Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 1 MC-B Phần III Bài 101-126: Chúa bị cám dỗ

Thứ sáu - 16/02/2018 19:14
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 1 MC-B Phần III Bài 101-126: Chúa bị cám dỗ
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 1 MC-B Phần III Bài 101-126: Chúa bị cám dỗ
MC1-B Phần III Bài 101-126: Chúa bị cám dỗ
MC1-B101: VÀO VƯỜN ĐỊA ĐÀNG MỚI. 1
MC1-B102:  ‘SÁM HỐI’ LIÊN QUAN GÌ TỚI  ‘TIN VÀO TIN MỪNG’?. 3
MC1-B103:  CHIẾN THẮNG LÒNG THAM... 4
MC1-B104: SA MẠC KHÔNG NÓNG.. 5
MC1-B105: Cải thiện. 5
MC1-B106 Đức Giêsu chia sẻ thân phận con người 6
MC1-B107  Cám dỗ trong hoang địa – Cố Lm. Hồng Phúc. 9
MC1-B108 Đức Giêsu trong hoang địa. 10
MC1-B109 Ăn chay – Lm. Vũ Đình Tường. 12
MC1-B110 CHÚA GIÊSU BỊ CÁM DỖ.. 13
MC1-B111  CHÚA NHẬT I MÙA CHAY.. 14
MC1-B112   Sống tinh thần mùa Chay với Chúa Giê-su. 15
MC1-B113  Người Ở Trong Hoang Địa. 16
MC1-B114   Chúa Nhật I mùa Chay,B.. 17
MC1-B115  CHÚA NHẬT 1 MÙA CHAY.. 18
MC1-B116  Chúa Nhật I mùa Chay - B.. 20
MC1-B117  Sự cám dỗ – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền. 21
MC1-B118  Ba cạm bẫy của ma quỷ. 22
MC1-B119  Chay tịnh và cầu nguyện. 23
MC1-B120  Lòng thương cảm sâu xa – Peter Feldmier 24
MC1-B121: Thần lành, thần dữ. 25
MC1-B122: HÃY HỒI TÂM ĐỔI MỚI. 26
MC1-B123: Sau cơn hồng thủy. 27
MC1-B124:  NOI GƯƠNG CHÚA ĐỂ CHIẾN THẮNG CÁM DỖ.. 28
MC1-B125: CHIẾN THẮNG MA QUỶ CÁM DỖ.. 30
MC1-B126: CHÚA NHẬT I MÙA CHAY.. 32

 

MC1-B101: VÀO VƯỜN ĐỊA ĐÀNG MỚI

PM. Cao Huy Hoàng
Vườn địa đàng mới của Đức Kitô
 

Hình ảnh một vườn địa đàng mới đang mở ra cho chúng ta trong trình thuật của Thánh Marco: MC1-B101

Hình ảnh một vườn địa đàng mới đang mở ra cho chúng ta trong trình thuật của Thánh Marco hôm nay Mc 1, 12-15, Tin Mừng chúa nhật thứ nhất, mùa chay thánh.
Vườn địa đàng cũ của Adong là một vườn hoa thơm cỏ lạ, cây trái sum suê, màu xanh mơn mởn tràn đầy sự sống. Những con dã thú hiền lành ngoan ngoãn là những tạo vật xinh đẹp trước mắt Thiên Chúa. Thiên Chúa xuống dạo chơi nơi vườn địa đàng. Satan, thế lực chống lại Thiên Chúa muốn làm băng hoại công trình của Ngài, đã cám dỗ Adong Eva bất tuân Thiên Chúa, và ông bà đã thất trận. Vườn địa đàng trở thành nơi âm u của những đau khổ và chết chóc. Dã thú hiền lành trở nên hung dữ. Satan hã hê cười đắc chí.
Vườn địa đàng mới của Đức Giêsu là một hoang địa, một sa mạc nắng cháy, gió cát mênh mang, không một bóng cây, không một bóng người. Có thú dữ, có Satan và cũng có các thiên thần bên cạnh Người.
Vườn địa đàng của lòng khiêm tốn, vâng phục, chiến đấu và chiến thắng
Vừa nhận phép rửa của Thánh Gioan, Chúa Thánh Thần đã đẩy Đức Giêsu vào hoang địa để chịu bao thử thách trước khi thi hành nhiệm vụ của Đấng Messia. “Sau khi Đức Giê-su chịu phép rửa, Thần Khí liền đẩy Người vào hoang địa. Người ở trong hoang địa bốn mươi ngày, chịu Xa-tan cám dỗ, sống giữa loài dã thú và có các thiên sứ hầu hạ Người” (Mc 1, 12-13). Nói một cách chua chát hơn, theo hàm ý của Thánh Marco khi dùng động từ Hy-lạp ekballô, “quăng ra; đuổi; kéo ra”, là Thiên Chúa Cha đã thẳng tay trừng phạt Con Yêu Dấu của mình một cách không thương tiếc, không nhân nhượng, không vị thân. Đức Giêsu phải chiến đấu với bản thân mình suốt 40 ngày trước nỗi cô đơn như là bị Chúa Cha bỏ rơi, trước cơn đói khát thể lý, trước một môi trường khó khăn ê chề, và trước những lời dỗ ngọt của Satan. Đức Giêsu không thuận theo ý của Satan, vì Ngài vẫn luôn tin tưởng và kết hiệp với Cha trên trời. Vì thế, Con Thiên Chúa đã biến những con thú dữ gầm gừ ăn tươi nuốt sống Ngài, thành những người bạn thân thiết trong cùng cảnh ngộ. Lòng khiêm tốn đã múc được sức mạnh từ Thánh Thần, tình yêu của Chúa Cha, giúp Ngài can đảm không chỉ lên án Satan, và vạch mặt tính kiêu ngạo, sự dối trá, cách hành xử lếu láo của nó “Ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi”-"Xa-tan kia, xéo đi! Vì đã có lời chép rằng: Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi", mà còn  khẳng định về sự sống mới của người Con Yêu Dấu là thi hành ý Cha “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra.” (x. Mt 4,1-11). Vườn địa đàng mới của Đức Giêsu đầy đau khổ, nhưng lại là một địa đàng của sự khiêm tốn vâng phục và chiến thắng.
Vườn địa đàng mới của chúng ta
Thuở xưa, Thiên Chúa đã thiết lập Giao Ước với Noê “mọi xác phàm sẽ không còn bị nước hồng thủy hủy diệt, và cũng sẽ không còn có hồng thủy để tàn phá mặt đất nữa.” (St 9,11). Và nhờ nước hồng thủy đã hủy diệt mọi sự  tồi tệ trên trần gian, mà gia đình Noe bước vào một cuộc sống mới với Thiên Chúa. Thánh Phêrô giải thích thêm cho chúng ta rằng: “Trong con tầu ấy, một số ít, cả thảy là tám người, được cứu thoát nhờ nước. Nước đó là hình bóng phép rửa nay cứu thoát anh em. Lãnh nhận phép rửa, không phải là được tẩy sạch vết nhơ thân xác, mà là cam kết với Thiên Chúa sẽ giữ lương tâm trong trắng, nhờ sự phục sinh của Đức Giê-su Ki-tô”  (1 Pr 3, 20-21).
Mỗi tín hữu đều đã được rửa tội, được trở nên con cái yêu dấu của Thiên Chúa. Mỗi lần tham dự bí tích rửa tội, chúng ta không khỏi vui mừng có thêm những con cái của Chúa. Có người vui mừng đến khóc được, vì chồng, vì vợ, vì người thân chấp nhận lãnh bí tích rửa tội sau bao nhiêu năm chần chừ. Nhưng, qua Lời Chúa hôm nay cho thấy, được rửa tội “không chỉ là được tẩy sạch vết nhơ, mà còn cam kết với Thiên Chúa giữ lương tâm trong trắng, như giữ một vườn địa đàng mới luôn xinh đẹp”. Như Đức Giêsu, không chỉ được rửa tội, mà còn phải chiến đấu và chiến thắng các mưu toan của Satan để trung thành với Thiên Chúa  Cha, đấng tuyên bố “Đây là Con Ta Yêu Dấu”.
Được mời gọi vào vườn địa đàng mới
Được trở nên con cái Thiên Chúa, mỗi tín hữu cũng được mời gọi vào vườn địa đàng mới của Đức Giêsu, địa đàng của lòng khiêm tốn, vâng phục, của những thử thách lòng trung thành, địa đàng của chiến đấu và chiến thắng.
Thời nào cũng có Satan. Chỗ nào cũng có những mưu ma chước quỉ. Tín hữu nào cũng gặp những cơn cám dỗ. Ma quỉ không không loại trừ ai. Chúng luôn theo sát rình rập  và mời gọi mọi con cái Chúa quay lưng lại với Chúa, đi sai đường lối của Chúa, bỏ Chúa.
- Có những cơn cám dỗ đau đớn của nghèo đói, của bệnh tật, của tủi hổ vì nợ nần, vì danh dự bị tổn thương dẫn đến tuyệt vọng không còn nhìn thấy sự can thiệp và tình thương của Chúa.
- Có những cơn cám dỗ ngọt ngào của đam mê, xa hoa, của sắc đẹp tài năng, trí tuệ, của sự giàu sang, quyền thế hơn người dẫn đến cao vọng làm mờ con mắt, cũng không nhìn thấy được sự can thiệp và tình thương của Chúa.
- Bình an ảo, hạnh phúc ảo, lý tưởng ảo, nhiệt tình ảo, chứng nhân ảo, đạo đức ảo, từ thiện ảo, … được xây dựng trên tiêu chuẩn chủ quan  là  cơn cám dỗ hiện đại của mưu ma chước quỉ dối trá. Satan lừa đảo con người bằng cách làm cho con người tự đặt cho mình một tiêu chuẩn đạo đức mà cho  là tiêu chuẩn của Thiên Chúa.
Quả thật trong đời sống tín hữu không  biết bao nhiêu thử thách về lòng trung thành với Đức tin công giáo, với Tin Mừng Chúa Giêsu. Cơn cám dỗ tinh vi hiện đại nhất  hôm nay là  kiêu ngạo dưới hình thức khiêm nhường, giả dối mang tên sự thật, và hèn nhát mà liều lĩnh dưới nhãn hiệu can đảm. Lòng kiêu ngạo khiến ta sống trong sự giả dối, và ngại chiến đấu, nếu không nói là hèn nhát trước cuộc chiến đấu. Lòng kiêu ngạo ngăn cản sự kết hiệp với Đức Giêsu khiêm tốn, rào bít con đường Sự Thật của Chúa Giêsu, và mở ra sự  buông xuôi khỏe hơn là chiến đấu … Ngược lại, lòng khiêm tốn cho ta kết hiệp với Chúa Giêsu trong cuộc chiến đấu của mình, để nhờ Lời Sự Thật  mà vượt thắng những lôi cuốn hư hèn.
Những cơn cám dỗ trở nên tuyệt vời trong hành trình nên thánh của các tín hữu. Vì thắng vượt được những chước cám dỗ trong đời, làm cho các  tín hữu tiến gần tới sự kết hiệp với Thiên Chúa toàn thiện.  Niềm vui mỗi lần chiến thắng chước cám dỗ, là niềm vui vĩnh cửu trong  vườn địa đàng mới với Chúa Giêsu Kitô.
40 ngày quyết định
40 ngày mùa chay, con số biểu tượng cho cả một đời người tín hữu trong hành trình tiến về sự phục sinh. Lời Chúa khẩn thiết kêu gọi con cái Chúa sám hối những lần ngại chiến đấu và buông xuôi thất trận, sám hối những lần lẩn tránh sự thật, lẩn tránh ánh mắt nhìn của Thiên Chúa, sám hối sự bội ước với lời thề hứa rửa tội “từ bỏ ma quỉ và các việc của ma quỉ”, sám hối vì đã đi xa khỏi hoặc bất cần lòng thương xót của Chúa… Để việc sám hối ấy tích cực thành một quyết tâm nối lại mối tương quan đã bị chia lìa, Lời Chúa mời gọi “hãy tin vào Tin Mừng”. Tin vào Tin Mừng là kết hiệp hoàn toàn với  Chúa Giêsu bằng lòng tin, cậy, mến, để cùng Ngài vào hoang địa cuộc đời, cùng chiến đấu và tin tưởng cùng chiến thắng.
40 ngày mùa Chay, là một đời trở về với Tình Yêu Chúa và thể hiện sự cam kết trung thành với Thiên Chúa, bằng cách mỗi ngày , mỗi giờ, đều phải ghi một chiến công của lòng tin, cậy, mến vô biên.
Lạy Chúa Giêsu, địa đàng mới Chúa tái lập cho chúng con, là địa đàng của một cuộc chiến đấu đầy gian khổ. Xin Chúa Giêsu giúp chúng con không ngại chiến đấu và tin tưởng, với Chúa, chúng con chiến thắng những cám dỗ trong đời. A men.
PM. Cao Huy Hoàng
 

MC1-B102:  ‘SÁM HỐI’ LIÊN QUAN GÌ TỚI  ‘TIN VÀO TIN MỪNG’?

Lm Gioan Nguyễn Văn Ty SDB
 

Sứ điệp Mùa Chay xem ra đã rõ ràng: “Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng!”. Công : MC1-B102

Sứ điệp Mùa Chay xem ra đã rõ ràng: “Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng!”. Công việc phải làm trong thời gian này cũng đã từng được xác định từ thời xa xưa, là phải giữ chay tịnh trong suốt bốn mươi đêm ngày trước lễ Phục Sinh, noi gương đức Giê-su ‘được Thần Khí thúc đẩy, Người ở trong hoang điạ bốn mươi ngày’ [như Thánh Giáo hoàng Lê-ô (+461) đã viết: “ut apostolica institutio quadraginta dierum jejuniis impleatur” (P.L., LIV, 633)]. Ngày nay thì ‘apostolica institutio’ đó hầu như đã biến mất, đồng thời tôi cũng được nhắc nhở: sứ điệp nói trên không chỉ dành cho Mùa Chay, mà là cho toàn thể đời Ki-tô hữu. Chính vì thế mà tôi càng muốn tìm hiểu rõ, mình cần làm gì trong thời gian 40 ngày này (NB. Tiếng Anh gọi thời gian này là Lenten Season; trong ngôn ngữ Celt cổ nó có nghĩa là ‘spring time - mùa xuân’, không như các ngôn ngữ Âu Châu khác dùng các từ có gốc La tinh hay Hy lạp liên quan tới con số 40 như Carême hay Quaregima).
          Nếu trong thời gian được gọi là ‘Mùa Chay’ mà giữ chay tịnh lại không phải là điều chính yếu, và nếu Tin Mừng không hệ tại ở việc hãm mình ép xác, giữ tiết độ hay diệt dục (xem Lc 5, 33-39), thì trong thời gian cao điểm này nói riêng và suốt đời Ki-tô hữu nói chung, điều gì mới thực là chính yếu? Nói cách khác, sứ điệp ‘hãy sám hối và tin vào Tin Mừng’ phải được hiểu theo nghĩa nào?
          Thoạt tiên ta có thể hiểu sám hối và tin vào Tin Mừng như hai hành động song hành, hai điều cần làm để được cứu rỗi. Trước hết ‘hãy sám hối’ thường được hiểu như một lời kêu mời có nội dung luân lý, hãy từ bỏ con đường gian tà, hãy chỉnh đốn đời sống để làm cho mình lại được nên công chính như xưa. Hiểu như thế, và rất thường khi ta vẫn hiểu như vậy, nên quả thực ta cho sám hối là điều tối cần, thiết yếu tới độ chỉ cần sám hối chân thành đã đủ để một người có thể được lên thiên đàng. Đức Giê-su đến để kêu gọi sám hối, và trước Ngài, nhiều tiên tri - cao điểm là Gio-an Tiền Hô - cũng đã từng kêu gọi như thế. Nếu vậy sứ điệp này có gì là quan trọng? Thứ đến ‘tin vào Tin Mừng’, nếu được hiểu là giữ đạo, là sống các điều răn để có thể được rỗi linh hồn, thì vai trò của đức Giê-su cũng lại rất mờ nhạt mà thôi. Đơn thuần Người chỉ đóng vai trò một ông thầy dạy đỗ những điều phải làm, chỉ bảo cho biết các điều phải giữ… rồi thì Người không còn cần thiết nữa; vì người ta có thể được cứu rỗi căn cứ vào các việc giữ và làm (tương tự như Mô-sê trong Cựu Ước, với bộ giới răn và lề luật của ông). Chắc hẳn sứ điệp không thể hiểu như thế, nếu không muốn Tin Mừng đức Giê-su trở thành điều gì quá tầm thường.
Sức mạnh của sứ điệp đưa ta tới thẳng Thiên Chúa thứ tha, và đặt niềm tin tuyệt đối vào đức Giê-su Ki-tô thập gía cứu độ. Trong nội dung đó, ‘hãy sám hối’ phải được hiểu là ‘hãy chân thành nhìn nhận mình thấp hèn trong tội lỗi, để cảm thấy khát vọng và nhu cầu được cứu vớt thứ tha. Lúc đó hối nhân sẽ không nhất thiết phải là người đã cải tà qui chính, cho bằng là người tuyệt đối tin tưởng đón nhận ơn cứu độ’. Trong nội dung này hai vế ‘hãy sám hối’ ‘tin vào Tin Mừng’ sẽ có liên hệ mật thiết với nhau. Một người càng khiêm tốn sám hối bao nhiêu thì càng tin vào Tin Mừng cứu rỗi bấy nhiêu, và ngược lại người tin vào Tin Mừng, trong bất kì hoàn cảnh nào cũng sẽ luôn trong tư thế khiêm nhường sám hối. Đồng thời cả hai hành động chỉ có một mục tiêu duy nhất là đón lấy ơn cứu độ nơi Thiên Chúa từ nhân được thực hiện trong thập giá đức Ki-tô Giê-su. Tác giả Mác-cô quả thật có lý khi dành cho sứ điệp này một tầm quan trọng tuyệt đối vì nó gói ghém toàn bộ nội dung rao giảng và hành động của đức Giê-su. ‘Sau khi ông Gio-an bị bắt, đức Giê-su đến miền Ga-li-lê rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa. Người nói: “Thời kỳ đã viên mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối, và tin vào Tin Mừng”.
Trong tư cách là một tu sĩ - linh mục đã lớn tuổi, tôi có thật sự vẫn xác tín rằng mình cần phải khiêm nhường sám hối? Và tôi có đánh giá sự thánh thiện của mình theo thước đo của khát vọng đón nhận hồng ân cứu độ? Mùa Chay chính là thời gian dành cho tôi để kiểm điểm lại hai điều này.
Lạy Thiên Chúa cứu độ của con, Chúa kêu gọi con sám hối không phải để con được xứng đáng đến gần Chúa, nhưng để càng cảm thấy mình bất xứng và do đó khao khát đón lấy hồng ân cứu độ do lòng nhân lành thương xót Chúa trao ban. Xin cho sứ điệp “hãy sám hối và tin vào Tin Mừng’ luôn vang vọng ngày càng mãnh liệt hơn trong suốt đời Ki-tô hữu của con, và đặc biệt cấp bách và khẩn thiết hơn trong mỗi Mùa Chay thánh. Xin hãy luôn mở rộng tâm hồn con đón lấy tình thương vô biên Chúa. Amen
Lm Gioan Nguyễn Văn Ty SDB
 

MC1-B103:  CHIẾN THẮNG LÒNG THAM

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền
 

Thông thường con người chúng ta thường hay ghen ghét, bất hoà, tranh chấp và có khi giết: MC1-B103

Thông thường con người chúng ta thường hay ghen ghét, bất hoà, tranh chấp và có khi giết hại lẫn nhau vì những điều gì?
Thưa, về danh vọng và tiền tài. Ngay trong gia đình cũng có thể bị đảo lộn tất cả những nề nếp gia phong vì danh vọng và đồng tiền. Con cái bỏ cha mẹ, cha mẹ từ chối con cái. Vợ kết án chồng, chồng ruồng bỏ vợ, anh em bạn hữu chém giết nhau cũng chỉ vì đồng tiền, bát gạo, và người ta cũng có thể chà đạp nhau, bất kể là thân hay quen, là bạn hữu xa gần chỉ vì một ngai vàng là địa vị, là quyền lực trong xã hội.
Thực vậy, có những kẻ vì tiền mà mê muội. Có những người vì tình mà hoá dại. Có những người vì quyền lực mà đánh mất tính người. Nhưng có lẽ, cái cám dỗ lớn nhất của con người qua mọi thời đại chính là đồng tiền, vì có tiền là có tất cả
Vì tham lam đồng tiền mà họ sẵn sàng đánh đổi tất cả: danh dự, phẩm giá và tình làng nghĩa xóm, tình cha nghĩa mẹ, tình nghĩa thầy trò cũng không bằng ma lực của đồng tiền, như cha ông ta đã từng nói : “Còn tiền còn bạc còn đệ tử – Hết tiền hết gạo hết ông tôi”. Thật vậy, có biết bao kẻ đã bạc tình, bạc nghĩa chỉ vì đặt đồng tiền lên trên mọi mối quan hệ giữa người với người. Đồng tiền là đối tượng duy nhất để tôn thờ vì thế dân gian mới có câu: “Ông tiền , ông Phật,  ông Tiên – Ba ông đứng lại, ông tiền cao hơn”.
 Ngày xưa, có người ở nước Tề thích vàng đến mê vàng. Sáng sớm thay áo quần đi ra chợ. Tới hàng đổi tiền, thì liền chộp vội một khối vàng rồi chạy đi. Người ta bắt anh ta lại và hỏi :
- Tại sao giữa đám đông mà anh lại dám cướp vàng của kẻ khác như thế ?
Anh ta trả lời :
- Lúc thấy vàng, tôi đâu còn thấy thiên hạ chung quanh nữa. Trước mặt tôi, chỉ có vàng mà thôi.
Đồng tiền liền khúc ruột nên họ lao mình vào lửa, bất chấp mọi khó khăn gian khổ, bất chấp mọi thủ đoạn mánh mung, cho dù phải chà đạp lên người khác bằng những phương thế bóc lột và bất công, miễn sao vơ vét, vun quén về cho đầy túi tham của mình.
Bài phúc âm hôm nay, thánh Marco nói về việc Chúa Giêsu chiến thắng cám dỗ. Vậy ma quỷ đã cám dỗ Chúa Giêsu điều gì? Thưa, ma qủy đã tìm cách lôi kéo Chuá Giêsu quay lưng lại với Chuá Cha. Từ khước sống vâng phục thánh ý Chúa để được thoả mãn cái bụng của mình. Nó hướng mở cho Chúa một tương lai đầy hứa hẹn không chỉ có của ăn dư đầy từ những hòn đất hòn đá cũng biến thành của ăn, từ sỏi đá cũng thành cơm, mà vượt xa hơn nữa là nắm gọn trong tay thiên hạ, kẻ hầu người hạ và thừa hưởng mọi vinh hoa lợi lộc trần gian. Năm xưa trong vườn địa đàng nó đã thắng ông bà nguyên tổ, khi nó đưa ra những lời dụ dỗ đầy ngọt ngào, đầy hấp dẫn, nhưng hôm nay, màn trình diễn này đã hoàn toàn thất bại bởi người Con duy nhất của Thiên Chúa là Đức Giêsu, Ngài không những đã khước từ những lời mời mọc của ma quỷ nhưng còn cho ma qủy nhận ra rằng không có gì cao qúy hơn là được sống trong tình nghĩa với Thiên Chúa, sống trong sự quy phục Thiên Chúa, vì: “người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng còn bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra”.
Những cám dỗ mà ma qủy tuy đã thất bại với Chúa Giêsu nhưng nó vẫn dùng những chiêu thức đó để tấn công con người hôm nay. Trước tiên nó gieo vào lòng ta mối nghi ngờ Thiên Chúa, về lòng thương xót và quan phòng của Thiên Chúa. Nó mở ra cho chúng ta một sự so sánh, tính toán thiệt hơn và cuối cùng là đưa ra một con mồi để quyến rũ chúng ta là: danh vọng, tiền tài, địa vị, thú vui. Kết quả là nhiều người vì ham tiền, ham lợi lộc đã trở thành tay sai cho ma qủy, không chỉ mình làm điều ác mà còn lôi kéo, dẫn dụ nhiều người khác đi vào con đường tội lỗi. Ma qủy đã thành công khi sai khiến chúng ta làm sự dữ, là những điều trái với luân thường đạo lý như: trộm cắp, đánh nhau, hận thù ghen ghét, tự cao tự đại .. . Đó là những mối tội đầu đã gây nên biết bao đau khổ cho chính mình và những người chung quanh.
Ở khởi đầu mùa chay khi cho chúng ta chiêm ngắm Chúa Giêsu bị ma qủy cám dỗ, Giáo hội mời gọi chúng ta ý thức về thân phận tội lỗi của mình và sức mạnh của sự dữ, của ma qủy luôn rình rập để lôi kéo chúng ta xa rời Thiên Chúa, đi trong tối tăm của đam mê lầm lạc. Vì thế, chúng ta luôn phải sám hối và tin vào tình yêu của Chuá. Sám hối để nhận ra sự khiếm khuyết của mình mà cầu xin ơn Chuá bổ túc những thiếu sót của chúng ta. Sám hối để canh tân đời sống sao cho phù hợp với tin mừng của Chuá. Sám hối để chúng ta nhận ra sự giới hạn của kiếp người để nhờ ơn Chúa giúp chúng ta sẽ hoàn thiện con người của mình nên thánh thiện tinh tuyền như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện.
Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên con giống hình ảnh Chúa. Xin cho con biết gìn giữ phẩm giá con người của mình bằng việc tránh xa những thói hư tật xấu, luôn nói không với tội lỗi và luôn giữ lòng trong sạch để xứng đáng nhìn xem Thiên Chuá. Amen
Lm. Jos Tạ Duy Tuyền
 

MC1-B104: SA MẠC KHÔNG NÓNG

CHÚA NHẬT I MÙA CHAY
Mc 1,12 -15
 

Có nhiều thứ hoang mạc: Có hoang mạc chỉ toàn là cát, có hoang mạc chỉ toàn là đất và đá màu vàng: MC1-B104

          Có nhiều thứ hoang mạc: Có hoang mạc chỉ toàn là cát, có hoang mạc chỉ toàn là đất và đá màu vàng, nhưng không một cây cỏ nào có thể mọc được như hoang mạc ở phía bắc Israel . Có hoang mạc chỉ là những bãi sình lầy lồi lõm; phèn chua, chỉ có cỏ lăn là sống được. Nói chung lại, hoang mạc là một vùng đất hoang vắng, tĩnh lặng. Vì vậy, người ta thường nghĩ hoang mạc là một vùng đất chết.
          Thực ra, thì không phải thế. Ẩn sau cái bên ngoài hoang vu chết chóc ấy, hoang mạc, lại là nơi thuận tiện, để cho sự sống phát sinh. Bao nhiêu phát minh khoa học, đã được tìm thấy, trong những căn phòng lặng im, bền bỉ. Bao nhiêu những thành công cả về kinh tế, lẫn quân sự, cũng đã được khơi nguồn, từ những tháng ngày lặng yên, suy tính.
          Trước khi bước vào đời sống công khai rao giảng. Hôm nay, Chúa Giêsu cũng được Chúa Thánh Thần đưa vào hoang địa để ăn chay cầu nguyện suốt bốn mươi đêm ngày. Vào đó, để gặp gỡ với Thiên Chúa Cha, để dự phòng, sắp xếp, cân nhắc, cho công việc chính yếu của công trình cứu độ nhân loại:  Đi rao giảng. Nhìn việc Chúa làm. Ta hiểu được một chân lí quan trọng: Trong cuộc đời, phải có những giây phút trở về trong thinh lặng, nhất là khi đứng trước những công việc hệ trọng.
          Sau 40 đêm ngày chìm trong yên tịch và cầu nguyện, cũng như ăn chay và hãm mình. Chúa bắt đầu bước đi rao giảng. Lời nói đầu tiên là: “Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”.Đó là cánh cửa trước hết và duy nhất để có thể bước vào cuộc sống mới, một cuộc sống cao thượng và phong phú. Nhưng sao lại phải sám hối? Bởi mình nhiều thiếu sót và lầm lỗi.
          Nhưng để có thể sám hối, người ta cũng phải đi vào vùng hoang địa của hồn mình. Trong đó, lặng lẽ ta gặp lại chính ta, ta nhìn lại chính ta. Ta nhìn thấy những bước chân sai. Sai lạc trong cái nhìn, sai lạc trong chiều kích suy tư, sai lạc trong lời nói, sai lạc trong quyết định, sai lạc trong cư xử, và sai lạc trong hành động của mình.  Chìm sâu trong những sai lạc đó, ta hất chúng đi, sửa lại, và sầu buồn về những thiếu sót của mình. Rồi từ đó, ta sám hối. Giọt nước mắt ăn năn, lặng lẽ nhỏ vào hồn mình. Với ơn Chúa, rửa sạch hồn ta cho thanh sạch. Thế là hồn ta nhẹ nhàng, tươi mới. Ta cố vươn lên về phía mặt trời cứu rỗi. Và thế là cuộc sống mới bắt đầu một cuộc sống mới đầy tràn ân sủng và chân lý. Một cuộc sống bình an sâu thẳm, và chứa chan hạnh phúc nhiệm mầu.
          Gợi ý suy niệm:
          1- Bạn có ý muốn, trở về với hoang mạc đời mình không?
          2- Bạn có nghĩ rằng bạn đang cần sám hối? 
Lm Đaminh Đỗ Văn Thiêm Long Xuyên
 

MC1-B105: Cải thiện

http://www.giaophanvinhlong.net/SUY-NIEM-LOI-CHUA-CN-1-MC-B.html
 

Có một chàng thanh niên, vừa nghiện ma tuý, lại can tội giết người, nên bị kết án chung thân: MC1-B105 VL

1. Cải thiện
Có một chàng thanh niên, vừa nghiện ma tuý, lại can tội giết người, nên bị kết án chung thân. Đêm kia anh đang nằm trên giường tại phòng giam, thì đột nhiên anh nghĩ tới tình trạng hỗn loạn mà anh đã gây ra trong đời anh. Anh cảm thấy có một ước muốn mãnh liệt là cầu nguyện. Đợi cho người bạn nằm cùng giường ngủ yên, anh mới quỳ xuống cầu nguyện: Lạy Chúa, con xin tỏ bày cùng Chúa những gì chất chứa trong trái tim con. Anh nói với Ngài bằng những lời lẽ đơn sơ mộc mạc tất cả những gì anh muốn, từ những hy vọng đến những thất bại, từ những vui mừng đến những khổ đau. Sau khi anh cầu nguyện xong, người bạn tưởng chừng như đã ngủ buột miệng kêu lên: Amen. Và người bạn nói tiêp: Tôi cũng tin Chúa. Tôi nghĩ rằng Ngài luôn ở với chúng ta, chỉ có chúng ta là không ở với Ngài mà thôi.
 
Từ câu chuyện trên, chúng ta đi vào lời Chúa truyền dạy: Hãy sám hối, nghĩa là hãy cải thiện đời sống, thành tâm thú nhận những gì xấu, không tốt, không đẹp trong đời sống chúng ta, rồi sau đó là từ bỏ chúng, quay lưng lại với chúng, nói khác đi là thẳng thắn đối diện với những tội lỗi trong đời sống, rồi cương quyết uốn nắn sửa đổi.
 
Hẳn rằng có những lúc chúng ta cũng đã ý thức về những hỗn loạn xảy ra trong tâm hồn và trong cuộc sống chúng ta. Chẳng hạn về tính ích kỷ, luôn đặt nhu cầu của chúng ta trên quyền lợi của người khác. Chẳng hạn về tính kiêu căng, không muốn nhìn nhận những sai lỗi của mình. Chẳng hạn về sự lười biếng, không muốn giúp đỡ một ai.
 
Kinh nghiệm cho thấy: Những nhà truyền giáo thành công nhất trong việc làm cho người khác hối cải, đều là những người thực hiện theo đoạn Tin Mừng hôm nay. Họ làm cho người khác nhìn nhận rằng mình chỉ là những kẻ tội lỗi, rồi từ đó giúp họ quay trở về cùng Đức Kitô mà làm lại cuộc đời. Bởi vì nếu không phải là người tội lỗi, thì cần chi đến Đức Kitô.
 
Từ khởi điểm này, hôm nay chúng ta cùng nhau bước vào mùa Chay, là thời gian đặc biệt Chúa tuôn đổ muôn vàn ơn sủng và giúp chúng ta cải thiện đời sống. Nếu như mùa Chay trở về, chúng ta biết cố gắng cải thiện đời sống, uốn nắn lấy một thói hư tật xấu mà thôi, thì có lẽ lúc này chúng ta đã trở nên một con người khác, đạo đức hơn, thánh thiện hơn, yêu thương hơn.

 

MC1-B106 Đức Giêsu chia sẻ thân phận con người

(Suy niệm của Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm)
 

Chúng ta đang ở trong Chúa Nhật thứ nhất mùa chay. Giáo Hội giúp chúng ta cảm nhận tình yêu:  MC1-B106

Chúng ta đang ở trong Chúa Nhật thứ nhất mùa chay. Giáo Hội giúp chúng ta cảm nhận tình yêu Thiên Chúa với chúng ta qua việc nhìn ngắm Đức Giêsu sống thân phận con người.
 
I. Cám dỗ nơi con người và nơi Đức Giêsu
Đức Giêsu mà cũng bị cám dỗ sao?
Ngài chấp nhận sống với dã thú sao?
Là người, nghĩa là, với thể xác và tinh thần, con người luôn có thể bị cám dỗ. Ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm về điều này.
 
Cám dỗ là khuynh chiều đòi thỏa mãn những đòi hỏi của thân xác và của tinh thần, không muốn đáp trả tiếng gọi từ trên. Chẳng hạn người ta nhận thấy nơi mình những đòi hỏi của thân xác về tính dục hay khuynh hướng muốn mình giầu hơn người khác, hoặc những đòi hỏi của tinh thần muốn mình trổi trang hơn người khác...
 
Khuynh chiều đi tìm và dừng lại nơi danh lợi tiền bạc địa vị, không muốn vươn lên điều tốt hơn nhưng dừng lại ở cái tầm thường, đó là những cám dỗ thường xảy ra trong đời mỗi người.
 
Muốn trổi trang, không là tội, nhưng còn là điều tốt. Chỉ xấu, chỉ là tội, khi mình coi mình là nhất, đòi mình trên người khác hoặc trên Thiên Chúa, và xúc phạm người khác.
 
Không ai thoát cám dỗ, nhưng con người tự do trước cám dỗ, con người có thể không thuận theo cám dỗ. "Ví thử đường đời bằng phẳng cả, anh hùng hào kiệt có hơn ai?". "Ơn Ta đủ cho con" (2Cor.12, 8-9).
Chúa không hứa cho chúng ta khỏi bị cám dỗ, nhưng Chúa hứa sẽ giải phóng chúng ta, nếu chúng ta bám vào Ngài: "cứ xin thì được, tìm sẽ gặp, gõ cửa thì sẽ được mở cho" (Mt.7,7).
 
Thiên Chúa là tinh thần, Ngài mời gọi con người vươn lên Ngài qua những giá trị tinh thần con người thấy được qua lý trí.
 
II. Phép rửa khởi đầu đời sống mới
Dù chúng ta có thuộc về thế gian và ma qủy trong những chọn lựa ở qúa khứ, thì bây giờ Thiên Chúa mời gọi chúng ta trở lại, để chúng ta khởi đầu một đời sống mới, hầu chúng ta sống hạnh phúc.
 
Đức Giêsu đã chịu phép rửa ở sông Yordan (Mc.1, 9), và Ngài cũng đã chịu một phép rửa rất đặc biệt (Lc.12, 50). Mỗi người chúng ta cũng đã chịu phép rửa nhân danh Đức Giêsu, nhân danh Ba Ngôi Thiên Chúa (Mt.28, 19), chính phép rửa này đã làm chúng ta thành một thụ tạo mới.
 
Phép rửa đã làm chúng ta thuộc trọn về Thiên Chúa, chúng ta là tạo vật mới, được được Thiên Chúa cứu chuộc qua Đức Giêsu Kitô. Nhận phép rửa nhân danh Đức Giêsu, là dìm mình trong cái chết của Ngài và sống lại trong sự sống của Ngài.
 
Với phép rửa, Thiên Chúa ghi ấn tín trong tâm hồn chúng ta, dấu chỉ chúng ta thuộc về Thiên Chúa, chúng ta được Thiên Chúa yêu thương.
 
III. Giao ước biểu lộ tình yêu của Thiên Chúa
Con người là gì mà Thiên Chúa phải ký kết giao ước với! Chẳng lẽ người nặn bình gốm lại phải ký kết với bình gốm?
Thiên Chúa ký kết giao ước với con người, để không bao giờ tiêu diệt con người nữa! Ôi tình yêu của Thiên Chúa đối với con người thật tuyệt vời biết bao. Những gì Thiên Chúa đã nói, thì Ngài trung thành thực hiện, không bao giờ thất tín. Ngài vẫn trung thành dù con người có bất trung phản bội.
 
Tình thương của Thiên Chúa đối với con người, được thể hiện trong suốt dòng lịch sử. Lịch sử ghi dấu con người phản bội, nhưng lịch sử lại ghi dấu tình thương nhân từ tha thứ cho con người. Lịch sử, là lịch sử Thiên Chúa cứu độ con người.
 
Lịch sử đánh dấu những giao ước Thiên Chúa thực hiện đối với con người. Lịch sử cũng cho thấy Thiên Chúa điều khiển dòng lịch sử, can thiệp vào lịch sử dân Do thái để cứu dân, và qua đó cứu độ tất cả loài người.
 
Biến cố Đức Giêsu Kitô, là biến cố đỉnh cao cho thấy tình yêu của Thiên Chúa đối với con người. Cũng với chính Đức Giêsu, con người tìm được con đường để nên thánh, con người được bảo đảm mình được yêu thương và sẽ là thánh, được thuộc trọn về Thiên Chúa.
 
Đức Giêsu là Thiên Chúa nhập thể làm người. Ngài bị cám dỗ, Ngài vượt qua, "Ngài là đường, là sự thật và là sự sống". Ngài là thầy, và không có Ngài, không có ai là thầy đích thực. Nếu có ai trên trần gian này là thầy, là người đó được tham gia "chức thầy" của Đức Giêsu.
 
Chúa Giêsu là mẫu mực, là thầy dạy của chúng ta. Chúng ta hãy xin Chúa cho chúng ta được theo gương Ngài, được hoàn toàn tin tưởng và phó thác tất cả cho Ngài.


 

MC1-B107  Cám dỗ trong hoang địa – Cố Lm. Hồng Phúc

Hôm nay là Chúa nhật thứ nhất Mùa Chay. Tất cả lời Chúa hôm nay gồm tóm trong câu Chúa tuyên bố: MC1-B107

Hôm nay là Chúa nhật thứ nhất Mùa Chay. Tất cả lời Chúa hôm nay gồm tóm trong câu Chúa tuyên bố trong bài Phúc âm: “Thời giờ đã mãn và Nước Thiên Chúa đã gần đến. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.”
 
Trước hết, thời giờ đã mãn, Nước Trời sắp đến. Mùa Chay là mùa hy vọng, mùa tình thương. Thánh Phaolô, trong Thư gửi Giáo đoàn Roma, đã nói lên một câu khiến cho chúng ta tràn đầy hy vọng: “Ở đâu tội lỗi tràn ngập thì ơn Chúa đã dồn mọi người hết thảy vào đàng bất tuân (tội lỗi), ngõ hầu Người dủ lòng thương hết mọi người” (Rom 11, 32).
 
Thánh Phêrô, trong bài đọc hôm nay có tính cách như một bài giáo huấn cho tân tòng sắp chịu phép rửa tội, cũng nói lên ơn cứu chuộc tràn đầy rằng: “Chúa Kitô đã chết một lần cho tội lỗi chúng ta… thay cho chúng ta là kẻ bất công, để hiến dâng chúng ta cho Thiên Chúa.” Ám chỉ phép rửa tội, Thánh Tông đồ nhắc lại sự tích ông Noe xưa, vâng lời Chúa đóng một chiếc tàu giữa tiếng bàn tán, dị nghị, chế riễu, nhưng nhờ đó mà gia đình ông được cứu sống. Thì ngày nay, nhờ phép rửa tội chúng ta cũng được cứu thoát, nhờ công nghiệp Chúa Kitô phục sinh. Ngài đã thắng sự chết và tội lỗi để ban cho chúng ta sự sống của chính Thiên Chúa. Ở đâu tội lỗi tràn ngập thì ơn Chúa cũng tràn đầy.
 
Trong ba tường thuật của Phúc Âm nhất lãm về việc Chúa bị ma quỉ cám dỗ, Phúc Âm của Marcô ngắn gọn và chỉ có ý đưa dẫn đến sứ vụ Tông đồ của Chúa. Ngài chỉ viết: “Thánh Thần thúc đẩy Chúa Giêsu vào hoang địa và Ngài ở đó suốt bốn mươi đêm ngày, chịu sata cám dỗ, sống chung với dã thú và các Thiên Thần hầu hạ Ngài”.
 
Hoang địa hay sa mạc là chốn thinh không, là nơi không có tiếng nói ngoài tiếng gió vi vu hay tiếng kêu cầm thú. Một nơi im lặng nhưng không phải là không có tiếng kêu cầm thú. Một nơi im lặng nhưng không phải là không có tiếng nói và có nhiều thứ tiếng nói sẽ vọng lên. Tiếng nói của chính lương tâm mình, tiếng nói của dĩ vãng, của một đoạn đời đã qua, một khoảng đời sắp tới. Nhất là tiếng nói của Chúa, vì “Người thích nói trong im lặng”. Vì thế, ngày xưa bao nhiêu vị Thánh đã vào trong hoang địa Thebes bên Ai cập để sống đời khổ tu, hoặc như Thánh Hiêrônimô xa lánh sự ồn ào thành phố Lamã để vào trong sa mạc gần Nagiarét suy niệm Thánh Kinh.
 
Nhưng hoang địa cũng là nơi thần bí, như lời Chúa phán: “Khi tà thần ra khỏi người nào, thì nó đi dong dài những nơi khô cháy tìm chỗ nghỉ ngơi…”. Trong chốn thinh không im lặng, ma quỉ thường hay hoạt động, quấy phá. Ma quỉ đã hiện ra nhiều lần dưới nhiều hình quái ghê sợ để buộc Thánh Antôn bỏ cuộc nhưng ngài đã xua đuổi và trở nên tổ phụ đời sống tu trì. Về đêm, trong im lặng, ma quỉ quấy phá Thánh Vianney trong 35 năm.
 
Sở dĩ như vậy vì trước đây, Marcô nói, “Thánh Thần thúc đẩy Chúa Giêsu vào hoang địa và Ngài ở đó bốn mươi đêm ngày, chịu satan cám dỗ”. Vị Thánh Sử không nói đến diễn tiến của cuộc cám dỗ nhưng chúng ta cũng hiểu được qua các cuộc đương đầu với ma quỉ trong khi Ngài ra giảng đạo. Marcô còn thêm một chi tiết: Ngài sống chung với dã thú và các Thiên Thần hầu hạ Ngài. Phải chăng Marcô muốn ám chỉ quang cảnh an bình mà Chúa Giêsu, vị Adam mới, đã sống. Ngài đã toàn thắng con rắn hoả ngục dữ tợn muốn cám dỗ Ngài bỏ cuộc, và mở cửa trời cho chúng ta vào hưởng hạnh phúc với các Thiên Thần.
Sau cùng, lời rao giảng của Chúa Giêsu gồm tóm trong hai điểm: Hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng. Ta phải ăn năn sám hối tội lỗi. Đó là phần tiêu cực của mọi cuộc trở lại. Nhưng không phải chỉ có thế, có biết bao nhiêu đạo giáo còn đòi hỏi sự hảm mình phạt xác hơn chúng ta. Nhưng điều tích cực là TIN vào Chúa Kitô, chỉ có Chúa mới có thể cứu vãn chúng ta. Đức tin và sám hối là hai yếu tố của mọi cuộc trở lại.
 
Charles de Foucaul đến gặp một vị linh mục quen là cha Huvelin và tâm sự: Từ ngày lên 15 tuổi, tôi như mất đức tin. Cha Huvelin nhìn con người về từ sa mạc đó và nói: Anh hãy quì xuống xưng tội đi đã. Foucauld đã vâng lời, khiêm tốn làm việc sám hối. Và từ đó, đời của vị sĩ quan ấy đã hoàn toàn đổi mới. “Khi tôi vừa hiểu rằng có một Thiên Chúa thì tôi cũng hiểu rằng tôi không thể làm gì khác hơn là chỉ sống vì Người”.
 
“Hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng.”

 

MC1-B108 Đức Giêsu trong hoang địa

(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Thể Hiện)
 

Bài Tin Mừng hôm nay (Mc 1,12-15) gồm hai phần: Đức Giêsu ở trong hoang địa (cc.12-13) và: MC1-B108

Bài Tin Mừng hôm nay (Mc 1,12-15) gồm hai phần: Đức Giêsu ở trong hoang địa (cc.12-13) và Đức Giêsu khai mạc công việc rao giảng (cc.14-15). Vì chúng ta mới suy niệm cc.14-15 trong Chúa Nhật III Thường Niên, nên hôm nay, bài suy niệm này sẽ chỉ tập trung vào phần nói về sự kiện Đức Giêsu ở trong hoang địa. Và những gì sắp được trình bày trong bài suy niệm này sẽ chỉ là một trong những cách hiểu có thể có về sự kiện ấy theo cách diễn tả của tác giả Mc.
 
Câu chuyện xảy ra ngay sau khi Đức Giêsu chịu phép rửa tại sông Giorđan: “Thần Khí liền đẩy Người vào hoang địa. Người ở trong hoang địa bốn mươi ngày, chịu Satan cám dỗ, sống giữa loài dã thú, và có các thiên sứ hầu hạ Người” (cc.12-13).
 
Thần Khí, sức mạnh của Thiên Chúa, “đẩy” Đức Giêsu vào hoang địa. “Đẩy” ở đây là một ẩn dụ chỉ sự thúc đẩy thần linh mà Đức Giêsu trải nghiệm; đó là sự thúc đẩy bên trong, mạnh mẽ, không thể cưỡng lại được. Sức mạnh của Thần Khí tràn ngập nơi Đức Giêsu và đặt Người, một cách chắc chắn, vào trong “hoang địa”. Và vì là tác động thần linh của chính Thiên Chúa, sự thúc đẩy và đặt để đó hẳn nhiên sẽ phù hợp với chương trình của Thiên Chúa về Đức Giêsu. Chương trình đó đã từng được tác giả Mc trình bày ngay từ những dòng đầu tiên của cuốn sách như một con đường (1,2). “Hoang địa” mà Thần Khí đẩy Đức Giêsu vào, vì thế, là nơi chốn mà ở đó Người phải thực hiện cuộc hành trình của Người.
 
Về bản chất, hoang địa này khác hẳn hoang địa của ông Gioan Tẩy Giả. Trong trường hợp của ông Gioan, đó là một nơi chốn địa dư, gần sông Giorđan, không dân cư và tách biệt hẳn xã hội con người; nhưng khi ông Gioan ở đó thì xảy đến hàng loạt những hoạt động do sự xuất hiện của các thành phần xã hội từ bên ngoài kéo đến: ông giảng dạy, ông làm phép rửa và người ta lãnh ơn tha thứ… Còn hoang địa mà Thần Khí đẩy Đức Giêsu vào thì không được xác định rõ ràng. Đức Giêsu đi vào trong hoang địa này bởi tác động của Thần Khí, ở lại đó trong một giai đoạn dài và thuần nhất (40 ngày), chịu cám dỗ, sống giữa các loài dã thú và được các thiên sứ phục vụ. Tác giả không kể bất cứ hoạt động nào của Người, kể cả việc cầu nguyện và ăn chay. Trong hoang địa này, bên cạnh Đức Giêsu, có sự hiện diện của ba loại “cư dân”: Satan, các loài dã thú và các thiên sứ. Tính chất và sự hiện diện đồng thời của ba loại “cư dân” này quanh Đức Giêsu khiến cho hoang địa này không còn mang tính chất địa dư – lịch sử nữa, mà là một hình ảnh ẩn dụ mang tính biểu tượng – thần học.
 
Đức Giêsu, theo chương trình của Thiên Chúa, đang thực hiện cuộc hành trình của Người, đang đi trên con đường của Người (x.1,2). Đỉnh điểm của cuộc xuất hành của Người sẽ là biến cố tử nạn – phục sinh. Xưa, hoang địa là nơi chốn của cuộc xuất hành của dân Israel đi về đất hứa. Nay, “hoang địa” cũng là nơi chốn diễn ra cuộc hành trình hướng đến biến cố tử nạn – phục sinh của Đức Giêsu. Sự kiện Người sẽ ở trong hoang địa bốn mươi ngày (c.13) củng cố cho cách hiểu này. Mà nếu thế thì “hoang địa” nói đây chính là cái xã hội – tôn giáo Do Thái, trong đó Đức Giêsu sống và hoạt động cho đến khi Người bước vào cuộc tử nạn – phục sinh của Người. Chính Thần Khí đẩy Người đi vào trong cái xã hội – tôn giáo đó.
 
Nhưng hoang địa, tự bản chất, là hình ảnh của một nơi chốn tách biệt khỏi xã hội. Trong trường hợp của Đức Giêsu, sự tách biệt này, vì thế, phải được hiểu theo nghĩa của sự tách biệt về các nguyên tắc và giá trị. Đức Giêsu ở trong “hoang địa”, tức là Người tuyệt đối không chia sẻ các giá trị giả dối và sai lầm của cái xã hội – tôn giáo Do Thái và không chấp nhận những nguyên tắc và giá trị đó. Có một sự cắt đứt, một sự đoạn tục, một sự tách lìa giữa Đức Giêsu với các nguyên tắc và giá trị đó. Tính chất của ẩn dụ “hoang địa” cho phép chúng ta hiểu như thế.
 
Bắt đầu Mùa Chay thánh, chúng ta cũng đang được Thần Khí đẩy vào “hoang địa” để thực hiện cuộc xuất hành của chính mình và của cộng đoàn mình. Đối với tuyệt đại đa số chúng ta, đây sẽ không phải là một hoang địa theo nghĩa nơi chốn địa dư, mà là theo nghĩa biểu tượng – thần học. Đó là nơi chúng ta thực hiện cuộc hành trình đời mình như dân Israel xưa thực hiện cuộc hành trình đi từ cõi nô lệ Ai Cập về miền đất hứa “chảy tràn sữa và mật”. Đó là nơi xảy đến cuộc xuất hành của chúng ta, cuộc xuất hành đưa chúng ta vào trong đất hứa là Nước Thiên Chúa. Hoang địa, theo nghĩa đó, là chính môi trường sống và làm việc cụ thể của chúng ta trong hiện tại.
 
Nhưng “hoang địa” mà Thần Khí đang đẩy chúng ta vào cũng có nghĩa là một chốn tách biệt, như xưa đã xảy ra với Đức Giêsu. Trong ý nghĩa sự “đi vào hoang địa” là biểu tượng cho một sự tách biệt, một sự giữ khoảng cách đối với những nguyên lý và giá trị sai lầm đang chi phối xã hội, thì việc Đức Giêsu vào hoang địa, như chúng ta đã nói, là việc Người không chấp nhận hành xử theo các nguyên lý và giá trị sai lầm của xã hội và tôn giáo Do Thái đương thời. Đối với chúng ta cũng vậy. Thần Khí đang đẩy chúng ta vào hoang địa, cách riêng là trong Mùa Chay thánh này, tức là Thần Khí thúc đẩy chúng ta không thỏa hiệp và không sống theo những nguyên lý và giá trị tầm thường thế gian, ngay trong những môi trường xã hội và môi trường làm việc hiện tại của chúng ta: những ý thức hệ sai lạc, những giá trị ảo của chủ nghĩa hưởng thụ, hay những não trạng duy vật và duy khoái lạc…
 
Đức Giêsu đã làm theo sự thúc đẩy của Thần Khí. “Người ở trong hoang địa bốn mươi ngày, chịu Satan cám dỗ, sống giữa loài dã thú, và có các thiên sứ hầu hạ Người” (c.13).
Trong Cựu Ước, con số “bốn mươi” thường được dùng để chỉ một giai đoạn trong đó diễn ra một tình trạng thuần nhất nào đó như thời hòa bình hay thời của một triều đại… Thí dụ trong Tl 3,11; 5,31; 8,28; 13,1; 2V 8,17; 12,2 chẳng hạn. Một điều chắc chắn là con số bốn mươi luôn ám chỉ đến bốn mươi năm con cái Israel đi trong hoang địa, tức là giai đoạn họ đi từ chốn nô lệ Ai Cập về đất hứa (x. Ds 14,33.34; 33,38; Đnl 1,3; 2,7; 29,4; Gs 14,17; Tv 95,10; Am 2,10; 5,25…). Vì thế, chi tiết “Đức Giêsu ở trong hoang địa bốn mươi ngày” rõ ràng mang giá trị biểu tượng, chỉ về cuộc xuất hành của Người, tức là cuộc hành trình đưa Người đi đến đỉnh điểm là cuộc tử nạn và phục sinh của Người.
 
Trong “hoang địa”, Đức Giêsu chịu Satan cám dỗ suốt bốn mươi ngày. “Satan” là một hạn từ Hípri. Thoạt kỳ thủy, hạn từ này về căn bản có nghĩa là một kẻ chống đối hay một đối thủ chuyên cáo tội trong các vụ án (x. Tv 109,6; 1Mcb 1,36). Từ đó nó có nghĩa chỉ về một thành viên của triều đình thiên thai, chuyên cáo tội con người trước mặt Thiên Chúa (x. G 1,6-12; 2,1-7). Vào thời Đức Giêsu, người ta không còn nghĩ Satan là một thành viên của triều đình thiên thai nữa, nhưng có thể hiểu như là một tinh thần thù nghịch của con người, luôn tìm cách đẩy con người đến chỗ sai lạc và luôn muốn tàn phá công trình của Thiên Chúa. Trong cái xã hội Do Thái được ẩn dụ trong bài Tin Mừng bằng hình ảnh “hoang địa”, thì Satan, trong vai kẻ cám dỗ Đức Giêsu, chính là những thế lực/nhân vật liên tục tìm cách làm cho Đức Giêsu phản bội lại chương trình của Thiên Chúa về Người. Trong Mc 8,33 Đức Giêsu sẽ gọi Phêrô là Satan vì ông ta ngăn cản Đức Giêsu thực hiện chương trình của Thiên Chúa và muốn Người đi theo “tư tưởng của loài người”. Trong cuộc đời hoạt động công khai của Người trước khi đi vào cuộc tử nạn – phục sinh, giữa “hoang địa” là xã hội và tôn giáo Do Thái, Đức Giêsu sẽ phải liên tục đối diện với những thế lực/nhân vật như thế. Bài Tin Mừng hôm nay gọi là “Người chịu Satan cám dỗ”.
 
Loại “cư dân” thứ hai trong “hoang địa” mà bài Tin Mừng hôm nay nhắc đến, là các loài dã thú: Đức Giêsu “sống giữa loài dã thú”. Thông thường, các loài dã thú được hình dung trong đặc điểm hung dữ của chúng: chúng tấn công và thậm chí ăn thịt con người. Vì thế, trong các sách ngôn sứ, ẩn dụ dã thú thường được dùng để nói về tai ương, ví dụ trong Is 18,6; 56,9; Gr 7,33; 12,9; 16,4; Ed 32,4; 34,5. Nhưng rõ ràng đó không phải là trường hợp của Mc 1,13. Có một bản văn ngôn sứ nói về tình trạng tốt lành của việc sống chung với dã thú, là bản văn Is 11,6-9. Nhưng nếu chúng ta chấp nhận cách hiểu ẩn dụ “hoang địa” ở đây ám chỉ xã hội Do Thái đương thời và “các loài dã thú” là một thành phần trong đó, thì cũng rõ ràng là không thể hiểu Mc 1,13 dựa theo Is 11,6-9 được.
 
Trong số các bản văn Cựu Ước sử dụng ẩn dụ dã thú, đáng chú ý là Đn 7. Trong đó, các dã thú là ẩn dụ chỉ những quyền lực chính trị kinh khủng của các đế quốc ngoại giáo. Hiểu như là một thành phần trong khung cảnh xã hội Do Thái (“hoang địa”), theo nghĩa tương tự như trong Đn 7, các loài dã thú ở đây là ẩn dụ của những thế lực và ảnh hưởng chính trị khác nhau của các phong trào và các ý thức hệ khác nhau. Đó là những thứ quyền lực chính trị – xã hội – tôn giáo áp bức, hay ít là gây sức ép, trên những con người đang sống trong xã hội đó. Chúng tác động trên con người, từ bên ngoài; và chúng sẽ thi thố sức mạnh của mình, ít là về mặt thể lý, để đẩy Đức Giêsu đến cái chết thảm thương trên thập giá sau này. Đức Giêsu “sống giữa loài dã thú” tức là chấp nhận làm đối tượng mà các thứ quyền lực ấy nhắm đến và không ngừng tìm cách tác động, gây ảnh hưởng.
 
Loại “cư dân” thứ ba trong “hoang địa” mà Mc 1,13 nói đến là các “thiên sứ” (aggelos). Trong Tin Mừng Mc, lần đầu tiên “thiên sứ” được nói đến, chính là ở 1,2. Và hình ảnh của aggelos đó được thể hiện một cách cụ thể – lịch sử nơi Gioan Tẩy Giả (1,4). Như thế, trong Mc, “aggelos” vẫn có thể là con người chứ không nhất thiết phải là hữu thể thiêng liêng. Nếu chúng ta chấp nhận cách giải thích phía trên về ba hình ảnh “hoang địa”, “Satan” và “dã thú”, thì chúng ta cũng sẽ dễ dàng chấp nhận cách giải thích, theo đó, ẩn dụ “các thiên sứ” ở đây ám chỉ một nhóm người nào đó trong cuộc đời hoạt động công khai của Đức Giêsu. Nhóm này có chức năng cộng tác với Đức Giêsu, kể cả việc phục vụ Người. Vậy, có thể hiểu “các thiên sứ” ở c.13 là hình ảnh ẩn dụ của những con người gắn bó với Đức Giêsu, giúp đỡ Người khi Người thi hành sứ vụ và cộng tác với Người trong công cuộc của Người. Đức Giêsu chấp nhận sự phục vụ của các thiên sứ trong hoang địa có nghĩa là người chấp nhận sự phục vụ, giúp đỡ và cộng tác của những con người đó trong khi Người thực hiện chương trình cứu độ của Thiên Chúa.
 
Tóm lại, trong phần đầu bài Tin Mừng hôm nay, tác giả Mc đã sử dụng những hình ảnh ẩn dụ rất phong phú và sâu sắc. Tất nhiên, cách giải thích vừa được trình bày vẫn chỉ là một trong những cách hiểu về những hình ảnh được tác giả Mc sử dụng. Nhưng dù sao, trong khung cảnh của phụng vụ Chúa Nhật I Mùa Chay hôm nay, cách hiểu này gợi ý cho chúng ta nhiều suy tư thiết nghĩ là rất đáng chú ý, liên quan đến cuộc sống và việc thi hành sứ mạng của các Kitô hữu chúng ta. Chúng ta được mời gọi hãy để cho chính Chúa Giêsu (như được khắc họa trong bài Tin Mừng hôm nay) nói với chúng ta về những gì chúng ta phải sống cách đặc biệt trong Mùa Chay thánh này.
 
“Thần Khí đẩy Người vào hoang địa. Người ở trong hoang địa bốn mươi ngày, chịu Satan cám dỗ, sống giữa loài dã thú, và có các thiên sứ hầu hạ Người” (Mc 1,12-13).

 

MC1-B109 Ăn chay – Lm. Vũ Đình Tường

Có người ăn chay nhưng không hãm mình. Có người hãm mình nhưng không ăn chay. Có  MC1-B109

Có người ăn chay nhưng không hãm mình.
Có người hãm mình nhưng không ăn chay.
Có người vừa ăn chay vừa hãm mình.
Có người không chay cũng chẳng hãm.
Ăn chay và hãm mình thuộc về tâm hồn, nội tâm. Thực tâm đến mức nào chỉ mình mình biết, mình mình hay. Ăn chay hãm mình thật phải là việc làm tự nguyện, thành tâm và làm với lòng mến. Ăn chay thực cần đi đôi với hãm mình. Thiếu hãm mình không thể nào là ăn chay vì bản chất của chay tịnh là tự chế, tự chủ. Tuy nhiên không phải tất cả các tự chế, tự chủ đều là ăn chay. Do vậy người ta có thể hãm mình nhưng không cần ăn chay. Ăn chay thiếu hãm mình là ngoài mặt ăn chay nhưng tâm nghĩ mặn.
Nói đến ăn chay chúng ta nghĩ đến việc kiêng ăn, kiêng uống. Sự việc không đơn giản thế. Ăn chay là việc làm tự nguyện, tự chủ và làm với lòng yêu mến Thiên Chúa. Điều răn quan trọng nhất Chúa Giêsu dậy là: Mến Chúa hết sức, hết linh hồn, hết trí khôn và yêu thương anh em như chính mình. Toàn thể con người từ trong ra ngoài đều thể hiện lòng mến và việc làm đi đôi với yêu tha nhân. Ngoài việc kiêng ăn, bớt uống và hạn chế hút sách chúng ta cần kềm hãm các giác quan khác trong con người.
Hãm mắt nhìn sự việc xấu.
Hãm tai nghe điều tệ hại.
Hãm miệng nói điều chua ngoa, gian xảo.
Hãm chân đi đến những nơi tồi bại.
Hãm tay làm những việc bất công.
Hãm óc nghĩ đến những tư tưởng gian tà.
Hãm cảm nhận những cảm xúc bất chính.
Hãm chiều theo đòi hỏi của thân xác.
Hãm không cho cái tôi làm chủ.
Ăn chay chính là làm chủ con người anh em. Mọi tư tưởng lời nói, việc làm và ngay cả cảm xúc đều bị kềm hãm. Trước đây anh em nghe theo chúng giờ đây bắt chúng phải lắng nghe lời anh em. Chúng phải làm theo mệnh lệnh của anh em. Chúng phải là công cụ phục vụ anh em để điều răn Chúa dậy được thể hiện trong cuộc sống của anh em đó là mến Chúa và yêu tha nhân.
Như thế ăn chay có giới hạn nhưng hãm mình thì vô hạn vì lúc nào con người cũng cần làm chủ đời mình.

 

MC1-B110 CHÚA GIÊSU BỊ CÁM DỖ

http://www.simonhoadalat.com/Suyniem/chunhat/NamB/NamB.html
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT
CHÚA NHẬT I MÙA CHAY, năm B
St 9,8-15 1Pr 3, 18-22  Mc 1, 12-15
 

Lansperge le Chartreux viết :” Tất cả những gì Chúa Giêsu đã muốn làm và chịu đau khổ, là để giáo:  MC1-B110 DALAT

Lansperge le Chartreux viết :” Tất cả những gì Chúa Giêsu đã muốn làm và chịu đau khổ, là để giáo huấn chúng ta, để uốn nắn chúng ta và để sinh ích cho chúng ta. Vì Người biết rằng chúng ta sẽ rút ra được nhiều hoa trái cho sự hiểu biết, và điều đó sẽ khích lệ chúng ta.Người đã không muốn bỏ qua một cái gì có thể có lợi ích cho chúng ta”. Chúa nhật thứ nhất mùa chay…
Lại bắt đầu một cuộc hành trình đức tin với Đức Giêsu Kitô. Bởi vì, mùa chay mời gọi mọi Kitô hữu cải thiện đời sống, đổi mới để lãnh nhận ân sủng của Thiên Chúa. Mùa chay dẫn người tín hữu của Chúa đi vào mầu nhiệm chết và phục sinh của Chúa Giêsu.  Do đó, mùa chay là mùa Thiên Chúa ban hồng ân cách đặc biệt, nhưng đồng thời mùa chay cũng mời gọi chúng ta cải thiện đời sống, đổi mới cuộc đời, thay đổi lối sống tốt hơn, cởi bỏ con người cũ để mặc lấy Đức Kitô.
 
Khai mạc sứ vụ công khai rao giảng nước Thiên Chúa bằng phép rửa bởi tay Gioan Tẩy Giả, Chúa Giêsu đã kêu gọi các môn đệ xung quanh Ngài, Chúa Giêsu đã hướng về Giêrusalem. Chúa Giêsu đã cho nhân loại thấy rõ ý định của Cha Ngài. Bởi vì Thiên Chúa Cha sai Ngài đến trần gian không phải để làm theo ý của mình mà là làm theo ý của Chúa Cha. Cả cuộc đời của Ngài là chuẩn bị cho sự chết để cứu độ nhân loại và phục sinh để làm vinh danh Thiên Chúa Cha. Do đó, ngay từ khi còn ở trong cung lòng Đức Trinh nữ Maria, Chúa Giêsu đã sẵn sàng cho cuộc hành trình của Ngài dẫn đến thánh giá, và khi đi vào cuộc đời rao giảng Chúa Giêsu đã chuẩn bị bằng cuộc ăn chay, hãm mình 40 đêm ngày trong hoang địa. Đây là cuộc chuẩn bị rất kỹ càng, Ngài đã kết hợp mật thiết với Chúa Cha để nghe Lời Chúa Cha và thực hiện ý Chúa Cha. Chúa Giêsu đã chuẩn bị cho cuộc hành trình bằng cuộc hành trình vượt qua hay là mầu nhiệm vượt qua. Trong thánh lễ lúc tuyên xưng đức tin chúng ta đọc rõ ràng :” Con tuyên xưng Chúa đã chết đi, con tuyên xưng Ngài đã sống lại…” và “ Lạy Chúa Cứu Thế, Chúa đã chịu khổ hình thập giá và sống lại vinh quang để giải thoát muôn người, xin cứu độ chúng con “.
 
Chúa Giêsu đã nhận phép rửa của Gioan ở sông Giorđan. Đây là phép rửa sám hối, xin ơn tha tội. Chúa làm thế để nói cho nhân loại Ngài cảm thông với nỗi yếu hèn của con người.Và từ đó chúng ta qua bí tích rửa tội được chia sẻ mầu nhiệm vượt qua của Chúa Giêsu.Thánh Phêrô trong thứ thứ nhất của Người nhấn mạnh:” Chúng ta được cứu rỗi, được tẩy sạch tội lỗi qua phép rửa tội như Thiên Chúa đã cứu ông Noe và gia đình ông khỏi nạn đại hồng thủy “. Phép rửa đem lại bình an và ơn tha thứ :” Bằng sự chết, Ngài đã phá hủy sự chết của chúng ta; bằng sự sống lại, Ngài phục hồi sự sống của chúng ta “. Con người thật yếu đuối,quyết tâm đó nhưng rồi lại luôn sa ngã, tuy nhiên Chúa luôn yêu thương và giải thoát chúng ta qua bí tích giải tội. Bí tích giao hòa đem chúng ta thiết lập lại giao ước tình yêu của chúng ta đối với Chúa khi chúng ta chịu phép rửa.
 
Mùa chay là thời gian quay trở về, là thời gian hồi tâm để nhìn vào Chúa hơn là nhìn vào mình. Nhìn vào Chúa để thấy mình con quá khiếm khuyết phải cố gắng vươn tiến.Mùa chay cũng là lúc dừng lại để nhận ra những cạm bẫy, những thử thách, những cám dỗ đang bủa vây xung quanh chúng ta. Tỉnh thức để dễ dàng tránh những cạm bẫy. Cầu nguyện để không sa bẫy của ma quỷ. Chính Chúa Giêsu cũng luôn phải cảnh tỉnh :” Người ở trong hoang địa bốn mươi ngày, chịu Satan cám dỗ “ ( Mc 1, 13 ). Chính vì thế, chúng ta phải biết cậy dựa vào Chúa.
Đời là một cuộc chiến đấu liên lỉ, có Chúa chúng ta sẽ luôn đứng vững.Chúa kêu gọi :” Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng “. Chúng ta tin vào Thiên Chúa, tin vào ơn cứu rỗi, tin vào sự sống Chúa mang đến, do đó, chúng ta sẵn sàng sám hối.
 
Lansperge le Chartreux thuật tiếp :” …Người đã được dẫn vào nơi hoang địa, chắc chắn là do bởi Chúa Thánh Thần. Quả thật, Thánh THần đã muốn dẫn người vào đó, nơi mà ma quỷ có thể gặp Người và dám đến gần người để cám dỗ …Điều thứ nhất chúng ta học được ở đây, đó là “ cuộc sống con người trên mặt đất này là một cuộc chiến không ngừng. Bài học thứ hai là Đức Kitô đã muốn làm gương cho chúng ta, là chúng ta sẽ không dễ dàng hứng chịu cơn cám dỗ.Ý thức được sự yếu hèn của chúng ta, chúng ta sẽ cố gắng không bước vào cơn cám dỗ, chúng ta sẽ cầu nguyện và xa tránh những cơ hội dễ bị cám dỗ “.
 
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ  :
 
1.Mùa chay là mùa gì ?
2.Tại sao Chúa Giêsu lại chịu để cho Gioan Tẩy Giả rửa tội cho mình ở dòng sông Giođan ?
3.Chúa Giêsu bị ma quỷ cám dỗ điều gì ?
4.Cái nặng nhất ma quỷ cám dỗ Chúa Giêsu là điều gì ?
5.Chúa Giêsu chiến thắng ma quỷ nhờ ai ?

 

MC1-B111  CHÚA NHẬT I MÙA CHAY

Cuộc đời Ki-tô hữu đầy cám dỗ và chống trả
 
Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Mác-cô 1:12-15)
 

Có một điều khiến chúng ta thắc mắc không ít, là khác với hai trình thuật tương tự của thánh Mát-thêu: MC1-B111 

Có một điều khiến chúng ta thắc mắc không ít, là khác với hai trình thuật tương tự của thánh Mát-thêu và Lu-ca kể lại việc Chúa Giê-su bị cám dỗ trong sa mạc, đoạn Tin Mừng Mác-cô hôm nay chỉ nhắc tới biến cố chứ không thuật lại chi tiết cuộc cám dỗ như thế nào.  Trong vỏn vẹn hai câu Kinh Thánh với những hình ảnh sống động, Mác-cô đã trình bày bối cảnh cuộc đời và sứ vụ của Chúa Giê-su.  Đang khi thi hành sứ mệnh cứu độ nhân loại, Chúa Giê-su không tránh khỏi những cám dỗ.  Tuy nhiên bên cạnh những phấn đấu chống trả, Chúa Giê-su cũng đã nhận được những an ủi trợ giúp của Thiên Chúa.  Người chính là gương mẫu cho cuộc đời Ki-tô hữu chúng ta trước những thử thách của ma quỷ và cám dỗ.
                Biến cố Chúa Giê-su chịu phép rửa của Gio-an khởi đầu cho sứ vụ của Người dưới sự dẫn dắt của Thánh Thần.  Thánh Thần đã ngự xuống trên Đức Trinh Nữ ngày Truyền Tin để Ngôi Lời được làm người, giờ đây vẫn tiếp tục “đẩy” Chúa Giê-su vào hoang địa.  Khung cảnh hoang địa vẽ ra một không gian đầy thử thách, ở đó Chúa Giê-su sẽ thi hành sứ vụ rao giảng Tin Mừng và sẽ tiêu diệt sức mạnh của Xa-tan để mở mang Triều Đại Thiên Chúa.  Bốn mươi ngày, con số tròn đầy nói lên tất cả khoảng thời gian cuộc đời trần thế của Chúa Giê-su.  Vậy trong khoảng thời gian và không gian ngắn ngủi ấy, cuộc đời Chúa Giê-su sẽ như thế nào? Thánh Mác-cô trả lời:  Người chịu Xa-tan cám dỗ, sống giữa loài dã thú, và có các thiên sứ hầu hạ Người.
                Chúng ta thử suy nghĩ thêm một chút ba cái nhìn về cuộc đời công khai của Chúa Giê-su.  Trước hết, “Người chịu Xa-tan cám dỗ”.  Xa-tan cám dỗ không chỉ là một vài dịp đặc biệt, nhưng là cả một tình trạng kéo dài suốt cuộc đời, có khi khá yên lặng, có khi nổi lên như cơn bão táp.  Cám dỗ Chúa Giê-su chịu là thứ cám dỗ Người hãy hành động theo ý riêng và kế hoạch riêng của Người, chứ đừng theo kế hoạch của Thiên Chúa.  Người bị cám dỗ hãy đi con đường tắt quyền năng Thiên Chúa mà cứu độ nhân loại, thay vì phải “bị nộp, bị giết và sống lại ngày thứ ba”.  Người bị cám dỗ khi dân chúng định bắt người phải làm vua sau những phép lạ được thực hiện để tỏ ra tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa.  Người bị cám dỗ khi chính những môn đệ thân tín can gián Người đừng lên Giê-ru-sa-lem để chịu cuộc Thương khó.  Và cơn cám dỗ cuối cùng trên thập giá, Người đã không dùng quyền năng Thiên Chúa để “bước xuống khỏi thập giá” cho thiên hạ tin Người là Con Thiên Chúa!
                Thứ hai, “Người sống giữa loài dã thú”.  Bên cạnh những thử thách của ma quỷ là những thử thách của thế gian này.  Đúng vậy, thế gian này đầy dã thú, không phải trong rừng rú, nhưng ngay bên cạnh chúng ta.  Ma quỷ đội lốt dã thú “như sư tử gần thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé” (1 Phê-rô 5:8).  Những quyến rũ của thế gian cũng mang hình dã thú để sẵn sàng tấn công chúng ta.  Đặc biệt đối với Chúa Giê-su, dã thú chính là những chống đối của kẻ thù trước giáo lý và gương sống của Người.  Đã bao lần Chúa Giê-su phải “thở dài”, thậm chí “giận dữ” trước thái độ ngoan cố của kẻ thù Người, vì họ không muốn nhìn nhận sứ mệnh của Người và chống lại Thiên Chúa.
                Thứ ba, “có các thiên sứ hầu hạ Người”.  Cuộc đời Chúa Giê-su đâu phải chỉ có bóng đêm!  Nhưng còn có tình yêu và sự trợ giúp của Thiên Chúa dưới hình thức “các thiên sứ hầu hạ”.  Phải, đây chỉ là cách nói diễn tả những an ủi nâng đỡ Thiên Chúa dành Con Một Người cũng như cho tất cả những ai trung thành chiến đấu chống lại cám dỗ.
                Trong một bối cảnh sôi động ấy, Chúa Giê-su đã thi hành sứ mệnh “Rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa” và khai mở “Triều Đại Thiên Chúa”!
Sống sứ điệp Tin Mừng
                Thật tuyệt vời khi Phụng vụ Lời Chúa đầu mùa Chay trình bày cuộc đời công khai của Chúa Giê-su như một mẫu gương cho cuộc đời Ki-tô hữu chúng ta.  Chúa Giê-su đã chiến thắng cám dỗ vì chúng ta, hoặc nói như thánh Phê-rô, “Đức Ki-tô đã chịu chết một lần vì tội lỗi, hầu dẫn đưa chúng ta đến cùng Thiên Chúa” (bài đọc 2).  Người là “Đầu” của chúng ta và đã chiến thắng vinh quang, thì chúng ta là chi thể cũng phải như vậy!
              Lm. Đa-minh Trần đình Nhi
 

MC1-B112   Sống tinh thần mùa Chay với Chúa Giê-su

CHÚA NHẬT I MÙA CHAY
 Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Mác-cô 1:12-15)
 

Bài Tin Mừng thật ngắn gọn hôm nay cho chúng ta hai hình ảnh về Chúa Giê-su:  Người chịu cám: MC1-B112  

Bài Tin Mừng thật ngắn gọn hôm nay cho chúng ta hai hình ảnh về Chúa Giê-su:  Người chịu cám dỗ trong hoang địa và Người ra đi rao giảng Tin Mừng.  Với ít nét chấm phá, thánh sử Mác-cô đã có thể trình bày chân dung rất sống động của Chúa Giê-su.  Chúng ta cùng chiêm ngưỡng hình ảnh Chúa, nhưng cũng không quên tự hỏi Phụng vụ Lời Chúa hôm nay muốn nói gì với chúng ta khi đưa đoạn Tin Mừng này vào phần bài đọc.
                Chúa Giê-su trong hoang địa không phải là một khung cảnh thiếu màu xanh cây cỏ hay sự sống động vật như chúng ta thường thấy.  Trái lại ở đấy có sự hiện diện của Thánh Thần, Đấng đã “đẩy” Chúa Giê-su vào hoang địa và ở lại để hướng dẫn Người.  Đối đầu với Thánh Thần là Xa-tan, kẻ cám dỗ.  Bên cạnh hai “lực lượng” chủ yếu này, còn có những nhân vật phụ như loài dã thú và các thiên sứ.  Nếu các loài dã thú hùa với Xa-tan để áp đảo Chúa Giê-su, thì phía bên này lại có các thiên sứ hiệp với Thánh Thần sẵn sàng yên ủi và hầu hạ Chúa Giê-su.  Chúa Giê-su đang ở giữa mặt trận cám dỗ của ma quỷ.  Dĩ nhiên có sự nâng đỡ của Thánh Thần, nhưng chìa khóa thắng trận tùy thuộc vào ý chí tự do của Chúa Giê-su giữa hai lựa chọn:  đi theo đường lối của Thiên Chúa hay ngả theo những hứa hẹn của Xa-tan?  Kết quả cuộc chiến giữa Chúa Giê-su và Xa-tan như thế nào?  Ai thắng ai bại?  Thánh Mác-cô không nói đến, nhưng qua các thánh sử khác, chúng ta biết Chúa Giê-su đã chiến thắng vinh quang và Xa-tan bỏ đi để chờ dịp khác!  Có lẽ lý do thánh Mác-cô không nói là vì ngài muốn để cho chúng ta có dịp suy gẫm về chiến thắng ấy một cách sáng tạo hơn.
                Hình ảnh thứ hai về Chúa Giê-su là Người ra đi thi hành sứ vụ.  Thánh Mác-cô xác định thời gian cho việc thi hành sứ vụ của Chúa là “sau khi ông Gio-an bị nộp.  Đây là thời điểm tiếp nối giữa sứ mệnh của hai nhân vật quan trọng:  sứ mệnh của Gio-an chấm dứt để bắt đầu sứ mệnh của Chúa Giê-su.  Trong lịch sử cứu độ, không có sự ngắt quãng, nhưng là tiếp nối, vì Thiên Chúa vẫn luôn luôn “yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Gio-an 3:16).  Sự tiếp nối ấy được thể hiện ngay cả trong lời giảng của hai vị.  Thánh Gio-an Tẩy Giả kêu gọi:  “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần” (Mát-thêu 3:2).  Giờ đây Chúa Giê-su đến rao giảng về Nước Trời cũng lặp lại:  “Thời kỳ đã mãn và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần.  Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mác-cô 1:15).  Theo cùng một cách tường thuật về việc Chúa Giê-su chịu cám dỗ, ở đây thánh Mác-cô cũng chỉ giới thiệu hình ảnh một Chúa Giê-su đi rao giảng;  còn Chúa rao giảng sám hối và kêu gọi lòng tin như thế nào thì thánh sử để dành cho chúng ta tự mình khám phá qua những trang sách Tin Mừng của ngài!
Sống sứ điệp Tin Mừng
                Chúng ta vừa mới bước vào mùa Chay thì Phụng vụ Lời Chúa đã vội vàng giới thiệu với chúng ta một Chúa Giê-su chịu cám dỗ và kêu gọi người ta sám hối.  Chắc chắn là Giáo Hội muốn nói với chúng ta sứ điệp này:  Như Chúa Giê-su đã chịu cám dỗ và đã chiến thắng như thế nào, Ki-tô hữu chúng ta cũng phải theo cùng một mẫu gương ấy mà đối phó với cám dỗ trong những ngày sống trên trần gian này.
                Tuy nhiên khi trình bày Chúa Giê-su kêu gọi người ta sám hối và tin vào Tin Mừng, Giáo Hội bảo chúng ta không chỉ dừng lại ở việc chống cám dỗ, nhưng tích cực hơn nữa, chúng ta hãy đáp lời kêu gọi của Chúa Giê-su.  Người mời gọi chúng ta bước vào một hành trình gồm hai việc liên quan và hỗ trợ nhau:  sám hối tin vào Tin Mừng.  Nếu không sám hối và thay đổi, chúng ta không thể tin vào Tin Mừng.  Đổi lại, một khi chúng ta đã bắt đầu tin vào Tin Mừng rồi, chúng ta sẽ nhận ra nhu cầu cần phải sám hối, để sám hối giúp chúng ta tống ra khỏi tâm hồn mọi xấu xa tội lỗi và tạo môi trường thuận lợi cho Tin Mừng hoạt động mạnh mẽ trong chúng ta.  Những tín hiệu của mùa Chay:  chống cám dỗ, sám hối, tin vào Tin Mừng.  Bạn hãy đọc, hiểu và thực hành những tín hiệu ấy nhờ và với Chúa Giê-su!
         Lm. Đa-minh Trần đình Nhi
 

MC1-B113  Người Ở Trong Hoang Địa

Chúa Nhật I Mùa Chay B
Mc 1:12-15: 12 Thần Khí liền đẩy Người vào hoang địa. 13 Và Người đã ở trong hoang địa bốn mươi ngày, chịu Satan cám dỗ, và đã ở giữa dã thú, và các thiên sứ hầu hạ Người.
14 Sau khi ông Gioan bị bắt, Đức Giêsu đã đến miền Galilê rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa. 15 Và Người nói: “Thời kỳ đã mãn, và Vương quốc Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.”
 

Tin Mừng của Chúa nhật nầy gồm hai đoạn nối tiếp nhau, nói đến hai sự kiện ngay sau khi Chúa:  MC1-B113 

Tin Mừng của Chúa nhật nầy gồm hai đoạn nối tiếp nhau, nói đến hai sự kiện ngay sau khi Chúa Giêsu chịu phép rửa: vào hoang địa (1:12-13) và rao giảng sứ điệp đầu tiên (1:14-15). Chúa Giêsu tiếp tục gắn bó với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Người được Chúa Thánh Thần đẩy vào hoang địa (1:12), và sau đó, Người bắt đầu rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa (1:14-15). Marcô chỉ mô tả tình trạng của Chúa Giêsu trong hoang địa, không nói gì đến chuyện cám dỗ và phản ứng của Người. Rất ngắn, chỉ trong hai câu (x. Mt 4:1-11; Lc 4:1-13). Trong hoang địa, Người đã sống giữa mọi tương quan: với Thiên Chúa, con người, thiên thần, Satan, dã thú và thiên nhiên.
 
Hoang địa được hiểu là một nơi xa chỗ con người sinh sống (6:35-36; 8:4). Là nơi trú ẩn của những dã thú và Satan (1:13). Chúng tượng trưng cho những sức mạnh thù nghịch và nguy hiểm cho sự sống của con người (Ezk 14:21; Kh 6:8). Ở đây, hoang địa gắn liền với một thời gian: bốn mươi ngày. Con số gợi nhớ bốn mươi năm thử thách của dân Israel (Dnl 8:2). Sống trong hoang địa bốn mươi ngày, Chúa Giêsu liên đới với con người trong việc bị cám dỗ, để Người có thể giúp những ai bị cám dỗ (Dth 2:18; 4:15). Nhưng dân Israel đã không bị cám dỗ triền miên suốt bốn mươi năm, họ còn kinh nghiệm nhiều điều khác hơn thế trong hoang địa.
 
Hoang địa là nơi gặp gỡ Thiên Chúa. Khi Thiên Chúa giải thoát dân tộc nầy khỏi nô lệ Ai cập, Người liền đưa họ vào hoang địa để lập quốc, giao ước và để nói những lời yêu thương (Os 11:1). Nên thời gian trong hoang địa cũng là thời gian của tình yêu ban đầu. Sau nầy, mỗi khi thấy dân chạy theo ngẫu thần, Thiên Chúa muốn dẫn dân vào lại hoang địa để làm lại kinh nghiệm tình yêu của thưở ban sơ (Os 2:14; Giê 2:2). Bởi đó, Chúa Giêsu không bị cám dỗ suốt bốn mươi ngày. Người sống trong hoang địa để kéo dài kinh nghiệm tình yêu với Thiên Chúa, đã khởi đầu từ biến cố chịu phép rửa, và để từ nơi Người sẽ phát xuất một dân mới sống theo Tin Mừng mà Người sẽ rao giảng (1:14-15).
 
Hoang địa luôn là nơi thuận lợi để gặp gỡ Thiên Chúa. Nơi nào có các thiên thần hiện diện, nơi đó có Thiên Chúa (8:38). Việc các ngài hầu hạ Chúa Giêsu cho thấy Chúa Cha lo lắng cho Người chừng nào (1:13). Chúa Giêsu ở giữa dã thú, mà không bị chúng làm hại. Người bị cám dỗ, mà không bị thua cuộc. Như thế, hoang địa ấy đã trở thành thiên đàng (x. Is 11:6-8; 65:25; Os 2:18; Gióp 5:22), và Chúa Giêsu đã trở thành một Ađam mới, luôn tín trung với Thiên Chúa. Kinh nghiệm sống trong hoang địa đã làm Chúa Giêsu lớn lên và mạnh mẽ trong tinh thần (Lc 1:80). Từ đó, Người thường lui tới hoang địa để cầu nguyện và cũng dạy các môn đệ của Người làm như thế (1:35.45; 6:31).
 
 “Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”. Tin Mừng nầy là Tin Mừng của Thiên Chúa. Chúa Giêsu và Tin Mừng gắn liền với nhau như là một. Có hai cách sám hối và tin vào Tin Mừng rất cụ thể: vác thánh giá và từ bỏ bản thân vì Chúa Giêsu và Tin mừng (8:34-35), bỏ mọi sự và đi theo làm môn đệ của Chúa Giêsu và Tin Mừng (10:29). (Xin xem thêm giải thích đoạn 1:14-15 ở Chúa Nhật III Thường Niên B).
 
Tiếng kêu từ hoang địa là tiếng gọi của tình yêu. Mời gọi tin và trở về với tình yêu ban đầu (x. 1:3-4).
 
Lm. Luigi Gonzaga Đặng Quang Tiến

 

MC1-B114   Chúa Nhật I mùa Chay,B

2009
 
 

Nước cần thiết cho sự sống, nhưng nhiều khi nước cũng trở thành tai họa hoặc nguyên nhân đưa: MC1-B114

Nước cần thiết cho sự sống, nhưng nhiều khi nước cũng trở thành tai họa hoặc nguyên nhân đưa tới cái chết hoặc hủy diệt.  Mùa lụt nào cũng không thiếu những tai nạn chết người, hoặc chết đuối, hoặc bị nước cuốn trôi mất tích.  Trận lụt Đại hồng thủy được kể lại trong sách Sáng thế mang ý nghĩa đặc biệt thuộc lãnh vực đức tin.  Nước đã hủy diệt nhân loại tội lỗi, nhưng đồng thời nước cũng cứu thoát gia đình ông No-ê và mở ra một trật tự mới cho thế giới.  Ý nghĩa này đã được thánh Phê-rô Tông đồ nhắc đến trong thư thứ nhất của ngài và được suy diễn vào Bí tích Rửa tội.  Tuy nhiên, ta chỉ lãnh Bí tích Rửa tội thôi thì chưa đủ để được cứu rỗi, nhưng cần phải sống Bí tích ấy, nghĩa là sống tinh thần sám hối và vững tin vào Tin Mừng.
1.  Nước Hồng thủy tàn phá mặt đất và hủy diệt nhân loại, nhưng đem lại cho thế giới một trật tự mới (bài đọc Cựu Ước – St 9:8-15)
                Sau khi nước Hồng thủy rút, gia đình ông Nô-ê cùng mọi loài vật ra khỏi tàu, làm lại một cuộc sống mới.  Ngoại trừ gia đình ông Nô-ê, con nước đã cuốn đi nhân loại, sự giàu sang phú quý của họ, đồng thời cũng đem theo tất cả những xấu xa tội lỗi của con người.  Thiên Chúa lập lại lời chúc lành như khi Người tạo dựng trời đất và muôn vật thuở ban đầu:  “Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, hãy lan tràn và nảy nở thật nhiều trên mặt đất” (St 9:7).  Hơn nữa, Người còn đặt một giao ước với nhân loại sống sót, lấy cầu vồng làm dấu hiệu:  “Ta lập giao ước của Ta với các ngươi:  mọi xác phàm sẽ không còn bị nước hồng thủy hủy diệt, và cũng sẽ không còn có hồng thủy để tàn phá mặt đất nữa” (St 9:11).
                Từ gia đình ông Nô-ê, Thiên Chúa muốn tạo dựng một nhân loại mới.  Người dùng nước Hồng thủy để thanh tẩy thế giới, nhưng Người cũng dùng nước để cứu thoát gia đình ông Nô-ê.  Tác dụng của nước ở đây là thanh tẩy và làm phát sinh sự sống mới.  Hậu quả của lụt Hồng thủy thật vô cùng lớn lao đối với nhân loại, nhưng đem đến cho họ một Thiên Chúa đầy lòng thương xót và sẵn sàng tha thứ.  Thiên Chúa chấp nhận lễ toàn thiêu của Nô-ê và Người tự nhủ:  “Ta sẽ không bao giờ nguyền rủa đất đai vì con người nữa.  Lòng con người toan tính điều xấu từ khi còn trẻ, nhưng Ta sẽ không bao giờ còn sát hại mọi sinh vật như Ta đã làm!” (St 8:21).  Lòng người không chịu thay đổi để trở về với Thiên Chúa, nhưng Người vẫn chờ đợi họ đáp lại giao ước của Người để cộng tác xây dựng một trật tự mới cho thế giới.  Trong trật tự này, con người lại được trao quyền thống trị muôn loài.  Muôn loài “phải kinh hãi khiếp sợ” con người và chúng được “trao vào tay con người” (St 9:2).  Tuy nhiên trong mối tương quan giữa con người và Thiên Chúa, con người phải “được trao vào tay” Thiên Chúa, để họ luôn luôn sống xứng đáng như con cái Người.  Trật tự mới này có nghĩa là phải tái lập mối tương quan giữa muôn loài, con người và Thiên Chúa, mối tương quan đã có trước khi con người phạm tội bất tuân mệnh lệnh của Thiên Chúa, nghĩa là muôn loài phục tùng con người và con người phục tùng Thiên Chúa.
                Trật tự mới này phải được thể hiện trong đời sống Ki-tô hữu.  Muốn thế, Ki-tô hữu cần xét lại bậc thang giá trị cho mình, những gì của Thiên Chúa hãy trả lại cho Chúa và những gì của Xê-da hãy trả lại cho Xê-da.  Đời sống đức tin và đời sống vật chất phải hài hòa, nâng đỡ nhau để giúp họ phát triển con người trọn vẹn trong tương quan với Chúa, với tha nhân, với tạo vật và với chính mình.  Mùa Chay được mệnh danh là thời cơ thuận tiện để họ thực hiện điều ấy.  Sự phong phú của Lời Chúa, những thực hành đạo đức do Giáo Hội đề ra như ăn chay, cầu nguyện, làm phúc bố thí đều là những phương thế giúp họ thực hiện sự hài hòa và trật tự nói trên.  Lòng thương xót và tha thứ của Thiên Chúa sẽ là động lực giúp họ kiên trì thực hiện trật tự mới ngay trong tình trạng yếu đuối con người của họ.
2.  Từ nước Hồng thủy đến nước Rửa tội (bài đọc Tân Ước – 1 Pr 3:18-22)
                Suy niệm về biến cố lụt Hồng thủy, thánh Phê-rô Tông đồ áp dụng ý nghĩa của nước vào Bí tích Rửa tội.  Ngài khẳng định:  “Trong con tàu ấy, một số ít, cả thảy tám người, được cứu thoát nhờ nước.  Nước đó là hình bóng phép rửa nay cứu thoát anh em” (1 Pr 3:20-21).  Ông Nô-ê đã đóng một con tàu để cứu thoát gia đình ông.  Cũng thế, Chúa Giê-su đã thiết lập Giáo Hội để cứu thoát ta.  Việc cứu thoát mạng sống con cái ông Nô-ê là hình bóng ám chỉ sự cứu thoát linh hồn của ta.  Tuy nhiên thánh Phê-rô xác định rõ ràng ý nghĩa của việc lãnh nhận Bí tích Rửa tội.  Lãnh nhận Bí tích Rửa tội không đơn thuần là một nghi thức bề ngoài, giống như việc tẩy sạch vết nhơ thể xác, nhưng là sự cam kết sống lương tâm trong trắng.  Xác định này có ý nói rằng Rửa tội không chỉ cho ta được mang cái danh Ki-tô hữu, nhưng là khởi đầu cho một cuộc sống mới theo gương mẫu và lời giảng của Đức Ki-tô.  Như thế, có thiếu gì những Ki-tô hữu mang danh nghĩa là “có Đức Ki-tô” nhưng lại sống như “không có Đức Ki-tô”.  Con cháu ông Nô-ê cũng vậy, tuy tất cả đều được cứu thoát chết, nhưng có kẻ sống thảo kính cha mẹ, có kẻ lại không (St 9:18-29).
                Bí tích Rửa tội làm cho người nhận lãnh có được một “lương tâm trong trắng”.  Đấy mới là bước khởi đầu thôi.  Ơn thánh hóa là hồng ân giúp họ bắt đầu một cuộc sống thánh thiện để làm rõ nét hình ảnh Chúa nơi họ.  Ơn thánh hóa là nền tảng cho họ làm cuộc biến đổi trở nên giống với Đức Ki-tô mỗi ngày một hơn trong đời sống.  Thánh Phê-rô gọi Bí tích Rửa tội là việc “cam kết với Thiên Chúa”.  Vậy cam kết điều gì?  Đó là cam kết “giữ lương tâm trong trắng, nhờ sự phục sinh của Đức Giê-su Ki-tô”.  Đúng vậy, nhờ Chúa Ki-tô phục sinh, ta cũng được sống lại phần hồn và có được lương tâm trong trắng.  Nói khác đi, bao lâu ta hoàn toàn để cho sự phục sinh của Chúa Ki-tô tác động nơi ta là ta giữ được lương tâm mình trong trắng, hoặc ta phải cố gắng giữ lương tâm ta ở trong tình trạng được phục sinh chứ đừng để nó bị tội lỗi giết chết.  Lương tâm của Ki-tô hữu chính là lương tâm của Chúa Ki-tô, một lương tâm lấy những giá trị Tin Mừng làm tiêu chuẩn.  Giống như nước Hồng thủy, nước Rửa tội không chỉ cứu ta khỏi tội tổ tông, nhưng còn mở ra cho ta một cuộc sống mới, một trật tự mới.  Cuộc sống mới này chính là đề tài rao giảng của Chúa Giê-su khi Người thi hành sứ vụ cứu độ.
3.  “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần.  Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (bài Tin Mừng – Mc 1:15)
                Biến cố lụt Hồng thủy mở ra cho nhân loại một chân trời mới.  Cũng thế, việc Chúa Giê-su xuống thế làm người và thi hành sứ vụ cứu độ chính là “thời kỳ đã mãn và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần”.  Đây là bắt đầu thời gian Thiên Chúa thực hiện cuộc tạo dựng mới nhờ Đức Ki-tô và trong Đức Ki-tô.  Trước hết khi Chúa Giê-su rao giảng Tin Mừng, điều đầu tiên Người làm là loan báo cho nhân loại biết điều Thiên Chúa thực hiện.  Thời kỳ nhân loại bị khống chế dưới quyền lực tội lỗi đã chấm dứt.  Biến cố Ngôi Hai Thiên Chúa nhập thể làm người là thời điểm chấm dứt thời kỳ đen tối và tuyệt vọng của nhân loại, đồng thời đánh dấu khởi điểm của một triều đại mới, triều đại của ân sủng Thiên Chúa.
                Vậy tiếp đến, điều quan trọng nhân loại phải làm trong thời kỳ mới này là gì?  Chúa Giê-su trả lời:  “Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”.  Chúa Giê-su không chỉ loan báo thời cứu độ đến gần.  Thiên Chúa muốn cứu độ ta, nhưng chính ta phải tích cực đón nhận với tất cả thiện chí và cố gắng.  Cứu độ không mang tính thụ động, nghĩa là việc làm của một mình Thiên Chúa, nhưng là hành vi chủ động.  Một đàng Thiên Chúa muốn cứu thoát ta và Người đã bắt đầu hành động qua việc sai Con Một đến với nhân loại.  Đàng khác, về phía nhân loại, ta phải hành động bằng cách lãnh nhận Bí tích Rửa tội để làm con cái Chúa và đón nhận sứ điệp rao giảng của Chúa Giê-su.  Sứ điệp ấy tóm gọn trong hai điều:  sám hối và tin vào Tin Mừng.  Nghĩa là từ bỏ con đường tội lỗi để trở về sống theo những gì Chúa Giê-su dạy bảo ta.  Hoặc nói theo suy tư của thánh Phê-rô, nghĩa là “cam kết với Thiên Chúa sẽ giữ lương tâm trong trắng”, giữ tâm hồn luôn trong tình trạng được phục sinh (1 Pr 3:21).  Được rửa tội là ta được trở thành tạo vật mới.  Do đó ta phải cộng tác với ơn Chúa để làm cho con người của ta được lớn lên và biến đổi mỗi ngày một hoàn hảo hơn.  “Anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5:48).
4.  Sống Lời Chúa
                Cuộc đổi mới nào cũng hứa hẹn những điều hay điều tốt.  Người ta hứa hẹn đổi mới thì nhiều, nhưng thực hiện đổi mới thì quá ít.  Thiên Chúa không chỉ hứa hẹn suông, nhưng Người thực hiện sự thay đổi để mang lại cho ta những điều tốt đẹp.  Vì yêu thương ta, Người không muốn ta bị mất đi như những người đã chết trong cơn lụt Hồng thủy, nhưng Người muốn cứu ta như đã cứu gia đình ông Nô-ê.  Người sai chính Con Một đến để cứu thoát ta khỏi cơn lụt do tội lỗi và ban cho ta sự sống mới.  Người còn ban cho ta lương thực là Chúa Ki-tô để nuôi dưỡng sự sống mới nơi ta, giúp ta phát triển và đạt đến mức độ sung mãn trong Chúa Ki-tô và được chung phần gia nghiệp với Chúa Ki-tô.  Sứ điệp mùa Chay được gồm tóm trong lời giảng mở đầu của Chúa Giê-su:  Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.  Nhưng mùa Chay cũng là thời gian để ta đặc biệt suy nghĩ về sứ điệp này và cố gắng thực thi trong cuộc sống hằng ngày.
Suy nghĩ:  Lãnh nhận Bí tích Rửa tội là cam kết với Thiên Chúa sẽ giữ lương tâm trong trắng.  Vậy tôi có thực thi điều cam kết này không?  Mỗi ngày tôi có dành chút thời giờ để suy xét về lương tâm của tôi không?  Việc suy xét này phải được làm thế nào để có hiệu lực thay đổi đời sống của tôi?
Cầu nguyện:  Lạy Thiên Chúa toàn năng, hằng năm Chúa ban cho chúng con bốn mươi ngày chay thánh, để tôi luyện hồn xác chúng con.  Xin giúp chúng con sống những ngày khắc khổ ấy, để học biết Đức Ki-tô và dõi theo gương Người, hầu xứng đáng hưởng ơn Người cứu độ.  Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, trong sự hiệp nhất của Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời.  A-men.  (Lời nguyện Nhập lễ, Chúa Nhật I mùa Chay).
Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

 

MC1-B115  CHÚA NHẬT 1 MÙA CHAY

 Thánh ca và lời nguyện mở đầu
 Kinh Thánh:       1 Phê-rô 3: 18-22
 

Để suy niệm bài đọc Tân Ước hôm nay, có lẽ chúng ta phải đặt nó trong bối cảnh của Phụng vụ Lời: MC1-B115

Để suy niệm bài đọc Tân Ước hôm nay, có lẽ chúng ta phải đặt nó trong bối cảnh của Phụng vụ Lời Chúa, đặc biệt trong liên hệ với bài Tin Mừng.  Bài Tin Mừng Mác-cô chỉ nhắc qua đến biến cố Chúa Giê-su chịu cám dỗ trong hoang địa, rồi nói cho chúng ta biết Chúa Giê-su khởi đầu sứ vụ rao giảng Tin Mừng bằng một sứ điệp vô cùng quan trọng:  “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.”  Tin Mừng ở đây không chỉ có nghĩa là những gì Chúa Giê-su rao giảng, mà còn là chính con người Chúa Giê-su nữa.  Đặt bài đọc Tân Ước trong liên hệ chặt chẽ với bài Tin Mừng, chúng ta sẽ thấy đoạn thư 1 Phê-rô 3:18-22 là một quảng diễn không thể thiếu, giúp chúng ta hiểu rằng tin vào Tin Mừng có nghĩa là tin Đức Ki-tô và sứ vụ cứu thế của Người.  Vậy qua đoạn thư này, thánh Phê-rô muốn trình bày điều gì về Đức Ki-tô?  Đồng thời thánh Phê-rô cũng muốn nói chúng ta phải làm gì để biểu lộ niềm tin vào Tin Mừng ấy?
 a)  Đức Ki-tô đã chịu chết một lần vì tội lỗi chúng ta, nhưng nhờ Thần Khí, Người đã được phục sinh
                Cái chết của một người thân yêu lại có thể là một “tin mừng” cho chúng ta hay sao?  Người đời nghĩ là không thể.  Nhưng nếu nhìn vào mục đích và hiệu quả cái chết của Đức Ki-tô và hiểu ý nghĩa khẳng định của Người:  “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình;  còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12:24), chúng ta sẽ thấy cái chết của Người đích thực là một tin mừng vĩ đại nhất.  Chiều kích vĩ đại của tin mừng ấy được diễn tả bằng hai yếu tố:  1) chết một lần, và 2) đền bù tất cả tội lỗi chúng ta.  Nghĩa là cái chết của Đức Ki-tô đã đem lại hiệu quả vô cùng lớn lao.  Chỉ nguyên cái chết của Người cũng đã đủ để chuộc lại lỗi lầm của toàn thể nhân loại mọi thời mọi nơi.
                Tuy nhiên, theo kế hoạch cứu rỗi của Thiên Chúa, cái chết của Chúa Ki-tô mới chỉ là bước đầu để chúng ta được sống lại từ cõi chết tội lỗi, đồng thời là căn bản để từ đó chúng ta sống một cuộc sống mới theo Thần Khí của Người.  Trong tiến trình cứu rỗi, chúng ta phải tiếp tục sống trong sự Phục Sinh của Đức Ki-tô.  Chúng ta có khuynh hướng muốn tách rời hai thực tại “chết” và “sống lại” nơi Đức Ki-tô.  Do đó, thánh Phê-rô đã cẩn thận trình bày cả hai thực tại này và liên kết lại để chúng ta có một cái nhìn nhất quán về sứ vụ cứu thế của Đức Ki-tô.  Trên con đường “dẫn đưa chúng ta đến cùng Thiên Chúa,” cả sự chết lẫn sự sống lại của Đức Ki-tô đều tác động trong chúng ta, để mỗi ngày cùng với Người, chúng ta “chết đi cho tội lỗi” và sống lại trong con người mới.
 b)  Chúng ta phải làm gì để sống niềm tin vào Tin Mừng?
                Trước khi đề cập tới những gì chúng ta phải làm để sống niềm tin vào Đức Ki-tô và Tin Mừng của Người, thánh Phê-rô không quên nhắc tới vai trò quan trọng của Bí tích Rửa tội.  Ngài đã lấy lại hình ảnh nước lụt Hồng thủy và con tàu của ông Nô-ê để nói lên nước rửa tội cứu thoát chúng ta.  Nhờ nước Rửa tội và nhờ sự sống lại của Đức Ki-tô, chúng ta được ở trong một tư thế mới để có thể “cầu xin Thiên Chúa ban cho mình một lương tâm trong trắng.”  Lương tâm trong trắng là một cách nói để diễn tả con người mới của chúng ta sau khi được rửa tội.  Tội tổ tông và cả những tội riêng của chúng ta đã được tẩy sạch nhờ nước Rửa tội.  Chúng ta được làm con cái Chúa, đồng thừa kế với Đức Ki-tô.  Chúng ta từ nay được phục hồi khả năng “đến cùng Thiên Chúa” là khả năng đã bị mất đi do tội tổ tông.  Trước đây, khoảng cách giữa Thiên Chúa và con người là khoảng cách vô hạn.  Bây giờ, nhờ Ngôi Lời nhập thể mặc lấy những hữu hạn của loài người, khoảng cách ấy đã được nối liền.  Bí tích Rửa tội là khởi đầu của hành trình trên khoảng cách đã được nối liền ấy và đưa chúng ta đến cùng Thiên Chúa.
                Giữ lương tâm trong trắng có nghĩa là làm sao giữ nguyên vẹn được hình ảnh của chúng ta sau khi được rửa tội.  Vì những khuynh hướng xấu và ảnh hưởng của tội lỗi vẫn còn hoành hành, thêm vào đó con người chúng ta vẫn có tự do để lựa chọn điều tốt hay điều xấu, cho nên chúng ta có thể sa ngã phạm tội, chết lại trong tội.  Nhưng Chúa đã chuẩn bị cho chúng ta phương thế để được sống lại sau khi đã chết trong tội, đó là Bí tích Hòa giải.  Chúa đầy lòng thương xót luôn mời gọi chúng ta chỗi dậy như người con hoang đàng trở về, để Người được vui vì “con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy” (Lc 15:24,32).
                Để khích lệ chúng ta hãy kiên trì trên đường đến cùng Thiên Chúa, thánh Phê-rô thêm vào một chi tiết đầy ý nghĩa:  Đức Ki-tô Phục Sinh ngự bên hữu Thiên Chúa, có các thiên sứ và toàn thể thần minh phục quyền.  Hình ảnh ấy là bảo đảm cho tương lai của chúng ta.  Ông Nô-ê và gia đình đã nghe theo lời dạy của Thiên Chúa nên đã được cứu sống.  Cũng thế, nếu chúng ta tin vào Đức Ki-tô và sống Tin Mừng của Người, chúng ta sẽ được chia sẻ vinh thắng với Người.
 
Câu hỏi gợi ý chia sẻ
                Sau khi trình bày về sứ vụ cứu chuộc của Chúa Ki-tô, thánh Phê-rô mời gọi chúng ta hãy đoạn tuyệt với tội lỗi và sống theo ý Chúa.  Vậy tôi đã áp dụng những đường lối nào để đoạn tuyệt với tội lỗi?  Tôi gặp những khó khăn nào?
                Đáp lại ân sủng cứu chuộc, tôi có cố gắng sống lại mỗi ngày trong con người mới không?  Tôi đã làm gì để ân sủng ấy mỗi ngày một lớn lên trong tôi?
                Những lời hứa rửa tội có là những nhắc nhở hằng ngày để tôi sống như con cái Chúa không?  Có cách nào cụ thể giúp tôi luôn tâm niệm những lời hứa ấy không?
               
Cầu nguyện kết thúc
                Sau cầu nguyện bộc phát, nhóm cùng đọc lời nguyện sau đây:
 
Lạy Chúa Giê-su, Con Thiên Chúa,
Chúa đã làm người như chúng con, nên Chúa hiểu gánh nặng của phận người.
Cuộc đời đầy cạm bẫy mời mọc, mà con người lại yếu đuối mong manh.
Hạnh phúc thường được trộn bằng nước mắt, và giữa ánh sáng cũng có những bóng mờ đe dọa.
Lạy Chúa Giê-su, nếu có lúc con mệt mỏi và xao xuyến, xin nhắc con nhớ rằng trong Vườn Dầu Chúa đã buồn muốn chết được.
Nếu có lúc con thấy bóng tối bủa vây, xin nhắc con nhớ rằng trên thập giá Chúa đã thốt lên:  Sao Cha bỏ con?
Xin nâng đỡ con, để con đừng bỏ cuộc.  Xin đồng hành với con để con không cô đơn.
Xin cho con yêu đời luôn dù đời chẳng luôn đáng yêu.
Xin cho con can đảm đối diện với những thách đố
vì biết rằng cuối cùng chiến thắng thuộc về người có niềm hy vọng lớn hơn.  A-men.
(Trích RABBOUNI, lời nguyện 28)
 
Lm. Ðaminh Trần Ðình Nhi
 

MC1-B116  Chúa Nhật I mùa Chay - B

Có lẽ chúng ta cảm thấy quen thuộc với câu truyện Chúa Giê-su chịu cám dỗ trong hoang địa được MC1-B116

Có lẽ chúng ta cảm thấy quen thuộc với câu truyện Chúa Giê-su chịu cám dỗ trong hoang địa được thánh Mát-thêu và Lu-ca kể lại, hơn là câu truyện do thánh Mác-cô kể lại trong bài Tin Mừng hôm nay.  Thánh Mát-thêu và Lu-ca đi vào những chi tiết và đối thoại trong ba lần cám dỗ, trong hoang địa, trên nóc Đền Thờ và trên núi cao.  Còn thánh Mác-cô chỉ vỏn vẹn kể tên một số biến cố liên tiếp, như Chúa Giê-su vào hoang địa, chịu Xa-tan cám dỗ và sống giữa dã thú, sau đó thánh sử hướng chúng ta tới điểm chính, tức là Chúa Giê-su rao giảng và sứ điệp rao giảng của Người gồm những gì.  Trình bày như thế, thánh Mác-cô muốn chúng ta thấy rõ những cám dỗ tựu chung là những thử thách Chúa Giê-su phải đương đầu khi Người thi hành sứ vụ Cứu Thế.  Hoặc nói khác đi, cho dù những cám dỗ Chúa Giê-su chịu có diễn ra trong bất cứ hình thức nào hay ở bất cứ nơi chốn nào đi nữa, thì mục tiêu duy nhất mà những cám dỗ ấy nhắm tới vẫn là làm sao khiến cho Chúa Giê-su đừng trung thành với sứ vụ Cứu Thế, đừng làm theo thánh ý và kế hoạch Chúa Cha đã phác họa.
 
Để suy nghĩ về điểm này, chúng ta có thể mượn những chi tiết trong trình thuật Tin Mừng của thánh Mát-thêu và Lu-ca.  Lần cám dỗ thứ nhất trong hoang địa, ma quỷ thách Chúa Giê-su biến hòn đá thành bánh.  Nếu làm được như vậy, Chúa Giê-su sẽ có thể sử dụng quyền phép ấy để đem lại cơm no áo ấm cho đồng bào và Người sẽ trở thành một lãnh tụ chính trị nổi tiếng, thay vì đem lương thực thiêng liêng là Lời Chúa đến cho nhân loại và hiến thân làm của ăn linh hồn trong Bí tích Thánh Thể.  Lần cám dỗ thứ hai, ma quỷ đem Chúa lên nóc Đền Thờ, cho Chúa một cơ hội để Người có thể được dân chúng ngưỡng mộ tôn vinh nếu Người nhảy từ trên cao xuống mà không hề hấn gì.  Tại sao Chúa không tìm con đường tắt để được tôn vinh, chỉ cần nhảy từ trên cao xuống và được an toàn, thay vì phải chịu chống đối mọi bề, chịu cuộc khổ nạn và chết nhục nhã trên thập giá?  Lần cám dỗ thứ ba xem ra lại còn đơn giản hơn nữa.  Ma quỷ đưa Chúa lên núi cao, cho thấy tất cả sự giàu sang, lớn lao của thế giới, rồi nó bảo Người:  chỉ cần làm một cử chỉ đơn thuần là sấp mình bái lạy nó.  Dễ ợt thôi mà!  Việc gì phải tùng phục theo ý của Chúa Cha, vất vả cả một đời!  Nhưng chúng ta thấy đó!  Cả ba thứ cám dỗ kia tuy có khác nhau về hình thức, về nơi chốn, nhưng chung quy vẫn là xúi giục Chúa Giê-su cứ làm theo kế hoạch riêng của mình, chứ đừng làm theo ý Chúa Cha, hay nói tóm lại, ma quỷ xúi giục Chúa Giê-su muốn gì thì cứ làm, không cần phải làm “Con yêu dấu” của Chúa Cha!
 
Những gì được nói về cám dỗ chúng ta thấy nơi con người của Chúa Giê-su thì chúng ta cũng có thể gặp thấy chính nơi chúng ta.  Thường chúng ta chỉ nhìn những cám dỗ chúng ta phải chịu như là những trường hợp riêng rẽ, không có gì móc nối giữa cám dỗ này với cám dỗ kia.  Thí dụ hôm qua tôi bị cám dỗ ngoại tình, bất trung với người bạn đường của tôi.  Hôm nay tôi bị cám dỗ ghé vào bar, uống mấy ly rượu.  Tôi vẫn nghĩ rằng:  hôm qua khác với hôm nay, cám dỗ ngoại tình khác với cám dỗ uống rượu.  Tôi không thấy có gì liên kết giữa chúng cả.  Nhưng thực ra chúng ta quên mất rằng:  con người chúng ta là một toàn bộ, những nguyên nhân, những hệ quả ràng buộc với nhau.  Cho nên những cám dỗ dưới hình thức khác nhau và trong những hoàn cảnh khác nhau chỉ là những khía cạnh khác nhau của cùng một thử thách chính, tức là thứ cám dỗ xúi giục chúng ta đừng sống như những người con cái của Thiên Chúa.
 
Là người “Con Yêu Dấu” của Chúa Cha, Chúa Giê-su đã bị cám dỗ đừng thi hành sứ vụ, đừng nói cho nhân loại sứ điệp của Chúa Cha là “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.”  Ma quỷ không muốn nhân loại quay về với Thiên Chúa, nên nó phải tìm đủ cách để ngăn cản.  Nó lo sợ rằng Chúa Giê-su sẽ kêu gọi loài người từ bỏ tội lỗi để trở lại với Thiên Chúa.  Nó muốn bưng bít Tin Mừng sắp được công bố.  Cho nên nó phải cám dỗ Chúa Giê-su ráo riết để Người bỏ cuộc.  Sách Tin Mừng cho chúng ta thấy:  ma quỷ đã bại trận trong cuộc cám dỗ khốc liệt này, và Chúa Giê-su đã chiến thắng.  Thánh Mác-cô viết về cuộc chiến thắng này như sau:  “Đức Giê-su đến miền Ga-li-lê rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa.  Người nói:  ‘Thời kỳ đã mãn và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần.  Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.”  Thế là “Lời của Thiên Chúa” bắt đầu vang lên, không phải chỉ ở miền Ga-li-lê mà thôi, nhưng khắp thế giới, kêu gọi con người trở về với Thiên Chúa.
 
Nhưng chúng ta sẽ đặt câu hỏi:  Vậy những cám dỗ Chúa Giê-su chịu có liên hệ gì với chúng tôi?  Có chứ.  Mà lại còn liên hệ rất chặt chẽ nữa.  Nếu ma quỷ đã thất bại trong việc “bịt miệng” Thiên Chúa để khỏi công bố sứ điệp sám hối, thì nó sẽ quay sang chúng ta để “bịt tai” chúng ta đừng nghe sứ điệp ấy.  “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” là sứ điệp Giáo Hội muốn lập lại và nhắc nhở chúng ta hãy sống, đặc biệt trong mùa Chay thánh.  Đây cũng là chủ đề suy niệm và kế hoạch sống đức tin cho tất cả mùa Chay.  Hy vọng chúng ta có cơ hội suy niệm Lời Chúa kỹ càng hơn trong chủ đề này.  Nhưng quan trọng hơn cả vẫn là làm sao đem sứ điệp của Chúa Giê-su “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” vào trong đời sống hằng ngày của chúng ta.  Thực hiện được sứ điệp ấy mỗi ngày tức là chúng ta đang dần dần thắng được cám dỗ của Xa-tan vậy.
 
Lạy Chúa Giê-su, Đấng chiến thắng cám dỗ của ma quỷ, xin giúp chúng con cũng được chiến thắng cùng với Chúa.  A-men. 
Lm. Ðaminh Trần Ðình Nhi  

 

MC1-B117  Sự cám dỗ – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

Nhiều người hôm nay không tin ma quỷ, không tin sự cám dỗ của ma quỷ. Họ cho rằng tội là do mình MC1-B117 Luong

Nhiều người hôm nay không tin ma quỷ, không tin sự cám dỗ của ma quỷ. Họ cho rằng tội là do mình tự ý phạm. Họ tin vào sự ý thức của con người. Họ không nghĩ đến sự yếu đuối của con người là do ngã lòng chiều theo cám dỗ. Chính do sự mất cảnh giác của cám dỗ nên con người dễ mất mắc sai lầm theo chủ quan, dễ hành động theo bản năng mà không hề kiểm soát hành vi của mình. Đó cũng là điều tệ hại dẫn con người đến mất ý thức về tội. Vì lấy mình làm trung tâm nên luôn cho mình là đúng, luôn biện minh cho hành vi sai trái của mình.
Khi con người mất ý thức về tội là lúc ma quỷ chiến thắng. Nó luôn tìm cách chứng minh không hề có sự hiện của nó. Nó chỉ tác động dưới những hình thức đẹp đẽ, tốt lành để hướng con người hành động theo ý mình. Và điều tệ hại là hành động theo ý mình thì luôn sai lầm vì thích chiều theo bản năng, chiều theo sự dễ dãi mà không cần đến lề luật.
Có một nô bộc da đen hộ tống ông chủ da trắng đi săn vịt trời. Anh ta là một ky-tô hữu. Nhân dịp nói chuyện về vấn đề tôn giáo, ông chủ hỏi người ở da đen:
“Ta chẳng hiểu tại sao mày thường xuyên nói đến tội, đến chống trả cám dỗ, nói đến Ma-quỉ. Ta chẳng phải chống trả Ma-quỉ bao giờ, mà ta vẫn sống tịnh, chẳng bao giờ bị quấy phá hoặc tấn công chi cả”
Người ở da đen trả lời lại: “Tôi xin phép được giải thích việc này. Chúng ta đang đi săn vịt. Những con nào bị ông bắn và chết liền khi rơi xuống, thì tôi để yên đó. Nhưng con nào chỉ bị thương khi rơi xuống và tìm cách chạy trốn, thì tôi dùng sào này mà phang cho chết hoặc không nhúc nhích được mới thôi”.
Ông ví như vịt đã bị Ma-quỉ bắn chết rồi, nên nó để yên ông; còn tôi ví như con vịt mới bị thương và đang tìm cách trốn thoát, do đó Ma quỉ đang giơ sào và tìm mọi cách đập tôi cho thật chết mới thôi.
Ma quý cám dỗ là sự thật. Ma quỷ luôn tìm cách cám dỗ con người đi nghịch lại với đường lối Thiên Chúa. Chúa Giê-su cũng từng bị cám dỗ. Ma quỷ đã bủa vây Chúa Giê-su bằng nhiều lời hứa đường mật, nhưng luôn theo một chủ đích là từ bỏ Chúa Cha để hành động theo ý mình. Quả thực, trên đời chẳng có gì cho không. Ai cho chúng ta điều gì thì thường họ cũng muốn đòi lại chúng ta một điều nào đó, huống hồ là ma quỷ, nó sẽ không bao giờ cho không chúng ta.
Năm xưa trong vườn địa đàng ma quỷ đã chiến thắng Adam-Eva, khi hai ông bà quay lưng lại với Thiên Chúa. Ma quỷ cũng chiến thắng dân Chúa chọn trên hành trình đất hứa khi thờ bò vàng để tìm kiếm miếng ăn. Nhưng ma quỷ đã hoàn toàn thất bại trước Con Thiên Chúa làm người. Chúa Giê-su đã nhắc ma quỷ phải tuân phục Thiên Chúa. Ngài cũng nhắc ma quỷ cuộc sống này cái ăn cái mặc đáng quý nhưng thực thi ý Chúa còn quý hơn nữa.
Hôm nay khởi đầu mùa chay, Chúa Giê-su mời gọi chúng ta hãy sám hối. Sám hối vì đã có những lần chúng ta quay lưng lại với Thiên Chúa. Sám hối vì đã có những lần chúng ta chiều theo cám dỗ của ma quỷ mà hành động theo tính xác thịt, thiếu tự chủ bản thân. Sám hối là nhìn nhận sự yếu đuối của mình để trông cậy lòng thương xót và ân sủng của Thiên Chúa. Chỉ trong Thiên Chúa chúng ta mới có thể chiến thắng cám dỗ, chiến thắng những yếu đuối của bản thân.
Xin Chúa Giêsu là Đấng đã chiến thắng cám dỗ ban ơn sức mạnh để chúng ta vực dậy sau những lần vấp ngã, và canh tân đời sống theo tin mừng. Xin cho chúng ta đừng bao giờ tự phụ về khả năng tự chủ của mình nhưng luôn khiêm tốn trông cậy vào ơn Chúa giúp để nói không với sự xấu, với điều nghịch lại với lề luật của Chúa. Amen.

 

MC1-B118  Ba cạm bẫy của ma quỷ

(Suy niệm của Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền)
 

Người ta nói rằng cư dân miền Bắc Cực có cách bẫy chó sói rất độc đáo. Họ mài những con dao thật bén, MC1-B118 

Người ta nói rằng cư dân miền Bắc Cực có cách bẫy chó sói rất độc đáo. Họ mài những con dao thật bén, rồi đem nhúng dao đó vào máu súc vật cho đến khi lưỡi dao bọc toàn máu. Đêm đến, họ đem dao đó cắm ngoài đồng. Chó sói thính hơi nghe mùi máu, chạy đến liếm lưỡi dao tới tấp. Đến khi chính lưỡi nó bị dao cắt đứt, máu chảy ra, nó vẫn mải mê cắm đầu liếm mà không biết mình đang liếm máu mình cho tới lúc kiệt sức ngã lăn ra chết.
Con sói vì khát máu mà chết. Con người chúng ta đôi khi cũng khát tiền, khát tình, khát danh vọng, quyền lực mà chết. Quả đúng là “mật ngọt chết ruồi”. Danh lợi thú luôn là cạm bẫy của ma quỷ vây bắt linh hồn con người. Con người chúng ta đôi khi cũng vì những hào nhoáng bên ngoài mà vướng vào cạm bẫy của ma quỷ. Con người chúng ta đôi khi cũng đang bị chết dần mòn trong những đam mê cuồng si của mình. Bài phúc âm hôm nay cho chúng ta thấy sự chọn lựa dứt khoát của Chúa Giê-su trước những cạm bẫy của ma quỷ. Ngài không lập lờ nước đôi. Ngài cũng không tìm thoả hiệp với ma quỷ. Ngài luôn chọn lựa Chúa và ý Chúa Cha để sẵn lòng loại bỏ những gì nghịch với ý định của Thiên Chúa Cha. Ngài đã chiến thắng cám dỗ nhờ tình yêu trung tín với Chúa Cha. Ngài đã tín thác hoàn toàn vào Chúa Cha đến nỗi “lương thực của Ngài chính là thi hành ý muốn Chúa Cha.
Kính thưa, Quý OBACE
Ba cám dỗ mà Chúa Giêsu đã chiến thắng cũng là ba cám dỗ mà ma qủy vẫn tiếp tục gieo vào tâm hồn con người hôm nay.
Cám dỗ thứ nhất đó chính là của cải và cơm bánh hằng ngày. Cha ông ta vẫn nói:
“Có làm thì mới có ăn
Không dưng ai dễ mang phần cho ta”
Đó chính là sự công bằng đích thực. Có làm có hửơng. Có những ngày tháng lặn lội ngược xuôi bôn ba nơi chốn chợ hay dầm mưa dãi nắng nơi nương đồng mới có ngày nhàn hạ hưởng dùng hoa trái mình làm nên. Nhiều người đã không ý thức điều đó. Vì thói tham lam và lười biếng họ muốn “ngồi nhà mát ăn bát vàng”. Họ đang tâm làm giầu bằng thủ đoạn, bằng lừa gạt. Họ vì tiền mà đánh mất tình bạn. Họ vì miếng cơm manh áo mà đánh mất lương tri. Họ muốn biến đá thành bánh mà chẳng cần lao động cực nhọc. Lòng tham đã khiến họ quên đi phẩm giá cao đẹp của loài người là hình ảnh của Thiên Chúa, thế nên cần phải tìm kiếm những gì cao siêu hơn là những miếng bánh mau hư nát và cũng chẳng bao giờ thoả mãn lòng tham con người.
Cám dỗ thứ hai chính là tính đòi hỏi người khác phục vụ cho những đam mê sở thích của mình. Đó là lối sống hưởng thụ và thác loạn. Ngày nay người ta vẫn sợ các cậu ấm cô chiêu. Con của những người giầu có và quyền thế. Từ nhỏ đã được cha mẹ cưng phụng, chiều chuộng nên chỉ biết đua đòi, phóng khoáng. Sống ngông cuồng đến độ bất tuân phục lề luật. Sống hành xử theo ý mình, cho dù đó là những trò mạo hiểm gây hại cho bản thân và cho đồng loại như: xì kè, ma túy, mại dâm, đua xe, lạng lách... Đó chính là con đường mà ma qủy đã gieo vào lòng người: “cứ gieo mình xuống đi.... và mọi sự sẽ có các thiên sứ lo liệu...”. Lời Chúa hôm nay là lời nhắc nhở họ: “chớ thử thách Thiên Chúa”. Thiên Chúa là Đấng công thẳng. Mọi việc con người làm hôm nay đều phải trả lẽ trước mặt Chúa trong ngày sau nơi toà phán xét chí công của Thiên Chúa.
Cám dỗ thứ ba chính là lòng tự mãn, kiêu căng của con người. Ma qủy luôn cám dỗ con người “coi trời bằng vung”. Họ hành động như thể không có Thiên Chúa. Họ sống theo ý mình, tệ hại nhất chính là sự nuông chiều theo những đam mê sở thích của mình. Ma qủy luôn làm cho con người cảm thấy thoả thích trong những vinh hoa phú qúy trần gian. Nó dẫn con người đi trong những đam mê bất chính, những hưởng thụ lầm lạc. Con người vì kiêu căng muốn hưởng thụ tất cả nên dễ dàng bỏ Chúa, bỏ lề luật để tôn thờ những con bò mộng, lợn vàng là danh lợi thú trần gian. Tôn thờ những tạo vật thấp hèn nên con người cũng có những lối hành xử đê tiện và thấp hèn.
Chúa Giêsu Ngài đã chiến thắng ba cám dỗ đó trên nền tảng căn tính của con người. Con người là hình ảnh Thiên Chúa và vượt xa muôn loài thụ tạo nên chẳng có vật gì đáng cho con người phải bán rẻ lương tâm để tôn thờ. Chỉ có Thiên Chúa là Đấng đã tạo dựng nên con người, mới đáng để con người phải cúi mình tôn thờ. Thế nên, chỉ khi con người sống tôn thờ Thiên Chúa, con người mới sống đúng phẩm giá của mình hơn, vì “nhân linh ư vạn vật”. Chỉ khi con người thoát ra khỏi sự ràng buộc khỏi những tham sân si, con người mới sống an bình hơn.
Ước gì Mùa chay sẽ giúp chúng ta tìm lại đúng phẩm gía cao đẹp của chính mình. Xin Chúa Giêsu là Đấng đã chiến thắng sự dữ nâng đỡ và giúp chúng ta chiến thắng những cám dỗ đang đeo đuổi và ràng buộc tâm hồn chúng ta. Xin Chúa giúp cho mỗi người chúng ta biết thanh luyện chính mình để mỗi ngày nên hoàn thiện như cha chúng ta ở trên trời là Đấng hoàn thiện. Amen.

 

MC1-B119  Chay tịnh và cầu nguyện

(Suy niệm của AM Trần Bình An)
 

Tháng Ba năm 1976, người ta chở Má từ nơi quản thúc tại gia ở Cây Vông đến nhà biệt giam Nha MC1-B119  Dalat

Tháng Ba năm 1976, người ta chở Má từ nơi quản thúc tại gia ở Cây Vông đến nhà biệt giam Nha Trang… Má bị đưa vào ở trong một căn phòng giam nhỏ không cửa sổ, ngột ngạt, dưới chân tường chỉ có một lỗ nhỏ để thông hơi. Má thường nằm xuống đất để mũi gần đó và thở. Vài tuần sau Bảy cũng bị bắt đưa vào phòng biệt giam, cách Má bức tường ngăn. Ban đầu hai phòng hoàn toàn cách biệt, nhưng về sau người ta cho đục một cửa sổ nhỏ giữa bức tường ngăn cách, và có lệnh cấm Má và Bảy không được liên lạc với nhau qua nơi này…
Một ngày nọ qua cửa sổ, Má bảo Bảy:“Má và Bảy không biết sống chết ra sao. Má có thể ra đi bất cứ lúc nào! Má xin Bảy cho Má một ân huệ được không?” “Má cứ tự nhiên, con có thể làm gì để giúp Má?” Bảy đáp. “Má muốn tĩnh tâm ba mươi ngày, nhờ Bảy giảng cho Má.” “Má nói sao? con giảng tĩnh tâm cho Má? Con làm gì có đủ khả năng giảng cho Má. Chính Má giảng cho con chứ?” Bảy ngạc nhiên vô cùng và tưởng chừng mình nghe lầm nên hỏi lại. “Bảy cứ làm theo ý Má đi. Vì đây là ân huệ Má xin.” Má ôn tồn và nhỏ nhẹ bảo… “Má nói vậy thì con xin khiêm tốn vâng lời Má.” Bảy đáp lại. Thế là mỗi ngày Bảy giảng cho Má ba bài, bắt đầu từ lúc Chúa Giêsu sinh ra, sống cuộc đời ẩn dật và công khai rao giảng Tin Mừng, đối đáp lại những bắt bẻ của người Do Thái, dạy dỗ, kể dụ ngôn và làm phép lạ, đến lúc bị bắt, chất vấn, sỉ nhục, đánh đập, con đường khổ nạn và chết trên thập giá, rồi vinh hiển sống lại và hiện ra cho các tông đồ nhiều lần, trước khi về trời gởi Thánh Thần xuống. Mỗi bài giảng kéo dài từ hai mươi đến ba mươi phút, sáng trưa chiều. Sau đó Bảy còn kéo thêm được bài thứ tư vào buổi tối trước khi ngủ. Cứ vào những giờ giấc cố định Bảy đến bên cửa sổ, phía bên kia Má đã đứng chực đó từ lúc nào rồi. Má chăm chú lắng nghe các bài giảng, sau mỗi bài Má đều góp ý rồi cả hai cùng hát thánh ca có khi bằng tiếng Việt, hoặc La Tinh và Má dâng lời cầu nguyện kết thúc. Mỗi ngày lúc ba giờ chiều là giờ tử nạn của Chúa Giêsu, Má dâng thánh lễ với ba giọt rượu và một giọt nước trong lòng bàn tay với mẫu bánh nhỏ được bẻ vụn ra. Bên kia bức tường của phòng giam Bảy cũng làm như thế… Cuộc tĩnh tâm linh thao theo phương pháp thánh Ignatiô Loyola của Má kéo dài đúng một tháng… (Nguyễn Hồng Phúc, Câu chuyện của Má và Bảy)
ĐGM Fx Nguyễn Văn Thuận (Má) đã mời Lm Giuse Nguyễn Quang Thạnh (Bảy) giảng cấm phòng cho ngài, để chuẩn bị cuộc lữ hành gian lao ròng rã 13 năm. Ngài noi gương Thầy Giêsu vào sa mạc 40 ngày đêm, chịu Satan cám dỗ, sống giữa loài dã thú, chay tịnh cầu nguyện, chuẩn bị đi gieo Tin Mừng.
Hoang địa
Sau khi vào hoang địa 40 ngày đêm chay tịnh, Đức Giêsu vẫn còn luôn ra nơi hoang vắng để cầu nguyện trong suốt thời công khai rao giảng. Hiện nay, trong cuộc sống ồn ào, xô bồ hiếm khi được thực sự hưởng những giây phút im lặng. Có lẽ vì người ta đâm ra sợ hãi sự thinh lặng, tránh né nỗi cô đơn, không dám đối diện chính mình, nên luôn thích sống trong không gian ô nhiễm tiếng ồn. Tuy nhiên tĩnh lặng lại rất cần thiết cho tâm hồn thư giãn, tái lập quân bình. Cũng như một bản nhạc luôn cần có những dấu lặng thiết yếu, để thay đổi, chuyển sang giai điệu, tiết tấu, hòa âm, lời ca, ý nhạc mới.
Trong Thánh Lễ, có những khoảng lặng quan trọng trước kinh Cáo Mình, sau khi nghe Lời Chúa và Hiệp lễ. Đó là những giây phút nhìn lại mình, suy niệm Tin Mừng và tâm tình cùng Thánh Thể. Tất cả sự thinh lặng đó tựa như không gian thông thoáng, tĩnh mịch của hoang địa, bỏ qua, quên đi những vướng mắc, bận tâm đến thân xác, thế gian, cám dỗ phù phiếm, để có thể gần gũi, cầu nguyện, tâm sự với Chúa.
Ngoài ra, ai cũng có thể tận dụng những giây phút trước khi ngủ, hay khi vừa thức dậy để vào hoang mạc tâm hồn. Xét mình, ăn năn, sám hối và tâm tình với Chúa hằng ngày.
Chay tịnh
Theo nghĩa phổ thông, chay tịnh là giữ mình sạch sẽ, thanh khiết qua việc kiêng ăn thịt động vật, chỉ dùng rau quả cùng các sản phẩm thực vật, và nhất là qua việc giữ tâm hồn yên tĩnh, vô ưu, không vương vấn tham, sân si, lục dục, thất tình. Theo Kitô giáo, chay tịnh tuy cũng có sắc thái tương tự, nhưng kèm thêm ý nghĩa tích cực hơn nữa, là hy sinh, hãm mình, ăn năn, sám hối, xả kỷ vị tha, yêu thương và phục vụ tha nhân, hòa giải, bác ái từ thiện.
Chay tịnh là thoát ra khỏi sự chế ngự, kiềm hãm của thân xác, của bản năng, của cái tôi nhỏ mọn, vị kỷ, để hướng thượng, nâng hồn lên với Thiên Chúa, để hướng ngoại với tha nhân. Đó là hành vi bày tỏ lòng khiêm cung, niềm hy vọng và tình yêu trước Thiên Chúa và tha nhân.
Chay tịnh để hướng về Chúa với một thái độ lệ thuộc, phó thác hoàn toàn, trước khi khởi đầu một nhiệm vụ khó khăn, hay nài xin tha thứ tội lỗi đã vấp phạm, để mở lòng đón nhận ánh sáng Thiên Chúa, xin ơn cần thiết hầu hoàn thành sứ vụ.”Đaniel đừng sợ, bởi ngay từ hôm đầu, khi ngươi đem hết lòng tìm hiểu và ăn chay hãm mình trước nhan Thiên Chúa của ngươi, thì Thiên Chúa đã nghe những lời ngươi nói, và chính vì những lời ấy mà ta đến.” (Đn 10, 12)
Cầu nguyện
Khi giữ chay tịnh thật sự thì mới có thể thành tâm cầu nguyện, như Thánh Phêrô khuyên nhủ. “Anh em hãy sống chừng mực và tiết độ để có thể cầu nguyện được.” (1Pr 4, 7) Mặc dù đã tràn đầy Chúa Thánh Thần khi vào hoang mạc, Đức Giêsu vẫn siêng năng cầu nguyện sớm tối, hầu nhận được hồng ân, Thánh Ý từ Thiên Chúa Cha.
Người dạy các môn đệ cách thức cầu nguyện khiêm tốn, kín đáo và chân thành. “Khi cầu nguyện hãy vào trong phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả công cho anh.” (Mt 6, 6) Hơn nữa, Người còn ban cho các môn đệ Kinh Lạy Cha, một mẫu mực hoàn chỉnh để cầu nguyện.
“Cầu nguyện là nền tảng của đời sống thiêng liêng. Lúc cầu nguyện con nối liền, kết hợp với Thiên Chúa. Bóng điện sáng nhờ nối liền với máy phát điện.” (Đường Hy Vọng, số 120)
Lạy Chúa Giêsu, xin hướng dẫn chúng con vào hoang mạc hằng ngày, qua những phút thinh lặng, cô đơn, để hãm mình, hy sinh và cầu nguyện với Chúa luôn.
Lạy Mẹ Maria, suốt cuộc đời Mẹ là chuyến lữ hành âm thầm, chay tịnh và cầu nguyện, luôn kết hợp tâm tình với Chúa Giêsu, Con Mẹ, để lắng nghe và thực hành Thánh Ý Chúa. Kính xin Mẹ chỉ dạy, hướng dẫn, giúp đỡ chúng con noi gương Mẹ hy sinh hãm mình và cầu nguyện với Chúa luôn. Amen.

 

MC1-B120  Lòng thương cảm sâu xa – Peter Feldmier

(Văn Hào, SDB chuyển ngữ)
Người đã đến rao giảng cho các vong linh bị giam cầm (1 P3, 19)
 

Sự thương hại mang dáng dấp giống như lòng thương xót, nhưng thật sự hoàn toàn khác nhau. MC1-B120 

Sự thương hại mang dáng dấp giống như lòng thương xót, nhưng thật sự hoàn toàn khác nhau. Nhiều phật tử còn coi sự thương hại như là kẻ thù của lòng xót thương chân thật. Sự thương hại nhìn từ bên ngoài, dễ khiến chúng ta ngộ nhận, dễ bị đồng hòa với những rung cảm sâu tận từ con tim. Sự thương hại xảy ra khi nhìn thấy một người bị đau khổ, nhưng chúng ta chỉ đứng ngoài cuộc để bàng quan nhìn vào những khổ đau đó như một người hoàn toàn xa lạ. Nhiều khi chúng ta còn thốt lên “ Cám ơn Chúa, rất may là tôi không gặp những bất hạnh giống như thế’’.
Nhưng sự thương xót chân thật thì trái ngược lại. Nó đặt nền tảng trên tình yêu chân thành. Nó lôi kéo chúng ta đến với những người đau khổ, đồng hành với họ, cảm thương họ, và chia sẻ với họ về những thống khổ họ đang gánh chịu. Tín hữu phật giáo diễn tả sự thương xót đó bằng thuật ngữ Karuna, có nghĩa là “ Mang chở nơi mình một con tim biết rung động”. Trong Tân ước, chúng ta cũng gặp hạn từ Splanknizomai, nghĩa là “ Cảm thấu đến tận ruột gan” trước nỗi khổ đau của kẻ khác. Sự thương xót mời gọi chúng ta đi vào chiều sâu, biết cảm thông và biết sẻ chia một cách sâu xa trong chính trạng huống thực sự của cuộc sống con người.
Sự đồng cảm đó là một sợi dây vô hình gắn kết con người lại với nhau. Ví dụ khi chúng ta đang gặp đau khổ, tâm hồn bị bầm dập và tan nát, có một ai đó đã quảng đại, sẻ chia và thông sự vào chính đời sống chúng ta một cách cụ thể. Hoặc ngược lại, có bao giờ chúng ta đã trải nghiệm việc đồng cảm và chia sẻ thực sự với những đớn đau của người khác? Làm sao chúng ta có thể xem nỗi khổ của người khác như là nỗi đau của chính mình để thực sự biết thương cảm một cách sâu xa.
Tin mừng hôm nay kể lại biến cố Đức Giêsu lui vào hoang địa và ở đó 40 ngày, trước khi khởi sự sứ vụ rao giảng công khai. Marcô diễn tả sự kiện này chỉ với 2 câu giản đơn “ Thần khí đẩy Ngài vào hoang địa. Người ở đó 40 ngày, chịu Satan cám dỗ, sống giữa loài dã thú, và có các thiên sứ hầu hạ Ngài.” Nhìn nơi Đức Giêsu, Đấng được Thần khí đưa vào sa mạc, chịu sự tấn công của Satan, và sống giữa loài dã thú, giữa những con vật khủng khiếp nhất, đáng sợ nhất, chúng ta cảm nhận ra đó là một thân phận rất bi thương trong kiếp người. Cuộc sống của Ngài 40 ngày trong sa mạc đã không còn là cuộc sống của chính Ngài nữa.
Bài đọc hai hôm nay trích trong thơ thứ nhất của Thánh Phêrô tông đồ gửi đến các Kitô hữu mới được lãnh nhận phép rửa. Trong đoạn văn này, thánh nhân diễn tả cái chết của Đức Kitô như là phương cách chuộc tội cho con người, và cơn đại hồng thủy năm xưa là một hình ảnh tiên báo ( bài đọc 1). Trận lụt phác vẽ trước hình ảnh của bí tích rửa tội, và chính qua giếng rửa tội chúng ta được cứu chuộc. Thánh Phêrô còn nói thẳng thừng một điều xem ra rất khó hiểu: Ngài đã đến rao giảng cho các vong linh bị giam cầm (1P 3,14), tức là những con người trước đây đã phạm tội vì bất tuân phục. Tôi không có ý cắt nghĩa bản văn theo nghĩa đen của từng câu từng chữ, giống như chúng ta vẫn thường tuyên tín trong kinh Tin Kính, “sau khi chết, Người xuống ngục tổ tông đem các thánh lên thiên đàng”, hoặc cũng phản ánh một điều mà Đức Giêsu đã nói trong bài giảng trên núi. Tôi muốn mời gọi chúng ta hãy nhìn lên Con người Chịu- Đóng-Đinh, Đấng đã đem sự hiện diện cứu độ của Ngài đến những vùng tối tăm nhất của phận kiếp con người. Sheol hay cõi “lâm bô” như được nói đến trong cựu ước, được trình bày như là một thế giới mênh mông ngập trong nước, nơi không còn hy vọng, nơi không có sự sống và không có cả Thiên Chúa. Đức Giêsu đã sẻ chia kinh nghiệm của chính Ngài. Với tình yêu giải thoát, Ngài đã đi vào thế giới con người, xuống tận vực thẳm ngập sâu trong tối tăm của kiếp sống làm người.
Vào Chúa nhật thứ nhất mùa chay, chúng ta được mời gọi để cử hành suốt thời gian này để đi vào sự thương cảm với anh chị em đồng loại. Tức là chúng ta phải tiến sâu vào thân phận con người để nhìn ra những khổ đau, những bầm dập và cay đắng, hầu biết diễn bày lòng thương xót sâu xa, và để con tim chúng ta luôn biết rung động. Ba hình thái theo truyền thống của mùa chay là cầu nguyện, chay tịnh và bố thí sẽ giúp chúng ta bắt đầu mùa chay thật ý nghĩa. Chúng ta cầu nguyện để thông hiệp sâu xa hơn với Đấng đã đem chúng ta vào hiện hữu, và lôi kéo chúng ta đến với tình yêu vô tận của Ngài. Chúng ta thực hành việc chay tịnh để cảm thông với 2 triệu người trên thế giới đang đói, đang khát vì chẳng có cái gì để ăn. Chúng ta giang rộng đôi tay bố thí để giải thoát chúng ta khỏi sự keo kiệt ích kỷ, hầu chúng ta được liên đới chặt chẽ hơn với những người đang cần đến chúng ta.
Mùa chay là thời gian đặc biệt để giúp chúng ta ý thức, đồng thời khơi dậy nơi chúng ta lòng thương cảm sâu xa. Đây là thời kỳ mà Giáo hội gọi mời chúng ta phải tiến sâu hơn, đi vào sự chia sẻ đồng phận trong kiếp người, với những ai đang gặp khổ đau, để với một tình yêu chân thành, chúng ta biết sống chan hòa, và con tim chúng ta biết rung động trước những khổ đau của anh chị em mình.

 

MC1-B121: Thần lành, thần dữ

(Suy niệm của Lm. Vũ Đình Tường)
 

Cuộc đời rao giảng nơi trần thế của Đức Kitô cho thấy sự khác biệt rõ ràng giữa thần lành và thần MC1-B121

Cuộc đời rao giảng nơi trần thế của Đức Kitô cho thấy sự khác biệt rõ ràng giữa thần lành và thần dữ. Thần lành hướng dẫn Đức Kitô vào hoang địa chuẩn bị cho cuộc đời rao giảng công khai. Trái lại thần dữ rình rập tìm cơ hội cám dỗ Đức Kitô nơi hoang địa. Còn một thần nữa Kinh Thánh không nhắc đến đó chính là thần khí của Đức Giêsu. Kinh Thánh dường như không phân biệt sự khác biệt giữa Thần Khí Thiên Chúa và Thần Khí của Đức Kitô nhưng thường dùng chung, hoán đổi cho nhau.
Trong bài giảng đầu tiên nơi hội đường, người ta đưa cho Đức Kitô sách thánh, Ngài mở ra đúng đoạn tiên tri Isaiah nói về Ngài.
Thần Khí Thiên Chúa ngự trên tôi (Lc 4,18)
Sách tiên tri Isaiah chương 62,1-2 tiên đoán về cuộc đời rao giảng của Đức Kitô trong đó nhấn mạnh đến việc
Ngài đến để mang Tin Mừng đến cho người nghèo khó, giải thoát kẻ bị giam cầm, cho người mù sáng mắt, giải thoát kẻ bị đoạ đầy và công bố năm hồng ân của Thiên Chúa.
Sứ mạng của Đức Kitô được hiểu một là ích lợi về phần xác và hai là ích lợi phần tâm linh. Đức Kitô mang thân phận con người như chúng ta nên con tim Ngài cũng có cảm giác như chúng ta cảm nghiệm. Con tim Ngài cũng biết đau khổ, sợ sệt khi đối đầu với thập giá. Con tim Ngài cũng quằn quại, dằn vặt trước bất công của xã hội, đè nén, chèn ép con người dành cho nhau. Con tim Ngài cũng thấm cảnh con người hành hạ con người, mệt mỏi khó khăn của kẻ tìm công việc. Con tim Ngài cũng biết chán nản, biết mệt mỏi khi phải mong chờ. Những lúc như thế Ngài thường tìm nơi thanh vắng tâm sự cùng Chúa Cha. Con tim Ngài cũng rung động khi ban phát tình yêu và vui mừng đón nhận yêu thương và những lúc như thế Ngài trở về hoang địa tâm hồn, tìm nơi thanh tịnh cảm tạ Chúa Cha. Vì thế để hiểu tâm tình của Đức Kitô chúng ta cũng cần có con tim biết cảm thông của Ngài. Để biết được tâm tình của Thiên Chúa Cha chúng ta cần biết tâm tình của Đức Kitô. Để trở thành môn đệ trung tín của Đức Kitô chúng ta cần tìm nơi thanh vắng tâm sự cùng Đức Kitô.
Về phương diện tâm linh Đức Kitô công bố năm hồng ân của Thiên Chúa và kêu gọi con người thống hối và tin vào Tin Mừng Mc 1,15.
Hành trình thống hối gặp khó khăn, chống đối mãnh liệt từ thần dữ vì thống hối chính là từ bỏ đường lối sống của thần dữ để trở thành con cái sự sáng. Thần dữ coi việc từ bỏ này là hành động phản bội lại chúng và chúng sẽ tìm mọi cách để cám dỗ và nếu cần phải tiêu diệt kẻ phản bội chúng sẽ không ngần ngại. Vì thế hành trình thống hối luôn gặp khó khăn, nội chiến trong tâm hồn xảy ra. Bao nhiêu tư tưởng ma quỷ đưa ra khiến ta ngập ngừng, tìm cơ hội kéo dài thời gian quyết định mong ta dùng giằng trước ngã ba hầu mệt mỏi, buông xuôi theo con đường ma quỷ muốn ta đi theo. Quyết tâm đầu tiên trong hành trình thống hối là tiến vào sa mạc, nơi thanh vắng, chỗ không người đề tâm hồn được an nghỉ. Chính nơi đó ta nghe tiếng mời gọi của Thiên Chúa rõ ràng hơn, mạch lạc hơn, trong sáng hơn bởi thế sa mạc tâm hồn là nơi ta tìm được tiếng Thiên Chúa và tình yêu Chúa.
Đức Kitô không cần thống hối, không cần vào sa mạc nhưng Ngài tự nguyện vào sa mạc để chỉ cho con người con đường thống hối, con đường sa mạc. Chính nơi đó Ngài gặp Chúa Cha nhưng vừa bước chân ra khỏi samạc ma quỷ đã chờ sẵn để cám dỗ. Đức Kitô dùng Lời Chúa đáp trả chúng và chúng đã thua. Chúng ta cũng cần học hỏi Lời Chúa để đáp trả ma quỉ khi chúng đến cám dỗ. Thống hối thật cần đi chung với Lời Chúa, không có lời Chúa đi kèm không có thống hối thật sự vì tự chúng ta không đủ sức chống lại cám dỗ của ma quỉ.
Có sự khác biệt giữa thần khi của Đức Giêsu trần thế và thần khi của Đức Kitô Phục Sinh. Thần khi nơi trần thế của Đức Giêsu nhấn mạnh đến con tim yêu thương của Thiên Chúa; Thần Khí của Đức Kitô Phục Sinh nhấn mạnh đến việc làm cho vinh quang Thiên Chúa rạng rỡ hơn. Vì thế khi nhắc đến Đức Kitô Phục Sinh là nhắc đến vinh quang, khải hoàn, chiến thắng và triều thiên vinh hiển nơi thiên quốc. Nhắc đến thần khí Đức Giêsu trần thế là nhắc đến tâm tình yêu thương, tha thứ và bác ái, từ bi, nhẫn nại.

 

MC1-B122: HÃY HỒI TÂM ĐỔI MỚI

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT
Mc 1, 12 – 15
 

 Mùa chay mời gọi chúng ta hồi tâm, sám hối, đổi mới để trở về với Chúa. Mùa chay cũng nhắc nhở MC1-B122

Mùa chay mời gọi chúng ta hồi tâm, sám hối, đổi mới để trở về với Chúa. Mùa chay cũng nhắc nhở chúng ta ý thức, tỉnh thức trước những thử thách, những cám dỗ, cạm bẫy đang bủa vây xung quanh chúng ta. Do đó, Chúa luôn cảnh tỉnh chúng ta hãy sáng suốt, hãy tỉnh thức để biết phân định đâu là cám dỗ, đâu là cạm bẫy, đâu là những gì phải chọn lựa để đi theo đúng đường lối củả Chúa.
Thánh Máccô thuật lại cho chúng ta về câu chuyện Chúa Giêsu vào sa mạc ăn chay, cầu nguyện bốn mươi đêm ngày để chuẩn bị sứ vụ công khai của Ngài. Trong hoang địa, Chúa Giêsu đã chìm đắm  trong chay tịnh, cầu nguyện thân mật với Thiên Chúa Cha. Ngài sống hòa hợp với mọi loài dã thú, mọi loài thọ tạo và với các thiên thần. Nơi sa mạc, Chúa Giêsu đã tỏ cho nhân loại, cho chúng ta biết thời kỳ đã mãn và Thiện Chúa đã tới gần. Nên, Ngài mời gọi tất cả chúng ta hãy vứt bỏ những gì là cồng kềnh, những gì là quá khổ để bước vào con đường hẹp. Những cồng kềng, quá khổ là những điều tiêu cực, ham mê tiền tài, danh vọng, địa vị, thú vui xác thịt. Ngài nói rằng đó là những cạm bẫy, những cám dỗ và là tội lỗi làm ngăn cản con người đến với Chúa. Ngài tỉnh thức con người hãy hồi tâm, thay đổi lối sống, đổi mới tư duy, lối nhìn và hành động tốt, hãy làm nhưng việc tỏa sáng. Ngài truyền cho chúng ta tin, chứ đừng cứng lòng vì Nước Thiên Chúa đã tới gần.
Vâng, ngày nay văn minh đã vượt bực, con người đang gặp phải những cạm bẫy nghiêm trọng, những cám dỗ ghê gớm. Một thế giới văn minh nhưng vì quá văn minh, nên con người sống xa Thiên Chúa. Một thế giới có nhiều những tiện nghi vật chất, con người tìm kiếm hưởng thụ, sống ích kỷ và ham hố lợi danh. Chủ nghĩa cá nhân thống trị. Con người tìm kiếm lạc thú trong những tiêu khiển vô vọng. Con người đòi hỏi xác thịt với những cám dỗ thân xác mời mọc, những khêu gợi, kích thích giác quan vv…Tội lỗi càng chồng chất, Chúa mời gọi chúng ta, mời gọi con người luôn phải cảnh giác trước những cạm bẫy giăng mắc tràn đầy.
Đức Giêsu theo Tin Mừng hôm nay trình bầy đã phải đối phó liên tục với những cám dỗ ma quỷ giăng ra trong suốt bốn mươi đêm ngày :” Người ở trong sa mạc bốn mươi đêm ngày chịu ma quỷ cám dỗ “ ( Mc 1, 13 ). Việc ma quỷ, satan cám dỗ không phải chỉ một lần là chấm dứt, là xong, nhưng ma quỷ giăng bẫy, cám dỗ liên tục con người, cám dỗ triền miên cả một kiếp người, cả một đời người.
Ngày hôm nay, tiếng Chúa vẫn vang lên và lời kêu gọi của Gioan Tẩy Giả:” Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng “ luôn có giá trị. Tin vào Thiên Chúa dù cuộc đời có là cạm bẫy, thử thách, chông giai. Tin vào Chúa, nương tựa vào Chúa là đủ như lời thánh Phaolô nói:” Tôi có thể làm được mọi sự trong Đấng ban sức mạnh cho tôi”. Hoặc như lời Chúa phán :” Ơn của Ta là đủ cho ngươi rồi”. Xung quanh chúng ta, xung quanh con người có biết bao thử thách, cám dỗ của ma quỷ, nếu con người và tất cả chúng ta không đủ can đảm, tỉnh thức và tin tưởng mãnh liệt vào Chúa, chúng ta sẽ dễ rơi vào sa ngã…Con người phải dám hồi tâm, quay về như Phêrô đã chối Chúa ba lần, nhưng thánh nhân đã khiêm tốn, can đảm quay về vì tin Thiên Chúa sẽ tha thứ cho Ngài…Như Phaolô cũng đã hồi tâm, quay về và can đảm hỏi :” Ngài là ai ?”. Có khiêm tốn và dám can đảm quay về với Chúa, chắc chắn, Ngài sẽ tha thứ và đưa tay ôm như người con hoang đàng quay về…Hãy tin tưởng vào Lòng Thương Xót và thứ tha của Thiên Chúa. Can đảm đứng dậy chứ đừng ngồi lì trong tội lỗi, trong tật xấu vv…
Chúng ta hãy nhớ dù sống trong xa hoa, giầu sang phú quý nhưng xa vắng Thiên Chúa, tất cả đều vô ích vì chỉ duy nhất Thiên Chúa mới cứu độ, mới giải thoát và ban hạnh phúc cho con người…
Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con ơn biết hối cải để chúng con luôn biết quay về với Chúa vì chỉ có Chúa mới ban ơn cứu rỗi cho chúng con.Amen.
 GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
 1.Tại sao Chúa lại bị satan cám dỗ ?
2.Ma quỷ chỉ cám dỗ một lần là buông tha con người phải không?
3.Ơn sám hối là gì ?
4.Chúng ta có cần hồi tâm, sám hối không ?
5.Ơn cứu độ là gì ?
 
 

MC1-B123: Sau cơn hồng thủy

CHÚA NHẬT I MÙA CHAY
Lắng nghe sứ điệp Lời Chúa  (St 9:8-15;  1 Pr 3:18-22;  Mc 1:12-15)
 

Những cơn lụt lội, tuy tàn phá và gây thiệt hại đáng kể cho dân chúng, nhưng để lại một miền đất MC1-B123

Những cơn lụt lội, tuy tàn phá và gây thiệt hại đáng kể cho dân chúng, nhưng để lại một miền đất màu mỡ cho mùa màng những năm kế tiếp.  Nước lũ cướp đi rất nhiều thứ quý giá của chúng ta, nhưng cũng đem lại cho đất đai một khả năng canh tác mới.  Đề tài Phụng vụ Lời Chúa hôm nay xoay quanh tác động thanh tẩy của nước, từ nước của trận lụt hồng thủy đến nước sông Gio-đan của phép rửa Gio-an Tẩy giả và sau cùng là nước của bí tích Thánh tẩy.  Trong nghi thức làm phép nước Rửa tội, Giáo Hội đã không quên nhắc đến vai trò của nước lụt hồng thủy và phép rửa của Gio-an như là những hình ảnh báo trước bí tích Thánh tẩy, nhờ đó chúng ta được làm con Thiên Chúa và được Thánh Thần dẫn dắt để sống cuộc đời mới với căn tính mới.
                Tại sao có trận lụt đại hồng thủy?  Sách Sáng Thế cho ta biết lý do:  “Đức Chúa thấy rằng sự gian ác của con người quả là nhiều trên mặt đất, và lòng nó chỉ toan tính những ý định xấu suốt ngày.  Đức Chúa hối hận vì đã làm ra con người trên mặt đất, và Người buồn rầu trong lòng. Đức Chúa phán: ‘Ta sẽ xoá bỏ khỏi mặt đất con người mà Ta đã sáng tạo, từ con người cho đến gia súc, giống vật bò dưới đất và chim trời, vì Ta hối hận đã làm ra chúng’” (6:5-7).  Thế là mưa ròng rã bốn mươi đêm ngày và nước dâng cao suốt một trăm năm mươi ngày khiến không còn người hay vật nào sống sót, trừ gia đình ông Nô-ê và các loài vật ở trong tàu với ông.  Tuy nhiên quan trọng hơn cả là những gì xảy ra sau cơn lụt hồng thủy.  Ngoài việc sống sót của gia đình ông Nô-ê và các loài vật, sự kiện quan trọng là Thiên Chúa đã lập giao ước với loài người.  Thiên Chúa cam kết sẽ không bao giờ dùng nước để hủy diệt nhân loại nữa.  Cầu vồng là dấu hiệu của giao ước nói lên cam kết ấy và “nước sẽ không còn trở thành hồng thủy để tiêu diệt mọi xác phàm nữa”.  Thiên Chúa đã dùng nước hồng thủy hủy diệt những kẻ xấu và Người hy vọng ông Nô-ê và con cháu ông sẽ là một nhân loại mới như Người mong ước.  Nhưng mong ước của Chúa có thành hay không thì chúng ta đã biết rồi!  Cũng không sao, vì Người sẽ có một kế hoạch khác:  tuyển chọn Áp-ra-ham để thiết lập một “dân riêng”, để từ đó Đấng Cứu Độ xuất hiện.
                Bước sang một giai đoạn mới của lịch sử cứu độ, chúng ta thấy dường như Thiên Chúa vẫn “thất bại”!  Dân riêng của Người vẫn chứng nào tật nấy, không muốn khép mình sống theo các giới răn của Người, mặc dù Người “không ngừng sai tất cả các tôi tớ của Ta là các ngôn sứ đến với chúng;  nhưng chúng đã không nghe, cũng chẳng để tai, lại ra cứng đầu cứng cổ” (Giê-rê-mi-a 7:25, 26).  Cuối cùng, vị ngôn sứ chuyển tiếp từ Cựu Ước sang Tân Ước là ông Gio-an Tẩy Giả, đã làm phép rửa tại sông Gio-đan để kêu gọi người ta sám hối và chuẩn bị đón nhận Đấng Cứu Độ là Chúa Giê-su.  Nước sông Gio-đan mời gọi dân chúng bước vào hành trình sám hối, đồng thời nước ấy cũng đem đến cho nhân loại Đấng Cứu Độ:  “Khi Đức Giê-su chịu phép rửa xong, vừa ở dưới nước lên, thì các tầng trời mở ra. Người thấy Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu và ngự trên Người” (Mát-thêu 3:16).
                Tiếp đến, thánh Phê-rô giúp ta hiểu ý nghĩa của nước Rửa tội (bài đọc 2).  Ngài viết về nước lụt hồng thủy:  “Nước đó là hình bóng phép rửa nay cứu thoát anh em”.  Rồi ngài nói thêm về ý nghĩa bí tích Thánh tẩy:  “Lãnh nhận phép rửa, không phải là được tẩy sạch vết nhơ thể xác, mà là cam kết với Thiên Chúa sẽ giữ lương tâm trong trắng, nhờ sự phục sinh của Đức Giê-su Ki-tô”.  Chúng ta thắc mắc:  tại sao nước lụt hồng thủy và nước sông Gio-đan chỉ là hình bóng bí tích Thánh tẩy?  Là vì những cách thanh tẩy nói trên chỉ là bằng nước, còn phép rửa của Chúa Giê-su qua cái chết và sự phục sinh của Người mới là phép rửa bằng Thánh Thần, để nhờ Thánh Thần, chúng ta được kêu lên: “Áp-ba!  Cha ơi!” (Ga-lát 4:6).  Nghĩa là ta được trở nên con Chúa!
Sống sứ điệp Lời Chúa
                Chúa Giê-su sau khi chịu phép rửa và đặt mình trong sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần, đã ra đi rao giảng ơn sám hối và Tin Mừng cứu độ.  Đó chẳng phải là gương mẫu cho tất cả chúng ta, những người đã lãnh nhận bí tích Thánh tẩy sao?  Như thánh Phê-rô dạy, được rửa tội là “cam kết với Thiên Chúa sẽ giữ lương tâm trong trắng”, chúng ta cần đặt câu hỏi:  Mùa Chay này có giúp tôi nhìn lại cam kết giữa tôi với Chúa không?                 
Lm. Đa-minh Trần đình Nhi                  
 

MC1-B124:  NOI GƯƠNG CHÚA ĐỂ CHIẾN THẮNG CÁM DỖ

CHÚA NHẬT I MÙA CHAY, NĂM B
 (St 9,8-15;1 Pr 3,18-22; Mc 1,12-15)
Tu sĩ: Jos. Vinc. Ngọc Biển, S.S.P.
 

Hôm nay, chúng ta cùng với Giáo Hội bước vào Chúa Nhật đầu tiên của Mùa Chay. Trong Chúa MC1-B124

Hôm nay, chúng ta cùng với Giáo Hội bước vào Chúa Nhật đầu tiên của Mùa Chay. Trong Chúa Nhật này, Giáo Hội mời gọi con cái mình hãy noi gương Đức Giêsu khi đối diện với thử thách, đồng thời cũng đưa ra cho chúng ta những phương thế hữu hiệu mà chính Đức Giêsu đã dùng để chống trả trước cám dỗ. Mặt khác, hãy đáp lại lời mời gọi của Đức Giêsu: “Sám hối và tin vào Tin Mừng để được cứu độ”.
Vì thế, với chúng ta, đây là thời thuận tiện, là: “thời Chúa thi ân, là ngày Thiên Chúa cứu độ” (2 Cr 6,2).
1.             Âm mưu cám dỗ
Khi nói đến cám dỗ, chắc chắn chúng ta đều hiểu rằng đó là một sự mưu mô, mánh khóe của kẻ chủ mưu. Nói cách khác, những trò độc hại sẽ được tung ra để đầu độc người mà tên cám dỗ muốn thuyết phục.
Vậy đâu là mục đích của các cơn cám dỗ mà ma quỷ gây ra với Đức Giêsu.
Thưa, đó là: ma quỷ tìm mọi cách để đưa Đức Giêsu đi vào vết xe của Nguyên Tổ khi xưa.
Nếu trước kia Nguyên Tổ bị ma quỷ cám dỗ về danh vọng khi hứa sẽ được sáng mắt ra và bằng Thiên Chúa, thì hôm nay, chúng cũng cám dỗ Đức Giêsu hóa đá thành bánh để ăn. Tuy nhiên, Đức Giêsu đã thắng khi nói: Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra” (Mt 4,4).
Nếu trước kia ma quỷ cám dỗ Tổ Tông chúng ta tự tin vào sức mình, và Nguyên Tổ đã mắc phải, thì hôm nay, nó cũng cám dỗ Đức Giêsu như vậy. Nhưng lần này Ngài cũng vượt qua khi nói: Ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi” (Mt 4,7).
Nếu xưa kia Nguyên Tổ loài người đã tham lam, không chịu chấp nhận những gì mình có. Đây là lòng tham vô đáy của con người. Hôm nay, ma quỷ cũng cám dỗ Đức Giêsu về sự tham lam này khi chúng cho Ngài xem thấy các nước thiên hạ và bắt Ngài phải thờ lạy chúng. Nhưng như hai lần trước, lần này, Đức Giêsu cũng chiến thắng và Ngài tuyên bố: “Satan kia, xéo đi! Vì đã có lời chép rằng: Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi” (Mt 4, 10).
Như vậy, trải qua ba cơn cám dỗ, ma quỷ làm toát lên mục đích của chúng là cám dỗ Đức Giêsu đi sai đường lối của Thiên Chúa, nhưng Ngài đã chiến đấu dũng mạnh và chiến thắng vinh quang để đi đúng đường lối của Thiên Chúa là dấn thân vào công cuộc cứu chuộc nhân loại.
Gợi lại vài điểm mấu chốt trong cuộc cám dỗ của ma quỷ với Đức Giêsu và cũng là của chúng ta để thấy được đâu là mấu chốt của cuộc cám dỗ và đâu là chìa khóa để chúng ta vượt ra khỏi cơn cám dỗ đó.
2.             Chìa khóa để chiến thắng cám dỗ
Chìa khóa thứ nhất đó là cầu nguyện. Đức Giêsu đã cầu nguyện, sống thân tình với Thiên Chúa suốt 40 đêm ngày. Thời gian này, Ngài luôn trung thành và làm theo thánh ý Thiên Chúa.
Chìa khóa thứ hai, đó là ăn chay, hy sinh và hãm mình. Khi chúng ta giữ chay tịnh, thì đương nhiên phải hy sinh, hãm mình. Khi làm những việc đó, nó sẽ giúp chúng ta biết hướng lòng mình về với Thiên Chúa, để đón đợi Ngài đến với ta trong ngày cánh chung.
Bên cạnh đó, nó còn giúp chúng ta được trở nên con người tự do, không bị ràng buộc vào những nhu cầu của thân xác, danh vọng và tình dục….
Khi thoát ra khỏi những nhu cầu bản năng đó, chúng ta được thanh thoát trong đời sống đức tin của mình và dễ dàng tiến xa hơn trên con đường tình yêu và sự liên đới với anh chị em khác trong việc thực thi đức bác ái.
Chìa khóa thứ ba, đó là: luôn luôn sống dưới sự soi dẫn của Chúa Thánh Thần. Chính Người sẽ giúp chúng ta biết phải sống làm sao và sống như thế nào cho đẹp lòng Chúa. Điều này cũng đã được Đức Giêsu loan báo: “Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần mà Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy các con mọi điều” (Ga 14,26).
Chía khóa thứ tư, đó là thực hành Lời Chúa. Lời Chúa sẽ là sức mạnh, là đường dẫn ta đi, là lý tưởng cho ta vươn tới và là sự sống đời đời cho những ai tin. Chính Lời Chúa sẽ giúp cho chúng ta tỉnh thức để chiến thắng được cạm bẫy của Satan.
3.             Sứ điệp Lời Chúa
Trong suốt Mùa Chay, Giáo Hội không ngừng lặp lại lời mời gọi của Đức Giêsu: “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”.
Vậy, muốn sám hối thực tâm và đón nhận Tin Mừng thật lòng để được sự sống đời đời, chắc chắn chúng ta phải vượt ra khỏi những ồn ào, huyên náo của thế gian để bắt đầu vào một cuộc chiến đấu thiêng liêng nơi sa mạc nội tâm của mình.
Khi đối diện với sa mạc nội tâm, chúng ta sẵn sàng đón nhận những thiếu thốn về vật chất, tiện nghi mà không kêu than oán hận. Sẵn sàng chiến đấu với thế lực đen tối là ma quỷ bằng niềm tin tuyệt đối vào Thiên Chúa. Thể hiện lòng yêu mến Thiên Chúa tha thiết qua việc sẵn sàng sống dưới sự soi dẫn của Chúa Thánh Thần. Luôn thi hành thánh ý Thiên Chúa cách trung thành, tuyệt đối.
Ngược lại, nếu chúng ta không đi vào sa mạc nội tâm để: “Sám hối và tin vào Tin Mừng”, thì chúng ta khó lòng nhận ra thân phận mỏng manh của kiếp người, vốn dễ dàng bị ngã gục trước cám dỗ. Từ đó, sự ích kỷ, hẹp hòi, lộng ngôn, kiêu ngạo, gian dối… luôn bá chủ tâm hồn mình để làm lu mờ lương tâm và dẫn ta đi sai đường trật lối của Thiên Chúa và mất ơn cứu độ!
Vì thế, đây đó, chúng ta vẫn thấy có những người chỉ vì chút quyền lợi trước mắt mà đã sẵn sàng chối Chúa, bỏ đạo để đi theo một lý tưởng mông lung vô định nào đó!!! Hay như những người chỉ biết nghĩ đến cái bụng, đến đồng tiền mà sẵn sàng dùng hóa chất độc hại để làm lợi cho bản thân mà không hề nghĩ đến sức khỏe của người tiêu dùng. Họ cũng chẳng cần nghĩ đến lương tâm, nên sẵn sàng làm hàng giả, hàng nhái; buôn gian bán lận; làm chứng gian…. Hoặc cũng có biết bao nhiêu người đã sa vào những vũng lầy êm ái của các quán bar, bia ôm và café trá hình hay các động mại dâm…, để thỏa mãn nhu cầu thân xác của bản năng….
Khi ta vướng vào những chuyện đó, ấy là chúng ta đã tự nguyện mở một con đường thênh thang, thoáng mát và đẹp đẽ cho ma quỷ tiến vào làm chủ tâm hồn chúng ta và dẫn ta đến nơi: “Khóc lóc và nghiến răng”.
Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta: mỗi khi bị cám dỗ, hãy biết cậy dựa vào ơn Chúa và sống Lời Chúa dạy dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.
Khi biết bám vào Chúa Thánh Thần, chúng ta sẽ nhận được những: “Ơn khôn ngoan, ơn hiểu biết, ơn nhận thức, ơn chỉ bảo, ơn dũng mạnh, ơn thánh thiện và ơn kính sợ Thiên Chúa”. Và như một lẽ tất yếu, kết quả của những ơn đó chính là: “Bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ” (x. Gl 5,22-23)
Xin Chúa giúp chúng ta khiêm tốn trong thời gian thuận tiện này để sám hối, chay tịnh, cầu nguyện và hy sinh. Luôn biết quy hướng mọi chiều kích của cuộc sống mình nơi Lời Chúa dưới sự soi dẫn của Chúa Thánh Thần để sống xứng đáng là con Chúa và là anh chị em của nhau. Amen.
.
 
 

MC1-B125: CHIẾN THẮNG MA QUỶ CÁM DỖ

CN I MÙA CHAY B
St 9,8-15 ; 1 Pr 3,18-22 ; Mc 1,12-15
I. HỌC LỜI CHÚA
1. TIN MỪNG: Mc 1,12-15.
(12) Thần Khí liền đẩy Người vào hoang địa. (13) Người ở trong hoang địa bốn mươi ngày, chịu Xa-tan cám dỗ, sống giữa loài dã thú, và có các thiên sứ hầu hạ Người. (14) Sau khi ông Gio-an bị nộp, Đức Giê-su đến miền Ga-li-lê rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa. (16) Người nói: “Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”.
2. Ý CHÍNH:
 

Sau khi được tấn phong làm Đấng Thiên Sai (Mê-si-a), Đức Giê-su đã được Chúa Thánh Thần hướng dẫn MC1-B125

Sau khi được tấn phong làm Đấng Thiên Sai (Mê-si-a), Đức Giê-su đã được Chúa Thánh Thần hướng dẫn vào hoang địa để được thử thách và Người đã chiến thắng ma quỉ cám dỗ. Đến khi Gio-an Tẩy Giả bị bắt, thì Đức Giê-su bắt đầu thi hành sứ mạng Thiên Sai bằng việc đi khắp nơi kêu gọi người ta ăn năn sám hối tội lỗi và tin vào Tin Mừng Nước Thiên Chúa.
3. CHÚ THÍCH:
- C 12-13: + Thần Khí liền đẩy Người: Khi chịu phép Rửa của Gio-an Tẩy Giả, Đức Giê-su đã được Thánh Thần lấy hình chim câu đậu xuống trên mình để xức dầu thiêng liêng tấn phong làm Đấng Thiên Sai. Từ đây Người luôn được Thánh Thần hướng dẫn hành động mà việc đầu tiên là chiến thắng cơn cám dỗ của ma quỷ. + Vào hoang địa (sa mạc): Khi giải thoát con cháu Gia-cóp khỏi ách nô lệ cho người Ai Cập, Đức Chúa đã đưa họ “vào sa mạc” 40 năm, để ký một giao ước công nhận họ là dân riêng của Người, thanh luyện họ khỏi các đam mê tội lỗi. Đây cũng là thời gian thử thách lòng trung tín của họ đối với Người. Đến thời các ngôn sứ, Hô-sê đã diễn tả đúng ý nghĩa của sa mạc khi ông trình bày Đức Chúa yêu thương dân Ít-ra-en giống như một người chồng yêu vợ, đã dẫn đưa dân này vào sa mạc để sống thân mật với Người (x. Hs 2,16). + Đức Giê-su “vào sa mạc”: Sau khi được công nhận là Người Con Yêu Dấu đẹp lòng Chúa Cha và đã đón nhận được đầy Thần Khí, Đức Giê-su được Thần Khí thúc đẩy vào sa mạc, để sống thân tình với Chúa Cha bằng việc cầu nguyện và ăn chay trong suốt 40 ngày. Đây cũng là thời gian Người chịu ma quỉ thử thách. Nhờ luôn chọn theo lời Thánh Kinh, Đức Giê-su đã chiến thắng Xa-tan cám dỗ, và chứng minh lòng trung thành đối với sứ mạng Thiên Sai được Chúa Cha trao phó. + Bốn mươi ngày: Con số 40 tượng trưng cho một thời gian dài. Chẳng hạn: Trong Đại Hồng Thủy, ông No-e đã mở cửa sổ tàu sau khi nước rút được 40 ngày (x. St 8,6); Trong cuộc Xuất Hành, Mô-sê đã lên núi tiếp xúc với Đức Chúa suốt 40 ngày đêm (x. Xh 34,28); Dân Ít-ra-en phải lưu lạc trong sa mạc suốt 40 năm trường (x. Ds 14,34); Vua Đa-vít đã cai trị trong thời gian 40 năm (x 2 Sm 5,4); Ngôn sứ Ê-li-a đã chạy trốn lên núi Khô-rếp mất 40 ngày đêm (x. 1V 19,8); Đức Giê-su đã vào sa mạc ăn chay cầu nguyện 40 ngày (x. Mc 1,13). + Xa-tan: Xa-tan nghĩa là “kẻ thù”, “kẻ chống đối”, hay còn được gọi là “ma quỉ” hay Di-a-bo-los nghĩa là “kẻ kiện cáo”, “kẻ vu khống”. Đây là nhân vật vô hình có hai hoạt động là: nhập vào một người để bắt họ nói hay làm theo ý của nó và cám dỗ, xúi giục người ta phạm tội chống lại Thiên Chúa. + Cám dỗ: Cơn cám dỗ của ma quỉ gồm 3 giai đoạn như sau: Một là gợi lên trong đầu người ta một hình ảnh hợp với nhu cầu của họ. Hai là làm cho người ta vui thích với hình ảnh ấy hoặc ước muốn làm điều xấu xa độc ác. Ba là người bị cám dỗ sẽ quyết định chiều theo hay không theo sự xúi giục của ma quỉ. Quyết định làm theo ma quỉ là đã phạm tội. Đối với Đức Giê-su, Xa-tan chỉ có thể cám dỗ ở giai đoạn thứ nhất, nghĩa là gợi lên trong tâm trí Người một tư tưởng hay một hình ảnh phù hợp với nhu cầu. + Sống giữa loài dã thú và có các thiên sứ hầu hạ Người: Đức Giê-su đã chiến thắng cơn thử thách cám dỗ của Xa-tan. Dấu chỉ cụ thể của cuộc chiến thắng ấy là Người đã được Thiên Chúa che chở để sống hòa hợp với dã thú và còn được các thiên thần đến hầu hạ phục vụ (x. Tv 91,11-13). Đây là quang cảnh của thời Thiên Sai: một thời kỳ thái bình và đầy tình yêu thương huynh đệ, trong đó mọi loài vật sẽ sống hòa hợp với nhau và sẽ không có chỗ cho sự ganh ghét và hận thù nhau (x. Is 11,6-9 ; 65,25).
- C 14-15: + Sau khi Gio-an bị nộp: Việc Gio-an bị bắt nói lên sứ mạng của ông là tiền sứ hay tiền hô của Đấng Thiên Sai đã chấm dứt, để chuyển sang thời kỳ Đức Giê-su thực hiện ơn cứu độ. + Ga-li-lê: Ga-li-lê là miền Bắc của nước Do Thái, nơi đây có nhiều dân ngoại sống lẫn lộn với dân Do Thái. Đức Giê-su đã bỏ miền Giu-đê đến Ga-li-lê để bắt đầu rao giảng Tin Mừng Nước Thiên Chúa. + Lời rao giảng của Đức Giê-su: được tóm kết trong 3 tư tưởng sau: Một là: Thời kỳ đã mãn: Các ngôn sứ chia thời gian làm hai thời kỳ là thời hiện tại và thời cánh chung. Giờ đây Đức Giê-su loan báo thời kỳ hiện tại đã kết thúc để bắt đầu một thời kỳ mới là thời cánh chung, trong đó Thiên Chúa thực hiện lời hứa cứu hộ. Hai là: Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần: Cựu Ước nói đến Vương Quyền của Thiên Chúa đối với Ít-ra-en là dân riêng của Người (x. Is 43,15 ; Tv 47,3). Từ đó, dân Ít-ra-en luôn trông chờ Thiên Chúa sớm thiết lập Vương Quyền của Người. Giờ đây, Đức Giê-su đã khẳng định rằng: Nơi Người, Triều Đại của Thiên Chúa đã đến gần. Ba là: Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng: Sám hối hay Mê-ta-noi-a, một từ Hy lạp có nghĩa là nghĩ khác trước, đổi ý, đổi tâm tình, đổi não trạng, hối tiếc, hối hận. Ở đây, Sám Hối chính là sự thay đổi hướng đi, triệt để từ bỏ tội lỗi để quay về với Giao Ước, và bước vào một đời sống mới. Rồi còn phải tin vào Tin Mừng mà Đức Giê-su rao giảng.
4. CÂU HỎI: 1) Trong cuộc sống công khai rao giảng Tin Mừng, Đức Giê-su đã hành động theo sự thôi thúc hướng dẫn của ai? 2) Thời kỳ Xuất Hành. Đức Chúa đã hạ lệnh cho Mô-sê đưa dân Do thái vượt qua biển Đỏ vào trong sa mạc suốt thời gian 40 năm để làm gì? Còn Đức Giê-su được Thần Khí thúc đẩy vào sa mạc để làm gì? 3) Đức Giê-su đã dùng phương thế thiêng liêng nào để chiến thắng ma quỷ cám dỗ? 4) Hãy kể một số sự kiện trong Thánh Kinh có liên quan đến con số 40? 5) Xa-tan là ai? 6) Ma quỷ thường cám dỗ qua mấy giai đoạn? 7) Sau khi chiến thắng ma quỷ, Đức Giê-su đã làm gì để mặc khải các đặc điểm về thời kỳ Thiên Sai mà Người muốn thiết lập? 8) Đức Giê-su bắt đầu rao giảng Tin Mừng Nước Thiên Chúa từ khi nào? 9) Ga-li-lê là miền đất nào trong nước Do thái? 10) Nội dung những lời rao giảng của Đức Giê-su được tóm gọn trong ba tư tưởng chính yếu nào? 11) Sám hối nghĩa là gì?
II.SỐNG LỜI CHÚA
1. LỜI CHÚA: Chúa phán: “Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”(Mc 1,15).
2. CÂU CHUYỆN:
1) BỊ CÁM DỖ NHIỀU ÍT TÙY SỰ CẦU NGUYỆN CHAY TỊNH VÀ LÀM VIỆC RA SAO:
Một hôm Thánh Ephrem nằm mơ thấy một thành phố kia rất đông người qua lại, nhưng cổng thành, ngài chỉ thấy có một tên quỉ đang ngồi ngáp ngủ. Rồi ngài lại thấy mình có mặt tại một khu rừng vắng chỉ có một vị ẩn sĩ đang sống, nhưng chung quanh vị này lại có cả bầy quỉ rất đông đang làm đủ cách tấn công vị tu sĩ. Bấy giờ thánh nhân liền la mắng lũ quỷ như sau: “Lũ quỷ các ngươi thật không biết xấu hổ khi kéo cả bầy đến tấn công bắt nạt một người. Còn trong hành phố kia có rất đông người thì các ngươi lại chỉ bố trí có một tên đứng không và còn ngáp đứng ngáp ngồi nghĩa là làm sao?”
Tên quỷ đầu đàn liền trả lời như sau: “Thành phố tuy đông người nhưng chẳng cần lũ quỷ chúng tôi cám dỗ mà chúng vẫn thi nhau phạm hết tội này đến tội khác, nên chỉ cần một người chúng tôi đứng canh là đủ. Còn tại khu rừng vắng này dù chỉ có một tên tu sĩ, nhưng hắn ta lại rất kiên cường chiến đấu. Đến nay sau nhiều ngày tấn công cám dỗ mà chúng tôi vẫn chưa cám dỗ được hắn ta phạm tội, vì hắn luôn cầu nguyện, đọc Kinh Thánh, ăn chay và lao động”.
2) MỘT MẪU GƯƠNG SÁM HỐI:
PI-RI TÔ-MÁT (Piri Thomas), từ một tên tội phạm đang thi hành án trong nhà tù, một con nghiện ma túy đã từng nhúng tay vào tội ác giết người... cuối cùng đã sám hối trở thành một tín hữu đạo đức thánh thiện đầy lòng nhân ái như sau: Một đêm nọ, Pi-ri đang nằm trong một phòng giam đặc biệt, cùng chung giường với một tên tội phạm biệt hiệu là “Thằng Ròm”, đột nhiên anh suy nghĩ về tình trạng tội lỗi của mình. Anh cảm thấy có một ước muốn mãnh liệt phải trỗi dậy cầu nguyện với Chúa. Nhưng lúc đó anh lại đang nằm chung giường với một bạn tù là “Thằng Ròm”. Do đó, chờ cho “Thằng Ròm” ngủ say, anh mới từ từ bò ra khỏi giường, quì gối xuống nền nhà bằng bê-tông lạnh ngắt. Rồi anh say sưa nói với Chúa như đứa con thưa chuyện với cha của mình. Sau này anh đã thuật lại như sau: “Khi ấy tôi bày tỏ với Chúa những gì chất chứa trong lòng tôi. Tôi thưa với Ngài bằng những lời đơn sơ mộc mạc. Tôi nói với Ngài những điều tôi muốn, những lầm lỗi thiếu sót của tôi, những hy vọng và thất vọng. Lúc đó tôi cảm thấy xúc động đến nỗi suýt bật khóc, một sự xúc động mà trước đây chưa bao giờ tôi cảm thấy. Khi kết thúc lời cầu nguyện, bỗng tôi nghe thấy có tiếng đáp: “Amen”. Thì ra đó là tiếng của “Thằng Ròm”. Khi đó hắn đang nằm sấp trên giường, trán tựa trên hai cánh tay khép lại. Sau một lúc lâu im lặng, rồi “Thằng Ròm” nói nhỏ với tôi: “Này Pi-ri, tớ cũng tin Chúa!” Rồi tôi leo lên giường và hai đứa chúng tôi tiếp tục nói chuyện về niềm tin từ hồi còn thơ ấu của mình. Trước khi ngủ tiếp, tôi đã nói với “Thằng Ròm”: “Chúc Chi-co ngủ ngon nhé! Tớ nghĩ rằng: Thiên Chúa vẫn luôn ở với chúng ta. Chỉ có chúng ta là không muốn ở với Ngài mà thôi!”
3. THẢO LUẬN: 1) Qua câu chuyện trên, bạn thấy vị tu sĩ đã chiến thắng ma quỷ cám dỗ nhờ dùng các phương thế nào? 2) Bạn sẽ làm gì cụ thể để tu sửa thói hư tật xấu quan trọng nhất của bạn trong mùa chay này?
4. SUY NIỆM:
Trong Tin Mừng hôm nay Đức Giê-su đã rao giảng: “Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”: Ăn năn sám hối hay là Mê-ta-noi-a, nghĩa là “cải thiện đời sống”, “cải tà qui chánh”. Là nhìn nhận những điều xấu xa tội lỗi trong đời sống của mình và quyết tâm trừ khử. Nói cách khác: Sám hối là nhận ra thân phận tội nhân của mình và thực lòng hoán cải, bằng cách làm những việc tốt ngược lại thói hư như kinh “Cải tội bảy mối có bảy đức”.
1) Mọi người đều bị ma quỷ cám dỗ:
Đức Giê-su là Đấng Thánh, vô tội, nhưng lại mang thân phận con người nên Người vẫn bị ma quỷ cám dỗ thử thách. Từ đó cho thấy sự thánh thiện cũng không làm cho người ta khỏi bị thử thách cám dỗ, và có lẽ càng thánh thiện lại càng bị thử thách nặng nề hơn:
Thánh Grê-gô-ri-ô khi đã bước sang tuổi 90 đã chia sẻ kinh nghiệm sống: "Ở tuổi này mà tôi vẫn thường xuyên bị ma quỷ cám dỗ giống như lúc đang trong tuổi đôi mươi!"
Đức Cha Ti-a-mer Toth nói: "Ma quỉ đã dám đụng đến cả thủ lãnh... thì chắc chắn chúng cũng sẽ không buông tha cho chúng ta".
2) Mục đích các cơn cám dỗ của ma quỷ:
a) "Lửa thử vàng - Gian nan thử đức":
Sống trên đời, chúng ta không thể nào tránh được các cơn cám dỗ của ma quỷ. Tuy nhiên cám dỗ cũng có mặt tích cực là củng cố đức tin hầu mang lại lợi ích cho tâm hồn chúng ta. Chúng như những phương tiện nhằm thao luyện chúng ta để khi ra khỏi đó, chúng ta sẽ trở thành những chiến sĩ thiện chiến, những lực sĩ mạnh mẽ của Thiên Chúa, có khả năng chiến thắng ma quỷ.
Cám dỗ có thể ví như múi chích thuốc ngừa để cơ thể ta có dịp chiến đấu với vi trùng yếu, nhờ đó tiết ra kháng thể giúp miễn dịch, để chiến thắng được vi trùng xâm nhập sau này.
b) “Ơn Thầy đủ cho con”: Trong các cơn thử thách cám dỗ mà chúng ta phải chịu đựng, bao giờ cũng có đủ ơn Chúa giúp để ta có thể chiến thắng ma quỷ miễn là ta có Chúa trong mình. Thánh nữ Ca-ta-ri-na một hôm bị một cơn cám dỗ nặng nề. Sau cơn cám dỗ được Chúa Giê-su hiện ra an ủi. Vừa nhìn thấy Chúa Giê-su, thánh nhân liền hỏi: “Lạy Chúa. Khi con bị cám dỗ thì Chúa ở đâu?”. Bấy giờ thánh nhân nghe Người trả lời: “Ta ở ngay trong lòng con”. Thánh Phaolô có lần xin Chúa cất cho khỏi một cơn cám dỗ luôn quấy rầy như một cái dằm đâm vào. Phao-lô còn bị một thủ hạ của Xa-tan đến vả mặt khiến ngài cảm thấy rất bực bội khó chịu và nhiều lần xin Chúa cho thoát khỏi nỗi khổ này. Nhưng Chúa quả quyết với Phao-lô: “Ơn của Thầy đã đủ cho con, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối”. Phao-lô đã chia sẻ tiếp: Tôi cảm thấy vui sướng khi mình yếu đuối, khi bị sỉ nhục, hoạn nạn, bắt bớ, ngặt nghèo vì Đức Ki-tô. Vì khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh” (2 Cr 12,9).
3) Các phương thế chiến thắng ma quỷ cám dỗ:
- Nhờ ăn chay cầu nguyện suốt bốn mươi đêm ngày, Đức Giê-su đã gia tăng sức mạnh để đương đầu với ma quỷ cám dỗ. Mùa Chay với việc ăn chay cầu nguyên cũng là phương thế hữu hiệu Chúa ban để gia tăng nội lực thiêng liêng giúp chúng ta đủ sức đương đầu vơi ma quỷ.
- Cần năng đọc và sử dụng Lời Chúa như dùng thanh gươm hai lưỡi sắc bén để chiến đấu: Noi gương Đức Giê-su khi bị ma quỷ cám dỗ, đã dùng các câu Lời Chúa để đương đầu như sau: “Đã có lời chép rằng: Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra” (Mt 4,4); “Ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa của Ngươi” (Mt 4,7); “Xa-tan kia, xéo đi! Vì đã có lời chép rằng: Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Ngài mà thôi” (Mt 4,10). Trong Mùa Chay này, chúng ta cần tham dự các buổi tĩnh tâm để nghe Lời Chúa hướng dẫn chống trả các cám dỗ. Giúp ta tập nhân đức đối lập để loại trừ các thói hư. Cần dọn mình xưng tội và năng rước lễ để luôn có Chúa ở cùng.
5. NGUYỆN CẦU:
LẠY CHÚA GIÊ-SU. Xin giúp con ý thức rằng: Xưa Chúa đã vào sa mạc là để tiếp xúc và sống thân tình với Chúa Cha. Mùa Chay này cũng là thời kỳ thuận tiện để con cùng vào sa mạc với Chúa. Xin cho con mỗi ngày biết dành ít phút thinh lặng để tâm tình với Chúa Cha, cho con biết lắng nghe lời Chúa Giê-su dạy qua các giờ kinh tối gia đình hằng ngày, hay trong các buổi Tĩnh Tâm Mùa Chay tại nhà thờ. Nhờ Thần Khí Chúa thôi thúc, con quyết tâm thực hành sự khổ chế, bằng việc năng ăn chay hãm mình trong Mùa Chay này. Xin cho con biết chu toàn bổn phận trong gia đình và xã hội, chủ động đi bước trước để làm hòa với những ai đang có điều chi bất bình với con... để mỗi ngày con đều được Thần Khí Chúa thanh luyện và biến đổi nên một người mới trong Mùa Phục Sinh sắp tới.
X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.
LM ĐAN VINH- HHTM
 
 

MC1-B126: CHÚA NHẬT I MÙA CHAY

(Mác-cô 1: 12-15)
 

 Khác với những trình thuật đầy đủ chi tiết của Tin Mừng Mát-thêu và Lu-ca về việc Chúa Giê-su MC1-B126

Khác với những trình thuật đầy đủ chi tiết của Tin Mừng Mát-thêu và Lu-ca về việc Chúa Giê-su chịu cám dỗ trong hoang địa, thánh sử Mác-cô chỉ ghi lại biến cố trên qua một dòng chữ thôi.  Tuy nhiên ngài lại cho ta một hình ảnh thật sống động về con người Chúa Ki-tô trong những lãnh vực khác nhau.  “Người ở trong hoang địa bốn mươi ngày, chịu Xa-tan cám dỗ, sống giữa loài dã thú, và có các thiên sứ hầu hạ Người”.  Nét đẹp nhất của hình ảnh này là một Chúa Giê-su chiến thắng cám dỗ của Xa-tan và phục hồi cho con người cuộc sống hài hòa với Thiên Chúa và với tạo vật.  Do đó, bài Tin Mừng ngắn gọn nhưng vô cùng phong phú trình bày Chúa Giê-su như một gương sống cho toàn thể nhân loại, những người đang chiến đấu với sự dữ và cố gắng trở về với con người A-đam trước khi phạm tội nguyên tổ.
 a)  “Người ở trong hoang địa bốn mươi ngày, chịu Xa-tan cám dỗ”
                Hoang địa khô cằn và chết chóc thường được hiểu là nơi của ma quỷ và thử thách.  Đúng vậy, kể từ khi Xa-tan chiến thắng A-đam và E-và, tội lỗi đã đi vào lịch sử nhân loại gây ra cái chết (Rm 5:12) và biến vườn địa đàng thành nơi hoang địa.  Con người đã trở thành thù địch của Thiên Chúa và muôn tạo vật không còn nằm dưới quyền cai quản của con người nữa.  Cuộc sống không êm đềm như trước kia, trái lại thử thách và đau khổ lúc nào cũng dồn dập.  Quả thực toàn cõi địa cầu đã biến thành hoang địa mất rồi. 
Nhưng Ngôi Hai Thiên Chúa không để con người cô độc trong nơi hoang địa ấy.  Người đã đến hoang địa của họ để thay mặt họ chống lại quyền lực của Xa-tan và tội lỗi.  Không vào hang cọp, làm sao bắt được cọp con.  Người đã xông vào “nhà” của Xa-tan, trói nó lại và cướp sạch nhà nó để đem tất cả về cho Thiên Chúa (Mc 3:27).  Con số “bốn mươi ngày” biểu tượng cho sự trọn vẹn cũng nói lên cao độ và thời gian của những cám dỗ và thử thách Chúa Giê-su phải đối phó.  Không chỉ là những cám dỗ bình thường và hời hợt bên ngoài, nhưng là những cám dỗ liên hệ tới chính bản chất con người và sứ mệnh của Chúa Giê-su.  Không chỉ là cám dỗ trong bốn mươi ngày rồi thôi, nhưng là cám dỗ liên tục trọn cuộc đời cho tới khi Người tắt hơi thở cuối cùng trên thập giá.
Chúa Giê-su muốn chia sẻ thân phận con người của ta, cả phẩm giá lẫn những thử thách ta phải chịu.  Làm như thế, Người cho ta thấy không có cám dỗ hay thử thách nào là vượt quá sức của ta, tuy nhiên ta phải tin tưởng vào quyền năng Thiên Chúa.  “Khi còn sống kiếp phàm nhân, Đức Giê-su đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền cứu Người khỏi chết” (Dt 5:7).
 b)  “Người sống giữa loài dã thú, và có các thiên sứ hầu hạ Người”
                Chúa Giê-su gợi lại cho ta hình ảnh cuộc sống của ông A-đam và bà E-và trong vườn địa đàng trước khi họ phạm tội không vâng lời Thiên Chúa.  Đó là cuộc sống hòa bình giữa con người với thiên nhiên và giữa con người với Thiên Chúa.  Nhưng tội lỗi đã cướp đi sự thanh bình ấy và thiên nhiên chống lại con người.  Con người phải vất vả đổ mồ hôi mới có miếng cơm ăn.  Ngôn sứ I-sai-a đã nhìn thấy viễn ảnh Chúa Giê-su sẽ tái lập hòa bình cho thế giới và sự hòa hợp giữa con người với thiên nhiên:  sói ở với chiên, bò tơ nuôi chung với sư tử, bé thơ chơi bên hang rắn lục... (x. Is 11:1-10).  Chúa Giê-su đã lấy lại quyền cai quản thiên nhiên mà ông A-đam đã đánh mất.  Viễn ảnh ấy đã được thể hiện là vì Chúa Giê-su thắng được cám dỗ của Xa-tan.  Ngày xưa cám dỗ đã gây nên xáo trộn và hận thù thì giờ đây Chúa Giê-su chiến thắng cám dỗ ấy và tái lập trật tự cũng như yêu thương.
                Hình ảnh Chúa Giê-su sống giữa loài dã thú cũng cho ta một suy tư khác.  Dã thú lúc nào cũng là dã thú và có thể làm hại ta.  Vậy mà chúng không làm gì được Chúa Giê-su.  Thánh Phê-rô Tông đồ đã nhắn nhủ tín hữu ngài:  “Anh em hãy sống tiết độ và tỉnh thức, vì ma quỷ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé.  Anh em hãy đứng vững trong đức tin mà chống cự” (1 Pr 5:8-9).  Nếu chúng ta biết tỉnh thức như Chúa Giê-su đã dạy (Mt 26:41) và như thánh Phê-rô đã khuyên thì ma quỷ là dã thú quyện đảo chung quanh ta cũng chẳng làm gì nổi ta.  Ngoài ra thánh Mác-cô còn diễn tả việc Thiên Chúa phù trì Chúa Giê-su qua hình ảnh các thiên sứ hầu hạ Người.
                Chúa Giê-su đánh bại quyền lực ma quỷ là để khởi đầu cho thời đại cứu độ.  Theo kế hoạch của Thiên Chúa, Chúa Giê-su không hành động đơn phương, nhưng Người khai mạc một cuộc chiến thắng sẽ kết thúc vào ngày thế mạt.  Vậy trong thời gian ấy, Người mời gọi mọi người hãy cùng sát cánh với Người để phá tan vương quốc Xa-tan, bắt đầu từ trong tâm hồn mỗi người.  Không phải là một cuộc chiến bày binh bố trận, nhưng là cuộc chiến âm thầm xảy ra trong tâm hồn ta và biểu lộ qua những điều xấu xa trong thế giới.  Dã thú và thiên sứ đều hiện diện trong cuộc sống ta.  Tội lỗi và ân sủng Chúa đều sẵn sàng để tấn công hoặc nâng đỡ ta.  Điều quan trọng là ta có biết noi gương Chúa Giê-su để thống trị dã thú không.  Nếu ta quyết tâm chống lại chúng, ân sủng Chúa sẽ phù trợ ta.
 c)  Chúa Giê-su rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa
                Cuộc đời của Chúa Giê-su cũng như của ta không phải chỉ chống chọi với cám dỗ ma quỷ, nhưng song song với cuộc chiến đấu ấy là thi hành việc rao giảng Tin Mừng.  Tin Mừng Chúa Giê-su rao giảng là: tình yêu Thiên Chúa đã chiến thắng quyền lực ma quỷ tội lỗi và đem lại ơn cứu độ cho mọi người.  Việc chiến thắng ma quỷ tội lỗi và việc rao giảng Tin Mừng là hai công việc đối nghịch.  Rao giảng Tin Mừng càng hữu hiệu thì chiến thắng ma quỷ tội lỗi càng lớn lao.
                Nhưng làm sao để việc rao giảng Tin Mừng được hữu hiệu?  Đáp lời hiệu triệu của Chúa Giê-su, ta rao giảng bằng chính đời sống Ki-tô gương mẫu.  Muốn đời sống ấy được triển nở, ta cũng phải làm hai công việc song song:  sám hối và tin vào Tin Mừng.  Nghĩa là ta quay lưng lại tội lỗi và để cho những giá trị Tin Mừng thay đổi lối sống của ta.  Đó là khởi điểm cho việc rao giảng Tin Mừng.  Ta hãy cho mọi người thấy ở chính nơi ta, ma quỷ và tội lỗi đang bị đánh bại, đồng thời lối sống của ta phản ảnh những đường nét của Chúa Ki-tô.
                Như vậy, quyết định sống như thế nào trong mùa Chay này đã được vạch rõ.  Ta cứ bước theo Chúa Giê-su, Đấng chiến thắng ma quỷ và được Thiên Chúa phù hộ, ta sẽ có được mùa Chay thật tuyệt vời và thánh thiện đích thực.
 d)  Suy nghĩ và cầu nguyện
                Tôi có ý thức Chúa Giê-su đang chia sẻ cuộc sống trần gian với tôi như một bạn đồng hành không?  Người mời gọi tôi đi theo bước chân Người.  Vậy tôi đang theo Người hay theo ai?  Làm sao tôi nhận ra được những bước chân Người?
                Trong số dã thú – cám dỗ – đang bao quanh tôi, đâu là thứ nguy hiểm nhất?  Tôi đã làm gì để chiến thắng nó?
                Chọn một vài quyết định cụ thể để chừa một tật xấu và tập một nhân đức.  Thí dụ hay phê bình chỉ trích người khác, hoặc tập quảng đại và tích cực khi nói về người khác.
 Câu nguyện
                “Lạy Chúa Giê-su,
                có những ngày con cảm thấy
                đời sống thật nặng nề;
                có những lúc con muốn buông trôi,
                để mặc cho dòng đời đưa đẩy;
                có những khoàng thời gian dài,
                con như mảnh đất khô khan cằn cỗi.
                Xin cho con ánh sáng của Chúa
                để con biết lối mà đi.
                Xin cho con tấm bánh của Chúa
                để con có sức mà dấn bước.
                Xin cho con Lời cùa Chúa
                để con vững một niềm tin.
                Xin cho con sự sống của Chúa
                để con lấy lại niềm hăng say và sự tươi tắn,
                niềm vui và sáng tạo.
                Lạy Chúa Giê-su,
                con thấy mình cần Chúa
                trong mỗi giây phút của cuộc đời.
                Ước gì ai gặp con
                cũng gặp được sự hiện diện của Chúa”.
                                                (Trích RABBOUNI, lời nguyện 1)
 
Lm. Đaminh Trần Đình Nhi


 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây