Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 5 MC-B Phần III Bài 101-152: Hạt lúa mì có thối đi thì sinh nhiều

Thứ năm - 15/03/2018 09:49
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 5 MC-B Phần III Bài 101-152: Hạt lúa mì có thối đi thì sinh nhiều hạt
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 5 MC-B Phần III Bài 101-152: Hạt lúa mì có thối đi thì sinh nhiều hạt
MC5-B Phần III Bài 101-152: Hạt lúa mì có thối đi thì sinh nhiều hạt
MC5-B101. GIAO ƯỚC MỚI 2
MC5-B102.  “ĐÃ ĐẾN GIỜ…”. 2
MC5-B103.  GIỜ CON NGƯỜI ĐƯỢC TÔN VINH.. 4
MC5-B104.  SỐNG ĐẸP GIỮA ĐỜI 4
MC5-B105.  TRAO BAN LÀ NHẬN LÃNH.. 6
MC5-B106.  HẠT GIỐNG VÔ SINH HAY HỮU SINH?. 7
MC5-B107.  ĐIỂM TỰA GIÊSU.. 8
MC5-B108. Hạt lúa mì – Lm. Phạm Quốc Hưng. 9
MC5-B109. Giờ của Chúa. 10
MC5-B110: Hạt lúa gieo vào lòng đất 10
MC5-B111: Cho đi thì còn, giữ lại thì mất 11
MC5-B112:  Bây giờ tâm hồn Ta xao xuyến. 14
MC5-B113:  Mùa gặt tươi tốt – Cố Lm. Hồng Phúc. 15
MC5-B114: Hạt lúa mục nát đi mới trổ sinh bông trái 16
MC5-B115: Thuốc bất tử – Lm. Trịnh Ngọc Danh. 17
MC5-B116:  Giờ Con Người được tôn vinh. 18
MC5-B117: Chuyện về con Dơi 19
MC5-B118: Hạt lúa chết đi 20
MC5-B119: VƯỢT QUA SỰ CHẾT ĐỂ VÀO CÕI SỐNG.. 22
MC5-B120:  HẠT LÚA MÌ RƠI VÀO LÒNG ĐẤT…... 25
MC5-B121:  Để được ơn nghĩa Chúa cần chết đi con người tội lỗi 27
MC5-B122:  Cái chết của Chúa Ki-tô là nguồn ơn cứu độ. 28
MC5-B123: Bài chia sẻ Chúa Nhật V mùa chay. 29
MC5-B124: SỰ CHẾT VÀ SỰ SỐNG.. 30
MC5-B125: ĐƯỢC TÔN VINH.. 31
MC5-B126: CHẤP NHẬN MỤC NÁT ĐỂ TRỔ SINH MÙA LÚA MỚI 31
MC5-B127: THỀ HỨA.. 33
MC5-B128: ĐÃ ĐẾN “GIỜ” BƯỚC THEO CHÚA.. 35
MC5-B129:  CHÚA NHẬT 5 MÙA CHAY B.. 36
MC5-B130: Bài giảng lễ thiếu nhi: Chúa Nhật 5 mùa chay, năm B.. 37
MC5-B131: Học hỏi Phúc âm: Chúa nhật 5 Mùa Chay - Năm B.. 39
MC5-B132:  Suy niệm Lời Chúa: Chúa Nhật 5 mùa chay, năm B.. 40
MC5-B133: Hạt giống nảy mầm. 41
MC5-B134: QUY LUẬT CỦA HẠT LÚA MÌ 42
MC5-B135: GIỜ CỦA ĐỨC GIÊSU.. 43
MC5-B136: VINH QUANG NƠI THẬP GIÁ.. 47
MC5-B137: CHÚA GIÊSU LÀ ĐẤNG BAN SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI 51
MC5-B138: TRAO BAN VÀ NHẬN LÃNH.. 52
MC5-B139: CHẾT ĐI ĐỂ ĐƯỢC SỐNG.. 53
MC5-B140: GIỜ CỦA LÒNG THƯƠNG XÓT.. 54
MC5-B141: MỤC NÁT ĐI ĐỂ TRỔ SINH DỒI DÀO BÔNG HẠT.. 56
MC5-B142: HẠT LÚA MÌ CÓ THÚI ĐI 58
MC5-B143: Chính Khi Hiến Thân Là Khi Nhận Lãnh. 59

 

MC5-B101. GIAO ƯỚC MỚI 

Ga 12, 20-33
 

Khi dân Israel còn lang thang trên đường về Đất Hứa, Thiên Chúa đã lập một Giao Ước với dân: MC5-B101

Khi dân Israel còn lang thang trên đường về Đất Hứa, Thiên Chúa đã lập một Giao Ước với dân trên núi Sinai, Ngài hứa sẽ là Thiên Chúa của họ và họ sẽ là dân của Ngài, Thiên Chúa sẽ bảo vệ họ còn họ phải phụng sự một mình Ngài. Thiên Chúa thì luôn trung thành còn dân thì luôn luôn vi phạm Giao Ước, đến nỗi bị mất nước và lưu đầy. Sau này Thiên Chúa hứa sẽ lập một Giao Ước mới (STK.31,31-34), và Giáo Ước mới sẽ là quả tim mới (Đáp Ca), hay đúng hơn là chính cái chết của Chúa Giêsu, một giao ước được viết bằng máu mà bài Tin Mừng của Thánh Gioan 12,20-30 đã tường thuật Chúa Giêsu tiên báo « giờ đã đến » và trong thư Do Thái tác giả cũng coi cái chết của Chúa Giêsu là căn nguyên ơn cứu độ đời đời cho tất cả những ai tùng phục Ngừơi (Dt.5,7-9). 

Giờ mà Chúa Giêsu nói đây chính là thời điểm Người bước lên Thập Giá, là Giao Ước mới. Theo thánh Gioan thì Giờ của Chúa Giêsu là trung tâm điểm của lịch sử Kitô Giáo. Giờ đánh dấu việc Chúa Giêsu hòan tất sứ mạng mạc khải và cứu chuộc nhân loại. Tất cả cuộc sống của Chúa Kitô đều qui hướng về Giờ đó. Cũng từ Giờ đó mà có sự phán xét, sự phân chia ánh sáng và bóng tối. Vì thế việc lương dân xuất hiện và hỏi thăm, làm Chúa Giêsu biết rằng giờ Người mong chờ thực sự đã đến và được nói bằng kiểu nói « giờ đã đến », giờ đã đến để Con Người được tôn vinh (c.33). 

Cần phải có giờ để có thể bắt đầu có niềm tin xác thực vào Đức Kitô hằng sống. Lời yêu cầu của dân ngoại cũng là một cử chỉ đón rước đầy rực rỡ dành cho Chúa Giêsu, thế nên Người rất vui lòng tiếp nhận và trả lời rằng chỉ khi nào Đức Kitô đi qua cuộc khổ nạn, trở thành vật hiến tế thì họ sẽ được thấy Đức Kitô « khi nào Ta được treo lên Ta sẽ kéo mọi người lên với Ta »(c.32). Chúa Giêsu kéo con người lên vì lúc ấy mọi tương giao giữa con người và Thiên Chúa được thông suốt. Như thế mỗi người chúng ta có đi theo Đức Giêsu trên con đường Thập Giá thì mới đến được chỗ Đức Giêsu, mới tiếp nhận được Giao Ước mới. 

Bản chất của Giao Ước mới là máu, là đau khổ « phải qua đau khổ mới tới vinh quang ». Đây là tương quan tự nhiên, tương quan tất yếu, thuộc bản chất không thể khác được. Chúa Giêsu đưa ra hình ảnh hạt lúa mì gieo xuống đất phải mục nát đi mới sinh nhiều bông hạt. Hạt lúa mì mục nát chính là việc Chúa Giêsu phải đi qua cái chết. Bông hạt là tất cả các dân tộc, sẽ trở thành những tín hữu của Chúa, được hưởng ơn cứu độ của Chúa. Mỗi ngừoi chúng ta có đi theo Đức Giêsu trên con đường Thập Giá thì mới đến được chỗ Đức Giêsu ở và mới được tôn vinh như Người. Chúa Giêsu đã biến cuộc tử nạn nên lời tôn vinh Thiên Chúa và lời yêu thương con người « chính vì thế mà Con đến trong giờ này » (c.27). Chính giờ Đức Giêsu gục đầu tắt thở thì cây Thập Giá trổ bông cứu rỗi. Cũng vậy khi người Kitô hữu chúng ta hiến dâng cái chết như lời tạ ơn cao đẹp thì hoa nhân ái sẽ trổ hoa Thiên Đang. 

Tuy nhiên nên nhớ rằng không phải bất cứ đau khổ nào cũng đưa tới vinh quang, cái chết nào cũng đưa tới sự sống. Đau khổ và cái chết phải gắn với Giờ của Đức Kitô, phải thi hành Giao Ước mới của Ngừơi đã ký kết, phải làm cho tính kiêu căng chết đi thì mới có hành vi khiêm tốn, phải làm cho tính hung bạo chết đi thì hành vi dịu dàng mới phát sinh, phải làm cho tính ích kỷ chết đi thì hành vi yêu thương mới xuất hiện và con người tội lỗi phải chết đi thì con người đích thực được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa mới sống mạnh. 

Lạy Chúa xin cho chúng con biết tự hủy, và mục nát qua đời sống đau khổ, hi sinh, từ bỏ ý riêng để sống theo Ý Chúa, biết xóa mình đi để chúng con sẽ trở nên như những hạt lúa trổ bông, đem an vui cho mọi người và góp phần vào sứ mệnh làm rạng Danh Chúa và mưu ích cho các linh hồn.

Sr Mai An Linh, OP (Nguồn vietcatholic.org)
 

MC5-B102.  “ĐÃ ĐẾN GIỜ…”

PM. Cao Huy Hoàng
“Đã đến giờ Con Người dược tôn vinh”(Ga 12, 23)
 

Giờ Con Người được Thiên Chúa Cha tôn vinh là giờ Đức Giêsu Kitô chịu chết trên thánh giá: MC5-B102

Giờ Con Người được Thiên Chúa Cha tôn vinh là giờ Đức Giêsu Kitô chịu chết trên thánh giá làm lễ vật toàn thiêu đền thay cho tội lỗi nhân loại.
Ngài đã tự nhận mình là “hạt lúa mì” do lòng yêu thương của Cha từ trời gieo xuống thế gian này, gieo xuống thửa ruộng cuộc đời, để trở nên hư thối đi, mục nát đi và trổ sinh muôn bông hạt. Bởi vậy, hạt lúa mì không giữ lại cho mình dáng vẻ no tròn xinh xắn của hạt lúa, mà bằng lòng chập nhận vùi chôn trong đất để mục nát đi, để biến đổi thành hạt mầm của sự sống mới.
Ngài muốn nói đến cái chết của Ngài cũng giống y như cái chết của mỗi con người trần gian và cũng được chôn trong lòng đất, trong mộ đá. Nhưng khác với cái chết của người trần gian trước đó, vì Ngài đã sống lại, như hạt lúa mì trổ bông, trổ bông ơn cứu rỗi.
Mỗi tín hữu, là những người đã cùng sống, cùng chết với Chúa Kitô, trong Chúa Kitô và bằng chính sức sống, sự chết của Chúa Kitô chắc chắn cũng sẽ được Thiên Chúa Cha tôn vinh. Bởi vì, sự sống lại của Chúa Giêsu là ơn cứu chuộc cho những ai sống thân phận hạt lúa mì như Ngài “Ai phụng sự Ta, hãy theo Ta, và Ta ở đâu, thì kẻ phụng sự Ta cũng sẽ ở đó. Ai phụng sự Ta, Cha Ta sẽ tôn vinh nó”(Ga 12,26)
Vâng, “Ta ở đâu, thì kẻ phụng sự Ta cũng sẽ ở đó” là niềm tin, niềm hy vọng luôn thôi thúc các tín hữu Chúa sống kiếp sống hạt lúa mì: sống vì sự sống của người khác.
Có những hạt lúa mì đang hư thối đi, mục nát đi từng ngày từng ngày trên mọi thửa ruộng đời, trong mọi hoàn cảnh sống để trổ sinh bông hạt là cơm áo gạo tiền học phí cho con ăn học thành người, và thành con cái ngoan ngoãn của Thiên Chúa.
Tôi bỗng nhớ, có một lần đón xe trước cổng nhà thờ Hòa Nghĩa, Cam Lâm đi Phan Thiết, một chị bán vé số ốm yếu mời tôi mua vé số. Tôi từ chối. Qua một vài câu trao đổi, mới hay chị là mẹ của một linh mục, hình như linh mục dòng SVD. Lên xe, tôi gọi điện thoại về cho mấy người bạn ở Hòa Nghĩa, mới hay, quả thật, chị đã bán vé số từ ngày linh mục SVD kia hãy còn nhỏ, chưa đi học, và cho đến nay, linh mục ấy đã chịu chức được năm bảy năm rồi.
Và còn biết bao nhiêu hình ảnh những ông bà cố cả đời với xe cháo lòng, cả đời với nghề hủ tiếu gõ, cả đời với con trâu ruộng lúa…. Còn biết bao hình ảnh hạt lúa mì của những người làm cha làm mẹ đang héo úa dung nhan, tàn tạ đời mình, mục nát cả kiếp người để trổ sinh mầm tương lai cho con cái, nên người và nên con người của Thiên Chúa.
Không chỉ cho mình, cho gia đình mình, mà còn cho mọi người cho xã hội, có muôn vàn hạt lúa mì âm thầm mục nát đi: Hình ảnh của những người quét đường phố đêm đêm, những người phu xe chở rác, những bác sĩ mất ngủ bên bệnh nhân, những người tận tụy phục vụ những người phung cùi…
Cách đây vài tuần, tôi nhận được điện thoại của một linh mục lớp đàn anh tôi ở Nha Trang, hỏi thăm chuyện tôi đau khớp gối thế nào rồi. Tôi trả lời chưa ổn. Cha bất ngờ kể rằng: “Lúc nhỏ, khi mình chưa vào nhà trường, cha của mình bị bắt rồi ở tù tận Nghệ An. Đến khi được ra trại, ông bị đau cả hai khớp gối. Lết từ Nghệ An đến Quảng Bình, rồi về Quảng Trị là về đến nhà mà không ai hay biết trên đường về ông cụ phải vừa lết vừa xin ăn ròng rã sáu tháng. Sau đó ông cụ dùng cao khỉ mà chữa được bệnh khớp gối. Hoàng nghiên cứu vụ cao khỉ xem sao”.
Từ nhiệt tình với anh em mà linh mục ấy không ngại kể về quá khứ của Cha mình, của một ông cố đã từng ăn xin để sống qua ngày trên đường về với vợ con. Thật đáng ngưỡng mộ những hạt lúa mì theo gương Hạt Lúa Mì Chúa Giêsu.
Kitô hữu Việt Nam hôm nay, hẳn phải biết mình đã được sinh ra và lớn lên nhờ những hy sinh cực kỳ gian khổ đến mức lụi tàn của ông bà cha mẹ, được trở nên con cái Chúa và Hội Thánh nhờ máu Các Thánh Tử Đạo Cha Ông chúng ta - không chỉ 117 Hạt Lúa Mì ưu tuyển , mà còn trên 130.000, hoặc nhiều hơn nữa, nhiều hơn nữa, mà tôi tin là có cả sự tử đạo vô danh của cha mẹ mình.
Như vậy, nếu đã biết mình được lớn lên nhờ những hạt lúa mì bằng lòng hư thối đi, thì chắc hẳn, các linh mục, tu sĩ và cả giáo dân của thế hệ kế thừa, thế hệ bông hạt, sẽ phải là những người nối tiếp truyền thống đạo đức, nối tiếp con đường “phụng sự Thiên Chúa” của cha ông, có nghĩa là cũng sẽ phải trở nên hạt lúa mì mới, chịu hư thối đi để trổ sinh muôn bông hạt vàng cho Thiên Chúa.
Hơn nữa, qua bí tích Rửa tội, mỗi tín hữu đã được tháp nhập vào chính thân thể Chúa Giêsu Kitô, Hạt Lúa Mì của Thiên Chúa Cha, đồng nghĩa với việc sống bằng sức sống của Chúa Kitô, đi theo con đường Chúa Kitô là phải chấp nhận từ bỏ con người mình đi, mà hiến thân cho mọi người.
Và nếu không tiếp tục làm một hạt lúa mì chịu hư thối đi để trổ sinh muôn bông hạt vàng cho Nước Chúa, hẳn là chúng ta không những phạm trọng tội đối với Thập Giá Chúa Giêsu, mà còn lỗi chữ hiếu với các tiền nhân anh dũng.
Hôm qua, 22-2-2012, lễ Cung hiến và Làm phép Bàn Thờ Thánh Đường Hà Văn, tôi nghe một câu nói đùa của anh Sơn, bạn Cha sở: “Cha sở thì tai biến mới khỏi, nói chưa được thành lời. Hội đồng thật nhiệt tình lo các việc. Nhưng có lẽ đáng kể nhất là các Dì Mến Thánh Giá. Các Dì nhận lo nhiều việc. Tội nghiệp, có lẽ nên đổi lại là các Dì “Dòng Vác Thánh Giá” thì đúng hơn. Mến mà không vác thì cũng chẳng ăn thua gì”.
Vâng, cũng vậy, mỗi tín hữu hẳn phải xác tín một lần cho trọn đời rằng: chúng ta phải vác thập giá mình, là bằng lòng chịu chết cái tôi, cái con người mình đi, để trở nên gương sáng đạo đức là giống Chúa Giêsu Kitô hơn nữa, tỏa sáng mọi người vinh quang của Chúa Giêsu Kitô, của Thiên Chúa.
Vinh quang ấy, ý nghĩa ấy ở nơi cuộc sống bằng lòng hiến thân cho mọi người, bằng lòng chết đi mỗi ngày. Thực ra, Thiên Chúa công bằng nhưng Ngài còn yêu thương đến mức chúng ta chưa kịp làm cho vinh quang Thiên Chúa, thì những người hy sinh hiến thân cho Thiên Chúa như hạt lúa mì chịu hư thối đi, đã được Ngài tôn vinh bằng sự phục sinh vĩnh cửu, như một ơn huệ nhưng không.
Thiết nghĩ, đời sống của một Kitô hữu, lúc nào cũng là lúc “Đã đến giờ…” chúng ta cũng phải chịu chết vì phần rỗi của chúng ta và của mọi người.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết từ bỏ mình đi, từ bỏ cái tôi, hy sinh sự sống, danh dự, tiền bạc, sức lực, thời gian với ý nguyện cùng Chúa vác thánh giá, cùng Chúa chết đi cho muôn con người được ơn sống và sống lại. Xin Lời này của Chúa Giêsu luôn hướng dẫn đời sống trần thế của chúng con: “Ai yêu sự sống mình thì sẽ mất, và ai ghét sự sống mình ở đời này, thì sẽ giữ được nó cho sự sống đời đời. Ai phụng sự Ta, hãy theo Ta, và Ta ở đâu, thì kẻ phụng sự Ta cũng sẽ ở đó. Ai phụng sự Ta, Cha Ta sẽ tôn vinh nó” (Ga 12, 25-26).  A men
PM. Cao Huy Hoàng, 23-3-2012
 

MC5-B103.  GIỜ CON NGƯỜI ĐƯỢC TÔN VINH

Lm Gioan Nguyễn Văn Ty SDB
 

Khi nào thì Con Người thật sự được tôn vinh? Tôi đặt câu hỏi này vì không ít lần được nghe: MC5-B103

Khi nào thì Con Người thật sự được tôn vinh? Tôi đặt câu hỏi này vì không ít lần được nghe giải thích rằng giờ phút vinh quang của đức Giê-su chính là khi người phục sinh vinh hiển. Người ta sẽ chú giải câu “nếu chết đi, hạt lúa mới sinh được nhiều hạt khác” như sau: ‘Chúa Giê-su để di thể của Người chôn vùi trong lòng đất, để khi ra khỏi mồ, chính thân thể đã được vinh quang ấy sẽ là tụ điểm của tất cả mọi người tín hữu (Chú giải Ga 12,24 trong Christian Community Bible). Hay câu nói quen thuộc vẫn thường được nghe nhắc đi nhắc lại ‘Qua thập giá tới vinh quang – Per Crucen ad Lucem’. Cái chết của Đức Ki-tô trên thập giá chỉ là phương tiện, là con đường đưa tới vinh quang, chứ tự nó chẳng vinh quang chút nào hết, toàn là đau đớn và nhuốc khổ! Nói như thế quả là hợp lý và dễ được người bình dân chấp nhận. Tuy nhiên hình như đó không phải là điều đức Giê-su muốn xác quyết. Đọc kĩ một chút Tin Mừng Gio-an chương 12 ta nhận ra ngay: đức Giê-su công khai khảng định: chính giờ chết thập giá, khi Con Người được ‘gương cao lên khỏi đất… là lúc ngài được tôn vinh’.
          Tại sao thời điểm chịu chết lại là giờ phút tôn vinh? Không có cách nào lý giải! “Bây giờ tâm hồn Thầy xao xuyến! Lạy Cha xin cứu con khỏi giờ này!” Trong tư cách người phàm, đức Giê-su đã quằn quoại trước giờ tử nạn. Các thánh sử không hề che đậy điều này, “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được” (Mc 14,34), ‘Lòng xao xuyến bồi hồi… Và mồ hôi Người như những giọt máu rơi xuống đất’ (Lc 22,44)  Thế thì lẽ nào cái giờ phút kinh hoàng tột độ đó mà chính Người cũng mong trốn thoát, lại có thể được đức Giê-su coi như thời điểm mình ‘được tôn vinh’? Và không chỉ riêng Người, đó còn là giờ phút cả Chúa Cha cũng được tôn vinh nữa, ‘Lạy Cha, xin tôn vinh danh Cha… Bấy giờ có tiếng phán từ trời vọng xuống: “Ta đã tôn vinh danh Ta, Ta sẽ còn tôn vinh nữa”.
          Nhiều người cho rằng đó chỉ là một kiểu nói, một lối diễn tả bóng bảy. Nếu thế thì chẳng có gì đáng bàn. Tác giả Gio-an lồng tuyên bố mạc khải này trong một khung cảnh trang trọng hiếm thấy: một số người Hy Lạp yêu cầu được gặp Giê-su qua trung gian các môn đệ Phi-líp-phê và An-rê. Họ chân thành muốn tìm hiểu Thầy Giê-su. Câu tuyên bố họ nhận được quả là một cú sốc, như mà sau này Phao-lô nhận xét: “… người Hy-lạp tìm kiếm lẽ không ngoan… sẽ cho là điên rồ”. Và rồi chính Phao-lô tiếp tục mạnh dạn khảng định: “Nhưng đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi, dù là Do Thái hay Hy Lạp, Đấng Ki-tô chịu đóng đinh ấy, chính là sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa…” (1 Cr 1,23-24)
          Như vậy Ki-tô hữu không phải là người lên tiếng khảng định ‘per Crucem ad lucem’, mà phải là những người có khả năng xác quyết với niềm thâm tín thâm sâu nhất ‘Crux est lux – Thập giá chính là vinh quang’. Như môn đệ Gio-an, khi ngước nhìn thập giá, họ nhận rõ một điều ‘Thiên Chúa là tình yêu… Chúa Cha yêu thế gian đến nỗi’. Nơi thập giá mỗi Ki-tô hữu nhìn thấy vinh quang Thiên Chúa Tình Yêu rạng ngời, “chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật” (Ga 1,14). Gio-an đã coi chứng từ thập giá là quan trọng hơn hết trong niềm tin của mình: “người xem thấy việc này đã làm chứng, và chứng của người ấy xác thật. và người ấy biết mình nói sự thật để cho cả anh em nữa cũng tin” (Ga 19,35). Chưa nhận ra được vinh quang Thiên Chúa nơi thập giá thì cũng chưa thể nói là mình đã tin chắc Thiên Chúa là tình yêu. Vì đây chính là mạc khải độc nhất vô nhị đức Giê-su đến trần gian để khai mở. Thế nên Người gọi giờ thập giá là “giờ Con Người được tôn vinh… và chính vì giờ này mà con đã đến”. Giờ phút quan trọng nhất đời Người là ‘khi được giương cao lên khỏi mặt đất’ (‘ám chỉ Người phải chết cách nào’) vì chính lúc đó ‘tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi’, chứ không phải lúc sống lại ra khỏi mồ. Như vậy niềm tin Ki-tô hữu trước hết và trên hết phải là niềm tin Thập giá, trước khi là niềm tin phục sinh, vì phục sinh, xét cho cùng, cũng chỉ là Thập Giá tình yêu chiến thắng. Ave Crux Gloria!
          Lạy đức Giê-su giương cao trên thập giá, con tôn thờ Thánh giá Chúa, con suy tôn Thiên Chúa vinh quang của tự hiến, xót thương và cứu độ. Xin cho con có khả năng luôn đọc được nơi thập giá Chúa chịu đóng đinh một chữ T và chữ Y sáng ngời, một Tinh Yêu vinh quang; sáng ngời và vinh quang không phải cho ai khác mà là cho chính sự thấp hèn của con. Càng nhìn nhận mình tội lỗi yếu hèn, hình như con lại càng có khả năng nhận ra vinh quang sáng chói của thập giá. Xin Chúa hằng gia tăng nơi con khả năng của niềm tin sống động này, bây giờ và nhất là trong giờ lâm tử. Amen
Lm Gioan Nguyễn Văn Ty SDB
 

MC5-B104.  SỐNG ĐẸP GIỮA ĐỜI

Lm.Jos Tạ Duy Tuyền
 

Người xưa thường đề cao lối sống của người quân tử. Người quân tử thấy chuyện bất bình: MC5-B104. 

Người xưa thường đề cao lối sống của người quân tử. Người quân tử thấy chuyện bất bình thường ra tay cứu giúp. Người quân tử luôn sống hào hiệp, sống vì đại nghĩa nên hy sinh bản thân. Thế nhưng, con người ngày nay lại an phận thủ thường. Người ta ngại hy sinh cho người khác. Người ta sợ “mang hoạ vào thân”. Người ta tìm an nhàn cho bản thân nên chẳng dại gì “ăn cơm nhà đi vác tù và hàng tổng”. Xem ra lối sống của người quân tử thấy chuyện bất bình ra tay giúp đỡ chỉ còn trên trang giấy học trò. Lối sống ấy đã mất dần trong thời đại hôm nay.
Người ta kể rằng: Ở bên Trung Quốc, có một chiếc xe bus chở đầy khách đang chạy trên đường đồi. Trên xe, ba thằng du côn có vũ khí để mắt tới cô tài xế xinh đẹp. Chúng bắt cô dừng xe và muốn “vui vẻ” với cô. Tất nhiên là cô tài xế kêu cứu, nhưng tất cả hành khách trên xe chỉ đáp lại bằng sự im lặng.
Lúc ấy một người đàn ông trung niên nom yếu ớt tiến lên yêu cầu ba tên du côn dừng tay, nhưng ông đã bị chúng đánh đập. Ông rất giận dữ và lớn tiếng kêu gọi các hành khách khác ngăn hành động man rợ kia lại nhưng chẳng ai hưởng ứng. Và cô lái xe bị ba tên côn đồ lôi vào bụi rậm bên đường.
Một giờ sau, ba tên du côn và cô tài xế tơi tả trở về xe để tiếp tục lên đường…
- “Này ông kia, ông xuống xe đi!” cô tài xế la lên với người đàn ông vừa tìm cách giúp mình.
Người đàn ông sững sờ, nói:
- “Cô làm sao thế? Tôi mới vừa tìm cách cứu cô, tôi làm thế là sai à?”
Cô gái nhăn mặt nói: “Nếu ông không xuống, xe sẽ không chạy.”
Điều bất ngờ là hành khách, vốn lờ lảng hành động man rợ mới đây của bọn du côn, bỗng nhao nhao đồng lòng yêu cầu người đàn ông xuống xe. Thậm chí một vài hành khách khỏe hơn đã lôi người đàn ông xuống xe.
Chiếc xe bus lại khởi tiếp hành trình. Cô lái xe vuốt lại tóc tai và vặn radio lên hết cỡ. Xe lên đến đỉnh đồi và ngoặt một cái chuẩn bị xuống đồi. Phía tay phải xe là một vực thẳm sâu hun hút.
Tốc độ của xe bus tăng dần. Gương mặt cô lái xe bình thản, hai bàn tay giữ chặt vô lăng. Nước mắt trào ra trong hai mắt cô.
Một tên du côn nhận thấy có gì không ổn, hắn nói với cô tài xế :
- “Chạy chậm thôi, cô định làm gì thế hả?”
Cô tài xế không nói tiếng nào nhưng xe chạy ngày càng nhanh hơn. Tên du côn tìm cách giằng lấy vô lăng, nhưng chiếc xe bus lao ra ngoài, rơi xuống vực như mũi tên bật khỏi cây cung.
Hôm sau, báo địa phương loan tin một tai nạn bi thảm xảy ra ở vùng “Phục Hổ Sơn”. Một chiếc xe cỡ trung rơi xuống vực, tài xế và 13 hành khách đều thiệt mạng.
Trong thành phố, có một người đàn ông đọc bản tin trên báo đã khóc!
Quả thực, con người ngày xưa khi thấy chuyện bất bình, người ta thường lăn xả để hoà giải cho nhau, nhưng xem ra hôm nay, ít ai dám can thiệp vào chuyện người khác. Ít ai dám xông pha để bảo vệ kẻ yếu đang bị ức hiếp. Người ta ngại dấn thân vào chuyện của người khác. Xem ra con người ngày nay thường có xu hướng ích kỷ, chỉ lo cho bản thân mình nhiều hơn là cho đồng loại. Con người ngày nay thích an nhàn nên ngại hy sinh”.
Thế mà, hôm nay Chúa Giê-su lại bảo: “kẻ nào giữ mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai chịu chịu từ bỏ cuối cùng sẽ được lại”. Đó là chân lý, là định luật tất yếu  của cuộc đời. Nếu thế giới này không có những con người dám quên đi bản thân thì làm sao có những phát minh khoa học, làm sao có những kỳ quan để lại cho đời sau? Có lẽ thế giới hôm nay sẽ thiệt hại biết bao, nếu không có những người dám quên đi sự an nhàn cá nhân, sự yên vui vị kỷ, những lợi lộc cá nhân để sống vỉ lợi ích tha nhân! Thế giới này đang mắc nợ những con người đã tận tuỵ làm việc quên mình để xây dựng thế giới mỗi ngày một tốt đẹp hơn. Thế giới hôm nay rất cần những con người quân tử để cuộc đời được phong phú và yên vui hơn.
Chính Chúa Giê-su, Ngài đã sống điều đó. Ngài đã đi qua đau khổ để tiến tới vinh quang. Ngài đã trở nên bất diệt khi Ngài trở thành hạt lúa chịu nghiền nát để trổ sinh muôn vàn bông lúa. Ngài đã trở nên vĩ đại khi Ngài dám chết vì bạn hữu. Thực vậy, người vĩ đại trong cuộc đời chúng ta không phải là những người nổi tiếng, không phải là các ngôi sao điện ảnh hay ca nhạc mà là chính những người đang hy sinh vì chúng ta. Họ là những người cha “chân lấm tay bùn” đang đổ mồ hôi nơi nương đồng, đang miệt mài nơi công trường. Họ là những người mẹ đang lặn lội ngược xuôi nơi bến chợ, đang hao gầy vì đàn con. Họ là những người anh, người chị đang bôn ba đó đây để bòn nhặt từng đồng tiền để phụ giúp gia đình. Đó là những con người cao cả, là những hạt lúa miến đang chịu nghiền nát vì tha nhân để trở thành tấm bánh cho anh em. Đó là những con người dám quên đi niềm vui riêng của bản thân để lo cái lo của đồng loại, để sống có ích cho tha nhân.
Nhưng thật đáng tiếc! Ý niệm phục vụ tha nhân. Ý niệm sống vì người khác đang mất dần trong thế giới hôm nay. Người ta đang lo cho bản thân. Người ta đang chạy theo danh lợi thú để thoả mãn nhu cầu của chính mình. Có mấy ai dám quên mình để sống cho thân nhân? Có mấy ai chịu nghiền nát đời mình để đem lại niềm vui cho tha nhân?
Thiết tưởng, mùa chay là mùa mời gọi chúng ta hãy sống cao đẹp hơn. Hãy hy sinh niềm vui của mình, những đam mê sở thích của mình để đem lại niềm vui cho những người chúng ta yêu mến. Thiết tưởng mùa chay là mùa mời gọi chúng ta hãy sống đúng với phẩm giá làm người của mình là biết sống vì hạnh phúc tha nhân. Chúa đã tạo dựng Eva vì niềm vui của Adam. Chúa cũng tạo dựng chúng ta vì niềm vui của thân nhân. Xin Chúa là Đấng đã chết cho người mình yêu, giúp chúng ta biết quảng đại hy sinh để kiến tạo niềm vui và hạnh phúc cho nhau. Amen
Lm.Jos Tạ Duy Tuyền
 

MC5-B105.  TRAO BAN LÀ NHẬN LÃNH

Lm. Inhaxiô Trần Ngà
 

Người đời thường nghĩ rằng: cho đi là mất. Họ tưởng rằng cho người khác một số tiền, một tài: MC5-B105

Người đời thường nghĩ rằng: cho đi là mất. Họ tưởng rằng cho người khác một số tiền, một tài sản nào đó… thì họ sẽ bị mất mát, thiệt thòi. Thế nên lắm kẻ chủ trương rằng tốt nhất là đừng dại dột đem cho mà hãy khư khư giữ lấy cho mình. Tư duy nầy sẽ hình thành nơi ta một con người ích kỷ, chỉ chăm lo cho bản thân mà không quan tâm trợ giúp người khác.
Đây là một tư duy sai lầm, tai hại. Trái với chủ trương vị kỷ nầy, Chúa Giê-su dạy sống vị tha, biết xả thân cho người khác.
Cho đi thì còn, giữ lại là mất; chính lúc trao ban là lúc nhận lãnh.
Để làm rõ sự thật nầy, Chúa Giê-su dạy: “Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác.”
Quả vậy. Hạt lúa nào cố tự bảo vệ sự nguyên vẹn của mình thì hạt lúa đó sẽ dần dần bị hư mốc, rốt cuộc chẳng còn gì; còn hạt lúa nào chấp nhận bị phân huỷ dưới bùn đất thì sẽ đâm mầm, mọc thành cây, nở thành bụi và sẽ trổ hoa kết hạt dồi dào: từ một hạt sẽ biến thành trăm hạt khác.
Từ đó, Chúa Giê-su dạy rằng cuộc sống của con người ở đời nầy cũng như thế: “Ai yêu quý mạng sống mình (tự bảo toàn mình như hạt lúa trong kho) thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này (sống xả thân như hạt lúa chịu phân huỷ trong lòng đất) thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời.”
Khi nói: “coi thường mạng sống mình ở đời nầy”, Chúa Giê-su không có ý dạy chúng ta coi rẻ mạng sống, nhưng là mời gọi chúng ta sẵn lòng chấp nhận xả thân phụng sự Chúa và phục vụ tha nhân. Làm như thế không phải là thiệt thòi mất mát nhưng là cách để triển nở dồi dào phong phú.
Minh hoạ sau đây chứng tỏ sự thật nầy:
Tôi có hai cánh tay, hai cánh tay cùng thuộc về thân mình tôi nhưng mỗi cánh tay lại có một nếp sống khác nhau, một chủ trương khác nhau. Cánh tay trái của tôi theo chủ nghĩa vị kỷ, còn cánh tay phải theo chủ nghĩa vị tha.
Vì theo chủ nghĩa vị kỷ, luôn luôn quy về mình, nên tay trái của tôi rất ít tham gia vào công việc chung mà cứ để cho tay phải đảm đương mọi việc. Khi ăn cơm, tay trái dành cho tay phải cầm đũa. Khi viết bài, tay trái dành cho tay phải cầm bút. Khi cầm búa đóng đinh hay cầm cây kim may áo, nó chẳng chịu tham gia mà nhường cho tay phải làm hết.
Hậu quả của thói ích kỷ nầy là nó trở nên yếu đuối và thua kém tay phải trong mọi việc. Nếu tổ chức một cuộc thi giữa hai cánh tay thì khi thi viết, tay phải viết nhanh, viết đẹp, viết rõ ràng nên được điểm 10, còn tay trái viết chậm, nguệch ngoạc như mèo cào, như gà bới, nên không được điểm nào.
Khi thi đóng đinh thì tay phải đóng đinh nhanh gọn, chính xác; còn tay trái đóng trật lất. Khi thi may vá thêu thùa thì tay phải may nhanh, thêu đẹp; còn tay trái thì lóng ngóng chẳng làm được việc gì. Nói tóm lại, dù thi bất cứ môn gì, tay phải cũng dành được điểm mười còn tay trái chỉ được số không!
Cả hai cánh tay phải và trái đều thuộc về thân mình tôi, cùng được chăm sóc, nuôi dưỡng như nhau, thế mà tay trái vì theo thói ích kỷ, chẳng bao giờ muốn hi sinh phục vụ toàn thân, chẳng dấn thân chăm lo cho người khác, nên nó trở nên yếu đuối và thua kém trong mọi lĩnh vực. Trong khi đó, vì tay phải theo chủ nghĩa vị tha, luôn chấp nhận đảm đương mọi công việc nặng nề khó nhọc, lúc nào cũng sẵn sàng hi sinh phục vụ toàn thân và phục vụ nhiều người … nên nó mạnh mẽ hơn, khéo léo hơn, tài giỏi hơn, vượt xa tay trái về mọi mặt.
Nhờ tự huỷ mình đi như hạt lúa, Chúa Giê-su được Thiên Chúa Cha tôn vinh.
Cuộc đời của Đức Giê-su là một minh chứng cho chân lý nầy. Người là Một Hạt Lúa chấp nhận tự huỷ đi. Dù là Thiên Chúa thật đồng hàng với Chúa Cha nhưng Người đã không đòi cho được đồng hàng với Thiên Chúa Cha, trái lại Người đã hủy mình ra không, mang lấy thân phận giòn mỏng của kiế#p người, chấp nhận chết ô nhục trên thập giá, chịu mai táng trong lòng đất, để phục vụ và cứu rỗi muôn dân. Nhờ đó, Người được phục sinh vinh quang, được lên trời vinh hiển, được tôn vinh làm vua trên trời dưới đất (Philip2,6-8).
Thánh Phao-lô tóm lược cuộc đời tự huỷ của Chúa Giê-su như sau: Vì chấp nhận tự huỷ như thế, “Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giê-su, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ và …tuyên xưng rằng: "Đức Giê-su Ki-tô là Chúa". (Phi-líp-phê 2, 9-11)
Đón nhận bài học của Chúa Giê-su
Một ngọn nến phải chấp nhận tiêu hao thì mới có thể toả sáng. Một máy bay phải tiêu hao nhiên liệu mới có thể cất cánh. Một vệ tinh, một tàu vũ trụ phải tiêu hao một số năng lượng khổng lồ mới có thể được phóng lên không gian...
Lạy Chúa, xin giúp chúng con biết khôn ngoan chấp nhận hi sinh, sẵn sàng tiêu hao thời giờ, sức khoẻ, trí tuệ, nghị lực để phụng sự Thiên Chúa và phục vụ con người, nhờ đó cuộc đời chúng con sẽ phát triển vạn lần tươi đẹp.
Lm. Inhaxiô Trần Ngà
 

MC5-B106.  HẠT GIỐNG VÔ SINH HAY HỮU SINH?

AM Trần Bình An
“Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất, mà không chết đi, thì nó sẽ trơ trọi một mình; còn nếu chết đi nó mới sinh nhiều hạt khác.”(Ga, 12, 24)
 

Nhưng hỡi ơi, hiện nay, đã xuất hiện loại hạt giống biến đổi gien chỉ sống duy nhất trọn mộ: MC5-B106

Nhưng hỡi ơi, hiện nay, đã xuất hiện loại hạt giống biến đổi gien chỉ sống duy nhất trọn một chu kỳ. Sau khi trồng tỉa, thì sản phẩm thu hoạch được, gọi là hạt thương phẩm, chỉ dùng chế biến tiêu thụ, chứ không thể làm giống được nữa. Vì Công ty phát minh đã cấy vào hạt giống gien vô sinh, có tác dụng hủy diệt mầm sống sau khi đã ra hạt (Terminator Seed). Thậm chí phấn của nó bay qua phối hợp với giống khác, thì giống đó cũng sẽ mang gien vô sinh.
Hơn nữa, hạt giống còn được cấy ghép DNA của một loại vi khuẩn chịu được sức nóng và độc chất của thuốc diệt cỏ cực mạnh. Nhờ dĩ độc trị độc mà cây giống lai tạo ấy hoàn toàn kháng được độc dược ấy.
Rồi Cty đăng ký chủ quyền các loại gống do họ biến đổi gien, và chủ quyền hợp pháp với tất cả vật gì, cây gì có mang DNA của họ, nếu nó di truyền tới đâu, họ cũng có chủ quyền đến đó.
Chẳng thế, mà Cty đó mới công khai hãnh diện: “Ai làm chủ hạt giống sẽ làm chủ thực phẩm, ai làm chủ được thực phẩm sẽ làm chủ thế giới!”
Vừa thâu tóm lợi nhuận kếch xù, vừa có quyền lực chi phối nhu cầu sinh tồn của toàn thiên hạ, thì câu tuyên bố xanh rờn, đầy tham vọng đó chẳng có gì quá đáng. Chỉ đáng buồn cho cả nhân loại đang bị êm ái đầu độc, đẩy vào hố sâu diệt vong vì từ hạt giống vô sinh ấy.
Trở lại huấn dụ của Chúa Giêsu, hạt lúa giống này phải thuần chủng, chắc mẩy, để gieo giống nào thì sẽ gặt giống nấy. Thực vật chịu mục nát để tái sinh mầm giống mới. Nhân thân mỗi người cũng phải lột xác biết bao nhiêu lần, mới trở nên con người trưởng thành hữu dụng. Tâm hồn cũng thế, vượt qua biết bao hoang mạc đầy cám dỗ, mới trong sáng, hướng thượng.
“Ai yêu quý mạng sống của mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống của mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời.”(Ga 12, 25 )
Bước đâu tiên, Chúa Giêsu nâng nhận thức con người lên một tầm cao mới: Sự sống vĩnh cửu, hay tương lai mịt mờ đen tối sau phút lâm chung. Nhãn tiền, đó chính là những thành quả hiện nay từ những giọt máu đào của các Thánh Tử Vì Đạo Việt Nam đã minh chứng hùng hồn, không thể nào phủ nhận.
 “Ai phục vụ Thầy, thì hãy theo Thầy; và thầy ở đâu, thì kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó. Ai phục vụ Thầy, Cha Thầy sẽ quý trọng người ấy.” (Ga 12, 26)
Bước kế tiếp, Chúa Giêsu cụ thể hóa yêu cầu theo Ơn Gọi của Người, cùng phần thưởng dành cho kẻ tuân thủ. Hãy tuân theo giáo lý tình yêu của Người ở bất cứ nơi nào, với bất cứ ai, trong bất cứ hoàn cảnh nào, bới chưng nơi nào Người chẳng hiện diện, người nào chẳng phải hình bóng Người, và môi trường nào dù khắc nghiệt mấy đi nữa cũng chẳng thiếu Người can dự.
Lạy Chúa Giêsu xin mở nhãn quan cho con luôn biết thân phận yếu đuối, biết chết đi những ham muốn, những ý riêng nhỏ nhen, đừng trở nên hạt giống vô sinh,  mà là hạt giống tốt, nảy chồi đâm lộc đến sự sống vĩnh cửu.
Lạy Mẹ dấu yêu, xin giúp con can đảm dập nát hạt giống tội lỗi, để mầm giống Lời Chúa nảy nở, đơm hoa kết trái trong con. Amen.
AM Trần Bình An
 

MC5-B107.  ĐIỂM TỰA GIÊSU

Pio X Lê Hồng Bảo
 

Khi nghe nói có những người Hy Lạp đến tìm gặp Người, Chúa Giêsu đã nói: “Đã đến giờ Con: MC5-B107

Khi nghe nói có những người Hy Lạp đến tìm gặp Người, Chúa Giêsu đã nói: “Đã đến giờ Con Người được tôn vinh!” Phải vậy không? Hiểu theo nghĩa nào đây?
Chúng ta từng biết rằng thời bấy giờ, Hy Lạp đã là một nước có nền văn minh trổi vượt ở vùng Địa Trung Hải với rất nhiều triết gia và các nhà toán học uyên bác như: Thales, Platon, Socrates, Aristoteles, Pythagore… Tuy nhiên, vào thời Chúa Giêsu, họ cũng bị đế quốc La Mã đô hộ. Phải chăng những bộ óc thông thái của Hy Lạp muốn kết hợp với một Rabbi lừng lẫy tiếng tăm của Do Thái để lật đổ ách thống trị? Câu nói lấp lửng của Chúa Giêsu lại càng gợi sự hiếu kỳ của tầng lớp bị trị. Để đánh tan những ngộ nhận có thể có, Chúa Giêsu đã lập tức dùng hình ảnh hạt lúa mì phải mục nát đi mới trổ sinh bông hạt để nói về vinh quang của Chúa. Vinh quang của thứ Năm Tuần Thánh: “Vinh quang của Ta là Thánh giá Chúa Kitô…”, vinh quang mà sự thông minh uyên bác của loài người không sao hiểu thấu, vinh quang bị thế gian cho là điên rồ: “Trong khi người Do-thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hy-lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Ki-tô bị đóng đinh, điều mà người Do-thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ.” (1Cr. 1: 22-23)
Chúa Giêsu vui mừng vì Danh Cha sắp được tôn vinh qua những người Hy Lạp kia, họ chính là chiếc cầu nối để Tin Mừng về Ơn Cứu Độ đến với lương dân. Họ vốn dĩ là những người đa thần và có hẳn một bộ sử thi về các thần trên đỉnh Olympus. Thần của họ có tên có tích hẳn hoi. Họ lý giải các yếu tố thiên nhiên bằng sự tích các thần… Kể cũng buồn cười, một dân tộc văn minh lại đi nhào nặn ra các vị thần với đầy đủ hỉ, nộ, ái, ố và thường ganh tị với con người rồi đặt lên đỉnh Olympus để tôn thờ. Vậy mà dân tộc ấy đã sản sinh ra nhà bác học Archimedes nổi tiếng với câu nói: “Hãy cho tôi một điểm tựa, tôi có thể nhấc bổng cả trái đất”.
Hóa ra, cho dù được xây dựng trên một nền văn minh sáng chói, cho dù sản sinh ra những nhà bác học tài ba, họ vẫn hoang mang vô định vì thiếu một… điểm tựa! Và hôm nay, họ đã tìm đến với Chúa Giêsu. Có lẽ họ chỉ muốn đi tìm kiếm lẽ khôn ngoan như Thánh Phaolô đã nói, nhưng Chúa Giêsu chuẩn bị giới thiệu cho họ một thứ khôn ngoan không xuất phát từ thế gian này.
Tôi chợt nhớ lại câu chuyện hai phi hành gia cùng bay vào vũ trụ đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, một người vô thần và một người rất sùng đạo. Khi trở về trái đất, phóng viên các báo phỏng vấn họ: “Lên trên  ấy, anh có thấy Thiên Chúa không?” Người vô thần trả lời: “Không hề có Chúa hay thần thánh gì trên ấy cả!” Người sùng đạo lại tuyên bố chắc nịch sau một hồi xúc động: “Càng lên cao tôi càng thấy Thiên Chúa vĩ đại và toàn năng qua các kỳ công của Người.”
Vậy đó, cùng một quan chiêm nhưng thiếu điểm tựa Giêsu, tư duy của chúng ta trở nên nghèo nàn biết bao! Để có được điểm tựa Giêsu, chúng ta phải biết quên đi điềm thiêng dấu lạ của người Do thái xưa, gác sang bên những lẽ khôn ngoan mà người Hy Lạp tìm kiếm, để chỉ còn duy nhất một mưu cầu là Danh Chúa được tôn vinh. Có điểm tựa Giêsu, tôi mới sẵn sàng chịu mục nát cho ngày mùa thắng lợi…
Tôi vẫn đọc Kinh Lạy Cha hàng ngày, lời kinh mà chính Chúa Giêsu dạy chúng ta cầu nguyện. Thế nhưng, tâm trí tôi lại cầu xin cho tôi những điều dành cho Chúa:
-         “Nguyện xin cho Danh Cha cả sáng”: Lạy Chúa, những kẻ độc mồm độc miệng kia đang xúc phạm con. Xin Chúa cho chúng nó gặp tai ương như dân Ai cập ngày xưa để chúng sợ mà khôi phục thanh danh cho con.
-         “Xin cho Nước cha trị đến” : Lạy Chúa, dạo này làm ăn khó khăn quá! Con phải “ngắt” của người này một ít, người kia một tẹo thì mới mong… sống nổi. Xin Chúa cho cơ sở của con làm ăn phát đạt để gia đình con được sống công chính hơn.
-         “Xin cho ý Cha thể hiện”: Lạy Chúa, con vì thiện chí mà lên kế hoạch đó mặc dù biết là “rước khổ vào thân”, vậy mà cũng lắm kẻ chống đối. Xin Chúa đừng để những kẻ ganh tị kia được ủng hộ để ý con được thực hiện.
Tôi cũng không hài lòng lắm về “phần” dành cho tôi:
-         “Lương thực hàng ngày” ư? Chúa cho con thêm “chút chút” để dành khi bệnh hoạn, rồi còn phải sắm xe, sửa nhà…
-         “Tha nợ” ư? Chúa tha cho con thôi, nhưng phải cho con đòi được nợ để con sống nữa chứ?
-         “Chớ để con sa chước cám dỗ” ư? Có gì đâu mà nghiêm trọng, “cuộc đời đó có bao lâu mà hững hờ”… Cũng phải biết chút đỉnh kẻo bị chê là cù lần, vẫn còn tòa cáo giải mà!...
-         “Cứu khỏi sự dữ” ư? Chúa cứu con khỏi bệnh tật tai ương là tốt rồi. Còn chuyện buôn bán, làm ăn, hơn thua, thị phi ở đời; con có cách giải quyết của con.
“Các ông tôn vinh lẫn nhau và không tìm kiếm vinh quang phát xuất từ Thiên Chúa duy nhất, thì làm sao các ông có thể tin được?” (Ga. 5: 44)
Lạy Chúa Giêsu, chúng con còn quá lo lắng mọi sự nơi trần thế này chỉ vì chúng con chưa nhận ra Chúa là điểm tựa bền vững duy nhất của chúng con. Chúng con vẫn biết những thứ chúng con đang nắm giữ là phù du, nay còn mai mất; nhưng chúng con lại chỉ đi tìm bảo đảm ở những điềm thiêng dấu lạ, những mưu mô xảo trí, những khôn ngoan uyên bác phàm trần... Xin Chúa cho chúng con biết quên đi những gì của con để chỉ một lòng tôn vinh Danh Chúa là Đấng Cứu Độ chúng con. Amen.
Pio X Lê Hồng Bảo
 

MC5-B108. Hạt lúa mì – Lm. Phạm Quốc Hưng

Thập giá là hình ảnh được dùng nhiều hơn cả để nhắc chúng ta nhớ đến Chúa Giêsu và tình yêu: MC5-B108

Thập giá là hình ảnh được dùng nhiều hơn cả để nhắc chúng ta nhớ đến Chúa Giêsu và tình yêu hy sinh tận tuyệt của Người, cũng như tinh thần mỗi Kitô hữu phải có trong đời sống của mình. Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đưa ra một hình ảnh khác, dù rất đơn sơ bé nhỏ gần gũi nhưng lại giàu ý nghĩa, để diễn tả tâm tư và lối sống của Người. Chúa Giêsu còn chỉ ra đó tất cả một bí quyết hay một quy luật căn bản mà mỗi Kitô hữu phải theo để trở nên giống Người, để đạt đến ơn cứu độ và vinh quang đích thực.
Đó là hình ảnh hạt lúa mì.
Người nói: “Đã đến giờ Con Người được tôn vinh. Quả thật, quả thật, Ta nói với các con: Nếu hạt lúa mì rơi xuống đất mà không thối đi, thì nó chỉ trơ trụi một mình; nhưng nếu nó thối đi, thì nó sinh nhiều bông hạt. Ai yêu sự sống mình thì sẽ mất, và ai ghét sự sống của mình ở đời này, thì sẽ giữ được nó cho sự sống đời đời” (Ga 12:23-25). Chúa Giêsu nói những lời này khi Người sắp bước vào Cuộc Thương Khó. Thật thích hợp khi Giáo Hội cho chúng ta được nghe những lời này một tuần trước Chúa Nhật Thương Khó.
Thánh Sử Gioan chia Tin Mừng của người thành hai phần: sách các dấu chỉ và sách vinh quang. Phần sách các dấu chỉ thuật lại các phép lạ của Chúa Giêsu, và phần sách vinh quang thuật về Cuộc Thương Khó và Phục Sinh của Chúa Giêsu. Thánh nhân muốn cho mọi người nhận biết rất rõ rằng: với Thiên Chúa, với Chúa Giêsu, vinh quang đích thực được thể hiện nơi tình yêu hy sinh phục vụ, tình yêu xả kỷ vị tha, tình yêu thí mạng vì người mình yêu. Và chỉ có tình yêu này mới đem lại sự sống thật, sự sống thần linh, sự sống đời đời.
Đây là một quan niệm khác hẳn lối suy tư tự nhiên của con người. Thật vậy, con người tự nhiên bao giờ cũng sống theo bản năng sinh tồn của mình. Với ảnh hưởng của tội tổ, con người nhiều khi sống theo bản năng rừng rú của mình, sống theo luật rừng: mạnh được yếu thua, mạnh dùng sức yếu dùng mưu, miễn sao đem lại ích lợi cho bản thân mình, miễn sao làm cho mình được sống sung sướng, giàu sang, quyền lực, bất chấp luân thường đạo lý, bất chấp thiệt thòi của người khác.
Đây cũng là một quan niệm đi ngược với sự trông mong của người Do thái về “Con Người”, về Đấng Thiên Sai, Đấng Mêsia. Họ nghĩ Đấng Mêsia phải là một lãnh tụ chính trị đầy tài năng và quyền uy, và dùng tài năng và quyền uy của mình để đánh đuổi ngoại bang, chinh phục các dân tộc lân bang, đem lại vẻ vang cho dân tộc được tuyển chọn.
Trong Tin Mừng Gioan, mầu nhiệm nhập thể được đặt làm nền tảng cho toàn bộ công cuộc cứu độ. Sự hiệp nhất giữa thần tính và nhân tính của Ngôi Lời Nhập Thể được diễn tả cách tuyệt vời: Cuộc Khổ Nạn với bao đau thương nhục nhã của Thập Giá bao giờ cũng gắn liền với Cuộc Phục Sinh đầy ánh sáng vinh quang. Vì vậy, khi Chúa Giêsu bắt đầu bước vào Cuộc Khổ Nạn, thì cũng là lúc Người bắt đầu bước vào Vinh Quang hay bắt đầu bày tỏ vinh quang đích thực của Người.
Với Chúa Giêsu, giờ của Chúa là giờ của Cuộc Thương Khó, giây phút vinh quang là giây phút chịu khổ nạn trên thập giá. Với thế gian, thập giá là hình cụ ghê sợ và nhục nhã nhất để trừng phạt những người tử tội. Chúa Giêsu đã biến thập giá thành Thánh Giá, và Thập Giá của Chúa Giêsu chính là Ngôi Báu của Người. Điều này đã được xác định khi Chúa Quan Phòng định cho Philatô ghi trên thập giá hàng chữ: “Giêsu Nazareth-Vua Dân Do Thái”. Giây phút Chúa Giêsu được treo trên thập giá là giây phút Người bước lên Ngôi Báu của Người.
Không phải Chúa Giêsu chỉ chịu đau khổ vì yêu thương khi bắt đầu bước vào Cuộc Khổ Nạn, nhưng đó luôn là đặc nét chính trong cuộc đời Chúa Giêsu. Tác giả Thư gửi tín hữu Do thái trong bài đọc hai đã xác định điều này trong bài đọc hai của Phụng Vụ hôm nay: “Khi còn sống ở đời này, Chúa Kitô đã lớn tiếng và rơi lệ dâng lời cầu xin khấn nguyện lên Đấng có thể cứu Người khỏi chết, và vì lòng thành tín, Người đã được nhậm lời. Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã học vâng phục do những đau khổ Người đã chịu, và khi hoàn tất, Người đã trở nên căn nguyên ơn cứu độ đời đời cho tất cả những ai vâng phục Người” (Dt 5:7-9).
Thánh Anphong Liguori thuật rằng có một nữ tu đau đớn bệnh tật rất nhiều năm. Một hôm đau đớn quá, Chị kêu trách Chúa Giêsu: “Xưa Chúa chỉ phải vác thánh giá và hấp hối mấy giờ trên thánh giá, nay sao Chúa để con đau đớn lâu năm thế?” Chúa Giêsu liền hiện ra quở trách Chị: “Con nói sao? Cha chỉ có đau khổ ít giờ mà thôi ư? Cha đã bắt đầu đau khổ từ giây phút nhập thể!” Thánh nhân nói rằng vì có linh hồn hoàn bị, Chúa Giêsu từ giây phút nhập thể đã nhìn thấy và cảm nhận trước nơi linh hồn Người những đau khổ Người sẽ phải chịu trên thân xác sau này.
Vì vậy, Đức Cha Fulton J Sheen hay nói mọi người sinh ra trên đời để sống, nhưng Chúa Giêsu vốn là Thiên Chúa và là Sự Sống Đời Đời sinh ra trên trần gian để chịu đau khổ và chịu chết để đem lại sự sống đời đời cho chúng ta. Vì vậy, cả đời Chúa Giêsu đều hướng về Đồi Canvê, đều hướng về Thánh Giá. Là một nhà giảng thuyết thời danh, Đức Cha còn xác quyết rằng bài giảng nào càng hướng về Thập Giá bài giảng ấy càng có tính thần thiêng.
Liền sau khi nói về quy luật chết để sống, mất để được, Chúa Giêsu liền nói về thân phận của những ai muốn trở thành môn đệ đích thực của Người: “Ai phụng sự Ta, hãy theo Ta, và Ta ở đâu, thì kẻ phụng sự Ta cũng ở đó. Ai phụng sự Ta, Cha Ta sẽ tôn vinh nó” (Ga 12,26). Ở đây, Chúa Giêsu cho thấy các môn đệ đích thực của Người, những ai thực sự phụng sự Người, phải là những người cùng bước theo Người trên con đường thập giá, là con đường chính Người đã đi trước. Và chỉ có những người này, những người cùng ở trên thập giá với Người, mới được cùng ở với Người trên Nước Trời để chia sẻ vinh quang đích thực vì cùng được Chúa Cha tôn vinh.
Chính Thánh Thể nơi Bánh Thánh và Rượu Thánh-trung tâm đời sống Công giáo cũng không ngừng nhắc chúng ta về quy luật thần thiêng này. Để trở nên tấm bánh, những hạt lúa mì phải chấp nhận chịu nghiền tán và hòa trộn với nước rồi chịu nướng trong lò lửa. Để hóa thành rượu nho, những trái nho chín phải chịu vắt trong bồn đạp nho và trải qua thời lên men. Vì vậy, cùng với cầu nguyện, việc hy sinh hãm mình là yếu tố không thể thiếu được trong đời sống Kitô hữu. Một trong những lý do chính đem lại sự suy đồi trong đời sống đức tin của nhiều tín hữu ngày nay là sự khước từ sự khôn ngoan của thập giá, sự chối bỏ tinh thần hy sinh hãm mình và vâng phục.
Bài thánh ca “Thân Lúa Miến” của Mi Trầm được dùng trong phần tiến lễ có giá trị tuyệt vời vì nhắc nhớ chúng ta về lý tưởng hy sinh bác ái, xả kỷ vị tha của đời người Công giáo đích thực.
Thánh Giuse-Maria Escriva đã giúp chúng ta sống Tin Mừng hôm nay với những lời sau: “Nếu hạt lúa không chết đi, nó không sinh hoa trái. Bạn có muốn trở thành hạt lúa miến phải chết đi bằng những hy sinh hãm mình, để đem lại một mùa lúa phong phú không? Xin Chúa Giêsu chúc lành cho ruộng lúa của bạn”.
Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ giúp chúng con biết noi gương Chúa Giêsu, trở nên như hạt lúa mì, chết đi cho ý riêng và những đam mê trần thế, để sống cho Chúa và tha nhân qua việc quảng đại hy sinh hãm mình và yêu thương phục vụ. Amen.
 

MC5-B109. Giờ của Chúa.

Từ đầu mùa Chay cho đến giờ, chúng ta đã chuẩn bị tham dự vào biến cố quan trọng nhất của lịch sử: MC5-B109

Từ đầu mùa Chay cho đến giờ, chúng ta đã chuẩn bị tham dự vào biến cố quan trọng nhất của lịch sử nhân loại. Hôm nay chúng ta nghe Chúa Giêsu loan báo về những gì sắp xảy đến, nhưng thay vì mở ra một cảnh tượng hùng vĩ thì Ngài lại tỏ lộ chính những tâm tình thầm kín nhất của Ngài.
Thực vậy sau khi Chúa Giêsu vinh hiển tiến vào thành Giêrusalem, thì có mấy người Hy Lạp đến tìm Philipphê và nhờ ông giới thiệu mình với Chúa Giêsu. Lúc đầu có lẽ Philipphê cảm thấy hơi ngại ngùng, nhưng sau đó cũng đã dẫn họ đến với Chúa Giêsu. Lạ thay, Ngài không tỏ ra chấp nhận hay từ chối họ, nhưng lại mạc khải cho họ một điều khác. Và chính trong sự mạc khải này, Ngài đã cho biết những tâm tình thầm kín của Ngài. Ngài nói: Đã đến giờ Con Người được vinh quang.
Giờ mà Ngài đã tiên báo lần đầu tiên, khi xuất hiện trước quần chúng tại tiệc cưới Cana. Giờ mà Ngài vẫn mong chờ trong suốt ba năm giảng dạy. Chính vì thế, bây giờ không còn phải là lúc tiếp nhận hay từ chối những người Hy Lạp, nhưng là lúc phải hoàn thành sứ mạng cao cả và phổ quát của Ngài.
Tuy là giờ vinh quang, là giờ Ngài hằng mong đợi, nhưng điều lạ là Chúa Giêsu nói tới giờ đó không phải với một giọng điệu nao nức, nhưng trái lại, hình như đượm vẻ lo âu. Ngài biết rõ con đường nào mình sẽ phải đi qua đến tiến tới vinh quang. Như hạt lúa phải mục nát đi, thì mới trổ sinh nhiều bông hạt. Ai yêu sự sống mình thì sẽ mất, còn ai ghét sự sống mình, thì sẽ được sống đời đời. Qua đó, Ngài muốn nói với chúng ta rằng: Điều kiện để tiến tới vinh quang là phải chấp nhận thập giá.
Thế nhưng kinh nghiệm cho chúng ta thấy, thập giá không phải là một cái gì thơ mộng, ngọt ngào, nhưng là một cái gì cay đắng ê chề. Chính Chúa Giêsu cũng đã từng hoang mang và run sợ, nên Ngài đã lên tiếng cầu nguyện: Lạy Cha xin cất chén đắng này cho con. Đồng thời Ngài còn thêm: Nhưng không theo ý Con, một theo ý Cha mà thôi. Nơi khác Ngài cũng đã thốt lên: Lạy Cha, xin cứu Con khỏi giờ này, nhưng cũng chính vì giờ này mà Con đã đến.
Đó là một sự chấp nhận thật can đảm. Lời cầu nguyện của Ngài vừa là một tiếng xin vâng, vừa là một tâm tình phó thác cho Chúa Cha, Đấng sẽ biến cái chết của Ngài thành sự phục sinh vinh quang. Còn chúng ta thì sao? Chúng ta có biết bước vào con đường mà Chúa đã đi qua hay không? Bởi vì có trải qua đau khồ thập giá thì chúng ta mới tiến đến vinh quang phục sinh.

 

MC5-B110: Hạt lúa gieo vào lòng đất

(Trích trong ‘Cùng Đọc Tin Mừng’ – Lm. Ignatiô Trần Ngà)
 

Nếu chúng ta có một lượng vàng trong tủ, làm sao để nó hoá thành năm? Nếu có trăm triệu, làm sao cho: MC5-B110

Nếu chúng ta có một lượng vàng trong tủ, làm sao để nó hoá thành năm? Nếu có trăm triệu, làm sao cho số vốn đó đẻ ra gấp mười? Hầu như đó là chuyện không thể làm được bằng những phương cách hợp pháp.
Giá như có bí thuật nào làm được điều đó, thì ai cũng muốn thủ đắc cho bằng được với bất cứ giá nào.
Vậy mà hôm nay, Chúa Giêsu tặng không cho ta một bí quyết làm gia tăng một giá trị không chỉ gấp năm, gấp mười, mà là đến gấp trăm!
Thật khó tin! Làm gì có chuyện thần kỳ như thế trên cõi đời nầy?
Thưa, dù điều nầy rất khó tin, nhưng hoàn toàn có thật. Bí quyết nầy rút ra từ hạt lúa.
Hôm ấy, có người nông dân mang thóc giống gieo trên thửa ruộng của mình. Đang khi gieo thì trời nổi gió lớn. Có nhiều hạt rơi xuống ruộng bùn nhưng cũng có nhiều hạt bị gió thổi bạt lên vệ đường kề bên.
Bấy giờ những hạt giống nằm trên vệ đường khô ráo cảm thấy phận mình thật là diễm phúc, so với bao nhiêu hạt thóc bạn đang phải ngoi ngóp, ngụp lặn dưới bùn. Chúng tỏ lòng thương hại các hạt thóc bạn dưới sình bằng những lời ngạo mạn: "Thật đáng thương thay thân phận khốn khổ của các anh. Đang khi chúng tôi được ở nơi khô ráo, thì các anh lại phải ngụp lặn trong sình. Đang khi chúng tôi được ngước mắt nhìn ánh dương rực rỡ, được tắm mình dưới nắng, thì các anh lại phải ngụp lặn trong chốn tối tăm. Đang khi chúng tôi được nhìn ngắm bầu trời xanh, nhìn ngắm những bông hoa tươi đẹp bên vệ đường, được ngắm nhìn người qua kẻ lại nói cười vui vẻ, thì chung quanh các anh chỉ là tăm tối và tanh hôi. Cuộc đời chúng tôi đang lên hương, còn cuộc sống các anh đang lụi tàn! Thật bất hạnh thay cho các anh!"
Hạt lúa ấy vừa dứt lời thì bỗng đâu có một bàn chân người dẫm đạp lên mình nó, khiến nó bị gãy thành ba. Sau đó, mấy chiếc xe ào đến, lạnh lùng chà nát nó và những hạt lúa khác thành bụi tro. Những hạt lúa may mắn còn sót lại thì hoá thành mồi ngon cho chim chóc và các loại côn trùng!
Trong khi đó, những hạt lúa tưởng là bất hạnh đang ngụp lặn trong bùn, thì qua vài ngày sau đã ngoi lên thành những chồi non đầy sức sống, rồi thành những cây lúa xanh tươi cứng cáp. Cây lúa lớn dần, nở bụi sum suê. Không đầy ba tháng sau, nó trổ thành những bông lúa, kết thành hàng trăm hạt vàng khoe mình dưới nắng, đem lại sức sống cho bao người.
Từ một hạt lúa đơn độc, nó đã được chuyển hoá thành trăm! Thật nhiệm mầu!
Hôm nay, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy cùng với Ngài chuyển hoá đời mình như thế.
"Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu nó chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác."
Rồi Ngài nói rõ hơn: "Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời."
Khi bước chân vào đời, mang lấy thân phận con người giữa cuộc đời ô trọc, Chúa Giêsu đã chấp nhận mang thân phận hạt lúa bị vùi dập trong bùn đất. Ngài chấp nhận khổ hình, chấp nhận vác thập giá, chấp nhận chết treo trên thập giá như một tên tử tội khốn nạn nhất. Người đời tưởng rằng đã tiêu diệt Đức Giêsu, xoá sổ Đức Giêsu... nhưng họ đã lầm. Thay vì huỷ diệt, họ đã giúp Ngài chiến thắng. Qua thập giá, Chúa Giêsu đạt đến vinh quang, được phục sinh vinh hiển và được hiển trị đời đời! Giờ tử nạn cũng chính là giờ Ngài được tôn vinh.
Chúa Giêsu không muốn chúng ta sống như hạt lúa đơn độc trên vệ đường, chỉ biết sống cho mình rồi rốt cuộc phải tiêu vong. Ngài muốn chúng ta bước theo Ngài để chuyển hoá gấp trăm.
Để được như thế, chúng ta hãy nên như hạt lúa bị chôn vùi, nghĩa là hãy chấp nhận hy sinh quên mình vì hạnh phúc người khác; hãy cùng chịu đau khổ với Chúa Giêsu, cùng vác thập giá hằng ngày với Chúa Giêsu, chấp nhận cống hiến tài sức để phụng sự Chúa và phục vụ muôn người.
Nhưng sự việc đâu có giản đơn. Xác thịt con người vẫn nặng nề và không dễ dàng chịu khuất phục. Phải có rất nhiều can đảm mới có thể đáp lời Chúa mời gọi. Ôi, lạy Chúa, xin giúp sức cho con!

 

MC5-B111: Cho đi thì còn, giữ lại thì mất

(Trích trong ‘Cùng Đọc Tin Mừng’ – Lm. Ignatiô Trần Ngà):
 

Qua Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nêu ra một nghịch lý gay gắt người đời khó hiểu được: "Ai yêu: MC5-B111

Qua Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nêu ra một nghịch lý gay gắt người đời khó hiểu được: "Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời." (Ga 12,25)
Ai nâng niu sự sống mình thì sẽ đánh mất nó.
Người đời cho rằng muốn bảo tồn được mạng sống thì phải nâng niu cưng chiều nó tối đa, phải dành ưu tiên cho mình trong tất cả mọi sự. Còn Chúa Giêsu thì chủ trương ngược lại: "Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất!" (Ga 12, 25).
Làm sao hiểu được chân lý nầy?
Nếu tim chỉ sống cho riêng mình mà không bơm máu nuôi toàn thân thì tim sẽ bị ứ đầy máu và ngừng đập.
Nếu phổi chỉ phục vụ bản thân, không đưa dưỡng khí nuôi toàn cơ thể, thì phổi chết.
Nếu bao tử và ruột chỉ chăm lo cho mình, giữ lại tất cả dinh dưỡng cho mình mà không chuyển đi nuôi những bộ phận khác, bao tử và ruột tự kết án tử cho mình.
Ai liều mất mạng sống mình, thì sẽ bảo tồn được nó.
Người đời cho rằng: "mạng sống hơn đống vàng" nên người ta chăm sóc, bảo bọc, che chở nó bằng mọi giá. Trong khi đó, Chúa Giêsu dạy, muốn bảo tồn mạng sống thì hãy hy sinh nó đi: "ai liều mạng sống mình vì tôi và vì Tin Mừng thì sẽ cứu được mạng sống ấy" ( Mc 8,35).
Đây là chân lý hết sức hệ trọng nên được các tác giả Tin Mừng nhắc lại nhiều lần: Gioan 12, 25b / Matthêu 10,39/ Matthêu 16, 25/ Luca 9,24/ Luca 17,33.
Làm sao hiểu cho được những nghịch lý nầy?
Sở dĩ tim sống khoẻ vì tim rất quảng đại và hy sinh, luôn luôn bơm hết dòng máu quý báu của mình để cống hiến cho toàn thân được sống. Lẽ sống của tim là liên tục cho đi những gì đã lãnh nhận.
Sở dĩ hai buồng phổi sống trong tình trạng sức khoẻ sung mãn vì phổi vị tha, không tìm ích riêng cho mình, nhưng luôn luôn chuyển đi dưỡng khí trong lành cho những phần chi thể khác.
Sở dĩ bao tử và ruột hoạt động tốt là vì chúng luôn trao ban và dâng hiến: một khi tiếp nhận được thức ăn, bao tử và ruột chuyển hoá thành chất dinh dưỡng và chuyển hết cho những bộ phận chung quanh, không giữ lại gì cho riêng mình.
Nói chung, lẽ sống của từng cơ quan là hy sinh, là quên mình, là dâng hiến tất cả cho những cơ quan khác cũng như cho toàn thân.
Ở Israen có hai biển hồ: một là biển hồ Galilê, hai là biển chết.
Biển hồ Galilê tiếp nhận nước từ sông Jordano rồi xả xuống phía hạ lưu, luôn trao ban những gì vừa nhận được. Nhờ đó, nước hồ lúc nào cũng trong lành, trở nên môi trường thích hợp cho tôm cá sinh sôi nẩy nở, cung cấp nước uống cho cư dân quanh vùng, tưới xanh những cánh đồng và vườn cây ăn trái, đem lại phì nhiêu và sức sống cho đất cằn, đem lại sung túc cho bao triệu người qua các thời đại. Vì thế, nó đáng được gọi là biển sống.
Xuôi về phía nam chừng 200 km dọc theo sông Jordano, người ta gặp thấy một biển hồ khác rộng lớn hơn biển hồ Galilê gần năm lần nhưng bị gọi tên là biển chết; vì tuy cùng nhận nước từ sông Jordanô như biển hồ Galilê, nhưng nó giữ lại tất cả cho mình, không cho chảy đi đâu cả. Vì thế, nước của nó trở thành nước ao tù, mặn đến độ không sinh vật nào sống được. Chung quanh biển nầy, không nhà cửa, không cây cối, không sinh vật nào có thể lập cư...
Chúa Giêsu dạy: nếu hạt lúa được giữ nguyên trong kho, được bảo quản kỹ càng, thì nó chỉ là hạt lúa trơ trọi, một hạt lúa cô đơn, một hạt lúa chết dần mòn. Còn hạt lúa nào chịu huỷ mình đi trong ruộng sình sẽ vươn lên phơi phới và sinh được gấp trăm.
Cuộc đời của Đức Giêsu cũng là một minh chứng hùng hồn cho chân lý Người dạy. Chúa đã chịu gieo mình xuống cõi đời ô trọc, chịu hy sinh, chịu đủ thứ khổ nhục, cuối cùng chịu chết trên thập giá và mai táng trong mồ. Trước mắt người đời, Chúa Giêsu đánh mất tất cả và thất bại hoàn toàn!
Thế nhưng qua khổ nạn và sự chết, Người đã phục sinh, lên trời vinh hiển. Nhờ gieo mình xuống và tự hủy đi như một hạt lúa gieo vào bùn đất, Chúa Giêsu đã sống lại khải hoàn đem lại ơn cứu độ cho muôn người và cho họ được hưởng phúc trường sinh.
Quy luật sinh tồn là thế: chỉ khi cho đi, mới là lúc được nhận lại dồi dào; chính khi hiến mình là lúc nhận lại bản thân. Vì thế, khi sắp chịu huỷ mình trên thập giá và chịu mai táng trong mộ, Chúa Giêsu gọi đó là giờ Người được tôn vinh: "Đã đến giờ Con Người được tôn vinh!" (Ga 12, 23).
Thế là nghịch lý trên đây giờ đã được sáng tỏ và trở thành chân lý soi dẫn cho cuộc đời.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con sẵn sàng hiến thân để phụng sự Chúa và nhân loại, như hạt lúa bị chôn vùi cho nhiều hạt khác được phát sinh, để trở thành "biển sống Galilê" và không bao giờ là "biển chết".


 

MC5-B112:  Bây giờ tâm hồn Ta xao xuyến

(Suy niệm của Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm)
 

Đức Giêsu là một người hoàn toàn như tất cả mọi người. Trong cuộc sống trần thế, Ngài cũng sợ hãi: MC5-B112

Đức Giêsu là một người hoàn toàn như tất cả mọi người. Trong cuộc sống trần thế, Ngài cũng sợ hãi, bồi hồi xao xuyến, khóc lóc cầu xin Thiên Chúa giải phóng Ngài khỏi chết. Tuy nhiên, Đức Giêsu là Con Thiên Chúa; nơi Ngài, con người nhận ra Thiên Chúa là Đấng yêu thương con người vô cùng.
I. Tâm hồn Ta bồi hồi xao xuyến
Đức Giêsu biết những gì đang chờ đợi Ngài. Cái chết đang đến gần khi Ngài quyết định lên Yêrusalem dự lễ Vượt Qua. Là người Do Thái, theo luật phải lên Yêrusalem dự lễ Vượt Qua; nhưng nếu lên, chắc sẽ chết vì những người lãnh đạo tôn giáo đang ghét, nên sẽ giết Ngài. Đức Giêsu phải chọn lựa. Các tông đồ cũng ý thức điều này. Theo các ông thì không nên lên Yêrusalem dịp này: “Thưa Thầy, mới đây người Do Thái tìm cách ném đá Thầy, mà Thầy lại còn đến đó sao?” (Ga. 11,8). Nhưng nếu Thầy quyết định đi, thì các tông đồ cư xử làm sao? Thomas khuyến khích các bạn: “Cả chúng ta nữa, chúng ta cũng đi để cùng chết với Thầy” (Ga. 11,16). Có những người trong chúng ta có kinh nghiệm chọn lựa trong những tình huống tương tự, và đã chọn điều phải chọn cho dù nguy hiểm đến cả tính mạng.
Một vài người Hylạp gốc Do Thái về dự lễ muốn gặp Đức Giêsu. Họ cậy nhờ Philíp để được gặp Đức Giêsu. Philíp đã nói với Anrê; và cả hai đã đến nói với Đức Giêsu. Trong hoàn cảnh bình thường, có lẽ cứ dẫn họ đến gặp Đức Giêsu, tuy nhiên trong hoàn cảnh này, hai môn đệ ý thức cần phải hỏi ý kiến Đức Giêsu, vì có thể có những hậu quả xấu không lường được. “Giờ đã đến”. Giờ mà làm Đức Giêsu lo sợ, bối rối xao xuyến. Đồng ý cho họ gặp, là dường như “chọn chấp nhận cái chết”. Có nên xuất hiện như Đấng người ta chờ đợi không? Có nên cho họ gặp không? Đức Giêsu đã chấp nhận cái chết. Nếu hạt lúa mì rơi xuống đất mà không chết đi, thì nó chỉ trơ trọi một mình, nhưng nếu nó chết đi, thì sẽ sinh nhiều bông hạt” (Ga. 12, 24). Ngài chọn điều sinh lợi cho nhiều người, cho dù phải chết.
Ông già Aleazar không muốn giả bộ ăn thịt heo để khỏi chết, vì nếu sống mà làm gương xấu thì sống làm gì (2Mac. 6, 18-31)? Yoan Tẩy Giả phản đối Hêrôđê khi ông lấy vợ của anh; dĩ nhiên khi phản đối những người có quyền hành như vậy, ông biết điều gì có thể xảy tới cho mình; tuy vậy, ông đã phản đối Hêrôđê. Yoan Tẩy Giả đã chọn nói điều phải nói, cho dù phải chết. Hôm nay Đức Giêsu cũng đã chọn lựa điều tương tự. Đứng trước chọn lựa này, Đức Giêsu bồi hồi xao xuyến như bao người khác.
II. Đức Giêsu đã lớn tiếng kêu van khóc lóc
Đức Giêsu là người như mọi người. Ngài đã làm nghề để kiếm sống, nuôi mình và nuôi mẹ. Ngài cũng bị cái đói hành hạ như bất cứ ai bị đói (Mt. 21, 18). Ngài bị đói khủng khiếp đến độ muốn biến đá thành bánh. Chỉ khi bị đói cùng cực, người ta mới bị cám dỗ mơ tưởng như vậy. Đức Giêsu cũng bị cám dỗ “nổi tiếng”, vì vậy cám dỗ nhẩy từ trên đỉnh đền thờ đã đến trong đầu Đức Giêsu. Đức Giêsu cũng bị cám dỗ có quyền hành để bắt mọi sự phải theo ý mình. Chỉ satan mới có cách hành xử không tôn trọng tự do của con người; còn Thiên Chúa, Ngài luôn tôn trọng tự do của con người, ngay cả khi con người dùng tự do để chống đối Ngài.
Đức Giêsu đã phải chọn lựa liên lỉ trong cuộc sống. Ngài đã chống lại cám dỗ, trong hoang địa (Mt. 4, 1-11) và trong cuộc sống thường ngày, cả qua những người theo Ngài (Mt.16, 22-23; Ga.11, 8). Ngài cũng sợ toát mồ hôi, và sợ đến độ toát mồ hôi máu: “Ngài lâm cơn xao xuyến bồi hồi, nên càng khẩn thiết cầu xin. Và mồ hôi Người như những giọt máu rơi xuống đất” (Lc. 22,44). Thư gởi tín hữu Do Thái nói Đức Giêsu không chỉ sợ toát mồ hôi máu, mà còn khóc lóc rơi lệ cầu xin Thiên Chúa cứu Ngài khỏi chết: “Khi còn sống kiếp phàm nhân, Đức Giêsu đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Ngài khỏi chết” (Dt. 5,7).
Đức Giêsu thật sự là người như mỗi người chúng ta. Không có cám dỗ nào con người bị mà Ngài không bị. Không có ai bị cám dỗ mãnh liệt như Ngài. Ngài cũng học vâng phục, và chấp nhận vâng phục ngay cả phải chết. Ngài bị cám dỗ cả về đức tin: “Lạy Cha, sao Cha nỡ bỏ con” (Mc. 15,34). Khi bị cám dỗ về đức tin, Ngài đã phó thác cho Thiên Chúa tương lai và vận mạng của Ngài. Đức Giêsu gần và giống mỗi người hơn người ta tưởng.
III. Ta viết luật của Ta trong tim chúng
Thiên Chúa đã ký giao ước với con người, để bảo vệ con người. Qua dấu chỉ cầu vồng, Thiên Chúa giao ước với Noe và tất cả tạo vật, để không bao giờ dùng lụt hồng thủy tiêu diệt con người nữa; qua thập giới tại núi Sinai, Thiên Chúa giao ước với dân Do Thái, để làm dân Do Thái thành dân tư tế, thành dân riêng của Thiên Chúa. Thiên Chúa loan báo qua tiên tri Giêrêmia, Ngài sẽ ký kết với dân một giao ước mới, và Ngài sẽ khắc ghi luật Ngài trong tim con người, để không ai phải dạy ai về Thiên Chúa nữa. Đức Giêsu chính là giao ước mới: “Rồi cùng một thể thức ấy, Ngài cầm lấy chén đầy rượu, tạ ơn, trao cho các môn đệ và nói: tất cả các con cầm lấy mà uống, này là chén máu Thầy, máu giao ước mới, sẽ đổ ra cho các con và nhiều người được tha tội”.
Qua Đức Giêsu, Thiên Chúa giao ước ở với và yêu thương con người mãi mãi. Đức Giêsu vừa là dấu chỉ giao ước, vừa là diễn tả tình yêu của Thiên Chúa đối với con người, vừa là bảo đảm Thánh Thần hiện diện nơi con người. “Anh em không biết anh em là đền thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao” (1Cor.3, 16)? Thánh Thần Tình Yêu đang ngự trong tâm hồn, trong tim mỗi người.
Nhờ Đức Giêsu và Thánh Thần, con người nhận ra Thiên Chúa là tình yêu. Con người được gọi để sống yêu thương. Chính khi yêu thương, con người trở nên giống Thiên Chúa, và được chia sẻ hạnh phúc với Thiên Chúa, cho dù người đó ở bất cứ đâu. Chính khi yêu thương, con người gặp gỡ Thiên Chúa, và cảm nghiệm hạnh phúc. Đây là điều có vẻ mâu thuẫn, nhưng đó là sự thật, và được biểu lộ qua cái chết của các anh hùng tử đạo và cái chết của Đức Giêsu.
Câu hỏi gợi ý chia sẻ
1. Theo bạn, Đức Giêsu giống bạn ở điểm nào, và khác bạn ở điểm nào?
2. Bạn có cảm nghiệm Thiên Chúa ở với bạn không? Nếu được xin chia sẻ.

 

MC5-B113:  Mùa gặt tươi tốt – Cố Lm. Hồng Phúc

Với Phụng vụ hôm nay, Giáo hội đọc lại cho chúng ta những lời ca thán của tiên tri Giêremia, những: MC5-B113

Với Phụng vụ hôm nay, Giáo hội đọc lại cho chúng ta những lời ca thán của tiên tri Giêremia, những lời não nuột thống thiết khi đạo quân Babylone bao vây Giêrusalem, dân Chúa lâm cảnh lưu đày. Tuy nhiên, Thiên Chúa vẫn là Thiên Chúa tình thương, giữa đêm tối vẫn lóe lên ánh sáng, giữa bao đổ vỡ thất vọng vẫn tái xuất niềm hy vọng. “Đây tới ngày Ta ký kết với dân Ta Giao ước mới, Ta sẽ là Chúa của chúng và chúng sẽ là dân của Ta… Ta sẽ tha tội ác của chúng và sẽ không còn nhớ đến tội lỗi của chúng nữa.” Những lời ấy sẽ thực hiện nơi Chúa Giêsu khi Ngài đến cứu độ chúng ta, sẽ cho “chúng ta uống vào chén tân ước vĩnh cửu, chén máu của Ngài sẽ đổ ra cho chúng ta và nhiều người được tha tội.”
Trong Thư gửi Giáo đoàn Hebrô, niềm hy vọng ấy lại được nhắc lại cho nhóm giáo dân tiên khởi, cũng đang hoang mang run sợ khi nhìn thấy cảnh hoang tàn đổ nát. Từng đoàn người bị phát lưu đi cùng đế quốc, sau biến cố năm 70 thành Giêrusalem bị bình địa, đền thờ bị phá hủy, “không còn hòn đá nào chồng lên hòn đá nào.” Chúa Giêsu, Phaolô viết, “Mặc dầu là Con Thiên Chúa, Ngài đã học vâng phục do những đau khổ Ngài chịu và khi hoàn tất Ngài đã trở nên căn nguyên ơn cứu độ đời đời cho những kẻ tùng phục Ngài.” Chúa đã đi qua con đường sự chết để vào chốn vinh quang và trở nên nguồn gốc ơn cứu độ cho chúng ta hết thảy.
Chúa Giêsu là câu hỏi ngàn đời, cho người Do thái, người ngoại bang cũng như cho chúng ta ngày nay hết thảy.
Hôm nay, Gioan cho biết có một nhóm người Hy lạp đến Giêrusalem trong dịp lễ Vượt qua, tìm cách được gặp Chúa. Họ là những người ngoại bang, nhưng lại có cảm tình với Do thái giáo. Họ đến nhờ hai vị Tông đồ Anrê và Philiphê, hai Tông đồ biết chút ít ngôn ngữ, giới thiệu để được gặp Chúa Giêsu. Gặp đây không phải là chỉ nhìn thấy, nhưng theo từ ngữ của Gioan muốn nói, là được thấu hiểu phần nào con người bí ẩn của Chúa Giêsu.
Chúa Giêsu không đáp ứng trực tiếp điều họ mong muốn. Nhưng Ngài lại cho họ thấy giờ vinh quang của Ngài, giờ mà Ngài đi vào cuộc tử nạn, mọi người đều thấy. Và để giải thích, Ngài tự ví như hạt lúa gieo vào trong lòng đất, phải được mục nát đi, rồi mới vươn lên, sinh hoa kết quả. Thì xác thánh của Ngài cũng bị chôn vào mồ, rồi mới phục sinh sống lại trong vinh quang.
Theo từ ngữ Thánh Kinh, giờ là cuối điểm của một sứ mạng. “Giờ của người đàn bà” (Gio. 16,21) là giờ sinh đẻ, “Giờ của Chúa Giêsu” là giờ tử nạn vì là giờ Ngài hoàn tất sứ mạng cứu chuộc. Hình ảnh hạt lúa vùi xuống đất, bừng lên đầy nhựa sống là hình ảnh mầu nhiệm phục sinh thì mỗi người chúng ta cũng có một sứ mạng phục sinh. Chúng ta trong đời, có phải là hạt giống hứa hẹn một mùa gặt tươi tốt cho chính mình và cho kẻ khác không?
Gioan không tường thuật cuộc hấp hối của Chúa Giêsu trong vườn Giệtsêmani, mồ hôi chan hoà lẫn máu. Nhưng đã nhìn thấy cuộc ấy diễn ra trong sân đền thờ. Chúa phán: “Bây giờ linh hồn Ta xao xuyến và biết nói gì? Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này? Nhưng chính vì thế mà con đã đến trong giờ này. Lạy Cha, xin hãy làm vinh danh Cha.” Và câu trả lời của Chúa Cha đã vang vọng như trong khi Ngài vừa chịu phép rửa và khi Ngài biến hình. Dân chúng xao xuyến. Nhưng Chúa giải thích: “Bây giờ là lúc thế gian bị xét xử… Còn Ta khi bị đưa lên cao khỏi mặt đất, Ta sẽ kéo mọi người lên cùng Ta.”
Cây Thánh giá sẽ được tôn vinh, sẽ làm dụng cụ cứu rỗi nhân loại.
Thánh Phanxicô Xaviê khi rao giảng cho dân chúng luôn luôn cầm trong tay một cây Thánh giá lớn. Một hôm đang giảng cho dân từng từng lớp lớp đứng trên bãi biển, mệt quá cây Thập giá rời khỏi tay và rơi tỏm xuống biển. Ngài buồn rầu cầu nguyện. Thì bỗng nhưng có một con cua từ dưới biển bò lên, hai càng gậm cây Thánh giá. Ngài vui mừng cám tạ ơn Chúa. Vị Thánh Quan Thầy xứ truyền giáo ấy đã rửa tội gần một triệu người.
“Tôi mong đợi Chúa, vì Chúa giàu ơn cứu độ
Và giải thoát Israel khỏi mọi gian ác”
(Tv. 129 – Đáp ca)

 

MC5-B114: Hạt lúa mục nát đi mới trổ sinh bông trái

(Suy niệm của Lm. Trần Bình Trọng)
 

Danh tiếng Đức Giêsu lúc này đã phải vang dội như sóng bạc đầu, nhất là việc Người vừa làm cho: MC5-B114

Danh tiếng Đức Giêsu lúc này đã phải vang dội như sóng bạc đầu, nhất là việc Người vừa làm cho ông Ladarô đã chết bốn ngày sống lại ở Bêtania cách Giêrusalem có hai dậm. Vì thế mà một số người hành huơng Hy lạp xin ông Phi-líp-phê, có tên Hy-lạp cho yết kiến Đức Giêsu, có lẽ với hi vọng được sự thông cảm của người cũng có tên Hy lạp. Ông Phi-líp-phê lại hỏi ý kiến ông An-rê cũng mang tên Hy-lạp. Nhóm người Hy lạp đây không phải là người Do thái nói tiếng Hy lạp, nhưng là người Hy lạp sống ở Do thái, đã phải nghe đồn thổi về việc Ladarô được Đức Giêsu cho sống lại (Ga 12,17). Trước khi đế quốc La mã thống trị Do thái, thì đế quốc Hy lạp đã đặt chân ở đây. Người Hy lạp được tiếng là chuộng triết học, kiến trúc và nghệ thuật. Có lẽ vì những lí do đó mà họ đến viếng thăm Đền thờ Giêrusalem với kiến trúc đồ sộ nguy nga và xin được gặp Đức Giêsu.
Dịp này các thượng tế và nhóm người Pharisêu đang tìm cách hạ sát Đức Giêsu vì họ sợ ảnh hưởng của Người. Phúc âm ghi lại, họ sợ thiên hạ theo ông ấy hết (Ga 12,19). Còn Đức Giêsu thì gián tiếp trả lời nhóm người Hy lạp khi bảo các môn đệ rằng: Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác (Ga 12,24). Thoạt nghe, người ta cho rằng đó là lời phát biểu có tính cách tầm thường, vì ai quan sát cũng đều thấy và biết như vậy. Tuy nhiên Đức Giêsu không chỉ nói đến tiến trình biến đổi của thực vật, như cỏ cây hoa lá mà thôi. Luật đó còn được áp dụng cho cả loài người về đời sống thể lý, tinh thần và thiêng liêng nữa.
Phúc âm còn ghi lại, Đức Giêsu cầu nguyện với tâm hồn xao xuyến: Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này, nhưng chính vì giờ này mà con đã đến. Lạy Cha, xin tôn vinh danh Cha (Ga 12,27-28). Khi Giuđa phản đối việc bà Maria xức dầu thơm cam tùng hảo hạng lên chân Đức Giêsu, Người cũng đã ám chỉ về cái chết của Người khi bảo cứ để bà yên, hầu giữ lại dầu thơm cho ngày mai táng Người (Ga 12,7). Đức Giêsu còn ám chỉ Người sẽ phải chết cách bị treo lên khỏi mặt đất (Ga 12,32), nghĩa là trên thánh giá.
Qua miệng ngôn sứ Isaia, Thiên Chúa đã hứa với dân Người một giao ước mới và vĩnh cửu, để thay thế giao ước cũ trên núi Sinai, giao ước mà dân Chúa đã không tuân giữ. Giao ước mới này không được viết trên bia đá và không phải bằng máu chiên cừu, mà Môsê đã dùng để phê chuẩn giao ước cũ, nhưng được phê chuẩn bằng máu con Thiên Chúa. Đó là ý nghĩa của lời truyền phép mà linh mục chủ tế tuyên xưng trong thánh lễ: Đây là máu Tân Ước vĩnh cửu, sẽ đổ ra cho nhiều người được tha tội. Theo thư gửi tín hữu Do thái, ta được biết vâng lời và chấp nhận khổ giá là một phần của giao ước mới (Dt 5,8-9).
Sứ điệp mà Đức Giêsu đến để công bố trong giao ước mới đưa tới sự chết. Và vì vâng lời, nên Thiên Chúa đã cho Người sống lại từ cõi chết. Xét theo bản tính Thiên Chúa, Đức Giêsu không thể chịu đau khổ và chịu chết. Người chỉ chịu đau khổ và chịu chết trong thân xác loài người của Người mà thôi. Vì thế khi sống lại, Đức Giêsu cũng sống lại trong thân xác loài người của Người. Còn xét về bản tính Thiên Chúa, thì trước sau, Ngôi Hai Thiên Chúa vẫn là một, không hơn không kém, không thêm, không bớt, không thể chết đi, cũng không thể sống lại.
Theo định luật đào thải của bộ máy tiêu hoá, thì cái gì vào, nó phải ra. Nếu không sẽ bị ứ đọng. Còn theo định luật cung cầu của kinh tế, thì có nhập cảng, phải có xuất cảng. Nếu không, quốc gia sẽ không có ngoại tệ. Về đời sống tâm lý và đời sống thiêng liêng cũng có định luật. Khi người ta chỉ sống cho mình, không cho đi, thì mối liên hệ với người khác sẽ bị cằn cỗi, và đời sống liêng liêng sẽ không được vươn lên. Tất cả những định luật đó: định luật tự nhiên, định luật tâm lý, định luật kinh tế, nguyên tắc làm giàu cho đới sống tinh thần và đời sống thiêng liêng đã được Thiên Chúa đặt để trong vũ trụ và trong tâm khảm loài người.
Để chia sẻ sự sống mới với Đức Kitô, ta phải đi theo tiến trình của kiếp sống con người: sinh lão bệnh tử. Trường hợp các vị tử đạo đã làm, là chấp nhận cái chết vì đức tin vào Chúa để được hưởng sự sống mới. Tuy nhiên rất ít người được phúc tử vì đạo. Đa số loài người trải qua cái chết tự nhiên. Ta cũng có thể hiểu cái chết ở đây theo nghĩa bóng. Có những văn sĩ cũng đã dùng quan niệm chết đi theo nghĩa bóng như "chia ly là chết cho mình một nửa" để nói lên sự mất mát về tình cảm và tinh thần.
Như vậy theo nghĩa bóng của cái chết thì người tín hữu phải sẵn sàng chết đi cho tội lỗi, chết đi cho tính mê nết xấu, chết đi cho tính tham lam ích kỷ, chết đi cho tính thù hằn giận ghét, chết đi cho tính kiêu căng tự phụ, chết đi cho thái độ sống chết mặc bay để có thể được tham dự vào đời sống mới với Đức Kitô. Sẵn sàng chịu chê cười nhạo báng và chịu bách hại vì tin yêu Chúa là chết đi một phần. Sẵn sàng trả giá trong cách sống, cách nói năng và hành động để làm môn đệ Chúa, cũng là chết đi cho mình một phần. Sẵn sàng chịu mất mát, mất bạn bè, mất việc làm, mất địa vị xã hội, nếu những sự việc trên làm cản trở cho bước đường làm môn đệ, làm sứt mẻ mối liên hệ với Chúa, cũng là chết đi cho mình một phần. Nói tóm lại chỉ khi nào người ta tham dự vào cuộc hi sinh khổ hình của Chúa, ta mới có thể chia sẻ cuộc phục sinh vinh hiển với Người (2 Tim 2,11).
Lời cầu nguyện xin cho được chết đi cho tội lỗi:
Lậy Chúa Giêsu! Chúng xin cảm tạ Chúa
đã đến thế gian, chấp nhận hi sinh thánh giá
để cứu chuộc tội lỗi loài người, gồm tội riêng con.
Xin cho con được sẵn sàng chết đi cho tội lỗi
và các thứ tính mê nết xấu
để con được sống lại trong ơn nghĩa với Chúa. Amen.

 

MC5-B115: Thuốc bất tử – Lm. Trịnh Ngọc Danh

Thời Chiến quốc, có một người đem dâng cho vua nước Sở một vị thuốc bất tử. Người ấy bưng: MC5-B115

Thời Chiến quốc, có một người đem dâng cho vua nước Sở một vị thuốc bất tử. Người ấy bưng vị thuốc vào, đi ngang qua một viên quan canh cửa. Viên quan này hỏi:
- Vị thuốc này có ăn được không?
Người kia đáp:
- Ăn được.
Tức thì, viên quan giật lấy vị thuốc mà ăn. Chuyện đến tai vua. Vua truyền bắt viên quan đem giết.
Viên quan kêu:
- Thần đã hỏi người đem dâng thuốc là có ăn được không. Người ấy bảo: “ăn được”, nên thần mới dám ăn. Như thế là thần vô tội mà lỗi là ở người dâng thuốc. Hơn nữa, người đem dâng thuốc nói là thuốc “ bất tử”, nghĩa là thuốc ăn vào thì không chết nữa. Thế mà thần mới vừa ăn xong, lại sắp phải chết; vậy là thuốc “tử” chứ đâu phải thuốc “bất tử”? Nhà vua giết thần, thực là oan uổng cho một người vô tội; điều đó có nghĩa là thiên hạ dối lừa nhà vua mà nhà vua vẫn tin.
Nghe nói có lý, nhà vua bèn tha chết cho viên quan.
Một khát vọng
Chẳng ai muốn chết, và ai cũng muốn sống lâu, sống trường thọ; nhưng oái ăm thay! chết lại là số kiếp của con người, ai cũng phải một lần đi qua kết cuộc ấy.
Sống được trên trăm tuổi đã là tuổi hiếm thấy trên thế gian; vì thế người ta mới ghi vào sổ kỷ lục những ai sống trên trăm tuổi: cụ già sống được 110 tuổi một tháng, đạt kỷ lục trường thọ hơn cụ già sống 110 tuổi 20 ngày! Càng về cuối đời, người ta không tính sống được bao nhiêu năm, bao nhiêu tháng nhưng tính hơn nhau từng ngày. Sống lâu trường thọ đến thế là một điều khâm phục, một niềm tự hào. Thọ là một trong ba nguyện ước con người thường cầu chúc cho nhau: Phúc- Lộc- Thọ.
Những mỹ phẩm mà người ta rao bán: làm trẻ mãi không già, thực ra chỉ có thể che lấp đi được những nếp nhăn nheo cằn cỗi trên thân xác, nhưng không thể níu kéo hay xoá đi tuổi già của thời gian. Và giả như ai đó phát minh ra được một thứ thuốc kéo dài tuổi thọ đến 100 hay 200 năm, chắc chắn người ấy sẽ trở thành nhà tỷ tỷ phú, và nếu chế được một thứ thuốc trường sinh bất tử thì chắc người ấy sẽ là người giàu nhất thế giới.
Thế mới biết: làm sao cho được “trẻ mãi không già”, được “sống lâu, bất tử” là khát vọng, nhưng đồng thời cũng là tuyệt vọng của con người.
Muốn sống, phải chết
Người đời bảo: chết là hết; thế mà có một người dám quả quyết: muốn sống, phải chết đi để được sống mà không phải sống trường thọ 2,3 trăm năm mà sống bất tử, sống đời đời: “Nếu hạt lúa mì rơi xuống đất mà không thối đi, thì nó chỉ trơ trọi một mình, nhưng nếu nó thối đi, thì nó sinh nhiều bông hạt. Ai yêu sự sống mình thì sẽ mất, và ai ghét sự sống mình ở đời này, thì sẽ giữ được nó cho sự sống đời đời”. Người ấy là Chúa Giêsu.
Nhưng chết bằng cách nào? Là tự tử? Là hủy hại thân thể? Không. Chết là “thối đi”, là “ghét sự sống ở đời này”; đó là cái chết cho những tiêu cực nơi tâm hồn.
Như thế, chết là hãm mình trước những cám dỗ của dục vọng, của ý riêng, là vượt thắng 7 mối tội đầu, là hy sinh vì 10 điều răn Chúa dạy, là từ bỏ những gì không thuộc ý muốn của Thiên Chúa; vì “Tính xác thịt thì ước muốn những điều trái nghịch với Thần Khí; còn Thần Khí lại ước muốn những điều trái nghịch với xác thịt… Những việc do tính xác thịt gây ra thì ai cũng rõ; đó là dâm bôn, ô uế, phóng đảng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hòa, ghen tuông, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tỵ, say sưa, chè chén, và những việc khác giống như vậy… Còn hoa quả của Thần Khí là: bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ”. ( Gl 5, 17.19-20.22-23)
Chết là canh tân đổi mới, là cải thiện tâm hồn, là thay đổi não trạng, thay đổi cách suy nghĩ sao cho hợp với thánh ý của Thiên Chúa: “Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng các đổi mới tâm hồn, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa: cái gì tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo” ( Rm. 12,2)
Chết là chấp nhận hy sinh, chịu “thối đi” nơi con người thể xác để cho hạt giống đức tin và Tin Mừng có điều kiện nẩy sinh và mang lại nhiều hoa trái cho người và cho đời.
Người không chịu “thối đi”, không dám “ghét sự sống của mình ờ đời này”, là người gạt bỏ sự siêu nhiên ra khỏi cuộc đời của người Kitô hữu, không còn tìm thánh ý Chúa, không còn hành động cho sáng danh Chúa; là cho rằng hy sinh, khiêm nhường, nhịn nhục là dại dột, chỉ vâng phục khi nào mình thấy hợp lý, có lợi cho bản thân.
Người không chịu “thối đi”, không dám “ghét sự sống của mình ở đời này” là người chỉ xem hạnh phúc trần thế là cứu cánh của cuộc sống; là người vẫn dự lễ, đọc kinh tối sáng, vẫn làm những công việc bác ái, nhưng cuộc sống của họ lại xa lạ với Tin Mừng. Trọng tâm của cuộc đời của họ là quyền hành, lạc thú, tiền của. Bạn hữu của họ là những người giàu sang quyền thế, ngay cả những kẻ bóc lột, tham nhũng… Họ không nghĩ đến đời sau, bình thản như thể họ sẽ sống muôn đời trên cõi đời này và thiên đàng đối với họ là trần gian.
Đó là những hạt giống không chịu “thối đi”, không chịu mục nát, những hạt giống “sống trơ trọi một mình”, nên không “sinh nhiều bông trái” cho đời, cho người, không manh ích lợi gì cho ai và như thế, cuộc sống của họ “sẽ mất”.
Thuốc bất tử
Phương thuốc bất tử mà Chúa Giêsu muốn mang đến cho con người là: sám hối và tin vào Tin Mừng (Mc 1,15).
Trước tiên, phải sám hối, chịu “thối đi”, chịu “mất mạng sống mình” mới chỉ là những thứ chúng ta phải kiêng khem, phải hy sinh, phải hãm mình như người mắc bệnh tiểu đường phải kiêng ăn ngọt, người cao máu phải kiêng ăn mặn.
Kế tiếp, là tin vào Tin Mừng như lời Chúa đã phán: “Ai nghe lời Ta và tin Đấng đã sai Ta, thì được từ cõi chết mà qua cõi sống”. (Ga. 5,24); hay “Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta, thì có sự sống đời đời”. (Ga. 6,55)
Tóm lại, bài thuốc bất tử mà Chúa muốn ban cho chúng ta là Thập gía. Chúa Giêsu đã chấp nhận chết đi để trở thành nguồn ơn cứu độ cho nhân loại được nhìn lên Ngài và được sống.
Hạt lúa phải chịu nghiền nát để trở thành cơm bánh nuôi sống con người, thì Chúa Giêsu cũng vậy, Ngài chấp nhận bị nghiền nát trong cuộc tư nạn đau thương để trở thành bánh thánh dâng lên Chúa Cha trên bàn thờ, đồng thời trở nên lương thực nuôi sống chúng ta.
Thập giá đã trở thành ngai Chúa ngự để phán xét và ban sự sống. Ngài chết để đi vào vinh quang của Chúa Cha và trở thành Đấng ban sự sống đời đời cho chúng ta.
Cách thức để đi đến chiến thắng vinh quang lại là cách thức đau thương nhất, khốn cực nhất của trần gian.
Đáp lời kêu gọi của Thầy Chí Thánh: “Hãy đến mà xem”, “Hãy theo Ta”, chúng ta đã “đến mà xem”, đã “theo Thầy”, nhưng còn một điều kiện nữa để được sống bất tử là “vác thánh gía mình mà theo Thầy”, không biết chúng ta đã thực hiện điều kiện ấy chưa! đã chịu “thối đi” , đã “ghét mạng sống mình” được bao nhiêu!
 

MC5-B116:  Giờ Con Người được tôn vinh

Ad Magiorem Dei Gloriam’ là một khẩu hiệu được nhiều dòng tu lựa chọn, tuy nhiên, ‘vinh quang: MC5-B116

Ad Magiorem Dei Gloriam’ là một khẩu hiệu được nhiều dòng tu lựa chọn, tuy nhiên, ‘vinh quang Thiên Chúa – Gloria Dei’ hệ tại ở điều gì, và khi nào thì Thiên Chúa thật sự được tôn vinh thì vẫn là một điều cần minh định. Không ít lần ta được nghe giải thích, giờ phút vinh quang của Đức Giêsu chính là khi Người phục sinh vinh hiển. Người ta thường chú giải câu “nếu chết đi, hạt lúa mới sinh được nhiều hạt khác” như sau: ‘Chúa Giêsu để di thể của Người chôn vùi trong lòng đất, để khi ra khỏi mồ, chính thân thể đã được vinh quang ấy sẽ là tụ điểm của tất cả mọi người tín hữu (lời chú giải Ga 12:24 trong ‘Christian Community Bible’). Chúng ta quá quen thuộc với câu nói thường được nhắc đi nhắc lại: ‘Qua thập giá tới vinh quang – Per Crucen ad Lucem’. Câu nói đó hàm ý, cái chết của Đức Kitô trên thập giá chỉ là phương tiện trung gian, là con đường đưa tới vinh quang mà thôi, còn tự nó chẳng vinh quang chút nào hết, toàn là đau đớn và nhuốc khổ! Nói như thế quả là hợp lý theo lối nhìn thường tình nhân loại, tuy nhiên hình như đó không phải là điều mà Đức Giêsu đã xác quyết. Đọc kỹ một chút Tin Mừng Gioan chương 12 ta nhận ra ngay: Đức Giêsu công khai khảng định: chính giờ chết thập giá, khi Con Người được ‘giương cao lên khỏi đất… là lúc ngài được tôn vinh’.

                Tại sao thời điểm chịu chết lại là giờ phút Con Người được tôn vinh? Cứ theo thói tự nhiên thì không có cách nào lý giải hết, bởi vì “Bây giờ tâm hồn Thầy xao xuyến! Lạy Cha xin cứu con khỏi giờ này!” Trong tư cách người phàm, Đức Giêsu cũng đã quằn quoại trước giờ tử nạn, và các Thánh Sử đã không hề muốn che đậy điều này; “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được” (Mc 14:34); ‘Lòng xao xuyến bồi hồi… Và mồ hôi Người như những giọt máu rơi xuống đất’ (Lc 22:44). Thế thì vì lẽ nào mà cái giờ phút kinh hoàng tột độ đó, khi mà chính Người còn mong trốn thoát, lại có thể được Người gọi là đỉnh điểm (kairos) ‘được tôn vinh’? Và không chỉ tôn vinh riêng Người, mà còn là giờ phút cả Chúa Cha cũng được tôn vinh nữa, ‘Lạy Cha, xin tôn vinh danh Cha… Bấy giờ có tiếng phán từ trời vọng xuống: “Ta đã tôn vinh danh Ta, Ta sẽ còn tôn vinh nữa”.

                Có thể ai đó trong chúng ta cho rằng đó chỉ là một kiểu nói, một lối diễn tả bóng bảy. Nếu quả đúng là như thế thì chẳng có gì đáng bàn thêm! Tuy nhiên tác giả Gioan lồng tuyên bố mang tính mạc khải này trong một khung cảnh trang trọng hiếm thấy: một số người Hy Lạp yêu cầu được gặp Đức Giêsu qua trung gian các môn đệ Philípphê và Anrê; họ chân thành muốn tìm hiểu về Thầy Giêsu, nhân vật được họ nể phục. Câu tuyên bố họ nhận được sau đó quả là một cú sốc, như sau này Phaolô sẽ nhận xét: “… người Hy-lạp tìm kiếm lẽ không ngoan… sẽ cho là điên rồ”. Nhưng rồi cũng chính Phaolô mạnh dạn khảng định thêm: “Nhưng đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi, dù là Do Thái hay Hy Lạp, Đấng Kitô chịu đóng đinh ấy, chính là sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa…” (1 Cr 1:23-24)

                Như vậy Kitô hữu chân chính sẽ không phải là người lên tiếng khảng định ‘per Crucem ad lucem’ theo lẽ thường tình, mà phải là những người có khả năng xác quyết với niềm thâm tín sâu xa nhất ‘Crux est lux – Thập giá chính là vinh quang!’ Như môn đệ Gioan, chỉ khi ngước nhìn lên thập giá, họ mới nhận rõ một điều ‘Thiên Chúa là tình yêu… Chúa Cha yêu thế gian đến nỗi…’ Nơi thập giá mỗi Kitô hữu nhìn thấy vinh quang Thiên Chúa Tình Yêu rạng ngời, “chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật” (Ga 1:14). Gioan đã coi chứng từ thập giá là quan trọng hơn hết trong niềm tin của mình: “người xem thấy việc này đã làm chứng, và chứng của người ấy xác thật. và người ấy biết mình nói sự thật để cho cả anh em nữa cũng tin” (Ga 19:35). Chưa nhận ra được vinh quang Thiên Chúa nơi thập giá thì cũng chưa thể nói là mình đã trọn vẹn xác tín rằng ‘Thiên Chúa là tình yêu’, vì đây chính là mạc khải độc nhất vô nhị mà Đức Giêsu cất công đến trần gian để khai mở bằng thập giá của Người. Vì thế cho nên Người mới gọi giờ phút thập giá là ‘Kairos’, “giờ Con Người được tôn vinh… và chính vì giờ này mà con đã đến”. Giờ phút quan trọng nhất đời Đức Giêsu chính là ‘khi được giương cao lên khỏi mặt đất’ (‘ám chỉ Người phải chết cách nào’) vì chính lúc đó ‘tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi’, chứ không phải lúc sống lại ra khỏi mồ hay lên trời hiển vinh. Như vậy niềm tin Kitô hữu trước hết và trên hết phải là niềm tin Thập giá trước cả niềm tin phục sinh, vì phục sinh, xét cho cùng, cũng chỉ là Thập Giá tình yêu chiến thắng. “Ave Crux Gloria!”

                Tôi cử hành vinh quang thập giá ra sao trong mỗi Thánh Lễ để, cho riêng cá nhân tôi, Thánh Lễ sẽ trở thành một lời ca tụng và cảm tạ vinh quang đích thực mà Thiên Chúa, trong Đức Kitô Giêsu đã mạc khải cho tôi được biết: ‘Thiên Chúa là tình yêu’?

                Lạy Đức Giêsu bị giương cao trên thập giá, con tôn thờ Thánh giá Chúa, con suy tôn Thiên Chúa vinh quang của tự hiến, xót thương và cứu độ. Xin cho con có khả năng luôn đọc được nơi thập giá Chúa chịu đóng đinh một chữ T và chữ Y sáng ngời (T là hình tượng thập giá và Y là hình tượng Giê-su chết treo trên đó), một Tinh Yêu vinh quang, vinh quang không phải cho ai khác mà là cho chính sự thấp hèn của con. Càng nhìn nhận mình tội lỗi yếu hèn, hình như con lại càng có khả năng nhận ra vinh quang sáng chói của thập giá. Xin gia tăng nơi con khả năng sống niềm tin thập giá này, bây giờ và nhất là trong giờ lâm tử. Amen

Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty. SDB
 

MC5-B117: Chuyện về con Dơi

Có một cô gái nói rằng: cô đang rất đau khổ, trước mặt cô là cả một bầu trời đen tối và cô đang phải: MC5-B117 FB

Có một cô gái nói rằng: cô đang rất đau khổ, trước mặt cô là cả một bầu trời đen tối và cô đang phải sống với những giọt nước mắt tuyệt vọng cuối cùng.
Nghe thật bi thảm, cô vừa bị mất việc vừa bị người yêu phản bội. Đây là mối tình đầu của cô và nó đã kéo dài 5 năm với tất cả sự chân thành nồng nhiệt, thủy chung của trái tim tuổi trẻ. Với mất mát này, cuộc sống trước mặt cô chỉ là những ngõ cụt, đường cùng.
Đó là tâm trạng của rất nhiều người khi đối diện với thất bại, đau khổ, nghịch cảnh. Họ cảm thấy mình như đi vào đường cùng. Họ cảm thấy bầu trời đối với họ không còn lung linh rạng ngời mà chỉ còn bóng tối bao trùm. Họ thất vọng. Họ buông xuôi.
Thực ra , ở đời này không có con đường cùng, chỉ có những ranh giới đau khổ hay hạnh phúc. Điều quan yếu là phải có sức mạnh để bước qua những ranh giới ấy. Chúng ta có thể thấy điều ấy qua hình ảnh con dơi. Một con dơi bình thường luôn bay ra ngoài vào buổi tối. Nó là một sinh vật nhanh nhẹn, lanh lợi đến mức ấn tượng. Tuy nhiên, nó không thể cất cánh từ một địa điểm bằng phẳng. Nếu nó được đặt trên sàn hoặc một mặt phẳng, thì tất cả những gì nó có thể làm là lê bước loanh quanh một cách vô vọng và đau khổ. Cho đến khi nó tìm được một độ cao nào đó, chỉ cần là một góc nâng nhỏ thôi, để từ đó, nó có thể tung mình vào không trung. Và, ngay lập tức, nó bay lên như một tia chớp.
Đôi khi chúng ta cũng giống như những con dơi cứ quanh quẩn trong bế tắc cùng khổ. Chúng ta vật lộn với tất cả các vấn đề rắc rối và tuyệt vọng của mình, mà không bao giờ nhận ra rằng rất có thể một giải pháp ở rất gần, chỉ cần chúng ta nhìn lên cao hơn – hay nhìn về phía trước sẽ có một con đường mới cho chúng ta.
Khi nhìn vào đau khổ, Chúa Giêsu đã ví tựa cuộc đời như hạt lúa chịu mục nát mới trồi sinh sự sống. Ngài còn nói rằng khi Ngài bị treo lên thập giá thì không phải là đau khổ, hay là thất bại mà là cứu sinh cho nhân loại. Ngài không nhìn đau khổ như đường cùng mà là một khởi sự cho sự sống mới trồi sinh. Từ chính đau khổ ấy Ngài ngước nhìn lên cao để có thể thấy ý Thiên Chúa Cha đang đòi Ngài hiến tế cứu đời. Đối với Chúa Giêsu đi vào đau khổ còn như là định luật tất yếu của đời người, vì “hạt lúa phải mục nát mới trồi sinh bông lúa vàng”. Đối với Chúa Giêsu thập giá không là nỗi nhục mà là một hành vi cứu rỗi nhân gian qua sự hiến tế của Ngài.
Cuộc đời con người chắc chắn sẽ có những khúc quanh của đau khổ nhưng vẫn còn con đường phía trước. Dù hẹp. Dù quanh co. Nhưng vẫn có lối thoát cho cuộc đời chúng ta. Đừng thất vọng trước khó khăn. Đừng tháo chạy trước gian nguy. Hãy nhìn vào khó khăn của bổn phận, của thử thách như lời mời gọi chấp nhận mục nát đời mình để sống có ích cho tha nhân. Hãy đón nhận thập giá cuộc đời trong thiên ý Thiên Chúa như là hồng ân Ngài ban tặng cho chúng ta để hiệp thông cứu độ trần gian.
Xin cho chúng ta luôn biết tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa. Chỉ trong Thiên Chúa chúng ta mới có bình an, hạnh phúc cho dù vẫn còn đó những khó khăn thử thách. Xin cho chúng ta biết bám vào Chúa để nhờ ơn Chúa chúng ta vượt qua những khó khăn. Amen
Lm. Jos Tạ Duy Tuyền
 

MC5-B118: Hạt lúa chết đi

Vài hôm trước ngày bị hạ sát, Tổng Giám Mục Oscar Romero phát biểu với một phóng viên nhà: MC5-B118

Vài hôm trước ngày bị hạ sát, Tổng Giám Mục Oscar Romero phát biểu với một phóng viên nhà báo: "Ông có thể nói với dân chúng rằng, nếu họ thành công trong việc ám hại tôi, tôi sẽ tha thứ và ban phép lành cho những ai làm điều ấy. Hy vọng họ sẽ nhận ra rằng họ đã phí uổng thời giờ. Một vị Giám mục sẽ chết, nhưng Giáo Hội của Thiên Chúa, tức là Giáo Hội của dân chúng sẽ chẳng hề bị hủy diệt."
Vào lúc 6 giờ 25 chiều ngày 24/3/1980, tại nguyện đường của Bệnh Viện Chúa Quan Phòng, một bệnh viện dành cho bệnh nhân ung thư, Tổng Giám Mục Romero cử hành Thánh Lễ cầu hồn cho thân mẫu của một ký giả bạn thân, vừa mới qua đời. Đức Cha Romero đọc đoạn Phúc Âm Thánh Gioan: "Đã đến giờ Con Người được tôn vinh... Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác." (Gioan 12, 23-24) Đức Cha triển khai chủ đề ấy trong bài giảng ngay sau đó, áp dụng nó vào tình cảnh khốn cùng mà dân nước El Salvador phải cam chịu dưới ách thống trị của độc tài quân phiệt.
Ngài tâm sự với cộng đoàn nhỏ bé đang dự lễ: "Điều quan trọng là đừng yêu mình đến nỗi không dám dính líu vào những việc liều lĩnh, mà lịch sử đòi hỏi nơi chúng ta... Kẻ nào né tránh sự nguy hiểm, kẻ ấy sẽ mất sự sống mình. Nhưng bất cứ ai vì lòng yêu mến Chúa Kitô hiến thân phục vụ tha nhân, kẻ ấy sẽ được sống giống như hạt lúa mì chết, nhưng thật ra chỉ chết về mặt bề ngoài." Ngài còn nói: "Tôi tin trong sự chết có sự sống lại. Nếu người ta giết tôi, tôi sẽ được sống lại trong dân Salvador của tôi."

Kết thúc bài giảng, Đức Cha Oscar Romero tiến lên giữa bàn thờ chuẩn bị bánh và rượu để dâng hy lễ Chiên Thiên Chúa, thì tiếng súng nổ, một loạt đạn từ dưới cuối nhà nguyện bay vèo lên. Tổng Giám Mục Romero trúng đạn, máu chảy lai láng. Người ta vội đưa ngài đi cấp cứu, nhưng ngài đã tắt thở.
Giết chết Tổng Giám mục Oscar Romero, thế lực quân phiệt, tài phiệt bạo ngược chưa thỏa lòng. Họ còn cho binh lính mai phục trên nóc nhà thờ, đặt chất nổ và xả súng bắn vào đoàn người đang dự lễ an táng Đức Cha, ngay trước tiền đường nhà thờ chánh toà, khiến thêm 37 người nữa bị tử nạn và hàng trăm người bị thương. Nhưng ai là thủ phạm các vụ tàn sát trên thì "chỉ có Chúa biết". (Theo Romero: A life của James A. Brockman)
                Trong Thánh lễ cuối cùng trước khi được Chúa thương gọi về, Đức TGM Oscar Romero đã công bố bài Tin Mừng hôm nay. Đồng thời ngài áp dụng trung thành Lời Chúa Giêsu phán dạy: “Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời.” (Ga 12, 25). Trong tiểu sử Đức TGM  Oscar Romero, không nhắc đến tâm hồn ngài cảm thấy thế nào trước nguy hiểm đe dọa, có lẽ tác giả muốn bỏ qua sự yếu đuối của thân xác. Còn Thánh sử Gioan không hề che đậy, cặn kẽ mô tả Đức Giêsu khủng hoảng trước cuộc tử nạn.

Khủng hoảng
 "Bây giờ, tâm hồn Thầy xao xuyến! Thầy biết nói gì đây?” Tâm hồn Đức Giêsu bất an, nôn nao, lo lắng, khiếp hãi, khủng hoảng vô cùng trước mối đe dọa sống còn. Cuộc chiến giữa bản năng sinh tồn và ý chí dấn thân vâng phục vô cùng khủng khiếp, nghiệt ngã, khiến Đức Giêsu phải đổ mồ hôi hột giữa đêm khuya lạnh giá trong vườn Cây Dầu. (Lc 22, 44)
 
Dẫu vậy, Đức Giêsu luôn xác tín linh hồn quan trọng và thiết yếu hơn thể xác, vốn yếu đuối, hèn mọn, mỏng dòn và mau hư nát. Há tiếc chi cái xác phù du, sợ chi cái chết đe dọa, kẻ thủ ác bạo tàn? Đáng sợ là mất cả chì lẫn chài trong hỏa ngục do Thiên Chúa phán xét công minh vào ngày chung thẩm: Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn. Ðúng hơn, anh em hãy sợ Ðấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục.” (Mt 10, 28)
 
Thư gửi Do Thái, thánh Phaolô cũng khẳng định: “Thật vậy, nếu chúng ta cố tình phạm tội sau khi đã học biết sự thật, thì không còn hy lễ nào đền tội được nữa, mà chỉ còn sợ hãi đợi chờ cuộc phán xét và ngọn lửa nóng bừng tiêu hủy các đối tượng của Thiên Chúa.” (Dt 10, 26-27)
 
“Chúng ta phải học lấy bài học của Chúa Kitô: “Nếu ai muốn theo Thầy, hãy từ bỏ chính mình.” (Lc 9, 23) Đúng thế hãy từ bỏ chính mình, từ bỏ những dễ dãi, từ bỏ những quan điểm cá nhân, và hãy chỉ theo tư tưởng của Chúa Kitô, Đấng có thể dẫn chúng ta tới cái chết, nhưng chắc chắn cũng sẽ dẫn chúng ta tới sự phục sinh.” (ĐTGM Oscar Romero, 19.6.1977, L’Amour Vainqueur)
 
“Đừng nhát sợ! Hãy xem Công vụ các Thánh Tông Đồ: đói khát, rách rưới, trộm cướp, roi đòn, đắm tầu, vu vạ, tù ngục, chết chóc,... Nếu con sợ, đừng làm Tông đồ.” (Đường Hy Vọng, số 167)
 
Cầu nguyện
Trong cơn gian nguy cùng cực, chỉ có duy nhất Thiên Chúa là Đấng ra tay cứu độ. Đức Giêsu đã hốt hoảng van nài trông cậy: “Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này, nhưng chính vì giờ này mà con đã đến.” (Ga 12, 27) Vừa xin cứu giúp, vừa xác tín vâng phục sứ vụ, Đức Giêsu trở nên gương mẫu tuyệt đỉnh về cầu nguyện cho tín hữu. Tin cậy mến hoàn toàn, không chút vấn vương hoài nghi, bởi chưng “ không có Thầy, anh em chẳng làm gì được.” (Ga 15, 5)
 
Cầu nguyện luôn là cầu nối mật thiết và quan trọng với Thiên Chúa, hiệp nhất với Ngài trong tư tưởng, lời nói đến hành động. Qua lời cầu nguyện, Ngài sẽ thông ban ơn phù trợ, sức mạnh, ơn bền vững trước cơn thử thách, trước cuộc khổ nạn. “Cầu nguyện là một dạng năng lực mạnh nhất mà chúng ta có thể khơi lên.” (Bác sĩ Alexis Carrel)
 
Đức Giêsu luôn tha thiết mời gọi các môn đệ, các tín hữu luôn sốt sắng tỉnh thức và cầu nguyện, để chống trả cám dỗ và sự dữ, hầu được hưởng cứu độ. “Vậy anh  em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người.” (Lc 21, 36)
 
“Ai nói được mãnh lực của lời cầu nguyện? Sốt sắng như các Tông đồ và Đức Mẹ trong nhà tiệc ly, phó thác như Chúa Giêsu ở vườn Cây Dầu, quyết định như Maisen giang tay trên núi, được tha thiết như người trộm lành, khiêm tốn như người thu thuế.“ (Đường Hy Vọng, số 135)
 
Lạy Chúa Giêsu, xin dạy chúng con biết từ bỏ mình, hy sinh, hiến thân cho Chúa, phục vụ tha nhân. Xin Chúa cho chúng con luôn tỉnh thức, nhận biết và chế ngự những cám dỗ xác thịt, thế gian và ma quỷ. Xin Chúa ban hồng ân Chúa Thánh thần cho chúng con sức mạnh chiến đấu với sự dữ và trung thành với Chúa luôn.
Lạy Mẹ Maria Đồng Công Cứu Chuộc, Mẹ đã trải qua Bảy Sự Thương Khó đau đớn, kính xin Mẹ che chở, phù hộ chúng con trước phong ba bão táp cuộc đời và nhất là trong giờ lâm tử. Amen.
 
AM Trần Bình An 

 

MC5-B119: VƯỢT QUA SỰ CHẾT ĐỂ VÀO CÕI SỐNG

CN V MÙA CHAY B
Gr 31,31-34 ; Dt 5,7-9 ; Ga 12,20-33
 I.    HỌC LỜI CHÚA
 
1. TIN MỪNG: Ga 12,20-33
(20)  (Khi ấy) trong số những người lên Giê-ru-sa-lem thờ phượng Thiên Chúa, có mấy người Hy-lạp, (21) họ đến gặp ông Phi-líp-phê, người Bết-xai-đa miền Ga-li-lê, và xin rằng: “Thưa ông, chúng tôi muốn được gặp ông Giê-su. (22) Ông Phi-líp-phê đi nói với ông An-rê. Ông An-rê cùng với ông Phi-líp-phê đến thưa với Đức Giê-su. (23) Đức Giê-su trả lời: “Đã đến Giờ Con Người được vôn vinh! (24) Thật, Thầy bảo thật anh em: Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình. Còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. (25) Ai yêu quí mạng sống mình ở đời này thì sẽ mất. Còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời. (26) Ai phục vụ Thầy thì hãy theo Thầy. Và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó. Ai phục vụ Thầy, Cha của Thầy sẽ quí trọng người ấy. (27) Bây giờ, tâm hồn Thầy xao xuyến! Thầy biết nói gì đây? Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này. Nhưng chính vì giờ này mà con đã đến. (28) Lạy Cha, xin tôn vinh Danh Cha. Bấy giờ có tiếng từ trời vọng xuống: “Ta đã tôn vinh Danh Ta, Ta sẽ còn tôn vinh nữa!”. (29) Dân chúng đứng ở đó nghe vậy liền nói: “Đó là tiếng sấm!”. Người khác lại bảo: “Tiếng một thiên thần nói với ông ta đấy!” (30) Đức Giê-su đáp: “Tiếng ấy đã vọng xuống không phải vì tôi, mà vì các người. (31) Giờ đây đang diễn ra cuộc phán xét thế gian này. Giờ đây thủ lãnh thế gian này sắp bị tống ra ngoài! (32) Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi”. (33) Đức Giê-su nói thế để ám chỉ Người sẽ phải chết cách nào.
2. Ý CHÍNH:     
 

Việc dân Do Thái suy tôn khi đón rước Đức Giê-su vào thành Giê-ru-sa-lem và việc dân ngoại đến xin: MC5-B119

Việc dân Do Thái suy tôn khi đón rước Đức Giê-su vào thành Giê-ru-sa-lem và việc dân ngoại đến xin gặp mặt là dấu hiệu tiên báo đã đến “Giờ” Đức Giê-su được tôn vinh. Được tộn vinh nghĩa là vào trong vinh quang qua khổ nạn thập giá, giống như hạt lúa phải chết đi thì mới phát sinh ra nhiều hạt khác. Từ cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh, Đức Giê-su sẽ phá hủy bức tường ngăn cách giữa Do Thái và dân ngoại để ban ơn cứu độ phổ quát cho mọi dân tộc, và đến ngày tận thế thủ lãnh sự tối tăm là Xa-tan sẽ bị ném vào hỏa ngục đời đời.
3) CHÚ THÍCH:
- C 20-22: + Mấy Người Hy lạp: Đây là lương dân theo văn hóa Hy-lạp, có thiện cảm với đạo Do Thái hoặc mới theo đạo Do Thái. Họ lên Giê-ru-sa-lem dự lễ Vượt Qua (x. Ga 11,55). Được chứng kiến cuộc khải hoàn vào thành Giê-ru-sa-lem của Đức Giê-su, họ đã mạnh dạn đến xin gặp Người. + Ông An-rê cùng với ông Phi-líp-phê đến thưa với Đức Giê-su: Sở dĩ hai ông Phi-líp-phê và An-rê cùng đến thưa Đức Giê-su điều này vì cả hai ông đều nói thạo tiếng Hy-lạp, và cả hai đều sống ở Bết-xai-đa, nơi có nhiều dân ngoại sinh sống.
- C 23-25: + Đã đến Giờ: Tin Mừng nhiều lần nói đến “Giờ”: Giờ của Ta (x. Ga 2,4), Giờ của Người chưa đến (x. Ga 7,30 ; 8,20), Đã đến Giờ Người phải rời khỏi thế gian (x. Ga 13,1), Giờ phải uống chén đắng (x. Mc 14,35), Giờ của kẻ thù và của tối tăm (x. Lc 22,53), Giờ Đức Giê-su bị bỏ rơi (x. Ga 16,32), Giờ Con Người được tôn vinh (x. Ga 12,23). + được tôn vinh: là Giờ Chúa Cha tôn vinh Chúa Con (Ga 17,1). Được tôn vinh nghĩa là Đức Giê-su phải trải qua cuộc khổ nạn rồi sống lại để vào trong vinh quang cùng với Chúa Cha. + Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất: Đức Giê-su đã dùng dụ ngôn hạt lúa để giải thích: Hạt lúa có chết đi mới gây được một mùa gặt bội thu. Cũng vậy, Đức Giê-su cũng phải trải qua cuộc thương khó và bị giết chết, rồi mới được Chúa Cha cho sống lại vinh quang. Từ cạnh sườn của Người bị đâm thâu, Hội Thánh được sinh ra và phát triển. + Ai yêu quí mạng sống mình thì sẽ mất. Còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này...: Coi thường hay ghét mạng sống mình nghĩa là yêu mến ít hơn. Đây là một câu có hai vế đối nghịch nhau: Ai chăm lo hưởng thụ ở đời này thì sẽ mất sự sống vĩnh cửu đời sau. Còn ai chấp nhận gian nan thử thách đời này, thì sẽ được sống vĩnh cửu ở đời sau (x. Mc 8,35 ; Mt 16,25 ; Lc 9,24).
- C 26-28: + Ai phục vụ Thầy thì hãy theo Thầy: Ai muốn làm môn đệ Đức Giê-su thì phải đi con đường khổ nạn mà Người đã đi và sẽ được cùng Người sống lại. +Tâm hồn Thầy xao xuyến: Đứng trước cuộc tử nạn gần kề, Đức Giê-su cảm thấy bất an xao xuyến, vì Người có nhân tính giống như loài người chúng ta mọi đàng, ngoại trừ Người vô tội (x. Ga 8,46 ; 1 Ga 3,5). + Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này, nhưng chính vì Giờ này mà con đã đến: Mang thân phận loài người, Đức Giê-su cũng sợ hãi, đau khổ trước cái chết như mỗi người chúng ta. Người đã cầu xin Chúa Cha cứu mình khỏi “Giờ khổ nạn” ấy. Nhưng Người sẵn sàng chấp nhập vâng theo Ý Chúa Cha, nghĩa là cứu chuộc loài người bằng con đường đau khổ. Lời cầu xin này cũng được lặp lại trong vườn Câu Dầu (x. Lc 22,42-44). + Có tiếng từ trời vọng xuống: “Ta đã tôn vinh Danh Ta, Ta sẽ còn tôn vinh nữa!”: Tiếng Chúa Cha từ trời vọng xuống như khi Đức Giê-su chịu phép Rửa (x. Mt 3,17) và biến hình (x. Mt 17,5). Từ trước đến nay, Thiên Chúa đã tôn vinh Danh Ngài nhờ những “dấu chỉ” do Đức Giê-su thực hiện. Từ đây, Thiên Chúa sẽ lại tôn vinh Đức Giê-su khi cho Người từ cõi chết trỗi dậy tại Giê-ru-sa-lem.
- C 29-30: + Đó là “tiếng sấm!”... “Tiếng một thiên thần!”: Chỉ mình Đức Giê-su mới nghe được tiếng Chúa Cha. Còn các người khác chỉ nghe thấy âm thanh rền vang mà không hiểu nội dung nói gi? nên kẻ thì cho đó là tiếng sấm, kẻ khác lại nghĩ là tiếng thiên sứ nói với Đức Giê-su. Sự kiện này tương tự như trường hợp Sao-lô sau khi bị ngã ngựa tại cửa thành Đa-mát (x. Cv 9,3-7; 22,9). + Giờ đây đang diễn ra cuộc phán xét thế gian này. Giờ đây thủ lãnh thế gian này sắp bị tống ra ngoài: Giờ Tử Nạn và Phục Sinh của Đức Giê-su là Giờ phán xét và kết án: Những kẻ không tin sẽ bị liệt vào hàng ngũ Xa-tan đối nghịch với Thiên Chúa. Họ sẽ chịu chung số phận là bị loại ra khỏi Nước Trời do Đức Giê-su thiết lập.
- C 31-33: + Được nâng cao lên khỏi mặt đất: Đức Giê-su sẽ bị treo trên thập giá (x. Ga 8,28), rồi được đưa lên trời (x. Ga 3,13 ; 6, 62), sau khi từ cõi chết trỗi dậy (x. Ga 20,17). + Tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi: Đức Giê-su sẽ đưa các tín hữu lên trời hưởng vinh quang với Người. Với điều kiện họ cũng phải bỏ mình, vác thập giá mà theo Người (x. Mt 16,24); nghĩa là uống chén đắng như Người đã uống (x. Mt 20,23).
4. CÂU HỎI: 1) Đức Giê-su đã tuyên bố điều gì trước sự kiện dân Do thái hoan hô đón rước Người vào thành Giê-ru-sa-lem và một số lương dân đến xin gặp mặt? 2) “Giờ” của Đức Giê-su được Tin Mừng nhắc đến bao nhiêu lần? 3) “Giờ được tôn vinh” của Đức Giê-su nghĩa là gì? 4) Từ “ghét” sự sống mình ở đời này nghĩa là gì? 5) Tại sao Đức Giê-su xao xuyến bất an trước giờ tử nạn? 6) Đức Giê-su đã cầu xin với Chúa Cha thế nào để nêu gương vâng phục ý Cha cho chúng ta? 7) Thế gian bị phán xét và ma quỷ thủ lãnh thế gian sẽ hoàn toàn bị đánh bại vào lúc nào? 8) Muốn được Chúa Giê-su cứu độ, đưa lên thiên đàng hưởng vinh quang với Người thì ngay từ bây giờ các tín hữu phải làm gì?
 
II. SỐNG LỜI CHÚA
1. LỜI CHÚA: “Hạt lúa gieo vào lòng đất nếu chết đi mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12,24).
2. CÂU CHUYỆN:
1) SẴN SÀNG CHỊU CHẾT ĐỂ BẠN TÙ ĐƯỢC SỐNG
Vào năm 1941, tại nhà tù Ốt-suýt (Auschiwits), một trại tập trung của Đức Quốc Xã nổi tiếng tàn bạo và khủng khiếp nhất, có một tù nhân vượt ngục vào đêm hôm trước. Theo qui định của nhà tù, sáng sớm hôm sau viên sĩ quan coi tù đã tập họp tất cả tù nhân lại và lần lượt chọn ra 10 người phải chịu chết thay cho kẻ đào thoát. Một trong những người bị tử thần điểm danh ấy, khi được gọi tên, đã kêu to lên rằng: “Trời ơi! Thế là hết! Tôi sẽ không bao giờ còn gặp lại vợ con tôi nữa!”. Tiếng kêu than tuyệt vọng của anh khiến cho nhiều tù nhân phải rơi lệ. Bấy giờ một tù nhân liền tách ra khỏi hàng ngũ tiến đến gần viên sĩ quan chỉ huy để xin chết thay cho người bạn tù kia. Ông tự xưng là Mắc-xi-mi-li-a-nô Kôn-bê (Maximiliano Kolbe), một linh mục Công giáo. Lý do xin chết thay vì ông là linh mục đã tình nguyện sống độc thân, ông cảm thương người kia còn có vợ con phải chăm sóc. Sau khi được chấp thuận, Cha Kôn-bê cùng 9 bạn tù đi hàng một tiến về phía hầm chết đói. Tại đây, Cha và các bạn tù sẽ phải nhịn đói đến chết. Trong thời gian này Cha luôn động viên mọi người kiên vững đức tin và cậy trông phó thác cuộc đời trong tay Chúa Quan Phòng. Cha giúp họ can đảm chấp nhận cái chết mà không oán than, không chửi bới kêu khóc như nhiều người đã làm khi gặp hoàn cảnh tương tự. Cha là người sống dai nhất trong lúc các bạn tù đều lần lượt chết vì đói khát. Sau hai tuần lễ, Cha đã bị chích thuốc độc cho chết hẳn trước khi bị hỏa táng làm phân bón!
Người tù nhờ Cha Kôn-bê thoát chết tên là Phăng-xít (Francis Gap Wniczeck) về sau đã kể lại tình trạng nhà tù vào lúc đó như sau: “Sau khi Cha Kôn-bê tình nguyện chịu chết thay tôi thì tinh thần của các tù nhân trong trại giam biến đổi hẳn. Trước đây họ thường ích kỷ, khép kín, bắt nạt người mới và yếu thế hơn để tranh dành thực phẩm tiếp tế... thì bây giờ họ đã đối xử với nhau trong tình thân ái, nhường cơm xẻ áo cho nhau. Ai cũng cảm phục và muốn noi gương vị linh mục đã dám hy sinh tính mạng chết thay cho một người không quen biết.
2) GIÁ ĐẮT PHẢI TRẢ CHO THÁI ĐỘ VÔ CẢM:
Ở bên Trung Quốc, một chiếc xe buýt 16 chỗ chở đầy khách đang chạy trên đường đồi. Trên xe, ba tên côn đồ có vũ khí đã để mắt tới cô tài xế xinh đẹp. Đến khúc đường rừng, chúng ép cô tài xế phải lái xe vào bìa rừng và dừng xe lại. Tên cầm đầu bắt đầu có hành vi sàm sỡ với cô gái trước sự chứng kiến của hành khách trên xe. Khi bị tấn công, cô tài xế đã la hét cầu cứu, nhưng hầu như tiếng kêu cứu của cô chỉ được đáp lại bằng sự im lặng.
Bỗng một người đàn ông trung niên với dáng vẻ gầy yếu ngồi gần tài xế đã lên tiếng yêu cầu tên cầm đầu dừng tay, nhưng ông liền bị hai tên kia đánh đập tàn nhẫn. Ông càng lớn tiếng kêu gọi mọi người ngăn cản hành động man rợ kia lại, nhưng không một ai hưởng ứng. Sau đó cô tài xế đã bị bọn côn đồ lôi vào bụi rậm gần đó và để lại một tên cầm súng ra lệnh cho mọi hành khách phải ngồi yên trên xe.
Một giờ sau, bọn cướp đưa cô tài xế áo quần sốc xếch quay lại xe để tiếp tục cuộc hành trình... Trước khi nổ máy cho xe chạy, cô tài xế yêu cầu người đàn ông khi nãy đã bênh vực cô như sau: "Này ông kia, yêu cầu ông xuống xe đi!". Người đàn ông ngạc nhiên nói: "Cô làm sao thế? Tôi là người duy nhất đã lên tiếng bênh vực cô mà. Chẳng lẽ tôi đã làm sai hay sao?"
Cô gái vẫn tỏ ra cương quyết: "Nếu ông không xuống, tôi sẽ không cho xe chạy." Ðiều bất ngờ là các hành khách trước đó đã im lặng thì bây giờ lại nhao nhao đòi người đàn ông kia phải mau xuống xe. Thậm chí hai hành khách trẻ còn hè nhau lôi người đàn ông ra khỏi xe và chiếc xe tiếp tục cuộc hành trình. Cô tài xế vuốt lại mái tóc và vặn radio to hết cỡ. Chiếc xe đã lên đến đỉnh đồi và bắt đầu đi xuống sườn đồi. Phía tay phải đường đèo là một vực thẳm sâu hun hút. Tốc độ chiếc xe buýt tăng dần. Gương mặt cô lái xe trở nên căng thẳng, hai tay cô giữ chặt vô lăng và hai hàng nước mắt trào ra. Nhận thấy có điều không ổn, tên cầm đầu liền nói với cô tài xế: "Chạy chậm thôi, cô đang làm gì thế hả?" Cô tài xế không nói tiếng nào và tiếp tục nhấn ga cho xe chạy mỗi lúc một nhanh hơn. Tên côn đồ đã cố giành lấy vô lăng, nhưng chiếc xe đã lao lên lề đường và rơi xuống vực như tên bắn.
Hôm sau, môt tờ báo địa phương đã loan tin một tai nạn thảm khốc đã xảy ra ở vùng "Phục Hổ Sơn": Một chiếc xe cỡ trung đã rơi xuống vực sâu. Tài xế và 14 hành khách trên xe đều thiệt mạng. Trong thành phố, một người đàn ông đã đọc được bản tin và bật khóc!
3. SUY NIỆM:
1) Mầu nhiệm hạt lúa trong thiên nhiên:
Hôm ấy, một bác nông dân đã mang thóc giống đi gieo trên ruộng của mình. Đang khi gieo thì trời bỗng nổi cơn giông. Nhiều hạt giống gieo đã rơi xuống ruộng, nhưng cũng có những hạt bị cơn gió mạnh thổi bay lên mặt đường. Các hạt giống nằm trên đường cảm thấy mình thật diễm phúc khi nằm ở nơi khô ráo, đang khi bao hạt giống khác bị ngụp lặn dưới lớp bùn đên nhão nhét trong ruộng. Các hạt giống trên đường liền nói với các hạt nằm dưới bùn đen như sau: "Các bạn thật đáng thương! Trong lúc chúng tớ được nằm ở nơi khô ráo sạch sẽ, thì các bạn lại phải ngụp lặn dưới lớp bùn đen nhơ bẩn!”
Hạt lúa vừa dứt lời thì bỗng bị một bàn chân người giẫm đạp khiến nó gãy thành ba đoạn. Sau đó, nó lại bị một chiếc xe cán qua nát thành bột trên đường và một cơn gió ào tới thổi bay tứ tán. Những hạt lúa còn nằm lại đã trở thành mồi ngon cho lũ chim chóc và bầy chuột gặm nhấm!
Đang khi đó, từ những hạt lúa tưởng chừng bất hạnh kia chỉ ít ngày sau đã ngoi lên thành những chồi non đầy sức sống và trở nên những cây lúa cứng cáp. Cây lúa lớn dần và không đầy ba tháng sau đã bắt đầu trổ sinh bông lúa với hàng trăm hạt lúa khoe mình dưới ánh nắng mặt trời, và được vinh dự trở nên lương thực nuôi sống loài người. Từ một hạt lúa đơn độc ban đầu, cuối cùng nó đã biến thành trăm hạt lúa mới sau một quá trình biến đổi âm thầm!
Tin Mừng Gio-an hôm nay diễn tả hạt lúa bị mục nát trước khi biến thành cây lúa mang lại mùa gặt bội thu như sau: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình. Còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. Ai yêu quí mạng sống mình ở đời này thì sẽ mất. Còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời” (Ga 12,24-25).
2) Con đường hạt lúa của Đức Giê-su.
Đức Giê-su đã trỗi dậy từ trong cõi chết và mở ra một con đường cứu độ cho loài người chúng ta là “Phải qua đau khổ để vào vinh quang”.
Tông đồ Phao-lô đã diễn tả mầu nhiệm hạt lúa Giê-su qua ba giai đoạn như sau:
+ Mầu nhiệm Nhập Thể giống như hạt lúa được gieo vào lòng đất: "Đức Giê-su Ki-tô, vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế" (Pl 2,6-7).
+ Mầu nhiệm Tử Nạn giống như hạt lúa phải trải qua giai đoạn bị mục nát: "Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự" (Pl 2,8).
+ Mầu nhiệm Phục Sinh giống như hạt lúa đã được biến đổi gia tăng gấp bội: "Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người, và tặng ban danh hiệu, trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giê-su, cả trên trời dưới đất, và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ, và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: Đức Giê-su Ki-tô là Chúa" (Pl 2,9-11).
Tin Mừng Mát-thêu cũng trình bày mầu nhiệm hạt lúa của Đức Giê-su như sau: "Từ lúc đó, Đức Giê-su Ki-tô bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết:  Người phải đi Giê-ru-sa-lem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại” (Mt 16,21). Nghe vậy, các môn đệ không muốn chấp nhận. "Ông Phê-rô liền kéo riêng Người ra và bắt đầu trách: “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy. Nhưng Đức Giê-su quay lại bảo ông Phê-rô: “Xa-tan, lui lại đàng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người” (Mt 16,22-23).
3) Con đường hạt lúa của các môn đệ.
Đức Giê-su đã mời gọi mọi người đi con đường thập giá của Người: "Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo" (Mt 16,24). Nhóm 12 Tông đồ sau khi nhận được Thánh Thần đã chấp nhận đi theo con đường hạt lúa của Đức Giê-su. Phao-lô Tông Đồ dân ngoại đã bày tỏ với các kỳ mục ở Ê-phê-sô như sau: "Giờ đây, bị Thần Khí trói buộc, tôi về Giê-ru-sa-lem, mà không biết những gì sẽ xảy ra cho tôi ở đó, trừ ra điều này, là tôi đến thành nào, thì Thánh Thần cũng khuyến cáo tôi rằng: xiềng xích và gian truân đang chờ đợi tôi" (Cv 20,22-23).
Sau các Tông đồ, đến lượt các Ki-tô hữu cũng đã chọn đi con đường của hạt lúa là chấp nhận bị mục nát, chịu chết vì danh Chúa để từ đó Hội Thánh không ngừng được phát triển như lời ông Téc-tu-a-nô đã nói: "Máu các vị tử đạo là hạt giống trổ sinh các tín hữu".
4) Con đường hạt lúa của các tín hữu hôm nay.
Để đi được con đường tử nạn và phục sinh này, đòi chúng ta phải được ơn Thánh Thần trợ giúp. Mỗi người chúng ta cần noi gương các Tông đồ năng cầu nguyện kết hiệp với Đức Ma-ri-a để xin ơn Thánh Thần biến đổi.
Trong Mùa Chay này, chúng ta hãy áp dụng mầu nhiệm cây lúa bằng việc thực hành theo kinh “Cải tội bảy mối có bảy đức” cụ thể như sau:
- Mỗi ngày quyết tâm làm một việc phục vụ tha nhân như: quan tâm giúp đỡ người thân làm việc nhà, để loại trừ thói xấu ích kỷ lười biếng nơi mình.
- Can đảm lên tiếng bênh vực công lý thay vì thái độ im lặng để diệt trừ thói xấu vô cảm hèn nhát trong ta.
- Khiêm tốn năng khen ngợi tha nhân cách thành thật để loại trừ thói xấu kiêu ngạo tự mãn nơi bản thân mình.
- Tập làm luật sư bào chữa lỗi lầm cho tha nhân thay vì làm quan tòa kết án họ, để loại trừ thói xấu ganh ghét đố kỵ những ai hơn mình.
- Tập mỉm cười thân thiện và đi bước trước chào hỏi tha nhân ngay từ khi sáng sớm để loại trừ thói quan liêu cửa quyền, ưa xử dụng bạo lực và nói năng hách dịch làm thất nhân tâm.
- Tập thói quen mở rộng vòng tay thân ái để mỗi ngày một “thêm bạn bớt thù”. Mỗi gia đình công giáo sẽ kết thân với một gia đình lương dân để mở mang Nước Chúa.
4. THẢO LUẬN: Mỗi người chúng ta sẽ làm gì cụ thể trong những ngày Mùa Chay này, để noi gương Đức Giê-su, giống như Cha Kôn-bê xưa đã làm, đó là: hy sinh bản thân và khiêm nhường phục vụ tha nhân, nhất là những bệnh nhân hay những người gặp cảnh đáng thương?
5. LỜI CẦU:
- LẠY CHÚA GIÊ-SU, Khi đóng đinh Chúa trên cây thập giá, bọn đầu mục Do Thái tưởng đã hoàn toàn chiến thắng. Nhưng Giờ Tử Nạn đối với Chúa không phải là sự thất bại, nhưng là Giờ được Chúa Cha tôn vinh. Cũng như hạt lúa có chết đi mới sinh được nhiều hạt lúa mới, thì nhờ sự chết trên thập giá, Chúa đã được Chúa Cha tôn vinh bằng việc cho phục sinh, đặt làm Chúa tể muôn loài. Rồi Hội Thánh cũng noi gương Chúa để chấp nhận bị đế quốc Rô-ma bách hại suốt 300 năm, và cuối cùng đã được tôn vinh, qua việc chinh phục được cả Đế quốc tin theo Chúa và gia nhập vào Hội Thánh.
- Trong những ngày Mùa Chay này, xin đổ ơn Thánh Thần giúp chúng con sẵn sàng đón nhận những đau khổ thập giá với thái độ tin yêu và hy vọng, noi gương Chúa xưa. Xin cho chúng con ý thức rằng: thập giá là con đường duy nhất để nhờ đó chúng con xứng đáng nên hoàn thiện noi gương Chúa, và ngày sau còn được Chúa tôn vinh lên Quê Trời hưởng hạnh phúc đời đời. 
X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- D) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.
LM ĐAN VINH- HHTM
 
 

MC5-B120:  HẠT LÚA MÌ RƠI VÀO LÒNG ĐẤT…

http://www.simonhoadalat.com/Suyniem/chunhat/NamB/NamB.html
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
CHÚA NHẬT V MÙA CHAY, năm  B
Gr 31,31-34  Dt 5, 7-9    Ga 12,20-33
 

Giờ tử nạn của Chúa Giêsu sắp tới. Hôm nay, Chúa Giêsu đang ở Giêrusalem, do đó, có một số người Do: MC5-B120 Dalat

Giờ tử nạn của Chúa Giêsu sắp tới. Hôm nay, Chúa Giêsu đang ở Giêrusalem, do đó, có một số người Do Thái là dân ngoại bang nhưng họ lại có cảm tình với Do Thái giáo, họ lên Giêrusalem vào dịp lễ Vượt qua và ước ao được Chúa Giêsu. Họ muốn gặp Chúa Giêsu không chỉ để biết Ngài nhưng họ muốn hiểu thấu đạo về một con người mà xem ra họ cho rằng Ngài rất bí ẩn. Tuy nhiên, Chúa Giêsu không đáp ứng nhu cầu của họ, mà Ngài lại tỏ cho họ biết vinh quang của Ngài, biết giờ của Ngài: giờ Ngài đi vào cuộc tử nạn…Ngài tự ví Ngài như hạt lúa mì rơi xuống đất…
 
Đọc lại những lời Kinh Thánh trong các bài đọc hôm nay, chúng ta nhận ra nỗi thống khổ của dân Do Thái khi họ bị lưu đầy ở bên Ai Cập, cuộc đời của họ, dòng họ của họ và cả dân tộc của họ lâm cảnh lầm than cơ cực. Họ phải làm tôi tớ cho dân Ai Cập. Cuộc lưu đầy ở Babylon là một cuộc trừng phạt khủng khiếp. Tuy nhiên, Thiên Chúa luôn là Thiên Chúa tình thương. Ngài luôn tỏ lòng thương xót. Giữa cảnh khốn cùng luôn lóe lên tia sáng, tia hy vọng. Thiên Chúa phán :”…Ta ký kết với dân Ta một giao Ước mới, Ta sẽ là Chúa của chúng và sẽ không còn nhớ đến tội lỗi của chúng nữa “. Thật là lời an ủi, khích lệ, và làm tăng thêm can đảm, sự hy vọng cho mọi người. Lời của Thiên Chúa sẽ được thực hiện nơi Con Một của Người là Đức Giêsu Kitô :” …Máu của Chúa Giêsu sẽ đổ ra để chúng ta và nhiều người được tha tội “. Thư thánh Phaolô gửi tín hữu Do Thái cho thấy niềm hy vọng, ánh sáng lại bừng lên…Khi Chúa Giêsu được thánh Phaolô xác tín :” Mặc dầu là Con Thiên Chúa, Ngài đã học vâng phục do những đau khổ Ngài chịu và khi hoàn tất, Ngài đã trở nên căn nguyên ơn cứu độ đời đời cho những kẻ tùng phục Ngài “. Chúa đã chấp nhận cái chết nhục hình trên thập giá để tiến tới vinh quang và trở ne6nm nguồn ơn cứu độ cho mọi ngưởi bởi vì “ Ơn cứu độ chứa chan nơi Người “. Chúa Giêsu vẫn là thắc mắc luôn mãi cho nhiều người và cho chúng ta bởi vì chỉ ai có đức tin mới hiểu được cái chết đau thương của Chúa Giêsu. Chúa tự ví mình như hạt lúa mì vùi sâu trong đất, phải thúi đi, nó mới trổ sinh bông hạt. Điều này cho hay, thân xác thánh của Chúa Giêsu cũng phải chết đi: chết khổ hình trên thập giá, rồi bị chôn vùi trong mồ ba ngày…Chúa sẽ khải hoàn sống lại. Hình ảnh chôn vùi trong đất là hình ảnh của sự chết. Giờ của Chúa Giêsu là giờ cuối cùng, giờ tử nạn, giờ được tôn vinh: giờ hoàn tất sứ mạng cứu thế của Ngài. Hạt lúa mì bị chôn vùi, thúi đi và bừng lên đầy nhựa sống. Hình ảnh này là hình ảnh phục sinh. Chúa Giêsu chết và Ngài đã chiến thắng tử thần bằng việc phục sinh vinh hiển. Chúng ta mỗi người đều có sứ mạng Phục sinh và loan báo Tin mừng Phục Sinh.
 
Thực Tế, chúng ta đã nhận ra giờ hấp hối của Chúa Giêsu. Tuy thánh Gioan không tường thuật trong đoạn Tin Mừng này về cuộc thống khổ của Chúa Giêsu.Nhưng chúng ta vẫn mường tượng rõ ràng cuộc thương khó của Chúa đã bắt đầu. Con rắn đồng trong sa mạc là tiên báo cái chết của Giêsu trên thập giá. Cái chết ấy minh chứng cách hùng hồn rằng “ Không có tình yêu nào cao vời bằng tình yêu của người hiến mình vì người mình yêu “ ( Ga 15, 13 ) hoặc ”  Khi nào Ta bị treo lên cao khỏi mặt đất, Ta sẽ kéo mọi người đến cùng Ta “.
 
Linh mục André Guitton, S.s.s đã viết :” Qua dụ ngôn hạt lúa mì rơi xuống đất, ôi Giêsu, Chúa đã loan báo “ sự vinh quang “ đó, nhất thiết phải ngang qua cái chết và được táng trong mồ.Nhưng Chúa là chủ của số phận mình.” Giờ “ của Chúa là giờ Chúa tự do hiến cuộc đời mình. Hơn nữa, cái chết của Chúa không phải là sự chấm dứt một số phận, dù có rực rỡ đến đâu, nó là mầm mống của sự phục sinh và của cuộc đời viên mãn. Cũng như nắm lúa mì kia gieo xuống đất, và nó trở thành một mùa bội thu, trăm hạt nhờ một hạt… Ôi, Giêsu, giờ của Chúa, là giờ Chúa hiến cuộc đời mình trên thập giá, không chỉ cho “dân tộc” Itraen, mà để đoàn tụ trong sự hiệp nhất tất cả con cái Thiên Chúa tản mác khắp nơi ( Ga 11, 51 ). Cuộc hy tế của Chúa là ơn tha thứ cho mọi người đến với Chúa, dù là ai. Hy tế của Chúa là sự hòa giải và sự bình an cho mọi dân tộc “.
 
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết yêu mến thập giá để chúng con sẵn sàng, mau mắn góp phần vào công cuộc cứu độ của Chúa  . Amen.
 
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
 
 
  1. Ai muốn gặp Chúa Giêsu dịp lễ Vượt Qua tại Giêrusalem ?
  2. Họ đã nhờ vị tông đồ nào để họ có thể gặp gỡ được Chúa Giêsu ?
  3. Chúa Giêsu ví mình như hạt lúa mì, tại sao ?
  4. Cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá có ý nghĩa gì ?
  5. Mầu nhiệm Phục sinh nói gì cho chúng ta ?

MC5-B121:  Để được ơn nghĩa Chúa cần chết đi con người tội lỗi

Suy niệm Tin Mừng Chúa nhật V Mùa Chay – năm B
(Ga 12, 20 - 33)
 

Sau khi đã đi được nửa đường với lời mời gọi "Hãy Vui Lên" tuần trước khuyến khích chúng: MC5-B121

Sau khi đã đi được nửa đường với lời mời gọi "Hãy Vui Lên" tuần trước khuyến khích chúng ta tiếp tục tiến lên không ngừng nghỉ trên con đường ăn năn đền tội, cải đổi đời sống để chuẩn bị Lễ Phục Sinh. Việc đền tội này xảy đến trong Mùa Chay lúc mà sự mệt nhọc không làm giảm bớt, nhưng đúng hơn gia tăng niềm vui được đến gần mục đích.
Giao ước mới được ký kết
Kể từ khi dân Israel quay lưng lại với Thiên Chúa, thờ bò vàng (x. Xh 32), giao ước giữa Thiên Chúa với dân Ngài bị nhiều lần gián đoạn, do dân lỗi lời giao ước. Vì thế Chúa đã dùng miệng các tiên tri để phán dạy và trao ban một điều căn bản mới.
Trong Cựu Ước Giêrêmia là người duy nhất nói về "giao ước mới", nên lời của ông rất quan trọng, tại sao vậy? Vì lời ấy trình bày một sự thay đổi căn bản trong tương quan giữa Thiên Chúa với con cái Israel.
Nếu Luật của Thiên Chúa trước kia được khắc vào đá và Môisen phải đọc và truyền cho dân, dân đã lỗi phạm do vô tình hay hữu ý, khiến Chúa nổi giận. Nay Chúa ban hành Luật với một cách thức và công thức mới. Thiên Chúa sẽ ghi tạc vào lòng con cái Israel (Gr 31, 33). Mỗi người sẽ nhận được trực tiếp và cá nhân với Chúa (Gr 31, 34) không qua trung gian : "Người này sẽ không còn phải dạy người nọ, anh sẽ không còn phải dạy em " (Gr 31, 34)  theo nghĩa Kinh Thánh là hiệp thông với Chúa cách sâu xa nhất. Công thức của hai bên : "Ta sẽ là Chúa của chúng, và chúng sẽ là dân của Ta" (Gr 31, 34), đây là nét đặc trưng của giao ước kể từ khi Xuất hành (x. Xh 6, 7) sẽ được áp dụng cho từng người trong dân. Một giao ước "khiến mọi người từ nhỏ chí lớn đều nhìn biết Chúa, vì Chúa sẽ tha thứ tội lỗi cho dân" (Gr 31, 34 ). Giao ước mới này sẽ được Đức Kitô thực hiện và hoàn tất trong "giai đoạn" vượt qua.
Hoán cải tận con tim
Điều cần thiết hơn cả để đi vào trong giao ước là hoán cải, hoán cải để được Chúa thứ tha và làm mới lại giao ước. Tác giả Thánh Vịnh khơi dậy lòng thương xót của Thiên Chúa khi thứ tha tội lỗi cho dân. Trong Kinh Thánh có nhiều hình ảnh về sự tha thứ như : Thiên Chúa xóa, rửa và tẩy sạch, nên cũng có nhiều cách thế diễn tả sự đổi thay nơi con người được tha thứ. Nhưng sâu xa hơn cả là sự tái sinh: “Xin tạo cho con quả tim trong sạch, và canh tân tinh thần cương nghị trong người con” (Tv 50, 12-13).  Quả tim trong Kinh Thánh không chỉ là nơi chứa đựng cảm xúc nhưng còn là nơi chất chứa sự thông minh và đưa ra những quyết đoán nữa. Người có lòng trong sạch thì luôn hướng trọn về Chúa. Thần khí (trong tiếng Do Thái ) là hơi thở, sự sống và nguyên lý sáng tạo. Tác giả Thánh Vịnh thưa với Chúa khi nói về các vật sống : " Người rút lại hơi khí của chúng, chúng liền tắt thở, chúng sẽ trở về với đất bụi ! Người sai khí của Người, chúng được tạo thành và Người đổi mới mặt đất "(Tv 103, 29-30). Giống như các tội nhân được tha thứ, từ tội nhân, họ có thể trở thành chứng nhân của lòng thương xót Chúa.
Hãy là hạt lúa mì rơi xuống đất
Khi những người Hy Lạp đến xin được gặp Chúa Giêsu tại Giêrusalem trong dịp lễ Vượt Qua, họ nói với ông Philipphê rằng: "Thưa ngài, chúng tôi muốn gặp Đức Giêsu" (Ga 12, 24). Ước muốn nơi những người Hy Lạp mong gặp Chúa Giêsu và lắng nghe Lời Người đã nhận được câu trả lời long trọng của Chúa Giêsu như sau: "Ðã đến giờ Con Người được tôn vinh" (Ga 12, 23). Thử hỏi Chúa Giêsu muốn nhắc đến "giờ" nào đây? Khung cảnh lúc đó giúp chúng ta biết rõ rằng: Ðây là "Giờ" Mầu nhiệm và long trọng về cái chết và sống lại của Chúa.
Bằng một ẩn dụ về hạt lúa mì, Chúa Giêsu dùng với hình ảnh giầu biểu cảm về mầu nhiệm Vượt Qua, mầu nhiệm của sự biến đổi từ cõi chết qua cõi sống, tự nhiên nói lên tất cả. Chúng ta ghi nhận sự đảo ngược ý nghĩa của lễ Phục Sinh: mất sự sống mình, để lấy lại. Đây là hình ảnh dễ hiểu, phát xuất từ kinh nghiệm tự nhiên. Chắc chắn, "Nếu hạt lúa mì rơi xuống đất mà không thối đi, thì nó chỉ trơ trọi một mình"(Ga 12, 24). Để sinh tồn nói phải mục nát. Tiếp theo là sự so sánh ít thuyết phục của Chúa Giêsu khi chúng ta chưa có kính nghiệm về chính mình : "Ai yêu sự sống mình thì sẽ mất, và ai ghét sự sống mình ở đời này, thì sẽ giữ được nó cho sự sống đời đời " (Ga 12, 25). Nhưng nếu chúng ta suy tư về cái chết của người khác thì sẽ thấy không ai mang được điều gì mình đã chiếm hữu hay yêu thích khi còn sống. Sự mất mát này còn lớn hơn đối với những người đã đặt đời mình vào mọi sự ở trần gian.
Không giống như các Phúc Âm Nhất Lãm, nơi Tin Mừng Gioan không có cảnh Chúa Giêsu hấp hối trong vườn Giệtsimani. Nhưng cảnh này cách nào đó : ở đây Chúa Giêsu nói "xao xuyến" và nói đến "giờ" của mình. Bây giờ linh hồn Ta xao xuyến, và biết nói gì? (Ga 12, 27) Người xin Chúa Cha "cứu khỏi giờ này?" (Ga 12, 27) Người không trối giờ này, khi xin Cha tôn vinh "danh Cha", thể hiện vinh quang Cha, nghĩa là sự sống và quyến năng thần linh của Cha nơi Đức Giêsu. Một dấu chỉ trao ban được Chúa Cha chấp nhận. Bản văn kết thúc với một "lời tiên tri" của Chúa Giêsu tuyên bố Người phải chết cách nào. Lời này đã có từ câu đầu của Tin Mừng: " Đã đến giờ Con Người được tôn vinh" (Ga 12, 23).
Mong gặp Thấy Chúa Giêsu giống như nhóm người Hy Lạp xưa kia. Chúng ta đã nhìn thấy Chúa qua đôi mắt đức tin, nhìn nhận Người là Ðấng Thiên Sai, đã chịu đóng đinh chết và đã sống lại. Vậy chúng ta hãy để cho Chúa chiếm lấy và đã trở thành môn đệ Người.
"Khi  nào Ta chịu đưa lên cao khỏi đất, Ta sẽ kéo mọi người lên cùng Ta " (Ga 12, 32). Thật vậy, chính từ trên thập giá mà Chúa Giêsu sẽ mạc khải cho thế gian biết tình yêu thương vô biên của Thiên Chúa đối với nhân loại đang cần ơn cứu rỗi. Thiên Chúa là Chúa duy nhất của chúng ta, chúng ta là dân Ngài. Giao ước tình yêu bền vững giữa Thiên Chúa và nhân loại đã được thực hiện cách trọn vẹn trong hy tế Vượt Qua của Chúa Kitô.
Nhờ tham dự vào Mầu Nhiệm Thương Khó của Chúa Kitô, mà chúng ta có thể sống sự phong phú của hạt giống gieo xuống đất, và được Chúa đón nhận vào trong Vương Quốc trên trời. Amen. 
 
Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

 

MC5-B122:  Cái chết của Chúa Ki-tô là nguồn ơn cứu độ

CHÚA NHẬT V MÙA CHAY
 Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Gio-an 12:20-33)
 

Trong dịp lễ Vượt Qua, Chúa Giê-su có mặt tại Giê-ru-sa-lem, một số người Hy-lạp theo đạo Do: MC5-B122

Trong dịp lễ Vượt Qua, Chúa Giê-su có mặt tại Giê-ru-sa-lem, một số người Hy-lạp theo đạo Do-thái xin các môn đệ Chúa giúp cho họ được gặp Người.  Đáp lời thỉnh cầu này, Chúa Giê-su lại nói với các môn đệ về giờ phút quan trọng nhất của sứ mệnh mình:  cái chết nhục nhã trên thập giá.  Thánh Phao-lô khẳng định cái chết của Chúa Giê-su như tột đỉnh của sự vâng phục làm cho Người trở thành “nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người”.  Còn chính Chúa Giê-su, Người ví cái chết của Người giống với cái chết của hạt lúa được gieo vào lòng đất, để “nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác”.
                Trên đường lên Giê-ru-sa-lem, ba lần Chúa Giê-su đã tiên báo cuộc Thương khó và cái chết của Người.  Điều ấy làm cho các môn đệ thất vọng.  Giờ đây họ đang có mặt tại nơi sẽ xảy ra điều Người đã tiên báo, nên chắc họ cảm thấy nao núng.  Nhưng Chúa Giê-su muốn họ nhìn cái chết của Người theo ý nghĩa kế hoạch cứu độ mà Thiên Chúa Cha đã ấn định.  Trước hết, Người cho họ biết giờ chết của Người là “giờ Con Người được tôn vinh”.  Rồi để giải thích “được tôn vinh” như thế nào, Chúa Giê-su sử dụng hình ảnh cái chết của hạt lúa là khởi đầu cho tiến trình “sinh được nhiều hạt khác”.  Đúng vậy, khi hạt lúa gieo vào lòng đất, hơi ẩm và những chất trong đất sẽ giúp cho mầm sống bên trong phát triển.  Cái vỏ trấu bên ngoài bắt đầu nứt ra để mầm sống bên trong xuất hiện.  Hạt lúa không còn “trơ trọi một mình”, nhưng đã mất đi hình dạng ban đầu để bước sang giai đoạn phát triển mới:  thành cây lúa, rồi lớn lên, trổ đòng đòng, đâm bông hạt, từ một hạt lúa đơn độc biến thành trăm hạt khác! 
                Mầm sống nơi Chúa Giê-su là sự sống nguyên thủy xưa kia Thiên Chúa đã “thổi vào lỗ mũi” của A-đam (Sáng Thế 2:7).  Nhưng sự sống nguyên thủy ấy đã bị tội lỗi cướp đi khỏi ông và con cháu, để lại cái chết cho nhân loại.  Nay Chúa Giê-su sắp lấy cái chết mà chính Người đã bằng lòng chấp nhận, để chuộc lại lỗi lầm của A-đam và phục hồi cho nhân loại sự sống nguyên thủy Thiên Chúa ban cho ông và con cháu.  Quả thực Chúa Giê-su đã cho chúng ta hình ảnh thật đẹp và cao quý về cái chết Người sắp phải chịu tại Giê-ru-sa-lem.  Cái chết của Người là tận cùng của hành động “trút bỏ vinh quang” Thiên Chúa, nhưng đồng thời cũng là khởi điểm để “Thiên Chúa siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu” (Phi-líp-phê 2:8-9).  Cái chết của Chúa Giê-su đánh dấu “mức thập toàn” của bản thân Người và khởi điểm cho việc biến đổi thân phận con người chúng ta.  Nó hòa giải nhân loại với Thiên Chúa, phục hồi cho họ phẩm giá làm con cái Chúa, căn tính mới thay thế cho thân phận làm kẻ thù của Chúa.  Cái chết của Chúa Giê-su mở đầu cho giao ước mới như ngôn sứ Giê-rê-mi-a loan báo:  “Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng, còn chúng sẽ là dân của Ta” (Giê-rê-mi-a 31:33).
                Mặc dù đã ý thức được ích lợi vô cùng lớn lao do cái chết của Người, Chúa Giê-su vẫn có phản ứng giống như chúng ta khi đứng trước cái chết.  Người tâm sự với các môn đệ:  “Bây giờ, tâm hồn Thầy rất xao xuyến!”  Rồi Người hướng về Chúa Cha:  “Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này, nhưng chính vì giờ này mà con đã đến.  Lạy Cha, xin tôn vinh Danh Cha”.  Tới đây, tiếng Chúa Cha lập tức phụ họa và hỗ trợ tinh thần Chúa Giê-su:  “Ta đã tôn vinh Danh Ta, Ta sẽ còn tôn vinh nữa!”  Những lời khích lệ này của Chúa Cha tiếp tục đem lại niềm phấn khởi và lạc quan cho Chúa Giê-su.  Thực tại bị đóng đinh thập giá tuy là sỉ nhục và đau đớn, nhưng với Chúa Giê-su, thì “Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi”.  Phải, Người sẽ kéo nhân loại đứng dậy thoát ách nô lệ tội lỗi và đồng hành với Người tiến về nhà Cha.  Cái chết của Người báo động “giờ thủ lãnh thế gian này sắp bị tống ra ngoài”!
Sống sứ điệp Tin Mừng
                Thánh Phao-lô coi cái chết của Chúa Giê-su là thước đo mức độ thập toàn của sự vâng phục Chúa Cha và là nguồn ơn cứu độ đời đời cho “tất cả những ai tùng phục Người”.  Chúng ta theo Chúa và sắp bước vào Tuần Thương khó.  Chúng ta hãy nhìn những kết quả tích cực do cái chết của Chúa, đồng thời chuẩn bị cho mức thập toàn của chúng ta!  
 
Lm. Đa-minh Trần đình Nhi

 

MC5-B123: Bài chia sẻ Chúa Nhật V mùa chay

 
Lm. Giuse Phạm Quốc Phong SDB
“Hạt lúa mì gieo vào lòng đất, nếu nó chết đi, nó mới sinh nhiều hạt khác” (Ga 12,24)                                                          
 

Có mấy người hilạp đến gặp Philiphe để xin gặp Chúa Giesu, vì họ muốn đi gặp để biết thật sự Chúa MC5-B123

Có mấy người hilạp đến gặp Philiphe để xin gặp Chúa Giesu, vì họ muốn đi gặp để biết thật sự Chúa Giesu là ai, theo như những lời đồn đại của người ta. Có lẽ họ mong đợi sẽ được gặp một người vĩ đại, một nhà triết gia khôn ngoan, có thể chia sẻ với họ về những tư tưởng lớn lao. Nhưng ngược lại, họ lại tìm thấy một người Giesu đang đau khổ, bối rối và sợ hãi: “Bây giờ tâm hồn thầy xao xuyến, thầy biết nói gì đây? Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này” (Ga 12,27). Chúng ta cũng là những người đang đi tìm Thiên Chúa, đi tìm chân lý và ý nghĩa cho cuộc đời mình, liệu rằng chúng ta có bị bất ngờ và thất vọng không, khi Thiên Chúa mà chúng ta muốn tìm kiếm, không phải là một nhân vật vĩ đại, nổi tiếng, hay một nhà triết học, một nhà tư tưởng lừng danh, hay là một người giàu có, danh giá, mà Ngài lại ẩn mình trong những người bé nhỏ và nghèo hèn nhất của xã hội, những người bệnh tật, những người bị bỏ rơi, … và có thể đã có những lúc chính chúng ta không thèm nhìn, không tiếp nhận và thậm chí xua đuổi Ngài ra khỏi cuộc đời của chúng ta.
          Nhưng có lẽ chúng ta lại bất ngờ và thất vọng hơn nữa, khi chúng ta nhận được câu trả lời từ chính Chúa Giêsu cho các người hilap khi xưa và cũng là cho chúng ta hôm nay: “nếu các ngươi muốn hiểu Thầy, hãy nhìn hạt lúa mì kia, nếu các ngươi muốn nhìn thấy Thầy, hãy chiêm ngắm thập giá”. Ngài nói với mỗi người chúng ta: “Các con muốn hạnh phúc ư, hãy vác thập giá như Thầy đã vác”. Con đường mà Chúa Giêsu chỉ cho chúng ta, cũng chính là con đường thập giá mà chính Ngài đã đi trọn vẹn, dường như đối với chúng ta trong thế kỷ này, hơi bị mâu thuẫn và khó chấp nhận được. Vì sao vậy? thưa là bởi vì, thế giới mà chúng ta hay thường gọi là “thế gian” đang giới thiệu và hứa hẹn với chúng ta một con đường “kiếm hạnh phúc” khác hẳn. Đó là một con đường “tự do tuyệt đối” do con người làm chủ nhân độc quyền, một “khoa học kỹ thuật đỉnh cao” có khả năng chinh phục và điều khiểnvũ trụ, một “tiến bộ vượt bậc của ngành y học và sinh học”, một cuộc sống “hưởng thụ mọi nhu cầu”, … thế gian đang chào mời và hấp dẫn chúng ta bằng cách tạo ra nhiều “nhu cầu” và bảo đảm với chúng ta rằng, chúng ta sẽ hạnh phúc khi được thỏa mãn các nhu cầu đó. Và chúng ta ít nhiều bị ảnh hưởng bởi sự hấp dẫn của nó, và nhiều người trong chính gia đình chúng ta, trong giáo xứ chúng ta đang đi theo “lý thuyết” này. Nhưng tiếc thay cho đến bây giờ, lý thuyết này đang mất dần đi hiệu lực và sức mạnh của nó, vì những sự dữ đang hoành hành thế giới với sức phá hoại không tưởng nổi.
          Chúa Giêsu lại mời gọi chúng ta vào một con đường hoàn toàn khác hẳn, có vẻ đi ngược lại các xu hướng tự nhiên của con người. Nhà thần học gia nổi tiếng Karl Rahner có nói: “để biết được Thiên Chúa là ai, chỉ bằng cách là tôi phải qui gối xuống chân thánh giá”. Chính Chúa Giêsu đã đi vào trong con đường này, và Ngài mời gọi mỗi người chúng ta, nếu muốn hạnh phúc, hãy đi theo Ngài vào đó. Chúa Giesu là một hạt lúa mì, chết đi và sinh nhiều hạt mới, bước vào con đường thập giá và đã phục sinh, Ngài đã dùng cái chết của Ngài để tiêu diệt sự chết và tôn vinh Tình Yêu bất diệt mà Thiên Chúa dành cho con người.
          Không có con đường rộng nào dẫn đến thiên đàng đâu, mà chỉ có con đường hẹp mới dẫn đên Nước Trời thôi. Vấn đề là chúng ta có dám đi vào con đường hẹp không, để được hạnh phúc với sự giúp sức và đảm bảo sẽ chiến thắng của chính Chúa Giesu và Giáo hội của Ngài. Con đường này chính là con đường “tình yêu” đích thật, không phải thứ tình yêu “tôn thờ cảm xúc” như một bộ phận lớn giới trẻ đang quan niệm và tìm kiếm. Một tình yêu dẫn dắt chúng ta đến tìm gặp Đấng là Nguồn Mạch của Tình yêu, để rồi tìm gặp được chính chúng ta trong mầu nhiệm tình yêu đó, với tư cách là “con Thiên Chúa” và chúng ta sung sướng gọi Thiên Chúa “Abba, Cha ơi, Bố ơi”. Một tình yêu đưa chúng ta đến gặp một Thiên Chúa Tha Thứ, một người Cha nhân hậu không bao giờ trách tội con mình, nhưng là tha thứ luôn luôn và quên hết mọi lỗi lầm của chúng ta.Một tình yêu mang chúng ta đi vào một Thiên Chúa của giao ước và trung thành cho đến cùng, Ngài đã yêu chúng ta và Ngài đã yêu chúng ta đến cùng, đó là chết thay, trả cái nợ mà đáng lẽ chúng ta phải trả: “đó là sự chết”.
          Chỉ có “Tình Yêu” này mới có thể làm chúng ta thỏa mãn cơn khát vô tận của con tim chúng ta, và cũng chỉ có con đường “thập giá” này mới đưa chúng ta vào trong sự “hạnh phúc” đích thật. Ước gì trong tuần cực thánh sắp tới, chúng ta xin ơn được trở về với Thiên Chúa, trở về với chính chúng ta, để xin Người tha thứ và ơn can đảm đứng lên, bước theo Chúa vào trong con đường thập giá mỗi ngày, với sự đồng hành và giúp sức của chính Chúa Giêsu: “Đừng sợ, vì Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”. Xin cho mỗi người chúng ta dám can đảm chết đi con người cũ, chết đi cho Chúa và cho anh em, để chúng ta có khả năng trổ sinh bông hạt dồi dào.
 
 

MC5-B124: SỰ CHẾT VÀ SỰ SỐNG

Gm Giuse Vũ Văn Thiên
 

Theo quy luật chung, cuộc sống của chúng ta tồn tại nhờ vào sự hy sinh của những người có liên hệ, MC5-B124

Theo quy luật chung, cuộc sống của chúng ta tồn tại nhờ vào sự hy sinh của những người có liên hệ, cụ thể là cha mẹ và những người thân. Chúng ta sống và tồn tại cũng là nhờ các loài sinh vật cỏ cây mà chúng ta dùng làm lương thực. Các loài động vật hy sinh cho chúng ta có thực phẩm. Các loài thảo mộc hy sinh cho chúng ta có lương thực và rau cỏ trong bữa ăn hằng ngày.
Điều khẳng định trên đây liên quan đến đời sống thể xác. Đức tin Kitô giáo dạy chúng ta, con người được thông ban chính sự sống của Thiên Chúa, nhờ Ngài mà chúng ta hiện hữu và sống động. Hơn thế nữa, Đức Giêsu đã trao ban chính mạng sống của mình để cho chúng ta được sống. Người chính là hạt lúa rơi xuống đất, chấp nhận mục nát đi để làm nảy sự sống mới tồn tại muôn đời.
Mùa Chay cũng được gọi là Mùa Thương Khó, vì đây là thời gian giúp chúng ta suy niệm cuộc khổ nạn và sự chết của Đức Giêsu. Chúng ta tôn vinh thập giá là phương thế qua đó Đức Giêsu giới thiệu tình thương yêu vô bờ bến của Chúa Cha. Đức Giêsu đã hiến chính bản thân mình làm của lễ dâng lên Đức Chúa Cha, xin ơn tha tội cho loài người. Sự sống và hạnh phúc của con người được phát sinh và tuôn chảy từ cây thập giá. Ơn cứu độ dồi dào như mạch suối trào tuôn từ chính vết thương ở cạnh sườn của Người. Chính từ vết thương này phát sinh Giáo Hội và các Bí tích. “Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi”. Đó là huyền nhiệm của thập giá. Hai ngàn năm nay, con người chịu khổ hình trên thập giá đã lôi kéo biết bao người ra khỏi tối tăm để đến với ánh sáng, ra khỏi tội lỗi để đạt tới sự thánh thiện, ra khỏi hận thù để thực thi đức yêu thương.
Và như vậy, triết lý “hạt lúa” được đề nghị cho tất cả những ai muốn cất bước theo Đức Giêsu. Sự hy sinh này, đối với một số người, đã trở nên điều nghịch lý:
-Sẵn sàng hy sinh mạng sống thì sẽ giữ được nó mãi mãi
-Khư khư giữ lấy nó, sẽ bị mất muôn đời.
Đức Giêsu đã làm gương cho chúng ta: Người đã cho đi chính sự sống của mình. Người đã hiến mạng sống làm giá cứu chuộc cho nhiều người. Chính nhờ sự chết của Người mà cả trần gian được ơn cứu rỗi. Sự chết của Người đã mở ra một kỷ nguyên mới. Máu của Người đổ ra để ký kết một giao ước mới, giao ước vĩnh cửu. Những ai sống trong thời giao ước mới này, sẽ được nhận biết Chúa và thực hành những gì đẹp lòng Ngài (Bài Đọc I).
Nếu hạt lúa vẫn nằm yên bất động sau khi được gieo xuống thì niềm trông đợi của bác nông phu sẽ trở nên vô vọng.
Nếu thân xác Đức Giêsu vẫn cứ tồn tại trong nấm mồ, thì nhân vật Giêsu sẽ còn gì để nói với chúng ta.
Không, Hạt-Lúa-Giêsu đã mục nát để phục sinh và đâm bông kết trái. Hạt lúa ấy đã trở nên bánh ăn để nuôi dưỡng chúng ta.
Nếu mỗi Mùa Chay, chúng ta chỉ hô hào khẩu hiệu sám hối, chúng ta chỉ thực hành một vài nghi lễ bên ngoài mà đời sống nội tâm không được biến đổi, thì chúng ta giống như hạt lúa, vẫn trơ trơ vô cảm khi được gieo vào lòng đời.
Có bao giờ bạn nghĩ là chúng ta đang sống nhờ sự chết của Đức Giêsu ?
Có bao giờ bạn có những hy sinh cố gắng để đem lại niềm vui cho bản thân, trước khi đem lại niềm vui anh chị em mình?
Những thực hành Mùa Chay như cầu nguyện, hy sinh, ăn chay, chia sẻ… đang làm cho con người ích kỷ đầy tham vọng của chúng ta chết đi, nhường chỗ cho một con người mới, được sinh ra nhờ liên kết với thập giá của Đức Giêsu.
“Ai phụng sự Thày, hãy theo Thày!”. Thực hành những điều nói trên đây là đi theo Đức Giêsu để trở thành môn đệ của Người.

 

MC5-B125: ĐƯỢC TÔN VINH

Lm. Jos. DĐH, Gp. Xuân Lộc
 

Người xưa có câu : đã mang kiếp làm lừa, đừng sợ người ta mắng mình là ngu ngốc, đừng ngạc nhiên MC5-B125

Người xưa có câu : đã mang kiếp làm lừa, đừng sợ người ta mắng mình là ngu ngốc, đừng ngạc nhiên khi có kẻ cưỡi lên lưng. Được sinh ra làm người, bạn cũng chẳng nên bận tâm khôn hay dại, điều cần hơn là ta hãy sống tốt những gì mình đang có. Dù là lừa hay ngựa cũng là con vật chở hàng chở đồ, dù là người có điều kiện thuận lợi hay khó khăn, ai ai cũng đang hướng tới mục tiêu ở phía trước là được hạnh phúc.
Làm một cử chỉ đẹp để được tôn vinh hay được khen thưởng, chúng ta đã có khái niệm; còn chấp nhận chịu thua lỗ để được gọi là chiến thắng, chấp nhận chịu thiệt thân để được sống, được hạnh phúc, kinh nghiệm ấy hẳn là ta chưa có. Hạt lúa được gieo vào lòng đất chúng ta đã nghe, nhưng quá trình hư đi, thối đi như thế nào thì mọi người chỉ biết trên phạm vi lý thuyết mà thôi. Nếu “chảnh” hay tự mãn, chúng ta sẽ nghĩ Thầy Giêsu đang “lạc điệu” : ông nói gà bà nói vịt, đang đối diện với nguy hiểm chết người, Thầy Giêsu lại tuyên bố, giờ được tôn vinh !
Chỉ khi có tình yêu, người ta mới hiểu 2 từ vâng phục là gì, thế nào là thảo hiếu với Đấng bậc sinh thành dù là nghịch lý đau khổ, mất mát… Rõ ràng sinh tử là qui luật, thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi; quả thực, ai mà chẳng muốn được, sợ mất, thích bùi thích ngọt, ghét roi vọt trách mắng. Thấy khổ đau, biết mình mắc bệnh, sẽ lo tìm thầy chạy thuốc, trừ khi nào không né tránh nổi, bác sĩ bó tay, người ta mới vui lòng chấp nhận chết.
Như một nghịch lý khó chấp nhận được, làm sao “yêu sự sống mình ở đời này thì mất, còn ai ghét sự sống mình ở đời này thì sẽ giữ được nó cho sự sống đời đời” ? Theo thầy thọ giáo, lếch thếch đó đây làm đệ tử với hy vọng có một chút bổng lộc, địa vị, còn theo thầy mà mất tất cả ở đời này, đúng là khó hiểu thật ! Cuộc đời sòng phẳng như câu tục ngữ : ăn miếng trả miếng, hòn đất ném đi, hòn chì ném lại ; hay ông cho cây giò bà thò chai rượu.
Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay nói rằng : Ai phụng sự Ta, Cha Ta sẽ tôn vinh nó, nghĩa là giờ được tôn vinh tùy thuộc hành động đức tin của mỗi người. Giờ mà Đức Giêsu mong muốn không phải là giờ chết, đúng hơn là giờ hoàn tất sứ mạng Chúa Cha trao phó. Giờ được tôn vinh mà Đức Giêsu nói tới là một nghịch lý, ví như hạt lúa gieo vào lòng đất phải chịu thối đi để sinh nhiều bông hạt. Đối diện với giờ được tôn vinh, tâm hồn Đức Giêsu đầy ưu tư xao xuyến tự nhiên, biết nói gì ? Đức Giêsu hướng chúng ta tới một tín thác hoàn toàn : “Xin cứu con khỏi giờ này, vì giờ này mà con đến thế gian, lạy Cha, xin hãy làm vinh danh Cha”.
Giờ được tôn vinh của Đức Giêsu là giờ “chịu treo lên”, giờ hoàn tất sứ mạng, giờ mà Đức Giêsu có thể kéo mọi người tới sự sống đời đời. Thực ra, Chúa Giêsu luôn yêu cầu chúng ta phải chọn lựa : chấp nhận theo thầy hay bỏ cuộc, chấp nhận như hạt lúa chịu thối đi hoặc chỉ trơ trọi một mình ? Dù muốn hay không, khi còn sống trên trần gian, chúng ta còn phải đối diện với muôn vàn điều khó khăn, nghịch lý, giờ được tôn vinh của ta, tùy tự do ta chọn Chúa hay chọn thế gian ?
Câu truyện : Cầu nguyện sao cho lợi
Có một ông bố mua 10 tờ vé số, ông ấy về nhà dẫn theo thằng con đến nhà thờ tha thiết cầu nguyện, cầm tờ vé số đưa lên và ông khấn với Chúa như thế này : lạy Chúa ! con khổ quá rồi, xin Chúa thương cho con trúng tờ vé số này, con hứa sẽ dâng Chúa trọn vẹn tờ vé số này.
Thằng con đứng bên cạch níu áo Bố mà nói : Bố ơi như thế thì đâu được, dâng hết thì nhà mình lấy gì mà xài hả Bố. Ông bố nạt thằng con: xuỵt ! Tao đâu có ngu, tao còn 9 tờ trong túi đây này, khấn cầu phải như thế chứ…
Khôn ngoan thế gian và khôn ngoan trong Chúa hoàn toàn khác nhau. Chấp nhận nghèo khó ở đời này để được giầu có ở đời sau thật là một cám dỗ triền miên. Dám chịu khổ đau để đến vinh quang không thể thiếu ơn Chúa, tham sống sợ chết là tiểu nhân, khiêm tốn cậy dựa vào sức mạnh của Đức Giêsu để có sự khôn ngoan, đó mới là người quân tử.
Văn hào Vitor Hugo có nói tới một kinh nghiệm : dục vọng làm người ta nhỏ lại, tình yêu sẽ biến đổi người ta thành trẻ thơ. Đức Kitô không đòi buộc chúng ta phải từ bỏ tất cả tới mức, tự treo mình trên thập giá để đạt được vinh quang theo lối của Chúa, giờ Chúa được tôn vinh là giờ thế gian được cứu độ. Chúa kêu mời mỗi người hãy tự bỏ mình như hạt lúa, cần phải được vùi xuống đất, chết đi, để sinh bông hạt. Không phải chết về thể xác, nhưng chết về những tính xấu trong con người của ta : ích kỷ, kiêu căng, bất công, thù oán. Là môn đệ của Đức Kitô, ai ai cũng được mời gọi hướng tới giờ được vinh quang, và chúng ta có quyền hy vọng vào lời hứa : “Ai phụng sự Ta, hãy theo Ta; và Ta ở đâu, kẻ phụng sự Ta cũng sẽ ở đó”. Amen.

 

MC5-B126: CHẤP NHẬN MỤC NÁT ĐỂ TRỔ SINH MÙA LÚA MỚI

Lm. Giuse Đỗ Đức Trí
 

Ở đất nước nông nghiệp như Việt Nam, cây lúa gắn liền với đời sống của người dân. Nghề trồng MC5-B126

Ở đất nước nông nghiệp như Việt Nam, cây lúa gắn liền với đời sống của người dân. Nghề trồng lúa của Việt nay tuy đã có rất nhiều thay đổi tiến bộ, nhưng vẫn bị xếp vào nền nông nghiệp lạc hậu. Vấn đề quan trọng nhất của nhà nông bây giờ không còn là nhất nước nhì phân, mà phải là nhất giống, nhì phân, tam cần tứ nước. Nhà nông ngày nay khi gieo trống, họ luôn quan tâm và chọn loại giống nào cho năng xuất cao, chất lượng tốt, có giá trị kinh tế cao. Hạt giống chất lượng, không mang mầm bệnh, có sức kháng rầy, kháng bệnh sẽ đem lại mùa lúa bội thu cho nhà nông.
Hôm nay, Chúa Giêsu cũng dùng hình ảnh hạt lúa mì gieo vào lòng đất để nói về sự hy sinh, tự hiến của Ngài : Nếu hạt lúa mì gieo vào lòng đất mà chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. Chúa Giêsu chính là hạt lúa mì được Thiên Chúa Cha gieo vào thế gian. Ngài đã chấp nhận hạ mình mang lấy thân phận con người, chịu mục nát bởi sự giới hạn trong thân phận con người, và nhất là chấp nhận cái chết trong phận con người để làm trổ sinh một mùa lúa mới, một dòng giống mới.
Khi nghe các môn đệ báo là có những người Hy Lạp muốn gặp, Chúa Giêsu trả lời : Đã đến giờ Con Người được tôn vinh ! Giờ Chúa Giêsu nói đến chính là thời điểm vinh quang của Thiên Chúa được tỏa rạng, Danh Chúa được muôn dân nhận biết. Giờ ở đây là thời Thiên Chúa thực hiện việc quy tụ con cái của Ngài từ muôn dân, muôn nước trở nên một dân duy nhất. Nhưng đặc biệt hơn nữa, Chúa Giêsu muốn nói đến giờ Ngài hoàn tất chương trình cứu độ nhân loại qua cuộc tử nạn và phục sinh, mà Ngài đã dùng hình ảnh để so sánh : Nếu hạt lúa mì gieo vào lòng đất mà không chết đi thì nó chỉ trơ trọi một mình, còn nếu chết đi, nó sẽ sinh nhiều bông hạt. Ai yêu sự sống mình thì sẽ mất, còn ai đành mất mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ cho được sự sống đời đời.
Với hình ảnh này, Chúa Giêsu cho thấy cuộc thương khó và cái chết của Ngài sẽ không rơi vào vô ích, nhưng sẽ đem lại sự sống mới cho nhân loại. Chúa Giêsu, khi được Thiên Chúa Cha gieo vào trần gian với sứ mạng giải thoát con người khỏi sự ràng buộc của ma quỷ, tội lỗi và sự chết, Ngài đã âm thầm thực thi sứ mạng ấy trong vâng phục và từ bỏ chính mình để rồi hôm nay, Ngài thấy những mầm sống, những tia hy vọng đầu tiên hé nở qua việc những người dân ngoại tìm đến với Ngài.
Chấp nhận mang thân phận hạt lúa mì, thì cũng đồng thời phải chấp nhận nghịch lý “được và mất” : Ai yêu mạnh sống mình thì sẽ mất, còn ai đành mất mạng sống ở đời này, thì sẽ giữ được sự sống đời đời. Đây là một nghịch lý nhưng không hề vô lý, nghịch lý này chỉ dành cho những ai nhận ra giá trị vĩnh cửu của Nước Trời và sự sống đời sau mới dám đánh đổi như thế. Chúa Giêsu chấp nhận nghịch lý này khi hy sinh mạng sống, chấp nhận cái chết đau đớn, nhục nhã vì tội nhân loại và Thiên Chúa Cha đã trả lại cho Ngài sự sống lại trong vinh quang và còn đặt Chúa Giêsu làm Đấng Kitô và là Chúa tể trên trời và dưới đất.
Thiên Chúa Cha đã chấp nhận của lễ là sự yêu mến và vâng phục của Chúa Giêsu, sự vâng phục cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, đã là một hành động tôn vinh Danh Chúa và Thiên Chúa còn tiếp tục làm rạng Danh Ngài qua chính Người Con yêu quý của Ngài là Chúa Giêsu. Như thế, giờ tự hiến của Chúa Giêsu trên thập giá sẽ là giờ chiến thắng của uy quyền Thiên Chúa trên ma quỷ, của sự sống trên sự chết, của ân sủng và tình yêu trên tội lỗi và hận thù, đồng thời cũng là thời điểm Satan và các thế lực của nó sẽ bị loại trừ vĩnh viễn.
Một lần nữa, Chúa Giêsu nói về việc Ngài sẽ bị chết treo, nhưng cái chết treo này sẽ không còn là nỗi ám ảnh sợ hãi cho con người, cũng không còn phải là sự nguyền rủa của Thiên Chúa nữa nhưng sẽ là đỉnh cao, là điểm quy tụ lôi kéo mọi người quay về với Thiên Chúa : Một khi được giương cao khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên cùng tôi. Với cái chết treo trên thập giá, Thiên Chúa sẽ thiết lập một giao ước mới với một dân mới được Thiên Chúa yêu thương, điều này đã được Giêrêmia loan báo trước từ lâu : Ta sẽ lập với nhà Israel và Giuđa một giao ước mới,…Ta sẽ ghi vào lòng dạ chúng lề luật của Ta, Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng và chúng sẽ là dân Ta. Từ đây, dân mới là Hội Thánh, trong đó có mỗi chúng ta, được Thiên Chúa yêu thương cách riêng và Ngài đã ghi khắc lề luật của Ngài trong mỗi chúng ta, để từ đây, chúng ta hoàn toàn thuộc về Chúa mà thôi.
Nghịch lý của hạt lúa mì vẫn mãi là đòi hỏi và thách thức cho mỗi người : Là cha mẹ, chúng ta càng cảm nhận được nghịch lý này đang là một thách thức cho mỗi gia đình. Thế gian kéo chúng ta về một cuộc sống dễ dãi, buông thả, không cần cố gắng, không phải hy sinh, nhưng trái tim và ơn gọi làm cha mẹ lại đòi chúng ta phải chấp nhận hy sinh, tiêu hao cuộc đời, sinh lực, tâm trí, khả năng cho cho gia đình, cho con cái, với hy vọng tương lai hạnh phúc sẽ đến với con cháu mình. Hơn thế nữa, ơn gọi làm con Chúa và ơn gọi nên thánh thúc đẩy chúng ta phải chấp nhận tiêu hao cả con người cùng với sự hy sinh từng ngày để vun đắp hạnh phúc và đời sống đức tin cho con cháu. Hãy chấp nhận mục nát cái tôi ích kỷ, nhỏ nhen để vun đắp cho gia đình thêm ấm cúng, thuận hòa. Hãy chôn vùi vĩnh viễn những đam mê như rượu chè, cờ bạc, nghiện ngập, những lời nói chua ngoa hay những lời chửi bới tục tĩu để cho lòng nhân ái bao dung được nảy mầm, cho hạnh phúc được đơm bông kết trái.
Nếu cha mẹ dám chấp nhận một cuộc sống lương thiện, ngay thẳng thật thà, thì họ sẽ gặt được những hoa trái là những đứa con lương thiện. Nếu cha mẹ dám chấp nhận mục rã, hủy bỏ sự ươn lười của mình, họ sẽ gặt được những đứa con chăm ngoan. Nếu cha mẹ siêng năng trong đời sống đạo đức và công tác tông đồ, thì hoa trái của họ sẽ là những đứa con đạo hạnh, nết na. Cha mẹ nào cũng muốn hy sinh cho con, vì con, nhưng có những sự hy sinh uổng phí hoặc là hy sinh không đúng chỗ. Có người hy sinh vất vả chỉ để kiếm tìm cơm bánh cho con, mà lại quên vun đắp cho gia đình mình ấm cúng, thuận hòa, hạnh phúc. Có những người chỉ lo tìm kiếm của cải vật chất mà quên xây dựng đời sống đạo đức và tâm hồn cho con cái. Những hy sinh như thế là chưa đúng và còn là uổng công.
Là những người Công Giáo, đôi khi chúng ta cảm thấy mình bị thua thiệt so với những người khác, chỉ vì chúng ta muốn trung thành với Chúa Giêsu và giao ước mới của Ngài. Chúa Giêsu đòi chúng ta phải sống triệt để quy luật của hạt lúa mì, chấp nhận mục rã ở đời này để được hạnh phúc đời đời mai sau. Trong khi người đời chạy theo xu hướng hưởng thụ buông thả, nghiện ngập ăn chơi, thì chúng ta lại chấp nhận từ bỏ và tiết chế. Trong khi người đời tìm kiếm sự giàu sang vật chất thì chúng ta lại tìm kiếm gia tài trên trời ; và trong khi người đời dửng dưng, vô cảm với nhau, thỏa mãn trên sự nghèo khổ của anh em thì chúng ta lại đang muốn sống quan tâm, chia sẻ và cảm thông. Đó chính là quy luật của hạt lúa mì. Quy luật này phải là lý tưởng sống cho mỗi người trong thời đại hôm nay.
Mang thân là hạt lúa mì, mỗi người còn phải chấp nhận một sự nghiền nát, nhào nặn và đốt nóng để trở thành tấm bánh được dâng lên Thiên Chúa mỗi ngày trên bàn thờ, để tôn vinh Thiên Chúa, đem lại ơn cứu độ cho mình và cho mọi người ; đồng thời còn là tấm bánh được bẻ ra cho anh em. Xin cho chúng ta dám bẻ thời giờ, sức khỏe, tuổi trẻ, khả năng, của cải, lương thực để chia sẻ và đem lại cuộc sống hạnh phúc cho anh em. Amen.

 

MC5-B127: THỀ HỨA

Trầm Thiên Thu
 

Trong cuộc sống có nhiều dạng thề hứa. Thế hứa là giao ước thực hiện điều gì đó. Những người MC5-B127

Trong cuộc sống có nhiều dạng thề hứa. Thế hứa là giao ước thực hiện điều gì đó. Những người sống đời sống hôn nhân có lời hứa chung thủy phu thê, nhưng người sống đời sống tu trì có lời hứa mà chúng ta gọi là lời khấn – ít nhất là ba lời khấn: Vâng lời, nghèo khó, khiết tịnh. Lời thề hứa nào cũng rất cần chữ TÍN.
Giữa các quốc gia có các hiệp ước, các công ty có hợp đồng, giữa các cá nhân cũng có giao kèo. Trẻ em cũng thường ngoéo tay nhau mỗi khi thề hứa với nhau. Trong nhạc phẩm “Ngoéo Tay Nhau Thề”, tác giả Vinh Sử và Cô Phượng mô tả: “Ngoéo tay nhau thề lòng không dối lòng, ngoéo tay nhau thề tình nghĩa mênh mông…”. Chính tình yêu cũng có lời nguyện ước giữa hai người yêu nhau.
Tuy nhiên, hứa thì dễ, giữ mới khó. Lời hứa cũng nhiêu khê. Sử gia Thomas Fuller (1608-1661) nói: “Lời thề trong giông bão bị lãng quên lúc bình yên”. Triết gia Jean-Jacques Rousseau (1712-1778) nhận định: “Những người chậm chạp khi đưa ra lời hứa là những người trung thành với việc thực hiện nó nhất”.
Chuyện kể rằng…
Một anh chàng giật mình khi nghe một giọng nói khàn khàn, run run. Trước mắt gã, một bà cụ già yếu, lưng còng cố ngước lên nhìn gã, bên cạnh là mẹt rau chỉ có vài mớ rau muống xấu mà có lẽ có cho cũng không ai thèm lấy.
– Ăn hộ tôi mớ rau…!
Giọng bà cụ vẫn khẩn khoản. Bà cụ nhìn gã ánh mắt gần như van lơn. Gã cụp mắt, rồi liếc xuống nhìn lại bộ đồ công sở đang khoác trên người để tới chỗ làm sáng sớm. Bần thần một lát rồi gã chợt quay đi, đáp nhanh:
– Dạ, con không ăn, bà ạ!
Gã nhấn ga phóng nhanh như kẻ chạy trốn. Gã chợt cảm thấy có lỗi, nhưng rồi gã quên rất nhanh cái cảm giác ấy. “Mình thương người thì ai thương mình?” – ý nghĩ ích kỷ ấy lại nhen lên trong đầu gã.
– Ăn hộ tôi mớ rau, cô ơi! – Tiếng bà cụ yếu ớt.
– Rau thế này mà bán cho người ăn à? Bà mang về mà cho lợn! – Tiếng chan chát của một cô gái đáp lại lời bà cụ.
Gã ngoái lại, một cô gái cũng tầm tuổi gã. Cau mày, đợi cô gái đi khuất, gã đi đến nói với bà:
– Rau này bà bán bao nhiêu?
– Hai nghìn một mớ – Bà cụ mừng rỡ.
Gã rút tờ mười nghìn đưa cho bà cụ.
– Sao chú mua nhiều thế?
– Con mua cho cả bạn con. Bây giờ con phải đi làm, bà cho con gửi đến chiều con về qua con lấy!
Rồi gã nhấn ga lao vút đi như sợ sệt ai nhìn thấy hành động vừa rồi của gã. Nhưng lần này có khác, gã cảm thấy lòng mình vui vui…
Chiều hôm ấy mưa to, mưa xối xả. Gã đứng trong phòng làm việc ngắm nhìn những hạt mưa lăn qua ô cửa kính và theo đuổi nhưng suy nghĩ mông lung. Gã thích ngắm mưa, gã thích ngắm những tia chớp xé ngang trời, gã thích thả trí tưởng tượng theo những hình thù kỳ quái ấy. Chợt gã nhìn xuống hàng cây đang oằn mình trong gió, gã nghĩ đến những phận người, và gã nghĩ đến bà cụ
– Nghỉ ngơi thế đủ rồi đấy!
Giọng người trưởng phòng làm gián đoạn dòng suy tưởng của gã. Gã ngồi xuống, dán mắt vào màn hình máy tính, gã bắt đầu di chuột và quên hẳn bà cụ.
Mấy tuần liền gã không thấy bà cụ, gã cũng không để ý lắm. Gã đang bận với những bản thiết kế chưa hoàn thiện, gã đang cuống cuồng lo công trình của gã chậm tiến độ. Gã quên hẳn bà cụ rồi.
Chiều Chúa Nhật, gã xách xe máy chạy loanh quanh, gã vẫn thường làm như vậy, có lẽ gã thích thế. Gã ghé qua quán trà đá ven đường, nơi có mấy bà rỗi việc đang “buôn chuyện”.
Chưa kịp châm điếu thuốc, gã chợt giật mình bởi giọng oang oang của một bà béo:
– Bà bán rau chết rồi.
– Bà cụ hay đi qua đây hả chị? – chị bán nước khẽ hỏi.
– Tội nghiệp bà cụ! Cách đây mấy tuần, bà cụ giở chứng, cứ ngồi dưới mưa bên mấy mớ rau. Có người thấy thương hỏi mua giúp nhưng bà nhất quyết không bán, rồi nghe đâu bà cụ bị cảm lạnh mà… chết!
Câu chuyện khiến lòng chúng ta chùng xuống, nỗi bâng khuâng rất lạ, rất khó tả. Bà cụ là người chân thật, trọng chữ tín. Mấy mớ rau chẳng đáng gì, nhưng với bà cụ, lời hứa rất đáng giá. Lời hứa nào cũng vô giá – dù lớn hay nhỏ, và phải được thực hiện bằng mọi giá!
Giữa Thiên Chúa và con người cũng có những lời thề hứa, chúng ta gọi là giao ước. Thời Cựu Ước, Đức Chúa đã tuyên phán: “Này sẽ đến những ngày Ta sẽ lập với nhà Ít-ra-en và nhà Giu-đa một giao ước mới, không giống như giao ước Ta đã lập với cha ông chúng, ngày Ta cầm tay dẫn họ ra khỏi đất Ai-cập; chính chúng đã huỷ bỏ giao ước của Ta, mặc dầu Ta là Chúa Tể của chúng. Nhưng đây là giao ước Ta sẽ lập với nhà Ít-ra-en sau những ngày đó. Ta sẽ ghi vào lòng dạ chúng, sẽ khắc vào tâm khảm chúng Lề Luật của Ta. Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng, còn chúng sẽ là dân của Ta” (Gr 31:31-33). Thiên Chúa đã hứa gì thì chắc chắn được làm, làm đến nơi đến chốn.
Chúng ta chỉ là tội nhân, chẳng đáng gì để được Ngài hứa, nhưng vì lòng thương xót mà Ngài dành cho chúng ta những giao ước kỳ diệu và vô giá: “Chúng sẽ không còn phải dạy bảo nhau, kẻ này nói với người kia: ‘Hãy học cho biết Đức Chúa’, vì hết thảy chúng, từ người nhỏ đến người lớn, sẽ biết Ta. Ta sẽ tha thứ tội ác cho chúng và không còn nhớ đến lỗi lầm của chúng nữa” (Gr 31:34). Quả thật, tác giả Thánh Vịnh đã phải thốt lên: “Ôi lạy Chúa, nếu như Ngài chấp tội, nào có ai đứng vững được chăng?” (Tv 130:3).
Thiên Chúa không đòi buộc gì nhiều, Ngài chỉ cần chúng ta thành tâm sám hối. Thế thôi, mọi thứ sẽ ô-kê ngay! Thế nhưng chúng ta là phàm nhân, không chỉ có máu Pharisêu mà còn có máu Cuội. Quá quắt lắm, vừa giả hình vừa hứa lèo. Mùa Chay về, dịp thuận tiện để chúng ta nghiêm túc xét lại chính mình, và rồi hãy sám hối: “Lạy Thiên Chúa, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con, mở lượng hải hà xoá tội con đã phạm. Xin rửa con sạch hết lỗi lầm tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy” (Tv 51:3-4).
Chút tro rắc trên đầu (hoặc vẽ trên trán) cũng chỉ vô ích nếu chúng ta không “xức tro” tâm hồn và “xé lòng” vì tự cảm thấy bất xứng với Thiên Chúa là Đấng chí thánh. Chắc chắn Ngài xót thương mà bỏ qua hết nếu chúng ta thành tâm đấm ngực chính mình, đấm vào chỗ sâu thẳm nhất của con tim, chứ đừng đấm ngực người khác. Không chỉ vậy, chúng ta còn phải cầu xin Thiên Chúa biến đổi chúng ta bằng cách “đại tu” linh hồn chúng ta: “Lạy Chúa Trời, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng, đổi mới tinh thần cho con nên chung thuỷ. Xin đừng nỡ đuổi con không cho gần Nhan Thánh, đừng cất khỏi lòng con thần khí thánh của Ngài. Xin ban lại cho con niềm vui vì được Ngài cứu độ, và lấy tinh thần quảng đại đỡ nâng con; đường lối Ngài, con sẽ dạy cho người tội lỗi, ai lạc bước sẽ trở lại cùng Ngài” (Tv 51:12-15). Lời cầu nguyện chân thành như thế này là lời cầu nguyện có màu tím nhưng lại lung linh sắc hồng. Đẹp biết bao!
Sinh hữu hạn, tử bất kỳ. Cái khổ nhiều hơn cái sướng, cái buồn nhiều hơn cái vui, nước mắt nhiều hơn nụ cười. Đời phàm nhân là thế. Khi xuống thế làm người, Chúa Giêsu cũng phải chịu trăm cay ngàn đắng. Cay đến xé lòng, đắng đến cứng miệng. Còn con đường nào đau thương hơn Đường Thập Giá?
Thánh Phaolô cho biết: “Khi còn sống kiếp phàm nhân, Đức Giêsu đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết. Người đã được nhậm lời, vì có lòng tôn kính. Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục; và khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người” (Dt 5:7-9). Đức vâng lời rất cần thiết, cần thiết hơn cả lễ tế, thế nhưng lại là bài học khó học và khó áp dụng nhất.
Một hôm, trong số những người lên Giêrusalem thờ phượng Thiên Chúa, có mấy người Hy-lạp. Họ đến gặp ông Philípphê, người Bếtxaiđa, miền Galilê, và xin được gặp Chúa Giêsu. Ông Philípphê đi nói với ông Anrê, ông Anrê cùng với ông Philípphê đến thưa với Đức Giêsu. Ngài không trả lời thẳng vấn đề mà lại nói: “Đã đến giờ Con Người được tôn vinh! Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. Ai yêu quý mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời. Ai phục vụ Thầy thì hãy theo Thầy; và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó. Ai phục vụ Thầy, Cha của Thầy sẽ quý trọng người ấy” (Ga 12:23-26).
Đó là “giao ước” mà nghe lại như không là giao ước: Nếu thế này thì sẽ thế kia, nếu thế kia thì sẽ thế nọ. Rất bình thường mà lại rất lạ. Cũng với tinh thần đó, Thánh Phanxicô Assisi đã xác định: “Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân, chính lúc hiến thân là khi được nhận lãnh, chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời” (Kinh Hòa Bình). Quả thật, vô cùng kỳ diệu! Người ta phải tìm hiểu thấu đáo, rồi phải can đảm sống, nhờ đó mới có kinh nghiệm, có kinh nghiệm rồi thì mới cảm nghiệm được dạng giao ước “ngược đời” như vậy.
Thiên Chúa đã giao ước với nhân loại sau khi Ông Bà Nguyên Tổ sa ngã. Ngài đã hứa chắc chắn: “Một khi đã thề với danh nghĩa là Đấng Thánh, thì cùng Đa-vít, Ta chẳng thất tín đâu” (Tv 89 :36). Ngài hứa ban Con Một làm Đấng Cứu Độ, và Ngài thực hiện đến cùng. Chúa Cha cương quyết đến mức Chúa Giêsu, theo nhân tính, còn tưởng Ngài bị Chúa Cha bỏ rơi trong nỗi đau khổ tột cùng và thốt lên: “Sao Cha nỡ bỏ con?” (Mt 27:45; Mc 15:34).
Vâng, lời hứa phải được thực hiện, Ý Cha phải được thể hiện. Nhưng với nhân tính, Chúa Giêsu cũng cảm thấy lo sợ nên Ngài đã tâm sự với các môn đệ: “Bây giờ, tâm hồn Thầy xao xuyến! Thầy biết nói gì đây?” (Ga 12:27a). Và rồi Ngài thưa với Chúa Cha: “Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này, nhưng chính vì giờ này mà con đã đến. Lạy Cha, xin tôn vinh Danh Cha” (Ga 12:27b-28). Dù sợ nhưng Ngài vẫn chỉ mong Ý Cha nên trọn mà thôi. Ngay lúc đó có tiếng xác nhận từ trời vọng xuống: “Ta đã tôn vinh Danh Ta, Ta sẽ còn tôn vinh nữa!” (Ga 12:29). Dân chúng đứng ở đó nghe vậy, người thì bảo đó là tiếng sấm, người thì bảo đó là tiếng của một thiên thần. Người trần mắt thịt làm sao hiểu nổi! Và rồi Đức Giêsu nói: “Tiếng ấy đã vọng xuống không phải vì tôi, mà vì các người. Giờ đây đang diễn ra cuộc phán xét thế gian này. Giờ đây thủ lãnh thế gian này sắp bị tống ra ngoài!” (Ga 12:30-31).
Giờ G đã điểm. Sự giằng co rất gay go. Thời đại chúng ta đang sống cũng là thời điểm “tranh tối, tranh sáng”, Thánh Phaolô đã có lần thốt lên: “Mầu nhiệm của sự gian ác đang hoành hành” (2 Tx 2:7). Nhưng dù thế nào, Chúa Giêsu vẫn muốn thực hiện trọn đức tuân phục, và dù đau khổ tột cùng, Ngài vẫn hứa với chúng ta: “Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi” (Ga 12:32). Ngài nói thế để ám chỉ Ngài sẽ phải chết cách nào: Chết treo trên Thập Giá. Chúa Giêsu chịu chết để hoàn tất lời hứa của Chúa Cha.
Chúng ta được Thiên Chúa giao ước, chúng ta cũng phải thề hứa với Ngài và tha nhân, nhưng phải thực hiện đúng. Bằng cách nào? Đồng lao cộng khổ với Chúa Giêsu qua những điều trái ý mình hằng ngày. Mùa Chay, Mùa Thương Khó, chúng ta hãy noi gương Thánh nữ Faustina cầu nguyện: “Lạy Chúa Giêsu, con tạ ơn Ngài về những đau khổ nội tâm, về sự khô khan, về sự sợ hãi, về nước mắt, về sự lưỡng lự, về sự tăm tối nội tâm, về sự cám dỗ, về sự thử thách, về sự giày vò mà con không thể diễn tả, nhất là về những điều mà không ai hiểu, về giờ chết với sự chiến đấu dữ dội và cay đắng. Lạy Chúa Giêsu, con tạ ơn Ngài về những thập giá nho nhỏ hằng ngày, về sự đối nghịch với các nỗ lực của con, về sự gian khó của đời sống cộng đoàn, về sự hiểu lầm, về sự bẽ mặt vì người khác, về sự khó chịu mà người ta đối xử với con, về sự nghi oan, về sức khỏe yếu kém của con, về sự hy sinh, về sự chết cho chính con, về sự kém hiểu biết, về các kế hoạch thất bại của con” (Nhật Ký, số 343).
Ý nguyện thật là cao đẹp vì hoàn toàn muốn tuân phục Ý Chúa, nhưng để thực hiện thì chúng ta phải cố gắng lắm mới có thể hoàn tất lời ước nguyện, lời thề hứa. Thật không dễ dàng chút nào! Nhưng với ơn Chúa, người yếu đuối nhất cũng khả dĩ thực hiện.
Hành trình giao ước rất gian khổ, đầy máu đỏ tươi và nước mắt mặn chát, hành trình lời thề hứa là Hành Trình Thập Giá, phải qua Đường Thập Giá mới tới được Miền Ánh Sáng – Per Crucem ad Lucem.
Lạy Thiên Chúa, xin giúp chúng con biết chọn Chúa là cùng đích cuộc đời, xin giúp chúng con can đảm thực hiện mọi lời thề hứa với Ngài và với tha nhân. Đã biết bao lần chúng con lỗi lời thề với Ngài, xin Ngài thương tha thứ; đã bao lần chúng con sai lời hứa với nhau, nhưng chúng con không cho đó là tội phạm tới tha nhân, chúng con thành tâm sám hối và quyết tâm chấn chỉnh, xin Ngài đại lượng thương xót. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ chúng con. Amen.

 

MC5-B128: ĐÃ ĐẾN “GIỜ” BƯỚC THEO CHÚA

Lm. Giuse Dương Hữu Tình
 

Theo văn mạch Phúc Âm của thánh Gioan, sự kiện này xảy ra vào dịp lễ Vượt Qua của người Do-thái MC5-B128

Theo văn mạch Phúc Âm của thánh Gioan, sự kiện này xảy ra vào dịp lễ Vượt Qua của người Do-thái (x.Ga 11,55). Đây là dịp người Do-thái từ khắp nơi đổ về Giê-ru-sa-lem để mừng lễ, trong số đó có cả những người Do-thái đang định cư ở nước ngoài, thậm chí cả một số người ngoại quốc. Chúa Giêsu và các môn đệ cũng lên dự lễ và Người đã được đón rước vào thành một cách rất long trọng (x.Ga 12,12-15). Nhân dịp này, có mấy người Hy-lạp muốn xin gặp Chúa Giêsu và họ đã nhờ qua thánh Phi-líp-phê. Các nhà chú giải giải thích lý do những người này gặp thánh Phi-líp-phê có lẽ vì ngài biết tiếng Hy-lạp, sở dĩ tên của ngài cũng là tên gọi Hy-lạp chứ không phải tên gọi Do-thái. Nhưng nhờ sự kiện này, chúng ta được lắng nghe những lời tâm huyết – quyết tử của Chúa Giêsu, những lời thoạt nghe thấy rất lạ lùng.
Lạ lùng ở chỗ, khi thánh Phi-líp-phê và thánh An-rê đến thưa với Chúa về việc có một số người Hy-lạp muốn gặp, Chúa không trả lời là cho gặp hay không. Những câu “trả lời” của Chúa xem ra chẳng ăn khớp gì với câu hỏi: “Đã đến giờ Con Người được tôn vinh!….”. Thái độ lạ lùng này của Chúa lại là lý do để chúng ta dừng lại và khám phá ra tâm trạng của Chúa lúc bấy giờ. Đó là một tâm trạng đang chờ đợi. Dường như Người đang chờ đợi một điều gì đó, mong mỏi lắm, khát khao lắm thì phải. Câu Người thốt lên vén mở cho ta phần nào sự mong mỏi, chờ đợi đó: “Đã đến giờ Con Người được tôn vinh!”. Vậy là đã rõ, Người chờ đợi, khát khao “giờ” của Người.
Trong Phúc Âm, có nhiều lần Chúa nhắc tới cái “giờ” này. Tại tiệc cưới Ca-na, khi Mẹ Maria nói với Người “Họ hết rượu rồi”. Chúa đáp: “Thưa bà, chuyện đó can gì đến bà và tôi? Giờ của tôi chưa đến” (Ga 2,3-4). “Giờ tôi chưa đến”; có một sự mong chờ, một sự quyết định, nhưng chưa đến lúc. Hôm nay, khi nghe hai môn đệ nói có một số người Hy-lạp muốn gặp, Chúa bỗng thốt lên “Đã đến giờ”. Tại sao phải đợi đến lúc này? Tại sao mấy người Hy-lạp muốn gặp lại là dấu hiệu Chúa biết “giờ” đã đến? Phải chăng đây là dấu hiệu đã đến “giờ” phải quyết định?
“Giờ đã đến”, ơn cứu độ đã điểm và đã chín muồi vì đã có dấu hiệu khát khao ơn đó nơi dân ngoại. Giá trị ơn cứu độ sẽ không chỉ còn cho người Do-thái mà cho cả dân ngoại, cho toàn thể địa cầu; không còn chỉ cho một dân tộc được tuyển chọn và gắn bó với niềm tin, mà còn cho cả những dân tộc sống bằng triết lý cao siêu thông thái. Ơn cứu độ sẽ lan tràn nhưng một dòng thác lũ để giải thoát cả trần gian này. Đó là ơn cứu độ phổ quát. Vận mạng và sự sống đích thực của cả loài người đang chờ đợi giây phút này, giây phút chín muồi của ơn cứu độ. Ơn cứu độ ấy giờ đây chỉ còn đợi chờ hiệu lệnh, chờ đợi một quyết định dứt khoát nơi Người. Và lúc này đây, chính Người đã lên tiếng như một hiệu lệnh: “Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác”. Những câu như thế và những câu tiếp theo: “Ai yêu quý mạng sống mình , thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời” không còn là những câu giảng dạy đạo lý bình thường mà là những lời khẳng định cương quyết. Người khẳng định chắc chắn như thế vì Người đã chọn lựa rồi, quyết tâm rồi và chắc chắn sẽ làm. Đó quả là một cuộc chiến cam go, hồi hộp, sợ hãi, xao xuyến như được tả trong những câu Phúc Âm tiếp theo. Nhưng quyết tâm vẫn là quyết tâm, vận mạng và sự sống sống còn của cả loài người đang chờ đợi giây phút này. Một lần nữa tiếng Chúa lại vang lên như một lời quyết tử: “Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi”.
Chúa nhật tuần tới chúng ta sẽ bước vào tuần thánh. Lời quyết tử của Chúa cũng chính là án tử cho Người. Thế nhưng án tử đó lại là một cuộc chiến thắng. Chiến thắng của sức mạnh trên sự yếu đuối, của sự sống trên sự chết, của tình yêu trên hận thù.
Tâm tình của Chúa được ghi lại trong Phúc Âm hôm nay phải chăng là một lời mời gọi hết thảy chúng ta: Này bạn, bạn có dám quyết tử không? Hay phải chăng cả cuộc đời của bạn không bao giờ có một “giờ” nào được coi là “giờ” có ý nghĩa? Nếu không, vậy khi nào “giờ” của bạn mới tới? Hãy nhớ cho rõ những lời của Thầy Chí Thánh: “Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời”.
 

MC5-B129:  CHÚA NHẬT 5 MÙA CHAY B

Br. Vincent SJ
Bước vào Cầu Nguyện:
 

Tiền nguyện: đặt mình trước sự hiện diện của Thiên Chúa và xin ơn Chúa Thánh Thần để biết cầu MC5-B129

Tiền nguyện: đặt mình trước sự hiện diện của Thiên Chúa và xin ơn Chúa Thánh Thần để biết cầu nguyện làm sao cho đẹp lòng Thiên Chúa
Kinh dọn lòng: Lạy Chúa, xin cho tất cả mọi lời nói, ý hướng và mọi hành động của con đều hoàn toàn qui hướng về việc phụng sự, ca ngợi và tôn vinh Thiên Chúa
Ơn xin: Xin cho con dám bước vào con đường Thập Giá Chúa để được cùng Vinh Quang với Chúa trong Nước Cha
Suy niệm:
Đoạn Tin Mừng này tiếp tục nói đến giờ tôn vinh của Chúa Con trong chương 11,4 và giờ đó đang trở thành hiện thực. Chính cái chết của Chúa Giêsu sẽ mở toang cánh cửa cho muôn dân, đó là lý do tại sao mấy người Hy Lạp đến gặp Ngài và cũng là dấu hiệu loan báo giờ đã đến. Giờ mà Chúa Giêsu sẽ trở về cùng Cha và mọi người sẽ liên kết với nhau thành một dân có cùng một Cha. Tôi cảm thấy mình nhận biết về giờ của bản thân như thế nào ( giờ học, giờ ăn, giờ ngủ, giờ kinh nguyện, thánh lễ…. ), tôi thấy mình có gắn bó với Giêsu và để cho những người khác nhận ra một Giêsu nơi con người tôi hay không?
Những người Hy Lạp họ muốn gặp Đức Giêsu. Họ chọn Ngài là cùng đích đời họ. Đó là một bước chuyển biến trong tâm hồn những người Hy Lạp này, được xem là những người ngoại giáo, trở thành những Kitô Giáo. Việc họ muốn gặp Đức Giêsu cho thấy họ tin vào Ngài và muốn đi theo Ngài. Nhìn lại cuộc sống thường ngày tôi có thấy mình khao khát để gặp Thầy Giêsu hay không và tôi có tin rằng Ngài chính là cùng đích cuộc đời tôi, để tôi có thể sống và chết cho Ngài không? Việc họ có gặp được Giêsu hay không chúng ta không biết, tuy nhiên, chúng ta có thể thấy rằng, người trung gian là Philipphê đã gặp Chúa, thì chắc rằng họ cũng sẽ được nghe kể lại hay được dẫn trực tiếp đến Thầy Giêsu.
Sự môi giới của Philípphê cho những người Hy Lạp cũng là dấu chứng cho thấy có nhiều cách thế để đến và gặp Giêsu. Tôi cũng được Chúa mời gọi để trở nên trung gian làm cho những người khác nhận biết Chúa ngang qua đời sống của mình. Vậy tôi đã sống vai trò trung gian này như thế nào?
Khi Phiplípphê mở miệng hỏi thì lập tức Đức Giêsu trả lời “Đã đến giờ Con Người được tôn vinh”. Giờ mà mọi người sẽ nhận biết Đức Giêsu là ai và ngang qua ao ước của những người Hy Lạp, Con Người Giêsu lại càng được mạc khải sắc nét hơn. Đó cũng chính là điều mà mỗi chúng  ta, những người môn đệ của Đức Giêsu, cần truyền đạt lại cho mọi người rằng qua cái chết của Đức Giêsu, ơn cứu độ được mở ra cho tất cả chúng sinh.
Giờ tôn vinh của Đức Giêsu được mạc khải cách long trọng bằng câu nói : “thật, Thầy bảo thật anh em”. Giờ, còn trì trệ cho đến lúc này, cuối cùng đã đến, giờ vừa là sự chết vừa là sự tôn vinh. Để diễn tả cái chết gắn liền với vinh quang, Chúa Giêsu dùng dụ ngôn quen thuộc nơi thôn quê về hạt lúa cần phải mục nát để mang lại nhiều hoa trái. Câu chuyện có vẻ như rất bình thường đối với những người nông dân và mọi người lại là điều được Chúa Giêsu nhắc đến. Có lẽ, con người ngày nay thường hay quên hay không áp dụng những điều bình thường xảy ra trước mắt chúng ta để đưa vào cuộc sống nhân sinh quan. Người ta thường tìm kiếm những gì là vĩ đại, cao sang mà quên đi cái tầm thường thân thương. Chính Chúa Giêsu, Đấng là Thiên Chúa, đã từ bỏ địa vị của mình mà xuống thế làm người. Chúa Giêsu chính là hạt giống cần được gieo vào lòng đất, chết đi, nhờ đó mang lại nhiều hoa trái cho mọi người. Một hạt giống vẫn mãi mãi là hạt giống, nhưng nếu nó được gieo vào lòng đất, được chăm sóc, bảo vệ thì nó sẽ sinh nhiều hạt giống khác. Chính cái chết của Chúa Giêsu đã lôi kéo mọi người về cùng Cha. Tôi cảm thấy mình là hạt giống cần được gieo xuống, cần được chết đi hay không? Hay tôi vẫn muốn mình mãi mãi là hạt giống, không muốn người khác đụng vào, muốn được yên thân? Nếu vậy, tôi có thấy Lời Chúa đụng chạm gì đến cách sống của tôi, thái độ của tôi đối với Chúa và tha nhân như thế nào? Người ta thường nói chết đi cho người khác thì dễ, con chết đi cho chính mình thì khó. Đó là người ta nói, còn nếu chúng ta nhìn vào Đức Giêsu, chúng ta sẽ có sức mạnh để chết đi cho chính mình, để cuộc đời chúng ta nên giống Chúa và làm chứng cho Nước Cha.
Đã làm người thì phải trải qua cái chết, Chúa Giêsu cũng đi qua cái chết nhưng cái chết của Ngài không những đi vào vinh quang với Cha mà còn là cách thức để khai sinh và nuôi dưỡng Giáo Hội, những hạt giống được trổ sinh nhờ Máu Con Chiên. Cái chết của Đức Giêsu nối kết con người với Ngài “Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó”, một sự liên kết không chia lìa như nhành nho gắn liền với thân nho mà Gioan sẽ tiếp tục diễn tả trong chương 15. Đó cũng chính là thân phận của con người, của cộng đoàn khi gắn kết với Chúa Giêsu và phần thưởng là “Cha Thầy sẽ quí trọng người ấy”Tôi có thấy mình gắn kết với Chúa Giêsu không và tôi có muốn được dự phần vào phần thưởng Cha ban tặng không? Tôi có tin và xác tín điều Chúa Giêsu nói? Nếu tôi là người môn đệ của Chúa thì tôi cũng phải trở nên giống Thầy, Thầy đi đâu tôi cũng đi để chia sẻ cuộc sống đói, no, vui, buồn, thành công, thất bại với Thầy, ngay cả đi vào trong cái chết với Thầy. Tôi thấy mình bước đi như thế nào?
Điều trái ngược là những người yêu quí mạng sống mình là những người qui kỉ, tìm vinh quang cho riêng mình, ưa thích sự tối tăm, và mến chuộng thế gian lại là cách sống và cách hành xử thường ngày của con người ngày hôm nay. Bản thân tôi có thấy nơi mình nhuốm màu của cách hành xử này không? Nếu có, tôi cần làm gì để tránh xa nó?
Đứng trước những môn đệ thân thương và cảm thấy cái chết gần kề, Đức Giêsu cũng cảm thấy sao xuyến “bây giờ, tâm hồn Thầy sao xuyến”. Điều chắc chắn rằng, không ai có thể nói mạnh về cái chết. Đứng trước cái chết, con người chỉ biết cúi đầu và im lặng. Tuy nhiên, nỗi sao xuyến thì vẫn còn đó. Chúa Giêsu cũng không biết nói gì nhưng Ngài tin tưởng và phó thác mọi sự trong tay Cha “Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này, nhưng chính vì giờ này mà con đã đến”. Tôi có thấy mình phó thác cuộc đời trong vòng tay yêu thương của Chúa Quan Phòng không? Hay tôi vẫn loay hoay tìm kiếm cho chính mình một cõi riêng tư?
Chúa Giêsu không chỉ phó thác cuộc đời cho Cha mà còn vâng phục Cha hoàn toàn “Lạy Cha, xin tôn vinh Danh Cha”. Để tôn vinh Cha cần phải bỏ mình. Để nói tốt về người khác cần phải khiêm tốn. Trong năm tân Phúc Âm Hóa đời sống xứ đạo – buôn làng – cộng đoàn đời tu , tôi thấy mình sống vâng lời cha mẹ, anh chị em trong gia đình, thầy cô giáo, các giảng viên giáo lý hay bề trên cộng đoàn như thế nào? Đâu là những khó khăn tôi gặp phải khi sống chiều kích vâng lời này?
Trước sự vâng phục và phó thác của Chúa Giêsu, Chúa Cha đã chuẩn y qua tiếng từ trời “Ta đã tôn vinh Danh Ta, Ta sẽ còn tôn vinh nữa”. Có lẽ, đây là lần đầu tiên trong tin mừng Gioan, Chúa Cha lên tiếng nói với Chúa Con. Chính việc can thiệp của Chúa Cha minh chứng rằng Chúa Giêsu chính là Chúa Con và là Đấng Thiên Sai. Tôi có thấy sứ mạng của tôi nằm trong chương trình của cha mẹ, bề trên, của cộng đoàn và làm cho tôi được triển nở hạnh phúc không? Nơi công việc và sứ vụ tôi làm, tôi có thấy Chúa đồng hành với tôi hay không?
Có điều bất thường xảy ra là tiếng Chúa Cha nói cho Chúa Giêsu lại được dân chúng nghe thấy và họ đã phản ứng. Họ nghe mà họ không hiểu và nghĩ đó là tiếng sấm hay tiếng một thiên thần. Chính Chúa Giêsu lại là người giải thích Lời Cha. Lời đó vang xuống không phải vì Chúa Giêsu nhưng vì những người đứng đó và những người đang đọc Lời Chúa hàng ngày vì thiếu sự tin tưởng nơi Thiên Chúa nên sẽ bị dẫn tới án phạt “thủ lãnh thế gian sắp bị tống ra ngoài”. Đứng trước lời sấm này, tôi thấy mình cần hoán cải những gì? Gần sắp kết thúc mùa chay, tôi được mời gọi đổi mới ra sao?
Điều an ủi cho mỗi người chúng ta đó là Chúa Giêsu được giương cao sẽ kéo mọi người đến với Ngài. Con người sống trong bóng tối, bóng mờ, của sự cứng lòng tin, sự dữ là những cản trở đưa con người đến với Thiên Chúa. Chính Chúa Giêsu đã chiến thắng sự dữ, bóng tối và mời gọi mọi người nổ lực để chiến thắng sự ác xung quanh mình cũng như trong lòng mình. Tôi có thấy rằng cái chết của Chúa Giêsu có phần trách nhiệm của tôi không? Tôi có tin ngang qua cái chết của Chúa Giêsu đã cứu tôi khỏi tội và đưa tôi vào làm con cái Chúa không? Tôi cần diễn tả tâm tình đó như thế nào?
Lạy Chúa, cám ơn Chúa đã cho con làm người và làm con Chúa. Xin cho con trở nên hạt giống tốt nhưng cũng biết làm trổ sinh những hạt giống khác nhờ chết đi chính bản thân con và nhất là nhờ trở nên giống Chúa, con sẽ nhẹ nhàng và sống hạnh phúc với những người xung quanh con.

 

MC5-B130: Bài giảng lễ thiếu nhi: Chúa Nhật 5 mùa chay, năm B

CHÚA NHẬT V MÙA CHAY B (Ga 12,9-32)
Lm Giuse Đinh Tất Quý
"Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất,
tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi"(Ga 12,32)

Thiếu nhi chúng con yêu quí,
 

Cha đố chúng con hôm nay là Chúa Nhật thứ mấy của Mùa Chay thánh? - Dạ thưa là Chúa Nhật MC5-B130

Cha đố chúng con hôm nay là Chúa Nhật thứ mấy của Mùa Chay thánh?
- Dạ thưa là Chúa Nhật thứ năm, Chúa nhật cuối cùng của Mùa Chay Thánh.
- Thử hỏi trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu muốn nói với chúng ta điều gì nào? Hơi khó phải không chúng con? Cha trả lời thay cho chúng con. Chúa muốn nói với chúng ta về điều mà người ta gọi là qui luật của sự sống. Khó hiểu quá phải không chúng con?
Cha hỏi chúng con, chúng con học ở trường chúng con có bao giờ thấy những cái mà người ta gọi là luật, là định luật, là qui luật chưa?
- Dạ thưa có.
- Cho cha một ít thí dụ nào!
- Thưa cha….định luật vật lý, định luật tình yêu, định luật Ampere, định luật chi phối vũ trụ Murphy, luật đi đường, luật đường bộ, luật đường thuỷ vv và vv.
- Thôi thôi! Nhiều quá rồi, Chúng con giỏi! Nói như thế để chúng con thấy cái gì trong cuộc sống sống cũng có luật hết. Chính vì thề mà hôm nay Chúa muốn nói với chúng ta và mọi người về quy luật của cuộc sống.

Quy luật này được Chúa diễn tả bằng một công thức rất hay: "Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời."(Ga 3,24-25)
Chúng con có hiểu Lời Chúa muốn nói không? Đây cha cắt nghĩa cho chúng con.

Qua những lời này Chúa muốn bảo chúng ta biết: Muốn sống thì phải biết chết. Cha cho chúng con một thì dụ:
Mùa Xuân năm ấy, có hai hạt giống nằm cạnh nhau trong thửa đất màu mỡ. Hạt giống thứ nhất hăng hái nói: “Tôi muốn mọc lên! Tôi muốn cắm rễ sâu xuống lòng đất, và đâm chồi xuyên qua lớp đất cứng bên trên. Tôi muốn vươn những búp non mơn mởn như những lá cờ loan báo mùa xuân đã đến...Tôi muốn cảm nhận hơi ấm của mặt trời mơn man trên mặt và hơi nước mát lạnh của sương mai trên những cánh hoa”. Và nó tự làm cho mình chết đi để trở thành một mầm sống rồi thành một cây mọc lên xanh tốt.

Hạt giống thứ hai tự nhủ: mình sợ lắm! Nếu cắm rễ xuống đất, mình chẳng biết sẽ ặp gì trong lòng đất tối tăm. Nếu mình tìm đường xuyên qua lớp đất cứng bên trên, biết đâu những chồi non yếu ớt của mình sẽ bị thương tổn. Làm sao mình có thể cho búp non xoè lá khi một chú sâu đang chờ sẵn để xơi tái đọt lá xanh non? Và nếu mình nở hoa, một em bé có thể nhổ đứt mình lên! Không, tốt hơn mình nên đợi cho đến lúc an toàn hơn”. Và nó tiếp tục đợi chờ... Một sáng đầu xuân, cô gà mái bới đất kiếm ăn đã thấy hạt giống đang nằm chờ đợi. Cô chẳng đợi gì mà không mổ lấy, nuốt ngay.
Vâng để có được sự sống đời đời, những người môn đệ của Chúa cũng phải bước vào một quá một cuộc lột xác thay hình đổi dạng để có thể trở nên giống Chúa Giêsu.
Như hạt giống phải mục nát đi mới sinh nhiều bông hạt thì những ai muốn được ở một nơi với Chúa cũng phải làm như thế.

2. Chính vì thế mà Chúa bảo những người theo Chúa phải biết can đảm chấp nhận những thử thách trong cuộc sống: "Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời" (Ga 12,25) Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi".(Ga 12,32)
Với những lời như thế Chúa muốn bảo cho mọi người biết rằng: Chúa phải đổ máu, phải chịu chết trên thánh giá, thì thế gian mới được cứu rỗi. Và nhờ việc cứu rỗi các linh hồn, mà Chúa Giêsu mới trở nên “Đấng cứu thế”.

Như vậy mỗi người chúng ta hãy tập cho mình biết sống như Chúa Giêsu. Hãy để cho Chúa uốn nắn biến đổi mình. Có như thế chúng ta mới có thể trở nên môn đệ của Chúa được. Đây không phải là việc dễ dàng. Phải kiên trì can đảm lắm mới có thể làm được.
Cha kể cho chúng con nghe câu chuyện này. Đây là câu chuyện Friedrich Nietzsche viết ra để dạy cho mọi người phải biết dũng cảm trước mọi thử thách của cuộc đời. Truyện nói về một chiếc cốc sứ. Chúng con đã thấy chiếc cốc sứ bao giờ chưa? Chiếc cố sứ là chiếc cốc hay trong miền Nam chúng ta gọi là chiếc ly. Cái ly bằng sứ dùng để uống nước. Chiếc cốc sứ tâm sự: “Tôi không là một cốc sứ mà chỉ là một cục đất sét nhỏ. Người thợ làm ra tôi đã nhào nặn, lặn, đập vào tôi. Lần đầu tiên cảm thấy những đau đớn trong đời, tôi hét lên “Đừng, đừng đập tôi nữa, hãy nhẹ nhàng hơn với tôi”. Nhưng ông chỉ cười và nhẹ nhàng nói: “Chưa đủ đâu!”.
Sau đấy, tôi được đặt trên một bánh xe quay và tôi quay cuồng trong đó, tôi cảm thấy mình hoàn toàn mất phương hướng. “Dừng lại! Làm ơn dừng lại”, tôi gào lên. Nhưng ông chỉ lặng lẽ làm và bảo: “Chưa đâu!”.
Rồi ông đưa tôi vào lò nướng. Tôi chưa bao giờ cảm thấy mình bị đốt cháy trong nỗi đau đớn đến như vậy. Tôi tuyệt vọng và gào thét: “Giúp tôi với, làm ơn giúp tôi ra khỏi đây”. Nhưng người thợ nhìn tôi và vẫn… lắc đầu.
Khi tôi nghĩ mình không thể chịu đựng thêm một phút nào nữa, cánh cửa bỗng mở ra. Ông cẩn thận đưa tôi ra và đặt trên kệ, bắt đầu làm mát cho tôi. Tôi cảm thấy mọi thứ dường như đã tốt lên và tôi nghĩ rằng mình đã qua những đớn đau. Nhưng người thợ lại nhìn tôi, lắc đầu và nói: “Chưa!”.
Sau đó, đột nhiên ông đưa tôi trở lại vào lò nướng. Không giống như lần đầu tiên. Vì đã trải qua những phút trong chiếc lò nướng đó và tôi biết mình sẽ chết ngạt. Tôi sợ hãi. Tôi cầu xin. Tôi khóc. Tôi đã sẵn sàng từ bỏ, muốn buông xuôi và bỏ cuộc. Nhưng người thợ vẫn lạnh lùng thả tôi vào lò. Tôi muốn chết ngay để thoát khỏi tất cả những đớn đau đang thiêu đốt từng tế bào của mình. Nhưng ngay khi tôi tuyệt vọng nhất thì cánh cửa lại mở ra.

Một lần nữa tôi, được đặt trên kệ, được làm lạnh, chờ đợi và… chờ đợi, tự hỏi “Cuộc sống sẽ thế nào với mình tiếp theo?”. Một giờ sau, người thợ đưa cho tôi một tấm gương và nói: “Bây giờ hãy nhìn vào chính mình”. Tôi ngỡ ngàng đến lặng câm “Đó không phải tôi, không thể là tôi và không còn là tôi nữa – cục đất sét. Một hình ảnh hoàn toàn khác, một hình ảnh đẹp, hoàn hảo và nhiều màu sắc.
Người thợ điềm tĩnh nói: “Khi tôi nhào nặn bạn, tôi biết điều đó làm tổn thương nhưng tôi phải để bạn lại một mình, bạn phải khô cạn. Khi tôi đặt bạn lên guồng quay, tôi biết nó làm bạn hoàn toàn mất phương hướng, nhưng nếu tôi dừng lại quá sớm, bạn sẽ sụp đổ. Tôi biết ở trong lò, bạn thấy đau đớn đến từng tế bào nhưng nếu không có những đau đớn đó, bạn sẽ không bao giờ cứng cỏi và không có bất kỳ sắc màu nào của cuộc sống. Vì thế, hãy dũng cảm đón nhận tất cả những thử thách đến với bạn, bởi điều gì không thể giết chết chúng ta, sẽ làm chúng ta mạnh mẽ và hoàn hảo hơn. Amen.

 

MC5-B131: Học hỏi Phúc âm: Chúa nhật 5 Mùa Chay - Năm B

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu S.J.
T3, 13/03/2018 - 15:04
Học hỏi Phúc âm
Chúa nhật 5 Mùa Chay - Năm B
(Ga 12,20-33)

Lời Chúa:
Ðức Giêsu loan báo: Người sẽ được tôn vinh nhờ cái chết của Người
Trong số những người lên Giêrusalem thờ phượng Thiên Chúa, có mấy người Hy Lạp. Họ đến gặp ông Philípphê, người Bếtxaiđa, miền Galilê, và xin rằng: "Thưa ông, chúng tôi muốn được gặp ông Giêsu". Ông Philipphê đi nói với ông Anrê. Ông Anrê cùng với ông Philipphê đến thưa với Ðức Giêsu. Ðức Giêsu trả lời: "Ðã đến giờ Con Người được tôn vinh! Thật, Thầy bảo thật anh em,nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi,thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. Ai yêu quý mạng sống mình,thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này,thì sẽ giữ lại đượccho sự sống đời đời. Ai phục vụ Thầy, thì hãy theo Thầy; và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó.Ai phục vụ Thầy, Cha của Thầy sẽ quý trọng người ấy". "Bây giờ, tâm hồn Thầy xao xuyến! Thầy biết nói gì đây? Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này, nhưng chính vì giờ này mà con đã đến. Lạy Cha, xin tôn vinh Danh Cha".Bấy giờ có tiếng từ trời vọng xuống:"Ta đã tôn vinh Danh TaTa sẽ còn tôn vinh nữa!" Dân chúng đứng ở đó nghe vậy liền nói: " Ðó là tiếng sấm!" Người khác lại bảo: "Tiếng một thiên thần nói với ông ta đấy!" Ðức Giêsu đáp: "Tiếng ấy đã vọng xuống không phải vì tôi, mà vì các người. Giờ đây đang diễn ra cuộc phán xét thế gian này.Giờ đây thủ lãnh thế gian này sắp bị tống ra ngoài! Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi". Ðức Giêsu nói thế để ám chỉ Người sẽ phải chết cách nào.
Học hỏi:
 

Đọc Ga 1,40-42; 6,8-9;và 12, 22. Bạn có thấy ông Anrê có nét gì đặc biệt không? 2. Đọc Ga 12,23. Câu MC5-B131

1. Đọc Ga 1,40-42; 6,8-9;và 12, 22. Bạn có thấy ông Anrê có nét gì đặc biệt không?
2. Đọc Ga 12,23. Câu này có gì mới so với những câu sau: Ga 2,4; 7,30; 8,20?
3. Đọc Ga 12,23; 7,30; 8,20; 12,27. Theo ‎ bạn, "GIỜ" mà Đức Giê-su nói đến trong những câu trên là giờ gì của Người? Đọc thêm Ga 13,1; 16,32; 17,1.
4. Ga 12,24 dạy cho ta chân l‎y quan trọng nào? Có thể áp dụng câu này cho Đức Giê-su và cho chúng ta không?
5. So sánh Ga 12,25 với Mt 16,25 và Lc 9,24. Ga 12,25 có gì khác với hai câu kia không?
6. Đọc Ga 12,26. Trong câu này, Đức Giê-su đứng ở vị trí trung tâm. Bạn nghĩ gì về tương quan giữa Đức Giêsu - Chúa Cha - người phục vụ Đức Giêsu?
7. Theo các bản dịch mới, Ga 12,27: "lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này" là một câu hỏi. Đức Giê-su không xin Cha cứu mình khỏi giờ này. Hãy so sánh Ga 12,27 với những lời nguyện khác trong Vườn Dầu : Mt 26,39; Mc 14,35-36; Lc 22,41-42. Có gì giống nhau và khác nhau?
8. Đọc Ga 12,32-33. "Được giương cao lên khỏi đất" nghĩa là gì ? Hình ảnh này có giống với hình ảnh ở Ga 12,24 không?
9. Bạn hiểu thế nào về câu "Tôi sẽ kéo mọi người lên với Tôi"? Đọc thêm Ga 6,44 ("Cha kéo").
10. Câu nào trong bài Phúc âm này đánh động bạn hơn cả?

 

MC5-B132:  Suy niệm Lời Chúa: Chúa Nhật 5 mùa chay, năm B

CHÚA NHẬT V MÙA CHAY B
Ga 12,20-33
"Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi,
thì nó vẫn trơ trọi một mình;
còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác."(Ga 12,24)

 

Lời Chúa chúng ta vừa nghe mở ra cho chúng ta những viễn tượng hết sức mới mẻ về ý nghĩa và giá MC5-B132

Lời Chúa chúng ta vừa nghe mở ra cho chúng ta những viễn tượng hết sức mới mẻ về ý nghĩa và giá trị có liên quan đến việc chịu nạn chịu chết của Chúa Giêsu sắp tới và về những đòi hỏi Chúa muốn những ai đi theo Chúa phải chấp nhận.
1. Có thể nói khi bộc lộ những lời rất chân thành còn được ghi lại trong bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta thấy Chúa Giêsu đang hướng về cái chết sắp tới mà Ngài phải chịu.
Ngài sẽ phải chết nhưng cái chết của Ngài sẽ đem lại cái gì cho nhân loại?
Thông thường chúng ta thấy chết là chấm hết mọi sự.

Còn đối với Chúa cái chết không những không chấm dứt mà còn đưa cuộc đời của Ngài lên một tầm cao mới. "Đã đến giờ Con Người được tôn vinh !" (Ga 12,23).
"Giờ" ở đây không phải là một khoảnh khắc chiếm một chỗ xác định rõ ràng trong dòng thời gian, mà là một thời điểm vô cùng quan trọng. Nó đánh dấu sự khởi đầu một thời đại mới sẽ kéo dài đến mãi mãi.

Giờ ở đây chính là lúc Đức Giêsu bước lên Thập giá. Khi đó mọi trục trặc vướng víu trong liên hệ giữa loài người với Thiên Chúa được tháo gỡ hết, tương giao giữa loài người với Thiên Chúa sẽ được thông suốt, nhờ thế tình thương và sức sống dồi dào của Thiên Chúa sẽ được chuyển thông dào dạt cho loài người.
Như vậy chết đối với Chúa chính là lúc được tôn vinh và Chúa còn cho cả con người được tôn vinh với Chúa "Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi." (Ga 12,32).
Chúng ta tìm được bài học nào ở đây?
Tôi tưởng bài học quí giá nhất mà chúng ta học được từ Chúa ở trong hoàn cảnh này là biết nhìn ra những giá trị nơi những cái mà người đời coi thường. Khi đối diện với cây Thập Giá, người đời cho đó là một hình phạt đáng nguyền rủa nhưng Chúa Giêsu đã nhìn nó như một phương tiện mang lại ơn cứu rỗi.
Có một chàng trai sinh ra trong một gia đình nghèo khó. Để kiếm tiền nuôi sống gia đình, chàng trai phải bỏ học để đi bán bàn chải đánh răng với số tiền lãi ít ỏi. Bạn thử nghĩ xem, một chiếc bàn chải đánh răng chỉ lãi được một hào, thì một tháng chàng trai phải bán gần 10 nghìn chiếc bàn chải mới đủ tiền nuôi sống gia đình. Nhưng chàng trai vẫn cần mẫn làm công việc này. Trong vòng ba năm, chàng trai bán được gần 100 nghìn chiếc bàn chải. Có lẽ số tiền chàng trai kiếm được không phải là nhiều, nhưng chàng trai học được vốn kinh nghiệm quý báu trong bán hàng.
Không lâu sau, chàng trai lập nghiệp với số vốn vỏn vẹn có 3000 đô la. Bắt đầu bằng cách hợp tác với người khác, lợi dụng thương hiệu của người khác. Sau đó, dựa vào tài năng của bản thân, chàng trai tự sản xuất và tạo dựng thương hiệu cho sản phẩm của mình, hơn nữa còn liên tục mở rộng mạng lưới tiêu thụ. Trong vòng thời gian 5 năm ngắn ngủi, anh đã tiêu thụ sản phẩm của công ty mình ở hơn 20 quốc gia, và trở thành một tỷ phú.
Người đàn ông này chính là ông vua bàn chải đánh răng của nước Mỹ James. Chính nhờ ba năm kiên trì công việc tiếp thị bàn chải đánh răng, hiểu biết cặn kẽ các khâu khác nhau từ sản xuất đến tiêu thụ, đồng thời kiên định niềm tin thể hiện tài năng trong lĩnh vực này, mà cuối cùng ông đã thành công.
Trong cuộc sống đôi khi một điểm yếu của ai đó lại trở thành điểm mạnh vững chãi nhất của họ. Có ưu điểm là một điều tốt nhưng nếu có thể biến khuyết điểm thành lợi thế lại càng là một điều kỳ diệu hơn. Chúa Giêsu đã biết biến thất bại của cây Thập Giá thành chiến thắng vinh quang. Ngài đã nhìn thấy ở nơi cây Thập Giá ý định nhiệm mầu của Thiên Chúa Cha và Ngài đã đón nhận cây Thập Giá với tất cả tấm lòng của người con thảo để từ đó Ngài mở ra cho Thiên Chúa Cha một dân tộc mới, dân tộc được cứu rỗi.
2. Những đòi hỏi Chúa muốn những ai đi theo Chúa phải chấp nhận.
Đây là Lời của Chúa: "Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời"(Ga 12,25-26).Phải coi thường mạng sống của mình, phải mất mạng sống của mình thì mới giữ lại cho mình sự sống đời đời. Đó là qui luật. Đó là ý muốn của Thiên Chúa.
Ngày xưa tại trung tâm của một thành phố nọ có một bức tượng được người dân gọi là hoàng tử vui vẻ. Bức tượng điêu khắc này đứng sừng sững trên một trụ đá cao. Toàn thân bức tượng đều được dát bằng những chiếc lá vàng. Đôi mắt của chàng được làm từ đá ngọc bích phát sáng và trên thanh kiếm của chàng người ta thấy có một viên đá hồng ngọc. Người ta đã dùng chì để làm cho chàng một quả tim.
Là Hoàng Tử Vui vẻ nhưng giờ thì hoàng tử cảm thấy mình chẳng vui tí nào, vì chàng đang đứng trên trụ cao của thành phố và nhìn thấy mọi nỗi buồn vui, khổ sở của người dân.
Vào một đêm nọ, có một con Chim én bay đến đậu dưới vai Hoàng tử vui vẻ. Hoàng tử nói với nó, mình rất muốn giúp đỡ nhung người nghèo, nhưng lại không thể giúp được. Chim én nhỏ cảm động bởi tấm chân tình của Hoàng tử nên nhận lời giúp chàng. Do đó, Chim én nhỏ lấy hòn đá hồng ngọc từ thanh kiếm của Hoàng tử ra, tặng cho một người thợ may nghèo khổ, để bà ấy có tiền mua cam cho đứa con gái đang bị bệnh.

Chim én nhỏ lại lấy một viên ngọc bích ở một mắt của hoàng tử tặng cho một nhà văn nghèo để anh ta có đủ tiền hoàn thành tác phẩm của mình. Rồi một hôm, có cô bé nghèo khổ bán diêm trên đường, vì không cẩn thận cô đã làm rơi hết diêm xuống rãnh nước bẩn, vì thế cô bé buồn bã khóc òa lên. Thấy vậy, Chim én nhỏ lại lấy một viên ngọc bích ở mắt còn lại của Hoàng tử tặng cho cô bé bán diêm. Hoàng tử không còn ngọc bích nữa nên đã bị mù.
Rồi sau đó, Chim én lại lấy từng chiếc là vàng trên người hoàng tử tặng cho những người nghèo khổ.
Mùa đông đến rồi, những người dân nghèo khổ vì được Hoàng tử vui vẻ giúp đỡ nên đã có một năm mới thật vui vẻ. Buổi tối đêm giao thừa, Chim én nhỏ đã chết cóng dưới chân Hoàng tử. Khi Chim én nhỏ chết, tượng điêu khắc của hoàng tử cũng sụp đổ, trái tim bằng chì cũng vỡ nát.

Buổi sáng hôm sau, thị trưởng thành phố và các quan chức đến quảng trường, phát hiện bức tượng điêu khắc hoàng tử đã bị vỡ vụn, do đó họ quyết định vứt tượng điêu khắc đó đi, để khỏi làm ảnh hưởng đến cảnh quan thành phố. Và như thế, từng mảnh vụn của pho tượng điêu khắc, cùng với trái tim chì và xác Chim én nhỏ đều bị vứt vào đống rác. Thế là chấm dứt tất cả. Không còn ai biết đến hoàng tử Vui vẻ cà con Chim én nữa.
Thế nhưng từ trời cao Thượng Đế đã nhìn thấy tất cả. Để ân thưởng cho tấm lòng tốt của Hoàng Tử và sự hy sinh của con chim én, Thượng đế đã sai sứ thần đến thành phố này, ra lệnh cho sứ thần đem xác con Chim én và trái tim bằng chì của Hoàng Tử Vui vẻ về cho Ngài. Từ cái xác chết đó Thượng đế đã trả lại sự sống cho Chim én và cho Chim én được mãi mãi hát ca trong vườn hoa trên thiên đường. Còn Hoàng tử thì Thượng đế phục hồi lại sự sống và sau đó thì được sống vui vẻ trong lâu đài bằng vàng Thượng đế.
Thầy bảo thật anh em: "Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời"(Ga 12,25-26)


 

MC5-B133: Hạt giống nảy mầm.

Vào một đêm giông bão có một người đàn ông đứng tuổi cùng bà vợ ghé vô một khách sạn nhỏ MC5-B133

Vào một đêm giông bão có một người đàn ông đứng tuổi cùng bà vợ ghé vô một khách sạn nhỏ và hỏi viên thư ký: Xin anh làm ơn cho chúng tôi một phòng. Viên thư ký trả lời: Thưa ông, tất cả mọi phòng đều có người thuê, nhưng tôi không nỡ để ông bà phải ra đi vào lúc một giờ sáng như thế này. Người chồng hỏi lại: Anh nói chi? Ông bà có thể ngủ tại phòng tôi. Nhưng anh sẽ ngủ ở đâu? Tôi sẽ tìm được, xin đừng lo lắng cho tôi. Sáng hôm sau, ông khách trả tiền phòng và nói với viên thư ký: Anh là một người quản lý có tài, khả dĩ có thể làm chủ một khách sạn lớn. Rất có thể một ngày nào đó, tôi sẽ xây cho anh một cái.
Hai năm sau, viên thứ ký nhận được một bức thư, kèm theo vé máy bay khứ hồi đi Nữu Ước và tấm danh thiếp của người khách trong đêm giông bão. Người khách dẫn viên thư ký tới một đại lộ, chỉ vào một ngôi nhà cao tầng và nói: Đây là khách sạn tôi đã xây để cho anh quản lý. Không nói nên lời, người thanh niên rất đỗi ngạc nhiên, ấp úng cám ơn. Mạnh thường quân của anh là Astoria, chủ nhân của một mạng lưới khách sạn tại Mỹ. Và khách sạn ông dành cho anh ta là một khách sạn tiện nghi nhất thời bấy giờ.
Từ câu chuyện trên, chúng ta đi vào Lời Chúa phán với chúng ta qua đoạn Tin Mừng hôm nay: Hạt lúa rơi xuống đất, có mục nát, thì mới sinh nhiều hoa trái. Anh chàng thư ký đã chôn vùi những tiện nghi của mình, bằng cách nhường lại căn phòng ấm cúng cho hai vợ chồng người khách lạ. Và sự hy sinh ấy đã đem lại phần thưởng cho anh. Anh được quản lý một khách sạn sang trọng và nổi tiếng trên thế giới.
Hạt giống phải chết đi, phải mục nát trước khi nẩy mầm, đâm bông và kết trái. Điều đó cũng đúng cho bình diện thiêng liêng. Bởi vì, chúng ta, những người tin theo Chúa đều biết rằng mọi cố gắng, mọi hy sinh, mọi gian khổ của chúng ta rồi sẽ sinh hoa kết trái, nhất là khi những cố gắng, những hy sinh và gian khổ ấy được thi hành vì lòng mến đối với Thiên Chúa và tình thương đối với anh em đồng loại. Chính Chúa Giêsu cũng đã chấp nhận những hy sinh gian khổ vì chúng ta, bằng cách chịu chết trên thập giá, để rồi từ đó Ngài đã có được hoa trái của sự phục sinh vinh quang.
Mùa chay sắp kết thúc, những cũng chưa quá muộn để chúng ta chôn vùi bản thân, từ bỏ chính mình vì Đức Kitô và vì anh em, bởi vì có cùng chết với Đức Kitô, thì rồi chúng ta mới sẽ được sống lại trong vinh quang với Ngài.

 

MC5-B134: QUY LUẬT CỦA HẠT LÚA MÌ

CHÚA NHẬT V MC B
Thưa Qúy OBACE,
 

Những năm gần đây Việt nam chúng ta đang vươn lên đề trở thành một trong các nước đứng nhất MC5-B134

Những năm gần đây Việt nam chúng ta đang vươn lên đề trở thành một trong các nước đứng nhất nhì trên thế giới trong việc trồng và xuất khẩu lúa gạo, để đạt được mục tiêu này, ngoải việc áp dụng sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và phương thức sản xuất mới, thì một yếu tố quan trọng không thể thiếu đó là việc chọn lựa giống lúa cho năng suất cao và chất lượng tốt. Từ một môi trường đa số là làm nông nghiệp như tại Việt Nam, thì hình ảnh hạt lúa mì được Đức Giêsu dùng trong Tin Mừng dễ dàng cho chúng ta hiểu được giáo huấn mà Chúa Giêsu muốn gửi đến mỗi người hôm nay: Nếu hạt lúa mì gieo vào lòng đất mà không chết đi thì nó chỉ trơ trọi một mình, nhưng nếu nó chết đi thì sẽ sinh nhiều bông hạt.
Bối cảnh của câu chuyện hôm nay, là khi Đức Giêsu lên Giêrusalem dự lễ Vượt qua, thì có những người Hy lạp tìm đến nhờ các môn đệ để xin gặp Đức Giêsu, vì có lẽ những người này đã nghe biết về vị Thày Giêsu đang nổi danh trong vùng đó, họ muốn được trực tiếp gặp gỡ và nghe những giáo huấn mới mẻ của Ngài. Với sự kiện này, Chúa Giêsu rất vui mừng và hân hoan, và có lẽ đây là lần đầu tiên Gioan đã ghi lại cảm xúc hạnh phúc của Chúa Giêsu, Ngài trả lời cho các ông : Đã đến giờ Con Người được tôn vinh! Đây chính là giờ, là thời điểm và cũng là cao điểm trong sứ mạng của Chúa Giêsu. Sứ mạng của Ngài là rao giảng Tin Mừng cho mọi dân tộc, là cứu chuộc nhân loại bằng giá máu của mình, thì hôm nay, những người dân ngoại, cụ thể là người Hy Lạp đã tìm đến với Ngài, và điều đó có nghĩa là sứ mạng của Ngài đã bắt đầu sinh hoa kết trái, giờ mà ảnh hưởng của Tin Mừng đã bắt đầu lan rộng.
Để giải thích điều này cho các môn đệ, Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh hạt lúa mì gieo vào lòng đất phải chết đi để sinh nhiều bông hạt. Hạt lúa mì ấy là một hạt giống quý giá nhất của Thiên Chúa Cha được gieo vào thế giới này, hạt giống ấy chính là Đức Giêsu, là cả con người của Ngài. Ngài là một hạt giống mới, hạt giống này đem lại một mùa màng mới chất lượng mới và sức sống mới cho thế giới. Nếu với một giống lúa mới đem đến sự bội thu và đổi đời cho nhà nông thế nào, thì hạt giống Giêsu cũng sẽ là hạt giống làm đổi đời nhân loại chúng ta thế ấy và đem lại một sức sống mới gương mặt mới cho cả thế giới; gương mặt của sự sống thay cho bộ mặt chết chóc, gương mặt hạnh phúc thay cho bất hạnh, đời sống ân sủng trong yêu thương thay cho cuộc sống phản bội thù hằn. Đó chính là bông hạt mà hạt giống Giêsu đem lại cho con người.
Để sinh được hoa trái như thế, thì chính hạt lúa phải chấp nhận chết đi, là mục nát là từ bỏ là hy sinh, hy sinh đến tột cùng, hy sinh cả mạng sống, để trổ sinh mầm sống mới. Cũng chính vì quy luật này, Chúa Giêsu đã đưa ra cho mỗi người một thách thức: Ai yêu quý mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời. Được và mất ở đây là một đòi hỏi gắt gao, vì nó liên quan đến cái được và cái mất đời đời, được hạnh phúc, được sự sống và được trổ sinh hoa trái cho mai sau. Vì thế những người theo Chúa Giêsu, cũng được mời gọi để quyết định chọn lựa cái được và cái mất này; Và được ở đây là được Đức Giêsu làm gia nghiệp, được hạnh phúc Nước Trời. Muốn được như thế, chúng ta cũng phải bước vào con đường của Đức Giêsu, con đường phục vụ Ngài và yêu mến Ngài, là trở nên giống như Ngài, tức là cũng phải dám làm thân của một hạt lúa mì, chấp nhận mục nát để đem đến hoa trái sự sống cho anh em.
Cuộc khổ nạn đóng đinh thập giá mà Chúa Giêsu sắp trải qua, chính là quá trình chấp nhận mục nát của Chúa Giêsu, Ngài đã hoàn toàn từ bỏ địa vị Thiên Chúa của mình, để mang lấy thân phận con người phải chết và đã chết thực sự, chết trong đau đớn. Để làm được việc đó, Đức Giêsu đã phải học cho biết thế nào là vâng phục thánh ý của Thiên Chúa, và vì vâng phục đến tột cùng và yêu mết đến tột cùng Người đã trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho những ai học nơi Ngài và tùng phục Ngài.
Với cái chết bị giương cao trên thập giá, Ngài đã đưa nhân loại sang một trang sử mới, làm nên một mùa màng mới cho cuộc sống nhân loại chúng ta, kể từ đó, chúng ta có quyền tự hào vì mình là những người đã được Thiên Chúa yêu thương và cứu độ, đã được Ngài kéo lên cùng Ngài. Điều này đã ứng nghiệm lời ngôn sứ Jeremia tiên báo về một giao ước mới mà Thiên Chúa đã hứa khi xưa: Ta sẽ lập một giao ước mới, và sẽ không còn nhớ đến lỗi lầm của dân ta nữa. Giao ước mới với lề luật mới này sẽ không còn được ghi vào bia đá, nhưng được Thiên Chúa ghi khắc vào trong tâm hồn mỗi người, Thiên Chúa sẽ là Chúa của dân, và dân sẽ là dân riêng của Chúa. Lề luật mới này là lề luật yêu thương mà Chúa Giêsu đã truyền dạy, dân mới này sẽ là dân sống theo sự hướng dẫn của Chúa Giêsu, thực thi Tám mối phúc thật, thực hành việc bác ái yêu thương, dân mới này sẽ là những hoa quà “mang gen” của hạt lúa mì Giêsu, sống vâng phục thánh ý Thiên Chúa, dám chấp nhận chọn Chúa làm nguồn sống cho mình, và dám quên mình vì anh em.
Thưa quý OBACE, quy luật của hạt lúa mì vần đang diễn ra trong cuộc sống hằng ngày, đòi chúng ta phải liên tục chọn lựa, hoặc là cố giữ lấy mạng sống và những lợi lộc ở trần gian này để rồi đánh mất sự sống và hạnh phúc đời sau, hoặc chấp nhận mục rã cuộc đời mình từ bỏ nhữ thú vui và những cái cám dỗ của xã hội hôm nay để sinh hoa trái hạnh phúc ở đời sau.
Là hạt lúa giống của gia đình, các bậc cha mẹ sẽ đem lại mùa màng như thế nào cho thế hệ con cái ? điều đó tùy thuộc sự chọn lựa của cha mẹ hôm nay. Nếu cha mẹ dám chấp nhận một của sống lương thiện ngay thẳng thật thà, thì họ sẽ gặt được những hoa trái là những đứa con lương thiện; Nếu các bậc cha mẹ dám chấp nhận, mục rã hủy bỏ sự ươn lười của mình, họ sẽ gặt được những đứa con chăm ngoan, nếu cha mẹ cố gắng trong đời sống đạo đức, siêng năng trong công tác tông đồ, thì hoa trái của họ sẽ là những đứa con đạo hạnh nết na. Cha mẹ nào cũng muốn hy sinh cho con, vì con, nhưng rất tiếc có những sự hy sinh uống phí hoặc là hy sinh không đúng chỗ. Có người hy sinh vất vả chỉ để kiếm tìm cơm bánh cho con, mà lại quên vun đắp cho gia đình mình ấm cúng thuận hòa hạnh phúc, có những người chỉ lo tìm kiếm của cải vất chất mà quên xây dựng đời sống đạo đức và tâm hồn cho con cái, sự hy sinh như thế là chưa đúng và còn là uống công.
Là những bạn trẻ Công Giáo, đôi khi chúng ta cảm thấy mình bị thua thiệt so với những người khác, chỉ vì chúng ta muốn trung thành với Chúa Giêsu, và giao ước mới của Ngài. Giới răn mới của Chúa Giêsu, đòi cúng ta phải sống triệt để quy luật của hạt lúa mì, chấp nhận mục rã ở đời này để được hạnh phúc đời đời mai sau. Trong khi người đời chạy theo xu hướng hưởng thụ buông thả, nghiện ngập ăn chơi, thì chúng ta lại chấp nhận từ bỏ và tiết chế, trong khi người đời tìm kiếm sự giàu sang vật chất, thì chúng ta lại tìm kiếm gia tài trên trời, và trong khi người đời dửng dưng vô cảm với nhau, hửng thụ, thỏa mãn trên sự nghèo khổ của anh em, thì chúng ta lại đang muốn sống quan tâm chia sẽ và cảm thông. Và trong khi người đời chạy theo và bám đuôi những người có quyền lực, thì chúng ta lại tìm kiếm và bám chặt vào Thiên Chúa, Đó chính là quy luật của hạt lúa mì và phải là lý tửơng sống cho mỗi người trong thời đại hôm nay.
Mang thân là hạt lúa mì, mỗi người còn phải chấp nhận một sự nghiền nát, nhào nặn và đốt nóng để trở thành tấm bánh được dâng lên Thiên Chúa mỗi ngày trong thánh lễ tại bàn thờ và trong lời cầu nguyện hằng ngày để tôn vinh Thiên Chúa và đem lại ơn cứu độ cho mình và cho mọi người, đồng thời còn là tấm bánh được bẻ ra được trao tặng cho anh em qua việc trao tặng cho anh em, thời giờ, sức khỏe, tuổi trẻ và khả năng, của cải, lương thực, đem lại cuộc sống hạnh phúc cho anh em.
Sống và làm như thế là chúng ta đang sống và thự hành quy luật của hạt lúa mì mà Chúa Giêsu dạy hôm nay. Amen

 

MC5-B135: GIỜ CỦA ĐỨC GIÊSU

CHÚA NHẬT V MÙA CHAY- Năm B
 (*)- Suy niệm của Lm. Inhaxiô Hồ Thông
 

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật V Mùa Chay năm B dâng hiến những chủ đề rất gần với những tưởng niệm MC5-B135

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật V Mùa Chay năm B dâng hiến những chủ đề rất gần với những tưởng niệm lễ Vượt Qua: thiết lập Bí Tích Thánh Thể, Tử Nạn và Phục Sinh của Đức Giê-su Ki-tô. Cả ba bài đọc đều cấu trúc theo một nét chung: ở giữa lòng của nỗi xao xuyến vang lên một tiếng kêu tràn đầy hy vọng.
Gr 31: 31-34
Trước khi Thành Thánh Giê-ru-sa-lem và Đền Thờ bị tàn phá, ngôn sứ Giê-rê-mi-a công bố rằng không có gì phải mất cả: này sắp đến những ngày, Thiên Chúa sẽ thiết lập một “Giao Ước Mới”. Đức Giê-su lấy lại diễn ngữ nầy khi thiết lập Bí Tích Thánh Thể: “Chén nầy là Giao Ước Mới, lập bằng máu Thầy, máu đổ ra vì anh em” (Lc 20: 20; 1Cr 11: 25).
Dt 5: 7-9
Thư gởi tín hữu Do thái nhắc nhớ rằng Đức Giê-su cảm thấy xao xuyến tận đáy lòng trước tấn thảm kịch của sự chết, nhưng nhờ cuộc Tử Nạn của Ngài, sự chết trở nên “nguồn ơn cứu độ đời đời” cho nhân loại.
Ga 12: 20-33
Tin Mừng Gioan gợi lên rằng trước cuộc Tử Nạn gần kề của Ngài, Đức Giê-su xao xuyến, nhưng rồi trấn tỉnh khi nghĩ đến cuộc chiến thắng vinh quang của Ngài trên Xa-tan, quyền lực của sự Dữ.

BÀI ĐỌC I (Gr 31: 31-34)
Chúng ta thường nghĩ rằng diễn ngữ “Giao Ước Mới”, được rút gọn: “Tân Ước”, xuất xứ từ các sách Tin Mừng, trong đó Đức Giê-su đã sử dụng diễn ngữ nầy vào buổi chiều Tiệc Ly: “Chén nầy là Giao Ước Mới, lập bằng máu Thầy, máu đổ ra vì anh em” (Lc 20: 20; 1Cr 11: 25). Thật ra, diễn ngữ nầy được gặp thấy rồi trong Cựu Ước. Diễn ngữ nầy xuất hiện lần đầu tiên ở nơi đoạn trích hôm nay đánh dấu đỉnh cao sứ điệp tinh thần của vị ngôn sứ Giê-rê-mi-a, ông loan báo một “Giao Ước Mới” dưới hai dấu chỉ: tác động nội tâm của Thần Khí và ơn tha thứ tội lỗi. Quả thật, đây là sấm ngôn linh hứng của vị ngôn sứ, nhưng cũng là thành quả của một kinh nghiệm mà vị ngôn sứ đã sống với một tâm trí minh mẫn.
Kinh nghiệm nầy được hình thành hai giai đoạn: “thời kỳ hạnh phúc” và “thời kỳ bi thương” của dân tộc mình. Giê-rê-mi-a có lẽ chào đời vào năm 645 trước Công Nguyên. Vào thời niên thiếu của mình, ông đã kinh qua thời kỳ hưng phấn: cuộc cải cảnh của vua Giô-si-gia, khởi sự vào năm 622 trước Công Nguyên. Trước triều đại của vị vua cải cách nầy, là triều đại của vua Mơ-na-se, vị vua vô đạo đã du nhập và phổ biến việc thờ ngẫu tượng cho đến tận Đền Thờ Giê-ru-sa-lem. Ông còn bảo trợ tội bội giáo của dân chúng nữa.
Thời kỳ hạnh phúc:
Vào năm 622, trong khi Nhà Đức Chúa đang được trùng tu, người ta tìm thấy “sách Luật” (có thể đây là sách Đệ Nhị Luật hay ít ra những bản văn cốt yếu của sách này), sách đã bị quên lãng hơn nữa thế kỷ qua (vua Mơ-na-se đã cai trị từ năm 687 đến 642 trước Công Nguyên).
Vua Giô-si-gia công bố trước toàn dân tất cả các lời trong sách Luật đã tìm thấy trong Nhà Đức Chúa. Vua long trọng cam kết đi theo đường lối của Đức Chúa và hết lòng hết dạ tuân giữ các mệnh lệnh, chỉ thị và quy tắc của Ngài. Toàn dân đồng thanh chấp nhận Giao Ước (2V 23: 1-3). Vua Giô-si-gia thực hiện cuộc cải cách tôn giáo tận căn: trừ tiệt tất cả mọi vết tích thờ ngẫu tượng ra khỏi đất nước, dẹp bỏ các tế đàn ở nơi cao và tập trung việc phụng tự kính Đức Chúa vào Đền Thờ Giê-ru-sa-lem.
Nhưng than ôi! Vào năm 609, vua tử trận trong cuộc chiến chống quân đội Ai-cập. Ngay sau cái chết của vua, nền phụng tự ngoại giáo lại có cơ hội bộc phát. Chính vào thời điểm nầy mà những sấm ngôn của ngôn sứ Giê-rê-mi-a vang lên, loan báo những tai họa thảm khốc nhất nếu nhà Giu-đa không thành tâm hoán cải (Gr 26). Vì thế, ngôn sứ Giê-rê-mi-a đã chứng kiến việc tái lập Giao Ước bị thất bại: công việc cải cách đã tác động đến phụng tự, nghi lễ, nhưng đã không biến đổi tấm lòng của dân chúng. Vị ngôn sứ không quên bài học nầy.
Thời kỳ bi thương:
Ngôn sứ Giê-rê-mi-a, được mệnh danh là ngôn sứ của những tai họa, không ngừng cảnh báo quốc họa rất gần kề; vì thế, người ta đã âm mưu hãm hại ông, quấy nhiễu ông và tống giam ông. Những sấm ngôn của ông bị vua Giô-gia-kim xé từng trang và bỏ vào lò sưởi. Tuy nhiên, những lời sấm nầy đã được ứng nghiệm. Kinh thành Giê-ru-sa-lem bị quân đội của vua Na-bu-cô-đô-nô-xo đánh chiếm vào năm 597 trước Công Nguyên; thành phần ưu tú bị phát lưu ở Ba-by-lon; Đền Thờ bị phá hủy vào năm 587, sau khi thành Giê-ru-sa-lem bị chiếm lần thứ hai.
Ngôn sứ Giê-rê-mi-a đọc được những ý định của Thiên Chúa qua thực tại bi thảm này: cuộc tái lập Giao Ước tỏ ra thất bại, Thành Đô hoang tàn đổ nát, Đền Thờ chẳng bao lâu sau bị tàn phá, đây không phải là những dấu hiệu cho thấy Thiên Chúa có một kế hoạch khác, vì lòng chai dạ đá của dân Ngài sao? Chính như vậy mà ngay vào lúc Kinh Thành Giê-ru-sa-lem sắp bị tàn phá, vị ngôn sứ loan báo rằng không có gì phải mất cả và diễn tả niềm hy vọng bất diệt của Ít-ra-en bằng những lời lẽ tuyệt vời: “Nầy sắp đến những ngày” Đức Chúa sẽ thiết lập với dân Ngài một Giao Ước Mới, không còn là Giao Ước được khắc trên bia đá như Ngài đã ban cho ông Mô-sê, cũng không trên cuốn sách như được tìm gặp trong Đền Thờ, nhưng sẽ được ghi tạc vào lòng dạ dân chúng, sẽ khắc sâu vào tâm khảm dân chúng…
Ở những nơi khác, vị ngôn sứ công bố: “Ta sẽ ban cho chúng một tâm hồn để nhận biết rằng chính Ta là Đức Chúa” (Gr 24: 7) hay “Ta sẽ ban cho chúng một trái tim và một con đường hành động, để chúng kính sợ Ta mãi mãi, nhờ đó chúng và con cháu sau nầy được sống hạnh phúc. Ta sẽ lập với chúng một Giao Ước muôn đời: Ta sẽ không bỏ chúng nữa, sẽ tiếp tục theo dõi, và không ngừng thi ân cho chúng, cũng như ban cho chúng lòng kính sợ Ta, để chúng không xa rời Ta nữa” (32: 39-40).
Ngôn sứ Giê-rê-mi-a loan báo cuộc sống theo Thần Khí và dưới tác động của ân sủng. Nhờ tác động của Thần Khí, mọi người, từ bé thơ cho đến người lớn, đều nhận biết và thi hành ý muốn của Thiên Chúa mà không cần phải dạy bảo nhau nữa.
Ngôn sứ Ê-dê-ki-en trong cảnh lưu đày ở Ba-by-lon cũng thoáng thấy một niềm hy vọng về một Giao Ước Mới: “Ta sẽ ban tặng các ngươi một quả tim mới, sẽ đặt thần khí mới vào lòng các ngươi. Ta sẽ bỏ đi quả tim bằng đá khỏi thân mình các ngươi và sẽ ban tặng cho các ngươi một trái tim bằng thịt. Chính thần khí của Ta, Ta sẽ đặt vào lòng các ngươi, Ta sẽ làm cho các ngươi đi theo thánh chỉ, tuân giữ các phán quyết của Ta và đem ra thực hành” (Ed 36: 26-27).
Cuộc đời của vị ngôn sứ Giê-rê-mi-a đã là một mẫu gương về một cuộc sống trong Thần Khí rồi. Một con người đạo hạnh tận đáy lòng, đối thoại thường hằng với Thiên Chúa, vị ngôn sứ xứng đáng được gọi là “cha của kinh nguyện”. Bằng cuộc sống của mình, ông làm chứng về tôn giáo mà ông loan báo. Chính từ môi miệng ông mà sấm ngôn về “Giáo Ước Mới” được thốt lên thành lời. Đó không phải là hợp lý sao?

BÀI ĐỌC II (Dt 5: 7-9)
Phải nói một cách chính xác, “thư gởi các tín hữu Do thái” tự nó không thực sự là một “bức thư” vì tác giả không tự giới thiệu mình và cũng không cho biết người nhận thư là ai (nhan đề “thư gởi tín hữu Do thái” xuất hiện sau này vào thế kỷ thứ hai).
Bức thư nầy được gán cho thánh Phao-lô vì vài tư tưởng và ngôn từ rất gần với tư tưởng và ngôn từ của thánh nhân, nhưng đề tài trọng tâm không thuộc về thánh Phao-lô: tác giả muốn chứng tỏ rằng Đức Ki-tô là vị Thượng Tế Tân Ước, cao vời trên vị Thượng Tế Cựu Ước. Đức Ki-tô là Đấng Trung Gian tuyệt vời, vị Tư Tế duy nhất và hiến lễ của Ngài thì thập toàn. Ấy vậy, thánh Phao-lô không bao giờ gán cho Đức Ki-tô tước hiệu tư tế.
Chắc hẳn người nhận thư là những người Ki-tô hữu gốc Do thái chịu những bách hại và chắc chắn mang một nỗi nhớ khôn nguôi về nền phụng tự Cựu Ước. Về niên biểu, bức thư nầy chắc chắn được viết trước khi Đền Thờ và Kinh Thành Giê-ru-sa-lem bị tàn phá vào năm 70 sau Công Nguyên, bởi vì tác giả nói về phụng vụ Đền Thờ như phụng vụ hiện hành và luôn luôn sinh động. Ngoài ra, nếu bức thư được viết sau biến cố năm 70, tác giả không thể nào không ám chỉ đến biến cố nầy, vì biến cố này rõ ràng củng cố đề tài của ông về tình trạng vô hiệu của Giao Ước Cũ.
Đoạn trích ngắn nầy diễn tả sâu sắc hai khía cạnh bất khả phân của con người Đức Ki-tô: nỗi xao xuyến của kiếp sống phàm nhân và vị thế Con Thiên Chúa. Hai khía cạnh này khiến cuộc Tử Nạn của Ngài được phơi bày hết mức kịch tính.
Kiếp sống phàm nhân (5: 7):
Qua những lời này: Đức Giê-su “lớn tiếng kêu van khóc lóc, mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết”, chắc hẳn tác giả ám chỉ đến những lời khẩn nguyện tột cùng của Đức Giê-su trong vườn Ghết-sê-ma-ni, trong đó Đức Giê-su đã khẩn khoản nài xin Chúa Cha lớn tiếng đến mức ba môn đệ ở gần đó có thể nghe được. Nhưng đây cũng có thể ám chỉ đến tiếng kêu cuối cùng của Ngài lên cùng Cha Ngài trong cơn hấp hối trước khi trút hơi thở cuối cùng trên thập giá: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con” (Mt 27: 46). Dù thế nào, tác giả muốn nhắc nhớ rằng Đức Giê-su đã chia sẻ tận mức những yếu đuối của chúng ta và nỗi sợ hãi của chúng ta trước cái chết. Quả thật, “Thiên Chúa đã nhận lời Ngài” nhưng không theo cách thế mà con người ở nơi Đức Giê-su mong ước: để có thể chiến thắng tử thần, Ngài phải trải qua sự chết.
Vị thế Con Thiên Chúa (5: 8-9):
Trong phần hai, tác giả muốn cho thấy rằng không có bất kỳ kiếm khuyết nào ở nơi Đức Giê-su. Dầu là Con Thiên Chúa, Đức Giê-su chấp nhận thánh ý Chúa Cha với một thái độ vâng phục trọn vẹn. Từ “vâng phục” âm vang tư tưởng của thánh Phao-lô. Thánh Phao-lô nói về “sự vâng phục tràn đầy niềm tin”.
“Người đã trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục”. Gian khổ là trường đào tạo tốt nhất để thành nhân, nhân loại tiến bộ nhờ những kinh nghiệm đau thương. Tác giả áp dụng tư tưởng này vào Đức Ki-tô: “bản thân đã tới mức thập toàn”. Chính không phải với tư cách là Con Thiên Chúa mà Ngài “đạt tới mức thập toàn”, nhưng với tư cách là Đấng Cứu Độ. Bằng đau khổ mà Ngài sẵn lòng chấp nhận, Đức Ki-tô đã trở nên hy lễ hữu hiệu tận mức đem lại ơn tha thứ tội lỗi. Như vậy, Ngài trở nên Đấng Trung Gian lý tưởng, vừa người anh em của nhân loại vừa Con của Thiên Chúa, làm một với Thiên Chúa và làm một với chúng ta. Đó là một trong những tư tưởng cốt yếu của “thư gởi tín hữu Do thái”  nầy.

TIN MỪNG (Ga 12: 20-33).
Trong Tin Mừng Gioan, câu chuyện này xảy ra ngay sau bài tường thuật về việc Đức Giê-su khải hoàn tiến vào thành thánh Giê-ru-sa-lem vào lúc lễ Vượt Qua sắp đến gần.
Trong cùng một chuyển động, đến lượt mình, những người Hy-lạp, đại diện thế giới lương dân, bày tỏ ước nguyện “muốn được gặp” Đức Giê-su. Trong Tin Mừng Gioan, diễn ngữ “muốn được gặp” bày tỏ dáng dấp niềm tin rồi. Lời thỉnh cầu của họ đã gây xúc động sâu xa ở nơi Đức Giê-su: những người Hy lạp nầy đại diện thế giới lương dân mà cuộc Tử Nạn sắp đến của Ngài sẽ mở ra cho họ con đường cứu độ. Cuộc Tử Nạn sắp đến gần của Ngài làm cho Ngài xao xuyến.
Câu chuyện nầy thật cảm động. Dù thánh ký không nêu lên nỗi xao xuyến ở vườn Ghết-sê-ma-ni, nhưng tình tiết được trình bày ở đây như tham dự trước nỗi xao xuyến ở vườn Ghết-sê-ma-ni.
Niềm tin của những người Hy-lạp:

Những người Hy-lạp nầy đến Giê-ru-sa-lem để mừng lễ Vượt Qua, họ thuộc vào số những lương dân có thiện cảm với Độc Thần Giáo Do thái. Sách Công Vụ gọi họ “những người sùng mộ Thiên Chúa” hay “những người kính sợ Thiên Chúa”.
Họ ngỏ lời xin được gặp Đức Giê-su với ông Phi-líp-phê. Ông Phi-líp-phê nói lại với ông An-rê, đoạn cả hai đến thưa chuyện với Thầy mình. Đức Giê-su không trả lời trực tiếp với những người Hy-lạp đến xin gặp Ngài. Thời gian của những cuộc chuyện trò riêng tư đã qua, nay giờ thực hiện ơn cứu độ phổ quát đã điểm.
Giờ của Đức Giê-su:
Trước đây, Đức Giê-su đã từ chối mang sứ điệp của Ngài đến lương dân, giờ đây Ngài biết rằng thời của họ đã đến; Ngài sắp đổ máu mình ra cho tất cả họ. Trước đó vài ngày, Ngài đã nói: “Tôi hy sinh mạng sống mình cho đàn chiên. Tôi còn có những chiên khác không thuộc ràn nầy” (Ga 10: 15-16). Những chiên khác không thuộc ràn nầy, chính là những lương dân này, họ đang thỉnh cầu được gặp Ngài. Xúc động tận đáy lòng, Đức Giê-su hân hoan nói: “Đã đến giờ Con Người được tôn vinh!”.
Chúa Giê-su thích dùng tước hiệu “Con Người” để nói về mình. Tước hiệu nầy quy chiếu đến thị kiến của ngôn sứ Đa-ni-en, trong đó một nhân vật huyền nhiệm “như Con Người đến trên mây trời” nhận được danh dự, quyền năng và vinh quang (Đn 7: 13-14). Tước hiệu bí ẩn nầy cho phép Đức Giê-su diễn tả tính siêu việt của Ngài ở nơi nhân tính của Ngài, đồng thời vẫn giữ được mầu nhiệm con người Ngài.
“Đã đến giờ Con Người được tôn vinh”. Trong Tin Mừng Gioan, giờ tôn vinh bắt đầu ở đồi Can-vê. Thật ra, việc tôn vinh bao gồm cuộc Phục Sinh và lên trời ngự bên hữu Chúa Cha, mà bước đầu tiên chính là Thập Giá. Chính ở nơi Thập Giá mà hành động cứu độ viên mãn của Đức Giê-su được thực hiện và ý định yêu thương vô hạn của Thiên Chúa được thể hiện. Chúa Giê-su diễn tả chân lý nầy bằng một sự so sánh rất giản dị: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác”.
Lời mời gọi theo Ngài:
Chúng ta ghi nhận rằng mỗi lần Đức Giê-su loan báo cuộc Tử Nạn của Ngài, Ngài đều mời gọi bước theo Ngài trên con đường gian nan của sự từ bỏ: “Ai quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời nầy, thì sẽ giữ lại được cho cuộc sống đời đời” (x. Mt 16: 21-24; Mc 8: 31-35; Lc 9: 22-23). Chính đó là câu trả lời của Ngài cho những người Hy-lạp mong ước được gặp và biết Ngài. Một cách nào đó, Ngài cho họ một cuộc hẹn gặp: “Ai phục vụ Thầy, thì hãy theo Thầy; và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó”. Không ai có thể gặp gỡ Đức Giê-su, nếu không chung bước trên cùng con đường với Ngài.
Viễn cảnh của con đường đau khổ nầy làm xao xuyến Đức Giê-su. Ba chuyển động nối tiếp nhau: xao xuyến tận đáy lòng, kêu cầu cùng Chúa Cha và chấp nhận dâng hiến mạng sống mình, mà các sách Tin Mừng Nhất Lãm dùng để mô tả con người của Đức Giê-su ở vườn Ghết-sê-ma-ni. Nhưng vào giây phút nầy, Đức Giê-su không để cho mình ngã quỵ dưới sức nặng của cuộc Tử Nạn, nhưng trấn tĩnh lại ngay. Thêm nữa, một tiếng phán từ trời an ủi Ngài.
Tiếng phán từ trời:
Trong Tin Mừng Gioan, đây là cuộc Thần Hiển duy nhất. Thánh Gioan không tường thuật cuộc Biến Hình; thánh nhân tường thuật biến cố Phép Rửa chỉ gián tiếp và không có bất kỳ ám chỉ nào đến tiếng phán từ trời. Đoạn văn nầy là đoạn văn duy nhất ám chỉ đến sự can thiệp từ trời. Đây là dấu chỉ sau cùng được ban cho đám đông. Phải chăng đây là dấu chỉ mà người Biệt Phái đòi hỏi nhưng bị từ chối? Đức Giê-su chỉ ban dấu chỉ nầy vào lúc quá muộn: án tử của Ngài đã được quyết định rồi.
Cuộc chiến thắng trên Xa-tan:
Vào lúc nỗi buồn phiền dâng cao, Chúa Giê-su lấy lại niềm hưng phấn lúc ban đầu: ơn cứu độ mà Ngài mang đến cho thế gian sẽ đánh dấu sự thất bại của Xa-tan. Nhân loại sẽ tránh khỏi quyền thống trị của sự Dữ. Thập Giá sẽ là dấu chỉ của cuộc chiến thắng nầy: “Phần tôi, khi được nâng lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi”. Động từ “nâng lên” được dùng ở đây có nghĩa vừa “được giương lên cao” vừa “được tôn vinh”, tức là được đưa lên trên Thập Giá và được tôn vinh bên cạnh Chúa Cha. Đức Giê-su đã trả lời cho ông Ni-cô-đê-mô theo cùng một cách như vậy: “Con Người cũng sẽ được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời” (Ga 3: 14-15).
-----------------
(*) Tựa đề do BTT.GPBR đặt

 

MC5-B136: VINH QUANG NƠI THẬP GIÁ

CHÚA NHẬT V MÙA CHAY- Năm B
- Lm Giuse Đinh lập Liễm

DẪN NHẬP.
 

Con người có nhu cầu cần phải yêu và được yêu, chỉ trừ khi chết mới hết yêu.  Sống mà được yêu thương MC5-B136

Con người có nhu cầu cần phải yêu và được yêu, chỉ trừ khi chết mới hết yêu.  Sống mà được yêu thương là hạnh phúc. Con người mà được Thiên Chúa yêu thương thì còn hạnh phúc nào bằng. Giao ước ký kết giữa Thiên Chúa và loài người là một giao ước tình yêu, nhưng nhiều lần loài người đã phá vỡ giao ước ấy, nghĩa là chối bỏ, không chấp nhận tình yêu ấy nữa.  Nhưng Thiên Chúa vẫn không nản lòng, Ngài đã nhờ các tiên tri loan báo cho loài người biết là Ngài sẽ ký kết một giao ước mới và vĩnh cửu. Và để cho ai nấy được rõ, Ngài đã muốn giao ước được ký trong máu Con của Ngài đổ ra trên thập giá. Chính Đức Giêsu đã nói:”Không có tình yêu nào lớn hơn mối tình  của kẻ chết vì người mình yêu”.  Ngài đã chết cho chúng ta. Giờ khổ nạn của Chúa là giờ của tình yêu mà Ngài đã loan báo trước, đồng thời cũng là giờ Ngài được tôn vinh.
Phụng vụ hôm nay nhắc cho chúng ta phải thi hành giao ước tình yêu mà Chúa đã ký kết với chúng ta trong máu Con của Ngài trên thập giá. Đáp lại tình yêu cao vời ấy, chúng ta hãy đón nhận “giờ” của Chúa là giờ của ta chúng ta, nghĩa là chúng ta sẵn sàng đón nhận  những gian nan thử thách, thi hành thánh ý Chúa, chu toàn giữ lề luật Chúa như lời Chúa nói qua miệng tiên tri:”Ta sẽ đặt lề luật Ta trong lòng chúng, Ta sẽ ghi khắc luật đó vào trái tim chúng”.

TÌM HIỂU LỜI CHÚA.

+ Bài đọc 1 : Gr 31,31-34.
Khi dân Do thái thoát ách nô lệ của Ai cập, Thiên Chúa đã ký kết với dân một Giao ước ở chân núi Sinai, qua trung gian ông Maisen. Theo đó, Thiên Chúa sẽ là Chúa của họ và bảo vệ họ, còn họ là dân riêng của Ngài, họ phải trung thành phụng sự Ngài là Chúa tể duy nhất.  Giao ước đó đã được khắc lên hai bia đá.
Nhưng qua thời gian, dân Chúa đã phản bội Ngài, phá bỏ Giao ước đã ký kết, và kết quả là họ bị quân địch đến tàn phá đất nước, dân chúng phải đi lưu đầy ở Babylon.
Tuy thế, Tiên tri Giêrêmia loan báo cho họ biết Thiên Chúa sẽ lập một giao ước mới với dân Ngài. Giao ước đó sẽ không còn ghi trên bia đá nữa, mà khắc ghi ngay trong lòng họ. Giao ước này là giao ước tình yêu. Để cho ai nấy được rõ, Ngài đã muốn cho giao ước này được ký kết trong máu của Con Ngài đổ ra trên thập giá. Giao ước mới và vĩnh cửu này nói lên tình thương lớn lao và sự tha thứ không bờ bến của Ngài:”Ta sẽ tha thứ tội ác cho chúng và không còn nhớ đến lầm lỗi của chúng nữa”(Gr 31,34).

+ Bài đọc 2 : Dt 5,7-9.
Đức Giêsu Kitô với thân phận làm người đã hoàn toàn tuân phục thánh ý Chúa Cha, Ngài đã sẵn lòng chịu đau khổ đến mức tận cùng để cứu chuộc loài người bằng chính máu mình đổ ra trên thập giá. Tác giả thư Do thái hiểu rằng cuộc chịu nạn của Đức Giêsu là “căn nguyên ơn cứu độ đời đời cho tất cả những ai tùng phục Ngài”.

+ Bài Tin mừng : Ga 12,20-33.
Nhân cơ hội có sự hiện diện của mấy người ngoại giáo gốc Hy lạp muốn gặp Đức Giêsu để tìm hiểu về Ngài, hoặc muốn trình bầy điều gì đó, nhân dịp này Ngài nói với họ về“Giờ của Ngài”. Giờ của Ngài tức là lúc Ngài bị treo trên thập giá, giờ mà Ngài được tôn vinh.
Nói theo ngôn ngữ người đời thì đó là một điều nghịch lý, nhưng với cái nhìn đức tin, thì đó lại là một niềm vinh dự vì qua cái nhục trong một thời gian vắn, một cái nhục vô lý, Đức Giêsu sẽ chiến thắng vẻ vang  nhờ cuộc phục sinh của Ngài, cũng như hạt lúa gieo vào lòng đất phải chết đi mới sinh được nhiều hạt khác:”Phần Ta, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, Tôi sẽ kéo mọi người lên với Ta”(Ga 12,33).

THỰC HÀNH LỜI CHÚA.
Vinh quang trong khổ nhục      
ĐỨC GIÊSU ĐƯỢC TÔN VINH.
Đức Giêsu nói:”Đã đến giờ Con Người được tôn vinh”(Ga 12,22). Ngài được tôn vinh như thế nào ? Đức Giêsu được tôn vinh không phải bằng sự giầu sang, danh vọng, quyền thế, vinh quang thế gian, Ngài được tôn vinh chính lúc bị treo trên thập giá vì Ngài đã vâng theo thánh ý Cha Ngài, Ngài chiến thắng vẻ vang trong khổ nhục .
Giờ của Đức Giêsu.
Đức Giêsu đã cầu nguyện cùng Cha:”Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này, nhưng chính vì giờ này mà con đến”. Giờ này là giờ nào ? Phải chăng là lúc ký giao ước mới  trong máu của Ngài đổ ra trên thập giá?  Đúng như vậy !
Lịch sử cứu độ qua các mối tương quan giao ước giữa Thiên Chúa và nhân loại, ta thấy có nhiều giao ước đã được thay đổi : Từ giao ước Adong (St 3,15), với Noe (St 9,1-17), với Abraham (St 17,1-27) đến lời hứa giao ước mới mà Thiên Chúa dùng tiên tri Giêrêmia loan báo (Gr 31,31-34) : tất cả những lời giao ước đó đều thấy thực hiện viên mãn trong GIỜ của Đức Giêsu. Giao ước mới quả đã thực hiện lời Thiên Chúa hứa với nguyên tổ (St 315) đem lại chiến thắng cho con người, và tái lập tương quan mật thiết giữa Thiên Chúa và loài người.
Đức Giêsu nói:”Đã đến giờ Con Người được tôn vinh”. Những lần khác, Đức Giêsu nhắc đến “Giờ chưa đến”(Ga 2,4 ; 7,30 ; 8,20), nhưng ở đây Ngài lại nói đến “Giờ đã đến”. Vậy “Giờ” ở đây không phải là giờ vinh quang cho bằng là “Giờ hiến tế” đem lại vinh quang cho Ngài : Giờ vinh quang của Con Người là giờ tử nạn và phục sinh của Ngài.
Sự vâng phục của Đức Giêsu.
Khi chấp  nhận mục nát như hạt giống gieo vào lòng đất với cuộc Vượt Qua trên thập giá, Đức Giêsu đã sống trọn vẹn mầu nhiệm tự hủy nơi bản thân mình. Mầu nhiệm này đã bắt đầu bằng việc Nhập Thể và kéo dài trong suốt cuộc sống của Ngài. Sự tự hủy này trước hết, hệ tại ở sự vâng phục hoàn toàn của Đức Giêsu trước thánh ý của Chúa Cha. Tâm tình tuân phục đó của Đức Giêsu cũng được tỏ lộ cách cụ thể qua lời Ngài thưa với Chúa Cha, mà chúng ta vừa nghe trong bài Tin mừng hôm nay:”Đã đến giờ Con Người được tôn vinh. Lạy Cha, xin cứu Con khỏi giờ này. Nhưng chính vì thế mà Con đã đến trong giờ này. Lạy Cha, xin làm vinh danh Cha”
Mặc dù luôn đặt ý Cha trên hết mọi sự, nhưng trong bản tính của một con người, đứng trước con đường thập giá, Đức Giêsu cũng không khỏi sợ hãi, xao xuyến, ngần ngại. Ngài sợ hãi vì trước mắt, thập giá chính là “một điều điên rồ đối với dân ngoại, là cớ vấp phạm cho người Do thái”(1 Cr 1,23). Vì thế, khi biết rằng sắp đến “giờ” của Ngài, Đức Giêsu đã phải thốt lên:”Bây giờ linh hồn Ta xao xuyến, và biết nói gì ? Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này”.
Lắng nghe lời tâm sự tha thiết tự đáy lòng của Đức Giêsu, chúng ta thấy rằng : sống vâng phục không phải là một điều dễ dàng. Sự vâng phục này  đòi hỏi Đức Giêsu một sự cố gắng, kiên trì để vượt qua bản thân, sẵn sàng đón nhận các biến cố vui buồn Thiên Chúa gửi đến từng ngày trong cuộc sống ; hay nói cách khác , Đức Giêsu cũng đã phải học để có thể sống vâng phục, như lời tác giả thư Do thái viết:”Dầu là Con Thiên Chúa, Ngài (Đức Giêsu) đã học vâng phục do những đau khổ Ngài chịu”. Thế nhưng, chính nhờ sự vâng phục trọn vẹn đó mà Đức Giêsu khi hoàn tất”Ngài đã trở nên căn nguyên ơn cứu độ đời đời cho tất cả những ai tùng phục Ngài”.
Đức Giêsu chấp nhận thập giá.
Với tư cách là con người như chúng ta, Đức Giêsu cũng cảm thấy sợ hãi trước đau khổ. Trong vuờn Cây Dầu Ngài cũng đã xao xuyến (x. Mt 26,38) và phải kêu xin cùng Cha:”Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho Con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý Con, mà xin theo ý Cha”(Mt 26.39). Theo tính tự nhiên, Đức Giêsu muốn trốn tránh sự đau khổ, nhưng Ngài lại muốn tuân theo thánh ý Cha để cho Cha định liệu. Và ý của Chúa Cha là  muốn cho Con Ngài chịu chết trên thập gia để cứu chuộc nhân loại.
Bài Tin mừng hôm nay cho ta thấy rõ quan niệm của Chúa đối với đau khổ, đối với mọi thánh giá trên đời.
Đức Giêsu dùng cây thánh giá như bậc thang tới vinh quang “Per Crucem ad lucem”. Quan niệm đó mới nhìn qua là một nghịch lý, song Ngài đã giải thích bằng một dụ ngôn vắn tắt và đầy ý nghĩa : dụ ngôn hạt giống:”Nếu hạt lúa mì rơi xuống đất, mà không thối đi, thì nó chỉ trơ trọi một mình,  nhưng nếu nó thôi đi, thì nó sinh nhiều bông hạt. Ai yêu mạng sống mình thì sẽ mất và ai ghét mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ được nó cho sự sống đời đời”(Ga 12,24).
Cây thánh giá còn là phương tiện chinh phục. Ngài cho biết, Ngài được giương lên cao thì cũng sẽ có nhiều người cùng được lên cao với Ngài:”Phần Ta, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, Ta sẽ kéo mọi người lên với Ta”(Ga 12,32). Lịch sử đã chứng minh cho lời Chúa. Biết bao người đã tin theo Ngài vì cái chết đau thương đầy tình thương xót của Ngài. Biết bao người đã bỏ tất cả và cảm mến tấm lòng thương xót của Ngài. Thập giá Chúa đã in sâu vào trong lòng người ta.

Truyện : Ông đóng khố cởi trần.
Người ta kể rằng : Tin mừng Chúa được gieo rắc tại Nhật bản từ hồi thế kỷ 16 do các vị thừa sai ngoại quốc đem đến.  Giáo hội Nhật tuy còn non trẻ mà đã bị cấm cách giết hại. Các vị thừa sai, vị thì bị giết, vị thì phải trục xuất, không còn một vị thừa sai nào ở lại để tiếp tục dạy giáo lý, củng cố đức tin cho họ. Ai cũng tưởng rằng Giáo hội Nhật bản đã bị xoá sổ vì suốt trong ba trăm năm không còn ai đến dạy dỗ họ. Nhưng không ngờ, khi các nhà thừa sai được phép truyền giáo lại ở Nhật, có người xưng mình là Kitô hữu. Khi được hỏi về giáo lý thì họ mù tịt, chẳng hiểu biết gì. Nhưng khi được hỏi là họ thờ ai, thì họ đã mạnh dạn thưa :”Thờ ông đóng khố cởi trần trên thập giá”!

CHÚNG TA SẼ ĐƯỢC TÔN VINH.
Những người theo Đức Kitô sẽ được tôn vinh, nhưng muốn được tôn vinh thì cũng phải có điều kiện, phải nói được như thánh Phaolô : vinh quang của ta là thánh giá Đức Kitô. Chúng ta sẽ tìm được vinh quang trong sự tự hủy, trong việc cho đi và chấp nhận thánh giá trong đời.
Sống theo con đường tự hủy.
Thánh Phaolô đã vinh tụng Đức Giêsu trong bài thánh ca:”Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Ngài lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chất trên cây thập tự”(Pl 2,6-8).
Đức Giêsu đã tự chọn lấy cái chết để chiếm lấy sự sống. Mới nghe thì ai cũng cho là phi lý vì chết và sống trái ngược nhau, làm sao có thể dung hòa được, nhưng chết và sống không hẳn là hai điều luôn đối nghịch nhau, nhiều khi chúng liên kết hỗ trợ nhau : sự chết nuôi sự sống và sự sống có thể sống được là nhờ sự chết. Ta có thể đưa ra vài ví dụ :
– Nơi thực vật : những thứ được dùng làm phân bón phải chết đi thì mới trở thành chất bổ dưỡng cho cây.
– Nơi sinh vật : các thức ăn phải “tiêu” mới “hoá” thành lương thực.
– Trong cõi nhân sinh : những người già chết đi để nhường đất và hoa mầu của đất cho các thế hệ sau dùng đó mà sống.
– Ngọn nến : sáp nến phải chảy ra và bị đốt thì ánh sáng mới bùng lên.
Đức Giêsu chết để cho con người sống. Sự chết của Ngài là nguồn sự sống cho chúng ta.(Carôlô, Sợi chỉ đỏ, năm B, tr 165)
Theo như Flor McCarthy thì “Chết là một phần của sống. Chúng ta sinh ra là để chết, hầu có thể sống sung mãn hơn”. Thực vậy,
– mỗi một hành vi khiêm tốn là một phần tính kiêu ngạo chết đi.
– mỗi một hành vi can đảm là một phần tính hèn nhát chết đi.
– mỗi một hành vi dịu dàng là một phần tính hung hăng chết đi.
– mỗi một hành vi yêu thương là một phần tính ích kỷ chết đi.
Con người tội lỗi chết dần đi thì con người đích thực được dựng nên giống hình ảnh Chúa dần dần sống mạnh.
Nói một cách cụ thể để áp dụng vào cuộc sống, chúng ta thử đưa ra vài trường hợp cho việc tự hủy, tức là bỏ ý riêng của mình đi để theo ý Chúa :
– Giả sử cuộc hôn nhân của chúng ta bị tan vỡ và chúng ta cần sự trợ giúp ở bên ngoài, nhưng vì quá kiêu căng chúng ta không muốn yêu cầu điều ấy. Như vậy “bắt ý riêng chết đi” có nghĩa là bắt lòng kiêu ngạo của ta chết đi và sẵn sàng tìm kiếm sự trợ giúp.
– Hoặc giả như chúng ta được bạn bè thân tín cho biết chúng ta đang ngày càng bê tha rượu chè, nhưng chúng ta cứ tiếp tục không nghe dù tình trạng bê tha gia tăng rõ ràng. Như thế “chết cho ý riêng”có nghĩa là nhìn nhận vấn đề của chúng ta và tìm kiếm phương thuốc điều  trị.
– Giả như một bạn bè hoặc một người thân trong gia đình xúc phạm đến chúng ta một cách nào đó, khiến chúng ta cứ giữ mãi mối ác cảm với người ấy. Thì “Chết cho ý riêng mình” có nghĩa là thật lòng tha thứ cho người ấy và lại tiếp tục dùng tình thương cử xử với y. Không ai nói rằng : Chết cho ý riêng mình là điều dễ dàng.(M. Link, Giảng lễ Chúa nhật, năm B, tr 97

Sống là phải biết cho đi.
Với con đường tự hủy, Đức Giêsu đã chứng minh một chân lý xem ra có vẻ nghịch lý:”Cho là nhận” và “Chết là con đường đưa tới sự sống”.  Thật vậy, với kinh nghiệm thường ngày, chúng ta cũng có thể nhận ra điều này. Mỗi khi chúng ta mở bàn tay để cho là lúc chúng ta có thể nhận được, và sẽ trở nên phong phú. Còn nếu chúng ta cứ nắm bàn tay lại để giữ cho chính mình, thì cũng đồng thời, chúng ta không có thể đón nhận được bất cứ điều gì. Như thế chúng ta sẽ trở nên nghèo nàn và cô đơn.
Tương tự, một người buôn bán cứ phải bỏ tiền ra để mua hàng hoá  khiến tiền bạc bị hao hụt đi, nhưng nhờ vậy có hàng bán ra để thu tiền vào và có lời, khiến tiền bạc ngày càng gia tăng và trở nên giầu có. Nếu người ấy không chịu bỏ tiền ra để đầu tư, cứ giữ khư khư số tiền mình có, thì làm sao gia tăng số tiền ấy lên được ? Vậy, điều cần thiết để có là phải cho ra hay cho đi.
Cảm nghiệm sâu sắc chân lý từ mầu nhiệm tự hủy của Đức Giêsu, thánh Phanxicô Assisi, trong lời kinh Hoà bình, đã ca lên :”Chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh. Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân. Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời”.

Truyện : Thánh Maximilien Kolbe.
Cha Maximilien Kolbe làm gương cho chúng ta về cung cách sống của người môn đệ Chúa : Một buổi sáng cuối tháng 7 năm 1941 tại trại tập trung Oswiccim của Đức quốc xã, có một người vượt ngục, 10 người khác bị xử thay vào. Các nạn nhân run rẩy bước ra, đứng không vững, khiếp đảm, không dám kêu la, trừ một người kêu ré lên “Ôi vợ và các con tôi”.
Hàng trăm dẫy tù nhân xếp hàng dài im thin thít, hú hồn vì chưa phải tên mình, không một ai dám cựa quậy. Bỗng từ dẫy tù nhân bên trái, một người gầy guộc rời hàng bước về phía viên trại trưởng. Mọi người nín thở : chuyện chưa từng có ! Viên trưởng trại đặt tay lên súng :
– Anh muốn gì ?
– Tôi muốn chết thay một người trong bọn họ.
Viên trưởng trại sửng sốt. Y tưởng mình nghe lầm. Nhưng không, người kia thực sự xin được chết thay cho kẻ có vợ và các con đang đợi ở nhà.  Sau mấy câu gượng gạo, viên trưởng trại nhượng bộ, chấp  nhận lời yêu cầu. Kẻ tình nguyện đo chính là Maximilien Kolbe, một Linh mục công giáo. Cha đã được Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II phong thánh ngày 10.10.1982.
Chấp nhận thánh giá trong đời.
Đau khổ và hạnh phúc luôn gắn liền và đi đôi với nhau. Bài Tin mừng hôm nay giúp chúng ta áp dụng định luật ấy vào đời sống, vào cuộc hành trình đi đến hạnh phúc đích thực và vĩnh cửu của ta.  Đức Giêsu cho biết :”Đã đến giờ Con Người được tôn vinh”. Và Ngài cho biết lý do nào khiến Ngài được tôn vinh. Hay nói cách khác, Ngài phải sống hay làm thế nào mới được tôn vinh:”Thầy bảo thật anh em, nếu hạt giống gieo xuống đất…” Ngài còn diễn tả chân lý ấy theo kiểu khác:”Ai yêu quí mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời”.
Qua những lời ấy, Đức Giêsu cho thấy sự song đôi tất yếu của một cặp yếu tố trái ngược nhau : chết đi và sinh ra, hạnh phúc và đau khổ. Hạt lúa có thể chết đi mới sinh ra những hạt khác. Con người có đau khổ mới làm cho mình và người khác hạnh phúc.  Thật vậy, nếu người ta cứ sống mãi không chết, làm sao thế giới có đủ chỗ và tài nguyên cho các thế hệ con cháu sinh ra sau ?  Do đó, chết là điều kiện tất yếu của sống, và đau khổ là điều kiện tối yếu của hạnh phúc.  Thật vậy, trên đời, có hạnh phúc nào mà không được xây dựng trên đau khổ, hoặc của chính mình, hoặc của người khác ?  Người ta nói không sai :
Có khó mới có miếng ăn,
Không dưng ai bỗng đem phần chia cho.(Ca dao)
Trong Kinh thánh có rất nhiều câu nói lên sự đi đôi giữa sống và chết, giữa đau khổ và hạnh phúc, trong đó có vài câu chúng ta thường nghe như :
“Người đi trong nước mắt, đem hạt giống gieo trên ruộng đồng,Người về miệng vui ca , tay ôm bó lúa ngào ngạt hương”(Tv 126,6).

hoặc:
“Nếu ta cùng chết với Ngài, nếu chúng ta cùng chịu đau khổ với Ngài, ta sẽ thống trị với Ngài”(2Tm 2,11-12; x. Rm 6,8; 8,17).

Truyện : Thập giá chỉ đường.
Phi trường quốc tế Pensylvania là một trong những sân bay lớn nhất, hiện đại nhất trong các sân bay của Hoa kỳ. Cách sân bay chỉ khoảng cây số có một ngôi thánh đường nằm đúng vào hướng bay cuối một trong những phi đạo nhộn nhịp đón nhiều chuyến bay nhất.
Sợ tháp chuông có thể gây nguy hiểm cho các máy bay mỗi lần đáp xuống phi đạo, toàn thể giáo dân ở đây đã đồng lòng quyết định sẽ đặt trên đỉûnh tháp chuông một bóng đèn nê-ông lớn bằng hình cây thánh giá. Từ đó, mỗi lần chuẩn bị đáp xuống phi đạo vào ban đêm, các phi công đều dựa vào ánh sáng tỏa ra từ cây thánh giá như thể đó là một ngọn hải đăng chỉ đường cho các con tầu cập bến an toàn.
“Lạy Chúa Giêsu, Thánh giá Chúa là một mầu nhiệm mà lý trí chúng con khó hiểu, và đứng trước mầu nhiệm này, tình cảm chúng con hoảng sợ và khước từ. Xin Chúa ban ánh sáng soi dẫn ý nghĩa cho chúng con. Xin ban cho chúng con nghị lực chấp nhận nó với tất cả những đòi hỏi của nó. Xin ban cho chúng con  vui sống mầu nhiệm ấy với Chúa, ngõ hầu Nước Cha trị đến trong chúng con và khắp trần gian đến muôn thuở muôn đời”. Amen.

 

MC5-B137: CHÚA GIÊSU LÀ ĐẤNG BAN SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI

CHÚA NHẬT V  MÙA CHAY- Năm B
– Lm. Phêrô Lê Văn Chính
 

Cái chết là định mệnh của con người. Ai rồi cũng phải chết, dù giàu nghèo sang hèn. Dầu vậy lời hứa MC5-B137

Cái chết là định mệnh của con người. Ai rồi cũng phải chết, dù giàu nghèo sang hèn. Dầu vậy lời hứa của Thiên Chúa thúc đẩy chúng ta tin tưởng và can đảm để sống những thực tại mới mẻ của sự phục sinh. Bài đọc sách tiên tri Giêrêmia nhắc lại những lời hứa ban tặng sự sống mới của Thiên Chúa nhắc nhở mỗi người hướng đến sự sống mới đầy tràn mà Thiên Chúa ban tặng cho con người. Sự sống mới này bắt nguồn từ Thánh Thần Thiên Chúa, lôi kéo con người ra khỏi nấm mồ sự chết để đến với sức mạnh Phục sinh viên mãn của Thiên Chúa. Chúa Giêsu sẽ biểu lộ sức mạnh chiến thắng sự chết này của Thiên Chúa khi làm phép lạ cho Lazarô sống lại để mời gọi mọi người tin vào Người để được tham dự vào sự sống vĩnh cửu muôn đời. Chúa nhật thứ V mùa chay cũng là chúa nhật đi trước tuần thánh, chúng ta được mời gọi tin vào phép lạ Chúa Giêsu làm cho Lazarô sống lại để tin tưởng chính Người là sự sống và là sự sống lại. Đây là dấu chỉ thứ bảy trong tin mừng Gioan, dấu chỉ lớn nhất đến độ được xem là tiền báo cho sự thương khó và phục sinh của Chúa Giêsu.
Hai chị em Marta và Maria là những người thân tín và tin tưởng vững mạnh vào quyền năng của Chúa Giêsu. Ngược lại, họ cũng là những người được Chúa Giêsu rất yêu mến. Khi Lazarô lâm trọng bệnh, hai chị em đã nhắn tin cho Chúa Giêsu, mong ước người sẽ đến để chữa cho Lazarô, người mà Chúa Giêsu yêu mến, được lành bệnh. Dầu vậy, Chúa Giêsu đã không đến như hai chị em mong đợi, người để cho đến khi Lazarô chết và được chôn cất bốn ngày mới đến thăm. Chúa Giêsu đã nhân dịp này chứng tỏ cho các môn đệ hiểu người có quyền năng làm cho người chết sống lại. Vì thế người nói với các ông :  «Lazarô bạn của chúng ta đang ngủ, thầy đi để đánh thức anh ấy dậy ». Theo lời Chúa Giêsu nói,  các môn đệ vẫn còn nghĩ rằng Lazarô chỉ ngủ một giấc bình thường, dầu vậy Chúa Giêsu đã ám chỉ đến cái chết của Lazarô và việc người sẽ làm cho anh được sống lại. Phản ứng của các môn đệ luôn đi sau những gì mà Chúa Giêsu muốn nói. Đứng trước những lời của Chúa Giêsu, các môn đệ chứng tỏ sự thiếu hiểu biết và vì thế cần được huấn luyện và dạy bảo bởi lời Chúa.
Khi Chúa Giêsu đến, hai chị em đã đón tiếp người, và Martha đã thưa với Chúa Giêsu là Lazarô đã chết được bốn ngày. Dầu vậy, bà vẫn biểu lộ một lòng tin mạnh mẽ vào quyền năng của Chúa Giêsu. Ngay cả khi Lazarô đã chết, Martha cũng tin rằng Chúa Giêsu có thể xin Cha để cho Lazarô được sống lại : «Con biết ngay cả bây giờ, thầy xin gì cùng Thiên Chúa, Thiên Chúa cũng sẽ ban cho thầy ». Trong lời đối thoại với Chúa Giêsu, Martha đã diễn tả lòng tin mạnh mẽ của mình như một người do thái đạo đức. Chúa Giêsu nói với bà : « em con sẽ sống lại ». Martha đã thưa : «Con biết ngày tận thế, khi kẻ chết sống lại thì em con sẽ sống lại ». Martha đã tuyên xưng đức tin của một người do thái đạo đức, nhưng Chúa Giêsu đã đưa ra một lời mạc khải quyết định về quyền năng ban sự sống của mình, Người chính là Đấng ban tặng sự sống, nên những ai tin vào người sẽ không phải chết và dù có chết cũng sẽ được sống. Chúa Giêsu còn muốn xác định rõ hơn nữa chính người là Đấng ban sự sống cho những ai sẵn sàng tin vào người: «Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin Ta thì dù có chết cũng sẽ được sống, và ai sống mà tin Ta thì sẽ không chết bao giờ ». Martha đã tuyên xưng rất mạnh mẽ xác tin vào Chúa Giêsu, «Thầy  là Đấng Kitô, và cũng là Con Thiên Chúa ». Martha là hình ảnh báo trước người tín hữu là người sẽ đạt tới lòng tin vào Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa đến trong thế gian để ban tặng sự sống vĩnh cửu. Người là Đấng ban tặng sự sống theo hình ảnh của Thiên Chúa là Đấng hằng sống: «Vâng con tin thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống đã đến trong thế gian ». Không những chỉ có Martha, hình ảnh mới mẻ của người tín hữu mà Phúc âm cũng trình bày hình ảnh rất dễ mến của Maria. Maria đến gặp Chúa Giêsu và bà cũng nói lời gần giống với lời của Martha : «Thưa thầy, nếu thầy ở đây thì em con không chết », diễn tả phần nào thái độ thiếu sót trong lòng tin, dầu vậy, Phúc âm cũng cho chúng ta thấy những phản ứng rất bình thường của con người đứng trước cái chết. Maria đã khóc nức nở, những người do thái cũng đã khóc nức nở, và Chúa Giêsu đã thổn thức và xúc động.
Tình yêu và lòng tin tưởng của các môn đệ cũng như của chị em Martha và Maria dù sao vẫn còn nhiều giới hạn so với lòng mong đợi của Chúa Giêsu. Sự xác tín của các ngài vào quyền năng của Chúa Giêsu vẫn còn bị ràng buộc vào cảm nghiệm của con người trước sức mạnh của cái chết và sự yếu đuối bất lực của con người đứng trước cái chết. Các ngài đã tin là Chúa Giêsu có thể làm phép lạ, nhưng vẫn chưa có được nhận thức rõ rệt là chính Chúa Giêsu có quyền lực chiến thắng sự chết và ban tặng quyền lực này cho những ai tin. Hành động của Chúa Giêsu vượt lên trên những kinh nghiệm của con người và mạc khải điều thực mới mẽ. Lòng tin vào Chúa Giêsu giải thoát con người chúng ta khỏi những giới hạn của kinh nghiệm hạn hẹp của con người để hướng tới đời sống phục sinh vĩnh cửu.
Câu chuyện Chúa Giêsu cho Lazarô được sống lại từ trong cõi chết muốn nói lên nhiều điều vượt quá việc ông được trở lại với đời sống bình thường và đem đến cho mọi người lòng tin tưởng mới. Việc Lazarô đã chết rồi được sống lại báo trước hành trình đi từ sự chết đến sự sống của Đức Giêsu và của mỗi người chúng ta. Việc Chúa Giêsu cho Lazarô chết được sống lại lớn lao như thế nào thì quyền năng Phục sinh của Người trên sự chết sẽ lớn lao hơn và sẽ được mạc khải nơi sự phục sinh của người. Lazarô được trở lại đời sống của con người, nhưng dù sao sau đó ông cũng sẽ lại chết, trái lại sự Phục sinh mà Chúa Giêsu sẽ thực hiện và ban tặng cho chúng ta là một Đời sống mới bất diệt, khi mà chúng ta sẽ không còn phải chết nữa. Đây là quà tặng của đời sống mới, của ơn cứu độ, do bởi Thánh Thần của Đấng đã làm cho Đức Giêsu sống lại từ trong cõi chết. Câu chuyện Lazarô dẫn đưa chúng ta vào mầu nhiệm vượt qua mà chúng ta được mời gọi chia sẻ sự sống mới Phục sinh của Chúa Giêsu. Martha và Maria cũng như dân chúng đã tin vào Chúa Giêsu bởi vì họ đã chứng kiến dấu lạ Lazarô được sống lại. Thách đố của chúng ta là phải đạt đến chiều sâu của niềm tin sẽ giải thoát chúng ta khỏi những mong đợi giới hạn của con người, khỏi những kinh nghiệm tự nhiên để sống thực sự cảm nghiệm sức mạnh quyền năng Phục sinh của Chúa Giêsu trong những công việc bình thường hằng ngày. Kinh nghiệm mới mẻ này sẽ là tin tưởng mạnh mẽ mà không gặp thấy dấu chỉ nào trong những góc cạnh đen tối và mờ nhạt của đời sống hằng ngày. Chúa Giêsu đã xác định với Martha rằng người là sự sống và là sự sống lại cho những ai có lòng tin vào người. Điều ngạc nhiên khi chúng ta lắng nghe lại lời khẳng định này của Chúa Giêsu, đó là chúng ta đã bắt đầu chia sẻ sức mạnh phục sinh này trong cuộc đời hiện tại rồi. Hẳn nhiên là chúng ta chỉ có thể chia sẻ trọn vẹn mọi sức mạnh của quyền năng này sau khi chúng ta lìa đời, nhưng ân sủng của sự phục sinh đã bắt đầu được khai triển trong đời sống hiện tại của chúng ta bởi vì Thánh Thần của Thiên Chúa đã được ban tặng cho chúng ta. Vì thế, thánh Phaolô nhắc nhở rằng ngay từ cuộc đời hiện tại, quyền năng Phục sinh của Chúa Giêsu đã bắt đầu khai triển và người tín hữu được mời gọi sống theo Thánh Thần và biết xa tránh đời sống theo xác thịt. Khi sống theo Thánh Thần, người tín hữu đã bắt đầu cảm nghiệm đời sống mới phục sinh trong thân xác mình, như chính Thánh Thần đã tác động cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết.

 

MC5-B138: TRAO BAN VÀ NHẬN LÃNH

CHÚA NHẬT V MÙA CHAY- Năm B
-  Lm. Inhaxiô Trần Ngà
 

Khi những hạt thóc giống được gieo xuống ruộng đồng, hạt nào bị chôn vùi trong bùn đất, bị phân huỷ MC5-B138

Khi những hạt thóc giống được gieo xuống ruộng đồng, hạt nào bị chôn vùi trong bùn đất, bị phân huỷ đi, thì vài hôm sau sẽ nảy mầm, sẽ mọc thành cây, sẽ triển nở sum suê và đơm bông kết hạt dồi dào. Trong khi đó, những hạt rơi trên bờ ruộng, rơi trên đất cứng, vì không chịu phân huỷ như những hạt lúa dưới bùn, nên chúng không thể mọc thành cây, không thể nảy chồi đâm nhánh, không thể đơm bông kết hạt… và rốt cuộc chỉ trở thành lương thực cho chim, cho kiến…
Tiến trình sinh trưởng này được Chúa Giê-su sử dụng để dạy chúng ta bài học quý báu sau đây.
Ngài nói: “Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác.”
Tiếp đó, Chúa Giê-su kêu mời mọi người chấp nhận hy sinh, chấp nhận hao mòn như hạt lúa gieo vào bùn đất để thu lợi gấp trăm. Ngài nói: “Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời” (Ga 12, 24-25).
Lời dạy này của Chúa Giê-su có 2 ý chính:
-“Ai yêu quý mạng sống mình thì sẽ mất”
Đây là trường hợp những người chỉ biết chăm lo cho bản thân mình, mà không quan tâm phục vụ người khác. Họ như hạt  lúa nằm trơ trọi trên bờ ruộng, chứ không chịu phân hủy trong bùn đất, rốt cục chỉ làm mồi cho chim, cho kiến… Và cũng như hạt lúa trơ trọi trên bờ không thể sinh hoa kết hạt được, cuộc đời họ rất cằn cỗi; Họ chẳng nhận được phúc lành của Thiên Chúa.
-“Ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời”
Đây là trường hợp những người chấp nhận hy sinh, quên mình, chịu hao mòn sức khỏe, tốn công tốn sức… để phục vụ Thiên Chúa và con người; những người này giống như những hạt lúa chấp nhận được gieo vào bùn đất, tuy có bị hao mòn, mất mát… nhưng sẽ nhận được nhiều thành quả tốt đẹp, được Thiên Chúa rộng ban muôn phúc lành.
Minh hoạ sau đây giúp chúng ta hiểu rõ hơn bài học của Chúa Giê-su.
Tôi có hai cánh tay cùng thuộc về thân mình tôi nhưng mỗi cánh tay lại có một nếp sống khác, một chủ trương khác. Cánh tay trái của tôi theo chủ nghĩa vị kỷ, còn cánh tay phải theo chủ nghĩa vị tha.
Vì theo chủ nghĩa vị kỷ, luôn luôn quy về mình, nên tay trái của tôi rất ít tham gia vào công việc chung mà cứ để cho tay phải đảm đương mọi việc. Khi ăn cơm, tay trái dành cho tay phải cầm đũa. Khi viết bài, tay trái dành cho tay phải cầm bút. Khi phải quét nhà hay cầm búa đóng đinh… nó chẳng chịu tham gia mà nhường cho tay phải làm hết.
Thế là, tuy cả hai tay phải và trái đều thuộc về thân mình tôi, cùng được chăm sóc, nuôi dưỡng như nhau, nhưng vì tay trái theo thói ích kỷ, chẳng bao giờ muốn hy sinh phục vụ toàn thân, chẳng dấn thân chăm lo cho người khác, nên nó trở nên yếu đuối và thua kém trong mọi lĩnh vực. Trong khi đó, vì tay phải theo chủ nghĩa vị tha, luôn chấp nhận đảm đương mọi công việc nặng nề khó nhọc, lúc nào cũng sẵn sàng hy sinh phục vụ toàn thân và phục vụ nhiều người … nên nó mạnh mẽ hơn, khéo léo hơn, tài giỏi hơn, vượt xa tay trái về mọi mặt.
Hạt lúa Giê-su tự huỷ mình và được tôn vinh
Chúa Giê-su như một “Hạt Lúa” chấp nhận tự huỷ đi. Dù Ngài là Thiên Chúa, đồng hàng với Chúa Cha nhưng Ngài đã không đòi cho được đồng hàng với Thiên Chúa Cha, trái lại Ngài đã hủy mình ra không, mang lấy thân phận giòn mỏng của kiếp người, chấp nhận chết ô nhục trên thập giá, chịu mai táng trong lòng đất… để phục vụ và cứu rỗi muôn dân. Nhờ đó, “Thiên Chúa đã siêu tôn Ngài và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giê-su, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ … tuyên xưng rằng: “Đức Giê-su Ki-tô là Chúa” (Phi-líp-phê 2, 9-11).
Lạy Chúa Giê-su,
Một ngọn nến phải chấp nhận tiêu hao thì mới có thể toả sáng. Một hoả tiển phải tiêu hao nhiều năng lượng mới có thể được phóng lên không gian…
Xin giúp chúng con biết khôn ngoan chấp nhận hy sinh mỗi ngày, sẵn sàng tiêu hao thời giờ, sức khoẻ, trí tuệ, nghị lực… để phụng sự Thiên Chúa và phục vụ con người, nhờ đó cuộc đời chúng con sẽ phát triển vạn lần tươi đẹp và được vươn đến gần Chúa hơn.

 

MC5-B139: CHẾT ĐI ĐỂ ĐƯỢC SỐNG

CHÚA NHẬT V MÙA CHAY- Năm B
- Lm. Goan M. Nguyễn Thiên Khải, CMC
Thưa anh chị em,
 

Xét về mặt lịch sử theo mạch văn chương XII của Tin mừng thánh Gioan được đọc trong ngày lễ MC5-B139

Xét về mặt lịch sử theo mạch văn chương XII của Tin mừng thánh Gioan được đọc trong ngày lễ hôm nay, thì trước đó có một sự kiện khá chấn động, là việc Chúa Giêsu thương làm cho Lazarô đã chết sau 4 ngày được sống lại, đây là chuyện người ta chưa từng nghe thấy bao giờ.
Nhất là lúc đó lại gần đến lễ Vượt Qua, dân chúng từ mọi miền đất nước về Giêrusalem mừng lễ. Nhân cơ hội này dân chúng kéo đến xem Lazarô sống lại thế nào, đồng thời cũng xem ông Giêsu quyền phép thế nào mà có khả năng làm cho một chết được sống lại. Vì thế, chúng ta mới thấy có những người Hilạp đến hỏi Philípphê: “Chúng tôi muốn gặp Đức Giêsu ” (Ga. 12, 21).
Chính khi đông đảo dân chúng tìm đến xem Lazarô được hồi sinh và xin gặp Chúa Giêsu, thì giới lãnh đạo Do thái lúc bấy giờ lo sợ uy tín và quyền lực của họ bị suy giảm. Cho nên, họ ngồi lại với nhau và quyết định chẳng những thanh toán Chúa Giêsu mà ngay cả Lazarô nữa.
Chúa Giêsu biết trước mọi sự sẽ xảy ra nên Ngài nói: “Nếu hạt lúa mì rơi xuống đất mà không thối đi, thì nó trơ trọi một mình thôi, nhưng nếu nó thối đi thì sẽ sinh nhiều bông hạt ” (Ga. 12, 24).
Khi dùng hình ảnh hạt lúa mì rơi xuống đất chết đi rồi sinh nhiều bông hạt, Chúa Giêsu có ý nói về sứ mạng thiên sai của mình. Ngài là hạt lúa được Thiên Chúa Cha gieo vào lòng đất thế gian. Điều quan trọng là hạt lúa cần tiêu hủy đi để rồi mới sinh nhiều bông hạt khác. Đây là hình ảnh tiên trưng về cuộc khổ nạn, chết đau thương và phục sinh của Chúa Giêsu.
Như hạt giống vùi trong lòng đất nứt vỏ rồi nảy mầm, thân xác Chúa Giêsu sau khi chết đi cũng được mai táng trong mồ rồi sống lại.
Như hạt giống lớn lên và trổ sinh bông hạt, Chúa Giêsu phục sinh, chiến thắng tử thần và mang lại sự sống mới cho nhân loại.
Mục đích của Chúa Giêsu tự nguyện hiến dâng mạng sống không phải là để chết thê thảm trên thập giá, nhưng khởi đi từ cái chết và phục sinh của Ngài, nhân loại được đón nhận sự sống mới.
Anh chị em thân mến,
Trên hành trình đức tin, người Kitô hữu luôn được mời gọi sống chân lý cứu độ của Thiên Chúa, qua việc chết đi bản thân mình để phụng sự Thiên Chúa và phục vụ anh chị em đồng loại.
Sự chết đi bản thân không phải chết đi về mặt thể lý, nhưng là chết đi những thói hư tật xấu, những tham sân si, để sinh nhiều hoa trái nhân đức.
Như hạt giống Giêsu chôn vùi trong lòng đất, chúng ta cũng được mời gọi chôn vùi tội lỗi, chôn vùi những ích kỷ nhỏ nhen, chết đi cho những gì làm chúng ta xa lìa Thiên Chúa.
Như hạt giống Giêsu phó thác mọi sự trong tay Chúa Cha, chúng ta cũng được mời gọi hiến dâng đời mình cho Thiên Chúa, để tùy Chúa định đoạt, gieo trồng, chăm bón theo thánh ý của Ngài.
Như hạt giống Giêsu chấp nhận mục nát đi để trổ sinh hoa trái, chúng ta cũng được mời gọi dâng hiến bản thân, để hết tình phụng sự Chúa và hết mình phục vụ Giáo hội.
Đọc lại lịch sử Giáo Hội hơn 2.000 năm qua, có vô số những chứng nhân anh dũng đã bước theo con đường hạt lúa của Đức Kitô, sẵn sàng hi sinh mạng sống, hi sinh công sức sự nghiệp, hiến thân cho anh em đồng loại, để làm cho hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào. Chẳng hạn như các thánh tông đồ, các nhà truyền giáo, hay những người có tấm lòng vàng. Cụ thể hơn là: cha Đa-miêng tông đồ người hủi. Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II. Thánh Têrêsa Calcutta…
Như vậy, muốn bước theo con đường hạt lúa của Đức Giêsu, chúng ta phải chấp nhận để cho thập giá Chúa Giêsu dẫn đưa chúng ta vào quỹ đạo của hạt lúa gieo xuống lòng đất, nghĩa là chấp nhận chết đi mỗi ngày, từ đó sẽ trổ sinh bông hạt trong mái ấm gia đình, trong sinh hoạt Giáo xứ, trong tương quan xã hội và trong môi trường sống của chúng ta.
 Thưa anh chị em,
Mỗi lần hiệp dâng Thánh lễ là mỗi lần nhắc nhở chúng ta sống huyền nhiệm của hạt lúa. Bởi vì tấm bánh linh mục cầm trong tay sau lời truyền phép, chúng ta tuyên xưng đó chính là Mình Thánh Chúa Kitô. Tấm bánh đó được đan kết bằng cả ngàn hạt lúa mì, những hạt lúa chấp nhận bị nghiền nát để rồi trở thành tấm bánh nuôi sống con người.
Tấm bánh đó được biến thể trở thành Mình Thánh Chúa Kitô để nói lên chính cuộc đời của Chúa Giêsu, là một cuộc đời chấp nhận bị nghiền nát đi, để trở nên sự sống siêu nhiên nuôi dưỡng linh hồn chúng ta.
Xin Chúa ban cho chúng ta khi mỗi rước lễ, không chỉ là một nghi thức, nhưng còn là đón nhận sự sống và một lối sống mới như chính Chúa Giêsu. Cầu xin Chúa cho  chúng ta biết chết đi mỗi ngày trong con người cũ, để mặc lấy sự sống mới trong Đức Giêsu Kitô. Amen.

 

MC5-B140: GIỜ CỦA LÒNG THƯƠNG XÓT

CHÚA NHẬT V MÙA CHAY- Năm B
- Trích Logos B
 

Ngày xưa, có một vị ẩn tu sống ẩn dật bên một khu rừng hoang vắng. Vị ẩn tu này rất thánh thiện MC5-B140

Ngày xưa, có một vị ẩn tu sống ẩn dật bên một khu rừng hoang vắng. Vị ẩn tu này rất thánh thiện đạo đức, đêm ngày ăn chay cầu nguyện và có lòng thương người.
Ngày nọ, một cô gái giang hồ sống ở ngôi làng gần đó quyết tâm đến cám dỗ vị ẩn tu thánh thiện kia. Thế nhưng, lần nào đến cám dỗ, cô gái cũng bị vị ẩn tu cự tuyệt một cách mạnh mẽ. Sau nhiều lần thất bại, một ngày nọ, cô gái đã kêu lên :
– Ông không phải là người đàn ông sao ? Ông không biết yêu ư ?
Vị ẩn tu đáp :
– Có chứ ! Nhưng chưa đến giờ !
Thế rồi, một ngày nọ, trên đường trở về túp lều của mình, vị ẩn sĩ bắt gặp cô gái giang hồ kia bị bọn cướp đánh dở sống dở chết bên lề đường, sau khi cướp sạch tiền bạc và tư trang. Vị ẩn tu vội vàng vác cô gái lên vai đưa đi cấp cứu. Trên đường đi, vị ẩn tu nói nhỏ vào tai cô gái :
– Đã đến giờ rồi đó ! Giờ của lòng xót thương !
Câu nói đầy ý nghĩa của vị ẩn tu đã dẫn đưa chúng ta vào sứ điệp lời Chúa hôm nay. Bài Tin Mừng theo thánh Gioan thuật lại lời Chúa Giêsu : “Đã đến giờ Con Người được tôn vinh”. Phải chăng đó cũng là giờ của sự đau thương ? Giờ của hạt lúa mì được gieo vào lòng đất, giờ của một vị Thiên Chúa được treo lên cao ? Và phải chăng chúng ta cũng có thể nói một cách quả quyết : đó chính là giờ của lòng xót thương ?

Giờ của sự vinh quang
Trong bài Tin Mừng, thánh Gioan đã kể lại sự kiện : có mấy người ngoại giáo Hy Lạp nhờ tông đồ Philipphê và Anrê dẫn đến gặp gỡ Chúa Giêsu. Trước sự việc đó, Chúa Giêsu đã tuyên bố : “Đã đến giờ Con Người được tôn vinh”. Chính sự kiện các người ngoại giáo đến với Chúa cho thấy : “giờ” Chúa đã điểm.
Đây không phải là giờ của đồng hồ, giờ được phân chia để tính toán thời khắc của ngày đêm. Nhưng “giờ” chính là thời điểm thích hợp để ơn cứu độ được hoàn thành. “Giờ” là “cột mốc” đánh dấu một thời đại mới bắt đầu. Có những lúc Chúa Giêsu nhắc đến “giờ” của Ngài. Nhưng đó là những lúc Chúa Giêsu xác nhận “giờ” của Ngài chưa đến (Ga 2, 4.7, 30), là lúc phải thờ phượng Thiên Chúa trong tinh thần (Ga 4, 21-23)….
Chỉ có lúc này, Ngài mới khẳng định đó là “giờ” Ngài bước vào vinh quang. Đó là “giờ” Ngài hoàn tất sứ mệnh Thiên Chúa Cha trao phó, là “giờ” Ngài uống cạn chén đắng khổ sầu. Thế nhưng, “vinh quang” ở đây không hiểu theo nghĩa thường tình. “Vinh quang” ở đây đòi hỏi phải trải qua khổ nhục và đớn đau. Chỉ qua khổ giá và cuộc tử nạn, Chúa Giêsu mới được Chúa Cha tôn vinh trong sự phục sinh rạng ngời.

Giờ của sự đau thương
Trong giây phút Chúa tuyên bố đã đến “giờ” Ngài được tôn vinh, cũng là lúc Ngài cảm nhận đó chính là “giờ” Ngài bắt đầu bước vào cuộc hành trình đau khổ. Vì thế, Ngài đã phải thốt lên : “Bây giờ linh hồn Ta xao xuyến và biết nói gì ? Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này”. Chúa Giêsu đã có những lúc bị cám dỗ từ chối thập giá : xin Chúa Cha giải thoát Ngài khỏi “giờ” đen tối, hay cất xa “chén đắng” khỏi Ngài.
Trong bài đọc II, trích thư gửi tín hữu Do Thái, thánh Phaolô còn kể lại cho chúng ta nghe tâm trạng rất đỗi “con người” của Chúa Giêsu khi Ngài đứng trước “giờ” của thập giá : “Chúa Kitô đã lớn tiếng và rơi lệ dâng lời cầu xin khẩn nguyện lên Đấng có thể cứu mình khỏi chết”. Tuy nhiên, Chúa Giêsu vẫn can đảm “đến trong giờ này” để hoàn tất thánh ý Chúa Cha, và vì thế, Ngài đã làm vinh danh Chúa Cha.
Để củng cố cho chân lý : phải trải qua đau khổ mới đến được vinh quang, Chúa Giêsu đã phác họa hai hình ảnh sâu sắc :
Hạt lúa mì rơi xuống đất phải thối mục đi mới sinh nhiều bông hạt.
Khi Chúa Giêsu bị đưa lên cao khỏi đất, Ngài sẽ kéo mọi người lên cùng Ngài.
Đó chính là con đường tất yếu chúng ta phải đi để đạt tới sự sống đời đời, như lời Chúa đã quả quyết : “Ai yêu sự sống mình thì sẽ mất, và ai ghét sự sống mình ở đời này, thì sẽ giữ được nó cho sự sống đời đời”.

Giờ của lòng xót thương
Hơn lúc nào hết, sứ điệp lời Chúa hôm nay thật gần gũi với cuộc sống đời thường của chúng ta. Đã nhiều lần chúng ta cũng phải trải qua những “giờ” đen tối đầy đau thương. Và có lẽ nhiều lúc chúng ta cũng đã phải thốt lên : “Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này”.
Nếu Chúa Giêsu đã vượt qua “giờ thập giá” để bước vào “giờ vinh quang”, thì Ngài cũng sẽ giúp chúng ta vượt qua được những nẻo đường khổ giá để bước vào ánh sáng vinh quang.
Hơn lúc nào hết, sứ điệp lời Chúa hôm nay chỉ cho chúng ta thấy “giờ của Chúa đã đến”. Đó là giờ của lòng xót thương, giờ dành cho những ai đang chìm đắm trong lo âu phiền muộn. Đó cũng là “giờ” dành cho những kẻ đang cô đơn và tuyệt vọng, những tội nhân không còn biết bám víu vào đâu.
Hôm nay, chúng ta cũng bước vào “giờ” của giao ước mới, giao ước không phải khắc trên bia đá, nhưng được ghi tận đáy lòng con người. Giao ước đó xuất phát từ tình thương và lòng tha thứ của Thiên Chúa (Bài đọc I, trích sách tiên tri Giêrêmia).
Đức Cố Hồng Y F.X Nguyễn Văn Thuận đã gọi cha Charles de Foucauld là “hạt giống trong sa mạc”. Ngài sống suốt đời ở giữa lòng sa mạc Sahara để tu thân tích đức, chiêm niệm, chầu Thánh Thể và sống bác ái với dân tộc Touareg. Suốt đời, ngài tha thiết cầu xin Chúa gửi đến một ai đó để cùng sống một lý tưởng với ngài. Cầu nguyện mãi mà chẳng thấy ai, nhưng ngài vẫn bền chí cầu nguyện. Đến khi ngài qua đời, thân xác chôn vùi giữa lòng sa mạc mênh mông. Nhưng vẫn không thấy một bóng người như ngài hằng mong ước. Xét theo khía cạnh con người, thì quả là một thất bại !
Thế nhưng, sau một thời gian chôn vùi, hạt giống ấy đã nảy mầm vươn lên. Hội dòng theo tinh thần của cha Charles de Foucauld đã mọc lên khắp nơi. Ngài chỉ xin một người, thì Chúa đã cho hàng trăm, hàng nghìn Tiểu Đệ, Tiểu Muội có mặt trên khắp thế giới.
Bài học của “hạt lúa mì” hôm nay thật quý giá cho đời sống đức tin của chúng ta. Chúng ta hãy trở thành hạt lúa mì được gieo vào lòng trần thế, biết thối mục đi trong hy sinh quên mình, để vươn lên, sinh bông hạt và hoa trái tốt tươi cho cuộc đời. Hạnh phúc vĩnh cửu của cuộc sống mai sau tùy thuộc vào cuộc sống hiện tại. Cuộc sống mai sau ấy phải được bắt đầu từ bây giờ. Vì thế, chúng ta hãy sống như lời bài hát “Hát về cây lúa hôm nay”:
“Đường lên đã mở, đi tới tương lai, ngày mai đang bắt đầu từ ngày hôm nay… ngày mai đang bắt đầu từ ngày hôm nay…”

 

MC5-B141: MỤC NÁT ĐI ĐỂ TRỔ SINH DỒI DÀO BÔNG HẠT

CHÚA NHẬT V MÙA CHAY- Năm B
-  Tu sĩ Jos. Vinc. Ngọc Biển, SSP
 

Theo quy luật tự nhiên, chúng ta thấy cỏ cây ngoài đồng được mọc lên là nhờ vào những hạt giống MC5-B141

Theo quy luật tự nhiên, chúng ta thấy cỏ cây ngoài đồng được mọc lên là nhờ vào những hạt giống đã chấp nhận bị chôn vùi, mục nát, để trổ sinh những cây non khác.
Theo quy luật sinh tồn của loài người cũng vậy! Cuộc sống của người này phụ thuộc vào người kia, nhất là sự sống của con cái phụ thuộc và sự sống và hy sinh của cha mẹ.
Trong đời sống thiêng liêng cũng thế, con người có được sự sống thần linh, ấy là nhờ vào mầu nhiệm khổ nạn và phục sinh của Đức Giêsu. Ngài đã chấp nhận trở nên như hạt giống gieo vào lòng đất, để mục nát, để sinh ra và để nuôi sống chúng ta.
Như vậy, nếu hành trình của Đức Giêsu trên trần gian là hành trình mục nát của hạt lúa gieo vào lòng đất, thì với các môn đệ cũng như với tất cả chúng ta, những người mang danh của Ngài, chắc chắn không còn con đường nào khác để được hạnh phúc và sự sống đời đời mà không đi qua con đường của hạt lúa!
Con đường tự hủy của Đức Giêsu
Thiên Chúa yêu thương nhân loại vô bờ, nên đã cống hiến “hạt giống Giêsu” cho loài người. Vì muốn làm đẹp lòng Chúa Cha, nên ngay từ giây phút đầu tiên trong thân phận hạt lúa, Đức Giêsu đã sống trọn vẹn vai trò của mình, khi “… không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế”. Và: “Người đã hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (x. Pl 2, 6-8).
Thật vậy, con đường của Đức Giêsu đi là con đường tự hủy dẫn đến cái chết tức tưởi trên thập giá. Vì thế, việc hạ mình của Ngài đã làm cho rất nhiều người không thể hiểu được, nên đôi khi lại trở thành trò cười cho thiên hạ, thành sự thất vọng cho các môn đệ.
Chính vì Đức Giêsu lội ngược dòng như vậy, nên Phêrô đã không thể chấp nhận thầy của mình phải chịu như thế, nên khi được nghe loan báo về cuộc khổ nạn qua con đường khổ giá, ông đã mạnh mẽ lên tiếng can ngăn để Thầy khỏi bị những điều đó! (x. Mt 16, 22).
Nhưng Đức Giêsu đã nhất quyết vâng phục Thiên Chúa Cha để đi trọn vẹn con đường của hạt lúa trong thân phận tự hủy mà Cha của Ngài đã muốn Ngài phải đi. Chính vì điều đó, nên đến “Giờ” của Ngài: “Thiên Chúa đã siêu tôn Người, và ban tặng danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. Như vậy, khi nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất, và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ, và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: Đức Giêsu Kitô là Chúa” (Pl 2,9-11).

Con đường tiếp bước của các môn đệ
Cùng một con đường như Thầy đã đi, các môn đệ là những người sẽ tiếp bước trên con đường ấy. Vì thế, nơi các ông không thể có một con đường nào khác để thay thế con đường tự hủy trong thân phận hạt giống mục nát.
Quả thật, Đức Giêsu đã nói với các ông: “Ai muốn theo Ta, phải bỏ mình, vác thánh giá mình mà theo Ta” (Mc 8,34).
Như vậy, đi theo Chúa là đi trên con đường khổ giá, con đường của hy sinh, con đường dẫn đến cái chết. Tất cả những điều đó đang rộng mở để đón chờ người môn đệ của Thầy Giêsu bước tới. Điều này đã được thánh Phaolô cảm nghiệm và chia sẻ, ngài nói: “Giờ đây bị Thánh Thần trói buộc, tôi về Giêrusalem. Không biết những gì sẽ xảy ra cho tôi ở đó, trừ ra điều này, là tôi đến thành nào, thì Thánh Thần cũng khuyến cáo tôi rằng: xiềng xích và gian truân đang chờ đợi tôi. Nhưng mạng sống tôi, tôi coi thật chẳng đáng gì, miễn sao tôi chạy hết chặng đường, chu toàn chức vụ tôi đã nhận từ Chúa Giêsu, là long trọng làm chứng cho Tin mừng và ân sủng của Thiên Chúa” (Cv 20,22-24).
Quả đúng như lời Đức Giêsu đã nói: “Trò không hơn thầy, tớ không hơn chủ” (Mt 10, 24). Vì thế, người môn đệ chân chính chắc chắn phải là người phác họa lại hình ảnh, lối sống và hành vi của Thầy mình cách rõ nét hơn bao giờ hết! Thế nên, với người môn sinh, không có gì vinh dự và hãnh diện cho bằng: “Được thông phần những đau khổ của Chúa, nên đồng hình đồng dạng với Chúa trong cái chết của Người, với hy vọng cũng được sống lại từ trong cõi chết” (Pl 3,10-11).
Khi nắm được quy luật tất yếu: “Phải qua đau khổ mới vào trong vinh quang”  (x. Lc 24,26), các môn đệ đã trung thành đi đến cùng con đường khổ giá bằng việc lấy chính mạng sống của mình để làm chứng cho Đức Giêsu. Tuy nhiên, không chỉ riêng các môn đệ, mà trải qua suốt dòng lịch sử, thời điểm nào cũng vẫn có người tiếp bước trên con đường tự hủy của hạt lúa mì, đó là chấp nhận từ bỏ ý riêng, sẵn sàng vâng phục và chấp nhận cái chết để đổi lấy sự sống đời đời.

Con đường dấn thân của mỗi chúng ta
Người ta vẫn thường nói: “Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh”. Thật vậy, ngày chúng ta lãnh nhận Bí tích Rửa Tội, chúng ta được mời gọi trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Giêsu, tức là chúng ta mang trong mình đặc tính, hình ảnh của Đức Giêsu và thuộc về Ngài hoàn toàn.
Nếu Đức Giêsu đã đi qua con đường vâng phục, đón nhận khổ giá và chấp nhận cái chết để cứu chuộc con người. Thì đến lượt chúng ta, có lẽ không con đường nào có thể đem lại cho mình sự sống đời đời ngoài con đường khổ giá và hy sinh. Vì thế, cùng một lời mời gọi cho các môn đệ khi xưa, hôm nay Đức Giêsu cũng mời gọi chúng ta: “Ai muốn theo Ta, phải bỏ mình, vác thánh giá mình mà theo Ta” (Mc 8,34).
Lời mời gọi này đã đưa chúng ta vào con đường của Đức Giêsu đã đi. Vì thế, chúng ta sẵn sàng mục nát đi cho ý riêng, để thay vào đó là hoa trái của đức vâng phục. Mục nát đi tính tự kiêu, tự phụ, khoe khoang, thích được ăn trên ngồi trước, được mọi người trọng vọng, để thay vào đó là hoa trái của lòng khiêm nhường. Mục nát đi sự dửng dưng, vô cảm để thay vào đó là sự liên đới, tình huynh đệ. Mục nát đi tính ích kỷ, óc bè phái để thay vào đó là hoa trái của lòng bao dung, quảng đại, yêu thương, thứ tha và hiệp nhất. Mục nát đi sự giả dối, gian tham, lọc lừa, để thay vào đó là hoa trái của sự thật thà, liêm chính. Mục nát đi thái độ được phục vụ, để thay vào đó là tinh thần hiến thân phục vụ mọi người. Mục nát đi những trào lưu tục hóa, dục vọng, để thay vào đó là hoa trái của sự thánh thiện. Và, mục nát đi những “chân lý nửa vời”, những hành vi tôn thờ ngẫu tượng, để thay vào đó là lòng khát khao đi tìm chân lý trọn vẹn là chính Chúa và tin tưởng tuyệt đối ở nơi Ngài….
Như vậy, khi chúng ta chấp nhận đi trên con đường của Đức Giêsu trong thân phận của hạt lúa, chắc chắn cuối con đường ấy, chúng ta sẽ gặp được niềm vui, bình an và hạnh phúc, nhất là được sự sống đời đời làm gia nghiệp.
Lạy Chúa Giêsu, xin ban ơn giúp sức cho chúng con, để chúng con can đảm, trung thành đi đến cùng con đường mà chính Chúa đã đi khi xưa, ngõ hầu chúng con được hạnh phúc bất diệt trong ngày mùa sau hết. Amen.

 

MC5-B142: HẠT LÚA MÌ CÓ THÚI ĐI

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT
CHUA NHẬT V MÙA CHAY, năm
Ga 12,20-33
 

 Càng gần tới Tuần Thánh, chúng ta càng nghiệm  ra sự đau khổ của Chúa.Cái chết của Chúa không MC5-B142 Dalat

Càng gần tới Tuần Thánh, chúng ta càng nghiệm  ra sự đau khổ của Chúa.Cái chết của Chúa không làm cho chúng ta kinh hãi, chán nản hay tuyệt vọng.Nhưng sự đau khổ, tử nạn và phục sinh của Chúa giúp chúng ta hiểu sâu xa tình thương vô biên của Chúa. Cây Thập giá con người nghĩ ra, tạo ra để làm khổ nhục con người. Đối với Chúa, cây Thập giá lại mang một ý nghĩa thâm sâu, cao vời vì Chúa đã nói :” Khi nào Ta được nâng cao khỏi đất, Ta sẽ kéo mọi người đến cùng Ta “. Chúa đã chấp nhận cái chết theo ý Thiên Chúa Cha để cứu độ con người, để mang lại hạnh phúc cho con người :” Không có tình yêu nào cao vời bằng tình yêu của người hiến mạng sống vì người mình yêu “ ( Ga 15, 13 ). “…Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác…” ( Ga 12, 24 ).
Bằng chính một lời mạc khải, Chúa Giêsu đã ví mình như hạt lúa mì phải được biến đổi.Chúa cho chúng ta biết, thân xác của Ngài phải chết đi, Ngài mới sống lại. Đây là sự biến đổi con người của Ngài. Sự đau khổ mà con người dồn vào Chúa Giêsu và cái chết trên Thập giá của Người nói lên sự sống mới, cuộc sáng tạo mới.Hạt lúa mì có mục nát mới sinh hoa quả tốt đẹp. Hình ảnh hạt lúa mì rất ấn tượng vì qua cái chết và sự phục sinh của Chúa đã mở ra cuộc sống vĩnh hằng cho những ai hiệp thông với Thiên Chúa. Giờ mà những người ngoại tới tìm gặp Chúa Giêsu để nhận biết Người và tôn vinh Người trên núi Sion, thờ phượng Người là Thiên Chúa duy nhất của Israen. Đức Giêsu đã nói đến giờ của Người. Giờ mà Người được tôn vinh. Đây là giờ tử nạn của Chúa Giêsu, giờ mà Người được giương cao trên Thập giá, có nghĩa là giờ Người chịu đóng đinh trên Thập giá để cứu rỗi nhân loại, cứu vớt con người. Giờ mà Đức Giêsu trong vườn Cây Dầu cùng với ba môn đệ thân tín nhất là Phêrô, Giacobê và Gioan, Chúa chịu cơn hấp hối : mồ hôi và máu chảy ra. Giờ mà các môn đệ vẫn ngủ vùi trong khi Chúa đang buồn phiền, chịu thử thách tột độ. Giờ mà Đức Giêsu thưa với Thiên Chúa Cha với tất cả lòng mình :” Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này, nhưng chính vì giờ này mà con đã đến “. Đức Giêsu đã cho mọi người hiểu rằng :” Sự đau khổ, cái chết và phục sinh của Ngài “ đưa nhân loại vào đời sống vĩnh cửu. Do đó, Chúa Giêsu đã chờ đợi giờ này để hiến mạng sống của mình và ban hạnh phúc, sự cứu rỗi, và sự sống mới cho nhân loại, cho con người, cho chúng ta.
Chúa đã nói cách dứt khoát, minh bạch, quả quyết :” Ai muốn theo Ngài, phải vác Thập giá của mình, mà theo Ngài “. Theo Ngài có nghĩa là chấp lối sống của Ngài, chấp nhận đi theo con đường của Ngài… Chúa Giêsu cũng đã dứt khoát tuyên bố :” Ai yêu quý mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ lại cho được sự sống đời đời “.  Chúa nhấn mạnh điều này bởi vì ghét không có nghĩa ghét bỏ sự sống Chúa ban tặng cho con người, nhưng là ghét bỏ tội lỗi, tật xấu, những đam mê xấu xa, những trụy lạc, sự lầm đường lạc lối, những tội này sẽ khiến chúng ta xa Chúa.
Chúa cho chúng ta hay cuộc đời sẽ mau tàn, mau lụi giống như kiếp hoa phù du sớm nở, chiều tàn, giống như cây cỏ mau úa, mau tàn. Sống ở gian trần này, con người một mặt vì kiếp sinh nhai, kiếp sống, phải lao động cần cù, miệt mài sáng tạo để làm ra của ăn của để, để đấu tranh sinh tồn, nhưng mặt khác con người phải biết “ tìm kiếm Nước Thiên Chúa “  và phải biết lắng nghe Lời Chúa, thực thi những điều Chúa dạy bằng những việc tỏa sáng ở đời như làm những việc bác ái, từ thiện, biết quảng đại chia sẻ, biết bỏ ý riêng của mình để theo ý của Chúa như Mẹ Maria đã biết nói lời Xin Vâng làm theo lời Chúa…
Lạy Chúa Giêsu, xin dạy chúng con biết yêu thương mọi người, xin giúp chúng con biết chia sẻ, cho đi và xin dạy chúng con luôn biết mến yêu Thập giá vì chính Chúa đã chọn cây Thập giá để cứu chuộc loài người.Amen.
 
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
 
1.Tại sao Đức Giêsu lại lấy hình ảnh hạt lúa mì để ám chỉ Ngài ?
2.Tại sao Chúa lại nói liều mình mất mạng sống vì Người thì giữ được mạng sống của mình ?
3.Chúa Giêsu trải qua cuộc hấp hối ở đâu ?
4.Tại sao các môn đệ thân tín : Phêrô, Giacôbê , Gioan lại ngủ khi Chúa Giêsu đang trong cơn hấp hối ?
5.Đi theo Đức Giêsu phải làm gì ?
 
 

MC5-B143: Chính Khi Hiến Thân Là Khi Nhận Lãnh

Suy niệm Tin Mừng Chúa nhật V Mùa Chay – năm B
(Ga 12, 20 - 33)
 

Sau khi đã đi được nửa chặng đường của Mùa Chay Thánh (Chúa nhật IV) với lời mời gọi "Mừng Vui MC5-B143

Sau khi đã đi được nửa chặng đường của Mùa Chay Thánh (Chúa nhật IV) với lời mời gọi "Mừng Vui Lên", và tiến bước sang chặng thứ hai, Giáo hội khuyến khích con cái mình tiếp tục tiến lên không ngừng nghỉ trên con đường ăn năn đền tội, cải đổi đời sống để chuẩn bị Lễ Phục Sinh. Việc đền tội này gia tăng niềm vui cho chúng ta khi tiến gần tới đích.
Bước vào Chúa nhật thứ V Mùa Chay, Giáo hội trình bầy cho chúng ta đoạn Tin Mừng (Ga 12, 22-30), giúp chúng ta chuẩn bị bước vào Tuần Thánh tốt hơn và sống một cách sâu xa những mầu nhiệm quan trọng trong đời sống người Kitô hữu. Đàng Thánh Giá đối với người tín hữu là con đường phải qua, chết là để sống lại và hơn nữa để sống trọn vẹn đời sống người Kitô hữu, chúng ta phải chết.
Một phần đầu của đoạn Tin Mừng, Chúa Giêsu nói với các Tông Đồ : “Nếu hạt lúa mì rơi xuống đất mà không thối đi, thì nó chỉ trơ trọi một mình; nhưng nếu nó thối đi, thì nó sinh nhiều bông hạt” (Ga 12, 24). Trong hình ảnh này chúng ta tìm thấy một khía cạnh khác nữa của Thập Giá Chúa Kitô. Thật vậy, cái chết của Chúa Giêsu là một nguồn suối vô tận của sự sống mới, bởi vì nó mang theo trong chính nó sức mạnh tái sinh của tình yêu thương của Thiên Chúa. Ðược dìm mình trong tình yêu đó qua bí tích Rửa Tội, kitô hữu có thể trở thành “các hạt lúa” và đem lại nhiều bông hạt, nếu họ “liều mất sự sống mình” vì yêu thương Thiên Chúa và các anh chị em khác như Chúa Giêsu (Ga 12, 25).
Khi chú giải đoạn Tin Mừng này thánh Augustinô đã giải thích như sau : “Chúa Giêsu tự ví mình là “hạt lúa mì” được gieo vào lòng đất chịu mục nát đi để sinh nhiều bông hạt ; Người được Chúa Cha sai xuống trần gian phải được hiến tế vì sự bất trung của người Do thái ngõ hầu đức tin của cả nhân loại được triển nở”. Bánh Thánh, được làm nên bởi muôn hạt lúa miến, được nhân lên và bẻ ra để trở nên tấm bánh cho mọi người. Của chết của các vị tử đạo luôn làm nảy sinh những người tín hữu ; vì thế mới có cái ngược đời là, “ai yêu mạng sống mình” thì sẽ mất. Chúa Kitô chết để trao ban thịt máu mình cho chúng ta : phần chúng ta, chúng ta cũng phải bắt chước Chúa trao bán chính mình để được sống lại với Chúa và cùng với Chúa, trao ban quả phúc. Có biết bao người sống trong thinh lặng để mưu cầu lợi ích cho anh em ? Từ sự thinh lặng và khiêm nhường ấy chúng ta học được bài học trở nên hạt lúa mì mục nát đi để lấy lại sự sống.
Phần kết của đoàn Tin Mừng hôm nay là một lời khuyên chúng ta tiến bước trong ánh sáng của Con Thiên Chúa trên toàn cõi địa cầu : “ … phần Ta, khi nào Ta chịu đưa lên khỏi đất, Ta sẽ kéo mọi người lên cùng Ta” (Ga 12, 32). Chúng ta phải cầu xin Thiên Chúa là Cha nhân lành xua tan bóng tối ra khỏi lòng chúng ta. Chúa Giêsu nói : “Ðã đến giờ con người được tôn vinh” (Ga 12, 23). Chúng ta tự hỏi : Giờ đó là giờ nào ? Thưa, đây là giờ của Thập Giá! Ðó cũng là giờ bại trận của Satan, ông hoàng của sự dữ, giờ chiến thắng vĩnh viễn của tình yêu thương từ bi của Thiên Chúa. Chúa Kitô tuyên bố rằng “Người sẽ được nâng cao khỏi đất” (Ga 12, 32), đây là một kiểu diễn tả có hai nghĩa: “được nâng cao” bởi vì bị đóng đinh, và “được nâng cao” bởi vì được Thiên Chúa Cha tán dương trong việc Sống Lại, để lôi kéo tất cả mọi người đến với Người và hòa giải con người với Thiên Chúa và giữa con người với nhau. Giờ của Thập Giá, giờ đen tối nhất lịch sử, cũng là suối nguồn ơn cứu độ cho tất cả những ai tin vào Người. Đây là giờ của Thiên Chúa, giờ phút được trao ban cho chúng ta, chúng ta đừng bỏ qua ! “Các con còn ngủ ư ?” chúng ta không thể thôi là ánh sáng thế gian này. Khi mặt trăng phản chiếu ánh sáng mặt trời, chúng ta phải phản chiếu ánh sáng của Thiên Chúa.
Thật vậy, chính từ trên thập giá mà Chúa Giêsu sẽ mạc khải cho thế gian biết tình yêu thương vô biên của Thiên Chúa đối với nhân loại đang cần ơn cứu rỗi. Thiên Chúa là Chúa duy nhất của chúng ta, chúng ta là dân Ngài. Giao ước tình yêu bền vững giữa Thiên Chúa và nhân loại đã được thực hiện cách trọn vẹn trong hy tế Vượt Qua của Chúa Kitô.
Nhờ tham dự vào Mầu Nhiệm Thương Khó của Chúa Kitô, mà chúng ta có thể sống sự phong phú của hạt giống gieo xuống đất, và được Chúa đón nhận vào trong Vương Quốc trên trời. Amen. 
 
Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

MC5-B144: Yêu thương là cho đi

Yêu thương là cho đi, là chia sẻ, là dám chấp nhận những hy sinh cho nhau và vì nhau. Hoa hồng nào MC5-B144 luong

Yêu thương là cho đi, là chia sẻ, là dám chấp nhận những hy sinh cho nhau và vì nhau. Hoa hồng nào mà chẳng có gai, tình yêu nào mà chẳng có những hy sinh gian khổ của nó.
Mẹ Têrêsa thành Calcutta kể lại rằng: Hồi đó, nhằm lúc thiếu đường trong thành phố, thì ngày kia có một cậu bé bốn tuổi, đem đến cho mẹ một chén đường và nói: Thưa mẹ con đã nhịn đường suốt cả một tuần lễ nay, xin mẹ dùng ít đường này cho các trẻ mồ côi của mẹ. Một cử chỉ thật anh hùng biết bao đối với một em bé 4 tuổi. Em đã học biết yêu thương kẻ khác đến mức hy sinh tất cả những gì mình cần thiết. Một dịp khác, đang lúc mẹ đang vo gạo thì có một người đàn ông đến gặp mẹ và nói: Thưa mẹ, gần đây có một gia đình người Hindu gồm tám đứa con, nhưng đã cả tuần lễ nay họ không có gì để ăn. Lập tức mẹ bưng rá gạo đi theo người đàn ông đó đến nhà người Hindu kia. Bước vào túp lều xiêu vẹo, mẹ đã gặp được trên những nét mặt xanh xao đó cơn đói đang hành hạ. Không cầm lòng được, mẹ đã đưa cả rá gạo cho người đàn bà. Bà này cảm động cầm lấy rá gạo rồi lập tức chia làm hai phần, bưng nửa ra đi, lát sau mới trở lại. Mẹ thấy vậy bèn ngạc nhiên hỏi: Bà đi đâu vậy và đem gạo cho ai? Không chút do dự người đàn bà trả lời: Họ cũng đói lắm. Nhưng họ là ai? Là những gia đình Hồi giáo, cũng có những người con đói khổ như con. Họ ở bên kia đường và cả tuần lễ nay họ cũng chẳng có gì để ăn.
Từ những câu chuyện trên, chúng ta nhận thấy, yêu thương chính là cho đi, chính là chia sẻ. Không phải những gì mình dư thừa, nhưng cả những gì cần thiết cho đời sống của mình. Sức mạnh của tình yêu chính là khả năng chấp nhận những hy sinh gian khổ cho người khác được hạnh phúc. Trong chiều hướng này, chúng ta nhận thấy tình yêu Thiên Chúa thực lớn lao biết bao, bởi chưng, vì yêu thương chúng ta, Ngài đã xuống thế làm người chịu đựng mọi vất vả túng thiếu và sau cùng chịu chết một cách ô nhục trên thập giá, để cứu chúng ta khỏi vòng nô lệ tội lỗi và đem lại cho chúng ta niềm hạnh phúc vĩnh cửu: Ta đến để hầu hạ và hiến mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người. Và rồi Ngài đã xác quyết: Không ai yêu hơn người hiến mạng sống mình vì bạn hữu.
 

MC5-B145: Hạt lúa mì mục nát – Thiên Phúc

(Trích trong ‘Như Thầy Đã Yêu’)

Cha Dieudonné Bourgignon, người Bỉ, đã từng bị Đức Quốc Xã bắt giam trong trại tập trung Dachau MC5-B145

Cha Dieudonné Bourgignon, người Bỉ, đã từng bị Đức Quốc Xã bắt giam trong trại tập trung Dachau thời Đệ Nhị Thế Chiến kể lại:
Vào một đêm cuối tháng bảy, một tù nhân khu trại 4 thuộc trại giam Auschwitz đã trốn thoát. Phòng hơi ngạt của trại này đã từng thủ tiêu 6 triệu người Do thái; 1/3 dân Do thái trước Thế Chiến. Sáng hôm sau, viên sĩ quan hằn học tuyên bố: "Tất cả những người có mặt phải đứng nghiêm trong hàng ngũ". Đoàn tù nhân phải chôn chân không mủ nón đứng dưới ánh nắng đổ lửa của mùa hạ miền nam Ba Lan. Buổi chiều khi các tù nhân khu giam khác đi làm về. Viên sĩ quan nói: "Mười trong số những người này phải trả nợ". Lập tức tên sĩ quan duyệt qua hàng tù nhân chỉ ra mười người, trong đó có một đàn ông kêu rên thảm thiết vì thương người vợ trẻ và đàn con thơ dại.
Maximilien Kolbe nghe lời ai oán của bạn tù đã thốt lên: "Tôi xin chết thay cho người này". Đoàn người sững sờ. Tên sĩ quan không ngờ diễn tiến của biến cố. Hắn tò mò muốn hiểu rõ: "Tại sao muốn chết?" Maximilien Kolbe điềm tỉnh trả lời: "Tôi là linh mục Công giáo".
Mười tử tội tiến chầm chậm vào cõi địa ngục. Người ta bỏ rơi họ trong phòng tối không ăn uống cho đến chết. Những giờ phút tăm tối lê thê. Ngày 18-8-1941, mười người còn lại bốn, đang thoi thóp hấp hối. Một người trong đó là Kolbe. Tất cả được nhận mũi thuốc độc ân huệ.
***
"Nếu hạt lúa mì rơi xuống đất không chết đi thì nó chỉ trơ trọi một mình, nhưng nếu nó chết đi, thì nó sinh nhiều bông hạt' (Ga.12,24) Để có một quyết định anh hùng như cha Maximilien Kolbe quả không dễ dàng chút nào. Tại sao tôi phải chết đi để người khác được sống? Đành rằng chết để sinh nhiều bông hạt, nhưng có ích gì khi chính tôi bị tan rã? Vì thế, chúng ta không muốn chết như hạt lúa, chúng ta chấp nhận trơ trọi một mình.
Vậy sức mạnh nào thúc đẩy chúng ta dám chết cho anh em? Động lực nào thúc giục chúng ta hiến thân cho đồng loại? Chính Đức Giêsu đã cho ta giải đáp: "Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hy sinh mạng sống vì bạn hữu mình" (Ga.15,12). Tình yêu cao quý hơn cuộc sống và mãnh liệt hơn sự chết. Cái chết của Đức Giêsu đã nên lời yêu thương con người. Chính vì Người đã không xuống khỏi thập giá nên không ai có thể nghi ngờ tình yêu của Người. Chính vì dám chết cho tình yêu nên luật yêu thương của Người trở nên một thách đố. Thách đố con người chui ra khỏi vỏ ốc ích kỷ của mình, ra khỏi những bận tâm, toan tính, vun quén cho mình, để sống cho tha nhân và cho Thiên Chúa.
Quên mình, hiến thân, đón nhận cái chết như hạt lúa mục nát, đã từng làm cho Đức Giêsu trăn trở, nao núng và thổn thức. Những giây phút cuối cùng giáp mặt với tử thần không thể không gay go, thống thiết và đầy thách thức: "Bây giờ linh hồn Ta xao xuyến và biết nói gì? Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này" (Ga.12,27). Thế nhưng, Người đã biến cuộc tử nạn nên lời tôn vinh Thiên Chúa và lời yêu thương con người: "Chính vì thế mà con đã đến trong giờ này" (Ga.12,27).
Cái chết của cha Kolbe và tất cả những cái chết hiến thân cho tha nhân đều nói lên lời yêu thương con người và tôn vinh Thiên Chúa. Tác giả Anthony Padovano viết: "Chúng ta được cứu rỗi không chỉ vì cái chết thể xác của Đức Giêsu, nhưng vì tình yêu vô biên của Người sẵn sàng chấp nhận cái chết".
Điểm quan trọng là ở giây phút định mệnh, đối mặt với cái chết, Đức Giêsu luôn tha thiết cầu nguyện với Cha và Người dạy chúng ta hãy học kinh nghiệm nơi Người: "Các con hãy cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ" (Lc.22,40). Cầu nguyện không là liều thuốc giảm đau, ngăn chặn nao núng sợ hãi, nhưng cầu nguyện là thái độ sống thực, sống tin yêu, phó thác. Khi cầu nguyện chúng ta không mong Chúa đổi ý, cứu ta thoát chết, cũng không xin Người ru ngủ để ta chết êm ái.
Ở giây phút quyết liệt, cầu nguyện chính là gặp gỡ Chúa với nỗi xao xuyến, giằng co của cái chết nhưng trọn vẹn tâm tình hiến dâng. Chết không phải là nhảy vào khoảng không vô tận, nhưng ta gieo mình vào cánh tay Thiên Chúa Tình yêu.
Chúng ta không thể thuyết phục cái chết dời xa cánh cửa đời ta, nhưng chúng ta có thể đón tiếp cái chết như vị ân nhân đưa ta vào ngưỡng cửa vĩnh hằng.
Chính lúc Đức Giêsu gục đầu tắt thở thì cây thập tự trổ nụ đơm bông mùa cứu rỗi. Và khi người tín hữu hiến dâng cái chết như lời tạ ơn cao đẹp cuối cùng thì mùa hoa nhân ái tỏa hương thiên đường.
***
Lạy Chúa, chúng con sợ nói về cái chết và tất cả những gì dính líu tới cái chết, nhưng chúng con cũng hiểu rằng sẽ có một ngày chúng con giáp mặt Chúa trong phút định mệnh. Xin giúp chúng con sống can đảm từng ngày, để chúng con dầy dạn với thử thách quyết liệt sau cùng của cuộc đời. Amen.
 

MC5-B146: Hành trình tự hủy

(Suy niệm của Lm. GB. Trần Văn Hào SDB)

Triết gia Jean Guitton, bạn thân của Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, đã kể lại một giai MC5-B146

Triết gia Jean Guitton, bạn thân của Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, đã kể lại một giai thoại như sau. Hồi còn rất nhỏ, ban đêm ông ngủ với mẹ. Nhà hàng xóm bên cạnh có người chết. Giữa đêm khuya vắng có tiếng khóc ngân xa nghe rất não nuột. Đứa bé sợ quá ôm chầm lấy mẹ. Nó hỏi: “Mẹ ơi, chết là gì hả mẹ?” Câu hỏi đột ngột khiến bà mẹ trẻ lúng túng không biết trả lời đứa con như thế nào. Bà bật dậy, ngồi vào bàn và mở cuốn Kinh thánh ra đọc. Trong Tin mừng Gioan chương 13 câu 1, bà đọc thấy thánh ký đã viết: “Trước lễ vượt qua, Đức Giêsu biết trước giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha, Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở trần gian và Người yêu thương họ đến cùng.” Gấp sách lại, bà trở về giường và nói với đứa con: “Con ơi, chết là trở về với Cha và yêu thương đến cùng”.
Các bài đọc Lời Chúa hôm nay hướng chúng ta đến gần sát với cái chết của Đức Giêsu hơn. Con đường dẫn tới núi sọ và huyệt đá chính là con đường yêu thương trong hành trình tự hủy. Cuộc hành trình tự hủy đó giống như định luật của hạt lúa được gieo vào đất. Hạt lúa sẽ thối đi, sẽ chết đi nhưng sẽ sản sinh nhiều bông hạt khác.
‘Giờ’ Con Người được tôn vinh.
Cao điểm của hành trình tự hủy là ‘Giờ’ mà Con Người được tôn vinh. Chủ đề ‘Giờ’ được thánh ký Gioan nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần trong sách Tin mừng của Ngài. Trong phép lạ đầu tiên tại tiệc cưới Cana, Chúa Giêsu đã vén mở thực tại này khi trả lời Đức Mẹ: “Chuyện đó can gì đến bà và tôi, ‘Giờ’ của tôi chưa đến (Ga 2,4)”. Đó là ‘Giờ’ mà Chúa Giêsu không phải làm phép lạ biến nước thành rượu, nhưng biến rượu thành máu của Ngài, máu đổ ra trên Thánh giá để khai mở nguồn ơn cứu độ. Khi đàm đạo với thiếu phụ Samari bên bờ giếng Giacóp, Chúa Giêsu cũng nói: “Đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha không phải trên núi này hay tại Giêrusalem, nhưng sẽ thờ phượng Chúa Cha trong Thần khí và Sự Thật (Ga 2, 23)”. Liền sau đó, Chúa nói tiếp: “Giờ đã đến”. Đó là ‘Giờ’ Chúa Giêsu khai mở một nền phụng tự mới qua máu của Ngài đổ ra trên Thánh giá. Đặc biệt, khi đến thời điểm cận kề cái chết, Chúa Giêsu đã cầu nguyện với Chúa Cha: “Lạy Cha, ‘Giờ’ đã đến, xin hãy tôn vinh con Cha để con Cha tôn vinh Cha (Ga 17, 1)”. Cũng tương tự, trong bài Tin mừng hôm nay, khi loan báo về cái chết của mình, Đức Giêsu đã trả lời các môn đệ: “Đã đến ‘Giờ’ con người được tôn vinh” (Ga 12, 23).
Vì vậy, xuyên suất trong Tin mừng thứ 4, Thánh Gioan luôn nhấn mạnh đến ‘Lễ Vượt qua’ cuối cùng, đó là giờ ‘Con người được treo lên để ai tin vào người con sẽ không phải chết nhưng có sự sống đời’. Thánh giáo phụ Irênê đã viết: “Vinh quang của Thiên Chúa là con người chúng ta được sống”. Nhưng muốn cho con người được sống và sống dồi dào, Đức Giêsu đã đi vào hành trình tự hủy và chấp nhận cái chết nhuốc khổ như một tên tử tội đốn mạt.
Giờ Chúa Cha được tôn vinh cũng là giờ mà Đức Giêsu bị nhấn xuống tận đáy bùn đen trong xã hội loài người và đón nhận cái chết thảm khốc. Đây là nghịch lý của tình yêu được thánh Gioan nhắc đi nhắc lại khá nhiều lần. Hình ảnh về hạt lúa được gieo vào lòng đất được Chúa Giêsu vay mượn để nói về cái chết của Ngài. Hạt lúa sẽ thối rữa trong lòng đất để sản sinh những hạt lúa khác. Cũng vậy, phải đi qua Thập giá mới đạt đến vinh quang. Phải đi vào lộ trình của mầu nhiệm tự hủy, chúng ta mới vươn đạt tới sự sống. Đây là nghịch lý cao cả mà Giáo hội mời gọi chúng ta quy hướng về trong suốt tuần lễ này, tuần lễ cuối cùng của mùa Chay, trước khi bước vào Tuần Thánh. Chúng ta suy niệm về cái chết của Chúa Giêsu không phải chỉ qua ngắm nguyện, qua việc đi Đàng Thánh giá hay qua các cử hành phụng vụ. Điều quan trọng nhất, là chúng ta phải can đảm đi vào hành trình tự hủy cùng với Chúa Giêsu, bởi vì những ai cùng chết với Đức Kitô sẽ được cùng sống lại với Người (2 Tm 2, 11).
Bản chất đời sống Kitô hữu là đi sâu vào hành trình tự hủy song song với mầu nhiệm Thập giá, như Chúa đã nói: “Ai muốn theo tôi, hãy bỏ mình vác thập giá hằng ngày mà theo”. Vác thập giá không phải đơn thuần chỉ là chịu đựng những nghịch cảnh hay những đau khổ, nhưng đó là lộ trình từ bỏ tận căn cách liên lỉ, từ bỏ chính cái tôi ích kỷ nơi con người mình, tức là phải chết đi cho con cũ của chúng ta mỗi ngày. Một cha xứ nọ có sáng kiến tổ chức một Thánh lễ an táng và mời cả cộng đoàn đến tham dự. Trong giây phút tiễn biệt người quá cố lần cuối, cộng đoàn đến trước quan tài và quan tài được mở ra cho mọi người nhìn mặt người chết lần cuối. Nhưng bên trong quan tài ấy không có một xác chết nào cả, chỉ có một tấm gương phản chiếu chính gương mặt của người đến phúng viếng. Ở phía dưới có ghi hàng chữ ‘Bạn hãy tập mai táng chính mình’. Chúng ta phải tập chết mỗi ngày, nhưng không phải là chết về thể lý mà chết trong hành trình tự hủy cách liên tục.
Cuộc chiến nội tâm.
Trong bài đọc 2 của phụng vụ hôm nay, tác giả thư Do Thái đã viết: “Khi còn sống kiếp phàm nhân, Đức Giêsu đã phải lớn tiếng rơi lệ mà dâng lời nguyện nài xin Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết (Dt 5, 7). Mang kiếp con người như chúng ta, Đức Giêsu cũng khiếp sợ khi đối diện trước cái chết. Sự sợ hãi dâng cao đến độ mồ hôi và máu toát ra. Theo một số nhà khoa học phân tích, đây là hiện tượng thể lý khi sự sợ hãi dâng lên tột điểm, thần kinh sẽ căng ra và các mạch máu thấm vào những lỗ chân lông để rỉ ra bên ngoài. Nhưng trong cơn sợ hãi tột cùng ấy, Chúa Giêsu đã hoàn toàn vâng phục thánh ý Chúa Cha. Cái chết của Ngài trở nên căn nguyên ơn cứu độ cho chúng ta (Dt 5, 9).
Sự giằng co và cuộc chiến đấu nơi Đức Giêsu trở thành bài học quý giá cho mọi người ngày hôm nay. Nhiều lúc chúng ta cũng muốn vươn lên, nhưng bản tính yếu đuối của kiếp người lại kéo ghì chúng ta đi xuống. Trong những giây phút hấp hối bi thương nơi vườn cây dầu, Chúa Giêsu đã chiến thắng những cám dỗ muốn thoái lui để hoàn toàn quy thuận thánh ý Chúa Cha. Cũng vậy, trong cuộc lữ hành đức tin trần thế, đặc biệt trong suốt mùa chay thánh này chúng ta cần suy niệm, học hỏi và bắt chước gương mẫu kiên định nơi Đức Giêsu.
Kết luận
Trên giường hấp hối, thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã nói với các chị em trong cộng đoàn: “Em sắp chết, nhưng không phải em chết mà em đang đi về cõi sống”. Sở dĩ thánh nữ có cái nhìn lạc quan như thế khi đối diện trước cái chết vì Ngài đã thâm tín sâu xa và sống triệt để điều mà chị Thánh đã tâm niệm và viết lại trong cuốn nhật ký một tâm hồn: “Ơn gọi của tôi là tình yêu. Tình yêu vượt thắng mọi thời gian và không gian. Ơn gọi của tôi không là gì khác tình yêu”. Trong tình yêu, con người sẽ trở thành bất tử. Xin Chúa giúp chúng ta luôn biết sống sung mãn ơn gọi tình yêu để ngày càng đi sâu vào mầu nhiệm tự hủy cùng với Chúa Giêsu.
 

MC5-B147: Con người – Lm. Vũ Đình Tường

Chúng ta có cha có mẹ và cha mẹ yêu thương chúng ta, chăm sóc, bảo vệ. Sau này khôn lớn chúng MC5-B147

Chúng ta có cha có mẹ và cha mẹ yêu thương chúng ta, chăm sóc, bảo vệ. Sau này khôn lớn chúng ta lại tiếp tục coi sóc con của chính mình, bảo vệ và yêu thương chúng. Khi tự nhận mình là ‘Con Người’ Đức Kitô không có í nói đến mối liên hệ gia đình giữa cha mẹ và con cái. Đức Kitô ngụ í nói về sứ mạng của Ngài. Sứ mạng đó là Ngài đến để phục vụ mọi người. Con Người đến để phục vụ mọi người.
Khi tự nhận mình là ‘Con Người’ Đức Kitô muốn nói đến bản tính nhân loại của Đức Kitô. ‘Con Người’ đến dậy cho người ta biết khác biệt giữa sống làm người và sống nên người. ‘Con Người’ đến mang lại ơn an bình, mang tình yêu Chúa đến cho tha nhân, xoa dịu vết thương, chữa lành bệnh tật, an ủi kẻ yếu đau và kết thân cùng kẻ cô đơn cùng khổ. Biết cảm thông với nỗi khổ của mọi người, kẻ khốn cùng, chia sẻ thống khổ của đồng loại. Sống như thế là sống nên người. Sống như thế là hiện thân của tình yêu Chúa cho tha nhân. Tình yêu Chúa biến đổi cuộc sống chúng ta. Tình yêu Chúa biến đổi cách nhìn, cách suy nghĩ và hướng chúng ta đến điều tốt lành. Sống theo í Thiên Chúa không nhằm mục đích thành công nhưng nhằm mục đích thành nhân, thành người có tư cách, có nhân, có nghĩa.
Khi tự nhận mình là ‘Con Người’ như mọi người điều này ngụ í nói Đức Kitô còn một bản tính khác nữa đó chính là bản tính Thiên Chúa nơi Đức Kitô. Ngài vừa là Thiên Chúa thật vừa là ‘con Người thật’. Tương tự như thế chúng ta là con người nhân loại và khi tuyên xưng Đức Kitô là Thiên Chúa chúng ta thực sự trở thành con Thiên Chúa.
Thánh danh ‘Con Người’ có nguồn gốc từ tiên tri Daniel 7,13-14 khi tiên tri nói về hình ảnh con người có quyền trên toàn vũ trụ. Con người đó được ban cho quyền năng trên khắp bầu trời và quyền năng trên tất cả các loài thụ tạo dưới đất. Quyền năng đó vô cùng tận và nước cúa Ngài tồn tại muôn đời, không thế lực nào phá nổi. Mọi ngôn ngữ đều qui phục Ngài. Điều tiên tri này thể hiện nơi con người Giêsu Kitô, sau khi Ngài sống lại từ cõi chết. Điều này xác định bản tính Thiên Chúa nơi Đức Kitô. Khi Đức Kitô tự xưng là ‘Con Người’. Dân Do Thái lúc đó hiểu Ngài muốn nói cho họ biết Ngài là Đấng Thiên Sai.
Ngài dùng hai hình ảnh diễn tả mầu nhiệm Phục Sinh của Đức Kitô. Cả hai hình ảnh đều diễn tả một cách nhiệm mầu ơn cứu chuộc và ơn tái sinh. Đức Kitô hay ‘Con Người’ nhân danh nhân loại hoàn thành sứ mạng qua cái chết và sự phục sinh vinh hiển. Chết để tái sinh. Hình ảnh đầu là hình ảnh hạt lúa gieo vào lòng đất nó thối đi, rồi nên mầm, trổ sinh bông trái gấp trăm. Hình ảnh thứ hai là hình ảnh treo lên cây, hình ảnh của thập tự để kéo nhân loại lên cùng Ngài. Cả hai hình ảnh đều diễn tả sự chết và cả hai hình ảnh đều diễn tả sau chết không phải là thối nát, hư mất mà là thay hình, đổi dạng tiến vào cuộc sống vinh quang. Kitô hữu đi con đường chính ‘Con Người’ đã đi, cuối đường cũng thay hình đổi dạng tiến vào cuộc sống trường sinh, vui sống cạnh ‘Con Người’ vinh quang.
 

MC5-B148: Giao ước và những ràng buộc

(Suy niệm của Peter Feldmeier - Lm. GB. Văn Hào SDB, chuyển ngữ)
“Ai phụng sự ta phải theo ta” (Ga 12,26)

Giao ước khác với hợp đồng. Khi ký hợp đồng, bản ký kết mang tính pháp lý, trói buộc đôi bên vào MC5-B148

Giao ước khác với hợp đồng. Khi ký hợp đồng, bản ký kết mang tính pháp lý, trói buộc đôi bên vào những nghĩa vụ và quyền lợi. Nếu hợp đồng xuôi thuận, cả hai bên đều có lợi. Nhưng sự cam kết này không mang tính cá nhân riêng lẻ, vì đã được luật pháp công khai bảo hộ. Tôi đã từng ký hợp đồng vay tiền mua xe mà không hề gặp mặt trực tiếp nhân viên ngân hàng. Tôi cũng ký nhiều hợp đồng khác để thuê nhà, nhưng chưa hề giáp mặt với ông chủ của những ngôi nhà đó. Người ta không cần có mặt để ký hợp đồng, vì đã có luật lệ ràng buộc. Nhưng ký giao ước thì hoàn toàn khác, chuyện đó rất riêng tư. Nó chỉ dựa trên sự quen biết hay mối tương giao thân hữu mà thôi.
Khi Đức Chúa Giavê ký giao ước với dân Israel trên núi Sinai, dường như có vẻ rất riêng tư và thân tình. Môise đã lấy máu con vật sát tế để rảy trên dân chúng như một động thái của việc ký kết giao ước, và máu đó thanh tẩy dân chúng. Nhiều người trong dân đã hiểu việc đó, và lề luật được ban bố sẽ gắn kết đời sống họ với Đức Chúa Giavê (Tv 119).
Nhưng khi đọc lại sách các vua quyển thứ nhất và quyển thứ hai, chúng ta thấy các thế hệ về sau, nhiều người trong Israel và cả các lãnh đạo tôn giáo đã dần quên giao ước ngày xưa và họ cũng chẳng bao giờ nhắc đến. Giao ước trên núi Sinai đã không còn hiệu lực để trói cột họ với Thiên Chúa nữa.
Đó là nội dung bài đọc thứ nhất trong phụng vụ hôm nay. Giêrêmia loan báo trước về một giao ước mới, hoàn toàn mới,sẽ được ký kết giữa Thiên Chúa và dân Ngài, thay cho giao ước cũ. “Không giống như giao ước Ta đã ký kết với cha ông các ngươi, khi Ta cầm tay đưa dẫn họ thoát khỏi đất Ai Cập. Vì cha ông các ngươi đã xé bỏ giao ước, mặc dầu Ta là Chúa tể của họ”. Đức Chúa phán như thế. Còn giao ước mới thì khác. Thiên Chúa công bố “Ta sẽ ghi vào lòng dạ chúng, sẽ khắc vào tâm khảm chúng lề luật của ta. Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng, còn chúng sẽ là dân của ta. Vì hết thảy chúng, từ người nhỏ đến người lớn, sẽ biết Ta”.
Giao ước mới này đi vào nội tâm một cách sâu xa hơn. Thiên Chúa khắc ghi giao ước vào tâm hồn, vào con tim của họ, và dân chúng sẽ nhận biết Chúa. Ezekiel và Isaia (Ez 16,59; 36,25; Is 55,3; 59,21; 61,8) cũng nói về giao ước mới, một giao ước diễn bày sự thông hiệp với Chúa, và Thần khí Chúa sẽ khơi dậy nguồn sáng mới trong tâm tư của dân Ngài.
Thánh Phaolô (xem 2Cor 3.5) và tác giả thơ Do Thái (xem 8,8) đều quy chiếu vào Đức Giêsu như là Đấng hiện thực tròn đầy lời hứa của giao ước mới này. Bài giảng trên núi của Đức Giêsu phản ánh lời mời gọi biến đổi nội tâm cách sâu xa, khác với giao ước cũ thời xưa. Khi Đức Giêsu công bố một cách chính thức bản giao ước mới trong bữa tiệc ly, chúng ta sẽ thấy rõ hơn chiều sâu và tính cách nội tâm hóa của giao ước mới. Lời tiên báo năm xưa về giao ước mới, phải rất lâu về sau mới trở thành hiện thực, xuyên qua Đức Giêsu, và cách thái thể hiện giao ước sẽ ngập tràn vinh quang ngời sáng vượt sức tưởng tượng của chúng ta.
Đối với các Kitô hữu, giao ước mới này vừa khai sáng vừa gợi mở ra những thách đố. Đức Giêsu và giao ước mới biểu thị cho lời công bố chung cuộc của Thiên Chúa và ơn cứu độ trường cửu. Sự thách đố này được gợi lên trong tâm khảm và cõi lòng chúng ta, vì giao ước được viết bằng chính máu cứu độ của Đấng Cứu thế. Tôi nhớ lại trong cuốn phim “Người chết đi lang thang” (The Dead Walking), có một mẩu đối thoại rất hay giữa hai nhân vật chính: Nữ tu Helen Prejean và tên tử tội Matthew Poncelet. Poncelet là một con người ngạo mạn, cố chấp không chịu sám hối và luôn tỏ ra hung tợn. Anh ta cũng biết mình là một tín hữu, đã gây nên tội ác, nhưng hắn đã nói với nữ tu Helene là hắn không sợ chết. Anh ta nói: “Giữa tôi và Thiên Chúa không có gì phải ầm ĩ. Tôi biết ông Giêsu đã chết trên Thập giá cho chúng tôi, và nếu tôi có phải ra trước tòa phán xét, thì ông Giêsu cũng sẽ ở đó để cứu tôi. Tôi chẳng cần sám hối làm gì.” Nữ tu Helene trả lời: “Anh Mattheu, không phải thế đâu. Ơn cứu độ không phải là một tấm vé phát không, tặng ban cho cả những ai không muốn đón nhận. Không phải vậy, Đức Giêsu đã phải trả giá rất đắt để đem ơn cứu độ cho chúng ta. Anh phải cộng tác, phải mở lòng ra để cộng tác và đón nhận, thì ơn cứu độ mới phát sinh hiệu quả cho anh. Đó là việc anh phải làm.”
Câu trả lời đó hướng chúng ta đến ý nghĩa của bài Tin mừng hôm nay. Khi gợi nhắc về mầu nhiệm Thập giá và chân tính đích thực của người môn đệ, Đức Giêsu nói với chúng ta “Qủa thật, nếu hạt lúa mỳ rơi xuống đất không chết đi, nó sẽ vẫn chỉ là hạt lúa. Nhưng nếu nó chết đi, nó thối đi, nó sẽ sinh nhiều hạt khác. Ai yêu sự sống mình sẽ mất nó. Ai phụng sự ta phải theo ta”.
Bản giao ước mới này phải đi vào cuộc sống chúng ta, trở nên một phần trong ta và biến đổi tâm hồn của ta. Đối với các Kitô hữu, chúng ta phải tiếp bước dấu chân của Đức Giêsu trên con đường Thập giá, để có thể bội thu trong mùa gặt, ngay trong cuộc sống hôm nay và cả trong cuộc sống mai sau. Ở đây, chúng ta thấy có một nghịch lý tương phản và đối xứng nhau: Bản giao ước mới là một quà tặng vô giá được trao ban một cách nhưng không, nhưng nó cũng đòi hỏi chúng ta phải trả giá, bằng việc chúng ta phải trao dâng tất cả, từ bỏ tất cả, như hạt giống mục thối trong lòng đất, để có thể chiếm hữu được món quà cao quý này.

MC5-B149: Hạt lúa mì mục nát trổ sinh hoa trái
(Suy niệm của Lm Trần Bình Trọng)
"Nếu hạt lúa mì gieo vào lòng đất, không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình, còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác "(Ga 12:24).

Thoạt nghe, ta có thể cho rằng đó là lời phát biểu tầm thường, vì ai quan sát cũng đều thấy và biết như vậy. MC5-B149

Thoạt nghe, ta có thể cho rằng đó là lời phát biểu tầm thường, vì ai quan sát cũng đều thấy và biết như vậy. Tuy nhiên Chúa Giêsu không chỉ nói đến cái tiến trình biến đổi của thực vật, như cỏ cây hoa lá mà thôi. Cái luật đó còn được áp dụng cho cả loài người về đời sống thể lý, tinh thần và thiêng liêng nữa.
Phúc âm hôm nay ghi lại, Chúa cầu nguyện với tâm hồn xao xuyến, xin cho được thoát khỏi chén đắng nghĩa là được thoát khỏi án tử hình. Tuy nhiên Người cũng cầu nguyện xin cho được vâng theo thánh ý Chúa Cha, tức là chấp nhận cái chết trên thập giá để làm giá cứu chuộc loài người. Qua miệng tiên tri Isaia, Thiên Chúa đã hứa với dân Người một giao ước mới và vĩnh cửu, để thay thế cái giao ước cũ trên núi Si-nai, cái giao ước mà dân Chúa đã không tuân giữ. Giao ước mới này không được viết trên bia đá, cũng không phải bằng máu chiên cừu, mà Môi-sen đã dùng để phê chuẩn giao ước cũ, nhưng được phê chuẩn bằng máu con Thiên Chúa. Đó là ý nghĩa của lời truyền phép mà linh mục chủ tế đọc trong thánh lễ: "Đây là máu tân ước vĩnh cửu, sẽ đổ ra cho nhiều người được tha tội". Theo thơ gửi tín hữu Do Thái, ta được biết vâng lời và chấp nhận khổ giá là một phần của cái giao ước mới. Cái sứ điệp mà Đức Kitô đến để công bố trong giao ước mới đưa tới sự chết. Vì vâng lời, nên Thiên Chúa đã cho Người từ cõi chết sống lại. Chúa Giêsu với tư cách là Thiên Chúa, không thể chịu đau khổ vá chịu chết. Chúa chỉ chịu đau khổ và chịu chết trong cái thân xác loài người của Người mà thôi. Vì thế khi sống lại, Chúa cũng sống lại trong cái thân xác loài người của Ngưòi. Còn xét về bản tính Thiên Chúa, thì trước sau, Ngôi Hai Thiên Chúa vẫn là một, không hơn không kém, không thêm, không bớt, không thể chết đi, cũng không thể sống lại.
Để chia sẻ sự sống mới với Chúa Kitô, ta phải sẵn sàng chết đi với Người. Đó là trường hợp các vị tử đạo đã làm, nghĩa là chấp nhận cái chết vì đức tin vào Chúa để được hưởng sự sống mới. Ta cũng có thể hiểu cái chết ở đây theo nghĩa bóng. Có những văn sĩ cũng đã dùng quan niệm chết đi theo nghĩa bóng như "chia ly là chết cho mình một nửa".
Theo nghĩa bóng của cái chết thì người tín hữu phải sẵn sàng chết đi cho tội lỗi, chết đi cho tính mê nết xấu, chết đi cho tính tham lam ích kỷ, chết đi cho tính thù hằn giận ghét, chết đi cho tính kiêu căng tự phụ, chết đi cho thái độ sống chết mặc bay để có thể được tham dự vào đời sống mới với Đức Kitô. Sẵn sàng chịu chê cười nhạo báng và chịu bách hại vì tin yêu Chúa là chết đi một phần. Sẵn sàng trả cái giá trong cách sống, cách nói năng và hành động để làm môn đệ Chúa cũng là chết đi cho mình một phần. Sẵn sàng chịu mất mát, mất bạn bè, mất việc làm, mất địa vị xã hội, nếu những sự việc trên làm cản trở cho bước đường làm môn đệ, làm sứt mẻ mối liên hệ vơi Chúa, cũng là chet đi cho mình một phần. Nói tóm lại chỉ khi nào người ta tham dự vào cuộc hi sinh khổ hình của Chúa, người ta mới có thể chia sẻ cuộc phục sinh vinh hiển với Người (2 Tim 2:11).
Theo cái định luật đào thải của bộ máy tiêu hoá, thì cái gì vào, nó phải ra. Nếu không sẽ bị ứ đọng. Theo cái định luật cung cầu của kinh tế, thì có nhập cảng, phải có xuất cảng. Nếu không, quốc gia sẽ không có ngoại tệ. Về đời sống tâm lý và đời sống thiêng liêng cũng có định luật. Khi người ta chỉ sống cho mình, không cho đi, thì cái liên hệ với người khác sẽ bị cằn cỗi, và đời sống liêng liêng sẽ không được vươn lên. Tất cả những định luật đó: định luật tự nhiên, định luật tâm lý, định luât kinh tế, nguyên tắc làm giàu cho đới sống tinh thần và đời sống thiêng liêng đã được Thiên Chúa đặt để trong vũ trụ và trong tâm khảm loài người.

MC5-B150:  Theo Chúa trở nên hạt lúa
Minh họa lời Chúa – Chúa Nhật 5 Mùa Chay năm B
(HN sưu tầm -thanhlinh.net)
1. Cái chết được nối dài

Ngày 30 tháng 4 năm 1938, một chuyến xe lửa chạy từ miền bắc xuống miền nam Columbia bất ngờ MC5-B150

Ngày 30 tháng 4 năm 1938, một chuyến xe lửa chạy từ miền bắc xuống miền nam Columbia bất ngờ bị trật đường rầy, làm nhiều người chết và bị thương.
Trong số những người quằn quại nằm đó, có Cha Phênisê thuộc dòng Thánh Gioan. Ngài bị thương nặng, một phần ruột lòi ra ngoài.
Nhận ra Cha, các y tá đã ân cần chăm sóc. Nhưng Ngài ra hiệu cứ đi lo cứu giúp các nạn nhân khác. Rồi lấy hết sức bình sinh, ngài nhét ruột bào, dùng khăn buộc ại và đi tìm những hành khách Công giáo đang bị thương nặng để giải tội cho họ. Được một lúc ngài té xuống. Các y tá chạy lại. Ngài thều thào nói trong đau đớn:
“Cám ơn Chúa đã cho tôi có thời giờ làm những điều cần thiết cho anh em. Bây giờ các cô có thể mang xác tôi đi”.
Chiếc xe cứu thương vội chở cha tới bệnh viện gần đó, nhưng chỉ vài giờ sau Ngài đã trút hơi thở cuối cùng, khi tuổi đời mới ba mươi sáu.
----------
Tình yêu và cái chết của Cha Phênisê là một trong muôn vàn tấm gương sáng chói của tình yêu cao cả mà Thiên Chúa đã đổ vào lòng con người.
Cái chết ấy chỉ là nối dài hay đúng hơn là một thể hiện của một cái chết đã trở thành linh hồn của Kitô giáo. Đó là cái chết của Đức Kitô, Đấng đã tự nguyện chết thay cho nhân loại, để nhờ đó nhân loại được cứu sống…
“Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi thì nó vẫn trơ trọi một mình. Còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. Ai quý mạng sống mình thì sẽ mất: còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này thì sẽ giữ lại được cho cuộc sống muôn đời” (Ga,12,24-25).
Đó là ý nghĩa đặc biệt và cũng là chương trình hành động của người Kitô hữu trong mùa chay. (Trích “Như lòng Chúa khoan dung”).
2. Đau khổ sinh ích cho tôi
Thi sĩ người Anh tên Francis Thompson đã viết:
“Không có gì bắt đầu và kết thúc mà không phải trả giá bằng đau khổ. Vì chúng ta được sinh ra trong đau khổ của kẻ khác và chết trong đau khổ của mình”.
Nhiều người kêu trách Thiên Chúa vì đã để cho đau khổ xảy ra trên trái đất. Tuy nhiên theo Kinh thánh, đau khổ bắt đầu từ tội lỗi đầu tiên của ông bà nguyên tổ. Chính đau khổ do tội lỗi này, Chúa Giêsu đã chấp nhận chết trên thánh giá, để cứu rỗi nhân loại. Thánh Phaolô nói: “Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh ích cho những ai yêu mến Người” (Rm.8,28).
Đau khổ nào sinh ích cho tôi cuộc sống? (Trích “Viễn tượng 2000”)
“Chúa Giêsu không đến để khử trừ đau khổ, nhưng để đổ đầy nó bằng sự hiện diện của Người” (Paul Claudel).
3. Hạt lúa có chết đi
Mấy năm trước đây, bà Catherine Marshall có viết bài báo nhan đề: “Khi chúng ta dám tin vào Thiên Chúa”. Trong đó bà thuật lại lúc bà bị bệnh nhiễm trùng phổi trầm trọng, nằm liệt giường suốt 6 tháng trời, không ăn uống gì được. Bà chạy thầy chữa thuốc hết cách và nhờ nhiều người cầu nguyện, mà bà vẫn cảm thấy tuyệt vọng hoàn toàn.
Giữa lúc đó, có người tặng bà tập sách nhỏ kể chuyện một nữ tu truyền giáo mắc một chứng bệnh suốt 8 năm trường. Ngày ngày ngoài ra việc chữa trị, chị cầu xin Chúa cho chị khỏe lại để giúp việc Chúa. Một hôm chị khóc với Chúa: “Lạy Chúa, con tuyệt vọng rồi. Nhưng nếu Chúa muốn con tàn phế, con xin vâng theo thánh ý Chúa…” Vài tuần sau chị đượng bình phục.
Bà Catherine từ đó noi gương chị nữ tu, hằng ngày cầu nguyện: “Lạy Chúa, con mệt mỏi quá rồi! Nhưng con xin vâng theo thánh ý Chúa…” Và sức khỏe bà bắt đầu hồi phục.
------------
Câu chuyện của nữ tu truyền giáo và của bà Catherine Marshall giúp chúng ta hiểu Lời Chúa trong Tim mừng Chúa nhật hôm nay: “Nếu hạt lúa không chết đi, nó chẳng đem lại hoa trái nào”. Nếu chúng ta không chết cho ý riêng mình, chúng ta cũng chẳng sinh được bông trái…”
Câu chuyện đó cũng nhắc chúng ta nhớ câu chuyện của Chúa Giêsu trong vườn Cây Dầu khi Người cầu nguyện với Chúa Cha: “Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cho con khỏi uống chén này. Tuy vậy, xin đừng làm theo ý Con, mà xin theo ý Cha” (Lc.22,42), nhờ đó mà chúng ta được cứu rỗi, được sống muôn đời…
Nếu muốn sống và trổ sinh bông trái, chúng ta phải bắt ý riêng chết đi như hạt lúa để sinh được bông trái là hạnh phúc phần xác và cuộc sống vĩnh cửu phần hồn.
Phải chăng đó là điều Chúa mời gọi chúng ta thực hiện trong Mùa Chay. (Theo “Sunday Homilies”).
4. Hạt giống gieo vào lòng đất
Bà và cô cháu gái dang phân loại hạt giống, chuẩn bị cho vụ mùa tới. Cô bé nhận xét khi kiểm tra những hạt giống trong tay:
-Những mong đợi nhỏ bé và mong manh phải không bà? Có phải mỗi hạt là một niềm hy vọng không?
-Phải, mỗi hạt là một niềm hy vọng. Nhưng vì là hy vọng, cần có những điều kiện để đi tới thành đạt.
-----
Chúa cho chúng ta niềm hy vọng được an bình mỗi khi đau khổ, được sức mạnh khi thử thách, được ánh sáng cho những ngày đen tối. Nhưng chúng ta phải có niềm tin và can đảm tiến về phía trước.
Hạt giống nhỏ bé phải chịu chôn vùi trong đất và phơi mình dưới mưa nắng, thì khả năng tốt đẹp của nó mới thành hiện thực. (Trích “Minh họa Lời Chúa)
Hạt giống gieo xuống đất phải thúi đi mới sinh nhiều bông hạt.
Apraham tin Chúa đem sát tế con một, được Chúa cứu sống con ông và được ban phát tràn đầy, cho dòng dõi đông đúc như sao trên trời, như cát dưới biển.
Chúa Giêsu chịu sát tế trên Thập giá, bao nhiêu người được cứu độ.
Mùa Chay là mùa chết cho tội lỗi, để được sống lại nên người mới, người hoàn hảo hơn, xứng đáng làm người con Chúa hơn.
5. Ai là hạt lúa?
Sau khi lật đổ đươc nhà độc tài là tổng thống Marcos nước Phi-luật-Tân, dân chúng lũ lượt kéo nhau đi xem dinh tổng thống, nơi mà hai ông bà Marcos đã sống đế vương hơn 20 năm. Mọi người đã dở khóc dở cười sau khi tận mắt nhìn thấy cảnh giàu sang sung sướng của cặp vợ chồng bạo chúa. Nhiều người bưng mặt khóc sướt mướt khi đứng trước cuộc sống xa xỉ của ông bà Marcos, trong khi biết bao người phải đói khát,, không cửa không nhà, không đủ cơm ăn áo mặc!...
----------------
Giàu sang tự nó không phải là một tội. Nhưng làm giàu trên xương máu của người khác đúng là một tội ác tầy trời. Thay vì mình phải hy sinh làm hạt lúa thúi đi để trổ sinh nhiều bông hạt nuôi sống tha nhân, thì lại bắt đồng bào mình phải làm hạt lúa chết đi để bản thân mình được sống giàu sang xa xỉ.
Muốn trở nên Bánh Sự Sống cho nhân loại, Chúa Giêsu đã phải nghiền nát. Chúng ta ăn bánh sự sống đó mà không biết hy sinh cho anh chị em chúng ta sao? Chúng ta đã nhận lãnh Bánh Tình yêu, nhưng lại không muốn chia sẻ tình yêu với anh chị em chúng ta sao?
Mùa Chay, Chúa mời gọi chúng ta noi gương Chúa trở nên hạt giống thúi đi, để đem lại bông trái cho anh chị em chúng ta được hưởng.
(Theo “Tất cả là hồng ân”).

1) SẴN SÀNG CHỊU CHẾT ĐỂ BẠN TÙ ĐƯỢC SỐNG
Vào năm 1941, tại nhà tù Ốt-suýt (Auschiwits), một trại tập trung của Đức Quốc Xã nổi tiếng tàn bạo và khủng khiếp nhất, có một tù nhân vượt ngục vào đêm hôm trước. Theo qui định của nhà tù, sáng sớm hôm sau viên sĩ quan coi tù đã tập họp tất cả tù nhân lại và lần lượt chọn ra 10 người phải chịu chết thay cho kẻ đào thoát. Một trong những người bị tử thần điểm danh ấy, khi được gọi tên, đã kêu to lên rằng: “Trời ơi! Thế là hết! Tôi sẽ không bao giờ còn gặp lại vợ con tôi nữa!”. Tiếng kêu than tuyệt vọng của anh khiến cho nhiều tù nhân phải rơi lệ. Bấy giờ một tù nhân liền tách ra khỏi hàng ngũ tiến đến gần viên sĩ quan chỉ huy để xin chết thay cho người bạn tù kia. Ông tự xưng là Mắc-xi-mi-li-a-nô Kôn-bê (Maximiliano Kolbe), một linh mục Công giáo. Lý do xin chết thay vì ông là linh mục đã tình nguyện sống độc thân, ông cảm thương người kia còn có vợ con phải chăm sóc. Sau khi được chấp thuận, Cha Kôn-bê cùng 9 bạn tù đi hàng một tiến về phía hầm chết đói. Tại đây, Cha và các bạn tù sẽ phải nhịn đói đến chết. Trong thời gian này Cha luôn động viên mọi người kiên vững đức tin và cậy trông phó thác cuộc đời trong tay Chúa Quan Phòng. Cha giúp họ can đảm chấp nhận cái chết mà không oán than, không chửi bới kêu khóc như nhiều người đã làm khi gặp hoàn cảnh tương tự. Cha là người sống dai nhất trong lúc các bạn tù đều lần lượt chết vì đói khát. Sau hai tuần lễ, Cha đã bị chích thuốc độc cho chết hẳn trước khi bị hỏa táng làm phân bón!
Người tù nhờ Cha Kôn-bê thoát chết tên là Phăng-xít (Francis Gap Wniczeck) về sau đã kể lại tình trạng nhà tù vào lúc đó như sau: “Sau khi Cha Kôn-bê tình nguyện chịu chết thay tôi thì tinh thần của các tù nhân trong trại giam biến đổi hẳn. Trước đây họ thường ích kỷ, khép kín, bắt nạt người mới và yếu thế hơn để tranh dành thực phẩm tiếp tế... thì bây giờ họ đã đối xử với nhau trong tình thân ái, nhường cơm xẻ áo cho nhau. Ai cũng cảm phục và muốn noi gương vị linh mục đã dám hy sinh tính mạng chết thay cho một người không quen biết.

2) GIÁ ĐẮT PHẢI TRẢ CHO THÁI ĐỘ VÔ CẢM:
Ở bên Trung Quốc, một chiếc xe buýt 16 chỗ chở đầy khách đang chạy trên đường đồi. Trên xe, ba tên côn đồ có vũ khí đã để mắt tới cô tài xế xinh đẹp. Đến khúc đường rừng, chúng ép cô tài xế phải lái xe vào bìa rừng và dừng xe lại. Tên cầm đầu bắt đầu có hành vi sàm sỡ với cô gái trước sự chứng kiến của hành khách trên xe. Khi bị tấn công, cô tài xế đã la hét cầu cứu, nhưng hầu như tiếng kêu cứu của cô chỉ được đáp lại bằng sự im lặng.
Bỗng một người đàn ông trung niên với dáng vẻ gầy yếu ngồi gần tài xế đã lên tiếng yêu cầu tên cầm đầu dừng tay, nhưng ông liền bị hai tên kia đánh đập tàn nhẫn. Ông càng lớn tiếng kêu gọi mọi người ngăn cản hành động man rợ kia lại, nhưng không một ai hưởng ứng. Sau đó cô tài xế đã bị bọn côn đồ lôi vào bụi rậm gần đó và để lại một tên cầm súng ra lệnh cho mọi hành khách phải ngồi yên trên xe.
Một giờ sau, bọn cướp đưa cô tài xế áo quần sốc xếch quay lại xe để tiếp tục cuộc hành trình... Trước khi nổ máy cho xe chạy, cô tài xế yêu cầu người đàn ông khi nãy đã bênh vực cô như sau: "Này ông kia, yêu cầu ông xuống xe đi!". Người đàn ông ngạc nhiên nói: "Cô làm sao thế? Tôi là người duy nhất đã lên tiếng bênh vực cô mà. Chẳng lẽ tôi đã làm sai hay sao?"
Cô gái vẫn tỏ ra cương quyết: "Nếu ông không xuống, tôi sẽ không cho xe chạy." Điều bất ngờ là các hành khách trước đó đã im lặng thì bây giờ lại nhao nhao đòi người đàn ông kia phải mau xuống xe. Thậm chí hai hành khách trẻ còn hè nhau lôi người đàn ông ra khỏi xe và chiếc xe tiếp tục cuộc hành trình. Cô tài xế vuốt lại mái tóc và vặn radio to hết cỡ. Chiếc xe đã lên đến đỉnh đồi và bắt đầu đi xuống sườn đồi. Phía tay phải đường đèo là một vực thẳm sâu hun hút. Tốc độ chiếc xe buýt tăng dần. Gương mặt cô lái xe trở nên căng thẳng, hai tay cô giữ chặt vô lăng và hai hàng nước mắt trào ra. Nhận thấy có điều không ổn, tên cầm đầu liền nói với cô tài xế: "Chạy chậm thôi, cô đang làm gì thế hả?" Cô tài xế không nói tiếng nào và tiếp tục nhấn ga cho xe chạy mỗi lúc một nhanh hơn. Tên côn đồ đã cố giành lấy vô lăng, nhưng chiếc xe đã lao lên lề đường và rơi xuống vực như tên bắn.
Hôm sau, môt tờ báo địa phương đã loan tin một tai nạn thảm khốc đã xảy ra ở vùng "Phục Hổ Sơn": Một chiếc xe cỡ trung đã rơi xuống vực sâu. Tài xế và 14 hành khách trên xe đều thiệt mạng. Trong thành phố, một người đàn ông đã đọc được bản tin và bật khóc!
1) Mầu nhiệm hạt lúa trong thiên nhiên:
Hôm ấy, một bác nông dân đã mang thóc giống đi gieo trên ruộng của mình. Đang khi gieo thì trời bỗng nổi cơn giông. Nhiều hạt giống gieo đã rơi xuống ruộng, nhưng cũng có những hạt bị cơn gió mạnh thổi bay lên mặt đường. Các hạt giống nằm trên đường cảm thấy mình thật diễm phúc khi nằm ở nơi khô ráo, đang khi bao hạt giống khác bị ngụp lặn dưới lớp bùn đên nhão nhét trong ruộng. Các hạt giống trên đường liền nói với các hạt nằm dưới bùn đen như sau: "Các bạn thật đáng thương! Trong lúc chúng tớ được nằm ở nơi khô ráo sạch sẽ, thì các bạn lại phải ngụp lặn dưới lớp bùn đen nhơ bẩn!”
Hạt lúa vừa dứt lời thì bỗng bị một bàn chân người giẫm đạp khiến nó gãy thành ba đoạn. Sau đó, nó lại bị một chiếc xe cán qua nát thành bột trên đường và một cơn gió ào tới thổi bay tứ tán. Những hạt lúa còn nằm lại đã trở thành mồi ngon cho lũ chim chóc và bầy chuột gặm nhấm!
Đang khi đó, từ những hạt lúa tưởng chừng bất hạnh kia chỉ ít ngày sau đã ngoi lên thành những chồi non đầy sức sống và trở nên những cây lúa cứng cáp. Cây lúa lớn dần và không đầy ba tháng sau đã bắt đầu trổ sinh bông lúa với hàng trăm hạt lúa khoe mình dưới ánh nắng mặt trời, và được vinh dự trở nên lương thực nuôi sống loài người. Từ một hạt lúa đơn độc ban đầu, cuối cùng nó đã biến thành trăm hạt lúa mới sau một quá trình biến đổi âm thầm!
Tin Mừng Gio-an hôm nay diễn tả hạt lúa bị mục nát trước khi biến thành cây lúa mang lại mùa gặt bội thu như sau: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình. Còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. Ai yêu quí mạng sống mình ở đời này thì sẽ mất. Còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời” (Ga 12,24-25).
 

MC5-B151: Lẽ sống chết – Lm. Phêrô Bùi Quang Tuấn

“Ai yêu sự sống mình thì sẽ mất, ai ghét sự sống mình nơi thế gian này, thì sẽ giữ nó cho sự sống đời đời” (Ga 12:25).

Từ một câu chuyện có thật: Anh Sundar được sinh ra trong một gia đình theo Ấn giáo. Lớn lên, được  MC5-B151

Từ một câu chuyện có thật:
Anh Sundar được sinh ra trong một gia đình theo Ấn giáo. Lớn lên, được nghe biết về Chúa Giêsu, anh đã xin rửa tội theo Kitô giáo, sau đó tình nguyện ở lại Ấn độ làm thừa sai, chứng tá cho niềm tin của mình.
Một chiều kia, Sundar cùng với một tu sĩ Phật giáo phải băng qua vùng núi Himalaya để đi đến một tu viện. Trời lạnh buốt và màn đêm như sắp bao phủ không gian. Sundar và nhà tu kia được báo cho biết họ sẽ bị lạnh và có thể mất mạng nếu không kịp về đến tu viện trước khi trời tối.
Đang lúc đi vào một đoạn đường hiểm trở, với những vách đá cheo leo, thì chợt, họ nghe có tiếng cầu cứu. Một người đàn ông đã trợt chân rơi xuống khe núi từ khi nào. Chân anh ta bị gãy, không thể nào leo lên được, và đang nằm chờ chết.
Người tu sĩ kia lên tiếng nhắc nhở Sundar:
- Chớ dừng lại. Ý trời đã định cho hắn như vậy rồi, ta không nên can dự vào làm chi. Phần chúng ta, phải đi gấp lên nếu như không muốn bỏ mình nơi này.
Sundar đáp lại:
- Theo tôi, ý Trời đã định cho ta đi ngang qua đây để cứu giúp kẻ không may này đấy. Tôi không thể bỏ rơi anh ta.
Nói xong Sundar tìm cách trèo xuống khe núi. Vị tu sĩ kia vội vã tiếp tục cuộc hành trình.
Nơi khe núi, nhìn đôi chân bị gãy, biết nạn nhân không thể tự bước đi được, Sundar phải dùng tấm mền bó anh lại, cõng lên lưng, nặng nhọc lần mò trèo khỏi khe núi, tìm trở lại con đường lúc nãy.
Sau mấy tiếng đồng hồ vất vả, Sundar và nạn nhân đến được lối mòn dẫn về tu viện. Lúc này tuyết rơi mỗi lúc một dày. Trời tối. Cóng lạnh. Sức lực hầu như khô cạn. Đang lúc tưởng chừng không còn bước thêm được nữa thì Sundar chợt thấy có ánh lửa phát ra từ một cánh cửa sổ của tu viện.
Mừng quá! Sinh khí dường như được phục hồi. Sundar hăng hái dấn bước về phía có ánh lửa. Chợt anh vấp té, bổ nhào trên tuyết lạnh.
Không phải anh đuối sức. Nhưng vì vấp phải một vật gì đó nằm chắn ngang đường đi. Sundar quì xuống, lấy tay gạt lớp tuyết phủ bên trên thì nhận ra đấy là xác của người tu sĩ đã cùng đi với mình ban chiều. Thương cho người bạn đồng hành xấu số, Sundar âm thầm dâng lên Chúa một lời nguyện…. Và rồi từ thẳm sâu của tâm hồn, anh chợt nghe vang vọng một câu Phúc Âm: “Ai yêu sự sống mình thì sẽ mất, ai ghét sự sống mình nơi thế gian này, thì sẽ giữ nó cho sự sống đời đời.” (Theo lời kể của William Bausch)
“Sự sống thoát thai từ nỗi chết,” một linh mục đã nói như thế. Mà đúng lắm, trong thực tế của đời người, để sự sống tiếp diễn, sự chết đã phải xảy ra không ngừng. Khi chấp nhận nỗi đau thương mất mát trong cái chết, mầm sống mới được phát sinh ra và triển nở. “Nếu hạt lúa gieo xuống đất không chết đi, nó sẽ trơ trọi một mình; nhưng nếu chết đi, nó mới sai hoa lắm quả” là vậy.
Khi chỉ biết lo cho sự sinh tồn của mình mà làm ngơ trước nỗi khổ đau của kẻ khác, khi chỉ chú trọng đến lợi ích riêng tư hơn là nhu cầu của tha nhân, tôi đã tự đóng khung trong chiếc vỏ trấu để rồi cứ trơ trọi giữa giòng đời. Nhưng nếu biết chết đi con người vị kỷ, tôi sẽ có được một mầm sống mới làm phát sinh bao niềm hy vọng của một mùa gặt thành công.
Thói ích kỷ trong tôi càng chết đi, hình ảnh Thiên Chúa càng rạng sáng. Càng cương quyết chiến đấu với chính mình, dung nhan Thiên Chúa càng được hiện tỏ.
Thánh Kinh có kể lại: Trong một cuộc hành hương thánh địa nhân dịp lễ Vượt qua, có sự hiện diện của một số người Hilạp. Họ là những người ngoại, có lẽ đang khao khát tìm ra Lẽ Sống của cuộc đời. Khi nhìn vào Do thái giáo, họ thấy thấp thoáng bóng hình của Lẽ Sống mà họ đang kiếm tìm. Thế rồi trong dịp hành hương đền thờ Giêrusalem lần này, họ nghe nói về một con người có tên Giêsu, nơi Ngài biết bao nhiêu tâm hồn đã tìm thấy ý nghĩa cho cuộc sống-từ những cô gái điếm cho đến các kẻ thu thuế tội lỗi, từ những người khốn khổ bần cùng đến các quan lính của ngoại bang…
Thế rồi những người Hilạp đã tìm hỏi và xin được “trông thấy” Đức Giêsu. Đây không phải là một sự trông nhìn thuần tuý, vì đứng đâu mà lại không thấy được Ngài. Song, họ muốn gặp gỡ, trao đổi, hiểu biết, và nhất là muốn bước vào một tương quan thân thiết với Đức Giêsu.
Trong ngôn ngữ thần học của Thánh sử Gioan, sự “trông thấy” đó luôn đi kèm với “niềm tin”. Như sau này, khi vào mồ Chúa trong ngày Phục sinh, Gioan “đã thấy và tin” (Ga 20,8).
Thế nhưng trước khao khát chân thành của người Hilạp, Đức Giêsu lại trả lời với các môn đệ, những trung gian của niềm tin: “Giờ đã đến!”
Ngài đã chẳng trả lời “cho gặp” hay “không cho gặp”, Ngài chẳng bảo “đang bận” hay “đợi lúc khác.” Song Ngài tuyên bố: Giờ đã đến!” Mà đây là giờ gì nếu không phải là giờ tử nạn.
Thế ra để mang lại ý nghĩa cho cuộc đời con người, để tăng thêm sức sống cho các tâm hồn đang khát khao tìm kiếm Lẽ Sống, để trả lời cho tất cả mọi câu hỏi của nhân loại, Chúa Giêsu lại nói đến giờ chết. Phải chăng đó chính là giờ cao điểm của cuộc sống Ngài: bước vào sự chết để diễn tả tột cùng hình ảnh của một Thiên Chúa yêu thương con người-yêu thương đến độ chấp nhận cái chết “hầu thế gian được sống,” để nhân loại “thấy” được Lẽ Sống đích thật của cuộc đời.
Nhưng chính trong cái chết của Chúa Giêsu lại mang mầm một cuộc phục sinh vinh quang. Bởi vì đây là cái chết diễn tả tình yêu. Mà tình yêu thì chẳng bao giờ chết. Tình yêu sẽ bất diệt. Nghe có vẻ nghịch lý, nhưng những giá trị của yêu thương lắm khi không thể đo lường hay lý giải được. “Con tim có những tiếng nói mà lý trí không hiểu thấu” là vậy.
Thế nhưng, ai có dám chết cho yêu thương-yêu thương Thiên Chúa và bao người đang sống bên mình-họ sẽ dần dần khám phá ra chân dung của sự không-thể-hiểu-thấu kia. Chính khi biết tự hủy những đam mê, ích kỷ, tự mãn, tự kiêu, tự ái…, con người sẽ cảm nhận sâu xa tại sao.
“Chính lúc trao ban lại là khi nhận lãnh,
Chính lúc quên là lúc gặp lại bản thân,
Chính khi thứ tha là khi được tha thứ,
Chính lúc chết đi là khi vui sống muốn đời.”
Và niềm vui sống này chỉ được trao ban cho những ai biết quên mình vì Yêu Thương.
 

MC5-B152:  Hạt lúa chết đi – Lm Mark Link, SJ

Chủ đề: "Nếu muốn sống và phát sinh hoa trái, chúng ta cũng phải bắt ý riêng mình chết đi tựa như hạt lúa mì bé nhỏ."

Câu chuyện bà Catherine Marchall và chị nữ tu truyền giáo: Vài năm trước đây, bà Catherine MC5-B152

Câu chuyện bà Catherine Marchall và chị nữ tu truyền giáo:
Vài năm trước đây, bà Catherine Marshall có viết một bài báo nhan đề "Khi Chúng Ta Dám Tin Vào Thiên Chúa". Bài báo thuật lại rằng bà bị liệt giường suốt 6 tháng không ăn uống được vì một bệnh nhiễm trùng phổi trầm trọng. Mặc dù được điều trị bằng vô số thuốc men và được bao nhiêu người cầu nguyện cho, bà vẫn cảm thấy tuyệt vọng hoàn toàn.
Một hôm có người biếu bà một cuốn sách nhỏ kể chuyện một nữ tu truyền giáo bị một chứng bệnh kỳ lạ. Chị nữ tu này bị cơn bệnh đó dày vò suốt 8 năm trời và chị không thể hiểu nổi tại sao Chúa lại để cho tấm thảm kịch này đến với mình. Ngày nào chị cũng cầu xin cho mình được khoẻ mạnh để chu toàn công việc truyền giáo của mình. Nhưng lời cầu xin của chị vẫn chưa được Chúa nhậm lời. Một ngày kia, thất vọng quá chị khóc lóc với Chúa: "Lạy Chúa, con tuyệt vọng rồi! Nhưng không sao; nếu Chúa muốn con trở thành tàn phế, thì đó là do ý của Chúa!". Thế rồi hai tuần sau, chị nữ tu đó được hoàn toàn bình phục.
Catherine Marshall để cuốn sách đó sang một bên. Câu chuyện kỳ lạ ấy khiến bà bối rối. Bà nói: "Dẫu sao tôi vẫn không quên được câu chuyện ấy!". Thế rồi một buổi sáng nọ, bà Catherine kêu cầu Chúa bằng những lời tương tự như lời cầu nguyện của chị nữ tu ấy: "Con kêu xin Chúa ban sức khoẻ cho con, con đã mỏi mệt quá rồi! Xin Chúa hãy quyết định là Chúa muốn cho con khoẻ mạnh hay bệnh tật đi!". Về sau, Catherine kể lại rằng, vào lúc ấy, sức khoẻ bà bắt đầu hồi phục lại.
Ý nghĩa của câu chuyện giúp hiểu bài tin mừng hôm nay
Câu chuyện vị nữ tu truyền giáo và câu chuyện của bà Catherine Marshall giúp chúng ta hiểu những gì Đức Giêsu đang muốn nhắn nhủ trong bài Tin Mừng hôm nay. Hai câu chuyện đó chứng tỏ lời Chúa Giêsu dạy: nếu hạt lúa không chết đi, nó sẽ chẳng đem lại hoa trái. Nói cách khác, nếu chúng ta không chết ý riêng của mình đi, chúng ta cũng không thể sinh hoa trái cho Thiên Chúa được. Nếu chị nữ tu không chết ý riêng của mình đi để nói lên câu: "Lạy Chúa, con đã tuyệt vọng rồi; nhưng không sao!" thì có lẽ bà ta vẫn mãi mãi là một phế nhân. Nhưng chị đã chết ý riêng của mình, nên đã bình phục và sinh hoa trái.
Nếu Catherine Marshall đã không hy sinh ý riêng mình để nói lên câu: "Lạy Chúa xin hãy quyết định điều Ngài muốn", thì có lẽ bà vẫn nằm lại trong tình trạng bệnh hoạn. Nhưng bà đã hy sinh ý riêng, nên bà cũng được lành bệnh và kết sinh hoa trái.
Câu chuyện của chị nữ tu và của bà Catherine Marshall khiến chúng ta nhớ lại câu chuyện của Chúa Giêsu trong vườn Giêtsimani. Trong cơn hấp hối tại đó, Ngài đã thốt lên cùng Thiên Chúa: "lạy Cha…. không phải ý con… nhưng xin theo ý Cha" (Lc 22: 42). Giả như Chúa Giêsu không bắt ý riêng Ngài phải chết đi trong mảnh vườn ấy, thì anh chị em cũng như tôi sẽ không được cứu khỏi tội lỗi mình.
Tất cả những câu chuyện về chị nữ tu, về Catherine Marshall và về Đức Giêsu đều dạy cho chúng ta cùng một bài học. Chúa dạy ta biết sẵn lòng làm chết ý riêng mình đi nếu chúng ta muốn mang lại hoa trái cho Thiên Chúa. Chúa dạy ta phải biết sẵn lòng tín thác vào Chúa và giao phó bản thân mình trong tay Ngài nếu chúng ta muốn đạt được sự sống đời đời.
Những câu chuyện có ý nghĩa gì đối với ta? Nói một cách cụ thể, tất cả điều này có ý nghĩa gì đối với cuộc sống thường nhật của anh chị em và tôi?
Chúng ta hãy xem xét vài sự kiện có khả năng xảy ra:
Giả như cuộc hôn nhân của chúng ta bị tan vỡ và chúng ta cần sự trợ giúp từ bên ngoài, nhưng vì quá kiêu căng chúng ta không muốn yêu cầu điều ấy. Như vậy "bắt ý riêng chết đi" có nghĩa là bắt lòng kiêu ngạo của ta chết đi và sẵn sàng tìm kiếm sự trợ giúp.
Hoặc giả như chúng ta được bạn bè thân tín cho biết chúng ta đang ngày càng bê tha rượu chè, nhưng chúng ta cứ tiếp tục không nghe dù tình trạng bê tha gia tăng rõ ràng. Như thế chết cho ý riêng có nghĩa là nhìn nhận vấn đề của chúng ta và tìm kiếm phương thuốc điều trị.
Giả như một bạn bè hoặc một người thân trong gia đình xúc phạm đến chúng ta một cách nào đó, khiến chúng ta cứ giữ mãi mối ác cảm với người ấy, thì "Chết cho ý riêng mình" có nghĩa là thật lòng tha thứ cho người ấy và lại tiếp tục dùng tình thương cư xử với y.
Chết cho ý riêng mình là điều không dễ
Chị nữ tu đã không cảm thấy dễ dàng khi nói với Chúa rằng chị chấp nhận làm một kẻ tàn phế nếu ý Ngài muốn như thế. Catherine Marshall đã không cảm thấy dễ dàng khi thưa với Chúa bà sẽ chấp nhận bất cứ số mệnh nào ngài quyết định cho bà. Đức Giêsu đã không cảm thấy dễ dàng trong việc ưng thuận thi hành bất cứ điều gì Cha Ngài muốn. Nhưng cả ba người - chị nữ tu, Marshall và Đức Giêsu đã tin Thiên Chúa và phó mình trong tay Ngài. Họ đã chết "cho chính mình’ và từ đó đem lại kết quả là sinh nhiều hoa trái cho Thiên Chúa.
Kết luận:
Tin Mừng trong các bài đọc hôm nay là. chúng ta có thể làm được như thế. Chúng ta có thể noi gương vị nữ tu, bà Catherine Marshall và Đức Giêsu. Và chúng ta cũng có thể đem lại nhiều hoa trái cho Thiên Chúa.
Có thể chúng ta phải chiến đấu giống như vị nữ tu và Catherine đã làm, hoặc có thể chúng ta phải hấp hối như Đức Giêsu, nhưng nếu chúng ta làm như họ, chúng ta cũng sẽ mang hoa trái về cho Thiên Chúa và được sống vĩnh cửu.
Điều quan trọng là biết đặt cuộc sống chúng ta vào tay Thiên Chúa trong niềm tín thác trọn vẹn
Điều quan trọng là cứ để cho Thiên Chúa thực hiện bất cứ điều gì Ngài muốn đối với cuộc đời của chúng ta. Và đó chính là Tin Mừng trong bài Phúc Âm hôm nay.
Tin Mừng đó là nếu chúng ta bắt chước hạt lúa mì và biết "chết cho chính mình", chúng ta cũng sẽ đem lại nhiều hoa trái. Tin Mừng đó là nếu chúng ta bắt chước gương chị nữ tu, bà Catherine Marshall, và gương Chúa Giêsu, chúng ta cũng sẽ mang lại hoa trái cho Thiên Chúa và đạt được sự sống đời đời.
Chúng ta hãy cầu nguyện để kết thúc. Xin anh chị em cùng im lặng cầu nguyện với tôi.
Lạy Thiên Chúa là cha chúng con. Trong khi chúng con chuẩn bị cùng bẻ bánh với nhau, xin hãy giúp chúng con nhận ra rằng.
Nếu những hạt lúa mì không bị xay thành bột và nếu những trái nho riêng lẻ không bị ép thành rượu, chúng con sẽ không thể chia sẻ với nhau tiệc thánh này.
Xin giúp chúng con bắt chước hạt lúa và chùm nho, biết dâng chính đời sống chúng con cho Ngài để tuỳ Ngài định đoạt theo thánh ý Ngài.

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây