Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 5 MC-C Bài 51-100 Đàn bà ngoại tình

Thứ năm - 04/04/2019 10:44
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 5 MC-C Bài 51-100 Đàn bà ngoại tình
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 5 MC-C Bài 51-100 Đàn bà ngoại tình

Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 5 MC-C Bài 51-100 Đàn bà ngoại tình
MC5-C51: NGƯỜI ĐÀN BÀ NGOẠI TÌNH (Ga 8,1-11) 2
MC5-C52: BIẾT  VÀ  YÊU  CHÚA.. 9
MC5-C53: ĐỐI ĐẦU - ĐỐI THOẠI 14
MC5-C54: ĐỪNG KẾT ÁN ANH EM... 16
MC5-C55: NÉM ĐÁ.. 18
MC5-C56: Làm chứng cho lòng từ bi vô biên - Achille Degeest 20
MC5-C57:  Tình thương cứu độ. 21
MC5-C58: Chú giải của Noel Quesson. 24
MC5-C59: Chú giải của Fiches Dominicales. 28
MC5-C60:  KHÔNG CẦN BIẾT EM LÀ AI 33
MC5-C61:  LÒNG KHOAN DUNG CỦA THIÊN CHÚA.. 36
MC5-C62:  PHIÊN TOÀ PHÚC THẨM : MỘT CHỮ “NHẪN”. 40
MC5-C63: LUẬT SƯ TÀI GIỎI NHẤT.. 44
MC5-C64: KHIẾT TỊNH VÀ LÒNG NHÂN ÁI 47
MC5-C65: CHÚA NHẬT V MÙA CHAY.. 49
MC5-C66: THA THỨ.. 50
MC5-C67: CÁI NHÌN YÊU THƯƠNG.. 52
MC5-C68: MỞ ĐƯỜNG CHO CUỘC ĐỜI MỚI Ga 8, 1-11. 55
MC5-C69: “TÔI KHÔNG KẾT ÁN CHỊ”. 56
MC5-C70:  TÌNH YÊU THA THỨ.. 59
MC5-C71:  HÃY BỎ HÒN ĐÁ XUỐNG.. 62
MC5-C72: Lòng thương xót của Chúa. 66
MC5-C73: THIÊN CHÚA BÊNH VỰC NGƯỜI YẾU ĐUỐI 67
MC5-C74: Dốc quyết từ bỏ tội lỗi, canh tân đời sống. 68
MC5-C75: Hãy về và đừng phạm tội nữa – R. Veritas. 70
MC5-C76:  Bắt đầu lại cuộc sống mới trong ân sủng. 72
MC5-C77:   Nhìn vào nội tâm để nhận biết tội mình. 74
MC5-C78: Tha thứ trong thinh lặng. 76
MC5-C79: GIỚI LUẬT YÊU THƯƠNG.. 77
MC5-C80: CHÚA NHẬT V MÙA CHAY.. 79
MC5-C81: CÁI NHÌN VÀ CÁCH NHÌN.. 81
MC5-C82: ĐỪNG PHẠM TỘI NỮA.. 83
MC5-C83: LÀM LẠI CUỘC ÐỜI 85
MC5-C84: TRỞ VỀ VỚI CHÍNH MÌNH.. 86
MC5-C85: ĐỪNG KẾT TỘI 87
MC5-C86: ĐỨC GIÊSU VÀ NGƯỜI PHỤ NỮ NGOẠI TÌNH.. 89
MC5-C87: THA THỨ.. 96
MC5-C88: TÌNH THƯƠNG THA THỨ VÀ BIẾN ĐỔI 98
MC5-C89: THIÊN CHÚA KHÔNG KẾT ÁN NHƯNG THỨ THA.. 102
MC5-C90: SÁNG TINH SƯƠNG.. 106
MC5-C91: SỰ CHUNG THỦY.. 107
MC5-C92: CHÚA XÓT THƯƠNG.. 109
MC5-C93: NÉM HAY THA?. 112
MC5-C94: NGƯỜI PHỤ NỮ PHẠM TỘI NGOẠI TÌNH.. 115
MC5-C95: GIẢI THOÁT.. 117
MC5-C96: "TA KHÔNG KẾT TỘI CHỊ ...". 119
MC5-C97: TÌNH THƯƠNG và THA THỨ.. 121
MC5-C98: CON VỀ, VÀ ĐỪNG….. 123
MC5-C99: Thiên Chúa khoan dung. 125
MC5-C100:  Làm mới con người – Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm.. 126

 

MC5-C51: NGƯỜI ĐÀN BÀ NGOẠI TÌNH (Ga 8,1-11)

Đoạn phúc âm này đặt ra nhiều vấn đề khó khăn, không những vì sự phong phú của nội dung: MC5-C51

1. Đoạn phúc âm này đặt ra nhiều vấn đề khó khăn, không những vì sự phong phú của nội dung - nó một trật gợi lên khuôn mặt và sứ vụ của Chúa Giêsu - mà nhất là vì những nét đặc thù nó chất chứa về phương diện phê bình lịch sử. Ở đây chỉ cần nêu lên những kết quả chính yếu mà các nhà phê bình đã thu đạt được.
a. Hầu như chắc đoạn Ga,53-8,11 không thuộc về phúc âm thứ tư trong lần biên soạn đầu tiên: nó không có trong các bản thủ sao TƯ chính bằng tiếng Hy lạp, trong bản dịch syriaque, bản dịch gheorgienne và trong các thủ bản cổ xưa bằng tiếng bohairi và ârmêni. Nó cũng không nằm trong chỉ thảo thư Bodmer II (p.66) viết năm 200. Bất cứ đâu (c.8,12) đến tiếp liền câu 7,52. Một số tác giả như Tertullien, Kyprien, Tatien, Clément, Origène, Chrysostome, Theophylacte cũng chả biết đên bản văn này...Ngoài những dấu chứng văn bản tiêu cực như vừa nói, còn nhiều dấu chứng khác thuộc văn thể: đoạn này có ngữ vựng và bút pháp của phúc âm nhất lãm. Nó tháp nhập một cách vụng về vào văn mạch chung của phúc âm thứ tư cũng như vào văn mạch trực tiếp mà nó đang tách rời 8,12 khỏi 7,52.
b. Đoạn văn này đã được thêm vào khá nhanh, chắc chắn với mục đích soi sáng lời xác quyết của Ga 8,15. Thật vậy, người ta tìm thấy nó trong một vài thủ sao hy ngữ bằng chữ hoa (onciaux), nhất là trong Codex de Bèze, trong những thủ sao la ngữ cổ xưa, đó là chưa kể bản Vulgata và các bản sao liên hệ. Thánh Jérôme tự khoe đã đọc đoạn này trong nhiều thủ bản Latin và Hy lạp. Thánh Augustine cũng xác quyết như vậy (Tractatus in Joannem 33,4-8, Pl 35,1648-1651).
Người ta đã tìm ra nhiều lý do khác nhau để giải thích sự hiện diện của đoạn văn này trong phúc âm Gioan. Guiding (The Fourth Gospel and jewish Worship, Oxford, 1960, tr. 110-112) cho rằng nó có liên quan với chu kỳ các bài đọc phụng vụ. Đa số coi đó như là một lời chú giải để cắt nghĩa Ga 8,15 ("Phần Ta, Ta không xét xử ai"). Nhiều người khác (chẳng hạn Temple) đã cho rằng việc đưa bản văn vào chỗ này thật là tài tình, vì vừa giải thích được lời nói của Chúa Giêsu (8,15), vừa đặt đúng trong một văn mạch thần học hay ho hạt ngọc thất lạc này của kho tàng phúc âm. Trong phần chú giải sau đây, sẽ cho thấy rõ ràng hơn những trường hợp của trình thuật này với bản văn của Gioan (sự tự phê của các nguyên cáo, ý nghĩa của sứ vụ Chúa Giêsu), những trường hợp khả dĩ dẫn nhập vào đề tài “phán xét” mà chương 8 sẽ khai triển.
c. Bản văn này chứa đựng một truyền thống phúc âm về cuộc đời Chúa Giêsu có lẽ do Lc biên soạn. Papias (cuối thế kỷ thứ nhất, đầu thế kỷ thứ hai) để xác nhận tính cách cổ xưa của truyền thống phúc âm này. Chính Eusèbe (Hist. Eccl,III,39,16-17) đã lưu lại cho chúng ta chứng tá đầu tiên: (Papias) trình bày một câu chuyện khác về việc người đàn bà bị cáo nhiều tội trước mặt Chúa, có trong phúc âm theo người Hy bá. Một kỷ niệm chính xác hơn đã được hiến pháp các tông đồ và sách Didascalies Syriaques (cả hai thuộc thế kỷ thứ ba) ghi lại như sau: “Các trưởng lão đem đến cho Ngài một người đàn bà tội lỗi và bỏ đi, để mặc Ngài phán đoán bà ta. Bấy giờ Chúa, Đấng thấu hiểu mọi tâm hồn, hỏi bà phải chăng các ký lục đã kết án bà. Bà trả lời: không. Chúa nói với bà: “Chị hãy đi, ta cũng không kết án chị”.
Một đàng, nội dung của trình thuật tương hợp hoàn toàn với tình thế của Chúa Giêsu trong cuộc đời công khai của Ngài: nhiều đoạn khác của phúc âm đã xác nhận cách hành động của những kẻ tố cáo, người ta cũng thấy trong trình thuật thái độ thường có của Chúa Giêsu đối với luật Môisen, và ơn tha thứ Ngài ban cho kẻ tội lỗi. Như vậy, không có quyền nghi ngờ lịch sử tính của trình thuật này.
Đàng khác, ngữ vựng của đoạn này cũng như khuynh hướng thần học làm ta nghĩ đoạn này là do Lc viết (Barrett, the Gospel according to St John, Londres, 1962,p. 492). Vì thế, có nhiều thủ bản đặt đoản văn nằm sau Lc 21,38 và nhiều tác giả cho rằng đó là chỗ nguyên thủy của nó.
d. Đoạn này có chính lục tính và đã được linh ứng: theo giáo thuyết công giáo, tính cách chính lục của một bản văn không tùy thuộc tác giả nhưng tùy thuộc việc giáo hội chấp nhận nó như đoạn văn được linh ứng. Tính cách chính lục và linh ứng của đoạn văn này được đảm bảo nhờ sự hiện diện của nó trong bản Vulgata, như công đồng Tridentinô đã dạy (Ds 1504). Đối với người công giáo, không phải là người ta phủ nhận Gioan là tác giả đoản văn này, mà đoản văn không còn được xem như là một đoản văn đã được linh ứng.
Giáo hội Đông phương và phần lớn các giáo hội cải cách cũng xác nhận đoạn văn này là thành phần của Kinh thánh. Cuối cùng cần phải lưu ý điểm này là: nếu có nhiều tác giả phủ nhận tính cách linh ứng của đoạn này vì nhiều lý do khác nhau, như do quan niệm linh ứng của họ, họ vẫn không nghi ngờ lịch sử tính của nó, nghĩa là tính cách xác thực của sự kiện cuộc đời Chúa Giêsu mà nó ghi lại.
e. Lý do khá chắc chắn ể xác quyết bản văn này không thuộc về các phúc âm ngay từ đầu: có rất nhiều lý do, lý do mạnh nhất là khó dung hòa sự tha thứ quá bao dung mà Chúa Giêsu dành cho người phụ nữ này với việc giáo hội sơ khai ra việc đền tội nghiêm khắc cho những ai phạm tội ngoại tình.
Để thay phần chú giải tổng quát, trước tiên chúng ta hãy nói vài lời về ý nghĩa việc can thiệp của ký lục và biệt phái. Chúa Giêsu đang êm thắm giảng dạy cho dân chúng, thình lình kéo tới một nhóm ký lục và biệt phái (đây là lối nói của phúc âm nhất lãm, còn Gioan thích gọi: “trưởng tế và biệt phái:, x.7.32.45; 11,47.57; 18,3; ngoài đoạn này ra Gioan không bao giờ nói đến ký lục); họ tràn vào giữa đám cử tọa và lôi đến trước mặt Ngài một người đàn bà bất hạnh bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình (c.4). “Bị bắt đứng giữa đám” (c.36), nghĩ là giữa Chúa Giêsu và đám đông, người đàn bà này run bắn lên vì số phận đang chờ. Bà là hiện thân cho câu hỏi luật pháp mà kẻ thù sẽ đặt ra cho Chúa Giêsu. Nhưng trước khi đặt ra, họ đã dựa trên lề luật để kết tội bà rồi (c.5a). Như vậy tấn kịch sẽ xoay quanh sự chọn lựa thi hành hoặc Luật Môisen hoặc lòng nhân từ.
Các lý lục và biệt phái dựa trên hai đoạn văn của lề luật: Lv 20,10 ra lệnh giết chết người đàn ông và người đàn bà ngoại tình và Đnl 22,22-24 dạy ném đá người đàn bà ngoại tình với tòng phạm. Sự nghiêm khắc của luật đó đi ngược lại với lòng nhân từ mà Chúa Giêsu rao giảng. Đây là cơ hội tốt để bắt bí Ngài, các vị bảo vệ lề luật nghĩ thế. Nếu không theo Lề luật, Ngài sẽ bị tố cáo phạm pháp; nếu theo lề luật, danh tiếng và giáo thuyết của Ngài về lòng nhân từ sẽ bị sụp đổ.
Câu “vậy thầy dạy sao” (c.5b) vừa kín đáo khiêu khích Chúa Giêsu chống lại luật Môisen, vừa công nhận giáo lý về lòng nhân từ của Ngài. Là người dạy ơn tha thứ của TC, là người đến để kiếm tìm kẻ tội lỗi (c. Lc 15), thày dạy sao về trường hợp đây ?
Thâm ý đã được tác giả nói ngay cho chúng ta: “Họ nói thế với chủ ý làm cho Ngài mắc bẫy, để làm sao có cớ mà cáo tội Ngài” (c. 6a). Trong các câu hỏi đặt ra cho Ngài suốt cuộc đời công khai, câu hỏi này xem ra có tính cách định mệnh nhất. Thật vậy, đây là vấn đề sống chết, liên hệ đến phương diện độc đáo nhất của lối cư xử của Ngài: lòng nhân từ, Ngài không thể tránh né: hoặc là luật của Môisen hay lòng nhân từ của Ngài sẽ thắng (khó mà biết được, như nhiều người nghĩ, những nguyên cáo có ý muốn thúc đẩy Chúa Giêsu chống lại quyền hành La mã hay không. Thời ấy, tất cả đều tùy thuộc vào quyền của hội đồng công tọa. người La mã đã bỏ luật “Jus gladii” rồi chăng)
3. “Chúa Giêsu cúi xuống, bắt đầu lấy tay viết trên đất” (c.6b), Ngài viết gì ? Nhiều tác giả cho rằng hỏi vậy là vô ích. Khi làm như thế (c.6b.8), Ngài chỉ muốm từ chối xét đoán. Viết trên đất không có gì khác hơn là tránh né trả lời (xem mối liên lạc với Ga 8,15: “Phần Ta, Ta không xét xử ai”. Mối tương quan này không thể chối cãi được trong văn mạch của Gioan). Nhưng nếu chấp nhận giả thiết là câu chuyện làm thành một khối độc lập, thì có hai vấn đề được đặt ra: cử chỉ của Chúa Giêsu có ý nghĩa nào ? Và Ngài đã viết những gì ?
Thánh Jérôme (Pl 23,553) bênh vực ý kiến cho rằng viết tội lỗi của những người tố cáo. Ông dựa vào Gr 17,13: “Lạy Giavê... tất cả những ai tách lìa Ngài, sẽ khỏi bứng ra khỏi xứ này” (tiếng Hy bá: “Sẽ bị viết").
Derrett đưa giả thiết: người chồng và các chứng nhân đều có dã tâm. Nên ông tin đã đoán được điều Chúa Giêsu viết hai lần khi Ngài cúi xuống. Lần đầu tiên (c.6b): “Ngươi chớ toa rập với kẻ gian mà làm chứng dối” (Xac 23,1b). Lần thứ hai (c.8): “Hãy tránh xa lời gian dối” (Xac 23,7a). Vả lại, sách Đn cũng tham chiếu câu sau cùng này trong trường hợp Suwanna (Đn 13,53).
Những tác giả khác, như Manson, gợi lên trường hợp các bản án La mã đầu tiên cần phải được viết ra (x. bản án mà Philâtô viết trên thập giá Chúa Giêsu) để cho rằng lần đầu tiên Chúa Giêsu viết công thức Ngài sắp đọc (c.7), và lần thứ hai, lời tha tội cho những đàn bà (c.11).
Nhưng lời giải thích có lẽ đúng nhất là xem cử tọa Chúa Giêsu như là sự từ chối phán đoán. Power xác nhận ý kiến này bằng cách trích dẫn nhiều trường hợp lấy ra từ văn chương Ả Rập, theo đó thì cử chỉ đó có ý nói mình không bận tâm đến một công việc nào đó và từ chối không tham gia. Chúa Giêsu không có sứ vụ áp dụng lề luật. Dù có những nguyên tắc hành động khác, Ngài không đối nghịch chúng với lề luật. Nhưng vì kẻ thù của Ngài cứ một mực lên án người đàn bà, nên Ngài cảm thấy bắt buộc phải nói với họ một đôi lời.
4. Trong câu 7, người ta phải cảm phục sự khôn ngoan, vừa công bình vừa nhân ái, mà Chúa Giêsu dùng để trả lời cho những kẻ đối thoại với Ngài. Ở đây, chúng ta đang đứng trước một lời (logion) có lẽ duy nhất, giúp ta biết được Chúa Giêsu.
Khi đáp trả, Chúa Giêsu đã dùng lại các thành ngữ của lề luật. Thật vậy, lề luật ra lệnh cho chứng nhân phải ném đá kẻ có tội đầu tiên (Đnl 13,9-10; 17). Qua việc trực tiếp ám chỉ đến lề luật, Chúa Giêsu cho thấy rằng thực ra luật còn nhân từ và công bình hơn những người tố cáo đã tưởng. Hãy tìm kiếm tinh thần lề luật sau những dòng chữ khô khan.
Do đó, Chúa Giêsu không vi phạm luật ấy, Ngài kêu mời lương tâm của các nguyên cáo. Bây giờ Ngài đặt câu hỏi cho một tòa án vô hình mà quan tòa và nguyên cáo chỉ là một: tòa án của lương tâm mỗi người.
Derret, như chúng ta đã thấy, đã muốn chứng minh rằng người chồng và các nhân chứng đều có dã tâm và đã giăng bẫy để bắt quả tang người phụ nữ ngoại tình, trong lúc đáng ra họ phải can thiệp trước khi bà ta phạm tội. Thật ra không cần gỉa thiết như thế, để hiểu lời Chúa Giêsu. Các lý lục và biệt phái đã khá thiếu lòng nhân từ khi một mực tố cáo người đàn bà. Họ nuôi quá nhiều hận thù với Chúa Giêsu khi lợi dụng trường hợp này để thử thách Ngài. Nguyên việc ấy không đáng lên án sao ? Vì có ai tự xưng là người bảo vệ lề luật lại đi làm chuyện ấy.
Nên lưu ý rằng, khi đã nói ra câu trên, Chúa Giêsu không đặt vấn đề về sự được phép phán đoán, cũng như về xác thực tính của các chứng tá. Ngài không cho rằng tính cách hữu hiệu của một bản án tùy thuộc sự vô tội của quan tòa. Ngài chỉ nhấn mạnh là mỗi người phải coi chừng cái ý hướng đã thúc đẩy họ làm một hành động quyết liệt phương hại đến mạng sống của một người anh em.
Như thế, lời mời gọi lương tâm mỗi người kết tóm tất cả giáo thuyết của Chúa Giêsu (Mt 7,1-15), bêu xấu hạng chuyên kết án kẻ khác (x.mt 18,31tt) cùng bọn giả hình (x. Mt 6 và 23) là những kẻ chỉ thấy lỗi lầm của kẻ khác mà không đếm xỉa đến tội lỗi của chính họ.
Nhưng khi can thiệp, Chúa Giêsu đặc biệt muốn thi hành ý định cứu người đàn bà tội lỗi. Không phải đây là cơ hội để thực thi quyền tha tội sao ? Ngài bênh vực người đàn bà dựa trên luật Môisen, lề luật nại đến tinh thần trách nhiệm của chứng nhân. Vậy là giải quyết được vấn đề mà địch thủ của Chúa Giêsu đặt ra: thái độ mà Ngài phải giữ để phù hợp lời giảng dạy có nghịch lại với lề luật không ? Không, thay vì chống đối lề luật, Chúa Giêsu đã làm cho người ta khám phá trong lề luật những chiều kích mới. Lòng nhân từ của TC, được biểu lộ rõ ràng trong toàn CƯ, bây giờ được Ngài mạc khải cách minh nhiên và đầy đủ hơn.
Tình yêu tha nhân cho chính mình không ngăn cản ta nhìn thấy sự trầm trọng của lỗi họ nhưng đòi buộc ta đối xử với họ một cách công bằng đích thật trước tiên hệ tại ở việc ổn định lương tâm riêng tư của mỗi người.
5. Câu 9 là một thảm kịch cười ra nước mắt. Không phải là một nguyên cáo nào dám cho mình là vô tội và dần dần rút lui, bắt đầu là những người cao niên. Người ta có thể nhìn một kẻ tội lỗi một cách xác thực không ? Không ai có quyền kết án kẻ khác, bởi vì tất cả chúng ta đều ở dưới quyền sự tội (x. Rm 3,10). Và càng lớn tuổi, càng có tội nhiều.
Chỉ còn lại Chúa Giêsu và người tội lỗi (c.9b). Ít cảnh trong phúc âm chiếu soi một cách mãnh liệt sứ mạng của Chúa Giêsu và tạo nên niềm tin tưởng lớn lao vào con người Ngài như vậy. Ngạc nhiên vì lại được tụ do, người đàn bà bất hạnh không nghĩ đến việc trốn chạy. Lòng tốt của Chúa Giêsu không để tuột bà. Một tâm tình không tên đã giữ bà lại.
Cuối cùng, chấm dứt sự yên lặng lê thê và bi thảm kéo dài từ lúc Chúa Giêsu viết trên đất lần thứ hai (c.8) đến lúc các nguyên cáo từ từ rút lui (c.9a). Câu hỏi của Chúa Giêsu (c.10) nhằm gây lại niềm tin tưởng nơi người đàn bà “Bà kia, họ đâu rồi ?”. Đây là câu các quan tòa có lệ hỏi trước khi tuyên án. Không biết câu hỏi này chua cay hay hài hước. Có lẽ đó là một cách nói “như thế, họ bỏ cuộc kiện này rồi”. Không có nguyên cáo, không thể có phán xét, lên án và xử hình. Trong câu trả lời của người đàn bà “Thưa Ngài, không một ai”, ta nhận ra tâm tình biết ơn và phó thác. Nếu Chúa Giêsu đã tìm cách để không một ai kết án bà, thì làm sao bây giờ Ngài lại kết án được ? Sự hiện diện và lời nói của Ngài chỉ nhằm ban cho người đàn bà tội lỗi này ơn tha thứ và lòng nhân từ.
Kẻ thù của Ngài để Ngài tự do, giờ đây Chúa Giêsu có thể thực thi sứ mạng tha thứ. Những lời cuối cùng của Ngài (c.11b) là cao điểm của cả đoạn này. Là người duy nhất không có tội, Ngài cũng từ chối không kết án bà. Ngài không được sai đến “để xử án thế gian, song để nhờ Ngài mà thế gian được cứu” (Ga 3,17), “Phần Ta, Ta không xét xử ai (8,15).
Lời nói của Chúa Giêsu giải thoát vĩnh viễn người đàn bà ngoại tình. Không phải Ngài không cho là quan trọng cái tội đã làm cho bà gặp phải một tình thế xấu hổ; ngược lại, hơn ai hết, Ngài đã lường trước hậu quả của tội đó. Nếu Ngài đã hoàn toàn tha thứ cho bà thì Ngài cũng không kém đưa ra cho bà một lời khuyến cáo nghiêm khắc: “Đi đi và từ nay, đừng phạm tội nữa”. Việc gặp gỡ giữa bà và Chúa Giêsu từ nay phải đưa bà quyết định sống một đời hoàn thiện.
KẾT LUẬN
Không cần phải biện hộ cho câu chuyện lạc loài này đang nằm ngang xương trong phúc âm thứ tư và trong một vài thủ bản của Lc. Thật vậy, tính chất và vẻ đẹp của nó làm cho nó xứng đáng nằm ở đâu cũng được. Nó biểu lộ lòng nhân từ của Chúa Giêsu với nhiều tế nhị như các câu chuyện khác của Lc. Nó trình bày sự bình thản của Chúa Giêsu khi phán đoán, với tất cả vẻ trang trọng mà ta có thể chờ đợi ở Gioan. Người đàn bà tội lỗi và Chúa Giêsu, Đấng Thánh, đứng đối diện nhau được một vài phút: đó là một thảm kịch đặc biệt và đẹp đẽ mà thánh Augustin gợi lên bằng công thức Latin sau: “Relicti sunt duo, miseria et misericordia” (Tract. in Joann. 33,5). Thế quân bình kỳ diệu mà Chúa Giêsu giữ được giữa đức công bình không giảm thiểu tội lỗi và lòng nhân từ tha thứ cho những tôi nhân là một được những bài học lớn nhất mà phúc âm dạy cho ta.
Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG
1. Chúa Giêsu không đặt những phụ nữ này trước LỀ LUẬT, nhưng trước mặt vị Chúa đầy tình thường của bà. Là tình yêu, Ngài thoát khỏi những dục vọng bè phái, Ngài tha thứ cách nhưng không cho bà này. Vì việc tha thứ là cá nhân, nó đi từ con người của Ngài sang con người của chúng ta, vì tội lỗi của chúng ta là tội cá nhân.
2. Theo thánh Augustin, người hay chơi chữ, “lòng nhân hậu đứng trước sự khốn cùng, đó là toàn thể phúc âm” (La miséricord en face de la misère, c'est tout l'Evanggile). Chúa Giêsu nhìn đến sự khốn cùng của tội nhân để kiến tạo lại sự vô tội nguyên thủy, để tái thiết tạo vật theo hình ảnh và giống Ngài. Trên thập giá, Ngài ban ơn tha thứ cho tất cả và cùng với muôn triệu người được cứu thoát, Ngài tạo nên một dân mới. Ngày nay Ngài cư xử đối với nhân loại tội lỗi, và đối với mỗi người chúng ta, đúng như Ngài đã đối xử với người đàn bà kia.
3. Chúa Giêsu không thích những tội nhân hối cải như bà kia hơn những người trung thành với bà đó sao ? Phải chăng chúng ta cũng ghen tức, như đứa con cả nổi sùng khi người cha ân cần tiếp đón đứa con hoang đàng ? Chắc chắn, Chúa thích sự trung thành hơn. Hãy nhớ đến Đức Mẹ. nhưng Ngài tỏ ra âu yếm đối với tội nhân, vì họ cần hơn: người mẹ nào mà chẳng săn sóc đứa con tật nguyền hay đau ốm hơn các đứa con lành mạnh ?
4. Như Đấng Cứu thế, Chúa Giêsu đến tìm kiếm những ai đã hư mất, như vị lương y, Ngài săn sóc những ai đau yếu; như người giải phóng, Ngài cứu kẻ bị giam cầm. Nhưng tất cả chúng ta không phải là những người hư mất ốm đau và bị giam cầm đó ư ? Chúa đã nói: “Phúc cho những tâm hồn trong sạch”, Ngài cũng sẽ nói bằng thái độ của Ngài: “Phúc cho những tâm hồn được rửa sạch”.
5. Câu Chúa Giêsu trả lời cho bọn biệt phái thật rõ ràng. Khi nói cũng như khi làm, Ngài không chối bỏ lề luật, Ngài không bất tuân gì hết; hơn nữa Ngài ban cho lề luật ý nghĩa đích thật của nó. Những kẻ chống Ngài dùng lề luật như một phương tiện áp chế, một dụng cụ để thống trị kẻ khác, chia rẽ con người. Chúa Giêsu muốn lề luật là phương tiện để thực thi ý định tình yêu của TC. Người ta phụng sự luật, chứ không được lợi dụng luật. Hay đúng hơn, ngang qua lề luật, người ta phụng sự một Đấng.
6. Nếu chúng ta chống lại người khác với ước muốn sửa đổi họ, nhưng bằng cách thống trị họ với những vẻ đẹp bên ngoài, chúng ta trở nên những kẻ đồng lõa với họ trong sự dữ, trong khi chúng ta tưởng làm cho họ tốt hơn. Khi tự phong mình làm quan án của mọi người, của tâm hồn và lương tâm, chứ không phải là quan tòa xét xử hành vi (vì đôi khi do trách nhiệm, chúng ta phải làm quan tòa xét xử hành vi) khi đó chúng ta trở nên như những ký lục và biệt phái trong phúc âm. Thay vì sửa lại sự dữ, chúng ta làm tăng thêm. Ngược lại, cách căn bản nhất để giảm sự dữ trong thế giới, đó là trước tiên nhổ nó khỏi lương tâm riêng mình.
Chúa Giêsu đến cứu người tội lỗi. Hễ chúng ta cảm thấy liên đới với kẻ tội lỗi, cảm thấy mình là tội nhân, thì trong ngày chung thẩm, chúng ta mới có thể nghe nói câu đầy tình âu yếm: “Ta cũng thế, Ta không kết án con”.

 

MC5-C52: BIẾT  VÀ  YÊU  CHÚA

 [CHÚA NHẬT V MÙA CHAY NĂM C (25.03.2007)]
I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ
 

Trong sứ điệp Mùa Chay năm nay, Đức đương kim Giáo Hoàng yêu cầu các Ki-tô hữu dấn thân: MC5-C52

Trong sứ điệp Mùa Chay năm nay, Đức đương kim Giáo Hoàng yêu cầu các Ki-tô hữu dấn thân vào việc thông truyền Tình Yêu của Thiên Chúa cho thế giới:     
            “Lời đáp lại mà Chúa mong muốn ở chúng ta trước hết là đón nhận Tình Yêu của Chúa và để Chúa lôi kéo chúng ta lại với Người. Tuy nhien, đón nhận Tình Yêu của Chúa, vẫn không đủ. Cần phải sống phù hợp với Tình Yêu ấy và rồi dấn thân vào việc truyền thông Tình Yêu ấy cho những người khác”.
          Cũng trong tinh thần ấy, Mẹ Tê-rê-xa khẳng định:
             “Con người đói khát Thiên Chúa. Con người khao khát tình yêu. Chúng ta có ý thức về chuyện ấy không? Chúng ta có biết điều ấy không? Chúng ta có nhìn thấy điều ấy không? Rất nhiều khi chúng ta nhìn mà không thấy. Chúng ta cần mở mắt ra mà thấy điều ấy!”
Những lời vàng ngọc trên của Đức Thánh Cha Bê-nê-đi-tô XVI và của Mẹ Tê-rê-xa rất khớp với ý nghĩa của các bài Thánh Kinh Chúa Nhật V Mùa Chay này. Để thực hiện được những điều ấy, tiên vàn chúng ta phải biết Chúa. Biết Chúa không phải là biết lý thuyết hay biết bằng cái đầu mà là biết bằng cả con tim và cuộc sống. Biết Chúa để yêu Chúa (vô tri bất mộ), biết Chúa nhiều hơn để yêu Chúa nhiều hơn. Đó là tất cả ý nghĩa và mục đích của đời người Ki-tô hữu nói chung và của Mùa Chay Thánh nói riêng!
II. LẮNG NGHE & TÌM HIỂU LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH
2.1 Lắng nghe Lời Chúa trong ba bài Thánh Kinh.
(1) Bài đọc 1: Is 43, 16-21: Này Ta sắp làm một việc mới, Ta sẽ cho dân Ta được giải thoát.
            16 Đây là lời Đức Chúa, Đấng đã vạch một con đường giữa đại dương, một lối đi giữa sóng nước oai hùng, 17 Đấng đã cho xuất trận nào chiến xa chiến mã, nào tướng mạnh binh hùng: - tất cả đã nằm xuống, và không còn trỗi dậy, đã bị dập đi, tắt ngấm như tim đèn. 18 Người phán như sau: "Các ngươi đừng nhớ lại những chuyện ngày xưa, chớ quan tâm về những việc thuở trước. 19 Này Ta sắp làm một việc mới, việc đó manh nha rồi, các ngươi không nhận thấy hay sao? Phải, Ta sẽ mở một con đường giữa sa mạc, khơi những dòng sông tại vùng đất khô cằn. 20 Loài dã thú, chó rừng và đà điểu, đều sẽ tôn vinh Ta; vì Ta cho nước chảy ngay giữa sa mạc, khơi những dòng sông tại vùng đất khô cằn, cho dân Ta tuyển chọn được giải khát. 21 Ta đã gầy dựng cho Ta dân này, chúng sẽ lên tiếng ngợi khen Ta.
(2) Bài đọc 2: Pl 3,8-14: Vì Đức Ki-tô tôi đành mất hết, để được nên đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người.
            8 Thưa anh em, tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời, là được biết Đức Ki-tô Giê-su, Chúa của tôi. Vì Người, tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả như rác, để được Đức Ki-tô 9 và được kết hợp với Người. Được như vậy, không phải nhờ sự công chính của tôi, sự công chính do luật Mô-sê đem lại, nhưng nhờ sự công chính do lòng tin vào Đức Ki-tô, tức là sự công chính do Thiên Chúa ban, dựa trên lòng tin. 10 Vấn đề là được biết chính Đức Ki-tô, nhất là biết Người quyền năng thế nào nhờ đã phục sinh, cùng được thông phần những đau khổ của Người, nhờ nên đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người, 11 với hy vọng có ngày cũng được sống lại từ trong cõi chết. 12 Nói thế, không phải là tôi đã đoạt giải, hay đã nên hoàn thiện đâu; nhưng tôi đang cố gắng chạy tới, mong chiếm đoạt, bởi lẽ chính tôi đã được Đức Ki-tô Giê-su chiếm đoạt. 13 Thưa anh em, tôi không nghĩ mình đã chiếm được rồi. Tôi chỉ chú ý đến một điều, là quên đi chặng đường đã qua, để lao mình về phía trước. 14 Tôi chạy thẳng tới đích, để chiếm được phần thưởng từ trời cao Thiên Chúa dành cho kẻ được Người kêu gọi trong Đức Ki-tô Giê-su.
(3) Bài Tin Mừng: Ga 8,1-11: Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném đi.
        1 Khi ấy Đức Giê-su thì đến núi Ô-liu. 2 Vừa tảng sáng, Người trở lại Đền Thờ. Toàn dân đến với Người. Người ngồi xuống giảng dạy họ. 3 Lúc đó, các kinh sư và người Pha-ri-sêu dẫn đến trước mặt Đức Giê-su một phụ nữ bị bắt gặp đang ngoại tình. Họ để chị ta đứng ở giữa, 4 rồi nói với Người: "Thưa Thầy, người đàn bà này bị bắt quả tang đang ngoại tình. 5 Trong sách Luật, ông Mô-sê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao? " 6 Họ nói thế nhằm thử Người, để có bằng cớ tố cáo Người. Nhưng Đức Giê-su cúi xuống lấy ngón tay viết trên đất.7 Vì họ cứ hỏi mãi, nên Người ngẩng lên và bảo họ: "Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi." 8 Rồi Người lại cúi xuống viết trên đất. 9 Nghe vậy, họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi. Chỉ còn lại một mình Đức Giê-su, và người phụ nữ thì đứng ở giữa. 10 Người ngẩng lên và nói: "Này chị, họ đâu cả rồi? Không ai lên án chị sao? " 11 Người đàn bà đáp: "Thưa ông, không có ai cả." Đức Giê-su nói: "Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!"
2.2 Trong ba bài Thánh Kinh trên, chúng ta khám phá ra Thiên Chúa là Đấng nào?    
(1) Bài đọc 1 (Is 43, 16-21) là một đoạn văn rất độc đáo của ngôn sứ I-sai-a. Độc đáo ở chỗ Chúa muốn lôi kéo sự chú ý, sự quan tâm của dân Ít-ra-en không phải về những chuyện đã xẩy ra trong quá khứ - mặc dầu những việc Chúa làm cho dân trong quá khứ là rất nhiều và rất kỳ diệu – mà  là về tương lai, về nhữg gì Chúa sẽ làm cho Ít-ra-en: “Ta sẽ mở một con đường giữa sa mạc, khơi những dòng sông tại vùng đất khô cằn. Ta sẽ cho nước chảy ngay giữa sa mạc, khơi những dòng sông tại vùng đất khô cằn, cho dân Ta tuyển chọn được giải khát. Ta đã gầy dựng cho Ta dân này”.
Trong đoạn sách Is 43,16-21 trên chúng ta thấy Thiên Chúa là Đấng có lòng yêu thương bao la là dường nào. Chúa làm cho dân những điều kỳ diệu trong quá khứ và nhất là trong tương lai, không phải vì Ít-ra-en xứng đáng hay biết ơn (thật ra Ít-ra-en nổi tiếng là vong ân bạc nghĩa) mà chỉ vì Chúa yêu thương Ít-ra-en mà thôi.
Câu hỏi đặt ra ở đây là mỗi người chúng ta có tìm thấy hình bóng mình trong dân Ít-ra-en không?
(2) Bài đọc 2 (Pl 3,8-14) phải được kể là một trong những đoạn thư hay nhất của Thánh Phao-lô Tông Đồ, trong đó, Thánh Phao-lô cho thấy: đối với ngài Chúa Giê-su là Ai và quan trọng như thế nào (Tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời, là được biết Đức Ki-tô Giê-su, Chúa của tôi. Vì Người, tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả như rác, để được Đức Ki-tô  và được kết hợp với Người) và tất cả ao ước, khát vọng của Thánh Phao-lô là gì? (Tôi chỉ chú ý đến một điều, là quên đi chặng đường đã qua, để lao mình về phía trước). Sở dĩ được như thế là vì Thánh Phao-lô đã cảm nghiệm sâu xa Tình Yêu của Chúa Giê-su, đã sống gắn bó mật thiết với Chúa Giê-su ở một mức độ rất cao, rất sâu, đã trở nên “đồng hình đồng dạng với Chúa Giê-su”
            Trong đoạn 2 Cr 5,17-21 trên, chúng ta thấy Thiên Chúa là Đấng làm cho kẻ tin yêu Chúa được nên công chính, Chúa Giê-su là Đấng quyền năng đã phục sinh từ cõi chết; là Đấng mời chúng ta cảm nghiệm Tình Yêu của Người và là Đấng muốn chiếm đoạt mỗi chúng ta để chúng ta nên “đồng hình đồng dạng với Người.”
Câu hỏi đặt ra ở đây là mỗi người chúng ta có thể nói được như Thánh Phao-lô không?
(3) Bài Tin Mừng (Ga 8,1-11) là một trong những tường thuật vừa có tính hiện sinh vừa mang tính siêu việt của Phúc Âm Gio-an. Có tính hiện sinh vì câu truyện là một phần của cuộc sống con người thời xưa cũng như thời nay, khi cho thấy không chỉ người phụ nữ ngoại tình là tội nhân, mà tất cả những người khác (những người kết án chị, những người muốn thử, muốn ám hại Chúa) cũng đều là tội nhân. Có tính siêu việt vì câu truyện được kết thúc bằng một thái độ và tấm lòng siêu-trần-gian của Chúa Giê-su: "Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!"
                   Qua Bài Phúc Âm Ga 8,1-11, chúng ta có dịp làm quen, kết thân với Chúa Giê-su thêm một mức nữa, đi sâu thêm một chút nữa vào lòng Người và hiểu ở một mức độ cao hơn nữa sứ mạng cứu chuộc của Người: “Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Hãy về học cho biết ý nghĩa của câu này:  Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế. Vì tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi." (Mt  9,13).
2.3 Qua ba bài Thánh Kinh trên, Thiên Chúa muốn gửi sứ điệp gì cho chúng ta?    
                   Sứ điệp của Lời Chúa hôm nay được tóm tắt trong câu nói và dòng viết của Thánh Phao-lô Tông Đồ: “Tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời, là được biết Đức Ki-tô Giê-su, Chúa của tôi. Vì Người, tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả như rác, để được Đức Ki-tô và được kết hợp với Người”
III. SỐNG LỜI CHÚA HÔM NAY
Để thực thi sứ điệp Lời Chúa hôm nay, tôi nên bắt chước cách kiểm điểm và chia sẻ về Hiểu Đạo, Mộ Đạo và Hành Đạo của Phong Trào Cursillo. Câu hỏi giúp xét mình là: trong ngày hôm nay, trong tuần lễ này, trong tháng vừa qua, tôi đã làm gì:
* để biết Chúa Giê-su Ki-tô hơn (biết không chỉ bằng cái đầu mà bằng cả trái tim và cuộc sống) ?
* để yêu Chúa Giê-su Ki-tô hơn ?
* để giúp người khác biết và yêu Chúa Giê-su Ki-tô hơn ?
IV. CẦU NGUYỆN  (Có thể dùng làm Lời Nguyện Giáo Dân)
4.1 Lạy Thiên Chúa từ bi nhân hậu, Chúa đã thực hiện lời Chúa nói qua miệng ngôn sứ I-sai-a: “Này Ta sắp làm một việc mới…, Ta sẽ mở một con đường giữa sa mạc, khơi những dòng sông tại vùng đất khô cằn…, cho dân Ta tuyển chọn được giải khát…” Chúng con cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Chúa về những Kỳ Công và Ơn Lành mà Chúa đã ban cho nhân loại nói chung và Hội Thánh nói riêng. Xin Chúa hãy đến và tỏ mình ra cho những tâm hồn khao khát và tìm kiếm Chúa.
          Lạy Chúa, chúng con cầu xin Chúa. Xin Chúa nhận lời chúng con.
4.2 Lạy Chúa Giê-su là Đấng mà các Thánh Nam Nữ đã biết và yêu mến một cách đặc biệt đến độ có thể nói như Thánh Phao-lô: “Tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời, là được biết Đức Ki-tô Giê-su, Chúa của tôi. Vì Người, tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả như rác, để được Đức Ki-tô và được kết hợp với Người” Chúng con cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Chúa về ơn-tỏ-mình-ra mà Chúa đã ban cho Thánh Phao-lô và các bạn hữu của Chúa. Xin Chúa hãy tỏ mình ra hơn nữa với chúng con để chúng con biết và yêu mến Chúa một cách sâu đậm và quyết liệt.
          Lạy Chúa, chúng con cầu xin Chúa. Xin Chúa nhận lời chúng con.
4.3 Lạy Chúa Giê-su là Đấng Cứu Chuộc muôn dân, muôn người, Chúa đã không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi. Chúa đã tế nhị cứu sống người phụ nữ bị bắt quả tang ngoại tình và đã dịu dàng nói với người ấy: "Tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!" Chúng con cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Chúa về ơn thứ tha mà Chúa đã ban cho người phụ nữ và các tội nhân sám hối. Xin Chúa thứ tha mọi yếu đuối, thiếu sót và tội lỗi mà chúng con đã  phạm đến Chúa và anh chị em chúng con.
          Lạy Chúa, chúng con cầu xin Chúa. Xin Chúa nhận lời chúng con.
4.4 Lạy Chúa Giê-su là Quà Tặng Tuyệt Vời của Thiên Chúa Cha, chúng con cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Chúa về lời nhắc nhở chí lý của Thánh Giê-rô-ni-mô linh mục tiến sĩ Hội Thánh: “Không biết Kinh Thánh là không biết Chúa Ki-tô” Chúng con quyết tâm siêng năng học hỏi, tìm hiểu, yêu mến và thực thi Lời Chúa trong đời sống của chúng con. Xin Chúa chúc phúc cho quyết tâm này và giúp chúng con thực hiện lời cam kết.
          Lạy Chúa, chúng con cầu xin Chúa. Xin Chúa nhận lời chúng con.
Giêrônimô Nguyễn Văn Nội. 
Sàigòn ngày 11.03.2007.

 

MC5-C53: ĐỐI ĐẦU - ĐỐI THOẠI

Một thời gian khá dài, đây là câu nói ở cửa miệng của rất nhiều quan chức các cấp ngành ở nước ta: MC5-C53

Một thời gian khá dài, đây là câu nói ở cửa miệng của rất nhiều quan chức các cấp ngành ở nước ta, được giới truyền thông không ngừng lập lại, nhưng xem ra chỉ là câu sáo rỗng, hay đúng hơn chỉ là một chiều, khi chúng ta muốn thiên hạ hãy quay mặt nhìn mình, nghe mình nói, theo ý mình, mà chúng ta lại quay lưng với người “đối thoại”, không cần biết và chẳng lưu tâm tới thiện ý và thiện chí của đối tác. Trong Tin Mừng hôm nay, hai cuộc đối thoại sẽ diễn ra, hoàn toàn ngược nhau về cả mục đích, nội dung lẫn kết cục. Chí ít, ai cũng đã có thể thở phào nhẹ nhỏm khi kết cục là một “happy end” ( kết có hậu ).
Khi nói “AI CŨNG” nghĩa là gồm cả những kẻ ban đầu có dã tâm biến cuộc “tham khảo” ý kiến thành một vụ bạo động, mà cái chết nắm chắc dành cho cả người đàn bà tội lỗi và Chúa Giê-su, nếu vì lòng nhân hậu – như Ngài luôn tỏ ra và nói lên lời tha tội đối với những kẻ Ngài chữa lành thân xác – mà Ngài dám nói ngược với Luật Mô-sê; hoặc sẽ là nơi Chúa Giê-su “thân bại danh liệt”, phải vĩnh viễn chấm dứt “sự nghiệp” và từ nay, “Giê-su” chỉ còn là một kỷ niệm đáng xấu hổ, khi Ngài hành động ngược lại với Hiến Chương Nước Trời do chính Ngài rao giảng.
Cuộc “đối thoại” đầu tiên đã bộc lộ cái tâm thâm độc của nhóm Biệt Phái, khi họ trì hoãn việc thực hiện luật Mô-sê đối với người phụ nữ ngoại tình, để nhờ dịp này mà có thêm một nạn nhân nữa, theo đúng ý đồ của họ. Họ như người thợ săn cài bẫy, với xác tín rằng bẫy họ giăng ra sẽ sập và họ sẽ bắt được “con chim – Giê-su” nhờ “con mồi – người đàn bà ngoại tình”: thật là một dịp may vượt mọi mong đợi của họ.
Trong hai phương án họ nghĩ tới: THA hoặc KẾT ÁN, đều dồn Chúa Giê-su vào chỗ “mở miệng mắc quai”. Một chi tiết hài hước vốn có ở thánh Gio-an: càng có tuổi, lẽ ra càng thêm khôn ngoan, cảm thông và nhân ái, thì những bậc cao niên háo hức tò mò và ác độc hơn cả đám trung niên và thanh thiếu niên. Họ chen lấn để dành chỗ đứng gần nhất. Chúa Giê-su muốn dạy cho người Do Thái một cách “đối thoại’’ khác: cuộc đối thoại của con tim. Con tim không nói thành lời, dù là thù hận hay bao dung. Con tim “nói nhiều” bằng chính sự im lặng. Và thời gian chờ đợi đủ để cho con tim lấy lại nhịp đập bình an vốn có của nó: hận thù và cố chấp sẽ vơi dần đi, dễ dàng chấp nhận cảm thông và tha thứ hơn.
Chính lúc ấy, Chúa Giê-su mới khơi gợi tiếng nói lương tâm của họ, vực dậy và làm sống lại từ đáy tâm hồn họ chút lương tri và bao dung mà bất cứ kẻ gian ác hung tàn nào cũng còn sót lại. Chúa Giê-su đã cho họ “đối thoại” với chính con người thật của họ và trong nháy mắt, họ nhận ra mình chẳng hơn gì người phụ nữ ngoại tình kia. Không ai dám ngẩng mặt lên cho mình là vô tội. Tất cả đều nhè nhẹ thả những hòn đá sần sùi trong tay xuống đất và âm thầm rút lui.
Thánh Gio-an lại hài hước khi quan sát thấy thứ tự giải tán ngược với thứ tự khi đi tới và vây lấy Chúa Giê-su. Khí thế cũng hoàn toàn ngược lại: tiếng hầm hè, la ó, nghiến răng và những ánh mắt độc ác, nụ cười nham hiểm sau hàm râu biến mất. Chỉ còn lại sự ngượng ngùng, xấu hổ và chắc chắn cũng không ít sự kính phục đối với Chúa Giê-su: quả tiếng đồn về lòng nhân hậu và sự khôn ngoan của Chúa Giê-su vượt xa những gì họ nghe nói hoặc nhìn thấy. Đó là thái độ “tâm phục, khẩu phục”.
Cuộc “đối thoại” thứ hai do chính Chúa Giê-su mở đầu, với câu hỏi hết sức tế nhị, nhẹ nhàng: “không ai kết án Chị ư ?” Kẻ ghét bỏ, hầm hè muốn “ăn sống nuốt tươi” người phụ nữ ngoại tình, mà còn không kết án, lẽ nào Chúa Vô Cùng Nhân Hậu Từ Bi, Đấng vừa cứu cả thân xác và linh hồn người phụ nữ khỏi chết, lại không tha cho chị ta ? Người ta không kết án, không ném đá chị cho đến chết, không phải vì chị vô tội, mà vì mọi người đều nhận ra – sớm hay muộn; tự ý thức hoặc được khơi gợi nhắc nhở – là tội nhân trước mặt Chúa và chỉ có Chúa mới có quyền kết án và kết án cũng là điều mà Thiên Chúa chỉ làm hết sức bất đắc dĩ, bởi vì đến cả “cây sậy bị dập” hoặc “tim đèm tắt còn vương khói” mà Chúa còn chẳng nỡ bẽ gãy, dập tắt !
Hãy về và đừng phạm tội nữa ! Cuộc “đối thoại” nội tâm này mới chính là cách Thiên Chúa hằng dùng để dạy chúng ta về cách đối nhân xử thế với ý thức rõ rệt về những khiếm khuyết, tội lỗi của mình trước mặt Chúa và trước tha nhân.
Trong Kinh Cáo Mình, “thú nhận cùng Thiên Chúa Toàn Năng” chưa đủ, mà phải thú nhận “cùng anh chị em”: “Lỗi tại tôi mọi đàng”. Và để chứng thực hành vi thống hối chân thành ấy, chúng ta đấm ngực mình, không đấm ngực anh em. Chúng ta không chỉ cần đến “Đức Bà Ma-ri-a trọn đời đồng trinh, các thiên thần, các thánh” – nghĩa là trọn cả Thiên Đàng – “khẩn cầu trước toà Thiên Chúa” cho chúng ta, mà còn cậy nhờ lời khẩn cầu của tha nhân. Đây là cuộc “đối thoại” giữa người và người, mà Thiên Chúa mong đợi, đòi buộc theo điều luật mới, tinh thần mới, mà cả triều thần thánh thiên quốc làm trung gian. Thống hối cũng chính là đối thoại.
CVK NGUYỄN THẾ BÀI, Tình Ca Cho Người Được Yêu Số 42

 

MC5-C54: ĐỪNG KẾT ÁN ANH EM

Lm.Jos Tạ Duy Tuyền
 

Nếu có lúc nào đó chúng ta sa ngã vì yếu đuối, vì lầm lỡ, chúng ta cần điều gì nơi tha nhân? Cần: MC5-C54

Nếu có lúc nào đó chúng ta sa ngã vì yếu đuối, vì lầm lỡ, chúng ta cần điều gì nơi tha nhân? Cần trừng trị cho thích đáng hay cần khoan dung tha thứ? Cần những lời kết án cay nghiệt hay cần những lời cảm thông nâng đỡ? Có lẽ ai cũng cần được khoan dung để có cơ hội làm lại cuộc đời. Có lẽ ai cũng cần sự cảm thông để tìm lại sự bình an tâm hồn. Thế nhưng, giòng đời thường không đối xử tốt với chúng ta như vậy. Người đời thường dễ kết án hơn tha thứ. Người đời thường tìm cách xa lánh kẻ phạm tội hơn gần gũi để cảm thông. Có biết bao nhiêu lý do để người ta luận tội và kết án lẫn nhau, và chắc chắn cũng có rất nhiều lý do để họ xa tránh kẻ phạm tội để khỏi lụy vào thân.
Lời Chúa hôm nay cho chúng ta thấy một quang cảnh rất đời thường. Có một người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình. Chị đã phạm phải trọng tội mà theo luật Do Thái phải chịu ném đá tử hình. Các luật sĩ và biệt phái đã dẫn người phụ nữ này đến trước mặt Chúa Giêsu. Mỗi người một hòn đá. Mỗi người một khuôn mặt mang đầy sát khí hôi tanh. Họ sẵn sàng trị tội một người để làm gương cho nhiều người. Tất cả đang sẵn sàng một án tử hình cho người phụ nữ thấp cổ bé miệng, lại cô thân cô thế. Kẻ đã từng tòng phạm với chị cũng đã được tẩu thoát. Vì phúc âm nói rằng: “người ta dẫn tới trước mặt Chúa một người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình”. Ngoại tình phải là hai người. Quả tang tức là bắt tại chỗ. Thế mà chỉ có một mình chị bị dẫn ra trước đám đông, còn kẻ đồng phạm với chị đâu? Có thể anh ta là người có thế lực và giầu có nên đã mua chuộc các hương chức trong làng? Có thể anh ta là loại người “vừa ăn cướp vừa la làng” chăng? Và như thế, có thể anh ta cũng cùng đứng chung với nhóm người đang chờ đợi ném đá người phụ nữ tội lỗi này. Chị cúi đầu chẳng dám nhìn ai. Chị biết tội mình đã làm nên chẳng thốt lên lời van xin. Chị đã sẵn sàng cho một cái chết dành cho một người phụ nữ lăng loàn.
Nhưng phúc đức cho chị, những kẻ chủ mưu ném đá chị lại muốn “mượn gió bẻ măng”. Họ muốn dùng một mũi tên mà “bắn chết hai con nhạn”. Họ đòi Chúa Giêsu làm trọng tài để nhân cơ hội này, hãm hại chính Chúa Giêsu. Nếu Chúa bảo tha, là chối bỏ luật của tiền nhân. Nếu Ngài bảo phải chết, lại vi phạm quyền xét xử của Đế quốc Rôma đang cai trị nước Do Thái.
Chúa Giêsu đã không kết án, nhưng cũng không dung túng sự xấu mà chị ta đã phạm. Ngài đã im lặng lấy tay viết trên cát. Có nhiều người cho rằng Ngài đã viết lên những tội lỗi của con người đã từng phạm. Ngài đã viết trên cát chứ không ghi khắc vào bia đá hay giấy vở. Cát sẽ bị xoá nhoà. Tội lỗi con người luôn được Chúa khoan dung tha thứ, vì “nếu Chúa chấp tội nào ai rỗi được, nhưng Chúa luôn rộng lượng thứ tha”. Có nhiều ngừơi cũng cho rằng: Ngài muốn trì hoãn thời gian, để mỗi người tự vấn lương tâm. Có cần kết liễu một đời người mà thanh danh đã bị bôi nhọ bởi hành vi lăng loàn của mình hay không? Ngài muốn có một khoảng thời gian tĩnh lặng để những cảm xúc: hỉ, nộ, ái, ố được lắng dịu hầu có thể đối xử công bằng với nhau hơn. Cuối cùng, Ngài đã nói với đám đông rằng: “ai trong các ông trong sạch, thì hãy ném đá người này đi”. Sự trong sạch không chỉ là không làm những điều xấu, mà còn đòi hỏi sự trong sạch trong tâm hồn chưa một lần ước muốn phạm tội. Sự trong sạch không chỉ là không phạm tội mà còn là không làm gương mù gương xấu cho người khác. Tất cả đều lặng lẽ bỏ cuộc. Từ người lớn tới người nhỏ, xem ra không ai là người trong sạch đủ để có thể thi hành một lề thói dã man này. Họ đã bỏ đi hết. Một quang cảnh thanh bình đã đến với chị. Chân trời mới đã mở ra với chị. Chúa Giêsu đã mở ra cho chị một con đường sống, bằng một giọng nói dịu dàng nhưng chứa đựng một nguyên tắc sống cho cả cuôc đời của chị: “Ta cũng không kết án chị phải chết đâu! chị hãy về bình an và từ nay đừng phạm tội nữa”. Một làn gió của yêu thương đã xoá bỏ quá khứ tội lỗi của chị. Làn gió của yêu thương đã mang lại cho chị một niềm hy vọng những điều tốt đẹp sẽ đến trong cuộc đời của chị.
 Kính thưa, qúi OBACE, Có bao giờ chúng ta đã từng nói điều đó với anh em chúng ta chưa? Có bao giờ chúng ta đã đối xử khoan hồng với nhau chưa? Có bao giờ chúng ta đã can đảm xoá bỏ đi những thành kiến xấu về người anh em hay chưa? Nếu chưa, chúng ta hãy tập để đối xử tốt với nhau hơn. Nhiều người vẫn biết rằng “nhân vô thập toàn”, thế nhưng vẫn để “bụng” và cố chấp về những lầm lỗi của anh em. Nhiều người vẫn đầy rẫy khuyết điểm nhưng lại dễ dàng la rầy, kết án anh em. Nhiều người đã quên cái đà trong mắt mình, mà lại chỉ thích tìm kiếm bới móc, bêu xấu, những cái rác của tha nhân.
Lời Chúa hôm nay nhắc nhở chúng ta: “đừng kết án để khỏi bị kết án”. Hãy sống độ lượng với nhau để xây dựng một thế giới thanh bình. Và hãy nhớ rằng: “điều gì anh em không muốn ngừơi khác làm cho mình thì cũng đừng làm cho người ta như vậy”. Amen
Lm.Jos Tạ Duy Tuyền

 

MC5-C55: NÉM ĐÁ

Lm. Anphong Trần Đức Phương
 

Bài Đọc I (Isaia 43:16-21) đem lại niềm hy vọng trong Mùa Chay: “Hãy quên đi những việc đã: MC5-C55

Bài Đọc I (Isaia 43:16-21) đem lại niềm hy vọng trong Mùa Chay: “Hãy quên đi những việc đã qua và đừng quan tâm đến các việc xa xưa nữa…Thiên Chúa hứa sẽ đổi mới mọi sự, khai mở đường đi và cho dân Chúa có nước uống…”
  Trong Bài Đọc II (Philiphê 3:8-14) Thánh Phaolô cũng nói Ngài quên hẳn những gì ở đàng sau và chỉ hướng về phía trước “để chạy đến đích cuối cùng là phần thưởng Nước Trời, trong sự hiệp thông với sự đau khổ của Chúa Giêsu và sự Phục Sinh của Người.”
  Bài Phúc Âm (Gioan 8:1-11) ghi lại một câu chuyện rất cảm động về người phụ nữ bị kết án là phạm tội ngoại tình đáng phải ném đá cho đến chết theo luật Môise ( Thứ Luật 22:23-24); nhưng chẳng ai dám ném đá chị, vì Chúa bảo “ai hoàn toàn sạch tội hãy ném đá chị đó đi!”  Mọi người đều sợ hãi bỏ đi, vì nhận thấy chính mình cũng đầy tội lỗi. Đứng lại ném đá, sợ Chúa Giêsu là “Đấng thấu suốt mọi sự , đã có thể làm cho người chết sống lại, người bệnh được chữa khỏi,” sẽ vạch tội họ ra chăng. Chưa kể còn có những người có đời sống xấu xa mà  ai cũng biết! Chúa Giêsu đã tha thứ cho người phạm tội ngoại tình và bảo: “Cha cũng không kết án con. Con  hãy về và từ nay đừng phạm tội nữa!”
  Trong Chúa Nhật trước, chúng ta đã có dịp đọc và suy niệm về Dụ Ngôn rất cảm động “Người Cha Nhân Hậu” (Luca 15:1-3,11-32). Chúa  Giêsu kể dụ ngôn đó để trả lời những nguời Biệt Phái và Luật Sĩ cứ tự cho mình là người công chính, giữ luật đầy đủ và phàn nàn là Chúa Giêsu cứ “đón tiếp những người tội lỗi và còn ngồi ăn uống với họ…” Qua Dụ Ngôn “Người Cha Nhân Hậu” và thái độ tha thứ cho người phụ nữ ngoại tình trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu muốn tỏ cho chúng ta thấy Thiên Chúa luôn yêu thương và mời gọi những người trót “sa ngã phạm tội vì yếu đuối” hãy ăn năm sám hối, chừa bỏ đời sống tội lỗi, cải thiện đời mình , để trở nên những con người mà Chúa “đã dựng nên theo hình ảnh Chúa” (Khởi Nguyên 1:27).   Vì thế, Chúa Giêsu đã nhấn mạnh “Ta đến không phải để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi. (Matthêu 9:13).
  Thực sự, Chúa Giêsu không bao che tỗi lỗi. “Tội vẫn là tội,” vẫn đáng bị kết án (Matthêu 5:27-30);   người đàn bà ngoại tình hôm nay, thực sự vẫn là một tội nhân . Nhưng  Chúa Giêsu đã phải  chịu khổ nhục và chết trên Thánh Gía để chuộc tội chúng ta. Ngài luôn muốn cho tội nhân có một cơ hội để “làm lại cuộc đời!” Ngay trước khi  chết trên Thánh Gía Chúa Giêsu đã cầu nguyện cho chính những kẻ đã lên án bất công, hành hạ  và giết Ngài :“ Xin Cha  tha tội cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” (Luca 23:34).
  Tội luôn là điều xấu  phải xa tránh.  Nhưng trên trần gian này, ai dám tự vỗ ngực mình và tuyên bố “ Tôi hoàn toàn sạch tội” để mà lên án người khác, để mà “ném đá người khác!”
  Mùa Chay là “thời gian rất thuận tiện” (2 Côrintô 6:2) ) để chúng ta ăn năn sám hối lỗi lầm, chừa bỏ tội lỗi. Chúng ta hãy lo ăn năn sám hối và “đấm ngực mình, đừng lo đấm ngực người khác” để xin Chúa thứ tha tội lỗi và giúp chúng ta chừa bỏ tội lỗi.
  Xin cùng cầu nguyện chung cho nhau để trong những ngày trọng đại này, chúng ta biết hy sinh dành nhiều thời giờ hơn để cầu nguyện, dự các cuộc Tĩnh Tâm Mùa Chay, hy sinh hãm mình thắng vượt những đam mê tội lỗi, thanh tẩy tâm hồn qua Bí Tích Hòa Giải (Xưng Tội) và dành dụm tiền bạc giúp người nghèo khó trên thế giới. Xin Mẹ  Maria, Thánh Giuse và các Thánh chuyển cầu cùng Chúa cho chúng ta được chết đi với tội lỗi, cải thiện đời sống để được cùng sống lại thật với Chúa trong đời sống trong sạch, hòa hợp yêu thương và nhiệt thành phụng sụ Chúa và mọi người trong cuộc sống hàng ngày.
Lm. Anphong Trần Đức Phương

 

MC5-C56: Làm chứng cho lòng từ bi vô biên - Achille Degeest

Vụ người đàn bà ngoại tình cho thấy thành kiến dễ đưa đến thái độ đê tiện phi nhân tới mức: MC5-C56

Vụ người đàn bà ngoại tình cho thấy thành kiến dễ đưa đến thái độ đê tiện phi nhân tới mức nào –mà tư tưởng và tâm hồn Đức Kitô thì quảng đại vô cùng. Người Do Thái đưa ra một thảm kịch con người để định lừa Chúa. Họ không chú trọng đến thảm trạng người phụ nữ tội lỗi bị bắt quả tang, mà chỉ cốt làm Chúa lúng túng. Họ tự phụ là hiểu luật, họ nghĩ thế nào cũng loại được một kẻ gây trở ngại. Chúa biết rõ dã tâm họ, Người đem một vụ thuộc tầm mức nhỏ nhen của họ đặt thành vấn đề lương tâm. Chúa bắt buộc mỗi người phải đối diện với Thiên Chúa, chỉ có thể bỏ chạy, hoặc ăn năn trở lại. Từ một vụ tai tiếng nhỏ đáng buồn trong đó các địch thù của Chúa, thưởng thức một sự khoái trá xấu xa, Chúa Giêsu đổi thành một “cánh hoa đơn” tuyệt vời (nói theo kiểu Phan sinh) của lòng từ bi của Chúa. Người đàn bà ngoại tình đã gặp đại lượng khoan dung và có được dịp may phục hồi nhân phẩm. Bọn người ưa bắt bẻ, thích lên án, thấy vậy rút lui. Cho hay, chỉ hạng người tội lỗi nào trốn tránh lượng từ bi nhân hậu của Thiên Chúa, hạng đó mới không được tha thứ.
Chúng ta có thể suy đoán mấy nét về tôn nhan Đức Giêsu.
1) Trước hết, sự điềm tĩnh của Chúa.
Người không do dự dù trong giây phút, khi trả lời kẻ vấn nạn. Lên án người phụ nữ ngoại tình là trái với chủ thuyết của Chúa, mà tha là trái với Lề Luật. Thế mà, như theo một phản ứng tự nhiên, Đức Giêsu trả lời không lưỡng lự, để làm chứng cho lòng từ bi vô biên của Thiên Chúa. Hơn nữa, Chúa cho thấy con mắt Thiên Chúa xuyên qua dáng vẻ bên ngoài, thấu tới thâm tâm người ta. Tính điềm tĩnh của Người bắt nguồn mạch từ Thiên Chúa. Người nhìn nhân loại và sự việc theo con mắt Thiên Chúa. Khi nào chúng ta nhìn theo con mắt Thiên Chúa, chúng ta chẳng cảm thấy sao, dưới một nguồn sáng mới, chúng ta điềm tĩnh lạ lùng nhờ tâm hồn được thanh thản sáng suốt?
2) Quyền tha tội của Chúa không những không buộc tội người đàn bà hư hỏng, Đức Giêsu nói thêm: Hãy đi và chớ phạm tội nữa. Hiểu theo bối cảnh tổng quát Phúc Âm, có nghĩa là Chúa ban cho người đó ơn tha thứ của Thiên Chúa. Chúa tỏ ra có quyền tha tội, an ủi, khuyến khích, phục hồi nhân phẩm cho kẻ có tội –và Chúa làm công việc ấy một cách nhân từ, vì Người hiền lành và khiêm nhượng trong lòng. Tha thứ, nhưng cương quyết bài trừ sự tội. Chúa nói: chớ phạm tội nữa. Đối xử từ bi với kẻ có tội không phải là nhân nhượng với sự dữ. Sự dữ trước sau vẫn là sự dữ, phải xua đuổi. Đức Giêsu xét xử theo đường lối Thiên Chúa, tự cho mình đặc quyền Messia cứu vớt kẻ có tội nhưng kết án sự tội. Đức Giêsu thân thiết với Chúa Cha nên biết rõ sắp tới giờ Người đổ máu ra chuộc tội cho nhân loại, để nhân loại được tha thứ. Đàng sau Lời Chúa nói với người đàn bà tội lỗi, chúng ta đoán thấy Tình yêu từ bi nhân lành nóng cháy biết chừng nào.

 

MC5-C57:  Tình thương cứu độ

Văn hào Ngài Léon Tolstoi có kể câu chuyện: Có một người hành khất nọ đến trước cửa nhà của: MC5-C57

Văn hào Ngài Léon Tolstoi có kể câu chuyện: Có một người hành khất nọ đến trước cửa nhà của một người giàu có để xin bố thí. Một đồng xu nhỏ hay một miếng bánh vụn, đó là tất cả những gì người ăn xin chờ đợi nơi người giàu có. Nhưng mặc cho người khốn khổ van xin, người giàu có vẫn ngoảnh mặt làm ngơ. Đến một lúc, không còn chịu nổi những lời van xin của người hành khất, thay vì lời bố thí, người giàu đã lấy đá ném vào con người khốn khổ.
Người hành khất lặng lẽ nhặt lấy hòn đá cho vào bị rồi thì thầm trong miệng: “Ta mang hòn đá nầy cho đến ngày nhà ngươi sa cơ thất thế. Ta sẽ dùng nó để ném đá trả lại ngươi”.
Đi đâu, người hành khất cũng mang theo hòn đá ấy. Tâm hồn ông lúc nào cũng cưu mang sự báo thù.
Năm tháng qua đi. Lời chúc dữ của người hành khất đã thành sự thật: Vì biển lận, người giàu có bị tước đoạt tất cả tài sản và bị tống giam vào ngục. Ngày hôm đó, người hành khất chứng kiến cảnh người ta áp giải người giàu vào tù ngục. Nỗi căm hờn sôi sục trong lòng ông. Ông đi theo đoàn người áp tải. Tay ông không rời bỏ hòn đá mà người giàu đã ném vào người ông cách đây mười mấy năm. Ông muốn ném hòn đá đó vào người tù để rửa sạch mối nhục hằng đeo đẳng bên ông. Nhưng cuối cùng, nhìn thấy gương mặt tiều tuỵ đáng thương của kẻ đang bị cùm tay, người hành khất thả nhẹ hòn đá xuống đất rồi tự nhủ: Tại sao ta phải mang nặng hòn đá nầy từ bao nhiêu năm qua? Con người nầy, giờ đây, cũng chỉ là một con người khốn khổ đáng thương như ta!”
Chúa Giêsu hôm nay cũng không ném đá người thiếu phụ ngoại tình. Và những người tố cáo chị ta cũng không ai dám ném hòn đá đầu tiên. Câu chuyện kể về người thiếu phụ ngoại tình như sau:
“Khi ấy, Đức Giêsu đang ngồi tại hành lang Đền Thờ Giêrusalem thì bỗng có một nhóm đàn ông điệu đến trước mặt Ngài một thiếu phụ run lẩy bẩy, mặt mày tái mét. Họ trình với Ngài rằng: họ đã bắt được quả tang người thiếu phụ nầy đang phạm tội ngoại tình. Theo lề luật, Môisê truyền phải ném đá mụ nầy. Về phần Ngài, Ngài nghĩ sao?”.
Dĩ nhiên là họ muốn gài bẫy Chúa Giêsu: Nếu Ngài nói ngược lại với luật Môisê thì những người Do Thái sẽ chống lại Ngài, còn nếu Ngài khuyến khích họ ném đá người thiếu phụ, điều mà luật lệ Rôma không cho phép, thì chắc chắn Ngài sẽ gặp khó khăn với chính quyền Rôma lúc đó đang chiếm đóng. Thực sự, Đức Giêsu đã không trả lời ngay câu hỏi của họ. Tin Mừng thuật lại là: Ngài cúi xuống lấy ngón tay viết trên đất. Chẳng ai biết Ngài viết gì. Có lẽ Ngài muốn nhắc cho chính nhóm đàn ông kia là muốn phạm tội ngoại tình thì phải có hai người, và Lề Luật đã quy định là cả hai đều bị phạt chịu ném đá cho đến chết. Thế mà họ chỉ điệu đến trước mặt Ngài có một mình người thiếu phụ nầy. (Còn người đàn ông kia đâu?). Vậy thì chính họ, nhóm đàn ông ấy, đã phạm tội bất công, kỳ thị nam nữ, phân biệt đối xử và phạm tội giả hình… (chứ thì phái mày râu các ông không phạm tội ngoại tình sao?)
Sau khi viết xuống đất một hồi, Đức Giêsu ngẩng đầu lên và bảo họ: “Ai trong các ông không có tội thì hãy ném viên đá đầu tiên đi!”.
Rồi Ngài lại cúi xuống viết tiếp… Ngài còn đang viết thì có một sự kiện thật ngoạn mục xảy ra: nhóm đàn ông nầy bắt đầu lặng lẽ rút lui có trật tự, những người già hơn rút lui trước. Có lẽ vì họ đã phạm tội nhiều hơn những người trẻ. Cuối cùng, chỉ còn lại có hai người: Đức Giêsu và người thiếu phụ. Lúc nầy, Đức Giêsu mới ngẩng đầu lên và cùng đối thoại với người thiếu phụ. Ngài hỏi chị ta:
- Những người kia đã đi đâu cả rồi? Không có ai lên án chị sao?
- Thưa Ngài, không có ai, thiếu phụ đáp lại.
- Vậy thì Ta cũng không lên án chị đâu, chị hãy về và đừng phạm tội nữa nhé!”
Chúng ta có thể tưởng tượng: lúc đó, người thiếu phụ vui mừng như thế nào? Và chắc chắn chị không quên cảm tạ Chúa và quyết tâm làm lại cuộc đời.
Thưa anh chị em,
Chúng ta đang sống trong một thế giới của những kẻ ném đá. Người ta chỉ thích phê bình, chỉ trích, lên án, hạ nhục hoặc chống đối người khác. Chúng ta quên đi một câu nói rất có ý nghĩa của người Anh: “Những ai đang sống trong nhà bằng kính thì đừng nên ném đá” (ném đá vỡ kính hết).
Tất cả chúng ta đều đang sống trong những căn nhà bằng kính, bởi vì tất cả chúng ta đều rất mỏng dòn, dễ vỡ, đã không đáp ứng đúng mức đòi hỏi của Thiên Chúa và tất cả chúng ta đều rất cần đến sự tha thứ của Ngài.
Cũng như nhóm đàn ông kia ở Giêrusalem, chúng ta thường tự đặt mình vào hạng những người công chính. Chúng ta sáng mắt nhìn thấy điều sai trái của kẻ khác, nhưng lại quá đui mù chẳng nhìn thấy các lỗi lầm của chính mình.
Tuy nhiên, anh chị em thân mến,
Câu chuyện trên đây không chỉ đề cập đến những kẻ ném đá, những kẻ tự cho mình là kẻ công chính, những kẻ tự đặt mình vào chức vụ bảo vệ nền luân lý công cộng, những kẻ luôn nghĩ rằng tất cả những điều mình làm đều đúng, đều tốt, những kẻ vẫn tự hào rằng mình tốt lành và nhân đức hơn những người khác… Câu chuyện còn đề cập đến chính người thiếu phụ bất hạnh ấy nữa. Đức Giêsu đã không nhắm mắt làm ngơ trước tội ngoại tình. Ngài đã không nói rằng: điều người thiếu phụ đã làm đó chỉ là một chuyện vặt, một chuyện nhỏ mọn, hoặc là một chuyện có tính cách riêng tư không dính líu gì tới ai. Ngài cũng đã không khuyên nhóm người kia hãy bỏ qua chuyện nầy, hoặc hãy chấp nhận mà sống với những yếu đuối của mình, nhưng Ngài đã khẳng định Ngài không lên án thiếu phụ nầy. Nói cách khác, Ngài đã sẵn lòng chấp nhận người thiếu phụ bất hạnh nầy trong chính tình trạng hiện nay của chị – Chị là người có tội đấy-Chị hãy chừa cải, sửa đổi nên người mới.
Anh chị em thân mến,
Thiên Chúa sẵn sàng tha thứ mọi tội lỗi chúng ta dù cho tội đó nặng đến độ phải tử hình như tội ngoại tình nơi anh em Do Thái ngày xưa. Lòng Chúa hải hà vết nhơ của tội lỗi. Thái độ của Chúa Giêsu trong bài Tin Mừng so với thái độ của các vị luật sĩ và biệt phái cho thấy tấm lòng của Thiên Chúa mênh mông, bao la hơn tâm hồn con người thế nào, như đại dương với các ao tù nước đọng: một bên thì bình tĩnh thản nhiên, nhẹ nhàng đón nhận cục đá lớn ném xuống, còn một bên sôi nổi sùng sục và hỗn loạn trước cũng một biến cố ấy. Thiên Chúa vẫn đối xử với chúng ta như thế, không phải để ta coi thường tội lỗi, mà là để ta, một khi đối diện với lòng nhân lành của Chúa, sẽ hoán cải mà trở nên tốt hơn.
Chúa Giêsu, Đấng vô tội, chính Ngài đã từ chối không ném viên đá đầu tiên hoặc viên đá cuối cùng, nhưng lời chấp nhận của Ngài đã được gắn lại lệnh truyền: “Chị hãy về và đừng phạm tội nữa”. Có nghĩa là: “Con hãy về đi và từ bỏ cuộc sống tội lỗi của con”. Những kẻ tố cáo, những kẻ sẵn sàng ném đá kia thực ra đã có thể kết liễu cuộc sống của người thiếu phụ nầy, nhưng trái lại phần Đức Giêsu, Ngài đã ban tặng cho chị ta một cuộc sống mới, một sự bắt đầu hoàn toàn mới mẻ: “Con hãy về và đừng phạm tội nữa”.
Ngày nay, Ngài cũng cư xử đối với nhân loại tội lỗi và đối với mỗi người chúng ta đúng như Ngài đã đối xử với người thiếu phụ ngoại tình nầy. Trên thánh giá, Ngài ban ơn tha thứ cho tất cả và cùng với muôn triệu người được cứu thoát, Ngài tạo nên một dân mới. Một lần nữa, Giáo Hội mời gọi chúng ta nhìn vào cõi lòng mình vào tình thương tha thứ của Thiên Chúa để tự nhận ra mình là kẻ tội lỗi, hầu lãnh nhận ơn tha thứ và từ nay đừng tái phạm nữa.

 

MC5-C58: Chú giải của Noel Quesson

Còn Đức Giêsu thì đến núi Ô-liu. Vừa tảng sáng, Người trở lại Đền Thờ. Ngài có thói quen: MC5-C58

Còn Đức Giêsu thì đến núi Ô-liu. Vừa tảng sáng, Người trở lại Đền Thờ
Ngài có thói quen, nhất là trong tuần lễ cuối cùng, đến vườn Ghếtsêmani và trải qua đêm tại đó, để tìm sự yên tĩnh và cầu nguyện.
Toàn dân đến với Người. Người ngồi xuống giảng dạy họ. Lúc đó, các kinh sư và người Pharisêu dẫn đến trước mặt Đức Giêsu một phụ nữ bị bắt gặp đang ngoại tình.
Vừa tảng sáng, Đức Giêsu đã ngồi trong sân Đền thờ, có đám dân vây quanh Ngài. Tự nhiên, ở đằng kia ồn ào nổi lên. Một nhôm người Pharisêu cố kéo một phụ nữ đang vùng vẫy. Đám đông giãn ra và làm thành vòng tròn. "Người ta đã bắt gặp người phụ nữ này nơi nhà một người đàn ông… Chị ta phản bội chồng mình... Chị ta đáng chết... luật lệ đã rõ ràng" (Đnl 22,22-24; Lv 20, 10). Làm sao họ chỉ dẫn đến có một người đàn bà? Trong bất cứ một vụ ngoại tình nào, cũng có đàn ông nữa chứ và luật lệ cũng lên án đàn ông rõ ràng, như đàn bà vậy! Nhưng chúng ta biết rằng, các Thánh sử (nhất là Luca, vì theo thủ bản cổ nhất, có lẽ ông là tác giả trang Tin Mừng này hơn là Gioan). Không ngừng nhấn mạnh về thái độ mới lạ của Đức Giêsu trước quan niệm đương thời về phụ nữ. Trong khi phụ nữ bị xã hội khinh bỉ và gạt bỏ ra ngoài, thì Đức Giêsu lại làm tảng giá trị và luôn phục hồi danh dự cho họ.
Họ để chị ta đứng ở giữa, rồi nói với Người: "Thưa Thầy, người đàn bà này bị bắt quả tang đang ngoại tình. Trong sách Luật, ông Mô-sê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó
Quả thực, ngoại tình là một lỗi nặng, mà mọi nền văn minh đều lên án cách nghiêm khắc. Một xã hội không thể coi thường lâu đài vấn đề này mà không tự huỷ diệt. Có cần bao dung cho sự dữ và bất công mà một người phối ngẫu phải chịu không? Trong một bối cảnh quá phóng túng và lệch lạc về dục tính như thế, nếu gia đình, con cái có thể phát triển mà không gặp thương tổn sao?
Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?
Mọi người đều biết rằng, Đức Giêsu tái biểu dương tính bất khả phân ly của hôn phối để cứu tình yêu khỏi những tình trạng bất trung (Mt 5,31-32). Đức Giêsu đã dứt khoát và mạnh mẽ lên án việc ngoại tình bằng cách khẳng định, dù chỉ ưng thuận trong lòng đối với ý muốn xấu xa đó thì đã có tội rồi: "Ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi” (Mt 5,28). Lòng nhân lành của Đức Giêsu không có nghĩa là Ngài chấp nhận tình trạng phóng đãng.
Họ nói thế nhằm thử Người, để có bằng cớ tố cáo Người
Những người pharisêu và kinh sư biết rằng, Đức Giêsu thương yêu các tội nhân và họ cũng yêu thương Người. Họ vì giao du với người tội lỗi. "Ông ấy ăn uống với người tội lỗi". Thực sự, vụ xét xử người đàn bà ngoại tình chỉ là cớ để họ lên án Đức Giêsu, để họ gài bẫy Người. Nếu người lên án tử hình người đàn bà này, Ngài sẽ xoá bỏ hình ảnh xót thương mà Người đã để lại trong tâm trí kẻ tội lỗi: Nhờ đó, Người được quần chúng mến phục, vì tình yêu, vì sự tốt lành của Người. Nếu người tha bổng người đàn bà tội lỗi này, Người sẽ vi phạm luật Chúa, và cổ thể bị tử hình vì đã xúc phạm đến Thiên Chúa, Đấng đã cấm phạm tội này. Như vậy, đây là "vụ xử án của Đức Giêsu” đang diễn ra sau vụ xử án người đàn bà này.
Vụ án biểu tượng:
Bị cáo: Một người phụ nữ.
Người tố cáo: Kinh sư và những người pharisêu
Tội phạm: Ngoại tình, bị phạt theo luật Môsê.
Bản án: Tử hình
Vụ án thực sự:
Bị cáo: Đức Giêsu
Người tố cáo: Cũng nhóm kinh sư và Pharisêu
Tội phạm: Phạm thượng
Bản án: Tử hình
Nhưng Đức Giêsu cúi xuống lấy ngón tay viết trên đất
Sư im lặng này khởi đầu cho sự im lặng quan trọng của Đức Giêsu trong vụ xử án chính Người.
Nhưng ở đây, phản ứng trên rất gây ngạc nhiên. Người không làm gì cả. Người không trả lời gì hết. Người đang vẽ Như thể một người muốn lờ đi không gì chung quanh mình. Đó không phải là một thứ tế nhị sao? Người không ngước mắt lên nhìn người đàn bà, vì Người biết chị ta xấu hổ. Nhưng cũng nhận ra việc Đức Giêsu khước từ phán quyết các biến cố dựa trên những phân tích của con người. Chẳng hạn, Người đã có thể điều tra, đặt câu hỏi, tìm xem những trách nhiệm? Liệu có những trường hợp giảm khinh hay không? Quá khứ của người đàn bà này có giải thích được thái độ của chị ta không? Chồng chị đối xử với chị như thế nào? Có nên phân biệt trường hợp ngoại tình trơ trẽn, công khai và lâu dài thường xúc phạm, làm nhục người phối ngẫu, làm con cái đau khổ...Với trường hợp ngoại tình kín đáo, tuy cũng có tội nhưng do yếu đuối chóng qua, chỉ gây nhục nhã trong tâm hồn? Luật lên án tử hình một tội như vậy có quá đáng chăng? Người ta có nên mở một chiến dịch để xin bãi bỏ luật này không? Những câu hỏi như thế, con người và xã hội vẫn thường đặt ra. Nhưng Đức Giêsu tự ý đặt mình trên một bình diện khác. Hình như Người không quan tâm gì. Người đang viết trên cát. Đó có phải là một thái độ thoái thác không? Hẳn là không. Vì Đức Giêsu sắp đề cập đến "lãnh vực khác".
Vì họ cứ hỏi mãi, nên Người ngẩng lên và bảo họ
Chính họ cứ vẫn hỏi mãi. Lạy Chúa, Chúa đã giữ im lặng bao lâu? Lúc này, con đang hình dung ra Chúa đưa mắt nhìn từng người trong bọn họ. Con ngắm nhìn đôi mắt đang di động, khi Chúa ngửa mặt lên. Trước tiên, Chúa nhìn người đàn bà đáng thương, rồi những người tố cáo, rồi tới đám đông…
Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi
Chúa đòi hỏi họ phải trở về với lương tâm của mình. Cũng ngày nọ, người ta tìm thủ phạm trong cuộc “Philatô tàn sát những người Galilê" hay trong tai hoạ do “tháp Silôa” đổ xuống.
Đức Giêsu đặt cuộc tranh luận trên một bình diện khác: Dưới mắt Thiên Chúa, tất cả mọi người đều là tội nhân, và cần phải được tha thứ? anh em hãy có lòng nhân từ, như cha anh em là Đấng nhân từ. Anh em đừng xét đoán, thì anh em sẽ không bị Thiên Chúa xét đoán. Anh em đừng lên án, thì sẽ không bị Thiên Chúa lên án. Anh em hãy tha thứ, thì sẽ được Thiên Chúa thứ tha. Vì anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy" (Lc 6,36-38). Vâng, lạy Chúa, con đang cần lòng nhân hậu thương xót của Chúa và của kẻ khác. Vậy xin Chúa hãy ban cho con, một trái tim biết thương xót.
Ngôn sứ Hôsê (2,4-25) đã so sánh dân ít-ra-en với một người vợ được Chúa yêu thương mà lại “ngoại tình" bằng những hành động "điếm đàng". Mọi sự lìa bỏ Thiên Chúa đều là một thứ ngoại tình, vì xúc phạm đến một Thiên Chúa dễ bị tổn thương và si tình. Nhưng Thiên Chúa tiếp tục yêu thương một cách không mệt mỏi và tha thứ cho người vợ bất trung, là nhân loại tội lỗi. Đó là điều khác hẳn với những cuộc tranh cãi nới toà án, dù những cuộc tranh cãi đó hữu ích đến đâu cũng thế. Tội lỗi của tôi đã gây tổn thương cho Chúa, cho Đấng yêu mến tôi. Chính Đức Giêsu đã nói điều đó. Ngài đã đến để mạc khải như thế!
Rồi Người lại cúi xuống viết trên đất. Nghe vậy, họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi
Lạy Chúa Giêsu, lần thứ hai này, Chúa đã giữ im lặng bao lâu? Lạy Chúa, thực sự Chúa chứng tỏ lòng thương xót với những người Pharisêu nữa. Chúa cũng không nỡ ném đá họ. Sau này, trên thập giá Chúa sẽ cầu xin: "Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm" (Lc 23,34). ôi! Sâu thẳm thay lòng Chúa. Thay vì lột mặt nạ họ ở chỗ công khai, Chúa đã cho phép họ "lần lượt" âm thầm rút lui, nhờ thái độ im lặng của Chúa.
Trong một lúc lâu im lặng, người đàn bà cũng có thời giờ suy nghĩ vì tội lỗi của mình. Nhiều điều đang diễn ra trong đầu óc của Chị. Có thể chị đã không bao giờ thực sự nhận ra tính nặng nề của tội chị phạm? Nhưng tình yêu xót thương của Thiên Chúa, "không lên án" chị, sẽ phút chốc mạc khải cho chị biết thế nào là tình yêu thực sự. Giờ chị đang nhìn Đức Giêsu. Ngài là một con người nhân hậu. Có lẽ chị ta đang khóc... Chị ta đã thoát chết... Chị không còn là người “ngoại tình" nữa. Chị ta đã được thanh tẩy.
Chỉ còn lại một mình Đức Giêsu, và người phụ nữ thì đứng ở giữa
Sự “khốn khổ” đối với "lòng xót thương", Thánh Âutinh đã bình luận như vậy. Đó là một hình tượng mà con muốn chiêm ngắm lâu giờ. Lạy Chúa Giêsu, xin tạ ơn Chúa.
Người ngẩng lên và nói: "Này chị, họ đâu cả rồi? Không ai lên án chị sao?" Người đàn bà đáp: "Thưa ông, không có ai cả." Đức Giêsu nói: "Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!"
Tất cả những người tội lỗi khác, các kinh sư và người pharisêu đều không hiểu gì nổi Đức Giêsu, không hiểu gì nơi Thiên Chúa cả! Nếu họ ở lại với Đức Giêsu hẳn là họ cũng được tha thứ như người đàn bà này. Vì Đức Giêsu vẫn thường nói: "Phần tôi, tôi không xét đoán ai cả" (Ga 8,l5). "Tôi đến để tìm và cứu những gì đã mất" (Lc 19,10). Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người mà được cứu độ " (Ga 3,17).
Lạy Chúa, con cũng vậy, lúc này con đang cầu xin Chúa, con cần được cứu độ. Con ở lại với Chúa. Trong cuối Mùa Chay này, con sẽ lãnh nhận dấu chỉ nhạy cảm và hữu hiệu, đó là bí tích tình yêu thương xót của Chúa. Con muốn nghe từ nơi vị đại diện của Chúa, như thể chính Chúa, những lời sau đây: "Tôi không lên án anh chị, cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa".
Lạy Chúa Giêsu, Chúa là Thầy và là người Anh của chúng con, Chúa tốt lành và hài hoà tế nhị biết bao! Chúa vô cùng thông cảm và đối xử nhân hậu với chúng con, là những người tội lỗi. Xin tạ ơn Chúa! Chúa tuyệt đối không thoả hiệp với tội lỗi và sự ác.
“Đừng phạm tội nữa". Tạ ơn Chúa! Chúa là Đấng không bao giờ giam hãm chúng con trong quá khứ. Đứng tước người này người nọ mà chúng con thường nói tới. “Không thể làm gì cho hắn được nữa… Tôi đã thử hết cách rồi…Đành chịu thôi... " Thì chắc Chúa sẽ dừng lại trước con người đó với lòng tin cậy, Chúa sẽ thương yêu người đó với thái độ trìu mến, Chúa sẽ nhìn họ với một cái nhìn hoàn toàn mới mẻ, đến nỗi có thể làm phát sinh trong họ một trái tim mới. Vậy Chúa là ai mà yêu thương chúng con như thế? Là Đấng vô cùng cao cả, là Đấng rất dễ bị tổn thương, là Đấng hết sức nghèo nàn ư? Chúa là tình yêu vô biên. Chúa là tình Yêu!

 

MC5-C59: Chú giải của Fiches Dominicales

Đức Giêsu mở ra một con đường hướng về tương lai cho người phụ nữ phạm tội ngoại tình: MC5-C59

Đức Giêsu mở ra một con đường hướng về tương lai cho người phụ nữ phạm tội ngoại tình; trong khi những kẻ tố cáo lại muốn giam hãm chị trong quá khứ tội lỗi.
VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Trước bẫy giăng của đối thủ
Câu chuyện quí giá này tự nó có thể là một Tin Mừng nhỏ mà cốt lõi là: Đức Giêsu từ nơi Thiên chúa đến, không phải để tố cáo tội nhân, nhưng để cứu rỗi họ, và nhờ đời sống, sự chết, sự sống lại của Người, Người dâng tặng họ chính sự sống của Thiên Chúa. Một văn bảo, nhưng sự có mặt của nó trong các bản văn Tin Mừng bị nghi ngờ. Các thủ bản đầu tiên của thánh Gioan không có. Với những lý do tương cận về văn thể và từ ngữ, các thủ bản của thánh Luca lại đặt câu chuyện sau Lc 21, 38.
Tại sao có sự do dự này? A. Marchadour giải thích: "Câu chuyện thì xác thực nhưng, các vị lãnh đạo Giáo Hội sơ khai ngại sự phóng túng. Ngoại tình bị coi như một trọng tội ít gặp. Để được tha, cần làm việc đền tội công khai, lại chỉ được tha một lần thôi. Cách cư xử của Đức Giêsu đối với người phụ nữ ngoại tình, một số vị chức trách cho là quá dễ dãi quá. (Họ quên mất câu “Hãy về và đừng phạm tội nữa"). Dễ dãi thế đe doạ sự trung tín trong hôn nhân" ("L'Eavngile de Jean", Centurion 1992. trg 121).
Sau một ngày giảng dạy ở đền thờ, chiều xuống, theo thói quen, Đức Giêsu lên núi Ôliu. Sáng sớm hôm sau, Người lại vào Đền thờ giảng dạy dân chúng.
"Các kinh sư và những người Pharisêu thù nghịch nghĩ rằng giáo huấn của Đức Giêsu làm đảo lộn tất cả, nên họ quyết định trừ khử Người. Tuy nhiên, để đưa người ra xét xử, cần phải có một chứng cứ đúng đắn.
Một cơ hội không mong đã đến. Một thiếu phụ "bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình". Rẽ đám đông, các kinh sư và những người Pharisêu dẫn chị vào "giữa" đám đông đang tụ họp và nói với Đức Giêsu: "Trong sách Luật, ông Môsê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?"
Bẫy đã giăng, thoát thế nào được! Tha, Đức Giêsu sẽ chống lại luật Môsê. Ném đá, Người tự mâu thuẫn vì Người vẫn rao giảng lòng nhân từ của Thiên Chúa. Đằng sau án xử người thiếu phụ là chính án xử Đức Giêsu.
Giờ đây, dây thòng lọng đang xiết dần cả người thiếu phụ, lẫn Đức Giêsu. Tệ thật! Đây không còn là một vấn nạn nơi lớp học, nhưng là một câu hỏi sinh tử, đối với người thiếu phụ cũng như đối với chính Đức Giêsu.
Vẫn ngồi trong dáng điệu của một ông thầy đang giảng dạy, Đức Giêsu "cúi xuống" và thay vì trả lời, Người dùng ngón tay vẽ vẽ trên đất.
Các nhà chú giải rất quan tâm tìm hiểu xem Đức Giêsu viết gì trên đất? Thánh Hiêrônimô nghĩ: Người vạch tội những kẻ tố cáo. Nhiều tác giả khác thì cho rằng: Người viết lại một câu trong Jêrêmia (17,l3): "tất cả những ai lìa bỏ Ngài sẽ phải hổ thẹn, những kẻ quay lưng lại với Ngài sẽ phải ghi tên mình trong lòng đất ". A. Marchadour cho rằng: "Tốt nhất nên trung thành với sự mơ hồ của bản văn. Đức Giêsu vạch trên đất để kéo dài thời gian thinh lặng, làm cho lời phân xử sắp thốt ra thêm trọng lượng". (sđd; trg 124).
Người ta như không chú ý tới điều được ghi nhận tới hai lần: Đức Giêsu "cúi xuống", rồi "ngước lên". X. Léon-Dufour thắc mắc: "Sao lại nhấn mạnh đến cử chỉ ấy trong một câu chuyện ngắn ngủi như vậy?" Rồi trả lời: "Tên núi Ôliu được nhắc đến ở đầu câu chuyện đã đặt giai thoại này trong bối cảnh cuộc khổ nạn sắp đến. Cử chỉ của Đức Giêsu mang một ý nghĩa Kitô học: nó nhắc đến sự hạ xuống, và đưa lên cao mà qua đó, Đức Giêsu sẽ hoà giải nhân loại bị giam hãm trong tù ngục tội lỗi với Thiên Chúa" ("Lecture de l'evangile selon Jean", Cerf, tập 2, trg 313).
2. Trước hết, câu trả lời của Đức Giêsu là sự thinh lặng.
Họ nài nỉ. Trước khi lại chìm trong thinh lặng, Đức Giêsu nhắc họ lời Kinh Thánh: "Ai trong các ngươi sạch tội, thì cứ lấy đá mà nén trước đi". (Dnl 13,9-10 và 11,7: "Người làm chứng sẽ ném đá kẻ phạm tội trước). Từ lúc ấy, vụ án xử bị cáo lại trở thành vụ án xử nguyên cáo.
Các kinh sư và những người Pharisêu đinh ninh mình công chính, nấp sau luật để tố cáo người phụ nữ. Ở đây, Đức Giêsu đưa chính họ ra xét xử dưới ánh sáng của Luật. Người buộc những quan toà phải tự xét xử chính mình, trước hết, phải trở lại với lương tâm mình, nhìn nhận mình cũng là tội nhân, cùng một thân phận như "người phụ nữ kia", người mà họ đã lôi ra giữa đám đông và giam hãm chị trong quá khứ tội lỗi của mình.
Trong vòng vây của những nguyên cáo hung hăng, sự lưỡng lự biến thành cuộc lui binh như thánh sử ghi nhận cách hài hước: "Họ rút lui từng người một, bắt đầu từ người già nhất".
3. Rồi lời giải thoát đến:
Khi Đức Giêsu ngẩng đầu lên "lần thứ hai thì chỉ còn mình Người đối diện với người phụ nữ". Thánh Augustinô chú giải: "Chỉ còn hai. Lòng thương xót và người được xót thương”.
Nếu trước đó, những người tố cáo gọi chị là "hạng đàn bà đó” một cách khinh bỉ, coi chị như đồ vật, thì giờ đây, chị thấy một ánh mắt khác nhìn chị, nghe một giọng khác gọi chị như gọi một con người: "Này chị". Hơn bất cứ ai khác, Đức Giêsu là người đo lường chính xác nhất mức nặng nhẹ của tội lỗi; và thay vì giam hãm chị trong quá khứ tội lỗi như các kinh sư và những người Pharisêu đã làm, Người thúc đẩy chị bước vào con đường hối cải, và mở cho chị một tương lai một "Không ai kết án chị sao? Tôi cũng vậy. Hãy về và từ nay đừng phạm tội nữa ".
Sau đó thì sao? Câu chuyện để ngỏ đó giống như dụ ngôn Chúa nhật trước bỏ ngỏ thái độ người anh. Một khi đã gặp Đức Giêsu Đấng không lên án mà kêu gọi sống đời sống thánh thiện "độc giả cũng thấy mình được kêu gọi để đừng khép mình vào cái khuôn dĩ vãng chết chóc, nhưng là bước đi trong tự do của con cái Thiên Chúa" (x. Léon-Dufour, Sđd, trg 332).
BÀI ĐỌC THÊM:
1. Một mạc khải sâu xa về bản chất của tội lỗi
Câu chuyện là hạt ngọc quí của Tin Mừng. Chúa Giêsu rời núi ôliu, trở lại đền thờ để cứu vớt một phụ nữ ngoại tình, một kẻ tội lỗi. Đừng hạ thấp giá trị của trang Tin Mừng tuyệt vời này khi cho nó chỉ là bài học về sự khoan dung đối với những yếu đuối nhân loại, sự khoan dung mà các bậc hiền triết thời nào cũng mến chuộng.
Thật ra, trang Tin Mừng hôm nay là một mạc khải rất sâu xa về bản chất của tội lỗi, và bản chất của sự tha thứ... theo cái nhìn của Thiên Chúa.
Tội lỗi, trước tiên là một thực tại loài người, rồi là một thực tại của lòng tin. Khi nghiên cứu cách cư xử của con người, các nhà xã hội học khám phá ra sự phạm pháp: Xã hội bao gồm nam, nữ, gia đình, cộng đồng... không thể vận hành nếu như không có một số luật lệ, cấm đoán. Không trộm cắp. Không nói dối. Tôn trọng đời sống lứa đôi. Không ngoại tình. Đừng hiểu ý nghĩa của trang Tin Mừng này cách trái ngược: Đức Giêsu kết án tội ngoại tình là điều rất rõ. " Đừng phạm tội nữa".
- Ý niệm về lỗi phạm... Nếu trẻ em thường sai lỗi trong những điều cấm -đáng tin cũng có cả một số người lớn còn ấu trĩ như vậy-, thanh thiếu niên chưa trưởng thành trong nhận thức về điều cấm, điều được phép. Họ khám phá ra rằng: những điều người ta cấm họ tác hại đến cá nhân họ: khi tôi nói dối, trộm cướp, ngoại tình, tôi huỷ hoại một điều gì đó về nhân tính nơi tôi. Lỗi phạm như một con sâu gặm nhấm một trái cây, một thiếu sót nơi bản thân, nơi ý chí tôi. Ý niệm về tội lỗi: ở một mức cao hơn, theo nghĩa đúng nhất, tội lỗi làm gián đoạn "mối tương quan với Thiên Chúa". Chúa nhật trước, chúng ta đã thấy Chúa Giêsu gợi ý, tội lỗi chính là sự đứt đoạn tình yêu với Cha: người ta cắt đứt mối tương quan và bỏ đi xa. Hôm nay, Tin Mừng nêu lên một quan hệ khác: toàn bộ Kinh Thánh ví tội của Israel như hành vi ngoại tình, phản bội giao ước giữa Chúa và dân yêu dấu của Ngài. Các ngôn sứ thì ví loài người như một người vợ bất trung đối với chồng. Cắt đứt giao ước tình thương. Xúc phạm một ngươi luôn yêu mình. Đó là mạc khải xác thực và sâu xa về tội lỗi.
Như vậy, đối với Đức Giêsu, người ta chỉ hiểu ý nghĩa của tội lỗi, khi hiểu ý nghĩa về Thiên Chúa. Rốt cục, các thánh là những người sáng suốt nhất, vì các ngài nhận ra hành vi phạm pháp và lỗi lầm làm tổn thương tình yêu của Thiên Chúa, Đấng dựng nên ta và yêu thương ta vô cùng. Chính chúng ta làm tổn thương "khuôn mặt" của Người... nơi chúng ta, chúng ta được tạo dựng giống hình ảnh Ngài.
2. Một lời nói và một ánh mắt giải phóng và cứu độ.
Những người Pharisêu tốt lành và trung thành có một cơ hội tuyệt vời để tố cáo Đức Giêsu. Người bị dồn vào chân tường. Hy sinh người phụ nữ để giữ Lề Luật hay hy sinh Lề Luật để cứu người phụ nữ. Người bị kẹt giữa cả hai phía. Kết án người phụ nữ tội lỗi này thì mâu thuẫn với những lời giảng về lòng thương xót và ơn tha thứ. Tha cho chị thì phạm pháp vì bất tuân luật Môsê. Bị cáo sẽ chính là Đức Giêsu.
Sẽ không có sự kết án, cũng không có viên đá nào được ném ra (hình phạt ném đá đến chết). Bẫy sẽ sập xuống trên chính những kẻ gài nó. Chỉ vài lời thôi, Đức Giêsu đã hoán đổi vị trí, nguyên cáo biến thành bị cáo. Chị ta đã phạm tội. Đúng vậy. Còn các ông? Chị không đến nỗi hư hỏng và tội lỗi như các ông nghĩ và các ông cũng không công chính và trung tín như các ông tự phụ.
Một bài học thật là nặng nề, khó chịu nhưng cũng tuyệt vời Đó là bài học về chân lý, về cách Chúa dạy dỗ, về sự công chính theo Tin Mừng và về lòng thương xót rất phù hợp với truyền thống mà các ngôn sứ bênh đỡ và duy trì trước những trận gió và cơn sóng khắc nghiệt xuất phát từ lòng hẹp hòi của con người. "Đừng nghĩ tới chuyện xa xưa nữa. Hãy quên đi quá khứ. Này ta đang tạo lập một thế giới mới: Nó đang hình thành. Các ngươi có thấy không? "
Phán quyết của Chúa là lời tha thứ. Sự tha thứ không giam cầm người khác trong lỗi lầm và trong quá khứ. Anh mắt và lời nói của Đức Giêsu giải thoát và cứu rỗi. Khác hẳn với những cái răng sắc nhọn, những lời nói như đá ném vào mặt, những cái nhìn kết án như viên đạn xuyên tim. Cơn giận giả dối của “những người công chính" cho rằng mình chẳng có điều chi đáng phiền trách nhưng lại luôn sẵn sàng trừng phạt tội người khác.
3. Một vết nứt trên các hệ thống khép kín của chúng ta.
(“Célébrer", tạp chí của Trung tâm quốc gia về Mục vụ Phụng vụ số 217, trg 26).
Ai cũng khát vọng một thế giới mới. Ai cũng nói về đổi đời Đồng thời, đều cảm thấy bị giam hãm trong những cơ chế gò bó (trong Xã hội cũng như Giáo Hội). Làm sao thoát ra? Theo các bài đọc hôm nay, gặp gỡ Đức Kitô và Tin Mừng của Người sẽ phá tung ngục tù của thất vọng (bài đọc I), làm tan vỡ khối rắn chắc của một lương tâm sơ cứng vì lợi lộc tư riêng (bài đọc 2), bẻ gầy gọng kìm bạo lực của những lời kết án (Tin Mừng).
Trong hoang mạc của chủ nghĩa pháp chế khô cằn, lời kêu gọi biết dùng tự do có trách nhiệm vọt lên như một dòng suối trong mát. Ngay đối với những người Pharisêu khô cằn về luân lý, Chúa Giêsu vẫn có thể cấy trồng sự sống khi làm cho họ hết phương chống đỡ, khi làm cho họ nhận ra rằng họ liên đới với nhau cả trong sự dữ, qua đó, cho thấy có hy vọng vào một lối thoát ra khỏi mọi hệ thống độc đoán và hay kết tội người khác.
Người mở trước mắt ta cái nhìn nhận ái đích thực về mọi lời: cái nhìn không đóng kín chúng ta vào thất bại và tuyệt vọng của quá khứ, cái nhìn tái tạo cuộc sống khi mời gọi chúng ta tiến bước. Tóm lại, đó là một tình yêu loan báo tương lai.
Vết nứt trên các hệ thống khép kín của chúng ta cùng cái nhìn tái tạo này không phải là điều chúng ta cảm nhận và " sống trong bí tích hoà giải đó sao? Không phải là cơ hội cảm nghiệm quyền năng của sự phục sinh đó sao. Bàn tiệc Thánh Thể loan báo thế giới mới. Dân được cứu rỗi hát mừng những kỳ công của Đấng mở lối vào tương lai.

 

MC5-C60:  KHÔNG CẦN BIẾT EM LÀ AI

Tác giả: Cố Lm. Đỗ Vân Lực, op.
 (Ga 8:1-11)
 

Xã hội càng văn minh, phụ nữ càng được giải thoát, và ngược lại.  Ðó là thước đo mức tiến bộ nhân: MC5-C60

Xã hội càng văn minh, phụ nữ càng được giải thoát, và ngược lại.  Ðó là thước đo mức tiến bộ nhân loại.   Ngày xưa, ngay trong dân Chúa, số phận phụ nữ cũng không khá hơn các dân khác.  Câu truyện ném đá người phụ nữ ngoại tình trong Tin mừng hôm nay là một điển hình.
Theo Kinh thánh, trong vụ án ngoại tình, cả hai đồng phạm đều phải đưa ra ném đá (Lv 20:10; Ðnl 22:22).  Thế nhưng, những nhà lãnh đạo Do thái đã cố tình coi thường luật này.  Họ chỉ bắt người phụ nữ, mà không tố cáo người đàn ông tòng phạm.  Các người lãnh đạo đã dùng phụ nữ này  như một chiếc bẫy lừa Ðức Giêsu.  Nếu Người không đồng ý ném đá, họ sẽ tố cáo  Người vi phạm luật Môsê. Chưa chắc họ đã nghe theo.  Trái lại, có thể họ vin vào cớ đó để lên án và ném đá cả Chúa lẫn phụ nữ ngoại tình.  Nếu Người khuyến khích họ xử tử nàng, họ sẽ báo cáo cho quân Rôma biết Người chống lại lệnh cấm người Do thái thi hành án tử hình (Ga 18:31).   Nếu thế, còn đâu hình ảnh nhân hậu của Người trong lòng dân  ?  Những người lãnh đạo Do thái thâm độc thật !
Bên ngoài, họ có vẻ là những người tha thiết với Luật Môsê và bảo vệ công lý. Nhưng thực ra, họ muốn thử thách đức nhân hậu và lòng bác ái của Người.  Làm sao vừa giữ vững công lý vừa duy trì được lòng nhân ái đối với mọi người  ?   Thật là một bài toán hóc búa.  Vậy mà, Người đã tìm thấy đáp số rất tài tình.  Chỉ cần một câu hỏi gọn nhẹ, nhưng xoáy sâu vô nội tâm, Người đã có thể phá tan hàng rào pháp lý và đám đông dầy đặc đang thét gào chung quanh.  Tất cả lời tố cáo đều im bặt trước câu thách đố : “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi.”  (Ga 8:7)  Một tiếng sét xé ngang bầu trời ồn ào hôm đó và đâm thấu tận tim đen đám đông.  Tất cả đã từ từ rút đi sau một giây hồi tâm.  Như thế, Chúa vừa cứu được người phụ nữ ngoại tình, vừa làm cho đám đông, nhất là giới lãnh đạo, trở về với sự thật lòng mình.  Họ lần lượt ra đi như một lời thú tội. Thế là họ mắc vào bẫy chính mình đã giương lên.  Còn Chúa, Người chẳng cần giương bẫy, nhưng đã bắt được cả hai con chim. 
Khi trở thành nạn nhân của những mưu thâm chước độc, con người biến thành phương tiện cho con người.  Người phụ nữ ngoại tình chỉ là một phương tiện dùng để tố cáo và lên án Ðức Giêsu mà thôi.  Người không bao giờ xử dụng con người làm phương tiện cho mình.  Trái lại, không những lấy con người làm trung tâm cho sứ mệnh của mình, Người còn tự biến mình thành “con đường” (Ga 14:6) cho con người đến với Chúa Cha.  Người đã hy sinh tất cả cho con người.  Con người trở thành mục đích cho toàn thể công trình sáng tạo và cứu độ.  Thật thế, vì là “hình ảnh Thiên Chúa,” (St 1:27) con người được Thiên Chúa đặt ở “trung tâm và tột đỉnh mọi loài thụ tạo.”[1] Chúa đã thấy tất cả phẩm giá lớn lao đó nơi người phụ nữ ngoại tình, dù tội nàng có lớn tới đâu.  Trái lại, những nhà lãnh đạo Do thái đã đồng hóa con người với tội lỗi, nên nàng không còn lý do hiện hữu trên cõi đời này nữa.  Tội nhân không còn cơ hội để làm lại cuộc đời.
Trong suốt thời gian căng thẳng giữa rừng người khát máu, Chúa Giêsu luôn bình tĩnh và sáng suốt để tìm đường thoát hiểm cho người phụ nữ nạn nhân và cho chính mình.  Người giúp đỡ cô, nhưng không hề bênh vực cho tội ngoại tình của cô.  Bằng chứng, sau khi “tòa án nhân dân” đã giải tán, Người không quên căn dặn : “Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa !” (Ga 8:11)  Còn lời nào cương nghị và đầy nhân ái hơn ?!
Chính vì thế, tội nhân đã tìm đến với Ðức Giêsu để tìm một cơ hội lớn trở về với Thiên Chúa.  Không còn con đường nào khác !  Không những phẩm giá họ được nhìn nhận, nhưng họ còn được đưa vào tương quan với Thiên Chúa.  Vì được dựng nên “giống hình ảnh Thiên Chúa,” (St 1:27) nên “tự bản chất, con người hiện hữu trong tương quan chủ yếu và sâu  xa nhất với Thiên Chúa.”[2]  Như thế, trước sức mạnh tình yêu, tội lỗi không thể hủy diệt bản chất đó của con người.  Tình yêu nối lại mối dây thân tình sâu xa giữa con người với Thiên Chúa. Tình yêu đó chỉ có thể tìm thấy nơi Con Người Ðức Giêsu trên Thánh Giá.
Tình yêu mạnh hơn sự chết.  Không phải chỉ bằng lời nói, nhưng bằng hành động, Ðức Giêsu đã cứu con người không những thoát khỏi đám đông khát máu, nhưng khỏi bàn tay ác thần hung bạo.  Người giải thoát không những thể xác khỏi cái chết đời này , nhưng cả linh hồn khỏi cái chết đời sau.  Chính vì Người đã chết, toàn thể nhân loại được cứu sống và đi sâu vào tình yêu Chúa Cha.  Cái chết trên thập giá trở thành cần thiết cho sự sống nhân loại.  Khi cứu sống nhân loại, Người không nhìn vào tội ác họ đã xúc phạm đến Thiên Chúa, nhưng nhìn vào chính con người với tất cả giá trị cao cả của họ nơi Thiên Chúa.  Chính vì hạnh phúc và phẩm giá con Thiên Chúa của họ, nên Chúa đã chấp nhận tất cả.
Khi thấy nhân loại phạm tội, Người đã không tra cứu sách luật hay Kinh thánh.  Trái lại, Người nhìn sâu vào lòng nhân từ của Chúa Cha và hình ảnh của Cha nơi nạn nhân, để đem lại một chiều kích mới mẻ và toàn triệt cho lề luật.  Con người đã không có được cái nhìn như thế, nên mới dễ bạo động.  Chính Người cũng đã trở thành nạn nhân của đám đông bạo động.
Ðám đông thời ấy và đám đông thời nay có khác nhau không ?  Giả sử, đứng giữa “tòa án nhân dân,” Chúa Giêsu cũng đặt vấn đề tương tự như thế, liệu có ai dừng tay và bỏ đi không ?  Dầu sao đám đông thời Chúa Giêsu vẫn còn lương tâm và biết nhìn nhận sự thật.  Ðám đông ngày xưa vẫn can đảm hơn đám đông ngày nay.  Còn ngày nay, biết bao người đã chết oan vì lương tâm không còn hoạt động nơi đám đông.  Chẳng hạn, biết bao nạn nhân vô tội đã gục ngã trong những vụ cải cách ruộng đất ở ngoài Bắc Việt.  Sự thật thuộc về đám đông chuyên môn “lấy thịt đè người.”  Dù biết mình sai, họ vẫn không có can đảm nhìn nhận sự thật và không dám rút lui vì sợ bẽ mặt.  Trái lại, họ còn dựa vào sức mạnh vũ khí, nhà tù, quyền lực để áp đảo tiếng nói lương tâm và chà đạp sự thật. 
Cuộc đấu tố ngày xưa ở Bắc Việt và những cuộc bắt bớ các nhà tranh đấu cho dân chủ trong nước hiện nay có khác việc lên án phụ nữ ngoại tình trong Tin Mừng hôm nay không ?  Có khác chăng là phụ nữ ngoại tình có tội thật, còn những người bị đấu tố và các nhà đấu tranh cho nhân quyền ở trong nước có tội gì ?  Phải chăng hành động theo tiếng lương tâm là một thứ tội ?  
Ai dám bênh vực họ đây ?  Ngày xưa, Chúa Giêsu đã mạnh mẽ bênh vực và tìm cách giải thoát phụ nữ ngoại tình, mặc dù biết nàng là người có tội.  Hôm nay, Nhiệm Thể hay Hiền Thê của Người là Giáo Hội không đủ can đảm bênh vực cả những người vô tội hay sao ?  Phật Giáo Thống Nhất có những vị lãnh đạo cao cấp như Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ dám hy sinh cả đời để tranh đấu cho tự do tôn giáo.  Còn Giáo Hội Công Giáo Việt nam, Hàng Giáo Phẩm đang ở đâu ?  
Lạy Chúa, từ trước tới nay, con đã làm gì khi anh em xúc phạm đến con ?  Con luôn muốn công lý phải được thi hành.  Lúc nào con cũng có đủ lý do biện hộ cho việc phục thù của con. Chắc chắn hôm nay Tin Mừng đòi hỏi con phải cúi xuống tĩnh niệm, trước khi đụng đến tha nhân.  Xin cho con luôn sẵn sàng dành cho anh em một cơ hội.  Xin hãy mở trái tim con ra để mọi người thấy tình yêu Chúa đang sôi sục trong con. Amen.
đỗ lực
25.03.2007

 

MC5-C61:  LÒNG KHOAN DUNG CỦA THIÊN CHÚA

PM. Cao Huy Hoàng
 

Các em thiếu nhi trong Giáo xứ thường xem trước bài Tin Mừng Chúa Nhật, đọc và tìm hiểu. Hôm: MC5-C61

Các em thiếu nhi trong Giáo xứ thường xem trước bài Tin Mừng Chúa Nhật, đọc và tìm hiểu. Hôm nay, Bé Hữu  đọc to đoạn tin mừng Ga 8, 1-11. Mẹ hỏi: “con hiểu thế nào?” Bé trả lời  “Chúa Giêsu cứu một mạng người” “cứu ai” “Cứu bà kia”?  “Ai định giết?” “Mấy ông luật sĩ định ném đá cho chết luôn” “Sao không ném?” “Ai cũng có tội mà ném gì, Mẹ? Họ rút êm hết rồi”
Còn Chúa thì sao? “Chúa bảo bà ấy về đi, đừng phạm tội nữa. Thế là bà ấy thoát chết”
"Thưa Thầy, phụ nữ ngoại tình này bị bắt tại trận. Theo Luật, Môise truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà như thế. Vậy, Thầy dạy sao?" (Gn 8:4-5)
Người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội  tình được đề cập trong bài Tin Mừng hôm nay đang đau khổ vì xét theo luật, phải bị công khai ném đá cho đến chết. Thực ra, chị không phải là nhân vật chính trong vụ xét xử theo yêu cầu của các luật sĩ. Nhưng chính là Chúa Giêsu. Họ đang muốn xử Chúa Giêsu. Và họ sẽ xử Chúa Giêsu nếu Ngài không xử người phụ nữ này đúng theo luật của Môise đã định. (Lv 20:10).
Thật tội nghiệp cho thân phận thiệt thòi của người phụ nữ. Không thấy người đàn ông tòng phạm bị ném đá!
Chúa Giêsu biết họ đang thử thách Ngài về lòng bác ái và việc thi hành lề luật. Ngài đã thinh lặng đến độ khó hiểu. Và khi Ngài lên tiếng, thì họ mới hiểu ra là Chúa Giêsu đứng về phía tội nhân. Ngài không bảo đừng ném đá, nhưng Ngài bảo ai đó cứ ném đi nếu tự thấy mình vô tội. “Trong các ông, ai vô tội thì hãy ném đá trước đi" (Gn 8:7).Ngài không bào chữa cho tội nhân, nhưng Ngài tha thứ và với ơn tha thứ Ngài khuyên người phụ nữ đừng phạm tội nữa. "Ta cũng không xử tội bà! Đi đi! Và từ nay đừng phạm tội nữa! (Gn 8:10-11).
Tin mừng đưa ra hình ảnh người đàn bà ngoại tình không có ý làm giảm nhẹ giá trị phụ nữ thời xưa hay thời nay, nhưng có ý nhắc đến “người phụ nữ là Dân Riêng Thiên Chúa” mà Thiên Chúa đã kết ước như một cuộc hôn phối diệu kỳ giữa Thiên Chúa như người chồng, và dân riêng như người vợ: “Vì ngươi sẽ được ĐỨC CHÚA đem lòng sủng ái, và Chúa lập hôn ước cùng xứ sở ngươi. Như tài trai sánh duyên cùng thục nữ, Đấng tác tạo ngươi sẽ cưới ngươi về. Như cô dâu là niềm vui cho chú rể”.(x. Is 62, 4- 5). Và Ngôn sứ Hôsê: “Ta sẽ lập với ngươi một hôn ước vĩnh cửu. Ta sẽ lập hôn ước với ngươi trong công minh và chính trực, trong ân tình và xót thương. Ta sẽ lập hôn ước với ngươi trong tín thành, và ngươi sẽ được biết ĐỨC CHÚA. ( Hôsê 2,21-22)
Còn trong Tân Ước, Chúa Giêsu Kitô là chàng rể và Giáo Hội chính là hiền thê của Ngài. “Kìa chàng rể đến, hãy ra đón người” (Mt 25, 6). Cũng vậy, trong Giáo Hội mỗi thành phần đều là những người yêu quí của Chúa Kitô, thuộc về Chúa Kitô, trong ý nghĩa đã được hôn phối đời đời với Ngài.
Như vậy hình ảnh người vợ ngoại tình có ý nói đến việc dân riêng Thiên Chúa bỏ Thiên Chúa mà lang chạ với ngẫu thần ngẫu tượng, việc mỗi người chúng ta cắt đứt tình nghĩa với Thiên Chúa khi để lòng chúng ta yêu chuộng các sự thế gian hơn yêu mến Thiên Chúa, khi sống trong tình trạng tội lỗi.
Đâu chỉ có các bà!
Dân Chúa hôm nay có trong đó có tôi, có chị, có nam có nữ, có ông già bà già và cả con nít..thảy đều phạm tội ngoại tình.. xét theo nghĩa, ngoại tình là không chung thủy lời hứa hôn phối với Thiên Chúa qua bí tích rửa tội, qua lời hứa từ bỏ ma quỉ và các việc của nó…
Có người ngoại tình chạy theo lời dụ ngọt của lợi nhuận vật chất, của sự bảo bọc bao che cho những sai trái của mình mà phải  làm tay sai cho một thế lực chống lại Thiên Chúa.
Có ông ngoại tình hết mình lo tiền bạc là vì xem tiền bạc là cứu Chúa đời mình mà quên việc phục vụ tha nhân.
Có ông vì run sợ trước họng súng để vào tai, trước lưỡi dao kề bên cổ, trước những đe dọa bắt bớ bỏ tù mà đành phản bội với Chúa Kitô và Thập giá của Ngài.
Có người muốn kết duyên với “chức trọng quyền cao” mà không chu toàn bổn phận đầy gian nan khổ ải, đòi hỏi những hiến thân phục vụ cho chân lý.
Cũng có những người ngoại tình vì những khát vọng khoái lạc chóng qua mà bỏ rơi Thiên Chúa muôn đời hằng hữu.
Có ông ngoại tình “bắt cá hai tay” không mất chuyện trong đạo mà được cả chuyện ngoài đời, trong ngoài đều có lợi…

Ma quỷ khôn ranh tạo ra muôn hình vạn trạng cách phạm tội ngoại tình đối với lời thề hứa chung thủy với Thiên Chúa và còn đưa dẫn chúng ta cách tài tình đến chỗ phải làm thân nô lệ  cho tội lỗi.
Không ai vô tội. “Trong các ông, ai vô tội thì hãy ném đá trước đi".
Lời Chúa xoáy vào tâm can mỗi người. Từng người rút êm. Không ai dám cầm viên đá mà quăng vào người phụ nữ.
Cách đây không lâu, chỉ vài chục năm thôi, tôi còn nhớ như in hình ảnh những cô “ăn cơm trước kẻng”, những bà có chồng công khai chung sống với người khác, đứng trước cộng đoàn đọc bản tự thú để được tha vạ mà xưng tội rước lễ. Tôi cũng thấy có các cô thôi, không thấy các anh, các ông. Các cô, các bà  ấy bị những biện pháp chế tài vì là tội nhân công khai -có lẽ công khai vì cái bầu - Có nơi còn phải bị nộp phạt cho giáo xứ nữa.
Những dịp ấy, có nhiều tiếng xì xào trong nhà thờ. Ra khỏi nhà thờ, cả cô và bà đều cúi gầm mặt xuống mà đi vì xấu hổ trước mặt mọi người. Rồi, nếu có lễ cưới, thì Bí Tích Hôn Phối bị gọi là Phép Giao, cử hành trong phòng thánh mấy phút là xong.
Tưởng là khủng khiếp cho một não trạng phân biệt đối xử như thế, nhưng ít nhiều cũng đã bảo đảm được cho lớp trẻ một thời biết gìn giữ đức khiết tịnh tiền hôn nhân, lớp già biết gìn giữ đặc tính đơn hôn trong hôn nhân công giáo.
Xin một chút tản mạn ngoài lề…Còn thời nay… “Mẹ lạy con đừng phá cái thai ấy. Đã lỡ phạm tội, lỡ có bầu rồi, con đừng phạm thêm cái tội giết người nữa con ơi! Phá thai là giết người không có sức kháng cự, không có khả năng tự bảo vệ, là giết chính con mình… Tội tày trời. Mẹ năn nỉ con…”
Còn thời nay…. người trẻ chưa sống đời vợ chồng, đòi sống thử đã đành, người già cũng sanh tật tìm hoa thơm cỏ lạ, thành ra tội lỗi khắp nơi khắp chốn, tội lỗi đủ mọi lớp tuổi, mọi thành phần. Sống thử, ngoại tình, phá thai, ly dị… trở thành đại dịch để lại những hậu quả khủng khiếp về đời sống luân lý cho không chỉ một thế hệ, và chắc chắn cũng là hậu quả vô cùng tệ hại đối với sự tồn vong của một dân tộc.
….
Nhưng xin đừng kết án. Xin đừng ném đá. Chúa Giêsu bảo: “Anh em đừng xét đoán, thì anh em sẽ không bị Thiên Chúa xét đoán. Anh em đừng lên án, thì sẽ không bị Thiên Chúa lên án. Anh em hãy tha thứ, thì sẽ được Thiên Chúa thứ tha. Vì anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy" (Lc 6,36-38).
Thực tế, lòng người quá hẹp hòi ích kỷ, như bà De Girardin đã nói: “ đàn bà chỉ tha thứ sau khi đã trừng phạt, hoặc như Tennyson : “đàn bà rất cay nghiệt với đàn bà”. Vâng tính đàn bà ấy lại ngự trị ngay trong lòng những người đàn ông tưởng như là độ lượng. Ngược lại, không thiếu những phụ nữ còn độ lượng hơn cả đàn ông.
Đối với Chúa Giêsu, tha thứ tuyệt đối là điều kiện tiên quyết để phục hồi tình
trạng nguyên tuyền của hôn ước thánh thiện giữa Thiên Chúa và con người, giữa Chúa Kitô và Giáo Hội. Chúa Giêsu là tấm lòng bao dung của Thiên Chúa. Lòng bao dung của Thiên Chúa được nhắc đến trong bài đọc 1, Is 43, 18-19: "Các ngươi đừng nhớ lại những chuyện ngày xưa, chớ quan tâm về những việc thuở trước. Này Ta sắp làm một việc mới, việc đó manh nha rồi, các ngươi không nhận thấy hay sao? Phải, Ta sẽ mở một con đường giữa sa mạc, khơi những dòng sông tại vùng đất khô cằn”.
Vâng, Thiên Chúa không nhắc lại chuyện xưa, không dằn xé đay nghiến, không trừng phạt tức khắc, nhưng chỉ biết khoan dung kiên nhẫn chờ đợi và thứ tha vô lượng. Ngài còn mở ra một con đường của bình an hy vọng: “Đừng phạm tội nữa” .
Và để có một hướng định quyết liệt cho việc không tái phạm tội, thánh Phaolô chỉ dẫn: “Thưa anh em, tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời, là được biết Đức Ki-tô Giê-su, Chúa của tôi. Vì Người, tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả như rác, để được Đức Ki-tô…….
Thưa anh em, tôi không nghĩ mình đã chiếm được rồi. Tôi chỉ chú ý đến một điều, là quên đi chặng đường đã qua, để lao mình về phía trước. (Pl 3,8-14)
Lạy Chúa Giêsu, Chúa là lòng khoan dung của Thiên Chúa, xin cho chúng con giữ lòng chung thủy với Chúa, và khi lỡ lầm, xin cho chúng con biết vững tin vào lòng tha thứ vô lượng của Chúa, mà quyết tâm nối lại duyên tình hạnh phúc vô biên với Chúa, và dứt khoát nói “không” với tội lỗi. A men
18-3-2010
PM. Cao Huy Hoàng

 

MC5-C62:  PHIÊN TOÀ PHÚC THẨM : MỘT CHỮ “NHẪN”

Ga 8, 1 – 11
 

Một trong những từ tiếng Hán mà người ta hay nhắc và ưa dùng nhất là chữ NHẪN.Theo chiết tự: MC5-C62

Một trong những từ tiếng Hán mà người ta hay nhắc và ưa dùng nhất là chữ NHẪN.Theo chiết tự trong tiếng Hán, chữ “Nhẫn” (#) được kết hợp bởi bộ Đao (ở trên) và bộ Tâm (ở dưới). Đây là lối kết hợp tượng hình và suy ra là người bị dao đè lên tim mà vẫn giữ được bản lĩnh, được gọi là “Nhẫn”.
Sau khi bị xử sơ thẩm và tuyên án, bị cáo có một thời hạn để kháng cáo và sẽ được tiến hành thủ tục phúc thẩm. Bản án đã tuyên ở toà sơ thẩm có thể giữ nguyên, có thể tăng nặng và cũng có thể bị hủy bỏ.
Bao vụ án oan trên thế gian,xuất phát từ thành kiến,từ chính kiến,từ cố chấp và thông tin sai và không loại trừ do trù dập hoặc nhận hối lộ để bán rẻ lương tâm quan toà. Chính trường Pháp một thời sóng gió vì vụ án oan cho đại úy Dreyfus, để rồi toà án binh nước Pháp chủ trương “đã lỡ cho lỡ luôn” và phải nhờ đến tài năng của một nhà văn và nhà hoạt động xã hội như Emile Zola, qua bài báo nẩy lửa “J’accuse” ( tôi tố cáo), mới lật ngược được bản án và trả tự do cho viên đại ý gốc Do Thái nầy. Có thể khẳng định hầu hết các bản án do các chế độ thực dân, độc tài dành cho những người đấu tranh chống lại họ, đều là an oán, vì chúng mong “bịt mồm” sự thật, bóp chết tự do tư tưởng và tự do ngôn luận. Khi người cầm cân nẩy mực, mà trong lòng có bất kỳ tư tưởng nào khác ngoài công lý, thì sự thật đã bị bẻ cong và công lý đã bị bóp chết trước khi phán quyết. Người ta ghi nhận hai mươi bảy vụ án oan trong lịch sử các triều đại Trung Quốc. Tất nhiên chỉ nêu ra những vụ án động trời. Trên đất nước “sống và làm theo hiến pháp” Việt Nam, cũng đã xảy ra hàng bao án oan và chỉ một số rất nhỏ được lật ra và minh oan. Bao nhiêu chuyện hậu thế sẽ xét xử,song cũng bao nhiêu chuyện có lẽ chỉ có trời biết (!). Tự do tôn giáo thì đã rõ : hai ngàn năm nay, Kitô giáo luôn là đối tượng của những bách hại : vu cáo,phỉ báng,bắt bớ,giam cầm,chém giết. Đạo Chúa luôn là cái gai trong mắt các chế độ độc tài vô thần. Bách hại là hình thức hay nhất để che dấu sợ hãi và những tư tưởng,lời nói,việc làm xấu xa, mà chỉ Kitô giáo mới vạch trần, tố cáo, ngăn cản và chống lại, dù phải hy sinh tính mạng, Hình ảnh của Gioan Tẩy Giả hiên ngang trước ông vua dâm loạn Hêrôđê : ‘Ngài không được phép lấy vợ của anh (Mc 6,18). Hình ảnh khác lạ của Chúa Giêsu hôm nay trước đám đông (“dân chúng đến với Người và người bắt đầu giảng dạy họ” – Ga 8,2) và nhất là trước một đám người đặc biệt (“các luật sĩ và biệt phái dẫn đến cho Người một phụ nữ bị bắt quả tang ngoại tình” – Ga 8,3) sẽ cho thấy, như lời Đức Thánh Cha Biển-Đức XVI nói trong buổi triều yết chung ngày 17.03.2010 :”Tình yêu đi xa hơn lý trí trong việc hiểu biết Thiên Chúa” và anh em.
Phiên toà sơ thẩm hôm nay đã được mở,tương đối dễ dàng, vì đã có luật Môsê định rõ : cả người phụ nữ lẫn người đàn ông đều bị xử tử. Không nghe nhắc gì về người đàn ông cùng phạm tội : có thể đã bị ném đá chết, mà cũng có thể chỉ là một ‘con mồi’ để bẫy một phụ nữ trong kế hoạch bẫn thỉu của họ bôi nhọ, vì đích mà những người Do Thái nầy nhắm,không phải là vụ ngoại tình,mà chủ yếu là để làm hại Chúa Giêsu, vì thế mà bản án chưa được thi hành, vì thế mà họ điệu người phụ nữ đến trước mặt Chúa Giêsu và trước đám rất đông người vốn vẫn thường vây quanh Chúa Giêsu. Vỏ quýt dày đã có móng tay nhọn. Vô tình những luật sĩ và biệt phái công nhận quyền phúc thẩm của Chúa Giêsu, dẫu rằng trong tâm trí họ,mạng sống và uy tín của Chúa Giêsu như “cá nằm trên thớt’ và cuộc chơi sẽ kết thúc hôm nay : kết án hay can thiệp để tha cho người phụ nữ, đều sẽ làm cho Chúa Giêsu phải mất uy tín trước dân (nếu kết án) hoặc bị chết (nếu nghịch cùng luật Môsê). Nhưng nếu để ý kỹ, thì có thể thấy trước mỗi sự kiện, biến cố, các thánh sử đều ghi lại “Chúa Giêsu đã cầu nguyện” và “Người đang giảng dạy” hoặc chí ít cũng đang ở Đền Thờ. Điều nầy cũng có thể kết luận rằng Chúa Giêsu cầu nguyện liên lĩ và luôn ở với các môn đệ và dân chúng. Hai quan hệ gắn bó nầy cấu thành cuộc đời và sứ mệnh của Chúa Giêsu : kết hợp với Chúa Cha, vì lợi ích con người. Trong tư cách quan toà phúc thẩm, Chúa Giêsu không chỉ giải quyết gọn nhẹ vụ án,mà còn để lại cho chúng ta bài học đắt giá.
Trong binh pháp cũng như trong võ thuật, người ta thường dùng ‘nhu’ chế ‘cương’. Cha ông Việt nam thì vắn gọn và thâm thúy hơn : ‘lạt mềm buộc chặt’. Một cuộc tranh luận như Chúa Giêsu vẫn làm với các luật sĩ và biệt phái, sẽ dẫn đến cái chết chắc chắn cho người phụ nữ. Chúa Giêsu không dại gì ‘thêm dầu vào lửa’. Người nhìn thấu tâm can con người. Người biết rõ dù ác đến đâu, thì trong sâu thẳm con người vẫn còn cái gốc (có thể lả cả cái mầm) chữ ‘tâm’ lương thiện: lương tâm con người, như một hòn than cháy ngầm,chỉ chờ một làn gió nhẹ thổi tới, là bùng lên. Thời gian hai lần ngồi viết trên mặt đất đủ để cho những cái đầu nóng Do Thái hạ hoả. Không ai biết Chúa Giêsu viết gì,nhưng chúng ta có thể đoán là Người viết cho cả chính mình,lẫn đám người đang sôi sục nầy và đó là chữ: nhẫn! Thiên Chúa luôn nhẫn nại, chậm bất bình và giàu yêu thương”(Tv 145,8; x. Gn 4,2; Is 49,14). Thánh Sử Gioan vắn gọn :”Vì Thiên Chúa là Tình yêu” (I Ga 4,16). Và Chúa Giêsu đã thành công : đám luật sĩ và biệt phái không đủ can đảm đối diện với lương tâm, không thể trơ trẻn tự cho mình là ‘người công chính’, ‘người vô tội’. Người công chính,thánh thiện thì luôn thấy mình tội lỗi,và đã không hành động như họ. Tam thập lục kế, tẩu vi thượng sách. “Ta cũng vậy,Ta không kết án Chị đâu. Hãy về và từ nay đừng phạm tội nữa” (Ga 8,11) : tiếng nói nhẹ nhàng, như ánh nắng ban mai nồng ấm xoá tan màn sương đêm tối còn vương lại, không làm cho người phụ nữ bẻ mặt, mà chỉ thấy tri ân, không chỉ vì ơn cứu tử,mà còn vì thấm thía tình thương của Đấng có quyền tha thứ đích thực.
Ngày nay phong trào yêu cầu bải bỏ án tử hình ngày càng lan rộng. Theo các số liệu năm 2008, đã thực hiện 2.390 án tử hình, trong đó Trung Quốc là 1.718. Thập niên 1970 chỉ có 23 quốc gia bãi bỏ án tử hình, ngày nay con số đó là 139. Ngày 12.03.2010, bộ trưởng tư pháp Đài Loan Hoàng Phong Chính đã từ chức vì bà chống lại án tử . Đúng là có những trường hợp tội ác khó lòng dung tha, chỉ nghe thôi đã làm cho ta nỗi da gà kinh hoàng và đáng “cách ly khỏi xã hội”, nhưng không có nghĩa là lấy đi sự sống của họ. Đơn giản là vì sự sống không thuộc về quyền con người ban phát hoặc lấy đi,như tịch thu một tài sản do phạm tội mà có. Lấy mạng sống của một con người,dù dưới hình thức nào, cũng chẳng khác gì ‘ăn cướp’ tài sản,mà người khác có quyền sở hữu, quyền ‘tự nhiên’ (nói theo khía cạnh con người) và do chính Thiên Chúa ban phát. Văn minh con người đã đi quá đà, đến chỗ nâng niu coi trọng một con vật cưng (pet) hơn cả người nghèo,người bất hạnh. Người ta sẵn sàng tiếc thương, sống chết vì một con vật, nhưng lại lạnh lùng thản nhiên trước thân phận những người đang chịu vô vàn đau khổ vì thiên tai,dịch bệnh, nghèo đói,bất công và tàn nhẫn biện hộ cho những việc làm kinh tởm như thực hiện và hợp pháp hoá ngừa tránh và nạo phá thai,mà con số thai nhi bị giết hại chỉ tính năm mươi năm qua đã lên đến hàng tỷ. Không có phiên toà nào cho những sinh linh không thể bào chữa cho mình,khi chính người mẹ sống buông thả và vô trách nhiệm,nghe lời sai trái,muốn rủ bỏ chúng như rủ bỏ một món nợ. Sẽ chẳng có phiên toà nào trên thế gian nầy đưa ra trước vành móng ngựa những chính phủ, những chính khách,những doanh nhân làm giàu trên thân thể thai phụ và sinh mạng trẻ chưa sinh. Thế gian nầy làm sao xét xử kết án đồng phạm! Họ đã ném đá những thai nhi vô tội,không ngần ngại liên kết nhau hạ sát bao trẻ thơ! Họ tự cho mình là vô tội và không ít lần còn tự coi là…ân nhân của nhân loại.
Cuối cùng là thái độ cần có đối với những vụ việc đã và đang xảy ra khắp nơi trong Giáo Hội (chưa nên vội cho rằng Giáo Hội Việt Nam được ‘miễn nhiễm”!). Lạm dụng tình dục vối trẻ vị thành niên, tội ấu dâm là tội ác biến thái, tày trời, không chỉ hủy hoại thanh danh Giáo Hội địa phươnng và hoàn vũ,- khiến nhiều tín hữu Công giáo mất đức tin và nhiều người muốn gia nhập Đạo phải rút lui -, mà còn hủy hoại đời sống và tương lai của các nạn nhân. Nhưng Chúa Giêsu luôn dạy và nhắc nhủ chúng ta chữ “Yêu” và chữ “Nhẫn” trong hành xử với đồng loại, nhất là đồng đạo, vì ngoài lý do nhân bản,đạo đức, thì trước mặt Thiên Chúa,mọi người đều là tội nhân. Chưa bàn tới việc Satan lợi dụng tình hình, để phá hoại và hạ thấp uy tín của Giáo Hội,gây rối ren,chia rẻ và ngờ vực trong hàng giáo sĩ với nhau và với bổn đạo, là Kitô hữu, chúng ta không chỉ ngồi than thân trách phận, đau buồn, chỉ trích, nguyền rủa, mà phải biết chung tay sửa chữa những sai lầm nầy, bằng cuộc sống gương mẫu hơn,khiết tịnh hơn, sốt sắng hơn và không ngừng ăn chay,đền tội,lần hạt mai-khôi cầu nguyện cho những người sa ngã ấy. Tất nhiên một linh mục phải làm gấp năm,gấp mười những việc ấy, để cầu cho các đồng nghiệp đã gây bao thiệt hại cho Giáo Hội nói chung và cách riêng cho hàng giáo sĩ,cho chức linh mục cao trọng, như các tu sĩ Dòng Đạo Binh Chúa Kitô đang làm, dù hơn ai hết họ vô cùng ê chề,đau khổ vì vị sáng lập Dòng bị phát hiện là người có đời sống hai mặt đầy tai tiếng,gương mù gương xấu. Giận thì giận,mà thương thì thương, lời ví dặm Nghệ An bình dị, mà nghe thâm thúy lắm thay!
Với chúng ta, có thể lập lại cho bản thân lời cầu nguyện của tiên tri Êlia :”Lạy Đức Chúa, đủ rồi! Bây giờ xin Chúa lấy mạng sống con đi, vì con chẳng hơn gì cha ông của con."(I V 19:4). Lươn ngắn chê trạch dài. Kyrie eleison!
ĐƯỜNG TÌNH CHÚA DẪN CON ĐI 41

 

MC5-C63: LUẬT SƯ TÀI GIỎI NHẤT

Trong xã hội Do Thái, những tội liên quan đến điều răn thứ sáu, đặc biệt là tội ngoại tình, thì đôi : MC5-C63

Trong xã hội Do Thái, những tội liên quan đến điều răn thứ sáu, đặc biệt là tội ngoại tình, thì đôi gian phu dâm phụ đều bị trừng trị rất nặng nề và bị xử tử một cách công khai trước mặt cộng
đồng:
Nếu một người đàn ông bị bắt gặp đang nằm với một người đàn bà có chồng, thì cả; hai sẽ phải chết: người đàn ông đã nằm với người đàn bà, và cả người đàn bà. Anh (em) phải khử trừ sự gian ác, không cho tồn tại ở Ít-ra-en (Đnl 22:22) .


Khi một cô gái còn trinh đã đính hôn với một người đàn ông, mà một người đàn ông khác gặp cô trong thành và nằm với cô, thì anh (em) sẽ lôi cả hai ra cửa thành ấy và ném đá, và chúng sẽ phải chết: cô gái, vì lý do ở trong thành mà đã không kêu cứu, và người đàn ông, vì lý do đã cưỡng bức vợ người đồng loại (Đnl 22:23-24). Khi người đàn ông nào ngoại tình với đàn bà có chồng, ngoại tình với vợ người đồng loại, thì cả đàn ông ngoại tình lẫn đàn bà ngoại tình phải bị xử tử (Lv 20:10).

Người phụ nữ trong bài Tin Mừng ngày hôm nay, theo như lời tố cáo của những ông kinh sư và những ông biệt phái, thì rõ ràng là … chết chắc! Chị ta nắm chắc cái chết thê lương trong tay vì chị đã vi phạm phải giới luật của Mô-sê (Đnl 22:22, Lv 20:10). Thế nhưng số phận của chị ta vẫn còn may mắn lắm là bởi vì:
Chị đã được người ta điệu đến trước mặt chúa Giêsu và họ nhờ Người làm quan án xét xử cho cái tội đáng chết của chị. "Thưa Thầy, người đàn bà này bị bắt quả tang đang ngoại tình. Trong sách Luật, ông Mô-sê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?”(Ga 8:5). Chị đã được chính Chúa Giê-su, vị quan án kiêm luật sư, một vị cực kỳ khôn ngoan và nhân ái bào chữa và cứu chị thoát khỏi cái án tử đang treo lơ lửng trên đầu của chị. “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi." (Ga 8:7). Bạn có đồng ý với tôi là người phụ nữ này quá ư là may mắn không?
Chị ta quả thật là may mắn là vì chị đã được đưa đến trước một vị quan tòa có trái tim nhân ái, hay có lòng thương xót và cũng là một vị luật sư có tài biện hộ xuất sắc đến độ đã đổi cái án tử hình thành cái án tha bổng. Nói cách khác, nhờ có cơ hội đến với Chúa Giê-su và nhờ vào tấm lòng bao dung nhân ái của Ngài mà chị đã thoát chết trong đường tơ kẽ tóc.
Bây giờ tôi hỏi nhỏ bạn câu này! Bạn có bao giờ phạm tội ngoại tình không vậy? Tội ngoại tình đa dạng và nhiều kiểu lắm chứ không phải đơn thuần chỉ là chuyện ăn nằm với người khác mà thôi đâu! Khi con người ta bỏ Chúa đi thờ ngẫu tượng và các thần xa lạ khác thì lúc đó người ta đang phạm tội ngoại tình đấy! Bạn mở Kinh Thánh ra mà xem thì sẽ thấy, dân Israel đã rất nhiều lần phạm tội ngoại tình qua thái độ phản bội Thiên Chúa và đi tôn thờ các thần ngoại bang!
Con cái ngươi đã từ bỏ Ta mà thề bồi nhân danh cái chẳng phải là thần. Ta cho chúng được ăn no mặc ấm, thì chúng lại đi ngoại tình, đổ xô đến nhà bọn điếm (Gr 5:7-8).
Vì ngươi đã lãng quên và vứt bỏ Ta ra đàng sau lưng, nên đến lượt ngươi, hãy mang lấy ô nhục và tính đàng điếm của ngươi … Quả thật, chúng đã ngoại tình … Chúng đã ngoại tình với các ngẫu tượng của chúng; và ngay cả con cái chúng đã sinh ra cho Ta, chúng cũng thiêu làm mồi cho các ngẫu tượng đó (Ez 23:36-37).
Nó đã thấy: cũng vì tất cả những vụ ngoại tình mà Ta đã trao giấy ly hôn cho con chị là Ít-ra-en phản bội và đuổi đi… Nó đàng điếm trơ trẽn như vậy, nên đã làm cho xứ sở ra ô uế; nó đã ngoại tình với loài gỗ đá. Đến thế rồi mà Giu-đa, con em bất tín bất trung của nó, vẫn cứ giả dối, chưa hết lòng trở về với Ta, - sấm ngôn của ĐỨC CHÚA (Gr 3:8-10).
Thế hệ gian ác và ngoại tình này đòi dấu lạ. Nhưng chúng sẽ không được dấu lạ nào, ngoài dấu lạ ngôn sứ Giô-na (Mt 16:4).

Bạn có nghĩ bạn đang phạm cái tội ngoại tình giống như dân Ít-ra-en ngày xưa không? Dám lắm đó chứ!
Khi tôi đi cầu cơ, đi coi bói, chơi bùa, chơi ngải, cúng vái các tượng thần để xin chữa bịnh, xin cho làm ăn phát tài …

Khi tôi cúi gập mình xuống để tôn thờ thần sex, làm nô lệ cho thần khoái lạc, suốt ngày chỉ tôn thờ những thú vui trụy lạc, xem phim ảnh xấu xa bẩn thỉu …
Khi tôi quỳ xuống bái lạy Thần Tài, và cắm đầu cắm cổ làm nô lệ cho nó, bỏ cả nhà thờ nhà thánh, bỏ lễ, bỏ đọc kinh và bỏ luôn không lãnh nhận các phép bí tích …

Khi tôi đã chịu phép Rửa Tội, “made in Catholic” đàng hoàng nhưng lại đi chùa, đi thắp hương, đi cúng vái ông này bà nọ …

… Là khi ấy, tôi đang phạm tội ngoại tình, đang ngấp nghé bỏ nhà để đi… kiếm bò lạc đấy!
Nếu hôm nay bạn và tôi nhận ra mình, mạng sống của chúng mình đang lâm vòng nguy hiểm, mạng sống của chúng mình đang bị treo lơ lửng trên sợi tóc vì đã phạm tội ngoại tình như trên thì tôi và bạn phải liên lạc với vị luật sư tài ba, thông minh, xuất sắc và đầy lòng nhân ái tên là Giê-su ngay lập tức để Ngài giúp biện hộ và bào chữa cho kẻo không kịp đâu! Phải nhanh chân lên, phải đến gặp Ngài càng sớm càng tốt. Nhưng mà muốn được ông luật sư Giê-su biện hộ, bào chữa và tha bổng cho thì bạn phải tiến hành ba công việc sau đây:


Thứ nhất: Vào trang web WWW.XTMÌNH.COM để làm hẹn gặp luật sư. Trước khi điền đơn, bạn phải cẩn thận, đừng vội vã, ngồi xuống hồi tâm, nhớ lại tất cả những lầm lỗi lớn cũng như bé rồi sau đó hẵng làm hẹn.

Thứ hai: Sau khi điền đơn rồi thì hãy gửi ngay cho văn phòng luật sư tại địa chỉ email ĐIXƯNGTỘI@NHTHỜ.COM để lấy hẹn.
Thứ ba: Khi vào gặp luật sư, đừng sợ gì cả, cứ tỏ ra thái độ ăn năn sám hối, ghi nhớ những lời chỉ dẫn và thực hiện những gì văn phòng luật sư yêu cầu là xong. Nếu có gì thắc mắc thì hãy liên lạc ngay với văn phòng luật sư ở số phone 1-800-LÀMVIỆCĐỀN TỘI. Đừng lần chần, đừng ngại ngùng, đừng hoang mang, đừng lo sợ… hãy mau chóng và mạnh dạn liên lạc ngay với văn phòng luật sư Giê-su đi, bạn sẽ cảm nghiệm được niềm vui lớn lao giống hệt như người phụ nữ phạm tội ngoại tình ngày xưa ở bên Do Thái cho mà xem. Ông luật sư Giê-su này tài lắm, tội lớn tội bé, tội gì bất kể, dù có nghiêm trọng mấy đi chăng nữa Ngài cũng có cách bênh đỡ và có phương pháp biện hộ, cãi cho trắng án cho mà xem. Bạn tin tôi đi! Tôi nói thật đấy!
phamtinh@yahoo.com
*************************************
Lạy Chúa, xin tha thứ
Xin tha thứ cho đôi tay chúng con
đã không tìm kiếm để hoà giải.
Xin tha thứ cho đôi mắt chúng con
đã nhìn để đố kỵ.
Xin tha thứ cho đôi chân chúng con
đã không đi loan báo sự bình an
khi rảo khắp các núi đồi và lũng sâu.
Xin tha thứ cho đôi môi chúng con
đã không bị thiêu đốt
bởi Lời và Thánh Thể của Ngài.
Xin tha thứ cho đôi tai của chúng con
đã không hiểu gì
ngay sau khi nghe lời Ngài nói.
Xin tha thứ cho chúng con, lạy Chúa.

 

MC5-C64: KHIẾT TỊNH VÀ LÒNG NHÂN ÁI

Lm Gioan Nguyễn Văn Ty SDB
 

Tôi biết là bài Tin Mừng không nói gì về đức khiết tịnh, ngược lại đang kể câu chuyện về người: MC5-C64

Tôi biết là bài Tin Mừng không nói gì về đức khiết tịnh, ngược lại đang kể câu chuyện về người đàn bà ngoại tình tức là một lỗi nghịch với sự khiết tịnh đòi hỏi trong bậc vợ chồng. Nhưng đối với các kinh sư và người Pha-ri-sêu thì rõ ràng họ đang nhân danh luật Mô-sê để bắt mọi người phải khiết tịnh. Còn nếu ai không tuân giữ thì lập tức bị kết án, và bị kết án nặng nề bằng hình phạt ném đá cho chết. Tạo nên một xã hội có nền luân lý vững chắc là mục tiêu của luật Do Thái. Các luật đó rất cao đẹp, vượt trổi luật pháp của các dân tộc khác cùng thời. Mô-sê đã từng đề cao như một niềm kiêu hãnh trước các dân nước (xem Đệ Nhị Luật 26,16-19). Như vậy khiết tịnh trong đời sống vợ chồng quả là một giá trị lớn cần được bảo vệ trong bất cứ một xã hội cao đẹp nào.
Nhưng đối với Tin Mừng mà đức Giê-su đang rao giảng (và còn minh chứng bằng chính mạng sống Ngài) thì cả giá trị của khiết tịnh, cũng như bất kỳ giá trị luân lý nào, cũng đều không thể sánh được với lòng nhân ái và thương xót. Sự khác biệt chính (thậm chí đối đầu) giữa đức Giê-su và các kinh sư, Pha-ri-sêu hệ tại ở việc đặt giá trị nào lên trên: lòng nhân ái hay đức khiết tịnh (trong trường hợp cụ thể này). Các kinh sư và Pa-ri-sêu thì thật rõ ràng, dứt khoát: “Thưa Thầy, người đàn bà này bị bắt quả tang đang ngoại tình. Trong sách Luật, ông Mô-sê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó.” Đức Giê-su cũng dứt khoát không kém: “Tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ này đừng phạm tội nữa!
Cựu ước buộc phải chọn giá trị luân lý và đặt nó lên hàng đầu, ngược lại Tân ước thì đặt lòng nhân ái thương xót lên hàng đầu. Sự khác biệt thật lớn lao biết bao! Vải mới - áo cũ mà!
Đức Giê-su không phế bỏ các giá trị luân lý. Không, không đời nào! Ngài đã chẳng long trọng tuyên bố: “Thầy đến không phải là để bãi bỏ Luật Mô-sê hoặc lời các ngôn sứ… nhưng là để kiện toàn” (Mt 5,17-18). Điều duy nhất mà đức Giê-su muốn loan truyền và khắc ghi vào tâm khảm các môn đệ Ngài chính là ‘sự vĩ đại tuyệt đối của lòng nhân ái’: “Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế” Mt 9,13. Đúng thế, sự chết và phục sinh của Ngài đâu có mục đích bảo vệ cho một giá trị luân lý nào, nhưng là tiếng nói tuyệt đối của lòng nhân ái thần linh.
Như vậy tôi mới nghiệm ra rằng, bao lâu mình còn đặt các giá trị luân lý lên trên thì mình vẫn còn thuộc về Cựu ước. Cựu ước tất nhiên là không xấu; rất tốt là đàng khác! Có điều mình phải là Tân ước của Tin Mừng đức Giê-su; mà đã là Tân ước thì giá trị của lòng nhân ái phải trở thành tuyệt đối. Trước hết, đối với Thiên Chúa: nắm giữ các giới răn Ngài truyền là điều quan trọng, nhưng còn quan trọng hơn gấp bội khám phá và đi sâu vào lòng từ bi - thương xót của Ngài trong đức Giê-su Ki-tô. Đối với công việc mục tử của tôi, trong tư cách linh mục - tu sĩ: dành nhiều thời giờ và sức lực cho việc giáo huấn luân lý là điều cần thiết, nhưng còn quan trọng hơn nhiều, nỗ lực ghi khắc vào tâm khảm các tín hữu (nhất là người trẻ) nhận biết lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa, và cũng đối sử như thế đối với tha nhân. Không làm được điều này, tôi sẽ không phải là một Ki-tô hữu đích thực, môn đệ của đức Giê-su; đồng thời tôi cũng không thể là một ‘Ki-tô thứ hai – alter Christus’ như đức Giê-su hằng mong muốn; cũng như trở thành ‘dấu chỉ và người mang tình yêu Chúa đến cho thanh thiếu niên’ trong tư các là tu sĩ Sa-lê-diêng như Don Bosco đòi hỏi nơi tôi. Dạy dỗ và sửa bảo luân lý là điều rất tốt, cần phải làm… Nhưng câu chuyện về người đàn bà ngoại tình cho tôi thấy, điều cần làm hơn hết khi có lỗi phạm luân lý (đặc biệt trong lãnh vực khiết tịnh) lại là có lòng thương xót, từ nhân. Đó không phải là xuề xòa dễ dãi cho qua, mà phải là  “từ nay đừng phạm tội nữa”. Nhưng hơn thế nữa, là thái độ của chính Thiên Chúa trong đức Giê-su Ki-tô “Tôi không lên án chị đâu!” Bởi vì, xét cho cùng, tôi cũng cần được Thiên Chúa xót thương hơn bất cứ ai khác: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ lấy đá mà ném trước đi.
Lạy Thiên Chúa từ bi nhân hậu, xin cho con không những biết quyết tâm vun trồng các giá trị luân lý, nơi mình và cho mọi người con phục vụ; nhưng còn biết quyết liệt hơn sống lòng nhân ái và xót thương của Chúa mỗi khi có lỗi phạm nơi bản thân mình và nơi tha nhân. Xin giúp con không bao giờ kết án bất cứ ai chỉ vì các lỗi phạm, nhưng luôn biết xót thương như Chúa hằng thương xót con. Amen
Lm Gioan Nguyễn Văn Ty SDB

 

MC5-C65: CHÚA NHẬT V MÙA CHAY

Ga 8, 1-11
Anh chị em thân mến.
 

Một lần đang đi trên đường, bổng nhiên bầu trời không còn chút ánh nắng, mây đen kéo đến: MC5-C65

Một lần đang đi trên đường, bổng nhiên bầu trời không còn chút ánh nắng, mây đen kéo đến và cơn mưa đổ xuống. Tôi chạy vội vào một ngôi nhà bên đường để trú. Mừng rở vì tìm được nơi trú thân cho đở lạnh. Chủ nhà cũng lịch sự chào khách, nhưng anh ta xin lỗi vì đang bận công việc. Anh ta đang cố gắng làm cho mái nhà của mình bớt nước chảy, vì mái nhà đã quá yếu, những chiếc lá mục nát không còn che kín được mưa nắng cho những người trong nhà. Anh ta tươi cười vui vẽ nói: "Chắc cũng chịu được qua mùa mưa nầy". Cơn mưa nhẹ hạt dần rồi cũng dứt hẵn, tôi cám ơn chủ nhà và tiếp tục trên con đường của mình. Trên đường đi, tôi chợt suy nghĩ: Nếu như chủ nhà nhìn thấy mái lá mục nát, ông không chấp nhận nó mà đem vứt nó đi, thì anh ta sẽ không có gì để che cho cả gia đình trong những lúc mưa nắng thất thường như thế nầy, và tôi cũng không có nơi để trú nhờ. Nhưng anh ta đã cố gắng sữa chữa những chỗ hư, mặc dù không còn tốt lắm, nhưng nó vẫn còn có ích lợi đối với anh, vì anh đã biết cách xử dụng nó.
Chúng ta vừa chứng kiến những người muốn phá đi, không phải chỉ một ngôi nhà vô tri, nhưng một ngôi nhà có cảm giác và có cả một linh hồn bất tử do Thiên Chúa tạo dựng. Chẵng những họ muốn phá bỏ, nhưng còn dùng nó như một phương tiện để hại người khác. Họ mừng rở đem người đàn bà đến trước mặt Chúa Giêsu, họ hớn hở nói rằng :"Theo luật Môisen thì ném đá, còn Thầy, Thầy dạy sao?" Họ vui mừng, nôn nóng. Chúa Giêsu bình thản như không có gì xảy ra. Họ chờ đợi, hối thúc, nên Ngài trả lời." Ai trong các ngươi vô tội, thì lấy đá ném trước đi". Họ đã bỏ đi hết. Chúa Giêsu đã chữa lành một ngôi nhà dột nát mà bao nhiêu người muốn bỏ đi." Tôi không lên án chị đâu, chị hãy về và đừng phạm tội nữa". Ngôi nhà vẫn còn có thể hữu dụng nếu biết cách dùng nó.
Còn những người tố cáo, họ cũng còn một chút lương tâm ngay chính, cũng còn được một chút lòng thành, họ vẫn còn biết lắng nghe và nhìn thấy được chính mình, nên họ mới từ từ rút lui mà không phạm thêm sai lầm nữa.
Chúa Giêsu không bao che cho tội ác, nhưng Ngài muốn dùng Tình Yêu để hoán cải, để sữa chữa những gì còn có thể.
Con người thường muốn phá bỏ đi những gì của người khác, còn của chính mình thì không.
Thiên Chúa luôn kiên nhẫn và chờ đợi con người. Thiên Chúa lặng thinh với những sai phạm của chúng ta, không phải Ngài không nhìn thấy, nhưng chờ đợi để chúng ta quay về. Chúng ta cũng như những người Do Thái khi xưa. Mãi vội nôn nóng kết án người khác, muốn phá bỏ đi những gì chúng ta cho là không đúng, vì nó không hạp với ý muốn của mình. Đó là những lần chúng ta giận dữ vì quyền lợi bị xăm phạm. Những lần chúng ta nói xấu người khác, phê bình chỉ trích, không phải vì người ta xấu, nhưng vì họ dám nói lên sự thật, dám chỉ vào những sai lỗi của chúng ta. Cũng có những lúc chúng ta không từ một thủ đoạn nào, miễn sao chúng ta có thể hại được người mà mình không thích.
Những lúc đó, chúng ta có lắng nghe được tiếng chúa nói: "Nếu ngươi vô tội “ ; Chúng ta có còn được chút liêm sĩ như những người Do Thái khi xưa, nhìn thấy được tội lỗi của mình để biết rút lui khỏi sự ác, mở cho người khác một con đường sống. Hay chúng ta đã trở nên quá tệ, không còn biết lắng nghe, không còn nhìn thấy đâu là đúng, đâu là sai, thì làm sao có thể quay trở lại được. Như vậy, lương tâm của chúng ta, nó có còn nhạy bén, hay nó đã chay lì khô cứng. Nếu như thế, Thiên chúa có thể nói với chúng ta như nói với người đàn bà tội lỗi khi xưa được không? “ Ta không lên án con đâu, con hãy về và đừng phạm tội nữa".
Chúng ta cùng nhau cầu xin Chúa ban ơn cho mỗi người biết lắng nghe Lời Chúa, để có được một tâm hồn quảng đại, biết yêu thương và tha thứ như Chúa đã YÊU THƯƠNG và THA THỨ cho chúng ta.

 

MC5-C66: THA THỨ

Ga 8, 1-11
“Anh em hãy yêu thương kẻ thù và làm ơn cho kẻ oán ghét mình..” (Lc 3, 24)
 

Tin Mừng theo Thánh Luca ghi lại lời Chúa ”Người nào trong các ông có một trăm con chiên: MC5-C66

Tin Mừng theo Thánh Luca ghi lại lời Chúa ”Người nào trong các ông có một trăm con chiên mà bị mất một con, lại không để chín mươi chín con kia ngoài đồng hoang, để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất” (Lc15,4). Rồi Chúa nói tiếp: “Vậy tôi nói cho các ông hay: trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn”. (Lc15,7) Qua câu chuyện này cho thấy hình ảnh vị Mục tử, người thầy, người chăn chiên cao cả và đầy lòng nhân từ. Câu chuyện bài Tin Mừng Chúa nhật hôm nay cũng tương tự như thế.
a. Chúng ta trở lại câu chuyện Tin Mừng chúa nhật hôm nay: Các kinh sư muốn gài bẫy Chúa Giêsu nên nhân dịp người ta bắt qủa tang một người đàn bà đang phạm tội ngoại tình, họ liền dẫn ngay đến Chúa và chất vấn. Họ nói: chị này đang ngoại tình và bị bắt quả tang. Theo luật Môisen, chị ta sẽ bị ném đá cho tới chết. Phần Thầy, Thầy sẽ xử thế nào?
Các kinh sư và biệt phái đến hỏi ý kiến Chúa Giêsu; thực ra họ chẳng nể nang gì Ngài, cũng chẳng có ý tốt lành gì đâu. Họ rất ghét Chúa, vì Người hay chỉ trích những thói hư tật xấu, giả hình của họ, mà từ lâu họ chưa tìm được chứng cớ gài bẫy, để tố cáo Chúa. Hôm nay nhân có một phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình, đây là một cơ hội tốt để bắt bẻ Chúa mà trả thù; vì thế họ hỏi như trên... Nếu Chúa trả lời: tha bổng cho người đàn bà, thì họ sẽ bắt bẻ Chúa làm thế là không giữ lề luật. Còn nếu Chúa kết tội chị ta thì rõ ràng Chúa rất tàn ác, và còn làm ngược lại với lời dạy của chính mình nữa là: yêu thương, tha thứ… Xem ra bề nào, Chúa cũng bị các kinh sư kết tội cả. Rốt cuộc họ không ngờ Chúa có một câu trả lời mà không ai nghĩ đến: “ai trong các ông sạch tội thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi” (Ga 8,7) Chúa Giêsu lại thắng keo nữa. Thực tế ai có thể thắng Thiên Chúa?
b. Trên đời này có một nghịch lý rất lớn và cũng rất đáng trách, đó là: Thiên Chúa là Đấng muôn ngàn lần thánh thiện thì lại đầy lòng thương xót, đầy bao dung với người tội lỗi. Trong khi con người tội lỗi đầy tràn, lại thường hay lên án kẻ khác, thích phê bình chỉ trích người ta (chính các thánh còn chưa ai dám tự nhận mình là thánh thiện). Từ chỗ phê bình chỉ trích, rất nhiều khi chúng ta vô tình đẩy kẻ tội lỗi vào vũng lầy không có lối thoát. Các kinh sư và biệt phái trong câu chuyện Phúc âm hôm nay là một ví dụ điển hình. Một câu châm ngôn Á Đông khá chí lý: “chân mình còn lấm mê mê, lại đi cầm đuốc mà rê chân người.”
Lòng rộng lượng của Con Thiên Chúa (trong câu chuyện hôm nay) thật là to lớn và cũng thật đúng với những gì chúng ta biết về Thiên Chúa, vì Người sẳn sàng để 99 con chiên không lạc, mà đi tìm cho được con chiên bị lạc và Chúa: “không nở bẻ cây lao bị dập”, “cũng không dập tắt tim đèn còn khói..” Những hình ảnh này rõ ràng diễn tả quá đủ lòng thương xót vô cùng của Thiên Chúa.
c. Gợi ý sống và chia sẻ:
* với lòng nhân hậu và khôn ngoan tuyệt vời, Chúa Giêsu đã giải thoát và tha thứ cho người đàn bà tội lỗi, nhưng Chúa cũng kêu gọi chị từ nay đừng phạm tội nữa. Mùa chay cũng là mùa kêu mời mọi kitô hữu suy niệm về lòng bao dung vô bờ của Thiên Chúa, đồng thời cũng nhắc nhở chúng ta thực tâm sám hối, sửa đổi đời sống và mau quay về với Chúa.
* Chúa không hề có một lời lên án người đàn bà ngoại tình: phần ta, ta có phải là hạng người hay chỉ trích kẻ khác? Nhìn lại bản thân mình đã sửa đổi như thế nào trong cuộc sống hàng ngày. Đặc biệt là mùa chay này?

 

MC5-C67: CÁI NHÌN YÊU THƯƠNG

Ga 8, 1-11
 

Cái nhìn đúng đắn trước cuộc sống luôn được con người đề cao, tôn trọng. Cái nhìn đúng đắn: MC5-C67

Cái nhìn đúng đắn trước cuộc sống luôn được con người đề cao, tôn trọng. Cái nhìn đúng đắn sẽ dẫn đến hành động đúng đắn. Nếu ta có cái nhìn đúng đắn trước tội lỗi chắc hẳn tôị lỗi không phải là điều gì đáng ghê tởm như người ta thường nghĩ. Tuỳ vào cái nhìn của tôi mà số phận đời mình được biến đổi. Có cái nhìn đưa dẫn con người đến chỗ bất an, tủi hổ. Có cái nhìn đưa dẫn con người đạt đến niềm vui hạnh phúc khôn dò. Bài Tin Mừng hôm nay cho ta thấy 3 cái nhìn khác nhau trước lầm lỗi của một người. Chính cách nhìn khác nhau đưa đến những cách sống khác nhau.
Cái nhìn kết án, khinh khi.
Các kinh sư và người Pharisêu cho mình là người công chính, có quyền kết án người khác. Họ quên rằng chỉ có Thiên Chúa là Đấng ra lề luật và xét xử. Thế nhưng tính ngạo mạn của họ dần dần đã chiếm lấy luôn quyền của Thiên Chúa. họ đã đi qua giới hạn của mình trong tư cách là người nắm giữ lề luật. Bản chất của lề luật là để hướng dẫn và bảo vệ con người. Nhưng các Kinh sự và Pharisêu đã dùng lề luật để hạ bệ người khác trước đám đông. Họ không ngần ngại đưa người thiếu phụ ra trước mặt nhiều người. Lỗi thầm kín của thiếu phụ này rất cần sự chia sẻ và cảm thông, đàng này lại bị rêu rao bêu xấu. Chưa đủ, họ còn muốn có thêm nhiều đồng minh để ủng hộ việc làm của họ. Chắc chắn nhiều người qua đường sẽ có nhiều lời đàm tiếu khinh miệt. Họ ném những cái nhìn đầy khinh chê vào thiếu phụ này. Cảnh tượng đó chắc làm cho giới Kinh sư và Pharisêu hài lòng lắm, chỉ tội cho người phụ nữ chỉ biết lặng căm, không nói được một lời.
Cái nhìn xót xa, tủi hổ.
Trước những lời tố cáo, trước những cái nhìn khinh chê, người thiếu phụ không dám nhìn lên; bà gục đầu trong tủi hổ như sẵn sàng chấp nhận mọi hậu quả xảy đến cho mình. Bà rất đau khổ, mong “ bản án ” sớm được đưa ra. Điều lam bà đau khổ nhất chính là có sự hiện diện của những người thân của bà. Những người thân yêu đang nhìn bà như bao cặp mắt khinh bỉ khác. Những đứa con bà vừa trách bà, vừa xấu hổ với người khác vì có một ngươi mẹ như thế. Rồi đến chồng bà, người trước đây rất yêu bà giờ thì lạnh nhạt và tránh xa. Người thiếu phụ như cũng gớm ghét chính bản thân mình, phút lỗi lầm đã gây ra bao hậu quả. Bà không mong tìm sự cảm thương nơi người khác, chỉ biết xót xa phận mình cho việc làm đã qua.
Cái nhìn thông cảm yêu thương.
Trong lúc mọi người đều rẫy bỏ, duy Chúa Giêsu là người hiểu rõ sự tình. Ngài thấu suốt tâm tư của bà. Ngài không theo mọi người kết án bà. Ngài phân biệt rõ ràng tội lỗi và tội nhân: tội lỗi đáng ghét nhưng tội nhân thì đáng thương. Chúa không miệt thị bà như những người khác nhưng tỏ ra rất gần gũi và quan tâm đến bà: “ Tôi không lên án chị đâu. Thôi chị cứ về đi và từ nay đừng phạm tội nữa ” (Ga 8, 11b). Ta đừng vội hiểu rằng ở đây Chúa tha thứ cách quá dễ dàng như thể tội này chẳng đáng quan tâm. Chúa Giêsu không có ý nói “ Đừng lo, tội này không sao đâu ” . Nhưng Chúa Giêsu hoãn lại việc kết án để ban cho bà cơ hội chuộc lại lỗi lầm. “ Con hãy đi, và hãy chứng minh rằng con có thể sống tốt lành hơn! ”
Anh chị em thân mến, tội lỗi làm cho con người xa dần Thiên Chúa. Nó làm cho khả năng sống thiện hảo nơi con người cũng dần mất đi. Đứng trước tội lỗi ta phải có cái nhìn thể nào để cuộc sống trở nên nhẹ nhàng và ích lợi?
* Ba thái độ chúng ta cần phải có:
Trông cậy vào Chúa: nhìn vào chính mình, mặc cảm tội lỗi dễ khiến ta mất trông cậy vào Chúa. Do đó ta không quá xấu hổ, tuyệt vọng khi phạm lỗi lầm. Điều cần nhất là ta phải tuyệt đối tin tưởng vào lòng thương xót của TC. Tình yêu TC vượt xa những lỗi lầm của ta. Chính tình yêu của ngài sẽ lấp đầy hố ngăn cách để ta có thể đến được với Ngài. Ta trở nên thánh thiện là nhờ sự gắn kết giữa ta với Thiên Chúa. Ta càng gần Ngài thì ta càng thì sự thánh thiện ta càng toả sáng.
Cảm thông: Cảm nhận tội lỗi của bản thân ta sẽ dễ cảm thông trước lỗi lầm người khác. Ta không nên xem thường hay khinh miệt người nào một khi họ lỗi phạm. Ta nên nhìn họ với cái nhìn của CG: Đó là sự cảm thông phát xuất từ một tình yêu chân thành
Tha thứ: Nhìn vào Chúa Giêsu ta thấy sự tha thứ của Ngài không có biên giới. Tình yêu của Ngài vượt xa lầm lỗi của con người. Ngài muốn con người đến với Ngài để được đổi mới. Ngài không chấp tội của ta. Ngài nhìn ta không phải ở chỗ ta đã sống ra sao mà là ta có thể trở nên thế nào.
Chuyện kể về hai người bạn thân đi qua sa mạc, trong cơn đói khát, lã mệt vì bão cát và nắng cháy một người kia tát người bạn này “ bốp ” . Người bạn bị tát ngồi xuống lấy ngón tay viết lên cát “ Hôm nay người bạn thân nhất của tôi đã tát tôi ” . Hai người tiếp tục cuộc hành trình. Khi vừa nhìn thấy một ốc đảo, người bạn này vội chạy đến và bị trượt chân, vừa lúc đó có một bàn tay chạm đến và kéo anh lại. Anh ngồi xuống và viết lên đá “ Hôm nay người bạn thân nhất của tôi đã cứu tôi ” . Về sau có người hỏi anh bạn này. Tại sao khi người khác làm khổ anh thì anh lại viết lên cát, còn khi người ta giúp anh thì anh lại viết lên đá? Anh bình thản trả lời: “ Khi người bạn làm ta đau, hãy viết lên cát để ngọn gió của sự tha thứ thổi qua và mang nó đi cùng. Còn khi điều tốt lành đến, hãy khắc nó lên đá như khắc thành kỷ niệm trong tim, không có cơn gió nào xoá đi được” . Thưa anh em, đứng trước lỗi lầm của người khác, ta hãy viết nó lên cát để ngọn gió tình yêu, tha thứ của TC thổi qua và mang nó đi cùng!
Cái nhìn đúng đắn quả là rất cần thiết cho cuộc sống. Xin Chúa cho cái nhìn của ta được hoà nhập cái nhìn của Chúa để cái nhìn ta được biến đổi, hầu cuộc sống ta không còn biểu hiện những khinh chê hay tủi hổ, nhưng luôn dâng trào tình yêu thương và muốn gắn kết với hết mọi người. Amen

 

MC5-C68: MỞ ĐƯỜNG CHO CUỘC ĐỜI MỚI Ga 8, 1-11

Một đứa con trong gia đình nọ, sau một lần được cha mẹ giao trông chừng nhà đã vì quá ham: MC5-C68

Một đứa con trong gia đình nọ, sau một lần được cha mẹ giao trông chừng nhà đã vì quá ham chơi nên đã để cho ăn trộm vô lấy một số tài sản quý giá. Khi phát hiện được, đứa con đã rất run sợ nên đã không dám ở nhà mà đã chạy qua nhà hàng xóm trốn. Trở về thấy vậy, cha mẹ nó rất buồn giận. Họ định đi tìm con về đánh cho một trận hả giận. Tuy nhiên, họ suy nghĩ tài sản ấy có thể lấy lại được. Còn đứa con nếu không khéo đối xử, nó sẽ trở thành một người xấu chăng. Thế là họ quyết định đón con về. Với tấm lòng nhân hậu và bao dung họ đã tha thứ cho con mình. Đặc biệt, họ đã nói với con: “ Cha mẹ tin là con đã biết lỗi của mình. Cha mẹ cũng tin là con sẽ biết sửa đổi... ” . Quả thật, khi lớn lên đứa con này đã trở thành người tốt. Không những thế anh còn là một người rất cẩn thận trong mọi việc. Nhờ đó, công việc làm ăn của anh luôn được trôi chảy. Kết quả là anh đã sắm lại tất cả những gì đã bị mất trước kia cho gia đình và còn hơn thế nữa.

Như thế, nếu như người cha người mẹ trên vì quá tiếc của nên đã đối xử không khéo với con thì không biết sau này nó sẽ như thế nào. Nhờ họ đã biết dằn lại cơn nóng giận đúng lúc và nhất là họ đã biết giáo dục con đúng cách. Họ đã biết tin vào khả năng phục thiện của con mình. Họ đã biết mở cho con con đường mới.

Cũng thế, Tin mừng Chúa nhật hôm nay Chúa Giêsu đã nói với chị phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình: “ Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa! ” . Một câu nói hết sức trân trọng và đầy lòng thương xót cũng như tin tưởng mà Chúa Giêsu dành cho chị. Phải công nhận tội ngoại tình là một tội khó có thể chấp nhận và tha thứ được. Bởi lẽ, đây là tội đi ngược lại với luân thường đạo lý. Thế nhưng, đâu phải vì thế mà ai muốn xử sao thì xử.
"Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi ” . Đây là câu nói nghe êm tai nhưng rất nặng cả ngàn cân. Câu nói ấy đã bắn trúng vào tim đen của những Kinh sư và Pharisêu. Kết quả là sau câu nói này thì: “ Họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi ” . Công bằng mà nói tội ngoại tình thì cũng như bao tội lỗi khác thôi.
Có lẽ thái độ của các Kinh sư và Pharisêu cũng là thái độ của mỗi người chúng ta. Ông bà ta thường nói: “ Tiên trách kỷ hậu trách nhân ” (Hãy tự trách mình trước rồi hãy trách người) hay “ Chuyện người thì sáng còn chuyện mình oán ” . Chúa Giêsu cũng đã một lần nhắc nhở: “ Sao anh thấy cái rác trong con mắt của người anh em, mà cái xà trong con mắt của mình thì lại không để ý tới? ” (Mt 7, 3) . Mùa chay là thời gian thuận tiện để chúng ta quay lại với chính mình. Thiên Chúa luôn biết ta yếu đuối. Tội lỗi của ta tuy có lớn nhưng tình thương của Ngài lại con lớn hơn nhiều. Người sẵn sàng tin tưởng và sẽ cho cơ hội để ta làm lại cuộc đời mỗi khi trót phạm tội.
Mỗi khi lãnh Bí tích Hoà giải, Thiên Chúa qua vị Linh mục luôn nói: “ Cha tha tội cho con. Hãy đi bình an ” . Đây là không chỉ là lời tha thứ mà còn là một lời an ủi khích lệ. Đồng thời, đây cũng là một lời nhắn nhủ đầy tin tưởng: “ Hãy đi và đừng phạm tội nữa ” . Hãy xin Chúa Giêsu cho ta xác tín điều ấy luôn. Để rồi khi xác tín được điều ấy, ta sẽ biết phải làm gì để không phụ lòng tin tưởng mà Thiên Chúa dành cho ta.

 

MC5-C69: “TÔI KHÔNG KẾT ÁN CHỊ”

Đức Giêsu thường xuyên giao du với những kẻ bị coi là tội lỗi, ăn uống với họ, công bố ơn Thiên: MC5-C69

Đức Giêsu thường xuyên giao du với những kẻ bị coi là tội lỗi, ăn uống với họ, công bố ơn Thiên Chúa tha thứ cho họ… Và Người được những người tội lỗi yêu mến và tin tưởng. Nhưng thái độ và cách hành xử đó của Đức Giêsu đối với người tội lỗi đã luôn bị các địch thủ của Người chống đối quyết liệt. Họ luôn tìm dịp để gài bẫy Người. Ngày nọ, “vừa tảng sáng, Đức Giêsu trở lại Đền Thờ. Toàn dân đến với Người. Người ngồi xuống giảng dạy họ. Lúc đó, các kinh sư và người Pharisêu dẫn đến trước mặt Đức Giêsu một phụ nữ bị bắt gặp đang ngoại tình. Họ để chị ta đứng ở giữa, rồi nói với Người: "Thưa Thầy, người đàn bà này bị bắt quả tang đang ngoại tình. Trong sách Luật, ông Môsê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao ?" Họ nói thế nhằm thử Người, để có bằng cớ tố cáo Người” ( Ga 8, 2 – 6a ).
Đức Giêsu bị đặt vào một hoàn cảnh đặc biệt. Quả thực ngoại tình là một tội nặng, không thể xem thường. Chính Đức Giêsu cũng đã từng đề cao tính bất khả phân ly của hôn nhân và không chấp nhận tình trạng bất trung trong hôn nhân. Đàng khác, cũng chính Người rất thương yêu các tội nhân. Vì thế, những người Pharisêu và các kinh sư quyết định lợi dụng một vụ xét xử người phụ nữ phạm tội ngoại tình để gài bẫy và tìm cách lên án Đức Giêsu. Họ đưa người đàn bà ấy đến với Đức Giêsu, trước mặt đám đông. Nếu Đức Giêsu kết án chị ta, là Người công nhận lập trường khắc nghiệt của các kinh sư và những người Pharisêu đối với kẻ tội lỗi, và Người tự phủ nhận những lời giảng dạy của chính mình về ơn cứu độ, về lòng thương xót, về sự tha thứ và về lòng yêu mến của Người đối với những người tội lỗi. Nhưng nếu Người tha cho người phụ nữ tội lỗi này, là Người vi phạm Lề Luật và bị coi là xúc phạm đến chính Thiên Chúa.
“Đức Giêsu cúi xuống lấy ngón tay viết trên đất” ( c. 6b ). Người im lặng. Người không nhìn mấy ông kinh sư và mấy ông Pharisêu. Cũng chẳng nhìn người phụ nữ. Người làm như thể không có bất cứ ai chung quanh. Mọi người đều chờ đợi câu trả lời của Người: mấy ông kinh sư và Pharisêu đắc thắng, người phụ nữ sợ hãi, đám đông căng thẳng. Nhưng Người chẳng đưa ra câu trả lời nào. Người chỉ viết trên đất. Phải chăng Người đang lâm vào thế bí ? Có lẽ không. Hay Người đang phân tích các yếu tố và các khía cạnh khác nhau của sự kiện để tìm cách trả lời có lợi nhất ? Có lẽ không. Người muốn tỏ ra bình tĩnh và thản nhiên ? Hay Người đang cố ý tạo một quãng thời gian thinh lặng để buộc mọi người phải suy nghĩ ? Người muốn gửi đến họ thông điệp gì khi Người lấy tay viết trên đất ?
Nhưng cuối cùng, Người cũng lên tiếng. “Vì họ cứ hỏi mãi, nên Người ngẩng lên và bảo họ: "Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi” ( c. 7 ). Những kinh sư và người Pharisêu chỉ nhìn Lề Luật và tội lỗi của người đàn bà. Họ quá chắc chắn về mình và quá tự mãn nơi mình. Nhưng Đức Giêsu mời gọi họ quay trở về với lương tâm của mình. Người kêu gọi họ ý thức về tội lỗi của chính họ: họ không thể làm như mình vô tội và không cần lòng thương xót của Thiên Chúa. Đức Giêsu đã đặt cuộc tranh luận sang một bình diện khác. Trước Nhan Thiên Chúa, mọi người đều là tội nhân và đều cần ơn tha thứ. Đức Giêsu kéo các kinh sư và người Pharisêu trở lại với dữ kiện thực tế mà họ đã lãng quên đó.
Thánh Augustinô viết: “Chúa Giêsu không nói: ‘Đừng ném đá cô ta’, vì Người không muốn làm ra vẻ nói ngược với luật. Nhưng Người cũng cẩn thận không nói: ‘Phải ném đá cô ta’, bởi vì Người không đến để làm mất cái đã tìm lại được, nhưng để đi tìm cái đã mất… Nhưng Người khiến các ông ( Kinh Sư và Pharisêu ) phải băn khoăn suy nghĩ biết chừng nào ! Thủ đoạn của các ông chỉ ở bên ngoài thôi, các ông không nhìn vào tận đáy lòng mình. Các ông thấy người thiếu phụ ngoại tình, nhưng chính các ông không tự nhìn vào mình. Mà bất cứ ai chăm chú tự nhìn vào mình thì sẽ khám phá ra mình là người tội lỗi. Đó là điều chắc chắn”.
Rồi Người lại cúi xuống viết trên đất” ( c. 8 ). Người để mọi người đối diện với chính bản thân mình. Người dành thời gian cho họ tự suy nghĩ và nhận định. Người tỏ lòng lân mẫn thương xót ngay cả với những người vừa nhao nhao đòi kết án chị phụ nữ và vừa giăng bẫy hại Người. Người cũng muốn dành thời gian cho người phụ nữ tội lỗi có thời gian suy nghĩ về tội lỗi của mình. Có thể chị đã chẳng có lúc nào được yên kể từ lúc bị bắt quả tang phạm tội. Vậy đây là lúc chị có thể suy nghĩ mà nhận ra sự nặng nề của việc mình đã làm. Bây giờ đối diện với sự nhân hậu của Đức Giêsu, chị có cơ hội thấm thía hơn về tình yêu tha thứ của Thiên Chúa, và vì thế, thấm thía hơn về tính cách nghiêm trọng của tội mà chị đã phạm.
Nghe vậy, họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi” ( c. 9a ). Thánh Augustinô viết: “Bị đức công chính cật vấn như một mũi đòng đâm thâu, các ông trở về với chính mình, khám phá ra mình là những người tội lỗi, nên lần lượt rút lui, kẻ trước người sau. ”
Chỉ còn lại một mình Đức Giêsu, và người phụ nữ thì đứng ở giữa” ( c. 9b ). Thánh Augustinô bình luận: ‘sự khốn cùng’ đối diện với ‘lòng lân tuất’.
Người ngẩng lên và nói: "Này chị, họ đâu cả rồi ? Không ai lên án chị sao ?" Người đàn bà đáp: "Thưa ông, không có ai cả". Đức Giêsu nói: "Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu ! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa !” ( cc. 10 – 11 ). Từ đầu câu chuyện đến giờ, Đức Giêsu hình như chỉ để ý đến những người Pharisêu và các kinh sư đang ra sức tố cáo người phụ nữ và giăng bẫy hại Đức Giêsu. Bây giờ Người ngước mắt lên, nhìn thẳng vào người phụ nữ tội lỗi. Hai câu hỏi của Người cho thấy một tình cảnh hoàn toàn mới mẻ đã xuất hiện: mọi người tố cáo người phụ nữ đều đã rút lui và không ai ném đá tử hình chị.
Một cách vô tình, nguồi phụ nữ đã trả lời rất chính xác: không ai lên án chị. Kể cả Đức Giêsu, Đấng duy nhất vô tội. Người là Đấng từng tuyên bố: “Phần tôi, tôi không xét đoán ai cả” ( Ga 8, 15 ). “Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ” ( Ga 3, 17 ). Bởi vì, như Đức Giêsu đã nói về chính mình: “Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất” ( Lc 19, 10 ).
Điều chúng ta phải tin trong Kinh Tin Kính không phải là tội lỗi, mà là việc tha thứ tội lỗi. Thực ra, chính sự tha thứ giúp biết tội. Chúng ta thực sự nhận thức được tội của mình ngay vào lúc mình biết rằng tội đã bị triệt tiêu. Khoảnh khắc mà người phụ nữ ngoại tình hiểu những gì chị đã làm, không phải là khi chị đối diện với cơn say máu của các người Pharisêu và các Kinh Sư. Lúc mà chị hiểu sự đáng bị khinh bỉ của chị nhất có lẽ chính là lúc Đức Giêsu ngước mắt nhìn chị và nói: “Tôi không lên án chị đâu ! Thôi chị về đi và từ nay đừng phạm tội nữa”. Vào giờ đó, chị không còn đối diện với một bộ luật, mà là với tình yêu và lòng xót thương của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu.
Chính tình yêu và lòng xót thương ấy đã cho chị thấy tội lỗi của chị hơn là mấy ông Kinh Sư và những khoản luật mà các ông ấy viện dẫn. Cũng chính tình thương và lòng thương xót đó đã làm cho các ông Kinh Sư và Pharisêu nhận biết tội lỗi của họ.
Lm. NGUYỄN THỂ HIỆN, DCCT

 

 MC5-C70:  TÌNH YÊU THA THỨ

Tại một hòn đảo thuộc nước Ý, dân làng có một quy định rất khắt khe đối với phụ nữ nào ngoại: MC5-C70

Tại một hòn đảo thuộc nước Ý, dân làng có một quy định rất khắt khe đối với phụ nữ nào ngoại tình. Đó là: nếu một người phụ nữ đã lập gia đình mà ngoại tình bị bắt quả tang, người ta sẽ buộc vào cổ người ấy một tảng đá lớn và xô xuống biển cho chết chìm, dưới sự chứng kiến của người chồng.
Ngày kia có một người đàn bà bị bắt quả tang ngoại tình và sẽ bị xử tử theo quy định. Nhưng đến ngày xử tử, người chồng của bà vẫn còn đang đánh cá ngoài khơi, nên dân làng phải gia hạn thêm vài ngày nữa. Người ta đã gia hạn nhiều lần, mà vẫn không thấy người chồng trở về.
Cuối cùng, dân làng không thể chờ thêm được nữa, họ đưa người đàn bà đó đến một vùng biển sâu, cột tảng đá lớn vào cổ rồi đẩy bà xuống nước. Nhưng lạ thay, mấy hôm sau mọi người đều thấy người đàn bà đó lại cùng với chồng xuất hiện ở trong làng, bình an vô sự.
Thì ra người chồng đã hay biết tất cả những gì đã xảy ra cho vợ mình, thay vì trở về để chứng kiến bản án khắc nghiệt dành cho vợ, ông ta tìm mọi cách để ở lại ngoài khơi, với hy vọng kéo dài cuộc sống cho vợ. Và khi biết được ngày xử án, ông đã đến vùng biển, núp dưới một ghềnh đá lớn. Khi người ta đẩy vợ ông xuống biển, ông đã bơi đến đón lấy bà, tháo gỡ tảng đá và đưa về nhà. Người vợ, khi nhận ra tình yêu của chồng đã hết lòng trung thành và phục vụ chồng. Và gia đình họ lại sống thật hạnh phúc bên nhau. Đúng là "Tình yêu không thể nào bị đánh bại"… "Có yêu thương là có tha thứ" ( Tuyển Tập các Truyện Hay ).
Hôm nay, Tin Mừng theo Thánh Gioan thuật lại vụ xử án bất đắc dĩ của Chúa Giêsu, với nguyên cáo là nhóm Kinh Sư và Pharisêu và bị cáo là người đàn bà ngoại tình bị bắt quả tang. Dĩ nhiên, dân chúng háo hức kéo đến thật đông để chứng kiến quan tòa Chúa Giêsu xử thế nào. Nhưng quan tòa đã làm cử tọa não nề buồn bã ra về, không còn hăng say cuồng nhiệt như khi khai tòa.
Những phút im lặng
Nhóm nguyên cáo hồ hới, hí hửng, xung khiên nộ khí, hủng hổ tố giác người đàn bà sa ngã. Không vành móng ngựa phân cách, bị cáo ủ rũ đứng trực diện với Chúa Giêsu. Người vẫn đang còn ngồi từ lúc giảng dạy. Lặng lẽ cúi xuống, Người chẳng xoi mói nhìn lên, hay hỏi han, thẩm vấn điều gì, chỉ chăm chú nguệch ngoạc vẽ trên đất. Giây phút thinh lặng tưởng chừng vô tận với cả đôi bên, lẫn công chúng, đang nín thở theo dõi phiên tòa đặc biệt.
Tất cả mọi người đều trông ngóng chờ đợi câu phán quyết. Tha hay buộc tội ? Tiến thoái lưỡng nan, hành xử thế nào cũng sập mưu ma chước quỷ. Tha bổng thì lỗi luật Môsê, buộc tội thì vấp luật Roma, cấm dân Israel tự xử án tử hình, và nhất là trái ngược hoàn toàn với lòng thương xót vô biên, mà chính Người đang chuyên tâm giảng dạy.
Bên nguyên cáo còn sốt ruột trích luật Môsê, nhắc nhủ quan tòa thẳng tay áp dụng. Nhưng Chúa Giêsu vẫn thinh lặng, vẫn vẽ vời dưới đất. Người im lặng như sau này im lặng, không trả lời Thượng Hội Đồng, quan Philatô, cũng như không một lời khi chịu khổ nạn.
“Chúa Giêsu là Ngôi Lời, nhưng để thực hiện việc tông đồ theo ý Đức Chúa Cha, trong 33 năm, Ngài thinh lặng 30 năm và nhất là trong giờ tử nạn, Ngài đã thinh lặng” ( Đường Hy Vọng, 523 ).
Người thinh lặng, xót xa, dằn lòng cơn bất bình trước lòng lang dạ sói của những nhà lãnh đạo tinh thần. Người im lặng, đắm mình vào lời cầu nguyện, xin cùng Đức Chúa Cha xua tan đi những cám dỗ sát nhân trong họ.
Trong thinh lặng, Người mong muốn các kinh sư, các người Pharisêu dịu cơn thịnh nộ, dịu lòng nham hiểm, thù oán, mà hồi tâm, suy xét thấu đáo. Đề lương tâm mạnh dạn lên tiếng, để tình người thức giấc kết nụ, đơm hoa. Để xóa tan đi cái tâm lý bầy đàn, hùa nhau chạy theo cái ác, mù lòa bất nhân.
Người cũng thinh lặng, mong chờ tội nhân, người đàn bà yếu đuối, xét mình, hoán cải, ăn năn, sám hối. Đó là giây phút định mệnh. Quay về nẻo ngay, đường chính, hay còn mãi tiếc nuối đam mê u tối, sa đọa. Nhục nhã ê chề, người phụ nữ thẫn thờ thất vọng, chờ nhận những viên đá sắc cạnh, kết liễu cuộc đời ngắn ngủi. Nhưng trước thái độ khoan nhân, điềm tĩnh của “quan tòa” Giêsu, chị cảm nhận được nỗi xót xa của Người, cảm thấy ánh mắt hiền lành từ bi ấm áp của Người.
Nguyên cáo thành bị cáo
Sau nhiều lời yêu cầu phán xử, Người ngẩng lên bảo họ: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi.” Rồi Người lại cúi xuống viết trên đất. Nghe vậy, họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi” ( Ga 8, 7 – 8 ).
Lúc đầu họ hùng hổ bao nhiêu, thì bây giờ họ len lén, rón rén bỏ đi như kẻ trộm. Đang vênh váo làm nguyên cáo, bỗng chốc biến thành bị cáo, chẳng hơn gì người đàn bà ngoại tình kia. Một chi tiết rất lý thú, đó là “bắt đầu từ những người lớn tuổi.” Không gian tĩnh lặng càng giúp họ nhìn lại bản thân nhơ nhớp tội lỗi, Những người càng lớn tuổi càng xấu hổ mắc cỡ với người trẻ.
Người đàn bà cảm thấy được an ủi phần nào, bớt cô đơn, dù vẫn còn là bị cáo. Tâm hồn chị lóe lên tia hy vọng cứu thoát án phạt thảm khốc. “Chỉ còn lại một mình Đức Giêsu, và người phụ nữa thì đứng ở giữa.” ( Ga 8, 9 )
Vào ngày 28.2.2013 vừa qua, Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI về hưu, truyền thông thế giới đều rất quan tâm. Tin lành thì ít, tin dữ thì nhiều, báo chí quốc tế đào xới những khiếm khuyết về cơ cấu hoạt động của Vatican, cũng như phao những đồn đoán bất thân thiện với Giáo Hội. Nhà báo mặc nhiên biến thành nguyên cáo cuồng nhiệt, hùa nhau ném đá vào Vatican, không khác gì Kinh Sư và Pharisêu ngày xưa. Phải chăng họ nói theo lương tri, theo sự thật, hay chỉ là lính đánh thuê cho những tập đoàn Phản Kitô giấu mặt ? Lúc nào đó, cảnh tỉnh họ sẽ nhận ra mình cũng đích thị chỉ là bị cáo.
Tình Yêu chiến thắng
Giờ phút này, sự im lặng không còn căng thẳng, mà rộn rã vui mừng hy vọng. “Này chị, họ đâu cả rồi ? Không ai lên án chị sao ? Người đàn bà đáp: “Thưa ông, không có ai cả.” Đức Giêsu nói: Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu ! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa !” ( Ga 8, 10 – 11 ).
Đức Giêsu đã khéo léo xua bầy kên kên dữ tợn biến đi, để cứu thoát chị khỏi cái chết ê chề nhục nhã. Chính sức mạnh Tình Yêu đã giái thoát chị. Lòng Thương Xót vô ngần của Người đã kịp thời giải cứu. Thấy chị đã chân thành ăn năn, sám hối, Người Quan Tòa, chí công, chí ái đã từ chối luận tội chị. Còn ưu ái dặn dò: “Thôi chị về đi, từ nay đừng phạm tội nữa !” ( Ga 8, 11 ).
“Anh em hãy giàu lòng thương xót, như Cha anh em là Đấng giàu lòng xót thương” ( Lc 11, 36 ).
Lạy Chúa Giêsu vô cùng nhân ái, Chúa biết con yếu đuối, xin dạy con ăn năn sám hối cho trọn, biết chạy đến Lòng Thương Xót của Chúa, qua tòa hòa giải, để con được tha thứ, và phục hồi tấm áo linh hồn tươm tất sạch sẽ.
Lạy Mẹ Maria, xin chỉ cho con nhận thấy và lãnh nhận được những ân huệ diệu kỳ, mà con không đáng nhận được từ lòng Thương Xót vô biên của Chúa. Amen.
AM. TRẦN BÌNH AN

 

MC5-C71:  HÃY BỎ HÒN ĐÁ XUỐNG

Càng gần đến tuần kỷ niệm cuộc Thương Khó và Phục Sinh của Chúa Giêsu, lời mời gọi sám hối: MC5-C71

Càng gần đến tuần kỷ niệm cuộc Thương Khó và Phục Sinh của Chúa Giêsu, lời mời gọi sám hối càng trở nên khẩn thiết hơn, tích cực hơn. Lời Chúa Chúa Nhật 5 Mùa Chay đặt tôi trong tình trạng tự trải lòng mình ra trước Tình Yêu của Thiên Chúa và nhờ Tình Yêu thiêng liêng ấy chiếu vào cõi thâm sâu thầm kín để thấy mình còn lắm điều tồi tệ.

SỰ IM LẶNG CỦA TỘI NHÂN
Các Kinh Sư và Pharisêu đem đến cho Chúa Giêsu một người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình, đặt cô ấy đứng giữa và yêu cầu cho ý kiến. Họ muốn gài bẫy Chúa Giêsu phạm luật Môsê. Vì theo luật Môsê thì người đàn bà tội lỗi này phải bị ném đá cho đến chết ( Lv 20, 10; Đnl 22, 22 – 24 ).
Tôi đang hình dung ra một tòa án cộng đồng, diễn ra ngay trong Đền Thờ, công tố viên không ai khác là các Kinh Sư và Pharisêu, vị thẩm phán và còn là luật sư bào chữa, khách mời hôm nay là Chúa Giêsu, còn người tham dự phiên tòa là dân chúng đang nắm trong tay những hòn đá, khoái chí, hăm he chờ ném vào người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình. Theo lời kể của phóng viên tại tòa, Thánh Gioan, thì trong suốt phiên tòa, “người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình” ấy, chỉ nói mỗi một câu “họ đã về cả rồi”. Chị hoàn toàn im lặng trong khi chờ bị ném đá, một sự im lặng đáng chú ý.
Dẫu biết rằng “im lặng là đồng lõa”, “im lặng là chấp nhận”, nhưng tôi muốn nghĩ đến trong cái im lặng ấy, có thể, còn có bao điều chị muốn nói, nhưng không thể nói được, vì “văn bản luật” đã rõ ràng và tội trạng đã đành rành. Đã nói đến luật pháp trần gian, thì phải hiểu luật pháp luôn là một “cây thước” cứng ngắc. Tôi muốn đặt mình vào tình thế của “người nữ công khai phạm tội ngoại tình” để thêm được một người hiểu cho chị, vì trong sân ai cũng không hiểu, chỉ mỗi một người hiểu chị, là Chúa Giêsu. Trong cái im lặng ấy, có thể chị đang xấu hổ và có thể có nhiều tâm sự thầm kín, nhưng không là lý do để có thể bào chữa, rằng thì là:
“Nhà em nghèo, chồng em bệnh, 3 đứa con phải được học hành”
“Em cần tiền để sửa lại nhà cửa. Nhà em rách nát, nắng mưa gió cát rác rưởi đều có lối vào”.
“Em không cưỡng lại được số phận, vì trời ban cho em cái hồng nhan “khuynh nước, khuynh thành” làm cho bao “đấng mày râu” chao đảo, như “sắc bất ba đào dị nịch nhân”.
“Em đã lỡ tự trau chuốt cho mình quá mức cần thiết, tưởng để cho đẹp mặt với người ta, có ai ngờ… trở thành món mồi ngon cho những người có lòng tham khoái lạc”.
“Em không thể sống trong cảnh cô đơn khi hãy còn quá trẻ. Em cần có anh ấy !”
“Anh ấy cần có em, đến với anh ấy vì em muốn giải thoát anh ấy khỏi những bi lụy…”
“Em đang cần một đứa con để giải tỏa những u ám trong gia đình em”…
… Và hàng chục lý do khác nữa để tự biện hộ.
Vâng, có thể chị không có cơ hội để giải bày những tâm sự với bao nhiêu là lý do chủ quan, khách quan…, có thể chị hiểu là dù có nói gì đi nữa, thì trước mắt người đời, chị cũng không thoát tội chết, không khỏi bị ném đá. Có thể chị hiểu: ý hướng tốt khi thực hiện một điều xấu không đủ biện minh hay chạy tội thành trắng án – cũng như, mục đích tốt không biện minh cho phương tiện xấu – ấy là luật. Biết như thế, nhưng Chúa Giêsu, Đấng hiểu thấu mọi nỗi lòng, hiểu thấu mọi sự im lặng, mọi nỗi đau thầm kín nhất trong lòng, Ngài hiểu chị và thương xót chị.

NHÌN LẠI CHÍNH MÌNH
Chúa Giêsu không chỉ muốn nói cho đám đông tố cáo rằng “hãy thông cảm cho tội nhân” mà còn điều quan trọng là cảnh cáo họ “hãy nhìn lại chính mình”. Chúa nói: “Ai trong các người vô tội hãy ném đá chị này trước đi”.
- Hãy nhìn lại chính mình, đúng thế, nếu người đời chưa phát hiện ra tôi đang sống trong tình trạng tội lỗi, để tôi trở thành tội nhân công khai, đáng phải bị ném đá, thì lòng tôi ơi, hãy nhớ rằng, nhà ngươi đã bị Thiên Chúa “bắt quả tang” từ trong ý nghĩ, trong tư tưởng đến hành động… không biết bao nhiêu lần rồi, nhưng Ngài vẫn im lặng, đợi chờ. Tôi có thể tránh được ánh mắt của người đời, nhưng không thể tránh được ánh mắt của Thiên Chúa.
- Hãy nhìn lại chính mình, để thấy, có đôi khi, người ta chưa phạm tội, thì mình đã phạm tội rồi. Thấy một người có khả năng làm việc trong Giáo Xứ, họ đóng góp được nhiều việc, còn tôi, tôi chẳng có tài gì, tôi lại nói: “Ông ấy, bà ấy, con mẹ ấy nó kiêu ngạo lắm”. Thế nghĩa là gì ? Có phải họ chưa kịp kiêu ngạo thì tôi đã kiêu ngạo rồi chăng ? Nghe chuyện thường xuyên ai đó vẫn gặp nhau, tôi thêu dệt thành chuyện tình ly kỳ hấp dẫn nhất để mọi người có thể tin rằng họ đã phạm tội điều răn thứ 9. Thế có phải chính tôi đã phạm tội trước họ chăng ?
- Hãy nhìn lại chính mình, để thấy, mình đang tội lỗi nhiều hơn người khác, nhất là khi mình đang có được những vỏ bọc bên ngoài có vẻ như là đạo đức lắm: trí thức Công Giáo chẳng hạn, thành viên Hội Đồng Mục Vụ, Ban Trị Sự, Ban Giáo Lý, hay trong các ban ngành đoàn thể khác chẳng hạn. Những vỏ bọc ấy không là bằng chứng vô tội của tôi, và càng không phải là cái thẩm quyền xét đoán hay kết tội anh em.
- Hãy nhìn lại chính mình, để thấy, những công việc, kể cả việc đạo đức của tôi hằng ngày nơi cộng đoàn Dân Chúa, nếu không vì Lòng Mến chân thành, và vì vinh danh Chúa, thì cũng hãy coi chừng, chưa chắc đó là bảo chứng cho lòng trong sạch của mình. Càng không phải đó là giấy xác nhận tôi có quyền thẩm định tư cách của người này, xếp hạng đạo đức cho người kia, và loại trừ người nọ vì lý do họ phạm tội. Chính từ những xét đoán, kết án, phân biệt, loại trừ đã dẫn đến sự mất hiệp nhất trong cộng đoàn Dân Chúa, làm giảm sút sự phát triển của một Giáo Xứ, một cộng đoàn, thậm chí khiến cho tất cả phải giậm chân tại chỗ, tụt dốc hay rệu rã.

HÃY BỎ HÒN ĐÁ XUỐNG
Khi đã nhìn lại chính mình, người ta đã bỏ hòn đá xuống, rồi lẳng lặng ra về. Chúa Giêsu hỏi người đàn bà ngoại tình: “Này chị, họ đâu cả rồi, không ai lên án chị sao ?” – “Thưa Ông, không có ai cả” – “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu, chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa” ( Ga 8, 10 – 11 ).
Phàm ai sống trên đời cũng “thích” xét đoán và kết án, và không hề thích chính mình “bị xét đoán và bị kết án”. Nhưng ở một chỗ khác, Chúa Giêsu nói: “Đừng xét đoán, để khỏi bị xét đoán” ( Mt 7, 1 ). Và cụ thể nhất, trong trình thuật Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã thể hiện tinh thần ấy. Mặc dù điều luật về tội ngoại tình của Chúa Giêsu còn ngặt hơn nhiều “Các ngươi đã nghe bảo: ‘Chớ ngoại tình’. Còn Ta, Ta bảo các ngươi: phàm ai nhìn người nữ để thỏa lòng dục thì đã ngoại tình với nó trong lòng” ( Mt 5, 27 – 28 ). Nhưng trước một tội nhân công khai, ở đây là người đàn bà đã được nNgài hiểu thấu nỗi lòng, Ngài cũng không lên án, ngược lại, Ngài tha thứ và vạch ra một hướng đi tích cực hơn cho chị: “Hãy về và đừng phạm tội nữa”. Đúng như tinh thần Ngài đã nêu nơi Lc 17, 3 – 4: “Nếu anh em ngươi trót phạm tội, thì hãy răn bảo nó; nếu nó hối cải, thì hãy tha thứ cho nó. Cho dẫu nó xúc phạm đến ngươi bảy lần một ngày, và bảy lần nó trở lại với ngươi và nói “tôi xin chừa cải” thì ngươi cũng phải tha thứ cho nó”.
Tôi xin trích đoạn bài thơ “Càng yêu em hơn” trong tập “Nhật Ký Yêu” của tác giả T.G, một người bạn của tôi:
Nàng gục đầu khóc trong vai tôi
Khóc sụt sùi, nghẹn từng tiếng, rồi òa lên nức nở
 “Anh ơi !“Hãy tha thứ cho em
cuộc lao đao trong chiến trận tình đời
Em đã dối gian anh và em là người chiến bại
Ôi một thời đoan trang và hồng nhan con gái
Đã bay xa theo gió lộng phù hoa
Em tưởng mình sẽ hạnh phúc bao la
Có ngờ đâu lối về xa vạn dặm…
Cảm ơn anh không vì say vì đắm
Nhưng vì yêu, đã tha thứ cho em
Đón em về, dù rã nát trái tim
Tình yêu anh, cho em con đường mới….”

Tác giả T.G. đã bỏ hòn đá xuống, và viết vào nhật ký những dòng thơ đầy nước mắt với tựa đề “Càng yêu em hơn”. Tôi nghĩ anh bạn tôi cũng thấm tinh thần Tha Thứ của Chúa Giêsu hôm nay đối với chính người bạn đời của mình.
Trong khi viết những dòng suy niệm này, tôi nhận được Email của anh tôi, Laogiacali, chuyển cho tôi mấy dòng của ngài Jim Lawhon:
“I remember there are 4 things that we cannot recover: The stone… after… the throw ! The word… after… it’s said ! The occasion… after… the loss ! The time… after… it’s gone”
“Tôi nhớ, có 4 điều mà chúng ta không thể thu hồi lại được: Hòn đá đã ném đi. Lời đã nói ra. Cơ hội đã vuột mất. Và thời gian đã qua đi”.
Cảm ơn anh Laogiacali, cảm ơn ngài Jim Lawhon, em mượn ý tưởng này để kết.
Xin hãy bỏ hòn đá xuống. Xin khoan hãy nói lời buộc tội… Hòn đá đã ném đi không thu hồi lại được. Lời đã buông…
Lạy Chúa Giêsu giàu lòng xót thương, xin thương tha cho con là người tội lỗi nhất – những tội trong tư tưởng, trong lòng trí, và những tội chưa công khai mà Ngài đã “bắt quả tang”. Xin ban cho con lòng thương xót cảm thông và tha thứ, để mở cho anh em con một lối về với bình an và thiện hảo. Amen.
PM. CAO HUY HOÀNG

 

MC5-C72: Lòng thương xót của Chúa.

Người Do Thái là những kẻ xác tín rằng con người chỉ có thể được coi là công chính nếu tuân giữ : MC5-C72

Người Do Thái là những kẻ xác tín rằng con người chỉ có thể được coi là công chính nếu tuân giữ trọn vẹn luật Maisen. Thực ra, nếu họ là những người sống công chính theo lề luật, thì điều đó tự nó không phải là một chuyện xấu, mà còn tốt nữa là đàng khác. Nhưng cái làm cho họ trở thành những kẻ xấu và thậm chí có thể là những kẻ ác, đó là vì họ vênh vang tự đắc về cái thành tích giữ luật của mình, và nhất là tự biến mình thành  những “cảnh sát” của đạo, những loại chó săn, chuyên môn đi rình mò, đánh hơi để tố cáo những người phạm luật. Và họ không ngại  nhân danh lề luật, nhân danh lòng nhiệt thành bảo vệ luật pháp mà lên án và ném đá những kẻ lỗi luật.
Câu chuyện người đàn bà ngoại tình hôm nay thật là tiêu biểu cho cái thái độ đạo đức giả của những tín đồ Do Thái cuồng tín và cái ác ý của họ. Thực ra ở đây họ không chỉ nhằm tố cáo những phụ nữ yếu đuối đáng thương, nhưng chủ yếu là giăng trước mặt Chúa Giêsu một cạm bẫy: Họ tố cáo người phụ nữ ngoại tình để gài bẫy bắt lỗi chính Chúa Giêsu và như vậy để có bằng chứng tố cáo Ngài.
Chúng ta biết rằng luật Maisen truyền ném đá giết chết những kẻ ngoại tình. Nhưng vào thời Chúa Giêsu, thì quyền xử tử đã bị tước khỏi người Do thái, vì chỉ có tổng trấn Rôma, đại diện hoàng đế tại Giêrusalem mới có quyền ấy. Vậy nếu Chúa Giêsu tuyên bố là phải ném đá người phụ nữ, thì họ sẽ đi tố cáo với quan tổng trấn là Ngài đã phạm pháp. Còn nếu như Ngài tuyên bố là tha bổng thì điều đó có nghĩa là Ngài không tôn trọng luật Maisen.
Chúa Giêsu đã phá vỡ cạm bẫy của họ bằng cách giăng trước mặt họ một cạm bẫy tinh vi hơn nhiều. Ngài bảo họ: Ai trong các ông vô tội thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi. Thế là “dĩ đào vi thượng sách”, bọn biệt phái liền đánh bài chuồn. Tác giả Kinh Thánh đã hóm hỉnh ghi lại một chi tiết: Họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi. Sở dĩ như thế là vì câu thách thức của Chúa Giêsu khiến cho mỗi kẻ trong bọn họ phải ngó lại chính lương tri của mình và khám phá ra rằng: mình càng già thì càng lắm tội.
Lời nói của Chúa Giêsu là ánh sáng chân lý vạch trần sự đạo đức giả của họ. Chân mình những lấm bê bê, lại cầm bó đuốc mà rê chân người. Như thế toà án nhân dân bỗng trở nên vắng lặng, chỉ còn lại có tội nhân được dùng như con mồi, như cái bẫy, và Chúa Giêsu mà bọn biệt phái muốn gài bẫy để đưa ra trước vành móng ngựa. Toà án chỉ còn lại một phạm nhân và một người cũng đang bị kẻ khác muốn luận tội, hay nói cách khác, đối với bọn biệt phái thì cả hai đều là những kẻ có tội đứng trước luật pháp của Maisen. Phiên toà kết thúc một cách nhẹ nhàng với lời lẽ đầy từ bi của Chúa Giêsu: Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu. Thôi chị cứ về và từ nay đừng phạm tội nữa.
Có người nói Chúa Giêsu đã giải tội mà quên cả việc đền tội, quên cả công thức giải tội. Thái độ của Chúa Giêsu thật khoan dung độ lượng với người tội lỗi, còn chúng ta thì ssao, chúng ta đối xử như thế nào đối với những kẻ tội lỗi?

 

MC5-C73: THIÊN CHÚA BÊNH VỰC NGƯỜI YẾU ĐUỐI

VÀ PHÂN TRẦN SỰ BẤT CÔNG
Suy niệm của Radio Veritas Asia
 (Trích trong ‘Suy Niệm Lời Chúa’)
 

Theo luật người Do Thái như được trình bày trong sách Lêvi 2,10 thì bất cứ ai phạm tội ngoại tình: MC5-C73

Theo luật người Do Thái như được trình bày trong sách Lêvi 2,10 thì bất cứ ai phạm tội ngoại tình với một người phụ nữ đã có chồng và bất cứ ai phạm tội ngoại tình với vợ của người khác, thì cả người đàn bà ngoại tình và người đàn ông đó đều bị tử hình. Tuy nhiên về sau trong chiều hướng kỳ thị phụ nữ, người ta bóp méo luật pháp và chỉ ném đá trước người đàn bà ngoại tình, còn người nam ngoại tình thì không bị hình phạt nào cả hoặc chỉ bị phạt một số tiền tượng trưng.
Cử chỉ của Chúa Giêsu trong trường hợp Phúc Âm trên đây gọi là cách mạng đối với tâm thức xã hội và luật pháp thời đó. Ngài bênh vực người yếu và phân trần sự bất công của người phụ nữ phải chịu, cũng như thái độ giả hình của những kẻ muốn trừng phạt người phụ nữ tội lỗi. Trong chiều hướng đó, đoạn Phúc Âm này vẫn giữ được tính cách đặc biệt thời sự ngày nay.
Cũng vì thế, trong Tông thư "Mullieris dignitatem" (Về phẩm giá người phụ nữ), công bố nhân dịp năm Thánh Mẫu năm 1988, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã dành chương V để chú giải về đoạn Phúc Âm này. Sau khi nhắc đến thái độ kỳ thị nữ giới như một hậu quả của tội nguyên tổ, Đức Thánh Cha ghi nhận rằng, theo tường thuật Phúc Âm, Chúa Giêsu đã khơi dậy nơi tâm hồn của những kẻ muốn ném đá người phụ nữ ngoại tình, ý thức về chính tội lỗi của họ. Qua đó Chúa Giêsu cho thấy Ngài muốn đánh mạnh vào lương tâm và các hành động của con người, đồng thời dường như Ngài muốn nói với những người tố cáo rằng: Phụ nữ này với tất cả tội lỗi của nàng, đã chẳng cho thấy những vi phạm của chính các ông, những bất công nam giới và những lạm dụng của các ông hay sao? Đức Thánh Cha viết: "Đây là một sự thật có giá trị cho tất cả mọi người. Câu chuyện mà Phúc Âm theo thánh Gioan đã kể lại: người đàn bị bỏ một mình, bị phơi bày trước dư luận quần chúng với tội lỗi của nàng. Nhưng sau tội lỗi của riêng nàng, còn có người đàn ông tội lỗi nữa đồng chịu trách nhiệm về tội lỗi đó. Vậy mà tội lỗi của người đàn ông thì không lôi kéo chú ý. Được trôi qua trong im lặng như thế, người đàn ông không có trách nhiệm gì về tội lỗi ngoại tình ấy. Đôi khi người đàn ông còn nhắm mắt trước tội lỗi của chính mình và đã trở thành người tố cáo người khác như Phúc Âm kể lại. Có biết bao lần người nữ đã phải trả giá cho tội lỗi mình như thế và phải đền tội một mình, mặc dầu tội cả hai người phạm chung. Biết bao nhiêu lần người phụ nữ bị bỏ rơi với bào thai trong bụng, vì người cha của thai nhi không muốn chấp nhận trách nhiệm làm cha của mình. Và bên cạnh nhiều bà mẹ độc thân trong xã hội ngày nay, chúng ta còn phải nhớ tới số phận phụ nữ bị trục xuất bào thai của mình rất nhiều, khi vì những áp lực khác nhau kể cả áp lực của người đàn ông tội lỗi tác giả bào thai đó. Dư luận quần chúng ngày nay tìm nhiều cách để xóa bỏ cách thức xấu xa của cuộc phá thai đó, nhưng nhiều khi lương tâm người phụ nữ không thể quên rằng mình đã tước đoạt sự sống của đứa con mình".
Trong phần kế tiếp, Đức Thánh Cha nhấn mạnh sự bình đẳng của nam giới và nữ giới, theo ý định nguyên thủy của Thiên Chúa, khi tạo dựng loài người và Ngài kết luận rằng: "Mọi người nam phải nhìn nhận người nữ như một người chị em của mình và không bao giờ được coi người nữ như đối tượng cho mình thỏa mãn và khai thác hoặc như đối tượng của tội ngoại tình trong tâm hồn của mình hay qua hành động bên ngoài".

 

MC5-C74: Dốc quyết từ bỏ tội lỗi, canh tân đời sống

(Trích trong ‘Suy Niệm Lời Chúa’ – Radio Veritas Asia)
 

Cách đây khá lâu, tình cờ tôi đã đọc được một mẩu tin từ hãng tin quốc tế AFP phổ biến một sự : MC5-C74

Cách đây khá lâu, tình cờ tôi đã đọc được một mẩu tin từ hãng tin quốc tế AFP phổ biến một sự việc xảy ra bên Trung Quốc. Và hãng tin quốc tế này lấy tin từ tờ nhật báo Trung Quốc, nói rằng chính phủ mới ra lệnh tử hình cho một người cha vì đã can tội giết đứa con gái của mình mới ba tuổi. Và lý do, vì ông ta muốn có con trai.
Theo luật của Nhà Nước Trung Quốc được thiết lập từ năm 1978, thì mỗi gia đình chỉ được phép có một đứa con mà thôi. Vì thế người cha này là một công chức của nhà nước làm việc trong ngành lâm sản, đã giết đứa con gái của mình mới lên ba tuổi để hy vọng sau đó có thể có được một đứa con trai. Việc làm sát nhân này đã bị tòa án Nhà Nước kết án tử hình vào tháng 11 năm 1988, và hôm mùng 10 tháng 3 năm 1989 thì bản án được thi hành.
Đọc qua bản tin vừa kể, tôi không khỏi bồi hồi xúc động và thấy đây là một thảm trạng gia đình có thể xảy ra bất cứ nơi nào khác trên thế giới này. Thử hỏi ai là người có trách nhiệm trong thảm trạng này? Dĩ nhiên người cha đã vô tâm giết chết đứa con gái mới lên ba. Nhưng thử hỏi, còn ai khác có trách nhiệm khiến cho người cha đã nhẫn tâm hành động như vậy không? Những kẻ có trách nhiệm ca tụng xã hội cho phép phá thai, phải chăng họ không đáng tội chết hơn người cha đã giết đứa con gái của mình mới lên ba tuổi hay sao? Tại sao họ lên án những kẻ khác mà quên lên án chính mình? Phải chăng đây là một thái độ sống giả hình. Thái độ sống giả hình của thời đại mới chúng ta hôm nay không khác gì với thái độ giả hình của những người biệt phái vào thời Chúa Giêsu.
Phúc Âm hôm nay kể lại cho chúng ta: những người biệt phái có quyền thế trong dân Do Thái, họ là những kẻ nắm giữ luật lệ hay đặt thêm những luật lệ cho dân Do Thái, đã gắt gao lên án một người phụ nữ bị bắt phạm tội ngoại tình và muốn Chúa Giêsu cũng lên án theo. Điểm trớ trêu là chính những người biệt phái này cũng là những kẻ tội lỗi, nhưng họ không kết án chính mình trước mà đi kết án kẻ khác.
Thái độ của Chúa Giêsu mở ra một viễn tượng mới đó là sự tha thứ. Thiên Chúa tha thứ cho con người tội lỗi nhưng đồng thời cũng muốn cho con người tội lỗi đừng lạm dụng lòng nhân từ của Ngài, nhưng hãy dốc quyết từ bỏ tội lỗi, canh tân đời sống: "Ta không kết án con". Đó là lời Chúa Giêsu nói với người phụ nữ phạm tội ngoại tình. "Nhưng từ nay đừng phạm tội nữa". Mỗi người Kitô chúng ta, đồ đệ của Chúa Giêsu đều ý thức về thân phận yếu đuối tội lỗi của mình, dốc quyết canh tân đời sống và noi gương Chúa mà tha thứ cho những lầm lỗi của anh chị em, như chính Chúa đã nêu gương. Chúng ta hãy xét lại thái độ sống của mình đối với anh chị em xung quanh, đừng kết án anh chị em nhưng hãy tha thứ, hãy nâng đỡ anh chị em trở về với Chúa. Hơn nữa mỗi người Kitô chúng ta cần được mời gọi cầu nguyện, cầu nguyện cho người tội lỗi được ơn ăn năn trở lại.
Các vị thánh trong mọi thời đại đã thực hiện điều này. Cầu nguyện cho chính mình và cầu nguyện cho anh chị em xung quanh được ơn ăn năn trở lại, đừng làm phiền lòng Chúa, đừng phạm tội nữa. Cầu nguyện với những hy sinh, cầu nguyện với những đánh tội, hãm mình.
Và trong bài đọc thứ hai hôm nay mà chúng ta vừa nghe qua, trích thơ của thánh Phaolô cũng đề ra cho chúng ta một bí quyết, có thể nói được là bổ túc cho những gì chúng ta mới vừa nói, đó là sống kết hiệp với Chúa Giêsu Kitô, và kể từ nay ngài không nhìn về quá khứ tội lỗi của ngài cũng như của những kẻ khác nhưng hãy nhìn tới tương lai. "Chính tôi chưa tin rằng tôi đã chiếm được Ngài. Nhưng tôi đinh ninh một điều là quên hẳng đằng sau, quên đi quá khứ tội lỗi của mình mà hướng về phía trước hướng về tương lai. Tôi cứ nhắm đích đuổi theo để được đoạt giải ơn kêu gọi của Thiên Chúa đã ban cho từ trời cao trong Đức Giâsu". Đó cũng là mẫu gương cho tất cả mọi người chúng ta, quên đi quá khứ tội lỗi của mình, quên đi quá khứ tội lỗi của anh chị em xung quanh. Để rồi cố gắng tiến lên mãi đạt đến lý tưởng mà Chúa đề ra cho mỗi người chúng ta và sống kết hiệp với Chúa Giêsu Kitô. "Vì Chúa tôi đành chịu thua thiệt mà coi mọi sự như phân bón để được lợi Đức Kitô và được ở trong Người".
Xin Chúa gìn giữ mỗi người chúng ta được luôn luôn sống kết hiệp với Chúa, và từ nay không nhìn về quá khứ của mình nữa nhưng nhìn đến tương lai, để có những dốc quyết mới canh tân đời sống của mình, từ bỏ những tội lỗi, để giữ vững niềm tin mà chúng ta đã lãnh nhận.

 

MC5-C75: Hãy về và đừng phạm tội nữa – R. Veritas

(Trích trong ‘Suy Niệm Lời Chúa’)
 

Tin Mừng sự sống". Đó là tựa đề một thông điệp của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II được ký ban: MC5-C75

"Tin Mừng sự sống". Đó là tựa đề một thông điệp của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II được ký ban hành ngày 25 tháng 3 năm 1995.
Như chính Đức Thánh Cha đã giải thích, đây là một bài suy niệm của ngài về sự sống. Đứng trước nền văn hóa chết chóc đang lan tràn trên thế giới ngày nay, bên cạnh những tiến bộ vượt bực về khoa học kỹ thuật và ý thức mỗi ngày một gia tăng về nhân quyền, về bình đẳng, về liên đới huynh đệ... Nhân loại ngày nay lại đang đứng trước một đe dọa khủng khiếp nhất, đó là đe dọa của sự tự hủy. Mối đe dọa ấy có lẽ không đến từ chiến tranh, từ khoa học, vũ khí hạt nhân mà chính là từ sự đánh mất ý thức, về sự thánh thiêng của sự sống con người.
Một cách cụ thể chúng ta hãy nghĩ đến nạn phá thai và làm cho chết một cách êm dịu đang lan tràn trong thế giới ngày nay. Hai hành động giết người này đã được luật pháp của không biết bao nhiêu quốc gia nhìn nhận và hợp thức hóa. Cái mâu thuẫn lớn nhất của nhân loại ngày nay chính là, trong khi mạng sống của thú vật càng ngày càng được đề cao thì sự sống của những thai nhi và những người vô phương tự vệ lại càng ngày càng bị khinh rẻ. Điều khủng khiếp nhất chính là những hành động tội ác ấy lại được hợp thức hóa. Hành động xúc phạm đến mạng sống con người được đưa vào pháp luật. Từ nay nhân danh luật pháp do chính mình làm ra, con người tự cho mình có quyền sinh sát trên người khác. Con người dựa vào luật pháp do chính mình làm ra để chối bỏ lẫn nhau, đó là thảm trạng của nhân loại ngày nay.
"Tin Mừng sự sống". Chọn lấy đề tài này cho thông điệp của ngài, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II hẳn muốn ban cho con người thời đại Tin Mừng của chính Chúa Giêsu. Tin Mừng mà Chúa Giêsu mang lại cho nhân loại là Tin Mừng của sự sống, Tin Mừng ấy được cụ thể hóa qua sự tiếp cận thiết thân của Thiên Chúa làm người, với các trẻ thơ, với những người tàn tật bệnh hoạn, với những cô gái điếm, với những người thu thuế tội lỗi, với những người bị xã hội đẩy ra bên lề. Tin Mừng mà Giáo Hội muốn cho chúng ta lắng nghe hôm nay là một trong những trang cảm động nhất của Tin Mừng sự sống ấy.
Đối với thái độ đầy sát khí của đám đông nhất là của các luật sĩ và biệt phái, Chúa Giêsu đáp lại bằng thái độ của thinh lặng, cảm thông và tha thứ. Đám đông các luật sĩ và biệt phái nhân danh luật pháp để xử lý người đàn bà bị bắt quả tang phạm tôi ngoại tình, còn Chúa Giêsu lại kêu gọi tình thương. Đám đông các luật sĩ và biệt phái đặt mình vào ghế thẩm phán để xét xử người đàn bà ngoại tình, Chúa Giêsu lại đặt chính họ vào hàng bị cáo. Đám đông các luật sĩ và biệt phái xây dựng quan hệ giữa người với người trên luật pháp, còn Chúa Giêsu thì nói với họ rằng, tương quan với tha nhân sẽ được xây dựng trên sự cảm thông, lòng tha thứ, tình yêu thương. Và để có thể xây dựng được mối quan hệ yêu thương ấy, thì trước tiên con người phải cảm nhận được chính tình yêu của Thiên Chúa.
Những giây phút thinh lặng khi Chúa Giêsu cúi mình viết trên cát là lúc để cho mỗi người trong cái đám đông hung hãn ấy nhìn sâu vào tận đáy thẳm tâm hồn của mình. Ở đó con người sẽ nhận ra thân phận tội lỗi xấu xa của mình và đồng thời cảm nhận được tình yêu tha thứ của Chúa.
Đám đông đã từ từ kéo nhau về sau khi đã nhìn sâu vào trong tâm hồn tội lỗi yếu hèn của mình. Họ ra về chắc chắn với một ý thức mới, không phải ý thức về sức mạnh của luật pháp do con người làm ra, mà về chính thân phận tội lỗi của mình. Ít nhất đó cũng là bước đầu của sự sám hối. Riêng người đàn bà cũng ra về, nhưng ra về với lời vỗ về yêu thương, tha thứ và cổ vũ của Chúa Giêsu: "Con hãy về và đừng phạm tội nữa". Đó cũng là lời vỗ về mà Chúa Giêsu đang nói với mỗi người chúng ta. Đó là Tin Mừng của sự sống.
Người đàn bà đang đứng bên bờ vực thẳm của chết chóc và thất vọng, đã được Chúa Giêsu kéo lên và ban cho một sức sống mới, một niềm hy vọng mới. "Con hãy về và đừng phạm tội nữa". Lời Tin Mừng sự sống này cần phải được chúng ta cảm nhận như một lời sai đi, cảm nhận được tình yêu tha thứ của Chúa. Chúng ta được sai đi để loan báo, làm chứng và chia sẻ tình yêu ấy với mọi người. Chúa đã ban cho chúng ta một cơ may để bắt đầu lại, chúng ta cũng được mời gọi để cảm thông, để tha thứ không ngừng và mang lại một cơ may mới cho người khác. Có sống như thế, chúng ta mới thật sự góp phần vào việc kiến tạo nền văn minh của tình thương, một nền văn minh không phải chỉ dựa vào khoa học kỹ thuật hay luật pháp của con người, mà được xây dựng trên tình yêu và lòng tha thứ.

 

MC5-C76:  Bắt đầu lại cuộc sống mới trong ân sủng

(Trích trong ‘Suy Niệm Lời Chúa’ – Radio Veritas Asia)
 

Phụng vụ hôm nay mời gọi chúng ta hãy dứt khoát giở qua trang lịch sử đời mình, quên đi: MC5-C76

Phụng vụ hôm nay mời gọi chúng ta hãy dứt khoát giở qua trang lịch sử đời mình, quên đi những ngày đã qua của tội lỗi, của âu sầu, của đau khổ, của bất hạnh. Bắt đầu lại cuộc sống mới trong ân sủng, trong tình yêu của Chúa, thể hiện qua đời sống vui tươi và an bình.
Trong bài đọc thứ nhất, tiên tri Isaia loan báo cho dân Chúa thời lưu đày ở Babylon sắp chấm dứt. Ngài nhắc lại cho họ thấy trong quá khứ, Chúa đã thương họ, đã cứu họ ra khỏi Ai Cập bằng cuộc vượt qua Biển Đỏ lạ lùng. Dầu hành động uy hùng đó đã xảy ra, nhưng Chúa phán: "Các ngươi đừng nhớ đến dĩ vãng và đừng để ý tới việc thời xa xưa nữa. Đây Ta sẽ làm những cái mới và giờ đây chúng sẽ xuất hiện". Những cái mới đó là mở đường trong hoang địa, đồng hoang khô cằn trở thành vùng đất phì nhiêu mầu mỡ, có đường đi lại tấp nập, có sông thấm nhuần tươi mát. Và với tư cách là tiên tri, Isaia cũng loan báo tất cả những sự cứu thoát kia vẫn chưa lạ lùng bằng sự cứu thoát khỏi làm nô lệ tội lỗi, trở thành con cái Chúa.
Vậy hãy quên đi quá khứ vì Chúa đang làm những việc mới lạ phi thường, không biến cố, không sự kiện nào so sánh được. Từ cõi lòng tội lỗi chai đá, khô khan của con người, ơn Chúa như dòng sông tươi mát tình yêu, Chúa mở lối đi vào để xâm nhập, để hoán cải. Còn gì lạ lùng bằng và bỡ ngỡ bằng những việc kỳ diệu đó của Thiên Chúa, đến nỗi con người chỉ còn biết thốt lên với thánh vịnh 125 dùng làm đáp ca: "Chúa đã đối xử đại lượng với tôi, nên tôi mừng rỡ hân hoan".
Nơi bài đọc thứ hai, thánh Phaolô tâm sự cùng các tín hữu thành Philipphê rằng: Từ khi biết được Chúa Giêsu Kitô người coi mọi sự ở đời này không còn giá trị đích thực gì cả, nhưng giá trị đích thực của đời sống chính là làm sao được ở trong Chúa Kitô và sinh lợi ích cho đời sống ân sủng. Thánh Phaolô còn dạy chân lý đó một cách thật rõ ràng và cụ thể. Đó là dầu những ngày còn sống trên trần gian chúng ta đã sống trong Chúa, nhưng không phải là đã đạt đến mục đích đuổi theo để chiếm lấy, và ngài so sánh công việc tiến đến cùng Thiên Chúa đó như một cuộc chạy đua nước rút. Đừng bao giờ nhìn lại phía sau, hãy quên đi từng khoảng đường bước chân mình đang bỏ lại, chỉ biết hướng về phía trước mắt, đăm đăm nhìn về mục đích, vận dụng cả sức lực từng bắp thịt, từng hơi thở để băng mình tiến tới, để đạt được mục đích Chúa hứa ban từ trời cao. Dưới nét họa của Phaolô, chúng ta thấy mỗi tín hữu là một lực sĩ đang tham dự cuộc chạy đua, nhưng khác ở điểm là phần thưởng không phải chỉ dành riêng cho người đến trước mà cho tất cả những người trung thành bền chí chạy theo đến cùng. Đến trước đến sau không thành vấn đề, miễn đừng bỏ, cũng đừng thất vọng ngã lòng là được, là chắc chắn rồi sẽ đến nơi. Tóm lại thánh Phaolô dặn: Có được đức tin là chúng ta dang chạy đúng đường. Muốn đến nơi đừng bận tâm đến dĩ vảng, hãy hướng mắt về tương lai nhắm đến mục đích và kiên tâm tiến bước.
Trong bài Phúc Âm, ý tưởng từ bỏ quên đi dĩ vãng đau buồn, tội lỗi bắt đầu lại cuộc sống mới được chỉ dạy thật một cách rõ ràng với câu Chúa Giêsu nói với người đàn bà phạm tội ngoại tình bị dân chúng định ném đá. "Ta không kết tội chị, vậy hãy về và từ nay đừng phạm tội nữa". Thật là một sự sống lại trong đời sống thứ hai của người đàn bà tội lỗi đó. Không phải sống lại vì những người muốn ném đá bà còn có lương tri là nhìn nhận mình là kẻ tội lỗi không dám cầm viên đá để ném vào đầu bà, nhưng sống lại vì sự tha thứ của Đấng Cứu Thế và lời dặn: "Từ nay đừng phạm tội nữa". Chắc chắn người đàn bà đó sẽ không phạm tội nữa, sẽ ăn năn sám hối không phải vì được tha chết, nhưng vì được chính Đấng Cứu Thế tha tội "Ta tha tội cho chị, vậy chị hãy về bình an và từ nay nhớ đừng phạm tội nữa". Dĩ vảng đau buồn tối tăm tội lỗi kia ra sao? Đừng nhìn lại nữa, đừng bận tâm nữa, đừng lo âu nữa. Từ nay hãy sống đời sống mới trong ân sủng, trong tình yêu, trong an bình, trong hạnh phúc, trong niềm vui Nước Trời. Tất cả những ân lành đó chỉ những ai dứt khoát được với dĩ vảng tội lỗi, trở về sống với Chúa mới cảm nghiệm được. Hạnh phúc thiên đàng không phải chỉ được hưởng ở đời sau nhưng ngay cả ở đời này khi con người biết sống và nếm thử. "Lạy Chúa, Chúa là ánh sáng thế gian, xin cho con bước theo Chúa để được hưởng ánh sáng ban sự sống".
Để có việc làm cụ thể trong tuần, tôi sẽ chuẩn bị tâm hồn mừng lễ Phục sinh bằng cách tưởng tượng rằng: đời tôi là một trang giấy, những ngày qua tôi đã tự tay viết đủ thứ vào đó. Hôm nay nhìn lại thấy đủ thứ lem luốc bẩn thỉu, tôi hãy giở qua trang và một trang giấy mới trắng tinh sạch sẽ đang trải ra trước mắt tôi. Tôi hãy ngước nhìn lên Chúa, xin Người cầm tay tôi, soi sáng cho tôi, chỉ dẫn cho tôi để viết lên đó những dòng vàng son tươi đẹp làm vui lòng Chúa, làm hài lòng những người cùng chung sống với tôi.

 

MC5-C77:   Nhìn vào nội tâm để nhận biết tội mình

(Trích trong ‘Cùng Đọc Tin Mừng’ – Lm Ignatiô Trần Ngà)
 

Người ta thường nhìn ra ngoại giới nhưng rất ít khi nhìn vào nội giới, nhìn vào nội tâm mình: MC5-C77

Người ta thường nhìn ra ngoại giới nhưng rất ít khi nhìn vào nội giới, nhìn vào nội tâm mình. Con người có mắt nhìn ra mà không có mắt nhìn vào. Khuôn mặt duy nhất trên đời chúng ta không bao giờ có thể nhìn thấy trực diện, đó là khuôn mặt của chính chúng ta. Thế nên một nốt ruồi nhỏ trên mặt người khác, ta thấy rõ ràng; còn vết sẹo lớn trên trán mình, ta không thấy được. Lỗi lầm nho nhỏ của người khác thì mình thấy rõ ràng, còn lỗi lầm to lớn nặng nề của mình thì lại không hay. Thế rồi, chúng ta dành nhiều thì giờ để phê phán người khác mà chẳng bao giờ biết phê phán bản thân.
Các kinh sư và người Pha-ri-sêu trong bài Tin Mừng hôm nay cũng thế. Họ nhìn thấy rõ ràng tội lỗi của người phụ nữ phạm tội ngoại tình, nhưng không nhìn thấy tội lỗi của mình. Họ bận tâm đến việc kết án người khác, nhưng không quan tâm đến việc sửa chữa lầm lỗi của mình. Chính vì thế, Chúa Giê-su muốn nhân cơ hội để dạy cho họ một bài học tâm linh cần thiết là hãy nhận ra tội lỗi của mình trước, hãy trách phạt mình trước rồi lo trách phạt người khác sau. Cổ nhân cũng thường dạy ta như vậy: "Tiên trách kỷ hậu trách nhân."
Khi các kinh sư và người Pha-ri-sêu dẫn người phụ nữ phạm tội ngoại tình đến với Chúa Giê-su, họ hối thúc Chúa Giê-su ra ngay một phán quyết định đoạt số phận của người đàn bà tội lỗi. Thế nhưng Chúa Giê-su không vội phán xét ai. Trước hết, Ngài muốn cho những người tưởng mình vô tội hãy xét lại chính mình.
Thế nên, đứng trước những con người đang lăm le kết án người phụ nữ và mưu toan ám hại mình, Chúa Giê-su lặng thinh không nói một lời.
Ngài thinh lặng và tạo nên bầu khí vắng lặng để cho mọi người tự vấn lương tâm. Ngài muốn kéo dài sự thinh lặng bằng cách ngồi xuống viết, viết trên đất.
Khi người ta cứ hỏi mãi, phá tan sự im lặng cần thiết cho sự rà soát tâm hồn, Chúa Giê-su lên tiếng kêu mời họ hãy xét lại mình: "Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi!".
Rồi Ngài ngồi xuống trong thinh lặng. Ngài cứ viết, viết trên đất để tạo bầu khí thinh lặng cho mọi người hồi tâm.
Nhìn lại nội tâm mình trong thinh lặng, những con người hăm hở kết tội người khác giờ đây dần dần nhận ra tội lỗi mình, có khi còn nhiều hơn, còn nghiêm trọng hơn cả tội lỗi của người phụ nữ. Thế là các viên đá trên tay lần lượt rơi xuống, họ xấu hổ lặng lẽ rút lui, để lại một mình Chúa Giê-su và người thiếu phụ. Hoá ra rốt cuộc ai cũng nhận ra mình là người có tội, mà đã là người có tội thì sao không kết án mình trước? Sao lại đang tâm kết án người khác cũng tội lỗi như mình!
Nhìn lại mình để thấy được tội lỗi của mình là điều hết sức quan trọng để cải thiện bản thân.
Nếu tôi biết được là mình hôi hám, tôi sẽ đi tắm ngay. Còn nếu tôi không nhận ra mùi hôi của cơ thể mình, thì mãi mãi tôi vẫn là người hôi hám.
Nếu tôi thấy được mặt mình dơ bẩn, tôi sẽ lau rửa tức khắc không chần chừ. Còn nếu không thì chẳng có gì thay đổi.
Nếu tôi thấy được sự xấu xa của nội tâm mình, sự bê bối của đời sống mình, tôi sẽ cải thiện ngay không trì hoãn.
Sự chuyển hóa bản thân, cải thiện cuộc sống chỉ thực sự bắt đầu lúc ta tự nhận biết tội lỗi mình.
Nhìn lại mình, nhìn vào mình để thấy được những tội lỗi của mình là khởi điểm, là bước đầu cho việc cải thiện đời sống. Không có bước nầy, chẳng thể có bước thứ hai, chẳng có gì được cải thiện.
Lạy Chúa Giê-su, nhìn lại mình để rà soát chính mình, để thấy được tội mình là điều rất khó mà cũng là việc không mấy ai muốn làm. Xin Chúa thương giúp đỡ chúng con.
Xin cho Lời Chúa trở nên gương soi cho chúng con, giúp chúng con nhận ra những vết nhơ trong tâm hồn chúng con, những nết xấu trong cuộc đời chúng con.
Lạy Chúa Giê-su, xưa kia, Chúa Giê-su đã giúp đám người Do Thái nhận ra tội lỗi của họ thì nay xin Ngài cũng giúp chúng con nhận ra lầm lỗi của mình để sửa đổi ăn năn.

 

MC5-C78: Tha thứ trong thinh lặng

(Trích trong ‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)
 

Phiên tòa xử người đàn bà phạm tội ngoại tình diễn ra khi Chúa Giêsu bắt đầu bài giảng của Ngài: MC5-C78

Phiên tòa xử người đàn bà phạm tội ngoại tình diễn ra khi Chúa Giêsu bắt đầu bài giảng của Ngài. Thánh Gioan không nói rõ nội dung của bài giảng của Chúa Giêsu, nhưng khi đặt phiên tòa vào khởi đầu của bài giảng của Chúa Giêsu, thánh nhân hẳn đã muốn nêu bật một cung cách rất đặc biệt trong sự giảng dạy của Chúa Giêsu. Khi các biệt phái đưa người đàn bà bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình đến trước mặt Chúa Giêsu và hỏi ý kiến Ngài. Chúa Giêsu đã giữ thinh lặng. Ngài không còn nói nữa mà lại cúi xuống lấy ngón tay viết trên đất. Từ hàng bao thế kỷ qua, các nhà chú giải Kinh Thánh đã nhọc công nghiên cứu mà vẫn không ra, đối với thánh Gioan, người ghi lại biến cố này, điều quan trọng không phải là nội dung của những lời Chúa Giêsu đã viết ra mà chính là sự thinh lặng của Ngài.
Cử chỉ không lời của Chúa Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay cũng có thể được xem như một bài dụ ngôn bằng hành động mà Ngài muốn dạy cho dân chúng. Ngài muốn cho dân chúng thấy rằng những gì Ngài làm còn quan trọng hơn là những lời Ngài nói. Chúa Giêsu đã dạy bằng nhiều dụ ngôn. Có những dụ ngôn bằng lời nói nhưng cũng có những dụ ngôn bằng hành động. Khi Ngài đến ngồi đồng bàn với các tội nhân, khi Ngài quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ, đó là những dụ ngôn bằng hành động, qua đó Ngài muốn nói lên tình yêu của Thiên Chúa đối với con người.
Chỉ trong thinh lặng, con người mới có thể trở về với cõi lòng và nghe được tiếng nói của Chúa trong lương tâm. Đây là sứ điệp mà Chúa Giêsu muốn nói với các biệt phái và đám đông đến nghe Ngài giảng dạy. Người ta ồn ào và hung hãn bao nhiêu khi lôi người đàn bà ngoại tình tới trước mặt Chúa, thì giờ đây trong thinh lặng do Ngài gợi lên người ta lại càng nhận ra chính bản thân tội lỗi của mình hơn. Trước đó, người ta càng mạnh bạo để kết án người khác bao nhiêu, thì giờ đây người ta lại càng rụt rè xấu hổ bấy nhiêu.
Có thinh lặng con người mới đi sâu vào cõi lòng mình. Có thinh lặng con người mới nhận ra thân phận tội lỗi bất toàn của mình. Có thinh lặng con người mới có thể tha thứ cho người khác. Có thể đó là bài học mà đám đông dân chúng đã tiếp thu được trong phiên tòa xử người đàn bà phạm tội ngoại tình ngày hôm đó.
Mọi người đều rút lui, bắt đầu từ những người lớn tuổi. Họ rút lui trong thinh lặng. Có lẽ đây là lần đầu tiên đám đông dân chúng ra về trong thinh lặng. Họ đã nắm bắt được nội dung của bài giảng ngày hôm đó. Hôm ấy Chúa Giêsu không chỉ tha thứ và giải cứu cho người đàn bà ngoại tình. Ngài cũng đã loan báo chính số phận của Ngài, rồi đây Ngài cũng bị điệu ra trước tòa án để xét xử. Nhưng như Ngài đã cúi xuống và thinh lặng trong phiên tòa xử người đàn bà ngoại tình, Ngài cũng phải giữ thinh lặng trong suốt phiên tòa của Ngài. Và tuyệt đỉnh của sự thinh lặng ấy là cử chỉ tha thứ của Ngài khi bị treo trên thập giá. Ngài đã thể hiện sự tha thứ bằng thinh lặng. Không phải chỉ có ấn phẩm mới đáng kể, im lặng cũng là nói lên một cách phát biểu, đó là im lặng của cái chết, im lặng của phẩm cách, im lặng của tĩnh tâm, im lặng của quá trình tăng trưởng, im lặng của thận trọng và nhất là im lặng của tha thứ.
Ngày nay, có quá nhiều những lời nói suông. Trong nền văn minh tràn đầy những ấn phẩm và trào ứa thông tin, những thứ tiếng ồn ào phát ra từ các phương tiện truyền thông, từ lãnh vực thương mại và chính trị. Ngay cả tình yêu cũng được diễn tả bằng những lời nói suông.
Trong những ngày này, Giáo Hội mời gọi chúng ta đi vào thinh lặng của cõi lòng và lắng nghe sự thinh lặng của Chúa Giêsu trên thập giá. Từ trên thập giá Chúa Giêsu mời gọi chúng ta trở về với cõi lòng để nhận ra thân phận tội lỗi của chúng ta, để nghe được lời tha thứ của Ngài và nhất là để tha thứ cho người khác.

 

MC5-C79: GIỚI LUẬT YÊU THƯƠNG

Is 43:16-21; Ga 8, 1-11
Ông bà và anh chị em thân mến!
 

Thiên Chúa là Đấng giàu lòng thương xót, Ngài đã đến thế gian để giữ gìn che chở và cứu thoát con : MC5-C79

Thiên Chúa là Đấng giàu lòng thương xót, Ngài đã đến thế gian để giữ gìn che chở và cứu thoát con người khỏi ách nô lệ, khỏi ách tội lỗi của thế gian và làm cho con người được sự sống mới trong tình yêu thương của Thiên Chúa. Bài đọc thứ nhất, tiên tri Isaia tường thuật lại việc Thiên Chúa đã cứu dân Ngài vượt qua biển đỏ thoát cảnh nô lệ Ai Cập. Hơn thế nữa, Chúa Giêsu đã mặc cho lề luật một tinh thần mới, vì Ngài đến để kiện toàn lề luật của Thiên Chúa.
Bài Phúc Âm thánh Gioan hôm nay cho ta thấy Chúa Giêsu đã dùng trái tim nhân hậu của Thiên Chúa để cứu một tội nhân là người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình. Thật ra, tội ngoại tình theo lề luật trong sách Lêvi và sách Đệ Nhị Luật thì tội nhân phải bị xử tử. Chúa Giêsu là Ngôi Hai Thiên Chúa, là Đấng giàu lòng thương xót, Ngài đến thế gian để tìm kiếm và chữa lành những tâm hồn tội lỗi biết ăn năn sám hối. Vì lý do này mà các Kinh Sư và Biệt Phái rất khó chịu và chống đối Đức Giêsu. Người đàn bà phạm tội ngoại tình mà hôm nay các ông đưa tới nhằm gây sự khó khăn cho Đức Giêsu, họ xem Ngài phán xét như thế nào trước một tội phạm rành rành như vậy. Nếu Đức Giêsu cũng kết án tử cho chị ta, thì Ngài cũng đâu có yêu thương và chữa lành cho tội nhân gì đâu! Nhưng nếu Đức Giêsu không kết án chị ta, thì Ngài đi ngược lại với luật Cựu Ước và chính Ngài cũng bị kết án vì đã vi phạm đến lề luật.
Điểm độc đáo của Chúa Giêsu là Ngài rất điềm tĩnh trước khi phán quyết một điều gì. Đức Giêsu thinh lặng vẽ nguệch ngoạc trên đất. Những người tố cáo tưởng rằng Đức Giêsu đã bí lối, nên tiếp tục gây áp lực. Chúa Giêsu đã biến tòa án dân sự sang tòa án lương tâm: "ai trong các ngươi không phạm tội thì ném đá chị ta trước đi" và Ngài tiếp tục thinh lặng. Qua lời nói này đã đánh thức lương tâm của đám đông bởi vì đã là người thì ai cũng có tội và từng người đã bỏ đi.
"Phần Tôi, Tôi cũng không kết án chị, chị hãy về và đừng phạm tội nữa!" Chúa Giêsu không bao che, không dung túng cho tội, nhưng Ngài yêu thương tội nhân và cho họ cơ hội để sửa đổi. Thật vậy, Chúa Giêsu là Đấng giàu lòng thương xót, Ngài muốn tội nhân sám hối mà hoán cải đời sống. Chúa Giêsu yêu con người đến nỗi đã từ bỏ cõi trời mang phận phàm nhân mà lãnh lấy tội lỗi của thế gian, chịu khổ hình chịu chết trên thập giá. Ôi tình yêu Chúa thật cao vời còn chúng ta thì sao?
Nhìn lại đời sống đạo của chúng ta, trong tư tưởng, trong hành động ai cũng là tội nhân, nhưng Chúa đã bao lần tha thứ cho chúng ta. Tuy vậy, tâm trạng của chúng ta nhiều khi cũng giống như những Pharisêu và Biệt Phái: chỉ biết lên án, kết tội người khác mà không nhận ra tội mình. "Sao anh thấy cái rác trong con mắt của người anh em, mà cái xà trong con mắt của chính mình thì lại không để ý tới"(Lc 6.41)? Hôm nay, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy từ bỏ tội lỗi, hãy cải thiện đời sống mà quay về với Chúa là Đấng giàu lòng xót thương. Chúng ta cũng noi gương Đức Giêsu, biết tha thứ cho những anh chị em lỗi phạm đến mình và cho họ một cơ hội để làm lại cuộc đời.
Hôm nay đã bước vào thời gian cuối cùng của mùa chay thánh, chúng ta hãy lắng đọng tâm hồn để sám hối cùng Chúa, để nhận ra những lỗi lầm của ta với Chúa, với bản thân và với những người xung quanh, bằng đời sống đức tin vững mạnh, lối sống hiền hòa, lương thiện đối với những anh chị em xung quanh. Xin ơn Chúa Thánh Thần phù trợ cho tất cả ông bà và anh chị em. Amen.

 

MC5-C80: CHÚA NHẬT V MÙA CHAY

Ga 8, 1 - 11
Kính thứa quý OBACE!
 

Tuần trước chúng ta đã được thánh Luca kể lại dụ ngôn người con hoang đàng để nói lên lòng yêu: MC5-C80

Tuần trước chúng ta đã được thánh Luca kể lại dụ ngôn người con hoang đàng để nói lên lòng yêu thương tha thứ của Thiên Chúa. Và hôm nay, chúng ta lại được nghe thánh Gioan Tông đồ kể lại thái độ của Chúa Giêsu đối với người phụ nữ sắp bị ném đá vì phạm tội ngoại tình. Tất cả đều nói lên lòng bao dung và tha thứ của Thiên Chúa dành cho con người.
Bài Tin mừng chúng ta vừa nghe chẳng khác gì một phiên toà. Bị cáo là người phụ nữ với tội danh ngoại tình. Nguyên cáo là nhóm Kinh sư, Biệt phái. Bản án là tử hình bằng cách ném đá. Thật ra các kinh sư và người Pharisêu có thể thi hành án dựa theo luật Môsê. Trong sách Lv 20,10 có quy định: "ném đá cho tới chết kẻ phạm tội ngoại tình."Họ đến hỏi Chúa Giêsu không phải vì thiện ý nhưng nhằm gày bẫy Người. Nếu Chúa tha cho người phụ nữ họ sẽ tố cáo Người chống lại luật Môsê. Còn nếu Chúa kết án chị ta thì những lời rao giảng về yêu thương tha thứ của Chúa sẽ không còn ai tin nữa. Một cái bẫy thật hiểm độc. Đằng sau bản án dành cho người phụ nữ, họ hy vọng sẽ có một bản án khác dành cho Chúa Giêsu.
Đứng trước cạm bẫy nham hiểm này, Chúa Giêsu đã có một cách giải quyết rất khôn ngoan. Người không trả lời họ ngay mà chỉ im lặng cúi xuống viết trên đất một điều gì đó. Nhiều người cho rằng Chúa viết ra các tội lỗi của những người tố cáo. Cũng có ý kiến cho rằng Chúa cố tình im lặng để những kẻ tố cáo có thời gian nhìn lại cõi lòng mình, để nhận thấy mình cũng là những kẻ có tội.
Họ không thể nào chịu nổi sự im lặng đó nên đã hối thúc Chúa Giêsu: "Còn Thầy, Thầy nghĩ sao". Chúa Giêsu  ngước mắt lên nhìn thẳng vào họ, một cái nhìn thấu suốt tận tâm cang, và Người nói "ai trong các ông sạch tội hãy ném đá chị này trước đi". Câu trả lời của Chúa Giêsu đã làm cho những hòn đá họ đang cầm trên tay để ném người phụ nữ lại ném vào chính lương tâm của họ. Và rồi không ai dám ném hòn đá đầu tiên vì ai dám nói mình là vô tội. Những hòn đá từ từ rơi khỏi tay họ. Thế là họ rút lui từng người một.
Khi họ đã đi hết chỉ còn lại mình Chúa Giêsu và người phụ nữ. Một con người đau khổ đối diện với Đấng giàu lòng thương xót. Chúa nhìn chị ta với ánh mắt nhân từ, Người nói: "tôi cũng không kết án chị đâu, thôi chị cứ về đi và từ nay đừng phạm tội nữa".
Kính thưa OBACE!
Qua câu chuyện vừa rồi chúng ta thấy có một nghịch lý trong cuộc đời: Một đàng, Thiên Chúa là Đấng thánh thiện vô cùng lại đầy lòng thương xót đối với người tội lỗi. Một đàng, con người ai cũng mắc tội, không nhiều thì ít, không tội nặng cũng tội nhẹ lại hay phê bình, chỉ trích và kết án đồng loại của mình. Thay vì chúng ta biết cảm thông với những lồi lầm của người khác thì chúng ta lại thường đóng khung số phận của họ trong quá khứ lỗi lầm, đôi khi vô tình chúng ta đẩy họ tiếp tục rơi vào con đường tội lỗi mà không có lối thoát.
Chúa Giêsu ghét tội nhưng Người yêu thương kẻ có tội. Người không dung túng cho tội lỗi của người phụ nữ nhưng Người cho chị một cơ hội làm lại cuộc đời. " chị hãy về và từ nay đừng phạm tội nữa". Đức cố hồng y Phanxicô nguyễn Văn Thuận nói rằng: "vị thánh nào cũng có quá khứ và tội nhân nào cũng có tương lai". Nghĩa là vị thánh nào cũng đã có lần phạm tội và tội nhân nào cũng có khả năng hoán cải và làm lại cuộc đời. Cho nên, chúng ta đừng bao giờ đặt dấu chấm hết cho một con người còn sống.
Lời Chúa hôm nay mời gọi mỗi người chúng ta hãy biết cảm tạ ơn Chúa, vì biết bao lần Người đã tha thứ cho những lỗi phạm của chúng ta. Chúa luôn muốn con người bắt đầu và lại bắt đầu. Đối với Chúa sự sám hối không bao giờ là muộn màng, lòng ăn năn không bao giờ Ngài từ chối.
Ước gì Lời Chúa hôm nay giúp cho mỗi người chúng ta ý thức về thân phận yếu đuối tội lỗi của mình, mỗi người chúng ta đều là tội nhân được Chúa tha thứ. Vì thế, chúng ta hãy noi gương Chúa đừng kết án anh chị em nhưng hãy tha thứ, hãy nâng đỡ  và cầu nguyện cho những người tội lỗi  được ơn ăn năn trở lại.
Có sống như thế, chúng ta mới thật sự góp phần vào việc kiến tạo nền văn minh của tình thương, một nền văn minh không phải chỉ dựa vào khoa học kỹ thuật hay luật pháp của con người, mà được xây dựng trên tình yêu và lòng tha thứ.

 

MC5-C81: CÁI NHÌN VÀ CÁCH NHÌN

Ga 8, 1 - 11
 

Trong cuộc sống, chúng ta có thể công nhận rằng cái nhìn ảnh hưởng đến cuộc sống con người. Tuỳ : MC5-C81

Trong cuộc sống, chúng ta có thể công nhận rằng cái nhìn ảnh hưởng đến cuộc sống con người. Tuỳ vào cái nhìn của ta mà số phận đời mình được biến đổi. Vì thế, cái nhìn đúng đắn luôn được đề cao. Cái nhìn đúng sẽ giúp hành động đúng. Bài Phúc âm hôm nay cho chúng ta thấy 3 cái nhìn khác nhau trước lầm lỗi của một người. Chính cách nhìn khác nhau đưa đến những cách sống khác nhau.
Trước tiên là cái nhìn kết án, miệt thị. Những người lãnh đạo tôn giáo Do Thái mà trực tiếp là các người Pharisêu và kinh sư chú trọng đến hình thức lề luật. Đối với họ luật lệ là quan trọng. Họ càng không giống Chúa Giêsu: "luật vị nhân sinh". Vì tinh thần nệ luật nên họ coi thường con người. Từ cái nhìn đó đưa họ đến những cách ứng xử thiếu tình người, thiếu tình bác ái, không còn thể hiện tình Chúa, tình anh em gì nữa cả. Từ cái nhìn chú trọng hình thức lề luật đưa họ đến chỗ dễ dàng đưa ra những quyết định tiêu cực, gây khó khăn cho con người, tệ hơn nữa đưa con người đến chỗ bế tắc. Vì chú trọng hình thức lề luật nên họ tự cho mình có quyền kết án người khác. Họ quên rằng chỉ có Thiên Chúa là Đấng ra lề luật và xét xử. Bản chất của lề luật là hướng dẫn và bảo vệ con người nhưng các Kinh sư và Pharisêu đã dùng lề luật để hạ bệ người khác. Vì thế, họ không ngần ngại đưa người thiếu phụ ra trước mặt nhiều người. Đúng ra họ phải thông cảm và đối xử công bằng và có "tình người". Tuy nhiên trong đoạn phúc âm mà chúng ta suy gẫm (Ga 8, 1 - 11), Thánh Gioan nói cho chúng ta biết  các kinh sư và pharisêu dùng nó nhằm gài bẫy Đức Giêsu. Họ muốn đặt Ngài "bị kẹt" trong trình huống khó xử này để tìm cách tố cáo Người. Thời ấy, ai vướng vào một trong 3 thứ tội: thờ hình tượng, sát nhân, ngoại tình đều phải bị án tử. Trong sách Lêvi (Lv 10, 10) viết:  " Nếu người nam nào phạm tội tà dâm với vợ của người lân cận, cả hai phải bị xử tử." Đây là một giới luật rất nghiêm khắc mà người Do thái phải vâng giữ cách triệt để. Các kinh sư  và người Pharisêu đưa người phụ nữ ngoại tình trước Đức Giêsu, chủ đích của họ không phải là vấn đề lề luật nhưng là dùng mưu kế để bắt bẻ Ngài. Người phụ nữ ngoại tình chỉ là con bài để phục vụ cho ác tâm của họ. Nếu Ngài đồng ý cho ném đá thì sẽ bị kẹt vào hai điều: một là vi phạm luật của chính quyền Roma vì chỉ có chính quyền Roma mới được quyền xét xử tử hình mà thôi; hai là Ngài sẽ bị mất đi uy tín và ảnh hưởng của Ngài như một người bạn của những người tội lỗi và một bậc thầy giảng dạy về tình yêu thương tha thứ. Mặt khác, nếu Ngài từ chối giữ luật Môsen, không ném đá người đàn bà ngoại tình, tức là ủng hộ cho hành động vô luân lý, như vậy làm sao xứng danh một tiên tri, một đấng Thiên Sai đến từ Thiên Chúa được? Thực ra, họ đâu cần Đức Giêsu làm quan toà. Họ muốn dùng dùng dịp này để khiêu khích, để đấu lý và có thể là để kết án Đức Giêsu. Các kinh sư  và người Pharisêu đã sai lầm trong cách nhìn và đã tiếp tục sa lầy trong sai lầm khi muốn gài bẫy Đức Giêsu.
Kế đến là cái nhìn tủi hổ. Trước những lời tố cáo, người thiếu phụ không dám nhìn lên mà gục đầu trong tủi hổ như sẵn sàng chấp nhận mọi hậu quả xảy đến cho mình. Những ánh nhìn khinh bỉ, vừa xấu hổ vừa trách mắng của người thân yêu. Những người trước đây yêu thương giờ trở nên lạnh nhạt xa tránh chị. Có lẽ, chị như cũng gớm ghét chính bản thân mình vì lỗi lầm mình gây nên. Có thể, chị không mong tìm sự cảm thương nơi người khác, chỉ biết xót xa cho phận mình, cho việc mình làm đã qua. Chị muốn bản án được kết thúc nhanh.
Cuối cùng là cái nhìn tha thứ và yêu thương. Trong lúc mọi người rẫy bỏ, chỉ có Đức Giêsu là người hiểu rõ sự tình. Hơn ai hết Ngài hiểu rõ tâm trạng của người thiếu phụ. Ngài thấu suốt tâm tư của chị. Ngài im lặng vì không đồng tình với thái độ của những người kết án chị. Ngài phân biệt rõ ràng tội lỗi và tội nhân: tội lỗi đáng ghét nhưng tội nhân thì đáng thương. Ngài không miệt thị chị như những người khác nhưng tha thứ và yêu thương: "Tôi không lên án chị đâu. Thôi chị cứ về đi và từ nay đừng phạm tội nữa". Cái nhìn yêu thương giúp Ngài sẵn sàng tha thứ và tạo cho người thiếu phụ một lối đi, một con đường mới để làm lại cuộc đời, làm lại cho mình cuộc hành trình trong tình thương của Thiên Chúa.  
Đức Giêsu tha thứ cho người tội lỗi. Chúng ta hãy chạy đến bí tích Hoà Giải để đón nhận ơn tha thứ của Thiên Chúa. Thiên Chúa tha thứ cho con người tội lỗi nhưng đồng thời cũng muốn cho con người tội lỗi đừng lạm dụng lòng nhân từ của Ngài, nhưng hãy dốc quyết từ bỏ tội lỗi, canh tân đời sống: "Nhưng từ nay đừng phạm tội nữa". Chắc hẳn, mỗi người Kitô chúng ta, đều ý thức về thân phận yếu đuối tội lỗi của mình, hãy sám hối và biết tha thứ cho tội nhân. Chúng ta đừng kết án tha nhân nhưng hãy tha thứ, hãy nâng đỡ giúp họ trở về với Chúa. Hơn nữa mỗi người Kitô chúng ta cần được mời gọi cầu nguyện, cầu nguyện cho người tội lỗi được ơn ăn năn trở lại.
Đức Giêsu, Đấng vô tội, chính Ngài đã từ chối không ném viên đá đầu tiên hoặc viên đá cuối cùng, nhưng lời chấp nhận của Ngài đã được gắn lại với lệnh truyền: "Con hãy về và đừng phạm tội nữa". Điều này nghĩa là: "Con hãy về đi và từ bỏ cuộc sống tội lỗi của con". Những kẻ tố cáo, những kẻ sẵn sàng ném đá kia thực ra đã có thể kết liễu cuộc sống của người thiếu phụ này, nhưng trái lại phần Đức Giêsu, Ngài đã ban tặng cho chị ta một cuộc sống mới, một sự bắt đầu hoàn toàn mới mẻ: "Con hãy về và đừng phạm tội nữa". Ngày nay, Ngài cũng cư xử đối với nhân loại tội lỗi và đối với mỗi người chúng ta đúng như Ngài đã đối xử với người thiếu phụ ngoại tình này. Trên Thánh giá, Ngài ban ơn tha thứ  cho tất cả và cùng với muôn người được cứu thoát, Ngài tạo nên một dân mới. Một lần nữa, Giáo Hội mời gọi chúng ta nhìn vào cõi lòng mình và vào tình thương tha thứ của Thiên Chúa để tự nhận ra mình là kẻ tội lỗi, hầu lãnh nhận ơn tha thứ và từ nay đừng tái phạm nữa.
Người Kitô hữu Công Giáo là người tin và bước theo Chúa Kitô. Bước theo nói lên từ bỏ lối sống cũ, sống cho hành trình mới, hành tình tin yêu và hy vọng vào Chúa Kitô phục sinh. Trông cậy vào Chúa chúng ta nhìn vào chính mình, nhưng không mất trông cậy vào Chúa. Tuyệt đối tin tưởng vào lòng thương xót của Thiên Chúa. Tình yêu Ngài vượt xa những lỗi lầm của chúng ta. Chính tình yêu của Người sẽ lấp đầy hố ngăn cách để chúng ta có thể đến được với Người. Thiên Chúa lặng thinh với những sai phạm của chúng ta, không phải Ngài không nhìn thấy nhưng chờ đợi để chúng ta quay về. Chúng ta trở nên thánh thiện là nhờ sự gắn kết với tình yêu Thiên Chúa. Chúng ta càng gần Thiên Chúa thì sự thánh thiện và tình yêu của chúng ta càng toả sáng.Hơn nữa, khi cảm nhận tội lỗi của bản thân, chúng ta sẽ dễ cảm thông trước lỗi lầm và khuyết điểm của người khác. Không lên án, ghét bỏ tội nhân. Ta nên nhìn họ với cái nhìn của Đức Giêsu là sự cảm thông phát xuất từ một tình yêu chân thành. Đồng thời bắt chước Đức Giêsu sống tha thứ. Tình yêu của Ngài vượt xa lầm lỗi của con người. Ngài muốn con người đến với tình yêu của Người để được đổi mới. Lời phán xét của Người không tàn nhẫn nhưng nhân hậu. Ngài không chấp tội của chúng ta. Trong hành trình đức tin, chúng ta hãy bắt chước Chúa Kitô, biết nhìn về Chúa, sống yêu thương như Chúa.
Lạy Chúa Giêsu. Xin chúng con biết nhìn và cư xử giống Chúa để chúng con luôn dâng trào tình yêu thương và muốn gắn kết với hết mọi người. Amen

 

MC5-C82: ĐỪNG PHẠM TỘI NỮA

Ga. 8, 1 - 11
 

Bắt đầu rao giảng, Đức Giêsu kêu gọi : Hãy hối cải vì Nước Trời đã gần. Năm tuần mùa Chay : MC5-C82

Bắt đầu rao giảng, Đức Giêsu kêu gọi : Hãy hối cải vì Nước Trời đã gần. Năm tuần mùa Chay được sắp đặt như là một tóm kết súc tích về giáo huấn của Đức Giêsu, nói rỏ về hối cải:
Tuần I Chay : Ăn chay, làm việc lành cụ thể là ăn chay, bố thí và cầu nguyện để làm chủ bản thân.
Tuần II Chay : chống lại các cám dổ để không phạm tội bị lôi cuốn theo những chuyện thế tục.
Tuần III Chay : Rỏ ràng hơn: không hối cải thì chết hết. Cây vả không sinh trái thì phải chặt đi để hại đất. Có hoản, nhờ có ơn cứu độ thì cũng chỉ một năm. Tiếp tục không sinh trái thí năm sau phải chặt. Ba năm là tuổi trời cho mỗi người, chỉ hoản được một năm thôi. Sinh trái là tích cực, làm việc lành, sinh lợi.
Tuần IV Chay : Một ngưòi tội lỗi hối cải, trên trời vui mừng. Hối cải là trở về. Đứa con là người có tự do. Tự do đi thì tự do về. Không như đồng bạc bị mất thì phải quét tước tìm cho được. Con chiên đi lạc chủ phải đi tìm rồi vác trên vai đem nó về ( vì nó đâu có biết về). Chúa tìm người tội lỗi bằng cách để nó đi tới cùng đường khốn khổ để nó biết hồi tâm và quyết tâm trở về. Về thì được đón tiếp không về thì đành chịu.
Tuần V Chay : Là câu kết chung : Đừng phạm tội nữa. Không có tội, là người công chính, đạo đức mới sẳn sàng theo Đức Giêsu vào tuần Thương khó. Những người có tội thì chỉ có kết án và đóng đinh Đức Giêsu. Câu chuyện'Người phụ nữ ngoại tình' bị bắt quả tang đáng lẻ phải bị ném đá, không phải là bài học mà chỉ là ' miếng trầu làm đầu câu chuyện'. Câu 'chìa khóa' làm bài học là 'đừng phạm tội nữa'. Ý tưởng nằm ngầm trong mọi lời dạy của Đức Giêsu là mọi người đều có tội. 'Ai có tội thì ném dá trước đi' và tất cả họ rút êm. Thiên Chúa chỉ có yêu thương ' mãi mãi Chúa là Tình Yêu' và không có gì khác nơi Thiên Chúa. Thiên Chúa không kết án nhưng không hối cải thì 'chết hết'. Nhưng coi chừng hiểu sai tình yêu của Thiên Chúa. Đức Giêsu làm thinh, lấy ngón tay viết trên đất. Không một lời lớn nhỏ nào. Nhưng cũng rất dịu dàng, từ tốn. Tôi cũng không kêt án chị. Thiên Chúa không kết án, nhưng không hời hợt mà lạnh lùng, sự lạnh lùng nghiêm khắc. Người không nói " tốt, tốt" về bình an. Phạm tội là không tốt chút nào. Ghét con cho ngọt cho bùi. Thiên Chúa không có ghét nên cũng không cho ngọt cho bùi để nó hư thêm và cuối cùng là..... Về đi, đừng phạm tội nữa. Lở lầm một lần thì thôi. Phạm nữa thì chết. Thiên Chúa không muốn người tội lỗi phải chết vì Thiên Chúa là tình yêu nên muốn nó hối cải mà được sống. Phạm tội là chuyện của con người, của tự do. Phải giúp nó hối cải, là đừng phạm tội nữa chứ không phải là cứ phạm tội rồi xưng tội là hềt. Cũng không phải chỉ rán đừng phạm tội mà đừng phạm tội để cùng Đức Giêsu đi vào tuần thương khó, sự thanh tẩy cuối cùng và trọn vẹn để hướng tới sự Phục Sinh Vinh quang là đích điểm của đời người. Có cùng Đức Giêsu đi qua thập giá mới tới được Phục Sinh vinh quang.
Xin Chúa giúp con cùng Chúa vào tuần thương khó, vượt qua thập giá, mừng lể Phục Sinh, nắm chắc niềm hy vọng được Phục sinh ving quang với Chúa.

 

MC5-C83: LÀM LẠI CUỘC ÐỜI 

Ga 8, 1 - 11
 

Cùng với Giáo hội chúng ta đang sống vào tuần lễ trước khi vào tuần cao điểm của nam Phụng vụ. Chúng : MC5-C83

Cùng với Giáo hội chúng ta đang sống vào tuần lễ trước khi vào tuần cao điểm của nam Phụng vụ. Chúng ta nhớ, Mùa chay là mùa Thiên Chúa và Giáo hội tha thiết các con cái của mình trở về. Trở về nếu đã đi lầm đường lạc lối. Trở về để được sống trong tình thương ấm áp của Thiên Chúa Cha giàu lòng thương xót va hay tha thứ. Trở về để làm lại cuộc đời.
Tuần trước chúng ta đã suy niệm về tình thương của Thiên Chúa qua hình ảnh "Người cha nhân hậu". Người cha nhân hậu vui mừng đón nhận đứa con hư hỏng trắc nết trở về. Người cha nhân hậu này cũng kiên nhẫn đón nhận đứa con cả. Bởi vì bấy lâu nay ông không ngờ rằng nó sống với ông mà như là một người tôi tớ với ông chủ.
Cũng với đề tài ấy, hôm nay Giáo hội chọn đoạn Tin mừng thật hay và ý nghĩa theo Thánh Gioan cho chúng ta suy niệm. Người ta thường nói: "chuyện người thì sáng còn chuyện mình thì oán". Ðúng vậy, các kinh sư trong xã hội Do thái thời Chúa Giêsu sau khi đã bắt quả tang được một người phụ nữ phạm tội ngoại tình thì nhanh chóng dẫn tới Chúa Giêsu. Mục đích của họ là vừa muốn cho chị này phải chết theo luật Môsê. Hơn nữa, họ lại còn muốn hại cả Chúa Giêsu. Do đó, họ đã dẫn chị này đến với Chúa Giêsu và hỏi: "Thưa Thầy, người đàn bà này bị bắt quả tang đang ngoại tình. Trong sách Luật, ông Mô-sê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?" (Ga 8, 4 - 5).
Họ đang muốn theo kiểu "một mũi tên bắn trúng hai con nhạn" . Nhưng họ đã lầm, câu trả lời của Chúa Giêsu đã làm cho họ từ nguyên cáo trở thành bị cáo: "Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi." (Ga 8, 7b) "Nghe vậy, họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi. Chỉ còn lại một mình Ðức Giê-su, và người phụ nữ thì đứng ở giữa." (Ga 8, 9).
Không biết họ đã bỏ đi đâu nhưng cứ nghĩ theo hướng tích cực là họ bỏ đi để làm lại cuộc đời. Bởi lẽ, câu nói ấy của Chúa Giêsu đã làm cho họ giật mình nhìn lại chính mình.
"Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!" (Ga 8, 11). Ðây mới là câu mấu chốt của đoạn Tin mừng hôm nay. Chúa Giêsuchính là hiện thân của Chúa Cha. Với câu nói này, Chúa Giêsu đã mở ra cho người phụ nữ này một chân trời mới. Người tạo cơ hội cho chị làm lại cuộc đời.
Là con người không ai không có lầm lỗi. Trong những ngày mùa Chay này chắn hẳn không nhiều thì ít chúng ta cũng cảm thấy mình con nhiều điều cần phải sửa đổi. Hãy tin tưởng vào tình thương của Thiên Chúa để cố gắng làm lại cuộc đời mỗi ngày cho tốt hơn.

 

MC5-C84: TRỞ VỀ VỚI CHÍNH MÌNH 

Ga 8, 1 - 11
 

Mùa chay là thời điểm thuận tiện để mỗi người chúng ta làm một cuộc trở về. Trở về với Chúa, với : MC5-C84

Mùa chay là thời điểm thuận tiện để mỗi người chúng ta làm một cuộc trở về. Trở về với Chúa, với anh em và với chính mình.
Tin mừng của Chúa nhật 4 Mùa Chay tuần qua là lời mời gọi tha thiết chúng ta trở về với Chúa và với anh em của mình qua dụ ngôn "người cha nhân hậu". Trong Tin mừng hôm nay, qua việc các kinh sư và người Pharisêu cố tình gài bẫy Chúa Giêsu trong việc xét xử người đàn bà bị bắp quả tang phạm tôi ngoại tình, Chúa Giêsu đã mời gọi mọi người hãy trở về với cõi lòng mình trước khi thực hiện hành động xét xử người khác. Nói cách khác, đó là lời mời gọi từng người chúng ta hãy trở về với chính mình. Đây là việc làm khôn ngoan, phù hợp với thánh ý Thiên Chúa.
Trở về với chính mình là một một việc làm thật quan trọng. Nhờ biết trở về với chính mình, biết nhìn vào tận cõi lòng mình mà những Kinh sư và những người Biệt Phái lần đầu tiên nhìn nhận mình là những kẻ tội lỗi. Chúa Giêsu mời gọi họ quay trở về với chính mình cách hết sức tế nhị và độc đáo: "Ai trong các ngươi sạch tội thì hãy ném đá người này trước đi". Lời nói chân tình ấy là bảng chỉ đường tuyệt vời cho những kinh sư và Biệt Phái trở về với chính mình . Trước khi gặp Chúa Giêsu, khi chưa trở về với chính mình, các Kinh sư và Biệt Phái không hề nhìn nhận mình là kẻ có tội. Các ông luôn chọn cho mình thế đứng cao hơn mọi người "Lỗi lầm là của ai đó chứ không bao giờ phải là của tôi". Và cho đến khi gặp được Chúa Giêsu, được Ngài chỉ đường cho họ trở về với chính mình thì họ đã nhận ra mình cũng là tội nhân trước mặt Thiên Chúa, cũng cùng trong tình trạng tội lỗi như người phụ nữ kia thôi, có khác chăng là chưa bị ai "bắt gặp quả tang". Nhưng trước toàn án lương tâm, họ đã thú nhận tình trạng đích thực của mình. Chúa Giêsu nhắc nhớ họ: "Ai trong các ngươisạch tội , thì cứ việc lấy đá ném đi". Và khi nghe những lời đó, những Luật sĩ và Biệt Phái rút lui hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi nhất.
Có lẽ đây là bài giảng ngắn nhất nhưng mang lại hiệu quả nhất của Chúa Giêsu. Bởi vì trước đây, những người Biệt Phái và luật sĩ chẳng bao giờ đủ khiêm tốn để nhìn nhận mình là kẻ có tội dù là trước Thiên Chúa hay trước mặt ai khác. Từ hệ quả này, chúng ta thấy rằng: Việc kêu gọi con người trở về với chính mình, nhìn vào tận cõi lòng mình quan trọng biết là ngần nào! Một trong những chuyện nguy hiểm nhất là trong đời sống đức tin là ảo tưởng về chính mình, tưởng mình là vô tội, là thánh thiện và trong sạch hơn mọi người. Chúa Giêsu đã giúp cho những Biệt Phái và Luật sĩ nhận ra sai lầm chết người ấy để họ kịp sửa chữa lầm lạc của mình. Đó cũng là lời mời gọi và là bảng chỉ đường yêu thương cho chính chúng ta nữa: Hãy trở về với cõi lòng mình, với chính mình. Một mình mình đối diện với toà án lương tâm ngay thẳng của chính mình để thấy, để nhìn nhận thân phận đích thực của mình là gì? Là tội nhân trước mặt Thiên Chúa!
Qua cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu với những luật sĩ, biệt phái và dân chúng hôm nay, chúng ta khám phá ra rằng: Chúa Giêsu chính là con đường dẫn đưa con người tới sự sống trong hạnh phúc và tình yêu. Ngài luôn luôn mở ra những con đường sống cho mọi người. Trong khi đó, con người ta rất thường hay đặt dấu chấm hết cho người khác; thích đẩy người khác đi vào ngõ cụt và coi đó như là thành công của mình! Con người thích làm quan toà xét xử người khác nhưng lại quá dễ dãi với chính mình và thường rất mù loà trước tội lỗi của mình. Người ta sánh ví như sau: "Con người ta thường đeo 2 cái túi: một cái để sau lưng và một cái đeo trước bụng. Cái để ở sau lưng thì chứa tội của mình; Cái đeo trước ngực thì chứa tội của người khác. Vì thế, chúng ta rất dễ thấy lỗi lầm của người khác mà hay quên đi thiếu sót của mình, nên thường chỉ lo kết án người khác thôi. Chúng ta đừng ảo tưởng về chính mình là người trong sạch!
Khôn ngoan là hãy để cho Chúa xét xử vì Ngài hiểu thấu tâm tư và cõi lòng của mọi người, còn nhiệm vụ và quyền lợi của chúng ta hãy biết cảm thông thật nhiều, tha thứ thật nhiều và yêu thương mọi người thật nhiều như Chúa đòi hỏi, "yêu như Thầy đã yêu". Amen.

 

MC5-C85: ĐỪNG KẾT TỘI 

Ga 8, 1 - 11
 

Chuyện kể rằng, ngày kia người ta bắt được một tên trộm cắp giải tới nhà vua. Nhà vua hạ lệnh xử : MC5-C85

Chuyện kể rằng, ngày kia người ta bắt được một tên trộm cắp giải tới nhà vua. Nhà vua hạ lệnh xử tử hắn. Tên trộm nói với đao phủ: "Tôi có một bí mật này rấy hay, nếu tôi chết thì bí mật này sẽ theo tôi xuống mồ. Như thế thì thật tiếc. Cho nên tôi muốn giao nó lại cho nhà vua".
Người ta liền đưa hắn tới gặp nhà vua. Hắn nói "Bí mật của tôi là tôi có một hạt giống kỳ diệu, khi được gieo xuống đất thì nội trong một đêm sẽ mọc thành cây và trổ sinh hoa trái bằng vàng". Hắn nói tiếp: "Nhưng có điều này, người gieo hạt giống này phải là người chưa từng lấy cắp của ai thứ gì, nếu không hạt giống sẽ không nẩy mầm". Sau đó hắn thú nhận: "Tôi không thể trồng được, vì trong đời, tôi là tên trộm cướp".
Nhà vua đề nghị các quan trong triều đình lo việc gieo hạt giống này. Lần lượt tất cả họ đều từ chối. Cuối cùng các quan đề nghị nhà vua gieo hạt. Nhưng không thành, tất cả mọi người đều hơn một lần đã từng lấy cắp của ai thứ gì đó. Khi hiểu rõ câu chuyện, nhà vua đã tha cho tên trộm cắp khỏi bị giết.
Qua câu chuyện này chúng ta thấy được điều gì? Thưa đó là tất cả mọi người ai cũng có tội, ai cũng có tật xấu, kẻ ít người nhiều.
Bài Tin Mừng hôm nay cho chúng ta thấy rõ 3 nhân vật: Chúa Giêsu, người phụ nữ phạm tội ngoại tình và nhóm Pharisêu - Luật sĩ: những người Pharisêu - Luật sĩ này có ý định đen tối muốn đưa người phụ nữ này đến chỗ chết theo như luật Môsê. Và đồng thời họ còn "có ý gài bẫy Chúa Giêsu để có thể tố cáo Người". Nếu Chúa Giêsu nói theo luật mà xử tử thì Chúa tự mâu thuẫn với lời giảng dạy của mình. Nếu Chúa nói không được ném đá người đàn bà thì Chúa đã phá luật Môsê, Ngài sẽ bị án tử.
Một lần nữa Ngài cho họ trở về với chính mình, tự xét mình : "Nếu ai trong các ông thấy mình sạch tội thì ném đá chị này trước đi". Và từ người lớn tới trẻ nhỏ, tất cả họ đều rút lui. Trong giây phút này, Chúa Giêsu thể hiện lòng thương xót và tha thứ của Thiên Chúa cho con người. Ngài khép lại quá khứ tội lỗi và mở ra một tương lai mới: "Tôi cũng thế, tôi không kết tội chị. Chị hãy đi và đừng phạm tội nữa". Tục ngữ Việt Nam cũng có câu: "Chân mình thì l?m bê bê, lại đi lấy đuốc mà rê chân người". Con người thường không thấy tội lỗi của mình, mà chỉ nhìn thấy tội của người khác rồi kết án. Hôm nay, Chúa Giêsu muốn chúng ta hãy nhìn ra tội của mình. Đừng xét đoán, đừng nghĩ xấu, đừng tố cáo người khác. Tại sao vậy? Vì dẫu chúng ta không phạm tội như người phụ nữ trong Tin Mừng hôm nay, nhưng chúng ta phạm vào những thứ tội khác.
Vậy mỗi người chúng ta hãy bắt chước Chúa Giêsu. Đó là biết khoan dung tha thứ cho người khác, không kết án người khác. Và chúng ta cũng có thể học bài học của những người Pharisêu và luật sĩ, đó là biết nhìn nhận mình có tội khi được người khác nhắc nhở, sửa dạy. Đây cũng là điều mà Giáo Hội mời gọi chúng ta trong mùa chay này: Aên năn, sám hối. Sám hối là thú nhận mình có tội và kêu xin Thiên Chúa thứ tha. Trong Kinh Sám Hối đầu lễ chung ta đã đọc: "Tôi đã phạm tội nhiều trong tư tưởng lời nói việc làm và những điều thiếu xót ... Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng ..." Vậy thì lỗi tại tôi, chứ không phải lỗi tại ông, lỗi tại bà, lỗi tại anh hay lỗi tại chị ...mọi đàng. Nghĩa là chúng ta xét mình chứ đừng xét người khác. Nhận ra tội của mình chứ đừng nhìn tội của người khác.
Nhận ra tội của mình để sám hối. Sám hối bằng việc đi xưng tội, bằng cách không nghĩ xấu cho người khác, không lên án người khác. Sám hối cũng bằng việc tha thứ cho nhau. Chúng ta nhớ lại kinh Lạy Cha. Điều kiện để được Thiên Chúa tha thứ là chúng ta phải biết tha thứ cho nhau: "Xin Cha tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con". Chúa Giêsu không kết tội người phụ nữ ngoại tình, không phải vì Chúa chấp nhận cho chị tiếp tục phạm tội, mà vì Chúa muốn chị thành người tốt "từ nay đừng phạm tội nữa". Chúng ta hãy trở về với Chúa, Chúa không kết án chúng ta, nhưng Chúa muốn chúng ta mỗi ngày sám hối để được tốt hơn. Amen.

 

MC5-C86: ĐỨC GIÊSU VÀ NGƯỜI PHỤ NỮ NGOẠI TÌNH

(Gioan 8,1-11 – CN V MC - C)
 1.- Ngữ cảnh
 

 Đoạn văn này nằm trong Phần I của TM IV (“Sách các Dấu lạ của Đức Giêsu”, tức ch. 2–12), nhưng: MC5-C86

 Đoạn văn này nằm trong Phần I của TM IV (“Sách các Dấu lạ của Đức Giêsu”, tức ch. 2–12), nhưng được coi như một bản văn không thuộc về bản gốc TM IV. Lý do: bản văn này không có trong những thủ bản Hy Lạp quan trọng phát xuất từ Đông phương (chẳng hạn bản Papyrus Bodmer II = P66, năm 200); các tác giả Hy Lạp viết về TM Ga thuộc thiên niên kỷ I không hề bình luận bản văn này; nó chỉ xuất hiện vào khoảng năm 900 trong bản văn Hy Lạp chuẩn. Ngoài ra, còn có những tiêu chuẩn văn chương: bản văn có từ vựng và văn phong của các TMNL, đặc biệt của TM Lc; nó có vẻ không ở đúng chỗ, dù là tại chỗ hiện nay (giữa Ga 7,52 và Ga8,12), hay ở trong ngữ cảnh tổng quát là TM IV.
          Giai thoại này được đặt ở đây có lẽ để minh họa lời khẳng định của Đức Giêsu ở Ga 8,15: “Phần tôi, tôi không xét đoán ai cả”. Chúng ta thấy như thế trong một số thủ bản chữ hoa Hy Lạp, nhất là bản D (Codex Bèze), trong các thủ bản La-tinh cổ và tốt, và dĩ nhiên trong bản Phổ thông.
Bản văn này chứa một truyền thống Tin Mừng về cuộc sống công khai của Đức Giêsu: cách thức xử sự của các người tố cáo được các đoạn khác của TM làm chứng; thái độ quen thuộc của Đức Giêsu khi đối diện với Luật Môsê, và sự tha thứ Người ban cho những kẻ tội lỗi. Do đó, ta không thể hoài nghi về sử tính của bản văn. Đàng khác, từ vựng cũng như xu hướng thần học khiến ta nghĩ rằng đây là công trình của tác giả Luca. Chính vì thế, có một loạt thủ bản chép đoạn văn này vào sau Lc 21,38.
Người ta cũng đoán lý do khiến bản văn này không thuộc về các TM ngay từ đầu: rất có thể lý do mạnh nhất, đó là khó mà dung hòa sự tha thứ quá trọn vẹn Đức Giêsu ban cho người phụ nữ với việc đền tội nghiêm khắc mà Hội Thánh sơ khai quy định cho tội ngoại tình.
 
2.- Bố cục
          Bản văn có thể chia thành hai phần:
          1) Khung cảnh (8,1-2);
          2) Vụ “Người phụ nữ ngoại tình” (8,3-11):
a) Các kinh sư/Pharisêu – Người phụ nữ “đứng ở giữa” – [Đức Giêsu] (c. 3),
b) Các kinh sư/Pharisêu – Đức Giêsu – [Người phụ 
                        nữ] (cc. 4-6),

c) Đức Giêsu và các kinh sư/Pharisêu: câu nói
 tạo khúc quanh (cc. 7-8),

b’) Đức Giêsu – Các kinh sư/Pharisêu – [Người phụ 
      nữ] (c. 9a),

a’) Đức Giêsu – Người phụ nữ “đứng ở giữa” – [Các kinh sư/Pharisêu] (cc. 9b-11).
 
3.- Vài điểm chú giải
- vừa tảng sáng (2): Ngoại trừ chỗ này trong TM IV, từ orthros, “bình minh” (orthrou, “lúc bình minh, lúc tảng sáng”) chỉ xuất hiện trong TM Lc và Cv thôi (x. Lc 24,1; Cv 5,21). Riêng Lc 21,38 dùng động từ orthrizô, “dậy sớm”.
- các kinh sư và người Pharisêu (2): Đây là một công thức quen thuộc của các TMNL, còn TM Ga thì chuộng kiểu nói “các thượng tế và người Pharisêu” (x. 7,32.45; 11,45.57); ngoài đoạn văn này, TM Ga không bao giờ nói đến các kinh sư.
- bị bắt gặp đang ngoại tình (3): Câu 4 sẽ xác định rõ hơn: “bị bắt quả tang đang ngoại tình”. Theo Đnl 19,15, phải có ít ra hai người làm chứng rằng đã thấy sự việc, không kể người chồng. Không chỗ nào nói đến anh tình nhân, có lẽ anh này đã trốn mất. Có thể so sánh truyện này với truyện bà Susanna (Đn 13,36-40 Vg).
- Thưa Thầy (4): Danh xưng didaskalos ở hô-cách[1] này rất quen thuộc với truyền thống Nhất Lãm; còn trong Ga, tác giả thường dùng từ Rabbi để thưa với Đức Giêsu (Ga 1,38).
- trong sách Luật, ông Môsê truyền (5): Các kinh sư và người Pharisêu đang quy chiếu về Lv 20,10 và Đnl 22,22-24 để lý luận.
- Họ nói thế nhằm thử Người (6): Câu này hầu như cũng là câu Ga 6,6 trong tiếng Hy Lạp.
- để có cớ tố cáo Người (6): Câu này hầu như cũng là câu Lc 6,7 trong tiếng Hy Lạp.
- viết trên đất (6): Có nhiều gợi ý về điểm này.
1) Thánh Giêrônimô cho rằng Đức Giêsu đã viết tội của những người tố cáo người phụ nữ. Ngài nghĩ như thế vì dựa trên Gr17,13;
2) Theo J.D.M. Derrett, người chồng đã lập mưu với các người chứng để bắt quả tang vợ phạm tội; do đó dựa theo c. 6, Đức Giêsu đã viết lên đất câu Xh 23,1b: “(để làm chứng gian)”, và dựa theo c. 8, Người đã viết Xh 23,7a. Với lại sách Đn đã quy chiếu về câu Xh này trong truyện bà Susanna (Đn 13,53);
3) T.W. Manson lưu ý rằng trong cách thực hành của Luật Rôma, trước tiên vị thẩm phán viết bản án ra, rồi mới đọc to lên. Như thế, hẳn là c. 6 cho thấy Đức Giêsu đã viết bản án ra, rồi công bố ở c. 7; rồi ở c. 8, Người lại viết những gì sẽ công bố ở c. 11.
Cách giải thích hợp lý nhất, đó là Đức Giêsu chỉ vạch các đường nét trên mặt đất trong khi Người suy nghĩ, hoặc muốn tỏ ra không nao núng hay Người đang kềm hãm các cảm giác chán ngán về sự hăng hái đầy gian ác của những người tố cáo. E. Power ghi lại nhiều trường hợp từ nền văn chương Ả-rập cho thấy thói quen Sê-mít vẽ trên đất khi không muốn can thiệp vào vụ việc nào đó. Dù sao, chúng ta có cảm tưởng là nếu là chuyện quan trọng hơn, thì nội dung của những nét vẽ đó đã được kể lại.
- Ai trong các ông sạch tội, … ném trước … (7): Đức Giêsu cũng trích dẫn Đnl 13,9-10 và ch. 17. Đnl 17,7 nhìn nhận rằng người làm chứng chống lại bị cáo có một trách nhiệm đặc biệt đối với cái chết của kẻ ấy.
họ đâu cả rồi? Không ai lên án chị sao? (10): Đức Giêsu hỏi vì ngạc nhiên hay là có ý châm biếm? Có lẽ phải nói lời này vừa có ý minh giải hoàn cảnh vừa tạo sự yên tâm cho người phụ nữ, và như thế tương đương với câu: “Như vậy, họ đã bỏ rơi vụ này rồi”. Vì những người chứng và những người tố cáo đã bỏ đi, vụ việc đã hỏng rồi. Động từ “lên án” ở đây là động từ chuyên môn katakrinein; ở những chỗ khác, khi nói về sự phê phán, phán đoán, tác giả Ga luôn luôn sử dụng động từ trung lập hơn, đó là krinein (Ga 3,17.18; 5,22.30; 8,15.16…).
 
4.- Ý nghĩa của bản văn
Cách thức Đức Giêsu đối xử với những người tội lỗi lâu nay chắc chắn không được các đối thủ của Người chấp nhận. Người đã ăn uống đồng bàn với những người tội lỗi, đã loan báo cho họ biết Thiên Chúa từ bi thương xót, sẵn sàng tha thứ cho họ. Trong khi đó, các đối thủ của Người tỏ một thái độ khinh bỉ, giữ khoảng cách với những người tội lỗi, không muốn bị họ làm cho ra “nhơ uế”. Họ phản đối cách thức xử sự của Đức Giêsu và muốn chứng tỏ cho Người thấy rằng chỉ lối sống của họ mới tương ứng với Lề Luật, nghĩa là với ý muốn của Thiên Chúa đã được mạc khải.
Hôm nay, lại có một sự cố xảy ra để cho thấy những điểm này.
 
* Khung cảnh (1-2)
          Đức Giêsu đang giảng dạy tại Đền Thờ trong tuần lễ cuối cùng của đời Người. Nhiều chi tiết cho biết như thế: Núi Ôliu, Đền Thờ, giảng dạy có uy quyền chung quanh Đền Thờ. Dân chúng vây quanh, lắng nghe Người. Tác giả nói “toàn dân” để cho hiểu là lời rao giảng của Đức Giêsu gây một ảnh hưởng lớn trên người Do Thái.
 
* Vụ “người phụ nữ ngoại tình” (3-11)
          Lần này, các kẻ thù của Người tưởng là cuối cùng họ đã có thể đưa Người vào bẫy để tiêu diệt Người. Họ không tranh luận với Người nữa, mà họ điệu đến cho Người một phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình. Vụ việc đã quá rõ: bà này có tội. Để xác định tội trạng, thì đã có những người có uy tín nhất trong xã hội, những người biết giải thích Luật. Ở đây chúng ta thấy có các kinh sư và người Pharisêu: các kinh sư là những chuyên viên về Luật; còn các Pharisêu là những người ra sức bảo vệ việc áp dụng Luật theo mặt chữ. Họ trích Luật liên hệ đến trường hợp này. Lề Luật tuyên bố minh nhiên: “Khi người đàn ông nào ngoại tình với đàn bà có chồng, ngoại tình với vợ người đồng loại, thì cả đàn ông ngoại tình lẫn đàn bà ngoại tình phải bị xử tử” (Lv 20,10; x. thêm Đnl 13,7-10; 17,2tt). Trường hợp ở đây thì quá rõ, vì đây là ca bắt quả tang.
Các đối thủ của Đức Giêsu tận dụng tình thế này để gây khó khăn cho Người. Họ đưa người đàn bà ngoại tình đến và xin Người cho ý kiến: “Trong sách Luật, ông Môsê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?” Đức Giêsu còn có thể làm gì nếu không phải là đồng thuận đi theo cách thực hành của các đối thủ, tức là yêu cầu ném đá người đàn bà tức khắc? Hoặc là Người ưng theo cách thực hành của họ, hoặc là Người chứng tỏ Người khinh thường Lề Luật. Tất cả mọi chuyện này xảy ra nơi thanh thiên bạch nhật, trước sự chứng kiến của dân chúng đang nghe Đức Giêsu. Nếu Người đồng thuận với các xử sự của các đối thủ, Người cũng đồng thuận với lập trường của họ đối với những người tội lỗi, Người sẽ bị buộc phải phủ nhận cách xử sự của Người và thế là Người sẽ bị lật mặt nạ ra như là vị thầy giả hiệu. Ngược lại, nếu Người không chấp nhận lối xử sự của họ, Người sẽ phủ nhận một khoản luật rất rõ ràng và cũng sẽ bị toàn dân coi là kẻ vị phạm Lề Luật. Đức Giêsu sẽ ứng xử thế nào trong hoàn cảnh có vẻ không ngõ thoát này?
          Hết sức bình thản, Đức Giêsu cúi xuống viết, hoặc vẽ những dấu trên mặt đất. Người chẳng hề liếc nhìn họ hay trả lời họ gì cả. Dường như Người hoàn toàn chỉ lo làm công việc là dùng ngón tay vẽ trên đất. Mọi người cứ chờ một lời nói của Người: các đối thủ thì rất tự tin, người phụ nữ thì cam chịu, dân chúng thì căng thẳng. Người vẽ như thế để làm gì? Người muốn làm cho các đối thủ phải mệt mỏi hoặc bực bội chăng? Đây là một cử chỉ biểu tượng chăng? Ở Gr 17,13, chúng ta đọc được: “Ai tráo trở với Người sẽ có tên viết mặt đất, vì chúng đã bỏ Yavê, mạch nước hằng sống” (Bd NTT). Phải chăng Đức Giêsu muốn nhắc cho họ nhớ rằng họ đã thất trung với Thiên Chúa, nên tên họ đáng bị viết trên mặt đất để rồi xóa đi? Dù sao, họ cũng nôn nóng, thúc bách Người cho câu trả lời.
Từ đầu đến giờ Đức Giêsu chưa nói lời nào. Đến đây câu chuyện chuyển sang hướng khác, do lời đầu tiên Người nói với các kinh sư và người Pharisêu. Bấy giờ Đức Giêsu mới ngẩng lên và bảo họ: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi” (8,7). Họ đã chỉ nhìn đến Lề Luật và tội lỗi của người đàn bà; họ tự tin, họ ngạo nghễ dương dương tự đắc. Ngược lại, Đức Giêsu lại nhắc họ nhớ đến tội lỗi của họ: họ không thể đề mình ra như những kẻ vô phương trách cứ và không có tội; chính họ cũng cần chạy đến xin Thiên Chúa kiên nhẫn với họ và thương xót họ. Làm sao mà họ có thể vội vã yêu cầu xử tử người đàn bà này như thế, mà không hề nghĩ lại? Họ đã chỉ muốn xử người phụ nữ chỉ như một “ca” đơn thuần, cách lạnh lùng, y như một bài toán thôi. Đức Giêsu không trả lời trực tiếp cho câu hỏi của họ; trái lại, Người kéo họ chú ý đến một sự kiện họ đã quên mất, đó là tình trạng thật của họ trước mắt Thiên Chúa: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi” (c. 7). Đức Giêsu bắt họ phải đưa bản thân ra mà xét đoán. Và Người cho họ có thì giờ: Người lại cúi xuống, và viết nữa. Thế là xảy ra một kết quả: các đối thủ của Đức Giêsu đủ lương thiện để chấp nhận lời Đức Giêsu trong lòng. Không một ai dám khẳng định là mình không có tội; không một ai dám cầm đá mà ném trước cả. Tất cả đã bỏ đi.
Khi Đức Giêsu ngẩng lên lần nữa, thì chỉ còn lại người phụ nữ đứng đó. Cho tới đây, Người chỉ quan tâm đến các kẻ tố cáo người phụ nữ; bây giờ Người ngỏ lời với bà. Hai câu hỏi của Người đã làm sáng tỏ hoàn cảnh mới này: “Này chị, họ đâu cả rồi? Không ai lên án chị sao?” (c. 10). Tất cả mọi kẻ tố cáo đã bỏ đi, không ai kết án bà phải chịu ném đá. Đến đây Đức Giêsu mới lấy lập trường: chính Người cũng không kết án bà phải chịu ném đá, nhưng Người khuyến cáo: “Chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa” (c. 11). Đức Giêsu không hề chuẩn nhận cho lối sống của người phụ nữ này hoặc giảm thiểu mức độ của lối sống đó. Những gì bà đã làm là tội lỗi, là những điều đi ngược lại thánh ý Thiên Chúa. Đức Giêsu mạnh mẽ khuyến khích bà tránh đi lối sống đó. Người tha thứ cho bà và chỉ cho bà thấy trách nhiệm mới của bà.
 
+ Kết luận
          Một giai thoại thật tuyệt vời để diễn tả sâu sắc chương trình và cách thức Thiên Chúa cứu độ loài người. Cả những kẻ tố cáo cũng như người phụ nữ bị tố cáo đều trải nghiệm nơi Đức Giêsu lòng từ bi thương xót của Thiên Chúa. Những người tố cáo thì hiểu rằng chính họ cũng cần đến lòng từ bi thương xót của Thiên Chúa, nên họ không được cư xử cách tự phụ và thiếu lòng từ bi với người thân cận. Người phụ nữ đã được Đức Giêsu cứu thoát khi bà rơi vào hoàn cảnh nguy hiểm và qua Đức Giêsu, đã trải nghiệm được ơn tha thứ từ bi của Thiên Chúa. Hẳn là những người chứng kiến sự cố hôm ấy có thêm một lý chứng để xác tín về giáo lý cứu độ của Đức Giêsu.
 
5.- Gợi ý suy niệm
1. Qua vụ việc này, chúng ta thấy rằng các kinh sư và người Pharisêu thiếu lòng từ bi thương xót: họ nằng nặc tố cáo người phụ nữ; họ nôn nóng đưa Đức Giêsu vào bẫy. Khi mục đích là tiêu diệt kẻ khác, thì mọi sự việc, kể cả con người, đều có thể trở thành phương tiện cho người ta thực hiện ý đồ gian ác. Luật lệ có thể trở thành phương thế để gây áp lực; con người có thể trở thành cái bẫy để ám hại kẻ khác. Các kinh sư và người Pharisêu coi người phụ nữ ngoại tình như một “ca” đơn thuần, cách lạnh lùng, y như thể là một bài toán phải tìm ra đáp án. Đức Giêsu mời gọi chúng ta: khi hành động, cần phải xem ý hướng chúng ta thế nào. Ở đây, chúng ta gặp lại các giáo huấn của Đức Giêsu trong Bài Giảng trên núi (Mt 7,1-5).
2. Bài Tin Mừng này cũng cho thấy rằng Đức Giêsu đã đưa mạc khải về lòng từ bi thương xót của Thiên Chúa trong Cựu Ước đến chỗ hoàn tất. Là Con Thiên Chúa, Đức Giêsu đã đến để làm chứng về tình thương này; là Đấng Cứu Thế, Người đã đến để cứu những gì đã mất; là thầy thuốc, Người đã đến để chữa các bệnh nhân. Nếu chúng ta có được sự thẳng thắn để nhìn nhận rằng chúng ta cũng là những kẻ bị mất, bị đau ốm, chúng ta sẽ biết mở lòng ra đón tiếp Người.
3. Là những con người cũng mắc vô số thiếu sót và lầm lỗi, chúng ta cũng cần chạy đến với lòng kiên nhẫn và từ bi thương xót của Thiên Chúa. Thế thì vì sao chúng ta lại có thể vội vàng và không hề áy náy xin kết án kẻ khác? Chúng ta có chia sẻ thao thức của Đức Giêsu là cứu chữa, hay chúng ta có một niềm vui thiếu lành mạnh trong lòng khi kết án kẻ khác, vì lúc đó chúng ta có cảm tưởng mình không có tội (x. 1 Cr 13,6)? Chúng ta khó chịu với các kinh sư vì họ định ném đá người phụ nữ, nhưng chúng ta lại không giống họ sao? Chúng ta lại không nói với người ta những điều y như ném đá vào họ đó sao? Chúng ta cần ý thức rằng ơn gọi của chúng ta vừa là ra đi đưa lại ơn cứu chữa như Đức Giêsu đã làm xưa kia, vừa là làm chứng về ơn cứu chữa mà chính chúng ta liên tục đón nhận.
4. Đã có những lần chúng ta được Đức Giêsu tha thứ. Điều đó không có nghĩa là Người chuẩn nhận cho cách sống chúng ta vẫn theo lâu nay. Ơn tha thứ cũng kèm theo một khuyến khích mãnh liệt, thậm chí một đòi hỏi, hãy thay đổi đời sống. Nếu hôm nay, chúng ta vẫn còn thấy nơi mình một xu hướng mãnh liệt kết án người khác, thì cách chữa trị xu hướng bệnh tất đó hay nhất là xem chúng ta đã đi xưng tội bao nhiêu lần, đã bao nhiêu lần nhận được ơn tha thứ, và rồi đã sống theo lời khuyến cáo của Đức Giêsu đến đâu: “Hãy đi, và từ nay đừng phạm tội nữa”. Tại sao lại có khá nhiều Kitô hữu có vẻ thích thú khi tìm ra và công khai hóa các lỗi lầm của người khác?
5. Tội là điều nghiêm trọng, vì nó làm cho chúng ta không hạnh phúc và phá hỏng cuộc đời chúng ta. Đức Giêsu không bảo người phụ nữ: “Chị cứ đi bình an, chị có lý khi phản bội chồng chị, cứ tiếp tục đi!”, nhưng dường như muốn bảo: “Chị hãy ngưng gây hại cho chính chị, đừng phá hỏng đời sống chị nữa chỉ vì một ít khoảnh khắc lạc thú”. Không ai ghét tội cho bằng Đức Giêsu, bởi vì không ai yêu thương chúng ta cho bằng Đức Giêsu. Thế nhưng Người không kết án những kẻ phạm lỗi, cũng không góp thêm phần tàn phá vào những gì kẻ tội lỗi đã làm nơi chính họ. Người bảo: “Từ nay đừng phạm tội nữa!”
Lm PX Vũ Phan Long, ofm
 [1] Vocative: một sự thay đổi về ngữ pháp trong danh từ để diễn tả việc xưng hô.

 

MC5-C87: THA THỨ 

Ga 8, 1 - 11
"Anh em hãy yêu thương kẻ thù và làm ơn cho kẻ oán ghét mình.." (Lc 3, 24)
 

Tin Mừng theo Thánh Luca ghi lại lời Chúa "Người nào trong các ông có một trăm con chiên mà bị : MC5-C87

Tin Mừng theo Thánh Luca ghi lại lời Chúa "Người nào trong các ông có một trăm con chiên mà bị mất một con, lại không để chín mươi chín con kia ngoài đồng hoang, để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất" (Lc15,4). Rồi Chúa nói tiếp: "Vậy tôi nói cho các ông hay: trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn". (Lc15,7) Qua câu chuyện này cho thấy hình ảnh vị Mục tử, người thầy, người chăn chiên cao cả và đầy lòng nhân từ. Câu chuyện bài Tin Mừng Chúa nhật hôm nay cũng tương tự như thế.
a. Chúng ta trở lại câu chuyện Tin Mừng chúa nhật hôm nay: Các kinh sư muốn gài bẫy Chúa Giêsu nên nhân dịp người ta bắt qủa tang một người đàn bà đang phạm tội ngoại tình, họ liền dẫn ngay đến Chúa và chất vấn. Họ nói: chị này đang ngoại tình và bị bắt quả tang. Theo luật Môisen, chị ta sẽ bị ném đá cho tới chết. Phần Thầy, Thầy sẽ xử thế nào?
Các kinh sư và biệt phái đến hỏi ý kiến Chúa Giêsu; thực ra họ chẳng nể nang gì Ngài, cũng chẳng có ý tốt lành gì đâu. Họ rất ghét Chúa, vì Người hay chỉ trích những thói hư tật xấu, giả hình của họ, mà từ lâu họ chưa tìm được chứng cớ gài bẫy, để tố cáo Chúa. Hôm nay nhân có một phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình, đây là một cơ hội tốt để bắt bẻ Chúa mà trả thù; vì thế họ hỏi như trên... Nếu Chúa trả lời: tha bổng cho người đàn bà, thì họ sẽ bắt bẻ Chúa làm thế là không giữ lề luật. Còn nếu Chúa kết tội chị ta thì rõ ràng Chúa rất tàn ác, và còn làm ngược lại với lời dạy của chính mình nữa là: yêu thương, tha thứ... Xem ra bề nào, Chúa cũng bị các kinh sư kết tội cả. Rốt cuộc họ không ngờ Chúa có một câu trả lời mà không ai nghĩ đến: "ai trong các ông sạch tội thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi" (Ga 8,7) Chúa Giêsu lại thắng keo nữa. Thực tế ai có thể thắng Thiên Chúa?
b. Trên đời này có một nghịch lý rất lớn và cũng rất đáng trách, đó là: Thiên Chúa là Đấng muôn ngàn lần thánh thiện thì lại đầy lòng thương xót, đầy bao dung với người tội lỗi. Trong khi con người tội lỗi đầy tràn, lại thường hay lên án kẻ khác, thích phê bình chỉ trích người ta (chính các thánh còn chưa ai dám tự nhận mình là thánh thiện). Từ chỗ phê bình chỉ trích, rất nhiều khi chúng ta vô tình đẩy kẻ tội lỗi vào vũng lầy không có lối thoát. Các kinh sư và biệt phái trong câu chuyện Phúc âm hôm nay là một ví dụ điển hình. Một câu châm ngôn Á Đông khá chí lý: "chân mình còn lấm mê mê, lại đi cầm đuốc mà rê chân người."
Lòng rộng lượng của Con Thiên Chúa (trong câu chuyện hôm nay) thật là to lớn và cũng thật đúng với những gì chúng ta biết về Thiên Chúa, vì Người sẳn sàng để 99 con chiên không lạc, mà đi tìm cho được con chiên bị lạc và Chúa: "không nở bẻ cây lao bị dập", "cũng không dập tắt tim đèn còn khói.." Những hình ảnh này rõ ràng diễn tả quá đủ lòng thương xót vô cùng của Thiên Chúa.
c. Gợi ý sống và chia sẻ:
* với lòng nhân hậu và khôn ngoan tuyệt vời, Chúa Giêsu đã giải thoát và tha thứ cho người đàn bà tội lỗi, nhưng Chúa cũng kêu gọi chị từ nay đừng phạm tội nữa. Mùa chay cũng là mùa kêu mời mọi kitô hữu suy niệm về lòng bao dung vô bờ của Thiên Chúa, đồng thời cũng nhắc nhở chúng ta thực tâm sám hối, sửa đổi đời sống và mau quay về với Chúa.
* Chúa không hề có một lời lên án người đàn bà ngoại tình: phần ta, ta có phải là hạng người hay chỉ trích kẻ khác? Nhìn lại bản thân mình đã sửa đổi như thế nào trong cuộc sống hàng ngày. Đặc biệt là mùa chay này?

 

MC5-C88: TÌNH THƯƠNG THA THỨ VÀ BIẾN ĐỔI

Ga 8, 1 - 11
1. LỜI CHÚA: "Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!"
2. CÂU CHUYỆN: VỀ CUỘC HÓAN CẢI CỦA MỘT TỘI NHÂN:
 

TA-XI-A-NA là một văn sĩ người Mỹ gốc Liên Xô. Vào năm 1980, cô đã cho ra đời tác phẩm đầu tay: MC5-C88

TA-XI-A-NA là một văn sĩ người Mỹ gốc Liên Xô. Vào năm 1980, cô đã cho ra đời tác phẩm đầu tay tựa đề là "VỀ MỘT CUỘC ĐỔI ĐỜI KỲ DIỆU". Trong quyển sách đó, cô đã kể lại chi tiết cuộc đời đầy đam mê sóng gió của cô, mà cuối cùng đời cô đã được ơn biến đổi trở nên tốt hơn gấp bội! Câu chuyện của cô Ta-xi-a-na được tóm gọn như sau:
Ngay từ khi còn bé, Ta-xi-a-na đã được chịu phép Rửa tội. Nhưng khi lớn lên, cô ít đến nhà thờ dự lễ Chúa nhật vì cha mẹ của cô không mấy ngoan đạo. Do thường hay gây gỗ và cứng đầu nên cha mẹ và thầy dạy đều xếp cô vào loại trẻ em khó dạy. Ngay từ nhỏ, Ta-xi-a-na đã tỏ ra căm thù tất cả những gì gò bó, ép cô vào khuôn khổ kỷ luật, vì nó làm cho cô cảm thấy bị mất tự do và không thể làm theo ý mình. Lớn lên, nhờ có trí thông minh siêu hạng, Ta-xi-a-na đã được cấp học bổng lên đại học. Nhưng tại môi trường trí thức này, thay vì kết thân với các sinh viên cùng khóa, thì cô lại thường xuyên giao du với đám ma-cô, đầu trộm đuôi cướp, bợm nhậu, đĩ điếm và xã hội đen...! Trong khi sống buông thả như vậy, cô cũng thích nghiên cứu các môn thần bí phương Đông, đặc biệt là môn Yô-ga. Khi tập luyện Yô-ga, mỗi động tác đều đòi người ta phải đọc một câu trong một bài văn vần của môn phái. Có người biết cô là tín hữu nên đã đề nghị cô đọc Kinh Lạy Cha để thay cho bài văn vần kia. Ta-xi-a-na đã làm theo lời khuyên này. Các câu trong kinh Lạy Cha đã dần dần thấm nhập vào tâm hồn cô. Rồi một ngày kia, một tư tưởng chợt lóe lên trong đầu Ta-xi-a-na: "Tại sao ta lại không đọc thêm các bản kinh khác nữa, nhất là đọc Lời Chúa trong Thánh kinh?" Càng đọc Lời Chúa, cô càng cảm thấy thích thú về những tư tưởng cao siêu và thánh thiện của Đức Giê-su. Cuối cùng cô quyết định đến với một linh mục đạo đức để tìm hiểu thêm về giáo lý Thánh kinh. Sau đó cô đã cử hành lễ nghi tuyên tín. Cô dọn mình chịu bí tích giải tội và đã được đổi mới hoàn toàn. Từ đây cô tình nguyện hiến thân phục vụ các công việc bác ái xã hội. Về sau cô đã thuật lại phép lạ đổi mới đã xảy ra với cô trong lúc cô đang xưng tội như sau: "Bấy giờ tôi lần lượt kể lại cho vị linh mục nghe các lỗi lầm tôi đã phạm, về những cơn say thâu đêm suốt sáng, các đam mê tình dục quá độ, về những cuộc hôn nhân bất hạnh mà cô đã từng trải, những lần phải đi phá thai vì bị vỡ kế hoạch dẫn đến hậu quả tai hại là tôi mất khả năng sinh con. Cuộc sống đầy đam mê đã biến tôi trở thành một con người dửng dưng với mọi sự: Tôi chẳng còn có thể yêu ai được nữa! Sau khi thú tội xong, tôi lắng nghe vị linh mục khuyên bảo. Lời của ngài tuy đơn sơ nhưng mỗi lời đều đánh động tâm can tôi. Sau cùng tôi thật xúc động khi nhận phép giải tội. Ngay lúc ấy, tôi cảm thấy lòng thanh thản như vừa trút bỏ được một gánh nặng ngàn cân".
Sau lần xưng tội ấy, Ta-xi-a-na đã cảm nghiệm thấy cô đã gặp được chính Chúa Giê-su và được Người tha thứ mọi tội lỗi quá khứ. Ta-xi-a-na không những đã được ơn tha tội, mà còn được Chúa chạm đến phần tâm linh sâu thẳm nhất để biến cô trở nên một tạo vật hòan tòan mới của Người.
3. SUY NIỆM:
1) Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại câu chuyện Đức Giê-su đã bênh vực và tha thứ tội cho một phụ nữ ngoại tình. Người còn biến đổi chị nên một con người mới. Mùa Chay nhằm giúp các tín hữu chúng ta nhận biết sự yếu hèn của mình để hồi tâm sám hối nhờ gặp Chúa Giê-su trong bí tích giải tội. Chắc chắn chúng ta sẽ được Người tha thứ và còn được ơn biến đổi nên một con người mới.
2) Bí tích giải tội là bí tích do Chúa Giê-su thiết lập, để tha các tội riêng ta đã phạm từ khi lãnh nhận bí tích rửa tội về sau, cùng giao hòa ta với Chúa và Hội thánh. Bí tích giải tội còn được gọi là bí tích giao hòa, hòa giải hay bí tích sám hối. Chúa Giêsu đã thiết lập bí tích này vào chiều ngày phục sinh, khi Người hiện đến với các tông đồ trong nhà tiệc ly và phán rằng: "Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai thì người ấy được tha, anh em cầm giữ ai thì người ấy bị cầm giữ" (Ga 20,22-23). Bí tích giải tội ban cho ta các ơn này: Một là tha tội để giao hòa ta với Thiên Chúa và Hội Thánh. Hai là tha hình phạt muôn đời do các tội trọng đã gây ra cho ta và tha một phần hình phạt tạm. Ba là ban sự bình an cho tâm hồn và gia tăng sức mạnh giúp ta chiến đấu chống lại các cơn cám dỗ của ma quỷ. Bí tích giải tội rất cần cho người tín hữu, vì giúp họ nhận được ơn tha thứ tội lỗi đã phạm đến Thiên Chúa, làm tổn thương phẩm giá con người và phá vỡ sự an bình thiêng liêng của Hội Thánh. Chỉ các giám mục và những linh mục có quyền giải tội mới được ban phép giải tội cho các hối nhân nhân danh Chúa Ba Ngôi. Những ai đã phạm tội trọng thì cần phải nhận lãnh bí tích giải tội; còn ai chỉ mắc tội nhẹ thì không buộc xưng tội, nhưng nếu họ có lòng ăn năn mà xưng thú tội lỗi thì sẽ nhận được nhiều ơn ích thiêng liêng. Muốn lãnh nhận bí tích giải tội ta cần làm bốn việc: Một là xét mình; Hai là ăn năn dốc lòng chừa; Ba là xưng tội; Bốn là đền tội. Ngoài việc xưng tội, Hội Thánh còn dạy các tín hữu sám hối bằng các việc khác là: ăn chay, cầu nguyện và làm việc bác ái để chia sẻ cơm áo và khiêm nhường phục vụ những người đau khổ bất hạnh và bị bỏ rơi.
3) Ngày nay một số khá đông các tín hữu không muốn lãnh nhận bí tích giải tội dựa vào một số lý do như sau:
Do gương xấu của một số chủ chăn: Những tín hữu này không muốn xưng tội với lý do các vị chủ chăn cũng chỉ là những con người tầm thường với nhiều tội lỗi và bất tòan.
Tuy nhiên, chính Đức Giê-su đã không nghĩ như vậy khi trao quyền tha tội cho các tông đồ vào chiều ngày phục sinh, dù các ông chỉ là những con người còn nhiều sai lỗi. Vì các ngài hành quyền "cầm buộc và tháo cởi" không với tư cách cá nhân nhưng đại diện cho Chúa Giê-su. Đàng khác, các hối nhân được ơn hóan cải hay không là do quyền năng Thánh Thần đã được chính Chúa Giê-su thổi hơi ban cho các tông đồ, như Tin mừng Gio-an đã ghi lại như sau: "Nói xong, Chúa Giê-su thổi hơi vào các ông và bảo: Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha. Anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ" (Ga 20,22-23).
Do hiểu sai về hiệu quả của bí tích giải tội: Có người nói: "Tôi thường đi xưng tội vào mỗi đầu tháng và lần nào tôi cũng chỉ xưng thú một số tội đã xưng nhiều lần trước đó, mà không sao chừa được. Do đó xưng tội là một việc làm vô ích, thiếu hiệu quả và mất nhiều thời giờ.
Để nhìn rõ vấn đề, chúng ta hãy so sánh sức khỏe tâm linh với sức khỏe thể xác: Do di truyền, có lẽ ai trong chúng ta ít nhiều cũng mang một số bệnh khó lòng chữa khỏi như: bệnh cao huyết áp đòi người bệnh phải uống thuốc hằng ngày, bệnh dị ứng nổi mề đay, bệnh "gút" gây đau nhức luôn phải uống thuốc giảm đau... Mỗi khi căn bệnh tái phát nặng hơn, chúng ta phải đến bác sĩ chuyên khoa điều trị và phải dùng một số loại thuốc giống nhau... Nhưng đâu có ai từ chối uống thuốc với lý do sẽ tái bị lại?. Nếu ta không đi khám và không uống các thứ thuốc trị bệnh quen thuộc nói trên mới là điều sai lầm. Cũng như mỗi ngày chúng ta đều phải tắm rửa cho sạch, dù biết rằng đến mai cơ thể của mình sẽ lại bị dơ cần phải được tắm lại... Về phạm vi tâm linh cũng vậy: Ai trong chúng ta cũng có một số thói hư rất khó chừa như: Dễ nổi nóng, hay nói xấu kẻ mình không ưa, ích kỷ tự ái cao, lười biếng làm việc đạo đức, uống rượu say sỉn, thủ dâm để tìm hưởng lạc bất chính... Dù biết sau một thời gian có thể sẽ tai phạm, nhưng ta vẫn cần đi xưng tội để đón nhận được ơn tha thứ của Thiên Chúa.
Do xét mình cẩu thả: Có người chữa mình rằng: "Tôi xét mình mãi mà chẳng thấy có tội gì cần phải xưng. Nhiều khi phải cố tìm một "tội trọng cũ" để có tội mà xưng.
Việc không tìm ra tội nào không chứng minh chúng ta là người thánh thiện, nhưng có thể do chúng ta đã chai lỳ về tâm linh khi cho các việc làm sai là không có tội. Thực ra mọi người chúng ta đều yếu hèn như thánh Phao-lô đã thú nhận: "Điều tôi muốn, thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét thì tôi lại cứ làm"  (Rm 7,15). Những ai tưởng mình không có tội, thực ra là do đã xét mình cẩu thả mà thôi, như thánh Gio-an đã viết: "Nếu chúng ta nói mình không có tội, là chúng ta đã tự lừa dối mình, và sự thật không ở trong chúng ta" (1 Ga 1,8).
Do xét mình thiếu sót: Kinh cáo mình có câu: "Tôi đã phạm tội nhiều trong tư tưởng, lời nói việc làm và những điều thiếu sót". Tội chúng ta phạm có thể là tội cố tình vi phạm một điều luật cấm như dối trá, trộm cắp, ngọai tình, phá thai... hay tội bỏ không làm việc lẽ ra phải làm như: Bất hiếu với cha mẹ, làm ngơ trước người đau khổ cần trợ giúp...
Trong Tin mừng, Đức Giê-su đã đề cập đến tội thiếu sót này như dụ ngôn ông nhà giàu đã làm ngơ không giúp đỡ anh La-da-rô, một người nghèo khổ nằm trước cửa nhà ông ta (x Lc 16,19-31). Đến ngày tận thế, Vua Thẩm Phán Giê-su cũng sẽ phán với những kẻ bỏ qua không chịu làm việc lành như sau: "Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên ác quỷ và các sứ thần của nó. Vì xưa Ta đói các ngươi không cho ăn; Ta khát các ngươi không cho uống; Ta là khách lạ các ngươi chẳng đón tiếp; Ta mình trần các ngươi không cho đồ mặc; Ta ở tù các người đã không viếng thăm ..." (Mt 25,41-45).
Những tội thiếu sót này tưởng chỉ là tội nhẹ mà thực ra cũng có thể thành tội nặng nếu nó cho thấy trong ta không có tình thương và đồng nghĩa với tội giết người như thánh Gio-an đã viết: "Kẻ không yêu thương thì ở lại trong sự chết. Phàm ai ghét anh em mình thì là kẻ sát nhân . Và anh em biết: Không kẻ sát nhân nào có sự sống đời đời ở lại trong nó" (1 Ga 3,14b-15).
4. THẢO LUẬN:
1) Trong mùa Chay này, mỗi người chúng ta cần làm gì để biểu lộ lòng tin vào tình thương bao dung của Thiên Chúa?
2) Bạn sẽ trả lời ra sao khi có người nói: "Cần chi phải đi xưng tội với ông linh mục cũng phạm nhiều tội như mình ? Hoặc xưng tội làm chi để rồi chỉ sau một thời gian ngắn sẽ lại tái phạm các tội mới xưng ? Sao không đợi đến lúc sắp chết sẽ xưng tội một lần cuối?"
5. NGUYỆN CẦU
LẠY CHÚA GIÊ-SU. Con rất sợ bị bắt quả tang đang phạm một tội nghiêm trọng. Nhưng lạy Chúa, có tội nào chúng con phạm mà Chúa lại chẳng nhìn thấy và không hay biết? Xin cho chúng con biết bỏ đi những mặt nạ giả dối, những việc đạo đức hình thức bề ngòai nhằm che đậy những tội ác trong tâm hồn chúng con. Nhờ đó, chúng con sẽ luôn sống tình yêu thương và trở nên những chứng nhân của Chúa trước mặt người đời.
- LẠY CHÚA. Nếu Chúa đã không lên án kẻ có tội, không chấp nhất những điều chúng con sai lỗi, thì xin cũng giúp chúng con tránh kết án tha nhân. Khi thấy anh chị em con sai lỗi, xin cho chúng con biết tự xét và tu sửa tội lỗi nơi mình trước đã, rồi mới đủ uy tín để giúp sửa lỗi của anh em con. Bấy giờ xin cho chúng con biết khôn ngoan để nói đúng lúc và đúng phương pháp hầu chu tòan bổn phận "răn bảo kẻ có tội", như kinh "Thương người" đã dạy
X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON
LM ĐAN VINH www.hiephoithanhmau.com

 

MC5-C89: THIÊN CHÚA KHÔNG KẾT ÁN NHƯNG THỨ THA

Ga 8, 1 - 11
Lm Jude Siciliano, OP 

 

Hôm nay, chúng ta được nghe một đoạn Tin mừng khác với trích dẫn quen thuộc. Người ta có: MC5-C89

Hôm nay, chúng ta được nghe một đoạn Tin mừng khác với trích dẫn quen thuộc. Người ta có thể không biết được bối cảnh của nó, nhưng chắc chắn họ biết trích dẫn đoạn văn đó, "Ai trong các ông sạch tội thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi." (hoặc trong một bản dịch phổ biến hơn dịch rằng: "Ai sạch tội thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi").

Câu chuyện bắt đầu với việc "Đức Giêsu đến núi Ôliu". Chúng ta biết rằng khu vườn này là nơi Đức Giêsu thường đến cầu nguyện. Đó cũng chính là nơi Người khóc than cho Giêrusalem. Đức Giêsu đã trở lại Núi mỗi ngày để nghỉ ngơi (Lc 21,37) vào một đêm nọ Người lại đến đó để chịu trao nộp (Mt 26,39). Có thể các môn đệ của Người đã đi đâu đó, nhưng vào cuối ngày thì Đức Giêsu lại lên Núi Ôliu. 

Thánh Gioan kể lại cho chúng ta biết rằng các Kinh sư và những người Pharisêu đem một người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình đến với Đức Giêsu "nhằm thử Người." Nếu Đức Giêsu ủng hộ Lề luật [Luật Môsê] và đồng ý cho ném đá người phụ nữ này thì kẻ thù của Người sẽ buộc tội Người trước Philatô, vì chính quyền Dothái không được phép hành quyết bất cứ ai. Còn nếu Đức Giêsu đồng ý tha thứ cho người phụ nữ đó, thì họ sẽ buộc tội Người là chống lại Luật Dothái và như thế Người sẽ không còn thế giá trước mặt dân chúng nữa. 

Những thế lực đem người phụ nữ ngoại tình đến cho Đức Giêsu là những kẻ có quyền thế: các Kinh sư có sự hiểu biết tinh thông, không chỉ trong việc viết lách ("biên chép") Lề luật, mà còn chú giải nữa. Các Pharisêu nổi tiếng la những người tuân giữ Lề luật cách tỉ mỉ trong cuộc sống hằng ngày. Song, các Kinh sư và những người Pharisêu chẳng phải lương thiện gì. Trước hết, nếu họ quan tâm đến việc tìm kiếm công lý thì hẳn rằng họ đã đem người phụ nữ này đến những nhà lãnh đạo tôn giáo. Bởi lẽ, Đức Giêsu không phải là một thẩm phán chính thức của những vấn đề pháp lý. Thứ đến, họ cũng bóp méo Lề luật, bởi vì trong trường hợp ngoại tình, Luật yêu cầu cả người đàn ông và người phụ nữ phải chết (Đnl 22,22; Lv 20,10). Vậy mà, họ đã đem người phụ nữ đến trước, nhưng lại không đá động gì đến người đàn ông. Họ có biết người đàn ông đó là ai không? Có phải là một người bạn của họ chăng? Ông ta có phải là một trong những kẻ tiếp tay để cho vụ việc này được vạch trần hay không? Vì "bị bắt gặp đang ngoại tình" cơ mà! 

Dân chúng không biết Đức Giêsu đã viết những gì khi Người cúi xuống "lấy ngón tay viết". Chúng ta không biết gì về điều này, nhưng hành động đó giúp ta biết được một biểu tượng khả thi ở đây. Sách Xuất hành có nói: "Sau khi phán với ông Môsê trên núi Sinai, Đức Chúa ban cho ông hai tấm bia Chứng Ước, hai tấm bia đá do chính tay Thiên Chúa viết" (Xh 31,18). Còn trong Tin mừng theo thánh Luca thì ta đọc thấy rằng: "Nếu tôi dùng ngón tay Thiên Chúa mà trừ quỷ, thì quả là Triều Đại Thiên Chúa đã đến giữa các ông" (Lc 11,20). Đây là ám chỉ đầu tiên trong Tin mừng theo thánh Gioan khi nói đến việc Đức Giêsu dùng ngón tay để viết. Đức Giêsu, với "ngón tay của Thiên Chúa," đã viết lên một điều luật mới - điều luật đó đã giải phóng phạm nhân khỏi tội lỗi. Đấng được Thiên Chúa sai đến có quyền thế của một vị Thiên Chúa để phán quyết và giải phóng con người. 

Chẳng lẽ quý vị không lấy làm thích thú khi Đức Giêsu không tuyên bố cách dứt khoát về việc khoan dung hoặc tha thứ cho người phụ nữ kia? Người không nói: "Hãy đứng dậy mà đi, tội chị đã được tha" (như trong Lc 5,20). Người cũng chẳng nói rằng chị không làm gì sai trái cả. Lúc bấy giờ Người chỉ im lặng, còn chúng ta thì giải thích rằng những lời của Đức Giêsu nói với người phụ nữ kia chính là sự tha thứ; Người đã giải phóng chị và đem lại cho chị sự tự do. Chúng ta có thể hình dung ra cảnh tượng mà chị phải trải qua: bị bắt gặp đang thực hiên một hành vi đáng xấu hổ; đang đứng bên bờ vực bị kết án tử; nhìn thấy những người buộc tội chị âm thầm bỏ đi vì đã nhận ra tội lỗi của mình; và sau đó chị ta được tự do nhờ một Người đã cứu chị và nói với chị rằng: "Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu. Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!" 

Ta có thể thấy được rằng khi nghe Lời Chúa, mà Lời đó đã không buộc tội người phụ nữ kia, lại còn giải phóng chị nữa, thì Lời đó đã có khả năng tái tạo và làm cho chị khởi đầu một sự sống mới. Nhưng nếu khi chúng ta làm điều gì sai trái và sẵn sàng chịu xét xử đích đáng và nghiêm khắc thì Lời đó liệu có ảnh hưởng gì trên cuộc đời chúng ta hay không? Liệu chúng ta có cảm nhận rằng "ngón tay của Thiên Chúa" đã đụng chạm và giải phóng, nhờ đó chúng có thể khởi đầu lại tất cả hay không? 

Chúng ta không phải được mời gọi để phớt lờ hay bỏ qua những hành động tội lỗi. Nhưng Đức Giêsu hành động với lòng nhân từ và sự thương xót với người khác, đồng thời trao ban sự thứ tha. Đoạn Tin mừng hôm nay nhắc nhở rằng chúng ta không phải bắt chước những người xung quanh. Thậm chí khi họ đúng lý đi nữa, thì họ cũng có thể sai nếu thiếu lòng nhân từ và sự thông cảm. Chúng ta có khuynh hướng trách cứ "người khác" vì những sai trái trong xã hội, như người nghèo, những người mới nhập cư, môi giới, ông chủ, đồng nghiệp hay vợ chồng với nhau,v.v... trong khi đó chính chúng ta cũng sai phạm cùng một lỗi lầm như thế nhưng lại đỗ lỗi cho họ. 

Đức Giêsu thực hiện điều bất ngờ cho người phụ nữ và cho chị ta được tự do, Người đang làm những điều mà ngôn sứ Isaia đã hứa Thiên Chúa sẽ thực hiện. "Này Ta sắp làm một việc mới, việc đó manh nha rồi, các ngươi không nhận thấy hay sao?" Vị ngôn sứ đã dùng những hình ảnh hồi tưởng về sự xuất hành của dân Israel, đó là việc giải thoát của họ ra khỏi nô lệ Aicập, một lần nữa hình ảnh đó đã nhen nhóm lên niềm hy vọng trong dân chúng lúc bấy giờ họ đang bị giam cầm vào thời lưu đày Babylon. Ngôn sứ Isaia không thông báo từ một khoảng cách xa; nhưng vị ngôn sứ đã ở với dân nơi chốn lưu đày khi loan báo điều đó. Ông nhắc nhở họ về tất cả những gì mà Thiên Chúa đầy uy quyền đã thực hiện cho họ, và nhắc nhở họ sao lại quên tất cả những điều đó! Thậm chí Thiên Chúa còn thực hiện nhiều điều kỳ diệu hơn để giải phóng họ. 

Cũng giống như dân tộc Israel, thỉnh thoảng chúng ta trải qua những khó khăn về vật chất hoặc những thử thách về tinh thần, lúc đó chúng ta lại mơ về quá khứ. Chúng ta có thể gắn bó với quá khứ, vì quá khứ của chúng ta là một Thiên Chúa duy nhất. Ngôn sứ Isaia khích lệ chúng ta hãy tìm thấy niềm hy vọng từ trong quá khứ của chúng ta. Thiên Chúa không chỉ lặp lại những gì Người đã thực hiện trước đây, mà còn thực hiện nhiều điều hoàn toàn mới mẻ cho chúng ta. Quá khứ của chúng ta là một Thiên Chúa về sự bất ngờ. 

Bài đọc của ngôn sứ Isaia đã soi sáng cho hành động của Đức Giêsu đối với người phụ nữ bị bắt gặp đang ngoại tình. Đức Giêsu là cuộc xuất hành của chị ta. Người khiến chị ngạc nhiên và dẫn chị từ quá khứ của mình đến "một việc mới." Người tuyên bố: "Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu. Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!" 

"Ngón tay của Thiên Chúa" là một hình ảnh quan trọng trong Kinh thánh, một nhắc nhở cho chúng ta về hành động hiện tại của Thiên Chúa trong cuộc đời mình. Tin mừng không chỉ đơn thuần trình bày một Đức Giêsu như là một kiểu mẫu về lòng trắc ẩn mà chúng ta nên bắt chước. Hơn thế nữa, Tin mừng rõ ràng là những kinh nghiệm trên chính cuộc đời của chúng ta, bởi lẽ, chúng ta, những con người không có khuynh hướng động lòng trắc ẩn khi có điều sai trái. Nhưng nơi Đức Giêsu, Thiên Chúa đến gần với chúng ta. Chúng ta được "ngón tay của Thiên Chúa" đụng chạm đến, và do đó chúng ta được trao quyền để hành động đầy lòng thương xót như Đức Giêsu đã thực hiện. Thiên Chúa đã đụng chạm chúng ta bằng ân sủng, và vì thế chúng ta đến với người khác để thể hiện dấu chỉ yêu thương cứu độ của Thiên Chúa. 

Bản tính của Đức Giêsu là cứu chữa qua lòng nhân từ và tha thứ. Nhờ Phép rửa, tất cả chúng ta được trở nên thọ tạo mới và chia sẻ bản tính của Người. Khi những người khác vội vã kết án thì Đức Giêsu tuyên bố, im lặng và cho họ cơ hội để rút lui. Chẳng có ai ở lại với người phụ nữ ngoại trừ Đức Giêsu, và câu chuyện nhắc nhở chúng ta rằng bản tính của Người không phải là kết án, nhưng là để giải thoát. Đức Giêsu đã nghiêm túc nhìn nhận người phụ nữ kia. Chị không phải là đối tượng cho việc tranh luận về vấn đề đạo đức với các Kinh sư và những người Pharisêu. Thay vào đó, Đức Giêsu xem chị như một con người có trách nhiệm, bất luận quá khứ của chị ra sao, Người đã giải thoát và ban cho chị ta một tương lai mới mẻ. Chúng ta lên án tội lỗi, nhưng trong khuôn mặt của tội nhân, chúng ta nên động lòng trắc ẩn như Đức Giêsu đã làm. 

Đoạn Tin Mừng này được chọn cho Chúa Nhật Mùa Chay - chính điều đó đã nhắc nhở rằng dù quá khứ của chúng ta có ra sao, chúng ta vẫn luôn có thể thay đổi được. Thiên Chúa chưa kết thúc đời ta. Như người phụ nữ được trao cho một cơ hội, chúng ta vẫn có thể bắt đầu lại tất cả và lớn mạnh lên. 
Chuyển ngữ: Anh Em HV. Đaminh Gò Vấp

 

MC5-C90: SÁNG TINH SƯƠNG

Ga 8, 1 - 11
Lm Vũđình Tường

 

Ánh dương chiếu toả bắt đầu một ngày mới. Vẫn biết có người ưa thinh lặng nhưng thật thích : MC5-C90

Ánh dương chiếu toả bắt đầu một ngày mới. Vẫn biết có người ưa thinh lặng nhưng thật thích tai khi nghe tiếng chim ríu rít chào hừng đông bên cạnh cửa sau hè. Nơi cành cây, kẽ lá còn đọng hạt sương đêm, lung lay trước gió, phảng phất đó đây, phản chiếu những tia sáng muôn màu tươi sáng như những hạt ngọc trắng toát. Ngày mới mang lại hy vọng mới. Hy vọng một ngày tươi sáng, nhiều niềm vui, không gặp ngăn trở đáng ngại trong công việc. 

Phá vỡ hy vọng, niềm vui giây phút đầu ngày là điều nên tránh. Kẻ làm điều đó đáng bị quở trách bởi vì nó gây cho ta cảm xúc suốt ngày đó mang lại toàn chuyện buồn sầu, lo lắng, nhiều mệt mỏi, âu lo. Điều này không đồng nghĩa với quan niệm mở hàng buổi sáng của dân buôn bán tin là người mở hàng khởi nởi ngày đó hên, người mở hàng kì kèo, chê bai ngày đó xui vì hàng hoá ế ẩm. 

Chúng ta luôn mong mỏi một buổi sáng tươi đẹp nhiều niềm vui. Mong mỏi vì không phải sáng nào cũng có nhiều niềm vui đâu vì có nhhiều trường hợp nằm ngoài tầm kiểm soát của chúng ta. 

Đức Kitô cũng gặp trường hợp tương tự như trên trong câu chuyện chị phụ nữ ngoại tình hôm nay. Sáng sớm Đức Kitô thường bắt đầu ngày mới bằng việc cầu nguyện. Khi thì ngài cầu nguyện nơi thanh vắng, chốn yên tịnh, không người, khi thì ngài vào đền thờ cầu nguyện. Chúng ta không biết ngài cầu gì nhưng chắc chắn ngài muốn hiệp thông, liên kết với Chúa Cha qua hành động thánh thiện đầu ngày. Trên đường vào đền thờ thì có hai nhóm người đón chặn, với mục đích đen tối, mong gài bẫy bắt lỗi. Họ dẫn đến trước mặt ngài chị phụ nữ tuyên bố chị này bị bắt công khai tội ngoại tình. Theo luật Môisen thì phải ném đá chết, còn Thầy dậy sao. Nếu trả lời Môisen dậy sao thì cứ thế mà thực hành thì Ngài làm trái điều ngài rao giảng là kêu gọi thống hối và thứ tha. Nếu ngài trung thành với giáo huấn ngài dạy thì ngài làm trái điều luật Môisen và như thế bị ghép tội coi thường luật lệ tiền nhân. Câu trả lời nào cũng dẫn đến bế tắc trăm chiều. Đức Kitô không trả lời họ ngay nhưng cúi lưng xuống dùng ngón tay viết trên đất. Điều rõ ràng về nhân số họ nắm đa số. Tiếng nói của họ đại diện cho đám đông, đa số vì là hai nhóm Pharisiêu và Kinh Sư hợp lại bàn cách hạ độc thủ. Tiếng nói thiểu số chính là tiếng nói của Đức Kitô còn chị phụ nữ hoàn toàn không được lên tiếng vì phụ nữ thời đó không được lên tiếng hơn nữa chị lại là phạm nhân. 

Chờ một lát nhóm đa số mất kiên nhẫn la lên. Đức Kitô ngẩng mặt nói với họ. Ai trong các ông tự nhận không có tội, tự nhận là người công chính thì ném đá trước đi. Họ nhìn thấy tội người mà không nhìn thấy tội mình. Họ phạm lỗi làm nhục và làm mất nhâm phẩm chị phụ nữ nơi công cộng. Họ xâm phạm đời tư người khác quá đáng. Họ cản trở cả việc Đức Kitô vào đền thờ cầu nguyện. Những điều đó cho thấy họ không thể tự nhận mình công chính. Nếu tự nhận là công chính là lừa dối họ. Vì thế họ lần lượt tự xet và ra đi, bắt đầu từ người cao niên. Cuối cùng còn sót lại mình chị phụ nữa và Đức Kitô. Chị ta vẫn yên lặng mãi cho đến khi Đức Kitô hỏi chị. Họ đâu cả rồi? Lúc đó chị mới lên tiếng. Đức Kitô nhẹ nhàng, ôn tồn nói với chị 

Tôi không kết án chị đâu, ra về và đừng phạm tội nữa. Gn 8,11 

Bài dụ ngôn dậy chúng ta muốn có bình an không cần đến bạo động. Vua bình an giải quyết mọi khúc mắc trên đời bằng đường lối ôn hoà, bất bạo động. 


 

MC5-C91: SỰ CHUNG THỦY

Ga 8, 1 - 11
Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT 

 

Mùa chay là mùa sám hối ăn năn, mùa quay trở về với Chúa để lãnh nhận ơn tha thứ và sự chúc lành: MC5-C91

Mùa chay là mùa sám hối ăn năn, mùa quay trở về với Chúa để lãnh nhận ơn tha thứ và sự chúc lành của Chúa. Suốt mùa chay, Giáo Hội luôn trình bầy một Thiên Chúa yêu thương, đầy lòng thương xót, một Thiên Chúa nhân từ luôn yêu thương tha thứ chứ không nghiêm khắc, chỉ muốn kết án con người.Tin Mừng của thánh Gioan 8, 1-11 đọc trong Chúa nhật V mùa chay này nói lên lòng nhân từ, đầy cảm thông, tha thứ của Chúa. Do đó, để chuẩn bị đi vào Lễ Lá và Tuần Thánh, chúng ta cùng nhau tìm hiểu người Cha nhân từ, đầy yêu thương...

Thực tế, khi Giáo Hội cho chúng ta đọc các bài Sách Thánh hôm nay, Giáo Hội muốn chúng ta hiểu rõ về gia đình. Chúa đã chọn một gia đình và được nuôi sống, lớn lên trong một gia đình. Chính vì thế, gia đình là nền tảng của xã hội và là một Giáo hội thu nhỏ. Vợ chồng trong gia đình luôn luôn phải thủy chung với nhau. Khi kết hôn với nhau, vợ chồng đã hứa chung sống với nhau, trung tín với nhau suốt đời. Cho nên, khi vợ chồng không còn chung thủy với nhau, khi vợ chồng mất sự trung tín với nhau nữa, gia đình ấy sẽ bị đổ vỡ và băng hoại đến cả xã hội. Tin Mừng hôm nay cho thấy nhóm Kinh sư và Pharisêu dẫn một người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình để xin Chúa xét xử. Sở dĩ họ dẫn độ người phụ nữ đang run cầm cập đến trước mặt Chúa Giêsu để xin Ngài phân xử là một điều hoàn toàn hợp lý và chí tình vì luật Môsê đã cho phép ném đá hạng đàn bà ngoại tình. Tuy nhiên, những người Pharisêu và Kinh sư không thật thà, họ giăng một cái bẫy lớn để tìm cơ hội ghép tội Chúa Giêsu. 

Cái trớ trêu của câu chuyện này là nếu Chúa Giêsu nói đừng ném đá người phụ nữ phạm tội ngoại tình thì Ngài chống lại luật của Môsê, mà nếu Ngài nói cứ ném đá người đàn bà này, Chúa sẽ đi ngược lại những điều Ngài dạy về giới răn mới yêu người. Chúa dạy: " Hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con " hoặc " Cứ dấu ngày người ta sẽ nhận ra anh em là môn đệ của Thầy là các con hãy yêu thương nhau ". Đây là một cái bẫy thật nham hiểm và ác độc mà các người Pharisêu và Kinh sư đưa ra để thử thách Chúa Giêsu. 

Tin Mừng của thánh Gioan diễn tả một cách thật dí dỏm rằng: Chúa Giêsu cúi mặt xuống và viết trên đất, ở đây không biết Ngài viết gì, viết tội hay tìm câu trả lời, chỉ biết rằng nhóm Pharisêu và Kinh sư vui mừng, mở cờ trong bụng vì đã đắc thẳng vì tưởng đã dồn được Chúa vào chân tường. Nên, họ sung sướng, phở lở cứ hỏi Chúa mãi. Một câu trả lời đột ngột làm choáng váng nhóm đắc thắng và xoáy mãi vào tâm trí họ: " Ai trong các ông vô tội thì hãy ném đá trước đi " ( Ga 8, 7 ). Câu nói ấy của Chúa Giêsu có sức làm đảo lộn tất cả thay vì các Kinh sư và các người Pharisêu đang hăm hở làm quan tòa thì trớ trêu thay họ đâm bài tẩu mã. Bởi vì các ông cứ tưởng mình vô tội, cứ tưởng mình thánh thiện, giờ đây các ông bỗng đột nhiên nhận ra mình có tội. Nên, thượng sách là chuồn, là trốn đi cho êm chuyện. 

Thánh Gioan đã khéo léo viết, giờ đây chỉ còn lại mình Chúa Giêsu và người phụ nữ phạm tội, đang đứng ở giữa.Thật cảm động và rất mực tâm lý, Chúa ngẩng đầu lên, chắc chắn người phụ nữ ấy đang run sợ, và hết sức mặc cảm, sợ ánh mắt soi mói của Chúa, sợ nhiều thứ và sợ hoàn toàn. Tuy nhiên, chỉ một câu nói mà thôi, Chúa Giêsu đã trả lại nhân phẩm và tương lai cho người phụ nữ phạm tội: " Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu ! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa ". Chúa đã mở ra một khung trời mới. Ngài không dừng lại quá khứ và hiện tại tội lỗi của người phụ nữ này, nhưng hướng người này về tương lai rạng rỡ. Chúa hoàn toàn tin tưởng vào người phụ nữ và tin người phụ nữ sẽ làm lại cuộc đời mới. 

Lòng nhân từ của Chúa thật tốt đẹp biết bao. Chúa yêu thương tất cả mọi người. Ngài chỉ mong con người được hạnh phúc. Ngài ước mong con người luôn biết quay trở về với Ngài bởi vì trở về với Ngài sẽ được Ngài tha thứ và chúc lành. Thật hạnh phúc và an ủi cho tất cả chúng ta là những người tội lỗi vì Chúa luôn thương xót các tội nhân. 

Chúng ta cùng P.Philippe Lefebvre suy nghĩ: " ...Qua miệng các ngôn sứ, nhiều lần Đức Chúa coi dân Người là ngoại tình, khi họ nói về Luật Chúa, nhưng lại sống theo sở thích, rất xa điều Thiên Chúa đề ra. Ai là ngoại tình trong bài Tin Mừng về người phụ nữ ngoại tình ? Những người lớn tuổi nhất trong nhóm đã hiểu điều đó trước tiên, và họ ra đi ". 

Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con một trái tim mới để chúng con luôn có lòng nhân từ như Chúa. Amen.


 

MC5-C92: CHÚA XÓT THƯƠNG

Ga 8, 1 - 11
Lm Jb Nguyễn Minh Phương, C.Ss.R

 

Chuyện đời không thiếu việc con người kết án lẫn nhau. Tư tưởng Thiên Chúa không như tư tưởng: MC5-C92

Chuyện đời không thiếu việc con người kết án lẫn nhau.
Tư tưởng Thiên Chúa không như tư tưởng của người đời.
Trình thuật Tin Mừng (Ga 8, 1-11) là bằng chứng: Chúa kết án tội chứ không kết án người tội lỗi.

I. ĐÁM ĐÔNG VÀO HÙA

Một buổi sáng nọ, một đám đông các kinh sư và người Pha-ri-siêu dẫn một phụ nữ bị bắt gặp đang ngoại tình đến trước mặt Đức Giê-su. (Ga 8, 3). Họ đã chất vấn Đức Giê-su về việc xét xử bà này. "Thưa Thầy, người đàn bà này bị bắt quả tang đang ngoại tình. Trong sách luật, ông Mô-sê truyền dạy chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà này. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?" (Ga 8, 5). 

Mới thoáng qua thì đàm đông này xem ra có lý lẽ, nhưng sâu xa, họ đang cố tình gài bẫy Đức Giê-su hầu có cớ bắt Người. Mặt khác, dường như họ đang toa rập với nhau, âm mưu tìm cách "giết người diệt khẩu" càng sớm càng tốt để ngầm bao che cho kẻ tòng phạm, vì theo luật thì người đàn ông tòng phạm với bà ta cũng phải bị ném đá (x Ed 16, 38-40). 

Đức Giê-su biết rõ tâm địa gian manh của họ. Bằng thái độ lặng thinh viết trên đất, xem ra Người không chú ý đến những người xung quanh và dường như muốn từ chối nói chuyện với họ. 

Vì sự cố chấp của đám đông "họ cứ hỏi mãi" (Ga 8, 7), Đức Giê-su đã trả lời: "Ai trong các ông không có tội thì cứ lấy đá ném chị này trước đi" (Ga 8, 7). Lời Đức Giê-su đã xoáy vào tim đen của đám đông khiến họ phải suy nghĩ và đã rút êm "lần lượt bỏ đi, bắt đầu là những người lớn tuổi" (Ga 8, 9). Hẳn những viến đá mà đám đông lăm le ném người đàn bà ngoại tình nay đã ném thẳng vào lương tâm những kẻ sống hùa và buộc họ phải suy nghĩ mà thay đổi hành vi của mình. 

II. CON NGƯỜI YẾU HÈN 

Phần người phụ nữ, chị đã bị bắt quả tang đang ngoại tình. Tội chứng ràng rành, không còn gì để nói nên chị ta chỉ thinh lặng và cũng không thiết nghĩ đến chuyện tố cáo kẻ tòng phạm. Chị ta chỉ còn biết phó mình cho sự định đoạt của đám đông và người ta đã buộc chị phải đứng giữa đám đông để chịu xét xử. 

Lẽ tự nhiên, Thiên Chúa ban cho con người khả năng giới tính để truyền sinh. Hoạt động giới tính tự nó thật tốt đẹp và phù hợp với sự quan phòng của Thiên Chúa. Tuy nhiên một khi người ta lạm dụng hoạt động này, cụ thể là thực hiện ngoài hôn nhân và trái tự nhiên thì sẽ sinh hậu quả tai hại làm hủy hoại thuần phong mỹ tục. 

Ấy vậy mà, Kinh Thánh đã từng thuật những chuyện hủ hoại: Vua Đa-vít đã từng phạm tội cướp vợ (bà Bát-sa-ve) mà còn giết luôn người chồng (tướng U-ri-a) (x. 2S 11, 2 tt); hai ông thủ lãnh cùng âm mưu hành động đồi bại với bà Su-san-na vợ của ông Giô-gia-kim nhưng âm mưu không thành (x. Đn 13, 1tt); người con hoang đàng mang tiền phung phí với bọn điếm (x. Lc 15, 30); thánh Phao-lô từng than khóc vì dân thành Cô-rin-tô sống gian dâm phóng đãng (x. 2Cr 12, 21)... 

Chuyện Kinh thánh đã vậy, trong gian dân những chuyện ngoại tình cũng không ít nên ngày nay, tình trạng hôn nhân thiếu chung thủy và gia đình đổ vỡ đang ngày càng gia tăng. Thế mới biết, thân phận con người yếu hèn: điều thiện muốn thì không làm nhưng điều ác không muốn thì lại làm (x. Rm 7, 19). 

Bởi thế, ý thức phận người yếu hèn, người tín hữu phải luôn trông cậy ơn Chúa giải thoát "Tôi thật là một người khốn khổ! Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này? Tạ ơn Thiên Chúa, nhờ Đức Giê-su Ki-tô Chúa chúng ta" (Rm 7, 24). 

III. THIÊN CHÚA THƯƠNG XÓT 

Đám đông đã rút đi. Nơi xét xử chỉ còn lại hai người: Thiên Chúa xót thương và con người yếu hèn. 

Trước đám đông gào thét đến cuồng loạn kết án tử người đàn bà ngoại tình, Đức Giê-su đã thinh lặng và không đồng tình với đám đông la ó đang gây thêm đau khổ cho người tội lỗi. 

Khi bị chất vất gay gắt, Đức Giê-su mới lên tiếng. Người không nói: Đừng ném đá chị ta. Nếu nói thế chẳng khác nào Người đã không thi hành lề luật. Đức Giê-su cũng không nói: Cứ việc ném đá chị ta. Bởi nói thế, Người đã đánh mất con chiên lạc đang đối diện với Người. Đức Giê-su đã nói: "Ai trong các ông không có tội thì cứ lấy đá ném chị này trước đi" (Ga 8, 7). Vậy là, chỉ có người vô tội mới có quyền xét xử người đàn bà ngoại tình. Nói cách khác, ở đây chỉ có Thiên Chúa làm người Đức Giê-su Ki-tô mới có quyền xét xử. 

Đức Giê-su đã xét xử vụ án này ra sao? Người đã không kết án mà chỉ thương xót và khuyên bảo người đàn bà bỏ đường tội lỗi: "Tôi không kết án chị đâu! Chị về đi; từ nay đừng phạm tội nữa!" (Ga 8, 11). 

Nếu thế, phải chăng Đức Giê-su dung túng cho kẻ có tội? 

Thực ra, Đức Giê-su chỉ kết án tội chứ không kết án người có tội. Người đã cho người đàn bà phạm tội một con đường sống với điều kiện " Chị về đi; từ nay, đừng phạm tội nữa!". 

Thiên Chúa đã đoái thương người tội lỗi. Có thể nói được: Thiên Chúa ghét tội chứ không ghét người có tội. 

Chúa đã đối xử bao dung. Nếu người thẳng tay như người ta thường đối xử với nhau thì không có các vị thánh: Phê-rô, Mát-thêu, Phao-lô, Au-gút-ti-nô, Ma-ri-a Mác-đa-la... Nếu Người đối xử thẳng tay với con người như họ đáng tội thì mỗi người chúng ta chắc gì còn hiện diện trên đời. 

Trước tình thương của Chúa, người tín hữu được mời gọi: tin tưởng vào lòng bao dung tha thứ của Thiên Chúa; sống lòng bao dung ấy bằng cách đấm ngực mình chứ đừng đấm ngực người khác; quyết tâm sửa đổi đời sống: "Đừng phạm tội nữa!". 

KẾT 

Người đời dễ lâm vào tình trạng xét đoán và muốn xét xử người khác, trong khi bản thân mình tội lỗi chất đầy. 

Bao lâu còn trong thân xác con người, chẳng ai dám quả quyết mình trong sạch. Thế nên người tín hữu được mời gọi cố gắng hoàn thiện bản thân và ứng xử bao dung. 

Thiên Chúa thấu suốt tâm can từng gang tấc. Chỉ mình Người mới có quyền xét xử. Dầu vậy, Thiên Chúa chỉ kết án tội chứ không kết án người có tội. Người không cho kẻ dữ phải diệt vong nhưng chỉ muốn họ bỏ đường tà để được sống.


 

MC5-C93: NÉM HAY THA?

Ga 8, 1 - 11
Lm. Anmai, CSsR

 

Chúa Giêsu từ Cha mà xuống trần gian, không phải để tố cáo, để kết án tội nhân, nhưng để cứu : MC5-C93

Chúa Giêsu từ Cha mà xuống trần gian, không phải để tố cáo, để kết án tội nhân, nhưng để cứu rỗi họ. Nhờ đời sống, sự chết, sự sống lại của Người, Người ban tặng cho những người nhất là những người tội lỗi sự sống của Thiên Chúa. Trang Tin mừng hôm nay chúng ta nghe Thánh Gioan thuật lại gợi lên hình ảnh, tấm lòng hết sức tuyệt vời của Chúa Giêsu về sự tha thứ, về sự cứu độ mà Thiên Chúa dành cho con người.

Câu chuyện xảy ra trong Tin mừng xác thực và rõ ràng. Ngoại tình là một trọng tội ít gặp. Để được tha, cần làm việc đền tội công khai, lại chỉ được tha một lần thôi. Cách cư xử của Chúa Giêsu đối với người phụ nữ ngoại tình, với những con người vụ luật và khắc khe thì dễ dãi quá. Nhiều người trong số họ đã quên mất câu "Hãy về và đừng phạm tội nữa". Họ nghĩ rằng cách cư xử dễ dãi như thế của Chúa Giêsu sẽ đe dọa sự trung tín trong hôn nhân. Sau một ngày giảng dạy ở đền thờ, chiều xuống, theo thói quen, Chúa Giêsu lên núi Ôlivê. Sáng sớm hôm sau, Người lại vào Đền thờ giảng dạy dân chúng. 

Các kinh sư và những người Pharisêu từ lâu đã bất bình với Chúa Giêsu. Không chỉ dừng lại ở thái độ bất bình nhưng họ đã thù nghịch nghĩ rằng giáo huấn của Chúa Giêsu làm đảo lộn tất cả. Với những lý do ấy họ quyết định tìm đủ mọi cách để trừ khử Người. Tuy nhiên, để đưa Người ra xét xử, cần phải có một chứng cứ đúng đắn. 

Một cơ hội không mong đã đến. Một thiếu phụ "bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình". Rẽ đám đông, các kinh sư và những người Pharisêu dẫn chị vào "giữa" đám đông đang tụ họp và nói với Chúa Giêsu: "Trong sách Luật, ông Môsê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?" 

Chúa Giêsu không còn cách nào thoát khỏi cạm bẫy đã giăng của đám người xấu. Không thể bào Chúa Giêsu thoát khỏi cạm bẫy này! Nếu tha, Chúa Giêsu sẽ chống lại luật Môsê. Ném đá, Người tự mâu thuẫn vì Người vẫn rao giảng lòng nhân từ của Thiên Chúa. Đằng sau án xử người thiếu phụ là chính án xử Chúa Giêsu. 

Giờ đây, dây thòng lọng đang xiết dần cả người thiếu phụ, lẫn Chúa Giêsu. Quá tệ! Đây không còn là một vấn nạn, một câu hỏi bình thường của cuộc sống, nhưng là một câu hỏi sinh tử, đối với người nữ phạm tội tày đình cũng như đối với chính Chúa Giêsu. 

Vẫn ngồi trong dáng điệu của một ông thầy đang giảng dạy, Chúa Giêsu "cúi xuống" và thay vì trả lời, Người dùng ngón tay vẽ vẽ trên đất. 

Nhiều nhà chú giải Thánh Kinh rất quan tâm tìm hiểu xem Chúa Giêsu viết gì trên đất? Thánh Giêrônimô nghĩ rằng Chúa Giêsu vạch tội những kẻ tố cáo người phụ nữ ngoại tình còn nhiều tác giả khác thì cho rằng: Người viết lại một câu trong Jêrêmia 17, l3: "tất cả những ai lìa bỏ Ngài sẽ phải hổ thẹn, những kẻ quay lưng lại với Ngài sẽ phải ghi tên mình trong lòng đất". Tốt nhất chúng ta nên trung thành với cách diễn đạt của bản văn. Chúa Giêsu vạch trên đất để kéo đài thời gian thinh lặng, làm cho lời phân xử sắp thốt ra thêm trọng lượng. Người ta như không chú ý tới điều được ghi nhận tới hai lần: Chúa Giêsu "cúi xuống", rồi "ngước lên". Sao Thánh Gioan lại nhấn mạnh đến cử chỉ ấy trong một câu chuyện ngắn ngủi như vậy, rồi trả lời. Tên núi Ôlviê được nhắc đền ở đầu câu chuyện đã đặt giai thoại này trong bối cảnh cuộc khổ nạn sắp đến. Cử chỉ của Chúa Giêsu mang một ý nghĩa Kitô học: nó nhắc đền sự hạ xuống, và đưa lên cao mà qua đó, Chúa Giêsu sẽ hòa giải nhân loại bị giam hãm trong tù ngục tội lỗi với Thiên Chúa. 

Họ nài nỉ. Trước khi lại chìm trong thinh lặng, Chúa Giêsu nhắc họ lời Kinh Thánh: "Ai trong các ngươi sạch tội, thì cứ lấy đá mà nén trước đi. " Đnl 13,9-10 và 11,7: "Người làm chứng sẽ ném đá kẻ phạm tội trước. Từ lúc ấy, vụ án xử bị cáo lại trở thành vụ án xử nguyên cáo. 

Các kinh sư và những người Pharisêu đinh minh mình công chính. Họ đứng đằng sau mặt chữ, đằng sau lề luật để tố cáo người phụ nữ. Ở đây, Chúa Giêsu đưa chính họ ra xét xử dưới ánh sáng của Luật. Người buộc những quan tòa phải tự xét xử chính mình, trước hết, phải trở lại với lương tâm mình, nhìn nhận mình cũng là tội nhân, cùng một thân phận như "người phụ nữ kia", người mà họ đã lôi ra giữa đám đông và giam hãm chị trong quá khứ tội lỗi của mình. 

Trong vòng vây của những nguyên cáo hung hăng, sự lưỡng lự biến thành cuộc lui binh như thánh sử ghi nhận cách hài hước: "Họ rút lui từng người một, bắt đầu từ người già nhất ". 

Khi Chúa Giêsu ngẩng đầu lên "lần thứ hai thì chỉ còn mình Người đối diện với người phụ nữ". Thánh Augustinô chú giải: "Chỉ còn hai. Lòng thương xót và người được xót thương". Nếu trước đó, những người tố cáo gọi chị là "hạng đàn bà đó" một cách khinh bỉ, coi chị như đồ vật, thì giờ đây, chị thấy một ánh mắt khác nhìn chị, nghe một giọng khác gọi chị như gọi một con người: "Này chị ". Hơn bất cứ ai khác, Chúa Giêsu là người đo lường chính xác nhất mức nặng nhẹ của tội lỗi; và thay vì giam hãm chị trong quá khứ tội lỗi như các kinh sư và những người Pharisêu đã làm, Người thúc đẩy chị bước vào con đường hối cải, và mở cho chị một tương lai một "Không ai kết án chị sao ? Tôi cũng vậy. Hãy về và từ nay đừng phạm tội nữa ". 

Sau đó thì sao? Câu chuyện để ngỏ đó giống như dụ ngôn Chúa nhật trước bỏ ngỏ thái độ người anh. Một khi đã gặp Chúa Giêsu Đấng không lên án mà kêu gọi sống đời sống thánh thiện, người nghe thấy mình được kêu gọi để đừng khép mình vào cái khuôn dĩ vãng chết chóc nhưng là bước đi trong tự do của con cái Thiên Chúa. 

Câu chuyện người đàn bà ngoại tình đã đi vào huyền thoại hơn 2000 năm rồi nhưng nhiều và nhiều câu chuyện người đàn bà ngoại tình khác vẫn còn diễn ra trước mắt mỗi người chúng ta, diễn ra mỗi ngày trong đời sống thường nhật. Và, với cái lý, cái lẽ hết sức bình thường của con người, người ta vẫn giơ tay ra và hùng hùng hổ hổ ném đá và ném thật mạnh vào người tội lỗi. Và, chắc có lẽ cái cảnh từng người bỏ đi cũng sẽ tái hiện bởi lẽ nhìn lại mình mình cũng quá nhiều tội như nhiều người ngày hôm ấy nên đã từ từ rút lui. 

Thật sự ra mà nói những người rút lui hôm nay xem chừng không hay, không đạt được ý nguyện nhưng được một chuyện là lương tâm và sự thật đã thức tỉnh lòng dạ đen tối của họ. Chỉ sợ rằng vấn đề rõ ràng nơi đó mà họ còn cố tình chối tội, họ cố tình lấp liếm tấm lòng nham hiểm của họ. 

Đứng trước những lầm lỗi, những khiếm khuyết của người khác, nên chăng con người cần phải khiêm tốn để nhìn nhận lại chính bản thân của mình. Nếu nhìn nhận chính bản thân mình thì con người sẽ thay đổi lối nhìn cũng như lối hành xử. 

Thánh Phaolô, trong thư gửi tín hữu Philip mà chúng ta vừa nghe cho ta bài học về sự khiêm tốn. Với Ngài, tất cả Ngài coi mọi sự đều là rơm rác. Ngay cả sự công chính của Ngài, Ngài cũng nại vào ơn Thiên Chúa ban cho Ngài chứ không phải do tự bản thân của Ngài. Ngài, dẫu đã trở thành môn đệ chân chính của Chúa Giêsu nhưng Ngài vẫn còn phải chạy và Ngài không nghĩ là Ngài thành toàn. Có lẽ nhờ vào lối sống, lối suy nghĩ của Ngài nên Ngài hành xử một cách khác người đó là Ngài không bao giờ lên án ai. Ngài vẫn tự nhận mình là môn đệ rốt hết, Ngài vẫn tự nhận Ngài là con người thấp hèn để rồi Ngài không bao giờ hạ nhục người khác. 

Thường, con người vẫn và vẫn tìm cách để hạ nhục người khác dẫu chưa tìm ra chứng cứ. Nếu có chứng cứ như người phụ nữ ngoại tình hôm nay thì lại thêm phần bảo đảm, phần chắc chắn cho sự kết án của họ. Thế nhưng, dù thế nào đi chăng nữa, dù có chứng cứ, dù có bằng chứng nhưng chắc gì những người đưa ra chứng cứ lại là những người vô tội. 

Một lần nữa, sự kết án, sự kết tội, sự ném đá với tội nhân vẫn mở ngõ ra cho con người. Con người hoàn toàn tự do sử dụng sự tự do của Thiên Chúa ban cho họ. Hoặc là họ ném đá, hoặc là họ kết án anh chị em đồng loại. 

Vấn đề đặt ra là liệu rằng khi ném đá, họ - những người kết án - có thấy mình sạch tội để ném đá, để kết án anh chị em đồng loại hay không mà thôi.


 

MC5-C94: NGƯỜI PHỤ NỮ PHẠM TỘI NGOẠI TÌNH

Ga 8, 1 - 11
Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

 

Chúa nhật 5 mùa chay, năm C, Giáo Hội cho chúng ta đọc đoạn Tin Mừng Ga 8, 1-11 nói về người phụ nữ : MC5-C94

Chúa nhật 5 mùa chay, năm C, Giáo Hội cho chúng ta đọc đoạn Tin Mừng Ga 8, 1-11 nói về người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình. Xuyên suốt Tin Mừng của thánh Gioan là lòng nhân từ của Chúa. Sợi chỉ đỏ của Tin Mừng thánh Gioan là tình yêu không biên giới của Chúa Giêsu. Tất cả ba bài đọc của Chúa nhật V, năm C đều làm nổi bật tình thương cao vời của Chúa Giêsu, một tình thương không giới hạn, tình thương của một con người đã tự hiến vì người mình yêu.

Trở về thời Cựu Ước, luật Môsê qui định: " Người bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình thì bị ném đá ". Do đó, ngày hôm nay câu chuyện người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình mà các Kinh sư và Pharisêu dẫn đến xin Chúa Giêsu xử tội quả rất hợp lý. Tuy nhiên, đây không phải là điều bình thường nhưng chỉ là cái bẫy Kinh sư và Pharisêu giăng ra để kết tội Chúa Giêsu. Càng đọc đoạn Tin Mừng này, chúng ta càng thấy lòng nhân từ, chạnh thương và hay tha thứ của Chúa. Nhưng đang khác chúng ta cũng dở mếu giở khóc vì cái trò bịp bợm, gian manh của các nhóm Kinh sư và Pharisêu. Ném đá người phụ nữ ngoại tình ư ? Điều này hoàn toàn thích hợp với luật Môsê. Nếu Chúa Giêsu bảo đừng ném đá người phụ nữ thì Ngài lỗi luật Môsê. Còn nếu Ngài ra lệnh ném đá người phụ nữ thì Ngài đã phản lại lời dạy dỗ của Ngài:" Các con hãy yêu thương nhau ". Quả đây là cái bẫy vừa tinh vi vừa hết sức nham hiểm của những con người tàn ác, dã man. Tin Mừng viết rất rõ, Ngài cúi mặt viết trên đất. Cúi mặt có nghĩa không lưu tâm tới những con người lòng nham dạ sói. Cúi mặt cũng có nghĩa Ngài đã biết quá rõ về cái bẫy họ đang giang ra để ám hại Ngài. Chúa Giêsu đang viết tội họ trên đất hay đang suy nghĩ gì đó, chúng ta không thể hiểu được, nhưng chỉ có một điều là những Kinh sư, những Pharisêu và nhiều người Do Thái khác đang đắc thắng vì đã dồn được Chúa Giêsu vào chân tường, họ sốt ruột điên cả người lên vì Chúa không thèm trả lời câu hỏi của bọn họ. Họ gặng hỏi mãi, Chúa đã trả lời một câu làm bẽ mặt họ và câu trả lời của Ngài vẫn là mũi dao xoáy vào lương tâm của mỗi người muôn thời " Ai trong các ông vô tội thì hãy ném đá trước đi " ( Ga 8, 7 ). 

Tin Mừng nói rất rõ:" Không một ai dám ném viên đá đầu tiên và viên đá cuối cùng ". Bởi vì từ già đến trẻ đã lặng lẽ rút lui. Những viên đá mà trước khi tới với Chúa Giêsu để xin Ngài xét xử, từ già tới trẻ đã cầm chặt trong tay chỉ chờ ném vào đầu người phụ nữ cho thỏa mãn, cho hả dạ. Những viên đá đó lúc này đã nhẹ nhàng được lặng lẽ cho rơi xuống đất và họ lặng lẽ ra đi. 

Sứ điệp Chúa nhật V mùa chay, năm C muốn nói cho chúng ta hay ở đời chẳng ai là vô tội. Ai cũng yếu hèn, tội lỗi. Có biết bao thứ tội tầy trời, có biết bao thứ tội còn nặng hơn cả tội ngoại tình bị bắt quả tang. Tội ngoại tình trong tư tưởng, trong ước muốn, có những tội ngoại tình lén lút chẳng ai biết, chẳng ai hay vv...Ngày nay, có biết bao thứ tội mà con người chỉ nhận khi không còn lối chối từ. Do đó, người ta tìm đủ mọi cách để che dấu, để lén lút phạm tội. Họ cứ an tâm phạm tội khi không bị bắt quả tang. Quả thực, họ đã đánh mất hết cảm thức về tội lỗi của mình. Và đó là tội đáng chết, đáng nguy hiểm. 

Dù rằng mình có tội thật, nhưng con người lại dễ lên án, lại dễ ghép tội người khác, lại dễ ném đá người khác. Có thể làm như thế họ tự biện bạch họ vô tội chăng ? Con người dễ thông cảm cho mình và xét nét lên án kẻ khác. Vâng, chỉ có một Đấng vô tội duy nhất đã không lên án và đã nói: " Tôi không lên án chị đâu ! Chị hãy về đi, từ nay đừng phạm tội nữa " ( Ga 8, 11 ). 

Lời Chúa của Chúa nhật hôm nay muốn làm nổi bật lòng thương xót của Thiên Chúa, vì thương con người, Ngài muốn cứu độ, muốn tha thứ con người tội lỗi, Chúa không xét xử và luận phạt, kết tội. Nhưng muốn được thứ tha, con người phải dứt bỏ quá khứ tội lỗi và thật lòng quay trở về với Chúa. 

Lạy chúa, xin giúp chúng con biết mau mắn thay đổi đời sống để chúng con được Chúa thứ tha và Chúa thi ân giáng phúc. Amen .


 

MC5-C95: GIẢI THOÁT

Ga 8, 1 - 11
Sr Mai An Linh OP

 

Thiên Chúa luôn muốn con người được tự do nên ngay từ khi tạo dựng. Thiên Chúa tác tạo con người : MC5-C95

Thiên Chúa luôn muốn con người được tự do nên ngay từ khi tạo dựng. Thiên Chúa tác tạo con người giống hính ảnh Thiên Chúa và trao ban tự do. Một sự tự do của con cái Chúa, nhưng con người đã lạm dụng sự tự do để rồi sa vào cạm bẫy của satan mà phạm tội, làm nô lệ cho ba thù : Thế gian, xác thị, ma quỉ. Chính vì thế, mà con Thiên Chúa phải nhập thể để cứu thóat con người. Trước tiên là giải thoát con người khỏi ách đô hộ của Ai Cập (Is.43,16-21) mà tiên tri Isaia đã tường thuật. Sự giải thoát này dân Israel đã ghi tâm khắc cốt qua tác giả TV. 125, ca tụng Thiên Chúa đã giải thoát dân Ngài khỏi cảnh lưu đầy. Trong Tin Mừng Thánh Gioan, vị tông đồ được Chúa yêu đặc biệt lưu ý đến chủ đề "giải thoát" này khi đưa ra câu chuyện Chúa Giêsu giải thoát người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình khỏi bị ném đá (Ga.8,1-11). 

"Ai trong các ông vô tội hãy ném đá chị trước đi". Câu hỏi bất ngờ của Chúa Giêsu, đã làm cho đối phương bối rối và ngạc nhiên, vì vừa đây họ hí hửng đắc thắng với câu hỏi "luật Moisen truyền ném đá mụ ta, còn Thầy, Thầy dạy sao?". Và thấy Chúa Giêsu im lặng hí hoáy viết trên đất. Họ tưởng rằng Chúa Giêsu sẽ thua to và họ bấm bụng sẽ làm cho Chúa Giêsu bị lúng túng và sẽ đưa Chúa Giêsu vào tròng mà họ đưa ra. Nhưng giờ đây một bầu khí thinh lặng bao trùm, bắt họ phải đối diện với lòng mình "trước thánh nhan nào có ai vô tội!": tội bất trung, tội ngoại tình trong tư tưởng, tội ước muốn...Con người khi tố cáo người khác thường quên tội của mình. Tuy nhiên, ở đây những người Biệt phái kinh sư đã khiêm tốn nhận ra lỗi mình, họ từ từ rút lui. Không ai dám can đảm ném hòn đá đầu tiên, và cũng chẳng có hòn đá cuối cùng. Có chăng chỉ là những bàn tay trước đây hăm hở nắm chặt những hòn đá trong tay sẵn sàng ném vào người phụ nữ, thì giờ đây buông lỏng để cho những hòn đá từ từ, nhẹ nhàng rơi xuống. Chúng ta trân trọng thái độ chân thành của họ. 

Đấy là những Biệt phái, kinh sư ngày xưa, còn ngày nay nếu được nghe Chúa hỏi "ai trong các ngươi sạch tội hãy ném đá trước đi!" thì có lẽ người ta sẽ ném đá mạnh bạo hơn, sẽ xỉ vả người có tội để chứng minh mình sạch tội. Vì có ai bắt được quả tang họ phạm tội đâu! Nếu chúng ta sạch tội thì thế giới này đã đổi khác rồi. Chúng ta đọc báo thấy đưa tin ông nọ bà kia tham nhũng, hối lộ...nhưng nếu không bắt được quả tang thì dù đứng trước vành móng ngựa họ vẫn chối. Chỉ khi họ bị bắt quả tang, hoặc đưa ra những chứng cứ họ mới nhận lỗi, còn không thì họ sẵn sàng lên án người khác. 

Tòa án lúc đầu sôi nổi nhưng lúc này chỉ còn lại quan tòa và bị cáo. Bầu khí trở nên nhẹ nhàng hơn, êm đềm hơn. Chúa Giêsu nói: "chị về đi và từ nay đừng phạm tội nữa". Chúa Giêsu không phủ nhận chị không có tội, nhưng Chúa muốn cho chị một cơ hội để sám hối và làm lại cuộc đời. Chúa Giêsu không muốn chị chối tội hay thanh minh tại sao phạm tội hoặc đổ lỗi cho người khác. Ngài muốn chị can đảm nhìn nhận sự thật, không tuyệt vọng và khuyến khích chị sửa đổi. Đó là cách giải thoát tuyệt với cho chị. Ngài không dung túng cái xấu, nhưng Ngài khơi dậy cái tốt còn đang ngủ yên nơi người phụ nữ. Và đúng thật, chỉ có tình thương mới biến đổi được con người. Chúng ta phải học nơi Chúa Giêsu để có một quả tim quảng đại, bao dung tha thứ, đừng nhỏ nhen ti tiện. Vì ai cũng cần được cảm thông và tha thứ, và ai cũng có lúc phạm sai lầm. Vì thế, chúng ta cần sống và quảng bá lòng nhân hậu hơn, thế giới này sẽ bớt căng thẳng hơn, sẽ hòa bình hơn và dễ sống hơn. Chúa Giêsu là người vô tội, mà Ngài còn không kết án người có tội, thì chúng ta là ai mà dám kết án anh chị em? 

Lạy Chúa, xin cho chúng con luôn ý thức sự bất toàn của bản thân, biết tích cực cộng tác với ơn Chúa, xa tránh dịp tội, tập luyện sống tinh thần yêu thương và tế nhị của Chúa để khi đối diện với những lầm lỗi, khuyết điểm của tha nhân. Chúng con sẽ dễ tha thứ, chấp nhận nhau và giúp nhau thăng tiến trong đời sống Kitô hữu.


 

MC5-C96: "TA KHÔNG KẾT TỘI CHỊ ..."

Ga 8, 1 - 11
Lm Phêrô Trần Thanh Sơn 

 

Bài Tin mừng thuật lại câu chuyện một người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình và mọi người : MC5-C96

Bài Tin mừng thuật lại câu chuyện một người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình và mọi người đang đưa chị ta ra trước mặt Chúa Giêsu để xin Người xét xử. Một vụ án xem ra hết sức đơn giản. Người phạm tội đã bị bắt quả tang, và các luật sĩ cũng đã cho biết theo luật Môisen thì chị phải bị ném đá. Do đó, xem ra công việc của Chúa Giêsu cũng dễ dàng. Ngài chỉ việc căn cứ theo luật Môisen mà kết án chị là xong.

Thế nhưng sự việc lại không đơn giản như vậy. Thánh Gioan ghi rõ: "Họ nói thế có ý gài bẫy Người để có thể tố cáo Người". Vậy cái bẫy ở đây là gì? 

Thưa: Nếu Chúa Giêsu đồng ý với việc ném đá người phụ nữa này cho đến chết theo như luật định, thì rõ ràng điều này trái ngược với giới luật yêu thương mà Ngài đang rao giảng. Như thế, những người luật sĩ và biệt phái sẽ tuyên bố trước mặt dân chúng rằng: Chúa Giêsu "ngôn hành bất nhất". Ngài rao giảng về tình yêu của Thiên Chúa và mời gọi mọi người tha thứ yêu thương. Vậy mà giờ đây, Ngài lại đồng ý để giết đi một mạng người. Và thế là họ có lý do để kêu gọi dân chúng tẩy chay Chúa Giêsu. 

Nếu Chúa Giêsu tuyên bố tha cho chị, thì ngay lập tức, các luật sĩ và biệt phái sẽ nói rằng: Chúa Giêsu chống lại luật Môisen, mà chống lại luật Môisen là chống lại Giavê, Thiên Chúa, chống lại dân tộc. Và như thế họ có lý do để xách động dân chúng kết án Chúa Giêsu. 

Đây quả thực là một cái bẫy hết sức tinh vi. Chúa Giêsu nói "Không" cũng chết mà nói "Có" cũng chết. Chắc là khi đặt ra tình huống này, những người biệt phái và luật sĩ hả hê lắm, vì họ tin chắc rằng Chúa Giêsu không còn lối thoát. 

Thế nhưng, với một thái độ hết sức trầm tĩnh, ôn hòa cùng với một câu nói cũng hết sức nhẹ nhàng: "Ai trong các ngươi sạch tội, hãy ném đá chị này trước đi" thì ngay lập tức, tiếng ồn ào, la ó của đám đông như dịu hẳn lại và ngay cả những người đứng đầu trong dân hình như cũng im tiếng. Và trái với thái độ hung hăng ban đầu khi dẫn người phụ nữ đến, đám đông đã rút lui từng người một, "bắt đầu là những người nhiều tuổi nhất". Cuối cùng chỉ còn lại một mình Chúa Giêsu và người thiếu phụ. Lúc đó, Chúa Giêsu mới nói với chị: "Ta không kết tội chị. Vậy chị hãy đi và từ nay đừng phạm tội nữa". 

Một câu nói có vẻ bình thường, nhưng nếu muốn hiểu hết chiều sâu của nó, chúng ta phải đặt mình trong tâm trạng của người phụ nữ đang bị kết án, chúng ta mới có thể cảm nhận được hết sự ngọt ngào, đầy yêu thương của câu nói mà Chúa Giêsu vừa thốt ra. 

"Ta không kết tội chị". Một câu nói ngắn ngủi, nhẹ nhàng nhưng âm vang của nó thật sâu. Có lẽ trong suốt cuộc đời của người thiếu phụ này, chị chưa từng được nghe bao giờ. Nhất là trong những giây phút vừa qua, khi chung quanh chị chỉ toàn là những tiếng la ó, kết án, đòi giết chết chị. 

"Ta không kết tội chị". Một câu nói như muốn diễn tả tình yêu bao la của Thiên Chúa đối với mỗi người chúng ta. Thiên Chúa đã không kết tội chúng ta, cho dù chúng ta đã nhiều lần bội phản, bất trung, vô tâm, bất nghĩa đối với Ngài, thì Thiên Chúa vẫn như người cha nhân hậu chiều chiều ra đứng trước ngõ nhà dõi mắt vào nơi xa xôi chờ đợi đứa con đi hoang trở về. Thiên Chúa không kết tội chúng ta vì Ngài biết rõ con người chúng ta yếu đuối. Thiên Chúa không kết án chúng ta vì chúng ta đã được dựng nên giống hình ảnh Ngài, và nhất là chúng ta đã được cứu chuộc bằng chính Máu Con yêu dấu của Ngài. Ngài đã tha thứ, đang tha thứ và vẫn luôn tha thứ cho tất cả những yếu đuối lỡ lầm của chúng ta. Vòng tay yêu thương của Thiên Chúa vẫn luôn giang rộng, cánh cửa nhà của Thiên Chúa thì không bao giờ đóng. 

Cảm nhận được tình yêu tha thứ của Thiên Chúa nên thánh Phaolô, một con người trước đây đã từng bắt bớ các kitô hữu, đã mạnh mẽ tuyên bố: "Tôi coi tất cả mọi sự như thua thiệt trước cái lợi tuyệt vời là được biết ĐứcGiêsu Kitô, Chúa tôi. Vì Người, tôi đành chịu thua thiệt, và coi mọi sự như phân bón". Thánh nhân sẵn sàng đánh đổi tất cả để có được Đức Giêsu Kitô, bởi vì thánh nhân đã hoàn toàn cảm nghiệm được tình yêu mà Đức Giêsu Kitô đã dành cho ngài, một "đứa con ranh", "không xứng đáng được gọi là tông đồ" (1 Cr 15, 8-9). 

Thiên Chúa đã tha thứ và vẫn luôn tha thứ cho chúng ta. Như thế điều quan trọng còn lại là chúng ta có đủ can đảm như đứa con đi hoang đứng dậy trở về để nhận được ơn tha thứ hay không. Mặt khác, tình yêu của Thiên Chúa không chỉ dừng lại ở chỗ không kết án chúng ta, Thiên Chúa còn muốn chúng ta ngày càng trở nên hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện (x. Mt 5, 48). Trong bài Tin mừng, sau khi nói lời tha thứ: "Ta không kết tội chị", Chúa Giêsu còn căn dặn: "Từ nay đừng phạm tội nữa" 

"Từ nay đừng phạm tội nữa" không chỉ là một lời dành cho người phụ nữ ngoại tình trong bài Tin mừng hôm nay, mà còn là một lời mời gọi tha thiết của Chúa Giêsu được gởi đến cho hết thảy chúng ta trong những ngày cuối của Mùa Chay này, một lời mời gọi được gởi cho tôi, cho quý OBACE. Chúng ta đã nhận được ơn tha thứ, nhưng đừng lạm dụng. Chúng ta hãy cộng tác với ơn Chúa, nỗ lực hết sức mình để từ nay "đừng phạm tội nữa". 

"Từ nay đừng phạm tội nữa" cách cụ thể là từ nay tôi và quý OBAEC đừng nóng giận, đừng chửi thề, đừng nói xấu, đừng ganh ghét, đừng bài bạc, đừng say sưa, đừng tham lam, đừng vu khống, đừng chê bai nhau nữa. Chúng ta hãy từ bỏ hẳn con người cũ, "đừng để ý đến việc thời xưa nữa", trái lại, chúng ta hãy theo gương thánh Phaolô "quên hẳn đàng sau, mà hướng về phía trước, cứ nhắm đích đuổi theo để đoạt giải ơn kêu gọi Thiên Chúa đã ban từ trời cao trong Đức Kitô". Cuộc từ bỏ này chắc chắn là không dễ dàng gì. Nó chính là sự chết đi của con người cũ để nhằm đến hy vọng "từ cõi chết được sống lại". 

Tóm lại, lời Chúa hôm nay mời gọi mỗi người chúng ta tin tưởng vào tình yêu tha thứ của Thiên Chúa. Chúng ta không được phép mặc cảm, tự ti với những yếu đuối của bản thân mình. Thiên Chúa như người Cha nhân hậu vẫn đang giang rộng vòng tay chờ đón mỗi người chúng ta trở về với Ngài. Và một khi đã trở về, chúng ta hãy cố gắng giữ vững hạnh phúc này, đừng đi theo con đường cũ, "đừng phạm tội nữa". 

Cuối cùng, một lần nữa tôi muốn nhắc lại với quý OBAEC lời nói đầy yêu thương của Chúa Giêsu: "Ta không kết tội con. Vậy con hãy đi và từ nay đừng phạm tội nữa", "đừng phạm tội nữa". Amen.


 

MC5-C97: TÌNH THƯƠNG và THA THỨ

Ga 8, 1 - 11
Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT
 

Cái trớ trêu muôn đời của con người muôn thời, muôn thuở vẫn là việc người thì sáng việc mình thì : MC5-C97

Cái trớ trêu muôn đời của con người muôn thời, muôn thuở vẫn là việc người thì sáng việc mình thì tối, cái sà trong mắt mình không nhận ra mà cái rác trong mắt anh em lại thấy rõ rành rành. Tội lỗi mình tầy đình lại không ăn năn, trở lại mà người khác gặp khó khăn lại cho rằng họ tội lỗi. Tin Mừng của thánh Gioan 8, 1-11 là một bằng chứng hùng hồn về việc mau mắn kết tội người phụ nữ ngoại tình của muôn lớp người trong xã hội Do Thái thời Chúa Giêsu. Còn Chúa nghĩ sao về người phụ nữ khốn khổ, đang run lầm cập trước bao lớp người sẵn sàng ném đá bà ?

Các ông Pharisiêu và luật sĩ là những người cầm đầu tôn giáo thời Chúa Giêsu, họ tự mãn, huyênh hoang cho mình đạo đức, hơn người, họ tự cao tự đại cho mình thánh thiện vì giữ tỉ mỉ các luật đề ra trong sách luật. Quả, họ bầy ra nhiều thứ luật lệ để cho người khác giữ chứ một ngón tay họ cũng không sờ vào để lay thử. Chính vì thế, hôm nay, như thường lệ, Chúa Giêsu đang giảng dậy cho dân chúng về giáo lý, về Nước Thiên Chúa trước tiền đường Đền Thờ, các Pharisiêu và luật sĩ kéo lôi một người phụ nữ sành sạch tới trước mặt Chúa Giêsu. Họ hăm hở kết tội vì người phụ nữ này bị bắt quả tang đang làm điều dâm ô. Tội ngoại tình đối với luật Môisê thì chỉ có chết. Luật cho ném đá người phạm tội cho đến chết. Tin Mừng viết:" Họ kéo người phụ nữ sành sạch", kéo lôi người có nghĩa là chẳng còn coi người ấy ra gì nữa, chẳng còn tôn trọng phẩm giá, nhân vị của họ mà coi họ như con vật vì chỉ có con vật mới bị kéo lôi một cách dã mãn như cái kiểu luật sĩ, biệt phái và Pharisiêu đang làm đối với người phụ nữ phạm tội. Họ kéo người phụ nữ có tội đến trước mặt Chúa Giêsu để gài bẫy Chúa, nói :" Ném đá người phụ nữ phạm tội " thì Chúa lại đi ngược với Đạo tình thương, lòng nhân từ của Chúa và nói:" Không ném đá " Chúa sẽ vi phạm luật Môisen, đàng nào cũng dễ vướng vào bẫy họ giăng để bắt bẻ và kết án Chúa Giêsu. Thật ra,luật Môisen khoản này đã từ lâu không được áp dụng khắt khe nữa, nhất là đối với người La mã đang cai trị lúc đó, có lệnh cấm ném giết người. Tuy nhiên, đây chỉ là cái cớ để họ gày bẫy Chúa Giêsu mà thôi. Chúa Giêsu xem ra không mấy lưu tâm đến cáo trạng và thái độ hung hăng, đắc thắng của nhóm luật sĩ và Pharisiêu. Ngài cúi xuống, lấy tay viết trên đấy điều gì ấy. Thời gian nặng nề trôi qua và hình như Chúa muốn mời gọi mọi người có mặt lúc đó hãy nhìn vào nội tâm của mình. Sau đó, Chúa đứng thẳng lên và ung dung hỏi những người có mặt :" Ai trong các ngươi vô tội, hãy ném đá chị này trước đi"( Ga 8,7 ). Rồi, Chúa Giêsu lại ngồi cúi xuống và lại viết trên đất. Bầu khí đã nặng lại thêm nặng nề, u ám hơn. Đứng trước Chúa Giêsu, họ thấy khó nuốt, khó thắng được Ngài, nên kế thượng sách là lẩn trốn đi. Vì giữa người phụ nữ phạm tội ngoại tình và những người có mặt lúc đó đối với Chúa Giêsu chưa chắc ai là người tội lỗi hơn ai ! 

Tin Mừng thánh Gioan viết tiếp: " Họ rút lui từng người một, bắt đầu từ những người lớn tuổi"( Ga 8, 9 ). Những người lớn tuổi là những người đã kinh nghiệm trong cuộc đời, là những người được xem là khôn hơn người khác, họ chuồn trước là đúng. Lúc ấy, chỉ còn lại mình Chúa Giêsu và người phụ nữ thì đứng ở giữa ( Ga 8, 9 ). Thánh Augustinô cho rằng:" Chỉ còn lại tình thương và tội lỗi". Sở dĩ Chúa Giêsu không kết án người phụ nữ theo thói con người, theo luật lệ cứng nhắc của con người vì Ngài có phương thế khác của Ngài và Ngài muốn cho tội nhân có cơ hội ăn năn, quay trở về với Ngài, đồng thời thanh luyện họ qua đau khổ. Chúa không kết án mà dành cho tội nhân sự hoán cải và lòng thương xót. 

Tin Mừng Gioan 8,11 viết: " Tôi cũng vậy, Tôi không lên án chị đâu ! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa". Đối với người phụ nữ phạm tội Chúa vừa đòi hỏi vừa có lòng thương xót. Vâng, cái dí dỏm của đoạn tin Mừng này là sự hăm hở của những người tự coi là đạo đức, sự sợ sệt của tội nhân và lòng bao dung vô bờ của Chúa Giêsu xem ra hoàn toàn đối nghịch nhau. Tuy nhiên, tình thương thắng tội lỗi. Bao dung xóa hận thù.Hình ảnh người phụ nữ ngoại tình là hình ảnh của mỗi người chúng ta. Chúng ta là gì mà dám kết tội anh em chúng ta. Chỉ có Chúa, Đấng hoàn toàn vô tội và tinh tuyền mới có quyền tha thứ tội lỗi cho chúng ta:" Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa"( Ga 8, 11 ). Thật là lời nhân từ và đầy ắp tình thương của Đấng vô cùng bao dung và nhân từ.

Lạy Chúa, xin thương xót chúng con là kẻ có tội.


 

MC5-C98: CON VỀ, VÀ ĐỪNG…..

CHÚA NHẬT V MÙA CHAY
Ga 8,1-11
 

Người đàn bà cúi mặt bước đi, nhưng lòng nhẹ nhõm thanh thản lạ kỳ. một cảm giác rất lạ; khác: MC5-C98

          Người đàn bà cúi mặt bước đi, nhưng lòng nhẹ nhõm thanh thản lạ kỳ. một cảm giác rất lạ; khác hẳn những bước chân lúc trước; đó là những bước chân nặng nề, xấu hổ. Còn bây giờ, là  những bước chân nhẹ tênh tênh như nai nhảy nhót. Cái gánh nặng đè ngập từ trí óc đến trái tim, bây giờ được vất bỏ, cái gánh nặng ấy rơi xuống. khi Thầy Giêsu nói với tôi: “Con về và đừng …. nữa”. Đừng ai hỏi tôi chỗ chấm chấm ấy là gì? Tội lỗi là một điều xấu hổ. Chẳng ai muốn tỏ lộ tội của mình ra bao giờ. Sau khi được Chúa tha, tôi đã hiểu được những chân lý quan trọng:
          1- Tội là gì?
          Đó là một gánh nặng đè ép lên con người; không chỉ trên linh hồn, mà đè trên tất cả toàn thân. Tất cả tội lỗi, đều là kết quả của những quyết định, những lựa chọn sai lầm và dại dột. Tôi bị bắt vì tội ngoại tình. Đúng thôi, vì làm thế, là tôi đã đi ngược lại lời thề trước Chúa hôm nào. Tôi đã để bản năng và dục vọng điều khiển con người tôi. Làm thế, là tôi đã đập vỡ lời thề và tình yêu với chồng. Tôi đã trở thành người đàn bà lăng loàn đáng coi thường; là tôi đã xé tan danh dự của mình và của con cái. Vì u mê nên tôi đã làm thế. Người ta bắt tôi, đưa tôi đến Chúa xét xử. Bề ngoài là thế, nhưng kì thực, là họ muốn qua tay Chúa để xử án tôi. Họ muốn giết tôi, nhưng không phải bởi tay họ, mà là bởi tay Chúa. Họ muốn trở thành thẩm phán vô hình. Họ đang phạm tội mà không nhận ra: Họ đang ác ý để giết hại một người. Họ cũng là tội nhân, vô số tội lỗi trong người, mà chỉ muốn kết án người khác, không hề muốn kết án chính mình.
          2- Chúa đúng về phía người tội lỗi, để cứu vớt họ
          Chỉ cần một câu tuyên bố, thì đời tôi nát tan. Bọn người đứng quanh tôi, sẽ mưa đá vào tôi. Nhưng không! Chúa muốn cứu vớt chứ không muốn giết chết. Ngài không chỉ cứu mình tôi, mà còn muốn cứu cả những người muốn tố cáo tôi nữa. Tôi và họ đều là những tội nhân. Cũng là tội nhân, thì xin đừng ngồi ghế thẩm phán mà kết án người khác. Đừng, hãy biết nâng đỡ và cứu vớt lẫn nhau. Chúa không bảo rằng tôi vô tội, nhưng việc kết án là việc của Chúa, chứ không phải là của con người. Khoác cho mình chiếc áo công chính khi bắt được một kẻ ngoại tình như tôi, những người kia cứ tưởng rằng Chúa không biết gì về đằng sau hậu trường của mình. Họ lầm, Chúa biết rõ, tất tần tật mọi tội lỗi đang nhung nhúc trong lòng họ. Chúa muốn họ thức tỉnh, thức tỉnh để ăn năn. Bởi chỉ có con đường đó, là con đường duy nhất, để nhận được sự cứu vớt cho cuộc đời.
          Gợi ý suy niệm:
1- Bạn là người công chính hay là người tội lỗi?
2- Bạn có thường đóng vai thẩm phán, để kết án người khác không?
 Lm Đaminh Đỗ Văn Thiêm Long Xuyên

 

MC5-C99: Thiên Chúa khoan dung

Câu chuyện về người phụ nữ ngoại tình khơi dậy trong chúng ta tâm tình sám hối trước tấm lòng MC5-C99

Câu chuyện về người phụ nữ ngoại tình khơi dậy trong chúng ta tâm tình sám hối trước tấm lòng khoan dung của Thiên Chúa.
Thực vậy, hôm ấy Chúa Giêsu đang giảng dạy trong đền thờ, thì bọn biệt phái dẫn đến trước mặt Ngài một người thiếu phụ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình. Và chiếu theo luật Maisen thì nàng sẽ bị ném đá cho chết. Chúa Giêsu xem ra không mấy chú ý tới lời tố cáo của họ. Người cúi xuống lấy tay viết trên cát. Đó là cử chỉ muốn từ chối xét đoán, muốn tránh né câu trả lời. Nhưng vì họ cứ một mực lên án, cho nên Ngài cảm thấy bắt buộc phải nói với họ đôi lời: Ai trong các ngươi sạch tội, hãy ném đá chị này trước đi. Câu trả lời của Chúa Giêsu vừa khôn ngoan, vừa công bằng, lại vừa nhân ái. Người đã dùng các thành ngữ của lề luật, bởi vì lề luật quy định chứng nhân phải ném đá kẻ có tội đầu tiên. Như vậy, Người cho thấy lề luật còn nhân từ và công bằng hơn họ đã tưởng. Hãy tìm kiếm tinh thần của luật, sau những hàng chữ khô khan của nó. Lề luật chỉ là phương tiện để thực thi ý định tình yêu của Thiên Chúa. Người không vi phạm luật Maisen nhưng dựa vào lề luật ấy, Người kêu gọi họ hãy trả bị cáo về cho toà án lương tâm của mỗi người. Như thế, lời mời gọi ấy tóm kết tất cả giáo thuyết của Chúa Giêsu: chỉ trích hạng người chuyên kết án kẻ khác, chỉ thấy những lầm lỗi của kẻ khác mà không đếm xỉa gì đến những tội lỗi của mình.
Sống trên đời, chúng ta giống như người đeo hai cái giỏ. Cái giỏ trước ngực thì đựng những sai lỗi của người khác, còn cái giỏ sau lưng thì đựng những sai lỗi của chính bản thân. Vì thế, chúng ta chỉ nhìn thấy những sai lỗi của người khác mà chẳng bao giờ nhận ra những sai lỗi của mình. Chính vì thế Chúa Giêsu đã dạy: Hãy lấy cái xà ra khỏi mắt mình trước đã, để trông thấy rõ và có thể lấy cái rác ra khỏi mắt người anh em. Hãy đối xử khoan dung với người khác và nghiêm khắc với chính bản thân mình, chứ đừng khoan dung với bản thân mình và nghiêm khắc với người khác.
Trước thái độ của Chúa Giêsu họ bắt đầu rút lui từng người một, từ người cao tuổi nhất. Chỉ còn lại một mình Chúa Giêsu và người thiếu phụ. Thánh Augustinô đã nói: Chỉ còn lại tình thương và tội lỗi. Chúa Giêsu đứng trước tội lỗi. Lòng khoan dung đứng trước sự khốn cùng. Chúa Giêsu nhìn đến sự khốn cùng của tội nhân để rồi tha thứ và kiến tạo lại hình ảnh nguyên thuỷ của con người. Khi tha thứ cho người thiếu phụ, Chúa Giêsu đã không đồng hoá tội với kẻ có tội. Người ghét bỏ tội, nhưng lại khoan dung với kẻ có tội, nên Người đã phán với người thiếu phụ: Ta không kết án con. Còn chúng ta thì trái lại, nhiều khi chúng ta đã kết án kẻ khác, nhất là kẻ có tội, một cách nặng nề, vô lý và quá đáng.

 

MC5-C100:  Làm mới con người – Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm

Khi người Do Thái đang bị lưu đày tại Babylon, ai trong họ dám nghĩ rằng có ngày họ được trở MC5-C100

Khi người Do Thái đang bị lưu đày tại Babylon, ai trong họ dám nghĩ rằng có ngày họ được trở về quê cha đất tổ? Ngay cả khi còn quyền lực và độc lập còn chưa giữ được đất nước quê hương, còn chưa bảo vệ được mình, thì làm sao một khi đã bị lưu đầy sang nơi đất khách quê người lại có thể nổi dậy và trở về quê hương, trừ phi Thiên Chúa can thiệp làm những việc kinh thiên động địa như Ngài đã làm cho dân Do Thái thời ở Aicập qua Môsê.
Sách tiên tri Isaya cho dân một niềm hy vọng. Thiên Chúa phán: “Ta sẽ cho nước chảy ngay giữa sa mạc, khơi những dòng sông tại vùng đất khô cằn, cho dân Ta tuyển chọn được giải khát”. Thiên Chúa thỏa mãn khao khát của dân Ngài. Ngài đã đưa dân Do Thái đang lưu đầy ở Babylon được trở về quê cha đất tổ qua vua Kyrô, một vua người Ba Tư đã chiến thắng và đang nắm quyền trên khắp vùng. Kyrô, một vua người ngoại, nhưng đã được coi là Đấng Kitô của Thiên Chúa (Is.45, 1). Một người ngoại được coi là Đấng Kitô, là một điều người Do Thái không bao giờ ngờ tới. Như vậy, hoặc Thiên Chúa đã dùng một người ngoại để giải phóng dân của Ngài, hoặc người ngoại không phải là người ngoại trước mặt Thiên Chúa. Người ngoại vẫn là con dân của Thiên Chúa như người Do Thái, và họ đã được Thiên Chúa yêu và dùng như Ngài đã yêu thương người Do Thái vậy.
Nơi Đức Giêsu, Thiên Chúa còn làm những điều kỳ diệu hơn tất cả những điều Ngài đã làm từ trước tới nay. Tin mừng Chúa Nhật thứ năm mùa chay cho thấy Đức Giêsu đã làm một điều đặc biệt: Ngài cứu người phụ nữ ngoại tình thoát chết và làm cho những người biệt phái cùng kinh sư trở nên khiêm tốn và nhận biết mình có tội. Khi những người biệt phái và kinh sư bỏ đi không ném đá chị phụ nữ ngoại tình nữa, hàm chứa họ đã được ơn nhận biết chính mình. Đức Giêsu nói với chị phụ nữ: “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa”. Một cuộc đời mới đã khai mở với chị phụ nữ phạm tội ngoại tình. Chị tạ ơn Thiên Chúa đã cứu sống chị qua Đức Giêsu; chị bắt đầu một đời sống mới trong niềm tin vào Thiên Chúa và vào con người. Một khi gặp gỡ được Thiên Chúa, người ta trở nên nhân hậu hơn, chấp nhận chính mình và tha nhân hơn, tha thứ cho người khác và tha thứ cho chính mình.
“Không ai có quyền tha tội trừ một Thiên Chúa” (Mc.2, 7). Thiên Chúa đã dùng Đức Giêsu để tha tội cho người bị bại liệt. Đức Giêsu đã tha tội cho chị phụ nữ ăn năn sám hối (Lc.7, 34). Đức Giêsu cũng không kết án chị phụ nữ ngoại tình (Ga.8, 11). Thiên Chúa không chỉ không kết án, mà còn tha tội cho con người qua Đức Giêsu Kitô. Không ai có thể giao hòa con người với Thiên Chúa, nếu không phải là chính Thiên Chúa muốn giao hòa với con người. Thiên Chúa đã giao hòa với con người, nhờ và qua Đức Giêsu Kitô. Tạ ơn Thiên Chúa đã làm những điều kỳ diệu cho con người. Thiên Chúa đang làm điều mới qua Đức Giêsu Kitô.
Con người ngày nay không thể gặp gỡ Đức Giêsu vì Ngài đã lên trời, tuy nhiên nhờ đức tin con người vẫn có thể gặp gỡ Đức Giêsu Phục Sinh. Thánh Phaolô đã được biến đổi hoàn toàn nhờ biết Đức Giêsu Phục Sinh. “Kể từ khi biết Đức Giêsu, tôi coi mọi sự như thua lỗ bất lợi trước cái lợi tuyệt vời là được biết Đức Giêsu Phục Sinh”. Phaolô sẵn sàng mất tất cả để chỉ được Ngài mà thôi. Phaolô đã có cái nhìn khác về vạn sự vạn vật. Ngày xưa, Phaolô miệt mài đi bắt bớ các Kitô hữu, tưởng rằng như thế là làm vinh danh Thiên Chúa, nhưng biến cố trên đường Đamát đã giúp Phaolô nhận ra sự thật. Niềm tin vào Đức Giêsu Phục Sinh, đã làm cho Phaolô thành con người mới, thành người công chính không cậy dựa vào sức riêng mình nhằm chu toàn lề luật nhưng nhờ đức tin vào Đức Giêsu Kitô.
Với Phaolô, Thiên Chúa là Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô. Thiên Chúa đã làm tất cả trong Đức Giêsu: Ngài tái tạo mọi sự, đưa mọi sự tới với Thiên Chúa. Lề luật không giúp người ta tới gần Thiên Chúa nhưng chỉ giúp con người nhận biết mình là tội nhân; chính niềm tin vào Đức Giêsu mới cho con người có nhận thức đúng đắn hơn về mọi sự, mới cho con người có sức sống, mới giúp con người thực hiện được điều mình thấy đúng, mới làm con người được hạnh phúc. Nhận thức rõ Thiên Chúa làm tất cả trong Đức Giêsu Phục Sinh, Phaolô đã miệt mài rao giảng tin mừng: “khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng”. Đức Giêsu Phục Sinh thật sự là tin mừng cho tất cả mọi người. Tin nhận Đức Giêsu Phục Sinh, là tin Thiên Chúa đang hoạt động và yêu thương con người vô cùng, là có thể phó thác trọn vẹn đời mình trong tay Thiên Chúa tình yêu, là có thể sống an bình hạnh phúc.
Tâm tình của Kitô hữu, là tạ ơn Thiên Chúa đã cho được nhận biết Đức Giêsu Phục Sinh. Tín hữu nhìn lên Đức Giêsu để dõi bước theo Ngài. Ngài đã sống thế nào, Kitô hữu được mời gọi để sống như vậy. Trong mùa chay, Kitô hữu được mời gọi để sám hối. Sám hối, là nhận biết chính mình cách thật sự, là nhận biết mình có lỗi lầm và mong ước quay về với Thiên Chúa, làm hòa với anh chị em mình. Sám hối đòi người ta phải có cái nhìn mới về Thiên Chúa, về tha nhân, về chính mình và về sự vật. Thật không dễ để thay đổi chính mình, thay đổi cái nhìn của mình, quan điểm và chọn lựa của mình; nhưng Thiên Chúa là Đấng có thể làm mọi sự. Không gì mà Thiên Chúa không làm được. Ngài đã giúp những kinh sư và biệt phái muốn ném đá chị phụ nữ ngoại tình được nhận biết họ cũng là tội nhân, để họ thay đổi không còn kết án chị phụ nữ nữa. Thiên Chúa đã làm mới những người đến với Đức Giêsu, kể cả chị phụ nữ ngoại tình lẫn những kinh sư và biệt phái.
Câu hỏi gợi ý chia sẻ
1. Niềm tin vào Đức Giêsu làm Kitô hữu có cái nhìn mới về tất cả. Bạn có đồng ý không? Tại sao?
2. Mùa chay này, bạn có biết hơn về con người của bạn không? Xin chia sẻ nếu được.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây