng ta vào trong “hoang địa’ của thế gian này, nơi chúng ta phải đương đầu với cám dỗ và sự dữ. Vấn đề là chúng ta đương đầu với hoang địa của chúng ta như thế nào ? Chúng ta có vượt qua thử thách như Chúa Giêsu hay chịu thất bại như dân Israel ngày xưa ? Chúng ta có đủ sức mạnh để loại bỏ mọi cám dỗ của Satan, kẻ muốn chúng ta chống lại Thiên Chúa, và trung thành với bổn phận mà Thiên Chúa đã giao phó cho chúng ta hay không ? Chúng ta chế ngự và kiểm soát các thú dữ, tức là các đam mê, các dục vọng và thói quen xấu của chúng ta như thế nào ?
Trong đoạn Tin Mừng vắn vỏi này tôi có thể xác định được căn tính của tôi chưa ? Tôi có hành động giống như ma quỷ, kẻ chống lại kế hoạch của Thiên Chúa, bởi vì tôi nghĩ là tôi biết rõ hơn không ? Hay tôi giống như một con thú dữ, không nhận biết Thiên Chúa và cứ đi theo con đường bạo lực của mình ? Hoặc tôi giống như các thiên thần, những vị trợ giúp Chúa Giêsu, để trung thành phụng sự Thiên Chúa và nhận ra vai trò của Chúa Giêsu trong kế hoạch của Thiên Chúa ? Mặt khác, đoạn Tin Mừng này còn nhắc nhở cho chúng ta nhiều điều khác nữa đó là Satan luôn có mặt trong cuộc sống của chúng ta, nó chống lại Thiên Chúa và lôi kéo chúng ta theo nó. Các thú dữ, tức là những đam mê của chúng ta cũng làm cho chúng ta không lưu tâm gì đến Thiên Chúa nữa. Mặt khác, chúng ta cũng có các thiên thần luôn trợ giúp chúng ta trong việc phụng sự Thiên Chúa.
Bài Tin Mừng hôm nay giúp chúng ta suy nghĩ đến nhiều vấn đề, đặc biệt là trong Mùa Chay này. Chúng ta hãy sống như Chúa Giêsu, can đảm, mạnh mẽ để sẵn sàng dâng hiến bản thân cho việc phụng sự Thiên Chúa và tha nhân.
 

MC1-B42: SLCVHV/110 - Dã thú

Một ngày nọ, lạc đà con nói chuyện với lạc đà mẹ như sau, “Mom ! Tại sao bàn chân của mẹ: MC1-B42

Một ngày nọ, lạc đà con nói chuyện với lạc đà mẹ như sau, “Mom ! Tại sao bàn chân của mẹ con mình lại có 3 ngón chân to tổ chảng vậy ?” Lạc đà mẹ trả lời, “Để chúng mình băng qua sa mạc cát mềm mà không bị lún chứ làm sao !” “Và tại sao chúng mình có bộ lông mi dài lượt thượt và nặng nề quá vậy ?” “Để cát khỏi rơi vào mắt trên những hành trình dài trong sa mạc đó con !” “Và Mom, tại saochúng mình lại phải mang những cái bướu quá bự trên lưng vậy ?” Bây giờ thì lạc đà mẹ không còn kiên nhẫn nổi để trả lời những câu hỏi vớ vẩn của thằng con nữa, nhưng cũng cố trả lời, “Chúng nó giúp chúng mình dự trữ những chất béo cho những cuộc du hành dài, nhờ đó mà mẹ con mình không cần nước trong một thời gian rất lâu ở sa mạc !” “Đúng vậy, con biết rồi !” lạc đà con nói, “Chúng mình có ngón chân bự để không bị lún dưới cát, lông mi dài để tránh cát bụi khỏi rơi vào mắt, và những cái bướu trên lưng để chứa nước. Vậy thì, Mom ! Tại sao chúng ta lại ở đây, trong cái sở thú của Toronto này ?
Đời sống văn minh hiện đại làm cho chúng ta có cảm giác giống như con lạc đà trong sở thú. Chúa ban cho ta khối óc để suy nghĩ, nhưng bây giờ đã có máy computer nghĩ hộ chúng ta rồi ! Chúa ban cho ta con tim để yêu thương tha nhân, nhưng đã có những cơ quan từ thiện làm việc bác ái rồi ! Đôi khi chúng ta cần đi vào trong “sa mạc” để khám phá lại chúng ta thực sự là ai? Mùa chay mời gọi chúng ta đi vào trong cái cảm nghiệm của loại “sa mạc “ này.
Sa mạc hay hoang địa là nơi sinh trưởng của dân Thiên Chúa. Dân Do Thái, là những bộ lạc tản mác tha phương đã trốn thoát khỏi đất Ai cập trở về miền Đất Hứa như một quốc gia dưới quyền lực của Thiên Chúa. Chính ở trong sa mạc mà họ đã trở thành dân Thiên Chúa với lời giao ước. Trong dòng lịch sử, khi nào tình yêu và lòng trung thành của họ đối với Thiên Chúa trở nên lạnh nhạt, thì các tiên tri đề nghị họ trở về sa mạc để khám phá lại cái căn tính của mình là ai, giúp họ ý thức về ơn gọi và sứ mệnh của mình, làm thức tỉnh đức tin và củng cố sự liên hệ đã giao ước giữa họ với Thiên Chúa. Những đại tiên tri như Elijah và Gioan Tẩy giả là những vị tiên tri của sa mạc : họ sống trong sa mạc, ăn thức ăn sa mạc, và chấp nhận một lối sống đơn sơ và khắc nghiệt trong sa mạc. Sa mạc là trường đại học nơi Thiên Chúa dạy dỗ dân Ngài.
Lời Chúa hôm nay trích từ Phúc âm của thánh Máccô. Sau khi Chúa Giêsu chịu phép rửa, “Thánh Thần thúc đẩy Ngài vào hoang địa, và Ngài ở đó suốt 40 đêm ngày, chịu Satan cám dỗ, sống chung với dã thú; và các thiên thần hầu hạ Ngài”. Phúc âm của Matthêu và Luca diễn tả quỷ dữ cám dỗ và thách thức Chúa Giêsu dùng quyền lực phục vụ cho nhu cầu riêng tư của Ngài. Nhưng Chúa Giêsu đã khước từ và nói, “Ngươi phải bái lạy Thiên Chúa là Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Ngài mà thôi”. Còn Phúc âm của Máccô, thay vì diễn tả những chi tiết của sự cám dỗ, chỉ nói vắn tắt trong câu : “Sống chung với dã thú”. Dã thú là những con thú nào ?
Theo các nhà tu đức thì những con dã thú đó không phải là những con dã thú ở bên ngoài chúng ta, nhưng ở trong lòng ta. Chúng là những con dã thú của bẩy mối tội đầu như kiêu ngạo, hà tiện, ghen tuông, giận dữ, dâm ô, mê ăn uống, và lười biếng hay nguội lạnh.
Những quyền lực này đè nặng trên chúng ta khi chúng ta quyết định làm bất cứ việc gì. Đời người giống như cuộc sống giữa sa mạc với đầy những “dã thú”. Chúng ta bị vây hãm xung quanh bởi một bên là những hoàn cảnh khó khăn, còn một bên là những cám dỗ mời gọi. Chúng ta cần sức mạnh để chống lại những thù nghịch, những gì đang tạo ra cho chúng ta một cảm giác an bình giả tạo. Hôm nay chúng ta thử đối diện với “những con dã thú” mà chúng ta thường xuyên phải chiến đấu trong đời sống tâm linh.
1. Sự ngã lòng.
Nếu ví cuộc đời giống như sa mạc, nơi hoang địa với nhiều dã thú, khó khăn và chông gai, thì chúng ta cảm thấy phải chiến đấu thường xuyên và liên tục. Cuộc đời chất đầy những gánh nặng và đòi hỏi. Không bao giờ giải quyết hết các chuyện rắc rối. Lúc nào cũng có vấn đề. Nhưng chúng ta phải lưu ý rằng trong khi Chúa Giêsu sống với các dã thú thì Thánh Kinh nói rằng “các thiên thần hầu hạ Ngài”. Nói cách khác, Chúa Giêsu không cô đơn, một mình. Ngài đã chiến đấu với dã thú bằng sự hiện diện và sức mạnh của Thiên Chúa. Ngài có sức mạnh, tràn đầy sức mạnh. Sức mạnh của Thiên Chúa hướng dẫn : “Thánh Thần thúc đẩy Ngài vào hoang địa”. Chính Chúa Thánh Thần và các lực lượng thiên thần cũng sẽ hướng dẫn và gia tăng sức mạnh cho chúng ta chiến đấu kiên trì với những khó khăn và cám dỗ trong cuộc đời.
Selma Lagerloeff trong huyền thoại “The Flanme”, đã kể câu chuyện về chàng hiệp sĩ, sau cuộc chiến thành công vào Thánh Địa, anh đã làm một lời thề hứa. Anh thắp lên một cây nến lấy từ ngọn lửa thánh tại ngôi mộ của Chúa Giêsu, và mang nó trở về quê quán của anh ở tỉnh Florence, nước Ý Đại Lợi mà vẫn còn cháy sáng. Quyết định này đã biến đổi anh trở thành một con người mới. Nó biến đổi anh từ một người lính hiếu chiến thích đánh nhau trở thành một con người yêu chuộng hòa bình.
Trên đường trở về nhà chàng hiệp sĩ đã bị bọn cướp bóc lột, anh đã không rút gươm ra chống cự. Anh đã hứa cho chúng bất cứ những gì anh có miễn là chúng không dập tắt ngọn nến cháy của anh. Bọn cướp đã tước đoạt áo giáp, thanh gươm, con ngựa yêu quý và tiền bạc của anh. Chúng chỉ để lại cho anh một con ngựa già. Sau khi đã trải qua tất cả các kinh nghiệm của sự nguy khốn, anh đã cưỡi con ngựa già về đến Florence. Để bảo vệ ngọn lửa không bị tắt bởi những cơn gió trong sa mạc, anh đã phải ngồi quay lưng lại với con ngựa, và dùng thân mình để che chở cho ngọn lửa.
Khi những tên đểu cáng trong thị xã trông thấy anh cưỡi ngựa ngược như vậy, chúng nghĩ anh là một tên điên khùng, và ra sức đùa nghịch để dập tắt ngọn lửa. Nhưng anh đã làm tất cả sức mình để có thể giữ ngọn lửa cháy sáng. Và sau cùng, anh đã mang nó về đến nhà thờ chính tòa, và dùng nó để thắp lên tất cả những cây nến trên bàn thờ của nhà thờ chính tòa Florence. Khi người đốt đèn ở nhà thờ hỏi anh đã phải làm gì để giữ ngọn lửa khỏi tắt, anh trả lời, “Ngọn lửa nhỏ bé này sẽ đòi hỏi tất cả sự chú tâm của anh; nó sẽ không cho phép anh nghĩ về bất cứ điều gì khác. Và anh sẽ không có thể cảm thấy an toàn một giây phút nào cả. Anh phải luôn luôn chiến đấu. Bất kể là ngọn lửa có thể đã bảo vệ anh tránh khỏi biết bao nhiêu nguy hiểm, anh phải luôn tỉnh thức để ngăn ngừa ngọn lửa không bị đánh cắp mất khỏi anh”.
2. Sợ hãi
Nỗi sợ hãi lớn nhất cho người bộ hành trong sa mạc là mất phương hướng, không biết đường đi. Cái nhìn của họ trở nên mờ ảo. Họ nhìn ánh nắng chói chan trước mắt như là những ao hồ mông mênh ngập nước. Ao giác làm cho con người trở nên nghi ngờ, mất niềm tin, và sau cùng dẫn đến hoang mang sợ hãi. Chỉ có đức tin và lòng trông cậy phó thác mới chiến thắng được sợ hãi. Tin rằng Thiên Chúa luôn yêu thương ta và muốn điều tốt đẹp nhất cho ta. Tin vào một Thiên Chúa luôn ở bên ta, đi với ta cho dù gian nguy. Tin rằng quỷ dữ không có quyền lực gì trên ta, nó chỉ có quyền vì ta ban cho nó mà thôi. Nó không thể bắt chúng ta làm điều gì được, ngoài sự cám dỗ cho chính chúng ta phạm tội. Chúng ta có tự do để từ chối, có sức mạnh để chống trả.
“Đừng sợ !” là sứ điệp nhắc đến trên 300 lần trong Phúc âm. Khi Chúa Giêsu bước đi trên mặt nước đến với các môn đệ, các ông hoảng sợ, Ngài nói : “Chính Thầy đây, đừng sợ !” Thiên thần Gabriel đã nói với Đức Maria : “Hỡi Maria, xin đừng sợ !” Thiên thần cũng đã nói với Giuse : “Đừng sợ đón Maria vợ ông về”. Vào ngày sống lại, Chúa Giêsu cũng đã hiện ra với các tông đồ và nói : “Sao anh em lại hoảng sợ… Chính Thầy đây mà !”
3. Sự tiêu cực
Đây chính là thái độ khiến chúng ta không thể thành công khi làm bất cứ việc gì, hay bất cứ việc gì chúng ta đang làm cũng sẽ đi sai lệch. Gần đây tôi lắng nghe một cuốn băng cát-sét do một nhà giảng thuyết nổi tiếng tên là Zig Ziglar. Ziglar nói rằng điều ngăn ngừa chúng ta khỏi niềm hy vọng và sự tích cực về cuộc đời chính là thái độ của chúng ta. Thái độ tiêu cực có tính cách truyền nhiễm giống như cơn bệnh nhiễm trùng. Chúng ta càng tiêu cực bao nhiêu thì tình huống càng trở nên thống khổ và hỗn loạn bấy nhiêu. Thái độ tích cực lúc khởi sự của một ngày, hay của bất cứ công việc gì sẽ định hình cho tất cả phần còn lại của trọn cả một ngày hay sự thành công của công việc sẽ kéo dài về sau.
Frederick Ebright đã chia sẻ kinh nghiệm đối với thái độ tâm lý của mình như sau : “Khi tôi cảm thấy thật buồn, tôi viết một lá thư cho người bạn nói với người ấy tất cả những chuyện rắc rối của tôi. Tôi không gửi lá thư đó đi. Nhưng tôi bắt đầu viết lá thư thứ hai gửi cho cùng một người, trong đó tôi cẩn thận bỏ đi bất cứ điều nào đã đề cập đến những điều không may, và thay vào mỗi rủi ro đó một chút tin vui. Vào lúc lá thư này được viết ra, một phép lạ đã xảy ra : tôi thực sự cảm thấy tốt hơn. Và vì một lá thư vui tươi luôn luôn phát sinh ra một sự đáp trả phấn khởi, tôi đã hoàn tất một mục đích lưỡng tiện”.
Mùa chay là thời gian để cảm nghiệm về sa mạc hay hoang địa. Chúng ta không cần phải có lạc đà đi vào sa mạc, nhưng chúng ta có thể tạo ra một khoảng không gian hoang địa cho chúng ta ngay giữa những xô bồ ồn ào của cuộc sống. Hằng ngày chúng ta có thể tìm ra một chỗ, dành ra một chút thời gian một mình với Thiên Chúa. Nơi yên tĩnh chúng ta sẽ biết mình là ai, biết những điểm mạnh và điểm yếu, biết “thiên thần” xung quanh cùng “những con dã thú”, lắng nghe tiếng Chúa gọi và lời cám dỗ của Satan, khám phá lại chúng ta là ai trước mặt Thiên Chúa.
 

MC1-B43: CSTM/70 - Cám dỗ

Buổi chiều ngày cuối tháng 10 thường được người Mỹ và các nước có ảnh hưởng của Mỹ gọi là: MC1-B43

Buổi chiều ngày cuối tháng 10 thường được người Mỹ và các nước có ảnh hưởng của Mỹ gọi là Halloween, có nghĩa là ngày mừng lễ các thánh. Có lẽ đã là điều còn rơi rớt lại của những ngày lễ ngoại giáo bắt nguồn từ thời của những người Santies trước Công Nguyên mà ngày lễ vọng các thánh mang một màu sắc ảm đạm ma quái. Trong các cửa tiệm, trưng bày những mặt nạ quái dị, những hình nộm được tô vẽ với một bộ mặt của thần chết, những màng nhện trắng xóa giăng ra khắp nơi, các đồ chơi của trẻ em cũng được khoác lên những nét ma quái, kinh dị, trên màn ảnh truyền hình cũng như tại các rạp chiếu bóng, đa số các phim trình chiếu đều mang nội dung quái đản, kinh dị.
Buổi tối ngày Halloween, thanh niên thiếu nữ thường cải trang thành ma quái để đi từng nhà ca hát và kể cho nhau nghe những chuyện ma quái. Phải chăng mỗi năm, người ta muốn dành một ngày để nhắc nhớ đến sự hiện hữu và tác quái của thần dữ ? Nhưng ngày nay người ta còn ý thức được tội lỗi và sự tác động của thần dữ, tức là ma quỷ hay không ? Thi sĩ Bô-đơ-le của Pháp đã có lần nói : “Sự thành công của ma quỷ là thuyết phục được con người rằng chúng không hề hiện hữu”. Với những khám phá mới trong ngành tâm lý học cũng như bệnh lý học, người ta cho rằng tất cả những vụ quỷ ám mà Thánh Kinh nói đến đều chỉ là những hiện tượng tâm lý bệnh hoạn mà ngày nay con người có thể tìm ra nguyên nhân.
Với luận điệu ấy, con người ngày nay tự hào là đã loại trừ được ma quỷ ra khỏi cuộc sống. Rất tiếc con người ngày nay ít được chứng kiến những vụ quỷ ám nhãn tiền mà Kinh Thánh đã ghi lại. Tuy nhiên, dù muốn dù không, tất cả đều không thể từ chối có một sức mạnh luôn tác động trong tâm trí con người, lôi kéo con người đến chỗ hành động xấu xa, tội lỗi, mãi mãi câu nói của thánh Phaolô vẫn đúng trong kinh nghiệm của mỗi người: “Điều thiện tôi muốn làm thì tôi không làm, điều ác tôi không muốn làm thì tôi lại làm”. Có một sức mạnh vô hình nào đó luôn lôi kéo, xúi giục con người vào tội ác, sức mạnh vô hình đó chính là Satan, là ma quỷ, và chiến thuật hay phương thế ma quỷ sử dụng để lôi kéo, xúi giục chúng ta phạm tội là cám dỗ.
Ma quỷ thường cám dỗ chúng ta thế nào ? Ma quỷ rất khôn khéo, quỷ quyệt và kiên nhẫn, vì chúng là các thiên thần sa ngã. Chúng áp dụng nhiều chiến thuật và nhiều cách thế khác nhau, tùy tuổi tác, tính tình, tùy hoàn cảnh để xúi giục chúng ta nghe theo chúng mà phạm tội. Rất ít khi ma quỷ cám dỗ chúng ta phạm tội ngay từ đầu, vì làm thế chúng ta sẽ sợ hãi không dám phạm, nhưng chúng cám dỗ chúng ta phạm một lỗi nhỏ trước, rồi mới dẫn chúng ta đến chỗ phạm tội trọng. Đàng khác, không bao giờ ma quỷ cám dỗ chúng ta làm hai điều một trật, để chúng còn đủ thời giờ cám dỗ chúng ta phạm tội kia, nghĩa là chúng cám dỗ thế nào để từ cơn cám dỗ này đưa đến một cơn cám dỗ khác, rồi một cơn cám dỗ khác nữa, và cứ thế tiếp tục cho đến khi chúng ta sa ngã và phạm tội.
Về chiến thuật cám dỗ của ma quỷ, người ta thường kể câu chuyện sau : ma quỷ khôn khéo như một phạm nhân bị giam trên một cái tháp rất cao, không thể nào trèo xuống được, vậy mà anh ta đã thoát thân được bằng một cách rất tài tình : mỗi ngày anh nhổ hai sợi tóc và xe lại với nhau, sau một thời gian anh đã có một sợi dây tóc dài, anh thả xuống qua cửa sổ, bên dưới, người bạn của anh buộc một sợi dây lụa rất nhẹ vào đầu sợi dây tóc, cuối sợi dây lụa lại buộc một sợi dây gai, cuối sợi dây gai lại buộc một sợi dây thừng nhỏ, cuối sợi dây thừng nhỏ là một sợi dây thừng lớn, bằng sợi dây thừng này, phạm nhân đã tụt xuống đất trốn thoát được. Đó chính là đường lối cám dỗ mà ma quỷ áp dụng, chúng ta giam các dục vọng của chúng ta, nhưng ma quỷ giúp các dục vọng đó vượt ngục dần dần. Trong thực tế chúng ta không thấy rõ thứ tự hay tiến trình tuần tự như thế, nhưng nói chung, tất cả các cám dỗ phạm tội đều như vậy.
Chúng ta phải xử trí ra sao khi bị cám dỗ ? Đành rằng ma quỷ cám dỗ chúng ta, nhưng chúng chỉ là kẻ thù nguy hiểm thứ hai sau xác thịt của chúng ta : thế gian, ma quỷ và xác thịt, đó là ba kẻ thù ghê gớm. Ma quỷ chỉ là kẻ xách động, cám dỗ, thúc đẩy, xúi giục chúng ta phạm tội, nhưng chúng có gặp được sự đồng tình, đồng ý của chúng ta hay không ? Tức là chúng ta có chấp nhận hay ngả theo những chước cám dỗ hay không, đó là chính ý chí của chúng ta. Vậy, trước hết, chúng ta phải đề phòng và xa tránh các dịp nguy hiểm, các cơ hội, các lý do, các hoàn cảnh, những người, những vật… có thể đưa đẩy chúng ta đến chỗ phạm tội. Rồi, nếu bị cám dỗ, chúng ta phải mau lẹ chống trả ngay từ đầu, chống trả cách cương quyết, đừng chần chừ, trì hoãn, và nhất là phải cầu nguyện nhiều để xin Chúa ban ơn trợ giúp. Nếu chẳng may thất bại, nghĩa là sa chước cám dỗ, phạm tội, chúng ta phải lập tức đứng dậy ngay, nghĩa là hối hận, ăn năn, xưng tội, xin Chúa tha thứ và cố gắng hơn nữa để khỏi tái phạm.
Chúng ta chẳng ai thoát khỏi cám dỗ, chỉ khác nhau ở chỗ có sa chước cám dỗ hay không, vì vậy, trong kinh Lạy Cha, Chúa Giêsu dạy chúng ta phải luôn cầu xin cho khỏi sa chước cám dỗ. Lạy Chúa, xin cứu chúng con khỏi ác thần, xin giúp chúng con khỏi sa chước cám dỗ. Chúng ta phải luôn cầu xin Chúa như thế, nhất là khi gặp chước cám dỗ.
 

MC1-B44: Vượt thoát sức mạnh ma quỉ - Huyền Đồng

Chúa Nhật 1 Mùa Chay B

First Sunday of Lent

Lời Chúa cho hôm nay: Vượt thoát sức mạnh ma quỉ - Huyền Đồng

Overcoming the Powers of Evil

 
  • Bài đọc 1 : Sáng thế 9, 8- 15= Giao ước của Chúa với ông No-ê: Nếu Tín hữu trung thành với Giao ước của Chúa, có thể thoát sức mạnh của ma quỉ với sự giúp đỡ của Ngài.

    God's covenant with Noah: If people were faithful to God's covenant, they could overcome the powers of Evil with God's help.
  • Bài đọc 2: 1Phêrô 3, 18- 22= Quyền năng của sự Sống lại: Sự chết của Đức Kitô đã thoát khỏi sức mạnh cửa ma quỉ. Ngài đến rao giảng cho tâm hồn bị lao tù.

    The death of Christ overcame the power of evil: He went to preach to the spirits in prison.
  • Gospel (Tin mừng) :Mác-cô 1, 12- 15= Đức Giêsu bị ma quỉ cám dỗ: Thử thách, cam dỗ, ma quỉ, sự xấu và thiên thần che chở. Tất cả luôn ở trong và chung quanh ta. Ta cần xin Chúa giúp đỡ.

    Jesus was tempted by Satan, the test, Satan ( the devil) and angels God's protection. All of this is still in and aound us.! We need ask God for help.
A. Bạn và tôi cùng Cảm nghiệm Sống và chia sẻ ba bài đọc trên: ( Reflections, live out and share )
 

Bài Tin mừng nói về sự cám đỗ của Đức Kitô như sau: "Thần Khí liền đẩy Người vào hoang địa: MC1-B44

1/ Bài Tin mừng nói về sự cám đỗ của Đức Kitô như sau: "Thần Khí liền đẩy Người vào hoang địa. Người ở trong hoang địa bốn mươi ngày, chịu Satan cám dỗ..." Ngài đã thắng cơn thử thách và cám dỗ, sống giữa loài dã thú và được các Thiên sứ phục vụ, tức là được Chúa cứu giúp. Đời sống của người tín hữu hôm nay cũng gặp nhiều khó khăn như vậy. Tôi đã trông cậy vào ai và làm gì để qua khỏi những thử thách trên?

The Spirit drove Jesus out into the desert, and He remained in the desert for forty days, tempted by Satan. ( Mc. 1, 12 )

2/ Đức Giêsu đến miền Galilê rao giảng Tin Mừng, người nói: "Thời kỳ đã mãn và triều đại của Thiên Chúa đã đền gần, anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng" Thời kỳ đã mãn đây là thời kỳ hiện tại và thời kỳ sẽ đến, thời cánh chung. Bạn cần sám hối thay đổi những gì về ý nghĩ, não trạng và hành động?

This time is the time of fulfillment. The Kingdom of God is at hand, repent and believe in the Gospel. ( Mc. 1, 15 )

3/ Trong thư 1 Thánh Phêrô nói về thời ông Nô-ê đóng tầu: "Trong con tầu ấy, một số ít, cả thảy là tám người được cứu thoát nhờ nước, đó là hình bóng phép Rửa..." Những người đó là hai ông bà No-ê, ba người con trai với ba người con dâu. Chúa đang chờ đợi gia đình tôi những gì? Tôi có gì để đáng Chúa cứu vớt?

In the days of Noah...in which a few persons, eight in all were saved through water, This prefigured Baptism. (1Ph.3, 20- 21)

4/ Khi nói về trật tự của thế giới, Chúa phán với ông Nô-e trong sách Sáng Thế Ký: "Ta lập giao ước của Ta với các ngươi: mọi xác phàm sẽ không còn nước hồng thủy diệt..." Chúa luôn trung tín với lời hứa và muốn mọi người được cứu rỗi. Bạn có gì để Chúa lập giao ước với bạn và sẵn sàng giúp bạn sống?

I will establish my covenant with you, that never again shall all bodily creatures be detroyed by waters of flood. (St. 9, 11)

B-
Câu Kinh Thánh thúc đẩy tôi Sống tuần đầu mùa chay này: ( The Best God's Word )

Anh em hãy sám hối và tin vào Tin mừng (Mc. 1, 15 )

Repent and believe in the Gospel

C.
Ngay hôm nay tôi phải làm gì vượt thắng những cám dỗ: ( So what am I doing / For Action )

a/ Tôi có thể chọn 1 trong 4 Gợi ý Cảm nghiệm Sống và chia sẻ ở phần A để thực hành vào đời sống.

b/ Bạn cần thay đổi hướng đi, suy nghĩ khác trước, có cái nhìn mới để quyết tâm quay về với Thiên Chúa.

D.
Tôi cần Cầu nguyện nhiều và sống điều tôi cầu xin: ( I pray and practice / Pray in Action )

1/ Lạy Cha, Đừc Giêsu đã được Thần Khí Chúa dẫn vào hoang địa bốn mươi ngày và chịu Xa-tan cám dỗ. Xin Chúa Thánh Thần dẫn dắt và chỉ bảo con biết kêu cầu Chúa giúp trong cuộc sống khó khăn hôm nay.

2/ Thiên Chúa đã phán với ông Nô-ê: Ta lập giao ước của Ta với các ngươi, mọi xác phàm sẽ không còn nước hồng thủy diệt. Xin cho con sống trung thành với Lời Chúa bằng sự quyết tâm thay đổi trở về.

 
Hoa thơm cỏ lạ : GANH TỊ CÓ THỂ LÀM HỎNG CẢ CUỘC ĐỜI, ĐỪNG BAO GIỜ XEM THƯỜNG NÓ !
Envy can ruin a life. Never take it lightly !

MC1-B45: Đức Giêsu chịu cám dỗ và được các thiên thần hầu hạ - Lm. Đan Vinh

Chúa Nhật 1 Mùa Chay B

Mc 1,12-15

I.Tìm hiểu Lời Chúa

1) Ý chính : Đức Giêsu chịu cám dỗ và được các thiên thần hầu hạ - Lm. Đan Vinh

 

Bài Tin Mừng gồm hai phần chính :-Phần I (c. 12-13) : Sau khi được tấn phong làm Đấng Thiên: MC1-B45

Bài Tin Mừng gồm hai phần chính :

-Phần I (c. 12-13) : Sau khi được tấn phong làm Đấng Thiên Sai (Mê-si-a) tại sông Gio-đan, Đức Giê-su đã được Thần Khí thúc đẩy vào hoang địa để chịu thử thách và đã chiến thắng ma quỉ cám dỗ. Người là Vua Mê-si-a đã khai mạc thời kỳ thái bình đầy tình yêu thương. Trong đó mọi hận thù đều tan biến hết.

-Phần II (c. 14-15) : Sau khi bị bắt, sứ mệnh tiền hô của Gio-an chấm dứt, để nhường chỗ cho Đức Giê-su xuất hiện công khai. Người đi từ miền Nam là Giu-đê trở về miền Bắc là Ga-li-lê để rao giảng Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Nội dung Tin Mừng được tóm lại trong 3 điều sau : Một là thời kỳ Cánh Chung đã đến; Hai là Triều Đại Thiên Chúa đã gần bên; Ba là người ta muốn được cứu độ thì phải ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng.

2)
Chú thích :

- Thần Khí liền đẩy Người vào hoang địa. Người ở trong hoang địa bốn mươi ngày, chịu Xa-tan cám dỗ, sống giữa loài dã thú, và có các thiên sứ, và có các thiên sứ hầu hạ Người (Mc 1,12-13) :

+ Thần Khí liền đẩy Người : Khi chịu phép Rửa của Gioan Tẩy Giả, Đức Giê-su đã được Thần Khí hay Thánh Thần lấy hình chim bồ câu đậu xuống trên mình Người, để xức dầu thiêng liêng, phong Người làm Đấng Thiên Sai. Từ đây Người được Thần Khí hướng dẫn và ban sức mạnh để chịu thử thách cám dỗ của Xa-tan và đã chiến thắng nó.

+ Hoang địa hay sa mạc : là một khu rừng hoang vắng nằm giữa Giê-ru-sa-lem và Biển Chết, ở gần thành Giê-ri-cô.

+ Bốn mươi ngày : Con số bốn mươi tượng trưng cho một thời gian dài. Chẳng hạn :Trong Đại Hồng Thủy, ông No-e đã mở cửa sổ tàu sau khi nước rút được 40 ngày (x. St 8,6); Mô-sê đã lên núi tiếp xúc với Đức Chúa suốt 40 ngày đêm (x. Xh 34,28); Dân Ít-ra-en phải lưu lạc trong sa mạc suốt 40 năm trường (x. Ds 14,34); Vua Đa-vít đã cai trị trong thời gian 40 năm (2 Sm 5,4); Ngôn sứ Ê-li-a đã chạy trốn lên núi Khô-rếp mất 40 ngày đêm (x. 1 V 19,8); Đức Giê-su đã vào sa mạc và ăn chay cầu nguyện 40 ngày (x. Mc 1,13).

Hỏi :
Đức Giêsu "vào sa mạc" để làm gì ?



Đáp :
Để chịu Xa-tan cám dỗ.

* Dân Ít-ra-en "vào sa mạc" : Khi giải thoát con cháu Gia-cóp khỏi ách nô lệ cho người Ai Cập, Đức Chúa đã đưa họ "vào sa mạc" 40 năm, để ký một giao ước công nhận họ là dân riêng của Người, thanh luyện họ khỏi các đam mê tội lỗi. Đây cũng là thời gian thử thách lòng trung tín của họ đối với Người. Đến thời các ngôn sứ, Hô-sê đã diễn tả đúng ý nghĩa của sa mạc khi ông trình bày Đức Chúa như một người chồng luôn yêu vợ là dân Ít-ra-en. Người đã dẫn đưa dân này vào sa mạc để sống thân mật với Người (x. Hs 2,16).

* Đức Giê-su "vào sa mạc" : Sau khi được công nhận là Người Con Yêu Dấu đẹp lòng Chúa Cha và đã đón nhận được đầy Thần Khí, Đức Giê-su được Thần Khí thúc đẩy vào sa mạc, để sống thân tình với Chúa Cha bằng việc chuyên cần cầu nguyện và ăn chay suốt 40 ngày. Đây cũng là thời gian Người chịu ma quỉ thử thách cám dỗ. Nhờ luôn chọn theo lời Thánh Kinh, Đức Giê-su đã chiến thắng Xa-tan cám dỗ, và chứng minh lòng trung thành của Người đối với sứ mệnh Thiên Sai được Chúa Cha trao phó.

+ Xa-tan : Xa-tan nghĩa là "kẻ thù", "kẻ chống đối", hay còn được gọi là "ma quỉ" hay Di-a-bo-los nghĩa là "kẻ kiện cáo", "kẻ vu khống". Đây là nhân vật vô hình có hai hoạt động là : nhập vào một người để bắt họ nói hay làm theo ý của nó và cám dỗ, xúi dục người ta phạm tội chống lại Thiên Chúa.

+ Cám dỗ : Cơn cám dỗ của ma quỉ gồm 3 giai đoạn như sau : Một là gợi lên trong đầu người ta một hình ảnh hợp với nhu cầu của họ. Hai là làm cho người ta vui thích với hình ảnh ấy hoặc ước muốn làm điều xấu xa độc ác. Ba là người bị cám dỗ sẽ quyết định chiều theo hay không theo sự xúi giục của ma quỉ. Quyết định làm theo ma quỉ là đã phạm tội. Đối với Đức Giê-su, Xa-tan chỉ có thể cám dỗ ở giai đoạn thứ nhất, nghĩa lả gợi lên trong tâm trí Người một tư tưởng hay một hình ảnh phù hợp với nhu cầu. Trong đoạn này, Mác-cô đã không thuật lại diễn tiến cơn cám dỗ của ma quỉ như trong hai Tin Mừng Mát-thêu và Lu-ca (x.Mt 4,1-11; lc 4,1-13).

+ Sống giữa loài dã thú và có các thiên sứ hầu hạ Người : Đức Giê-su đã chiến thắng cơn thử thách cám dỗ của Xa-tan. Dấu chỉ cụ thể của cuộc chiến thắng ấy là Người đã được Thiên Chúa che chở để sống hòa hợp với dã thú và còn được các thiên thần đến hầu hạ phục vụ (x. Tv 91,11-13). Đây là quang cảnh của thời Thiên Sai : một thời kỳ thái bình và đầy tình yêu thương huynh đệ, trong đó mọi loài vật sẽ sống hòa hợp với nhau và sẽ không có chỗ cho sự ghen ghét và hận thù nhau (x. Is 11,6-9; 65,25).

- Sau khi ông Gio-an bị nộp, Đức Giê-su đến miền Ga-li-lê rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa. Người nói : "Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng" (Mc 1,14-15) :

+ Sau khi Gio-an bị nộp : Việc Gio-an bị bắt nói lên sứ mệnh của ông là tiền sứ hay tiền hô đã chấm dứt, để chuyển sang thời kỳ Đức Giê-su thực hiện ơn cứu độ.

+ Sang miền Ga-li-lê : Ga-li-lê là miền Bắc của nước Do Thái, nơi đây có nhiều dân ngoại sống lẫn lộn với dân Do Thái. Đức Giê-su đã rời bỏ miền Giu-đê để đi đến miền Ga-li-lê và bắt đầu rao giảng Tin Mừng Nước Thiên Chúa.

+ Lời rao giảng của Đức Giê-su được tóm kết trong 3 tư tưởng sau :

* Một là : Thời kỳ đã mãn : Các ngôn sứ chia thời gian làm hai thời kỳ là thời hiện tại và thời kỳ cánh chung. Giờ đây Đức Giê-su loan báo thời kỳ hiện tại đã kết thúc để bắt đầu một thời kỳ mới là thời cánh chung, trong đó Thiên Chúa thực hiện lời hứa cứu độ.

* Hai là : Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần : Cựu Ước nói đến Vương Quyền của Thiên Chúa đối với Ít-ra-en là dân riêng của Người (x. Is 43,15; Tv 47,3). Từ đó, dân Ít-ra-en luôn trông chờ Thiên Chúa sớm thiết lập Vương Quyền của Người. Giờ đây, Đức Giê-su đã khẳng định rằng : Nơi Người, Triều Đại của Thiên Chúa đã đến gần.

* Ba là : Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng : Sám hối hay Me-ta-noi-a, một từ Hy Lạp có nghĩa là nghĩ khác trước, đổi ý, đổi tâm tình, đổi não trạng, hối tiếc, hối hận. Ở đây, Sám Hối chính là sự thay đổi hướng đi, triệt để từ bỏ tội lỗi để quay về với Giao Ước, và bước vào một đời sống mới. Rồi tiếp theo còn phải đón nhận Tin Mừng mà Đức Giê-su rao giảng.

II.
Học sống Lời Chúa

1) Thần khí liền đẩy Đức Giêsu vào hoang địa (Mc 1,12) :

-
Câu chuyện : Về bốn bức tranh :

+Tại một phòng triển lãm tranh ảnh tôn giáo kia, ngoài các bức vẽ về các đề tài quen thuộc, tại gian chính còn treo 4 bức tranh khổ lớn gấp đôi bình thường, được xếp thành hai cặp song đôi với nhau như sau : Trong cặp tranh đầu thì bức bên trái vẽ cảnh vườn Địa Đàng với màu sắc hài hòa tươi đẹp. Một con suối lượn quanh khu vườn có nhiều cây hoa đang nở và nhiều cây ăn trái trĩu nặng trái cây chín mọng trên cành. Trong cảnh thiên nhiên ấy, đôi vợ chồng trẻ A-Đam E-Và với vẻ mặt gìa nua hốc hác, vầng trán nhăn nheo ướt đẫm mồ hôi, dáng người gầy yếu vì bệnh tật, đang vất vả cấy lúa giữa một cánh đồng khô cằn nhiều sỏi đá và gai góc um tùm.

Đó là bức tranh mô tả thân phận đau thương của con người sau khi phạm tội. Chính tội lỗi là nguyên nhân phá hủy sự hài hòa giữa con người với Thiên Chúa, với vạn vật thiên nhiên và với người đồng loại. Tội làm cho con người bị mất hạnh phúc sống trong vườn Địa Đàng và bị xua đuổi xuống trần gian là nơi đầy nước mắt đau khổ, chiến tranh hận thù và bệnh tật chết chóc.

+ Còn cặp tranh thứ hai thì bức bên trái vẽ cảnh sa mạc hoang vu : Đức Giê-su đang ngồi trên một tảng đá, vẻ mặt suy tư và tiều tụy sau bốn mươi ngày chay tịnh. Một thằng quỉ mặt mũi gian ác đang đứng bên phải Người. Nó ghé vào tai Người để gợi lên trong đầu Người những tư tưởng ham mê danh vọng chức quyền trần gian ( xúi Người nhảy từ nóc đền thờ xuống để được khen ngợi), ham mê lợi lộc vật chất ( cho Người xem thấy các kho tàng chứa đầy vàng bạc châu báu) và ham hưởng thụ các lạc thú xác thịt (như xúi Người làm phép ra bánh rượu thịt và chiều theo các thú vui bất chính khác)... Còn bức bên phải lại vẽ cảnh thanh bình : Đức Giê-su đang ngồi giữa bầy dã thú và bên cạnh là các loài vật hiền lành như chiên cừu, bò dê, lừa ngựa, chim chóc...

Hai bức tranh sau diễn tả sứ mệnh của Đức Giê-su : Người đến sa mạc trần gian đầy sỏi đá và đang bị ma quỉ khống chế. Người thi hành sứ mệnh cứu thế bằng việc rao giảng Tin Mừng Nước Trời và xua trừ ma quỉ, tiêu diệt sự ác. Trong cuộc chiến đấu chống lại ma quỉ, Người luôn chọn đứng về phía Thiên Chúa là nguồn Chân Thiện Mỹ. Luôn làm theo Thánh Ý Thiên Chúa thể hiện trong các Lời Chúa phán trong Kinh Thánh. Người làm phép lạ chữa lành bệnh tật, an ủi người đau khổ,đưa những người lầm đường lạc lối ăn năn trở về, và tiêu diệt sự chết, thiết lập một Nước Trời ngay từ trần gian. Qua mầu nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh, Người đã hòa giải nhân loại tội lỗi với Thiên Chúa, thiết lập một Trời Mới Đất Mới công bình, yêu thương, bình an và hạnh phúc.

- Câu hỏi thảo luận : Sách Khải Huyền đã viết về sứ mệnh cứu thế của Đức Giê-su như sau : "Bấy giờ tôi thấy Trời Mới Đất Mới, vì trời cũ đất cũ đã biến mất, và biển cũng không còn nữa... Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết, cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa. Vì những điều cũ đã biến mất" (Kh 21, 1.4)

+ Vậy mỗi người chúng ta phải làm gì để nhận được ơn cứu độ do Đức Giê-su mang lại ? (ĐÁP : Hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng).

+ Ngay từ hôm nay chúng ta phải làm gì để cộng tác với Đức Giê-su trong sứ mệnh cứu độ thế gian ? (ĐÁP : Nên nhân chứng cho Chúa bằng việc yêu thương mọi người, khiêm nhường phục vụ người đau khổ bất hạnh và giới thiệu Chúa là đường, là sự thật và là sự sống cho tha nhân).

2)
Anh em hãy sám hối và tin vào Tin mừng :

- Câu chuyện :
Một mẫu gương sám hối :

+ Pi-ri Tô-mát (Piri Thomas), có viết một tác phẩm mang tựa đề là "Hãy đi xuống những đường phố tồi tàn này" (Down these mean streets ). Tác phẩm mô tả cuộc đời của mình : Từ một tên tội phạm đang thi hành án trong nhà tù, một con nghiện ma túy đã từng nhúng tay vào tội ác giết người.. . cuối cùng trở thành một tín hữu đạo đức thánh thiện đầy lòng nhân ái. Câu chuyện sám hối ấy như sau : Một đêm nọ, Pi-ri đang nằm trong một phòng giam đặc biệt, cùng chung giường với một tên tội phạm biệt hiệu là "Thằng Ròm", đột nhiên anh có suy nghĩ về tình trạng tội lỗi của mình. Anh cảm thấy có một ước muốn mãnh liệt phải chỗi dậy cầu nguyện với Chúa. Nhưng lúc đó anh lại đang nằm chung một giường với một bạn tù tên là "Thằng Ròm". Do đó, chờ cho "Thằng Ròm" ngủ say, anh mới từ từ bò ra khỏi giường, quì gối xuống nền nhà bằng bê-tông lạnh ngắt. Rồi anh say sưa nói với Chúa như đứa con thưa chuyện với cha của mình. Anh đã thuật lại như sau : "Tôi bày tỏ với Chúa những gì chất chứa trong lòng tôi. Tôi thưa với Ngài bằng những lời đơn sơ mộc mạc. Tôi nói với Ngài những điều tôi muốn, những lầm lỗi thiếu sót của tôi, những hy vọng và thất vọng. Lúc đó tôi cảm thấy xúc động đến nỗi suýt bật khóc, một sự xúc động mà trước đây chưa bao giờ cảm thấy. Sau khi đã cầu nguyện xong, bỗng tôi nghe có tiếng đáp khẽ : "Amen". Thì ra đó là tiếng của "Thằng Ròm". Lúc đó hắn đang nằm sấp trên giường, đầu tựa trên cánh tay khép lại bên dưới trán. Sau một lúc lâu yên lặng. Rồi "Thằng Rờm" nói nhỏ với tôi : "Này Pi-ri, tớ cũng tin Chúa!". Rồi tôi leo lên giường và hai đứa chúng tôi tiếp tục nói chuyện về niềm tin từ hồi còn thơ ấu của mình. Trước khi ngủ tiếp, tôi đã nói với "Thằng Ròm": "Chúc Chi-co ngủ ngon nhé ! Tớ nghĩ rằng : Thiên Chúa vẫn luôn ở với chúng ta, chỉ có chúng ta là không muốn ở với Người mà thôi !".

-
Suy nghĩ và quyết tâm:

+ Câu chuyện này minh họa lời Đức Giê-su nói trong bài Tin Mừng hôm nay : "Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng" : Ăn năn sám hối là "cải thiện đời sống", là "cải tà qui chánh". Nghĩa là nhìn nhận những gì không tốt đẹp, xấu xa trong đời sống của mình và quyết tâm từ bỏ. Nói cách khác : Sám hối là nhìn nhận thân phận tội nhân của mình và thực lòng hoán cải, bằng cách làm những việc tốt trái ngược với thói xấu của mình. Tin vào Tin Mừng là tin Đức Giê-su là Đấng Cứu Thế Con Thiên Chúa, Đấng được Thiên Chúa sai đến để rao giảng Tin Mừng Nước Trời. Người sẽ giải thoát chúng ta khỏi làm nô lệ cho ma quỉ. Cuối cùng nhờ mầu nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh, Người đã giao hòa chúng ta với Thiên Chúa Cha và ban cho chúng ta sự sống đời đời.

+ Vậy hiện giờ tôi cần phải ăn năn sám hối về mối tội đầu nào trong kinh Cải tội bảy mối có bảy đức ? Tôi quyết tâm làm gì cụ thể để tu sửa thói hư tật xấu ấy ? Dâng một lời nguyện để xin Chúa giúp chúng ta hoán cải nên tốt hơn trong Mùa Chay này.

III.
Hiệp sống nguyện cầu

1) Lạy Chúa Giêsu , con thật kính phục Chúa đã vào sa mạc để cầu nguyện và ăn chay 40 đêm ngày. Con cảm thấy hổ thẹn vì những bữa ăn nhậu thừa mứa trong dịp Tết vừa qua : Con đã ăn uống no say trong khi biết bao đồng bào Miền Trung đang đói khát vì bao thiên tai bão lụt liên tiếp đổ xuống tàn phá nhà cửa, ruộng vườn, phá hủy các ghe thuyền và các phương tiện làm ăn sinh sống khác. Bao nhiêu đứa con mất cha, vợ mất chồng, anh mất em... khiến cho nhiều gia đình rơi vào hoàn cảnh đau khổ tột cùng. Vậy trong những ngày Mùa Chay này, xin Chúa giúp chúng con có tinh thần chay tịnh khổ chế, bằng cách nhịn ăn một tô phở, nhịn uống một tách cà phê hay nhịn hút vài điếu thuốc.. . để cộng tác cứu trợ bà con vượt qua hoàn cảnh đói khát túng nghèo.

X) Hiệp cùng Mẹ Maria. -Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con.

2) Lạy Thánh Mẫu Maria, xin giúp con ý thức rằng : Đức Giê-su đã vào sa mạc là để tiếp xúc và sống thân tình với Chúa Cha. Xin cho Mùa Chay này cũng là thời gian thuận tiện để con cùng vào sa mạc với Đức Giê-su. Xin cho con mỗi ngày biết dành ít phút thinh lặng để tâm tình với Thiên Chúa Cha, cho con lắng nghe lời Đức Giê-su qua các buổi Tỉnh tâm Mùa Chay tại nhà thờ. Nhờ Thần Khí Chúa thôi thúc, con sẽ siêng năng thực hành sự khổ chế, bằng việc ăn chay trong ngày Thứ Tư Lễ Tro và Thứ Sáu Tuần Thánh. Xin cho con quyết tâm làm các việc hãm mình để đền tội, bằng cách chu toàn bổn phận trong gia đình và xã hội, sẵn sàng chủ động đi bước trước để làm hòa với kẻ đang giận ghét con...để mỗi ngày con đều được Thần Khí Chúa thanh luyện khỏi các đam mê tội lỗi và các thói hư tật xấu khác. Xin Mẹ giúp con mỗi ngày biết ăn năn tội để trở nên trong sạch hơn, xứng đáng nhận được Ơn Chúa để biến đổi nên người mới trong Mùa Phục Sinh sắp tới.

X) Hiệp cùng Mẹ Maria. - Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con.

 

MC1-B46: Sr. Margareta Maria Hiền

CHÚA NHẬT THỨ NHẤT MÙA CHAY
 

Mahatma Gandhi có kể về cuộc đời ông như sau: Hồi tôi mười lăm tuổi, tôi mắc một tội rất xấu: MC1-B46

Mahatma Gandhi có kể về cuộc đời ông như sau:

Hồi tôi mười lăm tuổi, tôi mắc một tội rất xấu, là tội ăn trộm. Khi đó tôi mắc nợ người bạn một số tiền khá lớn, thế rồi tôi đã về lấy của cha tôi một vòng đeo tay bằng vàng để bán lấy số tiền trả nợ. Nhưng sau đó tôi luôn luôn bị lương tâm cắt rứt, không cho tôi được giây phút bình an. Tôi không thể sống trong tình trạng này nữa. Tôi nhất quyết phải đến thú tội với cha tôi càng sớm càng tốt. Nhưng khi đến trước người, vì xấu hổ và sợ hãi nên tôi không thể thốt ra lời. Sau đó tôi liền nghĩ ra một cách thú tội bằng giấy mực. Tôi đã cầm tờ giấy đó đến trước mặt cha tôi, toàn thân tôi run rẩy và trao tờ giấy đó cho cha tôi. Ông đã đọc tờ thú lỗi của tôi, sau đó ông nhắm mắt lại trong giây lát và đã xé tờ giấy thành nhiều mảnh rồi nói với tôi: "Biết mình là điều rất tốt" và đến ôm chầm lấy tôi trong vòng tay tràn đầy yêu thương, tha thứ của người. Từ giây phút đó tôi hiểu và thương mến cha tôi hơn.

Lời Chúa trong tuần đầu mùa chay cũng nhắc nhở cho mỗi người chúng ta, là những con cái yêu thương của Ngài: "Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng." Sám hối ở đây theo ngôn sứ Giêrêmia là thay đổi hướng đi, thực tình quay về với Thiên Chúa của Giao ước và dấn bước vào một cuộc sống mới. Đón nhận Tin Mừng và sống thực thi Tin Mừng của Thiên Chúa, Tin Mừng về việc Người can thiệp trong lịch sử nhân loại nhờ Đức Giêsu, Đấng Mê-si-a là Quân Vương được xức dầu tấn phong để cai trị muôn dân. Người là con một yêu dấu của Thiên Chúa được dâng hiến làm lễ vật trong hy lễ; Người là tôi trung của Thiên Chúa có nhiệm vụ rao giảng, thực hiện công việc giải thoát và cứu độ. Đó là Tin Mừng mà Đức Giêsu muốn loan truyền và kêu gọi chúng ta lấy đức tin mà đón nhận toàn diện thông điệp hôm nay Ngài công bố.

Để sống Tin mừng hôm nay, chúng ta hãy bắt chước thái độ của Gandhi, thực tình trở về với cha trong tâm tình thống hối ăn năn; bỏ đường xấu quay về chính lộ để xứng đáng lãnh nhận ơn cứu độ và lòng nhân từ của Thiên Chúa.

 

MC1-B47: ĐỪNG XÉ ÁO NHƯNG HÃY XÉ LÒNG

 (Ge 2,13).
“Đừng xé áo nhưng hãy xé lòng”.
 

Giáo hội đã dùng sấm ngôn này trong sách ngôn sứ Giôen để dẫn chúng ta vào Mùa Chay: MC1-B47

Giáo hội đã dùng sấm ngôn này trong sách ngôn sứ Giôen để dẫn chúng ta vào Mùa Chay. Thế nào là xé áo và thế nào là xé lòng? “Đừng xé áo nhưng hãy xé lòng” có ý nghĩa gì?
Suy niệm   
1.- Thế nào là xé áo? Áo lành thì chẳng ai nỡ xé. Áo đẹp và mắc tiền như thời trang Hollywood thì càng không nỡ xé. Người ta chỉ xé áo để biểu lộ sự giận dữ cực độ hay đau khổ tột cùng. Người ta còn xé áo khi muốn thể hiện sự tiếc nuối hối hận ghê gớm về một hay nhiều hành vi hết sức đáng trách của mình. Nhưng trong lời mời gọi sám hối của Mùa Chay thì sấm ngôn Đức Chúa lại nói: “Đừng xé áo nhưng hãy xé lòng!”          
2.- Thế nào là xé lòng? Lòng hay tâm hồn thì làm sao mà xé thành từng mảnh được? Nhưng có những đau khổ lớn lao, khủng khiếp đến nỗi người ta cảm thấy như đứt ruột đứt gan và tan nát cõi lòng. Xé lòng là hối tiếc từ đáy lòng, tức cách chân thành. Có thế sự sám hối mới có hiệu quả và đủ sức thay đổi cuộc đời của chúng ta. Thiên Chúa muốn chúng ta thể hiện lòng sám hối và tâm tình hối tiếc ăn năn về tội phản nghịch hay thờ ơ của chúng ta đối với Thiên Chúa bằng tất cả tâm hồn và ở tận đáy linh hồn như thế.
3.- “Đừng xé áo nhưng hãy xé lòng” có nghĩa là hãy thay đổi từ bên trong, từ tận đáy lòng, chứ không chỉ thay đổi ở bên ngoài. Chúng ta có thể liên tưởng đến lời Chúa Giêsu đã nhắc nhở các môn đệ là cái làm cho con người ra dơ bẩn không phải là những đồ ăn thức uống người ta cho vào dạ dầy mà là những thứ từ trong lòng người phát ra. Đó là tâm địa độc ác, mưu mô xảo quyệt, ý đồ nham hiểm, lòng ghen tỵ vô lối, tình cảm nghịch thù, lời nói thâm độc và hành động tàn ác. Nói theo kiểu các thi sĩ thì đó là những sản phẩm của một trái tim đen. Trái tim mà đen thì tất cả những gì phát xuất từ trái tim ấy không thể có mầu hồng, mầu cam hay mầu xanh, mầu vàng, mầu đỏ được mà tất cả chỉ toàn là mầu đen, thậm chí là đen ngòm, đen thui!
 4.- Vậy thì việc sám hối và quay về với Thiên Chúa, với tha nhân và với chính mình phải bắt đầu từ trái tim và bằng việc xé lòng. Xé lòng là từ bỏ tính kiêu căng, thói đạo đức giả mà tập sống khiêm nhường, chân thật, hiền lành và nhỏ bé trước mặt Thiên Chúa cũng như trước mặt mọi người. Xé lòng còn là mở trái tim ra thật rộng để được tẩy rửa và thay máu.
Thực hành
          1. Xem: Tôi thường ấp ủ, nuôi dưỡng những ý nghĩ nào? Và thường tính toán những công việc gì và lên phưong án những cách thế nào? (hy sinh/từ bỏ/siêu thoát của cải vật chất, danh vọng, chức quyền hay ham hố, chiếm hữu thụ hưởng; yêu thương/phục vụ/mưu ích cho người khác hay khinh khi, nói xấu, vu khống và ám hại người khác?)
          2. Xét: Những ý nghĩ, tính toán và phưong thế ấy có phù hợp với giáo huấn của Phúc Âm và tinh thần của Chúa Kitô không?
3. Làm: Tôi quyết tâm từ bỏ những ý nghĩ, tính toán và phưong thế xấu xa độc ác ra khỏi lòng / trí tôi để tôi quay về với Chúa, với anh em và với chính mình trong Mùa Chay Thánh năm nay! - Phaolô Nguyễn Nhân Hòa
 

MC1-B48: DANH - LỢI – THÚ

Trong Chúa Nhật I Mùa Chay, cả ba bài Tin Mừng (Chu kỳ Năm A, B, C) đều nói đến việc: MC1-B48

Trong Chúa Nhật I Mùa Chay, cả ba bài Tin Mừng (Chu kỳ Năm A, B, C) đều nói đến việc Chúa Giêsu “để cho qủy (Satan) cám dỗ”. Tuy nhiên, chúng ta có thể để ý đến một số điểm sau đây, trước khi đi đến một vài suy tư áp dụng vào tinh thần sống Mùa Chay Thánh của mỗi người chúng ta:

Bài Tin Mừng Năm B trích trong Tin Mừng Thánh Mátcô (1:12-15) chỉ nhắc đến việc Chúa Giêsu ‘chịu Satan cám dỗ’ mà không ghi lại các chi tiết; trong khi Tin Mừng theo Thánh Mátthêu (4:1-11) (Năm A) và Tin Mừng theo Thánh Luca (4:1-3) (Năm C) thì tường thuật đầy đủ hơn; tuy nhiên, trong bài Tin Mừng theo Thánh Mátthêu, thì lần cám dỗ thứ hai là cám dỗ “gieo mình xuống khỏi tường Đền Thánh”, lần thứ ba là cám dỗ “vinh quang thế gian”; còn trong Tin Mừng theo Thánh Luca thì lần cám dỗ thứ hai là cám dỗ “vinh quang thế gian”, còn lần thứ ba là “gieo mình xuống khỏi tường Đền thờ”; riêng lần cám dỗ thứ nhất đều là “hóa bánh ra nhiều”.

Cả ba lần chịu cám dỗ, Chúa Giêsu đều dùng lời “Thánh Kinh” để chống lại ‘tên cám dỗ’. Sau ba lần cám dỗ không được, qủy (Satan) bỏ đi “chờ dịp khác” (theo Thánh Lucca) và “các Thiên Thần đến hầu hạ Ngài” (theo Thánh Mátthêu). Riêng Thánh Mátcô có nói đến sự việc ‘Chúa Giêsu sống giữa lòai vật trong hoang địa’.

Về địa điểm khi Chúa bị cám dỗ, cả ba Tin Mừng đều ghi là “nơi hoang địa”, còn thời gian là sau (trong) 40 đêm ngày (nhịn ăn uống). Ngòai ra cả ba sách Tin Mừng đều ghi lại việc Cám dỗ sau biến cố Chúa Giêsu đến xin Thánh Gioan Baotixita làm “phép Rửa cho Ngài” và Thánh Thần Chúa hiện ra dưới hình chim bồ câu đậu xuống trên Ngài và có tiếng từ trời nói: “Đây là Con yêu dấu của Cha…”. Như vậy, biến cố Chúa chịu cám dỗ đó xãy ra vào những ngày mở đầu cuộc đời rao giảng của Chúa Giêsu; vì thế bài Tin Mừng theo Thánh Mátcô (Năm B) có nói đến việc Chúa Giêsu rao giảng Tin Mừng Nước Trời và nói: “Thời giờ đã tới; Nước Thiên Chúa đã đến gần; anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng”.

“Hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng” là chương trình sống cho Mùa Chay, và cũng là chương trình sống cho cả cuộc đời chúng ta trong suốt cuộc hành trình Đức Tin (vừa dài, vừa nhiều gian khổ, và đầy những cám dỗ thử thách) tiến về “Hứa Địa” là “Quê hương thật của chúng ta! (‘Sinh ký tử quy’, Sống gửi, thác về là như vậy!).

Nhờ ơn Chúa giúp, chúng ta cố gắng thắng cơn cám dỗ; ‘ma quỷ bỏ đi!’ nhưng ‘chờ dịp khác!’ và như vậy cuộc đời của con người chúng ta luôn phải đối diện với cám dỗ và thử thách. Vì thế Giáo Hội ở trần gian còn được gọi là Giáo Hội chiến đấu (đối với Giáo Hội trên trời là Giáo hội chiến thắng, và Giáo hội đau khổ nơi luyện tội). Đã chiến đấu thì cũng có lúc thắng, lúc bại. Có những khi vì yếu đuối, chúng ta trót sa ngã phạm tội cách này, cách khác. Lúc đó chúng ta cần ăn năn sám hối và nhờ lòng tin vào “Chúa là Đấng Từ bi và Nhân hậu, Người đại lượng và chan chứa tình thương…” chúng ta can đảm đứng dậy và tiếp tục cuộc hành trình qua sa mạc cuộc sống, nhờ ‘Cột Lửa’ là ánh sang Đức Tin soi dẫn… Cứ đi và đi mãi đến cuối cuộc đời.

Có vô vàn cơn cám dỗ khác nhau; nhưng tất cả đều quy về ba mối chính: DANH – LỢI – THÚ… Ham danh, ham lợi ham phú quý là bản tính của con người. Ai cũng muốn địa vị cao sang, ai cũng muốn giàu có ai cũng ham thích thú vui.

Chúa Giêsu đã “để cho qủy cám dỗ” để dạy chúng ta: Phải chấp nhận cám dỗ và thử thách (cf. Tho Roma 12, 12 ); nhưng để thắng cám dỗ chúng ta phải kiên trì cầu nguyện, suy niệm Lời Chúa (Kinh Thánh) “vì tinh thần thì mạnh mẽ, nhưng thể xác thì yếu đuối…” (Mátthêu 26:41). Hạ mình khiêm tốn, “nhớ mình là tro bụi và sẽ trở về bụi tro…”; Thiên Chúa yêu thương và nâng đở những người có tinh thần khó nghèo và khiêm tốn; ‘vì Kinh Thánh có lời viết : Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu căng; nhưng ban ơn cho những người có lòng khiêm nhường’ (Giacôbê 4:6…). Hành trình Đức Tin là một cuộc “đồng hành”; chúng ta cần thông cảm yếu đuối của nhau, tha thứ và cầu nguyện chung cho nhau, nâng đở lẫn nhau, “chị ngã, em nâng…” thay vi lên mặt tự phụ, khinh chê, dèm pha và kết án người khác.

“Cầu nguyện… hãm mình (ăn chay)… và sống tinh thần bác ái yêu thương (làm phúc, bố thí), là những phương thế tuyệt vời để thắng cám dỗ, để đền tội, để được Thiên Chúa yêu thương, tha thứ và giúp đở chúng ta trên con đường về quê thật là Nước Hằng Sống.


Xin Chúa thương chúc lành cho mỗi người chúng ta trong Mùa Chay Thánh năm nay. Xin Mẹ Maria và các Thánh chuyển cầu cho chúng ta.

LM. Anphong Trần Đức Phương

 

MC1-B49: Hành trình Mùa Chay

CHÚA NHẬT I MÙA CHAY (B)
Dẫn nhập đầu lễ :

Kính thưa Ông Bà và Anh Chị Em

 

Cộng đoàn Dân Chúa đã long trọng tiến vào Mùa Chay, tiến vào một giai đoạn phụng vụ đặc: MC1-B49

Cộng đoàn Dân Chúa đã long trọng tiến vào Mùa Chay, tiến vào một giai đoạn phụng vụ đặc biệt để sửa soạn tâm hồn sống lại những biến cố đặc biệt của Chúa Giêsu trong mầu nhiệm Vượt Qua của Ngài, và cũng là những biến cố liên quan mật thiết đến đức tin và thân phận của mỗi người chúng ta. Đặc biệt, liên quan đến cuộc dấn thân chuẩn bị “nhập đạo” của vô số anh chị em dự tòng trên khắp thế giới trong dịp Đại Lễ Phục Sinh sắp tới.

Với hình ảnh của cuộc hồng thủy tẩy sạch tội trần và con tàu Noe đem lại ơn cứu thoát, với cuộc chiến thắng của Đức Kitô trong cuộc đối đầu với ma quỷ giữa hoang mạc cuộc đời, sứ điệp phụng vụ hôm nay đang gọi mời chúng ta luôn sống trọn vẹn hồng ân bí tích Rửa tội bằng cuộc dấn thân chiến đấu cho ơn thánh và sự thiện, bằng niềm trông cậy vững vàng quyết chiến thắng cám dỗ và sự dữ.

Giờ đây, để xứng đáng của hành thánh lễ, chúng ta cùng sám hối tội lỗi.

Giảng Lời Chúa :

Cho dù không thi vị mượt mà đượm chất thi ca của những lời sứ ngôn vang lên trong Mùa Vọng, phụng vụ Mùa Chay lại luôn đầy ắp những hình ảnh, những biểu tượng, những gợi nhớ để lôi kéo chúng ta tập chú vào cuộc “vượt qua của Đức Kitô”, một cuộc Vượt Qua mạnh mẽ như cuộc “đại hồng thủy của thuở hồng hoang” càn quét sạch sẽ cái thế giới tội lỗi ô nhơ để xây dựng một trật tự thế giới mới trên nền tảng của Bí tích Rửa Tội mà con tàu cứu độ Noe đã tiên báo (BĐ 1 và BĐ 2). Cuộc Vượt Qua của Đức Kitô cũng là một cuộc “trường hành khắc nghiệt của hoang mạc nóng cháy” luôn đòi hỏi khách lử hành muốn sống, muốn tồn tại để tới đích thì chỉ có một chọn lựa duy nhất đó chính là chiến thắng (TM).

1. Mùa Chay và Nhiệm Tích Rửa Tội :

Chúng ta có thể đồng cảm với những gợi ý của Lời Chúa hôm nay khi đối diện với chính mình và nhìn vào thế giới để nhận ra rằng : dòng nước Rửa tội luôn phải được tuôn chảy trong tâm hồn chúng ta và giữa lòng thế giới để cuốn trôi mọi thứ rác ruởi của ươn hèn, ích kỷ, ghét ghen, dục vọng… để trả về cho Thiên Chúa một cõi lòng tinh trắng, một nhân loại tín trung. Nếu trong buổi hồng hoang của nhân loại, chỉ cần một dúm người, gia đình của ông Noe với con tàu được chuẩn bị nghiêm túc, đã cứu thoát nhân loại khỏi án diệt vong, thì hôm nay, con tàu của Hội Thánh với hàng hàng lớp lớp thế hệ kitô hữu, chắc chắn thế giới có đủ lý do để chứa chan hy vọng một ngày không xa tội lỗi và sự dữ sẽ bị đẩy lùi để nhường chỗ cho một thế giới mới tràn trề thánh ân và hạnh phúc.

Không phải chỉ có thời Noe mới có những người dửng dưng trước những dấu chỉ của Hồng Thủy để rồi sau đó bị hồng thủy cuốn trôi. Thế giới hôm nay vẫn còn đầy dẫy những Kitô hữu biến chất, đã không đóng góp gì, trong việc xây dựng con tàu Hội Thánh, lại luôn rình chờ cơ hội để “thoát ly” lũi trốn, hầu được thảnh thơi với cái tôi ích kỷ của mình. Chắc chắn những tâm hồn đó, những con người đó, những kitô hữu đó, nếu không thức tỉnh “bò” vào lại con tàu của Hội Thánh, sẽ bị cơn hồng thủy của tội lỗi cuốn trôi vào vực thẳm địa ngục. Những lát cưa, nhát búa sửa soạn cho con tàu Noe năm xưa để đương đầu với đại hồng thủy; thì hôm nay, đó chính là những hy sinh, cầu nguyện, làm phúc bố thí…để con tàu của Hội Thánh, để con tàu của linh hồn lướt qua giông tố trần gian để tiến vào thiên quốc.

Dòng nước Rửa tội không chỉ chảy một lần trên trán, trên đầu, để sau đó trả lại những cái đầu khô khan nguội lạnh, những cái trán phẳng lỳ lười biếng, đam mê…mà luôn luôn chứa chan ơn thánh để đức Tin, đức Cậy, đức Mến được đam chồi nẩy lộc, được sinh hoa kết trái. Hay như ngôn ngữ của ThánhTông Đồ Phêrô trong bài đọc 2 hôm nay : “Lãnh nhận phép rửa không phải là được tẩy sạch vết nhơ thể xác, mà là lời cam kết với Thiên Chúa để giữ lương tâm trong trắng…” (BĐ 2)

2. Mùa Chay và cuộc trường chinh xuyên hoang mạc :

Nhưng để ơn của Nhiệm tích Rửa tội đơm hoa kết trái giữa đời thường, không phải cứ “ngồi chờ sung rụng” hay áp dụng chiến thuật “bất chiến tự nhiên thành” là mọi sự sẽ được giải quyết. Trích đoạn Tin Mừng ngắn gọn của Mác-cô hôm nay lại là một câu trả lời thích đáng : “chiến thắng cám dỗ, sám hối và tin vào Tin Mừng”.

Quả thật, trong và với quyền năng của Thiên Chúa, Chúa Giêsu có cần chi đâu phải “lặn lội vào hoang mạc” để dành ra tới 40 ngày để cầu nguyện và tĩnh tâm, để chấp nhận đương đầu với những cơn cám dỗ của ác thần. Phải chăng, Ngài muốn nói với chúng ta rằng : “Khi chấp nhận nhập thể làm người, Ta muốn thực sự đồng hành và liên đới với toàn thể nhân loại, một nhân loại bất trung, phản bội và đầy tính hư tật xấu. Đồng thời, ta cũng muốn dạy cho các ngươi hay rằng : những kẻ không chịu chiến đấu trong mặt trận của Thiên Chúa sẽ không đi tới chiến thắng cuối cùng; và những kẻ không biết ăn năn sám hối và đón nhận Tin Mừng để hoán cải đổi đời, sẽ mãi mãi cách xa nghìn trùng với Vương quốc Thiên Chúa”.

Và như thế, con đường Mùa Chay lại là con đường của cuộc “trường chinh xuyên hoang mạc cuộc đời”, cuộc trường chinh với tính mê tật xấu, cuộc trường chinh với những cám dỗ của “bãnh mì hưởng thụ”, cuộc trường chinh với những “ngọn tháp của kiêu căng và hư danh phách lối, cuộc trường chinh với những “đô thành của dục vọng đam mê, của sự giàu sang ích kỷ phù phiếm…”.

Những hoang mạc khắc nghiệt của cuộc đời hôm nay vẫn còn đầy dẫy trên thế giới, nơi mọi quốc gia, gia đình và tận thâm tâm của mỗi người. Đó là những hoang mạc chất chứa bao nhiêu cơn cám dỗ của hận thù sắc tộc, tôn giáo, quyền lợi kinh tế, ý thức hệ…, những cơn cám dỗ để con người lạnh lùng nói “có” với bạo lực, khủng bố, chiến tranh, ly dị, ngoại tình, phá thai…, và sẵn sàng nói “không” với khoan dung và tha thứ, với liên đới và huynh đệ, với chia sẻ và bác ái, với thủy chung và trách nhiệm…

Để nêu gương chiến đấu và chiến thắng, Đức Kitô đã nói “không” với ma quỷ cho dù sau đó Ngài phải trả giá bằng chính cái chết tủi nhục thập giá. Tuy nhiên, chính khi Ngài nói “vâng” với Thiên Chúa, tiếng vâng khi vừa chập chững vào đời “nầy con xin đến…” hay tiếng vâng trong vườn Giết sê-ma-ni “xin vâng ý Cha” cho đến tiếng vâng cuối cùng : “con xin phó mọi sự trong tay Cha”, Ngài đã đem về chiến thắng lẫy lừng cho Thiên Chúa và cho toàn thể nhân loại mà khúc dạo đầu của bài Thánh thi Kinh Sáng phần nào đã nói lên :

Lạy Đức Kitô Mặt Trời công chính

Chúa thật là ngày mới đã lên ngôi !

Ngài phá tan đêm tối phủ lòng người

Cho đức hạnh lại chói ngời kiều diễm…


Hay như một đoạn trong Thánh thi kinh chiều thứ Bảy Tuần Thánh :

Ngài chết để diệt tan thần chết

Ngài phục sinh mở kiếp trường sinh

Mưu mô ác quỷ tung hoành

Rắc gieo tử khí cũng đành chịu thua.


Như thế, cuộc hành trình Mùa Chay của Hội Thánh hay của mỗi người chúng ta hôm nay, nói cho cùng, chỉ là cuộc thực hành thường xuyên của đức tin, một đức tin sống động làm mới mãi dòng nước Rửa tội chảy xuyên suốt cuộc đời và tràn lan thế giới, một đức tin kiên cường chiến đấu và chiến thắng những cám dỗ và chào thua để Thiên Chúa được tôn vinh và con người được cứu độ. Amen

LM. Giuse Trương Đình Hiền
 

MC1-B50: Với Chúa Giêsu trong Hoang Địa

Bài giải thích của Cha Raniero Cantalamessa Dòng Capuchine, người giảng Phủ Giáo hoàng, về Tin Mừng Chúa Nhật I Mùa Chay.

* * *

Chúa Nhật I Mùa Chay (năm B)

St 9:8-15; Pt 3:18-22; Mc 1:12-15)

Với Chúa Giêsu trong Hoang Địa

 

Chúng ta hãy tập trung vào câu thứ nhất đoạn Tin Mừng: "Thần Khí liền đẩy Người vào: MC1-B50

Chúng ta hãy tập trung vào câu thứ nhất đoạn Tin Mừng: "Thần Khí liền đẩy Người vào hoang địa." Câu này chứa đựng một lời kêu gọi quan trọng lúc bắt đầu Mùa Chay. Chúa Giêsu vừa mới nhận lãnh sự tấn phong cứu thế trong sông Giodan, để mang Tin Mừng cho người nghèo khó, chữa lành những tâm hồn sầu khổ, rao giảng Nước Chúa. Nhưng Người không vội làm bất cứ điều gì trong những sự này. Ngược lại, vâng theo sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần, Người rút lui vào hoang địa và ở đó 40 ngày, ăn chay, cầu nguyện, suy gẫm và chiến đấu. Tất cả sự này diễn biến trong sự cô tịch và thinh lặng thâm sâu.

Trong lịch sử có hàng đạo binh người nam và nữ đã chọn bắt chước Chúa Giêsu rút lui vào hoang địa. Tại phương Đông, bắt đầu với Thánh Antôn Đan Sĩ họ đã rút lui vào những hoang địa nước Ai cập và Palestine; tại phương Tây, nơi không có những hoang địa cát, họ rút lui vào những nơi cô tịch, những miền núi và những thung lủng xa xôi.

Nhưng lời mời theo Chúa Giêsu trong hoang địa thì được chuyển tới mọi người. Các đan sĩ và những ẩn sĩ chọn một chỗ trong hoang địa; chúng ta phải chọn ít nhất một thời gian trong hoang địa. Trải qua một thời gian trong hoang địa có nghĩa là tự trút hết và chìm ngập trong thinh lặng, tái khám phá con đường của lòng chúng ta, đẩy chúng ta ra xa khỏi sự huyên náo và những áp lực bên ngoài để tiếp cận những nguồn mạch sâu xa nhất của hữu thể chúng ta.

Nếu sống tốt, Mùa Chay là một thứ chữa trị chất độc hại linh hồn. Trên thực tế, không những có sự làm ô nhiễm của chất carbon monoxit; cũng có sự gây ô nhiễm âm thanh và ánh sáng, Tất cả chúng ta say sưa bằng cách nào đó với tiếng ồn ào và những dáng vẻ bên ngoài. Con người phát sóng của mình tới ngoại vi hệ thống mặt trời, nhưng trong đa số các trường hợp không biếi cái gì ở trong lòng mình. Giải thoát, thư giãn, giải trí-là những lời nói có nghĩa là đi ra khỏi mình, đi xa khỏi thực tại.

Có những trình diễn "giải thoát" (TV cung cấp chúng dồn dập), văn chương "giải thoát". Một cách có ý nghĩa, chúng được gọi là sự tưởng tượng. Chúng ta thích sống trong sự tưởng tượng hơn là trong thực tại. Ngày nay người ta nói nhiều về "những ngoại kiều," nhưng chúng ta đã ra ngoại kiều hay là nên xa lạ bởi cách làm của chúng ta trong hành tinh chúng ta, mà không cần những kẻ khác đến từ bên ngoài.

Giới trẻ bị phơi bày hơn hết cho sự say sưa với tiếng ồn ào. "Phải giao cho bọn người ấy những công việc thật nặng nhọc để chúng làm," Pharaon đã nói với các viên đốc công của ông," và đừng có nghe lời Moisen và đừng nghĩ tới chuyện bẻ gãy xiềng xích nô lệ" (Xh 5:9). Những "Pharao" ngày nay nói, trong một cách ngấm ngầm hơn nhưng không kém phần hống hách hơn: " Hãy gia tăng sự huyên náo trên những giới trẻ này để chúng sẽ thiếu thận trọng và không suy nghĩ, không quyết định về mình, nhưng theo mốt, mua những điều chúng ta muốn chúng mua, và tiêu thụ những sản phẩm chúng ta nói cho họ."

Chúng ta có thể làm gì? Không có khả năng đi vào hoang địa, chúng ta phải tạo ra một chút hoang địa bên trong chúng ta. Về điều này, Thánh Phanxico thành Assisi cho chúng ta một sự gợi ý thực tế. Ngài nói "Chúng ta có một nơi ẩn dật luôn với chúng ta; bất cứ nơi nào chúng ta đi và bất cứ khi nào chúng ta muốn chúng ta có thể nhốt chúng ta trong đó như những ẩn sĩ. Nơi ẩn dật là thân xác chúng ta và linh hồn là kẻ ẩn sĩ ở trong!" Chúng ta có thể vào trong nơi ẩn dật "cầm tay" này mà không ai thấy, cho dầu khi chúng ta đang quá giang trên một xe buýt rất đông khách. Tất cả hệ tại thỉnh thoảng biết cách "đi vào trong tâm hồn chúng ta".

Xin Thần Khí " đã đẩy Chúa Giêsu vào trong hoang địa" cũng đưa chúng ta, giúp chúng ta trong trận chiến chống sự dữ và chuẩn bị chúng ta cử hành Lễ Phục Sinh được đổi mới trong tinh thần!

Đ.Ô. Nguyễn Quang Sách




 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây