Suy Niệm Tin Mừng Lễ Giáng Sinh ABC Bài 1-50 Đấng Cứu độ đãsinhra

Thứ ba - 19/12/2017 09:11
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Giáng Sinh ABC Bài 1-50 Đấng Cứu độ đãsinhra
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Giáng Sinh ABC Bài 1-50 Đấng Cứu độ đãsinhra
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Giáng Sinh ABC Bài 1-50 Đấng Cứu độ đã sinh ra
GS-1: THIÊN CHÚA ĐÃ YÊU THƯƠNG THẾ GIAN - Lm. Đan Vinh. 2
GS-2: NIỀM VUI GIÁNG SINH -Linh Mục Nguyễn Hồng Giáo. 11
GS-3: CHÚA ĐẾN VỚI TA HÀNG NGÀY.. 13
GS-4: ĐỨC THANH BẦN - Nguyễn Chính Kết 17
GS-5: THƯ MỤC VỤ NOEL 2000 - Gm Phaolô Bùi Văn Đọc. 30
GS-6: HÔM NAY ĐẤNG CỨU ĐỘ ĐÃ GIÁNG SINH.. 31
GS-7: CHÚA ĐÃ TẶNG NGƯỜI CON ĐỂ CỨU TA.. 34
GS-8: BIẾN CỐ GIÁNG SINH NHẬP THỂ - Lm Antony Phiên. 36
GS-9: TIN VUI GỬI NGƯỜI GẶP SỐ CON RỆP. 38
GS-10: ĐỨC GIÊSU KITÔ LÀ ĐẤNG CỨU ĐỘ DUY NHẤT.. 41
GS-11: Ngôi Lời là ánh sáng thật, 44
GS-12: Đức Giêsu sinh ra một cách rất khiêm tốn: 46
GS-13: Trước đây hai ngàn năm, có một tin rất lạ lùng, 47
GS-14: HÔM NAY ĐẤNG CỨU THẾ ĐÃ GIÁNG SINH CHO CHÚNG TA. 50
GS-15: Những điều thánh sử Luca muốn nói 52
GS-16: Một phương rất lạ của Matthêu để mở đầu sách Phúc Âm.. 53
GS-17: Giữa đêm khuya thanh vắng, một thiên sứ sáng chói thình lình xuất hiện. 56
GS-18: Ngôi Lời đã trở thành xác phàm ở giữa chúng ta, đầy ân sủng và chân lý”. 59
GS-19: Hội Thánh  Chúa phải đương đầu với một vấn đề hết sức cơ bản. 60
GS-20: Tin Mừng Thứ Tư là Tin Mừng tóm lược. 66
GS-21: THIÊN CHÚA CỦA TÌNH THƯƠNG.. 67
GS-22: Nhà truyền giáo Phaolô đến thành Athen. 68
GS-23:  HÔM NAY ĐẤNG CỨU THẾ ĐÃ GIÁNG SINH.. 71
GS-24: NGƯỜI Ở ĐÂY (lễ đêm) 74
GS-25: Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Ngài 75
GS-26: NGƯỜI LÀ MỘT NHƯ CHÚNG TA (lễ đêm) 78
GS-27: TRAO ĐOI QUÀ TẶNG.. 79
GS-28: CHÚA GIÊSU SINH RA, CÁC MỤC ĐỒNG HAY TIN.. 81
GS-29: Có một người được Thiên Chúa ban cho ơn đặc biệt 87
GS-30: Hôm nay Đấng Cứu độ chúng ta đã ra đời 89
GS-31: DIỄM PHÚC ĐÓN TIẾP CHÚA.. 91
GS-32: SỨ ĐIỆP LỄ GIÁNG SINH.. 93
GS-33: NOEL : ÁNH SÁNG.. 95
GS-34: Chúng ta lên đường đi gặp Chúa. 97
GS-35: Thánh Lễ bây giờ. 98
GS-36: Bài Tin Mừng Luca hấp dẫn. 102
GS-37: DÀNH CHO CHÚA HÀI ĐỒNG.. 104
GS-38: NIỀM VUI GIÁNG SINH / Lm Giuse Nguyễn Trung Điểm.. 106
GS-39: NIỀM VUI GIÁNG SINH/ Lm Nguyễn Bình An. 108
GS-40: CHÚA HÀI NHI LÀ MÓN QUÀ TỪ TRỜI CAO.. 109
GS-41: DẤU HIỆU CỦA CHÚA / Lm Phạm Quốc Hưng, CSsR.. 110
GS-42: HÃY TRỞ NÊN TRẺ NHỎ / Lm Trọng Thưởng, CMC.. 113
GS-43: TRÁI ĐẤT LÀ QUÊ HƯƠNG CỦA THIÊN CHÚA LÀM NGƯỜI 115
GS-44: MẦU NHIỆM NHẬP THỂ /Phan Hữu Lộc. 118
GS-45: ÁNH SÁNG VÀ BÓNG TỐI - GM . NGÔ QUANG KIỆT.. 120
GS-46: ĐÊM THÁNH VÔ CÙNG.. 122
GS-47: HỌC BẠ CỦA CẬU BÉ GIÊ-SU.. 123
GS-48: Một trẻ thơ đã sinh ra cho chúng ta. 124
GS-49: Bình An - Lm. Louis Minh Nhiên, CMC.. 126
GS-50: Vị Cứu Tinh Siêu Việt - Lm. Minh Vận, CMC.. 129

 

GS-1: THIÊN CHÚA ĐÃ YÊU THƯƠNG THẾ GIAN - Lm. Đan Vinh

VietCatholic (Lễ Sinh Nhật Cha Gisu)
Lễ Chúa Giáng Sinh -Thánh Lễ Ban Ngày
I. Tìm hiểu Lời Chúa
1) Tin Mừng : Ga 1,1-18
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.(Ga 1, 1 – 18)
Từ nguyên thuỷ đã có Ngôi Lời, và Ngôi Lời vẫn ở với Thiên Chúa, và Ngôi Lời vẫn là Thiên Chúa. Người vẫn ở với Thiên Chúa ngay từ nguyên thuỷ.
Mọi vật đều do Người làm nên, và không có Người, thì chẳng vật chi đã được tác thành trong mọi cái đã được tác thành. Ở nơi Người vẫn có sự sống, và sự sống là sự sáng của nhân loại; sự sáng chiếu soi trong u tối, và u tối đã không tiếp nhận sự sáng.
Có một người được Thiên Chúa sai đến, tên là Gioan. Ông đã đến nhằm việc chứng minh, để ông chứng minh về sự sáng, hầu cho mọi người nhờ ông mà tin. Chính ông không phải là sự sáng, nhưng đến để chứng minh về sự sáng.
Vẫn có sự sáng thực, sự sáng soi tỏ cho hết mọi người sinh vào thế gian này. Người vẫn ở trong thế gian, và thế gian đã do Người tác tạo, và thế gian đã không nhận biết Người. Người đã đến nhà các gia nhân Người, và các gia nhân Người đã không tiếp nhận Người. Nhưng phàm bao nhiêu kẻ đã tiếp nhận Người, thì Người cho họ được quyền trở nên con Thiên Chúa, tức là cho những ai tin vào danh Người. Những người này không do khí huyết, không do ý muốn xác thịt, cũng không do ý muốn của đàn ông, nhưng do Thiên Chúa mà sinh ra.
Và Ngôi Lời đã hoá thành nhục thể, và Người đã cư ngụ giữa chúng tôi, và chúng tôi đã nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang Người nhận được bởi Chúa Cha, như của người Con Một đầy ân sủng và chân lý.
Gioan làm chứng về Người khi tuyên xưng rằng: "Đây là Đấng tôi tiên báo. Người đến sau tôi, nhưng xuất hiện trước tôi, vì Người có trước tôi".
Chính do sự sung mãn Người mà chúng ta hết thảy tiếp nhận ơn này tới ơn khác. Bởi vì Chúa ban Lề luật qua Môsê, nhưng ơn thánh và chân lý thì ban qua Đức Giêsu Kitô. Không ai nhìn thấy Thiên Chúa, nhưng chính Con Một Chúa, Đấng ngự trong Chúa Cha, sẽ mạc khải cho chúng ta.
Đó là lời Chúa
 
 

Lúc khời đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Lúc: GS-1

- Lúc khời đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Lúc khởi đầu, Người vẫn hướng về Thiên Chúa. Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người, thì chẳng có gì được tạo thành. Điều đã được tạo thành ở nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại. Anh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng (c.1-5).
- Có một người được Thiên Chúa sai đến, tên là Gioan. Ong đến để làm chứng, và làm chứng về ánh sáng, để mọi người nhờ ông mà tin. Ong không phải là ánh sáng, nhưng ông đến để làm chứng về ánh sáng. Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người (c. 6-9).
- Người ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Người mà có, nhưng lại không nhận biết Người. Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận. Còn những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa. Họ được sinh ra, không phải do khí huyết, cũng chẳng do ước muốn của nhục thể, hoặc do ước muốn của người đàn ông, nhưng do bởi Thiên Chúa (c. 10-13).
- Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta. Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa ban cho Người, là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật. Ong Gioan làm chứng về Người, ông tuyên bố : “Đây là Đấng mà tôi đã nói : Người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi”. Từ nguồn sung mãn của Người tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác (c. 14-16).
- Quả thế, Lề Luật đã được Thiên Chúa ban qua ông Môsê, còn ân sủng và sự thật thì nhờ Đức Giêsu Kitô mà có. Không ai đã thấy Thiên Chúa bao giờ. Nhưng Con Một là Thiên Chúa và là Đấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha. Chính người đã tỏ cho chúng ta biết (c. 17-18).

2) Ý chính :
Đoạn Bài Tựa này là một bài thánh ca do chính Gioan viết. Trong bài tựa này, tác giả đi từ Đức Giêsu lịch sử và cuộc sống trần thế của Người tới Ngôi Lời ở trong Thiên Chúa (c.1). Bài tựa này được coi là bản tóm lược Tin Mừng Thứ Tư, vì trình bày mặc khải về Đức Giêsu và về Giao Ước Mới, với các chủ đề chính như sau : Đức Giêsu là Ngôi Lời; Là Sự Sống và là Sự Sáng chiếu soi trong bóng tối; Là Sự Thật; Liên hệ giữa Gioan Tẩy Giả với Đức Giêsu; Nhân loại đón nhận hay khước từ Đức Giêsu, niềm tin, vinh quang, Lề Luật và ông Môsê, Con Một ở trong Thiên Chúa mặc khải về Thiên Chúa cho loài người…Tuy nhiên Bài Tựa không nói đến các phép lạ và các việc Đức Giêsu đã làm; Thần Khí là Đấng Bảo Trợ; Giờ của Đức Giêsu; Cái chết của Người…
Ta có thể chia bài Tựa Tin Mừng Gioan này làm ba phần chính như sau :
- Phần I (Ga 1.1-2) : Ngôi Lời từ nguyên thủy vẫn ở trong Thiên Chúa, đã hiện hữu trước khi vũ trụ được tạo thành, và chính là Thiên Chúa (c.1).
- Phần II (Ga 1.3-13) : Công cuộc tạo thành vũ trụ là nhờ Ngôi Lời (c.3), và Người cũng thực hiện chương trình cứu chuộc nhân loại nữa. Chẳng hạn : Ban sự sống (c.4); Ban ánh sáng (c.4.5.9); Cho thấy vinh quang (c.14); từ nguồn sung mãn, Người ban mọi ơn lành hồn xác (c.16); Môsê ban Lề Luật còn Người thì ban ân sủng và sự thật (c.17).
- Phần III (Ga 1.14-18) : Đứng trước mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể (c.14), con người có hai thái độ : Một là từ chối và chống lại (c. 5.10.11); Hai là tin vào danh Người và nhờ đó được trở nên con cái của Thiên Chúa (c. 12-13); Họ còn được Người mặc khải về Thiên Chúa cho họ biết nữa (c. 18).

3) Chú thích :
- Trong Tin Mừng Gioan, Đức Giêsu không dùng tước hiệu Lời (Logos). Vậy tước hiệu Lời (Logos) trong Bài Tựa này có nguồn gốc thế nào ?
+ Triết Gia HÊ-RA-CƠ-LÍT (năm 500 trước CN), là người đầu tiên trong thế giới Hy-lạp đã nói đến Logos như một thực thể luôn tồn tại vĩnh hằng và ở khắp nơi. Rồi tới phái Khắc Kỷ của Hy-lạp cũng nói tới Logos như nguyên lý thần linh nằm trong vũ trụ, giống như linh hồn của vũ trụ, trong vạn vật và trong con người dưới hình thức lý trí. Hai quan niệm này của thế giới Hy-lạp có tính cách trí thức và phiếm thần, nên chắc không phải là quan niệm được Gioan xử dụng trong bài tựa.
+ Ong PHI-LÔN là một Do thái kiều ở A-lê-xan-ri-a, đã nói đến Logos khoảng 1300 lần. Theo ông, Logos là trung gian giữa Thiên Chúa siêu việt và vũ trụ, là dụng cụ người dùng trong công cuộc tạo thành, là phương thế qua đó Thiên Chúa mặc khải về Ngài cho loài người, là thượng tế và trạng sư của thế giới bên cạnh Thiên Chúa. Ông còn gán cho Logos một tước hiệu như : Logos của Thiên Chúa, Logos thần linh, Thiên Chúa hạng thứ, Trưởng Tử của Thiên Chúa, hình ảnh của Thiên Chúa tối cao…Như vậy, có vài điểm tương tự giữa Logos của Phi-lôn với Logos của Tin Mừng Gioan. Vì có lẽ cũng như Gioan, ông Phi-lôn sử dụng các nguồn Cựu Ước (sách Khôn Ngoan). Tuy nhiên vẫn có một sự khác biệt căn bản giữa hai bên; Logos trong Gioan không phải là một thứ hữu thể nào đó ở giữa Thiên Chúa và loài thọ tạo. Logos trong Gioan vừa là Thiên Chúa (c.1), vừa là người phàm (c.14). Vì thế quan niệm của Phi-lôn không phải là nguồn độc nhất của Bài Tựa này
+ Cũng có người cho rằng quan niệm Logos của Gioan rất gần với MEM-RA nghĩa là Lời trong tác phẩm Tác-gu-mim bằng tiếng A-ram, phóng dịch các sách Cựu Ước. Có thể Gioan chịu ảnh hưởng của tác phẩm này, hoặc giữa hai bên có một vài điểm giống nhau. Nhưng Mem-ra của các Ráp-bi không phải là một bản vị, mà chỉ là một từ thay cho tên Thiên Chúa.
+ Như thế phải quay về TRUYỀN THỐNG CỰU ƯỚC trong sách Sáng Thế, Thánh vịnh, I-sai-a…liên quan đến Lời của Thiên Chúa và đức Khôn Ngoan của Thiên Chúa, để qui chiếu với từ Logos trong Bài Tựa của Tin Mừng Gioan :

** Lời của Thiên Chúa phát xuất từ Thiên Chúa. Người dùng Lời đó để tạo dựng vũ trụ (x. St 1,3.6.9.11.14.20.24.26; Tv 33,6,9…).
** Lời của Thiên Chúa cũng là Lời mặc khải. Vào thời cuối cùng, Lời Đức Chúa phán truyền từ Giêrusalem để dạy cho muôn dân biết đường lối của Người (x. Is 2,3).
** Lời Chúa được coi như ngọn đèn, như ánh sáng soi đường chỉ lối cho chúng ta đi (x. Tv 119,105).
** Lời Đức Chúa được coi như một bản vị : Phát xuất từ Thiên Chúa như một sứ giả, chỉ trở về với Người sau khi đã hoàn thành sứ mạng trong thế giới (x. Is 55,10-11).
+ Nguồn chính yếu thứ hai của Lo-gos trong Bài Tựa của Tin Mừng Gioan là ĐỨC KHÔN NGOAN : Đức Khôn Ngoan là một bản vị (Cn 8-9; 1,20-22) và có trước vạn vật (x. Cn 8,22-31). Thiên Chúa đã cho Đức Khôn Ngoan được tham dự vào công việc tạo thành (x. Cn 3,19; 8,27-31; Kn 9,1-2). Trong sách Huấn Ca có một số điểm tương đồng với Bài Tựa của Tin Mừng Gioan như sau :
** Đức Khôn Ngoan luôn ở bên Thiên Chúa (x. Hc 1,1); Còn trong Tin Mừng Gioan : Ngôi Lời vẫn ở với Thiên Chúa (x. Ga 1,1-2).
** Đức Khôn Ngoan có tương quan với vũ trụ và nhân loại (x. Hc 24,3-6.10-22); Còn trong Gioan, Ngôi Lời cũng thực hiện từ công cuộc tạo thành tới công trình cứu độ (x.Ga 1,3.16-17).
** Đức Khôn Ngoan định cư giữa lòng dân Chúa chọn, cách riêng tại Giêrusalem (x. Hc 24,10-11); Còn trong Gioan : Ngôi Lời Nhập Thể đã đến nhà mình, tức là Thánh Địa Pa-lét-ti-na mà các gia nhân Người đã không tiếp nhận (x. Ga 1,11).
Như vậy trong Bài Tựa của Tin Mừng Gioan có hai nét chính yếu của Ngôi Lời : Một là Ngôi Lời ở trong Thiên Chúa, đã tạo thành vũ trụ vạn vật. Hai là Ngôi Lời đã đi vào lịch sử nhân loại và thực hiện chương trình cứu chuộc.
- Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời : Lúc Thiên Chúa sáng tạo trời đất. Trước khi vũ trụ được tạo thành, thì Ngôi Lời vẫn đang hiện hữu rồi.
- Điều đã được tạo thành : Cái gì được tạo thành thì đến lãnh nhận sự sống nơi Ngôi Lời. Điều đã được tạo thành không chỉ toàn thể loài thụ tạo, nhưng chỉ về con người mà thôi.
- Ngôi Lời là sự sống : Sự sống ở đây là sự sống đời đời, sự sống thần linh, không phải là sự sống sinh vật, thể lý hoặc tính mạng. Ngôi Lời cũng là ánh sáng cho nhân loại, vì Ngôi Lời biết mọi nẻo đường đời, những con đường dẫn tới Thiên Chúa và những đường lối đưa ra xa Người. Và Ngôi Lời giúp cho con người tiến về Thiên Chúa trên con đường sự sống. Ngôi Lời thông ban sự sống thần linh, khi soi sáng, hướng dẫn nhân loại.
- Anh sáng chiếu soi trong bóng tối và bóng tối đã không diệt được ánh sáng : Bóng tối ở đây không ám chỉ con người, nhưng chỉ lãnh vực xấu thuộc quyền thống trị của Xa-tan, và những mãnh lực thù nghịch với Thiên Chúa và Đức Kitô. Những thế lực đó đã không thể lấn át hay tiêu diệt được ánh sáng.
- Anh sáng đến thế gian : Thế gian có thể hiểu theo 3 nghĩa; Một là vũ trụ hoặc trái đất; Hai là nhân loại; Ba là tất cả mọi người từ chối Thiên chúa, có thái độ thù nghịch đối với Đức Kitô và các môn đệ của Người.
- Người đã đến nhà mình : Nhà mình ở đây là thánh địa, và người nhà là dân Do Thái được Thiên Chúa chọn làm dân riêng. Khi viết Người đã đến, tác giả nghĩ tới những lần Lời Thiên Chúa được tỏ bày cho dân Do Thái qua Lề Luật và những lời sấm của các ngôn sứ…
- Tin vào Danh Người :Tên hay Danh diễn tả bản vị. Tin vào Danh Ngôi Lời là công nhận sự thật do Người mặc khải, đồng thời là gắn bó với bản vị của Người và hoàn toàn tin tưởng vào Người.
- Ngôi Lời đã trở nên người phàm : So sánh giữa hai câu : câu 1 và câu 14, ta thấy có sự khác biệt giữa hai tình trạng của Ngôi Lời như sau : Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời (c. 1a). Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa (c. 1b) và Ngôi Lời là Thiên Chúa (c. 1c).- so với : Ngôi Lời đã trở nên người phàm (c. 14a), Ngôi Lời cư ngụ giữa chúng ta (c. 14b). Người phàm (Hy ngữ : Sarx) chỉ toàn diện con người cả xác lẫn hồn, yếu đuối mỏng giòn và dễ bị hư nát. Có sự tương phản giữa Lời vĩnh cửu với xác phàm như cỏ cây mau héo tàn (x. Is 40,6-8). Hai bên quá khác biệt, lại được phối hợp trong một bản vị. Ngôi Lời cao quí vĩnh hằng đã hạ mình xuống thế, mang thân phận yếu hèn của nhân loại.
- Cư ngụ giữa chúng ta : Cư ngụ, cắm trại hay dựng lều giữa chúng ta : Trong cuộc hành trình trong sa mạc từ Xi-nai đến Đất Hứa, Đức Chúa truyền cho Môsê phải làm cho Người một chiếc lều tạm bằng vải bạt, gọi là Lều Hội Ngộ hoặc Nhà Tạm, nơi Người ngự giữa con cái Ítraen (x. Xh 25,8; 33,7-11; Ds 12,5; 2 Sm 7,6). Lều, Lều Hội Ngộ, Nhà Tạm hoặc Đền Thờ là nơi Thiên Chúa tỏ bày vinh quang của Người (x. Xh 40,34-35; 1 V 8,10-11; Is 6,1-4…). Nhắc đến lều là nơi ở tạm thời của dân Do Thái du mục, Gioan muốn nói rằng : Ngôi Lời Nhập Thể chỉ tạm thời ở lại dưới thế. Nhân tính của Đức Giêsu là Lều mới, là Nhà Tạm mới của Giao Ước mới, nơi Thiên Chúa hiện diện, nơi vinh quang của Người tỏ hiện. Như xưa Thiên Chúa ngự ở Nhà Tạm giữa dân Ítraen trong suốt thời gian dân đi qua sa mạc về Đất Hứa, Đức Giêsu Kitô cũng ngự giữa lòng dân mới là Hội Thánh, đồng hành với họ trên đường dương thế hướng về Đất Hứa mới là Thiên Đàng đời sau.
- Chúng tôi đã được thấy vinh quang Người : Vinh quang của Thiên Chúa, của Đức Chúa. Đó là chính Thiên Chúa tỏ bày sự hiện diện của Người qua đám mây (x. Xh 16,10), qua ngọn lửa bốc cháy (x. Xh 24,17). Nhờ những kỳ công, các điềm thiêng dấu lạ… Thời Tân Ước, vinh quang của Đức Kitô được tỏ bày nhờ ánh sáng chói ngời khi Người biến hình trên núi cao (x. Lc 9,32), và nhờ các phép lạ Người làm (x. Ga 2,11; 11,40) và nhất là bằng sự tự hạ chịu chết và được tôn vinh (x.Pl 2,6-11). “Chúng tôi” nói ở đây là các chứng nhân đã được chứng kiến các điều nói trên (x. Cv 4,20).
- Là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật : An sủng và sự thật của Đức Giêsu tương đương với lòng nhân nghĩa của Thiên chúa. Thiên Chúa đã hạ mình xuống với nhân loại lập Giao Ước với Ítraen cách nhưng không, tha thứ tội lỗi cho con người và tái lập Giao Ước mới.
- Từ nguồn sung mãn của Người : Sung mãn là sự đầy tràn ân sủng và sự thật của Đức Giêsu.
- Lề Luật đã được Thiên Chúa ban qua ông Môsê : Lề Luật Môsê được coi như một ân huệ bất toàn, nhường chỗ cho những ân huệ của thời đại mới.
- Không ai thấy Thiên Chúa bao giờ… : Lời Chúa : “Con người không thể thấy Ta mà vẫn sống” (x. Xh 33,20). Con người không thể thấy Thiên Chúa ở dưới đất này, vì không đủ thánh thiện, trong sạch để tiến đến gần Thiên Chúa là Đấng uy nghi thánh thiện vô cùng. Loài người chưa bao giờ được thấy tôn nhan Thiên Chúa (x. Ga 5,37; 6,46; 1 Ga 4,12.20). Chỉ có Đức Giêsu mới là Đấng duy nhất thấy Chúa Cha và có đủ khả năng để mặc khải về Thiên Chúa, vì Người là Con Một hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha. Trong bài tựa, vai trò mặc khải của Ngôi Lời Nhập Thể được nổi bật trong các câu nói về ánh sáng (x. Ga 1,4b.5.7.8.9), về sự thật (x. Ga 1,14c-17), và nhất là trong câu 18 này.

II. Học sống Lời Chúa :
1) Lời Chúa : “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian” (Ga 3,16).
2) Câu chuyện : Thiên Chúa nói bằng ngôn ngữ nào ?
Ngày xưa có một chú bé Phi Châu da đen tên là Em-ma-nu-en. Chú ta là người ưa thắc mắc. Một hôm chú hỏi thầy giáo : “Thưa thầy, Thiên Chúa nói bằng thứ tiếng của nước nào ?”. Thầy giáo chỉ biết gãi đầu trả lời không biết. Em-ma-nu-en hỏi các người được coi là trí thức trong làng, nhưng họ cũng chẳng biết. Thế là chú ta bỏ làng đi đến các nơi khác để hỏi, nhưng ai nấy cũng chỉ biết nhún vai lắc đầu không biết. Dù vậy chú bé vẫn tin chắc phải có người nào đó biết. Chú ta lên đường đến những nước khác và các đại lục khác với hy vọng thỏa mãn thắc mắc : “Thiên Chúa nói bằng ngôn ngữ gì ?”. Rồi một đêm kia, chú bé đến làng Bêlem nước Do Thái và trú chân trong một cái hang ở giữa cánh đồng Bêlem. Khi bước vào hang, chú nhận ra có một đôi vợ chồng và một hài nhi đang trú ngụ. Nhìn thấy chú bé, bà mẹ trẻ liền nói : “Hân hạnh đón chào Em-ma-nu-en ! Chúng ta đang mong chờ con đấy”. Chú bé ngạc nhiên khi nghe bà này nêu đích danh tên chú và lại còn trả lời cho thắc mắc bấy lâu nay của chú. Bà nói : “Đêm nay chính mắt con đã thấy Thiên Chúa nói bằng ngôn ngữ của tình yêu : “Thiên Chúa quá yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con Một của Ngài” (Ga 3,16)”. Trái tim Em-ma-nu-en trào dâng niềm xúc động. Chú vội quì gối xuống trước Hài Nhi Giêsu, và sung sướng khóc lên. Giờ đây chú đã biết rằng : Thiên Chúa nói bằng thứ tiếng của tình yêu, thứ tiếng mà mọi dân tộc ở mọi thời đại đều hiểu được.
Và thế là Em-ma-nu-en ở lại đó vài ngày để giúp đỡ Đức mẹ và thánh Giuse. Sau đó, đến lúc chú phải chia tay để đi loan báo cho mọi người biết : “Thiên Chúa nói bằng ngôn ngữ của Tình yêu”. Lủi thủi một mình, Em-ma-nu-en vừa rảo bước vừa suy nghĩ : “Nếu tôi muốn kể cho mọi người biết Chúa dùng thứ tiếng nào để nói, thì chính tôi cũng phải nói bằng thứ tiếng Chúa nói, tức bằng ngôn ngữ tình yêu. Bởi đó là thứ tiếng duy nhất mà mọi người trên thế giới đều hiểu được”. Và từ ngày đó, Em-ma-nu-en bắt đầu bằng ngôn ngữ của thiên Chúa tức là ngôn ngữ của tình yêu. Rồi Em-ma-nu-en khám phá một điều kỳ thú : khi chú nói với người ta bằng tiếng nói của tình yêu thì họ cũng sẽ dùng ngôn ngữ tình yêu ấy để nói với nhau. Vậy trên con đường về nhà, chú bé Em-ma-nu-en đã để lại đàng sau chú một chuỗi phố phường làng mạc sống chan hòa hạnh phúc với nhau. Các quốc gia sẵn sàng chia sẻ nguồn lợi tức và kho tàng kiến thức khoa học kỹ thuật cho nhau, các dân tộc đối xử với nhau bằng sự tương kính, các gia đình đều hòa thuận thương yêu nhau, khắp nơi mọi người đều bắt tay nhau trong tình thân ái.

3) Suy niệm
+ Đến Belem, chúng ta gặp được một tình yêu tột đỉnh : Thiên Chúa đã ban người Con Một yêu dấu của Người. Con Thiên Chúa đã sinh ra nơi hang bò lừa không chút hào quang qua việc sinh ra trong đêm tối. Chúa sinh ra không chút quyền lực qua việc trở nên một trẻ thơ yếu đuối. Chúa là Đấng siêu việt mà nay lại chịu giới hạn bởi thời gian. Đấng tuyệt đối mà giờ đây lại mang một thân xác hữu hạn. Chúa yêu thương chúng ta nên không muốn làm cho ta bị choáng ngợp, không ban tặng cách cha chú, nhưng kiên nhẫn gõ cửa và chờ đợi. Thiên Chúa giàu có đã trở nên nghèo hèn để chúng ta được trở nên giàu có (x. 2 Cr 8,9).
+ Đã hai ngàn năm kể từ khi Ngôi Lời nhập thể và chiếu ánh sáng xua trừ bóng đêm tội lỗi. Người là ánh sáng thật, chiếu soi cho mọi người (x. Ga 1,9). Tiếc thay nhiều người đã chọn bóng tối tội lỗi, vì bóng tối xem ra dễ chịu hơn (x. Ga 3,19). Ngôi Lời đã đến nhà của Người, nhưng các gia nhân đã không đón nhận Người (x. Ga 1,11).
+ Đức Giêsu còn phải tiếp tục nhập thể cho đến tận thế. Nhập thể là truyền giáo, là làm cho Đức Giêsu được sinh ra tại đây hôm nay, trong văn hóa truyền thống của dân tộc, trong những biến chuyển của đất nước thời mở cửa, trong một thế giới đã bước qua ngưỡng cửa của năm 2000. Sống mầu nhiệm Nhập Thể là noi gương Đức Maria : Đón nhận Đức Giêsu, cưu mang Người, và trao ban Người cho thế giới. Xin thắp lên một ngọn nến để đẩy lùi bóng tối tội lỗi và sự chết.
4) Thảo luận : Noi gương Ngôi Lời Nhập Thể, bạn sẽ làm gì để góp phần làm cho Tin Mừng được hội nhập vào văn hóa dân tộc Việt Nam hôm nay ? Khi bị người ta từ chối tiếp nhận Tin Mừng, bạn nên phản ứng thế nào ?

III. Hiệp sống nguyên cầu :
1) Lạy Chúa Giêsu Hài Đồng, hiệp cùng Mẹ Maria và thánh Giuse, con xin thờ lạy Chúa. Chúa đang nằm trong máng cỏ nghèo hèn, nhưng Chúa chính là Đấng tạo thành và ban sự sống cho muôn loài. Chính Chúa đã cho con làm người và muốn ban sự sống đời đời cho con. Dù con yếu đuối tội lỗi, nhưng Chúa vẫn không bỏ mặc con phải ở dưới quyền lực ma quỉ, tội lỗi và sự chết, nhưng đã đoái thương đến cắm lều ở giữa chúng con, cùng đồng hành với chúng con trên mọi nẻo đường cuộc sống, để dẫn đưa chúng con về với Chúa Cha. Chúa đã chiếu ánh sáng Lời Chúa để chỉ đường cho con. Chúa thương con yếu đuối, nên đã ban ân sủng và sự sống, để con trở nên con của Chúa Cha và môn đệ của Chúa.
Lạy Chúa Giêsu, con xin cảm tạ Chúa. Xin giúp con biết đón nhận Chúa vào trong đời con. Chúa đã đến và coi con như người nhà của Chúa. Nhưng con đã từ chối đón nhận vì con đang mải mê tìm kiếm, lo tích trữ cho mình nhiều của cải vật chất, mải lo tìm kiếm danh vọng chức quyền thế gian. Con chưa ý thức rằng : Đời con cần phải có Chúa. Con rất cần tình thương và ân sủng của Chúa bao bọc ấp ủ con. Con cũng cầu nguyện cho thế giới hôm nay biết nhận ra thân phận của mình, biết mình cần đến Chúa. Thế gian đang muốn gạt bỏ Chúa ra ngoài lề mọi sinh hoạt xã hội. Nhưng bóng tối không thể tiêu diệt được ánh sáng. Xin Chúa cho mọi người biết đón nhận Chúa để nhận được ơn cứu độ của Chúa.
X) Hiệp cùng Mẹ Maria. - Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con.
2) Lạy Mẹ Maria, xin hãy giúp chúng con gặp được Chúa trong cuộc đời của con. Giữa những long đong vất vả của kiếp người, xin Mẹ giúp con luôn được ở kề bên Chúa. Giữa cảnh đời nghèo khó cô đơn, xin Mẹ giúp con nhìn thấy Chúa đang đồng hành với con và luôn cảm thông nâng đở và an ủi con.
Lạy Mẹ, Hài Nhi Giêsu đang nằm trong máng cỏ kia lại chính là Con Thiên Chúa làm người. Xin Mẹ giúp con nhận được sự bình an của Chúa, ngay giữa những lo âu tìm kiếm miếng cơm manh áo hằng ngày. Xin Mẹ giúp con chấp nhận cuộc sống với bao điều chưa toại ý vừa lòng. Và cuối cùng, xin giúp con dám sống yêu thương như Chúa, vì Chúa đã dám hạ mình sống trọn kiếp người như con.
X) Hiệp cùng Mẹ Maria. - Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con.
Trích Hiệp sống Lời Chúa.

 

GS-2: NIỀM VUI GIÁNG SINH -Linh Mục Nguyễn Hồng Giáo

Lời chúc mừng Giáng sinh của các nước trên thế giới thường gắn liền với những tiếng vui, vui: GS-2

Lời chúc mừng Giáng sinh của các nước trên thế giới thường gắn liền với những tiếng vui, vui vẻ,vui tươi. Khi một em bé ra đời, cha mẹ, thân nhân và tất cả họ hàng của em đều vui mừng và niềm vui đó còn lan đến bạn bè và những người quen biết của cha mẹ em nữa. Trường hợp Hài Nhi Bê-lem cũng thế. Nhưng niềm vui ở đây thật đặc biệt và được biểu lộ một cách khác thường.
       Những người đầu tiên hưởng niềm vui Giáng sinh.
Trước hết là Thánh Giuse và Đức Mẹ Maria. Khi đến truyền tin cho Đức Trinh nữ, câu nói đầu tiên của sứ thần là: "Mừng vui lên, hởi Đấng đầy ân sủng". (Một bản Kinh thánh sau này đã dịch lời chào này thành: Kính mừng Maria, (Bà) đầy ơn phúc). Lúc đến thăm bà chị họ I-sa-ve, Mẹ Maria đã cất tiếng ngợi khen Chúa: "Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa Đấng cứu độ tôi". Niềm vui của Đức Mẹ là niềm vui cứu độ, cũng như lời chào của sứ thần không phải là một lời chào thông thường mà là dư âm của những lời loan báo ơn cứu độ cho Giêrusalem trong Cựu ước.
Những người tiếp theo được hưởng niềm vui cứu độ là gia đình ông Da-ca-ri-a và bà I-sa-ve. Chính Đức Giêsu là niềm vui cứu độ mà Đức Mẹ mang tới cho gia đình bà con này. Nên bà I-sa-ve đã thốt lên: "Bởi đâu tôi được phúc này là Thân mẫu của Chúa tôi đến với tôi như vậy? Vì này đây, tai tôi vừa nghe tiếng em chào, thì đứa con trong bụng tôi đã nhảy lên vui sướng?". Gioan Tẩy giả đã nhận ra Đấng cứu độ ngay từ khi còn chưa sinh ra, và niềm vui do cuộc gặp gỡ hi hữu này đã chiếm đoạt trọn vẹn con người ông đến độ sau này ông đã rút lui vào sa mạc như thể không còn tha thiết với vui thú nào của trần gian nữa. Mẹ vui, con vui, cha cũng không thể khác hơn. Ông Da-ca-ri-a nhớ lại lời sứ thần nói với ông trong đền thờ cách đây mấy tháng: "Này ông Da-ca-ri-a, đừng sợ vì Thiên Chúa đã nhận lời ông: bà I-sa-ve vợ ông sẽ sinh cho ông một đứa con trai. Ông sẽ được vui mừng hớn hở, và nhiều người cũng sẽ được hân hoan...". Rồi ngay sau khi làm lễ cắt bì và đặt tên cho con, ông đã được đầy Thánh thần và cất tiếng nói tiên tri: "Chúc tụng Đức Chúa là Thiên Chúa It-ra-en, đã viếng thăm và cứu chuộc dân Người..."
Nhóm người thứ ba đã được ơn nhận ra và hưởng niềm vui cứu độ là những người chăn chiên. Ngay trong đêm Giáng sinh, sứ thần Chúa đã đến với họ: "Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân. Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa-vit". Họ liền hối hả ra đi, không phải vì tò mò, nhưng vì vui mừng trước ơn Chúa thương ban cho mình. Khi trở về với cuộc sống hằng ngày, các mục đồng đã chia sẻ lại với người khác những điều họ đã thấy và ai ai cũng ngạc nhiên.
Phúc Âm còn kể tới hai nhóm người đặc biệt khác là các nhà đạo sĩ phương Đông và hai cụ già Si-mê-on và An-na, những người đại diện cho Dân Cựu ước, ngày đêm những mong chờ "niềm an ủi của It-ra-en".
       Niềm vui của riêng người nghèo.
Thiên Chúa đến cứu độ mọi người, nhưng không phải ai cũng sẵn sàng đón nhận Người, ai cũng vui mừng "vì ơn cứu độ". Những người mà chúng ta vừa nói tới trên đây, họ rất khác nhau về điều kiện sống, trình độ văn hóa và địa vị xã hội, nhưng tất cả đều là những người nghèo, theo quan niệm của Kinh thánh. "Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó vì Nước Trời là của anh em"(Lc 6,20). Ý nghĩa thứ nhất của Nghèo khó là một ý nghĩa cụ thể, vật chất: đó là những người đói khát, những người vất vả lầm than, người thấp cổ bé miệng, bị áp bức bóc lột, bị ruồng bỏ khinh chê, bị tước đoạt quyền lợi, như góa phụ, trẻ em và ngoại kiều chẳng hạn. Không phải nghèo như thế đương nhiên là được chúc phúc, song vì tình cảnh đó làm cho người ta biết khao khát và chờ đợi sự giải thoát nơi Thiên Chúa. Vì thế người nghèo theo Kinh thánh, còn là người đạo đức, công chính, tức là những người trung thành với lề luật của Chúa, hằng khao khát cho thánh ý Chúa được thể hiện. Theo nghĩa đó thì không những người chăn chiên là nghèo, cha mẹ Đức Giêsu là nghèo, hai cụ Si-mê-on và An-na là nghèo, mà ngay cả gia đình ông Da-ca-ri-a (thuộc giai cấp lãnh đạo tôn giáo) hay các nhà đạo sĩ phương Đông cũng nghèo. Thái độ của người nghèo tương phản với thái độ của hạng kiêu căng, áp bức, cậy thế, cậy quyền, và vì giàu có và quyền thế nên khinh mạn lề luật Chúa. Trong dịp Chúa Cứu thế ra đời, những người này đã bắt đầu xuất đầu, lộ diện: tiêu biểu là vua Hê-rô-đê và những kẻ vây quanh ông ta. Họ không vui mừng, trái lại đã đâm ra lo sợ, hoảng hốt và vì đó, đã rơi vào tội ác.
       Niềm Vui và Sợ Hãi.
Mỗi lần đến với con người để trao một sứ điệp, một nhiệm vụ nhân danh Thiên Chúa, sứ thần thường bắt đầu bằng lời động viên: "Đừng sợ!" Chẳng hạn khi "truyền tin" cho ông Da-ca-ri-a, Đức Maria và các mục đồng. Lời kêu gọi "đừng sợ" thường được kèm theo lời hứa: "Vì có Chúa ở với ngươi". Khi truyền cho ông Mô-sê đi giải phóng dân It-ra-en đang làm nô lệ ở Ai-cập, Thiên Chúa phán: "Đừng sợ. Ta sẽ ở với ngươi." Với ông Giê-rê-mi-a hay ông Ghê-đê-on v.v., và sau này với Đức Maria cũng thế. Nhưng kể từ khi Thiên Chúa làm người, thì Người không chỉ ở với con người trong một số trường hợp đặc biệt mà thôi, nhưng làthường xuyên và vĩnh viễn. Đức Giêsu là Em-ma-nu-en, Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta.
Dường như sợ hãi gắn liền với cuộc sống của con người ở trần gian. Chúng ta sợ đủ thứ: sợ đói khát, bệnh tật, rủi ro, hoạn nạn, sợ thất nghiệp, sợ bị phản bội, bị phụ tình...Và cuối cùng là sợ chết. Cuộc sống không bao giờ thật sự là an toàn vì tự nó là mong manh, giới hạn mà ta thì muốn một hạnh phúc không bao giờ tàn phai. Không những tai họa bên ngoài luôn luôn rình rập ta, mà ngay trong thâm tâm, ta cũng nghiệm thấy mình yếu đuối, mỏng dòn, dễ dàng xuôi theo cái xấu nghịch với khát vọng sâu xa của ta. Từ tình cảnh đó, nếu ta biết đặt tất cả lòng tin cậy nơi Chúa, như những người nghèo, thì ta sẽ không còn sợ hãi, nhưng ngay từ bây giờ đã bắt đầu được hưởng niềm vui cứu độ của Chúa. Thánh Gioan viết:"Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của mình cho thế gian" (Ga 3,16). Xác tín đó xua tan tất cả mọi sự sợ hãi của ta.
       Người Kitô Hữu và Niềm Vui.
Vậy có thể nói niềm vui là di sản của dân Kitô giáo. Một người Kitô hữu mà sống bi quan chán chường, thất vọng buông xuôi, ấy là dấu hiệu có cái gì đó không ổn. Phải chăng đó là một điều mâu thuẩn? Niềm vui là dấu hiệu của bình an nội tâm, của sự hài lòng, của tự tín, là dấu hiệu cho thấy rằng người ta đang cảm thấy được an toàn, được đón nhận, được yêu mến. Tóm lại, niềm vui là dấu hiệu của hạnh phúc. Chúng tôi muốn nói tới một tâm trạng an vui thường xuyên và sâu xa, niềm an vui không loại trừ gian nan, thử thách và đau khổ.
Thế thì còn ai hơn người Kitô hữu? Họ biết mình được thương yêu, được đón nhận và tha thứ. Họ biết mình đang tiến về đâu. Cái gì có thể làm cho họ sợ hãi? Gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, chết chóc chăng? Hay là ma quỉ hay những sức mạnh vô hình nào chăng? Hay là tội lỗi của ta chăng? Thánh Phaolô trả lời khẳng khái: Không! Tôi không sợ vì không có gì tách tôi ra khỏi tình yêu của Đức Kitô được, trái lại trong tất cả những thử thách ấy, tôi toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến tôi (x.Rm 8,35-38).
Vậy niềm vui của chúng ta trong lễ Giáng sinh không chỉ là niềm vui do những nghi lễ sốt sắng, những buổi thánh ca du dương bay bổng, những hang đá xinh đẹp, gợi cảm hay những món quà tình nghĩa và những bữa ăn gia đình ấm cúng. Điều đó tốt, nhưng chưa đủ. Càng không phải là niềm vui nồng nặc, nhầy nhụa của rượu, của thịt và những lạc thú nhố nhăng, nhưng là niềm vui sâu xa của những "người nghèo" xác tín rằng mình được quí chuộng, yêu thương và cứu độ.
Linh Mục Nguyễn Hồng Giáo

 

GS-3: CHÚA ĐẾN VỚI TA HÀNG NGÀY

TRONG ANH CHỊ EM NGHÈO HÈN VÀ THẤP CỔ BÉ MIỆNG – Lm. Nguyễn Hồng Giáo
Thiên Chúa đã xuống thế làm người
 

Khi đọc lại các sách Phúc âm kể lại đời sống của Chúa Giêsu, ta có thể ngạc nhiên tại sao người GS-3

Khi đọc lại các sách Phúc âm kể lại đời sống của Chúa Giêsu, ta có thể ngạc nhiên tại sao người Do Thái đã không nhận ra Chúa là Thiên Chúa nhập thể, là vị Cứu thế mà họ hằng khao khát, đợi chờ? Nhưng tôi tin chắc rằng nếu chính chúng ta sống vào thời của Chúa, hầu hết chúng ta cũng đã không nhận ra Người. Vì Chúa đến, không kèn không trống, không cổng chào đón tiếp, không vòng hoa trao tặng, nhưng âm thầm và bình thường như phần đông nhân loại. Thánh Luca kể rằng khi Chúa ra đời có ánh sáng chan hòa, có hằng hà sa số thiên thần ca ngợi tung hô dậy đất trời Song đó chỉ là một cách diễn tả thần học có mục đích làm nổi rõ nguồn gốc và sứ mệnh siêu việt của Hài nhi Bê-lem. Còn sự việc thực sự đã xảy ra thì khiêm tốn, tầm thường lắm, nếu không thì chắc hẳn thiên hạ đã rần rần kéo nhau đến thờ lạy và mở tiệc liên hoan rầm rộ rồi. Thánh Gioan đã nêu bật tính bi đát của biến cố Giáng sinh khi viết: "Người đã đến trong nhà mình nhưng người nhà đã không tiếp nhận" (Ga 1,11).
Khi cha mẹ Người mệt nhọc đến Bê-lem, hai ông bà đã đi tìm quán trọ. Phúc âm kể rằng không còn chỗ cho họ trong quán nữa. Không còn chỗ cho họ vì sao? Suy nghĩ cách bình thường, ta có thể cho rằng tại vì họ chậm chân quá, các quán trọ đã đầy khách rồi. Song cũng có thể vì chủ quán thấy họ nghèo nàn, quê kệch nên muốn dành chỗ cho những khách xộp hơn, thanh lịch hơn. Cha mẹ của vị Cứu tinh mà như thế thì ai mà nhận ra cho được chứ?
Chắc về sau, khi danh tiếng Đức Giêsu đã lừng lẫy rồi, chủ quán đã tiếc rẻ: "Phải chi mình đã cho hai ông bà trú đêm hôm ấy, thì quán trọ của mình nay đã trở thành di tích lịch sử nổi tiếng, thu hút đông đảo khách hành hương tới viếng thăm, tha hồ mà hốt bạc!" Và ông trách móc Đức Mẹ và thánh Giu-se: "Giả như hai người đã đàng hoàng hơn, sang trọng hơn chút xíu, và tốt nhất là họ chịu nói cho mình biết họ là ai thì đâu đến nỗi phải trú đêm trong một hang lừa khốn nạn như thế? Tiếc! Rất tiếc là mình đã bỏ lỡ một vinh dự đón tiếp cha mẹ nhà Tiên tri. Lẽ ra họ đã ký tên vào sổ vàng gia đình mình rồi! Nhưng tại hai người hết, nên mới có cơ sự này".
Tại hai người ư? Không! Tại Chúa đấy chứ! Tại Chúa muốn làm người như đại đa số nhân loại. Tại Chúa muốn làm người hèn mọn, nhỏ bé, đói rách. Nhưng nói thế không có nghĩa là phủi tội cho ta.
Chúa đã đến và đang dùng mọi cách cho ta nhận ra Người, chỉ tại ta nặng tai, lơ đễnh, nhắm mắt làm ngơ, hoặc chỉ muốn nhìn thấy những gì hợp với tư tưởng và ước vọng của mình thôi. Đối với ta, cách thức Chúa tỏ mình ra cho ta kỳ quặc quá. Ta muốn Chúa uy nghi sáng láng để không ai có thể cưỡng lại được. Còn Chúa thì ẩn mình trong một con người và một cuộc đời giống như mọi người. Con bác thợ mộc đấy mà! Đồng bào của Người đã từng nói như thế về Người để giải thích tại sao họ không thể tin vào Người. Ta muốn Chúa đến một cách "thuần túy là Chúa", không lấp lửng, không mập mờ. Chúa ra Chúa, người ra người. Còn Chúa thì tỏ mình ra qua các dấu hiệu. Mà đã là dấu hiệu thì vừa che vừa mở, có thể giải thích theo nhiều nghĩa. Một nụ cười có thể bị coi là mỉa mai hoặc được xem là đưa tình tùy theo tâm trạng của người nhìn nụ cười ấy. Đến như các phép lạ Chúa làm, tuy được quần chúng đơn sơ tán thưởng nhưng vẫn bị những kẻ chống đối cho là phù phép ma quỉ. Nhưng Chúa đã không muốn dùng phương tiện nào khác ngoài các dấu hiệu để đến với loài người. Thân xác của Chúa là một dấu hiệu. Lời ăn tiếng nói, thái độ, cử chỉ, hành động của Chúa là những dấu hiệu. Cho nên Người đã trách người đương thời: "Các ngươi biết coi điềm trời để đoán thời tiết, tại sao không coi các điềm thời đại để biết rằng Nước Thiên Chúa đã đến?". Điềm thời đại mà Đức Giêsu nói tới đây là những dấu lạ Người làm, lời giảng dạy chân thật đầy uy quyền của Người, niềm khát vọng giải phóng nóng bỏng của quần chúng, sự "tuột dốc" của các nhà lãnh đạo tôn giáo v.v.
Loài người chúng ta luôn luôn có một mơ ước thầm kín là vượt ra khỏi những giới hạn của kiếp làm người. Ta không muốn mãi mãi phải làm ăn cực nhọc, phải lắng lo toan tính, phải buồn sầu vất vả, khỏe rồi bệnh, được rồi mất, gần rồi xa, phải lệ thuộc thời gian nghĩa là phải lớn lên, trưởng thành, già nua và chết. Khi yêu, ta muốn thời gian ngừng trôi. Khi vui, ta muốn niềm vui kéo dài mãi mãi. Nhưng đâu có được! Niềm mơ ước thầm kín này tự nó là tốt. Người Công giáo coi đó là dấu hiệu của Thiên Chúa tuyệt đối trong con người. Nhưng sẽ là tai họa cho ta nếu không chấp nhận thân phận làm người của mình. Ta muốn đi đường tắt, còn Chúa nhập thể lại muốn đi từ từ, từng bước một, từng cảnh ngộ một của cuộc sống làm người. Chúa cũng sinh ra, lớn lên, cũng ăn, cũng học, cũng vui, cũng buồn, cũng đau khổ và hy vọng, cũng đổ mồ hôi để sinh sống. Ma quỉ đã cám dỗ Người hãy lấy uy quyền vô hạn của Thiên Chúa để gieo mình từ nóc đền thờ xuống mà "không hề hấn chi" và để biến đá thành cơm ăn khi đói mà chẳng cần một chút khó nhọc nào. Dưới chân thập giá mấy chú lính Do Thái đã khiêu khích: "Nếu là Con Thiên Chúa thì hãy xuống khỏi thập giá cho bọn tao tin!" Chúa đã có thể làm như thế vì Người là Thiên Chúa, nhưng bởi Người là Thiên Chúa nhập thể làm người, cho nên Người đã không muốn làm như họ mong chờ, vì như thế là làm người "theo con đường tắt".
Vì có khuynh hướng không chấp nhận thân phận làm người có giới hạn và những điều kiện nhập thể của loài người là những cái bị coi làkhông tốt hoặc không nên có, nên chúng ta thường chỉ nhận ra sự cao cả thật sự của các bậc thánh nhân khi họ không còn sống giữa chúng ta. Tại sao? Tại vì sự cao cả, thánh thiện của họ lắm khi không hiển nhiên nhưng bị che khuất, bị giới hạn bởi cuộc sống thể lý của họ. Tại vì ta nghĩ rằng thánh mà cũng ăn, cũng ngủ, cũng vui buồn, cũng có lúc bực bội, nóng nảy, có thể cũng còn một vài thói quen kỳ dị thì chưa phải là thánh. Tại vì ta quan niệm rằng thánh thiện là phi thường, siêu thoát, xa cách, không còn giống phàm nhân nữa. Bởi vậy thường phải đợi đến khi người ta chết rồi, nghĩa là đã thoát khỏi điều kiện vật chất của cuộc sống rồi, ta mới dễ dàng nhận ra cái tốt, cái "thánh" của họ. Đức Giêsu Kitô đã đảo lộn quan niệm thông thường này. Nơi bản thân mình, Người đã cho thấy rằng: cao trọng có thể ở trong nhỏ bé, thánh thiện trong bình thường, vô biên trong giới hạn.
Biết bao lần ta đã phải thốt lên, như người chủ quán ở Bêlem xưa: "Phải chi Phải chi" Phải chi tôi đã đối xử tử tế hơn với ông ta một chút. Té ra ông ta là một người tốt. Phải chi tôi đã tích cực tiếp tay với bác ấy trong1úc gặp khó khăn. Nay mới biết bác ta là một bậc tài đức Cứ thế, cuộc đời ta đầy những tiếng tiếc nuối "phải chi", những tâm tình tiếc nuối "phải chi", cho tới ngày Chúa đến phán xét ta: " Xưa Ta đói, ngươi đã không cho ăn, khát, ngươi đã không cho uống, Ta rét, ngươi không cho mặc v.v." Và lúc ấy, nhiều kẻ trong chúng ta sẽ lại ngạc nhiên, rồi tiếc rẻ vàhối hận. "Nếu biết vậy thì" Nhưng cũng tại Chúa cả thôi. Sao không nói rõ ràng cho chúng tôi biết? Chúa đã nói rồi đấy! Cứ mở Phúc Âm ra thì biết. Nhưng Chúa muốn nói gì thì nói, ta vẫn không muốn nhìn nhận những con người cụ thể, bằng xương bằng thịt mà ta gặp gỡ hằng ngày là chính Chúa được. Họ "thường" quá. Họ tệ nữa là khác. Ta còn nghĩ rằng thời đại này không thể là thời đại của ơn cứu độ được; xã hội này không thể là nơi cho Chúa hiện diện và Nước Chúa lan rộng được. Nó tội lỗi quá, hồ đồ quá, vật chất quá. Đó là điều ta vẫn thường tự nhủ bởi vì ta vẫn đòi hỏi cái "thuần túy". Nhưng ta lầm.
Chúa đang đến với ta hằng ngày. Qua Giáo Hội, qua các Bí tích, qua Lời Chúa, qua anh chị em đồng loại ta, nhất là qua những người nghèo hèn, thấp cổ bé miệng. Chúa đến qua các biến cố lớn nhỏ đang xảy đến với ta, chung quanh ta, trong xã hội, trong thế giới. Vẫn âm thầm, kín đáo, lờ mờ, ẩn náu, như xưa kia ở Bê-lem, Na-za-ret và Pa-lex-tin. Chúa sẽ chẳng nói thẳng với ta, chẳng bảo đảm với ta là Người đang đến hiển nhiên nơi này, nơi kia.
Một người Công giáo Việt Nam hôm nay phải tìm gặp Chúa tại đây, trong cái xã hội cụ thể mà mình đang sống -- ở trong nước hay ở ngoài nước -- với tất cả cái hay, cái dở, với tất cả những lo âu và hy vọng của nó. Nếu ta sống bên lề, sống hờ hửng, thoát ly, chắc chắn ta sẽ bị hụt mất cuộc hẹn hò với Chúa, vì Chúa không ở đâu xa, trong những diều kiện tinh tuyền, thuần túy: thuần túy tốt lành, thuần túy trong sạch, tuần túy tinh thần, thuần túy tôn giáo  Muốn thuần túy, chúng ta phải sang bên kia thế giới, nhưng lúc đó thì quá muộn rồi.
Sứ điệp Giáng sinh thật "thực tế" và đòi hỏi ta gắt gao chừng nào! Giáng sinh không phải chỉ là thơ mộng, màu sắc, âm thanh mơn trớn hay tình cảm dạt dào chóng qua. Hài nhi Giêsu trong hang đá đã chẳng biết gì là thơ mộng cả. Người đã nếm biết cái lạnh, cái đói, cảnh nghèo hèn, tủi nhục, nhưng đồng thời cũng biết giọt sữa ấm của mẹ hiền, lòng thương cảm của những kẻ chăn chiên, nghĩa là Người đã biết những điều kiện làm người như ta. Chúa không còn là "Thiên Chúa thuần túy" nữa, bởi đó Người đã gần gũi với ta và nâng ta lên với Người. Và nhờ Người, con người cũng không còn "thuần túy" là người nữa.
Linh Mục Nguyễn Hồng Giáo
 
 

GS-4: ĐỨC THANH BẦN - Nguyễn Chính Kết

1.ĐỨC THANH BẦN: HAI QUAN NIỆM KHÁC BIỆT
 

Một tu sĩ thánh thiện kia kể chuyện về cha mình như sau: Cha tôi dạy dỗ con cái trong vòng kỷ : GS-4

Một tu sĩ thánh thiện kia kể chuyện về cha mình như sau:
Cha tôi dạy dỗ con cái trong vòng kỷ luật chặt chẽ và chính cha tôi cũng là một người sống rất khắc khổ. Bởi đó, người không khi nào đi xem hát, mà chỉ giải trí bằng việc cầu nguyện, đọc Thánh Kinh, đọc sách báo đạo đức, bằng việc tham gia những công tác tông đồ trong giáo xứ, bằng việc đi thăm và ủy lạo các gia đình. Người khinh thường mọi sự xa xỉ, người mang những đôi giầy cho đến khi cũ mèm không dùng được nữa. Các anh em tôi đều mua xe gắn máy khi loại xe này trở thành thông dụng, còn cha tôi chỉ đi xe buýt đến sở làm. Người làm việc cho một công ty hỏa xa cách nhà 3 cây số. Lòng ham mê tài lợi là một điều hoàn toàn xa lạ đối với tính tình của người.
Có lần nọ, sau khi đã góp công thành lập nhà ngân hàng hỏa xa thành phố, cha tôi từ chối không nhận số tiền thưởng đặc biệt dành cho mình. Người nói rằng đó là bổn phận của người và người chỉ làm trong những khi nhàn rỗi mà thôi.
Sau khi về hưu được vài năm, một chuyên viên kế toán mới đến xem xét sổ sách của công ty. Ông ta vô cùng ngạc nhiên khi nhận thấy rằng cha tôi không hề đòi hỏi phần chia lời của mình. Người chuyên viên tuyên bố: "Ông ấy đã làm công việc của ba người! Công ty còn thiếu ông ta một số lời chưa trả là 12. 500. 000đ!"
Các viên chức hỏa xa bèn gửi cho cha tôi một ngân phiếu trả đủ số tiền trên. Cha tôi không nghĩ gì về vấn đề ấy, thậm chí cũng quên cả việc nhắc nhở gia đình về số tiền đó. Về sau, em trai tôi nhận thấy có một số tiền lớn gửi vào trương mục ngân hàng của cha tôi, mới hỏi người về vấn đề ấy. Cha tôi nói: "Cần gì phải bận tâm hay hãnh diện vì một lợi lộc vật chất. Người sống theo Tin Mừng không quá lưu tâm về tiền bạc vật chất, không ham thích lợi lộc cũng như không quá lo lắng buồn phiền khi bị mất mát thua lỗ, vì biết rằng không gì xảy ra ngoài Thánh Ý Thiên Chúa, và thấy rằng mình bước vào đời không có một xu, và từ giã của đời cũng không đem đi được một xu!".
Câu chuyện trên đối với não trạng của người thời nay thật là xa lạ, khó hiểu và khó tin. Ngày nay, người trần đa số coi sự giầu sang, sự thành công về mặt vật chất là một thành công quan trọng trong cuộc đời, là một yếu tố không có không được của hạnh phúc. Ai cũng lo sao cho mình được giàu có để nở mày nở mặt với đời, làm như giá trị con người là ở số tiền họ có, ở của cải họ sắm được. Và ai cũng coi sự nghèo nàn, thiếu thốn là một điều xấu, một tai họa cần phải diệt trừ khỏi nhân loại không khác gì bệnh dịch. Ở nước ta hiện nay có chương trình "xóa đói giảm nghèo", điều đó nói lên rằng nghèo đói là một bất hạnh cần phải khai trừ khỏi xã hội.
Đang khi mọi người ai cũng cho rằng "phúc cho những ai giầu có, no đủ" và ai cũng tìm cách tránh nghèo tránh đói như tránh một cái gì đáng sợ nhất, coi nghèo là "mối tội thứ tám" - vì "bần cùng sinh đạo tặc" - thì Đức Kitô lại tuyên bố những câu thật là ngược đời, nghe rất chói tai: Phúc cho những ai nghèo khổ phúc cho những ai đói khát." (Lc 6, 20-21), "Khốn cho các ngươi là những kẻ giầu có, vì các ngươi đã được phần an ủi của mình rồi. Khốn cho các ngươi là những kẻ bây giờ đang được no nê, vì các ngươi sẽ phải đói" (Lc 6, 24-25). Thật là nói ngược! Đang khi người trần ai cũng tìm cách làm cho mình giầu có, sung túc, thì những tu sĩ lại tuyên khấn sống "Đức Thanh Bần" hay "Đức Khó Nghèo". Có phải Đức Kitô và các tu sĩ - những người theo Ngài - là những người bất bình thường, suy nghĩ lệch lạc không? Có phải Ngài và các tu sĩ của Ngài ca tụng và cổ võ sự đói nghèo, thiếu thốn, giữa lòng một thế giới đang cố gắng "xóa đói giảm nghèo"?
2. NGHÈO CŨNG GIỐNG NHƯ TAI NẠN, TỰ BẢN CHẤT LÀ ĐIỀU KHÔNG HAY, NHƯNG
Cho dù là Đức Kitô hay các tu sĩ, chắc chắn ai cũng phải công nhận rằng: Con người có nhu cầu vật chất và tinh thần. Cả hai nhu cầu đó đều cần được thỏa mãn, nếu có nhu cầu nào không được thỏa mãn, con người không thể tồn tại và phát triển quân bình, và cũng không thể hạnh phúc. Nghèo, là tình trạng nhu cầu vật chất không được thỏa mãn đầy đủ, khiến con người lâm vào tình trạng khó khăn, đau khổ. Do đó, nghèo là một điều không hay, điều dữ, gây khó chịu (cũng tương tự như đau khổ và tai nạn).
Nhưng chúng ta cần phân biệt giữa "điều dữ" và "điều xấu", "điều lành" và "điều tốt": Nhiều người tốt mà cứ gặp điều dữ, điều chẳng may, trái lại nhiều người xấu lại cứ gặp toàn điều lành, điều may mắn.
Điều xấu, ác, điều tội lỗi (có nghĩa luân lý) thì phải tránh, không nên làm: "làm thiện tránh ác", nhưng nó lại thường có sức hấp dẫn và cám dỗ người ta làm, vì nó thường đi đôi với lợi lộc, vui thú mà ai cũng ham thích. Ăn trộm ăn cắp là điều ác, nhưng lại giúp người ta có tiền nhanh chóng là điều có lợi. Còn điều tốt, điều thiện (theo nghĩa luân lý) thì nên làm, nhưng lại đòi hỏi người ta phải hy sinh, nghĩa là phải chấp nhận một số những điều dữ, không may, vì thế, rất nhiều người không thích làm hay không dám làm. Thương người là điều tốt thì phải chấp nhận hy sinh cho người, nghĩa là phải mất mát, thiệt thòi, đôi khi bị liên lụy, đau khổ, là điều dữ, bất lợi. Vì thế, thánh Phaolô nói: "Điều thiện tôi muốn thì tôi lại không làm, còn điều ác tôi không muốn thì tôi lại cứ làm" (Rm 7, 19).
Như vậy, điều dữ, điều không may, bất lợi (không theo nghĩa luân lý) như nghèo nàn, mất mát, tai nạn, bệnh tật, bị nghi oan thì đạo đức hay luân lý chỉ đòi buộc mình không được gây ra cho người khác, chứ không đòi buộc phải tránh cho mình, mặc dù tính tự nhiên ai cũng sợ và muốn tránh. Trong rất nhiều trường hợp, sự thiện hay lương tâm đòi buộc người ta phải chấp nhận một số những điều dữ, không may và bất lợi này. Chẳng hạn, muốn cứu một người bị cướp dọc đường, thì phải chấp nhận mất thì giờ, có khi phải tốn tiền, đó là chưa nói đến trường hợp những kẻ bất lương giả bị cướp để những người có lòng từ tâm mắc bẫy. Người ta vẫn nói: "Cứu người, hại mình", để nói lên rằng: Trong nhiều trường hợp, làm điều tốt thì phải chấp nhận mình có thể bị thiệt hại.
Còn điều tốt, lành, may mắn (không có nghĩa luân lý) thì ai cũng ham thích, ai cũng muốn xảy đến cho mình, nhưng nhiều khi điều thiện hay lương tâm buộc ta phải từ chối những điều hấp dẫn đó. Chẳng hạn khi phải từ chối nhận sự đền ơn của một người quá nghèo, hay khi phải từ chối của hối lộ Nhiều vị thánh từ chối những lợi lộc rất lớn lao, đồng thời chấp nhận những bất lợi, thậm chí cả cái chết, chấp nhận bị hành hạ đau đớn, để trung thành với Thiên Chúa, với bạn bè hay người thân mình, hay để khỏi phạm một tội ác nào đó. Như vậy, thường có sự bắt chéo nhau giữa bốn điều nói trên: điều tốt lại hay đòi hỏi phải chấp nhận điều dữ, không may; còn điều xấu lại có sức quyến rũ vì những điều lành, những may mắn, lợi lộc, vui thú nó đem lại.
Khi phân biệt rõ ràng bốn phạm trù trên (tốt, xấu, lành, dữ), ta sẽ hiểu ngay tại sao cái nghèo là một tai họa, là một điều dữ, mà lại được Đức Kitô khuyến khích ta chấp nhận, còn cái giàu là một điều lành, lại bị Ngài không ưa, kết án, và đồng thời đòi hỏi những người theo Ngài phải từ bỏ. Chấp nhận cái nghèo, hay chấp nhận một tai họa để người khác hạnh phúc hay đỡ khổ là một hành vi cao thượng. Còn tìm sự giàu có, hay dành sự sung sướng cho mình mà để kẻ khác phải nghèo phải khổ là một hành vi kém cao thượng. Khi ta tự nguyện chấp nhận đời sống nghèo khó như Đức Kitô đòi hỏi, để tập trung năng lực vào con đường hoàn thiện, để chia sẻ với người nghèo khổ bất hạnh, thì đó là ta sống Đức Thanh Bần.
3. SỐNG ĐỨC THANH BẦN
ĐỂ GÓP PHẦN XÂY DỰNG CÔNG BẰNG XÃ HỘI
Đức Kitô muốn ta sống nghèo, hay ta tự nguyện sống nghèo để làm gì? Nếu không vì một lý do cao thượng nào đó, thì tự nguyện như thế quả là dại dột. Lý do cao thượng đó là gì?
Chấp nhận sống nghèo khó, trước hết, là để chia sẻ và cảm thông nỗi bất hạnh của đa số nhân loại, làm giảm bớt sự chênh lệch trong xã hội. Ta biết, số của cải và sự trù phú trên thế giới thì có hạn, nếu được chia đồng đều thì ai cũng được dư dật no đủ. Nhưng nếu có người được nhiều hơn mức độ trung bình, thì tất nhiên số người còn lại phải được ít hơn mức độ trung bình đó. Càng có nhiều người được ưu đãi càng nhiều, thì số phận của những người còn lại càng trở nên thê thảm. Do đó, xét về mặt luân lý xã hội, ta không nên mong cho mình giầu có vượt mức đủ dùng của mình đang khi xã hội còn quá nhiều người nghèo khổ.
Lấy một bài toán nhỏ cho dễ hiểu: Một nhà nọ có 10 người, nên người mẹ đã mua 50 mét vải để mỗi người có 5 mét, đủ may hai bộ quần áo cần thiết để mặc trong một vài tháng.
- Nếu có hai người đòi lấy gấp đôi số vải của mình (tức hết 20 mét, còn lại 30 mét) thì 8 người còn lại mỗi người chỉ được 30m:8=3,75 mét, làm sao đủ mặc?
- Nếu có tới ba người muốn lấy gấp đôi phần của mình (tức hết 30m, còn lại 20 mét), ắt 7 người còn lại mỗi người chỉ được 20m:7=2,85 mét, thì còn tệ hơn nữa!
- Nếu chỉ có một người chiếm hết 8/10 số vải (tức 40 mét, còn lại 10 mét), thì 9 người người kia chỉ còn được mỗi người hơn một mét, làm sao may đủ một cái áo? Đó chính là hình ảnh một thực tế bất công của thế giới ngày nay!
Những khi có nạn đầu cơ tích trữ hàng hóa, ta thấy khi một mặt hàng bị tập trung vào tay một số người, thì lập tức mặt hàng đó trên thị trường trở nên khan hiếm, khiến dân chúng có nhiều người cần mà không mua được. Vì thế, phát sinh sự phân phối bất hợp lý mặt hàng đó, gây xáo trộn kinh tế thị trường. Nếu không có sự đầu cơ tích trữ, thì không ai bị thiếu cả.
Hiện nay những con số thống kê cho ta thấy, 8/10 của cải trên thế giới đang nằm trong tay 1/10 nhân loại, còn 2/10 của cải kia cũng được chia một cách không đồng đều cho 9/10 nhân loại. Do đó, trên thế giới hiện nay, sự chênh lệch giữa người giầu và người nghèo, giữa nước giầu với nước nghèo hết sức lớn. Có những người hết sức giầu có, sống xa hoa phung phí cả đời mà vẫn không hết tiền, và cũng có những người hết sức nghèo khổ, không sao thỏa mãn được cả những nhu cầu cơ bản nhất của sự sống, lo chạy gạo từng bữa mà không đủ. Mà của cải thì Thiên Chúa ban chung cho cả thế giới, và ban một cách dư dật để mọi người dùng, đâu ban riêng cho ai.
Do đó, nếu người giầu không biết chia sẻ của cải cho người nghèo, thì rõ ràng một cách nào đó là họ đã duy trì sự bất công trong nhân loại. Để cho mình quá giầu có giữa những người nghèo khổ, mộtcách nào đó, là phạm một điều bất công, vì bình thường nếu không nhờ sự bất công - có thể bất hợp pháp mà cũng có thể hợp pháp, có thể bất hợp lý mà cũng có thể hợp lý - thì làm sao người ta có thể hơn nhau quá nhiều như thế? Sự bất công đó có thể từ thời cha ông hay tổ tiên để lại, mà cũng có thể do cơ cấu xã hội chưa hoàn chỉnh tạo ra. Chẳng hạn bọn thực dân đã tới chiếm đất một cách bất công ở các nước thuộc địa, rồi để lại cho con cháu họ. Hàng con cháu đó được giàu có không phải vì họ làm gì bất công, mà vì sự bất công của cha ông họ. Hay do cơ cấu xã hội không hợp lý khiến có những người kiếm tiền quá dễ dàng và có những người kiếm tiền quá khó khăn.
Để tái tạo lại phần nào sự công bằng đã bị mất, Đức Kitô kêu gọi mọi người yêu thương nhau, chia sẻ cho nhau. Những người nào muốn theo Ngài, muốn làm đồ đệ Ngài, muốn theo con đường của Ngài, thì lời đầu tiên mà Ngài đề nghị là: "Nếu anh muốn nên hoàn thiện, thì hãy đi bán tài sản của anh và đem cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi" (Mt 19, 21). Bán tài sản là chấp nhận sống nghèo, và mục đích trực tiếp của việc sống nghèo là để chia sẻ: chia sẻ của cải cho người nghèo mà cũng là chia sẻ thân phận hẩm hiu của họ. Đó là một hành vi yêu thương, một hành vi làm hoàn thiện người thực hiện nó. Mục đích của việc tự nguyện sống nghèo hay của Đức Thanh Bần là thực hiện Đức Ái.
Cộng đồng Kitô hữu đầu tiên đã sống đúng lời kêu gọi của Ngài: "Các tín hữu thời bấy giờ đông đảo, mà chỉ có một lòng một ý. Không một ai coi bất cứ cái gì mình có làm của riêng, nhưng đối với họ, mọi sự đều là của chung Trong cộng đoàn, không ai phải thiếu thốn, vì tất cả những người có ruộng đất nhà cửa, đều bán đi, lấy tiền, đem đặt dưới chân các tông đồ. Tiền ấy được phân phát cho mỗi người, tùy theo nhu cầu" (Cv 4, 32. 34). Đó là một xã hội cộng sản lý tưởng nhất trong lịch sử: mọi người đều làm theo khả năng và hưởng thụ theo nhu cầu, trong một tình yêu thương nhau thực sự.
Người giàu có thường có nhiều vật dụng thừa thãi mà họ không cần dùng, nên những vật ấy không được săn sóc và để hoang phí trong khi hàng triệu người thiếu thốn, thậm chí không đủ ăn và chết đói. Nếu mỗi người chỉ giữ cho mình những món mà mình thực sự cần dùng thôi, thì những người khác không ai thiếu gì cả, và ai ai cũng được no đủ hạnh phúc. Do đó, Đức Thanh Bần đòi hỏi ta nên cho đi những vật dụng mà mình không dùng tới, hay dư thừa (đồ đạc, quần áo, vật dụng). Có quá nhiều vật thừa thãi không dùng tới, mà người khác đang cần dùng tới, là một dấu chỉ lỗi Đức Thanh Bần. Khi có lòng tham, thì người giàu cũng như người nghèo đều bất mãn, đều không hạnh phúc. Người nghèo thì khổ vì thiếu thốn, đồng thời chỉ mong muốn có một cơ hội tốt đẹp nào đó mình sẽ trở thành triệu phú. Còn người đang là triệu phú thì lại mong muốn và cố gắng làm sao để mình trở thành tỷ phú.
4. SỐNG ĐỨC THANH BẦN
ĐỂ XÂY DỰNG NƯỚC TRỜI TẠI TRẦN GIAN
Tất cả mọi ngôn sứ đến từ Thiên Chúa đều lưu tâm đến vấn đề xã hội này. Tất cả các ngôn sứ đều đòi hỏi Dân Chúa phải thực hiện công lý, tạo sự công bằng trong xã hội. Ngôn sứ Isaia là ngôn sứ đề cập rất nhiều đến vấn đề này. Ông lên tiếng kết án những kẻ tạo ra những luật lệ bất công, và những kẻ sống bất công: "Khốn cho những kẻ lập luật không công bình, (), khốn cho những kẻ đối xử bất công với người nghèo, không dùng lẽ phải mà dối xử với những kẻ khốn khó trong Dân Ta, ức hiếp kẻ góa bụa, đàn áp kẻ mồ côi" (Is 10, 1-2). Đức Kitô cũng rất lưu tâm đến vấn đề này và Ngài đưa ra cách giải quyết. Cách giải quyết của Đức Kitô trong vấn đề xã hội này là đề nghị người giàu có từ bỏ lòng tham, bằng cách chia bớt của cải cho người nghèo khổ hơn mình, để họ cũng được no đủ.
Thật vậy, nếu người giàu có chỉ giảm bớt tài sản của mình xuống tới mức độ đủ sống, thì tất cả mọi người trên thế giới đều dư dật, không ai thiếu thốn nữa. Nhưng làm sao Ngài có thể phát động tinh thần đó cho tất cả những người giàu có trên thế giới, nếu Ngài không đòi hỏi những kẻ theo Ngài, những môn đệ của Ngài, cụ thể là các linh mục tu sĩ thực hành điều đó trước tiên để làm gương. Vì thế, ai đến xin theo Ngài, thì Ngài cũng đề nghị với họ thủ tục đầu tiên là: "Nếu anh muốn nên hoàn thiện, thì hãy đi bán tài sản của anh và đem cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi" (Mt 19, 21). Có chấp nhận được điều kiện đó thì mới theo Ngài được.
Nhưng rất tiếc những kẻ theo Ngài sau này hầu hết đã không thực hiện thủ tục đầu tiên đó: họ vẫn có thể đang tâm sống rất đầy đủ, thừa mứa, giữa những người nghèo khổ không đủ sống, mà vẫn cứ tự hào mình là người theo Đức Kitô, thậm chí là "Kitô thứ hai"! Có phải đề nghị của Ngài không thực tế, hay không thể làm được? vì chính những kẻ theo Ngài, những kẻ rao giảng Tin Mừng của Ngài, là "Tin Mừng cho người nghèo khổ", áp dụng còn không được, làm sao những người khác, nhất là những người không phải là Kitô hữu áp dụng được?
Chắc chắn Đức Kitô không chủ trương hay ước mong mọi người trên thế giới đều sống nghèo khổ. Trái lại, Ngài muốn mọi người đều được đầy đủ, no ấm, giầu có. Ngài mong cho tất cả mọi người, chứ không phải chỉ mong cho một số nhỏ người! Theo minh họa người mẹ mua vải cho cả gia đình ở trên, thì đương nhiên ở vào địa vị người mẹ, Ngài sẽ muốn số vải mua cho cả nhà (50 mét) càng ngày càng tăng lên, để mỗi người không phải chỉ được 5 mét, mà là 10 mét, hay 20 mét, càng nhiều càng tốt. Nhưng điều quan trọng là sự phân phối phải tương đối đồng đều để ai cũng được nhiều cả. Ngài không thể chấp nhận tình trạng có người quá dư (40 mét) và có người lại quá thiếu thốn (chỉ có hơn 1 mét). Việc Ngài đề nghị người có quá nhiều, có vượt mức trung bình, chia bớt cho người khác có quá ít, chỉ là để thiết lập lại sự công bình trong việc phân phối của cải, chứ Ngài tuyệt nhiên không chủ trương hạn chế, muốn tất cả mọi người đều trở thành nghèo đâu. Ngài muốn ai cũng phải có được mức trung bình (5 mét vải), và làm sao để tăng mức trung bình ấy lên càng nhiều càng tốt.
Như vậy, Đức Thanh Bần mà Ngài chủ trương và mời gọi thực hiện chỉ là một phương thuốc tạm thời để chữa trị căn bệnh mất quân bình, quá chênh lệch và bất công của thế giới, của xã hội về của cải vật chất thôi. Khi nào tất cả mọi người đều đầy đủ, ấm no, giầu có, của cải được phân phối đồng đều, thì những người theo Ngài cũng phải sống giầu có để hòa mình với mọi người. Lúc đó Đức Thanh Bần có lẽ sẽ không còn hợp thời nữa. Bệnh đã hết, không cần uống thuốc nữa! Hoặc lúc đó, Đức Thanh bần chỉ còn là tinh thần siêu thoát, không bị ràng buộc bởi của cải vật chất mà thôi.
Như vậy, khi thế giới còn đầy dẫy bất công, của cải phân phối chưa hợp lý, nếu càng có nhiều người thiện chí tự nguyện chấp nhận sống nghèo, thì số người giầu có vượt mức sẽ càng ít đi, số người quá nghèo khổ càng giảm đi, của cải càng được phân phối đồng đều hơn. Lúc đó sự chênh lệch giàu nghèo sẽ giảm xuống hoặc mất hẳn, ai ai cũng có đủ điều kiện sống đầy đủ và hạnh phúc. Và đó chính là Nước Trời ở trần gian mà Ngài muốn loan báo và thực hiện qua các Kitô hữu, những người theo Ngài. Hành vi tự nguyện sống nghèo khó, tức Đức Thanh Bần, vì thế, mang tính cứu thế (messianique) với chiều kích xã hội, nhắm làm xã hội trở nên công bằng hơn.
Hành vi đó chỉ có thể thực hiện được khi nó được thúc đẩy bởi tình yêu đại đồng (Bác Ái). Vì thế, Đức Thanh Bần là một phương cách thể hiện tình yêu. Chính tình yêu làm cho hành vi sống nghèo thành nhân đức. Không có tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân, không có sự tự nguyện chấp nhận sự thiếu thốn với mục đích làm cho người nghèo khổ bớt nghèo khổ, thì việc sống nghèo khổ đó không phải là nhân đức. Chẳng hạn, sống nghèo chỉ vì luật dòng buộc phải như vậy, sống nghèo vì mình chẳng biết làm sao có tiền để sống đầy đủ hơn, sống nghèo để được tiếng là thánh thiện, nhân đức, sống nghèo vì lười biếng, tệ hơn nữa là sống nghèo, sống hà tiện để tích trữ hay để dành được nhiều tiền bạc của cải hơn.
Chc Kitô muốn chúng ta sống nghèo là để chia bớt của cải cho người khác nghèo hơn, khó khăn hơn, chứ không phải để ta để dành được nhiều hơn. Ngài muốn những người theo Ngài phải đặc biệt biểu lộ tình yêu của mình đối với đồng loại một cách cụ thể như thế: "Người ta cứ dấu này mà nhận biết anh em là môn đệ Thầy, là anh em yêu thương nhau" (Ga 13, 35). Biết bao Kitô hữu sống khó nghèo, khổ hạnh không phải với mục đích chia sẻ của cải cho người nghèo khổ hơn mình, mà vẫn cứ tưởng làm như thế là giữ đức thanh bần! Thực ra sự thanh bần chỉ là nhân đức khi có mục đích bác ái, chia sẻ mà thôi!
5. HAI THỨ NGHÈO KHỔ
Cha Aloysius Pieris, một thần học gia Á Châu, phân biệt hai loại nghèo: nghèo ép buộc và nghèo tự nguyện.
- Nghèo ép buộc là cái nghèo do hoàn cảnh, do những yếu tố bên ngoài, hay do người khác gây ra cho ta, và ta coi đó như một sự dữ, cực chẳng đã phải chịu. Nó là hậu quả của sự dữ, sự dữ do chính ta gây ra hay do người khác gây ra cho ta. Đây là thứ nghèo cần phải chống lại, là sự dữ đích thực. Người ta càng không muốn chấp nhận nó bao nhiêu, người ta càng bị ép buộc phải chịu bao nhiêu, thì nó càng trở nên sự dữ, càng gây nên đau khổ bấy nhiêu.
- Còn cái nghèo kia là nghèo tự nguyện, do ta xung phong chấp nhận nó, để chia sẻ thân phận hẩm hiu với những người nghèo khổ ép buộc, để giảm bớt sự chênh lệch giữa họ với ta, để hòa mình với họ hầu cứu độ họ như cách của thánh Phaolô: "Với người yếu đuối, tôi cũng trở thành yếu đuối để chinh phục những kẻ yếu đuối. Tôi đã trở nên đủ kiểu đủ loại vì mọi người, để cứu độ họ" (1 Cr 9, 22). Cái nghèo này chính là Đức Khó Nghèo hay Đức Thanh Bần mà Đức Kitô muốn những người theo Ngài phải có. Cái nghèo này là dấu hiệu của tình yêu, của Đức Ái Kitô giáo. Cái nghèo này rất cần thiết để xoa dịu, làm giảm bớt nỗi đau khổ của cái nghèo kia. Nói cách khác, cái nghèo này cứu độ cái nghèo kia. Và có dám tự nguyện sống nghèo, mới có thể cứu người nghèo thoát khỏi cảnh nghèo.
- Như vậy, khi Đức Kitô nói: "Phúc cho những người nghèo khó, vì Nước Trời là của họ" (Lc 6, 20), hay: "Phúc cho những người có tinh thần nghèo khó" (Mt 5, 3), thì Ngài muốn nhắm đến loại nghèo khổ nào? Rõ ràng câu của Matthêu cho thấy Ngài muốn nói tới những người nghèo khó trong tinh thần - là những người tự nguyện chấp nhận cái nghèo để chia sẻ sự bất hạnh với những người nghèo khổ bó buộc - hơn là người nghèo khổ bất đắc dĩ. Điều đó thật hữu lý, vì những người như vậy đúng là những người có tâm hồn cao thượng, đầy yêu thương; đặc tính ấy là điều kiện quan trọng phải có để vào Nước Trời. Còn những người cực chẳng đã phải chịu thân phận nghèo, thì tâm hồn họ có gì là cao thượng đâu? Rất nhiều người vì hoàn cảnh mà phải lâm vào cảnh nghèo, tới khi họ may mắn trở thành giầu có (do làm ăn thuận lợi, do trúng số), thì họ trở thành hống hách, kiêu căng, thậm chí phản bội: "Giầu đổi bạn, sang đổi vợ". Như vậy, không có gì bảo đảm chắc chắn rằng những người nghèo khổ do hoàn cảnh đều có tâm hồn cao thượng, yêu thương cả. Do đó, cứ lý này, thì mối phúc thứ nhất không thể nhắm tới những người cực chẳng đã mà phải nghèo.
Tuy nhiên, Đức Kitô đến là vì những người nghèo khổ thực sự, vì những người nghèo bất đắc dĩ này, hơn là vì những người nghèo tự nguyện. Ngài đến để giải phóng họ, vì chính họ mới là người cần được giải phóng. Ngài tuyên bố: "Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi" (Mt 9, 12-13). Những người nghèo khổ tự nguyện đương nhiên được kể là người khỏe mạnh, là người công chính rồi, Ngài không nhắm đến vì những người đó. Ngôn sứ Isaia đã xác định rõ đối tượng của Ngài là những người nghèo, nghèo cả tinh thần lẫn vật chất: "Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu cho tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn" (Is 61, 1; Lc 4, 18). Để chứng minh với các đồ đệ của Gioan Tẩy Giả rằng mình là Đấng Mêsia, Đức Kitô đã đưa ra những dấu hiệu đặc trưng của thời đại Đấng Mêsia: "Người mù thấy được, kẻ điếc nghe được, kẻ què đi được, người cùi sạch bệnh, người chết sống lại, và kẻ nghèo được nghe Tin Mừng" (Lc 7, 22).
Như vậy, Đức Kitô đến để giải phóng những người bất hạnh, đau khổ, điều đó nói lên rõ ràng là người nghèo ở đây không phải là nghèo tự nguyện, mà là ép buộc. Và điều đáng ngạc nhiên vào thời của Ngài là những người nghèo, bất hạnh và tội lỗi lại theo Ngài đông hơn những người khác. Tin Mừng của Đức Kitô là Tin Mừng cho người nghèo khổ, bất hạnh. Do đó, người nghèo dễ tiếp nhận Tin Mừng hơn những người khác. Và đó chính là hạnh phúc của họ. Họ có phúc không phải vì cái nghèo của họ, mà vì nhờ họ nghèo khổ mà họ dễ đón nhận Tin Mừng nhất, và nhờ đó họ được cứu độ. Người giầu có khó chấp nhận Tin Mừng hơn, do đó họ không hưởng được niềm hạnh phúc lớn lao của Tin Mừng bằng người nghèo, nên xét về mặt cứu độ, họ trở nên bất hạnh hơn người nghèo.
Tuy nhiên, kinh nghiệm thực tế của chúng ta cho thấy: người nghèo thường yêu thương nhau hơn, hy sinh cho nhau hơn, sống chân tình và khiêm nhượng hơn những người giầu có, uy quyền. Đương nhiên có rất nhiều người trong họ, vì sống ngay thẳng, không lươn lẹo, không coi trọng tiền bạc vật chất hơn tình nghĩa, và dành thì giờ cho đời sống tâm linh, nên họ nghèo hoài. Đây chính là những kẻ được Thiên Chúa chúc phúc. Cũng có nhiều người nghèo khổ vì lười biếng, vì rượu chè cờ bạc Những người này không thể có phúc được.
Còn những người giầu có thường phải bảo vệ những gì họ có, vì họ sợ mất, nên họ khó sống chân tình với nhau, và dễ đặt nặng tiền bạc hơn tình người. Vả lại, không dễ gì cứ sống thành thật, không giả dối, không mưu mô lươn lẹo, không bất công mà có thể giầu có vượt bậc được. Cổ nhân nói: "Vi nhân bất phú, vi phú bất nhân". Câu này được giới bình dân diễn đạt theo cách khác: "Phải hà tiện thì mới có, có bẩn như chó thì mới giầu", nhất là trong thời buổi kiếm tiền khó khăn như hiện nay. Nếu không yêu tiền bạc, đặt nặng vật chất, không sao lãng đời sống tâm linh, thì người ta cũng khó mà giầu có hơn người được. Kinh nghiệm đó khiến Đức Kitô phải thốt ra: "Người giầu có khó vào Nước Trời hơn con lạc đà chui qua lỗ kim" (Mt 19, 24). Nếu người giầu có khó vào Nước Trời, thì chắc hẳn người nghèo dễ vào Nước Trời hơn. Người nghèo vì không có tiền của, nên họ thường sống bằng tình cảm. Họ nghèo tiền bạc, nhưng thường giầu tình nghĩa hơn người giầu có. Vì thế, họ cũng dễ có "tinh thần nghèo khó" hơn người giầu, do đó, họ có phúc hơn.
Vậy, mối phúc đầu tiên cũng có thể hiểu là dành cho người nghèo thực sự, nghèo vì hoàn cảnh, miễn là khi tiếp xúc với Tin Mừng, họ tin và theo Đức Kitô. Và đó là cách hiểu của Luca: "Phúc cho người nghèo khó vì Nước Trời là của họ" (Lc 6, 20). Hai cách hiểu, cách nào cũng có lý của nó.
6. ĐỨC THANH BẦN CÓ ĐÒI HỎI PHẢI NGHÈO KHÓ THỰC SỰ KHÔNG?
Tuy nhiên, trong số những người theo Chúa, nhiều người chủ trương chỉ cần có tinh thần nghèo khó là đủ rồi, không cần phải sống nghèo thực sự. Tinh thần nghèo khó được họ hiểu là tinh thần siêu thoát, không bị ràng buộc vào vật chất, tiền bạc, coi mình chỉ là người quản lý những gì mình có, chứ không phải là chủ của chúng. Có tinh thần siêu thoát đó được kể là có Đức Thanh Bần rồi. Nghĩ như thế hoàn toàn đúng nguyên tắc, không sai chỗ nào cả, vì Đức Thanh Bần hệ tại tinh thần, chứ không hệ tại tình trạng sống nghèo khổ hay khó khăn thực sự. Nếu không có tinh thần siêu thoát, và nếu không có tình yêu thương, thì sự nghèo khổ thực sự kia không phải là Đức Thanh Bần.
Nhưng trong thực tế, tinh thần nghèo khó đích thực đòi hỏi phải được thể hiện bằng sự nghèo khó thực sự. Đức Kitô đòi hỏi những người theo Ngài phải "bán tài sản và cho người nghèo", để làm gương cho biết bao người khác tạo sự công bằng xã hội. Và chính Ngài đã thực sự sống rất nghèo khó: "Cáo có hang, chim có tổ, còn Con Người không có chỗ dựa đầu" (Mt 8, 20). Nếu không có sự nghèo khó thực sự đó, thì Đức Thanh Bần "duy tinh thần" kia chỉ là Đức Thanh Bần "chết", giả hiệu. Cũng tương tự như người ta trở nên công chính là nhờ Đức Tin chứ không phải nhờ việc làm (x. Rm 4, 3-6) ; tuy nhiên, "Đức Tin không có việc làm là đức tin chết" (Gc 2, 26), nghĩa là một Đức Tin đích thực tất yếu phải được thể hiện bằng việc làm. Như vậy, không thể căn cứ vào việc làm mà nói được rằng một người nào đó có đức tin. Nhưng rõ ràng nếu không có việc làm thì đó không phải là đức tin đích thực. Cũng vậy, không phải cứ sống trong cảnh nghèo khó là có Đức Thanh Bần, nhưng nếu không tự nguyện sống trong cảnh nghèo khó thực sự, nếu vẫn cứ duy trì đời sống nhung lụa xa hoa, thì khó lòng nói được là người đó có Đức Thanh Bần.
7. SỐNG ĐỨC THANH BẦN , ĐỂ GẮN BÓ VỚI THIÊN CHÚA HƠN
Đức Thanh Bần không phải chỉ mang chiều kích xã hội như đã trình bày trên, mà nó là một trong những điều kiện tâm linh rất thuận lợi cho đời sống trọn lành. Chiều kích tâm linh này của Đức Thanh Bần đòi hỏi người tu sĩ một tinh thần siêu thoát, tâm hồn không bị dính bén hay gắn bó với của cải vật chất. Nhờ không dính bén với tiền bạc vật chất mà họ gắn bó với Thiên Chúa chặt chẽ hơn.
Giữa Thiên Chúa và tiền bạc vốn có một sự "đố kỵ" không thể thỏa hiệp với nhau trong cùng một con người. Đức Kitô đã diễn tả sự đố kỵ đó: "Không ai có thể làm tôi hai chủ, vì hễ mến chủ này thì tất nhiên ghét chủ kia, hễ gắn bó với chủ này thì sẽ coi thường chủ kia. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền bạc" (Lc 16, 13). Qua sự song đối trên, ta thấy: theo Đức Kitô, đối thủ của Thiên Chúa trong tâm hồn con người không phải là Satan, mà là Mammon (tiền bạc). Nói khác đi, Mammon là một phương tiện hữu hiệu nhất của Satan. Thiên Chúa và Mammon không thể cai trị cùng một lúc trong tâm hồn một người: hễ sốt sắng với chủ này thì tất phải lơ là với chủ kia. Do đó, muốn kết hiệp chặt chẽ với Thiên Chúa, ắt phải coi thường tiền bạc. Hiện nay, có biết bao nhiêu người, kể cả linh mục tu sĩ, bề ngoài thì tôn thờ Thiên Chúa, nhưng bề trong đã quỳ gối lụy phục Mammon từ lâu rồi!
Tuy nhiên con người luôn luôn bị giằng co giữa hai thế lực hằng lôi kéo mình: một bên là Thiên Chúa, một bên là tiền bạc, vật chất. Khi con người còn để cho mình ở trong cái thế bị giằng co ấy thì con người không bao giờ được bình an, hạnh phúc. Khi đó, con người luôn luôn phải tranh đấu với chính mình. Bản thân con người dường như bị phân thân thành hai: con người vị Thiên Chúa chiến đấu với con người vị tiền bạc. Con người tâm linh chỉ có thể hạnh phúc được khi nó dứt khoát với tiền bạc và những thực tại trần thế khác, đồng thời hoàn toàn gắn bó với Thiên Chúa. Hạnh phúc đó thật là lớn, được Đức Kitô diễn tả: "Chẳng hề có ai đã bỏ nhà cửa, vợ con, anh em, chị em, cha mẹ, ruộng đất vì Nước Thiên Chúa, mà lại không được gấp bội ngay ở đời này và không được sự sống vĩnh cửu đời sau" (Lc 18, 29-30).
"Hạnh phúc được gấp bội ngay ở đời này" đó là gì? Đó là hạnh phúc của người đã cảm nghiệm được Thiên Chúa, cảm nghiệm được Chân Lý và sự Thiện Tối thượng. Cảm nghiệm đó rất mạnh và chỉ đến với ta một cách tràn đầy sau khi ta đã dành cho Thiên Chúa một địa vị tối thượng và duy nhất trong tâm hồn, sau khi ta đã sẵn sàng từ bỏ tất cả để được Ngài. Cũng như người đi tìm ngọc quí: Tìm được rồi, anh ta trở về bán mọi của cải để mua cho kỳ được viên ngọc quí ấy" (Mt 13, 45-46). "Viên ngọc quí" ấy chỉ có thể mua được sau khi bán hết tất cả tài sản của mình một cách vui vẻ, không tiếc xót. Đương nhiên "viên ngọc quí" đó phải có giá trị gấp hàng trăm lần tài sản mình đã bán đi. Đối với những người đã thực sự hưởng nếm hạnh phúc do đạt được "viên ngọc quí" đó, thì đây quả là "mua đồ thật bằng tiền giả", dùng của cải hay hư nát để mua một kho tàng không bao giờ hư nát được (x. Mt 12, 33). Hạnh phúc đó được minh họa trong câu chuyện sau đây:
Có vị bề trên một tu viện nổi tiếng thánh thiện và hạnh phúc. Một tu sinh dưới quyền ngài, khi biết được sự từ bỏ ít người làm được, và thấy đời sống hết sức thánh thiện của ngài, bèn thốt lên:
- "Thưa Cha, đời sống Cha thật là tuyệt vời, Cha đã từ bỏ mọi sự giàu sang sung sướng để tìm Thiên Chúa, và để dạy cho chúng con sự khôn ngoan của Ngài".
- "Con đã nói phản lại sự thật rồi! - Vị bề trên trả lời - Cha chỉ bỏ có vài cuộn giấy bạc và những thú vui trần tục để chinh phục một niềm phúc lạc vô biên. So với cái kho tàng tâm linh quí báu này thì đó có thật là một sự hy sinh chăng? Trái hẳn lại, chính những người thế gian đã từ bỏ và hy sinh những kho tàng tâm linh vô giá trên đường Đạo để chạy theo những của cải vật chất giả tạm vô thường.
- "Những vị khổ tu tuy áo quần đơn sơ thô thiển, trong người không giữ riêng một đồng bạc, lại trở thành những phú ông về tâm linh. Còn những người tỷ phú kiêu hãnh lại là những kẻ đáng thương về tâm linh mà không hay biết. Đó chính là điều mâu thuẫn về sự dứt bỏ và hy sinh. Thiên Chúa vẫn lo cho tương lai của chúng ta một cách vô cùng khôn ngoan và sáng suốt hơn bất cứ một công ty bảo hiểm xã hội nào. Thế gian đầy đầy dẫy những kẻ băn khoăn chờ đợi một sự cứu giúp từ bên ngoài. Những tư tưởng đắng cay của họ hiện ra rõ ràng trên khuôn mặt họ, không dấu được ai. Nếu Đấng Tối Cao đã ban cho con người từ thuở sơ sinh không khí trong lành và sữa mẹ, chắc chắn Ngài cũng sẽ lo liệu cung cấp mọi thứ nhu cầu hằng ngày cho những đứa con của Ngài".
Henry Miller đã diễn tả niềm hạnh phúc của người có tinh thần siêu thoát: "Tôi tin rằng người hạnh phúc nhất trần gian là người ít có nhu cầu nhất. Sự nghèo nàn không thể làm ta khốn khổ Tôi có thể nói như vậy bởi vì chính tôi đã nghèo suốt cuộc đời. Nhưng về tinh thần thì tôi là một triệu phú". Ông coi trọng những giá trị tinh thần hơn những giá trị vật chất gấp nhiều lần: "Tôi thà làm một người Hy Lạp nghèo nàn hơn là làm một chàng triệu phú Mỹ, làm người nghèo ở Paris còn hơn làm triệu phú ở New York" (Thời của ông, Hy Lạp và Paris tượng trưng cho những gì là tinh thần, còn Mỹ hay New York tượng trưng cho những gì là vật chất, tiền bạc).
Theo tiên sinh Ohsawa, thì sống đơn sơ, ít nhu cầu, chính là bí quyết để sống mạnh khỏe và giữ gìn sức khỏe, sức khỏe tinh thần cũng như thể chất: "Nếu các bạn không quyết chí sống một cuộc đời đơn giản và ít tốn kém như khẩu hiệu "Vivere parvo" (sống khó nghèo), là câu đã trở thành một chìa khóa vàng để mở kho sức khỏe, thiết tưởng các bạn không nên chữa bệnh làm gì, vì bệnh của các bạn không thể chữa tuyệt gốc được" (Ohsawa).
Niềm hạnh phúc của một người đã hoàn toàn dứt khoát với mọi dính bén của cải trần tục thì thanh cao, lâu dài, không mất đi được. Vì những yếu tố làm nên niềm hạnh phúc ấy không ai có thể lấy mất được, khác hẳn với những yếu tố làm nên sự an tâm vật chất hay những niềm vui chóng qua. Khi đã lựa chọn Thiên Chúa một cách dứt khoát, tâm hồn không còn dính bén với tiền bạc vật chất, thì ta không còn gì phải lo lắng: ta đã dành hết tâm trí để lo cho Thiên Chúa và những công việc của Ngài, thì đáp lại, Ngài sẽ hoàn toàn lo cho ta tất cả những gì thuộc nhu cầu của ta, tinh thần cũng như vật chất. Chỉ những ai đã thực sự lựa chọn dứt khoát như thế, mới cảm nghiệm được điều ấy, và mới thấy đó là sự thật. Cứ thử, sẽ biết. Chính Đức Kitô đã bảo đảm như thế: "Đừng lo cho mạng sống: lấy gì mà ăn; cũng đừng lo cho thân thể: lấy gì mà mặc. Cha anh em trên trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó. Trước tiên, anh em hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Ngài, còn tất cả những thứ kia, Ngài sẽ thêm cho. Anh em cũng đừng lo lắng về ngày mai: ngày mai, cứ để ngày mai lo" (Mt 6, 25. 32b-34).
Yogananda, một tu sĩ Ấn độ giáo nổi tiếng, diễn đạt sự phó thác đó như sau: "Ta đừng bao giờ nghĩ rằng ta sống không phải nhờ ở Thượng Đế mà chỉ nhờ ở đồ ăn. Thượng Đế đã sáng tạo ra đồ ăn và đã cho ta biết đói bụng, chắc hẳn Ngài sẽ lo chu đáo cho ta khỏi phải thiếu thốn điều gì. Ta đừng nghĩ rằng cơm gạo ban cho ta sự sống, và tiền bạc hay người đời có thể nuôi dưỡng ta được. Họ có thể nuôi sống ta được không nếu Thượng Đế thu hồi lại khỏi ta hơi thở và sự sinh tồn? Họ chỉ là những khí cụ thụ động của Ngài mà thôi. Ta có thể bắt buộc cái bao tử tiêu hóa đồ ăn tùy theo ý muốn ta chăng?"
8. ĐỨC KITÔ ĐANG MỜI GỌI CHÚNG TA
Tất cả mọi Kitô hữu, tất cả những người theo Đức Kitô, đều được mời gọi sống đơn sơ, nghèo khó, giảm bớt nhu cầu, thứ nhất là để yêu thương và chia sẻ với những anh em đang bị dằn vặt đau khổ vì thiếu thốn vật chất, thứ hai là để hưởng ứng lời kêu gọi của Đức Kitô nhằm xây dựng Nước Trời tại trần gian, trong đó mọi người đều sống đầy đủ dư dật vì người ta biết yêu thương chia sẻ cho nhau, không còn bất công và chênh lệch giàu nghèo quá lớn như hiện nay, thứ ba là để tập trung mọi năng lực vào việc thánh hóa và hoàn thiện bản thân, bằng cách gắn bó triệt để với Thiên Chúa hay Đức Kitô. Sống như thế, chúng ta sẽ được hạnh phúc gấp bội ngay tại trần gian này, một hạnh phúc siêu nhiên thanh thoát không ai có thể lấy mất được, và cuối cùng, chúng ta sẽ được hạnh phúc vĩnh cửu.
Tất cả mọi Kitô hữu đều được mời gọi sống như thế, huống gì những người đã lấy việc theo Đức Kitô, sống theo gương Ngài làm lý tưởng cho cuộc đới mình, và nhất là những người mà Giáo Hội gọi là Alter Christus (Đức Kitô khác, Đức Kitô thứ hai). "Đức Kitô khác" mà lại khác Đức Kitô thì thật là mỉa mai! Các Kitô hữu phải làm gương cho thế giới về Đức Thanh Bần, còn các linh mục tu sĩ thì lại phải làm gương cho các Kitô hữu về nhân đức ấy. Đó là phương thức Đức Kitô đề nghị để chúng ta xây dựng Nước Trời một cách thực tế. Nước Trời được xây dựng không thể chỉ bằng lời cầu nguyện, suy gẫm, lý thuyết, mà còn bằng đời sống thực tế, bằng hành động thực sự nữa!
Chúng ta có nghe thấy Đức Kitô đang mời gọi chúng ta không?
NGUYỄN CHÍNH KẾT
 
 

GS-5: THƯ MỤC VỤ NOEL 2000 - Gm Phaolô Bùi Văn Đọc

Anh chị em có những tâm tình gì đêm Noel năm nay? Anh chị em mong mong ước điều gì đêm nay?: GS-5

Anh chị em có những tâm tình gì đêm Noel năm nay? Anh chị em mong ước điều gì đêm nay? Với tư cách là chủ chăn của giáo phận, tôi xin chia sẻ tâm tình để anh chị em được thông phần và chúng ta sốt sắng mừng Lễ Giáng Sinh.
Tất cả chúng ta là những người có đạo, đêm nay hơn bao giờ hết chúng ta muốn lớn tiếng tung hô Vinh Danh Thiên Chúa trên trời, Bình An dưới thế cho người thiện tâm. Đêm nay tâm hồn chúng ta cao thượng hơn mọi khi, lòng chúng ta như muốn hướng lên trời để hòa hợp với tiếng hát thiên thần vinh danh, vinh danh, vinh danh Thiên Chúa. Lòng chúng ta vui mừng rộn rã cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa.
Chúng ta ngợi khen Thiên Chúa, vì Tình Yêu kỳ diệu của Người đang bao phủ khắp địa cầu, dù nơi này hay nơi kia vẫn đang có chiến tranh, dù loài người vẫn còn phạm nhiều tội lỗi. Thiên Chúa yêu thương nhân loại và ban cho Món Quà quý giá nhất là Đức Giêsu-Kitô, Con Yêu Dấu của Người. Không phải ai cũng hiểu được điều đó và tin điều đó, nhưng chúng ta là những người có đạo, chúng ta hiểu và chúng ta tin.
Chúng ta đón nhận Chúa thay cho nhân loại. Chúng ta đón nhận Chúa không phải riêng cho chúng ta, mà cho tất cả mọi người sinh ra trên trần gian này. Chúng ta đón Chúa với tất cả lòng yêu mến, với sự trân trọng, với lòng biết ơn sâu xa đối với Chúa Cha. Việc đón nhận Chúa sẽ làm vinh danh Đức Chúa Cha, làm cho tất cả triều thần thánh trên trời vui mừng.
Thiên Chúa không đòi hỏi chúng ta điều gì trong Đêm Giáng Sinh ngoài việc mở cửa tâm hồn, cởi mở tấm lòng để đón Chúa Giêsu, Con Một của Người. Vậy anh chị em hãy mở rộng cửa tâm hồn mình, hãy mở rộng cửa gia đình, hãy mở cánh cửa cuộc đời mình cho Chúa. Anh chị em đừng sợ mở cửa tâm hồn, thì gió sẽ lùa vào và ăn trộm sẽ đột nhập. Mở cửa tâm hồn, thì chỉ có Tình Yêu đi vào, chỉ có Chúa và tha nhân đi vào, và tâm hồn sẽ trở thành mái nhà ấm áp Tình Chúa và tình người.
Khi đón Chúa Giêsu, miệng và lòng anh chị em ca hát Vinh Danh Thiên Chúa trên trời, chắc chắn trong tâm hồn anh chị em nảy sinh một ước mơ sâu xa, ước mơ thực hiện phần hai của tiếng hát thiên thần: Bình An dưới thế cho người thiện tâm. Anh chị em ước mơ sự bình an cho mình, cho gia đình, cho xã hội, cho quê hương đất nước, cho cả nhân loại đang sống trên hành tinh này. Ước mơ ấy thể hiện dần dần cách này hay cách khác, và chỉ hoàn thành trọn vẹn khi cuộc đời chúng ta và lịch sử hoàn tất.
Nhưng này đây và bây giờ, ai trong chúng ta có Chúa trong tâm hồn, thì sẽ được bình an, vì Chúa là sự Bình An của chúng ta. Vì Chúa mang đến Ơn Tha Thứ, Chúa mang đến Tình Yêu, Chúa mang đến sự Tự Do. Chúa là Chân Lý, ai ở trong chân lý thì có Chúa, ai có lương tâm ngay thẳng thì có Chúa và được bình an. Chúa là Sự Thiện, ai làm điều thiện, ước muốn điều thiện thì có Chúa và được bình an. Chúa là Cái Đẹp Tuyệt Đối, ai ước muốn những điều cao đẹp, làm những điều cao đẹp, thì tâm hồn sẽ được bình an vì có Chúa.
Bình an trong gia đình chỉ có được, khi có Chúa. Nhiều gia đình chưa biết Chúa, nhưng vẫn có Chúa ở với họ, vì Chúa yêu thương họ, và họ yêu thương nhau. Anh chị em, các gia đình công giáo, lẽ nào lại không có Chúa? Nếu không có Chúa là lỗi tại chúng ta, mang danh là công giáo, mà gia đình nguội lạnh, chia rẻ, thiếu tình yêu. Ước gì trong lễ Giáng Sinh đêm nay, mọi gia đình công giáo chúng ta hãy đón Chúa với tất cả lòng tin tưởng, trông cậy và yêu mến; Chúa sẽ biến đổi gia đình chúng ta.
Mỗi người, mỗi gia đình có đạo hãy là sứ giả bình an, đem bình an đến cho những người chung quanh, những người sống gần gũi với chúng ta, những người chưa biết Chúa. Chúng ta là những sứ giả bình an, khi chúng ta được bình an trong tâm hồn, có sự bình an trong gia đình. Là sứ giả bình an, chúng ta là sứ giả của Chúa.
Phaolô BÙI VĂN ĐỌC
- Giám Mục Giáo Phận Mỹ Tho.

 

GS-6: HÔM NAY ĐẤNG CỨU ĐỘ ĐÃ GIÁNG SINH

 Thư mục vụ- Giacomo Bini.
(Thư của cha Tổng Phục vụ Dòng Anh em Hèn Mọn)
Rôma, Giáng sinh 2000
 

Họ sẽ là con cái của Cha trên trời và thực hiện công việc của Người Họ là bạn trăm năm, là anh: GS-6

"Họ sẽ là con cái của Cha trên trời
và thực hiện công việc của Người.
Họ là bạn trăm năm,
là anh chị em và là mẹ của Chúa Giêsu Kitô"
(Thánh Phan-xi-cô, II Thư gởi Tín hữu 49-50)
Anh Chị em thân mến,
"Ngôi Lời đã mặc lấy xác phàm và ở giữa chúng ta": những lời quen thuộc, những lời nghịch lý, những lời cố gắng diễn tả sự kết hiệp lạ lùng giữa Thiên Chúa và loài người. Đấng Tối cao mang lấy hình hài nghèo khổ và hèn kém của một trẻ thơ bé tí, yếu ớt, không được bảo vệ, mà mọi người muốn ẵm bế trong vòng tay. Không ai phải sợ ngài. Ngài đã hoàn toàn phó mình cho lòng nhân hậu của chúng ta.
Thiên Chúa, Đấng đã đi vào giữa lòng lịch sử nhân loại, Đấng đã tỏ lộ mình trong Đức Giêsu, là một Thiên Chúa nghèo khó, khiêm hạ, một phần tử tầm thường của nhân loại, nghèo khổ và thiếu thốn mọi sự - nhưng trên hết là một kẻ ăn mày tình yêu chúng ta.
Thiên Chúa là sự nghèo khó: đó là khám phá gây sững sờ của thánh Phanxicô và Clara. Các ngài đã lập tức từ bỏ mọi sự để tìm kiếm và đi theo Đấng đã tìm kiếm các ngài. Mọi sự khác đều bị lãng quên. Các ngài lanh lẹ chạy theo, không tính toán, không điều kiện, không giao kèo, từ bỏ hoàn toàn: "Xin hãy thực hiện nơi con những gì Ngài muốn: bất cứ điều gì Ngài thực hiện nơi con, con xin cám ơn Ngài" (Charles de Foucauld).
Người ta chỉ gặp gỡ Thiên Chúa khi dấn bước trên con đường nghèo khó, vì chỉ nơi đó mới có sự dứt bỏ triệt để và sự tự do tạo nên khoảng không gian để Thiên Chúa sinh lại một lần nữa. Kể từ đêm giáng sinh đầu tiên ấy, mà chính nét nghèo khó làm nổi bật sự hiện diện của cái cần thiết nhất, Thiên Chúa tiếp tục tìm kiếm nơi chúng ta cùng một cái cần thiết ấy: một lòng dạ sẵn sàng và tiếp đón, một sự âu yếm hiền mẫu đối với Đấng sẽ đến, và một nữ tì khiêm tốn sẽ được Thánh Khí bao phủ để Chúa có thể được sinh ra một lần nữa trong thế gian. Giáng sinh lại đến khi, dầu những bóng tối của tội lỗi và phản bội, chúng ta làm cho sự hiện diện của Thiên Chúa chiếu sáng qua cuộc đời chúng ta; khi các hành động bên ngoài của chúng ta trở nên dấu chỉ của một mối tương quan bên trong sâu sắc và sinh nhiều hoa trái; nói tóm, khi chúng ta trở nên một hiển dung, một biểu lộ của Thiên Chúa cho người khác và cho thế giới.
Giáng sinh lại đến khi chúng ta, vượt lên trên dáng vẻ bên ngoài, vượt lên trên những kiểu mẫu phức tạp và mâu thuẫn của lịch sử, chúng ta có thể nhận ra những đau đớn của một sự hạ sinh mới trong mọi biến cố, và tiếng khóc của một trẻ thơ vừa mới ban tặng cho chúng ta trong mỗi cuộc gặp gỡ. Đang khi những người khác chỉ thấy là sự trùng hợp ngẫu nhiên hoặc những biến cố chẳng có ý nghĩa gì, chúng ta nhìn thấy và tiếp đón một Hiện diện sống động.
Kể từ ngày giáng sinh đầu tiên ấy, chúng ta không còn cô độc nữa. Thiên Chúa đã không bao giờ bỏ rơi chúng ta. Đúng hơn, chính chúng ta đã thường mưu toan chạy trốn khỏi Thiên Chúa, bồn chồn đi theo một hình ảnh sai lạc và làm vong thân, nghĩa là ngược lại với ước muốn của Thiên Chúa. Và cuối cùng chúng ta cảm thấy bồn chồn và bất mãn, trở thành tù nhân vì những ham muốn rối loạn của chúng ta.
Mỗi lễ Giáng sinh là một xác quyết rằng, không còn phải lo sợ hay trốn chạy khỏi chính mình hoặc khỏi Thiên Chúa, Đấng tìm kiếm chúng ta và mong chờ chúng ta quay về với Người. Giáng sinh là và phải luôn là một giai đoạn tiến xa hơn nữa trong cuộc hành trình, đơn giản biết bao và khó khăn biết bao, dẫn chúng ta trở lại cuộc gặp gỡ nồng cháy, trong cuộc gặp gỡ ấy chúng ta được biết chúng ta là ai, và chúng ta phải trở nên như thế nào.
Anh chị em thân mến, đẹp đẽ biết bao khi chúng ta cử hành lễ Giáng sinh của Năm Thánh này với cùng những tâm tình mà đức Maria cảm nghiệm khi ngài cưu mang và hạ sinh Đấng Cứu độ chúng ta! Hoàn toàn phó mình trong bàn tay Thiên Chúa, dọn chỗ trong tâm hồn để quyền năng của Thiên Chúa hoạt động và làm chúng ta sinh nhiều hoa trái, và vì thế sinh hạ Đức Kitô một lần nữa để đem lại sự sống cho trần gian. Đó là sứ vụ cốt yếu của đời sống chúng ta. Cử hành lễ Giáng sinh không chỉ là gợi lên một kỷ niệm luyến tiếc quá khứ về một điều gì xảy ra đã khá lâu rồi: đó là tiếp nhận lúc này đây hạt giống của sự sống thần linh đã hiện diện trong lòng chúng ta và cho phép nó nảy mầm. Đó là "cưu mang" Lời để nó có thể trở nên hữu hình, đáng tin, và thực sự hiện diện một lần nữa. Cuộc sống chúng ta là một lời mời gọi "sinh hạ" Thiên Chúa trong chúng ta và giữa những người khác.
"Chúng ta là mẹ của Người
khi chúng ta cưu mang Người
trong tâm hồn và thể xác,
bằng cách yêu mến Người
và gìn giữ lương tâm trong trắng và chân thành;
chúng ta sinh Người ra
bằng hành vi thánh thiện
nhằm nêu gương sáng cho kẻ
(II Thư gởi tín hữu 53)
Đối với mọi người trong chúng ta, nam hoặc nữ, trẻ hay già, khoẻ mạnh hay đau ốm, sự dấn thân nền tảng và sứ vụ đầu tiên là như thế này: làm cho Thiên Chúa hiện diện trong thế giới vào thời điểm này của lịch sử. Như thế cuộc hành trình mà chúng ta đã khởi sự trong Năm Thánh này sẽ tiếp tục cho đến khi cuối cùng chúng ta được gặp gỡ Chúa Cha.
Đó là ước muốn và lời cầu chúc của tôi với mỗi người anh chị em. Nguyện xin Chúa chúc lành cho tất cả chúng ta, nguyện xin tôn nhan Người chiếu toả trên chúng ta và, trong Người Con Một đã mặc lấy xác phàm, nguyện xin Thiên Chúa ban cho chúng ta bình an!
Giacomo Bini
 
 

GS-7: CHÚA ĐÃ TẶNG NGƯỜI CON ĐỂ CỨU TA

- Lm Raymond Châu Diên, CMC
Lễ Nửa Đêm, Is 9,1-6; Tt 2,11-14; Lc 2,1-14.,
 

Trong cuộc họp thượng đỉnh ngoài khơi đảo Malta vào mùa Giáng Sinh1989, Tổng Thống Bush của: GS-7

Trong cuộc họp thượng đỉnh ngoài khơi đảo Malta vào mùa Giáng Sinh 1989, Tổng Thống Bush của Hoa Kỳ đã tặng chủ tịch Gorbachov của Liên Xô một viên gạch lấy từ bức tường ô nhục Bá Linh. Dù chỉ là một viên gạch, nó gói gém tất cả thiện chí và ước muốn hòa bình của toàn thể thế giới.
Trước đó vài ngày, trong cuộc gặp gỡ với Đức Thánh Cha Gioan Phaolô, Chủ Tịch Gorbachov đã tặng ngài một tập Sách Kinh in vào thế kỷ 14. Qua đó ông muốn khẳng định những giá trị đạo đức của tôn giáo rất cần thiết cho việc xây dựng xã hội.
Đáp lại, Đức Thánh Cha đã tặng nhà lãnh đạo Liên Xô một quyển Tân Ước có ghi hàng chữ: "Ta là Đường, là Sự Thật, và là Sự Sống." Đó là tất cả những gì Đức Thánh Cha và toàn thể thế giới Công Giáo có thể trao tặng cho một xã hội từ lâu gạt bỏ Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống (Lẽ Sống 1991, Tr. 438). Đó là những quà tặng thật ý nghĩa và giá trị.
Từ 2000 năm nay Thiên Chúa hằng ban tặng một món quà vô cùng quý giá là Người Con rất yêu dấu của Ngài cho vũ trụ, cho xã hội, cho mỗi gia đình và mỗi cá nhân chúng ta.
Đối với vũ trụ, tiên tri Isaia và thánh Phaolô nói: Người Con đó là ánh sáng chiếu soi cho vũ trụ tăm tối này. Vũ trụ sẽ được bừng sáng lên trong ngày Đức Giêsu Kitô ngự đến. Người là Thiên Chúa vĩ đại và là Cứu Chúa vinh hiển. Người đến biến đổi trời cũ, đất cũ nên trời mới đất mới.
Đối với xã hội, đoàn dân đang lần bước trong lầm than, bao nhiêu ách đè lên cổ dân, bao nhiêu gậy đập xuống vai họ, bao nhiêu ngọn roi của kẻ hà hiếp, Thiên Chúa đều bẻ gẫy trong ngày Con Ngài chào đời (bài đọc I). Người Con đó đã bao phủ vinh quang Thiên Chúa trên những mục đồng đang vất vả thức thâu đêm canh giữ đàn chiên và tất cả lớp dân lao động sống lầm than trong bóng tối. Người là thủ lãnh của họ và Người sẽ kiến tạo cho họ một xã hội hòa bình trên nền tảng chính trực, công minh, tồn tại từ đời này đến đời kia (bài Tin Mừng).
Đối với gia đình, đơn nghèo như Giuse và Maria vẫn lên đường về cố hương để khai sổ kiểm tra dân số theo lệnh nhà cầm quyền. Đơn nghèo đến nỗi cố hương Belem không còn bà con thân thích nào đón nhận, đành sống thân phận như kẻ ăn xin, ra đồng tìm nương thân nơi hang bò máng cỏ. Con Thiên Chúa đã xuống thế làm con những gia đình ấy, vui sống hy sinh trong cuộc sống như Maria và Giuse, để chia sẻ thân phận nghèo hèn của họ và đưa bình an Thiên Chúa đến cho họ (bài Tin Mừng).
Đối với cá nhân, Người là cố vấn kỳ diệu, dạy chúng ta từ bỏ lối sống trần tục, thoát khỏi mọi điều bất chính, thanh luyện chúng ta sống tiết độ, công bình và nhân ái ở đời này, khiến chúng ta thành dân riêng của Người, một dân hăng say làm việc thiện. Người là Cha muôn thuở của chúng ta. Người đã tự hiến thân chịu chết để cứu chuộc chúng ta, ban cho chúng ta chan chứa niềm hoan hỷ. Chúng ta sẽ vui mừng trước thánh nhan Người, như thiên hạ vui mừng trong mùa gặt phong phú.
Vì yêu thương nồng nàn, Thiên Chúa càn khôn trao ban những quà tặng ấy cho vũ trụ, cho xã hội, cho gia đình và cho mọi cá nhân chúng ta. Vì thế, lễ Giáng sinh là lễ tặng quà. Cả một rừng thiệp Giáng Sinh, những bức họa đủ mọi cảnh sắc tuyệt đẹp để người ta trao tặng cho nhau. Cả một rừng cây thông mọc khắp nơi trên điạ cầu để tô điểm cho mùa Giáng Sinh thêm xanh tươi xinh đẹp. Hàng triệu quà bánh Giáng Sinh làm no lòng thỏa dạ con người và hàng ngàn bài ca du dương vang lên khắp năm châu làm êm ái lòng người để vui hưởng cảnh Giáng Sinh thanh bình.
Vũ trụ trao tặng những cây thông xanh tốt cho con người chiêm ngưỡng vẻ thanh tao, cao quý của Thiên Chúa, và xã hội đua nhau trưng bày hàng Giáng Sinh cho con người thấy được nguồn giàu sang phong phú Thiên Chúa ban cho mình. Gia đình cũng dọn những bữa ăn thơm ngon cho ông bà cha mẹ, con cháu được quây quần xum họp bên nhau thân mật đậm đà yêu thương, để vun đắp tình nghĩa gia đình được bền chắc khăng khít. Người người tặng cho nhau những tấm thiệp tuyệt đẹp để chúc mừng nhau được hưởng hồng ân hạnh phúc bởi trời.
Lạy Chúa, còn con, con lấy gì tặng quà cho Chúa và mọi người đây? Xin cho con lấy chính tình yêu của Con Chúa mà đến chia sẻ nỗi thống khổ của những người nghèo khó, của những người ngày đêm thổn thức vì lao động vất vả, của những gia đình tê tái giá lạnh giữa cảnh phân ly. Xin cho ánh sáng huy hoàng Giáng Sinh của Chúa làm cho con tim chúng con bừng cháy trong bình an và hạnh phúc muôn đời.
 
 

GS-8: BIẾN CỐ GIÁNG SINH NHẬP THỂ - Lm Antony Phiên

Theo các cuốn lịch ta đang xử dụng thì còn 7 ngày nữa mới hết năm 2000 mới hết thiên niên kỷ: GS-8

Theo các cuốn lịch ta đang xử dụng thì còn 7 ngày nữa mới hết năm 2000, mới hết thiên niên kỷ thứ 2. Ngày lễ Giáng sinh hôm nay mới đang ở thềm thiên niên kỷ mới. Thế nhưng về thực chất thì chính cuộc GIÁNG SINH của Chúa là mốc thời gian xác định kỷ nguyên Kitô giáo, gọi là công nguyên. Với lễ Giáng sinh năm nay, công nguyên hết 2000 năm, bước sang ngàn năm thứ 3. Một ngàn năm mới. lúc này, ai ai cũng đang hướng về và coi trọng giây phút giao tiếp giữa hai thiên niên kỷ vào nửa đêm 31 tháng 12 tới đây. Ai ai cũng chờ đợi điều mới, tốt đẹp hơn. Nhưng đối với chúng ta là những kẻ tin, phải nói rằng không có cái gì mới cho bằng biến cố nhập thể. Không có biến cố nào hứa hẹn sự mới mẻ và mang lại sự mới mẻ sáng tươi cho đời người bằng biến cố Giáng sinh Nhập thể của Con Thiên Chúa.
I. Trước hết bởi vì với biến cố này, Thiên Chúa đã dấn thân một cách mới mẻ : - Người cho Con của Người nhập thể, mang lấy thân xác và kiếp sống ta, hoà mình hoàn toàn và khắng khít với ta, chỉ trừ không vướng mắc tội lỗi như ta,
- Người nên một với ta, yêu thương ta đến cùng, hơn ngày xưa, Người chỉ mới hiện diện bên cạnh Dân Do thái
- Người thực hiện công trình cứu độ ở bước mới, bước tột đỉnh :
Không chỉ giải thoát khỏi một cuộc sống khốn khổ, nô lệ vua quan trần gian, như bài đọc I nói đến cuộc giải thoát Dân Do thái khỏi cảnh lưu đày Babilon
Mà còn mang Nước Trời đến, với hậu quả là thay đổi, nâng cao kiếp người - nâng con người lên địa vị con cái Thiên Chúa - biến đời người thành một đời hân hoan, ca khen như điều được tượng trưng bởi các mục đồng vô học, thấp hèn mà bài Tin Mừng thuật lại.
Rồi với việc thực hiện công trình cứu độ ở bước mới, Thiên Chúa không chỉ chấm dứt một giai đoạn lịch sử, như chấm dứt thời kỳ lưu đầy của Dân Do thái xưa, mà còn đưa lịch sử nhân loại đến một kỷ nguyên mới : không còn là lịch sử thường, chỉ là một chuỗi dài bao nhiêu thăng trầm hay biến cố lớn nhỏ - không còn là lịch sử tội lỗi, trong đó ma quỉ thống trị - nhưng là một lịch sử đầy sự hiện diện và đầy ảnh hưởng của Thiên chúa, đầy ơn cứu độ, một lịch sử hướng về và tiến đến Nước trời.
Đêm nay, quây quần chung quanh hang đá, máng cỏ, chúng ta nhìn ngắm Hài Nhi Giê-su, vừa thấy tâm hồn lâng lâng khó tả, nhờ bầu khí êm đềm của buổi lễ, nhờ tiếng nhạc lời ca du dương. Nhưng chúng ta cần nhìn sâu hơn, xa hơn, để hiểu rằng qua biến cố Nhập Thể, Hài Nhi Giê-su đúng là bình minh tươi sáng của một giai đoạn lịch sử mới và Thiên Chúa đã mang lại điều mới mẻ ý nghĩa nhất cho nhân loại chúng ta. Ai chẳng biết rằng mỗi giờ chúng ta lại khởi đầu một giờ mới, mỗi buổi sáng chúng ta lại có một ngày mới, nhưng chắc chắn không có điều nào mới mà giá trị cho bằng điều Thiên Chúa thực hiện trong việc ban Con Một của Người cho trần gian. Biến cố này đưa nhân loại vào quãng đời mới như chưa bao giờ có: quãng đời mãi mãi được Thiên Chúa yêu thương, đồng hành và cứu độ.
II. Và đối với chúng ta là những kẻ tin, cái mới mẻ của biến cố Nhập Thể không bao giờ trở nên cũ, mà ở mọi thời vẫn tiếp tục mới. Sang ngàn năm thứ 3, ta nhớ lại sự mới mẻ đó và làm sống lại sự mới mẻ đó.
Cái mới đó là tình thương tột cùng của Thiên Chúa qua biến cố Con Một của Người nhập thể làm người.
Cái mới đó là Thiên Chúa đề cao con người quá sự ngờ tưởng của ta, vì Người đã hạ mình, dấn thân và hy sinh hết mức vì con người.
Cái mới đó là Thiên Chúa đã cứu độ con người, nghĩa là thi thố sự giúp đáp cao quý nhất: giải thoát con người khỏi tội lỗi, ban sự sống vĩnh cửu, nâng lên địc vị con cái nghĩa thiết, dẫn đưa con người toàn diện đến đích điểm và kỳ vọng cao xa khi Người tạo dựng con người
Chắc chắn sang ngàn năm thứ 3, loài người chúng ta sẽ trông thấy nhiều cái mới, thực hiện được nhiều cái mới cũng như được hưởng nhiều cái mới ở rất nhiều lãnh vực.
Thế nhưng mừng lễ Giáng Sinh năm nay, kẻ tin chúng ta hãy nguyện chứng tỏ những cái mới trong tâm tình, thái độ, hành vi của mình, xứng với những cái mới mà Thiên Chúa đã thực hiện và thi thố.
Trong ngàn năm mới, chúng ta sẽ làm chứng hơn nữa cho Vị Thiên Chúa tình yêu, chúng ta sẽ không che dấu, không hổ thẹn nhưng tự hào về Thiên Chúa, Cha chúng ta.
Trong ngàn năm mới, chúng ta quý trọng, yêu mến con người bằng thái độ phục vụ, bác ái, chống mọi hình thức áp bức, bóc lột, khinh rẻ con người.
Trong ngàn năm mới, chúng ta tích cực bảo vệ phần rỗi mình và lo truyền giáo để giúp mọi người được biết Chúa và được cứu độ.
Vậy đêm nay mừng Chúa Giáng sinh là chúng ta tưởng niệm biến cố mang lại biết bao điền mới mẻ và đổi thay cho phận người cách đây 2000 năm - đồng thời chúng ta cũng tiếp tục biết ơn và ngợi khen Thiên Chúa về biến cố Nhập Thể của Đức Kitô, tiếp tục tin nhận và loan báo Đức Kitô là bình minh,là hy vọng, là nền móng cho phận người trong thiên niên kỷ thứ 3, cũng như Ngài đã là như thế trong hai thiên niên kỷ qua. Bởi vì chỉ nơi Ngài, con người mới gặp được sự mới mẻ vĩnh cửu, mới nhận được tình thương và ơn cứu độ trào tràn của Thiên Chúa. Bởi vì chỉ nơi Ngài, phận "mục đồng" nghèo hèn của ta mới được triệt để đổi thay và nâng cao như trong đêm Bêlem ngày xưa.
 
 

GS-9: TIN VUI GỬI NGƯỜI GẶP SỐ CON RỆP

 - Lm Dũng Lạc Trần Cao Tường
 

Mười hai con giáp là mười hai số: Chuột, Trâu, Cọp, Mèo, Rồng, Rắn, Ngựa, Dê, Khỉ, Gà, Chó: GS-9

Mười hai con giáp là mười hai số: Chuột, Trâu, Cọp, Mèo, Rồng, Rắn, Ngựa, Dê, Khỉ, Gà, Chó, Heo. Không biết từ hồi nào người Việt mình có thêm một con giáp nữa là con Rệp, chứ không phải chỉ có 12 như thường tình. Quả thật, con Rệp là con giáp thứ 13, là số xui tận mạng, bám sát rúc rỉa nhức nhối khó chịu quá chừng!
Tin hay không tin thì đã có nhiều sách vở viết về tướng mệnh học. Nhiều người mở báo ra là coi ngay số Tử Vi xem mình làm ăn hên hay xui, tình duyên có xuôi chảy hay trục trặc, học hành thành đạt hay thất bại; số nào lấy số nào thì gia đạo mới ngon lành, chứ gặp số kỵ mà vơ đại vào thì chỉ lo cãi lộn tối ngày.
Có người tin rằng sinh ra ở đời mỗi người đều có số có mạng. Nhiều người xem ra có số đỏ, số đào hoa, có ngón tay vàng, đụng vào cái gì cũng êm đẹp xuôi xắn. Trái lại, nhiều người thì có vẻ sinh nhằm số đen, số con rệp, chuyên môn gặp chuyện chẳng ra làm sao, làm gì cũng xui xẻo, đổ bể.
Người ta tìm cách giải thích hiện tượng này liên hệ tới năm sinh, tháng sinh, ngày sinh, giờ sinh của mỗi người, gắn liền với sự vận hành của trăng sao vào lúc mình sinh ra. Trời đất cũng có tiết có nhịp mà. Con trăng có nhịp, con nước có nhịp, con người cũng có nhịp vận hành. Khi trăng lên thì con nước cũng lên theo. Nó ảnh hưởng tới cả con tôm con ghẹ biết nhịp mà vờn trăng. Huống chi là con người. Và người ta thử ướm chừng cái "múi" của vòng quay, cái thời điểm liên hệ tới đất trời vần xoay, mà so sánh với những nét đặc tính của một con vật nào đó mà đặt tên: mỗi người sinh vào đời cầm tinh một con vật, với những nét giông giống vậy.
Có người bảo sinh vào năm Hợi, cầm tinh con Heo là số nhàn, cả ngày cứ ủn ỉn ăn no mà chả phải lo; sinh vào năm ngựa thì chạy suốt, chỉ biết lo mà không no; sinh vào năm rắn thì khôn lắm, không ai bắt nạt được v.v. Thôi thì cứ tha hồ mà đoán mò, thế nào cũng có cái trúng và lúc trúng. Các thầy tướng số làm ăn khấm khá ra phết.
ĐI TÌM LỐI THOÁT
Thực ra thì ít thấy ai cho mình có số đỏ, mà chỉ toàn gặp số con rệp xui xẻo. Thế kỷ 20 đang qua đi, một thế kỷ đầy chiến tranh hận thù và tan tác. Con người trong những năm cuối cùng của thiên kỷ này đang khắc khoải quằn quại trong bóng tối hãi hùng, giẫy giụa trong vũng bùn nhầy nhụa cố vùng vẫy tìm lối thoát mà không nổi. Nhiều dấu hiệu bất ổn từ trong gia đình đến ngoài xã hội. Cảnh vợ chồng đổ vỡ, con cái tan hoang, cướp giật, giết người tràn ngập ngay gần cửa nhà mình. Con mắt nhiều người bị mờ tối lại, càng tìm đường giải quyết xem ra càng bi thảm thêm. Biết tìm lối thoát nào?
Nhiều người khi bị nhức đầu thì uống thuốc Tylenol, khi gặp khó khăn ngột ngạt thì đi gặp bác sĩ tâm lý trị liệu, hay dùng một vài phương pháp thân tâm như cảm nghiệm hơi thở để tìm lại an tĩnh. Nhưng dù sao cũng chỉ tạm trong chốc lát, chứ chưa đi vào gốc rễ nằm trong chính con người của mình, trong chính sự hiện hữu của mình. Tại sao tôi có mặt trên mặt đất này? Cuộc sống này có nghĩa gì không? Hay chỉ là một vũng lầy nhầy nhụa đầy đọa nhau?
Thì đây, Đấng Giải Thoát đang đến, giáng sinh bước vào cuộc sống mỗi người:
Truyện kể về một nhà truyền đạo kia đi đến một vùng đất la của dân U Mê. Một ngày kia ông thấy họ đang gặt lúa ngoài đồng thì bỗng hốt hoảng bỏ chạy về nhà hết. Ông ra cánh đồng xem thì chỉ thấy một trái dưa hấu bị bể. Ông hiểu ngay rằng đây là lần đầu tiên dân này thấy dưa hấu thì tưởng là quái vật: da thì đen xì, mà bụng thì đỏ hoẻn!
Ông liền bảo họ rằng không có gì phải sợ đâu. Và để làm chứng, ông lấy dao cắt trái dưa ra nhiều miếng và ăn ngon lành trước mắt mọi người. Nhưng dân U Mê nhìn rõ thấy ông này dám ăn con quái vật đầy máu như vậy thì đâm sợ ông ta còn hơn cả con quái vật nữa. Và họ hò hét nhau lấy cuốc xẻng đuổi ông ta ra khỏi làng gấp vì sợ ông ta sẽ giết họ như giết con quái vật. Thế là nhà truyền đạo phải trốn đi mất tích.
Ít lâu sau, một nhà truyền đạo khác cũng đến đất này và cũng gặp cảnh dân chúng bỏ chạy khi thấy dưa hấu ngoài đồng. Ông đã nghe biết chuyện xưa, nên thay vì khuyên răn, ông hòa mình sống với họ, cũng run rẩy sợ hãi cùng bỏ chạy khi gặp dưa hấu là con quái vật nguy hiểm. Dần dần ông trở thành người thân của họ. Và khi đã sống với họ một thời gian lâu, dần dần ông dẫn họ đến gần những con quái vật đen sì kia mà nhận ra là những trái dưa có thể ăn ngon. Thế là cả làng bắt đầu trồng dưa.
Quí thính giả thân mến! Câu truyện này diễn tả phần nào ý nghĩa Chúa Trời sinh xuống làm người: "Ngôi Lời đã mang thân xác và cư ngụ giữa chúng tôi" (Gioan 1:14). Ngài không giải thoát con người bằng cách đứng ở xa để dùng quyền năng thượng trí mà cố vấn chỉ cho một con đường, một đạo, theo kiểu tâm lý trị liệu khi con người gặp phải những nghịch cảnh mà cho là quái gở. Ngài đã trở thành một đứa bé yếu đuối run sợ những con quái vật là dưa hấu như bất cứ ai. Ngài cũng trốn chạy tỵ nạn sang ai Cập, cũng bảo dưa hấu là quái vật đáng run sợ trong Vườn Câu Dầu và trên Thập Giá. Và khi thấy có người thương mình như vậy, con người mới nhận ra những gì vốn sợ hãi nhất trên đời lại là những trái dưa hấu có thể trồng ăn được ngon lành.
Vì chính Đức Kitô đã nhập thể làm người mang cho cuộc sống hiện sinh một ý nghĩa, với tất cả ngọt bùi đắng cay, như lời Kinh Tiền Tụng trong thánh lễ:
"Khi chính Người sinh ra, Người đổi mới thân phận con người... khi từ cõi chết sống lại, Người đã chỉ lối vào chốn trường sinh", cho con người có thể tham dự vào bản tính Thiên Chúa. Và lời cầu nguyện trong lễ lúc linh mục pha một chút nước vào rượu đã nói lên cuộc nâng lên này:
"Nhờ mầu nhiệm hòa nước vào rượu này, xin cho chúng con được tham dự thiên tính của Đấng đã đoái thương thông phần nhân tính của chúng con".
Đời không còn là bể khổ phi lý để phải lo trốn chạy nữa, vì chính Đức Kitô cũng đang đi con đường nhập thể và nhập thế như vậy. Không có số nào là số con rệp cả. Và khi sống lại, ngài đã mở cửa Trời đi vào vĩnh cửu, cho con người mọc cánh có thể "cất nổi mình mà bay" cao tới vô hạn.
Đúng như lời Kinh Thánh, Chúa Trời "không phải là Đấng không thể cảm thông với những yếu đuối của chúng ta, mà là Đấng đã chịu mọi thử thách trong mọi sự như chúng ta, chỉ khác là đã không phạm tội" (Do Thái 4:15-16). Đó là Viễn Kiến mà hội thánh Công Giáo đang mở ra trong lúc bước sang thiên kỷ mới: con mắt bừng mở sáng lên khi khám phá ra Chúa Kitô đang giáng sinh bước vào cuộc sống mình.
Và chẳng những chỉ cảm thông, mà còn chia sẻ và nhận lấy mọi khổ đau con người như câu chuyện "Dấu Chân Trên Cát" được Trần Phong Vũ diễn thành lời thơ trong tập thơ Dấu Chân Trên Cát:
Gã nhìn lại triền cát dài thăm thẳm, Bốn dấu chân thầm lặng vẽ song song. Tiếng reo vui òa vỡ ở trong lòng, Gã hồi tưởng những năm dài quá khứ. Xuôi ngược dòng đời, hồn trôi lữ thứ, Luôn có Người kề cận khắp nơi nơi.
Nhưng mà, - tại sao? Gã băn khoăn tự hỏi,
- Trên bức tranh tô vẽ lại cuộc đời,
Bốn dấu chân nhiều lúc chỉ có hai?
Trong câu hỏi gã nghe buồn man mác.
Ngước trông Người, gã buông lời chua chát,
- Phải chăng Thày từng hứa hẹn cùng con,
Luôn ở bên con dù biển cạn non mòn?
...
- Và này con, dường như con chưa nhận biết,
Những dấu chân đơn lẻ ở chân mây,
Chẳng phải của con, nhưng chính của Thày,
Vì lúc ấy con lao đao quị ngã,
Nên Thày ẵm con trên vai,
...và một mình bước đi tất tả!!!
Lễ Chúa Giáng Sinh (lễ Nửa Đêm):
Lm Raymond Châu Diên, CMC
 
 

GS-10: ĐỨC GIÊSU KITÔ LÀ ĐẤNG CỨU ĐỘ DUY NHẤT

Hôm qua, Hôm nay và ngày mai
 

Tất cả chúng ta, những Kitô hữu trên khắp năm Châu đang hân hoan chuẩn bị đón mừng đại lễ: GS-10

Tất cả chúng ta, những Kitô hữu trên khắp năm Châu đang hân hoan Giáng sinh. Đây là một trong những lễ hội lớn nhất trong Năm Phụng Vụ, được chuẩn bị bằng bốn Chúa Nhật Mùa Vọng. Đặc biệt năm nay, chúng ta đón mừng kỷ niệm 2000 năm Chúa giáng trần trong Năm Toàn Xá. Tất cả chúng ta cùng hướng về Bê Lem, để cùng tôn kính và tuyên xưng mầu nhiệm nhập thể: Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người, sinh bởi Đức Trinh Nữ Maria tại làng Bêlem, nước Do Thái, cách đây 2000 năm, để cứu vớt nhân loại tội lỗi.
Trong bài đọc 1, ngôn sứ Isaia đã loan báo cho tất cả các dân tộc và mọi người "đang lần bước giữa tối tăm và sống trong vùng bóng tối" tin mừng lớn lao như sau: " Vì một trẻ thơ đã chào đời để cứu ta, một người con đã được ban tặng cho ta. Người gánh vác quyền bính trên vai, danh hiệu của Người là Cố Vấn kỳ diệu, Thần Linh dũng mãnh, người Cha muôn thuở, Thủ Lãnh hòa bình. Người sẽ mở rộng quyền bính, và lập nền hòa bình vô tận cho ngai vàng và vương quốc của Đa-vít. Người sẽ làm cho vương quốc được kiên cố vững bền trên nền tảng chính trực công minh". (Isaia 9, 0-6)
Trong Bài Tin Mừng của Lễ Nửa Đêm Giáng Sinh năm phụng vụ C, thánh sử Luca đã ghi lại Biến cố trung tâm lịch sử nhân loại như sau: "Khi hai người đang ở đó, thì bà Maria đã tới ngày mãn nguyệt khai hoa, Bà sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ, vì hai ông bà không tìm được chỗ trong nhà trọ" (Luca 2, 6-7).
Chúng ta để ý đến bối cảnh lịch sử và địa dư lúc Chúa Cứu Thế giáng sinh: bắt đầu bằng biến cố kiểm tra dân số đầu tiên theo lệnh của hoàng đế Au-gút-tô và đã được thực hiện dưới thời ông Qui-ri-ni-ô làm tổng trấn xứ Xy-ri. Vì thuộc dòng tộc vua Đa Vít, nguyên quán tại Bê Lem, nên hai vợ chồng son trẻ Giuse và Maria "lúc ấy đang có thai" phải trở về làng quê để khai sổ nhân danh.
Bỗng chốc, muôn vàn sứ thần hiện ra báo tin vui cho "những người chăn chiên sống ngoài đồng và thức đêm canh giữ đoàn vật": "Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân: Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa vít. Người là Đấng Kitô Đức Chúa".
Sứ thần Chúa còn chỉ cho các người chăn chiên "dấu vết" để nhận ra Đấng Cứu Thế: "Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người: anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ". Và "muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa rằng": "Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương".
Nếu không có lời báo tin của các sứ thần từ trời xuống, chắc hẳn các người chăn chiên thật thà chất phát và nghèo hèn này, những người đầu tiên được phúc đón nhận Tin Mừng đến thăm em bé sơ sinh và mừng với bố mẹ của em, sẽ không tài nào nhận ra em bé này chính là Đấng Cứu Tinh mà cha ông họ hằng mong đợi và đã được nhiều lần loan báo trong Cựu Ước qua các vị Ngôn Sứ.
Như vậy, một trong những ý nghĩa quan trọng và căn bản nhất của Lễ Giáng Sinh, chính là tuyên xưng và đón nhận Đấng Cứu Thế mà các ngôn sứ đã từng loan báo hàng mấy ngàn năm trước khi Ngài sinh ra: Ngài là Đức Giêsu Kitô là Đấng Cứu Độ duy nhất, hôm qua, hôm nay và ngày mai. Một tín hữu mà không tin, không tuyên xưng và không sống niềm tin này thì chắc chắn không phải là một Kitô hữu đích thực.
Đây cũng là lời tuyên xưng đức tin của toàn thể Giáo Hội Chúa Kitô và là Trung tâm điểm của Biểu Tượng Năm Toàn Xá 2000: Đức Giêsu Kitô, Ngài là "Ánh sáng" thế gian. Chỉ có Người mới thật sự là Đấng Cứu Độ duy nhất của thế gian, hôm qua cũng như hôm nay và mãi mãi, vì nhờ Người, Thiên Chúa đến với con người để con người trở thành con Thiên Chúa.
Niềm tin này đã được định tín thành một tín điều, được mỗi tín hữu tuyên xưng mỗi lần đọc kinh Tin Kính và được nhắc đi nhắc lại trong các văn kiện của các Công Đồng Chung, của các vị giáo hoàng, và gần đây nhất là tông huấn "Hội Thánh tại Á Châu" (Ecclesia in Asia) của Đức Gioan Phaolô II (ngày 6-11-1999) và tuyên ngôn "Chúa Giêsu" (Dominus Jesus) của đức Hồng y Joseph Ratzinger (ngày 6-8-2000). Hai văn kiện sau cùng này nhấn mạnh chủ trương phải công bố Đức Giêsu là vị Cứu Tinh duy nhất và phổ quát của nhân loại.
Thử hỏi, khi Giáo Hội nói chung và mỗi Kitô hữu nói riêng, tuyên xưng, sống chết và làm chứng tá cho niềm tin vào "Đức Giêsu Kitô là Đấng Cứu Độ duy nhất, hôm qua, hôm nay và ngày mai", chúng ta có làm cớ vấp phạm cho anh chị em thuộc các tôn giáo khác, hay có cản trở cho cuộc đối thoại đại kết mà Giáo Hội theo đuổi từ bao năm qua?
Có hay không đều tùy thuộc vào cung cách tuyên xưng, tùy cách ăn nết ở, tùy vào cách rao giảng:
Nếu một người Kitô hữu mà tuyên xưng niềm tin một cách khiêm tốn, không vỗ ngực huênh hoang, nhưng luôn biết đối thoại trong tôn kính niềm tin của những người chung quanh.
Nếu lời tuyên xưng đi đôi với nếp sống, để những người khác không thể phát biểu: "Đi đạo, nhưng đừng tin người có đạo"!
Nếu lời tuyên xưng giúp canh tân nếp sống bản thân, đổi mới gia đình, dấn thân xây dựng công bình bác ái, đúng như thánh Phaolô đã viết trong thư gửi cho Titô, bài đọc 2 trong Lễ Nửa Đêm: "Quả thế, ân sủng của Thiên Chúa đã được biểu lộ, đem ơn cứu độ đến cho mọi người. Ân sủng đó dậy chúng ta phải từ bỏ lối sống vô luân và những đam mê trần tục, mà sống chừng mực, công chính và đạo đức ở thế gian này" (Titô 2, 11-12).
Đêm nay, khi quỳ bên máng cỏ, khi đi lễ Nửa Đêm mừng mầu nhiệm Thiên Chúa sinh xuống làm người, xin Đấng Cứu Thế hãy sinh vào lòng mỗi người tín hữu chúng con, để chúng con trở nên những Kitô hữu đích thực trong lời tuyên xưng bằng môi miệng cũng như trong cách ăn nết ở.

 

GS-11: Ngôi Lời là ánh sáng thật,

ánh sáng đã đến thế gian và chiếu soi mọi người.
Lễ ban ngày
Ga 1,1-18
 

Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đã đến thế gian và chiếu soi mọi người Chữ "rực sáng" xuất : GS-11

"Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đã đến thế gian và chiếu soi mọi người."
Chữ "rực sáng" xuất hiện trong Phúc Âm Gio-an không dưới 21 lần. Theo Gio-an, Chúa Giê-su là ánh sáng của loài người. Hai lần Chúa Giê-su tự xưng là ánh sáng thế gian, lần thứ nhất sau vụ nhóm biệt phái và kinh sự dẫn người phụ nữ phạm tội ngoại tình để gài bẫy Chúa. (Ga 8,12) Lần thứ hai sau khi Chúa chữa lành người mù bẩm sinh (Ga 9,5). Ánh sáng ấy đến giữa loài người để họ trở thành con cái của ánh sáng : Chúa Giê-su nói với dân chúng đang tụ họp để dự lễ Vượt Qua : "Ánh sáng còn ở giữa các ông ít lâu nữa thôi. bao lâu các ông còn có ánh sáng, hãy tin vào ánh sáng để trở nên con cái ánh sáng."(Ga 12,35.36)
Về Chúa Giê-su là ánh sáng, tác giả Gio-an đã dùng một chữ đầy ý nghĩa để mô tả. Ông bảo rằng Chúa Giê-su là ánh sáng thật. Trong tiếng Hi-lạp có hai từ rất giống nhau. Chữ thứ nhất Alethes có nghĩa là thật, đối lập với giả. Chữ kia là Alethinos nghĩa là có thật, hay đích thực, đối lập với không thật.
Theo tông đồ Gio-an, Chúa Giê-su là ánh sáng đích thực, soi sáng cho loài người. trước khi Chúa Giê-su đến, đã có những ánh sáng khác cho loài người neo theo, một số là những tia sáng chớp loé của chân lý, một số là những cái nhìn thoáng mờ về thực tại, một số khác nữa giống như những đốm lửa rơm dẫn loài người vào trong đêm tối rồi bỏ mặc.
Ngày nay điều này vẫn còn xảy ra, vẫn có những tia sáng mù mờ, vẫn còn những tia sáng giả tạo, và loài người vẫn bước theo chúng. Chúa Giê-su chính là ánh sáng đích thực duy nhất, là ánh sáng có thật để dẫn đường cho nhân loại.
Chúa Giê-su đã đem ánh sáng thật đến cho loài người. Sự giáng thế của Chúa Giê-su giống như một vùng ánh sáng chói trang, bắt đầu buổi bình minh. Một nhà du lịch kể lại, có lần ông đến nước Ý, đứng trên ngọn đồi nhìn xuống vịnh Naples, lúc ấy trời tối đen khiến ông chẳng thấy gì cả, nhưng thình lình, một tia chớp loé lên, và mọi sự vật bỗng được soi dọi rõ ràng đến từng chi tiết. Khi Chúa Giê-su đến thế gian, Ngài như vầng sáng chiếu dọi trong đêm tối.
Sự giáng thế của Chúa Giê-su xua tan bóng tối nghi ngờ.
Khi Ngài chưa đến, thế gian chỉ suy đoán về Thiên Chúa. Theo người Hi-lạp : "Thật khó biết về Thiên Chúa, mà nếu bạn có tìm biết Ngài, thì cũng không thể nói cho ai biết về Ngài." Với người ngoại đạo, thì Thiên Chúa đang ở trong bóng tối dày đặc không ai thâm nhập được, hoặc Ngài đang ở trong một thứ ánh sáng chói lòa không ai tới gần được. Nhưng khi Chúa Giê-su giáng thế, loài người được thấy Thiên Chúa phơi bày cách rõ ràng. Bóng tối, sương mù tan biến, những ngày đoán mò đã qua, người ta không cần phải mơ ước trong sự tối tăm ngu dốt nữa, ánh sáng đã đến.
Sự giáng thế của Chúa Giê-su xua tan bóng tối tuyệt vọng.
Chúa Giê-su đã đến với một thế gian đang tuyệt vọng. Triết gia Seneca nói : "Loài người ý thức mình bất lực trước những điều cần thiết." Họ đang trông chờ một bàn tay đưa xuống để  nâng đỡ họ lên. "Họ ghét tội nhưng không lìa bỏ nó được." Loài người bất lực, không thể làm cho mình và thế giới tốt hơn. Nhưng khi Chúa Giê-su đến, một quyền năng mới đi vào đời sống con người. Chúa đến không chỉ đem kiến thức mà đem cả quyền năng nữa. Ngài đến không phải chỉ vặch ra con đường đúng cho nhân loại, mà còn giúp họ đi trên con đường đó. Chẳng những Ngài dạy bảo họ, mà còn có mặt trong mọi việc họ không làm nổi để giúp học thực hiện. Bóng tối của bi quan và tuyệt vọng đã tan biến vĩnh viễn.
Sự giáng thế của Chúa Giê-su xua tan bóng tối sự chết.
Thế giới thời cổ rất sợ sự chết. Loài người luôn bị trói buộc trong xiềng xích của sự sợ chết. Cách suy nghĩ tốt nhất cho rằng chết là hết, nhưng linh hồn người ta rùng mình trước ý nghĩ đó. Tệ hại nhất khi suy nghĩ chết sẽ bị quỷ thần hành tội, tra tấn nên người ta càng sợ hãi hơn. Nhưng bởi sự nhập thế, đời sống, sự chết và sống lại của Chúa Giê-su, sự chết chỉ là con đường dẫn loài người đến sự sống bao la hơn. Bóng tối của sự chết chỉ là con đường dẫn đến sự sống rộng lớn hơn. Bóng tối của sự chết đã tan biến. Trong truyện của Stevenson, ông mô tả một thanh niên thoát chết một cách lạ lùng trong cuộc đấu kiếm mà chàng nghĩ mình chắc chắn sẽ bị giết, lúc ra về lòng chàng vang lên bài ca "nỗi cay đắng của sự chết đã qua rồi". Nhờ Chúa Giê-su, nỗi cay đắng của cái chết đã qua đi với mọi người.
Hơn nữa, Chúa Giê-su là ánh sáng đã soi sáng cho mọi người được sinh ra trên đời này. Thế giới thời cổ là một thế giới khép kín, hẹp hòi. Dân Do-thái ghét người ngoại bang và chủ trương người ngoại bang được dựng nên chỉ để làm nhiên liệu cho lửa hỏa ngục. Đúng, một tiên tri cô đơn đã thấy định mệnh của dân Ít-ra-en sẽ là ánh sáng cho dân ngoại (Is 42, 6. 49,6) nhưng đó là định mệnh mà dân Ít-ra-en đã dứt khoát khước từ. Thế giới Hi-lạp chẳng bao giờ mơ ước tri thức được dành cho tất cả mọi người. Thế giới La-mã khinh dể các dân sắc tộc, xem họ như những loài hạ đẳng, không có pháp luật. Nhưng Chúa Cứu Thế Giê-su đã đến để làm ánh sáng cho mọi người. Chỉ một mình Thiên Chúa là Cha của Chúa Cứu Thế Giê-su mới có tấm lòng lớn đã để chứa toàn thể thế gian.

 

GS-12: Đức Giêsu sinh ra một cách rất khiêm tốn:

mặc dù là Con Th-Chúa (lễ đêm):
Lc 2,1-14
A. Hạt giống...
 

Đức Giêsu sinh ra một cách rất khiêm tốn : mặc dù là Con Thiên Chúa và thuộc hoàng tộc Đavít: GS-12

Đức Giêsu sinh ra một cách rất khiêm tốn : mặc dù là Con Thiên Chúa và thuộc hoàng tộc Đavít,
- Ngài phải vâng lệnh hoàng đế Augustô để thực hiện một cuộc hành trình xa xôi và cực nhọc.
- Ngài phải sinh ra trong cảnh thiếu thốn ở hang súc vật.
- Những người láng giềng lúc đó tới thăm Ngài cũng là những người chăn chiên nghèo nàn, quê mùa.
Nhưng với cái nhìn đức tin, Thánh Luca đã thấy được đứa bé yếu ớt và nghèo nàn ấy là Đấng Cứu Tinh rất cao sang : các thiên thần báo tin Ngài sinh ra, gọi Ngài là Đấng cứu độ và là Đức Chúa. Việc Ngài sinh ra thực sự là vinh quang cho Thiên Chúa trên trời và bình an cho loài người dưới thế.
B.... nẩy mầm.
1. Chuyện xảy ra chưa lâu : Một giáo sư tâm lí làm một cuộc trắc nghiệm nơi 40 sinh viên của ông. Ông đưa cho mỗi người một miếng giấy, bảo viết chữ NOEL, rồi hãy viết thêm một chữ diễn tả ý nghĩ đầu tiên đến trong trí họ. Khi mở giấy, người ta thấy các chữ : cây thông, rất thánh, quà tặng, bữa tiệc, ngày nghỉ, thánh ca... nhưng tuyệt không ai viết : sinh nhật Chúa Giêsu (Góp nhặt).
2. Nhiều người cho rằng vâng phục là mất nhân phẩm, là nhục nhã. Nhưng ta hãy xem Vua Trời Giêsu đã không ngại vâng phục vua trần gian Augustô.
3. Nhiều người cũng coi nghèo là xấu hổ. Nhưng ta hãy xem Đức Giêsu đã tự ý sinh ra nghèo và kết bạn với những mục tử nghèo. Gương mặt đầu tiên Ngài tỏ cho loài người biết về Ngài là gương mặt của một người nghèo. Và còn có thể nói : nghèo là đức tính căn bản nhất của Ngài.
4. Ta hãy tự coi mình là một người nghèo như các mục tử Bêlem, đến với Đức Giêsu sinh ra trong cảnh nghèo và hãy nói chuyện với Ngài như những người nghèo tâm sự với nhau.
5. Nhà vua bị bịnh nặng. Quan ngự y lo lắng, nhưng đành bó tay. Một nhà chiêm tinh đến bảo vua chỉ khỏi bịnh khi nào được mặc chiếc áo của một người hạnh phúc nhất.
Quan quân đổ xô đi khắp nước để tìm người hạnh phúc nhất. Cuối cùng thì họ cũng tìm được một người hạnh phúc thực sự. Nhưng khổ thay, người ấy quá nghèo, chẳng có lấy một chiếc áo ! (Góp nhặt)
* Lễ Ban Ngày (Ga 1,1-18) : Xem Chúa nhựt thứ 2 sau lễ Giáng sinh.
6. Mầm khác :

 

GS-13: Trước đây hai ngàn năm, có một tin rất lạ lùng,

một tin gây chấn động (lễ đêm)
Lu-ca 2, 1-14
 

Trước đây hai ngàn năm, có một tin rất lạ lùng, một tin gây chấn động mọi người nghe, tin này: GS-13

Trước đây hai ngàn năm, có một tin rất lạ lùng, một tin gây chấn động mọi người nghe, tin này không do phát ngôn viên của loài người, nhưng là một thiên sứ, một thiên sứ loan báo trên cánh đồng Bê-lem. Tin này liên hệ đến mọi người sống trong cõi trần từ xưa đến nay và mang lại hạnh phúc toàn diện và vĩnh viễn cho con người ; nội dung tin mừng ấy : "Anh em đừng sợ, này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là Tin mừng cho toàn dân : hôm nay Đấng Cứu Thế đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa-vít, Người là Đấng Ki-tô Đức Chúa."
Chúa Cứu Thế giáng sinh quả thật là một Tin mừng trọng đại. Trên thế giới và qua quá trình lịch sử, có nhiều tôn giáo khác nhau. Vị giáo chủ nào cũng được những người tin theo ngưỡng mộ sùng kính, tuy nhiên không có vị nào là Đấng Cứu Thế, các vị đều được sinh ra làm người, tu luyện đắc đạo, hành đạo, rồi chết như mọi người. Nhân loại cần một Đấng Cứu Thế lạ lùng, nguồn gốc không từ trong nhân loại, sinh tử khác hẳn người phàm. Vì Ngài từ trời giáng sinh, sinh hạ bởi mẹ đồng trinh, ứng nghiệm một lời sấm đã nói bảy trăm năm về trước : "Sự giáng sinh của Chúa Cứu Thế Giê-su diễn tiến như sau : cô Ma-ri-a đã đính hôn với Giu-se, nhưng khi còn là trinh nữ nàng đã thụ thai do Thánh Linh. Giu-se, vị hôn phu của Ma-ri-a là người công chính, quyết định kín đáo từ hôn vì không nỡ để nàng bị sỉ nhục công khai. Đang băn khoăn về việc ấy, bỗng thấy một thiên sứ đến báo mộng : này Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng ngại cưới Ma-ri-a làm vợ, vì cô ấy thụ thai do Thánh Linh. Ma-ri-a sẽ sinh con trai, sẽ đặt tên là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân mình khỏi xiềng xích tội lỗi. Việc xảy ra đúng như lời Chúa đã bảo nhà tiên tri loan báo : này, một trinh nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai đặt tên là Em-ma-nu-en, Thiên Chúa ở cùng chúng ta."
Đó chính là ứng nghiệm về Đức Ki-tô, về Chúa Giê-su giáng sinh tại thành của Đa-vít. Từ xưa tới nay, chưa có một ai được ra đời bằng cách giáng sinh, và có lời tiên tri được ứng nghiệm như Ngài, vậy nên trong muôn dân không có vị cứu tinh là Đức Ki-tô là Chúa như Ngài, muôn dân cần phải có Ngài vì thế việc Ngài giáng sinh tại thành của Đa-vít là một Tin mừng trọng đại cho tất cả nhân loại.
Lại cũng vì loài người ai cũng phạm tội, cũng đau khổ dưới ách tội lỗi và tự mình vô phương cứu thoát.
"Từ trời cao, Chúa nhìn xuống loài người,
xem ai là kẻ có lương tri,
biết kiếm tìm Thiên Chúa.
Người người đã lía xa chính lộ,
chỉ biết theo nhau là chuyện suy đồi.
Chẳng có một ai làm điều thiện,
dẫu một người cũng không." (Tv 14, 2-3)
"Nếu chúng ta nói là chúng ta không có tội, chúng ta lừa dối mình, và sự thật không ở trong chúng ta". (1 Ga 1,8)
Ngày nay khoa học kỹ thuật đã tiến bộ hơn trước nhiều, cung cấp cho con người đủ thứ tiện nghi vật chất, nhưng con người vẫn đau khổ, vẫn không được an vui. Vì sao thế, vì đã phạm tội, vì gánh nặng của tội lỗi cứ đè nặng, vì nọc độc của tội lỗi cứ ám ảnh, lương tâm không được bằng yên. Thế gian cũng đã từng áp dụng nhiều phương pháp : cải cách xã hội, đòi hỏi nhân quyền, khắc kỷ tu thân, nhưng các phương pháp ấy vô hiệu lực. Vì tất cả các phương pháp ấy đều không cất khỏi gánh nặng đang đè nặng trên con người. Duy chỉ có Đấng Cứu Thế mới có khả năng cất khỏi sức nặng tội lỗi đè nặng trên con người.
Vì Ngài chính là "Thiên Chúa ở với loài người", giáng sinh làm người, duy mình Ngài giáng sinh làm người, gánh lấy hết tội lỗi, và chết thay cho tội nhân
"Thật chính Ngài đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta. Chính Người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta tội lỗi, đã phải mang thương tích để chúng ta được chữa lành. Tất cả chúng ta lạc lõng như chiên cừu, lang thang mỗi người một ngả, nhưng Chúa đã đổ trên đầu Người tội lỗi của tất cả chúng ta." (Is 3,4.5)
Và khi Ngài vừa xuất hiện để được Gio-an Tẩy giả giới thiệu : "Đây là Chiên Con Thiên Chúa, Đấng gánh tội trần gian.
Bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta là ngay khi chúng ta còn là tội nhân, Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta (Rm 5,6).
Và chết cũng có nhiều cách, nhưng Đức Ki-tô lại chết cách đau đớn trên thập giá !
Đức Ki-tô đã tự hiến tế như lễ vật vẹn toàn, máu của Người thanh tẩy lương tâm chúng ta khỏi những việc đưa tới sự chết, để chúng ta xứng đáng phụng thờ Thiên Chúa hằng sống (Dt 9,14).
Máu của Đức Ki-tô Con của Người thanh tẩy chúng ta sạch hết mọi tội lỗi (1 Ga 1,7)
Suy gẫm về cái chết của Chúa Giê-su, khiến cho lòng chúng ta vô cùng cảm động, vì Người là Con Thiên Chúa vô tội mà giáng sinh làm người thay cho chúng ta là tội nhân mà chịu chết, gánh lấy hết tội lỗi, khiến lòng chúng ta tràn ngập mừng vui vì Ngài cất đi gánh nặng tội lỗi đè nặng trên chúng ta.
Đấng Cứu Thế, là Đức Giê-su Ki-tô đã từ trời giáng sinh do Đức Ma-ri-a tại thành của Đa-vít, chịu chết trên thập giá tại đồi Can-vê để đền tội cho nhân loại, và Ngài cũng đã sống lại, lên trời, ngự bên hữu Thiên Chúa . Bởi sự sống lại và hằng sống mà Ngài có quyền lực siêu nhiên để làm Đấng Cứu Thế cho muôn dân thiên hạ.
Nhân loại đang đắm chìm trong tội lỗi, mong muốn được Ngài cứu thoát.
Trước Thượng Hội Đồng, Phao-lô tuyên bố : "Ngoài Người ra, không ai đem lại ơn cứu độ, vì dưới gầm trời này không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được ơn cứu độ."
Chính vì chỉ có Chúa Giê-su, Đấng nắm giữ quyền lực siêu nhiên, chiến thắng tội lỗi, sự chết và ma quỷ, sống lại từ cõi chết, được "Thiên Chúa đặt làm Đức Chúa và làm Đấng Ki-tô" (Cv 2,36) và thông ban sự sống đời đời cho những ai đặt niềm tin nơi Ngài để được sống một cuộc sống tự do vui vẻ mà sự giáng sinh của Ngài là một Tin mừng trọng đại.
Tin mừng về Đấng Cứu Thế, về Đấng Ki-tô giáng sinh mà tôi loan báo hôm nay là tin mừng cách đây 2000 năm thiên sứ đã phát thanh tại cánh đồng Bê-lem.

 

GS-14: HÔM NAY ĐẤNG CỨU THẾ ĐÃ GIÁNG SINH CHO CHÚNG TA.

Lời loan báo Chúa Giáng Sinh vang lên đêm nay, lời loan báo xa xưa vâ luôn mới mẽ, lời loan: GS-14

Lời loan báo Chúa Giáng Sinh vang lên đêm nay, lời loan báo xa xưa vâ luôn mới mẽ, lời loan báo vang lên cho những ai đang tỉnh thức như những mục đồng tại Bê lem cách đây hai ngàn năm. Nó vang lên cho những ai đã sống theo đòi hỏi của Mùa Vọng, và một khi dã tỉnh thức trong đợi chờ, sẵn sàng tiếp nhận sứ điệp vui mừng được hát lên trong Thánh lễ hôm nay : "Hôm nay Đấng Cứu Thế Giáng Sinh cho chúng ta ". Dân Ki tô đang tỉnh thức, toàn thể thế giới đang tỉnh thức trong đêm Giáng Sinh này. Đêm được liên kết với đêm đáng ghi nhớ cách đây một năm, khi mở ra cửa Thánh của Năm Toàn Xá, cửa của ân sủng được mở rộng ra cho tất cả mọi người. Trong mỗi ngày của Năm Thánh này, dường như Giáo Hội không bao giờ ngưng lặp lại rằng : "Hôm nay Đấng Cứa Thế Giáng Sinh cho chúng ta ". Lời rao giảng này có tích chứa sức mạnh không bao giờ cạn để canh tân, nó vang dội trong đêm Thánh này một cách mạnh mẽ. Đặc biệt, đây là Giáng Sinh của Đại Năm Thánh, kỷ niệm sống động hai ngàn năm của Chúa Ki tô, kỷ niệm cuộc sinh hạ kỳ diệu, một biến cố đã ghi dấu điểm khởi đầu mới của lịch sử.
Ngày hôm nay, Ngôi Lời đã làm người và sống giữa chúng ta. Ngày hôm nay, trong đêm cực thánh này, thời gian được mở ra đến cõi đời đời, bởi vì Ngài, lạy Chúa Ki tô, Ngài đã từ trời cao mà sinh xuống giữa chúng con. Ngài sinh xuống trần gian từ cung lòng của một người nữ đã được chúc phúc hơn mọi người nữ. Ngài là Con Cha Đấng Tối Cao. Sự thánh thiện của Ngài đã thánh hóa thời gian của chúng con một lần vĩnh viễn luôn mãi. Những ngày tháng, những thế kỷ, những ngàn năm. Với sự Giáng Sinh của Ngài, Ngài đã làm cho thời gian trở thành cái hôm nay của ơn Cứu Độ.
Hôm nay Đấng Cứu Thế đã Giáng Sinh cho chúng ta. Đêm nay chúng ta cử hành mầu nhiệm Bê lem, mầu nhiệm của một đêm đặc biệt, cách nào đó, nằm trong thời gian, vừa đồng thời vượt qua thời gian. Trong cung lòng của Đức Nữ Đống Trinh, một Con Trẻ đã sinh ra. Một máng cỏ đã trở thành cái nôi cho Đấng làm sự sống đời đời. Lễ Giáng Sinh là lễ của sự sống, bởi vì Ngài, lạy Chúa Giêsu, khi đến trong thế gian như một người trong chúng con, Ngài đã chúc phúc cho giờ Ngài sinh ra, một giờ nói lên cách tượng trưng cho mầu nhiệm của cuộc sống con người, vừa liên kết những đau khổ của sự sinh hạ với niềm hy vọng, liên kết đau khổ với niềm vui. Tất cả những điều này đã xảy ra tại Bê lem. Một người mẹ đã sinh con, một con người đã sinh ra trong trần gian, đó là Con Người, đó là mầu nhiệm của Bê lem.
Với niềm cảm xúc trong tâm hồn, tôi nghĩ lại những ngày hành hương Năm Thánh của tôi tại Thánh Địa, tâm trí tôi trở lại với hang đá, nơi tôi đã được dịp dừng lại cầu nguyện. Tôi hôn kính trong tinh thần, hôn kính miền đất được chúc phúc kia, nơi phát sinh niềm vui không bao giờ tàn cho thế giới. Tôi lo âu nghĩ đến những nơi Thánh, và đặc biệt là thành Bê lem, nơi mà buồn thay, vì hoàn cảnh chính trị khó khăn, không thể nào diễn ra những lễ nghi Giáng Sinh với sự long trọng như mọi khi. Tôi mong muốn sao cho trong đêm nay, những cộng đoạn Kitô tại đó, cảm thấy được tình liên đới trọn đầy của toàn thể Giáo Hội đối với họ.
Thưa anh chị em rất thân mến tại Bê lem, chúng tôi gần gũi với anh Chị em với lời cầu nguyện thật sốt sắng. Cùng với anh chị em, chúng tôi rung động vì số phận của toàn vùng Trung Đông. Nguyện xin Thiên Chúa lắng nghe lời chúng ta khẩn cẩu. Ước chi từ quãng trường này, trung tâm của thế giới Công Giáo, được vang lên một lần nữa với sức mạnh đã được canh tân, vang lên lời loan báo của các thiên thần cho các mục đồng : "Vinh danh Thiên Chúa trên trời cao, và hòa bình dưới thế cho mọi người được Chúa yêu thương ".
Niềm hy vọng của chúng ta không thể nào bị lung lay, cũng như không thể nào thiếu đi sự khâm phục những gì chúng ta đang cữ hành. Ngày hôm nay, Đấng ban hòa bình cho thế gian Giáng Sinh. Hôm nay đấng Cứu Thế Giáng Sinh cho chúng ta. Ngôi Lời nằm khóc trong máng cỏ, Ngài được gọi là Giêsu, nghĩa là Thiên Chúa cứa rỗi, bởi vì Ngài sẽ cứu dân Ngài khỏi mọi tội lỗi. Không phải trong một lâu đài mà Đấng Cứu Chuộc sinh ra, Đấng có sứ mạng thiết lập lại vương quốc đời đời và phổ quát. Ngài sinh la trong một chuồng loài vật và sống giữa chúng ta. Ngài thắp lên trong thế gian ngọn lửa tình yêu Thiên Chúa và ngọn lửa này sẽ không bao giờ tắt. Ước chi ngọn lửa này cháy lên trong tâm hồn như một ngọn lửa tình bác ái hữu hiệu, một tình bác ái trở thành sự tiếp đón và nâng đỡ cho biết bao anh chị em bị thử thách bởi sự nghèo cùng và đau khổ.
Lạy Chúa Giêsu mà chúng con chiêm ngắm trong cảnh nghèo hèn tại Bê lem, xin hãy làm cho chúng con trở nên những chứng nhân của tình yêu Chúa, của tình yêu đã thôi thúc Ngài cởi bỏ vinh quang Thiên Chúa để sinh ra sống giữa con người và chịu chết vì chúng con. Trong khi Đại năm Thánh bước vào giai đoạn cuối cùng, xin Ngài hãy đổ vào chúng con Thánh Thần của Ngài, ngõ hầu ân sủng của mầu nhiệm Nhập Thể khơi dậy nơi mọi tín hữu, sự dấn thân sống cách quảng đại hơn, phù hợp hơn với sự sống mới do bí Tích Rửa tội trao ban. Xin Chúa hãy làm cho ánh sáng của đên hôm nay sáng hơn ban ngày, chiếu sáng trên tương lai và hướng dẫn những bước tiến của nhân loại trên con đường hòa bình.
Lạy Chúa, hoàng Tử của hòa bình, Đấng Cứa Chuộc đã Giáng Sinh vì chúng con, xin hãy đồng hành với Giáo hội Chúa trên con đường đang mở ra, dẫn đưa Giáo Hội bước vào ngàn năm mới

 

GS-15: Những điều thánh sử Luca muốn nói

Lễ đêm Giáng sinh: Lc 2,1-14
A. Hạt giống...
Những điều thánh sử Luca muốn nói :
 

Đức Giêsu là một nhân vật có thật trong lịch sử : Ngài sinh ra vào thời hoàng đề Augustô ra chiếu chỉ: GS-15

1. Đức Giêsu là một nhân vật có thật trong lịch sử : Ngài sinh ra vào thời hoàng đề Augustô ra chiếu chỉ truyền kiểm tra dân số.
2. Ngài sinh ra trong cảnh nghèo nàn túng thiếu : trong hang súc vật, nằm trong máng cỏ, chung quanh Ngài ngoài Đức Maria và thánh Giuse chỉ có súc vật và một số người chăn chiên.
3. Nhưng Ngài chính là Con Thiên Chúa vinh quang, là Đức Kitô, là Đấng Cứu tinh : lời các thiên sứ.
B.... nẩy mầm.
1. “Anh em cứ dấu này mà nhận ra Ngài : anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tả, nằm trong máng cỏ” (câu 12) : Văn thể truyền tin luôn cho một dấu chỉ. Thông thường những dấu chỉ đều là những sự việc phi thường (x.1,18-20.36 : cho Dacaria và cho Maria). Ở đây dấu chỉ rất tầm thường : một đứa bé quấn trong khăn nằm trong máng cỏ. Có lẽ giá trị của nó chỉ là chứng minh cho những người chăn chiên biết rằng đó là điều có thật chứ không phải là mơ. Thực ra Luca sâu sắc hơn nhiều : sự nghèo nàn chính là đặc tính của Đức Giêsu. Ngày nay cũng vậy, Chúa mời gọi chúng ta nhận ra Ngài qua dáng vẻ rất tầm thường của những người nghèo hèn.
2. Một vị quan lớn mở tiệc mời nhiều người đến dự. Tất cả các người được mời đều ăn mặc sang trọng và dùng xe đi đến. Trong số ấy có một người khách già. Rủi thay vì già yếu nên ông cụ này khi xuống xe đã trượt chân té vào vũng nước bùn. Những khách khác thấy vậy cười nhạo ông. Xấu hổ và cảm thấy mình không xứng đáng, ông quyết định quay về. Gia nhân nài nỉ cách mấy ông cũng không chịu ở lại dự tiệc. Khi đó vị quan chủ tiệc bước ra sân, đi tới chỗ vũng nước đó, rồi cũng cố tình té ngã vào vũng nước. Thế là quần áo của ông quan cũng dơ dáy y như cụ già kia. Mọi người chung quanh chẳng ai dám cười nhạo nữa. Sau đó vị quan lớn cầm tay ông cụ đưa vào phòng tiệc. Ông cụ chẳng còn lý do nào để chối từ nữa. (Góp nhặt)
Việc làm của vị quan lớn ấy thật không ai ngờ, nó giúp ta hiểu được phần nào sự bất ngờ đến kinh ngạc của việc Con Thiên Chúa nhập thể làm người.
3. Nào ai tưởng tượng nổi mức độ nhập thể của Con Thiên Chúa :
- Ngài không chỉ nhập thể bằng cách nhập vào một thể xác con người (như các vị thần trong những chuyện thần thoại)
- Mà còn mang thân phận người nghèo, hạng người thấp kém trong xã hội
- lại còn mang thân phận tội nhân, hạng rốt cùng trong xã hội
- Và thân phận một tử tội, hạng bị xã hội loài người muốn tiêu trừ.
Tóm lại, Ngài đã xuống tới mức zero (kenose = trở thành hư không), để từ đó mang loài người vươn lên : “Thiên Chúa xuống làm người để nâng loài người lên làm Thiên Chúa”.
4. Mầm khác :

 

GS-16: Một phương rất lạ của Matthêu để mở đầu sách Phúc Âm

LỄ VỌNG GIÁNG SINH
Matthêu 1,1-25
 

Đối với độc giả ngày nay dường như Matthêu đã chọn một phương pháp rất lạ để mở đầu cho: GS-16

Đối với độc giả ngày nay dường như Matthêu đã chọn một phương pháp rất lạ để mở đầu cho sách Phúc Âm của ông. Giới thiệu ngay từ đầu một bản danh sách dài đầy những tên là một phương thức rất dễ làm nản lòng độc giả. Nhưng đối với người Do thái thì cách này rất là tự nhiên, lại càng lý thú và thật rất cần thiết để khởi đầu tiểu sử  cho bất cứ cuộc đời nào.
Người Do thái rất chú trọng đến gia phả. Matthêu gọi sách này là “phổ hệ của Chúa Giêsu Đấng Cứu Thế”. Đối với người Do thái, đây là một câu nói thông thường và có ý nghĩa là chép lại lai lịch của một người kèm theo một vài câu giải thích ở những chỗ cần. Trong Cựu Ước chúng ta thường gặp những danh sách về dòng dõi những người danh tiếng như: Ađam, Noê, Sem, Têrah... Khi Giosephus, một sử gia lỗi lạc Do thái  viết lại tiểu sử của chính mình, ông đã khởi sự bằng một gia phả mà ông cho biết là có sẵn trong văn khố.
Người Do thái quan tâm đến phổ hệ, vì họ đã bảo tồn được một kho tàng có thể nói là quí nhất về tính thuần chủng của dân tộc họ. Nếu trong một người nào hơi có sự pha trộn dòng máu ngoại bang, người đó mất quyền được gọi là người Do thái và quyền là thành viên của dân Chúa Trời. Tỷ như thầy tư tế thì phải buộc viện dẫn một số phổ hệ không đứt đoạn truy ngược đến Aaron. Nếu cưới vợ thì người nữ ông cưới phải đưa ra phổ hệ của nàng, ít nhất là năm đời về trước. Khi Ezra tổ chức lại sự thờ phượng, khi dân từ xứ lưu đày trở về và ông tái lập chức tư tế để điều hành lại “thì con cháu của Habagia, con cháu của Hacót và con cháu của Batxilai bị ngăn cản không cho hành chức và bị kể là ô uế vì các người ấy tìm gia phả mình nhưng không tìm được” (2, 61,62) Sổ gia phả này do Tòa Án Tối Cao giữ. Vua Hêrôđê thường bị người Do thái thuần chủng khinh rẻ vì ông là người lai Êđôm, và vấn đề gia phả quan trọng đến nỗi chính Hêrôđê đã phải truyền thiêu hủy các sổ gia phả chính thức để không ai có thể chứng minh phổ hệ của mỉnh thuần khiết hơn ông. Đối với chúng ta dường như đây là một khúc sách chẳng có gì thích thú, nhưng đối với người Do thái phổ hệ của Chúa Giêsu có thể truy ngược đến tận đời Abraham gây một ấn tượng sâu đậm nhất.
Sau nữa cũng nên lưu ý rằng phổ hệ này được sắp đặt rất kỹ lưỡng, chia làm ba nhóm, mỗi nhóm mười bốn người. Thật ra phổ hệ được sắp đặt có kỹ thuật nhưng không ngoài mục đích cho người ta dễ nhớ nằm lòng. Chúng ta nên luôn nhớ các sách Phúc Âm được soạn thảo và chép hàng trăm năm trước khi có bất cứ sách nào được in ra. Rất ít người có thể sở hữu các bản sao chép, và nếu muốn có họ buộc phải học thuộc lòng. Do đó phổ hệ này được sắp xếp theo một cách thức cho dễ học thuộc. Người Hêbơrơ không có ký hiệu chỉ số đếm nhưng các mẫu tự được dùng được dùng làm số như ta dùng chữ A chỉ số 1, B chỉ số 2... Các phụ âm của tên Đavít trong tiếng Hêbơrơ là DWD, trong tiếng Hêbơrơ Do thái chỉ số 4, W chỉ số 6, vậy DWD là 4+6+4: 14. Gia phả này chứng tỏ Chúa Giêsu là con vua Đavít, được sắp đặt để người ta học thuộc và dễ ghi khắc vào trí nhớ.
Cách sắp đặt phổ hệ này có một biểu tượng về cuộc sống con người. Nó được sắp đặt làm ba phần dựa trên ba giai đoạn lớn của lịch sử Do thái . Phần thứ nhất ghi những sự kiện từ đầu đến đời vua Đavít, vị vua lớn nhất của Is-ra-en đã làm cho dân Do thái thành một dân hùng mạnh bậc nhất của thế giới. Phần thứ hai ghi những sự kiện cho đến cuộc lưu đày qua Babylon. Đó là phần nói đến giai đoạn hổ nhục, bi đát và tai họa của dân tộc. Phần thứ ba ghi đoạn sử cho đến thời Chúa Giêsu , là Đấng giải phóng loài người khỏi vòng nô lệ, đã cứu vớt khỏi thảm họa, và trong đó cảnh bi đát đã biến thành sự thắng trận khải hoàn. Ba phân đoạn này cũng tiêu biểu cho ba giai đoạn trong lịch sử thuộc linh (spirituel) của loài người:
1. Loài người được dựng nên cách cao trọng: “Thiên Chúa dựng nên loài người giống như Ngài, Ngài dựng nên loài người giống hình ảnh Ngài” (Kn 1,27). Loài người được dựng nên giống hình ảnh Ngài. Ý định của Thiên Chúa là muốn cho con người được cao trọng. Loài người được dựng nên để tâm giao với Chúa. Con người được sáng tạo để được thân cận với Chúa, như Xicêrô đã phát biểu: “Loài người nhất thiết phải là người sinh ra để làm vua”.
2. Loài người đánh mất sự cao trọng: Thay vì làm tôi tớ Thiên Chúa , con người đã trở nên nô lệ cho tội lỗi. Như Chesterton đã nhận định: “Con người bây giờ không còn là con người đúng như ý nghĩa nguyên thủy nữa”. Con người đã dùng ý chí tự do của mình để bài bác và bất tuân Thiên Chúa thay vì bước vào mối thân hữu và tâm giao với Ngài. Con người đã trở nên kẻ phản loạn chống nghịch Thiên Chúa thay vì kết thân với Ngài. Để cho con người theo ý mình thì con người đã làm hỏng chương trình và kế hoạch của Thiên Chúa  trong công cuộc sáng tạo.
3. Loài người có thể phục hồi sự cao trọng: Tuy thế Thiên Chúa không bỏ mặc con người theo phương thế của riêng họ. Ngài không cho phép con người bị tiêu diệt bởi chính sự điên dại của họ. Kết thúc câu truyện không phải là một kết thúc bi đát. Thiên Chúa đã sai Con Ngài là Chúa Cứu Thế Giêsu đến trong thế gian để cứu con người khỏi vũng bùn tội lỗi là nơi loài người bị đắm chìm, và giải thoát con người khỏi xiềng xích của tội lỗi mà con người đã dùng để buộc mình. Cũng bởi Chúa Giêsu , con người có thể phục hồi mối tương giao đã mất với Thiên Chúa . Trong bản gia phả của thánh Matthêu, ta thấy vương quyền đã thắng, thảm cảnh của tự do đã bị đánh bại, và vinh quang của tự do được phục hồi. Trong ơn thương xót của Thiên Chúa, đó là truyện tích của cả nhân loại nói chung và của mỗi cá nhân nói riêng.
Phân đoạn này nhấn mạnh hai điều đặc biệt về Chúa Giêsu:
a) Ngài là con vua Đavít: thật vậy, chính vì để chứng minh điều đó mà gia phả này đã được soạn thảo. Đó là sự kiện được Tân Ước nhấn mạnh, đó là điều Phêrô khẳng định trong bài giảng đầu tiên. Phaolô nói về Chúa Cứu Thế Giêsu là “theo xác thịt thì bởi dòng dõi vua Đavít sinh ra. Tác giả sách Khải huyền nghe Chúa Giêsu phục sinh phán rằng: “Ta là chồi và hậu tự của Đavít”. Khi Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem lần chót dân chúng chào mừng “Ngài là con vua Đavít”. Như vậy, đây là sự kiện rất quan trọng. Rõ ràng là quần chúng, đám người tầm thường đã xưng tụng Chúa Giêsu là con vua Đavít. Người Do thái là dân đang trông đợi, họ không bao giờ quên, không bao giờ có thể quên rằng họ là tuyển dân của Thiên Chúa . Dầu lịch sử của họ là một chuỗi dài đầy tai họa, dầu trong chính thời đó họ là một dân bị trị, họ chẳng bao giờ quên định mệnh của mình. Giấc mơ của đám bình dân là sẽ có một hậu tự của Đavít đến lãnh đạo họ tới chốn vinh quang mà họ tin rằng họ có quyền hưởng. Như vậy có nghĩa là Chúa Giêsu là lời giải đáp cho giấc mơ của con người.
Thật ra loài người nhiều khi chẳng thấy như vậy, họ thấy giải đáp cho giấc mơ của họ nằm trong quyền thế, giàu sang, vật chất đầy đủ và trong sự thực hiện những tham vọng họ hằng ôm ấp. Nhưng nếu có bao giờ giấc mơ về bình an, tốt đẹp, cao trọng, thỏa lòng được thực hiện thì chỉ có thể thực hiện được trong Chúa Giêsu . Chúa Giêsu và cuộc đời dâng hiến của Ngài là lời giải đáp cho giấc mơ của con người. Vì con người là con của cõi vĩnh cửu, nên con người luôn luôn bị giấc mơ của mình ám ảnh, và con đường duy nhất để thực hiện giấc mơ ấy là trong Chúa Giêsu .
b) Ngài là thành tựu của lời tiên tri: trong Ngài sứ điệp của các tiên tri mới thành sự thật. Ngày nay chúng ta có khuynh hướng coi thường lời tiên tri. Chúng ta thiếu quan tâm đến việc tìm các dụ ngôn của Cựu Ước được thành tựu trong Tân Ước. Trong khi đó lời tiên tri hàm chứa một chân lý trọng đại vĩnh cửu. Chân lý đó là vũ trụ có mục đích đã được Thiên Chúa hoạch định để một số sự việc xảy ra theo ý Ngài muốn. Đằng sau lời tiên tri có một sự thật vĩnh hằng là cuộc sống và thế giới không phải ở trên con đường vô định mà là trên một con đường dẫn tới mục đích của Chúa.

 

GS-17: Giữa đêm khuya thanh vắng, một thiên sứ sáng chói thình lình xuất hiện

Lễ đêm
Luca 2, 1-14
 

Giữa đêm khuya thanh vắng, một thiên sứ sáng chói thình lình xuất hiện với đám mục đồng: “Này: GS-17

Giữa đêm khuya thanh vắng, một thiên sứ sáng chói thình lình xuất hiện với đám mục đồng: “Này, tôi báo cho anh em một tin vui mừng. Tin này sẽ đem lại niềm vui lớn cho mọi người. Đêm nay, Chúa Cứu Thế, Đấng Cứu Tinh của nhân loại đã ra đời tại Bêlem”.
Ngài là Đấng mà các tổ phụ của dân Is-ra-en lâu nay vẫn mong đợi. Ngài là Đấng Thiên Chúa hứa ban ngay sau khi ông bà nguyên tổ phạm tội, Ngài chính là “dòng dõi của người nữ sẽ đạp giập đầu rắn” (St 3, 15). Bảy trăm năm trước khi Ngài sinh ra Isaia đã tiên báo: “Dân đi trong tối tăm đã thấy ánh sáng chói lọi... Chính Chúa sẽ ban cho các ngươi một điềm lạ: một trinh nữ sẽ thụ thai, sinh một con trai, đặt tên là Emmanuel: Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta” (7, 14 ;9, 5,6). Và tiên tri Mikêa, sống đồng thời với Isaia, đã thốt lên những lời đầy an ủi: “Hỡi Bêlem, nhỏ bé trong đất Giuđa, song từ nơi ngươi sẽ xuất hiện Đấng cai trị Is-ra-en , nguồn gốc Ngài có từ xa xưa, từ trước muôn đời, Ngài sẽ cai trị với sức mạnh của Chúa Giavê... Chính Ngài sẽ đem lại cảnh thái bình” (5, 1-4). Tin mừng này cũng được báo trước cho chàng Giuse: “Maria sẽ sinh con trai, hãy đặt tên là Giêsu vì Ngài sẽ cứu dân Ngài khỏi tội lỗi” (Mt 1,21). Tin mừng này có nghĩa là Thiên Chúa toàn năng, Đấng chủ tể vũ trụ đã sai Đức Giêsu giáng trần là Đấng cứu chuộc loài người.
Trong Tân Ước có hai sách ghi lại sự giáng sinh của Chúa Cứu Thế Giêsu, và có bảy lời chứng về sự sinh ra của Người do những người có lòng tin kính thốt ra. Chúng ta hãy nghe phản ứng của các vị trước Chúa Hài Nhi. Tư tế Zacaria đã ca tụng Thiên Chúa vì Ngài đã viếng thăm loài người (Lc 1,86). Nhóm mục đồng khi được chứng kiến điều thiên sứ báo tin đã ra về miệng không ngớt lời ca tụng Đấng Cứu Thế (Lc 2, 20). Sau đó các nhà thông thái cũng nhìn nhận Đấng Cứu Thế như Vua của họ (Mt 2,2). Cụ già Simêon được mãn nguyện xưng tụng Chúa Cứu Thế này như Ánh sáng cho nhân loại (Lc 2, 32). Trong bảy chứng nhân, còn có ba phụ nữ nữa. Êlizabeth ca tụng Đấng Cứu Thế như là Đấng ban hạnh phúc (Lc 1, 41-45). Đức Maria ca tụng Đấng cứu Thế như là Đấng giải phóng do lòng thương xót. Còn cụ bà Ana tôn vinh Chúa Cứu Thế là Đấng đem lại ơn cứu độ.
Từ môi miệng của các vị trên đây chúng ta có được một bức tranh về Hài Nhi Giêsu. Tất cả đều đồng thanh nhấn mạnh Ngài là Đấng Cứu Thế, Đấng đem ánh sáng, hạnh phúc, sự xót thương và cứu chuộc cho loài người. Kể từ biến cố giáng sinh cho đến nay, kể từ ngày tin mừng được thiên sứ báo cho những người chăn chiên cho đến nay, có hằng hà sa số sự kiện chứng minh cho chân lý của những lời trên đây. Quả thế, lịch sử cứu rỗi loài người tập trung nơi sự xuất hiện của Chúa Giêsu , và sự giáng sinh của Ngài là trung tâm điểm của lịch sử ấy. Chúa Giêsu Kitô, Con Một của Thiên Chúa đã lìa bỏ vinh quang thiên đàng để thực sự trở nên một người như chúng ta với sứ mạng giải thoát loài người chúng ta khỏi tội lỗi, để sau này hai người môn đệ của Ngài đã phải khảng khái tuyên bố trước Hội Đồng Quốc Gia: “Ngoài Chúa Giêsu , không ai có quyền năng cứu rỗi loài người, vì dưới bầu trời này, chúng ta không thể kêu cầu danh nào khác để được cứu rỗi” (Cv 4,12).
Trong câu truyện giáng sinh lạ lùng này, chúng ta thấy rằng khi sắp sinh Chúa Giêsu, Giuse và Maria khi đến Bêlem, dừng chân lại nơi một quán trọ để tạm trú qua đêm, tuy nhiên người chủ quán nhìn họ và cho biết trong hàng quán không còn chỗ. Đêm ấy, Hài Nhi Giêsu sinh ra trong một chuồng bò. Đây là một bức tranh kiểu mẫu nói lên cách đối xử của loài người. Khi Con Thiên Chúa giáng thế, không có chỗ nào trong lòng loài người. Sau này, khi suy nghĩ lại biến cố trên, nhà thần học Gioan thốt lên: “Chúa Cứu Thế đã đến thăm thế giới do chính Ngài sáng tạo, nhưng thế giới đã không nhận biết Ngài” (Ga 1,10).
Nhiều người trong chúng ta lấy làm tiếc cho anh chàng chủ quán! Trước đây ít lâu, một giáo sư tâm lý học của một trường đại học tại Hoa kỳ ra một bài thi để dò xem ý tưởng của bốn mươi sinh viên trong lớp của mình. Trước hết ông bảo họ lấy giấy bút ra viết chữ  “lễ giáng sinh”,  rồi ông nói:  “bây giờ các anh chị hãy viết vào sau chữ ấy cái ý nghĩ đầu tiên mà các anh chị liên tưởng đến về ngày lễ ấy”. Khi họ nộp quyển, ông coi lại thì thấy có những chữ sau đây: “cây giáng sinh”, “dây kim tuyến, “tặng phẩm”, “gà tây”, “biệt ca lễ giáng sinh”,và “Già Noel” không có một ai viết “ngày Chúa Giêsu ra đời”. Phải chăng ngày nay lòng của nhân loại vẫn không còn chỗ cho Chúa Giêsu cũng như hai ngàn năm trước đây Kinh Thánh đã chép “vì nhà quán không có chỗ” cho Ngài chăng?
Chắc chắn, nếu hôm nay chúng ta nói không có chỗ cho Chúa trong lòng chúng ta, chúng ta sẽ mang tội nặng hơn, chúng ta biết Ngài giáng sinh, biết Ngài đã chết và sống lại, đã biết công ơn cứu chuộc của Ngài, thế mà lòng chúng ta thường chất chứa ngổn ngang biết bao sự việc của đời đến nỗi không có chỗ nào cho Chúa Giêsu. Chúa vinh hiển đã giáng trần, đã công bố sứ điệp của Ngài. Ngài đã đến tìm và cứu những kẻ bị hư mất. Ngài đến để thấy rằng những người nghèo khổ cùng khốn được nghe giảng Tin Mừng của niềm vui lớn lao, bày tỏ cho chúng ta ân điển của Thiên Chúa , là ân điển đem lại ơn cứu rỗi cho tội nhân, vậy mà tội nhân như chúng ta lại không có chỗ cho Ngài... Có điều đáng chú ý là chẳng bao giờ Chúa Giêsu ép buộc chúng ta phải mở cửa lòng ra cho Ngài vào. Ngài cứ đứng bên ngoài cho đến khi nào ta tự nguyện mở cửa lòng để đón mời Ngài vào;
          Chúa mang tội bạn, kia rồi,
          Bạn nay có chỗ đón mời Ngài chưa?
          Chúa đang gõ cửa sớm trưa,
          Nỡ nào bạn để Ngài chờ hoài công?
Bạn đã đón nhận Ngài rồi, nhưng bạn còn phải là thiên sứ loan báo Tin mừng này nữa:
          Khi bạn đã thỏa mãn ngắm nhìn
          Hài Nhi dễ thương nằm trong máng cỏ,
          Bạn dừng vội bỏ đi.
          Hãy để đôi mắt Hài Nhi trở thành đôi mắt của bạn,
          và miệng của Hài Nhi trở thành miệng của bạn.
          Hãy để bàn tay Hài Nhi trở thành bàn tay của bạn,
          Nụ cười của Hài Nhi trở thành nụ cười của bạn,
          và lời chào của Hài Nhi thành lời chào của bạn.
          Và bạn sẽ nhận ra:
          mỗi một con người là anh chị em của bạn
          Khi bạn chia vui sẻ buồn với họ,
          thì Con Thiên Chúa thực sự giáng trần.
          Bạn hãy vui mừng lên:                          

 

GS-18: Ngôi Lời đã trở thành xác phàm ở giữa chúng ta, đầy ân sủng và chân lý”

Gioan 1, 1-18
 

Đây là câu nói lên lý do tông đồ Gioan viết lên Phúc Âm thứ tư. Ông đã suy nghĩ và nói về Lời: GS-18

Đây là câu nói lên lý do tông đồ Gioan viết lên Phúc Âm thứ tư. Ông đã suy nghĩ và nói về Lời Chúa Trời, là Lời quyền năng sáng tạo và sinh động, vốn là tác nhân của công cuộc sáng tạo vũ trụ, là Lời hướng dẫn điều khiển, kiểm soát, thiết lập trật tự trong vũ trụ, đặt tâm trí con người. Đó là những ý niệm người Do thái và Hi lạp đều quen biết. Giờ đây, một điều bất ngờ và khó tin nhất, ông nói hết sức đơn giản rằng "Ngôi Lời đã từng sáng tạo thế giới ấy, phần lý trí vốn kiểm soát trật tự thế giới ấy, đã trở thành một con người mà chúng ta đã nhìn tận mắt". Từ ngữ  nhìn thấy (theasthai) được Tông đồ Gioan dùng, luôn xuất hiện trong Tân Ước, hơn hai mươi lần, và luôn luôn chỉ sự nhìn thấy thật sự có tính cách vật lý. Đây không phải là sự nhìn thấy bằng đôi mắt linh hồn hay tâm trí. Gioan tuyên bố: Ngôi Lời đã đến trong thế gian bằng hình thể con người và được nhìn thấy bằng mắt loài người. Ông tiếp: "Nếu các bạn muốn thấy Ngôi Lời sáng tạo ấy, lý trí kiểm soát tất cả ấy ra sao thì hãy nhìn vào Chúa Giêsu ở Nazareth".
Đây là chỗ tông đồ Gioan đã tách rời khỏi mọi tư tưởng có trước ông. Đây là điều hoàn toàn mới mà tông đồ Gioan đưa vào thế giới Hi lạp, là đối tượng của Phúc Âm này. Thánh Augustinô cho biết trước khi trở thành kitô hữu , ông đã đọc và nghiên cứu các triết gia ngoại đạo, ông đã đọc nhiều sách, nhưng chẳng hề đọc thấy là Ngôi Lời đã trở thành xác thể.
Đối với người Hi lạp, đó là một việc không thể có được. Đó là chuyện duy nhất không người Hi lạp nào mơ tưởng tới. Với người Hi lạp, Thượng đế chẳng bao giờ có thể mặc lấy một thân xác con người như họ, vì thân thể là cái xấu xa gian ác, là nhà ngục giam cầm linh hồn, là mồ mả trong đó tâm linh bị giam giữ. Nhà hiền triết cổ Hi lạp là Plutarch không tin cả việc Chúa Trời có thể kiểm soát trực tiếp mọi việc xảy ra trên thế gian. Ngài phải làm việc đó qua các người đại diện hoặc trung gian, vì theo ông, chẳng có gì xỉ nhục Chúa Trời cho bằng bảo rằng Ngài đã dính dáng vào việc trần gian. Philô cũng đồng quan điểm như vậy, ông bảo:"Sự sống của Chúa Trời đã không xuống với chúng ta, nó cũng không cần đến một thân xác". Hoàng đế La mã theo phái Khắc kỷ là Marcus Aurelius khinh miệt thân xác khi so sánh với tâm linh: "Vậy hãy khinh bỉ thân xác, máu xương, với toàn thể các mạng lưới, dây thần kinh, mạch máu , sự cấu tạo của toàn thể cơ thể là hư hoại". Vì thế, đây là điều mới mẻ làm rúng động tất cả: Chúa Trời đã trở thành một người, Chúa Trời bước vào cuộc đời chúng ta đang sống, vĩnh cửu lại xuất hiện trong thời gian, Đấng Tạo Hóa xuất hiện giữa tạo vật đến độ mắt người có thể nhìn thấy được.
Quan niệm về Chúa Trời mặc lấy hình thể con người là quan niệm quá mới mẻ làm người ta choáng váng, nên không có gì ngạc nhiên khi thấy ngay trong Hội Thánh một số người cũng không tin. Điều Tông đồ Gioan nói là Ngôi Lời đã trở nên "xác thịt". Chính từ ngữ này tông đồ Phaolô đã dùng nhiều lần để mô tả bản tính hư hoại của con người với tất cả những nhược điểm dễ dàng phạm tội của nó. Chính ý nghĩ dùng từ ngữ ấy ứng dụng cho Chúa Trời đã là một cái gì khiến người ta phải choáng váng. Cho nên trong Hội Thánh đã nổi lên một số người theo Hiện-hình-thuyết, một từ ngữ Hi lạp có nghĩa là giả bộ như, giống như. Số người này chủ trương rằng: Chúa Giêsu chỉ là bóng ma, một sự hiện hình, thân thể Ngài không phải là thân thể thật, Ngài không thật sự cảm thấy đói khát hay mỏi mệt, buồn rầu hay đau đớn, thật ra Ngài là một thần linh không thân xác trong một cái lốt, có vẻ như một người mà thôi. Gioan đối phó với các người ấy cách trực tiếp hơn qua bức thư thứ nhất: “Muốn biết điều họ giảng dạy có thật do Thánh Linh cảm ứng không, chỉ cần xem nó có phù hợp giáo lý: Chúa Cứu Thế Giêsu, Con Thiên Chúa, đã trở thành người, mang thân thể phàm nhân  hay không. Nếu có,  đó là do Thiên Chúa. Nếu không, lời giảng dạy của họ không do Thiên Chúa , nhưng do thần linh Kể Phản Chúa, như anh em đã nghe nó xuất  hiện”  (1Ga 4,2,3). Thật ra tà giáo này phát sinh từ một thái độ tin kính sai lầm, từ tinh thần sợ phải nói rằng Chúa Giêsu quả là một con người có thật, trọn vẹn và đích thực. Với Tông đồ Gioan, thì đó là tinh thần chống lại toàn thể Phúc Âm của Kitô giáo.
Rất có thể chúng ta thường quá nhiệt thành bảo vệ sự kiện Chúa Giêsu hoàn toàn là Chúa Trời, đến nỗi có khuynh hướng quên sự kiện Ngài cũng hoàn toàn là một con người. Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, có lẽ không như các chỗ khác trong Tân Ước, ở đây chúng ta thấy trọn vẹn nhân tính của Chúa Giêsu đã được công bố cách vẻ vang. Trong Chúa Giêsu, chúng ta thấy Thiên Chúa sống như đúng Thiên Chúa sẽ phải sống nếu Ngài làm người. Giả sử không nói điều gì khác về Chúa Giêsu , chúng ta vẫn có thể bảo rằng Ngài đã tỏ cho chúng ta biết Thiên Chúa sẽ sống cuộc đời mà chúng ta phải sống nếu Ngài là một người.

 

GS-19: Hội Thánh  Chúa phải đương đầu với một vấn đề hết sức cơ bản

Gioan 1,1-18 (GS lễ ban ngày)
 

Chẳng bao lâu sau khi hình thành, Hội Thánh  Chúa phải đương đầu với một vấn đề hết sức cơ: GS-19

Chẳng bao lâu sau khi hình thành, Hội Thánh  Chúa phải đương đầu với một vấn đề hết sức cơ bản. Hội Thánh đã bắt đầu trong Do thái giáo. Lúc đầu toàn thể thuộc viên đều là người Do thái . Theo dòng dõi loài người, Chúa Giêsu là người Do thái , và với tất cả ý định cũng như chủ đích, Chúa Giêsu chẳng rời xứ Palestine ngoại trừ những lần thăm viếng ngắn ngủi các khu vực Tyrô, Siđôn và Đêcapôli. Đạo Kitô bắt đầu giữa dân Do thái, do đó điều không thể tránh là ngôn ngữ Do thái và các phạm trù tư tưởng của Do thái giáo đã được xử dụng.
Tuy thoát thai từ Do thái giáo, chẳng bao lâu Kitô giáo đã lan tràn vào phần thế giới rộng lớn hơn. Trong vòng ba mươi năm sau ngày Chúa Giêsu chịu chết, Kitô giáo đã lan tràn khắp vùng Tiểu Á, qua Hi lạp và đến La mã. Khoảng sáu mươi năm sau Chúa, cứ mỗi người Do thái tin Chúa có một ngàn người Hi lạp ở trong Hội Thánh. Các ý niệm của Do thái giáo hoàn toàn xa lạ với người Hi lạp. Chỉ cần lấy một thí dụ nổi bật, đó là người Hi lạp chẳng bao giờ nghe nói đến Đấng Messia. Trong khi đối với người Do thái , việc Đấng Messia ra đời là căn bản của niềm hi vọng, thì đối với người Hi lạp lại hoàn toàn xa lạ. Chính phạm trù các kitô hữu Do thái quan niệm và dùng để giới thiệu Chúa Giêsu lại chẳng có ý  nghĩa gì đối với một người Hi lạp. Vậy, vấn đề ở đây là: phải giới thiệu Kitô giáo cho thế giới Hi lạp như thế nào? Phải trình bày Chúa Cứu Thế và Đạo Kitô thế nào cho một người Hi lạp có thể hiểu được?
Vào khoảng một trăm năm sau Chúa, một người sống tại Êphêsô bị vấn đề đó lôi cuốn. Đó là tông đồ Gioan. Ông sống trong một thành phố Hi lạp, mà với họ, các ý niệm của Do thái giáo vô cùng xa lạ, không thể hiểu, có thể nói là quái dị nữa! Làm sao tìm ra một phương thức giới thiệu Kitô giáo cho người Hi lạp bằng các tư tưởng ngôn ngữ của chính  họ, để họ có thể đón nhận và hiểu được. Thình lình giải pháp cho vấn đề đã loé sáng trên ông. Trong cả hai nền tư tưởng Do thái và Hi lạp đều có quan niệm về LỜI. Đây là điều có thể vận dụng để thỏa mãn nhu cầu cho cả hai thế giới Do thái và Hi lạp. Đây là một điều thuộc về di sản của cả hai chủng tộc, một cái mà cả hai dân tộc có thể hiểu được.
Bây giờ chúng ta thử bắt đầu tìm hiểu bối cảnh của hai ý niệm Ngôi Lời (Logos). Trong bối cảnh Do thái, có tất cả  bốn đầu mối đóng góp vào ý niệm về Lời:
1. Với người Do thái, lời không chỉ là âm thanh, mà còn có sự hiện hữu độc lập, tích cực, có thể thực sự hành động. Giáo sư Piterson đã nhận định: "Với người Do thái , thì lời nói ra, sống động một cách đáng sợ... Nó là đơn vị năng lượng có năng lực. Nó bay ra như viên đạn tiến tới mục tiêu". Chính vì lý do đó mà người Do thái rất tiết kiệm lời nói. Tiếng Do thái không vượt quá mười ngàn từ, trong khi tiếng Hi lạp có đến hai trăm ngàn từ. Một thi sĩ hiện đại kể lại câu chuyện một người làm việc anh hùng nhưng không đủ lời thuật lại cho dân trong bộ tộc mình hiểu. Lập tức, có một người "bị khích động vì thấy cần phải xử dụng những từ ngữ thần kỳ", đứng lên kể lại câu chuyện bằng lời rất linh hoạt đến độ "lời ấy trở nên sống động, đi vào lòng người nghe". Ngôn ngữ của nhà thi sĩ đã có một sức mạnh. Lịch sử cũng có nhiều thí dụ về những điều như thế.
Đời vua Trần Nhân Tông, giặc Mông Cổ sang đánh nước ta, Trần Hưng Đạo thống lĩnh toàn quân đánh một trận đầu với quân Nguyên, thua to, phải lui về Vạn Kiếp, ngài chiêu quân tập mã, soạn "bài Hịch răn các tướng sĩ ", nhờ bài Hịch này mà tướng sĩ phấn khởi trong lòng. Giáo sư dương quảng Hàm nhận định: "trong việc bình Nguyên, bài Hịch này có ảnh hưởng rất lớn". Trong những ngày cách mạng Pháp, Lisle đã viết bản Marseillaise, bài ca đó đã thúc đẩy người ta làm cách mạng. Lời nói đã làm nên nhiều điều. Trong thế chiến II khi Anh quốc thiếu đồng minh và vũ khí, chính lời nói của thủ tướng Churchill phát thanh trên toàn quốc đã tác động trên dân chúng. Ở Đông phương lời nói lại càng có sức mạnh hơn nữa. Đối với người Trung Đông lời nói không chỉ là âm thanh, nó là năng lực làm việc. Có lần Ađam Smith đang du hành trong sa mạc, gặp một nhóm người Hồi giáo, họ chào đoàn người của ông bằng câu chào thông thường "Bình an cho các ông". Lúc ấy họ chưa kịp nhận ra ông theo đạo Kitô. Khi phát giác rằng mình chúc phúc cho kẻ phản đạo, họ vội vàng quay lại để xin thu hồi lời chúc phước ấy. Lời nói cũng như một vật gì đó được sai đi làm việc và có thể bị gọi về. Chúng ta phải hiểu đối với người Đông phương, lời nói có sự sống độc lập, đầy năng lực như thế nào.
2. Cựu Ước cũng cho thấy rõ về năng lực của lời nói. Isaac bị lừa dối chúc phúc  cho Giacop thay vì Esau, ông đã không làm gì được để rút lại lời chúc phúc ấy. Lời nói đi ra, và bắt đầu hành động thì không có gì ngăn chặn được nữa. Đặc biệt chúng ta thấy lời Thiên Chúa trong công cuộc sáng tạo thế gian. Vào mỗi giai đoạn trong công tác đó, chúng ta đều đọc thấy "Chúa phán". Lời của Chúa Trời là quyền năng sáng tạo, hành động và năng động của Thiên Chúa : "Một lời Chúa phán làm ra chính tầng trời..." (Tv 32,6) "Lời nói của Ta cũng vậy, đã ra từ miệng Ta, thì chẳng trở về luống nhưng, mà chắc sẽ làm trọn điều Ta muốn, thuận lợi công việc Ta đã sai khiến nó" (Is 55,11) . Tác giả sách Khôn Ngoan đã thưa với Chúa với tư cách là một Đấng"đã lấy lời Ngài mà làm nên muôn vật" (Kn 9,11). Trong Cựu Ước đâu đâu cũng có ý niệm về Lời quyền phép và sáng tạo đó. Cả đến lời nói của con người cũng có tác dụng sinh động, huống chi là Lời Thiên Chúa .
3. Trong đời sống tôn giáo của dân Do thái , sự phát triển của ý niệm về Lời của Thiên Chúa được nhấn mạnh rất nhiều. Hơn một trăm năm trước Chúa Giêsu giáng sinh, tiếng Hibála đã bị lãng quên. Cựu Ước được viết bằng tiếng Hibálai, nhưng dân Do thái không còn biết tiếng Hibálai nữa. Các học giả được học biết, nhưng đa số quần chúng thì không, họ xử dụng tiếng Hibálai phát triển gọi là tiếng Aram. Vì thế Kinh Thánh Cựu Ước phải được phiên dịch ra ngôn ngữ mà quần chúng có thể hiểu được, các bản dịch ấy gọi là Targums. Trong các nhà hội, Kinh Thánh được đọc bằng tiếng Hibálai, nhưng đọc xong được dịch ra tiếng Aram là tiếng phổ thông, bản Targums được dùng như bản dịch. Bản Targums đã được xuất hiện trong giai đoạn mà người ta say mê tính siêu việt của Thiên Chúa , nghĩa là vào thời kỳ mà người ta chẳng nghĩ gì khác hơn là khoảng cách và sự khác biệt của Thiên Chúa. Vì thế, những người thực hiện bản dịch Targums rất sợ phải gán cho Thiên Chúa những tư tưởng, cảm xúc, hành động và phản ứng của loài người. Nói theo chuyên môn thì họ cố gắng tối đa để tránh việc phân cách hóa Thiên Chúa. Mỗi khi cần đề cập, họ tìm đủ cách để tránh gán cho Thiên Chúa  các cảm xúc và hành động của con người. Cựu Ước lại thường xuyên nói về Thiên Chúa  theo cách nói của loài người, bất cứ chỗ nào có việc như thế xảy ra, thì kinh Targums thay thế mấy chữ Lời của Thiên Chúa cho tên của Ngài. Thí dụ: trong sách Xuất Hành, chúng ta đọc thấy "Moisen bảo dân chúng ra khỏi trại quân để nghênh tiếp Thiên Chúa " (Xh 19,17). Kinh Targums nghĩ rằng nói về Thiên Chúa như thế là theo cách thức quá loài người nên đã dịch lại rằng "Moisen bảo dân chúng ra khỏi trại để tiếp đó Lời Thiên Chúa "... Trong kinh Targums, mấy chữ Lời Thiên Chúa xuất hiện không dưới 320 lần ! Thật ra, đây chỉ là một cách diễn dịch, nói vòng quanh Danh Thiên Chúa . Các dịch giả chỉ xử dụng cách đó khi tránh gán cho Thiên Chúa những tư tưởng và hành động của loài người, thành ngữ Lời Thiên Chúa trở thành một trong các hình thức thông thường nhất trong cách diễn tả Do thái . Đây là một thành ngữ mà bất cứ người Do thái mộ đạo nào nghe cũng nhận ra, bởi vì họ rất thường nghe trong các nhà hội, khi Kinh Thánh được tuyên đọc.
4. Đến đây, chúng ta cần xem xét kỹ hơn vấn đề chúng ta đã nói đến trong phần đầu. Từ ngữ Hi lạp chỉ về Lời là Logos, nhưng Logos không phải chỉ có nghĩa là lời, mà còn có nghĩa là lẽ phải, lý trí. Với Tông đồ Gioan, cũng như các tư tưởng gia đã xử dụng ý niệm đó, thì cả hai ý trên luôn luôn liên hệ mật thiết với nhau. Bất cứ lúc nào dùng chữ Logos thì trong đầu họ luôn luôn có cả hai ý niệm: Lời của Thiên Chúa và lý trí của Thiên Chúa .
Người Do thái còn có một loại văn chương khác gọi là văn chương về sự khôn ngoan. Nền văn học về khôn ngoan đó đúc kết sự khôn ngoan của những bậc cao minh, hiền triết. Nó thường không có tính cách suy lý hay triết lý, mà là sự khôn ngoan thực tiễn cho cuộc sống, và cách xử thế. Trong Cựu Ước, điển hình cho loại văn chương khôn ngoan đó là sách Châm Ngôn, nhiều đoạn đã gán cho sự Khôn Ngoan một  thứ quyền lực kỳ bí, sáng tạo, ban sự sống và trường tồn. Trong các chương đó, sự Khôn Ngoan đã được nhân cách hóa, sự Khôn Ngoan đã được xem như là một tác nhân, cộng sự viên vĩnh viễn của Thiên Chúa . Khi đọc các chương đó, chúng ta nghe đi nghe lại âm vang của điều tông đồ Gioan nói về Ngôi Lời trong chương I của Phúc Âm thứ tư. Sự Khôn Ngoan hiện hữu vĩnh viễn, có chức vụ ban sự sống, có quyền năng sáng tạo mà Gioan gán cho Ngôi Lời, ông đã đồng nhất sự khôn Ngoan đó với Chúa Giêsu .
Cho nên, khi đi tìm phương thức truyền đạt Kitô giáo, tông đồ Gioan đã tìm được trong chính đức tin mình trong phần ký thuật của chính dân tộc ông về ý niệm Ngôi Lời, một từ ngữ thông thường tự nó không phải chỉ là một âm thanh, nhưng là một sự năng động, là Lời bởi đó Thiên Chúa tạo dựng thế giới, là Lời của kinh Targums diễn tả chính ý niệm và hành động của Thiên Chúa , sự Khôn Ngoan của văn chương Khôn Ngoan vốn là quyền năng đời đời sáng tạo và khai minh của Thiên Chúa. Vậy nên, tông đồ Gioan dường như nói:  "Nếu các bạn muốn thấy Ngôi Lời đó của Thiên Chúa , nếu các bạn muốn thấy Ngôi Lời làm cho thế giới này hiện hữu, ban ánh sáng và sự sống cho mọi người, thì các bạn hãy nhìn vào Chúa Giêsu. Trong Ngài, Ngôi Lời của Thiên Chúa đã đến giữa các bạn".
Như từ đầu chúng ta đã thấy rằng, vấn đề của tông đồ Gioan không phải là trình bày Kitô giáo cho thế giới Do thái, mà là cho thế giới Hi lạp. Vậy làm thế nào để ý niệm về Ngôi Lời này ăn nhập được với tư tưởng Hi lạp? Trong tư tưởng Hi lạp, ý niệm về Lời cũng có sẵn và đang chờ đợi để được xử dụng. Ý niệm đó đã xuất hiện từ lâu, khoảng 560 TC. Một điều khá lạ lùng là nó cũng bắt đầu tại Êphêsô, nơi mà sách Phúc Âm Gioan được viết ra.
Ngược dòng thời gian, khoảng năm 560 TC tại Êphêsô có một triết gia tên Heraclitus. Ý niệm căn bản của ông là mọi sự trong thế gian này đều ở trong trạng thái lưu chảy biến dịch. Mọi vật đều thay đổi từng ngày, từng khoảnh khắc. Thí dụ nổi tiếng của ông để soi sáng vấn đề là người không thể nào tắm hai lần trên cùng một dòng sông vì dòng nước đã chảy đi rồi và kế đến là dòng nước khác. Theo Heraclitus, mọi sự đều không ở nguyên trạng, nhưng trong trạng thái thay đổi liên tục như một dòng sông vậy. Nhưng nếu đã thế thì tại sao đời sống không là khung cảnh hoàn toàn xáo trộn, hỗn loạn? Làm thế nào có được bất cứ cảm nhận gì trong một thế giới lưu chảy không ngừng, cứ biến dịch triền miên như vậy? Câu trả lời của Heraclitus là: cả những lưu xuất, thay đổi đó không phải là ngẫu nhiên, nhưng được kiểm soát, điều khiển theo một khuôn mẫu, và Đấng kiểm soát khuôn mẫu đó là Logos, là Lời, là lý trí của Chúa Trời. Đối với Heraclitus, Logos là Ngôi Lời, là nguyên tắc trật tự bởi đó toàn vũ trụ tồn tại. Nhưng Heraclitus còn đi xa hơn nữa, ông cho rằng không chỉ có khuôn mẫu trong thế giới vật lý mà thôi, nhưng còn có khuôn mẫu trong thế giới hiện tượng nữa. Ông bảo rằng không có gì chuyển động vô mục đích cả, trong đời sống và mọi biến cố của đời sống đều có mục đích, có chương trình, có hoạch định. Cái gì điều động mọi hiện tượng này? Đó là Ngôi Lời.
Heraclitus còn đưa vấn đề lại gần hơn nữa. Cái gì trong mỗi cá nhân chúng ta nói cho chúng ta sự khác biệt giữa phải và trái, đúng sai? Cái gì làm cho chúng ta có thể suy nghĩ và lý luận? Cái gì làm cho chúng ta chọn đúng và nhìn nhận được chân lý khi thấy nó? Ông cũng cho là Lời. Cái ban cho con người trí khôn và sự hiểu biết về chân lý, cùng khả năng phân biệt phải trái chính là Lời (Logos) của Thượng Đế ở trong chính Thượng Đế. Ông cho rằng trong thế giới thiên nhiên và hiện tượng thì "mọi sự xảy ra theo ý của Lời (Logos)", và trong mỗi người thì "Lời là thẩm quyền của chân lý". Lời không gì khác hơn là tâm trí của Thượng Đế điều khiển toàn thể thế giới và mọi người trong thế gian.
Khi người Hi lạp khám phá ra ý tưởng này, nó làm cho họ say mê, nhất là những người thuộc phái Khắc Kỷ. Họ luôn luôn ngạc nhiên và thắc mắc về trật tự thế giới. Trật tự luôn luôn hàm ý phải có một trí óc nào đó. Người khắc kỷ hỏi: "cái gì giữ ngôi sao trong quĩ đạo của chúng? Cái gì làm cho nước thủy triều lên xuống? Cái gì làm cho ngày đêm luân chuyển xoay vần đều đặn  như thế? Cái gì làm cho thời tiết trở lại đúng kỳ như vậy? "Và họ trả lời: "Mọi sự đều được điều khiển bởi Lời của Thượng Đế. Lời (Logos) là năng lực làm cho thế giới có ý nghĩa, có trật tự thay vì hỗn loạn, là năng lực vận hành vũ trụ và giữ vũ trụ vận chuyển theo một trật tự hoàn hảo" . Người khắc kỷ nói: "Lời thâm nhập trong muôn vật".
Trong thế giới Hi lạp, còn một nhân vật nữa mà chúng ta nên để ý tới. Đó là Philô, một người Do thái tại Alexandria. Ông đã dành trọn đời mình để nghiên cứu về sự Khôn Ngoan của cả hai thế giới: Do thái và Hi lạp. Chưa hề có ai hiểu Kinh Thánh Do thái bằng ông mà cũng không có người Do thái nào hiểu được tầm quan trọng của tư tưởng Hi lạp như ông. Chính ông cũng hiểu và thích dùng ý niệm về Logos, Ngôi Lời, lý trí của Thượng Đế. Ông chủ trương rằng Logos là điều cổ xưa nhất thế giới và Logos là công cụ nhờ đó Chúa Trời đã tạo nên thế gian. Ông bảo rằng Logos là tư tưởng của Chúa Trời in dấu trên toàn cõi vũ trụ. Bởi Logos Chúa Trời làm nên thế gian và mọi vật. Ông nói, Chúa Trời, hoa tiêu của vũ trụ này đã cầm Logos như chiếc tay lái để nhờ đó điều khiển mọi vật. Ông bảo rằng tâm trí loài người cũng bị Logos đóng dấu vào, rằng Logos đã cho người ta trí khôn, khả năng tư duy và nhận thức. Ông bảo rằng Logos là trung gian giữa thế giới và Chúa Trời, giữa những vật được sinh ra và Đấng Tự Hữu, rằng Logos là vị tư tế đặt linh hồn người ta trước mặt Chúa trời.
Vậy, tư tưởng Hi lạp đã biết mọi sự về Logos, họ thấy Logos là quyền năng sáng tạo, hướng dẫn, điều khiển của Chúa Trời, là quyền phép đã tạo nên và duy trì vũ trụ. Tông đồ Gioan đã đến với người Hi lạp và nói: "Từ nhiều thế kỷ các bạn đã suy nghĩ, đã viết sách, đã mơ tưởng một Logos là quyền phép sáng tạo thế gian, đang duy trì trật tự trên thế gian này, và nhờ quyền năng đó loài người có thể tiếp xúc với Thượng Đế. Và Chúa Giêsu chính là Logos đã giáng thế!" Tông đồ Gioan đã nói: "Ngôi Lời đã trở nên xác thịt". Chúng ta có thể nói cách khác là "Thần trí của Thượng Đế đã trở thành một con người"
Lần này cả người Do thái lẫn Hi lạp đều theo cách thế riêng của họ để suy nghĩ về ý niệm Logos, Ngôi Lời của Thượng Đế đã tạo nên thế gian này và cho nó có ý nghĩa. Vậy tông đồ Gioan đến với cả người Do thái lẫn Hi lạp để nói cho họ biết, phần tâm trí sáng tạo, soi sáng, kiểm soát và nâng đỡ mọi sự đó của Chúa Trời đã đến thế gian, trong Chúa Giêsu. Ngài đã đến để nói cho tất cả mọi người biết rằng họ không cần phải suy đoán mò mẫm nữa, tất cả những gì họ phải làm là: Hãy nhìn xem Chúa Giêsu thì sẽ thấy thần trí của Chúa Trời.

 

GS-20: Tin Mừng Thứ Tư là Tin Mừng tóm lược

Ga 1,1-18
A. Hạt giống...
 

Các chuyên viên Thánh Kinh đã gọi đoạn này là quyển Tin Mừng Thứ Tư tóm lược vì chứa đựng: GS-20

Các chuyên viên Thánh Kinh đã gọi đoạn này là quyển Tin Mừng Thứ Tư tóm lược vì chứa đựng dưới dạng súc tích tất cả những chủ đề chính của tác phẩm như : Chúa Giêsu là Lời, Sự Sống, Sự Sáng, Làm chứng, Sự thật...
1. Đức Giêsu là “Lời” của Thiên Chúa, tiền hữu và hằng hữu (cc 1-2)
2. Ngài là Đấng Tạo hóa (c 3a)
3. Ngài là sự sống và sự sáng (cc 3b-5)
4. Gioan Tiền hô là người làm chứng cho Chúa Giêsu (cc 6-8)
5. Chúa Giêsu là sự thật (c 9)
6. Ngài đến ở giữa thế gian và thế gian đã nhờ Ngài mà có. Nhưng thế gian đã không nhận Ngài (c 10-18)
B.... nẩy mầm.
1. “Lời đã trở thành nhục thể”. Trong những thế kỷ đầu, có những lạc thuyết không chấp nhận việc Thiên Chúa nhập thể vì cho rằng thể xác là xấu xa không đáng cho Thiên Chúa nhập vào. Nhưng Con Thiên Chúa đã thực sự nhập thể, chứng tỏ thân xác chúng ta không xấu xa, chứng tỏ lòng Ngài quá thương chúng ta, và còn cho biết từ nay Thiên Chúa muốn gặp gỡ chúng ta qua thực tại nhân tính với tất cả những yếu đuối hèn hạ của nó. Hệ luận của mầu nhiệm nhập thể này là từ nay ta có thể gặp gỡ Thiên Chúa khi gặp gỡ con người, ta có thể yêu mến Thiên Chúa khi yêu mến con người...
2. “Ánh sáng chiếu trong bóng tối và bóng tối đã không tiêu diệt được ánh sáng” : Nói một cách triết lý, Tối chỉ là thiếu Sáng, cho nên khi nào Sáng đến thì Tối phải tan. Chỉ một ngọn nến nhỏ được đưa vào một gian phòng mênh mông cũng đủ đuổi bóng tối ra khỏi gian phòng. Suy rộng ra, Ác chỉ là thiếu Thiện, cho nên Ác không thể nào thắng Thiện, ngược lại Thiện thắng Ác là điều tất yếu. Ngôi Hai đã nhập thế và nhập thể, ai đón nhận Ngài vào lòng mình thì chắc chắn sẽ đẩy lùi bóng tối và sự ác khỏi lòng mình. Bởi thế, trong quyển sách “Bước qua ngưỡng cửa hy vọng”, Đức Gioan Phaolô II luôn lặp đi lặp lại lời kêu gọi đầy lạc quan : “Đừng sợ. Hãy mở rộng cửa cho Chúa Kitô”.
3. Một đêm kia, trên một đường phố vắng vẻ, Bóng Tối ngồi co ro, buồn bã. Từ một xó nọ loé lên một Tia Sáng, rất nhỏ và rất yếu, nhưng là một tia sáng, phát ra từ một cây nến nhỏ mà ai đó đã cắm ở đấy. Một người khách đi qua nhìn thấy cây nến nhỏ và nói :

- Sao mi lại chiếu sáng trong cái xó kẹt này ? Thiếu gì chỗ khác, mi đến đó mà chiếu sáng thì sẽ hữu ích hơn nhiều.
- Tại sao hả, cây nến trả lời. Tôi chiếu sáng bởi vì tôi là cây nến. Tôi có chiếu sáng thì tôi mới là cây nến. Vả lại tôi chiếu sáng đâu phải chỉ để cho người ta thấy mà còn để cho tôi vui, vui vì được làm Tia sáng, vui vì được chiếu sáng.
Bóng Tối nghe thế rất bực bội. Nó nhào tới phủ lên Tia sáng mong làm cho Tia sáng bị tắt. Nhưng chẳng những Tia sáng không tắt, trái lại Bóng Tối còn bị rách nát ra. (Willi Hoffsuemmer).
Mầm khác :
 
 

GS-21: THIÊN CHÚA CỦA TÌNH THƯƠNG

Ngôi Lời đã nhập thể
 

Lùi về 19 thế kỷ trước đây, giữa một đêm Đông, tuyết sương giá lạnh, trên cánh đồng Bêlem các: GS-21

Lùi về 19 thế kỷ trước đây, giữa một đêm Đông, tuyết sương giá lạnh, trên cánh đồng Bêlem các mục đồng chăn chiên đang ngồi sưởi ấm xung quanh một bếp lửa ánh sáng chợp chờn.
Bỗng nhưng, một vị Thiên Thần Thiên Chúa hiện ra loan báo: “Hỡi mục dựng, Ta đến báo cho các người một tin vui mừng, cũng là Tin Mừng cho cả toàn dân. Hôm nay, Chúa Kitô , Đấng Cứu Thế đã giáng sinh. Các người sẽ thấy một hài nhi mới sinh, bọc trong khăn vải và đặt nằm trong máng cỏ.  Và từ trên không trung, tiếng các Thiên Thần lại vọng lên: "Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời và bình an bình an dưới thế cho người thiện tâm".
Đêm huy hoàng ấy, hôm nay lại tái diễn. Đâu dâu có một ngôi Thánh đường thì ở đó có tiếng hát vọng lên, có ánh đèn sao chợp chờn. Lễ Giáng Sinh là lễ vui mừng. Nhưng, chúng ta đừng để vẻ long trọng bên ngoài làm sao nhãng ý nghĩa cao trọng của mầu nhiệm Giáng Sinh. Vì sao chúng ta vui mừng? Chúng ta vui mừng vì Chúa đã xuống để chúng ta được lên. Vì Chúa đã xuống đất, để cho đất biết đường về trời. Vì Chúa đã làm người để cho người được trở nên con Chúa. Thiên Chúa chúng ta không phải là “ông xanh thăm thẳm” từng mây, không liên hệ gì với số mạng nhân loại. Mà Ngài là Thiên Chúa của tình thương, muốn san sẻ số phận của nhân loại. Vì thế Ngài muốn cứu vãn nhân loại hư mất vì tội lỗi. Trải bao thế kỷ nhân loại đã cầu khẩn van xin:
" Trời Cao hãy đổ sương xuống
và ngàn mây haỹ mưa Đấng Cứu đời”.
Thì hôm nay, lòng mong ước ngàn xưa đã được thực hiện. Trong hang đá, vùng ngoại ở Bê lem, Đức Mẹ đã sinh hạ Chúa Hài Nhi, bọc con trong khăn và đặt nằm trong máng cỏ. mục đồng, hạng người nghèo khó, được ưu tiên mời đến bên cạnh Chúa. Người thức giả cung không bị bỏ quên. Trên nền trời, một vì sao sáng va xuất hiện, khiến ba nhà đạo sĩ cất bước lẻn đường tìm về bái kính.
Vì sao, trẻ hài nhi ấy lại thu hút mọi tầng lớp như vậy ?  Ngài là Cứu Chúa, là Thiên Chúa nhập thể để cứu chuộc nhân loại. Loài người không lên được với Thiên Chúa thì Thiên Chúa đã xuống với nhân loại. Và để xuống với nhân loại, Thiên Chúa đã làm gì? Tục ngữ ra có câu:
" Yêu nhau vạn sự chẳng nề ,
Dẫu trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng”
Để xuống với nhân loại, Chúa đã nối liền hữu hạn với vô biên, Chúa đã kê đất ngang hàng với trời. Hơn nữa, Chúa mặc lấy bản tính nhân loại, để nhân loại được giải thoát tội lỗi và chia sẻ bản tính Thiên Chúa. Thánh Gioan Tông Đồ nói: "Ngôi Lời đã nhập thể... đe cho ai tin ở Ngài thì Ngài ban cho được quyền làm con Thiên Chúa" (Gio. 1 , 1 3)
Đó là lý do sâu xa của mầu nhiệm Giáng Sinh. Đó là lý do sâu xa của sự vui mừng của chúng ta hôm nay.

 

GS-22: Nhà truyền giáo Phaolô đến thành Athen

(Lễ Rạng Đông) Luca 2, 15-20
 

Nhà truyền giáo Phaolô đến thành Athen, nơi đây ông thấy một đền thờ rất lớn (Lễ Rạng Đông) : GS-22

Nhà truyền giáo Phaolô đến thành Athen, nơi đây ông thấy một đền thờ rất lớn (Lễ Rạng Đông) rất lớn với bảng hiệu “Thần Vô Danh”. Ông lấy ngay đề tự đó như nói lên lòng khao khát của con người đi tìm kiếm vị Thần Chân Thật mà họ không biết đến, sau cùng ông giới thiệu Chúa Giêsu là Thần Vô Danh mà họ âm thầm thờ kính. Thiên Chúa đã tạo dựng loài người có bản năng khao khát tìm kiếm Ngài, và họ dò dẫm tìm kiếm Ngài trong bóng tối. Điểm dị biệt giữa một người tin kính và một người không tin kính là ở chỗ  người này có thể nói rằng “lòng tôi ước mơ thèm khát”, người kia cũng nói câu đó lại, có thể thêm vào “Thiên Chúa hằng sống”. “Chúa tạo điều kiện cho con người tìm kiếm Ngài,cố gắng vương lên để tìm gặp Ngài. (Cv 17,27). Và Ngài hứa cho người thiện tâm: “Các ngươi sẽ tìm Ta và gặp được, khi các ngươi tìm kiếm Ta hết lòng “ (Gier 29,13). Lòng khao khát ấy luôn luôn thúc đẩy con người đi tìm kiếm, nhất là trong nỗi khổ đau. Trong cơn tuyệt vọng Gióp than: “Ai sẽ chỉ cho tôi tìm Người ở đâu, và làm sao tôi tới tận nơi Người ở? (Gióp 23,3). Khi Đavít và mấy cận thần chạy trốn trong cuộc phản loạn của Apsalon, đã trông thấy tại bờ phía đông sông Giođan một con nai đáng thương đang mệt mỏi, há miệng đi tìm chút nước đọng trên bãi bùn khô để làm mát cái lưỡi đang thè dài ra. Hình ảnh đó như tương đồng với thân phận của chính mình khiến tác giả đã thốt lên những vần thơ tuyệt diệu:
          Như nai rừng mong mỏi, tìm về suối nước trong,
          Hồn con cũng trông mong được gần Ngài, lạy Chúa !
          Linh hồn con khao khát Chúa Trời,
          Là Chúa Trời hằng sống.
          Bao giờ con được đến, vào bệ kiến Tôn Nhan?   (41,1-2)
Mơ ước gặp Ngài, tìm kiếm để gặp Ngài, con người chỉ mãn nguyện khi gặp được Thiên Chúa . Đã sinh ra làm người, ai ai cũng có ước vọng triền miên ấy, nhưng đặc biệt là nơi người Is-ra-en . Dầu chỉ là những người chăn chiên đơn sơ mộc mạc, tháng ngày bạn với đoàn vật cỏ cây, niềm an ủi của họ là đến ngày Sabbat được nghe đọc luật pháp và lời tiên tri tại hội đường, và hằng năm đến kỳ lễ lớn được thấy các tư tế dâng lễ vật cầu ơn tha tội cho dân, và được nghe giảng giải ý nghĩa đó nơi Đền thờ: họ đều chia sẻ niềm hi vọng Chúa Cứu Thế sẽ đến giải phóng dân tộc khỏi ách ngoại bang cai trị và đem lại cảnh thái bình hoan lạc. Nhưng với năm tháng đợi chờ, thức lâu chầu mỏi, tin ấy vẫn xa vời làm lòng họ sao lãng đến dường như quên đi.
Như thường lệ, các mục đồng đang canh giữ bầy súc vật trên cánh đồng Bêlem, thình lình một thiên sứ sáng chói hiện ra: “Họ vô cùng sợ hãi, nhưng thiên sứ liền trấn an: "Đừng sợ, tôi đến báo cho các anh một tin vui mừng. Tin này sẽ đem lại niềm vui lớn cho mọi người. Đêm nay, Chúa Cứu Thế, Đấng Cứu Tinh của nhân loại đã ra đời tại Bêlem".
Thế là giờ đã điểm, việc phải đến đã đến, lời tiên tri đã được ứng nghiệm, vì sau khi nguyên tổ phạm tội, Thiên Chúa liền hứa cho con người một Chúa Cứu Thế từ dòng dõi người nữ sinh ra (St 3,15). Khi kêu gọi tổ phụ Abraham, Ngài đã hứa Chúa Cứu Thế ra đời từ dân Is-ra-en  (St 26,4). Khi lãnh tụ Môsê qua đời đã dặn dò dân sẽ ra đời một Chúa Cứu Thế (TL 18, 15-18). Tiên tri Isaia tiên báo Chúa Cứu Thế sẽ được một trinh nữ sinh ra ( 4,14) Và tiên tri Mikêa tiên báo Ngài sẽ được sinh ra tại Bêlem.
Dân Is-ra-en nghiền ngẫm các lời tiên tri trên đây, nên khi những người chăn chiên nghe thiên sứ báo tin mừng về Chúa Cứu Thế giáng sinh, thì niềm hi vọng bấy lâu tiềm tàng trong lòng họ vùng dậy và hồi sinh. Họ vui mừng náo nức, không thể chờ đợi thêm mà muốn đi tìm Ngài ngay.
Thiên sứ cho dấu để đi tìm Chúa: “Các anh sẽ nhận ra Ngài khi gặp một em bé quấn khăn nằm trong máng cỏ”. Tiếp theo lời giới thiệu về Chúa Cứu Thế giáng sinh trong cảnh nghèo hèn đơn bạc đó, liền có muôn vàn thiên binh cùng với vị thiên sứ chúc tụng Ngài bằng bài ca bất hủ: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới đất cho người thành tâm”. Chúa Cứu Thế tự hạ, giáng sinh nơi thấp hèn để tôn vinh Thiên Chúa oai nghiêm, vinh hiển tuyệt vời trên trời, và đem bình an ân điển cho loài người dưới đất.
Nghe, thấy, biết như vậy là quá đủ, những người chăn chiên vội vàng lên đường đi tìm gặp Chúa. Dầu giữa đêm khuya, nhà nhà đều cửa đóng then cài, người người đều mơ màng giấc điệp, nhưng những người chăn chiên vẫn vội vã tìm đến hang đá, nhìn vào máng cỏ để tìm kiếm Chúa Cứu Thế .
Gặp được Chúa Hài Nhi họ vui mừng hết sức, họ tranh nhau thuật lại cho mọi người điều thiên sứ báo tin và dấu hiệu Con Trẻ nằm trong máng cỏ. Ai nghe cũng phải ngạc nhiên vì không ngờ một việc kỳ diệu xảy ra quá đột ngột như vậy. Chỉ có Maria biết rõ hơn ai hết, vì thiên sứ đã báo tin cho nàng rằng sẽ thụ thai bởi quyền năng Chúa Thánh Thần nên Con Trẻ sinh ra được gọi là Con Thiên Chúa .
Quì bên máng cỏ ,những người chăn chiên cúi đầu chiêm bái Chúa Cứu Thế vừa giáng sinh. Mắt họ như vẫn thấy thiên sứ với hào quang rực rỡ, tai họ như còn nghe rõ “Đừng sợ, tôi đến báo cho các anh một tin mừng”, rồi thánh thót trên không trung “Sáng danh Thiên Chúa trên trời...”. Giờ đây, Con Trẻ này chớ không ai khác là Chúa Cứu Thế . Tự trong đáy lòng họ, dường như vang lên lời nguyện cầu: “ Lạy Chúa Cứu Thế, Ngài đã từ nơi cao sang, vinh hiển vô cùng, tự hạ xuống nơi thấp hèn cùng cực, thậm chí yên vui ngự vào máng cỏ, chỉ vì yêu thương nhân loại. Giờ đây, xin Chúa ngự vào lòng con như đã ngự vào máng cỏ. Chúa ơi, đời con như máng cỏ, không có gì, không ra gì, giống như vườn khô, giống như đất trống, hoàn toàn vô dụng. Nhưng khi được Chúa ngự vào, đời con sẽ như vườn địa đàng, như thiên đàng thu hẹp nơi trần gian...”
Tâm hồn lâng lâng như có thể bay bổng, mặt mày sáng rỡ như vớ được của quí, những người chăn chiên trở về trong niềm vui ngập lòng. Nếu có ai hỏi: “Có gì mà các anh vui mừng thế ? Họ đáp: không vui sao được, vì chúng tôi đã gặp Chúa Cứu Thế. Có thể nói, những người chăn chiên là người truyền giảng Tin Mừng đầu tiên. Họ cũng như Phêrô và Gioan khẳng định: “Chúng tôi không thể không nói điều chúng tôi đã mắt thấy tai nghe” (Cv 4,20).
Bạn đã thấy và nghe, nhưng bạn đã loan báo tin mừng này cho những ai?

 

GS-23:  HÔM NAY ĐẤNG CỨU THẾ ĐÃ GIÁNG SINH

CHO CHÚNG TA (lễ đêm)
LỄ GIÁNG SINH
 Ánh sáng bừng lên trong đêm tối
 

Tại sao Thánh Lễ chính của Lễ Giáng sinh được cử hành ban đêm? Phải chăng vì đó là thời: GS-23

Tại sao Thánh Lễ chính của Lễ Giáng sinh được cử hành ban đêm? Phải chăng vì đó là thời gian thuận tiện cho giáo dân dự lễ ? Phải chăng vì bầu khí ban đêm làm cho cuộc lễ thêm phần huyền diệu và thánh thiện (như lời ca đêm thánh vô cùng)? Phải chăng để cho đúng với sự kiện lịch sử ngày xưa Chúa Giêsu sinh ra ban đêm?
Các lý do trên đều có phần đúng. Nhưng lý do căn bản nhất là: Chúa Giêsu là ánh sáng, Ngài sinh xuống trần gian như ánh sáng bừng lên trong đêm tối.
Đêm tối tượng trưng cho tội lỗi, bất hạnh, buồn sầu; ánh sáng tượng trưng cho ân sủng, hạnh phúc, mừng vui.
Khi sinh xuống trần gian, Chúa Giêsu mang lấy trên mình tất cả tăm tối của loài người với bao tội lỗi, bất hạnh và buồn sầu, nhưng để: ban lại cho loài người ánh sáng của Thiên Chúa bao gồm mọi ân sủng, hạnh phúc và mừng vui.
Thực ra, những sử gia còn chưa xác định được Chúa Giêsu sinh ra vào ngày nào tháng nào. Nhưng Giáo Hội đã chọn ngày 25 tháng 2 để cử hành Lễ sinh nhật của Ngài vì hai lý do: a/ Đây là ngày mà mặt trời chiếu sáng nhất và là ngày dài nhất trong năm; b/ xưa kia ngày này là lễ mừng Thần Mặt trời của người Rôma ngoại giáo. Giáo Hội muốn chúng ta hiểu rằng Chúa Giêsu chính là Mặt Trời đích thực đánh tan tối tăm của tội lỗi và sự gian tà.
 2. Lễ của người giàu hay của người nghèo?
Trong dịp Lễ Giáng sinh, người ta chi tiêu rất nhiều: trang hoàng, tiệc mừng, thiệp chúc, quà tặng... Xem ra đây là lễ của người giàu.
Nhưng Đấng mà người ta mừng sinh nhật thì rất nghèo: cỏ rơm, hang súc vật, tả lót sơ sài... Những khách mời ưu tiên cũng là những người chăn chiên nghèo... Dấu chỉ mà thiên thần cho những người chăn chiên ấy dựa vào để nhận ra Chúa cũng là dấu hiệu nghèo: “Và đây là dấu hiệu để các ngươi nhận biết Ngài: các ngươi sẽ thấy một hài nhi mới sinh bọc trong khăn vải và đặt nằm trong máng cỏ”. Vậy đây phải là lễ của người nghèo  mới đúng.
Để cho Lễ Giáng sinh có ý nghĩa nghèo, người ta tổ chức thăm viếng, tặng quà, khám bệnh, phát thuốc cho người nghèo.
Thực ra tất cả những việc ấy chỉ mặc cho lễ Giáng sinh một chút dáng vẻ nghèo mà thôi. Tinh thần nghèo của Lễ Giáng sinh và của Đấng giáng sinh phải thấm sâu vào và thể hiện ra:
-Bằng một lập trường sống không thượng tôn tiền bạc như chúa tể.
-Bằng một thái độđối xử tôn trọng và yêu thương người nghèo.
-Bằng một cách nhìn mới hẳn, thấy chính Chúa trong người nghèo: “Và đây là dấu hiệu để các ngươi nhận biết Ngài: các ngươi sẽ thấy một hài nhi mới sinh bọc trong khăn vải và đặt nằm trong máng cỏ”.
3. Khởi đầu của một cuộc cách mạng
Những cuộc cách mạng thường khởi đầu một cách rất rầm rộ. Biến cố Chúa Giêsu giáng sinh khởi đầu cho một cuộc cách mạng vĩ dại nhất trong tất cả các cuộc cách mạng. Tuy nhiên sự khởi đầu này rất im lìm, nhỏ bé, bình thường: một đứa trẻ con nhà nghèo, sinh ra trong thiếu thốn, vào thời điểm âm thầm giữa đêm khuya, tại một nơi hẻo lánh hiu quạnh.
Nhưng suy cho kỹ thì sẽ thấy khởi đầu như vậy mới đúng hướng và vững chắc, vì điều mà Thiên Chúa muốn làm cách mạng thay đổi chính là cách sống ồn ào, vật chất, cao ngạo, tham lam.
Rồi đây, nhà cách mạng Giêsu sẽ tiếp tục lớn lên trong khiêm hạ, sẽ chiêu mộ những đệ tử khiêm hạ, rao giảng một Tin Mừng khiêm hạ... Cuộc cách mạng của Ngài sẽ biến đổi cả thế giới. Cuộc cách mạng của mỗi người chúng ta cũng phải bắt đầu như thế.
4. Vài mẫu chuyện Giáng sinh
a/ Ngôi Lời đã làm người và ở giữa chúng ta
Một người kia không thể nào tin được việc Ngôi Hai Thiên Chúa cao sang mà xuống thế mang lấy thân phận con người hèn hạ. Vì thế, đêm lễ Giáng sinh ông không cùng vợ con đi nhà thờ dự lễ, mà ở lại nhà.
Sau khi vợ con đã ra đi dược một lúc thì trời bắt đầu đổ tuyết ông thầm nghĩ: đêm nay lễ Giáng sinh, ước gì tuyết rơi trắng hết mọi nơi. Một lúc sau, ông nghe một tiếng sột soạt, rồi tiếp theo là một tiếng nữa, và nhiều tiếng nữa, giống như có ai đó ném tuyết vào cửa sổ ông mở cửa nhà bước ra xem. Thì ra là một dàn chim đang lao đao trong mưa tuyết muốn bay vào cửa sổ nhà ông để tìm chỗ trú.
-“Tội nghiệp những chú chim nhỏ bé. Mình phải tìm cách giúp chúng mới được’. Ông chợt nghĩ đến nhà kho của mình. Ông mặc áo ấm vào, đi ra cái kho sau nhà, mở cửa và gọi chúng vào. Nhưng bầy chim vẫn đứng im.
-“Hay là chúng không thấy lối”. Ông bật đèn nhà kho lên. Rồi trở ra gọi chúng. Chúng vẫn đứng im.
-“Lạ thế! Hay mình đi lùa chúng vào”. Thế là ông đi đến chỗ cửa sổ, đưa tay lùa. Lũ chim chẳng những không bay theo hướng ông lùa, mà còn bay trốn tán loạn.
Cuối cùng ông mới hiểu ra: “Chúng sợ mình, vì chúng lạ với mình. Phải chi mình giống như chúng thì khi mình đến gần chúng sẽ không sợ nữa”.
Đúng lúc đó, một lời Tin Mừng từ nhà thờ vọng đến tai ông: “Ngôi Lời đã trở thành xác phàm và cư ngụ giữa chúng ta”. Ông quỳ gối xuống và thưa: “Lạy Chúa, bây giờ con đã hiểu tại sao Chúa giáng sinh làm người như chúng con”.
b/ Món quà Giáng sinh
Một đôi vợ chồng trẻ, Gim và Đêla, tuy nghèo tiền của nhưng rất giàu tình thương đối với nhau. Giáng sinh sắp tới, Đêla tự hỏi phải tặng Gim món quà gì đây. Nàng muốn tặng chàng sợi dây cho chiếc đồng hồ của chàng. Nhưng nàng không có đủ tiền để mua. Vì thế nàng nẩy sinh một sáng kiến: Nàng có bộ tóc dài rất đẹp, nàng rất quý nó và rất hãnh diện vì nó. Nàng quyết định cắt ngắn bộ tóc và đem bán để mua cho Gim sợi dây đồng hồ.
Hôm áp lễ giáng sinh, từ phố về, nàng cầm trong tay một chiếc hộp rất đẹp đựng sợi dây đồng hồ mạ vàng mà nàng vừa sắm được bằng mái tóc của mình. Bỗng nhiên Đêla cảm thấy lo lắng. Nàng biết Gim rất quý mái tóc dài của nàng. Nàng tự hỏi không biết Gim có buồn vì nàng cắt và bán nó đi hay không. Về tới nhà, Đêla mở cửa và thấy Gim đang đợi nàng. Tay chàng cầm một cái hộp thật đẹp đựng món quà chàng mới mua cho nàng. Khi nhìn thấy mái tóc ngắn của vợ, Gim như muốn khóc, nhưng chàng không nói gì cả. Cố trấn tỉnh, chàng trao cho nàng chiếc hộp xinh xắn. Mở hộp ra, Đêla rất đỗi bàng hoàng. Trong hộp là một bộ lược chải tóc bằng xà cừ rất đẹp. Còn chàng, khi mở món quà vừa nhận được từ tay vợ, Gim cũng ngỡ ngàng không kém. Chính lúc đó Đêla mới nhận ra rằng Gim đã bán chiếc đồng hồ vàng, món đồ quý nhất của anh, để mua lược chải tóc tặng nàng. Phút chốc cả hai đều hiểu rằng họ dã tặng nhau những gì quý giá nhất. Họ đã hy sinh tất cả cho nhau. (Trích Món quà Giáng sinh)

 

GS-24: NGƯỜI Ở ĐÂY (lễ đêm)

Trong cuộc chiến tranh ở Triều Tiên, một người chồng trẻ, sau ngày cưới một tuần lễ, đã bỏ: GS-24

Trong cuộc chiến tranh ở Triều Tiên, một người chồng trẻ, sau ngày cưới một tuần lễ, đã bỏ vợ lại nhà. Dầu họ xa cách nhau cả một nửa địa cầu: nàng phải Lova, chàng ở Triều Tiên – nhưng thư  tín của họ vẫn bay qua đại tây dương. Thỉnh thoảng họ gửi quà tặng cho nhau để nói lên sự tận tụy của họ. Họ háo hức mong đợi thư  từ và quà tặng. Họ thận trọng cất giữ để đọc lại. Rồi một đêm khuya, bất thình lình, người vợ trẻ nghe tiếng gõ cửa. Chị ta cẩn thận mở cửa nhìn ra. Ô kìa ! người chồng trong bộ quân phục đang đứng đó, anh cất tiếng cười vui khôn tả. Họ ôm chầm lấy nhau, nói nói cười cười rất vui vẻ.
Các bạn có nghĩ rằng người vợ trẻ cứ ngồi mà đọc thư hay nhìn ngắm quà tặng mà chồng chị gửi về không ? Không, chị ta nhìn người chồng, nói chuyện với chồng, quấn quít bên chồng. Chồng chị đã ở nhà, anh ấy ở nhà thực sự. Thư từ và quà tặng dầu quý giá khi gửi cũng chỉ là những vật kỷ niệm. Tất cả không gian trong lúc này là “Anh ấy thật ở đây”. Điều đó cũng giống như cách đây 1992 năm, khi cả thế giới mong đợi Chúa Kitô đến, vì Thiên Chúa đã hứa ban  Đấng cứu thế. Để chuẩn bị dân Chúa đón Chúa cứu thế, Thiên Chúa đã gởi nhiều thư cho dân Do thái qua các Ngôn Sứ của Ngài. Dân Chúa đã đáp lại Ngài bằng việc dâng lên những lời cầu nguyện, những bài ca đầy lòng khao khát qua bao thế kỷ. Thiên Chúa đã ban cho dân Chúa nhiều ân huệ và phúc lành. Đáp lại, dân Chúa dâng lên Ngài lễ hiến tế và sự thờ phượng của cá nhân cũng như cộng đoàn.
Cuối cùng, Đấng cứu thế đã đến trong hình hài con trẻ yếu ớt. Trong ánh sáng của máng cỏ ở Belem và Người chiếm cứ quý báu của nó, thì các lời tiên tri và các ngày lễ Hiến tế xưa trở thành ít quan trọng. Con Thiên Chúa ở đây, thực  sự ở đây. Điều mà bao thế kỷ mong đợi, bây giờ trở thành hiện thực. Thế giới thật là hạnh phúc được đón tiếp Người.
Đêm nay chúng ta cử hành niềm vui đó. Không phải chúng ta chỉ nhớ đến lễ Giáng sinh đau tiên, chúng ta không chỉ gợi lại lễ đó, mà chúng ta thực sự sống lại lễ đó, bởi vì Chúa Kitô hiện thực ở đây đêm nay bằng một cách thế đặc biệt. Đối với các bạn, tôn thờ Chúa Giêsu trong những đường lối khác, chúng tôi xin thưa rằng, chúng tôi sung sướng có các bạn ở với chúng tôi, và cho phép chúng tôi nói rằng: Người công giáo chúng tôi tin rằng trong cử hành này, mà chúng tôi gọi là thánh lễ – Thánh lễ của Chúa Kitô hay lễ Giáng sinh – Chúa Kitô thực sự sinh lại trên  bàn thờ này. Bánh và rượu trở nên Mình và Máu sống động thực sự của con trẻ sinh ra cách đây 1992 năm ở Belem. Chúng tôi ca hát ngợi khen Ngài, chúng tôi xin Người chúc lành, và chúng tôi còn ẵm lấy Người trong sự hiệp lễ.
Tất cả những sự bề ngoài – lễ phục, chén thánh, đèn nến, những khúc cầu nguyện, những bông hoa đẹp, cả đến máng cỏ xinh xinh - trở thành quan trọng đối với thực tại này, là Chúa Kitô hiện diện ở đây. Tất cả những sự bề ngoài này, chỉ giúp chúng ta bày tỏ niềm vui của chúng ta về sự kiện trung tâm, hành động trung tâm, là Chúa Kitô sinh lại trên bàn thờ này, và trong lòng chúng ta.
Chúng ta cầu chúc cho nhau niềm vui này tràn đầy trong lòng chúng ta. Niềm vui sâu thẳm này, tôi cầu chúc cho từng người trong các bạn, tôi cầu chúc cho mọi người, lễ Giáng sinh vui vẻ.
Xin Chúa chúc lành  cho các bạn.

 

GS-25: Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Ngài

Ga 1,1-18
 

Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Ngài, vinh quang mà Chúa Cha ban cho người, là: GS-25

"Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Ngài, vinh quang mà Chúa Cha ban cho người, là Con Một đầy ân sủng và chân lý."
Mãi về cuối đời Gio-an mới viết Phúc Âm, ông đã sống với Ngôi Lời nhập thể, đã cảm nghiệm được thế nào là Thiên Chúa làm người, và đã đúc kết lại trong câu hàm chứa nhiều ý nghĩa.
Chúa Giê-su đầy tràn ân sủng và chân lý.
Ân sủng:
Từ ngữ này luôn có hai ý niệm căn bản :
Ân sủng là cái mà người ta hoàn toàn không xứng đáng được nhận lãnh. Nó luôn hàm ý chỉ một cái gì mà người ta không thể nào tự mình tạo được hoặc chiếm lĩnh được. Sự kiện Chúa Trời  xuống thế gian đã sống và chết cho loài người không phải là vì loài người xứng đáng được như vậy. Nhưng đó là hành động hoàn toàn do tình thương của Thiên Chúa. Chữ "ơn" đồng thời nhấn mạnh tình trạng nghèo nàn vô phương xoay xở của con người và lòng yêu thương vô bờ bến của Thiên Chúa.
Ân sủng luôn hàm chứa vẻ đẹp. Trong tiếng Hi-lạp hiện đại, từ ngữ này có nghĩa là duyên dáng, đáng yêu. Con người vẫn nghĩ về Thiên Chúa dưới góc cạnh uy nghiêm, quyền thế và phán xét. Họ nghĩ đến quyền năng có thể nghiền nát mọi chống đối, đánh bại mọi kẻ phản loạn, nhưng trong Chúa Giê-su, loài người được đối diện với tình yêu thương đẹp đẽ của Thiên Chúa.
Chân lý :
Từ chân lý được Gio-an dùng rất nhiều khi viết Phúc Âm, chúng ta chỉ tóm tát những gì Gio-an viết về Chúa Giê-su là chân lý.
Chúa Giê-su là hiện thân của chân lý.
Ngài phán : "Ta là chân lý" muốn thấy chân lý chúng ta phải nhìn vào Chúa Giê-su. Ở đây có cái gì vô cùng quý báu đối với mọi tâm hồn đơn sơ. Rất ít người lãnh hội được các ý niệm trừu tượng. Phần đông người ta suy nghĩ bằng hình ảnh cụ thể chứ không bằng các ý niệm trừu tượng. Chúng ta có thể suy nghĩ, lý luận mãi về vẻ đẹp, nhưng có lẽ sẽ chẳng bao giờ có được một định nghĩa chính xác vẻ đẹp là gì ? Nhưng cứ chỉ ngay vào một người đẹp, và nói đó là vẻ đẹp thì nó thật rõ ràng. Từ khi loài người bắt đầu nghĩ về Thiên Chúa, họ đã cố gắng định nghĩa Thiên Chúa là ai, Ngài như thế nào, nhưng trí khôn nhỏ bé của họ chẳng bao giờ đến được một định nghĩa. Khi chúng ta ngưng suy nghĩ, nhìn vào Chúa Giê-su, Ta có thể nói "Thiên Chúa là như vậy đó." Chúa Giê-su đã không đến để nói với loài người về Thiên Chúa, mà Ngài đến để tỏ cho loài người thấy Thiên Chúa như thế nào để người đơn sơ nhất cũng có thể biết Thiên Chúa tường tận như một đại triết gia vậy.
Chúa Giê-su là người tràn đầy chân lý.
Chúa Giê-su dạy các môn đệ rằng nếu họ cứ ở trong đạo Ngài họ sẽ biết chân lý (Ga 8,31). Ngài cho Phi-la-tô biết mục đích Ngài đến thế gian là để làm chứng cho chân lý (Ga 18,37). Người ta sẽ đổ xô đến với một giáo sư hoặc một nhà truyền đạo để thật sự được chỉ dẫn trong vấn đề nhân sinh rắc rối này. Chúa Giê-su là Đấng làm cho sự việc sáng tỏ giữa chốn âm u, Ngài là Đấng chỉ đúng đường cho ta giữa ngã ba cuộc đời. Ngài là Đấng giúp lựa chọn đúng trong những giây phút bối rối cần phải quyết định, Ngài là Đấng nói cho ta biết phải tin ai giữa nhiều tiếng ồn ào đòi hỏi ta trung thành.
Gio-an cũng nói nhiều về vinh quang của Chúa Giê-su.
Đời sống của Chúa Giê-su tỏ bày vinh quang. Khi Chúa Giê-su làm phép lạ biến nước thành rượu tại Ca-na, Gio-an viết Ngài đã tỏ bày vinh quang của mình (2,11). Nhìn xem Chúa Giê-su để kinh nghiệm quyền năng và tình yêu thương của Ngài là được bước vào vinh quang mới.
Vinh quang Ngài bày tỏ là vinh quang Thiên Chúa : Ngài không hề nhận vinh quang cho riêng mình, Ngài tôn vinh Đấng đã sai Ngài đến. Chính Cha Ngài tôn vinh Ngài. Trong việc khiến La-da-rô sống lại, Mát-ta đã thấy vinh quang của Thiên Chúa. Việc gọi La-da-rô sống lại là để Thiên Chúa được vinh hiển và do đó Chúa Con cũng được tôn vinh. Vinh quang ở trên Chúa Giê-su, quanh Chúa Giê-su và chiếu ra từ Chúa Giê-su, hành động trong Ngài chính là vinh quang của Thiên Chúa.
Vinh quang ấy cũng chỉ riêng Chúa Giê-su mới có. Vào giờ cuối cùng, Chúa Giê-su cầu nguyện xin Chúa Cha tôn vinh Ngài bằng vinh quang Ngài vốn có trước khi có thế gian. Ngài không chiếu ra vinh quang vay mượn mà là vinh quang riêng của Ngài, và tự Ngài có quyền về vinh quang đó.
Ngài đã truyền vinh quang mình cho các môn đệ. Ngài ban cho họ vinh quang mà Chúa Cha đã ban cho Ngài. Chúa Giê-su chia sẻ vinh quang với Chúa Cha, các môn đệ chia sẻ vinh quang với Chúa Giê-su. Chúa Giê-su giáng thế là vinh quang xuống giữa loài người.
Tông đồ Gio-an muốn nói gì qua những điều vừa kể ? Để hiểu rõ ta phải trở về với Cựu ước. Với người Do-thái, ý niệm về Shechinah là điều hết sức thân thiết, từ ngữ này có nghĩa "Ngài ngư", chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa giữa loài người mà ta có thể nhìn thấy được. Trong Cựu ước vinh quang của Thiên Chúa đã được nhìn thấy trong một số cơ hội nào đó. Trong sa mạc, trước lúc ban bánh man-na, trước khi ban Mười Điều Răn, lúc khánh thành Đền thờ … Trong Cựu ước lúc Chúa Gia-vê đến thật gần, người ta trông thấy vinh quang Ngài. Vinh quang của Thiên Chúa chỉ đơn giản là sự hiện diện của Ngài. Tông đồ Gio-an đã minh họa bằng hình ảnh người cha ban cho con trưởng nam uy quyền và danh dự của chính mình. Hoàng tử sẽ kế vị được ban cho tất cả vinh quang của vua cha. Với Chúa Giê-su cũng vậy, khi Ngài đến thế gian, người ta thấy nơi Ngài sự rực rỡ của Thiên Chúa, và trung tâm vẻ rực rỡ đó là tình yêu thương. Khi Chúa Giê-su đến thế gian, người ta nhận ra những điều kỳ diệu của Thiên Chúa, và điều kỳ diệu đó là tình yêu thương. Người ta thấy rằng vinh quang và tình yêu thương của Thiên Chúa chỉ là một. Vinh quang của Thiên Chúa không phải là vinh quang của một nhà vua độc tài chuyên chế, nhưng là vẻ rạng rỡ của tình yêu thương mà trước vinh quang đó, chúng ta phải quỳ xuống không phải vì sợ hãi, mà là choáng ngợp trong sự diệu kỳ, chúc tụng và tôn vinh.
Chúa Giê-su vào thời gian không phải để chúng ta biết Ngài như thế nào, nhưng qua Ngài-Người Con Một-chúng ta biết Thiên Chúa như thế nào, vì "sự sống đời đời là nhận biết Cha và Chúa Giê-su Ki-tô là Đấng được sai đến." Đức tin khởi sự từ chỗ nhận biết Chúa và từ đó bước theo Ngài, và theo Ngài để biết rõ Ngài hơn. Một khi Đấng đầy ân sủng và chân lý đang ở giữa chúng ta thì câu hỏi quan trọng không phải là Ngài ở đâu để tôi tìm thấy Ngài, mà Ngài là ai để tôi theo Ngài. Theo Ngài để sống như Ngài và phản chiếu lại sự thật và vinh quang của Ngài giữa trần gian.

 

GS-26: NGƯỜI LÀ MỘT NHƯ CHÚNG TA (lễ đêm)

Chuyện Giáng sinh chỉ là truyện thần thoại, vô lý khi tin rằng: Thiên Chúa làm người”. Một người: GS-26

“Chuyện Giáng sinh chỉ là truyện thần thoại, vô lý khi tin rằng: Thiên Chúa làm người”. Một người cha gia đình nại lý do đó để không đi dự lễ đêm. Vợ và các con ông đi, còn ông ở nhà.
Đang nghĩ rằng: thật là khùng khi mừng lễ Chúa Giáng sinh, bỗng ông nghe thấy những tiếng đập vào cửa sổ. Ngoài trời có giông tuyết, một đàn chim đang cố sức tìm cách vào trong nhà ấm áp. Chúng bay lượn và đập vào cửa sổ uổng công.
Ong nghĩ tới kho lúa, trong đó có đàn chim có thể được an toàn và ấm áp. Ông ặc áo lạnh và chạy ra mở cửa kho lúa. Dù ông hết sức gọi những con chim vào, nhưng nó chỉ lượn quanh rồi lại đập đầu vào cửa sổ. Người đàn ông nghĩ bụng: “Nếu tôi là một như chúng. Nếu tôi là một con chim, tôi có thể hướng dẫn chúng một cách nào đó, chỉ cho chúng thoát nguy và tránh cơn giông bão”. Từ đó tâm trí ông bừng sáng: chuyện đức Kitô không phải là chuyện thần thoại, nhưng rất hữu lý trên trần gian. Đấng tạo dựng và quan phòng mọi người biết rằng: chỉ có một cách để dẫn dắt nhân loại an toàn. Chính Thiên Chúa phải trở nên một con người cũng như một con chim mới có thể dẫn dắt đàn chim lo âu đến chỗ an toàn trong kho lúa. Khi vợ con ông trở về, họ được nghe thêm một bài giảng – kinh nghiệm của người trưởng gia đình.
Đêm nay chúng ta mừng sự kiện, không phải truyện biến hgôn nhưng là sự kiện Ngôi Hai Thiên Chúa Ba Ngôi đã trở thành một người để lãnh đạo chúng ta. Niềm tin của chúng ta dựa vào lý lẽ như người đàn ông trong câu chuyện đã khám phá ra: cần phải trở thành một con chim để lãnh đạo đàn chim. Phải có một người, cũng là Thiên Chúa, để đưa con người đến ơn cứu độ.
Hạ mình biết bao nếu kẻ nghi ngờ trong câu chuyện có thể biến thành một con chim, thì việc Thiên Chúa toàn năng mặc lấy thân phận con người, dưới hình dáng một em bé yếu đuối, thật vô cùng khiêm hạ.
Đó là lý do để chúng ta vui mừng trong đêm nay. Đó là ý nghĩa của lễ Chúa Giáng sinh. Trong bài đọc I của ngôn sứ Ysai “Một hài nhi đã sinh ra cho chúng ta. Một người con đã  ban tặng cho chúng ta. Người mang trên vai vương quyền. Vâng, hài nhi là Chúa, là Đấng thống trị, là cứu Chúa của mọi người. Vì thế trong bài đáp ca chúng ta đọc: “Hãy ca tụng Chúa ... hãy loan truyền ơn cứu độ. Trời hãy hân hoan, đất hãy nhảy mừng, vì người tới cai quản địa cầu”. Chúng ta hãy hát bài ca của các thiên thần: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời cao”. Hãy ca tụng Chúa đang hiện diện nơi đây, với ánh nến và trầm hương, với hoa lá và nhạc điệu. Chúng ta ca ngợi Chúa vì Người đã đến với chúng ta dưới hình dáng một hài nhi dễ mến, để nói với chúng ta, dạy chúng ta phải sống thế nào, đến hy sinh mạng sống của Người để cho chúng ta được sự sống vĩnh cửu.
Ngày Chúa Giáng sinh ban đầu được lập lại nơi đây, trên bàn thờ này. Chính Chúa Giêsu đã sinh ra, bấy giờ đây sẽ tái sinh ở chốn này. Hãy ca tụng Chúa với các thiên thần. Vinh danh Đấng vô cùng cao cả đã tự hạ rốt hèn. Đây là lời chúc mừng Giáng sinh tôi chúc cho mỗi bạn.

 

GS-27: TRAO ĐOI QUÀ TẶNG

LỄ CHÚA GIÁNG  SINH
 

Theo thông lệ của một số gia đình, em bé nhỏ nhất biết đọc sẽ phân phát quà trên cây Noel cho:  GS-27

Theo thông lệ của một số gia đình, em bé nhỏ nhất biết đọc sẽ phân phát quà trên cây Noel cho những người trong gia đình. Năm ấy tới lượt Bé Linda khi đã phân phát hết phần quà trên cây Noel, bé Linda còn đảo vòng quanh cây sinh nhật, nhìn trên, nhìn dưới. Cha em hỏi: “Tìm gì thế con ? Bé Linda trả lời: con tìm phần quà cho Chúa Giêsu, hôm nay là sinh nhật của Người phải không ? Quà của Người đâu ? Con nghĩ mọi người đã quên Người.
Tôi hy vọng rằng không ai trong các bạn đêm nay bị quên lãng. Tất cả các bạn sẽ nhận được món quà bạn mong đợi. Nhưng trước hết tôi hy vọng rằng: không có ai trong chúng ta quên Đức Kitô. Các bạn biết hôm nay là sinh nhật của Người.
Đó là ý nghĩa của nghi lễ này, một sự trao đổi quà tặng, vì chúng ta, và đặc biệt vì các bạn tôn giáo khác mà chúng ta rất vui mừng đón tiếp nơi đây, chúng ta sẽ thấy thánh lễ, việc phụng tự chung thật sự là một trao đổi quà tăng.
Trong giờ này chúng ta đón nhận một quà tặng vô cùng lớn lao – Cha chúng ta ở trên trời ban tặng cho chúng ta chính con một của Người. Không có quà tặng nào lớn lao hơn là chính Thiên Chúa, Đấng ban phát mọi ơn lành. Chúng ta làm sống lại cái đêm cách đây gần 2000 năm về trước, khi con Thiên Chúa làm người dưới hình dáng một em bé. Phần quà chúng ta dâng lên Chúa là những cố gắng, những hy sinh để dọn ngày lễ hôm nay, là sự hiện diện của chúng ta nơi đây cùng với các mục đồng, là những đồ vật và việc làm chúng ta trao tặng cho tha nhân.
Trong ít phút nữa, các bạn chú ý đến hai người đem nước và rượu. Họ là thành phần của cộng đồng, để nói lên rằng: tất cả chúng ta cùng chung một của lễ dâng lên Thiên Chúa. Bánh và rượu tượng trưng cho lao công, hy sinh và lòng quảng đại của chúng ta. Việc bỏ tiền thau cũng chứng tỏ rằng: chúng ta cùng chung phần trong của lễ.
Về phía Chúa, qua lời của người thay mặt Chúa. Vị chủ tế Chúa biến đổi Bánh và rượu thành Mình và máu sống động của Chúa Con. Chúa Giêsu hiện diện nơi dây, trên bàn thờ này thật sự như Người hiện diện trong máng cỏ trong đêm Giáng sinh đầu tiên. Hơn nữa, Chúa Hài đồng còn trao ban chính mình cho mỗi người chúng ta qua tay vị linh mục khi chúng ta rước lễ. Trong giây phút ấy chúng ta hãy đón rước Chúa Kitô hài đồng trong con tim với mọi nhịp đập của tình yêu.
Trong các bài đọc, Chúa ban cho chúng ta lời và chân lý. Đáp lại chúng ta lắng nghe và tiếp nhận, Chúa ban cho chúng ta đức tin trong chân lý, chúng ta bày tỏ và sống đức tin. Chúa ban cho chúng ta đôi mắt trí não và môi miệng. Chúng ta dùng lòng trí và môi miệng để ca tụng Chúa trong lời kinh câu hát.
Một trao đổi quí giá và bền lâu không giống như khung cảnh của câu chuyện và trong rất nhiều nhà không có qùa cho đức Giêsu. Trong ngày lễ sinh nhật này, đừng để đức Giêsu bị quên lãng và không ai bị bỏ quên, mỗi người đều có một cái gì, một cái gì quí giá, vui tươi và bền vững tốt nhất là mỗi người chúng ta có thể dâng cho Chúa hài đồng một cái gì quí giá, cái mà Người mong ước hơn tất cả: đó là tình yêu và quyết tâm sống đẹp lòng Người.
Chúc mừng các bạn lễ sinh nhật vui tươi, nơi đây nhà của Chúa với gia đình Chúa và với gia đình Chúa trong nhà của bạn. Đó là lời cầu nguyện, hy vọng và chúc mừng của tôi cho mỗi bạn. Lễ Giáng sinh vui tươi.

 

GS-28: CHÚA GIÊSU SINH RA, CÁC MỤC ĐỒNG HAY TIN

LỄ ĐÊM GIÁNG SINH
Lễ đêm(Lc 2,1-14)
I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Chúa Giêsu sinh ra trong âm thầm.
 

Nếu trong lời tựa sách Tin Mừng của mình, Luca rõ ràng có ý định làm công việc của một sử: GS-28

Nếu trong lời tựa sách Tin Mừng của mình, Luca rõ ràng có ý định làm công việc của một sử gia, thì không phải là sử gia theo nghĩa như người ta hiểu ngày nay, mà như là một nhà thần học đặc biệt nhạy cảm đối với lịch sử cứu độ.
Để ghi biến cố Đức Giêsu sinh ra vào lịch sử của thế giới, thánh Luca nối kết biến cố này với "chiếu 'chỉ của hoàng đế  Augustô truyền kiểm tra dân sô' trong khắp cả thiên hạ " (việc kiểm tra này không phải là không đặt ra vấn đề lịch sử theo một số các nhà chuyên môn)
- Để diễn tả lịch sử cứu độ có sự liên tục và được hoàn thành trong Đức Kitô, Luca thích nhấn mạnh đến tính gia tộc của Đức Giêsu là con cháu vua Đavit.
+ Chính vì phải đi tới Belem "thành vua Đavit" mà Giuse phải rời bỏ thành Nadarét miền Galilê để "trở về nguyên quán mà khai tên tuổi, vì ông thuộc về nhà và gia tộc vua Đavit".
+ Chính tại Belem mà "Maria, bạn ông lúc ấy đang mang thai " sẽ hạ sinh hài nhi bà đang cưu mang.
Giuse người đã giữ vai trò quyết định trong việc đi lên Bêlem, giờ đây mờ nhạt đi để nhường cho Maria vai trò chủ động: "Bà sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ (một chi tiết không thể không gợi nhớ lại cảnh táng xác ở Luca 23,53: 'Ông lấy tấm vải gai mà niệm, rồi đặt Người vào ngôi mộ "), vì hai ông bà không tìm được chỗ trong "phòng tập thể" ("phòng tập thể" sau này ta sẽ gặp thấy ở Luca 22,11 sẽ là phòng tiệc ly).
2...rồi Người được biểu dương long trọng.
Tương phản với cảnh sinh ra trong lặng lẽ, tăm tối và nghèo hèn, thì giờ đây "trong vùng ấy" đêm bừng sáng, và văng vẳng lời tiết lộ ý nghĩa của biến cố vừa mới được thực hiện: đất trời cùng mớ hội giao duyên.
Những người đầu tiên được đón nhận mạc khải của biến cố, lại là những con người mạt rệp của xã hội thời ấy: "những người chăn chiên ", một lớp người trong xã hội bị khinh rẻ nhất, bị xếp cùng hàng với những người tội lỗi công khai và những người thu thuế. H. Cousin giải thích: "Những người chăn chiên, thường bị mang tiếng xấu ở Palestin, nơi đây người ta thường coi họ như những tên bất lương, phường trộm cắp. Kinh Tan-mút của Babylon xếp họ vào hạng người "độc đáo ": "Những tên chăn chiên, bọn thu thuế' và Publicanô thật khó mà sám hối ". Những người ở nấc thang cuối cùng của xã hội vốn bị khinh bỉ ấy lại là những người đầu tiên được chia sẻ ơn Giáng sinh của Đấng có một người mẹ là "kẻ khiêm hạ", và Đấng ấy sẽ mang Tin Mừng đến cho những người nghèo khổ (4.18). Hài nhi mới sinh đã là người rồi đây sẽ gần gũi với nhừng người tội lỗi và đồng bàn với họ" (15,2) ("Tin Mừng của Luca", Centurion. trg 38-39).
Sứ điệp mà "Thiên thần Chúa" gởi đến cho họ là "Một Tin Mừng " (một phúc âm"), một niềm vui trọng đại, Đó là tin vui "cho toàn dân ", tin vui về một hài nhi Giáng sinh, mà chỉ hài nhi đó mới có đầy đủ những danh hiệu là "Đấng Cứu độ ",  Đấng Mêsia ", "Đức Chúa ", bởi vì hài nhi đó là mạc khải sống động của lòng nhân hậu Chúa. Cả ba danh hiệu đó, ta sẽ gặp lại trên môi miệng của Phêrô (Cv 2,36) và Phaolô (Cv 13,33), đều đã được Giáo Hội hát lên để tuyên xưng niềm tin phục sinh.
- "Dấu chỉ" được ban cho các người chăn chiên trong vùng Bêlem là "một trẻ sơ sinh bọc tã nằm trong máng cỏ ", hàm ý là Thiên Chúa muốn thực hiện ơn cứu độ đã hứa, một cách thật lạ lùng, không ngờ được cho ai biết đón nhận dấu chỉ này.
R. Meynet quảng giải: "Kẻ đứng đầu trở nên người rồi hết. Chính Người là Đấng Cứu độ, là Vua, là Đấng Mêsia sẽ được ban cho ngôi báu Đavít, lại đã nằm trong máng cỏ bò lừa; Người được bọc tã nằm trong cái nôi của số phận nghiệt ngã, thì sau này khi chết cũng sề được quấn khan liệm đặt nằm trong ngôi mộ đi mượn thôi. Và chính cái đó, cái dấu chỉ ngược đời này đã được ban cho các người chăn chiên cũng như cho những kẻ có lòng tin của mọi thời. Bằng chứng oai phong của Chúa là sự thấp hèn, bé nhỏ của Người, dấu chỉ quyền năng của Người là vẻ yếu đuối" , ( tin Mừng theo thánh Luca. Phân tích tu từ". Cerf. trg 36).
"Bỗng chốc " trổi lên lời ca vang ngợi khen Thiên Chúa. Cả bầu trời vang dội tiếng ca mừng biến cố, với quy mô lớn lao và hoành tráng, tương ứng với việc kiểm tra dân số lớn lao của hoàng đế Augustô: "Bỗng có muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa rằng: " Vinh danh Thiên Chúa trên trời; bình an dưới thế cho loài người Chúa thương ". Đất trời tưng bừng mở hội: kỷ nguyên cứu độ đã bắt đầu. Vì Thiên Chúa coi việc thi ân giáng phúc là làm vinh danh Người, nên Người sẽ ban tràn đầy cho con cái Người, ơn bình an mà Người đã hứa ban trong thời kỳ cứu độ, nhưng không phải là thứ bình an của đế quốc Rôma mà người ta trông đợi hoàng đế Augustô mang đến, nhưng là sự sống sung mãn mà chỉ mình Người mới có thể bảo đảm thực hiện cho ta mà thôi.
Khi vùng quê Bêlem đã trở về với đêm tối và tĩnh mịch, các người chăn chiên đã hối hả ra đi "đến xem sự việc đã xảy ra ". "Họ thấy bà Maria, ông Giuse cùng với hài nhi đặt nằm "trong máng cỏ ". Rồi, như những mẫu gương cho các nhà truyền giáo mà Luca sẽ trình bày trong cuốn sách thứ hai của ông, sách "Tông đồ công vụ ", các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa ca tụng Thiên Chúa " vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe ".
II. Bài ĐỌC THÊM:
1. "Ngôi Lời Của Chúa nằm trong máng ăn súc vật"
(F. Deleclos, trong prends et mange la Parole, Duculot, trg 187- 188).
"Mỗi năm đều kết thúc bằng "thời kỳ lễ nghỉ": Noel. Đêm Giao Thừa, Ngày Đầu Năm.. Nổi bật hơn cả là lễ Noel với cây thông và máng cỏ. Rồi những thiệp mừng được tới tấp gởi đi hay đến; những ông già Noel tung tăng đi lại giữa phố phường hoặc vui vẻ đứng chào hàng trong cửa tiệm. Tiệc vui, kẹo bánh và đồ tặng ê hề chất đầy những túi đựng có hình cái sừng: Nơi nơi tràn ngập bầu khí an vui của những ngày nghỉ, ngày lễ. Tất cả như còn vương chút cảm xúc có màu sắc tôn giáo vậy.
Dầu sao những trang trí và biểu hiện bên ngoài của ngày lễ cũng không che giấu được hết những nỗi buồn, cảnh khổ, ghê tởm và chán chường vẫn dằn vặt bao người. Có gì mà vui cho những người mới tốt nghiệp chưa có việc làm và những người thất nghiệp, những người đang đói và những kẻ không nhà. Vui chi cho những tâm hồn đang tan nát, bị bầm dập, những kẻ bị lưu đày, những người đang phải sống vất vưởng bên lề xã hội thuộc đủ loại. Bóng tối vẫn còn mịt mùng?
Bầu khí của lễ Noel đầu tiên năm xưa cũng chẳng có gì đặc biệt là lễ cả. Xứ Palestine đã bị người Rôma cai trị, những khát vọng tự do đã bị đe dọa hoặc đã bị tiêu tan cả rồi; người ta nơm nớp lo sợ những cuộc nổi dậy, tù đày, hành hạ những người ái quốc và những tín đồ Do Thái giáo như cơm bữa, những cảnh bạo lực thường bị đàn áp, đôi khi bùng lên như điên cuồng.
Tuy nhiên trong lòng người khi ấy vẫn luôn ấp ủ một liềm hy vọng mãnh liệt và lòng tin đã không chết. Đúng là một niềm tin vững chắc của cha ông vẫn neo sâu vào lòng đất ất sôi động ấy. Từ nhiều thế hệ, các ngôn sứ đã loan báo dứt khoát rằng: một Đấng cứu độ sẽ đến. Một "con người " sẽ thiết lập một triều đại, một vương quốc công lý và hòa bình. Thiên Chúa đã hứa với dân Người như vậy.
Và này đây vào một ngày như mọi ngày, lời tiên tri ứng nghiệm, điều báo trước trở thành hiện thực. Lấy gì làm bằng chứng? Chẳng có chứng cớ nào hết. Chỉ có một dấu chỉ. Dấu chỉ ấy được ban cho"'những người bé mọn ", những người sống tăm tối với nghề chăn nuôi. Dấu chỉ quả là mong manh, bởi lẽ lẽ là một "con trai đầu lòng " bọc tã nằm trong máng cỏ. Ngôi Lời Thiên Chúa nằm trong máng dành cho súc vật!
Ngay từ khoảnh khắc đầu tiên, đó là một bài học về khiêm hạ, về tình người. Khi Thiên Chúa dám chịu phiền hà, khi Đấng giải phóng tỏ mình ra, không có quảng cáo, chẳng kèn trống rùm beng, không có quần chúng nhiệt liệt ủng hộ, hay dương oai bằng võ khí. Tất cả những phô trương náo nhiệt ấy là của những người quyền thế để nâng cao thanh thế của họ... Còn ở đây chỉ là khiêm tốn, là bình dị hoàn toàn, là khó nghèo thực sự. Tất cả phải làm cho ta gai mắt và hoảng sợ nữa.
Hôm nay cũng vậy thôi, Người đến xô đẩy những gì ta coi là ưu tiên, những quan điểm hẹp hòi và những chương trình của ta. Ở đâu người ta ít chờ đợi Người, thì Người lại xuất hiện. Và một Đức Kitô như thế, thì rất có nguy cơ lại trở về tình trạng như đêm Noel đầu tiên xưa thôi: chẳng ai đoái hoài đến, chẳng ai biết cho, luôn bị đe doạ, bị thành phần ưu tú của tín hữu và những kẻ thế lực đời này ruồng rẫy thôi. "Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận ".
Mà tại sao lại thế? Là vì Người không chỉ bằng lòng với việc kêu gọi cầu nguyện và tổ chức những lễ lạy rình rang, nhưng Người giảng dạy sự tha thứ và lòng xót thương; Người tuyên bố phẩm giá và những quyền của con người phải được tôn trọng. Là vì Người vạch rõ những con đường để thực thi công lý, hòa bình, hiệp nhất và 'huynh' đệ' bằng việc hoán cải cái tâm, thay đổi cái tính và uốn nắn cái tình.
 Thiên Chúa đến làm cho chúng ta trở nên "một dân hăng hái làm điều thiện". Thế nên ta hãy làm cho lòng ta thành một cái nôi lãnh nhận Lời ban sự sống. Và khi bàn tay ta, giống như máng cỏ, giơ ra để nhận Lời hóa bánh, thì hãy nhớ' rằng Người đến trong ta để lấy đó làm nơi cư ngụ, để soi sáng, giải thoát, biến đổi ta và để làm cho ta trở thành những chứng nhân và làm bằng chứng cụ thế cho tình yêu của Người đối với mọi người vậy. . .
1. "Thế giới đảo ngược"
(J. Debruyne, trong "Jésus, sa chair, ses racines", Desclée, trg 201-202).
"Đêm đó các người chăn chiên đã lên đường đi tìm Chúa.
Phải chăng hài nhi sơ sinh kia
Là người thân của họ
Nên đã sinh ra trong chuồng bò lừa như thế
Có lẽ rồi đây Người cũng sẽ là kẻ chăn chiên chăng?
Thế tại sao hài nhi bè bỏng kia
Rồi đây lại không muốn làm
"một chú bé mục đồng "
Họ là những người canh giữ đoàn vật
Luôn trông chờ bình minh mau tới,
Qua ánh sao, họ nhận ra dấu chỉ
Giữa trời đêm, họ đọc thánh Kinh.
Họ là những người nay đây mai đó,
Mòn vết chân trên những đồng cỏ thưa,
Họ khéo léo tập hợp bầy chó dại.
Và rất dễ dàng quy tụ đoàn chiên.
Hơn là bế bồng nâng niu em nhỏ,
Có lẽ họ là lời loan báo
Rằng đêm nay
Một cuộc xuất hành mới bắt đầu chăng?
Có lẽ vì họ là
Những con người của lều trại
Không cố định ở một chốn nào lâu.
Vì họ là những anh em bà con của Chúa,
Nên khi ở với họ,
Chúa cảm thấy như ở nhà mình chăng?
Phải có được những con mắt như họ,
Mới có thể giữa trời đêm
Nhắm ánh sao mà tiến tới,
Để nhận ra Thiên Chúa ẩn mình
Dưới hình hài một trẻ sơ sinh...
Đêm hôm đó,
Đêm vui của những người nghèo
Vẫn chưa trở thành ngày lễ
Cho những kẻ giàu sang.
Nét thanh bần
Vẫn chưa phải là lễ hội của quà chia,
Đêm lặng lẽ đó,
Vẫn chừa phải là lễ hội đem tưng bừng thật sự
Đêm hôm đó.,
Chẳng cần cổ võ thêm những cuộc vui,
Mà nên triệt bỏ đi mới phải.
Nếu đêm nay Chúa đang ở đó,
Thì ta phái cúi xuống tìm gặp Người,
Và quỳ xuống
Để lượm lấy Người nằm dưới đất.
Hài nhi sơ sinh đó
Còn chưa nói ra được một tiếng
Thế mà lại đã là Lời
Mà ý nghĩa thật là đảo lộn. .
Lá thế giới đảo ngược,
Là đảo ngược các thang giá trị,
Là tương lai đã đang đi trên đầu rồi

 

GS-29: Có một người được Thiên Chúa ban cho ơn đặc biệt

LỄ CHÚA GIÁNG SINH
 

Cách đây hai ngàn bảy trăm năm, có một người được Thiên Chúa ban cho ơn đặc biệt, đó là: GS-29

Cách đây hai ngàn bảy trăm năm, có một người được Thiên Chúa ban cho ơn đặc biệt, đó là tiên tri Isaia, ông hướng về tương lai của nhân loại mà thần của Thiên Chúa đã hé mở cho ông, ông nói những lời mà chúng ta vừa được nghe lại.
Kể từ ngày đó, nhân loại hằng mong đợi trông trẻ đã được tiên báo ra đời. Rồi người ta thấy một Người có những điểm rất kì diệu.
Ngài là Con Trời nhưng lại chịu làm con một người thơ mộc tầm thường. Dầu sống bình thường, nhưng tuổi thơ ấu của Ngài làm cho vị Vua Hêrôđê đầy kiêu ngạo và gian ác phải khiếp sợ. Ngài  là Đấng Tạo Hóa quyền năng, nhưng gặp hiểm nguy đến tính mạng phải nhờ cha mẹ ẵm đi tị nạn.
Ngài là Đấng giàu có tột đỉnh trong nước trời, nhưng lại chịu trở nên nghèo nàn vô cùng trên trái đất. ngài nghèo đến nỗi, hki sinh ra, không có chỗ đặt lưng. Phải nằm nhờ ở một máng cỏ trong hang chứa súc vật của một người không quen biết. Ngài không có tiền đến nỗi phải bảo một môn đi câu để tìm một đồng bạc nơi miệng cá để đóng thuế. Muốn đãi toàn dân một bữa ăn, Ngài phải nhờ bánh và cá của một em bé. Khi muốn qua bê kia bờ biển, Ngài phải đi nhờ thuyền của người trài lưới. Muốn vào thành Giêrusalem Ngài phải dùng con lừa mượn của người khác. Khi chết, Ngài chỉ còn một cái áo, nhưng bọn lính cũng lấy cái áo đó của Ngài. Sau khi chết, Ngài không có tiền để lại để mua một cái huyệt, mà người ta phải trôn Ngài trong một cái huyệt của người khác. Thế mà ngày nay đâu đâu cũng có nhà của Ngài.
Ngài không có cấp băng đại học, nhưng cho dù sự khôn ngoan cao nhất ở đại học từ cổ chí kim, cũng không sao so sánh được với sự khôn ngoan của Ngài. khi ới mười hai tuổi, Ngài đã làm cho bao người thông thái ngạc nhiên vì những lời đối đáp cao siêu của Ngài. Nghe lời Ngài giảng dạy, mọi người phải ngạc nhiên vì Ngài giảng dạy có uy quyền khác hẳn những người khác, vì Ngài có đầy đủ thẩm quyền phán quyết cho mọi vấn đề. Ngài có quyền trên định luật thiên nhiên. Một đám tiệc cưới bất ngờ thiếu rượu, Ngài đã biến nước thành rượu để quý chàng rể khỏi bẽ mặt trong ngày vui của chàng. Chỉ dùng một phần ăn của anh em nhỏ , năm cái bánh và hai con cá, Ngài đã đãi hơn năm ngàn người một bữa ăn no nê lại cò dư ra mười hai giỏ đầy. Một đêm khuya kia trong một cơn giông dữ dội, Ngài đã coi thường định lật hấp lực của trái đất, đã đi trên mặt biển ộng để đến với các môn đệ. Họ đang kinh hãi vì các ngọn sóng biển cao ngần thét, nhưng Ngài không sợ mà trái lại, Ngài đã quở gió và biển, chúng phải vâng lệnh im lặng như tờ. Việc lạ lùng đến nỗi các môn đệ kinh ngạc hỏi nhau “Ngài là ai ?”
Các bác sĩ phải dùng thuốc để chữa bệnh, nhưng Ngài chỉ dùng lời phán để chữa lành mọi bệnh tật. Thật lạ lùng ! Ngài đã giải tán đám tang bằng cách rờ vào quan tài kê cậu trai sống lại rồi đi về nhà cùng bà mẹ của cậu. Ngài biến cảnh thương tâm tử biệt của Mátta thành cảnh vui mừng xum họp bằng cách gọi Ladarô sống lại, ra khỏi mồ, dù chàng đã chết chôn bốn ngày.
Ngài chẳng hề viết một cuốn sách nhưng hiện nay trên thế giới, không có một thư viện nào có đủ chỗ chứa sách viết về Ngài. ngài không hề vẽ một bức trnh nhưng ngày nay không biết bao nhiêu bức tranh vẽ về Ngài. Ngài không sáng tác một bài nhạc hay một bài ca ngợi Ngài, nhưng những bản nhạc đại hòa tấu chúc tụng Ngài nhiều vô kể và đang vang tiếng khắp bốn bể năm châu!
Ngài không hề có vũ khí trên tay. Ngài cũng không hề tuyển mộ binh sỹ để thành lập quân đội, nhưng không có một tướng lãnh nào hay bất kì vị lãnh tụ nào có nhiều người bằng lòng tuân lệnh như Ngài có hành tỉ người tự nguyện tuân lệnh Ngài từ hai ngàn năn nay và mãi mãi về sau. Đặc biệt có rất nhiều người quyết tâm chống trả Ngài với tất cả khả năng quyền lực, nhưnh trong số đó đã có người phải chịu quy hàng, đầu phục Ngài. Không phải vì Ngài đã trinh phục họ bằng vũ lực, nhưng Ngài đã trinh phục họ bằng tình yêu nhận lãnh Ngài dành cho họ.
Các đế quốc hưng thịnh rồi suy tàn. Các vua chúa lần lượt ra đi, như Ngài còn lại đời đời. Vua Hêrôđê không giết được Ngài, đế quốc Lamã không tiêu diệt được Ngài. sự chết không có quyền trên Ngài. Mồ mả không giữ được Ngài, vì vị trí của Ngài là ở bên hữu Đấng Toàn Năng.
Tất cả ai nấy đều chết vì mình, nhưng Ngài lại chết vì tội nhân. Tất cả mọi người đều khuất phục sự chết, nhưng ngài đã chiến thắng sự chết và bước ra khỏi mồ một cách khải hoàn. Người ta rời cuộc đời trần thế bằng nắm mồ trôn ba tấc đất, nhưng ngài rời cuộc đời trần thế bằng cách thăng thiêng về trời. Lúc đó một đám đông ngơ ngác, ngước mắt lên nhìn theo Ngài vì việc quá lạ lùng xảy ra trước mắt họ!
Ngài đã từng bị khinh bỉ nhục nhã, nhưng nay Ngài đang ngồi trên ngai vinh hiển của Thiên Chúa. Trước khi trở lại ngôi trời, Ngài đã hứa một điều lạ lùng cùng những kẻ thuộc về ngài rằng: Ta đi và sắp sẵn cho các con một chỗ. Khi Ta đã sắp sẵn cho các con một chỗ rồi, Ta sẽ trở lại đem các con đi với Ta, hầu chỗ ta ở đâu thì các con cũng se ở đó. Lời hứa lạ lùng này sẽ thành tựu trong tương lai gần đây. Lúc đó những người của Ngài sẽ vui mừng trọn vẹn vì được sống hạnh phúc vĩnh cửu với Đấng kì diệu của họ.
Đấng kì diệu ấy là ai ? Thưa Ngài chính là Chúa Giêsu . Ngài là con trẻ đã sinh ras tại chuồng chiên nằm trong máng cỏ cách đây 1999 năm. Ngài đã từ trời giáng thế để đem người tin nhận Ngài từ trần gian về cõi trời. Xin kính chúc tất cả một mùa Giáng Sinh vui vẻ và đầy hồng ân của Chúa Giêsu .

 

GS-30: Hôm nay Đấng Cứu độ chúng ta đã ra đời

1. "Hôm nay Đấng Cứu độ chúng ta đã ra đời" (Thánh vịnh đáp ca)
 

Đêm nay, lời loan báo xưa nhưng luôn mãi mới mẻ về sự sinh hạ của Đức Chúa vang lên. Nó: GS-30

Đêm nay, lời loan báo xưa nhưng luôn mãi mới mẻ về sự sinh hạ của Đức Chúa vang lên. Nó vang lên trong lòng những ai tỉnh thức, giống các mục đồng tại Bê-lem cách đây hai ngàn năm; nó vang lên trong lòng những ai đã đáp trả lời mời gọi của Mùa Vọng và những ai, luôn tỉnh thức đợi chờ, đang sẵn sàng tiếp đón tin vui mà trong phụng vụ đã trở thành bài ca của chúng ta:
"Hôm nay Đấng Cứu độ chúng ta đã ra đời".
Đoàn dân kitô hữu đang tỉnh thức; toàn thể thế giới đang tỉnh thức trong đêm Giáng sinh này, đêm liên kết với đêm không thể quên ấy của năm ngoái, khi Cửa Thánh của Năm Đại Toàn xá được mở ra, Cánh Cửa của ân sủng được mở rộng cho mọi người.

2. Hội Thánh không ngừng nhắc lại ngày qua ngày trong Năm Thánh: "Hôm nay Đấng Cứu độ chúng ta đã ra đời". Lời loan báo này, với quyền năng vô tận canh tân chúng ta, vang vọng một lần nữa trong đêm thánh này với sức mạnh đặc biệt: đây là lễ Giáng sinh của Đại Năm Thánh, một tưởng nhớ sống động về hai ngàn năm của Đức Kitô, về sự sinh ra kỳ diệu của Người, đã đánh dấu khởi đầu mới của lịch sử. Hôm nay "Ngôi Lời đã làm người và ngự giữa chúng ta" (Ga 1,14).
"Hôm nay". Đêm nay, thời gian mở ra cho vĩnh cửu, bởi vì Ngài, lạy Đức Kitô, Ngài đã sinh ra giữa chúng con, đến từ trên cao. Ngài đã sinh ra từ cung lòng của một Phụ nữ được chúc phúc giữa mọi người phụ nữ, Ngài là "Con của Đấng Tối Cao". Một lần và cho tất cả, sự thánh thiện của Ngài đã biến tất cả thời gian nên thánh: ngày tháng, thế kỷ, ngàn năm. Nhờ sự sinh ra của Ngài, Ngài đã xoay chuyển thời gian thành ngày "hôm nay" của ơn cứu độ.

3. "Hôm nay Đấng Cứu độ chúng ta đã ra đời".
Đêm nay chúng ta cử hành mầu nhiệm của Bê-lem, mầu nhiệm của một đêm vô tiền khoáng hậu, theo một nghĩa nào đó, ở trong thời gian và vượt lên trên thời gian. Từ lòng Đức Trinh Nữ đã sinh ra một người con, một máng cỏ trở nên nôi của Sự sống bất diệt.
Giáng sinh là lễ hội của sự sống, bởi vì Ngài, lạy Đức Giêsu, đã sinh ra giống tất cả chúng con, đã chúc lành giây phút hạ sinh: một thời điểm diễn tả cách biểu tượng mầu nhiệm của sự sống nhân loại, nối kết mệt nhọc với sự chờ mong, đau đớn với niềm vui.
Tất cả điều này đã xảy ra tại Bê-lem: một người Mẹ sinh con; "một con người đi vào trần gian" (Ga 16,21), Con Người. Mầu nhiệm của Bê-lem!

4. Với niềm cảm xúc sâu xa, tôi nhớ lại những ngày hành hương Năm Thánh của tôi tại Thánh Địa. Tâm trí tôi hướng về chuồng bò, nơi đó tôi đã được ơn dừng lại để cầu nguyện. Trong tinh thần, tôi ôm hôn mảnh đất được chúc lành ấy, nơi đã thấy sự trổ hoa của niềm vui bất diệt cho thế giới.
Tôi quan tâm nghĩ tới các Nơi thánh, và nhất là thành phố Bê-lem, nơi đó buồn thay, vì hoàn cảnh chính trị xáo trộn, các nghi lễ đầy gợi ý của lễ Giáng sinh không thể được cử hành với sự long trọng thường lệ. Đêm nay tôi muốn cùng với các cộng đoàn kitô hữu ở những nơi ấy cảm nghiệm rằng toàn thể Hội Thánh rất gần gũi với họ.
Anh chị em thân mến, chúng tôi đang gần gũi với anh chị em trong một lời cầu nguyện rất thiết tha. Chúng tôi chia sẻ lo lắng của anh chị em về tương lai của toàn thể vùng Trung Đông. Nguyện xin Chúa nghe lời cầu khẩn của chúng ta! Từ quảng trường này, trung tâm của thế giới Công giáo, nguyện cho lời loan báo của các thiên thần với các mục đồng vang lên một lần nữa với sức mạnh mới: "Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người Chúa thương" (Lc 2,14).
Lòng tin tưởng của chúng ta không thể bị lay chuyển, điều kỳ diệu mà chúng ta đang cử hành không thể nào tàn úa. Hôm nay đã sinh ra Đấng đem lại hoà bình cho thế giới.

5. "Hôm nay Đấng Cứu độ chúng ta đã ra đời".
Ngôi Lời khóc lên trong một máng cỏ. Danh Người là Giêsu, nghĩa là "Thiên Chúa cứu thoát", bởi vì "Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi" (Mt 1,21).
Không phải một dinh thự đã thấy Đấng Cứu chuộc hạ sinh, sứ mạng của Người là thiết lập Vương quốc vĩnh cửu và phổ quát. Người đã sinh ra trong một chuồng bò và, đến giữa chúng ta, Người thắp lên trong thế giới ngọn lửa của tình yêu Thiên Chúa (x. Lc 12,49). Ngọn lửa này mãi mãi sẽ không bị dập tắt.
Ước gì ngọn lửa này cháy lên trong tâm hồn chúng ta như một ánh lửa đức ái bằng hành động, khi tự tỏ lộ qua việc rộng mở tấm lòng và trợ giúp nhiều anh chị em của chúng ta đang bị thử thách trầm trọng bởi sự túng thiếu và đau khổ!
6. Lạy Chúa Giêsu, Đấng mà chúng con chiêm ngắm trong sự nghèo khó của Bê-lem, xin biến chúng con thành những chứng nhân cho tình yêu của Ngài, tình yêu ấy dẫn Ngài tự trút bỏ vinh quang của Thiên Chúa, để sinh ra giữa chúng con và chết cho chúng con.
Khi Đại Năm Thánh tiến vào giai đoạn cuối, xin đổ tràn Thánh Khí của Ngài trên chúng con, ước gì ân sủng của mầu nhiệm Nhập thể gợi lên trong mọi người tín hữu một quyết tâm đáp trả quảng đại hơn đối với sự sống mới đã nhận lãnh trong bí tích Thánh tẩy.
Xin làm cho ánh sáng của đêm nay, sáng hơn ban ngày, chiếu toả trên tương lai và hướng dẫn bước chân của nhân loại trên con đường hoà bình.
Lạy Hoàng tử của bình an, lạy Đấng Cứu độ hôm nay đã sinh ra cho chúng con, xin luôn ở với Hội Thánh trên con đường trải dài trước mắt chúng con dẫn vào thiên niên kỷ mới!
+ Gioan-Phaolô II
Phan Du Sinh

 

GS-31: DIỄM PHÚC ĐÓN TIẾP CHÚA

Ngày 17 tháng 12 vừa qua, ta đã đọc bài Phúc Âm nói về gia phả Đức Giêsu trong đó Đức Giêsu: GS-31

Ngày 17 tháng 12 vừa qua, ta đã đọc bài Phúc Âm nói về gia phả Đức Giêsu, trong đó Đức Giêsu sinh bởi dòng dõi vua Đavít. Hôm nay, Phúc Âm lại trình bày cho ta một gốc tích khác của Đức Giêsu : Đức Giêsu sinh bởi Đức Maria do quyền năng của Chúa Thánh Thần. Phải chăng thánh sử Mát Thêu mâu thuẫn khi đưa ra hai gốc tích khác nhau của Đức Giêsu ?
Thánh sử Mát Thêu không mâu thuẫn, nhưng khi trình bày cho ta hai gốc tích khác nhau của Đức Giêsu, thánh sử có một dụng ý thần học. Đức Giêsu là Thiên Chúa, nên việc thụ thai phải do quyền năng của Chúa Thánh Thần. Nhưng Đức Giêsu cũng là người nên phải sinh ra bởi một con người. Thiên Chúa ban Con Một cho loài người. Đức Maria đã đại diện loài người lãnh nhận. Nhưng quyền năng Chúa Thánh Thần tác động trên Đức Maria chỉ diễn ra trong riêng tư, âm thầm. Chính thánh Giuse đưa Đức Giêsu ra công khai khi nhận Ngài vào dòng tộc Đavít. Qua trung gian của thánh Giuse, Đức Giêsu đã chính thức gia nhập gia đình nhân loại, trong một đất nước, trong một dân tộc, trong một dòng họ. Tên tuổi của Đức Giêsu được ghi trong lịch sử của dân tộc, của dòng họ, của gia đình. Vận mệnh của Ngài gắn chặt với dân tộc, dòng họ, gia đình ấy. Ngài thực là Emmanuel, là "Thiên Chúa ở với chúng ta".
Nhờ đâu mà thánh Giuse và Đức Maria được diễm phúc là những người đầu tiên, đại diện nhân loại tiếp đón Đấng Cứu Thế.
Qua bài Phúc Âm Truyền tin và bài Phúc Âm hôm nay, ta thấy thánh Giuse và Đức Maria có những đặc điểm sau đây.
1. Các Ngài có tâm hồn khiêm nhường sâu xa.
Đức Maria là một thiếu nữ có tâm hồn khiêm nhường. Từ nhiều thế kỷ qua, lời sấm về Đấng Cứu Thế vẫn được truyền tụng trong dân DoThái. Thiếu nữ nào cũng mong được làm mẹ Đấng Cứu Thế. Đó là một hạnh phúc, một vinh dự không chỉ cho cá nhân mà còn cho cả gia đình, cho dòng họ, cho đất nước. Vậy mà khi nghe thiên thần loan báo tin làm mẹ Đấng Cứu Thế , Đức Marria chỉ khiêm tốn thưa : "Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời thiên thần truyền". Khi bà Êlisabeth ca tụng Ngài, Đức Maria đã đáp lại : "Vì Chúa đã đoái thương phận tôi tớ thấp hèn. Người nâng cao những người bé nhỏ". Đức Maria nhận ra sự thật là : Nếu Ngài được ơn Chúa ban thì không phải vì công trạng của mình, nhưng do lòng từ bi thương xót của Chúa.
Vì khiêm tốn, nên Đức Maria âm thầm ghhi nhớ tất cả mọi việc Chúa làm, mọi lời Chúa phán. Ghi nhớ để suy gẫm trong lòng. Càng suy gẫm lại càng thêm khiêm nhường. Càng khiêm nhường lại càng kín đáo.
Thánh Giuse cũng có tâm hồn khiêm nhường không kém. Đọc Phúc Âm, ta có cảm tưởng là thánh Giuse luôn tự rút lui vào trong bóng tối. Ngài luôn sống âm thầm khiêm tốn trong công việc tầm thường của thợ thuyền. Sự khiêm tốn ấy đặc biệt thể hiện trong bài Phúc Âm hôm nay. Khi biết tin Đức Mẹ đang mang thai Đấng Cứu Thế, thánh Giuse đã âm thầm bỏ đi. Ngài không dám tự cho mình cái vinh dự được làm cha Đấng Cứu Thế. Ngài không dám chiếm hữu quyền làm cha của Thiên Chúa. Ngài không dám mạo nhận công việc của Chúa Thánh Linh. Ngài là người công chính vì khiêm tốn sống đúng thân phận của mình. Ngài là người công chính vì trả lại cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa.
2. Các Ngài mau mắn vâng lời Thiên Chúa.
Các ngài có chương trình cho đời sống. Chương trình ấy được suy nghĩ kỹ lưỡng vì được thực hành nghiêm chỉnh. Đức Maria khấn giữ mình đồng trinh. Thánh Giuse muốn sống âm thầm trong bóng tối. Nhưng khi nghe biết thánh ý Thiên Chúa các Ngài đã mau mắn xin vâng, bỏ dở chương trình riêng tư, chuyển hướng cuộc đời để thi hành thánh ý Thiên Chúa. Đức Maria đã thưa "xin vâng" bất chấp những đau khổ, khó khăn đang chờ đón. Thánh Giuse đã mau mắn vâng lời dù thánh ý Thiên Chúa chỉ mơ hồ giữa bóng đêm dày đặc, trong một giấc mộng lãng đãng mơ hồ.
Vì Chúa, các Ngài đã từ bỏ ý riêng mình. Vì Chúa, các Ngài đã thay đổi toàn bộ đời sống. Thay đổi quyết liệt. Từ bỏ dứt khoát. Vâng lời mau mắn.
Thái độ của các Ngài rất gần với thái độ của Đức Giêsu. Đức Giêsu xuống trần trong một thái độ tự hạ mình thẳm sâu. Dù là Thiên Chúa, Ngài đã không đòi cho mình quyền được ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã tự hạ làm một người bé nhỏ nghèo hèn. Ngài luôn vâng lời Đức Chúa Cha, vâng lời cho đến chết trên thập giá.
Đồng thanh tương ứng, đồng ý tương cầu. Giống nhau thì tìm đến nhau. Đức Giêsu xuống trần trong một thái độ khiêm hạ và vâng phục thánh ý Chúa Cha đã tìm được nơi cư trú tâm đắc nơi Đức Maria và Thánh Giuse, hai tâm hồn khiêm nhường và tuyệt đối vâng lời.
Lạy Chúa Giêsu bé nhỏ, bây giờ thì con đã hiểu biết phải dọn một máng cỏ như thế nào cho Chúa. Chúa muốn con khoét một hang sâu khiêm nhường trong lòng con, trải trên đó những sợi cỏ vâng lời mau mắn. Như thế con sẽ được hạnh phúc đón tiếp Chúa, Đấng rất khiêm nhường và rất vâng lời. Amen

 

GS-32: SỨ ĐIỆP LỄ GIÁNG SINH

Lc 2, 1-14
 

Trong những tháng qua có nhiều sự kiện khiến tâm hồn tôi nhức nhối Sự kiện thứ nhất là những : GS-32

Trong những tháng qua có nhiều sự kiện khiến tâm hồn tôi nhức nhối.
Sự kiện thứ nhất là những thiên tai tàn phá đất nước ta. Lũ lụt ở đồng bằng sông Cửu Long đã gây ra biết bao thiệt hại về tài sản và nhân mạng. Hơn 200 trẻ em đã chết trong dòng nước lũ.
Còn tại Miền Trung, bão gió đã cuốn đi bao nhiêu mái nhà khiến cho nhiều người trở thành bơ vơ không nhà không cửa. Đợt lạnh vừa qua càng làm cho cảnh khổ thêm phần khắc nghiệt. Không nhà cửa, thiếu quần áo, lương thực, làm sao chịu nổi cái lạnh giá buốt năm nay ? Trong số những người đói lạnh có biết bao trẻ em còn non nớt.
Sự kiện thứ hai là cuộc khủng bố tấn công vào 2 toà nhà chọc trời ở Mỹ và việc Mỹ trả đũa tấn công Ap-ga-nít-tăng. Ti vi và báo chí những ngày qua đã cho ta thấy những hình ảnh thê thảm. Bao người dân lành trở thành nạn nhân của chiến tranh. Bao cơ sở, nhà cửa đã bị thiêu rụi dưới hoả lực mưa bom. Thê thảm nhất là hình ảnh những trẻ thơ vô tội bị trúng đạn bom. Những thân thể bé bỏng, non nớt đang run rẩy, giãy giụa vì những vết thương độc ác.
Sự kiện thứ ba là những bạo động đẫm máu ở Ít-ra-en và Pa-lét-tin. Trên chính quê hương của Chúa ngày ngày diễn ra không biết bao nhiêu trận đánh. Ngày ngày có biết bao người thiệt mạng, trong số đó có những người dân hiền lành, nhất là những trẻ thơ vô tội.
Nhìn những cảnh tượng đó, tôi nhớ đến Chúa Giêsu trong đêm Người sinh xuống thế làm người. Đêm ấy Thánh gia đã phải sống kiếp bơ vơ không nhà. Trẻ thơ Giêsu đã phải nếm mùi giá rét của mùa đông khắc nghiệt. Mùa giáng sinh năm ấy Be-lem loang máu trẻ thơ vô tội. Thành Ra-ma vang dội tiếng khóc than của các bà mẹ mất con.
Đã hai ngàn năm trôi qua, cảnh tượng thương tâm xưa kia vẫn còn tái diễn. Vẫn còn bao gia đình phải sống lang thang, không nhà không cửa. Vẫn còn bao nhiêu người bị hất hủi, không được đón tiếp. Vẫn còn bao trẻ thơ bị vùi dập, bị giết hai do những tham vọng độc ác.
Những sự kiện đau buồn xảy ra vào dịp mọi người đang nô nức chuẩn bị đón ngày lễ Chúa Giáng sinh khiến tôi tự hỏi : Nếu hôm nay Chúa Giêsu giáng sinh một lần nữa, liệu Ngài có được đóng tiếp nồng nhiệt hơn xưa, khi Ngài sinh trong hang đá Be-lem không ? Tôi tin là không. Hôm nay, nếu Ngài sinh xuống thế một lần nữa, Ngài cũng sẽ bị hất hủi. Ngài cũng sẽ bị săn đuổi. Ngài cũng sẽ bị giết chết. Ngài vẫn phải lang thang chung số phận với những kẻ không nhà. Ngài vẫn bị săn đuổi, bị giết chết nơi những em bé thơ ngây thịt xương tơi tả dưới mưa bom đạn.
Y nghĩ đó làm cho tôi đau đớn. Phải làm gì để đón tiếp Đức Giêsu. Phải làm gì để Đức Giêsu không còn phải sinh trong chuồng bò, không bị săn đuổi. Nhìn vào Chúa Hài Nhi nằm trong máng cỏ, tôi thấy Chúa muốn gửi đến nhân loại những sứ điệp sau đây :
1. Hãy mở rộng vòng tay. Đôi tay Chúa giang rộng như muốn ôm lấy tất cả nhân loại. Cử chỉ đó của Chúa Giêsu muốn nhắn bảo tôi hãy biết mở rộng vòng tay đón tiếp mọi người. Hãy mở rộng vòng tay đón tiếp những người không nhà không cửa. Hãy mở rộng vòng tay đón tiếp những kẻ cô đơn. Hãy mở rộng vòng tay che chở cho trẻ thơ yếu đuối. Hãy mở rộng vòng tay nối tình liên đới khắp nơi.
2. Hãy mở rộng tầm nhìn. Ánh mắt Chúa đơn sơ trong sáng như muốn nhắn bảo tôi : Đừng chỉ nhìn hạn hẹp vào bản thân mình. Hãy biết mở rộng tầm nhìn ra xã hội, ra Giáo hội, ra thế giới. Đừng chỉ hạn chế tầm nhìn vào lãnh vực kinh tế, vật chất. Hãy mở rộng tầm nhìn sang lãnh vực tinh thần, và nhất là mở sang lãnh vực tâm linh. Đừng chỉ nhìn vào lợi ích riêng mình. Hãy biết nhìn vào lợi ích của xã hội, của Giáo hội, của đất nước. Đừng chỉ nhìn những vết thương của mình. Hãy mở rộng tầm nhìn để thấy những vết thương của tha nhân, của xã hội, của thế giới.
3. Hãy mở rộng trái tim. Chúa im lặng không nói. Đây là sứ điệp quan trọng nhất như muốn nhắn bảo tôi rằng : Hãy mở rộng trái tim để nghe và hiểu Lời Chúa. Lời Chúa không nói oang oang trên loa phóng thanh. Lời Chúa nói thì thầm vào trái tim ta Lời thì thầm ấy nhẹ nhàng, sâu thẳm. Chỉ khi mở rộng trái tim, ta mới nghe được và hiểu được. Hãy mở rộng trái tim để đón nhận tình yêu thương của Chúa. Chúa tuôn đổ tình yêu hào phóng. Chỉ có trái tim nào rộng mở mới đón nhận được. Hãy mở rộng trái tim để sẵn sàng cảm thông với Chúa, sẵn sang đón nhận hy sinh vì Chúa.
Hôm nay, giữa thế giới văn minh của thế kỷ 21, Đức Giêsu vẫn còn lang thang, vẫn còn cô đơn, vẫn còn bị ruồng bỏ. Hãy mở rộng trái tim để đón tiếp Người, để cùng hy sinh, chịu khổ với Người.
Hài Nhi Giêsu nằm trong máng cỏ như một em bé yếu ớt, đơn sơ, nghèo hèn. Người không nói. Nhưng sứ điệp của Người gửi nhân loại rất thâm sâu, rất phong phú, rất mãnh liệt. Ta chỉ mừng lễ giáng sinh thực sự có ý nghĩa, nếu ta cảm nhận được sứ điệp của Chúa Hài Nhi. Chúa chỉ thực sự giáng sinh trong tâm hồn ta, nếu ta bắt đầu đổi mới cuộc đời theo sứ điệp mà Chúa đã nhắn gửi. Chỉ khi thực hành sứ điệp của Người, ta mới thực sự góp phần vào việc kiến tạo hoà bình cho thế giới.
Lạy Chúa Giêsu bé nhỏ, xin hãy giáng sinh trong linh hồn con. Amen

 

GS-33: NOEL : ÁNH SÁNG

Trong suốt 500 năm, mỗi năm cứ vào đêm Giáng Sinh, dân chúng tại một thành phố nọ đều tập: GS-33

Trong suốt 500 năm, mỗi năm cứ vào đêm Giáng Sinh, dân chúng tại một thành phố nọ đều tập trung lại với nhau, không phải để mừng lễ Giáng Sinh, NHƯNG ĐỂ CHỜ ĐỢI NGÀY CHÚA TRỞ LẠI. Trước nửa đêm, họ đốt đèn, hát thánh ca, rồi đi kiệu đến một giáo đ ường đổ nát. Tại nơi đây, họ dựng một hang đá bên trong và với tất cả lòng thành, họ cùng nhau quỳ gối cầu nguyện. Ánh nến cũng như những bài thánh ca như có sức xua đuổi được cái lạnh của đêm Giáng Sinh.Trừ những người ốm đau bệnh tật, tất cả mỗi người trong thành phố đều có mặt ở đó; ai cũng được thúc đẩy bởi niềm xác tín rằng nếu tất cả dân thành đều cầu nguyện một cách thành tín, thì đúng vào lúc nửa đêm, Chúa Giêsu sẽ trở lại. Thế nhưng, NGÀY TRỞ LẠI CỦA CHÚA GIÊSU VẪN CHƯA BAO GIỜ XẢY ĐẾN. Khi được hỏi: “Bạn có thực sự tin rằng Chúa Giêsu sẽ trở lại trong đêm Giáng Sinh tại thành phố của bạn không?” Nhân vật chính của câu chuyện trả lời: “Không, tôi không bao giờ tin như thế!” Một câu hỏi khác được đặt ra: “Vậy, tại sao bạn lại đến đây mỗi năm?” Nhân vật nầy mỉm cười trả lời: “Nếu như Đức Kitô thực sự trở lại trong đêm đó, và nếu tôi là nguời duy nhất vắng mặt thì sao?”
Chắc hẳn câu chuyện trên đây hàm chứa một bài học nào đó. Giữa đêm tăm tối bao trùm vạn vật, Ánh Sáng Chúa Kitô đã bừng lên, mang một bầu khí mới cho nhân loại. Bài Phúc Âm của Thánh Gioan trong Ngày Lễ Giáng Sinh đã nhắc lại nguồn sáng đó: "Ở nơi Người vẫn có Sự Sống, và Sự Sống là Sự Sáng của nhân loại".
Hơn 2000 năm nay, Ánh Sáng Chúa Kitô đã chiếu soi vào trần gian, nhưng vẫn còn bao nhiêu người chưa hưởng nhờ, hoặc chưa muốn nhận Ánh Sáng đó. Lời thánh Gioan đã minh chứng điều đó trong bài Tin Mừng của Ngài như sau: "Sự Sáng chiếu soi trong u tối, và u tối đã không tiếp nhận Sự Sáng".Thật vậy, chỉ thoáng nhìn vào thực trạng của thế giới hôm nay, chúng ta phải thành thực mà nhận rằng: quyền lực của tối tăm đang hoành hành mạnh mẽ trong thế giới hôm nay. Nhiều mãnh lực đang làm suy giảm nền luân lý của các quốc gia, các thành phố và các gia đình. Bao nhiêu người công giáo đã mất đi ý thức về tội lỗi: Coi phá thai, ngừa thai, ly dị, làm hôn thú giả, kết bạn giả là những việc làm thường tình ở ngoài đời, họ làm được thì người công giáo làm được có sao đâu, vì căn cứ vào luật Hội Thánh và 10 giới răn của Chúa đâu có khoản nào cấm không cho làm đâu?
Giáo Hội mời gọi chúng ta không được đóng khung, nhưng mở rộng lòng chia sẻ nổi khổ của tha nhân. Hãy chia sẻ cho họ những Hồng Ân chúng ta đã nhận lãnh do lòng từ bi của Thiên Chúa. Thánh Nữ Têrêsa đã thường nói: "Tất cả những gì chúng ta có đều do Hồng Ân của Chúa ban". Chúng ta được mời gọi chia sẻ cho tha nhân những Hồng Ân đã nhận được bằng cách nầy hay cách khác để tha nhân cũng nhận biết Ánh Sáng Chúa Kitô. Đây là những điều thiết thực chúng ta sống và thực thi sứ điệp Giáng Sinh trong thế giới hôm nay.
Sau hết, mỗi người thử tự hỏi chính mình chỉ một câu hỏi thôi: Lễ Giáng Sinh năm nay, có ai ngoài thân nhân, bạn bè đã nhận được từ chúng ta một lời cầu chúc Giáng Sinh, một phần quà nho nhỏ theo tinh thần Chúa mời gọi trong Mùa Hồng Ân năm nay không? Chừng nào Chúa Giêsu sẽ trở lại? Chúng ta không thể biết được… Nhưng từng giây phút của cuộc đời, Ngài vẫn gởi đến cho chúng ta những Anh Chị Em của Ngài, chúng ta gặp gỡ Ngài TRONG những Anh Chị Em khốn khổ nầy. Vì chính khi Ngài đến, Ngài sẽ hỏi chúng ta đã làm gì cho những người hèn mọn kém may mắn nầy? Nếu như Ngài sẽ trở lại trong mùa Giáng Sinh nầy và Ngài sẽ hỏi chúng ta rằng: ”Những Anh Chị Em kém may mắn có gặp gỡ chúng ta trong những ngày nầy không?” Chúng ta sẽ trả lời với Chúa Giêsu như thế nào?

 

GS-34: Chúng ta lên đường đi gặp Chúa

Lc 2:15-20
Is 62:11-12; Tt 3:4-7; Lc 2:15-20
 

THEO chân các mục đồng, chúng ta lên đường đi gặp Chúa và bắt chước họ, chúng ta hân hoan : GS-34

THEO chân các mục đồng, chúng ta lên đường đi gặp Chúa và bắt chước họ, chúng ta hân hoan về những điều mắt thấy tai nghe.
A. LÊN ĐƯỜNG
Nghe lời các thiên thần, các mục đồng rủ nhau: “Nào ta hãy đi tới Bêlem!” Và họ đã vội vã lên đường. Những ai quen biết Tin Mừng Luca có thể nhận thấy ngay ở đây một cái gì vọng lại việc Đức Maria đi thăm bà Êlisabét. Ngày ấy, Đức Maria cũng được sứ thần nhà trời báo tin việc bà chị họ cưu mang do quyền phép của Thiên Chúa. Luca kể : Sứ thần vừa ra đi là Đức Maria đã vội vã lên đường. Ở đây cũng vậy, các thiên thần vừa khuất mắt, các mục đồng đã vội vã rủ nhau đi Bêlem. Trong cả hai trường hợp, cũng một thái độ vội vã, nhanh nhẹn thi hành Ý Chúa. Và động lực thúc đẩy chính là lòng tin đơn thật, trong trắng mà chỉ những người mà Phúc Âm gọi là nghèo khó mới có được.
Nhưng không phải là không có một sự khác biệt giữa Đức Maria và các mục đồng. Luca nhận xét rất sâu sắc. Các mục đồng cũng như các người nghe họ, cũng như họ hàng bà con của Yoan Tẩy Giả trước đây (Lc 1:63) và như các thính giả của Chúa Yêsu sau này (4:22; 8:25..) đứng trước các việc kỳ diệu của Chúa và giáo huấn với các phép lạ của Người, họ chỉ biết ngạc nhiên bỡ ngỡ. Họ bị xúc động mãnh liệt và không thể không thốt ra những lời chúc tụng hoặc hoặc thuật lại cho người khác nghe. Nhưng duy một Đức Maria “giữ kỹ mọi điều ấy và hằng suy đi nghĩ lại trong lòng”. Thái độ của Người mới thật là thái độ của người đã tin, của người đã nhận thấy kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa trong khi mọi người khác chưa nhận ra. Kế hoạch mới khởi sự và chưa hiển hiện hết, nên đời người có lòng tin phải suy đi nghĩ lại. Chứ thái độ ngạc nhiên, bỡ ngỡ trên hãy còn hời hợt và mau qua.
Như vậy, với bài Tin Mừng hôm nay, Luca như muốn nhắn nhủ mọi người về thái độ phải có trước mầu nhiệm Giáng sinh. Mau mắn tin vào việc Chúa làm và ngạc nhiên chúc tụng Ngài như các mục đồng đã làm, thật là tốt! Đặc biệt trong Mùa Giáng sinh này, chúng ta hát thánh ca, dâng Chúa Hài Nhi cũng rất phải, vì Phụng vụ dưới đất phải liên kết với Phụng vụ trên trời, tiếng chúc tụng của mục đồng phải hợp hoan với tiếng vang ca của các thiên thần. Nhưng tất cả sẽ mau qua và hời hợt, nếu chúng ta không bắt chước thái độ của Đức Maria, suy đi nghĩ lại trong lòng và khi đó việc lên đường của chúng ta ngày hôm nay không phải để đi đến Bêlem hay máng cỏ, nhưng là để đi vào trong thâm cung của lòng mình, để thấy ơn Chúa Giang sinh đang làm gì cho chúng ta.
2.ƠN GIÁNG SINH
Lời sách Isaia khi đó sẽ thấm thía. Chúng ta không còn là thành đô bị bỏ rơi, nhưng đã được tìm kiếm; chúng ta đã được Chúa cứu chuộc và trở nên thánh thiện. Người đến, quả để ân thưởng chúng ta. Chúng ta trước đây xa lạ với Chúa. Tệ hơn thế nữa, chúng ta đã thù địch với Người, nên bị bỏ rơi trong cảnh tội lỗi lầm than. Trái tim mỗi người như thiếu tình yêu, hay quá lộn xộn vì dục vọng. Nay Chúa cứu chuộc đến với ta, để mang tình yêu của Người tới. Người tìm kiếm ta để ta không còn bị bỏ rơi. Và thánh Phaolô bảo, Người đến rửa sạch tội lỗi, đổ Thánh Thần của Người tràn ngập lòng ta, hầu ta được kế thừa sự sống đời đời.
Nhận thấy ơn Giáng sinh như vậy, không ai được phép chỉ chạy theo những niềm vui tự nhiên của Mùa Giáng sinh; nhưng còn phải có thái độ trầm lặng như Đức Maria, suy tư trước cảnh Chúa trở thành Hài Nhi, để thấy thiên tính đã hiện thân trong xác thể thế nào, hầu muốn đem chất siêu nhiên của Chúa vào trong cuộc đời cụ thể của ta. Muốn làm công việc ấy, rõ ràng ta phải tìm hiểu nhiều về Chúa, phải đọc Thánh Kinh nhiều và nhất là phải có lòng tin sâu xa như Đức Maria.
Lòng tin ấy, ta cũng phải có ngay trong lúc này để đi vào Thánh lễ; nếu không, làm sao ta có thể cảm nghiệm được đây là mầu nhiệm Mình Máu Thánh Chúa cứu chuộc chúng ta. Nhờ việc suy đi nghĩ lại về ơn Thánh Thể chúng ta sẽ chịu, chúng ta sẽ thêm ý thức về Lòng nhân ái của Thiên Chúa chúng ta. Người hằng muốn ban Thánh Thần để nhập thể trong ta, biết cuộc đời của ta nên đời sốngcủa Người, để Người tiếp tục cứu độ trần gian, nối dài mầu nhiệm Giáng sinh cứu đời ở thời đại ta.

 

GS-35: Thánh Lễ bây giờ

Is 52:7-10;Hr 1:1-6; Gn 1:1-18
 

Thánh Lễ bây giờ không còn những màu sắc của Thánh lễ Nửa Đêm nữa. Chúng ta có thể tiếc bầu: GS-35

T hánh Lễ bây giờ không còn những màu sắc của Thánh lễ Nửa Đêm nữa. Chúng ta có thể tiếc bầu khí linh thiêng ấm áp, thi vị của Đêm Giáng sinh. Chúng ta muốn được nghe lại câu chuyện Chúa ra đời nơi máng cỏ và theo chân các mục đồng đến Bêlem. Giờ đây, trong Thánh lễ này, Phụng vụ còn dẫn ta đến với Hài Nhi; nhưng qua các bài đọc Thánh Kinh nặng chất thần học, phụng vụ mời ta suy nghĩ sâu sắc hơn về việc Chúa Giáng sinh làm người. Thế nên, ta phải dùng hiện tượng để đi vào bản chất của mầu nhiệm Giáng sinh; ta phải đi qua câu chuyện Chúa ra đời để tìm hiểu ý nghĩa việc Chúa Giáng trần.

A. VIỆC KỲ DIỆU CHÚA LÀM CHO TA
Bài tiên tri Isaia vắn tắt, nhưng muốn thu hút sự chú ý của ta. Này, chân người đem tin mừng đã đến. Chúng ta hãy mở mắt ra nhìn ơn Chúa cứu độ chúng ta. Isaia bấy giờ nói với Yêrusalem trong thời bị bỏ rơi, tiêu điều, xơ xác, lầm than, khổ sở, mất quyền tự chủ, không có độc lập và tự do. Yêrusalem vẫn còn là hình ảnh của tất cả chúng ta, khi chúng ta không làm chủ được bản thân, đời sống và vận mạng của mình. Ai ý thức mình như thế, hãy nghe lời tiên báo của Isaia: đẹp thay bước chân người đem tin mừng, người loan báo hòa bình cứu độ! Chính Chúa đã ra tay trước mặt muôn dân và khắp chốn đã nhìn thấy Ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta.
Là vì, theo lời thư Hippri, đã lắm phen cùng nhiều kiểu, xưa kia Thiên Chúa đã nói với cha ông các tiên tri, nay vào thời sau hết, Người đã nói với ta nơi Con Một Người. Như vậy, lễ Chúa Giáng Sinh cho ta thấy công việc vĩ đại cuối cùng mà Thiên Chúa làm để dứt khoát cứu độ chúng ta. Không ai còn có thể chờ đợi hành động giải thoát nào khác. Và mọi công việc trước đây chỉ là tạm thời để chuẩn bị hoặc tiên báo.
Để thu hút mọi suy nghĩ của chúng ta vào công việc Chúa làm đây, tác giả thư Hippri cho chúng ta thấy: ngay các thiên thần trên trời bây giờ cũng châu đầu thờ lạy Con Thiên Chúa giáng trần. Nói cách khác, Hài Nhi mới sinh từ nay trở thành trung điểm của vũ thụ và của lịch sử. Muốn tìm thấy Thiên Chúa, phải chạy đến với Người. Muốn biết kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa, cũng phải tìm hiểu nơi Người Con ấy. Người là mạc khải cuối cùng và toàn vẹn, bao gồm mọi mạc khải trước sau; chúng ta không thể tìm được gì tốt đẹp khác ở ngoài Người. Hạnh phúc và cứu độ của chúng ta tùy ở việc nhận ra Ý Người và thi hành mệnh lệnh Người. Hôm nay Chúa Cha đã sinh ra Người cho ta, để mai ngày cũng chính Chúa Cha sẽ phán: các ngươi hết thảy hãy nghe lời Người.
Yoan là người hiểu rõ ý nghĩa của mầu nhiệm Giáng sinh. Ông không dừng lại ở hiện tượng và không mô tả việc Chúa sinh ra. Nhưng ông đã suy nghĩ về Chúa ra đời và thấy đó là cả một công trình cứu độ chúng ta. Ông đã viết nên bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe đọc và Phụng vụ muốn chúng ta suy nghĩ bài Tin Mừng ấy để đón nhận ơn Chúa Giáng sinh.

B. BÀI TIN MỪNG GIOAN
Yoan nhìn máng cỏ, nhìn mầu nhiệm Chúa ra đời như là một sáng tạo và một thế giới mới. Sách Tin Mừng của ông bắt đầu bằng chữ: "lúc Khởi Nguyên". Lập tức chúng ta phải nghĩ tới những chữ đầu tiên của toàn bộ Kinh Thánh là sách Khởi nguyên nói đến việc Chúa sáng tạo vạn vật và làm ra lịch sử. Như vậy, khi dùng những chữ lúc "lúc Khởi Nguyên" để bắt đầu nói về Tin Mừng của Đức Yêsu và gợi lên việc Người sinh ra, Yoan rõ rệt muốn nói với chúng ta rằng: việc Chúa Giáng sinh bắt đầu một sáng tạo mới, một lịch sử mới, không phải để thay thế lịch sử và sáng tạo cũ, nhưng để làm cho chúng nên mới mẻ.
Thế nên trong bài Tin Mừng này, Yoan nói đi nói lại vấn đề ánh sáng, vấn đề sự sống, vấn đề sung mãn, vấn đề vinh quang là những nhân tố trong việc sáng tạo. Chúng ta hẳn còn nhớ bài tường thuật của sách Khởi Nguyên về việc dựng nên trời đất. Ngay từ ngày đầu tiên, tác giả đã nói đến ánh sáng, vì không có ánh sáng, ai có thể làm được việc gì? Rồi trong những ngày sau, tác giả nói đến sự sống sinh sôi nẩy nở ỡ trên trời, ở dưới nước và trên mặt đất. Tác giả kết thúc mọi việc sáng tạo bằng một câu: và Thiên Chúa thấy mọi sự đã làm ra đều tốt lành và Ngài chúc phúc cho vạn sự. Ở đây, Yoan cũng luôn luôn nói đến ân sủng và chân lỳ tức là chân thiện mỹ, diễn tả sự tốt lành và hạnh phúc.
Và cũng như trong bài sáng tạo của sách Khởi nguyên, tất cả đã quy vào việc dựng nên con người thì chắc chắn câu then chốt của bài Tin Mừng hôm nay cũng là câu: "Và Ngôi Lời đã làm người và ở cùng chúng tôi. Chúng tôi đã được ngắm vinh quang của Người, vinh quang như của Con Một tự nơi Cha, đầy ơn nghĩa và sự thật." Thế nên, ta chỉ đáp ứng nguyện vọng của Yoan và của Phụng vụ, nếu ta chăm chú nhìn vào Hài mới sinh nơi máng cỏ như là sáng tạo và công trình mới của Thiên Chúa, để đi vào thế giới, lịch sử mới, sự sống mới mà Hài Nhi thành Bêlêm mang đến cho chúng ta.
C. ĐIỀU KIỆN ĐÓN NHẬN
Không phải hết mọi người nhận ra điều đó. Và cũng như trong buổi Khởi nguyên của lịch sử đã có cuộc tranh chấp giữa lành dữ, thì bài Tin Mừng Yoan hôm nay cũng cho ta thấy những thái độ của loài người trước kế hoạch sáng tạo của Thiên Chúa. Vừa nói đến việc Ngôi Lời là ánh sáng và là sự sống thật đến trong thế gian, Yoan đã nhận xét ngay: thế mà thế gian lại không đón nhận Người. Có một cái gì chua chát trong giọng văn của tác giả khi ông viết: Người đến trong nhà của Người, mà người nhà đã không tiếp nhận Ngươi. Yoan ám chỉ đến người Do thái, nhưng cũng gián tiếp nói về mọi người không đón nhận Đức Kitô với sứ điệp cứu độ của Người, vì tất cả loài người chỉ là công trình của tay Chúa làm ra. Lẽ ra ai ai cũng phải đón nhận Ơn ban của Thiên Chúa khi Ngài ban Con Một Ngài cho ta. Nhưng biết bao người đã từ khước! Người Do thái không đón nhận vì họ dựa vào các tiên tri và còn tin vào Yoan Tẩy giả, lấy lẽ ông này còn trổi vược hơn Đức Kitô. Nhưng chính Yoan Tẩy giả đã nói: Đấng đến sau tôi đã có trước tôi; Ngài hơn tôi bội phần. Cũng như Môsê đã chỉ ban được luật pháp, chứ làm sao có khả năng ban ơn nghĩa và sự thật! Thế mà người Dothái vẫn còntin vào Yoan và Môsê; thế mà bao người khác vẫn bắt chước họ mà khước từ Đức Kitô.
Tại sao vậy? Yoan đáp: tại họ sinh bởi huyết nhục và xác thịt; họ kế thừa những ước muốn cả nam nhân; họ sống theo dục vọng và suy nghĩa theo thế tục; họ muốn sự cứu độ và hạnh phúc trần ai, ích kỷ; họ không chấp nhận một Thiên Chúa sinh làm Hài Nhi nơi máng cỏ; họ từ khước đi vào con đường Người đã đi khi sinh ra ở đời này và ở cùng chúng tôi. Nói tóm lại, họ muốn xây dựng hạnh phúc theo ý họ, chứ không muốn tập họp trên một con đường dẫn tới hạnh phúc chung.
Thế mà ngay từ đầu, Thiên Chúa đã cấu tạo bản chất con người cho một hạnh phúc tập thể. Cả mọi người và cả mọi vật đều chỉ mãn nguyện ở trong sự duy nhất. Adam - Evà đã muốn phá cái mối liên kết tất cả, là Thiên Chúa; khiến từ khước Thiên Chúa rồi, mọi người và mọi vật không còn cơ sở nào để duy nhất lại nữa.Nay chính Thiên Chúa phải Giáng sinh làm người, kết hợp lại với con người, để rồi con người kết hợp lại với nhau và với vạn vật. Người ban cho những ai tin vào Người, kết hợp với người Con của Người được khả năng như thế, tức là được khả năng không còn sống theo ý muốn của huyết nhục xác thịt và nam nhi nữa, một theo ý Chúa, là ý muốn yêu thương cứu độ mọi người, để ai ai cũng như người Con ấy tràn đầy ơn nghĩa và sự thật. Đó là những người sinh bởi Chúa, như Yoan nói tức là những người có sự sống của Chúa, sự sống yêu thương đã sinh ra làm người vì chúng ta.
Như vậy, mừng lễ Giáng sinh, đón nhận ơn Chúa ra đời, là tiếp nhận một sự sống mới, mà Chúa Cứu Thế mang tới. Sự sống ấy không nguyên là ơn nghĩa giao hòa chúng ta với Chúa, tức là ơn tha thứ tội lỗi và yêu mến Thiên Chúa; nhưng khi ta chia sẻ sự sống của Người, ta cũng theo sức mạnh tình yêu của Người mà muốn giao hòa với mọi người và mọi vật. Ta bỏ nếp sống ích kỷ tìm tư lợi, để muốn duy nhất tất cả lại trong Đức Kitô. Và cho được như vậy, ta phải đi vào đường lối Người đã đi, mà giờ đây trong Thánh lễ Người còn khẳng định rõ rệt: Này là Mình Ta sẽ chịu nộp vì các con; này là Máu Ta sẽ đổ ra cho muôn người được khỏ tội. Đức Kitô đã từ bỏ đến cả mạng sống vì anh em. Mà đâu đã có ai đòi hỏi ta đến như thế? Cứ xem Ngôi Lời Thiên Chúa đã phải hy sinh đến mức nào để chấp nhận cuộc đời tại thế hầu làm chứng tình yêu của Thiên Chúa đối với con người, để chúng ta được thúc đẩy bắt chước Người mà đi vào con đường hy sinh xả kỷ hầu làm chứng chúng ta muốn có tình đồng bào, đồng loại với mọi người.
Xin Thánh Thể Chúa sẽ kết hợp chúng ta vào với Người cũng sẽ kết hợp chúng ta lại với nhau, để không những chúng ta mến Chúa hơn mà cũng yêu người nhiều hơn. Chúa đã xuống thế và đến ở cùng chúng ta thì đến lượt ta cũng phải muốn đến với anh em và cùng sống với anh em như anh em một nhà, vì tất cả chúng ta chỉ có một Cha trên trời, Đấng đã sáng tạo lại tất cả trong người Con duy nhất mà Người đã ban cho thế gian trong mầu nhiệm Giáng sinh chúng ta đang cử hành.

 

GS-36: Bài Tin Mừng Luca hấp dẫn

 Lc 2:1-14
Is 9:2-4.6-7;Tt 2:11-14; Lc 2:1-14
 

Bài Tin Mừng Luca hấp dẫn, đến nỗi chúng ta như quên hai bài đọc trước Nhưng có lẽ chúng : GS-36

Bài Tin Mừng Luca hấp dẫn, đến nỗi chúng ta như quên hai bài đọc trước. Nhưng có lẽ chúng ta vẫn sẽ phải trở về để hiểu rõ bài Tin Mừng hơn và để nhận ra thái độ đạo đức phải có ở trước mầu nhiệm Giáng Sinh.
A.VIỆC CHÚA SINH RA
Luca là tác giả duy nhất nói tỉ mỉ việc Chúa Giáng sinh. Ông viết quyển Tin Mừng của ông sau hai thánh Matthêô và Marcô. Và ông lại viết cho những người sống ở ngoài đất Israel, không biết gì về cuộc đời của Chúa và cũng không quen các tập tục Do thái. Độc giả của ông phần lớn là dân ngoại mới theo đạo. Họ sống trong nền văn hóa La-Hy. Luca tỏ ra là một học giả trong nền văn minh đó. Ông sưu tập tài liệu, viết truyện có đầu có đuôi. Ông không thể bắt đầu kể chuyện về Chúa từ khi Ngài ra đi giảng đạo. Lối viết tiểu sử của Hy lạp đòi phải khởi sự từ việc Chúa Giáng Sinh.
Không những thế, Luca còn bắt chước các văn sĩ cổ điển của La-Hy. Viết về một nhân vật xuất chúng không những phải kể lại đúng biến cố đã xảy ra nhưng còn phải cho độc giả thấy ngay vẻ xuất chúng qua nhân vật ấy. Luca sung sướng tiếp nhận lối hành văn của người đồng thời để giới thiệu hai mầu nhiệm của việc Chúa Giáng sinh, cũng là hai bản tính trong Hài Nhi vừa sinh ra ở Bêlem.
Bài Tin Mừng rõ ràng có hai phần. Phần trên kể lại sự kiện trên bình diện loài người; việc Chúa sinh ra rất chân thực, không có gì khác lạ. Nhưng phần sau, Luca đã lấy ánh sáng bởi trời, ánh sáng của đức tin siêu nhiên để bảo ta nhận biết Hài Nhi vừa sinh ra kia là Thiên Chúa. Cả hai khía cạnh tự nhiên và siêu nhiên được chú trọng như nhau để nói lên sự kiện Đức Kitô là Con người - Thiên Chúa và ta phải nhìn nhận nơi Con Trẻ thành Bêlem cả nhân tính lẫn thiên tính.
Nói thế chứ cả khi kể lại việc Chúa sinh ra trên bình diện loài người, Luca cũng đã tỏ ra là một cây bút rất đạo đức. Ông xác định thời buổi Chúa sinh ra dưới thời César - Augustô và Quiriniô bấy giờ là tổng trấn Syri. Rõ rệt hơn nữa, sự việc đã xảy ra vào đúng lúc kiểm tra dân số. Và Chúa đã Giáng sinh tại một địa điểm rõ ràng. Ở Bêlem xứ Yuđê, và trong một hoàn cảnh cụ thể: hai ông bà Yuse và Maria không tìm được nơi nào trong quán trọ, nên phải đặt Hài Nhi chỗ máng ăn của súc vật. Với những nét tả chính xác như vậy, Luca làm cho người ta thấy Đức Kitô thật là một người, đã sinh ra trong thời gian và không gian nhất định và đã chấp nhận một hoàn cảnh lịsh sử cụ thể. Ai muốn kiểm chúng cũng có thể làm được. Nên không một ai có thể phủ nhận bản tính loài người nơi Đức Kitô, và hết thảy chúng ta phải đón nhận Người như là một anh em trong số loài người chúng ta.
Nhưng đồng thời khi kể lại câu chuyện lịch sử ấy, Luca còn để ý đến khía cạnh Tin Mừng. Như Đức Kitô sẽ cho ta thấy sau này, Tin Mừng của Người luôn luôn gắn bó với đức Khó nghèo và mầu nhiệm Tử nạn. Thiên Chúa luôn ban Tin Mừng cứu độ qua các phương tiện tầm thường và đòi cố gắng hy sinh. Việc Chúa Giáng sinh mang ơn cứu độ đến, đã xảy ra trong cảnh khó nghèo và như bị chèn ép, bỏ rơi, hất hủi. Luca cho ta thấy ngay bộ mặt đế quốc to lớn của César-Augustô thời bấy giờ với sức mạnh vô địch truyền kiểm tra khắp nơi. Còn Chúa mang ơn cứu độ đến thì sinh ra làm một Hài Nhi nằm trong máng ăn của súc vật. Người không tìm được chỗ đứng nào trong xã hội và bị hất hủi. Người sẽ xây dựng lại hạnh phúc cho loài người từ thân phận nghèo hèn, đói rét.
Và để làm nổi bật khía cạnh Tin mừng cứu độ, Luca đã dùng lại phương pháp của Cựu Ước. Ông mô tả việc Chúa Giáng sinh theo kiểu so sánh, biền ngẫu. Đoạn văn này mà được đọc với đoạn Tin mừng kể chuyện Yoan Tẩy giả sinh ra, sẽ cho ta thấy rõ thâm ý của tác giả muốn dùng lại kiểu viết văn so sánh của Cựu Ước. Và chúng ta có thể thấy ông dùng lại những từ của sách Khởi nguyên 25:24 để hàm ý Đức Kitô vượt xa Yoan Tẩy giả và Yacob (cũng gọi là Israel), nên Ngài thật là Israel mới, là Con Thiên Chúa, là Dân Mới củaThiên Chúa.
Xác quyết như vậy cũng chưa đủ, Luca trong phần còn lại của bài Tin Mừng còn giới thiệu với chúng ta chân tướng đích thực của Hài Nhi và những ơn Người mang lại cho ta. Người là Thiên Chúa vì ánh sáng của Thiên Chúa phủ trên Người và bao nhiêu thần đang thờ lạy xướng ca. Người đến không mang theo sự sợ hãi như trong thời Cựu Ước mỗi lần có việc Chúa hiển linh; trái lại, Người mang theo Tin Mừng to lớn cho toàn dân, vì Người là Cứu Chúa. Người ta chỉ đón nhận Ơn đó nếu chấp nhận “dấu chỉ” của Thiên Chúa, tức là chấp nhận tính cách khó nghèo và con đường thập giá của Phúc âm. Lúc đó người ta sẽ thấy vinh quang của Chúa và vinh quang ấy đem lại an bình vì họ thấy rõ mình được Chúa thương.
Như vậy, bài Tin Mừng Luca quá súc tích. Nó cho ta không những đề tài phong phú để suy nghĩ mà còn gợi lên nhiều thái độ phải có đứng trước mầu nhiệm Chúa Giáng Sinh. Ta hãy nhận thức nhờ sự hỗ trợ của hai bài đọc trước.

B.BÀI HỌC GIÁNG SINH
Isaia từ ngàn xưa đã nhìn thấy việc Hài Nhi sinh ra cho ta đêm nay là như một luồng sáng mạnh đến mở mắt cho ta đang lẩm cẩm đi trong bóng tối sự chết. Đời sống con người từ trước tới nay như chỉ lẩn quẩn trong cảnh chém giết bóc lột lẫn nhau. Nay Đấng kỳ diệu đến mang lại hòa bình và tình thương. Người bẻ gãy mọi ách nô lệ, không bằng sức mạnh nhưng bằng thiên tính mà Yoan đã định nghĩa là tình yêu, và Phaolô trong thư đọc hôm nay đã khẳng định yêu thương là hiện thân cứu chuộc. Thiên Chúa trong mầu nhiệm Giáng Sinh hiện thân để cứu chuộc chúng ta. Vì loài người chúng ta mà Người đã xuống thế. Phụng vụ bảo ta quỳ gối thờ lạy mầu nhiệm này. Nhưng rồi Phụng vụ lại bảo ta đứng lên đi theo con đường Người đã đi, là xả thân cứu đời.
Chúng ta chỉ mừng lễ Chúa Giáng sinh cách xứng đáng khi nghe lời Phaolô khuyên bảo Titô : hãy để cho Ơn Chúa Cứu Thế dạy dỗ mình từ bỏ mọi ham muốn thế tục và ích kỷ, tập sống côn bình và đạo hạnh ở đời này, để đi đến niềm trông đợi hạnh phúc vinh quang. Mừng lễ Chúa Giáng sinh như vậy là suy nghĩ về nguyên nhân nào đã tạo nên cảnh bất hạnh trong đời sống con người trước đây; nhận thức giá trị đường lối đạo đức công bình của Tin Mừng khó nghèo và bác ái; để xây dựng hòa bình hạnh phúc cho mọi người. Dĩ nhiên Chúa sinh ra để cứu ta khỏi tội, nhưng tội lỗi cụ thể là tất cả những chướng tai gai mắt, bất công bóc lột giam giữ con người trong thế lực phi nhân phi nghĩa của đồng tiền và dục vọng.
Ơn Thánh Thể mà chúng ta lãnh nhận trong Thánh lễ này chính là thiên tính và thần lực để giúp ta bắt đầu nếp sống mới, bỏ mọi dục vọng vị kỷ hầu sống cho mọi người, như Đức Kitô đã Giáng Sinh làm người chỉ vì hết thảy mọi người chúng ta.

 

GS-37: DÀNH CHO CHÚA HÀI ĐỒNG

 Lm Bá Công
Lk 2:1-14
 

Hôm ấy vào đêm Vọng Giáng sinh, trong một viện giáo dục trẻ tàn tật ở Mỹ, người ta cho các: GS-37

Hôm ấy vào đêm Vọng Giáng sinh, trong một viện giáo dục trẻ tàn tật ở Mỹ, người ta cho các trẻ diễn một hoạt cảnh Giáng sinh, trước sự hiện diện của phụ huynh và ân nhân. Vở hoạt cảnh có ba màn. Màn đầu tiên diễn ra ở Nagiareth, với sắc lệnh của hoàng đến Cêsarê Augusto. Màn hai diễn lại cảnh thánh Giuse và Mẹ Maria vào quán trọ, bị chủ quan xua đuổi. Màn ba là cảnh hang lừa máng cỏ. Ban Giám đốc và các bậc phụ huynh rất lo âu cho các trẻ, sợ chúng diễn vụng về, nhưng màn đầu diễn tiến được lắm.
Qua màn hai, người ta thấy Giuse và Maria gõ cửa quán trọ. Nhìn Giuse thì nghèo nàn, Maria bụng mang dạ chửa, chủ quán đưa tay sua đuổi lia lịa, miệng thao thao nói không có chỗ! Không có chỗ. Hai vợ chồng năn nỉ, với nét mặt u sầu. Cảnh van xin và từ chối lại diễn ra một lần nữa. Và lần này hai ông bà có vẻ tha thiết nài van. Chủ quán trẻ vẫn đưa tay từ chối. Song vừa bắt đầu mấy tiếng: Tôi đã nói rằng hết..., thì em không tiếp tục nói thêm được nữa. Theo diễn tiến của vở hoạt cảnh thì chủ quán phải dứt khoát từ chối. Thế nhưng em chủ quán quên hẳn mình đang diễn kịch, mà lại làm và nói theo cảm xúc của em. Em đưa tay lên giựt xuống hàng chữ: “không còn chỗ”, và nghẹn ngào thổn thức trong nước mắt, em nói: “Con xin nhường phòng con cho hai ông bà!” Trước cảnh bất ngờ đó, giáo viên đạo diễn tỏ ra bực bội, lúng túng và cho ngừng diễn. Nhưng toàn thể khán giả đều cảm xúc ra mặt, vì cái vẻ hồn nhiên trong trắng và quảng đại của em bé tốt bụng. Cử chỉ, ngôn ngữ và cung cách của em nói cho mọi người hay ý nghĩa thật sự của lễ Giáng sinh.
Thưa anh chị em, tất cả mọi người chúng ta, cách này hay cách khác, đang đóng vai người chủ quán. Chúng ta đang rộng tay đón kẻ này, vung tay xua đuổi người khác. Chúng ta hãy tự vấn lương tâm để hỏi mình: Tôi có phải là người chủ quan ngày xưa, xua đuổi thánh Giuse và Mẹ Maria trong đêm tịch mịch cô đơn không?
Hay tôi là đứa bé tàn tật đóng vui chủ quán trong vở hoạt cảnh hôm ấy: “Con xin nhường phòng con cho hai ông Bà”. Có lẽ chúng ta cũng treo một tấm bảng: “không rảnh”, “bận việc” , tức là bằng những hành động thiếu tế nhị, những cử chỉ thiếu mềm mại, những giọng nói thiếu êm đềm, làm cho người khác hiểu rằng: ta không muốn bị quấy rầy, ta bận rộn quá hay mệt nhọc quá. Nếu chúng ta là những người chỉ ân cần đến những kẻ giàu có, những vị chức quyền, thì ta coi chừng, có khi ta đã quay lưng cho Thánh Giuse và Mẹ Maria, và vô tình chúng ta cũng trở lưng cho cả Đức Giêsu, vị Cứu Chuộc đang nương náu trong cung lòng Mẹ.
Vâng, ở đời có những hạng người giả điếc làm ngơ, không lay chuyển trước những van xin của người khác. Nhưng có kẻ lại nghĩ rằng mình luôn dành một chỗ cho người khác. Ước gì khi nghe đọc lại lời Chúa: “Bà Maria bọc con trẻ trong khăn vải và đặt trong máng cỏ”, mỗi người chúng ta quyết sẽ không bao giờ xua đuổi Chúa ra khỏi cõi lòng ta, gia đình ta.
Ước gì chúng ta hôm nay khi kỷ niệm ngày Chúa nhập thể, chúng ta được múc lấy phần nào tinh thần quảng đại, bác ái của Ngài và quyết dành cho Ngài một chỗ xứng đáng trong lòng chúng ta, trong gia đình chúng ta, trong xã hội chúng ta.
(Trích NS Trái Tim Đức Mẹ)

 

GS-38: NIỀM VUI GIÁNG SINH / Lm Giuse Nguyễn Trung Điểm

Is 9:1-3.5-6;Tt 2:11-14; Lc 2:1-14
 

Mỗi năm chúng ta đều mừng lễ Giáng sinh, một cuộc lễ nhiều ý nghĩa và gợi nhiều cảm xúc, thường: GS-38

" M ỗi năm chúng ta đều mừng lễ Giáng sinh, một cuộc lễ nhiều ý nghĩa và gợi nhiều cảm xúc, thường liên kết với những kỷ niệm êm đẹp thời thơ ấu. Ngày Sinh Nhật của Đức Giêsu là cao điểm trong năm phụng vụ, nơi đó mỗi người trong chúng ta được lãnh nhận mới tương quan mật thiết với Thiên Chúa, chính vì Thiên Chúa gặp gỡ con người một cách đặc biệt. Tin Mừng trình thuật sứ thần Chúa hiện ra cho những người chăn chiên và bảo họ: “Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại: Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đavít”. Chúng ta tự hỏi: Hôm nay nào? Biến cố Đức Giêsu giáng sinh đã xảy ra cách đây những 2,000 năm. Hôm nay chỉ là ngày tưởng niệm . Đó chính là vấn đề của chúng ta. Chúng ta không sống đồng thời với Đức Giêsu. Nhưng lễ Giáng sinh không phải là cuộc tưởng niệm một biến cố đã qua, biến cố xa xưa ấy có tác động trên mỗi người trong chúng ta hôm nay; qua biến cố ấy chúng ta đón nhận được ơn cứu độ, vì biến cố Giáng sinh tuy xảy ra thời xa xưa, nhưng vẫn tiếp tục tác động theo dòng thời gian.
Một hình ảnh có thể giúp chúng ta hiểu tác động của mầu nhiệm Giáng Sinh. Ở một nơi nào đó phát xuất một mạch nước, dòng nước nầy tiếp tục chảy thành suối và mạch nước tiếp tục lớn mạnh dần dần thành một con sông chảy xuyên qua các vùng đất. Ngày kia, một khách lữ hành mệt mỏi có nguy cơ bị chết khát. May mắn thay ông đến được bờ sông và uống, dòng nước cứu ông thoát cơn chết khát. Mạch nước và con sông liên kết với nhau và đồng thời với nhau thế nào, thì biến cố Giáng Sinh ở Bê Lem ngày xưa cũng liên kết và đồng thời với chúng ta trong cách thế tương tự. Vì thế, lễ Giáng Sinh không phải là cuộc tưởng niệm một biến cố đã qua, nhưng là một thực tại mang ơn cứu độ cho chúng ta hôm nay.
“Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em. Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người: Anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ.” Dấu này cho chúng ta điều gì? Trước tiên, trẻ sơ sinh nầy sẽ là Đấng Cứu Thế. Thiên Chúa coi trọng con người biết bao! Thiên Chúa hạ mình xuống để đến với con người. Qua việc Con Thiên Chúa giáng sinh làm người, Thiên Chúa tỏ cho chúng ta thấy phẩm giá con người lớn lao biết bao trước mặt Thiên Chúa.
Kế đến, trẻ sơ sinh nầy chính là Thiên Chúa toàn năng. Thiên Chúa đến với loài người trong hình dạng một trẻ sơ sinh nhỏ bé, yếu đuối nằm trong máng cỏ, để tỏ cho chúng ta thấy: trước mặt Thiên Chúa chúng ta không phải sợ hãi. Biến cố Giáng Sinh cho chúng ta một hình ảnh mới về Thiên Chúa:Thiên Chúa là tình yêu và kiếm tìm tình yêu nơi con người.
Sau cùng, biến cố Giáng Sinh cho chúng ta thấy Thiên Chúa xuống thế làm người trong nghèo nàn, bên cạnh những người mục tử cùng khổ, bị xã hội xua đuổi. Qua cử chỉ đó, Đức Giêsu không nhằm đề cao sự nghèo túng, khốn cùng; Đức Giêsu cũng không nhằm khinh chê tiện nghi, của cải trần gian; nhưng Người tỏ cho thấy: những nghèo có tấm lòng sẵn sàng hơn để đón nhận Tin Mừng và nhờ vậy, họ trở nên giàu có trong ý nghĩa siêu nhiên. Đức Kitô chấp nhận nghèo nàn, để chúng ta trở nên giàu có, được thông phần vào sự sung mãn của Người. Cuộc sống của Người, hoạt động của Người, sự phục sinh của Người nói lên: tất cả chúng ta đều được Thiên Chúa yêu thương, tất cả chúng ta đều có một tương lai sáng lạn, Thiên Chúa xuống tận nơi khốn cùng của chúng ta để nâng chúng ta dậy.
Vâng, Thiên Chúa không hứa cho chúng ta không gặp đau khổ, nhưng Người đã hứa ở cùng chúng ta trong mọi hoàn cảnh: Người đến với chúng ta trong Hài Nhi Giêsu, Người đến với chúng ta trong Tin Mừng; chúng ta nhìn thấy và chạm đến Người trong Thánh Thể; Người hiện diện giữa chúng ta như ánh sáng, như niềm an ủi, như sức mạnh, như niềm hy vọng vững chắc; Người đồng hành với chúng ta và đỡ nâng chúng ta trong mọi gánh nặng của cuộc đời.
Lễ Giáng Sinh, Ngôi Hai xuống thế làm người, để con người được gặp Thiên Chúa và được hưởng cuộc sống sung mãn của Người. Chúng ta thờ lạy Thiên Chúa cao cả trong em bé sơ sinh. Chúng ta hãy nhìn nhận mình là lữ khách đang khát nước và Hài Nhi Giêsu chính là Đấng ban nước cứu độ, ban nước trường sinh cho chúng ta.
Nguồn : NS Dân Chúa Âu Châu

 

GS-39: NIỀM VUI GIÁNG SINH/ Lm Nguyễn Bình An

Đêm lạnh, đồng vắng, trời tối, sao trong, gió lùa là bối cảnh của đêm Chúa nhập thể. Ai không : GS-39

Đêm lạnh, đồng vắng, trời tối, sao trong, gió lùa là bối cảnh của đêm Chúa nhập thể. Ai không ngủ được thì đang nhấm nháp ly cà phê và thì thầm nhỏ to bên lò sưởi. Ai mệt mỏi thì đang cuốn mình ngủ vùi trong chăn ấm, nệm êm. Những “ó đêm” thì nhờ bóng đêm đang làm chuyện phi pháp và vô luân. Bóng đêm gieo kinh hãi cho nhiều người. Bóng đêm cách ngăn tình thân. Bóng đêm đình chỉ sinh hoạt. Và bóng đêm là hình ảnh của tang tóc, bất an và bấp bênh.
Nhưng đêm nay chúng ta có lý do để vui mừng. Một hừng đông xuất hiện, một ánh sao chiếu vào đêm tối. Một gia đình thêm cậu bé kháu khỉnh dễ thương. Một cặp vợ chồng trẻ đang xúc động vì đứa con mới chào đời. Một Giuse và Maria lo lắng vì gia đình thiếu thốn. Họ như quên đi cái lạnh, cái khổ và cái tủi buồn để thay nhau bồng bế và âu yếm nhìn hài nhi Giêsu. Họ tạ ơn Thiên Chúa đã nghe tiếng nhân loại than van và ban tặng vị Cứu tinh. Chính họ là những người đầu tiên không thể hiểu nổi Thiên ý. Qua họ, Emmanuel “Thiên Chúa ở cùng thế nhân” khởi đầu ơn cứu độ. Ngài đến để chia sớt những cùng khốn nhất của nhân loại, nên đã trở thành một người khốn cùng nhất trong thế nhân!
Khoa tử vi và tướng số đã không thể tìm ra chân tướng và đáp số cho cuộc đời Ngài. Ngài có thiên mã, thiên tướng, thiên phù, thiên mệnh, thiên tài, thiên quí, thiên quan, thiên đức, thiên phúc, thiên an... nhưng cái “đại triệt” đã tạo những lận đận, hình thành những chống đối và đưa đời Ngài đến bức tử. Một điều huyền diệu và khó hiểu mà tự cổ chí kim chưa bao giờ xảy ra nơi Ngài là “tử vô tận” hay lặn mà không hề tắt... Ngài vẫn luôn là hừng đông và là sao sáng dẩn đường, Ngài luôn là vị quân sư kỳ diệu và cố vấn tối cao cho nhiều tâm hồn. Ngài vẫn hiện là Cứu Chúa của nhân loại, Ngài là nguồn vui cho những tâm hồn ngay lành. Ngài đang ở giữa chúng nhân, trong ông bà và anh chị em cho đến tận thế. Ngài thực sự giáng sinh hôm nay và ở đây!
Người không có bình an là dấu chứng của lòng chưa thẳng, tâm chưa thiện, và hồn chưa ngay. Do đó niềm vui giáng sinh và món quà vô giá Cứu Chúa trao ban là an bình tâm hồn đang bị bao phủ bởi những mưu toan, lạc thú, và danh lợi dục. Bởi vậy dù sống trong một thế giới đầy đủ vật chất, tiện nghi và ấm cúng, nhưng lòng họ vẫn lạnh ngắt, tâm họ vẫn khổ sở, hồn họ luôn khắc khoải và xác hot vẫn héo hon ghi đậm bằng những nết nhăn in hằn trên xác thân. Hãy ngắm nhìn sự đơn thành, thanh thoát, ngây thơ, vô tội và tươi mát của em bé. Đời các em chỉ có những nụ cười vui, ăn no, ngủ kỹ và hạnh phúc. Hồn các em là những đền thánh nguy nga Chúa ưa thích ngự trị. Thân xác các em là hình ảnh tuyệt vời và thánh đức của Chúa nhập thể hôm qua, hôm nay và ngày mai.
Chúa giáng sinh. Sao đang chiếu sáng. Chúng ta phải cam đảm vượt qua bức tường tối đen dầy đặc để thấy ánh sao và đón tiếp Chúa. Hãy khoét ít là được một lỗ hổng nhỏ để ánh sáng Chúa soi vào, sưởi ấm tâm hồn và thức tỉnh chúng ta. Như vậy tiệc mừng Giáng sinh năm nay mới có ý nghĩa, và gói quà Noel sắp mở mới đem lại một ý nghĩa đích thực và là nguồn vui thánh. Chúa giáng sinh trong tôi, trong anh chị em và trong chúng ta và “bình an dưới thế cho người lòng ngay” quả là lời chúc mừng thực đang triển nở nơi mỗi cá nhân, trong các gia đình và trong cộng đồng nhân loại.
(Nguồn: NS Dân Chúa Mỹ Châu)

 

GS-40: CHÚA HÀI NHI LÀ MÓN QUÀ TỪ TRỜI CAO

BAN CHO MỌI NGƯỜI/ Lm P. Hà Ngọc Đoài
SUY NIỆM:
“Các người sẽ thấy một hài nhi mới sinh, bọc trong khăn vải và đặt nằm trong máng cỏ” (Lc 2:13)
 

Vào ngày 18, tháng 6 năm 1998, có hơn 50,000 người mở Internet để theo dõi một em bé chào: GS-40

Vào ngày 18, tháng 6 năm 1998, có hơn 50,000 người mở Internet để theo dõi một em bé chào đời tên là Sean. Nhiều người tấm tắc khen ngợi sự phát triển của khoa học và tiện nghi của kỹ thuật! Họ có thể theo dõi mọi biến cố khắp thế giới qua Radio, TV và quan sát học hỏi nhiều trên Internet!
Chỉ có sự kiện Chúa sinh ra thì không ai theo dõi được, mà chỉ quan sát sự trang hoàng và tưng bừng rực sáng của thế giới đang chuẩn bị mừng lễ Chúa Giáng Sinh. Sự chuẩn bị long trọng là điều đáng khích lệ, nhưng chúng ta nên chuẩn bị cho đúng. Có những nhà nghèo mà mua quà tặng và vật dụng trang trí đắt tiền, lại thêm những buổi tiệc liên hoan, để rồi quá mệt mỏi không có thể đi tham dự Lễ được nữa !
Chúa không phải là khách quá sang trọng chỉ vào những nơi lộng lẫy, nhưng Ngài tự hạ mình xuống thật thấp với người nghèo nhất : 'bọc trong khăn vải', để cho mọi người có thể đến gần và đón rước về nhà. Máng cỏ Ngài nằm còn thấp kém hơn nhà của người nghèo, Ngài được sinh ra trong đó để trở nên lương thực cho mọi người. Chúa còn tiếp tục đến với mọi tâm hồn hèn kém qua Bí tích Thánh Thể.

THỰC HÀNH: "
"Hôm nay Đấng Cứu Thế đã giáng sinh cho chúng ta, Người là Đức Kitô, Chúa chúng ta” (Lc 2:11)
Hôm nay chúng ta rộn ràng mừng vui vì Thiên Chúa đang mang đến cho mọi tâm hồn sự bình an từ trời. Khi mở quà tặng, tôi cũng biết mở lòng ra để nhận quà thiêng liêng. Nhờ vậy, đời tôi sẽ vui hát như các thiên thần :
“Vinh danh Chúa cả trên trời,
Bình an dưới thế cho người thiện tâm.”
(Nguồn: NS Dân Chúa Úc Châu)

 

GS-41: DẤU HIỆU CỦA CHÚA / Lm Phạm Quốc Hưng, CSsR

Lc 2:1-14: "Và sự này làm dấu cho các ngươi: các ngươi sẽ gặp thấy một hài nhi mình vấn tã, đặt nằm trong máng cỏ."
 

Trong cuộc sống hằng ngày, ai trong chúng ta cũng nhận biết tầm quan trọng của các dấu hiệu: GS-41

Trong cuộc sống hằng ngày, ai trong chúng ta cũng nhận biết tầm quan trọng của các dấu hiệu. Có hai loại dấu hiệu: một loại là tự nhiên và một loại khác là qui ước. Khói và ánh sáng cùng sức nóng là dấu hiệu tự nhiên của lửa. Đèn đường xanh đỏ hay các bảng chỉ đường là những dấu hiệu qui ước của luật lưu thông. Khuôn mặt tươi vui là dấu hiệu của một con người hạnh phúc. Thân xác sống động của một người cũng là dấu hiệu của sự hiện diện toàn vẹn của cả người ấy với hồn thiêng bất tử. Cái bắt tay hay nụ hôn là dấu hiện của tình thân ái. Ngôn ngữ cũng là một loại dấu hiệu để con người trao đổi tâm tình và kiến thức với nhau. Và có lẽ ngôn ngữ là loại dấu hiệu quan trọng bậc nhất trong các liên hệ giữa con người với nhau. Chúng ta không thể có một liên hệ thân mật với ai, nếu chúng ta không nhận biết các dấu hiệu và ngôn ngữ của người ấy.
Thiên Chúa cũng dùng các dấu hiệu để thiết lập và hàn gắn tương quan yêu thương với con người chúng ta.
Thực vậy, Thiên Chúa đã dựng nên chúng ta giống hình ảnh Người, nghĩa là cho chúng ta có lý trí và ý chí tự do để chúng ta có thể yêu thương và đón nhận tình thương. Người đã cho con người sống trong liên hệ yêu thương mật thiết với Người, và chỉ trong liên hệ này con người mới tìm được hạnh phúc đích thực và viên mãn. Vì tội tổ tông, mối tương quan yêu thương giữa Thiên Chúa và con người đã bị tổn thương. Nhưng một lần nữa vì yêu thương, Thiên Chúa đã quyết định cứu chuộc con người, nghĩa là Người muốn hàn gắn lại liên hệ yêu thương giữa Người và nhân loại.
Để thực hiện việc hàn gắn lại mối tương quan yêu thương giữa Thiên Chúa và nhân loại còn gọi là việc cứu độ nhân loại, Thiên Chúa đã chọn dân Do Thái làm dân riêng trong thời Cựu Ước để chuẩn bị cho việc xuất hiện của Đấng Cứu Thế. Thiên Chúa đã bày tỏ ý định yêu thương này cho dân Do thái qua các tổ phụ và ngôn sứ do chính Người tuyển chọn. Về điều này, thánh Phaolô viết: "Đã lắm phen cùng nhiều kiểu, xưa kia Thiên Chúa đã nói với cha ông nơi các tiên tri"(Dt 1:1). Những tổ phụ và ngôn sứ - những người được chọn để chuyển thông ý định cứu chuộc của Thiên Chúa trong thời Cựu Ước - cùng với chính dân tộc Israel vì vậy chính là những dấu hiệu Thiên Chúa đã dùng để bắt đầu việc gầy dựng lại mối tương quan yêu thương với nhân loại chúng ta. Họ đã là những sứ giả của Thiên Chúa.
Thánh Phaolô viết tiếp : "Vào thời sau hết, tức là những ngày này, Người đã nói với ta nơi một Người Con, mà Người đã đặt làm Đấng thừa tự tất cả mọi sự, và cũng nhờ Ngài mà Người đã làm ra các thế giới: Ngài là phản ảnh của vinh quang, là ấn tượng của bản lĩnh Người, và cầm giữ cả vạn vật bằng lời quyền năng của Ngài, sau khi đã thi hành việc thanh tẩy tội lỗi, Ngài đã lên ngự bên hữu Đấng oai nghi chốn cữu trùng, trổi hơn thiên thần vạn bội, bời khác với họ, Ngài đã thừa hưởng một Danh khôn ví"(Dt 1:2-4)
Thời sau hết mà thánh Phaolô nói đến ở đây chính là thời Tân Ước kể từ khi Chúa Giêsu là Ngôi Lời của Thiên Chúa đã "hóa thành xác phàm và ở giữa chúng ta" (Ga 1:14). Đây là một biến cố trọng đại nhất trong lịch sử ơn cứu độ. Và đây chính là ý nghĩa sâu xa nhất của đại lễ Giáng Sinh mà chúng ta cử hành hôm nay.
Khác với các tổ phụ và các ngôn sứ trong thời Cựu Ước là những dấu hiệu hay những sứ giả Thiên Chúa dùng để chuẩn bị để trao ban Đấng Cứu Thế cho nhân loại, Chúa Giêsu là chính Đấng Cứu Thế, là Trung Tâm của lịch sử nhân loại, là Dấu Hiệu của Sự Hiện Diện Đích Thực của Thiên Chúa ở giữa nhân loại, là chính Ơn Cứu Độ, và là chính Sự Bình An mà con tim nhân loại hằng mong mỏi đợi chờ.
Chính Thiên Chúa đã long trọng công bố sự kiện vô cùng trọng đại này cho nhân loại qua các lời thiên thần nói với những mục đồng trong đêm Chúa giáng sinh như sau:
"Đừng sợ! Này ta đem tin mừng cho các ngươi về một niềm vui to tát, tức là niềm vui cho toàn dân: là hôm nay, đã sinh ra cho các ngươi Vị Cứu Chúa, tức là Đức Kitô Chúa, trong thành của Đavít. Và sự này làm dấu cho các ngươi: các ngươi sẽ gặp thấy một hài nhi mình vấn tã, đặt nằm trong máng cỏ" (Lc 2:10-12)
Như vậy, dấu hiệu của Sự Hiện Diện Đích Thực của Thiên Chúa ỡ giữa nhân loại là "một hài nhi mình vấn tã, đặt nằm trong máng cỏ".
Đây thật là một mầu nhiệm siêu việt của Thiên Chúa Tình yêu, một mầu nhiệm vượt quá mọi suy tưởng và mơ ước của con người.
Ai dám nghĩ đến việc Thiên Chúa toàn năng nay biến thành một hài nhi nhỏ bé yếu đuối? Đấng Tạo Hóa mà muôn vật phải phục tùng nay phải lệ thuộc sự săn sóc chăm nom của đôi bạn trẻ Giuse và Maria. Chúa Tể Muôn Loài nay phải sinh ra trong cảnh nghèo hèn tận cùng của máng cỏ Bêlem.
Nhưng đó chính là đường lối của Thiên Chúa, đường lối của Tình yêu Nhập Thể - một tình yêu sẽ mãi mãi liên kết Thiên Chúa với nhân loại và với từng người nơi Chúa Giêsu.
Vì thế, từ biến cố giáng sinh mà chúng ta kỷ niệm hôm nya, đón nhận và yêu thương "một hài nhi mình vấn tả, đặt nằm trong máng cỏ" là đón nhận và yêu thương chính Thiên Chúa làm người, là đón nhận và yêu thương chính Thiên Chúa làm người, là đón nhận tình yêu nhập thể và hồng ân cứu độ của Thiên Chúa. Đón nhận và yêu thương con người với niềm tin yêu hướng về Thiên Chúa là đón nhận và yêu thường chính Chúa, như Chúa Giêsu đã phán: "Quả thật, Ta bảo các ngươi: những gì các ngươi đã làm cho một người trong các anh em hèn mọn nhất này của Ta, là các ngươi đã làm cho chính Ta" (Mt 25:40)
Tất cả những cố gắng sống đạo của chúng ta gồm cả việc tổ chức mừng đại lễ giáng sinh hôm nay sẽ trở thàny vô ích nếu chúng không giúp ta nhận ra dấu hiệu sự hiện diện của Chúa trong cuộc đời chúng ta để đón nhận và mến yêu Người, để đươc Người ban ơn cứu độ.
Ý nghĩa đích thật cho cuộc sống hiện tại và hạnh phúc vĩnh hằng đời sau của chúng ta tùy thuộc ở sự chấp nhận hay chối bỏ các dấu hiệu của Chúa trong cuộc đời chúng ta.
gày xưa, Chúa Giêsu đã chọn tỏ mình ra cho Đức Mẹ, thánh Cả Giuse và các mục đồng trong đêm giáng sinh đầu tiên nơi "một hài nhi mình vấn tã, đặt nằm trong máng cỏ". Ngày nay, trong mỗi thánh lễ, Người tiếp tục tỏ mình cho chúng ta yêu mến tôn thờ và kết hợp với Người nơi bí tích Thánh thể.
Ngày xưa, bạo vương Hêrôđê đã tìm giết Chúa Giêsu bằng cách giết hài nhi vô tội để củng cố ngai vàng trần thế của ông. Ngày nay, người ta tiếp tục giết Chúa Giêsu qua việc giết các bé thơ vô tội ngay khi các em còn trong lòng mẹ qua tội ác phá thai để củng cố lối sống ích kỷ buông thả vô trách nhiệm của họ.
Chúng ta sẽ chọn noi gương Mẹ Maria, thánh Giuse và các mục đồng để đón nhận và yêu mến Chúa Hài Nhi qua các nỗ lực bảo vệ và bênh vực quyền sống các thai nhi hay chọn thái độ của bạo vương Hêrôđê qua lối sống ích kỷ buông thả vô trách nhiệm với những tội xúc phạm đến phẩm giá và sự sống con người.
Lạy Chúa Giêsu Hài Đồng, xin dạy chúng con noi gương Mẹ Maria nhận biết các dấu chỉ của sự hiện diện của Chúa trong cuộc đời chúng con. Xin Chúa cho chúng con tin nhận Chúa hiện diện đích thực trong bí tích Thánh Thể như xưa Chúa đã ngự nơi hang đá Bêlem, để chúng con thêm lòng sùng ái và sốt sắng kếp hợp cùng Chúa. Xin Chúa cho chúng con nhận biết Hội thánh chính là Nhiệm Thể Chúa, để chúng con tha thiết mến yêu và vâng phục mọi giáo huấn chân thực của Hội thánh. Xin Chúa cho chúng con cảm mến niềm vui và bình an sung mãn của Chúa, qua việc nhận biết, yêu mến và phụng sự Chúa nơi những người xung quanh chúng con, cách riêng là những người "hèn mọn nhất". Amen
(Nguồn :NS Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp)

 

GS-42: HÃY TRỞ NÊN TRẺ NHỎ / Lm Trọng Thưởng, CMC

Lk 2:1-14
 

Ngày xưa có một anh dốt nhưng lại muốn tỏ ra mình hay chữ. Anh nghe người ta hay dùng hai: GS-42

Ngày xưa có một anh dốt nhưng lại muốn tỏ ra mình hay chữ. Anh nghe người ta hay dùng hai chữ “tửu sắc”. Chữ tửu anh ta biết là rượu; còn chữ “sắc” anh ta không biết là gì, nhưng đoán mò rằng : “Rượu là đồ uống đương nhiên phải đi đôi với đồ ăn, nên “sắc” có lẽ nghĩa là cơm chứ còn trật vào đâu được nữa!” Một ngày kia người bạn mời anh đến nhà nhậu tiệc. Người bạn đem rượu ra mời anh ta uống. Hai người uống rượu nói chuyện một lúc anh nầy thấy đói bụng muốn ăn cơm, nên sổ văn chương cù nhầy ra:
- Chúng mình đã có tửu rồi, bao giờ anh mới mời tôi “sắc” đây?
Người bạn lại hiểu rằng anh này muốn thả dê nên trả lời:
- Được rồi anh cứ từ từ sẽ có "sắc" mà!
Hai người uống rượu nói chuyện một lúc sau, anh dốt lại nhắc nhở :
- Anh phải đem “sắc” ngay ra đây, không có “sắc” tôi thấy nóng ruột nóng gan lắm!
Người bạn lại dỗ dành:
- Từ từ sẽ có mà!
Lúc đó người vợ chủ nhà bưng cơm lên, thấy vậy anh dốt mừng húm nhảy cỡn lên, nói rằng :
- À có “sắc” đây rồi!
Chủ nhà nghe nói vậy tưởng anh dốt định “dê” vợ mình nên phang cho anh kia một trận phù mỏ.
Kiêu ngạo làm cho con người mù tối không nhận ra sự thật về mình cũng như về hoàn cảnh chung quanh. Nguyên tổ loài người đã vì kiêu ngạo, nuôi tham vọng muốn lên bằng Thiên Chúa, tin lời gian dối của ma quỉ và nghi ngờ lời truyền dạy của Thiên Chúa. Ông bà đã ăn trái cấm, chống lại lệnh Chúa truyền, nên đã khiến cả nhân loại bị luận phạt. Khi Chúa Kitô đến trong trần gian để cứu chuộc nhân loại bị hư hỏng vì kiêu ngạo, Chúa muốn dạy chúng ta con đường để vào Thiên đàng. Để vào trần gian Ngài đã trở nên một trẻ sơ sinh, bé bỏng, nghèo nàn đến nỗi không có chiếc nôi để nằm, mái nhà ấm để che thân. Đây là dấu hiệu để nhân loại nhận ra Thiên Chúa Giáng sinh: “Một hài nhi mới sinh, bọc trong khăn vải và đặt nằm trong máng cỏ.” Chúng ta nhớ lại lời Chúa Giêsu phán trong Phúc âm: “Ai muốn nên cao trọng nhất trong nước trời, hãy trở nên như trẻ nhỏ”; “Lạy Cha là Chúa trời đất con chúc tụng Cha vì đã giấu những điều này với những người khôn ngoan, thông thái; nhưng mạc khải bí nhiệm nước trời cho những kẻ bé mọn”. Con người không thể nào qua mặt Thiên Chúa được, muốn vào Nước Trời, phải trở nên trẻ nhỏ.
Trở nên trẻ nhỏ là thế nào? Trẻ nhỏ khiêm tốn và nhờ cậy vào cha mẹ để sinh tồn. Một người khiêm tốn nhận biết mình có thể bị sai lầm, nên sẵn sàng đón nhận sự hướng dẫn chỉ bảo của người khác. Trẻ nhỏ tin tưởng vào sự hướng dẫn của cha mẹ. Người khiêm tốn biết tin tưởng vào những vị đại diện của Chúa, kính trọng quyền quyết định của các ngài. Khi thấy cần, có thể trình bày quan điểm của mình, nhưng phải biết rằng quyền quyết định không phải ở mình. Khi đã trình bày đầy đủ, ý kiến của mình có được thi hành hay không, điều đó không quan trọng. Ý Chúa luôn thể hiện nơi quyết định của những vị đại diện Chúa trong từng lãnh vực: Đức Thánh Chá nơi Giáo hội hoàn vũ, Đức Cha trong địa phận, cha xứ nơi xứ đạo... Nếu đi ngược lại để chống đối, tìm cách theo ý riêng mình, thờ thần tôi vĩ đại, con người lao đầu vào vực thẳm sai lầm mà nguyên tổ xưa đã rơi xuống.
Ước gì khi mừng lễ Giáng sinh mỗi người chúng ta được tình yêu và gương khiêm nhường của Chúa cảm hóa để chúng ta đừng theo đường lối kiêu căng, dại khờ, nhưng sống khiêm tốn, đơn sơ trẻ nhỏ, dẹp bỏ mọi tham vọng đua chen, tranh chấp là cạm bẫy của ma quỉ.
(Nguồn: NS Trái Tim Đức Mẹ)

 

GS-43: TRÁI ĐẤT LÀ QUÊ HƯƠNG CỦA THIÊN CHÚA LÀM NGƯỜI

 Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh
 

Kitô Giáo nói chung và Giáo Hội Công Giáo Rôma nói riêng đã long trọng cử hành Mừng Kỷ Niệm: GS-43

Kitô Giáo nói chung và Giáo Hội Công Giáo Rôma nói riêng đã long trọng cử hành Mừng Kỷ Niệm 2000 Năm Thiên Chúa đã hóa thân làm người và ở giữa loài người thấp hèn tạo vật chúng ta, một sự thật không thể chối cãi đã xẩy ra trong thời gian được lịch sử loài người ghi nhận và ngay trên mặt đất thuộc về cái vũ trụ bao la hầu như vô cùng bất tận này.
Trước hết, Thiên Chúa đã hóa thân làm người và ở giữa loài người tạo vật chúng ta là một sự thật không thể chối cãi đã xẩy ra trong thời gian được lịch sử loài người ghi nhận.
Thật vậy, theo những bản văn được Kitô Giáo công nhận là Phúc Âm của mình, điển hình nhất là của thánh sử Luca, đã cho thấy có một nhân vật tên là Giêsu ở Na-Gia-Rét xứ Galilêa, được sinh vào thời hoàng đế Cê-Sa Âu-Quốc-Tô làm sổ kiểm tra lần đầu tiên trong toàn đế quốc Rôma (x Lk 2:1), và đã hoạt động thuần tôn giáo song vẫn bị lên án tử bởi Hội Đồng Do Thái dưới quyền lãnh đạo của thượng tế Anna và Caipha bấy giờ, rồi cuối cùng đã bị kết án tử giá bởi Philatô, vị toàn quyền của đế quốc Rôma cai trị xứ Giuđa thời hoàng đế Cê-Sa Ti-Bê-Ri-Ô thống trị đế quốc Rôma cũng là thời Hêrôđê đang làm thủ hiến xứ Galilêa (x Lk 3:1, 2).
Kitô hữu chúng ta ngày nay, tuy không được diễm phúc và vinh hạnh như các vị tông đồ là những chứng nhân tiên khởi của Chúa Kitô, đã tận mắt thấy, tận tai nghe và tận tay chạm (x 1Jn 1:1) được vị “Thiên Chúa vô hình” (Col 1:15), vị “Thiên Chúa là Thần Linh” (Jn 4:24), “đã trở nên hữu hình cho chúng ta” (x 1Jn 1:2) nơi nhân vật lịch sử Giêsu Na-Gia-Rét, song những chi tiết về thời gian liên quan đến lịch sử trên đây đã chứng tỏ cho chúng ta thấy thực sự có một nhân vật, theo đức tin Kitô Giáo của mình, là một Vị “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (Mt 1:23; x Is 7:14). Nguyên việc dân Do Thái cho đến ngày nay vẫn còn chối bỏ không chịu chấp nhận nhân vật Giêsu Na-Gia-Rét này là Đức Kitô, là Đấng Thiên Sai, cũng là một chứng cớ hùng hồn và hiển nhiên cho thấy thực sự đã có một đối tượng bị họ phủ nhận, một đối tượng mà chính các vị tông đồ, dù được sống gần và chứng kiến, cũng phải lấy đức tin mà chấp nhận, như lời vị trưởng tông đồ đoàn là Phêrô tuyên xưng: “Thày là Đức Kitô (Đấng Thiên Sai), Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16:16), lời tuyên xưng đã làm nên Kitô Giáo và là nền tảng Kitô Giáo, một tôn giáo tin Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật, đồng bản thể với Cha Người trên trời, và đồng thời cũng là người thật, như mọi người chúng ta dưới mặt đất này.
Sau nữa, Thiên Chúa đã hóa thân làm người và ở giữa loài người tạo vật thấp hèn chúng ta là một sự thật không thể chối cãi đã xẩy ra ngay trên mặt đất thuộc về cái vũ trụ bao la hầu như vô cùng bất tận này.
Thật vậy, vũ trụ không gian đây bao la hầu như vô tận, đến nỗi trí khôn loài người dù có văn minh tân tiến theo khoa học và kỹ thuật đến đâu đi nữa, như hiện nay hay cả sau này, chắc chắn sẽ vĩnh viễn không thể nào khám phá ra hết, một cách chính xác, đầy đủ, hoàn toàn và trọn vẹn, tầm vóc cũng như chiều kích khôn dò như một mầu nhiệm hiển nhiên của nó. Hiện nay khoa học mới chỉ ước lượng một cách chung chung là có cả hằng triệu, hằng tỉ hành tinh hệ (galaxies) trong vũ trụ này, trong đó có một hành tinh hệ gần thái dương hệ nhất được gọi là Giải Ngân Hà (Milky Way), và có ba hành tinh hệ gần Giải Ngân Hà nhất mà con người không cần viễn vọng kính cũng có thể nhìn thấy từ trái đất, đó là, nếu nhìn từ Bắc Cực, hành tinh hệ Andromeda Nebula, cách trái đất 2 triệu năm ánh sáng, và nếu nhìn từ Nam Cực, hai hành tinh hệ nhỏ hơn, Magellanic Clouds, cách trái đất từ 160 đến 180 ngàn năm ánh sáng. Riêng nội bộ cấu trúc của mỗi hành tinh hệ, nếu nhỏ cũng rộng tới mấy ngàn năm ánh sáng, trong khi một tinh hệ lớn có thể rộng tới cả nửa triệu năm ánh sáng.
Nếu theo khoa học, mỗi giây vận tốc ánh sáng đi được 186.282 dặm (một trăm tám mươi sáu ngàn hai trăm tám mươi hai dặm, hay 299.792 cây số), tức mỗi giây (hay mỗi tiếng tíc tắc của đồng hồ) ánh sáng đi được 7 vòng rưỡi trái đất (với chu vi từ đông sang tây rộng 24.901 dặm, hay 40.075 cây số, tương đương với một chiếc xe chạy 366 ngày không ngừng với tốc độ 68 dặm một giờ), thử hỏi một ngày có 24 tiếng (tức có 86.400 giây) ánh sáng sẽ đi được bao xa, một tháng có 30 ngày ánh sáng còn đi xa tới đâu, và một năm có 365 ngày ánh sáng đi xa tới cỡ nào. Cứ nghĩ đến 2000 năm lịch sử Kitô Giáo thôi con người đã thấy lâu lắm rồi, xưa lắm rồi, cổ lắm rồi, đằng này ánh sáng phải đi hết 2 triệu năm ánh sáng mới từ trái đất tới được hành tinh hệ Andromeda Nebula, thì thử hỏi vũ trụ không gian với cả tỉ hành tinh hệ khác nhau như thế không bao la bát ngát hầu như vô cùng bất tận hay sao?
Thế mà, chẳng là gì trong cái bao la hầu như vô cùng bất tận của thiên nhiên vũ trụ này, có chăng nó chỉ là một hạt bụi trong cõi không gian vô tận, trái đất lại là nơi xẩy ra một biến cố vô cùng hệ trọng, một biến cố làm cho thời gian đi vào vĩnh cửu, một biến cố gắn liền trời với đất, siêu nhiên với tự nhiên, vô hình với hữu hình, thần linh với tạo vật, đó là Biến Cố Nhập Thể, đó là biến cố Thiên Chúa vô hình đã trở nên hữu hình, đó là biến cố Thiên Chúa là Thần Linh đã hóa thành nhục thể!
Tại sao Thiên Chúa không chọn một nơi nào khác trong vũ trụ này để tỏ mình ra, như mặt trời là nơi xứng đáng nhất, vì dù có là một trong số triệu triệu tinh cầu thuộc vũ trụ này, mặt trời dầu sao cũng chẳng những rộng hơn trái đất 109 lần, lại còn là chính nguồn ánh sáng và nhiệt năng (10 ngàn độ F hay 5 ngàn rưỡi độ C ở ngoài mặt, và 27 ngàn độ F hay 15 ngàn độ C ở bên trong) chi phối tất cả mọi sự trên trái đất nói chung và sinh vật nói riêng, (như trường hợp người ta bị sốt trên 42 độ C hay 106 độ F là chết)? Phải chăng biến cố vô cùng quan trọng và cao trọng vô tiền khoáng hậu này chỉ có thể xẩy ra duy nhất trên trái đất nhỏ bé này, là vì nó có loài người chúng ta, hay nói cách khác, là vì nó đã trở thành nơi Thiên Chúa vô cùng yêu thương và khôn ngoan thượng trí chọn để dựng nên loài người giống hình ảnh Ngài và tương tự như Ngài, loài Thiên Chúa đã ban cho quyền làm chủ thế giới hữu hình nói chung và sinh vật nói riêng, vì Ngài đã dựng nên mọi sự cho họ (x Gen 1:26, 28; Hiến Chế Gaudium et Spes, 39.1).
Bởi Thiên Chúa đã thực sự nhập thể làm người trên trái đất này, chúng ta có thể nói mà không sợ sai lầm rằng: trái đất chính là con tim của vũ trụ, dù nó quay chung quanh mặt trời (như con người phải giữ ngày hưu lễ), đến nỗi, nếu không có trái đất cũng không có vũ trụ, kể cả mặt trời, vì mặt trời là để cho trái đất chứ không phải trái đất cho mặt trời, giống như ngày hưu lễ được lập nên vì loài người chứ không phải loài người vì ngày hưu lễ (x Mk 2:27). Vũ trụ không gian dù có bao la hầu như vô tận đi nữa cũng chỉ là một thực tại hữu hình và hữu hạn, rồi cũng có ngày cùng tận, chứ không thể nào vô cùng bất tận như chính Thiên Chúa là Toàn Hữu, Hằng Hữu. Chính vì thế vũ trụ không gian hầu như vô cùng bất tận này mới cần phải có một hồn sống, đó là con người, một thực thể nhỏ bé so với cả không gian vũ trụ chỉ giống như một vi khuẩn cần phải có kính hiển vi mới nhìn thấy. Bởi vì, chính ở nơi con người và nhờ có con người nhỏ bé như hư không này, vũ trụ hữu hình và hữu hạn ấy mới có thể giao tiếp với thế giới vô hình và vô hạn, mới có thể ý thức được Đấng Hóa Công của mình để mà sinh động theo cùng đích siêu việt của mình, nhất là vũ trụ bao la hầu như vô tận theo không gian mêng mông dài rộng này mới có thể vươn lên cao vời tới tầm mức thần linh tối thượng được, tầm mức Thiên Chúa Toàn Năng muốn tỏ ra cũng như muốn tạo vật phải đạt tới nơi con người, nhờ con người và cùng với con người, một loài đã được chính Ngài mặc lấy bản tính của họ.
Trái đất này đã thực sự trở thành nơi Thiên Chúa là Thần Linh tỏ mình ra, nhất là cho dân Do Thái vào thời Cựu Ước, qua các cuộc thần hiển của Ngài (theophany) diễn ra trong không gian (điển hình nhất là với Moisen và cho dân Do Thái trong cuộc Xuất Ai Cập về Đất Hứa), một cách mầu nhiệm nơi các yếu tố thiên nhiên (ánh sáng, mây trời, ngọn núi, bụi cây, đá, khói, lửa, nước v.v.). Chẳng những thế, trái đất còn thực sự trở thành nơi Thiên Chúa vô cùng cao cả cư trú và sinh sống với loài người 2000 năm trước đây (tại mảnh Đất Hứa của dân Do Thái). Chính vì thế trái đất sẽ không thể nào hoàn toàn bị hủy diệt và trở về với hư vô vì những băng hoại của nó do con người gây ra từ khi hai nguyên tổ loài người sa phạm (x Rm 8:19-22). Trái lại, nếu bản tính của con người đã được thánh hóa, được thần linh hóa, khi Thiên Chúa làm người, tức là nếu bản tính loài người, sau khi bị hư hại vì nguyên tội, hay sau khi tội lỗi cùng với sự chết đột nhập thế gian (x Rm 5:12), đã được nên một với Thần Tính hằng hữu vô cùng toàn năng và toàn thiện nơi “vị trung gian duy nhất là con người Giêsu Kitô” (1Tim 2:5), thì “toàn thể tạo vật nôn nóng trông chờ việc tỏ hiện của con cái Thiên Chúa... sẽ được giải phóng khỏi phải chịu bị hủy hoại và được thông phần vào phúc tự do vinh hiển của con cái Thiên Chúa” (Rm 8:19, 21).
Niềm nôn nóng trông chờ nơi toàn thể tạo vật này chẳng những đã được đâm mầm từ biến cố Nhập Thể của Con Thiên Chúa, mà còn được nẩy mầm khi lòng đất (tiêu biểu cho toàn thể thiên nhiên tạo vật) ôm ấp lấy Thi Thể Tử Giá của Vị Thiên Chúa Làm Người Giêsu Kitô nơi ngôi mộ đá. Để rồi, khi Thánh Thể Phục Sinh của Đấng chiến thắng tội lỗi và sự chết ra khỏi ngôi mồ vào ngày thứ ba, (tức trước thời điểm thân xác bị thối rữa sau bốn ngày nằm trong mồ), toàn thể tạo vật đã thực sự bắt đầu tiến trình được biến đổi từ hư hoại đến bất hoại, từ sự chết đến sự sống. Tiến trình biến đổi này chính là tiến trình Thánh Thần “canh tân bộ mặt trái đất”, qua việc truyền bá phúc âm hóa của Giáo Hội, tác nhân được Chúa Kitô Phục Sinh sai đi “khắp thế gian loan truyền tin mừng cho tất cả mọi tạo vật” (Mk 16:15), chứ không phải chỉ cho loài người, chỉ “cho mọi dân tộc” (Mt 28:19) mà thôi. Tiến trình biến đổi này, từ đó cho tới khi hoàn toàn nên trọn theo đúng như dự án của Đấng là nguyên thủy và là cùng đích của mọi sự (Rev 1:17, 2:8, 22:13), Đấng “là tất cả trong mọi sự” (1Cor 15:28), vẫn được diễn tiến liên tục nơi Bí Tích Thánh Thể và bởi Bí Tích Thánh Thể, “bảo chứng của vinh quang mai hậu được ban cho chúng ta” (xem Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo, 1323; Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh, 47; Lời Nguyện sau Ca Vịnh Ngợi Khen của Kinh Tối II Lễ Mình Máu Thánh Chúa theo Sách Nguyện Giáo Dân).
(Tin Mừng Sự Sống www.tinmungsusong.org buổi phát thanh thứ sáu mươi bảy, Chúa Nhật 23/12/2001, bài chia sẻ này cũng được phổ biến trên Màn Điện Toán Toàn Cầu www.ThoiDiemMaria.net , một website đã ra mắt Ngày Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội 8/12/2001, xin kính mời ghé thăm)

 

GS-44: MẦU NHIỆM NHẬP THỂ /Phan Hữu Lộc

Is 62:11-12;Tt 3:4-7;Lc 2:15-20
 

Lại một lần nữa, GIÁNG SINH trở về. Giáng sinh trở về kỳ này là hơn 2000 năm! Nhưng khung cảnh: GS-44

Lại một lần nữa, GIÁNG SINH trở về. Giáng sinh trở về kỳ này là hơn 2000 năm! Nhưng khung cảnh bên ngoài không gì thay đổi: Vẫn cây Noel, vẫn hang lừa máng cỏ, vẫn Giêsu trẻ thơ trên tay Maria Mẹ Ngài, và Giuse, cha nuôi...
Thế mà mỗi lần Giáng sinh trở lại, lòng ta cảm thấy nao nao, tâm hồn ta thấy như có sự gì đổi thay, sự gì mới mẻ, như có tiếng thúc giục bên trong hãy đến hang đá tựa như các mục đồng bảo nhau: “Chúng mình hãy đi cho đến Belem để xem sự gì xảy ra, mà Chúa đã cho chúng ta biết”(Lc 2:15).
Tại sao? Tại vì Giáng sinh không phải chỉ là khung cảnh bên ngoài, mà là một Mầu nhiệm. Mầu nhiệm của một cô gái dòng dõi loài người, trinh nữ MARIA, đã chấp nhận lời Chúa qua “Xin Vâng” , làm cho Ngôi Hai nhập thể: “Thánh thần sẽ xuống trên cô, và sức mạnh của Đấng Tối Cao sẽ phủ lấy cô dưới bóng của Người; vì thế, đứa con mà cô sẽ sinh ra là thánh, và Người sẽ được gọi là CON THIÊN CHÚA”(Lc 1:26)
Con Thiên Chúa đem đến cho nhân loại một sự sống vĩnh cửu mà không một ai trên cõi đời này có thể mang lại cho ta. Mầu nhiệm cứu chuộc khởi đầu và kéo dài cho đến tột đỉnh là mầu nhiệm Phục sinh: Đức Kitô sống lại, sau khi toàn thắng sự tội và sự chết, mở một kỷ nguyên mới cho nhân loại! Vì thế Người đã nói: “Ta là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống” (14:1-7) “Ai theo Ta thì không đi trong tăm tối” của sự tội và sự chết đời đời.
Mầu nhiệm của đức trinh nữ đón nhận Thiên Chúa làm người, cũng là mầu nhiệm của mỗi người chúng ta. Mẹ đã hoàn toàn Xin Vâng, đã suốt đời suy niệm Lời Chúa và sống cho Giêsu Tình yêu... Thánh Phaolô trong thư gửi cho bổn đạo Galát đã nói rõ không úp mở là Phúc âm cứu độ mà người rao giảng là đến từ Thiên Chúa và khuyên anh em đừng nghe một kẻ nào giảng một Phúc âm trái ngược với lời Phúc Âm Ngài rao giảng: “... Nếu có ai, dù là chúng tôi đi nữa, dù là thiên thần từ trời xuống, rao giảng một Phúc âm khác chúng tôi, thì kẻ đó sẽ bị trục xuất khỏi Giáo Hội..."(Gal 1:8)
Thế giới ta đang sống đã thấy nẩy sinh biết bao Giáo phái, bao lãnh tụ, bao chúa trùm tuyên xưng là đến từ Thiên Chúa để lùa bịp, chiêu mộ đồ đệ, để đánh lận con đen, làm giàu, hốt bạc, gieo đồi phong bại tục!
Đức Kitô Giêsu là Đấng cứu độ duy nhất. Phúc âm của Người là kim chỉ nam cho chúng ta về trời. Nhưng Phúc âm của Người phải được Giáo hội của Người thành lập, dưới sự hướng dẫn của vị Giáo hoàng, để giải thích hướng dẫn cho ta đừng đi sai lệch, đừng nghe kẻ nói hay, thuyết giảng tài ba, có sức lôi cuốn...
Chúa đã thương yêu ta toàn vẹn thì Người cũng chỉ chấp nhận tình yêu ta đáp trả một cách vẹn toàn mà thôi. Chúa không chấp nhận tình yêu nửa vời, hàng hai, sứt mẻ!!!
Người đến với ta bởi MARIA Mẹ người, thì chúng ta cũng phải đi lại con đường Thánh Mẫu để đến với Người.
Con đường đón Chúa và sống cho Người còn dài, nên hàng năm Giáng Sinh sẽ còn trở lại để nhắc nhở và soi sáng và ban sức thánh thiêng cho ta

 

GS-45: ÁNH SÁNG VÀ BÓNG TỐI - GM . NGÔ QUANG KIỆT

Ga 1, 1-18-Lễ Rạng Đông
I. ÁNH SÁNG
 

Ta có thể gọi đoạn mở đầu Phúc Âm thánh Gioan hôm nay là Bài ca Anh Ánh sáng. Thiên Chúa là: GS-45

Ta có thể gọi đoạn mở đầu Phúc Âm thánh Gioan hôm nay là Bài ca Ánh sáng. Thiên Chúa là Ánh sáng như Gioan đã định nghĩa. Nơi Người không có một chút bóng tối nào. Đức Giêsu là Ngôi Lời Thiên Chúa giáng trần. Người là Ánh sáng Thiên Chúa soi vào đêm đen u tối trần gian.
Ngôi Lời Thiên Chúa là Ánh sáng ban Sự Sống. "Từ khởi thuỷ Ngôi Lời vẫn ở bên Thiên Chúa. Chính nhờ Ngôi Lời mà vạn vật được sinh thành. Nếu không có Người thì chẳng có gì được tạo thành. Những gì được tạo thành nơi Người thì đó là sự sống và sự sống là ánh sáng cho nhân loại".
Ngôi Lời Thiên Chúa là Ánh Sáng Cứu Độ. Khi sự sống khởi thuỷ do Thiên Chúa ban bị hư hao vì tội lỗi, Ngôi Lời Thiên Chúa đã tự nguyện sinh xuống trần gian để cứu độ nhân loại. Ngôi Lời Thiên Chúa đã chiếu vào bóng đêm chết chóc trần gian một làn ánh sáng cứu độ. "Những ai tiếp nhận ánh sáng này thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa". Dưới làn ánh sáng này, nhân loại tội lỗi được tái sinh. Việc tái sinh này không do khí huyết, cũng chẳng do ý muốn tự nhiên của con người, hoặc do ý muốn của phái nam, nhưng chính Thiên Chúa đã sinh ra họ". Đó là những người được cứu độ. Họ sẽ phản chiếu ánh sáng vinh quang của Thiên Chúa.
Ngôi Lời Thiên Chúa là Ánh Sáng Tình Yêu. Người chiếu vào trần gian ánh sáng Tình Yêu của Thiên Chúa. Vì tình yêu mà Thiên Chúa đã tạo dựng muôn loài. Vì tình yêu mà Thiên Chúa đã cứu chuộc muôn loài. Đặc điểm của tình yêu Thiên Chúa là Thiên Chúa yêu thương ta trước. Thiên Chúa đã yêu thương ta trước khi ta có mặt ở đời, nên Người mới dựng nên ta. Thiên Chúa đã yêu thương ta trước khi ta ăn năn thống hối, nên Người mới cứu chuộc ta. Từ nguồn yêu thương "sung mãn ấy, tất cả chúng ta lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác". Tình yêu thương ấy như nguồn suối dào dạt tưới gội hồn ta. Tình yêu thương ấy là ánh sáng soi đường ta đi, là ngọn lửa sưởi ấm linh hồn lạnh giá của ta.
II. BÓNG TỐI
Từ hai ngàn năm qua, Ngôi Lời Thiên Chúa đã chiếu ánh sáng Thiên Chúa vào trần gian. Người mang lửa xuống trần gian. Người mong ước cho ngọn lửa ấy cháy bừng lên, lan rộng ra.
Nhưng nhìn vào tình hình thế giới hai ngàn năm qua, ta thấy bóng tối vẫn còn vây phủ con người. Bóng tối là thế lực ma quỉ, chống lại ánh sáng của Chúa.
Ngôi Lời Thiên Chúa chiếu vào trần gian Ánh Sáng Ban Sự Sống. Trái lại, ma quỉ phủ vây trần gian bằng bóng tối chết chóc. Từ hai ngàn năm qua, chiến tranh luôn diễn ra ở khắp nơi. Chưa một ngày nào thế giới hoàn toàn im tiếng súng. Hết chiến tranh thế giới lần thứ nhất đến chiến tranh thế giới lần thứ hai. Hết chiến tranh giữa hai khối Tư bản chủ nghĩa và Xã hội chủ nghĩa đến chiến tranh diệt chủng ở Ruanda. Chiến tranh giữa Ít-ra-en và Pa-lét-tin chưa chấm dứt đã tới chiến tranh Bosnia Serbia. Cuộc chiến vùng vịnh vừa tạm lắng liền tới chiến dịch Cáo sa mạc.
Sinh mạng con người không chỉ bị huỷ diệt vì súng đạn nhưng còn bị đe doạ vì ô nhiễm môi trường. Sự sống chỉ èo uột thoi thóp ở những nước đói nghèo. Sự sống bị bóp nghẹt trong các nhà tù áp bức. Sự sống bị khinh miệt, bị chà đạp trong các nơi có phân biệt chủng tộc.
Ngôi Lời Thiên Chúa chiếu vào trần gian Ánh Sáng Cứu độ. Nhưng ma quỉ lại phủ lên trần gian bóng tối tội lỗi. Chúa đã rửa địa cầu bằng đại hồng thuỷ. Chúa đã đốt thành Sô-đô-ma và Gô-mô-ra để thiêu huỷ tội lỗi. Nhưng tội lỗi vẫn tiếp tục lan tràn. Ở Việt nam trong vòng mấy năm qua ta đã thấy tội ác gia tăng đến mức báo động. Nạn tham nhũng đã trở thành phổ biến. Sì ke ma tuý đã len lỏi vào các trường học. Nạn lừa đảo luờng gạt xuất hiện cả nơi những tầng lớp cao cấp trong xã hội.
Ngôi Lời là hiện thân của tình yêu Thiên Chúa ở giữa loài người. Ngôi Lời đến nhóm lửa yêu thương trong lòng mọi người. Nhưng loài người vẫn sống trong hận thù ghen ghét. Trong thế giới văn minh của thế kỷ 21, vẫn còn có những người say máu giết hại đồng bào của mình, gây nên tội ác diệt chủng. Vẫn có những thế lực đen tối ngấm ngầm gây chia rẽ giữa các quốc gia, dân tộc.
III. TRONG TÔI
Những bóng tối ấy không chỉ phủ trên thế giới, nhưng còn phủ kín hồn tôi. Trong tâm hồn tôi vẫn còn những ngõ ngách u tối mà ánh sáng Thiên Chúa không soi thấu. Đó là những ngõ ngách ngầm chứa sự độc ác. Đó là nơi sự hận thù rình rập. Đó là nơi tính kiêu căng, gây gổ, chia rẽ, đố kỵ ẩn núp.
Nếu bóng tối là của ma quỉ thì có nhiều phần trong linh hồn tôi còn sống dưới ách ma quỉ. Còn nhiều phần trong linh hồn tôi chưa thuộc về Thiên Chúa.
Hôm nay, tôi phải đón ánh sáng Thiên Chúa đến soi rọi mọi ngõ ngách u tối trong tâm hồn tôi. Xin Chúa giúp tôi tẩy sạch mọi bóng tối tội lỗi, để tôi thực sự được sinh lại cùng với Đức Giêsu.
Không những cố gắng trở nên con cái sự sáng, tôi còn có nhiệm vụ đem ánh sáng Đức Kitô soi chiếu tới anh em. Tôi phải đem ánh sáng tươi vui, an hoà, khiêm nhường, nhịn nhục, yêu thương, đoàn kết đến cho anh em. Đó là sứ điệp của lễ Giáng sinh. Đó là làm cho Đức Giêsu giáng sinh trong lòng mọi người.
Lạy Đức Giêsu là Mặt Trời Công Chính xin hãy chiếu sáng tâm hồn con.

 

GS-46: ĐÊM THÁNH VÔ CÙNG

Người tín hữu Công Giáo mừng kỷ niệm Chúa Giêsu sinh xuống trầnthế làm người vào đêm 24 : GS-46

Người tín hữu Công Giáo mừng kỷ niệm Chúa Giêsu sinh xuống trần thế làm người vào đêm 24 sang ngày 25 tháng 12 hằng năm. Đêm mừng kỷ niệm đó là đêm thánh. Tại sao đêm này lại là đêm thánh? Phải chăng đêm này khác hơn mọi đêm?
Đêm này đã trở nên đêm thánh, vì Chúa Giêsu, con Thiên Chúa sinh ra xuống thế làm người trong đêm này. Đấng Thánh sinh ra trong đêm này đã biến nó thành đêm thánh.
Đêm 24 sang ngày 25 tháng 12 đối với thời tiết xứ lạnh vào mùa đông như bên các xứ vùng Bắc bán cầu, là đêm dài nhất trong năm. Thời tiết đêm này là đỉnh cao của mùa đông, tối đen dầy đặc. Đêm này khác nào như một mốc trụ, một bản lề xoay chuyển cánh cửa từ từ mở sang phía khác. Bắt đầu từ đây, ngày sáng từ từ dài hơn và đêm tối dần dần ngắn lại.
Chúa Giêsu đến trần gian trong đêm tối dầy đặc mù mịt. Ngài đến mang ánh sáng cho đêm tối: Anh sáng vĩnh cửu mang xuống trần gian tia sáng mới.
“ Ngôi Lời là ánh sáng thật,
ánh sáng đến thế gian
và chiếu soi mọi người » (Ga 1, 9)
Đã có nhiều lần trong đời chúng ta bỗng chốc bừng tỉnh, mặt mày nhất là đôi mắt như chiếu toả một luồng sáng, miệng nở nụ cười tươi thắm, tâm hồn cảm thấy khoan khoái nhẹ nhàng và kêu lên: Tôi đã tìm ra giải đáp rồi! Một tia sáng đã soi giúp tôi nhận ra lối thoát! Một tia sáng bừng lên trong tâm trí!
Tia sáng này chúng ta không dùng ngón tay ấn vào nút bật điện ở bờ tường và ánh sáng đền điện toả sáng lên, hay một bạn trẻ bật diêm quẹt lấy lửa châm hút điếu thuốc, đốt sáng ngọn cầy, đốt củi lò sưởi… Không, tia sáng này không do tay ta tác tạo nên. Tia sáng này là quà tặng từ trời cao chiếu thẳng vào tâm trí ta, khiến ta bừng tỉnh. Tia sáng này chiếu soi khắp phủ lục ngũ tạng trong người, khiến ta rạo rực bừng lên niềm vui phấn khởi và chiếu toả ra bên ngoài qua gương mặt đôi mắt!
Anh sáng đèn điện hay đèn xe hơi chiếu toả ánh sáng soi đường lối đi, nhưng chói loà làm đau nhức đôi mắt, khi nhìn thẳng vào nó và phải nhắm mắt hay nhìn sang phía khác. Trái lại, tia sáng chiếu toả từ trong tâm trí khiến đôi mắt mở to và gương mặt rạng sáng.
Các cây thông Noel được trang trí với đèn điện, giây kim tuyến, những quả cầu tròn to nhỏ thật óng ánh rực rỡ. Nhưng hang đá, dù nhỏ hay to trong thánh đường, tại tư gia hay trên các hình chụp, đều chiếu toả ra một bầu khí đầm ấm, không như ánh sáng của những ánh đèn nóng rực cực mạnh chiếu vào. Từ Hài Nhi Giêsu trong hang đá chiếu toả ra một làn ánh sáng nhẹ ấm cúng. Tia sáng này không sáng rõ đủ để có thể đọc được chữ, nhưng nó lan toả vào tận trái tim tâm hồn người đến ngắm nhìn, đến bái lạy Haì Nhi Giêsu là nguồn ánh sáng tình người.
Anh sáng chiếu toả từ Hài Nhi Giêsu trong hang đá không là tia sáng soi mói tò mò, nhưng giúp ta nhận ra giới hạn yếu kém của bản thân con người.
Tia sáng này cũng không là một liếc nhìn khiển trách của Chúa là Đấng Thánh, nhưng là lời mời gọi: Các Bạn đừng sợ! ( Lc 2,10). Anh sáng này mang đến tha thứ niềm vui và bình an cho người đón nhận nó.
Đêm thánh là đêm ánh sáng tình người: Thiên Chúa làm người, để con người giữ địa vị làm người của mình.
LM Nguyễn Ngọc Long

 

GS-47: HỌC BẠ CỦA CẬU BÉ GIÊ-SU

Bé Giê-su theo học tại một trường nội trú ở thành Phi-líp-phê, xứ Pa-lét-tin trở về Na-da-rét với: GS-47

Bé Giê-su theo học tại một trường nội trú ở thành Phi-líp-phê, xứ Pa-lét-tin, trở về Na-da-rét với sổ điểm của học kỳ hai. Thẳng thắn mà nói, kết quả không mấy tốt. Bà Ma-ri-a, mẹ cậu biết thế nhưng không nói gì, bà chỉ ghi nhớ mọi sự trong lòng mà suy đi nghĩ lại. Nhưng điều gay go đáng sợ nhất bây giờ là phải trình học bạ này cho bố Giu-se. Học bạ của cậu bị thầy giáo phê như thế này mới chết chứ:
Về mặt học tập:
Môn Toán: Hầu như chẳng làm được bài toán nào, ngoại trừ việc nhân bánh và cá lên nhiều lần. Không có khái niệm nào về toán cộng. Cậu khẳng định rằng: chính cậu cộng với Cha cậu thành một.
Môn Tập Viết: Không bao giờ mang tập vở bút thước đến lớp, đành phải tập viết trên cát.
Môn Hóa: Không chịu làm các bài tập thí nghiệm được yêu cầu, cứ hễ thầy giáo vừa quay lưng đi chỗ khác, là y như rằng, lấy nước hóa thành rượu để làm trò vui cho các bạn học.
Môn Thể Dục: Thay vì học bơi như mọi người, lại chỉ biểu diễn đi trên... mặt nước !
Môn Luận Thuyết: Gặp trở ngại khó khăn lớn khi muốn trình bày rõ ràng một vấn đề gì, nên luôn luôn dùng các dụ ngôn.
Về mặt Trật Tự Kỷ Luật: Đã lần lượt đánh mất mọi thứ dụng cụ và đồ đạc ở trường nội trú. Đã vậy còn không biết ngượng khi cứ luôn kêu ca rằng không có được một viên đá gối đầu khi ngủ !
Về mặt Hạnh Kiểm: Có khuynh hướng thích đi lại trò chuyện với dân ngoại giáo, bọn nghèo khổ và cánh phụ nữ không được đứng đắn cho lắm.
Đọc xong sổ học bạ, ông Giu-se chỉ buồn buồn, nhỏ nhẹ bảo cậu bé rằng tình trạng này không được kéo dài thêm nữa đâu đấy, và cần phải có biện pháp. Và ông ra một hình phạt nhỏ: Bé Giê-su của ba, tình hình đã như thế này thì con đành phải... phết một dấu hình chữ thập vào kỳ nghỉ Lễ Vượt Qua sắp tới, coi như miễn rồi, con ạ !
Jean-Marie PARENT, trích từ “Voies Nouvelles”. Lm. LÊ QUANG UY phỏng dịch

 

GS-48: Một trẻ thơ đã sinh ra cho chúng ta

Đại Lễ Mừng Chúa Giáng Sinh, B
 

Đối với nhiều gia đình, có lẽ Lễ Sinh Nhật sẽ kém đi phần long trọng nếu trong nhà không có hang đá: GS-48

Đối với nhiều gia đình, có lẽ Lễ Sinh Nhật sẽ kém đi phần long trọng nếu trong nhà không có hang đá, trong đó trưng bầy một bộ tượng Giáng Sinh gồm có Thánh Giuse, Đức Mẹ, Chúa Hài Nhi bé xíu, mấy con chiên, con bò, mấy anh chàng Mục Đồng và Ba Vua, và một trong Ba Vua đó phải có một ông là tây đen.
Gia đình tôi cũng không ngoài thông lệ ấy. Cứ mỗi lần gần đến Lễ Noel, bố tôi lại mang cái máng cỏ to tổ chảng ra, hỳ hục sửa sang lại cho gọn gàng, đẹp mắt. Nhất là soát lại các mối đinh xem có còn chắc chắn không? Sở dĩ đối với tôi, cái máng cỏ to chảng là vì khi còn bé, mỗi lần vác, tôi thấy nó còn cao hơn người tôi. Của đáng tội, máng cỏ to vì bố tôi thích đặt tượng Chúa Hài Đồng to hơn con búp bê biết mở mắt, nhắm mắt. Trong khi đó, tượng thánh Cả và Đức Mẹ nhất là ba vua, thì lại nhỏ hơn Chúa Hài Đồng nhiều, trông chẳng xứng tí nào.
Mỗi lần thấy bố sửa sang lại máng cỏ, tôi cứ nói với bố là bố bới việc ra làm gì cho nhọc xác. Nhưng nói thế nào thì nói chứ ông cụ nhất định phải soát lại một cách kỹ lưỡng. Vì có thể cái vụ Chúa Hài Đồng bị té vỡ đầu năm nào đó, chắc vẫn còn ám ảnh tâm trí bố tôi nhiều lắm.
Số là năm đó, chiếc đinh ở máng cỏ sứt ra lúc nào không biết, mà trong đêm Noel năm đó, khi mọi người sắp sửa đi lễ nửa đêm thì máng cỏ bị gẫy. Chúa Hài Đồng rớt từ trên bàn rớt xuống nền nhà làm cho cả nhà kinh ngạc tới sợ hãi. Bố tôi chạy ngay lại nhặt Chúa lên, thì tượng Chúa đã bị bể đầu. Ông cụ trịnh trọng nhặt những miếng vụn, lấy băng keo băng đầu Chúa lại. Ông cụ vừa băng, vừa lẩm bẩm nói: "Năm nay Lễ Sinh Nhật vào thứ Sáu, xui xẻo quá!". Trong khi bố sửa lại tượng, tôi cứ nghĩ là không biết Chúa có lành lặn lại được không? Nếu không được thì bộ tượng Sinh Nhật năm nay sẽ mất hết ý nghĩa, vì không có Chúa Hài Đồng. Đúng như người ta vẫn thường nói :"Chúa Giêsu là lý do chính của mùa Giáng sinh". Câu nói đó được nghe hoài, nhưng chẳng ai để ý, cho tới ngày tượng Chúa Hài đồng nhà tôi bị bể đầu, tôi mới thấy câu nói đó đúng.
Chúa Giêsu là lý do chính của mùa đại lễ, là căn bản, là trọng tâm, là nền tảng để mọi người sốt sáng và chú tâm vào. Hai vị chép sử là Luca và Mathêu đều chú tâm đến biến cố quan trọng này là :"Một người con đã sinh ra cho chúng ta, Ngài là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta" (Isaia 7:14).
Nếu trong gia đình có một người con sinh ra, ắt cả gia đình đều vui, thì ngày Con Trẻ Giêsu sinh ra để cứu chuộc nhân loại, phải là một tin mừng lớn lao cho hết mọi gia đình trên thế giới.
Sứ điệp chúng ta nghe đó là :"Ngôi Lời làm người và ở giữa chúng ta" (Jn.1:14), là sứ điệp của lòng thương yêu vô bờ của Thiên Chúa dành cho chúng ta. Vậy vì yêu thương, Ngài đã trao tặng cho chúng ta, thì chúng ta cũng hãy chia sẻ cho tha nhân, chia sẻ thời giờ, chia sẻ sức lực, chia sẻ của cải, chia sẻ thái độ sống.... cho người khác. Sự trao tặng này càng cảm thấy mất mát lớn lao trong lòng ta, thì càng là món quà quí trước mặt Chúa.
Mỗi món quà trao tặng sẽ có một ý nghĩa khác nhau. Món quà quí nhất phải nói là món quà dám hy sinh tất cả cho nhau "Chúa đã yêu thương bạn đến nỗi ban chính Con Mình để cứu rỗi bạn" (Jn.3:16). Nơi máng cỏ, Thiên Chúa đã thực hiện điều đó. Nơi Thánh Thể, Ngài đã trao chính mình Ngài cho chúng ta.
Tóm lại, mỗi khi nhìn lên mang cỏ Chúa Hài Đồng nằm, chúng ta hiểu được ý nghĩa của chương trình cứu độ trần gian. Con trẻ nằm trong máng cỏ chính là Thiên Chúa mặc xác loài người để chia sẻ khiếp sống con người. Nhìn ngắm các nhân vật trong hang bò lừa, nhắc nhớ chúng ta : Các Ngài là những nhân chứng về sự thật Chúa đã sinh ra. Cảm nghiệm tình thương của họ, chúng ta hãy chia sẻ, hãy trao cho tha nhân chính sự hy sinh mất mát của lòng mình. Chính sự chia sẻ này Con Chúa đã giáng trần để làm gương và dạy chúng ta đem Chúa đến cho mọi người. Amen (12-2002).
Trích Dongcong.net Lm. Louis Minh Nhiên, CMC  

 

GS-49: Bình An - Lm. Louis Minh Nhiên, CMC

Khi lên ngôi hoàng đế, A-lịch-sơn Đại Đế đã tâm sự với thầy mình là A-ris-tot: "Con sẽ chiến thắng: GS-49

Khi lên ngôi hoàng đế, A-lịch-sơn Đại Đế đã tâm sự với thầy mình là A-ris-tot: "Con sẽ chiến thắng Ai Cập và Thổ Nhĩ Kỳ". A-ris-tot hỏi: "Rồi sao nữa con?" A-lịch-sơn trả lời: "Rồi con sẽ đem quân đánh Ba Tư nêu cao ngọn cờ Hy lạp. Sau đó con sẽ đem quân chinh phục tất cả các quốc gia Trung Đông". "Rồi sao nữa con?" "Con sẽ càn quét A phú Hãn và Ấn Độ". "Rồi sao nữa con?" A-lịch-sơn suy nghĩ: "Sau đó thì con có thể ngủ một cách bình an". A-ris-tot mỉm cười: "Con hỡi, tại sao con không ngủ bình an ngay đêm nay có phải hơn không?"
Câu hỏi của A-ris-tot hỏi A-lịch-sơn Đại Đế chắc hẳn đã làm cho A-lịch-sơn Đại Đế suy nghĩ nhiều. Hôm nay mừng lễ Chúa Giáng sinh: Vinh danh Chúa cả trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm. Chúa đến đem bình an, Chúa đã đem bình an từ trời xuống cách đây hơn hai ngàn năm, thế mà thế giới hôm nay vẫn chưa được hưởng sự an bình, nhiều người vẫn còn đang sống trong lo âu, đau khổ, bất hạnh? Tại sao và tại sao? Câu trả lời là có nhiều lý do nhưng một trong những lý do chính đó là vì con người có nhiều tham vọng đã so sánh, không biết bằng lòng chấp nhận cuộc sống của mình.
Đưa mắt nhìn sang bên phải, bên trái, đàng trước, đàng sau, chúng ta thấy anh chị em không ai giống ai cả. Đó là chưa kể đến sự khác biệt về tính tình, sở thích, tài năng cá nhân.
Điều đó cho thấy anh chị em chúng ta được tạo dựng thành những con người giống hình ảnh Chúa, nhưng theo cha Adani, Thiên Chúa không tạo dựng chúng ta giống hệt nhau vì Ngài muốn rằng mỗi một người trong chúng ta là một mẫu duy nhất trong cuộc sống, chứ không phải là một đồ vật được sản xuất hàng loạt theo dây chuyền...Mỗi một người trong chúng ta là người đầu tiên và là người cuối cùng. (Một Phút Cho Bạn, tr. 133).
Tuy nhiên chính sự khác biệt này dễ làm chúng ta so đo tính toán và dễ so sánh mình với người khác để rồi kiêu ngạo lên mặt khi thấy mình hơn kẻ khác và ngược lại ghen tương, than trách, kêu ca khi thấy mình kém hơn thua hơn, không hài lòng chấp nhận cuộc đời mình.
Chuyện kể rằng có một ông kia cứ kêu xin Chúa hết điều này điều nọ. Một hôm Chúa bảo ông: "Ta mệt vì những lời con xin, nay ta chỉ chấp thuận cho con 3 điều nữa thôi, sau đó ta không cho gì nữa." Vừa được Chúa hứa cho 3 điều, ông nghĩ ngay tới bà vợ xấu xí của ông. Người gì mà xấu quá xấu ghê, xấu hết chỗ chê, xấu không còn để ai xấu hơn nữa. Người ta thì đôi mắt bồ câu lông mày lá liễu, còn bà xã mình thì đôi mắt diều hâu lông mày lá chuối. Miệng thì rộng đến mang tai, hai cái môi thì dề ra như hai trái chuối chiên hay như hai cái chả giò chiên quá độ nên thâm sì, mỗi lần bà mà tô môi là đi đoong một thỏi son. Hàm răng thì chiếc ra chiếc vào giống như hàng rào ấp chiến lược đời cụ Diệm, còn nước da nhăn nheo quá sức có lấy bàn ủi ra ủi lâu giờ cũng không phẳng được.
Già rồi mà còn bày vẽ xin nhập ca đoàn lại còn đua đòi với các cô trẻ xin căng lại da mặt làm đời mình cũng căng thẳng luôn. Thế rồi ông thưa với Chúa: "Lạy Chúa, xin cho bà xã con chết tốt để con được rảnh rang đi kiếm nàng tiên khác." Ông vừa dứt lời, bà nhà ngã lăn đùng ra chết giấc.
Hàng xóm nghe tin bà chết vội qua thăm, khóc thương người xấu số, và kể lại những tài năng của bà, nào là: "Chị nấu bún bò Huế thì thật là tuyệt: Nó ngon sao ngon thế, ngon từ Huế ngon về, ngon mê ngon mẩn, nó nhẩn nó ngon, xỉa răng ba ngày vẫn còn thấy ngon," nào là: "Tiếng hát của chị, trời, nó ngọt như đường cát, nó mát như đường phèn. Mỗi lần chị ca trong thánh lễ là hồn nhiều người bay bổng lên cùng Chúa. Chị mà ca cải lương còn mùi mẫm hơn là Hương Lan, chị ca tân nhạc nghe nhẹ nhàng êm dịu không kém gì ca sĩ Ngọc Lan."
Ông chồng nghe lời tán dương mới giật mình vì từ trước tới giờ ông chỉ toàn để ý đến các nết xấu của vợ. Ông thầm nghĩ: "Ừ! miệng của vợ mình tuy có rộng như tầu há mồm, nhưng người ta thường nói":
Đàn ông miệng rộng thì sang, Đàn bà miệng rộng hát vang thánh đường.
Rồi ông thấy đói và thèm một tô bún bò Huế. Ông ân hận vì đã quá vội vàng hấp tấp nên ông lại năn nỉ với Chúa: "Lạy Chúa, con xin lỗi Chúa, xin cho nhà con sống lại." Cầu xin vừa xong, bà nhà liền lồm ngồm bò dậy như sau một giấc ngủ ngon, miệng cười duyên, và mắt đá lông nheo với ông: "Mình đói bụng chưa, em đi nấu bún bò Huế cho mình ăn nhé."
Ông chồng ngồi thừ ra suy nghĩ rồi than thầm: "Thế là mất toi hai điều ước." Ông quyết định lần này phải cẩn thận không bao giờ lầm lẫn nữa vì không còn có cơ hội để sửa lại.
Ông bàn hỏi một cách cẩn thận. Một số người góp ý là xin cho được trường sinh bất tử, nhưng số khác cho rằng sống lâu ăn thua gì nếu cứ bệnh tật hoài. Ngược lại nếu có sức khỏe mà không có tiền cũng kẹt; nhiều tiền mà ngày mai chết thì còn hào hứng chi nữa.
Thế rồi năm tháng trôi qua, ông không biết phải xin gì cho đúng: Sống lâu hay khỏe mạnh hay giầu có hoặc tình yêu...Cuối cùng ông thưa với Chúa: "Lạy Chúa, xin giúp con biết xin điều con cần phải xin." Chúa mỉm cười bảo ông: "Hãy xin cho được bằng lòng với bất cứ những gì con nhận được".
Điều Chúa nói thật là quan trọng. Muốn an bình hãy bằng lòng với cuộc sống hiện tại. Hãy tích cực sống cuộc sống của mình. Nhìn vào hang đá đêm Sinh Nhật, chúng ta thấy cùng đến thờ lạy Chúa có ba vua và mục đồng. Điểm chúng ta nên để ý là phương tiện Chúa dùng để mời gọi các ngài đến thờ lạy Chúa khác nhau. Ba vua vì thông hiểu hơn nên Chúa dùng ngôi sao dẫn lối, còn mục đồng đơn sơ bình dân nên thiên thần Chúa được sai đến báo tin. Trong cộng đoàn giáo xứ cũng có ba vua và mục đồng. Mỗi người lãnh nhận những nhiệm vụ, tài năng, ân huệ khác nhau, nhưng tất cả đều được mời gọi để đến với Chúa. Mỗi người có thể đến với Chúa bằng xe Lexus, Cadillac, hay xe lô ca chân và bằng những con đường khác nhau. Điều quan trọng không nằm ở chỗ đến trước hay đến sau, đến bằng cách này hay cách khác, nhưng ở chỗ tất cả đều được Chúa mời đến với Chúa.
Nếu một anh bạn muốn gặp mặt cô bồ của mình ở Việt Nam cho thỏa lòng mong nhớ thì điều kiện đòi buộc là anh phải đi trọn con đường đến Việt Nam. Anh sẽ không gặp mặt được cô bồ nếu anh cứ nằm ở nhà hay đi lạc đường sang Mã Lai, sang Thái Lan hoặc đi được nửa đường rồi quay trở lại. Để đến được với Chúa và sống an bình hạnh phúc với ngài cũng đòi chúng ta phải biết rõ con đường mình đi và đi trọn con đường của mình, hay nói một cách khác là mỗi người phải sống trọn ơn gọi của mình. Nếu Chúa muốn chúng ta làm người cha, người mẹ, người con, người vợ, người chồng trong đời sống gia đình hãy sống trọn ơn gọi đó. Nếu Chúa gọi chúng ta sống đời tu trì hãy can đảm đáp lại tiếng Chúa. Mỗi người đều có bổn phận và trách nhiệm phải tìm ra con đường Chúa muốn chúng ta đi, khám phá ra vai trò Chúa muốn chúng ta nhận lãnh. Không phải cứ đi tu phải làm Giáo Hoàng mới là tốt và ở ngoài đời là xấu hay ngược lại; nhưng xấu tốt tùy thuộc vào việc nhận ra hay không nhận ra, đáp trả hay không đáp trả, sống trọn hay không sống trọn ơn gọi mà Thiên Chúa đã yêu thương đang trao ban cho mỗi người.
Nếu có ai trong chúng ta thương yêu tha thiết một người và trao tặng họ một món quà quí giá với tất cả tấm lòng của mình; nhưng để đáp lại họ đã liệng gói quà đó vào thùng rác hay tỏ vẻ khinh bỉ, chắc chúng ta sẽ cảm thấy đau khổ thật nhiều.
Thiên Chúa yêu thương trao tặng cho mỗi người một cuộc sống. Một cuộc sống mà theo cha Van Zeller: "Cuộc sống bạn đang có, có lẽ nó không phải là cuộc sống bạn muốn chọn, và có lẽ nó không phải là cuộc sống tốt nhất; nhưng nó là cuộc sống tốt nhất cho bạn vì nếu không vậy, Thiên Chúa Đấng yêu thương bạn vô cùng, đã cho bạn một cuộc sống khác" (Letter to a Soul, tr. 78).
Xin đừng ai trong chúng ta nỡ tâm hất hủi tình thương của Chúa bằng cách khinh bỉ hay làm tổn thương cuộc sống mà Ngài đã yêu thương ban tặng, nhưng biết đón nhận cuộc sống với một tấm lòng biết ơn, tích cực sống trọn cuộc sống để tâm hồn được bình an hạnh phúc hôm nay và mãi mãi.
NS. Trái Tim Đức Mẹ Lm. Louis Minh Nhiên, CMC  
 
 

GS-50: Vị Cứu Tinh Siêu Việt - Lm. Minh Vận, CMC

Edward là một Vua Anh Quốc, ngài rất thương dân tộc Wales là một thuộc địa của ngài, nhưng dân Wales: GS-50

Edward là một Vua Anh Quốc, ngài rất thương dân tộc Wales là một thuộc địa của ngài, nhưng dân Wales vẫn cảm thấy không được hài lòng vì phải sống lệ thuộc, nhiều lần họ đã dâng thỉnh nguyện lên nhà Vua, xin ban cho họ được quyền tự trị. Vua Edward đã hứa cho họ một vị Hoàng Tử. Năm 1284, Hoàng Hậu đã sinh hạ một Hoàng Tử tại cung điện Carnanvon trong đất thuộc địa Wales. Vua Edward giữ lời đã hứa và đặt tên cho Hoàng Tử là wales. Dân Wales vô cùng sung sướng, họ đồng thanh tung hô: "Hoàng Tử Wales là Vua chúng tôi; danh hiệu ngài là tên của xứ sở chúng tôi, ngài sinh hạ trong phần đất của chúng tôi. Chúng tôi tôn nhận và suy phục ngài".
Từ thời niên thiếu, Hoàng Tử Wales chơi thân với một cậu bạn nghèo rất giống mình là Tom Canty. Hoàng Tử Wales rất muốn được hưởng cái phong cảnh hữu tình và nếp sống tự nhiên ngoài cung điện, nên xin Tom Canty đổi cảnh. Vì thương Hoàng Tử, nên Tom sẵn sàng. Thế là Hoàng Tử mặc bộ đồ thường dân của Tom và tự do đi khắp nơi trên lãnh thổ của mình; còn Tom thì mặc phẩm phục Hoàng Tử sống trong cung điện. Ít lâu sau, Hoàng Đế Edward băng hà; nghe tin Phụ Vương từ trần, Hoàng Tử wales liền trở về hoàng cung, nhưng không ai chấp nhận, lại còn bị kết tội là phạm thượng và bị tống giam vào ngục thất. Còn Tom thì rất lo sợ vì sắp đến ngày phải chịu phong vương, cậu gắng khôn khéo phúc trình sự thật và xin thỉnh mời Hoàng Tử Wales trở về nhậm chức. Hoàng Tử Wales được phong vương, lên ngôi Hoàng Đế Anh Quốc và để nhớ ơn bạn, tân Hoàng Đế cũng phong Tom Canty làm Lãnh Chúa xứ Wales cùng được hiển trị với ngài.
I. THIÊN CHÚA YÊU THƯƠNG TRẦN GIAN
Hôm nay, nhất là trong đêm cực thánh này, chúng ta cùng với toàn thể Giáo Hội hoàn vũ và tất cả nhân loại khắp thế giới, hân hoan long trọng mừng đại lễ kính mầu nhiệm Chúa Giáng Sinh, một mầu nhiệm vĩ đại và cao cả nói lên tình thương yêu vô cùng của Thiên Chúa dành cho chúng ta.
Thánh Gioan Tông Đồ đã phải sung sướng ngây ngất kêu lên: "Ôi Thiên Chúa thương yêu trần gian đến nỗi đã ban Con Một Yêu Dấu của Người cho chúng ta, để tất cả những ai tin vào Con của Người thì được Ơn Cứu Độ và được muôn đời hẩng sống" (I Jn 4:9). Thế là khi thời gian trông đợi của các tổ phụ đã viên mãn, lời tiên tri Isaia đã tuyên sấm từ ngàn xưa đã được thực hiện: "Sự sáng đã bừng lên trên những người cư ngụ miền thâm u sự chết... Một Hài Nhi đã sinh ra cho chúng ta, một Người Con đã được ban tặng cho chúng ta. Ngài lãnh nhận mọi vương quyền trên vai và nhân loại sẽ tôn danh Ngài là Cố Vấn kỳ diệu, Thiên Chúa huy hoàng, Người Cha muôn thuở, Ông Vua thái bình" (Is 9:2-4,6-7). Không phải chỉ như Hoàng Đế Edward thương yêu, ban Hoàng Tử Wales đến cai trị Anh Quốc và các thuộc địa, mưu cầu hạnh phúc trần gian mau qua cho dân tộc ngài; trái lại, tình thương yêu của Thiên Chúa Cha yêu thương chúng ta còn trổi vượt gấp trăm ngàn lần, Người ban chính Con Một Yêu Dấu, là Thiên Chúa đồng bản tính và quyền năng như Người, đến trần gian làm Đấng Cứu Độ, ban sự sống chân thật và hạnh phúc đời đời cho chúng ta.
II. CHÚA KITÔ, VỊ CỨU TINH SIÊU VIỆT
Chiêm ngắm chân dung siêu phàm của Chúa Kitô, tìm hiểu Sứ Mạng Cứu Thế và thành quả tốt đẹp Ngài đã thu lượm được, tất cả nhân loại mọi nơi và mọi thời, đều phải hết lòng khâm phục, suy tôn Ngài là một nhà đại cách mạng, một Vị Cứu Tinh Siêu Việt chưa hề thấy trong lịch sử nhân loại.
Cuộc cách mạng của Chúa Kitô không thấy có một bạo động giết người cướp của, hoặc một cuộc xuống đường tranh đấu hay một cuộc biểu tình đòi hỏi quyền lợi; cũng không có một âm mưu đòi lật đổ một chính thể như thường thấy nơi các cuộc cách mạng chính trị trần gian. Đường lối cách mạng của Chúa Kitô là an bình, là yêu thương, là nhân từ tha thứ, là thi ân giáng phúc... Chủ thuyết cách mạng của Chúa Kitô nhẩm tiêu diệt mọi đồi phong bại tục, triệt hạ mọi bất công xã hội, lật đỗ mọi chế độ lỗi thời, cổ hủ, quét sạch mọi tàn tích dị đoan, mê tín, đồi bại, để giải phóng toàn diện con người khỏi ách nô lệ tội lỗi và quyền lực hỏa ngục; ngõ hầu có thể đổi mới thế giới, canh tân các dân tộc, làm cho trái đất này nên đáng yêu hơn, nâng cao phẩm giá con người, đúng với địa vị siêu đẳng làm con Thiên Chúa.
Để thực hiện chủ thuyết đó, Chúa Kitô đã dùng lời giảng dạy, khuyên nhủ, truyền ban các mệnh lệnh, nhất là Ngài dùng chính việc làm và nêu cao mẫu gương đời sống thánh thiện của Ngài cho nhân loại noi theo bắt chước.
1. Ý Thức Phẩm Giá Con Người: Chính mầu nhiệm Ngôi Hai nhập thể làm người, dạy cho chúng ta biết ý thức phẩm giá con người chúng ta được Thiên Chúa tạo dựng giống hình ảnh Người. Chúa Kitô đã không nệ hạ mình mặc lốt phàm nhân, dưới hình tôi tá, sinh bởi một Trinh Nữ tầm thường nơi hang lừa máng cỏ, như một hài nhi non nớt yếu đuối sống nếp sống con người như chúng ta, để nâng chúng ta lên với Ngài. Ngài còn hiến thân chịu chết để nên giá cứu chuộc, giải phóng chúng ta khỏi ách nô lệ tội lỗi và quyền lực hỏa ngục, dẫn chúng ta ra khỏi những lầm lạc, mê tín dị đoan và tôn thờ ngẫu tượng. Ngài nhắc lại thánh luật Thiên Chúa đã truyền là phải tôn thờ duy một Thiên Chúa và chỉ phụng sự một mình Ngài: "Con hãy kính mến Chúa là Thiên Chúa con hết lòng, hết sức, hết trí khôn con" (Mt 22:37). Chúa đã nâng chúng ta lên địa vị cao cả làm con Thiên Chúa, làm Hoàng Tử, Công Chúa của Đấng Thiên Hoàng, cho chúng ta được hưởng tình cha con và được thừa hưởng gia nghiệp Thiên Quốc vĩnh cửu xứng với chức phận làm con của Người.
2. Chế Độ Nam Nữ Bình Quyền: Chúa đem đến cho bậc hôn nhân một giá trị cao cả, bẩng cách thiết lập một giao ước vĩnh viễn và nâng hôn nhân lên hàng Nhiệm Tích ban ơn thánh. Chúa cổ võ chế độ nam nữ bình quyền, nhắc lại luật "Nhất phu nhất phụ" Thiên Chúa đã ban hành ngay từ khi tạo dựng nguyên tổ Adam Evà, cực lực phản đối chế độ đa thê, là chế độ chà đạp nhân phẩm người phụ nữ, như một thứ đồ mua bán, một thứ trò chơi dâm ô, hoặc tôi tớ phục vụ... Hơn nữa, Chúa còn đề cao tình yêu hôn nhân bẩng cách so sánh với chính hình ảnh tình yêu cao cả của Chúa Kitô và Hội Thánh Người (xem Eph 5:22-31).
3. Chế Độ Tự Do Chân Chính: Chúa đến để dạy cho nhân loại biết tôn trọng sự tự do chân chính, là món quà quí báu Chúa đã tặng ban cho con người. Ngài ban hành một Giới Răn Mới, là giới luật truyền buộc con người phải tôn trọng lẫn nhau, coi nhau như anh chị em một nhà, cùng được hưởng quyền làm con một Cha Chung trên trời, được đồng hưởng một gia nghiệp Thiên Quốc Vĩnh Cửu Chúa hứa ban. Giới Răn Mới đó cực lực phản đối chế độ nô lệ, là chế độ phản lại nhân bản, coi thường nhân phẩm và địa vị con người. Số phận người nô lệ chẳng khác thân trâu ngựa, từng bị giới chủ nhân, người quyền thế chà đạp; họ bị tước đoạt mọi nhân quyền, kể cả quyền sinh sống. Chủ nhân hoàn toàn định đoạt số phận gia nô, đánh đập, bán đổi và giết chết bất cứ lúc nào.
III. GIÁO HỘI, MỘT VƯƠNG QUỐC CÔNG CHÍNH
Là một Vị Cứu Tinh các dân tộc, là Đấng Cứu Độ thế giới, là Vua Vũ Trụ, là Chúa các tâm hồn, là Cha Nhân Ái của chúng ta, Chúa đã thiết lập Giáo Hội, như một Vương Quốc công bình, chính trực và thánh thiện, liên kết chúng ta nên một Dân Thánh của Chúa, để chúng ta lãnh nhận sứ mạng cao cả Chúa ủy thác, duy trì sự nghiệp Chúa đã tạo lập, truyền bá chủ thuyết Chúa đã ban hành và nêu cao mẫu gương đời sống thánh thiện khả ái của Chúa, như một kim chỉ nam, một luật sống hướng dẫn và chinh phục các tâm hồn.
Chúng ta là những thần dân, là những người con yêu dấu của Chúa, chúng ta có nghĩa vụ phải sống và trao ban Ơn Cứu Độ, Sự Bình An, Tình Yêu Thương của Chúa Cứu Thế đến cho mọi người, mọi dân tộc, mọi tâm hồn, đặc biệt cho những anh chị em thân yêu của chúng ta đang hiện diện nơi đây, cùng tham dự Thánh Lễ trọng thể mừng Chúa Giáng Sinh hôm nay.
Kết Luận
Để sứ điệp Hoà Bình mà muôn cơ binh Thiên Thần đang vang lên trong Đêm Giáng Sinh: "Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời, và bình an dưới thế cho người thiện tâm" (Lc. 2:14), chúng ta hãy chân thành cầu chúc nhau, được tận hưởng niềm hân hoan hạnh phúc chân thật của con cái Chúa, hạnh phúc của những người thành tâm thiện chí.
Trích Dongcong.net Lm. Minh Vận, CMC 
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây