Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 5 MC-B Phần II Bài 51-100: Hạt lúa mì có thối đi thì sinh nhiều hạt

Thứ tư - 14/03/2018 21:50
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 5 MC-B Phần II Bài 51-100: Hạt lúa mì có thối đi thì sinh nhiều hạt
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 5 MC-B Phần II Bài 51-100: Hạt lúa mì có thối đi thì sinh nhiều hạt
MC5-B Phần II Bài 51-100: Hạt lúa mì có thối đi thì sinh nhiều hạt
MC5-B51. Quy luật sự sống. 2
MC5-B52. Chú giải của William Barclay. 3
MC5-B53. Chú giải mục vụ của Alain Marchabour 6
MC5-B54. Chú giải của Noel Quesson. 7
MC5-B55. Chú giải của Fiches Dominicales. 9
MC5-B56. Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt 12
MC5-B57. ÁNH SÁNG CỦA THẬP GIÁ - Lm PX Vũ Phan Long, ofm.. 13
MC5-B58. CHÚA NHẬT V MÙA CHAY - Lm. Augustine, SJ. 16
MC5-B59. CHÚA NHẬT 5 MÙA CHAY, NĂM B.. 18
MC5-B60.  VINH QUANG NƠI THẬP GIÁ - Lm Giuse Đinh lập Liễm.. 21
MC5-B61. HẠT LÚA MÌ MỤC NÁT - Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, CSsR.. 24
MC5-B62. CON ĐƯỜNG HẠT LÚA - Lm Giuse Nguyễn Hữu An. 25
MC5-B63. CHÚA NHẬT V MÙA CHAY, NĂM B  - Lm. Anphong Trần Đức Phương. 27
MC5-B64. MUỐN ĐƯỢC PHẢI ĐÀNH MẤT - Lm. An Phong, OP. 28
MC5-B65. HẠT LÚA TRƠ TRỌI - Manna. 29
MC5-B66. NẢY SINH HOA TRÁI TỪ LÒNG ĐẤT - Lm. Giuse Nguyễn Cao Luật, OP. 30
MC5-B67. HẠT LÚA TRƠ TRỌI - Manna. 32
MC5-B68. GIỜ CỦA CHÚA GIÊSU - Gm. Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm.. 33
MC5-B69. Tôi sẽ lôi kéo mọi người – Yvon Daigneaut. 36
MC5-B70.  Chú giải của Lm. Vũ Phan Long. 36
MC5-B71.  CHÚA NHẬT V MÙA CHAY.. 40
MC5-B72. Xin Tôn Vinh Danh Cha. 41
MC5-B73.  Chúa Nhật V mùa Chay, B.. 42
MC5-B74. HIẾN ĐỜI SỐNG TRONG TÌNH YÊU.. 44
MC5-B75.  CHÚA NHẬT THỨ V MÙA CHAY, năm B.. 45
MC5-B76.  CHÚA NHẬT V MÙA CHAY.. 46
MC5-B77.  CHÚA NHẬT V MÙA CHAY, năm B.. 48
MC5-B78.  Chúa Nhật V mùa Chay – B.. 50
MC5-B79.  GẶP GỠ CHÚA GIÊSU.. 51
MC5-B80.  HẠT LÚA PHẢI CHẾT ĐỂ SINH KẾT QUẢ.. 52
MC5-B81.  Thời điểm TỪ MỘT VIỆT NAM BẦM DẬP. 55
MC5-B82.  Chúng tôi muốn gặp Chúa Giêsu. 58
MC5-B83.  Mục nát đi mới trổ bông. 59
MC5-B84.  Cuộc Vượt Qua của Vị Thiên Chúa Làm Người được bắt đầu từ lúc nào?. 60
MC5-B85.  CHÚA NHẬT 5 MÙA CHAY B.. 62
MC5-B86. Đã yêu là phải tuân thủ quy luật của tình yêu. 64
MC5-B87.  Giúp đỡ Tha Nhân là Hoa Trái Dâng Chúa. 65
MC5-B88.  Hạt lúa Giêsu. 66
MC5-B89.  Hạt lúa chấp nhận chết đi sẽ sinh nhiều bông hạt 67
MC5-B90. CON ĐƯỜNG THẬP GIÁ MÀ CHÚA GIÊSU ĐÃ ĐI QUA.. 68
MC5-B91. CHÚA NHẬT V MÙA CHAY NĂM B.. 69
MC5-B92. SỰ YẾU ĐUỐI CỦA CON NGƯỜI 70
MC5-B93. MẤT VÀ ĐƯỢC.. 71
MC5-B94. NGHỊCH LÝ MẤT ĐƯỢC.. 72
MC5-B95. CHÚA NHẬT V MÙA CHAY. 73
MC5-B96. HẠT GIỐNG SINH HOA KẾT QUẢ.. 74
MC5-B97.  GIỜ ĐÃ ĐIỂM... 75
MC5-B98. CHUYỆN TÌNH CÓ HẬU.. 75
MC5-B99.  BÀI HỌC VÂNG PHỤC.. 76
MC5-B100.  GIỜ CON NGƯỜI ĐƯỢC TÔN VINH.. 78

 

MC5-B51. Quy luật sự sống.

Cái chết của ông Y Rabin, Thủ Tướng Israel ngày 3/11/1995 đã làm cả thế giới chấn động: MC5-B51

Cái chết của ông Y Rabin, Thủ Tướng Israel ngày 3/11/1995 đã làm cả thế giới chấn động. Những người Do Thái quá khích giết ông, vì họ không chấp nhận công trình hòa bình ông đang kiến tạo với Palestine và các nước vùng Trung Đông. Cái chết của ông Rabin làm cho thế giới nhớ lại cái chết của Mahatma Gandhi 50 năm trước đây: một người thanh niên Ấn Giáo quá khích đã sát hại vị Cha già của dân tộc Ấn, vì anh không thể chấp nhận việc ngài tha thứ và dạy tha thứ cho người Hồi Giáo. Người ta cũng không thể quên cái chết của Mục sư Martin Luther King năm 1968, vì đã tranh đấu cho quyền bình đẳng của người da đen bằng phương pháp ôn hòa và bất bạo động. Lịch sử nhân loại đã được viết bằng máu của biết bao gương mặt kiến tạo hòa bình như thế. Liệu người ta có thể xếp cái chết của Chúa Giêsu vào hạng những cái chết vì hòa bình không? Đâu là lý do khiến Chúa Giêsu phải chết, một cái chết cũng mang tính cách mạng như chính cuộc sống và sự điệp của Ngài?
Chúa Giêsu đã chịu treo trên thập giá giữa hai tên trộm cướp. Thời Đế quốc Rôma cai trị Palestine có biết bao người đã chết như thế, nhưng cái chết của Chúa Giêsu có lý do sâu xa hơn bất cứ một cái chết nào. Chúa Giêsu đã có thể lẩn tránh được một cái chết như thế: Ngài đã làm cho kẻ chết sống lại được, thì việc thoát tay kẻ thù đối với Ngài không phải là chuyện khó. Ngài cũng có thể tránh được một cái chết như thế bằng cách thay đổi thái độ đối với những kẻ đang tìm cách hãm hại Ngài. Nhưng Chúa Giêsu đã không hành động như thế. Các sách Tin Mừng thuật lại rằng Ngài đã tự nộp mình cho kẻ thù. Ngài chết để giải phóng con người khỏi tội lỗi và sự chết. Một cuộc giải phóng vượt lên trên và bao trùm mọi thứ giải phóng khác. Từ nay, với cái chết của Chúa Giêsu, sự chết không còn là một thực tại đáng sợ nữa, nhưng nó là cửa ngõ dẫn vào cuộc sống vĩnh cửu.
Thánh Gioan hôm nay đã dùng hình ảnh quen thuộc để diễn tả ý nghĩa đích thực của cái chết của Chúa Giêsu: hình ảnh của một hạt giống bị mục thối đi trong lòng đất để dẫn đến một mùa gặt phong phú. “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình, còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều bông hạt khác”. Cũng vậy, những đau thương Chúa Giêsu sắp trải qua sẽ không kết thúc ở một cái chết cằn cỗi mà sẽ dẫn đến sự phì nhiêu sung mãn của sự sống lại, một sự sống có khả năng tập họp mọi dân nước trong Nước Trời.
Tuy nhiên, là Thiên Chúa nhưng cũng là con người và như mọi con người, Chúa Giêsu cũng đã phải trải qua những giờ phút xao xuyến trong tâm hồn khi phải đương đầu với kẻ thù và cái chết nhuốc hổ trên thập giá: “Bây giờ tâm hồn Con xao xuyến, Con biết nói gì đây? Lạy Cha, xin cứu Con khỏi giờ này…” Chúa Giêsu đã từng bị cám dỗ xin Cha Ngài giải thoát Ngài khỏi “Giờ” đen tối hay khỏi “uống chén đắng” này. Trong bài đọc 2, chúng ta còn được Thánh Phaolô cho thấy tâm trạng của Chúa Giêsu khi đứng trước “Giờ” của thập giá: “Chúa Kitô đã lớn tiếng và rơi lệ dâng lời cầu xin khấn nguyện lên Đấng có thể cứu Ngài khỏi chết…” Cuối cùng, Chúa Giêsu đã không xin Cha cứu Ngài khỏi chết mà xin cho Danh của Cha được tôn vình. Điều này có nghĩa là Chúa Giêsu muốn cầu xin Thiên Chúa hãy tỏ ra Ngài là một người Cha, bằng cách hoàn tất công trình yêu thương của Ngài đối với con người, ngang qua cái chết và sống lại của Con của Ngài. Qua lời cầu xin này, Chúa Giêsu cho thấy Ngài đã gián tiếp đón nhận “Giờ” của sự phục vụ cho tới hơi thở cuối cùng trên thập giá, nhưng đồng thời cũng là “Giờ” Con Người bước vào vinh quang. Có điều “vinh quang” ở đây không theo ý nghĩa thường tình của chúng ta. Vinh quang ở đây đòi phải trải qua khổ nhục. Vinh quang của hạt lúa đã trổ bông, nặng trĩu và chín vàng, nhưng là sau khi bị chôn vùi dưới bùn rồi nứt nẻ, bứt phá khỏi hình thức hẹp hòi của vỏ trấu, để giờ này mới trở thành nguồn sống, và lại sẵn sàng nẩy mầm, phát triển, tăng gấp mãi.
Thánh Gioan đã diễn tả chân lý này như một quy luật tất yếu cho sự sống phát sinh và đạt tới ý nghĩa cuối cùng: Hạt lúa và bất cứ thứ hạt giống thực vật nào, đều mang ý nghĩa và sứ mạng truyền sinh, tăng gấp nguồn sống ẩn chứa trong bản thân. Thế nhưng, muốn thể hiện ý nghĩa và sứ mạng này, nó phải qua tiến trình biến dạng hoàn toàn, phải chết đi. Chúa Giêsu đã chấp nhận quy luật này, và vẫn đang “lôi kéo mọi người theo Ngài”.
Thưa anh chị em,
Là quy luật, là chân lý Chúa Kitô mạc khải, làm sao con người chúng ta có thể tránh né? Mặc dầu biết rõ mình phải nứt nẻ, bứt phá, lột xác, phải chết đi, mới góp phần làm phát sinh sự sống. Thế nhưng chúng ta vẫn thường coi trọng và bảo vệ cái cũ, những gì là quen thuộc, dễ dãi, dễ chịu hơn là đổi mới. Sống giữa một xã hội đang chủ trương đổi mới, thế mà chỉ mới đặt lại vấn đề đổi mới một số tư tưởng, cách làm ăn, tổ chức đời sống xã hội… cũng đủ làm chúng ta e ngại, lo âu. Nói chi đến thay đổi cả nếp sống trước đây vẫn được tôn trọng. Định luật của sự sống là đổi mới. “Hat lúa phải mục nát đi trong lòng đất mới nảy sinh nhiều bông hạt”. Chúa Giêsu đã nói đến cái chết của Ngài như một điều kiện cần thiết để đem lại sự sống mới cho mọi người. Ngài phải chết đi để các Kitô hữu được sống, để muôn dân trở thành tín hữu và tất cả đều được cứu chuộc.
Còn chúng ta, được mời gọi theo Chúa Giêsu, chúng ta cũng đừng quên định luật căn bản của sự sống, đó là: “Ai yêu sự sống mình thì sẽ mất, còn ai bằng lòng mất sự sống mình ở đời này thì sẽ giữ lại được cho cuộc sống muôn đời” (Ga 12,25). Đi theo Chúa Giêsu đòi hỏi người môn đệ của Ngài phải chia sẻ cuộc sống và cả cái chết của Ngài. Bài học của thập giá đó là đã có những cái chết không uổng công mà trái lại còn nảy sinh nhiều hoa trái, đó là cái chết vì tình thương, vì hạnh phúc, vì sự cứu độ của kẻ khác, vì sự giải phóng con người đồng loại, vì những cái gì còn đáng quý hơn cả chính mạng sống của mình, vì chính nghĩa, vì công lý, vì hòa bình, vì đức tin…
Ở đây, Chúa Giêsu đặt chúng ta trước một thang giá trị. Chính khi con người biết vượt ra khỏi cái vỏ ích kỷ để sống một cuộc sống quảng đại, vì người khác, dù có phải vì thế mà hy sinh cả mạng sống của mình, con người đã thực sự bước vào cuộc sống mới. Điều Chúa đòi hỏi nơi những kẻ muốn đi theo Ngài thì Ngài thực hiện nơi chính bản thân Ngài.
Anh chị em thân mến,
Tin Mừng hôm nay cho chúng ta thấy rõ ý nghĩa cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá. Ngài chết là để đi vào vinh quang của Chúa Cha và trở thành Đấng ban sự sống cho chúng ta. “Nếu ta cùng chết với Ngài, ta sẽ sống với Ngài. Nếu ta cùng đau khổ với Ngài, ta sẽ thống trị với Ngài” (x. Tin Mừng 2,8-12). Ai ham sống, sợ chết, sẽ đánh mất tất cả. Người dám theo Chúa Giêsu mà đánh đổi cuộc sống hiện tại, sẽ được cuộc sống muôn đời.
 

MC5-B52. Chú giải của William Barclay

Người Hy Lạp tìm Chúa (Ga 12,20-22)
 

Chỉ có Phúc Âm Thứ Tư mới kể lại sự kiện này, đó là điều thích hợp hết sức tự nhiên. Chúng: MC5-B52

Chỉ có Phúc Âm Thứ Tư mới kể lại sự kiện này, đó là điều thích hợp hết sức tự nhiên. Chúng ta vẫn nhớ Gioan viết sách này nhằm trình bày chân lý cho người Hy Lạp, để họ hiểu và tiếp nhận được. Mục tiêu như thế, thì phải có chỗ cho những người Hy Lạp đầu tiên đến với Chúa Giêsu.
Chúng ta không ngạc nhiên khi thấy người Hy Lạp tại Giêrusalem trong ngày lễ Vượt Qua. Đây không hẳn là họ đã nhận đạo Do Thái. Dân Hy Lạp vốn là những kẻ thích đi lang thang đây đó, họ bị thúc đẩy bởi đam mê muốn đi tìm cái hay, cái lạ, cái mới mẻ. Một người xưa đã nói: “Dân Athène (thủ đô Hy Lạp) các ông chẳng bao giờ chịu nghỉ ngơi, cũng chẳng chịu để ai nghỉ ngơi cả”. Một người khác thì bảo: “Dân Hy Lạp các ông giống như trẻ con, lúc nào tâm hồn các ông cũng trẻ trung cả”. Năm trăm năm trước đó, Herociotus đã đi du lịch thế giới, theo lời của ông là tìm cho ra mọi sự việc. Tận trên thượng nguồn sông Nile còn sừng sững một bức tượng cổ của người Ai Cập, trên đó một du khách Hy Lạp đã khắc tên mình, như các du khách ngày nay vẫn làm. Dĩ nhiên có người Hy Lạp du hành để giao thương buôn bán, nhưng trong thế giới thời cổ, dân Hy Lạp là những người đầu tiên thích đi đây đi đó, chỉ để phiêu lưu cho thỏa chí mà thôi. Cho nên chúng ta không ngạc nhiên khi thấy một phái đoàn người Hy Lạp tại Giêrusalem.
Hơn thế nữa, đặc điểm của người Hy Lạp là chuyên đi tìm chân lý. Chẳng có gì bất thường, khi chúng ta thấy một người Hy Lạp hết theo triết thuyết này lại chạy theo triết lý khác, hết theo đạo này lại theo đạo khác, tôn thờ hết giáo sư này đến thầy khác, để tìm chân lý. Dân Hy Lạp là những con người có đầu óc khao khát tìm tòi.
Những người này được nghe về Chúa Giêsu và để ý đến Ngài như thế nào? J. H. Bernard đã đưa ra một gợi ý thú vị. Chúa Giêsu đã dọn sạch Đền Thờ, xô bàn ghế của những kẻ đổi bạc và bán bồ câu trong sân Đền thờ. Gian hàng của những người mua bán đổi chác đó vốn nằm trong sân dành cho người ngoại là sân đầu tiên trong Đền Thờ. Người ngoại chỉ được phép vào trong sân ấy chứ không được phép vượt qua khỏi đó. Vì thế, nếu số người Hy Lạp ấy đến Giêrusalem, tất nhiên họ phải đến viếng Đền Thờ, và đứng tại sân dành cho người ngoại. Có lẽ họ được chứng kiến cảnh phi thường lúc Chúa Giêsu đuổi những kẻ buôn bán ra khỏi sân Đền Thờ, và họ muốn biết thêm về con người đã làm những việc như thế.
Dù thế nào đi nữa, đây cũng là một trong những giờ phút trọng đại trong câu chuyện, vì đây là tín hiệu đầu tiên về việc Phúc Âm sẽ lan tràn khắp thế giới.
Những người Hy Lạp đã đến đặt vấn đề với Philipphê. Tại sao lại chọn Philipphê? Không ai có thể nói chắc chắn cả, nhưng có thể vì Philipphê là tên Hy Lạp, họ nghĩ rằng một người có tên Hy Lạp hẳn sẽ có thiện cảm với họ. Nhưng Philipphê không biết làm gì nên đến với Anrê. Anrê chẳng cần nghĩ ngợi gì cả, ông đưa ngay họ đến với Chúa Giêsu.
Anrê khám phá được một điều là, chẳng hề có ai đến với Chúa Giêsu mà làm cho Ngài cảm thấy phiền hà. Ông biết Chúa Giêsu chẳng bao giờ xua đuổi bất cứ ai muốn tìm kiếm Ngài.
Điều nghịch lý lạ lùng (Ga 12,23-26)
Không có đoạn Kinh Thánh nào làm cho người nghe lần đầu tiên ngạc nhiên bằng đoạn Kinh Thánh này. Nó bắt đầu bằng một câu mà ai cũng mong được nghe. Nhưng lại kết thúc bằng một loạt những câu mà chẳng ai muốn nghe cả.
Chúa Giêsu bắt đầu: “Đã đến giờ Con Người được tôn vinh”. Rõ ràng, mọi sự được xây dựng đưa dẫn đến điểm quyết liệt, và bây giờ, thời điểm quyết liệt ấy đã đến. Nhưng ý của Chúa Giêsu về giờ phút này quyết liệt này khác hẳn với ý nghĩ của bất cứ ai. Khi Ngài nói đến “Con Người”, Ngài không nói theo nghĩa người khác này, chúng ta phải biết người Do Thái hiểu thế nào khi nghe đến chữ: “Con Người”. Chữ này bắt nguồn từ Đaniel 7,13. Trong đó nói rằng: “Này, có một người giống như Con Người đến với những đám mây trên trời; người đến Đấng Lão Thành và được dẫn đến trước mặt Ngài. Người được ban cho quyền thế, vinh hiển và các nước, hầu cho hết thảy các dân, các nước, các thứ tiếng đều phụng sự Người”.
Đaniel 7,1-8 mô tả các cường quốc cầm quyền trên thế giới, đó là các dân Syri, Babylon, Mêđi và Ba Tư. Họ vốn hung ác, bạo tàn, thích gây đau khổ cho kẻ khác, nên chỉ có thể mô tả bằng hình ảnh của những dã thú, như sư tử có cánh, chim ưng, con gấu và ba xương sườn giữa các hàm răng, con heo có bốn cánh và bốn đầu, con thú hung dữ có răng bằng sắt và mười sừng… đó là biểu tượng của các cường quốc từng cai trị từ trước đến giờ. Thế nhưng trong giấc mơ, vị ngôn sứ còn thấy một thế lực mới sẽ đến thế gian, thế lực ấy hiền dịu, nhân hậu, được mô tả bằng biểu tượng “con người” chứ không phải con thú. Trong cả đoạn đã ngụ ý thời kỳ đã mãn sẽ qua đi, thời kỳ đầy nhân đạo sắp đến.
Và đó là giấc mơ của dân Do Thái. Họ mơ ước thời đại hoàng kim, bấy giờ cuộc sống sẽ tươi đẹp ngọt ngào, và họ sẽ làm bá chủ thế giới. Nhưng thời đại đó sẽ đến như thế nào? Càng ngày, càng thấy rõ quốc gia của họ quá nhỏ bé, thế lực họ quá yếu kém, hoàng kim thời đại sẽ chẳng bao giờ đến do các phương tiện, quyền lực của loài người. Nó phải đến do sự can thiệp trực tiếp từ Thiên Chúa. Thiên Chúa sẽ sai người vô địch đó là Con Người? Câu nói đó trước kia vốn chỉ là biểu tượng, bấy giờ trở thành một câu mô tả. Trong khoảng thời gian giữa Cựu Ước và Tân Ước, có hàng loạt sách đề cập đến hoàng kim thời đại, việc đó sẽ đến như thế nào. Giữa hoạn nạn và đau khổ, trong lúc phải sống dưới ách nô lệ và đô hộ, người Do Thái chẳng bao giờ quên đi, hoặc từ bỏ giấc mơ của họ. Một trong những quyển sách gây ảnh hưởng đặc biệt là sách của Hênóc, cứ nhắc đi, nhắc lại về Con Người ấy. Trong sách Hênóc, Con Người, một nhân vật phi thường bị Thiên Chúa cầm giữ. Nhưng đến ngày Thiên Chúa buông Con Người ấy ra, Ngài sẽ đến với quyền năng siêu phàm mà chẳng ai có thể chống lại, và chẳng có một vương quốc nào có thể đứng nổi, và dọn đường cho người Do Thái làm bá chủ thế giới.
Với người Do Thái, thì Con Người là chữ tiêu biểu cho Đấng chinh phục vô địch bởi Thiên Chúa sai đến. Cho nên, khi Chúa Giêsu nói: “Đã đến giờ Con Người được tôn vinh” thì tất cả những người nghe Ngài đều hiểu. Họ tin tiếng kèn kêu gọi của cõi đời đã vang lên, sức mạnh của các tầng trời đang chuyển động, và chiến dịch toàn thắng đang bắt đầu. Nhưng chữ “được tôn vinh” Chúa Giêsu nói ở đây không có ý nghĩa như họ hiểu, là các vương quốc trên đất này sẽ bị chà đạp dưới chân Đấng chinh phục. Khi nói “được tôn vinh”, Chúa Giêsu ngụ ý rằng Ngài sẽ bị đóng đinh. Khi nói đến Con Người, dân Do Thái nghĩ ngay đến các đạo quân chiến thắng của Thiên Chúa, còn Chúa Giêsu nghĩ đến quyền năng chinh phục của thập giá.
Vì thế, câu đầu tiên Chúa Giêsu nói đã làm náo nức những kẻ nghe, nhưng tiếp theo là một loạt những câu khiến họ ngỡ ngàng, choáng váng, kinh ngạc, khó tin nổi, vì không phải là những câu đề cập chiến thắng, mà chỉ nói về sự hy sinh và sự chết. Chúng ta sẽ chẳng bao giờ hiểu Chúa Giêsu, và thái độ của dân Do Thái đối với Ngài, nếu chưa hiểu Ngài đã làm đảo lộn các ý niệm của họ như thế nào, Ngài đã lật ngược giấc mơ chiến thắng của họ thành mặc khải về thập giá. Do đó chúng ta không ngạc nhiên khi thấy họ đã không hiểu nổi Ngài, thảm kịch ở đây là họ từ chối không chịu tìm hiểu Chúa.
Vậy, phần nghịch lý lạ lùng mà Chúa Giêsu dạy ở đây là gì? Chúa nói đến ba điều, là ba mặt của cùng một chân lý, tất cả đều là trung tâm của đức tin và sinh hoạt Kitô giáo.
1) Ngài dạy chỉ do sự chết mới có sự sống. Bao lâu hạt lúa mì được gìn giữ an toàn thì nó không thể kết quả được. Chỉ khi nào nó được gieo xuống đất lạnh, bị chôn vùi như bị nằm trong mồ mả, nó mới có thể sinh hạt. Chính nhờ sự chết của các thánh tử đạo mà Hội Thánh đã tăng trưởng “Máu của các vị tử đạo là hạt giống của Hội Thánh”.
Nhờ những người sẵn sàng chịu chết mà những việc làm cao cả, vĩ đại mới sống. Nhưng sự kiện trên còn có tính cách cá nhân nhiều hơn nữa. Khi một người chịu chôn vùi những mục đích, những tham vọng cá nhân, thì người ấy bắt đầu hữu dụng cho Chúa. Comos Lang, Tổng Giám Mục Canterbury, có một thời, ông mang nhiều tham vọng rất lớn của trần gian. Ảnh hưởng của một người bạn tin Chúa đã khiến ông từ bỏ các tham vọng đời này, gia nhập Kitô giáo. Lúc đang theo học tại Cuddesdon để chuẩn bị cho chức vụ, một hôm đang con người trong nhà nguyện, ông nghe rõ có tiếng phán với mình: “Ta cần ngươi”. Chính lúc đó ông bằng lòng chôn vùi tham vọng cá nhân, và ông đã trở nên người có ích cho Chúa và cho các linh hồn.
Do cái chết mà có sự sống. Bởi lòng tận trung cho đến chết mà nhân loại có được, và còn giữ được những di sản quý báu hơn hết. Nhờ làm chết các tham muốn và dục vọng cá nhân mà người ta trở thành tôi tớ của Thiên Chúa.
2) Ngài dạy chỉ bằng cách sử dụng sự sống, chúng ta mới giữ được sự sống. Người tham sống bị hai điều tác động, một là vị kỷ, hai là ước muốn được yên thân. Không chỉ một hai lần nhưng nhiều lần, Chúa Giêsu nhấn mạnh kẻ nào giữ mạng sống thì cuối cùng sẽ mất, còn ai chịu từ bỏ nó cuối cùng sẽ được lại. Có một nhà truyền giáo nổi tiếng tên là Christmas Evans luôn luôn xông xáo rao giảng về Chúa Kitô. bạn bè khuyên ông nên sống thư thả, ông luôn luôn đáp: “Thà làm việc kiệt sức còn hơn là để gỉ sét ăn mòn”. Lúc Jeanne d’Arc cảm thấy kẻ thù quá mạnh, thì giờ còn lại quá ít, cô đã cầu nguyện với Chúa: “con chỉ còn sống được một năm nữa thôi, vậy Chúa có thể dùng con được bao nhiêu, xin Chúa cứ dùng”. Chúa Giêsu đã nêu định luật ấy nhiều lần (Mc 8,35; Mt 10,39; 16,25; Lc 19,24; 17,33).
Thế giới này sẽ thiệt biết bao, nếu không có người đã quên đi an toàn, yên vui vị kỷ, những lợi lộc, thăng tiến cá nhân. Thế giới này đang mắc nợ, chịu ơn những người đã tận lực làm việc, quên mình, hiến thân cho Chúa và cho người khác. Dĩ nhiên, chúng ta có thể kéo dài đời mình lâu hơn nếu tìm lối sống thoải mái, dễ dàng, trốn tránh mọi căng thẳng, nếu cứ ngồi bên bếp lửa gia đình, làm chồng, làm vợ, nếu chúng ta chỉ lo chăm sóc sức khỏe của mình như một kẻ mắc bệnh u uất, có lẽ chúng ta sẽ tồn tại lâu hơn, nhưng sẽ chẳng bao giờ chúng ta thật sự sống cả.
3) Ngài dạy chỉ do con đường phục vụ chúng ta mới trở thành vĩ đại. Những nhân vật mà loài người giữ kỷ niệm trìu mến là những người đã phục vụ tha nhân. Bà Berwick hoạt động tích cực trong Cứu Thế Quân ở Liverpool. Bà về hưu ở London. Khi chiến tranh xảy ra, bị máy bay ném bom, dân chúng xảy ra ý nghĩ kỳ dị là đến núp ở nhà bà Berwick thì sẽ được an toàn. Bà đã già quá rồi, nhưng bà nghĩ mình cũng phải làm một cái gì giúp đỡ mọi người. Bà bèn gom góp những dụng cụ cứu thương, bỏ vào một hộp cấp cứu, rồi để nơi cửa sổ một hàng chữ: “Ai cần giúp đỡ, cứ gõ cửa”. Đó là thái độ yêu thương đối với đồng bào mình.
Sự thật đáng buồn là trong thế giới này, ý niệm phục vụ đang gặp nguy cơ bị tiêu diệt. Ngày nay, có quá nhiều người chỉ lăn vào đời sống, vào việc làm ăn với mục đích duy nhất là khai thác, rút tỉa lợi lộc. Rất có thể họ sẽ trở nên giàu có, nhưng chắc chắn họ chẳng bao giờ được ai yêu thương cả, mà được yêu thương trìu mến mới là sự giàu có đích thực ở đời.
Chúa Giêsu đã đến với dân Do Thái bằng một quan điểm mới mẻ về đời sống. Họ cho rằng được danh, lợi, quyền là vẻ vang, vinh hiển. Nhưng Ngài xem thập giá là vinh quang. Ngài dạy họ, chỉ từ sự chết mới có sự sống, chỉ bằng cách hy sinh mạng sống, chúng ta mới giữ được sự sống, chỉ nhờ phục vụ, người ta mới trở thành vĩ đại. Điều lạ lùng khi chúng ta suy gẫm những điều đó, điểm nghịch lý của Chúa Kitô không gì khác hơn là chân lý của lương tri ở đời.
Từ căng thẳng đến chắc chắn (Ga 12,27-34)
Trong đoạn này, Gioan ghi lại tình trạng căng thẳng lẫn chiến thắng khải hoàn của Chúa Giêsu, và ông cho chúng ta thấy điều gì đã biến tâm trạng căng thẳng thành chiến thắng.
1) Gioan không kể giờ phút đau đớn tại vườn Giệtsimani. Chính tại đây, ông ghi rõ cuộc chiến đấu của Chúa Giêsu với phần nhân tính trong Ngài muốn tránh né thập giá. Chẳng ai muốn chết cả, chẳng ai muốn chết ở tuổi ba mươi ba, mà cũng không ai muốn chết trên thập giá. Nếu sự việc xảy ra dễ dàng, chẳng phải trả giá gì cả, thì sự vâng phục Thiên Chúa của Chúa Giêsu đã không có giá trị gì. Can đảm đích thực không có nghĩa là không sợ hãi gì cả. Can đảm đích thực nghĩa là có sợ hãi khủng khiếp, nhưng vẫn làm điều đáng phải làm. Đó là can đảm của Chúa Giêsu. Bengel đã nói: “Ở đây sự chết và nhiệt tâm muốn vâng phục đã gặp nhau”. Tại đây, chúng ta thấy cuộc chiến đấu của Chúa Giêsu nhằm vâng phục ý Thiên Chúa. Ý Chúa muốn Ngài chấp nhận thập giá, và Chúa Giêsu tự buộc mình chấp nhận điều đó.
2) Nhưng kết cuộc của câu chuyện không phải là tình trạng căng thẳng, mà là chiến thắng khải hoàn và chắc chắn. Chúa Giêsu biết chắc, nếu Ngài tiến tới thì việc xảy ra sẽ đập tan quyền lực của điều ác. Nếu Ngài vâng phục cho đến chết trên thập giá thì Satan, kẻ cầm quyền trên thế gian tội lỗi, sẽ bị một đòn trí mạng. Chính trận đánh cuối cùng, khi Ngài bị treo lên khỏi mặt đất, mọi người sẽ chạy đến với Ngài. Chúa Giêsu cũng muốn chinh phục con người. Ngài biết phương pháp duy nhất để thu phục vĩnh viễn trái tim con người, là bày tỏ chính mình cho họ thấy trên thập giá. Ngài đã bắt đầu với căng thẳng, nhưng kết thúc bằng chiến thắng khải hoàn.
3) Vậy, giữa tình trạng căng thẳng và chiến tranh đã có gì xảy ra? Điều gì đã biến căng thẳng thành chiến thắng? Có tiếng nói của Chúa. Đằng sau tiếng nói của Chúa là một điều trọng đại và sâu nhiệm.
Đã có một thời dân Do Thái hoàn toàn tin Thiên Chúa trực tiếp phán dạy loài người. Chúa đã trực tiếp phán dạy cậu bé Samuen (1Sm 3,1-14). Chúa đã trực tiếp phán dạy Elia lúc ông chạy trốn vì Giêsabên trả thù (1V 19,1-18). Elipha người Thêman từng tuyên bố mình đã trực tiếp nghe tiếng phán từ Thiên Chúa (G 4,16). Nhưng vào thời Chúa Giêsu, dân Do Thái không còn tin Thiên Chúa trực tiếp phán dạy con người nữa. Những ngày tốt đẹp đã qua rồi, bây giờ Thiên Chúa ở quá xa, tiếng nói từng phán dạy các ngôn sứ giờ đây im lặng. Từ nay trở đi, họ chỉ còn tin vào điều họ gọi là Bath qol. Bath qol có nghĩa là một câu trích dẫn kinh điển. Đó không phải là tiếng phán trực tiếp của Chúa, mà chỉ có thể là tiếng vang, tiếng dội của lời, một tiếng nói xa vời, mơ hồ, thì thầm, chứ không phải một lệnh truyền trực tiếp, sống động của Chúa.
Nhưng ở đây với Chúa Giêsu thì khác. Tiếng Ngài nghe không phải là tiếng dội lại của lời Chúa, đó chính là lời của Thiên Chúa. Tại đây có một chân lý quan trọng. Với Chúa Giêsu, lời của Thiên Chúa đến với loài người khôngphải là một lời thì thầm xa xôi, không phải là vài tiếng vang, tiếng dội yếu ớt nào từ trời vọng xuống, nhưng là lời của Thiên Chúa trực tiếp đến với loài người, bằng một giọng không thể lầm lẫn được.
Hơn nữa, điều đáng chú ý là lời của Thiên Chúa đến với Chúa Giêsu vào đúng những giây phút quan trọng trong đời Ngài. Tiếng ấy đã đến với Ngài khi Ngài chịu phép rửa, chuẩn bị cho công tác Thiên Chúa Cha muốn Ngài thực hiện (Mc 1,11). Tiếng phán ấy đã đến với Ngài trên Núi Cao, khi Ngài quyết định đi Giêrusalem để lên thập giá (Mc 9,7). Giờ đây tiếng đó lại đến với Ngài, khi thịt và máu Ngài cần được trợ giúp, củng cố, tăng cường, để nhận chịu thử thách đau đớn trên thập giá. Điều Thiên Chúa đã làm cho Chúa Giêsu, Ngài cũng làm cho tất cả mọi người. Khi Chúa sai chúng ta lên đường, Ngài không sai chúng ta đi mà không chỉ bảo và hướng dẫn. Khi Chúa giao cho chúng ta một công tác, Ngài không bỏ mặc chúng ta đơn độc với sự yếu đuối và sức riêng của chúng ta. Chúa không hề im lặng. Mỗi khi có căng thẳng của đời sống lên cao quá sức mình, sự cố gắng đi theo con đường Ngài vượt quá các nguồn năng lực của loài người, nếu chịu lắng tai, chúng ta sẽ luôn nghe được lời của Ngài, chúng ta sẽ tiến lên với sức mạnh của ngài nảy sinh trong ta. Vấn đề trở ngại khó khăn của chúng ta, không phải là Chúa không phán dạy, không nói chi, nhưng là chúng ta không chịu chú ý lắng tai, để có thể nghe được tiếng Ngài.
Từ căng thẳng đến chắc chắn (Ga 12,27-34)
Chúa Giêsu tuyên bố khi Ngài được giương lên cao, Ngài sẽ kéo mọi người đến với Ngài. Có người cho câu này ám chỉ thăng thiên, và nghĩ rằng khi Chúa Giêsu được tôn lên cao do quyền năng Phục Sinh, Ngài sẽ kéo mọi người lên với Ngài. Thế nhưng sự thật không phải vậy. Chúa đang nói về cây thập giá của Ngài. Dân chúng cũng biết như vậy, và một lần nữa, họ lại vô cùng kinh ngạc, sửng sốt. Làm sao có thể liên kết Con Người với thập giá được, Con Người há không phải là vị lãnh tụ bách chiến bách thắng cầm đầu tất cả các đội thiên binh hay sao? Quyền thế Người là quyền thế đời đời, chẳng qua đi, và nước Người sẽ không bao giờ hủy phá (Đn 7,14). Không có lời nói về Nhà Vua của thời đại hoàng kim rằng: “Tôi tớ Ta là Đa vít sẽ làm vua chúng nó mãi mãi” (Ed 37,25) sao? Isaia há đã không nói về vị Vua cai trị thế giới mới rằng: “quyền cai trị và bình an Ngài sẽ thêm mãi không thôi” (9,6) hay sao? Tác giả Thánh vịnh đã ca ngợi vương quốc vô cùng, vô tận đó rằng: “Ta sẽ lập dòng dõi ngươi đến đời đời” (89,4) sao? Người Do Thái kết hợp Con Người với một vương quốc tồn tại vĩnh viễn, thế mà ở đây, Ngài tự xưng là Con Người, nhưng lại nói về việc mình sẽ bị treo trên thập giá. Thế thì Con Người này là ai mà vương quốc Người lại chấm dứt trước khi bắt đầu?
Nhưng bài học lịch sử đã cho chúng ta biết Chúa Giêsu đã nói đúng. Chúa Giêsu đã gắn những hy vọng của Ngài vào quyền lực sẽ tiêu tan, còn tình yêu sẽ tồn tại mãi. Thành Tia, Siđôn chỉ còn lại cái tên, nhưng Chúa Giêsu Kitô vẫn sống. Một tuyệt tác của Shelley nói về Ozymandias, vị vua của các vua: những gì ông còn để lại là một bức tượng tả tơi của ông nằm giữa sa mạc. Các cường quốc được dựng lên bằng bạo lực đều đã tiêu tan, chỉ còn lại trong ký ức con người, và năm tháng qua đi, ký ức ấy ngày càng lu mờ. Nhưng vương quốc của Chúa Giêsu xây dựng trên thập giá ngày càng mở rộng thêm mãi. Sự chết của Ngài trên thập giá đã đưa Ngài vào lòng mọi người mãi mãi.
Trong vở kịch của Shaw, khi Jeanne d’Arc biết mình bị các lãnh tụ dân mình phản bội, nàng quay lại nói với họ: “bây giờ tôi sẽ đi đến với người dân, để được tình thương trong mắt họ yên ủi, thay cho thù hằn trong mắt các ông. Các người sẽ hài lòng khi thấy tôi bị thiêu sống, nhưng nếu tôi đi qua lửa của các người, tôi sẽ đi thẳng vào lòng dân chúng mãi mãi”. Đó là ví dụ về những gì đã xảy ra cho Chúa Giêsu. Đấng Mêsia chinh phục thế giới mà dân Do Thái mong chờ, chỉ là một nhân vật mà các học giả đã dùng để viết sách, nhưng vị Vua yêu thương trên thập giá đã đặt ngai của Ngài vĩnh viễn trong lòng người. Nền tảng duy nhất bảo đảm cho bất cứ vương quốc nào phải là tình yêu hy sinh.
 

MC5-B53. Chú giải mục vụ của Alain Marchabour

GIỜ CỦA CHÚA GIÊSU (12,20-36)
 

Đoạn này kéo dài điều đã được nói về Chúa Giêsu từ chương 11. Giờ tôn vinh của Chúa Con: MC5-B53

Đoạn này kéo dài điều đã được nói về Chúa Giêsu từ chương 11. Giờ tôn vinh của Chúa Con được loan báo trong 11, 4 đang trở thành hiện thực. Trong 11,51-52 Gioan tuyên bố rằng cái chết của Chúa Giêsu sẽ dẫn tới việc mở rộng sứ vụ của Chúa đến với mọi người. Đó là ý nghĩa sự kiện mấy người Hy Lạp đến gặp Chúa Giêsu.
Phần dẫn: Những Người Hy Lạp (12, 20-22)
Những người Hy Lạp ở đây không phải là những người Do Thái sinh sống ở Hy Lạp hay nói tiếng Hy Lạp. Từ ngữ này chỉ những người ngoại giáo mới theo đạo (những người thiện cảm với đạo Do Thái nhưng không muốn chịu phép rửa). Lần đầu tiên những người không phải Do Thái này tiếp cận Chúa Giêsu được khéo léo sắp xếp như là dấu hiệu loan báo giờ đã đến. Những người xuất thân từ đa thần giáo này trước hết đã chọn Thiên Chúa của Israel. Họ chuẩn bị cho một bước chuyển tiếp mà theo thánh sử là đi từ Do Thái giáo đến Chúa Giêsu là đích điểm. Họ muốn “gặp” Chúa Giêsu, chắc chắn theo nghĩa mạnh của việc “tin vào Người” (12,45; 14,9). Ông Philipphê, một môn đệ thường được Gioan nhắc đến (12 lần), làm người trung gian (như trong 1,45; 6,5). Sự môi giới của ông có liên quan gì đến tên Hy Lạp của ông không? Xuất thân từ một miền đất đa phần còn ngoại giáo, ông có khả năng nói tiếng Hy Lạp. Việc ông đi nói với ông Anrê (người cùng làng Betsaiđa với ông) càng tăng thêm tầm quan trọng của sự môi giới để đến gặp Chúa Giêsu.
Theo thói quen của mình, Gioan tăng nhiều chi tiết kể chuyện ở phần đầu bài trần thuật, như là để níu chân độc giả. Sau đó tất cả đều dừng lại: còn kết quả việc mấy người Hy Lạp gặp Chúa Giêsu như thế nào, chúng ta không biết gì hết. Từ nay thánh sử tập trung bài trần thuật của mình vào Chúa Giêsu.
Giờ (12, 23-26)
Giờ, còn trì trệ cho đến lúc này, cuối cùng đã đến. Việc anh Ladarô sống lại biểu hiện trước giờ này: việc mấy người Hy Lạp tìm đến tỏ rõ giờ được thực hiện. Các người Hy Lạp không được Chúa Giêsu trả lời trực tiếp. Người nói với các môn đệ và điều Người nói bao gồm trước hết các môn đệ được gọi sau này nên truyền đạt cho người ngoại giáo hiểu rằng trong cái chết của Chúa Giêsu, ơn cứu độ được mở rộng cho tất cả mọi người.
Sự mặc khải được long trọng nhấn mạnh bằng hai lần: “Thật, Thầy bảo thật anh em”. Giờ, vừa là sự chết vừa là sự tôn vinh. Để diễn tả từ sự phong phú từ cái chết của mình được mời gọi tiến đến vinh quang, Chúa Giêsu đi từ một dụ ngôn ngắn gọn, quen thuộc ở nơi thôn dã về hạt lúa cần phải mục nát đi để mang lại nhiều hoa trái. Sự tương phản mà Chúa Giêsu đưa ra, ở giữa chết hoặc sống ít hơn là ở giữa chết hay mang lại nhiều hoa trái. Cũng như hạt giống, Chúa Giêsu cần phải được gieo vào lòng đất, chết đi, nhờ đó mang lại hoa trái cho mọi người.
Cái chết của Chúa Giêsu không chỉ là một sự bắt buộc phải kinh qua để tiến đến vinh quang, mà còn là điều kiện để khai sinh và phát triển Giáo Hội. Cái chết của Chúa Giêsu quả là thời điểm kiến tạo con người Kitô hữu, bởi vì “Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó” (12,26). Quả vậy các câu 25-26 nối kết cộng đoàn tín hữu vào với thân phận của Chúa Giêsu. Ai yêu quý mạng sống mình, theo ngôn ngữ của Gioan, là kẻ ưa thích sự tối tăm, thế gian này, sự vinh quang riêng mình.
Ở đây nữa vẫn là vấn đề đức tin, dù nó không rõ ràng như trong Nhất Lãm, ở đó nhấn mạnh mối tương quan với Chúa Giêsu: “Ai liều mất mạng sống mình vì Tôi và Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy” (Mc 8,35). Tương quan với Chúa Giêsu được nêu rõ qua câu: “Ai phục vụ Thầy, thì hãy theo Thầy”. Môn đệ cần phải đi bất cứ nơi nào Chúa Giêsu đi, nghĩa là cũng như Người đi vào cái chết để dự phần vinh quang. Trong trường hợp này, Chúa Giêsu đã nói: “Cha Ta sẽ tôn vinh nó”.
*****
GIỜ
Từ “giờ” được sử dụng 26 lần trong Tin Mừng của Gioan, thường thường ám chỉ một thời điểm đặc biệt thuận tiện trong đó ơn cứu độ được thực hiện. Xuyên suốt phần thứ nhất của Tin Mừng, giờ này còn chưa đến. Thân mẫu của Chúa Giêsu, khi muốn cậy nhờ đến con mình, được nghe trả lời rằng “Giờ của con chưa đến” (2,4). Việc tìm bắt Chúa Giêsu không thực hiện được cũng vì lý do đó (7,30; 8,20). Nhiều lần Chúa Giêsu tiên báo tình trạng sắp xảy ra vào một giờ mà từ đó mọi sự sẽ trở nên rõ ràng hơn (16,25). Việc thờ phượng sẽ ở trong Thần Khí (4,21-23), sự sống sẽ chiến thắng sự chết (5,25).
Sự hồi hộp được khéo léo khơi dậy khi, đối diện với những người ngoại giáo muốn gặp Người. Chúa Giêsu loan báo rằng cuối cùng giờ đã đến (12,23). Bước vào cuộc Thương Khó, Chúa Giêsu tuyên bố rằng cuối cùng giờ tôn vinh đã đến (13,1; 17,1). Dụng ngữ này cũng xuất hiện trong các Tin Mừng Nhất Lãm (Mc 14,35.41). chỉ có mình Gioan đã gieo vãi xuyên suốt Tin Mừng của mình những quy chiếu vào một biến cố của lịch sử. Chúa Giêsu chịu đóng đinh vào thập giá. Thời điểm này không thuộc vào niên đại kỷ. Một lần xảy ra, nó luôn luôn hiện thực và kéo dài hiệu quả nhằm lợi ích của tất cả những ai gắn bó với Lời.
*****
Tâm trạng xao xuyến, tiếng từ trời và lời mặc khải (12, 27-36)
Giờ đang xảy đến cùng với sự chôn vùi trong cái chết, tất phải có sự kinh qua đau thương mà nỗi xao xuyến và sầu não không thể không có. Trong khi trình thuật cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu, Gioan loại bỏ những gì quá chú ý của Người, như cơn hấp hối. Thế nhưng ông lưu giữ lại một vài yếu tố và phân tán chúng đây đó trong Tin Mừng của mình. Ở đây ông trích dẫn những từ ngữ và những dụng ngữ như nhắc lại sự xao xuyến của Chúa Giêsu, hoặc lời Người nói về Giờ: “Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này”, cần xuất phát từ đó (ta có thể so sánh đoạn này với Mc 14,33-36). Việc Chúa Giêsu vâng phục Chúa Cha được đặc biệt nhấn mạnh và lời Người: “Lạy Cha, xin tôn vinh Danh Cha” vang dội như lời tóm tắt “kinh Lạy Cha” (không có trong Gioan). Chúa Giêsu là người đầu tiên, từ bỏ mình để lắng nghe Chúa Cha.
“Có tiếng từ trời vang xuống” (c. 28). Lần đầu tiên trong Gioan (trái với hai lần trong Nhất Lãm, vào lúc Chúa Giêsu chịu phép rửa và biến hình, x. Lc 9,28-36), Chúa Cha lên tiếng nói cùng Chúa Con. Hơn nữa đoạn của Gioan không có liên quan gì đến biến cố biến hình ở đó sự biểu lộ vinh quang của Chúa Giêsu đi kèm với cuộc đối thoại về cuộc Xuất hành của Chúa Giêsu (nghĩa là cái chết của Người). Luca cũng nghĩ đến sự tiếp gần cơn hấp hối khi “một thiên sứ từ trời hiện đến tăng sức cho Người” (Lc 22,43). Trong cả hai trường hợp, có thể có những điểm giống nhau giữa hai truyền thống Tin Mừng. Thế nhưng Gioan hành xử cách sáng tạo, tuyển chọn và tái tạo các dữ kiện của truyền thống cho mục tiêu thần học của mình.
Do đặc tính duy nhất và vị trí ở vào cuối năm phần thứ nhất của Tin Mừng, sự can thiệp này của Chúa Cha xuất hiện như sự long trọng chứng thực của Chúa Cha về Chúa Giêsu như là Chúa Con và là Đấng Thiên Sai. Đó là cách phê chuẩn đầy vinh quang, được ban cho một phần ngay từ lúc này đây còn một phần nữa được hứa trong tương lai. Cuộc Thương Khó đối với Người quả là một thử thách đầy vinh quang.
 

MC5-B54. Chú giải của Noel Quesson

Cũng như Chúa nhật trước, thánh Gioan đề nghị chúng ta suy niệm về thập giá. Trong số: MC5-B54

Cũng như Chúa nhật trước, thánh Gioan đề nghị chúng ta suy niệm về thập giá.
Trong số những người lên Giêrusalem thờ phụng Chúa, có mấy người Hy Lạp. Họ đến gặp ông Philipphê, người Bétsaiđa, miền Galilê, và thưa rằng: “Thưa ông chúng tôi muốn được gặp ông Giêsu” .
Đây là Lễ Vượt Qua cuối cùng Đức Giêsu tham dự. Xét theo bản văn thánh Gioan, trang Tin Mừng mà ta đọc hôm nay, đi liền sau trình thuật tiến vào thành Giêrusalem vinh hiển của Đức Giêsu, ngày Lễ Lá. Sau sự thành công trước quần chúng trên đây, các người Pharisêu đã nói với nhau. "Các ông thấy không, các ông sẽ chẳng làm được gì hết . Hãy coi đó, thiên hạ bắt đầu theo hắn cả rồi!". Nhận xét của nhóm Pharisêu được minh chứng ngay, qua sự kiện những người "Hy Lạp”, xa lạ nhưng lại có thiện cảm với dân tộc Do Thái, đến xin "gặp" Đức Giêsu. Như thế, đang khi những người quyết định giết hại Người, cố gắng xiết gọng kìm và bầu khí chống đối của nhóm Pharisêu đang trở nên nặng nề, thì đột nhiên, vào đầu tuần lễ cuối cùng của Người tại dương thế, Đức Giêsu có thể nhìn thấy sứ vụ cứu độ của Người đang bành trướng rộng khắp.
Những người "Hy Lạp" này đang báo trước, các dân ngoại sẽ gia nhập Giáo Hội, và thực ra công cuộc cứu độ đang lan rộng, vượt qua ranh giới của Israel: Đức Giêsu sắp nói, Người nhìn thấy cái chết của Người sẽ mang lại sự phong phú phi thường như thế nào! "nó mang lại nhiều hoa trái"; "Nó lôi cuốn mọi người". Chúng ta lưu ý thêm, những người nước ngoài đang trao đổi với Philipphê. Ong này mang một tên gọi Hy Lạp ông xuất thân từ Bétsaiđa (miền vãng lai, có nhiều người nước ngoài cư trú!). Ong Philipphê này hẳn là biết được một ít tiếng Hy Lạp đủ để ông tiếp xúc trao đổi. Chúng ta có chú ý đến những người xa lạ, để hướng dẫn họ đến với Đức Giêsu không?
Đức Giêsu trả lời: "Đã đến giờ Con Người được tôn vinh".
Chúng ta có thể chấp nhận lời mạc khải đó không?
“Giờ của Đức Giêsu”, đó là giờ thập giá của Người: Và cũng chính là giờ vinh quang của Người? Thật là đáng tiếc, chúng ta vẫn tiếp tục chờ đợi một giờ khác, một biểu lộ khác của Thiên Chúa. Ta cần phải thú nhận rằng, chúng ta thường mơ tưởng một thứ vinh quang khác cho Thiên Chúa cũng như cho chúng ta. Thế mà, Đức Giêsu cứ lập lại cho ta: "Này đây, giờ đã đến" (Ga 12,23.27-31). Cho tới lúc này, giờ đó chưa đến, nhưng Đức Giêsu thường nói về giờ đó (Ga 2,4; 4,21-23; 5,25; 7,30; 8,20). Giờ "ưu việt" đó chính là giờ thập giá: Giờ "tôn vinh" Chúa Cha và Chúa Con (Ga 23-28); giờ "xét xử và cứu độ" thế gian (Ga 13, 1-2). Một vài ngày nữa, Đức Giêsu sẽ bước vào Cuộc Thụ Khổ của Người.
Bề ngoài, hình như Đức Giêsu không lạ việc các người “Hy Lạp" đến xin "gặp" Người. Nhưng thật sự, Người đã thỏa mãn ước muốn của họ: "Đã đến giờ Con Người sắp được tôn vinh"; ‘giờ cho tôi gặp Người’ tới gần; giờ giúp ta nhận ra Thiên Chúa. Ta không thể gặp được Thiên Chúa, Đức Giêsu, dưới ánh sáng nào khác, ngoài ánh sáng của thập giá: Đó là giờ của tình yêu tuyệt đối. Lạy Chúa, xin giúp con biết nhìn lên thập giá, luôn chiêm ngắm thập giá: Đó là giờ mạc khải quan trọng nhất về Thiên Chúa. Tất cả những gì triết gia bàn đến, tất cả những gì các tôn giáo dò dẫm kiếm tìm, thì không đáng kể gì và chưa đủ: "Và đây xuất hiện thập giá". Vượt qua những lời nói, những suy luận, tôi hãy chiêm ngắm những hình ảnh đó, "hình tướng" về Thiên Chúa.
Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác.
Vâng, giờ của Đức Giêsu, chính là giờ "chết” của Người, nhưng cũng đồng thời là giờ sự sống của Người, được nhân thừa lên. Đức Giêsu sắp ở một mình trên thập giá. Nhưng trên đó, một cách vô hình Người đang được bao quanh bởi hàng tỷ người nam nữ được cứu độ, nhờ sự hy sinh của Người. Con người thuộc mọi thời đại, thuộc mọi nền văn hoá minh tinh màn bạc về cái chết và cố khám phá ra mầu nhiệm của nó. Còn Đức Giêsu, qua một câu nói hoàn toàn đơn giản trên đây, Người đã nói cho ta niềm xác tín riêng của Người. Người không lý luận. Một cách đầy hiện thực. Người nói, Người đương đầu trước cái chết như thế nào: Đó là cách gieo hạt giống. Suốt mùa đông dài hạt giống bị vùi sâu trong lòng đất tưởng như chết mục, bỗng đâu mùa xuân đến nó đã mọc cao và trở thành bông lúa trĩu hạt trong một vài tuần sau, hứa hẹn một mùa gặt phong phú. Đức Giêsu đã nhìn thấy mùa gặt.
Ai quý trọng mạng sống mình, thì sẽ mất, còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này thì sẽ giữ lại được cho cuộc sống đời đời.
Như thế theo Đức Giêsu, cần phải chết đi để có sự sống đích thực! Và Người không nói điều gì, chỉ vì thích diễn tả nghịch lý. Nhưng trong một kiểu nói bí ẩn, Người cố gắng gợi lên cho ta một chân lý không tất nhiên rõ ràng, nhưng hiển nhiên cho mọi tâm hồn yêu mến: Cái chết thật không phải là cái chết thể lý, nhưng là sự từ chối hiến thân, là tự đóng kín nơi mình không mở rộng đến kẻ khác! Để bước vào sự sống đích thực, cần phải chết đi. Đó là điều Thiên Chúa thể hiện vì chúng ta; bởi vì Người là “Tình yêu tuyệt đối”. Người mất mạng sống vì chúng ta! Luật của đời sống, là tình yêu; một hạt lúa nhỏ nhất cũng nhắc cho ta điều đó.
Lạy Chúa, xin giải thoát chúng con khỏi tính vị kỷ khô cằn mà có khi chúng con đã gọi là “sống” cuộc đời mình. Xin dạy chúng con biết hiến mạng sống như Chúa.
Ai phục vụ Thầy thì hãy theo Thầy và Thầy ở đâu, kẻ phục Thầy cũng sẽ ở đó. Ai phục vụ Thầy, Cha Thầy sẽ quý trọng người ấy.
Cuộc phiêu lưu của hạt lúa mì, lúc đầu không đáng kể gì nhưng tới mùa gặt mang kết quả dồi dào phong phú: Đó là cuộc phiêu lưu của nước Thiên Chúa (Mc 4,1-20).
Nhưng đối với thánh Gioan, tất cả mầu nhiệm của nước Thiên Chúa đều tâp trung nơi con người Đức Giêsu: Cuộc phiêu lưu của hạt lúa chìm ẩn dưới lòng đất, để lại mọc lên thành cây, cũng là cuộc phiêu lưu của Đức Giêsu, chịu chết để sinh sản ra nhiều hoa trái.
Nhưng cuộc phiêu lưu đó không chỉ có Đức Giêsu thực hiện, nó còn được trao ủy cho chúng ta. Chính trong cuộc sống mạo hiểm này, Đức Giêsu đã được vinh quang của Người, vinh quang của tình yêu “phục vụ” đến cùng, thì chúng ta cũng có thể sống cuộc mạo hiểm đó. Số phận của “hạt lúa” cũng trở nên số phận của chúng ta: Chết đi để mang lại hoa trái: “Ai phục vụ Thầy, Cha Thầy sẽ ban cho họ vinh quang”.
Rồi Đức Giêsu thưa cùng với Chúa Cha: “Bây giờ tâm hồn con xao xuyến. Con biết nói gì đây? Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này”.
Niềm xác tín vào hiệu quả phong phú nhờ sự hy sinh của mình, không tránh cho Đức Giêsu khỏi phải cảm nghiệm sự lo âu trước cái chết. Tư tưởng về số phận hạt lúa chết đi để sống lại, đã làm Đức Giêsu thổn thức không nguôi. Vào những thời điểm khác, ba thánh sử kia đều nói cho ta biết rằng Đức Giêsu bị “thử thách” muốn sử dụng thần tính của mình để khỏi phải chấp nhận thân phận con người: Đó là cơn cám dỗ lúc đầu đời công khai của Chúa. Tại hoang địa (Mt 4,11), đó là cơn cám dỗ lúc Chúa hấp hối ở vườn cây Dầu (Mc 14,32). Nhưng trước mỗi cơn thử thách, Đức Giêsu đều kiên quyết thoát khỏi để luôn trung thành với Chúa Cha trọn tình con thảo. Cũng như Đức Giêsu, chúng ta có thể phải giao động trước nỗi khổ đau.
Nhưng không, chính vì giờ này mà Con đã đến đây, lạy Cha, xin tôn vinh Cha.
Đối với chúng ta cũng vậy, việc tuân phục đức tin hệ tại thái hộ chấp nhận thân phận con người phải chết của chúng ta, và gán cho nó một ý nghĩa dưới ánh sáng Cuộc Thụ Khổ và vinh quang của Đức Giêsu: Chết đi để trao ban hoa trái. Thư gửi tín hữu Do Thái, mà ta đọc Chúa nhật hôm nay, cũng cho rằng thái độ vâng phục của Đức Giêsu đã tạo cho cái chết của Người có một ý nghĩa sâu sắc: ”Đức Giêsu đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà vâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết. Thiên Chúa đã nhận lời Người, vì Người đã tôn kính Thiên Chúa. Dầu là con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục, và khi chính bản thân tới lúc thập toàn, Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho những ai tùng phục Người (Dt 5, 7-9).
Cái chết vẫn là một sự dữ. Đau khổ vẫn còn là một sự dữ. Và Đức Giêsu không phải mất công trả lời những vấn nạn thuộc phạm vi triết học mà là vấn đề về sự ác đặt ra. Một cách đơn giản, Người đón nhận cái chết như một sự vâng phục thân phận làm người, vì tình yêu. Và như thế, Người đã thay đổi ý nghĩa của cái chết.
Bấy giờ có tiếng từ trời vọng xuống: “Ta đã tôn vinh danh Ta, Ta sẽ còn tôn vinh nữa”.
Thánh Gioan không thuận lại cuộc Biến Hình, cũng như bất cứ một cuộc Thần hiện vinh quang nào. Đối với ông, như ta đã thấy Chúa Nhật vừa qua, thì “Giờ của thập giá” là giờ Vinh Quang. Trên Thập Giá Người được “giương cao”, nghĩa là vừa “bị đóng đinh”, vừa “được tôn dương”: Loài người làm việc thứ nhất, còn Thiên Chúa thực hiện thứ hai.
Giờ đây đang diễn ra cuộc phán xét thế gian này. Giờ đây thủ lãnh thế gian này sắp bị tống ra ngoài .
Đó là hai mặt của cùng một thực tại: “Phán xét” và “Cứu độ”.
Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi. Đức Giêsu nói thế để ám chỉ Người phải chết cách nào.
Đó là lúc sự dữ bị đánh bại, “thủ lãnh của thế gian này” bị tống ra ngoài, và con người được cứu độ! Phải, chính thập giá đã tạo nên một sự hấp dẫn mới, lôi cuốn mọi người! Đó là lời nói mầu nhiệm, cần phải đón nhận trong đức tin và chúng ta phải tạ ơn vì lời nói đó. Cuối cùng đó cũng là cách trả lời đích thực cho những người “Hy Lạp” đã xin “gặp gỡ “ Đức Giêsu. Lời nói này là một trong những lời nói cuồi cùng mà Đức Giêsu đã thốt ra trong thời gian thử thách sứ vụ cách công khai của Người. Và không ai đã hiểu lời đó (Ga 12,34). Thánh Gioan tường thuật tiếp: Lúc đó “Đức Giêsu lánh đi, không cho họ thấy” (Ga 12,36). Người không còn gì để nói nữa.
 

MC5-B55. Chú giải của Fiches Dominicales

CÁI CHẾT CỦA ĐỨC GIÊSU
SINH NHIỀU HOA TRÁI TỐT ĐẸP…
VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI
1) Dân ngoại tiến đến
 

Bài Phúc âm Chúng ta đọc hôm nay nằm trong chương bản nối hai chủ đề lớn của Sách Tin: MC5-B55

Bài Phúc âm Chúng ta đọc hôm nay nằm trong chương bản nối hai chủ đề lớn của Sách Tin Mừng Gioan: chủ đề "những dấu chỉ” (từ phép lạ Cana cho đến phép lạ Lagiarô sống lại) và chủ đề "Giờ của Chúa" (tức là cuộc khổ nạn, chết và sống lại).
Đức Giêsu đã long trọng tiến vào thành đô Giêrusalem để mừng lễ Vượt Qua lần cuối cùng mà cũng sẽ là chuyến từ giã thế gian này mà về cùng Cha Người.
Trong khuôn viền Đền thờ, "có mấy người Hy lạp" muốn tìm gặp Chúa. Họ không phải là những người Do thái nói tiếng Hy Lạp nhưng là dân ngoại có cảm tình với Do Thái giáo. Họ lên Giêrusalem thờ phụng Thiên Chúa dịp lễ Vượt Qua? Việc họ tìm đến với Chúa mang giá trị biểu tượng: là dấu chỉ báo trước sự lên đường của những người thuộc muôn dân sẽ đến với Đức Kitô sau này, là dấu chỉ loan báo giờ ơn cứu độ ban tặng cho hết thảy mọi người đã điểm.
Họ tìm "gặp Đức Giêsu”, không phải chỉ để trông thấy Người mà thôi, muốn vậy họ đâu cần nhờ đến ai. Nhưng họ muốn gặp để chuyện trò với Người, để đàm đạo với Người. Họ đang trên con đường đức tin rồi đấy.
Họ "lại gần ông Philipphê”, chắc bụng vì ông này với cái tên Hy Lạp, sinh trưởng ở một vùng đông dân ngoại nói tiếng Hy Lạp có thể giúp làm môi giới cho họ được.
"Ông Philipphê đi nói với ông Anrê" cùng sinh trưởng như ở ông Bétsaiđa và cũng mang tên Hy lạp như ông.
”Và hai Ông đến thưa với Đức Giêsu”. Như vậy, cũng giống như ở 1, 35-51 (Phúc âm Chủ nhật 2 Thường niên) Gioan, một lần nữa, nêu bật tầm quan trọng trong vai trò môi giới của con người giúp đi đến với Đức Giêsu.
2) Dấu chỉ loan báo giờ của Chúa
Thay cho câu trả lời, Đức Giêsu tuyên bố: "Đã đến giờ Con Người được tôn vinh? Giờ mà việc hồi sinh của Ladarô đã báo trước Giờ báo hiệu những người Hy lạp tìm đến đã gần kề: đó là giờ Chết-Sống Lại của Đức Giêsu sẽ mở ra cho mọi người ơn cứu độ.
Để diễn tả cái chết sắp tới của mình là nguồn ơn phong phú đem lại muôn vàn hoa trái, Đức Giêsu nhập đề cách trịnh trọng: “Thật Thầy bảo thật anh em" cho một dụ ngôn nhỏ mà giới nhà nông hiểu dễ dàng: dụ ngôn hạt lúa mì với hai ý đối chọi nhau "trơ trọi một mình" và "sinh được nhiều hạt". Để có thể sinh nhiều bông hạt, hạt lúa mì nhất thiết phải chết đi: đó là quy luật của sự sống. Đối với Đức Giêsu cũng vậy: cái chết của Người là quá trình bắt buộc để Người tiến vào vinh quang, là điều kiện để Hội Thánh được sinh ra, nhân lên gấp bội. Với các môn đệ Chúa cũng sẽ như vậy thôi: "Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất, Chúa Giêsu nói tiếp, còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời. Ai phục vụ Thầy, thì hãy theo Thầy; và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó”.
X. Léon-Dufour quảng giải thêm: "Cuộc sống có thể được coi như là "của tôi”, và tôi có thể dập tắt đi hay giữ nó lại như thể sự tồn tại hay tàn lụi của nó là tuỳ ở tôi, cái báu vật duy nhất cần phải bảo vệ bằng mọi giá ấy, cái tài sản chỉ tuỳ thuộc vào tôi ấy. Nếu thế cuộc sống sẽ như giòng nước đang chảy xiết sẽ vuột khỏi tay tôi, khi tôi cố giữ nó lại mà không chế ngự được dòng chảy của nó. Ngược lại nếu tôi không cố bám víu vào cuộc sống này, nếu tôi chấp nhận mở ra với AI đó, cũng là chết đi cho những gì khiến tôi co cụm lại, thì này đây sự "chết" ấy không có gì khác là một sự “xuất thần”, và một khi cuộc sống tôi mở ra như thế sẽ giữ lại được như lời Chúa nói, cho sự sống đời đời". Như ta biết theo thánh Gioan, sự sống đời đời là sự hiệp thông với chính Thiên Chúa vậy" (Lecture de l'evangile selon Jean", quyển II, Seuil, trang 464).
3) Giờ chôn vùi xuống cũng là giờ nâng cao lên.
Vẻ nghịch lý mà từ đầu trình thuật vốn nối kết giờ chết với giờ vinh hiển, còn diễn ra ở phần hai. Trong phần này, Gioan chỉ mượn và sử dụng theo chủ đích của mình một số yếu tố trong những câu chuyện kể lại trong Phúc âm nhất lãm như: một bên là cảnh Chúa hấp hối trong vướng Giếtsêmani, và bên kia là sự kiện Chúa Hiển dung trên núi Taborê.
Thực vậy, Gioan sẽ không tường thuật lại cơn hấp hối của Đức Giêsu, nhưng ở đấy Gioan có ý báo trước rằng Giờ bị chôn vùi trong sự chết đang đến, giờ ấy sẽ phải là một quá trình đau thương mà nỗi xao xuyến và buồn sầu sẽ choán hết. Thế nên lời "Thầy xao xuyến" cũng như lời nguyện cùng Cha "Lạy Chúa, xin cứu con khỏi giờ này" được tiếp theo ngay bằng tâm tình hoàn toàn phó thác nơi Cha của Người: "Nhưng không, chính vì Giờ này mà Con đã đến! Lạy Cha, xin tôn vinh danh Cha!”. Một kinh nguyện, như A. Marchadour nhận xét: vùng lên như một bản tóm lược "kinh Lạy Cha" vậy (kinh này không có trong Tin Mừng Gioan). Đức Giêsu quả là người đầu tiên từ bỏ chính mình để vâng nghe lời Chúa Cha" (O.C. trang 169) .
Gioan cũng chẳng kể lại câu chuyện ‘Chúa Hiển Dung’, nhưng ở đây ngài nhắc đến "có tiếng phán từ trời”. Một tiếng nói mà những người chứng kiến giải thích khác nhau: Người thì cho rằng "đó là tiếng sấm”, người khác lại bảo: “Tiếng một thiên thần nói với ông ta đấy”. Tiếng nói đó tuyên bố cho mọi người biết rằng lời Đức Giêsu cầu xin cũng như việc dâng hiến mạng sống Người đã được Chúa Cha đoái nghe và đón nhận, sẽ sinh nhiều hoa trái. Tác giả kết luận: "Bởi tính chất độc đáo của sự việc, lại nằm cuối phần thứ nhất của sách Tin Mừng, nên sự can thiệp này của Chúa Cha coi như Đức Giêsu được Cha Người long trọng xác nhận là Con và là đang được sai đi. Đó là một sự phê chuẩn có tính tôn vinh một phần cho lúc này, một phần hứa cho tương lai. Cuộc khổ nạn đối với Đức Giêsu đúng là một thử thách vinh quang vậy" (idem).
Buổi đầu khi thi hành sứ vụ, ở Cana, Đức Giêsu đã nói với Mẹ Người rằng: "Giờ Con chưa đến", thế mà Người cũng "đã tỏ vinh quang" Người cho các môn đệ. Giờ đây, "Giờ đã đến" lúc vinh quang này sẽ được tỏ ra trên khắp thế giới. "Khi làm những dấu lạ đầu tiên” ở Cana, các môn đệ "đã tin vào Người? Từ nay khi được “giương cao lên khỏi đất”, một kiểu nói ám chỉ cùng một trật, Người sẽ phải chết cách nào và được Chúa Cha đem lên vinh quang, Đức Giêsu sẽ "kéo mọi người lên theo với Người" và sẽ mở cho họ con đường đến với Chúa Cha.
X. Léon Dufour hỏi để kết luận Đức Giêsu có đã đáp ứng lòng mong đợi của những người Hy lạp muốn "gặp" Người không?
Không có lời đối đáp nào được kể lại, ông trả lời, thế nhưng bài diễn từ đã cho thấy rằng muốn gặp Đức Giêsu, thì ta phải hướng mắt nhìn lên Đấng-bị-đóng-đinh-được-tôn-vinh. Nói một cách tổng quát, ta đã được tỏ cho biết rằng, người ta chỉ có thể đến với Đức Giêsu tại thế, nhờ nhận ra Đức Giêsu được nâng lên cao, có nghĩa là mọi nhận thức, mỗi cái nhìn về Đức Giêsu khi Người chưa được tôn vinh đều là không đầy đủ, nếu không nói là ảo tưởng. Ý nghĩa cuộc đời trần thế của ta cũng được soi sáng từ đó: chính bằng cách mở lòng ta ra với Lời và những đòi hỏi quyết liệt của Người, vượt thắng khuynh hướng muốn hoàn toàn tự lập, mà người ta tiến đến “sự sống". Đi theo Đức Giêsu là phải có tinh thần phục vụ. Phục vụ cốt tại ở cái gì, thì bài diễn từ giã biệt sẽ nói cho ta hay. Điều cốt yếu là để cho Chúa Con lôi kéo ta đi. (O.C. trang 478).
BÀI ĐỌC THÊM.
1) "Người thời nay mải mê với những vấn đề căn bản"
(Các Giám mục Pháp, trong trình bày đức tin trong xã hội hiện nay. Thư gởi các tín hữu Pháp. Cerf, trang 40-41).
"Nhiều dấu chỉ cho thấy rằng người thời nay nếu không đang đi tìm tòi những điều cốt lõi, thì cũng đang mải mê với những vấn đề căn bản, như: Kinh nghiệm yêu thương trong thời điểm nóng bỏng của Sida, ý nghĩa của hiện hữu con người, nhất là khi cuộc sống bị thử thách, đâu là cái giá của nhân vị con người đứng trước vô vàn những vận dụng kỹ thuật hay kinh tế mà đối tượng là nhân vị con người.
Sẽ không có cơ may đối thoại với người thời nay nếu chúng ta không phải là những người có đầu óc cấp tiến. Vậy chúng ta có điều cốt lõi nào để trao đổi với người ta?
Phải xuất phát từ đòi hỏi đi đến cốt lõi ân ban của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô, mới hiểu được điều chúng tôi gọi là đề nghị đức tin trong xã hội hiện nay.
Chúng tôi không có tham vọng trình bày điều gì mới lạ, mà: chỉ muốn nhìn nhận những điều kiện mới mà ta phải sống và loan báo Tin Mừng. Trong những điều kiện mới này, mặc dầu vẫn là những người có quyền thụ hưởng gia sản mà ta đã lãnh nhận, ta phải trở thành những "người đề nghị" đức tin. Để đạt mục đích đó, chính chúng ta đều được mời gọi phô diễn sự mới lạ của ân huệ Thiên Chúa, như được tỏ ra trong Đức Giêsu Kitô, nhờ sức mạnh của Chúa Thánh Thần. Bởi vậy hai điều không thể tách biệt nhau là ta vừa phải chửng tỏ tính thời sự của mầu nhiệm đức tin, vừa phải tạo nên một Hội Thánh rao giảng Tin Mủng bằng cách sống mầu nhiệm ấy và bằng cách đáp lại lời mời gọi của Chúa mình: "Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi ra trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời" (Mt 5, 16).
2) Phục vụ đời sống con người theo cách thế của Đức Giêsu, người Tôi Tớ (idem trang 95-96).
Không thể cử hành mầu nhiệm đức tin đúng theo chân lý, nếu chỉ quan tâm đến hành vi phụng tự. Bởi lẽ Thiên Chúa cứu độ đến với ta trong Đức Giêsu Kitô đã đồng hoá mình với người nghèo khổ và kẻ bé mọn. Vì thế có một mối tương quan không thể tách rời giữa phượng tự Kitô giáo và đời sống con người, không gì mong manh và bị de doạ hơn đời sống ấy. Ta không thế phục vụ và yêu mến Thiên Chúa Đấng ta không trông thấy mà lại không tôn kính Người hiện diện trong những anh em hẩm hiu nhất của ta. Tác vụ của các phó tế đặc biệt nhắc nhở ta mối tương quan cơ bản này, tương quan giữa việc phục vụ Thiên Chúa và phục vụ con người.
Giới Công giáo Pháp hôm nay có sự quan tâm đặc biệt đối với những người nghèo và người bị loại trừ được coi như "bí tích của Đức Kitô”. Sự quan tâm có tính Tin Mừng này khơi gợi nên rất nhiều dấn thân cá nhân cũng như cộng đoàn. Những con người đang bắt tay vào việc được tăng thêm xác tín rằng họ đang chu toàn ơn gợi Kitô hữu và đang rao giảng Tin Mừng bằng cách phục vụ con người như thế.
Để tôn vinh sứ mạng cao cả này, Hội Thánh đang tìm cách gởi những thành viên có những hoàn cảnh sống cụ thể, khuyến khích họ nhận lãnh trách nhiệm đối với giới được uỷ thác cho họ, giúp họ biết sống tinh thần liên đới và sáng kiến cần có theo tinh thần ấy. Để làm công việc này, các phong trào, đặc biệt là phong trào Công giáo Tiến hành đều phải chuẩn bị cho các thành viên của mình biết sống và hành động theo tinh thần Tin Mừng khi họ phải chăm lo cho đời sống cá nhân và xã hội của con người, giúp họ gây một ảnh hưởng tập thể trên nếp sống của con người.
- Cùng lúc đó, Hội Thánh cũng sử dụng những phương tiện của riêng mình để khơi gợi, nâng đỡ và ngay cả điều phối hoạt động của giới công giáo trong việc phục vụ cộng đồng nhân loại, nhờ vào các cơ quan như Tổ chức Cứu trợ Công giáo (secours Catholique) hoặc CCFD (tổ chức chống đói và giúp phát triển), cũng nhờ vào những tổ chức y tế và học đường hoặc những phong trào giáo dục và từ thiện nữa.
3) Sức năng động của lời Chúa
(Kỷ yếu của CCFD)
Ngày nay ở Pháp cũng như trên toàn thế giới, người ta nhận thấy LỜI CHÚA có tính năng động và khả năng biến đổi lòng người.
Lời Chúa mở rộng trí khôn để biết phải hành động ở đâu và thế nào hầu giúp cho các xã hội được công bằng hơn (lấy các dự án-đèn pha làm thí dụ).
Lời Chúa giải phóng óc sáng tạo để tìm ra những con đường mới (cứ nhìn vào con số những hiệp hội được thành lập mỗi năm). Điều này không phải không gặp trắc trở khó khăn trong một số quốc gia.
Lời Chúa kích thích những con người mà người ta nghĩ là quá nghèo và trình độ quá kém, biết đảm nhận lấy những trách nhiệm.
Mọi người đều không biết rằng tính năng động kia, sự phát triển kia, và tinh thần liên đới ấy đều xuất phát từ Đấng là “chủ tể của thế gian này đã bị ném ra ngoài”. Họ vui sướng hành động, nhưng không nhận ra Đấng ban sự sống. Họ hân hoan hoạt động cho sự hoà giải, nhưng lại không biết gì về Mầu nhiệm Thập giá.
Hiệp cùng với các anh em dự tòng; những người đã nhận ra Đấng đang lôi kéo mọi người đến với Ngài, Đấng đang khắc ghi lề luật của Ngài vào đáy lòng người, Đấng hứa cho những tôi tớ Ngài sẽ được ở bên cạnh Ngài, chúng ta hãy cảm tạ vì đức tin đã được lãnh nhận và vì những tấm lòng đang rộng mở. Trong bánh và rượu đã kết hợp lao công, đau khổ và sướng vui của mọi người. Quyền năng Chúa Thánh Thần đang tác động trên lễ vật của chúng ta như Người đang tác động trên khắp thế giới, đó là: thánh hoá mọi sự, quy tụ dân Người, ban sự sống và biến chúng ta thành của lễ thực sự làm vinh danh Chúa (xem PE số 3).
 

MC5-B56. Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt

CHÚA GIÊSU LOAN BÁO NGƯỜI SẼ ĐƯỢC TÔN VINH NHỜ CÁI CHẾT
CHÚ GIẢI CHI TIẾT
 

Ai ghét sự sống mình nơi thế gian này": Có lẽ phải dịch như bản TOB: ai thôi bám chặt sự: MC5-B56

"Ai ghét sự sống mình nơi thế gian này": Có lẽ phải dịch như bản TOB: ai thôi bám chặt sự sống mình đời này. Vì theo cách nói sêmita, động từ đùng ở đây, khi đối lại với chữ yêu, thì thường có nghĩa là yêu mến ít hơn, là không xem như một giá trị tuyệt đối (St 29,31-33; Đnl 21,15; Mt 6,24; Lc 16,13; 14,26).
"Ta đã tôn vinh Danh Ta và sẽ còn tôn vinh nữa": Chữ “tôn vinh" thứ nhất ở đây quy về các "dấu chỉ" Chúa Giêsu đã thực hiện để làm chứng cho Chúa Cha. Chữ "tôn vinh" thứ hai ám chỉ đến cái chết và việc giương cao Chúa Giêsu (vì tôn vinh Ngài trong chính mình).
“Dân chúng bảo đó là một tiếng sấm": Khó mà hiểu được tại sao một tiếng nói lại có thể phát ra vì lợi ích của những kẻ đã không hiểu nó cũng như không biết ai đã nói ra nó ("tiếng ấy phát ra không phải vì Ta mà vì các ngươi"). Có thể Gioan đã nghĩ đến một nhóm thứ ba (các môn đồ chẳng hạn) là những người, trong thực tế, đã nhận ra được nguồn gốc và ý nghĩa của tiếng nói trên.
"Chính bây giờ là cuộc phán xét thế gian này": Giờ của Chúa Giêsu đánh dấu một giai đoạn quan trọng và quyết định đối với toàn thể nhân loại. Cuộc sáng tạo cũ đến đây chấm dứt, cuộc sáng tạo mới bắt đầu (Việc đi từ cuộc sáng tạo cũ sang sáng tạo mới không phải và một hiện tượng vật lý đơn thuần, nhưng là một sự tiến triển luân lý và thiêng liêng). Số phận mỗi người tùy thuộc vào biến cố này và vào việc người ta có chấp nhận nó bằng đức tin hay không. Giờ Chúa Giêsu là giờ phán xét (krisis), giờ phân chia: ai từ chối Chúa Giêsu vào "giờ” này thì bị liệt vào phe của "đầu mục thế gian", đối thủ lợi hại của Chúa Giêsu, và bị luận phạt như nó (x. 3,18).
"Chính bây giờ đầu mục thế gian này sẽ bị đuổi ra ngoài": Chúa Giêsu nói đến Satan như nói đến một bạo chúa thất trận, bị truất phế. Nhiều bản văn mà một số có nguồn gốc Kitô giáo (Ep 2,2; 6,12) đồng ý gán cho Satan tước hiệu "đầu mục thế gian này". Các giáo sĩ cũng gọi nó là "sar ha olam”
Chính ma quỷ gán cho mình quyền thống trị trên mọi sự "thế gian" (Mt 4,9). Khi nói như thế, nó chỉ khoe khoang hão, tuy nhiên hãy biết rằng trong Tin Mừng, tội nhân bị gọi là tội và ngay cả con cái của nó (Ga 8,34.44; Cv 8,10), rằng Thiên Chúa đã đặt nó thi hành các việc công lý của Ngài (Mt 5,25-26; G 2,6; Dcr 5,5), rằng kinh nghiệm xưa nay cho thấy ma quỷ rất khéo léo trong việc phỉnh gạt, làm khổ nhân loại. "Và Ta, một khi Ta được giương cao khỏi đất": Hãy so sánh với lối chơi chữ của St 40,13 và St 40,19 về chữ "nâng đầu lên": đầu của viên chánh chước tửu sẽ "được nâng lên cao" và ông sẽ được ân xá; còn đầu của viên chánh ngự thiện cũng "được nâng lên cao" nhưng ông ta sẽ bị treo cổ. Trong Is 52, 13 thì bảo người Tôi tớ Gioan "được nhắc cao" và "được tôn dương". Có lẽ đây là nguồn gốc chữ "được tôn vinh" và “được giương cao" trong Gioan.
KẾT LUẬN
Trong đoạn này, chính “giờ" của Chúa Giêsu là trọng tâm xét trên bình diện lịch sử lẫn thần học. Về phương diện Kitô học, "giờ" này đánh dấu việc Ngôi Lời nhập thể hoàn tất sứ mệnh mặc khải và cứu chuộc thế gian. Nó đặc trưng tất cả cuộc đời Chúa Kitô, vốn luôn quy hướng về nó. Vì chính lúc bấy giờ xảy ra cuộc "phán xét" (krisis) nhân loại, xảy ra sự phân chia (krisml) những kẻ tin hay từ chối tin mầu nhiệm Chúa Kitô tử nạn và được tôn vinh. Ai tin thì được cứu rỗi và được sống, còn ai từ chối tin thì bị luận phạt và phải chết muôn đời.
Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG
1) Trong Tin mừng Gioan, Chúa Giêsu thường nói đến "giờ" của Người. Đó là lúc người đạt đến cao điểm sứ mệnh cứu chuộc, tức là Chết và Phục sinh. Không nên tách rời hai yếu tố này. Cái chết là cuộc vượt qua cần thiết do tình yêu đòi hỏi, nhưng sự phục sinh sẽ ban cho nó một ý nghĩa khi tôn dương và làm nẩy sinh sự sống. Giờ Chúa Giêsu vừa là thứ Sáu thánh vừa là Chúa nhật phục sinh, và giờ này hôm nay cứu tiếp tục trong mỗi Kitô hữu là con người vừa chịu đựng đinh vừa được sống lại.
2) Ở đây Chúa Giêsu lợi dụng dịp vài người ngoại giáo đến gặp để nói đến giờ của Người. Lương dân “Hy lạp" này là những kẻ có cảm tình với đạo Do thái. Họ hành hương đến Giêrusalem dù không phải là con dân Abraham. Chúa Giêsu bảo Giờ của người, nghĩa là ơn cứu chuộc, cũng liên hệ tới họ. Liên hệ như thế nào? Người giải thích bằng cách đưa ra hình ảnh hạt lúa mì chết đi trong lòng đất và mọc lên sai hoa lắm quả. Hạt lúa mì mục nát chính là Người. Các hạt sinh sôi là tất cả mọi dân tộc, tất cả loài người, tất cả "lương dân" sẽ trở thành tín hữu.
3) Mọi Kitô hữu đều được mời gọi sống Giờ của Chúa Giêsu. Cần lưu ý là trong bản văn thánh Gioan, các chữ "vinh quang" và "sự chết" rất gần nhau và hầu như được liên kết với nhau. Điều này cho thấy hai điểm. Trước hết Kitô hữu phải biết tiêu diệt trong mình những gì chống lại với sự sống đích thực. Phép rửa của họ đưa họ vào mầu nhiệm chết. Họ không thể ở trên Thầy của họ. Họ phải chết về phương diện thể lý, nhưng cũng phải vượt qua bằng một cái chết thiêng liêng: cái chết này gọi là sự từ bỏ chính mình. Nhưng phải chăng vì thế mà họ phải tỏ ra khắc khổ và buồn bực? Không, vì họ còn phải sống mầu nhiệm phục sinh, tôn vinh, một mầu nhiệm vui tươi của sự từ bỏ của Kitô hữu chỉ có ý nghĩa trong sự kết hiệp với cái chết và phục sinh của Chúa Kitô cùng bắt chước Người. Thế mà Chúa Kitô, trong giờ của Người, đã sống thực sự đau khổ và hiển vinh cùng một lúc. Nên Kitô hữu, người của từ bỏ, phải đồng thời là người của sự vui mừng thiêng liêng.
4) Cũng như Thầy mình, mỗi Kitô hữu đều được kêu lời trở nên hạt lúa gieo vào lòng đất. Điều này liên hệ tới phần của họ trong việc cứu rỗi thế giới. Dù có được kêu gọi hoạt động bên ngoài hay không, thì mỗi Kitô hữu, qua việc kết hợp với Chúa Kitô đều có ơn gọi tham gia vào việc cứu rỗi anh chị em mình. Nếu không thể hoạt động bên ngoài, thì họ hãy ấp ủ tư tưởng phấn khích này là: việc âm thầm dâng lời cầu nguyện, đau khổ, cái chết, trong sự kết hiệp với Chúa Giêsu cũng có khả năng cứu rỗi nhiều người. Nếu có sự hoạt động, họ phải nhớ rằng hiệu năng hành động của họ trước tiên tùy thuộc việc họ hiệp thông vào kinh nguyện và khổ giá Chúa Giêsu.
5) Chúa Kitô đã chấp nhận bị nghiền nát trong cuộc khổ nạn để trở nên bánh dâng lên Chúa Cha trên bàn thờ thập giá, đồng thời trở nên lương thực nuôi ta trong bí tích Thánh Thể nhiệm mầu. Chúng ta hãy mau mắn đến bàn tiệc rước lấy Mình Thánh Chúa để được tăng thêm sự sống của Người, để Người biến đổi ta nên thân xác Người, hầu một ngày nào đó ta có thể nói: "Không phải tôi sống, nhưng chính Chúa Kitô sống trong tôi".
 

MC5-B57. ÁNH SÁNG CỦA THẬP GIÁ - Lm PX Vũ Phan Long, ofm

Ga. 12,20-33
I. NgỮ cẢnh
 

Câu truyện này nằm trong bối cảnh thời gian và thần học là tuần lễ cuối cùng trong sứ vụ của Đức: MC5-B57

Câu truyện này nằm trong bối cảnh thời gian và thần học là tuần lễ cuối cùng trong sứ vụ của Đức Giêsu, tuần lễ Vượt Qua (x. Ga 12,1.12; 13,1; 18,28; 19,31) mà cuộc hy sinh của Đức Kitô, là Con Chiên Vượt Qua, sẽ biến thành lễ Vượt Qua mới và vĩnh viễn có sức giải phóng tất cả mọi người. Việc xức dầu ở Bêtania (12,1-11) chính là mở đầu mang tính tiên tri. Hành vi của Maria, chị của Ladarô, xức chân Đức Giêsu bằng dầu thơm cam tùng quý giá, đã loan báo việc mai táng Người (12,7). Quả thật, người ta không xức dầu lên chân một người sống như thế, mà thường xức cho một thi hài vào lúc làm nghi thức tắm rửa. Ta ghi nhận rằng theo Tin Mừng Máccô (14,3-9), người phụ nữ chỉ đã xức dầu lên đầu Đức Giêsu, và đấy là cử chỉ tiêu biểu trong việc xức dầu tấn phong ai làm vua và tấn phong đấng Mêsia.
Hôm sau, khi Đức Giêsu vào Giêrusalem (12,12-19), dân chúng đã tung hô Người như là “vua Israel”. Tác giả TM IV coi việc dân chúng cầm nhành lá thiên tuế hoan hô reo hò như là mức độ cuối cùng của sự sai lầm của dân chúng và Đức Giêsu im lặng để sửa chữa những niềm hy vọng thiên sai lầm lạc.  Người cỡi lên một con lừa nhỏ vào lúc ấy – chứ không ngay từ đầu như trong các Tin Mừng Nhất Lãm –, Đức Giêsu muốn cho họ thấy là giống như ông hoàng khiêm tốn mà ngôn sứ Dacaria đã loan báo (9,9-10), Người hoàn toàn không có một mưu đồ chính trị nào. Cuộc Vượt Qua sắp tới của Người, tức cuộc Thương Khó, cái Chết, cuộc Phục Sinh, sẽ cho thấy rõ ràng kiểu “vinh quang” Người đang theo đuổi. Chỉ sau kinh nghiệm này các môn đệ mới nắm được bản chất đích thực của cuộc khải hoàn của Đức Giêsu (c. 16).
 Đám đông thì vẫn không hiểu (cc. 17-18). Nhưng những lời hoan hô của họ khiến người Pharisêu phải phản đối và tranh luận với nhau: “Các ông thấy chưa: các ông chẳng làm nên trò trống gì cả! Kìa thiên hạ theo ông ấy hết!” (c. 19b). Ở đây, tác giả TM IV vẫn vận dụng khả năng khôi hài quen thuộc của ngài. Nỗi lo sợ của người Pharisêu là thật hơn họ tưởng: cả người ngoại cũng đã xuất hiện (cc. 20-23).
Nhận định của người Pharisêu (c. 19b) khiến ta nghĩ ngay đến nhận định của thượng tế Caipha: “Các ông cũng chẳng nghĩ đến điều lợi cho các ông là: thà một người chết thay cho dân…” (11,50). Chính ông này cũng đã nói tiên tri mà không biết, nhưng trong tư cách là thượng tế, ông đã nói tiên tri là Đức Giêsu phải chết thay cho dân, và không chỉ thay cho dân mà thôi, nhưng còn để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác (11,52).
Sự kiện mấy người ngoại đến xin gặp Đức Giêsu là một đỉnh cao trong cấu trúc văn chương và thần học của các ch. 11–12 của TM IV: kế hoạch cứu độ phổ quát, thậm chí ra ngoài biên giới dân tộc Do-thái, đang bắt đầu được thực hiện, ít nhất ở dạng mầm mống. Tất cả những điều đó chứng tỏ rõ ràng là giờ của cuộc Thương Khó đã được loan báo, giờ đưa tới vinh quang. 
II. BỐ cỤc
Bản văn này gồm bốn phần:
1) Người Hy-lạp đến gặp (12,20-22);
2) Đức Giêsu công bố về Giờ và dạy về thân phận của Người và của các môn đệ  ([“Đã đến giờ”], 12,23-26);
3) Đức Giêsu trước cái chết (“bây giờ”, 12,27-30);
4) Giá trị của cái chết của Đức Giêsu (“bây giờ”, 12,31-33).
   III. Vài điỂm chú giẢi
- mấy người Hy-lạp (20): Những lời mỉa mai ở c. 19 được ứng nghiệm tức khắc. Đây không phải là những người Do-thái Hải ngoại (diaspora; x. Ga 7,35), đã di cư ra khỏi Paléttina và bị phân tán trong các vùng dân ngoại, nhưng là những người ngoại giáo không cắt bì, thuộc về hạng người “kính sợ Thiên Chúa” (x. Cv 10,2.22.35; 13,16.26), tin vào vị Thiên Chúa duy nhất và tuân giữ đức công bình. Họ đã đến Giêrusalem không phải để du lịch mà là để hành hương, vì bị thúc đẩy bởi thao thức tìm ra chân lý.
- Họ đến gặp ông Philípphê (21): Họ ngỏ ý muốn với Philípphê bởi vì ông này nói tiếng hy-lạp (tên Philípphê và tên Anrê là hai tên Hy-lạp), và cũng như họ, ông là người Bếtxaiđa, là vùng gồm đa số là người ngoại.
- Chúng tôi muốn được gặp ông Giêsu (21): dịch sát là “muốn được thấy”, có nghĩa là “nói với Đức Giêsu”, trò chuyện với Người.
- Giờ (23): Đây là giờ Thương Khó, Chết và Phục Sinh, để Con Người được tôn vinh. “Giờ” đây là đỉnh cao của sứ mạng của Người và cũng là lúc kết án “thế gian” này với thủ lãnh của nó.
- tôn vinh (23): “Vinh quang” (doxa) là sự tỏa rạng sự hiện diện của Thiên Chúa, là ánh huy hoàng, vừa đáng sợ vừa thu hút, của Hữu thể thần linh. Vinh quang này ở trong Ngôi Lời nhập thể, nhưng tính khiêm hạ của mầu nhiệm Nhập Thể đã chế giảm đi ánh huy hoàng của vinh quang này, cho dù các lời nói và các công việc của Đức Giêsu lại là “dấu chỉ” đầu tiên của vinh quang này (x. 2,11). Cuộc Thương Khó, thay vì che phủ vinh quang này, lại vén mở cho thấy vinh quang này ở mức viên mãn: kể từ khi cái vỏ bọc nhân loại bị phá vỡ, sự hiện diện thần linh, như được giải phóng, mới xâm nhập tất cả nhân tính của Ngôi Lời để làm cho nhân tính này sống lại và lên trời.   
- nếu hạt lúa gieo vào lòng đất (24): Câu này được vọng lại trong 1 Cr 15,36. Rất có thể đây là một câu tục ngữ quen thuộc tác giả đã dùng để áp dụng cho trường hợp Đức Giêsu: chỉ cái chết của Đức Giêsu mới có thể đưa lại ơn cứu độ cho người khác.
- Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất (25): Câu này trở đi trở lại ở nhiều dạng (x. Lc 9,24 so sánh với Mc 8,35 và Mt 16,25; Mt 10,39 so sánh với Lc 17,33). Các Tin Mừng Nhất Lãm áp dụng câu này cho những đau khổ và mất mát của đời môn đệ. Hẳn là tác giả TM IV cũng đang nghĩ tới những đau khổ của cộng đoàn của ngài (x. 15,18-21).
- Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó (26): Sự đồng nhất giữa Đức Giêsu và các môn đệ sẽ được nêu bật hơn trong các diễn từ cáo biệt (x. 13,13.16; 15,20). Phần kết “Ai phục vụ Thầy, Cha của Thầy sẽ quý trọng người ấy” lại xuất hiện trong ngôn ngữ tình yêu trong các diễn từ cáo biệt (14,23; 16,27). Xem Mc 8,38; Mt 10,32 so sánh với Lc 12,8.
- Bây giờ tâm hồn Thầy xao xuyến (27): Phân đoạn này nhắc tới hoạt cảnh Vườn Ghếtsêmani trong các Tin Mừng Nhất Lãm (chẳng hạn Mc 14,34-36). Rõ ràng tác giả TM IV đang cảm hứng hoạt cảnh Vườn Ôliu. Tuy nhiên, ngài đăït hoạt cảnh ấy trong một bối cảnh khác, ngài giải thích hoạt cảnh ấy và sửa chữa đôi chút. Cũng như trong các Tin Mừng Nhất Lãm, khi thấy giờ chết đến gần, Đức Kitô run sợ: “Tâm hồn Thầy xao xuyến” (27a). “Tâm hồn” đây cũng có nghĩa là bản thân, là mạngï sống, mạng sống mà người ta phải “ghét” và chịu mất để cứu được; mạng sống ấy đang chao đảo khi đứng trước cái chết sắp tấn công nó. Sự xúc động trong lòng (tôi pneumati) mà Đức Giêsu cảm thấy khi đứng trước mộ Ladarô, bây giờ xâm chiếm tất cả bản thân Người (so sánh với Lc 22,43-44).
Nhưng rồi từ đó tác giả triển khai các điểm theo cách riêng. Câu hỏi: “Thầy biết nói gì đây?” cho thấy là Đức Giêsu bị đăït vào thế lưỡng nan là xin Cha Người: “Xin cứu con khỏi giờ này” hay là: “xin tôn vinh Danh Cha”. Và Người chọn tức khắc cách cầu nguyện thứ hai. Ngoài ra, trong TM IV, Đức Giêsu luôn “năng động [tích cực]” trong cuộc Thương Khó của Người. Người làm chủ tình hình (x. Ga 18,6), Người ý thức trọn vẹn về vai trò Người đảm nhận, Người hoàn tất tuyệt vời sứ mạng Cha Người đã giao: hy sinh mạng sống để cứu độ toàn thể thế giới. Ở tại ngưỡng cửa cuộc Khổ Nạn, ta không thể tưởng tượng ra một lời cầu nguyện nào khác trên môi Đấng được Thiên Chúa sai đến, ngoài lời này: “Xin tôn vinh Danh Cha” (x. Ga 17,4). Nếu Người trốn “giờ”này, giờ mà Người hết sức mong mỏi và cuối cùng nay đã tới, hẳn sẽ là phá hủy tất cả tầm mức gồm tóm trong mầu nhiệm Nhập Thể: khi đó Chúa Con đã nhận lấy nơi mình cuộc sống trần thế với tất cả chiều sâu của nó và đặc tính bi thảm của nó, để sống trọn cuộc sống này cho tới chết, không phải cho bản thân Người mà là cho những người khác. Khi Đức Giêsu chấp nhận “giờ” này, Người đã tôn vinh Chúa Cha, bởi vì như thế, dự phóng cứu độ toàn thế giới cuối cùng được bày tỏ trọn vẹn, và dự định đó, cuộc Thương Khó, cái Chết và cuộc Phục Sinh của Con Cha sẽ thực hiện.
- Lạy Cha, xin tôn vinh Danh Cha (28): x. Lc 11,2. Câu này diễn tả sự duy nhất trong kế hoạch của Đức Giêsu với ý muốn của Thiên Chúa. Đức Giêsu sẽ tôn vinh Thiên Chúa trên thập giá và cũng sẽ được Chúa Cha tôn vinh (x. 13,31-32; 17,4).
- có tiếng từ trời (28): Dân chúng không thể “nghe” được lời Thiên Chúa đáp lại Đức Giêsu, nên họ nghĩ đó là tiếng một thiên thần. Giống như trong truyện Ladarô, việc Đức Giêsu cầu nguyện cũng là một tấm gương cho họ.
- Ta đã tôn vinh Danh Ta, Ta sẽ còn tôn vinh nữa (28): Hành vi “tôn vinh” đầu quy về những “dấu lạ” Đức Giêsu đã làm và nhờ đó đã làm chứng về Chúa Cha, khi tôn vinh Ngài nơi Đức Giêsu. Hành vi “tôn vinh” thứ hai quy về cái chết và cuộc tôn vinh Đức Giêsu.
- mà vì các người (30): Như thế, tác giả đã biến truyền thống về “cơn hấp hối riêng tư” của Đức Giêsu thành một cuộc bày tỏ công khai công việc phục vụ vì vâng lời của Đức Giêsu.
- Giờ đây đang diễn ra cuộc phán xét thế gian này (31): Cuộc phán xét (x. 3,18-19) lên cao điểm với cuộc đóng đinh. Tiếng sấm trong lời Thiên Chúa nói trong câu trước báo trước việc Thiên Chúa sẽ đến uy hùng mà tống “thủ lãnh của thế gian này” ra ngoài. Ở đây, tác giả dùng từ ngữ “thế gian” không phải để chỉ đối tượng được Thiên Chúa yêu thương, như trong 3,16, nhưng như một biểu tượng cho tất cả những gì là không tin và thù nghịch với Thiên Chúa (x. 8,24; 15,18-19; 16,8-11). Satan như là thủ lãnh của “thế gian” ở trong thế đối lập với Thiên Chúa, là một hình ảnh quen thuộc của nền văn chương khải huyền Do- thái. Nhưng tác giả chỉ dùng hình ảnh Satan để giải thích việc Giuđa phản bội thôi (6,70; 13,2.27) và trong những câu nói loan báo chiến thắng của Đức Giêsu (14,30; 16,11).
- một khi được giương cao lên khỏi mặt đất (32): Các truyền thống Kitô giáo tiên khởi coi việc Đức Giêsu bị đóng đinh như là việc Người được tôn lên bên hữu Thiên Chúa và coi đây là nền tảng cho quyền chủ tể của Người trên vũ trụ (x. Pl 2,9-11). Rất có thể cặp từ ngữ “được tôn vinh – được giương cao” của tác giả được lấy từ Is 52,13, nơi mà Người Tôi Tớ của Đức Chúa được “vươn cao”, và “được suy tôn”. 
IV. Ý nghĩa cỦa bẢn văn 
* Người Hy-lạp đến gặp (20-22)
Những người Hy-lạp đã ngỏ lời với Philípphê và Anrê, là những người có tên gọi Hy-lạp và phát xuất từ vùng ranh của Galilê với thế giới Hy-lạp. Philípphê và Anrê đã ở trong số những môn đệ đầu tiên, vì muốn biết Đức Giêsu, đã đến với Người và đã là những người đầu tiên chia sẻ kinh nghiệm và đưa những người khác đến với Người (1,35-46). Trong truyện này, ta thấy được bổn phận họ phải chu toàn trong đời sống: làm trung gian để cho nhân loại có thể gặp Đức Giêsu.
Đức Giêsu không ngỏ lời trực tiếp với những người Hy- lạp này. Nhưng bây giờ, chỉ còn ít ngày nữa trước khi Người chịu chết và bởi vì những người này đã đến với Người, Người xác định tầm quan trọng và hiệu năng của cái chết của Người trên thập giá và gửi đến dân Do-thái lời kêu gọi cuối cùng.
Như vậy, ta hiểu việc người ngoại đi tìm một trung gian dường như có một ý nghĩa biểu tượng. Thế giới ngoại giáo chưa hề biết trực tiếp Đức Giêsu, mà chỉ nhờ lời rao giảng của các tông đồ: người ngoại đã “thấy” Đức Giêsu nhờ Tin Mừng được rao giảng cho họ. Nhưng giữa ước muốn được “thấy” Đức Giêsu và việc “gặp” Đức Giêsu, tức đi vào Vương quốc nhờ lời rao giảng của các tông đồ, còn có cuộc Thương Khó-Chết-Phục Sinh của Đức Giêsu, tức “giờ” của Người (c. 23). Chỉ khi đó mọi hàng rào được dựng lên bởi các chủ trương đặc thù bè phái mới đổ hết. Cũng chỉ khi đó mới bắt đầu những kinh nghiệm đầu tiên về niềm tin chân chính vào Đức Kitô hằng sống, vào Đức Kitô “Đức Chúa” (x. Ga 20,18.20.28.29; 21,7.12.17), là những kinh nghiệm không thể có được trước Phục Sinh (Vượt Qua).
Lời thỉnh cầu của những người ngoại vô tình lại là một cử chỉ đón tiếp khải hoàn. Đức Giêsu sẵn sàng chấp nhận, như trong cuộc đón tiếp cuả người Do-thái khi Người vào Giêrusalem. Nhưng trước hết, Người phải điều chỉnh ý tưởng lệch lạc đám đông Giêrusalem có về vinh quang và cuộc khải hoàn của Người (x. 12,12-16). Việc người Hy-lạp đến như thế giống như một bài học biểu tượng, bổ túc cho truyện đi vào Giêrusalem. Lời Đức Giêsu nói (cc. 23-26) là một trả lời gián tiếp cho nguyện vọng được những người ngoại ấy diễn tả ra: chính là nhờ cuộc Thương Khó của Người mà Đức Kitô, một khi đã bị sát tế, sẽ dễ dàng cho họ gặp được.  
* Đức Giêsu công bố về Giờ và về thân phận của Người và của các môn đệ (“đã đến giờ”, 23-26)
Kể từ câu 23, tác giả TM IV chẳng còn nói gì đến những người ngoại kia nữa, hay đến thỉnh nguyện của họ có được thoả mãn hay không nữa. Ta gặp kiểu viết tương tự trong cuộc gặp gỡ Nicôđêmô: đến một lúc nào đó, bài tường thuật thôi nói về ông, để nhường chỗ cho những lời nói của Đức Giêsu và những suy tư của tác giả.
Sự xuất hiện của những người ngoại giáo và thỉnh nguyện của họ khiến Đức Giêsu hiểu rằng giờ mà Người hằng mong đợi, mà TM IV cho thấy đang đến gần (2,4; 7,6.8.30; 8,20), thực sự đã đến. Đây là giờ của “Con Người”, giờ Đức Giêsu chiến thắng bằng cách đi qua thập giá, giờ Người được “tôn vinh” (x. 3,14; 8,28; 12,32). Cái chết của Đức Giêsu không phải chỉ là kết quả của sự tàn bạo của loài người và cũng không phải là kết thúc ô nhục của Đức Giêsu. “Giờ” của Người đã được Chúa Cha quyết định.
Đức Giêsu, Con Người, sẽ được tôn vinh bằng chính cái chết của Người. Cái chết này minh chứng một cách sáng ngời và thuyết phục rằng Con Thiên Chúa được liên kết với Chúa Cha bằng một dây vâng phục dù phải trải qua thử thách nào và rằng Người hiến mình cho chúng ta không dè giữ. Cái chết của Người cho thấy tình yêu vô biên của Người, bởi vì Người sống hoàn toàn cho Chúa Cha và hoàn toàn cho loài người chúng ta.
Sự phong phú của công trình của Người tùy thuộc cái chết của Người; và Người buộc các môn đệ Người hành động như chính Người đã hành động. Chỉ khi một hạt lúa mì bị hủy đi, nó mới trở thành một khối lượng lúa lớn. Chính là vì Người đã chịu cái chết và đã tỏ chính mình ra trong cái chết, mà Đức Giêsu sẽ quy tụ lại quanh Người một đoàn người đông đảo (x. 12,32). Đã chết rồi, Người không biến mất khỏi loài người, nhưng lại trở thành trung tâm của một cộng đoàn mênh mông. Người không ra sức bám lấy cuộc sống của Người. Cuộc sống trần thế đối với Người không phải là một sự thiện tối cao phải cứu lấy bằng mọi giá. Chỉ những ai liên kết với Người khi phục vụ, mới sẽ được liên kết với Người sau này. Chỉ kẻ nào đã theo Đức Giêsu trong cuộc sống, mới sẽ đạt tới mục tiêu và mới có phần phúc khi được Chúa Cha nhìn nhận. 
* Đức Giêsu trước cái chết (“bây giờ”, 27-30)
Cũng như trong tất cả các Tin Mừng, ở đây cũng vậy, khi đứng trước cái chết của mình, Đức Giêsu quay ra cầu nguyện với Chúa Cha (x. Mc 14,32-42). Người ý thức về ý nghĩa của cái chết của Người, nhưng không vì thế mà Người đi đến đó hoàn toàn vô cảm. Cũng như mọi con người, chính Người cũng sợ hãi tránh né cái chết, cũng bị rúng động bởi định mệnh phải chết của mình. Vì Người có sự nhạy cảm của loài người, hẳn là Người cầu xin Chúa Cha cất cho Người bước đường này. Nhưng Người không chịu thua ước muốn của riêng mình, Người muốn tuân theo sự hướng dẫn của Chúa Cha, nên đã cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tôn vinh Danh Cha” (c. 28). Như thế Người đồng ý về ý nghĩa của định mệnh của Người, như Thiên Chúa đã thiết định, nên Người lấy điều này làm mục tiêu của lời cầu nguyện.
Như thế, cái chết của Đức Giêsu cho thấy rõ những gì nằm ở trong tên “Cha” và cho thấy Chúa Cha đã nghiêng quá mức thế nào về phía con người, nên mới ban cho chúng ta chính Con Một của Ngài (x. 3,16). Đức Giêsu không thua Chúa Cha trong tình yêu, Người cầu xin để tình yêu của Chúa Cha có thể trở nên hiển nhiên, cho dù Người biết rằng điều này đòi hỏi cái giá là mạng sống Người.         
* Giá trị của cái chết của Đức Giêsu (“bây giờ”, 31-33).
Cái chết của Đức Giêsu trên thập giá cũng là chiến thắng vĩnh viễn của Người trên ma quỷ, nó sẽ bị tống ra ngoài, và không còn có một vị trí quyền lực nào nữa. Công việc ma quỷ làm là nhắm chia lìa con người khỏi Thiên Chúa, làm mờ tối cái nhìn của họ khiến họ không thấy được Thiên Chúa. Cái chết của Đức Giêsu lại là mạc khải cao độ nhất về tình yêu của Thiên Chúa đối với loài người và về dây vâng phục nối kết bất khả phân ly Đức Giêsu với Thiên Chúa. Như thế, ý đồ của ma quỷ hoàn toàn thất bại. Với cái chết của Người, Đức Giêsu cũng khởi sự hoạt động phổ quát của Người, liên hệ tới toàn thể nhân loại. Được giương cao trên thập giá như là biểu tượng của tình yêu của Thiên Chúa (x. 3,14-17) và được nâng lên đến Chúa Cha trong quyền lực thiên đình của Người, Đức Giêsu tới với cả nhân loại, đón nhận họ vào trong tình yêu huy hoàng của Người. Như thế, Người cũng được giương cao cho người Hy-lạp nữa, là những người muốn gặp Người.   
+ Kết luận
Trong bản văn này, tác giả nêu bật điểm chú ý là “giờ” của Đức Giêsu, cả trên bình diện lịch sử lẫn thần học. Theo quan điểm Kitô học, “giờ” này đánh dấu lúc hoàn tất sứ mạng mạc khải và cứu độ, được Ngôi Lời làm người thực hiện. Sứ mạng này tiêu biểu cho trọn cuộc sống của Đức Kitô, vì cuộc sống của Người hướng về đó. Khi đó sẽ xảy ra cuộc “phán xét” (krisis) nhân loại. Khi đó sẽ xảy ra giữa loài người một cuộc “tách biệt” (krima) do người tin hay không tin vào mầu nhiệm Đức Kitô chịu chết và được tôn vinh. Sự chọn lựa này đảm bảo cho một số người được cứu độ và được sống muôn đời, và lôi kéo án phạt và cái chết đến cho những người khác. 
V. GỢi ý suy niỆm
1. Như Philípphê và Anrê, chúng ta cũng có nhiệm vụ làm trung gian giúp kẻ khác gặp được Đức Giêsu. Nhưng muốn thế, chính chúng ta đã phải gặp Đức Giêsu và có kinh nghiệm về Người rồi.
2. Chỉ những ai đã liên kết với Đức Giêsu khi phục vụ, mới sẽ được liên kết với Người sau này trong vinh quang thiên quốc. Nếu chúng ta có trung thành bước theo Người hôm nay, sau này chúng ta mới mong được  thông phần gia nghiệp với Người.
3. Đức Giêsu đã đến thế gian như là ánh sáng cho mọi người (1,9). Khi Người đã được giương cao trên thập giá, từ nơi Người sẽ phát ra ánh sáng chói chang huy hoàng nhất, cho thấy mọi sự trong tính chân thật nhất: Thiên Chúa trong tình yêu vô biên của Ngài; Con Người trong việc hiến mình không dè giữ và trong hoạt động bao trùm toàn nhân loại; ma quỷ bị thua trong quyền lực của nó. Trong ánh sáng này, chúng ta phải chọn lựa cuộc sống chúng ta như là con đường bước theo Đức Kitô.
4. Tất cả những ai muốn đưa lại ơn ích cho người khác, cũng phải chấp nhận thân phận “hạt lúa gieo vào lòng đất phải chết đi”. Mọi Kitô hữu đều được kêu gọi sống Giờ của Đức Giêsu: trước tiên, người Kitô hữu không thể tránh giết chết trong mình những gì chống lại sự sống đích thực (= sự từ bỏ chính mình); đồng thời phải sống một mầu nhiệm phục sinh, tôn vinh và hân hoan (=niềm vui thiêng liêng).
Lm PX Vũ Phan Long, ofm 
 

MC5-B58. CHÚA NHẬT V MÙA CHAY - Lm. Augustine, SJ

GỢi ý đỂ sỐng và chia sẺ Tin MỪng
Hạt giống gieo vào lòng đất cần phải chết đi để sinh bông hạt
 

Tháng tư vừa qua (April 4, 1996) tại Roma, một cuộc họp qui tụ trên 1,500 nữ tu từ 48 quốc gia. Họ: MC5-B58

Tháng tư vừa qua (April 4, 1996) tại Roma, một cuộc họp qui tụ trên 1,500 nữ tu từ 48 quốc gia. Họ đại diện 57,000 chị em thuộc 400 dòng tu. Hai mươi lăm năm trước đó Ðức Phaolô VI đã chấp thuận cho nữ tu tham gia Phong trào Hiệp Nhất Thế Giới với tư cách là nữ tu. Ðó là điều mà Ðức Gioan Phaolô II tiếp tục khuyến khích khi nói: "Nền linh đạo chung hiệp mà công trình của Ðức Maria cổ võ và nuôi dưỡng, làm nên một chiều kích thiết yếu của đời sống Kitô giáo. Vậy cha khuyến khích các nữ tu hãy tiến tới trong nền linh đạo này, đồng thời sống nền linh đạo đó trong các cộng đoàn của các con cũng như trong các môi trường nơi các con đang làm việc."
 Ðề tài cuộc họp là "Ôm ấp những chân trời mới của thiên niên kỷ thứ ba." Mục tiêu đầu tiên và quan trọng hơn hết là giải quyết nạn nghèo mà phần lớn nhân loại đang phải chịu. Riêng về tôn giáo, người Kitô cần phải nhắm tới việc tái thống nhất các Kitô hữu lại; cần phải thiết lập tương quan tốt đối với các tín hữu các tôn giáo bạn; và cần phải quan tâm tới hàng triệu người nam và nữ của các nền văn hoá khác nhau hiện không nhìn nhận một tôn giáo nào.
 Hãy nghe nữ tu B.M. chia sẻ về mối tương quan tốt được thiết lập với anh chị em Phật tử nhờ linh đạo chung hiệp mà Ðức Gioan Phaolô II đề cao. Chị B.M. là một trong số trên 40 nữ tu Tổng Quyền tham dự cuộc họp nói trên. Dòng chị hiện đang hoạt động ở một nước Ðông Á mà dân chúng hầu hết là Phật tử.
"Từ nhỏ tôi đã được học để sống hài hòa với người lân cận là Phật tử, nhưng trong thực tế chúng tôi từng nuôi dưỡng nhiều thành kiến đối với họ. Sự kiện đã xảy ra là khi cha chúng tôi trở lại đạo Công giáo, người mất hết những gì mình sở hữu, khiến chúng tôi là con cái phải lãnh hết hậu quả. Tới nay cha tôi không còn nói tiếng gì đối với bà con thân quyến.
 "Tôi vẫn còn nhớ ngày mà cha tôi đã phải khóc vì bị xử đối như vậy. Thế là từ đó tôi tiếp tục nuôi dưỡng một lòng phẫn uất đối với các Phật tử. Tôi luôn cảm thấy khó tiếp cận họ mặc dầu ơn gọi đòi tôi phải yêu thương và phục vụ mọi người. Lý do vì ở nơi con người tôi vẫn âm ỉ những cảm nhận tiêu cực đối với anh chị em Phật tử.
 "Từ 20 năm qua tôi được biết nền linh đạo hiệp nhất và đã từng cố công đưa ra thực thi trong cộng đoàn của tôi. Nhưng phong trào còn hướng các thành viên tới cuộc đối thoại trong cuộc sống và trong yêu thương đối với các tín hữu các tôn giáo lớn. Ðó là điều đã làm cho trái tim tôi và nhiều chị em được mở ra trước chiều kích yêu thương mới đối với anh chị em Phật giáo.
Muốn sống Lời di chúc của Chúa cần phải từ bỏ mình
"Nếu tôi thực sự muốn sống Lời di chúc của Chúa Giêsu, tôi phải bắt đầu ngay với người bên cạnh tôi, tức phải khởi sự ngay với người hàng xóm láng giềng. Tôi đã hiểu rằng tôi không thể tránh né bất cứ người Phật tử nào. Ngược lại, tôi còn phải đón tiếp họ với một lòng yêu thương tràn đầy thái độ tôn trọng đồng thời còn phải chứng tỏ điều đó bằng hành động cụ thể. Tôi đã bắt đầu thăm viếng một số ni cô nơi tu viện của họ. Và trong cuộc đối thoại, tôi đã cố gắng làm cho họ cảm nhận được tất cả lòng yêu mến của tôi đối với họ. Chúng tôi đã đạt được một cuộc đối thoại phong phú và sâu đậm về thiêng liêng để với thời gian cuộc đối thoại ấy chắc phải trở nên mạnh mẽ hơn.
"Tôi nhận ra rằng tôi chỉ trở nên Kitô hữu đích thực khi trái tim tôi yêu thương mọi người và nhờ thực thi tình yêu đó, tôi có khả năng đối thoại được với mọi người. Tôi đã được bầu làm Tổng Quyền Hội Dòng tôi: đó là trách nhiệm lớn nhưng tôi cảm thấy có tiếng Chúa Giêsu gọi tôi phải mang lại cho chị em Dòng tôi tất cả tình yêu và sự khôn ngoan tôi đã nhận được từ nền linh đạo của hiệp nhất. Ðó quả sẽ là một thách đố, nhưng tôi sẽ làm tất cả những gì tốt nhất tôi có thể làm.
"Ngày nay hầu hết thân hữu của chị em chúng tôi là các nhà sư và ni cô Phật giáo và các tín đồ Phật giáo thuộc mọi giai cấp xã hội, đặc biệt thuộc giai cấp nghèo. Nhiều Phật tử thân hữu của chúng tôi mang bệnh nhân tới bệnh viện nơi chúng tôi ở, vì họ không dễ dàng được tiếp nhận nơi bệnh viện nên hai nữ tu chúng tôi được dành ra để lo cho dân làng. Khi họ ngã bệnh, chúng tôi sẽ đưa họ đi thăm những bác sĩ thân với nhà Dòng để họ được chăm sóc tốt hơn. Nếu họ cần một thời gian để bình phục, chúng tôi sẽ lo thăm nuôi họ. Ðáp lại, họ thường tỏ lòng biết ơn bằng cách biếu nhà Dòng rau xanh, hoặc ngũ cốc. Ðó quả là điều đáng kể khi trở nên một diễn tả tình yêu qua lại giữa chúng tôi và dân làng."
Lời chia sẻ của nữ tu Tổng Quyền Dòng Nữ tử thánh Phanxicô Xaviê vừa trích, phần nào minh họa điều Ðức Giêsu nói trong bài Tin Mừng hôm nay là "Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác." (Ga 12,24). Quả thật trong cụ thể, Người đã cứu chị em Nữ tu thánh Phanxicô Xaviê khỏi tình trạng băng giá đối với anh chị em Phật tử láng giềng.
Bài Tin Mừng hôm nay nằm trong đoạn chót của 12 chương đầu của Tin Mừng Gioan (11,55-12,50) cho thấy Ðức Giêsu không những chiến thắng sự chết, tức Người cho ông Ladarô đã chết 4 ngày được sống lại, nhưng quan trọng hơn nữa là: chính qua sự chết Ðức Giêsu ban sự sống. Chương 12 mô tả một loạt những dữ kiện gồm cuộc xức dầu gợi ý về cuộc liệm xác Ðức Giêsu (cc.1-11), dân chúng lũ lượt tuốn đến (c.12) và một số người Hy lạp tìm đến với Ðức Giêsu qua trung gian hai môn đệ Philip và Anrê (cc.20-23). Trước đó, còn có lời loan báo "Kìa thiên hạ theo ông ấy hết" (c.19).
Tất cả những điều kể trên đều được gom lại trong thời điểm mà Ðức Giêsu gọi là Giờ của Người (c.23), tức là giờ trong đó Thiên Chúa sẽ tỏ hiện hết mức nơi Con của Người. Nhưng thời điểm ấy sẽ kéo theo chết chóc: tức hạt lúa phải được vùi xuống đất mới sinh được bông hạt (c.24). Ðức Giêsu sẽ được chôn cất (như được loan báo tại Bêtania khi Người được xức dầu thơm), sự chết đó của Người sẽ mang lại nhiều bông hạt. Người ta sẽ thấy dân chúng tuốn đến với Người: Ban đầu là dân Do thái ở những câu 9,12,17,18, 34, rồi đến dân ngoại làm nên hoa trái đầu mùa (cc.20-22). Ðó cũng là điều được nói lên ở câu 32: "Phần tôi một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi." Khởi đầu của việc Ðức Giêsu được giương cao là khi Người chịu đóng đinh trên thập giá.
Nhưng Ðức Giêsu còn nói: "Ai phục vụ Thày thì hãy theo Thày; và Thày ở đâu kẻ phục vụ Thày cũng sẽ ở đó. Ai phục vụ Thày, Cha của Thày sẽ quí trọng người ấy" (c.26). Câu này rõ ràng áp dụng cho các môn đệ xưa cũng như nay của Ðức Giêsu. Xưa các tông đồ đều phải hy sinh nhiều, kể cả hy sinh tính mạng mình là chịu chết vì Ðức Giêsu. Nay các môn đệ của Người cũng không có con đường khác. Họ phải theo sát gót bước Thầy Chí Thánh và phải khởi đi từ sự hy sinh quên mình hằng ngày để phục vụ tha nhân.
Lời chia sẻ ở trên là một tấm gương về thiết lập tương quan tốt đối với tín hữu các tôn giáo bạn, chính là mục tiêu đáng kể của Năm Toàn Xá 2000. Mục tiêu ấy chỉ đạt được qua hy sinh, từ bỏ như hạt lúa vùi xuống đất sẽ trổ sinh nhiều bông hạt.  
MỘt sỐ câu hỎi gỢi ý
 
  1. Bạn hiểu thế nào về lời chia sẻ của chị Tổng Quyền của Dòng Nữ Tử Thánh Phanxicô Xaviê "Tôi chỉ trở nên Kitô hữu đích thực khi trái tim tôi yêu thương mọi người và nhờ thực thi tình yêu đó, tôi có khả năng đối thoại được với mọi người"? Ðiều đó có khó thực hiện lắm không?
  2. Ðức Giêsu nói: "Ai yêu quí mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời" (c.25). Bạn hiểu lời đó như thế nào áp dụng với lời chia sẻ của chị Tổng Quyền Dòng Nữ Tử Thánh Phanxicô Xaviê: Ðiều gì mất và điều gì được giữ lại cho sự sống đời đời? Nhưng sự sống đời đời ấy có cần phải khởi đi từ sự sống tại thế chăng?
Lm. Augustine, SJ
 

MC5-B59. CHÚA NHẬT 5 MÙA CHAY, NĂM B

Chúa NhẬt 5 Mùa Chay, năm B
 

Phụng Vụ Lời Chúa của Chúa Nhật V Mùa Chay hôm nay dâng hiến những chủ đề rất gần với những: MC5-B59

Phụng Vụ Lời Chúa của Chúa Nhật V Mùa Chay hôm nay dâng hiến những chủ đề rất gần với những cuộc tưởng niệm vượt qua: thiết lập Bí Tích Thánh Thể, Tử Nạn và Phục Sinh của Đức Giê-su Ki tô. Cả ba bài đọc đều cấu trúc theo một nét chung: ở giữa lòng của nỗi xao xuyến vang lên một tiếng kêu tràn đầy hy vọng.
Lm Inhatiô Hồ Thông
Gr 31: 31-34
Khi Kinh Thành và Đền Thờ Giê-ru-sa-lem sắp bị tàn phá, ngôn sứ Giê-rê-mi-a công bố rằng không có gì phải mất cả, sẽ đến một ngày Thiên Chúa sẽ thiết lập một "Giao Ước Mới". Đức Giê-su lấy lại diễn ngữ nầy khi thiết lập Bí Tích Thánh Thể.
Dt 5: 7-9
Thư gởi tín hữu Do thái nhắc nhớ rằng Đức Giê-su cảm thấy xao xuyến tận đáy lòng trước tấn thảm kịch của sự chết, nhưng nhờ cuộc Tử Nạn của Ngài, sự chết trở nên "nguồn ơn cứu độ đời đời" của nhân loại.
Ga 12: 20-33
Tin Mừng Gio-an gợi lên rằng trước cuộc Tử Nạn gần kề của Ngài, Đức Giê-su xao xuyến, đoạn trấn tĩnh khi nghĩ đến cuộc chiến thắng của Ngài trên Xa-tan và vinh quang sắp đến của Ngài.
BÀI ĐỌC I Gr 31: 31-34
Chúng ta thường nghĩ rằng diễn ngữ "Giao Ước Mới", được rút gọn: "Tân Ước", xuất xứ từ Tin Mừng, Đức Giê-su đã sử dụng diễn ngữ nầy vào buổi chiều Tiệc Ly: "Chén nầy là Giao Ước Mới, lập bằng máu Thầy, máu đổ ra vì anh em" (Lc 20: 20; 1Cr 11: 25).

Thật ra, diễn ngữ nầy được gặp thấy rồi trong Cựu Ước. Diễn ngữ nầy xuất hiện lần đầu tiên ở nơi đoạn trích hôm nay đánh dấu đỉnh cao sứ điệp tinh thần của vị ngôn sứ Giê-rê-mi-a: loan báo một "Giao Ước Mới" dưới hai dấu chỉ: tác động nội tâm của Thần Khí và ơn tha thứ tội lỗi. Quả thật, đây là sấm ngôn linh hứng của vị ngôn sứ, nhưng cũng là thành quả của một kinh nghiệm mà vị ngôn sứ đã sống với một tâm trí minh mẫn. 
Kinh nghiệm nầy được hình thành hai giai đoạn: "thời kỳ hạnh phúc" – Giê-rê-mi-a có lẽ chào đời vào năm 645 trước Công Nguyên. Vào thời niên thiếu của mình, ông đã kinh qua thời kỳ hưng phấn (dù ông không bao giờ ám chỉ đến): thời kỳ cải cảnh của vua Giô-si-gia, khởi sự vào năm 622 trước Công Nguyên. Trước triều đại của vị vua cải cách nầy, là triều đại của vua Mơ-na-se, vị vua vô đạo đã du nhập và phát triển thờ ngẫu tượng cho đến tận Đền Thờ Giê-ru-sa-lem. Ông còn bảo trợ tội bội giáo của dân chúng nữa.
1. Cuộc cải cách tôn giáo của vua Giô-si-gia:
Vào năm 622, trong khi Nhà Đức Chúa đang được trùng tu, người ta tìm thấy "sách Luật" (có thể đây là sách Đệ Nhị Luật hay ít ra những bản văn cốt yếu của sách), sách đã bị quên lãng hơn nữa thế kỷ qua (vua Mơ-na-se đã cai trị từ năm 687 đến 642 trước Công Nguyên).
Vua Giô-si-gia công bố trước toàn dân tất cả các lời trong sách Giao Ước đã tìm thấy trong Nhà Đức Chúa. Vua long trọng cam kết đi theo Đức Chúa và hết lòng hết dạ tuân giữ các mệnh lệnh, chỉ thị và quy tắc của Người. Toàn dân đồng thanh chấp nhận Giao Ước (2V 23: 1-3).
Vua Giô-si-gia thực hiện cuộc cải cách tận căn; vua trừ tiệt tất cả mọi vết tích thờ ngẫu tượng ra khỏi đất nước, dẹp bỏ các tế đàn ở nơi cao và tập trung việc phụng tự kính Đức Chúa vào Đền Thờ Giê-ru-sa-lem.
Nhưng than ôi! Vào năm 609, vua tử trận trong cuộc chiến chống quân đội Ai-cập. Ngay sau cái chết của vua, nền phụng tự ngoại giáo lại có cơ hội bộc phát. Chính vào thời điểm nầy mà những sấm ngôn của ngôn sứ Giê-rê-mi-a vang lên, loan báo những tai họa thảm khốc nhất nếu nhà Giu-đa không thành tâm hoán cải (Gr 26).
Vì thế, ngôn sứ Giê-rê-mi-a đã chứng kiến việc tái lập Giao Ước bị thất bại: công việc cải cách đã tác động đến việc tế tự, phụng vụ, nghi lễ, nhưng đã không biến đổi tấm lòng của dân chúng; vị ngôn sứ không quên bài học nầy.
2. Thời kỳ bi thương:
Ngôn sứ Giê-rê-mi-a, được mệnh danh là ngôn sứ của những tai họa, không ngừng cảnh báo quốc họa rất gần kề, vì thế người ta đã âm mưu hãm hại ông, quấy nhiễu ông và tống giam ông. Những sấm ngôn của ông bị vua Giô-gia-kim xé nát và bỏ vào lò lửa. Tuy nhiên, những lời sấm nầy đã được ứng nghiệm. Kinh thành Giê-ru-sa-lem bị quân đội của vua Na-bu-cô-đô-nô-xo chiếm vào năm 597 trước Công Nguyên; thành phần ưu tú bị phát lưu ở Ba-by-lon; Đền Thờ bị phá hủy vào năm 587, sau khi thành Giê-ru-sa-lem bị chiếm lần thứ hai.
Ngôn sứ Giê-rê-mi-a đọc được những ý định của Thiên Chúa qua thực tại bi thảm: cuộc tái lập Giao Ước tỏ ra thất bại, Thành Đô hoang tàn đổ nát, Đền Thờ chẳng bao lâu sau bị tàn phá, đây không phải là những dấu hiệu cho thấy Thiên Chúa có một kế hoạch khác, vì lòng chai dạ đá của dân Ngài sao? Chính như vậy mà ngay vào lúc Kinh Thành Giê-ru-sa-lem sắp bị tàn phá, vị ngôn sứ loan báo rằng không có gì phải mất cả và diễn tả niềm hy vọng bất diệt của Ít-ra-en bằng những lời lẽ tuyệt vời: "Nầy sắp đến ngày" Đức Chúa sẽ lập với dân Ngài một Giao Ước Mới, không còn là Giao Ước được khắc trên các tấm bia đá như Ngài đã thiết lập với ông Mô-sê, cũng không trên cuốn sách như được tìm gặp trong Đền Thờ, nhưng sẽ được ghi tạc vào lòng dạ dân chúng, sẽ khắc sâu vào tâm khảm dân chúng…
Ở nơi khác, ngôn sứ công bố: "Ta sẽ ban cho chúng một tâm hồn để nhận biết rằng chính Ta là Đức Chúa" (Gr 24: 7) hay "Ta sẽ ban cho chúng một trái tim và một con đường hành động, để chúng kính sợ Ta mãi mãi, nhờ đó chúng và con cháu sau nầy được sống hạnh phúc. Ta sẽ lập với chúng một Giao Ước muôn đời: Ta sẽ không bỏ chúng nữa, sẽ tiếp tục theo dõi, và không ngừng thi ân cho chúng, cũng như ban cho chúng lòng kính sợ Ta, để chúng không xa rời Ta nữa" (32: 39-40).
Ngôn sứ Giê-rê-mi-a loan báo cuộc sống theo Thần Khí và dưới tác động của ân sủng. Nhờ tác động của Thần Khí, mọi người, từ bé thơ cho đến người lớn, đều nhận biết và thực hành ý muốn của Thiên Chúa mà không cần phải dạy bảo nhau nữa.
Ngôn sứ Ê-dê-ki-en trong cảnh lưu đày ở Ba-by-lon cũng thoáng thấy một niềm hy vọng về việc hoàn sinh những tâm hồn: "Ta sẽ ban tặng các ngươi một quả tim mới, sẽ đặt thần khí mới vào lòng các ngươi. Ta sẽ bỏ đi quả tim bằng đá khỏi thân mình các ngươi và sẽ ban tặng cho các ngươi một trái tim bằng thịt. Chính thần khí của Ta, Ta sẽ đặt vào lòng các ngươi, Ta sẽ làm cho các ngươi đi theo thánh chỉ, tuân giữ các phán quyết của Ta và đem ra thực hành" (Ed 36: 26-27).
Cuộc đời của vị ngôn sứ Giê-rê-mi-a đã là một mẫu gương về một cuộc sống trong Thần Khí rồi. Một con người đạo hạnh tận đáy lòng, đối thoại thường hằng với Thiên Chúa, vị ngôn sứ xứng đáng được gọi là "cha của kinh nguyện". Bằng cuộc sống của mình, ông làm chứng về tôn giáo mà ông loan báo. Chính từ môi miệng ông mà sấm ngôn về "Giáo Ước Mới' được thành lời. Đó không phải là hợp lý sao?
BÀI ĐỌC II Dt 5: 7-9
Phải nói một cách chính xác, "thư gởi cho các tín hữu Do thái" không thực sự là một "bức thư" vì tác giả không tự giới thiệu mình và cũng không cho biết ai là người nhận (nhan đề "thư gởi cho các tín hữu Do thái" xuất hiện chỉ vào thế kỷ thứ hai).
Bức thư nầy được gán cho thánh Phao-lô vì vài tư tưởng và ngôn ngữ giống nhau, nhưng đề tài trung tâm không là thánh Phao-lô: tác giả muốn chứng tỏ rằng Đức Ki tô là vị Thượng Tế Tân Ước, cao vời trên vị Thượng Tế Cựu Ước. Ngài là Đấng Trung Gian tuyệt vời, vị Tư Tế duy nhất và hiến lễ của Ngài thì thập toàn. Ấy vậy, thánh Phao-lô không bao giờ cho Đức Ki tô tước hiệu tư tế.
Người nhận là những người Ki tô hữu gốc Do thái chịu những bách hại và chắc chắn mang một nỗi nhớ không nguôi về phụng tự Cựu Ước. Bức thư nầy chắc chắn được viết trước khi Đền Thờ và Kinh Thành Giê-ru-sa-lem bị tàn phá vào năm 70 sau Công Nguyên, bởi vì tác giả nói về phụng vụ Đền Thờ như phụng vụ hiện thời và luôn luôn sinh động. Quả thật, nếu bức thư được viết sau biến cố năm 70, tác giả không thể nào không ám chỉ đến biến cố nầy, vì nó củng cố thật rõ ràng cho đề tài của ông về tình trạng vô hiệu của Giao Ước Cũ.
Đoạn trích ngắn nầy diễn tả sâu sắc hai khía cạnh bất khả phân của con người Đức Ki tô, khiến cuộc Tử Nạn của Ngài được phơi bày hết mức kịch tính: nỗi xao xuyến của kiếp sống phàm nhân và vị thế Con Thiên Chúa.
1. Kiếp sống phàm nhân (5: 7):
Tác giả ám chỉ đến việc Đức Giê-su "lớn lời kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết" ở vườn Ghết-sê-ma-ni. Chắc chắn Đức Giê-su đã cầu nguyện lớn tiếng đến nổi ba môn đệ ở gần đó có thể nghe được. Nhưng đây cũng có thể ám chỉ đến tiếng kêu lớn tiếng cuối cùng của Ngài lên cùng Cha Ngài trong cơn hấp hối trước khi trút hơi thở cuối cùng trên thập giá: "Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con" (Mt 27: 46).
Tác giả luôn muốn nhắc nhớ rằng Đức Giê-su đã chia sẻ tận mức những yếu đuối của chúng ta và nỗi sợ hãi của chúng ta trước cái chết.
"Thiên Chúa đã nhận lời Ngài" nhưng không theo cách thế mà con người ở nơi Đức Giê-su mong ước: để có thể chiến thắng tử thần, Ngài phải trải qua sự chết.
2. Vị thế Con Thiên Chúa (5: 8-9):
Trong phần hai, tác giả muốn cho thấy rằng không có bất kỳ một kiếm khuyết nào ở nơi Đức Giê-su. Dầu là Con Thiên Chúa, Đức Giê-su chấp nhận thánh ý của Chúa Cha với một thái độ vâng phục trọn vẹn. Từ "vâng phục" âm vang tư tưởng của thánh Phao-lô. Thánh Phao-lô nói về "sự vâng phục tràn đầy niềm tin".
"Người đã trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục". Gian khổ là trường đào tạo tốt nhất để thành nhân, nhân loại tiến bộ nhờ những kinh nghiệm đau thương. Tác giả áp dụng tư tưởng này vào Đức Ki tô: "bản thân đã tới mức thập toàn". Chính không phải với tư cách là Con Thiên Chúa mà Ngài "đạt tới mức thập toàn", nhưng với tư cách là Đấng Cứu Độ. Bằng đau khổ mà Ngài sẵn lòng chấp nhận, Đức Ki tô đã trở nên hy lễ hữu hiệu tận mức đem lại ơn tha thứ tội lỗi. Như vậy Ngài trở nên Đấng Trung Gian lý tưởng, vừa người anh em của con người vừa Con Thiên Chúa, làm một với Thiên Chúa và một với chúng ta. Đó là một trong những tư tưởng cốt yếu của "thư gởi tín hữu Do thái" nầy.
TIN MỪNG Ga 12: 20-33.
Trong Tin Mừng Gioan, tình tiết nầy tiếp theo bài tường thuật Đức Giê-su khải hoàn vào Giê-ru-sa-lem vào lúc lễ Vượt Qua sắp đến gần.
Trong cùng một chuyển động, đến lượt mình, các lương dân bày tỏ ý muốn "gặp" hay "thấy" Đức Giê-su. Trong Tin Mừng Gio-an, động từ "thấy" bày tỏ dáng dấp của niềm tin rồi. Lời thỉnh cầu của họ đã gây xúc động sâu xa ở nơi Đức Giê-su: những người Hy lạp nầy đại diện thế giới lương dân mà cuộc Tử Nạn sắp đến của Ngài sẽ mở ra con đường cứu độ, cuộc Tử Nạn sắp đến gần của Ngài làm cho Ngài đầy xao xuyến. Như trong thư gởi cho các tín hữu Do thái, chúng ta sẽ lần lượt khám phá: với kiếp sống phàm nhân, Đức Giê-su xao xuyến và với tư cách Con Thiên Chúa, Ngài biết chiều kích lớn lao của công trình Ngài sắp thực hiện.
Tình tiết nầy thật cảm động. Dầu thánh ký không gợi lên nỗi xao xuyến ở vườn Ghết-sê-ma-ni, nhưng tình tiết được trình bày ở đây như tham dự trước nỗi xao xuyến ở vườn Ghết-sê-ma-ni.
1. Niềm tin của những người Hy-lạp:
Những người Hy-lạp nầy đến Giê-ru-sa-lem để mừng lễ Vượt Qua, họ thuộc vào số những lương dân thiện cảm với Độc Thần Giáo Do thái. Sách Công Vụ gọi họ "những người sùng mộ Thiên Chúa" hay "những người kính sợ Thiên Chúa".
Họ ngỏ lời xin gặp Đức Giê-su với ông Phi-líp-phê. Ông Phi-líp-phê nói lại với ông An-rê, đoạn cả hai đến thưa chuyện với Thầy mình. Đức Giê-su không trả lời trực tiếp với những người Hy-lạp xin gặp Ngài. Thời gian của những cuộc chuyện trò riêng tư đã qua. Bây giờ là giờ của ơn cứu độ phổ quát.
2. Niềm cảm xúc dâng trào trong Đức Giê-su:
Cho đến lúc đó, Đức Giê-su đã từ chối mang sứ điệp của Ngài đến lương dân, bây giờ Ngài biết rằng thời giờ của họ đã đến; Ngài sắp đổ máu mình ra cho tất cả họ. Trước đây vài ngày, Ngài đã nói: "Tôi hy sinh mạng sống mình cho đàn chiên. Tôi còn có những chiên khác không thuộc ràn nầy" (Ga 10: 15-16). Những chiên khác không thuộc ràn nầy, chính là những lương dân này đang thỉnh cầu gặp Ngài. Đức Giê-su xúc động tận đáy lòng; Ngài hân hoan nói: "Đã đến giờ Con Người được tôn vinh!"
Chúa Giê-su ưa thích dùng diễn ngữ "Con Người" để nói về mình. Diễn ngữ nầy quy chiếu đến thị kiến của ngôn sứ Đa-ni-en, trong đó một nhân vật mầu nhiệm "như Con Người đến trên mây trời" và nhận được danh dự, quyền năng và vinh quang (Đn 7: 13-14). Tước hiệu bí ẩn nầy cho phép Đức Giê-su diễn tả ở bên kia nhân tính của Ngài sự siêu việt của Ngài, mà không mặc khải tất cả mầu nhiệm con người Ngài.
"Con Người được tôn vinh". Trong Tin Mừng Gioan, giờ tôn vinh bắt đầu ở đồi Can-vê. Thật ra, việc tôn vinh bao gồm cuộc Phục Sinh và lên trời ngự bên hữu Chúa Cha, mà đỉnh cao, chính là Thập Giá; chính ở đó mà hành động cứu độ viên mãn của Đức Giê-su được thực hiện và ý định yêu thương vô hạn của Thiên Chúa được hiện thực.
Chúa Giê-su diễn tả chân lý nầy bằng một dụ ngôn rất đơn giản: "Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác".
Chúng ta ghi nhận rằng mỗi lần Đức Giê-su loan báo cuộc Tử Nạn của Ngài, Ngài đều mời gọi bước theo Ngài trên con đường gian nan của sự từ bỏ: "Ai quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời nầy, thì sẽ giữ lại được cho cuộc sống đời đời" (cf. Mt 16: 21-24; Mc 8: 31-35; Lc 9: 22-23). Chính đó là câu trả lời của Ngài cho những người Hy-lạp mong ước được gặp và biết Ngài. Một cách nào đó, Ngài cho họ một cuộc hẹn gặp: "Ai phục vụ Thầy, thì hãy theo Thầy; và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó". Không ai có thể gặp gỡ Đức Giê-su, nếu không chung bước trên cùng con đường với Ngài.
Viễn cảnh của con đường đau khổ nầy làm xao xuyến Đức Giê-su tận đáy lòng. Ba chuyển động nối tiếp nhau: xao xuyến tận đáy lòng, kêu cầu cùng Chúa Cha và chấp nhận dâng hiến mạng sống mình, mà ba sách Tin Mừng Nhất Lãm mô tả con người của Đức Giê-su ở vườn Ghết-sê-ma-ni. Nhưng vào giây phút nầy, Đức Giê-su không để cho mình ngã quỵ dưới sức nặng của cuộc Tử Nạn, nhưng trấn tĩnh lại ngay. Thêm nữa, một tiếng phán từ trời an ủi Ngài.
3. Tiếng phán từ trời:
Trong Tin Mừng Gio-an, đây là cuộc thần hiện duy nhất.
Thánh Gio-an không tường thuật cuộc Biến Hình; thánh nhân tường thuật biến cố Phép Rửa chỉ gián tiếp và không có bất kỳ ám chỉ nào đến tiếng phán từ trời. "Đoạn văn nầy là đoạn văn duy nhất ám chỉ đến sự can thiệp từ trời". Đây là dấu chỉ sau cùng được ban cho đám đông. Phải chăng đây là dấu chỉ mà người Biệt Phái đòi hỏi nhưng bị từ chối? Đức Giê-su chỉ cho dấu chỉ nầy vào lúc quá muộn: án tử của Ngài được quyết định rồi.
4. Cuộc chiến thắng trên Xa-tan:
Vào lúc nỗi buồn phiền dâng cao, Chúa Giê-su lấy lại niềm hưng phấn lúc ban đầu: ơn cứu độ mà Ngài mang đến cho thế giới sẽ đánh dấu sự thất bại của Xa-tan. Nhân loại sẽ tránh khỏi quyền lực của Xa-tan. Thập Giá sẽ là dấu chỉ của cuộc chiến thắng nầy: "Phần tôi, khi được nâng lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi". Động từ "nâng lên" được dùng ở đây có nghĩa vừa "được nâng lên" vừa "được tôn vinh": được nâng lên trên Thập Giá và được tôn vinh bên cạnh Chúa Cha.Đức Giê-su đã trả lời cho ông Ni-cô-đê-mô theo cùng một cách: "Con Người cũng sẽ được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời" (Ga 3: 14-15).
Lm Inhatiô Hồ Thông
 

MC5-B60.  VINH QUANG NƠI THẬP GIÁ - Lm Giuse Đinh lập Liễm

I. ĐỨC GIÊSU ĐƯỢC TÔN VINH.
 

Đức Giêsu nói:”Đã đến giờ Con Người được tôn vinh”(Ga 12,22). Ngài được tôn vinh như thế nào: MC5-B60

Đức Giêsu nói:”Đã đến giờ Con Người được tôn vinh”(Ga 12,22). Ngài được tôn vinh như thế nào ? Đức Giêsu được tôn vinh không phải bằng sự giầu sang, danh vọng, quyền thế, vinh quang thế gian, Ngài được tôn vinh chính lúc bị treo trên thập giá vì Ngài đã vâng theo thánh ý Cha Ngài, Ngài chiến thắng vẻ vang trong khổ nhục .
 1. Giờ của Đức Giêsu.
Đức Giêsu đã cầu nguyện cùng Cha:”Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này, nhưng chính vì giờ này mà con đến”. Giờ này là giờ nào ? Phải chăng là lúc ký giao ước mới  trong máu của Ngài đổ ra trên thập giá?  Đúng như vậy !
 Lịch sử cứu độ qua các mối tương quan giao ước giữa Thiên Chúa và nhân loại, ta thấy có nhiều giao ước đã được thay đổi : Từ giao ước Adong (St 3,15), với Noe (St 9,1-17), với Abraham (St 17,1-27) đến lời hứa giao ước mới mà Thiên Chúa dùng tiên tri Giêrêmia loan báo (Gr 31,31-34) : tất cả những lời giao ước đó đều thấy thực hiện viên mãn trong GIỜ của Đức Giêsu. Giao ước mới quả đã thực hiện lời Thiên Chúa hứa với nguyên tổ (St 315) đem lại chiến thắng cho con người, và tái lập tương quan mật thiết giữa Thiên Chúa và loài người.
 Đức Giêsu nói:”Đã đến giờ Con Người được tôn vinh”. Những lần khác, Đức Giêsu nhắc đến “Giờ chưa đến”(Ga 2,4 ; 7,30 ; 8,20), nhưng ở đây Ngài lại nói đến “Giờ đã đến”. Vậy “Giờ” ở đây không phải là giờ vinh quang cho bằng là “Giờ hiến tế” đem lại vinh quang cho Ngài : Giờ vinh quang của Con Người là giờ tử nạn và phục sinh của Ngài.
 2. Sự vâng phục của Đức Giêsu.
Khi chấp  nhận mục nát như hạt giống gieo vào lòng đất với cuộc Vượt Qua trên thập giá, Đức Giêsu đã sống trọn vẹn mầu nhiệm tự hủy nơi bản thân mình. Mầu nhiệm này đã bắt đầu bằng việc Nhập Thể và kéo dài trong suốt cuộc sống của Ngài. Sự tự hủy này trước hết, hệ tại ở sự vâng phục hoàn toàn của Đức Giêsu trước thánh ý của Chúa Cha. Tâm tình tuân phục đó của Đức Giêsu cũng được tỏ lộ cách cụ thể qua lời Ngài thưa với Chúa Cha, mà chúng ta vừa nghe trong bài Tin mừng hôm nay:”Đã đến giờ Con Người được tôn vinh. Lạy Cha, xin cứu Con khỏi giờ này. Nhưng chính vì thế mà Con đã đến trong giờ này. Lạy Cha, xin làm vinh danh Cha”
 Mặc dù luôn đặt ý Cha trên hết mọi sự, nhưng trong bản tính của một con người, đứng trước con đường thập giá, Đức Giêsu cũng không khỏi sợ hãi, xao xuyến, ngần ngại. Ngài sợ hãi vì trước mắt, thập giá chính là “một điều điên rồ đối với dân ngoại, là cớ vấp phạm cho người Do thái”(1 Cr 1,23). Vì thế, khi biết rằng sắp đến “giờ” của Ngài, Đức Giêsu đã phải thốt lên:”Bây giờ linh hồn Ta xao xuyến, và biết nói gì ? Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này”.
 Lắng nghe lời tâm sự tha thiết tự đáy lòng của Đức Giêsu, chúng ta thấy rằng : sống vâng phục không phải là một điều dễ dàng. Sự vâng phục này  đòi hỏi Đức Giêsu một sự cố gắng, kiên trì để vượt qua bản thân, sẵn sàng đón nhận các biến cố vui buồn Thiên Chúa gửi đến từng ngày trong cuộc sống ; hay nói cách khác , Đức Giêsu cũng đã phải học để có thể sống vâng phục, như lời tác giả thư Do thái viết:”Dầu là Con Thiên Chúa, Ngài (Đức Giêsu) đã học vâng phục do những đau khổ Ngài chịu”. Thế nhưng, chính nhờ sự vâng phục trọn vẹn đó mà Đức Giêsu khi hoàn tất”Ngài đã trở nên căn nguyên ơn cứu độ đời đời cho tất cả những ai tùng phục Ngài”.
 3. Đức Giêsu chấp nhận thập giá.
Với tư cách là con người như chúng ta, Đức Giêsu cũng cảm thấy sợ hãi trước đau khổ. Trong vuờn Cây Dầu Ngài cũng đã xao xuyến (x. Mt 26,38) và phải kêu xin cùng Cha:”Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho Con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý Con, mà xin theo ý Cha”(Mt 26.39). Theo tính tự nhiên, Đức Giêsu muốn trốn tránh sự đau khổ, nhưng Ngài lại muốn tuân theo thánh ý Cha để cho Cha định liệu. Và ý của Chúa Cha là  muốn cho Con Ngài chịu chết trên thập gia để cứu chuộc nhân loại.
 Bài Tin mừng hôm nay cho ta thấy rõ quan niệm của Chúa đối với đau khổ, đối với mọi thánh giá trên đời.
Đức Giêsu dùng cây thánh giá như bậc thang tới vinh quang “Per Crucem ad lucem”. Quan niệm đó mới nhìn qua là một nghịch lý, song Ngài đã giải thích bằng một dụ ngôn vắn tắt và đầy ý nghĩa : dụ ngôn hạt giống:”Nếu hạt lúa mì rơi xuống đất, mà không thối đi, thì nó chỉ trơ trọi một mình,  nhưng nếu nó thôi đi, thì nó sinh nhiều bông hạt. Ai yêu mạng sống mình thì sẽ mất và ai ghét mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ được nó cho sự sống đời đời”(Ga 12,24).
 Cây thánh giá còn là phương tiện chinh phục. Ngài cho biết, Ngài được giương lên cao thì cũng sẽ có nhiều người cùng được lên cao với Ngài:”Phần Ta, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, Ta sẽ kéo mọi người lên với Ta”(Ga 12,32). Lịch sử đã chứng minh cho lời Chúa. Biết bao người đã tin theo Ngài vì cái chết đau thương đầy tình thương xót của Ngài. Biết bao người đã bỏ tất cả và cảm mến tấm lòng thương xót của Ngài. Thập giá Chúa đã in sâu vào trong lòng người ta.
 Truyện : Ông đóng khố cởi trần.
Người ta kể rằng : Tin mừng Chúa được gieo rắc tại Nhật bản từ hồi thế kỷ 16 do các vị thừa sai ngoại quốc đem đến.  Giáo hội Nhật tuy còn non trẻ mà đã bị cấm cách giết hại. Các vị thừa sai, vị thì bị giết, vị thì phải trục xuất, không còn một vị thừa sai nào ở lại để tiếp tục dạy giáo lý, củng cố đức tin cho họ. Ai cũng tưởng rằng Giáo hội Nhật bản đã bị xoá sổ vì suốt trong ba trăm năm không còn ai đến dạy dỗ họ. Nhưng không ngờ, khi các nhà thừa sai được phép truyền giáo lại ở Nhật, có người xưng mình là Kitô hữu. Khi được hỏi về giáo lý thì họ mù tịt, chẳng hiểu biết gì. Nhưng khi được hỏi là họ thờ ai, thì họ đã mạnh dạn thưa :”Thờ ông đóng khố cởi trần trên thập giá”!
 II. CHÚNG TA SẼ ĐƯỢC TÔN VINH.
Những người theo Đức Kitô sẽ được tôn vinh, nhưng muốn được tôn vinh thì cũng phải có điều kiện, phải nói được như thánh Phaolô : vinh quang của ta là thánh giá Đức Kitô. Chúng ta sẽ tìm được vinh quang trong sự tự hủy, trong việc cho đi và chấp nhận thánh giá trong đời.
 1. Sống theo con đường tự hủy.
Thánh Phaolô đã vinh tụng Đức Giêsu trong bài thánh ca:”Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Ngài lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chất trên cây thập tự”(Pl 2,6-8).
 Đức Giêsu đã tự chọn lấy cái chết để chiếm lấy sự sống. Mới nghe thì ai cũng cho là phi lý vì chếtsống trái ngược nhau, làm sao có thể dung hòa được, nhưng chết và sống không hẳn là hai điều luôn đối nghịch nhau, nhiều khi chúng liên kết hỗ trợ nhau : sự chết nuôi sự sống và sự sống có thể sống được là nhờ sự chết. Ta có thể đưa ra vài ví dụ : 
 
  • Nơi thực vật : những thứ được dùng làm phân bón phải chết đi thì mới trở thành chất bổ dưỡng cho cây.
  • Nơi sinh vật : các thức ăn phải “tiêu” mới “hoá” thành lương thực.
  • Trong cõi nhân sinh : những người già chết đi để nhường đất và hoa mầu của đất cho các thế hệ sau dùng đó mà sống.
  • Ngọn nến : sáp nến phải chảy ra và bị đốt thì ánh sáng mới bùng lên.
Đức Giêsu chết để cho con người sống. Sự chết của Ngài là nguồn sự sống cho chúng ta.(Carôlô, Sợi chỉ đỏ, năm B, tr 165)
 Theo như Flor McCarthy thì “Chết là một phần của sống. Chúng ta sinh ra là để chết, hầu có thể sống sung mãn hơn”. Thực vậy,
 
  • mỗi một hành vi khiêm tốn là một phần tính kiêu ngạo chết đi.
  • mỗi một hành vi can đảm là một phần tính hèn nhát chết đi.
  • mỗi một hành vi dịu dàng là một phần tính hung hăng chết đi.
  • mỗi một hành vi yêu thương là một phần tính ích kỷ chết đi.
Con người tội lỗi chết dần đi thì con người đích thực được dựng nên giống hình ảnh Chúa dần dần sống mạnh.
 Nói một cách cụ thể để áp dụng vào cuộc sống, chúng ta thử đưa ra vài trường hợp cho việc tự hủy, tức là bỏ ý riêng của mình đi để theo ý Chúa : 
 
  • Giả sử cuộc hôn nhân của chúng ta bị tan vỡ và chúng ta cần sự trợ giúp ở bên ngoài, nhưng vì quá kiêu căng chúng ta không muốn yêu cầu điều ấy. Như vậy “bắt ý riêng chết đi” có nghĩa là bắt lòng kiêu ngạo của ta chết đi và sẵn sàng tìm kiếm sự trợ giúp.
  • Hoặc giả như chúng ta được bạn bè thân tín cho biết chúng ta đang ngày càng bê tha rượu chè, nhưng chúng ta cứ tiếp tục không nghe dù tình trạng bê tha gia tăng rõ ràng. Như thế “chết cho ý riêng”có nghĩa là nhìn nhận vấn đề của chúng ta và tìm kiếm phương thuốc điều  trị.
  • Giả như một bạn bè hoặc một người thân trong gia đình xúc phạm đến chúng ta một cách nào đó, khiến chúng ta cứ giữ mãi mối ác cảm với người ấy. Thì “Chết cho ý riêng mình” có nghĩa là thật lòng tha thứ cho người ấy và lại tiếp tục dùng tình thương cử xử với y. Không ai nói rằng : Chết cho ý riêng mình là điều dễ dàng.(M. Link, Giảng lễ Chúa nhật, năm B, tr 97
 2. Sống là phải biết cho đi.
Với con đường tự hủy, Đức Giêsu đã chứng minh một chân lý xem ra có vẻ nghịch lý:”Cho là nhận” và “Chết là con đường đưa tới sự sống”.  Thật vậy, với kinh nghiệm thường ngày, chúng ta cũng có thể nhận ra điều này. Mỗi khi chúng ta mở bàn tay để cho là lúc chúng ta có thể nhận được, và sẽ trở nên phong phú. Còn nếu chúng ta cứ nắm bàn tay lại để giữ cho chính mình, thì cũng đồng thời, chúng ta không có thể đón nhận được bất cứ điều gì. Như thế chúng ta sẽ trở nên nghèo nàn và cô đơn.
 Tương tự, một người buôn bán cứ phải bỏ tiền ra để mua hàng hoá  khiến tiền bạc bị hao hụt đi, nhưng nhờ vậy có hàng bán ra để thu tiền vào và có lời, khiến tiền bạc ngày càng gia tăng và trở nên giầu có. Nếu người ấy không chịu bỏ tiền ra để đầu tư, cứ giữ khư khư số tiền mình có, thì làm sao gia tăng số tiền ấy lên được ? Vậy, điều cần thiết để có là phải cho ra hay cho đi.
 Cảm nghiệm sâu sắc chân lý từ mầu nhiệm tự hủy của Đức Giêsu, thánh Phanxicô Assisi, trong lời kinh Hoà bình, đã ca lên :”Chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh. Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân. Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời”.
 Truyện : Thánh Maximilien Kolbe.
Cha Maximilien Kolbe làm gương cho chúng ta về cung cách sống của người môn đệ Chúa : Một buổi sáng cuối tháng 7 năm 1941 tại trại tập trung Oswiccim của Đức quốc xã, có một người vượt ngục, 10 người khác bị xử thay vào. Các nạn nhân run rẩy bước ra, đứng không vững, khiếp đảm, không dám kêu la, trừ một người kêu ré lên “Ôi vợ và các con tôi”.
Hàng trăm dẫy tù nhân xếp hàng dài im thin thít, hú hồn vì chưa phải tên mình, không một ai dám cựa quậy. Bỗng từ dẫy tù nhân bên trái, một người gầy guộc rời hàng bước về phía viên trại trưởng. Mọi người nín thở : chuyện chưa từng có ! Viên trưởng trại đặt tay lên súng :
- Anh muốn gì ?
- Tôi muốn chết thay một người trong bọn họ.
Viên trưởng trại sửng sốt. Y tưởng mình nghe lầm. Nhưng không, người kia thực sự xin được chết thay cho kẻ có vợ và các con đang đợi ở nhà.  Sau mấy câu gượng gạo, viên trưởng trại nhượng bộ, chấp  nhận lời yêu cầu. Kẻ tình nguyện đo chính là Maximilien Kolbe, một Linh mục công giáo. Cha đã được Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II phong thánh ngày 10.10.1982.
 3. Chấp nhận thánh giá trong đời.
Đau khổ và hạnh phúc luôn gắn liền và đi đôi với nhau. Bài Tin mừng hôm nay giúp chúng ta áp dụng định luật ấy vào đời sống, vào cuộc hành trình đi đến hạnh phúc đích thực và vĩnh cửu của ta.  Đức Giêsu cho biết :”Đã đến giờ Con Người được tôn vinh”. Và Ngài cho biết lý do nào khiến Ngài được tôn vinh. Hay nói cách khác, Ngài phải sống hay làm thế nào mới được tôn vinh:”Thầy bảo thật anh em, nếu hạt giống gieo xuống đất...” Ngài còn diễn tả chân lý ấy theo kiểu khác:”Ai yêu quí mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời”.
 Qua những lời ấy, Đức Giêsu cho thấy sự song đôi tất yếu của một cặp yếu tố trái ngược nhau : chết đi và sinh ra, hạnh phúc và đau khổ. Hạt lúa có thể chết đi mới sinh ra những hạt khác. Con người có đau khổ mới làm cho mình và người khác hạnh phúc.  Thật vậy, nếu người ta cứ sống mãi không chết, làm sao thế giới có đủ chỗ và tài nguyên cho các thế hệ con cháu sinh ra sau ?  Do đó, chết là điều kiện tất yếu của sống, và đau khổ là điều kiện tối yếu của hạnh phúc.  Thật vậy, trên đời, có hạnh phúc nào mà không được xây dựng trên đau khổ, hoặc của chính mình, hoặc của người khác ?  Người ta nói không sai :
Có khó mới có miếng ăn,
Không dưng ai bỗng đem phần chia cho. (Ca dao)
 Trong Kinh thánh có rất nhiều câu nói lên sự đi đôi giữa sống và chết, giữa đau khổ và hạnh phúc, trong đó có vài câu chúng ta thường nghe như :
“Người đi trong nước mắt, đem hạt giống gieo trên ruộng đồng,
Người về miệng vui ca , tay ôm bó lúa ngào ngạt hương”(Tv 126,6).
hoặc:“Nếu ta cùng chết với Ngài, nếu chúng ta cùng chịu đau khổ với Ngài, ta sẽ thống trị với Ngài”(2Tm 2,11-12; x. Rm 6,8; 8,17).
 Truyện : Thập giá chỉ đường.
Phi trường quốc tế Pensylvania là một trong những sân bay lớn nhất, hiện đại nhất trong các sân bay của Hoa kỳ. Cách sân bay chỉ khoảng cây số có một ngôi thánh đường nằm đúng vào hướng bay cuối một trong những phi đạo nhộn nhịp đón nhiều chuyến bay nhất.
 Sợ tháp chuông có thể gây nguy hiểm cho các máy bay mỗi lần đáp xuống phi đạo, toàn thể giáo dân ở đây đã đồng lòng quyết định sẽ đặt trên đỉûnh tháp chuông một bóng đèn nê-ông lớn bằng hình cây thánh giá. Từ đó, mỗi lần chuẩn bị đáp xuống phi đạo vào ban đêm, các phi công đều dựa vào ánh sáng tỏa ra từ cây thánh giá như thể đó là một ngọn hải đăng chỉ đường cho các con tầu cập bến an toàn.
“Lạy Chúa Giêsu, Thánh giá Chúa là một mầu nhiệm mà lý trí chúng con khó hiểu, và đứng trước mầu nhiệm này, tình cảm chúng con hoảng sợ và khước từ. Xin Chúa ban ánh sáng soi dẫn ý nghĩa cho chúng con. Xin ban cho chúng con nghị lực chấp nhận nó với tất cả những đòi hỏi của nó. Xin ban cho chúng con  vui sống mầu nhiệm ấy với Chúa, ngõ hầu Nước Cha trị đến trong chúng con và khắp trần gian đến muôn thuở muôn đời”. Amen.
Lm Giuse Đinh lập Liễm
 

MC5-B61. HẠT LÚA MÌ MỤC NÁT - Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, CSsR

Càng gần tới tuần thánh, phụng vụ càng đưa chúng ta đi vào mầu nhiệm cao cả của sự chết : MC5-B61

Càng gần tới tuần thánh, phụng vụ càng đưa chúng ta đi vào mầu nhiệm cao cả của sự chết của Đức Giêsu Kitô. Cái chết của Chúa Giêsu không phải chỉ là một biến cố đã qua trong lịch sử, cũng không phải chỉ là một biến cố đau thương làm cho mọi người kinh hãi, đưa con người đi tới tuyệt vọng. Chúa Giêsu chết là để đi vào vinh quang với Thiên Chúa Cha và trở nên Đấng ban sự sống. Chúa chết là để trở nên nguồn ban ơn cứu độ, để tất cả những ai nhìn lên Ngài sẽ được cứu sống.” Nếu hạt lúa mì rơi xuống đất không chết đi thì nó chỉ trơ trọi một mình, nhưng nếu nó chết đi, thì nó sinh nhiều bông hạt “ ( Ga 12, 24 ).
MỘT VÍ DỤ CỤ THẾ :
Bằng một lời mạc khải, Chúa Giêsu lấy dụ ngôn hạt lúa mì để bộc lộ chính con người của Ngài : hạt lúa phải chết đi, phải mục nát, nghĩa là nó phải biến đổi mới trở nên cây lúa được. Chúa nhấn mạnh sự đánh đổi diện mạo của hạt lúa. Qua ví dụ này, Chúa muốn nói : Chúa phải chết đi, Ngài mới đem muôn người vào sự sống mới. Chúa nêu lên một qui luật chung cho tất cả những ai muốn bước theo Ngài :” Ai yêu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai ghét mạng sống mình ở đời này thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời “. Chúa Giêsu muốn cho nhân loại hiểu ra rằng sự sống hiện tại là cái gì sẽ qua, nếu ta cứ khư khư bám lấy nó, ta sẽ không giữ được, nhưng nếu ta liều mình qui hướng cuộc sống hiện tại về cuộc sống mới mà Chúa Giêsu đem đến thì ta sẽ có cuộc sống vĩnh cửu.Chúa Giêsu đã nêu gương cho nhân loại, cho chúng ta về chính cuộc sống của Ngài bởi vì Ngài đã chấp nhận kiếp con người dù rằng Ngài là Thiên Chúa để sống với, sống vì, sống cho chúng ta ngoại trừ tội lỗi. Trong cuộc sống ở trần thế 30 năm ở Nagiarét, Chúa đã sống rất âm thầm, làm nghề thợ mộc để sinh nhai và 3 năm rao giảng, Ngài cũng sống đời sống rất bấp bênh, một cuộc đời có thể nói được là tay trắng. Ngài chấp nhận đi đây đi đó rao giảng Nước Trời với các tông đồ, không nhà không cửa :” Con chồn có hang, chim có tổ, con người không hòn đá gối đầu”. Đây là một thực tế nói lên thân phận Người-Chúa-Của-Con-Thiên-Chúa.Vâng, Chúa Giêsu đã hoàn toàn hy sinh, từ bỏ tất cả để luôn thuộc về Thiên Chúa Cha.Chúa Giêsu đã chấp nhận nỗi kinh hoàng, thê lương, trần trụi, đau khổ tột bực để Ngài được chết đi như một hạt lúa mì mục nát, hầu trổ sinh nhiều bông lúa vàng.
TÌNH YÊU CAO QUÍ HƠN CẢ MẠNG SỐNG :
Chúa Giêsu đã thực hiện việc yêu thương của Ngài bằng chính cái chết, bởi vì chết mới được nên lời. Chết mới nói lên được tất cả nỗi lòng và con người đầy nhân từ của Ngài :” Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hy sinh mạng sống vì bạn hữu mình “( Ga 15, 12 ). Chúa đã không cuộn mình trong vỏ ốc ích kỷ của mình để hưởng thụ, để tự hãnh diện với con người cao cả của mình. Ngài đã ra khỏi chính mình để qui tụ mọi người, muôn người dưới chân thập giá:” Khi nào Ta được giương cao khỏi đất, Ta sẽ kéo mọi người đến cùng Ta “.  Do đó, Ngài đã biến cuộc tử nạn nên lời tôn vinh Thiên Chúa và lời yêu thương loài người, yêu thương từng con người :” Chính vì thế mà con đã đến trong giờ này “ ( Ga 12, 27 ). Chúa Giêsu đã sống bằng chính con người tự hiến của Ngài để qua cuộc sống tự hiến ấy, Chúa ban cho mọi người sự sống mới. Sự sống mà Ngài đã phải đánh đổi tất cả để chỉ có một mục đích duy nhất là yêu thương con người.
ÁP DỤNG VÀO THỰC TẾ :
Đời sẽ mau qua, mau tàn, mau lụi. Cuộc đời giống như hoa nở sớm tàn, như một cây hoa phù du, hoa nở thật đẹp nhưng thật mau tàn úa. Do đó, đang khi sống trên trần gian, con người vẫn phải cần cù lao động để kiếm ra của cải, vật chất mà sống, để hưởng hoan lạc đời này nhưng con người vẫn phải hướng về tương lai bằng những việc làm hữu ích, bằng những việc thiện, lập nhiều công phúc. Tin vào Chúa, sống như Chúa là sứ điệp quan trọng để mỗi người biết từ bỏ, hy sinh và sống tốt lành, hầu đời sống tỏa nhiều hương thơm tốt đẹp.
 Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con luôn biết can đảm sống những gì phù hợp với Tin Mừng để chúng con luôn sống “ không phải tôi sống mà là Đức Kitô sống trong tôi “. Amen.
Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, CSsR
 

MC5-B62. CON ĐƯỜNG HẠT LÚA - Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Con đường Chúa Giêsu đã đi qua là con đường hạt lúa: ẪỊã đến giờ Con Người được tôn vinh: MC5-B62

Con đường Chúa Giêsu đã đi qua là con đường hạt lúa: “Đã đến giờ Con Người được tôn vinh. Thật, Thầy bảo anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, nó vẫn trơ trọi một mình. Còn nếu nó chết đi, nó mới sinh được nhiều hoa trái” Ga 12,23-24).
Hạt lúa được gieo trên ruộng đồng, nó mục nát rồi mới nẩy mầm, đâm bông và kết hạt. Không mục nát, hạt lúa chỉ trơ trọi một mình. Sự mục nát làm trổ sinh sự sống mới, hứa hẹn mùa gặt tương lai.
Nhìn một cánh đồng lúa xanh tươi, uốn lượn theo gió, trải dài trong nắng, căng tròn sức sống, ta nghĩ đến muôn vàn hạt lúa đã mục nát để lên xanh đồng lúa bát ngát.
Con đường hạt lúa Chúa Giêsu.
Từ khi nhập thể, Chúa Giêsu đã trở nên như hạt lúa gieo vào lòng đất nhân loại. Thánh Phaolô trình bày mầu nhiệm tự huỷ: “Đức Giêsu Kitô, vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế”. Như hạt lúa bị mục nát: “Người đã hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự”. Như hạt lúa nẩy mầm, lớn lên, đươm bông sinh hạt: “Thiên Chúa đã siêu tôn Người, và ban tặng danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. Như vậy, khi nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất, và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ, và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: “Đức Giêsu Kitô là Chúa” (Pl 2,6-11).
Phúc Âm Marcô viết: “Chúa Giêsu bắt đầu dạy cho các môn đệ biết Con Người phải chịu đau khổ rất nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết, và sau ba ngày sẽ sống lại” (Mc 8,31). Chúa Giêsu nói Người phải chịu nhiều đau khổ. Phải có nghĩa là bắt buộc. Những kẻ gây đau khổ cho Chúa là những người có địa vị trong tôn giáo và xã hội, những người được coi là thuộc loại trí thức, chức cao, quyền trọng, gây nhiều ảnh hưởng trong dân.
Con đường Chúa đi, quá nhục nhã ê chề nên các môn đệ không thể chấp nhận. “Phêrô liền kéo riêng Chúa Giêsu ra và bắt đầu can trách Người. Nhưng khi Chúa Giêsu quay lại, nhìn thấy các môn đệ, Người liền mắng ông Phêrô: Satan, hãy lui lại đằng sau Thầy! Vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Chúa, mà là của loài người” (Mc 8,32-33). Chính bản thân Chúa sẽ như hạt lúa chịu nhiều đau thương tơi tả. Mục nát là chặng đường phải đi qua để có mùa gặt trù phú.
Con đường Chúa đi thật quá hãi hùng: “Chúa Giêsu và các môn đệ đang trên đường đi Giêrusalem…Người lại kéo riêng nhóm mười hai ra và bắt đầu nói với các ông về những điều sắp xảy ra cho mình: Này, chúng ta lên Giêrusalem, và ở đó con Người sẽ bị nộp cho các thượng tế và kinh sư. Họ sẽ lên án xử tử Người và sẽ nộp Người cho dân ngoại. Họ sẽ nhạo báng Người, khạc nhổ vào Người, họ sẽ đánh đòn và giết Người. Ba ngày sau, Người sẽ sống lại” (Mc 10,32-34). Con đường mở mang Nước Trời sao quá khổ đau, bị nhạo báng, bị khạc nhổ, bị đánh đập. Hạt lúa Chúa Giêsu đã đi hết chặng đường đau khổ, mục nát trong cõi chết để đạt tới sự sống vinh quang.
Con đường hạt lúa các môn đệ.
Các môn đệ theo Chúa nên cùng đi trên con đường Chúa đã đi “Ai muốn theo Ta, phải bỏ mình, vác thánh giá mình mà theo Ta” (Mc 8,34). Thánh Phaolô kể về con đường đi của người môn đệ: “Giờ đây bị Thánh Thần trói buộc, tôi về Giêrusalem. Không biết những gì sẽ xảy ra cho tôi ở đó, trừ ra điều này, là tôi đến thành nào, thì Thánh Thần cũng khuyến cáo tôi rằng: xiềng xích và gian truân đang chờ đợi tôi. Nhưng mạng sống tôi, tôi coi thật chẳng đáng gì, miễn sao tôi chạy hết chặng đường, chu toàn chức vụ tôi đã nhận từ Chúa Giêsu, là long trọng làm chứng cho Tin mừng và ân sủng của Thiên Chúa” (CV 20,22-24). Người môn đệ của Chúa coi vinh dự là “đựơc thông phần những đau khổ của Chúa, nên đồng hình đồng dạng với Chúa trong cái chết của Người, với hy vọng cũng được sống lại từ trong cõi chết” (Pl 3,10-11). Thánh Phaolô trở thành hạt lúa Tin mừng. Trải qua tiến trình đau khổ mục nát, thánh nhân đã đứng ở vị trí đầu sóng ngọn gió trên cánh đồng truyền giáo mênh mông.
Xuyên suốt dòng lịch sử Giáo hội, biết bao hạt lúa môn đệ đã chịu mục nát để Giáo hội lớn mạnh không ngừng “Máu các vị tử đạo là hạt giống trổ sinh các tín hữu”. Từng thế hệ chứng nhân như những hạt giống tốt, chết đi trong lòng đất các nền văn hoá, và đã trổ sinh rất nhiều hạt lúa mới. Tất cả làm nên cánh đồng lúa thiêng liêng, mùa màng tươi tốt trong cuộc sống đạo và truyền giáo.
Con đường hạt lúa chúng ta hôm nay.
Con đường hạt lúa như Chúa Giêsu hay như thánh Phaolô và các tông đồ là những con đường kiễu mẫu cho chúng ta đi theo.
Hạt giống phải mục nát đi mới sinh nhiều bông hạt. Muốn sống một cách trọn vẹn, trổ sinh hoa trái tốt lành, ta phải chết đi cho bản thân mình. Chết đi mỗi ngày một chút cho tính ích kỷ, giả dối hận thù ghen ghét. Mục nát đi trong đời sống thiêng liêng có nghĩa là chết cho tội lỗi, từ bỏ bản thân, từ bỏ ý riêng mình. Chết cho tội lỗi là dứt lìa những dục vọng đam mê trái luật Chúa. Chết cho tội lỗi là quyết tâm lánh xa những gì đưa đến sa ngã.
Định luật căn bản của sự sống là: “Ai yêu sự sống mình thì sẽ mất, còn ai bằng lòng mất sự sống mình ở đời này thì sẽ giữ lại được cho cuộc sống muôn đời” (Ga 12,25). Chết vì tình thương, vì hạnh phúc đồng loại, vì chính nghĩa, vì công lý, vì hòa bình, vì đức tin là những cái chết làm trổ sinh muôn ngàn nét đẹp cho đời.
Đức Thánh Cha giảng cho giới trẻ Angola: Các bạn là một hạt giống được Thiên Chúa ném vào lòng đất; con đường duy nhất có thể là hiến dâng sự sống vì yêu, là chết vì yêu. Chính Chúa Giêsu đã nói: ”Nếu hạt lúa rơi vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh nhiều hạt khác. Ai yêu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời” (Ga 13,24-25). Và Chúa Giêsu đã sống như vậy: cuộc đóng đinh Người xem ra là một thất bại hoàn toàn, nhưng không phải thế! Được linh hoạt bởi sức mạnh của ”một Thần Khí vĩnh cửu”, Chúa Giêsu tự dâng hiến mình cho Thiên Chúa như lễ vật tinh tuyền (Dt 9,14). Ngài hiến mình cho chúng ta và chúng ta đáp trả lại bằng cách tự hiến cho người khác vì tình yêu Chúa. Đó là con đường sự sống, nhưng chỉ có thể bước đi với điều kiện duy nhất là liên lỉ đối thoại với Chúa, và đối thoại đích thật giữa chúng ta với nhau. Nền văn hóa thống trị không giúp các bạn sống Lời Chúa Giêsu và tận hiến mình theo chương trình của Thiên Chúa Cha và như Chúa mời gọi. Sức mạnh ở trong các bạn, vì thế đừng sợ hãi có các quyết định vĩnh viễn trước sự liều lĩnh dấn thân toàn cuộc sống mình. Trong ơn gọi hôn nhân cũng như trong cuộc đời thánh hiến các bạn cảm thấy sợ hãi và tự hỏi: thế giới luôn thay đổi và cuộc sống có đầy các khả thể. Làm sao tôi lại có thể định đoạt lúc này cho toàn cuộc đời, khi tôi không biết các bất ngờ nó dành cho tôi? Với một quyết định vĩnh viễn tôi lại không hủy bỏ sự tự do và trói tay mình lại hay sao?. Đó là các nghi hoặc đang tấn công các bạn, và nền văn hóa cá nhân chủ nghĩa và hưởng lạc ngày nay khiến cho các tấn kích đó càng mạnh mẽ hơn. Nhưng khi người trẻ không tự quyết định, thì có nguy cơ sẽ luôn mãi là một đứa bé.
Các bạn hãy dám có các quyết định vĩnh viễn, vì thật ra đó là những quyết định duy nhất không phá hủy điều lớn lao trong cuộc đời. Và như thế sẽ có các ốc đảo và các khu vực lớn của nền văn hóa kitô được tạo ra, trong đó sẽ hiển hiện thành Thánh từ trời xuống, từ nơi Thiên Chúa, “sằn sàng như tân nương trang điểm đế đón tân lang”. Đây là cuộc đời đáng sống, mà tôi thành câm cầu chúc cho các bạn. Hoan hô giới trẻ Angola!
Diễn văn của Đức Thánh Cha đã bị ngắt quãng nhiều lần bởi các tràng pháo tay và và tiếng la hét vui mừng của mấy chục ngàn bạn trẻ hiện diện bên trong sân vận động và cả bên ngoài nữa (x.VietCatholic News 22,3, 2009 ).
Hạt lúa âm thầm và hạt lúa mục nát
Tình yêu cao quý hơn cuộc sống và mãnh liệt hơn sự chết. Cái chết của Chúa Giêsu đã nên lời yêu thương con người mọi nơi và mọi thời. Chính vì dám chết cho tình yêu nên luật yêu thương của Chúa trở nên một thách đố. Thách đố con người chui ra khỏi vỏ ốc ích kỷ của mình, ra khỏi những bận tâm, toan tính, vun quén cho mình, để sống cho tha nhân và cho Thiên Chúa. Quên mình, hiến thân, đón nhận cái chết như hạt lúa mục nát, đã từng làm cho Chúa Giêsu trăn trở, nao núng và thổn thức. Những giây phút cuối cùng giáp mặt với tử thần không thể không gay go, thống thiết và đầy thách thức: "Bây giờ linh hồn Ta xao xuyến và biết nói gì? Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này" (Ga.12,27). Thế nhưng, Người đã biến cuộc tử nạn nên lời tôn vinh Thiên Chúa và lời yêu thương con người: "Chính vì thế mà con đã đến trong giờ này" (Ga.12,27).
Nếu “Hạt lúa âm thầm mọc lên” (x. Mc 4,26-29) là hình ảnh của Tin mừng chan hoà trong một nền văn hoá, thì “Hạt lúa phải mục nát đi” (x. Ga 12,24) là con đường gian truân vất vả để làm nên một mùa gặt phong nhiêu.
Lm Giuse Nguyễn Hữu An
 

MC5-B63. CHÚA NHẬT V MÙA CHAY, NĂM B  - Lm. Anphong Trần Đức Phương

Cuối tuần này chúng ta mừng Chúa Nhật V Mùa Chay. Theo truyền thống từ xa xưa, ở nhiều: MC5-B63

Cuối tuần này chúng ta mừng Chúa Nhật V Mùa Chay. Theo truyền thống từ xa xưa, ở nhiều nơi cũng như tại Hoa Kỳ, các Thánh Giá trong nhà thờ có thể che vải màu tím từ Lễ chiều Thứ Bảy tuần IV Mùa Chay cho đến sau khi cử hành nghi thức tưởng niệm sự Thương Khó Chúa vào Thứ Sáu Tuần Thánh. Các ảnh tượng khác trong nhà thờ cũng có thể được che màn tím từ thánh lễ chiều Thứ bảy IV Mùa Chay cho đến trước Lễ Vọng Phục Sinh.
  “Như hạt lúa miến gieo xuống đất phải mục nát đi mới có thể nảy sinh nên những cây lúa miến tươi tốt trổ sinh nên bao hạt lúa miến khác, mỗi tín hữu cũng phải chết đi với tội lỗi để sống theo lề luật tình yêu của Chúa mới có thể phát triển và đem lại bao ơn phúc thiêng liêng cho chính mình và cho bao người khác trong gia đình và trên thế giới…” Đó là chủ điểm trong Thánh Lễ Chúa Nhật hôm nay được Chúa Giêsu nhấn mạnh trong Bài Phúc Âm (Gioan 12, 20-33): “Nếu hạt lúa rơi vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu nó chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. Ai hy sinh mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ được sự sống đời đời…”
  Dân Chúa xưa cũng phải hy sinh chấp nhận từ bỏ cuộc sống ở Ai Cập để lên đường đi vào cuộc sống khổ ải 40 năm trong sa mạc, mới có thể tìm về miền đất của Cha Ông, miền đất Chúa đã hứa cho Tổ Phụ Abraham. Mỗi khi Dân Chúa sống theo thế gian, chiều theo tội lỗi xác thịt, họ lại phải gặp bao khó khăn dồn dập để nhận ra lỗi lầm, ăn năn sám hối và được “Chúa tha thứ không còn nhớ đến tội lỗi của họ nữa!” (Bài Đọc I: Giêrêmia 31, 31-34).
  Chính Chúa Giêsu, để chuộc tội cho nhân loại, Người cũng đã từ bỏ chính mình, trở nên giống người phàm mọi đàng, chấp nhận mọi khổ đau để có thể “trở nên nguồn ơn cứu độ cho tất cả những ai vâng phục Người…” (Bài Đọc II: Thư Do Thái 5, 7-9).
  Là những tín hữu của Chúa, chúng ta cũng tiến đi trên cuộc hành trình đức tin hướng về quê hương Nước Trời là quê hương thật của chúng ta. Dọc theo cuộc hành trình đó, dài, ngắn tuỳ mỗi người, chúng ta luôn như Dân Chúa xưa trong cuộc hành trình qua sa mạc tiến về Hứa Địa, chúng ta luôn cảm thấy chán nản mỏi mệt, muốn sống thác loạn, trở về kiếp sống dễ dãi theo thế gian và thú tính xác thịt. Nhưng Chúa luôn cùng đi với mọi người chúng ta (Matthêu 28, 20), nâng đỡ chúng ta bằng ơn thánh của Chúa qua các Bí tích, nuôi sống và ban sức mạnh cho chúng ta bằng lời Chúa và bằng chính Mình và Máu Thánh Chúa. Nhưng mỗi người chúng ta phải cộng tác với ơn Chúa, phải cố gắng hằng ngày để chiến đấu với những khuynh hướng xấu, những lối sống sa đọa của thời đại, để chết đi với con người cũ, và sống lại trong cuộc sống mới, phát triển các nhân đức trong chúng ta và nâng đỡ mọi người đồng hành với chúng ta.
  Cùng với toàn thể giáo Hội, chúng ta đang tiến gần đến những ngày của Tuần Thương Khó, để kỷ niệm cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa trên Thánh Giá để cứu chuộc chúng ta. Chúng ta hãy dành nhiều thời giờ cầu nguyện để lắng đọng tâm hồn và suy gẫm lời Chúa mời gọi chúng ta: “Ai muốn theo Ta, hãy bỏ mình đi, vác Thánh Giá hàng ngày mà theo Ta…” “Như hạt lúa miến được gieo vào lòng đất, chúng ta phải chết đi với bản tính ích kỷ, ham danh lợi để có thể vươn lên trong cuộc sống mới, đem nhiều hoa trái để làm vinh danh Chúa, và đem ơn cứu độ cho chính chúng ta, cho mọi người trong gia đình chúng ta, và những người chung quanh chúng ta.
  Mỗi người chúng ta đếu mang thân phận yếu đuối, dễ sa ngã phạm tội xúc phạm đến Chúa và tha nhân bằng nhiều cách khác nhau. Chúng ta hãy dùng những hy sinh hãm mình và việc bác ái trong Mùa Chay Thánh để thanh tẩy con người chúng ta. Như vua David xưa, sau khi đã phạm tội nặng nề, đã thật lòng sám hối, thú nhận mọi tội lỗi với Chúa, và dâng lời cầu khẩn Chúa thứ tha, chúng ta cũng hãy sám hối lỗi lầm và dâng lời cầu nguyện:
  “Lạy Chúa, xin thương con theo lòng nhân hậu của Chúa.
“Xin xóa đi mọi tội lỗi của con theo lòng đại lượng của Chúa.
“Xin tạo cho con quả tim trong sạch, và canh tân tinh thần cương nghị trong người con.
“Xin đừng xua đuổi con ra khỏi Thánh Nhan Chúa.
“Chớ thu hồi Thánh Thần Chúa trong người con.
“Xin ban lại cho con niềm vui ơn cứu độ!
“Với tinh thần quảng đại, xin đỡ nâng con,
“Để con có thể chỉ dẫn cho những kẻ phản nghịch, đường lối của Chúa,
“và giúp người tội lỗi trở về cùng Chúa!”
 (Đáp ca: Thánh vịnh 50)
Lm. Anphong Trần Đức Phương
 

MC5-B64. MUỐN ĐƯỢC PHẢI ĐÀNH MẤT - Lm. An Phong, OP

Ga 12,20-33
 

Tin mừng hôm nay đưa chúng ta vào bối cảnh tuần lễ cuối cùng sứ vụ công khai của Đức Giêsu: MC5-B64

Tin mừng hôm nay đưa chúng ta vào bối cảnh tuần lễ cuối cùng sứ vụ công khai của Ðức Giêsu. Ðức Giêsu đang tiến đến "giờ" của Người, giờ thực hiện mầu nhiệm Vượt Qua để giải thoát nhân loại. Ðức Giêsu dùng một hình ảnh rất thực tế để diễn tả sứ mệnh của mình : "Hạt lúa mì rơi xuống đất, có thối đi mới sinh cây kết trái". Với hình ảnh đó, Người cũng muốn đưa ra một "định luật" cho cuộc sống.
Xem ra sứ điệp Kitô giáo có nhiều nghịch lý : "Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất" (Mt 16,25a); "Nếu ai vả má bên phải, thì hãy giơ cả má bên trái nữa" (Mt 5,39); "Hãy yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em" (Mt 5,44), v.v… và cái nghịch lý đối với lẽ thường đó lại trở thành một qui luật tất yếu củ Kitô giáo, qui luật "đành mất để nhận được". Có người thấy Kitô giáo có nhiều đòi hỏi khó khăn như : hy sinh, hãm mình, khổ chế, chịu khó… và họ tưởng Kitô giáo là một chủ trương bi quan, yếm thế, nhát đảm. Nhưng không phải thế, Kitô giáo khởi đi từ sự kiện Ðức Giêsu đã chết và đã phục sinh, để tìm ra một quy luật : "Sự sống phát xuất từ cái chết". Thập giá không phải là tận điểm. Giống như hạt lúa mì rơi xuống đất, thối đi, nẩy mầm, thành cây, rồi đâm bông kết trái; thì thập giá đau khổ cũng dẫn đến phục sinh vinh quang.
Trong Ðức Giêsu, người kitô hữu sống "sự sống phát xuất từ cái chết"; họ sống theo qui luật nghịch lý của đời sống Kitô giáo; họ can đảm vác thập giá của mình mà bước theo Ðức Kitô; nghĩa là họ đang chuyển tải vào trong cuộc sống mình chính mầu nhiệm cứu độ của Ðức Kitô.
Hơn thế nữa, người kitô hữu khám phá ra rằng : qui luật nghịch lý này cũng là qui luật tất yếu của tình yêu và tự do đích thực. Ðức Giêsu đã chấp nhận cái chết vì vâng phục Chúa Cha và yêu thương con người. Cũng thế, người kitô hữu tìm thấy trong sự nghịch lý ấy điều hết sức "hợp tình hợp lý" : tìm thấy giá trị tích cực trong sự hy sinh; tìm thấy cái "được" trong cái "mất"; tìm thấy tình yêu trong sự cho đi; tìm thấy tự do trong sự vâng phục Thiên Chúa; giống như một sinh viên, muốn đạt được bằng cấp thì cần phải hy sinh, học tập vậy.
Như thế, mùa Chay chỉ là con đường đưa đến niềm vui phục sinh và màu tím mùa chay mới thật sự là màu trông đợi trong hân hoan.
Lạy Chúa Giêsu,
Chúng con còn sợ khó,
cũng như Chúa đã từng xao xuyến trước cái chết.
Nhưng với hết lòng tin tưởng,
chúng con nguyện bước theo chân Chúa đến cùng.
Xin Chúa ban thêm sức mạnh
và thêm tình yêu cho chúng con.
Lm. An Phong, OP
 

MC5-B65. HẠT LÚA TRƠ TRỌI - Manna

 LỜi Chúa: Ga 3,14-21
Vào dịp lễ Vượt Qua năm ấy, 20 trong số những người lên Giêrusalem thờ phượng Thiên Chúa, có mấy người Hy Lạp. 21 Họ đến gặp ông Philípphê, người Bếtxaiđa, miền Galilê, và xin rằng: "Thưa ông, chúng tôi muốn được gặp ông Giêsu". 22 Ông Philipphê đi nói với ông Anrê. Ông Anrê cùng với ông Philipphê đến thưa với Ðức Giêsu.
23 Ðức Giêsu trả lời: "Ðã đến giờ Con Người được tôn vinh! 24 Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. 25 Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời. 26 Ai phục vụ Thầy, thì hãy theo Thầy; và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó. Ai phục vụ Thầy, Cha của Thầy sẽ quý trọng người ấy". 27 "Bây giờ, tâm hồn Thầy xao xuyến! Thầy biết nói gì đây? Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này, nhưng chính vì giờ này mà con đã đến. 28 Lạy Cha, xin tôn vinh Danh Cha". Bấy giờ có tiếng từ trời vọng xuống: "Ta đã tôn vinh Danh Ta Ta sẽ còn tôn vinh nữa!"
29 Dân chúng đứng ở đó nghe vậy liền nói: " Ðó là tiếng sấm!" Người khác lại bảo: "Tiếng một thiên thần nói với ông ta đấy!" 30 Ðức Giêsu đáp: "Tiếng ấy đã vọng xuống không phải vì tôi, mà vì các người. 31 Giờ đây đang diễn ra cuộc phán xét thế gian này. Giờ đây thủ lãnh thế gian này sắp bị tống ra ngoài! 32 Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi". 33 Ðức Giêsu nói thế để ám chỉ Người sẽ phải chết cách nào.
  Suy NiỆm
"Nếu hạt lúa rơi vào lòng đất, mà không chết đi thì nó vẫn trơ trọi một mình. Còn nếu nó chết đi thì mới sinh nhiều bông hạt"
 

Chẳng ai trong chúng ta ngạc nhiên khi nghe câu trên. Ðó là luật tự nhiên chi phối cây cỏ, nhưng lắm khi,: MC5-B65

Chẳng ai trong chúng ta ngạc nhiên khi nghe câu trên. Ðó là luật tự nhiên chi phối cây cỏ, nhưng lắm khi tôi thấy khó áp dụng cho mình. Tại sao tôi phải chết để người khác được sống? Chết để sinh nhiều bông hạt ư? Nhưng nhiều bông hạt có ích gì, khi chính tôi bị tan vỡ? Chính vì thế tôi không muốn chết như hạt lúa. Tôi chấp nhận trơ trọi một mình. Tôi cô đơn với tôi, để được yên ổn. Tôi sợ mất mát, vì mất mát đem lại đớn đau, nên tôi tìm đủ cách để giữ lại những gì tôi có, những gì tôi là. Tiếc thay, lúc giữ được tất cả tôi lại thấy mình mất tất cả, vì mất ý nghĩa của cuộc sống. Tôi như con thú chỉ biết chăm lo cho bộ lông của mình. Dần dần qua những kinh nghiệm đau thương, tôi mới nhận ra rằng: chỉ có một cách giữ chặt, đó là buông ra và trao hiến.
Tôi bắt đầu được khi chấp nhận mất.Sự sống đời đời đã bắt đầu, hạnh phúc đã hé nụ ngay lúc này, ngay ở đây, cho tôi. Như con ốc sên, chỉ bò được khi chui ra khỏi vỏ, tôi chỉ giàu có và triển nở mọi mặt khi quảng đại ra khỏi lớp vỏ của mình, ra khỏi những bận tâm, tính toán, xây đắp cho mình, để sống cho tha nhân và cho Thiên Chúa. Lời kinh Hòa Bình lại vang vọng trong tôi: "Vì chính khi hiến thân, là khi được nhận lãnh, chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân..."
Nhưng hiến thân, quên mình, hy sinh, từ bỏ, đón lấy cái chết như hạt lúa vùi sâu, những điều đó đã làm chính Ðức Giêsu dao động. "Bây giờ tâm hồn Thầy xao xuyến Thầy biết nói gì đây?
Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này chăng? Nhưng chính vì giờ này mà con đã đến." (c. 27) Ðã có những giây phút giằng co, ngần ngại, đã có những cuộc chiến Vườn Dầu ở trong tôi. Nếu tôi kiên trì tỉnh thức và cầu nguyện, tôi sẽ thắng được nỗi sợ bị thua thiệt, mất mát. Sau nhiều lần dám liều mất tất cả để rồi ngỡ ngàng thấy mình được lại quá nhiều, tôi sẽ dễ dàng chọn cái mất trước mắt như con đường dẫn đến cái được vĩnh hằng.
Xin Ðức Giêsu bị đóng đinh kéo tôi lên với Ngài, kéo tôi lên khỏi đất, kéo tôi ra khỏi tôi.
 GỢi Ý Chia SẺ
 
  • Con người chỉ lớn lên khi từ bỏ. Ðứa bé rời khỏi bụng mẹ để chào đời. Ðôi bạn trẻ rời bỏ nhà để lập một tổ ấm mới. Con người rời bỏ cuộc sống này để vào vĩnh cửu. Ðối với bạn, sự từ bỏ nào là khó hơn cả?
  • Tưởng mình được, hóa ra lại mất. Vui lòng mất, hóa ra lại được. Bạn có kinh nghiệm cụ thể nào về điều đó không?
  CẦu NguyỆn
Lạy Chúa Giêsu,
khi nhìn thấy đồng lúa chín vàng chúng con ít khi nghĩ đến những hại giống đã âm thầm chịu nát tan để trao cho đời cây lúa trĩu hạt.
Có bao điều tốt đẹp chúng con được hưởng hôm nay
là do sự hy sinh quên mình của người đi trước, của các nhà nghiên cứu, các người rao giảng, của ông bà, cha mẹ, thầy cô, của những người đã nằm xuống cho quê hương dân tộc. Ðã có những con người sống như hạt lúa, để từ cái chết của họ vọt lên sự sống cho tha nhân.

 Nhờ công ơn bao người, chúng con được làm hạt lúa. Xin cho chúng con đừng tự khép mình trong lớp vỏ để cố giữ sự nguyên vẹn vô nghĩa của mình, nhưng dám đi ra để góp cho cánh đồng cuộc đời một cây lúa nhỏ. Chúng con phải chọn lựa nhiều lần trong ngày. Ðể chọn tha nhân và Thiên Chúa, chúng con phải chết cho chính mình.
Ước gì chúng con dám sống mầu nhiệm vượt qua đi từ cõi chết đến nguồn sống, đi từ cái tôi hẹp hòi đến cái tôi rộng mở trước Ðấng Tuyệt Ðối và tha nhân. Amen.
 Manna
 

MC5-B66. NẢY SINH HOA TRÁI TỪ LÒNG ĐẤT - Lm. Giuse Nguyễn Cao Luật, OP

Ga 12,20-33
Ðã đến giờ
 

Sau khi Ðức Giêsu long trọng tiến vào thành Giêrusalem (Ga 12,29), người Pha-ri-sêu đã đưa ra một : MC5-B66

Sau khi Ðức Giêsu long trọng tiến vào thành Giêrusalem (Ga 12,29), người Pha-ri-sêu đã đưa ra một nhận xét đầy chua chát : "Kìa thiên hạ theo ông ấy hết." Vào tuần lễ cuối cùng này, dường như Tin Mừng thứ tư muốn bắt đầu lại từ đầu : việc những người Hy-lạp muốn gặp Ðức Giêsu là hình ảnh cuộc gặp gỡ bên bờ sông Gio-đan của các môn đệ đầu tiên với Ðức Giêsu. Chính tại địa điểm này, Tin Mừng Gioan đã mô tả tuần lễ đầu tiên trong cuộc đời công khai của Ðức Giêsu.
Trong đoạn Tin Mừng hôm nay, thánh Gioan mô tả thái độ của Ðức Giêsu : đã đến giờ phải chọn lựa. Các tác giả khác trình bày thái độ này trong những sự kiện xảy ra tại vườn Cây Dầu.
Những người Hy-lạp
Thánh Gioan nhấn mạnh đến vai trò của những người Hy-lạp ; họ là những dân ngoại nhưng vẫn kính sợ Thiên Chúa. Vai trò này được nói đến qua việc họ nhờ đến những người trung gian : Phi-líp-phê là một danh từ Hy-lạp. Quê hương bản quán của ông là một thành phố vùng Ga-li-lê có nhiều giao tiếp với người Hy-lạp ; An-rê cũng là một danh từ Hy-lạp.
Có thể nối kết lời cầu xin của những người này với câu nói của Ðức Giêsu : "Ðã đến giờ ..." và "tôi sẽ lôi kéo mọi người lên với tôi." Họ đến thật đúng lúc, vì đã đến giờ Ðức Giêsu được giương cao lên khỏi mặt đất, được tôn vinh và lôi kéo mọi người lên với Người. Ðây là Giờ đầy nghịch lý, trong đó mọi thực tại sẽ thay đỗi : chết tức là sống, mất tức là được. Ðể sinh được nhiều bông hạt, hạt lúa vùi trong lòng đất phải chịu thối rữa. Xưa kia Kinh Thánh đã từng nói đến một đoàn người thuộc đủ mọi dân nước sẽ xuất hiện vào ngày cuối cùng. Này đây họ đang đến và ngước mắt nhìn lên cây sự sống.
Quả thật, đây là Giờ gặp gỡ giữa sứ mạng của Ðức Giêsu và lời thỉnh cầu của các dân nước. Cả hai gặp gỡ nhau và đi đến hổi chung cuộc. Từ giây phút này, tính cách phỗ quát đã được bày tỏ rõ ràng, để rổi được hoàn tất trên thập giá và ngôi mộ trống.
Tiếng nói
Thời điểm quan trọng này được chứng thực nhờ tiếng nói từ trời. Ðây là một hình thức về phép rửa mới mang chiều kích phỗ quát, mở đường cho phép rửa trong Thánh Thần.
Vinh quang của Thiên Chúa, chính là sự hiện diện của Chúa Cha trong Ðức Kitô. Ðức Giêsu tôn vinh Chúa Cha qua việc chọn lựa chấp nhận đi xuống đến tận cùng của cuộc sống. Chúa Cha tôn vinh Chúa Con qua cuộc Khỗ Nạn và Phục Sinh của Chúa Con.
Các công trình Ðức Kitô thực hiện cũng chính là công trình của Thiên Chúa. Cũng một vinh quang ấy đang đợi chờ tất cả những ai để cho mình được Ðức Giêsu lôi kéo. "Tiếng ấy đã vọng xuống không phải vì tôi, mà vì các ngươi." Ðến lượt mình, những công việc con người làm cũng sẽ trở thành công trình của Thiên Chúa.
Gặp Ðức Giêsu
Ðể gặp được Ðức Giêsu như những người Hy-lạp yêu cầu, cần phải bước theo Người đến thập giá và ngày Phục Sinh. Kể từ lúc đã đến giờ, người ta chỉ nhận ra Ðức Giêsu là Ðấng chịu chết và phục sinh. Giáo Hội được trao sứ mạng mặc khải về Ðức Giêsu đã chịu chết và sống lại cho những ai yêu cầu.
Chết để sống
Bản Tin Mừng hôm nay thật khó nghe và cũng thật khó hiểu. Trong trình thuật này, Ðức Giêsu nói về cái chết, về sự từ bỏ cuộc sống, về nỗi sợ của chính Người.
Người ta mong muốn rằng những lời này không đề cập đến họ : những lời này chỉ dành riêng cho Ðức Giêsu. Nhưng trong thực tế, người ta không thể trốn tránh được. Nếu như thánh Gioan nói đến sự có mặt của những người Hy-lạp, những người ngoại tại Giêrusalem vào thời điểm này, đó chính là vì muốn cho thấy rằng những lời nói của Ðức Giêsu là lời ngỏ với mọi người, với tất cả những ai muốn được gặp Ðức Giêsu.
Như vậy, có cần phải chết để được sống ? Có cần phải từ bỏ việc yêu mến cuộc sống ?
Nếu hiểu những câu nói này theo nghĩa đen, người ta sẽ nghĩ ngay đến những người, nam cũng như nữ, đang buổn phiền lo lắng tìm kiếm mọi đau khỗ và bất hạnh để có thể tin chắc rằng mình sẽ đi thẳng tới Thiên Ðàng.
Người ta đã hiểu thế nào về thành ngữ theo Ðức Kitô ? Không thể nào có quyền nghĩ rằng dân Thiên Chúa là một dân gổm những người đã chết mà đang sống. Không thể nói yêu mến Thiên Chúa và người khác mà lại chối bỏ cuộc sống.
Có lẽ người ta đã hiểu sai về ý nghĩa những từ ngữ chết và sống !
Phải chăng hạt lúa mì, hay bất cứ hạt giống nào khác, đã thực sự chết, theo nghĩa chấm dứt và hoàn toàn tiêu tan ?
Ðúng ra, người ta thấy hạt giống đó nảy mầm, bừng lên tất cả sức sống đang tiềm ẩn và làm nảy sinh một thứ phép lạ : một bông lúa trĩu hạt, vàng tươi ; một cây tươi tốt, xinh đẹp.
Theo lối diễn tả vừa rổi, chết có nghĩa là gì ? Ðiều này lại không có nghĩa là con người không được khép kín nơi chính mình, ngược lại phải luôn mở ra trước người khác, trước lời Chúa ?
Chết, phải chăng lại không phải là giải phóng tất cả sức mạnh tình yêu đang tiềm ẩn nơi mình và kìm hãm lại những nỗi sợ hãi, tính ích kỷ và thói tự mãn ?
"Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình !" Ai yêu cuộc sống của riêng mình với những chuyện nhỏ nhặt, những khước từ, những bạo lực, những xúc phạm, người ấy đánh mất cuộc sống của mình.
Còn những ai chấp nhận để mình bị vượt qua, bị xô đẩy, đôi khi bị chà đạp vì sự sống và tình yêu đối với người khác ; ai để cho mình bị đâm thấu vì tình yêu đầy thúc bách của Thiên Chúa ; tất cả những người ấy làm cho sự sống bừng nở, như mầm cây mọc lên từ lòng đất và vươn cao dưới ánh mặt trời.
Thật vậy, luôn có một hành trình trong bóng tối trước khi tiến đến trong ánh sáng. Hành trình đầy nguy hiểm này làm người ta sợ. Như Ðức Giêsu đã từng xao xuyến, người ta vẫn muốn tránh đoạn đường này. Vẫn còn đó một cám dôỵ mãnh liệt : muốn ở lại trong nơi êm ấm và an toàn của chính mình.
Thế nhưng, không có con đường nào dẫn đến sự sống mà không phải trải qua thập giá. Hơn nữa, niềm tin của người Kitô hữu không dừng lại ở ngày thứ Sáu Tuần Thánh, niềm tin ấy cắm sâu vào trong một ngôi mộ, một ngôi mộ trống, một ngôi mộ trước đây từng là nơi an nghỉ của Ðấng hiện đang sống, sống mãi mãi.
Hôm nay, ai là người giới thiệu ?
"Chúng tôi muốn được gặp Ðức Giêsu." Ðó cũng là lời thưa của chúng ta với Chúa Thánh Thần, khi bước vào những ngày kỷ niệm cuộc Khổ Nạn của Ðức Kitô. Ngày nay, ai sẽ là người giúp chúng ta gặp được Ðức Giêsu, đổng thời giúp chúng ta khám phá ra trong chính cái chết của Người, những hoa trái đầu mùa của việc Người được tôn vinh ? Ai sẽ là các ông Phi-líp-phê và An-rê để giới thiệu cho chúng ta biết con người được giương cao lên khỏi mặt đất cũng chính là người lôi kéo tất cả mọi người.
Và những người Hy-lạp của thời đại chúng ta, những con người thành tâm tìm kiếm ý nghĩa cho cuộc đời của mình, liệu họ có tìm ra những người bạn của Ðức Giêsu để giới thiệu họ với Người không ? Chúng ta có phải là người dẫn họ đến gặp Ðức Giêsu không ?
Mỗi người tuỳ theo hoàn cảnh của mình vẫn có những cách để tiếp cận với mầu nhiệm Ðức Giêsu, miễn là họ luôn gặp gỡ, luôn chiêm ngắm thập giá, đổng thời dám tin vào cuộc phiêu lưu của hạt lúa được gieo trong lòng đất. Chúng ta thực sự tiến đến gần Ðức Giêsu vinh quang mỗi khi chúng ta chấp nhận sinh ra từ cạnh sườn bị đâm thủng của Người.
Lm. Giuse Nguyễn Cao Luật, OP
 

MC5-B67. HẠT LÚA TRƠ TRỌI - Manna

 LỜi Chúa: Ga 3,14-21
 

Vào dịp lễ Vượt Qua năm ấy, 20 trong số những người lên Giêrusalem thờ phượng Thiên Chúa, có mấy: MC5-B67

Vào dịp lễ Vượt Qua năm ấy, 20 trong số những người lên Giêrusalem thờ phượng Thiên Chúa, có mấy người Hy Lạp. 21 Họ đến gặp ông Philípphê, người Bếtxaiđa, miền Galilê, và xin rằng: "Thưa ông, chúng tôi muốn được gặp ông Giêsu". 22 Ông Philipphê đi nói với ông Anrê. Ông Anrê cùng với ông Philipphê đến thưa với Ðức Giêsu.
23 Ðức Giêsu trả lời: "Ðã đến giờ Con Người được tôn vinh! 24 Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. 25 Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời. 26 Ai phục vụ Thầy, thì hãy theo Thầy; và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó. Ai phục vụ Thầy, Cha của Thầy sẽ quý trọng người ấy". 27 "Bây giờ, tâm hồn Thầy xao xuyến! Thầy biết nói gì đây? Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này, nhưng chính vì giờ này mà con đã đến. 28 Lạy Cha, xin tôn vinh Danh Cha". Bấy giờ có tiếng từ trời vọng xuống: "Ta đã tôn vinh Danh Ta Ta sẽ còn tôn vinh nữa!"
29 Dân chúng đứng ở đó nghe vậy liền nói: " Ðó là tiếng sấm!" Người khác lại bảo: "Tiếng một thiên thần nói với ông ta đấy!" 30 Ðức Giêsu đáp: "Tiếng ấy đã vọng xuống không phải vì tôi, mà vì các người. 31 Giờ đây đang diễn ra cuộc phán xét thế gian này. Giờ đây thủ lãnh thế gian này sắp bị tống ra ngoài! 32 Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi". 33 Ðức Giêsu nói thế để ám chỉ Người sẽ phải chết cách nào.
  Suy NiỆm
"Nếu hạt lúa rơi vào lòng đất, mà không chết đi thì nó vẫn trơ trọi một mình. Còn nếu nó chết đi thì mới sinh nhiều bông hạt"
Chẳng ai trong chúng ta ngạc nhiên khi nghe câu trên. Ðó là luật tự nhiên chi phối cây cỏ, nhưng lắm khi tôi thấy khó áp dụng cho mình. Tại sao tôi phải chết để người khác được sống? Chết để sinh nhiều bông hạt ư? Nhưng nhiều bông hạt có ích gì, khi chính tôi bị tan vỡ? Chính vì thế tôi không muốn chết như hạt lúa. Tôi chấp nhận trơ trọi một mình. Tôi cô đơn với tôi, để được yên ổn. Tôi sợ mất mát, vì mất mát đem lại đớn đau, nên tôi tìm đủ cách để giữ lại những gì tôi có, những gì tôi là. Tiếc thay, lúc giữ được tất cả tôi lại thấy mình mất tất cả, vì mất ý nghĩa của cuộc sống. Tôi như con thú chỉ biết chăm lo cho bộ lông của mình. Dần dần qua những kinh nghiệm đau thương, tôi mới nhận ra rằng: chỉ có một cách giữ chặt, đó là buông ra và trao hiến.
Tôi bắt đầu được khi chấp nhận mất.Sự sống đời đời đã bắt đầu, hạnh phúc đã hé nụ ngay lúc này, ngay ở đây, cho tôi. Như con ốc sên, chỉ bò được khi chui ra khỏi vỏ, tôi chỉ giàu có và triển nở mọi mặt khi quảng đại ra khỏi lớp vỏ của mình, ra khỏi những bận tâm, tính toán, xây đắp cho mình, để sống cho tha nhân và cho Thiên Chúa. Lời kinh Hòa Bình lại vang vọng trong tôi: "Vì chính khi hiến thân, là khi được nhận lãnh, chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân..."
Nhưng hiến thân, quên mình, hy sinh, từ bỏ, đón lấy cái chết như hạt lúa vùi sâu, những điều đó đã làm chính Ðức Giêsu dao động. "Bây giờ tâm hồn Thầy xao xuyến Thầy biết nói gì đây?
Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này chăng? Nhưng chính vì giờ này mà con đã đến." (c. 27) Ðã có những giây phút giằng co, ngần ngại, đã có những cuộc chiến Vườn Dầu ở trong tôi. Nếu tôi kiên trì tỉnh thức và cầu nguyện, tôi sẽ thắng được nỗi sợ bị thua thiệt, mất mát. Sau nhiều lần dám liều mất tất cả để rồi ngỡ ngàng thấy mình được lại quá nhiều, tôi sẽ dễ dàng chọn cái mất trước mắt như con đường dẫn đến cái được vĩnh hằng.
Xin Ðức Giêsu bị đóng đinh kéo tôi lên với Ngài, kéo tôi lên khỏi đất, kéo tôi ra khỏi tôi.
 GỢi Ý Chia SẺ
 
  • Con người chỉ lớn lên khi từ bỏ. Ðứa bé rời khỏi bụng mẹ để chào đời. Ðôi bạn trẻ rời bỏ nhà để lập một tổ ấm mới. Con người rời bỏ cuộc sống này để vào vĩnh cửu. Ðối với bạn, sự từ bỏ nào là khó hơn cả?
  • Tưởng mình được, hóa ra lại mất. Vui lòng mất, hóa ra lại được. Bạn có kinh nghiệm cụ thể nào về điều đó không?
  CẦu NguyỆn
Lạy Chúa Giêsu, khi nhìn thấy đồng lúa chín vàng chúng con ít khi nghĩ đến những hại giống đã âm thầm chịu nát tan để trao cho đời cây lúa trĩu hạt.
Có bao điều tốt đẹp chúng con được hưởng hôm nay
là do sự hy sinh quên mình của người đi trước, của các nhà nghiên cứu, các người rao giảng, của ông bà, cha mẹ, thầy cô, của những người đã nằm xuống cho quê hương dân tộc. Ðã có những con người sống như hạt lúa, để từ cái chết của họ vọt lên sự sống cho tha nhân.

 Nhờ công ơn bao người, chúng con được làm hạt lúa. Xin cho chúng con đừng tự khép mình trong lớp vỏ để cố giữ sự nguyên vẹn vô nghĩa của mình, nhưng dám đi ra để góp cho cánh đồng cuộc đời một cây lúa nhỏ. Chúng con phải chọn lựa nhiều lần trong ngày. Ðể chọn tha nhân và Thiên Chúa, chúng con phải chết cho chính mình.
Ước gì chúng con dám sống mầu nhiệm vượt qua đi từ cõi chết đến nguồn sống, đi từ cái tôi hẹp hòi đến cái tôi rộng mở trước Ðấng Tuyệt Ðối và tha nhân. Amen.
 Manna
 

MC5-B68. GIỜ CỦA CHÚA GIÊSU - Gm. Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm

Gr 31,31-34; Dt 5,7-9; Ga 12,20-33
Phúc Âm: Ga 12, 20-33
"Nếu hạt lúa mì rơi xuống đất thối đi, thì nó sinh nhiều bông hạt".
Khi ấy, trong số những người lên dự lễ, có mấy người Hy-lạp. Họ đến gặp Philipphê quê ở Bêtania, xứ Galilêa, và nói với ông rằng: "Thưa ngài, chúng tôi muốn gặp Ðức Giêsu". Philip-phê đi nói với Anrê, rồi Anrê và Philipphê đến thưa Chúa Giêsu. Chúa Giêsu đáp: "Ðã đến giờ Con Người được tôn vinh. Quả thật, quả thật, Ta nói với các con: Nếu hạt lúa mì rơi xuống đất mà không thối đi, thì nó chỉ trơ trọi một mình; nhưng nếu nó thối đi, thì nó sinh nhiều bông hạt. Ai yêu sự sống mình thì sẽ mất, và ai ghét sự sống mình ở đời này, thì sẽ giữ được nó cho sự sống đời đời. Ai phụng sự Ta, hãy theo Ta, và Ta ở đâu, thì kẻ phụng sự Ta cũng sẽ ở đó. Ai phụng sự Ta, Cha Ta sẽ tôn vinh nó. Bây giờ linh hồn Ta xao xuyến, và biết nói gì? Lạy Cha, xin cứu Con khỏi giờ này. Nhưng chính vì thế mà Con đã đến trong giờ này. Lạy Cha, xin hãy làm vinh danh Cha". Lúc đó có tiếng từ trời phán: "Ta đã làm vinh danh Ta và Ta còn làm vinh danh Ta nữa". Ðám đông đứng đó nghe thấy và nói đó là tiếng sấm. Kẻ khác lại rằng: "Một thiên thần nói với Ngài". Chúa Giêsu đáp: "Tiếng đó phán ra không phải vì Ta, nhưng vì các ngươi. Chính bây giờ là lúc thế gian bị xét xử, bây giờ là lúc thủ lãnh thế gian bị khai trừ và khi nào Ta chịu đưa lên cao khỏi đất, Ta sẽ kéo mọi người lên cùng Ta". Người nói thế để chỉ Người phải chết cách nào.
 Suy NiỆm: Giờ Của Chúa Giêsu
 

Con đường sám hối và giao hòa mà Phụng vụ thứ Tư lễ Tro năm nay vạch ra, đã gợi cho chúng ta: MC5-B68

Con đường sám hối và giao hòa mà Phụng vụ thứ Tư lễ Tro năm nay vạch ra, đã gợi cho chúng ta cùng sống lại những giai đoạn của giao ước giữa Thiên Chúa và dân Người: nào là giao ước với Noe, diễn tả ý định Thiên Chúa hứa bảo tồn sinh mạng cho loài người; giao ước với Abraham mở ra một chân trời mới cho tình bạn và ơn cứu độ; giao ước Sinai quy tụ đám người hỗn tạp vừa thoát cảnh nô lệ Aicập thành một dân riêng; trong cuộc lưu đày tại Babylon, tuy không thấy Thiên Chúa tái lập giao ước, nhưng vẫn ngầm chứa một sức mạnh đặc biệt thanh luyện niềm tin của toàn dân hướng về ngày giải thoát.
Có thể nói, quá trình lịch sử Dân Thiên Chúa như quy hướng về giây phút cứu độ, giây phút mà giao ước giữa Thiên Chúa với loài người đạt tới cao điểm của nó, giây phút mà thánh sử Yoan gọi là "Giờ của Chúa Yêsu". Từ ngữ "Giờ của Chúa Yêsu" trong Phúc Âm thứ 4 quá khó hiểu và đượm nhiều sắc thái bí ẩn!
Trong ba bài đọc Thánh Kinh của Phụng vụ Chúa nhật hôm nay, Giáo hội như mời gọi ta suy niệm lại giờ cứu độ đó, để có thể chuẩn bị tâm hồn đón nhận giao ước mới, giao ước muôn đời mà Thiên Chúa đã ký kết với loài người qua cái chết của Ðức Yêsu.
 1. Giờ Của Chúa Yêsu Trong Chương Trình Cứu Ðộ
Lịch sử cứu độ đã vẽ lại cho chúng ta chương trình của Thiên Chúa ngay từ lúc nguyên tổ thất trung. Lời Người hứa với Abraham được lưu truyền và có sức mạnh quy hướng toàn dân ngóng trông giờ cứu độ.
Giờ đó được thực hiện bởi một người mang tên Yêsu mà đức tin Kitô giáo tuyên xưng là Ðấng Cứu thế. Nhìn lại cuộc đời của Ðức Yêsu, chúng ta sẽ bỡ ngỡ và ngạc nhiên khi thấy nhiều lần trong thời gian hoạt động công khai Người đã tuyên bố: "Giờ tôi chưa đến" (Yn 2,4; 7,30; 8,20). Qua cách trình bày của các thánh sử, đặc biệt của tác giả Phúc Âm thứ Tư, chúng ta khám phá ra phần nào bí ẩn của giờ Ðức Yêsu . Giờ của Người không phải là những lúc thành công trong bước đường rao giảng Tin Mừng, không phải hệ tại những phép lạ thực hiện, cũng không phải những lúc dân chúng ngưỡng mộ, định tôn phong Người làm vua..., nhưng là giờ thực thi giao ước mới, giờ chu toàn sứ mạng cứu chuộc nhân trần.
Bởi thế, câu nói: "Giờ tôi chưa đến" hoặc "chưa đến giờ của Người" không những đã làm cho thân thế và hoạt động của Ðức Yêsu thêm bí ẩn khó hiểu mà còn gây nên những tò mò, thắc mắc: giờ đó là gì? Khi nào sẽ đến? Giờ đó liên quan thế nào với đời sống con người?
Trong sách Tin Mừng thánh Yoan đã ghi rõ cho chúng ta biết khung cảnh và khoảng thời gian khi Ðức Yêsu tuyên bố giờ của Người đã đến. Câu nói xảy ra vào tuần lễ cuối cùng trong cuộc đời dương thế của Người, sau khi khải hoàn tiến vào Yêrusalem, giữa những tiếng hoan hô, kính phục của đám dân Dothái vào dịp lễ Vượt qua năm 30. Lẽ ra, Người phải xem đây là khung cảnh thuận lợi để tuyên bố giờ của Người đã đến, do đó giải tỏa được bao thắc mắc, tò mò của những kẻ chung quanh! Nhưng không, thánh Yoan đã ghi lại bối cảnh Ðức Yêsu vào thành Yêrusalem bằng một giọng văn mỉa mai, diễn tả tâm trạng chua xót của Người trước những tiếng hoan hô, những khuôn mặt hớn hở của đám dân hiếu thắng, không chút hiểu biết về sứ mạng của Người.
Thế nhưng, khi có vài người lương dân Hylạp, ngỏ ý muốn "nhìn thấy Ðức Yêsu" (Yn 12,21), thì thay vì trả lời trực tiếp hoặc có thái độ đón nhận. Người đã công nhiên tuyên bố: "Ðã đến giờ Con Người được tôn vinh!". Những người Hylạp này không phải là công dân Dothái sống ở hải ngoại (diaspora) (Yn 7,35) nhưng họ quả thật là lương dân, thuộc hạng người mà Thánh Kinh gọi là "Những kẻ biết kính sợ Thiên Chúa" (Cv 10,2.22.35; 13,16.26). Họ không đến Yêrusalem như người ngoạn cảnh, nhưng lên đền thờ để hành hương vào dịp đại lễ Vượt qua.
Phân tích nguyện vọng của họ trong câu nói: "Chúng tôi muốn nhìn thấy Ðức Yêsu", hầu như chúng ta bắt gặp được chủ ý thần học của thánh sử Yoan. Nếu họ chỉ muốn nhìn thấy Ðức Yêsu như một nhân vật nào khác, có lẽ họ đã không cần tới Philipphê làm trung gian. Nhưng đặt câu nói vào văn mạch của Yoan, "muốn nhìn thấy" Ðức Yêsu có nghĩa là muốn nói chuyện với Người, muốn trao đổi với Người, muốn có tương quan với Người, muốn biết Người. Vả lại, trong ngôn ngữ thần học của Yoan, ta thường gặp thánh nhân đôi khi sử dụng động từ "nhìn thấy" để diễn tả một thực trạng nội tâm sâu xa hơn, đó là "tin" vào Ðức Yêsu. Như vậy, ta có thể thay thế câu: "Chúng tôi muốn nhìn thấy Ðức Yêsu" bằng câu: "Chúng tôi muốn đặt niềm tin vào Người" (Cf Yn 1,14.18.51; 3,11.32; 8,56; 14,9.19). Vì theo Yoan, mẫu người tín hữu đích thực, chính là người môn đệ yêu quý của Ðức Yêsu, khi bước vào mồ Chúa trong ngày Phục sinh: ông "đã thấy và đã tin" (Yn 20,8).
Những người Hylạp muốn gặp Ðức Yêsu, nhưng phải qua trung gian. Phải chăng điều đó ngụ ý rằng: lương dân sau này cũng phải đón nhận Tin Mừng cứu độ qua trung gian lời rao giảng của các tông đồ: họ như đã nhìn thấy Ðức Yêsu qua sứ điệp Tin Mừng... Nhưng giữa việc lương dân muốn nhìn thấy Ðức Yêsu và các việc tông đồ rao giảng Tin Mừng cứu độ còn có một biến cố quan trọng nữa: đó là cuộc Thương khó và Phục sinh của Ðức Yêsu, đó là lúc Người thể hiện giờ của mình theo lệnh Chúa Cha: "Giờ đã đến để Con Người được tôn vinh" (Yn 12,32). Giờ Khổ nạn và Phục sinh đánh dấu cao điểm của lịch sử cứu độ, giờ mà hồng phúc cứu độ không còn là di sản riêng của dân Dothái, giờ mà mọi phân cách giữa dân Dothái và Hylạp, đại diện cho lương dân, không còn nữa.
Thật vậy, Yoan đã loan báo cho chúng ta Tin Mừng cứu độ: khi lương dân biểu lộ niềm tin vào Ðức Yêsu, thì đó chính là lúc vinh quang của Người được phát hiện. Và từ lúc ấy, Người đã mạc khải cách cụ thể con đường cứu độ qua dụ ngôn hạt lúc mì. Nếu hạt lúa mì rơi xuống đất không thối nát và tan biến đi, thì sẽ không thể sinh hoa kết quả nuôi dưỡng con người được. Ðó là giờ khai mở con đường thập giá và khổ nạn để Ðức Yêsu thực hiện sứ mệnh cứu chuộc nhân trần (Yn 12,27; Cf Mc 14,41).
 2. Giờ Của Chúa Yêsu Trong Cuộc Sống Nhân Loại
Theo thánh Yoan, giờ khổ nạn của Ðức Yêsu đã bắt đầu khi dân ngoại tìm đến xem Người. Còn theo thánh Marcô thì giờ ấy đã bắt đầu khi Người giáp mặt với kẻ "tội lỗi" trong vườn Giếtsêmani. Và từ đây con đường thập giá của Người như mang trọn vẹn ý nghĩa: qua Ðức Yêsu thụ nạn, ta thấy được niềm tủi hận, nỗi khổ đau và cảnh chết chóc của loài người: tiếng kêu la, nước mắt của Ðức Kitô (Hr 5,7) nhưng vọng lại âm hưởng và báo trước mọi trạng huống bi đát của nhân loại. Mọi người, không phân biệt Dothái hay lương dân, đều được mời gọi chứng kiến và tham dự giờ của Người. Lời cầu nguyện khẩn xin và thái độ vâng phục của Ðức Yêsu diễn tả thật đầy đủ vai trò trung gian (Pontifex) và địa vị trưởng tử mọi loài thọ sinh (Primogenitus) của Người. Nhờ thế cái chết và sự phục sinh của Người mang lại ý nghĩa cho cuộc sống nhân loại.
Nhưng tại sao giờ của Ðức Yêsu lại là giờ của Thập giá và Phục sinh.
3. Giờ Của Chúa Yêsu Ðể Thực Hiện Giao Ước Mới
Lịch sử cứu độ qua các mối tương quan giao ước giữa Thiên Chúa và loài người như trả lời cho chúng ta câu hỏi ấy. Từ giao ước với Adam (Kn 3,15), với Noe (Kn 9,1-17), với Abraham (Kn 17,1-17), với dân được tuyển chọn ở Sinai (Xh 19,24), với Ðavít (2S 7), đến lời hứa giao ước mới mà Thiên Chúa dùng tiên tri Yêrêmia loan báo (Yr 31,31-34): tất cả những lời giao ước đó đều thấy thực hiện viên mãn trong giờ của Ðức Yêsu.
Lời loan báo: "Này đây sẽ đến những ngày Ta ký giao ước của Ta..." trong Yêrêmia gặp được tiếng vọng đáp trả trong câu: "Và bây giờ..." của Phúc Âm thứ tư (Yn 12,27-31). Nay là lúc lời hứa ban giao ước mới cho con người được thực hiện. Quả vậy, nội dung của giao ước mới hệ tại việc Thiên Chúa ghi luật pháp của Người trên trái tim và ban Thánh Linh trong tâm hồn loài người, để họ có thể nhận biết Thiên Chúa (Ez 36,26-27). Từ đó, Giao ước mới quả đã thực hiện lời Thiên Chúa hứa với nguyên tổ (Kn 3,15), đem lại chiến thắng cho con người, và tái lập tương quan mật thiết giữa Thiên Chúa với họ.
Bởi thế, khi dân ngoại ngỏ ý với các môn đệ, là đại diện dân Dothái, được nhìn xem, hiểu biết Ðức Yêsu, thì ta có thể nói đó là toàn thể nhân loại như đang quy hướng và tiến về giờ của Ðức Yêsu, để biến lịch sử thế giới thành lịch sử cứu độ. Như vậy, cuộc hành trình của nhân loại, dầu lắm khi mang đầy thương tích khổ đau, thất bại, tuyệt vọng, cũng sẽ tìm được ý nghĩa tròn đầy trong giờ của Ðức Yêsu, giờ cứu độ bằng con đường Khổ giá và Phục sinh.
 GiẢng LỄ
Các tuần lễ mùa Chay - có thể nói - đến hôm nay là hết. Chúa nhật sau đã là Lễ Lá và đi vào Tuần Khổ nạn, Thương khó rồi. Các bài đọc Kinh Thánh hôm nay vì thế không còn nói đến việc chuẩn bị đi vào Mầu nhiệm Cứu độ nữa. Giờ của Ðức Kitô đã đến, như lời Phúc Âm nói. Và như trong câu đầu của bài đọc I, nay đã đến ngày Thiên Chúa ký kết một giao ước mới với Dân Người. Chúng ta hết thảy được mời gọi chứng kiến và tham dự chính mầu nhiệm cứu thế sắp diễn ra trong phụng vụ. Thế nên, không còn phải là lúc nhìn vào mình hay nhìn đi đâu, nhưng là nhìn vào chính Thiên Chúa, chính Ðức Kitô đang sắp sửa thực hiện cho Dân Chúa kế hoạch cứu vớt ngàn đời. Bổn phận của chúng ta, trong ngày hôm nay và trong suốt tuần này, là phải chăm chú hướng lòng, hướng mắt về Chúa để chiêm ngưỡng và đón nhận mọi hành vi mà Ngài sắp làm cho ta. Các bài Kinh Thánh hôm nay có sức giúp ta làm công việc ấy, vì tất cả đều nói đến giờ của Chúa và của Ðức Kitô.
Trước hết, bài đọc thứ nhất cho ta thấy đã đến ngày Thiên Chúa muốn ký kết với Dân Người một giao ước mới, khác hẳn mọi giao ước trước đây. Chúng ta nhớ trong các Chúa nhật trước, phụng vụ đã lần lượt nhắc đến các giao ước thời Noe, thời Abraham, thời Môsê, thời lưu đày. Càng đi, các bản giao ước ấy càng trở nên phong phú, sâu xa và thiêng liêng, hoàn hảo hơn. Nhưng chưa bao giờ ta nghe nói đến một giao ước tốt lành như hôm nay. Hình ảnh về giao ước Noe là một chiếc cầu vồng ở trên trời, vừa xa chúng ta, vừa dễ tan biến.
Với Abraham dấu hiệu của giao ước là lễ nghi cắt bì; nhưng thật sự chỉ hạn chế trong dòng dõi Dothái về phương diện máu thịt. Sang đến thời Môsê, đó là luật pháp và máu chiên bò rảy xuống trên dân. Giao ước vẫn còn hình thức xã hội và bề ngoài. Song đến thời lưu đày, thật ra không có giao ước mới nào: nhưng việc Chúa đưa dân lưu lạc trở về cũng là dấu chỉ Ngài giữ lời giao ước. Nhất là trong lúc lưu đày, Chúa hướng lòng dân chờ đợi một giao ước mới, một giao ước vĩnh cửu, cũng như bài đọc thứ I hôm nay cho chúng ta thấy. Khác với mọi giao ước trước đây, giao ước mới này sẽ được ghi trong tâm khảm mỗi người, để mọi người thấy Chúa ở ngay trong tâm hồn mình, khiến ai ai cũng tự mình có kinh nghiệm về Thiên Chúa, không cần phải hỏi thăm hay học hỏi với ai về sự hiểu biết này nữa. Giao ước mới này - như vậy - vượt xa mọi giao ước trước. Liên hệ giữa Chúa và chúng ta trở thành sâu xa, nội tại ngay trong tâm hồn. Chúa sẽ xóa bỏ mọi tội lỗi cho dân Người, không còn nhớ nữa. Người chỉ còn tỏ rõ bộ mặt thương yêu, hiều dịu với ta, để ta cảm thấy thật sự tình Người mật thiết.
Nhưng lòng con người đã sẵn sàng để Chúa ghi giao ước tốt đẹp đó vào chưa? Ðó là cả vấn đề. Kinh thánh thường phàn nàn: lòng dân Dothái thật chai đá. Và lòng ai ai không ít nhiều như vậy? Thế mà giao ước của Chúa chỉ có thể viết trên những trái tim bằng thịt, nồng nàn yêu mến Chúa, chia sẻ những tâm tình của Chúa. Cho nên những người đạo đức hồi xưa luôn cầu khẩn: Lạy Chúa xin tạo dựng cho con một trái tim trong sạch, như chúng ta vừa đọc trong bài đáp ca. Thành ra, bao giờ Chúa cũng sẵn sàng ký kết giao ước tình yêu, Ngài chỉ còn chờ thời gian thuận lợi về phía ta. Hôm nay, Ngài tuyên bố ngày giờ đó đã đến rồi. Căn cứ vào đâu, nếu chẳng phải vào chính lời Ðức Kitô tuyên bố trong bài Phúc Âm: Giờ Con Người đã đến?
Quả vậy, Ðức Yêsu là Con Người, là người Con Một yêu quý của Thiên Chúa Cha. Ngài đã sinh ra làm người, trở thành Adong mới, mang tất cả thân phận nhân loại ở nơi mình. Ngài gánh hết tội lỗi loài người. Và giờ đây, Ngài sắp để tội lỗi bị đóng đinh vào thập giá, thế nên nhân loại tội lỗi sắp được ơn tha thứ. Loài người sắp có khả năng đón nhận giao ước mới. Trái tim Ðức Kitô sắp bị lưỡi đòng thâu qua, để chết cho tội lỗi. Trái tim máu thịt sắp chết, trái tim chai đá tội lỗi của loài người sắp được thay thế bằng trái tim đầy lửa Thánh Thần yêu mến. Nếu Thiên Chúa phải chờ khi loài người trở lại, từ bỏ tội lỗi để ký kết giao ước mới nơi tâm khảm mọi người, thì giờ của Thiên Chúa, giờ Thiên Chúa ký kết giao ước tình yêu phải chờ giờ của Ðức Kitô, giờ Ngài cứu chuộc mọi người trong mầu nhiệm thánh giá. Thế mà trong Phúc Âm hôm nay, Ðức Kitô tuyên bố: Giờ Ngài đã đến.
Chúng ta hãy vui mừng đón nhận tin này. Bao thế hệ loài người chờ đợi ngày hôm nay. Chính Ðức Mẹ cũng đã phải chờ đợi. Hôm ở tiệc cưới Cana, Người đến thưa với Chúa: nhà đám đã hết rượu rồi. Tin ấy gợi lên trong tâm hồn Chúa Yêsu bao nhiêu hình ảnh Kinh Thánh thường ví cảnh lầm than của dân Chúa tội lỗi với cảnh thiếu rượu, thiếu nước. Ðức Mẹ nói đến một sự kiện vật chất; nhưng Chúa Yêsu lại nghĩ ngay đến bình diện thiêng liêng. Lời xin của Ðức Mẹ trở thành lời cầu ơn tha thứ cứu độ. Nhưng chưa đến giờ ấy, Chúa Yêsu đã trả lời: chưa đến giờ của Người.
Hôm nay, ngược lại, Người tuyên bố rõ: giờ Người đã đến rồi. Người tuyên bố như thế, khi thấy dân ngoại ngỏ ý muốn gặp Người. Làm sao Người có thể không đáp ứng được lòng khát vọng của muôn dân? Không phải chỉ dân Dothái cần ơn cứu độ. Mọi dân tộc đang đặt hy vọng vào Người, Người là Ðấng yêu thương nhân loại, làm sao có thể từ chối lời cầu xin tha thiết của thế giới lầm than vì tội lỗi? Lời xin ấy trở thành như tiếng nói của Chúa Cha, ngỏ ý chờ đợi ngày giờ để thi hành kế hoạch tình yêu, tha tội lỗi cho loài người, đã ký kết giao ước mới cho họ.
Như thế ta mới dễ hiểu vì sao Ðức Kitô lại gọi giờ của Người là giờ vinh quang. Người trở thành vinh hiển thật sự trong giờ phút chấp nhận ra đi cứu thế. Và ta cũng dễ hiểu, vì sao sau khi Ðức Kitô tuyên bố giờ Người đã đến, có tiếng Chúa Cha phán với Người, như để tỏ dấu thông cảm, thỏa mãn...
Thế nên tâm tình thứ nhất của chúng ta hôm nay sau khi đọc các bài Kinh Thánh này, là cảm mến lòng nhân ái bao la của Chúa Cha và Chúa Con. Chính Chúa Cha đã dự liệu ngày giờ ban ơn tha thứ và ký kết giao ước mới cho ta. Chính Chúa Con đã bằng lòng đi đến ngày giờ ấy để kế hoạch tình yêu được thực hiện hầu ta nhận được tân ước vĩnh cửu trong Máu Thánh Người. Ðồng thời chúng ta cũng biết qua Kinh Thánh: giao ước đòi ta đáp ứng mới có thể trở thành phong phú. Nên Chúa Yêsu muốn kéo tất cả chúng ta lên với Ngài trên thánh giá, để đóng đinh xác thịt tội lỗi ta vào đó, để trái tim chai đá của ta bị đâm thâu hầu trái tim ta trở nên mềm mại cho ơn Thánh Thần yêu mến nhào nặn.
Như vậy, chúng ta cần chăm chú nhìn vào Chúa Yêsu, như bài Thánh Thư hôm nay mô tả để ta bắt chước trong đời sống cụ thể. Người khóc lóc, nhưng tin tưởng, xin Chúa Cha tha tội cho loài người. Người cũng không làm gì khác hơn ở trong thánh lễ này, vì giờ đây mầu nhiệm thập giá cũng được thực hiện lại để kéo lòng chúng ta lên với Chúa, chia sẻ tâm tình cứu thế của Ngài. Nếu chúng ta thành thật kết hợp mật thiết với Ngài trong thánh lễ này, thì chắc chắn trong cả tuần, chúng ta phải thao thức ghét tội và tha thiết cầu xin cho dân tộc, thế giới được sạch tội, để đời sống của chúng ta thực sự là đời sống trong Tân Ước vĩnh cửu, mà Ðức Kitô khai mạc khi giờ Người đã đến.
Gm. Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm
 

MC5-B69. Tôi sẽ lôi kéo mọi người – Yvon Daigneaut.

Mở đầu.
 

Trong khi bài Tin Mừng được tuyên bố, chúng ta đã nghe Chúa Giêsu nói một lời khó hiểu: “Khi: MC5-B69

Trong khi bài Tin Mừng được tuyên bố, chúng ta đã nghe Chúa Giêsu nói một lời khó hiểu: “Khi tôi được nâng lên khỏi mặt đất, tôi sẽ lôi kéo mọi người đến với tôi”. Lời này ám chỉ hai điều: việc Ngài sắp bị đóng đinh thập giá và tầm ảnh hưởng vô biên từ cái chết của Ngài trên thập giá. Vì không có thói quen nhắc đến những nguyên nhân trừu tượng và những ý niệm tổng quát không thể kiểm chứng được, Chúa Giêsu mời chúng ta lưu ý đến một biến cố sắp xảy ra liên quan đến Ngài cách tuyệt đối –bởi Ngài là người độc nhất bị nâng lên khỏi mặt đất- và sẽ liên quan đến chúng ta một cách cũng tuyệt đối như thế bởi vì hết thảy mọi người sẽ được lôi cuốn bởi biến cố này và sẽ dấn thân vào đó.
Biến cố thập giá.
Thập giá không phải là một biến cố anh hùng mà Chúa Kitô ao ước đương đầu bằng tất cả bầu nhiệt huyết cách mạng. Đây là một biến cố khá nhỏ nhen, bần tiện, với một hậu cảnh tôn giáo chính trị khó hiểu, mà Chúa Giêsu đã tìm cách tránh trong một thời gian dài, nhưng vẫn không trốn thoát nó. Khi Ngài thấy biến cố này đang đến và Ngài không thể hoãn lại lâu hơn nữa, Ngài đã đón nhận nó bằng tác động vâng phục hoàn toàn tự do của một người con, sẵn sàng tự hiến như Chúa Cha đã yêu cầu Ngài.
Vì trong cơ bản thập giá là cuộc tự hiến hoàn toàn mà Chúa Con dâng lên Cha Ngài bằng hành vi vâng phục được thể hiện trong một vụ án bất công, kèm theo sự ruồng bỏ của những kẻ thuộc về Ngài, trong một cái chết gây ra bởi nỗi đau đớn tột cùng do việc bị đóng đinh thập giá. Qua hành vi vâng phục này Chúa Giêsu hiến mình trong một niềm tin tưởng tuyệt đối vào Chúa Cha Đấng có thể cứu Người khỏi chết và khỏi quyền lực tối tăm đang tấn công Ngài.
Chúa Giêsu không chấp nhận thập giá vì Ngài, Ngài chấp nhận nó vì chúng ta. Chính thập giá của thế giới mà Ngài đã mang, thập giá mà sự bất tuân của chúng ta và việc chúng ta từ chối Chúa Cha đã áp đặt cho chúng ta, nó là công trình tay chúng ta làm ra, hoa quả trổ sinh từ những bất chính của chúng ta. Khi chấp nhận thập giá chung của loài người, khi mang nó như thể nó thuộc về bản thân Ngài, Chúa Giêsu đã sống nó trong một tiếng kêu hy vọng và tin tưởng mà Chúa Cha sẽ đón nhận. Sự hiến dâng và lời khẩn cầu của Ngài đã cứu Ngài và cứu chúng ta nữa cùng với Ngài.
Thập giá là nguồn mạch sự sống.
Sự cứu độ của chúng ta, với tư cách là cộng đồng nhân loại và với tư cách cá nhân, chỉ nằm trong việc trở về với Thiên Chúa, trong ý muốn vâng phục của con cái, hoa quả của một Giao Ước Mới. Và chúng ta không thể thực hiện được điều này bằng sức riêng mình, vì việc từ chối ban đầu chống lại tình yêu Thiên Chúa tiếp tục đè nặng trên chúng ta và áp đặt cho chúng ta một gánh nặng ngày càng khiến chúng ta tê liệt.
Trái lại, nếu Ai Đó có thể giao hòa chúng ta lại với Thiên Chúa, vì Ngài và vì chúng ta hết thảy, bằng việc đón nhận trọn vẹn tình yêu của Chúa Cha, dù là trong một biến cố đầy thử thách như biến cố thập giá, lúc đó ta sẽ tìm lại được tình thân hữu với Thiên Chúa. Lòng chúng ta sẽ có khả năng thương yêu và giao hòa, có khả năng vui vẻ đón nhận ơn sự sống. Sự sống sẽ tuôn trào từ thập giá cách tràn trề đến nỗi làm cho chúng ta phải ngỡ ngàng. Nhờ chấp nhận thập giá của loài người, Chúa Giêsu đã ban cho chúng ta sự sống mà Chúa Cha đổ tràn trên Ngài trong cuộc Phục Sinh: thông ban Thánh Thần; ân sủng; sự hiệp thông đời đời với Thiên Chúa; qui tụ loài người thành một cộng đoàn mới; hoàn tất việc tạo dựng trong công chính, bình an và tự do.
Kết luận.
Chúa Giêsu nói: “Ta sẽ lôi cuốn hết thảy mọi người!”. Ảnh hưởng của thập giá luôn luôn lan rộng. Không nỗi đau khổ nào của loài người được tách rời ra khỏi thập giá, không niềm hy vọng nào nảy sinh trong lòng lại bị chối bỏ. Thập giá của Chúa Giêsu làm cho thế giới này được sống. Như từ một nguồn suối, sự sống đang tuôn trào từ thập giá, đang thấm nhuần và biến đổi thế giới này.
 

MC5-B70.  Chú giải của Lm. Vũ Phan Long.

ÁNH SÁNG CỦA THẬP GIÁ
 

Đã đến “giờ”. “Giờ” này đánh dấu lúc hoàn tất sứ mạng mạc khải và cứu độ, được Ngôi Lời: MC5-B70

Đã đến “giờ”. “Giờ” này đánh dấu lúc hoàn tất sứ mạng mạc khải và cứu độ, được Ngôi Lời làm người thực hiện.
1.- Ngữ cảnh
Câu truyện này nằm trong bối cảnh thời gian và thần học là tuần lễ cuối cùng trong sứ vụ của Đức Giêsu, tuần lễ Vượt Qua (x. Ga 12,1.12; 13,1; 18,28; 19,31) mà cuộc hy sinh của Đức Kitô, là Con Chiên Vượt Qua, sẽ biến thành lễ Vượt Qua mới và vĩnh viễn có sức giải phóng tất cả mọi người. Việc xức dầu ở Bêtania (12,1-11) chính là mở đầu mang tính tiên tri. Hành vi của Maria, chị của Ladarô, xức chân Đức Giêsu bằng dầu thơm cam tùng quý giá, đã loan báo việc mai táng Người (12,7). Quả thật, người ta không xức dầu lên chân một người sống như thế, mà thường xức cho một thi hài vào lúc làm nghi thức tắm rửa. Ta ghi nhận rằng theo TM Mc (14,3-9), người phụ nữ chỉ đã xức dầu lên đầu Đức Giêsu, và đấy là cử chỉ tiêu biểu trong việc xức dầu tấn phong ai làm vua và tấn phong đấng Mêsia.
Hôm sau, khi Đức Giêsu vào Giêrusalem (12,12-19), dân chúng đã tung hô Người như là “vua Israel”. Tác giả TM IV coi việc dân chúng cầm nhành lá thiên tuế hoan hô reo hò như là mức độ cuối cùng của sự sai lầm của dân chúng và Đức Giêsu im lặng để sửa chữa những niềm hy vọng thiên sai lầm lạc. Người cỡi lên một con lừa nhỏ vào lúc ấy – chứ không ngay từ đầu như trong các TMNL –, Đức Giêsu muốn cho họ thấy là giống như ông hoàng khiêm tốn mà ngôn sứ Dacaria đã loan báo (Dcr 9,9-10), Người hoàn toàn không có một mưu đồ chính trị nào. Cuộc Vượt Qua sắp tới của Người, tức cuộc Thương Khó, cái Chết, cuộc Phục Sinh, sẽ cho thấy rõ ràng kiểu “vinh quang” Người đang theo đuổi. Chỉ sau kinh nghiệm này các môn đệ mới nắm được bản chất đích thực của cuộc khải hoàn của Đức Giêsu (c. 16).
Đám đông thì vẫn không hiểu (cc. 17-18). Nhưng những lời hoan hô của họ khiến người Pharisêu phải phản đối và tranh luận với nhau: “Các ông thấy chưa: các ông chẳng làm nên trò trống gì cả! Kìa thiên hạ theo ông ấy hết!” (c. 19b). Ở đây, tác giả TM IV vẫn vận dụng khả năng khôi hài quen thuộc của ngài. Nỗi lo sợ của người Pharisêu là thật hơn họ tưởng: cả người ngoại cũng đã xuất hiện (cc. 20-23).
Nhận định của người Pharisêu (c. 19b) khiến ta nghĩ ngay đến nhận định của thượng tế Caipha: “Các ông cũng chẳng nghĩ đến điều lợi cho các ông là: thà một người chết thay cho dân…” (11,50). Chính ông này cũng đã nói tiên tri mà không biết: trong tư cách là thượng tế, ông đã nói tiên tri là Đức Giêsu phải chết thay cho dân, và không chỉ thay cho dân mà thôi, nhưng còn để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác (11,52).
Sự kiện mấy người ngoại đến xin gặp Đức Giêsu là một đỉnh cao trong cấu trúc văn chương và thần học của các ch. 11–12 của TM IV: kế hoạch cứu độ phổ quát, thậm chí ra ngoài biên giới dân tộc Do Thái, đang bắt đầu được thực hiện, ít nhất ở dạng mầm mống. Tất cả những điều đó chứng tỏ rõ ràng là giờ của cuộc Thương Khó đã được loan báo, giờ đưa tới vinh quang.
2.- Bố cục
Bản văn có thể chia thành bốn phần:
1) Người Hy Lạp đến gặp (12,20-22);
2) Đức Giêsu công bố về Giờ và dạy về thân phận của Người và của các môn đệ ([“Đã đến giờ”], 12,23-26);
3) Đức Giêsu trước cái chết (“bây giờ”, 12,27-30);
4) Giá trị của cái chết của Đức Giêsu (“bây giờ”, 12,31-33).
3.- Vài điểm chú giải
- mấy người Hy Lạp (20): Những lời mỉa mai ở c. 19 được ứng nghiệm tức khắc. Đây không phải là những người Do Thái Hải ngoại (diaspora; x. Ga 7,35), đã di cư ra khỏi Paléttina và bị phân tán trong các vùng dân ngoại, nhưng là những người ngoại giáo không cắt bì, thuộc về hạng người “kính sợ Thiên Chúa” (x. Cv 10,2.22.35; 13,16.26), tin vào vị Thiên Chúa duy nhất và tuân giữ đức công bình. Họ đã đến Giêrusalem không phải để du lịch mà là để hành hương, vì bị thúc đẩy bởi thao thức tìm ra chân lý.
- Họ đến gặp ông Philípphê (21): Họ ngỏ ý muốn với Philípphê bởi vì ông này nói tiếng Hy Lạp (tên Philípphê và tên Anrê là hai tên Hy Lạp), và cũng như họ, ông là người Bếtxaiđa, là vùng có đa số dân cư là người ngoại.
- Chúng tôi muốn được gặp ông Giêsu (21): dịch sát là “muốn được thấy”, có nghĩa là “nói với Đức Giêsu”, trò chuyện với Người, để biết Người, khám phá ra chân tính của Người.
- Giờ (23): Đây là giờ Thương Khó, Chết và Phục Sinh, để Con Người được tôn vinh. “Giờ” đây là đỉnh cao của sứ mạng của Người và cũng là lúc kết án “thế gian” này với thủ lãnh của nó.
- tôn vinh (23): “Vinh quang” (doxa) là sự tỏa rạng sự hiện diện của Thiên Chúa, là ánh huy hoàng, vừa đáng sợ vừa thu hút, của Hữu thể thần linh. Vinh quang này ở trong Ngôi Lời nhập thể, nhưng tính khiêm hạ của mầu nhiệm Nhập Thể đã chế giảm đi ánh huy hoàng của vinh quang này, cho dù các lời nói và các công việc của Đức Giêsu lại là “dấu chỉ” đầu tiên của vinh quang này (x. 2,11). Cuộc Thương Khó, thay vì che phủ vinh quang này, lại vén mở cho thấy vinh quang này ở mức viên mãn: kể từ khi cái vỏ bọc nhân loại bị phá vỡ, sự hiện diện thần linh, như được giải phóng, mới xâm nhập tất cả nhân tính của Ngôi Lời để làm cho nhân tính này sống lại và lên trời.
- nếu hạt lúa gieo vào lòng đất (24): Câu này được vọng lại trong 1 Cr 15,36. Rất có thể đây là một câu tục ngữ quen thuộc tác giả đã dùng để áp dụng cho trường hợp Đức Giêsu: chỉ cái chết của Đức Giêsu mới có thể đưa lại ơn cứu độ cho người khác.
- Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất (25): Câu này trở đi trở lại ở nhiều dạng (x. Lc 9,24 so sánh với Mc 8,35 và Mt 16,25; Mt 10,39 so sánh với Lc 17,33). Các TMNL áp dụng câu này cho những đau khổ và mất mát của đời môn đệ. Hẳn là tác giả TM IV cũng đang nghĩ tới những đau khổ của cộng đoàn của ngài (x. 15,18-21).
- Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó (26): Sự đồng nhất giữa Đức Giêsu và các môn đệ sẽ được nêu bật hơn trong các diễn từ cáo biệt (x. 13,13.16; 15,20). Phần kết “Ai phục vụ Thầy, Cha của Thầy sẽ quý trọng người ấy” lại xuất hiện trong ngôn ngữ tình yêu trong các diễn từ cáo biệt (14,23; 16,27). Xem Mc 8,38; Mt 10,32 so sánh với Lc 12,8.
- Bây giờ tâm hồn Thầy xao xuyến (27): Tác giả TM IV đang cảm hứng hoạt cảnh Đức Giêsu hấp hối tại Vườn Ôliu, nhưng đăt hoạt cảnh ấy trong một bối cảnh khác. Cũng như trong các TMNL, khi thấy giờ chết đến gần, Đức Kitô run sợ: “Tâm hồn Thầy xao xuyến” (tetaraktai, c. 27a). “Tâm hồn” (psychê) đây cũng có nghĩa là bản thân, là mạng sống; mạng sống ấy đang chao đảo khi đứng trước cái chết sắp tấn công nó. Sự xúc động trong lòng (tô pneumati) mà Đức Giêsu cảm thấy khi đứng trước mộ Ladarô, bây giờ xâm chiếm tất cả bản thân Người (so sánh với Lc 22,43-44).
- Lạy Cha, xin tôn vinh Danh Cha (28): x. Lc 11,2. Câu này diễn tả sự duy nhất trong kế hoạch của Đức Giêsu với ý muốn của Thiên Chúa. Đức Giêsu sẽ tôn vinh Thiên Chúa trên thập giá và cũng sẽ được Chúa Cha tôn vinh (x. 13,31-32; 17,4).
- có tiếng từ trời (28): Dân chúng không thể “nghe” được lời Thiên Chúa đáp lại Đức Giêsu, nên họ nghĩ đó là tiếng một thiên thần. Giống như trong truyện Ladarô, việc Đức Giêsu cầu nguyện cũng là một tấm gương cho họ.
- Ta đã tôn vinh Danh Ta, Ta sẽ còn tôn vinh nữa (28): Hành vi “tôn vinh” đầu quy về những “dấu lạ” Đức Giêsu đã làm và nhờ đó đã làm chứng về Chúa Cha, khi tôn vinh Ngài nơi Đức Giêsu. Hành vi “tôn vinh” thứ hai quy về cái chết và cuộc tôn vinh Đức Giêsu.
- mà vì các người (30): Như thế, tác giả đã biến truyền thống về “cơn hấp hối riêng tư” của Đức Giêsu thành một cuộc bày tỏ công khai công việc phục vụ vì vâng lời của Đức Giêsu.
- Giờ đây đang diễn ra cuộc phán xét thế gian này (31): Cuộc phán xét (x. 3,18-19) lên cao điểm với cuộc đóng đinh. Tiếng sấm trong lời Thiên Chúa nói trong câu trước báo trước việc Thiên Chúa sẽ đến uy hùng mà tống “thủ lãnh của thế gian này” ra ngoài. Ở đây, tác giả dùng từ ngữ “thế gian” không phải để chỉ đối tượng được Thiên Chúa yêu thương, như trong 3,16, nhưng như một biểu tượng cho tất cả những gì là không tin và thù nghịch với Thiên Chúa (x. 8,24; 15,18-19; 16,8-11). Satan như là thủ lãnh của “thế gian” ở trong thế đối lập với Thiên Chúa, là một hình ảnh quen thuộc của nền văn chương khải huyền Do Thái. Nhưng tác giả chỉ dùng hình ảnh Satan để giải thích việc Giuđa phản bội thôi (6,70; 13,2.27) và trong những câu nói loan báo chiến thắng của Đức Giêsu (14,30; 16,11).
- một khi được giương cao lên khỏi mặt đất (32): Các truyền thống Kitô giáo tiên khởi coi việc Đức Giêsu bị đóng đinh như là việc Người được tôn lên bên hữu Thiên Chúa và coi đây là nền tảng cho quyền chủ tể của Người trên vũ trụ (x. Pl 2,9-11). Rất có thể cặp từ ngữ “được tôn vinh – được giương cao” của tác giả được lấy từ Is 52,13, nơi mà Người Tôi Tớ của Đức Chúa được “vươn cao”, và “được suy tôn”.
4.- Ý nghĩa của bản văn
Câu chuyện chúng ta đọc hôm nay xảy ra chỉ vài ngày trước các biến cố thuộc lễ Vượt Qua cuối cùng của Đức Giêsu.
* Người Hy Lạp đến gặp (20-22)
Một vài người Hy Lạp đã muốn gặp Đức Giêsu, không phải chỉ để nhìn thấy Người, nhưng là để biết Người, khám phá ra “căn cước” của Người. Câu 20 dường như cho hiểu rằng những người ngoại quốc kia đang thực hiện một hành trình thiêng liêng dài, và bây giờ cần “gặp” Đức Giêsu. Hành trình vào dịp lễ Vượt Qua đã đưa họ đến Giêrusalem không phải như du khách, mà là để cầu nguyện, để gặp Thiên Chúa, để khám phá ra điều Thiên Chúa muốn họ làm. Họ cảm thấy là Thiên Chúa muốn họ đến nói chuyện với Đức Giêsu. Họ không đến gặp Đức Giêsu trực tiếp, trước hết họ đến gặp các môn đệ, vì nghĩ rằng đó là cách tốt nhất để có thể gặp Đức Giêsu. Họ ngỏ lời với Philípphê, ông này lại nói với Anrê, và cả hai đã đến thưa với Đức Giêsu. Những người kia đã ngỏ lời với Philípphê vì ông (cũng như Anrê) có tên gọi Hy Lạp và phát xuất từ vùng giáp ranh của Galilê với thế giới Hy Lạp. Philípphê và Anrê đã ở trong số những môn đệ đầu tiên, vì muốn biết Đức Giêsu, đã đến với Người và đã là những người đầu tiên chia sẻ kinh nghiệm và đưa những người khác đến với Người (1,35-46). Trong truyện này, ta thấy được bổn phận họ phải chu toàn trong đời sống: làm trung gian để cho nhân loại có thể gặp Đức Giêsu.
Chúng ta không biết là sau đó chuyện gì đã xảy ra, những người Hy Lạp đã gặp Đức Giêsu, hay đã về nhà mà vẫn chưa được gặp Người. Bản văn chỉ cho thấy Đức Giêsu không ngỏ lời trực tiếp với họ. Nhưng bây giờ, chỉ còn ít ngày nữa trước khi Người chịu chết và bởi vì những người này đã đến với Người, Người xác định tầm quan trọng và hiệu năng của cái chết của Người trên thập giá và gửi đến dân Do Thái lời kêu gọi cuối cùng.
Như vậy, ta hiểu việc người ngoại đi tìm một trung gian dường như có một ý nghĩa biểu tượng. Thế giới ngoại giáo chưa hề biết trực tiếp Đức Giêsu, mà chỉ nhờ lời rao giảng của các tông đồ: người ngoại đã “thấy” Đức Giêsu nhờ Tin Mừng được rao giảng cho họ. Nhưng giữa ước muốn được “thấy” Đức Giêsu và việc “gặp” Đức Giêsu, tức đi vào Vương quốc nhờ lời rao giảng của các tông đồ, còn có cuộc Thương Khó-Chết-Phục Sinh của Đức Giêsu, tức “giờ” của Người (c. 23). Chỉ khi đó mọi hàng rào được dựng lên bởi các chủ trương đặc thù bè phái mới đổ hết. Cũng chỉ khi đó mới bắt đầu những kinh nghiệm đầu tiên về niềm tin chân chính vào Đức Kitô hằng sống, vào Đức Kitô “Đức Chúa” (x. Ga 20,18.20.28.29; 21,7.12.17), là những kinh nghiệm không thể có được trước Phục Sinh (Vượt Qua).
Lời thỉnh cầu của những người ngoại vô tình lại là một cử chỉ đón tiếp khải hoàn. Đức Giêsu sẵn sàng chấp nhận, như trong cuộc đón tiếp của người Do Thái khi Người vào Giêrusalem. Nhưng trước hết, Người phải điều chỉnh ý tưởng lệch lạc đám đông Giêrusalem có về vinh quang và cuộc khải hoàn của Người (x. 12,12-16). Việc người Hy Lạp đến như thế giống như một bài học biểu tượng, bổ túc cho truyện đi vào Giêrusalem. Lời Đức Giêsu nói (cc. 23-26) là một trả lời gián tiếp cho nguyện vọng được những người ngoại ấy diễn tả ra: chính là nhờ cuộc Thương Khó của Người mà Đức Kitô, một khi đã bị sát tế, sẽ dễ dàng cho họ gặp được.
* Đức Giêsu công bố về Giờ và về thân phận của Người và của các môn đệ (“đã đến giờ”, 23-26)
Kể từ câu 23, tác giả TM IV chẳng còn nói gì đến những người ngoại kia nữa, hay đến thỉnh nguyện của họ có được thoả mãn hay không nữa. Ta gặp kiểu viết tương tự trong cuộc gặp gỡ Nicôđêmô: đến một lúc nào đó, bài tường thuật thôi nói về ông, để nhường chỗ cho những lời nói của Đức Giêsu và những suy tư của tác giả.
Sự xuất hiện của những người ngoại giáo và thỉnh nguyện của họ khiến Đức Giêsu hiểu rằng giờ mà Người hằng mong đợi, mà TM IV cho thấy đang đến gần (2,4; 7,6.8.30; 8,20), thực sự đã đến. Đây là giờ của “Con Người”, giờ Đức Giêsu chiến thắng bằng cách đi qua thập giá, giờ Người được “tôn vinh” (x. 3,14; 8,28; 12,32). Cái chết của Đức Giêsu không phải chỉ là kết quả của sự tàn bạo của loài người và cũng không phải là kết thúc ô nhục của Đức Giêsu. “Giờ” của Người đã được Chúa Cha quyết định.
Đức Giêsu, Con Người, sẽ được tôn vinh bằng chính cái chết của Người. Cái chết này minh chứng một cách sáng ngời và thuyết phục rằng Con Thiên Chúa được liên kết với Chúa Cha bằng một dây vâng phục dù phải trải qua thử thách nào và rằng Người hiến mình cho chúng ta không dè giữ. Cái chết của Người cho thấy tình yêu vô biên của Người, bởi vì Người sống hoàn toàn cho Chúa Cha và hoàn toàn cho loài người chúng ta.
Sự phong phú của công trình của Người tùy thuộc cái chết của Người; và Người buộc các môn đệ Người hành động như chính Người đã hành động. Đức Giêsu nhắc lại kinh nghiệm sống mỗi ngày: thiên nhiên không sản sinh ra gì cả nếu trước đó không có một cái chết nào đó. Chỉ khi một hạt lúa mì bị hủy đi, nó mới trở thành một khối lượng lúa lớn. Chính là vì Người đã chịu cái chết và đã tỏ chính mình ra trong cái chết, mà Đức Giêsu sẽ quy tụ lại quanh Người một đoàn người đông đảo (x. 12,32). Đã chết rồi, Người không biến mất khỏi loài người, nhưng lại trở thành trung tâm của một cộng đoàn mênh mông. Người không ra sức bám lấy cuộc sống của Người. Cuộc sống trần thế đối với Người không phải là một sự thiện tối cao phải cứu lấy bằng mọi giá. Chỉ những ai liên kết với Người khi phục vụ, mới sẽ được liên kết với Người sau này. Chỉ kẻ nào đã theo Đức Giêsu trong cuộc sống, mới sẽ đạt tới mục tiêu và mới có phần phúc khi được Chúa Cha nhìn nhận.
* Đức Giêsu trước cái chết (“bây giờ”, 27-30)
Phân đoạn này nhắc tới hoạt cảnh Vườn Ghếtsêmani trong các TMNL (chẳng hạn Mc 14,34-36). Rõ ràng tác giả TM IV đang cảm hứng hoạt cảnh Vườn Ôliu. Tuy nhiên, ngài đăt hoạt cảnh ấy trong một bối cảnh khác, ngài giải thích hoạt cảnh ấy và sửa chữa đôi chút. Cũng như trong các TMNL, khi thấy giờ chết đến gần, Đức Kitô run sợ: “Tâm hồn Thầy xao xuyến” (27a). “Tâm hồn” đây cũng có nghĩa là bản thân, là mạng sống, mạng sống mà người ta phải “ghét” và chịu mất để cứu được; mạng sống ấy đang chao đảo khi đứng trước cái chết sắp tấn công nó. Sự xúc động trong lòng (tô pneumati) mà Đức Giêsu cảm thấy khi đứng trước mộ Ladarô, bây giờ xâm chiếm tất cả bản thân Người (so sánh với Lc 22,43-44).
Nhưng rồi từ đó tác giả triển khai các điểm theo cách riêng. Câu hỏi: “Thầy biết nói gì đây?” cho thấy là Đức Giêsu bị đăt vào thế lưỡng nan là xin Cha Người: “Xin cứu con khỏi giờ này” hay là: “xin tôn vinh Danh Cha”. Và Người chọn tức khắc cách cầu nguyện thứ hai. Ngoài ra, trong TM IV, Đức Giêsu luôn “năng động [tích cực]” trong cuộc Thương Khó của Người. Người làm chủ tình hình (x. Ga 18,6), Người ý thức trọn vẹn về vai trò Người đảm nhận, Người hoàn tất tuyệt vời sứ mạng Cha Người đã giao: hy sinh mạng sống để cứu độ toàn thể thế giới. Ở tại ngưỡng cửa cuộc Khổ Nạn, ta không thể tưởng tượng ra một lời cầu nguyện nào khác trên môi Đấng được Thiên Chúa sai đến, ngoài lời này: “Xin tôn vinh Danh Cha” (x. Ga 17,4). Nếu Người trốn “giờ” này (hiểu là “những gì sẽ xảy ra vào lúc ấy”)[1], giờ mà Người hết sức mong mỏi và cuối cùng nay đã tới, hẳn sẽ là phá hủy tất cả tầm mức gồm tóm trong mầu nhiệm Nhập Thể: khi đó Chúa Con đã nhận lấy nơi mình cuộc sống trần thế với tất cả chiều sâu của nó và đặc tính bi thảm của nó, để sống trọn cuộc sống này cho tới chết, không phải cho bản thân Người mà là cho những người khác. Khi Đức Giêsu chấp nhận “giờ” này, Người đã tôn vinh Chúa Cha, bởi vì như thế, dự phóng cứu độ toàn thế giới cuối cùng được bày tỏ trọn vẹn, và dự định đó, cuộc Thương Khó, cái Chết và cuộc Phục Sinh của Con Cha sẽ thực hiện.
Cũng như trong tất cả các Tin Mừng, ở đây cũng vậy, khi đứng trước cái chết, Đức Giêsu quay ra cầu nguyện với Chúa Cha (x. Mc 14,32-42). Người ý thức về ý nghĩa của cái chết của Người, nhưng không vì thế mà Người đi đến đó hoàn toàn vô cảm. Cũng như mọi con người, chính Người cũng sợ hãi tránh né cái chết, cũng bị rúng động bởi định mệnh phải chết của mình. Vì Người có sự nhạy cảm của loài người, hẳn là Người cầu xin Chúa Cha cất cho Người bước đường này. Nhưng Người không chịu thua ước muốn của riêng mình, Người muốn tuân theo sự hướng dẫn của Chúa Cha, nên đã cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tôn vinh Danh Cha” (c. 28). Như thế Người đồng ý về ý nghĩa của định mệnh của Người, như Thiên Chúa đã thiết định, nên Người lấy điều này làm mục tiêu của lời cầu nguyện.
Như thế, cái chết của Đức Giêsu cho thấy rõ những gì nằm ở trong tên “Cha” và cho thấy Chúa Cha đã nghiêng quá mức thế nào về phía con người, nên mới ban cho chúng ta chính Con Một của Ngài (x. 3,16). Đức Giêsu không thua Chúa Cha trong tình yêu, Người cầu xin để tình yêu của Chúa Cha có thể trở nên hiển nhiên, cho dù Người biết rằng điều này đòi hỏi cái giá là mạng sống Người.
* Giá trị của cái chết của Đức Giêsu (“bây giờ”, 31-33).
Cái chết của Đức Giêsu trên thập giá cũng là chiến thắng vĩnh viễn của Người trên ma quỷ. Nó sẽ bị tống ra ngoài, và không còn có một vị trí quyền lực nào nữa. Công việc ma quỷ làm là nhắm chia lìa con người khỏi Thiên Chúa, làm mờ tối cái nhìn của họ khiến họ không thấy được Thiên Chúa. Cái chết của Đức Giêsu lại là mạc khải cao độ nhất về tình yêu của Thiên Chúa đối với loài người và về dây vâng phục nối kết bất khả phân ly Đức Giêsu với Thiên Chúa. Như thế, ý đồ của ma quỷ hoàn toàn thất bại. Với cái chết của Người, Đức Giêsu cũng khởi sự hoạt động phổ quát của Người, liên hệ tới toàn thể nhân loại. Được giương cao trên thập giá như là biểu tượng của tình yêu của Thiên Chúa (x. 3,14-17) và được nâng lên đến Chúa Cha trong quyền lực thiên đình của Người, Đức Giêsu tới với cả nhân loại, đón nhận họ vào trong tình yêu huy hoàng của Người. Như thế, Người cũng được giương cao cho người Hy Lạp nữa, là những người muốn gặp Người.
+ Kết luận
Trong bản văn này, tác giả nêu bật điểm chú ý là “giờ” của Đức Giêsu, cả trên bình diện lịch sử lẫn thần học. Theo quan điểm Kitô học, “giờ” này đánh dấu lúc hoàn tất sứ mạng mạc khải và cứu độ, được Ngôi Lời làm người thực hiện. Sứ mạng này tiêu biểu cho trọn cuộc sống của Đức Kitô, vì cuộc sống của Người hướng về đó. Khi đó sẽ xảy ra cuộc “phán xét” (krisis) nhân loại. Khi đó sẽ xảy ra giữa loài người một cuộc “tách biệt” (krima) do người ta tin hay không tin vào mầu nhiệm Đức Kitô chịu chết và được tôn vinh. Sự chọn lựa này đảm bảo cho một số người được cứu độ và được sống muôn đời, và lôi kéo án phạt và cái chết đến cho những người khác.
5.- Gợi ý suy niệm
1. Như Philípphê và Anrê, chúng ta cũng có nhiệm vụ làm trung gian giúp kẻ khác gặp được Đức Giêsu. Nhưng muốn thế, chính chúng ta đã phải gặp Đức Giêsu và có kinh nghiệm về Người rồi. Chúng ta cũng ghi nhận những tương quan giữa các môn đệ để giúp người ta gặp Đức Giêsu: người Hy Lạp đến gặp Philípphê, có lẽ vì quen biết ông hơn. Nhưng Philípphê lại cần có Anrê để có thể mạnh dạn đi gặp Đức Giêsu...
2. Những người Hy Lạp đây đại diện cho tất cả những người ngoại ước muốn biết Đức Giêsu. Không ai có thể trở thành Kitô hữu mà lại không có một môn đệ của Đức Kitô nói cho biết về Người, và giới thiệu với Người về họ.
3. Vinh quang trong cuộc sống vĩnh cửu, tuy vẫn là một ân ban nhưng-không của Thiên Chúa, vẫn cần có sự cộng tác của chúng ta. Chỉ những ai đã liên kết với Đức Giêsu khi phục vụ, mới sẽ được liên kết với Người sau này trong vinh quang thiên quốc. Có trung thành bước theo Người hôm nay, sau này chúng ta mới mong được thông phần gia nghiệp với Người.
4. Đức Giêsu đã đến thế gian như là ánh sáng cho mọi người (1,9). Khi Người đã được giương cao trên thập giá, từ nơi Người sẽ phát ra ánh sáng chói chang huy hoàng nhất, cho thấy mọi sự trong tính chân thật nhất: Thiên Chúa trong tình yêu vô biên của Ngài; Con Người trong việc hiến mình không dè giữ và trong hoạt động bao trùm toàn nhân loại; ma quỷ bị thua trong quyền lực của nó. Trong ánh sáng này, chúng ta phải chọn lựa cuộc sống chúng ta như là con đường bước theo Đức Kitô.
5. Tất cả những ai muốn đưa lại ơn ích cho người khác, cũng phải chấp nhận thân phận “hạt lúa gieo vào lòng đất phải chết đi”. Mọi Kitô hữu đều được kêu gọi sống Giờ của Đức Giêsu: trước tiên, người Kitô hữu không thể tránh giết chết trong mình những gì chống lại sự sống đích thực (= sự từ bỏ chính mình); đồng thời phải sống một mầu nhiệm phục sinh, tôn vinh và hân hoan (= niềm vui thiêng liêng).
----------------------------------------------
[1] Phép métonymie: gọi một điều bằng một từ khác.
 

MC5-B71.  CHÚA NHẬT V MÙA CHAY

Suy nghĩ về cái chết của Chúa Giê-su
Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Gio-an 12:20-33)
 

Trong bối cảnh có ít người lên Giê-ru-sa-lem muốn gặp gỡ Chúa Giê-su, Tin Mừng Gio-an: MC5-B71

                Trong bối cảnh có ít người lên Giê-ru-sa-lem muốn gặp gỡ Chúa Giê-su, Tin Mừng Gio-an muốn trình bày hình ảnh đặc biệt Chúa Giê-su dùng để nói về mình:  hạt lúa gieo vào lòng đất chết đi và sinh nhiều hạt khác.  Vậy khi nào là thời gian hạt lúa phải chết đi?
                Thánh Gio-an ghi lại thời gian là “vào dịp lễ Vượt Qua năm ấy”.  Đó cũng là thời gian Chúa Giê-su xác nhận:  “Đã đến giờ Con Người được tôn vinh”.  Có lẽ chúng ta thắc mắc tại sao Chúa Giê-su gọi giờ chết của Người là giờ được tôn vinh.  Đó là giờ tôn vinh Con Một Thiên Chúa vì Người chu toàn sứ mệnh Chúa Cha trao phó.  Người được sai đến trần gian làm hạt lúa, không phải để sống chết cho riêng mình, nhưng tất cả cuộc sống của Người là để phục vụ Thiên Chúa và nhân loại và cái chết của Người là để hoàn tất hoài bão của một Thiên Chúa yêu thương trần gian (Gio-an 3:16).  “Nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác”.  Như cái chết của hạt lúa là nguyên lý để nó sẽ mọc lên thành cây lúa và sinh ra những hạt lúa khác, cũng thế, cái chết của Chúa Giê-su là cần thiết để phục hồi cho nhân loại sự sống thiêng liêng đã bị tội lỗi cướp đi và cho họ được sống muôn đời.  Cái chết của Chúa Giê-su không vô ích và vô nghĩa, trái lại là điều kiện không thể thiếu để toàn thể nhân loại có khả năng đạt được sự sống vĩnh cửu.  Cũng như cái chết của hạt lúa là ngưỡng cửa để hạt lúa biến đổi thành cây lúa sinh bông hạt, cái chết của Chúa Giê-su là thời điểm Người chiến thắng quyền lực thần chết và tội lỗi bằng sự Phục Sinh của Người và đem lại cho nhân loại sự sống mới trong Thánh Thần.
                Tuy là một cái chết cao đẹp và tràn đầy lý tưởng như thế, nhưng Chúa Giê-su vẫn cảm thấy “tâm hồn xao xuyến”.  Trong lúc hãi sợ, Người mở miệng kêu cứu Chúa Cha, nhưng vẫn quyết tâm sẵn sàng chịu chết “để tôn vinh Danh Cha”.  Sợ chết là lẽ đương nhiên, nhưng đằng sau hãi sợ ấy, chúng ta phải làm thế nào?  Chúa Giê-su là câu trả lời.  Người hiểu rõ ý nghĩa và mục đích cái chết của mình:  cứu độ nhân loại và tôn vinh Thiên Chúa.  Khi thi hành sứ vụ, Chúa Giê-su đã thực hiện lý tưởng “Ai yêu quý mạng sống mình ở đời này, thì sẽ mất;  còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời”.  Người không “yêu quý mạng sống mình” đến độ chỉ biết vinh thân phì gia và tìm kiếm một cuộc sống tiện nghi thoải mái.  Nhưng Người đã “coi thường mạng sống mình” bằng cách sống cho tha nhân và nhất là sẵn sàng thí mạng trên thập giá “vì bạn hữu”.  Sống đời phục vụ Thiên Chúa và tha nhân cho đến chết, Chúa Giê-su mới đủ tư cách để kêu gọi chúng ta phục vụ Người, nghĩa là cũng phải sẵn sàng hiến thân để theo Người.  Nói khác đi, Chúa Giê-su kêu gọi chúng ta hãy bước theo Người, sống và chết giống như Người vậy.
Sống sứ điệp Tin Mừng
                Để trả lời cho những người lên Giê-ru-sa-lem dịp lễ Vượt Qua muốn gặp Người, Chúa Giê-su đã nói về cái chết của Người là Đấng Cứu Độ.  Chúng ta thực sự “muốn được gặp ông Giê-su”, nhưng nhiều khi chúng ta lại không muốn gặp một Chúa Giê-su chết đi như hạt lúa, mà chỉ muốn gặp một Chúa Giê-su đầy hào quang rực rỡ!  Nói khác đi, chúng ta không muốn sống như Chúa và chết như Chúa.  Chúng ta muốn làm “hạt lúa trơ trọi một mình”, sống ích kỷ cho riêng mình chứ không muốn chết đi để sinh ra những hạt khác.  Chúng ta yêu quý mạng sống mình ở đời này và không màng chi tới đời sau cũng như tương lai vĩnh cửu.  Chúng ta thu tích kho tàng cho cuộc sống tạm bợ với nhà lầu xe hơi và dung dưỡng thân xác mà không tích lũy việc lành phúc đức cho cuộc sống đời đời.
                Ước vọng của Chúa Giê-su là:  “Một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi”.  Liệu trong số những người được Chúa Giê-su kéo lên với Người, có chúng ta trong đó không?  Nếu không, thì những gì đã ràng buộc tôi với thế gian này?  Và tôi sẽ làm gì để nâng tâm hồn lên với Chúa và sẵn sàng phục vụ anh chị em theo gương Chúa Giê-su? 
Lm Đa-minh Trần đình Nhi
 

MC5-B72. Xin Tôn Vinh Danh Cha

Chúa Nhật V Mùa Chay B
Gio 12:20-33 “20 Trong số những người lên chầu lễ, có cả người Hi lạp. 21 Nhũng người này đến gặp Philip, người Bêtsaiđa, xứ Galilê, mà xin ông rằng: "Trình ông, chúng tôi muốn được trông thấy ông Yêsu". 22 Philip đi nói với Anrê. Rồi Anrê và Philip đi thưa với Đức Yêsu. 23 Còn Đức Yêsu thì Ngài đáp lại với họ rằng: "Giờ đã đến! cho Con Người được tôn vinh!  24 Quả thật, quả thật, Ta bảo các ngươi: giả như hạt lúa gieo xuống đất không chết đi, thì nó trơ trọi một mình; nhưng nếu nó chết đi, nó mới sai hoa lắm quả! 25 Ai yêu sự sống mình thì sẽ mất, ai ghét sự sống mình nơi thế gian này, thì sẽ giữ nó cho sự sống đời đời! 26 Ai hầu hạ Ta, thì hãy theo Ta, và Ta ở đâu, kẻ hầu hạ Ta cũng sẽ ở đó. Mà ai hầu hạ Ta, thì Cha Ta sẽ tôn trọng nó! 27 Bây giờ hồn Ta những rúng động! Ta phải nói gì ? Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này? Nhưng chính vì thế mà Con đã đạt thấu giờ này! 28 Lạy Cha, xin hãy tôn vinh Danh Cha!" Bấy giờ có tiếng tự trời đến: "Ta đã tôn vinh Danh Ta, và Ta lại sẽ tôn vinh!" 29 Dân chúng đứng đó nghe vậy, thì bảo đã phát ra một tiếng sấm; kẻ khác nói: "Một thiên thần đã nói với ông ấy". 30 Đức Yêsu đáp lại và nói: "Tiếng ấy phát ra, không phải vì Ta, mà là vì các ngươi. 31 Chính bây giờ cuộc phán xét thế gian này; chính bây giờ đầu mục thế gian này sẽ bị đuổi ra ngoài!" 32 Và Ta, một khi Ta được giương cao khỏi đất, Ta sẽ kéo mọi người lại với Ta". 33 Ngài nói vậy để ám chỉ Ngài sẽ phải chết cái chết nào.”
 

Giờ của Chúa Giêsu lần đầu tiên được loan báo đã đến (12:23; x. 8:20). Bước sang chương 13: MC5-B72

                Giờ của Chúa Giêsu lần đầu tiên được loan báo đã đến (12:23; x. 8:20). Bước sang chương 13 giờ của Người về với Chúa Cha bắt đầu được thực hiện dần. Bố cục của chương 12: - Xức dầu (cc. 1-8), - Vào Giêrusalem (cc. 9-19), - Loan báo sự chết và vinh quang (cc. 20-36), - Kết luận về sứ vụ của Người (cc. 37-50). Có thể chia 12:20-33 làm hai phần: đoạn 12:20-28 với dẫn nhập (cc. 20-22) và đoạn 12:28b-33 với kết luận (c. 33). Ngoài dẫn nhập và kết luận là lời của thánh sử, phần còn lại của đoạn tin mừng nầy được kể là lời của Chúa Giêsu. Có hai lưu ý: 1- Người nói theo cách trực tiếp, ở ngôi thứ nhất; 2- Có những chỉ dẫn về thời gian như “giờ” (cc.23.27[2x]), “bây giờ” (c.27.31[2x]) liên quan đến sự chết và sống lại của Người.
  Người Hy lạp tìm đến và muốn gặp Chúa Giêsu (cc.20-22). Điều nầy ám chỉ ơn cứu độ của Người đã đến lúc mở ra cho mọi người; chỉ được bắt đầu từ “giờ” của Người. Đoạn 12:23-28 được đóng khung bởi câu 23 và 28, nói đến “giờ” và “sự tôn vinh” của Chúa Giêsu; đoạn nầy có thể chia thành hai: cc. 23-26 và cc 27-28. Trong cc. 23-26 Chúa Giêsu đưa ra ba quy luật về sự chết và sự sống: - Nếu không chết đi không thể sống lại (c. 24; x. 1 Côr 15:36); - Nếu từ bỏ sự sống đời nầy đi sẽ tìm thấy sự sống lại ngay trong đó (c. 25); - Nếu theo Chúa sự sống lại sẽ được bảo đảm (c. 26; x. 14:3; 17:24).
Chúa Giêsu áp dụng các quy luật nầy cho chính mình trước tiên. Thánh Gioan không thuật lại cảnh Người trong vườn Giệtsêmani, mà chỉ có các câu 12:27-28a. “Giờ” mà Người xin Chúa Cha cứu khỏi là giờ chết. Giờ nầy chính là “chén” mà Người xin khỏi uống (x. Mc 14:36). Tuy nhiên, Người đã xin Chúa Cha tôn vinh chính danh của Người, nghĩa là thực hiện ý định cứu chuộc nhân loại bằng sự chết của Người (c. 28a; x. 18:11).
Đoạn 12:28b-33 ghi lại lời của Chúa Cha và kết quả sự chết của Chúa Giêsu. Chỉ trong phúc âm Gioan mới có tiếng Chúa Cha đáp lại Chúa Giêsu trong cơn hấp hối. Động từ “tôn vinh” được dùng hai lần, ở thể chủ động, và ở thì quá khứ và tương lai. Chúa Cha chuẩn nhận lời cầu xin của Chúa Giêsu, và xác nhận là Người đã tôn vinh danh của Người qua những việc Chúa Giêsu đã làm và sẽ còn làm vinh danh Người nữa trong sự chết và sống lại của Con của Người. Như thế, trong phúc âm nhất lãm, sự im lặng của Chúa Cha trước lời cầu xin của Chúa Giêsu hàm ý là Người muốn Chúa Giêsu phải chết để tôn vinh danh Người.
Việc Chúa Giêsu chết có hai kết quả đối nghịch nhau: kéo những người tin đến với Người (cc. 30.32), và loại ra ngoài những ai không tin (cc. 31-31). Xét theo thời gian, việc Chúa Cha tôn vinh danh Người (c. 28), việc phán xét thế gian (c. 31), việc mọi người được hưởng ơn cứu độ (c. 32) diễn ra cùng lúc khi Chúa Giêsu bị treo cao trên thánh giá, chết và được tôn vinh (c.23.32).
                Vì yêu thương và muốn cứu thế gian mà Thiên Chúa đã ban Người Con. Đừng để Người Con ấy phán xét vì đã không tin vào tình yêu của Cha Người.
Lm. Luigi Gonzaga Đặng Quang Tiến
 

MC5-B73.  Chúa Nhật V mùa Chay, B

29-3-2009
 

Mỗi lần phái đoàn ngoại giao Tòa Thánh tới Việt Nam để gặp chính phủ, giáo dân lại mong: MC5-B73

Mỗi lần phái đoàn ngoại giao Tòa Thánh tới Việt Nam để gặp chính phủ, giáo dân lại mong đợi có sự thay đổi nào đó.  Nhiều khi không phải gặp gỡ một lần, nhưng là nhiều lần, để thảo luận và chuẩn bị cho một hợp đồng hoặc giải quyết một số vấn đề.  Cũng thế, Phụng vụ Lời Chúa các Chúa Nhật trước đã nói với ta về mục đích mùa Chay là thay đổi tâm hồn, về vai trò cứu độ của Chúa Ki-tô và về tình yêu vô điều kiện của Thiên Chúa.  Những điểm này đều là những yếu tố để Thiên Chúa đi tới một giao ước với nhân loại, tức là giao ước được ký kết bằng máu vô giá của Con Một Người là Chúa Giê-su Ki-tô.  Các bài đọc hôm nay nói với ta về giao ước này.
1.  Báo trước giao ước mới (bài đọc Cựu Ước – Gr 31:31-34)
                Giao ước giữa Thiên Chúa và nhân loại đã được thiết lập nhiều lần, mà mục đích là để củng cố và phát huy mối quan hệ giữa hai bên.  Lần nào cũng thế, hủy bỏ giao ước không phải là Thiên Chúa, nhưng là nhân loại.  Giao ước giữa Đấng Tạo dựng với ông bà nguyên tổ A-đam và E-và đã bị vi phạm do loài người.  Tiếp đến là giao ước giữa Thiên Chúa và gia đình ông No-ê, với biểu tượng là cầu vồng, cũng không được loài người tôn trọng khi họ tiếp tục đi sâu vào con đường tội lỗi.  Sau đó là giao ước Thiên Chúa thiết lập với Áp-ra-ham khi Người đặt ông làm tổ phụ của dân tộc Người tuyển chọn là Ít-ra-en.  Việc tuyển chọn này đã cho dân Chúa một thời gian dài hơn năm trăm năm để họ được trưởng thành trong niềm tin kính Chúa.  Những thử thách tại Ai-cập và tại hoang địa coi như đã đủ để giúp Ít-ra-en sẵn sàng đón nhận giao ước Xi-nai.  Qua ông Mô-sê và trên núi Xi-nai, Thiên Chúa ban cho dân Ít-ra-en Lề Luật của Người.  Đó là giao ước trọng đại được ghi khắc vào những bia đá và được dân Chúa vô cùng kính cẩn như chính sự hiện diện của Thiên Chúa ngự giữa họ.
                Tuy nhiên đó chưa phải là giao ước cuối cùng của Thiên Chúa.  Mặc dù con người bất trung không tôn trọng và thực thi giao ước, nhưng Thiên Chúa vẫn kiên nhẫn, không hủy diệt họ, trái lại còn tìm cách thiết lập một giao ước khác.  Mỗi lần đổi mới giao ước, ta lại càng thấy rõ tấm lòng yêu thương khoan dung của Thiên Chúa, làm như Người muốn dùng giao ước để ta nhận ra được tình yêu vô điều kiện của Người.  Vậy qua ngôn sứ Giê-rê-mi-a, Thiên Chúa cho nhân loại biết Người không bỏ cuộc, nhưng sẽ lập một giao ước mới.  Theo lời vị ngôn sứ, giao ước mới này hoàn toàn khác biệt với giao ước Xi-nai.  Vậy khác biệt ở những điểm nào?
                Trước hết, giao ước mới tuy vẫn chứa đựng cùng một nội dung là Lề Luật Chúa, nhưng được ghi khắc không phải trên đá hoặc trên đồng, mà là được “ghi vào lòng dạ” và “khắc vào tâm khảm” (Gr 31:33).  Tại sao Thiên Chúa không ghi khắc trên đá mà lại vào tâm khảm con người?  Bởi vì Người muốn giao ước mới phải là giao ước tình yêu.  Ghi trên đá như Mười điều răn, rồi cuối cùng người ta cũng đi tới tình trạng câu nệ lề luật, giữ luật vì luật chứ không phải vì động lực yêu mến Chúa!  Nói khác đi, người ta chỉ giữ luật cách bề ngoài, như Chúa Giê-su đã tố cáo họ:  “Những kẻ đạo đức giả kia, ngôn sứ I-sai-a thật đã nói tiên tri rất đúng về các ông rằng:  Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta” (Mt 15:7-8).  Có tuân giữ Lề Luật do động lực yêu mến thì người ta mới có thể sống quan hệ thực sự với Thiên Chúa.  Đó chính là mục đích giao ước mới nhắm tới, tức là điều Thiên Chúa muốn rằng:  “Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng, còn chúng sẽ là dân của Ta” (Gr 31:33).  Nếu đã thực sự sống mối quan hệ với Chúa thì ta đâu cần phải “học cho biết Đức Chúa”, nhưng hơn thế nữa, ta đã “biết” Người, tức là đang sống trong tình yêu mến Người rồi.  Một hệ luận vô cùng quan trọng của giao ước tình yêu là sự tha thứ và sám hối.  Nếu ta càng yêu mến Chúa, thì ta càng thật lòng sám hối và được Thiên Chúa tha thứ nhiều hơn.  Còn đối với Chúa, Người đầy tràn tình yêu nên “sẽ tha thứ cho ta và không còn nhớ đến lỗi lầm của ta nữa” (Gr 31:34).
2.  Bản giao ước mới là chính Chúa Giê-su Ki-tô, Đấng Trung gian giữa Thiên Chúa và loài người (bài đọc Tân Ước – Dt 5:7-9)
                Bất cứ giao ước nào cũng có một dấu hiệu, có thể là một hiện vật, có thể là một tờ giấy với chữ ký của hai bên.  Đối với giao ước mới Thiên Chúa sẽ lập với nhân loại, dấu hiệu của giao ước là chính Đức Ki-tô, Con Một Người.  Bản thân là Thiên Chúa, Đức Ki-tô đã “sống kiếp phàm nhân” để trở nên dấu hiệu cho hợp đồng của hai bên.  Về phía Thiên Chúa, Người sai Đức Ki-tô đến trần gian để “sống kiếp phàm nhân, vâng phục tới mức thập toàn và trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu”.  Về phía loài người, muốn được cứu độ, họ phải “tùng phục” Đức Ki-tô bằng cách sống giống như Ngài trong chức phận làm con cái Thiên Chúa để được cứu độ.  Nói tóm lại, giao ước mới nhắm mục đích cứu độ loài người.  Để thực hiện mục đích này, cả hai phía Thiên Chúa và loài người đều thi hành một số điều kiện mà kết quả là ích lợi cho loài người chứ không phải cho Thiên Chúa.
                Điểm cốt lõi của giao ước mới là tình yêu cứu độ của Thiên Chúa và sự vâng phục của loài người.  Chúa Ki-tô vừa là dấu hiệu tình yêu của Thiên Chúa vừa là gương mẫu vâng phục cho loài người.  Điều này đưa ta trở về biến cố nguyên tổ loài người sa ngã trong vườn địa đàng.  Vì không vâng phục nên loài người đã đánh mất đi quan hệ yêu thương vĩnh cửu với Thiên Chúa.  Do đó nhờ sự vâng phục, Chúa Ki-tô phục hồi những gì đã mất đi do tội tổ tông và trở nên “nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu” cho những ai noi gương Ngài mà sống tùng phục Thiên Chúa.
                Là giao ước giữa Thiên Chúa và nhân loại, Chúa Ki-tô mời gọi ta tham dự trọn vẹn vào giao ước ấy bằng cách kết hiệp với Người.  Ta hãy sử dụng cuộc đời dương thế đầy đau khổ này như môi trường thuận lợi để được cứu độ, đó là cách ta kết hiệp với Chúa Ki-tô.  Thánh Phao-lô nêu gương sáng cho ta về điểm này.  Ngài viết cho môn đệ Ti-mô-thê:  “Bởi vậy, tôi cam chịu mọi sự, để mưu ích cho những người Thiên Chúa đã chọn, để họ cũng đạt tới ơn cứu độ trong Đức Ki-tô Giê-su, và được hưởng vinh quang muôn đời”.  Rồi ngài đưa ra một định đề:  “Nếu ta cùng chết với Người, ta sẽ cùng sống với Người.  Nếu ta kiên tâm chịu đựng, ta sẽ cùng hiển trị với Người” (2 Tm 2:10-12).
3.  Giờ phút ký kết giao ước mới: đó là lúc Chúa Giê-su chết trên thập giá (bài Tin Mừng – Ga 12:20-33)
                Thiên Chúa đã chuẩn bị đầy đủ cho giây phút trọng đại thiết lập giao ước mới với nhân loại.  Con Một Người xuống thế làm người, thi hành sứ vụ rao giảng Tin Mừng và lên Giê-ru-sa-lem đón nhận cuộc Thương khó để hoàn tất giao ước mới của Thiên Chúa.  Người nói với môn đệ An-rê và Phi-líp-phê:  “Đã đến giờ Con Người được tôn vinh!” (Ga 12:23).  Người muốn nói về giờ phút Người phải chết khổ hình thập giá.  Tin Mừng Gio-an luôn luôn coi giờ chết trên thập giá của Chúa Giê-su là cuộc tôn vinh, vì Người đã hoàn tất trọn vẹn những gì Thiên Chúa Cha muốn Người thi hành.
Chúa Giê-su hằng chờ đợi giây phút trọng đại này.  Người xác tín về hiệu quả khôn lường của cái chết ô nhục ấy, diễn tả nó bằng một hình ảnh đơn sơ nhưng vô cùng ý nghĩa.  Đó là hình ảnh hạt lúa.  Cái chết của hạt lúa trong lòng đất không vô nghĩa và vô hiệu, trái lại, cái chết ấy cần thiết phải xảy ra thì mới đem lại sự sống mới cho các bông hạt nó sinh ra.  Sự sống thể xác của Chúa Giê-su cũng giống thân phận hạt lúa, nghĩa là cần phải chết đi, nằm trong lòng đất, ngày thứ ba sống lại với sự sống phục sinh và trở nên nguồn sống cho một nhân loại mới.
Khi ký kết một hợp đồng mua nhà, ta cảm thấy lo lắng vì trách nhiệm lớn đang chờ ta.  Là con người như ta, Chúa Giê-su cũng không tránh khỏi tâm trạng xao xuyến khi sắp tới giờ Người hoàn tất giao ước mới.  Mặc dù đã chuẩn bị suốt cuộc đời, nhưng Chúa Giê-su vẫn không thể thoát khỏi cảm xúc xao xuyến của một con người bình thường.  Do đó, Người hướng về Chúa Cha và dâng lời cầu nguyện, xin Chúa Cha giúp Người vững lòng và trung thành với sứ mệnh làm cho Danh Cha được tôn vinh.  Lời cầu nguyện của Chúa Giê-su đã được nhậm lời.  Chúa Cha chuẩn nhận việc Chúa Giê-su tôn vinh Người và Người khẳng định luôn tiếp tục nâng đỡ Chúa Giê-su hoàn tất sứ mệnh, để đem ơn cứu độ xuống cho toàn thể nhân loại.  Nói khác đi, Chúa Cha nhìn nhận Chúa Giê-su đang hoàn tất những gì Người trao phó.  Lời khích lệ và xác nhận của Chúa Cha đã làm cho Chúa Giê-su phấn khởi.  “Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi” (Ga 12:33).  Cực hình đóng đinh vào thập giá giờ đây đối với Chúa Giê-su là một sự tôn vinh, một hành vi “được giương cao lên khỏi mặt đất”, và Người còn có thể đem toàn thể nhân loại lên theo Người mà đến với Chúa Cha.  Đó chính là sứ mệnh cứu độ Người sắp hoàn tất bằng máu đổ ra trên thập giá để chuộc tội nhân loại.
4.  Sống Lời Chúa
                Chỉ còn một tuần lễ nữa là bước vào Tuần Thánh tôn kính cuộc Thương khó và Phục Sinh của Chúa Ki-tô.  Phụng vụ Lời Chúa hôm nay đề cập tới Giao ước mới Thiên Chúa thiết lập với nhân loại bằng máu cứu độ Chúa Ki-tô sẽ đổ ra trên thập giá.  Qua giao ước này ta nhận biết tình yêu cứu độ của Thiên Chúa Cha, đồng thời cũng thấy được vai trò vô cùng quan trọng của Chúa Giê-su, Đấng chấp nhận chết trên thập giá để làm dấu ấn của Giao ước mới.  Chúa Giê-su “được giương cao lên khỏi mặt đất” để kéo nhân loại theo Người lên với Chúa Cha.  Tuy nhiên, ta có để cho Người kéo ta lên hay không là tùy ý ta.  Vậy để được kéo lên, ta cần phải luôn kết hiệp với Người, chết đi con người tội lỗi của ta và sống sự sống mới ơn cứu độ của Người mang lại cho ta.
Suy nghĩ:  “Chúa Giê-su đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục”.  Vậy Chúa Giê-su đã nêu gương vâng phục Chúa Cha như thế nào?  Tôi học được gì nơi gương mẫu của Người?  Người học vâng phục để “bản thân đã tới mức thập toàn”.  Còn tôi, tôi có lấy vâng phục ý Chúa, vâng phục Hội Thánh để trở nên hoàn thiện mỗi ngày một hơn hay không?
Cầu nguyện:  Lạy Chúa, vì yêu thương nhân loại, Đức Giê-su Ki-tô đã hiến thân chịu khổ hình;  xin ban ơn trợ giúp, để chúng con biết noi gương Người tận tình yêu thương mọi anh chị em.  Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời.  A-men.  (Lời nguyện Nhập lễ, Chúa Nhật V mùa Chay).
Lm. Đaminh Trần Đình Nhi
 

MC5-B74. HIẾN ĐỜI SỐNG TRONG TÌNH YÊU

(CN V MCB – Ga 12, 20-33 )
“Bây giờ, tâm hồn Thầy xao xuyến! Thầy biết nói sao đây?” (Ga 12, 27)
 

Hai câu nói vừa mang dấu chấm than (!), vừa chấm hỏi (?) của Chúa Giêsu cô đọng lại biết bao: MC5-B74

Hai câu nói vừa mang dấu chấm than (!), vừa chấm hỏi (?) của Chúa Giêsu cô đọng lại biết bao nhiêu những trăn trở, những dắn vặt trong tâm hồn cao quí của Người. Với quyền năng “Ta đã tôn vinh Danh Ta” bằng những phép lạ cả thể để cứu chữa biết bao kẻ tật bệnh khổ đau, để vượt qua nhiều khốn khó trong cuộc đời của chính mình, Chúa Giêsu vẫn có thể vượt qua được “Giờ” của Người, như xưa kia Người đã được cha mẹ đưa sang đất Ai Cập để vuợt thoát cái chết do Hêrôđê đe dọa hãm hại, hoặc giả như Ngừơi cùng với các môn đệ băng qua vùng đất của dân ngoại để bảo tòan sinh mạng của mình. Hơn nữa, với cái chết trên thập giá là một lối hành hình man rợ nhất mà người ta lúc đó đã không được phép áp dụng cho dân Rôma, vì họ coi hình phạt đó bôi nhọ danh dự dân tộc này. Vả lại, thập giá trong thế giới thời đó là một biểu tượng của của nhuốc nhơ, của nhục nhã ê chề bị ngừơi đời chế giễu, và cũng hòan toàn dễ sợ vì tính chất tàn ác khủng khiếp của nó.
Là Con Người “sống như người trần thế”, Chúa Giêsu ắt phải lo sợ, xuyến xao. Và Người đã xin thưa: “Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này”. Nhưng rồi Người đã lướt thắng được những cơn đau xé, khi xác tín và cầu nguyện rằng: “Chính vì giờ này mà con đã đến. Lạy Cha, xin tôn vinh Danh Cha” (Ga 12, 27). Quả thật, khi phải đối diện với cái chết hãi hùng và thê thảm, Chúa Giêsu cũng muốn sống theo ý riêng của mình vì phù hợp với khả năng phản ứng chính đáng của con người. Nhưng dù thế nào đi nữa, Người vẫn cương quyết từ bỏ để vâng phục Thánh Ý Cha trọn vẹn, để rồi, từ đó Người mới để lại cho các môn đệ châm ngôn sống là: “Ai yêu quí mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời sau” (Ga 12, 25).
Sau “chuyến về nguồn” vào đầu tháng 10/2008, tận mắt chứng kiến Nhà Mồ Côi Vinh Sơn 4, nơi 150 trẻ em dân tộc côi cút tây nguyên trên Kontum xa xôi hẻo lánh đang quây quần sống trong sự đùm bọc yêu thương dẫn dắt của các Sơ (Ya’) Dòng Ảnh Vảy người dân tộc, qua sự quan tâm sẻ chia của các vị ân nhân, tôi đã ghi lại cảm nhận của mình về chuyến đi đó. Chỉ tuần sau khi gửi bài viết đến các bạn hữu từ xa, tôi nhận được một vài khỏan tiền nhờ chuyển giúp cho các cháu đáng thương nơi xa khuất kia. Khi chuyển đến được với các cháu, tôi đã cảm nhận được những gì mà các anh các chị ở Canada va ở Mỹ đã trải qua, bởi khi phải bớt đi những khỏan tiền để lo cho mình sống qua ngày đoạn tháng cũng là một cuộc vật lộn không phải đơn giản. Nhưng rồi tôi tin rằng các anh các chị đó đã phần nào lắng nghe được châm ngôn sống mà Đấng chăm sóc linh hồn các anh các chị đã truyền dậy: “Ai yêu quí mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời sau” (Ga 12, 25).
Hơn thế nữa, các anh các chị đó đã từng chiêm ngắm Thập Giá để rồi, qua đời sống thinh lặng cầu nguyện, các anh các chị đã hiểu và cảm thông sâu sắc được nhịp đập của trái tim yêu thương của Đấng Phục Sinh, “Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi, vì chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Người” (2Cr 5, 21), đã tha thiết tỏ tình: “Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi” (Ga 12, 32).
Thật vậy, thập giá không có gì hấp dẫn, thậm chí còn là một nỗi ô nhục. Thập giá sở dĩ trở thành cứu độ, vì thập giá là của Đấng đã chấm dứt đau khổ và sự chết. Nếu không có biến cố Phục Sinh, thì thập giá là một nỗi ô nhục. Thập giá đáng được trân trọng yêu quí, vì thập giá là của Đấng Phục Sinh, Đấng đã nói: “Ai khát, hãy đến với tôi, ai tin vào tôi, hãy đến mà uống! Như Kinh Thánh đã nói: Từ lòng Người, sẽ tuôn chảy những dòng nươc hằng sống” (Ga 7, 38).
Mới đây, ngày 21/03/2009, tại vận động trường Coqueiros, ĐTC Biển Đức XVI đã mời gọi các bạn trẻ như sau:
“Các bạn thân mến của cha,
Các bạn là hạt giống Thiên Chúa đã gieo vào thế gian, hạt giống chứa đựng quyền năng từ Trời cao, quyền năng của Chúa Thánh Thần. Và tuy thế, cách duy nhất để đi từ lời hứa của sự sống đến việc thật sự sinh hoa trái là hiến đời sống các bạn trong tình yêu, là chết cho tình yêu. Chính Chúa Giêsu đã nói: “Trừ khi một hạt lúa gieo vào lòng đất và chết đi, thì nó vẫn trơ trơ là một hạt lúa; nhưng nếu nó chết đi, thì nó sẽ sinh được nhiều hoa trái. Ai yêu mạng sống mình, thì sẽ mất nó; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ được nó cho đời sống vĩnh cửu” (Ga 12:24-25). Đó là điều Chúa Giêsu đã nói, và cũng là điều Người đã làm. Việc Người chịu đóng đanh dường như là một thất bại hoàn toàn, nhưng không phải! Chúa Giêsu, trong quyền năng của “Thần Khí hằng hữu đã tự hiến tế cách vẹn toàn lên Thiên Chúa” (Dt 9:14). Như vậy, một khi rơi xuống đất, Người có thể sinh hoa trái trong mọi thời đại và ở mọi nơi. Ở giữa các bạn, các bạn có Bánh Mới, Bánh của đời sống tương lai, Thánh Thể cực Thánh, là Bánh nuôi dưỡng chúng ta và đổ sự sống của Chúa Ba Ngôi vào tâm hồn mọi người.”
Như thế, chúng ta không nên lầm lẫn Thập Giá Đức Kitô với các biểu tượng tôn giáo. Không phải tất cả những ai mang thập giá đều lôi cuốn người đời: sự lôi cuốn chính là tác động của Đức Giêsu, vượt ra khỏi biên giới của Giáo Hội và tôn giáo. Sự hấp dẫn này không thể thống kê được. Không ai có thể nói đến sự liên hệ giữa con người và Đấng đã được nâng lên khỏi mặt đất. Giáo Hội cũng chỉ nói về Đức Giêsu, chứ không biết gì về những đổi trao giữa Đức Giêsu và mọi người.
Lạy Cha Chí Thánh,
Con xin cảm tạ Cha đã cho chúng con nguồn nước trường sinh từ Thập Giá Chúa Kitô. Và xin Cha ban Thánh Thần để chúng con cũng biết hiến cuộc dời của chúng con trong tình yêu như Đức Kitô, vì “Người đã trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người” (Dt 5, 9). Amen.
Phêrô Vũ văn Quí CVK64
Email: peterquivu@gmail.com
 

MC5-B75.  CHÚA NHẬT THỨ V MÙA CHAY, năm B

Ga 12, 20-33
 

Chúa nhật thứ V mùa chay đưa ta vào gần hơn sự thương khó và phục sinh của Chúa Giêsu: MC5-B75

Chúa nhật thứ V mùa chay đưa ta vào gần hơn sự thương khó và phục sinh của Chúa Giêsu. Đoạn Tin Mừng của thánh Gioan ám chỉ trực tiếp về sứ vụ cứu độ dân của Chúa Giêsu Kitô.Thánh Phaolô hôm nay cũng nhấn mạnh đến vai trò của Chúa Giêsu: vâng phục ý Chúa Cha, để chấp nhận tội lỗi và cứu chuộc con người.
1.             Ý của các bài đọc và ý của Chúa nhật thứ V mùa chay ?
2.             Hướng đi của dân Chúa trong mùa chay ?
I.              Ý NGHĨA CÁC BÀI ĐỌC VÀ Ý CỦA CHÚA NHẬT THỨ V MÙA CHAY ?
Ngôn sứ Giêrêmia trong đoạn 31,31-34 nói về hai giao ước Thiên Chúa đã ký kết với dân Do Thái. Giao ước thứ nhất Thiên Chúa đã ký kết với tổ phụ, cha ông của dân Do Thái thời Ngài giải thoát họ ra khỏi đất Ai Cập. Thời dân Do Thái bị làm nô lệ, bị khống chế, bị đè nén, bị áp bức. Nhờ giao ước này, dân Do Thái đã được vị thủ lãnh là Môsê đem ra khỏi đất nô lệ Ai Cập. Nhưng, tổ phụ đã phản bội giao ước này và sống bất trung, thờ ngẫu tượng bò vàng, làm cho Thiên Chúa phải vung tay, nổi cơn thịnh nộ. Giao ước thứ hai là giao ước Thiên Chúa ký kết với dân Do Thái sau thời lưu đầy ở Babylon về đất Chúa hứa. Thiên Chúa đã thiết lập lề luật của Ngài, khắc ghi vào tận đáy lòng của mỗi con người. Chúa sẽ là cha của dân và dân sẽ là con, là bạn hữu thân tình của Thiên Chúa. Từ nay Thiên Chúa sẽ là gia nghiệp của mỗi người, khiến con người trở nên nghĩa tử của Ngài và họ sẽ nhận biết Ngài ngay từ thời ấu thơ, và nhờ đó Ngài sẽ quên tội lỗi của dân. Bài cựu ước này dẫn ta đi vào đọan thơ của thánh Phaolô gửi tín hữu Do Thái: có Chúa là cha, có Chúa là gia nghiệp.Tất cả những kẻ tin, tùng phục Chúa qua bí tích rửa tội, qua lề luật của Ngài, đều được Chúa Giêsu ban ơn cứu độ. Sự chấp nhận xuống làm người, chia sẻ kiếp sống với mọi người, ngoại trừ tội lỗi, đã làm vai trò của Chúa Giêsu nổi bật. Chúa là căn nguyên của ơn cứu độ con người. Bài cựu ước của ngôn sứ Giêrêmia và của thánh Phaolô trong đoạn Tân Ước gửi giáo đoàn Do Thái đều nhắm dẫn ta đến đích điểm cuối cùng là tin nhận vào chính lời của Chúa Giêsu. Nếu hạt lúa mì rơi xuống đất thối đi thì nó sinh nhiều bông hạt. Đoạn Tin Mừng của thánh Gioan 12,20-30 hôm nay chủ đích làm sáng tỏ vai trò cứu độ của Chúa Giêsu. Chính Chúa được Chúa cha sai đến với nhân loại, ban ơn cứu độ cho mọi người và thực thi đúng lời Kinh Thánh. Chúa đã chấp nhận ý định của Chúa Cha, gánh vác tội lỗi nhân trần mặc dầu Ngài vô tội. Giờ cứu độ của Chúa Giêsu đã đến, đó là giờ Ngài sẽ được tôn vinh trước mặt Cha Ngài và trước mặt nhân loại. Qủa thực, hạt lúa mì chỉ có thể trổ sinh bông hạt tươi tốt nếu nó thối đi, mục nát đi để nẩy sinh cây non và làm cho cây lớn dần, trổ sinh bông hạt. Thiên Chúa Cha đã tôn vinh Ngài, làm vinh danh Chúa Giêsu trước mặt nhân loại và muôn cung thần thánh trên trời. Chúa chết, ơn cứu độ mới được ban xuống cho mọi người. Ngài bị treo lên thập giá khi đó muôn người sẽ được tôn vinh, được hưởng nhờ ơn huệ, giải thoát khỏi tội lỗi của Ngài. Chúa Giêsu quả đã làm tròn sứ mạng Chúa Cha trao phó. Ngài đã chấp nhận cái chết thập giá và nơi thập giá mọi người sẽ được tụ lại, sẽ được ân huệ dồi dào. Mọi người sẽ được gặp gỡ Chúa cách hoàn hảo nhất. Chúa nhật này nói lên niềm vui của dân Chúa, được Chúa Giêsu giải thoát khỏi tội lỗi.
I.HƯỚNG MÙA CHAY NHẮM TỚI: Tiếp nối tư tưởng của Chúa nhật mùa chay trước. Hôm nay chúng ta cùng hướng theo chủ đích:” sống yêu thương và tin vào Phúc âm “. Sống yêu thương là chủ đề của đạo Chúa. Sống yêu thương như đoạn Tin Mừng 25 của thánh Matthêu thuật lại. Chúa Giêsu luôn có mặt trong mọi trạng huống của cụộc đời. Ngài ở trong cuộc sống hằng ngày với ta. Với đức tin, Ta sẽ nhận ra Chúa. Với đức tin ta sẽ hiểu thế nào là tình yêu, thế nào là gặp Chúa. Gặp Chúa là một cảm nghiệm thiêng liêng, tâm linh của mỗi người. Để gặp được Chúa, điều căn bản vẫn là gặp con người. Gặp được con người với tất cả sự yêu mến, kính trọng của mình, là ta đã gặp được Chúa. Vì con người là hình ảnh của Chúa, là người khác của Chúa. Yêu người sẽ gặp Chúa và yêu Chúa sẽ gặp người. Sống yêu thương là biết cảm thông, nâng đỡ, tế nhị và chân thành với nhau. Cảm thông tức hiểu nhau, nâng đỡ, tế nhị, khuyến khích nhau sống tiến, sống vươn và sống đạo đức, thánh thiện. Điểm đặc biệt nữa Chúa muốn ta sống đó là sống chân thành yêu thương nhau. Chân thành là không giả dối, không bôi sáp, không trét phấn, bôi son bên ngoài mà sống toàn vẹn, sống nguyên tuyền với lòng mình, với cuộc đời của mình. Phúc âm thánh Luca đoạn 15, 1-15 thuật lại dụ ngôn người con hoang đàng sau khi đã tiêu sạch túi, đã ăn nhậu trác táng, thoải mái với lũ điếm, lũ mất dậy trở về. Người cha đã không giả dối, không môi mép mà ông đã thương yêu người con hư đốn trở về một cách rất chân thành, tế nhị và cảm thông tha thứ. Không những ông đã tiếp đón con cách chân tình mà còn thết tiệc linh đình để ăn khao đứa con bình an vô sự trở về đoàn tụ với gia đình. Sống yêu thương chân tình là như vậy. Con người sẽ không chồng chất những gánh nặng thêm cho nhau, con người sẽ không tị hiềm, gièm pha, ghim gút ,nói hành, nói xấu nhau. Ai cũng yếu nhèn, tội lỗi vì con người là tro bụi, là bùn đất. Nên, sự cảm thông tha thứ chân thành sẽ là niềm khích lệ lớn lao giúp con người sống đạo, sống đời vui tươi tốt đẹp. Thánh Gioan bao giờ lên tòa giảng cũng kêu gọi con người sống yêu thương, ngay lúc gần chết Ngài cũng vỏn vẹn giảng đề tài yêu thương. Yêu thương sẽ gặp Chúa và được Chúa gia ân giáng phúc. Tin vào phúc âm là tin vào sự chết và phục sinh của Đức Giêsu Kitô. Đây là nền tảng của Tin Mừng cứu độ. Chúa chết đem ơn cứu độ cho mọi người và Chúa phục sinh để mọi người tin, đều được sống lại với Ngài.
Đi vào thánh lễ này là làm tái diễn lại cuộc hy tế của Chúa Giêsu xưa trên thập giá. Ước gì Chúa Kitô, Mẹ Maria và thánh cả Giuse ban tràn đầy ơn huệ cho mọi người, để mọi người hiểu được tình yêu cao cả của Chúa:” Không tình yêu nào cao vời bằng tình yêu của người hiến mình vì  người mình yêu” ( Ga 15, 13).
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
 

MC5-B76.  CHÚA NHẬT V MÙA CHAY

(Gio-an 12: 20-33)
 

Để mô tả một sứ mệnh, người đời thường nêu lên những chương trình, kế hoạch to lớn mà họ: MC5-B76

Để mô tả một sứ mệnh, người đời thường nêu lên những chương trình, kế hoạch to lớn mà họ sẽ thực hiện trong cuộc sống.  Tuy nhiên chẳng có ai nói về cái chết của họ như phần cốt yếu trong sứ mệnh cả!  Đối với Chúa Giê-su, cuộc Thương khó và cái chết của Người mới là tột đỉnh của sứ mệnh.  Cái chết của Người cần thiết để chu toàn sứ mệnh, sứ mệnh của “Con Một” được Chúa Cha ban cho nhân loại để minh chứng sự thật  “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian” như thế nào.  Bài Tin Mừng tuần trước cho ta hình ảnh cái chết cứu độ của Chúa Giê-su:  “Như ông Mô-sê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời” (Ga 3:14).  Chúa Nhật hôm nay, bài Tin Mừng lại đề cập đến cái chết cứu độ của Chúa Giê-su qua một hình ảnh sống động và quen thuộc:  “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình;  còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12:24).
a)  Cái chết đem lại sự sống
                Qua hai hình ảnh, con rắn đồng treo cao trong sa mạc và hạt lúa gieo vào lòng đất, Chúa Giê-su đều muốn nói lên ý nghĩa và hiệu quả cái chết của Người, là cứu sống và ban sự sống.  So sánh giữa con rắn đồng trong sa mạc với Chúa Giê-su chịu đóng đinh trên đồi Gôn-gô-tha thật vô cùng ý nghĩa.  Rắn lửa sa mạc đã làm cho nhiều người Ít-ra-en phải chết.  Cũng thế, trong vườn địa đàng con rắn Xa-tan quỷ quyệt đã cắn nguyên tổ loài người và gieo nọc độc là tội lỗi và sự chết cho nhân loại.  Thiên Chúa thực hành nguyên tắc dĩ độc trị độc, đã dùng hình ảnh con rắn đồng để cứu sống dân Ít-ra-en.  Giờ đây, Người lấy chính cái chết của Con Một Người trên thập giá để đánh bại cái chết và tội lỗi, đem lại sự sống cho nhân loại.
                Hình ảnh hạt lúa gieo xuống lòng đất cũng hết sức linh hoạt.  Hạt lúa muốn trở thành một cây lúa và sinh bông hạt cần phải trải qua một tiến trình kỳ lạ.  Trước hết nó phải nằm trong bàn tay người gieo hạt.  Ông ta vung nó xuống đất.  Nằm trong lòng đất, nó phải chờ đợi những yếu tố cần thiết để bắt đầu một cuộc biến đổi:  một khoảng đất màu mỡ, hơi ẩm của đất, ánh nắng mặt trời...  Tất cả sẽ ảnh hưởng tới lớp vỏ bên ngoài, làm cho nó vỡ ra và mục nát.  Lúc vỏ trấu vỡ ra là lúc hạt lúa thấy mình sắp sửa không còn là hạt lúa nữa!  Rồi mầm sống dấu ẩn bên trong được đánh thức dậy, nảy nở, biến thành một mầm xanh, thoát ra khỏi lớp vỏ đã vỡ và từ từ chui lên khỏi lòng đất để đón lấy ánh mặt trời.  Biến thành cây lúa, nó không còn là hạt lúa nữa.  Nhưng chính nó sẽ đem lại nhiều hạt lúa khác.
                Nếu đem so sánh hình ảnh trên với cuộc đời Chúa Giê-su, ta sẽ thấy một tiến trình y hệt.  Chúa Cha đã gieo hạt lúa Giê-su xuống trần gian, đặt trong cung lòng Đức Trinh nữ Ma-ri-a.  Người đã sinh ra, lớn lên và sống ẩn dật tại Na-da-rét.  Người đã lên đường thi hành sứ vụ rao giảng Tin Mừng.  Sau hết, qua cái chết cứu chuộc, Người đã cứu mọi người khỏi tội lỗi, phục hồi cho nhân loại sự sống đời đời mà ma quỷ đã cướp đi khi nguyên tổ không tuân phục Thiên Chúa.  Đặc biệt, cuộc Thương khó, cái chết trên thập giá, an táng trong mồ và sự Phục sinh của Chúa Giê-su quả thực là những diễn tiến y hệt như tiến trình biến đổi của hạt lúa.  Như hạt lúa phải chết đi để đem lại sự sống cho những hạt lúa khác thì Chúa Giê-su cũng phải chết đi để chia sẻ sự sống đời đời cho toàn thể nhân loại.
b)  Những bài học về hạt lúa
                Không phải Chúa Giê-su chỉ nói về sứ vụ của Người là chết để loài người được sống, nhưng Người còn đưa ra những bài học vô cùng ý nghĩa về cái chết của hạt lúa.
                Bài học đầu tiên là về sự ưu tiên của sự sống đời đời, được trình bày qua nghịch lý sống và chết, tạm bợ và vĩnh cửu.  Sống ở đời này, nếu ta chỉ lo lắng hưởng thụ mà không lấy cuộc sống để phục vụ, ta sẽ mất cuộc sống vĩnh cửu mai sau, tức là chết muôn đời.  Nếu ta lấy cuộc sống đời này như một cơ hội để phục vụ, làm điều lành mặc dù phải chịu thiệt thòi, thì ta sẽ được sự sống muôn đời.
                Bài học thứ hai về gương phục vụ của Chúa Giê-su.  Chúa Giê-su đã phục vụ mọi người vì Người nhìn thấy hình ảnh của Thiên Chúa nơi người khác.  Phục vụ người khác là phục vụ chính Thiên Chúa ở trong họ.  Giờ đây, Chúa Giê-su đã đồng hóa Người với anh chị em.  Người khẳng định:  “Ta bảo thật các ngươi:  mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25:40).  Ta là môn đệ Chúa Giê-su nên là người phục vụ Chúa trong anh chị em.  Sống đời phục vụ, ta sẽ được Thiên Chúa Cha “quý trọng” như Người đã quý trọng Con Một Người.
                Bài học thứ ba là biết xử sự sao cho đúng khi ta cảm thấy xao xuyến vì phải chấp nhận hy sinh.  Chúa Giê-su biểu lộ hoàn toàn những tâm tình hãi sợ, xao xuyến khi thấy cái chết tủi nhục đến gần.  Cảm giác “biết nói gì đây?” đã cho ta thấy Người như bị tê liệt, hoảng hốt.  Nhưng đó cũng chính là lúc Chúa Giê-su biểu lộ trọn vẹn sự tín thác của Người nơi bàn tay quan phòng của Chúa Cha.  Người chỉ còn nhìn thấy một điều ưu tiên phải làm, tức là làm cho Danh Cha được tỏ rạng.  Tất cả ý nghĩa cuộc đời của Chúa Giê-su ở trần gian này là để tôn vinh Danh Cha.  Cái chết của Người sẽ là hành vi cuối cùng làm cho Danh Cha được chiếu sáng tột đỉnh.  Lời cầu nguyện của Chúa Giê-su với Chúa Cha đã biểu lộ sự tuân phục tuyệt đối.  Lập tức Chúa Cha nhìn nhận việc tôn vinh Chúa Giê-su đã làm cho Người và đáp lại với lời hứa chính Người sẽ tôn vinh Chúa Giê-su qua cuộc Phục Sinh vinh hiển.
c)  Cuộc phán xét thế gian này đang diễn ra
                Nói đến cái chết của Người, Chúa Giê-su nhắc nhở ta hướng đến một trời mới đất mới:  quyền lực ma quỷ và thế gian sắp bị đánh bại.  Cái chết của Người sẽ dứt khoát làm cho “thủ lãnh thế gian này bị tống ra ngoài”.  Sau chiến thắng ở vườn Địa đàng, thế gian này đã biến thành lãnh thổ của Xa-tan rồi.  Nó tha hồ tung hoành và khống chế con người.  Nhưng sau chiến thắng của Chúa Giê-su nhờ cái chết, Xa-tan không còn đất đứng nữa.  Con đường đi đến với Thiên Chúa đã được nối lại để ta có thể gặp gỡ Thiên Chúa trong Đức Ki-tô.
                Tuy nhiên ta nên hiểu cuộc phán xét thế gian, hoặc chiến thắng của Chúa Giê-su là điều đang tiếp tục xảy ra và sẽ kết thúc vào ngày thế mạt khi Người trở lại để phán xét muôn loài.  Do đó, ngay bây giờ và tại thế gian này, Chúa Giê-su mời gọi ta tham dự vào cuộc chiến thắng ấy bằng cách để cho Người “kéo ta lên với Người”.  Đừng chống cự, nhưng ta cứ theo Người, để cho Người kéo ta vào trong mối thâm giao với Người và ngày sau được chung hưởng vinh phúc với Người.  Nhưng ngay bây giờ, ta hãy để cho Người kéo ta lên với Người trên thập giá, bắt chước Người cam chịu mọi gian nan thử thách, nhưng vẫn luôn trung thành và hoàn toàn tín thác nơi Thiên Chúa.
d)  Suy nghĩ và cầu nguyện
                Có khi nào tôi suy nghĩ về ý nghĩa cái chết của Chúa Giê-su không?  Tôi đã cầu nguyện về cái chết của Người như thế nào?  Cái chết ấy ảnh hưởng gì đến đời sống đức tin của tôi?
                Bài học nào về hạt lúa Chúa dạy làm cho tôi phải suy nghĩ nhất?  Tại sao?  Tôi sẽ thực hành như thế nào?
                Điều gì ngăn cản tôi, không để cho Chúa Giê-su kéo tôi lên với Người?  Tôi sẽ nghe Chúa nói gì về tình trạng này?
Cầu nguyện
                “Lạy Cha, xin ban cho con điều khó hơn cả,
                đó là ơn nhận ra Thánh giá của Con Cha
                trong mọi nỗi khổ đau của đời con,
                và ơn bước theo Con Cha trên đường Thánh giá
                bao lâu tùy ý Cha định liệu.
                Xin đừng để con trở nên chua chát
                nhưng được trưởng thành nhờ đón nhận đau khổ
                với sự kiên nhẫn, quảng đại, nhân từ
                và lòng khát khao nóng bỏng
                có ngày sẽ được ở nơi không còn khổ đau.
                Ngày đó, Cha sẽ lau khô mọi giọt lệ
                của những người đã yêu mến Cha,
                đã tin vào tình yêu Cha giữa nỗi thống khổ,
                tin vào ánh sáng của Cha giữa đêm đen.
                Nhờ Cha, ước gì đau khổ của con
                nói lên lòng tin của con
                vào những lời hứa của Cha,
                lòng cậy của con vào tình yêu trung tín của Cha
                và lòng mến mà con dành cho Cha.
Lạy Cha, xin cho con yêu Cha hơn yêu bản thân
                và yêu Cha chỉ vì Cha,
                chứ không mong phần thưởng.
                Ước gì Thánh giá trở nên mẫu gương cho con,
                là ánh sáng cho đêm tăm tối,
                nhờ đó con không còn coi khổ đau
                như một tai họa hay một điều vô lý,
                nhưng như một dấu chỉ cho thấy
                con đang thuộc về Cha mãi mãi.”
                                                - Cha Karl Rahner
                                (Trích RABBOUNI, lời nguyện 63)
Lm. Đaminh Trần Đình Nhi
 

MC5-B77.  CHÚA NHẬT V MÙA CHAY, năm B

 Thánh ca và lời nguyện mở đầu
 Kinh Thánh:        Do-thái 5: 7-9
 

Theo dõi diễn tiến của các bài đọc mùa Chay, chúng ta nhận thấy sự tăng triển mỗi ngày một: MC5-B77

Theo dõi diễn tiến của các bài đọc mùa Chay, chúng ta nhận thấy sự tăng triển mỗi ngày một rõ hơn về nhiều phương diện, như bầu khí căng thẳng giữa Chúa Giê-su với những kẻ chống lại Người, Chúa Giê-su cảm thấy việc rao giảng càng cấp bách hơn trong những ngày cuối đời...  Nhưng nổi bật nhất, đó là càng gần tới cuộc Khổ nạn, Phụng vụ Lời Chúa càng nêu cao thái độ khiêm nhượng vâng phục của Chúa Giê-su trước thánh ý của Chúa Cha.  Trích dẫn đoạn thư Do-thái hôm nay đã đề cao sự vâng phục của Chúa Giê-su như là “nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu.”  Để hiểu giá trị tuyệt đỉnh của đức vâng phục ấy, chúng ta phải trở lại thời điểm trước khi Thiên Chúa hứa ban ơn cứu độ cho loài người để thấy được mức độ tai hại của việc A-đam đã không vâng phục Thiên Chúa như thế nào.  Thánh Phao-lô đã cặn kẽ trình bày so sánh giữa A-đam và Đức Giê-su Ki-tô trong chương 5, thư gửi tín hữu Rô-ma.  Tuy nhiên ở đây qua đoạn thư Do-thái, Giáo Hội chỉ muốn chúng ta chú tâm vào sự vâng phục của Chúa Giê-su và mời gọi chúng ta noi gương Chúa trong cuộc sống Ki-tô hữu chúng ta.
 a)  “Ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội” (Rm 5:20)
                Khi so sánh việc bất tuân phục của A-đam với sự vâng phục của Đức Ki-tô, thánh Phao-lô muốn làm nổi bật lên tình yêu cứu độ của Thiên Chúa.  Dựa vào hậu quả, chúng ta có thể thẩm định mức tai hại của sự bất tuân lớn lao như thế nào.  Qua hành động bất tuân của A-đam, tội lỗi xâm nhập trần gian và tác hại gây nên sự chết.  Hậu quả thật lớn lao, vì không phải chỉ có một mình A-đam phải chết, mà là toàn thể nhân loại.  Thánh Phao-lô đã sử dụng động từ “thống trị” để diễn tả mức độ trầm trọng của lầm lỗi A-đam.  Tội lỗi do bất tuân còn tiêu diệt luôn cả khả năng được nên công chính nơi con người chúng ta, hoặc nói theo ngôn từ của Phao-lô, là “chúng ta không có sức làm được gì” và trở thành “hạng người vô đạo.”  Vậy thì bởi đâu chúng ta được phục hồi khả năng được nên công chính và trở nên con cái hiếu nghĩa của Thiên Chúa?  Đó là nhờ sự vâng phục của Đức Ki-tô, sự vâng phục đã thành nguồn ân sủng và là nguồn “chứa chan gấp bội.”
 b)  Diễn tiến bài học vâng phục của Chúa Giê-su
                Thư Do-thái khai triển việc Chúa Giê-su học vâng phục như thế nào?  Vâng phục không phải là một nhân đức đối thần, nhưng là nhân đức thủ đắc.  Nghĩa là vâng phục không phải là ơn siêu nhiên do chính Chúa ban như đức tin, cậy và mến, nhưng là thói quen chúng ta phải tập tành mới nắm được trong tay (thủ đắc).  Vậy diễn tiến việc học vâng phục được mô tả như sau.
                Trước hết thư Do-thái nêu lên hoàn cảnh Chúa Giê-su học vâng phục:  “Khi còn sống kiếp phàm nhân, Đức Giê-su đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết.”  Chúa Giê-su không học vâng phục với tính cách là Thiên Chúa, nhưng là người phàm như chúng ta.  Là phàm nhân, nên Chúa Giê-su cũng kêu van khóc lóc, cũng sợ đau khổ và cái chết, nhất là cái chết phải hư mất đời đời.  Lời cầu xin kêu cứu của người công chính là lời cầu xin đầy lòng tin kính phó thác, lấy ý Thiên Chúa làm mục đích để tuân theo chứ không phải lấy ý riêng mình để giải quyết khó khăn.
                Cơ hội để phát triển lòng tin kính phó thác chính là những đau khổ trong cuộc sống.  Đau khổ là trường tôi luyện lòng tín thác của chúng ta nơi Chúa.  Cũng như chúng ta, Chúa Giê-su đã được đào tạo trong môi trường đau khổ để học bài học vâng phục Thiên Chúa.  Nhìn lại cuộc đời của Người, chúng ta thấy đau khổ nhiều hơn vui sướng.  Sinh ra trong cảnh cơ hàn, lớn lên trong cuộc sống thanh bần Na-da-rét và “không có chỗ tựa đầu” trong khi thi hành sứ vụ cứu thế.  Cuối cùng là cuộc Thương khó và cái chết “gục đầu xuống và tắt thở” chứ không phải tựa đầu trên gối êm.  Quả thực, Thiên Chúa đã cứu Người khỏi chết, không phải khỏi cái chết tạm phần xác nhưng là cái chết vĩnh viễn.  Thần Khí Thiên Chúa đã cho Người sống lại từ cõi chết, để Người sống muôn đời và ngự bên hữu Thiên Chúa, đó chính là ý nghĩa của việc Thiên Chúa cứu Người khỏi chết.
                Thư Do-thái đề cập tới mức độ thập toàn của việc vâng phục.  Mức độ này cũng được thánh Phao-lô diễn tả rõ ràng hơn trong thư Phi-líp-phê 2:8.  “Người còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự.”  Vâng lời bằng lòng chịu chết đã là một hành vi phi thường hiếm có.  Nhưng lại còn tự ý chấp nhận một cái chết nhục nhã như một tên tội đồ thì chẳng có ai dám làm điều đó cả!  Trừ phi người ấy phải đạt tới trình độ vâng phục thập toàn.  Chính Đức Ki-tô đã đạt mức độ sung mãn của vâng phục, cũng như Người là chính sự sống và là sự sống sung mãn.
 c)  Đức Ki-tô vâng phục đã trở nên nguồn ơn cứu độ
                Nguồn ơn cứu độ không có nghĩa thụ động, nhưng đòi hỏi sự cộng tác và kết hiệp của chúng ta với Người.  Sự vâng phục của Chúa Giê-su mang ý nghĩa một cuộc hòa giải nhân loại với Thiên Chúa.  Sự vâng phục của Người không chỉ là một hành vi tức thời, nhưng là hành vi cứu độ, nghĩa là sự vâng phục ấy đã khởi đầu và sẽ được tiếp nối bằng những vâng phục của mỗi chi thể thuộc Nhiệm Thể Người.  Người mở ra con đường vâng phục Thiên Chúa “cho tất cả những ai tùng phục Người” để họ được hòa giải với Thiên Chúa và được cứu độ, tức là cho những ai thực sự muốn làm môn đệ Người.
                Hôm nay tôi sống theo ý Chúa và tuân phục lề luật Chúa tức là tôi đang được hòa giải và cứu độ.  Nhưng có một điều nữa tôi phải học nơi Chúa Giê-su, đó là phải lấy những đau khổ cuộc sống làm cơ hội học biết thế nào là vâng phục Chúa.  Như thế, tôi có thể nhận ra chiều kích ích lợi và tích cực của những đau khổ tôi chịu, chứ không phải chỉ thấy lúc nào cũng đầy hãi sợ.
 Câu hỏi gợi ý chia sẻ
                 Trước những đau khổ trong cuộc sống, thái độ của tôi thế nào?  Trách móc Thiên Chúa?  Tín thác và cố gắng nhận ra ý nghĩa tích cực của những đau khổ?  Học vâng phục ý Chúa?
                Tôi sẽ mô tả diễn tiến việc học vâng phục Chúa nơi tôi như thế nào?  Đau khổ nào được coi như là khởi đầu cho việc học vâng phục?  Tiến triển ra sao?  Chia sẻ.
                Chiêm ngưỡng Chúa Giê-su vâng phục Chúa Cha sẽ giúp tôi sống tinh thần mùa Chay và chuẩn bị mừng lễ Phục Sinh thế nào?  Nhất là chiêm ngưỡng Người qua Phụng vụ Tuần Thánh?
                Nếu có thể, học hỏi chương 5 của thư thánh Phao-lô gửi tín hữu Rô-ma.
 Cầu nguyện kết thúc
                Sau cầu nguyện bộc phát, nhóm cùng nhau đọc Thánh ca Phi-líp-phê 2:6-11.
 Lm. Đaminh Trần Đình Nhi
 

MC5-B78.  Chúa Nhật V mùa Chay – B

Đời sống chúng ta khởi đầu bằng sự mất mát.  Khi sinh ra, chúng ta bị đẩy ra khỏi lòng me: MC5-B78

Đời sống chúng ta khởi đầu bằng sự mất mát.  Khi sinh ra, chúng ta bị đẩy ra khỏi lòng mẹ, mất đi một chỗ thật ấm áp và thoải mái chúng ta đã sống hơn chín tháng trời.  Bác sĩ hoặc y tá nắm cẳng chúng ta dốc ngược lên, vỗ mấy cái cho chúng ta khóc thét.  Cuộc chia ly lòng mẹ kinh hãi như vậy đó!  Để có một chỗ trên thế giới này, chúng ta đã phải mất đi nơi chốn thoải mái trước đây trong lòng mẹ và cảm nhận cái đau của mất mát.  Rồi tiếp tục trong cuộc đời, chúng ta phải đối phó với bao nhiêu mất mát khác nữa để được trưởng thành và có thể thành công trên trường đời.  Thực đúng như lời Chúa Giê-su nói trong bài Tin Mừng hôm nay:  “Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình;  còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác.”
                Khác với các sách Tin Mừng Mát-thêu, Mác-cô và Lu-ca, sách Tin Mừng Gio-an không đặt cơn hấp hối của Chúa Giê-su trong bối cảnh đêm khuya tĩnh mịch ở Vườn Cây Dầu, nhưng trong một khung cảnh đặc biệt, đó là giữa đám đông tại phố xá Giê-ru-sa-lem và sau khi Chúa long trọng vào thành với tư cách là Đấng Ki-tô.  Thời điểm ấy, khách hành hương đang lũ lượt kéo về Giê-ru-sa-lem để mừng lễ Vượt qua, có cả một số người Hy-lạp nữa.  Họ đã nghe nói về Chúa Giê-su nên muốn biết và gặp Người.  Nhưng đối với Chúa Giê-su, trong lễ Vượt qua năm nay, con chiên dùng để sát tế sẽ là chính Người.  Sắp sửa đến lúc Chúa Giê-su phải mất mát tất cả.  Người sẽ phải mất tự do, mất những người thân yêu, môn đệ và bạn bè, mất sự nâng đỡ khích lệ của những người chung quanh, và cuối cùng mất đi chính sự sống quý giá của Người.  Cho nên không lạ gì khi chúng ta thấy Chúa Giê-su công khai bày tỏ tâm trạng lo lắng bồn chồn về những mất mát ấy.  Người nói với các môn đệ:  “Bây giờ, tâm hồn Thầy xao xuyến!  Thầy biết nói gì đây?”  Rồi Người cầu nguyện với Chúa Cha:  “Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này, nhưng chính vì giờ này mà con đã đến.  Lạy Cha, xin tôn vinh Danh Cha.”  Qua lời tâm sự và cầu nguyện của Chúa Giê-su, chúng ta có thể thấy Người thật là gần gũi với chúng ta, am hiểu được những mất mát của chúng ta, đồng thời chúng ta cũng thấy Chúa Giê-su là một người con gương mẫu của Thiên Chúa, luôn đặt vinh danh của Thiên Chúa lên trên quyền lợi cá nhân của mình.  Không thể có vinh quang nếu không có thập giá!
                Đối với Chúa Giê-su, tưởng có thể tránh đau khổ và cái chết chỉ là một hy vọng giả tạo cần phải loại bỏ.  Ở đây mất đi sự sống là một mất mát cần thiết phải có, phải xảy ra.  Đường thập giá đã thấp thoáng ngay từ buổi khởi đầu sứ vụ rao giảng Tin Mừng giờ đây đã trở nên rõ ràng và không thể tránh né.  Chúa Giê-su quyết định chấp nhận xỉ nhục và hấp hối do thập giá và chấp nhận cái chết hèn hạ của một tội nhân.  Nhưng, chấp nhận như thế không phải là dễ, trái lại, như thánh Gio-an đã viết, Chúa Giê-su đã cảm thấy bồn chồn lo lắng, vì đau khổ sẽ là tột độ và mất mát quả là lớn lao.  Tuy nhiên, chính vì liên hệ mật thiết với Chúa Cha và tôn kính ý muốn của Người, Chúa Giê-su đã tìm thấy động lực để chấp nhận và có thể vững tâm tới cùng.
                Tất cả những mất mát của Chúa Giê-su lại trở nên mối lợi cho chúng ta và toàn thể nhân loại.  Hành vi hy sinh quên mình của Người đã trở thành cột trụ của lịch sử Ki-tô giáo.  Chính Chúa Giê-su đã dùng một hình ảnh thực tế, đẹp và sống động để diễn tả hành vi cao thượng ấy:  “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình;  còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác.”  Và hơn thế nữa, không chỉ sinh được nhiều hạt khác, mà còn đem lại cho chúng sự sống đời đời với Thiên Chúa, như Chúa Giê-su đã hứa:  “Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất (tức là trên thập giá), tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi.”
                Qua bài Tin Mừng hôm nay, lời giảng dạy đơn sơ và cầu nguyện chân thành của Chúa Giê-su đã soi sáng cho chúng ta hiểu được giá trị và hiệu quả của cái chết hy sinh Người chấp nhận để làm vinh danh Thiên Chúa và cứu rỗi chúng ta.  Nhưng cái chết ấy cũng soi sáng để chúng ta hiểu được giá trị của những mất mát và hy sinh chúng ta chịu để sinh ích lợi cho chính chúng ta, cho gia đình, cho tha nhân, cho cộng đoàn và cho xã hội.  Trong cuộc chiến tranh hiện thời, có lẽ phần đông báo chí và phương tiện truyền thông chỉ trình chiếu một cách tiêu cực về những thiệt hại mất mát, về những cái chết của người lính Hoa-kỳ và đồng minh, mà quên đi hoặc cố tình quên đi nét cao thượng và anh hùng của những cái chết đó.  Trong đời sống gia đình, bậc làm cha mẹ đã hy sinh thật nhiều cho tương lai của con cái, cũng có thể đối chiếu và tháp nhập hy sinh của mình với hy sinh của Chúa Ki-tô, để thấy rằng những hy sinh của mình không phải là vô nghĩa.  Trong một giáo xứ hay một cộng đoàn cũng vậy: hy sinh của mọi người, từ linh mục cho đến giáo dân, từ người già cho đến người trẻ, đều được đóng góp, đều xoay quanh hy sinh của Chúa Giê-su trên thánh giá, để tất cả cùng nhau xây dựng một cộng đoàn yêu thương và phục vụ.  Nhất là qua ý nghĩa của hy sinh thập giá chúng ta suy niệm hôm nay, mỗi khi tham dự Thánh lễ, chúng ta sẽ thấy rõ hơn ý nghĩa của tình yêu Thiên Chúa được biểu lộ qua hy tế đặt trên bàn thờ là chính Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta.
 Ngày 3-4-2003
Lm. Đaminh Trần Đình Nhi
 

MC5-B79.  GẶP GỠ CHÚA GIÊSU

Trong số những khách hành hương Giêrusalem dịp này, có mấy người Hy Lạp muốn gặp: MC5-B79

Trong những ngày cuối của mùa chay, chúng ta thường có tâm lý chú trọng nhiều đến những nghi thức về cuộc khổ nạn cũng như cái chết của Chúa Giêsu. Và vì thế, ý nghĩa cuộc khổ nạn và cái chết của Ngài xem như không được chú ý tới nhiều. Vì ý nghĩa đích thực của cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa Giêsu chính là mang lại ơn cứu độ, và ban cho nhân loại sự sống trường sinh. Nhưng rồi ơn cứu độ và sự sống trường sinh ấy có ý nghĩa gì nếu con người không tìm gặp và đến được gần với Chúa: “Thưa ngài, chúng tôi muốn gặp Đức Giêsu” (Gioan 12:21).
Chúa Giêsu vui mừng:
Thật vậy, phải chờ đến những lời tha thiết và thái độ mong mỏi trên, Chúa Giêsu mới trút được những thao thức đang nung nấu trong trái tim nhân lành của Ngài: “Đã đến giờ Con Người được tôn vinh” (Gioan 12:23). Sự tôn vinh đó chính là thái độ nhận biết và đón nhận Tin Mừng Cứu Độ, tiếp nhận công nghiệp Cứu Chuộc mà Ngài sắp sửa sắm cho con người qua cái chết và cuộc phục sinh của Ngài.
Hành động tìm gặp Chúa Giêsu của mấy người Hy Lạp cũng chính là hành động mà mỗi người chúng ta cần phải có trong mùa chay này, cũng như trong suốt cuộc đời chúng ta.
Việc cá nhân mỗi người và việc con người tìm đến với Chúa Giêsu, mang ý nghĩa tìm gặp Đấng Cứu Thế, và tìm gặp nguồn ơn cứu độ. Điều này là một niềm vui đối với Chúa Giêsu. Chúa vui mừng lắm vì nhân loại và chúng ta nhận ra Ngài. Như hạt miến phải tan biến trong lòng đất, Chúa cũng chịu tan biến đi trong cái chết khổ nhục của Ngài để đem về một vụ mùa phong phú cho Đức Chúa Cha. Những bông lúa nặng trĩu hạt đây chính là các linh hồn, những người đã khao khát được gặp và tiếp cận với Ngài.
Con người cũng vui lây:
Chúa Giêsu mừng vì có người tìm đến Ngài. Mấy người Hy Lạp mừng vì tìm đến và gặp gỡ được với Chúa. Khỏi nói thì Philliphê và Andrê cũng mừng vì thấy Thầy mừng, bạn hữu mừng, và nhất là mình đã trở thành cái môi giới cho niềm vui mừng đó.
Điều này cho thấy ý định của Thiên Chúa với công cuộc cứu chuộc và hạnh phúc đời đời của chung nhân loại, cũng như của riêng mỗi người chúng ta: Đó là chúng ta không lên Thiên Đàng một mình. Thiên Đàng không có chỗ cho người ích kỷ. Không phải như của cải và kho báu trần gian, phần đông khi con người tìm được thường có khuynh hướng dấu đi để hưởng một mình. Nước trời và hạnh phúc vĩnh hằng không như vậy. Người chiếm hữu được nó là người biết hướng dẫn những anh chị em khác cùng chiếm hữu, vì nếu chiếm hữu lấy một mình, tự nhiên hạnh phúc Nước Trời vụt khỏi tầm tay của chúng ta. Thiên Đàng là nơi cộng đồng các thánh cùng thông công. Phần rỗi đời đời là giá cứu chuộc của Chúa Giêsu trả cho chung và riêng mỗi người chúng ta. Nó không hề suy giảm hay tiêu hao dù chúng ta san sẻ hay chia cho người khác.
Tìm gặp Đức Kitô:
Tư tưởng trên cho chúng ta một khái niệm về đời sống thực hành, đó là nếu muốn tìm gặp Chúa chúng ta cũng phải như những người Hy Lạp kia, phải vất vả, phải tìm hỏi, và phải có người môi giới. Và ngược lại, chúng ta cũng phải là những người môi giới đó. Đó là những mắt xích của chuỗi vàng huyền nhiệm dẫn chúng ta và anh chị em chúng ta tìm gặp được Thiên Chúa và trở thành anh chị em với nhau.
Chúng ta phải tìm gặp Thiên Chúa qua sách vở, báo chí, truyền thanh, truyền hình, internet. Qua việc học hỏi đạo Chúa. Qua việc đọc và suy ngắm Phúc Âm. Nhất là qua cầu nguyện và suy gẫm. Tóm lại, chúng ta phải tận dụng tất cả mọi khả năng mình có để gặp gỡ Đức Kitô, kể cả việc nhờ bạn bè môi giới, chỉ bảo. Trong trình thật của mình, Thánh Gioan đã viết: “Sự sáng đã đến thế gian, nhưng thế gian thích tối tăm hơn sự sáng” (Gioan 3:19), một hình thức nào đó đã diễn tả tâm trạng và lối sống của con người qua muôn thế hệ. Và đó cũng là điều khiến chúng ta phải cám ơn Thiên Chúa, vì ơn được nhận biết Ngài; nhất là ơn yêu mến và sống thân mật với Ngài.
Giới thiệu Đức Kitô cho tha nhân:
Từ sự thân mật và yêu mến ấy, chúng ta sẽ trở thành những người môi giới, những người mà như Philliphê, như Andrê, mà người khác có thể tin cậy và nhờ vả một sự giới thiệu. Tại sao Philliphê và Andrê được nhắc tới trong trường hợp này? Dĩ nhiên, vì dưới con mắt của những người Hy Lạp lúc ấy, các ông có uy tín, có sự thân mật đủ để giới thiệu họ với Chúa Giêsu. Một sự thân mật không những có giữa Chúa Giêsu với các ông, mà hơn thế, các ông là những người hiểu và biết Chúa Giêsu.
Trong đời sống Kitô hữu, chúng ta đã có lần nào được người khác đến hỏi và nói với chúng ta câu nói tương tự như những người Hy Lạp đã hỏi và nói với Philliphê chưa: “Chúng tôi muốn gặp gỡ Chúa Giêsu?” Và nếu có người hỏi chúng ta câu hỏi như thế, thì chúng ta đã làm gì? Đến ngay với Chúa Giêsu hay như Philliphê đã bàn hỏi thêm với Andrê trước khi làm việc giới thiệu ấy.
Hành động của Philliphê cũng lại dẫn chúng ta đến một bài học khá quan trọng trong đời sống Kitô hữu và trong sinh hoạt tông đồ. Đó là nhiều khi chúng ta không biết Chúa mà vẫn nói ra như người biết Chúa. Đó là nhiều khi chúng ta không sống đúng với chức năng người Kitô hữu của mình trong đời sống và gương mẫu đạo hạnh, và kết quả là chúng ta đã chỉ cho người khác điều mà mình không biết về Chúa Giêsu. Hoặc chỉ cho người khác đến với Chúa mà mình thì không đến.
Chúa Giêsu đang đi dần vào cuộc khổ nạn. Ngài đang hồi hộp nhìn về tương lai với giá đắt đỏ mà Ngài sẽ phải trả cho phần rỗi và hạnh phúc trường sinh của các tâm hồn. Nhưng liệu có mấy ai tìm gặp Ngài. Có mấy ai hiểu được Ngài. Và có mấy ai sẽ hưởng được kết quả của cái chết khổ nhục của Ngài. Vậy nếu chúng ta là những người đã biết, đã được Ngài thông ban cho niềm vui và hạnh phúc được làm con cái Thiên Chúa ấy, chúng ta cũng phải như Philliphê, như Andrê giúp đỡ và giới thiệu anh chị em mình tìm gặp Chúa Giêsu, để Chúa cũng được vui mừng, vì có nhiều linh hồn được cứu độ. Và như vậy, đến lượt chúng ta cũng vui mừng vì thấy Chúa vui, các linh hồn được vui, một niềm vui cứu độ mà chúng ta tất cả đều được nhận lãnh từ Chúa Giêsu.
 T.s. Trần Quang Huy Khanh
 

MC5-B80.  HẠT LÚA PHẢI CHẾT ĐỂ SINH KẾT QUẢ

Với Chúa nhật V mùa Chay, chúng ta bước vào thời gian cuối cùng của mùa Chay, và đang càng: MC5-B80

Với Chúa nhật V mùa Chay, chúng ta bước vào thời gian cuối cùng của mùa Chay, và đang càng lúc càng tiến đến gần đỉnh cao của mầu nhiệm Vượt Qua. Trên đỉnh cao đó, mầu nhiệm Vượt Qua loan báo một tình yêu lớn đến vô cùng của Thiên Chúa.
I. THIÊN CHÚA HIẾN MÌNH VÌ YÊU
Thiên Chúa yêu đến nỗi không dung thứ chính bản thân mình, để thực hiện một cuộc tìm kiếm hết sức ngoạn mục, nhằm vươn tới bằng được mỗi một con người, để cứu vớt, làm cho họ sống và sống mãi. Cuộc tìm kiếm ngoạn mục này, Thiên Chúa đã thực hiện quá hoàn hảo trong sự chết và sống lại của Chúa Kitô: Thiên Chúa đã tự hiến chính mình nơi Chúa Kitô, làm cho nỗi đau khổ nhục nhằn mà Chúa Kitô hằng chấp nhận, trở thành lời chứng của tình yêu lớn đến vô cùng, lớn đến nỗi không còn có thể có cách diễn tả lời yêu thương nào lớn hơn.
Bởi vậy, ngoài những phương tiện chay tịnh mà Hội Thánh đề nghị, sự chay tịnh cần thiết không kém phần quan trọng của chúng ta trong những ngày này, là ngước nhìn thánh giá Chúa Kitô, mà lắng chìm tâm hồn, suy niệm sự tự hiến tế cao cả của Người, để nơi đó, ta lớn lên không ngừng trong lòng yêu mến của mình đối với Thiên Chúa, Đấng yêu thương ta. Người chính là “hạt lúa đã gieo vào lòng đất”. “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất, không chết đi, nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác”. Cũng thế, nhìn vào góc cạnh cứu chuộc, nếu Chúa Kitô không chấp nhận hiến tế đời mình, chúng ta chẳng nhận được hiệu quả nào của ơn cứu chuộc. Chính trong sự tự hiến tế lớn lao của Người, Chúa Kitô trao cho ta sự sống của chính Thiên Chúa. Và như thế, cái chết khổ hình của Chúa là bằng chứng ơn cứu chuộc chúng ta.
Nhưng trong mầu nhiệm thánh giá, không chỉ một mình Chúa Kitô tự hiến, mà là chính Thiên Chúa tự hiến cho ta. Bởi nơi thánh giá Chúa Kitô, Chúa Cha tự hiến mình khi trao ban chính Người Con Duy Nhất, sinh ra tự lòng mình. Chúa Con tự hiến mình, khi chấp nhận hóa thân làm người, chia sẻ đến cùng cái kiếp người mong manh của loài người, và chết đau thương như một tử tội để trao ban sự sống cho loài người.
Hiểu về mầu nhiệm tự hiến của Thiên Chúa như thế, ta cũng có thể áp dụng hình ảnh hạt lúa được gieo cho Thiên Chúa. Vì chính Người đã hiến mình cho ta trước. Sáng kiến cứu độ phát xuất từ nơi Thiên Chúa. Thiên Chúa đã cúi mình để nâng ta lên trong sự tự hiến ấy. Vì thế, Thiên Chúa là hạt lúa nguồn, hạt lúa mẹ đã hiến mình cho ta, đã chết lặng trong thương đau tột cùng vì ta trong cái chết đau đớn của Chúa Kitô, Con Một của Người.
Cũng chính trong sự chết đau đớn của Chúa Kitô, Thiên Chúa tiếp tục mời gọi chúng ta hãy tự hiến tế chính mình như Người, để nên hạt lúa gieo vào lòng đời cho anh chị em của ta.
Sự dâng hiến của Thiên Chúa và của Chúa Kitô chính là động lực thúc đẩy ta sống cho anh chị em của mình. Sự tự hiến của Thiên Chúa và của Chúa Kitô đòi ta chui ra khỏi vỏ ốc ích kỷ của mình, ra khỏi những bận tâm, toan tính, vun quén cho mình để sống cho tha nhân và cho Thiên Chúa.
Lịch sử của Hội Thánh hai ngàn năm qua đã ghi dấu đức tin của rất nhiều anh chị em hiến thân cho thế giới, cho Hội Thánh và cho Thiên Chúa. Những anh chị em đó đã sống chính lời dạy của Chúa Kitô: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất, không chết đi, nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác”. Vì thế, họ đã đã thực sự nên hạt lúa mục nát đi, để lại cho đời, cho từng người qua mọi thế hệ bằng chứng của sự chết đi và sinh nhiều kết quả.
Tôi đã đọc đâu đó rất nhiều những tấm gương lớn như thế, những tấm mang hình ảnh hạt lúa được gieo, được chết đi và trổ sinh nhiều kết quả đáng quý.

II. CHỨNG TÁ VỀ MỘT HẠT LÚA CHẾT TRỔ SINH KẾT QUẢ
Chứng tá ấy xảy ra vào một ngày cuối năm 1965. Trên một chuyến máy bay đưa các Giám Mục người Mỹ trở về từ Ý sau khi đã dự Công Đồng Vatican 2, có một nữ tiếp viên hàng không rất xinh đẹp, tận tình và nhã nhặn phục vụ hành khách. Thế nhưng, trong suốt hành trình, cô tiếp viên hàng không trẻ đẹp này rất bực bội và rất mất tự nhiên vì có một người đàng ông, xem ra thiếu đứng đắn, cứ liên tục đảo đôi mắt chăm chú nhìn mình. Càng đáng bất bình hơn, khi đó là một người đàn ông đã lớn tuổi. Cô lại càng khó chịu hơn, vì ngay sau đó cô được biết, người đàn ông ấy chính là đức cha Fullton Sheen, Tổng Giám Mục thành New York, một con người nổi tiếng về khoa ăn nói, giảng dạy và đạo đức. Ngài là một Giám Mục tông đồ lừng danh nước Mỹ. Thật là quái gỡ không thể tưởng tượng! Một kẻ xem ra thiếu tư cách ấy, lại là con người của thành công, của sự nổi tiếng sao? Cô không hiểu nổi và thầm chê trách coi khinh vị Giám Mục già kia.
Đến lúc chiếc phi cơ hạ cánh, kỳ quái thật, vị Giám Mục già bị coi là “thiếu đứng đắn” kia lại không xuống cùng lúc với các hành khách. Không hiểu ngài có toan tính gì mà lại đợi mọi người trên máy bay xuống hết, chỉ còn mỗi mình ngài là vị khách xuống sau cùng. Đã vậy, khi đến cầu thang máy bay, Đức Cha Fulton Sheen còn ghé sát mặt mình vào tai cô tiếp viên hàng không nói thầm thì những lời gì đó, ngoài cô gái, chẳng ai có thể nghe thấy…
Câu chuyện đến đó, tưởng chừng kết thúc. Những tưởng sự khó chịu của cô gái tiếp viên hàng không rồi cũng trôi qua, cái nhìn tưởng như khiếm nhã của vị Giám Mục già rồi cũng chẳng còn ai nhớ, có chăng một ánh mắt dù khiếm nhã (theo như ý nghĩ của cô gái), thì cũng chỉ là một ánh mắt thoáng qua như bao nhiêu ánh mắt mà cô gái bắt gặp trong đời mình? 
Không phải thế. Mọi sự không trôi đi, không mất. Bởi vào một buổi trưa, Đức Cha Futon Sheen nghe tiếng gõ cửa, và sau đó là sự bất ngờ của Đức Cha khi ngài mở cửa. Trước mặt ngài là cô gái tiếp viên hàng không trẻ tuổi có sắc đẹp mặn mà trên chuyến bay hôm nào, đã từng có ánh mắt thiếu thiện cảm với ngài.
Cô gái lên tiếng chào Đức Cha và hỏi: “Thưa Đức Cha, Đức Cha có nhớ con không?” Đức Cha Fulton Sheen từ tốn trả lời: “Cha nhớ chứ. Con chính là cô gái tiếp viên hàng không trên chiếc máy bay đưa chúng tôi trở về từ Công Đồng Vatican II”. Cô gái nói tiếp: “Vậy Đức Cha có nhớ Đức Cha đã nói nhỏ vào tai con điều gì không?” Đức Cha trả lời: “Nhớ! Cha nhớ, Cha đã khen con đẹp lắm. Và cha hỏi con rằng, có bao giờ con đã cảm tạ Chúa vì Chúa đã ban cho con sắc đẹp tuyệt vời kia chưa?” Cô gái sung sướng nói tiếp: “Kính thưa Đức Cha, điều Đức Cha nói đã làm con băn khoăn nhiều. Cũng chính vì điều đó mà hôm nay con đến gặp Đức Cha. Vậy, theo ý Đức Cha, con phải làm gì để tạ ơn Chúa?” Hơi bất ngờ, Đức Cha Fulton Sheen lặng người suy nghĩ một chút. Sau đó Đức Cha dẫn cô gái tới trước tấm bảng đồ thế giới treo trên tường, vẫn giọng nói ôn tồn, Đức Cha hỏi: “Có bao giờ con nghe nói tới một trại phong cùi nào ở Việt Nam mang tên là trại phong Di Linh chưa?” Cô gái ngước đôi mắt xanh như dọ hỏi: “Kính thưa Đức Cha, có lần con đã đọc được trên báo. Con cũng đã được nghe ai đó kể một vài chuyện về trại cùi Di Linh.”
Đức Cha dõi mắt nhìn vào khoảng xa xăm trước mặt: “Này con, cách đây chưa lâu, cha nghe nói Đức Giám mục giáo phận Sài Gòn tên là Gioan Cassen đã từ chức Giám Mục Sài Gòn để đến phục vụ anh chị em trại phong Di Linh. Con có muốn cảm tạ Chúa bằng cách thử một lần đến trại phong Di Linh, gặp Đức Giám Mục Sài Gòn và ở lại với anh chị em bệnh phong khoảng sáu tháng không?” Quá bất ngờ trước lời đề nghị của Đức Giám Mục thành New York, cô gái không thốt lên một lời, lặng lẽ cúi chào Đức Cha rồi rút lui trong sự bàng hoàng của chính nội tâm của cô…
Một lần nữa, người ta cứ tưởng rằng câu chuyện thật nhẹ nhàng, nhưng cũng thật mãnh liệt của Đức Cha Fulton Sheen và cô tiếp viên hàng không kia đã chấm dứt. Nhưng thật lạ lùng, chỉ bằng ấy lời đề nghị nhẹ nhàng, nhưng dứt khoát của Đức Cha, đã làm thay đổi hoàng toàn cuộc đời của cô tiếp viên hàng không xinh đẹp.
Những tháng đầu năm 1966, người ta đọc thấy một bảng tin đáng khâm phục trên các phương tiện truyền thông của Sài Gon và của Việt Nam nói chung: Một nữ tiếp viên hàng không rất trẻ, rất đẹp của một hãng hàng không Hoa Kỳ đã xin nghĩ nghề làm tiếp viên hàng không để đến trại phong Di Linh của Việt Nam, tình nguyện chăm sóc các bệnh nhân phong.
Thật đẹp, đẹp làm sao. Chỉ chừng ấy lời của một vị Giám Mục khả kính thôi, tâm hồn quả cảm của một cô gái lãng du thích phiêu bồng khi chọn cho mình nghề tiếp viên, rày đây mai đó, đã có thể chấp nhận trút bỏ tất cả tương lai đẹp như chính cái vẻ đẹp của cô để sống, không phải sáu tháng, nhưng là suốt đời cho một lý tưởng cũng đẹp không kém: TẠ ƠN THIÊN CHÚA.
Chỉ chừng ấy thôi, lời của một vị Giám Mục khả kính đã biến một cô chiêu đãi viên hàng không xinh đẹp thành một nữ tu. Bởi chính cô, sau một thời gian phục vụ anh chị  em phong, đã tự nguyện khoác lấy chiếc áo nữ tu trong Hội Dòng Nữ Tử Bác Ái Vinh Sơn Việt Nam. Từ nay, bước vào đời sống tu trì, Người Nữ Tu, cô gái xinh đẹp của chúng ta, hoàn toàn trút bỏ mọi vướng bận của đời thường để yên tâm sống lý trưởng cảm tạ Chúa bằng việc phục vụ anh chị em phong của mình. Người nữ tu đã từng làm tiếp viên hàng không ấy, đẹp quá. Chị đẹp, không chỉ là một sắc đẹp thân xác, mà chính là một vẻ đẹp lộng lẫy của tâm hồn. Người Nữ Tu ấy, không ai khác hơn, nhưng đó chính là Chị Louise Bannet.
Chị Louise Bannet đã tình nguyện ở lại trại phong Di Linh suốt đời. Nhưng biến cố của năm 1975 gây ra nhiều biến động, khiến Chị không thể tiếp tục ý nguyện của mình. Sau mười năm phục vụ người phong, Chị đã phải lên đường về nước. Một thời gian sau, Chị lại xin Nhà Dòng cho đi phục vụ bệnh nhân phong ở Tahiti. Năm 1982, sau nhiều ngày bị căn bệnh ung thư quái ác hoành hành, Chị Louise Bannet đã qua đời giữa sự tiếc thương vô cùng của cộng đoàn anh chị em phong tại Tahiti. Và trong tình liên đới, cũng như trong lòng biết ơn của mình, cũng là chính lòng tiếc thương của các bệnh nhân phong Việt Nam nói chung và tất cả những ai sống tại trại phong Di Linh nói riêng. 
III. TA HỌC BÀI HỌC VỀ HẠT LÚA CHẾT SINH KẾT QUẢ
Chúng ta không dễ gì chấp nhận chết đi, không dễ gì chấp nhận đánh mất mình vì anh chị em. Bởi tính toán riêng tư của chính mình, làm cho ta khó lòng tự hiến. Tại sao tôi phải chết đi để người khác được sống? Đúng là hạt lúc chết để sinh nhiều bông hạt, nhưng ích lợi gì cho tôi khi chính tôi bị tan rã? Quá quay về với bản thân, ta chỉ là một hạt lúa trơ trọi.
Nhưng tiếc thay, lúc giữ được tất cả, tôi lại thấy mình mất tất cả. Cái mất lớn nhất là mất hết ý nghĩa sống. Từ đó, tôi như con thú chỉ biết chăm sóc bộ lông của mình. Đến lúc phải trải qua những kinh nghiệm đau thương, tôi mới nhận ra: chỉ có một cách giữ chặt, và giữ được tất cả là buông ra và trao hiến. Tôi đã bắt đầu được khi bắt đầu chấp nhận mất.
Thiên Chúa đã đi bước trước để tự hiến mình cho ta. Chúa Kitô tự hiến chính mình khi nhập thể, làm người, sống, nhất là khi Người chấp nhận cái chết ô nhục và sống lại, được vinh thăng trên trời… Các thánh của Chúa, nhiều chứng nhân âm thầm hoặc công khai trong suốt chiều dài của lịch sử Hội Thánh, mà Chị Louise Bannet chỉ là một tấm gương trong vô vàn những tấm gương… là những bằng chứng sống động cho ta học lấy bài học tự hiến chính mình cho anh chị em xung quanh.
Chúng ta cần ghi khắc sâu đậm Lời Chúa hôm nay để sống cho Chúa và cho nhau: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất, không chết đi, nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác”.
Cùng với Lời Chúa, chúng ta tiếp tục cất cao kinh Hòa Bình, để lời kinh rất quen thuộc này, tiếp tục hướng dẫn chúng ta hiểu và mỗi một ngày càng hiểu nhiều hơn giá trị của sự tự hiến. “Vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh. Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân. Vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ. Chính lúc chết đi, là khi vui sống muôn đời…”
Lm. VŨ XUÂN HẠNH
 

MC5-B81.  Thời điểm TỪ MỘT VIỆT NAM BẦM DẬP

Châu Á là nơi phát sinh những tôn giáo lớn cho thế giới, như Ấn Độ Giáo, Phật Giáo, Khổng: MC5-B81

Châu Á là nơi phát sinh những tôn giáo lớn cho thế giới, như Ấn Độ Giáo, Phật Giáo, Khổng: MC5-B81 nạn khá giống nhau.
Qua những quằn quại thống khổ tột cùng, Do Thái đã đóng vai trò sử mệnh trong việc hình thành cái nôi phát sinh hai tôn giáo lớn của thế giới là Do Thái Giáo và Ki-Tô Giáo, và đã trở thành một dân đúng là được Đức Chúa Trời tuyển chọn. Liệu Việt Nam có mang một ý nghĩa và sử mệnh gì qua những bầm dập trầm luân suốt bao thế kỷ từ một gia tài của mẹ "một ngàn năm nô lệ giặc Tàu, một trăm năm nô lệ giặc Tây..." và biết bao năm nội chiến từng ngày... từ ngay thuở ban đầu 50 con theo mẹ, 50 con theo cha, rồi thập nhị sứ quân đến Trịnh Nguyễn phân tranh? Gần hai thiên kỷ từ ngày Hai Bà Trưng chìm sâu dưới lòng sông Hát với lời trù yểm của Mã Viện, có con đường nào vượt tới hay vẫn giẫy giụa trong hầm tối không lối thoát: "Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt" !?
TỪ CƠN GIẪY GIỤA
Chuyện nước đã vậy, mà ngay cả chuyện riêng mình nữa, trong cơn đau khủng khiếp, trong bóng đen ghê rợn, ai mà chẳng quằn quại giẫy giụa. Tự nhiên cái xẩy ra tai nạn, cơn chấn động tim. Thế là xe lăn, tê liệt. Tự nhiên cái bị ăn đòn hằn, mà hằn không đúng. Kẻ cắn tỏ ra bệnh nặng. Có người vì thế mà trở nên hung hãn đấm đá thù đời. Có người đâm ra chán nản, buông xuôi, thất vọng. Nhưng nhiều người thì vẫn thấy được đường vượt lên. Trong đêm đen họ bỗng thấy một điều gì. Mắt họ sáng lên. Và không gì có thể cản trở nổi nữa. Thế là thế nào?
Trong những lúc đen tối tột cùng của bệnh cùi, Hàn Mặc Tử bỗng thấy chân trời bật sáng. Nỗi đau khổ bỗng được biến thành niềm sung sướng khi cảm nhận được Tình Yêu Thiên Chúa qua luồng ánh sáng:
Ai tới đó mà chẳng nao thần trí
Tòa châu báu kết bằng hương kì dị
Của Tình Yêu rung động lớp hào quang
....
A ha hả, say sưa chê chán đã
Ta là ta hay không phải là ta?
Có gì đâu cả thể với cao xa
Như cội rễ của trăm ngàn đạo hạnh.

(Siêu Thoát)

Và trong bài “Ngoài Vũ Trụ”, hồn thơ còn sáng lên hơn:
Sáng vô cùng, sáng láng cả mọi miền
Không u tối như cõi lòng ma quỉ
Vì có Đấng Hằng Sống hằng ngự trị
Nhạc thiêng liêng dồn trổi khắp u linh.
....
Tình thơm tho như ngấn lệ còn nguyên
Ta ước ao đầu đội mũ triều thiên
Và tắm gội ở trong nguồn ánh sáng.

MỘT VIỆT NAM PHỤC SINH
Tiến trình đời sống xem ra có nhiều xung khắc, "lên voi" đó rồi lại "xuống chó" thê thảm. Những mảnh rời nhiều khi thật phi lí lại bỗng mở lối thênh thang theo một hướng nhiệm mầu. Nhiều người trong cuộc khảo cứu của bác sĩ Melvin Morse, sau khi chết đi rồi bỗng sống lại, đã trở nên khác lạ với những khả năng cảm thụ đặc biệt. Trường hợp Olaf trong “Được Ánh Sáng Biến Đổi” (Transformed by the Light) thì thấy: “đang trôi trong vũ trụ vô bờ bến... Vũ trụ như những bọt xà bông đang qui về trọng tâm theo một hình thái phức tạp, nhưng tôi hiểu được trọn vẹn, thấy được mọi sự đều có nghĩa... cảm thụ được toàn thể vũ trụ...” (trang 12-13).
Đạo Trời trong diễn tiến cuộc đời mà Chúa Giêsu chỉ dẫn xem ra thật trái ngược và phi lí, nhưng lại rất hợp với tiến trình tâm lý ngày nay: "Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh nhiều hạt khác" (Gioan 12: 24).
Và Thánh Phaolô đã thấy được từ kinh nghiệm sống qua những sóng gió thảm sầu: “Chúng ta biết rằng mọi sự đều đi liền với nhau sinh ích cho những ai được Chúa yêu thương, tức là những người được Chúa kêu gọi theo chương trình của Người” (Roma 8:28).
Cũng chính trong cái nhìn đó mà Hàn Mặc Tử cũng đã thấy được mọi trắng đen đỏ vàng, buồn vui, trầm bổng cuộc đời không phải là những mảnh vỡ vô nghĩa hay những cù lao trôi nổi phi lí, mà đều qui tụ thâu về trong một mối:
Những cù lao trôi nổi xứ mênh mang
Sẽ qui tụ thâu về trong một mối.
Và tư tưởng không bao giờ chắp nối
Là vì sao? Vì sợ kém thiêng liêng
Trí vô cùng lan nghĩ rộng vô biên
Cắt nghĩa hết những anh hoa huyền bí
Trời bát ngát không cần phô triết lí
Thơ láng lai chấp chóa những hàng châu
Ta hiểu chi trong áng gió nhiệm mầu?
Những hạt lệ của trích tiên đầy đọa.

(Siêu Thoát)

TIN VUI MỘT NỤ VÀNG ĐANG HÉ (Chúa nhật 5B Mùa Chay)
Một "trăm năm vật vã, trăm năm hận thù" đang hát bài tạ từ. Chả lẽ người mình cứ bị luẩn quẩn hoài trong số phận hẩm hiu? Có niềm tin và con đường nào mở tới không?
Do Thái đã mang được sử mệnh nhờ một niềm tin: từ cảnh tang thương mồ mả đầy xương trắng ngổn ngang, tiên tri Êgiêkiên đã vẽ lên thị kiến một cuộc đứng lên đầy sinh khí của đoàn người sống lại, và đã thành công trong việc khắc ghi niềm tin này vào tâm khảm những kẻ mất nước khi họ phải đường đầu với một tương lai mịt mù đen tối của dân tộc họ; từ cảnh lưu đầy Babylon sầu thảm, tiên tri Isaia đã gợi lên trong con mắt người Do Thái tha hương một viễn kiến phục hưng rực sáng.
Vậy chả lẽ người Việt mình cứ mãi chịu cúi mặt kiếp đọa đầy? Đã đến lúc chiếc xe lịch sử chuyển bánh thì không một sức mạnh nào cản ngăn được nữa. Từ cảnh mất hướng cụt đường, người ly hương đang thấy rõ như trong Rong Khúc Hát Cho Năm 2000 (Phạm Duy, Ngàn Lời Ca, trang 366-367):
Một trăm năm đã gần xong
Anh bình tâm đi lượm xác chiến trường.
Những xác úa một thời
Có bóng dáng triệu người
Phiêu diêu nơi thế chiến một, thế chiến hai.
Hết thế chiến lại là
Anh em trong một nhà
Lấy chém giết để giải hòa trong quốc gia.

Những gì rùng rợn ghê sợ đang qua đi. Mình bắt đầu chuyển mình vào một giai đoạn mới, từ mỗi cá nhân cho đến tập thể, để cùng:
Vùi sâu trong mộ chung
Hoặc vùi nông trong mộ hoang:
Anh hùng rơm hay chủ nghĩa phi thường...
Hãy lấp kỹ cả tội hèn trong chúng ta...

Là vì người mình luôn tin tưởng vào đạo Trời, chứ không mơ hồ dựa vào một cuộc vận hành may rủi của vũ trụ. Tin vào Đấng đang dẫn mình đi qua lũng qua đồi qua bao thăng trầm như người Việt vẫn xưng tụng trong ca dao:
Dù ai nói ngược nói xuôi,
Ta đây cứ vững đạo Trời khăng khăng.

Niềm Tin này đã được thể hiện qua chính đời sống của Chúa Giêsu: Đã có một Việt Nam thống khổ thì tất nhiên phải có một Việt Nam Phục Sinh: "Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh nhiều hạt khác" (Gioan 12: 24).
Đúng vậy, người Việt có quyền tin tưởng bước vào thiên kỷ 3 với viễn kiến phục sinh tươi sáng từ "Mộ Phần Thế Kỷ":
Mai đây nấm mồ,
Một nụ vàng sẽ hé...
Hoa ơi, tên gì?
Có phải hoa hướng dương?

Lm. Dũng Lạc Trần Cao Tường
 

MC5-B82.  Chúng tôi muốn gặp Chúa Giêsu

Trong cuộc sống có nhiều điều quan trọng mà ta không thể trông thấy như gió, tư tưởng, lòng can: MC5-B82

Trong cuộc sống có nhiều điều quan trọng mà ta không thể trông thấy như gió, tư tưởng, lòng can đảm, tình yêu và ơn thánh Chúa. Tuy nhiên, ta có thể biết chúng hiện hữu qua hiệu quả hay tác dụng của chúng. Thí dụ khi thấy cây ngả nghiêng - ta biết có gió.
Trong Tin Mừng hôm nay, một số người Hy-lạp (Dân ngoại) muốn gặp Chúa Giêsu. Tại sao họ muốn gặp Chúa? Họ là mối lo cho người Do-thái hơn cả quân Rôma. Đối với họ, cách sống của người Do-thái thật là bất thường. Tuy nhiên, họ lại muốn gặp Chúa. Phải có một điều gì làm cho họ muốn gặp Chúa? Có lẽ họ đã nghe các tông đồ và dân chúng nói nhiều về Chúa. Cũng có thể họ muốn gặp Chúa là vì họ đã chứng kiến sự biến đổi nơi cuộc sống của các tông đồ và những người đã theo Chúa Giêsu.
Như những người Dân ngoại xưa, nhiều người ngày nay cũng muốn gặp Chúa Giêsu; một Chúa Giêsu đã biến đổi cuộc sống của những người đã theo Ngài, một Chúa Giêsu làm cho người ta muốn dấn thân rao giảng Tin Mừng Cứu Độ, một Chúa Giêsu thấu hiểu tâm hồn và biết con người phải chiến đấu khó khăn thế nào để thi hành một việc tốt, và một Chúa Giêsu luôn sẵn sàng thí mạng sống vì phần rỗi nhân loại.
Những sự việc này sẽ không bao giờ trở thành sự thật nếu chúng ta không thấy những hậu quả hay tác dụng của sự hiện diện của Chúa Giêsu trong cuộc sống của những người theo Chúa Kitô. Ta đọc hoặc nghe về những vị thánh, những người có cuộc sống đã chiếu giãi sự hiện diện và tình yêu của Thiên Chúa như Phanxicô, Têrêxa, Mẹ Têrêxa Calcutta... Ta cũng biết những người có cuộc sống thánh thiện như Tu sĩ Văn, Cha Minh Đăng, Cha Bửu Diệp... Hoặc chúng ta biết những người thân yêu, bạn bè đang đau khổ không kém Ông Gióp trong Cựu Ước, nhưng họ vẫn vững niềm tin cậy trông nơi Chúa cho dù đôi lúc họ cũng muốn buông xuôi.
Việt nam ta có câu, "Có qua có lại, mới toại lòng nhau." Đúng thế! Không chỉ có chúng ta muốn gặp Chúa Kitô, nhưng còn rất nhiều người khác cũng muốn gặp Chúa Giêsu. Do đó, ta không thể chỉ ngồi để hưởng gương lành hoặc ân sủng nhờ niềm tin của người khác. Ta cần trở nên dấu chỉ cho tha nhân nhận biết sự hiện diện của Chúa trong cuộc sống. Ta có thể bắt đầu bằng việc đồng hành và giúp những người chưa nhận biết Chúa qua cử chỉ bác ái yêu thương và nâng đỡ; trung thành trong đời sống cầu nguyện; giúp đỡ tha nhân không vì để được khen, nhưng là vì họ mang hình ảnh Thiên Chúa; đồng hành và cảm thông với những người đau khổ không phải bằng lời nói nhưng bằng sự hiện diện.
Như những người Hy-lạp trong Tin Mừng, ngày nay cũng có rất nhiều người muốn gặp Chúa Giêsu. Nhưng, ngày nay Chúa không hiện diện cụ thể để cho họ gặp Ngài diện đối diện như thời xưa. Cách duy nhất để họ nhận ra Chúa là qua chính những hậu quả và tác dụng của lời Chúa nơi hành động của chúng ta là những môn đệ của Ngài. Xin Chúa Giêsu Thánh Thể canh tân đức tin nơi mỗi người và giúp ta biết chia sẻ đức tin đó cho mọi người qua lời nói và đời sống trào tràn tình yêu thương của Chúa Giêsu. Hãy tìm Chúa Giêsu nơi tha nhân và để tha nhân nhận gặp Chúa nơi chúng ta.
Lm. Quốc Toản, CMC
 

MC5-B83.  Mục nát đi mới trổ bông

1. Bài Phúc Âm:
 

Chúa nói đến 2 nhân vật thể hiện đúng ý nghĩa của lời Chúa phán: "Hạt giống có thối đi mới: MC5-B83

Chúa nói đến 2 nhân vật thể hiện đúng ý nghĩa của lời Chúa phán: "Hạt giống có thối đi mới sinh ra nhiều hoa trái khác".
Thánh Philipphê tông đồ được Chúa gọi theo Chúa. Thánh Andrê tông đồ: Nghe lời Chúa giảng dạy, ngài học được nơi Chúa đức tin kiên trì và thực hành với Chúa lối sống trọn lành. Hai ngài đều chết vì thầy: Thánh Philipphê chịu đóng đanh ngược. Thánh Andrê tay chân đóng vào chữ X.
Các ngài đã thực hiện lời Phúc Âm: Hạt giống mục đi mới sinh hoa trái dồi dào. Ai yêu sự sống mình sẽ mất. Ai ghét sự sống sẽ được sống.
2. Lời Phúc Âm của Chúa là một sự lúng túng cho nhiều người, vì người mang tin lành cho trần gian lại bảo:
- Vác thánh giá mình mà theo Ta.
- Yêu kẻ thù địch mình.
- Ghét sự sống mình.

Thực là một lời vô nghĩa lý. Nhưng sao đoạn Phúc Âm này còn được báo đời thực hiện ?
- Sự vô nghĩa lý thần thánh
- Sự khôn ngoan vô biên.
- Sự phong phú vượt mọi chiến thuật đạt hạnh phúc.
- Sự vô nghĩa lý này tỏ cho ta một tình yêu vô vị lợi, một cuộc sống thần linh bất diệt.

Hạt giống có chết đi (chất bổ mới tan ra nuôi mầm sống lớn mạnh).
3. Trong lãnh vực nhân loại:
A. Truyện Lê Lai cứu Chúa ...... Chuyện Anh phải sống ...... Người ta thấy xác cô y tá Bennet nằm bên hành lang bệnh viện, dưới bụng cô là một em bé còn sống.
Các ý tá thường nhắc đến lòng tận tâm của cô đối với các em nhỏ. Cô thường nói: Phải giúp các em vì các em là hy vọng của tổ quốc.
B. Một định luật bất dịch :
- Hạt giống mục đi
- Muốn tốt phải làm lành.
- Phúc đức để đời.
- Vàng thử trong lửa
- Cha ăn mặn con khát nước.
- Có lao động có vinh quang.

C. Định luật ấy cắt nghĩa cái mâu thuẫn của lời Chúa. Biết bao người ngày nay đang nỗ lực làm cái vô nghĩa đó:
- Chịu đau khổ để được vinh quang.
- Hy sinh hãm mình, làm việc bác ái.
- Tìm đến an ủi người hơn được người ủi an.
- Tìm thông cảm người khác hơn là được thông cảm.
- Tìm đến hòa giải hơn là được giải hòa.
- Tìm yêu mến người hơn được người yêu mến.
- Tìm hiểu người hơn được người hiểu.
Vì các triết lý của Chúa là ban để lãnh nhận. Dấu đong lại lắc chặt hơn . Quên mình là lúc gặp lại. Chết đi là mầm sống vùng dậy.

4. Chúa dạy trong bài đọc I:
Ta khắc lề luật, lời dạy Ta vào lòng nó để không ai nói được Ta không dạy. Không cần ai dạy nữa cũng biết. Chúa dạy ta phải chôn mình đi như hạt giống. Chúa thực hiện sự hạ mình, chết trên thập giá để sống lại vinh quang.
Mùa Chay ta làm gì cộng tác với Chúa? Không nói nhưng làm. Xin cho con thấu hiểu cái triết lý vô nghĩa của Chúa. Chúng ta hay nói: Bày đặt. Cần lòng chứ không cần thịt. Cần làm chứ không cần nói. Cần cộng tác. Không có cộng tác cũng trơ trơ như hạt giống không mục đi vậy.
Lm. Thu Băng, CMC
 

MC5-B84.  Cuộc Vượt Qua của Vị Thiên Chúa Làm Người được bắt đầu từ lúc nào?

Tại sao Chúa Giêsu không trả lời?
 

Nếu các bài Phúc Âm ba Chúa Nhật Mùa Chay trước Chúa Nhật Thương Khó hay Chúa Nhật: MC5-B84

Nếu các bài Phúc Âm ba Chúa Nhật Mùa Chay trước Chúa Nhật Thương Khó hay Chúa Nhật Lễ Lá, như đã nhận định ở hai bài suy niệm Chúa Nhật 3 và 4 trước đây, có một ý nghĩa đặc biệt liên hệ với nhau, chẳng những ở từng chu kỳ mà còn ở cả ba chu kỳ với nhau nữa. Riêng chu kỳ Năm B này, chúng ta thấy các bài Phúc Âm theo Thánh Ký Gioan được Giáo Hội chọn rất hợp với những gì Chúa Giêsu tiên báo cho các môn đệ biết về cuộc Vượt Qua của Người, một cuộc Vượt Qua bao gồm ba phần khổ nạn, tử giá và phục sinh (x Mk 8:31, 9:31, nhất là 10:34). Trước hết, về phần khổ nạn, Chúa Giêsu cũng đã xác nhận ở bài Phúc Âm Chúa Nhật 3, khi Người thách dân Do Thái “hãy cứ phá đền thờ này đi, nội trong ba ngày Tôi sẽ dựng lại”. Qua câu tiên báo này, dĩ nhiên Chúa Giêsu cố ý nói đến cuộc Vượt Qua của Người nói chung, thế nhưng, nếu so sánh với những gì Người sẽ tỏ cho biết thêm ở hai bài Phúc Âm Chúa Nhật 4 và 5, Người cũng có ý nói đến riêng việc thân xác Người sẽ bị hành hạ bởi đòn vọt, nhục nhã v.v. Sau nữa, về phần tử giá, Chúa Giêsu báo trước trong bài Phúc Âm Chúa Nhật 4, khi Người cho Nicôđêmô biết rằng Người sẽ bị đóng đanh vào thập tự giá: “Moisen treo con rắn trong sa mạc thế nào, Con Người cũng sẽ bị treo lên như vậy”. Sau hết, về phần phục sinh, Chúa Giêsu cũng bóng bẩy nói đến trong bài Phúc Âm Chúa Nhật thứ 5 tuần này, khi Người nói với các môn đệ của Người về hình ảnh hạt lúc miến mục nát đi để sinh muôn vàn hoa trái, ở chỗ, Người chiến thắng quyền lực của tên vương chủ thế gian và làm cho con người tin tưởng nhận biết Người, như Người cho biết ở đoạn cuối của cùng bài Phúc Âm.
Thế nhưng, để làm cho nhân loại nhận biết Người, tức để làm cho cuộc Vượt Qua của Người như hạt lúa miến mục nát đi trổ sinh hoa trái, Người cần đến những chứng nhân, thành phần sẽ được Người ban cho Thánh Linh và sai đi rao giảng Tin Mừng cho tất cả mọi tạo vật tới tận cùng trái đất (x Jn 20:22; Mk 16:15; Acts 1:8). Đó là lý do chúng ta thấy trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu đã liên kết số phận của thành phần môn đệ chứng nhân của Người với chính thân phận hy sinh và Mầu Nhiệm Vượt Qua của Người. Đúng thế, nếu bài Phúc Âm tuần thứ 3 Chúa Giêsu nói với chung dân Do Thái (thành phần sau này vu oan cho Người để Hội Đồng Do Thái viện cớ sát hại Người – Mt 26:61) về việc khổ nạn của Người, và nếu bài Phúc Âm tuần thứ 4 Người nói với Nicôđêmô (nhân vật sau này sẽ giúp vào việc táng liệm Người trong mồ đá – Jn 19:39) về việc tử giá của Người, thì bài Phúc Âm tuần thứ 5 tuần này Người nói với các môn đệ (thành phần được kêu gọi làm chứng nhân cho Người – Jn 15:27) về việc phục sinh sau khi Người trải qua khổ nạn và tử giá. Chúa Giêsu quả thực đã liên kết thân phận của các môn đệ với thân phận của Người trong bài Phúc Âm hôm nay, ở chỗ, ngay sau khi nói đến thân phận của Người như hạt lúa miến là thân xác của Người được gieo xuống và mục nát đi ở mảnh đất Do Thái, Người liền nói ngay đến nguyên tắc chung để có thể theo Người, theo một Đấng Vượt Qua, đó là: “Ai yêu sự sống mình sẽ mất, còn ai ghét sự sống mình trên thế gian này thì giữ được nó cho sự sống trường sinh”. Sau đó, Người áp dụng nguyên tắc hay Đường Lối Vượt Qua này vào trường hợp môn đệ của Người, vì bấy giờ Người đang nói với các vị: “Ai phụng sự Thày thì hãy theo Thày, để Thày ở đâu, thì tôi tớ của Thày cũng ở đó”. Vấn đề “ở đâu” của Chúa Giêsu và “ở đó” của những ai theo Người, phục vụ Người đây, theo chiều hướng của bài Phúc Âm hôm nay, thì còn chỗ nào khác ngoài trên cây thập giá và trong mồ đá: “Họ tinh tuyền và theo Con Chiên đến bất cứ nơi nào Con Chiên tới” (Rev 14:4); “Tôi tớ không hơn chủ của mình. Họ sẽ bắt bớ các con như đã bắt bớ Thày” (Jn 15:20). Tuy nhiên, chính nhờ thân phận trò hoàn toàn giống Thày như thế mà thế gian mới nhận biết Thày nơi họ, nơi chứng từ đẫm máu của họ.
Phải chăng đó là lý do, khi các môn đệ (Philip và Anrê) đến trình với Chúa Giêsu về điều các người Hy Lạp muốn xin được gặp Người, Người đã không trả lời với họ qua hai môn đệ này dứt khoát là Người có muốn gặp những người dân ngoại ấy hay không, mà lại lợi dụng dịp ấy để nói với các môn đệ về cuộc Vượt Qua của Người, một cuộc Vượt Qua sẽ được thành phần môn đệ của Người, thành phần tôi tớ phục vụ Người, tham dự (x Jn 13:8;13:36;14:3), điển hình nhất là trường hợp của tông đồ Phêrô như được Người cho biết trước bên bờ hồ Tibêria (x Jn 21:18). Qua thái độ và lời lẽ của Chúa Giêsu trong bài Phúc Âm hôm nay, chúng ta cảm thấy hình như Chúa Giêsu muốn nói với các môn đệ là Người thực sự và hết sức muốn gặp gỡ thành phần dân ngoại, thành phần chưa hề biết Người, nhưng Người sẽ không trực tiếp gặp họ, như Người vốn trực tiếp gặp gỡ dân Do Thái của Người với tư cách là một Đức Kitô Thiên Sai theo như những gì đã được Thánh Kinh của dân tộc này nói tới, mà là gián tiếp qua các môn đệ, thành phần chứng nhân của Người, thành phần có khả năng dẫn loài người đến với Người, đến gặp Người bằng đức tin của họ. Và, nếu cuộc tử nạn của Chúa Giêsu như hạt lúa miến mục nát đi sinh nhiều hoa trái thế nào, thành phần môn đệ chứng nhân của Người cũng thế, cũng trổ sinh hoa trái nơi việc tái sinh các linh hồn như vậy. “Ai phục vụ Thày sẽ được Cha tôn vinh” là ở chỗ này, như lời Chúa Giêsu nói tới trong bài Phúc Âm hôm nay, ngay sau khi Người nói đến việc Thày trò cùng ở một nơi, chịu chung số phận Vượt Qua.
Tuy nhiên, tại sao ngay sau khi nói câu ấy, tức sau khi nói về thân phận Vượt Qua của cả Thày lẫn trò, Chúa Giêsu liền thảm não than lên: “Giờ đây linh hồn Thày bối rối chẳng biết phải nói sao – Chẳng lẽ Cha ơi, xin hãy cứu Con khỏi giờ này? Thế nhưng, cũng chính vì giờ này mà Con đã đến. Lạy Cha, xin hãy tôn vinh danh Cha!”. Phải chăng, như trong Vườn Cây Dầu Người đã đau buồn đến nỗi chết được, đến nỗi xuất mồ hôi máu vì nghĩ đến thành phần hư đi thế nào, thì ở đây, vào lúc ấy, Chúa Giêsu nghĩ đến một tông đồ Giuđa vô cùng đáng thương sẽ bị hư đi (x Jn 17:12), vì người tông đồ này chẳng những ra tay phản nộp Người mà còn tuyệt vọng tử tử (x Mt 27:5) bởi không tin tưởng vào lòng thương xót tha thứ vô biên bất tận của Người như tông đồ Phêrô (x Mt 26:75). Cái đau khổ tận cùng của Vị Thiên Chúa Làm Người ở đây đó là bị loài người phủ nhận tình yêu thương toàn thiện, nhưng không, tận tuyệt và vô đối của Người, ở chỗ, họ không tin rằng Người có thể yêu thương họ đến như thế, một tình yêu Người giành cho từng người một, và tìm kiếm cho bằng được con chiên lạc duy nhất để mang về đàn của Người (x Lk 15:1-7). Thế nhưng, cũng như trong Vườn Cây Dầu, Chúa Giêsu đã chấp nhận uống cạn chén đắng vô cùng đau xót ấy.
Câu trả lời của Chúa Kitô là…
Như thế, nếu nỗi đớn đau vô cùng nhức nhối này cũng là những gì thuộc về cuộc Khổ Nạn hay Tử Giá của Con Thiên Chúa Làm Người, thì không phải cuộc Khổ Nạn và Tử Giá của Người chỉ được bắt đầu từ khi Người bị bắt trong Vườn Cây Dầu (x Jn 18:12), mà là được bắt đầu ngay từ khi Lời Nhập Thể, ngay từ khi Thiên Chúa Làm Người để Người có thể, qua nhân tính của nhân loại, cảm thấy cái xót xa của mình bằng con tim nhân loại, khi bộ óc của Người nghĩ đến tương lai của thành phần hư đi, và bộc lộ cái chua xót của mình nơi môi miệng loài người “bằng những lời than khôn tả” (Rm 8:26; x Jn 12:27; Mk 14:36). Nói một cách chính xác và thực tế hơn nữa thì cuộc Vượt Qua của Chúa Kitô được bắt đầu từ lần đầu tiên khi Người tiết lộ cho các môn đệ biết về Cuộc Vượt Qua của Người (x Mk 8:31), và được bắt đầu từ chính tâm hồn của Người, một tâm hồn đã bị quằn quại bởi những giây phút “buồn rầu đến nỗi chết được” (Mt 26:38), những giây phút “linh hồn Thày hiện nay bối rối chẳng biết phải nói làm sao”, như Người đã thú thực trong bài Phúc Âm hôm nay. Và Cuộc Vượt Qua đã xẩy ra trước tiên ngay trong tâm hồn của Người, khi Người mong cho ý Đấng đã sai Người được nên trọn, như Người đã ngoan ngoãn thân thưa với Cha Người trong bài Phúc Âm hôm nay: “Lạy Cha, xin hãy tôn vinh danh Cha”, một thái độ Vượt Qua của Người Con đẹp lòng Cha đến nỗi, khi nghe thấy như vậy, theo Phúc Âm Thánh Gioan thuật lại, “bấy giờ từ trời có tiếng phán: ‘Cha đã tôn vinh danh Cha rồi và sẽ còn tôn vinh danh Cha nữa’”.
Thiên Chúa “tôn vinh danh” của Ngài đây nghĩa là gì và ra sao, nếu không phải Người muốn tỏ cho riêng dân Do Thái và chung loài người (mà đám đông trong bài Phúc Âm hôm nay cho thấy có cả dân Do Thái và những người Hy Lạp dân ngoại) biết Ngài thực sự là gì và như thế nào, như Ngài đã mạc khải tên của Ngài cho Moisen biết ở bụi cây bốc lửa song không bị thiêu rụi (x Ex 3:14), một danh xưng Ngài đã tỏ cho dân Do Thái biết tỏ tường qua cuộc vượt qua của họ, từ tình trạng họ bị làm tôi người Ai Cập cho tới khi vào Đất Hứa. Nếu danh Thiên Chúa là tất cả những gì diễn tả bản tính vô cùng chân thiện của Ngài, như Ngài đã từ từ tỏ ra cho dân Do Thái biết theo giòng Lịch Sử Cứu Độ của họ cho đến khi Lời Nhập Thể là “hiện thân của bản thể Cha” (Heb 1:2) xuất hiện, thì việc Thiên Chúa tôn vinh danh Ngài đây, theo ý nghĩa của bài Phúc Âm hôm nay nói riêng, cũng chính là việc Ngài tôn vinh Con Ngài, như Con Ngài đã thân thưa với Ngài khi mở đầu Lời Nguyện Hiến Tế kết thúc Bữa Tiệc Ly: “Lạy Cha, giờ đã đến rồi! Xin Cha hãy tôn vinh Con Cha để Con Cha được tôn vinh Cha” (Jn 17:1). Vậy nếu Thiên Chúa tôn vinh danh mình là tôn vinh Con Ngài như thế thì “Cha đã tôn vinh danh Cha rồi”, như trong bài Phúc Âm nói đên đây là lúc nào, nếu không phải là hai lần điển hình được các Phúc Âm Nhất Lãm kể lại, lần thứ nhất ở sông Dược Đăng khi Chúa Giêsu chịu phép rửa thống hối bởi Tiền Hô Gioan Tẩy Giả (x Mk 1:11), và lần thứ hai ở trên núi biến hình (x Mk 9:7). Và “Cha sẽ còn tôn vinh nữa” đây sẽ là lúc nào và ra sao, nếu không phải lúc Cha làm cho Con sống lại từ trong kẻ chết (x Acts 2:24), làm cho Con trở thành “hoa trái đầu mùa của kẻ chết để Con được toàn quyền trong hết mọi sự” (Col 1:18; x Mt 28:18).
Vấn đề ở đây là tại sao Thiên Chúa cần phải tôn vinh danh Ngài? Theo bài Phúc Âm, Chúa Giêsu đã cho biết đó là để cho con người biết: “Tiếng phán đó không phải vì Tôi mà là vì quí vị”. Bởi vì, có nhận biết Thiên Chúa như Ngài là, qua Mạc Khải Thần Linh của Ngài nơi Cựu Ước cũng như Tân Ước, con người mới được sự sống trường sinh, mới được hiệp thông với Thiên Chúa. Thế nhưng, để con người có thể nhận biết danh của Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất này, Lời Nhập Thể là Chúa Giêsu Kitô cần phải “tỏ Cha ra” (Jn 1:18). Ở chỗ nào, nếu không phải bằng việc Người đến không phải để làm theo ý mình mà là ý Đấng đã sai (x Jn 6:38), tức là “Người đã vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá” (Phil 2:8), “để trở nên căn nguyên phần rỗi đời đời cho những ai tín phục Người” như được Thánh Phaolô trong bài đọc thứ hai hôm nay xác tín (Heb 5:9), cũng là những gì chính Người đã khẳng định tiên báo ở câu cuối cùng của bài Phúc Âm hôm nay: “Một khi Tôi bị treo lên khỏi mặt đất, Tôi sẽ kéo tất cả mọi người lên cùng Tôi”. “Tất cả mọi người” được Chúa Kitô Tử Giá “kéo lên” đây nghĩa là gì, nếu không phải là tất cả mọi người, dù là kẻ dữ, thành phần hư đi đời đời, đặc biệt trong ngày chung thẩm, đều nhìn nhận chân lý đã được Chúa Giêsu mạc khải cho Nicôđêmô trong bài Phúc Âm tuần trước, một chân lý cũng đã được Người chứng thực hùng hồn nhất và sống động nhất trên Thập Giá: “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Người Con duy nhất của Ngài, để ai tin vào Con sẽ không bị chết song được sự sống đời đời. Thiên Chúa không sai Con Ngài đến để thế để luận phạt thế gian, song để thế gian nhờ Con mà được cứu độ”.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL
 

MC5-B85.  CHÚA NHẬT 5 MÙA CHAY B

Ga 12, 20-33
 

Chúa nhật hôm nay được coi như là Chúa nhật cuối cùng của thời gian chuẩn bị tâm hồn đón: MC5-B85

Chúa nhật hôm nay được coi như là Chúa nhật cuối cùng của thời gian chuẩn bị tâm hồn đón mừng đại lễ Phục Sinh. Bước qua tuần tới là chúng ta bước vào Tuần Thánh, tuần lễ quan trọng nhất đối với chúng ta là những người sống niềm tin Kitô giáo. Và để giúp mỗi người chúng ta bước vào Tuần Thánh một cách vừa sốt sắng vừa ích lợi, Phụng vụ Lời Chúa trong ngày Chúa nhật cuối cùng này sẽ cho chúng ta thấy được ý nghĩavà giá trị của cuộc khổ nạn mà mà Đức Giêsu sẽ thực hiện trước mặt mọi người.

Nơi bài đọc thứ nhất, Lời Chúa qua miệng tiên tri Giêrêmia phán rằng : "Đã tới ngày Ta ký kết giao ước mới với dân Israel. Giao ước này không giống như giao ước mà Ta đã ký kết với tổ phụ chúng trong ngày Ta dẫn dắt chúng ra khỏi Ai cập, mà chúng đã nhiều lần phản nghịch. Giao ước mới này sẽ không còn ghi trên bia đá, nhưng là ghi vào tận đáy lòng của chúng. Cốt lõi của giao ước này chính là tình thương và sự tha thứ, nhờ đó mà mọi người từ lớn tới nhỏ đều nhận biết Ta. Và Ta, Ta sẽ không còn nhớ đến tội lỗi của chúng nữa." Vậy thì thử hỏi rằng: Bao giờ thì Thiên Chúa sẽ thực hiện việc ký kết mà Người vừa tiên báo ? Thưa đó chính là ngày hôm nay, bằng chính cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu.

Tác giả bức thư gửi tín hữu Do thái, nơi bài đọc thứ hai khẳng định là : "Cuộc khổ nạn của Đức Giêsu chính là một biến cố đem lại ơn cứu rỗi cho tất cả mọi kẻ tùng phục Người." Còn nơi bài Phúc âm, Thánh Gioan như muốn diễn tả nỗi thao thức của Chúa Giêsu về cái chết mà Người sắp phải chịu : "Khi nào Ta được đưa lên khỏi mặt đất, Ta sẽ lôi kéo mọi người lên cùng Ta." Và để cho mọi người có thể hiểu được điều mà Người mới vừa tuyên bố, Đức Giêsu đã dùng một hình ảnh quen thuộc, hình ảnh một hạt lúa được gieo trồng xuống đất, để nói về giá trị của cuộc khổ nạn mà Người sắp phải chịu : "Nếu hạt lúa mì rơi xuống đất mà không chết đi, thì nó chỉ trơ trọi một mình.

Nhưng nếu nó chết đi, thì nó sẽ sinh nhiều bông hạt." Vâng! Đúng là như vậy; Nếu hạt lúa được gieo xuống mà không chấp nhận chết đi, thì nó vẫn mãi mãi là một hạt lúa khô cằn đơn độc. Trái lại, nếu nó chấp nhận chết đi, chấp nhận từ bỏ sự sống hạt lúa của nó, thì nó sẽ đem lại ích lợi cho mọi người. Bởi vì nó sẽ trở thành một cây lúa tươi tốt và trổ sinh nhiều bông hạt khác. Cho nên sự sống được từ bỏ kia không những là không mất đi cách vô ích, mà ngược lại nó sẽ tồn tại mãi mãi. Như thế thì Chúa Giêsu hoàn toàn có lý khi tuyên bố rằng : "Nếu nó chết đi, nó mới sinh nhiều hạt khác. Ai yêu quý mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này thì sẽ giữ lại được nó cho sự sống đời đời." Hạt lúa mà Đức Giêsu muốn nói đến ở đây, không ai khác hơn là chính Người. Từ Thiên cung ngự xuống, Người đã chấp nhận chết đi nơi mình những gì "là Chúa" và "của Chúa", để trổ sinh những hoa trái của ơn cứu chuộc, đó là đem lại cho mọi người sự sống đời đời.

Quả thật, nếu nhìn lại cuộc đời của Đức Giêsu nơi các tác giả Phúc âm, chúng ta đều thấy rằng : Người chính là Thiên Chúa quyền năng từ trời xuống thế làm người, chấp nhận một kiếp sống nhạt nhẻo tầm thường tại làng quê Nagiarét. Đến lúc khởi sự công việc rao giảng Nước Trời, Người lại chọn một cách thức cũng nghèo nàn : không tiền bạc, không phương tiện, không thế lực, cũng không có đến một lời giới thiệu hay sự bảo trợ nào của những người có uy tín trong xã hội. Và rồi trong suốt ba năm giảng dạy, Người đã nếm trải qua mọi hoàn cảnh, mọi tình huống, mọi tâm trạng của một con người thấp cổ bé miệng : bị hiểu lầm chống đối, bị khước từ đánh đập và bị xử tử bằng một bản án dành cho những tội phạm nguy hiểm nhất. Và cuối cùng trên thánh giá, Đức Giêsu gục đầu như một kẻ thất bại hoàn toàn.

Thế nhưng đó chính là lúc Người chiến thắng, đó chính là lúc thế gian bị xét xử khai trừ, vì đó chính là lúc mà như Người đã báo trước : "Rồi các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng và ngự giá mây trời mà đến". Rồi gần với chúng ta hơn nữa là nếu hạt lúa chấp nhận bị nghiền nát để trở nên cơm bánh nuôi sống con người, thì Đức Giêsu cũng vậy, Người chấp nhận bị chôn vùi, bị nghiền nát trong cuộc khổ nạn, để trở thành tấm bánh trên bàn thờ nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng của chúng ta. Như thế, hạt lúa mà Đức Chúa Cha gieo vào trần thế này đã chết; Đức Giêsu đã chết.

Thế nhưng cái chết đó không phải là vĩnh viễn, mà cái chết đó đã được phục sinh và tồn tại mãi mãi để đem lại sự sống vĩnh cữu cho con người. Ngày hôm nay chúng ta sống trong một bối cảnh hoàn toàn khác với những người Do thái thời xưa. Chúa đã chết rồi và Chúa cũng đã phục sinh rồi. Chúng ta đã biết; chúng ta đã tin điều đó, và chính vì đã tin điều đó mà bây giờ chúng ta mới có mặt trong ngôi nhà thờ này. Vậy thì xin hỏi rằng : Việc tìm hiểu ý nghĩa và tầm quan trọng về cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu có còn cần thiết nữa không ? Thưa cần ! ngày hôm nay Giáo hội cho chúng ta đọc lại câu chuyện này, trước khi mừng kỷ niệm cuộc khổ nạn của Chúa, chính là để nhắc cho chúng ta nhớ lại căn nguyên, nguồn gốc ơn cứu rỗi của mình.

Đồng thời cũng là để cho chúng ta nhìn vào đó mà suy nghĩ, chọn lựa một nếp sống mang lại ích lợi cho phần rỗi linh hồn của mình và cho những người chung quanh. Hạt lúa mà không chấp nhận chết đi cuộc sống riêng tư của nó, thì nó sẽ nên trơ trọi lẽ loi. Đời sống gia đình mà không chấp nhận chôn vùi những ý riêng, những sở thích cá nhân, thì những thành viên sống trong đó vẫn mãi mãi là mhững hòn đá nằm cạnh nhau mà thôi. Đời sống đức tin mà không chấp nhận nghiền nát những cái gọi là tính toán, hẹp hòi, ích kỷ, thì cuộc sống sẽ đơn điệu nhàm chán, và dần dần việc sống đạo sẽ trở một gánh nặng cho mình.

Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho nhau, để mỗi người chúng ta sớm nhận ra những điều mà mình cần phải để cho nó chết đi, để nhường chổ cho những điều tốt đẹp được tỏ hiện. Bởi vì con người tội lỗi có chết dần đi, thì con người vốn được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa mới dần dần được sống lại; Đó cũng chính là cách tốt nhất để chúng ta chuẩn bị bước vào Tuần Thánh sắp tới đây.

 

MC5-B86. Đã yêu là phải tuân thủ quy luật của tình yêu.

Chúa Nhật V Mùa Chay B - Học yêu
Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa
“Ta sẽ ghi vào lòng dạ chúng, sẽ khắc vào tâm khảm chúng, Lề luật của Ta” (Gr 31,33).
 

Chắc hẳn Lề luật mà Thiên Chúa muốn khắc ghi vào tâm khảm dân của Người chính là Luật: MC5-B86

Chắc hẳn Lề luật mà Thiên Chúa muốn khắc ghi vào tâm khảm dân của Người chính là Luật của tình yêu. Sau này chính Con Một Người nhập thể đã khẳng định rằng mọi lề luật và lời ngôn sứ gồm tóm trong điều này là anh em hãy làm cho tha nhân những gì anh em muốn tha nhân làm cho mình (x. Mt 7,12).

Một trong những khao khát đượm tình hiện sinh của con người đó là được sống và sống mãi. Cái khát vọng này như đã trở thành vô vọng với cả những người quyền cao chức trọng, với các vua chúa xưa nay. Sở dĩ nó đã trở thành vô vọng, vì người ta quá băn khoăn về cuộc sống đời này trong sự vị kỷ. “Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ được nó cho sự sống đời đời” (Ga 12,25 ). Sự coi thường ở đây không phải là thái độ lơ là, vô trách nhiệm, mà là một sự hiến mình vì tha nhân trong tình yêu.
Quy luật của tình yêu đã được thánh Phanxicô Axidi phác họa trong lời kinh hoà bình: “Chính khi thứ tha là khi được tha thứ. Chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh. Chính khi quên mình là lúc gặp lại bản thân. Chính khi chết đi là khi vui sống muôn đời”. Chắc hẳn thánh nhân thuộc nằm lòng lời khẳng định của Chúa Giêsu: “Thật, Thầy bảo thật với anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu nó chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12,24).
Đã là quy luật thì có tính khách quan cần phải tuân thủ. Để tuân thủ quy luật nào đó thì trước hết phải nhận biết nó. Thế nhưng không phải mọi quy luật đều hiện hữu cách minh nhiên dễ thấy, dễ nhận ra. Định luật vạn vật hấp dẫn đã có từ khi vũ trụ hình thành thế mà đến cuối thế kỷ XVII, Isaac Newton mới phát hiện. Việc khám phá định luật này là kết quả của một quá trình nghiên cứu mà việc thấy quả táo rơi chỉ là điểm khởi đầu. Tác giả thư gửi tín hữu Do Thái đã khẳng định: “Dầu là Con Thiên Chúa, Chúa Giêsu đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục…” (Dt 5,9), nói đúng hơn, đó là Chúa Giêsu đã trải qua nhiều đau khổ mới học biết thế nào là yêu thương.
Yêu thương không hẳn chỉ là cho đi những gì mình có. Với quyền năng của Đấng tạo thành, có từ đời đời với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, Chúa Kitô có thể biểu lộ tình yêu bằng việc cung cấp lương thực cho con người. Người cũng đã biểu lộ tình yêu bằng việc giáng phúc thi ân chữa lành bệnh tật, cho người què được đi, người mù được thấy người điếc được nghe… Người cũng đã biểu lộ tình yêu khi làm chủ thiên nhiên hay làm chủ cả quỷ thần. Người lại đã từng biểu lộ tình yêu khi làm cho một số người sống lại từ cõi chết. Tuy nhiên, nếu chỉ cho đi những gì mình có bằng khả năng và quyền hạn của mình thì cũng chưa hẳn đã là yêu đến cùng.
Yêu thương cách đích thực là cho đi những gì mình là. Phút giây nhập thể trong cung lòng Mẹ Maria, Ngôi Hai Thiên Chúa đã tự nguyện cho đi thân phận của một vị Thiên Chúa. Lời đáp ca trong Thánh Lễ Truyền Tin, nói đúng hơn là Thánh Lễ mừng mầu nhiệm Ngôi Hai Nhập Thể: “Hy sinh và lễ vật, thì Chúa chẳng ưng, này Con xin đến để thực thi ý Người” (x. Tv 40). Suốt ba năm công khai rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu đã nỗ lực không ngừng cho đi cái thân phận của Đấng Thiên Sai, Đấng từ trời mà xuống, để sống kiếp “không chỗ tựa đầu” (x. Lc 9,58). Vì yêu thương Chúa Giêsu đã đau xót đến tột độ đến nỗi mồ hôi tuôn ra pha lẫn máu trong Vườn Cây dầu, để rồi cho đi thân phận một con người, thân phận của vị vua trên các vua và cả thân phận Con Thiên Chúa của mình bằng cái án bất công và cái chết ô nhục trên thập giá. “Nếu mi là Con Thiên Chúa, thì hãy xuống khỏi thập giá xem nào!” (Mt 27,40). “Nếu ông là vua dân Do Thái thì cứu lấy mình đi!” (Lc 23,37). Người vẫn ở đó, trên thập giá cho đến hơi thở cuối cùng.
Mất những tất cả gì mình có, thật đau xót, nhưng dẫu sao vẫn còn chính mình. Mất tất cả những gì mình là, đúng là một điều tồi tệ, vì chẳng còn gì, ngay cả bản thân. Thế nhưng khi cái điều tồi tệ ấy khi được thực hiện bằng sự ý thức và tự do vì hạnh phúc của tha nhân, thì nó trở thành tiền đề cho tiến trình yêu thương và phát triển. Khi bị mục nát đi, chẳng còn là hạt lúa thì cây lúa mọc lên và các gié lúa trĩu hạt hình thành.
Đã yêu là phải tuân thủ quy luật của tình yêu. Để biết được quy luật thì phải học hỏi, tìm tòi. Học mà thôi, vẫn chưa đủ, cần phải tập luyện liên lỉ. Có đau đớn và cũng có xót xa. Có xao xuyến và cũng có hy sinh. Nhưng không thể không tập luyện. Để được sống và sống dồi dào, để sinh được hoa trái và hoa trái tồn tại, khởi đầu xin hãy tập cho đi những gì mình có và tiến dần đến chỗ trao ban những gì mình là, vì người mình yêu, vì người yêu mình, vì cả người ghét mình lẫn kẻ bách hại mình.
 

MC5-B87.  Giúp đỡ Tha Nhân là Hoa Trái Dâng Chúa

Ga 12: 20-33
Anh chị em thân mến,
 

Tôi vừa giảng xong tuần tĩnh tâm ở một giáo xứ. Trong lúc trao đổi với giáo dân sở tại, tôi được: MC5-B87

Tôi vừa giảng xong tuần tĩnh tâm ở một giáo xứ. Trong lúc trao đổi với giáo dân sở tại, tôi được nghe và thấy nhiều mẫu gương hy sinh đáng khâm phục: Một phụ nữ chăm sóc cho mẹ già tật nguyền đến khi mẹ mất, rồi bây giờ lại phải săn sóc người anh đang gần chết. Trong khi chăm sóc, người phụ nữ đó vẫn vui tươi. Chuyện một người sắp chết vì ung thư lại luôn an ủi những người đến thăm ông. Có người nói: "Ông ta không bao giờ than trách Chúa về nỗi bất hạnh của mình". Và ông luôn có vợ ở bên cạnh săn sóc. Một bà cụ lớn tuổi nhờ người đưa bà đến viện dưỡng lão để bà có thể giúp đẩy xe lăn cho những người trong viện, trong số đó có người còn trẻ hơn bà. Một phụ nữ trong giáo xứ tình nguyện làm người bênh vực cho những bệnh nhân bị bệnh tâm thần. Bà nói, những bệnh nhân đó khi nhập viện bị người ta cho thuốc quá nhiều, rồi lại gởi trả về nhà nên : "tôi bênh vực quyền lợi cho những bệnh nhân đó, vì không ai làm việc này cả".
Cũng như anh chị em, tôi thấy khâm phục những hy sinh cao cả ấy, hy sinh thời giờ, sức lực và tiềm năng của họ. Ngay cả những người đau yếu, họ vẫn chọn được cách sống phục vụ như họ muốn. Họ đã quyết định là sẽ vượt qua sự đau yếu như thế nào, nhờ vậy họ trở nên gương sáng cho kẻ khác. Tất cả những người tôi gặp không nghĩ những việc họ làm là điều quan trọng. Một người bảo: "Tôi không nghĩ đó là sự hy sinh. Mà chỉ là cách sống của tôi". Tuy thế, cũng có lúc những người nầy cảm thấy chán nản, mệt mỏi, và tuyệt vọng.
Tôi và anh chị em hẳn đã có lúc chúng ta gặp những người này, việc làm của họ như một sợi chỉ vàng vắt qua đời sống. Và họ cảm thấy được vinh dự, vui sướng khi làm những việc đó. Không chỉ là nụ cười thoáng qua "ha,ha,ha..", nhưng là cả một nỗi vui sướng tràn đầy ý nghĩa. Và lời Chúa Giêsu trong Phúc âm rền vang trong tâm trí chúng ta :"hạt lúa gieo vào lòng đất, phải chết đi mới sinh được nhiều hoa trái" cho người khác và cho chính chúng ta nữa.
Có những tấm gương khác về gia đình : Như một người cha hay mẹ không muốn thăng tiến thêm trong việc làm ăn để cho gia đình khỏi phải di dời chỗ ở.  Có đôi vợ chồng kia điều là cán sự xã hội, quyết định dọn nhà từ ngoại ô vào sống gần xóm lao động nghèo mà họ đang phục vụ. Người khác đứng ra bênh vực quyền lợi của một đồng nghiệp bị áp bức, làm bản thân bị mất dịp được tăng lương. Một giáo chức nhận mức lương thấp hơn để dạy ở trường công giáo của một giáo xứ có nhiều người di cư nghèo, v.v..
Nhìn thoáng qua những câu chuyện trên, chúng ta thấy chỉ là những trường hợp ít gian nan thử thách và không là những hy sinh cao cả. Tuy nhiên, chính hy sinh ấy đem lại hiệu quả như Chúa Giêsu nói "nhiều hoa trái", và giúp cho những người đó có được "sự sống đời đời". Trong Phúc âm thánh Gioan, thành ngữ "sự sống đời đời" không có ý nghĩa là sự sống đời sau, nhưng là sự sống đời này. Sự hy sinh đó hàm ý là chúng ta múc lấy nước từ nguồn sâu thẳm của sự sống và nhờ đó chúng ta cảm thấy niềm vui sướng khôn tả mà tự sức chúng ta không hề có được. Hạt lúa giống chết đi và sinh nhiều hoa quả. Nếu chỉ nghe qua lời Chúa Giêsu, chúng ta không thể hiểu được. Nhưng, những ai thực hiện được lời dạy đó thì mới hiểu trọn được ý nghĩa của lời Chúa.
Chúng ta có cảm nhận được hoa quả những hy sinh của cha mẹ, ông bà, bạn hữu và láng giềng chúng ta không? Những người làm việc miệt mài để giúp chúng ta có nơi trú ngụ, những người đã hy sinh thời giờ để giúp khi chúng ta cần đến họ?
Khi những người Hy-lạp tìm đến xin gặp Chúa Giêsu, Ngài đáp "Đã đến giờ Con Người được tôn vinh" (Ga.12:23). "Giờ" trong Phúc âm thánh Gioan  là giờ Chúa chịu khổ hình và được vinh quang. Để có thể hiểu được ý nghĩa từ "giờ" trong Phúc âm này, chúng ta hãy xét lại trong kinh nghiệm của mỗi chúng ta. Khi một người nói: "giờ" của ông đã đến chính là lúc ông ta bị mất việc khi ông báo cáo lên cấp trên việc lừa dối khách hàng của hãng bảo hiểm mà ông đã khám phá được. Một thiếu niên nói em không muốn bắt chước thói quen say sưa của các bạn. Kết quả: em đó mất bạn. Giờ ở đây không có nghĩa là sáu mươi phút. Giờ chúng ta đến, có nghĩa là khi việc chúng ta làm đến lúc được tiết lộ, khi chúng ta cần phải hy sinh, hay cần quyết định một việc gì khó khăn. "Giờ" thường chỉ lúc chúng ta không gặp may với người khác, và chúng ta phải quyết định đứng dậy hay chịu chết vì điều chúng ta tin tưởng.
Những người Hy-lạp tìm gặp Chúa Giêsu, có lẽ họ muốn biết về những điều họ nghe được. Phúc âm không nói rõ những người Hy-lạp đó là ai, họ là người Hy-lạp hay là người Do-Thái nói tiếng Hy-lạp? Họ có phải là những người đến tham quan, có thiện cảm với đạo Do-Thái, hay đến tham dự lễ hội của thành phố? Họ chính là chúng ta trong thế giới người ngoài, tìm đến Chúa Giêsu. Họ và chúng ta sẽ được gặp Chúa Giêsu trong "giờ" Ngài chịu khổ hình và vinh quang. Họ sẽ thấy Ngài không rút lui, nhưng Ngài tiến đến "giờ" của Ngài một cách tự do.
Ngay cả sự sợ hãi cũng không khuất phục được Ngài. Trong Phúc âm thánh Gioan, Chúa Giêsu kiên định mọi việc. Không có chuyện Ngài hấp hối trong vườn Giêt-sê-ma-ni. Nhưng tâm hồn Ngài có “xao xuyến" xúc động khi sự chết đến gần. Chúa Giêsu đang nhìn thẳng vào "giờ" vinh quang của Ngài, không phải là không biết sợ. Nhưng Ngài vẫn dấn bước theo đường Ngài đang đi, và "bấy giờ có tiếng từ trời vọng xuống.." xác nhận sự lựa chọn của Ngài. Chúng ta thừa hưởng việc vui lòng chọn "giờ" của Chúa Giêsu. Ngài sẽ đi vào và đi qua "giờ" hoàn toàn theo thánh ý Thiên Chúa và như người phục vụ cho chúng ta. Thế nên Ngài nói "Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi".
Chúa Giêsu và các môn đệ Ngài không giảng dạy cho những người Hy-lạp tìm gặp Ngài. Họ tự tìm đến Ngài. Vậy việc gì đã lôi kéo họ đến với Ngài ?  Chúng ta cũng như những người đó được Chúa lôi kéo nên giờ này trở nên là tôi tớ trung thành của Thiên Chúa. Một Đấng rất khoáng đạt, sẳn sàng ban tặng mọi sự cho chúng ta mà không giữ lại một tí gì cho mình. Ngài còn cho chúng ta thấy những phần thưởng ẩn sau những thất bại và ngay cả sự chết, khi chúng ta đến hồi sau hết và mất cả niềm tin. Ngài cho chúng ta hy vọng, ngay cả khi các cửa đều khép kín, khiến chúng ta muốn xuôi tay vì thất vọng và sẵn sàng theo vào cõi chết trong nấm mồ. 
G. Nguyễn Cao Luật op
 

MC5-B88.  Hạt lúa Giêsu

Phaolô Nguyễn Văn Quý OP
Ga 12,20-33
"Hạt lúa mì gieo vào lòng đất mà không thối đi thì nó chỉ trơ trọi một mình. Nhưng nếu nó thối đi thì sẽ sinh nhiều bông hạt".
 

Chuyện kể rằng, một người rất đau buồn vì sắp phải xa vợ và các con lên đường đi chiến đấu: MC5-B88

Chuyện kể rằng, một người rất đau buồn vì sắp phải xa vợ và các con lên đường đi chiến đấu. Vì anh biết, khi vắng anh, vợ với sức khỏe ốm yếu không thể nào xoay xở để nuôi năm đứa con còn thơ dại. Trong lúc đang gặp vấn đề thật khó khăn như vậy, người bạn biết được điều đó và đã đề nghị với anh và chính quyền cho anh ta làm nghĩa vụ thay thế. Anh thật vui mừng và cảm động biết bao, vì không ngờ rằng mình lại có người bạn tốt đến như vậy. Nhưng oái ăm thay, trong cuộc chiến năm ấy, người bạn đã hy sinh. Nghe tin gia đình anh hết sức đâu buồn. Anh và gia đình đã vội lên đường, đến viếng trước mộ bạn với lòng cảm kích và biết ơn vô hạn. Ngày đó, anh đã khắc lên ngôi mộ của bạn mình với hàng chữ : "Anh đã chết cho tôi".
Thưa cộng đoàn ! Người bạn đã hy sinh cho anh em mình trong câu chuyện kể trên chính là hạt lúa gieo vào lòng đất đã thối đi để sinh nhiều hạt khác. Anh ta đã chết đi cho cả gia đình của bạn mình được sống.
Hôm nay, Đức Giêsu dùng dụ ngôn hạt lúa mì gieo vào lòng đất để ám chỉ về Người.
Thực thế, hạt lúa Giêsu được Thiên Chúa Cha gieo vào lòng trần thế. Hạt lúa Giêsu - Con Một Thiên Chúa cao sang- Đấng tạo dựng vũ trụ, sáng tạo muôn loài, giờ đây chịu cùng số phận của hạt lúa mì thối ruỗng. Từ ngày người thợ âm thầm gieo hạt lúa vào lòng đất để hạt lúa phải chịu cô đơn lạnh lẽo, phải chịu nắng, chịu mưa, chịu rét để rồi mục ruỗng đi như thế nào thì hạt lúa Giêsu cũng âm thầm chịu đau khổ từ ngày bước vào trần gian như vậy.
Hạt lúa Giêsu phải chịu cực, chịu khổ, chịu đau đớn, chịu nát tan bởi lẽ hạt lúa Giêsu cần thối ruỗng đi để tái sinh một mùa lúa mới, một mùa lúa dồi dào. Mùa lúa ấy là những chứng nhân trung thành theo gót Đức Kitô là các thánh Tông Đồ, các thánh tử đạo, các thánh và ngàn ngàn lớp lớp Kitô hữu chúng ta ngày nay.
Nhưng thử hỏi bởi đâu mà có cuộc tái sinh ấy ?
Có cuộc tái sinh ấy vì Giêsu đã sống trong vâng phục và sống trong nghèo khó.
Có cuộc tái sinh ấy vì Giêsu chấp nhận sống trong sự dị nghị và xua đuổi của mọi người, chịu người đời nhạo báng và ném đá.
Có cuộc tái sinh ấy vì Giêsu chịu mang tiếng là làm bạn với những người thấp cổ bé miệng, những người nghèo đói, bệnh tật và những người tội lỗi: quân thu thuế và bọn đĩ điếm.
Có cuộc tái sinh ấy vì Giêsu chịu nhiều đau khổ nơi thân xác và trong tâm hồn, chịu xỉ nhục và chịu đánh đập, chịu người thân và bạn bè phản bội.
Có cuộc tái sinh ấy vì Giêsu tận cùng phải chịu nát tan, chết tủi nhục trên cây thập giá.
Hạt lúa Giêsu phải chịu tan nát và chịu chết như vậy để thực hiện một cuộc biến đổi, để tái sinh một mùa lúa mới.
Hạt lúa Giêsu chịu khổ đau để đổi thành hạnh phúc, chịu tủi nhục để đổi thành vinh dự.
Hạt lúa Giêsu của biến đổi hận thù thành yêu thương, của biến đổi giận hờn thành tha thứ.
Hạt lúa Giêsu của biến đổi sự chết thành sự sống, của cho đi, mất đi tất cả để rồi được tất cả.
Hạt lúa Giêsu là thế đó.
Vì hạt lúa mì rất gần gũi, rất thân thương đối với người Do Thái, nên Đức Giêsu đã lấy hình ảnh hạt lúa bay từ bàn tay người thợ vùi vào lòng đất phải thối đi, sinh một mùa bội thu để ám chỉ về Người mà mặc khải cho họ, là Ngài phải chết đi để sinh ơn cứu rỗi cho mọi người: "Khi con người khéo ta lên khỏi mặt đất, Ta sẽ kéo mọi người lên với Ta".
Hôm nay nghe lại bài Tin Mừng này, hình ảnh hạt lúa mì thối ruỗng như là một lời cảnh tỉnh và kêu gọi mọi người chúng ta. Mỗi người chúng ta hãy tự nhìn lại chính bản thân mình đã là một hạt lúa mì mục nát chưa?
Hạt lúa mục nát là hạt lúa của hy sinh, của yêu thương, của tha thứ và của mọi người. Hạt lúa không phải là hạt lúa của riêng mình. Nếu hạt lúa của sự cất giữ, của tư riêng thì hạt lúa đó đang trở thành trơ trọi, chai cứng. Đó chính là hạt lúa của ích kỷ, của ghen ghét, của hận thù, của chia rẽ và của sự chết.
Chúng ta có đang là hạt lúa chịu thối ruỗng để sinh một mùa bội thu, hay chúng ta lại là hạt lúa chỉ trơ trọi một mình không sinh ích lợi ?
Mùa chay thánh hôm nay Giáo Hội đang kêu mời chúng ta mỗi người hãy gẫm suy về hạt lúa mì được gieo vào lòng đất.
Chúng ta có dám can đảm như người bạn trong câu chuyện trên chấp nhận hy sinh tính mạng cho người anh em của mình. Hay Đức Kitô có là tấm gương cho chúng ta học hỏi và sống ! Để hầu tuy ta đang chết nhưng thực sự ta lại đang sống. Như lời Chúa đã nói : "Ai tìm mạng sống mình sẽ mất và ai đánh mất mạng sống mình vì ta thì lại được sự sống đời đời".
Điều đó có khác đâu với câu nói mà kết thúc của báo Phụ Nữ viết về ông Phan Hiến- một cán bộ về hưu từng chắt chiu những đồng tiền để làm việc từ thiện : "Những gì chúng ta làm cho bản thân, sẽ lụi tàn khi chúng ta chết đi. Còn những gì chúng ta làm cho người khác và cho đời, sẽ là bất diệt" .
Vâng hạt lúa mì gieo vào lòng đất thối mục đi để sinh nhiều bông hạt vẫn là lời mời gọi liên lỉ đối với mỗi người tín hữu chúng ta khi bước theo Đức Kitô - Hạt lúa gốc đã chết đi để tái sinh mùa lúa mới, đã chết đi để cứu rỗi mọi người.
 

MC5-B89.  Hạt lúa chấp nhận chết đi sẽ sinh nhiều bông hạt

Đa minh Nguyễn Ngọc Cảnh op
Ga 12,20-33
 

Đỉnh cao của những ngày Đức Giêsu thực hiện sứ vụ cứu độ là lúc người bị treo trên thập giá. Chúa: MC5-B89

Đỉnh cao của những ngày Đức Giêsu thực hiện sứ vụ cứu độ là lúc người bị treo trên thập giá. Chúa Giêsu đã nói với các Tông đồ "hạt lúa chết đi mới sinh nhiều hạt khác". Như vậy, lúc Chúa bị treo lên cũng chính là lúc "Con người được tôn vinh" Ga (12, 23).
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan hôm nay, Chúa đã dạy cho chúng ta giá trị của sự từ bỏ. Ngài ví mình như hạt lúa. Hình ảnh hạt Lúa gieo vào lòng đất, bừng lên đầy nhựa sống là biểu tượng mầu nhiệm Phục sinh và mùa bội thu đầy hứa hẹn sau này. Hạt gống không chết đi thì nó vẫn trơ trọi một mình và không sinh hoa kết quả cho bản thân và tha nhân. Như vậy, mỗi người chúng ta có phải là hạt giống sẵn sàng chịu mục nát đi để hứa hẹn một mùa gặt bội thu cho chính mình và cho người khác không?
Chúng ta chuẩn bị bước vào tuần Thánh, tuần đặc biệt cử hành những biến cố cuối đời của Chúa Giêsu. Chúng ta cùng Chúa Giêsu vác Thánh giá đời mình lên Giê-ru-sa-lem. Nơi đó, ta sẽ được chứng kiến một cuộc biến hình mới, một cuộc từ bỏ chính mình để dành lấy vinh quang.
Nhìn lại mình, có khi nào chúng ta giật mình đau buồn khi nhận thấy mình đang tích cực la ó đòi đóng đinh Chúa vào thập giá. Vì đã rất nhiều lần sám hối nhưng ngay sau đó là phạm tội  và luôn muốn làm quan tòa xét đoán, lên án người khác và không ít lần phủi tay nói lên mình hoàn toàn vô tội.
Hôm nay, Chúa Giêsu mời gọi mỗi người dám chấp nhận mục nát như hạt lúa kia. Mục nát đi trong đời sống thiêng liêng, là chết cho tội lỗi, từ bỏ bản thân, từ bỏ ý riêng.
Trong cuộc sống không ít lần ta gặp những khó khăn lớn nhỏ. Khi đó, ta cùng ngước nhìn lên Chúa thì tâm hồn sẽ được ủi an. Vì khi xưa, Chúa cũng gặp sự cô đơn, xao xuyến, tủi nhục bởi những giờ phút thử thách và ngài đã phải thốt lên "Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này." Thế nhưng vì yêu thương và muốn mọi người được hưởng hạnh phúc nên "phần tôi một khi được giương cao khỏi mặt đất tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi" Ga(12,32)
Cả cuộc đời, Ngài chỉ dậy con người hai chữ "yêu thương" và ngài sống triệt để lời dậy của mình bằng lời dậy dỗ bảo ban, sống hết mình vì nhân loại và đỉnh cao là thập giá cứu chuộc.
Hôm nay, chúng ta đã học được gì nơi Chúa Giêsu. Có lẽ điều mong mỏi lớn nhất của Chúa là chúng ta đem chữ yêu thương vào trong cuộc sống. Bởi có yêu thương ta mới dám chết đi cái tôi ích kỷ, nhỏ nhen, và tội lỗi của mình để ta thành chứng nhân của tình yêu như Chúa hằng mong ước.
Lạy Chúa Giêsu thánh thể !
Chỉ ít ngày nữa, chúng con bước vào Tuần Thánh, tuần tưởng niệm cuộc tử nạn và phục sinh vinh hiển của Chúa. Chúa đã cho chúng con thấy tình yêu của ngài cao cả biết bao qua biến cố này. Xin cho chúng con cũng biết nhìn lên thập giá mỗi khi gặp gian nan thử thách để chúng con biết đón nhận và dâng lên Chúa như của lễ trong cuộc đời chúng con.
Xin cho chúng con thành gương sáng tình yêu, để mọi người nhận ra tình yêu của Chúa dành cho nhân loại. Khi đó, hết thảy nhân loại cùng chung sống dưới một mái nhà, một niềm tin, và một lời ca tụng tình yêu của Chúa. Amen
 

MC5-B90. CON ĐƯỜNG THẬP GIÁ MÀ CHÚA GIÊSU ĐÃ ĐI QUA

Ga 12, 20- 33
 

Sự chết là một phần của sự sống. Sinh vật được sinh ra để rồi chết đi. Tuy nhiên, đối với người: MC5-B90

Sự chết là một phần của sự sống. Sinh vật được sinh ra để rồi chết đi. Tuy nhiên, đối với người Công giáo, con người chết không phải là hết. Con người chết để bước vào sự sống mới. Chính Chúa Giêsu Kitô đã mạc khải chân lý này. Và chính Ngài chết và đã sống lại. Như thế, Ngài mặc khải cho sự chết một ý nghĩa mới. Chết là để bước vào cõi sống.
Trong bài Phúc âm hôm nay, Thánh Gioan đã dùng hình ảnh quen thuộc để diễn tả ý nghĩa đích thực cái chết của Chúa Giêsu. Hình ảnh của một hạt giống bị thối đi trong lòng đất để dẫn đến một mùa gặt phong phú: "Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi thì nó vẫn trơ trọi một mình còn nếu nó chết đi thì mới sinh nhiều bông hạt khác" (Ga 12, 24). Cũng vậy con đường khổ giá của Chúa Giêsu sắp trải qua sẽ không dừng lại ở cái chết mà sẽ dẫn đến sự sống lại sung mãn nhằm mang ơn cứu độ cho con người. Tuy nhiên, trong thân phận xác phàm, đứng trước cuộc thương khó Chúa Giêsu cũng sợ hãi và đau đớn. Ngài cũng phải trải qua những giờ phút xao xuyến, lo âu, đau đớn khi phải đương đầu với con đường khổ giá. Thánh Phaolo đã nói: "Chúa Kitô đã lớn tiếng và rơi lệ dâng lời cầu xin khấn nguyện lên Đấng có thể cứu Ngài khỏi chết" (Dt 5, 7). Nhưng cuối cùng, Ngài không xin Cha cứu khỏi chết nhưng xin cho Danh Cha được tôn vinh. Điều này có nghĩa là Chúa Giêsu muốn cầu xin cho Ngài hoàn tất, chu toàn công trình cứu chuộc con người, đi qua cái chết và sống lại.
Qua lời cầu xin này, Chúa Giêsu cho thấy Ngài đã gián tiếp đón nhận "giờ' của sự phục vụ cho đến cùng trên thập giá, nhưng cũng đồng thời là "giờ" con Người bước vào vinh quang. Vinh quang đòi hỏi trải qua khổ giá. Vinh quang của hạt lúa trổ bông, nặng trĩu và chín vàng nhưng sau khi nó bị chôn vùi vào lòng đất rồi trở nên mầm sống mới, lại sẵn sàng sinh trưởng và tăng gấp mãi.
Sự chết và sống lại là hai mặt của một cuộc sống. Chúa Giêsu đã nói đến cái chết của Ngài như một điều kiện cần thiết để đem lại sự sống mới cho mọi người. Ngài phải chết đi để các Kitô hữu được sống, để muôn dân trở thành môn đệ của Ngài và mọi người được ơn cứu chuộc. Thế nên, chúng ta được mời gọi theo Chúa Giêsu, chúng ta đừng quên nguyên tắc căn bản của sự sống đó: "Ai yêu sự sống mình thì sẽ mất còn ai bằng lòng  để mất sự sống mình ở đời này vì Chúa Giêsu thì sẽ giữ lại được cho sự sống muôn đời" (Ga 12, 25). Đi theo chúa Giêsu, đòi hỏi người môn đệ của Ngài phải chia sẻ cái chết và sự sống của Ngài. Chúa Kitô đã chết đi để sinh ơn cứu độ cho chúng ta. Chúa Kitô chết vì hạnh phúc vì sự sống nhân loại.
Đi vào cuộc khổ nạn là cách thế đau thương nhất, khốn cực nhất của trần gian. Con người, ai ai cũng sợ đánh đập, sợ tòa án và tử hình. Nhưng Chúa Giêsu đã đi vào, đã gánh chịu, đã đón nhận tất cả để chứng tỏ Ngài hoàn toàn từ bỏ chính mình. Từ bỏ đến cấp độ kinh hoàng nhất. Tất cả chỉ vì Ngài muốn mình phải chết đi như một hạt lúa để trổ sinh vô số bông lúa và hạt lúa khác. Nếu ông Tetulianô đã nói: "Máu các thánh tử đạo là hạt giống sinh các tín hữu" thì máu của Chúa Giêsu còn giá trị hơn biết bao nhiêu. Như thế, Chúa Giêsu chấp nhận mình chết đi, chôn vùi trong lòng đất để trở nên nguyên nhân cứu độ, phát sinh nhiều Kitô khác. Ngài chịu treo lên thập giá là để trở thành nguồn ơn cứu độ cho chúng ta được nhìn lên Ngài và được sống. Ngài có vẻ như thất bại hoàn toàn khi bị treo lên thập giá, nhưng đó lại chính là lúc Ngài trở thành Đấng phán xét cả nhân loại. Thập giá trở thành ngai Chúa ngự để phán xét và ban sự sống. Ngài chết là để đi vào vinh quang của Chúa Cha và trở thành Đấng ban sự sống cho chúng ta.
Hơn nữa, hạt lúa chấp nhận bị nghiền nát để trở thành cơm bánh nuôi sống con người. Chúa Giêsu cũng vậy, Ngài chấp nhận bị nghiền nát trong cuộc thụ nạn để trở thành bánh thánh dâng lên Chúa Cha trên bàn thờ thập giá, đồng thời trở nên lương thực nuôi các tín hữu. Ngài đã chết và đã phục sinh để tồn tại mãi và ban sự sống đời đời cho con người.
Giống như hạt lúa mì phải chết đi để mang lại hoa quả, cũng vậy, nếu chúng ta muốn sống một cách trọn vẹn, mang lại kết quả, và nhận ra được tiềm năng đầy đủ của mình, trong tư cách là con người, và là con cái Thiên Chúa, thì chúng ta phải chết đi cho bản thân mình. Như hạt giống phải thối đi mới sinh trưởng và phát triển. Hạt giống phải trải qua quá trình mục nát mới sinh nhiều bông hạt. Muốn mùa gặt, ta phải gieo trồng. Hạt giống gieo xuống cứ nằm trơ trơ trên mặt đất sẽ chẳng ích lợi gì. Nó phải chịu vùi sâu trong lòng đất, hút lấy nước, tắm trong phân bón, mục nát đi thì mới mọc lên thành cây mới, sinh nhiều hoa quả. Cũng vậy, người nông dân muốn có một mùa gặt bội thu, phải thức khuya dậy sớm, dầm mưa dãi nắng chăm chỉ cày bừa. Người học sinh muốn đỗ đạt vinh quang, phải từ bỏ những giờ vui chơi với bạn bè, đêm đêm chong đèn miệt mài kinh sử. Do đó, đời sống con người giống như hạt giống, phải chấp nhận được vùi sâu trong khổ luyện và hy sinh. Nó giúp cho người ta tiến thân, tiến bộ, tiến đức và tiến bước.
Như hạt giống phải mục nát đi mới sinh nhiều bông hạt thì chúng ta cũng phải mục nát bằng cách chết cho tội lỗi, biết từ bỏ bản thân, từ bỏ ý riêng mình. Chết cho tội lỗi để dứt lìa những điều trái luật Chúa và Hội Thánh. Chấp nhận những "cái mất" hiện tại, ta sẽ có những "cái được" trong tương lai. Nếu ta dám chấp nhận những "cái mất" chóng qua, ta sẽ có những "cái được vĩnh cửu". Khi dám từ bỏ tội lỗi, chúng ta dễ dàng đến với Chúa, làm theo ý Chúa. Tuy nhiên từ bỏ ý riêng nhiều khi là một cuộc chiến đấu khốc liệt với chính bản thân mình. Chính nhờ từ bỏ ý riêng mà ta trở nên con yêu dấu của Chúa. Chính nhờ làm theo ý Chúa mà ta trổ sinh hoa trái. Từ bỏ bản thân, ta đi đến đích điểm đời mình là được kết hiệp với Chúa. Ta chịu mất bản thân mình để được chính Chúa. Ta chịu mất điều tầm thường để được điều cao cả. Ta chịu mất trần gian để được Thiên đàng.
Chúng ta đã thấy rõ ý nghĩa cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá. Ngài chết là để đi vào vinh quang và trở thành Đấng ban sự sống cho chúng ta: "Nếu cùng chết với Chúa Kitô, chúng ta sẽ cùng sống lại với Ngài. Nếu chúng ta chịu đau khổ vời Ngài, ta sẽ được thống trị với Ngài" (1Tm 2, 8 - 12). Ai ham sống, sợ chết sẽ đánh mất tất cả. Người làm theo Chúa Giêsu mà đánh đổi cuộc sống hiện tại sẽ được sống muôn đời. Chúng ta được sinh ra để rồi chết đi, chính khi chết đi, chúng ta mới có thể được sống trọn vẹn hơn. Chúng ta được sinh ra để rồi chết đi mỗi ngày một chút cho tính ích kỷ, và tội lỗi. Mỗi lần chúng ta trải qua một giai đoạn cuộc đời, để rồi chuyển sang một giai đoạn khác, thì có điều gì đó nơi chúng ta chết đi, và một điều gì đó mới mẻ được sinh ra. Chúng ta cảm nếm được cái chết trong những giây phút cô đơn, đau khổ, thất vọng và thất bại. Chúng ta đang chết dần, trước thời hạn phải chết của mình, khi chúng ta sống trong sự hận thù, và cô lập. Mỗi ngày, chúng ta đều đang tạo ra cái chết cho riêng mình, bằng lối sống của chúng ta. Chính khi biết quên mình, thì chúng ta mới được tự do nhất và hạnh phúc nhất. Khi chúng ta chết đi cho bản thân mình, thì sẽ nhận thấy giây phút thực sự được chết thật là dễ dàng. Giờ chết sẽ trở thành một giờ phút vinh quang. Chính khi chết đi, chúng ta được sinh ra trong cuộc sống đời đời.
Chúng ta phải nhìn vào cái chết của Chúa, không phải chỉ như một biến cố đã qua trong lịch sử, cũng không phải chỉ như một biến cố đau buồn đưa tới tuyệt vọng nhưng chính Chúa Giêsu chết là để đi vào vinh quang của Chúa Cha và trở thành Đấng ban sự sống. Ngài chịu treo lên thập giá là để trở thành nguồn ơn cứu độ, để chúng ta nhìn lên Ngài và được cứu sống.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con dám sống cho Chúa, can đảm từ bỏ, chấp nhận hy sinh, đi con đường mà Ngài đã đi và vui lòng vác thập giá hằng ngày mà tiến bước theo Chúa trong niềm tin sẽ được phục sinh giống như Ngài. Xin cho chúng con dám sống mầu nhiệm vượt qua đi từ cõi chết đến nguồn sống. Amen.
 

MC5-B91. CHÚA NHẬT V MÙA CHAY NĂM B

Ga 12,20-33
 

Trong bài đọc 1, tiên tri Giêrêmia đã tiên báo: Chúa sẽ thiết lập giao ước mới với nhà Israel : MC5-B91

Trong bài đọc 1, tiên tri Giêrêmia đã tiên báo: Chúa sẽ thiết lập giao ước mới với nhà Israel và nhà Giuđa. Giao ước đó làm cho Ngài trở thành Chúa của họ, và họ sẽ là dân riêng của Ngài. Giữa cảnh lưu đày biền biệt nơi đất khách quê Người, còn thành thánh Giêrusalem thì bị hoang tàn, tiên tri Giêrêmia đã khơi lên cho họ niềm hy vọng lớn lao, Thiên Chúa sẽ quên đi lỗi lầm của họ, Ngài sẽ ký kết với họ một giao ước mới, giao ước tình yêu. Chúa Giêsu chính là Đấng thiết lập giao ước mới đó.

Trong bài Tin Mừng, thánh Gioan kể lại, khi có một số người Hy lạp đến tìm Chúa Giêsu, Ngài vui mừng thốt lên " đã đến giờ Con Người được tôn vinh một khi được gương lên cao khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi " . Tại sao Chúa Giêsu lại vui mừng hớn hở như thế ? Có phải rằng vì Chúa Giêsu biết đằng nào mình cũng phải chết, nên chết quách cho rồi không ? Không phải thế, không phải Chúa Giêsu " ham chết sợ sống " như thế đâu. Tâm trạng vui mừng của Chúa Giêsu, cho ta thấy tấm lòng của Ngài. Ngài đã chờ đợi, đã mong muốn đến ngày này để Ngài thiết lập một Giao ước mới, Giao ước Tình yêu với nhân loại. Để nhờ đó nhân loại được ơn cứu độ. Ơn làm cho con người trở thành con Thiên Chúa, được thừa hưởng Nước Trời.

Nhưng trong thân phận con người, Chúa Giêsu cũng lo sợ trước cuộc khổ nạn Ngài phải chịu " lạy Cha, xin cứu Con khỏi giờ này, nhưng chính vì giờ này mà Con đến " . Tâm trạng vừa vui mừng vì ơn cứu độ sắp được thực hiện, vừa lo sợ trước cái chết, dằn vặt tầm hồn, làm Chúa Giêsu xao xuyến trong lòng.

Thánh Phaolô trong bài đọc 2, đã mô tả tâm trạng và cái chết của Chúa Giêsu: Chúa Giêsu đã lớn tiếng và rơi lệ mà dâng lời khẩn nguyện lên Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết, Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trãi qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục; và khi bản thân tới mức thập toàn, Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người.

Chúa Giêsu chính là " hạt lúa gieo vào lòng đất, có chết đi, mới sinh nhiều hạt khác " . Chúa Giêsu không chỉ chết đi một lần trên thập giá, nhưng thập giá chính là đỉnh cao; Chúa Giêsu vốn là Con Thiên Chúa, là Chúa thật, nhưng đã " chết đi " để mặc lấy thân xác con người, một người nghèo không có một nơi đàng hoàng để sinh ra. Phải chạy trốn trước sức mạnh và uy quyền của Hêrôđê. Vốn là Chủ tể của vũ trụ, Người đã từ bỏ mọi sự, chọn lấy sự thiếu thốn và nguy hiểm, sống trong âm thầm, khiêm nhượng. Khi bước vào cuộc sống công khai rao giảng, Chúa Giêsu chọn một đời hoạt động bấp bênh, Ngài đã trãi qua mọi hoàn cảnh, bị khước từ, bị công kích, bị chụp mũ " Ngài hoạt động với hai bàn tay trắng con chim có tổ, con chồn có hang, nhưng Con Người không có nơi gối đầu " . Cuối cùng Chúa Giêsu đã chọn cho mình cái chết đau thương, nhục nhã nhứt làm đỉnh cao cho " sự chết đi " của Ngài.

Chúng ta đang bước theo Chúa Giêsu, chúng ta hãy cám ơn Chúa vì tình yêu lớn lao Chúa đã dành cho chúng ta, Chúa không ngừng tha thứ cho chúng ta dù chúng ta cứ mãi phạm tội. Trong tâm tình của Mùa chay chúng ta hãy học nơi Chúa Giêsu bài học " chết đi " mỗi ngày với những tánh hư, tật xấu, những ham muốn bất chính, những tội lỗi của chúng ta để mỗi ngày chúng ta trở nên giống Chúa hơn. Để Chúa ở đâu chúng ta cũng được ở đó với Chúa.

 

MC5-B92. SỰ YẾU ĐUỐI CỦA CON NGƯỜI

Ga 12, 20 - 33
 

Người ta quan niệm rằng: Người hùng là người cứng rắn không bao giờ tỏ ra sự yếu đuối của: MC5-B92

Người ta quan niệm rằng: Người hùng là người cứng rắn không bao giờ tỏ ra sự yếu đuối của mình, hay tỏ ra bất lực, nghi ngờ về một vấn đề quan trọng. Họ luôn tự tin trong mọi công việc cũng như tỏ ra không bao giờ sợ hãy. Vì họ quan niệm rằng: anh hùng thì phải mạnh mẽ trong mọi hoàn cảnh và dũng cảm, không hề nao núng. Nhưng thật ra anh hùng không phải như thế.
Chuyện kể rằng Martin Luther King là một nhà lãnh đạo trong cuộc nội chiến Mỹ. Vì chính nghĩa nên ông ta đã gặp nhiều khó khăn, đến nỗi nhiều lần ông lưỡng lự và không còn tự tin để quyết định. Vì ông ta biết rằng, nếu ông tiếp tục tranh đấu có thể ông ta sẽ bị tù tội , lăng nhục và có thể đe doạ đến tính mạng. Đúng như ông dự đoán, người ta đã ám sát ông.
Trong suốt thời gian tranh đấu. Nhiều lúc, ông cảm thấy xuống tinh thần tinh thần và chán nãn vì nhà thì bị ném bom, gia đình phải ly tan. Bản thân ông hoàn toàn sụp đổ. Ông chán nãn và lòng tự trọng bị tổn thương. Trong tình trạng kiệt sức và thất vọng, ông ta đã quỳ gối trước mặt Chúa và cầu nguyện: "Lạy Chúa, con đang tranh đấu cho những gì con tin là đúng. Nhưng giờ đây con cảm thấy sợ. Mọi người nhìn con với tư cách như là một nhà lãnh đạo. Nếu con hiện diện trước mặt họ với một tâm thế yếu đuối và sợ hãi thì họ sẽ loại trừ con. Nhưng giờ đây con đã kiệt sức. Con không thể bước thêm được nữa và không thể đối mặt với bất cứ điều gì. Ông ta nói rằng: "Giây phút lắng động mà ông đã trãi qua trước mặt Chúa đã khiến ông nói lên nnhững lời mà ông chưa bao giờ nói được.". Nhờ đó mà ông đứng vững và tiếp tục chiến đấu.
Martin Luter King, quả thật không kém một anh hùng. Vì ông ta đã tỏ ra mình không phải được dựng nên bằng đá. Anh hùng, người mà không bao giờ tỏ ra mình yếu đuối và nao núng thì không đáng tin.Và họ cũng không dáng kể ta chiêm ngưỡng, và nhận như một tấm gương để sống. Vì chúng ta không nhận ra sự thật về con người họ mà ta bắt chước. Trái lại, khi chúng ta gặp một người nào mà họ luôn lo lắng trước những định mệnh, và nhận ra nơi họ sự sợ hãi, chúng ta cảm thấy những người như vậy là đáng tin hơn. Các vị thánh cũng như các vị anh hùng tử đạo, họ chưa bao giờ cảm thấy mình có khả năng như vậy. Chúng ta yêu mến và thích nhìn ngắm những con người đằng sau sự anh hùng của họ.
Chính Chúa Giêsu đã không đi đến cái chết với sự tự tin và hoàn toàn quả quyết. Có những lúc tinh thần của Người xuống đến tột đĩnh như trong vườn Giêtsêmani khi linh hồn của người chìm sâu vào những nỗi khắc khoải khiến Ngài phải thốt lên: "Linh hồn Thầy xao xuyến". Thánh Gioan đã không tường thuật sự đau đớn của Chúa Giêsu trong vườn Giếtsêmani trong Tin Mừng của Ngài. Nhưng chúng ta bắt gặp một âm thanh vang dội trong Tin mừng ngày hôm nay khi Chúa Giêsu nói: "Linh hồn Thầy xao xuyến."
Đây quả thật là một sự an ủi và khích lệ chúng ta. Vì nó cho thấy Đức Giêsu cũng là một con người thật nên Ngài cũng có những lúc yếu đuối và sợ hãi như chúng ta. những nỗi sợ hãi ập đến làm cho Ngài vô cùng buồn bả đến nỗi mồ hôi đã đỗ ra như những giọt máu. Ngài không nhìn cuộc thương khó và cái chết với một con tim gỗ đá. Vì Ngài cũng khiếp sợ. Nhưng bởi sức mạnh nào đã làm cho Ngài phải đương đầu, chấp nhận và chiến thắng nó. Phải chăng Ngài đã nhận sức mạnh từ những phút giây cầu nguyện và từ Thiên Chúa? Người ta quan niệm: " Can đảm là sợ hãi được nói lên trong khi cầu nguyện."
Chúng ta không phải là người nếu chúng ta không cảm thấy sợ khi bị đe doạ trước những gì nguy hiểm. Can đảm không phải là không bao giờ cảm thấy sợ hãi. Nhưng chính khi cảm thấy sợ hãi nhưng tiếp tục vượt qua mới là can đãm thật. "Một người không biết sợ thì không phải là anh hùng, nhưng anh hùng là người biết vượt qua nỗi sợ." (Solzhenitsyn)
Sự đau đớn của Chúa Giêsu trong vườn cây dầu đã cho chúng ta một lời an ủi và một niềm hy vọng trong khi chúng ta đương đầu với những khó khăn. Chúng ta không cần phải giả vờ là chúng ta được dựng nên bằng đá. Chúng ta cũng không cần phải dấu những yếu đuối và sợ hãi của mình. Như Chúa Giêsu, chúng ta hãy hướng về Thiên Chúa bằng những lời cầu nguyện chân thành. Và phải nhìn nhận rằng: chúng ta cũng cần có người để an ủi. Như Chúa Giêsu đã choọn Phêrô, Giacôbê và Gioan để họ cùng đi cầu nguyện với Người.
(Viết theo Flor Mc Carthy).
 

MC5-B93. MẤT VÀ ĐƯỢC

Ga 12, 20 - 33
 

Ở đời ai cũng muốn được và sợ mất. Thật ra, không phải cứ thu vào là được và buông ra là mất: MC5-B93

Ở đời ai cũng muốn được và sợ mất. Thật ra, không phải cứ thu vào là được và buông ra là mất. Nhưng có khi được mà lại mất, mất mà lại được. Mất trước để được sau. Mất ít mới được nhiều. Mất nhỏ để được lớn. Có thể nói đây là quy luật trong đời sống hằng ngày. Lời Chúa hôm nay giúp ta hiểu rõ quy luật này, để ta vui vẻ đón nhận tất cả những nghịch cảnh trong cuộc đời với niềm tin tưởng, hy vọng như thánh giá trổ sinh ơn cứu rỗi.
Khi biết giờ của mình đã đến, giờ mà Đức Giêsu sắp bước lên Thập gía. Theo cái nhìn của người đời là bi thảm, nhưng đối với Thiên Chúa là bước vào sự sống vĩnh cữu: "Nếu hạt lúa mì rơi vào lòng đất và không chết đi, thì nó chỉ trơ trọi, nhưng nều nó chết đi thì sẽ sinh nhiều hoa trái." (Ga 12, 24)
Đời người không có gì đau thương và mất mát hơn là cái chết. Nhưng may mắn cho chúng ta là những người đặt niềm tin vào Đức Kitô, Đấng đã hiến dâng mạng sống để cứu độ chúng ta. Ngài đã cho chúng ta một niềm hy vọng đằng sau cái chết, đó là sự sống đơì đời. Nhưng để đi vào cuộc sống vĩnh cữu, mọi người chúng ta phải trải qua thử thách nghiệt ngã là cái chết. Nghĩa là phải mất trước rồi mới được sau. Đây quả là một thách đố.

Bởi vì chính Chúa Giêsu cũng từng trăn trở, thổn thức và nao núng trước giờ phút tang thương này. Nhưng sức mạnh nào đã thôi thúc Ngài đi vào cuộc thương khó một cách can đảm? Phải chăng là động lực của tình yêu, và tin rằng cái chết của Ngài sẽ mang lại cho nhân loại mùa ơn cứu độ: "Không có tình yêu nào cao quý cho bằng tình yêu của người đã hy sinh mạng sống cho người mình yêu."(Ga 15, 12). Nghĩa là khi biết cái chết mang lại mang lại hạnh phúc cho tha nhân thì chúng ta không còn gì phải sợ. Vì tình yêu thì cao quý và mãnh liệt hơn sự chết. Chết cho niềm tin, cho tình yêu là cái chết tận hiến. Cái chết này sẽ không mất nhưng là cửa ngõ dẫn ta vào cuộc sống vĩnh hằng, vào vương quốc của Thiên Chúa. Thật là một điều khó tin, một nghịch lý của cuộc sống. Sự sống bắt đầu bằng cái chết. Chúng ta sẽ không thể có được Đức Giêsu Phục Sinh nếu không có Đức Giêsu chịu khổ hình và mai táng.

Khi Chúa Giêsu nói: "Ai yêu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai coi thường mạng sống ở đời này thì sẽ giữ lại được sự sống đời đời.", không có nghĩa là Ngài dạy chúng ta ghét bỏ hay khinh khi sự sống thể lý. Trái lại chúng ta phải học để biết yêu chính mình, vì chúng ta không thể yêu Chúa và yêu tha nhân nếu như chúng ta không biết yêu mình. Nhưng yêu mình cũng không có nghĩa là bám díu hay quá lo lắng vào sự sống của con người thể xác. Mà hãy quên đi hay vượt lên trên cái "tôi", là từ bỏ chính mình, chết cho chính mình, cống hiến cuộc đời vì Tin Mừng và vì chính nghĩa là cách vượt ra khỏi vỏ ốc ích kỷ của bản thân. Thì cuộc sống chúng ta sẽ trổ sinh hoa trái bình an, tự do và hạnh phúc. Thế giới sẽ nghèo nàn nếu như mỗi người chỉ biết lo cho chính mình, đặt lợi ích của mình là tất cả. Nhưng xã hội sẽ được ướp đầy hương vị yêu thương nếu chúng ta biết chết đi cho sự hưởng thụ riêng tư.
Qua cái chết và sự Phục Sinh, Chúa Giêsu đã cho chúng ta một tấm gương mẫu mực khi Ngài hiến mạng sống mình vì hạnh phúc nhân loại. Điều này không đơn giản, chính Ngài đã thật sự lo sợ khi giờ chết đến. Giờ đây, chúng ta không sợ. Vì hiểu rằng:Thánh giá là cái giá phải trả cho sự nên thánh. Mọi khó khăn vất vả chỉ là thử thách và thử luyện ta trên con đường nên thánh. Ta không thể đổi thánh giá khác nếu ta đặt niềm tin tương vào sự quan phòng của Thiên Chúa. Thánh giá tôi đang vác không nặng nhưng thích hợp và vừa sức của tôi. Vấn đề là thay gì đổi thánh giá thì ta hãy đổi thái độ, đổi tâm tình. Khi yêu thì mọi sự đều ra nhẹ nhàng, không còn cảm thấy nhọc nhằn cho dù có nặng thật.
Lạy Chúa! Xin hãy đổ đầy trái tim con tình yêu của Chúa để con sẵn sàng đón nhận tất cả những gì Chúa gởi đến trong niềm an vui, tin tưởng và phó thác.
 

MC5-B94. NGHỊCH LÝ MẤT ĐƯỢC

Ga 12, 20-33
 

Không biết ở phương Tây thì sao, chứ còn ở tại Việt Nam , ở đây đó vẫn thường xảy ra tình: MC5-B94

nước để cung cấp cho nhiều nhà máy thủy điện sản xuất điện. Biết thế nên trong phòng, lúc nào tôi cũng chuẩn bị vài cây nến phòng khi cúp điện. Và đúng như thế, vào một tối nào đó, đang ngồi đọc sách bỗng cúp điện. Tôi vội vàng đốt ngọn nến lên để có ánh sáng tiếp tục đọc sách. Quyển sách đang hấp dẫn không thể bỏ ngang được. Tôi xin bắt đầu câu chuyện Tin Mừng hôm nay từ ngọn nến đó. Khi nhìn ngọn nến đang cháy sáng tự nhiên tôi có vài cảm nhận: - Muốn có ánh sáng phải có nến. - Muốn có nến phải có sáp.

- Muốn nến đó được cháy liên tục thì sáp phải tiêu hao dần.
- Để có nhiều ánh sáng, đòi hỏi sáp càng phải bị tiêu hao nhiều.
- Và để tận dụng hết nguồn sáng, cây nến phải được đặt trên cao. Không biết đấy có phải là một qui luật không, nhưng không thể làm khác được. Tôi lại liên tưởng tới một ngọn nến khác có tên là Têrêsa Calcuta. Chấp nhận tiêu hao cả thời gian, sức lực, con người để những người nghèo, cô đơn, bệnh tật, bị bỏ rơi được chăm sóc, nâng đỡ. Tôi lại liên tưởng tới một ngọn nến khác có tên gọi là Maximilien Kolbe : Vào năm 1941, ngài bị bắt một lần nữa. Mục đích của Ðức Quốc Xã là thanh lọc những phần tử tuyển chọn, là các vị lãnh đạo. Cuộc đời Cha Kolbe kết thúc trong trại tập trung Auschwitz .

Vào ngày 31 tháng 07 1941, có một tù nhân trốn thoát. Sĩ quan chỉ huy trại bắt một người khác phải chết thay. Hắn khoái trá bước dọc theo dãy tù nhân đang run sợ chờ đợi sự chỉ định của hắn như tiếng gọi của tử thần. "Tên này." "Tên kia." Có những tiếng thở phào thoát nạn. Cũng có tiếng nức nở tuyệt vọng.Trong khi một người xấu số lê bước về hầm bỏ đói, bỗng dưng tù nhân số 16670 bước ra khỏi hàng. "Tôi muốn thế chỗ cho ông kia. Ông ấy có gia đình, vợ con." Cả một sự im lặng nặng nề. Tên chỉ huy sững sờ, đây là lần đầu tiên trong đời hắn phải đối diện với một sự can đảm khôn cùng. "Mày là ai?" "Là một linh mục." Không cần xưng danh tính cũng không cần nêu công trạng. Và Cha Kolbe được thế chỗ cho Trung Sĩ Francis GaGiowniczek.

Trong "hầm tử thần" tất cả bị lột trần truồng và bị bỏ đói để chết dần mòn trong tăm tối. Nhưng thay vì tiếng rên xiết, người ta nghe các tù nhân hát thánh ca. Vào ngày lễ Ðức Mẹ Hồn Xác Lên Trời (15 tháng 08) chỉ còn bốn tù nhân sống sót. Tên cai tù chấm dứt cuộc đời Cha Kolbe bằng một mũi thuốc độc chích vào cánh tay. Sau đó thân xác của ngài bị thiêu đốt cũng như bao người khác. Và còn nhiều ngọn nến khác nữa vẫn đang thắp sáng cho đời. Tất cả những ngọn nến ấy có hoàn cảnh khác nhau, màu da khác nhau, địa vị vị khác nhau, nhưng lại có một điểm chung là tan biến, là hy sinh và từ bỏ.

Hình ảnh của những ngọn nến đó làm tôi nhớ đến một câu nói của Chúa Giêsu trong TM: "Nếu hạt lúa mà rơi xuống đất không chết đi thì nó chỉ trơ trọi một mình, nhưng nếu nó chết đi thì nó sinh nhiều bông hạt" (Ga 12, 24) Những ngọn nến như thế, những khuôn mặt như thế, những con người như thế làm cho tôi càng hiểu thêm về điều mà Kinh thánh gọi là Kenosis (tự huỷ) của Chúa Giêsu, mà chính thánh Phaolô đã viết nên thành lời của một ca khúc thánh ca bất hủ. Thánh Phaolô viết thế này: "Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thánh tự." (Pl 2, 6 - 8) Tôi nhớ một nhà tư tưởng nào đó đã nói: "Muốn hiểu môt sự vật, bạn hãy lên cho thật cao và phải xuống cho thật sâu".

Muốn biết chiều cao của một ngọn núi, ta phải lên thật cao trên đỉnh của nó và đồng thời ta cũng phải xuống cho thật sâu của vực thẳm. Tương tự như thế, Chúa Giêsu đã lên thật cao trong địa vị là Thiên Chúa và Người cũng đã xuống thật sâu trong thân phận con người. Và còn hơn thế nữa, Người đã chấp nhận hủy mình ra không, để từ cái không đó trở thành nguồn ơn cứu rỗi cho con người. Đấy là Kenosis (tự hủy). Thế nhưng, chính Kenosis ấy lại trở thành một điều gây khó hiểu cho nhiều người. Người ta không thể hiểu được: Tại sao tôi phải chết đi để người khác được sống. Tại sao tôi phải hy sinh, phải chịu mất mát, chịu thiệt thòi cho người khác và vì người khác? Đúng như lời một triết gia đã nói: "Tha nhân là hoả ngục của tôi", dại gì tôi phải hy sinh cho họ.!!! Cái khó hiểu và cái khó chấp nhận đó tôi tưởng nó có nhiều lý do vừa khách quan vừa chủ quan.

Xã hội hôm nay là một xã hội thực dụng và hưởng thụ trong một nền kinh tế thị trường. Người ta chỉ biết nghĩ đến mình mà quên đi người khác. Chính vì chúng ta đang bị nhận chìm trong một quan niệm, một lối sống thực dụng và hưởng thụ như thế nên càng ngày người ta càng mất ý niệm về sự hy sinh, sự cho đi , lòng quảng đại và sự chia sẻ mà chỉ lo củng cố cái tôi của mình mà thôi. Tôi là số một, tôi là trên hết. Người ta quên mất tha nhân là ai.

Họ có nhu cầu gì, họ khao khát và ước muốn cái gì . Cho nên người đời có thể không hiểu thế nào và cũng không thể chống lại cái gọi là Kenosis là tự hủy, là hy sinh, là từ bỏ. Còn chúng ta thì sao? Chúng ta hiểu thế nào, hiểu đến mức độ nào? Nói cách khác, tình yêu nào đòi chúng ta sống đời bác ái? Sức mạnh nào thúc đẩy ta dám chết cho anh chị em? Động lực nào thúc giục ta hiến thân cho đồng loại? Chúa Giêsu đã cho chúng ta câu trả lời : "Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hy sinh mạng sống vì bạn hữu của mình" (Ga 15, 12) Tình yêu cao quí hơn cuộc sống và mãnh liệt hơn sự chết và cái chết của Chúa Giêsu đã nên lời yêu thương cho con người. Chính lúc gục đầu tắt thở thì cây thập tự trổ nụ đơm bông mùa cứu rỗi. Và khi con người hiến dâng cái chết như lời tạ ơn cao đẹp cuối cùng thì mùa hoa nhân ái tỏa hương thiên đàng.

Đúng như một triết gia nào đó đã từng nói : chỉ có con vật mới quay lưng trước nổi đau của đồng loại để chăm sóc cho bộ lông của mình, còn con người thì không như thế. Hôm nay Chúa Giêsu tuyên bố: " Nếu hạt lúa rơi vào lòng đất mà không chết đi thì nó vẫn trơ trọi một mình. Còn nếu nó chết đi thì mới sinh nhiều bông hạt". (Ga 12, 24). Chúng ta không ngạc nhiên khi nghe câu này. Đó là luật tự nhiên chi phối cây cỏ. Thế nhưng lắm khi tôi thấy khó áp dụng cho mình. Tại sao tôi phải chết để người khác được sống? Vì thế, chúng ta không muốn chết như hạt lúa. Tôi chấp nhận trơ trọi một mình.

Tôi chấp nhận cô đơn để được yên thân. Tôi sợ mất mát vì mất mát đem lại đớn đau nên tôi tìm đủ cách để giữ lại những gì tôi có, những gì tôi đang là... Nhưng Chúa Giêsu còn nói thêm: " Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ỏ đời này, thì sẽ Giữ lại được cho sự sống đời đời". (Ga 12, 25) Cuối cùng, tôi xin mượn một lời cầu nguyện như một lời nhắn nhủ đến anh chị em và các bạn. Lời cầu nguyện thế này:

"Lạy Chúa Giêsu,
Khi nhìn thấy đồng lúa chín vàng chúng con ít khi nghĩ đến những hại Giống đã âm thầm chịu nát tan để trao cho đời cây lúa trĩu hạt. Có bao điều tốt đẹp chúng con được hưởng hôm nay là do sự hy sinh quên mình của người đi trước, của các nhà nghiên cứu, các người rao Giảng, của ông bà, cha mẹ, thầy cô, của những người đã nằm xuống cho quê hương dân tộc. Ðã có những con người sống như  hạt lúa, để từ cái chết của họ  vọt lên sự sống cho tha nhân.  Nhờ công ơn bao người, chúng con được làm hạt lúa. Xin cho chúng con  đừng tự khép mình trong lớp vỏ để cố Giữ sự nguyên vẹn vô nghĩa của mình, nhưng dám đi ra  để góp cho cánh đồng cuộc đời một cây lúa nhỏ.  Chúng con phải chọn lựa nhiều lần trong ngày. Ðể chọn tha nhân và Thiên Chúa, chúng con phải chết cho chính mình. Ước gì chúng con dám sống mầu nhiệm vượt qua đi từ cõi chết đến nguồn sống, đi từ cái tôi hẹp hòi đến cái tôi rộng mở trước Ðấng Tuyệt Ðối và tha nhân". Amen.

 

MC5-B95. CHÚA NHẬT V MÙA CHAY.

Jn 12, 20 - 33.
 

Nói về tình yêu, trong chúng ta , ai cũng nhớ đến mối tình cao đẹp trong câu chuyện xưa có tên : MC5-B95

Nói về tình yêu, trong chúng ta , ai cũng nhớ đến mối tình cao đẹp trong câu chuyện xưa có tên : "Trần Minh Khố Chuối." Ngày nay được các nghệ sĩ đỗi tên là :"Bên cầu dệt lụa." Câu chuyện diễn tả mối tình cao đẹp của đôi bạn Trần Minh và Nguyệt Nga. Hai người đã vượt qua không biết bao nhiêu khó khăn gian khổ, để tìm hạnh phúc cho nhau. Tôi thiết nghĩ : Nếu Trần Minh vì quá tự ái, nuôi mối hận riêng tư trong lòng, tìm cách trả thù thì cũng không được một kết cuộc tốt đẹp như thế. Còn nếu Nguyệt Nga cứ giữ mãi danh phận của một tiểu thư đài cát, không dám hy sinh cho tình yêu thì họ cũng không thấy được bông hoa tình yêu. Nhưng vì họ đã biết vun trồng, biết chấp nhận những nghịch cảnh, biết vượt qua chính mình, biết cùng góp sức từ bỏ đi những gì là riêng tư, nên họ nhận được phần thưởng tốt đẹp và xứng đáng.
"Nếu hạt lúa mì rơi xuống đất mà không tối đi, thì nó chỉ trơ trọi một mình, nhưng nếu nó thối đi,thì sẽ trổ sinh nhiều bông hạt." Chúa Giêsu đã nói lên một chân lý, để dạy cho con người cách sống ở đời, nhưng đặt biệt, Ngài còn muốn kêu gọi mọi người thực hiện để tìm hạnh phúc đích thực và vững bền. Ngài không chỉ nói suông nhưng Ngài đã thực hiện những gì mình đã nói, đã dạy. Ngài đã để cho thân xác hay hư nát của Ngài tiêu tan đi cho đến độ Ngài không cần gìn giữ nó cho riêng Mình nữa mà Ngài dám hy sinh nó cho những người mình yêu thương. Sự hy sinh của Ngài làm cho những người đương thời không thể hiểu được. Mọi người tưởng rằng Ngài đã chết thật, nhưng đang lúc đó, Ngài đã chứng tỏ một sức sống mãnh liệt cho tình yêu. "Ai tìm mạng sống mình thì sẽ mất . . ."
Nhìn vào đời sống thực tế, chúng ta cũng nhìn thấy biết bao người đã hy sinh đời sống của mình, họ đám từ bỏ tất cả để đạt cho được mục đích mà mình muốn. Nhưng nhìn chung, tất cả những gì con người ước muốn chỉ thỏa mản những đòi hỏi riêng tư, không có giá trị lâu dài. Con người càng đòi hỏi và niềm khát vọng mỗi ngày càng dâng cao. Nên con người không tìm được hạnh phúc trong những khát vọng ích kỷ cá nhân. Đáp ứng những khát vọng chỉ là đi tìm chính mình, lo bảo vệ mình mà thôi. "Ai tìm mạng sống mình thì sẽ mất."
Mỗi người chúng ta nhìn vào chính mình xem : Bao nhiêu lần vì tự ái, chúng ta không thể nào nghe người khác khi họ chỉ cho chúng ta thấy những thiếu sót, sai phạm, để chúng ta sửa đỗi cho tốt hơn. Đó là những lúc chúng ta không dám chết đi cho lòng tự ái, tính kiêu căng của mình. Còn bao nhiêu lần nữa, chúng ta thấy được những tật xấu của mình, thấy được những điều bê tha, thấy được những điều không nên làm, thế mà chúng ta vẫn làm. Đó là chúng ta chưa dám chết cho những ý riêng, chưa dám chết cho những dục vọng của chính mình. Có những lần chúng ta nhìn thấy những điều không hợp lý, những điều bất công, nhưng, chúng ta đành lánh mặt đi nơi khác cho được yên thân. Đó là lúc chúng ta chưa dám chết cho sự hèn nhát của chính mình. Cũng có những lúc chúng ta nhìn thấy được trách nhiệm của chính mình trong cuộc sống, nhưng chúng ta vẫn không chu toàn được, vì thiếu sự cố gắng. Đó là những lúc chúng ta chưa dám chết cho sự lười biếng của chính mình.
Đối với Thiên Chúa. Có những lúc chúng ta cảm nhận được sự ngọt ngào trong những lần thành công, trong niềm hạnh phúc mà mình đạt được. Lời Chúa dạy, chúng ta biết rất rỏ, chúng ta vẫn không thi hành. Chúng ta chưa dám chết đi cho những gì là riêng tư của chính mình, thì làm sao chúng ta đạt được bông hoa hạnh phúc của tình yêu bất tận. Đôi bạn tình Trần Minh, Nguyệt Nga đã dám hy sinh những gì là riêng tư , nên họ mới đạt được hạnh phúc chung cuộc. Còn chúng ta, Thiên Chúa đã yêu thương, đã lo lắng cho chúng ta tất cả mọi việc, nhưng rồi, chúng ta chỉ biết lo cho những ích kỷ , những kiêu căng, sự lười biếng; thì làm sao chúng ta có thể nhìn thấy được những bông hoa của tình yêu bất diệt được để mà tận hưởng.
Chúng ta cùng nhau cầu xin Chúa cho chúng t a biết hy sinh, biết chịu khó thêm một chút nữa, để bông hoa tươi đẹp của cuộc sống được nở rộ chung quanh chúng ta.
 

MC5-B96. HẠT GIỐNG SINH HOA KẾT QUẢ

Ga 12,20-33
 

Trong khi giảng dạy, Đức Giêsu thường dùng những hình ảnh quen thuộc với dân chúng để giải: MC5-B96

1. Trong khi giảng dạy, Đức Giêsu thường dùng những hình ảnh quen thuộc với dân chúng để giải thích chân lý Ngài muốn mạc khải. Đoạn Tin Mừng hôm nay, Ngài sử dụng hình ảnh hạt giống được gieo, để cho chúng ta thấy tại sao Ngài phải bước vào cuộc Vượt qua: "Nếu hạt lúa mì rơi vào lòng đất, mà không thối đi, thì nó vẫn trơ trội một mình. Còn nếu nó thối đi thì mới sinh nhiều bông hạt". Thậy vậy, hạt giống được gieo vào lòng đất nếu bị phân hủy ("thối") mới có thể đem lại sự sống mới ; nếu không bị phân huỷ hẳn là trơ trội một mình, không sinh ích gì, ai trong chúng ta cũng dễ dàng đón nhận sự thật này.
2. Đức Giêsu, Chúa chúng ta là hạt giống đặc biệt đem sức sống mới cho loài người. Ngài có thể cứu độ chúng ta bằng nhiều phương cách ; nhưng Ngài đã chấp nhận "bị phân huỷ" tức hy sinh đi những cái gì "là Chúa" và "của Chúa" để cứu chuộc chúng ta. Ngài bỏ trời cao xuống gian trần, làm người như bao con người khác, ngoài trừ tội lỗi. Hơn thế nữa, chấp nhận làm thân phận của người nghèo. Ba mươi năm sống ẩn dật, ba năm đi rao giảng thì bị công kích, chống đối. Cuối cùng chịu đau khổ, chịu chết trên thập giá (x. Plp 2,6-8). Biến cố này xem ra là một thất bại nặng nề trước mặt người đời, nhưng là giờ phút quyết định cuộc giải thoát nhân loại khỏi ách thống trị của Satan.
3. Hình ảnh về cuộc khổ nạn của Đức Giêsu được gợi lên rất rõ như một hạt lúa mì bị tan rữa trong lòng đất, nhưng sẽ dẫn tới một mùa lúa bội thu, phong phú. Cái chết của Đức Giêsu không dừng lại ở sự cằn cỗi, mất mát, như người đời tưởng, mà cái chết của Ngài có sức mạnh qui tụ mọi người, mọi dân, mọi nước : " Khi nào Ta được treo lên khỏi đất, Ta sẽ kéo mọi người lên cùng Ta ". Nếu ông Tertulianô cho rằng : "Máu các thánh tử đạo là hạt giống sinh ra các tín hữu", thì máu Đức Giêsu có giá trị tuyệt đối, là hạt giống mẹ của các hạt giống đức tin.
4. Đức Giêsu không chỉ là hạt giống đức tin của Thiên Chúa, mà Đức Giêsu muốn chúng ta, những môn đệ của Ngài, cũng hãy là hạt giống đức tin. Trước hết, hạt giống ấy phải phân huỷ để sinh hoa kết quả cho chính mình. Nghĩa là phải theo quy luật hy sinh của hạt lúa giống ấy để đạt tới hạnh phúc đời đời: "Ai yêu sự sống mình thì sẽ mất ; còn ai ghét sự sống mình ở đời này, thì sẽ giữ được nó cho sự sống đời đời". "Sự sống" ở đây là sự sống đời này và tất cả những gì liên quan đến nó như tiền tài, danh vọng, thú vui, nếu như chúng ta quá bận tâm, bám víu vào nó, mà sao lãng sự sống đời đời thật là một đại hoạ! Thánh Phanxicô Assise, trong lời kinh Hoà Bình, đã cảm nghiệm chân lý sâu sắc này và đã ca lên:"Chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh. Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân. Chính khi chết đi là khi vui sống muôn đời". Kế đến, qua Bí Tích Rửa Tội, chúng ta được tháp nhập vào hạt giống Giêsu, chúng ta phải có trách nhiệm mang hạt giống đức tin đến cho tha nhân nữa.
5. Cuộc Vượt qua của Đức Giêsu vừa như là hạt giống âm thầm, vừa là biến cố vinh quang của Chúa, nhưng tất cả điều đem lại sức sống mới cho nhân loại. Điều này làm cho chúng ta nhớ rằng mọi Kitô hữu trong hoàn cảnh sống của mình đều có trách nhiệm chia sẻ hạt giống đức tin cho tha nhân. Chúng ta cùng suy nghĩ về hai người con Chúa, thánh Phanxicô Assise và Cố ĐGH Gioan Phaolô đệ nhị, sống hai thời khác nhau, địa vị khác nhau, nhưng cả hai đều là những hạt giống đức tin nhiệt thành :
Chuyện kể rằng một ngày kia thánh Phanxicô Assise ( + 1226) rủ một thầy dòng nữa cùng đi truyền giáo, hai người đi hết phố này sang phố khác rồi trở về, thầy cùng đi chúng mới hỏi : Chúng ta đâu có giảng thuyết lời nào đâu mà gọi là đi truyền giáo ? Phanxicô mới trả lời : Sự hiện diện của chúng ta, cách ăn mặc và nếp sống nghèo khó của chúng ta đó chính là một hình thức chúng ta giới thiệu Chúa cho người khác rồi !
Đức Cố GH Gioan Phaolô đệ nhị cũng là một người rất nhiệt thành trong công việc truyền giáo, những năm đầu triều đại Giáo Hoàng của ngài, ngài đã chọn việc đi thăm viếng nhiều quốc gia, chúng ta không biết bao nhiêu người gia nhập đạo Công Giáo trong triều đại của ngài, nhưng lễ tang của ngài vào những ngày của tháng 04 năm 2005 vừa qua, rất đông đại diện các quốc gia đến tham dự, rất nhiều người tiếc xót khi vĩnh biệt người đại diện của Thiên Chúa ở trần gian này! Chắc hẳn qua đó nhiều tâm hồn suy nghĩ về Thiên Chúa, về Đức Giêsu mà Đức Gioan Phaolô đệ nhị và chúng ta tôn thờ.
6. Lạy Đức Giêsu, giờ Vượt qua của Ngài, tuy âm thầm lặng lẽ, tuy xem ra thất bại, nhưng vinh quang và đã tuôn ban nguồn ơn cứu rỗi cho muôn dân. Xin cho mỗi người chúng con biết tích cực đón nhận hồng ân cứu rỗi, đồng thời cũng biến chúng con thành những hạt giống đem nguồn sống thật đến cho tha nhân. Amen
 

MC5-B97.  GIỜ ĐÃ ĐIỂM

Ga 12, 20-33
 

Người ta thường ví von: sống kể ngày, chết kể năm. Khi nói đến cái chết người ta không nói: MC5-B97

Người ta thường ví von: sống kể ngày, chết kể năm. Khi nói đến cái chết người ta không nói đến ngày, tháng năm mà lại nói đến giờ chết. Nói đến giờ chết vì nó xảy ra trong khoảng khắc, trong giờ phút nào đó. Một khi giờ đã điểm không ai có thể chống cự, có cố gắng cũng chỉ dùng máy trợ tim, giúp tim đập với hy vọng bập bùng theo từng nhịp tâm đập. Hy vọng bởi vì không thể dự đoán biến chứng nào sắp xảy đến, phản ứng nào đang rình rập và giờ phút nào là giờ phút giờ đã điểm. 

Điều chắc chắn giúp các Kitô hữu vững tin vào Chúa là giờ chết của ta không phải là bị huỷ diệt, tắt ngủm hơi thở là hết, là chết. Theo mạch văn của Kinh Thánh, giờ con người thế gian sợ hãi lại là giờ người Kitô hữu vững tin vào Chúa, làm Vinh Danh Thiên Chúa. Không niềm tin chết là hết, vinh quang tàn lụi. Có niềm tin chết là bắt đầu cuộc sống mới, vinh danh bắt đầu sáng chói. Phải chăng đây chính là giờ mà Chúa Nhật đầu mùa chay nhắc đến trên núi thánh. Áo trắng như tuyết, mặt mày sáng rực như ánh hào quang. Cái chết của người không có niềm tin chính là danh vọng đang có biến mất, chấm dứt. Cuộc đời đổi trắng ra đen. Cái chết của người Kitô hữu trái lại biến đổi đời mình đang từ không danh vọng lại được ban cho danh vọng. Rõ là đang đen ra trắng. Trắng như tuyết, chói lọi như ánh sáng hừng đông vì họ chết trong ánh sáng Đức Kitô, Người là sự sáng đến trong thế gian để ban ánh sáng chói lọi cho những ai tin vào Ngài. Ánh sáng chói lọi này bắt đầu toả sáng khi giờ người đó điểm cũng chính là lúc họ kết hợp, nên một với Đức Kitô để Ngài sống lại vinh hiển thế nào thì chúng ta những người tin theo cũng được sống lại với Người như vậy.
Nói như thế không có nghĩa người Kitô hữu không buồn sầu khi nghe tin người thân qua đời, hay chính mình mang bệnh nan y. Không phải thế, người Kitô hữu không vô cảm đến phũ phàng, vô tình như thế. Đứng trước cái chết dù là của người thân hay cái chết thương tâm của một người chúng ta không khỏi tiếc thương bởi vì đó là dấu hiệu của chia lìa, ngăn cách. Dù là ngăn cách một thời gian cũng là ngăn cách. Chúng ta khóc thương vì gắn bó tình cảm con người bị chia sẻ, vì cảm thấy mất mát dù là mất tạm bợ. Chúng ta khóc thương, đau buồn xúc động vì đó là phản ứng tự nhiên của cảm xúc con người. Cảm xúc đó cần được bộc lộ, diễn tả thể hiện tình yêu chân thành. Bản tính thự nhiên là như thế. Điểm khác biệt là Kitô hữu khóc, thương và nhớ nhưng không bao giờ tuyệt vọng. Trái lại Kitô hữu luôn sống trong hi vọng, hi vọng ngày gặp lại người thân, ngày tái đoàn tụ trên thiên quốc. Ngày mà Đức Kitô diễn tả như hạt lúa mì chết đi để biến thành cây lúa mới với bông lúa vàng trĩu hạt, mỗi hạt vàng ươm, đầy hạt gạo thơm, của mùa thu hoạch tràn đầy niềm vui, hạnh phúc. 

Nước không thể bốc hơi nếu nhiệt độ không biến thể lỏng thành thể khí. Gió không lay động cành cây nếu không khí không chuyển động. Chúng ta không tiến vào vinh quang Thiên Chúa nếu không có cảnh chia li giữa ta và trái đất. Giờ phút chia li đó mang lại niềm đau nhưng cần thiết giúp ta trở về với Đấng Sáng Tạo nên ta.

Lm Vũ đình Tường
 

MC5-B98. CHUYỆN TÌNH CÓ HẬU

Ga 12, 20-33
 

Hàng năm theo niên lịch phụng vụ, để chuẩn bị cho đại lễ Giáng Sinh, Hội Thánh không chỉ : MC5-B98

Hàng năm theo niên lịch phụng vụ, để chuẩn bị cho đại lễ Giáng Sinh, Hội Thánh không chỉ dành quãng thời gian mùa Vọng mà còn dành một tuần đặc biệt từ 17-24/12 như thời gian chuẫn bị gần. Tuần đặc biệt này có các bài đọc riêng để giúp tín hữu y thức hơn. Để đón mừng đại lễ Phục Sinh, đón mừng mầu nhiệm Khổ Nạn -Phục Sinh của Đức Kitô thì có những ngày mùa chay thánh và tuần lễ chuẩn bị gần khởi từ chủ nhật thứ V mùa chay. Xin chia sẻ đôi nét suy nghĩ được gợi ý từ hai bài đọc của ngày thứ hai tuần đặc biệt này: bài trích sách tiên tri Đaniel kể về chuyện bà Suzana và bài trích tin mừng thánh Gioan về chuyện người phụ nữ phạm tội ngoại tình bị bắt quả tang.

Thưở còn "làm chú" trong Tiểu Chủng Viện dù phải nghe một bài đọc rất dài, bài trích sách tiên tri Daniel nhưng không ai trong chúng tôi cảm thấy oải vì chuyện kể về bà Suzana vừa hấp dẫn vừa lôi cuốn trí tò mò của các chú thiếu niên đang độ tuổi nhổ giò. Hơn nữa, ai cũng hể hả như vừa theo dõi một cuốn phim hay, một câu chuyện đậm tính bi hài mà lại kết thúc có hậu: kẻ gian ác phải chết còn người vô tội thì được cứu sống. Câu chuyện bà Suzana còn trên môi miệng những chú tinh nghịch trong các giờ chơi những ngày sau đó: nè,cho tao biết cây chò hay cây sồi ? Sự tinh nghịch của chúng tôi cũng có phần do thích thú trước trí thông minh của cậu bé Đanien biết phân biệt điểm khác nhau giữa sự thật và điều dối trá. Sự thật vì chỉ có một nên phải tương đồng còn điều dối trá thì dễ khác biệt. Đây là một trong những chìa khoá giúp các nhà điều tra tìm ra sự thật hoặc phát giác sự giả dối. Hai người gian dối nếu không quá lanh mưu hay lưu manh thì rất dễ lộ tẩy do những khác biệt trong lời khai về một vấn đề hay một sự kiện. Đanien đã khôn ngoan tách hai ông lão dù tóc đã bạc nhưng tuổi mãi ở tầm 35 riêng ra để tra xét. Và thế là sự dối trá đã lộ ra nơi chính lời khai của hai ông. Người thì nói bà Suzana phạm tội dưới gốc cây sồi ông kia lại bảo dưới gốc cây chò. Thú thật khi chọc ghẹo nhau, lũ mới lớn chúng tôi đã tự thú nhận trí tò mò của mình về những chuyện " rồi ai cũng sẽ biết". Tuy nhiên phải nhìn nhận điều này rằng tính có hậu của câu chuyện làm ai ai cũng hể hả. Kẻ gian ác, dù là vị vọng hay quyền cao chức trọng cũng phải chết, phải bị nghiêm trị còn người vô tội cần được cứu sống, người thấp cổ bé miệng và người bị bóc lột, bị áp bức cần được giải phóng. Chúa đã thực thi điều ấy và chúng ta đương nhiên phải làm như vậy. Phải có công bình và cần giữ công lý nghiêm minh. 

Trên núi cây dầu, trời vừa tảng sáng, một đoàn người trai gái, già trẻ, lớn chức, bé quyền đủ cả, mặt hí hửng dẫn một chị phụ nữ ngoại tình đến gặp Chúa Giê-su: " Thưa thầy hạng phụ nữ này theo luật Môsê thì phải ném đá. Còn Thầy, Thầy dạy thế nào ?". Thánh Gioan nhận ra đây chính là một mũi tên nhắm hai mục đích mà mục đích chính là Chúa Giê-su. Những tưởng rằng trong tình trạng tiến thoái lưỡng nan, Chúa Giê-su thế nào cũng bị sập bẫy, một cái bẫy tinh quái, hiểm độc do các luật sĩ và biệt phái giăng ra để thực hiện âm mưu thâm độc của mình. Các ông này không ngần ngại thức trắng đêm để bắt tại trận tội yếu đuối, bất trung của người phụ nữ để làm mồi nhử, hãm hại Chúa Giê-su. Nếu tội của người phụ nữ là một thì tội các ông này phải đáng mười vì đâu phải do yếu đuối như chị phụ nữ kia mà là do lòng nham hiểm ác độc, một sự ác độc nham hiểm tột độ đến nỗi không chừa một thủ đoạn bỉ ổi nào. 

Chúa Giê-su cúi xuống lấy ngón tay viết trên đất và khi bị gặn hỏi nhiều lần Ngài đã đứng lên rồi ôn tồn: "Ai trong các ngươi xét mình vô tội hãy ném đá chị này trước đi'. Rồi Ngài lại cúi xuống tiếp tục lấy ngón tay viết lên đất. Không biết Chúa Giê-su viết những gì nhưng chắc chắn khó có ai đọc ra vì trời vừa tảng sáng và khoảng cách giữa Ngài với đám đông chắc không thể gần vì có sự ngăn cách của người phụ nữ, nhất là đám đông đứng đối diện thật khó mà đọc được những gì Ngài viết. Xét theo công lý như cảm nghĩ của con người thì những người có mặt sáng hôm ấy ( trừ Chúa Giê-su ), tất thảy đều phải chết, nhất là những kẻ lòng dạ nham hiểm, ác độc. 

Tư tưởng của ta không phải là tư tưởng của các ngươi và đường lối của ta cũng không phải là đường lối của các ngươi. Như trời cao hơn đất bao nhiêu thì tư tưởng của ta và đường lối của ta vượt cao hơn tư tưởng và đường lối các ngươi bấy nhiêu. Mạc khải của Thiên Chúa dần hé mở qua lời của tiên tri Isaia. Mạc khải ấy nay hiện thực và nên hoàn hảo nơi chính Đức Giê-su: kẻ có tội, người gian ác không phải chết. Đám đông hung dữ hôm ấy lẫn người phụ nữ phạm tội ngoại tình đã được cứu sống bằng lòng nhân hậu của Chúa Giê-su. "Ta cũng không kết tội chị hãy về và đừng phạm tội nữa". Chúa Giê-su không chỉ khoan dung với chị phụ nữ mà còn tế nhị đánh thức lương tri của đám đông hiểm độc bấy giờ. Thánh Gioan đã tường thuật rằng sau khi ngẩng lên nói: "Ai trong các ngươi......" thì Ngài lại cúi xuống viết dưới đất. Giả như lúc bấy giờ sau khi nói, Chúa Giê-su vẫn ngước mắt nhìn chằm chằm vào đám đông thì thử hỏi có được mấy ai tự nguyện rút lui, nhất là người rút lui đầu tiên. Hình như Chúa Giê-su không muốn nhìn, Ngài tế nhị tạo cơ hội cho những người hôm ấy nhìn nhận tôi lỗi mình và rút lui trong danh dự. " Chúa nhắm mắt làm ngơ, không nhìn đến tôi lỗi của loài người, để họ còn ăn năn hối cải' ( Kn 11,23 ).Kẻ gian ác đã được cứu sống đúng như lời Chúa đã phán: "Ta lấy mạng sống ta mà thề: Ta đâu muốn cho kẻ dữ phải diệt vong, nhưng là muốn nó bỏ đường tà để được sống". ( x.Ed 18,23 ).

Lẽ công minh theo cảm nghĩ của con người, một kết cục có hậu mà thường ai cũng thích khi xem phim hay đọc tiểu thuyết đó là kẻ gian ác phải chết và người công chính được cứu sống. Tuy nhiên đây chỉ là lẽ công minh hay là sở thích của đám đông dân thường. Với các hiền triết, các nhà đạo đức thì dường như có cao hơn một bậc. Nên khoan dung với người có tội, cần lượng thứ cho người gian ác để giúp họ hoán cải, ăn năn. "Buông đao thành Phật. Quay đầu là bờ". Những lời giáo huấn trong Phật giáo cho ta hay chân lý này. Các quốc gia tiến bộ đã và dần bỏ án tử hình. Án hình giam giữ cũng là một trong những cách thế giúp tội nhân có cơ hội ăn năn và sửa đổi. Kẻ gian ác không bị diệt trừ ngay nhưng cần được giáo huấn để đổi thay.

Tuy nhiên để thực hiện điều này thì một người công chính, duy nhất xứng là công chính đã không được cứu sống. " Người này đích thực là người công chính" ( Lc 23,47 ). Để kẻ gian ác được cứu sống thì Giê-su Kitô, người công chính đích thực đã phải chết. Chuyện thật nghịch lý nhưng rất đượm tình. Chết cho người công chính thì xưa nay vốn hiếm, ở đây Thiên Chúa lại tự nguỵên hy sinh vì chúng ta là những tội nhân. Tình yêu thật khó lý giải vì Thiên Chúa chính là Tình Yêu. Có nhiều người dễ biện minh rằng nếu ta hành xử như thế thì có thể làm cho nhiều người lạm dụng tình yêu và không chịu đổi thay hay vươn lên. Cũng có thể lắm nhưng ngược với khôn ngoan loài người như Tào Tháo đã quan niệm: thà ta phụ người chứ không để người phụ ta hay thà giết lầm hơn bỏ sót thì với tình yêu đích thật phải chăng phải là thà yêu lầm còn hơn bỏ sót. Dẫu có lầm thì cái lầm trong tình yêu cũng thật đáng yêu vậy.

Lm. Giu-se Nguyễn Văn Nghĩa (Nguồn vietcatholic.org)
 

MC5-B99.  BÀI HỌC VÂNG PHỤC

Ga 12, 20-33
 

Mỗi một con người, đều mang trong mình một suy nghĩ riêng, một cái nhìn riêng, một lập trường: MC5-B99

Mỗi một con người, đều mang trong mình một suy nghĩ riêng, một cái nhìn riêng, một lập trường riêng để nói lên sự cá biệt hay nói đúng hơn là sự khác biệt của con người. Mỗi một con người có một nhân vị. Mỗi một con người là cả một thế giới riêng biệt. Và vì vậy, đó mới là điểm lý thú của con người. Nếu ai cũng như ai thì thế giới này thật là buồn tẻ, thật là nhàm chán vì khi ấy chẳng còn gì để mà bàn nữa. Thế nhưng, từ cái cá tính, cá vị của con người đã gây nên không biết bao nhiêu xáo trộn trong cuộc đời này.

Nhìn vào đời sống thường nhật chúng ta thấy rõ điều này. Hai vợ chồng trẻ mới cưới, vì còn nồng nàn cái thuở ban đầu, cái ngày đầu của đời sống hôn nhân nên tràn đầy hạnnh phúc. Khi ấy, anh nói em nghe, em nói anh nghe nhưng rồi một thời gian qua đi khi đời sống hôn nhân có thời gian, có bề dày một chút thì cái kiểu mà anh nói em nghe em nói anh nghe không còn nữa và rồi nó gây ra xáo trộn trong gia đình. Khi ấy chồng không phục tùng vợ nữa và vợ cũng chẳng còn phục tùng chồng nữa. Nếu nhường nhịn nhau thì gia đình sẽ ấm êm còn nếu không nhường nhịn nhau thì sẽ đổ vỡ, sẽ chia ly. Nếu ai nào sống trong cái bầu khí bất phục tùng sẽ cảm thấy cực kỳ nhàm chán vì lẽ nó bất an làm sao đó. Khi đó, muốn giải quyết mọi xung đột, muốn mang bình an lại trong gia đình thì vợ và chồng phải nghe nhau, phải nhường nhịn nhau, phải tuân phục nhau.

Khi có con cũng thế, nếu như đứa con trong gia đình dễ dạy, dễ nghe, dễ vâng phục thì gia đình rất bình an và hạnh phúc. Nếu gia đình nào có đứa con ngỗ nghịch hay cãi lại cha mẹ thì ắt hẳn gia đình đó bất an. Ông bà ta vẫn thường nói "Cá không ăn muối cá ươn - con cưỡng cha mẹ trăm đường con hư !" để diễn tả lối hành xử giữa cha và con qua hình ảnh của con cá. Điều chắc chắn và ai ai cũng biết đó là con cá, nếu không ướp muối, để ngoài gió lát sau nó sẽ ươn, nó sẽ tanh và hôi vô cùng. Với con cái cũng vậy, khi chúng cưỡng lại lời dạy dỗ của cha mẹ thì chắc chắn nó sẽ dẫn đến con đường của hư vong thôi.

Rộng hơn một chút, trong một gia đình, trong một cộng đoàn chắc chắn phải có người trên, kẻ dưới. Kẻ dưới dĩ nhiên phải vâng phục người cầm đầu của gia đình, của cộng đoàn. Nhìn vào thực tế, chúng ta thấy rất rõ, gia đình, cộng đoàn nào mà bề dưới, con cái không vâng phục thì cha mẹ, bề trên của gia đình, của cộng đoàn ấy khổ sở vô cùng. Cha mẹ, bề trên lúc nào cũng muốn con cái mình tốt nên có những luật này lệ kia. Con cái và bế dưới thì khác, chúng muốn sống trong tự do để rồi không còn biết vâng phục cha mẹ, bề trên là gì cả.

Bài học vâng phục ngày hôm nay, chúng ta được xem lại một cách hết sức rõ ràng, thực tế trong đoạn sách ngắn ngủi mà Giêrêmia để lại cho chúng ta. Giêrêmia được Thiên Chúa chọn làm ngôn sứ, người phát ngôn của Chúa, người đại diện cho Chúa, người thay mặt Chúa nói với dân Chúa những lệnh truyền của Chúa. Thiên Chúa, Ngài vốn dĩ mang trong mình dòng máu của tình yêu thương bao dung và tha thứ. Con người bao nhiêu lần bất tuân lệnh truyền, lẽ ra huỷ bỏ giao ước đã thiết lập nhưng không. Thiên Chúa mãi yêu con người, tạo mọi cơ hội, mọi điều kiện để con người bỏ đường gian ác mà quay về đường ngay nẻo chính. 

Dân Israel đã huỷ bỏ giao ước. Hôm nay, qua miệng của Giêrêmia, Thiên Chúa lập giao ước mới với dân: "Này sẽ đến những ngày - sấm ngôn của Đức Chúa - Ta sẽ lập với nhà Israel và nhà Giuđa một giao ước mới, không giống như giao ước Ta đã lập với cha ông chúng, ngày Ta cầm tay dẫn họ ra khỏi đất Ai-cập; chính chúng đã huỷ bỏ giao ước của Ta, mặc dầu Ta là Chúa Tể của chúng - sấm ngôn của Đức Chúa. Nhưng đây là giao ước Ta sẽ lập với nhà Israel sau những ngày đó - sấm ngôn của Đức Chúa. Ta sẽ ghi vào lòng dạ chúng, sẽ khắc vào tâm khảm chúng Lề Luật của Ta. Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng, còn chúng sẽ là dân của Ta. Chúng sẽ không còn phải dạy bảo nhau, kẻ này nói với người kia: "Hãy học cho biết Đức Chúa", vì hết thảy chúng, từ người nhỏ đến người lớn, sẽ biết Ta - sấm ngôn của Đức Chúa. Ta sẽ tha thứ tội ác cho chúng và không còn nhớ đến lỗi lầm của chúng nữa. Israel sẽ tồn tại mãi (Gr 31, 31-35)

Với Giao Ước Mới, Thiên Chúa hứa là sẽ không nhớ đến lỗi lầm của Israel nữa và Ngài còn hứa Israel sẽ tồn tại mãi mãi.

Thế nhưng, tiếp tục nhìn vào lịch sử Israel, mối tình giữa Israel và Thiên Chúa nó làm sao ấy. Thiên Chúa mãi mãi yêu thương còn dân thì lại cứ bất tuân luật Chúa, không vâng phục lời của Ngài. Dân Chúa ương ngạnh, không vâng phục cho đến nỗi Ngài phải sai chính Con Một của mình đến để dạy do dân bài học vâng phục. Không đơn giản để học bài học vâng phục. Chúng ta thử đặt trường hợp của chúng ta vào Chúa Giêsu chúng ta sẽ cảm thấu được nỗi âu lo, sao xuyến, căng thẳng của một người sắp bước ra pháp trường.

Chúa Giêsu mang trong mình sự giằng co của một con người tự do và một con người vâng phục. Ngài hoàn toàn tự do để lựa chọn sự sống hay cái chết của Ngài. Suy nghĩ lắm chứ ! Đắn đo lắm chứ ! Buồn và đau đớn để rồi Ngài mới thỏ thẻ với Cha mình: "Bây giờ, tâm hồn Thầy xao xuyến ! Thầy biết nói gì đây ? Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này, nhưng chính vì giờ này mà con đã đến (Ga 12, 27)

"Chính vì giờ này con đã đến" ! Phải ! Chính vì cái giờ đau thương, giờ quyết liệt này mà Chúa Giêsu phải đến. 

Tác giả thư Do Thái đã nói với chúng ta điều ấy: 

"Khi còn sống kiếp phàm nhân, Đức Giê-su đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết. Người đã được nhậm lời, vì có lòng tôn kính. Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục; và khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người (Dt 5,7-9).

Để vâng phục không đơn giản, để vượt qua những trở ngại của vâng phục phải trải qua biết bao nhiêu đau khổ nhưng khi vượt qua đau khổ đấy sẽ được đến vinh quang. Thánh Phaolô, trong thư của Ngài gửi tín hữu Philip xác tín với chúng ta về thái độ, về hành động vâng phục của Chúa Giêsu: 

Đức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa
mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa,
nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ,
trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế.
Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự.
Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Ngườivà tặng ban danh hiệu
trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. (Pl 2, 6-9)

Vì sao Thánh Phaolô nhắc tín hữu Philip gương của Chúa Giêsu. Chắc có lẽ trong cộng đoàn Philip lúc bấy giờ có sự đụng chạm, có sự cãi vả nhau nên Thánh Phaolô phải nêu gương vâng phục của Chúa: "Nếu quả thật sự liên kết với Đức Ki-tô đem lại cho chúng ta một niềm an ủi, nếu tình bác ái khích lệ chúng ta, nếu chúng ta được hiệp thông trong Thần Khí, nếu chúng ta sống thân tình và biết cảm thương nhau, thì xin anh em hãy làm cho niềm vui của tôi được trọn vẹn, là hãy có cùng một cảm nghĩ, cùng một lòng mến, cùng một tâm hồn, cùng một ý hướng như nhau. Đừng làm chi vì ganh tị hay vì hư danh, nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình. Mỗi người đừng tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác. Giữa anh em với nhau, anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Ki-tô Giê-su. (Pl 2, 1-5).

Thái độ, hành động vâng phục tuyệt vời của Chúa Giêsu ngày hôm nay quả là bài học quý giá cho mỗi người chúng ta. Hôm nay, chúng ta có cơ hội nhìn lại chính mình. Là linh mục, là tu sĩ, là ông, là bà, là cha, là mẹ, là con, là cháu trong gia đình, chúng ta nhìn lại xem chúng ta có vâng phục giám mục địa phận, bề trên giám tỉnh, bề trên cộng đoàn, ông, bà, cha mẹ của chúng ta hay không ? Nếu chúng ta thật sự vâng phục bề trên, ông bà cha mẹ thì gia đình chúng ta sẽ ấm êm, hạnh phúc.

Các đấng các bậc làm bề trên và làm cha làm mẹ ắt hẳn có kinh nghiệm thực tế về chuyện vâng lời vâng phục của bề dưới, của con cái. Đành biết con người có cá tính, có lý lẽ riêng của mình nhưng vì hạnh phúc chung, vì lợi ích chung của gia đình, của cộng đoàn ta phải cố gắng bỏ đi cái ý riêng, cái lẽ riêng của ta để gia đình, để cộng đoàn được hạnh phúc hơn.

Nhìn lại như vậy để rồi chúng ta cầu nguyện cho nhau để ngày mỗi ngày chúng ta cân chỉnh cuộc đời của chúng ta sống sao vâng phục người trên của chúng ta.

Nguyện xin Chúa Giêsu là thầy dạy vâng phục ban thêm ơn cho chúng ta để chúng ta sống bài học vâng phục như Chúa đã từng vâng phục Cha.

Anmai, CSsR
 

MC5-B100.  GIỜ CON NGƯỜI ĐƯỢC TÔN VINH

Ga 12, 20-33
 

Giờ Con Người được tôn vinh", một chủ đề quan trọng trong Tin mừng Chúa nhật hôm nay, mời: MC5-B100

"Giờ Con Người được tôn vinh", một chủ đề quan trọng trong Tin mừng Chúa nhật hôm nay, mời gọi chúng ta suy chiêm. Chúng ta tìm hiểu xem Chúa Kytô được Tôn vinh như thế nào. Chúa Kytô được tôn vinh.
"Giờ Con Người được tôn vinh", một chủ đề quan trọng trong Tin mừng Chúa nhật hôm nay, mời gọi chúng ta suy chiêm. Chúng ta tìm hiểu xem Chúa Kytô được Tôn vinh như thế nào. Chúa Kytô được tôn vinh. Nhưng ai tôn vinh? 

Trình thuật Tin mừng cho chúng ta thấy, đầu tiên phải kể đến những người Hylạp. Đây là những người không thuộc chủng tộc Dothái, có văn hóa Hylạp, nhưng là những người Hylạp chính gốc có thiện cảm với đạo Dothái hoặc mới theo đạo này. Họ lên Giêrusalem dự lễ Vượt Qua. Chính cuộc hành hương đó là cơ hội thúc đẩy họ ước ao được gặp Chúa. Họ đến với Philipphê -quê ở Bêtxaiđa vốn có tên gọi Hylạp- vì nghĩ rằng ông này có thể làm trung gian cho họ được. Ông Philipphê đi nói với ông Anrê - người cùng quê và có tên Hylạp. Cả hai ông đều đến nói với Chúa. Người Hylạp đến tìm gặp Chúa là dấu chỉ cho thấy GIỜ ơn cứu độ ban tặng cho hết mọi người đã điểm. Chúa Kytô được tôn vinh nơi dân ngoại - những người muốn tìm gặp Chúa vì muốn tìm con đường chân lý, con đường của sự sống đích thực, muốn tìm thấy ánh sáng chiếu soi cho con người. 

Tiếp đến đó là việc Chúa Cha tôn vinh Người Con của mình. Trong cuộc đời Chúa Giêsu, nhiều lần Người được Chúa Cha tôn vinh và được các tác giả tin mừng Nhất lãm nhắc đến như khi Chúa chịu phép rửa (x. Mt 3, 17; Mc 1, 11; Lc 3, 22); rồi lúc Chúa Hiển dung (x. Mt 17, 5; Mc 9, 7; Lc 9, 35). Riêng thánh sử Gioan thì không nhắc những sự kiện trên, nhưng ở đây ngài nhắc tới "tiếng từ trời vọng xuống", đó là tiếng Chúa Cha tôn vinh Chúa Con, tiếng Chúa Cha đoái nghe và chấp nhận lời cầu xin của Chúa Giêsu về việc hiến dâng mạng sống vì thế gian. Chúa Kytô được tôn vinh như thế nào? 

Bằng một ví dụ rất cụ thể, Chúa Giêsu cho thấy một quy luật của sự sống : đó là hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi thì chỉ là hạt lúa trơ trọi một mình, mất hết tác dụng. Nhưng nếu nó chết đi, nó sẽ sinh nhiều bông hạt. Qua hình ảnh sinh động này, Chúa Giêsu cho thấy chính Người là hạt lúa được gieo vào mảnh đất trần gian. Và, cuộc Thương khó và cái chết của Người chính là lúc hạt lúa bị "mục nát, bị hoà tan" để rồi từ trong sự tan biến ấy, sẽ dẫn đưa Người đến sự sống lại. Như thế là, Chúa Kytô được tôn vinh chỉ khi Người trải qua cuộc Khổ nạn, chịu chết và sống lại. Khi đó Người sẽ quy tụ dân Dothái và dân ngoại thành một cộng đoàn đông đảo những người được cứu độ 

Giờ Chúa Kytô được tôn vinh cũng chính là "giờ Người được giương cao lên khỏi mặt đất". Đó chính là lúc Người được nâng cao trên thập giá, tức là giờ Người chịu khổ hình; đồng thời cũng là lúc Người được đưa lên trời sau khi sống lại. Giờ Chúa Giêsu được tôn vinh cũng là giờ phán xét của những kẻ chống lại Thiên Chúa, chống lại Chúa Giêsu. Đó là giờ cáo chung của mãnh lực ác thần. 

Người Kytô chúng ta cũng được mời gọi tôn vinh Chúa Giêsu như những người Hylạp xưa tìm cách gặp gỡ Chúa, bằng cách ra sức học hỏi Lời Chúa để biết sống, biết yêu và biết bước đi trong ánh sáng của Chân lý. Chúa Giêsu đã áp dụng ví dụ "Hạt lúa mì" rất cụ thể. "Ai quý mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống ở đời này thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời". Cũng như hạt lúa, chúng ta cũng hãy để cho chính con người mình mục nát và tan biến, vượt qua những ích kỷ thấp hèn để chỉ sống cho Chúa và tha nhân, cho dù phải hy sinh, bị trù dập, hiểu lầm. Có như thế, chúng ta mới xứng đáng là môn đệ của Chúa Kytô, bởi - hơn ai hết, Người cũng từng bị thế gian trù dập, ghen ghét và chịu chết nhục nhã trên Thập giá để mang ơn cứu độ cho trần gian. 

Cái chết của Chúa Kytô trên Thập giá là cửa ngõ bước vào thiên đường vinh quang, trở nên nguồn sống mới cho nhân trần. Xin cho mỗi người chúng ta cũng biết "chết đi" cho công lý và hoà bình, chết đi cho tình yêu, cho hạnh phúc và mưu ích cho phần rỗi của tha nhân. "Chết đi" để được sinh nhiều hoa trái thánh thiện. Chết để được sống- điều xem ra nghịch lý nhưng lại là chân lý tuyệt đối cho những ai đặt niềm tin vào mầu nhiệm Thập giá Đức Kytô.

Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb



 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây