Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 3 MC-B Phần I Bài 1-50: Chúa thanh tẩy đền thờ

Thứ tư - 28/02/2018 21:56
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 3 MC-B Phần I Bài 1-50: Chúa thanh tẩy đền thờ
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 3 MC-B Phần I Bài 1-50: Chúa thanh tẩy đền thờ
MC3-B Phần I Bài 1-50: Chúa thanh tẩy đền thờ
MC3-B1. ĐỀN THỜ ĐÍCH THỰC.. 2
MC3-B2. ĐỀN THỜ.. 2
MC3-B3. CSTM/86- THANH TẨY ĐỀN THỜ.. 3
MC3-B4. PV/154- CƠN TỨC GIẬN.. 4
MC3-B5. PV/157- GIỮ CÁC GIỚI RĂN.. 5
MC3-B6. PV/159- MƯỜI ĐIỀU RĂN MỚI. 5
MC3-B7. NHÀ CHA TA LÀ NHÀ CẦU NGUYỆN - Lm Trần Bình Trọng. 7
MC3-B8. NHÀ CỦA CHA TÔI Gm. Arthur Tonne. 7
MC3-B9. Đền thờ mới - Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi 8
MC3-B10. Đem Tất Cả những Thứ Này Ra Khỏi Đây. 9
MC3-B11. ĐỀN THỜ LÀ NHÀ CHA TA – Lm. VIKINI. 10
MC3-B12. Suy Niệm của Lm. Trọng Hương. 11
MC3-B13. ĐỨC GIÊSU THANH TẨY ĐỀN THỜ.. 12
MC3-B14. VÌ THƯƠNG, THIÊN CHÚA DẠY CHÚNG TA MỘT CÁCH SỐNG KHÔN NGOAN.. 16
MC3-B15. ĐỀN THỜ SỐNG ĐỘNG - Lm. Giuse Vũ Thái Hòa. 20
MC3-B16. TÔN KÍNH NHÀ CHÚA - Lm. Nguyễn Văn Phan, CSsR. 21
MC3-B17. ĐỨC GIÊSU KITÔ LÀ ĐỀN THỜ MỚI - Giêrônimô Nguyễn Văn Nội 22
MC3-B18. TIN MỪNG HAY PHIM ẢNH?. 23
MC3-B19. GIỮ TRONG SẠCH NHÀ CHA.. 24
MC3-B20. ĐỀN THỜ TÂM HỒN.. 25
MC3-B21. CHĂM LO NHÀ THỜ GIÁO XỨ – TU BỔ ĐỀN THỜ TÂM HỒN.. 25
MC3-B22. THANH TẨY ĐỀN THỜ - Gm. NGÔ QUANG KIỆT.. 26
MC3-B23. NGÔI THÁNH ĐƯỜNG ĐỜI CON – Kinh Nguyện. 27
MC3-B24. NHIỆT TÂM LO VIỆC NHÀ CHÚA.. 28
MC3-B25. Đức Giêsu, Đền Thờ Thiên Chúa. 30
MC3-B26. Sự điên rồ của thập giá. 32
MC3-B27. Giêsu là nguồn ánh sáng thật của Thiên Chúa. 32
MC3-B28. ĐỪNG BIẾN NHÀ CHA TÔI THÀNH NƠI BUÔN BÁN.. 33
MC3-B29. ĐƯỜNG VỀ THIÊN QUỐC.. 33
MC3-B30. ÔNG CÓ PHẢI LÀ ĐẤNG CỨU THẾ ?. 34
MC3-B31. SLC - Con người và Đền Thờ. 35
MC3-B32. SNLC/163 – Đền thờ. 36
MC3-B33. CSTM/81 - Thanh tẩy. 36
MC3-B34. Đức Kitô, mối lợi tuyệt hảo. 37
MC3-B35. Lòng nhiệt thành việc nhà Đức Chúa Trời thiêu đốt Ngài 38
MC3-B36. RƯỚC HỌA VÀO THÂN ! 39
MC3-B37.ĐỀN THỚ ĐÍCH THẬT.. 40
MC3-B38. Đền thờ. 41
MC3-B39. Đền thờ đích thật của sự thờ phượng và tập hợp. 42
MC3-B40. Thánh Đường, điểm hẹn. 43
MC3-B41. Chú giải của William Barclay. 44
MC3-B42. Chú giải mục vụ của Alain Marchabour 47
MC3-B43. Chú giải của Noel Quesson. 49
MC3-B44. Chú giải của Fiches Dominicales. 50
MC3-B45. Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt 52
MC3-B46. Đức Giêsu tại Samari - JKN.. 54
MC3-B47.  Sự nhiệt tâm yêu mến Thiên Chúa. 56
MC3-B48. Những Đền Thờ. 57
MC3-B49. ĐỀN THỜ CỦA THIÊN CHÚA.. 60
MC3-B50.  ĐỨC  GIÊSU TẨY UẾ  ĐỀN THỜ.. 61

 

MC3-B1. ĐỀN THỜ ĐÍCH THỰC

Ga 2, 13-25
“Các ông cứ phá hủy đền thờ này đi, nội ba ngày tôi sẽ xây dựng lại.  (Thiên Chúa thật gần)
 

Trong truyền thống ngàn đời của mình, dân Israel trông đợi một đền thờ mới do Đấng Thiên” MC3-B1

 “ Trong truyền thống ngàn đời của mình, dân Israel trông đợi một đền thờ mới do Đấng Thiên sai xây dựng cho dân và đây sẽ là đền thờ cuối cùng. Các ngôn sứ Isaia, Mica, Jêrêmia đã loan báo, và ngôn sứ Ezêkiel đã giới thiệu đền thờ như biểu tượng của dân tộc mới của Chúa. Sau hồi lưu đầy, người ta gọi đền thờ là "nhà cầu nguyện của các dân tộc". Tất cả mọi dân mọi nước sẽ lũ lượt hành hương về đền thờ phổ quát này. Cử chỉ thịnh nộ của Đức Giêsu phải được đặt trong truyền thống đền thờ, Chúa đã muốn truyền thống này trở nên hoàn tất. Các đối thủ của Ngài cũng ý thức rõ điều đó. Ngài đã từng nói với họ: "Đừng biến nhà Cha tôi thành nơi chợ búa". Đền thờ là nhà của Cha Ngài, chứ không phải chỉ là nơi cầu nguyện. Nghe những lời Ngài nói, đối phương của Ngài đã hiểu Ngài có ý nói, Ngài là Đấng Thiên Sai khôi phục lại đền thờ. Nhưng họ không muốn như vậy. Họ nhất định chối từ Ngài. Họ chất vấn: "ông lấy dấu lạ nào chứng tỏ cho chúng tôi thấy là ông có quyền làm như thế ?" Đức Giêsu trả lời họ bằng giọng mỉa mai. Ngài thách họ phá hủy đền thờ, để Ngài sẽ dựng lại trong vòng ba ngày. Đây là một đề nghị vô lý. Làm sao họ có thể phá đổ ngay những phiếm đá nặng nề hằng mấy ngàn tấn? Làm sao họ có thể làm một việc vô đạo là phá đền thờ? Thực ra, một cách tế nhị, Đức Giêsu muốn cho họ hiểu rằng, bằng thái độ cố chấp của họ, họ có thể phá sập đền thờ lúc nào không hay. Ngài sẽ chẳng cho họ một chứng cớ nào, chỉ cho họ một dấu duy nhất, là Ngài sẽ phục sinh sau khi chết. Ít ai hiểu được thâm ý của Ngài, kể cả các môn đệ. Là vì họ chỉ nghĩ về đền thờ cụ thể bằng đá, còn Chúa, Chúa muốn nói đến một đền thờ mới hẳn, đó là đền thờ sự sống, là thân xác phục sinh của Ngài. Khác hẳn với 3 thánh sử kia, thánh Gioan tường thuật chuyện đền thờ ngay đầu sách Tin Mừng của mình. Rồi trong những chương tiếp theo, thánh sử nhắc lại và giải thích rằng : Đức Giêsu là sự sống, và đền thờ đích thực, là tâm hồn của mỗi người nào đón nhận Chúa .
 

MC3-B2. ĐỀN THỜ

Dân Do thái vào thời các tổ phụ đã không biết tới đền thờ, cho dù họ vẫn có các nơi thánh để cầu: MC3-B2

Dân Do thái vào thời các tổ phụ đã không biết tới đền thờ, cho dù họ vẫn có các nơi thánh để cầu khẩn Đức Giavê, chẳng hạn như Bêtel, Sikem, Sinai.
Rồi sau đó, trong cuộc xuất hành, họ dùng một thứ đền thờ lưu động, đó là nhà tạm với hai hòm bia giao ước, nhờ đó  Thiên Chúa có thể ngự trị thường xuyên giữa dân Ngài.
Sau khi đã định cư tại miền đất hứa, Đavid muốn thiết lập một đền thờ tại thủ đô Giêrusalem, thế nhưng Thiên Chúa đã chống lại ý định ấy, bởi vì không phải Đavid sẽ xây nhà cho Đức Giavê, nhưng chính Đức Giavê sẽ xây nhà cho Đavid.
Thế nhưng, bước sang triều đại của Salomon, ý định của Đavid đã được thực hiện mà không gặp một sự chống đối nào của các tiên tri.
Công cuộc dựng xây này đã kéo dài suốt 40 năm, để rồi từ nay đền thờ Giêrusalem sẽ trở nên trung tâm phụng thờ Thiên Chúa. Người ta từ khắp nơi trong nước hành hương về đó để tôn kính Thiên Chúa. Người Do thái đã dành cho đền thờ một tình cảm hết sức trìu mến.
Trong những năm tháng bị lưu đày bên Babilon, họ luôn hướng tới đền thờ Chúa, và khi được trở về, thì việc đầu tiên họ đã làm ngay, đó là bắt tay vào việc tái thiết đền thờ Chúa.
Như trên chúng ta vừa nói, đền thờ là trung tâm của việc thờ kính Thiên Chúa. Hàng năm người Do thái phải lên đền thờ vào những dịp lễ lớn. Và cũng trong những dịp lễ lớn này, họ thường phải dâng tiến lễ vật như chiên bò hay chim bồ câu, tùy theo như khả năng tài chính, đồng thời đóng thuế cho đền thờ.
Vì thế, người ta đã tổ chức tại khuôn viên đền thờ một cái chợ, để buôn bán và đổi chác tiền nong. Trước cảnh tượng ồn ào và huyên náo ấy, Chúa Giêsu đã tức giận, Ngài lật đổ bàn của những người đổi tiền và xua đuổi phường buôn bán ra khỏi đền thờ và Ngài đã nói với họ :
- Nhà Cha Ta là nhà cầu nguyện thế mà các ngươi đã biến nó thành hang trộm cướp.
Ngoài ra,  Ngài còn hướng tâm hồn tới  ý nghĩa thiêng liêng của đền thờ.
Thực vậy, đền thờ là nơi Thiên Chúa ở với chúng ta, đồng thời cũng là nơi chúng ta dâng lên Ngài những tâm tình cầu nguyện.
Nếu hiểu như vậy, thì đền thờ thiêng liêng trước hết phải là chính Chúa Giêsu, vì qua Ngài Thiên Chúa đã trở thành Emmanuel, đã trở thành Thiên Chúa ở cùng chúng ta, đồng thời nhờ Ngài,  chúng ta sẽ dâng lên cho Thiên Chúa của lễ tuyệt hảo nhất.
Tiếp đến, đền thờ thiêng liêng còn là Giáo hội, bởi vì nhờ Giáo hội, Thiên Chúa đến với chúng ta qua những hoạt động của bí tích và lời giảng dạy, cũng như qua Giáo hội mà chúng ta không ngừng tôn vinh và thờ phượng Chúa.
Sau cùng, đền thờ thiêng liêng là chính tâm hồn chúng ta, bởi vì nhờ công cuộc cứu độ với giòng nước Rửa tội, tâm hồn chúng ta trở nên như một gian cung thánh sống động cho Thiên Chúa ngự trị, đồng thời cũng chính tại thẳm sâu cõi lòng, chúng ta dâng lên Thiên Chúa những tâm tình cầu nguyện tha thiết và kết hợp chặt chẽ với Chúa Giêsu.
Tuy nhiên, để tâm hồn chúng ta luôn xứng đáng là nơi cho Chúa ngự trị, thì có một việc chúng ta cần phải làm ngay, đó là khử trừ tội lỗi, vì tội lỗi sẽ làm cho tâm hồn chúng ta trở nên nhơ nhớp.
Nếu Thiên Chúa viếng thăm vào giữa lúc chúng ta đang lặn ngụp trong tội lỗi, thì có lẽ Ngài sẽ tức giận mà nói với chúng ta như xưa Ngài đã nói với phường buôn bán tại đền thờ.
Đúng thế, vì tội lỗi, tâm hồn chúng ta không còn phải là nhà cầu nguyện nữa, nhưng nó đã trở thành hang trộm cướp.
 

MC3-B3. CSTM/86- THANH TẨY ĐỀN THỜ

Vào thời Chúa Giêsu, dân Do thái vẫn có những hội đường để mỗi ngày sabat, ngày thứ bảy: MC3-B3

Vào thời Chúa Giêsu, dân Do thái vẫn có những hội đường để mỗi ngày sabat, ngày thứ bảy, họ đến đây để nghe lời Chúa và cầu nguyện. Đây không phải là nhà thờ hay đền thờ như chúng ta ngày nay. Họ chỉ có một đền thờ duy nhất tại Giêrusalem để tế lễ Thiên Chúa, là một nơi linh thiêng thánh thiện. Vậy tại sao lại có chuyện buôn bán, đổi chác tiền bạc ở đền thờ, đến nỗi Chúa Giêsu phải nổi giận, xua đuổi ?
Trước hết, về việc buôn bán ở đền thờ. Mỗi năm, vào những dịp đại lễ, như lễ Vượt qua, lễ Ngũ Tuần… theo tập tục và thói quen đã trở thành như một luật lệ, bắt buộc các tín hữu khi đến đền thờ dự lễ đều phải dâng vào đền thờ một lễ vật nào đó làm của lễ dâng Thiên Chúa. Người giàu có thì dâng chiên bò, người nghèo thì dâng bánh rượu, dầu hương, chim câu… Nhưng vì gần đền thờ không có chợ, nên các tư tế đã lợi dụng cơ hội để làm ăn : hoặc là chính họ hoặc họ cho phép các con buôn đã nộp thuế cho họ, được buôn bán các thứ lễ vật đó cho những người đến dự lễ. Và đã là chuyện buôn bán thì có người mua kẻ bán, người trả người thách, lại với số đông người, không thể nào không ồn ào, om xòm, lộn xộn… làm cho khu vực đền thờ có vẻ là một chợ phiên hơn là nơi yên tĩnh để cầu nguyện và tế lễ.
Về chuyện đổi chác tiền bạc. Theo luật buộc : mỗi năm mỗi người trưởng phải nộp ½ đồng Xêken, tức là một nửa đồng tiền Do thái. Đây là một thứ thuế nghĩa vụ, ai cũng phải nộp và chỉ được nộp tiền Do thái, chứ không nộp thứ tiền nào khác, mặc dầu thời ấy tiền Rôma và tiền Hy lạp rất thông dụng, vì những thứ tiền ấy in hình vua ngoại đạo, nên cấm lưu hành trong khu vực đền thờ. Vì thế, để có tiền Do thái nộp thuế cho đền thờ, những người đến dự lễ phải đổi tiền. Đó là lý do sinh ra cái nạn đổi tiền và có những quầy đổi tiền trong đền thờ.
Trước sự bất kính đối với đền thờ như thế, Chúa Giêsu đau xót và nổi giận. Ngài xua đuổi họ. Việc này làm cho các tín hữu hài lòng, duy có nhóm tư tế bực mình, hạch hỏi Chúa : “Ông lấy dấu lạ nào chứng tỏ cho chúng ta thấy là ông có quyền làm như thế ?”. Chúa bảo họ : “Các ông cứ phá hủy đền thờ này đi, nội ba ngày tôi sẽ xây dựng lại”.
Hành động của Chúa Giêsu không chỉ đơn thuần là xua đuổi các con buôn, là đụng chạm đến quyền lực và lợi nhuận của hàng tư tế, nhưng sâu xa hơn, đó là cử chỉ tượng trưng, nhằm phủ nhận một cung cách thờ phượng đã bị làm cho biến chất. Và không những phủ nhận nghi thức phụng tự, Chúa Giêsu còn phủ nhận luôn đền thờ bằng gỗ đá, một đền thờ lộng lẫy, huy hoàng, tráng lệ đã được vua Hêrôđê cả ra lệnh xây dựng từ năm 19 trước công nguyên và mãi đến năm 63 sau công nguyên mới hoàn thành. Sự kiện Chúa Giêsu thanh tẩy đền thờ Tin Mừng kể lại hôm nay xảy ra vào năm 28 sau công nguyên. Như vậy đã ròng rã 46 năm trời xây cất vẫn chưa xong.
Khi phủ nhận các nghi thức phụng vụ cũ, phủ nhận cả đền thờ gỗ đá, Chúa Giêsu giới thiệu một đền thờ mới, đền thờ đích thực, đó là thân xác Phục sinh của Ngài, khi Chúa nói : “Các ông cứ phá hủy đền thờ này đi, nội ba ngày tôi sẽ xây dựng lại”, Chúa có ý nói đến thân xác của Ngài. Ngài sẽ bị giết chết, nhưng trong ba ngày Ngài sẽ sống lại.
Chúng ta đang sống trong mùa chay, đoạn Tin Mừng này nhắc nhở chúng ta hai điều : Thứ nhất, mỗi người tín hữu được coi là một đền thờ của Thiên Chúa. Nhưng hiện giờ đền thờ ấy có xứng đáng để Thiên Chúa ngự không hay là một cái chợ trưng bày đủ thứ, nhất là những thứ cấm kỵ : tham vọng, ích kỷ, hận thù, bất trung, ghen ghét, gian dối…? Không nhiều thì ít, có lẽ đền thờ nơi chúng ta còn đang bất xứng, chúng ta cần thanh tẩy, sửa chữa.
Thứ hai, gia đình Kitô hữu cũng được mời gọi trở nên đền thờ của Thiên Chúa. Liệu trong ngôi đền thờ ấy, các thành viên có biết lấy yêu thương, sự khoan dung tha thứ mà đối xử với nhau, hay ngôi đền thờ đã trở thành quán trọ mạnh ai nấy sống ? Liệu trong ngôi đền thờ ấy có Thiên Chúa ngự trị hay đang bị đủ thứ ngẫu tượng chi phối, những ngẫu tượng có tên là tiền bạc, tham vọng, ích kỷ, hận thù, gian dối?
Tóm lại, mỗi người chúng ta, mỗi gia đình chúng ta là đền thờ của Thiên Chúa ngự trị. Nhưng có thể Thiên Chúa đã mất chỗ, nghĩa là tội lỗi, những cái xấu, những cái tiêu cực… đã chiếm chỗ của Chúa. Vì thế, chúng ta phải loại bỏ tất cả những cái đó để trả lại chỗ cho Thiên Chúa bằng sự ăn năn sám hối và cải thiện đời sống.
Xin Chúa cho Mùa chay thánh này là mùa hồng ân cho chúng ta : cho mỗi người chúng ta trở thành một đền thờ xứng đáng, và cho gia đình chúng ta cũng là một đền thờ tốt đẹp để Thiên Chúa ngự trị, chúc lành và ban ơn cho chúng ta.
 

MC3-B4. PV/154- CƠN TỨC GIẬN

Bối cảnh Tin Mừng mô tả về một Đức Giêsu đang nóng giận, với cây roi trong tay. Hình ảnh: MC3-B4

Bối cảnh Tin Mừng mô tả về một Đức Giêsu đang nóng giận, với cây roi trong tay. Hình ảnh này của Đức Giêsu không phù hợp với hình ảnh quen thuộc một Đức Giêsu hiền lành và tươi cười. Dường như điều này vượt xa tính cách mà chúng ta biết về Đức Giêsu trong những bài Tin Mừng còn lại, đến nỗi khiến chúng ta xua đuổi hình ảnh đó. Điều này chứng tỏ cho chúng ta rằng tính cách của Đức Giêsu có một khía cạnh khác. Tất nhiên, Đức Giêsu là một người hiền dịu. Nhưng điều đó không có nghĩa là Người yếu đuối. Khi cơ hội đòi hỏi, Người có thể rất mạnh mẽ và rất quyết đoán.
Lại nữa, chúng ta bị sốc khi nhận thấy Đức Giêsu không chỉ tức giận, mà còn hung dữ nữa. Và Người còn sử dụng một hình thức như thể là bạo lực. Chúng ta đã từng được dạy dỗ rằng tất cả mọi cơn nóng giận đều xấu xa cả. Nhưng tự thân sự tức giận chỉ là một cảm giác, vì thế, nó không tốt và cũng chẳng xấu về mặt luân lý.
Quả thật cơn nóng giận là một điều nguy hiểm, có thể khiến cho chúng ta có những lời nói hoặc hành động mà chúng ta sẽ phải hối tiếc sau này. Nhưng tức giận cũng có thể là một điều tốt đẹp. Nó có thể thúc đẩy chúng ta chấn chỉnh lại ngay tức khắc những điều sai trái tỏ tường. Có những lúc chúng ta cần phải tức giận. Chúng ta nên tức giận trước một tình huống bất công. Tức giận có thể là một cách diễn tả tình yêu thương.
Chúng ta phải nhìn vào những điều khiến cho chúng ta tức giận. Người ta nói rằng bạn có thể đo lường được mức độ tâm hồn của một con người, qua mức độ các sự việc làm cho người đó tức giận. Hầu hết cơn nóng giận của chúng ta đều do động cơ là quyền lợi cá nhân, và chúng ta thường tức giận về những điều vặt vãnh.
Một người đàn ông sống tại vùng ngoại ô của một ngôi làng. Cách nhà ông ta khoảng độ hơn 10 mét, có trồng một cây chanh lớn. Cây chanh này là ranh giới của ngôi làng. Tuy nhiên, nó đang bắt đầu già cỗi. Rõ ràng chỉ còn là vấn đề thời gian trước khi nó gãy đổ. Mỗi khi có bão táp, người đàn ông đó đều sợ hãi cho ngôi nhà và mạng sống của mình. Ngày kia, không thể chịu đựng sự căng thẳng lâu hơn nữa, ông ta đốn hạ cây chanh xuống. Ông tin chắc rằng dân làng sẽ hiểu cho ông. Nhưng ông đã lầm : Một người nói “Ông thật xấu hổ, khi đã cắt bỏ một thân cây tuyệt đẹp như vậy”.
Một người khác nói “Ông đã tước đoạt của dân làng một phần gia sản”. Tuy là một cách ngoài lề, nhưng cách thế dân làng nổi nóng khi ý riêng của họ bị đe dọa thật đáng ngạc nhiên. Nhưng khi sở thích của những người hàng xóm bị đe dọa, thì rất ít khi họ nổi nóng.
Đức Giêsu không tức giận vì lý do cá nhân. Cơn nóng giận của Người xuất phát từ tình yêu của Người đối với Thiên Chúa và đối với mọi người. Hành động của Người tại đền thờ phải được coi như một sự phản đối lại việc thương mại hóa tôn giáo và báng bổ thần thánh của đền thờ. Nhưng điều này còn sâu xa hơn.
Trước hết, Người chống đối việc người Do thái không hoàn tất sứ vụ quốc tế đối với nhân loại. Tôn giáo đã trở nên chật hẹp, theo chủ nghĩa dân tộc và mang tính cách độc quyền. Thiên Chúa có ý muốn cho đền thờ trở thành một ngôi nhà cầu nguyện “cho tất cả mọi quốc gia”, nhưng lại trở thành một nơi được bảo vệ một cách ích kỷ, dành riêng cho dân Do thái. Đức Giêsu muốn hủy bỏ khái niệm độc quyền. Ơn Cứu Độ không chỉ dành riêng cho người Do thái, mà còn dành cho tất cả mọi dân tộc.
Thứ hai, Người tấn công vào chính bản chất thờ phượng của người Do thái. Với các lễ nghi và hiến tế súc vật, toàn bộ cách thờ phượng của đền thờ không còn phù hợp nữa, và không thể làm được gì để đưa con người đến với Thiên Chúa. Người đã thay thế lối thờ phượng với hiến tế hy sinh bằng lối thờ phượng trong tinh thần. Việc thờ phượng đòi hỏi nơi chúng ta rất nhiều điều, hơn là chỉ biết dâng lên Thiên Chúa các đồ vật, và biểu diễn một số lễ nghi. Điều mà Thiên Chúa muốn hơn hết, đó là thái độ thờ phượng trong cuộc sống của chúng ta.
Xin Chúa giúp chúng ta biến ngôi nhà này thành một ngôi nhà cầu nguyện, vui tươi và hợp nhất. Và xin cho những việc chúng ta thực hiện ở đây giúp chúng ta biết thờ phượng Thiên Chúa trong cuộc sống của chúng ta.
 

MC3-B5. PV/157- GIỮ CÁC GIỚI RĂN

Lần kia, có một người đàn ông rất thành thật ước ao sống một cuộc sống thánh thiện. Vì thế, anh: MC3-B5

Lần kia, có một người đàn ông rất thành thật ước ao sống một cuộc sống thánh thiện. Vì thế, anh ta đến gặp vị thầy của mình, để xin được khuyên bảo. Vị thầy này khen ngợi anh ta về ước vọng của anh, rồi hỏi “Tình hình của con tiến triển đến đâu rồi?”.
Người đàn ông đó trả lời “Con nghĩ rằng khá tốt”.
Vị thầy hỏi “Khi con nói rằng tốt, thì ý con muốn nói gì ?”
Người đàn ông trả lời “Con không hề vi phạm bất cứ giới răn nào. Con đã không kêu tên Chúa vô cớ. Con không hề xâm phạm vào ngày Sabát. Con không bất kính đối với cha hoặc mẹ con. Con không hề giết bất cứ người nào. Con không thiếu lòng trung thành đối với vợ con. Con không hề ăn cắp. Con không làm chứng dối chống lại bất cứ ai. Và con đã không muốn chiếm đoạt vợ của người khác hoặc tài sản của họ”.
Vị thầy nói “Thầy biết. Như vậy, con không hề lỗi phạm bất cứ giới răn nào”.
Người đàn ông trả lời một cách tự hào “Dạ đúng ạ”.
Vị thầy hỏi “Nhưng con đã giữ các giới răn chưa?”.
Người đàn ông nói “Ý thầy muốn nói gì ạ ?”.
“Thầy muốn nói rằng con đã tôn kính thánh danh của Thiên Chúa chưa ? Con có giữ ngày Sabát không ? Con có yêu thương và kính trọng cha mẹ con không ? Con có tìm kiếm cách bảo vệ gìn giữ cuộc sống của con không ? Lần cuối cùng con nói với vợ con rằng con yêu thương cô ấy là vào lúc nào ? Con có biết chia sẻ tài sản của con cho người nghèo không ? Con có biết bảo vệ danh tiếng cho người khác không ? Lần cuối cùng con từ chối không giúp đỡ người đồng loại là lúc nào ?”.
Người đàn ông đó rút lui. Nhưng theo lòng tin của mình, anh ta ra đi và suy nghĩ về những điều vị thầy đã nói. Anh nhận ra rằng cho đến nay, anh chỉ mới có ý định tránh làm điều sai trái mà thôi. Thật đáng ngạc nhiên khi có nhiều người nghĩ rằng đây là một tiêu chuẩn nhân đức cao nhất. Nhưng vị thầy đã đưa ra cho anh ta một cái nhìn mới về lòng nhân ái không chỉ là tránh làm điều ác, mà còn phải cư xử tốt nữa. Cho đến nay, anh đã có một quan niệm tiêu cực về lòng nhân ái. Bây giờ, thầy đã cho anh thấy một khái niệm tích cực về lòng nhân ái. Thầy đem đến cho anh một phạm vi mới mẻ và tốt đẹp hơn để hướng dẫn anh, một đường lối mới và nhiều thách đố hơn để anh đi theo.
Chúng ta phải cẩn thận để không phạm phải cùng một lỗi lầm như người đàn ông đó. Chúng ta không được tiếp cận với các giới răn theo một cách thức tiêu cực, bởi vì điều này đưa đến việc chỉ thực hiện các giới răn ở mức vừa đủ tối thiểu. Nhưng chúng ta phải tiếp cận với các giới răn theo một cách thức tích cực.
Và chúng ta còn phải giữ các giới răn trong tinh thần ngay chính nữa. Sự vâng phục của chúng ta không được phát xuất từ động cơ là nỗi sợ hãi, mà là tình yêu. Chúng ta không giữ các giới răn để sao cho Thiên Chúa sẽ yêu thương chúng ta, mà giữ các giới răn chính bởi vì Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta.
Đức Giêsu đưa ra một giới luật mới mẻ và chính xác hơn – giới luật yêu thương. Giới luật này không mâu thuẫn hoặc hủy bỏ giới luật cũ, mà vượt lên trên, để rồi đưa đến việc kiện toàn giới luật cũ. Người nói rằng tất cả những giới luật của Thiên Chúa có thể được rút lại thành hai giới răn : Yêu mến Thiên Chúa và yêu mến người đồng loại. Trên thực tế, chỉ có một giới luật mà thôi – giới luật yêu thương.
 

MC3-B6. PV/159- MƯỜI ĐIỀU RĂN MỚI

Mục đích giới luật của Thiên Chúa không phải là để hạn chế chúng ta, nhưng là để chỉ cho: MC3-B6

Mục đích giới luật của Thiên Chúa không phải là để hạn chế chúng ta, nhưng là để chỉ cho chúng ta phương cách sống. Giới luật của Thiên Chúa chính là ánh sáng cho những bước chân của chúng ta, và là ngọn đèn soi chiếu đường đi cho chúng ta. Mười điều răn của Người rất tốt đẹp. Nhưng lời giảng dậy của Đức Kitô còn đi xa hơn nhiều. Kẻ nào hài lòng với giới luật cũ, thì cũng giống như một người vẫn cứ bước đi bằng ngọn nến, sau khi đã có đèn điện rồi vậy.
Trong phần sau đây, chúng ta nhìn vào mười điều răn dưới ánh sáng lời giảng dạy của Đức Kitô (Có thể sử dụng hai giọng nói) :
Cũ : Hãy nghe đây, hỡi nhà Israel ! Ta là Chúa, Thiên Chúa của các ngươi, Đấng đã đưa các ngươi ra khỏi đất Ai cập, ra khỏi nơi chốn nô lệ.
Mới : Hãy nghe đây, hỡi những người đi theo Đức Kitô, dân tộc mới của Thiên Chúa ! Ta là Chúa, Thiên Chúa của các con. Đấng đã đưa các con ra khỏi cảnh tối tăm, để đi vào ánh sáng. Các con có thể nhìn thấy những hiệu quả của ánh sáng nơi lòng nhân ái, lối sống ngay thẳng và theo lẽ phải.
Các con đã từng nô lệ cho tội lỗi và những hành động sai trái. Hiện nay, các con phải sống trong tự do của con cái Thiên Chúa.
Cũ : Ta là Chúa, Thiên Chúa của các ngươi. Các ngươi không được có vị thần nào đi trước Ta.
Mới : Ta là Chúa, Thiên Chúa của các con. Ta không phải là một Thiên Chúa xa lạ và xa cách các con. Ta là bạn bè và người cố vấn của các con. Hãy coi chừng các vị thần, họ sẽ phản bội các con. Tiền bạc là một loại thần phổ biến nhất. Các con không thể phục vụ Thiên Chúa và tiền bạc được.
Cũ : Các ngươi không được kêu tên Chúa, Thiên Chúa của các ngươi, một cách vô cớ.
Mới : Kể từ bây giờ, Ta muốn các con gọi Ta bằng một tên mới. Hãy gọi Ta là Cha. Hãy gọi tên đó không phải trong sự sợ hãi, mà bằng tình yêu. Hãy cầu khẩn danh xưng đó trong sự ca ngợi, biết ơn, cũng như hãy cho Ta biết những nhu cầu của các con. Tên của các con đều được viết trong lòng bàn tay Ta.
Cũ : Các ngươi hãy nhớ giữ ngày sabát.
Mới : Các con hãy ghi nhớ rằng tất cả mọi ngày đều thuộc về Thiên Chúa, và hãy sống thánh thiện. Nhưng hãy dành ngày đầu tiên trong tuần, ngày Chúa nhật, làm một ngày đặc biệt. Đây là một ngày mà Đức Giêsu, người Anh Cả của các con, đã bẻ gãy xiềng xích của sự chết và sống lại vinh quang từ hầm mộ. Ngày này nhắc nhở các con rằng các con là một dân tộc đang hành hương tiến về miền đất hứa của sự sống đời đời. Sự an bình và thư giãn của ngày Sabát là điều dự báo trước về niềm vui sắp đến.
Cũ : Các ngươi hãy kính trọng cha mẹ.
Mới : Các con hãy yêu thương cha mẹ, đó là những tâm hồn quí giá mà nhờ có họ, các con được mời gọi vào bữa tiệc của sự sống. Các con hãy giúp đỡ cha mẹ khi họ cô độc. Hãy an ủi cha mẹ khi họ đau yếu. Hãy săn sóc cha mẹ khi họ già cả và yếu đuối.
Cũ : Các ngươi chớ giết người.
Mới : Các con không được gây đau khổ cho người khác bằng bất cứ cách nào. Hãy thương xót như Cha các con là Đấng thương xót. Đừng phê phán ai, và các con sẽ không bị phê phán. Đừng kết án ai, và các con sẽ không bị kết án. Hãy yêu thương kẻ thù. Hãy cư xử tốt với những người ghét các con. Hãy chúc phúc cho những người nguyền rủa các con. Hãy cầu nguyện cho những người nói điều ác chống lại các con. Từ đó, các con sẽ chứng tỏ rằng các con chính là những con cái của Thiên Chúa.
Cũ : Các ngươi chớ phạm tội ngoại tình.
Mới : Các con hãy yêu thương người bạn đời của các con, như thể đó là một nửa của các con. Sự trung thành về thể lý là điều vĩ đại, nhưng sự trung thành trong tâm hồn lại còn tốt đẹp hơn nữa.
Cũ : Các ngươi chớ lấy của người.
Mới : Có nhiều cách thức ăn cắp. Nếu các con chất đống và tích trữ những của cải mà các con không cần đến, trong khi đồng loại của các con lại đang cần đến – đó là một hình thức ăn cắp. Những tài sản trên trái đất này đều được dành cho tất cả những con cái của Thiên Chúa. Như vậy, Ta nói với các con : hãy đem của cải cho người nào đang cần đến, hãy chia sẻ cơm bánh cho kẻ đói khát, hãy cho kẻ rách rưới ăn mặc, hãy mở lòng ra cho những người cô đơn và không có nhà, và ánh sáng của Thiên Chúa sẽ chiếu tỏa trên các con.
Cũ : Các ngươi chớ làm chứng dối. Mới : Các con hãy trở nên ánh sáng cho người đồng loại, chứ không phải là nguồn tối tăm. Hãy dùng những lời lẽ để xây dựng, nâng đỡ và an ủi người đồng loại. Nếu các con không thể tìm được điều gì tốt đẹp để nói về người đồng loại, thì hãy giữ im lặng.
Cũ : Các ngươi chớ thèm muốn vợ người khác. Mới : Các con vẫn có thể phạm tội ngoại tình trong tư tưởng và lòng ao ước, cũng như trong hành động. Tội ngoại tình ở trong tâm hồn trong ước muốn chiếm đoạt người khác. Do đó, các con hãy phấn đấu giữ tâm hồn thanh sạch.
Cũ : Các ngươi chớ thèm muốn tài sản của người khác. Mới : Ta nói với các con : đừng thèm muốn bất cứ tài sản nào. Đừng tích trữ kho tàng trên trái đất này. Nói đúng hơn, các con hãy phấn đấu để làm cho bản thân mình được trở nên phong phú dưới mắt Thiên Chúa. Nếu các con thèm muốn bất cứ điều gì nơi người đồng loại, thì hãy thèm muốn sự ân cần trong tâm hồn và cách cư xử tử tế. Kết luận : Hãy tuân theo các giới răn, không phải vì sợ hãi, mà vì lòng yêu mến. Và nếu bạn nhận thấy mười điều răn là quá nhiều, không nhớ được, thì bạn có thể rút gọn thành hai giới răn : Yêu mến Chúa hết linh hồn hết trí khôn, và yêu mến người đồng loại như chính bản thân mình.
 

MC3-B7. NHÀ CHA TA LÀ NHÀ CẦU NGUYỆN - Lm Trần Bình Trọng

Theo luật Môi-sen thì việc thờ phượng gồm có mục dâng con vật sống để làm lễ vật hi sinh. Luật: MC3-B7

Theo luật Môi-sen thì việc thờ phượng gồm có mục dâng con vật sống để làm lễ vật hi sinh. Luật Môi-sen buộc cha mẹ phải dâng con đầu lòng cho Thiên Chúa trong đền thờ. Đó là lý do tại sao sau khi Chúa cứu thế giáng sinh thì được cha nuôi và mẹ Người dâng vào đền thờ. Khi dâng Chúa trong đền thờ, ông Giu-se và bà Maria vì nghèo nên chỉ mang được đôi chim câu làm lễ vật.
Vào dịp lễ Vượt qua của người Do Thái, Chúa Giê-su lên Giê-ru-sa-lem, thấy người ta đổi tiền, mua bán súc vật, Người lấy làm khó chịu xua đuổi họ ra khỏi Đền Thờ. Cũng nên biết là những người ở xa đến khó có thể mang theo súc vật để hiến dâng, cho nên việc mua bán súc vật trong đền thờ là cần thiết hay ít ra được dung thứ. Vậy nếu việc mua bán súc vật là tiện lợi cho những người từ xa tới, thì tại sao Chúa Giê-su lại tỏ ra khó chịu, lên tiếng cảnh giác những người buôn bán súc vật quanh đền thờ? Thưa rằng việc dâng hiến lễ vât của họ đã trở thành một việc chỉ nhắm mục đích thương mại. Người bán thì coi đó như là cách thế làm tiền, còn người mua thì coi việc dâng lễ vật như là bổn phận phải làm một cách bất đắc dĩ mà thiếu tâm tình bên trong.
Vì thế trong Phúc âm hôm nay Chúa lên tiếng cảnh giác họ : Đừng biến nhà cha ta thành nơi buôn bán (Ga 2:16). Đây cũng là lời quở trách những nhà lãnh đạo tôn giáo thời bấy giờ đã đồng loã trong việc trần tục hoá và thương mại hoá Đền Thờ. Phúc âm thánh Mát-thêu (21:14), Mác-cô (11:17), và Lu-ca (19:36) còn trích Sách tiên tri Isaia để cảnh giác họ : Nhà Ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện, thế mà các ngươi lại biến thành sào huyệt của bọn cướp (Is 56:7). Người Do thái thường tỏ ra tôn kính đền thờ và bàn thờ dâng lễ vật của họ. Họ thường cảm tạ Thiên Chúa cho họ có được đền thờ và bàn thờ dâng lễ vật. Nếu bạn có dịp sang Giê-ru-sa-lem mà đến đền thờ đã bị phá huỷ, chỉ còn lại một phần tường đền thờ, mà người ta gọi là tường ô nhục, bạn sẽ thấy người Do thái gục đầu vào tường mà than khóc, vì đền thờ của họ đã bị phá huỷ mà chưa xây được đền thờ mới. Còn thực tế và cụ thể hơn, người Hồi giáo khi vào đền thờ của họ, phải để giày bên ngoài. Ta có thể tưởng tượng giả sử có một ngàn người để một ngàn đôi giày, tức là hai ngàn chiếc bên ngoài, ra khỏi đền thờ đi tìm chiếc giày nào là của mình trong hai ngàn chiếc giày thì sẽ lộn xộn và khó khăn thế nào? Tuy nhiên để tỏ ra tôn kính nơi thờ phượng, người Hồi giáo vẫn giữ điều lệ này cho tới ngày nay.
Sống ở đô thị hay ở ngoại quốc, ta có dịp va chạm với nhiều người thuộc các tôn giáo khác nhau, và được mời đến nơi thờ phượng của họ, có thể giúp ta làm tăng triển , hoặc làm giảm căn tính tôn giáo của mình khi vào nhà thờ. Nếu vào nhà thờ có Mình Thánh Chúa ngự, mà ta tỏ ra những cử chỉ như đi đứng nghêng ngang, xỏ tay túi quần giống như vào xem viện bảo tàng hay nhà triển lãm thì ta cần xét lại cái căn tính tôn giáo của mình.
Thánh kinh hôm nay nhắc nhở cho ta : Lòng nhiệt thành đối với nhà Chúa hun đúc tâm hồn tôi (Tv 69:10). Lòng nhiệt thành đối với nhà Chúa phải nhắc nhở cho ta biết tỏ ra tôn kính nhà Chúa, biết giữ gìn sạch sẽ cho nhà Chúa. Lòng nhiệt thành cho nhà Chúa phải nhắc nhở ta dạy cho con cháu biết phân biệt đâu là nơi thờ phượng. Dạy cho con cháu biết trong nhà thờ, nơi thờ phượng thì không chạy nhảy, la hét, không xả rác rưởi, không chơi đồ chơi phát ra tiếng động... Ta cũng nên xét theo phương diện tích cực xem, ta có thể làm gì để tỏ ra tôn kính nhà Chúa như săn sóc, giữ gìn, và bảo trì nhà Chúa.
 

MC3-B8. NHÀ CỦA CHA TÔI Gm. Arthur Tonne

Người mẹ có 4 người con. Bà khổ tâm biểu chúng dọn dẹp đồ chơi, nhất là vào lúc cha của: MC3-B8

Người mẹ có 4 người con. Bà khổ tâm biểu chúng dọn dẹp đồ chơi, nhất là vào lúc cha của chúng đi làm sắp về. Doạ nạt, dụ ngọt đều vô ích. Đồ chơi ngổn ngang như thể cơn lốc vừa thổi qua. Một bữa nọ, bà tìm ra một ý tưởng hiệu nghiệm, ít ra trong gia đình  của các con bà: Bà chỉ nói đơn giản: Ẫchúng con thử xem hết bao lâu để dọn nhà sạch sẽ đón cha chúng con vềỮ. Không đầy năm phút mọi đồ chơi được cất trong hộp.
Người mẹ này gợi cho chúng ta cách thực hành ít nhất một ý tưởng được nêu ra trong bài Tin Mừng hôm nay: Đức Giêsu nói về ẪNhà Cha tôiỮ. Đức Giêsu yêu mến đền thờ, nhà của Cha Người trên trần gian. Thỉnh thoảng, đôi khi mỗi ngày, Người ở trong đền thờ, Người khích lệ những gì làm cho đền thờ trở nên nơi cầu nguyện và phụng thờ. Người lên án những gì làm cho nhà Cha Người mất vẻ thánh thiện. Đó là lý do Chúa đuổi những người đổi tiền ra khỏi đền thờ.
Cùng với Đức Giêsu, Người anh cả, mỗi người chúng ta có thể nói: ẪĐây là nhà của Cha tôiỮ. Ngôi nhà thờ này, nhà thờ của chúng ta, dù nhỏ bé, nó rất thanh lịch. Nó thật là nhà của Cha chúng ta. Như Chúa chúng ta, như các em nhỏ trong câu chuyện. Chúng ta muốn làm hết sức cho nhà của Cha chúng ta xứng đáng, đẹp và thánh thiện. Khi chúng ta dâng cúng để bảo quản nhà thờ, chúng ta phải coi đó như một món quà dâng cho Cha chúng ta, không có gì là quá đáng. Quan trọng hơn bảo quản phương tiện vật chất, là bảo quản giá trị và vẻ đẹp thiêng liêng: Ngôi nhà của Chúa. Nơi đây, nhờ Bí tích rửa tội, chúng ta được nhận vào gia đình Chúa. Nơi đây với việc rước lễ, chúng ta đoàn tụ quanh bàn tiệc của Cha chúng ta. Nơi đây, nhờ Bí tích Thêm sức, chúng ta được can đảm và sức mạnh để làm vui lòng Người. Nơi đây, trong Bí tích Hôn phối, Chúa đóng ấn sự kết hợp vợ chồng. Chúng ta tới đây để hầu chuyện với Người và lắng nghe lời Người. Chúng ta đến đây để xin Người trợ giúp và lời chỉ bảo, chúng ta tới đây để thổ lộ với Người niềm vui, nỗi buồn của chúng ta, sự thành công, thất bại của chúng ta. Chúng ta tới đây để làm lại điều mà Đức Kitô đã làm trong bữa ăn tối sau hết. Chúng ta sẽ làm điều đó trong chính giờ này. Hãy đến nhà Cha của bạn, chắc chắn Người yêu bạn, bất kể mọi chuyện, hơn những người cha tuyệt hảo ở trên đời, Chúa sẵn sàng tha thứ, phù giúp, an ủi và khích lệ. Bạn hãy nhớ trong kinh nguyện Thánh Thể, chúng ta thường gọi Người là Cha. Bạn hãy biết tại sao chúng ta gọi Người là Cha trong kinh Lạy Cha. Bạn chú ý tới những lời trong kinh Tiền xướng rước lễ hôm nay: ẪNgay cả con chim se sẻ còn tìm được cái nhà. Con chim Nhạn tìm ra tổ để ấp con. Cạnh bàn thờ Chúa, lạy Chúa các đạo binh, Vua của con, Chúa của con Ợ hạnh phúc thay những ai cư ngụ trong nhà ChúaỮ. Bạn tự nhiên trong nhà của Cha bạn. Như người mẹ trong câu chuyện. Mẹ Giáo hội biểu chúng ta: Ẫchúng ta cố gắng hết sức làm cho nhà của Cha chúng ta đẹp và ấm cúng.
Xin Chúa chúc lành bạn.
 

MC3-B9. Đền thờ mới - Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi

Chúa nhật thứ ba mùa chay năm nay qui hướng về việc thánh hóa gia đình và sống năm mân côi: MC3-B9

Chúa nhật thứ ba mùa chay năm nay qui hướng về việc thánh hóa gia đình và sống năm mân côi. Đền thờ là nơi qui tụ dân Chúa tham dự thánh lễ, lãnh nhận các bí tích và sống sự hiệp nhất, cầu nguyện. Đoạn Tin Mừng của thánh Gioan 2, 13-25 như gợi lên sự xung khắc lớn nhất giữa Chúa Giêsu và những người Do Thái, các vị lãnh đạo tôn giáo lúc đó. Chúa Giêsu đã tấn công ngay chính ý nghĩa của đền thờ và đây là cái cớ để các vị lãnh đạo tôn giáo, các người Do Thái lên án Chúa Giêsu, tìm cách bắt giết Chúa Giêsu. Tuy nhiên, Chúa Giêsu càng lúc càng cho ta thấy rõ công trình cứu thế của Ngài.
Sự việc xẩy ra
Đây là dịp lễ trọng trong năm của người Do Thái: tất cả mọi người có tín ngưỡng, theo Do Thái giáo đều qui tụ về Giêrusalem, trung tâm hành hương và là đền thờ lớn nhất của Giêrusalem. Trong dịp lễ này, hẳn rất nhiều người Do Thái ở mọi nơi đều bỡ ngỡ, kinh ngạc trước thái độ, hành động của Chúa Giêsu khi Ngài xua đuổi những người buôn bán bò, cừu, dê, bồ câu và đổi tiền. Chúa Giêsu không những chỉ quát tháo, xua đuổi những người đó mà còn dùng roi da mà đánh đập, đuổi những thành phần này ra khỏi đền thờ. Chúa Giêsu xô nhào bàn ghế của những người đổi tiền và muốn chứng minh cho mọi người thấy rõ ý nghĩa của việc nổi giận thánh của Ngài:" Đừng biến nhà Cha Ta thành một cái chợ". Sở dĩ các vị lãnh đạo tôn giáo đã cho phép một cách ngầm làm những việc đó vì họ trục lợi, có nhiều lợi nhuận trong dịch vụ này: Khách hành hương trở về Giêrusalem trong dịp lễ lớn hàng năm này là để dâng lễ vật và nộp thuế. Dâng lễ vật có thể là bò, cừu, dê, bồ câu tùy theo khả năng của khách, nhưng tiền chỉ có thể là tiền của đền thờ. Vì thế, khách phải đổi tiền theo đúng qui định của đền thờ và nhờ đó các vị lãnh đạo tôn giáo tha hồ mà chia chác lợi nhuận qua các dịch vụ này. Chúa Giêsu cho thấy qua hành động của Ngài, Ngài minh chứng rằng việc dâng lễ, nộp thuế đã biến dạng. Người ta đã biến việc dâng lễ vật và nộp thuế đền thờ trở thành việc đổi chác khiếm lợi và biến đền thờ thành cái chợ không hơn không kém. Hành động như Chúa Giêsu không phải bất cứ ai cũng có thể làm được và dám làm. Người Do Thái cũng hiểu điều đó và họ xin Chúa tỏ dấu lạ để làm chứng Ngài có quyền. Chúa Giêsu hiểu tất cả, nhưng Ngài không cho người Do Thái dấu lạ thuộc bình diện tự nhiên họ muốn, Ngài nói đền thờ là chính thân xác của Ngài.
Đền thờ là chính thân thể của Chúa Giêsu
Khi tuyên bố cứ phá hủy đền thờ này đi, nội trong ba ngày Ta sẽ xây dựng lại. Người Do Thái và ngay chính các tông đồ lúc đó cũng không làm sao hiểu nổi ý nghĩa sâu sắc ấy của Chúa Giêsu. Các môn đệ chỉ có thể hiểu nổi câu nói ám chỉ tới thân xác của Chúa dưới ánh sáng của sự chết và phục sinh của Chúa Giêsu. Qua câu nói của Chúa, Ngài đã xác định rằng việc thờ phượng kiểu cũ đã lỗi thời, sự hiện diện của Chúa đã bắt đầu một kiểu thờ phượng mới. Đền thờ là nơi con người thờ phượng, tôn kính Thiên Chúa, nhưng đồng thời cũng là nơi Thiên Chúa hiện diện để mang lại hạnh phúc và ơn cứu độ cho con người. Trong lòng tin Kitô giáo và trong lòng tin của các môn đệ thân xác chúa Giêsu phục sinh chính là đền thờ mới. Chúa phục sinh là sự hiện diện của Thiên Chúa giữa con người và chính Chúa là trung tâm của việc thờ phượng Thiên Chúa trong Thần Khí và Sự Thật. Xưa vua Đavít nói với Chúa và ước ao xây đền thờ, xây nhà cho Chúa, nhưng Thiên Chúa phán cùng vua:" Người mà xây nhà cho Ta ở sao? Thật vậy, từ ngày Ta đưa con cái Israen lên từ Ai Cập cho tới ngày hôm nay, Ta đã không ở trong một ngôi nhà, nhưng Ta đã nay đây mai đó trong một cái lều và trong một nhà tạm"( 2 Sm 7, 5-6)
Thiên Chúa không cần nhà vì: "Trời là ngai của Người, đất là bệ dưới chân Người" ( Is 66, 1 ).Đền thờ vẫn cần thiết nhưng con người vẫn trọng hơn đền thờ, phải làm sao cho có những người thờ phượng Thiên Chúa đích thực, chứ không phải là lo sao cho có đền thờ. Vì đền thờ trần gian với năm tháng sẽ bị hư hại, xụp đổ nhưng con người luôn tồn tại và vững bền.
Mùa chay thánh trong năm thánh hóa gia đình, người Kitô hữu phải hoán cải, làm cho gia đình mình mới, sống đạo, thực thi đạo hơn là giữ đạo cách máy móc, bề ngoài. Người Kitô hữu cũng phải xét lại cách giữ đạo, hành đạo của gia đình mình, của cá nhân, của giáo xứ, Giáo Hội và mau mắn đổi mới đời sống, lòng tin, cách thực hành đạo, siêng năng cầu nguyện và lần chuỗi làm cho đền thờ tâm hồn mỗi người đẹp hơn, tốt hơn.
Lạy Chúa xin cho mỗi người chúng con biết yêu chuộng đền thờ tâm hồn và yêu mến nhà thờ Giáo Xứ như chính bản thân mình.
Gợi ý chia sẻ
1. Bạn hiểu gì về đền thờ ?
2. Bạn nghĩ gì về câu: " Cứ phá hủy đền thờ này đi, nội ba ngày Ta sẽ xây dựng lại " ?
3. Bạn thích kiến trúc nhà thờ kiểu nào ?
 

MC3-B10. Đem Tất Cả những Thứ Này Ra Khỏi Đây

Trong sách Tin Mừng, hiếm khi ta thấy Đức Giêsu nổi giận. Ngài bình thản đón lấy nụ hôn phản: MC3-B10

Trong sách Tin Mừng, hiếm khi ta thấy Đức Giêsu nổi giận. Ngài bình thản đón lấy nụ hôn phản bội của Giuđa. Ngài lặng lẽ trước những lời cáo gian buộc tội. Chính Ngài đã mời ta học nơi Ngài bài học hiền lành và khiêm nhượng. Vậy mà ở đây ta lại thấy Đức Giêsu dùng roi để đuổi những người buôn bán bồ câu, chiên bò, Ngài còn lật nhào bàn ghế của những người đổi bạc! Dù rằng những chuyện buôn bán này chỉ diễn ra ở ngoài phạm vi Đền Thờ, nơi tiền đình dành cho dân ngoại, nhằm phục vụ cho nhu cầu tế tự của những người đi hành hương vào dịp lễ Vượt qua, nhưng Đức Giêsu vẫn thấy đó là một điều bất kính, vì chúng tạo ra một bầu khí ồn ào, hỗn độn.
Đức Giêsu vốn qúy trọng Đền Thờ Giêrusalem. Ngài gọi đó là nhà Cha của tôi, nhà cầu nguyện. Ngài không muốn nơi Thánh này trở thành cái chợ. Ngài không chấp nhận nhà của Cha Ngài bị xúc phạm. Chính tình yêu đã khiến Đức Giêsu nổi giận. Ngài thấy cần phải thanh tẩy Đền Thờ, dù điều đó sẽ đưa Ngài đến chỗ thiệt thân.
"Cứ phá hủy Đền Thờ này đi;
nội ba ngày, tôi sẽ xây dựng lại."
Đức Giêsu ám chỉ đến cái chết và sự phục sinh của Ngài. Đền thờ ở đây là chính thân thể Đức Giêsu. Thân thể được phục sinh của Ngài sẽ là Đền Thờ mới, nơi nhân loại thờ phượng Thiên Chúa cách đích thực
Đức Giêsu đã thanh tẩy Đền thờ Giêrusalem. Ngài cũng muốn thanh tẩy các nhà thờ của chúng ta. Ngài muốn chúng thực sự là nơi thờ phượng, nơi lắng đọng để con người gặp gỡ Thiên Chúa. Có khi thánh lễ của chúng ta trở nên máy móc, buồn tẻ. Có khi lại ồn ào, nặng tính trình diễn.
Dù sao thánh lễ vẫn cần một cái hồn, một sức sống lan tỏa từ Chúa Giêsu phục sinh.
Để tâm đến việc sửa nhà thờ là cần, nhưng không đủ.
Mỗi Kitô hữu cần để tâm xây dựng con người mình, bởi lẽ đó là đền thờ của Cha và Con (x. Ga 14,23).
Chính thân xác ta cũng là đền thở của Thánh Thần (x. 1Cr 6,19). Có những đền thờ thánh thiêng đã trở nên phàm tục. Đam mê vô độ của thân xác đã trục xuất Thánh Thần.
"Hãy đem tất cả những thứ này ra khỏi đây !" Chúa Giêsu hôm nay cũng giận dữ như thế khi thấy con người của chúng ta bị vấy bẩn, đền thờ của Ba Ngôi bị nhơ nhớp.
Tha nhân quanh ta cũng là những đền thờ. Có nhiều đền thờ bị xuống cấp, tước đoạt và sụp đổ...
Mùa chay là mùa tu sửa các đền thờ, để mọi đền thờ đều dẫn đến Đền Thờ Giêsu.
Gợi Ý Chia Sẻ
Bạn nghĩ gì về bầu khí nơi nhà thờ của bạn? Bạn nghĩ gì về bầu khí của Thánh Lễ? Bầu khí đó có giúp bạn lắng đọng để gặp mình và gặp Chúa không?
Trong mùa Chay này, bạn thấy có đền thờ nào cần sửa gấp không? Đền thờ lòng bạn có gì cần phải loại bỏ để có chỗ cho Chúa không?
Cầu Nguyện
Lạy Cha, thế giới hôm nay cũng như hôm qua
vẫn có những người bơ vơ lạc hướng vì không tìm được một người để tin;
vẫn có những người đã chết từ lâu mà vẫn tưởng mình đang sống;
vẫn có những người bị ám ảnh bởi thần ô uế, ô uế của bạc tiền, của tình dục, của tiếng tăm;
vẫn có những người mang đủ thứ bệnh hoạn, bệnh hoạn trong lối nhìn, lối nghĩ, lối sống;
vẫn có những người bị sống bên lề xã hội, dù không phải là người phong...
Xin Cha cho chúng con nhìn thấy họ và biết chạnh lòng thương như Con Cha.
Nhưng trước hết, xin cho chúng con nhìn thấy chinh bản thân chúng con.
 

MC3-B11. ĐỀN THỜ LÀ NHÀ CHA TA – Lm. VIKINI

Đền thờ có mục đích quy tụ mọi người thành cộng đồng tôn thờ Thiên Chúa trong tinh thần và: MC3-B11

Đền thờ có mục đích quy tụ mọi người thành cộng đồng tôn thờ Thiên Chúa trong tinh thần và chân lý. Tôn thờ Thiên Chúa trong chân lý là nhận biết những điều chân thật để kính mến và tuyệt đối vâng lời Thiên Chúa. Những điều chân thật đó là : Thiên Chúa là Đấng sáng tạo và cứu độ, là Chúa và Chủ tể duy nhất hằng hữu, là tình yêu vô biên và hằng thương xót : “Ngươi phải thờ lạy Thiên Chúa là Chúa ngươi và chỉ một mình Ngài” (Mt. 4, 10). Tôn thờ Thiên Chúa trong tinh thần là ngợi khen, cảm tạ, cầu nguyện với tinh thần đức tin, đức cậy, đức mến sâu sắc như Đức Maria đã thể hiện trong lời kinh “Magnificat - Linh hồn tôi ngợi khen Chúa …” (Giáo lý c. 6. 1992, số 2096-2097).
So sánh với trường học là nơi đào tạo học sinh thâu thái những kiến thức khoa học và những luật lệ xã hội để trở thành công dân hữu ích, mục đích tốt của trường học đạt tới thành nhân. Đền thờ đào tạo tín hữu thành thánh nhân, thành công dân nước trời bây giờ và vĩnh viễn muôn đời. So sánh với gia đình, nơi con người được sống trong tình thương ấm cúng, được nuôi dưỡng, săn sóc tới khôn lớn, được chia vui sẻ buồn, an ủi khuyến khích lẫn nhau, che chở, đùm bọc, hy sinh cho nhau. Đền thờ nơi tín hữu sống trong tình thương bao la của Thiên Chúa, được nuôi dưỡng bằng của ăn thịt máu Con Thiên Chúa, được ấp ủ soi sáng bằng ân sủng Thánh Thần, được chia sẻ lời hằng sống. Và cùng cầu nguyện dâng lên Thiên Chúa những hy sinh đau khổ, hiệp thông Thánh giá cứu độ của Đức Kitô, cùng với các thánh chung hưởng vinh phúc bất tận của Đấng Cứu Thế phục sinh.
Đền thờ đối với dân Do thái là lẽ sống của dân tộc. Đền thờ còn thì dân tộc còn. Đền thờ tan thì đất nước mất. Đền thờ bị xúc phạm thì toàn dân bị ô nhục. Thời vua Sêđêkia, đền thờ bị quân Babylon thiêu hủy, dân bị lưu đầy. Đền thờ được xây dựng lại, dân được trở về nước (2Ks. 36, 17). Thời Đức Giêsu khi toàn quyền Philatô treo ảnh hoàng đế Caesar (Sêda) ở khuôn viên đền thờ, lập tức dân nổi dậy mạnh mẽ chống đối quân La mã, dù phải chết, phải chịu đóng đinh vào thập giá.
Công vụ Tông đồ cũng kể trường hợp thánh Phaolô dẫn bốn người dân ngoại đã được tẩy uế trước khi dẫn vào đền thờ, thế mà Phaolô vẫn bị người Do thái xách động đám đông bắt ông và đang tìm cách giết Phaolô. May nhờ binh sĩ Rôma đã đến kịp thời, xiềng còng ông lại dẫn về đồn (Cvtd. 21, 26-32).
Đền thờ được tôn trọng như thế, nhưng chính họ lại biến đền thờ thành chợ búa, như hang trộm cướp, không còn là nhà Thiên Chúa, nhà Cha chung để cầu nguyện, tôn thờ Thiên Chúa, nơi quy tụ mọi người trong tình thương mến anh em nữa.
Phải chăng, chỉ còn một mình Đức Giêsu “vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa, mà sẵn sàng thiệt thân, sẵn sàng bị giết đi, sẵn sàng chịu phá hủy, nhưng Người sẽ xây lại đền thờ chỉ trong ba ngày”. Để cứu nguy dân tộc, giải thoát muôn dân, một đền thờ mới sống động bất diệt là “chính mình Người” (Ga. 2, 17. 19-21).
Chính mình Người mới đích thực là đền thờ, là nhà cầu nguyện : “Toàn thể được xây dựng trên tảng đá góc tường là chính Đức Giêsu Kitô để thành ngôi đền thờ. Trong Người cả anh em nữa, cùng với những người khác cũng được xây thành ngôi nhà Thiên Chúa ngự, nhờ Thần Khí (Eph. 2, 20-22).
Trong đền thánh cực trọng này, Người dâng lên Chúa Cha tâm tình trìu mến con thảo : “Này con xin đến, để làm theo thánh ý Cha”. Trong đền thánh này, Người cầu nguyện : “Lạy Cha, giờ đã đến ! xin Cha tôn vinh Con Cha, để Con Cha tôn vinh Cha … Lạy Cha, tất cả những gì Cha ban cho Con đều do bởi Cha. Con đã ban lời Cha cho họ … Lời Cha là sự thật, xin Cha lấy sự thật mà thánh hiến họ … Con không chỉ cầu nguyện cho những người này, nhưng còn cho tất cả những ai nhờ họ mà tin vào Con …” (Ga. 17, 1. 7-8. 17-20).
Trong đền thánh này, Đức Giêsu còn dâng lên Cha bao nhiêu những người đói nghèo, bệnh hoạn, tật nguyền mà Người cứu chữa hàng ngày ; bao nhiêu những lao công vất vả gồng gánh nặng nề mà Người đến bổ sức cho họ ; bao nhiêu những tội nhân, quỷ ám, mà Người xin Cha cho họ vì họ lầm chẳng biết ; bao nhiêu những người bị đả thương nửa sống nửa chết, bao nhiêu những người đau khổ, nhục nhã oan khiên, tù đày, tử đạo thập giá như Người.
Trong đền thờ này, “chính Người là thượng tế đến muôn đời … Một vị thượng tế thánh thiện vẹn toàn, vô tội … cao cả vượt các tầng trời … Người dâng chính mình, và chỉ dâng một lần là đủ … và chỉ mình Đức Kitô dâng lễ tế duy nhất để đền tội cho nhân loại” (Pt. 7, 11.26. 28 và 10, 12).
Mỗi người chúng ta đang được dự phần vào đền thờ Đức Giêsu muôn thuở. Mỗi người là một viên gạch nhỏ, một đền thờ nhỏ trong một đền thờ vĩ đại bao trùm cả trời đất. Nhưng mỗi người chúng ta tự hỏi mình là đền thơ, là “nhà Cha Ta”, là “nhà cầu nguyện” hay đã tự biến thành chợ búa, hang trộm cướp.
Thực ra, mỗi người chúng ta đã được là đền thờ Ba Ngôi Thiên Chúa ngay khi chúng ta được rửa bằng nước và Thánh Thần. Thánh Thần đã xức dầu thánh hiến chúng ta thành đền thờ Chúa. Muốn cho đền thờ chúng ta mãi mãi là nhà Cha Ta, là nhà cầu nguyện, chúng ta không được treo một tà thần nào, một thần tượng nào của vùng trời, vùng đất, vùng biển trong đền thờ mình, dù là tiên giáng trần, hay thần tài, thần quyền, chỉ được treo hình ảnh Thiên Chúa mà thôi, vì “Ta là Đức Chúa, Chúa của ngươi … Những ai yêu mến Ta và giữ giới răn của Ta, thì Ta trọn niềm nhân nghĩa với họ đến ngàn đời”. (Xh. 20, 1-17).
Lạy Cha, trong mùa Chay thánh này, xin cho chúng con biết khuyến khích nhau kéo nhau : “nào ta lên đền thánh Cha” để cầu nguyện, dâng lời cảm tạ Cha với tấm lòng sám hối, tan nát, khiêm cung và dâng lên Cha những của lễ hy sinh bác ái, cùng với của lễ duy nhất là Mình Máu thánh Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con. Amen.
 

MC3-B12. Suy Niệm của Lm. Trọng Hương

A. Hạt giống...
 

Bài Tin Mừng tường thuật việc Chúa Giêsu đánh đuổi những người buôn bán trong sân Đền thờ: MC3-B12

Bài Tin Mừng tường thuật việc Chúa Giêsu đánh đuổi những người buôn bán trong sân Đền thờ Giêrusalem. Hành động này được các nhà chú giải gọi là “Thanh tẩy Đền thờ”. Thanh tẩy như thế nào ? Chính Chúa Giêsu giải thích “Đừng làm nhà Cha ta thành nơi buôn bán”. Thực ra những thứ được bày bán trong sân Đền thờ cũng nhằm phục vụ cho việc thờ phượng bên trong Đền thờ thôi (cung cấp các lễ vật, đổi tiền cho người ta nộp thuế đền thờ). Nhưng những thứ đó đã làm lệch lạc sự thờ phượng, vì người bán thì chạy theo lợi nhuận, người mua thì nghĩ rằng có thể dùng những lễ vật ấy để mua lòng Thiên Chúa, thậm chí giới tư tế quản lý Đền thờ cũng ăn tiền hối lộ của những người muốn có một chỗ buôn bán trong sân Đền thờ. Tóm lại, Đức Giêsu thanh tẩy Đền thờ là thanh tẩy một lối thờ phượng lệch lạc, không phải là thờ Thiên Chúa, mà là thờ quyền lợi của mình, dùng lễ vật dâng cho Thiên Chúa để mua chuộc Thiên Chúa để Ngài bảo vệ và củng cố quyền lợi vật chất của mình.
Khi Chúa Giêsu nói với những kẻ chất vấn Ngài “Các ông cứ phá hủy đền thờ này đi, nội trong ba ngày Ta sẽ xây dựng lại”, Ngài ngầm cho biết Đền thờ mới chính là thân thể Ngài. Như vậy, qua hành động thanh tẩy đền thờ Giêrusalem, Chúa Giêsu còn cho biết thêm : sự thờ phượng đích thực của thời Tân Ước là thờ phượng Thiên Chúa qua Chúa Giêsu, trong Chúa Giêsu và với Chúa Giêsu.
B. ... nẩy mầm.
1. Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta kiểm điểm lại việc thờ phượng của chúng ta :
- Thờ Chúa hay là thờ quyền lợi của chúng ta ? Chúa chỉ là một phương tiện mà chúng ta lợi dụng để tìm kiếm và củng cố quyền lợi của mình.
- Khi chúng ta dâng lên Chúa những lời cầu nguyện, những việc lành và những lễ vật thì chúng ta cùng lắm chỉ mới làm như người do thái xưa thôi. Chúng ta có biết kết hợp với Chúa Giêsu, với thập giá và lễ tế của Ngài không ?
- Sự thờ phượng đích thực không phải chỉ ở trong nhà thờ, mà còn trong cuộc sống : sống “vì Người, với Người và trong Người”, cho dù cách sống đó là diên rồ và vấp phạm đối với cái nhìn của thế gian.
2. Chúa Giêsu rất hiền từ, nhưng hôm nay Ngài rất giận, đến nỗi Ngài đánh đập người ta, xô ngã bàn ghế, hất tung tiền bạc... Tại sao ? Vì Ngài thấy Thiên Chúa bị lợi dụng thành một món hàng mua bán. Khi ta không thờ phượng Chúa mà chỉ coi Thiên Chúa như một món hàng thì Chúa Giêsu cũng nổi giận như vậy.
3. Tâm hồn chúng ta cũng là Đền thờ Thiên Chúa. Hãy coi lại xem trong đó thực sự có Chúa hay không ? hay chỉ có tiền bạc, lợi lộc, thú vui... ? Có cần xin Chúa Giêsu thanh tẩy tâm hồn ta không ?
4. Một công nhân hầm mỏ được một anh bạn hỏi :
- Anh làm gì trong Hội Thánh Kinh Hải ngoại vậy  ?
- Tôi làm việc dịch thuật.
- Anh mà đòi dịch thuật  ?
- Đúng, tôi lo dịch Lời Chúa trong Thánh Kinh vào đời sống hằng ngày của tôi (Góp nhặt)
5. Một số nhà truyền giáo đến thăm M. Gandhi. Ông đề nghị các ngài hát một bài thánh ca. ”Bài nào ?” - ”Bài nào mà quí vị thấy là diễn tả đức tin sâu sắc nhất.” Tất cả đồng thanh hát bài Suy tôn Thánh giá (Góp nhặt)
6. “Đừng làm nhà Cha ta thành nơi buôn bán” (Ga 2,16)
Khi còn là sinh viên, Mahatma Gandhi đã đi lại khá nhiều tại Nam Phi. Ông đã say mê đọc Thánh Kinh và vô cùng cảm kích về bài giảng trên núi của Chúa Giêsu. Mahatma Gandhi xác tín rằng Kitô giáo là giải pháp cho mối ung nhọt phân chia giai cấp đục khoét xã hội Ấn độ. Ông nghĩ đến chuyện gia nhập Giáo Hội.
Thế nhưng ngày nọ, khi đến nhà thờ để dự lễ và đón nhận vài lời chỉ dẫn, ông đã thất vọng : ông vừa đến cửa nhà thờ thì những người da trắng chận ông lại và nói với ông rằng nếu ông muốn tham dự Thánh lễ thì hãy tìm đến một nhà thờ dành riêng cho người da màu.
Vô tình hay hữu ý, ai trong chúng ta cũng có thể là một chướng ngại vật ngăn cản nhiều người muốn tìm đến với Giáo Hội. Một lời nói, một cử chỉ, một cách sống, nếu đi ngược với tinh thần của Tin Mừng, đều có thể là một cách xua đuổi người khác ra khỏi nhà thờ.
Lạy Chúa, xin giúp con cải thiện bản thân, để mỗi ngày xứng đáng là Đền thờ Chúa hơn, để con là trung gian, nhờ đó con người tìm đến với Chúa và Giáo Hội của Người (Epphata)
 

MC3-B13. ĐỨC GIÊSU THANH TẨY ĐỀN THỜ

Ga 2,13-25
I. Tìm hiểu Lời Chúa
1) Ý chính: Đức Giêsu thanh tẩy đền thờ.
 

Với lòng nhiệt thành yêu mến Thiên Chúa, Đức Giêsu không thể chấp nhận được cảnh tượng bát: MC3-B13

Với lòng nhiệt thành yêu mến Thiên Chúa, Đức Giêsu không thể chấp nhận được cảnh tượng bát nháo diễn ra nơi Đền Thờ của Chúa Cha. Người đã biểu lộ uy quyền của Con Thiên Chúa bằng việc dùng roi xua đuổi bọn con buôn với tiền bạc, chiên bò, chim câu... ra khỏi Đền Thờ. Người tẩy uế Đền Thờ của Chúa Cha và khẳng định rằng : Từ nay việc thờ phượng đẹp lòng Thiên Chúa sẽ phải được cử hành trong Đền Thờ Mới là thân xác Phục Sinh của Người và sẽ tồn tại mãi mãi, thay cho sự thờ phượng tại Đền Thờ Giêrusalem bằng gỗ đá chỉ có tính tạm thời và sẽ bị phá hủy sau này.
2) Chú thích :
* Gần đến Lễ Vượt Qua của người Do Thái, Đức Giêsu lên thành Giêrusalem. Người thấy trong Đền Thờ có những kẻ bán chiên, bò, bồ câu, và những người đang ngồi đổi tiền. Người liền lấy dây làm roi mà xua đuổi tất cả bọn họ cùng với chiên bò r a khỏi Đền Thờ. Còn tiền của những người đổi bạc, Người đổ tung ra, và lật nhào bàn ghế của họ (Ga 2, 13-15) :
+ Lễ Vượt Qua của dân Do Thái, Đức Giêsu lên thành Giêrusalem : Vào thời Đức Giêsu, lễ Vượt Qua là một trong ba đại lễ, buộc người Do Thái ở khắp nơi phải hành hương về đền thánh Giêrusalem để sát tế và ăn bữa tiệc chiên vượt qua, kỷ niệm biến cố Xuất Hành, trong đó Đức Chúa dùng Môsê, giải phóng con cháu Giacóp là dân Do Thái khỏi ách làm nô lệ cho dân Ai cập.
+ Người thấy trong Đền Thờ : Đền Thờ là dấu chỉ Đức Chúa hiện diện giữa dân Người.
Câu hỏi : Theo lịch sử dân Ítraen thì đã có bao nhiêu Đền Thờ được xây dựng tại Giêrusalem và cấu trúc của các Đền Thờ ấy thế nào ?
Đáp : Không kể đền thờ tạm là Nhà Lều trong thời gian 40 năm dân Do Thái đi qua sa mạc, còn có ba Đền Thờ được xây dựng tại Giêrusalem là Đền Thờ Salômon, Đền Thờ Sau Lưu Đầy và Đền Thờ Hêrôđê như sau :
Đền thờ Salômon : Dưới triều vua Đavít, tuy Hòm Bia đã được đem về Giêrusalem, nhưng vẫn còn được để giữa Mái Lều Vải Nhà Tạm (x.2 Sm 6,17). Vua Đavít muốn xây một Đền Thờ để kính Đức Chúa. Nhưng ngôn sứ Nathan tuyên sấm lời Đức Chúa là sẽ dành việc xây dựng ấy cho con của ông (x.2 Sm 7,2.13). Sau đó, vua Salômon đã thực hiện ý định của vua cha Đavít vào năm 970 và Đền Thờ đã được hoàn tất sau 7 năm thi công (1 V 6,37-38). Đền Thờ này nằm giữa một khu đất rộng là Sân Trước. Tại đây có Bàn Thờ Toàn Thiêu bằng đồng (x. 1 V 8,64). Đền Thờ có chiều dài ba mươi thước, chiều rộng mười thước và chiều cao mười lăm thước, gồm Gian Tiền Đình, Gian Cung Thánh và Nơi Cực Thánh. Tại Gian Cung Thánh có Bàn Thờ Hương, Bàn Bánh Tiến và Mười Chân Đèn bằng vàng (x. 1 V 6,20-21; 7,48-49). Nơi Cực Thánh nằm giữa Đền Thờ có một Bàn Thờ bằng gỗ bá hương và được dát bằng vàng ròng (x.1 V 6,2. 16-22). Tại Nơi Cực Thánh, Hòm Bia Giao Ước được đặt ngay dưới đôi cánh của hai bức tượng Thần sứ Kêrubim. Vào năm 586 trước Công Nguyên, quân Babylon xăm lăng tàn phá thành Giêrusalem và Đền Thờ Salômon này cũng bị phá hủy. Các báu vật trong Đền Thờ đã bị chiếm đoạt mang về Babylon.
Đền thờ sau lưu đày : Được xây trên nền của Đền Thờ cũ và kích thước cũng như trước. Đền Thờ này kém bề thế hơn và Nơi Cực Thánh để trống không. Trong Gian Cung Thánh có đặt một Chân Đèn 7 Ngọn thay cho 10 ngọn đèn như trong Đền Thờ Salômon trước đó. Dân hồi cư trước hết đã tái lập Đền Thờ Toàn Thiêu. Việc xây dựng Đền Thờ Kéo dài trong 5 năm và được thánh hiến vào năm 515 trước Công Nguyên. Năm 169 Đền Thờ này lại bị vua Antiôcô IV chiếm đoạt và xúc phạm. Đến năm 164, Giuđa Máccabê đã thanh tẩy Đền Thờ, lập một Bàn Thờ Toàn Thiêu mới và trang hoàng lại Gian Cung Thánh.
Đền thờ Hêrôđê : Để tranh thủ sự ủng hộ của dân chúng, Hêrôđê đã mở rộng chu vi và trang trí lại bên trong Đền Thờ. Công việc trùng tu Đền Thờ bắt đầu từ năm 20 trước Công Nguyên và đến năm 26 sau Công Nguyên mới tạm xong và được tổ chức khánh thành các công trình chính (x.Ga 2,20). Sau đó việc trùng tu Đền Thờ lại tiếp tục đến năm 63 sau Công Nguyên mới chấm dứt. Về mặt cấu trúc : Đền Thờ có bốn hàng cột nằm ở ba mặt của Đền Thờ : Về phía Đông có hành lang Salômon (x. Cv 3,11; 5,12); Phía Tây Bắc có pháo đài Antônia thông ra sân ngoài. Nơi đây thường xuyên có một tiểu đoàn quân lính Rôma trú đóng, mục đích giữ gìn an ninh trật tự trong các dịp lễ lớn của dân Do Thái và sẵn sàng trấn áp bạo loạn (x. Cv 21,31-37). Đền Thờ có bốn cổng lớn . Một bức tường bằng đá được dùng làm ranh giới cấm lương dân vượt qua. Nội vi Đền Thờ có nhiều sân : Bên ngoài bức tường đá là sân lương dân, là nơi các luật sĩ thường lui tới bàn luận với nhau (x. Cv 3,11). Sân nữ giới nằm giữa nơi có dân chúng ra vào và ăn thông với Cửa Đẹp (x. Cv 3,2). Tiếp theo là sân Ítraen dành cho nam giới . Cuối cùng là sân Tư Tế. Tại đây có đặt một Bàn Thờ Toàn Thiêu. Cách đó 10 thước, toàn bộ thánh điện được thiết kế giống như Đền Thờ ngày xưa gồm Tiền đường, Nơi Thánh và Nơi Cực Thánh. Về số phận của Đền Thờ Hêrôđê : Đức Giêsu đã tiên báo sự sụp đổ của Đền Thờ này (x. Lc 21, 5-7). Người cũng báo cho các tín hữu biết trước về ngày thành Giêrusalem bị quân thù kéo đến bao vây và sẽ bị tiêu diệt. Sự kiện này được coi như hình bóng của Ngày Tận Thế (x. Lc 21,20-28). Quả thật, lời tiên báo của Đức Giêsu đã trở thành hiện thực : Dân Do Thái đã nổi loạn và quân Rôma do tướng Titô chỉ huy đã đến bao vây Giêrusalem. Đến ngày mùng 06 tháng 8 năm 70, thành đã bị thất thủ. Trong lúc hỗn loạn, một tên lính Rôma đã ném một bó đuốc vào trong Đền Thờ, lửa bốc cháy tấm màn che giữa Gian Cung Thánh và Nơi Cực Thánh và toàn bộ Đền Thờ đã bị thiêu hủy. Chỉ một ít đồ thánh như chân đèn 7 ngọn và Bàn Thờ Dâng Bánh còn sót lại và được mang về Rôma như chiến lợi phẩm (x. Dcr 14,1).
+ Có những kẻ bán chiên bò bồ câu và những người đang ngồi đổi tiền : Tại sân lương dân, các Tư Tế cho một số người bán chiên , bò và chim câu... để dân chúng mua mà dâng làm lễ vật cúng tế trong Đền Thờ (x. Ga 2,14; Lc 2,24). Cũng có cả những người ngồi đổi tiền từ đồng tiền của Rôma lưu hành ngoài xã hội, trên đồng tiền có hình và ký hiệu của hoàng đế Xêda (x. Lc 20,24-25), nên bị cấm lưu hành trong Đền Thờ. Dân Do Thái muốn đóng thuế Đền Thờ hay góp tiền trùng tu Đền Thờ (x. Lc 21,1-2) thì trước hết phải đổi từ tiền của Rôma thành tiền của Đền Thờ tại bàn đổi tiền rồi mới được đóng góp (x. Ga 2,14).
+ Người liền lấy dây làm roi mà xua đuổi tất cả bọn họ cùng với chiên bò ra khỏi Đền Thờ : Sự bất kính do bọn con buôn gây ra như thế khiến Đức Giêsu rất đau lòng. Người nổi cơn thịnh nộ và đã dùng giây thừng cột thú vật được ném bừa bãi ở nơi đó, chấp lại thành roi rồi dùng roi ấy đánh đuổi bọn con buôn ra khỏi Đền Thờ.
* Người nói với những kẻ bán bồ câu : "Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha Tôi thành nơi buôn bán". Các môn đệ của Người nhớ lại lời đã chép trong Kinh Thánh: "Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa, mà tôi đây sẽ phải thiệt thân". Người Do Thái hỏi Đức Giêsu: "Ông lấy dấu lạ nào chứng tỏ cho chúng tôi thấy là ông có quyền làm như thế?" Đức Giêsu đáp : "Các ông cứ phá hủy Đền Thờ này đi; nội trong ba ngày, tôi sẽ xây dựng lại" (Ga 2,16-19) :
+ "Đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán" : Nói câu này, Đức Giêsu tự xưng là Con Thiên Chúa. "Nơi buôn bán" hay "hang trộm cướp" là kiểu nói diễn tả tình trạng bất kính ở trong Đền Thờ, một nơi tôn nghiêm thờ phượng Đức Chúa ! Thế là ứng nghiệm lời các ngôn sứ đã tuyên sấm quở trách dân Do Thái xưa (x. Gr 7,11).
+ "Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa mà tôi đây sẽ phải thiệt thân" : "Sẽ phải thiệt thân" nghĩa là "sẽ phải chết". Như vậy ý nghĩa lời Thánh Vịnh 69,10 như sau : lòng nhiệt thành với Đền Thờ sẽ dẫn Đức Giêsu đến chỗ bị người đời bách hại (x.Ga 15,5).
+ Người Do Thái hỏi Đức Giêsu : "Ông lấy dấu lạ nào chứng tỏ cho chúng tôi thấy là ông có quyền làm như thế ?" : "Người Do Thái" trong câu này ám chỉ các chức sắc Đền Thờ như các Tư Tế và Lêvi. Họ bực tức khi thấy Đức Giêsu đuổi bọn con buôn ra khỏi Đền Thờ. Do đó họ hạch hỏi Đức Giêsu dựavào dấu lạ nào để chứng minh mình được Thiên Chúa sai đến thực sự và có quyền xua đuổi con buôn như thế. Trước đây họ cũng nhiều lần đòi Đức Giêsu chứng minh Người được Thiên Chúa sai đến, bằng cách phải làm phép cho họ thấy mà tin Người (x. Mt 12,38; Mc 8,11; Lc 11,16).
+ "Các ông cứ phá Đền Thờ này đi , nội trong ba ngày tôi sẽ xây dựng lại" : Ở đây, Đức Giêsu cho họ một phép lạ làm chứng Người được Thiên Chúa sai đến, là phép lạ Người sẽ sống lại nội trong ba ngày. Tuy nhiên Đức Giêsu xử dụng kiểu nói dụ ngôn mà các ngôn sứ hay dùng là đã gọi thân thể của mình là Đền Thờ . Câu này có nghĩa là : Dù họ có giết chết Người thì cũng chỉ trong ba ngày Người sẽ sống lại.
* Người Do Thái nói : "Đền Thờ này phải mất bốn mươi sáu năm mới xây xong, thế mà nội trong ba ngày ông xây lại được sao ?" Nhưng Đền Thờ Đức Giêsu muốn nói ở đây là chính thân thể Người. Vậy, khi Người từ cõi chết chổi dậy, các môn đệ nhớ lại Người đã nói điều đó. Họ tin vào Kinh Thánh và lời Đức Giêsu đã nói (Ga 2,20-22) :
+ Phải mất bốn mươi sáu năm mới xây xong : Các đầu mục Do Thái đã hiểu sai ý của Đức Giêsu. Họ hiểu lời Người theo nghĩa đen nên mới nói về thời gian xây dựng Đền Thờ mất 46 năm (Khởi công năm 20 trước Công Nguyên và đến năm 26 sau Công Nguyên mới tạm hoàn thành những công trình chính), đang khi ý Đức Giêsu ám chỉ Đền Thờ là Thân Thể của Người. Sau này khi Thượng Hội Đồng Do Thái xét xử Đức Giêsu do Caipha chủ tọa có hai kẻ đứng ra cáo gian rằng : "Tên này đã nói : Tôi có thể phá Đền Thờ Thiên Chúa, và nội trong ba ngày sẽ xây cất lại" (Mt 26,61). Họ cũng nhắc lại điều tố cáo này khi lăng nhục Người trên thập gía (x. Mt 27,40).
+ Nhưng Đền Thờ Đức Giêsu muốn nói ở đây là chính thân thể Người : Thân Thể Đức Giêsu phục sinh là nơi Thiên Chúa hiện diện và tỏ mình ra cho loài người (x. Ga 1,14). Thân Thể ấy là Đền Thờ Mới, là nơi thờ phượng Thiên Chúa trong thần khí và sự thật (x. Ga 4,23-24).
+ Khi Người từ cõi chết chỗi dậy, các môn đệ nhớ lại Người đã nói điều đó: Chỉ dưới ánh sáng Phục Sinh và được ơn Thánh Thần tác động, các môn đệ mới hiểu chính xác về lời nói và việc làm của Đức Giêsu (x. Ga 12,16; 14,26).
+ Họ tin vào Kinh Thánh và lời Đức Giêsu đã nói : Lời Thiên Chúa trong Kinh Thánh và Lời Đức Giêsu tiên báo đều đã được ứng nghiệm (x. Ga 18,9.32). Do đó cả hai đều được các môn đệ tôn trọng.
* Trong lúc Đức Giêsu ở Giêrusalem vào dịp lễ Vượt Qua, có nhiều kẻ tin vào danh Người bởi đã chứng kiến các dấu lạ Người làm. Nhưng chính Đức Giêsu không tin họ, vì Người biết họ hết thảy, và không cần ai làm chứng về con người. Quả thật, chính Người biết có gì trong lòng con người (Ga 2,23-25) :
+ Nhiều kẻ tin vào danh Người. Nhưng chính Đức Giêsu lại không tin họ : Phép lạ chỉ kích thích trí tò mò làm cho người ta đến xem để biết thực hư ra sao. Nhưng đức Tin là bởi nghe (x. Rm 10,17) chứ không bởi thấy, như lời Đức Giêsu Phục Sinh nói với Tôma : "Vì đã thấy Thầy nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin !"( Ga 20,29). Một số khá đông dân chúng tin Đức Giêsu vì đã thấy các phép lạ Người làm (x. Ga 12,17-18). Nhưng đức tin dựa trên mắt thấy như vậy là đức tin bất toàn và không bền vững. Do đó Đức Giêsu không mấy tin các tín hữu này. Thực vậy, khi bị xét xử trước tòa quan Philatô, trong số đám đông dân chúng đòi kết án tử hình thập gía cho Ịức Giêsu, chắc không thiếu những kẻ đã từng tin và hoan hô Người là "Con Vua Ịavít", "Ịấng nhân Danh Chúa mà đến !" lúc Người khải hoàn vào thành Giêrusalem (x. Lc 19,37-38; Ga 12,12-15). Đàng khác, không phải cứ trông thấy phép lạ là người ta sẽ tin. Các kẻ thù của Đức Giêsu đã từng chứng kiến bao phép lạ người làm , thế mà họ đâu có tin. Ngược lại còn quyết tâm tiêu diệt Người nữa (x. Ga 11,45-53). Họ xuyên tạc để lôi kéo dân chúng đừng tin theo Người, như nói rằng : "Ông ta nhờ tướng quỉ mà trừ quỉ" (Mc 3,22).
+ Người biết họ hết thảy : Thánh gioan đã ghi lại nhận xét này khi thấy dân chúng nô nức đi theo Đức Giêsu. Người biết rõ ý của họ và đã nói thẳng với họ rằng : " Thật, tôi bảo thật các ông : Các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê !" (Ga 6,26). Trong phép lạ chữa bệnh nhân bại liệt, Mátthêu cũng viết : "Đức Giêsu biết ý nghĩa của họ liền nói : Sao các ông lại nghĩ xấu trong bụng như vậy ?..." (Mt 9,4).
II. Học sống Lời Chúa
1) "Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây. Đừng biến Nhà Cha tôi thành nơi buôn bán" (Ga 2,16) :
Câu chuyện : Tiếng chim hót trong bụi mận gai.
Thỉnh thoảng đài truyền hình VN lại cho chiếu bộ phim "Tiếng chim hót trong bụi mận gai" mà tác gỉa là một nữ văn sĩ người Úc theo đạo Tin Lành. Khi viết cuốn tiểu thuyết này, bà đã đứng trên quang điểm của đạo Tin Lành để phê phán luật độc thân của hàng giáo sĩ Công Giáo. Tuy nhiên, câu chuyện này cũng là cơ hội để chúng ta suy nghĩ về sức mạnh của đồng tiền ảnh hưởng thế nào trong cuộc sống cá nhân và cộng đoàn Giáo Hội. Câu chuyện về một linh mục là Cha Ráp (Ralph). Ráp là một linh mục trẻ nhiều tài năng nhưng cũng đầy tham vọng. Vị linh mục này có khá nhiều ưu điểm, có sức cuốn hút nhiều người đến với mình. Nhưng đồng thời ông ta cũng muốn được nổi danh và ham mê tiền bạc. Trong số các người mến mộ Cha Ráp, có một bà già quí phái giàu có. Bà quí mến Cha cách đặc biệt nhưng không được đáp lại, nên tình yêu đã biến thành thù hận. Thay vì trả thù theo kiểu thường tình, thì người đàn bà này có sáng kiến gài bẫy để bôi đen cuộc đời vị linh mục trẻ : Trước khi chết, bà đã làm tờ di chúc dâng cúng toàn bộ tài sản kếch sù của bà cho Giáo Hội Công Giáo, với điều kiện duy nhất là Giáo Hội phải cử Cha Ráp làm quản lý số tài sản đó. Cách trả thù của bà quí phái giàu có đã thành công : Cha Ráp dần dần được cất nhắc lên địa vị khá cao trong Giáo Hội. Nhưng đồng thời chính đồng tiền mà Cha quản lý đã làm cho đời sống tinh thần của Cha ngày một xuống cấp và cuối cùng Cha đã sa ngã vào các đam mê tội lỗi, trái với sự tình nguyện "sống độc thân vì Nước Trời" mà Cha đã khấn hứa.
Suy nghĩ và thảo luận :
+ Suy nghĩ: Câu chuyện trên dầu sao cũng nói lên một thực tại : Hễ là người thì dù ở trong bất cứ hoàn cảnh hay bậc sống nào, nếu không biết khôn ngoan phòng tránh, thì đều có nguy cơ bị ngã gục trước sức mạnh của đồng tiền ! Thực ra : Tiền của là một nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống : "Đồng tiền liền khúc ruột !", hay như lời Chúa dạy : "Kho tàng của anh ở đâu thì lòng anh ở đó" (Mt 6,21). Tiền bạc giúp người ta sống xứng với nhân phẩm : "Phú quí sinh lễ nghĩa, bần cùng sinh đạo tặc !". Tiền bạc cần để duy trì các hoạt động của mọi tổ chức từ trên xuống dưới, mà còn làm được rất nhiều việc hữu ích về phụng vụ, truyền giáo, bác ái xã hội, phục vụ những người nghèo khổ, bệnh tật và bất hạnh... Tuy nhiên , "Tiền của sẽ là một đầy tớ tốt, nhưng lại là một ông chủ xấu". Bao lâu ta coi đồng tiền là phương tiện thì nó giúp ta làm được rất nhiều việc tốt đẹp hữu ích cho Chúa và tha nhân . Vì "có tiền mua tiên cũng được !". Nhưng nếu ta quá coi trọng đồng tiền, biến nó trở thành mục đích cuộc đời mình. Nếu lúc nào ta cũng lo kiếm tiền bằng bất cứ giá nào, thì bấy giờ đồng tiền sẽ trở thành ông chủ và sẽ sai khiến ta ăn ở bất công với người dưới, bất nhân độc ác khi cố tình làm ngơ trước nỗi đau của đồng loại, hoặc khi tranh chấp quyền lợi với đối phương, gian dối và lừa đảo trong các quan hệ kinh doanh làm ăn, vô lương tâm và không còn nghĩ tới tội phúc, thưởng phạt đời sau...
+ Thảo luận : Theo bạn thì việc thờ phượng Thiên Chúa tại nhà thờ và làm chứng cho Đức Kitô ngoài xã hội, Giáo Hội có cần tiền bạc không và cần tiền làm gì ? Bạn sẽ làm gì để giúp Giáo Hội có tiền bạc để phụng sự Chúa và phục vụ tha nhân cách tốt đẹp hơn ? Giả như Đức Giêsu sắp đến viếng thăm bạn, vậy cần phải cấp thời thanh tẩy những gì trong tâm hồn của bạn để tránh bị Người nổi giận?
2) Tránh trở nên chướng ngại vật cản trở tha nhân tìm đến với Chúa :
Câu chuyện : Niềm tin của Thánh Găngđi nước Ấn độ :
Khi còn là một sinh viên, Găngđi (Mahatma Gandhi) được du học tại Nam Phi một thuộc địa của nước Anh. Tại đây nổi tiếng về tệ nạn phân biệt chủng tộc. Trong thời gian này, Găngđi có dịp đọc Kinh Thánh của Kitô giáo và lập tức ông bị giáo thuyết của Đức Giêsu cuốn hút, nhất là kinh Tám Mối Phúc thật trong phần Bài Giảng Trên Núi. Ong rất tâm đắc trước lời Chúa dạy về một tình yêu phổ quát và bình đẳng giữa mọi người, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn, địa vị cao thấp, là Do Thái hay lương dân...Găngđi nghĩ rằng : Có lẽ Kitô giáo chính là giải pháp tối ưu và hữu hiệu để giải quyết tận gốc sự phân biệt giai cấp trong xã hội An Độ quê hương của ông. Găngđi nghĩ mình nên tìm hiểu và sớm gia nhập vào Kitô giáo.
Ngày nọ, Găngđi có ý định đi bộ đến một nhà thờ để mong được chứng kiến lễ nghi trong đạo và cũng để tìm hiểu thêm về giáo lý Công Giáo. Tuy nhiên, khi ông bước đến cửa nhà thờ thì bị người giữ cửa chặn lại và không cho ông bước vào nhà thờ. Bấy giờ ông cho biết ý định tìm hiểu đạo của mình. Nhưng thật là bất ngờ khi người giữ cửa lại nói như sau : "Đây là Nhà thờ dành riêng cho người da trắng. Nếu mi muốn tìm hiểu đạo, thì hãy tìm đến Nhà thờ khác dành riêng cho dân da màu mà xin !". Găngđi rất tức giận và bỏ về nhà, ông ghi lại cảm tưởng trong nhật ký của ông như sau : "Tôi rất thán phục Đức Giêsu và giáo thuyết đầy tình nhân ái khoan dung của Người. Thế nhưng tôi rất bất mãn mỗi khi tiếp xúc với các tín hữu là môn đệ của Người ! Nếu trong đạo Kitô mà cũng còn phân biệt chủng tộc như vậy, thì Kitô giáo đâu có hơn gì Ấn Giáo có phân biệt giai cấp của tôi ? Thôi, tôi cần chi phải gia nhập đạo này. Tốt nhất là tôi cứ chấp nhận có bất toàn trong Ấn Giáo và cố gắng sống theo giáo lý truyền thống của cha ông là đủ !".
Suy niệm : Vô tình hay hữu ý, ai trong chúng ta chắc cũng có lần trở thành một chướng ngại vật , ngăn cản anh chị em lương dân tìm đến gặp Chúa. Chỉ cần một lời nói sẵng giọng và thiếu tế nhị, một thái độ lạnh nhạt thiếu nhã nhặn hay một cử chỉ khinh dễ coi thường tha nhân, một hành động hẹp hòi ích kỷ trái với tinh thần quảng đại vị tha của Tin Mừng hoặc một gương mù gương xấu nơi vị chủ chăn ...là có thể chúng ta đã xua đuổi anh chị em lương dân ra khỏi nhà thờ và sau này họ khó còn cơ hội nào khác để trở lại.
3) Cứ phá đền thờ này đi, nội trong ba ngày tôi sẽ xây dựng lại (Ga 2,19) :
Câu chuyện: Tiền vào nhà, Chúa đi ra :
Ở bên Pháp, có đôi vợ chồng bác nông dân kia làm tá điền cho một ông bá tước giàu có. Đội vợ chồng này tuy nghèo nhưng lại có lòng đạo đức. Mỗi buổi sáng, khi vừa nghe tiếng chuông nhà thờ là hai vợ chồng đã lập tức thức dậy và mau mắn đến nhà thờ tham dự Thánh Lễ và Rước lễ sốt sắng. Sau lễ, họ trở về nhà, vội ăn sáng rồi vác cuốc ra đồng làm việc và mãi đến chiều tối mới trở về nhà. Ngày nào hai vợ chồng cũng đều đọc kinh tối chung với nhau trước khi ngủ. Họ luôn sốngvui vẻ hòa thuận và chưa hề nghe họ cãi vã to tiếng với nhau bao giờ. Họ được mọi người trong làng khen ngợi bình chọn là một gia đình đạo đức tiêu biểu và họ trở thành gương sáng cho các đôi vợ chồng khác học tập noi theo. Ông chủ đất này muốn thử xem lòng đạo đức của đôi vợ chồng tá điền kia có thật hay không. Một hôm, ông sai gia nhân mang một túi đựng 100 đồng tiền vàng đến bí mật để ngay trước cửa nhà của đôi vợ chồng bác tá điền. Sáng hôm ấy, khi mở cửa đi lễ như thường lệ thì phát hiện ra một túi tiền vàng được ai đó để trước cửa nhà. Thế là đôi vợ chồng thôi không đi lễ nữa và vội đóng cửa lại để đếm tiền. Đếm đi đếm lại mãi, đến nỗi họ chẳng thiết gì đến ăn uống và không ra đồng làm việc. Sau khi đã nắm vững số tiền đang giữ, hai vợ chồng bàn định tìm chỗ để cất giấu cho an toàn. Mỗi người một ý không ai chịu ai cả, và lần đầu tiên họ đã cãi vã nhau. Cuối cùng họ nhất trí sẽ để túi tiền ngay dưới gối và nằm đè lên cho chắc ăn. Tuy vậy, họ vẫn khống yên tâm, nên cả hai đều không dám rời xa chiếc giường. Thực đúng như lời Chúa đã phán : "Kho tàng của ngươi ở đâu thì lòng ngươi cũng ở đó" (Mt 6,21). Lúc nào tâm trí họ cũng nghĩ tới số tiền kia đến dộo ăn uống ngủ nghĩ thất thường. Cũng từ hôm ấy, hai vợ chồng chẳng còn tha thiết cùng đi dâng lễ mỗi sáng và đọc kinh tối chung với nhau nữa ! Lòng họ lúc nào cũng lo sợ sẽ có ngày chủ nhân túi tiền đến đòi lại số tiền ấy. Sau một tuần căng thẳng, cả hai vợ chồng đều suy nhược và bị cảm ho đau nhức phải nằm liệt giường. Khi biết rõ tình trạng của đôi vợ chồng này, một hôm ông bá tước đã đến thăm hỏi. Trong cuộc nói chuyện, ông đã ôn tồn giải thích cho đôi vợ chồng biết nguyên nhân gây ra bệnh của họ. Ông cũng tường thuật cặn kẽ các việc ông đã làm cách đó một tuần để chứng minh lời Đức Giêsu nói : "Không ai có thể làm tôi hai chủ !...Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền của được" (Mt 6,24), và lời thánh Phaolô : "Lòng yêu mến tiền của là căn nguyên của mọi sự dữ" (1 Tm 6,10). Ông bá tước đã thuyết phục được đôi vợ chồng tá điền sẵn lòng trả lại túi vàng cho ông không thiếu đồng nào. Cũng từ lúc đó, đôi vợ chồng tá điền đã tìm lại được sự bình an trong tâm hồn. Họ lại vui tươi yêu đời, sớm hôm đọc kinh dự lễ để thờ phượng Chúa, phó thác cuộc sống trong tay Chúa Quan Phòng, và thực thi giới răn yêu thương như Đức Giêsu đã dạy.
III. Hiệp sống nguyện cầu
1) Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã tỏ ra uy nghiêm và quyết liệt khi dùng roi xua đuổi bọn con buôn ra khỏi Đền Thờ, không ngại bị họ thù ghét làm hại. Nếu Chúa sống trong thời đại của chúng con hôm nay, chắn hẳn Chúa đã phải mạnh tay hơn để tẩy uế, khi nhiều ngôi Thánh Đường đã bị coi thường. Một số nhà thờ vì không có khuôn viên và chung quanh là đường đi, nên bị một số nười thiếu ý thức đem rác đến đổ bừa bãi, biến sân nhà thờ thành một bãi rác lộ thiên. Rồi chó mèo tự do phóng uế làm mất vệ sinh chung sân Nhà Chúa. Rồi cả những phần tử bất hảo cũng kéo đến tổ chức ăn nhậu, bài bạc, hút chích và đàng điếm... gây cảnh ồn ào náo loạn làm mất sự trang nghiêm trật tự lẽ ra phải có ở nơi dành riêng cho việc thờ phượng.
Lạy Chúa, nhất là thân xác của chúng con là Đền Thờ Chúa Thánh Thần, thế mà nhiều lần đã trở nên nhơ uế khi chúng con suy nghĩ, nói năng và hành động theo thói thế gian, chiều theo tính xác thịt của mình thay vì theo ý Chúa, khi chúng con chiều theo các đam mê lạc thú bất chính mà phạm tội mất lòng Chúa. Trong những ngày Mùa Chay này, xin Chúa giúp chúng con thanh tẩy tâm hồn và thể xác nhờ siêng năng đến nhà thờ cầu nguyện dâng lễ, tích cực tham dự các buổi tĩnh tâm, làm các việc hãm mình để biểu lộ tâm tình sám hối, quyết tâm đổi mới đời sống để mỗi ngày trở nên con ngoan hiếu thảo của Chúa Cha, và sống hòa thuận yêu thương để trở thành anh chị em thực sự của mọi người. X) Hiệp cùng Mẹ Maria. - Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con .
2) Lạy Thánh Mẫu Maria, trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu đã trả lời cho các đầu mục Do Thái về dấu lạ chứng minh Người có quyền xua đuổi con buôn ra khỏi Đền Thờ. Đó là : " Cứ phá hủy Đền Thờ do tay người phàm xây dựng, và chỉ trong ba ngày tôi sẽ xây dựng một Đền Thờ khác không phải do tay người phàm !" (Mc 14,58; Ga 2,19).
Lạy Mẹ, chúng con hiểu rằng Chúa muốn dạy chúng con : cần phải phá hủy con người cũ với những đam mê tội lỗi, để từ đó phát sinh ra một con người mới thánh thiện đẹp lòng Thiên Chúa. Những việc thờ phượng có tính hẹp hòi, nặng hình thức phải được thay bằng một tâm tình yêu mến tha thiết. Cần phải thờ phượng Chúa trong thần khí và sự thật (x. Ga 4,23). Vậy trong những ngày Mùa Chay này, xin Mẹ giúp chúng con thanh luyện và đổi mới cách thờ phượng theo thánh ý Chúa. X) Hiệp cùng Mẹ Maria. - Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con.
Lm Đan Vinh.
 

MC3-B14. VÌ THƯƠNG, THIÊN CHÚA DẠY CHÚNG TA MỘT CÁCH SỐNG KHÔN NGOAN

Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa mà tôi đây sẽ phải thiệt thân" (Ga 2,17):
Minh họa
- Mille images 72 C
- "Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa mà tôi đây sẽ phải thiệt thân" (Ga 2,17)
Sợi chỉ đỏ
- Bài đọc I (Xh 20,1-17) : Khôn ngoan là sống theo các giới luật của Thiên Chúa.
- Bài Tin Mừng (Ga 2,13-25) : Đức Giêsu làm gương sống khôn ngoan : nhiệt thành với Thiên Chúa đến nỗi dám làm những việc có thể nguy hiểm đến mạng sống mình (như thanh tẩy đền thờ Giêrusalem).
- Bài đọc II (1 Cr 2,13-25) : Người đời khó mà hiểu được sự khôn ngoan ấy. Vì thế thập giá bị người do thái coi là vấp phạm và người hy lạp cho là điên rồ.
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ Anh chị em thân mến
 

Thế nào là khôn ngoan ? Phải chăng là khéo léo để được hơn người, để làm ăn thành đạt, để : MC3-B14

Thế nào là khôn ngoan ? Phải chăng là khéo léo để được hơn người, để làm ăn thành đạt, để được người đời khen ngợi ? Thế nhưng "lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì có ích gì ?" Sự khôn ngoan của thế gian chỉ là ngu dại trước mắt Thiên Chúa. Hôm nay Lời Chúa sẽ dạy chúng ta một cách sống khôn ngoan thực sự sẽ mang hạnh phúc đến cho ta chẳng những ở đời này mà còn cả đời sau. Xin Chúa thương ban cho chúng ta sự khôn ngoan ấy.
II. GỢI Ý SÁM HỐI - Người khôn ngoan là người sống theo luật Chúa. Thế nhưng rất nhiều lần chúng ta đã vi phạm luật Ngài.
- Thập giá Đức Giêsu là sự điên rồ đối với thế gian, nhưng là sự khôn ngoan vô cùng của Thiên Chúa. Nhưng nhiều khi chúng ta trốn tránh thập giá, vất bỏ những thập giá Chúa gởi đến cho chúng ta.
- Thân xác và tâm hồn chúng ta là đền thờ của Thiên Chúa. Nhưng chúng ta đã để đền thờ ấy ra dơ bẩn. Xin Chúa thương thanh tẩy.
III. LỜI CHÚA 1. Bài đọc I : Xh 20,1-17
Sau khi dân Israel được giải phóng khỏi ách nô lệ Ai cập, họ xuất hành qua sa mạc. Khi đến núi Sinai, Thiên Chúa gọi Môsê lên với Ngài và Ngài ban cho dân 10 điều luật.
Thực ra khi mới ra khỏi Ai cập, họ chỉ là một đám đông chưa biết cách sống chung với nhau, chưa có tinh thần tập thể, cũng như chưa có một đức tin chung. Nhờ những điều luật này, họ biết sống với nhau bằng tình thương (phần thứ hai của thập giới : yêu người) và biết sống với Thiên Chúa bằng lòng kính mến (phần đầu của thập giới : mến Chúa).
2. Đáp ca : Tv 18
Thánh vịnh này ca ngợi luật pháp của Chúa : a/ đó là luật toàn thiện ; b/ rất hữu ích cho cuộc sống ; c/ vì thế nó đáng quý chuộng hơn mọi thứ quý giá nhất ở đời.
3. Tin Mừng : Ga 2,13-25
Tường thuật việc Đức Giêsu đánh đuổi những người buôn bán trong sân Đền thờ Giêrusalem. Đối với thánh Gioan, điều đáng chú ý nhất là sự nguy hiểm của việc làm này : nó sẽ dẫn Đức Giêsu tới chỗ chết (c 20 : "Các ông cứ phá huỷ đền thờ này đi. Nội ba ngày tôi sẽ xây dựng lại". c 21 "Đền thờ Đức Giêsu muốn nói ở đây là chính thân thể Ngài"). Nhưng vì nhiệt thành với Thiên Chúa nên Đức Giêsu dám chấp nhận mọi nguy hiểm (c 17 "Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa mà tôi đây sẽ phải thiệt thân").
4. Bài đọc II : 1 Cr 2,13-25
Thánh Phaolô so sánh sự khôn ngoan của Thiên Chúa và sự khôn ngoan của thế gian. Sự khôn ngoan của Thiên Chúa thể hiện rõ nhất nơi thập giá. Nhưng thập giá là cớ vấp phạm đối với người do thái và là sự điên rồ đối với người hy lạp. Tuy nhiên sự khôn ngoan Thiên Chúa trổi vượt mọi khôn ngoan của con người.
Vì thế thánh Phaolô tự hào về sự khôn ngoan của thập giá. Ngài hăng hái rao giảng sự khôn ngoan ấy và kêu gọi tín hữu hãy tìm kiếm sự khôn ngoan ấy.
IV. GỢI Ý GIẢNG * 1. "Luật pháp Chúa toàn thiện, bồi bổ tâm linh"
Ngài thời nay dị ứng với từ "luật" vì cho rằng luật gò bó tự do. Họ ghét chủ trương "vị luật".
Chính Đức Giêsu cũng đả phá chủ trương vị luật. Ngài kịch liệt công kích những người pharisêu vì họ chủ trương như thế.
Thế nhưng Chúa không phá bỏ lề luật : "Ta đến không phải để huỷ bỏ lề luật mà để kiện toàn" (Mt 5,17).
Ngài kiện toàn luật thế nào ? Bằng cách chỉ cho thấy "trái tim" của lề luật là thương yêu. Ngài tóm lược tất cả mọi lề luật vào 2 khoản là mến Chúa và yêu người. Thánh Augustinô đã hiểu như thế nên đã nói : Ama et fac quod vis, Hãy yêu đi rồi muốn làm gì thì làm.
Chính Đức Giêsu nêu gương giữ luật với tất cả tấm lòng yêu thương. Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy Ngài nổi giận khi thấy người ta làm hại đến sự thánh thiện của Đền thờ. Vì yêu mến lề luật và nhiệt thành với Thiên Chúa, Ngài đã đánh đuổi những người buôn bán ra khỏi đền thờ, một việc làm sẽ dẫn Ngài tới cái chết. "Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa mà tôi đây sẽ phải thiệt thân".
* 2. Sự khôn ngoan của Thập giá
Một vài ý tưởng của Nino Salvaneschi (trong quyển Savoir souffrir) :
- Không có tình yêu, ta không thể sống
   Không có đau khổ, ta không thể yêu
   Phải học yêu để sống tốt hơn
  Và phải học chịu khổ để yêu nhiều hơn.

- Tình yêu là nhung nhớ về cõi trời ; đau khổ là giải thoát khỏi cõi đất. Vì thế trong mọi đau khổ luôn có một cái gì đó của trời, và trong mọi tình yêu luôn có một cái gì đó của đất.
- Vui sướng làm cho tâm hồn mềm yếu, đau khổ làm cho tâm hồn cứng cáp. Vui sướng làm thỏa mãn cho riêng mình, đau khổ đi tìm một trái tim khác. Vui sướng làm hư (déformer), đau khổ huấn luyện (former) nhân cách.
- Tình yêu đến và đi, đôi khi nó đem lại cho ta một cái gì đó, nhưng đôi khi nó cướp đi tất cả. Tình yêu chỉ cất tiếng hát trong một mùa. Trái lại đau khổ đến thăm ta vào mọi lứa tuổi. Nó đến thì biến đổi đời ta, và trước lúc ra đi nó luôn để lại một cái gì đó.
- Dĩ nhiên bạn có thể chấp nhận hoặc từ chối đau khổ. Nhưng nếu chấp nhận thì bạn sẽ bình an. Còn nếu từ chối thì bạn vẫn còn phải chiến đấu mãi với chính mình.
Chịu đựng là dấu chỉ kẻ bại trận. Chấp nhận là dấu chỉ của người đang cầm vũ khí để chiến đấu.
* 3. Bài học khôn ngoan
Một  thiếu niên đi xem đấu bóng với cha sở, nói với cha rằng anh không thích vâng phục. Anh nói : "Thưa cha, con rất ghét ai bảo phải thế này, thế nọ. Không có tự do trong việc này".
Cha sở không nói một lời. Liền sau đó, họ gặp một biển chỉ đường chỉ hướng đi tới sân chơi. Cha sở làm như không thấy. Cậu bé la lên : "Chúng ta đi sai đường ! Thưa cha, cha không thấy dấu đằng kia à !".
Cha sở bình tĩnh trả lời : "Cha thấy chứ, nhưng cha nghĩ đường này xem ra tốt hơn, và cha ghét bị chỉ bảo đi đường này đường kia bởi một biển chỉ đường cũ kỹ. Nó không cho cha tự do hành động".
Cậu bé nhận ra bài học, và họ vòng trở lại đi vào hướng sân chơi.
* 4. Tuân giữ lề luật
Một người do thái nọ muốn sống thánh thiện nên đến tham khảo ý kiến của một vị Rabbi. Vị Rabbi hỏi :
- Từ trước tới nay anh sống thế nào ?
- Rất tốt, thưa ngài.
- Anh nói "rất tốt" nghĩa là sao ?
- Nghĩa là tôi không vi phạm giới luật nào cả. Tôi không kêu tên Chúa vô cớ, tôi không tục hóa ngày sabát, tôi không bất kính với cha mẹ, tôi không giết người, tôi không bất trung với vợ tôi, tôi không trộm cắp, tôi không làm chứng dối, tôi không tham muốn của cải và vợ người khác.
Vị Rabbi nói :
- Tôi hiểu. Anh đã không vị phạm giới luật nào cả.
- Đúng vậy, thưa ngài.
Nhưng vị Rabbi hỏi tiếp :
- Nhưng anh có tuân giữ các giới luật không ?
- Ngài hỏi vậy nghĩa là sao ạ ?
- Nghĩa là : anh có tôn kính tên Chúa không ? Anh có thánh hóa ngày sabát không ? Anh có hiếu kính cha mẹ không ? Anh có tôn trọng và bảo vệ mạng sống của người khác không ? Lần gần đây nhất anh nói với vợ rằng anh yêu nàng là khi nào ? Anh có chia sẻ của cải cho người nghèo không ? Anh có bảo vệ danh dự và tiếng tốt cho ai chưa ? Anh có thường giúp đỡ người khác không ?
Người do thái ra đi và suy nghĩ miên man. Từ trước tới nay anh chỉ nhìn các giới luật theo khía cạnh tiêu cực nên mọi cố gắng của anh chỉ là làm sao khỏi vi phạm luật. Nhưng nay vị Rabbi vừa chỉ cho anh một cách nhìn mới hẳn : không chỉ cố tránh vi phạm luật, mà còn phải làm những việc tốt mà luật chỉ dạy.
Kitô hữu ngày nay cũng cần lưu ý :
- Chúng ta tuân giữ lề luật không phải vì sợ Chúa phạt, mà vì yêu mến Chúa.
- Chúng ta giữ luật không phải để được Chúa yêu, mà chúng ta giữ luật bởi vì Chúa đã yêu ta.
* 5. Sự điên rồ khôn ngoan
Đức Giêsu quả là điên rồ khi dám đụng tới Đền Thánh Giêrusalem, vì đó chính là kết tinh của tình cảm, đức tin và niềm kiêu hãnh của toàn dân do thái. Việc Ngài thanh tẩy Đền thờ mang tính cách trầm trọng chẳng khác gì ai đó dám xé cờ tổ quốc hoặc đập nát tượng lãnh tụ một nước. Cho nên cái giá mà Đức Giêsu phải trả cho việc này là Ngài sẽ bị giết chết. Bài Tin Mừng hiểu được cái giá đó, nên có câu "Vì nhiệt tâm lo việc Nhà Chúa mà tôi đây sẽ phải thiệt thân".
Còn ông Phaolô thì nói với các tín hữu Côrintô : "Trong khi người do thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người hy lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đức Kitô bị đóng đinh, điều mà người do thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ". Phaolô có đầy đủ mọi điều kiện để làm một Rabbi đáng kính đối với người do thái, hoặc làm một triết gia đáng nể đối với người hy lạp. Thế mà ông bỏ tất cả để đi làm một việc điên rồ là rao giảng về thập giá.
Có nhiều điều trong cách sống của kitô hữu cũng bị người không kitô coi là điên rồ. Do người ta coi thế nên tôi không dám làm ? hay dù người ta coi thế, tôi vẫn can đảm làm, theo gương Đức Giêsu và Thánh Phaolô ?
6. Thanh tẩy đền thờ
Mahatma Gandhi, vị thánh của dân tộc Ấn Độ, trong nhật ký tự thuật của mình, ông kể rằng khi còn theo học ở Nam Phi, ông rất thích đọc Kinh Thánh, đặc biệt là "Bài giảng trên núi". Ông xác tín rằng Kitô giáo chính là giải đáp cho hệ thống đẳng cấp đã gây thương tổn cho đất nước Ấn Độ của ông từ bao thế kỷ. Ông thực sự nuôi ý định trở thành Kitô hữu.
Ngày kia, ông vào một nhà thờ để dự lễ và nghe giảng. Người ta chặn ông lại ở cửa nhà thờ và nhẹ nhàng cho ông hay rằng nếu ông muốn dự lễ, xin mời ông đến một nhà thờ dành riêng cho người da đen.
Ông ra đi và không bao giờ trở lại.
*
Tin mừng hôm nay thuật lại Đức Giêsu xua đuổi những người bán chiên bò, chim câu và những người đổi tiền ra khỏi Đền Thờ. Chắc chắn Người không hề xua đuổi những con người thành tâm thiện chí. Nhà thờ là nơi tôn nghiêm, qui tụ các tín hữu, cử hành phụng vụ Lời Chúa và phụng vụ Thánh Thể, mọi người chung một niềm tin, một lời cầu tôn vinh Thiên Chúa. Nhà thờ chính là Hội thánh thu nhỏ, không phải là ngôi nhà kín rào luỹ cấm, trái lại phải mở rộng để đón tiếp mọi người.
Hôm nay Đức Giêsu phải xua đuổi người ta ra khỏi Đền Thờ, vì Người không muốn nơi thánh thiêng trở thành cái chợ. Người không muốn nhà Cha Người bị xúc phạm. Người thấy cần phải thanh tẩy Đền Thờ. Thái độ quyết liệt của Đức Giêsu đòi chúng ta phải xét lại chính mình.
Dường như không khí chợ búa vẫn vương vấn đầu đây : Người ta hẹn hò vào các giờ lễ, họ đi nhà thờ nhưng mắt trước mắt sau, họ lo trình diễn áo quần kiểu tóc.
Có kẻ đến nhà thờ để thắp sáng hào quang cho chính mình hơn là cho Chúa.
Có những đám cưới yêu cầu bật sáng mọi bóng đèn trong thánh đường.
Có những đám ma nhà thờ phải treo cờ tang phướn rũ như một biển tím, một rừng tang. Đồng tiền đã che mờ nét tôn nghiêm nhà Chúa.
"Hãy đem tất cả những thứ này ra khỏi đây" (Ga.216). Lời bất bình đó của Đức Giêsu vẫn như còn đang nói với chúng ta hôm nay. Người muốn các nhà thờ phải là nơi thờ phượng, nơi tĩnh lặng để con người gặp gỡ Thiên Chúa. Không cần ồn ào, nặng phần trình diễn, cũng không nên máy móc, buồn tẻ khi cử hành các nghi thức phụng vụ.
Nếu mỗi thánh lễ là tái diễn Hy lễ thập giá của Đức Giêsu, Đấng đã yêu cho đến cùng, thì mỗi thánh lễ cũng mang một sức sống mới của Đấng Phục sinh. Người chính là Đền Thờ mới, nơi nhân loại sẽ thờ phượng Thiên Chúa Cha cách đích thực.
*
Lạy Cha, Mùa chay là mùa thanh tẩy các đền thờ : đền thờ vật chất là những thánh đường và đền thờ thiêng liêng là mỗi người chúng con. Xin giúp chúng con biết thanh tẩy những nhơ nhớp trong tâm hồn, hầu xứng đáng đến thờ phượng Cha trong Đền Thờ mới là Đức Giêsu, Con Cha. Amen. (Thiên Phúc, "Như Thầy đã yêu")
7. Nhà của Chúa
Lời nguyện sau đây được viết trên cửa một nhà thờ nọ :
Lạy Chúa, xin làm cho cánh cửa này đủ rộng để có thể đón tiếp mọi người nào cần đến tình thương của đồng loại, anh em, nhưng cũng đủ hẹp để có thể ngăn chận mọi kiêu căng, ganh tị,  bất hòa.
Xin làm cho ngưỡng cửa này đủ phẳng để những bước chân của trẻ thơ và những người lầm đường lạc lối vào đây mà không bị vấp ngã.
Xin làm cho nhà này là nhà cầu nguyện và là cổng dẫn vào Nước Chúa.
(Viết theo Flor McCarthy)
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI Chủ tế : Anh chị em thân mến, Đức Giêsu là Đền thờ, mỗi Kitô hữu chúng ta cũng là Đền thờ sống động của Thiên Chúa. Đền thờ này cũng cần được thanh tẩy cho xứng đáng hơn. Trong mùa Chay này, chúng ta xin Chúa giúp chúng ta :
1. Hội thánh là Đền thờ của Thiên Chúa nơi mọi người hiệp thông với Thiên Chúa và hiệp thông với nhau /. Chúng ta hãy cầu xin Chúa cho mỗi thành phần trong Hội thánh / biết loại bỏ những thái độ giả hình, kiêu căng, chia rẽ, kỳ thị / làm cản trở cho sự hiệp thông đó.
2. Thế giới và các quốc gia là đại gia đình của nhân loại, nhưng luôn trở thành chiến trường về kinh tế và chính trị / Chúng ta cầu xin Chúa cho các nhà cầm quyền / biết loại trừ tất cả mọi hình thức xâm lăng và bóc lột nhau / để các nước tôn trọng và giúp đỡ nhau phát triển.
3. Con người được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa / nhưng nhiều người đã khiến nó trở thành hình ảnh dễ sợ của ma quỉ /Chúng ta hãy cầu xin Chúa cho họ ý thức sự ghê tởm đó / để bắt tay vào việc sám hối và thanh tẩy.
4. Mỗi người Kitô hữu chúng ta đã trở thành đền thờ sống động của Thiên Chúa / Chúng ta hãy cầu xin Chúa cho anh chị em giáo hữu trong họ đạo chúng con / không ngừng thanh tẩy mình khỏi mọi tội lỗi nhất là các tội nặng.
Chủ tế  : Lạy Đức Giêsu, vì nhiệt tâm phục vụ Chúa Cha mà Chúa đã thanh tẩy đền thờ, xin ban cho chúng con thêm nhiệt tâm yêu mến Chúa, để luôn thanh tẩy tâm hồn hầu xứng đáng đón nhận dồi dào hồng ân cứu độ của Chúa. Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời
VI. TRONG THÁNH LỄ - Trước kinh Lạy Cha : Thiên Chúa là cha chúng ta. Vì thương yêu, Ngài đã chỉ dạy cho chúng ta một con đường khôn ngoan mà những kẻ thông thái nhất của thế gian cũng không thể nghĩ ra. Trong tâm tình hiếu thảo, chúng ta hãy thân thưa với Ngài.
- Trước lúc rước lễ : Thân xác chúng ta là đền thờ của Thiên Chúa. Nhưng đền thờ này đã bị dơ bẩn vì tội lỗi. Chúng ta hãy thành tâm sám hối, xin Chúa thanh tẩy để xứng đáng cho Chúa ngự vào. "Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian&"
VII. GIẢI TÁN Chúa đã dạy cho chúng ta biết rằng lề luật Chúa chính là con đường dẫn đến sự khôn ngoan và hạnh phúc đích thực. Anh chị em hãy ra về và sống theo luật Chúa. Chúc anh chị em được bình an.
 

MC3-B15. ĐỀN THỜ SỐNG ĐỘNG - Lm. Giuse Vũ Thái Hòa

Xh 20,1-17; 1 Cr 1,22-25; Ga 2,13-25
 

Trong các sách Tin Mừng, chúng ta thấy Đức Giêsu là Đấng từ bi và nhân hậu, luôn đón tiếp và: MC3-B15

Trong các sách Tin Mừng, chúng ta thấy Đức Giêsu là Đấng từ bi và nhân hậu, luôn đón tiếp và tha thứ những kẻ tội lỗi, chữa lành các bệnh nhân... Thế mà, trong đoạn Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu nổi giận “khi thấy trong Đền Thờ có những kẻ bán chiên, bò, bồ câu, và những người đang ngồi đổi tiền. Người liền lấy dây làm roi xua đuổi tất cả bọn họ cùng với chiên bò ra khỏi Đền Thờ; còn tiền của những người đổi bạc, Người đổ tung ra, và lật nhào bàn ghế của họ.” Người còn nói với những kẻ bán bồ câu: “Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán”. Tại sao Đức Giêsu lại giận dữ như thế?
Chúng ta thường hiểu sai câu chuyện Đức Giêsu đuổi những người buôn bán ra khỏi Đền Thờ. Sự hiện diện của họ rất cần thiết vì họ phục vụ khách hành hương đến từ xa, cần mua thú vật tại chỗ để dâng của lễ trong Đền Thờ theo Luật Chúa truyền. Khi bà Maria và ông Giuse đem con lên Giêrusalem để tiến dâng cho Chúa, chắc hẳn rất hài lòng khi mua được cặp bồ câu non ngay trong Đền Thờ (Lc 2,22-24).
Thật ra, khi đuổi những người buôn bán ra khỏi Đền Thờ, Đức Giêsu chống đối việc thờ phượng của người Do-thái. Khi lật nhào các quầy hàng, Người muốn lật nhào thứ tôn giáo hám lợi, mà Đền Thờ là tượng trưng. Mỗi lần Đền Thờ bĐ phá đổ, người Do-thái luôn xây cất lại. Lần này xây mất bốn mươi sáu năm mới xong. Thế mà Đức Giêsu nói phải phá hủy nó đi: “Các ông cứ phá hủy Đền Thờ này đi; nội ba ngày, tôi sẽ xây dựng lại”. Thánh sử Gioan giải thích ngay sau đó: Đền Thờ Đức Giêsu muốn nói ở đây là thân thể Người, là chính Người. Đức Giêsu ám chỉ sự thương khó và phục sinh của Người.
Đức Giêsu muốn nói với họ rằng: “Bây giờ tôi đã ở đây, các ông có thể phá hủy Đền Thờ được rồi!” Nếu đền thờ là nơi Thiên Chúa hiện diện, thì bây giờ chính Người là sự hiện diện của Thiên Chúa. Nếu đền thờ là nơi Lời Thiên Chúa, thì bây giờ chính Người là Lời Chúa.
Sau khi Đức Giêsu sống lại, các môn đệ mới hiểu ra lời nói của Người, cũng như lời Người nói với người phụ nữ miền Samari: “Đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giêrusalem...” (Ga 4,21). Đã đến giờ họ nhận ra Đền Thờ Thiên Chúa là chính Đức Kitô, là tất cả những ai tin vào Người như theo lời thánh Thánh Phaolô: “Các anh em là thân thể Đức Kitô” (1 Cr 12,27), “Nào anh em chẳng biết rằng anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao?” (1 Cr 3,16-17).
Đền Thờ mới này là nhiệm thể của Chúa Kitô, nghĩa là Giáo Hội, được xây dựng không bằng những viên gạch vô tri, nhưng bằng những viên đá sống động (1 P,2-5), đó là những môn đệ của Người, tất cả các tín hữu được Người cứu chuộc bằng cái chết của Người, tất cả những ai tuân theo giới răn của Người, như bài đọc I (trích sách Xuất Hành) đã nhắc nhở chúng ta. Và xi-măng gắn chặt các viên đá sống động này để làm nên Đền Thờ tuyệt hảo đó, chính là Tình Yêu.
Nếu khi xưa, Đức Giêsu tuyên bố với những người buôn bán ở đền thờ Giêrusalem, hôm nay Người cũng phán với chúng ta: “Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán”. Đừng lấy danh nghĩa Giáo Hội, danh nghĩa giáo xứ hay cộng đoàn công giáo của mình để làm việc thương mại, kinh doanh và mưu ích cá nhân. Đừng biến lời cầu nguyện thành chuyện buôn bán. Nói cách khác, cầu nguyện, không có nghĩa là mặc cả với Chúa. Không phải tôi dâng cúng cho nhà thờ hoặc cho người nghèo là Chúa phải nhận lời cầu xin của tôi! Không! cầu nguyện không phải là chuyện thương mại!
Đức Giêsu muốn chúng ta cầu nguyện với niềm tin tưởng như đứa con thơ ngỏ lời với cha mẹ mình. Chúng ta cầu nguyện, vì biết rằng Chúa biết những gì chúng ta cần (Mt 6,8), vì biết Người chọn điều tốt nhất cho mình (Mt 7,11), vì biết Người luôn ở với chúng ta trong lúc hạnh phúc cũng như trong lúc gian nan thử thách (Mt 28,20).
Trong lời cầu nguyện, không phải chúng ta thay đổi Chúa, nhưng để Chúa hành động trong tâm hồn và trong đời sống chúng ta. Cũng như mỗi sáng, khi mở cửa sổ, không phải chúng ta làm cho mặt trời mọc lên, nhưng để mặt trời chiếu sáng khắp căn nhà. Cầu nguyện là mở rộng những cánh cửa tâm hồn chúng ta để đón nhận ánh sáng của Chúa. Do đó, cầu nguyện không phải là việc mặc cả với Chúa, nhưng là sự đón nhận tình yêu bao la của Người.
Ước gì trong Mùa Chay này, mỗi người chúng ta siêng năng cầu nguyện để Thiên Chúa chiếu sáng tâm hồn chúng ta hầu chuẩn bị đón mừng Chúa phục sinh là Đền Thờ Vĩnh Cửu.
NS Dân Chúa Âu Châu  Lm. Giuse Vũ Thái Hòa
 

MC3-B16. TÔN KÍNH NHÀ CHÚA - Lm. Nguyễn Văn Phan, CSsR.

Xh 20:1-17; 1 Cr 1:22-25; Ga 2:13-25
 

Sống trong thời đại tự do khi mà người ta coi luật lệ như rơm rác và tự quyết định cho mình điều này: MC3-B16

Sống trong thời đại tự do khi mà người ta coi luật lệ như rơm rác và tự quyết định cho mình điều này đúng điều kia sai, chúng ta có thể tự hỏi số phận của 10 điều răn rồi sẽ ra sao đây. Thập giới thật sự có còn chỗ đứng hay là đã hơi cổ hủ lỗi thời? Việc Thiên Chúa trao ban thập giới cho ông Môsê trên núi Sinai đánh dấu ngày khai sinh ra đất nước Israen. Bởi thế đối với dân Do thái, tuân giữ lề luật trong đời sống hằng ngày không nhằm tới việc làm điều đúng, tránh điều sai, nhưng được coi là thể hiện trong cuộc sống mối tương quan với chính Thiên Chúa. Giữ giới luật, đối với họ, chính là đem tình yêu đáp lại khôn ngoan thượng trí của Thiên Chúa, Ịấng đã tự mình kết giao với dân Ngài. Họ xem những giới luật như là những điều khôn ngoan thượng trí của Thiên Chúa chia sẻ với họ như một quà tặng - như một lời mời gọi họ cư xử như chính Thiên Chúa chứ không phải là một thước đo lòng tuân phục - vâng lời nơi họ. Xã hội chúng ta tiến bộ và lý luận cao hơn dân Israen thời ông Môsê, nhưng đúng sai phải trái thì ngàn đời vẫn thế. Mười giới răn ngày xưa vẫn còn là cội rễ của đức tin chúng ta ngày nay. Bất cứ quốc gia nào không giữ được điều cơ bản này làm thành mẫu mực cho cuộc sống, thì quốc gia đó khó lòng tồn tại. Chúng ta vẫn còn cần đến thập giới vì chúng ta là gạch, là vữa để kết xây nên nền tảng vững chắc của một xã hội ổn định.
Khi xua đuổi những người buôn bán trong Ịền Thờ, Ịức Chúa Giêsu đã bộc lộ cho chúng ta thấy lòng tôn kính của Người đối với nhà của Chúa, và để lại cho chúng ta một tấm gương sáng về cung cách tôn kính những nơi thờ phượng như là những thánh địa dành riêng cho việc cầu nguyện mà thôi. Ịền thờ hôm ấy không khác gì một chốn chợ búa náo nhiệt với kẻ mua người bán. Các con buôn có lỗi vì đã dùng nơi cư ngụ của Thiên Chúa làm nơi trục lợi ích kỷ cho mình. Họ không mấy quan tâm đến tinh thần thờ phượng đích thực. Chúng ta thấy Ịức Chúa Giêsu đã tái khẳng định mạnh mẽ vì lòng tôn kính Thánh Danh Thiên Chúa và Nhà Chúa vì toàn bộ mọi việc diễn ra nơi đây đã biến thành nghi thức trống rỗng che mờ nhiệm vụ đích thực của đền thờ.
Cộng đoàn Kitô hữu thường tụ họp nhau mỗi Chúa Nhật để cử hành mầu nhiệm Thánh Thể và Tạ Ơn Thiên Chúa vì một tuần lễ đã qua. Mỗi một ngày của Chúa lẽ ra phải là một bước dẫn đưa chúng ta về quê trời, nhưng liệu có thật như thế chăng? Chúng ta có được gần Chúa hơn qua việc tham dự thánh lễ Chúa Nhật hay là việc thờ phượng ngày Chúa Nhật lại trở nên xuống dốc, trở thành một nghi thức trống rỗng, một ước lệ của xã hội hay là một cái gì chúng ta phải làm chỉ vì người ta muốn chúng ta làm? Ngày Chúa Nhật lẽ ra phải làm cho chúng ta tôn vinh Thiên Chúa cao cả, ca ngợi thế giới mà Ngài đã ban tặng cho chúng ta, và chúc mừng mọi người quanh chúng ta. Thiên Chúa mong muốn chúng ta tôn thờ Ngài không chỉ bằng môi miệng hay cử chỉ bên ngoài. Thờ phượng Thiên Chúa có nghĩa là nói: "Chúa cao cả biết bao!", là tiếng đáp trả của chúng ta khi chúng ta nhận ra sự thiện hảo của Thiên Chúa trong cuộc sống chúng ta, nhất là khi chúng ta biết rằng có Chúa là chủ chiên chăn dắt, chúng ta không còn muốn gì, không còn sợ gì? Thờ phượng Thiên Chúa và cuộc sống hằng ngày của chúng ta không hề bị chia cắt nhau. Ngày Chúa Nhật chúng ta được mời gọi đi tới nhà thờ, còn ngày thường trong suốt tuần lễ chúng ta cũng được kêu gọi trở nên ngôi thánh đường ngay trong lòng xã hội chúng ta đang sống.
NS Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp  Lm. Nguyễn Văn Phan, CSsR.
 

MC3-B17. ĐỨC GIÊSU KITÔ LÀ ĐỀN THỜ MỚI - Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

Phụng vụ Chúa Nhật III Mùa Chay Năm B mời gọi chúng ta chuyển từ Giao ước cũ, Giao: MC3-B17

Phụng vụ Chúa Nhật III Mùa Chay Năm B mời gọi chúng ta chuyển từ Giao ước cũ, Giao ước Xinai, sang Giao ước mới nơi Đức Giêsu Kitô, Đấng đã thay thế Đền Thờ Giêrusalem và trở thành nơi phượng tự mới thánh thiện, đẹp lòng Chúa Cha. Hơn nữa, Đức Giêsu chẳng những là đền thờ mà còn là của lễ hy tế toàn thiêu đẹp lòng Cha và sinh ơn cứu độ cho muôn người. Từ nay mọi lễ dâng phải được kết hợp với hy tế thập giá và phải được dâng lên từ Đền Thờ mới là Đức Giêsu Kitô mới được Chúa Cha chấp nhận. Nhờ ơn Người thanh tẩy và biến đổi, mỗi con người- nhất là Kitô hữu- cũng đã trở thành đền thờ của Thánh Thần, của Thiên Chúa. Kể từ nay mọi lễ vật muốn được đẹp lòng Thiên Chúa phải là lễ dâng của tâm hồn, của Tình Yêu, mọi lời nói, cử chỉ và hành động xâm phạm đến việc và nơi phương tự hay đến con người đều là những tội phạm thánh.
I. Lắng nghe Lời Chúa
1. Bài đọc 1: Xh 20,1-17. 2. Bài đọc 2: 1 Cr 1,22-25. 3. Bài Tin Mừng: Ga 2,13-25.
II. Tìm hiểu Lời Chúa
1.Bài đọc 1: Xh 20,1-17. Là nội dung lề luật tức mười giới luật mà Thiên Chúa ban cho dân Ítraen trên núi Xinai qua ông Môsê: 1. Không tôn thờ một thần nào khác mà chỉ tôn thờ một mình Thiên Chúa mà thôi, 2. Không được dùng Danh Đức Chúa một cách bất xứng, 3. Giữ ngày sabát vì là ngày thánh trong thời gian biểu của Thiên Chúa, 4. Thờ cha kính mẹ, 5. Không giết người, 6. Không ngoại tình, 7. Không trộm cắp, 9. Không làm chứng gian hại người. 10. Không ham muốn nhà cửa, vợ con, tôi tớ, của cải của người khác. Lề luật trên có giá trị đối với Ítraen vì Đấng ban lề luật ấy chính "là Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, Người đã đưa ngươi ra khỏi đất Ai Cập, khỏi cảnh nô lệ."
2. Bài đọc 2: 1 Cr 1,22-25. Thánh Phaolô khẳng định: Trong khi người Do Thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hy lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan thì Ngài rao giảng Đấng Kitô bị đóng đinh, điều mà người Do Thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại coi là điên rồ. Nhưng đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi, thì Đấng ấy chính là Đức Kitô, sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa.
3. Bài Tin Mừng: Ga 2,13-25. Là câu chuyện Đức Giêsu xua đuổi những người buôn bán và đổi tiền ra khỏi Đền Thờ Giêrusalem. Để làm việc đó, Đức Giêsu đã phải dùng đến vũ lực, - một sự kiện chỉ xẩy ra một lần duy nhất trong Phúc âm - và lời lẽ cương quyết "Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán." Hành động và lời nói của Đức Giêsu như 'tấn công trực diện' giới chức quyền tôn giáo và đền thờ. Vì thế mà họ hạch hỏi Người: ỀOng lấy dấu lạ nào chứng tỏ cho chúng tôi thấy là ông có quyền làm như thế?Ể Đáp lại, Đức Giêsu thách thức họ: "Các ông cứ phá hủy Đền Thờ này đi, nội ba ngày tôi sẽ xây dựng lại" Đức Giêsu ám chỉ đến con người của mình sẽ bị bầm dập và bị giết trên thập giá trong Cuộc Thương Khó và Khổ Nạn. Còn người Do Thái thì thắc mắc về việc làm sao mà trong ba ngày anh chàng Giêsu này có thể xây dựng lại một cơ sở nguy nga, hùng tráng, vĩ đại như Đền thờ Giêrusalem của họ. Hai bên không hiểu nhau, vì nói bằng hai ngôn ngữ khác nhau, theo hai tinh thần khác nhau! Lời tuyên bố của Đức Giêsu (Đền thờ Giêrusalem là Nhà của Cha Người) càng làm cho tình hình thêm trầm trọng, vì giới lãnh đạo đền thờ đã bị Người tước quyền sở hữu!
4. Sứ điệp của Lời Chúa: "Đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán."
4.1 Sứ điệp cho giới lãnh đạo Đền Thờ Giêrusalem và tín hữu Do Thái xưa.
Như chúng ta đã biết Do Thái giáo đang ở vào thời suy tàn. Người có đạo, nhất là những kẻ đứng đầu, đã lợi dụng vị thế, chức danh, quyền hạn tôn giáo để trục lợi. Cảnh buôn bán, đổi tiền ồn ào náo nhiệt trong hành lang Đền Thờ Giêrusalem là một minh chứng. Đáng lẽ đây là chốn tôn nghiêm thì mọi người phải giữ thinh lặng và sạch sẽ. Đáng lẽ việc hiến tế những con vật (bò, chiên, bồ câu) cho Thiên Chúa phải được thực hiện trong tinh thần vô vị lợi và cao thượng của tôn giáo thì các chức sắc của Đền Thờ đã lợi dụng cơ hội và chức quyền để bán buôn trục lợi. Sứ điệp Đức Giêsu gửi cho họ là hãy tôn kính Đền Thờ Giêrusalem là nơi thờ phượng Thiên Chúa là Cha của Người và hãy giữ cho nơi ấy sự tôn nghiêm và trầm lắng thánh thiện.
4.2 Sứ điệp cho các Kitô hữu ngày nay.
Chúng ta có thể áp dụng sứ điệp của Đức Giêsu vào hai lãnh vực: lãnh vực tôn giáo và lãnh vực con người. Lãnh vực tôn giáo được hiểu là các việc có tính tôn giáo và các cơ sở dành cho việc phượng tự tôn giáo. Cả trong các việc tôn giáo như việc cử hành các bí tích nhất là thánh lễ, cầu nguyện, cả trong các cơ sở tôn giáo như thánh đường, nhà nguyện, trung tâm hành hương, đài Đức Mẹ, đài các thánh...Đức Giêsu muốn chúng ta phải tôn trọng tính linh thiêng và thánh thiện của tôn giáo, và tuyệt đối không được để xẩy ra cảnh "buôn thần bán thánh" trong những việc ấy và ở những nơi ấy. Đã có không ít người lợi dụng danh nghĩa tôn giáo hay việc phượng tự để trục lợi cá nhân. Đã có nhiều giáo dân làm việc lành phúc đức - như dâng cúng vào nhà thờ, chia sẻ với người túng thiếu - chỉ cốt để lập công hay trao đổi với Thiên Chúa. Họ hy sinh bỏ tiền ra để Thiên Chúa ban ơn cho họ. Họ làm như họ mua được Nước Thiên Đàng bằng đồng tiền của họ. Họ cho rằng việc ăn chay kiêng thịt hy sinh bố thí của họ đổi được tất cả các ơn huệ của Thiên Chúa. Không biết cách suy nghĩ và cách hành đạo như thế có phải là chuyện "buôn thần bán thánh" mà Đức Giêsu đã lên án không? Nhưng có điều chắc chắn là mọi người được cứu độ là do Tình Yêu vô biên của Thiên Chúa, và mọi người được cứu độ bằng Máu Cực Thánh của Con Thiên Chúa làm người là Đức Giêsu đã đổ ra trên thập giá! Thánh Phaolô đã khẳng định: Chỉ có một Đấng Trung Gian duy nhất làm hòa chúng ta với Thiên Chúa. Đó là Đức Giêsu Kitô! Tất cả những hy sinh, hãm mình, việc lành phúc đức, chia sẻ và dâng cúng của chúng ta chỉ có ý nghĩa và giá trị khi chúng là những hành động tạ ơn của chúng ta đối với Thiên Chúa Tình Yêu. Vì chúng ta được Thiên Chúa yêu thương vô cùng và cứu khỏi tội lỗi và sự chết đời đời, nên để tỏ lòng biết ơn Người, chúng ta hy sinh tiền của, thời gian, công sức cho nhà thờ và phục vụ tha nhân, hay chúng ta đọc kinh, lần hạt, tham dự bí tích, hành hương cầu nguyện...
Trong lãnh vực con người thì sự sống là thánh thiêng, bất khả xâm phạm và tâm hồn con người, nhất là của người đã được in ấn tín Bí Tích Thánh Tẩy, đã trở thành Đền Thờ của Thánh Thần, của Thiên Chúa. Không một ai có quyền xâm phạm sự sống và sự thánh thiêng của con người. Những bất công, đàn áp, bóc lột, kỳ thị, loại trừ, buôn bán, lạm dụng con người đều là những xúc phạm đến đền thờ của Thiên Chúa. Những thờ ơ không quan tâm, không cứu giúp những người yếu kém, nghèo đói, hoạn nạn cũng là những xúc phạm đến đền thờ của Thiên Chúa. Cả những thờ ơ với đời sống tâm linh, không quan tâm làm cho đời sống nội tâm thăng tiến cũng là những xúc phạm đến đền thờ của Thiên Chúa. Nếu nói theo cách tích cực thì chúng ta có thể khẳng định thế này: vì sự sống là thánh thiêng, nên chúng ta có nhiệm vụ phải yêu thương, kính trọng, bảo vệ và che chở sự sống. Tương tự như thế, vì con người là đền thờ của Thiên Chúa nên chúng ta phải tôn trọng, giữ gìn và làm cho mọi con người được phát triển về mọi mặt: nhân bản cũng như tâm linh, vật chất cũng như tinh thần, kinh tế cũng như xã hội, văn hóa cũng như chính trị. Điều ấy rất phù hợp với những tuyên bố của Đức Giêsu trong Ngày Phán Xét Chung trong Mt 25.
III. Sống Lời Chúa
Mỗi ngày tôi sẽ làm một việc cụ thể (giúp đỡ vật chất, hỗ trợ tinh thần, khai sáng tâm linh) hoặc cho một người nào đó vì người ấy là đền thờ của Thiên Chúa, hoặc cho đời sống tâm linh của tôi nên sâu sắc thánh thiện hơn cho xứng là đền thờ của Thiên Chúa hơn.
IV.Cầu nguyện với Lời Chúa
Lạy Thiên Chúa là Cha, chúng con cảm tạ Cha đã ban cho chúng con Đức Giêsu Kitô Con Yêu Dấu của Cha là Đền thờ và là Lễ Tế hy sinh đẹp lòng Cha. Cùng với Người và trong Người chúng dâng cả cuộc sống của chúng con cho Cha. Xin Cha vui lòng chấp nhận. Lạy Thiên Chúa là Cha, chúng con cũng tạ ơn Cha đã biến mọi tâm hồn con người thành đền thờ của Thiên Chúa. Xin Cha ban cho chúng con ơn biết nhận ra Cha trong tâm hồn của chúng con và trong tâm hồn của mọi người. Xin Cha ban cho chúng con ơn biết yêu thương phục vụ mọi người là đền thờ của Thiên Chúa. Chúng con cầu xin, nhờ công nghiệp của Chúa Giêsu Kitô, Con Cha, Chúa chúng con. Amen.  Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.
 

MC3-B18. TIN MỪNG HAY PHIM ẢNH?

Mark Link S.J.
Chủ đề: Các sách Tin Mừng không phải chỉ ghi lại ngôn từ và hành động của Chúa Giêsu, mà còn giải thích ý nghĩa của những ngôn từ và hành động ấy. 
 

Giả như đội quay phim của đài truyền hình có thể vào trong một chiếc máy khuất phục thời gian: MC3-B18

Giả như đội quay phim của đài truyền hình có thể vào trong một chiếc máy khuất phục thời gian để bay ngược trở lại hơn 2000 năm về trước, đến thời của Ịức Giêsu đang sống. Giả như họ có thể quay phim cuộc đời của Ịức Giêsu từ lúc sinh ra tới lúc Ngài sống lại. Và giả như họ có thể đem cuốn phim ấy trở lại trong cái máy khắc phục thời gian. Hãy suy nghĩ về chuyện đó. Cuốn phim đó sẽ giúp chúng ta bước vào thế giới của Ịức Giêsu đang sống một cách chính xác. Nó cho phép chúng ta nhìn thấy những người mà Ịức Giêsu thấy, và tuyệt nhất là nó cho chúng ta thấy được chính Ịức Giêsu. Nói cách khác, thay vì đọc bài Tin Mừng hôm nay, thì chúng ta xem cuốn phim thời sự về Ngài. Và hiện tại chúng ta có thể thấy Ịức Giêsu đang đuổi bọn buôn bán ra khỏi đền thờ. Chúng ta có thể thấy những biểu lộ trên gương mặt Ngài. Chúng ta có thể nghe được chính những lời Ngài nói ra. Bây giờ bạn hãy cho phép tôi hỏi bạn một câu. Bạn có muốn đổi bốn cuốn Tin Mừng như chúng ta có hiện nay lấy cuốn phim như thế không? Giả sử rằng bạn không có thể có cả hai thứ. Bạn phải chọn một trong hai, cái này hoặc cái kia, bạn có muốn đổi các sách Tin Mừng lấy một cuốn phim như thế không? *** Nếu có ai đòi hỏi một chuyên gia nghiên cứu các sách Tin Mừng câu hỏi ấy, thì sẽ được ông trả lời : ẪTôi muốn giữ lại bốn cuốn Tin MừngỮ. Ông giải thích rất hay. Ông bảo có rất nhiều người đồng thời với Ịức Giêsu đã nghe và thấy những điều Chúa Giêsu nói và làm, nhưng họ không hiểu những lời ấy. Nếu chúng ta cũng chỉ có một cuốn phim về đời sống của Ịức Giêsu, có thể cuối cùng chúng ta cũng sẽ hiểu lầm những điều Ngài nói và làm ấy. Chúng ta hãy lấy bài Tin Mừng hôm nay làm ví dụ. Sau khi Chúa Giêsu đuổi các người buôn bán ra khỏi đền thờ,. Các nhà lãnh đạo Do thái tới hỏi Ngài: ẪÔng có thể làm một phép lạ nào để chứng tỏ cho chúng tôi thấy rằng ông có quyền làm như vậy không?Ữ. Chúa Giêsu trả lời; ẪHãy phá đền thờ này đi, rồi trong ba ngày Ta sẽ xây lạiỮ. Họ hỏi Ngài: ẪÔng sẽ xây lại đền thờ này trong vòng 3 ngày sao? Ngày xưa tổ tiên ta phải xây mất 46 năm đấy!&.Ữ Sau khi mô tả cuộc đối thoại ấy, thánh Gioan viết: ẪNhưng đền thờ mà Chúa Giêsu nói đến chính là thể xác Ngài. Vì thế, khi Ngài từ trong cõi chết sống lại, các môn đệ mới nhớ lại rằng Ngài đã nói như vậy, nên họ tin vào Thánh Kinh và những gì Ịức Giêsu đã nói: nói khác, ngay cả các môn đệ cũng không hiểu hoàn toàn những điều Ngài muốn nói vào lúc đó. Chỉ sau khi Ngài sống lại trong vinh quang thì những điều ấy mới sáng tỏ. Chúng ta hãy lấy một ví dụ khác, chẳng hạn như những gì xảy ra vào ngày lễ lá, khi Ịức Giêsu cưỡi lừa đi vào thành Giêrusalem. Sau khi mô tả quang cảnh ấy, Thánh Gioan viết: ẪLúc đó, các môn đệ không hiểu những điều ấy, nhưng khi Ịức Giêsu sống lại trong vinh quang, họ mới nhớ lại rằng Thánh Kinh đã nói những điều đó về NgàiỮ (Ga 12: 16) Cái gì sau đó đã xẩy ra cho các môn đệ khiến họ có thể hiểu được những điều ấy? chính xác là những điều Ịức Giêsu nói đã xẩy ra. Trước khi chết, Ịức Giêsu nói với các môn đệ Ngài: ẪỊấng phù Trợ, tức Thánh linhỮ, mà Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Ngài sẽ dạy cho các con mọi điều, và sẽ làm các con nhớ lại tất cả những gì Thầy đã nói với các conỮ (Ga 14: 26). Nói cách khác, những gì khiến cho bốn Phúc Âm có giá trị hơn cuốn phim, chính là những sách Tin Mừng ấy được viết trong ánh sáng của Chúa Thánh Linh khi Ngài đến vào ngày lễ Ngũ Tuần. Phúc Âm là kết quả của việc làm do Chúa Thánh Linh, nên không phải chỉ ghi lại lời nói và công việc của Ịức Giêsu, mà còn ghi cả ý nghĩa sâu thẳm ở đàng sau những lời nói và hành động ấy. Tôi xin minh hoạ điểm này. Chúng ta đã từng coi mục quảng cáo thương mại trên TV dành cho máy ảnh Polaroid có một cô gái chụp một tấm ảnh vào bữa tiệc mừng sinh nhật. Sau khi cô ta chụp xong, có một mảnh giấy trắng cuộn ra khỏi phía trước ống kính máy Polaroid. Không có gì trên tấm giấy đó cả. Nó vẫn trắng. Nhưng rồi đột nhiên trước mắt chúng ta, hình ảnh và mầu sắc bắt đầu xuất hiện trên tấm giấy trắng ấy. Mới đầu chúng còn mờ nhạt, nhưng lập tức chúng trở thành rõ sáng và sắc nét. Những biến cố trong cuộc đời Ịức Giêsu cũng giống như vậy. Mới đầu chúng dường như giống một tờ giấy trắng, không có gì là đặc biệt cả. Nhưng sau biến cố lễ Ngũ tuần. Thánh linh soi sáng tâm trí các môn đệ Ịức Giêsu về những biến cố trong cuộc đời của Ngài. Ịột nhiên những ý nghĩa sâu xa của những biến cố này bắt đâu xuất hiện rồi rõ nét giống như hình ảnh trên tờ giấy Polaroid vậy. Sự khác biệt giữa sự hiểu biết của các tông đồ về những giáo huấn của Ịức Giêsu trước và sau lễ Ngũ Tuần cũng rõ rệt giống như sự khác biệt giữa giấy Polaroid trước và sau khi nó được trưng ra ánh sáng. Vì thế bốn sách Tin Mừng được viết ra có giá trị hơn một cuốn phim như đã nói rất nhiều. Chúng không phải chỉ ghi lại ngôn từ và hành động của Ịức Giêsu, mà còn giải thích cho chúng ta biết ý nghĩa của chúng. Bốn cuốn Tin Mừng là món quà của Thiên Chúa ban tặng chúng ta. Thánh Giêrônimô gọi những sách Tin Mừng là những Ẫbức thư tìnhỮ của Thiên Chúa  Cha gửi cho con cái Ngài ở dưới đất. Mùa chay là một thời gian rất thuận lợi để chúng ta tái khám phá ra quyền năng và vẻ đẹp của bốn Phúc Âm đó. Ịó là thời gian thuận lợi để chúng ta nghe Tin Mừng trong thánh lễ một cách chăm chú hơn và với nhiều yêu thương hơn. Quan trọng hơn, mùa chay là thời gian thuận lợi để tập trung cái nhìn của chúng ta vào Ịức Giêsu, nhân vật chính của bốn Phúc Âm. Ịó là thời gian để chúng ta đặt hết niềm tin vào Ngài. Nếu chúng ta làm như thế, Ngài sẽ tỏ mình ra cho chúng ta vào Chúa Nhật Phục Sinh một cách hoàn toàn mới mẻ, giống như Ngài đã tỏ mình ra cho các môn đệ Ngài vậy. Ịể kết thúc chúng ta hãy cầu nguyện. Hãy cám ơn Thiên Chúa vì Ngài đã ban cho chúng ta một món quà là Bốn cuốn Tin Mừng và hãy xin Ngài giúp chúng ta tin tưởng sâu xa hơn vào những cuốn sách đó. lạy Thiên Chúa là Cha chúng con, chúng con cám ơn Cha đã ban cho chúng con món quà là bốn cuốn Phúc Âm. Xin hãy giúp chúng con yêu mến và quí trọng những cuốn sách đó. Xin hãy giúp chúng con biết cách tự đặc mình vào địa vị các tông đồ để chúng con có thể nhìn và nghe những gì các ngài đã nhìn và đã nghe. Nhất là xin giúp chúng con sống theo bốn cuốn Tin Mừng đó. Xin hãy chỉ cho chúng con biết cách áp dụng Tin Mừng vào cuộc sống, để khi cuộc sống này hết hạn, chúng con sẽ được tham dự vào sự sống của Cha đến muôn muôn đời.
 

MC3-B19. GIỮ TRONG SẠCH NHÀ CHA

N. Quesson
 “Ịừng biến nhà Cha Tôi thành nơi chợ búaỮ
 

Trong tác phẩm “Chim hót trong bụi gai” tác giả kể chuyện một linh mục, cha Rap (Ralph) Cha: MC3-B19

Trong tác phẩm “Chim hót trong bụi gai” tác giả kể chuyện một linh mục, cha Rap (Ralph) Cha Rap là một linh mục trẻ, có khả năng nhưng lại đầy tham vọng. Cha mong muốn thành công, muốn nổi danh và cũng ham tiền. Một giáo dân đã nhận ra chân tướng của vị linh mục. Bà phú hộ thương thầm cha nhưng không được đáp lại. Bà liền trả thù bằng cách hiến toàn bộ tài sản của bà cho Giáo hội, với điều kiện phải giữ cha Rap làm quản lý tài sản đó. Cách trả thù của bà phú hộ đã thành công. Câu chuyện cốt phê bình chỉ trích Giáo hội, nhưng cũng nói lên một thực tại, Giáo hội của Ịức Kitô bản chất tinh tuyền nhưng lại gồm những con người bằng xương bằng thịt và có thể bị ảnh hưởng xấu do tiền của. Là con người, thì ai cũng phải cẩn thận lắm khi sử dụng tiền của. Tiền của cần thiết cho mọi người, cho mọi tổ chức và cho cả Giáo hội. Nhưng nó dễ chiếm địa vị độc tôn, khi ấy nó trở thành chủ nhân như Chúa cảnh giác ta về tình trạng đó: “Các con không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền của” (Mt 6, 24) Tục ngữ có nói, đồng tiền liền khúc ruột. Còn Chúa Giêsu bảo ta: “Kho tàng con nơi đâu thì lòng dạ con ở đó” (Mt 6, 21). Cũng như khi ta đặt một đồng tiền trước mắt, thì nó che chắn hết mọi cảnh vật, và trong thực tế nó có thể che chắn cả việc đạo đức, cả mọi ý hướng tốt lành. Và nhiều khi có tiền bạc xen vào các việc thờ tự thì người ta dễ hiểu lầm. Phụng vụ xưa cũng như nay, cần có những lễ vật. Lễ vật trong phụng vụ xưa là chiên bò, chim câu cũng như bây giờ có hương hoa, đèn nến. Những thứ đó là tuỳ phụ, giúp con người biểu lộ tâm tình thờ phượng. Nhưng một khi những thứ tuỳ phụ đó lại trở thành chính cốt thì con người quên cả tâm tình bên trong. Và Chúa Giêsu đã phải tuyên bố: “Ịừng biến nhà Cha Ta thành nơi buôn bán” (Ga 2, 16) Chúa không ưa kiểu tính toán của dân buôn, không thích nghe tiếng sột soạt, leng keng của tiền bạc bên cạch bàn thờ.  Chúa Giêsu nói tới Nhà Cha với một cảm tình quen thuộc, thân thương. Chúng ta tới với Chúa như người con về nhà Cha mình. Ịó là cốt lõi của phụng tự, của nghi lễ, của cầu nguyện, của cuộc đời Kitô hữu. Vậy điều cần thiết là phải lo sao cho tinh thần trong sạch, hơn mọi lối lo khác, hơn mọi dáng vẻ vật chất, và đẹp đẽ trong phụng vụ, trong tổ chức, trong việc tô điểm Giáo đường, và mọi sinh hoạt tôn giáo khác. Giá trị chính yếu là con người, và việc giúp con người phụng sự Thiên Chúa.
Lạy Chúa, xin giúp chúng con biết dâng hiến chính thân mình chúng con làm lễ tế sống Thánh Thiện để tôn thờ Chúa!
 

MC3-B20. ĐỀN THỜ TÂM HỒN

Đây không phải là lần duy nhất Đức Giê-su tỏ ra cương quyết trước những người Do-thái. Đền Thờ: MC3-B20

Đây không phải là lần duy nhất Đức Giê-su tỏ ra cương quyết trước những người Do-thái. Đền Thờ đối với họ dĩ nhiên vẫn là nơi dành cho việc thờ phượng Thiên Chúa, nhưng kèm theo đó là phục vụ cả những nhu cầu ít nhiều liên quan đến việc thờ phượng. Đức Giê-su có lẽ không chấp chiếm gì chuyện này. Điều làm cho Ngài nổi giận thực sự, đó là biến Đền Thờ thành nơi buôn bán. Việc chính là thờ phượng thì đã bị họ coi là phụ. Việc phụ là buôn bán thì được xem là chính đáng. “Nhà Cha Ta là nơi cầu nguyện mà các ngươi đã biến nó thành hang trộm cướp”.
Thành nơi buôn bán đã là một tội, mà biến thành hang trộm cướp còn là một sự xúc phạm lớn lao hơn. Xúc phạm không chỉ đối với việc thờ phượng, nhưng còn biến lương tâm mình trở thành gian tham, trục lợi. Người ta tận dụng mọi khả năng, mọi phương tiện, từ lời nói đến việc làm, cốt sao có lợi cho mình. Cái mặt bằng là Đền Thờ giờ đây cũng trở thành môi trường giúp người ta phạm đủ thứ tội. Lương tâm được đem ra để đấu giá. Người ta ngang nhiên xúc phạm đến Thiên Chúa là Cha của mình.
“Người chắp dây thừng làm roi và đánh đuổi tất cả bọn cùng với chiên bò ra khỏi Đền Thờ”. Thánh Gio-an đã tường thuật lại như vậy. Nhưng không chỉ có vậy. Chính tội lỗi của con người mới là điều làm cho Ngài phải quan tâm hơn. Sứ vụ của Đức Giê-su là Cứu Độ con người. Ngài mong muốn người ta quay về làm hoà với thiên Chúa trong ơn gọi làm con cái. Ngày hôm nay Chúa muốn đuổi những người Do-thái ra khỏi Đền Thờ. Nhưng suốt đời Chúa những mong muốn quét sạch tội lỗi ra khỏi tâm hồn nhân loại chúng ta.
“Hãy phá Đền Thờ này đi, trong ba ngày Ta sẽ xây lại”. Đức Giê-su chắc chắn sẽ làm được việc này. Với quyền phép của mình, xây dựng lại một Đền Thờ như thế không phải là khó. Nhưng ở đây, thánh sử Gio-an muốn nói đến sự phục sinh của Đức Giê-su sau khi chịu chết. Chịu chết để phục sinh. Chịu chết để chuộc tội. Chịu chết để con người được sống. Điều đó cho ta thấy rõ sứ vụ lớn lao của Đức Giê-su. Không phải là việc xây Đền Thờ, mà là xây dựng tâm hồn con người trở thành Đền Thờ. Nơi ấy phải xứng đáng là công trình lớn lao của Thiên Chúa. Nơi ấy, chỉ được sử dụng vào việc thờ phượng.
Chúng ta đang sống trong những ngày của Mùa Chay, mùa ăn chay, mùa cầu nguyện, mùa thực hiện những việc bác ái. Tất cả đều có thể gọi là mùa xây dựng nơi mình một Đền Thờ đích thực. Xây dựng bằng cách cương quyết xua đuổi tội lỗi trong ta. Chính ta phải làm những việc đó. Đức Giê-su mong muốn xây dựng lại trong ta một thứ Đền Thờ của tình thương, của lòng vị tha. Hãy cộng tác với Ngài.
Lạy Chúa là chủ của tâm hồn con, xin đừng nổi giận vì tội lỗi con. Xin hãy đuổi xa con những tội lỗi con đã phạm. Và hãy thương thanh tẩy để con trở thành người con dấu ái trong chương trình cứu độ của Ngài.
Lm. ĐINH VIẾT HÙNG, Giáo Phận Long Xuyên
 

MC3-B21. CHĂM LO NHÀ THỜ GIÁO XỨ – TU BỔ ĐỀN THỜ TÂM HỒN

Đối với Do-thái giáo, Lễ Vượt Qua là một đại lễ, tưởng niệm cuộc vượt qua Biển Đỏ tiến về Đất Hứa.: MC3-B21

Đối với Do-thái giáo, Lễ Vượt Qua là một đại lễ, tưởng niệm cuộc vượt qua Biển Đỏ tiến về Đất Hứa. Lễ Vượt Qua được tổ chức vào ngày 15 tháng Nissan, tức là tháng 4 dương lịch. Mọi người trong đất nước Pa-lét-tin đều về Giê-ru-sa-lem dự lễ. Cả những người tản mác khắp thế giới không bao giờ quên tôn giáo, tổ tiên cũng về dự đại lễ quan trọng nhất này. Dầu sống ở xứ nào, người Do-thái vẫn ước mơ và hy vọng được dự Lễ Vượt Qua tại Giê-ru-sa-lem ít nhất là một lần trong đời. Trong dịp này Chúa Giê-su cùng đi dự Lễ Vượt Qua với các môn đệ.
Thuế Đền Thờ là một sắc thuế mà mỗi người Do-thái từ 9 tuổi trở lên đều phải đóng. Tiền thuế là ½ siếc-lơ, tương đương với 2 ngày công nhật. Trong việc giao dịch thương mại, mọi loại tiền đều co giá trị tại Pa-lét-tin. Nhưng tiền thuế Đền Thờ phải nộp bằng đồng siếc-lơ Ga-li-lê hoặc siếc-lơ của Đền Thờ. Khách hành hương đến Đền Thờ phải đổi tiền siếc-lơ. Vì vậy trong sân Đền Thờ có nhiều người làm nghề đổi tiền. Tiền huê hồng khi đổi là ¼ ngày công cho 1 đồng. 4 đồng siếc-lơ thì người đổi được lợi một ngày công. Do đó sô tiền thuế Đền Thờ và lợi tức đổi tiền thật là lớn.
Điều khiến Chúa Giê-su nổi giận là khách hành hương phải chịu những tệ nạn của bọn đổi tiền bóc lột với giá cắt cổ. Thật là bất công và càng tệ hơn nữa khi người ta nhân danh tôn giáo để trục lợi. Bên cạnh bọn đổi tiền còn có một số người bán bò, chiên, bồ câu để khách hành hương mua làm lễ vật toàn thiêu. Điều hết sức tự nhiên và tiện lợi là có thể mua đựơc các con vật ở sân Đền Thờ. Luật quy định các con vật làm của lễ phải lành lặn không tỳ vết. Có những chức sắc kiểm tra khám xét con vật. Mỗi lần khám xét phải trả 1/12 siếc-lơ, không được mua vật ở ngoài Đền Thờ. Khốn nổi, mỗi con vật mua trong Đền Thờ đắt gấp 15 lần ở bên ngoài. Khách hành hương nghèo bị bốc lột trắng trợn khi muốn dâng lễ vật. Sự bất công này lại càng tệ hại thêm vì nó làm dưới danh nghĩa tôn giáo.
Chính những điều ấy đã làm Chúa Giê-su bừng bừng nổi giận. “Chúa lấy dây thừng bện thành roi đánh đuổi tất cả bọn họ cùng với chiên bò ra khỏi Đền Thờ; còn tiền của những người đổi bạc, Người đổ tung ra, và lật nhào bàn ghế của họ...”
Trong Tin Mừng hiếm khi ta thấy Chúa Giê-su nổi giận. Người bình thản đón lấy nụ hôn phản bội của Giu-đa; lặng lẽ trước những lời cáo gian buộc tội; xin Chúa Cha tha thứ cho những kẻ đóng đinh mình vì họ không biết việc họ làm. Chính Chúa Giê-su đã mời gọi chúng ta học lấy nơi Người bài học hiền lành và khiêm nhường. Vậy mà ở đây, Chúa đã nỗi giận đùng đùng, lật tung bàn ghế, lấy dây thừng làm roi xua đuổi tất cả.
Khung cành Đền Thờ phải là nơi yên tĩnh, thánh thiêng. Thế mà nay lại ồn ào huyên náo, mua bán đổi chác, tranh giành, cãi cọ, đôi co như là một cái chợ buôn bán sầm uất. ”Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha Ta thành nơi buôn bán” ( Ga 2, 16 ). “Nhà của Ta là nhà cầu nguyện, còn các ngươi làm thành hang trộm cướp” ( Mt 21, 12 – 13 ). Chúa Giê-su thất vọng biết bao trong tiếng than thở ấy. ”Nơi buôn bán”, “Hang trộm cướp”, Đền Thờ, nơi tôn nghiêm thờ phượng Đức Chúa, nay lại quá bất kính, quá bát nháo khiến Chúa Giê-su phải đau lòng. Lời ngôn sứ Giê-rê-mi-a quở trách dân Do-thái xưa đã nên ứng nghiệm ( x. Gr 7, 11 ). Thế là Chúa Giê-su thực hiện một cuộc thanh tẩy Đền Thờ vì Người yêu mến Đền Thờ. “Vì nhiệt tâm lo việc Nhà Chúa, mà tôi đây sẽ phải thiệt thân” ( Tv 69, 10 ). Lòng nhiệt thành với Đền Thờ sẽ dẫn Đức Giê-su đến chỗ bị người đời bách hại ( x. Ga 15, 5 ).
Tại sao Chúa Giê-su lại hành động như vậy ? Chúa Giê-su làm như vậy vì Nhà Thiên Chúa đã bị xúc phạm. Trong sân Đền Thờ có thờ phượng mà không có lòng tôn kính. Thờ phượng mà không có lòng tôn kính là việc bất xứng. Đó là việc thờ phượng hình thức chiếu lệ. Trong sân Đền Thờ, người ta cãi vã cò kè về giá cả các món hàng, tiếng ồn ào huyên náo tạo thành một cái chợ chứ không phải là Đền Thờ.
Chúa Giê-su hành động như vậy để chứng minh rằng việc dâng thú vật làm lễ tế không còn thích đáng nữa. Các ngôn sứ đã loan báo: “Đức Chúa phán, ngần ấy hy lễ của các ngươi đối với Ta nào có nghĩa lý gì ? Lễ toàn thiêu chiên cừu, mỡ bê mập, Ta chán ngấy. Máu chiên dê Ta chẳng thèm”. ( Is 1, 11 ). ”Chúa chẳng ưa thích gì tế phẩm, con có thượng tiến lễ toàn thiêu Người cũng không chấp nhận” ( Tv 50, 16 ). Thái độ thanh tẩy Đền Thờ của Chúa Giê-su chứng tỏ Chúa đòi hỏi lòng thành kính. Lễ vật đẹp lòng Thiên Chúa là tấm lòng chân thành.
Lý do thứ ba chính là “Nhà Cha Ta là nhà cầu nguyện”. Đền Thờ là nơi Thánh, là chốn Thiên Chúa hiện diện tiếp nhận phụng tự của người dâng lễ và thông ban cho họ sự sống và các ân huệ của Người. Các chức sắc Đền Thờ, các con buôn người Do-thái đã biến Đền Thờ thành nơi huyên náo, nổi loạn. Tiếng bò rống, tiếng chiên kêu, tiếng rao hàng, lời qua tiếng lại mặc cả, cãi cọ mua bán làm cho khàch hành hương không thể cầu nguyện được.
Chúa Giê-su đã thanh tẩy Đền Thờ Giê-ru-sa-lem. Ngày nay Chúa cũng muốn người tín hữu chúng ta thanh tẩy nhà xứ giáo xứ mình, thanh tẩy Đền Thờ tâm hồn mình.
Chúa Giê-su đã quan tâm đến Đền Thờ, đã thanh tẩy Đền Thờ và coi đó là nhà của Cha Người. Chúng ta cần quan tâm đến Nhà Thờ giáo xứ. Bảo vệ nơi thánh thiêng, tôn nghiêm. Loại trừ những thái độ bất kính. Giữ giữ Nhà Thờ, khuôn viên được sạch đẹp. Cùng nhau góp phần xây dựng Nhà Chúa.
Chúa Giê-su có lòng nhiệt thành đối với Nhà Cha. Người Ki-tô hữu cũng phải nhiệt thành đối với Nhà Thờ giáo xứ bằng cách giữ gìn trật tự ngăn nắp trong ngoài. Nhà Thờ không phải của Cha Xứ mà là của mỗi người góp công góp sứ xây dựng nên. Nhà Thờ là nơi người Ki-tô hữu họp nhau mỗi ngày để cử hành các Mầu Nhiệm Thánh nên luôn cần lòng tôn kính chân thành, yêu mến thiết tha.
Thiên Chúa không cần Nhà Thờ. Chỉ có con người mới cần Nhà Thờ. Không có Đền Thờ nào đẹp bằng Đền Thờ Giê-ru-sa-lem. Một công trình nguy nga tráng lệ xây cất ròng rã 46 năm. Khi đi qua, các môn đệ tự hào chỉ cho Chúa thấy sự huy hoàng của Đền Thờ, nhưng Chúa Giê-su lại nói rằng: ”...sẽ có ngày không còn hòn đá nào trên hòn đá nào !”
Khi người Do-thái chất vấn: “Ông lấy quyền nào mà làm như vậy ?” Chúa Giê-su bảo: “Cứ phá Đền Thờ này đi, trong 3 ngày Ta sẽ xây dựng lại”. Chúa ám chỉ đến cái chết và sự Phục Sinh của Người. Đền Thờ ở đây chính là thân thể Đức Giê-su mà mỗi người Ki-tô hữu là một viên đá sống động xây dựng nên Đền Thờ ấy. Thân thể phục sinh của Người là Đền Thờ mới, nơi con người thờ phượng Thiên Chúa cách đích thực, trong tinh thần và trong chân lý.
Sự thờ phượng thiêng liêng và hoàn hảo nhất chính là sự thờ phượng trong Bí Tích Thánh Thể. Chúa Giê-su vừa hiện diện vừa tự hiến. Một sự tự hiến để thờ phượng liên tục khắp mặt đất và chung của giáo hội toàn cầu. Một hiến tế vừa cảm tạ, vừa ban phát ân sủng. Người tín hữu họp nhau trong Nhà Thờ cử hành thánh lễ chính là đỉnh cao của việc thờ phượng và đón nhận ân sủng Thiên Chúa ban.
Chăm lo giữ gìn, xây dựng Nhà Thờ Giáo Xứ, người tín hữu còn phải lưu tâm xây dựng con người mình vì đó là Đền Thờ của Cha và Con ( x. Ga 14, 23 ) và chính thân xác ta cũng là Đền Thờ của Chúa Thánh Thần ( x. 1 Cr 6, 19 ). Mùa Chay là mùa tu sửa Đền Thờ tâm hồn bằng việc siêng năng đến với Nhà Thờ Giáo Xứ hàng ngày với tất cả lòng nhiệt thành yêu mến.
Lm. Giu-se NGUYỄN HỮU AN, Giáo Phận Phan Thiết
 

MC3-B22. THANH TẨY ĐỀN THỜ - Gm. NGÔ QUANG KIỆT

Một trong những vấn đề lớn của thế giới hiện nay là nạn ô nhiễm môi sinh. Các giòng sông đang: MC3-B22

Một trong những vấn đề lớn của thế giới hiện nay là nạn ô nhiễm môi sinh. Các giòng sông đang bị ô nhiễm vì biết bao chất thải dơ bẩn, độc hại. Không khí ta hít thở đang bị đe dọạ vì bụi bặm, vì khói xe, khói nhà máy. Nước biển bị ô nhiễm vì nạn dầu nhớt rò rỉ, vì chất thải của những lò phản ứng nguyên tử. Tầng khí quyển bị những chất khí độc chọc thủng đang làm thay đổi khí hậu và gây ra những căn bệnh nguy hiểm. Để con người có thể sống và phát triển được, thế giới cần phải được thanh tẩy khỏi các nguồn ô nhiễm.
Sự ô nhiễm không chỉ trong môi trường vật lý. Nhiều môi trường khác như môi trường văn hoá, môi trường đạo đức cũng đang bị ô nhiễm trầm trọng. Tôn giáo không tránh khỏi nạn ô nhiễm. Muốn cho bầu khí đạo đức được trong sạch, muốn cho đời sống tâm linh tồn tại và phát triển, tôn giáo cũng cần được thanh tẩy. Hôm nay Đức Giê-su vào Đền Thờ Giê-ru-sa-lem và đã thanh tẩy nơi tôn nghiêm này. Người đã làm 3 cuộc thanh tẩy:
1. Đức Giê-su đã thanh tẩy Đền Thờ khỏi ô nhiễm vì súc vật. Trong nghi lễ của đạo Do-thái, cần có súc vật để dâng cho Thiên Chúa. Khi dâng lễ hy sinh, người ta mổ một con thú, đặt trên bàn thờ rồi đốt lửa thiêu con vật. Mùi mỡ cháy quyện khói xông lên nghi ngút. Người giàu thì dâng một con bò hay một con chiên. Người nghèo có thể dâng một cặp chim bồ câu hoặc một đôi chim gáy. Để đáp ứng nhu cầu của tín đồ, dịch vụ cung cấp lễ vật mau chóng thành hình ngay trong khuôn viên Đền Thờ. Ta hãy tưởng tượng một chợ trâu bò ngay trong Đền Thờ. Thật là dơ bẩn, ồn ào và chướng tai gai mắt. Nhưng nhu cầu đã biện minh cho sự ô nhiễm. Và dân Do-thái mặc nhiên chấp nhận để cho súc vật nghễu nghện ngự trị ngay trong khuôn viên Đền Thờ rất nguy nga, rất lộng lẫy, rất cao sang mà họ từng ca tụng là “đền vàng”, là “nơi thánh”. Thấy nhà Chúa bị xúc phạm, Đức Giê-su không kiềm chế được cơn giận, đã lấy roi xua đuổi hết súc vật và cả đám con buôn ra khỏi Đền Thờ.
2. Khi xua đuổi các con buôn ra khỏi Đền Thờ, Đức Giê-su đã thanh tẩy thói tôn thờ ngẫu tượng. Theo Đức Giê-su, ngẫu tượng nguy hiểm nhất là tiền bạc, tức là thần “Mammon”. Đã có lần Người lên tiếng cảnh báo: “Anh em không thể làm tôi Thiên Chúa lẫn tiền của”, và “Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu có vào Nước Trời”. Những con buôn đưa súc vật vào Đền Thờ không do lòng yêu mến Chúa, nhưng vì lợi nhuận. Đưa súc vật vào nơi tôn nghiêm, họ đã coi trọng tiền bạc hơn Chúa. Để cho súc vật làm ô uế Đền Thờ cao trọng, họ đã dùng Đền Thờ làm phương tiện phục vụ túi tiền của họ. Các tư tế coi sóc Đền Thờ có lẽ cũng được chia phần nên đã cho phép con buôn được tự do họp chợ trong Đền Thờ. Họ cũng như con buôn, coi tiền bạc trọng hơn Thiên Chúa. Họ đã rơi vào thói tôn thờ ngẫu tượng: thờ tiền bạc, dùng Chúa và Đền Thờ để phục vụ tư lợi.
3. Khi đuổi súc vật ra khỏi Đền Thờ, Đức Giê su muốn thanh tẩy cung cách thờ phượng của ta. Trước kia người ta dâng súc vật làm của lễ. Lòng đạo đức được đo lường bằng sức nặng của con vật. Dâng con vật to sẽ được nhiều ơn phúc. Nay, Đức Giê-su cho thấy Chúa đã chán thịt bò, mỡ dê. Chúa đã ghê sợ mùi khói mùi khét lẹt, mùi máu tanh tưởi ( x. Is 1, 11 ). Thánh vương Đa-vít đã hiểu: “Chúa chẳng ưa thích gì tế phẩm, con có thượng tiến lễ toàn thiêu, Ngài cũng không chấp nhận” ( Tv 50, 16 ).
Chúa muốn ta đến với Người bằng chính bản thân ta. Lễ dâng đẹp lòng Chúa là thái độ khiêm nhường thống hối như lơi Thánh vịnh: “Lễ dâng Chúa là tâm hồn thống hối. Một tấm lòng tan nát dày vò, Chúa sẽ chẳng khinh chê” ( Tv 50 ). Lễ dâng đẹp lòng Chúa là phó thác trót cả tâm hồn thân xác trong tay Chúa như Đức Giê-su đã làm trên thánh giá: “Lạy Cha, con dâng phó hồn con trong tay Cha”. Lễ dâng được Chúa vui lòng chấp nhận là sát tế chính bản thân mình để làm theo ý Chúa: “Máu chiên bò Chúa không ưng. Của lễ toàn thiêu Chúa không nhận. Thì này con đến để làm theo ý Chúa”. Ta sát tế chính bản thân mỗi khi ta từ bỏ ý riêng, chiến đấu chống lại những cơn cám dỗ của dục vọng, tiền bạc, thói gian tham, tính tự ái kiêu căng, sự chia rẽ bất hoà.
Đức Giê-su đã thanh tẩy Đền Thờ. Người muốn ta hãy tiếp tục công việc của Người. Giữ gìn cho Nhà Thờ luôn sạch đẹp, có bầu khí tôn nghiêm là điều cần thiết. Nhưng cần hơn vẫn là giữ gìn ngôi Đền Thờ thiêng liêng là chính bản thân ta. Tâm hồn chính là cung thánh nơi Chúa ngự. Ta phải luôn luôn thanh tẩy tâm hồn để xứng đáng với Chúa. Hãy thanh tẩy tâm hồn khỏi thói tôn thờ tiền bạc, coi trọng tiền bạc hơn Chúa. Hãy thanh tẩy tâm hồn khỏi những dục vọng đam mê làm ô uế cung thánh của Chúa. Hãy thanh tẩy tâm hồn khỏi thói gian tham, bất công. Hãy thanh tẩy tâm hồn ta khỏi những kiêu căng đố kỵ. Thân xác ta là Đền Thờ của Chúa. Hãy kính trọng thân xác của mình và của người khác. Hãy tu bổ những Đền Thờ thân xác đã xuống cấp, suy tàn, bị xúc phạm, bị bán rẻ. Hãy sửa chữa những Đền Thờ thân xác đang bị bào mòn vì bệnh tật, vì đói khát, vì thương tích. Hãy kính trọng thân xác của người khác vì đó là Đền Thờ của Chúa.
Trong Mùa Chay này, ta hãy cố gắng thanh tẩy bản thân, để tâm hồn và thân xác ta trở thành một Đền Thờ xứng đáng cho Chúa ngự.
Gm. Giu-se NGÔ QUANG KIỆT, Giáo Phận Lạng Sơn
 

MC3-B23. NGÔI THÁNH ĐƯỜNG ĐỜI CON – Kinh Nguyện

Lạy Chúa, cuộc đời con là một ngôi Thánh Đường, Từ tro bụi, bao năm trường xây đắp, MC3-B23

Lạy Chúa, cuộc đời con là một ngôi Thánh Đường,
Từ tro bụi, bao năm trường xây đắp,
Con tự hào với tất cả niềm tin,
Bằng đôi tay, bằng mối tình nghệ sĩ,
Để vươn lên thật cao quý tôn nghiêm...
Con cố gắng, con miệt mài tìm kiếm,
Từ khắp nơi, mọi góc biển chân trời,
Trên quê hương những loại đá tuyệt vời.
Con làm việc không một lời than vãn:
Xẻ, đục, cưa và chạm trổ say mê.
Tay xây xát, con không hề bỏ cuộc,
Búa đẽo hư, con một mực kiên trì...
Con mải mê làm, cho đến khi ẩn hiện
Những phù điêu cảnh thánh điện, thiên thần
Đang tấu nhạc thật hòa vang tôn kính,
Nét vui tươi và thanh tĩnh nụ cười...
Ôi lạy Chúa, con chẳng dám che giấu Ngài,
Đôi lúc... từ tay con khi miệt mài chăm chú,
Lại nổi lên hình bọn quỷ sứ đười ươi,
Mặt gớm ghê, lại khóc cười nham nhở !
Nhưng lạy Chúa, cuộc đời con có lắm khi là... như vậy !
Con lại cố gắng, lại say mê làm lại,
Để xóa đi những kỳ quái ngu si.
Con giốc sức để một khi hoàn tất,
Ngôi Thánh Đường sẽ được thật nguy nga,
Tháp vút cao, vươn lên qua tàn lá,
Xuyên mây mù, vượt quá tầm chim bay,
Để muôn người khi đến đây chiêm ngưỡng,
Ngửng lên nhìn theo mãi hướng thiên cung...
Lạy Chúa, ngôi Thánh Đường của đời con
Không thể xong trong một sớm một chiều,
Nhưng vun đắp trải qua nhiều năm tháng,
Cùng với nhiều biến dạng của thời gian.
Có thể, con sẽ vui mừng hay than van khóc lóc,
Con sẽ đổ giọt mồ hôi khó nhọc,
Thậm chí, đổ máu đào khi học biết thương đau...
Thế nhưng, con mãi vững tin vào sức mạnh
Chẳng phải từ nơi con để vượt thắng giòng đời,
Mà tâm nguyện: chỉ nơi Ngài, Thiên Chúa,
Ngôi Thánh Đường con sẽ tựa trung kiên,
Để trụ vững giữa đảo điên nhân thế,
Để hiên ngang đứng giữa bể dâu đời...
Lạy Chúa, con chỉ là người thợ cả,
Chính Ngài, con không quá lời đâu:
Là Thiên Chúa, là Khởi-Đầu, là Chung-Cuộc,
Chính Ngài, Nhà-Kiến-Trúc của đời con...

 “La Cathédrale de ma vie” của CHARLES SINGER, chuyển thơ: Lm. LÊ QUANG UY
 

MC3-B24. NHIỆT TÂM LO VIỆC NHÀ CHÚA

CHÚA NHẬT III MÙA CHAY NĂM B (19.03.2006)
I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ
 

Người Mỹ có châm ngôn “sự thất bại nặng nề nhất của con người là đánh mất đi lòng nhiệt thành: MC3-B24

       Người Mỹ có châm ngôn sự thất bại nặng nề nhất của con người là đánh mất đi lòng nhiệt thành.” Riêng tác giả Heywood thì nói “không có gì là không làm được với một con tim bốc lửa” Xét theo một khía cạnh nào đó thì Mùa Chay là mùa cao điểm của Tình Thương Cứu Độ của Thiên Chúa, nên cũng là thời gian để các Ki-tô hữu hâm nóng lại tình yêu và nhiệt tâm đối với Thiên Chúa và đối với những gì có liên quan tới con người vì những gì thật sự có liên quan tới con người thì cũng liên quan tới Thiên Chúa.
II. LẮNG NGHE & TÌM HIỂU LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH
2.1 Lắng nghe Lời Chúa trong ba bài Thánh Kinh
(1) Bài đọc 1: Xh  20,1-17: Mười điều răn
   (1) Ngày ấy trên núi Xi-nai, Thiên Chúa phán tất cả những lời sau đây: (2) "Ta là ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi, đã đưa ngươi ra khỏi đất Ai Cập, khỏi cảnh nô lệ.  (3) Ngươi không được có thần nào khác đối nghịch với Ta.  (4) Ngươi không được tạc tượng, vẽ hình bất cứ vật gì ở trên trời cao, cũng như dưới đất thấp, hoặc ở trong nước phía dưới mặt đất, để mà thờ. (5) Ngươi không được phủ phục trước những thứ đó mà phụng thờ: vì Ta, ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi, là một vị thần ghen tương. Đối với những kẻ ghét Ta, Ta phạt con cháu đến ba bốn đời vì tội lỗi của cha ông. (6) Còn với những ai yêu mến Ta và giữ các mệnh lệnh của Ta, thì Ta trọn niềm nhân nghĩa đến ngàn đời. (7) Ngươi không được dùng danh ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi, một cách bất xứng, vì ĐỨC CHÚA không dung tha kẻ dùng danh Người một cách bất xứng. (8) Ngươi hãy nhớ ngày sa-bát, mà coi đó là ngày thánh. (9) Trong sáu ngày, ngươi sẽ lao động và làm mọi công việc của ngươi. (10) Còn ngày thứ bảy là ngày sa-bát kính ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi. Ngày đó, ngươi không được làm công việc nào, cả ngươi cũng như con trai con gái, tôi tớ nam nữ, gia súc và ngoại kiều ở trong thành của ngươi. (11) Vì trong sáu ngày, ĐỨC CHÚA đã dựng nên trời đất, biển khơi, và muôn loài trong đó, nhưng Người đã nghỉ ngày thứ bảy. Bởi vậy, ĐỨC CHÚA đã chúc phúc cho ngày sa-bát và coi đó là ngày thánh. (12) Ngươi hãy thờ cha kính mẹ, để được sống lâu trên đất mà ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi, ban cho ngươi. (13) Ngươi không được giết người. (14) Ngươi không được ngoại tình. (15) Ngươi không được trộm cắp. (16) Ngươi không được làm chứng gian hại người. (17) Ngươi không được ham muốn nhà người ta, ngươi không được ham muốn vợ người ta, tôi tớ nam nữ, con bò con lừa, hay bất cứ vật gì của người ta."
(2) Bài đọc 2: 1 Cr 1,22-25: Chúng tôi rao giảng Đấng bị đóng đinh.
   (22) Thưa anh em, trong khi người Do Thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hy Lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan,  (23) thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Ki-tô bị đóng đinh, điều mà người Do Thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ. (24) Nhưng đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi, dù là Do Thái hay Hy Lạp, Đấng ấy chính là Đức Ki-tô, sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa. (25) Vì cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người.
(3) Bài Tin Mừng: Ga 2,13-25: Đức Giê-su tẩy uế Đền Thờ.
       (13) Gần đến lễ Vượt Qua của người Do Thái, Đức Giê-su lên thành Giê-ru-sa-lem. (14) Người thấy trong Đền Thờ có những kẻ bán chiên, bò, bồ câu, và những người đang ngồi đổi tiền. (15) Người liền lấy dây làm roi mà xua đuổi tất cả bọn họ cùng với chiên bò ra khỏi Đền Thờ; còn tiền của những người đổi bạc, Người đổ tung ra, và lật ngược bàn ghế của họ. (16) Người nói với những kẻ bán bồ câu: "đem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán." (17) Các môn đệ của Người nhớ lại lời đã chép trong Kinh Thánh: Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa, mà tôi đây sẽ phải thiệt thân.
       (18) Người Do Thái hỏi Đức Giê-su: "Ông lấy dấu lạ nào chứng tỏ cho chúng tôi thấy là ông có quyền làm như thế?" (19) Đức Giê-su đáp: "Các ông cứ phá hủy Đền Thờ này đi; nội ba ngày, tôi sẽ xây dựng lại." (20) Người Do Thái nói: " Đền Thờ này phải mất bốn mươi sáu năm mới xây xong, thế mà nội trong ba ngày ông xây lại được sao?" (21) Nhưng Đền Thờ Đức Giê-su muốn nói ở đây là chính thân thể Người. (22) Vậy, khi Người từ cõi chết trỗi dậy, các môn đệ nhớ lại Người đã nói  điều đó, họ tin và Kinh Thánh và lời Đức Giê-su đã nói.
       (23) Trong lúc Đức Giê-su ở Giê-ru-sa-lem vào dịp lễ Vượt Qua, có nhiều kẻ tin vào danh Người bởi đã chứng kiến các dấu lạ Người làm. (24) Nhưng chính Đức Giê-su không tin họ, vì Người biết họ hết thảy, (25) và không cần ai làm chứng về con người. Quả thật, chính Người biết có gì trong lòng con người.
2.2 Trong ba bài Thánh Kinh trên, chúng ta khám phá ra Thiên Chúa là Đấng nào?    
(1) Bài đọc 1 (Xh 20,1-17), nếu chỉ đọc cách hời hợt, chúng ta chỉ thấy mười giới răn khô khẳng khó nuốt, còn nếu đọc với cả tấm lòng, chúng ta sẽ khám phá ra Tấm Lòng đầy Tình Thương của Thiên Chúa. Thật vậy nền tảng và động lực của mười điều răn là Giao Ước. Nguyên do của Giao Ước là Tình Thương của Thiên Chúa. Vì yêu thương dân Ít-ra-en và nhân loại, nên Thiên Chúa muốn cho họ được hạnh phúc. Để giúp dân Ít-ra-en và mọi người tìm được hạnh phúc, Thiên Chúa ban mười điều răn như những nẻo đường, những phương thế thích hợp. Chúng ta thấy Thiên Chúa hết lòng với Ít-ra-en và mong Ít-ra-en toàn tâm toàn ý với Thiên Chúa. Tình Yêu chỉ được đáp lại bằng Tình Yêu! Tấm lòng cần được đón nhận và hồi đáp bằng tấm lòng!
(2) Trong bài đọc 2 (1 Cr 1,22-25) Thánh Phao-lô Tông đồ cho thấy ngài sốt sáng nhiệt thành như thế nào trong việc rao giảng Chúa Ki-tô bị đóng đinh thập giá. Đó là điều mà con người - dù văn minh và khôn ngoan như người Hy Lạp hay đạo đức thánh thiện (được chọn là dân riêng, được các ngôn sứ dạy dỗ qua các thời đại) như người Do Thái - chẳng sao hiểu nổi, bởi vì câu chuyện thập giá là CÂU CHUYỆN TÌNH của Thiên Chúa toàn trí, toàn năng và chí ái. Deus Caritas est! Thiên Chúa là Tình Yêu! Người phàm làm sao hiểu được Thiên Chúa, hiểu được Tình Yêu của Người!
(3) Trong bài Tin Mừng (Ga 2, 13-25) Thánh Gio-an tường thuật lại một sự kiện nổi bật trước những ngày cuối cùng của Chúa Giê-su ở trần thế: tẩy uế Đền Thờ. Sự việc này xẩy ra chẳng khác gì “đổ dầu vào lửa” trong bối cảnh có nhiều người Do Thái đang tìm cách loại trừ Chúa Giê-su. Phải nhìn nhận rằng đây là lần đầu tiên trong Phúc âm chúng ta thấy Chúa Giê-su nổi giận, trước cảnh “trái tai gai mắt” đang diễn ra trong khu vực xung quanh Đền Thờ Giê-ru-sa-lem. Thánh Gio-an miêu tả Chúa Giê-su như một ngôn sứ đang bốc lửa xông vào cuộc chiến để bảo vệ quyền lợi của Thiên Chúa và sự tinh tuyền của nơi phụng thờ Người. Lửa bốc trong lòng, lửa tràn ra lời nói và hành động của Chúa Giê-su! Vì nhiệt tâm với Nhà Chúa (Cha) mà Chúa Giê-su sẽ bị bắt, bị đánh đập tàn bạo, bị kết án oan uổng và bị giết thảm thương trên thập giá. Nhưng ngọn lửa Tình Yêu ấy đã biến Người thành Của Lễ Toàn Thiêu đẹp lòng Thiên Chúa Cha và đem lại Ơn Cứu Rỗi cho muôn người.
2.3 Qua ba bài Thánh Kinh trên, Thiên Chúa muốn gửi sđiệp gì cho chúng ta?    
     Sứ điệp của Lời Chúa hôm nay là Tấm Lòng, là Tình Yêu cháy bỏng của Thiên Chúa, nhất là của Thiên Chúa Ngôi Lời nhập thể đối với Thiên Chúa Cha và đối với loài người.
      Vậy chúng ta hãy tin và đón nhận Tình Yêu ấy cũng như hãy để cho Tình Yêu ấy đốt cháy chúng ta. Nói cách khác hãy đáp lại Tình Yêu ấy bằng một Tình Yêu cháy bỏng!
III. SỐNG LỜI CHÚA HÔM NAY
Sống Lời Chúa hôm nay là nuôi dưỡng một Tâm Hồn Sốt Mến, một Lòng Nhiệt Thành, một Tình Yêu Cháy Bỏng đối với Thiên Chúa là Tình Yêu và với Công Cuộc Cứu Độ Muôn Dân của Người.
Kiểm chứng:
* Tâm hồn tôi có rạo rực mỗi khi nghĩ / nghe / nói về Chúa không?
* Tâm tư tôi có thao thức trước nỗi thống khổ của con người, nhất là của những người thấp cổ bé miệng, bị khinh khi miệt thị và loại trừ không?
* Lương tâm tôi có day dứt trước cảnh đói nghèo, bất công, tham nhũng, quan liêu và trước các tệ nạn xã hội không? 
* Chọn lựa căn bản của tôi là dũng cảm bênh vực công lý và lẽ phải, - bằng lời nói và việc làm - dù bị thiệt thân, hay im lặng đồng lõa và thỏa hiệp để được yên thân yên chỗ? 
IV. CẦU NGUYỆN  
"Vì nhiệt tâm lo việc Nhà Chúa, mà tôi sẽ phải thiệt thân”
Lạy Thiên Chúa là Cha, chúng con biết rằng chỉ vì yêu thương Ít-ra-en mà Cha đã chọn và ký kết Giao Ước với dân riêng của Cha, chỉ vì Cha muốn cho họ và mọi người được hạnh phúc mà Cha đã ban mười điều răn. Chúng con cảm tạ, ngợi khen, chúc tụng Cha và xin Cha ban ơn cho chúng con biết trân trọng Tấm Lòng Yêu Thương của Cha mà tuân giữ mười điều răn ấy.
"Vì nhiệt tâm lo việc Nhà Chúa, mà tôi sẽ phải thiệt thân"
Lạy Chúa Giê-su Ki-tô, Chúa đã vì nhiệt tâm lo việc Nhà Chúa Cha mà phải thiệt thân, chúng con cảm tạ,  ngợi khen và chúc tụng Chúa. Xin Chúa ban cho chúng con ơn biết noi gương Chúa mà nhiệt tâm lo việc nhà Chúa Cha và việc cứu rỗi anh em.
“Vì nhiệt tâm lo việc Nhà Chúa, mà tôi sẽ phải thiệt thân”
Lạy Chúa Thánh Thần là lửa thần linh, thiêu đốt mọi tâm hồn, Chúa đã thiêu đốt tâm hồn Chúa Giê-su khiến Người suốt đời nhiệt tâm lo việc Nhà Chúa (Cha), dù phải chịu đóng đinh trên thập giá. Xin Chúa Thánh Thần đốt cháy lòng chúng con để chúng con nhiệt tâm với việc của Thiên Chúa và việc của tha nhân. Amen.
       Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.                                               
       Sàigòn ngày 09.03.2006
 

MC3-B25. Đức Giêsu, Đền Thờ Thiên Chúa 

Bài đọc 1: Xh 20, 1-17 Bài đọc 2: 1 Cr 1, 22-25 Tin Mừng: Ga 2, 13-25
 

Trong hai tuần lễ vừa qua, phụng vụ lời Chúa đã cho chúng ta thấy Đức Giêsu vừa là con của con: MC3-B25

Kính thưa... Trong hai tuần lễ vừa qua, phụng vụ lời Chúa đã cho chúng ta thấy Đức Giêsu vừa là con của con người khi phải chịu cám dỗ (x. Mc 1, 12-15), nhưng cũng đồng thời là Con Thiên Chúa lời xác nhận của Chúa Cha: "Đây là Con Ta yêu dấu " (x. Mc 9, 2-10) khi Ngài biến hình trên núi. Hôm nay, phụng vụ tuần 3 Mùa Chay lại trình bày cho chúng ta một khía cạnh khác của con người Đức Giêsu. Ngài chính là Đền Thờ của Thiên Chúa, nhờ Ngài mà con người có thể đến để gặp gỡ Thiên Chúa.
1. Từ ngôi đền thờ vật chất...
Trước hết, chúng ta cùng nhìn lại công dụng của các đền thờ hay nơi thờ tự. Đền thờ hay nói chung những nơi thờ tự đúng ra phải là nơi con người đến để gặp gỡ với Đấng mình tôn thờ, đồng thời, đây cũng là nơi thuận tiện nhất để con người có thể vượt lên cảnh sống thường ngày tìm lại những phút bình an trong tâm hồn. Hơn nữa, đây cũng là nơi chúng ta trình bày những tâm tư, những khắc khoải, âu lo của mình lên với Đấng mình tôn thờ. Vì thế, có thể nói được đền thờ là nơi linh thiêng nhất trong thế giới con người. Thế nhưng, trong thực tế, nhiều nơi thờ tự đã không đáp ứng được nhu cầu thiêng liêng này của dân chúng. Những nơi này đã biến thành các trung tâm du lịch. Dân chúng và có khi cả những người phụ trách nơi thờ tự đã đặt lợi nhuận về kinh tế lên trên việc giúp cho các tín hữu thực hiện những khát vọng tâm linh.
Ngay cả đền thờ Giêrusalem, một trung tâm tôn giáo, tiêu biểu cho cả một dân tộc, một nơi có thể nói là linh thiêng nhất đối với người Do Thái cũng không thoát khỏi điều này. Họ đã biến đền thờ thành khu chợ trời, hỗn tạp khiến Đức Giêsu, một vị Thầy hiền lành cũng phải nổi cơn nóng giận. Thánh sử Gioan thuật lại: "Lễ Vượt Qua của dân Do Thái gần đến, Chúa Giêsu lên Giêrusalem. Người thấy ở trong đền thờ có những người bán bò, chiên, chim câu và cả những người đổi tiền bạc. Người chắp dây thừng làm roi, đánh đuổi tất cả bọn cùng với chiên bò ra khỏi đền thờ, Người hất tung tiền của những người đổi bạc, xô đổ bàn ghế của họ và bảo những người bán chim câu rằng: Hãy đem những thứ này đi khỏi đây, và đừng làm nhà Cha Ta thành nơi buôn bán ".
Chúng ta biết rằng, lúc bấy giờ người Do Thái đang sống dưới ách đô hộ của đế quốc La Mã, mà trên đồng tiền của người La Mã lại có in hình của hoàng đế César. Do đó, đối với dân Do Thái, đồng tiền này không thể dùng để dâng cúng vào đền thờ được vì nó ô uế. Vì thế, xuất hiện những bàn để đổi từ tiền La Mã sang tiền của Do Thái, ngõ hầu có thể dâng cúng vào đền thờ. Tương tự như thế, số chiên bò, chim câu được bày bán tại đây cũng là để giúp cho các khách hành hương đỡ phiền phức, khi phải mang các súc vật này đi từ nhà. Như thế, từ ban đầu việc buôn bán này thật chính đáng, vì nó tạo được sự thuận lợi cho những người Do Thái hành hương.
Tuy nhiên, Đức Giêsu không lên án việc chính đáng này. Điều Ngài kết án là họ đã dừng lại ở mục đích kinh tế này mà quên đi mục đích chính của đền thờ là nơi cầu nguyện. Cả ba Phúc âm Nhất lãm đều nhắc đến lời Ngài nói trong dịp này: "Nhà của Ta sẽ là nhà cầu nguyện, còn các ngươi thì đã biến nó thành hang trộm cướp" (Lc 19, 46). Đền thờ đâu còn là nơi thờ phượng Thiên Chúa, nhưng đã trở thành nơi để con người tranh giành, lừa dối nhau để kiếm tiền. Thế mà, khi bị Đức Giêsu đánh đuổi, họ đã không nhận ra lỗi lầm của mình để sửa sai, lại còn lên tiếng chất vấn Chúa: "Ông hãy tỏ cho chúng tôi thấy dấu gì ông có quyền làm như vậy" . Câu hỏi này, cho thấy, Thiên Chúa của họ không còn là Giavê, Đấng giải thoát họ khỏi ách nô lệ Ai Cập, nhưng là "Thần Tài ", là những đồng tiền trước mắt mà thôi. Và như thế, phải chăng họ đang thờ những ngẫu tượng mà sách Xuất hành đã cảnh cáo: "Ngươi không được thờ thần nào khác trước mặt Ta,...Đừng thờ lạy và phụng sự các hình tượng ấy, vì Ta là Chúa ". Hay nói theo cách nói của thánh Phaolô: " Chúa họ thờ là cái bụng... Họ là những người chỉ nghĩ đến những sự thế gian " (Pl 3, 19).
2. ... đến ngôi đền thờ của Thiên Chúa:
Đứng trước câu hỏi của người Do Thái, Đức Giêsu đã trả lời: "Các ông cứ phá huỷ đền thờ này đi, nội trong ba ngày Ta sẽ xây dựng lại". Nghe câu trả lời này dân Do Thái không hiểu Ngài định nói gì. Trước mắt họ chỉ có một ngôi đền thờ vật chất, bằng đá quý, nguy nga, sang trọng, nên họ lại thắc mắc: "Phải bốn mươi năm mới xây được đền thờ này, mà Ông, Ông sẽ dựng lại trong ba ngày ư? ". Thế nhưng, lời nói của Đức Giêsu hướng về một thực tại khác, như lời giải thích của thánh sử Gioan: "Người có ý nói đền thờ là thân thể Người". Tuy nhiên, các môn đệ cũng chỉ có thể hiểu điều này sau khi Đức Giêsu "đã từ cõi chết sống lại". Nghĩa là sau khi Ngài đã đi trọn con đường thập giá với hiến tế trên đồi Canvê.
Con đường thập giá, con đường đạt đến sự sống bằng cách vượt qua cái chết, trước mắt con người thật là một điều khó hiểu, nếu không muốn nói là một sự khờ dại, như lời thánh Phaolô: "Chúng tôi rao giảng một Chúa Kitô chịu đóng đinh trên thập giá, một cớ vấp phạm cho người Do Thái, một sự điên rồ đối với người ngoại giáo". Nhưng thánh nhân cũng kết luận: "Đối với những người được gọi, dầu là Do Thái hay Hy Lạp, Đấng ấy chính là Đức Kitô, sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa".
Thật vậy, với hiến tế này, Đức Giêsu thực sự trở thành một của lễ duy nhất có khả năng giao hoà chúng ta lại với Thiên Chúa, như lời tác giả thư Do thái: "Không phải nhờ máu dê hay máu bê, nhưng là nhờ chính Máu của Ngài, Ngài đã vào thánh điện - duy chỉ một lần - sau khi đã thành đạt việc cứu chuộc muôn đời" (Dt 9, 12). Từ đây, Đức Giêsu trở thành một đền thờ mới, nơi con người gặp gỡ được Thiên Chúa như lời Ngài nói: "Ai thấy Ta là thấy Cha" (Ga 14, 9b). Đồng thời, cũng từ nơi Đức Kitô, chúng ta sẽ nhận được các phúc lành của Thiên Chúa như lời thánh Gioan trong bài tựa Tin mừng của mình: "Vì do từ sự sung mãn của Ngài mà ta hết thảy đã chịu lấy, ơn này thay cho ơn nọ. Vì Luật đã được ban nhờ Môsê, ơn nghĩa và sự thật thì nhờ Đức Giêsu Kitô mà có" (Ga 1, 17-18).
Ý thức điều đó, kết thúc các Kinh Nguyện Thánh Thể, Giáo Hội đã tung hô: "Chính nhờ Đức Kitô, cùng với Đức Kitô và trong Đức Kitô, mọi vinh quang và danh dự đều thuộc về Cha là Thiên Chúa toàn năng đến muôn thuở muôn đời".
Lắng nghe lời Chúa hôm nay cùng với việc chiêm ngưỡng ngôi Đền Thờ mới là chính Đức Giêsu trên thập giá, mời gọi từng người chúng ta thanh tẩy con người mình, vì thánh Phaolô đã nói: "Thân mình anh em là Đền thờ của Thánh Thần" (1 Cr 6, 19). Chúng ta hãy thanh tẩy đền thờ tâm hồn chúng ta bằng cách tuân giữ các giới răn Thiên Chúa đã truyền mà chúng ta vừa nghe trong sách Xuất Hành: "Ngươi hãy nhớ thánh hoá ngày Sabát (ngày Chúa Nhật)...Ngươi hãy tôn kính cha mẹ...Ngươi chớ giết người, chớ phạm tội ngoại tình, chớ trộm cắp, chớ làm chứng dối hại anh em mình, chớ tham lam nhà của kẻ khác, chớ ham muốn vợ bạn hữu".
Và ngay giờ phút này, chúng ta hãy sửa soạn tâm hồn chúng ta thật xứng đáng với ý ngay lành để sẵn sàng rước Chúa ngự vào lòng chúng ta nhờ việc hiệp lễ. Và khi trở về nhà, chúng ta hãy luôn tôn trọng và yêu mến mọi người, nhất là những người thân trong gia đình, vì mỗi người đều là "Đền thờ của Thánh Thần". Sống được như vậy, gia đình chúng ta sẽ thật sự trở nên một Đền thờ sống động, nơi Thiên Chúa Ba Ngôi ngự trị. Amen. 
 

MC3-B26. Sự điên rồ của thập giá

Kính thưa...
1. Sự khôn ngoan của con người: 2. Sự điên rồ của thập giá:
Chúa Giêsu, đền thờ Thiên Chúa
 

Lễ Vượt Qua của người Do Thái": Đây là một trong ba lễ hành hương của người Do Thái (lễ Lều: MC3-B26

"Lễ Vượt Qua của người Do Thái": Ịây là một trong ba lễ hành hương của người Do Thái (lễ Lều, lễ Vượt qua và lễ Năm mươi). Tại sao có sự buôn bán và đổi tiền ở đền thờ? Vì khách hành hương phải dâng hy lễ và nạp nửa đồng tiền thuế, tiền riêng của Do Thái (Xh 30, 11-15; Mt 17, 24a) cho đền thờ.
+ Cấu tạo đền thờ Giêrusalem:
- Vòng ngoài là sân chư dân. - Bên trong có một hàng lan can chỉ giới hạn không cho người ngoại giáo vượt qua. - Qua sân chư dân lên mấy bậc thang là tới sân trong, chung quanh có tường dày bao bọc. Sân trong chia làm ba khu: sân phụ nữ, sân Israel và sân tư tế. Ở đó, có bàn thờ toàn thiêu. - Từ sân này có một thang 12 bậc dẫn tới nội điện. Nội điện gồm có: tiền đường, nơi thánh và nơi cực thánh. Việc buôn bán diễn ra tại sân chư dân. Chúa Giêsu đã bày tỏ một thái độ quyết liệt trước những hành động tục hóa đền thờ. Ngài hành động cho dù điều đó có thể dẫn tới hậu quả là bị hàng lãnh đạo Do Thái căm ghét và kết án tử cho Ngài. Ịền thờ là nơi cầu nguyện, nơi con người gặp gỡ Thiên Chúa, nơi Thiên Chúa hiện diện ở giữa dân Người. Như vậy, Ịức Giêsu mới thật là đền thờ của Thiên Chúa. - Chúng ta có thái độ nào đối với ngôi thánh đường của giáo xứ? - Chúng ta làm gì khi vào nhà thờ? - Chúng ta đến nhà thờ để gặp ai? - Mỗi người là đền thờ của Chúa Thánh Thần (1C 6, 19). Chúng ta chuẩn bị đền thờ của mình ra sao? 
Lm Phêrô Trần Thanh Sơn
 

MC3-B27. Giêsu là nguồn ánh sáng thật của Thiên Chúa

Đức Giêsu không cần ai làm chứng về con người. Quả thật, chính Người biết có gì trong: MC3-B27

ẪĐức Giêsu không cần ai làm chứng về con người. Quả thật, chính Người biết có gì trong lòng con người.Ữ (Gioan 2:25) Chính đức nên Ngài xuyên thấu tâm tư mọi con người. Không một góc xó nào trong lòng người có thể còn là bí ẩn dưới nguồn ánh sáng chân thật của Thiên Chúa nơi đức Kitô. Nguồn ánh sáng này quét sạch bóng tối sự dữ, báo hiệu ngày tàn của quyền lực Satan trên các thụ tạo. Ánh sáng này trở nên phao cứu mạng cho những ai đang khao khát tìm kiếm nguồn ơn thiêng trợ lực nơi Thiên Chúa, là ơn giải thoát khỏi kiếp nô lệ tôi đòi dưới tai ách tàn tệ của ma quỷ, là hồng phúc cải tử hoàn sinh cho những người biết mình đang lầm lạc. Nhưng đồng thời ánh sáng này cũng là lời phân xử công minh hãi hùng cho những kẻ ưa chuộng bóng tối, mong những hành động ám muội của họ sẽ không bị phơi bày trước mọi người. Mùa chay thánh Chúa ban cho con người cơ hội để quyết định chọn một con đuờng: a) tiếp nhận sứ điệp mới của Tin Mừng, dứt khoát từ bỏ quá khứ lầm lạc trong bóng tối, can đảm bước vào bầu trời đầy ánh sáng, khiêm nhường thú nhận tội lỗi mình cầu xin Chúa dủ tình tha thứ, để từ đây làm lại một cuộc đời trong sự hiện diện trìu mến của Chúa; b) hoặc tiếp tục bám theo ma quỷ, cố tình lẩn tránh ánh sáng của chân lý, bảo thủ với quá khứ tối tăm của mình, từ chối nguồn trợ lực của Thiên Chúa vì cho rằng mình chẳng cần Thiên Chúa. Con người có khả năng làm quyết định ấy trong ý chí tự do cao cả Chúa đã rộng lượng an bài chặt chẽ với phẩm giá từng người. Khi tin vào đức Giêsu là sống theo tinh thần mới của Tin Mừng, người ta mở rộng tâm hồn đón lấy sức sống mới tuôn trào từ Thiên Chúa, và sẽ không bao giờ bị cạn kiệt đi. Ngược lại khi khước từ triều đại mới của Thiên Chúa, người ta sẽ bị kiệt quệ dần mòn trong sức sống nhỏ nhoi đang có, xong vì hkông mở tâm hồn để tiếp nhận sinh lực mới người ta sẽ phải chết, và bị quét sạch cùng với ma quỷ khỏi miền đất dành cho người sống.
Lm. Phêrô Trần Văn Trợ SJ
 

MC3-B28. ĐỪNG BIẾN NHÀ CHA TÔI THÀNH NƠI BUÔN BÁN

Ga 2, 13-25
ẪĐem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bánỮ
Kính thưa anh chị em,
 

Bài Tin Mừng hôm nay cho chúng ta nhìn lại một cái nhìn về đền thờ của Thiên Chúa, tức là: MC3-B28

Bài Tin Mừng hôm nay cho chúng ta nhìn lại một cái nhìn về đền thờ của Thiên Chúa, tức là nơi cầu nguyện, là nơi mà Thiên Chúa được vinh quang giữa con cái loài người. Quả thật như vậy, không ai trong chúng ta nói nhà thờ là cái chợ, và cũng không có ai muốn nhà thờ trở thành nơi ngồi đấu láo giải trí hay là nơi buôn bán đổi tiền...
Chúa Giêsu đối với đền thờ rất là quan trọng, với Ngài, đền thờ chính là nhà của Cha trên trời và là nơi cầu nguyện, do đó, lòng sốt mến với đền thờ của Ngài đã làm cho Ngài nổi lên cơn bất bình mà đánh đuổi những người buôn bán ra khỏi đền thờ. Đền thờ Giêrusalem chỉ là hình bóng của một đền thờ Giêrusalem mới trên thiên đàng, đền thờ của hình bóng này sẽ biến mất theo thời gian và sẽ không còn vị trí nào nữa sau khi Chúa Giêsu từ cõi chết sống lại, chính Ngài là đền thờ và là cung thánh của Cha trên trời.
Trong bí tích Rửa Tội, tâm hồn của chúng ta cũng trở nên đền thờ của Chúa Thánh Thần, được Thiên Chúa Ba Ngôi ngự trị và là nơi mà Thiên Chúa yêu thích nhất : yêu thích nhất không phải là chúng ta xứng đáng để cho Ngài ngự, nhưng là vì linh hồn của chúng ta được Máu Thánh Con của Ngài là Chúa Giêsu rửa sạch ; yêu thích nhất không phải vì linh hồn của chúng ta sạch tội trọng tội nhẹ, nhưng là vì chúng ta đã được cứu chuộc bởi sự hi sinh cao cả do Con Một của Ngài là Chúa Giêsu thực hiện trên thánh giá.
Kính thưa anh chị em, Trong chúng ta ai cũng đều biết linh hồn chúng ta là đền thờ của Thiên Chúa, đền thờ này chắc chắn quý hơn đền thờ mà chúng ta đang ngồi đây để dâng thánh lễ. Đền thờ bằng gỗ đá không có giá trị vững bền, nhưng nó sẽ bị huỷ hoại qua dòng thời gian, đền thờ này chỉ là nơi mà Thiên Chúa tạm dùng để Ngài chuyển thông tình thương xuống cho chúng ta, qua các bí tích mà chúng ta đón nhận để củng cố và làm tăng thêm vẽ đẹp cho đền thờ linh thiêng là chính linh hồn của chúng ta.
Thế nhưng trong cuộc sống, chúng ta đã rất nhiều lần đem đền thờ linh thiêng của Thiên Chúa là linh hồn chúng ta biến thành nơi buôn bán, nơi đổi tiền và là nơi tối tăm cho ma quỷ ngự trị, đó là những khi trong lòng chúng ta chất chứa hận thù với người hàng xóm vì họ đã chửi mắng chúng ta ; đó là khi chúng ta trong lòng chứa đầy những mưu gian để cáo gian hại người anh em, chỉ vì họ quá liêm chính trong cách sống ; đó là khi chúng ta vì lợi ích cá nhân mà chà đạp danh dự của tha nhân khi chúng ta ăn gian nói dối ; đó là khi chúng ta kiêu căng phách lối với mọi người...
Hôm nay, Chúa Giêsu đã can đảm không sợ người Do Thái trả thù, cũng không sợ các thầy thông luật và các biệt phái trả thù, dù Ngài biết mình đã làm cho họ mất đi một ngày lợi tức to lớn bởi việc cho thuê đền thờ để buôn bán, mặc dù Ngài rất biết cái giá mà Ngài phải trả : bị đóng đinh trên thập giá. Đây là bài học cho mỗi người trong chúng ta : hãy dứt khoát với những thói hư tật xấu trong con người của mình, hãy mạnh dạn chặt đứt những móc xích nối chúng ta với tội lỗi, đó là những bạn bè xấu, những quyến rủ của tiền bạc, những thách đố của dục vọng... để tâm hồn của chúng ta được trở nên đền thờ sống động, đẹp đẽ và tràn ngập ân sủng Chúa, để tâm hồn chúng ta xứng đáng là nơi để cho Chúa ngự trị.
Kính thưa anh chị em, Trong thánh lễ này, chúng ta cũng cầu xin Chúa ban hoà bình cho thế giới, đặc biệt là cho dân chúng tại Iraq, nơi đang xảy ra chiến tranh tàn khốc, chúng ta hưởng ứng lời kêu gọi của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô đệ nhị, dâng nước Iraq cho Đức Mẹ Maria - là Nữ Vương Hoà Bình- và thánh cả Giuse - Đấng Công Chính- gìn giữ và che chở họ, cũng như gìn giữ và che chở cho chúng ta, việc làm này rất hợp với tinh thần mùa chay mà chúng ta đang sống và cầu nguyện.
Xin Thiên Chúa chúc lành cho tất cả chúng ta.
Bài giảng Chủ Nhật 3 Mùa Chay tại nhà thờ Chúa Thánh Thần - Taiwan.
 Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
 

MC3-B29. ĐƯỜNG VỀ THIÊN QUỐC

Khi chúng ta muốn đến một nơi nào bằng đường hàng không, đường thủy hay đường bộ, chúng: MC3-B29

Khi chúng ta muốn đến một nơi nào bằng đường hàng không, đường thủy hay đường bộ, chúng ta cần phải có la bàn chỉ hướng, bản đồ chỉ lối hay có người hướng dẫn để chúng ta có thể tới đích mà không sợ lạc lối.
Trên con đường về Thiên Ịàng, cùng đích của con người, Thiên Chúa khôn ngoan và nhân từ đã trao ban cho con người Mười Ịiều Răn, để nhờ đó, con người thẳng tiến về Quê Trời mà không sợ lạc lối.
Quả thật, Mười Ịiều Răn có thể chia ra làm hai phần: Ba điều trước đối với Thiên Chúa và bảy điều sau đối với tha nhân.
Nếu con người muốn về Quê Trời là cùng đích hạnh phúc của đời mình, thì phải suy phục Thiên Chúa, tôn kính Danh Thánh Người và tuân giữ Ngày Thánh dành riêng để suy tôn Người: xưa kia là ngày Sabat và nay là ngày Chúa Nhật.
Ịồng thời, con người cũng phải tôn trọng người khác như chính mình, nghĩa là mình hãy làm cho người khác tất cả những gì mình muốn người khác làm cho mình và mình không làm cho người khác tất cả những gì mà chính mình không muốn người khác làm cho mình.
ẪKỷ sở bất dục, vật thi ư nhânỮ
ẪNhững ai yêu mến và tuân giữ Mười Ịiều Răn của Thiên Chúa, thì Thiên Chúa tỏ nhân nghĩa đối với họ đến muôn ngàn đời.Ữ Xh 20,6.
Trong Mùa Chay Thánh này là thỡi gian thuận tiện Thiên Chúa ban, mỗi người chúng ta hãy hồi tâm xét mình xem chúng ta đã tuân giữ Mười Ịiều Răn của Thiên Chúa ra sao? Nếu có thiếu xót, chúng ta hãy thành thật hối lỗi, xin Chúa thứ tha và van xin Lòng Thương Xót Chúa ban ơn giúp sức để chúng ta sốt sáng yêu mến và tuân giữ Mười Ịiều Răn của Thiên Chúa. Như vậy, chúng ta sẽ được hạnh phúc ở đời này và mãi mãi đời sau trên Quê Trời, Amen.
Lm. Âutinh Nguyễn Đức Thụ SJ
 

MC3-B30. ÔNG CÓ PHẢI LÀ ĐẤNG CỨU THẾ ?


CHÚA NHẬT 3 MÙA VỌNG

ÔNG CÓ PHẢI LÀ ĐẤNG CỨU THẾ ?

Ga 1, 6-8.19-28

Gioan Tẩy Giả đã thu hút được đông đảo quần chúng Do Thái khi Ông rao giảng việc ăn năn: MC3-B30

Gioan Tẩy Giả đã thu hút được đông đảo quần chúng Do Thái khi Ông rao giảng việc ăn năn sám hối ở bờ sông Giođan. Các tư tế, các thượng tế, Lêvi, Biệt phái đều tỏ ra thắc mắc về Gioan là ai ? Họ muốn biết Ông giữ vai trò gì trong lịch sử cứu rỗi của Thiên Chúa ? Ông có phải là Đức Kitô, Đấng được xức dầu và sẽ đến vào thời cứu rỗi? Là Elia ? là ngôn sứ hay là một nhân vật nào đó mà họ tin rằng sẽ trở lại nơi trần gian để rao giảng sự thống hối vào ngày sau hết của việc phán xét cuối cùng ? Lời rao giảng và những việc làm của Gioan Tẩy Giả quả làm chấn động xã hội thời Ông.

GIOAN TẨY GIẢ KHÔNG PHẢI LÀ NHÂN VẬT CHÍNH:

Bên giòng sông Giođan, Gioan Tẩy Giả đã rao giảng, đã làm phép rửa bằng nước, Ông đã gây chú ý cho biết bao nhiêu người đồng thời. Ông rao giảng:” Hãy từ bỏ tội lỗi mình…Hãy dọn đường cho Chúa đến: hãy làm một lối thật thẳng để Ngài đi “. Tin tức về những hoạt động của Ông chẳng mấy chốc lọt đến tai những vị lãnh đạo tôn giáo ở Giêrusalem. Do đó, họ sai một phái đoàn gồm Lêvi và Tư tế đến với Gioan Tẩy Giả để tìm hiểu sự thật.

Các Tư tế lưu tâm đến Gioan vì Cha của Gioan là Giacaria cũng là một Tư tế như họ. Điều kiện duy nhất để có thể làm tư tế là phải thuộc dòng dõi Tư tế hoặc dòng Aaron. Nên, các tư tế ở Giêrusalem hết sức bỡ ngỡ về thái độ và cung cách kỳ dị của Gioan Tẩy Giả. Khi phái đoàn đến họ đi thẳng vào vấn đề và hỏi Gioan ngay:” Ông là ai ?”.

Gioan biết họ đang nghĩ gì về Ông, nên Ông trả lời tức khắc:” Tôi không phải là Đấng cứu thế “. Các Tư tế hỏi:” Nếu Ông không phải là Đấng cứu thế, vậy Ông là ai? Ông có phải là Elia không ?”. Gioan nói thẳng Ông không phải là Elia mà các người Do Thái tin sẽ trở lại dương thế vì Elia đã được đưa về trời trên chiếc xe lửa trước đó mấy thế kỷ. Họ hỏi:” Vậy Ông có phải là một vị ngôn sứ không ? “. Gioan lại trả lời:” Không, tôi không phải là một ngôn sứ như Giêrêmia hay Êdêkiên “. Họ hỏi tiếp:” Vậy Ông là ai ?” Gioan trả lời bằng câu nói của ngôn sứ Isaia:” Tôi là tiếng kêu trong sa mạc: Hãy dọn đường cho ngay thẳng để Chúa đến”. Để hiểu được tiếng tiền hô, ta phải trở về thời Gioan Tẩy Giả để hiểu: đường sá lúc đó hầu hết là đường đất, trũng, lầy lội khi mưa gió. Do đó, khi có vị quan hoặc vua tới thì vị tiền hô đi trước để mời gọi dân chúng lo đường cho tốt hầu vua hoặc quan đi qua cho tốt đẹp. Tiền hô cũng còn một nhiệm vụ nữa là dậy dân chúng nghi thức tiếp tân cho tốt đẹp để đón tiếp các Cấp trên. Gioan Tẩy Giả cũng lưu tâm dân chúng thái độ tiếp tân dân cần phải có để đón Chúa tới:” Hãy ăn năn hối cải tội lỗi mình và hãy lãnh nhận phép rửa”(Mc 1, 4 ).


CHÚA GIÊSU LÀ NHÂN VẬT CHÍNH:

Gioan không phải là chính, sứ điệp của Ông ta có thể hiểu như sau:” Tôi không phải là Đấng cứu thế, nhưng tôi là người tiền hô cho Ngài”. Hãy chuẩn bị vì Ngài sắp đến. Gioan đã chu toàn sứ mạng tôn giáo của mình. Ông không để nhân loại và đám đông chỉ chú ý tới Ông:” Ngài phải lớn lên, còn tôi thì nhỏ lại”. Gioan hướng con người chú ý tới Chúa. Đây cũng là sứ điệp Mùa vọng mà Giáo Hội đang hướng chúng ta. Mùa vọng nói với chúng ta về việc Đức Kitô đến. Ngài đến trong lịch sử nhân loại và Ngài lại đến với thế giới vào ngày sau hết. Phụng vụ các bài đọc Chúa nhật hôm nay cho nhân loại hay:” Gioan không phải là Đấng Cứu Thế. Ông chỉ là tiếng hô trong sa mạc để dọn đường cho Chúa đến”. Ông dậy chúng ta phải đón Chúa như thế nào và chúng ta chuẩn bị Chúa đến không như các người Do Thái xưa mà chờ đón Chúa đến để phán xét con người, phán xét chúng ta vào ngày tận thế. Nào chúng ta cùng ăn năn sám hối và cầu nguyện: Maranatha, Người ơi, xin mau tới…
Lm Giuse Maria Nguyễn Hưng Lợi DCCT

MC3-B31. SLC - Con người và Đền Thờ

Kể từ thời vua Salomon, dân Do Thái đã có được một ngôi đền thờ, để làm nơi thờ phượng: MC3-B31

Kể từ thời vua Salomon, dân Do Thái đã có được một ngôi đền thờ, để làm nơi thờ phượng Thiên Chúa. Nhưng ngôi đền thờ ấy đã sớm trở thành duyên cớ cho họ phạm tội, bởi vì họ đã biến nơi đó thành một cái chợ, thành một hang ổ trộm cướp, khiến Chúa Giêsu đã phải giận dữ, ra tay dọn dẹp và loan báo ngày tận cùng sắp tới của chính đền thờ.
Vẫn biết rằng Thiên Chúa coi trọng lòng nhân từ hơn của lễ, nhưng người Do Thái, đứng đầu là hàng tư tế, lại nhấn mạnh tới những nghi lễ rườm rà và tốn kém bên ngoài. Chính vì thế có lần bên bờ giếng Giacóp Ngài đã xác định : Phải thờ phượng Thiên Chúa trong tinh thần và trong chân lý. Vấn đề không còn là phải thờ phượng Thiên Chúa trên núi này hay núi nọ, trong đền thờ này hay đền thờ kia, mà là thờ phượng trong tinh thần và chân lý. Hay nói đúng hơn, kể từ nay, chính Chúa Giêsu sẽ trở thành đền thờ nơi mà con người có thể gặp gỡ và thờ phượng Thiên Chúa và Ngài cũng muốn rằng tất cả những ai tin theo Ngài cũng phải trở nên đền thờ thiêng liêng cho Thiên Chúa ngự trị. Như thế, chúng ta thấy con người cao trọng hơn đền thờ. Cho nên nỗi ưu tư số một là phải lo làm sao cho có những người thờ phượng Thiên Chúa đích thực, chứ không phải là lo làm sao cho có những đền thờ lộng lẫy. Con người nếu biết thờ phượng Thiên Chúa đích thực, thì có thể thờ phượng Ngài ở bất kỳ nơi nào và bất kỳ lúc nào cũng được.
Trái lại, người ta có thể xây những nhà thờ cao đẹp, mà trong đó lại chẳng có một ai thờ phượng Thiên Chúa, hay tệ hơn nữa, có người hiện diện trong đó, nhưng lại chỉ thờ phượng Thiên Chúa bằng môi bằng miệng mà thôi, còn cõi lòng họ thì lại xa cách Thiên Chúa.
Ngày xưa vua Đavid đã từng ước mơ xây đền thờ cho Thiên Chúa, nhưng Ngài lại phán cùng vua : Ngươi mà lại xây nhà cho Ta ở hay sao ? Thật vậy, từ ngày Ta đưa con cái Israel ra khỏi Ai Cập cho tới hôm nay, Ta đã không ở trong một ngôi nhà, nhưng Ta đã nay đây mai đó trong một chiếc lều và trong một nhà tạm.
Thiên Chúa đâu cần nhà để ở, bởi vì trời là ngai của Ngài và đất là bệ chân của Ngài. Chúa Giêsu trong cuộc sống, tuy mang tiếng là một bác thợ mộc, có lẽ chỉ là thợ làm nhà cho người khác, còn chính bản thân thì lại sinh ra trong chuồng bò, vất vưởng bên Ai Cập, lớn lên trong căn nhà của thánh Giuse, cuối cùng trở thành một người lang thang không cả chốn tựa đầu và chết ở trên cây thập giá, được an táng trong ngôi mộ của người khác. Sống không cần nhà cửa, không cần địa chỉ, thì nay sau khi đã Phục sinh liệu Ngài có cần những đền đài lộng lẫy hay không ?
Trải qua dòng thời gian, Kitô giáo cũng đã đi vào dấu vết của mọi tôn giáo khác, đó là xây thật nhiều đền thờ. Thực ra đền thờ cũng rất cần thiết. Cần thiết cho chúng ta chứ không phải là cần thiết cho Thiên Chúa… Đền thờ bằng gỗ đá sẽ bị mai một với thời gian nhưng đền thờ thiêng liêng bằng chính con người thì sẽ tồn tại mãi mãi. Bởi đó, cùng với công việc tu bổ kiến thiết ngôi thánh đường này, chúng ta còn phải ra sức xây dựng, trang hoàng và tô điểm chính là cõi lòng con người để nó xứng đáng trở nên một đền thờ của Thiên Chúa.
 

MC3-B32. SNLC/163 – Đền thờ

Chúa Giêsu đã xác định rõ đền thờ là nơi dành riêng cho việc thờ phượng và cầu nguyện. Đây: MC3-B32

Chúa Giêsu đã xác định rõ đền thờ là nơi dành riêng cho việc thờ phượng và cầu nguyện. Đây không phải là chỗ để giao dịch buôn bán. Tuy nhiên, ngày nay người ta dễ đánh mất cảm thức về việc tôn kính Nhà của Thiên Chúa. Trong thời đại của điện thoại di động, chúng ta càng phải cẩn trọng và có trách nhiệm gìn giữ sự tôn nghiêm của những nơi dành riêng cho sự thờ phượng. Không có lý do nào có thể biện minh cho việc sử dụng di động trong nhà thờ. Tôi nghĩ rằng việc đem điện thoại di động vào trong nhà thờ là hoàn toàn không thích hợp, vì chúng ta cần phải hết sức tôn kính Chúa Giêsu Thánh Thể đang ngự trong nhà tạm. Chúng ta hoặc là vào nhà thờ để cầu nguyện hoặc đừng vào. Chúng ta dành thời giờ đến nhà thờ là để cầu nguyện, sống thân tình với Thiên Chúa hoặc đừng đến nhà thờ. Nếu chúng ta đem điện thoại di động vào nhà thờ nó sẽ trở thành tác nhân gây chia trí, ngăn cản việc cầu nguyện của chúng ta.
Với tư cách là một linh mục, trong thánh lễ, tôi đứng ở một vị trí thuận lợi trên cung thánh và nhìn xuống dân chúng ở phía dưới, tôi thấy nhiều người không chú tâm đủ đến việc cử hành bí tích Thánh thể. Theo tôi, họ chưa chu toàn đầy đủ bổn phận tham dự thánh lễ ngày Chúa nhật.
Điều này liên quan đến vấn đề tôn kính Thiên Chúa. Đã đến lúc chúng ta đừng để mình làm nô lệ cho các phương tiện kỹ thuật và phải khẳng định khả năng kiểm soát việc sử dụng chúng. Chúng ta hãy tôn kính nhà thờ là nơi dành riêng cho việc thờ phượng và cầu nguyện, chúng ta hãy bỏ điện thoại di động ở nhàkhi đi tham dự thánh lễ. Tôi quả quyết với bạn, trái đất này vẫn tiếp tục quay, cho dù bạn không để điện thoại di động trong túi áo của bạn. Trái đất cũng chẳng dừng lại cho dù bạn không trả lời các tin nhắn khi chúng được gửi đến cho bạn.
 

MC3-B33. CSTM/81 - Thanh tẩy

Đền thờ Giêrusalem đầu tiên được vua Salomon xây dựng rất đồ xộ, vĩ đại và cũng rất nguy: MC3-B33

Đền thờ Giêrusalem đầu tiên được vua Salomon xây dựng rất đồ xộ, vĩ đại và cũng rất nguy nga, tráng lệ, đây là một công trình quý giá vào bậc nhất thời bấy giờ, phải huy động mỗi ngày cả trăm ngàn công nhân và bảy năm mới hoàn thành, đền thờ này đứng vững được 400 năm thì bị Nabucô, vua nước Babylon phá hủy vào năm 587 trước Công nguyên. Sau thời gian lưu đầy Babylon, Giôrôbaben kiến thiết lại đền thờ, nhưng thô sơ thôi. Đến thời Hêrôđê đại vương, ông cho trùng tu lại toàn bộ đền thờ, rất vĩ đại và nguy nga lộng lẫy, mỗi ngày có 18.000 thợ làm việc, không thể ước tính được số kinh phí, khởi công từ năm 20 trước Công nguyên mãi đến năm 63 sau Công nguyên mới xong, đền thờ này cũng bị tàn phá bình địa vào năm 70 do tướng Titô của Rôma tấn công.
Đền thờ rất vĩ đại, chia ra từng khu cho từng loại người : ngoài cùng là khu dành cho người ngoại giáo đến tham quan đền thờ, rồi đến khu dành cho phụ nữ, rồi đến khu dành cho nam giới, khu thiêu sinh các của lễ, khu dành cho tư tế, rồi đến bàn thờ dâng hương, trong cùng là nơi cực thánh, đặt hòm bia 10 điều răn, tượng trưng sự hiện diện của Thiên Chúa ở đây.
Đối với người Do Thái, đền thờ là trung tâm tôn giáo của dân tộc, vừa cụ thể hóa sự hiện diện uy nghiêm của Thiên Chúa vừa chính thức hóa việc phụng tự của cả dân tộc, bởi đó, đền thờ là nơi Thiên Chúa ngự, là nhà cầu nguyện cho muôn dân, và không ngừng mang tính chất linh thiêng thánh thiện. Nhưng dần đà người ta đã ngang nhiên biến một phần của nơi thánh thiện ấy thành nơi buôn bán và trao đổi tiền bạc, dĩ nhiên với lý do tốt đẹp bên ngoài là để phục vụ việc tế tự. Quang cảnh ấy đã làm Chúa Giêsu khó chịu, nổi giận, Ngài yêu cầu mọi người trả lại cho đền thờ sự thánh thiêng phải có.
Bài Tin Mừng kể lại việc Chúa Giêsu xua đuổi những người buôn bán và trao đổi tiền bạc ở đền thờ Giêrusalem, hành động này của Chúa được gọi là hành động thanh tẩy đền thờ, nhưng làm cho giới lãnh đạo Do Thái giáo khó chịu và hạch hỏi Chúa, nhân cơ hội này Chúa dạy bảo cho họ biết một điều rất quan trọng về cái chết và sự phục sinh của Ngài.
Từ khi lên 12 tuổi và suốt thời gian ẩn dật, hàng năm Chúa Giêsu đều lên đền thờ Giêrusalem dự lễ, tại sao Ngài không đuổi những người buôn bán trong đền thờ mà lại làm bây giờ, khi sắp kết thúc cuộc đời trần gian của Ngài ? Vì bây giờ Ngài vào nhà Thiên Chúa không phải với tư cách một người hành hương nhưng với tư thế của một Đấng Thiên Sai, Con Thiên Chúa, Ngài vào đó và chính thức can thiệp với tư cách quản lý và chủ nhân. Dĩ nhiên trong những lần hành hương trước, chắc chắn Chúa Giêsu đã lấy làm chướng tai gai mắt cái cảnh buôn bán, biến nơi cầu nguyện thành chợ búa, ồn ào, thành hang trộm cướp, bây giờ chính thức lãnh lấy trách nhiệm chu toàn công việc của Chúa Cha, Ngài phải chấm dứt ngay cảnh lộn xộn đó. Lòng nhiệt thành vì Cha đã khiến Ngài dùng mọi phương thế hữu hiệu nhất để thanh tẩy đền thờ, Ngài không sợ nguy hiểm khi phải ra tay dẹp loạn hầu thể hiện thánh ý Chúa Cha là đền thờ phải là nơi tôn nghiêm, thánh thiện.
Hành động thanh tẩy đền thờ của Chúa Giêsu chắc chắn làm cho các trưởng tế khó chịu, bực tức, họ cho Ngài là một kẻ phản động, vì Ngài không có chức tư tế, cũng chẳng có nhiệm vụ nào trong đền thờ. Chúa Giêsu đã kết án cách tổ chức của các trưởng tế và gán cho mình một uy quyền trên họ, Ngài đã bãi bỏ việc phụng tự do Thiên Chúa thiết lập, và còn gán cho mình có quyền bằng Thiên Chúa, Đấng mà Ngài gọi là Cha, nếu vậy thì phải làm một phép lạ từ trời, nghĩa là từ Thiên Chúa để làm bằng chứng, vậy Chúa Giêsu đã làm phép lạ nào ?
Chúa trả lời : “Cứ phá hủy đền thờ này đi, trong ba ngày tôi sẽ xây dựng lại”. Các người Do Thái đã nghĩ ngay đến đền thờ bằng gạch đá, nhưng Chúa Giêsu không có ý nói đến đền thờ bằng gạch đá mà là đền thờ thân thể Ngài. Nghe Chúa nói thế, các trưởng tế tỏ vẻ khó chịu ra mặt, họ biết đền thờ đã được vua Hêrôđê sửa sang, xây dựng mất 46 năm mới xong, thế mà bây giờ Chúa bảo phá hủy đi và xây dựng lại chỉ trong ba ngày, họ không tin lời Chúa nói mà còn cho là Chúa phạm thượng, nên khi Chúa bị đưa ra tòa xét xử, họ đã đưa điều này ra để tố cáo Chúa. Thật ra ở đây Chúa muốn báo trước cho mọi người biết : Ngài sẽ bị giết chết nhưng ngày thứ ba Ngài sẽ sống lại, Ngài dùng đền thờ làm hình ảnh để nói về thân thể Ngài là đền thờ đích thực của Thiên Chúa, lời tiên báo của Chúa đã xảy ra đúng như vậy.
Mỗi người chúng ta đều là đền thờ của Thiên Chúa ngự trị, nhưng có thể Thiên Chúa đã mất chỗ, nghĩa là tội lỗi đã chiếm mất chỗ của Chúa, vậy chúng ta phải trả lại chỗ cho Chúa bằng việc tẩy trừ tội lỗi. Chúa muốn chúng ta sống hiên ngang như đền thờ Giêrusalem, Chúa muốn chúng ta sống tự do độc lập hoàn toàn với tội lỗi, bởi vì phạm bất cứ tội gì, có tính hư tật xấu nào, mắc một đam mê nào là chúng ta làm nô lệ cho những thứ đó, như Chúa Giêsu đã nói : “Ai phạm tội là nô lệ cho tội”. Muốn độc lập với tội lỗi chúng ta phải đến với Chúa Giêsu, ăn năn sám hối, xin Chúa tha thứ, để được sống trong tự do của con cái Chúa.
 

MC3-B34. Đức Kitô, mối lợi tuyệt hảo

Chúa Nhật thứ III mùa Chay

Đức Kitô, mối lợi tuyệt hảo

„Hơn nữa, tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời, là được biết Đức Ki-tô Giê-su, Chúa của tôi. Vì Người, tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả như rác, để được Đức Ki-tô và được kết hợp với Người..“ (Phil 3, 8-9)

Mùa Chay không được đối mặt với một tinh thần "xưa cũ", dường như đó là một sự bắt buộc nặng: MC3-B34

Mùa Chay không được đối mặt với một tinh thần "xưa cũ", dường như đó là một sự bắt buộc nặng nề và nhàm chán, nhưng với tinh thần mới mẻ của kẻ tìm thấy ý nghĩa sự sống, trong Chúa Giêsu và mầu nhiệm phục sinh của Người, và bây giờ cảm thấy mọi sự phải qui chiếu về Người. Đó là thái độ của Thánh Tông Đồ Phaolô, ngài khẳng định rằng ngài bỏ mọi sư đằng sau hầu có khả năng biết Chúa Kitô "và quyền năng sự sống lại của Người, và được thông phần những đau khổ của Người, nhờ nên đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết, với hy vọng có ngày được sống lại từ trong cõi chết" ( Phil 3:10-11)“ (ĐTC Biển Đức XVI, Huấn dụ ngày Chúa Nhật 26/2: Cách sống tốt trong Mùa Chay VietCatholic News 04/03/2006)

Bạn thân mến,

Bước vào tuần thứ III mùa Chay, qua lời của Đức Thánh Cha, chúng ta được kêu gọi bỏ lại „con đường cũ“, để mặc lấy tinh thần mới mẻ, nghĩa là chúng ta hãy quy chiếu tất cả vào Đức Kitô. Phao-lô một người Do-thái đạo đức, giữ luật thì đúng như một người Pha-ri-sêu, còn sống công chính theo Lề Luật, thì chẳng ai trách được. Nhưng khi Phao-lô gặp được Đức Kitô, thì ông bỏ đi tất cả mọi sự, như chính ông nói: „Tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời, là được biết Đức Ki-tô Giê-su, Chúa của tôi „. Tâm tình của Thánh Phao-lô như là một bài học thật quý báu cho chúng ta, những Kitô hữu, những người có Chúa Kitô trong mình, những người tin tưởng vào Đức Kitô. Chúng ta thực có nhận ra được mối lợi tuyệt vời này không?

Vâng, Đức Kitô là ai đối với chúng ta vậy? Chúng ta có dám vì Người mà đành mất hết mọi sự không? Chúng ta có can đảm vì Người mà cởi bỏ cái cũ ra khỏi con người và cuộc đời của chúng ta không? Chúng ta có dám rao giảng một Đấng Ki-tô bị đóng đinh, điều mà người Do-thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ không? (ss. 1 Cor 1, 23)

Trong Chúa Nhật hôm nay, chúng ta cùng dừng bước. Trong thinh lặng, chúng ta hãy chiêm ngắm Đức Kitô, và tự hỏi mình xem, Đức Kitô có là mối lời tuyệt hảo của chúng ta không? Chúng ta hãy để câu hỏi này đi vào ngày sống của chúng ta, và luôn luôn đi tìm cho mình câu trả lời đích thực.

Lạy Chúa, cuộc đời của chúng con có rất nhiều mối lợi, nào là tiền bạc, nào là tiện nghi vật chất, nào là bảo đảm xã hội, bảo hiểm nhân mạng. Tất cả thuộc về chúng con, và ngày ngày chúng con còn muốn kho tàng này, mối lợi này „mập thêm“ một chút. Vâng, cứ chạy theo những mối lợi ấy, chúng con cảm thấy mình vui, nhưng niềm vui không trọn vẹn, vì chúng con cảm thấy không được thỏa mãn. Hình như chúng con vẫn đi tìm một mối lợi tuyệt hảo nhất, để chúng con quy chiếu tất cả vào đó. Nhưng mối lời đó là gì, là ai và ở đâu vậy? Xin Chúa giúp chúng con nhận ra mối lợi đó, và can đảm bỏ lại tất cả đàng sau, để lên đường đi tìm mối lợi tuyệt hảo đó nghe Chúa.
Amen
Lm. Nguyễn ngọc Thế sj

MC3-B35. Lòng nhiệt thành việc nhà Đức Chúa Trời thiêu đốt Ngài

CHÚA NHẬT 3 MÙA CHAY

Ga 2, 13 - 25

Thưa quí vị.

Tôi nhớ như in vào những năm 60 của thế kỷ trước, người ta vẽ một bức tranh Chúa Giêsu: MC3-B35

Tôi nhớ như in vào những năm 60 của thế kỷ trước, người ta vẽ một bức tranh Chúa Giêsu khác với truyền thống. Bức tranh lập tức trở nên nổi tiếng, nhất là trong giới tuổi trẻ thời ấy. Chúa Giêsu coi phỏng chỉ 25 tuổi, miệng rộng, cười tươi, mái tóc buông dài bồng bềnh trong gió nhẹ. Ngài là một nghệ sĩ lướt sóng giỏi, vừa ra khỏi một đợt sóng to thích thú, vui mừng. Ý hẳn người ta thuê vẽ bức tranh ấy để lôi cuốn giới trẻ.

Thực ra truyền thống đã từng có tranh vẽ Chúa Giêsu với nhiều dáng điệu khác nhau chứ không chỉ duy một Chúa chịu đóng đanh hay sống lại. Thí dụ tranh vẽ suốt trong thời gian Ngài thi hành sứ vụ rao giảng. Nào là tranh Chúa Giêsu mục tử nhân lành, dịu hiền. Nào là tranh Ngài chữa khỏi bệnh tật, xua đuổi ma quỷ. Ngài nhân bánh lên nhiều trên núi hoang vắng, xanh tươi nuôi 5000 người ăn. Ngài ngồi huấn luyện các tông đồ, chúc lành cho các trẻ con. Tuỳ vào tuổi tác và tình huống chúng ta được những bức tranh khác nhau đó khích lệ và sưởi ấm linh hồn. Vô tình hay hữu ý, chúng ta lo tìm kiếm và lưu giữ những tấm tranh đó để thoả mãn nhu cầu tâm linh riêng tư. Đó là lý do sống còn của các tiệm buôn bán vật dụng tôn giáo. Nhưng tôi thử đặt câu hỏi xem có ai dám thu thập tranh ảnh mô tả Chúa Giêsu giận dữ, cầm roi chạy khắp đền thờ xua đuổi chiên bò và những người đổi chác tiền bạc? Chắc hẳn là không, lúc này ai mà dám đến gần Chúa? Nếu cả gan đến gần, ăn roi là điều không tránh khỏi. Xem ra Ngài quá dữ tợn!

Trong Phúc âm của ông, thánh Gioan miêu tả Chúa Giêsu ở nhiều tình huống khác nhau, đa số là Ngài ở vị thế làm chủ được mình và hoàn cảnh, ngay cả khi Ngài chịu treo trên cây thập tự, đau đớn giẫy dụa. Hôm nay là ngoại lệ, Ngài không còn kiểm soát được chính bản thân. Tình thế thì hỗn loạn hết mức. Người chạy ngược, kẻ chạy xuôi, chiên bỏ thả rổng, bàn ghế ngổn ngang, tiền bạc vung vãi lung tung, chim câu bay khắp chốn trong nơi thờ phượng. Những tâm hồn thứ tự, đạo đức đọc đến đoạn Tin mừng này hẳn lấy làm bất mãn. Gương mù đến vậy làm sao chịu nổi? Hoặc thử tưởng tượng coi, nếu có một du khách vô đạo bước vào thì họ sẽ nghĩ sao? Nơi tôn nghiêm hay cái chợ đông phiên? Trước mặt họ là một Chúa Giêsu nổi sùng, không kiềm chế được. Ngài tựa như một đứa con nít tức giận, quậy phá hết cỡ khi cha mẹ có khách đặc biệt phải tiếp vào bữa ăn trưa!

Đúng thế Tin mừng Gioan mô tả Ngài tức giận điên cuồng. Lòng nhiệt thành việc nhà Đức Chúa Trời thiêu đốt Ngài trong lời nói và hành động. Cũng chính lòng nhiệt thành ấy nhiều khi khiến chúng ta bồn chồn. Trước nhiều tình huống giả hình, thiếu đạo đức cũng thường làm chúng ta bất mãn. Lịch sử Giáo hội có nhiều cuộc chia rẽ, xét cho cùng cũng có nguyên do tương tự. Nhưng liệu thực tế Chúa Giêsu có dạy chúng ta như vậy không? Chúng ta bắt chước Ngài đàn áp người khác hay chúng ta phải đàn áp chính bản thân? Bao nhiêu dục vọng lộn xộn trong linh hồn chúng ta đã hãm dẹp chưa? Bao nhiêu lợi dụng buôn bán ngũ quan chúng ta đã tẩy trừ? Chân tay, thân thể, miệng lưỡi, mắt mũi nhiều khi đã cầm cố cho Satan, chúng ta đã chuộc lại? Chứng kiến lòng nhiệt thành tôn giáo sai đường lạc lối để trở nên các tên khủng bố quốc tế trong những ngày này, người ta phải đề phòng bất cứ hành động tôn giáo quá khích nào! Ngay cả đối với chính mình. Chúng ta đã hiểu Lời Chúa ra sao? Giải thích Lời Ngài thế nào? Có đúng Thiên Chúa muốn chúng ta cư xử như vậy không? Thực sự Ngài muốn điều gì nơi chúng ta? Xin nhìn kỹ hơn vào Kinh thánh để tìm ra một vài tư tưởng đúng cho biến cố đền thờ Giêrusalem. Nó muốn nói những chi với nhân loại?

Không giống như các Phúc âm nhất lãm, thánh Gioan đặt biến cố này vào ngay đầu sách Tin mừng của ông. Như vậy nó giúp độc giả nắm bắt được bối cảnh câu truyện và cũng giúp chúng ta hiểu được con người và sứ vụ của Chúa Giêsu. Nghĩa là Đấng (Mêsia) đợi trông lâu đời đã đến với dân tộc Do thái. Ngài đang bừng bừng cháy lửa nhiệt thành việc nhà Thượng đế. Ngôn sứ Zacharia đã thấy trước và tiên báo: “Ngày ấy, sẽ không còn lái buôn trong nhà Đức Chúa các đạo binh nữa.” (14,21) và các nhà chú giải đồng nhất với giải thích ý nghĩa của câu này là : Trong Israel mới, mọi sự sẽ được thánh hiến cho Thiên Chúa như sách Ezekiel 40,48 mô tả. Câu trước đó tiên tri Zacharia viết: “Ngày ấy trên lục lạc ngựa sẽ có ghi : Thánh hiến cho Thiên Chúa.” (21,20). Đúng là những lời tiên báo đầy ý nghĩa cho biến cố hôm nay. Zacharia đã được nếm trước sự phục hưng tôn giáo của Chúa Giêsu. Thánh sử Gioan cũng đã hiểu theo ý nghĩa ấy.

Chúa Giêsu thánh hiến cho nhà Đức Chúa trời được phản ánh trong bài đọc một trích từ sách Xuất hành. Mười giới răn quen thuộc với mọi tín hữu cũng còn được gọi là “Mười nội dung”. Không phải Thiên Chúa ưa thích bắt buộc loài người phục tùng mình, lấy sự vâng lời của họ làm điều thích thú. Ngài có mục đích khác. Mười giới răn với ba nội dung mở đầu: “Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, đã đưa ngươi ra khỏi đất Ai cập, khỏi cảnh nô lệ” nhấn mạnh đến sự liên hệ độc đáo giữa dân tộc Do thái và Thượng đế. Vào thời ấy các dân tộc chung quanh thờ cúng rất nhiều thần linh. Nhưng dân Israel chỉ có một, đó là Thượng đế hùng mạnh đã chọn họ, bảo vệ họ và đã tụ họp họ thành một dân tộc riêng rẽ cho Ngài. Ba nội dung mở đầu nhắc nhở toàn dân về ý nghĩa này, cho nên để kính thờ Ngài cho phải đạo, họ phải tuân giữ mười giới răn. Tuân giữ giới răn còn là sự thể hiện lòng biết ơn Thượng Đế về những ân huệ Ngài đã ban cho dân tộc trong suốt dòng lịch sử. Nhờ sự vâng lời này, mà quan hệ tương giao giữa Thiên Chúa với dân tộc Do thái cũng như giữa mọi thành viên trong xã hội được luôn củng cố và bền chặt. Khi có người hỏi : Ông là ai? Chắc chắn người Israel sẽ trả lời: “Chúng tôi là một dân tộc được Đức Chúa Trời ban ơn đặc biệt”. Và khi hỏi thêm : “Vì lý do gì các ông tuân giữ các giới răn?” Người Do thái sẵn sàng trả lời : “Chúng tôi tuân giữ chúng không phải vì khiếp sợ Thiên Chúa hoặc Ngài đã truyền lệnh mà chính vì chúng tôi muốn đáp trả những ơn lành Ngài đã ban cho”. Đó là Thiên Chúa của Đức Giêsu, hôm nay Ngài hành động vì cháy lửa kính mến Đức Chúa Trời.

Trở lại với sự lộn xộn trong đền thờ Giêrusalem, việc đổi tiền và buôn bán súc vật xem ra là ngu xuẩn. Nơi thánh thiêng không bao giờ cho phép làm như vậy. Ngày nay trên khắp thế giới những trung tâm hành hương đều đầy dẫy những lạm dụng tương tự. Người ta cạnh tranh buôn bán các mặt hàng kỷ niệm, ồn ào, huyên náo cả một góc đất thánh, giống như người Do Thái thời Chúa Giêsu và cũng chẳng thấy một ai lưu tâm. Tuy nhiên vào thời đó, việc buôn bán có mục tiêu tôn giáo rất cụ thể, và những lái buôn lễ vật dâng cúng giữ vai trò quan trọng trong sinh hoạt tôn giáo hàng ngày. Chủ thuyết Do Thái không cho phép in hình loài người trên những đồng tiền dâng tiến Thiên Chúa, lại càng không thể chấp nhận đồng tiền La mã có in hình hoàng đế Cesar. Vì thế, các khách hành hương từ nơi xa về phải đổi tiền ngoại bang lấy đồng tiền do đền thờ phát hành. Hơn nữa họ không thể mang theo súc vật dùng cho các lễ hiến tế. Do đó họ phải mua chúng tại chỗ. Quyền bính đền thờ đã chỉ định một nơi dành riêng để điều hành việc này, ngay trong đại sảnh thánh đường. Sự lạm dụng đã làm đền thờ ra ô uế.

Có lẽ việc lạm dụng đã tồn tại khá lâu, trước cả thời Zacharia, cho nên ông đã có ước muốn thanh tẩy nhà Đức Chúa Trời và tiên báo về một thời buổi mà hiến tế kiểu hiện tại không cần thiết nữa. Hành động của Chúa Giêsu đúng là có tính ngôn sứ. Nó loan tin thời đại Thiên sai đã xuất hiện. Ngài sẽ tẩy sạch tâm trí loài người khỏi những điều ô uế, sai lầm và làm tròn các điều Thiên Chúa hứa cho nhân loại. Thân xác Chúa Giêsu sẽ là nơi thánh thiêng để con cái loài người gặp gỡ Thượng đế. Khi thân thể này bị tội lỗi phá hủy, Ngài sẽ trỗi dậy trong ba ngày. Chính thân xác Ngài là của lễ hy sinh dâng lên Đức Chúa trời, không cần súc vật tiền bạc nữa và cũng chẳng cần các nhân viên đổi tiền hoặc buôn bán lễ vật nữa. Trong Chúa Giêsu nhân loại sẽ thờ phượng Thiên Chúa xứng đáng và thích hợp nhất. Một phương thức phụng vụ trong sạch nhất cho nhân loại. Hành động tẩy uế đền thờ của Ngài mang lại ý nghĩ đích thực cho ngôi nhà Thiên Chúa, nơi cầu nguyện, ngợi khen Thượng đế bằng lòng yêu mến, tôn thờ. Nơi thiêng liêng Thiên Chúa gặp gỡ loài người và ngược lại loài người hội họp cùng Thiên Chúa.

Mùa chay là thời thuận tiện để xem xét lại cách thức chúng ta tiến bước vào thánh đường giáo xứ. Có đúng như Chúa Giêsu ao ước hơn hai ngàn năm qua không? Ngài vẫn luôn xua đuổi, quét sạch những nhơ nhớp, ngu xuẩn, hình thức trong linh hồn mỗi tín hữu và giữa lòng Hội thánh toàn cầu. Chúng ta đồng quan điểm đồng ý với Ngài hay chồng chất thêm nhơ bẩn, uế tạp cả về vật chất lẫn tinh thần? Chúng ta chỉ có thể bày tỏ ước vọng đổi mới và thanh sạch hoá bằng cách dấn thân nhiều hơn cho lời nguyện cầu, thánh ca và thánh vịnh. Lòng nhiệt thành nhân loại suông không đủ, nó chẳng giúp ích gì cho việc canh tân tâm hồn, phải nhờ ơn thánh. Vậy lời nguyện cầu khẩn thiết nhất của chúng ta phải là xin hơi thở của Đức Chúa trời, Đấng làm sống lại tinh thần bại liệt của nhân loại bấy lâu trong việc thờ phượng Thượng đế tối cao. Hôm nay Ngài bước vào “đền thờ” và quyết định tẩy sạch mọi nhơ uế, bẩn thỉu làm cho nó nên trong sạch và đổi mới tinh thần tôn giáo nơi mỗi tín hữu trong cộng đồng nhân loại. Thiên Chúa của mười điều răn luôn dùng lời lẽ trong sách Xuất hành nhắc nhở chúng ta : Ta là Đức Chúa, thượng đế của ngươi, Đấng đã đưa ngươi ra khỏi Ai cập lầm than, ngươi chớ có “thần” nào khác đối nghịch với Ta. Amen.

Ý đẹp : Tôi chưa bao giờ được xem thấy tượng khóc, bàn tay rướm máu lỗ đinh, nhưng đã được ngắm nhìn vẻ đẹp Tháp Cầu Vồng (Utah, Mỹ), ngồi bên người can đảm chết, nghe bà già nói sự thật với quyền bính, đọc sách báo khoa học về thân thể con người, kinh nghiệm tình yêu hôn nhân, vui buồn của cuộc sống. Đối với tôi, những thứ ấy đã đủ là phép lạ. (Rich Heffern trong “Celebration” tháng 4, 2003 trang 158).
Lm. Jude Sicilianô, OP.

MC3-B36. RƯỚC HỌA VÀO THÂN !

Sau khi một tờ báo Đan Mạch đăng bức biếm họa nhà tiên tri Mahomet đầu đội cái khăn Ả Rập: MC3-B36

Sau khi một tờ báo Đan Mạch đăng bức biếm họa nhà tiên tri Mahomet đầu đội cái khăn Ả Rập, nhưng trông giống như một quả bom ( mà bọn khủng bố thường dùng ), thì phản ứng của tín đồ Hồi Giáo thật dữ dội, và càng như được “đổ dầu vào lửa”, khi những nhân vật, phe phái quá khích lợi dụng để kích động hận thù. Án tử được một số thủ lãnh đạo, đời Hồi Giáo ban ra, chẳng những dành cho các nhà báo đã vẽ, đã đăng hoặc đăng lại bức biếm hoạ, mà ngay cả các quốc gia liên quan cũng bị ảnh hưởng không nhỏ. Ngoài ra, những vụ việc tưởng chừng đã chìm lắng, bỏ qua, như việc nhà văn Salman Rusdhie, tác giả “những vần thơ của Sa-tan”, cũng bị đem ra lại và giữ nguyên mức án tử ! Giết được kẻ thù, cho dù vì thế mà vạ lây bao người vô tội khác và bản thân phải hy sinh, được xem là tử vì đạo và đáng được thưởng ! Tính tình và tâm lý người dân Trung Đông, Trung Cận Đông vẫn như thế từ nhiều ngàn năm qua, khó mà đổi thay ! Trong bối cảnh ấy, chúng ta nhìn lại câu truyện xảy ra với Chúa Giê-su hôm nay.
Ngạn ngữ Trung Hoa có câu: bệnh tật từ miệng vào, tai họa từ miệng ra. Ở Chúa Giê-su, không chỉ “vạ mồm vạ miệng” suốt mấy năm công khai giảng dạy, hết phê phán, lại công kích các thủ lĩnh và đầu mục Do Thái, ”trẻ không tha, già không nương”, đến độ khiến cho các phe cánh, đảng phái vốn xưa nay chẳng khác “chó với mèo”, nay liên kết với nhau trong cùng một mục đích là hãm hại Người. Hôm nay,như người ta vẫn thường ví von là “giọt nước làm tràn chiếc ly đầy”: chính Chúa tự ký bản án tử cho mình bằng việc dùng roi đánh đuổi phường buôn bán ngay trong Đền Thờ. Xem ra Chúa Giê-su “quên” mất rằng: đụng tới nhân dân vào những dịp này, khác nào chọc vào ổ kiến lửa của các phe phái, dẫu cho xưa nay chưa bao giờ họ “dân vi tiên”. Kẻ thù có đầy đủ cả nhân chứng vật chứng: những kẻ bị Chúa Giê-su “bạo hành” cũng là nhân chứng lời nói “phạm thượng” của Người. Phen này, có mọc cánh, thì Chúa Giê-su cũng khó lòng mà thoát nguy được. Khốn nỗi bài học ấy, Chúa vẫn cứ bắt chúng ta học thuộc, làm theo.
IRA SANCTA ! Cơn nư, cơn giận... thánh thiện, là những gì người ta có thể dùng để bênh vực Chúa Giê-su: không thể chấp nhận “Ngôi Nhà Cầu Nguyện” bị biến thành “Sào Huyệt Trộm Cướp”. Nhưng “lời nói gió bay”, mắng nhiếc cho hả cơn giận, thì dù có nặng lời, cũng chẳng có ai làm gì được. Nhưng dằn lòng không nỗi, để đi đến chỗ “thượng cẳng tay, hạ cẳng chân”, thì khó mà bào chữa được, cho dù để cảnh cáo và giải tán đám đông ô hợp và uế tạp này, thì lời nói hoàn toàn vô dụng. Vũ lục vẫn là biện pháp bất đắc dĩ, nhưng cần thiết, nếu không muốn nói là duy nhất ! Nhìn từ góc độ kinh tế, thì Chúa Giê-su còn “phạm” thêm một tội nữa, ấy là làm “bể” niêu cơm của “Nhà Thờ”, nghĩa là của các thủ lĩnh và đầu mục Do Thái, vì phi thương, bất... thuế ! Đụng chạm đến kinh tế, đến túi tiền của kẻ có quyền có thế, bao giờ cũng nghiêm trọng và khó được bỏ qua !
Trên thế gian này, có vô số điều khiến nhiều người chấp nhận kiểu lý luận của Ciceron: ”chọn cái ít xấu hơn giữa những cái xấu”, để làm hoặc để “đắp tai ngoảnh mặt làm ngơ”. Dần dần hình thành một não trạng hững hờ đáng sợ, không còn phản ứng trước những đồi bại, xấu xa về uân lý đang diễn ra trước mắt. Chẳng bao lâu sau, không những người ta không muốn thay đổi nó, mà còn thấy... quen tai quen mắt và thấy nó... có lý, chấp nhận được.
Xa xôi gì đâu: cách nay 50 năm, khi cô đào người Pháp Brigitte Bardot lần đầu tiên mặc cái bikini hở hang trên màn ảnh, thì các mệnh phụ phu nhân vội la ó, bịt mắt, làm dấu Thánh Giá, miệng không ngớt kêu: ”Giê-su, Ma !”, hoặc trên màn ảnh mà diễn viên “chụm môi” quá 5 giây, là bị quy kết vô đạo đức, khiêu dâm. Song ngày nay chẳng biết có còn người nữ nào, ngoài các Nữ Tu, lại không thích bikini, monokini, phơi tất cả những thứ có thể được “phép” phơi ra; còn tình dục dâm ô đồI trụy thì gia tăng đến mức kinh hoàng, không chỉ trên màn ảnh ? Người ta chấp nhận sự xấu và điều ác, sau khi “chịu đựng” chúng. Và nếu có ai nói khác làm khác, họ sẽ tru tréo lên: ”Anh lấy quyền gì mà hành xử như thế ? Anh nào đã hơn gì chúng tôi !”
 Phản ứng trước cái xấu, giữ cho mình luôn nhanh nhạy trước một cái xấu, chẳng phải dễ dàng ! Nó đòi hỏi sự phân minh trong luận lý, sự dũng cảm với chân lý, chuẩn mực trongđao đức và sự cố gắng trong luân lý. Bởi vì, tiên trách kỷ, hậu trách nhân: cái xà chắn ngang cả mắt mũi nơi mình, thì không thể nhìn thấy ! Để cả cái đà án ngữ ngay trước mắt mình, thì còn mong nhìn thấy được thứ gì ! Chỉ là do CỐ TÌNH PHỚT LỜ không nghe, không biết, không thấy ban đầu là những cái rác trong mắt mình, rồi đến những cọng cây, những cành cây, từ từ ngay cả cái cột nhà chắn ngang, cũng cứ bình chân như vại ! Bởi vậy, phải đánh thức mình trước đã, phải tập phản ứng cực nhanh nhạy với cái sai của mình và kèm theo hành động sửa sai quyết liệt, không ngụy biện cho mình, không tự lấp liếm bao che, không đổ lỗi cho hoàn cảnh. Đấm ngực mình, không bao giờ đấm ngực tha nhân !
TỬ VÌ ĐẠO chính là không cho phép lơi lỏng sống linh đạo đấng bậc mình và không chấp nhận bất cứ hình thức, mức độ nào của một tư duy, một lời nói, một hành vi dẫn đến sai lạc đức tin và đời sống thực hành bác ái, mà vì thế Ki-tô hữu bị ”thế gian” ghét bỏ, loại trừ, làm hại. Chỉ cần một chút thoả hiệp, một chút nhượng bộ, nhiều khi được khuyên nhủ dưới chiêu bài “dĩ hoà vi quý”, là chúng ta được yên thân, được kể vào hàng “thiết nghĩa”, nhận được nhiều thiện cảm, nhiều lời khen ngợi và cả những lợi lộc vật chất. Người ta dùng đủ lý lẽ để lấp liếm, chống chế, bao biện, thanh minh cho sự đổi thay, nghiêng chiều của mình, kể cả những lý do nhân đạo, nhân bản, nhân ái nhất ! Người ta chỉ quên một điều: họ đang đẩy Chúa và Lời Chúa xuống hạng hai, hạng ba, thậm chí còn xuống thấp nhiều bậc, để đẹp lòng thế gian, ma quỷ và thoả mãn tự ái, kiêu căng, tham vọng và cả sự hèn nhát của bản thân.
Chúa Giê-su sẽ nghĩ gì, sẽ hành động thế nào, khi Người đến Nhà Linh Hồn chúng ta, và thấy bát nháo cảnh chợ búa, sa đọa, tồi tàn, mà không hề có chút hồi tâm và nhận ra sai trái của mình ? Chúa Giê-su đã “rước hoạ vào thân”, để dạy dỗ chúng ta về chân lý và về sự tôn thờ Thiên Chúa. Chúng ta không còn chọn lựa nữa rồi ! Nếu vì để làm chứng cho Chúa, nếu vì lợi ích Đức Tin của anh em – mà thái độ phớt lờ, hèn nhát, sợ mất quyền lợi địa vị của chúng ta sẽ gây gương xấu cho anh em – thì vẫn phải “rước hoạ vào thân”. Nhưng hãy dè chừng: không biết ăn năn trở về và từ bỏ việc đem linh hồn chúng ta chia nhỏ và bán dần cho thế gian, ma quỷ, bất chấp những cảnh cáo của Chúa và của Giáo Hội, thì cái “hoạ” đời đời, khi ấy, là do chúng ta tự “rước vào thân !“
CVK. NGUYỄN THẾ BÀI, Đi Tìm đáp Số tình Yêu 144
 

MC3-B37.ĐỀN THỚ ĐÍCH THẬT

Đây là sự kiện được cả bốn Tin Mừng thuật lại. Tuy nhiên với Tin Mừng Gio-an thì được thuật: MC3-B37

Đây là sự kiện được cả bốn Tin Mừng thuật lại. Tuy nhiên với Tin Mừng Gio-an thì được thuật lại chi tiết và sinh động hơn. Theo Tin Mừng Gio-an, biến cố dự Lễ Vượt Qua với Chúa Giê-su trong bài Tin Mừng hôm nay là vào lúc mới bắt đầu cuộc đời công khai; đối với các sách Tin Mừng Nhất Lãm thì lại vào cuối đời sống công khai. Hơn nữa, Thánh Gio-an là tác giả duy nhất tường thuật dài và chi tiết về việc xua đuổi con buôn khỏi đền thờ.
Từ câu 13 đến câu 14 là phần dẫn nhập xác định quang cảnh và địa điểm. Chúa Giê-su lên Đền Thờ Giê-ru-sa-lem lần này là lần đầu tiên và Người lên Giê-ru-sa-lem đúng vào lúc gần đến Lễ Vượt Qua của người Do Thái. Ba lần Chúa Giê-su lên dự Lễ Vượt Qua trong Tin Mừng Gio-an phù hợp với ba năm đời sống công khai của Chúa Giê-su.
Từ câu 15 đến câu 16: Trong hai câu này bao gồm hai hành động và một lời giải thích. Hành động thứ nhất là: “Lấy dây làm roi mà xua đuổi tất cả bọn họ cùng với chiên bò ra khỏi đền thờ”. Hành động thứ hai là: “Tiền của những người đổi bạc Người đổ tung ra và lật nhào bàn ghế của họ”. Còn một lời giải thích là: “Đem những thứ này ra khỏi đây, đừng biến Nhà Cha Ta thành nơi buôn bán”.
Trong lời Chúa Giê-su nói ở đây có hai phần. Phần thứ nhất, Người yêu cầu chấm dứt một tập tục bất xứng với Thiên Chúa, và ở đây Chúa Giê-su đã hành xử như một người bênh vực cho quyền lợi của Thiên Chúa. Phần thứ hai, Người vén lên bức màn cho mọi người thấy được mối liên hệ duy nhất giữa Chúa Giê-su và Chúa Cha.
Từ câu 17 đến câu 22: Qua việc đòi hỏi dấu lạ nơi Chúa Giê-su, qua cuộc đối đáp giữa Chúa Giê-su và những người Do Thái, Chúa Giê-su đã mặc khải cho họ biết đền thờ đích thực chính là thân thể của Chúa Giê-su. Nhưng ý nghĩa câu trả lời này của Chúa Giê-su, các tông đồ và mỗi người chúng ta chỉ có thể hiểu được dưới ánh sáng của cái chết và sống lại của Chúa Giê-su. Thực vậy, được chứng kiến cuộc khổ nạn của Chúa Giê-su và tin ở việc Chúa sống lại ba ngày sau đó, các Tông Đồ nói chung và cách riêng Thánh Gio-an mới có thể quả quyết được rằng, khi nói đến một đền thờ bị phá hủy và Chúa Giê-su có thể xây dựng lại ba ngày sau đó là Chúa Giê-su muốn ám chỉ đến chính thân mình Người. Qua câu trả lời này, Chúa Giê-su đã cho người ta hiểu rằng, việc tế lễ cũ đã qua và với sự hiện của Người, đã bắt đầu một giai đoạn mới trong việc tôn thờ Thiên Chúa. Đền thờ là nơi thờ phượng Thiên Chúa, đồng thời cũng là nơi Thiên Chúa hiện diện giữa con người.
Tóm lại, ý thức sứ mệnh thiên sai của mình, Chúa Giê-su đã hành động không khoan nhượng với những kẻ lạm dụng nơi thánh thiêng để trục lợi và mặc khải cho mọi người biết chính Người là Đền Thờ đích thật để tế lễ Thiên Chúa.
Đức Giê-su vốn hiền lành và khiêm nhường là thế mà cũng giận dữ khi thấy Nhà Chúa bị lạm dụng, vì Ngài không thể im lặng trước sự bất chính. Là Ki-tô hữu, chúng ta hôm nay có can đảm dám hành động mạnh mẽ chống lại áp bức, bất chính, bạo lực để làm lành mạnh hóa môi trường sống, nhất là Xứ Đạo, Nhà Thờ nơi mình đang sống không ?
Mỗi người chúng ta là một đền thờ sống động để Chúa hiện diện. Mỗi người chúng ta có ý thức điều này chưa để giữ cho thân xác được trong sạch, tâm hồn được ngay thẳng hầu xứng đáng là nơi Chúa ngự không ?
Lạy Chúa Giê-su, Hội Thánh là Đền Thờ mới của Thiên Chúa, nơi các tín hữu thuộc mọi chủng tộc, mọi ngôn ngữ hiệp thông với nhau trong việc thờ phượng Chúa. Xin cho mọi người chúng con nhận thấy Hội Thánh là một cộng đoàn hiệp nhất trong yêu thương.
Lạy Chúa Giê-su, ngày nay, một số người trẻ đã mất niềm tin vì vốn liếng Giáo Lý còn quá ít ỏi. Xin Chúa hãy cho những người trẻ ấy biết tận dụng thời gian Chúa ban để học hỏi sâu rộng Giáo Lý, nhờ đó họ sẽ giữ vững niềm tin trước muôn vàn thử thách của cuộc sống.
Lạy Chúa Giê-su, xưa kia Thánh Phê-rô đã cầu xin với Chúa: “Xin gia tăng Lòng Tin cho chúng con”. Xin cho chúng con nhiệt thành làm việc thiện. Xin dạy chúng con không chú ý đến mình để mọi việc chúng con làm vì Chúa và cho Chúa, ngõ hầu có được một tình yêu hoàn hảo có thể xua tan mọi khiếp sợ.
Phê-rô TRẦN VĂN THẮNG, Nhóm Tông Đồ Thánh Kinh
 

 MC3-B38. Đền thờ

Sau khi nghe đoạn Tin Mừng, chúng ta không khỏi băn khoăn và tự hỏi: Tại sao Chúa Giêsu: MC3-B38

Sau khi nghe đoạn Tin Mừng, chúng ta không khỏi băn khoăn và tự hỏi: Tại sao Chúa Giêsu lại hành động như thế. Thực vậy, công việc của những người buôn bán và đổi tiền là công việc đem lại lợi ích cho đền thờ và thuận tiện cho khách hành hương.
Theo luật lệ qui định, thì vào những dịp lễ lớn, người Do Thái phải lên đền thờ để chu toàn bổn phận thờ kính đối với Đức Giavê. Họ từ khắp các miền trong nước cũng như ngoài nước hành hương trở về Giêrusalem. Cũng trong những dịp này, họ phải dâng lễ vật và đóng thuế cho đền thờ. Lễ vật có thể là chiên bò hay chim bồ câu, tùy khả năng tài chính của mỗi người. Bởi đó, muốn dâng cúng tiền thì phải đổi ra tiền thông dụng tại Giêrusalem. Muốn có những lễ vật thì phải có những nơi để mua sắm. Biết đâu, chính Mẹ Maria và thánh Giuse cũng đã mua ở đấy cặp chim bồ câu khi dâng tiến Chúa vào đền thờ.
Xem như thế thì những kẻ mua bán đổi chác không những không có hại mà còn đem lại hoa lợi và bổng lộc cho đền thờ. Hơn nữa, mặc dù Kinh Thánh có nói đến cơn giận của Thiên Chúa, nhưng cơn giận ấy không phải sẽ được biểu lộ theo kiểu này và trong một hoàn cảnh cụ thể như thế, vì Chúa Giêsu ở mọi nơi và trong mọi lúc vẫn là Thiên Chúa của lòng từ nhân và bao dung, như lời Ngài đã từng phán: Các con hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường.
Vậy thì đâu là ý nghĩa, đâu là mục đích mà Chúa Giêsu muốn nhằm tới? Nếu suy nghĩ chúng ta sẽ thấy khi đánh đuổi phường buôn bán, Chúa Giêsu đã làm một hành động có tính cách tiên tri, một biểu tượng nhằm đưa chúng ta đến một ý nghĩa khác thâm thúy và cao xa hơn. Các nạn nhân của Ngài cũng đã hiểu được thâm ý ấy nên đã vặn hỏi Ngài: Ông có thể đưa ra dấu hiệu nào để biện minh cho hành động của ông? Và Chúa Giêsu đã đưa ra dấu hiệu để biện minh, dấu hiệu này mãi về sau các tông đồ mới hiểu được: thân xác Ngài sẽ chết, nhưng ngày thứ ba Ngài sẽ sống lại. Và như vậy, Ngài muốn nói lên rằng chính Ngài là Đấng Thiên sai, là Đấng sẽ đến để cứu chuộc dân Ngài.
Với tư cách là Thiên sai, Chúa Giêsu đã bất bình với phường buôn bán và đổi chác, không phải vì hành động của họ, mà chính vì quan niệm sai lạc của họ. Họ lên đền thờ với thái độ tự mãn.
Với tiền bạc, họ có thể mua được những lễ vật. Và khi đã dâng lễ vật thì họ có cảm tưởng như là đã trả nợ cho Thiên Chúa, họ thảnh thơi ra về vì đã chu toàn lề luật và có quyền ngồi chờ Thiên Chúa thi ân đáp lễ. Họ đã cậy vào uy lực của tiền tài chứ đâu có cậy nhờ vào Chúa.
Dấu hiệu Chúa Giêsu đưa ra: Ngài sẽ phải chết nhưng sau ba ngày Ngài sẽ sống lại. Đó mới chính là cái uy lực thực sự mà con người phải bấu víu, phải nương tựa vào.
Qua hành động của mình, Chúa Giêsu đã đưa con người từ quan niệm về uy lực trần tục tới quan niệm về uy lực của Thiên Chúa. Đó chính là một cuộc canh tân, đổi mới tận gốc rễ. Ước chi trong Mùa Chay, chúng ta hãy nhìn lại đời sống xem chúng ta đã nghĩ gì và đã thực hiện cuộc đổi mới này như thế nào.
 

 MC3-B39. Đền thờ đích thật của sự thờ phượng và tập hợp

Đoạn Phúc âm của thánh sử Gioan nói về Chúa đuổi những kẻ buôn bán ra khỏi đền thờ có : MC3-B39

Đoạn Phúc âm của thánh sử Gioan nói về Chúa đuổi những kẻ buôn bán ra khỏi đền thờ có một mạch lạc và đầy đủ ý nghĩa mà người ta khó lòng nhận ra được dễ dàng như vậy ở các thánh sử khác. Các thánh sử này biên soạn Phúc âm từ những quan điểm khác và quy tụ một các khác những tài liệu do đời sống Chúa cung cấp. Có những câu hỏi được đặt ra ở đây về sự phù hợp giữa những gì mà Gioan nói và những gì mà các Phúc âm Nhất lãm nói. Không đi sâu vào chi tiết, chúng ta chỉ đồng ý rằng: các khó khăn sẽ tan biến một khi người ta nhớ lại là thánh Gioan ưa trình bày một cảnh trí chung từ một sự kiện riêng rẽ. Cuộc đời Chúa Giêsu do thánh sử Gioan viết không có tính cách giai thoại. Bằng cách dùng những chi tiết cụ thể, thánh sử Gioan trình bày ở đây cho chúng ta thấy một bối cảnh qua đó, thánh sử muốn làm cho chúng ta nhận ra Chúa Giêsu là Đấng Thiên Sai.
Giáo huấn rút ra từ cảnh tượng các kẻ buôn bán trong Đền thờ bị đuổi, có tính cách song đôi. Nó chứng tỏ cho chúng ta: 1. Chúa Giêsu là Đấng Thiên Sai; 2. Chúa Giêsu, Đấng Thiên Sai đích thân kế tiếp thực- tại tôn-giáo, được biểu thị qua Đền Thờ.
1) Chúa Giêsu là Đấng Thiên Sai. Chúa xử sự trong Đền thờ với một uy quyền mà chỉ có Đấng được Thiên Chúa sai đến và người Do Thái hằng mong đợi, mới dám tự cho mình như vậy, Người xuất hiện như trưởng tử của ngôi nhà và Người xưng hô Thiên Chúa là ‘Cha’ Người. Trước mắt người Do thái đương thời thì đó là đặc quyền dành cho Đấng Thiên Sai. Họ quả không lầm nên liền đó, họ xin Chúa Giêsu một dấu chỉ bảo đảm nguồn gốc Thiên Sai của Người. Nhưng Chúa Giêsu không cho dấu chỉ mà họ đòi hỏi, vì Chúa biết họ không thể tin được. Người ta đã vạch lá tìm sâu rất nhiều câu nói sau đây của Chúa: “Đừng biến nhà Cha Ta thành cửa tiệm buôn bán”. Dĩ nhiên khi người ta buôn bán trong nhà thờ, người ta xúc phạm đến Ngôi Nhà của Thiên Chúa. Thỉnh thoảng cũng cần phải lột mặt nạ sự buôn bán thật sự này nọ. Ví dụ, khi người ta gay gắt đả kích thói tục đốt nến, thì từ khi đó, người ta có quyền dùng toà giảng để đề cao những lợi ích có tính cách thế tục, dầu là ở lãnh vực chính trị hay bất cứ lãnh vực nào không?
2) Hãy phá Đền thờ này, trong 3 ngày Ta sẽ xây lại. Đó là câu trả lời của Chúa Giêsu cho người Do thái khi họ đòi hỏi Người một dấu chỉ. Dấu chỉ đó là cái chết, và sự phục sinh của Người. Quả thật, Chúa Giêsu đã đưa ra một câu trả lời che đậy mà chính các môn đệ cũng không hiểu ngay. Họ sẽ hiểu sau này khi Chúa sống lại. Sau này, họ sẽ hiểu là Đền thờ vật chất nơi tế lễ và tập hợp dân chúng, sẽ bị phá huỷ, sẽ trở thành vô ích. Nó sẽ bị “giải nhiệm” theo ý nghĩa là, một Đền thờ khác sẽ được dựng lên cho việc tế lế và tập hợp nhân loại. Đền thờ đó, chính là bản thân Chúa Giêsu. Người đích thân chu toàn việc tế lễ trọn hảo của sự ngợi khen và đền tạ. Người quy tụ nơi mình Người tất cả chúng sinh trong một sự hiệp thông chặt chẽ và phổ quát. Chúng ta phải tìm gặp Thiên Chuá (cách đích thật) và anh em ta (cách sâu sắc) ở đâu?
Ba ngày đây ám chỉ đến quãng thời gian vắn vỏi giữa cuộc khổ nạn và sự Phục sinh của Chúa Giêsu. Kiểu nói ‘Ba ngày’ này còn có cái lợi khác: nó dùng để chỉ ‘chẳng bao lâu nữa’. Ngày nay, chúng ta quen nói: ‘Trong giăm phút nữa’ để diễn tả một thời gian ngắn nữa thôi. Chúa Giêsu phán: ‘Trong ba ngày’ để chỉ rằng: Chúa làm chủ thời gian và khi nào Người muốn, Thiên Chúa sẽ chi phối mọ chi tiết. Nhân dịp này, chúng ta có thể nghĩ đến thân xác chúng ta mà thánh Phaolô gọi là ‘Đền thờ’ của Thiên Chúa. Nó sẽ bị cái chết phá huỷ. Bao giờ nó sẽ được tái thiết, chừng nào nó sẽ phục sinh? Chúng ta biết rằng mọi kỳ hạn nơi Thiên Chúa vắn vỏi, mặc dầu những tính toán của con người đo lường thời gian bằng đơn vị nghìn vạn thế kỷ.
 

MC3-B40. Thánh Đường, điểm hẹn

Một giáo xứ miền quê nọ đã được thành lập từ lâu, nhưng chưa có một ngôi nhà thờ xây cất: MC3-B40

Một giáo xứ miền quê nọ đã được thành lập từ lâu, nhưng chưa có một ngôi nhà thờ xây cất hẳn hoi. Giáo dân lại nằm rải rác trong hai ngôi làng sát cạnh nhau. Khát vọng duy nhất của giáo dân là được có nơi thờ phượng đàng hoàng. Với sự hăng say bộc phát của những người nông dân, mọi người đã quảng đại đáp lại lời kêu gọi của cha chính xứ: kẻ góp công, người góp của. Thế nhưng vấn đề cơ bản vẫn là: đâu là địa điểm xứng hợp nhất để xây cất ngôi nhà thờ mới. Người ở làng bên này thì muốn ngôi nhà thờ toạ lạc trong làng của mình. Người ở làng bên kia thì lại muốn nhà thờ được xây cất gần bên chỗ mình ở. Thế là hai bên cứ tranh luận, không bên nào muốn nhường bên nào. Tiền của đã có sẵn, vật liệu cũng không thiếu, nhưng không biết phải đặt viên đá đầu tiên ở đâu.
Giữa lúc vấn đề địa điểm xây cất chưa ngã ngũ, một nạn hạn hán trầm trọng đang đe doạ dân chúng trong cả hai làng. Thế là người ta chỉ còn nghĩ đến việc chống hạn hán hơn là xây cất nhà thờ. Năm ấy toàn dân trong hai làng đều phải chịu cảnh đói khát. Trong cảnh túng quẫn, lá lành đùm lá rách, dân làng hai bên mới nghĩ đến nhau. Một đêm kia, dân làng bên này lặng lẽ phân chia lúa thóc rồi mang qua cứu trợ dân làng bên kia. Trong khi đó, dân làng biên kia cũng có một ý nghĩ tương tự, họ cũng mang lúa thóc qua cứu trợ dân làng bên này. Giữa đêm tối, không hẹn mà hò, dân làng hai bên đã gặp nhau trong cùng một ý nghĩ và hành động. Không cần một lời giải thích, không cần một lời chào hỏi, họ đã hiểu nhau: Họ đặt những bao lúa xuống đất và ôm chầm lấy nhau… Điểm gặp gỡ của tình tương thân tương ái, của tình liên đới chia sẻ ấy đã được giáo dân gọi là “đất thánh” và họ đã nhất trí chọn địa điểm này làm nơi đặt viên đá đầu tiên xây cất ngôi nhà thờ mới của giáo xứ.
Thưa anh chị em,
Nhà thờ đúng là nơi hẹn hò gặp gỡ: hẹn hò gặp gỡ với Thiên Chúa và với anh em đồng bào. Không ai đến nhà thờ mà không tìm gặp được sức mạnh từ chính Chúa, sự an ủi nâng đỡ từ cộng đoàn anh em. Do đó, nhà thờ phải là điểm hẹn của mọi nẻo đường, là nơi hội tụ của mọi xây dựng, là giải đáp của mọi tranh luận, là nơi gặp gỡ của tình yêu thương.
Đền thờ Giêrusalem là nơi tập họp của dân Do Thái trên mọi khắp mọi miền đất nước vào dịp lễ Vượt Qua hằng năm, mừng kỷ niệm dân được Thiên Chúa giải phóng khỏi ách nô lệ Ai Cập, vượt qua Biển Đỏ về miền Đất Hứa. Năm ấy, Chúa Giêsu cũng hoà mình vào đoàn dân tiến bước về đền thờ. Vừa bước vào đền thờ, Chúa Giêsu đã chứng kiến những cảnh chướng tai gai mắt: buôn bán chiên bò, trao đổi tiền bạc, đám đông ồn ào náo nhiệt, vô trật tự. Không cầm mình được trước cảnh tượng đền thờ linh thiêng bị biến thành thị trường, sào huyệt của bọn đầu trộn đuôi cướp, Chúa Giêsu đã “nhào vô” thẳng tay đánh đuổi những kẻ buôn thần bán thánh, thanh tẩy đền thờ, trả lại sự trong sáng cho nơi cầu nguyện và gặp gỡ của Cha Ngài và của mọi người.
Nhưng không phải chỉ có thế. Dưới ngòi bút của Thánh sử Gioan, hãnh động của Chúa Giêsu còn mang một ý nghĩa biểu tượng sâu sắc hơn nhiều, khi Gioan nói: “Các ông cứ phá hủy Đền thờ này đi, nội ba ngày, tôi sẽ xây dựng lại”. Sau này, dưới anh sáng Phục Sinh, các môn đệ mới hiểu đền thờ Chúa muốn nói ở đây chính là thân xác của Chúa Giêsu sẽ được Phục Sinh sau ba ngày ở trong mồ.
Chúa Giêsu đã xua đuổi bọn con buôn, xô đổ lật nhào bàn ghế những người đổi tiền. Ngài phá hủy không phải chỉ để phá hủy. Phá hủy sẽ không có nghĩa gì cả, nếu không găn liền với xây dựng. Ngài chỉ phá hủy những gì hủy hoại con người, hủy hoại mốt tương giao giữa con người với Thiên Chúa và giữa con người với nhau. Thực ra, chính việc buôn bán đổi chác, ồn ào trong đền thờ mới phá hủy đền thờ, làm cho đền thờ không còn là đền thờ, không còn là nơi gặp gỡ Thiên Chúa và anh em đồng bào, trái lại trở thành sào huyệt trộm cướp, bóc lột, cắt cổ nhau. Chính vì thế, việc phá đổ, giết chết, đánh mất ý nghĩa là “việc của các ông”: “Các ông cứ phá hủy đền thờ này đi”. Còn “việc của Thiên Chúa” là xây dựng lại đền thờ mới, là cứu sống và tái tạo tất cả trong Đức Giêsu khi cho Ngài Phục Sinh sau ba ngày ở trong mồ, và đặt Ngài làm Đức Chúa, để từ nay, Đức Giêsu Kitô trở thành trung tâm phụng tự duy nhất. Trong Ngài toàn thể nhân loại sẽ “thờ phượng Thiên Chúa trong Thánh Thần và chân lý”.
Anh chị em thân mến,
Thời Cựu Ước, dân Do Thái tôn thờ Thiên Chúa một cách vụ hình thức, bôi bác, máy móc. Họ nghĩ rằng, cứ dâng cúng vào đền thờ nhiều tiền của, nhiều lễ vật là Chúa hài lòng, Chúa sẽ xí xóa mọi tội lỗi cho họ. Họ tưởng dùng tiền của, lễ vật, quà cáp là mua chuộc, hối lộ được Thiên Chúa. Thành thử ra, dù có sống gian tà, xảo trá, độc ác, bất công, chỉ cần đợi dịp đại lễ hành hương lên đền thờ, dâng cúng cho nhiều, thế là vừa bình an trong lương tâm vừa được tiếng đạo đức. Chính ngôn sứ Giêrêmia đã thốt lên lời sấm chống lại đền thờ, vì ở đó không còn nền thờ phượng đích thực nữa. Dân chúng chỉ sống đạo bề ngoài mà không hoán cải đời sống, không tuân giữ Giao Ước mười điều răn của Thiên Chúa (x.Bđ.1). ngôn sứ nói: “Chúa phán: Sao? trộm cướp, giết người, ngoại tình, thề dối, thờ cúng Thần Baal, đi theo các tà thần, rồi chạy vào đến trước mặt Ta trong đền thờ này, các ngươi cho thế là thoát nợ, để rồi tiếp tục cái trò quái gở ấy ư? Các ngươi đã biến đền thờ này là nơi Danh Ta được kêu cầu thành sào huyệt trộm cướp” (Gr 7,9-11). Điều Thiên Chúa muốn, rõ ràng không chỉ là thái độ phải có trong đền thờ mà là thái độ phải có trong cả cuộc sống.
Trong cuộc sống, chúng ta thường quan niệm bổn phận đối với Thiên Chúa trong các nhà thờ tách rời khỏi bổn phận đối với anh em ngoài xã hội. Thực ra, thờ phượng Thiên Chúa đâu chỉ là đến nhà thờ đọc kinh, dự lễ và rồi người anh em bên cạnh có chết đói, chết rét, có gặp tai ương hoạn nạn… cũng chỉ là việc riêng tư của họ, không cần biết đến. Người ta không thể xây dựng những ngôi nhà thờ nguy nga đồ sộ mà lại làm ngơ trước những người đang giẫy chết bên cạnh. Người ta không thể nhắm mắt đi đến nhà thờ trong khi bên lề đường có bao nhiêu người lê lết trong đói khổ. Nhà thờ phải là nơi hẹn hò gặp gỡ với Thiên Chúa và với anh em đồng loại. Nhà thờ chỉ có thể xây dựng ngay chính trên “Đất Thánh” của tình yêu thương, chia sẻ, của tình liên đới anh em mà thôi. Và việc đi đến nhà thờ cũng chỉ có ý nghĩa khi nó là điểm hẹn, là biểu tượng của chính những viên đá sống động, những viên gạch bác ái mà người ta không ngừng xây dựng trong cuộc sống hằng ngày. Vì chính các Kitô hữu là đền thờ của Chúa Thánh Thần (x.Cv 7,49-51; 1Cr 3,16; 2Cr 6,16).
Chúng ta đang tham dự Thánh Lễ là lễ tế của Chúa Giêsu trên thập giá. Chính Thánh Thể của Ngài giờ đây vĩnh viễn thay thế mọi lễ tế chiên bò trong đền thờ Giêrusalem và khánh thành một đền thờ mới với một phụng tự mới trong Thánh Thần và chân lý là yêu thương và phục vụ anh em cũng là chi thể của thân xác Chúa Giêsu Phục Sinh và là Đền thờ của Thiên Chúa Ba Ngôi.
 

MC3-B41. Chú giải của William Barclay

CƠN GIẬN CỦA CHÚA GIÊSU (2,12-16)
 

Bây giờ chúng ta hãy xét xem tại sao Chúa Giêsu hành động như thế. Cơn giận của Ngài là: MC3-B41

Bây giờ chúng ta hãy xét xem tại sao Chúa Giêsu hành động như thế. Cơn giận của Ngài là một điều đáng sợ. Hình ảnh Chúa Cứu Thế cầm roi khiến chúng ta phải kinh hãi. Điều gì đã khiến Ngài nổi cơn giận thánh tại sân Đền Thờ như vậy?
Trong các ngày lễ của dân Do Thái, lễ Vượt Qua là quan trọng nhất. Như chúng ta biết, luật quy định mỗi người nam Do Thái trưởng thành, sống trong vòng hai mươi lăm cây số chung quanh Giêrusalem phải đến đó dự lễ. Nhưng không phải chỉ có người Do Thái trong xứ Palestine đến dự lễ Vượt Qua. Thời bấy giờ dân Do Thái tản lạc khắp thế giới, họ chẳng bao giờ quên tôn giáo và đất nước của tổ tiên họ. Người Do Thái dù sống ở xứ nào, họ vẫn mong ước và hy vọng được dự lễ Vượt Qua tại Giêrusalem ít nhất một lần. Chuyện nghe thật đáng kinh ngạc nhưng dường như đã có đến hai triệu hai trăm ngàn người Do Thái đã tập họp về xứ thánh dự lễ Vượt Qua.
Thuế Đền Thờ là sắc thuế mà mỗi người Do Thái từ 19 tuổi trở lên phải nộp. Đó là phần dành cho việc dâng các sinh tế và lễ nghi trong Đền Thờ hằng ngày. Tiền thuế phải nộp là nửa siếc-lơ, gần hai ngày lương của một công nhân. Trong việc giao dịch bình thường, mọi loại tiền đều có giá trị ở Palestine. Các loại tiền bằng bạc lưu hành từ Rôma, Hy Lạp, Ai Cập đến Tia, Siđôn và Palestine đều có giá trị. Nhưng tiền thuế Đền Thờ phải nộp bằng đồng siếc-lơ Galilê hoặc siếc-lơ của Đền Thờ. Đó là loại tiền Do Thái, nên có thể dùng dâng cho Đền Thờ. Các loại tiền khác là của người ngoại, do đó bị xem là ô uế. Chúng được dùng trả các món nợ thường, nhưng không thể dùng trả nợ cho Chúa.
Khách hành hương từ khắp nơi trên thế giới đến với đủ loại tiền, nên trong Đền Thờ có nhiều người đổi bạc. Nếu họ hành nghề ngay thẳng, thật thà, thì họ đã thực hiện một mục đích chân thật và cần thiết. Nhưng muốn đổi lấy một đồng nửa siếc-lơ tiền để dâng cho Đền Thờ, người ta phải trả tương đương với ¼ tiền lương một ngày; vậy cứ đổi 4 đồng nửa siếc-lơ thì người đổi lợi được một số tiền tương đương một ngày công. Do đó, số tiền thuế Đền Thờ thu được và lợi tức đổi bạc thật khủng khiếp. Thu nhập của Đền Thờ về khoản thuế đó hằng năm ước lượng khoảng 75.000 bảng Anh, lợi tức hằng năm của những người đổi bạc là 9.000 bảng Anh. Năm 54 TC, Crassus chiếm thành Giêrusalem, cướp kho Đền Thờ, đã lấy của kho ấy 2.500.000 bảng Anh, nhưng chưa lấy hết.
Việc những kẻ đổi bạc ăn lời khi đổi tiền cho khách hành hương tự nó không có gì sai quấy. Kinh Talmud quy định: “Mỗi người cần có đồng nửa siếc-lơ để nộp thuế cho mình. Do đó, khi đổi đồng một siếc-lơ để lấy hai đồng nửa siếc-lơ, người ấy phải cho kẻ đổi bạc chút ít tiền lời”. Từ chỉ tiền lời là kollubos, những kẻ đổi bạc được gọi là kollubistai. Chữ này sản sinh một vai hề tên kollybos trong tiếng Hy Lạp, trong tiếng La Tinh là Collybus. Điều khiến Chúa Giêsu nổi giận là khách hành hương phải chịu đựng tệ nạn đổi bạc bóc lột với giá cắt cổ. Thật là một bất công, và càng tệ hại hơn nữa là người ta nhân danh tôn giáo để làm việc ấy.
Bên cạnh bọn đổi bạc, còn có số người bán bò, chiên, bồ câu. Thường thì mỗi lần đến Đền Thờ là một lần dâng lễ vật. Nhiều khách hành hương muốn dâng một lễ vật cảm tạ vì chuyến hành trình đến thánh địa bình an, hầu hết các hành động hoặc biến cố xảy ra trong đời sống đều có một lễ vật tương ứng. Điều hết sức tự nhiên và tiện lợi là có thể mua được các con vật tại sân Đền Thờ. Nhưng luật quy định bất cứ con vật nào dùng làm của lễ đều phải lành lặn, không tì vết. Ban quản trị Đền Thờ phân công những người kiểm tra con vật. Mỗi lần khám xét đều phải trả lệ phí 1/12 siếc-lơ. Nếu khách hành hương mua con vật ngoài Đền Thờ, chắc chắn con vật ấy sẽ bị từ chối khi khám xét. Vấn đề dường như chẳng có gì quan trọng, nhưng khốn nỗi, một con vật mua trong sảnh Đền Thờ có khi phải trả đắt gấp mười lăm lần hơn giá mua bên ngoài. Khách hành hương nghèo bị bóc lột trắng trợn khi muốn dâng lễ vật. Bất công xã hội này càng tệ hại thêm vì nó làm dưới danh nghĩa tôn giáo.
Chính điều ấy đã khiến Chúa Giêsu bừng bừng nổi giận. Gioan biết là Chúa đã lấy dây bện thành một cái roi. Thánh Jerôme nghĩ rằng chính cái nhìn của Chúa Giêsu cũng đủ rồi, không cần đến cây roi nữa. “Một tia giận sáng như sao từ đôi mắt Ngài chiếu ra, và oai nghi của Chúa rạng ngời khuôn mặt Ngài”. Chúa Giêsu yêu mến Chúa Cha, và chính vì yêu mến các con cái Thiên Chúa, cho nên Ngài không thể thụ động đứng ngoài vòng, trong khi những kẻ khốn khổ đến Đền Thờ để thờ phượng Chúa tại Giêrusalem bị đối xử như thế.
CƠN GIẬN CỦA CHÚA GIÊSU (Ga 2,12-16)
Chính những kẻ vô lương tâm, bóc lột khách hành hương đã khiến Chúa Giêsu nổi giận, nhưng phía sau sự kiện dọn sạch Đền Thờ này còn có nhiều điều sâu sắc. Chúng ta thử đi sâu hơn vào các lý do đã khiến Chúa Giêsu mạnh tay như thế.
Để có một bức tranh chính xác về lời Chúa Giêsu nói, chúng ta ghi ra những gì các tác giả Phúc Âm đã nhớ và chép lại, vì mỗi người đã tường thuật một cách. Mátthêu ghi lại lời Chúa Giêsu nói: “Nhà Ta được gọi là nhà cầu nguyện, nhưng các ngươi thì làm cho nhà ấy thành ra ổ trộm cướp” (Mt 21,13). Maccô viết: “Nhà Ta được gọi là nhà cầu nguyện cho muôn dân… Nhưng các ngươi đã làm thành cái hang trộm cướp” (Mc 11,17). Luca thì chép: “Nhà Ta là nhà cầu nguyện song các ngươi làm thành ra một cái hang trộm cướp”. Gioan viết: “Hãy cất bỏ đồ đó khỏi đây, đừng làm cho nhà Cha Ta thành ra nhà buôn bán” (Ga 2,16). Có ít nhất ba lý do khiến Chúa Giêsu hành động như vậy, tại sao Ngài nổi giận:
1) Chúa Giêsu làm như vậy vì nhà của Chúa đã bị xúc phạm. Trong Đền Thờ, có thờ phượng mà không có lòng tôn kính. Lòng tôn kính là một bản năng bẩm sinh. Nhà nghệ sĩ Edward Seago kể lại có lần ông dẫn hai đứa bé du mục vào một nhà thờ lớn ở Anh. Hai đứa bé này bình thường rất ngỗ nghịch. Nhưng khi vào trong đại giáo đường, chúng giữ yên lặng cách kỳ lạ. Trên đường về, chúng tỏ ra trang trọng cách khác thường, cho đến tối chúng mới trở lại nghịch ngợm bình thường. Bản năng tôn kính nằm sâu trong lòng chúng ta.
2) Chúa Giêsu hành động như thế để chứng minh việc dâng con vật làm sinh tế không còn thích đáng nữa. Từ nhiều thế kỷ trước, các ngôn sứ đã nói: “Đức Chúa phán: Muôn vàn của lễ các ngươi có can hệ gì đến Ta? Ta đã chán chê của lễ thiêu chiên đực và mỡ của bò con mập. Ta chẳng hài lòng về máu của bò đực, chiên con và dê đực đâu. Thôi đừng dâng của lễ chay vô ích cho Ta nữa” (Is 1,11-17). “Vì Ta đã đem tổ phụ các ngươi ra khỏi đất Ai Cập, Ta chẳng hề phán và chẳng hề truyền lệnh gì về của lễ toàn thiêu và các của lễ khác” (Gr 7,22). “Chúng nó sẽ đi với các bầy chiên, đàn bò để tìm kiếm Đức Chúa, song không thấy Ngài” (Os 5,6). “Còn như của lễ dâng cho Ta thì chúng nó dâng thịt và thức ăn, nhưng Đức Chúa chẳng nhận đâu” (Os 8,13), “Vì Chúa không ưa thích của lễ, nếu Ngài ưa tôi chắc đã dâng. Của lễ toàn thiêu cũng không đẹp lòng Chúa” (Tv 51,16). Tiếng nói ngôn sứ luôn nhắc đi nhắc lại với loài người tính cách bất thích hợp của các lễ toàn thiêu và các sinh tế vẫn còn tiếp tục bốc khói từ bàn thờ tại Giêrusalem. Chúa Giêsu hành động như vậy là để chứng tỏ không có một lễ vật hay một sinh tế nào có thể làm cho loài người hòa thuận lại với Chúa được.
Ngày nay chúng ta cũng không thoát khỏi khuynh hướng này. Chúng ta không còn dâng sinh vật làm của lễ cho Chúa. Nhưng chúng ta đồng hóa việc phục vụ Chúa với việc lắp đặt những cửa sổ bằng kính màu, việc có thêm một cây đàn phong cầm vang tiếng hơn, việc hao phí thực hiện nhiều công trình chạm trổ trên đá, trên thạch cao, trên gỗ quý, trong khi tinh thần thờ phượng đích thực không thấy đâu. Chúng ta không lên án những việc đó, trái lại tạ ơn Chúa, điều đó thường là do những tấm lòng yêu mến Chúa dâng hiến. Chúng được dùng hỗ trợ cho thờ phượng chân thật, là những việc được Chúa ban phước; nhưng khi chúng thay thế cho lòng thờ phượng chân thật, thì lại khiến Chúa phải ghê tởm.
3) Một lý do khác khiến Chúa Giêsu hành động như thế mà Maccô có thêm một chi tiết đáng chú ý, không tác giả nào đề cập đến: “Nhà Ta sẽ gọi là nhà cầu nguyện cho muôn dân” (Mc 11,17). Đền Thờ gồm nhiều hành lang (sân) dẫn đến bên trong Đền Thờ và nơi Thánh. Trước hết có hành lang dành cho dân ngoại, rồi đến hành lang dành cho phụ nữ, tiếp đến là hành lang dành cho Israel, rồi đến hành lang cho các tư tế. Cảnh buôn bán kể trên diễn ra trong hành lang dành cho dân ngoại, là nơi duy nhất người ngoại có thể tới trong Đền Thờ. Một người ngoại chỉ có thể đến đó và bị cấm không tiến xa hơn nữa. Như thế, một người ngoại có thể vào hành lang dành cho họ để suy gẫm, cầu nguyện và đứng từ xa tiếp xúc với Chúa. Đây là chỗ cầu nguyện duy nhất của họ.
Thế mà, ban quản trị Đền Thờ và các con buôn người Do Thái đành biến hành lang ấy thành nơi huyên náo, hỗn loạn khiến không ai có thể cầu nguyện được. Quang cảnh như vậy của hành lang Đền Thờ đã loại bỏ mất những người ngoại muốn tìm kiếm Chúa. Có thể đó là điều đập mạnh vào tâm trí Chúa Giêsu trên hết; và chỉ một mình Maccô mới giữ được câu nói ngắn ngủi nhưng nhiều ý nghĩa đó. Chúa đã xúc động tận tâm can khi thấy những người muốn ra mắt Chúa lại bị ngăn trở như vậy.
Trong sinh hoạt của Giáo Hội chúng ta, giai cấp, kỳ thị, lạnh lùng, kém niềm nở, khuynh hướng biến cộng đoàn thành một câu lạc bộ khép kín, thái độ kiêu căng, làm khó, đã ngăn trở những người lạ có lòng tìm kiếm Chúa phải ở bên ngoài hay không? Chúng ta nên nhớ lại cơn giận của Chúa Giêsu đối với những ai làm khó những người thiện chí tìm Chúa nhưng không thể tiếp nhận Ngài được.
ĐỀN THỜ MỚI (Ga 2,17-22)
Một hành động, như việc dọn sạch Đền Thờ, chắc chắn phải gây phản ứng tức khắc từ phía những người đã mục kích. Đây không phải là loại sự việc mà người ta có thể đứng nhìn với thái độ hoàn toàn dửng dưng, vì hành động đó quá táo bạo.
Có hai phản ứng. Một là phản ứng của các môn đệ của Chúa. Họ nhớ lại những lời trong Thánh Vịnh 69,9; được xem như chỉ về Đấng Mêsia. Khi Đấng Mêsia đến, Ngài có lòng sốt sắng, nóng nảy như nung nấu về nhà Chúa. Khi Thánh Vịnh này hiện lên trong trí các môn đệ, thì niềm tin Chúa Giêsu là Đấng Mêsia càng sâu xa và dứt khoát hơn. Hành động ấy không thích hợp với ai khác ngoài Đấng Mêsia. Các môn đệ càng tin hơn bao giờ hết Chúa Giêsu đúng là Đấng được xức dầu của Thiên Chúa.
Hai là phản ứng tất nhiên của người Do Thái. Họ hỏi Chúa Giêsu lấy quyền gì để hành động như vậy, và đòi Ngài phải làm một dấu lạ để chứng minh thẩm quyền của Ngài. Họ nhìn nhận hành động của Chúa Giêsu là hành động tự tuyên xưng của Đấng Mêsia. Người ta luôn luôn trông chờ Đấng Mêsia, khi Ngài đến, Ngài sẽ chứng minh và bảo đảm những lời xưng nhận của Ngài bằng nhiều phép lạ. Thật ra nhiều Mêsia giả đã xuất hiện, và hứa sẽ rẽ nước sông Giođan làm hai, hoặc chỉ nói một lời thì các vách thành liền đổ xuống. Ý niệm phổ thông về Đấng Mêsia gắn liền với phép lạ. Do đó, người Do Thái mới nói: “Bằng hành động dọn sạch Đền Thờ, Thầy đã công khai tự xưng là Đấng Mêsia, bây giờ, hãy cho chúng tôi thấy phép lạ để chứng minh lời tự xưng đó của Thầy”.
Câu trả lời của Chúa Giêsu đã tạo nên vấn đề lớn cho đoạn này. Chúa Giêsu thật sự đã nói gì? Ngài muốn ngụ ý gì? Chúng ta thấy rõ hai câu 21, 22 là lời diễn giải Gioan viết sau này. Tất nhiên ông đã đưa các ý niệm vốn là kết quả của 70 năm suy nghĩ và kinh nghiệm về Chúa Cứu Thế Phục Sinh vào đoạn này. Giáo phụ Irenaeus kinh nghiệm: “Không có lời tiên tri nào được thấu hiểu đầy đủ, cho đến khi nó đã được ứng nghiệm”. Nhưng nguyên thủy, Chúa Giêsu nói gì, và đã ngụ ý gì?
Không có gì để nghi ngờ là Chúa Giêsu đã nói mấy lời giống như câu này, những lời có thể bị những kẻ quỷ quyệt xuyên tạc thành lời tuyên xưng có tính cách phá hoại. Lúc Chúa Giêsu bị đem ra xét xử, có lời chứng dối đưa ra để tố cáo Ngài: “Người này nói: Ta có thể phá Đền Thờ của Chúa rồi dựng lại trong ba ngày” (Mt 26,61). Lời tố cáo chống lại Têphanô: “Chúng ta đã nghe người này nói rằng Giêsu ở Nagiarét sẽ phá nơi đây và đổi tục lệ Môsê đã truyền lại cho chúng ta” (Cv 6,14)
Có hai điều chúng ta phải nhớ và ghép chúng lại với nhau. Trước hết, chắc chắn Chúa Giêsu không bao giờ bảo Ngài sẽ phá hủy Đền Thờ bằng vật liệu thấy được ấy, rồi sẽ xây dựng lại. Thật ra, Chúa Giêsu chờ ngày chấm dứt Đền Thờ. Ngài đã nói cùng người đàn bà Samari, đã đến ngày mà người ta không còn thờ phượng Đức Chúa Trời hoặc trên núi Garidim, hoặc tại Giêrusalem, nhưng phải thờ phượng Ngài bằng tinh thần và chân lý (Ga 4,21). Điều thứ hai, có thể việc Chúa Giêsu mạnh tay dọn sạch Đền Thờ là một cách để chứng tỏ toàn thể thờ phượng với nghi lễ và lễ vật đó không còn phù hợp, và không thể đưa người ta đến với Chúa. Như thế, Chúa Giêsu đã dự liệu đền thờ này sẽ bị phá bỏ, Ngài đã đến để khiến cho sự thờ phượng tại đó trở thành lỗi thời không cần thiết, vì thế chẳng bao giờ Ngài lại gợi ý là sẽ xây lại đền thờ.
Bây giờ chúng ta quay sang Maccô. Như thường lệ chúng ta thấy một câu nhỏ thêm vào có tính cách gợi ý và soi sáng trong tường thuật của Maccô. Theo Maccô kể thì lời tố cáo Chúa Giêsu là: “Ta sẽ phá đền thờ này bởi tay người ta cất lên, khỏi ba ngày, Ta sẽ cất một đền thờ khác không bởi tay người ta cất” (Mc 14,58). Rõ ràng, điều Chúa muốn nói là Ngài đến để chấm dứt tất cả những gì do tay người ta làm ra, cách thức thờ phượng Chúa do người ta sắp xếp, để đưa vào sự thờ phượng thiêng liêng. Ngài đã kết thúc mọi việc dâng của lễ bằng súc vật và lễ nghi do các thầy tế lễ chủ trì, thay vào đó bằng việc trực tiếp đưa tâm linh người ta đến gần Thánh Linh của Chúa mà không cần các nghi lễ dâng hương, dâng lễ vật. Lời xác nhận của Chúa Giêsu là: “Sự thờ phượng tại Đền Thờ, các nghi lễ rườm rà, vô vàn lễ vật của các ngươi phải chấm dứt, bởi vì Ta đã đến”. Lời hứa tiếp theo của Chúa là: “Ta sẽ mở cho các ngươi một con đường đến với Thiên Chúa mà không cần các nghi lễ tỉ mỉ đó nữa. Ta đã đến để phá hủy Đền Thờ Giêrusalem, khiến cả trái đất này thành một ngôi đền thờ, ở đó loài người có thể đến gần và biết có sự hiện diện của Thiên Chúa hằng sống”.
Người Do Thái đã thấy việc đó. Năm 19 TC, vua Hêrôđê đã bắt đầu xây dựng ngôi đền thờ vĩ đại ấy. Nhưng đến năm 64 SC việc xây dựng mới xong. Từ ngày khởi công đến lúc bấy giờ là 46 năm, còn hai mươi năm nữa mới hoàn thành. Chúa Giêsu khiến người Do Thái phẫn nộ khi bảo rằng tất cả những huy hoàng tráng lệ, tiền bạc kỹ thuật mà người ta đã đổ vào công trình ấy hoàn toàn vô ích, và Ngài đã đến để chỉ cho người ta một con đường đến với Đức Chúa Trời mà không cần một đền thờ nào cả.
Đây là điều thực sự Chúa Giêsu đã nói. Những năm sau đó Gioan còn nghiệm thấy thêm nhiều điều trong những lời Chúa Giêsu nói. Ông thấy đó là một lời tiên tri về sự Phục Sinh, và Gioan đã đúng. Ông đã thấy đúng, vì cả thế gian này không thể trở thành ngôi đền thờ của Thiên Chúa hằng sống, cho đến khi Chúa Giêsu lìa bỏ thân xác trần gian hiện diện khắp nơi, ở với mọi người, mọi chỗ, cho đến tận cùng trái đất.
Chính sự hiện diện của Chúa Kitô Phục Sinh và hằng sống đã khiến cả thế gian trở thành đền thờ của Thiên Chúa. Cho nên khi các môn đệ gẫm lại, họ mới hiểu đó là lời hứa về sự Phục Sinh. Lúc ấy họ không thể hiểu được, nhưng sau khi chính họ kinh nghiệm về Chúa Cứu Thế Hằng Sống, họ mới thấy được ý nghĩa sâu nhiệm của những gì Chúa Giêsu đã nói.
Cuối cùng Gioan bảo: “thì (họ) tin Kinh Thánh”; Kinh Thánh nào đây? Ông muốn nói đến câu Kinh Thánh vẫn ám ảnh Hội Thánh sơ khai: “Chúa không để cho người thánh Chúa thấy sự hư nát” (Tv 16,10). Đó là câu Phêrô đã trích dẫn vào ngày lễ Ngũ Tuần (Cv 2,31); Phaolô đã trích dẫn tại Antiokia (Cv 13,35). Câu Kinh Thánh đó diễn tả lòng tin của Hội Thánh vào quyền năng của Thiên Chúa và sự Phục Sinh của Chúa Giêsu Kitô.
Tại điểm này chúng ta được đưa vào chân lý, chúng ta được tiếp xúc với Chúa, ra mắt Ngài, đến gần Ngài, không tùy thuộc vào bất cứ điều gì do bàn tay và trí tuệ con người làm ra. Ngoài đường phố, ở trong nhà, lúc làm việc, khi ở trên núi, trên đường dài vắng vẻ hay trong nhà thờ, chúng ta đều có đền thờ nội tâm, có sự hiện diện vĩnh viễn của Chúa Kitô Phục Sinh, Ngài vẫn ở với chúng ta khắp mọi nơi.
ĐẤNG DÒ XÉT LÒNG NGƯỜI (Ga 2,23-25)
Gioan không thuật lại các phép lạ Chúa Giêsu đã làm tại Giêrusalem trong mùa lễ Vượt Qua ấy. Nhưng nhiều người sau khi thấy phép lạ Ngài làm, thì tin Ngài. Vấn đề Gioan đặt ra ở đây là: Nếu đã có nhiều người tin Ngài tại Giêrusalem ngay từ buổi đầu, tại sao Chúa Giêsu không ở lại đó, dựng cờ lên để tự xưng là Đấng Mêsia, công khai tuyên bố mình là ai?
Câu trả lời là, Chúa Giêsu vốn biết rõ tâm địa con người. Ngài biết rõ, đối với nhiều người Ngài chỉ là một hiện tượng lạ chóng qua. Ngài biết có nhiều người chỉ bị lôi cuốn bởi những việc lạ lùng Ngài làm. Ngài đã biết rõ chẳng có ai thấu hiểu con đường Ngài đã chọn. Ngài biết nhiều kẻ chỉ theo Ngài vì phép lạ, dấu kỳ, nhưng khi Ngài bắt đầu nói với họ về phục vụ, từ bỏ mình, tuân phục ý Chúa, về thập giá và việc vác thập giá, chắc chắn họ sẽ trố mắt nhìn Ngài mà chẳng hiểu gì cả, sẽ bỏ Ngài ngay.
Một đặc điểm quan trọng của Chúa Giêsu là Ngài không muốn những ai theo Ngài mà chưa hiểu biết thật rõ ràng, và dứt khoát chấp nhận trả giá. Ngài khước từ việc nắm lấy cơ hội nổi tiếng trong chốc lát. Nếu Ngài tự phó mình cho đám quần chúng tại Giêrusalem, chắc họ tôn Ngài là Đấng Mêsia ngay tức khắc, để sau đó họ trông mong vào những hành động vật chất trần gian Đấng Mêsia thực hiện. Nhưng Chúa Giêsu không yêu cầu người ta thừa nhận Ngài, cho đến khi họ biết rõ tiếp nhận Ngài có ý nghĩa gì. Ngài đòi hỏi mỗi người phải nhận biết điều Ngài đang làm.
Chúa Giêsu biết rõ bản chất, tấm lòng bất định, dễ đổi thay của loài người. Ngài biết rõ con người có thể bị bốc đồng, bị lôi cuốn trong những khoảnh khắc xúc động mạnh, nhưng lại rút lui sau khi thấy rõ những gì phải trả giá. Ngài biết bản chất con người thèm những kích động tình cảm. Ngài không muốn đám đông hoàn toàn chẳng biết gì cả mà cứ tung hô, Ngài chỉ cần một số ít người biết rõ mình đang làm gì, và sẵn sàng theo Ngài cho đến cùng.
Có một điều cần chú ý trong đoạn này, vì chúng ta còn nhiều lần lặp lại. Khi Gioan đề cập đến những phép lạ của Chúa Giêsu, ông gọi đó là những dấu lạ. Tân Ước dùng ba từ khác nhau chỉ các công việc lạ lùng của Thiên Chúa và của Chúa Giêsu, mỗi từ cho chúng ta biết một phần về ý nghĩa và bản chất của phép lạ.
1) Chữ Teras chỉ có nghĩa là một cái gì đó lạ lùng, đáng ngạc nhiên, kỳ lạ. Chữ này không bao hàm một ý nghĩa đạo đức nào cả. Một trò lừa đảo bằng phù phép có thể là một teras, nó chỉ là một điều xảy ra khác lạ khiến người ta phải ngạc nhiên. Tân Ước không dùng chữ này một mình để chỉ các công việc của Thiên Chúa và của Chúa Giêsu.
2) Chữ Dunamis theo nghĩa đen là năng lực, do từ này mà có chữ cốt mìn (dynamite). Nó có thể được dùng để chỉ bất cứ một năng lực khác thường nào, hoặc chỉ sức tăng cường, các năng lực thiên nhiên, năng lực của một thứ thuốc, năng lực của một người có tài. Nó luôn luôn có nghĩa là một năng lực hữu hiệu để làm việc mà ai cũng nhìn nhận.
3) Chữ Semeion có nghĩa là một dấu hiệu (sign). Đây là chữ mà Gioan thích dùng. Theo ông, phép lạ không chỉ là một việc xảy ra kinh ngạc, một việc làm bởi quyền năng và là một dấu hiệu; nghĩa là nó cho người ta biết về người đã làm việc lạ ấy, phô bày một điều gì đó về tính tình, bản chất của người ấy, đó là một hành động mà qua đó người ta có thể biết rõ hơn, đầy đủ hơn về phẩm cách của người đã hành động. Với Gioan, điều tối quan trọng trong các phép lạ của Chúa Giêsu là bày ra cho người ta biết về bản chất và phẩm cách của Thiên Chúa. Quyền phép Chúa Giêsu đã được sử dụng để chữa kẻ bệnh, cho kẻ đói được ăn, an ủi kẻ gặp bối rối; chính sự kiện Chúa dùng quyền phép mình như thế, là bằng chứng Chúa quan tâm đến sầu khổ, thiếu thốn và đau đớn của con người. Với Gioan thì các phép lạ là các dấu hiệu bày tỏ tình yêu của Thiên Chúa.
Vậy, trong bất cứ phép lạ nào cũng có ba điều: có điều lạ làm cho người ta bàng hoàng, sững sờ, kinh ngạc. Có phần quyền năng hoạt động hữu hiệu đối phó và hàn gắn thân thể bị thương tật, tâm trí bị rối loạn, tấm lòng tan nát, một quyền năng có thể làm mọi việc. Có phần dấu hiệu bày tỏ tình yêu và tấm lòng của Thiên Chúa, Đấng đã làm những việc như thế cho loài người.
 

MC3-B42. Chú giải mục vụ của Alain Marchabour

DẤU LẠ CỦA VIỆC THANH TẨY ĐỀN THỜ (2,13-22)
 

Cả bốn Tin Mừng đều trình thuật về Đền thờ (Mc 11,15-17 và tương đương). Thế nhưng giữa: MC3-B42

Cả bốn Tin Mừng đều trình thuật về Đền thờ (Mc 11,15-17 và tương đương). Thế nhưng giữa ba Tin Mừng khác, có nhiều điểm khác biệt quan trọng, đặc biệt nhất là vấn đề xác định thời gian: đối với Gioan, đó là vào lúc Chúa mới bắt đầu cuộc đời công khai, đối với các sách Tin Mừng Nhất Lãm thì lại vào cuối đời sống công khai. Hơn nữa Gioan là tác giả duy nhất tường thuật dài về việc xua đuổi con buôn ra khỏi Đền thờ bằng việc người Do Thái yêu cầu một dấu lạ và Chúa Giêsu trả lời về việc phá hủy Đền thờ và xây dựng lại trong ba ngày. Chính Gioan phải chịu trách nhiệm về việc di dịch biến cố. Ông chỉ tỏ sự đoạn tuyệt với Do Thái giáo ngay từ lúc Chúa khởi đầu đời sống công khai của Chúa Giêsu (phù hợp với hoàn cảnh lịch sử của Giáo Hội của mình). Từ ngữ được sử dụng xác quyết điều đó: đó là lễ Vượt Qua của người Do Thái; dung ngữ này còn lặp lại trong 6,4 và 11,55 (cũng như trong 7,2 nhân dịp lễ Lều) và làm lệch đi sự xa cách và ngay cả sự đoạn tuyệt giữa các tín hữu tiên khởi và cộng đoàn Do Thái.
DẪN NHẬP (cc. 13-14)
Phần dẫn nhập xác định quang cảnh và địa điểm. Chúa Giêsu lên Giêrusalem lần này là lần đầu tiên và Người lên đây đúng vào “lúc gần đến lễ Vượt Qua của người Do Thái”. Dụng ngữ này, lặp lại ba lần trong Tin Mừng (6,4; 11,555) xác định sự chính xác về nguồn tin của Gioan. Ba lần lễ Vượt Qua phù hợp với hai năm rưỡi đời sống công khai của Chúa Giêsu. Đem so chiếu với những đại lễ Do Thái với những đại lễ Do Thái này có một ý nghĩa khác nơi con người của Chúa Giêsu.
Con buôn bày bán dưới các hành lang trên sân Dân ngoại (tiếng Hy Lạp hieron, dịch ra ở đây là “đền”) chứ không phải bên trong Đền thờ. Ngoài ra điều đó rất khó mà tránh khỏi khi người ta muốn cho khách hành hương, nhân dịp về Giêrusalem, có thể đổi bạc để có được chiên bò dâng làm của lễ hiến tế. Chúa, vị ngôn sứ đầy nhiệt tâm trước những quyền của Thiên Chúa, xem điều đó như làm ô uế Đền thờ.
HÀNH ĐỘNG NGÔN SỨ (cc. 15-16)
Việc can thiệp của Chúa Giêsu liên kết với những hành động mà các ngôn sứ thường làm để thông truyền sứ điệp cho có hiệu quả hơn. Nó gồm một hành động và hai lời giải thích. Hành động ở đây dồi dào hơn ở trong bài trần thuật Nhất Lãm: lấy dây làm roi, có nhiều chiên bò trong Đền thờ. Thời bấy giờ dọc theo Cédron hay trên núi Olivêtê có một chợ súc vật dùng làm của lễ dâng cúng, do nhóm Sanhédrin tổ chức. Trước cảnh tục hóa như thế, Chúa Giêsu chống đối theo đường hướng của các ngôn sứ như Giêrêmia (7,14), Malakhi (3,1) hoặc Israel (65,7) đã làm trước Người. Người chứng tỏ việc tẩy uế Đền thờ được tiên liệu vào thời cánh chung hiện đang tiến hành.
Lời Người nói có hai phần: Trước hết Người yêu cầu chính đáng một tập tục bất xứng với Thiên Chúa. Lời này không hẳn là một trích dẫn Kinh Thánh, dù rằng điều đó được nói đến trong Zacaria 14,21: “Vả trong ngày đó sẽ không còn kẻ buôn bán nơi Đền thờ Chúa quân lực nữa”. Ở đây Chúa Giêsu hành xử như Người bênh vực quyền lợi của Thiên Chúa. Người vén lên bức màn về mối liên hệ duy nhất giữa Người với Chúa Cha. Sau đó, Chúa Giêsu đáp ứng yêu cầu dấu lạ bằng một lời huyền nhiệm về Đền thờ. (không phải hieron nữa, mà là naos, nghĩa là chính cung thánh).
Việc so chiếu với các sách Tin Mừng Nhất Lãm về vấn đề này sẽ làm cho dễ hiểu hơn. Ở trong Nhất Lãm có một câu gần gũi với câu trên nhưng với những điều khác biệt quan trọng: trong Nhất Lãm, lời tuyên bố về việc phá hủy Đền thờ được những kẻ làm chứng gian hiểm độc nói lại; còn trong Gioan, lời này được đặt vào trong môi miệng Chúa Giêsu. Trong Tin Mừng Maccô, việc phá hủy Đền thờ được quy cho Chúa Giêsu: “Tôi sẽ phá” (14,58); trong Tin Mừng Gioan, lời nói đó đối đáp với những người đối thoại: “Các ông cứ phá hủy Đền thờ này đi”. Ngoài ra Gioan cố ý dùng cụm từ “Tôi sẽ xây dựng lại Đền thờ này” để chỉ công việc xây dựng cũng như để chỉ sự sống lại.
GIẢI THÍCH (cc 17-22)
Như vậy không dễ gì hiểu được nền tảng lịch sử rõ ràng về bài trần thuật này. Ta có thể nghĩ đến một hành động tượng trưng chống lại các lạm dụng trong Đền thờ. Sự hiện diện của các người đổi bạc là cần thiết để khách hành hương có thể đổi những đồng bạc mang dấu ấn triều đình để lấy đồng tiền trong sạch. Cũng vậy việc buôn bán gia súc dùng làm của lễ dâng cúng là một nhu cầu. Trừ khi nghĩ đến sự phản kháng triệt để về việc thờ phượng do Chúa Giêsu… còn thì toàn thể Tin Mừng không đi theo chiều hướng đó. Chỉ cần lưu ý đến sự băng hoại nổi tiếng của gia đình Anna, thượng tế tiền nhiệm của Caipha. Bù lại, một sự công kích triệt để như thế về của lễ dâng cúng đã được cộng đoàn của Gioan nhấn mạnh, sau khi Đền thờ bị phá hủy, đánh dấu sự kết thúc việc hiến tế.
Tác giả thận trọng về các vấn đề trên: ông để tâm đến việc khác. Ông chứng tỏ điều đó bằng cách đưa vào trong bài trần thuật của mình nhiều chú thích. Chúng ta hãy ghi lại:
a. Sự liên quan mật thiết với phép lạ ở Cana. Quả vậy cả hai cảnh tượng có nhiều điểm tương đồng. Cả hai đều kể đến một sự chuyển tiếp: những chum đá rỗng không, đền thờ trống vắng. Mối liên hệ với lễ Vượt Qua được chú ý trong bài trần thuật thứ nhất: “ngày thứ ba, vinh quang”, và trong bài thứ hai: “vào dịp lễ Vượt Qua”, “nội trong ba ngày tôi sẽ xây dựng lại” (2,19), “khi Người từ cõi chết chỗi dậy”(2,22).
b. Các lời chú giải của thánh sử. Tác giả trong khi đưa vào trong bài trần thuật những suy tư của riêng mình hướng dẫn chúng ta xem xét: “Các môn đệ của Người nhớ lại…” (2,17). Thánh vịnh 69,9-10 soi dẫn cộng đoàn tiên khởi của Gioan, có đoạn sau:
“Anh em nhà kể con như người dưng nước lã
Hàng máu mủ xem con bằng khách lạ mà thôi.
Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa, mà con phải thiệt thân.
Lời kẻ thoá mạ Ngài, này chính con hứng chịu”.
Vậy nên, Gioan hiểu được sự cô đơn của Chúa Giêsu đối với anh em của Người (và rộng hơn đối với dân tộc của Người) cũng như hiểu được số phận bị thảm của Người: nhiệt tâm lo việc nhà Chúa của Chúa Giêsu đưa Người đi đến cái chết. Thế nhưng suy tư tiếp theo của thánh sử tiến dẫn nguyên nhân của sự phục sinh. “Các môn đệ nhớ lại…và tin”.
Trong bài trần thuật này, Đền thờ mới, Chúa Kitô, chiếm vị trí của Đền thờ cũ (biến mất vào thời biên soạn Tin Mừng), ta sẽ không khỏi khâm phục tác giả đã khéo léo liên kết Kinh Thánh, các sự kiện liên quan đến Chúa Giêsu và sự suy niệm Phục Sinh.
CHUYỂN TIẾP (2,23-25)
Cảnh tiếp theo tạo nên một sự chuyển tiếp khéo léo giữa hai cảnh Cana và cảnh tẩy uế Đền thờ và cuộc đối thoại với ông Nicôđêmô. Ta có thể nhận thấy ở đó một kết luận đã tỉnh ngộ với sự cương quyết dứt khoát với Do Thái giáo được thể hiện trong bài trần thuật về Cana và hành động ngôn sứ từ việc xua đuổi những người mua bán trong Đến thờ. Đồng thời sự cảm nghiệm thất bại này chuẩn bị cuộc gặp gỡ với một nhân vật tiêu biểu của Do Thái giáo: ông Nicôđêmô, dù có thiện chí phấn đấu, vẫn được xem như không thể tiếp bước theo Chúa Giêsu với những đòi buộc của Người. Sự nghi ngờ này xảy ra ở giữa sự từ khước có hệ thống cho nhóm Do Thái chính cống và đức tin của các môn đệ. Gioan không xác định bản chất các dấu lạ Chúa Giêsu đã làm tại Giêrusalem (xem thêm 4,45)
 

MC3-B43. Chú giải của Noel Quesson

Gần đến Lễ Vượt qua của người Do Thái, Đức Giêsu lên thành Giêrusalem.
 

Đức Giêsu là một người Do Thái nhiệt thành sống đạo. Trong Tin Mừng của mình, thánh: MC3-B43

Đức Giêsu là một người Do Thái nhiệt thành sống đạo. Trong Tin Mừng của mình, thánh Gioan đã bảy lần ghi lại Đức Giêsu tham dự những buổi lễ trọng phải hành hương (Ga 5,1; 6,4; 7,2; 10,22; 11,55; 12,1; 13,1), đặc biệt là Lễ Vượt qua vào Mùa Xuân và Lễ Lều trại vào Mùa Thu. Trước hết tôi chiêm ngưỡng Đức Giêsu, với tư thế là một người trần hòa lẫn trong đám đông, đang cầu nguyện ca hát trên bước đường hành hương, rồi trên sân trước của Đền thờ. Cho dù trên thực tế, Đức Giêsu đã sửa đổi rất kỹ những nghi thức phụng tự Do Thái, nhưng về mặt giáo lý Người không chủ trương bài xích. Cuốn phim “Lễ vật toàn thiêu” nhắc lại cho ta thấy sự đau khổ của dân tộc này mà Đức Giêsu là thành phần; một dân tộc luôn mang một định mệnh đặc biệt cách nhiệm mầu. Trang Tin Mừng trên đây của thánh Gioan bắt đầu bằng "Lễ Vượt Qua của người Do Thái" (câu 13), và kết thúc với "Lễ Vượt Qua của Đức Giêsu (câu 2) nhằm nhắc lại những môn đệ đầu tiên của Đức Giêsu đều là người Do Thái, là những kẻ “tin vào danh Người trong dịp lễ Vượt Qua" (câu 23). Từ ‘lễ Vượt qua của người Do Thái’ đến ‘Lễ Vượt qua Kitô giáo’, luôn thể hiện cùng một mầu nhiệm khôn dò: Mầu nhiệm phá hủy một đền thờ, rồi nhờ đó lại mọc lên một đền thờ khác.
Người thấy trong Đền thờ có những kẻ bán chiên bò, bồ câu và những người đang ngồi đổi tiền. Người bèn lấy dây làm roi mà xua đuổi tất cả bọn họ cùng với chiên bò ra khỏi đền thờ, còn tiền của những người đổi bạc, Người đổ tung ra và lật nhào bàn ghế của họ. Người nói với những kẻ bán bồ câu: "Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây”.
Tranh ảnh Kitô giáo đã không bỏ sót diễn tả những cảnh này với màu sắc và hành động thật là phong phú. Đức Giêsu đang nổi giận, cầm roi trong tay, xua đuổi "phường buôn bán ra khỏi Đền thờ". Chúng ta cần phải vượt qua giới hạn của "biến cố" trên, để tìm hiểu ý nghĩa thần học sâu xa của pha cảnh. Trong câu này, ta nhận thấy, hình như Đức Giêsu đối xử với những kẻ bán bồ câu với thái độ khác thường, tử tế hơn so với những kẻ khác: Vì bồ câu thuộc "lễ vật của người nghèo", lễ vật của những người như Đức Maria xưa kia, đã không đủ tiền để mua những con vật lớn. Ở đây, Đức Giêsu chứng tỏ thái độ ưu ái đối với những người nghèo mà Người không ngừng biểu lộ.
Đừng biến nhà Cha Tôi thành nơi chợ búa.
Những con buôn và phường đổi tiền không nhất thiết là những người xấu. Thực ra, họ đã phục vụ đáng kể đối với các tín hữu từ xa đến, đang cần sắm sửa tại chỗ những lễ vật cần thiết để tiến dâng: Như trướng hợp Maria và Giuse, đến đền thờ trong ngày hiến dâng con mình, hẳn là rất hài lòng gặp được những người buôn bán như thế, để mua sắrn một cặp bồ câu non (Lc 2,24). Vì thế, chúng ta dễ sai lầm nếu chúng ta chỉ đọc trang Tin Mừng trên cách hời hợt, nhất là chúng ta chỉ áp dụng trang sách đó cho kẻ khác. Chúng ta rất dễ nổi giận, dễ dùng lời nói mà không sợ bị liên lụy để chống lại tiền bạc, sự mua bán trái phép, những "ồn ào của bạc tiền" chung quanh bàn thờ, xã hội tiêu thụ, đề cao lợi nhuận trong các nền kinh tế phương Tây. Đức Giêsu quả đã là một người nghèo thực sự. Người đã nổi giận trước vị trí quá lớn của tiền bạc đang ngự trị trong Đền thờ. Chắc chắn là thế! Như vậy, chính chúng ta cũng phải hoán cải về vấn đề này. Lạy Chúa, xin cứu chữa chúng con khỏi lòng dính bén với tiền bạc.
Nhưng điểm cốt yếu của trang Tin Mừng hôm nay không nằm ở đó.
Chúng ta hãy lắng nghe kỹ kiểu nói lạ thường mà Đức Giêsu sử dụng để nói về đền thờ: "Nhà của Cha Tôi". Chúng ta quá chán với kiểu nói đó. Tuy nhiên chúng làm cho ta càng phải tìm hiểu sâu xa hơn căn tính của "con người" này, Giêsu thành Nagiarét? Trong con người đó đang ẩn chứa một bí nhiệm to lớn biết bao! Giữa Người và Thiên Chúa, có một mối tình yêu thương mật thiết biết bao! Người đang hiện diện nơi nhà mình, trong đền thánh của Giavê. Nơi thánh này, chính diện bất khả xâm phạm này, không ai được phép vào trừ vị Thượng tế, mỗi năm một lần (Dt 9,7). Đó là nơi "chí thánh", nó "tách biệt" với tất cả "không ai được đụng chạm" đến, không ai bước vào mà không phải chết. Thế mà nói một cách hết sức tự nhiên, đó là "nhà của Cha Người", là nhà của Người, vì Người là con. Vào lúc 12 tuổi, Người cũng nói như thế, nhưng không ai hiểu cả, ngay cả mẹ Người là Đức Maria: Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?" (Lc 2,49).
Vâng! yếu tố trước nhất trong việc phụng tự mà ta thể hiện với Thiên Chúa, không phải là việc làm bề ngoài (như bò, chiên, bồ câu) mà là tấm lòng con thảo ta đặt vào đó. Lạy Chúa, xin giải thoát chúng con khỏi mối bận tâm quá đề cao những nghi lễ, những hình thức bên ngoài.
Các môn đệ của Người nhớ lại lời đã chép trong Kinh thánh: "Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa, mà tôi đây đã phải thiệt vào thân" (Tv 69,10) .
Đối với Đức Giêsu "tình yêu Chúa Cha" luôn thiêu đốt Người, nói cách văn vẻ, như ngọn lửa ngốn trọn những nhánh củi khô. Lễ vật dâng lên Chúa Cha của Đức Giêsu không theo "nghi thức", nghĩa là những gì ở bên ngoài Người. Người sẽ dâng hiến chính bản thân mình làm lễ vật và trọn cuộc sống Người luôn là một của lễ như thế. Còn đối với tôi, việc phụng tự ra sao? Nó mang hình thức nào? Tôi ‘dự lễ’ hay tôi ‘chung phần’ vào thánh lễ? Cùng với Đức Giêsu, tôi có được Thiên Chúa khơi lửa nhiệt tình, nung đốt tình yêu và làm cho say đắm không? Ôi! lạy Cha, con cũng muốn rằng, từ giờ trở đi, nhà của Cha sẽ làm cho con phải thiệt vào thân vì yêu mến, Nếu Đức Giêsu đã phản ứng mạnh mẽ như thế, chính là vì danh dự và vinh quang của Cha Người đã bị xúc phạm trong việc "buôn bán trái phép" đó. Đức Giêsu quả là một con người say mê Thiên Chúa, sống cho quyền lợi của Thiên Chúa.
Các ông cứ phá hủy đền thờ này đi, nội ba ngày tôi sẽ xây dựng lại. Người Do Thái nói: Đền thờ này phải mất bốn mươi sáu năm mới xây xong, thế mà nội trong ba ngày ông xây dựng lại được sao?”
Ở đây bản văn Hy Lạp không dùng từ "đền thờ" (iéron) mà là từ "thánh điện" (naos). Và đó không phải là điều ngẫu nhiên, bởi vì trước đó, cùng trong cùng bản văn, Gioan đã sử dụng chính xác từ "đền thờ". Người thấy trong đền (iéron) có những kẻ buôn bán; và Người xua đuổi họ ra khỏi đền thờ (iéron). Theo nghĩa này, đền thờ là toàn bộ những công trình kiến trúc, kể cả đường dạo chơi, công trường, các sân phía trước. Nhưng giờ đây Đức Giêsu đi xa hơn nhiều, khi Người nói: "Các ông cứ phá hủy thánh điện (naos) này đi”, tai hại biết bao, nếu những người dịch không tôn trọng bản văn! Thánh điện chỉ là phần kiến trúc hoàn toàn bé nhỏ, những quý giá nhất của toàn bộ đền thờ; là trung tâm điểm, nơi Thiên Chúa hiện diện (shékinah). Chúng ta đừng quên rằng, Đức Giêsu sẽ bị kết án tử hình do lời tố cáo sai lầm vì Người đã tuyên bố: “Tôi sẽ phá thánh điện này và sẽ xây cất lại" (Mt 26,6). Thực sự đó là một lời phạm thượng. Thánh điện này vẫn hoàn toàn mới mẻ, được Hêrôdê cho phép khởi công xây cất 50 năm trước đó. Đó là niềm tự hào của quốc gia, là nơi tôn kính để cầu nguyện và hành hương, mà mỗi năm hàng triệu người tới viếng thăm. Đó cũng là nơi phụng tự duy nhất" của Israel. Quả thực, con người này bạo gan mới dám nói như thế! Phát triển như thế, cũng như người nào đó tuyên bố: "Cứ phá Đền thờ thánh Phêrô ở Rôma đi hay cứ phá đền thánh Lộ Đức, nhà thờ Đức bà ở Paris hay vương cung thánh đường ở Angers...". Thế mà, Đức Giêsu nói năng tự nhiên, không có vẻ gì của một kẻ khiêu khích cả.
Nhưng đền thờ (naos) Đức Giêsu muốn nói ở đây là chính mình Người.
Đền thờ ở đây, bản văn Hy Lạp dùng từ "thánh điện" (naos). Hiển nhiên, ta đang ở vào trung tâm của trang Tin Mừng trên. Ta thử tìm hiểu thêm, Đức Giêsu đã ý thức về mình thế nào. Người biết Người là ai. Người nói: Người là một thánh điện. Đức Giêsu tự tạo cho mình thành "nơi Thiên Chúa hiện diện". Chính thân xác Người là "đền thờ mới", là nơi "phụng tự mới". Gioan Tẩy giả đã chỉ Người như Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa bỏ tội trần gian (Ga 1,29). Phải, Đức Giêsu đã phịu sát tế trên ngọn đồi ngoài cửa thành, hy sinh vào đúng giờ mà trong Đền thờ người ta đang sát tế nhiều chiên Vượt Qua, ngày áp lễ "Vượt Qua trọng đại" (Ga 19,31). Bằng chính thân xác mình chịu hy sinh, Đức Giêsu đến thay thế cho mọi lễ vật và làm cho Đền thờ Giêrusalem trở nên vô tích sự và màn trong Đền lúc đó có thể bị xé bỏ (Mt 27,51). Từ thân xác đó sẽ tuôn ra "con sông với dòng nước mạnh" (Ga 19,84): Nước và máu đã được ngôn sứ Edêkien báo trước, sẽ từ thánh điện chảy ra (Ed 41,l-12).
Vậy khi người từ cõi chết trỗi dậy, các môn đệ nhớ lại Người đã nói điều đó.
Do đó, Lễ Vượt qua của Đức Giêsu và của các Kitô hữu đã kết thúc "Lễ Vượt qua của người Do Thái", như đã đề cập đến đầu trang Tin Mừng trên. Đây là cuộc giải phóng phi thường và triệt để, mà cuộc giải phóng khỏi ách nô lệ Ai Cập chỉ là sự báo trước và là hình ảnh tiêu biểu. Đây là Đền thờ mới, làm vô hiệu mọi nơi thờ tự khác. Như vậy, nơi Thiên Chúa hiện diện không còn là một lâu đài nữa, mà là một Đấng nào đó: Đó là Thân mình Đức Kitô. Tất cả phụng vụ Kitô giáo chỉ được thể hiện chung quanh thân thể này. Nhưng chúng ta cần hiểu thêm, mầu nhiệm này còn đi xa biết bao? Sau này, thánh Phaolô sẽ nói với các Kitô hữu, các kẻ bốc dỡ hàng tại cảng Côrintô: “Anh ern là Thân mình Đức Kitô” (1Cr 12,27). Đó là cơ sở để xây dựng phẩm giá cao cả của con người: "Nào anh em chẳng biết rằng anh em là đền thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao? (1Cr 3,16-l7).
Như thế, không phải chỉ có "thân xác Phục sinh" của Đức Giêsu mới là Đền thờ mới, mà cả "thân xác của mỗi người đã chịu phép rửa": "Anh em không biết rằng thân xác của anh em là Đền thờ của Thánh Thần, và Thánh Thần đang ngự trong anh em sao?" (1Cr 6,19-20). Thánh Âu Tinh cũng nói với các tín hữu của mình: "Khi linh mục nói với anh em "Mình Thánh Chúa Kitô", anh em đáp lại: “Amen" với niềm xác tín anh em đang "hiện diện trong Đức Kitô". Có một bản thánh ca ngợi khen mầu nhiệm này như sau: "Chớ gì chúng con trở nên mình thánh biết sung sướng tạ ơn; chớ gì chúng con trở nên mình thánh, giữ gìn Giao ước của Chúa...".
Chúng ta tuôn có huynh hướng "ấn định chỗ ở cho Thiên Chúa", xây dựng cho Người những "nhà tù sơn son thiếp vàng", những "thánh điện" để cô lập Người, gạt Người ra khỏi thế giới, khỏi cuộc sống của ta. Nhưng không có nhà thờ nào, vương cung thánh đường hay đền thánh nào có thể giam giữ Thân mình Đức Kitô được? Anh em là Thân mình Đức Kitô! Tôi là Thân mình Đức Kitô! Khi nhận mình thánh Đức Giêsu, tôi "trở nên" Thân mình của Người, trở nên thánh điện.
Trong lúc Đức Giêsu ở Giêrusalem vào dịp Lễ Vượt qua, có nhiều kẻ tin vào danh Người.
 

MC3-B44. Chú giải của Fiches Dominicales

ĐỨC GIÊSU XUA ĐUỔI NGƯỜI BUÔN BÁN RA KHỎI ĐỀN THỜ
VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI
1. Từ đền thờ bằng đá, nơi Đức Giêsu đuổi quân buôn bán.
 

Nếu Tin mừng của hai Chúa nhật trước trích từ Maccô, thì Tin Mừng của ba Chúa nhật cuối: MC3-B44

Nếu Tin mừng của hai Chúa nhật trước trích từ Maccô, thì Tin Mừng của ba Chúa nhật cuối cùng Mùa Chay này trích từ Gioan.
Các thánh sử khác đã đặt câu chuyện này vào cuối thời gian rao giảng của Chúa (Mt 21,12-17; Mc 11,15-17; Lc 19,45-46). Còn Gioan chủ ý đặt biến cố này vào đầu đời công khai của Chúa. Để như vậy, nêu rõ sự đoạn tuyệt với đạo Do Thái chính thống, lúc đó đang là hoàn cảnh lịch sử của Giáo Hội, đồng thời khôn khéo nối kết Kinh Thánh, các sự kiện và cử chỉ của Đức Giêsu bằng cái nhìn sau Phục Sinh.
Câu chuyện này xảy ra trong hoàn cảnh Đức Giêsu lên Giêrusalem "bởi vì lễ Vượt Qua đã đến gần Gioan nhắc lại công thức này 4 lần trong Tin Mừng (Ga 6,4; 11,55) để chuẩn bị cho độc giả thấy lễ Phục Sinh của Kitô giáo trùng hợp với lễ Vượt Qua của Israel (X.Léon-dufour, "Lecture de L'evangile selon Jean" cuốn 1, Seuil, trang 253).
Đức Giêsu thấy "trong đền thờ có những kẻ bán chim, bò, bồ câu và những người đang ngồi đổi tiền”? Danh từ "Đền thờ” nhắc đến ở đây không phải khu vực thánh của ngôi đền, cung thánh, nơi Thiên Chúa hiện diện giữa dân Người. Những người đổi tiền ở đó, là cần thiết, bởi vì đồng tiền chính thức mang hình và ký hiệu hoàng đế Rôma không được dùng trong phụng tự, và buộc phải đổi sang một đồng tiền không dơ. Còn bọn bán chiên, bò, chim bồ câu ở đó để bán những vật cần cho việc hy tế.
Chính trong khung cảnh này mà Gioan đặt cuộc can thiệp của Đức Giêsu, một cuộc can thiệp gồm hành động và lời quở trách.
+ Cử chỉ của Đức Giêsu giống với cử chỉ của các ngôn sứ thời xưa, khi thông báo sứ điệp của các ông. Gioan đã tả hết sức tỉ mỉ với những chi tiết mà không thấy nơi các tác giả Nhất Lãm: "Đức Giêsu cầm lấy một dây thừng dùng làm roi, Người đuổi những lái buôn chiên, bò, người lật đổ bàn của người đổi tiền bạc; người xua đuổi bọn bán chim bồ câu”.
+ Lời giải thích rất ý nghĩa: "Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha Tôi thành nơi buôn bán” - Lời này gợi nhớ ngôn sứ Giacaria 14,21 loan báo việc tẩy uế Đền thờ được tiên báo vào cuối đời, lúc này đã khởi sự rồi (A. Marchadour, "L'evangile de Jean", Centurion, trang 60). Lời này tỏ cho thấy mối liên hệ đặc biệt giữa Đức Giêsu và Thiên Chúa. Khi nói về Đền thờ, Người đã không dùng từ "nhà của Chúa”, mà Người nói "nhà của Cha tôi”.
Những người chứng kiến liền phản ứng tức khắc. Mọi người đều biết lời tiên báo về việc tẩy uế đền thờ. Họ hiểu ngay rằng: Đức Giêsu không những đến như một người cải tổ, chỉ tố cáo những lạm dụng nơi Đền thờ, mà còn như một vị đến để làm cho lời tiên tri thực hiện .
Người Do Thái hỏi Đức Giêsu: "Ông lấy dấu lạ nào chứng tỏ cho chúng tôi thấy là ông có quyền làm như thế?”. Bởi vì dưới con mắt họ, quyền thiên sai mà Đức Giêsu tự nhận, cũng như những gì thuộc Đền Thờ phải được chuẩn nhận bằng một dấu lạ.
2. Đến đền Thờ mới là Thân Thể của Chúa.
Bấy giờ Đức Giêsu đáp: "Các ông cứ phá Đền Thờ này đi Đền Thờ này "nos”); nội trong ba ngày tôi sẽ xây dựng lại" (từ ‘dựng lại’ là từ mà thánh ký sau này, câu 22 dùng để chỉ "sống lại) X. Léon-dufour quảng giải: "Trong câu nói long trọng mà chúng ta đang được Đức Giêsu đối chiếu đền thờ sẽ bị phá huỷ với đền thờ mà Người sẽ là kẻ xây dựng lại, (Lecture de L'evangile selon Jean", cuốn 1, Seuil, trang 261).
Những kẻ đối thoại với Chúa càng tỏ ra bực bội và ngạc nhiên. Sự không hiểu nhau về vấn đề Đền Thờ - đây là lần đầu trong một loạt những không hiểu dẫn Người đến núi Canvê – như vậy là hết cứu chữa.
Và cuối cùng, cộng đoàn Kitô hữu đã làm gì khi đọc lại những lời này dưới ánh sáng của Đức Giêsu Phục sinh: “Khi Người từ cõi chết chỗi dậy, các môn đệ nhớ lại người đã nói điều đó. Họ tin vào Kinh Thánh và lời Đức Giêsu đã nói".
+ Nhớ lại cử chỉ của Chúa, cộng đoàn Kitô hữu khám phá ra rằng lời Thánh Vịnh 69 đã thực hiện, lời mà họ đặt ở tương lai: "Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa, mà tôi đây sẽ phải thiệt thân". Họ hiểu ra rằng, câu chuyện Đền Thờ này, mọi tiến trình đã bắt đầu để dẫn Đức Giêsu đến cái chết; rằng Đức Giêsu đã trả giá bằng chính mạng sống Người, để thực hiện lời tiên tri về việc tẩy uế Đền Thờ mà Giacaria đã loan báo.
+ Nhớ lại những lời của Chúa về Cung Thánh Đền Thờ:
“Các ông cứ phá huỷ đền thờ này đi, nội ba ngày tôi sẽ xây dựng lại”, họ hiểu rằng người nói về thân thể Người, là dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa giữa loài người; nơi mở cửa cho hết thảy mọi người, nơi gặp gỡ giữa Thiên Chúa với con người; là Đền thờ của Giao ước mới.
Và X. Léon-Dufour kết luận: "Có thể nghĩ rằng, đoạn văn đã được biên tập sau năm 70, tức là sau khi đền thờ Giêrusalem thực sự bị phá huỷ, đền thờ mà Israel coi là nơi có sự hiện diện Thiên Chúa. Bởi đó, sau khi đền thờ bị phá huỷ, câu hỏi hóc búa được đặt ra là: cung thánh đã tan tành, vậy từ nay Thiên Chúa hiện diện ở đâu? Theo thúc đẩy của đức tin, người Do Thái thời đó tin rằng: nơi mà họ gặp Thiên Chúa là Lề Luật. Còn đối với những Kitô hữu, những người còn chăm chỉ lên đền thờ cầu nguyện, câu trả lời sẽ là: Chúa Kitô sống lại hiện diện ở giữa họ khi họ tụ họp để cử hành lễ tưởng niệm Người" (Sđd, trang 266-267).
BÀI ĐỌC THÊM
1. Ơn gọi của chúng ta: làm dấu chỉ sự hiện hiện của Thiên Chúa giữa loài người
(Đức cha Daloz, trong cuốn "Nous avons vu Sa gloire", Desclée de Brouwer, trang 38-39).
"Ngay từ những chương đầu của Tin Mừng, thánh Gioan đã nói cho chúng ta biết về cuộc hành trình lên Giêrusalem của Đức Giêsu nhân dịp lễ Vượt Qua của người Do Thái. Chính trong dịp này, ngài đề cập đến việc tẩy uế Đền thờ, trong khi những thánh sử khác thuật lại việc này sau khi Đức Giêsu long trọng vào thành Giêrusalem lần cuối. Cử chỉ của Đức Giêsu là cử chỉ của một tiên tri. Người xua đuổi những kẻ mua bán chiên bò để cúng tế và những kẻ đổi tiền ra khỏi đền thờ.
Ở đây hành vi đầy bạo lực của Đức Giêsu là hành vi của một tiên tri, chính các môn đệ của Người cũng hiểu như vậy. Họ nhớ tới lời Thánh Vịnh: “Nhiệt tâm lo việc nhà Chúa, mà tôi đây sẽ phải thiệt thân”. Người Do thái cũng hiểu rõ ý nghĩa của cử chỉ này. Họ đòi Đức Giêsu phải làm một đấu lạ để biện minh cho hành động của mình: "Ông lấy dấu lạ nào để chứng tỏ cho chúng tôi thấy là ông có quyền làm như thế?" Đức Giêsu trả lời họ bằng rnột câu bí ẩn, mầu nhiệm: "Các ông cứ phá huỷ Đền Thờ này đi; nội ba ngày tôi sẽ xây dựng lại”. Chúa có ý nói đến tính cách tạm thời của những hy lễ trong đền thờ của giao ước cũ. Chúa nói về một đền thờ khác, đền thờ mà ở đó sẽ ký kết giao ước mới. Những đền thờ Đức Giêsu muốn nói ở đây là chính thân thể Người. Chính nơi Đức Giêsu mà từ nay Thiên Chúa bày tỏ sự hiện diện của Người. Cần chờ đến biến cố phục sinh, các môn đệ mới nhớ lại và tin vào Kinh Thánh và những lời Chúa đã nói. Chính đền thờ mới, thân thể Đức Kitô và nhà của Chúa Cha, mà tạ ngày nay cần phải gìn giữ, đừng biến nó thành nơi buôn bán. Ta cần phải hết sức cung kính đối với lễ vật của giao ước mới, đã thay thế cho lễ vật hy sinh của đền thờ ngày xưa. Ta cần phát hết lòng tôn trọng đốt với thân thể mầu nhiệm, mà Đức Giêsu là đầu, thân thể có ơn gọi làm dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa giữa nhân loại".
2. Một đền thờ mới xây dựng những viên đá sống
(H. Denis, trong cuốn "100 mots pour dire la foi", Desclée de Brouwer, trang 39-40).
Đức Giêsu làm một cuộc cách mạng, lật đổ cấu trúc tôn giáo. Không những người muốn cho người ta hiểu rằng những ngôi đền thờ vật chất trở nên vô dụng, mà Người còn muốn tỏ cho biết một ngôi đền thờ mới, đích thực là thân thể Người, đã chết đi và sống lại.
Đền thờ mới là chính Người, trong Người tình yêu của Thiên Chúa và của con người chuyển thông nhau trong một cuộc hiệp thông duy nhất.
Thật là một giao hoán lạ lùng. Nhưng chưa hết, Tân Ước còn thêm rằng ngôi đền thờ này mà Đức Giêsu là viên đá góc, được xây dựng bằng những viên đá sống là các Kitô hữu, và nói rộng ra là toàn thể nhân loại. Là đền thánh, bởi vì nó không được làm bằng đá, gạch hay bất cứ vật liệu cao quí nào, nhưng bằng những con người, con người được kêu gọi để thương yêu nhau, để hiến mạng sống cho nhau, nhờ đó lưu thông tình yêu vô hạn của Đức Giêsu.
3. Thánh lễ Chúa nhật: lúc dân mới kết hợp nên một thân thể hữu hình.
(Thơ mục vụ của Hội Đồng Giám Mục Pháp “Lettre aux catholiques de France", Cerf, 93-94).
Trong tiệc Thánh Thể, các cộng đoàn ý thức hơn về tầm quan trọng của mình trong đời sống của Giáo Hội. Nhưng điều tuyệt đối cần thiết là phải canh tân rộng khắp ý nghĩa của việc cử hành ngày Chúa nhật, hiểu như thời điểm mà dân mới, gồm những người đã được rửa tội, làm nên thân thể hữu hình, để đáp lại lời Đức Kitô mời gọi các môn đệ, kêu gọi họ dâng hiến sự sống kết hiệp với của lễ Đức Giêsu Kitô để thế giới được sống. Chúng ta hết thảy đều có lần cảm nghiệm những lần cử hành cởi mở, đầm ấm, khiến ta dường như cảm nhận được ơn cứu độ mà Thiên Chúa ban tặng, nhờ đó, ta được bồi dưỡng sức lực để tiếp tục lên đường. Điều đó không chỉ là một lý tưởng viễn vông đối với các cộng đoàn, nhất là nếu những cảm nhận và những truyền thống tu đức biết hoà hợp những đòi hỏi mà đôi khi người ta lầm tưởng là đối nghịch nhau, như tôn trọng truyền thống phụng vụ, kêu gọi mọi thành phần tham gia tích cực, và sự góp phần của thẩm mỹ và mỹ thuật vào phụng vụ.
Như vậy, việc thực hiện lễ tạ ơn không thể tách rời khỏi ý thức về thừa tác vụ được uỷ thác để ban sự sống và xây dựng cộng đoàn Giáo Hội.
 

MC3-B45. Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt

TẨY UẾ ĐỀN THỜ
CHÚ GIẢI CHI TIẾT
 

Lễ vượt qua của người Do thái gần đến”. Thời gian xảy ra dấu chỉ đây tự nhiên làm ta nghĩ: MC3-B45

"Lễ vượt qua của người Do thái gần đến”. Thời gian xảy ra dấu chỉ đây tự nhiên làm ta nghĩ tới lễ Vượt qua trong đó Chúa Giêsu sẽ bị lên án tử hình; tương quan giữa việc tẩy uế Đền thờ và cuộc Tử nạn của Chúa Kitô như thế là đã được ám chỉ. Mc 11,18 và Lc 19,47 ghi chú rằng việc can thiệp này của Chúa Giêsu nhằm lên án giới lãnh đạo Do Thái giáo, sẽ thúc đẩy các tư tế và ký lục "tìm cách hại Người".
"Người gặp thấy trong Đền thờ": Đền thờ gợi lên tất cả hệ thống phụng tự cổ xưa vốn tập trung hoàn toàn tại đó. Cũng tại đó, các lái buôn bán súc vật để làm lễ hy tế riêng và những người đổi tiền đổi cho bạn tiền Do thái (tiền cũ của vùng Tyrô) là thứ tiền duy nhất được chấp nhận để trả thuế Đền thờ.
"Một cái chợ": thành ngữ này cảm hứng từ Dcr 14,21, trong khi Tin mừng Nhất Lãm, vì muốn đối chọi hoàn cảnh hiện tại (‘một hang trộm cướp’) với lý tưởng Thiên Chúa muốn (‘một nhà cầu nguyện’), nên dã trích dẫn Gr 7,11 và Is 56,7.
"Môn đồ nhớ lại": Các môn đồ chỉ hiểu được câu chuyện này sau khi Chúa Giêsu sống lại, lúc Thần khí đã cho họ ơn thông hiểu các dấu chỉ Thầy đã làm.
"Lòng nhiệt thành đối với nhà Chúa sẽ nghiến cả mình tôi”: Thánh vịnh 69 trình bày người Công chính trị thiêu đốt bởi lòng nhiệt thành đối với sự thánh thiện của nhà Thiên Chúa, nhưng lòng nhiệt thành này khiến ông phải bị bách hại. Ga 15,25 và 19,29 cũng sẽ còn trích dẫn thánh vịnh 69, luôn luôn trong tương quan với cuộc Khổ nạn chia Chúa Kitô. Thành thử ý nghĩa của câu trích dẫn này trong văn mạch hiện tại là như sau: cũng như người Công chính đau khổ đã phải trả giá cho lòng nhiệt thành đối với Đền thờ thì Chúa Kitô, khi tẩy uế Đền thờ cũng gây nên đau khổ và cái chết cho bản thân.
Chúa Giêsu thanh tẩy Đền thờ và phụng tự cũ hầu xây dựng một Đền thờ mới cùng thiết lập một phụng tự mới (cc.19-20); việc đi từ cũ sang mới này sẽ được thực hiện nhờ cái chết của Người.
"Người Do thái": Trong thực tế, đây là các chức sắc trong Đền thờ (tư tế, Lêvi và vệ binh) có trách nhiệm về những chuyện Chúa Giêsu kết án. Tuy nhiên, như hết mọi nơi trong Tin Mừng của ông, Gioan không phân biệt giới lãnh đạo với toàn thể dân Do thái đã từ chối tin vào Chúa Kitô. Thành thử đây là vấn đề hệ thống phụng tự của toàn dân Do thái.
"Dấu nào ông tỏ ra được cho chúng tôi?": Qua câu này, người Do thái muốn nói tới một hành động phi thường vốn sẽ biểu lộ dấu ấn Thiên Chúa trên sứ mệnh Chúa Giêsu. Mt 12,38; 16,1; Mc 8,11 và Lc 11,16 cũng ghi lại một lời yêu cầu tương tự của Biệt phái. Dcr 1,22 bảo người Do thái hay đòi hỏi như vậy.
"Hãy phá hủy Đền thờ này đi": Vì không tin, người Do thái sẽ trở thành dụng cụ gây nên dấu chỉ họ đòi hỏi. Về sau câu nói này của Chúa Giêsu sẽ bị nhắc lại bởi các chứng nhân trong vụ án xử Người (Mt 26,61; Mc 14,58) và bởi khách bộ hành lăng nhục Người dưới chân thập giá (Mt 27,40; Mc 15,29) Dấu chỉ Chúa Giêsu loan báo đây tương ứng với câu Người trả lời cho Biệt phái trong Mt 12,29t và 16,4: "Con Người, Người đã nói về Đền thờ thân thể Người'': Đền thờ mới thay thế Đền thờ cũ đã bị tục hóa chính là thân thể phục sinh của Chúa Kitô.Tín hữu thành Ephêsô, độc giả trực tiếp của Gioan, rất quen thuộc với một sự đồng hóa như vậy vì Dcr 3,16 và 12,27 (được viết tại Ephêsô) cũng như Ep 2,21 và 4,12 đều nói Kitô hữu vừa là Đền thờ của Thiên Chúa, vừa là thân thể Chúa Kitô, với lối giải thích này của Phaolô, Đền thờ mới chính là Giáo hội, Thân thể vinh hiển của Chúa Kitô phục sinh mà mọi tín hữu đều kết hợp vào.
"Vậy khi Người phục sinh từ cõi chết, môn đồ người nhớ lại ... họ đã tin": Maccô thường ghi nhận là các môn đồ không hiểu gì hết. Gioan thì nói cách tích cực là họ hiểu rõ sau ngày Chúa Kitô phục sinh (12,16). Bởi vì chỉ sau khi Chúa Giêsu được tôn vinh, họ mới nhận lãnh Thần khí (7,39), Đấng sẽ soi sáng cho họ hiểu các dấu chỉ Chúa Giêsu đã làm (14,26; 15,26tt). Thành thử ở đây đức tin của các môn đồ được liên kết với sự Phục Sinh không như với một bằng chứng về sự xác thực của những gì Chúa Giêsu đã bảo, song như với nguyên nhân ban ơn Thần khí, Đấng duy nhất giúp cho họ hiểu.
"Họ đã tin vào Kinh thánh": Ta không rõ Gioan muốn ám chỉ đoạn nào trong Cựu Ước. Có thể so sánh với Cv 2,24t; 13,34tt, nơi có những bản văn thường được Giáo hội sơ khai trích dẫn đối chiếu với sự Phục sinh của Chúa Giêsu (đặc biệt là Tv 16,10). Xin lưu ý là Kinh Thánh (lời Thiên Chúa) và Lời Chúa Giêsu đều được đặt trên cùng bình diện (so sánh Ga 18,9.32) và đều là đối tượng niềm tin của các môn đồ.
Các câu 23-25 là những câu chuyển mạch nhằm chuẩn bị cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu với Nicôđêmô; chúng giải thích việc Nicôđêmô đến (3,2), niềm tin bất toàn của ông và những lời Chúa Giêsu khiển trách ông (3,11t). Cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu với Nicôđêmô như thế được đặt trong một khung cảnh cụ thể. Thói quen của Gioan là vậy: để ra một vài câu để đặt các trình thuật biểu tượng và thần học của ông trong một khung cảnh lịch sử: so sánh 4,43-45; 7,1-13; 10,19-21.40-42; 11,55-57; 12,17-19.41-43.
"Lắm kẻ tin vào Danh Người": Nhiều kẻ tin rằng Chúa Giêsu đến từ Thiên Chúa (3,2), nhưng không tin vào tất cả mầu nhiệm con người của Người. Niềm tin của họ chỉ dựa trên phép lạ mà thôi: nó không phải là vô giá trị, nhưng bất toàn (4,48; 20,29).
KẾT LUẬN
Sau bức màn bị xé toang của Đền thờ và qua thân thể bầm dập tắt thở của Chúa Giêsu Thiên Chúa đã xuất hiện trong một thân xác người đích thực, phủ đầy vinh quang thần linh. Giấc mơ của Cựu ước Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta, giờ đây được thực hiện trong Chúa Giêsu Phục Sinh mãi mãi.
Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG
1) Vì yêu Chúa Cha, Chúa Giêsu đã chắp dây thừng làm roi đánh đuổi quân buôn bán ra khỏi Đền thờ, nơi mà 20 năm về trước, Người đã vào như vào nhà thân phụ khi làm cử chỉ đầu tiên của một người Israel khôn lớn. Người đã dùng võ lực bênh vực quyền lợi của Cha, vì bị nung nấu bởi lòng nhiệt thành đối với nhà Cha, vì muốn nhà Cha được sử dụng cách xứng đáng, vì bị thúc đẩy bởi một cơn thịnh nộ. Thành thử, dù là Đấng "hiền lành và lòng đầy khiêm nhượng", bạn bè của các trẻ nhỏ và tội nhân, Chúa Giêsu cũng là người biết nổi giận và phẫn uất. Người chẳng phải là một thượng thánh im lìm song là một con người bằng xương bằng thịt, biết phản ứng và tỏ ra kinh khủng khi phải bênh vực vinh quang Cha Người.
2) Chúa Giêsu cũng muốn dùng phương pháp trên để giải phóng tâm hồn nhân loại, biến nó thành Đền thờ đích thực của Thiên Chúa hằng sống. Người biết rõ mọi cái có nơi con người ta hơn cả những nhà tâm phân học; biết những uẩn khúc của ý thức, tiềm thức, vô thức của chúng ta, biết các con vật đang thu mình và gầm gừ trong đó. Người hết sức muốn giải phóng ra khỏi cảnh nô lệ này, khỏi sự tục hóa này cái con người đã được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa, cái con người đã được mời gọi sống sự sống thần linh. "Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một Ngài hầu những ai tin vào Người sẽ được sống vĩnh cửu” (Ga 3,16).
3) Trong dịp lễ Vượt qua đầu tiên của đời sống công khai này, Chúa Giêsu tỏ mình như một nhà giải phóng khác với Môsê: Người thiết lập một ngày sabbat mới và một lễ Vượt Qua mới. Vì danh Cha, Người muốn có một phụng tự khác trong Thần Khí và sự thật, trong tình yêu và tự do, một phụng tự tôn thờ đích thực trong đó giới răn thứ nhất được thi hành một cách tuyệt hảo: "Ngươi hãy thờ lạy một mình Thiên Chúa và mến yêu Ngài trên hết mọi sự ".
4) "Hãy phá hủy Đền thờ này đi, và nội trong ba ngày Ta sẽ xây dựng lại". Nghĩa là thân xác Chúa Giêsu sẽ bị đánh dập nhừ tử, sẽ bị giết chết nhưng rồi sẽ phục sinh. Trong thực tế, vào ngày thứ sáu Tuần thánh, hai nhân chứng sẽ đến lặp lại những lời này: Tên này đã nói: Ta có thể triệt hạ Đền thờ Thiên Chúa và trong ba ngày sẽ xây cất lại (Mt 26,61). Tại đồi Canvê, dân chúng sẽ lắc đầu nhạo báng Người mà rằng: "Mày định triệt hạ Đền thờ và trong ba ngày sẽ xây lại, hãy tự cứu mình đi" (Mt 27,41). Nhưng rồi cuộc Phục sinh đã khôi phục cái Đền thờ, trong đó, Chúa Giêsu đã dâng hy tế hoàn hảo, đã dâng của lễ giải phóng nhân loại. Trên thập giá, Người đã vừa dâng lễ vừa tự hiến, là tư tế và hy lễ cùng một lúc; thành thử đối với chúng ta, Đền thờ mến yêu và thờ lạy chính là thân thể Chúa Kitô, trái tim Chúa Kitô. Trong thân thể của Người, chúng ta có thể kết hợp với Chúa Kitô tư tế và hy lễ. Trong thân thể phục sinh của Người là tạo vật được giải phóng tuyệt hảo nhất, thuần tính (nguồn tự do toàn vẹn) đã chiến thắng trong thân thể phục sinh của người, Giao ước mới đã được ký kết và củng cố mãi mãi.
5) Người Kitô hữu là Đền thờ Thiên Chúa. Phạm tội là biến Đền thờ Thiên Chúa là hang trộm cắp, và như thế xua đuổi Thiên Chúa ra khỏi lòng mình. Mùa chay là lúc trùng tu, kiến thiết đền thờ tâm hồn chúng ta để xứng đáng làm nơi Thiên Chúa ngự trị .
 

MC3-B46. Đức Giêsu tại Samari - JKN

Câu hỏi gợi ý:
 

Các cụm từ «đã đến giờ» và «giờ đã đến - và chính là lúc này đây» trong bài Tin Mừng có: MC3-B46  JKN

1. Các cụm từ «đã đến giờ» và «giờ đã đến - và chính là lúc này đây» trong bài Tin Mừng có ý nghĩa gì? Giờ đó là giờ nào?
2. Thế nào là «thờ phượng Thiên Chúa trong thần khí»? Thế nào là «thờ phượng Thiên Chúa trong sự thật»? Trái ngược với hai kiểu thờ phượng ấy là thờ phượng thế nào? Chúng ta đang thờ phượng Thiên Chúa theo kiểu nào: kiểu lỗi thời của các kinh sư Do Thái hay kiểu «mới» của Đức Giêsu?
3. Có cần thiết phải sửa đổi cung cách thờ phượng của chúng ta không? Nếu không thì sao? Việc thờ phượng kiểu lỗi thời có còn giá trị không?
Suy tư gợi ý:
1. Việc thờ phượng Thiên Chúa trong Cựu Ước và Tân Ước
Vào thời Cựu Ước, trình độ tâm linh của con người còn non kém, đầu óc con người thường chỉ hướng về những gì cụ thể, hữu hình, dễ thấy, nghĩa là họ hướng ra ngoài hơn là vào nội tâm. Vì thế, việc thờ phượng Thiên Chúa chủ yếu gồm những việc cụ thể, thấy được, được thực hiện trong thời gian và không gian rõ rệt. Từ bản chất, thờ phượng Thiên Chúa chính là nhìn nhận Thiên Chúa là chủ tể vũ trụ, có toàn quyền trên tất cả mọi sự, trong đó, con người coi mạng sống và của cải của mình là quí giá nhất. Để biểu lộ sự nhìn nhận quyền chủ tể đó của Thiên Chúa, đúng ra con người phải sát tế chính mạng sống mình; nhưng làm như thế, con người sẽ dần dần chết hết, là điều mà Thiên Chúa không muốn. Vì thế, con người bèn sát tế những con vật như chiên bò làm của lễ hy sinh dâng lên Thiên Chúa thay cho mạng sống của mình (x. St 4,3; 8,20; Xh 20,24; 29,18; Lv 1,14; v.v...). Có lần, để thử thách niềm tin và tinh thần hy sinh hiến dâng ấy, Thiên Chúa yêu cầu Abraham sát tế đứa con trai duy nhất của mình là Isaác làm lễ vật toàn thiêu: khi thấy Abraham không tiếc với mình đứa con duy nhất, Thiên Chúa đã ra tay cứu Isaác (x. St 22,1-14). Đó là cách thờ phượng Thiên Chúa thời Cựu Ước.
Đến thời Đức Giêsu, Ngài đã khai mở một kỷ nguyên mới, thích hợp với trình độ tâm linh con người vốn đã lên cao hơn. Vì càng về sau, con người càng có khả năng tư duy trừu tượng hơn, biết hướng vào nội tâm hơn. Vì thế, việc thờ phượng Thiên Chúa phải mặc lấy một hình thức mới hợp với trình độ mới: tức cao hơn, mang tính nội tâm hơn. Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu chủ trương một cách thờ phượng Thiên Chúa mới mẻ hơn, cao cấp hơn. Ngài nói: «Đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giêrusalem (...) Giờ đã đến - và chính là lúc này đây - những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật. (...) Thiên Chúa là thần khí, nên những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật ».
2. Thời Tân Ước: thờ phượng trong thần khí và sự thật
Đức Giêsu nói khi Ngài còn sống: «Đã đến giờ», «Giờ đã đến - và chính là lúc này đây». Như vậy, Đức Giêsu yêu cầu con người thay đổi cách thờ phượng Thiên Chúa cho xứng hợp với trình độ mới của con người đã được 2000 năm, một thời gian rất dài! Nhưng ta thử xét lại xem, cách thờ phượng của chúng ta trong thế kỷ 21 này đã thay đổi và tiến bộ đúng như yêu cầu của Đức Giêsu cách đây 2000 năm chưa? Sau 20 thế kỷ tiến bộ về vật chất đến mức chóng mặt, con người đã tiến bộ về tâm linh thế nào, đặc biệt trong cách thờ phượng Thiên Chúa? Chúng ta đã nội tâm hóa việc thờ phượng ấy chưa, hay vẫn còn mang nặng tính bề ngoài, tính vật chất, tính câu nệ hình thức, và vẫn còn lệ thuộc nặng nề về thời gian lẫn không gian? Việc thờ phượng Thiên Chúa của chúng ta hiện nay đã đúng với tinh thần Tân Ước của Đức Giêsu chưa, hay vẫn theo tinh thần Cựu Ước của đám kinh sĩ và biệt phái Do Thái xưa, vốn đã bị Đức Giêsu coi là lỗi thời từ 2000 năm nay?
Thiết tưởng chúng ta nên đặt lại vấn đề này một cách nghiêm chỉnh, và sửa đổi lại những gì chưa đúng. Điều quan trọng chúng ta cần tìm hiểu là: Thế nào là «thờ phượng Thiên Chúa trong thần khí và sự thật»?
* Thờ phượng trong thần khí
Đức Giêsu nói: «Thiên Chúa là thần khí, nên những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí». Thần khí (pneuma - esprit - spirit) là tinh thần, tâm linh, thuộc thế giới nội tâm, không thấy được. Thần khí thì ngược với vật chất, thể lý, thuộc thế giới bên ngoài, cụ thể, thấy được. Thiên Chúa của chúng ta không phải là một Thiên Chúa hữu hình, nên việc thờ phượng Thiên Chúa không nhất thiết phải xảy ra ở bên ngoài, trong không gian và thời gian. Theo Đức Giêsu, Ngài là thần khí, là tinh thần, là thiêng liêng, nên việc thờ phượng Ngài cũng phải thực hiện trong thần khí, trên bình diện tinh thần, nghĩa là một cách thiêng liêng, trong nội tâm con người. Hành vi thờ phượng phải là hành vi của tâm hồn, là thái độ của nội tâm, hơn là hành vi của thể xác. Thiên Chúa của chúng ta không phải là một Thiên Chúa cứ phải nghe ta nói, nhìn ta biểu lộ ra ngoài mới hiểu được ta; trái lại, Ngài biết hết, thấu hiểu hết những gì ta nghĩ, ta cần, ta muốn nói: «Cha trên trời thừa biết anh em cần những gì rồi» (Mt 6,32; Lc 12,30). Vì thế, xét về phía Thiên Chúa, việc thờ phượng Ngài không cần thiết phải biểu lộ ra bên ngoài bằng lời nói, bằng lễ nghi, bằng những biểu hiện bên ngoài: «Khi cầu nguyện, anh em đừng nhiều lời như dân ngoại; họ tưởng cứ nói cho nhiều là được nhận lời» (Mt 6,7). Điều Ngài mong muốn nằm trong thái độ nội tâm của chúng ta: tinh thần từ bỏ, tự hủy, lòng quảng đại, biết ơn, khâm phục, nhất là tình yêu dành cho Ngài. Nếu Giáo Hội chủ trương phải biểu lộ việc thờ phượng ra bên ngoài thì không phải là vì Thiên Chúa mà vì con người: để việc thờ phượng mang tính cộng đoàn, tính Giáo Hội, hay để biểu lộ vinh quang Thiên Chúa cho con người, v.v...
Ngày nay, cần phải thay thế việc thờ phượng Thiên Chúa qua những hình thức bên ngoài bằng việc thờ phượng Thiên Chúa trong thần khí. Lễ vật dùng để sát tế, để toàn thiêu không còn là chiên, bò, hay bất kỳ một vật nào khác, mà phải là «cái tôi» ích kỷ và kiêu căng của ta, là ý riêng của chúng ta, là những dự định dù tốt hay xấu nhưng không phù hợp với ý muốn của Thiên Chúa. Bàn thờ hay đền thờ - nơi sát tế - là chính tâm hồn ta. Thời điểm sát tế không còn là một thời điểm cố định nào do con người qui định, mà phải là thời gian liên tục. Vì sát tế không còn là một hành động xảy ra vào những thời điểm nhất định nào đó, cho bằng một thái độ nội tâm thường hằng trong đời sống ta, thậm chí trở thành một yếu tố cố định trong bản tính của ta. Cầu nguyện cũng không còn là một hành động cho bằng một trạng thái thường hằng của nội tâm. Một biểu hiện lý tưởng của việc thờ phượng trong thần khí đã được Đức Giêsu nói đến trong bài Tin Mừng hôm nay: «Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người». Việc quan tâm thi hành thánh ý Thiên Chúa phải thay thế cho việc quan tâm thực hiện ý riêng mình, phải trở thành lương thực nuôi sống đời sống tâm linh của ta.
* Thờ phượng trong sự thật
Thờ phượng Thiên Chúa trong sự thật khác với thờ phượng Thiên Chúa trong giả dối. Thờ phượng Thiên Chúa trong sự thật đòi hỏi những gì mình nói với Thiên Chúa phải phản ảnh đúng những tâm tình, ý nghĩ trong đầu óc mình, và đúng với thực tế của đời sống mình. Còn thờ phượng Thiên Chúa trong giả dối là có sự khác biệt giữa điều mình cầu nguyện với tâm tư, tình cảm và đời sống thực tế của mình. Cầu nguyện như thế chẳng những hoàn toàn vô ích mà còn xúc phạm và tỏ ra coi thường Thiên Chúa nữa. Nếu không thể thờ phượng Thiên Chúa trong sự thật, thì thà rằng đừng thờ phượng còn hơn là thờ phượng Ngài trong giả dối.
Ngày xưa, người ta có thể giết chết một con vật làm lễ toàn thiêu, để tượng trưng cho việc họ nhìn nhận quyền Chủ Tể trên mọi sự của Thiên Chúa. Hành động tế tự đó hoàn toàn xảy ra ở bên ngoài. Nhưng bên trong, người ta vẫn có thể tiếc với Thiên Chúa những chuyện rất nhỏ: chẳng hạn họ không thể từ bỏ một ý riêng, một sở thích, một vật đang muốn chiếm hữu, hoặc hoãn thi hành một dự định, hy sinh một cơ hội, v.v... để làm đẹp lòng Thiên Chúa. Như vậy, hành động thờ phượng bên ngoài chẳng phù hợp chút nào với tâm trạng bên trong. Chính vì thế, có lần Đức Giêsu nói về việc thờ phượng của họ: «Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng trí chúng thì lại xa Ta. Việc chúng thờ phượng Ta thật là vô ích» (Mt 15,8-9; Mc 7,6-7; x, Is 29,13).
Ngày nay, có biết bao người khi cầu nguyện thì nói rằng mình yêu mến Chúa, sẵn sàng hy sinh mọi sự vì Chúa; nhưng trong đời sống thì chẳng thấy họ yêu mến Ngài ở chỗ nào. Họ thường nói với Chúa: «Xin tha cho con như con vẫn tha kẻ có nợ với con», nhưng trong thực tế, họ chấp nhất và bắt bẻ lỗi người khác từng chút một! Điều tệ hại là người ta vẫn cảm thấy an tâm, họ tưởng rằng làm như thế là đã chu toàn bổn phận thờ phượng đối với Thiên Chúa! Thiên Chúa rõ ràng không ưa lối thờ phượng đó. Ngôn sứ Isaia diễn tả sự ngao ngán và dị ứng của Thiên Chúa đối với kiểu thờ phượng bên ngoài ấy: «Lễ toàn thiêu chiên cừu, mỡ bê mập, Ta đã ngấy. Máu bò, máu chiên dê, Ta chẳng thèm! Thôi, đừng đem những lễ vật vô ích đến nữa. Ta ghê tởm khói hương; Ta không chịu nổi ngày đầu tháng, ngày sa-bát, ngày đại hội, không chịu nổi những người cứ phạm tội ác rồi lại cứ lễ lạc linh đình. Ta chán ghét những ngày đầu tháng, những đại lễ của các ngươi. Những thứ đó đã trở thành gánh nặng cho Ta, Ta không chịu nổi nữa. Khi các ngươi dang tay cầu nguyện, Ta bịt mắt không nhìn; các ngươi có đọc kinh cho nhiều, Ta cũng chẳng thèm nghe. Vì tay các ngươi đầy những máu» (Is 1,11b.13b-15). Thử đặt mình vào địa vị của Ngài xem ta có thể chấp nhận một cung cách thờ phượng như thế không? Tại sao ta lại có thể đang tâm tiếp tục thờ phượng Ngài theo kiểu ấy?
Cầu nguyện
Tôi nghe Chúa nói với tôi: «Ta đã chán những lễ nghi rỗng tuếch, ghét những những nghi thức trang trọng mà người cử hành chẳng tỏ ra có chút tình thương nào trong lòng. Ta cần tình thương của con người, nhưng họ lại chỉ dâng lên Ta toàn những nghi thức, lời kinh trống rỗng!»
 

MC3-B47.  Sự nhiệt tâm yêu mến Thiên Chúa

Chúa nhật 3 mùa chay B-2012
 

Lời Chúa hôm nay diễn tả lòng nhiệt thành của Đức Kitô đối với việc thờ phượng Thiên Chúa: MC3-B47

Lời Chúa hôm nay diễn tả lòng nhiệt thành của Đức Kitô đối với việc thờ phượng Thiên Chúa nơi đền thờ. Đền thờ được thánh hiến là dấu chỉ của sự hiện của Thiên Chúa. Vì yêu thương Chúa luôn cư ngụ với con cái loài người.
Trong bài đọc Thứ I (XH 20,1-17) Môisen nhắc nhớ dân  Do Thái rằng: Thiên chúa là Thiên Chúa duy nhất Đấng đã dùng sức mạnh và uy quyền của Ngài giải phóng dân ra khỏi cảnh nô lệ của tội lỗi và sự sợ hãi.
Trong lịch sử dân Do Thái, họ luôn vấp ngã khi bị cám dỗ thờ lạy các Thần ngoại bang. Là con người, họ dễ bị ảnh hưởng bởi cảm giác và ảnh hưởng của xã hội. Họ bị lôi kéo chạy theo những tập tục mê tín của dân ngoại. Trong thời Abraham, các dân ngoại thờ lạy đủ các loại thần. Abraham được Thiên Chúa mặc khải cho biết chỉ có Ngài là Thiên Chúa duy nhất, và Ngài truyền cho ông rời bỏ xứ sở để đến nơi Ngài chỉ định để không còn bị nhiễm lây sự thờ lạy các Thần ngoại bang.
Trong thời Môisen, dân Do Thái đứng chờ đợi ông lên núi để nhận lãnh Thánh Chỉ của Thiên Chúa; nhưng vì chờ đợi quá lâu, họ làm áp lực cho Aaron phải đúc “bò vàng” cho họ thờ như các dân ngoại thường làm. Họ đúc “bò” vì nó có sức mạnh, và họ dùng vàng để đúc vì vàng là kim loại quí giá nhất. Họ đã lầm lạc. Tất cả những thứ đó đều là tạo vật do Thiên Chúa dựng nên.
Trong thời tiên tri Samuen, khi thấy mình hay bị dân ngoại đàn áp, thay vì cậy dựa vào Thiên Chúa thì dân Do Thái bắt chước các dân ngoại cũng đòi phải có vua để hướng dẫn họ chống lại những quân địch. Họ nhất quyết phải có một vị vua cai trị, dù họ biết họ và con cháu của họ phải phục dịch, làm nô bộc cho vua.
Câu chuyện cuả dân Do Thái không ngờ lại tái diễn nơi chính chúng ta. Bằng nhiều cách chúng ta đã tự tạo cho mình những thần tượng và “những vị vua tàn bạo” để cai trị cuộc sống của mình. Chúng ta phục dịch cho những vị vua của sự kiêu căng, tham lam, đam mê của mình qua nếp sống đua đòi với người khác, ham muốn làm giầu, làm đẹp, có nhà sang, xe đẹp, và sắm sửa những tiện nghi cho mình hoặc cho những người thân. “Làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm!” Lao động để kiếm tiền trở nên mục đích của cuộc đời hơn là để đáp ứng những nhu cầu cần thiết. Nhiều người sẵn sang hi sinh gia đình, tôn giáo, sức khoẻ và nhân cách của con người để kiếm nhiều tiền để hưởng thụ hơn. Tiền và đam mê trở thành mục đích hơn là phương tiện giúp con người đạt tới cứu cánh đời mình là Thiên Chúa. Có câu nhắc nhở rất hữu ích: “Tiền là một đầy tớ hữu ích, nhưng cũng là một ông chủ độc ác.”
Vì yêu thương, Thiên Chúa đã chọn Môi sen để dẫn đưa dân Do Thái ra khỏi cảnh nô lệ của người Ai Cập. Ban cho họ các giới răn để chỉ đường cho họ biết cách thờ phượng Chúa và sống an hòa với tha nhan. Các giới răn này cũng là những mấu chốt “cầm cân nảy mực” mà chúng ta phải lưu tâm nắm giữ nếu thực sự chúng ta muốn thờ phượng Thiên Chúa trong tình yêu và chân lý.
Bài đọc thứ 2 (1Cor 1,22-25) Thánh Phaolô nói cho cộng đoàn Corinto biết sứ mệnh của Ngài là rao giảng Chúa Kitô chịu chết trên thập giá. Người đời coi đó là điều ô nhục và điên rồ, nhưng đó lại là sự khôn ngoan khôn dò của Thiên Chúa, và là phương tiện cứu rỗi của loài người. Như xưa con rắn đồng là hình ảnh chữa lành cho những người bị rắn cắn, thì chúa Chịu Nạn cũnglà bằng chứng cho chúng ta về tình thương và sự tha thứ của Thiên Chúa. Tình thương đó chữa lành những thương tích của linh hồn gây ra bởi tội lỗi. Mỗi lần tôi và bạn tới tham dự Thánh Lễ là đến tham dự vào cuộc tử nạn của Chúa trên thập giá để được chữa lành. Do đó, hãy nhớ rằng thời giờ đó không phải là lãng phí, nhưng là thời giờ chúng ta gặp gỡ Đấng Cứu Tinh của chúng ta. Nhiều người cho việc giữ luật Chúa là  phiền phức, thiếu tự do, nhưng đối với chúng ta, những người hiểu biết giáo lý thì chúng ta nhận ra những gì Chúa dạy chúng ta là điều thiện, tốt và hữu ích cho chúng ta. Khi dạy chúng ta giữ ngày Chúa nhật, Chúa không những muốn chúng ta dành giờ gặp gỡ Ngài, nhưng Ngài còn muốn chúng ta giữ gìn sức khoẻ để có đủ sức và niềm vui trong những công việc và bổn phận đang chờ đợi chúng ta trong những ngày của tuần tới.
Trong bài phúc Âm (Gioan 2,13-25), Đức Kitô muốn nhắc nhở chúng ta: Nhà Thờ và thân xác chúng ta, cả hai đều là Đền Thờ nơi Thiên Chúa ẩn ngự. Chúa không muốn tội lỗi thống trị thân xác chúng ta, hay biến nhà thờ thành nơi tụ tập bè phái, tranh dành địa vị hay ganh đua với nhau. Nhiều lần chúng ta tới nhà thờ không phải vì yêu mến Thiên Chúa, không phải để tìm kiến Thiên Chúa, hay để phụng thờ Ngài, nhưng chỉ đến vì bó buộc hay vì thói quen, rồi khi Thánh Lễ kết thúc chúng ta vẫn chẳng thấy gì thay đổi. Nếu như thế thì đi Lễ cũng bằng thừa vì chúng ta đến nhà thờ mà vẫn không gặp Chúa.
Mùa Chay là phương tiện giúp chúng ta nhìn lại đời sống đức tin của mình để tái khám phá lại: Ai đang xâm chiếm đền thờ tâm hồn của tôi? Tôi phải làm gì để tái lập lại đền thờ của Thiên Chúa đã bị tội lỗi của tôi phá hủy. Điều may mắn cho tôi và cho bạn là Thiên Chúa chúng ta là đấng luôn yêu thương, quan tâm, và tha thứ. Ngài biết chúng ta cố gắng, chúng ta cần sự trợ giúp của Ngài. Do đó chúng ta cần dẹp bỏ những tự ái, đam mê, và tự kiêu trong tâm hồn và xin Chúa trở lại trong tâm hồn chúng ta và làm cho chúng ta xứng đáng trở nên những đền thờ, những nhà tạm, tuy nhỏ bé, nhưng sạch sẽ tội lỗi. “Lạy Chúa, xin hãy đến làm chủ tâm hồn chúng con. Xin hãy tha thứ những lầm lỗi quá khứ của chúng con và ban sức mạnh của Thần Khí Chúa để đạp đổ những thần tượng ngổn ngang trong tâm hồn của chúng con. Chớ chi lòng nhiệt thành yêu mến Chúa giúp chúng con “thanh tẩy” tâm hồn để có thể mở lòng cho Chúa ngự đến.”
Sr. Eileen Thu Phượng, CMR.,
NS Trái Tim Đức Mẹ 2012

 

MC3-B48. Những Đền Thờ

Chúa Nhật 3 Mùa Chay Năm B
 (Xuất hành 20,1-17; 1Côrintô 1,22-25; Yoan 2,18-25)
 Phúc Âm: Ga 2, 13-25
"Các ngươi cứ phá huỷ đền thờ này, nội trong ba ngày Ta sẽ dựng lại".
 

Lễ Vượt Qua của dân Do-thái gần đến, Chúa Giêsu lên Giêru-salem. Người thấy ở trong Đền: MC3-B48

Lễ Vượt Qua của dân Do-thái gần đến, Chúa Giêsu lên Giêru-salem. Người thấy ở trong Đền thờ có những người bán bò, chiên, chim câu và cả những người ngồi đổi tiền bạc, người chắp dây thừng làm roi, đánh đuổi tất cả bọn cùng với chiên bò ra khỏi đền thờ. Người hất tung tiền của những người đổi bạc, xô đổ bàn ghế của họ và bảo những người bán chim câu rằng: "Hãy đem những thứ này đi khỏi đây, và đừng làm nhà Cha Ta thành nơi buôn bán". Môn đệ liền nhớ lại câu Kinh Thánh: "Sự nhiệt thành vì nhà Chúa sẽ thiêu đốt tôi".
Bầy giờ người Do-thái bảo Người rằng: "Ông hãy tỏ cho chúng tôi thấy dấu gì là ông có quyền làm như vậy". Chúa Giêsu trả lời: "Các ông cứ phá huỷ đền thờ này đi, nội trong ba ngày Ta sẽ dựng lại". Người Do-thái đáp lại: "Phải bốn mươi sáu năm mới xây được đền thờ này, mà Ông, Ông sẽ dựng lại trong ba ngày ư?" Nhưng Người, Người có ý nói đền thờ là thân thể Người. Vì thế, khi Chúa Giêsu từ cõi chết sống lại, các môn đệ mới nhớ lời đó, nên đã tin Kinh Thánh và tin lời Người đã nói.
Trong thời gian Người ở lại Giêrusalem mừng lễ Vượt qua, nhiều kẻ tin danh Người, vì mục kích những phép lạ Người làm. Nhưng chính Chúa Giêsu không tin tưởng họ, vì Người biết tất cả mọi người, và không cần ai làm chứng về người nào; Người biết rõ mọi điều trong lòng người ta.
Suy Niệm:
Chúa Nhật 3 Mùa Chay Năm B
Xuất hành 20,1-17; 1Côrintô 1,22-25; Yoan 2,18-25
 
Suy niệm: Những Đền Thờ
Trong dịp lễ Vựơt qua của người Dothái năm 28, Chúa Yêsu xuất hiện ở đền thờ Yêrusalem. Hằng năm, Người vẫn có thói quen trẩy lễ nơi đây như những người Dothái đạo đức khác. Ta còn nhớ cũng tại đây, lúc lên 12 tuổi, Người đã long trọng công bố: "Tôi phải ở tại nhà Cha tôi, để lo việc Người trao phó" (Lc 2,49). Chính lòng nhiệt thành đối với nhà Thiên Chúa đã thôi thúc Người xua đuổi các con buôn đang mải miết làm ăn nơi tôn nghiêm thánh thiện (Yn 2,17). Lần này Người công bố một lời khác, cũng long trọng và hàm chứa nhiều ý nghĩa: "Hãy phá đền thờ này và sau 3 ngày Ta sẽ xây dựng lại" (Yn 2,19). Nhưng đền thờ nào phải phá? Đền thờ nào phải xây?
 
1. Những Đền Thờ Ngẫu Tượng
Chúa Yêsu tự ví thân xác mình như một đền thờ, nhưng là một đền thờ phải phá đi, vì Người sẽ chết để sống lại vinh quang. Thân xác phục sinh của Người chính là Đền thờ vĩnh cửu, nơi mà loài người phải thờ phượng Chúa Cha một cách chân thật trong Thần Trí.
Người Dothái không nghĩ được ý nghĩa sâu sắc của lời Chúa Yêsu nói. Họ chỉ nghĩ tới ngôi đền thờ bằng đá do đại vương Hêrôđê đã khởi sự xây lại từ 46 năm trước đó. Chính các môn đệ cũng chưa hiểu liền. Sau biến cố Phục sinh, họ nhớ lại và nhờ suy niệm trong lòng, nhờ tìm kiếm trong Thánh Kinh, họ mới dần dà đi sâu vào mầu nhiệm của Thầy Chí Thánh, như một Yoan và một Phaolô đã làm. Chúa Kitô muốn rằng: chúng ta cũng phải vượt qua bình diện hữu hình của cái nhìn nhân loại, để vươn tới những thực tại thiêng liêng của mầu nhiệm Thiên Chúa.
Lòng trí con người vốn có xu hướng tôn thờ ngẫu tượng là những cái hấp dẫn và có lợi trước mắt, làm cho nó dễ mù quáng. Lời Chúa Yêsu nói và việc Người làm trong năng lực Thánh Thần nhằm giải thoát chúng ta khỏi sự mê hoặc ấy của ngẫu tượng. Trước tiên Thần Trí Người thúc bách chúng ta phá đổ đền thờ ngẫu tượng lý trí.
Không phải chỉ có người Hylạp xưa, mà cả chúng ta hôm nay vẫn khó chấp nhận sự điên rồ của Thập giá. Đó là một nhục nhã cho trí óc (1C 1,24). Đối lại, thánh Phaolô khẳng định rằng: Đức Kitô chịu đóng đinh trên Thập giá là một bằng chứng cho sự khôn ngoan tuyệt đỉnh của Thiên Chúa, vì sự điên rồ tột độ của cái chết ấy nói lên tình yêu tột độ của Thiên Chúa đối với loài người (1C 1,24). Chỉ có đức tin Kitô giáo mới hiểu và chấp nhận nổi điều nghịch lý đó. Quả vậy, thực tâm tin vào Đức Yêsu Kitô chết treo trên Thập giá, có nghĩa là chấp nhận cái nhìn ngược đời của Thiên Chúa và sống một nếp sống không rập theo khuôn thói thế gian phản nghịch với Người. Chính đó là khôn ngoan đích thực, một đức khôn ngoan vượt qua giới hạn của lý trí và đem lại ơn cứu độ cùng với sự sống đời đời, giống như ánh sáng Phục sinh đã xuất hiện từ trong bóng tối sự chết và thắng vượt sự chết.
Đứng trước cái thế giằng co giữa đức tin và lý trí, tuy chúng ta phải nghĩ như thánh Anselmô rằng: "Đức tin cũng cần được lý trí lĩnh hội", nghĩa là tôi phải biết tôi tin ai, tôi tin gì và vì sao tôi tin; nhưng câu nói của thánh Augustinô còn đúng một cách sâu sắc hơn nữa: "Tôi tin để tôi hiểu", vì đức tin làm cho tôi thấy ý định cứu độ của Thiên Chúa trong lịch sử loài người. Như thế đức tin đem khoa luận lý siêu nhiên của tình yêu và hy vọng bổ túc cho khoa luận lý tự nhiên của lý trí hay suy tính, và đức tin làm cho lý trí chấp nhận rằng Thiên Chúa có thể biến cái nghịch lý thành phương tiện cứu rỗi.
Chúa Kitô còn muốn người ta phá đổ một đền thờ ngẫu tượng khác: đó là ngẫu tượng "Vị Thiên Sai vinh quang trần thế". Đa số người Dothái thời bấy giờ, kể cả những môn đệ của Người, đã mơ ước một Đấng Cứu thế có quyền năng đem lại thịnh vượng vật chất và vẻ vang thế tục cho họ, để họ đua đòi với thiên hạ. Họ muốn rằng: Người phải là Vị cứu tinh đó. Nhưng Người đã quyết liệt khước từ, vì Nước Người không ở trần gian và sứ mạng của Người tiên vàn không phải là xây dựng đời sống vật chất, mà là đổi mới tâm hồn nhân loại. Chúa Kitô muốn rằng chúng ta phải hoán cải, phải thay đổi kiểu nhìn và lối sống cho phù hợp với đức công chính và luật thương yêu là đòi hỏi của Chúa Cha. Đấng giải hòa chúng ta với Người trong Con Một yêu dấu. Sự hoán cải nội tâm và giải hòa với Thiên Chúa bằng tình yêu như thế chắc chắn sẽ có những âm hưởng xã hội trong tương quan giữa con người với con người và đóng góp hữu hiệu vào việc xây dựng một thế giới nhân đạo, huynh đệ và hạnh phúc hơn. Do đó người ta có thể nói: Nước Trời lành-mạnh-hóa và củng cố Nước trần gian từ bên trong. Sứ mạng của Chúa Kitô cũng như các tín hữu đối với thế giới, trước tiên là một sứ mạng tinh thần, dùng sức mạnh của tình thương và ánh sáng của Thánh Thần để biến đổi và nâng cao phẩm chất đời sống loài người. Tính háo danh và óc vụ lợi của người Dothái ngày xưa cũng như chúng ta hôm nay là một ngẫu tượng đã và đang ngự trị trong lòng ham muốn và ý chí thống trị của tâm thức nhân loại. Ta phải phá đền thờ ngẫu tượng ấy, cũng như Chúa Kitô đã đánh tan hình ảnh sai lạc mà dân Dothái phác họa về sứ mạng Thiên Sai của Người. Người đã cho họ thấy một thực tế phũ phàng là: Đấng Cứu thế phải chết trên Thập giá một cớ vấp phạm không thể chấp nhận đối với người Dothái- (1C1,24). Nhưng chính cái chết ô nhục ấy đã đem lại cho ta: vinh dự được làm con Thiên Chúa và được cứu độ muôn đời.
Cõi lòng con người chưa được cứu độ quả là một đền thờ chứa đầy ngẫu tượng: ngẫu tượng dị đoan mê tín, gắn liền với sai lầm và dối trá, ngẫu tượng hận thù, ngẫu tượng hưởng thụ, ngẫu tượng tiền tài, ngẫu tượng tự mãn. Đạo Chúa cấm tôn thờ các ngẫu tượng ấy, như bảng Mười Điều Răn của Giao Ước Sinai đã công bố (Xh 20,1-17). Chỉ có một Đấng duy nhất đáng tôn thờ: đó là Cha Đức Yêsu Kitô và cũng là Cha chúng ta ở trên trời. Đền thờ Người không phải là những ngôi nhà bằng đá, nhưng là những tâm hồn sống động xây quanh Người Con yêu dấu của Người: Đức Yêsu Kitô, đền thờ của Giao Ước mới.
 
2. Phụng Tự Mới, Đền Thờ Mới
"Hãy phá đền thờ này và sau 3 ngày, Ta sẽ xây dựng lại" (Yn 2,19). Người Dothái, khi nghe lời đó, đã hiểu theo nghĩa đen và nghĩ rằng Chúa Yêsu có ý định phá ngôi đền thờ bằng đá, trung tâm phượng tự của dân tộc họ. Vì thế họ chất vấn Người tại chỗ, và sau này trước tòa án công nghị, họ sẽ tố cáo Người và đòi xử án tử hình cho Người (Mc 14,58). Quả thực trung tâm phượng tự ấy bị thu hẹp bởi ranh giới quốc gia và chủng tộc, và nơi đây người ta sát tế chiên bò để làm lễ đền tội. Đền thờ ấy, từ nay, trong chế độ Tân Ước, đã hết ý nghĩa, vì thế phải được thay thế bởi một đền thờ mới, để thờ phượng Chúa Cha trong Thần Trí và Sự Thật. Việc phượng tự mới không dành riêng cho một dân tộc nào, nhưng mở rộng cho cả loài người, quy tụ trong Đức Kitô. Tế vật không còn phải chiên bò nữa, nhưng chính là Con Thiên Chúa.
Theo thần học của thánh Phaolô, Đức Kitô đã trở thành tội vì ta, trong thân phận xác thịt tội lỗi của ta (Rm 8,3). Người chấp nhận để cho thân xác Người bị phá hủy hầu đền tội thay ta và kết án tội thế gian ngay nơi thân xác Người. Một khi Người đã tự nguyện để cho thân xác mình bị dập nát và hạ xuống lòng đất, thì đền thờ ngẫu tượng không có quyền đứng ngạo nghễ trong lòng ta nữa. Phải phá nó đi để xây dựng lại đền thờ Thiên Chúa như một công trình sáng tạo mới, trong đà mạnh mẽ vươn lên cõi sống.
- "Hãy phá đền thờ này, đền thờ do bàn tay loài người làm ra" (Mc 14,58). Cái tôi tội lỗi trong ta phải chết đi với các đam mê của nó, để con người mới sống lại với tinh thần của Thiên Chúa. Việc phượng tự hẹp hòi và bị giới hạn bởi các nghi thức bề ngoài của lề lối cũ, phải được thay thế bằng việc phượng tự nội tâm, thiêng liêng là cách thờ phượng chân thật, vì được thôi thúc bởi Thần Trí của Đức Kitô Phục sinh và dựa theo ánh sáng của mạc khải tròn đầy trong Con Thiên Chúa.
- "Sau ba ngày, Ta sẽ xây dựng lại một đền thờ không do bàn tay loài người làm ra" (Mc 14,58; Yn 2,19). Ba ngày là thời gian Người sẽ chết trước khi chỗi dậy trong năng lực Thánh Thần. Từ đó Người trở nên đền thờ thiêng liêng, nơi phát xuất nguồn nước hằng sống (Yn 7,37-39; 19,34). Thân xác đã chịu chết và sống lại của Người chính là dấu chỉ bí tích nền tảng, làm phát xuất Ơn Thánh mà ta đã lãnh nhận qua bảy bí tích, nhất là bí tích Rửa tội và bí tích Thánh Thể. Nhờ đó ta thờ phượng Chúa Cha cách xứng hợp và được nuôi dưỡng bởi Thân Mình Chúa Kitô đã bị sát tế vì ta. Khi ta được sát nhập vào Thân Mình Đấng Phục sinh, ta thực sự trở nên đền thờ của Chúa Thánh Thần (1C 3,16; 6,19). Và cả Giáo Hội là một đền thờ rộng lớn (Ep 2,19-21), trong đó phụng vụ được cử hành để thờ phượng, tôn vinh Chúa Cha.
Việc phượng tự mới của chúng ta cũng phải tuân theo định luật Vượt qua của mầu nhiệm Chúa Cứu thế: đền thờ cũ với các ngẫu tượng phải phá đi. Con người cũ với các tội lỗi, phải chết đi. Như thế Đức Kitô Phục sinh sẽ hoạt động trong ta, và xây dựng lại ngôi đền thờ mới ngay giữa lòng ta, nơi mà Thần Trí Người sẽ ngự trị, sẽ khơi dậy tâm tình nghĩa tử và làm phát lên lời cầu nguyện thiết tha: "Abba, lạy Cha yêu dấu" (Yn 4,6; Rm 8,15). Đó chính là thờ phượng Chúa Cha trong Thần Trí và Sự Thật (Yn 4,23).
 
Giảng Lễ
Có lẽ không bao giờ chúng ta thấy Chúa Yêsu có thái độ như trong bài Phúc Âm hôm nay. Dường như khi bước vào đền thờ Yêrusalem, Người không còn tự chủ được nữa. Người đi vào nơi cầu nguyện, thế mà trước mắt chỉ có cảnh chợ búa mua kém bán hơn, ồn ào lủng củng. Nhà của Cha Người không còn là nơi gặp gỡ giữa tâm hồn đạo đức và dân đã được tuyển chọn với Chúa Cả trời đất và Chúa của dân Israel nữa! Người ta đã tụ họp lại đây, đâu còn giống như ngày trước, khi ở chân núi Sinai, lúc Chúa ban 10 điều răn như bài đọc Cựu Ước hôm nay còn kể lại. Thay vào quang cảnh phụng vụ của buổi lễ ký kết giao ước xưa, nay chỉ còn cảnh buôn bán bóc lột nhau. Chịu làm sao nổi một cảnh tượng như vậy! Đấng được Chúa Cha sai xuống trần thế tái lập giao ước, không dẹp cảnh khốn nạn kia đi sao được! Lòng nhiệt thành đối với Nhà Chúa, đối với Giao ước nung nấu tâm can Người. Người phải nhào vào, đánh đuổi những kẻ buôn thần bán thánh, thanh tẩy đền thờ cho Cha Người, rửa lại bộ mặt cho tôn giáo giao ước. Làm như vậy, Đức Kitô đã tỏ ra là Cứu thế, là Đấng thánh hóa các tâm hồn, là vị phải đến để đưa tôn giáo vào con đường chính đáng.
Nhưng đó chỉ là hành động tượng trưng. Việc xua đuổi hạng con buôn ra khỏi đền thờ chỉ thành công trong một lúc, cùng lắm trong một ngày. Phúc Âm không nói có một sức kháng cự nào. Nhưng liền sau đó, Đức Kitô đã gặp ngay phải não trạng của người Dothái. Chính đầu óc tội lỗi này đã đẻ ra cảnh chợ búa ở ngay trong đền thờ. Họ chạy lại hạch Chúa Yêsu: "Ông tỏ ra có uy quyền gì mà dám làm như vậy? Nghĩa là: Ông lấy quyền đâu mà dám đi ngược lại thứ tôn giáo của chúng tôi?" Câu hỏi thật bất ngờ và sâu sắc. Nó diễn tả đúng não trạng của người Dothái luôn luôn đòi dấu lạ. Phải có những phép lạ tương đương với các công cuộc kỳ diệu mà xưa kia Chúa đã làm cho cha ông họ, mới làm họ tin được. Sách Thánh nhắc nhở cho họ biết Chúa đã làm vô vàn kỳ công cho dân tộc này. Họ hãnh diện nhưng đồng thời lại trở nên cứng lòng. Họ tin vào mình và vào truyền thống, đến nỗi không còn gì nhạy cảm nữa đối với những lời tinh thần. Vì còn có thể có lời tinh thần nào nữa ở ngoài đầu óc của họ, bởi lẽ họ là dòng dõi của người con tinh thần là Isaac? Họ trở thành biệt phái, kỳ thị đối với hết mọi người cư xử khác họ. Thế nên có lần họ dám kể Chúa Yêsu vào hàng ngũ Bêelzêbút. Muốn diễn tả nôm na, thì đã có lần họ gọi Người là đồ quỷ! Thái độ của họ làm ta có thể liên tưởng tới một vài thái độ hằng gặp ở nơi chính chúng ta, để chúng ta nên biết đó là thái độ có thể đi đến chỗ giết Chúa và bóp nghẹt chân lý.
Chúa Yêsu đã phản ứng thế nào trước một thái độ như vậy? Có thể nói, Người đã chẳng biết phải đáp lại thế nào. Lời nói như đã đứng nghẹn ở nơi cổ Người, để cuối cùng thốt ra thành một câu thật đầy ý nghĩa: "Cứ phá đền thờ này đi, ba ngày sau Ta sẽ xây lại". Dĩ nhiên, những người Dothái kia đã chẳng hiểu gì. Nói đúng hơn, họ đã hiểu theo chiều hướng cố hữu của mình: Ông Yêsu này thật là lộng ngôn phạm thượng. Làm náo loạn trong đền thờ chưa đủ, ông ta còn muốn phá đổ đền thờ này đi, để xây một đền thờ khác. Ông ta khinh bỉ và thù nghịch đền thờ của ta đến như vậy! Họ ghi thêm một tội nữa vào bảng cáo trạng sau này dùng vào việc lên án Chúa. Nhưng đó không phải là ý Người.
Đối với Người, các ngôi đền thờ bằng gạch đá không phải là điều quan trọng. Người đã nói thẳng với người phụ nữ thành Samaria: kẻ tôn thờ chân thật, phải thờ phượng trong tinh thần và trong chân lý. Người đến để tìm những con người như vậy. Mà Người là Chân lý, là Sự thật, là Lời-Thiên Chúa nhập thể. Ai muốn thờ phượng trong chân lý, phải nghe tiếng Người, phải giữ Lời Người, như nhiều lần Người đã quả quyết với dân Dothái. Chính Chúa Cha cũng đã tuyên bố: Người là Con yêu dấu, và chúng ta phải nghe Lời Người, như ta đã đọc thấy trong bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần trước. Nhưng người Dothái cứng đầu, họ không vâng lời. Họ không để Lời Chúa giáo dục họ đi trong Giao ước 10 điều răn. Nên đền thờ của họ đã trở nên nơi buôn bán; tôn giáo của họ đi đến chỗ vụ hình thức và pháp luật. Chúa Cứu thế phải cải tạo não trạng này, chứ không cần thanh tẩy đền thờ. Người thánh hóa đền thờ để nói rằng Người sẽ cải tạo những tâm hồn mà Người biết rõ đang sống trong tội lỗi.
Chính đền thờ các tâm hồn mới cần được thanh tẩy. Và đối với những tâm hồn chai đá, phải đập nát để xây dựng lại hầu trái tim mọi người trở thành trái tim thịt biết yêu mến và biết nghe lời.
Nhưng làm thế nào? Đức Kitô đã chấp nhận gánh lấy tội lỗi của mọi người trên vai. Người đã mặc lấy thân xác của loài người. Người bằng lòng để thân xác mình chịu đóng đinh vào thập giá. Thân thể Người sẽ bị tan nát trong đau thương, để từ đó sống lại với sức mạnh thánh thiện của thần tính, thân xác Người trở thành đền thờ mới cho người ta cầu nguyện.
Đó là con đường Người đã đi. Không có đường lối cứu độ nào khác. Người mời ta đi vào con đường ấy trong mùa Chay này. Gương Người chịu chết để tiêu diệt tội lỗi cho ta, khuyến khích ta trong những tuần lễ này phải kết hiệp với Người mà thanh tẩy tâm hồn và đời sống. Bảng 10 điều răn ta đọc hôm nay nhắc nhở chúng ta kiểm điểm lại đời sống. Biết đâu tâm hồn và đời sống ta hiện nay không như đền thờ Yêruselem ngày trước. Phải đuổi, phải xua những gì không phù hợp với tín ngưỡng và Phúc Âm ra khỏi đời sống của mình. Nhất là phải diệt cho đến tận gốc của tội lỗi, là sự chai lì đối với Lời Chúa. Không còn nhạy cảm khi nghe Phúc Âm nữa, mà như người Dothái, dường như phải chờ thấy phép lạ mới sửa đổi đường lối sống đạo hiện nay. Chúa Yêsu đã trả lời cho người Dothái rồi: cứ phá đền thờ này đi, ba ngày sau, Người sẽ xây dựng lại Dân này đòi dấu lạ, nhưng họ sẽ chẳng được thấy dấu lạ nào khác ngoài dấu lạ như Yôna thuở xưa. Ông đã ở trong bụng cá ba ngày, thì Con Người cũng sẽ sống lại sau ba ngày nằm trong lòng đất. Và dấu lạ này đòi người ta phải tham dự. Mọi người có bằng lòng chết với Đức Kitô, họ sẽ mới cùng Người được sống lại. Chẳng có phép lạ nào khác có thể thay đổi được não trạng và đời sống tội lỗi của con người, ngoại trừ chính việc người ta phải cùng Đức Kitô đóng đinh tội lỗi vào Thập giá.
Chúng ta đang tham dự Thánh lễ. Chúng ta muốn kết hiệp với Đức Kitô trong mầu nhiệm Thánh Thể là mầu nhiệm chết và sống lại của Chúa.
Chúng ta chỉ thành tâm tham dự Thánh lễ này, nếu giờ đây ta cùng nhau dứt khoát đem ý chí muốn tiêu diệt tội lỗi lên bàn thờ, để ta dâng mình với Đức Kitô trong mầu nhiệm hy tế, hầu ơn sống lại của Người sẽ khiến ta đổi đời và canh tân đời sống sau khi bước ra khỏi nhà thờ này. Như vậy ta mới thật sự kết hiệp với Chúa trong mầu nhiệm thanh tẩy đền thờ là chính tâm hồn và đời sống của ta.
 (Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa của Đức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)
 

MC3-B49. ĐỀN THỜ CỦA THIÊN CHÚA

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT
CHÚA NHẬT III MÙA CHAY, năm B
Ga 2, 13 – 25
 

Ngày xưa Giêrusalem là Nhà thờ lớn, là nơi hành hương, là nơi muôn dân qui tụ về dâng le: MC3-B49

Ngày xưa Giêrusalem là Nhà thờ lớn, là nơi hành hương, là nơi muôn dân qui tụ về dâng lễ, cầu kinh. Ngày nay, mọi Đền thờ đều là nhà của Thiên Chúa, là nơi để cầu nguyện. Tin mừng của thánh Gioan hôm nay, cho chúng ta thấy thái độ của Chúa Giêsu đối với những kẻ làm ô uế Đền thờ và Ngài chỉ ra Ngài chính là Đền thờ…
Lần đầu tiên chúng ta thấy Chúa Giêsu nổi giận đối với những người buôn bán nơi Đền thờ Giêrusalem như đang buôn bán chiên, bò, bồ câu và đặc biệt Chúa Giêsu lật đổ bàn ghế của những người đổi tiền bạc. Đây là cơn giận thánh của Chúa Giêsu bởi vì Ngài vẫn nói với các môn đệ :” Hãy học nơi Ngài sự hiền lành và khiêm nhượng”.Chúa Giêsu luôn bình thản trước những lời vua oan cáo vạ Ngài, trước những sự phản bội trắng trợn Ngài. Ngày hôm nay, Chúa Giêsu tức giận, tỏ thái độ nghiêm khắc với những kẻ buôn bán, đổi chác tiền bạc dù rằng những ấy chỉ diễn ra nơi tiền đình Đền thờ, nhưng Chúa Giêsu vẫn cương quyết chống đối lại những người này vì Ngài cho rằng nó gây ồn ào, bất kính đối với Đền thờ, nơi Ngài cho là nhà của Cha Ngài. Ngài luôn tôn kính Đền thờ và Ngài không muốn con người xúc phạm đến Đền thờ, đến Nhà của Cha Ngài, nơi đây người ta hành hương, đi dâng lễ cầu kinh và cầu nguyện. Chúa Giêsu không chấp nhận việc con người làm cho Đền thờ ra ô uế. Chúa Giêsu thấy cần phải thanh tẩy Đền thờ dù rằng Ngài biết việc ấy sẽ gây nguy hại cho tính mạng của Ngài. Ngài nói :” Hãy đem tất cả những thứ này ra khỏi đây” (Ga 2, 16 ). Đem tất cả những thứ ấy ra khỏi nơi thờ phượng bởi vì chúng xúc phạm đến Cha của Ngài, xúc phạm đến chính thân xác, đến con người của Chúa Giêsu. Ngài muốn nơi thờ phượng phải là nơi tôn nghiêm, nơi tĩnh lặng, nơi thanh vắng, nơi con người, nhân loại gặp gỡ Thiên Chúa.
Người Do Thái lúc đó đâu có hiểu Ngài, đâu có nhận ra Ngài là Thiên Chúa, Đấng Cứu Thế, Đấng Cứu Độ trần gian. Do đó, họ vặn lại Ngài, nhưng Chúa Giêsu đã nói thẳng thừng với họ :” Cứ phá hủy Đền thờ này đi; nội ba ngày, tôi sẽ xây dựng lại “ (Ga 2, 19 ). Chúa Giêsu ám chỉ đến cái chết và sự sống lại của Ngài, nhưng nào đâu họ có hiểu ! Và Đền thờ ở đây, Đền thờ Ngài nói tới là chính thân xác của Ngài, thân xác sống lại của Ngài sẽ là Đền thờ mới, nơi toàn thể nhân loại sẽ thờ phượng cách đích thực.
Chúa Giêsu thanh tẩy Đền thờ Giêrusalem, nhưng đồng thời Ngài cũng muốn thanh tẩy tâm hồn mỗi người chúng ta và thanh tẩy các nhà thờ, các nơi thờ phượng của chúng ta bởi vì tâm hồn chúng ta là Đền thờ của Chúa Thánh Thần, nhưng nhiều khi chúng ta đã để chúng ra ô uế, do tội lỗi, do những bất xứng chúng ta xúc phạm đến Chúa. Nhiều nơi thờ phượng, nhiều nhà thờ chúng ta xây dựng hoành tráng, to tát bên ngoài nhưng việc đạo đức nhiều khi không đúng ý Chúa. Nhiều nơi tổ chức linh đình bề ngoài nhưng bề trong lại xa Chúa. Do đó, Chúa muốn chúng ta thanh tẩy nội tâm, thanh tẩy những gì bề ngoài không phù hợp với ý của Chúa vv…
Mỗi thánh lễ nơi một nhà thờ nào đó, chúng ta hiệp dâng cùng với linh mục. Chúng ta hiểu rõ rằng qua bí tích rửa tội chúng ta được tháp nhập vào trong Hội Thánh, và như thế, chúng ta được hội nhập, được tháp nhập vào một Đền thờ mới là chính thân xác phục sinh của Chúa. Nhà thờ là nơi thờ kính, là nơi cầu nguyện, là nơi tôn kính Chúa Cha qua Đức Kitô. Nhà thờ này còn quý giá hơn cả Đền thánh Giêrusalem xưa vì Đền thờ bây giờ chính là Con người Chúa Giêsu đã kinh qua cái chết và phục sinh.
Chúng ta luôn phải hiểu rõ rằng Đền thờ, nơi Thờ phượng hằng ngày chúng ta lui tới là nơi Chúa Giêsu ngự, là nơi Ngài qui tụ chúng ta lại và là nơi Ngài gặp gỡ chúng ta và ngược lại chúng ta được diễm phúc gặp gỡ Ngài. Nhà thờ còn là nơi có những mối quan hệ mật thiết với mỗi Kitô hữu hơn bất cứ nơi nao bởi đó là nơi có những kỷ niệm êm đềm nhất từ lúc chúng ta sinh ra cho đến khi chúng ta lìa đời. Nhà thờ là di sản quí báu của tổ tiên, cha ông chúng ta để lại.Nhà thờ là nơi qui tụ, họp mặt mọi người ta xứ họ để cảm tạ Thiên Chúa và xin ơn với Ngài. Chính vì thế, chúng ta phải gìn giữ, bảo vệ và thanh tẩy Nhà thờ sao cho đẹp lòng Chúa và hợp với ý của Chúa.
Chúa đã phán :” Khi Danh Ta hiển thánh nơi các ngươi,
Ta sẽ tập trung các ngươi lại
Từ khắp mọi nơi trên mặt đất.
Trên các ngươi, Ta sẽ rảy nước trong ngần,
Và mọi vết nhơ của các ngươi sẽ được tẩy sạch,
Ta sẽ đặt thần trí mới vào lòng các ngươi “ ( Ed 36, 23-26 ).
Lạy Chúa là Đấng rất từ bi nhân hậu, Chúa đã từng chỉ dạy chúng con cách chữa lành những vết thương tội lỗi : là ăn chay hãm mình, siêng năng cầu nguyện và chia cơm sẻ áo cho kẻ khó nghèo. Này chúng con nhận biết mình yếu hèn lầm lỗi, và hết lòng sám hối ăn năn; xin Chúa thương đoái nhìn chúng con và đưa tay nâng đỡ. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô Chúa chúng con.Amen.
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
1.Đền thờ Giêrusalem là nơi qui tụ những ai ?
2.Giêrusalem trên nghĩa là gì ?
3.Tại sao lại phải thanh tẩy tâm hồn ?
4.Chúng ta phải có bổn phận và nghĩa vụ làm sao đối với Nhà thờ ?
 

MC3-B50.  ĐỨC  GIÊSU TẨY UẾ  ĐỀN THỜ

(Gioan 2,13-25 - CN III MC - B)
1.- Ngữ cảnh
 

Lần đầu tiên, tác giả Gioan có một bản văn song song với các TMNL (Mc 11,15-19 ;  Mt 21: MC3-B50

                Lần đầu tiên, tác giả Gioan có một bản văn song song với các TMNL (Mc 11,15-19 ;  Mt 21,12-17;  Lc 19,45-48). Tuy nhiên, có những khác biệt:
- Trong khi TM IV đặt biến cố này vào đầu sứ vụ của Đức Giêsu, các TMNL lại đặt ở đầu tuần Khổ Nạn. 
- Lý do đã thúc đẩy Đức Giêsu can thiệp được gợi hứng bởi các bản văn ngôn sứ, cũng không giống nhau: “một nơi buôn bán” (Ga 2,16) thì nhắm đến chuyện mua qua bán lại,  còn “sào huyệt của bọn cướp” (Mc 11,17 và //) thì hàm chứa một cáo giác về sự trộm cắp.
- Cuối cùng, cuộc cãi vã giữa Đức Giêsu và các đối thủ xảy ra ngay sau đó (theo Ga), hoặc lại vào ngày hôm sau (theo các TMNL : Mc 11,28 và //).
                Trong quá khứ, người ta thường đề nghị một giả thuyết, theo chiều hướng tương phù (concordism):  Đức Giêsu đã đuổi những người buôn bán khỏi Đền Thờ 2 lần, vào đầu sứ vụ (Ga) và cuối sứ vụ (TMNL). Nhưng dường như khó tin được rằng Đức Giêsu có thể lặp lại được một thách đố như thế đối với giới lãnh đạo Do Thái giáo. Đàng khác, giữa bản văn của Ga và của các TMNL có những nét tương đồng, khiến người ta phải nghĩ rằng hầu chắc các bản văn ấy đều đề cập tới một biến cố duy nhất: nơi cả hai bên, ta đều thấy cùng một cơ hội đã khiến Đức Giêsu làm cử chỉ ấy (sự hiện diện của những người buôn bán và đổi tiền trong Đền Thờ), có một lời Đức Giêsu trách mắng những người bán hàng, sự can thiệp của các thủ lãnh Do Thái, và nhất là dây liên hệ chặt chẽ giữa hành động này và cái chết của Đức Giêsu (Ga 2,17.19; Mc 11,18; Lc 19,47).
                Vậy phải chọn giữa bài của Gioan và bài của TMNL: bài nào đã đặt biến cố này vào đúng thời điểm?
1. Đa số các nhà chú giải CôngGiáo và nhiều nhà chú giải Tin Lành ủng hộ bài của Gioan. Luận điểm chính nằm trong chi tiết về thời gian do 2,20 cung cấp: Công việc xây dựng Đền Thờ bắt đầu từ năm 20/19 tr CG (Fl. Josèphe, Ant XV, 380); vào lúc này là năm 28/27 CN: thời điểm này phù hợp với khởi đầu sứ vụ của Đức Giêsu hơn. Khi đó, người ta hiểu các TMNL đã đặt biến cố này vào cuối sứ vụ của Đức Giêsu, bởi vì các TMNL chỉ nói đến một chuyến đi lên Giêrusalem duy nhất và một lễ Vượt Qua duy nhất.
2. Những người nghiêng về các TMNL thì ghi nhận trước tiên rằng dây liên kết giữa thách đố này của Đức Giêsu và cái chết của Người không mấy phù hợp với thời gian khởi đầu sứ vụ của Người. Tại cuộc xử án Đức Giêsu, lời của các nhân chứng nhắc lại câu tuyên bố của Người về việc phá Đền Thờ giả thiết là sự việc mới xảy ra, nên người ta còn nhớ rõ. Nhưng luận điểm mạnh nhất, là tác giả Gioan đã đưa bài tường thuật này ra đầu sứ vụ của Đức Giêsu, vì ông trung thành với quan điểm ông đã biểu lộ trong bài tường thuật Dấu lạ Cana (Ga 2,4.11): ông muốn quy hướng toàn thể sứ vụ của Đức Giêsu ngay từ đầu về “giờ” Khổ Nạn của Người; hơn nữa, Gioan muốn rằng Do Thái giáo chính thức được chứng kiến Đức Giêsu biểu lộ tư cách Mêsia của Người ngay từ đầu, để những người Do Thái phải ở trong một tư thế bị phán xét.
                Nói cho cùng, thật khó chọn bài nào, bởi vì cả hai luận đề đều có những lập luận vững chắc.
2.- Bố cục
                Bản văn có thể chia thành ba phần:
                1) Đức Giêsu tẩy uế Đền Thờ (2,13-17);
                2) Đức Giêsu nói về phá hủy và xây dựng lại Đền Thờ (2,18-22);
                3) Chuyển tiếp và dẫn nhập vào truyện Nicôđêmô (2,23-25).
 3.- Vài điểm chú giải
- Gần đến lễ Vượt Qua của người Do Thái (13): Thời gian của dấu lạ này dĩ nhiên gợi nhớ tới lễ Vượt Qua trong đó Đức Giêsu sẽ bị xử tử. Tương quan giữa việc tẩy uế Đền Thờ và cuộc Khổ Nạn của Đức Giêsu đã được ám chỉ. Mc 11,18 và Lc 19,47t sẽ ghi nhận rằng sự can thiệp của Đức Giêsu, vì kết án cả giới lãnh đạo Do Thái giáo, sẽ khiến các thượng tế và các kinh sư quyết định “giết Người”.
- trong Đền Thờ (en tôi hiêrôi, 14): Đây là tiền đường của Đền Thờ (đối lại với naos là Đền Thờ đúng nghĩa, gần gian Thánh và gian Cực Thánh).
- Các môn đệ của Người nhớ lại (17): Sau khi Đức Giêsu sống lại, khi Thánh Thần đã ban cho các ông hiểu các dấu chỉ Thầy đã làm, các môn đệ đã hiểu biến cố hôm nay:
- Người Do Thái (18):  Trong thực tế, đây là giới lãnh đạo Đền Thờ (các tư tế, các thầy Lêvi và vệ binh), những người chịu trách nhiệm về tình trạng vừa bị Đức Giêsu kết án. Như ở khắp nơi trong Tin Mừng, tác giả Gioan không phân biệt giữa các nhà lãnh đạo và dân Do Thái đã từ chối tin vào Đức Kitô. Vậy phải nói là toàn thể hệ thống phượng tự của dân này đang được đề cập đến.
- Các ông cứ phá hủy (làm tan rã) Đền Thờ này đi; nội ba ngày, tôi sẽ xây dựng lại (sẽ đánh thức dậy) (19): Câu này có thể hiểu là một mệnh lệnh: “Các ông hãy phá hủy...”, hoặc như một câu ở thì tương lai: “Các ông sẽ phá hủy...”, hoặc như một câu giả thiết: “Cứ giả sử là các ông phá hủy...”. Thật ra, các động từ “làm tan rã” (lyô) và “đánh thức dậy” (egeirô) không phù hợp chút nào với một tòa nhà vật chất cả.
- bốn mươi sáu năm (20): Đền Thờ, với phần cung thánh và tiền đường, đã được vua Hêrôđê rộng tay chi tiền sửa sang lại thật huy hoàng. Khởi công vào năm 16 triều đại ông (x. Fl. Josèphe, Ant. jud., 15, 11, 1) vào năm 734-735 thành Rôma, là năm 20-19 tCN, các công việc đã kéo dài cho tới thời Tổng đốc Anbinô, năm 62-64 (Ant. jud., 20, 9, 7). Vào thời điểm của bài tường thuật này, chúng ta ở vào năm xây dựng thứ 46. Lấy khởi điểm là năm 20 hoặc 19, sự cố tẩy uế Đền Thờ đã xảy ra vào lễ Vượt Qua năm 27 hoặc 28. Điều này phù hợp với Lc 3,2, vì bản văn này đã xác định phép rửa của Đức Giêsu xảy ra vào năm 15 triều đại Tibêriô, tức giữa ngày 1-10-27 và 30-9-28.
- ... là chính thân thể Người (21): Đền Thờ mới sẽ thay thế Đền Thờ cũ đã bị tục hóa chính là thân thể phục sinh của Đức Kitô. Với lời giải thích của thánh Phaolô (x. 1 Cr 3,16 và 12,27; Ep 2,21 và 4,12), Đền Thờ mới là Giáo Hội, thân thể vinh hiển của Đức Kitô phục sinh, và tất cả các tín hữu được kết hợp với Người.
- Vậy, khi Người từ cõi chết chỗi dậy, các môn đệ nhớ lại... Họ tin (22): Tác giả Máccô cứ đều đặn ghi nhận rằng các môn đệ không hiểu. Gioan thì nói cách tích cực rằng các môn đệ hiểu sau khi Đức Kitô đã sống lại (12,16). Chỉ khi Đức Giêsu được tôn vinh, các ông mới được nhận Thánh Thần (7,39), và Thánh Thần mới cho các ông hiểu tất cả những dấu lạ Đức Giêsu đã thực hiện (14,26; 15,26t). Vậy, đức tin của các môn đệ không được liên kết với cuộc Phục Sinh như với một bằng cớ về tính xác thực của những gì Đức Giêsu đã nói, nhưng như với nguyên do (= nguồn) ban Thánh Thần, là Đấng duy nhất cho phép hiểu.
- Họ tin vào Kinh Thánh (22): Không thể xác định rõ tác giả Gioan ám chỉ tới đoạn Cựu Ước nào. Có thể so sánh Cv 2,24t; 13,34tt, trong đó có những bản văn thường được Giáo Hội tiên khởi nhắc đến trong quan hệ với sự Phục Sinh của Đức Giêsu (đặc biệt Tv 16/15,10). Chúng ta ghi nhận rằng Kinh Thánh (Lời Thiên Chúa) và lời Đức Giêsu được đặt trên cùng một bình diện (so sánh 18,9.32) để làm nên đối tượng đức tin của các môn đệ.
- nhiều kẻ tin (23): Nhiều người tin rằng Đức Giêsu đến từ Thiên Chúa (3,2), nhưng không tin vào tất cả mầu nhiệm bản thân Người. Lòng tin của họ chỉ dựa trên các phép lạ, nên không phải là không có giá trị, nhưng bất toàn (4,48 ; 20,29).
4.- Ý nghĩa của bản văn
                Đức Giêsu cũng tham dự vào một đại lễ khác. Đây không phải là một lễ của một đôi vợ chồng được cử hành bởi gia đình và mọi người thân thuộc trong khung cảnh một thôn làng như Cana ở Galilê, nhưng là lễ Vượt Qua, lễ trọng nhất của Israel, khi đó toàn dân quy tụ lại Giêrusalem. Israel tưởng niệm cuộc giải phóng khỏi Ai Cập và tạ ơn Thiên Chúa, vì Người đã làm cho họ thành một dân độc lập và thành Dân Người.
 
* Đức Giêsu tẩy uế Đền Thờ (13-17)
                Tại Đền Thờ, Đức Giêsu đã không góp phần cứu lấy và gia tăng niềm vui của ngày đại lễ, nhưng đã hòa vào cảnh sống náo nhiệt trên sân Đền Thờ. Con người đã rảo qua xứ sở cách an hòa (1,29.36) và đã ra tay cứu lễ mừng Cana cách hiệu quả, nay lại tỏ mình ra dưới một phương diện hoàn toàn khác. Là một người khách hành hương vô danh đến từ miền Galilê, Người đã gây ra một sự cố “động trời” tại Đền Thờ Giêrusalem. Theo TM IV, vào chuyến hành hương đầu tiên thuộc đời sống công khai của Người, Đức Giêsu đã bắt đầu hoạt động tại Giêrusalem như thế đó, bắt đầu từ sân dành cho Lương dân, phần ít cao quí nhất của tiền đường, phần duy nhất mà người ngoại quốc được đặt chân đến.
Truyền thống vẫn yêu cầu người ta tỏ ra trang nghiêm kính cẩn tại vùng sân này, chẳng hạn, phải tránh đi qua đó chỉ để đi tắt. Nhưng các quy định này, đặc biệt vào dịp lễ Vượt Qua, không được tuân giữ: do khách hành hương phải chuẩn bị các của lễ đúng quy định (một con bò hoặc một con chiên cho trường hợp những người giàu, một con bồ câu cho trường hợp những người nghèo), và một nửa đồng bạc Do Thái (một siklos, hoặc shéqèl bằng 4 ngày công) đóng thuế Đền Thờ, họ đã mua bán đổi chác gây huyên náo hỗn độn ngay tại đây. Các cửa hàng của những người bán bò và chiên được bố trí dưới các cổng, bàn của những người đổi bạc được đặt ngay ngoài trời, đã biến vùng sân này thành một cửa hàng tạp hóa vĩ đại. Tất cả tùy thuộc cách người ta quan niệm việc thờ phượng Thiên Chúa trong Đền Thờ. Hẳn là dân chúng nghĩ rằng có thú vật và tiền lẻ ngay tầm tay và đặt mọi sự dưới quyền kiểm soát  của giới hữu trách Đền Thờ là tiện nhất. Nhưng điều này lại không phù hợp với quan niệm của Đức Giêsu về nhà của Cha Người. Người gọi Thiên Chúa là Cha và xác định cách cư xử dựa trên ý tưởng Người có về nhà Thiên Chúa. Không phải là mọi chuyện đều có thể chấp nhận. Không phải là cứ chuyện nào tiện lợi hoặc đưa lại tiền bạc là đúng đắn. Buôn bán thú vật được dùng làm lễ hy sinh là một sinh hoạt đáng trọng, nhưng phải cách xa nơi có sự hiện diện của Thiên Chúa và nơi người ta tôn kính Ngài. Đức Giêsu thấy có những lạm dụng.
Nay đã được đặt để trong chức năng Mêsia-Con Thiên Chúa, Đức Giêsu không chỉ vào Nhà Thiên Chúa như một khách hành hương, mà còn là người quản lý và chủ nhân. Nếu Người đã làm hành vi chứng tỏ uy quyền này ngay tại Đền Thờ có lẽ là để tự mạc khải ngay giữa lòng Do Thái giáo, trước mặt các nhà lãnh đạo và đám đông đa tạp các khách hành hương, nhờ thực hiện sấm ngôn Malakhi: “Và bỗng nhiên Chúa Thượng mà các ngươi tìm kiếm, đi vào Thánh Điện của Người. Kìa, vị sứ giả của giao ước mới mà các ngươi đợi trông đang đến... Ai chịu nổi ngày Người đến? Ai đứng được khi Người xuất hiện? Quả thật, Người như lửa của thợ luyện kim... Người sẽ thanh tẩy con cái Lêvi (các thừa tác viên Đền Thờ)...” (Ml 3,1-3).
                Không màng tới các rủi ro, Đức Giêsu không ngần ngại nối kết sức lực của cánh tay vào sức mạnh của lời nói để thực hiện nguyện vọng của Cha Người, được diễn tả qua miệng ngôn sứ Dacaria: “Ngày ấy, sẽ không còn lái buôn trong Nhà Đức Chúa các đạo binh nữa” (Dcr 14,21). “Nhà của Ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện cho muôn dân” (Is 56,7), nhưng “Phải chăng các ngươi coi nhà này, nơi danh Ta được kêu khấn, là hang trộm cướp sao?” (Gr 7,11). Đức Giêsu đã can thiệp với biện pháp rõ ràng và dứt khoát: “Người xua đuổi tất cả bọn họ cùng với chiên bò ra khỏi Đền Thờ; còn tiền của những người đổi bạc, Người đổ tung ra, và lật nhào bàn ghế của họ. Người nói với những kẻ bán bồ câu: ‘Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây’” (2,15-16). Trong nhà Chúa Cha, Chúa Cha đang hiện diện; người ta phải suy nghĩ và hành động tương ứng với chân lý này.
                Cử chỉ này, trực tiếp nhắm đưa Đền Thờ trở lại với sự thanh sạch vẫn có, dường như có một tầm mức biểu tượng. Bằng cử chỉ này, Đức Kitô muốn nói rằng Người sẽ truất các tư tế mất quyền điều hành Đền Thờ Thiên Chúa và sẽ loại bỏ tất cả các lễ hy sinh thú vật để thay thế bằng lễ dâng tinh tuyền mà Thiên Chúa cũng đã loan báo qua miệng ngôn sứ Malakhi: “Ta chẳng ưng nhận lễ phẩm từ tay các ngươi dâng... Và ở khắp nơi, người ta dâng lễ hy sinh và lễ vật tinh tuyền kính Danh Ta” (Ml 1,10-11). Đúng là đã tới giờ rồi.
                Vào lúc ấy, hẳn là sự can thiệp cương quyết của Thầy đã khiến các môn đệ thắc mắc, nhưng nhất là khiến các ông lo sợ rằng Người sẽ phải gánh chịu những hậu quả tệ hại, từ phía những lái buôn và những thừa tác viên Đền Thờ. Khi đó, các môn đệ đã nghĩ tới tiếng kêu của tác giả Tv 69/68: “Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa mà tôi đây sẽ phải thiệt thân...”, thiệt thân vì sự nhiệt thành của mình và vì những đối thủ. Vào lúc chịu Khổ Nạn, khi tuyên bố rằng Thánh vịnh này được ứng nghiệm nơi Người (Tv 69/68,5; x. Ga 15,15), Đức Giêsu công nhận rằng các ông đã linh cảm đúng: sự nhiệt thành đã thiêu đốt Người bên trong vào lễ Vượt Qua đầu tiên, sẽ thiêu đốt Người hoàn toàn vào lễ Vượt Qua cuối cùng, để biến Người thành một lễ hy sinh “đẹp lòng Chúa hơn bò bê đủ móng đủ sừng” (Tv 69/68,32). Người chính là Đấng công chính chịu đau khổ để thanh tẩy Đền Thờ và nền phượng tự cũ hầu xây dựng một Đền Thờ mới và thiết lập một nền phượng tự mới (cc.19-21). Việc chuyển đi từ cái cũ sang cái mới sẽ được thực hiện nhờ cái chết của Đức Giêsu.
* Đức Giêsu nói về phá hủy và xây dựng lại Đền Thờ (18-22)
                “Người Do Thái” đây là giới lãnh đạo Đền Thờ (các tư tế, các thầy Lêvi và vệ binh), nhưng cũng là dân Do Thái, đã hỏi: “Ông lấy dấu lạ nào chứng tỏ cho chúng tôi thấy là ông có quyền làm như thế?” (c. 18). Đây là đề tài căn bản của tất cả những xung đột sau đó giữa Đức Giêsu và giới lãnh đạo Do Thái giáo. Người đã yêu cầu trả lại phẩm cách trang nghiêm cho nhà Chúa Cha; điều này không thỏa mãn người Do Thái, cũng như tất cả những gì Đức Giêsu sẽ nói và sẽ làm cũng chẳng thỏa mãn họ (x. 5,16; 6,30; 9,16; 11,45-53). Hẳn là các nhà chức trách Do Thái cảm thấy khó chịu gai chướng bởi một sáng kiến vừa lạ lùng vừa cách mạng như thế: dù không có chức tư tế và không có nhiệm vụ gì ở Đền Thờ, Đức Giêsu vừa kết án một hệ thống được các nhà chức trách chuẩn nhận, mà như thế là tự cho mình có một uy quyền cao hơn uy quyền của họ. Thậm chí Người còn muốn nói là Người triệt tiêu nền phượng tự đã từng được Thiên Chúa thiết lập ở đấy, và như thế là tự gán cho mình có một uy quyền ngang bằng với uy quyền của Thiên Chúa mà Người gọi là “Cha Người”! Bởi vì Người cho rằng Người có một uy quyền thần linh, thì Người phải chứng minh điều ấy bằng cách làm một dấu lạ: một hành động phi thường cho thấy dấu ấn của Thiên Chúa trên sứ mạng cứu thế của Người (x. Mt 11,38; 16,1; Mc 8,11; Lc 11,16; 1 Cr 1,22).  
                Đức Giêsu đáp: “Các ông cứ phá hủy (làm tan rã) Đền Thờ này đi; nội ba ngày, tôi sẽ xây dựng lại (sẽ đánh thức dậy)” (c. 19). Câu này có thể hiểu là một mệnh lệnh: “Các ông hãy phá hủy...”, hoặc như một câu ở thì tương lai: “Các ông sẽ phá hủy...”, hoặc như một câu giả thiết: “Cứ giả sử là các ông phá hủy...”. Với bối cảnh của cuộc tranh luận, Đức Giêsu dường như ám chỉ việc phá hủy và xây lại ngôi Đền Thờ bằng đá tọa lạc ngay gần bên. Người Do Thái nghĩ ngay đến Đền Thờ ấy, và cho rằng không thể được. Quả thật, phải là điên thì mới nghĩ có thể xây lại trong ba ngày; cũng phải là điên thì mới nghĩ rằng có thể đụng chạm được tới Đền Thờ này! Cứ lấy lương tri mà xét, lẽ ra người Do Thái không nên gán những ý tưởng ấy cho một người có đầu óc sáng suốt: là những người Đông phương, đã quen với giọng văn bóng bảy cũng như những câu nói hiểm hóc, hẳn là họ phải ngờ rằng ở đây có một ý hướng biểu tượng, nhất là những động từ “làm tan rã” (lyô) và “đánh thức dậy” (egeirô) không phù hợp chút nào với một tòa nhà vật chất cả. Nhưng họ cố ý xoáy vào ý nghĩa vật chất, cũng như người phụ nữ Samari khi đề cập tới nước ban sự sống (4,11-15), như những người Do Thái khi đề cập tới bánh ban sự sống (6,34) [xem lời các nhân chứng tạo tòa án (Mt 26,61; Mc 14,58) và những người qua đường (Mt 27,40; Mc 15,29)]. Dấu lạ Đức Giêsu loan báo ở đây tương ứng với câu trả lời cho người Pharisêu trong Mt 12,39t và 16,4.
                Người Do Thái quy các lời Đức Giêsu nói vào ngôi Đền Thờ bằng gạch đá nên đã hiểu sai ý Người (x. 3,4). Đức Giêsu đang nói với họ: Các ông có thể giết chết tôi. Các ông có thể đẩy tôi đến thử thách lớn lao cùng cực nhất. Nhưng rồi tôi sẽ hoàn tất công trình của tôi và sẽ tự mạc khải ra vĩnh viễn.
Phần các môn đệ, sau khi Đức Giêsu sống lại, các ông mới hiểu được ý nghĩa của câu nói huyền bí ấy, và “đã tin vào lời Kinh Thánh và lời Đức Giêsu đã nói” (c. 22). Nhưng ở đây tác giả Gioan cho chúng ta được hiểu trước biến cố ấy: Đức Giêsu nói, không phải về Đền Thờ bằng gạch đá, nhưng hoàn toàn về Đền Thờ là thân thể của Người, nhân tính của Người. Các từ ngữ Người dùng phù hợp với ý nghĩa đó hơn: “Cứ làm tan rã Đền Thờ là thân thể của tôi đi (Các ông sẽ gây ra sự tan rã, cái chết, cho thân thể tôi), và trong ba ngày, tôi sẽ dựng lại (sẽ đánh thức dậy khỏi giấc ngủ ấy)”. Đàng khác, ý nghĩa hoàn toàn phù hợp với hoàn cảnh. Nếu các môn đệ đã linh cảm rằng lòng nhiệt thành của Đức Giêsu đối với ngôi nhà vật chất của Thiên Chúa sẽ khiến Người bị các đối thủ hãm hại (c. 17), Đức Giêsu còn biết rõ hơn các ông rằng cử chỉ này sẽ đưa Người tới cái chết. Như vậy, cái chết đối với Đức Giêsu không phải là một tai nạn bất ngờ hoặc một thất bại không thể tránh được, nhưng là một thử thách Người tự do chấp nhận, để rồi tiếp theo là một Sự Sống dồi dào phong phú hơn. Đã được báo trước như vậy, người Do Thái sẽ không thể coi đó là một chiến thắng, còn các môn đệ không thể coi đó là một cớ vấp phạm được.
                Ở đây, ngay trong cuộc gặp gỡ đầu tiên này, ta đã thấy rõ các hậu quả của cuộc xung đột sẽ là thế nào và mục tiêu của con đường Đức Giêsu theo là gì: chết và sống lại. Cuộc Phục Sinh sẽ chuẩn nhận cho tư cách của Đấng đã bị đẩy đến một cái chết khốc liệt do việc làm và yêu sách của Người. Do cái chết này, Đền Thờ mới sẽ được xây lên. Đức Giêsu Phục Sinh là “nơi” vĩnh viễn có Thiên Chúa hiện diện với Dân Người và có Dân Người thờ phượng Thiên Chúa: đây là “ngôi nhà Cha” hoàn hảo. Lời tiên báo của Đức Giêsu một phần cảm hứng từ một sấm ngôn của ngôn sứ Hôsê (Hs 6,2). Theo lời hứa của Đức Giêsu cho ông Nathanaen, các môn đệ khi ấy sẽ thấy Thầy họ là “Bết-Ên” thật, là Nhà Thiên Chúa và Cửa thiên đàng (1,51). Một cách gián tiếp, Đức Giêsu mạc khải cho các thính giả rằng Chúa Cha cư ngụ nơi Người một cách viên mãn và vĩnh viễn (8,16; 10,38; 14,10;16,32) và chỉ nơi Người, các tín hữu mới có thể gặp được Chúa Cha vô hình (14,6-10).
* Chuyển tiếp và dẫn nhập vào truyện Nicôđêmô (23-25)
                TM IV nổi bật với sự đối kháng giữa Đức Giêsu và các đối thủ. Ngay từ cuộc gặp gỡ đầu tiên, đã lộ rõ các yếu tố tiêu biểu của cuộc chiến đấu này: các người tranh chấp, đối tượng của cuộc tranh chấp và kết luận. Cuộc xung đột liên hệ đến quan niệm đúng đắn về Thiên Chúa: Đức Giêsu nhận biết Thiên Chúa như là Cha Người; tất cả những gì Người làm đều do Thiên Chúa gợi hứng và Người làm chứng về những điều đó; còn các đối thủ của Người lại cảm thấy bị Người gây chuyện, nên yêu cầu Người trưng ra những bằng chứng khác, và họ loại trừ Người. Phần các môn đệ, do đã để cho Người dẫn dắt, các ông đạt tới đức tin và sự hiểu biết đầy đủ. Còn đám đông bị đánh động bởi những gì Đức Giêsu thực hiện; nhưng Đức Giêsu không tin họ, nên Người giữ khoảng cách với họ. Tình trạng xung đột này sẽ đưa Đức Giêsu đến cái chết dữ dội, nhưng Người sẽ được xác nhận trọn vẹn bằng cuộc Phục Sinh.
+ Kết luận
Hôm ấy, Đức Giêsu đã vào Đền Thờ như vào “nhà Cha Người”; hôm ấy, vì  yêu thương Chúa Cha, Người đã đuổi những con buôn khỏi Đền Thờ. Vì nhiệt thành lo cho nhà của Cha, vì muốn hoàn toàn dành ngôi nhà này cho Cha, Đức Giêsu đã nổi cơn nghĩa nộ mà bảo vệ quyền lợi của Cha, trong khi vẫn làm chủ chính mình. Như thế, Đấng “có lòng hiền hậu và khiêm nhường”, là bạn của kẻ tội lỗi, cũng biết nổi giận khi cần, vì vinh quang của Thiên Chúa Cha. 
                Sau này, đàng sau tấm màn bị xé rách của Đền Thờ và xuyên qua thân thể bầm dập của Đức Giêsu hấp hối, Thiên Chúa xuất hiện, bằng một tấm thân con người thật sự, đầy vinh quang thần linh. Giấc mơ của Cựu Ước, Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta, nay được thực hiện mãi mãi trong Đức Giêsu Phục Sinh.
5.- Gợi ý suy niệm
1. Theo Đức Giêsu, người ta không thể chấp nhận hay nhượng bộ mọi sự. Người ta có thể thông cảm cho việc trục trặc này, chuyện không xuôi chảy kia. Nhưng khi sự việc liên hệ đến việc thờ phượng Thiên Chúa, thì không được phép có lối suy nghĩ tương-đối-hóa. Khi sự việc liên hệ đến làm chứng cho mầu nhiệm Thiên Chúa, thì không được phép nửa vời. Phần chúng ta, chúng ta có thể tự hỏi: chúng ta đang có quan niệm nào về “nhà của Cha”, hoặc về nhiệm vụ và mục tiêu mà Ngài đã ban cho con người? Chúng ta có vận dụng trọn bản thân mình cho điều đó không?   
2. Các đối thủ của Đức Giêsu cứ đòi Đức Giêsu phải trưng ra thêm các bằng chứng. Lý do không phải là để họ đạt được niềm tin tròn đầy, nhưng nói có vẻ nghịch lý, họ đòi các bằng chứng là để phủ nhận đức tin, để họ có cớ mà nói rằng họ không tin là phải. Toàn bọ TM IV là một bài học với nhiều minh họa về niềm tin như một sự phó thác vào Đấng được Thiên Chúa sai phái tới, là Đức Kitô. Trong những trường hợp nào, cả chúng ta nữa, chúng ta cũng đề những ranh giới dè dặt cho niềm tin tưởng của chúng ta vào Đức Giêsu, chúng ta nêu ra những điều kiện, và chúng ta đòi những đảm bảo?
3. Chứng từ của các môn đệ còn đấy: lời của Đức Giêsu có một trọng lượng như chính lời Kinh Thánh. Nhờ được Kinh Thánh thôi thúc, các ông hiểu lý do khiến Đức Giêsu phải chết; nhờ được lời Đức Giêsu soi sáng, các ông hiểu Đấng Phục Sinh chính là “nơi” vĩnh viễn có sự hiện diện và chăm sóc ân cần của Thiên Chúa. Đấy là một kinh nghiệm quan trọng được chia sẻ cho chúng ta, để hôm nay chúng ta biết tiếp tục dựa vào ánh sáng của Kinh Thánh mà khám phá thêm nữa mầu nhiệm Đức Giêsu, Con Thiên Chúa nhập thể, đã chết và đã sống lại.
4. Để thực hiện được điều này, cần nhận lấy bài học khác của các môn đệ. Các ông đã rảo qua một đoạn đường dài cùng với Đức Giêsu và đã được Người liên tục dạy dỗ, rèn luyện. Chúng ta có thể chờ đợi để được dẫn đến chỗ hiểu biết đầy đủ về con đường của Đức Giêsu và con đường của chúng ta chăng? 
Lm PX Vũ Phan Long, ofm


 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây