Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 4 MC-C Bài 201-208 Người cha nhân hậu

Chủ nhật - 31/03/2019 11:27
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 4 MC-C Bài 201-208 Người cha nhân hậu
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 4 MC-C Bài 201-208 Người cha nhân hậu
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 4 MC-C Bài 201-208 Người cha nhân hậu
MC4-C201: THIÊN CHÚA CHA NHÂN LÀNH.. 1
MC4-C202: NGƯỜI MẶC CHO TÔI HỒNG ÂN CỨU ĐỘ.. 5
MC4-C203: TÌNH YÊU CỦA CHÚA CHO TA NGHỊ LỰC.. 9
MC4-C204: BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NHI - CN 4 MC C.. 11
MC4-C205: HỒI TÂM TRỞ VỀ VỚI CHÚA CHA.. 14
MC4-C206: Sự sống mới của chúng ta ló rạng sau mùa Chay. 24
MC4-C207: NGƯỜI CHA NHÂN TỪ.. 26
MC4-C208: Nhờ Sám Hối: Em Con Đã Chết Nay Lại Sống. 28

 

MC4-C201: THIÊN CHÚA CHA NHÂN LÀNH

Jos. Hồng Ân
 

Bài Tin Mừng CN 4 mùa chay (C) cho chúng ta biết Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót, Ngài MC4-C201

Bài Tin Mừng CN 4 mùa chay (C) cho chúng ta biết Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót, Ngài yêu thương hết mọi người, một tình yêu bao la không bờ bến, tình yêu vô vị lợi, không so đo tính toán, không phân biệt sang hèn, không phân biệt màu da tiếng nói; không phân biệt tội phúc. Chúa sẵn sàng đón tiếp hết thảy những ai đến với Người.
Tin Mừng Thánh Lc đã cho ta thấy rõ: “Tất cả những người thu thuế và những người tội lỗi thường đến gần Đức Giêsu mà nghe Người” (Lc 15,1).
Chứng tỏ Chúa Giêsu là Đấng cứu độ, Ngài đã không ngần ngại tiếp đón hết mọi người, tiếp đón cả những con người tội lỗi, hơn thế nữa, Ngài còn ăn uống với họ, để cảm hóa họ, dạy cho họ biết chân lý, bỏ đường tội lỗi, quay trở về với Thiên Chúa, sống công chính để được hưởng ơn cứu độ của Ngài.
Còn những người Pharisêu và các Kinh Sư tự cho mình là công chính, không cần nghe Chúa Giêsu giảng dạy. Họ sống tách biệt với mọi người, nhất là những người thu thuế và người tội lỗi thì họ lại càng xa cách. Vì thế, thấy Chúa Giêsu đón tiếp những người tội lỗi đến nghe Người giảng dạy thì họ lẩm bẩm kêu trách Chúa: “Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng”. (Lc 15,2).
Nhân cơ hội ấy, Chúa Giêsu đã dạy cho họ bài học, Ngài làm cho họ phải tẩy não, loại bỏ lối suy nghĩ cổ hủ, lối sống bảo thủ và tự nãn, tự cho mình là tốt, khinh bỉ người đồng đạo, đồng hương. Qua dụ ngôn Người Cha nhân hậu, Chúa Giêsu cũng mặc khải cho chúng ta biết Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót, chậm bất bình và hết mực khoan dung.
Trong dụ ngôn “người cha nhân hậu”, Thánh Sử Luca muốn diễn tả ba khuôn mặt: Người Cha tiêu biểu cho Thiên Chúa; người con cả tượng trưng cho nhóm Pharisêu và các Kinh Sư; còn người con thứ tượng trưng cho con người tội lỗi.
Người Cha: Chúng ta có thể dễ dàng nhận ra hình ảnh của Thiên Chúa qua người cha mà Thánh Luca trình bày. Đặc điểm của người Cha này tôn trọng tự do của con cái, có lòng yêu thương và quảng đại sẵn sàng tha thứ, kiên nhẫn chờ đợi, luôn luôn hy vọng. những người con tội lỗi ăn năn sám hối mà quay trở về nhà cha. Trước hành vi của đứa con thứ muốn được tự do lo liệu cuộc sống của mình và tự do sử dụng của cải, người cha không phản đối, không ngăn cản, chấp nhận chia gia tài cho các con mà ông đã chắt chiu nhiều năm, không so đo tính toán thiệt hơn. Dù ông biết là nó không tôn trọng ông và như vậy cũng có thể gây nguy hiểm cho con, nhưng ông vẫn thương để cho con quyền tự do lựa chọn, để con mình ra đi, chấp nhận quyết định của nó. Ông hy vọng nó sẽ chịu khó làm ăn, gặp nhiều may mắn, cuộc sống được ấm no hạnh phúc. Khi người con thứ đã ra đi, người cha ngày đêm thương nhớ, trông chờ đến mất ăn, mất ngủ vì con.
Thiên Chúa cũng yêu thương, luôn tôn trọng tự do của con người. Ngài để con người hoàn toàn tự do hành động, tự do quyết định theo ý riêng. Nhưng vì yêu thương, Thiên Chúa luôn để mắt nhìn, xem xét mọi lời nói và hành động của con người. Thiên Chúa không can thiệp vào đời sống riêng tư của con người, nhưng Thiên Chúa mời gọi con người tích cực cộng tác với Chúa trong công trình sáng tạo và cứu chuộc của Ngài.
Người con thứ: Anh ta được sống trong một gia đình bề thế, không phải làm lụng vất vả, được yêu thương, được tôn trọng, được yên vui hạnh phúc… Nhưng anh ta lại nghĩ quẩn, anh cho rằng sống trong nhà cha, anh không được tự do làm việc và sử dụng của cải theo ý mình, nên anh đã xin với cha: “Thưa cha, xin cho con phần tài sản con được hưởng” (Lc 15, 12). Người cha đã đồng ý chia của cải cho các con. Thế rồi nó thu góp của cải và trẩy đi phương xa, không muốn cha xen vào cuộc sống riêng tư của mình, để mình được tự do ăn chơi, tiêu sài nên anh quyết định ra đi. Việc ra đi của người con là một sự xúc phạm rất nặng, đó không phải chỉ là hành động thiếu tôn trọng, mà là sự phản bội. Đó là sự bạc ác, cắt đứt tận căn mối dây liên hệ tình phụ tử, từ bỏ người cha đã hết mực yêu thương anh, từ bỏ tình ruột thịt, từ bỏ mái ấm gia đình nơi mình đã được sinh ra và được nuôi dưỡng… Anh ta ra đi đến một nơi xa xôi, ở đó anh ta sống phóng đãng, phung phí tài sản của mình” (Lc 15, 13). Chỉ trong thời gian ngắn anh ta đã tiêu sài phung phi hết số gia tài mà anh đã đem theo. Nhưng cuộc đời đâu có đơn giản như anh nghĩ, người ta chỉ thân và làm bạn với anh khi anh có tiền của, khi hết tiền chẳng ai làm bạn với anh. Anh đem tiền của vào chốn ăn chơi, nướng vào cờ bạc đỏ đen, tửu sắc, nhà hàng quán xá, hộp đêm thì biết bao nhiêu cho vừa, tục ngữ Việt Nam có câu “miệng ăn núi lở”. Và cuối cùng anh cũng trắng tay, bạn bè xa tránh, anh phải sống trong cảnh cô đơn, buồn tủi. Nguyễn Đơn Giản trong bài thơ “Thú lỗi” có câu:
“còn tiền, còn bạn, còn tình
hết tiền, hết bạn, một mình bơ vơ”.
Gặp cơn túng quẫn anh phải đi chăn heo thuê, anh phải sống trong điều kiện tồi tệ. Hơn thế nữa, anh ta còn “ao ước” được ăn thức ăn dành cho heo, để nhét cho đầy bụng cũng chẳng ai cho. Anh ta bị khinh miệt, ăn mặc bẩn thỉu, mất hết phẩm giá của một con người.
Quá khổ cực, bị dồn đến tận chân tường, nên “anh ta hồi tâm và tự nhủ: biết bao nhiêu người làm công cho cha ta được cơm dư, gạo thừa, mà ta ở đây lại chết đói” (Lc 15,17) nên anh ta quyết định trở về. Trước khi quyết định trở về với cha, anh ta chuẩn bị sẵn một bài rất chu đáo để thưa với cha “thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng được gọi là con cha nữa, xin coi con như một người làm công cho cha vậy” (Lc 15, 19). Khi đã thuộc bài, anh ta quyết định đứng lên trở về cùng cha.
Người thanh niên ra đi trong sự kiêu hãnh, tự do, mang theo nhiều của cải, ăn mặc lịch sự. Sau một thời gian ăn chơi, anh đã mất tất cả. Anh ta trở về mang theo những con số không: không tự do; không tiền bạc; không bạn bè; không sức khỏe; không dày dép; không danh dự…
Anh ta còn đi thất thểu từ đàng xa “Thì người cha đã trông hấy. Ông trạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ anh ta và hôn lấy hôn để” (Lc 15,20). Cha anh đã chờ đợi anh từ ngày anh bỏ nhà ra đi, nên anh còn đi từ đàng xa ông đã trông thấy, chạy ra ôm cổ anh và hôn lấy hôn để. Cử chỉ của người cha thật là bao dung, đại lượng, không một lời trách mắng, tha thứ vô điều kiện. Ông cũng không để ý để nghe con xin lỗi và trình bày sự thể, anh ta chưa nói hết câu mà anh đã chuẩn bị sẵn: “thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng được gọi là con cha nữa …”. Người cha không cần trình bày dài dòng, chỉ cần hành vi sám hối quay trở về là quá đủ rồi. Nên anh chưa nói hết câu người cha đã ngắt lời và thúc dục các đầy tớ: “mau mang áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay, xỏ dép vào chân cho cậu” (Lc 15, 22). Cậu con trai của ông đã mất tất cả: mất tiền bạc; mất tự do; mất phẩm giá… Vì tình thương nên người cha sai đầy tớ lấy áo đẹp nhất mặc cho cậu, xỏ nhẫn, xỏ dép vào chân để phục hồi phẩm giá cho anh mà anh đã đánh mất khi bỏ nhà ra đi. Rồi ông ra lệnh mở tiệc ăn mừng. “Vì con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy” (Lc 15, 24).
Người con cả: Ích kỷ, hẹp hòi, so đo tính toán, hờn giận, ghen ghét, tự phụ, biết tin em trở về thì anh khó chịu, thấy đàn hát nhảy múa, tiệc tùng linh đình thì “nổi giận không chịu vào nhà” (Lc 15, 28). Anh không chấp nhận ngay cả đứa em ruột của mình, khi nó phải cố gắng vùng dậy trong vũng bùn tội lỗi, của các tệ nạn xã hội để trở về với cha và với anh. Nhưng người anh lại không chấp nhận sự đoàn tụ của gia đình. Thực ra xét về mặt tình cảm anh cũng chẳng hơn gì người con thứ, cũng đối xử cạn tàu ráo máng với cha của anh. Anh không bao giờ trái lệnh cha chỉ là để cầu lợi, anh hăng say làm việc là vì nghĩ đến một gia tài kích sù mà anh được kế thừa, anh còn nghĩ đến sự hưởng thụ, anh mơ tới “một con bê béo để ăn mừng với bạn bè” (Lc 15,29). Nhìn hình thức bên ngoài, thì anh là người con cả gương mẫu: vâng lời, cung kính, trung thành, không lầm lỗi. Nhưng khi đối diện của người cha đón em trở về, một cú sốc bao phủ anh, bỗng chốc anh bị lột mặt nạ ngay giữa ban ngày, để lộ chân tướng của một kẻ kiêu ngạo, hận thù, độc ác, tham lam, ích kỷ, những điều lâu nay anh đã cẩn thận giấu kín. Anh sống bên cạnh cha “hầu hạ cha” (Lc 15, 29), nhưng trong lòng anh thật xa cách người cha, xa đến nỗi hờn giận, oán trách cha, vì cha đối xử tốt với em mình, xa đến nỗi không nhận cả em ruột của mình “còn thằng con của cha đó” (Lc 15,30), muốn giết chết, muốn loại trừ cả ruột thịt máu mủ của mình… Người con cả đã không cùng cha để xây dựng hạnh phúc gia đình, không muốn giúp đứa em hư hỏng và dạy dỗ cho nó nên người, muốn phá vỡ tất cả. Thái độ đó đã đưa anh đến chỗ ngụp lặn trong sự căm tức, buồn chán, hờn giận, ghen ghét.
Dụ ngôn “người Cha nhân hậu” đã để lại cho chúng ta một bài học vô cùng quý giá. Chúng ta được sinh ra và lớn lên trong ngôi nhà Cha của chúng ta, được hưởng tình yêu thương mà Thiên Chúa đã dành cho chúng ta, được tôn trọng, được sống tự do và được hạnh phúc. Thế mà chúng ta không nhận ra, chúng ta lại bỏ nhà ra đi, tưởng rằng được tự do hơn, được mọi người tôn trọng hơn, được hạnh phúc hơn. Nhưng thực tế, đọc dụ ngôn “người cha nhân hậu” chúng ta mới thấy rõ. Bỏ nhà ra đi là đánh mất sự liên đới, không được hưởng tình yêu thương, mất tự do, mất phẩm giá, phải làm nô lệ, đi chăn heo, phải khổ sở, phải ăn đói mặc rách, tức là làm nô lệ cho tội lỗi. Trong mùa chay thánh này, chúng ta cũng hãy hồi tâm, nhìn lại mình, mà quyết tâm đứng lên và trở về với Chúa, để được hưởng tình yêu thương mà Thiên Chúa đã dành cho chúng ta, để chúng ta được tự do hơn khi ta sống thánh ý Chúa, để được phục hồi phẩm giá là con cái Chúa. Mỗi khi chúng ta ăn năn hối cải quay trở về nhà Cha, chúng ta được Thiên Chúa là Cha luôn quảng đại, tha thứ hết mọi lỗi lầm thiếu xót của chúng ta. Ngài mở rộng vòng tay từ ái đón nhận chúng ta về nhà Cha trên trời và mở tiệc ăn mừng, thật là một bữa tiệc “agape”, bữa tiệc của tình thương. Và “trên trời cũng thế , ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối” (Lc 15,7).
Trong con người chúng ta, chúng ta không chỉ mang khuôn mặt của người con hoang đàng, mà nhiều khi chúng ta cũng mang bộ mặt của người con cả, bộ mặt của những người Pha-ri-sêu và của các kinh sư, sống hình thức, tự cho mình là tốt. Chúng ta tưởng rằng mình thánh thiện, công chính, không bỏ nhà đi xa, nhưng tấm lòng của chúng ta sống xa cách Chúa, không đọc kinh cầu nguyện, không đi lễ, không giúp đỡ tha nhân mỗi khi họ cần, không trái lệnh Cha nhưng sống ích kỷ, hẹp hòi, hờn giận, ghen ghét, oán thù không muốn người khác bằng mình, khinh chê đồng loại. Oán trách Chúa vì đã đón tiếp những người tội lỗi.
Lạy Chúa, Chúng con cũng là những người con hoang đàng, bỏ nhà Cha ra đi, sống xa lìa tình thương của Cha, chúng con đánh mất nhân phẩm, mất tự do, phải làm nô lệ cho tội lỗi, nô lệ cho ma quỷ. Xin Chúa ban ơn giúp chúng con biết hồi tâm suy nghĩ, ăn năn hối cải, quyết tâm trở về cùng Chúa là Cha nhân từ, để chúng con được sống tự do trong tình yêu Chúa, được làm con Chúa, được sống hạnh phúc trong nhà Cha trên Trời. Amen.

 

MC4-C202: NGƯỜI MẶC CHO TÔI HỒNG ÂN CỨU ĐỘ

Lm. Giuse Trực
 

Tông thư “Dung mạo Lòng Thương Xót”, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhấn mạnh đến dụ ngôn MC4-C202

Tông thư “Dung mạo Lòng Thương Xót”, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhấn mạnh đến dụ ngôn trong bài Tin Mừng hôm nay. Ngài viết: “Trong dụ ngôn về lòng thương xót, Chúa Giêsu tiết lộ bản tính của Thiên Chúa như một người Cha không bao giờ bỏ cuộc cho đến khi Ngài đã tha thứ kẻ sai phạm và vượt qua sự khước từ với lòng trắc ẩn và thương xót… Trong dụ ngôn này, Thiên Chúa được mô tả là tràn đầy niềm vui, đặc biệt là khi Ngài tha thứ. Nơi dụ ngôn này, chúng ta tìm thấy được cốt lõi của Tin Mừng và đức tin của chúng ta, vì lòng thương xót được trình bày như là một lực vượt qua tất cả mọi thứ, làm đầy trái tim với tình yêu và mang lại ủi an qua sự tha thứ”.
Qua những lời của Đức Thánh Cha, chúng ta thấy được lòng thương xót của Thiên Chúa qua dụ ngôn “người cha nhân hậu”.
Lòng thương xót của Thiên Chúa được thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau. Ở đây, qua những hình ảnh “áo mới, chiếc nhẫn và đôi dép” mà người cha trao cho đứa con, tôi chiêm ngắm lòng thương xót Chúa qua lời ca ngợi của tiên tri Isaia: “Người mặc cho tôi hồng ân cứu độ, choàng cho tôi đức chính trực công minh” (Is 61, 10).
Để có thể thấy được điều đó, chúng ta cùng nhau khám phá hình ảnh đứa con trai hoang đàng và cách đối xử của người cha.
I. ĐỨA CON HOANG ĐÀNG
Không muốn ở nhà cha
Qua tường thuật của Luca chúng ta thấy đứa con thứ không muốn ở trong gia đình, dù ở đó nó có tình thương, sự quan tâm chăm sóc của mọi người, có đầy đủ mọi thứ… Thực sự ra không phải nó không muốn ở nhà, cho bằng nó muốn một thứ tự do theo nó tưởng tượng là sẽ thoải mái, là sẽ đem đến cho nó niềm vui và hạnh phúc hơn là ở nhà của cha mình.
Cám dỗ của đứa con trai thứ cũng chính là cám dỗ của bà Eva trong vườn địa đàng xưa, muốn tự định đoạt cuộc đời mình, muốn tìm kiếm một khung trời riêng, không muốn lệ thuộc vào bất cứ một ai…
Sống phóng đãng
Để rồi, sâu xa thế giới riêng tư của đứa con thứ chính là tìm thỏa mãn những đam mê thấp hèn của nó: “Ở đó anh ta sống phóng đãng, phung phí tài sản của mình”. Người anh cả còn biết cặn kẽ hơn về đứa em của mình: “nuốt hết của cải của cha với bọn điếm”.
Hậu quả
Hậu quả của việc rời khỏi gia đình và sống phóng đãng là “lâm cảnh túng thiếu, nên phải đi ở đợ”. Từ một con người muốn tự do trở thành tên nô lệ. Từ một kẻ thỏa mãn những đam mê nhục dục như một con heo trở thành tên thèm khát những thứ của heo ăn… Anh ta đã mất tất cả: Tiền bạc, nhà cửa, tự do và nhân phẩm của mình.
II. NGƯỜI CHA NHÂN HẬU
Bỏ qua tâm trạng của người cha đứng trước lời đề nghị chia gia tài của đứa con khi cha còn đang sống; việc chiều chiều ra ngõ đứng ngóng đứa con quay trở về; việc chịu những lời đàm tiếu của bà con lối xóm vì có đứa con hư hỏng; nhất là nỗi đau đớn của người cha khi không dạy dỗ được đứa con của mình… Chúng ta hãy nhìn thái độ của ông khi đứa con trở về.
Thấy nó tự đằng xa
Luca tường thuật “Anh ta còn ở đằng xa, thì người cha đã trông thấy”. Nghĩa là ông luôn dõi mắt theo đứa con của mình. Tuổi già, mắt mờ, nhưng khi thấy bóng dáng đó tự đằng xa thì ông biết chắc là con trai của mình chứ không ai khác. Hình bóng đó không phải chỉ lờ mờ qua đôi mắt, mà nó ghi khắc trong óc, trong tim, hay như lời của tiên tri Isaia: “Tã đã ghi khắc tên con trong bàn tay Ta, con là của Ta” (x.Is 49, 16).
Chạy ra, ôm cổ và hôn…
Khi thấy bóng dáng đứa con tự đằng xa, người cha đã “chạy ra, ôm cổ anh ta, hôn lấy hôn để”. Một cảnh tượng khi chứng kiến, chắc có lẽ ít ai cầm được nước mắt. Bước chân của người cha này không còn lanh lẹ nữa, và có thể phải vấp té nhiều lần mới đến được chỗ đứa con. Chính ông đã chạy đến để đón lấy đứa con, vì ông sợ nó không dám vào nhà, vì ông sợ nó sẽ chạy mất. Ông ta đã “ôm cổ anh ta, hôn lấy hôn để”, chứng tỏ rằng ông đã tha thứ cho nó.
Mặc áo, xỏ nhẫn và mang dép
Khi thấy đứa con trở về, “người cha liền bảo các đầy tớ rằng: Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay, xỏ dép vào chân cậu”. Những thứ này, ông đã chuẩn bị trước vì ông biết có ngày con ông sẽ trở về. Và khi trở về nó sẽ trở nên tàn tạ, mất nhân phẩm, và không còn tự do.
Ông chuẩn bị áo mới, vì chiếc áo là vật che thân. Bị người khác lột trần là sự xúc phạm nặng nề đến nhân phẩm, giống như Chúa Giêsu. Ở đây không ai lột trần đứa con, mà chính nó đã làm cho chiếc áo của mình trở nên rách nát vì nó không biết bảo vệ nhân phẩm của nó. Nó đã lao đầu vào những đam mê thấp hèn. Mỗi lần như vậy là một lần nó làm cho chiếc áo của nó trở nên rách thêm một chỗ, và từ từ rách mướp.
Ông chuẩn bị nhẫn ngay khi đứa con ra đi. Nó tự quyết định ra đi, nghĩa là từ đây nó sẽ mất tư cách làm con. Ra ngoài đời, nó sẽ là một kẻ mồ côi. Mồ côi không phải vì mất cha mất mẹ, mà vì nó muốn tự tách mình ra khỏi gia đình. Bên ngoài xã hội, nó mới thấy không ai thương mình bằng cha bằng mẹ, không ai lo lắng cho mình bằng mẹ bằng cha. Những lúc nó đau bệnh, những lúc nó đói… nó mới thấy đươc rằng mình đã đánh mất đi một thứ quý giá nhất chính là tư cách làm con. Nhưng người cha sẵn sàng trao lại cho nó chiếc nhẫn mới. Ông công nhận nó mãi mãi là con của ông.
Chỉ có nô lệ, người làm mướn mới đi chân không. Còn ông chủ, và người tự do thì chân mang dẹp. Đứa con này đã mất tự do, đã phải đi làm công cho người ta. Ra khỏi gia đình, nó tưởng nó được tự do, nhưng thực sự nó đã trở thành tên nô lệ vì nó tìm tự do không đúng đắn. Chính cái gọi là tự do để thỏa mãn những thứ nó muốn đã ràng buộc đến nỗi nó thèm ăn thức ăn của heo cũng không được. Nhưng người cha đã chuẩn bị đôi dép mới cho nó ở nhà. Nghĩa là trong gia đình, lúc nào nó cũng là chủ, cũng được tự do, dĩ nhiên là phải có khuôn phép của nó.
III. LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA CHÚA
Chúng ta nhận ra được lòng thương xót của Thiên Chúa qua hình ảnh người cha nhân hậu trong dụ ngôn Tin Mừng hôm nay. Người cha này luôn muốn dành sự tốt đẹp nhất cho mọi con cái của mình. Tuy nhiên, ông cũng tôn trọng tự do của nó. Ông để nó có quyền định đoạt cuộc đời của nó; muốn ở với ông hay không là quyền của nó. Nhưng ông biết một khi nó ra đi nó sẽ mất tất cả. Lòng thương xót của ông càng rõ ràng hơn khi đứa con bắt đầu ra đi, là lúc người cha chuẩn bị cho ngày nó trở về.
Đứng trước sự nhân hậu của người cha cũng chính là lòng thương xót của Chúa, chúng ta không kết án người con hoang đàng hay bất cứ một anh em nào, vì thấp thoáng nơi hình ảnh người con đó có bóng dáng của mỗi chúng ta.
Không phải một lần, mà rất nhiều lần chúng ta đã chạy theo những đam mê, những tự do cá nhân để rời khỏi vòng tay ấm áp của người cha chính là Thiên Chúa.
Nhiều người trong chúng ta đã có kinh nghiệm hụt hẫng, mất mát, bơ vơ, tội lỗi… khi thỏa mãn những đam mê của mình, và đã tìm về với Cha qua Bí tích Giải tội, để Người “mặc cho ta hồng ân cứu độ, choàng cho ta đức chính trực công minh”.
Nhưng cũng có nhiều người vẫn chưa chịu bỏ kiếp đi hoang, hoặc cứ nuôi ý tưởng “đi một lần cho biết”. Người con hoang đàng đã kịp suy nghĩ để trở về với Cha. Nhưng liệu với những đam mê, những hấp dẫn của cuộc sống hôm nay, chúng ta có kịp “bỏ kiếp đi hoang”, hay cứ mãi quay cuồng trong tội lỗi.
Mùa Chay trong năm Thánh Lòng Thương Xót là dịp để mỗi chúng ta, nhất là các bạn trẻ biết dừng lại với ý tưởng “đi hoang” của mình, để biết “ở nhà” với Cha. Vì không ai và không gì có thể đem đến cho ta tự do và hạnh phúc cho bằng Cha và “nhà” của Cha. Những ai đã lỡ lầm trót đi hoang, thì hãy quay về, vì Chúa như người Cha nhân hậu đang chờ để “mặc cho ta hồng ân cứu độ”.
“Lạy Cha, con con đã xúc phạm đến Trời và đến Cha, con không xứng đáng làm con Cha nữa. Nhưng xin Cha hãy thương xót con!”

 

MC4-C203: TÌNH YÊU CỦA CHÚA CHO TA NGHỊ LỰC

Lm. Vũ Xuân Hạnh
 

Tuần rồi, dựa trên Lời Chúa Giêsu: “Nếu các ngươi không ăn năn hối cải, các ngươi sẽ bị hủy diệt” MC4-C203

Tuần rồi, dựa trên Lời Chúa Giêsu: “Nếu các ngươi không ăn năn hối cải, các ngươi sẽ bị hủy diệt”, chúng ta đề nghị nhau, mỗi người tự tin nơi bản thân, để hun đúc nghị lực, hun đúc ý chí, trở về với Thiên Chúa.
Hôm nay chúng ta hướng tới một đề nghị cao quý hơn, làm cơ sở cho sự ăn năn thống hối, đó là: Hãy cậy dựa vào lòng thương xót của Thiên Chúa, mà trở về với Người. Một mặt tin vào khả năng sám hối của chính mình, nhưng mặt khác, hãy nhớ lại lòng thương xót của Chúa để làm cho nghị lực nơi ta dồi dào hơn, ý chí mạnh mẽ hơn.
Tình thương của Thiên Chúa là một tình yêu chờ đợi, tình yêu tha thứ. Chỉ cần con người mở lòng ra đón nhận là gặp được tình yêu đó thôi. Dụ ngôn người cha nhân hậu được suy niệm trong Chúa nhật thứ IV mùa Chay này là bằng chứng cho tình yêu ấy.
Một người cha có hai đứa con. Một hôm đứa con thứ đòi chia gia tài cho nó. Thế là gói trọn gia tài cha chia cho, người con thứ đã quên tất cả tình yêu, sự chiều chuộng của cha, bỏ đi biệt tăm. Thái độ bỏ đi ấy cho thấy lòng phản bội của người con thứ.
Từ bỏ cha đã vậy, anh còn lao mình vào những trò chơi xa xỉ, đầy tội lỗi. Cuối cùng, không còn một đồng nào dính túi. Vậy điều gì sẽ xảy ra tiếp theo? Anh ta trở thành một kẻ tự đánh mất hết giá trị con người của mình: đói quá, đi xin người ta để được chăn heo!
Nhưng giá trị của một con người bị đánh mất ấy vẫn chưa dừng, nó càng tuột dốc và lao nhanh. Nó lao tới một nỗi nhục lớn hơn: thọc tay vào máng heo ăn, lấy cám heo bỏ vào miệng, muốn cùng ăn chung với heo, vậy mà một miếng, người ta cũng không cho.
Đọc Tin Mừng, tôi thấy thánh Luca dùng danh từ còn nặng nề hơn hai từ “cám heo”, để diễn tả nỗi nhục nhã quá sức, không thể tưởng tượng. Một nỗi nhục khôn cùng: “cặn bã”. Thánh Luca viết: “Nó muốn ăn những đồ cặn bã heo ăn cho đầy bụng, nhưng cũng không ai cho”!
Đó là bài học đáng giá để ta lưu tâm suy nghĩ. Vì khi lìa bỏ Chúa, trầm mình trong tội lỗi, khoái lạc, dục vọng, người ta chỉ chuốc lấy nỗi nhục nhã ê chề, chuốc lấy sự mất bình an không thể có gì bù đắp được.
Nỗi nhục nhã này quá lớn. Nó cướp mất tất cả những gì là nhân vị của một con người. Biến kẻ lao mình vào làm bạn với nó trở nên ngang hàng với thú vật. Thậm chí còn không bằng. Bởi muốn ngang hàng với thú khi cùng ăn “cặn bã” với nó mà “cũng không ai cho”.
Nhưng rất may cho người con thứ. Anh có một người cha quá nhân từ, để trong lúc ngặt nghèo này, anh còn có chỗ mà dựa dẫm. Tình yêu của người cha nung nấu nghị lực và làm sống lại ý chí nơi người con thứ. Đó là sức mạnh vững chắc để anh tìm về gặp cha của anh.
Người con thứ có dư kinh nghiệm về lòng yêu thương của cha. Người con thứ biết rằng, dù anh có bỏ cha, bỏ nhà ra đi, sống một đời sống bê tha tội lỗi, thì tình yêu nơi cha của anh còn lớn hơn, mạnh hơn mọi sự phản bội, mọi vong ân, mọi tội lỗi mà anh đã gây ra.
Trong khi người con thứ ngụp lặn trong thế giới tự do xấu xa của riêng mình, người cha vẫn một lòng chờ đợi không mệt mỏi, một lòng hy vọng nơi con không hề hối tiếc. Rồi khi người con nghịch phản ấy trở về, từ đàng xa, người cha đã nhìn thấy con trai ông trước khi nó nhìn thấy cha nó. Người cha không hề nhớ tội của con mà chỉ nhớ con. Người cha không mảy may nghĩ tới việc con làm, điều con sống, mà chỉ nhất mực tha thứ. Con trai mình còn chưa kịp nói một lời xin lỗi, người cha đã đon đả đón chào.
Kinh nghiệm lớn lao về tình yêu của cha, đúng hơn, người con thứ quá kinh nghiệm về một biển trời yêu thương, anh đã cậy dựa vào biển trời yêu thương ấy mà có đủ sức mạnh để hồi tâm, đủ can đảm và nghị lực trở về cùng cha. Tình yêu của người cha chính là ý chí, là nghị lực của đứa con. Trong cơn tủi nhục ê chề, người con thứ đã hối hận. Và trong cơn hối hận, người con thứ nhìn thấy tình yêu của cha sáng như ngọn hải đăng rọi chiếu tâm hồn anh, để với ngọn đèn tình yêu ấy, lòng anh bừng lên ý chí trở về với cha. Phúc thật cho người con thứ vì lòng cha yêu anh.
Hình ảnh người cha vô cùng nhân hậu ấy, chính là Thiên Chúa. Hai người con chính là hình ảnh của chúng ta. Nơi bản thân mỗi người mang vóc dáng của cả hai người con. Có lúc mình trung thành lắm, nhưng cũng có lúc chẳng trung thành chút nào.
Nhưng với hình ảnh người con thứ là một bài học lớn về ý chí, nghị lực và sự hồi tâm, ta hãy học lấy mà nhận ra tình yêu cao vời vợi của Thiên Chúa, một tình yêu không hề so đo, tính toán, nhưng luôn là tình yêu chung thủy, rộng lượng và khoang dung đến mức chúng ta không thể hiểu nổi, chỉ có thể cảm nghiệm và cố gắng sống sao cho xứng đáng…
Tình yêu của người cha trong dụ ngôn đã nắn đúc nên nghị lực, rèn lại ý chí nơi người con thứ. Cũng vậy, tình yêu của Thiên Chúa hãy là chỗ dựa của chúng ta, làm dậy lên ý chí và nghị lực cho cả một kiếp sống làm người của mình. Vì phúc thật của người con trong dụ ngôn, cũng chính là phúc thật của bạn và tôi trong thân phận mong manh của một kiếp người: phúc thật cho chúng ta vì Thiên Chúa yêu chúng ta.
Vậy, nhận lãnh mối phúc ấy, dù biết rằng, đã nhiều lần mình yếu lòng, nhiều lúc không đủ nghị lực thắng cám dỗ, bạn và tôi hãy nhớ lại dụ ngôn người cha nhân hậu này, để khám phá lại lòng thương xót của Chúa mà cậy dựa vào lòng thương xót ấy, trở về với Người.
Chính khi ta hồi tâm nhớ lại lòng Chúa yêu thương, rồi tin tưởng, cậy dựa vào tình yêu ấy, chắc chắn, tâm hồn mình sẽ tăng thêm nghị lực, giàu thêm ý chí, giúp ta can đảm làm lại tương quan với Chúa và với anh em, bằng sự nỗ lực xa tránh cám dỗ, xa tránh dịp tội.
Chỉ cần trở về với Chúa, qua việc lãnh nhận bí tích giao hòa, Chúa sẽ tha thứ hết. Không chỉ tha thứ, Người còn quên hết quá khứ của ta, giống như người cha tha thứ và đón nhận đứa con hư hỏng của mình.
Phúc thật cho bạn và cho tôi, vì Chúa yêu chúng ta!

 

MC4-C204: BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NHI - CN 4 MC C

Chúng con yêu quí,
 

Câu chuyện chúng con vừa nghe chúng con có thấy hay không? - Hay quá đi mất! Đây là câu MC4-C204

Câu chuyện chúng con vừa nghe chúng con có thấy hay không?
- Hay quá đi mất!
Đây là câu chuyện về một gia đình. Gia đình này có một người cha và hai người con. Theo ý của Chúa trong bài dụ ngôn thì rõ ràng là cả hai người con này đều là những người đáng trách.
Câu chuyện xảy ra xem ra có vẻ rất bất ngờ.
Hai anh em cùng chung một cha. Người em bỏ nhà ra đi vì anh ta quyết định sống cuộc sống riêng của anh ta.
Sau thời gian một mình một cõi, sống buông thả say sưa tiêu hết tiền bạc mình có, thì cuộc sống anh ta rơi vào tình trạng hết sức bi đát. Hết tiền hết bạc thì hết bạn bè, hết mọi thứ mà anh ta mơ tưởng như trước khi bỏ nhà ra đi. Lần đầu tiên trong đời anh ta phải giáp mặt với những cảnh phũ phàng và nhiều đau khổ như thế. Anh ta phải đi làm nghề chăn heo, muốn được ăn những thứ heo ăn cho đỡ đói nhưng cũng không được. Thật là một thảm hoạ.
Rất may là anh ta đã biết nghĩ lại. Anh ta đã hiểu được lỗi lầm của mình. Anh ta hiểu thật rõ những gì anh ta đã làm mất. Và anh ta quyết định trở về nhà. Thái độ lúc này của anh ta thật khiêm tốn và xem chừng có cả một chút sợ hãi. Anh ta xưng thú tội trước mặt người đang giơ tay đón nhận anh. Người ấy chính là cha anh. Người cha đã tha thứ và ban lại cho anh danh nghĩa là con, và ôm chặt anh trong vòng tay yêu thương của mình.
Chúng con thấy người cha đó là một người cha thế nào? Thật là tuyệt vời. Không một lời trách móc. Không một cử chỉ buồn lòng. Trái lại còn hoan hỉ vui vẻ tổ chức tiệc tùng mừng anh trở về.
Câu chuyện được tiếp tục như sau: Người anh cả đi làm về và khi nghe biết những gì đang xảy ra trong nhà. Anh nổi giận. Anh trả lời với người cha đến yêu cầu anh tham gia vào cuộc vui: "Con làm việc như một kẻ làm thuê, con vâng lệnh cha thế mà cha chẳng cho con cái gì đặc biệt cả. Nhưng đứa con của cha kia đã bỏ cha mà ra đi nay trở về, thì cha mở tiệc ăn mừng để đón tiếp anh ta ".
Anh con cả này là một kẻ không tự xem mình như con cái mà chỉ là một kẻ làm thuê. Người cha kia không phải là cha của anh ta nhưng là một ông chủ. Một ông chủ khắt khe, đòi hỏi, chỉ biết ra lệnh.
Và khi người cha trả lời: "Con ơi, con luôn luôn ở với cha và bao giờ cha cũng cho con dư đầy mọi sự. Đối với con, lúc nào cũng là tiệc ăn mừng cả. Nhưng em con đã mất đi và nay tìm lại được. Chẳng phải là chuyện bình thường khi chúng ta vui mừng và mở tiệc vì chúng ta lại được đoàn tụ ư?".
2. Cha hỏi chúng con, Chúa Giêsu kể câu chuyện này để làm gì?
Để nhắc nhở chúng ta nhớ lại địa vị làm con của mình. Phải, chúng ta là con của Thiên Chúa nhờ ân sủng Ngài ban cho ta chứ không phải nhờ tuân giữ luật lệ. Thiên Chúa ban cho chúng ta tất cả những gì chúng ta cần. Nhưng không phải lúc nào chúng ta cũng biết nhìn ranhững gì chúng ta có, những gì chúng ta nhận được.
Như hai người con đều làm phiền lòng người cha. Xét cho cùng, chúng ta cũng thường làm phiền lòng Thiên Chúa như thế.
Là những người con đáng lý ra chúng phải hiểu rõ về cha của mình. Thế nhưng cả hai đã không làm được điều đó. Chính vì thế mà cách cư xử của cả hai người con đối với Cha mình có nhiều điều tắc trách.
Như vậy câu chuyện cho chúng ta thấy: Mọi tội lỗi chúng ta phạm ít nhiều đều bắt nguồn từ chỗ chúng ta còn thiếu sự hiểu biết về tình yêu của Thiên Chúa là Cha chúng ta.
Có một cậu bé tự cho mình là đứa trẻ bất hạnh nhất thế giới này. Trong con mắt của bạn bè, cậu là kẻ nhát gan, yếu đuối. Trên nét mặt cậu thường lộ vẻ sợ hãi. Cậu thở phì phò giống người ta kẻo bễ vậy. Khi bị cô giáo gọi đứng dậy đọc bài hay trả lời câu hỏi, đôi chân cậu lập tức run rẩy, môi liên tục mấp máy. Đương nhiên, cậu trả lời ấp úng và đứt quãng. Cuối cùng, cậu đỏ mặt xấu hổ quay về chỗ ngồi. Nếu cậu có một gương mặt đẹp, thì người khác có thể cảm tình với cậu một chút. Nhưng khi bạn thương hại nhìn cậu ta, thì bạn có thể nhìn thấy hàm răng hô xấu xí của cậu.
Vào một ngày mùa xuân, bố cậu bé xin nhà hàng xóm một ít cây giống. Bố cậu muốn trồng chúng trước nhà. Ông bảo các con, mỗi đứa trồng một cây. Ông còn hứa với chúng, cây của ai lớn nhanh nhất, người đó sẽ được ông tặng cho một món quà giá trị. Cậu bé ấy cũng muốn nhận được món quà.
Nhưng khi nhìn thấy anh chị em hào hứng chạy đi, chạy lại tưới nước cho cây, không hiểu tại sao, trong đầu cậu lại nảy sinh ý nghĩ kỳ quặc: cậu mong cái cây mình trồng, mau chóng chết đi. Vì thế, cậu chỉ tưới nước cho cây hai lần, rồi sau đó bỏ mặc nó.
Một tuần sau, khi xem cái cây mình trồng, cậu bé ngạc nhiên khi phát hiện ra nó không những không héo úa, mà còn mọc ra mấy cái lá xanh nõn nà. So với những các cây mà anh chị em cậu trồng, dường như nó còn tươi tốt hơn và tràn đầy sức sống hơn. Bố cậu thực hiện đúng lời hứa, mua cho cậu một món quà mà cậu thích nhất. Đồng thời, ông còn nói với cậu, cứ xem cách cậu trồng cây, thì sau này chắc chắn cậu sẽ trở thành một nhà thực vật học xuất sắc.
Từ đó trở đi, cậu bé dần dần trở nên lạc quan.
Vào một buổi tối, cậu bé trằn trọc không sao ngủ được. Nhìn ánh trăng vằng vặc ngoài sân, cậu chợt nhớ đến câu nói của thầy giáo dạy sinh vật: thực vật thường lớn lên vào lúc trời tối. Cậu nghĩ bụng, tại sao mình không xem thử xem cái cây mình trồng lớn như thế nào nhỉ? Khi cậu rón rén đi ra ngoài sân. Cậu nhìn thấy bố đang dùng gáo tưới nước cho cái cây cậu trồng. Ngay lập tức, cậu hiểu ra tất cả. Hóa ra, bố cậu âm thầm bón phân cho cây cậu trồng.
Cậu trở về phòng ngủ, gục mặt xuống giương mặc cho nước mắt chảy đầm đìa trên khuôn mặt.
Thấm thoắt mấy chục năm đã trôi qua. Cậu bé với đôi chân tập tễnh ấy, mặc dù đã không trở thành một nhà thực vật học như ước nguyện của người cha, nhưng lại trở thành tổng thống của nước Mỹ. Tên của ông là Franklin Roosevelt.

 

MC4-C205: HỒI TÂM TRỞ VỀ VỚI CHÚA CHA

ĐẦY LÒNG TỪ BI THƯƠNG XÓT 
CHÚA NHẬT 4 MÙA CHAY C
Gs 5,9a.10-12 ; 2 Cr 5,17-21 ; Lc 15,1-3.11-32
I. HỌC LỜI CHÚA
1. TIN MỪNG: Lc 15,1-3.11-32
(1) Tất cả những người thu thuế và những người tội lỗi thường đến gần Đức Giê-su mà nghe Người. (2) Còn những người thuộc phái Pha-ri-sêu và các Kinh sư thì lẩm bẩm: “Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng. (3) Đức Giê-su mới kể cho họ dụ ngôn này. (11) “Một người kia có hai con trai. (12) Người con thứ nói với cha rằng: Thưa cha, xin cho con phần tài sản con được hưởng. Và người cha đã chia của cải cho hai con. (13) Ít ngày sau, người con thứ thu góp tất cả rồi trẩy đi phương xa. Ở đó anh ta sống phóng đãng, phung phí tài sản của mình. (14) Khi anh ta đã ăn tiêu hết sạch, thì lại xảy ra trong vùng ấy một nạn đói khủng khiếp. Và anh ta bắt đầu lâm cảnh túng thiếu, (15) nên phải đi ở cho một người dân trong vùng. Người này sai anh ta ra đồng chăn heo. (16) Anh ta ao ước lấy đậu muồng heo ăn mà nhét cho đầy bụng, nhưng chẳng ai cho. (17) Bấy giờ anh ta hồi tâm và tự nhủ: “Biết bao nhiêu người làm công cho Cha ta được cơm dư gạo thừa, mà ta ở đây lại chết đói ! (18) Thôi, ta đứng lên, đi về cùng cha và thưa với Người: ”Thưa cha, con thật đắc tội với trời và với cha, (19) chẳng còn đáng gọi là con cha nữa. Xin coi con như một người làm công cho cha vậy”. (20) Thế rồi anh ta đứng lên đi về cùng cha. Anh ta còn ở đàng xa, thì người cha đã trông thấy. Ông chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ anh ta và hôn lấy hôn để. (21) Bấy giờ người con nói rằng: “Thưa cha, con thật đắc tội với trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa...” (22) Nhưng người cha liền bảo các đầy tớ rằng: “Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay, xỏ dép vào chân cậu. (23) Rồi đi bắt con bê đã vỗ béo làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng! (24) Vì con ta đây đã chết mà nay sống lại. Đã mất mà nay lại tìm thấy”. Và họ bắt đầu ăn mừng. (25) Lúc ấy người con cả của ông đang ờ ngoài đồng. Khi anh ta về gần nhà, nghe thấy tiếng đàn ca nhảy múa, (26) liền gọi một người đầy tớ ra hỏi xem có chuyện gì. (27) Người ấy trả lời: “Em cậu đã về, và cha cậu đã làm thịt con bê béo, vì được lại cậu ấy mạnh khỏe”. (28) Người anh cả liền nổi giận và không chịu vào nhà. Nhưng cha cậu ra năn nỉ. (29) Cậu trả lời cha: “Cha coi, đã bao nhiêu năm trời con hầu hạ cha, và chẳng khi nào trái lệnh. Thế mà chưa bao giờ cha cho lấy được một con dê con ăn mừng với bạn bè. (30) Còn thằng con của cha đó, sau khi đã nuốt hết của cải của cha với bọn điếm, nay trở về thì cha lại giết bê béo ăn mừng !”. (31) Nhưng người cha nói với anh ta: “Con à, lúc nào con cũng ở với cha. Tất cả những gì của cha đều là của con. (32) Nhưng chúng ta phải ăn mừng và hoan hỷ, vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy”.

2. Ý CHÍNH:
 

Trong bài Tin mừng hôm nay đoạn mở đầu (c 1-3) cho biết hòan cảnh của dụ ngôn. Tiếp theo là MC4-C205

Trong bài Tin mừng hôm nay đoạn mở đầu (c 1-3) cho biết hòan cảnh của dụ ngôn. Tiếp theo là chính dụ ngôn trình bày về lòng từ bi nhân hậu của một người cha (c 11-32), gồm hai phần chính như sau:
- THÁI ĐỘ BAO DUNG CỦA NGƯỜI CHA ĐỐI VỚI ĐỨA CON THỨ: thể hiện qua các hành động sẵn sàng chia gia tài theo yêu cầu của đứa con ngay khi ông còn sống, nôn nóng chờ mong đứa con đi hoang trở về, chạnh lòng xót thương khi vừa thấy con từ xa và sẵn sàng tha thứ trước khi nó kịp thú tội, lập tức trả lại địa vị làm con, tổ chức bữa tiệc mừng con hoang trở về.
- THÁI ĐỘ HẸP HÒI CỦA CON TRƯỞNG: Sau khi biết em đã trở về nhà và được cha không những không trừng phạt mà còn mở tiệc ăn mừng, thì người con trưởng đã tỏ thái độ hẹp hòi và ganh tị: Không thèm vào nhà, trách cha thiên vị đứa em bất hiếu, đã đối xử bất công với anh là đứa con hiếu thảo. Cuối cùng người cha đã ra gặp và giải tỏa những lời trách móc của người con cả. Ông khuyên anh hãy noi gương ông để bao dung với đứa em tội lỗi vì: “Em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy”.
3. CHÚ THÍCH:
- C 1-3: + Những người thu thuế: Chỉ trong Tin mừng Nhất lãm (Mát-thêu, Mác-cô, Lu-ca) mới đề cập đến hạng người thu thuế này (x. Mt 9,9 ; Mc 2,14 ; Lc 5,27). Họ bị coi là tay sai của chính quyền Rô-ma và bị tố cáo đã lạm thu thuế để hưởng lợi bất chính (x. Lc 19,8b). Dân Do thái liệt họ vào hạng người tội lỗi xấu xa, ngang hàng với bọn trộm cắp đĩ điếm (x. Mt 21,31-32). + Những người tội lỗi đến nghe Đức Giê-su giảng: Đây là các tội nhân đã phạm tội công khai như: Gái điếm (x. Lc 7,37), người phụ nữ Sa-ma-ri-a có cuộc hôn nhân bất chính (x. Ga 4,18), người đàn bà ngoại tình (x. Ga 8,3), kẻ bị quỷ ám (x. Lc 8,2) kẻ chơi bời trác táng (x. Lc 15,13.30), hay tên gian phi (x. Lc 23,39). + Những người thuộc phái Pha-ri-sêu và các Kinh sư: Pha-ri-sêu (hay Biệt phái) là những người Do thái đạo đức, sống tách biệt khỏi quần chúng. Kinh sư (hay Luật sĩ) là những nhà trí thức, xuất thân từ trường Kinh thánh. Họ thường giải thích Kinh thánh trong các hội đường Do thái vào các ngày Sa-bát. Họ được dân chúng kính trọng gọi là “Ráp-bi”, nghĩa là “Thầy” (x. Mt 23,7). + Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng: Người Pha-ri-sêu và Kinh sư trách Đức Giê-su vì đã thu nhận Lê-vi là người thu thuế làm môn đệ, lại còn đến ngồi đồng bàn ăn uống với bọn thu thuế bạn bè của anh ta (x. Lc 5,27-32).
- C 11-13: + Một người kia có hai con trai: Đây là dụ ngôn chỉ có trong Tin mừng Lu-ca, nói lên lòng bao dung của một người cha ám chỉ Thiên Chúa, đối với đứa con hoang đàng bất hiếu, ám chỉ các người thu thuế tội lỗi.
- C 14-16: + Đi ở cho một người dân trong vùng: Đứa con thứ này đã rơi vào hòan cảnh túng cực: tự bán mình làm nô lệ cho người dân ngoại và bị người này sai đi chăn heo. Heo là con vật bị Luật Mô-sê coi là nhơ uế, vì được dân ngọai dùng làm lễ vật cúng tế cho thần minh của họ (x. Đnl 14,8). + Ước ao lấy đậu muồng heo ăn mà nhét cho đầy bụng, nhưng chẳng ai cho: Thân phận của anh ta giờ đây không bằng loài heo nhơ bẩn!
- C 17-20a: + Bấy giờ anh ta hồi tâm và tự nhủ...: Hòan cảnh đói khổ làm cho đứa con thứ phải xét lại hành động sai trái của mình. + Thế rồi anh ta đứng lên đi về cùng cha: Anh trở về không phải do thương nhớ cha, mà chỉ là một hành động có tính tóan và đầy vụ lợi! Dụ ngôn đã không nhấn mạnh đến sự ăn năn sám hối của người con thứ mà chỉ muốn đề cao tình thương bao dung của người cha.
- C 20b-24: + Ông chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ anh ta và hôn lấy hôn để: Động từ “chạnh lòng thương” là lý do giải thích các hành động sau đó. Động từ nầy tìm thấy trong trình thuật bà góa thành Na-im (7,3) và câu chuyện người Sa-ma-ri-ta-nô nhân lành (10:33). Trong cả ba trường hợp này, “chạnh lòng thương” nên đã cứu sống người sắp chết hoặc tái sinh người đã chết. Cái hôn biểu lộ tình thương tha thứ. Tình thương này được diễn tả qua sự kiện: Ngay khi đứa con còn ở đàng xa, ông đã trông thấy và chủ động chạy ra ôm hôn con để biểu lộ sự tha thứ vô điều kiện, tha ngay trước khi nó kịp nói lời thú tội. + Nhưng người cha liền bảo các đầy tớ rằng: “Mau đem áo đẹp nhất ra đây...: Người cha không muốn nghe đứa con nói hết câu xin lỗi, đã sẵn sàng ban cho nó quá điều nó dám mong ước. Ý nghĩa của việc xỏ “nhẫn”, mặc “áo”mới (x. St 41:42) cho thấy người cha đã trả lại địa vị làm con, dù anh ta chỉ dám xin trở thành người làm công cho cha. “Giết bò béo” (St 18,7) cho thấy niềm vui tột đỉnh của người cha muốn chia sẻ niềm vui với người khác. + Chân đi dép: ám chỉ một người tự do, khác với nô lệ phải đi chân đất. Vậy, người cha đã đón nhận lại đứa con tội lỗi trong niềm vui lớn lao; đồng thời phục hồi lại cho nó quyền làm con, vì có người cha nào lại không xót thương con cái mình (x. Tv 103:13).
- C 25-28: + Người con cả: Tượng trưng cho các đầu mục dân Do thái. + nổi giận và không chịu vào nhà: Anh nổi giận vì nghĩ rằng cha đã cư xử bất công với anh. Anh từ chối vào nhà để tỏ thái độ phản đối cách cư xử bao dung của cha, khi ông không những đón nhận thằng con bất hiếu mà còn mở tiệc để ăn mừng nó trở về.
- C 29-30: + Còn thằng con của cha đó: Người con cả không coi người kia là em mình nên dùng cách nói khinh dể, giống như người Pha-ri-sêu đã khinh dể người thu thuế trong dụ ngôn “hai người lên Đền thờ cầu nguyện” (x. Lc 18,11).
- C 31-32: + Con à, lúc nào con cũng ở với cha. Tất cả những gì của cha đều là của con: Người cha nhắc cho anh con cả ý thức về tình yêu bao la của ông mà anh ta vẫn luôn được hưởng. + Nhưng chúng ta phải ăn mừng và hoan hỷ: Người cha mời gọi anh con cả hãy bước vào ngôi nhà tình thương của cha, cùng chia sẻ niềm vui với cha khi đứa em tội lỗi của anh ta hồi tâm trở về. + “Em con đây”: Ong chỉnh lại lối xưng hô khinh miệt của người anh: “Thằng con của cha đó” bằng từ yêu thương “Em con đây”. + “Đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy”: Qua câu này Đức Giê-su gián tiếp trả lời cho những tiếng xầm xì của người Pha-ri-sêu và mời họ chia sẻ tâm tình của Thiên Chúa đối với những kẻ tội lỗi.

4. CÂU HỎI:
HỎI 1) ƯU VÀ KHUYẾT ĐIỂM CỦA CÁC NGƯỜI PHA-RI-SÊU VÀ KINH SƯ LÀ GÌ?
ĐÁP:
* VỀ ƯU ĐIỂM: Các người Pha-ri-sêu và Kinh sư được đánh giá là những người có lòng đạo đức, thể hiện qua việc siêng năng ăn chay cầu nguyện và làm phúc bố thí (x. Mt 6,2.5.16). Họ am tường và tuân giữ Luật Mô-sê trong từng chi tiết, nhất là luật về ngày Hưu lễ (nghỉ việc ngày Sabát), luật Thanh tẩy (rửa tay, rửa bình, rửa các đồ đồng, tắm rửa...). Về giáo lý họ cũng tin như Đức Giê-su đã giảng: tin có thiên thần (x. Cv 23,6-8), tin linh hồn bất tử và thân xác lòai người sau này sẽ sống lại…
* VỀ KHUYẾT ĐIỂM: Đức Giê-su đã nhiều lần lên tiếng sửa dạy và thậm chí còn nặng lời quở trách họ về thói đạo đức giả. Chẳng hạn: Họ chỉ giữ Luật theo hình thức bề ngoài; Tranh nhau ngồi chỗ nhất trong các đám tiệc và ghế đầu trong hội đường; Ăn mặc lụng thụng để được người ta kính trọng (x. Mt 23,5-6); Tự hào vì đã tuân giữ Lề luật; Tự mãn về sự hiểu biết Luật và khinh thường dân chúng dốt nát; Dẫn đường mù quáng và có thái độ cố chấp khi đề cao truyền thống và luật truyền khẩu, mà quên đi các điều chính yếu của Luật (x. Mt 23,23); Bắt dân chúng tuân giữ các điều khỏan Lề Luật trong từng chi tiết đang khi chính họ lại không hề tuân giữ (x. Mc 12,38-40).
HỎI 2) THÁI ĐỘ CỦA CÁC PHA-RI-SÊU VÀ KINH SƯ ĐỐI VỚI ĐỨC GIÊ-SU THẾ NÀO?
ĐÁP: Vì không nhận Đức Giê-su là Đấng Thiên Sai (x. Mc 11,27-33), nên họ thường dò xét, gài bẫy để thử thách và tìm bắt lỗi Người. Họ đòi Người phải làm phép lạ để chứng minh sứ vụ Thiên Sai (x. Mc 8,11). Họ xuyên tạc các phép lạ Người làm để dân chúng đừng tin theo Người và không gia nhập vào Nước Trời do Người thiết lập (x. Mc 3,23-30). Cuối cùng họ liên kết với đảng Hê-rô-đê, và Thượng Hội Đồng Do thái ở Giê-ru-sa-lem để bắt Đức Giê-su và kết án tử hình cho Người cách bất công (x. Lc 22,47-53; 23,1-7.18-25). Họ tiếp tục chế giễu Người khi treo Người trên cây thập giá (x. Lc 23,35). Tuy nhiên, trong số các Pha-ri-sêu cũng có một số người tin Đức Giê-su là Đấng Thiên Sai và sau này đã trở thành môn đệ của Người như: Ông Ni-cô-đê-mô (x. Ga 3,1), Ga-ma-li-en (x. Cv 5,34-39) và nhất là tông đồ Phao-lô (x. Cv 22,3).

 
  1.   SỐNG LỜI CHÚA
1. LỜI CHÚA: “Anh ta còn ở đàng xa, thì người cha đã trông thấy. Ông chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ anh ta và hôn lấy hôn để” (Lc 15,20b).
2. CÂU CHUYỆN:
1) LÒNG CHA BAO DUNG:
RI-SỚT PIN-ĐEO (Richard Pindell) có viết một câu chuyện ngắn về một cậu bé tên là ĐE-VÍT (David). Cậu ta đã nghe theo chúng bạn lén về nhà ăn cắp một số tiền lớn rồi bỏ đi bụi đời. Mấy tháng sau, vì không chịu nổi hoàn cảnh đói khát khổ cực, cậu đã viết một lá thư gửi về cho mẹ. Trong thư, cậu tỏ ra hối lỗi và nhờ mẹ thuyết phục ông bố vốn rất khiêm khắc, để xin ông tha tội và cho cậu được về nhà sum họp với cha mẹ như trước. Nội dung lá thư ấy như sau: “Mẹ kính yêu, trong một vài ngày nữa con sẽ đáp chuyến xe lửa ngang qua nhà mình. Vậy nhờ mẹ xin lỗi bố cho con. Nếu bố bằng lòng tha thứ và chấp nhận cho con về nhà, thì xin mẹ yêu cầu bố hãy cột một miếng vải trắng trên cây táo hồng ở cạnh nhà mình mẹ nhé !”.
Vài ngày sau, Đe-vít lên xe lửa để trở về nhà. Khi xe lửa đang di chuyển đến gần nhà thì hai hình ảnh cứ liên tục hiện ra trong tâm trí cậu bé Đe-vít: Lúc thì trên cây táo có cột một miếng vải trắng, lúc lại chẳng thấy có miếng vải nào cả. Khi sắp đi ngang qua nhà, trái tim Đe-vít đập nhanh hơn. Cậu quay sang người ngồi cạnh và ấp úng nói: “Thưa ông, ông có thể giúp cháu việc này không ạ?” Được ông ta đồng ý, cậu nói: “Vào khúc quẹo bên tay mặt, ông sẽ thấy một cây táo. Vậy phiền ông nhìn vào cây táo ấy và cho cháu biết trên cành cây ấy có cột một miếng vải trắng nào không nhé ?”. Khi xe lửa ầm ầm lướt nhanh qua nhà, Đe-vít nhắm mắt lại rồi run giọng hỏi: “Thưa ông, có miếng vải trắng nào treo trên cành cây táo cạnh nhà cháu không ạ?” Ông ta sửng sốt trả lời rằng: “Ô, này cậu bé, không phải chỉ một mà cành cây nào ta cũng thấy có cột vải trắng cả !”
Thì ra sợ con trai không nhìn thấy giải vải trắng, ông bố của cậu bé đã treo thật nhiều vải trắng để chắc chắn cậu sẽ nhìn thấy dấu hiệu tình thương tha thứ để cậu yên tâm trở về.

2) LÒNG MẸ THƯƠNG CON THỂ HIỆN RA SAO ?
Một cô bé 5 tuổi đang ngồi trong lòng mẹ, chợt lên tiếng hỏi: “Mẹ ơi, con có thể nhìn thấy được lòng mẹ không ?”. Bà mẹ đáp : “Mẹ không biết, nhưng con có thể nhìn vào mắt mẹ xem con thấy gì trong đó ?” Cô bé nhướng mắt chăm chú nhìn vào đôi mắt của mẹ, rồi em sung sướng kêu lên : “Mẹ ơi ! Con đã nhìn thấy lòng mẹ thương con rồi. Trong mắt mẹ, con chỉ nhìn thấy duy một cô bé tí xíu là chính con đó mẹ ạ !”.
Đối với bà mẹ thì đứa con là tất cả. Mỗi người chúng ta cũng là con do Chúa sinh thành và rất mực yêu thương chúng ta.

3) CẢM NGHIỆM TÌNH THƯƠNG CỦA CHA GIÚP CON DỄ HOÁN CẢI:
GAN-DHI kể rằng khi ông được 15 tuổi, ông đã phạm tội ăn cắp của anh mình một đồng tiền vàng. Tuy nhiên sau đó ông cảm thấy áy náy nên quyết định đến thú tội với cha mình. Ông lấy ra một tờ giấy, viết lên đó tội ăn cắp mình đã làm và xin cha tha thứ. Cuối thư ông cũng hứa sẽ không bao giờ tái phạm nữa. Khi ấy cha ông đang bị bệnh phải nằm trên giường. Gan-dhi tiến lại đưa tờ giấy thứ tội cho cha và hồi hộp chờ cha xét xử. Người cha đã ngồi dậy, cầm tờ giấy đọc,  trong lúc ông đang đọc thì Gan-dhi thấy hai dòng lệ từ đôi mắt cha chảy xuống. Gan-dhi cũng không cầm được nước mắt. Cuối cùng khi đọc xong, người cha đã không hề nổi giận và cũng chẳng nói lời trách móc. Ông ôm chầm lấy con và cảm thấy sung sướng vì con mình đã biết hối hận về hành động xấu đã làm.
Cảm nghiệm được tình yêu thương tha tội của cha là một cảm nghiệm rất sâu sắc. Sau này Gan-dhi viết : "Chỉ có người nào đã trải qua cảm nghiệm về một tình yêu như thế mới có thể hiểu được nó mà thôi".

4) THA THỨ LÀ QUÊN MỌI TỘI KẺ KHÁC ĐÃ XÚC PHẠM ĐẾN MÌNH:
Một bà già nọ không mấy ngày là không đến gõ cửa gặp cha xứ, kể cho ngài nghe những giấc mơ của bà. Một hôm bà cho biết đêm qua Chúa lại hiện ra với bà. Để làm bà nản lòng đừng tiếp tục đến quấy rầy nữa, cha xứ bảo: ”Lần sau nếu Chúa có hiện ra, thì bà hãy hỏi Chúa: “Cha xứ con có tội gì nặng nhất ? Sau đó bà mới được tới đây kể lại cho tôi nghe nhé”. Rồi mấy ngày sau đó không thấy bà già ấy đến nữa. Cha xứ mừng thầm vì kế hay của mình. Nhưng một tuần sau thì thấy bà quay trở lại.
- Thưa cha, tối hôm qua Chúa lại hiện ra với con.
- Thế bà có nhớ hỏi Chúa điều tôi đã dặn bà không ?
- Thưa cha có chứ.
Cha xứ bắt đầu hồi hộp :
- Thế bà đã hỏi Chúa thế nào ?
- Thì con hỏi y như Cha đã bảo :”Cha xứ con có tội gì nặng nhất” ?
Cha xứ càng hồi hộp thêm :
- Vậy Chúa có trả lời không ?
-  Có chứ .
Bây giờ thì cha xứ bắt đầu lo lắng thật sự. Cha gặng hỏi:
- Chúa nói sao ?
- Chúa nói: ”Ta đã quên hết rồi”.
Cha xứ thở phào nhẹ nhõm.
 (Kể theo ĐHY Phanxicô X.  Nguyễn văn Thuận)
3. THẢO LUẬN: 1) Trong bốn việc phải làm khi đi xưng tội như: xét mình, ăn năn dốc lòng chừa, xưng tội và đền tội, thì điều nào là quan trọng nhất để được giao hòa với Chúa ? Tại sao ? 2) Trong Mùa Chay này, mỗi người chúng ta sẽ ăn năn sám hối tội nào cụ thể nhất và sám hối bằng cách nào ?

4. SUY NIỆM:
Tin mừng CN 4 Mùa Chay hôm nay cho thấy tình thương bao dung của Thiên Chúa đối với các tội nhân (15,1-32): Thiên Chúa như một người Cha từ bi nhân hậu luôn “chạnh lòng thương” và sẵn sàng tha thứ tội lỗi cho con cái lòai người như Thánh vịnh 135 đã ca tụng tình thương của Chúa như sau: “Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương“. Dụ ngôn hôm nay cho thấy thái độ của ba nhân vật chính trong dụ ngôn để từ đó chúng ta biết mình phải làm gì :
1) Thái độ sám hối quyết tâm trở về của đứa con thứ tội lỗi (15,12-19) : Tội của đứa con thứ là tội bất hiếu khi đòi cha chia gia tài cho mình ngay khi cha còn sống. Sau đó anh ta đã bỏ nhà đi hoang và ăn chơi phóng đãng tiêu tán hết số tiền của cha. Đến khi anh lâm cảnh đói rách thì anh phải đi làm thuê làm mướn và bị người chủ dân ngoại khinh dể và đối xử tệ hơn một con heo. Chính sự cùng khổ đã khiến anh hồi tâm suy nghĩ và giúp anh quyết tâm đứng dậy quay về xin lỗi cha, với ước mong được cha đối xử như một người làm công thôi. Câu“Đứng lên, đi về cùng cha” cho thấy thái độ dứt khoát với quá khứ tội lỗi để về với người cha thân yêu.
2) Thái độ bao dung của người cha nhân hậu (15,20-24): Về phần người cha, sau khi đứa con thứ ra đi, ông buồn sầu nhớ thương, ngày ngày ngóng nhìn ra cổng chờ mong nó mau quay về nhà. Khi thấy bóng con từ xa, ông đã nhận ra nó và “chạnh lòng thương”: Ông không trách mắng hay trừng phạt con, mà chạy tới ôm chầm lấy cổ nó hôn lấy hôn để, rồi mau mắn trả lại địa vị làm con cho nó khi truyền gia nhân thay áo mới cho nó, đeo nhẫn vào ngón tay, xỏ giầy vào chân và mở tiệc mời bạn bè hàng xóm đến ăn mừng đứa con, với lý do: “Tưởng nó đã chết mà nay sống lại, tưởng đã mất mà nay lại tìm thấy”. Đây là sự đón tiếp nồng hậu ngoài sự tưởng tượng của đứa con hoang đàng, nói lên tình thương bao dung của cha.
3) Thái độ hẹp hòi của người con trưởng (15,25-32): Người anh trưởng từ ngoài đồng trở về gần đến nhà, nghe tiếng đàn ca, hỏi ra mới biết thằng em đi hoang mới trở về và đã được cha không những tha tội mà còn mở tiệc ăn mừng. Anh ta tỏ thái độ giận cha bằng cách không thèm đi vào nhà. Khi gặp được cha, anh đã chỉ trích lối hành xử của cha mà anh cho là bất công không thể chấp nhận được (15,29). Thái độ giận dỗi của anh khiến người cha phải xuống nước năn nỉ và cố gắng giải thích cho anh hiểu và cảm thông với mình: ”Tất cả những gì của cha đều là của con “ (Lc 13,31). Dụ ngôn kết thúc bằng lời của người cha khuyên con hãy có lòng bao dung với đứa em lầm lỗi: “Vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy”.
Chính lòng nhân hậu, yêu thương và không chấp nhất tội lỗi của đứa con đi hoang đã khiến người cha quên đi mọi lỗi lầm của đứa con hoang đàng đã gây ra, mà chỉ còn thấy trước mặt là đứa con yêu mà ông hằng mong nó mau trở về, đứa con ông tưởng đã mất mà nay lại tìm thấy. Ông vui sướng mở tiệc liên hoan, cho đàn ca múa hát, để ăn mừng nó trở về.
Còn thái độ của người anh cả khi đi làm về, nghe tiếng đàn hát ăn mừng đứa em mới trở về được cha mừng rỡ hân hoan, nên chẳng những anh không vui mà còn tỏ thái độ hờn trách khiến cha phải ra phân trần, năn nỉ và mời anh ta vào trong nhà với ông để gặp lại đứa em "đã chết nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy". Ông khẳng định với anh con cả rằng: "Tất cả những gì của cha đều là của con" (Lc 13,31).
Qua câu chuyện về tình thương tha thứ của người cha, ta thấy tình thương của Thiên Chúa Cha thật quảng đại, “chậm bất bình và hết sức khoan dung”, một Thiên Chúa không thích dùng hình phạt nhưng luôn sẵn sàng tha thứ. Tình thương bao la của Thiên Chúa đã được bài Thánh thi diễn tả như sau: "Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương" (Tv 135).

4) Làm gì để đáp lại Lòng Chúa Thương Xót ? :
+ Dụ ngôn người cha bao dung và đứa con hoang đàng nói lên lòng nhân từ hay thương xót của Thiên Chúa đối với các tội nhân. Chúa đã yêu thương chúng ta với tình yêu bao la như một người cha nhân hậu, sẵn sàng tha thứ tội lỗi chúng ta là con cái của Ngài : Ngài tha thứ không mệt mỏi, tha vô điều kiện và tha luôn mãi !
+ Chúa phán: “Tội các ngươi dầu có đỏ như son, cũng hóa nên trắng như tuyết. có thắm tựa vải điều, cũng nên trắng như bông” (Is 1,18): Dù tội của chúng ta có nặng tới đâu, thì tình thương của Chúa còn sâu nặng hơn gấp bội. Dù tội lỗi chúng ta có nhiều tới mức nào, thì Chúa cũng vẫn hằng chờ đợi để tha thứ, miễn là chúng ta thực lòng sám hối và quyết tâm trở về.
+ Thiên Chúa tôn trọng sự tự do ra đi và chờ đợi sự tự do trở về của chúng ta: Trong những ngày Mùa Chay này mỗi người chúng ta sẽ làm gì cụ thể để đáp lại tình thương bao dung của Thiên Chúa ? Cần cấp thời sám hối ăn năn quay về làm hòa với Chúa và lãnh ơn giao hòa trong phép Giải tội; Hãy đáp lại lòng thương xót của Thiên Chúa bằng việc thương xót những người đau khổ và quảng đại tha thứ lỗi lầm cho tha nhân; Hãy quan tâm giúp người thân trong gia đình và bạn bè đang lạc xa Chúa để họ mau hồi tâm trở về để nhận được ơn tha thứ của Chúa.

5. LỜI CẦU:
- LẠY THIÊN CHÚA LÀ CHA CỦA CON. Con xin cảm tạ Cha đầy lòng từ bi nhân ái. Con cảm tạ Cha vì Cha đã sai Con Một Cha là Chúa Giê-su đến thế gian để dạy loài người chúng con nhận biết Cha là Thiên Chúa giàu lòng từ bi nhân hậu. Qua bài Tin mừng hôm nay, chúng con hiểu được Cha đang mời gọi các tội nhân trong đó có chúng con mau quay về làm hòa với Cha.
- LẠY CHA, thật đáng tiếc khi có những người cha trong gia đình và trong cộng đoàn... chưa thể hiện được tình thương bao dung của Cha, nên đã trình bày về Cha như một “ông chủ” chỉ muốn trừng phạt để làm cho họ khiếp sợ phải hồi tâm sám hối. Có những người cha trong gia đình, hay trong cộng đoàn đã dùng bạo lực đe nẹt con cái khi chúng phạm tội... Xin Cha cho các người cha biết yêu thương con cái giống như Cha. Nhờ đó các tội nhân sẽ cảm nghiệm được tình thương bao dung của cha và sớm quay về giao hòa với Cha trong Mùa Chay này.
X) HIỆP CÙNG MẸ MARIA.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.
LM ĐAN VINH – HHTM

 

MC4-C206: Sự sống mới của chúng ta ló rạng sau mùa Chay

CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY
Lắng nghe sứ điệp Lời Chúa  (Gs 5:9a, 10-12;  2 Cr 5:17-21;  Lc 15:1-3,11-32)
 

Thấm thoắt chúng ta đã đi quá nửa quãng đường mùa Chay và hướng về mầu nhiệm Phục Sinh MC4-C206

Thấm thoắt chúng ta đã đi quá nửa quãng đường mùa Chay và hướng về mầu nhiệm Phục Sinh.  Phụng vụ Lời Chúa của những Chúa Nhật sau cùng này đưa chúng ta dần tới chiêm ngưỡng một khởi đầu mới do sự phục sinh của Chúa Ki-tô đem lại cho ta.  Sự sống mới ấy được diễn tả qua những bài đọc hôm nay.  Bắt đầu là câu chuyện về Đất Hứa của dân Ít-ra-en, khi họ khởi sự đời sống mới tại Ca-na-an, không còn ăn man-na nữa, nhưng dùng những thổ sản trong xứ.  Qua bài đọc 2, thánh Phao-lô trình bày cái nhìn thần học về đời sống mới của Ki-tô hữu:  Thiên Chúa đã cho chúng ta được hòa giải với Người, nhờ Đức Ki-tô.  Thứ ba, với câu chuyện dụ ngôn quen thuộc nhưng đầy cảm động về người cha nhân hậu đón nhận đứa con hoang đàng trở về, mỗi người chúng ta đều được mời gọi lãnh nhận sự hòa giải để sống lại mối tương quan với Chúa và anh chị em.
          Trước hết chúng ta hãy xem cuộc sống mới của dân Ít-ra-en khi họ vào đất Ca-na-an sau bốn mươi năm lang thang trong sa mạc.  “Sau khi tôi trung Đức Chúa là ông Mô-sê qua đời, Đức Chúa phán với con ông Nun là ông Giô-suê, phụ tá của ông Mô-sê: ‘Mô-sê, tôi trung của Ta, đã chết. Vậy bây giờ, ngươi hãy trỗi dậy! Và cùng với tất cả dân này, qua sông Gio-đan, mà vào đất Ta ban cho chúng, tức là con cái Ít-ra-en’” (Gs 1:1-2).  Đó là thời gian khởi đầu cuộc sống mới của dân Chúa.  Vậy có gì giúp chúng ta nhận ra đây là cuộc sống mới?  Suốt thời gian trên đường về Đất Hứa, dân Chúa đã sống nhờ sự hỗ trợ trực tiếp của bàn tay Thiên Chúa.  Họ ăn man-na bởi trời, uống nước vọt ra từ tảng đá, được Thiên Chúa giúp thắng các dân tộc họ đi qua, và đức tin vào Thiên Chúa của họ mỗi ngày được củng cố thêm.  Nếu muốn tìm một hình ảnh để so sánh, có lẽ chúng ta nên mượn lại hình ảnh thánh Phao-lô đã dùng để mô tả đời sống đức tin của các anh em tân tòng:  khi còn non yếu, họ uống sữa đức tin;  khi đã trưởng thành, họ ăn đồ đặc của đức tin (1 Cr 3:2;  Dt 5:12-13).  Cũng vậy, đời sống vật chất của Ít-ra-en thay đổi từng ngày:  từ thời gian hôm sau lễ Vượt Qua đến hôm sau nữa và cuối cùng là năm ấy, từ ăn bánh không men đến ăn thổ sản trong xứ và sau cùng là ăn hoa màu của đất Ca-na-an.  Hình ảnh về sự thay đổi nếp sống vật chất biểu tượng cho sự thay đổi đời sống đức tin của họ vào Thiên Chúa.
          Tiếp đến, theo suy tư thần học của thánh Phao-lô, sự thay đổi từ cái cũ sang cái mới nơi Ki-tô hữu chúng ta chính là trong Đức Ki-tô, Thiên Chúa đã cho thế gian được hòa giải với Người (2 Cr 5:18).  Thánh Phao-lô nêu lên thời điểm phân chia cũ và mới.  Ngài viết:  “Phàm ai ở trong Đức Ki-tô đều là thọ tạo mới.  Cái cũ đã qua, và cái mới đã có đây rồi”.  Đúng vậy, khi chúng ta ở trong Đức Ki-tô có nghĩa là chúng ta ở trong công cuộc cứu độ của Người thì thân phận của ta được biến đổi, từ thọ tạo cũ nô lệ cho tội lỗi trở thành thụ tạo mới làm con cái Thiên Chúa.  Tuy nhiên thánh tông đồ không muốn nói rằng sự thay đổi ấy sẽ giữ nguyên mãi, nhưng là sự thay đổi khởi đầu cho một tiến trình phải tiếp tục trở nên giống Chúa Ki-tô cho đến khi ta thở hơi cuối đời!  Vì thế, ngài không ngại năn nỉ chúng ta:  “”Vậy nhân danh Đức Ki-tô, chúng tôi nài xin anh em hãy làm hòa với Thiên Chúa”.  Tóm lại, cuộc hòa giải với Thiên Chúa tuy đã được Chúa Ki-tô khởi xướng, nhưng bổn phận của ta là vẫn phải tiếp tục sống tinh thần hòa giải ấy, nên mỗi khi tội lỗi biến ta thành kẻ thù của Thiên Chúa thì ta phải mau mắn đến với bí tích Giải tội để được hòa giải với Chúa và anh chị em.
          Sự sống mới được diễn tả sống động hơn cả, đó là trong câu chuyện dụ ngôn đứa con hoang đàng, hoặc đúng hơn, là dụ ngôn người cha đầy lòng thương xót.  Trong câu chuyện, chúng ta gặp ba nhân vật chính:  người cha, anh con cả và thằng con thứ.  Người cha thì chẳng có gì cần thay đổi vì bản chất nhân hậu và giàu lòng thương xót của ông.  Anh con cả thì có thể thay đổi thái độ đối với cha và em của anh nếu anh thực lòng muốn thay đổi não trạng.  Nhưng thằng con thứ thì thay đổi rõ ràng không thể chối cãi.  Anh ta đã thay đổi từ thân phận đứa con được chiều đãi trong gia đình thành đứa con hoang đàng phung phí hết tài sản, từ chăn ấm nệm êm thành một đứa chăn heo “ao ước lấy đậu muồng heo ăn mà nhét cho đầy bụng, nhưng chẳng ai cho”.  Vậy mà những đau khổ thể xác và việc hồi tâm sám hối đã giúp anh “đứng lên, đi về cùng cha và thưa với người:  ‘Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đang gọi là con cha nữa’”!  Thế là anh được thay đổi hoàn toàn:  được phục hồi phận làm con (mặc áo đẹp, đeo nhẫn, xỏ dép) và được sống hạnh phúc trong tình gia đình (mở tiệc ăn mừng).  Từ thân phận tội lỗi, xa lạ với gia đình, anh đã tìm lại được những gì đã mất!

Sống sứ điệp Lời Chúa
          Bài học sứ điệp Lời Chúa hôm nay quả thực rõ ràng.  Dĩ nhiên trong mỗi người chúng ta đều có hình ảnh của cả hai cậu con, có khi chúng ta là anh con cả, có khi là thằng con thứ, nhưng nói chung cả hai đều phải sám hối và phải thay đổi não trạng (metanoia).  Muốn trở nên giống Chúa Ki-tô, chúng ta luôn luôn phải cởi bỏ con người cũ (tội lỗi) để mặc lấy con người mới thánh thiện.  Mùa Chay là thời gian để cái kén thiêng liêng của ta âm thầm thay đổi nhờ sám hối và ân sủng Chúa, để mai mốt cái kén xấu xí sẽ biến thành con bướm đầy sắc màu rực rỡ của đời sống mới trong Thần Khí Chúa Ki-tô vậy!
         Lm. Đa-minh Trần đình Nhi

 

MC4-C207: NGƯỜI CHA NHÂN TỪ

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT
CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY, năm C
Lc 15, 1-3.11-32
 

Năm thánh Lòng Thương Xót Chúa càng làm chúng ta cảm nghiệm sâu xa về dụ ngôn người Cha MC4-C207

Năm thánh Lòng Thương Xót Chúa càng làm chúng ta cảm nghiệm sâu xa về dụ ngôn người Cha nhân từ. Người Cha không đi tìm con như đi tìm con chiên lạc.Nhưng lòng người Cha lúc nào cũng ngong ngóng người con út trở về. Tôn trọng sự tự do của con, người Cha vẫn luôn mong con mình trở về với mình. Dụ ngôn này gợi cho chúng ta cái thực tế của cuộc đời.Mất con, xa con, chưa thấy con, người Cha người Mẹ nào lại không nôn nóng trông chờ. Ở đây, trong dụ ngôn này, người con chưa kịp thấy Cha thì Cha đã thấy con. Sự độc đáo, kỳ diệu nằm ở chỗ này. Câu chuyện dụ ngôn hôm nay minh họa cho chúng ta về bí tích hòa giải. Chúa mời chúng ta sám hối, trở về…
Đọc Tin mừng của thánh Luca, chúng ta nhận ra một cách rõ ràng lòng nhân từ của Chúa: con chiên lạc, đồng bạc bị mất. Không quản ngại ngùng, không sợ khó khăn, nguy hiểm, người chăn chiên đã lặn lội trèo đèo, lội suối đi tìm con chiên lạc; người đàn bà, đã thắp đèn quét dọn cho đến khi tìm được đồng bạc đã mất. Thiên Chúa tình thương cũng đối xử với những tội nhân như thế. Trong đoạn Tin Mừng hôm nay, hạnh phúc của người Cha lớn lao thế nào khi người con út trở về. Người Cha mở tiệc linh đình để ăn mừng người con hư, người con hoang đàng trở về khiến chúng ta hiểu rõ lòng thương xót của Chúa và hiểu ý nghĩa đặc biệt của bí tích hòa giải. Người Cha tha thứ cho đứa con hư đốn với tất cả tình thương, không tính toán, không so đo. Bữa tiệc linh đình : hạ bò tơ béo và tặng ban cho đứa con út những đồ quí giá càng làm nổi bật tấm lòng cao thượng và tình thương vô biên của người Cha. Quyết định quay trở về, quyết tâm hối cải, thay đổi cuộc sống và xin Cha tha thứ những lỗi lầm của mình là mẫu mực cho chúng ta trở lại với Chúa trong bí tích hòa giải.Thực tế, trong những thế kỷ đầu, lễ tro là dịp để tội nhân xưng thú tội lỗi với Chúa qua Đức Giám Mục. Hối nhân sẽ nhận tro trên đầu, được phát áo nhặm, tội nhân sẽ được ghi vào danh sách của các hối nhân. Đức Giám Mục sẽ ra việc đền tội và tội nhân sẽ làm việc đền tội trong suốt Mùa Chay. Ngày nay, hình thức ấy không còn nữa, bí tích hòa giải sẽ giúp hối nhân quay trở về với Chúa khi họ thật lòng ăn năn sám hối và quyết tâm đổi mới, thay đổi lối sống, từ bỏ tội lỗi, tính hư, nết xấu để làm hòa với Chúa và với anh chị em của mình.
Việc người con út trở về là niềm vui thực sự. Nhưng người anh cả mới là đích nhắm của mọi người, bởi vì xem ra người con cả là người con mẫu mực, anh không ăn chơi đàng điếm, không phung phí của cải, lúc nào cũng chăm chỉ làm việc. Tuy nhiên, biến cố người em út trở về mới làm lộ bộ mặt thật của anh bởi vì anh ở nhà nhưng lòng anh lại xa Cha. Anh không thể hiểu được lòng tốt : nhân từ, chạnh thương và tha thứ của Cha. Anh cho rằng Cha nhu nhược, bất công đối với anh. Hạ con bê béo để ăn mừng em của anh đi hoang trở về. Còn anh không được Cha làm một con dê nhỏ để lai rai nhậu nhoẹt với chúng bạn. Nên, anh không thể vui với Cha và càng lại không vui với người em. Người anh đã dùng ngôn từ thật tệ “ thằng con của Cha đó …” ( Lc 15, 30 ). Một câu nói thật thiếu nhân bản, thiếu tình thương! Tại sao anh không gọi là em của con mà lại thằng con của Cha ! Thật mỉa mai, thật đau khổ. Anh không chịu vào nhà. Hóa ra, cả hai đều ở ngoài Cha, ở trong nhà mà lại như ở ngoài nhà vì cả hai anh em đều không ở trong con tim của Cha. Người em út không thấy hạnh phúc ở bên Cha, nên đã ra đi phương xa. Người con cả không cảm thấy hạnh phúc với Cha, nên không vào nhà vì thấy quyền lợi của mình bị xâm phạm. Mùa chay trong năm thánh Lòng Thương Xót của Chúa, giúp chúng ta hiểu rõ : cả hai, con cả, con út đều phải sám hối, trở về, vào nhà…Tuy nhiên, muốn trở về, muốn thay đổi, đòi hỏi mỗi người đều phải can đảm, khiêm nhường, hiền lành để ngoan ngoãn trở về với Cha. Sám hối là nhìn lên Chúa để thấy con người quá khiếm khuyết, cần thay đổi để càng ngày càng hoàn thiện hơn. Sám hối là nhìn vào đổi mắt hiền từ của Chúa để có thái độ như Phêrô là ăn năn, khóc lóc và thật lòng trở về với Chúa, thay đổi cuộc sống. Thiên Chúa giầu lòng thương xót, Ngài luôn kiên nhẫn chờ đợi con người, chờ đợi mỗi người quay trở về với Ngài…
Niềm vui vì người con hư đã trở về. Trên trời, Thiên Chúa vui mừng vì một tội nhân ăn năn hối cải. Người Cha là chính Thiên Chúa đã giơ đôi tay ôm chầm lấy đứa con hoang trở về. Thiên Chúa thật sung sướng khi chúng ta sống đúng thánh ý của Ngài. Thiên Chúa giầu lòng thương xót vì tình thương lớn lao, vô biên, tuyệt mỹ của Ngài. Năm thánh Lòng Thương Xót của Chúa là cơ hội tốt giúp chúng ta nhận ra tình thương vô biên của Chúa và quyết tâm trở về với Chúa, làm mới cuộc đời.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con mau mắn chỗi dậy mỗi lần sa ngã, xin cho chúng con xác tín sâu xa tình thương vô biên của Chúa để chúng con thật tâm quay trở về với Chúa như người con hoang đàng đã nghĩ lại, và quyết tâm thay đổi, quyết tâm trở về và xin được cha tha thứ. Amen.

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
1.Tại sao cả người con cả và con thứ đều phải quay trở về ?
2.Tại sao người con thứ lại đòi Cha chia gia tài cho mình ?
3.Tại sao người con cả lại gọi em của mình là thằng con của Cha ?
4.Thái độ của người con cả thế nào ? tại sao anh lại không chịu vào nhà ?
5.Mọi sự của Cha là của con nghĩa là sao ?

 

MC4-C208: Nhờ Sám Hối: Em Con Đã Chết Nay Lại Sống

CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY
Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Lu-ca 15:1-3, 11-32)
 

Không sám hối thì phải chết và chết đời đời.  Đó là sứ điệp chúng ta đã nghe từ bài Tin Mừng Chúa MC4-C208

Không sám hối thì phải chết và chết đời đời.  Đó là sứ điệp chúng ta đã nghe từ bài Tin Mừng Chúa Nhật tuần trước qua lời Chúa cảnh báo những người đưa tin về đám người Ga-li-lê bị Phi-la-tô giết chết cách dã man.  Ngược lại, bài Tin Mừng hôm nay quả thực là một tin vui khi Chúa kể dụ ngôn đứa con hoang đàng đã hối cải và trở về nhà cha mình để được sống một cuộc sống có phẩm giá.  Cũng như người cha trong dụ ngôn đã thương xót đứa con hư hỏng của ông, Thiên Chúa, Cha trên trời của chúng ta, cũng luôn tỏ lòng thương xót chúng ta là những kẻ tội lỗi, nên Người mở rộng vòng tay đón nhận chúng ta trở về.
          Lòng thương xót của người cha trong dụ ngôn quả là mạnh mẽ.  Nó có sức phục hồi những gì đã mất, hàn gắn những đổ vỡ và nhất là làm cho những gì “đã chết mà nay lại sống”.  Trước hết chúng ta thử nhìn vào cái chết mà người con hoang đàng đang cảm nghiệm trong những ngày sống xa cách cha hiền.  Khi còn ở nhà, anh ta chẳng khi nào phải đói khát, muốn ăn muốn uống là có người cơm bưng nước rót.  Nhưng bây giờ tiền bạc đã phung phí không còn một xu dính túi, bạn nhậu bạn chơi đều lánh xa, lại đang sống trong vùng xảy ra nạn đói khủng khiếp, nên anh ta “lâm cảnh túng thiếu”.  Những người bình thường khi lâm cơn túng thiếu còn biết xoay sở.  Còn anh này từ bé đã quen được chiều chuộng cung phụng và chỉ biết đòi hỏi, giờ đây sống trong sự thiếu thốn chắc chắn sẽ cảm thấy khổ sở hơn.  Với anh, sống cũng giống như đang chết dần chết mòn.  Nhưng rồi bản năng sinh tồn bắt anh phải sống và phải chấp nhận phương tiện hèn hạ nhất, đó là đi ở đợ và phải ra đồng chăn heo.  Muốn được sống như heo mà cũng không được, vì anh ta thèm thuồng được chút cám heo dằn bụng mà người ta cũng không cho.  Không có lấy một chút cám heo để sống lay lắt, không nhận được một chút thương hại từ người chủ bầy heo! Anh đã mất tất cả rồi, từ những thứ thừa thãi vật chất cho đến tình cảm tinh thần.  Quả thực anh đang chết toàn bộ con người mình.  Trong tình huống ấy, bản năng sinh tồn lại vùng lên, giúp anh ta hồi tâm nhớ lại cuộc sống ngày trước và can đảm quyết định trở về.  Và quyết định của anh chắc chắn sẽ được cha của anh đón nhận và hỗ trợ do lòng thương xót vô bờ bến của ông.  Vậy đoạn Tin Mừng cho chúng ta thấy nhờ sám hối, lòng thương xót của người cha sẽ biến đổi đứa con hoang đàng từ “đã chết” sang “nay lại sống” như thế nào.
          Anh ta lê bước về nhà với tấm thân tiều tụy, rách rưới, hôi hám.  Tuy anh ta còn ở đằng xa, nhưng cha anh đã thấy hết.  Lòng thương xót giúp cho cảm quan của ông bén nhậy thêm và mở con tim của ông ra lớn hơn.  “Chạnh lòng thương” là sức mạnh, là động lực để ông sẵn sàng làm cả những điều không nên hoặc không cần làm, thí dụ như “chạy ra, ôm cổ anh ta, và hôn lấy hôn để”.  Những hành vi này làm sống lại mối tương quan đã chết nơi anh ta kể từ ngày anh bỏ đi.  Tình cảm đã mất nay đang được phục hồi.  Anh đã biết mở miệng nói lời “Thưa Cha” để sống lại tình cảm của mình.  Ôi, tiếng “cha” đã lâu rồi người cha không còn được nghe nay nó  ngọt ngào làm sao!  Rồi anh phát biểu lòng sám hối:  “Con thật đắc tội với trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa!”  Cứ coi như anh ta chưa thật lòng trăm phần trăm, nhưng thế cũng đã đủ để lòng thương xót bảo rằng không phải vậy, vì trong trái tim to lớn của người cha, lúc nào anh cũng là con.  Thế là sự sống lại đang bắt đầu, từ tiếng thưa “cha” tình cảm dẫn tới những gì nói lên chức phận làm con được hưởng, như áo mặc, nhẫn đeo, giầy dép… Cuối cùng là giết bê béo ăn mừng.  Người cha có lý do mạnh để ăn mừng:  “Vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy”.  Hoặc nói cách khác, ông phải ăn mừng vì con ông đã sám hối!

Sống sứ điệp Tin Mừng
          Trong bài đọc 2, thánh Phao-lô cho chúng ta một ý tưởng vô cùng sâu sắc để suy nghĩ và hành động.  Ngài nói:  “Phàm ai ở trong Đức Ki-tô, đều là thọ tạo mới.  Cái cũ đã qua và cái mới đã có đây rồi”.  Đúng vậy, chúng ta “ở trong Đức Ki-tô”, tức là chúng ta ở trong “lòng thương xót của Thiên Chúa”, thì chắc chắn sẽ được sống lại làm thọ tạo mới.  Nếu chúng ta tin vào lòng thương xót mà sám hối, Chúa sẽ xóa đi “cái cũ” đầy tội lỗi của chúng ta để đem lại cho chúng ta “cái mới” là chức phận làm con Chúa và bình an của Người.
             Lm. Đa-minh Trần đình Nhi
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây