Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 2 MC-B Phần III Bài 101-138: Chúa Hiển Dung

Thứ năm - 22/02/2018 09:42
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 2 MC-B Phần III Bài 101-138: Chúa Hiển Dung
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 2 MC-B Phần III Bài 101-138: Chúa Hiển Dung
MC2-B Phần III Bài 101-138: Chúa Hiển Dung
MC2-B101: CHÚA NHẬT II MÙA CHAY NĂM B.. 1
MC2-B102: CHÚA NHẬT 2 MÙA CHAY.. 2
MC2-B103: CHÚA NHẬT II MÙA CHAY NĂM B.. 3
MC2-B104: THẬP GIÁ - VINH QUANG.. 4
MC2-B105: Y PHỤC NGƯỜI TRỞ NÊN RỰC RỠ.. 5
MC2-B106: THAY ĐỔI. 5
MC2-B107:  ĐƯỢC BIẾN HÌNH VỚI CHÚA.. 6
MC2-B108: AI HIỂU ĐƯỢC CHỮ TÌNH?. 7
MC2-B109: CÓ LÀ LẠC ĐIỆU.. 8
MC2-B110:  Vinh quang. 9
MC2-B111: Nhìn vào mặt tốt – Lm. Ignatiô Trần Ngà. 10
MC2-B112: Đức Giêsu hiển dung – Lm. Giuse Nguyễn Thể Hiện. 12
MC2-B113: Lên núi cầu nguyện. 13
MC2-B114: Suy niệm của Đức Ông James M. Reinert 15
MC2-B115:  Từ Tabor đến Golgotha – Thiên Phúc. 16
MC2-B116:  Suy niệm của Lm. Đaminh Trần Đình Nhi 17
MC2-B117: Đức Giêsu- bảo chứng tình yêu. 19
MC2-B118: Abraham... 20
MC2-B119:  Thế giới nào là ảo?. 20
MC2-B120: Thôi đừng đầy đọa nhau. 21
MC2-B121: Đức Tin cột trói chúng ta. 22
MC2-B122: Con yêu dấu – Lm. Vũ Đình Tường. 23
MC2-B123:  Suy niệm của AM Trần Bình An. 24
MC2-B124: Tìm vinh quang Thiên Chúa ở đâu?. 27
MC2-B125: Suy niệm của ‘Tin Vui Xuân Lộc’ 27
MC2-B126: BIẾN HÌNH TRÊN NÚI TABORÊ.. 28
MC2-B127: ĐƯỜNG LỐI CỦA THIÊN CHÚA VÀ TƯ TƯỞNG CỦA CON NGƯỜI. 29
MC2-B128: Xin Ơn Biến Đổi 30
MC2-B129:  Chúa Giê-su, quà tặng vô giá Thiên Chúa ban cho ta. 32
MC2-B130: CHÚA GIÊSU BIẾN HÌNH.. 33
MC2-B131: Biến cố Hiển dung nhắc nhớ ta là con Chúa. 34
MC2-B132: Tính phản diện trong phận người 35
MC2-B133: Chúa Giê-su trung thành với sứ mệnh. 36
MC2-B134: Chúa Nhật II mùa Chay, B.. 37
MC2-B135:  CHÚA NHẬT 2 MÙA CHAY.. 38
MC2-B136: Chúa Nhật II Mùa Chay. 40
MC2-B137:  Áo Người trở nên chói lọi và trắng như tuyết 41
MC2-B138:  Chúa Hiển Dung. 42

 

MC2-B101: CHÚA NHẬT II MÙA CHAY NĂM B

Mc 9, 2-10
Anh chị em thân mến.
 

Trong cuộc sống đời thường, ai cũng muốn cho mình được sung sướng, hạnh phúc. Thế mà: MC2-B101

Trong cuộc sống đời thường, ai cũng muốn cho mình được sung sướng, hạnh phúc. Thế mà anh chị em nhìn thấy hằng ngày, biết bao nhiêu người luôn tìm sự cực khổ, họ lam lủ suốt ngày, tay lắm chân bùn, vất vả với bao công việc nặng nhọc. Có người không có thì giờ nghĩ ngơi. Trong số đó có cả chúng ta, là những người đang ngồi trong nhà thờ đây. Như vậy tất cả mọi người không biết tìm hạnh phúc, không biết sống sung sướng sao ? Hay mọi người bị một thế lực nào ép buộc phải làm như thế ? - Thưa chính vì muốn tìm đời sống hạnh phúc, muốn tìm sự sung sướng mà con người phải tìm sự vất vả, cực nhọc như thế. Mới nhìn tưởng chừng như đó là một nghịch lý. Nhưng thực sự đó là một chân lý ngàn đời mà ai cũng đều biết. Muốn có được hạnh phúc thì phải biết chuẩn bị, chuẩn bị từ những đau khổ, từ những vất vả của cuộc sống. Nếu nằm không đó mà chờ thì hạnh phúc sẽ không bao giờ đến được.
Lạy Thầy chúng con được ở đây thì tốt lắm! Lời nói của Phêrô thốt lên cách vui sướng, nhưng ông không biết mình đã nói gì, vì Thiên Chúa đã cắt ngang tư tưởng của ông. Chúa Giêsu đã dẫn các ông từ dưới lên núi cao. Ngài cho các ông nhìn thấy và hưởng được một chút hạnh phúc của cuộc sống mai sau. Các ông muốn ở lại trong hạnh phúc đó, hạnh phúc mà các ông không cần phải chuẩn bị, không cần phải tìm kiếm, không cần phải vất vả. Các ông vui sướng, niềm vui sướng đó khiến các ông bật thành tiếng. Nhưng các ông không nói được hết lời, sự vui sướng cũng không còn nữa, các ông lặng thinh trong sự tiếc nuối. Chúa Giêsu lại dẫn các ông trở xuống, không cho ở trên cao nữa, trở về cuộc sống đời thường, cuộc sống của sự chuẩn bị cho chu đáo để đến hạnh phúc bất diệt, hạnh phúc chỉ để cho những người biết chuẩn bị.
Lạy thầy chúng con được ở đây thì tốt lắm. Nhiều lần trong đời sống chúng ta cũng đã thốt lên câu đó. Cũng nhiều lần niềm vui của chúng ta không được trọn vẹn, bị cắt ngang nữa chừng và chúng ta cũng không biết mình đang làm gì. Điều mình muốn , điều mình đang tận hưởng, điều mình đang hài lòng thì bổng nhiên không còn nữa. Hằng ngày lại xuất hiện toàn những nghịch lý của cuộc đời: những điều làm cho mình phải vất vã khó chịu, những điều làm cho thân xác phải khổ nhọc, những điều làm cho mình phải đau đớn. Chúng ta chỉ biết bực mình, than van trách phiền, đôi lúc chúng ta muốn trốn chạy để tìm sự sung sướng hơn. Có khi nào chúng ta tự nghĩ: đây là lúc chúng ta đang đi xuống núi, trở về cuộc sống đời thường, đây là lúc chúng ta đang chuẩn bị cho hạnh phúc của chính mình, niềm hạnh phúc mà không ai có thể lấy đi được. Hay chúng ta vẫn còn đang mơ ước ở trên núi cao, để rồi không biết mình đang nói gì. Vì chúng ta đang muốn chiếm lấy một điều không có thực, muốn chiếm lấy một điều không phải của chính mình, chúng ta muốn chiếm lấy một niềm hạnh phúc, một sự sung sướng mà không cần sự chuẩn bị nào hết. Cũng giống như Phêrô muốn dựng lều ở trên núi, muốn ở luôn lại nơi không phải của mình. Nhưng Thiên Chúa lại đem chúng ta trở về cuộc sống thực tại của con người, một cuộc sống đời thường. Chúng ta có mất mát gì đâu, tại sao lại buồn bực khó chịu, tại sao lại trách móc kêu ca. Nếu chúng ta không biết chuẩn bị, thì làm sao có thể đón nhận hạnh phúc khi Con Người từ cỏi chết sống lại. Chúng ta có chu toàn trách nhiệm mình một cách tốt đẹp, chúng ta có làm tròn bổn phận của mình đối với Chúa chưa ? Mọi người nhìn vào đời sống của chúng ta, họ có thể bắt chước được một chút gương tốt nào nơi chúng ta không. Nều chúng ta làm được những điều trên, đó là chúng ta đã vâng lời, nắm tay Chúa Giêsu và đi xuống núi với Ngài để chuẩn bị hưởng hạnh phúc ngay từ những giây phút hiện tại này thật tốt đẹp.
Xin Chúa cho chúng con biết chấp nhận cuộc sống hiện tại với những vui buồn sướng khổ theo Thánh ý Chúa, để biết chuẩn bị cuộc sống mai sau cho xứng đáng.  
 

MC2-B102: CHÚA NHẬT 2 MÙA CHAY

Mc 9, 1 - 9
 

Khi nói biến hình, người ta nghĩ ngay đến việc thay đổi hình dạng từ trạng thái này sang trạng: MC2-B102

Khi nói biến hình, người ta nghĩ ngay đến việc thay đổi hình dạng từ trạng thái này sang trạng thái khác. Bài Tin Mừng hôm nay cũng thuật lại việc biến hình của Chúa Giêsu, nhưng Ngài không biến thành một người khác. Chúa Giêsu biến hình để củng cố niềm tin cho các tông đồ và đồng thời chuẩn bị cho các ông có thể đón nhận việc Chúa Giêsu chịu đau khổ và chịu chết.
Có lẽ ai trong chúng ta cũng biết nhân vật Tề Thiên Đại Thánh trong phim "Tây Du Ký" với 72 phép thần thông. Ngộ Không có thể thổi phù một cái là lập tức trở thành người khác. Điều này diễn tả quan niệm thông thường của con người: biến hình là trở thành một người khác hay ít ra cũng là mượn hình dạng của ai đó.
Nếu hiểu như thế thì chúng ta luôn biến hình đổi dạng trong từng giây từng phút mà chúng ta không biết. Trước tiên, chúng ta có khuynh hướng muốn biến hình thành người khác. Chẳng hạn, tôi muốn giống ngôi sao ca nhạc, điện ảnh HôngKông, Hàn Quốc, nên tôi ăn mặc y chang họ từ tóc tai, quần áo cho đến đồ trang sức của ngôi sao ấy sử dụng. Chính lúc này tôi không còn là tôi nữa mà là cái bóng của thần tượng đó. Chúa Giêsu mời gọi ta biến hình giống như Ngài, tức là làm cho hình ảnh của Thiên Chúa nơi tôi được sáng ngời, trở nên đẹp hơn, để người khác nhìn vào cuộc sống tôi sẽ thấy được Thiên Chúa.
Kế đến, biến hình là chúng ta làm cho mình xấu đi. Chẳng hạn, tôi đua đòi ăn chơi, xì ke ma túy, chạy theo thú vui xác thịt. Ai cũng có những ước mơ vươn tới một cái đẹp, cái tốt. Tại sao tôi lại biến mình xấu đi? Chúa Giêsu mong tôi biến đổi nên giống như Thiên Chúa: thánh thiện, đạo đức.
Vậy để biến đổi theo lời mời gọi của Chúa Giêsu, thiết nghĩ chỉ có CẦU NGUYỆN, vì chính lúc ấy chúng ta gặp được Chúa và Ngài sẽ thay đổi chúng ta. Vì thế, chúng ta hãy sốt sắng cầu nguyện ở mọi nơi, mọi lúc, cố gắng biến đổi đời sống hằng ngày: ai rượu chè, cờ bạc, gain lận hãy dứt khoát với những tính xấu của mình, chăm chỉ làm ăn bằng sức lao động của hai bàn tay mình. Ai nguội lạnh, khô đạo hãy trở về với Chúa. Những ai giận hờn, xích mích nhau hãy làm hòa với nhau. Hãy biến ánh mắt ganh tỵ thành cảm thông, lời nói chua cay thành dịu dàng, lời nói phê bình thành lời xây dựng, con tim hận thù thành yêu thương.
Ước gì từng giây từng phút trong cuộc đời chúng ta là từng giây phút biến đổi theo hướng tốt hơn, trở về với con người thật của mình là hình ảnh Thiên Chúa, để hình ảnh ấy ngày càng rõ nét hơn. Thánh lễ hôm nay chúng ta cầu nguyện cho nhau, xin Chúa cho mỗi người đều được biến đổi thật sự trong Mùa Chay này, để khi tiếp xúc với ta, mọi người phải thốt lên rằng: "Thật là hạnh phúc cho tôi, vì tôi đã gặp được Chúa Kitô nơi anh, nơi chị".
CÂU HỎI GỢI Ý:
Một số bạn trẻ bỏ rất nhiều tiền để sửa sang sắc đẹp và chạy theo mốt. Bạn nghĩ gì về tương quan giữa vẻ đẹp bên ngoài và vẻ đẹp trong tâm hồn con người?
Cầu nguyện có thể làm con người "biến hình". Bạn có tin điều đó không? Bạn có quen ai đã biến đổi sâu xa nhờ cầu nguyện không?
 

MC2-B103: CHÚA NHẬT II MÙA CHAY NĂM B

Mc 9, 2-10
Thưa Quý ông bà anh chị em!
 

Năm nào cũng vậy, cứ đúng vào ngày Chúa nhật thứ hai Mùa chay, là Giáo hội cho chúng: MC2-B103

Năm nào cũng vậy, cứ đúng vào ngày Chúa nhật thứ hai Mùa chay, là Giáo hội cho chúng ta đọc lại câu chuyện Đức Giêsu biến hình trên núi Ta-bor. Sự kiện này xảy ra sau khi Đức Giêsu tiết lộ cho các môn đệ của mình biết về chương trình mà Đấng Kitô con Thiên Chúa, sẽ phải thực hiện để mang lại ơn cứu rỗi cho tất cả mọi người. Sự kiện ấy được Thánh Marcô thuật lại như thế này : Cũng như mọi khi, Đức Giêsu vẫn thường lên núi cầu nguyện. Thế nhưng lần này, Người đem theo ba đồ đệ thân tín nhất của mình, đó là Phêrô, Gioan và Giacôbê. Đang khi cầu nguyện thì dung mạo của Người biến đổi khác thường : Khuôn mặt sáng chói như mặt trời, áo Người trở nên trắng như tuyết, trắng đến độ mà không có một thợ giặt nào trên trần gian này có thể làm được như thế. Đồng thời, bên cạnh Người còn có hai nhân vật nổi tiếng thời Cựu ước là Môisen và Elia. Hai vị này cũng sáng láng vinh hiển giống như vậy. Phêrô và hai môn đệ kia nhìn thấy cảnh tượng này thì lấy làm vui mừng sung sướng : "Lạy Thầy! Nếu chúng con được ở mãi tại nơi này thì tốt quá". Thế nhưng Đức Giêsu đã bác bỏ lời đề nghị ấy; Bởi vì Người còn phải trở xuống núi để hoàn tất con đường mà Người đã khởi sự từ lúc nhập thể đi vào cuộc đời này.
Vấn đề được đặt ra ở đây là tại sao Chúa Giêsu muốn thực hiện cuộc hiển dung có thể nói là đầy ngoạn mục như thế trước mặt các môn đệ của mình ? Đọc lại những đoạn Phúc âm trước đó, chúng ta sẽ nhìn thấy dược hai lý do này. Trước hết là không chỉ riêng gì mười hai môn đệ, mà hầu hết những người Do thái lúc bấy giờ, đều không nhận ra, hay đúng hơn là không muốn nhận ra Đức Giêsu là Con thiên Chúa, là Thiên Chúa thật ; Mặc dù họ đã nghe không biết là bao nhiêu những điều hay lẽ phải, đã chứng kiến rất nhiều những phép lạ mà Người đã làm. Chính vì thế mà hôm nay đây, qua sự kiện này, Chúa muốn cho họ, ít ra là những môn đệ của mình, nhìn thấy được sự thật về Người. Người chính là Thiên Chúa thật, đang muốn đưa tay cứu vớt mọi người, chứ không phải là Elia, Giêrêmia hay bất kỳ một vị tiên tri nào khác.
Lý do thứ hai là qua sự kiện này, chúa muốn củng cố niềm tin cho các đồ đệ của mình. Theo Chúa bấy lâu nay, dường như các ông muốn mình đạt được một cái gì đó để làm rạng rỡ gia đình dòng họ. Chính vì thế mà liền sau khi Đức Giêsu tiên báo về cuộc khổ nạn mà Người sắp phải chịu, thì Phêrô như thể là thay mặt cho anh em nhóm mười hai của mình, ngăn cản Chúa Giêsu. Các ông hoàn toàn không muốn Thầy của mình phải bước vào con đường đó; Bởi vì đó là con đường của đau khổ, con đường của thất bại. Và nếu như Chúa Giêsu thất bại, thì cũng có nghĩa là những ước mơ, những hy vọng của họ bị tiêu tan. Hiểu được tâm trạng đó, Chúa Giêsu mang họ lên núi, tỏ cho họ thấy một chút vinh quang để cho họ hiểu được rằng : Muốn đạt tới vinh quang, thì phải đi trên con đường thập giá. Muốn có được hạnh phúc, thì phải bước qua con đường của sự đau khổ. Không muốn bước trên con đường thập giá, ngại ngùng đi trên đường đau khổ, thì Chúa Giêsu đã nói trước : "không thể làm môn đệ Ta được".
Thưa anh chị em! Sống trong kiếp làm người, ai ai cũng đã từng có những niềm vui, có những hạnh phúc bất ngờ; Nhưng rồi cũng không thiếu vắng những nỗi buồn đau xót, những gian nan khổ cực, những điều mà mình phải đón nhận bằng cay đắng xót xa, bằng tủi buồn nhục nhã. Nói khác đi là đau khổ gắn liền với thân phận của con người, nên người ta mới có câu : "Hữu sinh hữu khổ" là như thế. Chúa Giêsu đến trần gian này không phải là để cất đi những đau khổ đó. Và cũng vậy, việc chúng ta sống làm con cái Chúa, cũng chẳng phải là để miễn chuẩn cho mình thoát khỏi những vất vã nhọc nhằn trong cuộc sống hiện tại. Nếu như năm xưa, Chúa đã khích lệ Phêrô và các môn đệ của mình, hãy mạnh dạn bước trên con thập giá để trở thành nhân chứng phúc âm cho Người, thì hôm nay, Người cũng mở ra cho chúng ta một niềm tin vững mạnh, một niềm hy vọng sâu sắc khi chúng ta phải đối diện với những nghịch cảnh, với những gian nan trắc trở trong cuộc sống đời thường. Nghĩa là chúng ta cũng sẽ được vinh hiển sáng láng giống như Chúa khi mình sẵn sàng vác lấy thập giá của cuộc đời mình mà trung thành bước theo Chúa trong đời sống đạo hàng ngày.
Tất cả chúng ta đều biết rằng : Đau khổ tự nó là một điều xấu và không có giá trị gì cả. Tuy nhiên, điều làm cho những đau khổ trở thành ích lợi cho mình chính là cách thức mà chúng ta xử lý nó. Chúng ta chối bỏ trốn tránh nó, nó sẽ trở nên chua chát nặng nề hơn. Còn ngược lại, chúng ta đối diện với nó như thể nó là một phận của đời sống mình, thì nó sẽ trở nên nhẹ nhàng và làm cho mình khiêm tốn và khôn ngoan hơn. Ước mong rằng : Mỗi Thánh lễ mà chúng ta tham dự, đều thật sự là một cuộc lên núi với Chúa, để nhờ đó mà chúng ta có đủ sức mạnh sống trọn vẹn cuộc đời Kitô hữu của mình. Chúng ta nên nhớ rằng : Mỗi người một thập giá và mỗi ngày một thập giá, nhưng không có một thập giá nào nặng hơn đôi vai của chúng ta; Đó là điều mà Chúa đã trả lời với Phaolô khi ngài than vãn về những khốn khó trong cuộc đời của mình : "Ơn Ta đủ cho con". Và thưa anh chị em! Sẵn lòng đón nhận những đắng cay khổ nhọc trong cuộc đời như là một thập giá riêng của mình, đó chính là một trong những phương cách hữu hiệu để chúng ta sống tinh thần của Mùa chay thánh này.
 

MC2-B104: THẬP GIÁ - VINH QUANG

Mc 9, 2-10
 

Biến cố hiển dung trong đoạn Phúc Âm chúng ta vừa nghe, hé mở trước vinh quang thật của: MC2-B104

1. Biến cố hiển dung trong đoạn Phúc Âm chúng ta vừa nghe, hé mở trước vinh quang thật của Chúa, về phương diện nào đó thiết nghĩ để củng cố niềm tin cho các Tông đồ. Bởi 6 ngày trước đây, theo Phúc Âm Mátthêu và Máccô (còn Lc thì 8 ngày), ĐG báo cho các ông biết rằng Người sắp dẫn các ông lên Giêrusalem, ở đó Người sẽ bị đánh đập và bị giết chết, và những ai muốn làm môn đệ Chúa thì cũng phải vác thập giá mình mà theo Chúa, điều này đang làm cho các ông hoang mang, lo sợ. Chính Phêrô ngăn cản Chúa đừng đi vào con đường đau khổ này.
2. Đang lúc các ông trong tâm trạng bất ổn đó, ĐG dẫn các ông lên núi cao, chính nơi đây trước mặt hai nhân vật nổi danh của Cựu Ước : Môisen và Êlia đại diện cho Lề Luật và các tiên tri. Việc này như báo rằng thời Cựu Ước đã hết, thời Đức Giêsu, thời Tân Ước bắt đầu. Chính Chúa Cha xác nhận ĐG là con yêu dấu, và bảo hãy vâng nghe lời Ngài. Trước cảnh vinh quang của Đức Giêsu, Phêrô và các Tông đồ xin được kéo dài điều ấy : Vì vậy, các ông xin làm ba lều (1 cho Chúa, 1 cho Môisen, và 1 cho Elia). Điều này có ý nghĩa gì ? Thưa các ông muốn khai mạc thánh đô ngay tại đây, các ông muốn lưu lại trong lễ hội vinh quang, các ông không muốn xuống núi. Nhưng cảnh ấy chỉ được Chúa cho diễn ra cách ngắn ngủi. ĐG và các Tông đồ lại xuống núi, lại tiếp tục công việc vất vả loan truyền Nước Chúa.
3. Phải chăng, chúng ta hôm nay cũng như các Tông đồ xưa, bước theo Chúa để chỉ muốn được những điều thuận lợi, mà khước từ những khó khăn, những hy sinh? Ước vọng của các Tông đồ, hay ước vọng của chúng ta bước theo Chúa để tìm được hạnh phúc thật, đó là điều đúng, chính đáng. Nhưng chúng ta đừng quên rằng, Đức Kitô đã phải trải qua khổ nạn mới được phục sinh, mới được suy tôn trong vinh quang sao? Người Kitô hữu cũng được mời gọi đi theo con đường ấy, chính ĐG nói: "Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo" (Mc 9,34).
Khi nói tới vác thập giá của mình, ta thường nghĩ : Thầy Giêsu có những đau khổ, và mỗi người ai cũng có cái khổ riêng. Điều đó không sai, nhưng chúng ta nên hiểu đúng hơn, đó là khi bước theo Chúa thì phải chấp nhận những cái khó khăn do việc theo Chúa mang lại : như phải tuân giữ những điều Ngài dạy, nghĩa là chấp nhận những hy sinh, vất vã của việc giữ đạo, sống đạo, từ bỏ con người cũ... Đôi khi còn phải hy sinh cả mạng sống (như thời kỳ cấm cách). Đây là con đường hẹp, con đường thập giá, nhưng là con đường dẫn đến hạnh phúc thật.
4. Muốn đạt tới vinh quang, hẳn phải trải qua con đường thập giá đó cũng là điều dễ hiểu thôi. Chẳng hạn như các bạn trẻ muốn có một nghề nghiệp, một bằng cấp đại học, các bạn cũng biết rằng phải đầu tư, phải hy sinh cho việc học hành như thế nào? Các bậc gia trưởng, hiền mẫu nhìn lại xem, để có một cơ ngơi, một mái ấm gia đình như hôm nay hẳn quý ông bà phải hy sinh, vất vả để xây dựng như thế nào? v.v. Cũng vậy, để được phúc trường sinh, mọi người chúng ta cũng phải hy sinh, cũng phải chịu cực khổ để bước theo Chúa, nghĩa là phải sống đạo, chứ không phải khi lãnh nhận BT Rửa tội là đương nhiên sẽ được phúc Thiên Đàng.
5. Có thể nói thập giá là biểu tượng của Kitô giáo, ở đâu có Kitô hữu, ở đó có thập giá : trên nóc nhà thờ, trên cổng nhà, trên người, trên mộ, nhưng thập giá được trưng bày như thế không bao giờ quan trọng cho bằng thập giá trong cuộc sống hằng ngày : thập giá khi nỗ lực chu toàn bổn phận, khi quên mình đi để quan tâm tới người khác, khi nói tiếng "không" với những gì đi ngược lại với những giá trị Phúc Âm. Thập giá không là điểm kết của Đức Giêsu, mà qua thập giá Ngài mới đạt đến Phục Sinh vinh hiển. Vì thế những hy sinh, những cố gắng của chúng ta hôm nay làm vì danh Đức Giêsu, là thập giá, là chìa khoá để mở cửa vào Thiên Quốc ngày sau với Ngài.
6. Bầu khí mùa chay rất thuận lợi cho việc chúng ta bước vào con đường thập giá của ĐKT. Thế nhưng hơn 10 ngày của mùa chay năm nay đã qua, mỗi người chúng ta hãy nhìn lại để xem mình đã bước theo Chúa được đến đâu ? Mình giống Chúa được đến đâu ? Chúng ta cũng nhớ rằng, chúng ta không chỉ bước theo Chúa trong mùa chay, mà còn bước theo Chúa trong suốt cuộc đời nữa.
7. Vinh quang mà Phêrô, Giacôbê và Gioan được cảm nếm trong khi Chúa biến hình, vinh quang của Đức Kitô Phục sinh cũng sẽ là vinh quang của chúng ta mai ngày, nếu chúng ta trung thành bước theo Chúa, và chấp nhận những khó khăn do việc bước theo Chúa mang lại. Nhưng liệu vinh quang ấy có đủ sức hấp dẫn để giúp chúng ta vượt qua mọi thử thách, mọi cám dỗ, mọi cạm bẫy trong cuộc đời để đi trọn con đường mà Chúa mời gọi chúng ta đi vào hay không ?
 

MC2-B105: Y PHỤC NGƯỜI TRỞ NÊN RỰC RỠ

Mc 9, 2-10
 

Sau khi tiên báo mình phải đi vào cuộc thương khó, phải chịu nạn chịu chết, Chúa Giêsu nhận: MC2-B105

Sau khi tiên báo mình phải đi vào cuộc thương khó, phải chịu nạn chịu chết, Chúa Giêsu nhận thấy các môn đệ của Ngài băn khoăn không hiểu "tại sao Thầy mình lại phải như thế ?" Để an ủi các môn đệ, Chúa Giêsu dẫn các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan đi theo mình lên núi và Ngài tỏ cho các ông thấy vinh quang của Ngài để củng cố niềm tin cho các ông. Ở đó Chúa Giêsu biến đổi hình dạng, y phục Người trở nên rực rỡ trắng tinh, làm cho các môn đệ phải một phen kinh hoàng vì sự lạ lùng đang diễn ra trước mắt. Nhưng sự lạ lùng này không làm cho các ông kinh hãi, sợ sệt; ngược lại làm cho các ông thích thú vô cùng và muốn được ở như thế mãi mãi nên thốt lên "Thưa Thầy chúng con ở đây thì thật là hay". Hơn thế nữa, các ông còn muốn định cư luôn ở đó để được chiêm ngắm Chúa mãi, không hề muốn rời xa tình trạng ấy, nên xin dựng ba lều một cho Thầy, một cho Môsê và một cho Êlia.
Chúa Giêsu biến hình để trở về tình trạng Thiên Chúa của Người. Hình dạng đó làm cho các môn đệ không muốn lìa xa nữa, các ông không còn bận tâm điều gì nữa, chỉ muốn chiêm ngưỡng mãi mãi hình ảnh mà các ông đã thấy nơi Thầy của mình. Chúng ta có thế nói rằng các môn đệ này đã được "lên thiên đàng" khi các ông còn đang sống. Các ông hết sức sung sướng chiêm ngưỡng vinh quang của Chúa, không muốn xa rời nữa. Điều này làm cho các ông hạnh phúc vô cùng không còn tha thiết với môt điều gì khác ngoài Chúa. Giờ đây mọi sự trong thế không còn ý nghĩa gì nữa đối với các ông.
Mỗi ngày các môn đệ đều ở với Chúa Giêsu, cùng ăn với Chúa Giêsu, cùng nghe Chúa Giêsu giảng dạy, cùng hoạt động với Chúa Giêsu, có lẻ những bận rộn ấy đã che mắt các ông làm cho các ông không thể nào nhận ra vinh quang của Chúa Giêsu. Hôm nay Chúa Giêsu tách các ông ra khỏi những bận rộn và lo toan của cuộc sống đời thường để tỏ cho các ông thấy vinh quang vốn có của Ngài. Điều này làm cho các ông hạnh phúc vô cùng. Đó là một thứ hạnh phúc lấp đầy mọi khao khát của con người. Đây cũng là dịp để chúng ta hiểu thêm về hạnh phúc thiên đàng mai sau. Ở đó chúng ta sẽ được hạnh phúc tràn đầy và không còn ước ao một điều gì khác nữa.
Trong cuộc sống thường ngày chúng ta có quá nhiều công việc phải lo, phải nghĩ, nào là cơm áo, gạo tiền, nào là danh vọng quyền thế, nào là những thú vui phù phiếm nhưng không kém phần hấp dẫn, nào là những thói hư tật xấu: bài bạc, rượu bia, quậy hoạn, du côn du đảng, phá làng phá xóm, nào là thói quen nói hành nói xấu người khác, # kiến chúng ta không còn nhớ tới Chúa, không còn giờ để gặp Chúa, không còn nhận ra tiếng nói của Chúa trong lương tâm mình nữa.
Mùa Chay là thời gian thích hợp để chúng ta quay về với Chúa, từ bỏ con người cũ tỗi lỗi xấu xa, để mặc lấy con người mới theo khuôn mẫu Chúa Kitô. Hãy gặp gỡ Chúa nhiều hơn qua các bí tích nhất là bí tích Thánh Thể và Giải tội, hãy dành thời gian để Chầu Thánh Thể nhiều hơn, cũng như gia tăng các việc lành phúc đức.
Xin Chúa giúp chúng ta nhận thấy rỏ thực trạng con người của mình hơn để dấn thân theo Chúa hơn. Gặp gỡ Chúa nhiều hơn sẽ kiến lương tâm chúng ta nhạy bén hơn với tiếng nói của Chúa trong tâm hồn chúng ta. Nhờ đó mỗi ngày chúng ta nên giống Chúa hơn, để Chúa ở đâu chúng ta cũng được ở đó với Người.
 

MC2-B106: THAY ĐỔI

Mc 9, 2-10
 

Vũ trụ chúng ta sống luôn biến đổi. Người sống vùng sa mạc nhận biết biến đổi rõ nhất là trong: MC2-B106

Vũ trụ chúng ta sống luôn biến đổi. Người sống vùng sa mạc nhận biết biến đổi rõ nhất là trong sa mạc. Sau một cơn bão thung lũng cát biến thành núi cát. Sức mạnh đó vượt ngoài tưởng tượng của loài người. Các khoa học gia có thể giải thích, đo lường, tìm hiểu nhưng bất lực không thể ngăn cản. Người sống vùng đồng bằng nhận biết biến đổi qua nước chảy trên sông. Người ta nói nước chảy đá mòn. Thực tế dân sống vùng sông ngòi biết nước chảy vài ba năm sông bị cạn dần, bờ sông bị mòn, lòng sông đã không mòn mà còn bị phù sa bù lấp làm lòng sông nông cạn. Biến đổi trong vũ trụ là điều không thể tránh. Cuộc sống đời người cũng có nhiều biến đổi theo từng giai đoạn. Từ trẻ thơ biến thành thiếu niên rồi thanh niên rồi trưởng thành, thành người lớn trước khi phải nhờ đến cây gậy chống bước đi, cụ ông, cụ bà. Mỗi một giai đoạn đều có thay đổi về cả vóc dáng lẫn tinh thần.

Tương tự như thế cuộc sống tâm linh cũng có những giai đoạn phát triển, thay đổi. Mỗi một giai đoạn giúp chúng ta biến thành con người khác. Cũng vóc dáng đó, cũng con người đó nhưng trong tâm hồn có biến đổi, có giao động, có dấu chỉ của thành hình. Thành hình như thế nào tuỳ thuộc vào chọn lựa lối sống của mỗi cá nhân.

Mừng kính lễ Chúa biến hình giúp chúng ta nhận biết con người trung tín theo Chúa không biến hình nhưng thành hình. Thành hình như thế nào chúng ta không thể khẳng định rõ ràng. Chúng ta chỉ biết qua hình ảnh nhận được trên núi thánh chúng ta mường tượng ra cuộc sống tương lai của người trung thành theo Chúa sẽ tương tự như hình ảnh trên núi thánh. Nhìn vào hình dạng biến đổi của Thầy để có cảm nghiệm là sẽ trở nên giống Thầy. Toàn thân sẽ trắng như tuyết, mặt mày sáng tươi và tinh thần đầy hoan lạc. Điều này tự mình không thể hoàn thành nhưng nhờ vào ơn Thầy ban cho. Kẻ tin theo Chúa được khai mở chút ít về cuộc sống tương lai nhờ các môn đệ được Chúa cho cảm nhận trên núi thánh. Con người trở nên trong sáng nhờ ánh sáng của Thầy chiếu dọi. Như mặt trăng sáng nhờ mặt trời, các môn đệ trung tín trở nên trong sáng nhờ ánh sáng mặt trời công chính là Đức Kitô chiếu toả.

Môn đệ không dám so với Thầy thì ít ra hình ảnh các tổ phụ cho biết các ngài cũng biến đổi như thế. Các ngài không so với Thầy, các ngài có được sự sáng nhờ Thầy ban cho, nhờ sống trung tín trong niềm tin. Niềm tin đây chính là ai tin vào Thầy cũng sẽ cảm nhận được sự sống mới nơi Thầy ban cho. Sự sống đó biến đổi con người bất toàn của ta trở nên tốt hơn, đẹp hơn, cao quí hơn, hoàn toàn hơn và cuối cùng trong sáng như tuyết. Đây là một cảm nghiệm, niềm hạnh phúc tuyệt vời mà trần thế không thể nào diễn tả. Các môn đệ đi theo Thầy được Thầy ưu đãi cho cảm nghiệm sự sống tương lai. Các ngài được nhìn thấy tương lai đời mình hạnh phúc như hình ảnh trên núi thánh. Dù chỉ hé mở một chút đã khiến các ngài say mê, muốn buông bỏ mọi sự nơi trần thế, không còn quyến luyến chi. Trước khi thực sự bước vào cộc sống mới, cuộc sống thành hình đó các ngài phải xuống núi. Xuống núi không phải để tích trữ, thu góp. Xuống núi để chính thức từ bỏ, dứt khoát xa lìa những gì thuộc về trần thế. Mỗi một hành động tốt lành đều giúp ta trở nên trong sáng hơn, mỗi một cử chỉ bác ái, yêu thương đều biến ta trở nên tốt lành hơn. Chính những biến đổi hàng ngày trên thay hình đổi dạng cuộc sống của ta, giúp ta trở nên trong sáng hơn. Từ bỏ lối sống tự tạo để bước theo con đường Thầy đã đi qua, con đường Thầy dẫn đường, chỉ lối. Con đường từ bỏ dù chông gai, cay đắng cũng rất đáng từ bỏ, cố gắng, trung tín bước theo Thầy vì sau những vất vả, gian truân là ánh sáng ngập tràn. Sau những âu lo, phiền muộn là niềm vui vĩnh cửu. Sau những khổ đau là hạnh phúc tuyệt vời. Sau những xua đuổi, rượt bắt là tưng bừng chào đón, đàm đạo. Hình ảnh đám mây bao phủ chính là trở ngại ngăn cách lớn nhất cho những ai không thể dứt khoát từ bỏ. Chỉ khi nào vượt qua đám mây che phủ đó con người mới nhận biết chân giá trị của cuộc sống mai hậu đang đón chờ.

Chúng ta cầu xin tâm tình trong lòng luôn ấp ủ cảnh sống tươi sáng. Ước mong niềm hy vọng tươi sáng sẽ xoá tan mây mù, tăm tối.

Lm Vũ đình Tường
 

MC2-B107:  ĐƯỢC BIẾN HÌNH VỚI CHÚA

Mc 9, 2-10
 

Trong những năm tháng theo Chúa Giêsu, được Ngài đào tạo, hướng dẫn và làm phép lạ để: MC2-B107

Trong những năm tháng theo Chúa Giêsu, được Ngài đào tạo, hướng dẫn và làm phép lạ để chứng tỏ quyền năng, đồng thời củng cố lòng tin còn non yếu của các tông đồ.Chúa Giêsu đã minh chứng cho các tông đồ, cầu nguyện là điều cốt yếu trong đời sống làm môn đệ và truyền giáo. Chúa Giêsu thường chọn chỗ cao, chỗ hoang vu, vắng vẻ để cầu nguyện, khẩn nài và trò chuyện thân mật với Thiên Chúa Cha. Hôm nay, Chúa biến hình đổi dạng trước mặt ba môn đệ thân tín Phêrô, Giacôbê và Gioan...

Vâng, các ngọn núi vẫn là những điểm chúa Giêsu ưa thích, chọn làm nơi cầu nguyện. Càng ở nơi hoang vu, thanh vắng, Chúa Giêsu càng tỏ ra say mê cầu nguyện, trò chuyện với Chúa Cha. Một ngon núi, Chúa đã dùng dạy dỗ các môn đệ bài giảng nhớ đời. Núi Tabôrê hôm nay, Chúa biến hình trước ba môn đệ Phêrô, Giacôbê và Gioan. Núi Sọ và núi Oliu, nơi Chúa Giêsu lên trời trước mặt các môn đệ sau khi Ngài sống lại và ở với các ông 40 đêm ngày. Ngọn đồi Canvê hay Gongotha là nơi Chúa Giêsu chịu chết để cứu chuộc nhân loại. Núi Tabôrê, nơi Chúa Giêsu biến hình chỉ là vinh quang thật đẹp, nhưng lại chỉ là bất ngờ và mau qua để củng cố đức tin của ba môn đệ thật thân tín, trước khi Ngài tỏ vinh quang viên mãn cho các môn đệ khi Ngài trở về Quê Trời, trở về Thiên Quốc...

Chúa Giêsu đã được Chúa Cha biến hình đổi dạng, sự biến hình làm thay đổi cả thân xác và khuôn mặt, cả thể lý của Chúa Giêsu. Nó còn ảnh hưởng đến cả y phục:áo quần của Chúa. Vinh quang của Chúa Giêsu mãi hôm nay mới được Chúa Cha vén mở cho các môn đệ để các ông tin vào Chúa Giêsu. Môsê khi xưa trên núi Sinai đã phải che mặt khi đối diện với Thiên Chúa. Ai gặp gỡ Chúa cũng được biến hình. Đời sống của người Kitô hữu khi kết hợp mật thiết với Chúa luôn được thay hình đổi dạng. Biến hình có nghĩa là trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa. Chúa muốn dạy các môn đệ, dạy chúng ta: " Biến hình đầu tiên là chịu đau khổ và sau đó sẽ được sống lại vinh quang ".Mầu nhiệm vượt qua luôn vang lên trong tâm trí mọi Kitô hữu suốt mùa chay này vì mầu nhiệm vượt qua là trung tâm của đời sống Kitô giáo và là trung tâm của phụng vụ thánh. Mọi Kitô hữu đều đã được rửa tội và mọi người được tham dự vào mầu nhiệm vượt qua của Chúa Giêsu.Bởi vì, Kitô hữu là ngườì được kết hiệp với cái chết của Chúa Giêsu và được phục sinh với Người trong đời sống mới.Người Kitô hữu khi được rửa tội đã được bước vào một cuộc biến hình tiệm tiến và liên tục. Đời sống của người Kitô hữu là một cuộc lên núi như ba môn đệ Phêrô, Giacôbê và Gioan và rồi lại trở về đời sống bình thường như các môn đệ. Đời sống của người Kitô hữu là đi con đường hẹp nghĩa lả cùng sống cuộc sống với Chúa, nhờ đó người Kitô hữu được biến hình đổi dạng với Người. Người Kitô hữu lên núi với Chúa để hưởng nếm sự dịu ngọt ngất ngây với Chúa trong sự biến hình với Người và cùng xuống núi với Chúa để sống phục vụ, yêu thương, chia sẻ với tha nhân, với mọi người. Nhờ hiệp thông mật thiết với Chúa, người Kitô hữu sẽ hiểu được thế nào là vác thập giá, thế nào là chịu đau khổ và thế nào là được sống lại với Chúa. Đời sống Kitô hữu sẽ giúp họ sống đức tin nghĩa là sống mầu nhiệm vượt qua: " Đức Kitô đầu tiên phải chịu đau khổ rồi Người sẽ đến trong vinh quang của sự sống lại " và như thế, sẽ làm cho người Kitô hữu được sung mãn trong sự sống trường sinh.

Đức tin có những lúc vững mạnh, nhưng cũng có lúc bị yếu kém. Tuy nhiên, nếu con người hay nói cách rõ hơn, chúng ta luôn trung thành với niềm tin. Thiên Chúa sẽ chúc phúc và ban cho chúng ta sự sống đời đời. Thánh Giacôbê đã viết: " Phúc cho ai bị thử thách mà vẫn trung thành, bởi vì khi thành công trong cơn thử thách như thế, người đó sẽ được Thiên Chúa ân thưởng bằng sự sống mà Thiên Chúa đã hứa cho những ai yêu mến Ngài " ( Gc 1, 12 ).

Tin Mừng của Chúa nhật II mùa chay cho chúng ta thấy rõ điều đó. Đức tin cũng giống như dòng đời, như cuộc sống, cũng có những lúc lên núi, có những lúc xuống núi, xuống đồng bằng. Khi ở trên cao chúng ta dễ dàng tin Chúa và yêu mến Chúa. Nhưng khi ở dưới núi, dưới đồi khi gặp thử thách gian nan, chúng ta khó lòng nhìn ra Chúa để yêu mến Người. Nhưng nếu chúng ta vẫn mãi trung thành với những thử thách, với những gian nguy mà cứ một niềm tin Chúa, bám chặt lấy Chúa, Thiên Chúa chắc chắn sẽ thưởng công cho chúng ta, Ngài sẽ ban cho chúng ta đời sống mà Ngài đã hứa cho những ai yêu mến Ngài.

Lạy Chúa, Chúa đã dạy chúng con phải vâng nghe Con yêu dấu của Chúa; xin lấy lời hằng sống nuôi dưỡng đức tin của chúng con, nhờ vậy cặp mắt tâm hồn chúng con sẽ trong sáng để nhìn thấy vinh quang Chúa tỏ hiện trong cuộc đời chúng con. Amen.

Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
 

MC2-B108: AI HIỂU ĐƯỢC CHỮ TÌNH?

Mc 9, 2-10
 

Tình yêu, hai tiếng thân quen mà rất khó diễn đạt. Chuyện cũng thường tình vì nhiều thi nhân: MC2-B108

Tình yêu, hai tiếng thân quen mà rất khó diễn đạt. Chuyện cũng thường tình vì nhiều thi nhân đã từng hỏi: đố ai biết chữ tình là chữ chi chi ? Mùa chay là mùa đặc biệt mời gọi đoàn tín hữu hoán cải ăn năn. Ăn năn hoán cải, không nguyên chỉ vì thấy sự xấu xa của kiếp tội đòi mà còn vì cảm nhận mối tình bao la mà Thiên Chúa dành cho chúng ta. Thấy sự xấu xa và bi đát của thân phận tội lỗi của bản thân, để rồi quay bước trở về là điều chính đáng và hợp lý, nhưng chưa hẳn là sâu xa và lâu bền. Một sự hoán cải, trở về dựa trên niềm xác tín vào tình yêu của Thiên Chúa mới thực sự là bền vững và sâu xa hơn nhiều. Giáo lý Công giáo đề cập đến hiện thực này khi phân biệt hai hình thức ăn năn tội đó là ăn năn tội vì Chúa và ăn năn tội vì mình, hay nói cách khác là ăn năn tội cách trọn và ăn năn tội cách chẳng trọn. Để góp phần giúp chúng ta trở về cách trọn hảo hơn, xin được chiêm ngắm tình yêu của Thiên Chúa qua các bài đọc của Chúa Nhật II Mùa Chay B này.

Yêu mến ai thì không chỉ muốn mà còn tìm mọi cách thế để hiến dâng điều tốt nhất của mình cho người mình yêu.. " Hãy đem con của ngươi, đứa con một yêu dấu của ngươi là Isaac, hãy đi đến xứ Môrigia mà dâng nó làm của lễ toàn thiêu ở đấy, trên một ngọn núi Ta sẽ chỉ cho" ( St 22, 2 ). Được hiểu như là lệnh truyền của Thiên Chúa, nhưng đó chính là tấm lòng của Abraham dành cho Đấng đã kêu gọi ông ra khỏi nơi quê cha đất tổ mà tiến về hứa địa. Dù băn khoăn, đau xót, nhưng Abraham vẫn muốn hiến dâng điều tốt nhất của mình là chính sự sống nối dài của mình, qua người con một.

Tình yêu thật diệu kỳ. Chính khi trao dâng là lúc lãnh nhận và lãnh nhận gấp trăm, gấp nghìn lần. Abraham đã không mất người con một yêu quý, mà đã trở thành cha của một đoàn con đông đảo "như sao trên bầu trời, như cát ngoài bãi biển". Tình yêu thật diệu kỳ, vì Thiên Chúa là Tình Yêu ( 1Ga 4,8 ). Là Đấng phải được mọi vật mọi loài tôn thờ và chúc tụng, là Đấng đáng được mọi người thần phục mến yêu và hiến dâng tất cả, thì Thiên Chúa lại trao ban tất cả cho chúng ta. Thánh Tông đồ dân ngoại đã luận lý rằng: Một khi Thiên Chúa đã ban chính Con Một cho chúng ta thì lẽ nào Người lại chẳng rộng ban tất cả cho chúng ta ? ( x. Rm 8,32 ).

Các Tin Mừng Nhất Lãm đều tường thuật sự kiện Chúa Giêsu biến hình trên núi Tabôrê. Có Êlia và Môsê hiện ra và đàm đạo với Người. Nội dung đàm đạo là về cuộc khổ nạn mà Chúa Giêsu sắp chịu tại Giêrusalem. Và đó chính là đỉnh cao của tình yêu Thiên Chúa tặng ban cho nhân loại. Vì không có tình yêu nào cao quý cho bằng mối tình của người hiến dâng mạng sống vì người mình yêu ( x. Ga 15,13 ). Đây không phải là một tình cảm nhất thời mang tính tự phát, nhưng là một ý đinh có từ ngàn đời qua một chương trình được chuẩn bị từ ngàn xưa, mà sự hiện diện của Môsê và Êlia, đại diện cho Lề luật và hàng Ngôn sứ là một minh chứng hiển nhiên.

Nếu nói rằng Thiên Chúa trao ban chính Con Một, vì nhân loại bội phản, bất trung, sa ngã, phạm tội thì quả không sai. Nhưng nếu nói rằng Thiên Chúa hiến ban Con Một của Người cho nhân loại để mạc khải chính Người là Tình Yêu thì đúng hơn nhiều. "Biên giới của tình yêu là một tình yêu không biên giới".

Thập giá Chúa mời gọi ta hoán cải. Mùa chay, mùa đặc biệt mời gọi đoàn tín hữu chiêm ngắm cuộc khổ nạn của Đấng cứu độ. Các khổ hình Chúa Kitô đã chịu và cái chết tủi nhục của người trên thập giá như một lời tố cáo tội ác của nhân loại chúng ta. Thấy được sự xấu xa của bản thân mình, hẳn nhiên ít nhiều, chúng ta cũng được thúc đẩy chê ghét tội lỗi và hoán cải ăn năn. Tuy nhiên chính tình yêu của Chúa mới làm chúng ta vươn lên, đổi mới, nên hoàn thiện và nhất là biết sống yêu thương cách quên mình.

Được chiêm ngắm dung nhan sáng láng của Thầy chí thánh, đúng hơn là nhờ được thông phần một cách nào đó "bản thể của Đấng là Tình Yêu", thì Phêrô đã lên tiếng: " Thưa Thầy, chúng con ở đây thật là hay ! Chúng con xin dựng ba cái lều, một cho Thầy, một cho ông Môsê và một cho ông Êlia."( Mc 9,5 ) Sao chỉ có ba cái lều mà không là bốn, năm hay là sáu ? Dù đang kinh hoàng và không biết phải nói gì, nhưng Phêrô đã thay hai bạn đồng môn Gioan và Giacôbê nói lên tấm lòng của mình, một tấm lòng quên mình vì người khác.

"Đây là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Người" ( Mc 9,7 ). Ước gì chúng ta hằng luôn ghi khắc vào tâm khảm những lời từ miệng của Đấng Cứu Độ sau đây: "Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em" ( Ga 14,24 ). " Vậy, nếu Thầy là Thầy và là Chúa, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em" ( Ga 13,12 ). " Tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta, vì Luật Môsê và lời các ngôn sứ là thế đó" ( Mt 7,12 ).

Ai hiểu được chữ tình ? Có thể nói rằng đó là những ai biết ở lại trong tình yêu Đấng Cứu Độ, đồng thời, nhờ và với tình yêu của Người, đã biết yêu thương như Người yêu thương. Thấy tội ác của mình, người ta có cơ may hối hận, ăn năn. Nhưng nghiệm thấy được tình yêu cứu độ người ta sẽ biết đổi đời và vươn lên.

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa (Nguồn vietcatholic.org)
 

MC2-B109: CÓ LÀ LẠC ĐIỆU

CHÚA NHẬT 2 MÙA CHAY
Mc 9, 2-10
 Lm Đaminh Đỗ Văn Thiêm Long Xuyên
 

 Nếu có ai cứng cỏi bảo rằng: Bài Tin Mừng hôm nay là một lạc điệu thì cũng không phải là không: MC2-B109

          Nếu có ai cứng cỏi bảo rằng: Bài Tin Mừng hôm nay là một lạc điệu thì cũng không phải là không có lý. Vì đang giữa mùa chay, mùa của sám hối và hy sinh, mà Giáo hội lại cho đọc đoạn Tin Mừng nói về sự tỏ hiện vinh quang của Chúa: “Y phục Ngài trở nên rực rỡ, trắng tinh”. Thực ra đấy chỉ là cái nhìn sơ sài bên ngoài. Thực chất câu chuyện Chúa biến hình hôm nay, là một củng cố tích cực to lớn, trong việc gầy dựng mùa chay ý nghĩa và thánh thiện.
          Mùa chay là mùa sám hối, mà muốn sám hối thì điều tiên quyết là phải gặp lại chính mình. Mà mình là ai? Đó là một câu hỏi quan trọng cần được trả lời. Chữ mình ở đây, phải hiểu là chữ “Con Người” với tính toàn vẹn của nó. Sách Sáng Thế đã diễn tả: “Con người được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa”. Nhưng Thiên Chúa, thì lại không ai thấy bao giờ. Thế thì sao biết được khuôn mặt của con người?
          Đành rằng Thiên Chúa đã xuống thế làm người. Nơi một con người mang tên Giêsu. Nhưng cái thân xác con người che lấp khiến ta không thể trông thấy rõ khuôn mặt đích thực của Thiên Chúa. Muốn cho con người một lần vượt qua được ngõ tối ấy. Hôm nay, Chúa Giêsu dẫn ba môn đệ thân tín đi lên núi cao vắng lặng, và trước mặt các ông: Chúa đã biến đổi hình dạng. Y phục của Ngài trắng như tuyết, khuôn mặt của Ngài chói chang. Rồi có cả ông Elia và ông Maisen đến đàm đạo với Ngài. Khung cảnh quá đỗi lạ lùng, huyền diệu đến nỗi các ông bị hớp hồn. Ông Phêrô buột miệng kêu lên: “Thưa Thầy, chúng con ở đây thì sướng quá. Nếu được chúng con xin dựng ba lều: một cho Thầy, một cho Maisen, và một cho Elia”.
          Khi thấy đổi hình dạng như thế, không có nghĩa là Ngài làm xiếc biến đổi từ người này sang người khác, mà chỉ có ý nghĩa duy nhất, là Ngài tỏ lộ một chút, khuôn mặt Thiên Chúa vô cùng của Ngài. Một khuôn mặt của Đấng tuyệt đối về mọi mặt, mà con người có tưởng tượng đến bao nhiêu cũng không thể nghĩ ra được. Một khuôn mặt tinh tuyền trong suốt và đầy ắp ánh sáng uy nghi.
          Và đó, phần nào khuôn mặt nguyên tuyền của con người cũng hao hao giống thế. Khi lãnh nhận bí tích Rửa Tội. Thiên Chúa đã trao tặng cho con người một khuôn mặt diệu vời như thế. Nhưng rồi tội đời đã làm khuôn mặt con người trở nên sần sùi, xấu xí, lem luốc và tanh tưởi, mùa chay là mùa trở về, và hãy làm sạch chính mình. Như vua Duy Tân trong cuộc chiến với người Pháp đã phát biểu: “Tay dơ phải rửa bằng nước, nước dơ phải rửa bằng máu”. Với chúng ta, linh hồn dơ phải rửa bằng nước mắt sám hối ăn năn.
          Gợi ý suy niệm:
          1- Đã lâu rồi, bạn có gặp lại chính mình không?
          2- Khuôn mặt con người của bạn, bây giờ đẹp hay xấu?
  Lm Đaminh Đỗ Văn Thiêm Long Xuyên
 

MC2-B110:  Vinh quang

Cả ba Tin Mừng nhất lãm đều đặt biến cố Chúa Giêsu biến hình vào giữa hai lần loan báo trước: MC2-B110

Cả ba Tin Mừng nhất lãm đều đặt biến cố Chúa Giêsu biến hình vào giữa hai lần loan báo trước về cuộc khổ nạn. Điều này rất quan trọng, bởi vì nó cho chúng ta hiểu rằng: Cuộc biến hình này có liên quan trực tiếp tới biến cố vượt qua và như vậy có nghĩa là vinh quang mà ba môn đệ Phêrô, Giacôbê và Gioan được chứng kiến trên đỉnh Taborê hôm nay, báo trước vinh quang phục sinh của Ngài mai sau.
Tuy nhiên, cuộc biến hình này, mới chỉ là sự thay đổi hình dạng bên ngoài, đặc biệt là sự thay đổi màu áo, mà theo thánh Macrô, trở nên trắng tinh, không có thợ giặt nào ở trần gian giặt trắng được như vậy. Còn trong mầu nhiệm phục sinh, Đức Kitô không phải chỉ thay hình đổi dạng, mà Ngài hoàn toàn đổi mới. Thân xác phục sinh của Ngài là thân xác “có thần khí”. Bởi đó mà Ngài có thể đi qua mọi cửa nhà đóng kín, hay có thể bất thần xuất hiện trên đường Emmau, rồi ngay sau đó lại xuất hiện tại Giêrusalem. Chính với thần khí đó, mà hôm nay Đức Kitô hiện diện trong Giáo Hội, trong thế giới và trong tâm hồn mỗi người tín hữu của Ngài.
Nhưng điều đáng cho chúng ta suy niệm, đó là không một sự biến hình nào mà lại không đòi hỏi một sự trả giá. Trong Tin Mừng theo thánh Luca, Ngài đã hai lần nhắc đến quy luật này: Đức Kitô phải chịu khổ hình rồi mới vào trong vinh quang của Ngài. Ở đây, với sự kiện biến hình, Ngài cũng nói với các môn đệ: Có lời chép về Con Người rằng Ngài phải chịu nhiều đau khổ và bị khinh chê. Vậy thì đã rõ, mục đích của cuộc biến hình này chính là giáo dục đức tin cho các môn đệ. Cũng như Chúa đã báo trước cho các ông biết Ngài sẽ phải chịu đau khổ và chịu chết, thì bây giờ Ngài cũng cho các ông thấy trước vinh quang phục sinh của Ngài.
Thật vậy, khác với sự mong đợi của nhiều người và của chính các môn đệ, là Đức Kitô sẽ thiết lập một vương quốc trần gian, nối nghiệp vương đế của nhà Đavít, Ngài khẳng định rằng Nước của Ngài không thuộc về thế gian này và Ngài đến không phải để được hầu hạ, nhưng đến để hầu hạ và hiến mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người. Cái chết của Ngài là một sự dâng hiến, chứ không phải là một thất bại, đó là một sự hy sinh tự nguyện, để rồi chính Ngài có quyền phục hồi lại được. Đó là lý do tại sao Ngài đã ba lần báo trước về cuộc khổ nạn và phục sinh của Ngài.
Từ đó chúng ta đi đến kết luật đó là đừng bao giờ chờ đợi một cuộc chiến thắng mà không phải trả giá, chờ đợi một sự thành công mà không đòi đổ mồ hôi, nước mắt và gian khổ. Nhưng trái lại, cũng đừng bao giờ bi quan thất vọng mỗi khi gặp phải gian nan thử thách. Chúa mời gọi chúng ta hãy vác thánh giá mình mà đi theo Ngài, nhưng không phải với bộ mặt đưa đám hay với những rên xiết thở than, nhưng với bộ mặt cương quyết rắn rỏi, với thái độ hiên ngang vì tin tưởng vào lời Ngài đã nói: Trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan khốn khổ, nhưng hãy can đảm lên, Thầy đã thắng thế gian.

 

MC2-B111: Nhìn vào mặt tốt – Lm. Ignatiô Trần Ngà

Đời người có mặt tối và mặt sáng, có mặt tốt và mặt xấu, có mặt phải và mặt trái, có lúc phấn khởi: MC2-B111

Đời người có mặt tối và mặt sáng, có mặt tốt và mặt xấu, có mặt phải và mặt trái, có lúc phấn khởi vui tươi cũng có những lúc ủ dột ưu sầu…
Khi Chúa Giê-su tỏ cho các môn đệ biết Người phải lên Giê-ru-sa-lem để chịu khổ hình và chịu chết, các môn đệ cảm thấy rúng động tâm hồn!
Không lẽ cuộc đời của Thầy Giê-su lại kết thúc bi đát đến thế ư?
Đã bao lần họ mơ tưởng đến một tương lai huy hoàng khi được ngồi bên tả, bên hữu vua Giê-su trong vương quốc vinh hiển của Người; lẽ nào giấc mộng vàng đó lại sớm tan thành mây khói? Nếu Chúa Giê-su mà còn phải chịu số phận oan nghiệt như thế thì số phận các ông rồi sẽ ra như thế nào đây?
Không chấp nhận viễn ảnh đen tối ấy, ông Phê-rô kéo riêng Chúa Giê-su ra và lên tiếng trách móc, tìm cách can gián để Người đừng đón nhận sứ mạng đau thương ấy (Mc 8, 32).
Để củng cố tinh thần các môn đệ đang sa sút trước tin chẳng lành vừa loan báo, “sáu ngày sau, Đức Giê-su đem các ông Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an đi theo mình. Người đưa các ông … tới một ngọn núi cao. Rồi Người biến đổi hình dạng trước mắt các ông. Y phục Người trở nên rực rỡ, trắng tinh, không có thợ nào ở trần gian giặt trắng được như vậy. Và ba môn đệ thấy ông Ê-li-a cùng ông Mô-sê hiện ra đàm đạo với Đức Giê-su.”
Bấy giờ tinh thần ba môn đệ hết sức phấn chấn. “Ông Phê-rô thưa với Chúa Giê-su rằng: "Thưa Thầy, chúng con ở đây, thật là hay! Chúng con xin dựng ba cái lều, một cho Thầy, một cho ông Mô-sê, và một cho ông Ê-li-a.”
“Bỗng có một đám mây bao phủ các ông. Và từ đám mây, có tiếng phán rằng: "Đây là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Người.”
Thế là nhờ chứng kiến sự vinh hiển của Chúa Giê-su trong giờ phút vinh quang của Người trên núi cao, ít nữa có môn đệ Gioan vững bước theo Chúa Giê-su đến cùng trên đường khổ nạn.
* * *
Đời người có mặt tối và mặt sáng, có mặt tốt và mặt xấu, có mặt phải và mặt trái, có lúc phấn khởi vui tươi cũng có những lúc ủ dột ưu sầu.
Cuộc đời Chúa Giê-su cũng có mặt sáng mặt tối. Mặt tối là đêm vườn Dầu đau thương ảm đạm; mặt sáng là cuộc biến hình sáng láng trên núi cao. Nếu các môn đệ chỉ nhìn thấy mặt đen tối, mặt u ám của đêm vườn Dầu, lúc Chúa Giê-su bộc lộ nhân tính hèn yếu của mình, tỏ ra kinh khiếp hãi hùng trước cuộc khổ nạn sắp tới đến nỗi phải đổ mồ hôi máu và phải van lơn cầu khẩn với Chúa Cha xin cho khỏi uống chén đắng (Lc 22, 41-44)… mà không thấy được mặt sáng của Người trên núi cao thì các ông sẽ ngã lòng thất vọng. Và biết đâu, các vị đào tẩu hết, lấy ai làm nhân chứng cho biến cố phục sinh! Lấy ai loan báo Tin Mừng cứu độ?
Vì thế, Chúa Giê-su cho các ông thấy mặt sáng của Người trước, qua việc tỏ cho các ông thấy dung mạo sáng láng vinh hiển của Người, tỏ cho họ thấy Người là “Con yêu dấu của Thiên Chúa Cha” để động viên tinh thần các ông khỏi sa sút, thất vọng trong đêm vườn Dầu sắp đến.
***
Ngôi nhà nào cũng có mặt trước mặt sau. Nếu người ta chỉ nhìn mặt sau tồi tàn của ngôi nhà mà không nhìn mặt tiền hoành tráng của nó, người ta sẽ thất vọng vì nó.
Tấm huy chương nào cũng có mặt trái mặt phải. Nếu chỉ biết mặt trái sần sùi của tấm huy chương mà không để mắt đến mặt phải vinh hạnh của nó, thì người ta sẽ xem thường nó.
Hoa hồng rất đẹp và kiêu sa nhưng cũng đầy gai. Nếu người ta chỉ chú trọng đến những gai nhọn của hoa hồng mà không để ý đến sắc hương tuyệt vời của nó thì hoa hồng chẳng còn gì hấp dẫn.
Đối với người anh em chung quanh cũng thế. Mỗi người đều có mặt sáng và mặt tối, mặt tốt và mặt xấu. Không ai hoàn toàn tốt, chẳng ai hoàn toàn xấu. Nếu chúng ta chỉ nhìn vào mặt đen tối của một con người, mà quên đi mặt sáng của họ; nhìn vào nhược điểm mà quên đi ưu điểm, thì chúng ta sẽ rất thất vọng về người đó.
Sự kiện Chúa Giê-su tỏ cho ba môn đệ thân tín cảm nhận thời khắc vinh hiển của Người trên núi cao để chuẩn bị tinh thần các ông đương đầu với thời khắc đen tối của Người trong đêm vườn Dầu và đêm khổ nạn, là bài học cho chúng ta trong tương quan với người khác.
Nhờ ngắm nhìn cụm hoa hồng rực rỡ kiêu sa và thưởng thức hương thơm dịu dàng của nó, người ta quên đi những gai nhọn đáng phàn nàn của nó.
Ước gì chúng ta cũng biết nhìn vào điểm sáng, điểm tốt, vào ưu điểm của người khác để dễ dàng cảm thông với những mặt trái, mặt xấu của họ.
Nhờ đó, chúng ta cảm thấy những người quanh dễ thương hơn; tương quan của ta với người khác được cải thiện tốt hơn và đời sống giữa chúng ta với nhau sẽ hạnh phúc hơn.

 

 MC2-B112: Đức Giêsu hiển dung – Lm. Giuse Nguyễn Thể Hiện

Ngày nay, trong rất nhiều trường hợp, chúng ta cũng chẳng khác gì các ông Phêrô, Giacôbê và: MC2-B112

“Ngày nay, trong rất nhiều trường hợp, chúng ta cũng chẳng khác gì các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan: hiểu sai lời Đức Giêsu, hiểu sai những thực tại thần thiêng được ban cho trải nghiệm, cứ mãi chỉ mang tư tưởng nhân loại chứ không phải tư tưởng của Thiên Chúa...”
Có một mối liên hệ sâu xa giữa biến cố được kể lại trong bài Tin Mừng hôm nay (Mc 9,2-10) với lời tiên báo về số phận của Con Người trong Mc 8,31. Trước phản ứng rất mạnh mẽ của ông Phêrô (đại diện cho nhóm các đồ đệ) đối với lời tiên báo đó (8,32), Đức Giêsu, vốn đầy tình thương yêu nhân lành đối với các đồ đệ, đã muốn giúp các ông hiểu và đón nhận chương trình cứu độ của Thiên Chúa, bằng cách cho các ông được trải nghiệm một thực tại ngoại thường: biến cố hiển dung.
“Khi ấy, Đức Giêsu đem các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan đi theo mình. Người đưa các ông đi riêng ra một chỗ, chỉ mình các ông thôi, tới một ngọn núi cao” (c.2). Tác giả Tin Mừng không nói rõ đó là ngọn núi nào. Có lẽ ông muốn ám chỉ núi Sinai, là ngọn núi mà ở đó, ông Môsê và ông Êlia (các nhân vật sẽ xuất hiện trong c.4) đã được chứng kiến các cuộc thần hiện của Thiên Chúa (x. Xh 34,1-8; 1V 19,8-18). Trước đây, các đồ đệ đã từng được biết rằng Đức Giêsu là Đấng Mêsia (8,30), nhưng các ông lại hiểu sai về tư cách và sứ mạng Mêsia của Người. Đức Giêsu đã cố gắng giúp họ không hiểu sai, bằng cách nói cho họ biết về số phận đang được dành sẵn cho Con Người (8,31), nhưng Người đã thất bại trong nỗ lực đó (8,32). Bây giờ Người đưa các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan đi riêng ra một nơi, để một lần nữa, giúp các ông điều chỉnh cái ý tưởng sai lầm của các ông về Đấng Mêsia và giúp các ông đón nhận những hệ luận của việc gắn bó với Người. Những gì các ông sắp trải nghiệm sẽ là một cuộc thần hiện, cho các ông thấy tình trạng vinh quang của Đức Giêsu sau khi Người chiến thắng sự chết. Người muốn cho các ông cảm nghiệm trước ánh vinh quang của Đấng sắp đi vào cuộc khổ nạn kinh hoàng.
“Người biến đổi hình dạng trước mắt các ông. Y phục Người trở nên rực rỡ, trắng tinh, không có thợ nào ở trần gian giặt trắng được như vậy” (cc.2c-3). Vinh quang của Đức Giêsu được trình bày qua các chi tiết về vẻ huy hoàng của y phục của Người. Theo quan niệm đương thời, y phục là cách diễn tả con người, và trong trình thuật này, nó có giá trị ám chỉ nhân tính của Đức Giêsu. Y phục đó bây giờ “trở nên rực rỡ, trắng tinh”. Sự rực rỡ và trắng tinh thuần khiết đó biểu tượng cho vinh quang thần linh thấm đẫm nhân tính của Người. Đó là vinh quang thực của Đấng bị trao nộp vào tay người đời vì sự sống thật của nhân loại. Sự chết mà Người sắp trải qua sẽ thất bại tận căn trước vinh quang thần linh này. Và vẻ huy hoàng thuần khiết đang được tỏ lộ nơi Đức Giêsu này có nguồn gốc thiên thai, chứ không phải là kết quả của nỗ lực nhân loại: “Không có thợ nào ở trần gian giặt trắng được như vậy”.
“Và ba môn đệ thấy ông Êlia cùng ông Môsê hiện ra đàm đạo với Đức Giêsu” (c.4). Sự xuất hiện của hai nhân vật vĩ đại của Cựu Ước là các ông Môsê và Êlia, đã đem vào trong những thực tại mà các đồ đệ đang trải nghiệm một đường nét và ý nghĩa mới: mối liên hệ của Cựu Ước với Đức Giêsu. Tác giả Mc đã không nói rằng ông Môsê và ông Êlia đến, mà là các ông “hiện ra”, như thể một thực tại đang còn ẩn giấu bây giờ được tỏ lộ ra. Đàng khác, ông Môsê và ông Êlia hiện ra là để cho các đồ đệ của Đức Giêsu thấy, và tác giả không hề nói gì về vẻ vinh quang của các vị ấy. Hai vị là đại diện của Cựu Ước (Lề Luật và các ngôn sứ) như đã được ban truyền cho dân. Và tuy hiện ra cho các đồ đệ thấy, nhưng ông Môsê và ông Êlia không nói gì với các ông mà chỉ đàm đạo với Đức Giêsu. Điều này có nghĩa là Cựu Ước chẳng truyền đạt cho các đồ đệ của Đức Giêsu sứ điệp nào nếu không qua Đức Giêsu. Ông Môsê và ông Êlia xuất hiện trong sự quy hướng về Đức Giêsu mà thôi. Chính Đức Giêsu mới là Đấng xác định giá trị của Cựu Ước. Môsê và Êlia, tức là Lề Luật và các ngôn sứ, không phải là những giá trị tuyệt đối, mà là những thực tại tùy thuộc vào thực tại Giêsu. Đức Giêsu và sứ điệp của Người siêu vượt hơn hẳn mọi thực tại cao quý nhất của mặc khải Cựu Ước. Những gì Đức Giêsu nói và thực hiện thì quan trọng hơn hẳn những gì ông Môsê và các ngôn sứ đã dạy.
“Bấy giờ, ông Phêrô thưa với Đức Giêsu rằng: "Thưa Thầy, chúng con ở đây, thật là hay! Chúng con xin dựng ba cái lều, một cho Thầy, một cho ông Môsê, và một cho ông Êlia" (c.5). Sự tiến triển của biến cố hiển dung bị đoạn tục bởi sự kiện ông Phêrô lên tiếng. Được trực tiếp chứng kiến những gì đang diễn ra, ông Phêrô hướng về Đức Giêsu (chứ không phải về ông Môsê hay ông Êlia) và thưa chuyện với Người.
Ông Phêrô đưa ra một đề nghị, nhân danh các bạn (“chúng con”) và hy vọng sẽ được Đức Giêsu đồng ý. Điểm chính yếu trong đề nghị là việc làm ba cái lều, một cho Đức Giêsu, một cho ông Môsê và một cho ông Êlia. Có hai khía cạnh đáng chú ý, được diễn tả bằng danh từ “lều” và số từ “ba”. Hạn từ “lều” gợi ý về lễ Lều: ông Phêrô nối kết cuộc hiển dung của Đức Giêsu với sứ mạng Mêsia của Người, và ông hiểu đó là sứ mạng Mêsia theo hướng dân tộc chủ nghĩa. Với số từ “ba” và được phân chia rõ ràng là “một cho Thầy, một cho ông Môsê, và một cho ông Êlia”, ông Phêrô đang đặt cả ba vị trên cùng một bình diện, xóa mờ sự tùy thuộc của các ông Môsê và Êlia đối với Đức Giêsu và đặt các ông ấy trong tư thế độc lập. Thực tại đang xảy ra, như chúng ta đã nói trên kia, là ông Môsê và ông Êlia xuất hiện chung với nhau trong sự quy hướng về Đức Giêsu. Nhưng trong đề nghị của ông Phêrô, thì Đức Giêsu, ông Môsê và ông Êlia đồng hàng với nhau, và mỗi vị có vai trò riêng của mình, mỗi vị có “lều” riêng của mình. Đức Giêsu là Đấng Mêsia; ông Môsê: Lề Luật và các thiết chế; ông Êlia: nhà cải cách tôn giáo vĩ đại. Bằng cách đó, ông Phêrô cho thấy ý tưởng của ông về Đấng Mêsia (x. 8,29.33). Một cách gián tiếp, ông Phêrô phủ nhận sự mới mẻ của sứ điệp và vai trò của Đức Giêsu và Nước Thiên Chúa.
Rõ ràng ông Phêrô đã được nhìn thấy vinh quang của Đức Giêsu, nhưng chưa hiểu. Đúng ra, cần phải nối kết vinh quang đang được hé lộ trong biến cố hiển dung này với thực tại phục sinh của Con Người sau cuộc khổ nạn và cái chết của Ngài, như Đức Giêsu đã từng nói trước (8,31), nhưng ông Phêrô chưa thực hiện được sự nối kết đó. Ông vẫn đang còn mang tư tưởng của loài người chứ chưa phải là tư tưởng của Thiên Chúa (8,33).
“Thực ra, ông không biết phải nói gì, vì các ông kinh hoàng” (c.6). Tại sao các ông lại kinh hoàng đến độ không biết nói gì? Có yếu tố nào đe dọa các ông ở đây? Trong sự sợ hãi và cảm thấy bị đe dọa đó, ông Phêrô lại chỉ ngỏ lời với Đức Giêsu thôi, chứ không nói gì với các ông Môsê và Êlia, chứng tỏ ông cảm thấy kinh hoàng là vì một điều gì đó nơi Đức Giêsu. Quả thực, ông và các bạn đang được chứng kiến vinh quang thần linh tỏ lộ nơi Đức Giêsu. Các ông hiểu rằng nơi Người đang có mãnh lực thần linh của chính Thiên Chúa, vốn là mãnh lực có thể gây chết chóc cho người phàm một khi họ được chứng kiến. Và điều đó gây ra nỗi kinh hoàng tột độ cho các ông.
“Bỗng có một đám mây bao phủ các ông. Và từ đám mây, có tiếng phán rằng: "Đây là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Người" (c.7). Xuất hiện yếu tố thứ ba của cuộc thần hiện. Yếu tố thứ nhất là sự biến đổi hình dạng của Đức Giêsu, cho thấy tư cách và vị thế thần linh của Người. Yếu tố thứ hai là sự xuất hiện của các ông Môsê và Êlia, chứng tỏ Đức Giêsu là điểm đến, là đỉnh điểm, là điểm quy chiếu của tất cả Cựu Ước. Bây giờ xuất hiện yếu tố thứ ba: Đức Giêsu được công bố là Con Thiên Chúa, Đấng hiến dâng chính mạng sống mình, Đấng là Lời tối hậu của Thiên Chúa cho nhân loại.
Có thể nói sự xuất hiện của đám mây và tiếng phán từ đám mây chính là đỉnh điểm của cuộc thần hiện. Đám mây vừa mạc khải vừa che giấu sự hiện diện của Thiên Chúa. Và trong thực tế, đám mây đã thế chỗ của những chiếc lều mà ông Phêrô muốn làm. Nói chính xác hơn, sự xuất hiện của đám mây bao trùm đồng một trật Đức Giêsu, ông Môsê và ông Êlia, chính là sự từ chối, hoặc chí ít cũng là sự điều chỉnh, cái đề nghị vừa được phát biểu của ông Phêrô. Khi đề nghị làm ba cái lều “ở đây” là ông Phêrô đang muốn cầm giữ cả ba vị trong cõi đất này, với hy vọng rằng vương quốc Mêsia, nhờ các Ngài, sẽ được khai mở như là một thực tại thế tạm. Trái lại, Thiên Chúa cho thấy rằng vinh quang của Đức Giêsu và thực tại Người mang đến, tự bản chất, thuộc về cảnh vực thần linh chứ không phải là những thực tại thế tạm.
Cùng với đám mây và từ đám mây, có tiếng phán. Tiếng ấy không nói với Đức Giêsu nhưng là nói với các môn đệ và cung cấp cho các ông lời giải thích về những gì đang diễn ra. Phần thứ nhất của lời giải thích là một khẳng định: “Đây là Con Ta yêu dấu”. Đại từ “đây” rõ ràng loại trừ ông Môsê và ông Êlia khỏi điều được công bố và đồng thời nhấn mạnh tính cách hơn hẳn của Đức Giêsu so với hai vị đó. Ngữ đoạn “là Con của Ta” cho thấy một cách tường minh rằng thực hữu của Đức Giêsu xuất phát từ chính Thiên Chúa, rằng hành động của Người là hành động của chính Thiên Chúa, rằng lời của Người là lời của chính Thiên Chúa. Định ngữ “yêu dấu” nhấn mạnh mối tương quan đặc biệt giữa Thiên Chúa và Đức Giêsu.
Phần thứ hai là một lời kêu gọi: “Hãy vâng nghe lời Người”. Đức Giêsu là Tôn Sư độc nhất, là Đấng công bố lời tối hậu của Thiên Chúa. Các môn đệ chỉ phải vâng nghe lời Người mà thôi. Cựu Ước (mà đại diện ở đây là các ông Môsê và Êlia) không có gì để nói trực tiếp với các môn đệ nữa nếu không phải là qua Đức Giêsu. Như thế, không hề có hai mặc khải song song hay tiếp nối (Cựu Ước và Đức Giêsu), mà chỉ có một mặc khải duy nhất nơi Đức Giêsu, Đấng thực hiện và hoàn tất những gì được nói trong Cựu Ước, Đấng quyết định giá trị và đem lại sự trường tồn cho những thực tại Cựu Ước.
Tác giả Tin Mừng không nói gì về phản ứng của các môn đệ đối với những gì vừa được công bố từ đám mây. Trong Kinh Thánh, một khi được ý thức, lời của Thiên Chúa sẽ gây nên nơi người nghe sự sợ hãi. Nhưng các môn đệ ở đây không phản ứng gì. Hình như tác giả Tin Mừng có ý ngầm cho biết rằng các ông đã chẳng hiểu đúng ý nghĩa của những thực tại đang diễn ra, y như trước đây các ông đã không hiểu đúng ý nghĩa lời tiên báo của Đức Giêsu (x. 8,31tt).
“Các ông chợt nhìn quanh, thì không thấy ai nữa, chỉ còn Đức Giêsu với các ông mà thôi” (c.8). Trái với đề nghị của ông Phêrô, các ông Môsê và Êlia đã biến đi. Từ nay, họ không còn vai trò gì trong lịch sử nữa, chỉ còn lại một mình Đức Giêsu, Đấng duy nhất mà các môn đệ phải vâng nghe lời, Đấng duy nhất là tôn sư và ngôn sứ. “Chỉ còn Đức Giêsu với các ông mà thôi”.
Sau đó, các Ngài rời cảnh vực thần linh và trở về với lịch sử trần trụi. Cho đến lúc này, như chúng ta đã hơn một lần nói ở trên, các môn đệ chưa hiểu đúng những thực tại mà các ông vừa được trải nghiệm. Vì thế, “ở trên núi xuống, Đức Giêsu truyền cho các ông không được kể lại cho ai nghe những điều vừa thấy, trước khi Con Người từ cõi chết sống lại” (c.9). Chỉ khi vinh quang của Người được liên kết chặt chẽ với sự từ chối và cái chết mà Người đã từng nói cho các ông biết, thì các ông mới có thể nói lại cho người khác những gì các ông vừa được trải nghiệm trên núi. “Các ông tuân lệnh đó, nhưng vẫn bàn hỏi nhau xem câu "từ cõi chết sống lại" nghĩa là gì” (c.10).
Ngày nay, trong rất nhiều trường hợp, chúng ta cũng chẳng khác gì các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan: hiểu sai lời Đức Giêsu, hiểu sai những thực tại thần thiêng được ban cho trải nghiệm, cứ mãi chỉ mang tư tưởng nhân loại chứ không phải tư tưởng của Thiên Chúa... Nhưng đồng thời, ngay trong Mùa Chay thánh này, biết đâu Chúa vẫn đang hiển dung cho chúng ta một cách nhiệm mầu... Từng chi tiết của cuộc hiển dung trong bài Tin Mừng hôm nay đều đáng được suy niệm một cách nghiêm túc và đều có ý nghĩa sâu xa đối với đời sống đức tin của chúng ta....

 

MC2-B113: Lên núi cầu nguyện

(Suy niệm của Tôma Nguyễn Xuân Hiệp)
 

Chuyện kể rằng: Có hai anh em ruột kia rất thương nhau, rất hợp tính và cùng có một mơ ước cao: MC2-B113

Chuyện kể rằng: Có hai anh em ruột kia rất thương nhau, rất hợp tính và cùng có một mơ ước cao đẹp là sẽ sống một cuộc đời hết sức thánh thiện. Lớn lên, người anh cưới vợ, sinh con, chăm chỉ làm ăn và cũng không quên những bổn phận đạo đức hằng ngày. Còn người em thì đi tu, thành một thầy dòng, ngày ngày đi khắp nơi giảng đạo và giúp đỡ những người nghèo. Mười năm sau, người em làm thầy dòng trở về quê thăm lại anh mình. Hai anh em nói chuyện với nhau thật nhiều về cuộc sống và tâm tư của mình. Người anh khám phá ra rằng ngày xưa hai anh em tâm đầu ý hợp như thế, mà sao bây giờ lại khác nhau quá xa: người em thì vẫn thích thánh thiện như xưa và còn thánh thiện hơn xưa nữa, còn mình thì sao quá tầm thường không còn chút mơ ước nào về lý tưởng thánh thiện ngày xưa nữa. Người anh tìm đến một vị ẩn sĩ để hỏi cho biết nguyên do sự khác biệt ấy. Vị ẩn sĩ không trả lời thẳng mà dùng những hình ảnh thiên nhiên để giải thích cho anh ta. * Trước tiên là đám mây trên trời: thường thường bầu trời ngày nào cũng có những đám mây, nhưng không có đám mây ngày nào giống đám mây ngày trước. Cũng là mây, nhưng mây ngày nay khác mây ngày hôm qua. * Kế đến là một cái cây xanh: nó vẫn luôn luôn là cây thông xanh rì, nhưng năm trước nó nhỏ hơn, năm nay nó đã lớn hơn và cao hơn một tí, năm sau nó sẽ lớn và cao hơn tí nữa. Có nhiều cái lá của năm trước mà năm nay không còn, và có nhiều chiếc lá của năm nay sẽ rụng vào năm tới để thay bằng những chiếc lá khác. * Và sau cùng chính là thân xác con người: các tế bào trong thân xác con người luôn luôn thay đổi, có cái chết đi và có cái sinh ra thêm. Khoa học tính rằng cứ sau 7 năm thì thân xác ta hoàn toàn đổi mới không còn một tế bào nào của 7 năm trước đây nữa. Sợi tóc, móng tay, làn da của ta năm nay hoàn toàn không chứa một tế bào nào của sợi tóc, móng tay và làn da của 7 năm trước. Vị ẩn sĩ mới kết luận: tâm hồn con người cũng thế. Muốn lớn lên, muốn tươi trẻ mãi, muốn hăng say sinh động thì mỗi ngày cũng phải biết từ bỏ những thói quen xấu, những cám dỗ đam mê và đồng thời biết nổ lực luyện tập những nhân đức tốt. Không đào thải đi và không thu nhận vào thì nó sẽ chết khô như một thân cây chết đứng, chứ không còn là một thân cây tươi tốt sống động vươn mỗi ngày. Sở dĩ người anh trở nên tầm thường, khô cằn vì suốt 10 năm qua anh ta luôn tự mãn với những cái mình đang có, không muốn bỏ đi cái xấu nào và cũng không nổ lực tập một nhân đức nào. Tức anh ta không chịu “lên núi” trong đời sống hằng ngày để cầu nguyện, để gặp Chúa, để được biến đổi.
Cả ba bài đọc phụng vụ hôm nay mời gọi chúng ta theo Chúa Giêsu “lên núi cầu nguyện”. Bài đọc 1, sách Sáng Thế tường thuật lại biến cố “lên núi” của Tổ phụ Abraham đầy giân truân vất vả, cả sự dâng hiến mạng sống người con một yêu dấu theo thánh ý Thiên Chúa. Chính bởi đức tin mạnh mẽ và quả cảm vượt thắng tất cả mà ông được gặp gỡ Thiên Chúa và được chúc phúc. Bài đọc 2, thánh Phaolô mời gọi giáo đoàn Rôma: hãy tín thác vào Thiên Chúa Tình Yêu, cho dẫu hành trình đức tin như một cuộc “leo núi” đầy khó nguy. Chính Thiên Chúa đã đi bước trước và thể hiện tình yêu qua Người Con Một: “Đến như chính Con Một, Thiên Chúa cũng chẳng tha, nhưng đã trao nộp vì hết thảy chúng ta”. Bài Tin Mừng, thánh sử Maccô đã tường thuật lại biến cố Chúa Giêsu biến hình trên núi trước mặt các môn đệ thân tín là: Phêrô, Giacôbê và Gioan. Qua biến cố ấy, Chúa Giêsu muốn để lại cho các tông đồ và mỗi chúng ta bài học hữu ích trong hành trình đức tin của người kitô hữu là phải “lên núi” “Đức Giêsu lên núi cầu nguyện” (Mc 9, 28). Đây là bài học căn bản và nền tảng mà Chúa Giêsu muốn dạy mỗi người chúng ta: Phải cầu nguyện, kết hiệp và tìm thánh ý Chúa sau và trước những công việc làm. Để thực hiện điều ấy, “Đức Giêsu lên núi”, tức phải vứt bỏ những vướng bận lo toan thành công thất bại, phải dành thời giờ cho việc leo núi, vượt thắng những cám dỗ đam mê, phải nổ lực phấn đấu không ngừng với thân xác nặng nề để leo lên độ cao khó khăn vất vả trong đời sống tâm linh mới có thể sống tương giao với Thiên Chúa và để lắng nghe thánh ý của Người. Nếu thiếu vắng đời sống tương giao kết hiệp với Thiên Chúa trong thinh lặng, trong thẳm sâu tâm hồn để kín múc sức sống thần linh từ Thiên Chúa, thì xem chừng cách cầu nguyện ấy đã đi vào vết xe đổ của kiểu cầu nguyện đầy hình thức bên ngoài mà Chúa Giêsu đã từng lên án những người Biệt Phái. Đó là kiểu cầu nguyện kể lể, huênh hoang báo cáo kết quả cho cấp trên là Thiên Chúa. Hay kiểu cầu nguyện xem Thiên Chúa chỉ là chỗ dựa tinh thần tạm thời. Khi gặp thất bại, gian truân thì sốt sắng đến với Thiên Chúa như chiếc phao cứu sinh của đời sống tâm lý để giải tỏa những xung đột, những bế tắc, để vượt qua những bĩ cực thương đau. Sự sốt sắng cầu nguyện hy sinh ấy là vì con người, chỉ dừng lại ở nhu cầu ích lợi cá nhân chứ chưa đi vào mối tương giao kết hiệp với Thiên Chúa để tìm thánh ý Người. Nhà thần học Bonneffeur bảo: Đó là kiểu cầu nguyện ngoại giáo; một kiểu cầu cạnh tư lợi. Người không biết Chúa và cả những người vô thần cũng làm như thế. Một kiểu cầu an! Còn Chúa Giêsu mời gọi chúng ta phải vượt thoát những vướng bận lo toan của đời thường để kết hiệp với Chúa, để tìm thánh ý Chúa trong từng biến cố, từng phút giây. Phải kết hiệp với Thiên Chúa cách liên lỉ mọi lúc mọi nơi, mọi công việc. (x. Mc 18,1-8. 9-14) Ước mong Lời Chúa hôm nay soi dẫn mỗi người chúng ta biết “lên núi” mỗi ngày, biết từ bỏ những cám dỗ đam mê, những vướng bận đời thường, mà sống kết hiệp với Thiên Chúa qua Thánh lễ, kinh nguyện, xét mình, tĩnh tâm, lãnh bí tích Giao hòa …. Chúa Giêsu biến hình trên núi Tabor hôm nay là hình ảnh tiên trưng hành trình vác thập giá lên núi Canvê và phục sinh của Chúa Giêsu. Và đó cũng là hành trình đức tin của mỗi người tín hữu chúng ta. Mỗi người chúng ta phải “lên núi” mỗi ngày mới có thể “biến hình”, mới có thể phục sinh sáng láng như Đức Giêsu Kitô. Amen.


 

MC2-B114: Suy niệm của Đức Ông James M. Reinert

(Đan Quang Tâm dịch)
MÙA CHAY, NHỚ LẠI VAI TRÒ VÀ SỨ MẠNG CỦA TA TRONG GIÁO HỘI
 

Câu truyện Ápraham sẵn sàng hiến tế con trai mình là Ixaác đặt toàn bộ việc cử hành Mùa Chay: MC2-B114

Câu truyện Ápraham sẵn sàng hiến tế con trai mình là Ixaác đặt toàn bộ việc cử hành Mùa Chay vào trong một ánh sáng tuyệt hảo. Thánh Phaolô ám chỉ về câu truyện này trong Thư gửi tín hữu Rôma. Tuy nhiên, ông nhắc cộng đồng rằng Thiên Chúa không những chỉ sẵn sàng hiến tế Con của Người nhưng Người còn “đã trao nộp vì hết thảy chúng ta”.
Bởi vì hy tế đó, ta có can đảm và sự tự tin để biết rằng nếu ta trung thành, ta không có gì phải sợ. Thiên Chúa đã làm tất cả việc này cho chúng ta, Phaolô viết. Làm sao Người lại lên án chứ?
Tất cả điều này được tái củng cố trong câu truyện Hiển Dung khi Đức Giêsu khích lệ các tông đồ đừng mất đức tin trong ngày sắp đến. Trình thuật Hiển Dung trong Phúc âm Thánh Máccô thực tế chỉ là sự chép lại từng từ trong Phúc âm của Thánh Mátthêu và Thánh Luca. Ngay cả các biến cố dẫn đến sự kiện cũng y hệt.
Điều quan trọng là đặt bài Phúc âm ngày hôm nay vào trong ngữ cảnh. Theo Thánh Máccô, sự kiện xảy ra sáu ngày sau khi Đức Giêsu hỏi các môn đệ: “Người ta nói Thày là ai?” Câu trả lời mà Thánh Phêrô đưa ra cho Người, quen gọi là lời tuyên tín của Phêrô, “Thầy là Đức Kitô!”, đã đưa Đức Giêsu đến chỗ báo trước lần thứ nhất về cuộc thương khó, cái chết và sự phục sinh của Người và vạch ra các đòi hỏi cho các môn đệ. Một lần nữa, Đức Giêsu sắp nhắc nhở các môn đệ và tất cả chúng ta rằng đây là một bộ phận trong kế hoạch của Thiên Chúa và từ lúc này trở đi, trong khi tiếp tục cuộc hành trình lên Giêrusalem, Người sẽ nói về thập giá rất nhiều lần.
Nay, sáu ngày sau, Đức Giêsu đem Phêrô, Giacôbê và Gioan lên đỉnh núi và Người hiển dung. Chắc chắn đây là một sự nếm trước về cuộc phục sinh. Hầu như chắc chắn là các môn đệ vẫn còn tìm cách để hiểu biết đầy đủ điều Đức Giêsu muốn nói khi bảo họ: “Người sẽ bị giết và sau ba ngày sẽ sống lại”. Nay họ được giải thích rõ về lời nói đó. Họ xem thấy vinh quang của trời; họ thấy mối liên quan giữa “lề luật” trong Môsê và các “ngôn sứ” trong Êlia và sứ điệp mà Đức Giêsu đã và đang rao giảng.
Trong Chủ nhật thứ hai này của Mùa Chay, ta được nhắc đến các vai trò và trách nhiệm của ta trong Giáo hội. Tất cả điều này đến với ta bằng sự đoan chắc rằng đây là một phần trong kế hoạch của Thiên Chúa, ta có các nghĩa vụ với tư cách là môn đệ và ta có sự đoan chắc về Nước Thiên Chúa – mà ta vừa mới nhìn qua – trước hết trong câu truyện Hiển Dung và rồi trong sự phục sinh của Đức Giêsu vào sáng Chúa nhật Phục sinh.
“Toàn thể dân Chúa đều có một vai trò để thực hiện trong khi Giáo Hội hoàn thành sứ mạng của mình. Bằng các cách thức khác nhau và thông qua mỗi thành viên theo các năng khiếu và cách hành động thích hợp với ơn gọi của mỗi người, dân Chúa đáp lại bổn phận công bố và làm chứng cho Tin Mừng (x. 1 Cr 9,16), trong sự nhận thức rằng “hoạt động truyền giáo là một công việc của mọi Kitô hữu” (Thông điệp Redemptoris Missio, 2) (Sách Tóm lược Học thuyết Xã hội Giáo hội Công giáo, 538).
“Đời sống cá nhân và xã hội, cũng như hành động con người trong thế giới, luôn luôn bị tội lỗi đe doạ. Tuy nhiên, “bằng cách chịu khổ vì chúng ta…, Đức Giêsu Kitô không những làm gương cho chúng ta để chúng ta bước theo Người, mà Người còn mở ra cho chúng ta một con đường. Nếu đi theo con đường ấy, cuộc sống và cái chết của chúng ta sẽ được thánh hoá và mặc một ý nghĩa mới” (Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, 22). Trong đức tin và thông qua các bí tích, người môn đệ Đức Kitô gắn bó mật thiết với mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Giêsu để con người cũ của mình, cùng với những khuynh hướng xấu, chịu đóng đinh với Đức Kitô. Rồi khi trở thành thụ tạo mới, họ được ân sủng tăng sức để có thể “bước đi trong đời sống mới” (Rm 6,4). Điều này “không chỉ đúng với các Kitô hữu, mà còn đúng đối với mọi người thiện chí, vì ân sủng vẫn đang hoạt động một cách vô hình trong tâm hồn những người ấy. Vì Đức Kitô đã chết cho mọi người và vì ai ai cũng được mời gọi hưởng chung một định mệnh duy nhất, là định mệnh thần linh, ta phải tin rằng Đức Chúa Thánh Thần ban cho mọi người khả năng trở thành những người thông phần vào Mầu nhiệm Vượt Qua, bằng phương cách chỉ có Thiên Chúa biết” (Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, 22) (sđd, 41).


 

MC2-B115:  Từ Tabor đến Golgotha – Thiên Phúc

Một linh mục qua nhiều năm coi xứ đã kể một câu chuyện khá dí dỏm và cũng sâu sắc như sau: MC2-B115

Một linh mục qua nhiều năm coi xứ đã kể một câu chuyện khá dí dỏm và cũng sâu sắc như sau:
Có một đôi vợ chồng trẻ rất xinh đẹp và sống với nhau cũng rất khéo. Đúng là một cặp “trai tài gái sắc”.Có lẽ chính nét trẻ trung xinh xắn của vợ chồng đã cho họ một mùa xuân cuộc đời thật nồng cháy tình yêu và hạnh phúc.
Một ngày nọ, người vợ ăn một nửa trái táo, rồi tặng chồng phần kia. Người chồng vui vẻ đón nhận:
- Ôi nửa trái táo ân tình, công chúa của lòng anh!
Hai mươi năm sau. Cũng đôi vợ chồng ấy, cộng thêm những nét tàn tạ của thời gian. Cũng một trái táo, vợ ăn một nửa, mời chồng phần còn lại. Nhưng người chồng nhăn mặt:
- Sao lại cho nửa trái táo ăn thừa?
Tất cả nguyện trạng chỉ khác có nhan sắc. Cũng nửa trái táo dâng tặng nhưng hai mươi năm trước nhận từ tay “người đẹp” là trái táo ân tình. Hai mươi năm sau từ tay “nàng già” là trái táo ăn thừa. Nếu chỉ dựa vào nhan sắc người ta sẽ mất hết tất cả với thời gian.
Cuộc biến hình trên núi Tabor được xếp đặt trước việc tiên báo khổ nạn. Nếu người ta làm cho an toàn những viên thuốc đắng bằng một lớp vỏ bọc đường, thì Đức Giêsu cũng hóa giải tin khổ nạn bằng cuộc biến hình rực rỡ. Bọc đường chứ không bọc thuốc ngủ. Hóa giải chứ không gây mê.
Nhưng có lẽ cuộc biến hình đã phản tác dụng: “Lạy Thầy, chúng con được ở đây thì tốt lắm, chúng con xin dựng ba lều, một cho Thầy, một cho Moi sê và một cho Elia” (Mc 9,5). Vậy là Phêrô, Giacôbê và Gioan muốn đăng ký thường trú trên đỉnh núi Tabor. Họ đòi ngủ yên trong hào quang rực rỡ. Họ bỏ lại dưới chân núi các bạn đồng môn, các cuộc truyền giáo. Họ muốn xa rời dân chúng đang khao khát Lời Chúa.
Các ông đâu biết rằng Thầy Giêsu chỉ lên đỉnh Tabor trong chốc lát, rồi xuống núi chuẩn bị vác thập giá lên đồi Canvê. Theo Thầy không phải là lên cao hưởng thụ, nhưng là xuống thấp và leo lên thập giá với Thầy.
Cũng như ba môn đệ, đôi vợ chồng trong câu chuyện kể trên chỉ muốn dừng lại ở vẻ đẹp. Nhưng vẻ đẹp đâu tồn tại mãi, Chúa chỉ mặc “tấm áo trắng như tuyết” trong chốc lát vì niềm hy vọng Phục Sinh. Cuộc đời cần hạnh phúc chứ không phải vẻ đẹp.Vẻ đẹp là một ân huệ của trời, nhưng cũng có thể là cạm bẫy cướp đi hạnh phúc.
Giá trị đích thực chính là tình yêu, chính do tình yêu mà đôi vợ chồng mới giữ được lòng chung thủy, chính do tình yêu mà các Kitô hữu mới trở nên bóng hình xinh đẹp rực rỡ của Chúa. Chính do tình yêu mà chúng ta phải biến hình đổi dạng mỗi ngày để phản ánh vinh quang ngời sáng của Người.
Đức Kitô vinh quang của Tabor cũng chính là Đức Kitô rong ruổi trên các đường phố Palestine rao giảng, chữa bệnh và làm phép lạ.
Đức Kitô sáng láng của Tabor cũng chính là Đức Kitô thắm đẫm mồ hôi trong vườn Giếtsimani.
Đức Kitô rực rỡ của Tabor cũng chính là Đức Kitô treo trên thập giá đỉnh Golgotha.
Hai đỉnh núi Tabor và Golgotha cách nhau không xa, nhưng lại là con đường vạn lý, con đường đau khổ, con đường vượt qua: Đường tình yêu. Theo Thánh Teresa thành Lisieux: “Sống tình yêu không phải là căng lều trên đỉnh Tabor, mà là cùng với Giêsu ta trèo lên đồi Canvê”. Thánh Bernadette cầu nguyện:“Con không xin cho mình khỏi phải đau khổ, nhưng chỉ xin Người đừng bỏ con trong khổ đau”.
Lạy Chúa, xin cho chúng con luôn can đảm tiến bước trên đường đời chông gai vạn nẻo, với niềm hy vọng biến cố Phục Sinh sẽ bừng sáng. Amen.


 

 MC2-B116:  Suy niệm của Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

Có hai thuyết về ngọn núi nơi Chúa Giê-su biến đổi hình dạng: có thể là núi Các-men ở miền bắc: MC2-B116

Có hai thuyết về ngọn núi nơi Chúa Giê-su biến đổi hình dạng: có thể là núi Các-men ở miền bắc Ga-li-lê và gần Xê-da-rê Phi-líp-phê, nơi ông Phê-rô tuyên xưng Chúa Giê-su là Đấng Ki-tô; còn truyền thống quen thuộc thì cho đó là núi Ta-bô-rê ở phía nam Ga-li-lê giáp ranh với Sa-ma-ri và nằm trên đường xuống Giu-đê-a. Nếu ta coi hành trình của Chúa Giê-su lên Giê-ru-sa-lem như tột đỉnh sứ mệnh cứu thế của Đấng Ki-tô, thì Ta-bô-rê quả thực là bước quyết định để Chúa xác tín sứ mệnh ấy và nhất quyết đi Giê-ru-sa-lem để chịu đau khổ và chịu chết. Tuy nhiên, biến cố biến đổi hình dạng không chỉ có ý nghĩa đối với Chúa Giê-su, mà còn có ý nghĩa đối với các môn đệ, những kẻ muốn theo Chúa cũng phải “từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo”.
a) Để Chúa Giê-su xác tín sứ mệnh và quyết định đi Giê-ru-sa-lem
Sứ mệnh cứu thế của Chúa Giê-su mỗi ngày cần phải được củng cố thêm, sao cho đúng với kế hoạch Chúa Cha đã phác họa. Sau những ngày tháng thành công và nổi danh tại Ga-li-lê, Chúa Giê-su chắc chắn bị cám dỗ không muốn rời Ga-li-lê. Tại sao lại rời bỏ môi trường mình đang gặt hái được những kết quả tốt đẹp? Nhưng Chúa Giê-su đặt thánh ý Chúa Cha lên trên hết. Người cần phải quyết định rõ ràng, theo “tư tưởng của Thiên Chúa” hay theo “tư tưởng của loài người”, lên Giê-ru-sa-lem hay ở lại Ga-li-lê. Việc biến đổi hình dạng trên núi có thể coi như một tiến trình quyết định lên đường đi Giê-ru-sa-lem. Vậy quyết định đi Giê-ru-sa-lem được củng cố như thế nào qua những gì xảy ra trên núi Ta-bô-rê?
Trước hết là qua sự xuất hiện của ông Mô-sê và ngôn sứ Ê-li-a bên cạnh Chúa Giê-su. Ông Mô-sê là người đem Lề Luật của Thiên Chúa cho Ít-ra-en. Còn Ê-li-a là vị ngôn sứ vĩ đại nhất. Chúa Giê-su đến để thực hiện tất cả những gì Lề Luật và các ngôn sứ nói. Do đó, sự hiện diện của hai vị bên cạnh Chúa Giê-su đã nói lên đầy đủ ý nghĩa sứ mệnh của Người, đồng thời là một khích lệ to lớn. Ta có cảm tưởng câu chuyện giữa Chúa Giê-su với Mô-sê và Ê-li-a xoay quanh đề tài về sứ mệnh của Chúa Giê-su mà thôi. Các ông nói với Chúa: “Ngài đã thi hành sứ mệnh cứu thế một cách tốt đẹp, xin Ngài cứ tiếp tục sứ mệnh ấy!” Các ông nhìn thấy nơi Chúa Giê-su thể hiện tất cả những gì Thiên Chúa đã dạy các ông nói trước đây.
Tiếp đến là qua lời xác nhận của chính Chúa Cha: “Đây là Con Ta yêu dấu”. Khi nói những lời này, Chúa Cha xác nhận tất cả những gì Chúa Giê-su đã làm trong quá khứ đều làm đẹp lòng Người. Đồng thời những lời đó cũng ngầm hiểu: Con đã quyết định đi Giê-ru-sa-lem là đúng, vậy Con cứ tiếp tục làm như đã quyết định. Chúa Giê-su không chỉ thấy việc chấp nhận thập giá như một điều không thể tránh né, nhưng tích cực hơn như một lẽ sống của Người và của toàn thể nhân loại. Người mong Chúa Cha sẽ nói qua Người với nhân loại những lời “đây là con Ta yêu dấu”.
b) Biến cố Chúa Giê-su biến đổi hình dạng mang ý nghĩa đối với môn đệ Người
Các môn đệ nản lòng sau khi Chúa Giê-su loan báo cuộc Thương Khó và Phục Sinh. Ông Phê-rô thì phổi bò nên “bắt đầu trách Người”. Ông đóng vai trò của Xa-tan cám dỗ Chúa Giê-su đừng làm theo những gì Người đã loan báo. Ông đã rời chỗ đứng của ông, thay vì bước đi theo sau Chúa thì ông lại bước lên trước làm chướng ngại con đường thập giá của Người. Mới đây ông đã thay mặt anh em môn đệ để tuyên xưng đức tin Chúa Giê-su là Đấng Ki-tô thì bây giờ ông cũng thay mặt anh em để cản đường Chúa lên Giê-ru-sa-lem. Do đó, việc Chúa biến đổi hình dạng trên núi thật là cần thiết để ông và các bạn trở về chỗ đứng môn đệ của họ và lấy lại đức tin đã bị lung lạc do hình ảnh Thương Khó và cái chết của Chúa tại Giê-ru-sa-lem. Dù hiểu hay không hiểu sứ mệnh của Chúa Giê-su, thì ít ra lúc này các ông cũng được phục hồi niềm tin vào Người sau khi nghe những lời Chúa Cha nói với Người: “Đây là Con Ta yêu dấu”. Ngoài ra biến cố trên núi hiển dung cũng chuẩn bị các ông trong sứ mệnh làm chứng cho Chúa Giê-su. Vinh hiển các ông được chứng kiến trên núi là những gì tiên báo cho vinh hiển của Chúa Ki-tô Phục Sinh mà các ông sẽ rao giảng cho muôn dân.
c) Chúa Giê-su biến đổi hình dạng trong cuộc sống Ki-tô hữu
Có khi nào ta nghĩ rằng cả cuộc đời Ki-tô hữu của ta là tiếp diễn cuộc biến đổi hình dạng của Chúa Giê-su theo một nghĩa nào đó không? Dĩ nhiên ta không dám hiểu đó là một cuộc biến đổi chiếu tỏa vinh quang, nhưng là một sự thay đổi con người của ta trở nên giống Chúa Ki-tô mỗi ngày một hơn. Thánh Lê-ô Cả Giáo hoàng đã nói trong bài giảng của ngài: “Thiên Chúa đã khôn ngoan dự liệu cho niềm hy vọng của Hội Thánh có nền tảng vững vàng: Người cho Hội Thánh biết toàn thân thể mầu nhiệm của Đức Ki-tô sẽ được biến đổi ra sao. Người cũng dự liệu cho các chi thể tin chắc mình sẽ được thông phần vinh quang rực rỡ của Đầu là Đức Ki-tô” (Bài đọc 2, giờ Kinh Sách CN 2 mùa Chay).
Có lẽ thánh Phao-lô đã diễn tả cuộc biến đổi hình dạng của đời sống Ki-tô hữu một cách cụ thể nhất qua những lời ngài gửi cho các tín hữu Phi-líp-phê: “Vấn đề là được biết chính Đức Ki-tô, nhất là biết Người quyền năng thế nào nhờ đã phục sinh, cùng được thông phần những đau khổ của Người, nhờ nên đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người, với hy vọng có ngày cũng được sống lại từ trong cõi chết” (Pl 3:10-11). Việc ta biến đổi nên đồng hình đồng dạng với Chúa Ki-tô quả thực tiếp tục cuộc hiển dung của Người trên núi Ta-bô-rê.
d) Suy nghĩ và cầu nguyện
Thập giá nào trong cuộc sống có thể làm cho tôi mất đi đức tin vào Chúa Ki-tô? Tôi có nhận ra được ý nghĩa đích thực của thập giá đó không?
Phụng vụ Lời Chúa lấy câu truyện Chúa Giê-su biến đổi hình dạng làm chủ đề cho Chúa Nhật 2 mùa Chay có ý nghĩa gì đối với tôi? Tôi có nhận ra sứ điệp nào đặc biệt không? Và tôi đã đáp lại thế nào?
Ông Phê-rô xin dựng cho Chúa một cái lều trên núi để ông được tiếp tục cảm nghiệm những giây phút đầy an ủi khích lệ. Tôi có muốn dựng một cái lều ngay trong đời sống của tôi để Chúa cư ngụ và biến đổi con người tôi không? Dựng lều như thế nào?
Cầu nguyện
“Xin ở lại với con, lạy Chúa,
vì con cần có Chúa hiện diện
để con khỏi quên Chúa.
Chúa thấy con dễ bỏ Chúa biết chừng nào.
Xin ở lại với con, lạy Chúa,
vì con yếu đuối,
con cần Chúa đỡ nâng để con khỏi ngã quỵ.
Không có Chúa,
con đâu còn nồng nhiệt hăng say.
Xin ở lại với con, lạy Chúa,
vì trời đã xế chiều và ngày sắp tan,
cuộc đời qua đi, vĩnh cửu gần đến.
Con cần được thêm sức mạnh
để khỏi ngừng lại dọc đường.
Xin ở lại với con, lạy Chúa,
vì con cần Chúa trong đêm tối cuộc đời.
Con không dám xin những ơn siêu phàm,
chỉ xin ơn được Ngài hiện diện.
Xin ở lại với con
vì con chỉ tìm Chúa, yêu Chúa
và không đòi phần thưởng nào khác
ngoài việc được yêu Chúa hơn”.
- Cha Pi-ô
(Trích RABBOUNI, lời nguyện 16)

 

MC2-B117: Đức Giêsu- bảo chứng tình yêu

http://gplongxuyen.org/bs/index.php?mod=tintuc&id=1425109950&tab=0
 (Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm)
 

Có nhiều tôn giáo tin nhận Thiên Chúa hiện hữu, nhưng Kitô giáo là tôn giáo đặc biệt nhận ra: MC2-B117

Có nhiều tôn giáo tin nhận Thiên Chúa hiện hữu, nhưng Kitô giáo là tôn giáo đặc biệt nhận ra Thiên Chúa là Đấng yêu thương. Chính khi nhận ra Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, thì Kitô hữu nhận biết Thiên Chúa yêu thương con người vô cùng, đến độ dám cho Con Yêu Dấu của Ngài nhập thể làm người ở giữa con người.
I. Đức Giêsu là Con Thiên Chúa
Đức Giêsu đã cùng với ba môn đệ lên núi. Ngài đã biến hình, áo Ngài trở nên trắng như tuyết. Tin Mừng Mác-cô không nói gương mặt Đức Giêsu biến đổi như thế nào, chỉ dùng chữ “biến hình;” tuy nhiên, người ta nghĩ rằng nếu áo của Ngài như vậy, thì gương mặt và thân xác của Ngài cũng phải “ra khác” một cách rất đặc biệt. Cựu Ước cũng đề cập đến gương mặt của Môsê trở nên sáng láng sau khi ông gặp gỡ Thiên Chúa, nên ông phải che mặt khi gặp gỡ dân Do Thái (Xh.34, 29-35). Thánh Phaolô đã giải thích gương mặt của Môsê được biến đổi vì phản ánh vinh quang Thiên Chúa. Vậy khi Đức Giêsu biến hình, hàm chứa Ngài là người phản ánh Thiên Chúa một cách rất đặc biệt.
Tiếng từ trong đám mây nói với ba môn đệ: “Đây là Con Ta, Đấng rất được yêu. Hãy nghe Ngài.” Như vậy, Thiên Chúa nhận Đức Giêsu là Con của Ngài, và là Đấng được yêu đặc biệt. Thực ra, tước vị “con Thiên Chúa” cũng được dùng để chỉ nhiều người (G.38,7), dân Israel (Hos.11, 1), vị vua thiên sai (Tv.2, 7). Với Đức Giêsu, Ngài được Thiên Chúa gọi là người Con, được yêu đặc biệt; tuy nhiên, ngay lúc trên núi này, chắc ba môn đệ chưa thể nào nhận biết Đức Giêsu là Con Thiên Chúa như các ngài đã nhận ra sau khi Đức Giêsu phục sinh và hiện ra cho các ông, tuy nhiên lúc này Đức Giêsu vẫn là một người rất đặc biệt.
Đức Giêsu nhận mình là Con Người. Đức Giêsu thật sự là người như tất cả mọi người. Một người cảm thấy gì thì Đức Giêsu cũng cảm thấy như vậy. Ngài cũng bị cám dỗ như bao người, dù là cám dỗ về miếng ăn, về danh vọng và về quyền hành (Mt.4, 1-11); và không chỉ vậy, Ngài còn bị cám dỗ về đức tin nữa: “Lạy Cha, sao Cha nỡ bỏ con” (Mc.15, 34). Đức Giêsu, nếu có điều gì khác chúng ta, thì đó là Ngài không phạm tội (Dt.4, 15). Ngài đã dùng tự do để vâng phục Thiên Chúa, còn chúng ta lại dùng tự do Thiên Chúa ban để phản lại Ngài.
II. Abraham đã sẵn sàng hiến tế con mình cho Thiên Chúa
Abram, tổ phụ dân Do Thái, là một con người rất đặc biệt. Thiên Chúa đã mời gọi ông bỏ quê cha đất tổ để đi đến đất Ngài chỉ cho. Thiên Chúa hứa sẽ ban cho ông có con cháu nối dòng, có đất làm cơ nghiệp, và trở thành một mối chúc lành cho nhiều người. Abram đã tin và đã đi theo lời mời của Thiên Chúa. Đặt mình vào hoàn cảnh của người thời đó, ta nhận ra Abram đã tin vào Thiên Chúa một cách rất đặc biệt. Thời đó người ta chưa có luật lệ như hiện tại, người ta phải dựa vào gia đình họ hàng để bảo vệ mình và tài sản khỏi bị người khác đánh cướp. Thế mà Abram dám rời bỏ gia đình, ra đi với tài sản và vợ là Saray. Nếu không tin tưởng và phó thác tuyệt đối vào Thiên Chúa, thì không ai dám làm điều đó vì rất nguy hiểm, người ta không chỉ mất tài sản nhưng còn mất cả mạng sống mình. Abram đã dám làm.
Thiên Chúa đã đổi tên Abram thành Abraham, Saray thành Sara; và đã cho ông bà có một người con tên là Isaac. Thiên Chúa cũng nói với Abraham rằng dòng giống ông sẽ nhờ Isaac mà có; thế mà giờ đây Thiên Chúa lại bảo ông đem người con duy nhất của mình đi hiến tế làm của lễ dâng Thiên Chúa. Tại sao Thiên Chúa lại “đổi ý” như vậy? Tại sao Thiên Chúa không “nhất quán” với chính Ngài: đã hứa cho dòng dõi của ông nhờ Isaac mà có, mà bây giờ lại đòi ông phải hiến tế Isaac? Làm sao có thể vâng lời Thiên Chúa được?
Một lần nữa, Abraham đã tin và phó thác tuyệt đối nơi Thiên Chúa. Thiên Chúa muốn sao Abraham cũng làm, vì ông tin rằng Thiên Chúa quyền năng, Ngài có thể làm tất cả, ngay cả phục sinh Isaac. Chắc chắn Abraham đã có những suy nghĩ cám dỗ bất tuân, nhưng ông đã chiến thắng chính mình bằng niềm tin phó thác tuyệt đối nơi Thiên Chúa. Qua hành vi này, ông trở thành cha tất cả những người tin (Rm.4, 18tt). Cả cuộc đời của Abrahm là một chuỗi những hành vi tin. Ngay cả khi vợ ông là bà Sara chết, ông vẫn chưa có đất để chôn (St.23), tuy vậy ông vẫn tin rằng Thiên Chúa sẽ ban cho ông điều Ngài đã hứa.
III. Thiên Chúa đã không dung tha chính Con Ngài
Khi Đức Giêsu còn tại thế, chẳng ai biết Ngài là Thiên Chúa nhập thể, kể cả các tông đồ. Chỉ sau khi Ngài sống lại, và với ơn Thánh Thần soi sáng, các tông đồ nhớ lại những gì Đức Giêsu đã nói và đã làm, nên mới nhận ra Ngài là Con Thiên Chúa theo một nghĩa thật đặc biệt. Một khi nhận ra Đức Giêsu là Đấng thật đặc biệt, là Con Thiên Chúa, thì Kitô hữu lại hiểu biết về Thiên Chúa và về con người một cách thâm sâu hơn.
Con người là ai mà được Thiên Chúa yêu thương đến như vậy! Sao Thiên Chúa lại trao phó Con của Ngài cho con người như thể “trao trứng cho ác” như vậy? Một người ít hiểu biết nhất cũng nhận ra con người gian ác sẽ giết Con của Ngài, như vậy tại sao Ngài vẫn trao gởi Người Con của Ngài cho con người? Tại sao Thiên Chúa tin con người đến độ như vậy? Cho đến cùng, Kitô hữu nhận ra tình yêu của Thiên Chúa đối với con người thật vô cùng: Thiên Chúa tin vào con người dù thật sự không thể tin được.
“Thiên Chúa không dung tha chính Con Ngài nhưng phó thác Con của Ngài vì tất cả chúng ta.” Nhìn Đức Giêsu chết trần trụi ô nhục thê thảm trên thập giá, người ta có cảm tưởng như thể Thiên Chúa yêu thương con người hơn cả Đức Giêsu. Thật ra không phải Thiên Chúa yêu thương con người hơn Con của Ngài; nhưng điều đó lại cho thấy Thiên Chúa yêu thương con người vô cùng. Theo thánh Phaolô, một khi Thiên Chúa đã ban Đức Giêsu cho ta, thì Ngài không còn tiếc gì với ta nữa. Thiên Chúa sẽ ban cho chúng ta tất cả. Đức Giêsu là bảo chứng cho thấy Thiên Chúa yêu thương con người vô cùng!
Câu hỏi gợi ý chia sẻ
1. Nơi Abraham có điều gì bạn kính phục?
2. Bạn có nhận thấy Thiên Chúa tin và phó thác vào con người khi cho Con Ngài nhập thể không? Tại sao?
3. Đức Giêsu có bị nghi ngờ về đức tin không? (chẳng hạn, không biết mình có sống lại thật không? nếu bạn nghĩ có, tại sao bạn nghĩ như vậy? xin đưa bằng chứng hoặc lý luận bảo vệ ý kiến của bạn.)

 

MC2-B118: Abraham

Trong phần phụng vụ Lời Chúa hôm nay, có một khuôn mặt nổi bật, đáng cho chúng ta suy nghĩ MC2-B118 Luong

Trong phần phụng vụ Lời Chúa hôm nay, có một khuôn mặt nổi bật, đáng cho chúng ta suy nghĩ đó là khuôn mặt của Abraham.
Thực vậy, vâng lệnh Thiên Chúa, ông dẫn con lên núi để sát tế dâng kính Ngài. Ông chấp nhận hy sinh cả cái viễn tượng tương lai của lời hứa, không chút thắc mắc trước đòi hỏi xem ra tự mâu thuẫn với chính mình của Thiên Chúa, Đấng đã hứa cho ông một dòng dõi đông đúc như sao trời cát biển, nhưng lại đòi ông phải hy sinh người con duy nhất, giữa lúc ông và bạn ông đã già cả không còn hy vọng sinh nở được nữa. Abraham đã biểu lộ một niềm tin yêu tuyệt đối nơi Thiên Chúa.
Quả thực, cử chỉ của Abraham chỉ có thể hiểu nổi khi chúng ta thấy được rằng nơi Abraham còn có một sự lựa chọn quan trọng hơn. Tuy nhiên, chúng ta cũng thấy điều đòi hỏi nơi Abraham mới chỉ là một thử thách của Thiên Chúa đối với ông là người được Thiên Chúa yêu thương. Cử chỉ của Abraham mới chỉ là một hình ảnh để chuẩn bị đón nhận điều Thiên Chúa thực hiện nơi chính mình Ngài. Điều Abraham đã chỉ thực hiện trong ý chí, nghĩa là chấp nhận thực hiện, nhưng trong thực tế đã không thực hiện vì không cần thiết nơi Thiên Chúa, lại đã trở thành thực tế. Đức Kitô người sẽ bị đau khổ và chết trên thập giá, chính là người con yêu dấu của Thiên Chúa. Nói cách khác, Thiên Chúa là một người Cha đã yêu thương con người đến độ không dung tha chính con mình, nhưng lại phó thác con mình vì tất cả chúng ta. Đức Kitô đã thực hiện tất cả những gì mà Abraham và Isaac ngày xưa đã tượng trưng.
Còn chúng ta ngày hôm nay thì sao? Nhìn vào đời sống đức tin, chúng ta thấy không phải lúc nào chúng ta cũng cảm thấy sốt sắng, không phải lúc nào chúng ta cũng cảm thấy được ủi an, không phải lúc nào chúng ta cũng cảm thấy Chúa thật gần gũi, trái lại nhiều khi đức tin của chúng ta cũng đã bị thử thách. Vì trung thành với lệnh truyền của Thiên Chúa mà Abraham đã xứng đáng trở thành cha của những người có đức tin. Vì vâng phục thánh ý Chúa Cha, chấp nhận cái chết trên thập giá, mà Chúa Giêsu đã đem lại cho chúng ta nguồn suối ơn cứu độ. Với chúng ta cũng thế. Giữa những gian nguy thử thách gặp phải, noi gương bắt chước Abraham, chúng ta hãy vững tin nơi tình thương của Chúa. Đồng thời noi gương bắt chước Chúa Giêsu, chúng ta dám chấp nhận những hy sinh gian khổ vì đức tin. Bây giờ không còn phải là thời dám can đảm chịu chết vì đạo, mà là thời dám can đảm sống đạo, sống niềm tin của mình. Chính nhờ những hy sinh trong cuộc sống thường ngày, mà đức tin của chúng ta sẽ trở nên kiên vững, và hơn thế nữa, chúng ta sẽ góp được cái phần nhỏ bé của chúng ta vào thập giá Đức Kitô, để nhờ đó mà chúng ta sẽ lãnh nhận được ơn Chúa cứu độ.

 

MC2-B119:  Thế giới nào là ảo?

(Suy niệm của Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền)
 

Hôm nay người ta nói nhiều về thế giới ảo. Thế giới của mạng Internet. Thế giới dấu mặt. Thế giới MC2-B119

Hôm nay người ta nói nhiều về thế giới ảo. Thế giới của mạng Internet. Thế giới dấu mặt. Thế giới mà con người chỉ biết nhau trong những ảo ảnh wedcam hay do photoshop tạo ra. Thế giới mà người ta có thể đánh lừa nhau qua những phần mềm thông minh. Ở nơi đây chúng ta gặp thấy rất nhiều con người sống hai mặt. Ở trong thế giới ảo họ tha hồ tâng bấc về mình. Họ tha hồ vẽ ra khuôn mặt đáng thương của mình. Ở thế giới ảo rất khác xa với thế giới thật mà họ đang sống. Thế nên, rất nhiều người vỡ mộng. Rất nhiều người bị lừa. Rất nhiều người oan gia vì quá tin người.
Thế giới ảo và thế giới thật khác nhau. Con người ảo và con người thật cũng khác nhau. Nhưng phải chăng chỉ có ở thế giới mạng mới sống ảo, còn cuộc sống hiện thực thì chân thực? Khó mà có câu trả lời chính xác, vì “Sông sâu còn có kẻ dò – Lòng người nham hiểm trùng khơi khôn dò”. Thế giới thật vẫn còn đó những người sống ảo. Họ cố gắng che đậy sự thật về mình. Họ sống hai mặt như đồng tiền hai mặt không bao giờ giống nhau. Thế giới thiện – ác. Chân thật-giả dối. Cuộc sống luôn có hai mặt. Con người lại là một diễn viên tài giỏi luôn che đậy những sự thật thầm kín bên trong.
Cuộc sống vốn thật thật giả giả khó phân biệt. Sự thật là thế. Nhưng người sống ảo sẽ không bao giờ hạnh phúc. Lương tâm luôn làm họ buồn bã, lo âu, sợ hãi. Chỉ có “sự thật mới giải thoát chúng ta”. Sống thật mới đem lại niềm vui nội tâm cho tâm hồn. Sống thiếu chân thật chỉ dày vò chúng ta trong bể khổ trần gian.
Cuộc sống của Chúa Giê-su dưới mắt người đời thì hoàn toàn là một người phàm. Vì Ngài đã trở nên giống như con người ngoại trừ tội lỗi. Thế nhưng, Ngài luôn sống thật khi tỏ ra mình là Thiên Chúa. Ngài luôn tỏ mình là người nhưng còn mang bản tính Thiên Chúa. Ngài đã làm nhiều phép lạ phi thường để tỏ mình có quyền năng của Thiên Chúa. Ngài phục sinh kẻ chết. Ngài đe sóng gió biển cả phải im lặng. Đó là những việc ngoài khả năng của con người. Đó là việc của Thiên Chúa mới có thể thắng vượt sự dữ.
Hôm nay trên núi Tabor, Chúa còn tỏ rõ nét hơn về dung nhan của Ngài là Thiên Chúa. Một Thiên Chúa thánh thiện vô cùng. Một Thiên Chúa quyền năng. Một Thiên Chúa uy nguy đến độ các môn đệ say xưa chiêm ngắm Người. Phê-rô đã bộc trực nói lên suy nghĩ của mình. Ông ao ước được chiêm ngắm dung nhan Thầy như lúc này mãi mãi. Ông bảo rằng: “Ở đây thì tốt quá, xin cho con làm 3 lều, một cho Thầy, một cho Mô-sê và một cho Ê-li-a”. Phúc âm bảo rằng, ông nói nhưng chẳng biết tại sao mình nói, vì ông quá ngất ngây trước dung nhan hiển linh của Thầy.
Cuộc sống người ky-tô hữu cũng đẹp biết bao khi chúng ta sống thật với căn tính của mình. Căn tính của người ky-tô hữu là yêu thương. Yêu thương không ngăn cách với mọi hạng người. Yêu thương không xa lánh bất kỳ ai, kể cả kẻ thù. Yêu thương để hòa nhập với mọi khổ đau, bất hạnh của anh em để cảm thông, liên đới và sẻ chia. Đó là cách sống mà Chúa bảo: “Người ta cứ dấu này nhận biết các con là môn đệ Thầy là hãy yêu thương nhau”.
Xin cho chúng ta luôn biết sống chân thật trước mặt Chúa và tha nhân. Sự chân thật giúp chúng ta sống đúng với căn tính của mình. Sự chân thật sẽ mang lại niềm vui và hạnh phúc cho chúng ta. Amen.

 

MC2-B120: Thôi đừng đầy đọa nhau

(Suy niệm của Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền)
 

Có một câu chuyện ngụ ngôn kể rằng: Ngày xưa thỏ và sư tử sống gần nhau, nhưng sư tử rất MC2-B120

Có một câu chuyện ngụ ngôn kể rằng: Ngày xưa thỏ và sư tử sống gần nhau, nhưng sư tử rất kiêu ngạo, vẫn cho mình là to khoẻ nên xem thường loài thỏ. Sư tử thường mắng thỏ và doạ nạt thỏ suốt ngày. Thỏ tức mình không chịu nổi mới nghĩ ra cách báo thù.
Một lần kia nó nói với sư tử rằng:
- Thưa ông anh, em vừa gặp một thằng to lớn và trông giống anh lắm. Nó bảo em rằng: “Trên đời này nó chưa sợ ai, và cũng chưa ai dám đối mặt với nó”. Thằng cha này không coi ai ra gì cả!
Sư tử tức giận và bảo rằng: “Thế mày có nhắc đến tên tao không?”
- Thỏ trả lời: Sao lại không? Em vừa nhắc đến tên anh thì nó lồng lộng lên và bảo rằng anh chỉ đáng đàn em nó thôi.
Sư tử càng tức điên người lên và hỏi: Nó ở đâu? dẫn tao đến ngay.
Thỏ liền dẫn sư tử ra sau núi, và chỉ một cái giếng ở đàng xa và bảo: Đấy, nó ở trong đó đấy!
Sư tử đi lại gần giếng vẻ mặt căm tức nhìn xuống đáy giếng. Quả thực, nó trông thấy ngay một tên, với cặp mắt giận dữ đang trừng trừng nhìn nó. Sư tử rống lên một tiếng, tên kia cũng rống lên một tiếng. Sư tử xù lông cổ lên tên kia cũng xù lông cổ lên. Sư tử nhe nanh múa vuốt đe doạ, tên kia cũng hăm dọa lại. Sư tử căm tức đến tột độ dồn hết sức mình nhảy phốc xuống giếng để cho thằng khốn nạn kia một trận. Thế là, con sư tử ngạo mạn tự huỷ diệt đời mình dưới giếng sâu...
Thất bại của sư tử là không nhận ra mình nên đã lao vào cắn xé chính hình ảnh của mình. Sư tử chỉ muốn nhất. Sư tử chỉ muốn làm bá chủ nên sẵn sàng loại trừ tất cả các đối thủ có nguy cơ nguy hại đến vị trí số 1 của mình.
Con người là hình ảnh Thiên Chúa, nhưng đáng tiếc là nhiều người đã không nhận ra điều đó. Họ không nhận ra hình ảnh mình nơi tha nhân để có thể yêu mến tha nhân như chính mình. Họ đòi được tôn vinh, được bá chủ nên sẵn sàng cắn xé chính đồng loại của mình.
Đạo đức xã hội hôm nay đang ở mức đáng báo động. Báo động bởi những hành vi bạo lực về tinh thần, thể xác, tình dục cứ nhan nhản trên đường phố, trước cổng trường và trong từng gia đình. Chỉ cần một ánh mắt ngó thấy ghét, một câu nói nghe không lọt tai, một vụ va quệt nhỏ..., là người ta đã có thể rần rần kéo nhau đi chém giết, cướp đi sinh mạng của người khác dễ dàng như lấy một món đồ trong túi. Cha mẹ hành hạ con như kẻ thù; trò đánh thầy; Thầy lạm dụng trò, bảo mẫu tra tấn con trẻ, dán băng keo bịt mồm cho đến chết; đồng môn đồng lớp hở chút là lấy dao đâm... Thậm chí trong hai tháng vừa qua có đến 3 vụ vào tận bệnh viện Thống Nhất để thanh toán cả những người đang nằm cấp cứu!
Dường như con người hôm nay đang đối xử với nhau quá hung hãn, và tình người, lòng nhân ái đã trở thành một thứ hàng hiếm giữa thời buổi này? Những bài giáo dục công dân ở đâu hết rồi? Con người có còn nhớ mình là “hoạ ảnh của Thiên Chúa” hay đã quên đi căn tính thực của mình?
Nếu con người của mọi thời đại biết nhìn nhận mình là hình ảnh của Thiên Chúa và mọi người là anh em với nhau, sẽ có những cách hành xử tốt với nhau hơn. Nếu con người nhận ra hình ảnh Chúa nơi tha nhân, chắc chắn sẽ không đối xử tàn bạo với nhau. Nhưng tiếc thay, nhiều người chỉ muốn làm chúa sơn lâm nên lao đầu vào cắn xé đồng loại, hành hạ đồng loại của mình và sẵn sàng làm đủ trò để loại trừ đồng loại.
Hôm nay, Chúa hiển dung nghĩa là Chúa tỏ hiện đúng dung nhan thật của Ngài. Một dung nhan thánh thiện rạng ngời mà bấy lâu nay nhân tính đã che phủ thiên tính của Ngài. Một dung nhan tinh tuyền của một vì Thiên Chúa là Thánh, ngàn trùng chí thánh đến nỗi cả ba môn đệ đều ngây ngất vì được chiêm ngắm dung nhan thật của Thầy Giêsu. Ba môn đệ đã cúi mình kính phục trước dung nhan thật của Chúa Giêsu. Đó chính là sứ điệp mà mùa chay đang mời gọi chúng ta: hãy tỏ hiện dung nhan thật của chúng ta là hình ảnh của Thiên Chúa ra trong lời nói và việc làm của mình. Hãy thể hiện sự thánh thiện của hình ảnh Thiên Chúa nơi chính mình để anh em được chiêm ngưỡng. Hãy biểu lộ lối sống tinh tuyền, chân thật của phẩm giá làm ngừơi để anh em được hạnh phúc khi sống với chúng ta.
Mùa chay là mùa mời gọi chúng ta hãy tìm lại hình ảnh ban đầu của tạo dựng. Hãy gạn đục khơi trong để hình ảnh của Chúa luôn tỏ hiện ra nơi bản thân của chúng ta. Hãy tìm lại  hình ảnh tinh tuyền ban đầu của mình, một hình ảnh chưa bị lòng ham muốn danh lợi thú làm hoen ố, mới thấy phẩm giá cao đẹp của con người thật cao qúy hơn muôn loài. Có ý thức được sự cao qúy nơi phẩm giá làm người mới biết trân trọng và gìn giữ cho mình và cho anh em. Phẩm giá con người cao qúy hơn mọi danh lợi thú trần gian, thế nên đừng bao giờ vì một chút bổng lộc trần gian, một chút vui sướng mau qua mà đánh mất phẩm giá của mình và làm tổn thương đến phẩm giá của tha nhân.
Xin Chúa giúp chúng ta can đảm tẩy rửa những bợn nhơ tội lỗi làm hoen ố lương tri, và xin Chúa thêm ơn trợ giúp để chúng ta luôn gìn giữ nét đẹp nơi phẩm giá làm người của mình và của tha nhân. Amen.

 

MC2-B121: Đức Tin cột trói chúng ta

(Peter Feldmeier - Văn Hào, SDB chuyển ngữ)
Này là Con Ta yêu dấu, hãy nghe lời Người (Mc 9,7)
 

Các bài đọc Lời Chúa hôm nay dường như có vẻ thách đố chúng ta. Bài đọc thứ nhất kể lại câu MC2-B121

Các bài đọc Lời Chúa hôm nay dường như có vẻ thách đố chúng ta. Bài đọc thứ nhất kể lại câu truyện Chúa nói với Abraham hãy đem Isaac con của ông lên núi để sát tế. Abraham đã tuân theo chỉ lệnh của Chúa. Isaac chẳng nghi ngờ gì, đã cùng với cha  bắt đầu cuộc hành trình. Hai cha con đi suốt ba ngày đường trèo lên núi cao. Đến nơi, Abraham cột trói Isaac lại, và đang dự định giết con để tế lễ. Khi ông toan tính làm như thế, một sứ thần đã hiện ra và cầm giữ tay ông lại. Thần sứ nói với ông rằng Thiên Chúa rất hài lòng vì ông đã vâng lời Ngài: “Vì ngươi đã vâng phục Ta, không tiếc đứa con trai thừa tự duy nhất mà ngươi rất quý mến, nên Ta sẽ chúc lành cho ngươi và hứa cho dòng giống ngươi trở nên đông đúc.”
Chúng ta phải đọc câu truyện trên đây dưới lăng kính truyền thống Do Thái giáo và cả truyền thống Kitô giáo. Có nhiều cách cắt nghĩa khác nhau, nhưng những diễn giải dường như vẫn chưa lột tả được trọn vẹn ý nghĩa sâu xa của bản văn. Một số nhà chú giải sánh ví Thiên Chúa như một vị thần chuyên thử thách. Họ còn đặt vấn đề xa hơn, liệu Thiên Chúa còn thử thách Abraham đến mức độ nào, khi truyền lệnh cho ông cầm dao giết đứa con ruột của mình? Một số khác lại đọc thoáng qua câu truyện và tự hỏi: Tại sao Thiên Chúa lại ra một lệnh truyền quái ác và nghịch thường như vậy, vì người Do Thái không bao giờ được phép giết con mình để tế thần, không giống như các dân ngoại vẫn thường làm. Triết gia Kieerkegard lại có một cái nhìn khác khi ông kết luận “Đức tin nếu chỉ khởi phát từ một ý thức thuần mang tính luân lý với sự vâng lời  tối mặt, thì đó chỉ là đức tin mù quáng và xuẩn ngốc’’. Cả ba nhận định trên đây đều phiếm diện và không thấu triệt tường tận câu truyện mà Kinh thánh trình bày. Cách lý giải thứ nhất chỉ phác vẽ Thiên Chúa như một Đấng cao ngạo ở tít trên cao, thích thử thách con người, đến mức độ cách hành xử của Ngài giống hệt một cuộc tra tấn hay khủng bố. Về cách giải thích thứ hai, chúng ta cũng thấy không hơp lý chút nào. Câu truyện quả thực không hề muốn nêu lên sự tương phản giữa đức tin và luân lý. Tôi cũng muốn nói rằng, chúng ta đừng xem đức tin như một thái độ mù quáng và ngốc ngếch, vì đức tin và lý trí không hề đối kháng hay loại trừ nhau. Abraham đã không mù quáng khi thực thi điều Chúa muốn như nhiều người lầm tưởng. Ngày nay, nếu có ai ra lệnh cho chúng ta là phải dùng dao giết con, thì chắc chắn chúng ta sẽ gọi cảnh sát ngay lập tức. Thiên Chúa của chúng ta không độc ác như thế đâu.
Thế thì câu truyện trên muốn nói cho chúng ta điều gì? Chúng ta hãy đan nối với truyền thống Do Thái giáo để hiểu nội dung một cách sâu xa hơn. Vấn đề ở đây không phải là Abraham có ý định sát tế Isaac, nhưng ông chỉ muốn tuân hành ý Chúa cách triệt để. Ông cột trói Isaac và hiến dâng cho Chúa, không hề tiếc nuối và giữ lại cho mình. Đây là một thái độ vâng phục trọn vẹn trong đức tin. Qua hình tượng Isaac, tổ phụ Abraham đã trói buộc mình và dòng dõi của mình vào chính Thiên Chúa và vào lời hứa của Ngài. Hành động này không phải là nhằm giải quyết công việc trước mắt, cụ thể là việc giết đứa con đặt lên bàn để tế lễ. Nhưng động thái của tổ phụ Abraham mang chiều kích linh thánh, một hành vi biểu tỏ đức tin, và dẫn đưa đến một chân trời rộng mở hơn, đó là  chân trời của lời hứa.
Bài học ở đây, là khi chúng ta biểu tỏ đức tin, chúng ta cột trói mình (như Abraham cột trói Isaac) vào với Thiên Chúa, tự nguyện “trao nộp”chính chúng ta trong bàn tay của Thiên Chúa, thì đáp lại, Thiên Chúa cũng sẽ trói buộc Ngài trong giao ước với chúng ta, và Ngài sẽ hiến trao tất cả cho chúng ta, vì Thiên Chúa luôn trung thành với giao ước mà Ngài đã cam kết.
Đây là sự cột trói song phương, giữa chúng ta và Thiên Chúa.
Trong bài đọc thứ hai, thánh Phaolô cũng gợi mở cho chúng ta am tường về sự trói buộc lưỡng chiều này. Thánh nhân viết “ Nếu Thiên Chúa bênh đỡ chúng ta, ai còn có thể chống lại được chúng ta” (Rm 8, 31b). Tiếp nối suy tư này, Thánh Phaolô tiếp tục đưa dẫn chúng ta đến một bản hòa điệu song đối với những câu hỏi và những thách đố được gợi ra. Ngài viết: “Vì tôi thâm tín rằng, dù sự chết hay sự sống, dù thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai hoặc bất cứ sức mạnh nào,… không có gì có thể tách tôi ra khỏi lòng yêu mến của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta (Rm 8,38-39). Đây là hình mẫu sự cột trói thâm sâu giữa chúng ta và tình yêu Thiên Chúa.
Bài Tin mừng hôm nay dẫn mời chúng ta thông dự vào cuộc biến hình của Đức Giêsu. Ở trên núi cao, ba môn đệ Phêrô, Giacôbê và Gioan đã mục kích vinh quang của Đức Giêsu khi Ngài đàm đạo với Môisê và Elia. Hai vị ấy là biểu thị cho lề luật và các ngôn sứ, như được nhắc đến trong lời kinh tổng nguyện của phụng vụ hôm nay. Tuy nhiên cả hai vị này đều có liên hệ đến những biến cố rất ý nghĩa trong cựu ước. Môise và Êlia đều đã tiếp cận trực tiếp Đức Chúa Giavê trên núi Sinai (Xh 24,1,19). Đồng thời, cả hai ông đều gợi nhắc về Đấng Messia, Đấng sẽ đến cứu chuộc dân người. Êlia được đặc cách để tiên báo về đấng Messia và ông cũng chính là người dọn tâm hồn cho dân chúng trước khi ngày của Đức Chúa khởi sự (Mal 3,23). Còn ông Môisê, vào thời của Chúa Giêsu, người ta vẫn có truyền thống xem ông, giống như vai trò của Êlia, người đã đạt đến sự viên toàn của sự đợi chờ Đấng Mesia ở trên nước trời. Vì thế, giây phút Chúa biến hình trên núi Tabor, cũng mang chở một chiều kích cánh chung, và tiên báo sự viên thành giao ước mà Chúa đã ký kết trên núi Sinai năm xưa.
Ba môn đệ đã nghe tiếng Chúa Cha từ trong đám mây “Đây là con yêu dấu của ta, hãy nghe lời Người”. Cả ba ông đã chứng kiến giây phút viên toàn của lịch sử, lúc Đức Giêsu vén mở vinh quang chiến thắng của Ngài. Đó là những khoảnh khắc các ông được thông dự trước vào sự tròn đầy của sự thực hiện lời Thiên Chúa hứa. Nhưng liền ngay sau đó, các ông phải trở về đối mặt với cuộc sống đời thường. Từ trên núi xuống, chỉ còn lại duy nhất một mình Đức Giêsu, một Thiên Chúa làm người, một Thiên Chúa đang sống kiếp tăm tối của thân phận con người như chúng ta, và vinh quang chói ngời trên núi Tabor vẫn còn đang bị che dấu. Trong cuộc hành trình đức tin của chúng ta hôm nay, chúng ta cũng phải cột trói và hiến dâng bản thân, để trao dâng cho Đức Giêsu, Đấng là Thiên Chúa nhưng mang trên vai những bầm dập và khổ đau trong phận người. Chúng ta cột trói vào Ngài, hiến dâng cho Ngài, có nghĩa là chúng ta phải cùng với Ngài đi lên Giêrusalem để được sát tế. Hơn nữa, như thánh Phaolô gợi nhắc, chúng ta phải cột trói vào Ngài giữa những cay đắng và bi thương trong cuộc sống hiện sinh hôm nay. Chúng ta diễn tả động thái đức tin, bằng cách trói buộc vào Đức Giêsu, bởi vì chính Ngài cũng đã tự trói buộc vào thân phận con người của chúng ta, đã tự nguyện tiến nhận cái chết để cho chúng ta được ơn giải cứu.
Cuộc biến hình của Đức Giêsu trên đỉnh núi Tabor vén mở để cho chúng ta cảm thấu được uy quyền, hiểu biết về sứ mạng và nhận ra bản tính đích thực của Đấng là Thiên Chúa – Người, là chính Đức Giêsu. Cuộc hành trình đức tin của chúng ta cũng sẽ khởi đầu và kết thúc cùng với Ngài, bởi vì trong cuộc lữ hành đó, chúng ta sẽ mãi mãi gắn kết và buộc trói chúng ta vào với Ngài.

 

MC2-B122: Con yêu dấu – Lm. Vũ Đình Tường

Mỗi lần Chúa Cha nhắc đến tình yêu Cha Con dành nhau ta thấy tình yêu đó luôn thể hiện không MC2-B122

Mỗi lần Chúa Cha nhắc đến tình yêu Cha Con dành nhau ta thấy tình yêu đó luôn thể hiện không phải bằng ngôn từ không mà luôn kèm theo sứ mạng của Tin Mừng. Sứ mạng đó được thể hiện qua hành động cụ thể. Sứ mạng Chúa Con tự nguyện lãnh nhận ngay sau khi Đức Kitô lãnh nhận phép thanh tẩy từ Joan đó là công khai rao giảng về nước trời.
Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con
Liền sau đó Đức Kitô tiến vào hoang địa và ở đó bốn mươi ngày ăn chay, cầu nguyện chuẩn bị cho chương trình rao giảng công khai về nước Thiên Chúa đã đến gần.
Ngày biến hình trên núi thánh có sự hiện diện của ba tông đồ Phêrô, Giacobê và Gioan. Cả ba đều chứng kiến cuộc đàm thoại giữa Đức Kitô và tổ phụ Môisen và tiên tri Elia. Cuộc đàm thoại bị gián đoạn khi các ông nghe tiếng Chúa Cha vang vọng như tiếng sấm phán
Đây là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Ngài
Các tông đồ được chiêm ngắm ít nhiều về cuộc sống tương lai và các ông vui mừng muốn ở lại trên núi thánh nhưng Đức Kitô có chương trình Ngài cần thực hiện nên Thầy trò xuống núi. Sự hiện hữu của các tổ phụ trên núi thánh xác nhận một niềm tin. Niềm tin đó chính là có sự sống đời sau. Đối với nhân loại các tổ phụ đã chết nhiều năm trước, mộ các ngài còn nằm kia nhưng sao các ngài đang sống, hiện diện trên núi thánh xác nhận các ngài đang an vui sống gần Chúa. Nhắc đến tổ phụ Môisen là nhắc đến hành trình bốn mươi năm, vượt sa mạc dẫn dân Chúa chọn về Đất Hứa. Môisen dưới sự hướng dẫn, bảo bọc của Thiên Chúa đã vượt qua ngàn trùng gian khổ, dẫn dân Chúa chọn vượt Biển Đỏ, giải thoát họ khỏi ách nô lệ của Pharaô tiến vào Đất Hứa. Tiên Tri Elia cũng có sứ mạng vất vả không kém. Elia đặt trọn niềm tin vào lời Chúa làm tròn sứ mạng trong lo âu, sợ hãi cho sự sống còn của chính ông. Vua Ahab làm vua vùng phía bắc xứ Israel từ 874-853 BC. Ông nghe lời vợ là Jezebel thờ tà thần Baal. Thiên Chúa sai tiên tri Elia báo cho vua biết nếu không thống hối ông và toàn dân sẽ bị phạt. Vua Ahab đã không thống hối còn tìm các giết Elia. Nhà tiên tri phải trốn nơi hoang địa và Thiên Chúa cứu ông khỏi tai hoạ và giúp ông hoàn thành điều Thiên Chúa sai phán. (Muốn biết thêm chi tiết mời đọc số một, Sách các Vua chương 17-22).
Tiếng phán ra của Chúa Cha từ trong đám mây là bằng chứng rõ ràng khác cho thấy Thiên Chúa hằng sống luôn đồng hành với Đức Kitô. Những sáng sớm Đức Kitô tìm nơi thanh vắng cầu nguyện chính là Ngài đàm đạo cùng Chúa Cha.
Sứ mạng xuống núi của Đức Kitô là mang lại ơn cứu độ cho nhân loại. Một sứ mạng đầy đau thương, nhiều nước mắt và cuối cùng là chết trong cô đơn, trên thập giá, nơi đồi vắng. Một kiểu hoang địa mà khi nghe đến ai cũng cảm thấy chân tay run rẩy, toàn thân rùng rợn. Đức Kitô đi trọn con đường đó và sau ba ngày chôn trong mộ Ngài sống lại vinh quang.
Sau khi Đức Kitô sống lại từ cõi chết người ta mới nhận ra sức mạnh vô song và vinh quang ngàn trùng của Thiên Chúa. Sức mạnh đó mạnh hơn sự chết và vinh quang đó sáng tỏ hơn mặt trời chiếu sáng. Điều này cho thấy có sự liên kết giữa biến hình và sự sống trường sinh. Để có sự sống trường sinh cần có biến hình. Để được biến hình lại cần hoàn thành sứ mạng trao phó. Để hoàn thành sứ mạng trao phó cần đặt trọn niềm tin vào Đức Kitô. Đặt trọn niềm tin vào Đức Kitô sẽ được vinh thăng sống muôn đời kề cận vinh quang Thiên Chúa, nhận cùng lời Chúa phán trên núi thánh.
Đây là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Ngài.

 

MC2-B123:  Suy niệm của AM Trần Bình An

Cùng đăng sơn, cùng hạ sơn
 

Chúa Nhật 14.04.1985, Lễ Lòng Chúa Xót Thương, Lm. Jose Maniyangat đi dâng Thánh Lễ tại một MC2-B123

Chúa Nhật 14.04.1985, Lễ Lòng Chúa Xót Thương, Lm. Jose Maniyangat đi dâng Thánh Lễ tại một nhà thờ thuộc điểm truyền giáo ở phía Bắc Kerala và bị một tai nạn chí tử. Ngài thuật lại sau này: Tôi đang lái xe gắn máy, thì bị đâm đầu vào một chiếc xe jeep do một người đàn ông say khướt sau một lễ hội Ấn giáo, điều khiển. Tôi được đưa gấp vào bệnh viện cách đó khoảng 35 dặm. Trên đường đi, linh hồn tôi lìa khỏi xác và tôi đã cảm nghiệm cái chết. Tức khắc, tôi gặp Thiên Thần Hộ Thủ của tôi. Tôi nhìn thấy thân thể mình và những người đến mang tôi vào bệnh viện. Tôi nghe họ khóc và cầu nguyện cho tôi. Vào lúc ấy thiên thần của tôi nói với tôi: ”Ta đến đem người vào thiên đàng, Chúa Giêsu muốn gặp người và nói chuyện với người”. Thiên thần cũng cho biết rằng dọc đường Ngài muốn chỉ cho tôi thấy Hoả Ngục và Luyện Ngục...
Kế đó, thiên thần của tôi hộ tống tôi tới Thiên Đàng đi qua một hầm màu trắng lớn sáng chói loà. Tôi chưa bao giờ cảm nghiệm được sự an bình và niềm vui như thế nầy trong đời. Thiên Đàng lập tức mở ra và tôi nghe tiếng nhạc mê ly nhất mà tôi chưa từng được nghe trước đây. Các thiên thần ca hát và ngợi khen Thiên Chúa. Tôi nhìn thấy tất cả các thánh, đặc biệt là Mẹ Maria và Thánh Giuse,và rất nhiều giám mục và linh mục thánh thiện đang lấp lánh sáng như những vì sao. Và khi tôi xuất hiện trước Người, thì Chúa Giêsu nói với tôi: ”Ta muốn con về lại thế gian. Trong cuộc sống lần thứ hai của con, con sẽ nói bằng một ngôn ngữ nước ngoài. Mọi thứ đều có thể xảy đến cho con với ân sủng Ta ban..”. Sau những lời nầy, Đức Maria nói với tôi: ”Hãy làm bất cứ điều gì Người nói với con. Mẹ sẽ giúp con trong các thừa tác vụ của con.” Lời nói không thể diễn tả hết vẻ đẹp của Thiên Đàng. Ở đó chúng ta tìm thấy được an bình và hạnh phúc nhiều dường nào, vượt qúa một triệu lần trí tưởng tượng của chúng ta. Chúa Giêsu đẹp đẽ vượt xa hơn bất cứ hình ảnh nào có thể mô tả. Dung nhan Người rạng ngời và toả sáng và rực rỡ hơn ngàn vạn mặt trời đang mọc. Những bức hoạ chúng ta nhìn thấy trên thế giới chỉ là cái bóng vẻ lộng lẫy uy phong của Người. Đức Mẹ ở bên Chúa Giêsu, Mẹ rất tươi đẹp và rạng rỡ. Không một hình ảnh nào chúng ta gặp trên thế gian có thể sánh với vẻ đẹp thực sự của Mẹ. Thiên Đàng là nhà thực sự của chúng ta; tất cả chúng ta được kêu gọi phải đạt tới Thiên Đàng và được vui hưởng Thiên Chúa muôn đời. Sau đó, tôi cùng với Thiên Thần trở về thế gian... (Jn. M. Vũ Sơn Bảo dịch theo Ingodscompany)
Cảm nhận ngây ngất về Thiên Đàng của Lm Jose Maniyangat có lẽ tương đồng với niềm hân hoan, hạnh phúc của các Thánh Phêrô, Giacôbê và Gioan, khi được chiêm ngưỡng Chúa Giêsu biến hình trên núi Tabor. Các ngài đã được Người mời gọi cùng lên núi, để được mặc khải về Ngôi Lời, Con Thiên Chúa. Rồi, lại cùng theo Người xuống núi, tiếp tục sứ mạng Đi Gieo và làm chứng nhân.
Đăng sơn
Xưa, ông Môsê lên núi Sinai để cầu nguyện và nhận lãnh 10 Điều Răn trên núi Sinai. Còn ngôn sứ Êlia trong tâm trạng chán nản, mệt mỏi vì bị binh lính của hòang hậu Idaven truy sát, đã nỗ lực vượt sa mạc trong 40 đêm ngày, leo lên núi Khôrép để được Thiên Chúa an ủi, ban sức mạnh lấy lại niềm tin, tiếp tục hăng say thi hành sứ vụ. Hôm nay, Đức Giêsu dẫn ba môn đệ lên núi. Các ngài được vinh dự diện kiến Người, hội ngộ cùng ông Môsê và ngôn sứ Êlia, đại diện cho Lề luật và Ngôn sứ. Các ông ngây ngất trước ánh sáng Ngôi Lời chan hòa vinh hiển, cùng ao ước và khao khát được mãi mãi hạnh phúc sống bên Thiên Chúa Tình Yêu.
Đăng sơn là lên núi là từ bỏ mọi sự, xác thịt, của cải, ham muốn, chỉ duy nhất chọn Chúa mà thôi. Bỏ mọi sự, kể cả những vấn vương tình cảm thân bằng quyến thuộc, cũng như từ bỏ chính bản ngã tham sân si. Dấn thân leo lên núi Chúa có nghĩa chấp nhận gian lao thử thách, nguy hiểm, chịu khinh khi, thù ghét, bắt bớ, hành hạ, tù đầy và tử vong.
“Ai trong anh  em, không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ Tôi được.” (Lc 14, 33) Đức Giêsu còn đòi hỏi từ bỏ quyết liệt, từ người thân đến chính bản thân mình. “Ai đến với Tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ Tôi được.”(Lc 14, 26). Hơn thế, Đức Giêsu còn thêm điều kiện chấp nhận những khó khăn cơ cực khi theo Người.“Ai không vác thập giá mình mà đi theo Tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được.” (Lc 14, 27)
Khi xa lánh, dứt bỏ bụi trần, nâng hồn lên với Chúa, thì tâm hồn người Kitô hữu được hưởng niềm hoan lạc vô song, tuyệt vời. Vì thế, các tâm hồn các thánh luôn được nếm trải những giờ phút xuất thần, tràn ngập niềm vui, hạnh phúc bên Chúa.
Chẳng phải lúc nào ai cũng có thể leo 1 000 bậc thang lên đỉnh  núi Tao Phùng ở Vũng Tàu, để chiêm ngưỡng tượng Chúa Kitô Vua, hoặc hiếm khi được leo 220 bậc thang lên tượng Chúa Cứu Thế ở Rio De Janeiro, Brasil, để được hạnh ngộ với Người. Nhưng hằng ngày, ai cũng có thể lên núi với Người qua sám hối, ăn chay và cầu nguyện, qua tĩnh tâm, kinh hạt, suy gẫm và nhất là qua Lời Chúa và Thánh Thể.
“Hãy sống bên Chúa, và con sẽ nên thánh. Thiên Đàng không gì khác là Thiên Chúa hiện diện.” (Đường Hy Vọng, số 242)
Hạ sơn
“Và từ đám mây, có tiếng phán rằng: “Đây là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Người.” (Mc 9, 7) Thiên Chúa mặc khải cho các môn đệ, cho mọi tín hữu Đức Giêsu chính là Đấng Cứu Thế, phải tin cậy và vâng phục Người để được cứu rỗi.
Đức Giêsu dẫn ba môn đệ tâm huyết lên núi, Người biến hình rồi lại dẫn xuống núi nhập thế. Tin Mừng thánh Luca thuật lại: “Hôm sau, khi Đức Giêsu và ba môn để ở trên núi xuống, có đám người đông đảo tới đón Người.” (Lc 9, 37) Đăng sơn là chiều kích đầu tiên hướng lên trời với Thiên Chúa, hạ sơn chiều kích thứ hai hướng đến, thương yệu, phục vụ tha nhân, kể cả kẻ thù.
Hạ sơn là hạ mình xuống trước mặt tha nhân. Trở nên người phục vụ tình nguyện, noi gương Người. “Con Người cũng không đến để được phục vụ, nhưng để phục vụ và ban mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người." (Mc 10, 45) Điều đầu tiên, Đức Giêsu mong đợi nơi những ai theo Người, là một tấm lòng đơn sơ, khiêm nhường, vâng phục và yêu thương.
Hạ sơn cũng là từ bỏ con người cũ, nặng tính xác thịt, vị kỷ, kiêu căng, tham lam, háo danh háo của, để mặc lấy con người mới, xả kỷ vị tha, canh tân, sống theo Tin Mừng.
“Phải canh tân bao lâu? Phải luôn luôn khởi sự lại. Phải luôn luôn tu chỉnh thêm. Con đừng an nghỉ, bao lâu hôm nay con chưa tiến hơn hôm qua một bước trong sự hiệp nhất với Chúa. Con phải đinh ninh rằng: dừng lại là khởi sự thụt lùi xuống dốc, khởi sự thoái hóa.” (Đường Hy Vọng, 640 & 641)
Lạy Chúa Giêsu, kính xin Chúa biến đổi cuộc đời chúng con, từ tình trạng hư thân mất nết, chiều theo tính xác thịt và thế gian, mà hướng lòng lên cùng Chúa, biết sám hối, canh tân theo Tin Mừng, để được Chúa thương xót, cứu rỗi.
Lạy Mẹ Maria, xin mẹ giúp chúng con hướng lòng về tha nhân, trở nên kẻ phục vụ trong tin yêu, cũng như nhìn thấy Chúa Giêsu trong mọi người, để mến yêu và phục vụ tha nhân. Amen.


 

MC2-B124: Tìm vinh quang Thiên Chúa ở đâu?

(Suy niệm của Lm. Trần Xuân Lãm)
 

Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa xuống trần gian mang hình hài thể xác con người như ta, nhưng hôm  MC2-B124

Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa xuống trần gian mang hình hài thể xác con người như ta, nhưng hôm nay Ngài tạm thời từ bỏ hình dạng bình thường của con người, để mặc lấy một hình dạng khác rất siêu phàm: "Y phục Ngài rực rỡ, trắng tinh, không thợ giặt nào ở trần gian giặt trắng như vậy". Sự sáng láng chiếu tỏa vinh quang của thiên giới.
Đức Ki-tô chính là Đấng Messiah ẩn mình, người tôi trung đau khổ của Thiên Chúa, hôm nay được tỏ bày trước kỳ hạn vinh quang, qua việc các đại diện của lề luật và ngôn sứ là Mô-sê và Ê-li-a, hiện ra và đàm đạo với Ngài. Đây là lần thứ hai có tiếng phán từ trời về Chúa Giê-su: "Này là Con Ta chí ái" (Mc 9:7)
Trong lúc còn thử thách ở cuộc đời trần gian, chúng ta được mời gọi tin phục hoàn toàn vào Thiên Chúa qua mọi biến cố trong cuộc đời. Thiên Chúa ẩn náu mình đi không muốn tỏ vinh quang và quyền phép uy nghi của Ngài ra, để ép buộc chúng ta nghe lời Ngài. Ngài đã ban cho chúng ta tự do và Ngài tôn trọng tự do đó. Hơn nữa, có tự do mới có công phúc.
Tuy nhiên những ai đọc và suy niệm lời Chúa, những ai có con mắt đức Tin trong sáng thì đã thấy và đã biết Thiên Chúa uy quyền và vinh quang ở đâu: ở trong Bí tích Thánh thể, trong các Bí tích, trong Phúc âm, trong mọi biến cố, hoàn cảnh cuộc đời. Chúa hiện ra ở đó còn uy quyền sáng láng hơn cả khi biến hình trên núi cao hôm nay.
Bài Phúc âm còn ngụ ý dạy chúng ta, nếu muốn được nhìn thấy Thiên Chúa vinh quang và uy nghi thì phải lên núi cao, vượt trên mọi thấp hèn của xác thịt. Bên cạnh đó, chúng ta cần sẵn sàng bước theo con đường thập giá của Đức Ki-tô, vì con đường ấy dẫn chúng ta đến vinh quang và phúc trường sinh muôn đời.
 

MC2-B125: Suy niệm của ‘Tin Vui Xuân Lộc’

Bài Tin Mừng về việc Chúa hiển dung còn gọi là Chúa Biến Hình hôm nay nằm trong phần đầu MC2-B125

Bài Tin Mừng về việc Chúa hiển dung còn gọi là Chúa Biến Hình hôm nay nằm trong phần đầu của phần III nói về Mầu Nhiệm Con Người. Sau khi loan báo về cuộc Thương khó và Phục Sinh lần thứ nhất, Chúa Giêsu dạy cho các tông đồ và các môn đệ, là những người đi theo Ngài về Thập Giá, về Từ bỏ. Sau đó Ngài liền củng cố ngay niềm tin cho các Tông đồ bằng biến cố hiển dung như một lời trấn an trước đau khổ, Thập giá và cái chết, hơn nữa như một lời khẳng định: chỉ có con đường Thập giá mới dẫn tới cuộc sông vinh quang Phục sinh. Giơ đây, chúng ta hãy cùng ba môn đệ lên núi, chiêm ngắm cuộc biến đổi kỳ lạ này để học được tâm tình của Chúa Giêsu.
“Sáu ngày sau....” ý nói về một khoảng cách gần sau khi Chúa Giêsu loan báo về cuộc thương khó và sự chết của Ngài. Lần này, Chúa Giêsu chỉ dắt ba ông đi riêng ra, đó là Phêrô, Giacôbê và Gioan. Chúng ta thấy đây là nhóm nòng cốt của tập đoàn 12 vị là. Ba vị này: một người là thủ lãnh, cầm đầu Giáo Hội sau này; một vị là Giám mục tiên khởi Jérusalem và một vị được mệnh danh là “Người được Chúa yêu”. Thánh sử Máccô ghi rõ “chỉ mính các ông thôi tới một ngọn núi cao”. “Núi cao” ý nói vinh quang Thiên Chúa sẽ được tỏ hiện trên đó và đúng thế “Người biến dổi hình dạng trước mắt các ông”. Đây chính là mục đích mà Chúa Giêsu dẫn ba ông đi riêng ra, tách biệt khối nhóm 12. Sự biến đổi của Ngài được miêu ta phủ đầy ánh sáng chói loà. Ánh sáng trắng ấy không có thợ nào ở trần gian làm được. Đây chính là vẻ huy hoàng từ nơi Thiên Chúa, ánh sáng chiếu dọi của Con Chiên trong sách Đaniel và sách Khải Huyền. Cùng lúc ấy, các ông thấy Môsê và Êlia xuất hiện, trò chuyện với Chúa Giêsu. Hai vị thuộc thế hệ Cựu Ước, đại diện cho lề luật và các Ngôn sứ, có ảnh hưởng rất lớn đối với người Do Thái. Hai vị đàm đạo với Chúa Giêsu về cuộc vượt qua của Ngài tại Giêrusalem (x. Lc 9,31) Ý nói toàn bộ lề luật và các Ngôn sứ; nói đúng hơn toàn bộ Kinh Thánh đều qui về Chúa Giêsu và làm chứng rằng Chúa Giêsu là người hoàn tất mọi lời hứa về Đấng Mêsia. Ngài là Người Tôi Tớ đau khổ trong Isaia, là Đấng Mêsia, Đấng Cứu độ nhân loại ẩn mình. Ngài chính là Thiên Chúa đến gánh tội trần gian (x. Ga 1,29), là Đấng Trung gian đưa Thiên Chúa đến với con người và qui tụ con người đem về cùng Thiên Chúa.
Lúc này, Phêrô theo cảm tính đã bày tỏ tâm tình muốn ở lại trong vinh quang này mãi. Ông thưa rằng: Thưa Thầy, chúng con ở đây, thật là hay. Ông không biết ý kiến của hai ông kia thế nào, nhưng ông cảm thấy ý của mình có lẽ là tốt nhất, tuyệt vời nhất. Nếu Chúa đồng ý, ông sẽ dựng ba cái lều cho ba vị, còn ông và các bạn không cần chốn nương thân. Thấy sự lúng túng và chỗ hổng này, Thánh Sử Maccô viết một câu như muốn biện minh cho câu nói thiếu hụt ấy: Ông không biết phải nói gì vì kinh hoàng. Qua câu này, chúng ta lại thấy rõ hơn vẻ huy hoàng chói lọi toát ra từ con người Giêsu, một con người cùng ăn cùng uống “ người trần mắt thịt” mà nay đột nhiên biến đổi kỳ diệu, đến nỗi người môn đệ cùng sống với Ngài đã thốt lên những lời vô nghĩa, còn hai ông kia không nói được gì cả.
Giờ đây là giờ Thiên Chúa hành động: một đám mây, có tiếng phán: và xác nhận Chúa Giêsu là Con Yêu Dấu của Chúa Cha, con người chỉ còn một bổn phận là VÂNG NGHE LỜI NGÀI mà thôi. Một mạc khải, một xác tín, một lệnh truyền. Chúa Cha mạc khải cho ba môn đệ biết: Chúa Giêsu là Con Yêu dấu của Ngài, chính Chúa Cha khẳng định với các ông điều này qua sự hiện diện và lời nói của Ngài trong đám mây. Ngài ra lệnh đòi buộc các ông: hãy nghe lời Con của Ngài. Đây là một mạc khải từ Thiên Chúa; Chúa Cha xác nhận Chúa Giêsu, người Nagiarét, cùng ăn cùng uống với các ông đây là Con Thiên Chúa. Ngài là Con Yêu Dấu của Chúa Cha vì luôn làm đẹp lòng Cha, luôn chọn Thánh Ý Cha làm lương thực nuôi sống mình (x, Ga 4,34). Bây giờ, Chúa Cha cũng muốn các môn đệ, những người đi theo Chúa Giêsu. Hãy bắt chước Chúa Giêsu. Như Chúa Giêsu đã tuân giữ ý Cha, thì các ông hãy vâng giữ lời Chúa Giêsu, chính là tuân hành Thánh Ý Chúa Cha vậy.
Cuộc hiển dung kết thúc sau khi tiếng phán chấm dứt, các ông nuối tiếc nhìn quanh, nhưng chỉ còn hiện tại: Chúa Giêsu và các ông mà thôi. Sau biến hình, mọi sự trở về bình thường, một Giêsu bằng xương bằng thịt... có dễ lôi cuốn các ông vào con đường Thập Giá, con đường Vượt Qua hay không?
Trong câu 9 và 10. Chúa Giêsu ra lệnh các ông phải giữ kín những điều mới xảy ra, mà chỉ được rao truyền sau khi Ngài sống lại. Chúa Giêsu muốn giữ kín bí mật Mêsia, bí mật Con Thiên Chúa khi Ngài còn đang sống trên trần gian này. Các ông vâng lời, nhưng vẫn thắc mắc “ từ cõi chết sống lại” nghĩa là gì? Từ “sống lại”, từ “phục sinh” vượt xa tầm trí hiểu của các ông; các ông vẫn cho rằng: chết là hết. Các ông vẫn chưa hiểu và tin vào sự sống lại.
Ngày nay, mỗi người chúng ta được biến đổi hàng ngày. Chúng ta thường chú ý về những biến đổi về thể xác, về kiến thức, về địa vị, danh vọng... Có bao giờ chúng ta để ý chăm chút, nuôi dưỡng để biến đổi về tâm hồn, về đời sống tâm linh của chúng ta chưa?. Nếu chưa, chúng ta hãy mau đến với Bí Tích Thánh Thể, nơi đó chính Chúa Giêsu sẽ dạy chúng ta cách biến đổi theo ý Chúa Cha, biến đổi để ngày càng trở nên đồng hình đồng dạng vời Con Chí Ái của Người là Đức Giêsu Kitô khổ nạn và Phục Sinh. Amen.

 

MC2-B126: BIẾN HÌNH TRÊN NÚI TABORÊ

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
CHÚA NHẬT II MÙA CHAY, năm B
Mc 9,2-10
 

 Chúa Giêsu đã đem ba môn đệ thân tín là Phêrô,Giacôbê và Gioan lên núi Taborê, tại đó, Chúa đã MC2-B126 Dalat

Chúa Giêsu đã đem ba môn đệ thân tín là Phêrô,Giacôbê và Gioan lên núi Taborê, tại đó, Chúa đã biến hình trước mặt họ. Cuôc biến hình này được Chúa xếp đặt trước việc Ngài loan báo cuộc khổ nạn. Chúa muốn cho các môn đệ thấy trước vinh quang của Chúa, để họ sẵn sàng chấp nhận việc Ngài loan báo việc thống khổ của Ngài. Vinh quang bao giờ cũng phải trải qua đau khổ. Chúa dạy các môn đệ và nhân loại đừng sống mãi trong sự đắc thắng, đừng vênh vang với những gì mình có được. Vinh quang trên núi Taborê phản chiếu vinh quang các môn đệ sẽ có được, nếu họ biết vác khổ giá của mình mỗi ngày mà theo Chúa.
Trước vinh quang tuyệt vời trên núi, ba môn đệ đã say mê cảnh tượng này, các Ngài đã thưa với Chúa Giêsu :” Lạy Thầy, chúng con được ở đây thì tốt lắm, chúng con xin dựng ba lều, một cho Thầy, một cho Môsê và một cho Elia “ ( Mc 9, 5 ). Thực tế, trước hào quang rực rỡ hôm nay, Phêrô, Giacôbê và Gioan muốn ở luôn trên núi. Ba môn đệ đã quên đi các bạn của họ đang ở dưới núi, công việc họ phải làm là truyền giáo, đồng thời bổn phận của họ là phải tới với dân chúng để rao giảng Lời Chúa. Đúng, trước vẻ đẹp của Núi Thánh, ba môn đệ thân tín nhất của Chúa Giêsu không muốn xuống núi nữa.Họ muốn xa rời dân chúng để sống an nhàn, thanh thản.
Các môn đệ lúc đó chưa hiểu được rằng :” Chúa Giêsu chỉ lên núi chốc lát, và rồi lại xuống núi để chuẩn bị vác thập giá lên đồi Golgotha. Theo Thầy chí thánh không phải để được hưởng thụ, vinh thân phì da, nhưng đi theo Thầy là vác Thập Giá và hy sinh vì Thầy.
Vinh quang của Chúa phải trải qua khổ đau. Chúa chỉ khoác áo trắng như tuyết trong chốc lát vì tin tưởng sự Phục Sinh. Cái đẹp hào nhoáng bề ngoài sẽ qua đi, nhưng đức tin và hạnh phúc lâu bền mới là điều cần thiết.
Vâng, Phêrô nói nhưng không biết mình đang nói gì vì ông đang ngây ngất trong cảnh huy hoàng của việc biến hình! Phêrô đang hạnh phúc nhưng từ trời có tiếng nói :” Đây là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Người “. Chúa muốn cho Phêrô hiểu rõ việc Chúa sẽ phải chịu sau này để cứu độ nhân loại và muốn cho Phêrô,và các môn đệ cùng mọi người được uốn nắn, giáo dục, được cảnh tỉnh, hoán cải, trở về với Chúa.
Chúa Giêsu là con dấu ái của Thiên Chúa Cha, do đó, vâng lời, nghe lời Đức Giêsu là vâng lời Chúa Cha. Nghe lời Chúa không có nghĩa là nghe bằng đôi tai, nhưng là noi gương bắt chước Ngài trong hành trình đức tin. Nghe lời, vâng lời Người là mặc lấy chính người vì Người là đường, là sự thật, là sự sống. Tin vào Người sẽ có sự sống đời đời.
Các môn đệ xưa đã được chứng kiến cuộc biến hình của Chúa trên núi Taborê, chúng ta cũng được mời gọi lắng nghe và biến đổi để trở nên môn đệ đích thực của Chúa Giêsu.
Lạy Chúa Giêsu, xin ban thêm đức tin cho chúng con để chúng con được sống vững mạnh, vượt thắng con ngưởi yếu hèn của chúng con và giúp chúng con vững bước trên cuộc hành trình đức tin của chúng con vì tin vào cuộc chiến thắng thần chết của Chúa Phục Sinh. Amen.
 GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
 1.Chúa Giêsu đã biến hình ở đâu ? Biến hình ở đây để làm gì ?
2.Tại sao Phêrô lại ngây ngất trước cảnh huy hoàng của cuộc biến hình ?
3.Chúa muốn các môn thế nào sau cuộc biến hình của Người ?
4.Chúng ta được mời gọi làm gì khi theo Chúa ?
    
 

MC2-B127: ĐƯỜNG LỐI CỦA THIÊN CHÚA VÀ TƯ TƯỞNG CỦA CON NGƯỜI

CHÚA NHẬT II MÙA CHAY, NĂM B
(St 22, 1-2.9a.10-13.15-18.Rm 8, 31b-34. Mc 9, 2-10)
Tu sĩ: Jos. Vinc. Ngọc Biển, S.S.P.
 

Hôm nay, thánh sử Máccô trình thuật câu chuyện Đức Giêsu biến hình. Việc Đức Giêsu biến hình MC2-B127

Hôm nay, thánh sử Máccô trình thuật câu chuyện Đức Giêsu biến hình. Việc Đức Giêsu biến hình được diễn ra sau khi vị Tông đồ trưởng tuyên xưng đức tin: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16). Tuy nhiên, ngay sau khi ông tuyên tín như vậy, Đức Giêsu đã tiên báo cho các ông biết trước về cuộc khổ nạn mà Ngài sẽ phải chịu. Thấy vậy, Phêrô đã can ngăn kịch liệt khi nhân danh Thiên Chúa để bảo vệ Thầy mình, ông nói: “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy!" (Mt 16,22).
Nhưng Đức Giêsu đã quở mắng cách nặng nề khi nói ông là “Xatan”. Ngài cũng nói thêm: Tư tưởng của Phêrô là tư tưởng của loài người, không phải là tư tưởng của Thiên Chúa.
Chính vì lý do trên, mà hôm nay, Đức Giêsu đã dẫn ba môn đệ thân tín với mình lên núi Tabor và biến hình trước mắt các ông, để qua đó, dần dần Ngài mặc khải và dẫn các ông vào đường lối cũng như tư tưởng của Thiên Chúa.
1.   Lý do Đức Giêsu hiển dung
Các môn đệ là những người được Đức Giêsu đích thân tuyển chọn làm trợ tá cho Ngài, để rồi mai đây chính Ngài sẽ trao phó Giáo Hội cho các ông, ngõ hầu các ông sẽ tiếp bước đường lối và tư tưởng của Thiên Chúa!
Tuy nhiên, không thể trao phó một công trình vĩ đại, quan trọng, mang tính trường tồn cho những người lơ mơ…, trao phó như thế thì chẳng khác gì “trao trứng cho ác”.
Thiếu hiểu biết và nhiều khi hiểu sai đường lối của Đức Giêsu nơi các môn đệ thật là rõ nét, vì đã có những lúc các ông phỏng chiếu một Đức Giêsu oai phong, quyền lực, chẳng khác gì các vị tướng lãnh chốn trần ai.
Thế nên, nơi các ông, nhiều lần họ đã đôi co với nhau xem ai là người lớn nhất trong Nước Trời; có những người lại còn dẫn cả mẹ mình đến để năn nỉ kỳ nèo cho được ngồi bên tả và bên hữu trong Nước mà Đức Giêsu sẽ thiết lập; rồi cụ thể như Phêrô, chỉ cách đó có 6 ngày, ông đã đại diện cho anh em để tuyên xưng hùng hồn niềm tin của mình vào Thầy Giêsu, nhưng sau đó, khi nghe thấy Đức Giêsu loan báo về cuộc khổ nạn mà Ngài sẽ phải chịu, ngay lập tức, ông đã không chần trừ, mà đã khẳng khái lên tiếng can ngăn! Như vậy, các môn đệ là những người kề vai sát cánh bên Đức Giêsu, nhưng tư tưởng của các ông vẫn lè phè dưới đất, chưa vươn lên để hiểu được tâm tư của Thầy mình.
Chính vì những lý do này, nên các ông không thể chấp nhận một Vị Tôn Sư mà mình chọn làm người dẫn dắt, lại là một người thất bại qua cái chết đau thương và nhục nhã trên cây thập tự giá như một tử tội được!
Để giúp các môn đệ, nhất là ba môn đệ thân tín mà sau này chính các ông sẽ là các chứng nhân trong những chuyện đặc biệt, nên Đức Giêsu đã đưa các ông lên núi Tabor để biến hình trước mắt các ông, nhằm củng cố đức tin, ban hành sứ điệp và đưa các ông đi vào đường lối cứu chuộc của Thiên Chúa.
2.   Qua đau khổ mới đến vinh quang
Câu chuyện biến hình được khởi đi từ việc Đức Giêsu dẫn ba môn đệ của mình lên núi, và đang khi Ngài cầu nguyện “rồi Người biến đổi hình dạng trước mắt các ông. Y phục Người trở nên rực rỡ, trắng tinh, không có thợ nào ở trần gian giặt trắng được như vậy  (x. Mc 9, 3).
Bên cạnh Ngài còn có Môsê là người đại diện cho lề luật Cựu Ước, và Elia là ngôn sứ vĩ đại nhất. Cả hai cùng hiện ra và đàm đạo với Đức Giêsu. Điều này cho thấy: toàn bộ lề luật và lời các ngôn sứ đều quy hướng về Đức Giêsu và về cuộc khổ nạn, phục sinh của Ngài như là trung tâm của công trình cứu chuộc mà Thiên Chúa sẽ thực hiện nơi Đức Giêsu!
Khi thấy diện mạo Đức Giêsu biến đổi và khung cảnh thánh thiêng, huy hoàng tuyệt đẹp như vậy, tâm hồn các ông ngây ngất và lòng các ông hân hoan quá đỗi.
Chắc chắn trong cuộc đời của các ông chưa một lần nào được hạnh phúc như vậy! Vì thế, Phêrô đã thay lời cho Gioan và Giacôbê để thưa lên với Đức Giêsu, ông nói: "Thưa Thầy, chúng con ở đây, thật là hay! Chúng con xin dựng ba cái lều, một cho Thầy, một cho ông Môsê, và một cho ông Êlia" (Mc 9, 5).
Qua lời đề nghị này của Phêrô, lại một lần nữa, nơi ông toát lên tính hưởng thụ, thực dụng…! Ông muốn được ở lại trong vinh quang với Đức Giêsu mãi mãi và không chịu đối diện với thực tế mà ông và các bạn của ông sẽ còn phải tiếp tục…!!!
Thấy được điều đó, Đức Giêsu đã không để cho các ông rơi vào tình trạng bi đát của tư tưởng: “Thích sướng, ngại khổ”. Nên Ngài đã không những khước từ đề nghị của ông, mà còn mặc khải cho ông hiểu được quy luật tất yếu của Tin Mừng, đó là: “Phải qua đau khổ mới tới vinh quang.”
Sau khi cho các ông lạc vào thiên cung, cho các ông nếm trước vinh quang Thiên Quốc, Đức Giêsu đã mời gọi các ông phải xuống núi.
Xuống núi với anh em, với đồng loại, và với những công việc thường ngày.
Xuống núi để tiếp tục cuộc hành trình theo Thầy của mình. Xuống núi trong tâm tình cảm nghiệm rõ nét con đường mà Thầy đã, đang và sẽ đi, để mai đây chính mình sẽ tiếp bước.
3.   Sứ điệp Lời Chúa
Trong đời sống thực tế của nhiều người nơi cộng đoàn, đã có nhiều lần chúng ta cũng mang trong mình tư tưởng của các Tông đồ khi xưa, đó là: tham sân si; tranh gành địa vị; trọng hình thức mà quên đời sống nội tâm. Nhiều khi gây chia rẽ, lên mặt dạy đời, hay luôn chọn cho mình những công việc nhàn hạ, còn việc nặng nhọc để lại cho người khác. Rồi cũng không thiếu những người theo Chúa, tin Chúa, nhưng theo và tin kiểu công dân hạng hai, tức là lúc thuận tiện thì theo và tin…, nhưng khi gian nan thử thách đến là bỏ giữa chừng và sẵn sàng đi cầu ông nọ, khấn bà kia thay Chúa.
Đôi khi chúng ta cũng có tư tưởng thực dụng như: tìm mọi cách để níu kéo Thiên Chúa về với mình. Thiên Chúa là Đấng ta được hưởng độc quyền, còn người khác, chúng ta luôn muốn Chúa phải thẳng tay để đánh phạt họ….
Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy có tư tưởng của Thiên Chúa thay cho tư tưởng của loài người. Đó là: luôn đặt ý Chúa lên trên hết. Phải biết yêu thương nhau chân thành. Xây dựng tình huynh đệ, hiệp nhất và bình an. Sẵn sàng kề vai sát cánh bên nhau cả những công việc nhẹ nhàng lẫn công việc nặng nề.
Biết đón nhận những đau khổ, thử thách trong đời sống đạo với tâm tình: Mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Thiên Chúa” (Rm 8,28). Và: Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho” (Mt 6,33). Sẵn sàng lột xác để biến đổi, để từ con người ích kỷ, thành bao dung; từ chỗ thực dụng thành vô vị lợi; từ chỗ chỉ biết nghĩ đến mình, thì giờ đây biết nghĩ đến người khác; từ chỗ muốn được hạnh phúc và sung sướng mà không chấp nhận đau khổ, thành một người mang trong mình tư tưởng của Thiên Chúa và đi vào đường lối của Đức Giêsu đã đi, đó là: “Qua đau khổ mới đến vinh quang”.
Muốn thực thi được những điều trên, quan trọng nhất, chúng ta phải biết lắng nghe lời Đức Giêsu, thi hành điều Ngài dạy và đi theo Ngài trên chính con đường mà Ngài đã đi khi xưa.
Lạy Chúa Giêsu, chắc chắn đã có nhiều lần chúng con như các môn đệ khi xưa, đó là: chỉ thích sung sướng, hạnh phúc mà không biết đón nhận khổ đau. Xin Chúa khai trí mở lòng chúng con, để chúng con hiểu được đường lối cũng như tư tưởng của Chúa, từ đó, biết đi theo Chúa trên chính con đường mà Ngài đã đi để được sống đời đời. Amen. 
 

MC2-B128: Xin Ơn Biến Đổi

Suy Niệm Chúa nhật II Mùa Chay – B
(Mc 9, 1-9)
 

Bước vào Chúa nhật thứ hai Mùa Chay, phụng vụ Giáo Hội mời gọi chúng ta chiêm ngắm biến MC2-B128

Bước vào Chúa nhật thứ hai Mùa Chay, phụng vụ Giáo Hội mời gọi chúng ta chiêm ngắm biến cố Chúa Giêsu biến hình, một mầu nhiệm vĩ đại. Lịch sử cho thấy ba Tông đồ Phêrô, Gioan và Giacôbê là những tấm gương sám hối suốt Mùa Chay dẫn chúng ta tới Đại lễ Phục Sinh, khi chúng ta cử hành cuộc chiến thắng của tinh thần trên thể xác, của ơn cứu chuộc trên tội lỗi.
Thánh sử Marcô nhắc đến việc Chúa Giêsu đưa ba ông lên núi cao cầu nguyện, và đang khi cầu nguyện... bỗng có hai vị đàm đạo với Người, là Môsê và Êlia.... Một số câu hỏi được đặt ra chung quanh biến cố Chúa Biến Hình :
1. Tại sao Đức Giêsu Biến Hình ?
2. Tại sao Môise và Êlia lại có mặt lúc Chúa Giêsu Biến Hình?
3. Tại sao không phải là các Tông đồ khác mà lại là Phêrô, Giacôbê và Gioan được Đức Giêsu đưa lên núi ?
Tại sao Đức Giêsu Biến Hình ?
Chúng ta biết, trước khi Chúa Giêsu biến hình, Người đã làm phép lạ hóa bánh ra nhiều để nuôi chừng năm ngàn người ăn no (x. Mc 6, 30-44 ; 8, 1-10). Vẻ chưng hửng của các Tông đồ về tương lai tươi sáng, và sự mãn nguyện về vị Thiên sai của dân chúng. Khi thăm dò ý kiến chung, Đức Giêsu đã loan báo cuộc thương khó lần thứ I (x. Mc 31, 33). Như thế, Người đã mạc khải cho các môn đệ biết rằng, con đường tiến về Giêrusalem sẽ đưa Người đến với đau khổ, tử nạn và cái chết đau thương trên thập giá, sau đó mới rạng ngời ánh vinh quang. Vì chưa nhận ra ý Chúa nên Phêrô muốn dựng ba lều ở trên núi sau khi chứng kiến Chúa biến hình (x. Mc 9, 5). Như thế, Phêrô đã muốn biến cái tạm thời trở thành cái vĩnh cửu để khỏi phải đương đầu với khổ đau và thập giá.
Trở lại câu hỏi tại sao Đức Giêsu lại chọn Phêrô, Giacôbê và Gioan, phải chăng là vì họ hoàn hảo hơn những người khác?
Theo Thánh Gioan Kim Khẩu, Phêrô được chọn, vì Phêrô đã từng tuyên xưng Đức Giêsu là “Ðức Kitô” (x. Mc 8, 29). Hơn nữa, cũng bởi Phêrô đã yêu mến Chúa Giêsu Kitô nhiều hơn, “Lạy Chúa, Chúa thông hay mọi sự, Chúa biết tôi yêu mến Chúa!” (Ga 21, 17). Phần Gioan, vì đã yêu mến nhiều, nên được mệnh danh là “người môn đệ Chúa yêu” (Ga 21, 20). Còn Thánh Giacôbê, là vì ​​phản ứng của ông đã thực hiện cùng với anh trai mình: “Chúng tôi có thể uống chén của Thầy” (Mt 20, 22), ông giữ lời và đã đi đến cùng điều ông cam kết, khiến người Do Thái không chịu nổi, đã xử trảm ông.
Tại sao không phải là một tiên tri hay ngôn sứ nào khác mà lại là Môisen và Êlia?
Sứ vụ công khai của Chúa Giêsu tại Galilê đã khiến cho dân chúng đồn đoán về Người. Có kẻ cho Người là Gioan Tẩy Giả, kẻ khác cho là Êlia, Giêrêmia hay là một tiên tri (x. Mc 8,28).
Người Do Thái không ngừng buộc tội Chúa Giêsu vi phạm luật, kẻ nói phạm thượng, kẻ chiếm đoạt vinh quang, mà theo họ, vinh quang đó là của Thiên Chúa, không thuộc về Người. Trong lúc biến hình đàm đạo với Môisen và Êlia, Người khẳng định mình còn hơn cả Môisen và Êlia nữa. Môisen là người đã trao ban lề luật cho dân chúng, nên những người Do Thái không thế nói rằng vị tiên tri thánh này đã muốn chịu đau khổ vì một người vi phạm lề luật. Còn Êlia xuất hiện cùng Chúa Giêsu, Người dạy chúng ta rằng Người là Chúa của kẻ sống và kẻ chết, cả trên trời và trong địa ngục. Đó là lý do Người biến hình cùng với Êlia là người đã không chết.
Một điều rất thú vị là Môisen đã rẽ đôi nước biển để cho dân chúng đi ráo chân, Phêrô đã đi trên mặt nước, để rồi chữa lành tất cả bệnh hoạn tật nguyện cho dân chúng, xua trừ ma quỷ, đưa mọi người về với Đức Kitô. Êlia đã làm cho kẻ chết sống lại, các Tông đồ cũng đã làm cho kẻ chết được sống lại, khi nhận lãnh Chúa Thánh Thần. Đó là những lý do Chúa Giêsu chọn Môisen và Êlia hiện ra đàm đạo với mình.
Đức Giêsu biến hình để cho chúng ta được chiêm ngưỡng :
Vinh quang Ba Ngôi
Vinh quang của Thiên Chúa Ba Ngôi được biểu lộ trong biến cố Chúa biến hình. Chúa biến hình là hình ảnh loan báo trước cho biến cố Chúa Phục Sinh. Chúa mạc khải vinh quang mình cho các tông đồ với lời xác nhận của Thiên Chúa Cha: “Ðây là Con Ta Yêu Dấu!” (Mc 9, 7). Trong ánh sáng vinh quang, chúng ta nhìn thấy ánh sáng; và  được Chúa Thánh Thần nâng lên, chúng ta chúc tụng Thiên Chúa Ba Ngôi qua mọi muôn thế hệ .
Lắng nghe lời Đức Giêsu
Trong biến cố Chúa biến hình, chúng ta không những chiêm ngắm mầu nhiệm Thiên Chúa mỗi ngày một sâu xa hơn vừa đi từ ánh sáng này sang ánh sáng khác, mà còn được mời gọi hãy lắng nghe Lời Chúa gửi đến. Ngoài Lề Luật nơi ông Môisen và lời tiên tri nơi sứ ngôn Êlia, lời Chúa Cha còn vang lên mời gọi chúng ta “vâng nghe lời Người” (Mc 9, 8).
Xin ơn biến đổi
Nhìn xem và lắng nghe, chiêm ngắm và vâng phục, là những con đường dẫn chúng ta lên Núi Thánh. Ở đó, Ba Ngôi Thiên Chúa được mạc khải trong vinh quang của Chúa Con.
Chúa biến hình, loan báo trước Mầu Nhiệm Vượt Qua, và mời gọi chúng ta mở rộng cặp mắt, con tim để nhìn thấy mầu nhiệm Ánh Sáng của Thiên Chúa hiện diện trong toàn thể lịch sử cứu rỗi. Mầu nhiệm Năm Sự Sáng, thứ Ba thì Ngắm, Đức Chúa Giêsu biến hình trên núi, ta hãy xin cho được biến đổi nhờ Chúa Thánh Thần. Như thế, nếu chúng ta muốn biến đổi thành công dân Nước Trời, phải bỏ mình vác thập giá hàng ngày mà theo Người. Có sẵng sàng vác thập giá Chúa gửi trao mới được theo Chúa là Đường là Sự Thật là Sự Sống để được hưởng vinh quang Phục sinh với Người.
Chúa biến hình vinh quang sáng láng, để chúng ta cũng biết biến đổi : biến đổi từ con người tối tăm tội lỗi nên con người tươi sáng hoàn hảo; biến đổi từ con người ích kỷ tham lam thành người sẵn sàng yêu thương hy sinh và phục vụ mọi người; biến đổi từ con người kiêu căng tự đắc thành người khiêm nhu tin tưởng và phó thác vào Chúa.
Lạy Chúa, xin thương giúp chúng con hiểu được ý nghĩa của thập giá Chúa và ban ơn cho chúng con biết sống mầu nhiệm thập giá Chúa trong cuộc đời, để được sống lại vinh quang với Ngài. Amen.
 
Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
 
 

MC2-B129:  Chúa Giê-su, quà tặng vô giá Thiên Chúa ban cho ta

CHÚA NHẬT II MÙA CHAY
Lắng nghe sứ điệp Lời Chúa  (Sáng Thế 22:1-2, 9a, 10-13, 15-18;  Rm 8:31b-34;  Mc 9:2-10)
 

Quà tặng là dấu chỉ tình yêu.  Giá trị quà tặng không phải vì đắt tiền và hiếm quý, nhưng là ở mối MC2-B129

Quà tặng là dấu chỉ tình yêu.  Giá trị quà tặng không phải vì đắt tiền và hiếm quý, nhưng là ở mối chân tình người tặng muốn biểu lộ với người nhận.  Với ý nghĩa căn bản này, ta hiểu được giá trị của việc Thiên Chúa truyền cho ông Áp-ra-ham giết con mình là I-xa-ác làm lễ toàn thiêu dâng cho Người, hiểu giá trị của sự kiện “đến chính Con Một, Thiên Chúa cũng chẳng tiếc, nhưng đã trao nộp vì hết thảy chúng ta”, và hiểu giá trị tuyệt đối của Chúa Giê-su Ki-tô mà Chúa Cha đã giới thiệu với chúng ta ở trên núi:  “Đây là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Người”.
                Câu chuyện ông Áp-ra-ham đem con lên núi Mô-ri-da để sát tế, chúng ta đã nghe nhiều lần và thán phục lòng quảng đại hy sinh của Áp-ra-ham.  Nhưng có lẽ chúng ta không mấy nghĩ đến tâm trạng của Áp-ra-ham như thế nào trước quyết định vâng lời Chúa.  Bao nhiêu là khúc mắc!  Tại sao Chúa ban cho đứa con thừa kế duy nhất, rồi Người lại bảo đem nó lên núi giết đi để làm hy lễ dâng Chúa?  Chúa hứa cho ômg một dòng dõi đông hơn sao trời cát biển qua đứa con này, rồi bây giờ phải giết nó thì lời hứa làm sao được thể hiện?  Thiên Chúa có thực sự nhân lành và quảng đại không?  Chắc chắn ông Áp-ra-ham hiểu được giá trị nào của hy lễ Chúa muốn ông dâng cho Người!  Với ông, I-xa-ác là tất cả ước nguyện của đời ông.  Của cải, nhà cửa và cả đến họ hàng thân thuộc, ông cũng có thể bỏ lại ở thành Ur để đi theo tiếng gọi của Chúa, chỉ là vì ước mơ có con cháu nối dòng.  Vậy mà giờ đây, phải chăng Chúa “đưa tay cắt ngang đường chỉ tấm thảm dệt đời ông” hay sao?  Càng yêu quý thì càng đau đớn khi phải mất đi.  Sở dĩ ông chấp nhận hy sinh con mình là bởi ông muốn biểu lộ với Thiên Chúa tấm lòng và đức tin của ông.  Cũng may, câu chuyện kết thúc tốt đẹp:  I-xa-ác được cứu sống và Chúa hiểu lòng Áp-ra-ham! 
                Trong bài đọc 2, thánh Phao-lô đã nghĩ đến tình yêu của Thiên Chúa còn lớn lao hơn tình yêu của Áp-ra-ham muôn ngàn.  Tình yêu Chúa Cha dành cho Con Một Người không thể đo lường được.  Vậy mà Người sẵn lòng hy sinh Con mình chỉ là để cứu độ chúng ta, những tạo vật bất xứng.  Chúng ta càng không xứng đáng thì tình yêu của Người càng cao vời.  Vì thế thánh Phao-lô vui mừng gọi tình yêu ấy là “ân sủng” cứu độ.  Quả thực, lời tựa Tin Mừng Gio-an khẳng định Chúa Giê-su là Ân Sủng, là sự “sung mãn”, để rồi “từ nguồn sung mãn của Người, tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác” (Gio-an 1:16).  Cho nên thánh Phao-lô kết luận:  “Một khi đã ban người Con đó, lẽ nào Thiên Chúa lại chẳng rộng ban tất cả cho chúng ta?”  Mà ban tất cả là gì nếu không phải là người Con mà Thiên Chúa trân quý nhất và sau cùng là hạnh phúc đời đời dành cho chúng ta?  Như I-xa-ác là hiến lễ quý nhất ông Áp-ra-ham dâng lên Thiên Chúa để biểu lộ đức tin của ông, thì Chúa Giê-su là cả kho tàng Chúa Cha ban cho chúng ta để nói lên mức độ tình yêu Thiên Chúa (Gio-an 3:16).
                Thánh Phao-lô đã suy niệm biến cố Chúa Giê-su biến đổi hình dạng trên núi, cùng tiếng Chúa Cha phán với ba môn đệ:  “Đây là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Người”.  Nếu chúng ta thực sự biết Chúa Giê-su là Đấng nào và Người là quà tặng vô giá Chúa Cha ban cho chúng ta, thì chúng ta sẽ hiểu được lời kêu gọi “hãy vâng nghe lời Người” quan trọng đến mức nào!
Sống sứ điệp Lời Chúa
                Một quà tặng vô giá mà chúng ta lại không quý trọng, thì quả thực chúng ta không thể bào chữa cho mình được, nếu ngày phán xét Chúa Cha hỏi chúng ta đã sử dụng món quà ấy như thế nào.  Vậy chúng ta hưởng quà tặng Giê-su mà Chúa Cha ban cho chúng ta làm sao đây?  Nơi Chúa Giê-su có tất cả những gì chúng ta cần.  Người là hình ảnh để chúng ta hiểu được Thiên Chúa là Đấng nào.  Người là mức đo lường tình yêu Thiên Chúa yêu thương chúng ta.  Người là “điều răn sống” Chúa Cha ban cho chúng ta.  Người là lối sống cho chúng ta, để chúng ta suy nghĩ, hành xử, yêu thương theo mẫu gương của Người.  Cho nên “vâng nghe lời Người” là cách chúng ta lãnh nhận Ân Sủng của các ân sủng và để Chúa Thánh Thần uốn nắn chúng ta theo khuôn mẫu Chúa Ki-tô.  Trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Ki-tô là suy nghĩ theo lối suy nghĩ của Chúa, là phản ứng theo cách Chúa phản ứng, là hy sinh phục vụ như Chúa phục vụ.  Mùa Chay là để chúng ta nhờ Chúa Giê-su mà được biến đổi vậy!
     Lm. Đa-minh Trần đình Nhi
 

MC2-B130: CHÚA GIÊSU BIẾN HÌNH

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
CHÚA NHẬT II MÙA CHAY, năm B
St 22,1-2.9a-13.15-18    Rm 8,31b-34    Mc 9, 2-10
 

 Francois Margeat, Đan sĩ viết :” Lễ Hiển Dung là thời khắc chủ yếu của việc Chúa Giêsu đi lên MC2-B130

 Francois Margeat, Đan sĩ viết :” Lễ Hiển Dung là thời khắc chủ yếu của việc Chúa Giêsu đi lên Giêrusalem.Với các mơn đệ, lúc đĩ đang hoảng sợ về viễn tượng cuộc Khổ nan, Chúa Giêsu đã cho họ thống thấy vinh quang mà
Người chia sẻ với Cha của Người “.Đọc Tin Mừng của Chúa Giêsu, điều chúng ta rất lấy làm thú vị là Ngài luôn thích những đồi, núi, những nơi vắng vẻ để tâm sự thân tình với Thiên Chúa Cha. Chúng ta có thể thấy được ngọn núi, Đức Giêsu ngồi dạy các môn đệ và dân chúng tám mối phúc thật, núi Taborê nơi Ngài biến hình trước mặt ba môn đệ thân tín là Phêrô, Giacôbê và Gioan, núi Sọ và núi Oâliu, nơi Ngài được cất nhắc lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha.Thực tế cho chúng ta thấy núi Taborê, nơi Chúa Giêsu biến hình để tỏ vinh quang của Ngài và để củng cố đức tin của các môn đệ. Tuy nhiên, vinh quang này chỉ lóe lên rồi vụt tắt, báo trước vinh quang vĩnh cửu các môn đệ và nhân loại sẽ có khi Ngài về trời.
 Đoạn Tin Mừng Mc 9, 2-10 cho chúng ta một cảnh rất thần tiên nhưng đầy mầu nhiệm. Đây chính là mầu nhiệm của đức tin. Bởi vì, biến hình không phải tự ý Chúa Giêsu mà là một việc làm đầy ý nghĩa của Chúa Cha. Sau khi gặp Thiên Chúa Cha, Chúa Giêsu được Cha biến hình.Việc biến hình này thay đổi tất cả con người, khuôn mặt của Chúa Giêsu và ngay cả đến y phục của Người. Vinh quang của Chúa Giêsu được Thiên Chúa Cha vén mở cho các môn đệ. Chúa biến hình sáng láng đến nỗi các môn bị lóa mắt không thể nhìn ra Người, họ phải phủ phục và che mặt lại như Môsê trên núi khi xưa, ông phải bỏ giầy và cúi mặt xuống. Bởi vì, ánh sáng lung linh chói lọi của sự biến hình vinh quang của Chúa Giêsu làm cho các môn đệ bị ngất ngây và không thể nào nhìn ra sự khác lạ đó, nhìn vào mặt Người họ sẽ phải chết. Cuộc biến hình của Chúa Giêsu trên núi Taborê tiên báo cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu.Ba môn đệ Phêrô, Giacôbê và Gioan đã ngất ngây và muốn ngủ yên trong hào quang của Chúa :” Lạy Thầy, chúng con được ở đây thì tốt lắm,chúng con xin dựng ba lều, một Thầy, một cho Môsê và một Eùlia” ( Mc 9, 5 ). Các môn đệ đâu có ngờ, vinh quang này chỉ để củng cố đức của các ông mà thôi, chứ Chúa lại trở về sứ vụ của Ngài là xuống núi để chuẩn bị vác thập giá lên đồi Canvê.
 Chúa biến hình chỉ trong chốc lát vì niềm hy vọng phục sinh. Chúa đâu có ở trong sự biến hình mãi mãi. Các môn đệ vẫn còn cả một cuộc hành trình xa vời. Cuộc hành trình đức tin không phải chỉ có ở chỗ vinh quang tạm thời, mà cuộc hành trình còn kéo dài mãi mãi.Bởi vì theo Chúa Giêsu không phải để lên cao hưởng thụ, không phải để sống phè phỡn, tạm thời. Nhưng theo Thầy, các môn đệ còn phải có trách nhiệm và nghĩa vụ với đám đông dân chúng đang khao khát Lời Chúa. Họ còn phải đi truyền giáo, còn phải giới thiệu nước trời và giới thiệu Thiên Chúa. Các môn đệ luôn phải ý thức rằng cuộc hành trình của họ còn dài và hạnh phúc vinh quang sẽ phải trải qua nhiều thử thách đến nỗi phải hy sinh cả mạng sống.
 Chúa vinh quang vì Người đã chấp nhận ý Thiên Chúa Cha, gánh tội cho trần gian và chết cho thế gian. Vinh quang của Chúa Giêsu trên đồi Taborê cũng là Đức Giêsu Kitô đang đi khắp mọi nơi để rao giảng Tin Mừng cứu độ, chữa bệnh hoạn tật nguyền và trừ quỷ. Vinh quang của Chúa Giêsu trên núi Taborê cũng là Đức Giêsu Kitô đẫm mồ hôi máu trong vườn Cây Dầu và bị treo trên thập giá trên đồi Canvê. Do đó, làm môn đệ Chúa cũng chính là đi con đường tình yêu, con đường khổ giá mà Chúa Giêsu đã trải qua. Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã viết:”Sống tình yêu không phải là căng lều trên đỉnh Taborê, mà cùng với Chúa Giêsu chúng ta trèo lên đồi Canvê “.
Francois Margeat tiếp tục giải thích :” Đơi khi Thiên Chúa cho chúng ta niềm vui nhảy cảm của sự hiện diện của Chúa. Nhưng, nhiều khi chúng ta phải lần bước trong niềm tin.Lúc đĩ, là lúc chúng ta phải suy niệm Lời của Chúa Cha:” Đây là Con Ta yêu dấu “ .Chúng ta cũng vậy, nhờ ân sủng của phép Rửa, chúng ta là con trai hay con gái yêu dấu của Cha. Chính khi chúng ta mỗi ngày suy niệm Lời Chúa và đem ra thực hành, là chúng ta đã cĩ thể sống đời sống của Đấng đã sống lại của Lễ Phục Sinh “.
 Lạy Chúa Gie6su, xin ban thêm đức tin cho chúng con để chúng con mau mắn tin vào Chúa và nhiệt thành loan báo sự chết, và Phục Sinh của Chúa. Amen.
 GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ  :
 1.Núi Chúa Giêsu biến hình gọi là núi gì ?
2.Các mơn đệ nào đi theo Chúa Giêsu trên núi Taborê ?
3.Ai đã hiện ra để đàm đạo cùng với Chúa Giêsu ?
4.Ai đã xin Chúa Giêsu làm ba lều trên núi Taborê ?
 
 

MC2-B131: Biến cố Hiển dung nhắc nhớ ta là con Chúa

CHÚA NHẬT II MÙA CHAY
 Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Mác-cô 9:2-10)
 

Trong cuộc đời dương thế, Chúa Giê-su ít nhất đã hai lần được Thiên Chúa long trọng tuyên dương MC2-B131

Trong cuộc đời dương thế, Chúa Giê-su ít nhất đã hai lần được Thiên Chúa long trọng tuyên dương là “Con Yêu Dấu”, lần đầu khi Người chịu phép rửa của ông Gio-an ở sông Gio-đan và lần thứ hai khi Người biến đổi hình dạng trên núi.  Thời điểm của việc tuyên dương rất quan trọng và cần thiết đối với những giai đoạn khó khăn nhất trong sứ mệnh của Chúa Giê-su.  Tuy nhiên, lời tuyên dương của Chúa Cha không những có ý nghĩa đối với Chúa Giê-su, mà còn nhắc nhở chúng ta về danh phận của mình dưới con mắt của Cha trên trời nữa.
                Trước khi suy nghĩ về biến cố trong bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta cũng nên nhìn lại một biến cố khác có liên quan đến danh hiệu Con Yêu Dấu của Chúa Giê-su.  Chấm dứt cuộc đời ẩn dật tại Na-da-rét, Chúa Giê-su đến sông Gio-đan để lãnh phép rửa của ông Gio-an.  Các sách Tin Mừng Nhất lãm đều thuật lại biến cố này với một chi tiết quan trọng:  “Có tiếng từ trời phán rằng: ‘Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con”.  Đó là tiếng Chúa Cha giới thiệu Con Một Người với nhân loại.  Trong kế hoạch cứu độ yêu thương, Chúa Cha đã sai Ngôi Lời xuống thế để làm người, làm một người con gương mẫu giữa nhân loại, khác hẳn với A-đam là người con đã bị tội lỗi hủy hoại, đánh mất đi hình ảnh Thiên Chúa và danh phận con Thiên Chúa.  Nhưng bên cạnh mục đích ấy, Chúa Cha cũng muốn đặt tất cả hy vọng vào sứ mệnh Người trao cho Chúa Giê-su.  Phán lời tuyên dương “Con là Con yêu dấu của Cha”, Chúa Cha tin rằng Con Một Người sẽ không làm Người thất vọng đâu.  Chắc chắn Chúa Giê-su sẽ hoàn tất sứ mệnh cách tốt đẹp theo tôn ý Chúa Cha, và như vậy đích thực là Con Yêu Dấu của Người.
                Nếu lời tuyên dương của Chúa Cha trong dịp Chúa Giê-su chịu phép rửa Gio-an đã là động lực giúp Người hăng say khởi đầu sứ vụ và thi hành tốt đẹp, thì biến cố Hiển dung cũng là một thời điểm quan trọng khác.  Đây là khởi đầu hành trình của Chúa Giê-su lên Giê-ru-sa-lem.  Trên đường đi, Chúa Giê-su đã tiên báo cuộc Thương khó Người phải chịu.  Ông Phê-rô phản ứng mạnh mẽ và Chúa Giê-su còn quở trách ông mãnh liệt hơn!  “Sáu ngày sau”, Chúa Giê-su đưa các ông Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an lên một ngọn núi cao và Người biến đổi hình dạng trước mắt các ông.  Quang cảnh tuyệt vời!  Các ông được thoáng thấy vinh quang Thiên Chúa hiện trên hình dạng và y phục của Chúa Giê-su.  Nhưng điều quan trọng hơn cả vinh quang ấy, đó là sự hiện diện và cuộc đàm đạo giữa Chúa Giê-su với ông Mô-sê, đại diện cho Lề Luật, và ông Ê-li-a, đại diện cho các Ngôn sứ.  Các ngài nói về sứ mệnh của Chúa Giê-su, hoặc đúng hơn, về cuộc Thương khó Người sắp chịu tại Giê-ru-sa-lem.  Cuộc đàm đạo củng cố thêm xác tín của Chúa Giê-su quyết tâm thi hành thánh ý Chúa Cha và chấp nhận cuộc Thương khó.  Đàng khác, qua cuộc đàm đạo ấy, các môn đệ Chúa Giê-su cũng sẽ hiểu rõ hơn sứ mệnh của Thầy mình và sẵn sàng dấn thân làm môn đệ Người.  Khác với lần tuyên dương thứ nhất tại bờ sông Gio-đan, tiếng Chúa Cha hôm nay nói với các môn đệ Chúa Ki-tô:  “Đây là con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Người”.  Như vậy, mục đích lời tuyên dương này là để kêu gọi chúng ta hãy “vâng nghe”, hãy làm môn đệ chân chính của Chúa Giê-su theo lời Người giáo huấn:  “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mác-cô 8:34).
Sống sứ điệp Tin Mừng
                Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta đã thấy rõ hiệu quả của những lời khích lệ như “Con ngoan quá!  Con giỏi!...” nói với con cái chúng ta.  Chúng nó không muốn làm mất mặt cha mẹ về những lời động viên ấy và đã cố gắng chứng tỏ mình ngoan mình giỏi.  Bạn có nghĩ khi suy niệm biến cố Chúa Giê-su hiển dung hôm nay, Chúa Cha cũng nói với mỗi người chúng ta cùng một lời Người đã âu yếm nói với Con Một Người không?  Người muốn chúng ta nhìn vào lối sống của Chúa Giê-su như gương mẫu.  Người muốn chúng ta cùng với Con Một Người sống thực sự như những người con yêu dấu.  Đặc biệt trong mùa Chay là thời điểm để biến đổi, Người mong chúng ta biến đổi thành “con yêu dấu” của Người, rũ bỏ đi những bóng tối tội lỗi và tính hư nết xấu để trở nên “đồng hình đồng dạng với Chúa Ki-tô”!   
Lm. Đa-minh Trần đình Nhi
 

MC2-B132: Tính phản diện trong phận người

Suy niệm Lời Chúa. Chúa Nhật 2 mùa Chay năm B
Lm. GB. Trần Văn Hào SDB
 

Biến cố Chúa hiển dung trên núi Thabor được cả 3 thánh ký Tin mừng nhất lãm trình thuật lại. MC2-B132

Biến cố Chúa hiển dung trên núi Thabor được cả 3 thánh ký Tin mừng nhất lãm trình thuật lại. Sau khi Đức Giêsu loan báo về cái chết và sự thống khổ mà Ngài sẽ phải trải qua, một bầu khí u ám bao trùm trên các học trò của Ngài. Vì vậy 6 ngày sau, Đức Giêsu dẫn 3 môn sinh thân tín lên núi cao và biến hình trước mặt các ông, để các ông được tận mắt mục kích vinh quang sáng chói nơi Ngài. Sứ điệp mà Đức Giêsu muốn ngỏ trao cho các môn đệ, là hãy can đảm đối diện mầu nhiệm Thập giá, vì con đường Thập giá sẽ dẫn đến vinh quang (Per Crucem ad Lucem). Tương tự như thế, thánh Phaolô cũng đã khẳng định : “Những ai cùng chết với Người, sẽ được cùng Người sống lại trong vinh quang” (2Tm 2, 11).
Vinh quang bị che dấu
Cha Phanxicô Amberat đã so sánh: “ Giống như một đám mây bị xé ra cho thấy ánh mặt trời rực rỡ, việc Chúa biến hình cũng xé toang đám mây trong kiếp người hèn hạ của Đức Giêsu để 3 môn đệ được chiêm ngắm vinh quang bị che dấu nơi Ngài.”
Có nhiều ảo thuật gia tài ba như Coperfield đã khéo léo sử dụng kỹ xảo để đánh lừa thị giác con người. Ông biểu diễn những màn ảo thuật như chặt đôi thân xác, đi xuyên qua tường hoặc làm biến mất ngọn tháp Eiffel rất ngoạn mục. Thế nhưng, đó chỉ là xảo thuật nhờ vào những kỹ thuật hiện đại. Trong các câu chuyện cổ tích, người ta vẫn hay tạo ra những nhân vật có phép thần thông biến hóa như Tôn Ngộ Không chẳng hạn. Song, cuộc biến hình của Đức Giêsu không phải là một màn ảo thuật. Đây cũng không phải là một câu chuyện hoang đường mang tính giả tưởng. Đức Giêsu là một ‘Thiên Chúa - Người’, một Thiên Chúa đầy quyền năng nhưng lại ẩn dấu thiên tính cao sang trong dáng dấp của một người phàm thấp kém. Ngài là Thiên Chúa hằng sống, Đấng không bao giờ phải chết, nhưng lại mang thân phận con người vốn hay chết. Đó là một nghịch lý vĩ đại, không phải nhằm đánh đố đầu óc suy lý của con người, nhưng đây chính là lời mời gọi đức tin để chúng ta mạnh dạn tiếp bước dấu chân của Đức Giêsu trên con đường tiến về núi sọ. Mùa chay là thời gian tôi luyện, giúp chúng ta tiến sâu vào cuộc hành trình này.
Tính phản diện trong phận người
Biến cố biến hình mà phụng vụ hôm nay gợi nhắc, nêu bật tính phản diện ấy. Trên núi cao, ba môn đệ sung sướng mở to đôi mắt để ngắm nhìn vinh quang chói sáng nơi Đức Giêsu. Nhưng khi đối diện trước viễn ảnh Thập giá nơi vườn cây dầu, cả ba vị lại yếu đuối khép chặt đôi mắt trong giấc ngủ sâu, đến độ không thể cùng thức với Thầy mình dù chỉ một tiếng đồng hồ. Một Phêrô đã cao hứng xin dựng 3 lều, lại là một anh học trò nhát đảm đã 3 lần bai bải chối Chúa. Trong biến cố đầu tiên, cả 3 môn đệ vui mừng phấn khởi, nhưng trong biến cố sau, cả 3 đệ tử nghĩa thiết đều đã nhát đảm thoái lui. Tính phản diện này cũng được thánh Phaolô lột tả khi Ngài viết : “Có những điều tôi muốn làm nhưng tôi lại không làm, ngược lại có những điều tôi ghét, nhưng tôi lại cứ làm” (Rm 7,15).
Trong cuộc hành trình nội tâm mà Giáo hội gợi nhắc chúng ta suốt mùa chay, chúng ta phải nhận ra tính phản diện ấy nơi mỗi người để can đảm đi vào cuộc chiến đấu thiêng liêng. Con người ai cũng có những yếu đuối và sa ngã, nhưng không sao, Chúa Giêsu luôn ở với ta và Ngài sẽ nói với chúng ta như đã từng ngỏ lời với Phaolô: “Ơn Thầy thì luôn đủ cho anh” (2 Cor 12, 9).
Biến đổi nội tâm
Một câu chuyện ngụ ngôn Ấn Độ kể lại rằng, có một gia đình khỉ sống trong một khu rừng rậm. Trời buốt gía, lũ khỉ run rẩy vì lạnh. Chúng gom một ít củi khô để đốt hầu sưởi cho bớt rét. Một con đom đóm bay sà tới. Con khỉ đầu đàn tóm lấy và đặt vào giữa đám củi khô, vì nó tưởng là ánh lửa. Cả gia đình khỉ đều túm lại và phùng mang trợn má thổi thật mạnh. Nhưng, con đom đóm mãi vẫn chỉ là con đom đóm, chứ không phải là ngọn lửa. Một con chim bay ngang qua nói với lũ khỉ: “Này các bác ơi, đó chỉ là con đom đóm chứ có phải là ngọn lửa đâu”. Bầy khỉ không nghe, bắt lấy con chim và đập chết. Sáng hôm sau, người ta thấy cả gia đình nhà khỉ nằm chết cóng bên đống củi khô cùng với xác của một con đom đóm.
Trong cuộc sống đời thường của chúng ta, có rất nhiều con đom đóm xuất hiện mà chúng ta cứ ngỡ tưởng là ngọn lửa thật. Đó là những con đom đóm của tiền bạc, của danh vọng, của những lạc thú trần gian. Nếu cứ bám mãi vào những con đom đóm ấy, chúng ta sẽ chết một cách nghiệt ngã giống như đám khỉ trong câu chuyện nêu trên. Muốn thoát ra khỏi ánh sáng lập lòe của những con đom đóm giả hiệu này, chúng ta phải lột xác, phải biến hình với Chúa Giêsu, tức là phải đi vào cuộc biến đổi nội tâm một cách triệt để.
Kết luận
Một nhà tu đức nọ đã viết trong nhật ký của mình những tâm tình sau đây. ‘Lúc còn nhỏ với bao tham vọng, tôi vẫn cầu xin Chúa giúp tôi biến đổi cả thế giới này. Lớn lên khi thấy chưa làm được gì, tôi chỉ cầu xin Chúa giúp tôi biến đổi những con người mà tôi vẫn gặp thường ngày. Bây giờ khi cuộc đời đã xế chiều, tôi thấy mình rất mong manh chẳng làm chi nên chuyện, tôi chỉ cầu xin Chúa giúp biến đổi chính con người của tôi mỗi ngày’.
Michael Angelo, một điêu khắc gia tài ba, đã thổ lộ: “Đứng trước một phiến đá thô, để có được một bức tượng hoàn hảo, chúng ta cần phải biết đục đẽo và loại bỏ đi những gì thừa thãi, chứ không cần đắp thêm vôi vữa”. Cũng vậy muốn biến con người chúng ta trở nên một bức tượng sống, họa lại hình ảnh Chúa Giêsu, chúng ta cũng cần phải biết đục bỏ những gì dư thừa trong cuộc sống. Đó là phương cách để chúng ta đi vào sự biến đổi cách sâu xa.
Chúa biến hình trên núi cao, cũng mời gọi chúng ta ở dưới đất thấp, hãy can đảm lột xác, biến đổi nội tâm cách triệt để. Sự biến đổi ấy là điều kiện cần thiết để chúng ta tiếp nối dấu chân của Đức Giêsu, và cùng bước đi với Ngài trên con đường Thập giá.

                
 

MC2-B133: Chúa Giê-su trung thành với sứ mệnh

CHÚA NHẬT II MÙA CHAY         
 Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Mác-cô 9:2-10)
 

Thánh Mác-cô kể lại ba lần Chúa Giê-su tiên báo cuộc Thương Khó và Phục Sinh của Người.  MC2-B133

Thánh Mác-cô kể lại ba lần Chúa Giê-su tiên báo cuộc Thương Khó và Phục Sinh của Người.  Lần tiên báo thứ nhất đã khiến cho ông Phê-rô “kéo riêng Người ra và bắt đầu trách Người”.  Đáp lại, Chúa Giê-su đã mắng ông Phê-rô và gọi ông là “Xa-tan”, ám chỉ ông cám dỗ Người không theo tư tưởng của Thiên Chúa!  Tiếp theo Người dạy các Tông đồ về những điều kiện để đi theo Người, như từ bỏ mình, vác thập giá hằng ngày.  Có lẽ việc Chúa tiên báo cái chết và đưa ra những điều kiện theo Người đã làm cho các ông nản lòng, hay ít nhất muốn đặt lại vấn đề có nên tiếp tục làm môn đệ Người nữa không.  Chúa Giê-su đã có cách của Người để giải quyết khó khăn này, đó là tỏ ra cho mấy Tông đồ một chút vinh quang Thiên Chúa, giúp họ nhận ra đâu là sứ mệnh đích thực của Người.
                Việc Chúa Giê-su biến đổi hình dạng trên núi đã xảy ra cách sáu ngày sau khi Chúa tiên báo cuộc Thương Khó.  Thời gian ngắn ấy chứng tỏ sự cấp bách cần phải thay đổi cách nhìn và hy vọng của các môn đệ.  Sau khi nghe Chúa nói, họ đã “vỡ mộng” và thấy không thể chấp nhận cái chết khổ nhục đã được Người tiên báo.  Giống như bị dội gáo nước lạnh, họ không thể tin Thầy mình lại thụ động trước một cái chết lãng xẹt như vậy.  Là một vị giảng thuyết có sức lôi cuốn dân chúng, một đấng thực hiện rất nhiều phép lạ, có quyền năng truyền cho sóng gió im lặng, Người không thể để mình lọt vào tay kẻ thù được!  Đó là lối suy nghĩ của Phê-rô và các anh em Tông đồ, lối suy nghĩ của loài người chứ không phải của Thiên Chúa.  Các ông muốn Chúa Giê-su phải là một nhà giải phóng dân tộc hay một chính trị gia.  Làm sao Chúa thay đổi ý nghĩ của họ đây?  Câu trả lời chính là Kinh Thánh.  Kinh Thánh đã nói về sứ mệnh của Đấng Ki-tô, danh hiệu chính ông Phê-rô đã tuyên xưng về Chúa (Mác-cô 8:29).  Mà đại diện cho Kinh Thánh là ông Mô-sê và ngôn sứ Ê-li-a.  Cho nên sự xuất hiện của hai vị và cuộc đàm đạo của họ với Chúa Giê-su là nhắm mục đích dùng Kinh Thánh làm sáng tỏ sứ mệnh của Đấng Ki-tô.  Việc này vừa là dịp để chính Chúa Giê-su xác tín sứ mệnh của mình, vừa giúp cho Phê-rô và các bạn “điều chỉnh” lại cái nhìn về Thầy mình.
                Xác tín lý tưởng đời mình là điều cần thiết.  Thường những ngoại cảnh và ảnh hưởng của người khác có thể làm lay chuyển lý tưởng của chúng ta. Vì thế cần có những cơ hội để xét lại thay đổi nếu cần, nhưng nhất là để mình trung thành hơn với lý tưởng. Chúa Giê-su đã làm công việc củng cố lý tưởng qua biến cố Hiển Dung.  Việc củng cố này không những giúp ích cho bản thân Chúa Giê-su, mà còn có thể thay đổi cái nhìn của các môn đệ nữa.  Thiên Chúa Cha rất bằng lòng về lòng trung thành với lý tưởng của Con Một Người, cho nên Người không ngần ngại phán với các môn đệ của Chúa Giê-su:  “Đây là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Người”.
Sống sứ điệp Tin Mừng
                Trên đường xuống núi, Chúa Giê-su đã căn dặn các môn đệ “không được kể lại cho ai nghe những điều vừa thấy, trước khi Con Người từ cõi chết sống lại”.  Đó là những điều chúng ta thường gặp Chúa Giê-su căn dặn trong sách Tin Mừng Mác-cô.  Chúa Giê-su ngăn cấm bất cứ ai nói về Người khi họ chưa thực sự hiểu rõ chân tính của Người hoặc chưa biết chắc chắn Người là Đấng nào.  Điều kỳ lạ này các học giả Kinh Thánh gọi là “bí mật về Đấng Mê-si-a”, và bí mật về chân tính chỉ được biểu lộ rõ ràng qua lời tuyên xưng của viên sĩ quan Rô-ma khi ông nhìn lên Chúa Giê-su trên thập giá:  “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa” (Mác-cô 15:39).
                Biến cố Hiển Dung của Chúa Giê-su hôm nay dạy chúng ta phải xác tín vào lý tưởng đời mình.  Ở trong bậc sống nào thì lý tưởng cuộc đời chúng ta cũng phải đặt trên nền móng là Lời Chúa và thánh ý Người.  Chúa Giê-su đã dựa vào Kinh Thánh Cựu Ước và thánh ý Chúa Cha để củng cố sứ mệnh của mình, can đảm lên Giê-ru-sa-lem hoàn tất kế hoạch của Chúa Cha.  Cũng thế, liệu chúng ta có biết lấy “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi” (Thánh Vịnh 119:105) để Lời Chúa giúp chúng ta biết trung thành với sứ mệnh không?
Lm. Đa-minh Trần đình Nhi
 

MC2-B134: Chúa Nhật II mùa Chay, B

2009
 

 Biến cố Hiển dung, tức là Chúa Giê-su biến hình dạng trên núi cao, được đặt vào Phụng vụ Lời MC2-B134

Biến cố Hiển dung, tức là Chúa Giê-su biến hình dạng trên núi cao, được đặt vào Phụng vụ Lời Chúa Chúa Nhật II mùa Chay mang ý nghĩa vô cùng súc tích.  Về phía Chúa Giê-su, biến cố xác định rõ ràng sứ mệnh của Người là phải kết thúc bằng cuộc Thương khó và Sống lại hiển vinh.  Về phía các môn đệ, nó giúp các ông vững lòng tin vào Chúa Ki-tô và quyết tâm bước theo Người.  Tuy nhiên quan trọng hơn vẫn là biến cố giúp ta suy niệm về sứ mệnh cứu độ của Chúa Ki-tô, để ta biết sám hối và mở lòng  đón nhận ơn cứu độ của Thiên Chúa.
1.  Lễ toàn thiêu trên núi Mô-ri-gia là hình bóng báo trước lễ toàn thiêu trên đồi Can-vê  (bài đọc Cựu Ước – St 22:1-2.9a.10-13.15-18)
                Câu truyện ông Áp-ra-ham đem đứa con trai duy nhất là I-xa-ác lên núi để giết và hiến tế Thiên Chúa không chỉ là câu truyện thử thách lòng tin của ông vào Thiên Chúa, nhưng ý nghĩa câu truyện còn nằm ngay trong hình ảnh cậu I-xa-ác là của lễ toàn thiêu dâng lên Thiên Chúa.
                Điều làm ta ngạc nhiên trước hết là thái độ im lặng của ông Áp-ra-ham và cậu I-xa-ác.  Ta thắc mắc không biết trên đường đi từ nhà tới núi Mô-ri-gia, hai cha con nói năng với nhau những gì, liệu cậu con trai có biết ý định của cha mình không và phản ứng của hai cha con thế nào trước mệnh lệnh của Thiên Chúa.  Sau lời thưa “Dạ, con đây!”, ông Áp-ra-ham lập tức đi thi hành ý Chúa.  Ông không vặn hỏi tại sao Thiên Chúa làm một chuyện hết sức phi lý:  Người hứa ban cho ông một dòng dõi đông như sao trời cát biển, vậy mà giờ đây lại ra lệnh cho ông phải đem đứa con trai duy nhất lên núi để sát tế kính tiến Người.  Thi hành lệnh Chúa, ông Áp-ra-ham đã biểu lộ hành vi đức tin, là hành vi do trái tim và đi ngược lại hành vi do  lý trí.
                Nếu sự im lặng của ông Áp-ra-ham là dấu hiệu của một đức tin vĩ đại, thì sự im lặng của cậu I-xa-ác lại nói lên lòng vâng phục thẳm sâu trước quyết định của cha mình và thánh ý Thiên Chúa.  Hình ảnh I-xa-ác im lặng khiến ta nghĩ đến hình ảnh người Tôi Trung của Thiên Chúa, “bị đổ trên đầu tội lỗi của tất cả chúng ta, bị ngược đãi, người cam chịu nhục, chẳng mở miệng kêu ca;  như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, người chẳng hề mở miệng” (Is 53:6-7).  Suốt cuộc Thương khó, ta không hề nghe một lời than vãn trách móc từ nơi miệng Chúa Giê-su, mà chỉ thoáng hiện một thắc mắc càng làm tăng thêm niềm tin tuyệt đối của một con người vào nơi Thiên Chúa:  “Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mc 15:34).
                Tuy nhiên Thiên Chúa đã cứu mạng sống của I-xa-ác thế nào, thì cũng vậy, Người đã cứu Con Một Người là Chúa Ki-tô khỏi hư nát bởi cái chết và cho Chúa Ki-tô sống lại vinh hiển.  Lòng tin của Áp-ra-ham và sự vâng phục của I-xa-ác đã bảo đảm cho lời hứa của Thiên Chúa được thực hiện.  Kết quả là Thiên Chúa đã thi ân giáng phúc cho ông và cho I-xa-ác tiếp nối ông mà làm tổ phụ của một dòng dõi đông đúc như sao trời cát biển (St 22:17).  Chúa Ki-tô đã vâng phục Chúa Cha, chấp nhận làm lễ toàn thiêu trên đồi Can-vê, để rồi từ cái chết và sống lại của Người, một Dân mới của Thiên Chúa nảy sinh, là Giáo Hội Chúa Ki-tô trường tồn cho tới ngày Người quang lâm. 
2.  Lòng tin của Chúa Giê-su được biểu lộ trong cuộc Hiển dung (bài Tin Mừng – Mc 9:2-10)
                Dĩ nhiên mục đích của biến cố Hiển dung là nâng đỡ niềm tin của các môn đệ Chúa, vì sau khi được tiên báo về cuộc Thương khó Chúa sắp phải trải qua, các môn đệ đã xuống tinh thần trầm trọng, thậm chí các ông còn ngần ngại đồng hành với Chúa lên Giê-ru-sa-lem.  Nhưng củng cố niềm tin của các môn đệ cách nào, đó mới là ý nghĩa cốt lõi của biến cố.  Không phải là ánh sáng và vẻ rực rỡ trắng ngần nói lên vinh quang của Chúa làm cho các ông tin tưởng Người, nhưng chính là “sự thật giải phóng” về cuộc Thương khó của Người.  Nếu các ông nhận ra ý nghĩa đích thực và cao cả của những điều Chúa Giê-su sẽ phải trải qua trong những ngày cuối cùng trên dương thế, thì các ông sẽ không còn sợ hãi hoặc chán nản nữa, trái lại các ông sẽ thấy được con đường thập giá không phải là tận cùng, mà là dẫn tới phục sinh vinh hiển.  Qua cuộc đàm đạo với ông Mô-sê và ngôn sứ Ê-li-a, chính Chúa Giê-su đã cho các môn đệ nhận biết lòng tin cao cả của Người nơi Thiên Chúa và lòng can đảm quảng đại của Người khi chấp nhận chết cho nhân loại.  Các sách Luật và Ngôn sứ đã viết về sứ mệnh cứu độ của Chúa Giê-su.  Trước mặt các môn đệ, Chúa Giê-su đàm đạo với các ông Mô-sê và Ê-li-a về sứ mệnh đó, nhất là về tột đỉnh của sứ mệnh là cuộc Thương khó và Phục sinh sẽ xảy ra trong những ngày sắp tới.  Hình ảnh ấy muốn nói lên rằng Người đang suy gẫm về cuộc Thương khó và quyết tâm chấp nhận thánh ý Thiên Chúa.  Chúa Giê-su đã nhìn lại tất cả những điều Kinh Thánh và Lề Luật tiên báo về Người và những điều Người sẽ thi hành để cứu độ trần gian để xác tín thánh ý Chúa Cha.  Kết quả cuộc suy gẫm và chấp nhận của Chúa Giê-su là lời tuyên dương của Chúa Cha về lòng vâng phục và quảng đại của Chúa Giê-su:  “Đây là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Người” (Mc 9:7).  Chúa Giê-su không tránh né “sự thật giải phóng” của cuộc Thương khó, nhưng Người muốn nói cho môn đệ biết sự thật ấy, để các ông “vâng nghe lời Người”, nghĩa là theo gương Người vác thập giá, vững bước trên con đường cứu độ của Thiên Chúa.
                Ngay sau lời tuyên dương và kêu gọi của Chúa Cha, thánh sử Mác-cô ghi lại một chi tiết có lẽ ta ít để ý, nhưng lại rất ý nghĩa đối với ta.  Đó là:  “Các môn đệ chợt nhìn quanh, thì không thấy ai nữa, chỉ còn Đức Giê-su với các ông mà thôi” (Mc 9:8).  Nhiệm vụ của ông Mô-sê và ngôn sứ Ê-li-a là giúp ta nhận biết và xác tín sứ mệnh cứu độ của Chúa Giê-su.  Các ông không thể làm gì hơn cho ta và các ông lui vào hậu trường để cho ta tiếp tục ở lại với Chúa Giê-su, tin vào Người và tình yêu cứu độ của Người qua cuộc Thương khó.  Chúa Giê-su đã xác tín sứ mệnh ấy thì ta cũng phải tuyệt đối tin vào tình yêu của Người để được cứu độ.  Lòng tin của ta không nằm trong sách vở hay đầu óc, nhưng là tất cả con tim của ta để “vâng nghe lời Người”.  Đúng vậy, cuộc đời ta có nhiều khi nhìn quanh chẳng còn thấy ai nữa, chỉ còn Chúa Giê-su với ta mà thôi!  Nhưng ta cứ an tâm, vì ta không vác thập giá một mình, bởi có Chúa đồng hành con đường khổ nạn với ta.  Gương vâng phục và chấp nhận của Chúa Giê-su giúp ta vững lòng đối phó với mọi nghịch cảnh và trung thành làm môn đệ Người.
3.  “Có Thiên Chúa bênh đỡ chúng ta, ai còn chống lại được chúng ta?” (bài đọc Tân Ước – Rm 8:31b-34)
                Suy niệm về ý định cứu độ của Thiên Chúa, thánh Phao-lô với giọng phấn khởi đã thách thức mọi người hoặc mọi nghịch cảnh chống lại ta, những kẻ đã được Thiên Chúa kêu gọi đáp lại tình yêu cứu độ của Người.  Niềm lạc quan của Ki-tô hữu nằm ngay trong những dòng thư này của thánh Tông đồ:  có Thiên Chúa bênh đỡ ta, thử hỏi ai còn chống lại ta được?
                Quả thế, rõ ràng Thiên Chúa luôn ở bên ta, chăm sóc ta và muốn ta được ở với Người vĩnh viễn.  Một em nhỏ cứ vui đùa tự nhiên trên sàn tàu, trong khi các người khác trong con tàu đang lo sợ và chèo chống với sóng gió.  Người ta hỏi em tại sao không sợ hãi, em trả lời ngay:  Ba tôi là người lái con tàu thì sao tôi lại phải sợ hãi!  Đấy, tôi đang ở trong con tàu cuộc đời.  Nếu Thiên Chúa ở bên tôi và lèo lái con tàu thì tôi phải sợ hãi gì.  Tác giả Thánh Vịnh cũng nhiều lần nhắn nhủ ta như vậy.  Chúa là Đá tảng của con, con sợ gì ai?  Chúa là thành lũy chở che con, con còn hãi gì nữa?  
Đó là nói đến sự hiện diện của Chúa bên cạnh ta.  Còn thánh Phao-lô, ngài lại cho ta một lý do rất thần học nhưng cũng rất đơn sơ dễ hiểu, để nói rằng ta đừng sợ ai buộc tội hay kết án ta, nhưng hãy tin vào tình yêu cứu độ của Thiên Chúa.  Thiên Chúa đã “lên kế hoạch” để biểu lộ tình yêu đó.  Kế hoạch của Người như sau:  “Những ai Thiên Chúa đã tiền định, thì Người cũng kêu gọi;  những ai Người đã kêu gọi, thì Người cũng làm cho nên công chính;  những ai Người đã làm cho nên công chính, thì Người cũng cho hưởng phúc vinh quang” (Rm 8:30).  Tiền định của Thiên Chúa không mang tính áp đặt, nhưng là ý muốn tự đời đời của Người, còn việc con người có muốn đáp lại ý muốn của Thiên Chúa hay không thì lại khác!  Như vậy, ta sẽ hiểu được kế hoạch ba bước của Thiên Chúa là:  thứ nhất, từ trước muôn đời Thiên Chúa đã muốn toàn thể nhân loại được ở với Người, cho nên  Người kêu gọi mọi người.  Thứ hai, nếu ai đáp lời, Người sẽ làm cho nên công chính, nhờ sự chết và sống lại của Chúa Ki-tô.  Thứ ba, sau khi được trở nên công chính và tiếp tục sống đích thực như con cái Người nơi trần gian, Người sẽ cho họ được chung phần vinh phúc với Người.  Tất cả kế hoạch nói lên chân lý duy nhất:  Thiên Chúa yêu thương ta.  Để minh chứng tình yêu ấy, Thiên Chúa “chẳng tha Con Một Người, nhưng đã trao nộp vì chúng ta hết thảy” (Rm 8:32), đành để cho Con Một phải chịu chết trên thập giá để chuộc tội chúng ta.
Thái độ lạc quan Ki-tô giáo này phải là thái độ của mọi Ki-tô hữu.  Người Pháp nói:  một vị thánh buồn là một vị thánh đáng buồn (Un saint triste est un triste saint).  Ta đừng để cho những kẻ vô thần, theo thuyết hiện sinh hay duy vật chê bai người Công giáo là những kẻ yếm thế, hãi sợ, không dám ngửa mặt lên nhìn cuộc đời.  Nhưng ta hãy cho mọi người biết rằng niềm vui và bảo đảm được cứu độ là động lực giúp ta thắng vượt mọi gian khó cuộc đời, kết hiệp với cuộc Thương khó của Chúa Giê-su, để cùng chết với Người cho tội lỗi và cùng được sống lại vinh hiển với Người.
4.  Sống Lời Chúa
                Phụng vụ Lời Chúa Chúa Nhật thứ hai mùa Chay giúp ta suy niệm ý nghĩa cuộc Thương khó của Chúa Giê-su.  Tuy nhiên đó cũng là lời mời gọi ta hiểu biết ý nghĩa đích thực của những thập giá khi ta sống đức tin Công giáo, đối phó với những nghịch cảnh theo gương Chúa Giê-su.  Người đã xác tín sứ mệnh cứu độ trần gian và vâng phục thánh ý Thiên Chúa.  Chính Người đã nhìn thập giá như đường dẫn tới vinh quang, không phải cho riêng mình, nhưng cho toàn thể nhân loại.  Ta theo Người để học bài học ấy suốt những năm tháng sống trên trần gian khổ ải này.  Ta vững bước, vì có Thiên Chúa ở với ta và bênh đỡ ta, cụ thể qua sự hiện diện yêu thương và đầy sinh sinh của Chúa Giê-su Ki-tô.
Suy nghĩ:  Để kết luận lời ca tụng tình yêu của Thiên Chúa, thanh Phao-lô viết:  “Không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Ki-tô Giê-su, Chúa chúng ta” (Rm 8:39).  Xác tín này có nghĩa gì đối với cuộc đời Ki-tô hữu của tôi?  Những lời đanh thép này có giúp tôi sống lạc quan và đầy tin tưởng không?  Lối sống của tôi có nói lên được thái độ lạc quan này không?
Cầu nguyện:  Lạy Chúa, Chúa đã dạy chúng con phải vâng nghe Con yêu dấu của Chúa;  xin lấy lời hằng sống nuôi dưỡng đức tin của chúng con, nhờ vậy cặp mắt tâm hồn chúng con sẽ trong sáng để nhìn thấy vinh quang Chúa tỏ hiện trong cuộc đời chúng con.  Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con.  A-men.  (Lời nguyện Nhập lễ, Chúa Nhật II mùa Chay).
 
Lm. Đaminh Trần Đình Nhi
  
 

MC2-B135:  CHÚA NHẬT 2 MÙA CHAY

Thánh ca và lời nguyện mở đầu
 Kinh Thánh:       Rô-ma 8: 31-34
 

Bài đọc Tân Ước hôm nay vẫn tiếp tục suy niệm về vai trò của Chúa Ki-tô trong kế hoạch cứu độ MC2-B135

Bài đọc Tân Ước hôm nay vẫn tiếp tục suy niệm về vai trò của Chúa Ki-tô trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa.  Chúa Nhật trước bài đọc sử dụng đoạn thư thứ nhất của thánh Phê-rô và hôm nay đoạn thư của thánh Phao-lô gửi tín hữu Rô-ma, cùng một chủ đề nhưng được trình bày dưới những khía cạnh khác biệt.  Thánh Phê-rô cho chúng ta thấy Thiên Chúa đã tha thứ tội lỗi và cứu chuộc chúng ta nhờ cái chết và sự sống lại của Chúa Ki-tô.  Còn thánh Phao-lô thì muốn đề cao tình yêu cứu độ của Thiên Chúa, Đấng “bênh đỡ chúng ta” và không “buộc tội, lên án” chúng ta.
                Người ta vẫn coi đoạn thư Rô-ma hôm nay là một trong những đoạn an ủi và khích lệ chúng ta nhất trong toàn bộ Kinh Thánh.  Vậy an ủi và khích lệ ở điểm nào?  Thánh Phao-lô đã nêu lên một chân lý tuyệt vời:  “Có Thiên Chúa bênh đỡ chúng ta, ai còn chống lại được chúng ta?” (câu 31).  Tiếp theo, với lý luận sắc bén và hùng hồn (cc. 32-34), thánh Phao-lô đã nại đến lòng quảng đại (không buộc tội) và lòng nhân từ (không kết án) của Thiên Chúa, để chứng minh cho chân lý nói trên.  Vậy trước hết chúng ta thử đi vào lý luận của thánh Phao-lô, rồi trở lại điều ngài khẳng định là Thiên Chúa bênh đỡ chúng ta.  Cuối cùng là đi tới kết luận:  tình yêu cứu độ của Thiên Chúa được biểu lộ và thể hiện nơi Đức Giê-su Ki-tô.
a)  Tình yêu quảng đại của Thiên Chúa
                Đặc tính quảng đại của tình yêu Thiên Chúa được nhận ra qua sự kiện chắc chắn là Người không buộc tội chúng ta.  Tuy tội lỗi nguyên tổ và những tội riêng của chúng ta đã phạm tới Thiên Chúa, Người vẫn không muốn hủy diệt chúng ta.  Trái lại, ngay từ đầu Người còn muốn kêu gọi, tuyển chọn và làm cho chúng ta được nên công chính (đọc lại các câu 29-30).  Thiên Chúa có quyền buộc tội chúng ta và chính chúng ta cũng đáng bị buộc tội.  Vậy mà Người đã không làm theo lẽ công chính của Người, nhưng làm vì sự công chính cho chúng ta.  Chính đặc tính quảng đại của tình yêu đã khiến Thiên Chúa đối xử với con người không như Đấng Tạo dựng công thẳng đối xử với tạo vật tội lỗi, nhưng như hoàn toàn với tình yêu của người Cha đối với con cái.
                Điểm độc đáo trong lý luận của Phao-lô là thách thức.  Cùng với Phao-lô, mỗi người chúng ta có thể tự hào rằng:  Thiên Chúa đã tuyển chọn chúng tôi và làm cho chúng tôi được nên công chính, vậy thì chúng tôi thách ai dám chống lại Thiên Chúa mà buộc tội chúng tôi đấy!  Tiếp đến, chúng ta như nghe thấy Phao-lô trấn an chúng ta:  Có Thiên Chúa bênh đỡ chúng ta, ai còn chống lại được chúng ta?
                Chống lại chúng ta không chỉ là người khác, nhưng còn là ba thù (thế gian, tội lỗi và ma quỷ).  Như thế, thánh Phao-lô đặt chúng ta vào hoàn cảnh sống giữa thử thách trần gian và mời gọi chúng ta tin tưởng vào sự bênh đỡ của Thiên Chúa.
 b)  Tình yêu nhân từ của Thiên Chúa
                Nếu hiểu buộc tội và kết án là hai giai đoạn để xử một người, chúng ta sẽ dễ dàng phân biệt được hai đặc tính của tình yêu Thiên Chúa:  quảng đại và nhân từ.  Phải buộc tội trước rồi mới kết án sau.  Phao-lô muốn trình bày tình yêu cứu độ của Thiên Chúa như một kế hoạch, một lịch sử có đầu có cuối.  Khởi đầu của kế hoạch ấy là Thiên Chúa tiền định sẽ làm cho chúng ta được nên công chính (tức là không buộc tội).  Tiếp theo là kế hoạch ấy được thực hiện “nhờ Đức Ki-tô” đã nhập thể, rao giảng Tin Mừng, chịu khổ nạn, chết và sống lại, để “giải án tuyên công” cho tất cả những ai tin vào Người (tức là không kết án).  Cuối cùng là mọi người được hưởng phúc vinh quang.
                Vậy đặc tính nhân từ của tình yêu Thiên Chúa và không kết án con người là một bước tiếp theo đặc tính quảng đại.  Khi sai Con Một đến với thế gian, Thiên Chúa đã trao quyền kết án cho Người (Ga 12:48; 16:8-11).  Nhưng đối với những người Thiên Chúa đã tuyển chọn và cho được nên công chính, thì Đức Ki-tô sẽ không kết án họ.  Ai lại kết án những kẻ mình vừa cứu thoát bao giờ!
 c)  Chúa Giê-su Ki-tô thể hiện tình yêu quảng đại và nhân từ của Thiên Chúa 
                Suy niệm về tình yêu cao cả của Thiên Chúa không phải chỉ nghĩ về những ý niệm trừu tượng, nhưng là ngắm suy một tình yêu “nhập thể”, tình yêu “chúng tôi đã nghe, đã thấy tận mắt, đã chiêm ngưỡng và tay chúng tôi đã chạm đến” (1 Ga 1:1).  Điểm tuyệt vời trong lý luận của Phao-lô là vừa cho chúng ta thấy tình yêu cứu độ của Thiên Chúa, lại vừa cho chúng ta có dịp chiêm ngưỡng tình yêu ấy nơi Chúa Giê-su Ki-tô.  Chúa Ki-tô luôn là một dấu chỉ sống động nói lên tình yêu Thiên Chúa.  I-xa-ắc được tha chết chỉ nói lên lòng quảng đại của Thiên Chúa đối với Áp-ra-ham.  Nhưng chính việc Chúa Ki-tô không được tha chết mới có thể nói lên được tất cả chiều dài, rộng, cao, sâu của tình yêu Thiên Chúa (x. Ep 3:18-19) ôm ấp toàn thể nhân loại.
                Chúng ta thiết nghĩ khi chọn đoạn thư này cho Phụng vụ Lời Chúa mùa Chay, Giáo Hội muốn chúng ta suy gẫm về tình yêu cứu độ của Thiên Chúa.  Tuy nhiên Giáo Hội cũng muốn nêu lên chân lý mà thánh Phao-lô đã đề cao:  Có Thiên Chúa bênh đỡ chúng ta, ai còn chống lại được chúng ta?  Cuộc đời Ki-tô hữu là cả một mùa Chay dài với những thử thách chiến đấu không ngừng.  Nhưng nếu chúng ta xác tín được những gì Thiên Chúa làm cho chúng ta do tình yêu cứu độ của Người, thì chúng ta sẽ tìm được nâng đỡ và sức mạnh để hoàn tất hành trình đức tin vào Chúa Giê-su Ki-tô, “Đấng đang ngự bên hữu Thiên Chúa mà chuyển cầu cho chúng ta.”
 Câu hỏi gợi ý chia sẻ
                Suy niệm về tình yêu Thiên Chúa là đề tài chúng ta thường lập đi lập lại nhiều lần.  Nhưng với bài đọc hôm nay, thánh Phao-lô đã giúp tôi nhận ra những đặc tính của tình yêu ấy như thế nào?  Suy niệm này có ý nghĩa gì trong mùa Chay?
                Đặc điểm của đoạn thư thánh Phao-lô hôm nay đã đem lại những an ủi và khích lệ cho Ki-tô hữu.  Với hoàn cảnh sống hiện thời của tôi, tôi nhận được an ủi và khích lệ trên những phương diện nào?
                Đoạn thư tuy có nói lên ý định hữu hiệu và yêu thương của Thiên Chúa muốn cứu độ con người, nhưng không nhắc đến trách nhiệm của mỗi người chúng ta là phải đáp trả và cộng tác với kế hoạch của Thiên Chúa.  Vậy tôi sẽ phải làm gì để chu toàn trách nhiệm của tôi?
 Cầu nguyện kết thúc
                Sau cầu nguyện bộc phát, nhóm cùng hát một bài ca tụng tình yêu Thiên Chúa, thí dụ “Chúa là tình yêu, Ngài đã đến cứu thế giới...”
Lm. Ðaminh Trần Ðình Nhi
 

MC2-B136: Chúa Nhật II Mùa Chay

Sau tháng 4 năm 75, tôi gặp lại một người học trò cũ tại Hoa-kỳ.  Lúc ấy vợ con anh còn kẹt lại bên MC2-B136

Sau tháng 4 năm 75, tôi gặp lại một người học trò cũ tại Hoa-kỳ.  Lúc ấy vợ con anh còn kẹt lại bên Việt Nam và anh rất cô đơn, hết đi làm rồi trở về căn phòng mướn.  Anh tâm sự với tôi.  Cha biết không?  Mỗi lần cảm thấy quá chán nản là con phải nghĩ ngay tới vợ con, người bạn đường đã yêu thương con thật nhiều và đứa con kháu khỉnh dễ thương.  Tình yêu của họ đã thực sự trở thành sức mạnh giúp con kiên nhẫn và hy vọng.
                                Những kinh nghiệm sống tương tự như vậy gặp được rất nhiều.  Nó cho chúng ta thấy vai trò của tình yêu thật là quan trọng, đặc biệt trong những lúc chúng ta phải đối phó với những thử thách của cuộc đời.  Kinh nghiệm ấy hôm nay lại càng trở nên sống động qua câu truyện Tin Mừng thánh Mác-cô, kể lại biến cố Chúa Giê-su biến đổi hình dạng – hoặc nói theo ngôn từ thần học là Chúa Giê-su hiển dung – trên núi Ta-bô-rê.  Biến cố này xảy ra sau khi Chúa Giê-su tiên báo lần thứ nhất rằng Người sẽ lên Giê-ru-sa-lem, sẽ chịu đau khổ và phải chết.  Người đem theo ba môn đệ thân tín lên núi Ta-bô-rê, tại đây hình dạng Người biến đổi sáng láng.  Rồi có ngôn sứ Ê-li-a cùng với ông Mô-sê hiện ra đàm đạo với Người và có đám mây bao phủ các ngài.  Qua những chi tiết ấy, thánh sử Mác-cô muốn dẫn chúng ta tới tột đỉnh của biến cố, tức là chính những lời Thiên Chúa Cha phán dạy:  “Đây là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Người.”
                “Đây là Con Ta yêu dấu.”  Những lời này của Chúa Cha cho chúng ta thấy điều gì?  Trước hết đó là một khẳng định Chúa Giê-su là ai.  Người là Con Thiên Chúa.  Nhưng hơn thế nữa, những lời “Đây là Con Ta yêu dấu” còn nói lên tình yêu đặc biệt Chúa Cha dành cho Chúa Giê-su.  Là con người như chúng ta, Chúa Giê-su cần nghe được những lời khẳng định này, cần xác tín là mình được Thiên Chúa yêu thương.  Chắc chúng ta còn nhớ đoạn Tin Mừng của Chúa Nhật tuần trước, nói về việc Chúa Giê-su thắng cám dỗ của Xa-tan và Người lên đường thi hành sứ vụ, rao giảng kêu gọi nhân loại “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.”  Sở dĩ Chúa Giê-su thắng được cám dỗ và trung thành với sứ vụ là vì Người cảm nhận được tình yêu Thiên Chúa Cha dành cho Người.  Có lẽ chúng ta phải trở lại biến cố trước đó nữa, để nhận ra tình yêu Thiên Chúa Cha đối với Chúa Giê-su như thế nào.  Trước khi vào hoang địa và chịu cám dỗ, Chúa Giê-su đã đến sông Gio-đan, nơi ông Gio-an làm phép rửa.  Đang khi Người lãnh nhận phép rửa của Gio-an, thì  “có tiếng từ trời phán rằng:  “Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con” (Mc 1:11).  Như vậy, qua biến cố Biến hình trên núi Ta-bô-rê, đây là lần thứ hai Thiên Chúa Cha giới thiệu Chúa Giê-su là Con Một và Người tỏ ra tình yêu đặc biệt Người dành cho Chúa Giê-su.  Để thắng vượt cám dỗ của Xa-tan, Chúa Giê-su cần xác nhận tình yêu của Thiên Chúa Cha dành cho Người.  Vậy thì lần này, tại sao Chúa Giê-su cần phải xác nhận lại tình yêu của Thiên Chúa?
                Như chúng ta đã thấy hoàn cảnh diễn ra biến cố Chúa Giê-su biến đổi hình dạng, đó là thời điểm sau khi Người báo trước cuộc Tử nạn và Người cùng với các môn đệ trên đường lên Giê-ru-sa-lem.  Trước viễn tượng đau khổ và cái chết tới gần, Chúa Giê-su với bản tính con người như chúng ta hẳn cũng thấy rùng mình hãi sợ.  Người bị cám dỗ tháo lui bỏ cuộc.  Người cần sự nâng đỡ khích lệ, cho riêng cá nhân Người và cho cả các môn đệ của Người nữa.  Người có thể tìm được ở đâu sự nâng đỡ khích lệ ấy, nếu không phải là duy ở nơi Thiên Chúa?  Qua lời xác quyết của  Chúa  Cha: “Đây là Con Ta yêu dấu,” Chúa Giê-su đã tìm lại được nguồn sức mạnh từ nơi trái tim yêu thương của Chúa Cha, giúp Người can đảm và trung thành hoàn tất sứ vụ cứu thế.  Tình yêu của Thiên Chúa cần thiết như thế đó! 
 Nhưng Thiên Chúa Cha còn hướng về các môn đệ Chúa Giê-su, tức là ông Phê-rô, ông Gia-cô-bê và ông Gio-an, và cả chúng ta hôm nay nữa, Người phán:  “Hãy vâng nghe lời Người!”  Có nghĩa là chúng ta hãy noi gương Chúa Giê-su, hãy xác tín tình yêu của Thiên Chúa yêu thương chúng ta, hãy tìm đến nguồn sức mạnh nâng đỡ chúng ta trong cơn cám dỗ, trong lúc khó khăn thử thách.  Đang khi tiếp tục hành trình đức tin trong mùa Chay này, chúng ta cảm nhận mình cần phải có sức mạnh để theo con đường thập giá của Chúa Ki-tô.  Chúng ta cần phải nhớ đến tình yêu Thiên Chúa trong những lúc nghi ngờ đức tin.  Có khi chúng ta mất đi một người thân, hoặc cảm thấy chính mình cũng đang lạc lõng giữa dòng đời và không biết đi về đâu.  Chúng ta phải vật lộn với câu hỏi “Nếu Chúa thương tôi, tại sao hết rủi ro này tới rủi ro khác cứ dồn dập xảy đến cho tôi?”  Chúng ta nghi ngờ cả tình yêu của Thiên Chúa.  Không dễ gì để trả lời cho câu hỏi rất thực tế đó.  Chính Chúa Giê-su cũng không có câu trả lời cho chính Người.  Người không thể cắt nghĩa tại sao Chúa Cha lại sử dụng một phương thức không theo cái lô-gích của con người.  Nhưng có một điều chắc chắn Chúa Giê-su biết và xác tín, đó là Thiên Chúa Cha yêu thương Người, đồng thời Thiên Chúa Cha cũng yêu thương thế gian đến nỗi trao nộp Người cho họ nữa.  Cho nên, chỉ có tình yêu đích thực mới hiểu được những gì lý trí con người không giải thích nổi.
 Thiên Chúa Cha muốn chúng ta bắt chước Chúa Giê-su, tin tưởng vào tình yêu Thiên Chúa, để thắng vượt khó khăn và trung thành với sứ mệnh làm con cái Chúa.  Chúa Giê-su đã được tình yêu của Chúa Cha củng cố, và Người đã truyền lại sức mạnh ấy cho các môn đệ Người.  Cho nên Chúa Cha cũng muốn chúng ta hãy bắt chước Chúa Giê-su, đem tình yêu của chúng ta đến cho anh chị em, giúp họ có sức mạnh và can đảm để đối phó với những khó khăn cuộc đời.  Chúa mong mỏi mỗi người chúng ta phải là một núi Ta-bô-rê sống động, để anh chị em có thể đến với chúng ta và cảm nhận được tình yêu Thiên Chúa nơi chúng ta.
 Lạy Chúa Cha rất đáng mến, chúng con cảm tạ Cha đã ban cho chúng con gương mẫu là Chúa Giê-su.  Chúng con nguyện sẽ luôn nhớ tình yêu Cha yêu chúng con và lời Cha nhắn nhủ hãy noi gương Con Một Cha, mà nâng đỡ anh chị em chúng con bằng chính tình yêu chúng con đã lãnh nhận nơi Cha.  A-men.
Lm. Ðaminh Trần Ðình Nhi

 

MC2-B137:  Áo Người trở nên chói lọi và trắng như tuyết

Con người chúng ta giới hạn, khó có thể nhận ra Thánh Ý Thiên Chúa. Vì thế, Thiên Chúa sai MC2-B137

Con người chúng ta giới hạn, khó có thể nhận ra Thánh Ý Thiên Chúa. Vì thế, Thiên Chúa sai Con Ngài đến trần gian để ở với chúng ta và loan tin cho chúng ta biết rằng Thiên Chúa là Tình Yêu và Người chỉ muốn điều tốt cho chúng ta thôi.
Bài đọc I cho chúng ta thấy: Abraham cũng chẳng hơn gì chúng ta trong việc hiểu biết Thánh Ý Thiên Chúa. Ông không hiểu rõ ý định của Thiên Chúa yêu cầu ông hiến dâng con duy nhất mình là I-SA-AC làm của lễ. Tuy nhiên, ông chấp nhận vâng lời. Đức tin của ông phó thác vào Thiên Chúa và tin tưởng mạnh mẽ vào lời hứa cứu độ, mặc dù mọi thứ xem ra là trái nghịch.
Vì thế, chúng ta hãy luôn vui mừng vì Thiên Chúa có thể cứu chúng ta khỏi hiểm nguy và thất vọng! Hãy tạ ơn Người và đáp trả Tình Yêu của Chúa bằng sự vâng lời và phục tùng trọn vẹn.
Bài Tin Mừng hôm nay mô tả: Chúa Giêsu lên núi Ta-bor và có 3 môn đệ tháp tùng. Thói quen của Chúa Giêsu đi cầu nguyện thường là nơi thanh vằng, trên một quả đồi hoặc trên núi. Và cũng chẳng có gì ngạc nhiên khi Chúa đem theo 3 ông cùng đi. Ngài làm như vậy để mặc khải cho các ông mầu nhiệm đau khổ của Ngài và Ngài quả quyết với các ông Ngài sẽ lên Giêrusalem và các ông sẽ chứng kiến sự đau khổ đó… Và các ông cũng đi cầu nguyện với Ngài.
Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ: “Anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn”. Mùa chay là thời gian đặc biệt để chúng ta năng tiếp cận với Chúa. Như Chúa Giêsu và các môn đệ, chúng ta hãy rút khỏi những bận bịu thường ngày để tĩnh tâm trong Thiên Chúa không phải chỉ trong những lúc nào đó. Hãy tập cho mình có thói quen sống trước mặt Thiên Chúa: kêu xin Ngài trợ giúp chúng ta, cảm tạ Ngài vì những gì Ngài gửi đến cho chúng ta. Ăn năn thống hối vì những lỗi lầm của chúng ta và cả những khi chúng ta thiếu nhẫn nại.
Có rất nhiều cơ hội để trở về với Chúa. Cha mẹ chúng ta, các linh mục và tu sỹ cũng như bạn bè chúng ta đều muốn chúng ta trở về, nhưng chúng ta đều bỏ qua…Nhờ điện thoại và internet chúng ta có thể liên lạc với mọi người trên thế giới. Và chắc chắn chúng ta cũng nên có một đường dây nóng: điện thoại khuyến mại không mất tiền với Chúa, khi chúng ta gọi: S.O.S (lạy Chúa, xin cứu con), bằng tất cả tình yêu chân thành của mình.
Tình yêu của chúng ta hướng về Thiên Chúa tốt nhất là qua bí tích Thánh Thể. Bí tích Thánh Thể là kinh nguyện tuyệt vời vì đó là chính kinh nguyện của Chúa Kitô dâng lên Chúa Cha. Phép Thánh Thể cũng là canh tân, hiện tại hóa LỄ HY SINH trên đồi Can-vê: “Lạy Chúa, chúng con tuyên xưng Chúa chịu chết và tuyên xưng Chúa sống lại cho đến khi Chúa đến”. Càng gần Chúa Kitô, chúng ta càng được biến đổi trong Người.
Khi cùng chung sống với Chúa Giêsu, các tông đồ nhận thấy rằng càng ngày người ta càng chống đối và thù ghét Chúa. Các ông lo lắng, sợ hãi và bối rối. Vì thế Chúa động viên bằng cách biến hình để các ông thấy uy quyền của Chúa. Và qua đó Chúa nói với các ông về sự sống lại của Chúa.
- Tội lỗi làm mất đi hình ảnh đẹp của con người chúng ta.
- Tội lỗi giết chết tình yêu trong chúng ta khi chúng ta phạm tội.
- Tội lỗi phá hủy sự đồng hình đồng dạng của chúng ta đối với Thiên Chúa, có nghĩa là chúng ta không còn giống Thiên Chúa nữa.
- Một lời nguyện đích thực sẽ nuôi dưỡng suối nguồn tình yêu mà Thiên Chúa đặt vào trong chúng ta khi chúng ta lãnh nhận bí tích Rửa Tội.
- Cầu nguyện đích thực làm cho chúng ta biến đổi dần dần.
- Đời sống chúng ta và thế giới nói chung đã biến dạng vì đau khổ và khốn cùng.
Chống lại đau khổ thế nào được nếu chúng ta không cầu xin với Đấng đã thấy rõ tất cả sự đau khổ và khốn cùng của chúng ta? Ngài biết tất cả, có thể làm tất cả và yêu chúng ta vô hạn. Chúng ta cũng biến dạng vì nghi ngờ, sợ sệt và thất vọng. Chính Chúa Giêsu cũng đã có kinh nghiệm này trong cuộc khổ nạn của Ngài. Ngài rất hiểu chúng ta. Nhưng nhờ sự sống lại, Ngài là nguồn mach mọi hy vọng. Chúng ta hãy để cho kinh nguyện biến đổi chúng ta.
Lạy Chúa chúng con tạ ơn Chúa vì Đức Tin của Abraham, ông đã không ngần ngại hiến dâng đứa con trai duy nhất mà ông yêu mến làm của lễ hy sinh vì ông tin tưởng rằng Chúa thực hiện lời hứa là chúc phúc cho đoàn con cháu ông.
Chúng con thường quảng đại dâng cho Chúa điều không có giá trị đối với chúng con. Phần Chúa, Chúa lại cho chúng con cái đích thực, đó là những nhu cầu cần thiết sống động nhất, những ước mơ chính đáng nhất và những khát vọng sâu xa nhất.
Xin ban cho chúng con lòng tin tưởng phó thác tuyệt đối vào Thánh ý Chúa, để chúng con biết đón nhận bằng tình yêu tất cả những gì Chúa yêu cầu chúng con, và để Chúa có thể coi chúng con là con Chúa và chúc phúc cho chúng con.Amen!
 

Lm. Gioan Đặng Văn Nghĩa

 

MC2-B138:  Chúa Hiển Dung

Lời Chúa: 
Lc 9, 28b-36
28b Khi ấy, Chúa Giêsu đưa Phêrô, Giacôbê và Gioan lên núi cầu nguyện. 29 Và đang khi cầu nguyện, diện mạo Người biến đổi khác thường và áo Người trở nên trắng tinh sáng láng. 30 Bỗng có hai vị đàm đạo với Người. Đó là Môsê và Êlia, hiện đến uy nghi, và nói về sự chết của Người sẽ thực hiện tại Giêrusalem. 31 Phêrô và hai bạn ông đang ngủ mê, chợt tỉnh dậy, thấy vinh quang của Chúa và hai vị đang đứng với Người. 32 Lúc hai vị từ biệt Chúa, Phêrô thưa cùng Chúa Giêsu rằng: "Lạy Thầy, chúng con được ở đây thì tốt lắm, chúng con xin làm ba lều, một cho Thầy, một cho Môsê, và một cho Êlia". 33 Khi nói thế, Phêrô không rõ mình nói gì. 34 Lúc ông còn đang nói, thì một đám mây bao phủ các Ngài và thấy các Ngài biến vào trong đám mây, các môn đệ đều kinh hoàng. 35 Bấy giờ từ đám mây có tiếng phán rằng: "Đây là Con Ta yêu dấu, các ngươi hãy nghe lời Người". 36 Và khi tiếng đang phán ra, thì chỉ thấy còn mình Chúa Giêsu. Suốt thời gian đó, các môn đệ giữ kín không nói với ai những điều mình đã chứng kiến.
(Nguồn: Ủy Ban Thánh Kinh / HĐGMVN)
Bấy giờ từ đám mây có tiếng phán rằng: "Đây là Con Ta yêu dấu, các ngươi hãy nghe lời Người" (Lc 9,35)
Suy niệm: 
A. Phân tích (Hạt giống...)
 

Lúc Chúa Giêsu và 3 môn đệ đang ở trên núi (biến hình) thì ở dưới núi, người ta đem đến cho các MC2-B138

Lúc Chúa Giêsu và 3 môn đệ đang ở trên núi (biến hình) thì ở dưới núi, người ta đem đến cho các môn đệ một đứa trẻ bị quỷ ám mắc kinh phong. Nhưng các ông không chữa được. Khi Chúa Giêsu trở lại Ngài nói lý do thất bại là thiếu lòng tin.
B. Suy niệm (...Nẩy mầm)
1. “Ôi thế hệ kém lòng tin và hư hỏng. Ta còn phải ở với các ngươi đến bao giờ? Ta còn phải chịu đựng các ngươi đến bao giờ nữa?”
Chúa Giêsu đang than phiền về ai thế?
- Về những người Do Thái, về cha đứa trẻ và cả các môn đệ Ngài.
Các môn đệ đã ở với Chúa bao nhiêu năm mà vẫn kém lòng tin và hư hỏng. Tôi cũng thế, Chúa phải buồn vì ở với tôi, Chúa phải than vì chịu đựng tôi.
Xin tha cho con và xin thêm đức tin cho con.
2. Thất bại là do thiếu lòng tin.
3. Chúa Giêsu nói đức tin có sức mạnh chuyển núi rời non. Tôi không cần chuyển dời núi Thái Sơn hay Trường Sơn, mà cần chuyển dời những ngọn núi kiêu căng, tự ái, ích kỷ, dục vọng. Bấy lâu nay dù tôi có cố gắng nhiều nhưng chẳng làm chúng nhúc nhích tí nào cả. Hôm nay tôi thử dùng sức mạnh đức tin vào ơn Chúa để chuyển động chúng xem sao. Tôi hãy nhớ lời tâm sự của Thánh Phaolô: “Tôi có thể làm được mọi sự trong Đấng là sức mạnh của tôi”, vì “Khi tôi yếu chính là lúc tôi mạnh”.
4. Con người dễ mắc cám dỗ cậy vào sức riêng của mình và do đó dễ gặp thất bại trong cuộc sống. Chính các môn đệ cũng không tránh khỏi những cám dỗ đó. Ngài muốn các ông nhận thức giới hạn của mình khi để các ông thất bại trong việc trừ quỷ câm. Trước đây, nhờ quyền năng Chúa các ông xua trừ được nhiều quỷ. Có lẽ các ông bắt đầu quên điều đó, quên mình là dụng cụ của Thiên Chúa. Bởi thế, sau khi để các ông nhận thức rõ sự thất bại của mình, Chúa đã giải thích cho các ông biết rằng để thành công, các ông cần phải có đức tin dù là đức tin bé, cần gắn bo với Chúa, cần phải em và ăn chay. (“Mỗi này một tin vui”).
(Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái)
Cầu nguyện: 
Lạy Chúa Giê-su Thánh Thể,
Chúa là thần dược, là sức sống bổ dưỡng cho cuộc đời chúng con. Thánh Thể Chúa có thể chữa lành, xoa dịu thương đau cho cả hồn và xác chúng con. Xin Chúa hãy củng cố lòng tin còn yếu kém của chúng con. Xin dạy chúng con biết nương tựa vào quyền năng và tình thương của Chúa khi phải đối đầu với gian nan thử thách.
Nhưng Chúa ơi, có lẽ Chúa cũng thất vọng vì đức tin của chúng con chẳng bằng hạt cải. Chúng con còn hay ngã lòng trước nghi nan. Chúng con còn hay thất vọng trước những thất bại của cuộc đời. Nhiều lần chúng con buông xuôi cho dòng đời nổi trôi. Chúng con cậy vào sức mình hơn là tin tưởng trao vào tay Chúa những khó khăn thử thách. Chúng con đã không bám vào Chúa để vượt qua giông tố cuộc đời. Xin Chúa tha thứ cho những yếu kém của lòng tin nơi chúng con. Xin ban cho chúng con sức mạnh và ơn can đàm để chúng con luôn vững tin và trông cậy vào Chúa.
Lạy Chúa Giê-su mến yêu, là sức mạnh nâng đỡ những ai khổ sầu, xin thương nâng đỡ, chở che cuộc đời chúng con. Amen.
(Jos Tạ duy Tuyền)




 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây