Suy Nệm Tin Mừng Lễ Giáng Sinh ABC Bài 251-300 Đấng Cứu thế đã si

Thứ ba - 19/12/2017 10:17
Suy Nệm Tin Mừng Lễ Giáng Sinh ABC Bài 251-300 Đấng Cứu thế đã sinh ra cho chúng ta
Suy Nệm Tin Mừng Lễ Giáng Sinh ABC Bài 251-300 Đấng Cứu thế đã sinh ra cho chúng ta
Suy Nệm Tin Mừng Lễ Giáng Sinh ABC Bài 251-300 Đấng Cứu thế đã sinh ra cho chúng ta
----------------
GS-251: BÌNH AN.. 2
GS-252: Lễ Giáng Sinh – Lễ Rạng Đông. 4
GS-253: NGÔI LỜI ĐÃ LÀM NGƯỜI 8
GS-254: NGÔI LỜI LÀM NGƯỜI 9
GS-255: NHỮNG BÀI HỌC CỦA MẦU NHIỆM GIÁNG SINH.. 12
GS-256: ĐẶT NẰM TRONG MÁNG CỎ.. 14
GS-257: Giáng Sinh – Lễ Nửa Đêm.. 16
GS-258: THÁNH LỄ BAN NGÀY.. 18
GS-259: Lễ Giáng Sinh, Lễ Ban Ngày. 19
GS-260: LỄ CHÚA GIÁNG SINH NĂM 2000. 21
GS-261: HÃY QUA BÊLEM MÀ XEM... 22
GS-262: Bệnh Giêsu. 26
GS-263: Ngôi Lời đã trở nên người phàm - Ga 1,1-8. 27
GS-264: CHÚA ĐÃ SINH RA.. 29
GS-265: NGÔI LỜI ĐÃ LÀM NGƯỜI 31
GS-266: ÁNH SÁNG ĐỨC KITÔ.. 33
GS-267: Lên Đường. 38
GS-268: Lễ Giáng Sinh, năm A.. 40
GS-269: CHÚA SINH RA : MỘT SỰ KỲ DIỆU.. 42
GS-270: TIN VUI GIỮA GIỜ TUYỆT VỌNG.. 44
GS-271: HÀI NHI GIÊSU, HÃY CUNG KÍNH CHIÊM NGẮM NGƯỜI 46
GS-272: Lễ Giáng Sinh. 48
GS-273: ĐÊM BÌNH AN.. 51
GS-274: Những nghịch lý trong biến cố Giáng Sinh. 54
GS-275: GIÁNG SINH – LỄ NỬA ĐÊM... 59
GS-276: LỄ NỬA ĐÊM... 62
GS-277: GIÁNG SINH 2001. 64
GS-278: LỄ GIÁNG SINH 2001. 65
GS-279: Một hài nhi đã sinh ra cho chúng ta. 67
GS-280: Hòa mình chung sống. 71
GS-281: Cây Thập giá trong mầu nhiệm Giáng Sinh. 72
GS-282: Giáng Sinh và niềm vui an bình. 76
GS-283: MỘT HÀI NHI MỚI SINH.. 79
GS-284: CON CHÚA LÀM NGƯỜI 81
GS-285: Lời đã hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta. 82
GS-286: Thiên Chúa ở cùng chúng ta. 87
GS-287: Đêm Ánh Sáng ĐGM Ngô Quang Kiệt 88
GS-288: MẶC KHẢI VÀ MẦU NHIỆM GIÁNG SINH.. 90
GS-289: CỦA TRỜI ĐẤT, CỦA MUÔN NGÀN Ý NHỊ…... 92
GS-290: ĐÔI DÒNG SUY TƯ.. 96
GS-291: ÁNH SÁNG BỊ ĐÁNH CẮP. 99
GS-292: THIÊN CHÚA GIÁNG SINH TRONG MỘT GIA ĐÌNH.. 100
GS-293: Con người - Lc 2,1-20. 103
GS-294: Vì Ngài Ở Với Chúng Ta  - Lc 2,1-14. 104
GS-295: NƠI CON TRẺ ĐANG NẰM TRONG HANG BÒ LỪA.. 105
GS-296: Lễ Giáng Sinh. 109
GS-297: Chúa giáng trần (Ga 1, 1-18) 115
GS-298: Suy niệm của Lm. Trương Đình Hiền. 117
GS-299: Bài giảng của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II 123
GS-300: Emmanuel, Thiên Chúa Ở Cùng Chúng Ta". 125

----------
 

GS-251: BÌNH AN


Thánh Lễ Đêm Giáng Sinh

Is 9:1-6
Lc 2:1-14
Tt 2:11-14

 

Niềm vui trào dâng trong những tâm hồn đang mong đợi Chúa.   Chúa đã đến để mọi người thấy: GS-251


Niềm vui trào dâng trong những tâm hồn đang mong đợi Chúa.   Chúa đã đến để mọi người thấy thế giới vẫn còn chan chứa niềm hi vọng.   Tình yêu và hòa bình là những giấc mơ có thể thực hiện được.   Con người có thể thắng lướt mọi trở lực, vượt qua mọi nỗi sợ để vươn mình thành con người tự do trong một miền đất chan hòa ánh sáng.

CHÚA GIÁNG SINH.

Đức Giêsu đã gặp những khó khăn rất lớn lao ngay từ giây phút đầu đời.  Quyền lực và tiền bạc đã trở thành sức mạnh khủng khiếp muốn đè bẹp thân phận Người.   “Thời ấy, hoàng đế Augustô ra chiếu chỉ, truyền kiểm tra dân số trong khắp cả thiên hạ.” (Lc 2:1)   Mọi người phải phục lệnh hoàng đế.   Bởi vậy, “ông Giuse cũng từ thành Nazareth, miền Galilê, lên thành vua Đavid, gọi là Bêlem, miền Giuđê” để “khai tên cùng với bà Maria là người đã thành hôn với ông, lúc ấy bà đang có thai.” (Lc 2:4,5)  Cuộc hành trình  dài 70 dặm đó không dễ dàng tí nào đối với “bà Maria đã tới ngày mãn nguyệt khai hoa.” (Lc 2:6)  Nhưng lệnh hoàng đế ai dám chống cưỡng ?!

Quyền lực chính trị chi phối kinh khủng.   Nhưng mãnh lực đồng tiền cũng không kém.  Tới giai đoạn cuối cùng đầy nguy hiểm nhất cho cả mẹ lẫn con, “hai ông bà không tìm được chỗ trong nhà trọ.” (Lc 2:7)   Lúc đó, tâm trạng hai ông bà như thế nào ?   Giuse có hối hận vì đã trót nghe lời thiên thần khuyên ông nhận Maria làm vợ không ?   Chẳng phải là tác giả bào thai, nhưng lại phải mang hết trách nhiệm !   Nếu không có đức tin, chắc chắn ông Giuse đã thất vọng tràn trề. 

Nhưng hỏi có ai mạnh tin bằng thánh Giuse ?   Giữa cơn gian truân cùng cực đó, ông vẫn bám chặt vào lời Thiên Chúa hứa: “Này ông Giuse, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần.   Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ.” (Mt 1:20-21) Lời Chúa đã trở thành sức mạnh cho ông lướt thắng mọi thử thách.   Trong lịch sử dân Chúa rất nhiều người công chính đã được Thiên Chúa trấn an.  Chẳng hạn, ông Giacaria được sứ thần an ủi : “Này ông Giacaria, đừng sợ.” (Lc 1:13)    Chính Đức Maria cũng cảm thấy an tâm khi nghe sứ thần nói : “Thưa bà Maria, xin đừng sợ.” (Lc 1:30)   Rõ ràng người công chính luôn tràn ngập bình an trong tâm hồn.   Không một thế lực bên ngoài nào có thể đụng tới tâm của họ.

Đức Giêsu cũng vượt lên trên nỗi sợ thường tình của con người.   Tâm hồn Người tràn ngập bình an ngay cả khi gặp thử thách.   Chẳng hạn, trước khi Đức Giêsu bắt đầu cuộc đời công khai, ông Gioan Tẩy Giả đã minh chứng : “Tôi đã thấy Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống và ngự trên Người.” (Ga 1:32)   Chính Thần Khí giúp Người vượt qua thách đố đầu đời.  Thực vậy, trước khi bắt đầu cuộc đời công khai, “Đức Giêsu được Thần Khí dẫn vào hoang địa, để chịu quỷ cám dỗ.” (Mt 4:1)   Chính Thần Khí bảo đảm sự bình an trong tâm hồn Đức Giêsu, khiến quỷ dữ không thể lay chuyển được Người.   Chính Thánh Linh đã làm cho thánh Giuse và Đức Maria thắng được bạo lực và sức mạnh của đồng tiền.   Người dẫn dắt người công chính thoát ngàn nỗi gian truân.

Nét công chính cũng tìm thấy nơi các người chăn chiên.   Bởi vậy, họ cũng được Chúa mạc khải cho thấy sức mạnh bảo đảm cho con người thoát khỏi mọi hiểm nguy trên đời.   Đang chăn chiên ngoài đồng, “bỗng sứ thần Chúa đứng bên họ, và vinh quang của Chúa chiếu tỏa chung quanh, khiến họ sợ hãi kinh hoàng.  Nhưng sứ thần bảo họ : ‘Anh em đừng sợ.’” (Lc 2: 10)   Họ lấy lại được bình tĩnh rất nhanh vì nguồn bình an đã giáng sinh: “Này tôi loan  báo cho anh em một Tin Mừng trọng đại, cũng sẽ là niềm vui cho toàn dân : Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đavid, Người là Đấng Kitô, là Đức Chúa.” (Lc 2:10,11)  Người đến giải thoát người nghèo khổ khỏi mọi nỗi lo sợ và đạt tới nguồn bình an bất tận.

BÌNH AN CHO NGƯỜI CÔNG CHÍNH

Nguồn bình an ấy không phải là cái gì xa lạ.   Trái lại dấu rất quen thuộc với cảnh đời nghèo hèn. Thật vậy, “cứ dấu này mà nhận ra Người : anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ.” (Lc 2:12)  Dấu chỉ sao tầm thường quá vậy.   Dấu chỉ kiếm đâu chẳng thấy !   Cái tầm thường vẫn giấu ẩn một nét không tầm thường.   Chỉ có những ai tràn ngập ánh sáng Thánh Linh mới đọc ra dấu chỉ đó.  Lời sứ thần không xa rời thực tế nghèo khổ, không mạc khải một chân lý xa vời.  Tin vào lời một sứ thần, các người chăn chiên lần bước đến với Chúa Hài Nhi.  “Bỗng có đạo binh thiên quốc đông đảo hợp với sứ thần cất tiếng ca tụng Thiên Chúa rằng :Vinh danh Thiên Chúa trên trời, Bình an dưới thế cho loài người Chúa thương.” (Lc 2:13-14)

Đấng làm cho Thiên Chúa được vinh danh trước các triều thần Thiên Quốc, nay đã trở thành nguồn bình an cho con người, đối tượng của tình yêu Thiên Chúa.   Phải có cả một đạo binh thiên thần mới hát vang cả góc trời sự thật lớn lao đó.   Trong khi đó lời trấn an chỉ cần một ngôn sứ nói lên.   Những người nghèo như thánh Giuse, Đức Maria và các người chăn chiên đã đi từ tình trạng không còn sợ hãi đến nguồn bình an vô cùng lớn lao, nguồn bình an đem lại sự hòa hợp đất trời và nối kết con người với nhau.   Sợ hãi đẩy con người tới chỗ rối loạn, kinh hoàng.   Bình an đem lại sức sống mới và trật tự mới.

Bình an đó hôm nay vẫn chưa tìm thấy ngay trên miền đất chôn nhau cắt rốn của Chúa.    Con người vẫn sống trong hồi hộp, lo âu, kinh hoàng, chỉ vì họ chưa nhận ra nhau là anh em, đã được mời gọi để hưởng nguồn bình an và trở nên con Thiên Chúa  !   Họ còn cậy dựa vào tiền bạc, khí giới, quyền lực để giải quyết vấn đề hòa bình.     Chỉ người công chính mới tìm được giải pháp cuối cùng cho vấn đề.  Dù lâm vào cảnh loạn lạc, chết chóc, họ vẫn luôn nghe  tiếng trấn an của thiên sứ : “Đừng sợ !” bởi vì nguồn bình an đã giáng sinh trong lòng họ.

Trong cuộc đời thường, chúng ta cũng có những nỗi sợ vu vơ.   Sợ mất mặt nếu phải làm hòa với kẻ thù ghét mình.   Sợ mất tiền bạc, thời giờ nếu phải hi sinh cho Giáo Hội hay công cuộc truyền giáo.  Sợ bị làm phiền nếu phải ra tay giúp đỡ người nghèo khổ, bệnh tật, già nua.   Nhưng nếu được “vinh quang của Chúa chiếu tỏa chung quanh” (Lc 2:9) hay tận tâm hồn, chắc chắn chúng ta sẽ thấy được nguồn bình an đang biến đổi mọi sự từ bên trong.   Người đến nói với chúng ta “đừng sợ !” và “hãy sống bình an !”

Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, OP


 

GS-252: Lễ Giáng Sinh – Lễ Rạng Đông


(Lu-ca 2: 15-20)

 

Thánh lễ Nửa Đêm cho ta chiêm ngưỡng khung cảnh Thiên Chúa đến với con người trong lịch: GS-252


          Thánh lễ Nửa Đêm cho ta chiêm ngưỡng khung cảnh Thiên Chúa đến với con người trong lịch sử nhân loại và ý nghĩa cứu độ của biến cố ấy.  Còn bài Tin Mừng của Thánh lễ Rạng Đông mang tính cách suy niệm, trình bày những người đầu tiên được chứng kiến Thiên Chúa làm người và phản ứng của họ trước tình yêu cứu độ của Thiên Chúa.  Mẹ Ma-ri-a, thánh Giu-se và các người chăn chiên đại diện cho lớp người nghèo khó của nhân loại đã có những tâm tình nào khi đứng trước Tình Yêu nhập thể của Thiên Chúa?  Những việc làm của họ không những phản ảnh những tâm tình cá nhân, mà còn trở nên những mẫu gương giúp ta biết phải làm sao đáp lại tình yêu cứu độ của Thiên Chúa.
 
  Hành trình đức tin tới Bê-lem

          Từ cánh đồng chăn chiên tới Bê-lem khoảng cách không bao xa, chỉ vài ba cây số.  Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là hành trình ấy dễ dàng.  Làm sao dám bỏ cả đàn chiên lại một mình?  Hơn nữa giữa đêm đông lạnh lẽo và tối tăm, đi lại thật ngại ngùng.  Những người chăn chiên ở Do-thái ngày xưa không được liệt vào số những người tốt.  Họ thường bị khinh dể vì nghề nghiệp, bị nghi oan là hay cái thói trộm cắp.  Do đó, đối với họ “sang Bê-lem để xem sự việc đã xảy ra, như Chúa đã tỏ cho biết” không phải là việc đơn giản.  Điều sứ thần báo cho họ là một điều khó tin được.  Đấng Cứu Độ là Đấng Ki-tô, là Đức Chúa mà lại là một trẻ sơ sinh bọc tã và nằm trong máng cỏ!  Nhưng đó là dấu hiệu sứ thần đã nói cho họ biết.  Dấu hiệu là cái giúp ta nhận ra một thực tại khác, thí dụ vương miện là dấu hiệu của hoàng đế.  Nhưng ở đây, một trẻ sơ sinh nghèo nàn nằm trong máng cỏ bò lừa thì làm sao có thể là dấu hiệu của Đấng Cứu Độ, Đấng Ki-tô, Đức Chúa được!

Đức tin luôn đòi hỏi một thái độ liều lĩnh trong sự khiêm tốn chấp nhận thế giá của người khác.  Điều các thiên sứ loan báo không thể tin được.  Nhưng họ có đủ sự khiêm tốn để nhìn nhận quyền năng và tình thương của Chúa, nên họ xác tín điều sứ thần loan báo là điều chính “Chúa đã tỏ cho họ biết”.  Như thế, từ lúc các thiên sứ nói với họ cho tới lúc rời họ, họ đã có một “bước nhảy vọt của đức tin”, liều lĩnh đi tới quyết định:  “Nào ta sang Bê-lem, để xem sự việc đã xảy ra, như Chúa đã tỏ cho ta biết”.

Tiếp theo quyết định là thái độ vội vã của họ.  “Họ liền hối hả ra đi”.  Chắc ta còn nhớ thái độ ấy của Mẹ Ma-ri-a sau khi sứ thần truyền tin cho Mẹ đã được thánh sử Lu-ca ghi lại:  “Bà Ma-ri-a lên đường, vội vã đi đến miền núi” (Lc 1:39).  Động lực của vội vã hối hả đều do lòng tin, hay nói khác đi, lòng tin đã khiến cho Mẹ Ma-ri-a và các người chăn chiên nhận thấy không thể trì hoãn, nhưng cần phải mau chóng đáp trả.

Cuối cùng họ đã đến Bê-lem và gặp được những gì sứ thần đã báo tin.  Thánh Lu-ca không ghi lại chút nào về cuộc gặp gỡ ấy.  Có lẽ ngài muốn tôn trọng những riêng tư của mỗi nhân vật đang chăm chú hướng nhìn vào “Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ”.

  “Đến nơi, họ gặp bà Ma-ri-a, ông Giu-se, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ”

          Tột đỉnh hành trình đức tin của những người chăn chiên là ở đây.  Ta thắc mắc không biết Bà Ma-ri-a và ông Giu-se đang chăm sóc cho Hài Nhi hay đang đắm mình trong suy tư và chiêm ngưỡng Hài Nhi?  Chắc là các ngài đang chiêm ngưỡng Hài Nhi, vì Hài Nhi đã được đặt nằm trong máng cỏ rồi.  Tuy nhiên điều ấy không quan trọng.  Ta nên hiểu dụng ý của thánh Lu-ca khi ngài lập lại hai lần “hài nhi đặt nằm trong máng cỏ” (Lc 2:12 và 16).  Hình ảnh trẻ sơ sinh nằm trong máng cỏ chiên bò không phải là một hình ảnh lý tưởng.  Nhưng thánh sử muốn ghi lại một biểu tượng vô cùng ý nghĩa.  Máng cỏ là chỗ chứa đựng nguồn sống và lẽ sống của chiên bò thế nào, thì cũng là nơi đặt nằm Chúa Giê-su Hài Đồng, nguồn sống mới của nhân loại như vậy.  Hiểu được ý nghĩa biểu tượng ấy, ta sẽ không còn ngạc nhiên khi nghe Chúa Giê-su qua bài diễn từ của Người về bánh trường sinh trong hội đường Ca-phác-na-um:  “Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy” (Ga 6:57).

          Trong những giờ phút chiêm niệm này, cùng với Mẹ Ma-ri-a và thánh Giu-se, các người chăn chiên đang nhớ lại từng lời của sứ thần:  “Anh em đừng sợ.  Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân:  Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa-vít, Người là Đấng Ki-tô Đức Chúa.  Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người:  anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ”.  Bao nhiêu câu hỏi có thể đặt ra, nhưng giờ phút này không phải là lúc trả lời bằng trí óc, mà bằng những đầu gối quỳ phục bên Hài Nhi, để họ hoàn toàn sống sự hiện diện của Đấng Cứu Thế và sự hiện diện của chính họ.

  “Họ liền kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này”

          Từ chiêm niệm đi tới hành động, đó là con đường của đức tin.  Đức tin được biểu lộ qua hành động.  Các người chăn chiên hành động bằng cách kể lại câu truyện Hài Nhi Giê-su cho những người họ gặp tại miền đất Do-thái.  Cũng như ngày nay ta nói trong Đại Hội Truyền giáo tại châu Á:  chúng ta kể lại câu truyện Chúa Giê-su cho người dân châu Á.  Đó là cách rao giảng Tin Mừng, ngày xưa hay hôm nay thì cũng theo cùng một phương thức kể truyện.  Dĩ nhiên không chỉ kể bằng lời, nhưng quan trọng hơn bằng cuộc sống hằng ngày.

          Các người chăn chiên tiếp tục hành trình đức tin của họ.  Họ “ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa”.  Những nẻo đường họ đi qua, dù chỉ là nẻo đường quen thuộc trở về với bổn phận coi sóc đàn chiên, cũng sẽ là những nẻo đường để họ sống và biểu lộ lòng tin vào ơn cứu độ Thiên Chúa đã ban cho họ.

  Suy nghĩ và cầu nguyện

          Nhìn ngắm hang đá được trang hoàng tại nhà thờ hay tại nhà, tôi có chú tâm vào “Hài Nhi nằm trong máng cỏ” hay chỉ thấy hoa đèn rực rỡ?  Tôi có được dăm ba phút để suy niệm về những danh hiệu của Hài Nhi và ý nghĩa biểu tượng của máng cỏ không?

          Tôi sẽ kể câu truyện Chúa Giê-su cho những người tôi gặp, trong gia đình, nơi sở làm... như thế nào?

Cầu nguyện

          “Giữa giá rét của mùa đông,
          xin cho con gặp Chúa.
          Giữa những long đong
          và bấp bênh của phận người,
          xin cho con gần Chúa.
          Giữa cảnh nghèo khó và trơ trụi,
          xin cho con thấy Chúa đi với con và hiểu con.
          Lạy Chúa Giê-su bé thơ nằm trong máng cỏ,
          xin cho con cảm được sự bình an của Chúa,
          ngay giữa những âu lo hằng ngày.
          Xin cho con đón lấy cuộc đời con
          với bao điều không như ý.
          Và cuối cùng,
          xin cho con dám sống như Chúa
          vì Chúa đã dám sống như con”.
                             (Trích RABBOUNI, lời nguyện 59)

Lm. Đaminh Trần đình Nhi


 

GS-253: NGÔI LỜI ĐÃ LÀM NGƯỜI


LỄ GIÁNG SINH 2006

THÁNH LỄ BAN NGÀY

Ga 1, 1-18

 

Thánh lễ sáng nay không còn mầu sắc của sự nhộn nhịp ban đêm với muôn ánh đèn lấp lánh,: GS-253


Thánh lễ sáng nay không còn mầu sắc của sự nhộn nhịp ban đêm với muôn ánh đèn lấp lánh, với muôn tiếng ca của các thiên thần:” Vinh danh Thiên Chúa trên trời . Bình an dưới thế cho người thiện tâm”. Phụng vụ lễ giáng sinh ban ngày mời gọi con người đi sâu hơn vào mầu nhiệm Chúa làm người hơn là sự kiện Chúa sinh ra.

NGÔI LỜI ĐÃ LÀM NGƯỜI : Dõi theo chân các mục đồng, người Kitô hữu ở muôn thời đều nhận ra sự kiện giáng sinh :” Một Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ “ ( Lc 2, 16 ). Đây là câu chuyện về đêm giáng sinh, đêm Con Thiên Chúa đản sinh, đêm các mục đồng hối hả đi tìm Hài Nhi Giêsu khi nghe thiên thần báo tin:” Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân: Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đavít, Người là Đấng Kitô Đức Chúa”( Lc 2, 10-11 ). Đức Giêsu Kitô là quà tặng Thiên Chúa trao ban cho loài người, cho thế g iới :” Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời “ ( Ga 3, 16 ). Hài Nhi Giêsu là món quà cao quí tuyệt vời Thiên Chúa tặng ban cho nhân loại. Giêsu Kitô là hiện thân đích thực của Thiên Chúa tình yêu. Hài Đồng Giêsu là cõi lòng vô biên đầy trìu mến Thiên Chúa dành riêng cho con người. Thiên Chúa đã không chỉ hài lòng với vạn vật, vũ trụ bao la với muôn điều kỳ thú, diệu kỳ Ngài trao ban nhưng không cho nhân loại, cho con người, nhưng Thiên Chúa muốn sai Con của Người đến cư ngụ giữa loài người để sống với, sống vì, sống cho con người ngoại trừ tội lỗi :” Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta. Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật “ ( Ga 1, 14 ).

MẦU NHIỆM GIÁNG SINH : Thánh Gioan mở đầu Tin Mừng của Ngài với cụm từ” Lúc khởi đầu “, điều này làm cho chúng ta liên tưởng tới sách Khởi Nguyên:Những trang đầu của sách này nói về việc sáng tạo của Thiên Chúa Giavê. Thiên Chúa đã tạo dựng vũ trụ, vạn vật, con người và lịch sử. Thánh Gioan khi nói về “ lúc khởi đầu “ cho Tin Mừng của Ngài, Ngài muốn nói tới một tạo thành mới, một lịch sử mới do Con Thiên Chúa khởi đầu. Ngài làm cho lịch sử cũ và tạo thành cũ trở nên mới mẻ. Thánh Gioan thường nhắc tới ánh sáng, sung mãn, vinh quang, chân lý.  Mầu nhiệm giáng sinh là Con Thiên Chúa đã trở nên Người-Chúa-Thật và cư ngụ giữa con người, giữa loài người với tất cả sự mới mẻ của tạo thành mới, lịch sử mới, sự sống mới :” Không ai đã thấy Thiên Chúa bao giờ; nhưng Con Một là Thiên Chúa và là Đấng ở nơi cung lòng Chúa Cha, chính Người đã tỏ cho chúng ta biết” ( Ga 1, 18 ).

NOI THEO GIÊSU HÀI ĐỒNG : Trong mầu nhiệm giáng sinh, chúng ta đã nhìn thấy mầu nhiệm tình yêu của Con Thiên Chúa làm người. Tình yêu của Chúa Giêsu là tình yêu tự hiến, tình yêu từ bỏ và hy sinh. Tình yêu của Ngài là tình yêu phục vụ: “ đến để phục vụ chứ không phải để được phục vụ “. Tình yêu của Ngài là tình yêu thập giá “ Khi nào Ta được đưa lên khỏi mặt đất, Ta sẽ kéo mọi người lên cùng Ta “. “ Không có tình yêu nào cao vời bằng tì nh yêu của người hiến mạng sống vì người mình yêu” ( Ga 15, 13 ).

Chiêm ngắm Hài Nhi Giêsu nơi hang đá máng cỏ là ta hiến dâng cho Ngài những nghĩa cử yêu thương của ta. “ Người phải lớn lên còn tôi phải nhỏ lại “, thánh Gioan Tẩy Giả đã thốt lên điều đó. Nhỏ lại trong những yếu hèn, đẩy lùi tội lỗi, tính ích kỷ, tham lam, ganh ghét để Chúa  lớn lên trong con người chúng ta.

Noi gương Giêsu Hài Đồng, chúng ta chỉ có thể sống đích thực làm con của Ngài khi chúng ta sống trọn vẹn những nghĩa cử yêu thương, bác ái của chúng ta.

Sống cho tha nhân là chúng ta đã để cho mầu nhiệm giáng sinh lớn lên trong trái tim của chúng ta. Lạy Hài Đồng Giêsu, xin giúp chúng con biết trao ban như Chúa đã trao ban. Amen.

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
ngày 7-9-2006


 

GS-254: NGÔI LỜI LÀM NGƯỜI


Thánh Lễ Giáng Sinh Ban Ngày

Is 52:7-10
Ga 1:1-18
Dt 1:1-6

 

Hòa bình vẫn chưa đến. Tự do còn xa tầm tay. Thiên Chúa làm người đã chia sẻ tất cả khổ: GS-254


Hòa bình vẫn chưa đến. Tự do còn xa tầm tay. Thiên Chúa làm người đã chia sẻ tất cả khổ đau đó của nhân loại. Nhưng qua đó, Người cũng muốn mạc khải một con đường ngắn nhất đi đến hòa bình và tự do : làm Con Thiên Chúa.

MẠC KHẢI VĨ ĐẠI

Tin Mừng Gioan đã làm một cuộc cách mạng vĩ đại khi lật ngược tất cả cái nhìn Cựu Ước. Trong khi Sáng Thế Ký quả quyết Thiên Chúa tạo dựng vạn vật từ hư vô và con người từ bụi đất (St 1-2), Tin Mừng Gioan mạc khải : “Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành” (Ga 1:3). Nghĩa là, con người và vạn vật được tạo dựng từ tình yêu Thiên Chúa. Cái nhìn Gioan thật sâu sắc. Sáng Thế Ký chỉ nhìn hời hợt bên ngoài, chứ không đi sâu vào tận nền tảng cấu tạo nên vạn vật. Tột đỉnh và nền tảng cuộc tạo thành chính là Ngôi Lời. Thật vậy, “không có Người, thì chẳng có gì được tạo thành” (Ga 1:3).  Người chiếm một địa vị then chốt, không thể thay thế nổi vì “điều đã được tạo thành ở nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại” (Ga 1: 4). Tất cả đều lệ thuộc vào Người.

Người xuống trần thế như đi vào nhà mình. Nhưng thật là bi đát :  “ Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận” (Ga 1:11). Chính cái bi đát này đã gây nên bi kịch cho đời Người.   “Người ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Người mà có, nhưng lại không nhận biết Người” (Ga 1:10). Càng không nhận biết Người, thế gian càng rơi vào tăm tối, vì “Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người” (Ga 1:9).  Không ai có thể than trách vì ánh sáng Người đã không chiếu tới. Chỉ vì không đón nhận ánh sáng, nên thảm kịch mới xảy ra khắp nơi.

Trái lại, “những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa” (Ga 1:12). Họ được cứu khỏi tăm tối và đưa vào miền ánh sáng nhờ “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1:14). Người đã dùng tất cả “vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người” (Ga 1:14), để biến con người thành con Thiên Chúa. Nhờ đó, “tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác” (Ga 1:16). Ơn trước tiên là chúng ta được đón nhận vào gia đình Thiên Chúa. Nơi đây, chúng ta được hạnh phúc tôn nhận Thiên Chúa là Cha. Khi được gia nhập gia đình Thiên Chúa, chúng ta được hoàn toàn giải thoát khỏi bến mê tăm tối và xích xiềng nô lệ, vì tất cả sức mạnh chúng ta là “Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật” (Ga 1:14).

TỰ DO LÀM CON CHÚA

Làm con Thiên Chúa, chúng ta sẽ hoàn toàn tự do.  Chúng ta sẽ tìm lại được bản chất con người đích thực. Tất cả chúng ta đều là anh em, vì cùng thuộc về gia đình Thiên Chúa. Trong nhà Chúa, chúng ta sẽ thừa hưởng tất cả hồng ân Thiên Chúa đã hứa và thực hiện nơi công cuộc cứu độ của Đức Giêsu Kitô. Bình an sẽ tràn ngập cõi lòng và cuộc đời chúng ta vì “trước mặt muôn dân, Đức Chúa đã vung cánh tay thần thánh của Người : ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta” (Is 52:10) . Không một sức mạnh nào đè bẹp nổi, vì ngay giữa những gian truân cùng cực, chúng ta luôn có “Đức Chúa an ủi dân Người” (Is 52:9).

Từ nhà Chúa, muôn sứ giả Tin Mừng ra đi loan báo ơn cứu độ cho muôn dân. Họ là những người tình nguyện đáp lại tiếng mời gọi của Thiên Chúa.  Họ có thể là những người đang hi sinh trong những công tác Hội đồng Mục vụ, Tài chánh, đoàn thể, ca đoàn v.v.   Họ là những tu sĩ đang cúi xuống xoa dịu vết thương đau của những người nghèo khổ tật nguyền. Họ là các vị thừa sai đang băng mình trên những miền đồi núi, rừng thiêng nước độc để gieo vãi Tin Mừng cho muôn dân. Họ có thể là các giáo sư hay các nhà giảng thuyết đang miệt mài ngày tháng trong các phòng ốc hay các giảng đường để tìm mọi cách loan truyền Tin Mừng Nước Chúa. Họ là những bạn trẻ đang hăng say dấn thân vào những công tác xã hội hay bác ái. Tất cả đều là những chiến sĩ can trường xông pha vào trận chiến chống lại bất công, áp bức, nghèo đói, bệnh tật. Mục tiêu lớn nhất đời họ là xây dựng hạnh phúc và tự do đích thực cho đồng loại.

Thế giới hôm nay đang cần những người xây dựng một nền văn hóa sự sống, chống lại văn hóa sự chết.  Văn hóa sự chết đã tạo nên một thế giới đầy “các trẻ em bị bạo lực, làm nhục và bỏ rơi, người nữ bị hãm hiếp và bóc lột, những người trẻ, người lớn và người già bị loại trừ, hàng hàng lớp lớp nhưng người bị đi đày và tị nạn, bạo lực và xung đột tại nhiều nơi trên thế giới” (Gioan Phaolô II, VietCatholic 27/12/2000). Khủng khiếp hơn nữa, “ngày nay, mỗi ngày hằng trăm ngàn trẻ em ở Mỹ, ở Việt Nam, ở Trung quốc, ở Âu châu và các nơi khác bị các loại luật pháp mỵ dân xúm lại bóp cổ, đục bể óc, đâm chết trong cung lòng người mẹ ‘bao la như biển Thái Bình’” (Nguyễn Việt Nam 24/12/2000). Trước sức mạnh thần chết đó, những chiến sĩ văn hóa sự sống làm sao đương đầu ?

Nhưng cũng như Đức Giêsu, “ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng” (Ga 1:5), các chiến sĩ đó vẫn mạnh mẽ lên đường. Họ đang tạo nên bức tranh tuyệt vời như Isaia vẫn mơ ước : “Đẹp thay trên đồi núi bước chân người loan báo Tin Mừng, công bố bình an, người loan tin hạnh phúc, công bố ơn cứu độ” (Is 52:7). Họ ra đi vì niềm tin tuyệt đối vào sức mạnh ánh sáng. Đức Giáo Hoàng mạnh mẽ khẳng quyết : “Dù cho bóng tối có xuất hiện dầy đặc như thế nào đi nữa, niềm hi vọng chúng ta về sự chiến thắng của Aùnh sáng đã xuất hiện trong đêm thánh này tại Bêlem còn mạnh mẽ hơn” (VietCatholic 27/12/2000). Aùnh sáng đó đã trở thành niềm hi vọng cho một nhân loại đang khao khát tự do và hoà bình.

Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, OP


 

GS-255: NHỮNG BÀI HỌC CỦA MẦU NHIỆM GIÁNG SINH


LễĐêm Giáng Sinh

Đọc Luca 2, 1-14

 Linh mục Phêrô Trần Đình, Dalat

 “Ai hãy làm thinh, chớ nói nhiều” (Hàn mặc Tử).

 

Lễ Giáng Sinh dầu được diễn ra trong bầu khí vui tươi rộn rã nhưng, tự thân, mầu nhiệm ấy thật: GS-255


Lễ Giáng Sinh dầu được diễn ra trong bầu khí vui tươi rộn rã nhưng, tự thân, mầu nhiệm ấy thật thâm trầm. Muốn cảm nghiệm được phần nào ý nghĩa của nó, phải yên lặng mà suy nghĩ và sẽ thấy rằng mầu nhiệm này dạy chúng ta biết bao nhiêu bài học lớn lao.

 1. Giáng Sinh, mầu nhiệm tự huỷ của con Thiên Chúa.

 Chẳng phải ngẫu nhiên khi Thánh Luca đã viết những lời lẽ thật trang trọng sau đây :

“Này tôi loan báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng sẽ là Tin Mừng cho toàn dân : Hôm nay một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành Vua Đavít. Người là Đấng Kitô, là Đức  Chúa”.

 Và nếu cứ theo lẽ thường tình của lời loan báo ấy, chúng ta sẽ có hồi tiếp theo nơi một cung điện rực rỡ, ấm áp thơm tho, có kẻ hầu người hạ lăng xăng và Hài Nhi vừa được sinh ra sẽ được bao phủ bằng gấm vóc lụa là giữa tiếng chúc mừng của mọi người.

 Thế nhưng, việc Đức Giêsu sinh ra hoàn toàn khác với những gì con người có thể tưởng tượng. Hài Nhi Giêsu, Đấng mà thiên thần gọi là Đức Chúa, là tin mừng trọng đại, khi sinh ra đã được mẹ bọc trong tã và đặt nằm trong máng cỏ. Hang đá Giáng Sinh mọi thời, dầu được trang trí bằng những ánh đèn rực rỡ muôn mầu muôn sắc, vẫn muốn trình bày một Đức Giêsu sinh ra khó nghèo giữa các chiên lừa sưởi ấm.

 Đường lối của Thiên Chúa bao giờ cũng nhiệm lạ và ngược đời, đòi hỏi chúng ta phải yên lặng ngắm nhìn và suy tư.

 Ngày xưa, khi suy nghĩ về việc Giáng Sinh của Đức Giêsu, có người đã tự hỏi :”Tại sao Thiên Chúa lại làm người ?” (Cur Deus homo ?). Là bởi vì, để cứu chuộc nhân loại, Thiên Chúa có thể hành động bằng những cách thế oai phong lẫm liệt, tại sao Người lại chọn việc cứu chuộc nhân loại bằng cách thế khó hiểu khi chấp nhận sinh ra như một con người bé nhỏ và tầm thường như thế ?. Thưa là vì Thiên Chúa không muốn con người đi vào con đường của Adong và Evà ngày xưa, những con người kiêu ngạo và bất tuân đã kéo theosự chết của muôn người. Để cứu chuộc loài người, Thiên Chúa đã đi ngược chiều với nguyên tổ bằng sự hạ mình và vâng phục.

 Vâng, mầu nhiệm Giáng Sinh là mầu nhiệm của một Vị Thiên Chúa hạ mình đến tột cùng. Thánh Phaolô  đã nhận ra chân lý ấy : “Thiên Chúa vốn giàu sang đã trở nên nghèo, để vì sự nghèo khó ấy, Người làm cho con người được giàu sang” (2 C 8, 9).

Mầu nhiệm Giáng Sinh quả thật là mầu nhiệm của một Vị Thiên Chúa tự huỷ.

 2. Mầu nhiệm Giáng Sinh, mầu nhiệm của một Vị Thiên Chúa trở nên vừa tầm với mọi hạng người

 Nếu Chúa sinh ra trong một cung điện nguy nga, có người canh giữ cẩn mật thì ai dám đến với Chúa và như vậy Người chẳng phải là Chúa của mọi người. Chúa phải sinh ra thấp hèn để có thể gần gũi với mọi hạng người. Vì thế,  những chú mục đồng, hạng người bị xã hội khinh khi, cũng vui  mừng khôn xiết vì cảm nghiệm được rằng Người là Chúa của họ nữa.

 Chúa phải sinh ra thấp hèn như vậy để Người trở nên vừa tầm với mọi người, để Người hiểu được thế nào là đắng cay của kiếp sống làm người, những ưu tư trăn trở của mọi họ. Thơ gởi tín hữu Do thái đã nói : “Chúng ta có một vị thượng tế có khả năng cảm thông với mọi người”.

 3. Những dấu chỉ về Chúa hôm nay

 Con người mọi thời xem ra ưa chuộng những dấu chỉ giàu sang và quyền lực, còn dấu chỉ về Chúa mà các thiên thần mách cho các mục đồng là : “Một hài nhi sơ sinh mình quấn tã, đặt nằm trong máng cỏ”.

 Một dấu chỉ của sự bé nhỏ, khiêm nhường thẳm sâu : Đấng sinh ra mọi người lại đã được loài người sinh ra. Chúa đã biểu dương quyền năng qua sự yếu đuối. Thập giá sẽ là một dấu chỉ khác về sự yếu đưới bất lực và dấu chỉ ấy đã khởi sự từ hôm nay, nơi máng cỏ.

 Chính vì thế, người kitô hữu muốn sống đức tin phải nhìn thấy Chúa qua những ai bé nhỏ nghèo hèn. Có những Đức Giêsu đen đủi, bơ vơ tất tưởi, phiền muộn … mà ta vẫn gặp thấy mỗi ngày trên những nẻo đường ta đi. Nhờ Chúa sinh ra khó hèn mà ta biết yêu thương họ nữa.

 Mầu nhiệm Giáng Sinh, như vậy, đem chúng ta đi vào cuộc sống đời thường của con người, để những vui mừng và hi vọng, ưu sầu và lo lắng của họ cũng phải liên hệ đến chúng ta.


 

GS-256: ĐẶT NẰM TRONG MÁNG CỎ


Lễ Giáng Sinh C (Lễ Đêm)

Lc 2,1-14:  1 Thời ấy, hoàng đế Augustô ra chiếu chỉ, truyền kiểm tra dân số trong khắp cả thiên hạ. 2 Đây là cuộc kiểm tra đầu tiên, được thực hiện thời ông Quiriniô làm tổng trấn xứ Xyria. 3 Ai nấy đều phải về nguyên quán mà khai tên tuổi. 4 Bởi thế, ông Giuse từ thành Nadarét, miền Galilê lên thành vua Đavít tức là Bêlem, miền Giuđê, vì ông thuộc gia đình dòng tộc vua Đavít. 5 Ông lên đó khai tên cùng với người đã thành hôn với ông là bà Maria, lúc ấy đang có thai. 6 Khi hai người đang ở đó, thì bà Maria đã tới ngày mãn nguyệt khai hoa. 7 Bà sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ, vì không có chỗ cho hai ông bà trong phòng trọ.

 8 Trong vùng ấy, có những người chăn chiên sống ngoài đồng và thức đêm canh giữ đàn vật. 9 Bỗng sứ thần Chúa đứng bên họ, và vinh quang của Chúa chiếu toả chung quanh, khiến họ kinh khiếp hãi hùng. 10 Nhưng sứ thần bảo họ: “Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân: 11 Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đavít, Người là Đấng Kitô Đức Chúa. 12 Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người: anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ.” 13 Bỗng có muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa rằng: 14 “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương.”

 

Nằm trong tiết đoạn Tin mừng của thời Thơ ấu (1:5-2:52), đoạn 2:1-14 thuật lại câu chuyện: GS-256


Nằm trong tiết đoạn Tin mừng của thời Thơ ấu (1:5-2:52), đoạn 2:1-14 thuật lại câu chuyện giáng sinh của Chúa Giêsu. Câu chuyện nầy nối tiếp trình thuật truyền tin (1:26-56), trong đó nhấn mạnh đến thuộc về dòng dõi Đavít của Chúa Giêsu; trong khi ở đây, tính thiên sai của Người được nêu bật (2:11). Bố cục của đoạn có thể được phân chia như sau: - Bối cảnh lịch sử (2:1-5); - Cảnh giáng sinh (2:6-7); Cảnh các mục đồng (2:8-14). Đoạn 2:1-7 làm thành một bản văn thống nhất và chia làm hai phần rõ rệt dựa trên cụm từ “xảy ra vào” (egeneto de en) (2:1.6).

Trong phần nhập đề về bối cảnh lịch sử (2:1-5), có thể phân chia cách chi tiết như sau: - Dưới triều hoàng đế Augustô, lệnh kiểm tra dân số được cống bố (2:1-2); - Lệnh nầy được áp dụng cho mọi người (2:3); - Giuse và Maria nằm trong hoàn cảnh ấy (2:4-5). Kiểm tra dân số là lý do để đưa gia đình Giuse và Maria từ thành Nazaréth về thành Bêthlêhem, như mọi người phải về lại nguyên quán của mình để làm chuyện đó (2:1.2.3). Nazaréth là nơi cư ngụ, còn Bêthlêhem mới là nguyên quán của Giuse. Các ngài đã làm xong việc nầy như mọi người (2:5). “Đi lên đó” (2:4) thường chỉ “đi lên vùng Juđa”, nhất là đi lên Giêrusalem vì vùng ấy cao hơn vùng Galilêa (x. 2:42; 18:10.31; 19:28). Trong Cựu ước, Bêthlêhem không phải là thành của Đavít, mà thành Giêrusalem (x. 2 Sam 5:7, 9; 6:10.12.16; 2 V 9:28; 12:22). Nhưng Bêthlêhem là nguyên quán của Đavít (1 Sam 16; 17:12.58), là nơi sẽ phát sinh một thủ lãnh thuộc dòng dõi Đavít (Mic 5:2). Xét theo diễn tiến trình bày, Luca đi từ một không gian rộng lớn, rồi thu hẹp lại dần và cuối cùng tập trung vào “thành Đavít” (2:4): từ “toàn cõi” (2:1), đến “Galilêa”, rồi “Nazaréth” và “Giuđa” đến “Bêthlêhem” (2:4). Trong cách trình bày các nhân vật, Luca cũng làm như thế. Trung tâm điểm phải đến của trình thuật là “Hài Nhi được đặt nằm trong máng cỏ (2:7). Đây cũng là điểm hẹn và dấu chỉ mà các thiên sứ loan báo cho các mục đồng (2:11-12).

Trong đoạn về giáng sinh (2:6-7), Giuse và Maria đã đến nơi “ở đó”. Maria đã “đủ ngày”, nghĩa là đã đủ thời gian để sinh con (x. 1:57). Bà đã “sinh con trai đầu lòng của bà” (2:7a). Động từ “tiktô” (sinh con) rõ ràng chỉ sự sinh con tự nhiên (x. 1:31.57; 2:6.7.11). Trong các tin mừng, chỉ Luca dùng chữ “prôtotokos” (con đầu lòng) một lần và ở đây (2:7). Trong Cựu ước, chữ nầy chỉ “sản phẩm đầu tiên” bởi ruộng đồng hoặc súc vật (Xh 22:28tt; 34:19; Ds 18:15tt;  Đnl 15:19tt), đều phải được dâng cho Thiên Chúa. Trong Xh 4:22, Israel được gọi là “con đầu lòng của Ta”, chỉ tương quan mật thiết, yêu thương và tuyển chọn giữa Israel với Thiên Chúa. Vì thế, Israel nhận biết Thiên Chúa là Cha của họ. Một vị vua cũng được gọi là “con đầu lòng” của Thiên Chúa (x. Tv 89:27). Trong các sách khác của Tân ước, chữ nầy áp dụng duy nhất cho Chúa Giêsu Kitô (Col 1:15.18; Rôm 8:29; Do thái1:16; và Kh 1:5, ngoại trừ câu Do thái 12:23 chỉ những người Kitô hữu. Vậy, Chúa Giêsu được gọi là “con đầu lòng”, nên Người được hiến dâng cho Thiên Chúa (2:23), và Người có một tương quan đặt biệt với Chúa Cha: “con của Đấng Tối Cao”, và được Chúa Cha “đặt trên ngai vua Đavít” (1:23). Như thế, khái niệm “con đầu lòng” không được đặt tương quan thứ tự với anh chị em trong một gia đình, mà chỉ với Thiên Chúa.

 “Hài Nhi được quấn khăn và được đặt nằm trong máng cỏ” là tâm điểm của trình thuật nầy (2:12.16). Maria đã làm việc nầy cho Hài Nhi (2:7). Quấn khăn là hành vi của tình yêu và chăm sóc mà người mẹ làm cho người con mới sinh yếu ớt, không thể tự sống và lo lắng cho chính mình (x. Êzek 16:4; Khôn Ngoan 7:4). Máng cỏ (phatnç) theo nghĩa chung là nơi chứa thức ăn cho súc vật (2:7.12.16); có khi chỉ cái chuồng súc vật (13:15). “Katalyma” (2:7), từ động từ có nghĩa là “dừng lại, nghỉ ngơi và cư ngụ” (9:12; 19:7), chỉ một cách uyển chuyển bất cứ nơi nào có thể ngụ qua đêm. Trong Luca 22:11, hạn từ nầy chỉ “phòng dành cho khách” của một gia đình mà Chúa Giêsu mượn để cử hành lễ Vượt qua với các môn đệ của Người (22:11; Mt 14:14). Bên cạnh đó, Luca dùng một cách phân biệt hạn từ “pandocheion” để chỉ “quán trọ” theo nghĩa riêng của nó (10:34). Do đó,

điều có thể nói dựa trên bản văn là: - Maria đã đặt Hài Nhi trong máng cỏ và - hai ông bà không có chỗ trong phòng dành cho khách ngụ qua đêm, chứ không phải là quán trọ. Ở Palestina thời ấy, ở vùng quê chuồng súc vật được làm trong một cái hang bên trong một căn nhà: chỗ súc vật ăn và phòng ở kề cận nhau chung trong một phòng. Cũng có những chuồng súc vật thấp hơn phòng ở và nằm lộ thiên. Còn máng ăn thường bằng đá đẽo. “Hài Nhi được quấn khăn và đặt nằm trong máng cỏ” là dấu chỉ để nhận ra Đấng Cứu Thế. Người là Chúa Kitô (2:11). Dấu hiệu là một biểu hiện thấy được, như máng cỏ, hài nhi (2:12), biến động nơi mặt trời, mặt trăng và ngôi sao (x. 21:15; 23:8). Dấu hiệu còn mang khía cạnh khác là minh chứng Thiên Chúa đang hiện diện và hành động trong thế giới nầy (x. 11:30). Do đó, Hài Nhi trong máng cỏ là dấu hiệu vừa xác định đó là Đấng Cứu Thế cao cả, vừa cho thấy sự hạ mình của Người. Người là dấu hiệu duy nhất của sự cứu độ (x. 11:30).

 Sự cứu độ theo nghĩa thông thường cách nào đó gắn liền với một vị hoàng đế. Trong thời hoàng đế Augustô, Đấng Cứu Thế đã ra đời (2:11). Sự cứu độ đã đổi thay ý nghĩa, dân chúng phải được kiểm kê lại vì Chúa Kitô (Vua) đã sinh ra và mở đầu vương quốc của Người từ mãnh đất khiêm tốn rộng lớn bằng cái máng cỏ.

Luigi Gonzaga Đặng Quang Tiến


 

GS-257: Giáng Sinh – Lễ Nửa Đêm


Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Lu-ca 2:1-14)

 

Mặc dù thánh Lu-ca đặt biến cố Giáng Sinh trong cuộc kiểm tra dân số của hoàng đế Au-gút: GS-257


          Mặc dù thánh Lu-ca đặt biến cố Giáng Sinh trong cuộc kiểm tra dân số của hoàng đế Au-gút-tô, nhưng lời sứ thần Chúa loan báo Tin Mừng cho những người chăn chiên lại nói đến hiện tại:  “Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa-vít, Người là Đấng Ki-tô, là Đức Chúa”.  Thời gian và biến cố này, mỗi chi tiết của sứ điệp đều mang ý nghĩa đặc biệt, không chỉ với những người chăn chiên được sứ thần loan báo, nhưng với mọi người ở mọi thời và mọi nơi.

          Trước hết là biến cố giáng sinh của Đấng Cứu Độ, Người là Đấng Ki-tô, là Đức Chúa.  Thiên sứ đã nêu ra liên tiếp ba danh hiệu của Chúa Giê-su giáng sinh.  Ba danh hiệu ấy nói lên con người và sứ mệnh của Chúa Giê-su.

- Là Đấng Cứu Độ, Chúa Giê-su có sứ mệnh xóa bỏ tội lỗi nhân loại.  Người sẽ giải phóng con người khỏi ách nô lệ tội lỗi, biến đổi thân phận con người từ thù địch của Thiên Chúa trở thành con cái của Thiên Chúa.

-  Nhưng muốn thi hành và chu toàn sứ mệnh ấy, Chúa Giê-su phải đóng vai trò của Đấng Ki-tô hoặc là Đấng Mê-si-a, nghĩa là người Tôi trung của Thiên Chúa, sẵn sàng chấp nhận con đường khổ giá và cái chết để đền bù tội lỗi nhân loại.

-  Đức Chúa hay Chúa chúng ta là danh hiệu đi liền với thánh danh Giê-su Ki-tô, ám chỉ quyền chủ tể và vương đế của Chúa Giê-su là do Thiên Chúa ban, vì Người là nguyên lý quy về một mối để đưa muôn vật muôn loài về với Thiên Chúa.  “Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu… Và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: ‘Đức Giê-su Ki-tô là Chúa’” (Pl 2:9.11).

Như vậy, tin mừng do thiên sứ loan báo nhắc nhở chúng ta phải biết Đấng chúng ta mừng sinh nhật của Người là ai và có sứ mệnh gì.  Sứ mệnh thiêng liêng và cao cả của Người đòi hỏi chúng ta phải chuẩn bị tâm hồn sao cho thích hợp, chứ không phải là những chuẩn bị trang hoàng hào nhoáng bề ngoài.  Thiên sứ còn nói rõ:  Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em.  Có nghĩa là chúng ta cũng ở trong số những anh em đó, vì ơn cứu độ là ơn phổ quát.

Ngoài ra, trạng từ chỉ thời gian Hôm nay cho chúng ta thấy việc cứu độ luôn diễn tiến trong hiện tại, nơi mọi người muốn tiếp nhận ơn cứu độ ở đây và bây giờ.  Do đó, mừng Chúa Giáng Sinh không chỉ là nhớ về một kỷ niệm, nhưng là mở lòng đón nhận Chúa đến trong tâm hồn chúng ta và để Người biến đổi con người chúng ta mỗi ngày nên hoàn hảo hơn.

Sống sứ điệp Tin Mừng

          Thiên sứ đã loan báo Tin Mừng Chúa giáng sinh và cho các người chăn chiên một dấu hiệu để giúp họ nhận ra Hài Nhi Giê-su.  Dấu hiệu về Hài Nhi thật là đơn sơ, dễ nhận:  một trẻ sơ sinh bọc tã nằm trong máng cỏ.  Chắc chắn họ đã gặp được Chúa theo dấu hiệu ấy, vì sau đó “họ ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa”.

          Hình ảnh những người chăn chiên tìm đến Hài Nhi Giê-su cũng phải là hình ảnh chúng ta tìm gặp Chúa trong cuộc đời.  Chúa Giê-su lịch sử giáng sinh vào ban đêm.  Còn Chúa Giê-su Cứu Độ sẵn sàng “sinh ra” trong tâm hồn chúng ta bất cứ lúc nào chúng ta mở lòng đón tiếp Người, khi chúng ta cầu nguyện, khi chúng ta giúp đỡ người khác, khi chúng ta dự Thánh Lễ và rước Chúa vào lòng.  Gặp Chúa rồi, chúng ta còn phải “vừa đi (trong cuộc đời) vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa nữa”.

 Lm. Dominic TTL


 

GS-258: THÁNH LỄ BAN NGÀY


 BÀI ĐỌC I: Is 52, 7-10
"Khắp cùng bờ cõi trái đất sẽ nhìn thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta"

 BÀI ĐỌC II: Dt 1, 1-6
"Chúa đã phán dạy chúng ta qua người Con"

 PHÚC ÂM: Ga 1, 1-18
"Ngôi Lời đã hóa thành nhục thể, và Người đã cư ngụ giữa chúng tôi"

 SUY NIỆM

 "Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời, Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Lúc khởi đầu, Người vẫn hướng về Thiên Chúa. Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta" (Ga 1, 1-14)

 

Phần mở đầu trong Tin Mừng Gioan được đọc trong cả hai Thánh Lễ Giáng Sinh và bảy ngày sau GS-258


Phần mở đầu trong Tin Mừng Gioan được đọc trong cả hai Thánh Lễ Giáng Sinh và bảy ngày sau Giáng Sinh. Đây là bản văn mạc khải mầu nhiệm Giáng Sinh trong chiều kích sâu và rộng nhất - Sự sống vĩnh hằng của Thiên Chúa và chương trình của Ngài được đã được Ngài mạc khải và chia sẻ sự sống ấy với con người qua mọi biến cố trong lịch sử ơn cứu độ. Khi chúng ta lặng ngắm hài nhi Giêsu, chúng ta được mời gọi tham dự vào chương trình vĩnh hằng của Thiên Chúa được mang đến qua sự giáng sinh của Đức Kitô giữa chúng ta.

 Từ khởi thủy đã luôn có sự thông phần của sự sống và tình yêu trong Thiên Chúa. Người Con duy nhất của Thiên Chúa là Ngôi Hai Thiên Chúa, Ngài vẫn hướng về Thiên Chúa (Ga 1, 2). Ngài vẫn đón nhận sự sống và tình yêu của Cha và và cho lại Cha một cách trọn hảo. Khi Thiên Chúa tạo dựng trời đất, Ngài ước muốn thông chia sự sống và ánh sáng của Con Ngài. Aùnh sáng của Thiên Chúa trong thế gian đã luôn gặp phải những đối nghịch. Sự thật bị khước từ, lời của Thiên Chúa bị lãng quên và bị hắt hủi và con người đã chạy theo những tạo vật khác thay vì chọn lựa Thiên Chúa. Mặc cho sự chống đối từ các thế lực thần dữ và bóng tối, chương trình của Thiên Chúa "Ngôi Lời đã trở nên người phàm" vẫn không bị hủy bỏ. Sự cố này đã được lập lại trong mọi biến cố quanh việc hạ sinh của Chúa Giêsu. Không người nào còn chỗ trọ qua đêm cho Giuse và Maria. Con Thiên Chúa gíang sinh trong máng bò lừa. Ngài được đón tiếp và chúc mừng bởi những người nghèo khó và khiêm hạ trong lòng, nhưng bị kẻ giàu sang và quyền thế khước từ. Vua Hêrôdê lùng giết. Nhưng "sự sáng đã chiếu rọi chốn tối tăm".

 Quyền năng của Thiên Chúa đã được mạc khải trong sự yếu đuối của con người như thế nào? Chúng ta hãy dẹp bỏ những ý tưởng của con người về sự cao cả để đón nhận sự thật và tình yêu của Thiên Chúa qua hài nhi Giêsu, chúng ta sẽ thực sự cảm nghiệm thế nào là ân sủng của Ngôi Hai Thiên Chúa trong cõi lòng thâm sâu của chúng ta. Những ai đón nhận Con của Ngài, "họ sẽ nên con cái của Thiên Chúa". Còn cách nào hay để trung thành trong ân sủng hơn là chiêm ngắm Cha và Con của Ngài. Khi chiêm ngắm hài nhi Giêsu trong máng cỏ, chúng ta hãy tự tưởng tượng rằng mình đang cư ngụ với Ngài trong cung lòng sâu thẳm của Thiên Chúa. Ước mong món quà tặng vô giá của Thiên Chúa là chính người Con duy nhất của Ngài sẽ được mỗi người chúng ta đón nhận một cách trọn vẹn trong ngày Giáng Sinh này.

 Giáng Sinh 2003


 

GS-259: Lễ Giáng Sinh, Lễ Ban Ngày


 “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta”

Đọc Gioan 1, 1-18

 Linh mục Phêrô Trần Đình, Dalat

 

Trong thánh lễ sáng nay, các bài đọc, nhất là bài Tin Mừng, còn muốn tiếp tục đào sâu mầu: GS-259


Trong thánh lễ sáng nay, các bài đọc, nhất là bài Tin Mừng, còn muốn tiếp tục đào sâu mầu nhiệm Con Thiên Chúa làm người : “Ngôi Lời đã trở nên người  phàm và cư ngụ giữa chúng ta”.

 Một kế hoạch lâu dài

 Qua câu nói này, Tin Mừng muốn nhấn mạnh rằng : Ngôi Lời nhập thể, làm người là để ở với con người, bởi vì danh hiệu của Người là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta.

 Một sự thật không nhỏ, bởi vì đó là cả một kế hoạch lâu dài của Thiên Chúa, khởi đi từ “Tin Mừng nguyên thuỷ” (x. St 3, 15) cho đến lời tiên báo về “một trinh nữ sẽ sinh con và đặt tên là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (Ys 7, 14; x. Mt 1, 23).

 Thiên Chúa của kitô giáo không phải là Thiên Chúa của các triết gia, một Thiên Chúa của lý luận, nhưng là một Thiên Chúa muốn ở giữa loài người, muốn đồng hành cùng con người, muốn đảm nhận tất cả những gì thuộc thân phận con người, bởi vì : “Điều gì không được đảm nhận, sẽ không được cứu độ” (Irênê).

 Một sự kiện kinh hoàng

 Sự kiện Thiên Chúa ở cùng nhân loại là một sự kiện kinh hoàng. Thật vậy, trước khi nói đến việc Con Thiên Chúa “cư ngụ giữa chúng ta”, thánh sử Gioan đã dài dòng mô tả địa vị thần linh của Người : “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời…và Ngôi Lời là Thiên Chúa”. Cho nên, việc Con Thiên Chúa lưu trú giữa nhân loại là sự kiện mãi mãi làm ta không hết ngạc nhiên.

 Thánh Irênê đã diễn tả sự kiện này bằng những lời lẽ sống động như sau : “Ngôi Lời của Thiên Chúa đã đến ở với loài người và đã trở nên con của loài người, để làm cho loài người quen nhận biết Thiên Chúa và làm cho Thiên Chúa quen ở với loài người” (Bài đọc kinh sách ngày 19-12).

 Nếu được phép suy nghĩ theo kiểu nhân loại, chúng ta có thể nói rằng : tự bản chất, Thiên Chúa không quen ở với loài người, bởi vì giữa Thiên Chúa và con người là cả một khoảng cách mênh mông vô tận, không thể vượt qua, nếu Thiên Chúa không thật sự cố ý xoá nhoà khoảng cách ấy bằng cách cúi xuống trên thụ tạo.

 Tiếng reo vui của con người

 Thế nhưng, vì yêu thương nhân loại,Thiên Chúa đã làm mọi sự ngoài suy tưởng của con người. “Ngôi Lời đã làm người” : nếu hiểu cho chính xác thì đó còn là tiếng reo vui của con người, kinh ngạc khi bắt gặp Thiên Chúa đang cư ngụ giữa  cõi nhân sinh này, một tiếng reo hò sung sướng, xoá bỏ và làm dội lại tiếng mỉa mai của con người khi nhận ra rằng mình trần trụi : “Adam đã trở thành một người trong chúng ta rồi đây” (St 3, 22).

 Dấu chỉ của cõi vô hình

 Cuối cùng, tự bản chất, con người chỉ quen sống với những gì cụ thể, khó vươn tới những gì vô hình. Nhưng Thiên Chúa vì “đã lưu trú giữa chúng ta”, nên từ đó con người mới có cả gan nói rằng “chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha đã ban cho Người, là Con Một tràn đầy ơn sủng và sự thật” (Ga 1, 14).

Như thế, Ngôi Lời đã sống giữa nhân gian như một dấu chỉ hữu hình về Đấng vô hình, dấu chỉ đưa con người về với Cha là cội nguồn của vạn sự và cũng từ đó Người phát xuất.

 Có suy nghĩ như thế, chúng ta mới thấy cần phải cảm mến Chúa khi “õlưu trú giữa chúng ta” đã làm mọi sự tốt đẹp cho chúng ta và vì chúng ta.


 

GS-260: LỄ CHÚA GIÁNG SINH NĂM 2000


Lm. Giuse Nguyễn Hữu Duyên

 

Mỗi khi Giáng Sinh về, có lẽ ai cũng thấy lòng mình rộn rã. Cho dù ở cương vị làm cha, làm mẹ: GS-260


Mỗi khi Giáng Sinh về, có lẽ ai cũng thấy lòng mình rộn rã. Cho dù ở cương vị làm cha, làm mẹ chúng ta cũng không tránh khỏi những băn khoăn khi đồng tiền trong nhà không được rủng rỉnh đôi chút : bởi vì nghĩ đến con cái không có được những gì chúng ước mơ trong ngày lễ, chẳng cha mẹ nào có được niềm vui trọn vẹn.

 Dù sao những tâm tư ấy cũng nói lên một điều : lễ Giáng Sinh là ngày lễ Gia Đình. Nhiều cộng đoàn tu cũng chỉ có thể tụ họp đông đủ 1 lần trong năm vào đêm Giáng Sinh. Tôi không thể hình dung được một lễ Giáng Sinh mà không có sự đoàn tụ.

Thế nhưng, nhìn vào thế giới chúng ta đang sống, khoanh vùng bản đồ, chúng ta sẽ thấy là chiến tranh, nghèo đói đã xé nát bao gia đình, bao cộng đồng nhân loại ! Đêm nay có lẽ hơn một nửa nhân loại không biết tới niềm vui đoàn tụ! Tin Mừng Giáng Sinh vẫn phải tiếp tục được rao giảng.

 Đó là Tin Mừng về NGƯỜI CHA : "Thiên Chúa đã yêu thương nhân loại đến nỗi đã ban Con Một Người". Người Con mà từ đời đời Người đã nói "Con là Con Cha yêu dấu, Con đẹp lòng Cha mọi đàng". Người Con khi đến trong thế gian đã loan báo cho mọi người điều được dấu kín trong lòng Cha : "Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, không muốn một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư đi". Và hơn thế nữa vì "Cha đã yêu thương họ như Cha đã yêu thương Con". Tất cả mầu nhiệm ấy đối với anh và tôi qủa thật là Tin Mừng, là Niềm hy vọng lớn lao.

 Đó cũng là Tin Mừng về NGƯỜI CON : "Con xin thánh hiến chính mình con cho họ, để nhờ sự thật, họ cũng được thánh hiến". Người Con qủa thật bằng sự hiến thánh này đã làm cho TIN MỪNG về CHA thành hiện thực. Niềm hy vọng của chúng ta giờ đây được chuyển vào trong Người Con, vì "Không ai biết Cha trừ ra Con". Điều ấy trở thành Tin Mừng là vì "Ai thấy Con là thấy Cha", mà về Người Con ấy thì Gioan qủa quyết là "Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta. Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật." Và thực tiễn là Người Con đã đồng bàn với anh và tôi, những kẻ tội lỗi.

 Đó cũng còn là Tin Mừng về Thánh Thần: vì như chính Đức Giêsu đã khẳng định về chúng ta những kẻ tin vào Người Con, là những người sinh ra bởi quyền năng Thiên Chúa "Tôi bảo thật ông : không ai có thể vào nước Thiên Chúa nếu không sinh ra bởi nước và Thánh Thần." "Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên đem lại sự sống đời đời". Mơ ước của con người chúng ta từ muôn thế hệ là được "thần hóa" giờ đây đã nên cụ thể trong Người Con.

 Dù nhìn dưới góc độ nào, Tin Mừng vẫn là Tin Mừng về CHA-CON và TÌNH CHA-CON ấy. Tin Mừng của đoàn tụ, và là đoàn tụ của những con người bị bỏ rơi, bị đầy đoạ về lại tình Cha-Con ấy nhờ Thánh Thần.

 Ước mong tất cả chúng ta sống lễ hội đoàn tụ gia đình theo Tin Mừng Giáng Sinh mà tôi vừa chia sẻ.


 

GS-261: HÃY QUA BÊLEM MÀ XEM


Lễ Giáng Sinh C (Rạng Đông)

Lc 2:15-20: 15 Và khi các thiên thần đã từ giã họ mà về trời, mục đồng bảo nhau: "Chúng ta hãy qua Bêlem mà xem điều đã xảy ra, và Chúa đã khấng tỏ cho ta biết". 16 Họ hối hả đi đến và đã gặp Maria và Yuse cùng hài nhi đặt nằm trong máng cỏ. 17 Thấy rồi, họ nói ra cho biết điều họ đã được phán dạy về Hài nhi. 18 Và mọi người nghe đều kinh ngạc về các điều mục đồng đã thuật lại cho mình. 19 Còn Maria thì bà giữ kỹ mọi điều ấy và hằng suy đi nghĩ lại trong lòng. 20 Rồi các kẻ mục đồng lui về tôn vinh và ca ngợi Thiên Chúa vì mọi điều họ đã được nghe và thấy, chiếu theo lời đã phán dạy họ.

 

Đoạn nầy nằm trong văn mạch câu chuyện giữa các thiên thần và mục đồng (2:8-20), sau mô: GS-261


Đoạn nầy nằm trong văn mạch câu chuyện giữa các thiên thần và mục đồng (2:8-20), sau mô tả việc hạ sinh của Chúa Giêsu (2:1-8). Sau lời thiên thần báo tin, các mục đồng vội vã đến Bêlem, và tìm thấy Hài nhi (2:15-21). Ngay sau đoạn nầy, Luca thuật lại câu chuyện xảy ra tại đền thờ Giêrusalem, nơi Chúa Giêsu được trình dâng lên sau tám ngày (2:21-38). Rồi cha mẹ đưa Ngài về lại Nazaréth (2:39-40). Phần cuối cùng của chương hai là trình thuật Chúa Giêsu lên Giêrusalem lần đầu tiên, khi Ngài lên 12 tuổi (2:41-52). 

                   Câu chuyện giữa các thiên thần và mục đồng (2:8-20) phân thành hai màn: thiên thần xuất hiện từ trời và loan báo Đấng Kitô sinh ra trong thành Đavít (2:8-14), và các mục đồng ra đi tìm đến Bêlem (2:15-20). Từ “các mục đồng”, poimçn, (cc. 8 và 20) và “vinh quang”, doxa, (c. 9) - “tôn vinh”, doxazô, (c. 20) đóng khung câu chuyện. Vinh quang của Thiên Chúa đã đến và hiện diện giữa họ. Họ đã thấy và tôn vinh Ngài. Chủ đề của đoạn là việc loan báo Đấng Cứu Thế đến và phản ứng của người đón nhận. Luca dùng các từ ngữ liên quan đến vương quyền như “thành Đavít”, “Đấng Cứu Thế” “Đấng Kitô”, và nhất là “vinh quang”, “vinh quang trên cao thẳm”, “tôn vinh” và bình an dưới thế”. Các mục đồng tìm đến và đã thấy “Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ” (c. 16) mà thiên thần đã loan báo như một dấu hiệu (c. 12). Dấu hiệu nầy quy chiếu ngược lên về màn hạ sinh của Chúa Giêsu được mô tả rất ngắn gọn chỉ trong một câu (c.7): “bà vấn Hài Nhi trong khăn và đặt nằm trong máng cỏ”. Việc tìm thấy nầy kết thúc đoạn.

          Trong đoạn 2:15-21 Luca chú trọng đến việc khám phá Hài Nhi và phản ứng trước sự việc nầy; bởi đó ông dùng các từ ngữ thuộc giác quan nhiều lần, vì chúng liên qua đến một dấu hiệu hữu hình, như laleô, “nói” (cc. 15.17.18.20), rçma, “sự việc” (cc. 15.17.19), oraô, “thấy” (cc. 15.17.20). Nhân vật chính của đoạn là các mục đồng. Họ ước muốn xem thấy điều đã được loan báo (c. 15), và khi đã thấy, họ sẽ loan báo cho người khác (c. 20). Đoạn 2:15-20 làm thành một đơn vị duy nhất, và có thể chia thành hai phần: - Khám phá của các mục đồng (2:15-17); - Các phản ứng  (2:18-20). Từ poimenes, “mục đồng”:  họ đi đến Bêlem (c. 15) và trở về (c. 20) đóng khung phần nầy.

Khám Phá của Các Mục Đồng (2:15-17)

Sau ghi nhận các thiên thần ra đi, Luca mô tả cuộc gặp gỡ của các người thiện tâm đầu tiên (c. 14), là các mục đồng với Hài Nhi. Các mục đồng là người đầu tiên nhìn thấy vinh quang của Thiên Chúa nơi Hài Nhi. Lời các mục đồng nói với nhau gồm hai phần: “Chúng ta hãy qua Bêlem” và “chúng ta hãy xem điều đã xảy ra mà Chúa đã tỏ cho chúng ta biết”. Phần thứ hai là lý do thúc đẩy hành động của phần thứ nhất. Hai động từ dierchomai, “đi qua”, và horaô, “thấy”, ở thể cầu khẩn (subjunctive) chỉ sự khích lệ nhau giữa các mục đồng; heôs, “cho đến” chỉ một khoảng cách và đích đến. Luca không cho biết chiều dài lộ trình, mà thái độ của các mục đồng trên lộ trình ấy (c. 16). Họ muốn đi đến Bêlem cách vội vã để nhìn thấy Hài Nhi. “Bçthleem” là tên gọi khác của “kinh thành Đavít” (cc. 4.11). “Sự việc”, rçma mà các muốn thấy là “lời” của các thiên thần về Đấng Cứu Thế mà họ đã nghe, liên quan đến họ và toàn dân (cc. 10-12). Các mục đồng sẽ làm một hành vi tương tự là nói cho dân chúng về Đấng Cứu Thế khi họ đã thấy tận mắt (c.20). “Sự việc” nầy bây giờ họ nhận ra là bởi Chúa, ho kurios. Chúa làm cho họ biết, gnôrizô, sự cứu độ bắt đầu ngay từ việc sinh hạ của Đấng Kitô (cc. 15.17). Vậy sự việc đã được loan báo và đã xảy ra. Phản ứng đầu tiên trước sự việc nầy là quyết định ra đi để tìm gặp.

          Phản ứng tiếp theo là các mục đồng “vội vã ra đi”, steudô (c. 16). Tin mừng Luca ghi nhận sự vội vã của ba người: Đức Maria (1:39), các mục đồng (2:16) và Giakêu (19:5.6), và trong cả ba lần đều liên quan đến sự ân cần muốn gặp Chúa Giêsu. Họ vội vã đến một nơi, và ở đó họ gặp một Đấng chứ không phải một nơi chỗ: ở Bêlem có Đấng Cứu Thế, tại nhà Giakêu Chúa Giêsu đến. Động từ “tìm gặp”, “khám phá”, aneuriskô, chỉ được dùng ở đây và Cv 21:4, có đối tượng là người. Các mục đồng đã tìm thấy “Maria, Giuse và Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ”. Đến lúc nầy các mạo từ xác định đi trước brephos, “Hài Nhi” và phanç, “máng cỏ” ám chỉ điều đã được loan báo trước (2:7.12).

          Việc khám phá nầy đóng khung lại bằng các hạn từ đã được dùng ở câu 15: “các mục đồng”, “thấy”, “sự việc”, “nói”, “tỏ cho biết” (c. 17). Tuy nhiên ở đây có hai sự khác biệt so với câu 15. Động từ gnôrizô “tỏ cho biết” bây giờ có chủ ngữ là các mục đồng, chứ không phải là Chúa nữa. Đối tượng của hành động nầy vẫn là “lời”, “điều trình bày”, rçma, đã được nói cho họ. Và Luca không cho biết ngay trong câu nầy đối tượng gián tiếp của hành động nầy là ai, mà chờ sang câu 18.

          Các Phản Ứng (cc. 18-20)

          Các câu nầy mô tả các phản ứng trước biến cố “Hài Nhi vấn khăn đặt nằm trong máng cỏ”: những người nghe (c. 18), Maria (c. 19) và các mục đồng (c. 20).

          “Những người nghe”, pantes oi akousantes, là những người được kể lại (2:18; 1:66). Họ là dân chúng nói chung. Họ không chứng kiến tận mắt sự việc. Động từ thaumazô có liên hệ bởi gốc với động từ theaomai, “thấy”, chỉ sự kinh ngạc do việc thấy gợi lên. Trong trình thuật về việc đặt tên cho Gioan, người kinh ngạc là người tham dự nghi lễ hôm ấy (1:63), và người nghe kể lại là những người sống chung quanh vùng Giuđêa (1:65-66); thế mà những người nầy lại nhận ra hành động của Thiên Chúa trên trẻ nầy, “Vì bàn tay Chúa  đã trên trẻ nầy”. Ở những nơi khác trong tin mừng Luca, chỉ người chứng kiến tận mắt mới có thái độ kinh ngạc. Họ kinh ngạc vì nhận ra những hành động quyền năng của Thiên Chúa được thực hiện qua Chúa Giêsu (1:66; 2:33; 4:22; 8:25; 9:43; 11:14; 20:26; 24:12). Ở đây Luca ghi nhận là những người nghe kinh ngạc. Họ kinh ngạc về “Hài Nhi vấn khăn đặt nằm trong máng cỏ” (2:7.12.16), theo như lời thuật lại của các mục đồng. Các mục đồng đã trở thành một chứng nhân sống động. Qua lời họ, người nghe nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa trong Hài Nhi nầy. Vậy một hành động hoặc hiện diện của Thiên Chúa có thể gây kinh ngạc cho con người; và trong thái độ nầy con người đã gặp được Thiên Chúa rồi.

          Maria cũng có phản ứng trước lời thuật lại của các mục đồng (c. 19). Maria không kinh ngạc, vì mẹ đã được loan báo về Hài Nhi nầy. Tuy nhiên, Maria mở lòng đón nhận lời của các mục đồng, vì mẹ chưa biết tất cả. Luca ghi nhận phản ứng của Maria trong hai dịp khác nhau: tại đây (2:19), và trong đền thờ (2:51). Trong cả hai trường hợp cụm từ “tất cả các điều ấy…. trong tâm hồn mẹ” được giữ lại. Syntçreô, “cất giữ cách cẩn thận trong tâm trí”; symballô, “đặt lại với nhau”, “đánh giá”, “suy đi nghĩ lại”. Rçma, “lời”, mà các mục đồng thuật lại là lời hoặc sự việc liên quan đến Hài Nhi (2.15.17.19). Các điều họ thông tin cho biết về Hài Nhi thì Maria chưa hề nghe biết. Hài Nhi được gọi là “Đấng Cứu Độ”, “Đấng Kitô” và “Chúa” (2:11). Các tước hiệu nầy nhấn mạnh sứ vụ cứu độ của Ngài; trong khi trong ngày truyền tin Maria chỉ nghe nói đến “Con Đấng Tối Cao” và “vương quyền Đavít” (1:32). Mẹ giữ cẩn thận các lời ấy và suy đi nghĩ lại trong tâm hồn để có thể hiểu tường tận.

          Tương phản với thái độ của Maria là giữ các điều ấy trong lòng của Maria, các mục đồng ra về trong tôn vinh và ca ngợi Thiên Chúa (c. 20). Những điều thiên thần loan báo đã thành hiện thực. Luca dùng thường động từ doxazô, “tôn vinh” vào cuối mỗi trình thuật về phép lạ để cho thấy thái độ của những người được chữa lành. Họ luôn luôn “tôn vinh Thiên Chúa”: người bại liệt (5:25tt); người chết (7:16); người phụ nữ còng lưng (13:13); người phong hủi (17:15); người mù (18:24). Trong hành động của Chúa Giêsu, họ nhận ra Thiên Chúa đã đến và cứu độ dân Ngài (x. 4:15.16-21). Như thế các mục đồng tôn vinh và ca ngợi Thiên Chúa vì họ đã nghe và thấy “Đấng Cứu Độ”, “Đấng Kitô”, “Chúa” đến giữa họ trong “Hài Nhi vấn trong khăn đặt nằm trong máng cỏ”. Sự hiện diện và hành động của Ngài chính là “Thiên Chúa đã viếng thăm và cứu độ dân Ngài” (7:16).

          Lời thiên thần loan báo liên kết toàn bộ trình thuật. Lời về Đấng Cứu Độ giáng trần. Lời nầy loan ra lớn dần: thiên thần- mục đồng- dân chúng. Bởi thấy tận mắt như các mục đồng hay nghe kể lại như dân chúng, lời hay sự kiện nầy đều làm cho người lãnh nhận đầy niềm vui, vì Thiên Chúa và vinh quang của Ngài đã bao trùm mọi người.
 

 

GS-262: Bệnh Giêsu

 

Cách đây hơn 20 thế kỷ, một biến cố đã xảy ra và đã làm cho cuộc sống của nhân loại được: GS-262


Cách đây hơn 20 thế kỷ, một biến cố đã xảy ra và đã làm cho cuộc sống của nhân loại được phong phú. Đúng thế. Vào một đêm đông, một hài nhi nhỏ bé đã được sinh ra trong tăm tối. Nhưng rồi ba mươi năm sau, người ta lại thấy Ngài xuất hiện đi trên các nẻo đường như một ánh lửa khác thường của nhân loại. Ngài đã mời gọi thay đổi cả thế giới. Ngài đã lật đổ mọi thứ nặng nề trì trệ của cơ chế cũng như của tôn giáo.

Đối với Ngài, không có những bức hàng rào ngăn cách những gia đình, dòng tộc, phe nhóm và quốc gia. Ngài khơi dậy nơi mọi người sự ân cần của tình thương. Ngài đã nói năng thân mật với Thiên Chúa cao cả như một người con. Nơi nào Ngài đến, thì hệ thống đẳng cấp bị sụp đổ. Người nghèo được vui mừng. Người bệnh tật và bất hạnh thấy được bảo đảm. Người cuối hết trở thành kẻ thứ nhất. Ngài đã tái sinh ông nhà giàu dính cứng trong tiền bạc bất chính, người đàn bà hư hỏng, nhà thông luật nặng hình thức và thậm chí cả viên sĩ quan của nhà vua. Một sự sống chưa từng có đã bừng lên nơi những con người này, để nhờ đó, biến đổi cả cuộc sống xã hội và xây dựng một thế giới mới đầy tình thương.

Và như chúng ta đã biết: Ngọn lửa nhân bản và yêu thương ấy đã chỉ có một thời. Những kẻ quyền hành của thế giới cũ đã liên minh chống lại Ngài. Hài nhi sinh ra trong hang đá Bêlem năm nào đã bị đóng đinh trên thập giá. Ngài đã chết sau ba giờ hấp hối, vì đã muốn biến đổi thế giới, vì đã muốn khai sinh một nhân loại mới. Dọc theo các thế kỷ, từ đó cho đến nay, nhiều người đã quên mất Ngài, thậm chí trong số đó có cả những người mang danh hiệu Kitô hữu.

Thế nhưng, tinh thần của Đức Kitô không ngừng lây lan trong tâm hồn chúng ta, hay như một người Hồi giáo đã nói: Con người mang một cái bệnh gọi là bệnh Giêsu, thì không bao giờ có thể lành được. Ngày nay cũng vậy, Ngài có những người bạn nhiệt tình của mình. Tôi nghĩ đến những người trong đêm giáng sinh thay vì đi dự một tiệc rượu, đã tới thăm viếng những người đau yếu, nghèo túng và chia sẻ với họ một phần quà nho nhỏ. Tôi nghĩ đến những ông bác sĩ sau khi tốt nghiệp, thay vì mở phòng mạch tại thành phố, thì đã đi phục vụ không công tại những nơi xa xôi heo lánh. Tôi nghĩ đến những người dâng hiến cả cuộc đời cho những kẻ phong cùi cay cực. Thay vì lãng quên hay chạy trốn, họ đã tiến lại gần và tự hiến. Họ đã là những phản ánh trong sáng nhất cho tình thương của Ngài.

Thế nhưng tới đây thì một câu hỏi được đặt ra: Vậy thì Thiên Chúa ở đâu cho chúng ta tìm kiếm, hay Ngài chỉ còn là một kỷ niệm xa xưa? Cựu Ước kể lại rằng, đang khi Đavit dự tính xây cất một đền thờ cho Thiên Chúa, thì Ngài đã viếng thăm tiên tri Nathan và nói với ông: Ta chẳng bao giờ ở trong nhà kể từ ngày Ta đem con cái Israel ra khỏi Ai Cập. Chính ta sẽ xây cho Đavit một ngôi nhà. Nhà của Đavit và vương quốc của Đavit hằng tồn tại trước mặt Ta.

Như thế chúng ta thấy Thiên Chúa không phải chỉ ở trong các đền thờ mà còn ở trong chính con người. Hay như thánh Gioan đã viết: Thiên Chúa đã làm người và ở giữa chúng ta. Vậy thì Ngài đã thực sự hiện diện nơi bản thân chúng ta hay chưa, và hơn thế nữa chúng ta đã thực sự tìm gặp được Ngài nơi những người chung quanh, nhất là nơi những người anh em bệnh tật, đau khổ và nghèo túng hay chưa?


 

GS-263: Ngôi Lời đã trở nên người phàm - Ga 1,1-8


(Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’)

 

Cảnh sát thành phố Los Angeles ở Mỹ đã từng lùng sục mọi hang cùng ngõ hẻm tối tăm để tìm: GS-263


Cảnh sát thành phố Los Angeles ở Mỹ đã từng lùng sục mọi hang cùng ngõ hẻm tối tăm để tìm một em nhỏ tên Thad. Nhiều người ở Mỹ và Canađa đã góp tiền, thực phẩm để tặng cho em khi người ta chuyển đến “Cơ quan Bảo vệ Trẻ em Thành phố” một bức thư đầy lỗi chính tả của em. Em viết như sau:

“Thưa Ông “dà” Noen, Giáng Sinh này xin ông giúp đỡ bố mẹ con. Bố con không còn đi làm nữa. Bây giờ nhà con không có nhiều thức ăn. Mẹ con phải cho chúng con ăn những thức ăn đáng lẽ mẹ ăn…

Con muốn được lên “chời” để ở chung với các thiên thần. Ông mang con lên “chời” nhé. Bố mẹ con sẽ không phải mua đồ ăn cho con nữa. Điều đó sẽ làm cho bố mẹ con “xung xướng”. Xin Ông mang cho bố con một chỗ làm và ít thức ăn…

Con sẽ không ngủ đâu. Khi Ông cho bố con một việc làm và cho mẹ con ít thức ăn, con sẽ đi với Ông và bảy tuần lộc… Con gởi lời chúc Giáng Sinh vui vẻ đến Bà Noen và các chú lùn nữa.

Ký tên: Thad.

Người ta vẫn chưa tìm ra em Thad y như rất nhiều người Do Thái đã không tìm ra trẻ Giêsu nghèo khó năm xưa. Họ đâu dám đi ra ngoài vì sợ trời lành, họ không dám đến những khu nhà tối tăm, bẩn thỉu vì sợ dơ quần áo. Họ giống như những người giàu thời đại chúng ta chỉ muốn ở yên trong nhà, tự mãn với những nệm êm, chăn ấm, với những bữa tiệc, những cây thông đủ ánh đèn màu, với những chương trình tivi hấp dẫn. Những người giàu ấy sẽ phải khóc vì không nhận được ơn bình an và ơn cứu độ của Chúa Hài Đồng.

Chúng ta không cần tìm kiếm ở đâu xa xôi, vì Ngôi Lời đã làm người và ở giữa chúng ta. Quả thức, Thiên Chúa không phải chỉ làm người giả hiệu, mà Ngài đã cắm lều ở giữa chúng ta. Để nhận ra điều đó, chúng ta hãy bước đến hang đá. Hẳn nhiên đó chỉ là biểu tượng. Nhưng là một biểu tượng nhắc nhớ một biến cố lịch sử duy nhất. Một cảnh sống nghèo nàn, thanh bạch đến thiếu tất cả, giữa một đêm tối không đèn, không đóm, nơi một góc trời không tên không tuổi. Hai người bạn trẻ, hai người lao động đơn sơ nằm nhờ trên đống rơm giữa những con vật hiền lành. Một hài nhi mới sinh trong một cuộc hành trình bất đắc dĩ. Nhưng Thiên Chúa đó! Thiên Chúa không yêu thương chúng ta từ trời cao. Ngài đã đến cắm lều ở giữa chúng ta, trong da thịt Đức Giêsu Nazarét. Điều mà không ai có thể tưởng tượng ra, đó là Thiên Chúa liên đới trọn vẹn với số phận mạt kiếp của chúng ta. Thiên Chúa đang ở giữa chúng ta, như là một người nghèo nhất tại Bêlem trước khi trở thành người rốt hết trên thập giá. Giáng Sinh nhắc nhớ cuộc gặp gỡ thân tình có một không hai đó giữa Thiên Chúa và con người như một huyền nhiệm, như một trao đổi kỳ diệu.

Và như vậy, thưa anh chị em, chúng ta thấy Thiên Chúa “người” hơn chính chúng ta. Ngài ở dưới đất. Đừng đi tìm Ngài trên khung trời cao! Chúng ta là như vậy đó: Khi tình yêu quá lớn, nghĩa là quá khiêm tốn thì chúng ta lại không dám nhận ra, không dám chấp nhận. Chúng ta không chấp nhận để cho Thiên Chúa yêu thương chúng ta đến mức Ngài đến gặp chúng ta trong huyền nhiệm Nhập Thể của Ngài. Nhưng dù chúng ta có muốn hay không, thì từ nay Thiên Chúa đã đi vào cuộc sống của ngõ hẹp, của chuồng chiên bò, của hang đá, máng cỏ.

Và nếu Thiên Chúa đã tự hạ gần gũi như vậy, tầm thường như vậy, thì không có gì xảy ra trong đời thường của chúng ta lại ở ngoài ánh sáng thần linh của Thiên Chúa, “ánh sáng cho nhân loại, ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và ánh sáng ấy là sự sống”. Khi đất này đã được sự hiện diện yêu thương của Thiên Chúa trong Đức Giêsu bao trùm, thì đất này đã là túp lều của Con Thiên Chúa nhập thể. Mọi đóng góp cho đất này đã trở thành nơi ở, chẳng những ở được mà còn ở tốt cho Thiên Chúa và cho con cái loài người của Ngài, là một điều không ai được khước từ nếu không muốn phủ nhận niềm tin của mình và mầu nhiệm Giáng Sinh. Không có con người nào là con người bị loại ra ngoài tình yêu của chúng ta nếu chúng ta không muốn cho đức ái chỉ là chữ viết trên giấy. Không có cảnh đời nào là cảnh đời chúng ta phải chạy trốn, nếu chúng ta thật sự muốn sống lòng cậy trông của mình. Chúng ta thường đi gặp Chúa ở ngoài cuộc sống cụ thể, hằng ngày, trong khi Thiên Chúa đã nhập thể làm người trong cuộc sống cụ thể hằng ngày đó.

Chính vì thế mà những người Mỹ, những người Canađa, những cảnh sát ở thành phố Los Angeles vẫn chưa tìm ra được em Thad khi họ nhận được bức thư em gởi cho ông già Noen. Bởi em Thad là hiện thân của bao nhiêu em bé và gia đình nghèo đói trên trái đất này, nơi Thiên Chúa đã làm người và cư ngụ ở giữa chúng ta trong những gia đình, những em bé khốn khổ đó.

Anh chị em thân mến, tôi không tin là chúng ta có thể gặp được Chúa trong nhà thờ nếu đã không gặp cho được Ngài trong cuộc sống qua một khuôn mặt nào đó, như khuôn mặt của các em bé mồ côi, khuôn mặt của những ông già bà cụ cô thân cô thế, khuôn mặt của những con người ốm đau, bệnh tật, của những người nghèo đói, của những người bị bỏ rơi, bị loại trừ, thiếu vắng tình thương… Bởi vì, đối với chúng ta, cụ thể mà nói, quê hương này là nơi Thiên Chúa làm người để anh em đồng bào chúng ta không phân biệt giai cấp, được làm con Chúa; là nơi Thiên Chúa hẹn gặp chúng ta; là nơi chúng ta phải gặp Ngài qua chứng từ về ánh sáng, để nhờ ánh sáng anh em đồng bào chúng ta sẽ nhìn thấy Ánh sáng của Tình thương, Ánh sáng của sự sống.


 

GS-264: CHÚA ĐÃ SINH RA


LỄ CHÚA GIÁNG SINH,

Lễ đêm 24/12
Lc 2, 1-14

 

Ngày nay hầu hết các nơi trên thế giới dù có đạo hay không, một cách nào đó người ta đều: GS-264


Ngày nay hầu hết các nơi trên thế giới dù có đạo hay không, một cách nào đó người ta đều mừng lễ Giáng Sinh. Có thể nói Giáng Sinh đã trở thành ngày lễ Quốc Tế. Người Kitô hữu hay không tin đều vui Giáng Sinh, nhưng không phải tất cả mọi người mừng vui Giáng Sinh đều gặp được Đấng Cứu Thế : Giêsu.

Đọc Tin Mừng của thánh Luca 2,1-14 chúng ta nhận thấy rõ ràng điều này. Thánh sử Luca thuật lại đêm đầu tiên Con Thiên Chúa làm người, những chi tiết như sự xuất hiện của thiên sứ Gabrien, tiếng hát của muôn cơ binh thiên thần ca ngợi Đấng Cứu Độ Giêsu “ Vinh danh Thiên Chúa trên trời. Bình an dưới thế cho người thiện tâm “, đêm Giáng Sinh của Chúa Giêsu vẫn là một đêm thật bình lặng, một đêm êm ả như mọi đêm. Tuy nhiên sự xôn xao, náo động, rộn ràng không phải do Chúa Giêsu được sinh ra mà lại là lệnh kiểm tra dân số của Hoàng Đế Augustô buộc mọi người đang tạm trú, cư trú ở nơi khác phải trở về quê quán của mình để khai lại tên tuổi. Hài Đồng Giêsu được Mẹ Maria đản sinh, đặt trong máng cỏ đơn hèn có gì làm người khác phải chộn rộn, xôn xao ? Vâng, ngay các mục đồng, những trẻ chăn chiên ở trong vùng quê nơi những cánh đồng hoang vu nếu không có lời loan báo của các sứ thần, có lẽ họ cũng chẳng làm sao nhận ra được Hài Đồng Giêsu là Đấng Cứu Thế.

Đêm nay, chúng ta hướng về Bêlem với đức tin sống động. Hướng về Bêlem không phải bằng óc tưởng tượng phong phú, nhưng bằng chính con mắt đức tin để thấy Đấng Cứu Thế Giêsu, một trẻ sơ sinh đang nằm trong máng cỏ. Đây là Tin Mừng trọng đại. Một Tin Mừng được loan báo trước tiên cho những kẻ thấp cổ bé họng, những kẻ thấp hèn, những trẻ chăn dê, chăn cừu. Và đây cũng là dấu hiệu và thái độ của Chúa Giêsu loan báo trước cho sứ mạng loan báo Tin Mừng cứu độ của Ngài sau này.

Lễ Giáng Sinh đích thực là lễ của tình yêu. Bởi vì Chúa Giêsu là Tình Yêu như thánh Gioan đã định nghĩa. Chúa Giêsu là quà tặng vô giá Thiên Chúa đã trao ban cho nhân loại :” Thiên Chúa đã yêu thương nhân loại đến nỗi sai Con Một Ngài đến thế gian “. Đây là Tin Mừng vĩ đại và là một Mầu Nhiệm của lòng tin. Chúa Giêsu đến trần gian xua tan bóng tối tăm, chiếu ân sủng của Ngài cho nhân loại. Nên, những kẻ gặp được Ngài chỉ có thể là những kẻ khó nghèo, đơn sơ và khiêm nhượng. “ Lạy Cha là Chúa trời đất, Cha đã không mạc khải cho những kẻ thông thái mà đã mạc khải cho những kẻ khó nghèo, bé mọn “. Đó là điều kỳ diệu, nhưng đó cũng là Mầu Nhiệm của Tình Thương và là Mầu Nhiệm của lòng tin. Nếu Chúa Giêsu đã sinh ra trong một lầu đài hay trong một vương quốc sang trọng giầu có, đầy uy nghi và đầy vẻ bề thế hoành tráng sang trọng thì chắc chắn đêm Giáng Sinh đã diễn ra cách khác: “Không có máng cỏ khó nghèo, đơn sơ và lại thiếu cả bóng Thập Giá nữa…”.

Vâng, mán cỏ nghèo hèn lại là sự chọn lựa của Con Thiên Chúa xuống thế làm người và thấp thoáng sau máng cỏ đơn sơ lại là cây Thập Giá cứu độ. Do đó, Máng cỏ và Thập lại là một sự gắn kết không thể tách rời, đồng thời là sự chọn lựa duy nhất của Chúa Giêsu  giáng thế.

Lễ Giáng Sinh là quà tặng vô giá của Thiên Chúa trao ban cho nhân loại, trao ban cho con người. Chúa Giêsu Con Thiên Chúa làm người đã đem lại cho thế giới, cho nhân loại, cho con người một Tin Mừng lớn lao : “ Thiên Chúa chính là Cha của chúng ta “. Và chúng ta là anh chị em với nhau.

Lễ Giáng Sinh mời gọi thế giới, mời gọi con người hãy trở về với máng cỏ nghĩa là hãy quan tâm tới những người nghèo như Tin Mừng Giáng Sinh được loan báo đầu tiên cho những người nghèo. Chính những trẻ nghèo, vô học, cùng cực đã gặp được Chúa Giêsu. Điều này đưa chúng ta đi đến thách đố của Mầu Nhiệm Giáng Sinh. Thách đố này được một thi sĩ vô danh nào đó diễn tả cách rất tinh tế như sau :

“ Khi bài ca của các thiên thần ngừng bặt,
khi ngôi sao trên bầu trời đã đi khỏi,
khi các vua chúa và hoàng tử đã ở nhà,
khi các mục đồng và các đàn súc vật trở về,
thì công việc Giáng Sinh mới bắt đầu :
“để tìm lại những gì đã mất,
để hàn gắn những gì đã gẫy,
để người đói được ăn no,
để tù nhân được giải phóng,
để các nước xây dựng lại,
để đem lại hòa bình đến với mọi người,
để hòa nhạc bằng trái tim”.

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi   DCCT


 

GS-265: NGÔI LỜI ĐÃ LÀM NGƯỜI


THÁNH LỄ GIÁNG SINH BAN NGÀY,ngày 25/12

Ga 1, 1-14

 

Thánh lễ sáng nay không còn vẻ xôn xao, chộn rộn như lễ Giáng Sinh ban đêm. Bởi vì, những: GS-265


Thánh lễ sáng nay không còn vẻ xôn xao, chộn rộn như lễ Giáng Sinh ban đêm. Bởi vì, những ánh đèn, những đèn sao được nhường chỗ cho việc chiêm ngắm Hài Nhi Giêsu. Hài Nhi Giêsu là ánh sáng rạng ngời chiếu soi trần gian trong đêm tăm tối. Ngài là ánh sáng thật, ánh sáng chân lý và sự sống. Thánh Gioan đã viết :” Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người “ ( Ga 1, 9 ).

Giáng Sinh là một huyền nhiệm, là một biến cố vĩ đại, một biến cố có một không hai trong lịch sử nhân loại bởi vì “ Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một để những ai tin vào Con cua Người thì khỏi phải chết nhưng được sống muôn đời “ ((Ga 3, 16 ). “ Một Hài Nhi đã sinh ra cho ta, một người con được ban tặng cho ta. Vương quyền đặt trên vai Ngài. Người ta gọi Ngài là sứ giả Thiên Chúa “ ( Is 9, 5 ). Hài Nhi mà Mẹ Maria sinh ra, vấn tã và đặt nằm trong máng cỏ chính là sứ giả của hòa binh. Nhìn hình hài, dáng vẻ bên ngoài xem ra Hài nhi Giêsu mảnh khảnh và yếu, nhưng ngôn sứ Isaia đã thoáng thấy đó là Vị Vua cao sang, Vi Vua nhân ái, là Thiên-Chúa-Ở-Với-Con-Người. Ngài là Thiên Chúa cứu độ, đến để giải thoát dân của Người. Hài Nhi Giêsu là Ngôi Lời làm người và là chính Thiên Chúa :” Ngài đã thành xác phàm ở giữa chúng tôi. Chúng tôi đã nhìn thấy vinh quang của Ngài, vinh quang như của Con một tự nơi Cha, tràn đầy ân sủng và chân lý “. Vâng, vinh quang của Hài Nhi Giêsu nơi hang Bêlem, là vinh quang của Thiên Chúa, nên những ai tin vào Ngài cũng sẽ được gọi là con của Thiên Chúa. Chính vì thế, thánh Gioan đã viết : “ Anh em hãy xem Thiên Chúa yêu thương chúng ta dường nào đến nỗi chúng ta được gọi là Con Thiên Chúa, và thực sự là thế “.

Giáng Sinh là một Mầu Nhiệm bởi vì chúng ta sẽ nhận ra giá trị tuyệt hảo của món quà Thiên Chúa trao tặng cho nhân loại, cho con người. Món quà ấy chính là Hài Đồng Giêsu, Vị Vua cứu độ nhân loại đến nỗi Phụng Vụ đã hát lên :” Toàn thể trái đất đã nhìn thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa. Hãy hát lên bài ca mới mừng Chúa, vì Ngài đã làm những việc kỳ diệu. Alléluia, Alléluia “.

Thánh Lễ Giáng Sinh ban ngày mời gọi chúng ta :” Ngày Thánh đã dọi chiếu trên chúng ta. Hỡi các dân, hãy đến thờ lạy Chúa, vì hôm nay ánh sáng chan hòa đã tỏa chiếu trên địa cầu. Đó là ánh sáng của Con Một Thiên Chúa, để tất cả chúng ta được nhìn thấy và trở nên Con Thiên Chúa “.

Được làm Con Thiên Chúa, được học hỏi Giáo lý và những giáo huấn của Ngài, chúng ta phải sống thế nào cho xứng hợp với địa vị làm Con Thiên Chúa. Và làm được điều đó, chúng ta phải quyết tâm giũ bỏ những ham muốn thế tục, đẩy xa tội lỗi,tránh xa những mờ tối, giũ bỏ cuộc sống ích kỷ, hẹp hòi của chúng ta, luôn mặc lấy Đức Kitô và tham gia vào Thập Giá của Chúa. Thiên Chúa ban cho chúng ta Con Một của Người để từ nay chúng ta sống tình con thảo với Ngài, chúng ta không còn sợ hãi, không còn e dè và từ đây, Thiên Chúa là Cha của chúng ta, chúng ta là con của Ngài.

Phụng Vụ Thánh Lễ Giáng Sinh ban ngày đưa chúng ta vào tâm điểm : Hài Nhi Giêsu, Vị Vua cứu thế và Ngài chính là Con Một của Thiên Chúa tặng ban cho nhân loại, cho chúng ta.

Thánh Lễ hôm nay củng cố lòng tin của chúng ta, để chúng ta sống tình con thảo với Chúa và ngước nhìn lên ánh sáng cứu độ đã chiếu soi rạng rỡ trên nhân loại và mong mỏi mỗi ngày chúng ta càng nên đồng hình đồng dạng với Người Con mà Thiên Chúa đã yêu thương trao ban cho nhân loại là Hài Nhi Giêsu cứu độ nhân loại.

Xin Hài Nhi Giêsu giúp chúng con càng ngày càng nên giống Ngài và giúp chúng con sống mật thiết với Thánh Thể vì Thánh Thể chính là Đức Giêsu. Amen.

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT


 

GS-266: ÁNH SÁNG ĐỨC KITÔ


Trầm Thiên Thu

VINH DỰ ĐỨC CHÚA TRÊN TRỜI MÃI MÃI

THÁI HÒA LOÀI NGƯỜI DƯỚI ĐẤT NƠI NƠI

 

Đó là lời hát của Ca đoàn Thiên thần vang vọng từ chốn cửu trùng trong Đêm Hồng Ân (Lc 2:14), khi GS-266


Đó là lời hát của Ca đoàn Thiên thần vang vọng từ chốn cửu trùng trong Đêm Hồng Ân (Lc 2:14), khi Vương Nhi Giêsu mặc xác phàm và hạ sinh nơi hèn hạ nhất. Một Vua Nghèo nhưng lại đầy quyền lực và giàu có nhất. Ngài muốn dạy chúng ta bài học sống khó nghèo, sống khiêm nhường, sống yêu thương, thực sự quan tâm chăm sóc và chia sẻ với những người nghèo hèn nhất trong xã hội, bằng hành động cụ thể chứ không bằng lời nói suông. Chính Ngài tự nguyện trở nên Vị Vua Nghèo Nhất – Đệ Nhất Hàn Vương.

Bài Thánh Ca của Ca Đoàn Thiên Thần chứa một triết lý thâm thúy. Vế thứ nhất “Vinh Danh Thiên Chúa trên trời” là điều tất nhiên, nhưng vế thứ nhì là điều chúng ta cần suy nghĩ: “Bình an dưới thế cho người thiện tâm”. Nếu chúng ta chưa được bình an vì chúng ta chưa thiện tâm. Chỉ những ai thiện tâm thì mới được Chúa thương, tức là được bình an tâm hồn. Bình an tâm hồn và bình an thể lý khác nhau. Có bình an thể lý chưa chắc có bình an tâm hồn. Có thể cuộc sống của chúng ta gặp khó khăn, bị bách hại, bị tù đày, bị phiền phức nhiều thứ,… nhưng vẫn có điều chắc chắn là tâm hồn luôn được bình an. Đó mới là bình an đích thực cần thiết.
Lịch sử đã có bằng chứng minh nhiên: Các vị tử đạo không hề bình an về thể lý vì họ bị voi giày, ngựa xéo, lăng trì, xử trảm,… và chết thê thảm, nhưng tâm hồn họ vẫn luôn bình an, bởi vì họ làm đúng lương tâm, đúng giáo huấn của Thiên Chúa.

SÁNG NGỜI NIỀM TIN

Cứ mỗi lần kỷ niệm Con Thiên Chúa giáng sinh, người ta lại thấy vang lên ca khúc “Mùa Sao Sáng” của NS Nguyễn Văn Đông, với lời thoại mở đầu là lời thơ của Thi sĩ Kiên Giang: “Lạy Chúa, con là người ngoại đạo, nhưng tin có Chúa ngự trên cao”.

Mặc dù không là Thánh Ca, nhưng ca khúc “Mùa Sao Sáng”vẫn nghe như thánh ca, giai điệu vừa đẹp vừa nhẹ nhàng và ca từ cũng đẹp: “Một mùa sao sáng, đêm Noël Chúa sinh ra đời. Người hẹn cùng tôi ngày về khi đất nước yên vui. Quỳ lạy Mẹ Maria, lòng Mẹ từ bi bao la, tấu khúc nhạc lên xin ơn trên ban cho nhà Nam. Từ mùa Đông trước qua mùa Đông tiếp theo sau này, người bạn còn đi mà niềm tin vẫn thắm trên môi… Lớp lớp đoàn chiên quyết sáng danh Chúa trên trời cao… Lạy Mẹ đồng trinh ban ơn, người Việt cùng thương nhau hơn, đất nước này đây sáng đức tin Chúa trên trời cao”. Trong niềm vui mừng Chúa giáng sinh, tác giả không quên cầu xin Đức Mẹ ban ơn, nếu không là tín hữu Công giáo thì khó có thể có tâm tình với Đức Mẹ như vậy.

Không biết ông có niềm tin Kitô giáo hay không, nhưng các ca từ ông viết nghe đầy “chất” Công giáo. Phải chăng ông là người ngoại đạo nhưng luôn hướng về Chúa, luôn tin rằng “lớp lớp đoàn chiên quyết sáng danh Chúa trên trời cao” và “đất nước này đây sáng đức tin Chúa trên trời cao”? Ca từ nói về nỗi day dứt trong thời chiến nhưng ngày nay vẫn thấy phù hợp, bởi vì tuy chiến tranh bom đạn không còn nhưng có dạng chiến tranh khác vẫn xảy ra hàng ngày đâu đó trên quê hương Việt Nam nhỏ bé này.

Tuy nhiên, Niềm Tin vẫn sáng ngời soi đường dẫn lối, và đó cũng là một cách rao truyền Ơn Cứu Độ, thật là “đẹp thay trên đồi núi, bước chân người loan báo tin mừng, công bố bình an, người loan tin hạnh phúc, công bố ơn cứu độ và nói với Sion rằng Thiên Chúa ngươi là Vua hiển trị” (Is 52:7). Chúng ta luôn sống “đời vọng” vì vững lòng tín thác vào Thiên Chúa: “Trước mặt muôn dân, Đức Chúa đã vung cánh tay thần thánh của Người: ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta, người bốn bể rồi ra nhìn thấy” (Is 52:10).

Trong niềm tín thác tuyệt đối, Thánh Vịnh gia đã cất cao lời tuyên xưng: “Hát lên mừng Chúa một bài ca mới, vì Người đã thực hiện bao kỳ công. Người chiến thắng nhờ bàn tay hùng mạnh, nhờ cánh tay chí thánh của Người. Chúa đã biểu dương ơn Người cứu độ, mặc khải đức công chính của Người trước mặt chư dân; Người đã nhớ lại ân tình và tín nghĩa dành cho nhà Ít-ra-en. Toàn cõi đất này đã xem thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta. Tung hô Chúa, hỡi toàn thể địa cầu, mừng vui lên, reo hò đàn hát. Đàn lên mừng Chúa khúc hạc cầm dìu dặt, nương khúc hạc cầm réo rắt giọng ca. Kèn thổi vang xen tiếng tù và, tung hô mừng Chúa, vị Quân Vương!” (Tv 98:1-6).

Thật hạnh phúc khi chúng ta được kế thừa đức tin Công giáo từ bao đời nay. Và quả thật, ánh sáng đức tin đã, đang và sẽ chiếu sáng dẫn đường cho chúng ta suốt cuộc lữ hành trần thế này. Chính ánh sáng đó cũng đã soi đường cho các mục đồng và các đạo sĩ năm xưa. Ánh sáng Đức tin liên quan Lòng Thương Xót.

SÁNG NGỜI LÒNG THƯƠNG XÓT

Mùa Giáng Sinh là Mùa Sao Sáng, Mùa Bình An, Mùa Yêu Thương, Mùa Hồng Ân Cứu Độ, đồng thời cũng là Lễ Hội không chỉ riêng ai – cả Kitô giáo và không Kitô giáo. Nhịp điệu Giáng sinh có gì đó rất độc đáo, khiến lòng người vừa lắng đọng vừa chộn rộn. Nỗi mong chờ càng rút ngắn, lòng người càng nôn nao, vì không ai lại không hạnh phúc khi được gặp “người mình yêu quý nhất”, huống chi được gặp chính Đấng Cứu Độ, vị đại ân nhân của mình.

Thời điểm Chúa Giêsu giáng sinh được người ta gọi theo Anh ngữ là CHRISTMAS. Chữ Christmas tạo thành bởi chữ CHRIST (Đức Kitô) và tiếp vĩ ngữ MAS (lễ). Do đó, Christmas nghĩa là Lễ Giáng Sinh (mặc nhiên hiểu là Chúa Giêsu giáng sinh). Tương tự, chúng ta cũng có Candlemas– tức là Lễ Nến (Lễ Đức Mẹ Dâng Chúa Giêsu, sau Lễ Giáng Sinh 40 ngày).

Thật kỳ lạ, người ta dùng “mốc” Chúa Giêsu giáng sinh để tạo nên công lịch (dương lịch), và rồi cả thế giới cũng đồng ý sử dụng. Ngay cả những người vô thần cũng phải công nhận như vậy. Tại sao? Bởi vì người ta thấy hoàn toàn chuẩn lý, chứ không chỉ là “đa số hơn tiểu số”. Không chỉ vậy, người ta còn gọi Năm Dương Lịch là “Year of our Lord”, nghĩa là “Năm của Chúa” (sát nghĩa là “Chúa của chúng ta”). Thật là kỳ diệu quá!

Chắc chắn rằng từ cổ chí kim, trên thế giới này không có vị lãnh đạo nào hoặc vị lập đạo nào được cả thế giới đón nhận minh nhiên như vậy. Tạ ơn Chúa và thật hãnh diện khi chúng ta được nhận ra Chúa Giêsu là Ánh Sáng của Thiên Chúa và Ánh Sáng soi chiếu thế gian.

Thánh Phaolô cho biết: “Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử” (Dt 1:1). Trực tiếp chứ không qua trung gian ngôn sứ nào khác. Thánh Tử là Chúa Giêsu, là Ngôi Hai Thiên Chúa, là Đấng Yêu Thương (1 Ga 4:8 & 16). Thánh Phaolô nói rằng Ngài phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa. Người là Đấng dùng lời quyền năng của mình mà duy trì vạn vật Ngài là Đấng tẩy trừ tội lỗi, Ngài ngự bên hữu Đấng Cao Cả trên trời, Danh hiệu Ngài được thừa hưởng, cao cả hơn danh hiệu các thiên thần bao nhiêu thì Ngài lại trỗi hơn họ bấy nhiêu (Dt 1:3-4).

Xưa nay Thiên Chúa chưa hề nói với vị thiên thần nào như đã nói với Đức Giêsu: “Con là Con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra Con. Ta sẽ là Cha Người, và chính Người sẽ là Con Ta” (Dt 1:5). Khi đưa Trưởng Tử Giêsu vào thế giới loài người, chính Thánh Phụ cũng đã minh định: “Mọi thiên thần của Thiên Chúa phải thờ lạy Người” (Dt 1:6).

Chúa Giêsu là Trưởng Tử, là Huynh Trưởng, là Sư Phụ, là Mặt Trời Công Chính. Giáo huấn của Ngài giản dị và ngắn gọn nhưng hàm súc và thâm thúy: Yêu thương. Tất cả chỉ tóm gọn là mến Chúa và yêu người. Nghĩa là yêu thật, phải chứng tỏ bằng hành động chứ không nói suông. Như Thánh Giacôbê xác định:“Đức tin không có việc làm là đức tin chết” (Gc 2:17 & 26). Lời nói gió bay, làm thì mới đáng tin! Người ta rất sợ những người mang họ “hứa”. Đối với dụ ngôn Phú hộ và Ladarô (x. Lc 16:19-31), có lẽ người ta nghe riết có thể hóa… nhàm, nhưng đó là chuyện có thật chứ không là tiểu thuyết hoặc viễn tưởng. Chúa rất thực tế khi thể hiện lòng xót thương và dạy người ta yêu thương nhau, vì Ngài bảo không thể cho hòn đá khi người ta cần bánh hoặc cho con rắn khi người ta cần cá (Mt 7:9).

Mỗi khi thấy dân chúng lầm than vất vưởng, Ngài luôn chạnh lòng thương (x. Mt 9:35-37), và rồi Ngài đã thể hiện tình thương ấy rất nhiều lần và rất cụ thể. Ngài đã làm sáng ngời tình yêu thương ở bất cứ nơi nào Ngài tới, chúng ta là môn đệ của Ngài thì cũng phải chiếu loại ánh sáng ấy cho hết mọi người, mọi nơi. Trong thời cánh chung này, Chúa không sai ai mà đích thân Ngài đến để minh chứng tình yêu, để ban phát Lòng Thương Xót, đồng thời Ngài cũng thúc giục mọi người noi gương Ngài mà thể hiện Lòng Thương Xót với tha nhân như Ngài vậy. Trao tặng hoàn toàn miễn phí và vô điều kiện, đối với cả kẻ thù nữa. Ánh sáng Tình yêu dẫn tới Nguồn sáng Cứu độ.

SÁNG NGỜI ƠN CỨU ĐỘ

Con Người Giêsu chính là Ngôi Hai Thiên Chúa. Thánh Gioan xác định: “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Lúc khởi đầu, Người vẫn hướng về Thiên Chúa. Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, không có Người thì chẳng có gì được tạo thành” (Ga 1:1-3). Ngôi Lời đó đã hóa thành nhục thể, mặc xác phàm, trở nên hoàn toàn giống phàm nhân – trừ tội lỗi. Thật vậy, “điều đã được tạo thành ở nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại. Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng” (Ga 1:4-5). Chính Ngôi Lời Nhập Thể là Ánh sáng chiếu soi muôn dân, là Ánh sáng Cứu độ.

Trước đó 6 tháng, Thiên Chúa đã sai Gioan đến để làm chứng về Ánh sáng, dù ông không là ánh sáng, mà chỉ để mọi người nhờ ông mà tin (x. Ga 1:6-8). Thánh Gioan là “nhân vật quan trọng” (VIP – very important person) bởi vì ông là người đi tiên phong để mở đường sửa lối cho Cứu Chúa Giêsu. Ông là vị “ngôn sứ giao thời” – ngôn sứ cuối cùng của Cựu ước và là ngôn sứ nối kết với Tân ước. Trọng trách của ông rất đặc biệt, nhưng ông biết có một “siêu VIP” chính là Đức Kitô, đến sau mà có trước, như ông giải thích: “Người đến sau tôi nhưng trổi hơn tôi, vì Người có trước tôi” (Ga 1:15).

Trình thuật Phúc Âm hôm nay nhắc đi nhắc lại 5 lần danh từ “Ngôi Lời” và 8 lần danh từ “ánh sáng”. Hơn ai hết, Thánh Gioan biết rõ Ngôi Lời vô cùng quan trọng, vì “Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người” (x. Ga 1:9).

Tuy nhiên, có 9 người thôi mà lại có tới 10 ý kiến, Phúc Âm gọi dạng đó là “lúa và cỏ lùng”, người đời gọi là “vàng thau lẫn lộn”. Thế nên, “Ngài Ở GIỮA thế gian, và thế gian đã NHỜ Ngài mà có, nhưng lại KHÔNG nhận biết Ngài. Ngài ĐÃ ĐẾN nhà mình, nhưng người nhà CHẲNG chịu đón nhận” (Ga 1:10-11). Quả thật, đó là một lời cảnh báo rất cấp bách đối với mỗi chúng ta ngày nay!

Thật vậy, chỉ những ai thực sự tiếp nhận Ánh sáng Đức tin và Ánh sáng Yêu thương thì mới xứng đáng lãnh nhận Ánh sáng Cứu độ. Chúng ta thật diễm phúc vì chính Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta – Emmanuel, chúng ta cũng đã được nhìn thấy vinh quang của Ngài là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật. Và rồi tất cả chúng ta còn được lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác. Nếu chúng ta đã “được cho không thì cũng phải cho không như vậy” (Mt 10:8). Đó là công bình. Tất cả là Hồng ân (Rm 4:16) thế nên tất cả phải “miễn phí” hoàn toàn theo Tôn Ý của Chúa Giêsu.

Thánh “phượng hoàng” Gioan nói: “Ai giữ lời Ngài dạy, nơi kẻ ấy tình yêu Thiên Chúa đã thực sự nên hoàn hảo” (1 Ga 2:5). Quả thật, “bạn rất khôn ngoan vì bạn mang Chúa Giêsu đến cho những tâm hồn chưa nhận biết Ngài” (Cn 11:30). Giáng sinh là bài học về sự nhập thế, là lên đường, là vào đời, là ra khơi,… để có thể đích thân đến với nhau, trao cho nhau nụ cười thân ái, bắt tay nhau thân thiện. Đó là cách kiến tạo hòa bình giản dị nhưng rất cụ thể.

Lạy Thiên Chúa, xin thương tha thứ, bởi vì chúng con là những tội đồ (Lc 18:9-14), lâu nay vẫn câu nệ đủ thứ, chưa thực sự thể hiện đức ái đúng như Ngài mong muốn. Xin giúp chúng con chiếu tỏa Ánh sáng Đức Kitô trong hoàn cảnh sống của mỗi chúng con, xin giúp chúng con can đảm và nhiệt thành dấn thân thực sự chỉ vì muốn làm sáng danh Ngài chứ không vì ý đồ riêng tư nào khác, nhờ vậy chúng con mới khả dĩ tận hưởng sự bình an đích thực trong cuộc sống. Chúng con cầu xin nhân danh Chúa Hài Đồng, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.


 

GS-267: Lên Đường


Ngày 25 Tháng 12

Lễ Chúa Giáng Sinh

Thánh Lễ Rạng Đông

 (Ys 62,11-12; Tt 3.4-7; Lc 2,15-20)
 Phúc Âm: Lc 2, 15-20

"Các mục tử đã gặp thấy Maria, Giuse và Hài Nhi".

 

Khi các thiên thần biến đi, thì các mục tử nói với nhau rằng: "Chúng ta sang Bêlem và coi xem sự: GS-267


Khi các thiên thần biến đi, thì các mục tử nói với nhau rằng: "Chúng ta sang Bêlem và coi xem sự việc đã xảy ra mà Chúa đã cho chúng ta được biết". Rồi họ hối hả tới nơi và gặp thấy Maria, Giuse và Hài Nhi mới sinh nằm trong máng cỏ. Khi thấy thế, họ đã hiểu ngay lời đã báo về Hài Nhi này. Và tất cả những người nghe, đều ngạc nhiên về điều các mục tử thuật lại cho họ.

Còn Maria thì ghi nhớ tất cả những sự việc đó, và suy niệm trong lòng. Những mục tử trở về, họ tung hô ca ngợi Chúa về tất cả mọi điều họ đã nghe và xem thấy, đúng như lời đã báo cho họ.

 Suy Niệm:

(Ngày 25 Tháng 12 Lễ Chúa Giáng Sinh - Thánh Lễ Rạng Đông)

(Ys 62,11-12; Tt 3.4-7; Lc 2,15-20)

Theo chân các mục đồng, chúng ta lên đường đi gặp Chúa và bắt chước họ, chúng ta hân hoan về những điều mắt thấy tai nghe.

 A. Lên Đường

Nghe lời các thiên thần, các mục đồng rủ nhau: "Nào ta hãy đi tới Bêlem!". Và họ đã vội vã lên đường. Những ai quen biết Tin Mừng Luca có thể nhận thấy ngay ở đây một cái gì vọng lại việc Đức Maria đi thăm bà Êlisabét. Ngày ấy, Đức Maria cũng được sứ thần nhà trời báo tin việc bà chị họ cưu mang do quyền phép của Thiên Chúa. Luca kể: sứ thần vừa ra đi là Đức Maria đã vội vã lên đường. Ở đây cũng vậy, các thiên thần vừa khuất mắt, các mục đồng đã vội vã rủ nhau đi Bêlem. Trong cả hai trường hợp, cũng một thái độ vội vã, nhanh nhẹn thi hành Ý Chúa. Và động lực thúc đẩy chính là lòng tin đơn thật, trong trắng mà chỉ những người mà Phúc Âm gọi là nghèo khó mới có được.

Nhưng không phải là không có một sự khác biệt giữa Đức Maria và các mục đồng. Luca nhận xét rất sâu sắc. Các mục đồng cũng như các người nghe họ, cũng như họ hàng bà con của Yoan Tẩy Giả trước đây (Lc 1,63) và như các thính giả của Chúa sau này (4,22; 8,25...) đứng trước các việc kỳ diệu của Chúa và giáo huấn với các phép lạ của Người, họ chỉ biết ngạc nhiên bỡ ngỡ. Họ bị xúc động mãnh liệt và không thể không thốt ra những lời chúc tụng hoặc thuật lại cho người khác nghe. Nhưng duy một Đức Maria "giữ kỹ mọi điều ấy và hằng suy đi nghĩ lại trong lòng". Thái độ của Người mới thật là thái độ của người đã tin, của người đã nhận thấy kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa trong khi mọi người khác chưa nhận ra. Kế hoạch mới khởi sự và chưa hiển hiện hết, nên đời người có lòng tin phải suy đi nghĩ lại. Chứ thái độ ngạc nhiên, bỡ ngỡ trên hãy còn hời hợt và mau qua.

Như vậy, với bài Tin Mừng hôm nay, Luca như muốn nhắn nhủ mọi người về thái độ phải có trước mầu nhiệm Giáng sinh. Mau mắn tin vào việc Chúa làm và ngạc nhiên chúc tụng Ngài như các mục đồng đã làm, thật là tốt! Đặc biệt trong Mùa Giáng sinh này, chúng ta hát thánh ca dâng Chúa Hài Nhi cũng rất phải, vì Phụng vụ dưới đất phải liên kết với Phụng vụ trên trời, tiếng chúc tụng của mục đồng phải hợp hoan với tiếng ca của các thiên thần. Nhưng tất cả sẽ mau qua và hời hợt, nếu chúng ta không bắt chước thái độ của Đức Maria, suy đi nghĩ lại trong lòng và khi đó việc lên đường của chúng ta hôm nay không phải để đi đến Bêlem hay máng cỏ, nhưng là để đi vào trong thâm cung của lòng mình, để thấy ơn Chúa Giáng sinh đang làm gì cho chúng ta.

 B. Ơn Giáng Sinh

Lời sách Isaia khi đó sẽ thấm thía. Chúng ta không còn là thành đô bị bỏ rơi, nhưng đã được tìm kiếm; chúng ta đã được Chúa cứu chuộc và trở nên thánh thiện. Người đến, quả để ân thưởng chúng ta. Chúng ta trước đây xa lạ với Chúa. Tệ hơn thế nữa, chúng ta đã thù địch với Người, nên bị bỏ rơi trong cảnh tội lỗi lầm than. Trái tim mỗi người như thiếu tình yêu, hay quá lộn xộn vì dục vọng. Nay Chúa cứu chuộc đến với ta, để mang tình yêu của Người tới. Người tìm kiếm ta để ta không còn bị bỏ rơi. Và thánh Phaolô bảo, Người đến rửa sạch tội lỗi, để Thánh Thần của Người tràn ngập lòng ta, hầu ta được kế thừa sự sống đời đời.

Nhận thấy ơn Giáng sinh như vậy, không ai được phép chỉ chạy theo những niềm vui tự nhiên của Mùa Giáng sinh; nhưng còn phải có thái độ trầm lặng như Đức Maria, suy tư trước cảnh Chúa trở thành Hài Nhi, để thấy thiên tính đã hiện thân trong xác thể thế nào, hầu muốn đem chất siêu nhiên của Chúa vào trong cuộc đời cụ thể của ta. Muốn làm công việc ấy, rõ ràng ta phải tìm hiểu nhiều về Chúa, phải đọc Thánh Kinh nhiều và nhất là phải có lòng tin sâu xa như Đức Maria.

Lòng tin ấy, ta cũng phải có ngay trong lúc này để đi vào Thánh Lễ; nếu không, làm sao ta có thể cảm nghiệm được đây là mầu nhiệm Mình Máu Thánh Chúa cứu chuộc chúng ta. Nhờ việc suy đi nghĩ lại về ơn Thánh Thể chúng ta sẽ chịu, chúng ta sẽ thêm ý thức về Lòng nhân ái của Thiên Chúa chúng ta. Người hằng muốn ban Thánh Thần để nhập thể trong ta, biến cuộc đời của ta nên đời sống của Người, để Người tiếp tục cứu độ trần gian, nối dài mầu nhiệm Giáng sinh cứu đời ở thời đại ta.

 (Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa của Đức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)


 

GS-268: Lễ Giáng Sinh, năm A


(Lễ Rạng Đông)

Lc 2:15-20: 15 Và khi các thiên thần đã từ giã họ mà về trời, mục đồng bảo nhau: "Chúng ta hãy qua Bêlem mà xem điều đã xảy ra, và Chúa đã khấng tỏ cho ta biết". 16 Họ hối hả đi đến và đã gặp Maria và Yuse cùng hài nhi đặt nằm trong máng cỏ. 17 Thấy rồi, họ nói ra cho biết điều họ đã được phán dạy về Hài nhi. 18 Và mọi người nghe đều kinh ngạc về các điều mục đồng đã thuật lại cho mình. 19 Còn Maria thì bà giữ  kỹ mọi điều ấy và hằng suy đi nghĩ lại trong lòng. 20 Rồi các kẻ mục đồng lui về tôn vinh và ca ngợi Thiên Chúa vì mọi điều họ đã được nghe và thấy, chiếu theo lời đã phán dạy họ.

 

Đoạn 2:15-20 nằm trong trình thuật về việc giáng sinh của Chúa Giêsu (2:1-20). Theo sau đoạn : GS-268


Đoạn 2:15-20 nằm trong trình thuật về việc giáng sinh của Chúa Giêsu (2:1-20). Theo sau đoạn nầy là trình thuật cắt bì cho Người (2:21-40). Xem thêm văn mạch của đoạn nầy trong bài chú giải Lễ Giáng Sinh 2:1-14 (Lễ Đêm). Bố cục của trình thuật giáng sinh 2:1-20: - Bối cảnh lịch sử của việc Chúa Giêsu giáng sinh (2:1-5); - Cảnh giáng sinh (2:6-7); - Thiên sứ loan báo (2:8-14) và các mục tử tìm đến (2:15-20). Đoạn tin mừng nầy thuật lại việc các mục tử tìm đến nơi Chúa sinh ra và phản ứng của họ. Có thể phân chia bố cục của đoạn nầy như sau: - Các mục tử ra đi để xem điều được loan báo (2:15); - Họ đã thấy và nhận biết (2:16-17); - Hiệu quả lời loan báo lại của họ (2:18-19); - Họ ngợi khen Thiên Chúa về điều đã thấy (2:20). Chữ “poimçn”, “mục tử” đóng khung đoạn nầy (2:15.20). Trước tiên họ ra đi để tìm xem điều đã được thiên sứ loan báo (2:15). Khi ra về, họ loan báo cho người khác và ngợi khen Thiên Chúa về những điều ấy (2:20). Những từ quan trọng “rhçma”, “sự việc” (2:15.17.19); “laleô” “nói”, “loan báo” (2:15.17.18.20); “thấy” (2:15.17.20).

Các mục tử ra đi để xem (2:15). Sau khi các thiên sứ lên trời, các mục tử rủ nhau đến Bêthhem, để xem điều đã được loan báo. “Đi sang” chỉ một khoảng cách từ nơi họ ở đến Bêthlem. Bêthlem nầy chính là  “thành Đavít” đã được loan báo (2:11). Luca dùng cách nói “Chúa (kurios) cho biết điều nầy” để chỉ điều nầy liên qua đến sự cứu độ. Họ đã được loan báo về Đấng Cứu Thế (2:11). Điều nầy “rhçma” ở đây là đã trở thành một hành động “Hài Nhi được đặt nằm trong máng cỏ” (2:16; 2:7.12). Điều các mục tử đã nghe (2:15) thúc đẩy họ ra đi tìm kiếm và nhận biết sau đó (2:17).

Họ đã thấy và nhận biết (2:16-17). Việc họ “hối hả”, speudô, cho thấy lòng ước ao nhìn thấy điều kỳ diệu của Thiên Chúa. Họ vội vã vì muốn nhìn thấy Đấng Cứu Thế đến với họ (x. 1:39; 19:5-6). Họ đã tìm thấy dấu hiệu “Hài Nhi được đặt nằm trong máng cỏ” (2:12). Động từ “aneuriskô” chỉ việc khám phá sau khi tìm kiếm. Luca không nói họ đã tìm kiếm như thế nào, mà chỉ cho biết sự việc tìm kiếm đã hoàn thành. Bởi “thấy” họ đã “nhận biết” đúng như điều Chúa đã cho họ biết (2:17).

Hiệu quả lời loan báo của họ (2:18-19). Trước khi nói đến phản ứng và thái độ của các mục tử sau khi đã tìm ra Đấng Cứu Thế, Luca đề cập đến phản ứng của những người nghe các mục tử thuật lại sự kiện, “Họ kinh ngạc trước những điều đã nghe” (2:18). Và phản ứng của Mẹ Maria, “ghi nhớ những điều ấy trong lòng” (2:19). “Họ kinh ngạc”, thaumazô, Luca thường dùng động từ nầy chỉ ấn tượng mạnh mẽ nơi những người chứng kiến những điều kỳ diệu của Thiên Chúa (1:21.63; 4:22; 9:43; 11:14). Phần mẹ Maria, Luca không nói đến sự kinh ngạc, “giữ tất cả những sự việc ấy và suy ngắm trong lòng”. “Syntçreô” “gìn giữ cách cẩn thận”. Matthêô dùng động từ nầy chỉ việc bầu da mới gìn giữ rượu mới khỏi chảy đổ ra ngoài (x. Mt 9:17). Symballô “gặp nhau” “bàn thảo” “đánh giá” (14:31; Cv 4:5; 17:18; 18:27; 20:14). Như thế, mẹ Maria ghi nhận và đánh giá tất cả những gì mẹ nghe các mục tử thuật lại và những gì mẹ đang thấy.

Họ ngợi khen Thiên Chúa về những điều đã thấy (2:20). Những gì các mục tử muốn thấy (2:15), họ đã thấy (2:20); những gì họ đã nghe loan báo, nay đã được chứng kiến. Họ ca ngợi Thiên Chúa như các thiên sứ đã làm (2:13). Thông thường tất cả những điều gì Thiên Chúa làm cho con người đều khiến con người ca ngợi Người (5:25; 7:16; 13:13; 17:15; 18:43; 23:47; Cv 11:18).

Hài Nhi vấn khăn đặt nằm trong máng cỏ là trung tâm của trình thuật. Chung quanh Người là Maria và Giuse, và các mục tử; qua lời các mục tử những người khác cũng biết đến biến cố nầy. Tin mừng về Hài Nhi nầy được loan tin bằng lời nói (2:15.17.18.20), và đã làm dậy lên niềm vui và ca ngợi nơi những người nầy, vì hôm nay Đấng Cứu Thế đã sinh ra cho chúng ta.

Lm. Luigi Gonzaga Đặng Quang Tiến


 

GS-269: CHÚA SINH RA : MỘT SỰ KỲ DIỆU


LỄ CHÚA GIÁNG SINH

(LỄ ĐÊM)
Lc 2,1-14

 

Đêm nay khắp thế giới mừng Chúa sinh ra. Bài hát :” Đêm Thánh “ như có một sức lôi cuốn thật: GS-269


Đêm nay khắp thế giới mừng Chúa sinh ra. Bài hát :” Đêm Thánh “ như có một sức lôi cuốn thật kỳ điệu, thật linh thánh. Đêm Thánh vô cùng giây phút tưng bừng, đất với trời se chữ đông…Lời ca thúc bách con người đi về Bêlem để tìm gặp và  cung chiêm Hài Đồng Giêsu.

CHÚA SINH RA : MỘT HỒNG PHÚC.MỘT QUÀ TẶNG TUYỆT VỜI

Chúa giáng sinh đem lại hòa bình, một sự thay đổi lớn lao. Công đồng Vaticanô II tuyên bố về ý nghĩa của việc Chúa Kitô ngự đến :” Bởi vì, chính Con Thiên Chúa khi  Nhập Thể, một cách nào đó đã kết hợp với tất cả mọi người. Người đã làm việc với bàn tay con người đã suy nghĩ bằng trí óc con người, đã hành động với ý chí con người, đã yêu mến bằng quả tim con người. Sinh bởi Trinh Nữ Maria. Người đã thực sự trở nên một người giữa chúng ta, giống chúng ta mọi sự ngoại trừ tội lỗi…Người còn mở ra con đường mới để nếu chúng ta theo thì sự sống và cái chết sẽ được thánh hóa và có một ý nghĩa mới “ ( Hiến chế về Giáo Hội trong thế giới ngày nay,số 22 ). Việc Chúa Giêsu được Mẹ Maria sinh ra mang lại cho nhân loại, cho thế giới một ý nghĩa mới : thế giới tràn ngập niềm vui và tình thương. Chúa Hài Nhi Giêsu là một hồng phúc tuyệt vời, một quà tặng quí giá nhất Thiên Chúa tặng ban cho mỗi người, cho nhân loại. Do đó, giáng sinh đưa ta về Bêlem bằng đức tin thẩm sâu để thấy rằng Con Thiên Chúa đã đản sinh, mặc lấy thân phận yếu đuối của con người chúng ta. Người đã ban cho bản tính hay chết của chúng ta một giá trị bất tử.

CHÚA SINH RA  ĐEM ƠN CỨU ĐỘ CHO NHÂN LOẠI : Bài thánh ca bất hủ “Đêm Thánh”( Silent Night ) diễn tả một cái gì đó thật linh thánh, thật diệu kỳ. Chúa sinh ra không phải trong cung điện nhà vua, không sinh ra nơi cao sang, giầu có. Người được sinh hạ trong bầu khí cứu độ nơi các nhà thờ trên thế giới, đặc biệt trong nhà thờ giáo xứ chúng ta. Lời tung hô trên không trung của các thiên thần trong đêm giáng sinh năm xưa :” Vinh danh Thiên Chúa trên trời. Bình an dưới thế cho người thiện tâm “ vẫn như đang hiện thực trước mắt chúng ta trong đêm thánh hôm nay. Chúa giáng sinh để nhân loại được an bình và để ơn cứu độ nơi Người chan chứa. Chúa đến để nâng mọi sự lên cùng Người và dẫn chúng ta ra khỏi chốn lưu đầy để về cùng Cha.

VẪN LÀ CÁI NAO NAO CỦA NHỮNG TÂM HỒN NGAY THẲNG :

Đêm giáng sinh như có một cái gì đó thật huyền diệu nhưng cũng thật thực tế và việc Chúa sinh ra như đang xẩy ra ngay trước mắt chúng ta. Chúa Hài Đồng Giêsu đang nằm đó, trong hang đá máng lừa, Mẹ Maria và thánh Giuse đang cung chiêm sự lạ lùng và Mẹ vẫn suy đi nghĩ lại về sự lạ lùng ấy. Các mục đồng đang hối hả đi về Bêlem theo tiếng thiên thần loan báo đễ tìm gặp Hài Đồng Giêsu. Tất cả đều lạ lùng. Tất cả đều mới. Tất cả đều ngạc nhiên. Những con người nghèo, các mục đồng đơn sơ, ngay chính là những người đã gặp được Con Thiên Chúa làm người. Con người thành tâm thiện chí trong đêm giáng sinh này vẫn cảm thấy thật nao nao, vẫn như có một cái gì thật linh thiêng thúc giục họ đi tìm Hài Đồng Giêsu để chiêm ngắm Người.

Nhân loại vẫn còn biết bao người làm ngơ với biến cố Con Thiên Chúa làm người. Họ thờ ơ, họ lãnh đạm và họ bịt tai, nhắm mắt để dứt khóat không nhận ra Vua vũ trụ làm người. Chỉ có những con người đơn thành, tay sạch, lòng ngay, chỉ có những người nghèo khao khát ơn cứu độ, chỉ có những mục đồng mới hối hả đi tìm gặp Hài Đồng Giêsu.

Lạy Chúa Hài Đồng Giêsu xin giúp chúng con biết lắng nghe tiếng các thiên thần như các mục đồng khi xưa để mau mắn, chóng vánh, hối hả đi tìm gặp Chúa Hài Đồng. Amen.

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT


 

GS-270: TIN VUI GIỮA GIỜ TUYỆT VỌNG


Lễ Giáng Sinh Rạng Đông

 

Hình ảnh Giáng Sinh giăng mắc khắp nơi.  Niềm vui bừng lên khắp mặt đất.  Đây là cơ hội lớn: GS-270


Hình ảnh Giáng Sinh giăng mắc khắp nơi.  Niềm vui bừng lên khắp mặt đất.  Đây là cơ hội lớn để khám phá ý nghĩa sâu đậm trong biến cố Con Thiên Chúa nhập thể, chứ không phải để ngắm những nhân vật hay cảnh sắc muôn màu trong hang đá Bêlem.

NGÔN NGỮ NGƯỜI NGHÈO.

Nhìn vào hang Bêlem, chúng ta thấy các mục đồng đang nối đuôi sau các nhà hiền sĩ đến thờ lạy Chúa Hài nhi.  So với các hiền sĩ, mục đồng kém xa về mọi phương diện học thức, địa vị, tiền bạc, của cải.  Cùng với Đức Maria và thánh Giuse, họ thuộc về giai cấp cùng đinh trong xã hội.  Họ không có gì để hi vọng, ngoại trừ Thiên Chúa.   Bởi vậy, Thiên Chúa mới dành cho họ tất cả những vinh dự lớn lao nhất.  Đúng như Đức Giêsu đã tiên báo: “Kẻ nghèo được nghe Tin Mừng.” (Mt 11:5)  Quả thế, họ là những người đầu tiên đón nhận mạc khải của Thiên Chúa: “Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đavít, Người là Đấng Kitô Đức Chúa.” (Lc 2:11) 

Không thể không hành động khi đã đón nhận lời Thiên Chúa mạc khải.   Bởi thế, các người chăn chiên đã lên đường.   Dấu chỉ duy nhất để nhận ra Đấng Cứu Độ là “một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ.” (Lc 2:12)    Tuy thế, các mục đồng vẫn tin.  Họ đã thấy lời thiên sứ ăn khớp với thực tại, mặc dầu trái ngược với mộng tưởng.   Thiên sứ đã không làm cho họ thất vọng.  Thiên sứ đã nói thật !   Sự thật đó đã phát sinh niềm tin sâu xa nơi cõi lòng đơn sơ, chất phác của họ.   Chính niềm tin đó đã khiến họ thành những vị tông đồ đầu tiên loan báo Tin Mừng cho nhân loại, kể cả Đức Maria và thánh Giuse.   Tâm hồn những người loan báo Tin Mừng chắc chắn không thể ủ rũ héo tàn.   Trái lại tâm hồn họ nở rộ niềm vui như chính Tin Mừng họ công bố.   Lên tới tột đỉnh, niềm vui sẽ biến thành lời ca tụng.   Bằng chứng, sau khi làm cho mọi người ngạc nhiên vì hồng ân cứu độ, “các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa,” (Lc 2:20) vì đã thỏa lòng ước mong.   Nếu chỉ nhìn thấy dấu chỉ lộng lẫy và oai hùng cân xứng với địa vị Đấng Cứu Độ, chắc họ đã không thể khám phá được hồng ân Thiên Chúa.   Chỉ người nghèo mới có thể hiểu được người nghèo !   Thiên Chúa đã đến và “cư ngụ giữa chúng ta,” (Ga 1:14) như một Hài Nhi đơn sơ nghèo hèn.  “Thiên Chúa đồng hóa với những người thấp cổ bé họng, người nghèo khổ, bị đàn áp, và vô gia cư,” (The New Interpreter’s Bible 1995:66)  để ơn cứu độ không trở thành xa lạ đối với họ.

Sau khi nghe Tin Mừng vĩ đại, “họ liền hối hả ra đi và gặp bà Maria, ông Giuse, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ.” (Lc 2:16)   “Thấy vậy, họ kể lại điều họ đã được nghe nói về Hài Nhi này,” (Lc 2:17)   Khi chứng kiến cảnh tượng ấy, các người chăn chiên không hề ngạc nhiên “vì mọi điều họ đã được tai nghe mắt thấy theo như họ đã được loan báo.” (Lc 2:20).   Trái lại, “tất cả những ai nghe đều ngạc nhiên về những gì các người chăn chiên nói cho họ biết.” (Lc 2:18)   Ngạc nhiên vì thực không bằng mộng.   Ngạc nhiên vì niềm vui quá bất ngờ và hồng ân quá lớn lao.  Trong số những người nghe mục đồng, chỉ có Đức Maria mới “ghi nhớ tất cả những điều ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng” (Lc 2:19) về lời thiên sứ.   “Không những là nữ tì Chúa, Đức Maria còn âm thầm suy gẫm về ý nghĩa của những biến cố lạ lùng này.” (The New Interpreter’s Bible 1995:66)   Từ hôm truyền tin (x. Lc 1:31-33), Mẹ đã không ngừng nỗ lực khám phá ý nghĩa lời thiên sứ  (x. Lc 2:51).   Đó là “dấu chỉ cho thấy Đức Maria cũng phải trải qua một hành trình đức tin (x. Lc 8:19-21; 11:27-29; Cv 1:14).  Đức Maria là một tín hữu gương mẫu.” (The New Jerome Biblical Commentary 1990:683)   Càng ngày Mẹ càng thấy “Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói.” (Lc 1:45)    Bởi thế, không gì có thể ngăn cản Mẹ tin vào lòng thương xót vô điều kiện của Thiên Chúa.   Chính Đức Maria (x. Lc 1:46-55), và ông Dacaria (x. Lc 1:68-79) đã hết lời ca tụng hồng ân vĩ đại đó.

          Mẹ chính là  “thiếu nữ Xion, là ‘cô gái đắt chồng’, là ‘Thành không bị bỏ.’” (Is 62:11-12)   Mẹ đã lọt vào mắt xanh Thiên Chúa.   Bởi thế, Mẹ đã được diễm phúc thấy được niềm hi vọng lớn lao khi nghe : “Kìa ơn cứu độ ngươi đang tới.” (Is 62:11)   Ngay từ đầu Tin Mừng Luca, Thiên Chúa đã mạc khải cho nhân loại tất cả tấm lòng đầy xót thương vô bờ bến.   Quả thực, “Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta, biểu lộ lòng từ bi và nhân ái của Người, không phải vì chúng ta đã làm những việc công chính, mà là vì Người thương xót.” (Tt 3:4-5)   Dù vô tội, Đức Maria đã cảm nghiệm tất cả tấm lòng trời bể đó của Thiên Chúa.    Thật vậy, nếu “Thiên Chúa đã đổ đầy tràn Thánh Thần trên chúng ta, nhờ Đức Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng ta,” (Tt 3:6) Đức Maria chắc chắn càng đi sâu vào tấm lòng Cha nhân ái, vì Mẹ “đầy ân sủng,” (Lc 1:28) trổi vượt hơn chúng ta ngàn trùng.   Bằng chứng, không ai có thể ngợi ca hồng ân Thiên Chúa tuyệt vời như Mẹ trong lời kinh Magnificat.   Đó là một lời kinh hòa bình vì chan hòa lòng thương xót, lẽ công chính và ơn cứu độ của Thiên Chúa.

NỖ LỰC XÂY DỰNG HÒA BÌNH.

Ngay giữa những thử thách trăm bề, Đức Maria vẫn luôn “suy đi nghĩ lại” về tất cả hồng ân lớn lao phát xuất từ tấm lòng từ bi Chúa.   Bởi vậy, Mẹ xứng đáng làm người giới thiệu Hoàng Tử Hòa Bình cho thế giới.   Chính lúc hạ sinh Con Chúa trong khung cảnh nghèo hèn, Mẹ nghe văng vẳng bên tai lời “sứ thần cất tiếng ca tụng Thiên Chúa rằng : ‘Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương.’” (Lc 2:13-14)   Mẹ là tín hữu gương mẫu, vì Mẹ đã tặng hiến thế giới Hoàng tử hòa bình. “Là Kitô hữu, chúng ta phải lớn tiếng loan báo sứ điệp hòa bình phát xuất từ máng cỏ Bêlem hơn lúc nào hết.” (ĐGH Gioan Phaolô II, CWNews 19/12/2001)  Nếu không hoàn thành sứ mạng cao cả đó, chúng ta đánh mất căn tính Kitô hữu của mình. Thật vậy, phải “xây dựng hòa bình,” chúng ta mới xứng đáng “được gọi là con Thiên Chúa.” (Mt 5:9)

Chính vì thế, dù đang sống giữa cảnh dầu sôi lửa bỏng, các nhà lãnh đạo 13 Giáo hội Kitô tại Giêrusalem vẫn có thể gởi sứ điệp Giáng Sinh 2001 cho dân Chúa.   Nội dung sứ điệp cho thấy, “hi vọng mạnh hơn bạo động, niềm vui lớn hơn ‘đau khổ và nỗi buồn’ vì món quà Thiên Chúa gởi đến nhân loại là Đức Giêsu đã sinh ra trong máng cỏ Bêlem.” (CWNews 19/12/2001)   Trong cuộc vật lộn với tử thần, Thiên Chúa luôn luôn chiến thắng, vì “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4:8) mạnh hơn sự chết.    Các nhà lãnh đạo khuyến khích dân chúng đừng rời bỏ thánh địa, vì nếu niềm hi vọng đôi khi bị trù dập vì những biến cố hằng ngày, họ phải “đứng vững trong đức tin, một đức tin bắt nguồn từ miền đất tràn ngập niềm vui Kitô trong con tim anh chị em.” (CWNews 19/12/2001)   Bởi vậy, trước bao nhiêu tính toán chính trị chằng chéo nhau trên đất thánh, 13 vị thượng phụ và các vị lãnh đạo đó đã quyết tâm : “Bất chấp mọi đau khổ, chúng tôi muốn hân hoan cử hành lễ Giáng Sinh năm nay” (CWNews 19/12/2001) tại đất thánh Giêrusalem để kỷ niệm ngày Hoàng Tử Hòa Bình giáng thế.

Hôm nay Hoàng Tử Hòa Bình vẫn muốn nhập thể vào cõi lòng nhân thế, để “sự sống con người được tháp thân vào dòng sống của Thiên Chúa.” (ĐHY Darío Castrillĩn Hoyos, VietCatholic 18/12/2001)   Chỉ khi nào “hội nhập vào sự bao la và vĩnh hằng của Thiên Chúa, và tái khám phá ý nghĩa thánh cho chính sự hiện hữu của mình,” (ĐHY Darío Castrillĩn Hoyos, VietCatholic 18/12/2001) con người mới có thể tìm thấy hòa điệu tuyệt vời và bối cảnh trong sáng cho nền hòa bình, xây dựng trên sự tôn trọng những giá trị đích thực của nhau.

Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, OP
 

 

GS-271: HÀI NHI GIÊSU, HÃY CUNG KÍNH CHIÊM NGẮM NGƯỜI

THÁNH LỄ CHÚA GIÁNG SINH

(  LỄ BAN NGÀY )

Ga 1, 1-18

 

Cái nao nao diệu kỳ của đêm Noel đã nhường lại cho việc chiêm ngắm Hài Nhi Giêsu.Những tiếng: GS-271


Cái nao nao diệu kỳ của đêm Noel đã nhường lại cho việc chiêm ngắm Hài Nhi Giêsu.Những tiếng nhạc, những ánh đèn điện lung linh giờ đây như dừng lại để con người, loài người, nhân loại thờ lạy một Chúa-Làm-Người với thân phận con người đang nằm trong hang đá và rồi từng người sẽ nhận ra Chúa Hài Đồng một vị Chúa từ trời đã mặc xác phàm làm người để sống với, sống vì, sống cho con người. Thánh Gioan đã viết:” Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người”(Ga 1, 9 ).

TÌNH YÊU CHÍNH LÀ CON THIÊN CHÚA LÀM NGƯỜI: Thánh Gioan cũng viết:” Ngôi Lời là Thiên Chúa “( Ga 1, 1 ).Tình yêu đã làm nên mọi sự. Do tình yêu mà Ngôi Lời đã làm người. Tình yêu đã làm nên mọi sự diệu kỳ, mọi sự kỳ diệu và lạ lùng. Thánh Gioan viết :” Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một để những ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết nhưng được sống muôn đời “ ( Ga 3, 16 ). Chúa Giêsu Hài Đồng chính là Tình Yêu từ trời xuống, đã phá tan màn đêm u tối, thắp sáng lung linh thế gian này bằng chính tình yêu cứu độ của Người. Đúng như lời ngôn sứ Isaia đã loan báo:” Dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng hu hoàng; đám người sống trong vùng bóng tối, nay được ánh sáng bừng lên chiếu dọi “ ( Is 9, 1 ). Con Thiên Chúa đã làm người và đang ở giữa nhân loại, ở giữa con người. Emmanuen nghĩa là Thiên- Chúa-ở-cùng-chúng-ta.

HÀI ĐỒNG GIÊSU LÁ ÁNH SÁNG THẬT :

Con người mang thân phận tội lỗi không thể tự mình tỏa sáng, không thể tự mình chiếu soi, dọi sáng. Chỉ mình Hài Đồng Giêsu, Người là ánh sáng thật, ánh sáng chân lý, mới có thể chiếu tỏa ánh sáng thần linh của Người vào tâm trí con người để con người nhận biết Thiên Chúa là Cha đầy tình yêu thương, giầu lòng nhân ái và tha thứ. Chỉ mình Giêsu làm người mới có thể thắp sáng tron trái tim con ngưới ánh lửa cứu độ, ánh lửa cứu rỗi. Và đó là mục đích của Con- Thiên -Chúa –Làm- Người. “ Không ai thấy Thiên Chúa bao giờ; nhưng Con Một là Thiên Chúa, và là Đấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha, chính Người đã tỏ cho chúng ta biết “( Ga 1, 18 ).

HÀI ĐỒNG GIÊSU BAN HỒNG ÂN VÀ SỰ SỐNG MỚI : Làm người, Con Thiên Chúa cư ngụ giữa loài người, hòa đồng với mọi người ngoại trừ tội lỗi. Qua Người, loài người nhận được biết bao hồng phúc, Người ban sự sống mới cho con người. Chúa Giêsu Hài Đồng tới trần gian để ban sự sống vĩnh cửu cho con người. Xưa Ađam vì phạm tội đã làm cho loài người, đã làm cho con người phải chết. Chúa Giêsu ban sự sống đời đời cho nhân loại.  Chúa Hài Đồng chiếu tỏa ánh sáng trọn hảo vào linh hồn của mỗi người. Ánh sáng của Chúa Giêsu là chính Thiên Chúa. “ Tôi là ánh sáng thế gian, ai theo tôi, sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng ban sự sống “ ( Ga 8, 12 ).

Chiêm ngắm Hài Nhi Giêsu :” Là Đường, Là Sự Thật, Là Sự Sống “, “ Là Ánh Sáng “ đó là cung chiêm Con Thiên Chúa làm người. Chiêm ngắm Hài Đồng Giêsu là tin nhận Chúa đến để cứu độ con người.

Lạy Chúa Hài Đồng Giêsu, xin cho chúng con luôn sẵn sàng chiêm ngưỡng Chúa vì Chúa lá ánh sáng, là tình yêu của chúng con. Amen.

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT


 

GS-272: Lễ Giáng Sinh


(Lễ đêm)

2007

 

Mỗi buổi sáng khi hừng đông bắt đầu ló rạng ở chân trời thì bóng tối cũng dần dần tan biến: GS-272


Mỗi buổi sáng khi hừng đông bắt đầu ló rạng ở chân trời thì bóng tối cũng dần dần tan biến.  Tuy nhiên cảnh tượng xảy ra từ từ nên ta ít để ý tới sự thay đổi từ bóng tối chuyển sang ánh sáng.  Thánh Lễ Ban Đêm của đại lễ Giáng Sinh diễn tả cuộc đột biến từ đêm tối tội lỗi sang chói lọi huy hoàng của mặt trời công chính, cảnh tượng chỉ xảy ra một lần duy nhất để khởi đầu cho một triều đại, Triều Đại Thiên Chúa.  Cuộc đột biến này chắc hẳn phải ghi ấn tượng sâu đậm trong tâm hồn Ki-tô hữu khi Giáo Hội hằng năm cử hành biến cố Thiên Chúa giáng trần.  Vậy Lời Chúa nói gì với ta về cuộc tỏ hiện của Ánh Sáng giữa đêm tối, của Ân Sủng giữa cảnh vực tội lỗi và của Thiên Chúa giữa nhân loại?

   “Một trẻ thơ đã chào đời để cứu ta, một người con đã được ban tặng cho ta” (Bài đọc Cựu Ước – Is 9:1-6)

          Ngôn sứ I-sai-a nhìn thấy cảnh tượng vô cùng sống động của một cuộc đổi thay cục diện thế giới.  Nhân loại sống trong cảnh tối tăm, áp bức và chiến tranh.  Bỗng nhiên ngoài sự mong đợi của mọi người, ánh sáng bừng lên, không còn cảnh hà hiếp kẻ yếu đuối và chiến tranh điêu tàn nữa.  Tất cả thay đổi xảy ra trong nháy mắt khi “một trẻ thơ chào đời để cứu ta và một người con đã được ban tặng cho ta” (Is 9:5).

          Nhưng “trẻ thơ” và “người con” ấy là ai mà lại có thể biến đổi thân phận của toàn thể nhân loại như vậy?  Nếu tham dự các thánh lễ từ ngày 17 đến 24 trước lễ Giáng Sinh, ta nhận thấy mỗi lời Tung hô Tin Mừng đều nêu lên một danh hiệu của Chúa Cứu Thế:  Khôn ngoan của Đấng Tối cao, Thủ lãnh nhà Ít-ra-en, Mầm non từ gốc Gie-sê, Chìa khóa nhà Đa-vít, Đức Em-ma-nu-en, Vua muôn nước, Vầng đông.  Tuy nhiên ở đây ngôn sứ I-sai-a sử dụng bốn danh hiệu để nói về hài nhi và sứ mệnh em sẽ thi hành.  Đó là Cố vấn kỳ diệu, Thần linh dũng mãnh, người Cha muôn thuở và Thủ lãnh hòa bình.

          Mục đích Hài Nhi Cứu Thế chào đời là để cứu ta.  Ta là “đoàn dân đang lần bước giữa tối tăm” và là “đám người sống trong vùng bóng tối”.  Người là Vầng đông xuất hiện xua tan bóng tối.  Ta là những kẻ bị tội lỗi thống trị với “ách đè lên cổ” và “gậy đập xuống vai”.  Người là Thần linh dũng mãnh đập tan sức mạnh của Xa-tan.  Với sứ mệnh cứu độ, Hài Nhi Giê-su sẽ đóng những vai trò khác nhau để dẫn đưa ta trong hành trình trở về nhà Cha.  Như một vị Cố vấn kỳ diệu, Người dạy ta biết sống theo đường lối của Thiên Chúa, tức là sống theo Thánh Thần.  Là Thần linh dũng mãnh, Người gìn giữ ta và giúp ta chống lại mọi thứ thần dữ hằng lôi cuốn và cám dỗ ta trong cuộc sống.  Với vai trò là người Cha muôn thuở, Người dạy dỗ và khích lệ ta biết luôn sống trong chức phận làm con cái Thiên Chúa.  Là Thủ lãnh hòa bình, Người dẫn ta vào cuộc sống đầy yêu thương, yêu mến Thiên Chúa và yêu thương anh chị em.

          Tất cả những điều trên đều nằm trong kế hoạch của Thiên Chúa.  Tuy nhiên ngôn sứ I-sai-a không quên nhắc nhở ta rằng:  “Vì yêu thương nồng nhiệt, Đức Chúa các đạo binh sẽ thực hiện điều đó”.  Yêu thương bao giờ cũng là động lực duy nhất của mọi việc Thiên Chúa làm.

   “Ân sủng của Thiên Chúa đã được biểu lộ, đem ơn cứu độ đến cho mọi người” (bài đọc Tân Ước – Tt 2:11-14)

          Thánh Phao-lô có lối suy tư thần học tuyệt vời để nói về biến cố Đấng Cứu Thế xuất hiện.  Ngài gọi biến cố Con Một Thiên Chúa đến với nhân loại là “Ân sủng của Thiên Chúa”.  Ngày Đức Ki-tô giáng sinh là lúc Thiên Chúa biểu lộ ân sủng của Người.

          Nhưng điều độc đáo là thánh Tông đồ đã không diễn tả Ân Sủng như một điều trừu tượng, mà là một Ân Sủng bằng xương bằng thịt, cũng giống như Tin Mừng Gio-an đã khẳng định “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1:14).  Ân Sủng ấy là chính Đức Ki-tô, Đấng đã đến để rao giảng Tin Mừng và “dạy chúng ta phải từ bỏ lối sống vô luân và những đam mê trần tục, mà sống chừng mực, công chính và đạo đức ở thế gian này”.  Người đã chu toàn sứ mệnh cứu thế để thể hiện lời ngôn sứ I-sai-a:  “Vì yêu thương nồng nhiệt, Đức Chúa các đạo binh sẽ thực hiện điều đó”.  Thực vậy, tất cả cuộc đời trần thế của Đức Ki-tô là để nói lên tình yêu Thiên Chúa đối với nhân loại và để kêu gọi con người phải luôn lấy tình yêu làm chủ động cho đời sống.  Người dạy ta sống đời yêu thương bằng gương mẫu của chính Người khi Người “tự hiến để cứu chuộc chúng ta cho thoát khỏi mọi điều bất chính”.

          Sứ mệnh của Đức Ki-tô là quy tụ “chúng ta thành Dân riêng của Người, một dân hăng say làm việc thiện”.  Đường lối của Thiên Chúa đi theo từng bước.  Đầu tiên là Người chọn Áp-ra-ham làm đầu một dân được tuyển lựa giữa muôn dân.  Rồi từ dân tuyển lựa ấy, Người ban cho nhân loại Đấng Cứu Thế, để Đấng Cứu Thế sẽ làm “trưởng tử” của dân Ít-ra-en Mới.  Tuy nhiên ta đừng quên dân Ít-ra-en Mới phải là “một dân hăng say làm việc thiện”, cũng như ngôn sứ I-sai-a đã mô tả vương quốc mới của vua Đa-vít là vương quốc “kiên cố vững bền trên nền tảng chính trực công minh”.

   “Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa-vít, Người là Đấng Ki-tô, là Đức Chúa” (bài Tin Mừng – Lc 2:1-14)

          Lời tiên báo của ngôn sứ I-sai-a và suy niệm của thánh Phao-lô về biến cố Chúa Cứu Thế đến trần gian giúp ta nhận biết được Thiên Chúa yêu thương ta như thế nào.  Lời tin mừng của sứ thần Chúa đã lập lại tất cả những điều các ngôn sứ loan báo:  Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa-vít.  “Hôm nay” là ngày hồng phúc Thiên Chúa ở cùng chúng ta, Em-ma-nu-en, ngày Thiên Chúa ban tặng cho ta người con và ngày vinh quang của Người tỏ hiện.  Thời điểm “hôm nay” luôn mang tính chất hiện tại, áp dụng cho mọi thời kể từ ngày Thiên Chúa làm người.  Cũng thế, “thành vua Đa-vít” không còn là Bê-lem nhỏ bé trong nước Do-thái nữa, nhưng đã vượt giới hạn không gian để trở thành “vương quốc của vua Đa-vít” hoặc “Triều Đại Thiên Chúa” lan tràn tới mọi tâm hồn.

          Lời sứ thần cũng gắn liền với lời ngôn sứ I-sai-a nói về “một trẻ thơ” hoặc “một người con”.  Cũng chỉ là “một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ”, chứ không phải một vị hoàng tử trong cung điện huy hoàng.  Nhưng lại là một trẻ sơ sinh sẽ “gánh vác quyền bính trên vai” để thiết lập hòa bình vô tận và sẽ trở thành “lương thực” Thiên Chúa đặt trong máng để nuôi sống nhân loại.  Nếu lương thực của Chúa Giê-su là “thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy” (Ga 4:34), thì lương thực của nhân loại được đặt trong máng cỏ cũng sẽ là thi hành những điều Chúa Giê-su đã dạy ta qua lời giảng và lối sống của Người.

          Đối với ta là loài người trần thế, biến cố Thiên Chúa giáng trần là để cứu độ ta và biểu lộ tình yêu của Thiên Chúa.  Đối với triều thần thiên quốc, biến cố ấy là cơ hội để đạo binh thiên quốc ca tụng Thiên Chúa và tôn vinh tình thương của Người, đồng thời cũng là cơ hội cho tất cả những ai muốn kiếm tìm bình an đích thực, bình an của một quan hệ mật thiết và mới mẻ giữa Thiên Chúa với con người.  “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương”.
 
  Sống Lời Chúa

          Giáng Sinh là một biến cố vĩ đại, không phải vì vẻ huy hoàng trần thế, nhưng vì sự cao vời của tình yêu Thiên Chúa.  Hài nhi sinh ra quan trọng không phải vì gốc gác vua chúa, nhưng vì sứ mệnh em sẽ gánh vác và thực hiện sau này.  Thiên Chúa đã từng đến với nhân loại trong sấm sét và khói lửa tại Xi-nai và dân Chúa sợ hãi bạt hồn khiếp vía.  Nhưng lần này, Người đến trong đơn sơ khó nghèo, chan chứa tình yêu thương, là “tin mừng trọng đại và niềm vui cho toàn dân”.  Các bài đọc giúp ta hiểu ý nghĩa tại sao Chúa đến với ta.  Người đến để cứu độ ta bằng cách giải thoát ta khỏi ách nô lệ tội lỗi và dạy ta sống đời sống mới.  Người đến khai mở một triều đại mới, triều đại của những người được Thiên Chúa đem về làm con cái Người và sẽ cho hưởng phần gia nghiệp với Con Một Người là Đức Ki-tô.

Suy nghĩ:  Ngôn sứ I-sai-a cũng như sứ thần Chúa đã gọi biến cố Giáng Sinh là “niềm hoan hỷ chứa chan” và “niềm vui cho toàn dân”.  Tôi có cảm nghiệm được ý nghĩa đích thực của niềm vui sâu xa này không?  Hay tôi cũng chỉ thấy niềm vui giả tạo và chóng qua của những ngày lễ lạc tầm thường như bao người khác?  Có khi nào tôi quỳ bên Hài Nhi để thấy lòng mình chan chứa niềm vui được cứu độ và được Thiên Chúa ở cùng không?

Cầu nguyện:  Lạy Chúa, Chúa đã sáng tạo con người cách kỳ diệu, lại còn phục hồi phẩm giá con người cách kỳ diệu hơn nữa;  xin ban cho chúng con được chia sẻ chức vị làm con Chúa với Đức Ki-tô là Đấng đã chia sẻ kiếp người với chúng con.  Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời.  A-men.  (Lời nguyện nhập lễ Thánh lễ Ban ngày).

Lm. Đaminh Trần Đình Nhi


 

GS-273: ĐÊM BÌNH AN


LỄ CHÚA GIÁNG SINH, THÁNH LỄ ĐÊM

Lc 2, 1-14

 

Đêm hôm nay như có một cái gì đó thực diệu  kỳ, êm đềm và nhiệm lạ. Muôn vật, muôn tinh tú trên: GS-273


Đêm hôm nay như có một cái gì đó thực diệu  kỳ, êm đềm và nhiệm lạ. Muôn vật, muôn tinh tú trên bầu trời đều nhất loạt rợp tiếng tung hô một con người, một vị Chúa, một Đấng cứu tinh xuất hiện. Mà không hân hoan, vui sướng và hạnh phúc sao được khi muôn cơ binh trên trời, cùng các thiên thần hát mừng Vua Cứu Thế:” Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm” ( Lc 2, 14 ). Và rồi, sự kỳ lạ và hết sức mầu nhiệm: “ loài người , con người chỉ có thể nhận ra Đấng Cứu Thế khi tâm hồn mọi người có được sự bình an. Hòa bình, an bình trong tâm hồn là điều hết sức cần thiết để con người có thể nhận ra Vua trời đất.

 HÒA BÌNH TÂM HỒN LÀ ĐIỀU TỐI Ư CẦN THIẾT ĐỂ ĐÓN NHẬN CHÚA GIÊSU:

Đức Hồng y Etchaygaray đã nói một câu rất ấn tượng và chí lý:” Người ta dễ nghe thấy tiếng cây rừng bị đốn ngã hơn là nghe thấy tiếng của triệu triệu hạt giống đang cố vươn mình ngoi lên mặt đất “. Tiếng ồn, tiếng máy, tiếng xe luôn huyên náo giữa một thế giới văn minh, tiên tiến. Con người trong thế giới hôm nay thường bị cuốn hút bởi muôn ngàn tiếng ồn ào mà quên đi sự tĩnh mịch, ít để ý tới thinh lặng và sự lắng đọng của tâm hồn. Đêm giáng sinh như có một khoảng cách, một ranh giới mênh mông giữa sự huyên náo, đầy động tĩnh và sự im lặng, tĩnh mịch. Đêm nay như có một cái gì đó thật mâu thuẫn giữa cảnh xa hoa, tráng lệ của thành phố, của các quán trọ với cảnh nghèo nàn của hang Bêlem. Đêm nay cũng thật khác lạ giữa cảnh ấm cúng của các gia đình có lò sưởi và cảnh rét mướt của hang bò lạnh buốt Bêlem giữa cánh  đồng hoang vu, hiu quạnh. Bài thánh ca nổi tiếng của cố nhạc sĩ Hải Linh:” Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời” vẫn vang lên thánh thót, thúc giục mọi người có lòng tin hãy mau mau đến thờ Vị Cứu Tinh Giêsu vừa mới đản sinh nơi hang bò lừa trong đêm đông lạnh giá.

Chúa đã sinh ra rồi đó như lời của thánh sử Gioan đã viết:” Ngôi Lời đã làm người”. Hài Đồng Giêsu đã đến thế giới, đã vào trần gian: Người là Tình Yêu, là Lời vô biên đã trở thành xác phàm và cư ngụ giữa con người”( Ga 1, 14 ). Nhân loại và mỗi người chỉ có thể nhận ra được Hài Đồng Giêsu, Vị Cứu Chúa khi tâm hồn con người ở trong tình trạng yên tịnh, khi con người có sự an bình và đầy thanh  thoản để lắng nghe tiếng nhẹ nhàng của muôn triệu hạt giống đang âm thầm ngoi đầu lên mặt đất để tiếp tục sự sống. Chúa đã đến nhân loại trong bầu khí hết sức yên ổn, thanh tịnh của một đêm đông  nhẹ nhàng, kỳ diệu giữa một thế giới đang ồn ào, náo động, tranh dành và thiếu hòa bình. Mà không xốn xáo, giao động sao được khi Hoàng Đế Augustô ra lệnh kiểm tra nhân khẩu toàn thể đất nước Do Thái lúc đó ?

 Không nhốn nháo, hốt hoảng sao được khi mọi quán trọ đều đầy ắp người không còn một chỗ trống trong các nhà trọ để khách đi đường tạm trú cho qua đêm, rồi lại tiếp tục lên đường về quê ? Bầu trời đêm Noen dát đầy tinh tú và cảnh vật lúc đó xem ra hoàn toàn thinh lặng, cái im lặng đến khó hiểu của một đêm đông diệu kỳ, nhiệm lạ.

 Chúa giáng sinh trong cảnh nghèo nàn, rét mướt. Thánh Giuse và Mẹ Maria chấp nhận cảnh cơ cực nghèo nàn với tâm hồn đơn sơ, khiêm nhượng và hết sức quảng đại trong đức tin thẩm sâu, mạnh mẽ. Nhân loại đứng trước một gia đình xem ra hết sức khó khăn về vật chất: nghèo nàn và thiếu phương tiện nhưng gia đình thánh gia  lại tỏa sáng đức tin và hết sức thánh thiện. Sở dĩ, gia đình thánh gia: Chúa Giêsu, Mẹ Maria và thánh Giuse luôn chiếu sáng đức tin vì ba Đấng đã hoàn toàn sống theo ý Thiên Chúa Cha. Do đó, nhân loại đã nhìn thấy vinh quang của Hài Đồng Giêsu trong lịch sử cứu độ, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con Một đầy  tràn ân sủng và sự thật ( Ga 1, 14 b ). Đây quả là một công trình lâu dài chuẩn bị nhân loại đi về Bêlem và tiếng nói linh thiêng, huyền diệu, hết sức nhiệm mầu của đạo mới làm cho nhân loại đọc ra được ý nghĩa của biến cố Chúa Giêsu giáng sinh làm người. Nhưng trên hết, nhân loại chỉ có thể đọc ra được ý nghĩa Con Thiên Chúa làm người khi tâm hồn con người có sự an bình đích thực:” sự bình an trong đêm giáng sinh mà các thiên thần đã loan báo cho các mục đồng và toàn thể nhân loại: “ Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm” ( Lc 2, 14 ).

 TIM MỪNG GIÁNG SINH VẪN LUÔN LUÔN MỚI MẺ VÀ TRONG SÁNG:


Đêm Noen xưa và giáng sinh muôn thời vẫn là một Tin Mừng bởi vì Tin Mừng là Đức Giêsu. Do đó, lúc nào Chúa cũng luôn mới mẻ đối với con người, đối với loài người.

Thánh Gioan đã viết:” Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận”( Ga 1, 11 ). Chúa Giêsu đã đến với dân tộc Do Thái trong hang bò lừa Bêlem, nhưng chính những người được coi là người ở trong, người nhà lại khước từ Ngài vì họ đã không nhận ra Ngài là Tin Mừng, là Tình Yêu, là Đức Chúa. Tin Mừng ấy, ngày hôm nay vẫn tái diễn trong lịch sử cứu độ và Tin Mừng nối tiếp Tin Mừng trong những kỷ niệm giáng sinh vẫn luôn là sứ điệp tình yêu, hòa bình, hạnh phúc. Tin Mừng ấy vẫn luôn mới mẻ, vẫn luôn hợp thời, không cằn cỗi. Tin Mừng ấy vẫn là một Chúa Hài Đồng, một Vua Giêsu, một Đấng cứu độ đã giáng sinh cách nay hơn hai ngàn năm, Tin Mừng ấy luôn luôn mới, luôn luôn tỏa sáng:”…Xin lắng nghe, Ta mang cho các bạn một tin vui lớn lao, cũng là niềm vui được chia sẻ với toàn dân: Hôm nay trong thị trấn của Đavít, Đấng cứu thế của anh em đã sinh ra…”( Lc 2, 10-11)

Sứ điệp yêu thương các thiên thần loan báo cho các mục đồng khi xưa cũng là sứ điệp an bình, hiệp nhất đang được trao ban cho nhân loại, cho thế giới và cho con người hôm nay và mãi mãi.

 TIN MỪNG MỜI GỌI CON NGƯỜI:

Đối diện với Tin Mừng, con người chỉ có thể nhận ra Hài Đồng Giêsu khi con người sống đạo đức, công chính, chừng mực ( Tt 2, 12 ). Thánh Phaolô quả có lý và rất chân thành khi Ngài nói:”…Tôi coi mọi sự là rơm rác, so với mối lợi tuyệt vời là biết Đức Kitô “. Chúa cứu độ có đó và Tin Mừng của Ngài vẫn luôn hiện diện trong thế giới, nơi loài người, trong cõi thâm sâu của từng con người khi con người biết mở lòng để đón nhận Đức Giêsu Kitô và giáo lý của Ngài. Lời khuyên của thánh Phaolô cho Titô:” hãy sống đạo đức, công chính, chừng mực” cũng là lời mở ngỏ của người đối với mọi người trên trần thế này. Noen vẫn luôn mãi là Tin Mừng vĩ đại cho toàn thể nhân loại khi con người, loài người biết bỏ ngỏ cõi lòng để đón nhận Chúa và mặc lấy Đức Giêsu Kitô.

Mừng lễ giáng sinh, nhân loại và mỗi người sẽ đồng thanh nói lên:” Thiên Chúa đã viếng thăm dân người” và như thánh Gioan viết” Ngôi Lời là ánh sáng thật…và chiếu soi mọi người”( Ga 1, 9 ).

 Xin cho Tình Yêu giáng sinh đậu lại nơi tâm hồn của mỗi con người để con người đón nhận sự an bình của đêm bình an mà Chúa Giêsu Kitô đã tặng ban cho nhân loại.

 Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT


 

GS-274: Những nghịch lý trong biến cố Giáng Sinh


Lễ Đêm Giáng Sinh

 (24-12-2004)

ĐỌC LỜI CHÚA

Is 9, 1-6:  (5) Một trẻ thơ đã chào đời để cứu ta, một người con đã được ban tặng cho ta.

  Tt 2, 11-14:  (12) Chúng ta phải từ bỏ lối sống vô luân và những đam mê trần tục, mà sống chừng mực, công chính và đạo đức ở thế gian.

  TIN MỪNG: Lc 2, 1-20

Đức Giêsu sinh ra tại Bêlem

(1) Thời ấy, hoàng đế Augúttô ra chiếu chỉ, truyền kiểm tra dân số trong khắp cả thiên hạ.  (2) Đây là cuộc kiểm tra đầu tiên, được thực hiện thời ông Quiriniô làm tổng trấn xứ Xyri.  (3) Ai nấy đều phải về nguyên quán mà khai tên tuổi.  (4) Bởi thế, ông Giuse từ thành Nadarét, miền Galilê lên thành vua Đavít tức là Bêlem, miền Giuđê, vì ông thuộc gia đình dòng tộc vua Đavít.  (5) Ông lên đó khai tên cùng với người đã thành hôn với ông là bà Maria, lúc ấy đang có thai.  (6) Khi hai người đang ở đó, thì bà Maria đã tới ngày mãn nguyệt khai hoa.  (7) Bà sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ, vì hai ông bà không tìm được chỗ trong nhà trọ.

 (8) Trong vùng ấy, có những người chăn chiên sống ngoài đồng và thức đêm canh giữ đàn vật.  (9) Bỗng sứ thần Chúa đứng bên họ, và vinh quang của Chúa chiếu toả chung quanh, khiến họ kinh khiếp hãi hùng.  (10) Nhưng sứ thần bảo họ: «Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân:  (11) Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đavít, Người là Đấng Kitô Đức Chúa.  (12) Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người: anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ».  (13) Bỗng có muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa rằng:  (14) «Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương».
(15) Khi các thiên sứ từ biệt mấy người chăn chiên để về trời, những người này bảo nhau: «Nào chúng ta sang Bêlem, để xem sự việc đã xảy ra, như Chúa đã tỏ cho ta biết».  (16) Họ liền hối hả ra đi. Đến nơi, họ gặp bà Maria, ông Giuse, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ.  (17) Thấy thế, họ liền kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này.  (18) Nghe các người chăn chiên thuật chuyện, ai cũng ngạc nhiên.  (19) Còn bà Maria thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng.  (20) Rồi các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe, đúng như đã được nói với họ.
 
CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:

 

Tại sao Đức Giêsu không sinh ra trong cảnh giàu sang, uy quyền cho xứng với địa vị Con Thiên: GS-274


  Tại sao Đức Giêsu không sinh ra trong cảnh giàu sang, uy quyền cho xứng với địa vị Con Thiên Chúa, mà lại sinh trong cảnh thấp hèn nhất của con người?

  Toàn dân Do Thái đều trông đợi Đấng Cứu Thế đến, thế mà khi Ngài đến, Ngài lại không báo cho ai, kể cả những người chính thức đại diện cho dân, mà chỉ báo cho các mục đồng, là những kẻ hèn kém nhất trong dân?

   Những người quyền thế trong dân về tôn giáo cũng như xã hội khi biết Đức Giêsu sinh ra tại Bêlem, họ đã làm gì? phản ứng thế nào? Tại sao họ phản ứng như vậy? Não trạng của họ đúng đắn và hợp với đường lối của Thiên Chúa không?

Suy tư gợi ý:

  Hoàn cảnh ra đời của Đức Giêsu

Theo thông lệ đã bao đời, cứ 14 năm một lần, hoàng đế Rôma lại ra lệnh kiểm tra dân số trên toàn đế quốc để có cơ sở thu thuế và tuyển lính. Mọi người dân đều phải về nguyên quán mình để khai hộ khẩu. Vì Bêlem là nơi sinh trưởng của vua Đavít, tổ tiên Giuse, nên ông phải đưa Maria vợ mình đang mang thai từ Nadarét về đấy khai hộ khẩu. Hành trình từ Nadarét về Bêlem khoảng 80 dậm (130 km). Vì phương tiện di chuyển quá đơn sơ, hai vợ chồng nghèo phải vất vả lắm mới tới nơi. Nơi đất lạ, vì nghèo không tìm được chỗ trọ, hai vợ chồng phải tá túc đỡ ở một chuồng súc vật ngoài đồng cỏ. Không may, Maria đã đến ngày sinh con, hai vợ chồng nghèo đành phải sinh con ngay tại nơi trọ nghèo nàn ấy.

  Đức Giêsu chấp nhận cảnh thấp hèn ngay từ khi sinh ra đời

Không có gì nhục nhã và đau lòng cho bằng phải ra đời trong một chuồng súc vật, chẳng những thiếu đủ mọi thứ mà còn dơ bẩn, hôi hám! Thử hỏi: cả 80 triệu dân Việt, một dân tộc hiện đang bị xếp vào loại nghèo khổ nhất thế giới, đã có mấy người phải sinh ra trong cảnh tệ hại như thế? Thế mà Đức Giêsu, Con Thiên Chúa vô cùng cao sang, cũng chính là Vua Vũ Trụ, lại phải sinh ra trong hoàn cảnh như thế! Tuy nhiên, tất cả mọi việc xảy ra đều nằm trong chương trình của Thiên Chúa, đều ứng nghiệm những gì các ngôn sứ đã loan báo mấy trăm năm trước về Đấng Cứu Thế.

Đang khi nhân loại ai cũng tìm sự giàu sang, quyền thế, địa vị, danh dự cho mình và người thân mình, thì Thiên Chúa Cha lại tìm sự nghèo khó, thấp hèn, nhục nhã cho Người Con vô cùng yêu quí của mình. Suốt đời mình, Đức Giêsu cũng hành động tương tự: đang khi nhân loại ai cũng tìm đủ cách đưa mình lên thật cao, thì Đức Giêsu lại tìm đủ cách để tự hạ mình xuống thật thấp. Chính vì con người cứ muốn tự đưa mình lên thật cao và sẵn sàng đè người khác xuống nên nhân loại mới phát sinh ra muôn vàn giống tội và phải chịu biết bao khổ ải. Vì thế, muốn cứu chuộc nhân loại, Đấng Cứu Thế phải hành động ngược lại khuynh hướng tội lỗi ấy là tự hạ mình xuống thật thấp để nâng mọi người lên. Đúng như thánh Phaolô nói: «Người vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có»  (2Cr 8, 9). Để cứu rỗi nhân loại, nếu Thiên Chúa đã phải theo đường lối ấy, thì những kẻ muốn cộng tác với Ngài trong công cuộc cứu rỗi, lẽ nào đi ngược lại đường lối ấy mà lại thành công được? Nghĩa là nếu cứ thích mình được đề cao, thích sống trên đầu trên cổ người khác, thì cứu rỗi được ai?

  Những kẻ được loan báo về việc giáng sinh của Đức Giêsu

Có sự nghịch lý quá lớn trong việc Con Thiên Chúa vô cùng cao sang lại chấp nhận cảnh vô cùng nghèo hèn để giáng sinh hầu cứu chuộc con người. Tuy nhiên vẫn còn một nghịch lý rất lớn khác trong biến cố này. Khi Ngài sinh ra thì toàn dân Do Thái – kể cả giới lãnh đạo Do Thái giáo (các thượng tế, tư tế, kinh sư, luật sĩ…) – đang trông chờ và mong đợi Đấng Cứu Thế mà các ngôn sứ đã từng loan báo trước đó mấy trăm năm. Mấy trăm năm toàn dân mong đợi, thế mà khi Đấng Cứu Thế đến, Thiên Chúa đã chẳng sai các thiên sứ đến báo tin cho các vị chức sắc cao cấp trong tôn giáo Do Thái cũng như nhà cầm quyền Do Thái, là những người chính thức đại diện cho tuyển dân của Ngài. Mà chỉ báo tin cho các mục đồng, đại diện cho hạng người hèn kém nhất trong tôn giáo và trong xã hội! Quả thật, dưới con mắt loài người, Thiên Chúa tỏ ra «chẳng biết điều» tí nào! Ngài chẳng biết cách xử sự theo kiểu loài người! Tại sao vậy?

Đối với Thiên Chúa, kẻ có giá trị trước mắt Ngài là những tâm hồn đơn sơ chân thành, sẵn sàng đón nhận chân lý, chứ không phải là những người có chức tước trong xã hội hay tôn giáo, dù có cao cấp đến đâu! Hãy thử xét xem thái độ của các mục đồng và những kẻ quyền thế thời đó. Các mục đồng khi được báo tin, thì hối hả đến và thờ lạy Đấng Cứu Thế vừa sinh. Họ có thể tin ngay rằng đứa bé yếu đuối và nghèo nàn kia, được sinh ra trong cái chuồng súc vật của họ, chính là Đấng Cứu Thế muôn dân đang trông đợi. Cho dẫu chính họ, những kẻ thấp hèn nhất trong xã hội và tôn giáo, cũng không bao giờ nỡ sinh con mình ở cái nơi dơ dáy thấp hèn ấy! Tuy nhiên, cảnh thấp hèn ấy không phải là điều cản trở họ tin. Bài Tin Mừng cho biết niềm tin và thái độ của họ sau khi gặp hài nhi Giêsu: «Các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa».

Còn những kẻ quyền thế trong xã hội và tôn giáo thì sao? Họ không thể tin được điều ấy. Não trạng họ rất khác với các mục đồng! Làm sao họ có thể tin và chấp nhận được Đấng Cứu Thế của toàn dân lại sinh ra thấp hèn như vậy! Mà dẫu họ có được báo tin, họ cũng chẳng thèm đến với Đấng Cứu Thế thấp hèn và nghèo nàn ấy làm gì! Người khác phải đến với họ, chứ làm gì có chuyện họ phải đến với người khác, trừ trường hợp người khác đó giàu sang hay có địa vị cao hơn họ! Cứ xem phản ứng của họ thì biết: Khi được các nhà chiêm tinh phương Đông tới báo tin Đấng Cứu Thế đã sinh ra thì vua Hêrôđê và những nhà lãnh đạo tôn giáo đã làm gì? Hêrôđê thì cho quân đi tìm giết con trẻ Giêsu ngay, bất chấp phải giết oan bao đứa trẻ khác. Các vị thượng tế và kinh sư thì cũng chỉ ngồi nhà chờ các nhà chiêm tinh đến cho biết kết quả, mặc dù biết rất rõ Đấng Cứu Thế phải sinh ra tại Bêlem. Và khi các nhà chiêm tinh không trở lại, họ cũng bỏ qua luôn.

   Hai thái độ khác nhau

Truyền thống Kitô giáo cho rằng Tổng lãnh Thiên thần Luxifer vì không chấp nhận được Con Thiên Chúa nhập thể làm người, nghĩa là Thiên Chúa mà lại sống trong thân phận hèn kém hơn mình, nên đã phản loạn chống lại Thiên Chúa. Não trạng đó cũng là não trạng của rất nhiều người, kể cả các Kitô hữu bình dân và cao cấp! Mặc dù Đức Giêsu làm nhiều phép lạ tỏ tường, được dân chúng tin theo rất đông, nhưng giới lãnh đạo tôn giáo Do Thái xưa không thể chấp nhận được Ngài là Đấng Cứu Thế. Tại sao? Vì họ thấy Ngài là người nghèo hèn (x. Mt 8,20), thất học (x. Ga 7,15), lại nói và làm rất nhiều điều ngược lại quan niệm của họ, như lỗi luật ngày sábát (x. Mt 12,1-14; Lc 6,6-11; ...), không chịu ăn chay (x. Mt 9,14), ăn không rửa tay (x. Mt 15,1-2; Lc 11,38), giao thiệp với những hạng người tội lỗi (x. Mt 9,10-11; Lc 5,29-30), v.v… Họ cho rằng họ là chân lý, nên ai nói hay hành động khác với họ đều sai. Nếu nhưng người ấy có quyền phép thì đó là quyền phép ma quỷ (x. Mt 9,34; 12,24).

Đối với họ, chỉ những điều mà người có uy quyền trong tôn giáo nói mới là chân lý thôi! Chân lý không thể phát xuất từ môi miệng những hạng bình dân, thấp kém trong xã hội hay tôn giáo được. Do đó, khi các ngôn sứ xuất hiện – thường xuất thân từ giới bình dân, nghèo hèn – thì đều bị họ chê bai và ném đá vì những lời nói mà họ cho là ngang ngược (x. Mt 23,37; Lc 6,23). Họ chỉ ca tụng và ưu đãi những ngôn sứ giả là những người có uy quyền, lại nói vừa lòng họ, lọt lỗ tai họ (x. Lc 6,26). Cũng vậy, khi Đức Giêsu đến, những mặc khải mới về chân lý của Ngài không sao lọt tai họ được, nên họ phải tìm cách trừ khử cho bằng được!

Ngày nay, con người – kể cả các tín đồ trong mọi tôn giáo – vẫn thường có não trạng như thế. Người có thế giá trong tôn giáo nói bất cứ điều gì cũng được họ cho là đúng, là có giá trị, cho dù họ thấy có gì đó không hợp lý. Cũng có khi họ mù quáng đến độ không thể thấy được sự bất hợp lý trong những lời nói đó. Còn những người bình dân, thấp hèn mà nói, thì dù có hợp lý đến đâu, cũng đều vô giá trị. Chính vì thế, nếu thời nay những ngôn sứ của Thiên Chúa có đến, chắc chắn cũng các vị cũng phải đồng số phận hẩm hiu với những ngôn sứ các thời đại trước thôi! Và dẫu chính Đức Giêsu có đến lần nữa, Ngài cũng sẽ bị đối xử tương tự. Ngài lúc nào cũng vẫn là «viên đá vấp phạm» (x. Rm 9,33; 1Pr 2,8) cho nhiều người. Nhưng phúc thay những ai không vấp phạm vì Ngài! (x. Mt 11,6; Lc 7,23)
 
CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, xin cho con nhận thức rằng người được Thiên Chúa sai đến, dù có thấp hèn đến đâu cũng vẫn là người của Thiên Chúa. Xin cho con ý thức được rằng chân lý dù được phát biểu bởi trẻ con hay người thấp hèn dốt nát cũng vẫn là chân lý. Còn sai lầm dù được phát biểu bởi kẻ cao sang quyền thế cũng vẫn là sai lầm. Đừng để con đồng hóa lý của kẻ mạnh, kẻ có quyền với chính chân lý. Để nhờ đó, con có thể nhận ra Cha nơi những anh em nghèo hèn chung quanh con, và nhận ra chân lý dẫu được phát biểu bởi những người mà con cho thấp kém.

Joan Nguyễn Chính Kết


 

GS-275: GIÁNG SINH – LỄ NỬA ĐÊM


(Lu-ca 2: 1-14)

 

Viết về một biến cố vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại, Đấng Cứu Thế giáng sinh, không: GS-275


          Viết về một biến cố vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại, Đấng Cứu Thế giáng sinh, không phải là một điều dễ dàng.  Làm sao có thể diễn tả biến cố ấy trong mọi chiều kích, từ lịch sử cho tới ý nghĩa thần học, từ phạm vi nhỏ bé của gia đình Giu-se – Ma-ri-a cho đến gia đình nhân loại rộng lớn?  Thế mà thánh sử Lu-ca đã gợi ý đầy đủ để ta có thể tiếp tục suy niệm từng khía cạnh của biến cố Con Một Thiên Chúa làm người, tưởng như không bao giờ cạn nguồn.  Hôm nay ta chiêm ngưỡng hình ảnh Mẹ Ma-ri-a và Chúa Giê-su con trai đầu lòng của Mẹ tại Bê-lem.

  Bà Ma-ri-a đã tới ngày mãn nguyệt khai hoa

          Có khi nào ta nghĩ đến những nét đẹp của một phụ nữ đang mang thai không?  Đó là những nét đẹp của một người đang mang sự sống trong bụng mình.  Bà ấy là người đầy tràn tình yêu, lúc nào cũng nghĩ đến, để ý chăm sóc và đặt tất cả hy vọng vào đứa con mình đang cưu mang.  Bà đang sống tình yêu đích thực, yêu “hết lòng, hết sức lực và hết tâm trí”.  Một bà mẹ bình thường đã cao đẹp như vậy, thì Mẹ Ma-ri-a, Đấng đang cưu mang Con Thiên Chúa (Lc 1:35) còn cao đẹp đến mức nào!

          Bà mẹ nào cũng mong đứa con ra đời bình an để được mẹ tròn con vuông.  Nhưng niềm mong đợi đôi khi cũng mang nhiều ý nghĩa khác nhau.  Có bà mẹ mong đợi đứa con ra đời để chấm dứt những cực nhọc của thời gian mang thai.  Nhưng thường các bà mẹ mong đợi để được thấy tận mắt niềm hy vọng của mình, hoa trái tình yêu của mình. 

Mẹ Ma-ri-a cũng có thật nhiều lý do để mong đợi.  Trước hết Mẹ muốn được chiêm ngưỡng tận mắt quyền năng của Chúa Thánh Thần và của Đấng Tối Cao, không phải qua những kỳ công tạo dựng, mà là qua một hài nhi yếu ớt hoàn toàn trông cậy vào sự chăm sóc của Mẹ.  Quyền năng cao cả ấy đã hạ mình, thu nhỏ lại trong đôi tay che chở của Mẹ.  Mẹ sẽ được vinh dự chăm sóc cho Con Thiên Chúa mà Mẹ đã nhận làm Con của Mẹ.  Mẹ chờ đợi để với tính cách làm mẹ, được gọi tên “Giê-su”, tên mà sứ thần đã giải thích cặn kẽ:  “Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao...  Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận.”  Có lẽ nét đẹp nhất trong sự chờ đợi của Mẹ là được nhìn thấy kết quả của lòng vâng phục thánh ý Thiên Chúa.  “Xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.”

          Thời điểm mãn nguyệt khai hoa bao giờ cũng thật quan trọng.  Chỉ một chút nữa thôi, niềm hy vọng cá nhân của Mẹ, đồng thời cũng là niềm hy vọng của toàn thể nhân loại sẽ được thể hiện.  Còn gì linh thiêng bằng thay mặt cho toàn thể nhân loại, Mẹ đón nhận Tình Yêu Thiên Chúa Nhập Thể, niềm Hy Vọng cứu rỗi và Đấng Em-ma-nu-en – Thiên Chúa ở cùng chúng tôi.  Nếu ta có thể diễn tả thời điểm từ biến cố Truyền Tin đến biến cố Giáng Sinh là một lời nguyện