Suy Niệm Tin Mừng Lễ Giáng Sinh ABC Bài 151-200 ĐấngCứuđộđãsinhra

Thứ ba - 19/12/2017 09:46
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Giáng Sinh ABC Bài 151-200 ĐấngCứuđộđãsinhra
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Giáng Sinh ABC Bài 151-200 ĐấngCứuđộđãsinhra
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Giáng Sinh ABC Bài 151-200 Đấng Cứu độ đã sinh ra
GS-151: VINH DANH THIÊN CHÚA TRÊN TRỜl 2
GS-152: MÙA CỦA TÌNH THƯƠNG TRẢI RỘNG. 4
GS-153: NỬA ĐÊM BỪNG SÁNG.. 5
GS-154: ĐẤNG  CỨU THẾ ĐÃ RA ĐỜI 7
GS-155: MÔT TRẺ VỪA SINH NẰM TRONG MÁNG CỎ.. 8
GS-156: BÌNH AN DƯỚI THẾ.. 9
GS-157: THIÊN CHÚA ĐÃ BAN CHO THẾ GIAN CON MỘT CỦA NGƯỜI 11
GS-158: Chúa Giêsu là sự sống. 12
GS-159: VINH DANH THIÊN CHÚA TRÊN TRỜI 15
GS-160: THIÊN CHÚA GIÁNG SINH LÀM NGƯỜI !! 16
GS-161: Quà tặng tình yêu, hay Tấm biển chỉ đường cho nhân loại đi tới 20
GS-162: Chắc phải có họ hàng, bà con gì với Chúa. 26
GS-163: Đêm Bình Anna. 31
GS-164: MẦU NHIỆM THIÊN CHÚA GIÁNG SINH.. 33
GS-165: Bài hát Giáng Sinh đầu tiên. 35
GS-166: Bò Lừa trong hang đá. 37
GS-167: Thinh Lặng Chiêm Ngắm Máng Cỏ. 39
GS-168: Đêm đen cuôc đời trở thành Đêm Thánh. 40
GS-169: Chúng tôi cần đem theo gì cho Ngài, Lạy Chúa Kitô?. 42
GS-170: TÌNH YÊU ĐIÊN KHÙNG.. 43
GS-171: MUNICH ! 45
GS-172: CHÚA XUỐNG TRẦN CỨU THẾ …. 47
GS-173: LỊCH SỬ: NHÂN MÙA GIÁNG SINH: TÌM HIỂU VỀ NGÀY SINH.. 48
GS-174: DIỆU NHIỆM GIÁNG SINH, NGUỒN ÁNH SÁNG VĨNH HẰNG.. 54
GS-175: Emmanuell - Thiên Chúa ở cùng với chúng ta. 58
GS-176: LỄ GIÁNG SINH - THÁNH LỄ BAN NGÀY.. 60
GS-177: Dấn thân. 63
GS-178: Bình an từ trời 66
GS-179: Niềm vui của thuở ban đầu. 67
GS-180: Đêm Thánh – Karl Rahner 68
GS-181: Nghèo. 72
GS-182: BÀI GIẢNG THÁNH LỄ NỬA ĐÊM GIÁNG SINH.. 75
GS-183: BẢN THÁNH CA KỲ LẠ.. 78
GS-184: Noel: Lễ nhập cuộc –ĐGM Vũ duy Thống. 82
GS-185: Sứ điệp vinh quang và bình an. 85
GS-186: Ánh sáng nào soi chiếu trong ta?. 86
GS-187: Vinh danh Thiên Chúa trên trời – ĐTGM Ngô quang Kiệt 87
GS-188: Lời ngỏ của Tình Yêu - ĐTGM Ngô quang Kiệt 89
GS-198: Ngạc nhiên. 91
GS-190: Đừng thờ lầm.. 93
GS-191: Chúa giáng trần. 94
GS-192: Đêm Ánh Sáng - ĐTGM. Giuse Ngô quang Kiệt 96
GS-193: Bình an dưới thế cho loài người Chúa thương. 98
GS-194: Chiêm ngắm Ngôi Lời 99
GS-195: Con đường Thiên Chúa đi đến với nhân loại 101
GS-196: Đánh mất cơ hội ngàn vàng. 103
GS-197: TIN MỪNG TRỌNG ĐẠI! 105
GS-198: Sức mạnh - Lc 2,1-20. 108
GS-199: Suy niệm của R. Gutzwiller 110
GS-200: Chuẩn bị chỗ cho niềm vui. 113

 

GS-151: VINH DANH THIÊN CHÚA TRÊN TRỜl

Lc 2, 1-14
Anh chị em thân mến!
 

Có nhiều lễ Giáng Sinh, trước hết là lễ "hội giáng sinh", đây là lễ hội được thương mại hóa và: GS-151

Có nhiều lễ Giáng Sinh, trước hết là lễ "hội giáng sinh", đây là lễ hội được thương mại hóa và quảng cáo rầm rộ trong các trung tâm thương mại hơn là trong các trung tâm giáo đường, đó cũng là lễ giáng sinh của xã hội tiêu thụ hơn là của Chúa Giêsu. Lễ giáng sinh này không có người sinh ra, không có Chúa Giêsu sinh ra mà cũng chẳng có những tâm hồn được sinh lại trong hoán cải và ân phúc. Kế đó là lễ giáng sinh của những kỷ niệm, đó là lễ giáng sinh của những bài thánh ca buồn đại loại như: "Ngày một mùa Noel nữa ",hay "đêm nay Chúa xuống dương gian, anh lại nhớ người yêu”.
Giáng Sinh trở thành lễ hội, cho nên cũng là lễ của những người đến nhà thờ mỗi năm một tần, một tần không phải để mừng sinh nhật của Chúa Giêsu, mà để nhớ lại những kỷ niệm của thời thơ ấu. Dĩ nhiên, lễ hội của những tín hữu Kitô mỗi năm đến nhà thờ một tần cũng là lễ Giáng Sinh của những người ngoại đạo ra đường và đến nhà thờ để nhìn ngắm hoa đèn hơn là nhìn ngắm Con Thiên Chúa làm người.
Ngày 25. 12, lễ của thần mặt trời trong đế quốc Ta-mã đã nhường chỗ cho lễ Giáng Sinh của Kitô giáo. Ngày nay, trong chiều hướng ngược lại thì xem ra lễ Giáng Sinh đích thực của Kitô giáo ngày càng nhường chỗ cho các thứ lễ hội giáng sinh của ngoại giáo mới, một thứ lễ giáng sinh không có Chúa Giêsu sinh ra nữa. Thế chỗ cho Chúa GiêSu có lẽ chỉ còn lại âm nhạc, các buổi tiệc, những ngày nghỉ hè và du lịcho Thế chỗ cho Thiên Chúa sinh ra làm người, có lẽ chỉ còn lại những ông già Noel không đến để kêu gọi tình yêu thương và lòng quảng đại, mà chỉ kích thích lòng ham muốn và tính ích kỷ của con người.
Trước những lễ giáng sinh phàm tục ấy, chúng ta được mời gọi trở về với lễ Giáng Sinh nguyên thủy ở Belem. Lại đây, chúng ta sẽ nghe lại lời loan báo của tiên tri Isaia: "Một Hài Nhi đã sinh ra cho chúng ta". Chúng ta không cần phải nhọc công đi tìm một dấu chỉ vĩ đại các thiên sức đã tặp lại sức điệp ấy của tiên tri Isaia cho các mục đồng: "Này ta báo cho các ngươi một tin vui, một Hài Nhi mới sinh được vấn trong tã và đặt trong một máng cỏ ".
Chúng ta cần phải mở tròn đôi mắt để chăm chú nhìn vào một Hài Nhi đã sinh ra cho toàn thể nhânloại. Để đến gặp gỡ con người, Thiên Chúa chọn một con đường khiêm hạ, Ngài làm hiệu cho chúng ta bằng sự nghèo hèn, bé mọn. Ngài đến với chúng ta trong một thơ nhi bất lực mỏng manh. Ngài nói với chúng ta bằng tiếng khóc và nụ cười của một thơ nhi. Ngài đến với chúng ta với dấu hiệu của khiêm hạ, nhỏ bé, nghèo hèn. Bởi vì Ngài là "Tình Yêu ", Ngài là "Emmanuel - Thiên Chúa ở với chúng ta", và Ngài muốn gắn liền và ở với chúng ta dưới cuộc đời đầy khổ lụy của chúng ta.
Là một Hài Nhi nằm trong máng cỏ dành cho súc vật, Ngài đã trở thành niềm an bình cho tất cả những người thiện tâm. Ngài đến như một Hài Nhi để nói với mọi người rằng: "Ngài yêu thương mọi người và từng người ". Từ nay, tất cả những ai biết mở rộng tâm hồn để đón nhận tình yêu của Ngài và chia sẻ tình yêu ấy với mọi người, họ sẽ cảm nhận được niềm vui và sự an bình đích thực trong tâm hồn.
Anh chị em thân mến!
Như vậy, Giáng Sinh không chỉ đến mỗi năm một tần với tiếng nhạc du dương, với hoa đèn sáng rực trong nhà thờ, và lại càng không phải chỉ đến mỗi năm một tần trong các khu phố sầm uất, trong các buổi tiệc tùng, lễ hội. Giáng Sinh không thể là một câu chuyện được kể mỗi năm một tần, một ngày lễ tưng bừng ở khởi đầu và chấm dứt trong buồn tẻ. Giáng Sinh là mỗi tần con người biết mở rộng tâm hồn để đón nhận Chúa đang đến trong từng biến cố của cuộc đời. Giáng sinh là mỗi tần con người biết nhìn vào những dấu hiệu âm thầm và ngay cả những mất mát của cuộc sống để luôn được dấy lên niềm hy vọng. Giáng sinh là mỗi tần con người biết đập vỡ vỏ ốc sợ hãi và ích kỷ của mình để tìm đến với người khác. Giáng Sinh là mỗi tần con người biết mở rộng tâm hồn để cảm thông và chìa đôi tay ra để san sẻ sớt chia với mọi người. Giáng Sinh như vậy sẽ không chỉ đến mỗi năm một tần, cũng chẳng đến riêng với các tín hữu Kitô. Giáng Sinh đến với mỗi người và với tất cả những ai thiện tâm thiện chí biết mở rộng tâm hồn để đón nhận Ngài đang đến trong từng phút giây của cuộc sống và trong từng người anh em.

 

GS-152: MÙA CỦA TÌNH THƯƠNG TRẢI RỘNG.

VỌNG LỄ GIÁNG SINH
 

Trong Mùa vọng đầy kỷ niệm này, ít ra chúng ta hãy ý thức tình trạng tội lỗi của mình và của: GS-152

Trong Mùa vọng đầy kỷ niệm này, ít ra chúng ta hãy ý thức tình trạng tội lỗi của mình và của nhân loại để cùng với Giacaria cảm tạ hồng ân Thiên Chúa. Chúng ta cảm tạ Chúa, là chúng ta để Chúa ngự trong hang đá máng cỏ của lòng mình, chúng ta đừng đặt Ngài ở cửa lòng. Chúng ta có bằng lòng dành cho Ngài một chỗ trọ dù nhỏ bé ? Một máng cỏ Bêlem xưa vô tri mà còn đón nhận được Chúa huống chi chúng ta linh ư vạn vật.
Mùa Giáng sinh năm nay những không có ý nghĩa thật sự nếu chúng ta không có gì để tạ ơn Thiên Chúa. Cảm tạ ơn Chúa trong điều may điều rủi là dấu con Chúa trửơng thành. Mùa Giáng sinh này sẽ không có ý nghĩa thật sự, nếu không sống thật sự trong tâm hồn chúng ta hôm nay.
Mùa Giáng sinh trở về làm cho muôn lòng người dao động, rạo rực, xôn xao. Trong lịch sử nhân loại, chưa có một ngày sinh ra nào được mừng kỷ niệm thật đều đặn liên tục suốt hai ngàn năm như vậy. Hôm nay đây, chúng ta còn một ngày nữa là mừng Chúa Giáng sinh, không ai bảo ai, dù lương hay giáo, dù ở chân trời góc biển nào cũng thấy xốn xang một niềm vui lâng lâng dâng tràn như có một cái gì kỳ diệu trong sáng tươi mát cho mọi cõi lòng tràn bờ tâm hồn.
Đối với những em bé đang đòi hỏi sinh ra và lớn lên và làm người để sống bình an trong tình thương, thì ngày Giáng sinh là ngày hun nóng tâm tình hy vọng nở hoa ấy. Cho nên mùa Giáng sinh cũng là mùa trao gửi tình thương đặc biệt cho những em bé rủi ro sinh ra trong những gia đình nghèo “không có quán trọ” như một Giêsu bị từ chối. Chúng ta nghĩ gì và nghĩ sao về một tương lai mà 20 năm nữa đây chẳng hạn, quê hương này lúc ấy thuộc về những em nhỏ sinh ra hôm nay. Còn lúc ấy chúng ta đã chìm đi trong già nua cho tre già măng mọc.
Nói như vậy là để nhắc nhở chúng ta với nhau: tuổi thơ cần có tình thương sưởi ấm cuộc đời, cần có gia đình để làm nền tảng vốn liếng, cần có cha mẹ đùm bọc yêu thương. Được như thế là được tất cả, vì Hài nhi Giêsu cũng đã được sinh ra như thế dù trong hoàn cảnh thiếu thốn của hang lừa hôi hám mất vệ sinh, ấy thế mà tình yêu đã làm nên “Con Đấng tối cao”. Đứng trước mỗi em bé chúng ta có thể nghĩ đó là một hài nhi Giêsu nhập thể được không ? Nghĩ như vậy chúng ta sẽ kính trọng và giáo dục chúng nên người tốt của xã hội tương lai. Chúng ta nhớ lấy, kế trăm năm không bằng gì bằng trồng người. Một người con xứng đáng, có khả năng hữu ích cho nhân loại còn ích lợi hơn cả mỏ vàng.
Đối với người lớn, mùa Giáng sinh là mùa tha thứ, bình an, mùa của nhân đạo. Ở những nơi có cuộc giao tranh, người ta đề nghị “hưu chiến” để mọi tâm hồn lắng đọng lại mà đón nhận ơn lộc bình an. Như vậy là quí hóa lắm. Nhân loại sẽ nghèo đi nếu đánh mất lễ Giáng sinh, và ngược lại sẽ giàu thêm ít là giàu hình ảnh nếu như còn Noel.
Cho nên, mùa Giáng sinh là mùa của tình thương trải rộng chân trời, là mùa của con người gặp mình và gặp gỡ anh em. Người ta ngưng tay nghĩ việc để bước về nghỉ ngơi của máng cỏ gia đình. Xin cho mỗi gia đình là một máng cỏ Bêlem. Xin đừng tưởng là máng cỏ làm bằng giấy bồi với mấy con bò bằng đất hôi hám...
Thưa mỗi người phải là một nhân vật trong hang Bêlem đó. Trong hang đá ấy có người cha, người mẹ, và bầy con. Tất cả trở nên một như xưa ở Belem. Tất cả đã được trói buộc với nhau bằng tình thương. Chỉ có tình thương mới làm nổi một hang Bêlem. Hang bêlem có màu sắc, có tiếng hát và nhất là có tâm hồn. Nơi Belem, cả ba tâm hồn đan dệt nhau, dung hòa nhau nên một, “ba cây chụm lại nên hòn núi cao”. Bao giờ gia đình cũng vẫn là một nền tảng, nền tảng cuối cùng  của nhân loại. Cho nên, Thiên Chúa đã không ngần ngại ẩn mình trong một gia đình nhân loại.
Xin cho mỗi người chúng ta là một viên đá, viên đá cuội biết xếp lại với nhau mà thành hang Bêlem. Xin cho mỗi người chúng ta là một ánh sáng, ánh sáng màu làm đẹp cộng đoàn Thiên Chúa và nhân loại. Đó là ý nghĩa của câu “vinh danh Thiên Chúa...”. Chúng ta phục vụ cho phúc lợi của mọi người. Đó là chúng ta góp phần vào sự bình an của mọi tâm hồn. Tâm hồn chúng ta chỉ được bình an khi sống và phục vụ nước Chúa, cho đồng loại và là “tôi tớ” của mọi người. Vì mọi người đều là chi thể của một thân thể và là hình ảnh của Thiên Chúa yêu thương.

 

GS-153: NỬA ĐÊM BỪNG SÁNG

LỄ ĐÊM GIÁNG SINH
 

Thánh lễ Giáng sinh đêm nay mang một ý nghĩa tượng trưng đặc biệt. Màn đêm tượng trưng: GS-153

Thánh lễ Giáng sinh đêm nay mang một ý nghĩa tượng trưng đặc biệt. Màn đêm tượng trưng cho một cuộc xuất hành vượt khỏi Ai cập, nghĩa là nhân loại vượt qua tội lỗi để trở về bến cứu độ. Dân Do thái đi mò mẫm trong sa mạc là hình ảnh con người còn mò mẫm trong đên tối dày đặc khắc khoải đi tìm một luống sáng.
Vâng chỉ một ánh sáng, một tia sáng sóng sánh quét lên trong đêm tối, chúng ta sẽ tìm được một lối đi và về tới chốn. Đời con người không phải chỉ đi tìm một tia sáng mà là đi tìm một nguồn sáng. Nguồn sáng ấy chính Thiên Chúa, Đấng đã phán “Ta là ánh sáng” (Gio 8,12). Chúng ta cần tới ánh sáng của Chúa trong khi chúng ta đi trong đêm tối của dục vọng, của tội lỗi, của trần gian lữ thứ, của nghi kỵ, của cô đơn tuyệt vọng...
Xin đừng quên rằng bên cạnh chúng ta hằng có những tia sáng, tia sáng của lý trí, của con tim, của lương tâm trung thực, của lịch sử  và của kinh nghiệm, của giáo dục, của đức tin, của cộng đoàn anh em đang sống bên chúng ta. Vậy cớ sao chúng ta chịu ngụp lặn trong bóng tối dày đặc của lầm lũi mãi ư ? Phải chăng đêm tối và ánh sáng là hai con đường song song không bao giờ gặp nhau. Đau khổ hơn nữa là hai con đường song song nhưng ngược chiều nhau. Bản tính của ánh sáng là phá tan đêm tối. Còn đêm tối ghét ánh sáng, sợ ánh sáng. Chỉ có tâm hồn nào cố chấp mới u tối mù mịt mà thôi.
Có ba loại người không thấy ánh sáng là người mù không còn khả năng, người ngủ và người cố tình nhắm mắt. Kinh thánh nói khi Giuda ra đi nộp thầy thì trời liền tối và tối hoắc (Gio 13,30). Nhưng cũng không tối đêm trong lòng của Giuda lúc ấy. Vậy thì không ai điếc cho bằng kẻ cố tình điếc. Ta cố khép lòng chai đá trước ơn Chúa (Kh 3,20). Chúng ta như con rùa thụt lùi sau lớp vỏ của mình mà chẳng có chi bảo đảm cả. Dù quãng đời chúng ta quên Chúa, nhưng Thiên Chúa hằng đi tìm chúng ta, như tìm một chiên lạc thao thức. Thiên Chúa đã từng đi tim Adong, Cain, Thiên Chúa đã bước một buớc thật với nhân loại.
Trong những lần mạc khải Thiên Chúa từng đi đến với con người trước hết. Ngày truyền tin thiên sứ đã đến với Đức Mẹ, đã hỏi ý kiến Đức Mẹ trước. Nơi máng cỏ, Thiên Chúa vĩnh cửu đã trở lại giữa thời gian tạm bợ. Thiên Chúa đã mặc lấy thời gian để con người có hy vọng mặc lấy vĩnh cửu của Thiên Chúa. Đó là trời cao soi bóng vực thẳm. Trời cao lấp đầy vực thẳm đã từng ngăn cách. Từ đây loài người không còn phải đi tìm đâu xa một vị Thiên Chúa trên cột mây trong hương khói nữa, trong lều tạm, nhà xếp, trong hòm bia, trong bụi gai hay trên đỉnh núi Sinai nữa. Thiên Chúa đã xuống thế làm người mặc lấy một thân xác yếu hèn của loài người hay chết. Ngài cũng được sinh ra, cũng đói khát, vui buồn lam lũ như mọi người, cùng lắm là lo lắng trước cái chết như bao người.
Nhưng hôm nay, chính nhờ cuộc sinh ra này mà thay đổi các xác hồn nhân loại. Ngôi lời nhập thể là tiếng nói cuối cùng, là câu nói cuối cùng, là câu nói đẹp nhất, vàng son nhất vì bêlem là khởi đầu của mọi lời chân lý. Thời gian Bêlem được bao bọc bằng vĩnh cửu. Mọi nước mắt của chúng sinh trở thành viên ngọc Nước trời. Đêm tối thành bình minh chói ngời.
Ước gì đêm nay là đêm hồng phúc, là đêm bình an cho mỗi người, cho từng người, từng gia đình, từng người con dù xa mặt nhưng gần lòng, cõi lòng không xa. Vì họ cũng một niềm tin, một nhịp đập trước câu chúc phúc: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời...”

 

GS-154: ĐẤNG  CỨU THẾ ĐÃ RA ĐỜI

Lời thiên sứ nói với mục đồng: “Đừng sợ, này ta đem Tin Mừng cho các ngươi, một tin lạ lùng: GS-154

Lời thiên sứ nói với mục đồng: “Đừng sợ, này ta đem Tin Mừng cho các ngươi, một tin lạ lùng trọng đại cho muôn dân, là hôm nay Đấng cứu thế Giáng sinh trong thành David” (Lc 2,10), một bản tin vắn gọn, nho nhỏ mà gây một niềm vui trọng đại cho nhân loại và ở lại mãi mãi với mọi người chúng ta.
Niềm vui trọng đại ấy lại phát xuất từ một quê hương nhỏ bé, mất hút trong lịch sử và địa dư so sánh với Giêrusalem. Niềm vui ấy phát xuất từ một em bé nghèo nàn yếu ớt. Niềm vui ấy phát xuất từ một không gian im lặng cô tịch của một đên thâu. Nhưng đêm ấy Giáng sinh phải là một đêm lịch sử, vì tất cả lịch sử đều lấy đây làm mốc thời gian cho lịch sử nhân loại, cho ngày sinh tử của từng người và cho đến tận thế. Chúng ta gọi đêm nay là đêm khởi điểm của một nguồn sáng chói lọi. Người ta còn gọi là một cuộc tạo dựng mới hay một cuộc tạo dựng thứ hai, vì đổi mới hẳn con người về với Thiên Chúa. Con người được nâng lên hẳn làm con Thiên Chúa.
Chúng ta hãy thử tưởng tượng đêm nay, một đêm Giáng sinh ... (78), bao nhiêu thánh đường thắp sáng với bao nhiêu nến điện tưng bừng, bao nhiêu tiếng chuông ngân vang, bao nhiêu hang đá, bao nhiêu bài ca, bao nhiêu bông hoa, bao nhiêu nhưng tác phẩm Giáng sinh, bao nhiêu thiệp chúc mừng và nhất là bao nhiêu lòng người hướng về Bêlem, về với máng cỏ đơn nghèo với bao lời cầu nguyện. Tất cả là chứng tích hùng hồn của một lòng tin, ít ra là một niềm tin vào Đấng cứu độ. Chúng ta có thấy có một cuộc sinh ra nào được người ta biết đến và kỷ niệm đều đặn hàng năm suốt hai mươi thế kỷ như Chúa Giêsu chưa ? Và Giáng sinh năm nay (19_) vẫn còn rung động con tim thổn thức như những mục đồng của Giáng sinh đầu tiên từ hang đá Bêlem nhỏ bé xưa. Chúng ta hãy nhìn đến Belem khác như những gia đình côi cút, những nơi dưỡng lão, những nhà tình thương, những người phong cùi, những cô nhi quả phụ... đêm nay Chúa hài nhi đang hiện thân nơi họ, “Xin cho họ nở được một nụ cười bình thật sự của Chúa là bình an cho kẻ lòng ngay dưới thế, cho kiếp làm người”.
Cũng chính đêm nay, nếu như niềm tin còn bừng cháy nơi lòng người thì sứ điệp bình an vẫn tới với mọi người. Hôm qua cũng như hôm nay, thế kỷ đầu tiên cũng như lúc này, con trẻ Giêsu vẫn uy quyền và trìu mến quảng đại, là mẫu số chung của mọi người, vẫn là khuôn vàng thước ngọc đo mọi chân lý... từ những mục đồng, một đời lam lũ đến những nhà đạo sĩ đã đến múc nguồn nơi máng cỏ Bêlem.
Nơi Bêlem này, người ta có thể nhìn thấy một người Mẹ, Mẹ Maria, một loài thụ tạo bên cạnh một Đấng tạo hóa. Họ là một mẹ một con. Mẹ tròn con vuông. Rồi đây, trên bước đường đời, ai cần hơn ai. Mẹ hay con ? Cả hai cần nhau. Thiên Chúa tạo dựng nên con không cần có con, nhưng ... (Th. Auggustinô). Nơi Maria, người ta nhớ đến hình ảnh đám mây của Elia báo hiệu mùa mưa cho mùa màng. Mẹ là rạng đông cùng mặt trời. Mẹ là cầu vồng nối đất và trời. Mẹ là con thuyền Noe không chìm trong Hồn thủy. Mẹ là tháp ngà xây trên đá, là bụi gai cỡ Maisen không bao giờ cháy, vì chính mẹ đã hạ sinh Đấng ba lần chí thánh. Ít ra sự thánh thiện tuyệt đối kia cũng thông truyền sang cho mẹ. Nơi Belem, lá lành đùm lá rách. Sự chí thánh đùm bọc sự thánh thiện. Nguồn tình yêu đã hun nóng cho tương lai mịt mù hoang sơ.
Phải rồi người con của mẹ đến trần gian có một mục đích... nếu bác tài xế hay một phi công mong ước đem hành khách tới bến bình an, thì hài nhi con Mẹ phải là một phi tiêu muốn đem cả nhân loại về tới bến cứu độ, “Lạy cha, những người cha ban cho con, thì con ở đâu họ ở đó” (Gio 14,3).
Ước gì mỗi lòng hôm nay là một hang Belem nho nhỏ, chật hẹp đi nữa nhưng lung linh ơn thánh, đầy ánh sáng Đức tin và sự nghiệp bác ái. Xin cho con là cọng rơm khô của Belem, để chúng con sưởi ấm cho anh em đồng loại, là nệm ấm cho êm lòng quê hương... “cho đẹp đời tốt đạo”.

 

GS-155: MÔT TRẺ VỪA SINH NẰM TRONG MÁNG CỎ

Hãy tưởng tượng như đêm nay là đêm Giáng sinh đầu tiên xảy ra tại Bêlem. Belem là nơi dầu: GS-155

Hãy tưởng tượng như đêm nay là đêm Giáng sinh đầu tiên xảy ra tại Bêlem. Belem là nơi dầu tiên, nôi chôn nhau cắt rún của một vị Thiên Chúa toàn năng, toàn thiện, toàn phúc đã chịu khó xuống thế làm người. Ngài đã chịu cảnh sinh bờ đẻ bụi để đi vào thế giới loài người. Kinh thánh mô tả Chúa Giêsu đã sinh ra trong cảnh đơn nghèo của một gia đình lao động không nhà cửa, không quán trọ. Phúc âm theo thánh Luca nói “Con trẻ sơ sinh bọc trong mảnh bào thưa nằm trong máng cỏ” (2,7.12.16). Cái nghèo của Chúa là dấu chỉ cho các mục đồng tìm ra Đấng cứu thế (2,16). Chúa lớn lên trong khung cảnh nghèo của miềm quê Nazareth (2,51) và sống bằng đôi tay thợ mộc. Đời Chúa đi truyền giáo không có một chỗ tựa đầu (9,58).
Đây là một vị Thiên Chúa từ bỏ trời cao sang (Ph 2,7) để đến ở giữa con người và bằng lòng nhận cái nghèo làm điểm tựa. Trong cuộc sống, nghèo là một nỗi lòng, nghèo là một cái buồn. Buồn này kéo theo những buồn khác như những mắt xích của một dây chuyền dài. Nghèo là một tương lai mù mịt. Nghèo là một ngõ cụt chẳng ai muốn vào đó. Ai lỡ vào rồi thì tìm dủ cách để thoát ra. Thế mà Chúa ơi, Chúa sinh ra trong một thân phận nghèo khổ. Đói nghèo cực khổ lắm, Chúa không biết sao ? Vừa trong túng thiếu, vất vả, nhọc nhằn, vừa bị người ta khinh bỉ, thiệt thòi dủ thứ. Chúa chọn cảnh nghèo nàn chi vậy. Nếu Chúa không phải là Chúa, thế nào người ta cũng chê là dại dột. Nhưng dần dà chúng con đã hiểu. Vâng chỉ có Chúa thánh thiện, khôn ngoan và yêu thương vô cùng mới dám “dại” như thế. Thật vậy, việc Chúa chôn thân phận nghèo chính là nguồn an ủi lớn lao cho con.
Trước hết với cuộc sống nghèo, Chúa đã cơ cực chia sẻ cuộc đời túng thiếu của con Chúa nơi trần gian này. Chúa chia sẻ thực sự bằng cách Chúa sống với mọi người nghèo, trong cảnh nghèo, như người nghèo và cho người nghèo. Nhìn hang Bêlem, chúng ta thấy Chúa còn nghèo hơn chúng ta nữa. Nhưng nhờ đó, con cảm thấy Chúa gần gũi con như một người bạn, như một người thân. Chẳng ai dám chia sẻ đời nghèo của con để sống gần và sống trong chính con như Chúa. Có Chúa cùng cảnh ngộ và đồng bệnh, chúng con bớt tủi thân.
Ngoài ra, sự Chúa chọn thân phận nghèo còn dạy chúng con giá trị của khổ lụy. Chúng con không thể lên trời bằng con đường khác với đau khổ. Đau khổ không thiếu, chỉ cần chúng ta chịu những đau khổ ấy với tâm tình mến Chúa và khao khár tìm Chúa, tức khắc đau khổ biến thành người bạn, đau khổ trở thành ách êm ái, làm nấc thang đưa con về trời.
Cũng nhờ đó, chúng con mới nhận ra rằng cảnh nghèo không thể kéo dài hơn cuộc sống trần gian, nó chỉ tạm bợ rồi sẽ qua đi. Tất nhiên, chúng con phải cố gắng nỗ lực xoay sở làm ăn để có thể đủ sống xứng đáng là người và nhất là người con của Chúa. Nhưng nếu cái nghèo cứ bám riết lấy đời chúng con, thì xin cho chúng con biết lợi dụng nó để biến thành phương tiện làm giàu gia nghiệp nước trời cho chúng con.
Lạy Chúa, mùa Giáng sinh năm nay chúng con chung một lời cầu xin cho chúng con đi tìm Chúa như Chúa đã đi tìm chúng con nơi hang lừa Bêlem.

 

GS-156: BÌNH AN DƯỚI THẾ

“Bình an dưới thế cho người thiện tâm” (Lc 2,14)
 

Đấy là lời ca của thiên sứ hát cho nhân loại nghe. Lời ca ấy đã trở thành bất hủ, bất diệt cho mỗi: GS-156

Đấy là lời ca của thiên sứ hát cho nhân loại nghe. Lời ca ấy đã trở thành bất hủ, bất diệt cho mỗi thánh lễ, và đặc biệt trong thánh lễ Giáng sinh sáng nay.
Lời ca đó, chúng ta nghe không biết bao nhiêu ngàn lần. Hồi còn nhỏ xíu, chúng ta đã nghe những lời chúc ấy giữa trái tim của cuộc đại chiến. Lớn lên anh em đã đọc lời đó, anh em đã đọc lời đó giữa cuộc cách mạng Mùa thu. Trưởng thành, anh em đã đọc lấy lời ấy trong khói lửa binh đao chinh chiến. Và hôm nay tất cả chúng ta được diễm phúc đọc lên lời ca của trời ấy trong cảnh đạp lúa thanh bình thống nhất. Và đấy là bàn tay quan phòng đạ8 biệt của Thiên Chúa.
 Giờ đây nghĩ lại có người cho rằng: mình chán ghét và chán chường những gì là chiến tranh, muốn tiêu hủy đi mọi đau thương. Nhưng chính qua cảm nghĩ ấy, chúng ta mới chợt thấy rằng nếu như chúng ta cứ hận thù, nếu chúng ta căm giận óan ghét thì chính mình lại là người bất an, chính mình lại là người phá hòa bình. Như vậy thì ra trách nhiệm việc đánh mất bình an không phải bắt đầu từ người khác mà lại bắt đầu từ chính mình. Vậy khởi điểm xây dựng hòa bình là chính lòng mình thôi.
Xây dựng bình an sao đây ? Thiên sứ bảo như thế này: “Bình an dưới thế cho người lòng ngay”. Người lòng ngay là người lòng tốt, lòng vàng, lòng công chính, hòa thuận. Đó là người được chúc phúc trong bát phúc (Mt 5,9), là người chiếm hữu được nước trời (Tv 85,11. 119,165), là người được chính Chúa đem đến cho sự bình an sau phục sinh: “Bình an cho các con” (Lc 24,36). Người có lòng ngay được chúc phúc là người có tấm lòng thành thật, là người một lòng một dạ thờ Chúa, người không có hai lòng, người không thay đổi lòng dạ. Người có lòng ngay là người tôn trọng quyền lợi người khác, là người chu toàn bổn phận đối với Chúa và tha nhân. người lòng ngay là người yêu thương mọi người. Là người cho đi, cho đi bằng yêu thương, bằng ước muốn, bằng thái độ, việc làm và tiền của.
Và vì yêu thương là cho đi sự tốt lành, nên chúng ta phải biết tha thứ, chịu dựng, thông cảm, không phán đoán xấu, không nói hành bôi nhọ một ai. Do đó thiện tâm hay lòng ngay đòi hỏi phải khiêm nhường, phải từ bỏ và thiệt thòi nhiều lắm. Hãy nhìn hình ảnh của một em bé ngây thơ vô tội không ác ý, không thù hằn, không kiêu căng và ích kỷ. Chúa Giêsu hài nhi trong máng cỏ là cả một hình ảnh của sự non yếu, hiền dịu và khiêm hạ đó.
Hãy nhìn về máng cỏ, một trẻ thơ như mỉm cười giữa những con vật vô tri ngơ ngác mà chính tay Ngài đã tạo dựng. Hãy nhìn kỹ đôi tay đưa ra như lời mời gọi. Đôi tay ấy làm nghề thợ mộc. Đôi tay ấy sẽ chúc lành cho bày trẻ và làm phép lạ. Nhưng cũng chính đôi tay ấy sẽ giang thẳng trên thánh giá để đón tội nhân loại.
Lẽ ra Thiên Chúa có thể nhập thể với hình vóc của một người lớn khỏe mạnh như cỡ Samson, hoặc có thể mang hình ảnh của một thiên sứ nào đó. Nhưng Ngài đã từ chối tất cả để mặc lấy thân phận yếu đuối của con người để thông cảm yếu đau, vui buồn, cô đơn như kiếp con người. Thiên Chúa có thể chỉ phán một lời để có thể cứu nhân độ thế. Nhưng Ngài đã không làm như vậy. Và đó là một thánh ý nhiệm mầu. Một vị lãnh tụ đồng cam khổ mới làm cho người ta tin theo. Dù sao đó cũng là con đường của Thiên Chúa. Chúa Giêsu là con đường (Gio 14,6). Chúa Giêsu là Ngôi Lời của Thiên Chúa. Mỗi người của chúng ta là một lời nói của hang Bêlem với hai chữ Bình an.

 

GS-157: THIÊN CHÚA ĐÃ BAN CHO THẾ GIAN CON MỘT CỦA NGƯỜI

LỄ GIÁNG SINH
 

Nói đến tình yêu là nói đến Giáng sinh, và ngược lại nói đến lễ Giáng sinh là nói đến tình: GS-157

Nói đến tình yêu là nói đến Giáng sinh, và ngược lại nói đến lễ Giáng sinh là nói đến tình yêu. Giáng sinh không có nếu không có tình yêu tinh thần của lễ Giáng sinh, vì vậy là tinh thần yêu thương, tinh thần ấy bắt nguồn từ câu Kinh thánh quen thuộc, vì Đức Chúa trời “yêu thương thế gian đến nỗi ban con một mình cho nhân loại” (Gio 3,16). Tất cả ý nghĩa Giáng sinh được gói ghém trong câu Kinh thánh này. Thiên Chúa yêu thương trần gian và tình yêu ấy có minh chứng bằng cụ thể, bằng hành động. Trước hết chúng ta hãy xem tình yêu của Thiên Chúa ra sao và xem thử Ngài hành động như thế nào ?
Tình yêu của Thiên Chúa là tình yêu vị tha, không phân biệt mà phổ quát cho hết mọi người. Thường thường khi con người chúng ta iêu là vì vật đó đáp ứng lại một nhu cầu của chúng ta. Một người yêu ta thì ta yêu lại. Người đó đem lại phúc lợi thỏa mãn thì ta yêu thích, và ngựơc lại một vật hay một người nào đó làm hại ta thì ta không thể thích được. Đó là tình yêu của loài người giới hạn cạn cợt. Còn tình yêu của Chúa là tình yêu vị tha, bất chấp mọi điều kiện, bất chấp mọị hoàn cảnh. Tình yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta ngay cả khi chúng ta có tội. Nếu như Chúa yêu chúng ta vì chúng ta làm điều tốt điều đẹp thì chẳng bao giờ chúng ta đáng được Chúa yêu cả, vì chẳng bao giờ chúng ta tốt đủ cho Chúa yêu. Đó cũng là ý nghĩa của câu: “Chẳng có gì phân ly chúng ta khỏi tình yêu Thiên Chúa” (Rm 8,35).
Nếu Chúa đã yêu chúng ta thì bất chấp chúng ta là người như thế nào, chắc chắn không có gì khiến cho tình yêu ấy thay đổi. Một câu đã nói: “Thiên Chúa yêu thương thế gian” (Gio 3,15) nói lên tất cả tính chất và đối tượng của tình yêu nơi Thiên Chúa. Tình yêu của Chúa rộng lớn và không giới hạn. Câu nói “Thiên Chúa yêu thương thế gian” nghĩa là bao gồm tất cả mọi người mà từ Đông sang Tây và từ Tây sang Á, tất cả đều ca tụng tình yêu Thiên Chúa hôm nay.
Nhưng tình yêu của Chúa không phải là thứ tình yêu lý thuyết, nói suông. Tình yêu của Chúa là tình yêu cụ thể, cụ thể rõ ràng trong hành động. Hành động ấy là Chúa đã ban con một mình cho nhân loại, cũng như khi chúng ta yêu ai, thường người ta tặng cho người mình yêu một kỷ vật nào đó. Tình yêu thật sự được thể hiện trong việc ban cho và dâng hiến. Thiên Chúa của chúng ta cũng thế. Chúa ban cho chúng ta những gì chúng ta cần... Điều mà chúng ta cần chính là sự cứu rỗi, và sự cứu rỗi chỉ có thể hoàn thành qua việc Chúa nhập thể làm người. Nhập thể và chịu chết để cứ loài người đó là đường duy nhất Thiên Chúa đến với nhân loại. Và đó là cách duy nhất để thể hiện tình yêu của Ngài đối với chúng ta “Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi...”.
Chúng ta hiểu nổi chứ ? Hãy giả sử như anh chị em có một con trai duy nhất, quí nhất đời và có người nào đó đòi xin rước lấy đứa nhỏ mà nuôi thì thử hỏi anh chị em nghĩ sao ? Như vậy, chúng ta mới hiểu được Thiên Chúa đã yêu thương và ban con một Ngài cho chúng ta là yêu hết cỡ. Điều quí hóa nhất là tặng ban cho chúng ta. Thiên Chúa yêu, yêu chúng ta là những người bất toàn và đầy tội lỗi. Và tình yêu ấy được thể hiện trong việc trao ban Ngôi Hai giáng thế.
Tình yêu chỉ có nghĩa khi tình yêu được đền đáp bằng tình yêu. Có những loại tình yêu độc chiều đơn phương, nhưng đó là những thứ tình yêu cụt để tự an ủi mình tôi. Chứ tình yêu thật bao giờ cũng là tình yêu hai chiều Chúa ban cho và chúng ta phải đáp ứng. Chúa đời hỏi chúng ta đáp đền tình yêu ấy. Hòn đất ném đi... Thiên Chúa đã ném hòn chì.
Điều mà Chúa muốn ta làm cho Ngài trong tình yêu là tin vào Ngài. Tin đây là chấp nhận, là nhờ cậy, là trao phó hoàn toàn vào tay Thiên Chúa. Tin đây cũng còn là một nghĩa là thôi đi đừng tự cao tự cậy vào sức riêng mình nữa, chỉ cậy nhờ vào Chúa thôi và chỉ có đức tin như thế mọi vấn đề mới được giải quyết. Đức tin trao gửi đó chính là món quà Giáng sinh năm nay.

 

GS-158: Chúa Giêsu là sự sống

Gioan 1,1-18.
 

Trong một bản đại hòa tấu, nhà sọan nhạc thường bắt đầu bằng cách giới thiệu những nhạc đề: GS-158

Trong một bản đại hòa tấu, nhà sọan nhạc thường bắt đầu bằng cách giới thiệu những nhạc đề ông sắp khai triển trong toàn nhạc phẩm. Đó là việc Thánh Gioan đang làm. Trong Phúc âm thứ tư sự sống là điều cơ bản nhất làm cơ sở xây dựng sách ấy. Đây là chủ đề chính mà Phúc âm này nhằm khai triển và trình bày.
Phúc âm theo Thánh Gioan bắt đầu và kết thúc bằng sự sống. Ngay phần mở đầu, chúng ta đọc thấy Chúa Giêsu là sự sống, và ở phần kết, chúng ta thấy mục đích của tông đồ Gioan khi viết Phúc âm là để người ta tin “Tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, con Thiên Chúa, và để anh em tin và được sống nhờ danh Ngài”. (20,31). Đây là từ ngữ được Chúa Giêsu lặp đi lặp lại. Ngài lấy làm tiếc vì người ta không đến với Ngài để được sự sống (5,40), chính Chúa Giêsu tuyên bố, sở dĩ Ngài đến là để cho người ta được sống, và được sống phong phú (10,10). Ngài tuyên bố Ngài ban sự sống cho loài người để họ chẳng bao giờ còn chết nữa, vì chẳng ai cướp nổi họ khỏi tay Ngài(10,28). Chính Ngài tự xưng mình là đường đi, chân lý và sự sống(16,6). Trong Phúc âm này, từ ngữ sự sống xuất hiện hơn ba mươi lăm lần, động từ sống xuất hiện hơn mười lăm lần. Vậy khi đề cập đến sự sống Thánh Gioan muốn nói gì ?
1. Một cách đơn giản ông cho biết sự sống là đối nghịch với sự hủy diệt, sự lên án và sự chết.
Thiên Chúa sai con Ngài đến để người tin nhận Ngài sẽ khỏi chết, nhưng được sự sống đời đời(3,16). Người nghe và tin thì được sự sống đời đời và không bị định tội(5,24). Có sự tương phản giữa việc sống lại để được sống, và sống lại để bị đoán phạt(5,29). Những người được Chúa Giêsu ban sự sống sẽ chẳng bao giờ phải chết nữa(10,28). Trong Chúa Giêsu người ta được an toàn trong đời này và cả đời sau. nếu không tin Chúa Giêsu và nhận Ngài là Chúa Cứu Thế, không mời Ngài ngự vào lòng làm vua, thì chúng ta không thể được coi là đang sống. Người sống một cuộc đời không có Đáng Cứu Thế thì chẳng bao giờ tồn tại, chỉ hiện hữu chứ không hề biết sống là gì. Chúa Giêsu là người duy nhất khiến cuộc đời đáng sống, và đã liên kết với Ngài thì cái chết chỉ là tấu khúc mở đầu cho cuộc sống viên mãn hơn.
2. Nhưng Gioan biết chắc chắn rằng dầu Chúa Giêsu là Đấng đem sự sống đến thì đấng ban sự sống đến vẫn là Thiên Chúa .
 Gioan dùng đi dùng lại thành ngữ Thiên Chúa hằng sống như kinh Thánh vẫn dùng. Thánh ý của Thiên Chúa Cha, Đấng sai Chúa Giêsu đến, là để mỗi người có thể thấy Chúa Giêsu, tin vào Ngài hầu được sự sống(6,40). Sở dĩ Chúa Giêsu là Đấng ban sự sống, vì Đức Chúa Cha đã đóng ấn chuẩn phê trên Ngài(6,27). Ngài ban sự sống cho số người mà Đức Chúa Cha đã ban cho Ngài(17,2). Đằng sau mọi điều đó có Thiên Chúa. Dường như Thiên Chúa phán: “Ta dã tạo dựng loài người để họ được sống thật. Do phạm tội họ không còn sống nữa, họ chỉ hiện hữu. Ta đã sai Con Ta đến để họ biết được sự sống thật là gì.”
3. Chúng ta phải hỏi sự sống là gí ?
Phúc âm Gioan nhắc đi nhắc lại thành ngữ sự sống đời đời. Chữ thánh Gioan dùng và được dịch ra đời đời là aionios. Nhưng dầu cho sự sống đời đời có khác đi chăng nữa, nó không thể chỉ có nghĩa là một đời sống cứ kéo dài mãi mãi. Một đời sống kéo dài mãi mãi có thể sẽ trở nên sự nguyền rủa khủng khiếp, vì người ta vẫn thường mong được giải thoát khỏi cuộc sống này. Trong sự sống đời đời phải có cái gì vượt xa sự tồn tại của đời sống, phải có một phẩm chất nào đó của sự sống.
Người ta không muốn sống, trừ phi phải có một đời sống như phế nào đó. Vậy chúng ta phải tìm thấy đầu mối của vấn đề đó ở đây. Aionios là một hình dung từ được dùng nhiều lần để mô tả Thiên Chúa. Theo ý nghĩa đích thực của từ ấy, chỉ một mình Thiên Chúa là Aionios, nghĩa là vĩnh hằng mà thôi. Do đó sự sống dời đời là đời sống chỉ biết những gì là thanh thản, là an lạc, là quyền năng của sự sống của chính Thiên Chúa. Khi Chúa Giêsu ban sự sống đời đời cho loài người, Ngài mời gọi loài người bước vào chính sự sống của Thiên Chúa vậy.
4. Làm thế nào để chúng ta bước vào đời sống ấy ?
Chúng ta được sống như thế nhờ tin nhận Chúa cứu Thế Giêsu. Từ ngữ tin xuất hiện trong Phúc âm thứ tư không dưới bảy mươi lần. “Ai tin con thì được sự sống đời đời”(3,36). Chúa Giêsu phán: “Hễ ai tin Ta thì được sự sống đời đời”(6,47). Y muốn của Thiên Chúa là loài người nhìn thấy Chúa Con và tin vào Ngài, thì được sống đời đời(5,24). Chữ tin của Thánh Gioan có nghĩa gì ? có hai điều:
a. Chúng ta phải nhìn nhận rằng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa.
Ong ngụ ý chúng ta phải quyết định theo Chúa Giêsu. nếu Chúa Giêsu chỉ là một người, không có lý do gì khiến cho chúng ta phải mặc nhiên tuyệt đối vâng theo những đòi hỏi của Ngài. ta phải tự suy nghĩ cho ra xem Chúa Giêsu là ai. Chúng ta phải nhìn vào Ngài, nghiên cứu về Ngài, suy nghĩ về Ngài Cho đến khi chúng ta buộc phải kết luận về Ngài rằng Ngài không ai khác hơn là Con Thiên Chúa
 
  Nhưng trong việc này còn có cái vượt hẳn niềm tin lý trí.
Tin Chúa Giêsu có nghĩa là nhìn nhận lời của Ngài. Có nghĩa là chấp nhận các mệnh lệnh của Ngài như những điều bắt buộc tuyệt đối, tin những gì Ngài phán là đúng không chút nghi ngờ, và hành động với niềm tin quyết mình không thể làm gì khác hơn là nắm lấy từng lời, từng tiếng của Ngài.
Theo Thánh Tông đồ Gioan, tin có nghĩa là lý trí xác tín rằng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, là sự tin cậy của tấm lòng rằng mọi điều Chúa Giêsu phán là đúng, và đặt nền tảng của mọi hành động trong đời sống chúng ta trên sự bảo đảm không lay chuyển của lời Ngài. khi làm như vậy, chúng ta thôi tồn tại, và bắt đầu sống. Như thế chúng ta biết sự sống thật sự có nghĩa gì.

 

GS-159: VINH DANH THIÊN CHÚA TRÊN TRỜI

Bỗng có đạo binh thiên quốc đông đảo hợp với sứ thần cất tiếng ca tụng Thiên Chúa rằng: “VINH DANH THIÊN CHÚA TRÊN TRỜI BÌNH AN DƯỚI THẾ CHO LOÀI NGƯỜI CHÚA THƯƠNG”  (Trích Bài Phúc Âm Lễ Đêm Giáng Sinh, Lc 2,14).                                   
Suy niệm
 

Lời hát của các thiên thần chính là sứ điệp của Chúa từ trời cao gửi xuống. Lời hát này nối kết: GS-159 FB

Lời hát của các thiên thần chính là sứ điệp của Chúa từ trời cao gửi xuống. Lời hát này nối kết đất với trời. Lời hát này ràng buộc Thiên Chúa với con người.
Tại sao “Vinh danh Thiên Chúa trên trời” phải đi liền với “Bình an dưới thế cho người Chúa thương”? Thưa vì Thiên Chúa yêu thương con người, Thiên Chúa tự ràng buộc mình với con người.
Vì yêu thương nhân loại, Con Thiên Chúa đã xuống thế làm người. Vì yêu thương nhân loại, Ngài tự nguyện trở nên một trẻ thơ yếu ớt. Vì yêu thương nhân loại Ngài tự nguyện làm con của loài người, sinh ra bởi một người phụ nữ. Vì yêu thương nhân loại, Ngài đã muốn trở nên một thành viên trong gia đình nhân loại, có một gia đình như những người khác.
Thiên Chúa đã tự nguyện làm một người như chúng ta. Thiên Chúa tự đồng hóa với con người đến nỗi từ nay ai khinh miệt một con người là khinh miệt chính Chúa, ai bạc đãi một con người là bạc đãi chính Chúa, ai hà hiếp một con người là hà hiếp chính Chúa. Ai xúc phạm đến con người là xúc phạm đến Chúa.
Hang đá Bêlem là một lời mời gọi tha thiết và cấp thiết cho tương lai nhân loại. Thiên Chúa hóa thân làm một trẻ sơ sinh để mời gọi ta hãy biết tôn trọng sự sống. Thiên Chúa sinh ra làm một trẻ thơ yếu đuối để mời gọi ta hãy biết yêu thương những người bé nhỏ, yếu hèn. Thiên Chúa sinh ra trong cảnh nghèo hèn để mời gọi ta hãy biết nâng đỡ những người nghèo khổ. Thiên Chúa sinh ra làm con Đức Mẹ Maria để mời gọi ta hãy biết kính trọng phụ nữ. Thiên Chúa sinh ra trong một gia đình để mời gọi ta hãy biết bảo vệ những truyền thống tốt đẹp đem lại hạnh phúc cho gia đình.
Lời mời gọi này có tính chất quyết định không những cho hạnh phúc chóng qua mà còn cho hạnh phúc vĩnh cửu của con người.
Vì ai tôn trọng con người là tôn trọng chính Chúa. Ai phục vụ con người là phục vụ chính Chúa. Như lời Chúa đã dạy: Mỗi lần ta cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc, viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc, là ta làm cho chính Chúa (x. Mt 25).
Như thế lễ Giáng Sinh là lễ của của phẩm giá con người. Chúa xuống trần để nâng cao phẩm giá con người. Chúa làm nguời để con người được kính trọng. Con người cao quí vì đã được nâng lên làm con Thiên Chúa.
Như thế lễ Giáng Sinh là lễ của niềm vui. Vui vì con người được Thiên Chúa  yêu thương. Vui vì con người được nâng lên địa vị cao trọng. Hôm nay khi đọc kinh Tin Kính đến câu “Vì loài người chúng tôi và để cứu rỗi chúng tôi, Người đã từ trời xuống thế” ta hãy quì gối trước tình yêu cao cả của Chúa dành cho ta. Quì gối đề suy niệm sự cao cả của con người vì được Chúa yêu thương.
Đức Cha Giuse Ngô Quang Kiệt, Tổng Giám Mục Hà Nội. 

 

GS-160: THIÊN CHÚA GIÁNG SINH LÀM NGƯỜI !!

I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ      
 

Lễ Giáng Sinh là Lễ của Tình Thương và Niềm Vui đối với hết mọi người, nhất là đối với: GS-160

    Lễ Giáng Sinh là Lễ của Tình Thương và Niềm Vui đối với hết mọi người, nhất là đối với những người nghèo và những người sống bên lề xã hội. Nhưng Lễ này cũng bị nhiều người hiếu lầm ý nghĩa và biến thành một dịp để vui chơi. Với chúng ta là Kitô hữu, thì cách Mừng Lễ tốt nhất là chiêm ngắm Chúa Hài Đồng Giêsu trong máng cỏ nơi hang đá Bêlem và suy niệm những Lời Thánh Kinh nói về Người là Chúa Cứu Độ nhân loại.

II. LẮNG NGHE & TÌM HIỂU LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH
2.1 Lắng nghe Lời Chúa trong ba bài Thánh Kinh
(1) Bài đọc 1: Is 9,1-6: Ơn giải thoát.
     (1) Dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng; đám người sống trong vùng bóng tối, nay được ánh sáng bùng lên chiếu rọi. (2) Chúa đã ban chứa chan niềm hoan hỷ, đã tăng thêm nỗi vui mừng. Họ mừng vui trước nhan Ngài như thiên hạ mừng vui trong mùa gặt, như người ta hỷ hoan khi chia nhau chiến lợi phẩm. (3) Vì cái ách đè lên cổ dân, cây gậy đập xuống vai họ, và ngọn roi của kẻ hà hiếp, Ngài đều bẻ gẫy như trong ngày chiến thắng quân Mađian. (4) Vì mọi giầy lính nện xuống rần rần và mọi áo choàng đẫm máu, sẽ bị đem thiêu, làm mồi cho lửa. (5)  Vì một trẻ thơ đã chào đời để cứu ta, một người con đã được ban tặng cho ta. Người gánh vác quyền bính trên vai, danh hiệu của Người là Cố Vấn kỳ diệu, Thần Linh dũng mãnh, người Cha muôn thuở, Thủ Lãnh hòa bình. (6) Người sẽ mở rộng quyền bính, và lập nền hòa bình vô tận cho ngai vàng và vương quốc của vua Đavít. Người sẽ làm cho vương quốc được kiên cố vững bền trên nền tảng chính trực công minh, từ nay cho đến mãi muôn đời. Vì yêu thương nồng nhiệt, ĐỨC CHÚA các đạo binh sẽ thực hiện điều đó.      
(2) Bài đọc 2: Tt 2,11-14: Đời sống mới.
         (11) Quả thế, ân sủng của Thiên Chúa đã được biểu lộ, đem ơn cứu độ đến cho mọi người. (12) Ân sủng đó dạy chúng ta phải từ bỏ lối sống vô luân và những đam mê trần tục, mà sống chừng mực, công chính và đạo đức ở thế gian này. (13) Sở dĩ như vậy, là vì chúng ta trông chờ ngày hồng phúc vẫn hằng mong đợi, ngày Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa vĩ đại và là Đấng Cứu Độ chúng ta xuất hiện vinh quang. (14) Vì chúng ta Người đã tự hiến để cứu chuộc chúng ta cho thoát khỏi mọi điều bất chính, và để thanh luyện chúng ta thành Dân riêng của Người, một dân hăng say làm việc thiện.
(3) Bài Tin Mừng: Lc 2,1-14: Đức Giêsu ra đời. Những người chăn chiên đến viếng thăm.
       (1) Thời ấy, hoàng đế Augustô ra chiếu chỉ, truyền kiếm tra dân số trong khắp cả thiên hạ (2) Đây là cuộc kiểm tra đầu tiên, được thực hiện thời ông Quiriniô làm tổng trấn xứ Xyri. (3) Ai nấy đều phải về nguyên quán mà khai tên tuổi (4) Bởi thế ông Giuse từ thành Nagiarét, miền Galilê lên thành vua Đavít tức là Bêlem, miền Giuđê, vì ông thuộc gia đình dòng tộc Đavít. (5) Ông  lên đó khai tên cùng với người đã thành hôn với ông là bà Maria, lúc ấy đang có thai. (6) Khi hai người đang ở đó, thì bà Maria đã tới ngày mãn nguyệt khai hoa. (7) Bà sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ, vì hai ông bà không tìm được chỗ trong nhà trọ.
        (8) Trong vùng ấy, có những người  chăn chiên sống ngoài đồng và thức đêm canh giữ đàn vật. (9) Bỗng sứ thần Chúa đứng bên họ, và vinh quang của Chúa chiếu tỏa chung quanh, khiến họ kinh khiếp hãi hùng (10) Nhưng sứ thần bảo họ: "Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân: (11) Hôm nay một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đavít, Người là Đấng Kitô Đức Chúa. (12) Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người: anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ." (13) Bỗng có muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa rằng:
                                     (14) Vinh danh Thiên Chúa trên trời,
                                 bình an dưới thế cho loài người Chúa thương."
2.2 Trong ba bài Thánh Kinh trên, chúng ta khám phá ra Thiên Chúa là Đấng nào?   
      (1) Thiên Chúa mà ngôn sứ Isaia công bố là "một trẻ thơ đã chào đời để cứu ta, một người con đã được ban tặng cho ta. Người gánh vác quyền bính trên vai, danh hiệu của Người là Cố Vấn kỳ diệu, Thần Linh dũng mãnh, người Cha muôn thuở, Thủ Lãnh hòa bình". Sứ mạng được giao cho Người là "mở rộng quyền bính, và lập nền hòa bình vô tận cho ngai vàng và vương quốc của vua Đavít. Người sẽ làm cho vương quốc được kiên cố vững bền trên nền tảng chính trực công minh, từ nay cho đến mãi muôn đời." 
      (2) Thiên Chúa mà Thánh Phaolô muốn nói với đồ đệ Titô và hết thẩy các tín hữu là Đấng đã ban dồi dào ân sủng, đã ban ơn cứu độ cho mọi người. Người là Thiên Chúa vĩ đại và cứu độ sẽ xuất hiện vinh quang nơi Đức Giêsu Kitô trong ngày quang  lâm.
       (3) Thiên Chúa mà Thánh Luca muốn giới thiệu với thế giới là Thiên Chúa đã giáng sinh làm người, làm một trẻ sơ sinh được bọc tã nằm trong máng cỏ,  nhưng lại các thiên thần hát ca chào đón. Chính Hài Nhi Giêsu bé bỏng ấy là Đấng đem Tin Mừng trọng đại đến cho nhân loại, là Đấng Cứu Độ chúng sinh, là Đấng Kitô Đức Chúa, là chính Thiên Chúa xuống thế làm người để đem bình an và Tình Thương đến cho mọi người, nhất là cho những người bé mọn và bị gạt ra ngoài lề xã hội như các mục đồng ở Bêlem xưa.
2.3 Qua ba bài Thánh Kinh trên, Thiên Chúa muốn gửi sứ điệp gì cho chúng ta?   
     Sứ điệp của Lời Chúa hôm nay là chúng ta hãy đón mừng Đấng Thiên Chúa gửi đến, tức đón mừng HÀI NHI GIÊSU. Đón mừng một cách hân hoan, tin tưởng, không sợ hãi và tích cực bằng cách tìm hiểu và suy gẫm về Ý NGHĨA của Mầu Nhiệm Thiên Chúa Giáng Sinh làm người và làm một trẻ sơ sinh (1).    

III. SỐNG LỜI CHÚA HÔM NAY
   Là khi chúng ta thực hiện được hai việc quan trọng này:
    1. Cảm tạ, ngợi khen, chúc tụng Thiên Chúa Cha, Con và Thánh Thần về Ơn Cứu Độ mà Thiên Chúa đã ban cho nhân loại trong Mầu Nhiệm Giáng Sinh của Ngôi Lời Thiên Chúa xuống thế làm người.
    2. Tôn trọng và bảo vệ sự sống và phẩm giá con người, nhất là của trẻ thơ, phụ nữ và những kẻ thấp kém trong xã hội.

IV. CẦU NGUYỆN
     Lạy Thiên Chúa Cha là Đấng đã ban Con Một là Hài Nhi Giêsu cho nhân loại, chúng con cảm tạ, chúc tụng và ngợi khen Cha!
     Lạy Chúa Hài Đồng Giêsu, Chúa đã đến để ban cho mọi người Ơn Bình An, Ơn Giải Thoát và Ơn Thay Đổi Cuộc Sống. Xin Chúa ban Ơn Bình An của Chúa cho thế giới ngày hôm nay, một thế giới đang khát khao Hòa Bình mà lại sống cận kề hơn bao giờ hết với chiến tranh, hủy diệt.
     Lạy Chúa Hài Đồng Giêsu, Chúa đã được Mẹ Maria sinh ra là một trẻ sơ sinh để dạy chúng con về giá trị thiêng liêng của sự sống, của trẻ thơ, phụ nữ và những người bất hạnh và bị thiệt thòi trong xã hội. Xin Chúa hãy giải thoát mọi người và bản thân chúng con khỏi cảnh tối tăm, ích kỷ, đam mê, tội lỗi để mọi người biết quí trọng sự sống, trẻ thơ, phụ nữ và những người bé nhỏ! Amen.
Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.
Sàigòn ngày 11.12.2005.
----------------------
Chú thích:
(1) Đức Tổng Giám mục Hà Nội, Giuse Ngô Quang Kiệt, đã quảng diễn cách tuyệt vời  ý nghĩa của Lễ Chúa Giáng Sinh như sau:
      “Vì yêu thương nhân loại, Con Thiên Chúa đã xuống thế làm người. Vì yêu thương nhân loại, Ngài tự nguyện trở nên một trẻ thơ yếu ớt. Vì yêu thương nhân loại Ngài tự nguyện làm con của loài người, sinh ra bởi một người phụ nữ. Vì yêu thương nhân loại, Ngài đã muốn trở nên một thành viên trong gia đình nhân loại, có một gia đình như những người khác.
      “Thiên Chúa đã tự nguyện làm một người như chúng ta. Thiên Chúa tự đồng hóa với con người đến nỗi từ nay ai khinh miệt một con người là khinh miệt chính Chúa, ai bạc đãi một con người là bạc đãi chính Chúa, ai hà hiếp một con người là hà hiếp chính Chúa. Ai xúc phạm đến con người là xúc phạm đến Chúa.
       “Hang đá Bêlem là một lời mời gọi tha thiết và cấp thiết cho tương lai nhân loại. Thiên Chúa hóa thân làm một trẻ sơ sinh để mời gọi ta hãy biết tôn trọng sự sống. Thiên Chúa sinh ra làm một trẻ thơ yếu đuối để mời gọi ta hãy biết yêu thương những người bé nhỏ, yếu hèn. Thiên Chúa sinh ra trong cảnh nghèo hèn để mời gọi ta hãy biết nâng đỡ những người nghèo khổ. Thiên Chúa sinh ra làm con Đức Mẹ Maria để mời gọi ta hãy biết kính trọng phụ nữ. Thiên Chúa sinh ra trong một gia đình để mời gọi ta hãy biết bảo vệ những truyền thống tốt đẹp đem lại hạnh phúc cho gia đình.
       “Lời mời gọi này có tính chất quyết định không những cho hạnh phúc chóng qua mà còn cho hạnh phúc vĩnh cửu của con người.
       “Vì ai tôn trọng con người là tôn trọng chính Chúa. Ai phục vụ con người là phục vụ chính Chúa. Như Lời Chúa đã dạy: Mỗi lần ta cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc, viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc, là ta làm cho chính Chúa (x. Mt 25).
       “Như thế Lễ Giáng Sinh là lễ của của phẩm giá con người. Chúa xuống trần để nâng cao phẩm giá con người. Chúa làm nguời để con người được kính trọng. Con người cao quí vì đã được nâng lên làm con Thiên Chúa.
       “Như thế Lễ Giáng Sinh là lễ của niềm vui. Vui vì con người được Thiên Chúa  yêu thương. Vui vì con người được nâng lên địa vị cao trọng”.

 

GS-161: Quà tặng tình yêu, hay Tấm biển chỉ đường cho nhân loại đi tới

THÁNH LỄ ĐÊM GIÁNG SINH (2005)
Thiên Chúa Giáng Sinh : "Quà tặng tình yêu" hay "Tấm biển chỉ đường cho nhân loại đi tới"
Giảng Lời Chúa :
Kính thưa ông bà và anh chị em,
 

Chuyện kể rằng : trong cuộc chiến tranh Pháp - Phổ (1870-1871), vào một ngày Giáng sinh: GS-161

Chuyện kể rằng : trong cuộc chiến tranh Pháp - Phổ (1870-1871), vào một ngày Giáng sinh tại mặt trận ác liệt, một lính Pháp bỗng nhảy lên khỏi chiến hào, hát to lên bài Cantique de Noel (Thánh ca đêm Noel) của nhạc sĩ người Pháp - Adolphe Adam - bản carol rất quen thuộc của người Pháp. Từ bên kia chiến tuyến, không có phát đạn nào của lính Phổ đã bắn vào anh ấy. Và thật bất ngờ, một lính Phổ cũng đã vụt đứng lên khỏi chiến hào đáp lại bằng bài carol cổ truyền của Phổ : bài Vom himmel hoch (Từ Thiên đường trên cao) – do Martin Luther viết. Trong khoảnh khắc đặc biệt nầy, một sự kiện hi hữu đã xảy ra : khi hai bài hát của hai anh lính chiến đối địch vang lên, toàn thể các chiến hào lặng im phăng phắt và sau đó là một tràng pháo tay vang dội thay thế cho những tiếng bom đạn gào thét trước đó…
Sự kiện trên, quả thật, đã hiện thực hóa nội dung của tựa đề một bài thánh ca Noel bất hủ mà chúng ta đã nghe gần như quen thuộc mỗi độ Giáng Sinh về : bài Holy Night, Silent Night, Đêm thánh thiện, Đêm an bình. Vâng, đêm nay chính là Đêm rất thánh, đêm nay chính là Đêm an bình. Đêm mà như cách diễn tả của sứ ngôn Isaia, một nhà tiên tri Do Thái xuất hiện trước Chúa Cứu Thế khoảng 700 năm đã tiên báo ngày giáng sinh của Đấng Thiên Sai bằng những hình ảnh sống động mà chúng ta vừa nghe công bố : “Đoàn người bước đi trong tăm tối, đã nhìn thấy ánh sáng bao la, ánh sáng bừng lên trên những miền âm u sự chết…Vì mọi giày lính nện xuống rần rần và mọi áo choàng đẫm máu sẽ bị đem thiêu, làm mồi cho lửa. Vì một Hài nhi đã sinh ra cho chúng ta, một Người con đã được ban tặng cho chúng ta” (BĐ 1). Và như thế, ý nghĩa đầu tiên mà chúng ta có thể tìm gặp trong huyền nhiệm Giáng Sinh để suy nghĩ và cầu nguyện, để tìm nơi đây một ý nghĩa cho cuộc sống đó chính là :

1. Thiên Chúa Giáng Sinh : Tấm biển chỉ đường cho nhân loại đi tới :
Để hiểu được chân lý nầy, chúng ta phải trở về với chính những Lời Chân Lý được gởi gắm trong trong cử hành Phụng vụ Lời Chúa hôm nay mà trọng tâm chính là trích đọan Tin Mừng Luca vừa được công bố :
v Thật vậy, bài Tin mừng Luca, với giọng văn lịch sử mang phong cách Hy lạp, tác giả Luca đã làm bật nổi biến cố Giáng Sinh với những lời và bối cảnh thật ấn tượng : “Trong vùng ấy có những người chăn chiên sống ngoài đồng…bổng sứ thần Chúa trong vinh quang sáng láng hiên ra loan báo rằng : “Anh em đừng sợ. Nầy tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là niềm vui cho toàn dân : là hôm nay, trong thành vua Đa-vít, Đấng Cưứ thế đã giáng sinh…”
Phải chăng có một sự trùng hợp nào đó giữa biến cố Giáng sinh của Chúa Giêsu cách đây 2000 năm và lời tiên báo của sứ ngôn Isaia trước biến cố nầy 7 thế kỷ ?
Thật vậy, giữa cảnh nô lệ, lưu đày nước mất nhà tan khi đế quốc Assur thôn tính Ít-ra-en vào khoảng 700 năm trước Công Nguyên, vị tiên tri thi sĩ I-sa-ia đã tiên báo “một Đấng Emmanuen sẽ được một Trinh nữ sinh ra”… và 700 năm sau, trong buổi bình minh của thiên niên kỷ đầu tiên của công nguyên, cũng lại là một đất nước Ít-ra-en tan nát dưới quyền đô hộ của Rôma, sứ thần đã loan Tin Mừng vĩ đại cho các mục đồng ở Bê-lem : “Anh em đừng sợ. Nầy tôi loan báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng sẽ là niềm vui cho toàn dân : hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa-Vít”.
Với những lời tiên báo đó, với những sứ điệp vui mừng và hy vọng về một Đấng Cứu thế ra đời đó, quả thật loài người đã có được những gì, đã chứng kiến được, đã cảm nhận thật sự điều gì đã xảy ra ? Có hay không Một Đấng Cứu thế như lòng họ hằng mơ ước ? Có hay chăng một Vị Vua oai hùng lẫm liệt đăng quang trở về chấp chính để an bang tế thế ? Có hay chăng một Đấng Cứu tinh mang lại no cơm ấm áo, đất đai biên thùy mở rộng thênh thang, quyền uy chính trị trãi trên ngàn dân nước ?
Không ! Hoàn toàn trái ngược hẳn :
- Thay vì một hoàng tử sinh ra trong gác tía lầu son, Đấng Cứu Thế lại là một em bé khóc oa oa sinh ra trong hang lừa máng cỏ, mà thi sĩ linh mục Trăng Thập Tự trong bài thơ Giáng Sinh mới nhất với tựa đề “Và Lời đã làm người” đã diễn cảm bằng những dòng thơ mượt mà thi vị :
Miên trường thinh lặng chợt oe oe,
Rạn vỡ đêm sâu, đuốc lập loè.
Lời chưa biết nói nên Lời khóc,
Gọi chào nhân thế giữa canh khuya….
Hãy đến mà nghe Lời Hằng Hữu,
Đang cười, đang ngỏ ý tinh khôi.
Lời đang muốn nói, Lời đang thử
Mở miệng – và Lời mấp máy môi.
- Thay vì xuất thân từ dòng tộc vương triều, lớn lên trong lụa là nhung gấm, Đấng Cứu thế chỉ là một chàng thanh niên “Con Bác thợ mộc Giuse” suốt 30 năm với đục chàng cưa búa…
Và sau 30 năm âm thầm ẩn dật chốn quê mùa Na-da-rét, Con Thiên Chúa, Đấng Thiên Sai đã xuất hiện.
- Thay vì một Đế vương chấp chính oai phong trên ngai vàng lẫm liệt, như dự kiến và ước mơ của trăm vạn cõi lòng dân Do Thái, Đấng Cứu Thế lại được Chúa Cha giới thiệu với loài người đang khi chen lẫn giữa đám dân đen tụ tập cùng nhau sám hối bên bờ sông Gio-đan.: “Đây là Con Ta yêu dấu, các ngươi hãy nghe lời Người”.
- Thay vì công bố giữa triều đình oai nghi những đề cương kinh tế chính trị xã hội bài bản, Đấng Cứu thế lại rao giảng một Tin Mừng “Tám Mối Phúc Thật” chỉ thích hợp cho những kẻ nghèo khổ bất hạnh. “Phúc cho ai khó nghèo vì Nước trời là của họ…”
- Thay vì chinh phạt với vó ngựa, gưom đao để mở rộng cõi bờ, sát phạt muôn dân, Đấng Cứu thế lại chấp nhận một bản án bất công và chịu tử hình Thập Giá, một cái chết dành riêng cho hàng nô lệ…
Quả thật, sự xuất hiện và cuộc đời của Chúa Giêsu, Đấng Cứu thế mãi mãi là một thách đố để chúng ta tin nhận, là một huyền nhiệm để chúng ta đi tìm. Nếu hôm nay, chúng ta đến đây, chúng ta cử hành mầu nhiệm Giáng Sinh nầy, chúng ta tìm kiếm một “Ông Giêsu” chỉ với mục đích là được no cơm ấm áo, chỉ với một ước nguyện là được tiền tài danh vọng và những bảo đảm vật chất…thì có lẽ chúng ta sẽ ra về trong thất vọng não nề. Bởi vì Tin Mừng Giáng Sinh, Chân lý của Đức Kitô, con đường nhân sinh của Kitô giáo không đề nghị cho chúng ta những giải pháp trần tục đó, những hứa hẹn vật chất chóng tàn đó. Bởi vì Đức Kitô và Tin Mừng của Ngài tuyệt đối không phải là một ý thức hệ, một chủ nghĩa, một học thuyết chính trị-kinh tế. Bởi vì Chúa Giêsu hôm qua, hôm nay và mãi mãi duy nhất là Đấng Cứu Độ, là Đấng, như lời kinh thánh “ trong Bài đọc 2 vừa được công bố hôm nay “đã tự hiến để cứu chuộc chúng ta cho thoát khỏi mọi điều bất chính, và để thanh luyện chúng ta khiến chúng ta thành dân riêng của Người, một dân hăng say làm việc thiện” (BĐ 2), là Đấng qui tụ nhân loại thành anh em trong gia đình Thiên Chúa để dẫn tất cả vượt qua kiếp sống trần gian tiến về hạnh phúc vĩnh hằng.
Cũng chính vì lẽ đó, “Hiến chương Nước Trời” được Ngài vạch ra như nẽo đường dẫn tới cõi phúc chân thật lại là những giá trị xem ra thật ngược đời, nhưng cũng thật anh hùng và đòi hỏi : Tinh thần khiêm hạ khó nghèo, hiền lành nhân ái, hy sinh để chia sẻ và cho đi, yêu thương để xây dựng hòa bình, không ngừng biết khoan dung để tha thứ…
Chính cuộc đời 33 năm trần thế của Ngài, cho dù không để lại một công trình kiến trúc vĩ đại, không một tác phẩm văn chương uyên bác, không một sáng chế khoa học diệu kỳ…thì 20 thế kỷ qua vẫn là cột trụ của nhân loại, là hy vọng của muôn thế hệ, là điểm tựa cho muôn ức triệu tâm hồn. Vâng, Thiên Chúa Giáng Sinh chính là “Tấm biển chỉ đường” để dẫn dắt nhân loại cùng nhau tiến về quê hương vĩnh cửu.
Cũng từ ý nghĩa đó, chúng ta lại nhận ra rằng :

2. Thiên Chúa Giáng Sinh : Một quà tặng tuyệt vời của Thiên Chúa tình yêu :
Thật vậy, để định nghĩa về Thiên Chúa, hình như không có cụm từ nào chính xác hơn, sâu sắc hơn cụm từ được Thánh Tông Đồ Gioan, Người môn đệ được Chúa Giêsu thương mến cách đặc biệt, đã sử dụng trong tín thư mặc khải mà chính Ngài nhờ ơn linh hứng đã viết ra : “Thiên Chúa là Tình Yêu”. Và để cắt nghĩa “bản chất” yêu thương nầy của Thiên Chúa, Thánh Gioan lại đã viết rằng : “Thiên Chúa đã yêu thương nhân loại đến độ đã trao ban Người Con Một”. Tình yêu đích thực đó chính là “ban tặng”, là “cho không biếu không”, là biến mình thành một “quà tặng” để hiến dâng mà không bao giờ đòi hỏi đáp đến, trả giá, và càng không có chuyện so đo tính toán. Nếu Thiên Chúa tính toán, so đo trong tình yêu của Ngài dành cho chúng ta, chắc chắn Ngài không chọn làm một công dân của một dân tộc cứng đầu và phản bội như Ít-ra-en, không chọn làm quê hương một Đất nước khô cằn sỏi đá như vùng đất Pa-les-tin, không chọn sinh ra vào một giai đoạn lịch sử đầy nhiểu nhương phân hóa với một Triều đình bù nhìn bán nước như triều đình của Vua Hêrôđê, không chọn sống chung với một thế hệ đồng bào mà niềm tin tôn giáo đã ươn hèn, sai lệch và biến chất theo kiểu “Pharisiêu”. Nếu Thiên Chúa đã so đo tính toán trong mối tình cứu độ thì dại gì chọn sinh trong hang lừa máng cỏ, bị xua đuổi khước từ, bì săn lùng tàn sát…Dại gì, chung đụng với phường thu thuế, đĩ điếm để phải mang tiếng mang tăm! Dại gì chọn kiếp sống lang thang “đầu đường xó chợ” đến độ “không có viên đá gối đầu”, dại gì đối lập với giáo quyền và thế quyền để phải bị tróc nả, khai trừ, ném đá và nhất là, dại gì chấp nhận lãnh một bản án bất công chết tủi nhục trên thập giá, trong khi chính mình có đầy đủ quyền uy không phải chỉ để làm vài dấu lạ cò con như cho kẻ què đi, kẻ mù thấy, phung hủi được sạch, nước hóa rượu ngon, mấy chiếc bánh và vài con cá có thể nuôi mấy ngàn người…mà còn có thể một lời phán ra là “cải từ hoàn sinh”, là trấn áp cuồng phong bảo táp, là làm khiếp đảm ngã nhào cả một đạo binh trong đêm Ngài bị trao nộp…
Nếu ngày xưa, qua miệng các sứ ngôn Thiên Chúa đã từng dạy rằng : “Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình, hay chẳng thương đứa con mình đã mang nặng đẻ đau ? Cho dù nó có quên đi nữa, thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ!” (Is 49,15).
Để ấn chứng cho lời đoan hứa của Đấng được mệnh danh là “Giàu lòng nhân ái và rất mực khoan dung”, Thiên Chúa hình như không còn cách nào khác là phải “trở thành quà tặng tình yêu để trao ban chính mình cho nhân loại”. Và một “khi thời gian tới lúc mãn kỳ”, Thiên Chúa Ngôi Hai đã đích thân “bỏ ngai trời xuống thế”. Từ máng cỏ Bê-lem cho tới đỉnh đồi Núi Sọ, cuộc đời của Chúa Giê-su duy nhất chỉ là một định nghĩa đúng đắn nhất về tình yêu : Yêu là cho đi và cho đi đến cùng : Thiên Chúa trở nên nghèo hèn, tự hiến để con người được cứu độ vinh quang; Thiên Chúa chấp nhận làm “hạt lúa gieo vào trần gian mục nát”, để con người ngẩng cao đầu đứng lên tìm được hạnh phúc vĩnh hằng. Thiên Chúa đã chấp nhận hy sinh và tự hiến để nhân loại tội lỗi được cứu độ vinh quang. Hay như cách nói so sánh đối xứng của một Vị Giáo Phụ : “Thiên Chúa làm người để con người được làm chúa”. Đó cũng chính là ý nghĩa cuối cùng của mầu nhiệm được cử hành hôm nay : mầu nhiệm Thiên Chúa làm người, mầu nhiệm Thiên Chúa ở cùng chúng ta, mầu nhiệm Nhập thể - Giáng Sinh.
Chính vì thế, cuộc cử hành đêm nay, Đêm Thánh vô cùng nầy, lại chính là cơ hội để anh và tôi, để chị và em, để tất cả chúng ta hân hoan vui mừng lãnh nhận chính quà tặng của Thiên Chúa, không phải thứ quà tặng rẻ tiền trong những chiếc vớ của ông già Noel mang đến, mà là quà tặng tình yêu tuyệt vời là chính Thiên Chúa, là hồng ân cứu độ, là Tin Mừng giái thoát, là Nước Trời. Nói đến quà tặng tình yêu tôi chợt nhớ đến câu chuyện “quà tặng đêm Giáng Sinh của đôi vợ chồng trẻ” mà có lẽ không ít người đã từng nghe kể :
Có một cặp vợ chồng nọ vì quá nghèo, không có tiền để mua quà tặng cho nhau nhân dịp Giáng Sinh về. Sau nhiều đêm suy nghĩ, người vợ bèn quyết định bán mái tóc dài óng ả xinh đẹp của mình để mua một sợ giây đồng hồ cho chồng, vì sợi dây đeo đồng hồ của chàng đã bị đứt mà chưa có tiền mua sợi mới!
Trong khi đó mái tóc xinh đẹp của người vợ đã làm cho người chồng băn khoăn trăn trở mãi : Lấy gì để mua được một chiếc lược ngà mà vợ mình hằng ao ước để chải lên mái tóc mây óng ả kia ? Và chàng quyết định bán chiếc đồng hồ quí của mình để mua cái lược ngà cho vợ...
Ðêm Giáng sinh cả hai sung sướng trao tặng quà cho nhau. Khi mở ra cả hai kinh ngạc đến sững sờ... Hỡi ơi nàng đâu còn mái tóc đẹp để chải với chiếc lượt ngà ! Và chàng cũng chẳng còn chiếc đồng hồ để đeo bằng sợi dây vàng tuyệt đẹp !... Thế nhưng, hai trái tim, hai cõi lòng đã mở ra và nhận của nhau món quà Giáng Sinh chưa bao giờ đẹp đến thế. Họ đã cùng ôm nhau khóc, khóc trong yêu thương dạt dào, khóc trong ân tình hạnh phúc vì họ đã khám phá ra rằng : hy sinh dâng hiến cho nhau là món quà Giáng Sinh đẹp nhất, quí hóa nhất, và cũng vững bền nhất cho cuộc đời của ho.
Kính thưa ông bà và anh chị em,
Trong Mùa Giáng Sinh nầy, Hội Thánh thường mượn lời của sứ ngôn I-sa-ia để hát lên : “Một Hài Nhi đã sinh ra cho chúng ta, Một Người Con đã ban riêng cho chúng ta…”. Hài Nhi Giêsu, Con Một Thiên Chúa mà cách đây hơn 2000 năm trước đã giáng sinh làm người, đã khóc oa oa trong hang đã lạnh, đã sống nhờ chút sửa của người Mẹ đồng trinh Maria, đã mĩm cười trong hơi ấm của những chú chiên lừa được các mục đồng dẫn tới…đó chính là quà tặng tình yêu tuyệt vời nhất, thâm sâu nhất, vĩ đại nhất của Thiên Chúa ban tặng cho chúng ta. Tuy nhiên có nhận được hay không, có gặp gỡ được Ngài hay vẫn nghìn trùng xa cách, có tin nhận tôn thờ hay lãnh đạm thờ ơ…đó lại là kết quả của hồng ân và sự chọn lựa tự do của mỗi người. Nếu 2000 năm trước Tin Mừng Giáng Sinh đã được các thiên sứ loan báo vang dội khắp trời Bê Lem để đánh thức các mục đồng, và nếu Ánh Sao lạ Giáng Sinh đã dẫn lối đưa đường ba Đạo sĩ Phương đông tìm về máng cỏ để kính bái Hài Nhi Cứu Thế, thì hôm nay và từng ngày cuộc sống, Tin Mừng ấy, ánh sao lạ ấy vẫn vang dội khắp trời, vẫn bừng lên sáng rực. Tin mừng ấy, Sao Lạ ấy chính là Hội Thánh, chính là Lời Chúa, chính là các Bí tích mà chúng ta vẫn thường tham dự, chính là Thánh Lễ Tạ Ơn mỗi ngày được dâng trên bàn thờ trần thế. Tin mừng ấy, Sao lạ ấy cũng chính là anh, là chị, là em, là tất cả chúng ta. Mỗi người chúng ta phải biến cuộc đời mình, gia đình mình, cộng đoàn mình thành Tin Mừng Giáng Sinh, thành một Quà Tặng Giáng Sinh, quà tặng của sự hy sinh, yêu thương và phục vụ. Chỉ khi nào chúng ta sống trọn vẹn những ý nghĩa và đòi hỏi đó thì huyền nhiệm “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”, huyền nhiệm “Thiên Chúa Nhập Thể làm người”, mới không trở thành một công thức tín điều chỉ để tuyên xưng ngoài đầu môi chót lưỡi, mà là một xác tín để cử hành, để sống ắp đầy ý nghĩa. Bởi vì, như chính Chúa Giêsu đã từng khẳng định : “Ta đến để chúng được sống và sống phong phú”. Amen. Merry Christmas ! Merry Christmas !
Giuse Trương Đình Hiền

 

GS-162: Chắc phải có họ hàng, bà con gì với Chúa

LỄ GIÁNG SINH BAN NGÀY (05)
“Chắc phải có họ hàng, bà con gì với Chúa”
Dẫn nhập đầu lễ : Anh chị em thân mến,
 

Hôm nay Hội Thánh long trọng kính mừng mầu nhiệm Nhập Thể-Giáng Sinh trong chiều kích: GS-162

Hôm nay, Hội Thánh long trọng kính mừng mầu nhiệm Nhập Thể-Giáng Sinh trong chiều kích sâu xa và cao cả nhất với ánh sáng của một ngày mới đang bừng dậy, cùng với niềm vui bao la của muôn vạn trái tim đang reo vui vì hồng ân cứu rỗi. Chúng ta hân hoan vui mừng vì như lời Thánh Lê-ô Cả chú giải về ý ngjĩa của mầu nhiệm Giáng Sinh đã nhấn mạnh trằng : “Hôm nay Đấng Cứu Độ chúng ta đã giáng sinh, chúng ta hãy vui mừng. Chúng ta không được phép buồn khi mừng ngày sự sống xuất hiện. Ngày kỷ niệm nầy phá tan sự sợ hải trước cái chết và ban cho chúng ta niềm hân hoan được sống đời đời” (Bài đọc 2 Giờ Kinh Sách Lễ Giáng Sinh).
Giờ đây, để xứng đáng lãnh nhận niềm vui của ơn cứu độ, niềm vui thánh thiện của mầu nhiệm Giáng Sinh, xứng đáng cử hành mầu nhiệm thánh, chúng ta hãy thú nhận tội lỗi.
Bài Giảng Lời Chúa :
Dẫn nhập : Kính thưa ông bà và anh chị em, các bạn trẻ thân mến,
Đứng trước vẽ uy nghi và sâu lắng của mầu nhiệm Nhập Thể Giáng Sinh, đã có không biết bao nhiêu bài thơ và khúc nhạc đã được bao thế hệ loài người sáng tác, diễn cảm, trình bày. Linh mục thi sĩ Xuân Ly Băng trong bài thơ “Say Noel” đã có những lời “:
Thấy chăng em ? đêm hôm nay mầu nhiệm
Đến muôn đời cắt nghĩa mãi không ra
Nghe chăng em ? trong ánh sáng bao la
Nhạc tình yêu reo vang nguồn nhập thể!
Trong khi đó thi sĩ linh mục Nguyễn Xuân Văn lại trình bày mầu nhiệm Con Chúa giáng sinh bằng hình ảnh và ngôn ngữ của “dáng đứng Việt Nam” qua những câu lục bát ru con được đặt trên môi của Đức Maria :
Nàng bừng tỉnh giấc mơ nồng
Vội vàng ríu gối quỳ bồng Con yêu.
Hôn lên vầng trán mỹ miều,
Ngân nga mấy khúc dặt dìu ru con :
Con ơi con ngủ cho ngon,
Để rồi thức tỉnh nước non mai ngày.
Con ơi con ngủ cho say,
Đời còn trăm đắng ngàn cay hẹn chờ…
(Sứ điệp Tình Thương)
Như vậy, thật là cần thiết để giờ đây chúng ta cùng suy nghĩ với nhau, cùng chia sẻ cho nhau những ý nghĩa thâm sâu của mầu nhiệm chúng ta đang cử hành, đang tái diễn và đang dấn thân đem vào hiện thực cuộc sống.

1. Nhập Thể : Một tình yêu hành động
Như chúng ta đã chia sẻ với nhau trong thánh lễ Đêm Giáng Sinh. Chỉ có thể cắt nghĩa được huyền nhiệm Nhập Thể-Giáng Sinh bằng hai tiếng TÌNH YÊU. Tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người, tình yêu của Thiên Chúa ban tặng món quà cao quí nhất là chính Con Một, tình yêu của Thiên Chúa xót thương và tha thứ không bỏ mặc con người dưới quyền sự chết để nâng con người lên… Thế nhưng đó không là một tình yêu chỉ bằng lời nói suông mà là một hiện thực, một dấn thân, một hành động. Cũng chính trong ý nghĩa “Lời Hành Động” đó mà các bài đọc Lời Chúa được công bố hôm nay đều đồng thanh diễn tả tính cách năng động của “Lời” : Bài đọc 1 : Sứ ngôn I-sa-i-a đã kêu lên : “đẹp thay trên đồi núi bước chân người loan tin mừng, công bố bình an, người loan tin hạnh phúc, công bố ơn cứu độ…Kìa nghe chăng quân canh gác của ngươi cùng cất tiếng reo hò vang dậy; họ sẽ được tân mắt thấy Đức Chúa đang trở về Xi-on…Hởi Giê-ru-sa-lem điêu tàn hoang phế hãy đồng thanh bật tiếng reo mừng…”. Trong khi đó, bài đọc 2 thư Do Thái lại trình bày :”Đã lắm phen bằng nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy Cha ông…vào thời sau hết Thiên Chúa đã phán dạy qua Thánh Tử…”. Và đặc biệt nhất Thánh Gioan trong bài Tựa Tin Mừng của Ngài đã khẳng định một cách rõ ràng như một câu định nghĩa : “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta”…
Vâng, Thiên Chúa Nhập Thể Giáng Sinh chính là một tình yêu hành động, một tình yêu không dừng lại ở một “lời nói suông” nhưng là một “LỜI THÀNH NHỤC THỂ”.
Nếu Thiên Chúa trong lịch sử đợi chờ đã nhiều lần can thiệp, nhiều lúc hành động để cứu dân qua những điềm thiêng dấu lạ, thì đã đến lúc, Thiên Chúa xuất hiện, Thiên Chúa dấn thân, Thiên Chúa biểu lộ chính bản thân Ngài, chính cuộc sống Ngài, chính trái tim của Ngài, chính nổi đau và cái chết, chính sự sống lại vinh quang của Ngài. Thánh Gioan đã cảm nhận đuợc chân lý nầy khi Ngài viết lại trong thư thứ nhất của Ngài :”Điều vẫn có ngay từ lúc khởi đầu, điều chúng tôi đã được nghe, điều chính mắt chúng tôi đã được thấy và chiêm ngưỡng, điều chính tay chúng tôi đã được chạm đến, đó là lời sự sống. Quả vậy, sự sống đã xuất hiện chúng tôi đã nhìn thấy và xin làm chứng, chúng tôi loan báo cho anh em sự sống đời đời : sự sống ấy vẫn hướng về Chúa Cha và nay xuất hiện cho chúng tôi” (1 Ga 1,1-2).
Như vậy, tin nhận mầu nhiệm Nhập Thể-Giáng Sinh, đón nhận Con Chúa xuống thế làm người đối với chúng ta hôm nay đó là chấp nhận “sự can thiệp của Thiên Chúa trong mọi biến cố của đời mình”, là đón nhận sự hiện diện và hoạt động của Chúa Kitô trong giữa lòng cuộc sống. Và như thế, cho dù những khúc nhạc Noel hôm nay có ngừng tắt, cho dù những ánh đèn rực sáng của Giáng Sinh có tàn lụi, cho dù những trang trí hang đá máng cỏ có được dẹp đi…thì trên mỗi chặng đường của cuộc sống, đức tin của chúng ta vẫn là sự bắt đầu mới mẻ, việc sống đạo của chúng ta lại là một cuộc lên đường, trái tim của chúng ta là một cuộc thắp sáng tin yêu, cõi lòng chúng ta là một đổi mới trong khiêm hạ hoán cải., đôi tay chúng ta là một rộng mở để khoan dung và phục vụ…Tin và sống mầu nhiệm Nhập Thể-Giáng Sinh là thế đó. Bởi vì nếu Giáng Sinh-Nhập Thể là một “tình yêu hành động” của Thiên Chúa dành cho chúng ta, thì sống mầu nhiệm ấy chính là một “tình yêu hành động” của chúng ta đáp trả dành cho Thiên Chúa và dành cho con người.
Và như thế, chúng ta có thể khẳng định một điều mà không sợ sai lầm đó là : chính khi con người hành động theo mệnh lệnh tình yêu và cung cách yêu thương của Thiên Chúa, con người sẽ thuộc về Thiên Chúa, giống Thiên Chúa; hay như cách nói của chính Chúa Giêsu : “bà con với Thiên Chúa” : “Mẹ tôi và anh em tôi, chính là những ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành” (Lc 8, 21).

2. Nhập Thể : Một tình yêu sẵn sàng tự hủy
Thế nhưng hành động của tình yêu và vì tình yêu bao giờ cũng đòi phải trả một giá đắt. Và giá đắt cuối cùng chính là hy sinh thân mình, là chấp nhận “chết”, là trở thành “lễ dâng”, trở thành “hy tế’. Nói cách khác, yêu cho tới cùng có nghĩa là “phải xóa mình đi”, phải “tự hủy” (Kenose) như chính Đức Kitô đã khẳng quyết : “Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13). Và chính Đức Kitô đã hiện thực hóa lời khẳng quyết đó bằng chính cái chết tủi nhục trên thập giá.
Nhập Thể-Giáng Sinh đó chính là tình yêu lớn nhất, tình yêu trên mọi tình yêu. Tình yêu của Đấng tự xóa bỏ tước phận Thiên Chúa cao sang để hạ cố mang phận bạc con người (Pl 2,6-7), “Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2, 8). Nhưng, cũng từ sự “tự hủy”, từ sự hạ cố xóa mình trọn vẹn đó mà “Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trỗi vượt trên muôn ngàn danh hiệu” (Pl 2, 9). Chính trong ý nghĩa nầy mà Thánh sử Tông Đồ Gioan đã không ngần ngại gọi cái “GIỜ” của Đức Kitô, cái “GIỜ” Đức Kitô được tôn vinh thật sự (Ga 13,31), chính là cái “GIỜ” của sự cô độc thập giá (Ga 16, 32), là cái “GIỜ” để bị “Treo lên”, cái “GIỜ” của “hạt lúa mì trong lòng đất mục nát đi” (Ga 12,24). Và để cắt nghĩa rõ hơn tư tưởng nầy, chị Chiara Lubich, đã ccàu nguyện với những lời thâm thúy :
Để chúng con được ánh sáng, Chúa đã trở nên mù loà.
Để chúng con được hiệp nhất, Chúa đã chịu xa cách Chúa Cha.
Để chúng con được khôn ngoan, Chúa đã trở nên "dốt nát".
Để chúng con được trở nên vô tội, Chúa đã trở thành người "tội lỗi".
Để chúng con hy vọng, Chúa đã hầu như tuyệt vọng.
Để Thiên Chúa ở trong chúng con, Chúa đã cảm nghiệm tình trạng bị xa cách Thiên Chúa.
Để chúng con chiếm hữu thiên đàng, Chúa đã cảm nghiệm hoả ngục.
Để cho chúng con được vui sống trên mặt đất nầy giữa hàng trăm anh chị em, Chúa đã chịu cảnh bị gạt bỏ khỏi trời đất, khỏi loài người và thiên nhiên.
Chúa là Thiên Chúa, là Thiên Chúa của con, là Thiên Chúa của tình yêu thương vô bờ bến của chúng con (CNHV trg. 148-149
Ngày hôm nay chúng ta đang cử hành mầu nhiệm Giáng Sinh-Nhập Thể cho dù với cung cách rực rỡ tráng lệ của hoa đèn ca nhạc đông vui mang tính lễ hội, thì điểm đến, tiêu đích cuối cùng vẫn chỉ là : “Một hài nhi đã sinh ra cho chúng ta, một Người Con đã được ban tặng cho chúng ta” (Ca Nhập Lễ); là một Em bé Giêsu yếu ớt nằm trong máng chiên lừa, một chàng thanh niên thợ mộc Giêsu con bác mộc Giuse, một Thầy Giêsu đi chân trần nghèo nàn, đói mệt trên những nẽo đường cát bụi xứ Pa-les-ti-na đến độ “không có chỗ dựa đầu” (Lc 9,58), là một tử tội Giêsu bị kết án đóng đinh thập giá giữa hai tên trộm cướp…và hôm nay trên bàn thờ nầy, là chính Chúa Kitô chấp nhận làm “tấm bánh ly rượu” để rở nên máu thịt nuôi sống muôn người.
Đón nhận một Chúa Giêsu như thế đó chính là thái độ, là cung cách, là tâm tình cần thiết để biểu lộ và sống mầu nhiệm Giáng Sinh-Nhập Thể, mầu nhiệm của “sự tự hủy của Thiên Chúa”, mầu nhiệm của tình yêu hiến thân cho đến chết, hy sinh cho tới cùng. Sống mầu nhiệm Nhập Thể-Giáng Sinh hôm nay là biết không ngừng tự xóa mình đi, là biết không ngừng thực thi ý Chúa cho dù trăm đắng nghìn cay, là biết khiêm tốn quỳ xuống để rửa chân cho anh em cho dù phải hy sinh và tủi nhục, là trung thành từng ngày với lý tưởng phúc âm cho dù phải dập vùi thử thách, là can đảm thực hành Lời Chúa trong từng nghĩa cử nhỏ nhoi, là chấp nhận đoạn tuyệt để trở về cho dù con tim tan nát…Sống mầu nhiệm Giáng Sinh – Nhập Thể hôm nay là biết mĩm cười chấp nhận cái tối tăm vất vả của đời sông gia đình nhưng vẫn sáng lên niềm tin yêu hy vọng; là biết sẵn sàng dấn thân trong giữa chốn chợ đời bon chen tất bật, nhưng vẫn sáng lên sự liêm khiết của phúc âm; là không nản lòng trước bênh tật, không sợ hải phải sinh và nuôi dạy con cái, là chung thủy từng ngày trong giao ước lứa đôi, là an bình phó thác trong tay Cha khi xui tay nhắm mắt…

Kết luận :
Tất cả những gì chúng ta chia sẻ cho nhau hôm nay mãi mãi vẫn là thách đố, mãi mãi vẫn là ước nguyện để mãi mãi là một cuộc lên đường, cũng như lễ Giáng Sinh năm nay rồi lại sẽ trở về để tái diễn để nhắc nhớ. Chính vì thế, chúng ta chỉ biết cầu nguyện cho nhau sống được và thực hiện thêm nữa lời mời gọi hôm nay của chân lý Nhập thể-Giáng Sinh. Cầu nguyện cho nhau biết sống đáp đền tình yêu của Thiên Chúa và không ngừng thực thi mệnh lệnh yêu thương của Ngài để mãi mãi là môn sinh của Chúa Giêsu, là “bà con với Đấng Cứu Thế, là phản ảnh dung mạo của Thiên Chúa tình yêu, như ngụ ý của câu chuyện nhỏ mùa Giáng Sinh có tựa đề “Bà có phải là Chúa không?” của Dan Clak :
Vào một buổi tối giá rét mùa Giáng sinh, một đứa bé khoảng sáu, bảy tuổi đứng trước một cửa hiệu. Đứa bé không có giày, còn quần áo thì rách rưới. Một phụ nữ trẻ đi ngang qua và nhìn thấy niềm khao khát trong đôi mắt xanh xao của nó. Cầm tay đứa bé dẫn vào tiệm, bà mua cho nó đôi giày mới và một bộ quần áo ấm.
Đưa bé ra khỏi tiệm, người đàn bà nói: “Bây giờ cháu có thể về nhà và chúc cháu một Giáng sinh vui vẻ”.
Đứa bé ngước nhìn người đàn bà và hỏi: “Thưa bà, bà có phải là Chúa không?”.
Người đàn bà cúi xuống nhìn đứa bé và đáp: “Không, con ạ, ta chỉ là một trong những đứa con của Chúa”.
Đứa bé nói: “Cháu nghĩ chắc bà phải có họ hàng, bà con gì với Chúa”.
Ước gì toàn thể mỗi người chúng ta hôm nay biết sống làm sao và sống thế nào để đều có thể được một ai đó cũng nói với mình một câu tương tự : “Tôi nghĩ ông, bà, anh chị chắc phải có họ hàng, bà con gì với Chúa”. Amen.
LM. Giuse Trương Đình Hiền

 

GS-163: Đêm Bình Anna

Lễ Giáng Sinh Thánh Lễ Đêm : Lc 2, 1-14
“Vinh danh Thiên Chúa trên trời, Bình an dưới thế cho người Chúa thương”
 

Lễ đêm Giáng Sinh, người Công Giáo Trung Quốc gọi là Đêm Bình An. Tên gọi rất có ý nghĩa: GS-163

Lễ đêm Giáng Sinh, người Công Giáo Trung Quốc gọi là Đêm Bình An.
Tên gọi rất có ý nghĩa, và quả thật là như vậy, vì đêm Bình An chính là đêm mà Con Thiên Chúa đã làm người vì yêu thương nhân loại.
Đêm nay được gọi là Đêm Bình An, vì là đêm đánh dấu một kỉ nguyên mới cho nhân loại : kỉ nguyên của tình yêu.

Đêm Bình An có các thiên thần bởi trời xuống hát mừng và loan báo tin vui cứu độ cho người nghèo, người công chính...
Đêm Bình An có ánh sao lạ dẫn đường cho muôn dân nhận biết dấu chỉ tình yêu của Thiên Chúa đối với loài người.
Đêm Bình An là đêm mà trời hoan ca và đất hát mừng, vì tất cả đều được đổi mới bởi Đấng Làm Người.
Đêm Bình An người người vui mừng, vì ơn cứu độ đã đến...
Đêm nay, toàn thể nhân loại, không phân biệt màu da tín ngưỡng đều hoan ca vui vẻ và hát mừng Thiên Chúa Giáng Sinh, từ các cửa hàng sang trọng cho đến các sạp buôn bán nhỏ, chúng ta đều thấy được không khí của Bình An, của Hoà Bình, người người chen chúc mua sắm mùa giáng sinh, trên khuôn mặt mỗi người đều rạng lên nét hân hoan và nếu quan sat kỉ, chúng ta sẽ thấy hình như tâm hồn của họ đổi thay, mà cái đổi thay dễ thấy nhất chính là họ rất dễ dàng thông cảm bỏ qua những lỗi lầm cho nhau, bởi vì tâm hồn họ tràn ngập sự bình an của ngày Giáng Sinh.
Đêm nay là Đêm Bình An, là đêm của Hoà Bình, bởi vì như lời tiên tri Elia nói : “Một trẻ thơ chào đời để cứu ta, một người con đã được ban tặng cho ta, danh hiệu Người là Cố Vấn kì diệu, Thần Linh dũng mãnh, người Cha muôn thuở, Thủ Lãnh hoà bình” (Is 9, 5). Trẻ thơ ấy chính là Chúa Giêsu, Ngài là ánh sáng chiếu soi đêm tối, đem lại cho đêm một sự bình an.
Đêm là tội lỗi, là chết chóc, là thù hận;
Ánh sáng là bình an, là sự sống, là tình yêu,
đi trong ánh sáng, chúng ta thấy anh em mình cũng có những ưu điểm hơn mình, đi trong ánh sáng, chúng ta cũng rất dễ dàng nhìn thấy những thói hư tật xấu của chúng ta, vì ánh sáng chiêu soi cho cả người tốt cũng như người không tốt...
Ánh sáng đã chiếu soi trần gian từ rất lâu rồi, nhưng vì cứ mãi mê trong những ánh đèn mờ của hưởng thụ và thích những nơi tăm tối, nên nhân loại vẫn chưa nhận ra được ánh sáng đích thực đang chiếu soi trên trần thế, ánh sáng ấy chính là Đức Giêsu Kitô, ánh sáng ấy chính là Lời của Ngài.
Đêm nay là Đêm Bình An, là đêm mà ma quỷ và mọi thế lực của nó đều sửng sờ kinh ngạc, vì ánh sáng đã đến, vị cứu tinh nhân loại đã đến để xua tan bóng đêm thống trị địa cầu, ánh sáng ấy chính là Đức Kitô.
Mừng Chúa Giáng Sinh cũng có nghĩa là mừng Ơn Cứu Độ đã đến, chúng ta –những người Công Giáo- đã chuẩn bị cho việc giáng trần của Con Thiên Chúa trong những ngày tháng của mùa vọng, chúng ta chuẩn bị tâm hồn theo lời mời gọi của thánh Gioan Tiền Hô : sửa đường lối cho ngay thẳng, tức là sửa đổi cuộc sống của minh cho phù hợp với tinh thần Phúc Am; chúng ta cũng chuẩn bị tâm hồn như Đức Trinh Nữ Maria : sống phục vụ người thân cận với tất cả tâm tình khiêm tốn. Và giờ đây chúng ta đang vui mừng hân hoan kỉ niệm Con Thiên Chúa làm người đang chọn tâm hồn của mình thành nơi sinh hạ của Ngài.
Đêm Bình An rồi cũng sẽ qua đi, và con người sẽ trở lại với công việc thường ngày của mình, nhưng chúng ta quyết tâm biến mỗi giây phút của mình trở thành đêm Bình An, nghĩa là chúng ta sống thật hoà bình với người thân cận của chúng ta. Sống thật hoà bình tức là diễn tả lại việc Con Thiên Chúa làm người cho mọi người thấy, đó chính là lòng khiêm hạ của một tâm hồn đầy ắp tình yêu thương của Thiên Chúa...
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.

 

GS-164: MẦU NHIỆM THIÊN CHÚA GIÁNG SINH

Có lẽ mấy ngày hôm nay chúng ta cùng nhau suy niệm mầu nhiệm Giáng sinh với tâm hồn: GS-164

Có lẽ mấy ngày hôm nay chúng ta cùng nhau suy niệm mầu nhiệm Giáng sinh với tâm hồn tràn đầy niềm tin yêu và hi vọng. Tin vào tình thương Thiên Chúa đoái thương chúng ta qua mầu nhiệm Nhập Thể của Chúa Giêsu, hi vọng vào cuộc hành trình mùa vọng để giúp chúng ta sống mầu nhiệm Nhập Thể trong ơn gọi Kitô hữu.
Ngày xưa, Evà đã nghe lời 'con rắn' ăn trái táo. Để rồi, trái táo định mệnh ấy đã khiến nhân loại phải ngập chìm trong bóng đêm của tội lỗi. Thì hôm nay, Mẹ Maria- Evà mới, đã đạp dập đầu 'con rắn'; Mẹ đã hạ sinh Hài Nhi Giêsu mang an bình và hi vọng tới cho nhân loại. Xin mời các thày cùng tìm hiểu mầu nhiệm Nhập thể qua ba ý tưởng sau:
Tội lỗi và ơn sủng
Cội nguồn của tội lỗi theo Thánh Kinh là do sự kiêu ngạo của nguyên tổ Ađam và Evà. Hai ông bà đã bị con rắn tức ma quỷ xúi dục kiêu ngạo muốn bằng Thiên Chúa khi ăn trái cấm. Từ đó trái đất trở nên cằn cỗi, con người đau khổ bất hạnh, quằn quại chờ ngày được giải thoát. Tội lỗi đó chỉ nhờ Con Thiên Chúa mới giải thoát được. Con người phạm tội bị đuổi ra khỏi vườn địa đàng, nhưng Thiên Chúa không bỏ rơi con người, Ngài hứa ban chương trình cứu độ con người. Mầu nhiệm cứu rỗi đã được mạc khải cho chúng ta nơi Chúa Hài Nhi Giêsu, màu nhiệm ấy gắn liền với lời thưa 'xin vâng' của Mẹ Maria.
Chúng ta đang sống tâm tình mùa vọng, mùa của hi vọng, chờ đợi và tỉnh thức. Đó chính là Ơn tình thương mà Thiên Chúa đã dành để cho trần thế chúng ta. Chính dân tộc Do thái đã sống trong sự chờ đợi và hi vọng đó, qua dòng lịch sử của dân tộc, chính Thiên Chúa đã mạc khải cho con người chúng ta biết được ý nghĩa của ước mơ và hi vọng. Vì vậy, qua các ngôn sứ, tiên tri trong Cựu Ước đều loan báo niềm hi vọng và chờ đợi này. Sự chờ đợi và hi vọng qui về Đức Giê-su Kitô. Nhìn một khía cạnh nào đó, chính chúng ta không khỏi suy tư: tại sao sự khao khát mong chờ như vậy mà khi Chúa Cứu Thế đến, họ lại không nhận ra Ngài? Phải chăng đó cũng là thảm trạng khi con người chúng ta đã không nhìn nhận ra sự hiện diện của Ngài?
Mầu nhiệm Nhập thể của Chúa Giêsu Kitô
Chúng ta nói đến thời điểm viên mãn "Ngôi Lời đã hoá thành nhục thể và ở giữa chúng ta" là thời điểm trọn vẹn là vì đây chính là thời gian hoàn tất mạc khải của Thiên Chúa Ba Ngôi. Thiên Chúa đã quá yêu thương thế gian đến độ ban tặng Con Một Ngài (Ga 3,16). Chính nơi Ngôi Lời nhập thể, mà Thiên Chúa đã hoàn toàn tự ý tỏ mình và ban chính mình cho con người chúng ta. Ngài cũng mạc khải đầy đủ con người cho chính con người. Nhờ Chúa Giêsu, con người chúng ta mới biết sự thật về chính mình. Cuộc sống hiến thân trọn vẹn để yêu và phục vụ Chúa Cha và con người của Chúa Giêsu đã là mẫu gương tuyệt hảo cho chúng ta dấn bước noi theo. Ngôi Lời nhập thể là tuyệt đỉnh thời gian viên mãn đối với Ba Ngôi Thiên Chúa: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.
Cuộc tái tạo mới
Hài nhi Giêsu đã trở nên một sự tái tạo mới, sự tái tạo khởi đi từ sự tha thứ và yêu thương của Thiên Chúa Ba Ngôi. Màu nhiệm Nhập thể của Con Thiên Chúa và mầu nhiệm Cứu độ Ngài thực hiện cho mọi người làm nên trọng tâm sứ điệp của đức tin Kitô giáo. Từ thế kỉ này đến thế kỉ khác, Hội thánh công bố điều ấy, đang khi tiến bước giữa những thách đố của thế giới qua bao thế kỉ, và Hội thánh uỷ thác cho con cái mình như kho tàng quí giá để gìn giữ và chia sẻ cho người khác. Nơi Đức Giê-su kitô, Đấng sinh ra tại Belem, Thiên Chúa nhận lấy thân phận con người, để chúng ta có thể đến được với Thiên Chúa và để thiết lập giao ước với loài người và con người giao ước liên đới với nhau.
Các thày thân mến,
Lại một lần nữa, Giáng sinh trở về với chúng ta, cũng vẫn những khung cảnh nhộn nhịp của loài người mừng lễ Giáng sinh. Trong màu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa nhập thể, chúng ta đã chuẩn bị dâng lên Chúa món quà nào? Phải chăng chúng ta chỉ nhìn đến những món quà vật chất dù nhỏ bé mà quên đi những giá trị tinh thần của màu nhiệm Nhập thể, nhất là trong cuộc sống quá ồn ào náo nhiệt với những vất vả lo toan, bệnh tật, khổ đau, khủng hoảng của ơn gọi gia đình, khủng hoảng của cả ơn gọi tu trì. Vậy chúng ta đã làm gì cho Chúa để trở thành sự đổi mới tâm hồn của chúng ta?
Ngày nay, người ta nói nhiều đến thương mại hoá Giáng sinh, trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Phải chăng thế giới ngày nay đang chứng kiến một hình thức bùng nổ việc mua bán hình ảnh giáng sinh đối với mọi người, mọi quốc gia? Mầu nhiệm Giáng sinh hình như bị thay thế bằng những hình thức đổi chác mua bán. Chúa Giêsu đến để biến đổi thế giới tội lỗi thành thánh thiện, biến đổi lòng gian tham thành yêu thương chia sẻ, mang những giá trị tinh thần cao cả cho thế gian đang đam mê hưởng thụ vật chất. Thế nhưng, hôm nay, thế giới lại đang biến công trình cứu chuộc của Chúa Giêsu Kitô chỉ còn là hình ảnh của ông già Noel mặc bộ đồ đỏ đi phát quà cho trẻ em và những người thiếu thốn. Có người đã thắc mắc với tôi điều đó, nhưng tôi lại bảo rằng: muốn gì đi nữa đó phải chăng cũng là một phương thức truyền giáo đối với Giáo hội Việt Nam. Vì những người ngoài Kitô giáo vẫn quan niệm: ngày Giáng sinh là ngày của sự gặp gỡ: gặp gỡ tình yêu, gặp gỡ tình bạn, gặp gỡ để khám phá các nhà thờ Công giáo, đó cũng chính là khởi đầu của một hành trình tìm kiếm sự hiểu biết, phải chăng cũng là một khởi đầu trong hành trình tìm kiếm niềm tin của người trẻ hôm nay? Như vậy, trách nhiệm tái tạo ý nghĩa màu nhiệm Nhập thể ở chính nơi mỗi chúng ta, những người đang sống ơn gọi Kitô hữu, ơn gọi trở nên tông đồ của Chúa. Hãy nắm bắt những dấu chỉ của thời đại, để đương đầu với những thách đố của thời đại hôm nay và bằng niềm tin và nghị lực của mình để tái tạo nên hình ảnh và màu nhiệm Nhập thể của Chúa, để ơn cứu độ của Chúa Giêsu dần dần đi vào những tâm hồn thiện tâm. Để đạt được điều đó, nhiều khi chúng ta phải trả giá những giá thật khắt khe và thiệt thòi trước mắt người không có niềm tin, nhưng đó lại là khởi đầu cho một cuộc hành trình mới, cuộc hành trình khám phá đức tin của mình, để làm mới lại tâm hồn mình, một tâm hồn được tái tạo bởi ân sủng và tình thương của Hài Nhi Giêsu. Với tâm tình đó, chúng ta cùng cầu chúc cho nhau được tràn đầy ơn Chúa Hài Nhi để biến đổi con người chúng ta trở nên hình ảnh của Thiên Chúa yêu thương trong cuộc sống và ơn gọi của chúng ta. Amen.
(Nguồn: www.daichungvienhanoi.com)
LM Giuse Đặng Đức Ngân

 

GS-165: Bài hát Giáng Sinh đầu tiên

Bài hát Giáng Sinh đầu tiên
"Vinh danh Thiên Chúa trên trời,
bình an dưới thế cho loài người Chúa thương." (Lc 2, 14)
 

 Bài hát Giáng Sinh đầu tiên trong lịch sử không phải do con người sáng tác, mà do các Thiên: GS-165

„Bài hát Giáng Sinh đầu tiên trong lịch sử không phải do con người sáng tác, mà do các Thiên Thần, như Luca đã nêu lên trong phúc âm. Nhịp điệu ấm áp của Giáng Sinh trong mọi thời đại được lấy hứng từ bài hát này:
„Vinh danh Thiên Chúa trên trời,
bình an dưới thế cho loài người Chúa thương.“
Bài hát này đưa ra một thước đo và giúp chúng ta hiểu được ý nghĩa đích thực của Giáng Sinh. Bài hát nêu một từ ngữ, mà con người trong thời đại chúng ta chú ý tới nhiều nhất. Đó là Bình An, trong thánh kinh là Schalom. Chúng ta dịch là Bình An, nhưng thực sự từ này có ý nghĩa nhiều hơn là sự yên lành không có chiến tranh. Từ ngữ này còn diễn tả tình trạng tốt của mọi sự trong cuộc sống con người, như là sự chữa lành; là một thế giới, mà trong đó niềm tin và tình thân yêu giữa anh chị em đang hiện diện, một thế giới không có thiếu thốn, không có mưu mô thủ đoạn và dối trá.
An Bình trên trái đất - Đó là đích đến của Giáng Sinh. Nhưng điều đầu tiên Giáng Sinh cần có là sự Vinh Danh Thiên Chúa. Nếu Thiên Chúa không được Vinh Danh, thì không có Bình An.
Đây chính là bài học về sự Bình An từ Bét-le-hem: Bình An của con người đến từ sự Vinh Danh Thiên Chúa. Trước khi con người và sự cứu rỗi con người được nhắc đến, thì đầu tiên cần phải nhắc đến là sự Vinh Danh Thiên Chúa. Sự Vinh Danh Thiên Chúa không phải là một điều giành cho bất cứ cá nhân nào, mà đó là một thực tại công khai. Vinh Danh Thiên Chúa là một món quà quý cho tất cả.
Ở nơi đâu Thiên Chúa không được Vinh Danh, thì con người không thể sống trong vinh quang được. Giáng Sinh luôn kết nối với Bình An của con người, vì Vinh Quang của Thiên Chúa được rạng sáng ở giữa muôn người trong bầu khí Giáng Sinh.“ (Benedikt XVI. Joseph Ratzinger, Der Segen der Weihnacht, Meditationen, Herder Verlag, Freiburg 2005, S. 84-85)
Bạn thân mến,
Như vậy, Lễ Giáng Sinh chúng ta mừng có một ý nghĩa thật sâu sa.
Chúng ta đã giành cả một mùa Vọng để chuẩn bị lễ Giáng Sinh, có nghĩa là chúng ta đã lấy thời gian để chuẩn bị Vinh Danh Thiên Chúa. Vâng, làm sao Thiên Chúa không được tôn vinh, khi Ngài giáng thế? Ai lại không Vinh Danh Thiên Chúa, khi giây phút thiêng liêng đã khởi đầu, giây phút mà Thiên Chúa đã giải nghĩa chữ Yêu?
Vì thế, chúng ta không chỉ mừng lễ Giáng Sinh trong thinh lặng, mà lễ Giáng Sinh cần được mừng rộn rã lên, tình yêu Thiên Chúa cần được ca ngợi lên, và chính Thiên Chúa cần được Vinh Danh, qua những lời hát mừng vui, đến từ những tâm hồn chứa chan vui mừng. Có như vậy, thì tâm hồn của muôn người và thế giới của nhân loại này sẽ được sống trong bình an. Thực vậy, ai càng tôn vinh Thiên Chúa là Chúa của tình yêu, là chủ của muôn người, thì tâm hồn người đó sẽ càng bình an.
Vì thế, hợp với ca đoàn các Thiên Thần trên trời, và với muôn tâm hồn trên trái đất, hôm nay chúng ta cùng cất lên lời ca ngợi Vinh Danh Thiên Chúa:
"Vinh danh Thiên Chúa trên trời,
bình an dưới thế cho loài người Chúa thương."
Lm. Nguyễn ngọc Thế sj

 

GS-166: Bò Lừa trong hang đá

Bò Lừa trong hang đá
“Con bò còn biết chủ, con lừa còn biết cái máng cỏ nhà chủ nó.
Nhưng Ít-ra-en thì không biết, dân Ta chẳng hiểu gì.” (Is 1,3)
 

 Có một hình ảnh rất dễ thương trong hang đá, nơi Hài Nhi Giêsu sinh ra. Đó là những chú Lừa: GS-166

Có một hình ảnh rất dễ thương trong hang đá, nơi Hài Nhi Giêsu sinh ra. Đó là những chú Lừa và Bò mà thánh Phan-xi-cô thành Assisi đã nhắc đến, và từ đó luôn được đặt vào trong bối cảnh Giáng Sinh, dù rằng trong Tân Ước không nói tới. Sau đây chúng ta cùng đọc những suy tư của Đức Thánh Cha về hình ảnh Bò Lừa trong hang đá:
“Trong thực tế, tôi muốn gợi nhớ lại Hài Nhi và hoàn cảnh Hài Nhi đã sinh ra như thế nào tại Bét-le-hem: Với những khó khăn vất vả mà Hài Nhi Giêsu đã phải chịu. Tôi muốn ngắm nhìn Em Bé với con mắt thật của mình, Hài Nhi nằm trong hang lừa như thế nào, ngủ trên rơm rạ và giữa Bò Lừa ra sao.”
Bò Lừa thực sự không phải là những sản phẩm của lòng đạo đức. Mà qua niềm tin của Giáo Hội vào sự hiệp nhất giữa Cựu Ước với Tân Ước, Bò Lừa đã trở thành biểu tượng gắn liền với Giáng Sinh. Isaia đã nhắc đến Bò Lừa trong chương thứ nhất: “Con bò còn biết chủ, con lừa còn biết cái máng cỏ nhà chủ nó. Nhưng Ít-ra-en thì không biết, dân Ta chẳng hiểu gì.” Các Giáo Phụ đã nhìn thấy lời tiên tri trong đoạn này của Isaia. Lời tiên tri hướng về một Dân mới của Thiên Chúa gồm cả Do Thái lẫn dân ngoại.
Trước tôn nhan Thiên Chúa, tất cả nhân loại, Do Thái lẫn dân ngoại, cũng như Bò và Lừa không biết và cũng chẳng hiểu gì. Nhưng chính Hài Nhi trong máng cỏ đã mở đôi mắt của tất cả ra, nhờ đó mà giờ đây tất cả đã nhận ra chủ mình là ai, cũng như nghe được tiếng nói của chủ...
´Bò Lừa biết chủ, nhưng Ít-ra-en, dân Ta, thì không biết`. Hôm nay ai là Bò là Lừa và ai là dân của Chúa chẳng hiểu biết gì? Căn cứ vào đâu để nhận ra được Bò Lừa, cũng như nhận ra “dân Ta”? Nhưng tại sao những thụ tạo không có lý trí lại nhận ra, và những thụ tạo đầy đủ lý trí lại đui mù chẳng biết chi? Để tìm được câu trả lời đúng đắn chúng ta phải cùng với các Giáo Phụ đi lùi về biến cố Giáng Sinh.
Ai không nhận ra? Đó là Hê-rô-đê. Ông ta chẳng hiểu biết gì, khi người ta nói cho ông nghe về Con Trẻ, mà ngược lại với lòng ham quyền của mình và thêm vào đó là lệnh lùng bắt của ông đã làm cho đôi mắt của ông thêm mù tối (Mt 2,3). Với Hê-rô-đê, cả Giêrusalem cũng chẳng nhận ra. Và cả những người mặc gấm vóc lụa là cũng chẳng nhận ra (Mt 11, 8) Rồi những thầy dạy, những nhà chuyên môn cắt nghĩa Thánh Kinh, những người thuộc từng đoạn từng câu của Thánh Kinh cũng chẳng hiểu biết gì (Mt 2,6)
Ai nhận ra? Đó là “Bò Lừa”, là các mục đồng, là những nhà chiêm tinh, là Maria và Giuse... Trong hang lừa này những người thuộc về giới thượng lưu sang trọng và giỏi giang không tìm thấy chỗ gối đầu, mà Bò Lừa đã tìm thấy nơi náu ẩn của mình.
Còn chúng ta thì sao? Phải chăng vì chúng ta quá sang trọng và giỏi giang, nên chúng ta đứng quá xa với hang lừa này?” (Benedikt XVI. Joseph Ratzinger, Der Segen der Weihnacht, Meditationen, Herder Verlag, Freiburg 2005, S. 64-70)
Bạn thân mến,
Mời Bạn cùng tôi đứng ngắm nhìn hang lừa và chuồng Bò, nơi Chúa Giêsu sinh ra. Giờ đây, khi đọc tâm tình của Đức Thánh Cha, chúng ta cũng nên tự hỏi mình xem, chúng ta có nhận biết Thiên Chúa đang nằm kia không? Chúng ta có hiểu được mầu nhiệm tình yêu cao cả của Thiên Chúa không? Chúng ta có cảm thấy mình có một chỗ trong hang lừa kia không? Tương quan của chúng ta với Hai Nhi bé nhỏ kia ra sao? Gần gũi, thân thiện hay xa lánh và lạ lẫm? Biến cố Giáng Sinh này có ý nghĩa gì đối với chúng ta?
Lm. Nguyễn ngọc Thế sj

 

GS-167: Thinh Lặng Chiêm Ngắm Máng Cỏ

Thinh Lặng Chiêm Ngắm Máng Cỏ
 

Thi hào người Tây Ban Nha Migele des Punamuno, sinh năm 1864 và qua đời năm 1936 có để: GS-167

Thi hào người Tây Ban Nha Migele des Punamuno, sinh năm 1864 và qua đời năm 1936 có để lại dòng suy tư sau đây:
Báo chí không hề đá động đến cuộc sống âm thầm của những người không làm nên lịch sử. Hằng ngày, từng giờ trên khắp thế giới, cứ mỗi khi mặt trời lên, họ lại thức giấc ra đồng để làm công việc âm thầm và tăm tối mỗi ngày và muôn thuở. Một công việc như thế cũng giống như công việc của những tảng san hô chìm sâu giữa lòng đại dương. Ðây là công việc xây nền đắp móng để cho những hòn đảo của lịch sử được nhô lên. Chính trong thinh lặng mà âm thanh mới được sống lọt. Chính từ cái khối người bao la thinh lặng ấy mới trồi lên được những người có tiếng nói trong lịch sử.
Quí vị và các bạn thân mến,
Những dòng suy tư trên đây của thi hào Migele des Punamuno không thể không gợi lên cho chúng ta khung cảnh thinh lặng trong máng cỏ, nơi Hài Nhi Giêsu đang ngủ say dưới ánh mắt chiêm ngắm của Mẹ Maria và Thánh Cả Giuse. Thinh lặng là luật của máng cỏ. Cả ba nhân vật mà chúng ta chiêm ngắm bên máng cỏ đều thinh lặng.
Quả thực, nếu đặt vào trong cuộc sống 33 năm của Ngài, thì phần lớn quãng đời của Ngài chỉ là thinh lặng. Là Lời của Thiên Chúa ngỏ với con người. Chúa Giêsu nói bằng thinh lặng nhiều hơn bằng những lời rao giảng của Ngài. Phải chăng cũng chỉ trong thinh lặng mà con người mới có thể nghe được lời của Chúa. Thinh lặng cũng là luật sống của Mẹ Maria. Thánh Luca đã tóm gọn cuộc sống của Mẹ trong câu: Và Mẹ Maria đã ghi nhớ tất cả mọi sự và suy niệm trong lòng. Nếu Tin Mừng còn ghi lại một vài câu nói của Mẹ Maria thì tất nhiên hoàn toàn thinh lặng là những lời phát biểu của Thánh Cả Giuse. Ngay giữa lúc được thiên thần hiện đến trong giấc mộng để báo tin về Mẹ Maria cưu mang Ngôi Hai Thiên Chúa. Thánh Giuse xem chừng cũng không nói một lời nào, và nhất là Ngài cũng âm thầm biến khỏi cuộc đời còn lại của Mẹ Maria và Chúa Giêsu lúc nào cũng không ai hay biết.
Thánh Cả Giuse quả là vị thánh của thinh lặng. Chiêm ngắm Chúa Hài Nhi bên cạnh Mẹ Maria và thánh cả Giuse có lẽ chúng ta cũng được mời gọi để sống thinh lặng. Chỉ trong thinh lặng của máng cỏ chúng ta mới hiểu được ý nghĩa của cuộc sống âm thầm từng ngày của chúng ta. Chúng ta thuộc về cái khối người thinh lặng bao la, ngày ngày lặng lẽ sống mà không hề được ai nhắc tới. Không được ai nhắc tới nhưng nếu không có cái khối người âm thầm lặng lẽ ấy thì cũng chẳng bao giờ có lịch sử. Thi hào Migele des Punamuno gợi lên cho chúng ta hình ảnh cái khối san hô chìm sâu dưới lòng đại dương. Ngày qua ngày, trong âm thầm lặng lẽ, khối san hô ấy tích tụ lớn dần và trổi lên thành những hòn đảo xanh tươi giữa lòng đại dương. Lịch sử nhân loại được hình thành từ những công lao âm thầm của khối người vô danh mà mỗi người chúng ta là thành phần. Như hạt giống được âm thầm gieo vào lòng đất, những vất vả phấn đấu và khổ đau từng ngày của chúng ta là nền móng vững chắc cho lịch sử của nhân loại được hình thành và tiến tới. Chỉ trong niềm tin, chúng ta mới nhận ra được những đóng góp âm thầm ấy. Chỉ trong ánh sáng của máng cỏ chúng ta mới nhìn thấy được giá trị của những hy sinh âm thầm của con người. Chỉ trong thinh lặng của máng cỏ, chúng ta mới lắng nghe được những hạt giống của tin yêu và hy vọng đang nảy mầm.
Lạy Chúa, xin cho ánh sáng của mầu nhiệm nhập thể chiếu rọi vào tâm trí của chúng con. Và nhờ những thực tại chóng qua ở đời này, chúng con biết nhận ra những giá trị vĩnh cửu của Nước Trời.
Xin cho những hạt giống chúng con âm thầm gieo vải từng ngày được trổ bông chín vàng trong ngày mùa sau hết. Amen.
Đ.Ô. Phêrô Nguyễn Văn Tài

 

GS-168: Đêm đen cuôc đời trở thành Đêm Thánh

 “Dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng;
đám người sống trong vùng bóng tối, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi.” (Is 9,1)
 

Ngày 25.12 trong lịch của Do Thái là lễ hội Chanukka, lễ hội Ánh Sáng. Lễ này nhắc nhơ: GS-168

 “Ngày 25.12 trong lịch của Do Thái là lễ hội Chanukka, lễ hội Ánh Sáng. Lễ này nhắc nhớ rằng, chính trong ngày này vua Antiochius người Sy-ri đã dựng bức hình trong đền thờ Giêrusalem, và bắt dân chúng thờ mình như là một thần thánh. Ông ta đã biến ngày này trở thành một lễ hội.
Cũng chính trong ngày này vào năm 165 trước công nguyên, Giuđa Ma-ca-bê đã dẹp bỏ bàn thờ của thần ngoại trong đền thờ Giêrusalem.
Ngày lễ hội này sau đó đã trở thành ngày lễ hội mừng đền thờ được thanh tẩy, ngày mà Vinh Danh Thiên Chúa đã có lần bị bôi nhọ được phục hưng, và mọi người bắt đầu cao rao lời tôn vinh Thiên Chúa. Bắt đầu từ ngày này, người Do Thái đã mừng sự tái sinh, cũng như sự tái lập quốc gia của mình. Đây là giây phút mà dân tộc Do-Thái lại có thể thờ lạy Thiên Chúa của họ một cách đàng hoàng.
Ngoài ra, tuần lễ từ 25-31.12 còn là tuần lễ trước thềm năm mới, nên sự tái sinh mang ý nghĩa sâu sa hơn: Sự tái sinh này là một cách diễn tả sự bắt đầu mới của công trình sáng tạo, với niềm hy vọng về thời gian tràn đầy tự do. Vì thế, mà vào chính ngày 25.12, năm 100 trước công nguyên, sự sinh ra của Đấng Messia đã được ngóng trông. Vì từ Đấng Messia người ta hy vọng rằng, Ngài sẽ dạy dỗ loài người, biết thờ phượng Thiên Chúa thế nào cho phải đạo. Ngài sẽ đem lại sự tự do. Trong thời của Chúa Giêsu, người ta đã bắt đầu mừng lễ này như lễ của Ánh Sáng theo như lời của tiên tri Isaia:
“Dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng;
đám người sống trong vùng bóng tối, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi.” (Is 9,1)
(Benedikt XVI. Joseph Ratzinger, Der Segen der Weihnacht, Meditationen, Herder Verlag, Freiburg 2005, S. 85-88)
Bạn thân mến,
Như vậy, hôm nay chúng ta không chỉ mừng ngày Thiên Chúa Giáng Sinh, mà chúng ta còn mừng ngày nhân loại được tái sinh, mừng ngày Ánh Sáng bừng lên chiếu soi muôn người đang lần bước giữa tối tăm. Một biến cố vĩ đại của Thiên Chúa. Ngài Giáng Sinh để đem lại Ánh Sáng, Ngài Giáng Sinh để mang lại tự do. Cho ai vậy? Cho con người, những người mà Thiên Chúa đã yêu thương từ thuở ban đầu, khi Ngài sáng tạo họ. Vâng, sự sáng tạo của tình yêu vẫn không bao giờ mất đi vẻ đẹp yêu thương. Dù cho đời người có nhiều vết nhơ, tạo vật có tự tạo ra nhiều bóng đêm, thì tình yêu của Thiên Chúa vẫn không bao giờ bị nhơ nhớp, và đêm đen không bao giờ có thể phủ lấp được ánh sáng của tình yêu.
Karl Rahner đã có lần thốt lên rằng: “Ánh Sáng này mạnh hơn tất cả mọi đêm đen. Chúng ta chỉ cần tin thôi, thì đêm đen của cuộc đời chúng ta sẽ trở thành đêm thánh.”
Vậy hôm nay, chúng ta hãy cùng vui mừng đón nhận Ánh Sáng Tình Yêu có sức tái sinh nhân loại, có sức làm mới đời người! Với tất cả tâm tình, chúng ta cùng với Isaia mừng vui, khi ông với con mắt của một vị tiên tri, nhìn thấy trước Ánh Sáng là chính Hài Nhi bừng lên chiếu rọi: “Chúa đã ban chứa chan niềm hoan hỷ, đã tăng thêm nỗi vui mừng.
Họ mừng vui trước nhan Ngài
như thiên hạ mừng vui trong mùa gặt,
như người ta hỷ hoan khi chia nhau chiến lợi phẩm.“( Is 9,2)

 

GS-169: Chúng tôi cần đem theo gì cho Ngài, Lạy Chúa Kitô?

Chúng tôi cần đem theo gì cho Ngài, Lạy Chúa Kitô?
“Mọi ơn lành và mọi phúc lộc hoàn hảo đều do từ trên, đều tuôn xuống từ Cha là Đấng dựng nên muôn tinh tú.” (Giacôbê 1,17A)
 

 Một điều cũng cần được nhắc đến trong dịp Giáng Sinh. Ịó là quà tặng, là của lễ. Trong: GS-169

 “Một điều cũng cần được nhắc đến trong dịp Giáng Sinh. Đó là quà tặng, là của lễ. Trong những hoạt cảnh Giáng Sinh chúng ta đã thấy các mục đồng tự hỏi rằng, họ cần đem theo gì cho Hài Nhi...
Trong nghi thức của Giáo Hội Đông Phương, đề tài này cũng được nhắc đến nhưng sâu sắc hơn, như trong một khúc ca: “Chúng tôi cần đem theo gì cho Ngài, Lạy Chúa Kitô, vì Ngài đã được sinh ra như một con người trên trái đất này? Mỗi một tạo vật của Ngài xin đem đến cho Ngài một chứng từ của lòng biết ơn: Các Thiên Thần với tình yêu của họ; bầu trời với muôn ngàn ánh sao; các nhà thông thái với lễ vật dâng tiến; các mục đồng với sự thán phục vô vàn; trái đất với hang đá thô sơ kia; sa mạc với máng lừa nhỏ bé. Còn con người chúng tôi xin đem đến cho Ngài một trinh nữ, một người Mẹ.”
Mẹ Maria là quà tặng của nhân loại giành cho Chúa Kitô. Điều này cũng có nghĩa rằng: Thiên Chúa không chờ đợi nơi con người điều gì khác, mà điều Ngài đợi chờ là chính con người. Thiên Chúa không muốn nhận bất cứ phần trăm nào của chúng ta, mà là chính con tim của chúng ta, sự hiện diện của chúng ta. Ngài muốn được chính niềm tin của chúng ta, và qua niềm đó chính sự sống của chúng ta, và từ sự sống này là những hành động bác ái được nhắc đến trong ngày tận thế: Thức ăn, quần áo cho người nghèo khổ, sự cảm thông và tình yêu chia sẻ, lời an ủi và sự hiện diện đầy ủi ai cho những người đang gặp hiểm nguy, những anh chị em mới trở về, những người bị bỏ rơi và những kẻ thất bại.
‚Chúng tôi cần đem theo gì cho Ngài, Lạy Chúa Kitô?’ Chắc chắn chúng ta đưa đi rất ít cho Ngài, trong khi đó giữa chúng ta với nhau thì lại trao đổi những món quà đắt tiền, mà những món quà đó không xuất phát từ tâm lòng, và cũng không diễn tả được tấm lòng biết ơn cao quý.
Chúng ta hãy thử đưa theo chính niềm tin của mình và chính bản thân mình như là món quà cho Hài Nhi Giêsu. Món quà đó có thể rất đơn sơ được gói gọn trong một tâm tình: “Con tin Ngài, lạy Chúa, xin hãy nâng đỡ lòng yếu tin của con.” Và trong dịp Giáng Sinh này, chúng ta đừng quên nhiều anh chị em bất hạnh, mà trong họ Đức Kitô đang đau khổ. (Benedikt XVI. Joseph Ratzinger, Der Segen der Weihnacht, Meditationen, Herder Verlag, Freiburg 2005, S. 92-93)
Bạn thân mến,
Trong ngày mừng sinh nhật của Đức Kitô, chúng ta nhận ra rằng, chính Đức Kitô là món quà, là ơn lành hoàn hảo mà Chúa Cha đã ban cho chúng ta và muôn tạo vật: “Mọi ơn lành và mọi phúc lộc hoàn hảo đều do từ trên, đều tuôn xuống từ Cha là Đấng dựng nên muôn tinh tú.”
Còn phần chúng ta thì mừng ngày Sinh Nhật của Thiên Chúa như thế nào đây? Thật cụ thể chúng ta hãy hỏi chính bản thân mình: “Phần tôi, tôi sẽ đưa theo món quà gì, của lễ gì tặng cho Hài Nhi Giêsu?” Hay nói khác đi: “Hài Nhi Giêsu đang cần gì nơi tôi vậy?”
Phải chăng đó là:
Sự hiện diện và niềm tin của tôi. Sự sống trọn vẹn của tôi theo tinh thần của Tin Mừng.
Một lời an ủi giành cho kẻ sầu khổ. Giây phút lắng nghe giành cho người đang bối rối.
Sự hiệp thông chia sẻ với kẻ đang khổ đau. Một chén cơm trao cho người đang đói.
Một bàn tay giang ra nâng đỡ kẻ mới ngã.....
Chúng ta cùng suy nghĩ và chọn lựa một của lễ Bạn nhé! Ước gì của lễ của chúng ta trao cho Hài Nhi Giêsu được hoàn hảo và phát xuất từ Cha trên trời như thánh Giacôbê nói, và phát xuất từ chính tấm lòng đơn sơ nhưng chân thành của chúng ta.
Lm. Nguyễn ngọc Thế sj

 

GS-170: TÌNH YÊU ĐIÊN KHÙNG

Mầu Nhiệm Giáng Sinh” là câu nói rất quen thuộc, nhưng cũng rất phong phú về ý nghĩa ma: GS-170

 ‘Mầu Nhiệm Giáng Sinh’ là câu nói rất quen thuộc, nhưng cũng rất phong phú về ý nghĩa mà chúng ta không múc hết được.
Tôi nhớ khi còn ở tiểu học, mỗi dịp đến lễ Giáng Sinh, thầy giáo hay dì phước thường dẫn chúng tôi vào viếng hang đá và cắt nghĩa :
«Chúa Giêsu nghèo lắm, Ngài là Thiên Chúa cao sang nhưng đã sinh ra làm trẻ thơ cùng cực, rét lạnh hơn mọi trẻ nhỏ khác. Chúa hành động như vậy là để cứu chuộc loài người, để yêu thương loài người…; Còn đức Mẹ, người đầy niềm tin và khiêm tốn, dịu dàng và sốt sáng qùy chầu Chúa Hài Đồng, Người là Mẹ Chúa Giêsu, và vì Chúa Giêsu là Thiên Chúa nên Mẹ cũng được gọi là Mẹ Thiên Chúa, là người dồng công cứu chuộc với Chúa Giêsu… Còn thánh Giuse, vốn được gọi là vị thánh thầm lặng, Ngài lo cho Chúa Giêsu và Đức Mẹ như một người gia trưởng tốt lành và nhiệt tâm… Đến lượt các mục đồng, họ là những ngưới dân nghèo, làm việc vất vả như ba má chúng tôi, nhưng họ có lòng thành, có đời sống lương thiện, nên họ được diễm phúc các Thiên Thần báo tin Chúa Cứu Thế ra đời, và được dẫn tới thờ lạy Ngài… Các con chiên vây quanh máng cỏ, các thiên thần chắp tay kính chầu, miệng vui tươi như hát vang lời ‘Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm’…» Vì được nghe nhiều lần, tôi hầu như thuộc lòng những lời giáo lý trên đây. Lớn lên, cho tớI khi về Đại Chủng Viện tôi mới thấy những lời đó thật qúy giá.
Bởi vì nhờ những khái niệm khai tâm, những cắt nghĩa đơn sơ đó, tôi đã được dẫn vào Mầu Nhiệm Giáng Sinh : Mầu nhiệm tình yêu Thiên Chúa Đối với loài người. Tôi nhớ một câu nói khá mạnh của linh mục Đông Anh, giáo sư Thánh Kinh Đại Chủng Viện Xuân Bích. Ngài bảo ‘Đó là tình yêu điên khùng mà chỉ mìnhThiên Chúa là người yêu mới hiểu hết được’. Tôi cũng cảm nghiệm được phần nào Mầu Nhiệm Giáng Sinh qua lời Thánh Gioan :
«Thiên Chúa là tình yêu… Tình yêu của Thiên Chúa thật rõ ràng ở chỗ, không phải chúng ta yêu mến Thiên Chúa trước, nhưng chính Ngài đã yêu thương chúng ta trước và đã sai Con của Ngài là Chúa Giêsu sinh xuống trần gian cứu chuộc chúng ta» (1Ga 4,8-9).
Thánh Phanxicô khó khăn là người sáng chế ra hang đá, có lẽ cũng là người đầu tiên dạy chúng ta cầu nguyện mỗi khi đi viếng hang đá như sau :
«Lạy Chúa Giêsu Hài Đồng, con xin hợp với Mẹ Maria, thánh Giuse, các Thiên Thần, các mục đồng, và cả những con chiên bé nhỏ, sấp mình thờ lạy Chúa. Con tin thật Chúa là Đấng Cứu Thế, là Con Thiên Chúa, Chúa sinh xuống trần gian vì yêu loài người, vì muốn cho loài người biết tình thương của Thiên Chúa. Tình yêu của Thiên Chúa vô lường và cao vời sâu thẳm, sức con không thể hiểu thấu. Xin Chúa Hài Nhi chan đầy tình yêu của Thiên Chúa nơi con, để trong tình yêu của Chúa, con cảm nghiệm được tình Chúa thương con và mọi người… Lạy Chúa Hài Đồng, xin dẫn con vào mầu nhiệm Tình Yêu của Thiên Chúa, cũng là Mầu Nhiệm Giáng Sinh con đang được sống» Amen. (revue La Famille Chrétienne, 12.2001, tr. 7).
Nguồn www.giaoxuvnparis.org
Đ.Ô. Mai Đức Vinh

 

GS-171: MUNICH !

Munich 1972 ! Với người Palestine: chưa đánh được người thì mặt đỏ như vang; đánh được: GS-171

Munich 1972 ! Với người Palestine: chưa đánh được người thì mặt đỏ như vang; đánh được người rồi, thì mặt vàng như nghệ. Người Do-thái đâu dễ cho qua ! Cái chết rình rập. Cái chết treo lơ lững !
Munich 1972 ! Với người Do-thái: Nỗi đau khôn nguôi, mối thù bất cộng đái thiên với lời thề nợ máu phải trả bằng máu. Vết thương lở loét khó lành !
Munich của Mùa Giáng Sinh năm 2005 ! Bộ phim Munich mô tả lại cuộc trả thù đẫm máu ấy !
Bộ phim Munich của đạo diễn Steven Spieberg ( đạo diễn bộ phim lừng danh Bản Danh Sách Schindler – Schindlers‘s list ) không chỉ kích thích tò mò của bao nhiêu khán giả ở Mỹ cũng như trên tòan thế giới vì nội dung của bộ phim, nói về cuộc săn lùng báo-thù của Mossad ( cơ quan mật vụ lừng danh của Israel ) đối với những người thuộc Tổ Chức Tháng Chín Đen Palestine, những kẻ đã gây ra một vết nhơ khó lòng tha thứ, khi giết hại các vận động viên Do-thái ở Thế Vận Hội Mùa Hè Munich năm 1972, mà còn bởi thời điểm mà Steven Spielberg chọn để ra mắt bộ phim này: ngày 23 tháng 12 tới đây, tức là một ngày trước Đêm Giáng Sinh, Đêm Chúa Giê-su Xuống Thế mang hòa bình đến cho nhân loại.
Cho dù nội dung thật sự của bộ phim chưa được tiết lộ, và người ta chỉ biết nó được xây dựng từ cuốn sách “Báo thù: Câu chuyện thật của đội chống khủng bố Israel” ( Vengeance: the true story of an Israeli counter-terrorist team ), của tác giả George Jonas, nhưng những người thuộc cả hai phía Israel và Palestine đã từng nhúng tay vào việc giết hại dã man cũng như phục thù rùng rợn, đều không tin rằng nội dung bô phim có thể công bằng và trung thực. Người ta chỉ biết: trước những nghi hoặc ấy, đạo diễn Steven Spielberg ( gốc Do-thái ) đã nói trong cuộc phỏng vấn duy nhất dành cho tờ Time ( số ra 12.12.2005 ) rằng bộ phim của ông là “một lời cầu nguyện cho hòa bình”, bởi theo ông: ”kẻ thù lớn nhất không phải là người Palestine hay người Israel. Kẻ thù lớn nhất trong vùng đất này, chính là sự không khoan nhượng”.
Ở điểm này, Steven Spielberg có lý ! Không chỉ ở Vùng Trung Đông luôn nóng bỏng sôi sục hận thù, mà ngọn lửa hận thù, nghi kỵ, đang hoành hành trên khắp trái đất, mà nguyên nhân sâu xa bắt nguồn từ sự không khoan nhượng của con người: những cá nhân luôn tranh chấp và ăn thua đủ, cho dù lắm khi ý thức rõ mình sai. Cái lý của kẻ mạnh được ngụy trang kỹ, nhưng sự đe dọa thì không hề được che dấu; bên cạnh đó, những phe nhóm đặt lợi ích tinh thần và vật chất của mình lên hàng đầu và buộc đối phương phải nhường bước, điều mà họ dư biết sẽ không đạt được, trừ phi sử dụng bạo lực hoặc áp-đặt quyền “kẻ mạnh hơn” trên đối phương, khi chưa thể tiêu diệt.
Ở một bình diện cao hơn, là các quốc gia. Người ta liên kết với nhau không phải chỉ để tăng trưởng kinh tế, mà chủ yếu là có thêm “tỷ trọng” chính trị. Liên Hiệp Quốc, tổ chức lớn nhất hành tinh, dần dà trở thành đấu trường cho những quyền lợi mâu thuẫn nhau và không khoan nhượng ! Quyền lợi và cả quyền hành được hợp pháp hóa nơi đây. Những quốc gia thấy mình ở “chiếu dưới”, bèn sử dụng tối đa những lần phát biểu để biến chúng thành diễn đàn tha hồ công kích, thóa mạ mà không kiêng sợ, e dè bất kỳ áp lực nào. Hận thù được công khai hóa. Trong thâm tâm, chẳng còn ai ngây thơ tin vào mục tiêu và khả năng dàn xếp, đem lại Hòa Bình của Liên Hiệp Quốc, ngoại trừ những lợi ích vật chất, cụ thể như y tế, giáo dục, lương thực được hưởng !
Ta hãy chờ xem và hãy mong được như lời của vị đạo diễn. Nhưng dù là như thế, thì vẫn chỉ là một lời... cầu nguyện. Cái cốt yếu vẫn là sự thức tỉnh của những người trong cuộc, mà hận thù “truyền kiếp” sẽ không đến mức “không đội trời chung”, nếu như không có những thế lực luôn giật dây kích động bạo lực, để đạt được những ý đồ kinh tế chính trị vô cùng đen tối, khiến cho những nỗ lực hòa giải phi thường và đầu thiện ý thiện chí như của các vị Giáo Hoàng, đều chỉ nhận được sự đồng tình và... chấm hết ! Cũng chỉ vì sự không khoan nhượng !
Cái tai nghe chỉ giúp con người tiếp nhận vào trí não, để rồi từ đó những bài tính phức tạp xuất phát từ những tính toan không khoan nhượng, ích kỷ, không bao giờ xuất phát từ lòng kính trọng yêu mến đồng loại ( mà đối với họ, chỉ là những người cùng màu cờ, cùng chủng tộc, thậm chí là cùng tôn giáo ) và cũng chẳng bao giờ quy về con người với nhân phẩm, tự do và quyền con người phải được tôn trọng ! Con tim và đạo đức không có một vị trí nào trong các tính toan !
Noel. Ngày Vua An Bình nhập thể. Ngày Chúa ban tặng Hòa Bình cho những người thiện tâm. Không thể chỉ là “một lời cầu nguyện Hòa bình” như đạo diễn Steven Spielberg tuyên bố hoặc mong muốn, bởi chính dự định tung bộ phim vào áp ngày Lễ Giáng Sinh cũng đã là một tính toán chiến lược, mà lợi nhuận được đặt lên hàng đầu. Và khi điều gì được đặt lên trên cả ước vọng ( “lời cầu nguyện Hòa Bình” như vị đạo diễn nói ), thì ước vọng đó dừng lại ở một lời tuyên bố. Vẫn chỉ là một bộ phim với nhiều tham vọng cá nhân.
Chưa kể đến lượt chúng ta phải cầu xin, để làm sao sau khi bộ phim được công chiếu, sẽ không trở thành động cơ mới thổi bùng lại hận thù và khi ấy, không chỉ hình ảnh của Munich 1972 được khơi lại một cách sống động, mà chính Giê-ru-sa-lem, nơi tụ hội của ba tôn giáo trên thế giới, là Thiên Chúa Giáo, Do-thái Giáo và Hồi Giáo, sẽ trở thành bãi chiến trường, để hận thù tha hồ hoành hành, ngự trị, giải quyết những gì mà Munich 1972 chưa thực hiện được rốt ráo – giết và trả thù – và được Munich 2005 khơi lại !
CVK NGUYỄN THẾ BÀI, Đi Tìm Đáp Số Tình Yêu 132 ( Noel 2005 )

 

GS-172: CHÚA XUỐNG TRẦN CỨU THẾ ….

Văn hào Guenter Eich có viết một vở kịch nhan đề: "Festiamus, Người Tử Đạo", với đại ý như: GS-172

CHUYỆN 1: Văn hào Guenter Eich có viết một vở kịch nhan đề: "Festiamus, Người Tử Đạo", với đại ý như sau: Festiamus là người tốt lành, đơn sơ hiếm có. Mặc dù sống giữa những người gian ác, chàng vẫn luôn luôn cư xử đoan chính, giàu lòng thương đối với những kẻ bần cùng.
Sau khi chết, chàng bay tới Thiên Đàng. Ở đó, sau khi làm quen với các Thánh, chàng để mấy ngày để đi kiếm cha mẹ, anh em và những bạn hữu xưa, nhưng không thấy ai. Chàng liền hỏi các Thánh, nhưng không ai trả lời. Cuối cùng, Thánh Phê-rô bảo: “Cha mẹ và bạn hữu con, họ hàng con, ngày xưa đều ăn ở gian ác, nên bây giờ họ đều ở dưới kia kìa, dưới hỏa ngục ấy !”
Nghe tới đây, Festiamus liền hiểu ngay, chàng cáo biệt các Thánh và xin với Thánh Phê-rô: “Con không thể ở nơi đây được khi còn nhiều người phải chịu đau khổ dưới kia...” Rồi chàng rời bỏ Thiên Đàng, xuống Hỏa Ngục để thăm cha mẹ, bạn hữu với những người thân yêu khác. Chàng làm điều đó với tất cả xác tín rằng khi một người vô tội từ trời cao đến và sống với những người bị kết án, cùng chia sẻ thân phận của họ, thì người đó có thể phá tung địa ngục và vòng phong tỏa của quỷ ma.
Câu chuyện nêu trên không thể nào có thật, nhưng xét trên một khía cạnh, nó nói lên mầu nhiệm Giáng Sinh của Chúa Cứu Thế, Ngài đã từ trời cao xuống trần trong thân phận con người, sinh ra trong máng cỏ để chia xẻ kiếp người với mọi người. Ngài đã chịu chết thay cho con người để cứu chuộc họ ra khỏi xích xiềng tội lỗi và ma quỷ, đưa con người ra khỏi chốn hư mất mà vào sự sống muôn đời trên Thiên Quốc.

CHUYỆN 2: CHÚA GIÊ-SU NHẬP THỂ CỨU ĐỘ NHÂN LOẠI
Có một người hỏi một học giả Á Đông nổi tiếng là người xác tín vào Thiên Chúa rằng: “Tại sao ông là người học cao hiểu rộng, đã biết đến nơi đến chốn về các tôn giáo, về các triết lý cao siêu của Á Đông mà ông lại đón nhận Tin Mừng như vậy ?”
Vị học giả trả lời: “Tôi vốn dĩ giống như một người chìm tàu giữa đại dương, sóng cả dập vùi, sức người có hạn. Các vị lãnh đạo tôn giáo khác đã dạy tôi rằng: Con phải bơi lội theo phương pháp này, tập dưỡng sức theo phương pháp nọ. Nhưng các lý thuyết ấy không cứu vớt tôi ra khỏi biển sâu. Chỉ có Chúa Giê-su, Ngài đã nhảy xuống biển và liều chết để cứu vớt tôi, vì vậy tôi tin vào Ngài.”
Trích NỐI LỬA CHO ĐỜI tập

 

GS-173: LỊCH SỬ: NHÂN MÙA GIÁNG SINH: TÌM HIỂU VỀ NGÀY SINH

 CỦA CHÚA GIÊ-SU KI-TÔ
 

Tại Hoa Kỳ, cứ sau lễ Tạ Ơn ( Thanksgiving ) nhiều gia đình và nhà hàng bắt đầu trang hoàng: GS-173

Tại Hoa Kỳ, cứ sau lễ Tạ Ơn ( Thanksgiving ) nhiều gia đình và nhà hàng bắt đầu trang hoàng trong nhà, cũng như trước cửa nhà để chuẩn bị vào mùa Lễ Lớn: Đại Lễ Giáng Sinh và năm mới sắp tới. Một cách đơn giản chúng ta thường hiểu Lễ Giáng Sinh là ngày lễ mừng “Sinh Nhật” ( Birthday ) của Chúa Giê-su và ngày 25 tháng 12 năm 2005 này là sinh nhật thứ 2005 của Chúa Giê-su. Tuy nhiên, nghiên cứu lịch sử về ngày lễ này, chúng ta thấy có những điều không hẳn đơn giản như vậy.
Một chút lịch sử Ơn Cứu Độ
Theo truyền thống Do-thái mà nền tảng là Thánh Kinh Cựu Ước, sau khi tổ tông ( Thủy tổ ) loài người là ông A-đam và bà E-va sa ngã phạm tội, liền bị mất ân nghĩa với Thiên Chúa ( St 3, 23 ). Tuy nhiên vì “Thiên Chúa đã dựng nên con người theo hình ảnh của Chúa” ( St 1, 27 ) Ngài không để con người phải án phạt đời đời, nên Ngài đã hứa ban một Đấng Cứu Thế đến để cứu chuộc tội lỗi nhân loại ( St 3, 15 ) và danh hiệu của Ngài là “Đấng Cứu Tinh” ( Messiah ). Nguyên ngữ trong tiếng Do-thái thì “Messiah” có nghĩa là “Đấng được xức dầu”.
Theo thói tục của người Do-thái thì ai được chọn làm “Vua”, làm “Ngôn Sứ” ( Prophet ), làm thầy “Tư Tế” đều được phong chức chính thức bằng việc xức dầu thánh ( dầu ô-liu ) trên đầu. Danh từ “Messiah” chuyển dịch qua tiếng Hy Lạp là “Christos”. Danh từ “Christos” chuyển sang tiếng La-tinh là “Christus” và sang tiếng Pháp, tiếng Anh là “Christ”, Tiếng Việt Nam ( theo các bản dịch Thánh Kinh của Công Giáo, và các sách đạo đức ) chuyển dịch là “Ki-tô” ( hay Ki-tô ).
Theo Do-thái Gíáo thì đấng “Messiah” ( Ki-tô ) chưa tới cứu độ Dân Ngài. Hàng năm người Do-thái vẫn đến bên bức “Tường Khóc” để cầu nguyện xin “Đấng Cứu Độ” đến.
Theo Ki-tô Giáo thì “Đấng Ki-tô” đã Giáng Sinh, và khi Ngài sinh ra thì được đặt tên là “Giê-su” ( Jesus ) theo như lời sứ thần truyền tin cho Ma-ri-a, mẹ Ngài, đã báo trước ( x. Lc 1, 31 và 2, 21 ). Danh từ “Giê-su” theo nguyên ngữ Do-thái có nghĩa là “Đấng Thiên Chúa Cứu Độ”, sau đó hiểu là “Đấng Cứu Độ” ( Savior ). Vì Chúa “Giê-su” chính là “Đấng Ki-tô” Thiên Chúa đã hứa, nên tên Ngài thường được gọi là “Giê-su Ki-tô”. Thánh Phao-lô trong các thư gửi các Giáo Đoàn thường dùng danh hiệu “Giê-su Ki-tô”.
Chúng ta cũng nên lưu ý là vào thời xưa một người chỉ có “tên gọi”, chưa có “tên họ” và “tên đệm”; nhưng có những “tên hiệu” ghép vào “tên gọi” trong một số trường hợp, nhất là trường hợp của các vua chúa hay các “Danh Nhân”. Theo Kinh Thánh, Chúa Giê-su cũng được gọi là “Emmanuel” hay “Immanuel” ( Lc 1, 23 ). Danh từ “Emmanuel” trong tiếng Do-thái có nghĩa là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”. Danh hiệu “Emmanuel” đã được Ngôn Sứ I-sai-a ( 740 – 687 BC ) nói đến ( x. sách I-sai-a ).
Chúa Giê-su sinh ra năm nào ?
Năm Thiên Chúa Giáng Sinh làm người được kể là năm thứ nhất theo lịch chung chúng ta dùng hiện nay; như thế sinh nhật của Ngài đã chia đôi lịch sử nhân loại.
Theo lịch sử Thánh Kinh thì từ “tạo thiên lập địa” đến năm Chúa Giáng Sinh được gọi là “Thời Kỳ Cựu Ước” và từ năm Chúa Giáng Sinh trở về sau được gọi là “Thời Kỳ Tân Ước”. Theo lịch chung chúng ta dùng hiện nay thì trước thời Chúa Giáng Sinh gọi là trước “Công Nguyên”, thường ký hiệu là B.C. “Before the birth of Christ” và từ năm Chúa Giáng Sinh cho đến ngày “tận thế” thì gọi là sau “Công Nguyên” thường ký hiệu là A.D. “Anno Domini” “Theo năm của Thiên Chúa”.
Như vậy, ngày 25 tháng 12 năm 2005 này chúng ta mừng sinh nhật thứ 2005 của Chúa Giê-su Ki-tô. Tuy nhiên vì các nhà làm lịch lúc đầu tính lầm nên năm Chúa Giê-su Giáng Sinh bị lệch đi mất 6 hoặc 7 năm. Nếu tínhđúng thì năm 2005 sẽ phải là năm 2011 ( hoặc 2012 ). Nói một cách khác, đơn giản hơn, thì vào năm 2005 này tuổi của Chúa Giê-su đã là 2011 ( hoặc 2012 ).
Lý do của việc “tính lầm” này là vì vào thời xưa người ta chưa có lịch chung như ngày nay, nên thường tính năm theo triều đại của các vua như Đời Vua Hùng Vương thứ 18... chẳng hạn, hoặc theo một biến cố lịch sử nào đó như năm Tần Thủy Hoàng ra lệnh xây Vạn Lý Trường Thành chẳng hạn. Các thánh sử khi viết sách “Phúc Âm” hay “Tin Mừng” cũng dùng niên hiệu các vua cùng với những biến cố lịch sử nào đó. Thí dụ: Thánh Mát-thêu viết: “Khi Chúa Giê-su ra đời tại Bê-lem, miền Giu-đê-a, thời vua Hê-rô-đê trị vì... ( x. Mt 2, 1... ). Thánh Lu-ca viết: “Vào thời Hoàng Đế Au-gus-tô ra chiếu chỉ kiểm tra dân số”... Khi Giu-se và Ma-ri-a đang ở Bê-lem, thì Ma-ri-a đến ngày sinh con... ( x. Lc 2, 1 )
Khi Chúa Giáng Sinh thì nước “Do-thái” ( vùng Palestina ) đang dưới quyền “đô hộ” của Đế Quốc Rô-ma. Lúc đó Đế Quốc Rô-ma đang cai trị nhiều vùng rộng lớn, bao gồm cả vùng Trung Đông. Hoàng Đế Rô-ma lúc đó là Au-gus-tô. Còn vua Hê-rô-đê chỉ là một “tiểu vương” thay mặt hoàng đế Rô-ma cai trị miền Giu-đê-a ( phiá nam Palestina ) và nhà vua không phải là người Do-thái. Vùng đất Palestina ( nơi người Do-thái sinh sống thời đó ) gồm ba miền: Ga-li-lê ( Bắc ), Sa-ma-ri-a ( Trung ) và Giu-đê-a ( Nam ).
Thành Bê-lem nơi Chúa Giáng Sinh và thủ đô Giê-ru-sa-lem nằm phiá nam thuộc Giu-đê-a. Vua Hê-rô-đê này thường được gọi là vua Hê-rô-đê Cả ( Herod the Great ) để phân biệt với Hê-rô-đê Antipa là con. Vua Hê-rô-đê Cả là người đã tiếp kiến các nhà đạo sĩ phương Đông đến triều yết, để hỏi đường đến chiêm bái vị vua mới sinh ra ( Mt 2, 1... ). Cũng nhà vua này đã ra lệnh “giết các hài nhi mới sinh từ hai tuổi trở xuống...” ( x. Mt 2, 1 ).
Theo các sử gia thì nhà vua này chết vào năm 4 trước Công Nguyên, tức là sau khi Chúa Giê-su sinh ra chừng 3 hay 4 năm ( vì Chúa Giê-su sinh ra vào năm 6 hay 7 trước Công Nguyên, do nhà làm lịch tính lầm năm, như đã nói trên ) Khi Thánh Giu-se nghe tin nhà vua đã chết, liền đem Đức Ma-ri-a và Chúa Hài Nhi trở lại quê hương ( x. Mt 2,19... ) Như vậy là Thánh Giu-se, Mẹ Ma-ri-a và Chúa Hài Nhi Giê-su cũng đã phải trải qua một thời “di cư” sống nơi “đất khách, quê người” như nhiều người Việt Nam chúng ta hiện nay !
Riêng về Hê-rô-đê “Con” ông là người đã ra lệnh xử trảm Thánh Gio-an Tiền Hô ( Mt 14, 4 ). Nhà vua này cũng là người đã “Rất mừng rỡ khi gặp mặt Chúa Giê-su...” ( Lc 23, 6... ) khi Người bị bắt và đang bị xử án.
Nếu tính theo triều đại Hoàng Đế Rô-ma Au-gus-tô, thì Chúa Giê-su sinh ra vào đời Hoàng Đế Au-gus-tô thứ 20. Thực ra người chủ trương lấy năm Chúa Giê-su sinh ra là năm 1 để bắt đầu Công Nguyên là ông Dionisio ( khoảng năm 556 ) đã tính lầm năm sinh của Chúa, vì ông căn cứ vào năm xây dựng thành Rô-ma và tính là Chúa Giáng Sinh vào cuối năm 753 sang năm 754 ( sau khi thành lập thành Rô-ma ) là năm Chúa Giáng Sinh, tức là năm 1 của Công Nguyên. Nhưng sau này các sử gia và các học giả Kinh Thánh và lịch sử Đế Quốc Rô-ma nghiên cứu lại các thời đại Hoàng Đế Au-gus-tô và vua Hê-rô-đê Cả mới thấy là Chúa Giê-su phải sinh ra sớm hơn khoảng năm 746 hay 747 sau khi thành lập thành Rô-ma, và vì thế năm sinh của Chúa bị ghi hụt đi mất 6 – 7 tuổi và cũng vì thế mừng Sinh Nhật cúa Chúa năm 2003 chính ra đã là năm 2009 ( hay 2010 ).
Tóm lại, năm Chúa Giê-su Ki-tô Giáng Sinh cách thời của Áp-ra-ham 21 thế kỷ; cách Mô-sê với công cuộc Xuất Hành khỏi Ai Cập 13 thế kỷ; cách thời bà Rút ( Ruth ) và các Thẩm Phán 11 thế kỷ; cách thời vua Đa-vít được xức dầu phong vương: một ngàn năm; cách năm tổ chức Đại Hội Olympics đầu tiên: 776 năm ( đến nay đã là Đại Hội thứ 194 ); khoảng 747 năm sau khi thành lập thành Rô-ma. ( Có thể xem thêm tài liệu trong các sách chú giải về Kinh Thánh hoặc đọc phần Dẫn Nhập vào Kinh Thánh Tân Ước trong các bản dịch Kinh Thánh của Lm. Nguyễn Thế Thuấn, DCCT; hoặc của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ; hoặc trong The New American Bible; hoặc trong Bible de Jérusalem ).
Chúa Giê-su sinh ra ngày nào ?
Đọc tiểu sử của các “vĩ nhân” trên thế giới thời xưa, chúng ta thường không thấy nói đến ngày sinh; chẳng hạn Socrate ( khoảng 470 – 399 BC ) hay Platon ( khoảng 428 – 348 BC ) v.v... Ngay các cụ trọng tuổi của người Việt Nam chúng ta bây giờ, nhiều vị cũng không nhớ ngày sinh, tháng đẻ của mình; nhiều cụ chỉ nhớ là tuổi Mùi hay tuổi Thìn. Ngay cả ngày tháng năm sinh của các cụ trên giấy khai sinh cũng không đúng hẳn... Ngày sinh của Chúa Giê-su cũng không được ghi lại đầy đủ trong các sách Tin Mừng ( Tất nhiên Chúa Giê-su cũng không có giấy khai sinh hay sổ bộ khai sinh... )
Nhưng tại sao lại mừng ngày Chúa Giê-su ra đời vào 25 tháng 12 hằng năm ?
Thực ra, trong ba thế kỷ đầu ( các Ki-tô hữu chỉ họp nhau để kỷ niệm việc Chúa Giê-su đã chịu đau khổ, đã chịu chết và đã sống lại. Đặc biệt tụ họp vào ngày thứ nhất trong tuần ( Ngày Chúa Giê-su sống lại từ cõi chết: xin xem Ga 20, 1... ) và gọi ngày này là “Chúa Nhật”. Việc cử hành Phụng Vụ này gọi là “Nghi Lễ Bẻ Bánh” ( ý nói đến việc cử hành nghi lễ Thánh Thể ) ( xin đọc Cv 2, 42... ). Trong những cuộc “họp mặt“ này, các Ki-tô hữu cùng gặp gỡ nhau, chia sẻ tình thân hữu và niềm tin, rồi cùng nhau cầu nguyện và dự “Lễ Thánh Thể” ( Nghi Thức Bẻ Bánh ). Lúc đầu chưa có các “Thánh Đường”, nên thường tùy tiện họp mặt tại các tư gia hay nơi nào có thể được, như tại Hành Lang Sa-lô-mon ( Cv 5, 12... ).
Tuy nhiên việc cử hành này cũng không được đều đặn, vì ngay từ lúc đầu các Ki-tô đã bị bách hại và xua đuổi. Đọc sách “Tông Đồ Công Vụ” ( The Acts of Apostles ), ta thấy rõ điều này: trong khi các Tông Đồ và các tín hữu ra sức rao giảng Tin Mừng Tình Thương của Chúa cho mọi người ở mọi nơi họ sống, thì họ cũng luôn bị những thế lực thù nghịch chống đối và bách hại; vì “bóng tối” luôn thù nghịch “ánh sáng”. Những người sống theo “thế gian” thì thù ghét những ai sống ngược lại với lối sống của họ ! Tất nhiên “Thầy” của mình là Chúa Giê-su Ki-tô đã bị thù ghét, bị bắt, bị hành hạ và bị giết nhục nhã trên Thánh Giá, thì các môn đệ của “Thầy” qua các thế hệ đều cũng bị bách hại cách này hay cách khác...
Tuy nhiên, trong ba thế kỷ đầu thì các cuộc bách hại rất dữ dội ngay tại nơi đất nước quê hương của Chúa Giê-su và các Tông Đồ, và sau đó là ở khắp các nơi trong toàn Đế Quốc Rô-ma. Hơn nữa, lúc đó chưa có các tổ chức “Bảo Vệ Nhân Quyền” hay “Bảo Vệ Tự Do Tôn Giáo”, nên các nhà cầm quyền tự do đàn áp và tàn sát các tín hữu và các vị lãnh đạo tôn giáo của họ, bất kể ở các chức vụ nào. Thánh Phê-rô, vị Giáo Hoàng đầu tiên và các Thánh Tông Đồ đều bị giết, trừ Thánh Gio-an thì bị lưu đày cho đến chết. Các vị Giáo Hoàng tiếp theo cũng như các thành phần trong Giáo Hội đều bị xua đuổi, bị bắt, bị tù đày và bị giết thảm khốc ( nhất là dưới thời Hoàng Đế Neron ).
Trong hoàn cảnh cực khổ đó, các vị lãnh đạo và các tín hữu tiếp tục giữ vững Đức Tin và tiếp tục rao giảng Tin Mừng và họp mặt cầu nguyện và cử hành nghi lễ “Thánh Thể” bất cứ lúc nào và nơi nào có thể được để an ủi và nâng đỡ lẫn nhau trong cuộc sống Đức Tin đầy khó khăn như thế. ( Xin xem thêm về chuyện các “Hang Toại Đạo – Catacombs” tại Rô-ma ngày xưa ). Cho mãi đến năm 313 khi một Hoàng Đế Rô-ma có tên là Constantino Đại Đế ( Constantine “The Great” 280 – 337 ) theo Công Giáo, mẹ là Thánh Nữ Helene, ký hiệp ước Milan ( Edit de Milan ) để bảo đảm quyền tự do tôn giáo, lúc đó Giáo Hội mới được hưởng một thời kỳ an bình ( Paix de L’Eglise ) và lúc đó, các Ki-tô hữu mới được hưởng chút tự do để thờ phượng Chúa và các Thánh Đường được xây cất, các buổi ”họp mặt” cầu nguyện, học hỏi Thánh Kinh và cử hành “Lễ ThánhThể” mới được thường xuyên hơn...
Tuy nhiên đến năm 336 mới thấy việc cử hành ngày Chúa Giáng Sinh ( Christmas Day ) xuất hiện trong lịch Phụng Vụ của Giáo Hội. Việc mừng Lễ Giáng Sinh của Chúa Giê-su chắc là trùng hợp với việc các Ki-tô hữu, khi đã được hưởng thời gian an bình để sống đạo, liền nghĩ đến việc hướng về quê hương của Chúa, nhất là nơi Chúa Giáng Sinh là thành Bê-lem và hành hương kính viếng và chung tay xây cất Đền Thờ Chúa Giáng Sinh tại Bê-lem vào năm 330.      Vì ngày Chúa Giáng Sinh không được ghi rõ ràng trong các văn kiện lịch sử cũng như trong các sách Tin Mừng, nên Giáo Hội đã chọn một ngày thích hợp là 25 tháng 12 là ngày gần với ngày đông chí ( winter solstice ), ngày ngắn nhất đã qua và ánh sáng lại trở lại... và vì thế các dân tộc Trung Đông thời cổ hay mừng “ngày ánh sáng” vào 25 tháng 12; rồi Giáo Hội muốn thánh hóa ngày này bằng việc kính nhớ ngày Thiên Chúa Giáng Sinh “Đất Trời Giao Hoà”. Như vậy ngày 25 tháng 12 không phải là ngày có tính cách lịch sử mà chỉ là ngày kỷ niệm mừng Chúa giáng trần để giao hoà với nhân loại và loan báo Tin Mừng Cứu Độ ( xin xem thêm “Preaching the Lectionary” của R. H. Fuller ).
Đây chỉ là một việc làm theo “tiện lợi”, tạm ví như nhiều cụ khi ở Việt Nam thì không có thói quen mừng ngày sinh ( birthday ) mà tất cả chỉ mừng vào dịp Tết. Nhưng đến Hoa Kỳ, giới trẻ thích sống theo văn hóa địa phương, đã có thói quen mừng “sinh nhật”, và cũng muốn các bậc cha mẹ có một ngày để mừng cho con cháu vui vẻ trong gia đình. Các cụ nào không nhớ được ngày sinh chính thức của mình, đã chọn một ngày nào đó; chẳng hạn có cụ chỉ nghe cha mẹ nói là mình sinh vào dịp tháng tám mưa bão, liền chọn một ngày trong tháng 8. Có cụ chỉ nhớ cha mẹ nói là sinh vào giữa mùa gặt ( ở ngoài bắc thì vào tháng 5 ) nên chọn một ngày vào tháng 5. Kể cả việc lễ giỗ của một số vị trong gia đình cũng không thể đúng ngày; nhiều gia đình có chồng con mất tích trong cuộc chiến, khi biết chắc là đã chết, liền chọn một ngày để kính nhớ ( thường hay chọn vào ngày nghe tin mất tích... ).
Vì ngày mừng lễ Giáng Sinh vào 25 tháng 12 hàng năm không xác thực theo lịch sử nên thường có những ý kiến chống đối; đặc biệt vào thế kỷ 17 tại Anh Quốc, những người “Thanh Giáo” ( Puritans ) đã nỗ lực để yêu cầu xóa bỏ việc mừng lễ Giáng Sinh của Chúa Giê-su; nhưng mọi nỗ lực đều thất bại, và việc mừng Chúa Giáng Sinh vào 25 tháng 12 hàng năm vẫn tiếp tục ở Anh Quốc cũng như khắp nơi trên thế giới. Hơn nữa, việc mừng lễ Giáng Sinh của Chúa không phải chỉ đơn thuần mừng “sinh nhật” của Chúa, mà còn có ý nghiã thiêng liêng chuẩn bị tâm hồn đón Chúa vào tâm hồn tín hữu, và ngày Chúa trở lại trần gian lần thứ hai trong ngày thẩm phán. Vì thế có gần một tháng để tín hữu chuẩn bị lễ Giáng Sinh, gọi là “Mùa Vọng” ( ngày xưa gọi là “Mùa Áp” – Advent ). Mùa Vọng là Mùa Giáng Sinh khởi đầu niên lịch Phụng Vụ của Giáo Hội, tiếp theo là “Mùa Thường Niên 1”, rồi đến “Mùa Chay” ( Lent ) để chuẩn bị Đại Lễ Phục Sinh và Mùa Phục Sinh, rồi đến “Mùa Thường Niên 2” kéo dài đến “Mùa Vọng” cho một niên lịch Phụng Vụ mới.
Nơi đây chúng tôi cũng xin nói thêm là trước Lễ Giáng Sinh 9 tháng, Giáo Hội có một ngày mừng lễ đặc biệt gọi là “Lễ Truyền Tin” ( Annunciation ) để kỷ niệm giờ phút sứ thần Thiên Chúa báo tin cho Đức Ma-ri-a biết Thiên Chúa đã chọn Ngài làm người được diễm phúc cưu mang và sinh Đấng Cứu Thế... Và Đức Ma-ri-a đã “Xin Vâng” ( x. Lc 1, 26 tt... ). Đây chính là giờ phút rất quan trọng trong lịch sử Ơn Cứu Độ, giờ phút “Đất Trời Giao Hoà”, “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cưngụ giữa chúng ta” ( Ga 1, 14 ).
Chính vì thế mà trong toàn Giáo Hội có thói quen “Nguyện Kinh Truyền Tin” vào ba lúc quan trọng trong một ngày: sáng, trưa, chiều. Khi nghe tiếng “Chuông Nguyện” mọi tín hữu đều ngưng các công việc để nguyện kinh “Truyền Tin” mà nhớ đến giây phút quan trọng này: “Và Ngôi Lời đã nhập thể trong lòng Đức Trinh Nữ Ma-ri-a.” Rất nhiều nhạc sĩ, thi sĩ Công Giáo các nơi đã sáng tác các bài Thánh Ca hoặc các bài thơ diễn tả giây phút “huyền nhiệm” này; đan cử như bài thơ của thi sĩ Hàn Mạc Tử, bài “Theo Tiếng Thiên Thần xưa Kính Chào” của Hoàng Diệp, bài “L’Annonce faite à Marie” của Paul Claudel ( văn hào Pháp ).
Ngày nay Lễ Giáng Sinh ( có nơi gọi là lễ “Noel” ) càng ngày càng lan rộng đi khắp nơi, đến cả các dân tộc ít có các Ki-tô hữu, và ngay cả các nước còn đang dưới chế độ “Cộng Sản” như Cuba, Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Hàn cũng không thể ngăn cản dân chúng rầm rộ mừng lễ Noel. Đáng tiếc là ngày nay người ta đã “thương mại hóa” dịp lễ này mà làm giảm đi phần nào ý nghĩa thiêng liêng cao cả. Tuy nhiên điều “lạm dụng” đó cũng không thể làm giảm đi tinh thần mừng lễ đích thực trong lòng những người thành tâm thiện chí ( Abusus non Tullit Usum ) và họ được hưởng “ơn phúc lộc” an bình trong tâm hồn và trong gia đình họ, như lời các Thiên Thần hát mừng trong đêm Chúa Giáng Sinh:
“Vinh Danh Thiên Chúa trên Trời,Bình an dưới thế cho người thành tâm !”
Kính chúc quí vị được hưởng nhiều ơn phúc lộc của Chúa trong dịp Lễ Giáng Sinh 2005 này, và những ơn phúc đó sẽ tràn lan sang năm mới 2006, đem đến bình an thật của Chúa trong tâm hồn và gia đình mỗi người chúng ta, cũng như cho toàn thể thế giới và trên quê hương dân tộc Việt Nam chúng ta.
Lm. An Phong TRẦN ĐỨC PHƯƠNG

 

GS-174: DIỆU NHIỆM GIÁNG SINH, NGUỒN ÁNH SÁNG VĨNH HẰNG

BÀI GIẢNG CỦA ĐỨC THÁNH CHA BIỂN ĐỨC 16 – THÁNH LỄ ĐÊM GIÁNG SINH 2005
“Đức Chúa nói cùng tôi: Ngươi là Con Ta, hôm nay Ta đã sinh ra người.”
 

Lời này trích từ Thánh Vịnh thứ hai, một Thánh Vịnh được Giáo Hội đưa vào Thánh Lễ Vọn: GS-174

          Lời này trích từ Thánh Vịnh thứ hai, một Thánh Vịnh được Giáo Hội đưa vào Thánh Lễ Vọng Giáng Sinh đêm nay để mừng kính sự kiện Đức Giê-su Cứu Chuộc sinh hạ nơi máng cỏ bò lừa. Thánh Vịnh thứ hai còn được sử dụng vào nghi lễ đăng quang của các vua chúa, nước Giu-đa. Trong tư thế tuyển lựa lãnh tụ hàng đầu cho đất nước của mình, người Do Thái vẫn tự coi họ như dân được tuyển chọn. Được chọn làm con dân của Chúa, nên họ cũng được Chúa dưỡng sinh, nuôi nấng.
          Vốn đại diện cho nhân cách cả một dân tộc, Vua dân Do Thái vẫn coi việc đăng quang như hành động long trọng cảm nhận việc Chúa chấp nhận loài người như con của Ngài. Nhờ thế, đức vua cũng được cất nhắc vào với diệu nhiệm của Thiên Chúa. Tại Bê-lem đêm đó, lời vàng ngọc ở trên đã có giá trị bày tỏ niềm hy vọng vào một thực tại có thật. Và, Lời ấy từ nay mang ý nghĩa mới lạ, không hề lường trước.
            Giờ đây, Hài Nhi bé nhỏ đang đầm mình nơi máng đựng cỏ cho bò lừa, đã thật sự là Con của Chúa. Xem thế, Thiên Chúa từ nay Ngài sẽ không còn cô độc triền miên nữa, nhưng đúng hơn, Ngài đã trở thành vòng quay yêu thương ban tặng chính mình Ngài cho nhân lọai. Ngài vừa là Cha, vừa là Quý Tử đồng thời còn là Thần Linh rất Thánh. Thêm vào đó, nơi Đức Giê-su Ki-tô, Con Ngài, Thiên Chúa đã chính thức mặc lấy xác phàm mang thân phận đích thực của con người. Kể từ hôm nay, chính Ngài là Đấng được Cha phán dạy: “Con là Con Ta, hôm nay, Ta đã hạ sinh Con.”
          “Hôm nay”, thời hiện tại đã trở thành vĩnh cửu. Hôm nay, Thiên Chúa đã trở về với cái “hiện tại” nổi trôi của thế giới gian trần. Và, cũng từ nay, Hài nhi bé nhỏ được nâng cao lên với “hiện tại” vĩnh hằng của Thiên Chúa. Thiên Chúa, Ngài cao cả đến độ có thể trở nên bé mọn như con trẻ. Thiên Chúa đầy quyền phép đến độ Ngài có thể tự khiến mình dễ nên thương tổn; và, Ngài đến với ta như một hài nhi bé nhỏ, không bảo vệ được chính mình.
Để rồi, nhờ đó, chúng ta sẽ yêu mến Ngài. Thiên Chúa, Ngài nhân hiền đến độ Ngài đã từ bỏ mọi cao sang thần thánh, đã giáng hạ nơi chuồng lừa ngõ hầu chúng ta có thể tìm thấy Ngài. Nhờ thế, lòng nhân hiền của Ngài mới tiếp cận được chúng ta. Ngài trao ban chính mình Ngài cho ta, và Ngài còn tiếp tục hoạt động như thế ngang qua chúng ta nữa. Đây mới chính là Giáng sinh với lời dạy rất rõ: “Con là Con Ta, hôm nay Ta sinh ra con.”
          Thiên Chúa đã trở nên người phàm như ta để cho chúng ta có thể sống với Ngài và trở nên giống như Ngài. Bằng vào dấu chỉ này, Ngài chọn làm Hài nhi bé nhỏ đầm mình nơi máng cỏ nuôi bò lừa: đấy chính là cách thế duy nhất Thiên Chúa lựa chọn cho chính Ngài. Đây còn là cách thức chúng ta tìm đến để nhận biết Ngài. Nơi hài nhi bé nhỏ, đều thấy chói lòa sự sáng lạn của cái hiện tại ngày “hôm nay”. Chính vào hôm nay, Thiên Chúa đã gần gũi với ta hơn để rồi chúng ta biết yêu thương, phụ thuộc vào Ngài. Điều này ta càng thấy rõ nơi các hài nhi bé nhỏ, kể cả các trẻ bé chưa được sinh ra.
          Nay, hãy thử xét đến phần hai của Phụng Vụ Đêm Thánh hôm nay. Hãy nghe đoạn trích từ sách Ngôn Sứ I-sai-a: “Dân đi trong tăm tối đã thấy ánh sáng lớn trên những kẻ ở xứ âm u, một ánh sáng đã rạng ngời.” ( Is 9, 1 )
          Cụm từ “ánh sáng” đã gồm tóm trọn vẹn Phụng Vụ vọng Giáng Sinh, đêm nay. Chúng ta thấy rõ điều này nơi trích đoạn trong thư Thánh Phao-lô Tông Đồ gửi Ti-tô: “Ơn cứu độ của Chúa nay đã hiển linh rồi.” ( Tt 2, 11 )
Cụm từ “đã hiển linh rồi” viết trong bản gốc tiếng Hy Lạp nói lên cũng một điều tương tự như đọan viết bằng tiếng Hípri của người Do Thái. Theo bản Híp-ri, cụm từ “nguồn sáng đã chiếu rọi” chứng tỏ: “sự hiện hình” và “hiển linh” vừa nói. Đây là nguồn sáng Thiên Chúa đổ tràn trên thế giới lâu nay phủ trùm những tối tăm, u uất. Một thế giới ngổn ngang những vấn đề còn tồn đọng, chưa giải quyết. Nhân đó, Tin Mừng hôm nay quy về vinh quang Thiên Chúa tỏ hiện cho đám mục đồng chăn cừu bằng nguồn “sáng rạng ngời bao quanh họ” ( Lc 2, 9 ).
Nơi nào có được vinh quang Thiên Chúa tỏ hiện , nơi đó ánh sáng sẽ chiếu rọi lên toàn thế giới. Và, Thánh Gio-an cũng viết: “Đức Chúa là sự sáng,   tối tăm không hề có nơi Người.” ( 1 Ga 1, 5 )
Như vậy, trước hết ánh sáng là sự hiểu biết. Nó mang ý nghĩa của sự thật, đối chọi với sự âm u, tăm tối của những ngu muội và gian dối. Ánh sáng đem cho ta sự sống. Ánh sáng soi tỏ lối đi. Nhưng, ánh sáng, với tư cách là nguồn cội nhiệt năng, còn hàm chứa ý nghĩa của yêu thương chân chính. Nơi nào có tình yêu thương trải dàn, nới ấy ánh sáng chiếu rọi đến chốn tận cùng thế giới. Ở đâu còn thù hận, nơi đó thế giới sẽ chìm đắm trong tối tăm, u buồn. Tại chính nơi chuồng bò, máng cỏ ở Bê-lem, đã thấy xuất hiện ánh hào quang rực rỡ mà thế giới hằng trông đợi. Chính nơi Hài nhi nhỏ bé đầm mình trên máng cỏ cho bò lừa, Thiên Chúa tỏ rõ vinh quang cao cả của Ngài.
Thế đấy, tình yêu thương đã ban bố chính mình Ngài. Yêu thương bộc lộ sự cao cả của Ngài, để rồi dẫn dắt chúng ta trên con đường đi đến với mọi người. Ánh sáng của đồng lầy Bê-lem vẫn không hề tắt ngúm. Mỗi thời, mỗi buổi, ánh sáng này đã tiếp cận với con người, cả nam lẫn nữ: “ánh sáng đã rạng ngời bao quanh họ”. Ở đâu con người đặt hết niềm tin vào Hài Nhi nhỏ bé. ở đó tình yêu thương nhân ái sẽ trỗi dậy. Tình nhân ái hướng đến tha nhân. Tình yêu thương đùm bọc kẻ ốm yếu, sầu buồn. Và, ân sủng của Thiên Chúa sẽ dấy tràn sự tha thứ.
Từ đất miền Bét-lê-hem kia, giòng chảy ánh sáng, thương yêu và sự thật sẽ tỏa rộng ra nhiều thế kỷ. Nhìn khía cạnh lành thánh, từ Thánh Phao-lô và Âu-tinh đến Thánh Phan-xi-cô, Đa-minh, từ Thánh Phan-xi-cô Xa-vi-ê và Tê-rê-xa A-vi-la đến Mẹ Tê-rê-xa thành Calcutta, vẫn thấy cả nguồn từ ái, nhân hiền, giòng chảy ánh sáng nhuần nhuyễn chớp nháy đến ngày hôm nay. Chớp nháy bằng mầu nhiệm Bê-lem, qua đó Thiên Chúa đã trở nên Hài Nhi bé nhỏ. Qua Hài Nhi nhỏ bé, Thiên Chúa đã giáp mặt với bạo lực của thế giới bằng chính sự nhân hiền đức độ. Ngài mời gọi chúng ta hãy dõi bước theo chân Hài Nhi ấy.
Đêm nay, khi hướng về đất miền Bê-lem đầy ánh sáng, chúng ta nguyện cầu cho nôi ấm Đấng Cứu Tinh. Cầu cho những người anh, người chị đã và đang sống nơi đó. Những người đã và đang chịu mọi cực hình, gian khổ. Cầu cho an bình xảy đến nơi Thánh Địa: “Lạy Chúa, xin hãy đoái nhìn xuống góc nhỏ địa cầu thân thương ấy. Nới đây là tổ quốc của ngài năm xưa ấy. Hãy chiếu rọi ánh sáng của Ngài lên nôi ấm còn mang nhiều tranh chấp. Xin đem an bình của Ngài đến với mọi người”.
Cụm từ “bình an” đưa chúng ta về với chủ đề ba của Phụng Vụ đêm nay, Đêm Thánh vô cùng. Và, Hài Nhi mà ngôn sứ I-sai-a báo trước còn được gọi là “Ông hoàng của Bình An”. Vương quốc của Ngài vẫn được gọi là “chốn Bình An vô tận”. Và, các mục đồng trong Tin Mừng hôm nay đã được nghe tin vui rạng rỡ: “Vinh quang Đức Chúa trên trời cao thẳm” và “Bình an dưới thế cho người...” Đã có một dạo, chúng ta quen hát: Bình an dưới thế cho người có lòng ngay.” Ngày nay, chúng ta lại hát: “Bình an dưới thế cho người được Chúa đoái thương.”
Như thế, thay đổi này có ý nghĩa gì ? Phải chăng “người có lòng ngay” không còn là chuyện quan trọng nữa ? Để giải đáp, có lẽ nên hỏi: ai là người được Chúa đoái thương ? Và, tại sao Ngài lại đóai thương họ đến như thế ? Phải chăng Đức Chúa yêu thương riêng một số người ? Có phải, Ngài chỉ thương yêu một số người nào đó, còn thì bỏ bê người khác mặc họ lo liệu ?
Phúc Âm hôm nay đã trả lời cho vấn nạn này, bằng cách ám chỉ một ít người được Chúa đặc biệt đoái thương . Nếu tính từng người một, có lẽ sẽ phải nêu tên các vị này, những là: Đức Ma-ri-a, Giu-se, bà Ê-li-sa-bét, ông Da-ca-ri-a, Si-mê-ôn và bà An-na... Tuy nhiên, còn hai nhóm người nữa, một là: nhóm mục đồng chăn chiên và các đạo sĩ đến từ phương Đông mà ta có thói quen gọi là “Ba Vua”. Đêm nay, hãy thử xét các mục đồng chăn chiên. Những người này, họ là ai ? họ thuộc hạng người nào ? Trong khuôn khổ thời bấy giờ, các mục đồng là những kẻ bị khinh chê, coi rẻ. Họ được coi như những kẻ không đáng tin cậy. Không được phép làm nhân chứng trong các vụ xử ở tòa.
Nhưng, thật ra họ là ai ? Chắc chắn một điều, họ thảy đều không phải là các thánh nhân, cao cả. Nếu dùng ngôn từ này để chỉ định những vị có nhân đức của các vị anh hùng, cái thế; thì câu trả lời là: không. Họ chỉ là các linh hồn bình dị, bộc bạch. Phúc âm hôm nay chiếu sáng lên một đặc tính mà sau này, theo ngôn từ của Đức Giê-su, đặc tính này có tầm quan trọng đặc biệt. Họ là những con người luôn tỉnh thức.
Điều này rất đúng, không chỉ theo nghĩa hời hợt, bên ngoài mà thôi. Họ là những người luôn để mắt trông chừng đàn chiên nhỏ của mình, canh thức suốt đêm thâu. Thế nhưng, hiểu theo nghĩa sâu sắc hơn, cũng rất đúng. Vì, họ là những người sẵn sàng đón nhận Lời Chúa. Cuộc sống của họ không đơn thuần đóng kín vào nhiệm vụ riêng tây của mình. Họ có con tim luôn rộng mở đối với tất cả mọi người. Nói cách khác, họ là những người luôn mong đợi Chúa. Đặc điểm luôn thức tỉnh nơi họ là tính sẵn sàng. Sẵn sàng lắng nghe. Sẵn sàng di động. Họ trông chờ thứ ánh sáng chiếu rọi cho họ con đường tiến về phía trước. Điều này mới đích thực quan trọng. Với Chúa, Ngài yêu thương hết mọi người. Bởi lẽ, mỗi người là thụ tạo do Ngài dựng nên.
Tuy nhiên, vẫn có nhiều người còn đóng kín lòng mình. Để, Ngài không tìm thấy khung cửa ngỏ mà thăm viếng. Đem tình thương đến với họ. Những người như thế luôn nghĩ rằng mình chẳng cần gì đến Chúa. Cũng chẳng muốn Ngài có mặt. Số người khác, xét về lòng đạo hạnh, cũng không mấy khốn khổ, không ít sai phạm, tội lỗi. Nhưng ít ra, họ cũng chứng tỏ rằng mình đã biết sám hối. Và, những người này vẫn đang trông đợi Chúa đến. Họ vẫn thấy cần đến lòng từ ái của Ngài. Dù trong thâm tâm, họ cũng chẳng hiểu rõ điều đó.
Tóm lại, nơi cung lòng chờ đợi đầy yêu thương, họ dễ đón nhận ánh sáng của Chúa hơn. Cùng với ánh sáng, là cả sự bình an của Ngài nữa. Thiên Chúa vẫn tìm kiếm những ai có thể làm đầu mối, sứ giả nối kết với bình an Ngài trao tặng.
Giờ đây, ta hãy nguyện cầu để Chúa đừng thấy tâm can chúng ta bưng bít, đóng kín. Hãy phấn đấu để trở nên sứ giả Bình An của Ngài. Cho thế giới hôm nay. Với tín hữu theo Đạo Chúa, cụm từ “Bình An” đã mang một ý nghĩa đặc biệt. Bình an đã trở thành tên gọi của Tiệc Thánh.
Trong tiệc mừng Thánh Thể hôm nay, bình an của Chúa vẫn luôn hiện diện. Ở nơi nào Tiệc Thánh được mừng dọn, cả một hệ thống bao quát gồm bình an của Chúa lan tràn trên thế giới. Các cộng đoàn tụ tập trong Tiệc Thánh để kiến tạo nên Vương Quốc Bình An rộng lớn bằng cả một thế giới. Khi cử hành Tiệc Thánh, chúng ta cũng đặt mình nối kết với Bê-lem, nơi “tổ ấm đầy bánh ăn”, Đức Ki-tô đã ban tặng chính mình Ngài cho chúng ta.
Và, làm như thế, Ngài cũng ban Bình An của Ngài cho chúng ta. Ngài ban tặng mình Ngài chính là để chúng ta sẽ lại đem ánh sáng Bình An vào với con người mình, đồng thời tái tạo Bình An cho người khác. Thiên Chúa ban tặng Bình An cho ta là để chúng ta trở thành những người kiến tạo sự an lành và xây dựng hòa bình cho thế giới.
Chính vì thế, chúng ta hãy tiếp tục nguyện cầu:
Lạy Chúa, xin hãy thực hiện lời Ngài đã hứa khi xưa. Ở đâu còn tranh chấp, xin hãy nảy sinh Bình An của Ngài. Nơi nào còn đầy dãy những hận thù, xin hãy để cho tình yêu Ngài nở rộ. Ở chốn tối tăm bao phủ vạn vật, xin hãy chiếu rọi ánh sáng chói chang, an bình. Xin hãy biến chúng con thành sứ giả Bình An của Chúa. Chúng con nguyện cầu cùng Chúa cho được như vậy.
Bản dịch của MAI TÁ ( Úc )

 

GS-175: Emmanuell - Thiên Chúa ở cùng với chúng ta

„Em-ma-nu-en, nghĩa là "Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta." (Mt 1, 23B)
 

 Thiên Chúa luôn ở cùng với chúng ta. Ngay cả trong những đêm tăm tối nhất của cuộc sống, Ngài vẫn GS-175

"Thiên Chúa luôn ở cùng với chúng ta. Ngay cả trong những đêm tăm tối nhất của cuộc sống, Ngài vẫn không hề bỏ mặc chúng ta một mình. Ngay cả trong những lúc khó khăn nhất của cuộc đời, Ngài vẫn luôn hiện diện với chúng ta. Và thậm chí, ngay cả trong đêm cuối đời, trong giây phút cô đơn hiu quạnh cuối cùng của cuộc sống, vốn dĩ không ai có thể đồng hành cùng với chúng ta, trong đêm cuối cùng trước giờ lâm tử đó, Thiên Chúa vẫn không hề từ bỏ chúng ta....
Thiên Chúa vẫn luôn đồng hành với chúng ta, ngay cả trong giây phút cuối đời, và vì lý do này, mà chúng ta với tư cách là những người Kitô Giáo, chúng ta có thể tự tin và tín thác rằng: chúng ta không bao giờ phải đơn côi một mình. Thiên Chúa nhân từ luôn hiện diện cùng chúng ta.
Thiên Chúa biết tất cả mọi sự, và Ngài luôn ở cùng với mọi tạo vật của Ngài, và chúng không thể xa lánh Ngài được. Sự hiện diện của Ngài không phải là để đe dọa hay kềm kẹp, mặc dầu cái nhìn của Ngài thật là nghiêm khắc khi nhắm vào ma quỷ, vì dẫu, Ngài không phải là bàng quang trước mọi sự. Trong mỗi một phạm vi của vũ trụ, ngay cả những phần sâu kín nhất, Ngài vẫn hiện diện tích cực tại đó. Ngài sẳn sàng dẫn dắt chúng ta bằng chính đôi tay của Ngài và hướng dẫn chúng ta trên con đường trần thế. Chính vì vậy, sự gần gũi của Ngài không phải là để kích động nên sự sợ hãi, mà là hổ trợ để chúng ta có được sự tự do đích thực." (Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI tại buổi tiếp kiến chung với khách hành hương ngay tại Quảng Trường Thánh Phêrô, vào ngày 15.12.2006, suy niệm về 12 câu đầu của Thánh Vịnh 138(139) về "bài ca tín thác. -Từ Vietcatholic.net)
Biến cố Giáng Sinh của Thiên Chúa đối với Đức Thánh Cha, là ngày sinh nhật của Ánh Sáng không bao giờ tắt. Ánh Sáng đó chiếu soi khắp mọi nơi, hiện diện ở ngay cả trong những đêm tăm tối nhất của cuộc sống. Đây là một thực tại rất sống động.
Sống động, vì không chỉ tôi cảm nhận rõ ràng trong cuộc sống của tôi, mà rất nhiều anh chị em khác cũng đã cảm nhận rõ ràng điều đó. Trong mùa Vọng vừa qua, có dịp đi thăm một anh Bạn thân trong dòng. Tay bắt mặc mừng vì gặp lại nhau. Sau đó chúng tôi đã giành nhiều thời gian để tâm sự và trao đổi. Và anh bạn đã kể cho tôi nghe nỗi đau lòng của anh trong lúc này. Nhưng đó cũng là chuyện bình thường. Điều làm tôi mừng, là anh bạn không ôm ấp nỗi đau trong lòng một mình. Chính trong đêm tăm tối này, anh đã cảm nhận rõ ràng sự hiện diện của Chúa. Chính Ngài và chỉ có Ngài an ủi anh được. Chính Ngài và chỉ có Ngài là nguồn hy vọng của anh. Ngài luôn ở đó và vẫn ở đó, dù cho mọi sự có qua đi, dù cho đêm tăm tối có đến đi nữa, dù cho lòng người có nặng nề đến bao nhiêu.
Vâng, thực vậy Thiên Chúa nhân từ luôn hiện diện cùng chúng ta.
Chính đôi tay của Ngài và hướng dẫn chúng ta trên con đường trần thế.
Bạn thân mến,
Đừng sợ!
Chúng ta cứ yên tâm để Ngài ấp ủ vào vòng tay yêu dấu.
Chúng ta cứ yên tâm để Thiên Chúa hướng dẫn chúng ta trên con đường trần thế.
Thiên Chúa đó có tên là: Emmanuell - Thiên Chúa ở cùng với chúng ta.
Lm. Nguyễn ngọc Thế sj

 

GS-176: LỄ GIÁNG SINH - THÁNH LỄ BAN NGÀY

Đêm hôm qua, 24.12, đêm Vọng trọng thể mừng Ngôi Hai Thiên Chúa nhập thể, chúng ta vui: GS-176

Đêm hôm qua, 24.12, đêm Vọng trọng thể mừng Ngôi Hai Thiên Chúa nhập thể, chúng ta vui mừng cử hành lễ sinh nhật của Chúa Giêsu, Đấng là Thiên Chúa đã làm người để cứu chuộc chúng ta.
Đêm hôm qua, Thiên Chúa Ngôi Hai làm người, là đêm cả loài người nói riêng, tưng bừng cảm tạ và chúc tụng Thiên Chúa. Đó cũng là đêm cả triều thần thánh, cả vũ trụ nói chung như reo vang bài ca cứu chuộc, tôn thờ và vinh tụng Thiên Chúa tình yêu, một tình yêu vượt trên tất cả mọi trí tuệ, mọi thanh âm.
Và hôm nay, một lần nữa, tiếp nối ý nghĩa của đêm vọng Giáng sinh, chúng ta long trọng tung hô mầu nhiệm nhập thể đã đưa Thiên Chúa đến với con người trong thân phận hèn hạ của một con người: Thiên Chúa đã XÓA một khoảng cách rất dài: khoảng cách THIÊN CHÚA – CON NGƯỜI; Đó cũng là một khoảng cách rất rộng: TẠO HÓA – THỤ TẠO. Và là một khoảng cách rất sâu: TRỜI CAO – ĐẤT THẤP. Một khoảng cách vô cùng lớn như thế, lại được rút ngắn cho đến mức không còn một mảy may nào, không còn gì dù chỉ là một sợi chỉ mỏng: THIÊN CHÚA ĐÃ LÀM NGƯỜI. Một khoảng cách lớn như thế, được rút ngắn vô cùng tận như thế, chỉ có thể được thực hiện nhờ tình yêu và trong tình yêu.
Chỉ bằng một câu ngắn, nhưng thật chính xác , thánh Gioan đã diễn tả đầy đủ tình yêu của Thiên Chúa về một khoảng cách lẽ ra rất diệu vợi, lại không còn khoảng cách: “Ngôi Lời đã hóa thành nhục thể, và Người đã cư ngụ giữa chúng ta”. Ngài đã hóa thành nhục thể, nghĩa là đã làm người! Làm người không phải như một “siêu nhân”. Làm người không phải để khác người. Nhưng như một con người giữa mọi người, như tất cả chúng ta là người. Ngài làm người bằng tất cả và đầy đủ nhất những gì cần thiết để làm nên một con người, những gì mà con người có thể cần, có thể có để trở nên người hoàn hảo, được gọi là CON NGƯỜI. Đúng là một khoảng cách không còn khoảng cách.
Thiên Chúa đã hóa nên nhục thể hoàn toàn giống chúng ta vì một lẽ: Ngài chấp nhận chia sẻ đến cùng kiếp người của mỗi chúng ta. Thánh Gioan đã diễn tả sự chấp nhận chia sẻ này bằng một lối nói rất dễ hiểu: “Người cư ngụ giữa chúng ta”. Làm sao có thể chia sẻ kiếp người, có thể cư ngụ cùng với chúng ta mà lại có thể khác chúng ta được. Không thể nào có một ai đó khác người lại có thể sống chung, sống ngang hàng với những con người, giữa những con người. Một khoảng cách không còn khoảng cách ấy đã để lại một dấu ấn lớn lao: dấu ấn ngàn đời không dễ gì phai nhạt, không dễ gì thay thế, càng không dễ gì trôi tuột hay mất mát. Đó là dấu Tình yêu: Thiên Chúa yêu nhân trần.
Thiên Chúa đã yêu và đã xóa mọi khoảng cách. Thiên Chúa đã yêu, trong tình yêu ấy, không có chỗ cho bất cứ một khoảng cách nào ngự trị, dù nhỏ nhất. Thiên Chúa đã yêu, trong tình yêu mà nhân loại đón nhận từ nơi Ngài, cũng sẽ được Ngài mời gọi hãy dấn thân để xóa mọi khoảng cách. Bởi trong đời thường, đâu đó vẫn còn rất nhiều những khoảng cách của người với người, do lòng người xấu, do tật xấu, đam mê xấu, thậm chi tội lỗi tạo ra, cũng có thể do cuộc sống đắp thành. Những khoảng cách đã được xóa bỏ, để còn lại là lòng kính phục và tôn thờ Chúa, lòng nhân ái và bác ái với anh chị em, lòng biết ăn năn sám hối để đón nhận bình an Giáng sinh.
Và tôi đã thấy, trong những ngày qua, đặc biệt đêm hôm qua, vọng Giáng sinh, có rất nhiều anh chị em đã tìm mọi cách để rút ngắn khoảng cách; hay xa hơn: xóa khoảng cách….
Vậy đêm hôm qua, khi cử hành mầu nhiệm Con Thiên Chúa làm người, chúng ta thấy gì? Nhiều lắm. Chẳng hạn, nơi đâu người ta cũng trưng bày hang đá thật đẹp. Đèn ở mọi nơi, mọi chỗ chiếu sáng lung linh, hay lập lòe chớp tắt đủ màu, đủ sắc. Đêm lễ Giáng sinh, dẫu cho trời càng lúc càng về khuya, ta vẫn thấy, vẫn nghe trên đường phố, người vẫn tấp nập, và tiếng ồn của giọng nói, của nụ cười, của xe cộ vẫn kéo dài thêm. Không biết những người đã chuẩn bị cả một không gian lộng lẫy như thế, có chuẩn bị lòng mình mừng Chúa Giáng sinh hay không? Chắc rằng, vẫn còn đó những người chỉ dọn lễ bên ngoài mà quên mất tâm hồn. Bởi đó, chắc cũng không có một khoảng cách nào được rút ngắn.
Không biết đêm ăn mừng đội tuyển đá banh Sea Games U 23 Việt Nam thắng U 23 Malaysia với tỷ số 2-1 (chiều ngày 2.12.2005), người đông đến mức nào, nhưng chắc chắn không trật tự bằng đêm Giáng sinh hôm qua. Và trong dòng người mừng lễ Chúa Giáng sinh, đâu chỉ có giới trẻ thanh thiếu niên (như đêm mừng chiến thắng của U23 Việt Nam), mà còn có cả mọi thành phần, mọi lứa tuổi từ những người già nua tuổi tác đến những em bé còn bế trên tay. Khoảng cách về sự chênh lệch do tuổi tác, có thể nói là đã phần nào rút ngắn, nhưng đó chỉ mới dừng lại việc coi lễ Giáng sinh như đêm lễ hội, vì thế khoảng cách được rút ngắn ấy, vẫn chưa là sự rút ngắn lớn lao gì, dẫu đã có một chút gì khá hơn chuyện ăn mừng chiến thắng đá banh.
Và nếu đêm ăn mừng U 23 Việt Nam chiến thắng, chỉ có tiếng hò la hú hét, tiếng trống, tiếng kèn chiêng, tiếng thau nồi vang rợn trời…, tệ hơn, tiếng xe rú ga lao đi hoà vào những trận đua chí tử, làm náo nhiệt đến náo loạn, thì đêm hôm qua, mừng lễ Chúa Giáng sinh, thú thật, bên cạnh rất nhiều kẻ cơ hội, trong đó đa phần là giới trẻ, chỉ biết đến lễ Giáng sinh như một lễ hội, chộp lấy thời cơ để gieo mình vào trong các dịp tội, thì giữa rừng người mừng lễ Giáng sinh ấy, có biết bao tâm hồn thánh thiện, biết bao tâm hồn chìm đắm trong suy tư và cầu nguyện. Họ cầu nguyện để được ở bên Thiên Chúa, ở với Thiên Chúa và ở trong Thiên Chúa. Nhờ đó, tình yêu giữa Thiên Chúa với những tâm hồn thánh thiện ấy, vốn đã không còn một khoảng cách nào, lại thêm tha thiết, gần gũi, hiệp thông và chìm đắm trong nhau.
Và rất đông, rất đông những anh chị em tín hữu, đã chuẩn bị lòng mình mừng lễ Chúa Giáng sinh từ trước, có khi bằng cả một mùa Vọng. Có người đã tham gia tĩnh tâm mùa Vọng, đã thú nhận những thiếu sót trong đời sống nơi tòa giải tội trước cả nửa tháng, một tuần, hoặc mới vài ngày trước đây.
Trên các ngỏ đường, các góc phố, các xóm ấp, mừng lễ Giáng sinh, biết bao nhiêu người chia sớt cho nhau, cho anh em của mình còn đói nghèo từng ký gạo, từng chén nước mắm, từng gói mì tôm… tất cả những anh chị em sống một niềm tin lớn lao ấy, đã cố gắng hết sức có thể để xóa đi càng nhiều những khoảng cách, càng tốt.
Đêm hôm qua, không ai biết được trên đường phố, trong các gia đình có bao nhiêu ông già Noel phát quà, phát kẹo bánh cho trẻ thơ. Có bao nhiêu giấc mơ đẹp, hiền lành, thân thương mà những ông già Noel gởi lại trong tâm hồn đơn sơ của các em. Hình ảnh ông già Noel là hình ảnh truyền thống ngàn năm, mãi mãi vẫn xinh đẹp, vẫn đáng yêu. Một hình ảnh rất cần thiết để làm ngắn lại những khoảng cách vô hình giữa người giàu và người nghèo; giữa những trẻ em trong đêm đông được diễm phúc cuộn mình trong nệm ấm, chăn em với những đứa trẻ lang bạc, rách bươm và rét mướt. Làm ngắn lại khoảng cách ấy, để tất cả các em dù nghèo, dù giàu, trên thân vẫn có một tấm áo và trên tay vẫn có một món quà. Làm ngắn lại khoảng cách để ai đó, dù không là người hạnh phúc nhất, cũng sẽ được làm người mênh mang hạnh phúc.
Nhưng đâu chỉ có đêm hôm qua, kể cả những ngày trước đó nữa, những trẻ em mồ côi, những trẻ em lang thang vì bị bỏ rơi và nghèo đói, bình thường ta cứ gọi chung là trẻ em bất hạnh, lại là những người sống trong hạnh phúc nhất, không phải vì đã được đầy đủ vật chất, nhưng hạnh phúc nhất vì nhận được thật nhiều tình yêu thương.
Bởi thế, ai biết được có biết bao nhiêu tấm lòng đã đồng hóa việc mừng sinh nhật Con Thiên Chúa bằng cách thắp sáng nỗi hạnh phúc, thắp sáng niềm ấm áp trong lòng anh chị em quanh mình. Thắp sáng như thế là làm cho những khoảng trở nên cách mờ tối, và sẽ không còn nữa. Điều mà đêm ăn mừng chiến thắng bán kết để vào chung kết tại Sea Games 23, Philppine vừa qua, không hề có…
Đức cha Giuse Vũ Duy Thống, Giám mục phụ tá Sài Gòn, trong bài “Noel: niềm vui và hơn thế nữa” (báo Công giáo và Dân tộc số 1437-1438, ra ngày 12. 12. 2003) đã chia sẻ thế này: “Xin cầu cho mọi người biết sống niềm vui Noel bằng cách mở rộng tâm hồn mình ra mà đón Chúa sinh vào…. Đừng như những quán trọ thênh thang phòng ốc, nhưng lại khép kín với giàu sang, ngổn ngang với quyền lực và sực nức với hơi lạnh đồng tiền, khiến Chúa phải lặng lẽ ra đi. Xin cho mỗi người nên như một Hang đá nhỏ, đơn sơ như đời thường dung dị, nhưng đã ấm áp sẵn chờ đợi Chúa sinh vào…”.
Mặc dù trong những lời chia sẻ của mình, Đức cha Vũ Duy Thống không nói gì đến nỗ lực rút ngắn hay xóa khoảng cách mà chúng ta đang đề cập. Nhưng những chia sẻ ấy, một lần nữa, giúp ta chân nhận rằng, để thu ngắn, nhất là để xóa những khoảng cách, ta phải mở rộng tâm hồn mình để Chúa được sinh ra. Và từ trong tâm hồn có Chúa, có tình yêu của Chúa ngự trị, ta mới có đủ can đảm giết chết thái độ “khép kín với giàu sang, ngổn ngang với quyền lực và sực nức với hơi lạnh đồng tiền". Có như thế, lòng mình mới trở thành Hang đá trao tặng anh chị em, nhằm nối liền những khoảng cách đã từng gây ra biết bao nhiêu xa cách, thậm chí ly cách.
Như vậy, có những khoảng cách trong cuộc đời cần phải xóa đi. Nhưng khoảng cách chỉ có thể được xóa khi lòng người biết mở ra. Lòng người càng mở rộng bao nhiêu, khoảng cách càng thu ngắn và dễ xóa bỏ bấy nhiêu.
Lm. VŨ XUÂN HẠNH

 

GS-177: Dấn thân

Trong triết học hiện sinh, có một động từ thường hay được xử dụng, đó là dấn thân. Nhìn theo: GS-177

Trong triết học hiện sinh, có một động từ thường hay được xử dụng, đó là dấn thân. Nhìn theo khía cạnh này, thì Đức Kitô quả là một người đi tiên phong cho chủ thuyết hiện sinh.
Thực vậy, Giáng sinh, hay nói đúng hơn theo ngôn ngữ thần học, nhập thể là gì nếu không phải là việc Con Thiên Chúa dấn thân và sống cuộc đời con người chúng ta.
Đức Kitô đã không xuống thăm trái đất này như là một ông đại sứ của Chúa Cha, đến để công bố những giới luật, những nguyên tắc của cuộc chơi trong kiếp sống làm người. Đến để loan báo phần thưởng cho những người tuân giữ, và hình phạt cho những kẻ chối từ. Một ông đại sứ luôn đứng bên lề cuộc phiêu lưu của nhân loại. Con Thiên Chúa không đến để chỉ cho chúng ta biết phải chơi như thế nào, nhưng Ngài đã nhập cuộc, đã tham dự trò chơi. Ngài đã dấn thân, đã làm người. Và theo ngôn ngữ của thánh Gioan thì Ngài đã hóa thành nhục thể.
Vào thời bấy giờ, người ta không thể nào tin nhận một chân lý như vậy. Đối với họ, thể xác là nguyên nhân sinh ra tội lỗi. Họ chủ trương: Đức Kitô chỉ có cái vóc dáng bên ngoài của con người, chỉ đeo một cái mặt nạ của thể xác. Trong khi đó, thánh Gioan mạnh mẽ chống lại quan niệm này khi công bố: Ngôi Lời đã hóa thành nhục thể, Ngài đã chấp nhận cuộc chơi như lời thánh Phaolô: Chúa đã không nhận của lễ toàn thiêu, đã không ưng chiên bò hy tế, thì nay con đến để làm theo ý Cha. Bốn chữ:thì nay con đến” mang một ý nghĩa sâu xa, muốn nói lên rằng: Ngài đã bước vào cuộc chơi.
Đức Kitô không phải chỉ là một Thiên Chúa, nhưng Ngài còn là một con người, đã sống một cuộc đời như chúng ta. Thánh Phaolô đã viết: Bởi vì con cái có chung máu thịt với nhau, thì phần Ngài, Ngài cũng giống như vậy. Ngài đến không phải để giúp đỡ các thiên thần, nhưng đến để giúp đỡ dòng dõi Abraham. Do đó, trong mọi sự, Ngài đã nên giống anh em mình. Để nên giống chúng ta, Ngài đã mặc lấy những yếu hèn, ngoại trừ tội lỗi. Phận Ngài là phận của một vị Thiên Chúa, nhưng Ngài đã không nghĩ phải dành cho được chức vụ đồng hàng cùng Thiên Chúa. Song Ngài đã hủy mình đi, mặc lấy thân phận tôi đòi, trở nên giống hẳn người ta, đem thân đội lốt người phàm…
Thực vậy, Đức Kitô đã bước vào đời sống thể xác. Thánh Gioan đã nhấn mạnh: Gioan Tiền hô đến không ăn không uống, nhưng Đức Kitô đến, Ngài đã ăn và đã uống. Ngài đã mệt mỏi vì đường xa, vì ánh nắng gay gắt, nên đã ngồi nghỉ bên bờ giếng Giacob. Trên thập giá Ngài đã cảm thấy một cơn khát như xé cổ họng và đã chịu đựng những đớn đau ghê sợ nhất.
Tiếp đến, Ngài đã bước vào đời sống tâm lý. Ngài đã say mê vẻ đẹp thiên nhiên, đã yêu thích sự đơn sơ trong trắng của trẻ thơ. Ngài đã tỏ dấu yêu thương đối với Gioan và Lagiarô, Martha và Mađalêna… Ngài đã buồn, đã khóc. Ngài đã tức giận xua đuổi phường buôn bán ra khỏi đền thờ.
Sau cùng, Ngài đã bước vào đời sống xã hội. Ngài đã nói với người nghèo hèn cũng như kẻ quyền thế, kẻ tội lỗi cũng như người thiếu phụ ngoại tình, bọn Biệt phái giả hình cũng như con cáo già Hêrôđê. Ngài đã sống trong một gia đình cũng như đã sống giữa các môn đệ, Đức Kitô đã muốn là một người như chúng ta. Và đó là một chân lý nền tảng của Kitô giáo.
Thực vậy, Đức Kitô là một con người cụ thể, đã sống vào một thời đại nhất định, đã thuộc về một giai cấp nhất định. Từ đó chúng ta đi tới một kết luận, đó là việc thánh hóa con người không thể nào được thực hiện bên ngoài cuộc sống thường ngày.
Đúng thế, cuộc sống của người Kitô hữu không hệ tại việc đứng bên lề những thực tại trần thế như ăn uống, yêu thương, làm việc, cầu nguyện. Trái lại, chính những công việc tầm thường này đã dệt nên cuộc đời chúng ta. Bởi đó hãy bắt chước Đức Kitô làm những công việc của đời thường này một cách siêu nhiên, bởi vì Ngài đã đến để giúp chúng ta thánh hóa, biến những công việc đời thường này trở nên công nghiệp cho chúng ta.
Chúng ta phải luôn nhớ rằng: Đức Kitô không phải chỉ cứu chuộc chúng ta với tâm hồn của Ngài, mà còn với thân xác của Ngài nữa. Sở dĩ như vậy vì Ngài đã nối kết thân xác Ngài với bản tính Thiên Chúa. Nhờ đó, đã trở nên dụng cụ thực hiện chương trình yêu thương mà Ngài đã từng ươm mơ từ muôn ngàn thuở trước. Với những đau khổ, Ngài đã cứu chuộc chúng ta. Thân xác là như chiếc dây đàn, cho người nghệ sĩ tâm hồn gẩy lên bản tình ca chúc tụng Thiên Chúa.
Để thánh hóa, để đạt tới Nước Trời, chúng ta không cần phải chạy trốn những thực tại trần gian. Nếu một người nào đó hy sinh chỉ vì khinh bỉ thức ăn, vào rừng sống ẩn dật chỉ vì khinh bỉ anh em đồng loại, từ chối hôn nhân chỉ vì khinh bỉ đàn bà, khắc khổ chỉ vì khinh bỉ những niềm vui… thì người ấy đã phạm phải một sai lầm to lớn. Người ấy đã khinh bỉ chính những thụ tạo của Thiên Chúa. Người ấy tưởng mình tiến lại gần Thiên Chúa, nhưng thực sự, người ấy đã xa lìa Ngài.
Sở dĩ các thánh hãm mình, không phải vì khinh bỉ, nhưng vì được thúc đẩy đừng đánh giá quá cao những thực tại trần gian, biết chế ngự và dùng tinh thần vượt lên trên chúng. Thánh Phaolô đã diễn tả: Nơi Ngài, bản tính Thiên Chúa đã ở trong thân xác. Cũng vậy, chúng ta có thể nói về những Kitô hữu: đời sống của họ hệ tại thân xác, bởi vì những hành động của thân xác làm nên cuộc sống họ. Từ đó, chúng ta khám phá ra rằng: Thiên Chúa đã muốn sống bản tính Thiên Chúa một cách nhân loại, để chúng ta có thể sống bản tính nhân loại một cách Thiên Chúa. Hay như các thánh giáo phụ đã nói: Thiên Chúa đã bước xuống phận con người, để con người tiến lên ngôi Thiên Chúa. Ơn thánh chúng ta lãnh nhận ngày chịu phép Rửa tội, được phát triển nhờ các bí tích, sẽ làm cho những công việc đời thường có một giá trị siêu nhiên. Nỗi băn khoăn của chúng ta không phải là chạy trốn thế gian, mà là nhập cuộc, là dấn thân, là làm tất cả những công việc đời thường như Đức Kitô đã làm.
Với Mầu nhiệm Giáng sinh, bản tính Thiên Chúa đã kết hôn với bản tính nhân loại nơi Hài nhi Giêsu, nhờ đó mà Ngài cứu chuộc chúng ta, thì giờ đây, để đời thường của chúng ta có một giá trị, chúng ta hãy quy hướng mọi hành động của thân xác về với Đức Kitô như lời thánh Phaolô: Dù ăn, dù uống, dù làm bất cứ việc gì, anh em hãy làm vì Đức Kitô. Đó là một cách giúp chúng ta thánh hóa bản thân cũng như giúp chúng ta sống mầu nhiệm Giáng sinh giữa lòng cuộc đời.

 

GS-178: Bình an từ trời

Kể từ ngày nguyên tổ chúng ta nổi loạn chống lại Thiên Chúa, bóng tối u buồn của tuyệt vọng: GS-178

Kể từ ngày nguyên tổ chúng ta nổi loạn chống lại Thiên Chúa, bóng tối u buồn của tuyệt vọng ngày càng lan tràn trên mặt đất. Tuy nhiên, giữa cảnh bi thảm ấy, các tiên tri đã thoáng thấy niềm hy vọng về một Đấng Cứu Tinh sẽ xuất hiện, chỉ có Ngài mới có thể tái lập được vinh quang Thiên Chúa và đem lại hoà bình cho con người trên mặt đất này. Và giờ đây Ngài đã đến, hoà bình từ trời đã đến với chúng ta, Con Thiên Chúa đã đi vào thời gian và lịch sử nhân loại tội lỗi này. Ngài đã giáng sinh để đem lại cho nhân loại ơn tái sinh trong ơn thánh.
Chúng ta hãy đến gần máng cỏ với lòng hân hoan yêu mến. Hãy bước theo các mục đồng, các nhà đạo sĩ, và tất cả những ai có tâm hồn khiêm tốn nghèo khó. Đứng bên máng cỏ, chúng ta hãy nhận ra bài học mà Hài Nhi Giêsu muốn dạy chúng ta.
Con Thiên Chúa dấn thân sống kiếp lầm than để chỉ cho chúng ta con đường giải thoát. Được dựng nên trong sự giàu sang của kẻ làm con Thiên Chúa, lẽ ra con người được giàu có mọi mặt, nhưng khi đánh mất vinh quang Thiên Chúa, họ trở nên nghèo hèn, khốn khổ, và rồi từ đó họ trở thành đam mê, ích kỷ, tàn bạo, bóc lột nhau dưới mọi hình thức. Khi mang lấy thân phận làm người, Con Thiên Chúa cho thấy rằng hạnh phúc đích thực của con người không hệ tại giàu sang, quyền thế. Ngài cũng cho người nghèo khổ hiểu rằng họ là những người được Thiên Chúa đặc biệt yêu thương. Họ có thể giàu nếu họ muốn, bởi vì Thiên Chúa là của họ, và họ có thể gặp Ngài ngay trong chính cảnh nghèo của họ. Vì chính Ngài đã đến chia sẻ sự nghèo nàn lầm than của chúng ta.
“Ngài đã đến nơi nhà của Ngài, nhưng người nhà đã không đón nhận Ngài”. Còn những ai khiêm tốn đón nhận Ngài, thì Ngài ban cho họ có quyền làm con Thiên Chúa và làm anh em đích thực với nhau.
Chúa Kitô đã đến để giải thoát chúng ta, không phải bằng vũ lực, nhưng bằng tình thương. Còn gì an vui, hạnh phúc cho bằng tình yêu của một Thiên Chúa. Ngài yêu thương chúng ta và làm cho chúng ta yêu thương nhau. Tình yêu của Ngài thật hấp dẫn. Ai muốn hiểu tình yêu của Ngài hãy đến gần máng cỏ.

 

GS-179: Niềm vui của thuở ban đầu.

Một Hài Nhi đã sinh ra cho ta, một Người Con được ban tặng cho ta. Vương quyền đặt trên: GS-179

Một Hài Nhi đã sinh ra cho ta, một Người Con được ban tặng cho ta. Vương quyền đặt trên vai Ngài. Người ta gọi Ngài là Sứ Giả Thiên Chúa.
Phụng vụ Thánh lễ hôm nay muốn kéo chú ý của chúng ta về một Hài Nhi, về một Người Con mà Thiên Chúa ban tặng cho nhân loại.
Trong công trình sáng tạo, sau khi tạo dựng vũ trụ, Thiên Chúa đã dựng nên con người giống hình ảnh Ngài, cặp nam nữ đầu tiên của lịch sử nhân loại mang thiên chức làm con Thiên Chúa với sứ mệnh thống trị mọi loài. Nhưng bất hạnh thay, con người vì bất phục đã đánh mất vinh quang làm con và trở thành nô lệ. Và kể từ khi tội nhập vào thế gian, không những con người, mà cả vạn vật đều mong chờ ơn giải thoát qua trung gian một Người Con mà hôm nay Thiên Chúa đã ban cho chúng ta.
“Giêrusalem hỡi! Hãy vui mừng. Sion hỡi! Hãy vui lên, vì này sứ giả của Thiên Chúa đã đến đem bình an cho chúng ta”.
Hài Nhi mà Đức Maria sinh hạ tại Bêlem được vấn tã và đặt nằm trong máng cỏ đó chính là sứ giả hoà bình. Hình dáng bên ngoài có vẻ yếu hèn, nhưng Isaia đã thoáng thấy đó là Vua, là Thiên Chúa ở cùng chúng tôi. Ngài là dấu hiệu cho biết Thiên Chúa đã đến cứu dân Người. Nói khác đi, Ngài là quyền năng của Thiên Chúa cứu độ đem niềm vui đến cho muôn loài.
Hài Nhi ấy chính là Đấng được Thiên Chúa đặt làm thừa kế vạn vật, bởi vì ngay từ khởi nguyên, Ngài vốn đã là Lời Thiên Chúa, hằng ở cùng Thiên Chúa và là chính Thiên Chúa. Toàn thể công trình sáng tạo đều được tác thành nhờ Ngài và trong Ngài. Ngài là ánh sáng huy hoàng, là hình ảnh bản thể của Cha. Ngài là ánh sáng sự sống chiếu soi nhân loại chìm trong bóng tối tội lỗi. “Ngài đã thành xác phàm ở giữa chúng tôi. Chúng tôi đã nhìn thấy vinh quang của Ngài, vinh quang như của Con Một tự nơi Cha, tràn đầy ân sủng và chân lý”. Nếu vinh quang của Hài Nhi sinh ra tại Bêlem là vinh quang của Con Một Thiên Chúa, thì những ai đón nhận và tin vào Ngài, họ cũng được vinh dự làm con Thiên Chúa. Suy nghĩ về điều này, thánh Gioan đã viết trong thư của ngài: “Anh em hãy xem Thiên Chúa yêu thương chúng ta dường nào đến nỗi chúng ta được gọi là con Thiên Chúa, và thực sự là thế”. Chính Chúa Giêsu cũng đã tuyên bố: Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã thí ban Người Con Một, để những ai tin vào Ngài thì được sống đời đời.
Phải có con mắt của thánh Gioan, phải có con mắt của Chúa Giêsu, người ta mới nhìn thấy giá trị tuyệt hảo của món quà mà Thiên Chúa trao tặng cho nhân loại. Món quà đó trọng hơn sự sống của mọi sinh linh, trọng hơn cả công trình sáng tạo, vì là chính Con Thiên Chúa, Trưởng Tử của mọi loài thọ sinh và là Vua Vũ Trụ.
Con người tự mình chỉ có một giá trị rất tương đối, nhưng khi được liên kết với Đức Kitô, con người bỗng nhiên trở thành giá trị tuyệt đối.
“Toàn thể trái đất đã nhìn thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa. Hãy hát lên bài ca mới mừng Chúa, vì Ngài đã làm những việc kỳ diệu. Alleluia, Alleluia”. Ngày thánh đã dọi chiếu trên chúng ta. Hỡi các dân, hãy đến thờ lạy Chúa, vì hôm nay, ánh sáng chan hoà đã toả chiếu trên địa cầu, đó là ánh sáng của Con Một Thiên Chúa, để tất cả chúng ta được nhìn thấy và trở nên con Thiên Chúa.
Thiên Chúa đã ban Con của Người cho chúng ta, để từ nay chúng ta có thể trực tiếp đối thoại với Người. Nhờ Chúa Kitô, từ nay chúng ta không còn sống trong sợ hãi nữa, nhưng sống như những người con và có quyền gọi Thiên Chúa là Cha. Chúa Kitô là ân sủng cao quý đã được ban cho chúng ta, dạy chúng ta biết từ bỏ tội lỗi và những ham muốn trần tục để sống đạo hạnh trong khi chờ đến ngày Chúa Kitô sẽ đến trong vinh quang.
Chúa Kitô đã được ban cho chúng ta để nhờ cuộc sống và giáo huấn của Ngài, chúng ta biết phải sống thế nào cho xứng với địa vị con cái Thiên Chúa. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải dũ bỏ cuộc sống ích kỷ và tham gia vào mầu nhiệm Thập giá, luôn tìm đẹp lòng Thiên Chúa, để có thể thưa với Chúa như Chúa Kitô trước khi từ giã cõi đời: “Lạy Cha, con đã hoàn tất công việc Cha trao phó, con đã làm vinh danh Cha trên mặt đất, giờ đây, xin Cha tôn vinh con nơi Cha”.
Phụng vụ Giáng sinh giúp củng cố tinh thần nghĩa tử Thiên Chúa trong chúng ta, thúc đẩy chúng ta ngước nhìn lên ánh sáng cứu độ đã chiếu rạng và mỗi ngày trở nên giống Người Con mà Thiên Chúa đã trao ban cho chúng ta. Người Con ấy giờ đây muốn kết hợp mật thiết với chúng ta hơn trong Thánh Thể. Chúng ta hãy tiếp nhận Người với tất cả lòng yêu mến, biết ơn, nhờ đó, mỗi ngày chúng ta trở nên đẹp lòng Thiên Chúa hơn.

 

GS-180: Đêm Thánh – Karl Rahner

Vì sao gọi lễ cử hành hôm nay là “Đêm Thánh”? Nói cho ngay, về lịch sử, ta không có cơ: GS-180

Vì sao gọi lễ cử hành hôm nay là “Đêm Thánh”? Nói cho ngay, về lịch sử, ta không có cơ sở nào để khẳng định rằng Hài Nhi Giêsu đã chào đời vào ban đêm. Đành rằng chúng ta có bản trình thuật kể chuyện các mục đồng canh giữ súc vật trong đêm tối và họ nghe sứ điệp từ trời báo tin về cuộc sinh hạ của Đấng Cứu Thế, nhưng tự nó, bản trình thuật ấy cũng không phải là bằng chứng cho phép ta kết luận rằng Đức Giêsu đã sinh ra vào ban đêm. Thế nhưng, truyền thống Kitô giáo vẫn luôn cho rằng cuộc chào đời hồng phúc này của Đấng Cứu Thế đã diễn ra trong một đêm tối. Người Đức thậm chí hội nhập niềm xác tín ấy vào chín tên gọi của lễ mừng: Weih-nacht (Đêm Thánh). Vì sao?
Đêm tối, đối với con người, vẫn có hai khía cạnh. Nó mang một ý nghĩa kép, một ý nghĩa “hàm hồ”- cũng như hầu hết mọi yếu tố khác trong cuộc đời này. Đêm tối gợi lên một cái gì thâm u, huyền bí, là thời gian mà không ai có thể làm việc- như Đức Giêsu nói đến trong Thánh Kinh. Đêm tối được cảm nhận gần như là sự chết. Đêm tối là bất định, bất quyết và hiểm nguy. Đêm tối là trùng khơi mịt mù. Vì thế, trong cảnh vực tôn giáo, đêm tối mang đầy ý nghĩa biểu tượng. Trong Thánh Kinh, đêm tối tượng trưng cho thời gian bất tín và tội lỗi, thời gian Chúa đến thăm và phán xét. Vì thế, Kitô hữu phải là con cái của ban ngày, họ phải chiếu sáng như những vì sao trong bóng đêm – để không bị bất ngờ bởi vị thẩm phán đến thình lình như kẻ trộm giữa đêm khuya. Chúng ta phải tỉnh thức, chúng ta không được ngủ say, chúng ta phải trỗi dậy và bước đi như thể đang bước đi giữa ánh sáng ban ngày.
Nhưng trong cảm nhận của con người, cũng được hàm chứa trong Thánh Kinh, đêm tối còn có một khía cạnh khác nữa. Đêm tối là lúc thinh lặng và rút lấy sức mạnh. Đó là lúc chỉ còn mình với mình, sẵn sàng đợi chờ và cho phép mọi sự triển nở, lớn lên. Chính vào lúc nửa đêm mà người ta nghe tiếng kêu: “Kìa chàng rể đến!”. Đêm tối trong Thánh Kinh còn là thời gian của những giấc mơ hướng vọng trời cao. Đêm tối là thời gian thoát ly khỏi những ràng buộc của nhịp sống ban ngày, nên đó là thời gian cầu nguyện – vì thế, Đức Giêsu đã trải qua những đêm trắng cầu nguyện cùng Cha. Đêm tối được nhìn nhận như công trình của Thiên Chúa – và tác giả Thánh vịnh có thể thốt lên: “Ngày là của Chúa, đêm cũng là của Chúa…” (Tv 74,16). Daniel (3,71) kêu gọi đến bóng đêm chúc tụng Thiên Chúa – và theo tác giả Thánh vịnh, “đêm này kể lại với đêm kia” sứ điệp về vinh quang Thiên Chúa (19,3), cũng như trời xanh mênh mông nhắc cho ta về sự vĩ đại của Ngài.
Tại sao chúng ta có thể cảm nhận về đêm tối theo những chiều hướng khác nhau như thế? Chúng ta kinh nghiệm đêm tối như một sự bắt đầu, như một cái gì đó vẫn còn bất định, nhưng cái đến sau đêm tối thì hết sức rõ ràng: đó là một bình minh rực rỡ! Tuy nhiên, sự bắt đầu và những khả năng ẩn chứa trong sự bắt đầu ấy thường rất bấp bênh – như một lời hứa nghe thật hay nhưng chưa được thực hiện, như một triển vọng to lớn nhưng chưa hiện thực, như một kế hoạch tuyệt vời nhưng chưa được triển khai… Tất cả đều còn đó ý nghĩa hàm hồ: vừa đầy hứa hẹn lại vừa đầy đe doạ, dự phóng sẵn đó rồi mà mục tiêu còn quá xa xôi và không chắc sẽ có ngày hoàn tất…
… Nhưng nếu có một đêm tối mà cái khởi điểm vô định lại mang sẵn trong mình nó sự chắc chắn hoàn thành, nếu có một đêm tối mang sẵn trong mình nó mối bảo đảm khải thắng, nếu có một đêm tối mở ra lời hứa song đồng thời cũng là lời hứa được lấp đầy … thì đêm ấy hẳn phải là Đêm Thánh. Đêm! Vì chỉ mới khởi đầu thôi. Đêm Thánh! Vì đây là một khởi đầu hồng phúc và tất thắng. Với một đêm như thế, chúng ta phải thốt lên: Ôi, Đêm Thiêng! Đêm Thánh! Như bài ca nào đó đã trở thành bất hủ: “Đêm Thánh vô cùng. Giây phút tưng bừng…”.
Không phải tình cờ mà vào thế kỷ thứ tư, lễ này được đặt vào đúng thời điểm mà thiên nhiên – cách riêng mặt trời – bắt đầu lại chu kỳ của nó. Thời ấy, người ta gán sự bắt đầu của “Mặt Trời Công Chính” (danh hiệu của Đấng Cứu Độ chúng ta theo sấm ngôn) cho ngày natalis solis invicti của dân ngoại, tức lễ mừng sinh nhật “thần mặt trời bất khuất”.
Một gán ghép vô cùng chính xác! Vì đây là phút giờ thánh thiêng. Đức tin cho các Kitô hữu biết rằng: Đây là sự khởi đầu. Thiên Chúa, từ ánh sáng chói lọi ‘khủng khiếp’ của Ngài, đã đến với chúng ta – thật lặng lẽ, thật êm dịu. Ngài đó, Thiên Chúa đó, đã âm thầm bước vào cõi dương trần khốn khổ của chúng ta. Ngài đã làm người, và Ngài bắt đầu một kiếp người y như chúng ta: rất bé nhỏ, rất mong manh, yếu ớt, bất lực. Ngài là tương lai vô cùng thăm thẳm mà chúng ta không bao giờ có thể tự mình vươn tới được – bởi vì, trên con đường gập ghềnh của cuộc sống mình, ta càng sấn đến, chân trời ấy càng lùi xa. Nhưng chính Ngài đã đến với ta, đã đến ở giữa ta – vì nếu chẳng vậy, ta sẽ không bao giờ có thể đến được với Ngài.
Ngài đồng hành với chúng ta trên con đường chúng ta đi về với Ngài – nhờ đó, con đường chúng ta đi chắc chắn có một đích điểm hồng phúc. Kỳ thực, đích điểm ấy đã hoá nên khởi điểm của chúng ta rồi. Thiên Chúa đã ở bên ta. Lời ân phúc vĩnh cửu của Ngài đã ở giữa chúng ta. Lời ấy gieo bước hành trình với ta, cảm nghiệm niềm vui nỗi buồn của ta, sống cuộc sống và chết cái chết của ta. Ngài đã cứu chuộc ta, bằng con đường san sẻ chính số phận của ta. Ngài lấy khởi điểm của ta làm khởi điểm của Ngài. Ngài bước đi trên con đường định mệnh của ta và – qua đó – mở định mệnh ấy ra tới tầm vô hạn của Thiên Chúa. Và bởi vì Ngài dứt khoát chấp nhận chúng ta, bởi vì Ngôi Lời Thiên Chúa sẽ không bao giờ ngừng là người, nên khởi điểm này – của ta và của Ngài – là khởi điểm của những lời hứa không thể xóa nhoà, và sự bắt đầu lặng lẽ của Ngài trong đêm tối ấy đã làm cho nó trở thành Đêm Thánh Thiêng!
Cử hành Giáng Sinh là cử hành mầu nhiệm Đêm Thánh ấy. Con tim chúng ta phải lắng đọng, thanh thoát, và phải mở rộng ra như quả tim của một trẻ thơ chưa hề biết khép lại trước bất cứ khả tính nào của hiện hữu mình, nhưng hoàn toàn sẵn sàng đón nhận tất cả…

Chúng ta phải dám ôm lấy sự yên lặng thâm u này vào tận đáy hồn mình bằng cách không chạy trốn vào công việc làm ăn, vào những cuộc chè chén hay những câu chuyện gẫu lê thê mà ta dùng để tránh né chính mình và tránh né mầu nhiệm phủ xuống trên mình (bởi vì – do lạ lẫm – chúng ta đâm ra hoảng sợ trước mầu nhiệm của tình yêu vô hạn ấy). Đêm Thánh là đêm mà cả cuộc sống của chúng ta cũng trở thành thánh thiêng; chúng ta không được phép xúc phạm đến Đêm Thánh bằng những cuộc vui quá đỗi trần tục. Tính cách chân tình, giản dị, hồn nhiên – vốn hoàn toàn phù hợp với Lễ này – cũng phải giữ cho được sự trong suốt trước mầu nhiệm khôn tả, mầu nhiệm làm cho người ta thân tình sâu xa với nhau và trao cho họ lời hứa xuân xanh mãi mãi.
Lễ Giáng Sinh phải được cử hành như nó đáng được cử hành, nếu không, nó sẽ tha hoá thành một lễ hội thuần tuý trần tục. Trong thinh lặng của Đêm Thánh cô tịch này và trong lòng dạt dào cảm mến, chúng ta chấp nhận rút vào trong đáy lòng mình tất cả những con người, những sự vật, những loay hoay căng thẳng vốn thường dễ che khuất không cho ta nhìn cái vô cùng – chỉ khi ấy chúng ta mới có thể cử hành Lễ Giáng Sinh đúng nghĩa. Đôi khi, ít nhất là trong một khoảnh khắc ngắn ngủi nào đó, người ta dập tắt những ánh sáng trần tục vốn che khuất không cho phép mình nhìn thấy sao trời, và người ta đặt mình trước sự hiện diện kỳ diệu khôn tả của Thiên Chúa, sự hiện diện “lên lời” bằng chính cái thinh lặng của nó, và ta chỉ có thể ‘nghe’ được nếu biết lắng nghe. Chúng ta hãy cảm nhận như khi một mình bước đi dưới bầu trời đêm đông đầy sao; Chúng ta vẫn nghe bịn rịn nhớ nhung hơi ấm của người thân và của tất cả những gì quen thuộc dưới mái nhà mình, nhưng phía trên đầu chúng ta là bầu trời, và trong sự yên ắng ấy của màn đêm (sự yên ắng mà vào những lúc khác có thể làm cho chúng ta kinh sợ), chúng ta bắt gặp sự hiện diện lặng lẽ của mầu nhiệm vô cùng: mầu nhiệm hiện hữu của mình, mầu nhiệm vừa đầy ắp tình yêu cứu độ vừa lớn lao khôn dò.
Giáng Sinh là Đêm Thánh! Cái tương lai vô cùng đã đi vào trong thời gian của chúng ta rồi. Ánh sáng chói loà của nó vẫn còn tràn ngập chúng ta. Và ta nghĩ chắc hẳn Chúa đã ra đời vào một đêm tối! Dù gì đi nữa thì đó cũng là đêm, một đêm hồng phúc, một đêm ngập tràn hơi ấm và ánh sáng, một đêm rất tuyệt diệu và rất thực – bởi không gì chắc chắn bằng ngày vĩnh cửu mà đêm này cưu mang trong mình nó. Tuy nhiên, đêm này chỉ là Đêm Thanh, Đêm Thánh cho chúng ta nếu chúng ta đón nhận sự yên lặng thánh của đêm này vào trong trái tim mình, nếu trái tim chúng ta thức tỉnh.
Sự yên lặng và cô tịch ấy nào quá gay go! Cái khó, nếu có, là cái khó chung của mọi điều cao cả: nó vừa thật đơn giản vừa rất lớn lao! Không khó, vì dĩ nhiên cái cô tịch vốn nằm sẵn trong ta. Trong trái tim ta vốn có một vùng sâu kín của riêng mình, một vùng mà không ai có thể dò dẫm tới ngoại trừ Thiên Chúa. Nơi sâu thẳm ấy thực có đó. Vấn đề là chúng ta ngu ngơ sợ hãi và tránh né nó – ta sợ, vì không ai và không gì quen thuộc trên đời này có thể đi theo mình nếu mình bước chân vào vùng đất ấy! Nào, đừng sợ nữa, hãy lặng lẽ bước vào và đóng cửa lại phía sau mình. Hãy lắng nghe giai điệu vô ngôn vang lên trong yên ắng của màn đêm cô tịch.
Ở đó, linh hồn ta tấu lên với Thiên Chúa khúc ca trầm lắng nhất và nồng nàn nhất. Và ta tin chắc rằng Ngài đang nghe mình rất rõ. Vì khúc ca ấy không còn phải kiếm tìm đến một Thiên Chúa trên trùng khơi thăm thẳm chẳng thể nào dò tới được. Chúa đã giáng sinh rồi, Ngôi Lời đã trở thành xác phàm, nên Ngài đang ở ngay đây – và lời nói thầm thì nhất trong đáy lòng ta, lời nói tỏ tình, sẽ được Ngài lắng nghe rất rõ. Và những ai đã bước vào trong cõi cô tịch của lòng mình như thế, ngay cả dù tối tăm thăm thẳm, nhất định sẽ nghe được tiếng thầm thì yêu thương của Ngài. Nào, đừng sợ đêm tối nữa, và hãy lắng hồn xuống. Nếu không, chúng ta sẽ chẳng nghe gì. Vì tiếng nói cuối cùng chỉ cất lên trong sự yên lặng của đêm tối – đêm tối đời ta – qua sự xuất hiện hồng phúc của Ngôi Lời. Ngài đã đến rồi đây.
Đêm Thánh vô cùng…
Giây phút tưng bừng…

 

GS-181: Nghèo

Nhìn vào cảnh đơn sơ, tiều tụy của hang đá, tôi muốn chia sẻ một vài ý nghĩ đơn sơ về sự nghèo: GS-181

Nhìn vào cảnh đơn sơ, tiều tụy của hang đá, tôi muốn chia sẻ một vài ý nghĩ đơn sơ về sự nghèo khó.
Sống trong cuộc đời, nỗi bận tâm day dứt nhất của nhiều người, đó là kiếm tiền. Chúng ta tính toán, chúng ta đôn đáo chạy ngược, chạy xuôi, chúng ta sẵn sàng chịu đựng mọi vất vả miễn sao tìm cho được nhiều tiền lắm bạc. Nào là những giọt mồ hôi đổ xuống trên ruộng đồng cho cây lúa kết trái. Nào là những thùng nước đè nặng đôi vai gầy, tưới cho thửa hoa mầu được xanh tươi. Nào là những tiếng máy nổ chát chúa trong bầu khí nóng bức của xưởng thợ…Chúng ta vui vẻ chấp nhận để tìm kiếm những đồng tiền mà dường như mỗi lúc một trở nên khan hiếm.
Sở dĩ như vậy là vì ai cũng hiểu rõ những giá trị của đồng tiền. Phải, tiền bạc sẽ thỏa mãn những nhu cầu cần thiết :
- Có tiền mua tiên cũng được.
Tiền bạc tạo nên công lý :
- Nén bạc đâm toạc tờ giấy.
- Miệng nhà giàu có gang có thép.
Tiền bạc làm ra tình nghĩa :
- Thấy người sang bắt quàng làm họ.
- Bần cư chung thị vô nhân vấn, phú tại sơn lâm hữu khách tầm. Nghèo mà ở giữa chợ cũng chẳng ai hỏi. Còn giầu mà ở tận rừng núi cũng vẫn có người tìm đến.
Chính vì thế, chúng ta thường cầu chúc cho nhau tiền rừng bạc biển, đồng thời nai lưng ra để thực hiện cả ước vọng làm giầu. Cho dù đồng tiền có thế nào chăng nữa, thì chúng ta cũng vẫn cứ chất cho đầy túi :
- Hôi tanh chẳng thú vị gì,
  Thế mà cũng lắm kẻ vì người yêu.
Hay như người ta thường nói :
- Tiền là tiên là phật, là sức bật của tuổi già, là cái đà của danh vọng, là cái lọng để che thân, là cán cân của công lý.
Trái lại, nghèo túng quả là một tai họa cần phải lẩn tránh, là một cái gì đáng nguyền rủa. Tối hôm qua, tôi đứng nói chuyện với một anh bạn trẻ, tôi hỏi :
- Thế nào, sắp sửa vợ con gì chưa ? Bao giờ thì cho thiên hạ ăn cỗ đấy ?
Anh mỉm cười trả lời :
- Nghèo rớt mùng tơi như con thì ai thèm mà lấy.
Mặc dù tôi biết đó chỉ là một câu nói vui, nhưng cũng phản ảnh được phần nào sự thật.
Trước hết, nghèo túng dễ làm cho người ta tạm quên cái nhân phẩm, để rồi chỉ biết giải quyết cho cái bao tử mà thôi, như tục ngữ đã bảo :
- Có thực mới vực được đạo.
- Bần cùng sinh đạo tặc.
- Đói ăn vụng, túng làm càn.
Nghèo túng còn giết chết những mộng ước cuộc đời và gieo vào tâm hồn chúng ta nỗi mặc cảm tự ti và thua sút. Vì căn nhà xiêu vẹo, chúng ta ngại không dám mời bạn bè tới chơi. Vì không có tiền, con em chúng ta đành phải bỏ dở việc học hành, cái khó bó cái khôn là vậy.
Và sau cùng, sự nghèo túng còn hủy diệt tình yêu, phá đổ hạnh phúc. Tôi có quen một gia đình. Thời gian đầu, ông chồng đi làm. Lương tháng hậu hĩnh. Bà vợ tươi cười và bầu khí trong gia đình rất thuận hòa và đầm ấm. Nhưng rồi sau đó, ông chồng bị thất nghiệp. Tiền bạc cạn dần. Từ đó, những xào xáo, cãi vã xảy ra cũng chỉ vì chuyện thiếu hụt tiền bạc. Ấy là chúng ta chưa nói đến những hoàn cảnh vì đồng tiền mà vợ chồng phải rã gánh, anh đường anh, tôi đi đường tôi, còn con cái thì lâm vào cảnh nheo nhóc.
Ngay như bè bạn cũng vậy. Tiền bạc nhiều khi đã trở nên cái thước để đo tình nghĩa:
- Khi vui thì vỗ tay vào,
  Đến khi hoạn nạn thì nào thấy ai.
Đức cha Bùi Tuần đã viết :
- Nghèo đói sinh ra lo buồn. Lo buồn này kéo theo lo buồn khác, như một chiếc móc xích của một sợi dây dài, xiết chặt vào cuộc đời chúng ta. Nghèo đói như là một ngõ cụt, không một ai muốn bước chân vào đó, mà nếu có trót dại, có lầm lỡ bước vào thì rồi cũng cố thoát cho ra…
Thế mà nhìn vào hang đá Bêlem, chúng ta lại thấy Chúa đã chọn cảnh nghèo đói, đã mang thân phận của một kẻ túng thiếu. Bộ Chúa không biết hay sao : nghèo túng vừa vất vả nhọc nhằn, vừa đắng cay chua xót, vừa bị khinh miệt coi thường, vừa bị thiệt thòi đủ thứ. Vậy thì tại sao Chúa lại chọn cảnh nghèo túng như thế ? Tại sao Chúa lại dại như vậy ?
Nếu suy nghĩ, chúng ta sẽ thấy rằng :
- Chỉ có Chúa là Đấng thánh thiện, là Đấng khôn ngoan, là Đấng yêu thương vô cùng mới dám dại như vậy. Việc Chúa chọn thân phận nghèo hèn, chính là một niềm an ủi lớn lao cho chúng ta.
Trước hết, với cuộc sống nghèo hèn, Chúa đã tích cực chia sẻ cuộc đời túng thiếu của chúng ta, bằng cách sống với người nghèo, sống trong cảnh nghèo, sống như người nghèo và sống cho người nghèo. Nhìn vào hang đá Bêlem, chúng ta nhận ra : Chúa còn nghèo hơn cả chúng ta, nhưng nhờ đó, chúng ta cảm thấy Chúa thật gần gũi với chúng ta, như một người bạn, như một người thân. Và chúng ta sẽ không còn cô đơn, sẽ không còn buồn tủi.
Hơn nữa, qua máng cỏ Bêlem, Chúa còn dạy cho chúng ta biết giá trị cao quý của đau khổ.
Thực vậy, nếu Chúa đã dùng đau khổ để cứu chuộc nhân loại, thì chúng ta cũng không thể đi con đường nào khác, ngoài con đường khổ đau. Cuộc đời chúng ta sẽ không thiếu vắng đau khổ, chỉ cần chúng ta biết chấp nhận, biết chịu đựng những đau khổ ấy với tâm tình mến Chúa. Và tình mến sẽ là như một cây đũa thần, biến những đau khổ tầm thường nhất trở thành những sợi chỉ vàng dệt nên tấm vải cuộc đời chúng ta, làm cho cuộc đời ấy có một giá trị to lớn trước mặt Chúa. Và như thế, những khổ đau nhỏ bé nhất cũng sẽ trở thành con đường dẫn chúng ta vào cõi sống vĩnh hằng.
Nghèo túng không thể nào kéo dài hơn cuộc sống trần gian. Nó chỉ là tạm thời, rồi sẽ qua đi. Nó không còn là nơi bất hạnh, nếu chúng ta biến nó thành phương tiện để làm giầu về phương diện thiêng liêng, nếu chúng ta xử dụng nó như chiếc chìa khóa để mở cửa thiên đàng. Và đó cũng chính là bài học mà Hài Nhi Giêsu nơi máng cỏ Bêlem đem lại cho chúng ta.

 

GS-182: BÀI GIẢNG THÁNH LỄ NỬA ĐÊM GIÁNG SINH

CỦA ĐỨC THÁNH CHA
Anh chị em thân mến,
 

Chúng ta vừa nghe trong Phúc Âm sứ điệp các thiên thần loan báo cho những mục đồng trong GS-182

Chúng ta vừa nghe trong Phúc Âm sứ điệp các thiên thần loan báo cho những mục đồng trong Đêm Thánh, một sứđiệp mà giờ đây Giáo Hội lớn tiếng công bố với chúng ta: “Một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa-vít, Người là Đấng Ki-tô Đức Chúa. Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người: anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ." ( Lc 2, 11 – 12 ). Chẳng có gì kỳ diệu, không có gì ngoại thường, không có gì huy hoàng được trưng dẫn như một dấu chỉ cho những mục đồng. Tất cả những gì họ thấy chỉ là một hài nhi bọc tã, một hài nhi như bao hài nhi khác, cần sự chăm sóc của người mẹ; một hài nhi sinh ra trong chuồng vật, và như thế,không nằm trong nôi nhưng là trong máng cỏ.
Dấu chỉ của Thiên Chúa là một hài nhi cần sự trợ giúp và đang sống trong nghèo khó. Chỉ bằng con tim những mục đồng mới có thể thấy nơi hài nhi này sự viên mãn lời hứa của Ngôn Sứ I-sai-a mà chúng ta đã nghe trong bài đọc một: “Một trẻ thơ đã chào đời để cứu ta, một người con đã được ban tặng cho ta. Người gánh vác quyền bính trên vai” ( Is 9, 5 ). Chúng ta cũng chỉ nhận được cùng một dấu chỉ hệt như vậy. Sứ thần của Thiên Chúa, qua sứ điệp Phúc Âm, cũng mời gọi chúng ta cất bước lên đường trong nội tâm để thấy hàinhi nằm trong máng cỏ.
Dấu chỉ của Thiên Chúa là sự đơn sơ. Dấu chỉ của Thiên Chúa là hài nhi. Dấu chỉ của Thiên Chúa là Ngài trở nên bé nhỏ vì chúng ta. Đó là cách Ngài trị vì. Ngài không đến với quyền lực và một bề ngoài xa hoa. Ngài đến như một hài nhi – vô phương tự vệ và cần sự giúp đỡ của chúng ta. Ngài không muốn choáng ngợp chúng ta với sức mạnh của Ngài. Ngài xua đi sự khiếp sợ của ta trước sự oai hùng của Ngài. Ngài xin chúng ta tình yêu: vì thế Ngài đã hóa chính mình thành nhỏ bé. Ngài không muốn điều gì khác nơi ta ngoại trừ tình yêu, qua đó chúng ta tự phát học biết cách tiếp cận với cảm giác, tư duy và ý chí của Ngài – chúng ta học biết sống với Ngài và thực hành với Ngài sự khiêm hạ từ bỏ mình là điều tinh túy nhất của tình yêu. Ngài đã hóa thành nhỏ bé để chúng ta có thể hiểu Ngài, chào đón Ngài, và yêu thương Ngài.
Các Giáo Phụ trong Giáo Hội đã tìm thấy trong bản dịch Cựu Ước bằng tiếng Hy Lạp một đoạn từ Ngôn Sứ I-sai-a mà Thánh Phao-lô cũng đã trích dẫn để cho thấy những đường lối mới của Thiên Chúa đã được tiên báo trong Cựu Ước như thế nào. Những lời đó như thế này: “Dio ha reso breve la sua Parola, l'ha abbreviata" ( “Thiên Chúa làm cho Lời Ngài ngắn gọn, Ngài vắn tắt đi” ) ( Is 10, 23; Rm 9 ).
Các Giáo Phụ diễn dịch câu này bằng hai cách. Ngôi Con chính là Lời, Logos, Lời hằng sống trở nên nhỏ bé – nhỏ đến mức có thể đặt trong hang đá. Ngài trở nên một hài nhi, để chúng ta có thể nắm bắt Lời. Qua đó, Ngài dạy chúng ta yêu thương những trẻ nhỏ. Qua đó, Ngài dạy chúng ta yêu thương những kẻ yếu thế. Qua đó, Ngài dạy chúng ta trân trọng trẻ em. Hài nhi Bê-lem hướng ánh mắt chúng ta đến tất cả những trẻ em đang chịu đau khổ và lạm dụng trên thế giới này, những trẻ đã sinh ra và những thai nhi chưa chào đời; hướng chúng ta đến những trẻ em bị xung vào quân đội trong một thế giới bạo lực; hướng chúng ta đến những trẻ em phải đi ăn xin; hướng chúng ta đến những trẻ em phải đau khổ vì bị tước đoạt và đói khát; hướng chúng ta đến những trẻ em không được yêu thương.
Trong tất cả trẻ em này là Hài Nhi Bê-lem Đấng đang chất vấn chúng ta; Thiên Chúa Đấng đã trở nên nhỏ bé đang chất vấn chúng ta. Chúng ta hãy cầu nguyện trong đêm nay để sự sáng láng của Tình Yêu Thiên Chúa bao bọc tất cả những trẻ em này. Chúng ta hãy xin Thiên Chúa giúp chúng ta thực hiện phần mình để phẩm giá của các trẻ em được tôn trọng. Cầu xin cho tất cả trẻ em đều cảm nhận được ánh sáng của Tình Yêu, điều mà nhân loại cần hơn tất cả những thứ vật chất thiết yếu cho cuộc sống.
Đến đây chúng ta bước sang nghĩa thứ hai các Giáo Phụ đã thấy trong câu này: “Thiên Chúa làm cho Lời Ngài ngắn gọn”. Lời Thiên Chúa phán cùng chúng ta trong Thánh Kinh đã trên nên dài dòng theo thời gian. Lời Ngài đã trở nên dài dòng và phức tạp không chỉ đối với những người chất phác và mù chữ, nhưng ngay cả đối với những nhà uyên bác về Thánh Kinh, những chuyên gia, những người lục soát hết mọi chi tiết nhưng trong nhiều trường hợp đánh mất đi cái nhìn tổng thể. Chúa Giê-su “tóm gọn” Lời – Ngài chỉ cho chúng ta lần nữa sự đơn sơ thâm thúy và thống nhất của Lời. Mọi thứ đã được dạy bởi Lề Luật và các Ngôn Sứ được tổng kết – như Ngài nói – trong điều răn này: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi... ngươi phải yêu tha nhân như chính mình." ( Mt 22, 37 – 40 ).
Đó là mọi thứ – toàn thể Đức Tin chứa đựng trong một hành vi yêu thương bao gồm cả Thiên Chúa và nhân loại. Tuy nhiên, một câu hỏi nữa nảy sinh: Làm sao chúng ta có thể yêu mến Thiên Chúa hết lòng, khi tri thức ta không thể vươn tới Ngài ? Làm sao chúng ta có thể yêu mến Thiên Chúa hết linh hồn và hết trí khôn khi chúng ta chỉ có thể thoáng thấy Ngài xa xăm, khi có quá nhiều những mâu thuẫn che đi thiên nhan Ngài ? Đây chính là chỗ hội tụ của hai cách thế trong đó Thiên Chúa “vắn tắt” Lời Ngài. Ngài không còn xa vời nữa. Ngài không còn bí ẩn. Ngài không còn vượt quá tầm với con tim ta. Ngài đã trở thành một hài nhi cho chúng ta, và qua đó Ngài xua tan tất cả mọi hoài nghi. Ngài trở thành người láng giềng của chúng ta, qua đó phục hồi lại hình ảnh của con người, mà thường khi chúng ta thấy khó mà yêu nổi.
Vì ta, Thiên Chúa trở nên một quà tặng. Ngài trao đi chính Ngài. Ngài đã bước vào thời gian của chúng ta. Ngài, Đấng Muôn Đời, vượt trên thời gian, đã chấp nhận thời gian của chúng ta và nâng nó lên cao với Ngài. Lễ Giáng Sinh đã trở thành Ngày Lễ trao quà bắt chước Thiên Chúa, Đấng đã trao ban chính Ngài cho chúng ta. Chúng ta hãy để lòng ta, hồn ta và trí ta được rung động bởi sự kiện này ! Trong nhiều thứ quà mà chúng ta mua và nhận, đừng quên món quà thật sự: trao cho nhau điều gì đó thuộc chính mình, trao cho nhau thời gian, và mở rộng thời gian ra cho Thiên Chúa. Qua đó âu lo tan biến, niềm vui nảy sinh, và lễ hội được hình thành.
Trong những bữa ăn trong những ngày này, chúng ta hãy nhớ đến những lời Chúa phán: “Khi nào anh em đãi khách ăn trưa hay ăn tối, thì đừng mời bạn bè, anh em, hay bà con, hoặc láng giềng giàu có, những người có thể mời lại anh em; nhưng hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù, những người không có gì để đáp lễ" ( Lc 14, 12 – 14 ). Điều này có nghĩa là khi anh em trao quà Giáng Sinh, đừng chỉ cho quà những ai có thể đáp lễ, nhưng hãy cho những ai không nhận được của người nào và không có gì để trao lại. Đó là điều mà Thiên Chúa đã làm: Ngài mời chúng ta đến tiệc cưới của Ngài, một điều chúng ta không thể báo đáp, nhưng chỉ có thể nhận lãnh trong hân hoan. Chúng ta hãy bắt chước Ngài ! Chúng ta hãy yêu mến Thiên Chúa và từ Ngài, chúng ta hãy yêu người, để rồi từ con người chúng ta lại tái khám phá Thiên Chúa trong một cách thế mới !
Và để rồi, cuối cùng, chúng ta thấy một ý nghĩa thứ ba trong câu nói rằng Lời đã trở nên “ngắn gọn” và “nhỏ bé”. Các mục đồng đã được bảo rằng họ sẽ thấy hài nhi trong máng cỏ dành cho những con vật, là những cư dân chính đáng trong chuồng này. Khi đọc I-sai-a ( 1, 3 ), các Giáo Phụ kết luận rằng bên cạnh máng cỏ Bê-lem, có một con bò và một con lừa. Đồng thời các Giáo Phụ diễn dịch đoạn văn như biểu tượng cho dân Do Thái và dân ngoại – và như thế là toàn thể nhân loại – những người trong đường lối riêng của mình đều cần một Đấng Cứu Độ: Thiên Chúa Đấng đã trở nên một hài nhi.
Con người để sống được thì phải cần đến bánh, hoa quả của trái đất và của sức lao động của mình. Nhưng con người không sống chỉ nguyên bởi bánh. Con người cần đến dưỡng chất nuôi linh hồn: con người cần đến ý nghĩa có thể làm trọn vẹn cuộc đời mình. Vìthế, đối với các Giáo Phụ, máng cỏ trở nên biểu tượng của bàn thờ, trên đó có Bánh là chính Đức Ki-tô: lương thực thật sự cho linh hồn chúng ta. Lần nữa chúng ta lại thấy cách thế Ngài trở nên bé nhỏ: trong hình dạng khiêm nhường của hình bánh, trong một miếng bánh nhỏ bé, Ngài trao ban chính Ngài cho chúng ta.
Tất cả được chuyển tải bởi chỉ dấu đã được tỏ cho các mục đồng và cho cả chúng ta: hài nhi đã sinh ra cho chúng ta, hài nhi trong đó Thiên Chúa hóa thành nhỏ bé vì chúng ta. Chúng ta hãy xin Chúa ban cho chúng ta hồng ân nhìn thấy nơi máng cỏ đêm nay với sự đơn sơ của các mục đồng, để chúng ta nhận được niềm vui là niềm hân hoan đã theo các mục đồng về nhà ( x. Lc 2, 20 ). Chúng ta hãy xin Ngài lòng khiêm nhường và Đức Tin mà nhờ đó Thánh Giu-se đã chiêm ngắm hài nhi được Mẹ Ma-ri-a thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần. Chúng ta hãy xin Ngài cho chúng ta chiêm ngắm Ngài với ánh mắt của Mẹ Ma-ri-a. Và chúng ta hãy cầu nguyện là qua đó ánh sáng mà các mục đồng nhìn thấy sẽ chiếu tỏa cả trên chúng ta; và điều mà các thiên thần hát trong đêm đó sẽ được thực hiện trên toàn thế giới: “Vinh danh Thiên Chúa trên Trời, và bình an dưới thế cho người Chúa thương.” Amen.
Đức Thánh Cha BIỂN ĐỨC XVI, bản dịch của ĐẶNG MINH AN

 

GS-183: BẢN THÁNH CA KỲ LẠ

Mở báo vào dịp lễ thì đề tài số một là các "gợi ý" hơi kỹ cho các cơ hội mua quà tặng. Thứ nào: GS-183

    Mở báo vào dịp lễ thì đề tài số một là các "gợi ý" hơi kỹ cho các cơ hội mua quà tặng. Thứ nào xem ra cũng vừa túi tiền mà rất hấp dẫn, mang lại "hạnh phúc" nhanh chóng quá sức. Lại cho trả góp sáu tháng không lấy lời. Tử tế quá chứ.
Kìa một cô người mẫu được thuê để đeo chiếc nhẫn kim cương cười tươi ơi là tươi, niềm vui rạng lên khóe mắt làm ửng hồng làn da, đong đầy tươi mát tình duyên. Trông thấy vậy thì một cô vợ trẻ cảm thấy xốn xang ngay. Lâu nay bầu khí gia đình có vẻ trầm lặng quá, anh chồng thì mải mê tối ngày lo trả các khoản tiền trong tháng cũng không xong, nên chẳng còn biết chiều chuộng như hồi mới quen nhau. Hay là mình đã xuống giá?! Cứ thấy người ta cười tươi làm mình phát thèm, ao ước mình cũng được như vậy, long lanh như mặt kim cương dưới ánh sáng điện.
 THỜI ĐIỂM ĐỔI MỘT CÁI ÁO LẤY MỘT MẠNG NGƯỜI
 Một người tâm sự với bạn: - Xui quá là xui, đang tự nhiên bị cái hạt cát rơi trúng mắt, phải đi bác sĩ, hết toi cả mấy trăm đô.
Anh bạn kia liền thông cảm với lời an ủi: -Vậy là còn may đấy. Chả bù cho tớ tuần vừa qua vợ tớ đi "mò" (mall), một cái áo dạ hội rơi trúng mắt nàng, thế là tớ mất tiêu hơn hai trăm đô!
 Quảng cáo có mãnh lực áp đảo rất tinh vi. Người lớn còn bị xỏ mũi như vậy, huống chi là trẻ con. Chúng cứ nhìn những đồ chơi mắc tiền bán ở tiệm Toys are Us hay cái Ipod của mấy đứa hàng xóm, thì không còn có thể cầm lòng được nữa. Đứa bạn cùng lớp đi học tuần vừa qua mang đôi giầy Addidas mới toanh, cái áo ấm mắc tiền có dấu vạch của hãng Nike cứ chọc vào mắt làm sao chịu nổi. Thế là như bị lên cơn, về đòi ba má không mua kịp thì nghĩ đến chuyện đi ăn cắp chôm chỉa.
Con cái bị áp đảo lên cơn thì cha mẹ cũng lãnh đủ. Thương con nên cũng không muốn con mình bị thua thiệt con nhà người ta, thế là cũng phải ráng, phải gồng. Báo địa phương ở New Orleans đăng tin có ông bố bị thất nghiệp, bắn vào đầu tự tử vì thấy mình không đủ khả năng mua quà mắc tiền cho con cái trong trạng huống đầy căng thẳng như thế này. Lại một tin khác làm rợn tóc gá, ở bên Mỹ xứ văn minh đây. Một đứa choai choai 16 tuổi tên là James Williams mặc cái áo ấm mới toanh loại có hiệu thời trang đang đi ở ngoài đường bị một chiếc xe hơi rà lại. Có tiếng súng nổ. Chiếc áo khoác bị lột nhanh chóng. Đổi một mạng người lấy một cái áo!
TIN VUI BẢN SILENT NIGHT KỲ LẠ
 Đây cũng là một dấu chỉ thời đại lúc mà con người bị quăng vào vòng quẩn. Quà tặng để tạo niềm vui, thì quà tặng cũng là cớ những khốn khổ. Những trái đắng, những rối loạn thì nhiều lắm. Càng tìm cách giải quyết nhiều khi càng quẩn thêm! Thì đây là một giải quyết bất ngờ, tìm lại được niềm vui an bình, qua câu truyện Bài Hát Silent Night.
      Hằng năm vào dịp lễ Giáng Sinh, không ai mà không biết đến bài hát Silent Night (gốc tiếng Đức là Stille Nacht), do Franz Gruber và linh mục Josef Mohr sáng tác chung trong một hoàn cảnh rất tình cờ và kỳ lạ. Bài hát này đã trở thành phổ thông khắp thế giới và đã được dịch ra các thứ tiếng, không phân biệt tôn giáo.
 Franz Gruber nhà nghèo sống gần Salzburg quê của Mozart bên nước Áo. Franz mê nhạc ngay từ nhỏ. Khi cả nhà đi ngủ, chú bé Franz liền lẻn đến nhà thờ học đàn với Andreas Peterlechner. Năm 12 tuổi Franz được đánh đàn nhà thờ lần đầu tiên trong một lễ cưới khiến mọi người ngạc nhiên. Thế rồi Franz lớn dần, tìm cách học đàn thêm, lập gia đình và định cư ở Arndorf, và trở thành người đánh đàn phong cầm tại nhà thờ thánh Nicola ở Oberndorf. Cũng chính tại Oberndorf, Franz quen với một linh mục trẻ tên là Josef Mohr.
 Josef Mohr mồ côi cha từ nhỏ, có tâm hồn nghệ sĩ rất thích nhạc. Rồi lớn lên đi tu, làm linh mục năm 1815. Ba năm sau thì được Đức Cha gửi đến làm cha phó nhà thờ thánh Nicola. Cha Josef Mohr có tính rất vui vẻ tự nhiên, hòa đồng với những người trẻ, khiến cho cha sở là một linh mục già yếu lấy làm khó chịu. Một hôm cha già viết cho cha quản hạt: "Cha Mohr quả thật còn quá trẻ. Đời thuở nào ra trước công chúng mà lại ngậm tẩu thuốc, và còn ca hát chơi giỡn với đám trẻ, khó coi quá sức. Kỳ lụt vừa qua lại còn phóng ca-nô vùn vụt như thanh niên vậy."
 Cha quản hạt Klo đọc thư chỉ mỉm cười vì chính mình cũng thích nhạc và phóng khoáng như thế.
 Lễ Giáng Sinh năm 1818 Cha Mohr thật sự lo lắng, vì cha sở già lâm bệnh nặng, trao hết mọi công việc lại, từ việc giải tội đến làm lễ hát trọng thể vào nửa đêm Giáng Sinh. Điều làm cha Mohr hoảng nữa là đàn nhà thờ bị chuột gặm hư luôn không kiếm được người sửa.
 Buổi chiều chuẩn bị cho Lễ Nửa Đêm, cha Mohr ngồi dọn bài giảng mà chẳng ra một ý nào cả! Bỗng có tiếng gõ cửa, có người muốn gặp. Cha Mohr tỏ ra khó chịu. Giờ này mà còn có người quấy rầy. Nhưng rồi cha bình tĩnh ngay, vì có chuyện khẩn cấp: một đứa bé sinh non cần phải rửa tội ngay vì khó sống.
 Khí hậu miền Bayern vào mùa này lạnh lắm. Cha Mohr vội vã lội tuyết ra đi, mãi mới tới một nơi hẻo lánh. Bước vào trong một túp lều xơ xác tiêu điều, cha Mohr thấy một cảnh tượng thật xúc động: đứa bé đang ngoi ngóp trong cái nôi nhỏ gần lò sưởi bên cạnh người mẹ xanh xao yếu ớt và người cha loay hoay chưa biết phải làm sao. Nhưng có điều rất lạ: cả căn phòng nghèo nàn toát ra một hơi ấm, nét mặt cả hai vợ chồng rất tin tưởng và an bình, đang khi ở ngoài trời tuyết lạnh rơi xối xả. Cảnh Giáng sinh đây rồi. Tình yêu giáng sinh, tình yêu đang hiện hình. Mọi xung khắc được hóa giải, mọi bổng trầm được hòa lại thành nhạc khúc dịu êm, mọi đắng cay được biến thành ngon ngọt.
 Khi đã làm xong nhiệm vụ, cha Mohr lại lội tuyết trở về nhà thờ, nhưng tâm hồn rạng lên niềm an vui đầy hứng khởi. Cứ tưởng phải hy sinh và mất giờ đi giúp đỡ người ta, chứ đâu ngờ mình lại được trao tặng món quà hiếm lạ. Thế là thay vì về thẳng nhà thờ, cha Mohr đã tìm tới nhà Franz Gruber ở Arndorf cách nhà thờ hai dặm, và cho biết mình đang rộn lên những hình ảnh và ý tưởng tuyệt vời cần phải viết ra ngay. Thế là sau đó lời của bài hát kỳ lạ Stille Nacht được viết xong, và Franz Gruber phổ nhạc một cách nhanh chóng ngay hôm đó một cách dễ dàng, vì lời thơ tự nó đã rung lên những dấu nhạc đầy thần hứng rồi.
 Thế là bản Đêm An Bình (Stille Nacht) lần đầu tiên được hát lên với đàn guitar vào lễ Nửa Đêm Giáng Sinh tại nhà thờ thánh Nicola ở một làng quê nhỏ bé Oberndorf. Cảm động hơn nữa, chính cha chủ tế Josef Mohr và Franz Gruber hát câu riêng trong phần cầu nguyện sau khi rước lễ.
 PHÚT TÌM LẠI AN BÌNH
 Mướp đắng nào mà chẳng đắng. Vậy mà mấy người mẹ Việt tài tình quá, đưa mướp đắng mà nấu với tôm thì biến thành một món canh ngọt lạ lùng. Thịt thà nhiều quá cũng chán, ăn cơm ì ạch mãi mới hết một chén. Vậy mà chan canh mướp đắng vào thì khỏi chê. Vừa mát vừa ngon miệng. Cứ là ngọt lịm đi, ngọt tới cuống họng, ngọt tới dạ dầy, một chén cơm bay vèo vèo.
 Cũng thế, những xung khắc, những đắng cay, những bổng trầm của cuộc sống thì chẳng sao tránh được. Nhưng đây là cách hóa giải, biến thành hòa khúc dịu êm: để cho Chúa giáng sinh trong cuộc sống mình, cảm nghiệm được Chúa đang hiện diện yêu thương săn sóc. Có Chúa, có tình thương, thì đêm đen được bật sáng, nghèo trở thành giầu, tẻ lạnh trở thành êm ấm. Và đây mới là giải quyết vào thời điểm này, như lời Kinh Thánh:
"Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-en, nghĩa là Thiên-Chúa-ở cùng-chúng-ta". (Mt 1:23).
Vì con người ngày nay đang đánh mất Chúa, nên đời sống trở thành một đêm dài không ánh sáng.
 Mình cũng có thể đang căng thẳng về vụ sắm quà, về những trái mướp đắng đang ngổn ngang tứ bề, làm sao có thể trở thành một món canh ngọt, làm thế nào mang đến cho nhau niềm an bình sâu thẳm hơn là những hời hợt đua đòi chỉ vun thêm vào cơn thèm khát không cùng?!
 Đức Chúa Trời đã làm người và ở giữa chúng ta. Nói theo nét văn hóa Việt thì Trời tròn xuống với đất vuông để nối kết đất trời thành vuông tròn sung mãn tình thương. Đó là một Tin Vui quá vui, có sức hóa giải tất cả, biến đổi tất cả. Mình xin được giây phút cảm nhận này, để từ đáy lòng bật lên đốm lửa mới.
Đêm nay Thiên Chúa giáng sinh. Đêm nay tình yêu hiện hình. Đón nhận Chúa vào tâm điểm lòng mình thì mọi sự sẽ tìm lại an bình: Put God in the center, and everything will come together. Mọi xung khắc được hóa giải, mọi đắng cay được biến thành ngon ngọt, mọi bổng trầm được hòa lại thành nhạc khúc dịu êm.
Lm. Trần Cao Tường
(từ tác phẩm Khúc Sáo Ân Tình, Thời Điểm xuất bản)
Mời thăm www.dunglac.net và hệ thống mới www.dunglac.org Mạng Lưới Dũng Lạc, góp tư liệu xây nhà Văn Hóa & Niềm Tin.

 

GS-184: Noel: Lễ nhập cuộc –ĐGM Vũ duy Thống

 (NÚT VÒNG XOAY – Trg. 35)
 

Đi qua trường Kinh Tế Ti Chính 4 bn cạnh Đại Chủng Viện hơm qua, tình cờ nghe được mẩu: GS-184

Đi qua trường Kinh Tế Tài Chính 4 bên cạnh Đại Chủng Viện hôm qua, tình cờ nghe được mẩu đối thoại giữa mấy cô gái. Có tiếng hỏi: “Noel, bồ có đi đâu không?”. Có tiếng đáp: “Không, mình ở nhà”. Và khi tiếng đáp vừa mới dứt đã có tiếng ai đó xen vào: “Noel mà lại ở nhà à? Người ta phải ra đường chứ!”.
Vâng! Noel người ta ra đường thật. Từ Đại Chủng Viện tới đây mặc dù đường đi chỉ có mấy bước, nhưng tôi vẫn bị kẹt xe bởi những con đường lớn đều chật ních những người là người. Dường như cả thành phố đều ở trên đường. Kẻ đi người lại, đông ơi là đông. Vì thế, tiếp cận với Tin Mừng Giáng Sinh đêm nay, tôi bỗng thấy thánh Giuse và Đức Maria cũng đang ở trên đường, đường dong duổi cho cuộc đăng ký hộ khẩu kiểm tra dân số. Những điều tai nghe mắt thấy ấy đã tự nhiên gợi lên hình ảnh Noel là một lễ nhập cuộc.
1) Noel là lễ của sự nhập cuộc.
Nếu trong Mùa Vọng, tín hữu đã sống lại niềm trông mong đợi chờ Chúa của Dân thánh, lấy kinh nghiệm thao thức của họ làm kinh nghiệm thức tỉnh cho mình, và lấy tâm tình dọn dẹp đường lối của họ làm tâm tình chuẩn bị cõi lòng của mình, thì hôm nay không còn úp mở nữa, vị Thiên Chúa được trông chờ ấy chính là Thiên Chúa nhập cuộc.
Khác với lối nhìn của Cựu Ước vốn coi Thiên Chúa là “Đấng khôn tả”, nên muốn tả về Ngài người ta chỉ dám dùng đường lối phủ định nghĩa là thêm chữ “vô cùng” vào sau mỗi phẩm tính muốn dành cho Ngài. Và cũng khác với lối nhìn của ngày xa xưa vốn coi Thiên Chúa là “Đấng đáng sợ”, nếu lơ mơ đến gần Ngài sẽ phải mất mạng như chơi. Đàng này, vị Thiên Chúa được chờ mong lại đến thật sát thật gần. Người hóa thân làm người ở giữa chúng ta.
Người nhập cuộc trong lịch sử chung của toàn thể nhân loại cũng như trong lịch sử riêng của đời Người. Sự nhập cuộc ấy đã được lịch sử cắm mốc thời gian rõ ràng là “thời Hoàng đế Cêsarê Augustô” và được cấp sổ đỏ không thể chối cãi là “thành Bêlem xứ Giuđêa” như Phúc Âm ghi lại. Sự nhập cuộc ấy đã làm nên lý lịch trích ngang của Đấng Cứu Thế. Người có một gia đình, đã được cưu mang chín tháng như bất cứ ai để cuối cùng mở lòng mẹ bước ra chào đời và sống đời như bao người khác.
Thánh Kinh vẫn quen gọi đây là cuộc “Thiên Chúa viếng thăm Dân mình”, nhưng cuộc viếng thăm này lại rất đặc biệt, không chỉ diễn ra trong chốc lát, cũng không thể được lặp lại trong lần khác nữa. Người là vua vinh quang trên trời đã nhận lấy kiếp người giòn mỏng để khởi đầu sự nhập cuộc. Người là Thiên Chúa thật đã nhập thể trở nên con người thật với tiểu sử riêng rõ nét. Người là Thiên Chúa thật đã nhập thế giữa lòng thế giới với lịch sử chung nhân loại rõ ràng. Đó là sự nhập cuộc.
2) Và nhập cuộc là chấp nhận vòng quay nghiệt ngã của cuộc sống.
Trong bài đọc thứ nhất, qua lăng kính của Isaia, Thiên Chúa được xưng tụng là “Chúa hùng dũng”, thế mà Người đã hóa nên con người yếu đuối trong hình hài một thơ nhi bé bỏng.
Dẫu được gọi là “Thủ Lĩnh bình an”, nhưng chính Người khi xuống thế đã nhập cuộc vào những xáo trộn của cuộc đời, để chẳng được an thân sinh ra trong nhà của mình. Hoàng đế Rôma chỉ là thụ tạo, nhưng lại nắm quyền ra lệnh khai sổ nhân danh khiến Thủ Lĩnh đích thực là Người lại phải chịu sinh ra trên đường đăng cai hộ khẩu. Hộ khẩu dẫn tới “hậu khổ”! Người ta dòng dõi vua chúa sinh ra được bọc vải điều nơi lầu vàng gác tía giữa đông đảo kẻ hầu người hạ, còn Người lại tự nguyện sinh ra nghèo khó nơi hang đá trong máng cỏ bò lừa. Người là “Cha vạn thuở”, bản thân Người là căn nguyên vạn vật, thân thế Người là cội nguồn nhân sinh, muôn vật muôn loài đều phải nhờ Người mới có, thế mà hôm nay Người lại chịu sinh ra trong thời gian bởi một người phụ nữ với tiến trình trưởng thành tuần tự bình thường. Người là “Cố Vấn kỳ diệu”, nhưng khi sinh ra làm người hôm nay chẳng thấy Người cố vấn cho ai, mà ngược lại xem ra Người đã “cố mà vấn vào đời mình” những gì là bình thường nhất nếu không muốn nói là hèn mạt nhất của kiếp phận nghèo khổ.
Rõ ràng là Người đã nhập cuộc trong quỹ đạo của một đời người giữa những người đời. Nhập cuộc như thế cũng có nghĩa là ăn đời ở kiếp giữa đời với những hệ quả muôn thuở của cuộc đời. Nếu cuộc đời luôn bằng phẳng có lẽ đã không có kiểu nói diễn tả “bụi trần”, và nếu cuộc đời luôn hạnh phúc có lẽ cũng chẳng phải lắm điều đặt chuyện “đời là bể khổ” làm chi. Chẳng bi quan cũng thấy cuộc đời không luôn ổn định. Thế mà Chúa đã yêu thương đón lấy cuộc đời ấy, để chính khi hóa thân làm người là cùng lúc Người dấn thân vào trong những bấp bênh bồng bềnh bó buộc của cuộc sống.
3) Để cứu độ trần thế và con người.
Nếu nhập cuộc chỉ có nghĩa là hòa vào dòng chảy cuộc đời thì có lẽ chẳng có lễ Noel. Nhưng sở dĩ có lễ Noel là bởi vì Chúa nhập cuộc để cứu độ trần thế và con người.
Người nhập thế để làm gì? Thưa để đem trần thế vào lại “trật tự nguyên thủy” như nét đẹp ban sơ của trần thế ngày sáng tạo mà tội lỗi đã làm hư đi. Nên Noel còn gọi là “Ngày sáng thế mới”. Đêm Noel là đêm đất trời giao duyên trong hôn phối nhiệm mầu của ơn cứu độ.
Người nhập thể để làm gì? Thưa để đem con người về với ơn cứu độ. Người là Emmanuel của một Thiên Chúa không đến rồi đi, không ở rồi về mà là một “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”, một Thiên Chúa đến ăn đời ở kiếp với nhân loại để nâng nhân loại lên ngang tầm với vinh quang của Người. Thảo nào, các thiên thần đã hát: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm”. Và cũng chính vì thế các Giáo phụ Đông phương đã bảo: “Thiên Chúa làm người cho người được làm con Thiên Chúa”. Như vậy, Noel chính là lễ của một sự nhập cuộc tuyệt vời cũng như chữ Noel đến từ danh xưng Emmanuel đã làm nên Thánh lễ đêm nay.
Thiên Chúa nhập cuộc để đem ơn cứu độ. Đó là Tin Mừng trọng đại cho toàn dân, nên sứ điệp của đêm nay là hãy nhập cuộc cùng với Noel.
Nhập cuộc tức thời là hãy mở lòng mình ra mà đón Chúa sinh vào, và nhập cuộc dài hơi là biết sinh Chúa ra bằng một đời sống tín hữu gương mẫu. Đừng để Noel trở thành dịp phô trương đời sống hoặc phô bày đam mê như trong báo Công An tuần qua đăng tải về một Việt kiều tổ chức sinh nhật của mình một cách trụy lạc. Đừng để Noel qua đi mà lòng mình vẫn còn trĩu nặng ước muốn quyền hành hoặc tình cảm ghét ghen. Và nhập cuộc lớn hơn cả chính là biết cùng với Chúa mà cưu mang xây dựng, cảm thông nâng đỡ những anh chị em túng quẫn hoặc đau khổ vốn không thiếu trong đời, cho dẫu chính khi nhập cuộc như thế mình phải hy sinh đi theo quỹ đạo của nhập cuộc.
Noel nhập cuộc là thế, là Tin Mừng sống động, là chan hòa sự sống. Nhưng Noel bao giờ cũng là lễ của niềm vui, của bàn tay nắm lấy bàn tay, của bước chân tiếp nối bước chân dấn thân vào đời phục vụ cho hạnh phúc con người. Niềm vui và hạnh phúc là điều người ta thường cầu chúc trong đêm Noel. Chân thành kính chúc cộng đoàn một Noel tràn đầy niềm vui: thứ niềm vui cứu độ, quên mình, nhập cuộc; và hạnh phúc dẫy đầy: thứ hạnh phúc không phải chờ đến xa xôi mai hậu, nhưng đã bắt đầu đêm nay bằng cách biết tiếp nhận Chúa sinh vào và biết sinh Chúa ra trong quyết tâm nhập cuộc của mình.

 

GS-185: Sứ điệp vinh quang và bình an

(Lc 2,1-14)
 

 Từ nhiều thế kỷ nay, những bài Phúc Âm tường thuật về cuộc đời thơ ấu của Chúa đã kích thích: GS-185

Từ nhiều thế kỷ nay, những bài Phúc Âm tường thuật về cuộc đời thơ ấu của Chúa đã kích thích trí tưởng tượng thi nhân và nuôi dưỡng lòng đạo đức của bao tâm hồn đơn sơ.  Còn ngày nay chúng làm đối tượng cho những sự phân tích tinh vi và óc tưởng tượng huyền hoặc của một số trí khôn phức tạp đã tìm cách hạ thấp chúng xuống cho ngang với tầm mức của mình. May mắn thay, có một khoa học nghiêm chỉnh vẫn duy trì những bài tường thuật ấy ở trình độ mà Giáo Hội từ xưa nay vốn đặt chúng. Bài tường thuật của thánh Luca kể lại một sự kiện. Ngài kể lại một cách giản dị không vẽ vời thêu dệt, khả dĩ giúp ta chiêm thờ được. Ở đó người ta không nhận thấy một cách tỏ tường như trong những bản văn khác, cái mối ưu tư của tác giả là làm sao đặt việc Chúa Giáng Sinh trong tương quan với những gì đã được loan báo bởi Cựu Ước. Nhưng người ta bắt gặp cái tư tưởng tiêu biểu của thánh sử Luca: là Đức Giêsu Kitô là Cứu Chúa. Hôm nay, trong thành Đavít, một vị Cứu Tinh đã sinh ra cho các ngươi. Ta thử đứng thật sát đoạn văn đơn sơ mà tuyệt vời này để rút ra một vài nét về ý nghĩa của danh xưng ‘Cứu Chúa’.
* Chúa Giêsu là Cứu Chúa đã được hứa hẹn. Đó là lý do tại sao Người được mô tả là phát sinh từ dòng dõi Đavít, ít ra về mặt pháp lý, và điều đó rất quan trọng trong xã hội Do Thái.
* Chúa Giêsu sinh ra bởi một Trinh Nữ. Thánh Mátthêu cho ta biết thánh Giuse đã nhận Maria làm bạn trăm năm trong hoàn cảnh nào.
* Chúa Giêsu là một con người. Người là Con Thiên Chúa, nhưng cũng là người thật. Người đã bắt đầu cuộc sống và sự sống Người đã nẩy nở trong lòng Maria. Sinh ra bởi một người phụ nữ, như thánh Phaolô nói, Người không tách rời khỏi lịch sử, là lịch sử của mọi người. Người không giả bộ làm người; Người là người thật.
* Chúa Giêsu được loan báo cho người nghèo khó, cho người chăn chiên, nghĩa là người đến trong nhân loại thông thường nhất, giữa hạng người không có thời giờ để lo sao cho có nhiều tiện nghi, hạng người bám vào phận sự hàng ngày cốt sao cho được sống mà thôi.
* Người mang tới sứ điệp vinh quang và bình an, nghĩa là người đến tái lập trong linh hồn con người cái ý thức rằng Thiên Chúa là Chúa, Người tập hợp loài người lại và bảo họ rằng Chúa yêu thương tất cả mọi người, vì thế họ là anh em với nhau.
Ngoài ra, chúng ta hãy nêu lên trong bài tường thuật này một sắc thái căn bản mà con người thời đại ta đang cần, đó là sự thờ phượng.
+ Thờ phượng, ấy là đức tuân phục của Maria và Giuse đến Bêlem, khi nhận ra ý Chúa qua một biến cố, là cuộc kiểm tra dân số.
+ Thờ phượng, ấy là công bố rằng: Hài Nhi chính là Đức Kitô Chúa Tể. Sự sợ hãi của bọn mục đồng có thể tan biến khi viếng máng cỏ, nhưng Hài Nhi gần gũi với họ đó, vẫn là Thiên Chúa. Ta hãy nghĩ tới Thánh Thể; bí tích ấy làm cho Thiên Chúa trở nên gần gũi ta, và một sự tục hóa thiếu suy nghĩ có khuynh hướng coi thường. Một cộng đoàn họp mặt cử hành Thánh Thể nâng cao con người trong lời ngợi khen và tạ ơn.

 

GS-186: Ánh sáng nào soi chiếu trong ta?

(Ga 1,1-18)
 

Bài mở đầu Phúc Âm thánh Gioan phong phú đến nỗi đã làm đề tài cho không biết bao sách vở: GS-186

Bài mở đầu Phúc Âm thánh Gioan phong phú đến nỗi đã làm đề tài cho không biết bao sách vở dày cộm. Nếu đọc với sự chăm chú và niềm kính trọng như khi người ta bước qua ngưỡng cửa một người mời mình vào nhà, thì người ta hô hấp ngay cái bầu không khí của toàn cuốn Phúc Âm thánh Gioan. Ở đây ta thấy sự đối nghịch giữa ánh sáng và bóng tối, ta gặp đề tài chứng tá và sự rao giảng về việc con người được nâng lên hàng làm con Thiên Chúa nhờ Con Một Người đã đến và ngự giữa chúng ta. Danh từ ánh sáng lặp đi lặp lại nhiều nhất. Tương tự như ánh sáng đối với sinh vật, Thiên Chúa là nguồn chân lý và sự sống cho con người. Người là ánh sáng ở một trình độ cao hơn ánh sáng tự nhiên bội phần. Ánh sáng này cũng là một hồng ân Chúa ban cho vũ trụ vật chất, trở nên dấu hiệu của cái thực tại thiêng liêng cao trọng là làm cho con người đạt tới một trình độ ở đó nó có thể nói tới Chân Lý sung mãn, đến sự sống vĩnh cửu. Lễ Giáng Sinh khởi đầu một tấn bi kịch. Tấn bi kịch ấy đặc biệt là của dân Do Thái, song còn tiếp tục diễn ra nơi mỗi người. Ánh sáng đã đến nơi người nhà của mình, nhưng nhiều người đã không tiếp nhận ánh sáng. Bóng tối đã không thể và hiện không thể nào thắng được nó nhưng bóng tối vẫn là một mối đe dọa đáng sợ giữa lòng nhân loại. Ánh sáng Đức Kitô đến tiêu diệt tối tăm như thế nào?
1) Đức Kitô đánh tan mê muội.
Tự mình chúng ta hầu như không biết gì về Thiên Chúa. Đấng Con Một ngự trong lòng Chúa Cha, chính Ngài đã mặc khải Thiên Chúa. Không có Chúa Giêsu Kitô, chúng ta sẽ sống trong một sự vô minh dày đặc. Không trực giác nào về Chúa, dù đẹp đẽ nhất, đã có thể vượt qua ranh giới của con người, bởi vì cái cốt yếu nằm bên kia ranh giới ấy. Trí khôn nhân loại nào đã dám nói đến việc trở nên con cái Thiên Chúa như Phúc Âm bao giờ đâu? Một câu hỏi: chúng ta có tỉnh táo để không cho bóng tối che mờ ánh sáng chăng? Đâu là những điều thu hút tư tưởng và khả năng yêu thương của ta? Người Kitô hữu ngày nay khám phá lại được tầm quan trọng của cái thực tại trần thế. Nhưng họ có lưu tâm đủ về đòi hỏi tôn giáo sâu xa mà chỉ trong Đức Kitô mới tìm được giải đáp hay không? Thời đại ta, hay đúng hơn Giáo Hội chúng ta cần phải nhớ rằng không có Đức Kitô, mà ta phải tìm kiếm như một cùng đích, thì mê muội như một màn sương mù sẽ lại phủ xuống trên thế gian. Ánh sáng tiếp tục chạm trán với tối tăm và cái giá trị vẫn còn sống động trong Giáo Hội, và trong đời sống mỗi người chúng ta, ấy là giá trị chiêm niệm.
2) Đức Kitô soi sáng cho ta biết đánh giá con người.
Khi tuyên bố mọi người đều được gọi làm con Thiên Chúa, Đức Kitô mở ra cái bề sâu của những tương quan liên kết con người với nhau. Những tương quan ấy có một định luật là bác ái, là tình yêu. Tình yêu anh em giữa người và người làm nên sợi dây đỏ rực, tỏa sáng nếu được đặt dưới luồng điện của tình yêu Thiên Chúa.
Ai yêu anh em, kẻ ấy ở trong ánh sáng (lGa 2,10). Một tình yêu đích thật giữa người Kitô hữu với nhau và của người Kitô hữu với mọi người, đó phải là ánh sáng mà họ có sứ mệnh mang đến cho thế gian hôm nay. Trong mức độ mà nó tinh tuyền, nó sẽ gặp phải sức chống đối của tối tăm, nhưng kẻ nào đón nhận nó, sẽ đi trên con đường trở nên con cái Chúa.

 

GS-187: Vinh danh Thiên Chúa trên trời – ĐTGM Ngô quang Kiệt

I. TẤM BÁNH LỜI CHÚA: Lc 2,1-14
II. TẤM BÁNH CHIA SẺ
 

Đêm nay, tại các nhà thờ trên khắp thế giới vang lên lời ca của các thiên thần trong đêm Giáng: GS-187

Đêm nay, tại các nhà thờ trên khắp thế giới vang lên lời ca của các thiên thần trong đêm Giáng Sinh năm xưa:
“Vinh danh Thiên Chúa trên trời,
Bình an dưới thế cho người Chúa thương”
Lời hát của các thiên thần chính là sứ điệp của Chúa từ trời cao gửi xuống. Lời hát này nối kết đất với trời. Lời hát này ràng buộc Thiên Chúa với con người.
Tại sao ““Vinh danh Thiên Chúa trên trời” phải đi liền với “Bình an dưới thế cho người Chúa thương”? Thưa vì Thiên Chúa yêu thương con người. Thiên Chúa tự ràng buộc mình với con người.
Vì yêu thương nhân loại, Con Thiên Chúa đã xuống thế làm người. Vì yêu thương nhân loại, Ngài tự nguyện trở nên một trẻ thơ yếu ớt. Vì yêu thương nhân loại, Ngài tự nguyện làm con của loài người, sinh ra bởi một người phụ nữ. Vì yêu thương nhân loại, Ngài đã muốn trở nên một thành viên trong gia đình nhân loại, có một gia đình như những người khác.
Thiên Chúa đã tự nguyện làm một người như chúng ta, Thiên Chúa tự đồng hóa với con người đến nỗi từ nay ai khinh miệt một con người là khinh miệt chính Chúa, ai bạc đãi một con người là bạc đãi chính Chúa, ai hà hiếp một con người là hà hiếp chính Chúa. Ai xúc phạm đến con người là xúc phạm đến Chúa.
Hang đá Bêlem là một lời mời gọi tha thiết và cấp thiết cho tương lai nhân loại. Thiên Chúa hóa thân làm một trẻ sơ sinh để mời gọi ta hãy biết tôn trọng sự sống. Thiên Chúa sinh ra làm một trẻ thơ yếu ớt để mời gọi ta hãy biết yêu thương những người bé nhỏ, yếu hèn. Thiên Chúa sinh ra trong cảnh nghèo nàn để mời gọi ta hãy biết nâng đỡ những người nghèo khổ. Thiên Chúa sinh làm con Đức Mẹ Maria để mời gọi ta hãy biết kính trọng phụ nữ. Thiên Chúa sinh ra trong một gia đình để mời gọi ta hãy biết bảo vệ những truyền thống tốt đẹp đem lại hạnh phúc cho gia đình.
Lời mời gọi này có tính chất quyết định không những cho hạnh phúc chóng qua mà còn cho hạnh phúc vĩnh cửu của con người.
Vì ai tôn trọng con người là tôn trọng chính Chúa. Ai phục vụ con người là phục vụ chính Chúa. Như lời Chúa dạy: mỗi lần ta cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc, viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc, là ta làm cho chính Chúa (x. Mt 25).
Như thế, lễ Chúa Giáng Sinh là lễ của phẩm giá con người. Chúa xuống trần để nâng cao phẩm giá con người. Chúa làm người để con người được kính trọng. Con người cao quý vì đã được nâng lên làm con Thiên Chúa.
Như thế, lễ Giáng Sinh là lễ của niềm vui. Vui vì con người được Thiên Chúa yêu thương. Vui vì con người được nâng lên địa vị cao trọng. Hôm nay khi đọc Kinh Tin Kính đến câu: “Vì loài người chúng tôi và để cứu rỗi chúng tôi, Người đã từ trời xuống thế”, ta hãy quỳ gối trước tình yêu thương cao cả của Chúa dành cho ta. Quỳ gối để suy niệm sự cao cả của con người vì được Chúa yêu thương.
Vì thế, để mừng lễ Chúa Giáng Sinh cho đúng ý nghĩa, tôn thờ Thiên Chúa vẫn chưa đủ, ta còn phải yêu thương kính trọng con người. Dịp lễ Giáng Sinh, chỉ đến viếng hang đá thôi chưa đủ, ta còn phải đến viếng những nhà tranh vách đất, giúp dựng lại những túp lều xiêu vẹo. Chỉ đến viếng Chúa Giêsu bé thơ thôi chưa đủ. Ta còn phải đến viếng những trẻ em bị bỏ rơi, vực dậy những tuổi thơ bất hạnh. Chỉ cảm thương Thánh Gia trong hang đá nghèo nàn thôi chưa đủ. Ta còn phải cảm thương những anh chị em nghèo khổ, thiếu may mắn ở quanh ta.
Chỉ khi nào tất cả mọi người được yêu thương, ta mới có thể mừng lễ Giáng Sinh thật sự vui tươi. Chỉ khi nào tất cả mọi người bé nhỏ, yếu ớt, nghèo hèn được kính trọng, ta mới có thể hát vang lời ca:
“Vinh danh Thiên Chúa trên trời,
Bình an dưới thế cho người Chúa thương”
Trong tâm tình yêu mến và kính trọng, tôi xin gửi tới tất cả anh chị em lời cầu chúc đầy bình an và ân sủng của Chúa Hài Nhi Giáng Sinh. Amen.
III. TẤM BÁNH HÓA NHIỀU
1) Vinh danh Thiên Chúa trên trời. Bình an dưới thế cho người Chúa thương. Khi hát câu này bạn có ý thức mối liên hệ chặt chẽ giữa Thiên Chúa với con người không?
2) Tại sao Chúa Giêsu đòi buộc ta phải yêu mến con người nếu ta thực sự yêu mến Chúa?
3) Lễ Giáng Sinh này, bạn sẽ làm việc cụ thể nào để thực sự mừng đón Chúa đến?

 

GS-188: Lời ngỏ của Tình Yêu - ĐTGM Ngô quang Kiệt

I. TẤM BÁNH LỜI CHÚA: Ga 1,1-18
II. TẤM BÁNH CHIA SẺ
 

Thánh Gioan Tông Đồ định nghĩa: “Thiên Chúa là tình yêu”. Thiên Chúa đã bày tỏ tình yêu của: GS-188

Thánh Gioan Tông Đồ định nghĩa: “Thiên Chúa là tình yêu”. Thiên Chúa đã bày tỏ tình yêu của Ngài bằng nhiều cách dưới nhiều hình thức khác nhau. Nhưng Thiên Chúa với hình ảnh ta khó thấy được và nhiều khi không nhận ra những công trình tình yêu của Ngài. Yêu nhiều rồi cũng có lúc phải nói ra. Thiên Chúa quá yêu thương con người nên sau cùng đã gửi Con Một của Ngài xuống trần để tỏ cho ta biết tình yêu Thiên Chúa. Con Một Thiên Chúa chính là Lời của Chúa ngỏ với nhân loại. Vì thế ta hãy vào hang đá Bêlem để lắng nghe được Lời Chúa nói với ta. Chúa Giêsu bé thơ không nói bằng âm thanh vật lý, nhưng Ngài nói bằng âm thanh của trái tim. Lời của Ngài là lời của tình yêu. Qua bản thân Ngài, qua ánh mắt Ngài, qua khung cảnh hang đá, ta sẽ nghe được tiếng thì thầm của Thiên Chúa. Tiếng thì thầm đó là tiếng nói của tình yêu dưới nhiều sắc mầu khác nhau.
Đó là tiếng nói của tình yêu dâng hiến. Bêlem theo tiếng Do Thái có nghĩa là nhà bánh. Chúa Giêsu tự nguyện trở thành tấm bánh nuôi dưỡng chúng ta. Ngài nằm trong máng cỏ như một lương thực mời gọi đoàn chiên đến để được bổ dưỡng. Lương thực đó không phải là lương thực vật chất nuôi xác, nhưng là lương thực thiêng liêng nuôi dưỡng tâm hồn. Ngày nay, tuy nạn đói cơm bánh đã bớt phần gay gắt, nhưng lại xuất hiện những cơn đói mới: đói văn hóa, đói sự an ủi chia sẻ, và nhất là đói khát đời sống thiêng liêng. Chúa Giêsu chính là tấm bánh bẻ ra cho thế giới mới, đáp ứng những cơn đói mới của thế giới.
Đó là tiếng nói của tình yêu khiêm nhường. Tình yêu chân thực là tình yêu khiêm nhường. Tình yêu hạ mình vì người yêu. Chúa Giêsu đã hạ mình thẳm sâu. Từ trời xuống đất. Từ địa vị Thiên Chúa xuống địa vị làm người. Khiêm nhường nên nhường hết không gian cho con người. Những không gian rộng lớn, cao sang thuộc về con người. Chúa chỉ thu mình trong một góc nhỏ nghèo hèn của chuồng bò. Nhường không gian cho con người ăn nói. Còn Chúa chịu im lặng, thu nhỏ trong câm nín.
Đó là tiếng nói của tình yêu đi tìm. Tình yêu của Thiên Chúa luôn đi những bước trước. Yêu con người khi con người chưa biết yêu Chúa. Tha thứ cho con người trước khi con người xin lỗi. Đi tìm con người trước khi con người quay về. Cuộc đi tìm thật vất vả. Chúa phải bỏ trời cao, phải mặc thân phận yếu hèn, phải chịu khổ sở, phải chịu nhục nhã, phải chịu chết mới tìm được con người.
Đó là tiếng nói của tình yêu hy sinh. Vì yêu nên Chúa chấp nhận hết những thiệt thòi về phần mình. Chịu đói nghèo, chịu bị xua đuổi, chịu khổ nhục. Trẻ thơ Giêsu rét mướt nằm trong máng cỏ nói với ta điều gì nếu không phải là tình yêu, yêu đến độ chấp nhận tất cả.
Đó là tiếng nói của tình yêu kết hợp. Cứ dấu này các ngươi nhận biết Ngài, đó là một em bé sơ sinh nằm trong máng cỏ. Vâng, kỳ diệu thay tình yêu Thiên Chúa. Vì yêu nên đã kết hợp trọn vẹn với con người. Trở nên một với con người. Chấp nhận hết những gì của con người. Chấp nhận đói khát, khổ sở, nghèo nàn. Chấp nhận cả những bấp bênh, bất trắc của kiếp người.
Lời Thiên Chúa đang ngỏ với ta qua Hài Nhi nằm trong máng cỏ. Hãy đến bên hang đá để nghe được tiếng nói của Thiên Chúa. Hãy mở rộng trái tim để đón nhận được tình yêu của Thiên Chúa. Trong bóng tối hận thù, ích kỷ, ghen ghét của thế giới, tình yêu Chúa là ánh sáng xé tan đêm tối. Hãy để ánh sáng tình yêu Chúa soi chiếu tâm hồn ta. Hãy đón nhận ánh sáng tình yêu của Chúa, để đến lượt chúng ta, chúng ta đem ánh sáng tình yêu của Chúa chiếu soi vào môi trường chung quanh ta. Để cho thế giới bớt tối tăm. Bấy giờ Lời của Chúa, Lời tình yêu sẽ vang dội khắp thế giới.

III. TẤM BÁNH HÓA NHIỀU
1) Bạn nghe thấy gì qua tiếng nói thinh lặng của Hài Nhi Giêsu trong máng cỏ?
2) Yêu thương, ngỏ lời mà không được lắng nghe và đáp lại. Bạn cảm thấy thế nào nếu rơi vào tình trạng đó? Bạn có hiểu được lòng Thiên Chúa khi ngỏ lời yêu thương với bạn không?
3) Còn nhiều người chưa nghe được lời yêu thương của Chúa. Bạn có sẵn sàng làm sứ giả đem lời tình yêu của Chúa đến với họ không?
4) Để làm sứ giả tình thương, bạn cần những đức tính nào?

 

GS-198: Ngạc nhiên

Tại miền Nam nước Pháp, có một máng cỏ khá nổi tiếng. Trong số các nhân vật đứng và quì: GS-198

Tại miền Nam nước Pháp, có một máng cỏ khá nổi tiếng. Trong số các nhân vật đứng và quì nơi máng cỏ này, du khách thường chú ý tới một con người nhỏ bé với hai bàn tay trống trơn và mở rộng, nhưng gương mặt lại để lộ một vẻ ngạc nhiên khó mà diễn tả nổi. Vì thế, người ta đã đặt cho nhân vật này cái tên gọi là Ngạc Nhiên. Dân địa phương thường giải thích về sự ngạc nhiên của anh bằng một mẩu chuyện như sau :
Hôm đó, tất cả các nhân vật nơi máng cỏ, kể cả mấy chú bò lừa đều tỏ ra khó chịu đối với anh, bởi vì anh không có gì để mang tặng cho Chúa Hài nhi, ngoài hai bàn tay trống trơn của mình. Và thế là họ bắt đầu xỉ vả anh :
- Mày không biết xấu hổ hay sao ? Mày đến thăm Chúa Hài nhi mà không mang theo gì cả ư?
Thế nhưng, anh không để lộ một phản ứng nào, ngoài cặp mắt mở to và chăm chú nhìn vào Hài nhi Giêsu. Những lời rủa xả vẫn cứ tiếp tục trút xuống trên anh, đến nỗi Mẹ Maria phải lên tiếng bênh vực cho anh.
Quả thực, mặc dù đã đến với Chúa Hài nhi bằng đôi bàn tay trằng, thế nhưng anh đã mang tới một món quà cao đẹp nhất, đó là sự ngạc nhiên của anh. Điều này có nghĩa là Tình Yêu bao la của Thiên Chúa đã chiếm trọn tâm tư anh. Và Mẹ Maria đã kết luận như sau :
- Thế giới này sẽ kỳ diệu biết bao nếu như luôn có những người giống anh, biết ngây ngất và ngạc nhiên trước quyền năng và tình thương vô biên của Thiên Chúa.
Thực vậy, chúng ta thường nói :
- Ngạc nhiên là khởi đầu của mọi khám phá.
Có biết ngạc nhiên, có biết đặt câu hỏi, người ta mới đưa ra những giả thuyết, người ta mới tìm tòi, khảo sát và khám phá. Sự tiến bộ của loài người bắt nguồn từ chính sự ngạc nhiên ấy.
Trong lãnh vực siêu nhiên cũng vậy. Thiên Chúa đã ban cho con người khả năng biết ngạc nhiên để rồi từ đó khám phá ra quyền năng và tình thương của Thiên Chúa. Đúng thế, khi nhìn ngắm những kỳ công trong vũ trụ, cùng với trật tự lạ lùng của nó, chúng ta không khỏi ngạc nhiên và thán phục.
Từ chỗ ngạc nhiên và thán phục này, chúng ta phải đi đến một kết luận, đó là có Thiên Chúa và Ngài là Đấng quyền năng và thương xót, đã dựng nên, an bài sắp xếp và bảo tồn mọi sự. Hay như một câu danh ngôn đã bảo :
- Thiên nhiên là một cuốn sách vĩ đại, mà mỗi trang, mỗi dòng, mỗi chữ đều nói cho chúng ta biết về Thiên Chúa.
Vũ trụ này là một cuốn sách được mở ra để mời gọi con người tìm đọc lời ngỏ đầy yêu thương của Thiên Chúa.
Tiếp đến, khi nhìn vào lịch sử nhân loại, cũng như cuộc đời riêng tư, chúng ta cũng không khỏi ngạc nhiên trước biết bao ơn sủng mà Ngài đã trao ban, để rồi chúng ta sẽ khám phá ra bàn tay của Thiên Chúa luôn hướng dẫn và dìu dắt nhân loại, cũng như mỗi người chúng ta trên vạn nẻo đường đời.
Và giờ đây trước máng cỏ Bêlem, nếu thực sự biết ngạc nhiên, chúng ta sẽ khám phá ra tình thương bao la của Thiên Chúa. Thực vậy, lời hứa từ thuở ban sơ, hôm nay đã được thực hiện, Thiên Chúa đã tỏ bày tình thương của Ngài bằng cách trao ban cho chúng ta chính Con Một của Ngài, hay nói theo kiểu thánh Phaolô : Thiên Chúa bước xuống phận con người, để con người tiến lên ngôi Thiên Chúa.
Trước máng cỏ Bêlem, bằng cặp mắt đức tin hẳn chúng ta sẽ phải ngạc nhiên vì tình yêu Thiên Chúa đã dành cho chúng ta, để rồi từ sự ngạc nhiên ấy, chúng ta sẽ tin tưởng và phó thác cho tình yêu của Ngài. Khi gặp những sự may mắn, chúng ta dâng lên Ngài lời cảm tạ đã đành, mà ngay cả lúc khổ đau và đắng cay, chúng ta vẫn có thể nhận ra dấu ấn tình yêu của Ngài. Trong mọi sự, người biết ngạc nhiên sẽ luôn luôn nhận ra tình yêu của Thiên Chúa, bởi vì tất cả đều là hồng ân.
Ước gì trong Mùa Giáng Sinh này, chúng ta hãy đến bên hang đá máng cỏ, ngạc nhiên trước tình thương tuyệt vời của Thiên Chúa, để rồi dâng lên Ngài tâm tình cảm mến tri ân.

 

GS-190: Đừng thờ lầm

(Gio 1, 1-18)
 

Phần tự ngôn Phúc âm theo thánh Gioan khuyên nhủ chúng ta nhận thức rõ tầm mức siêu: GS-190

Phần tự ngôn Phúc âm theo thánh Gioan khuyên nhủ chúng ta nhận thức rõ tầm mức siêu phàm của lễ Giáng Sinh, cũng như sự uy nghi của mầu nhiệm Giáng Sinh. Con trẻ Giêsu là Ngôi Lời nhập thể đến cư ngụ giữa chúng ta. Đứng trước Hài nhi bé mọn ở Bêlem, chúng ta được mời tiến sâu vào chính mầu nhiêm Thiên Chúa, tới chỗ của Ngôi Lời – tức là Lời hằng sống và thân mật của Thiên Chúa đã có trước toàn thể vũ trụ. Như vậy chúng ta được mời hãy đến thờ lạy. Kẻ thờ phụng là kẻ khi được tới gần bên Thiên Chúa liền nhận thức sâu sắc rằng mình là kẻ tuỳ thuộc, vô giá trị, tội lỗi nữa. Kính thờ và thinh lặng, cảm tạ và vui sướng, đó là cách tuyên xưng Chúa là sự Thiện tuyệt đối và nguồn mọi ơn lành. Lễ Giáng Sinh mời chúng ta đến thờ lạy Con trẻ Giêsu. Trong Hài Nhi, Thiên Chúa rất gần gũi – trong Hài nhi có sự sung mãn của Thiên Chúa – và nhờ Hài nhi, chúng ta được có mặt trên thế gian để sống, hiểu biết và yêu thương. Sự suy niệm về một vài từ ngữ trong tự ngôn của thánh Gioan có thể cung cấp cho chúng ta một phong cách thờ phụng.
1) Trong Đức Giêsu, chúng ta thờ lạy Đấng tạo hóa. Não trạng nhân lạo thời nay dễ loại bỏ ý niệm về Đấng tạo hoá, con người chỉ muốn những gì mình có là do sức mình. Một số tiến bộ nào đó để tìm hiểu những diễn biến vật chất của sự sống, đã đem lại chước cám dỗ xui con người muốn quyết định ai sẽ có quyền được sinh ra và cuộc đời mình sẽ diễn tiến thế nào. Con người quên mất nguồn gốc mình, quên hẳn sự thể bởi đâu mà mình có được thân xác, có được sự sống. Con người suy tư và hành động như thể không bị hoàn toàn tuỳ thuộc vào Đấng tạo hoá đã tạo thành y. Trong Đức Giêsu, chúng ta thờ lạy Đấng đang có, trước đây vốn có, và đến trong thế gian (Mạc khải 4, 8), nghĩa là Đấng hiện hữu ngoài thời gian, đã có trước hết mọi khởi đầu, do Người mà muôn vật được tạo thành. Lễ Giáng Sinh tức lễ Nhập Thể cho thấy một sự tự ý hạ mình nào đó của Thiên Chúa. Để làm nổi bật sự tương phản giữa tất cả và hư vô. Chúng ta được mời hãy ý thức lại về thân phận thụ tạo của mình hãy thờ phụng Thiên Chúa đã tạo thành chúng ta. Thiên Chúa là Đấng tự hữu, Người không được tạo thành- phần chúng ta, chúng ta đã được tạo thành. Vì thế, chúng ta phải suy tư và hành động theo chiều nghĩ: nhờ Thiên Chúa mà chúng ta có được mọi sự.
2) Nhờ Đức Giêsu, chúng ta thờ lạy trong tâm trí và trong sự thật. Một trong những diện chủ yếu và bi kịch nhân loại là con người thường nhiều phen lầm lạc trong khi thờ phụng. Luôn luôn con người bị cám dỗ thờ ngẫu tượng. Tại sao? Vì lẽ, nếu không có Đức Kitô thì nhân lại chỉ còn biết dò đường trong đêm tối – trí tuệ bị u ám, trái tim chán nản hết sinh động. Thế mà Đức Kitô là Ánh sáng. Người là Sự Sống, và sự sống là Ánh sáng nhân loại. Thờ phụng cách linh hoạt giống như tâm hồn tiến bước trên đường tới đích là Thiên Chúa. Phải được soi sáng mới khỏi lạc đường. Đức Kitô- Anh sáng soi sáng trí tuệ con người và chỉ con người thấy đường đi của số mệnh y.
Ánh sáng và sự sống liên kết với nhau. Kẻ thờ các ngẫu tượng (khoái lạc, danh vọng, tiền của, thế gian) thì dò dẫm trong bóng tối linh hồn, và hiến mình cho những vật chết. Cách vô hình, và nhiều phen thật bất hạnh cho y, kẻ ấy liên kết trong tâm hồn bóng tối và sự chết. Trái lại, người nào tiếp nhận ánh sáng, tức quy tắc về Chân Lý, do niềm tin vào Đức Kitô phát ra, người ấy liên kết trong tâm hồn Ánh sáng và sự sống.
Lễ Giáng Sinh mừng ánh sáng. Trong khi vui ngắm những giây đèn giăng mắc ngoài đường phố và trong tư gia, chúng ta hãy nhớ đến sự cần thiết hàng đầu là làm thế nào để Ánh sáng Đức Kitô soi sáng lòng và trí chúng ta.

 

GS-191: Chúa giáng trần

"Từ nguyên thủy đã có Ngôi Lời, và Ngôi Lời vẫn ở với Thiên Chúa, và Ngôi Lời vẫn là Thiên Chúa."
 

Chưa từng có một lời văn nào diễn tả về cuộc nhập thể của Chúa Giêsu một cách hào hùng: GS-191

Chưa từng có một lời văn nào diễn tả về cuộc nhập thể của Chúa Giêsu một cách hào hùng và trang trọng như thế. Một Thiên Chúa toàn năng đã mặc lấy xác phàm loài người chúng ta. Ngài là sự sống và là ánh sáng thế gian (Gn 1,4). Thánh Gioan nói cho ta biết trong và qua Chúa Giêsu, Thiên Chúa mặc khải cho chúng ta về tình yêu của Ngài đối với nhân loại. Thế nhưng ở ngay giữa đoạn Thánh Kinh huyền nhiệm đó, chúng ta đọc thấy câu, "Ngài đã đến nhà các gia nhân Người và đã không được đón nhận." Sau đó, Thánh Gioan lại tiếp, "Chúng tôi đã nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang Người nhận được bởi Chúa Cha, như của Người Con Một đầy ân sủng và chân lý" (Gn 1,14). Ở đây, Thánh Gioan nhấn mạnh về mầu nhiệm tình thương bao la của Thiên Chúa. Cho dù có bị chối từ, Ngài vẫn đến để trao ban tình thương cho chúng ta. Thánh Gioan đã viết tiếp rằng những ai đón tiếp Ngài thì Ngài ban cho họ được quyền làm con Thiên Chúa.
Ở đây, chúng ta hãy tự đặt ra cho mình một câu hỏi, "Làm sao để chúng ta có thể được quyền làm con Thiên Chúa? là công dân Nước Trời?" Câu trả lời chúng ta tìm thấy ngay trong Phúc Âm.
"Hãy để những trẻ nhỏ đến cùng Thầy," Chúa Giêsu đã phán với các môn đệ. "Nước Thiên Chúa thuộc về những kẻ giống như chúng. Hãy tin Ta, nếu ai không đón nhận Nước Thiên Chúa giống như chúng thì chẳng được vào Nước Trời" (Lc 18,16-17). Thật đáng tiếc là trong cuộc sống thực tế, chúng ta đang phải cảm nghiệm những cực đoan của xã hội. Mừng Giáng Sinh không có nghĩa là chúng ta được giải thoát khỏi cái thế giới đầy hỗn độn này. Hôm nay chúng ta tụ tập nơi đây để chia sẻ niềm vui và nỗi khổ của nhau. Chúng ta không thể phủ nhận sự hiện diện của những thử thách và gian nan trong cuộc sống của mỗi cá nhân. Có lẽ một số các bạn bây giờ đang phải khổ não phiền muộn. Một số người trong chúng ta đang suy tư về sự hiện hữu của mình. Các nước đang chiến tranh với nhau. Nhiều người đang phải đói khổ. Những tên khủng bố đang ngầm phá. Các nước lớn đang dự trữ vũ khí nguyên tử để hăm dọa nhau. Thế nhưng giữa những điều tiêu cực đó, sứ điệp của Giáng Sinh nói với chúng ta rằng Thiên Chúa sẽ toàn thắng và sự dữ không thể thắng được Ngài. Không bao giờ!
Trong giây phút linh thiêng của ngày Lễ Giáng Sinh, các bạn hãy để cho tâm hồn mình mở rộng để bình an của Chúa đổ tràn vào. Hãy trở nên những trẻ nhỏ. Hãy thưa tiếng "Xin Vâng" với Thiên Chúa. Ngài sẽ làm tất cả. Ngài sẽ tẩy rửa và chữa lành chúng ta, và ban cho chúng ta sự sống mới. Ngài còn chỉ cho chúng ta con đường công chính dẫn đến ơn cứu độ. Ngài sẽ ban cho chúng ta sức mạnh để chúng ta có thể chu toàn nhiệm vụ của chúng ta.
Khi chúng ta còn đang nói về câu truyện Giáng Sinh, thì có lẽ chúng ta còn phải tưởng nghĩ đến một phần của câu truyện Giáng Sinh nữa là phần Đức Maria đang ngồi trên lưng con lừa đi bên cạnh Thánh Giuse trên con đường gồ ghề lởm chởm từ Galilêa đến Giuđêa. Khi đến Bethlehem, thì cả hai đều phải đối diện với một sự tủi khổ đó là cái nghèo. Chuyện xảy ra cách đây hai ngàn năm cũng đang xảy ra ngày nay. Nếu các bạn có tiền, các bạn có thể tìm được chỗ ở khách sạn, cho dù khách sạn đó có ghi câu "hết chỗ" (No Vacancy). Thánh Giuse và Đức Mẹ đều không có tiền nên cả hai đã đi ra cánh đồng và ở trọ trong một hang bò lừa. Sau khi sinh ra, Gia Đình Thánh Gia còn chưa được ổn định. Vua Hêrôđê đã lùng bắt Chúa Giêsu để giết, và cả ba Đấng Thánh lại phải chạy trốn sang Ai-Cập. Những chuyện bất công, lừa dối, giết chóc, kiêu căng, nghèo khổ... tất cả đều có đầy đủ trong câu truyện Giáng Sinh. Giáng Sinh không chỉ là một cuộc vui mừng đượm bằng những cây thông, gói quà, kẹo ngọt... nhưng là một sứ điệp rằng Chúa Giêsu đã xuống thế gian với chúng ta để chia sẻ cho chúng ta tình yêu bao la của Ngài. Tình yêu của Ngài ở với chúng ta trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời.
Xin các bạn hãy lãnh nhận lấy Chúa Hài Đồng để Ngài ban cho các bạn sức mạnh và tình yêu để các bạn có thể chia sẻ những ơn ấy cho người khác.
Xin kính chúc tất cả các bạn được an hưởng một mùa Giáng Sinh đầy tràn ơn bình an và hạnh phúc của Chúa Hài Đồng!

 

GS-192: Đêm Ánh Sáng - ĐTGM. Giuse Ngô quang Kiệt

Đêm Giáng sinh chìm trong lớp lớp bóng tối dày đặc. Bóng tối tự nhiên của một đêm mùa đông: GS-192

Đêm Giáng sinh chìm trong lớp lớp bóng tối dày đặc.
Bóng tối tự nhiên của một đêm mùa đông ảm đạm. Bóng tối cay đắng của đêm dài nô lệ khi đất nước chìm trong ách thống trị ngoại bang. Bóng tối âm thầm nhẫn nhục của những kiếp người nghèo hèn lam lũ. Bóng tối âm u trong túp lều lúc nhúc súc vật hôi tanh. Bóng tối u mê của tội lỗi nhơ nhớp.
Giữa màn đêm dày đặc, Hài nhi Giêsu xuất hiện như một làn ánh sáng rực rỡ.
Đó là ánh sáng tình yêu.
Tình yêu vốn là một ngọn lửa vừa chiếu sáng vừa sưởi ấm. Hài nhi Giêsu là kết tinh tình yêu của Thiên chúa dành cho nhân loại. Tình yêu đã đi đến tận cùng vì đã trao ban cho nhân loại món quà cao quí nhất không gì có thể so sánh được. Trao ban Đức Giêsu là cho tất cả, không còn có thể cho thêm gì nữa. Đức Giêsu là hiện thân của tình yêu Thiên chúa đi tìm con người. Thiên chúa đã hạ mình thẳm sâu để xuống gặp con người. Thiên chúa đã tìm thấy con người trong những khốn cùng tột độ của nó. Thật lạ lùng, Thiên chúa quá yêu thương đến độ kết hợp với sự khốn cùng của nhân loại. Thiên chúa đã cưới lấy bản tính nhân loại. Bóng đêm nhân loại nhận được ánh sáng của Thiên chúa. Bóng đêm khổ đau nhận được ánh sáng yêu thương. Anh sáng Thiên chúa soi sáng kiếp người tăm tối. Ánh sáng Thiên chúa sưởi ấm cho nhân loại lạnh lẽo.
Đó là ánh sáng niềm tin.
Anh sáng Giáng sinh chiếu toả trên những tâm hồn thiện chí. Đêm nhân gian vẫn còn mê đắm. Nhưng vẫn có những tâm hồn thiện chí tỉnh thức. Đó là những tâm hồn bé nhỏ nghèo hèn. Đó là những cuộc đời khiêm tốn sống âm thầm trong bóng tối. Đó là những người nghèo của Thiên chúa. Đó là thánh Giuse, Đức Maria. Đó là Ba Vua. Đó là các mục đồng. Khiêm nhường nên các ngài sẵn sàng đón nhận thánh ý Thiên chúa. Tỉnh thức nên các ngài nhạy bén đón nhận những dấu chỉ Thiên chúa gửi đến. Thiện chí nên các ngài hăng hái lên đường ngay khi nhận được tín hiệu. Đơn sơ nên các ngài nhận được ánh sáng. Hê rô đê và Giê ru sa lem chìm trong mê đắm nên ngôi sao đã tắt. Trái lại "vinh quang của Chúa chiếu toả chung quanh các mục đồng". Và ngôi sao xuất hiện dẫn đường cho Ba Vua. Anh sáng đã bao phủ các ngài. Anh sáng đã dẫn đưa các ngài đến bên máng cỏ. Anh sáng đã khiến các ngài nhìn thấy "một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ" và các ngài đã tin.
Đó là ánh sáng hi vọng.
Hài nhi Giêsu là hạt giống bé bỏng Thiên Chúa gieo vào thế giới. Những tâm hồn thiện chí là mảnh đất phì nhiêu. Những người nghèo của Thiên chúa âm thầm kiên trì chờ đợi. Những tâm hồn thiện chí như Ba Vua ngước mắt lên trời tìm kiếm. Niềm khao khát đã được đáp ứng. Đã đến mùa Thiên chúa gieo hạt. Hạt mầm thần linh gieo vào xác phàm sẽ thần hoá cả nhân loại. Hạt giống Giêsu sẽ triển nở thành cây cao bóng cả cho muôn loài trú ngụ. Mặt trời bé nhỏ Giêsu sẽ trở thành mặt trời chính ngọ soi chiếu đêm tối nhân gian. Anh bình minh Giêsu hứa hẹn một ngày mới chan hoà ánh sáng. Với Hài nhi Giêsu, một thời đại mới khởi đầu : những người bé nhỏ được nâng lên, những người nghèo hèn được kính trọng. Giê su chính là hạt mầm hi vọng Thiên chúa gieo vào thế giới.
Đó là ánh sáng Tin mừng.
Được thắp lửa, những tâm hồn thiện chí trở thành những ngọn đuốc, không chỉ sáng lên niềm vui, niềm tin, niềm hi vọng, mà còn chia sẻ ánh sáng với những người chung quanh. "Họ kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này". Tin mừng được loan đi. Niềm vui lan tới mọi tâm hồn. Anh sáng bừng lên phá tan đêm tối.
Hài nhi Giêsu như mầm cây vừa nhú. Mầm cây cần bàn tay ân cần chăm bón để vươn thành cổ thụ cành lá xum xuê. Hài nhi Giêsu như ngọn nến đem ánh sáng vào đêm tối. Ngọn nến cần được nhiều bàn tay liên đới chuyền nhau cho ánh sáng lan rộng.
Xin cho con được trái tim của các mục đồng biết mở lòng ra đón nhận ánh sáng và biết đem ánh sáng của Chúa đi khắp nơi, để đêm tối trần gian được ngập tràn ánh sáng huy hoàng của Chúa.

 

GS-193: Bình an dưới thế cho loài người Chúa thương

Chúng ta vừa nghe thánh Luca thuật lại cuộc giáng sinh của Chúa Giêsu, chúng ta hãy nhìn vào: GS-193

Chúng ta vừa nghe thánh Luca thuật lại cuộc giáng sinh của Chúa Giêsu, chúng ta hãy nhìn vào hang đá thì sẽ thấy được sự khó nghèo của Con Thiên Chúa giáng trần làm người : chỉ có một vài mục đồng đến viếng thăm, và một vài con lừa hà hơi sưởi ấm cho hài nhi Giêsu, tất cả chỉ có thế, nghèo nàn khổ cực hơn cả người cùng cực thế gian, nhưng đó chính là niềm vui của các tâm hồn thiện chí và là sự cứu độ của toàn thể nhân loại.
Đêm nay, chúng ta hân hoan long trọng mừng Đấng Cứu Độ của chúng ta là Chúa Giêsu đã giáng trần, đó là một tin vui trọng đại, tin vui cho muôn người, tin vui này được các sứ thần của Thiên Chúa loan báo cho các mục đồng : “Anh em đừng sợ. Này tôi loan báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng sẽ là niềm vui cho toàn dân : Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành Đa-vít. Người là Đấng Kitô, là Đức Chúa”.(Lc 2, 10-11)
Đêm nay được gọi là “Đêm Thánh” vì Con Thiên Chúa là Đấng Thánh đã giáng trần cứu độ nhân loại khỏi tội lỗi; đêm nay cũng được gọi là “Đêm Bình An” vì chính sự giáng trần của Con Thiên Chúa là sự bình an cho mọi tâm hồn thiện chí biết xây dựng hòa bình cho anh em.
Vinh danh Thiên Chúa trên trời
Bình an dưới thế cho loài người Chúa thương.
Lời ca khen hát mừng của các sứ thần trong ngày Chúa Giêsu giáng sinh vẫn còn đó, vang lên trong mọi tâm hồn của người tín hữu, và biến thành lời ca vang chúc bình an trên môi miệng của chúng ta với ước mong rằng, tất cả mọi người đều làm sáng danh Thiên Chúa và đem bình an cho tha nhân trong cuộc sống của mình.
Vinh danh Thiên Chúa trên trời
Bình an dưới thế cho loài người Chúa thương.
Lời ca chúc mừng này biến chúng ta trở thành những mục đồng đi đến thăm viếng Chúa Giêsu khó nghèo nơi các trại mồ côi, an ủi những người bị tù ngục và những tâm hồn đau khổ vì bị bạc đãi trong xã hội này.
Đêm nay, ngoài đường vắng bóng người mặc áo quần lụa là, vì họ đang quây quần vui vẻ nâng ly rượu với bạn bè trong những nhà hàng sang trọng; nhưng đây đó dưới gầm cầu, bên góc xó hàng hiên của ngôi nhà to lớn bên đường có những em bé Giêsu đang nằm co ro vì lạnh vì đói và không nhà để trở về vì không có hộ khẩu...
Chúa Giêsu đã giáng trần cách đây hơn hai ngàn năm, và hôm nay, mỗi ngày Ngài đều giáng trần trong tâm hồn của chúng ta, để qua chúng ta, Ngài được an ủi nơi những người bất hạnh, như sứ điệp hòa bình mà các thiên thần đã loan báo : Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương.
Sứ điệp này đang ở trước mặt anh chị em, trong hang đá lộng lẫy ánh đèn nhấp nháy sáng lóe tia hy vọng, như mời gọi chúng ta hãy tỏa sáng lên tình yêu của Thiên Chúa trong cuộc sống của mỗi người, bởi vì Con Thiên Chúa giáng trần không phải như ánh sao xẹt ngang bầu trời rồi tắt ngúm, nhưng là “ánh sao sáng vĩnh cửu” đầy hy vọng soi sáng tâm hồn người thất vọng, chiếu sáng người đang ở trong bóng đêm tội lỗi thấy đường để quay về với sự thiện vốn có của mình...
Xin Thiên Chúa chúc lành cho chúng ta.

 

GS-194: Chiêm ngắm Ngôi Lời

Ngôi Lời đã làm người và cư ngụ giữa chúng ta, đó là lời rao giảng đầy xác tín của thánh Gioan: GS-194

Ngôi Lời đã làm người và cư ngụ giữa chúng ta, đó là lời rao giảng đầy xác tín của thánh Gioan tông đồ mà chúng ta vừa nghe trong bài tin mừng hôm nay.
Ngôi Lời ấy chính là Chúa Giêsu Kitô, Đấng mà tối hôm qua chúng ta long trọng, hân hoan và phấn khởi mừng kỷ niệm ngày Ngài giáng trần và ở giữa chúng ta, nhưng với đức tin Kitô giáo, chúng ta đi xa hơn nữa để nhìn thấy và chiêm ngắm Đấng vì Yêu mà trở thành xác phàm như chúng ta.
1. Chiêm ngắm Ngôi Lời trong hang đá
Không ai thấy được Thiên Chúa cũng như không ai được đưa tay đụng chạm đến Ngài, nhưng nhờ Ngôi Lời mà chúng ta biết được Thiên Chúa Cha là Đấng đã yêu thương nhân loại là dường nào.
Hôm nay chúng ta chiêm ngắm em bé Giêsu nhỏ xíu đang nằm trong hang đá, em bé Giêsu tội nghiệp ấy chính là hình ảnh của Thiên Chúa Cha là Đấng vô hình, và là hình ảnh tuyệt đẹp của con người hữu hình. Trẻ Giêsu đang nằm đó, chúng ta nhìn và suy nghĩ đến hang đá Bêlem xưa kia, trời lạnh cực điểm mà không có mảnh chiếu che thân, chúng ta tội nghiệp cho Mẹ Maria và thánh cả Giuse là một gia đình nghèo đáng thương hại.
Đấng tạo dựng đất trời đang nằm trong hang đá đó chính là Đấng mà muôn dân trông đợi, Ngài đã đến nhưng người nhà không chấp nhận, xua đuổi Ngài ra nơi chuồng bò, và chỉ có những người vô danh tiểu tốt đến thờ lạy Ngài là vua vũ trụ...
2. Chiêm ngắm Ngôi Lời nơi Thánh Thể
Ngôi Lời là Thiên Chúa mà chúng ta đang ngắm nơi hang đá được trang hoàng lộng lẫy đẹp mắt ấy, chút xíu nữa đây trên bàn thờ, trong hình bánh rượu sẽ trở thành Bánh Thánh Máu Thánh nuôi sống linh hồn chúng ta.
Một Thiên Chúa làm người nằm trong hang đá Bêlem cũng là Thiên Chúa đang ngự trên bàn thờ nơi bí tích Thánh Thể, đã trở thành tình yêu dâng hiến và chia sẻ : dâng hiến chức phận Thiên Chúa và chia sẻ thân phận làm người với nhân loại tội lỗi...
Chiêm ngắm Chúa Giêsu Thánh Thể để nhìn thấy được tình yêu không bến bờ mà Ngài đã dành cho chúng ta, trong suốt cuộc sống của Ngài ở trần gian và sau khi về trời, chính tình yêu ấy đã làm cho gia đình hòa thuận yêu thương, chính tình yêu ấy đã làm cho xa hội phát triễn trong hòa bình, chính tình yêu ấy là mẫu gương đại đồng nhân loại sống hợp tác và tương trợ lẫn nhau...
Chúa Giêsu vẫn cứ khiêm tốn và nghèo mãi nơi hang đá Bêlem cũng như nơi bí tích Thánh Thể, không có hang đá Bêlem nghèo nàn thì cũng không có đồi Calvê trơ trọi thê lương, nhưng chính cái nghèo khó và thê lương ấy đã trở nên nguồn sống cho những ai tin vào Ngài nơi bí tích Thánh Thể, đó chính là mầu nhiệm mà hôm nay chúng ta mừng kính : mầu nhiệm Ngôi Hai Thiên Chúa làm người và mầu nhiệm Ngôi Hai cứu chuộc...
3. Ngắm Chúa Giêsu nơi tha nhân
Mừng lễ Chúa Giêsu giáng sinh là mừng tình yêu cứu độ của Thiên Chúa dành cho nhân loại qua Con Một của Ngài là Chúa Giêsu, ngắm nhìn Hài Nhi trong hang đá chúng ta nhớ đến những em bé nghèo khó trên khắp thế giới sống trong cảnh khó nghèo; chúng ta cũng nhớ đến những người phải lìa xa quê hương ruột thịt để lánh nạn chiến tranh cường hào ác bá; chúng ta cũng suy nghĩ đến biết bao Giêsu đang bị bạc đãi trên khắp thế giới vì chính kiến, vì hận thù và vì đức tin...
Ngắm nhìn Chúa Giêsu nơi tha nhân là cốt lõi của tình yêu và giáo huấn của Ngài để lại cho nhân loại -qua Giáo Hội- bởi vì chúng ta không thể sống mầu nhiệm tình yêu bằng cách thờ ơ với tha nhân, và chúng ta cũng không thể trở nên một chứng nhân cho tình yêu nếu tâm hồn chúng ta vắng bóng Chúa Giêsu Thánh Thể.
Lễ giáng sinh rồi cũng qua đi nhưng ơn cứu độ vẫn tồn tại cho đến tận thế; hang đá lộng lẫy rồi cũng được cất vào kho nhưng những người nghèo khó bất hạnh vẫn còn đó, trước mắt chúng ta, đó là một thực tại không thể làm ngơ, là người Kitô hữu chúng ta phải làm gì để Chúa Giêsu tiếp tục mỗi ngày sinh ra trong tâm hồn những con người bất hạnh ấy, đó chính là sứ điệp giáng sinh của mỗi người trong chúng ta.
Câu hỏi gợi ý :
- Bạn có thói quen tặng thiệp, quà Noel cho người nghèo không ?
- Mỗi lần Noel đến, bạn có nghĩ rằng bạn sống tốt thêm Noel năm ngoái không ?
- Mỗi lần tặng thiệp, quà Noel cho bạn bè, bạn có nghĩ rằng mình là một thiên thần đem tin vui cho mọi người không ?
Xin Thiên Chúa chúc lành cho chúng ta.

 

GS-195: Con đường Thiên Chúa đi đến với nhân loại

Suy niệm Giáng Sinh 2007:
«Bà sinh con trai đầu lòng, lấy tả bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ, vì hai ông bà không tìm được chỗ trong quán trọ».
 

Câu Kinh Thánh ngắn ngủi trên đã nói lên đầy đủ tính cách thanh đạm, nghèo hèn và trăm bề:GS-195

Câu Kinh Thánh ngắn ngủi trên đã nói lên đầy đủ tính cách thanh đạm, nghèo hèn và trăm bề thiếu thốn của Con Thiên Chúa trong khi sinh hạ cứu đời tại làng Bê-lem. Tại sao vậy?
Khi giáng trần đến với loài người chúng ta để cứu độ chúng ta, Thiên Chúa đã chọn cách thức đến như một hài nhi yếu đuối cần sự giúp đỡ chở che nhân loại của chúng ta. Qua đó Người muốn giúp chúng ta, muốn tạo điều kiện cho chúng ta, không những để được nhận lãnh tình yêu của Người, nhưng còn đáp trả lại tình yêu đó bằng những hành động cụ thể của tình yêu. Vâng, tình yêu đích thực không phải là lối đi một chiều, nhưng là cho đi và trao lại, là hiến dâng và lãnh nhận, vì «có đi có lại mới toại lòng nhau». Và cả khi một người giàu ban tặng cho một người nghèo một món quà, ông ta cũng sẽ rất vui mừng và hài lòng khi người nghèo biết đáp trả lại bằng một món quà nào đó, dù trong thực tế người giàu kia không cần tới món quà người nghèo vừa trao tặng. Cũng vậy, Thiên Chúa cũng rất hài lòng về chúng ta, khi chúng ta cũng biết thành tâm đáp trả lại tình yêu vô biên của Người bằng một hành động cụ thể của tình yêu chân thành!
Chúng ta có cảm nhận được những thách đố của Thiên Chúa không? Tình yêu đòi hỏi phải có tự do, nói cách khác, tình yêu chân chính phải được xuất phát từ sự tự do. Không ai có thể ép buộc được tình yêu. Người ta chỉ có thể mong muốn hay chiêu mộ nó mà thôi. Qua Hài Nhi trong máng cỏ Bê-lem, Thiên Chúa thực sự mong muốn và chiêu mộ tình yêu của chúng ta. Và chúng ta hoàn toàn được tự do, có thể đáp trả lại hay từ chối lời mời gọi của Người. Thiên Chúa luôn kính trọng sự tự do của con người mà chính Người đã ban cho họ, và Người vẫn kiên nhẫn chờ đợi câu trả lời của họ : Ðồng ý hay không đống ý! Dĩ nhiên con người cũng phải nhận lấy những hậu quả và trách nhiệm của câu trả lời của mình! Ðó là luật công bằng.
Vâng, Ðức Maria đã âu yếm lấy tả bọc cho con mình vừa mới được sinh ra và đặt nhẹ vào nằm trong máng cỏ; Về sau những kẻ khác đã hùng hổ và tàn bạo giật xé áo quần thấm đẫm máu của Người ra khỏi thân. Những người dân cư Bê-lem từ chối không cho Người vào nhà, các mục đồng nghèo khó lại vui mừng được đón rước Người vào trọ trong chuồng chiên của họ. Hê-rô-đê tìm cách sát hại Hài Nhi. Thánh Giuse đã làm tất cả để cứu thoát và bảo vệ Hài Nhi. Thiên Chúa đã để cho cả hai xảy ra. Ðức Giêsu đã để cho cả hai xảy ra. Người đã để cho Ma-đa-lê-na lấy những giọt nước mắt ăn năn thống hối của bà để lau chân Người và Người cũng để cho những tên lính lấy đòng đâm thủng trái tim Người. Người đã để cho Phêrô chối bỏ Người, Giu-đa Ít-ca-ri-ốt phản bội Người, Sao-lô bắt bớ Người và Tê-pha-nô lại hy sinh chết cho Người! Ðứng dưới chân thánh giá bên cạnh những kẻ thoá mạ xỉ nhục Người, có cả Simon thành Cy-rê-nê, người đã vác đỡ thánh giá cho Người và Vê-rô-ni-ca, người đàn bà đã trao khăn cho Người lau mặt; có cả những tên tử tội, đứa bên phải đứa bên trái Người; nhưng nhất là giữa đám người đầy lòng căm thù ghen ghét Người đang vui mừng hả dạ lớn tiếng mĩa mai Người, vì đã giết chết được Người, thì có cả Mẹ Người và người môn đệ Người yêu thương nhất, đang đau đớn thương khóc Người!
Như thế, lời tiên tri của Si-mê-on trước kia đã hoàn toàn ứng nghiệm: «Thiên Chúa đã đặt cháu bé này làm duyên cớ cho nhiều người trong Ít-ra-en phải vấp ngã hay được chổi dậy» (Lc 2,34).
Tình trạng tương tự vẫn tiếp tục tồn tại trong cuộc sống con người ngày nay. Thiên Chúa không bao giờ ép buộc ai phải chấp nhận, tôn thờ hay yêu mến Người. Người chỉ đòi buộc mỗi người phải quyết định: theo hay bỏ rơi Người, phò hay chống lại người! Người không còn cư ngụ giữa chúng ta bằng xương bằng thịt như xưa, nhưng Người vẫn muốn cho tình yêu tiếp tục được tỏ bày bằng hành động một cách hoàn toàn cụ thể, chứ không chỉ là tình cảm suông mà thôi. Vì thế Người đã tuyên bố liên đới với tất cả những người yếu đuối nghèo khổ : «Những gì các ngươi làm cho một người bé nhỏ nhất trong các anh em Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy» (Mt 25,40b).
Bởi vậy, nếu chúng ta không chịu mở cửa lòng mình ra cho những người nghèo khổ, chúng ta đã không hành động khác hơn những dân cư Bê-lem xưa kia, khi Giuse và Maria vô vọng đứng gõ cửa nhà họ!
Bởi vậy, nếu chúng ta vất vã lo lắng trang hoàng chẳng những nhà cửa gia đình chúng ta, mà nhất là nhà thờ giáo xứ một cách hết sức lộng lẫy với mọi thứ hoa nến rực rỡ đủ màu sắc và tiếp đến là những lễ nghi vô cùng trang nghiêm sốt sắng, v.v…, thế nhưng lòng từ tâm, tình bác ái của chúng ta đối với những người đồng loại, nhất là đối với những người bất hạnh, lại hoàn toàn khép kín, thì Thiên Chúa sẽ không chút vui nhận tất cả mọi cố gắng kia, như Người đã hành động đối với các lễ nghi thờ cúng trang trọng và hùng vĩ xưa kia trong đền thờ Giê-ru-sa-lem.
Không thể có lễ Giáng Sinh, nếu không có Ðức Giêsu. Nhưng Ðức Giêsu sẽ không đến, nếu những người anh chị em của Người, những người nghèo túng và đói khổ, phải đứng ở ngoài. Hôm nay Người cũng tiếp tục đứng gõ vào cửa gia đình chúng ta, gõ vào cửa nhà thờ giáo xứ chúng ta. Chúng ta có lắng nghe được tiếng gõ cửa của Chúa không? Chúng ta hãy cầu nguyện cho nhau để chúng ta biết lắng nghe tiếng gõ cửa của Chúa Cứu Thế và mở cho Người và các anh em nghèo đói của người bước vào trong.
Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến, chúng con không chỉ đã dọn sẵn bàn tiệc Thánh Thể; cả bàn tiệc cho những anh chị em đồng loại nghèo đói của chúng con cũng đã sẵn sàng qua việc làm phúc bố thí của chúng con trong ngày đại lễ hôm nay. Xin Chúa hãy chấp nhận chút lòng thành của chúng con dành cho những anh chị em đó của chúng con và xin giúp chúng con luôn biết tiếp tục chia sẻ với họ cả trong những ngày tháng sắp tới nữa! Amen
Lm Nguyễn Hữu Thy

 

GS-196: Đánh mất cơ hội ngàn vàng

Có một vị hoàng thái tử vào rừng săn bắn tình cờ gặp một cô gái quê đang kiếm củi một:GS-196

Có một vị hoàng thái tử vào rừng săn bắn tình cờ gặp một cô gái quê đang kiếm củi một mình. Không hiểu Trời xui đất khiến làm sao mà hai con người có địa vị cách biệt quá xa lại tỏ ra tâm đầu ý hợp và hai bên lại yêu nhau tha thiết ngay từ lần gặp gỡ đầu tiên.
Hoàng tử quay về triều như kẻ mất hồn, ngày đêm tương tư cô gái nghèo mà anh đã đem lòng thương mến. Thế rồi, do lòng yêu thương thúc đẩy, anh khẩn khoản xin vua cha cưới nàng cho bằng được.
Để tìm hiểu xem cô gái có thực sự yêu thương con trai mình bằng tình yêu chân thực, hay chỉ yêu chàng vì gia tài, địa vị, quyền thế của chàng, vua cha khiến hoàng tử cải trang làm nông dân để thử lòng cô gái.
Thế là vị hoàng tử quyền quý hoá thành người nông dân, đến cắm lều gần nhà cô gái, ngày ngày vác cuốc ra đồng làm lụng, làn da cháy nắng, đôi tay chai sần. Anh lân la đến làm quen với cô gái trong hình hài một nông dân.
Mặc dù cô gái vẫn thầm yêu và khát mong được kết hôn với vị hoàng tử mà cô đã gặp trong rừng, nhưng trớ trêu thay, cô ta không nhận ra vị hoàng tử nầy trong hình hài người nông dân nghèo khổ. Cô đã đối xử với anh rất lạnh nhạt và cuối cùng đã xua đuổi anh đi, trong khi lòng cô vẫn thổn thức nhớ thương chàng hoàng tử hào hoa mà cô đã gặp trong rừng!
Tiếc thay, cô đã đánh mất cơ hội vô cùng quý báu: mất một người yêu lý tưởng, mất luôn cả vinh dự trở thành công nương, thành hoàng hậu tương lại.
Như vị hoàng tử hoá thân thành nông dân đến cắm lều ở bên cạnh nhà cô gái, Ngôi Hai Thiên Chúa đã từ bỏ ngai trời, hoá thân thành người phàm và đến ở giữa chúng ta. Ngài là Emmanuen, Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Ngài tự đồng hoá mình với những người láng giềng đang sống với ta.
Chúa Giê-su khẳng định rằng tha nhân là hiện thân của Ngài. Ngài phán: "những gì các ngươi đã làm cho các anh chị em bé mọn của Ta đây là các ngươi đã làm cho chính Ta". (Matthêu 25, 40. 45)
Và hôm xưa, đang khi Sao-lô dong ruổi trên đường Đa-mát, tìm bắt những người tín hữu của Chúa, thì chính Chúa Giê-su quật ngã ông xuống ngựa và cảnh cáo ông: "tại sao ngươi bắt bớ Ta?" (chứ không nói là tại sao ngươi bắt bớ các tín hữu của Ta) (Rm 9,4).
Đức Giáo Hoàng Gioan Phao-lô II cũng dựa vào giáo huấn nầy để nhắn nhủ các gia đình: "Thiên Chúa đã tự đồng hoá với người cha, người mẹ, người con trong gia đình. Những gì mà cha, mẹ, con cái làm cho nhau là làm cho chính Chúa" (tâm thư gửi các gia đình)
Thật trớ trêu, đang khi chúng ta vẫn yêu mến, suy tôn chúc tụng Thiên Chúa uy linh trên cõi trời cao, chúng ta lại tỏ ra thờ ơ hờ hững và thậm chí còn đối xử tồi tệ với tha nhân là những chi thể của Ngài, là hiện thân của Ngài đang hiện diện chung quanh.
Thánh Phanxicô Assisi nhận ra người phong cùi là một phần chi thể đang bị ung nhọt của Chúa nên ngài đã ôm hôn người phong ấy với tình yêu thắm thiết.
Mẹ Tê-rê-xa thành Calcutta cũng đã nhận ra những người bệnh tật, hấp hối là những phần chi thể bị tổn thương của Chúa Giê-su nên Mẹ đã dành phần lớn đời mình yêu thương chăm sóc họ. Mẹ còn dạy các tập sinh hãy trân trọng những người hấp hối cùng khổ trong nhà Lâm Chung như tôn trọng Mình thánh Chúa Giê-su.
Hôm nay, Thiên Chúa vẫn tiếp tục đóng vai người nông dân, người cùng khổ, người láng giềng, người bạn đồng nghiệp và cả những người nhà, để sống với chúng ta. Thế nhưng chúng ta rất khó nhận ra đó là hiện thân của Thiên Chúa nên thường đối xử tệ bạc với tha nhân. Thế là bi kịch cô gái nghèo hết lòng yêu thương chàng hoàng tử hào hoa nhưng lại phụ bạc anh ta dưới lốt nông dân nghèo khổ vẫn còn đang tiếp diễn từng ngày, từng giờ từng phút. Thế là "Người đã đến nhà của Người mà người nhà đã không tiếp nhận Người." (Gioan 1, 11)
Thật vô cùng đáng tiếc cho cô gái trong câu chuyện trên đây vì cô đã đánh mất cơ hội ngàn vàng: cơ hội trở thành công nương chốn cung đình, cơ hội được hạnh phúc trăm năm bên hoàng tử giàu sang phú quý!
Và cũng vô cùng đáng tiếc cho chúng ta khi chúng ta tiếp tục lặp lại bi kịch ấy trong cuộc đời mình.
Lm Inhaxiô Trần Ngà

 

GS-197: TIN MỪNG TRỌNG ĐẠI!

LỄ CHÚA GIÁNG SINH NĂM B/LỄ ĐÊM (25.12.2008)
I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ       
 

Lễ Giáng Sinh là Lễ của Niềm Vui vì Thiên Chúa bộc lộ Tình Thương bao la của Người dành: GS-197

Lễ Giáng Sinh là Lễ của Niềm Vui vì Thiên Chúa bộc lộ Tình Thương bao la của Người dành cho loài người, nhất là với những người nghèo và những người sống bên lề xã hội.
Mừng Lễ Chúa Giáng Sinh cách tốt nhất là chúng ta chiêm ngắm Chúa Giêsu Hài Đồng trong máng cỏ nơi hang đá Bêlem và suy niệm những Lời Thánh Kinh nói về Người là Chúa Cứu của toàn nhân loại.

II. LẮNG NGHE & TÌM HIỂU LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH
2.1 Lắng nghe Lời Chúa trong ba bài Thánh Kinh
(1) Bài đọc 1: Is 9,1-6: Ơn giải thoát.
(1) Dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng; đám người sống trong vùng bóng tối, nay được ánh sáng bùng lên chiếu rọi. (2) Chúa đã ban chứa chan niềm hoan hỷ, đã tăng thêm nỗi vui mừng. Họ mừng vui trước nhan Ngài như thiên hạ mừng vui trong mùa gặt, như người ta hỷ hoan khi chia nhau chiến lợi phẩm. (3) Vì cái ách đè lên cổ dân, cây gậy đập xuống vai họ, và ngọn roi của kẻ hà hiếp, Ngài đều bẻ gẫy như trong ngày chiến thắng quân Mađian. (4) Vì mọi giầy lính nện xuống rần rần và mọi áo choàng đẫm máu, sẽ bị đem thiêu, làm mồi cho lửa. (5)  Vì một trẻ thơ đã chào đời để cứu ta, một người con đã được ban tặng cho ta. Người gánh vác quyền bính trên vai, danh hiệu của Người là Cố Vấn kỳ diệu, Thần Linh dũng mãnh, người Cha muôn thuở, Thủ Lãnh hòa bình. (6) Người sẽ mở rộng quyền bính, và lập nền hòa bình vô tận cho ngai vàng và vương quốc của vua Đavít. Người sẽ làm cho vương quốc được kiên cố vững bền trên nền tảng chính trực công minh, từ nay cho đến mãi muôn đời. Vì yêu thương nồng nhiệt, ĐỨC CHÚA các đạo binh sẽ thực hiện điều đó.      
(2) Bài đọc 2: Tt 2,11-14: Đời sống mới.
(11) Quả thế, ân sủng của Thiên Chúa đã được biểu lộ, đem ơn cứu độ đến cho mọi người. (12) Ân sủng đó dạy chúng ta phải từ bỏ lối sống vô luân và những đam mê trần tục, mà sống chừng mực, công chính và đạo đức ở thế gian này. (13) Sở dĩ như vậy, là vì chúng ta trông chờ ngày hồng phúc vẫn hằng mong đợi, ngày Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa vĩ đại và là Đấng Cứu Độ chúng ta xuất hiện vinh quang. (14) Vì chúng ta Người đã tự hiến để cứu chuộc chúng ta cho thoát khỏi mọi điều bất chính, và để thanh luyện chúng ta thành Dân riêng của Người, một dân hăng say làm việc thiện.
(3) Bài Tin Mừng: Lc 2,1-14: Đức Giêsu ra đời. Những người chăn chiên đến viếng thăm.
 (1) Thời ấy, hoàng đế Augustô ra chiếu chỉ, truyền kiếm tra dân số trong khắp cả thiên hạ (2) Đây là cuộc kiểm tra đầu tiên, được thực hiện thời ông Quiriniô làm tổng trấn xứ Xyri. (3) Ai nấy đều phải về nguyên quán mà khai tên tuổi (4) Bởi thế ông Giuse từ thành Nagiarét, miền Galilê lên thành vua Đavít tức là Bêlem, miền Giuđê, vì ông thuộc gia đình dòng tộc Đavít. (5) Ông  lên đó khai tên cùng với người đã thành hôn với ông là bà Maria, lúc ấy đang có thai. (6) Khi hai người đang ở đó, thì bà Maria đã tới ngày mãn nguyệt khai hoa. (7) Bà sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ, vì hai ông bà không tìm được chỗ trong nhà trọ.
 (8) Trong vùng ấy, có những người  chăn chiên sống ngoài đồng và thức đêm canh giữ đàn vật. (9) Bỗng sứ thần Chúa đứng bên họ, và vinh quang của Chúa chiếu tỏa chung quanh, khiến họ kinh khiếp hãi hùng (10) Nhưng sứ thần bảo họ: "Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân: (11) Hôm nay một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đavít, Người là Đấng Kitô Đức Chúa. (12) Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người: anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ." (13) Bỗng có muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa rằng:
(14) Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương."
2.2 Trong ba bài Thánh Kinh trên, chúng ta khám phá ra Thiên Chúa là Đấng nào?   
2.2.1 Thiên Chúa mà ngôn sứ Isaia công bố là "một trẻ thơ đã chào đời để cứu ta, một người con đã được ban tặng cho ta. Người gánh vác quyền bính trên vai, danh hiệu của Người là Cố Vấn kỳ diệu, Thần Linh dũng mãnh, người Cha muôn thuở, Thủ Lãnh hòa bình". Sứ mạng được giao cho Người là "mở rộng quyền bính, và lập nền hòa bình vô tận cho ngai vàng và vương quốc của vua Đavít. Người sẽ làm cho vương quốc được kiên cố vững bền trên nền tảng chính trực công minh, từ nay cho đến mãi muôn đời." 
2.2.2 Thiên Chúa mà Thánh Phaolô muốn nói với đồ đệ Titô và hết thẩy các tín hữu là Đấng đã ban dồi dào ân sủng, đã ban ơn cứu độ cho mọi người. Người là Thiên Chúa vĩ đại và cứu độ sẽ xuất hiện vinh quang nơi Đức Giêsu Kitô trong ngày quang  lâm.
2.2.3 Thiên Chúa mà Thánh Luca muốn giới thiệu với thế giới là Thiên Chúa đã giáng sinh làm người, làm một trẻ sơ sinh được bọc tã nằm trong máng cỏ,  nhưng lại được các thiên thần hát ca chào đón. Chính Hài Nhi Giêsu bé bỏng ấy là Đấng đem Tin Mừng trọng đại đến cho nhân loại, là Đấng Cứu Độ chúng sinh, là Đấng Kitô Đức Chúa, là chính Thiên Chúa xuống thế làm người để đem Bình An và Tình Thương đến cho mọi người, nhất là cho những người bé mọn và bị gạt ra ngoài lề xã hội như các mục đồng ở Bêlem xưa.
2.3 Qua ba bài Thánh Kinh trên, Thiên Chúa muốn gửi sứ điệp gì cho chúng ta?   
Sứ điệp của Lời Chúa hôm nay là chúng ta hãy đón mừng HÀI NHI GIÊSU là Đấng Thiên Chúa gửi đến. Đón mừng trong hân hoan, tin tưởng và sống thân mật với Người.    

III. SỐNG LỜI CHÚA HÔM NAY
Là khi chúng ta thực hiện được hai việc quan trọng này:
3.1 Cảm tạ, ngợi khen, chúc tụng Thiên Chúa Cha, Con và Thánh Thần về Ơn Cứu Độ mà Thiên Chúa đã ban cho nhân loại trong Mầu Nhiệm Giáng Sinh của Ngôi Lời Thiên Chúa xuống thế làm người.
3.2 Tôn trọng và bảo vệ sự sống và phẩm giá con người, nhất là của trẻ thơ, phụ nữ và những kẻ thấp kém trong xã hội.

IV. CẦU NGUYỆN CHO HỘI THÁNH VÀ THẾ GIỚI
[Có thể dùng làm Lời Nguyện Giáo Dân trong Thánh Lễ]
4.1 «Dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng; đám người sống trong vùng bóng tối, nay được ánh sáng bùng lên chiếu rọi. Chúa đã ban chứa chan niềm hoan hỷ, đã tăng thêm nỗi vui mừng. Họ mừng vui trước nhan Ngài như thiên hạ mừng vui trong mùa gặt, như người ta hỷ hoan khi chia nhau chiến lợi phẩm.» Chúng ta hãy dâng lời cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Thiên Chúa vì Người đã ban Con Một Người cho chúng ta, để chúng ta bước đi trong ánh sáng, bình an và hoan lạc!
X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa.  Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.
4.2 « Bà sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ, vì hai ông bà không tìm được chỗ trong nhà trọ.» Chúng ta hãy chúc tụng, ngợi khen và cảm tạ Chúa Giêsu Hài Nhi: Người là Thiên Chúa cao sang, giầu có khôn lường mà đã hạ mình sinh ra nơi trần gian trong thân phận một kẻ nghèo hèn!
X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa.  Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.
4.3 «Vì chúng ta Người đã tự hiến để cứu chuộc chúng ta cho thoát khỏi mọi điều bất chính, và để thanh luyện chúng ta thành Dân riêng của Người, một dân hăng say làm việc thiện.» Chúng ta hãy dâng lên Chúa Hài Nhi quyết tâm sống tốt lành, thánh thiện để xứng đáng là Dân Riêng Mới của Người!
X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa.  Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.
Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.
 
 

GS-198: Sức mạnh - Lc 2,1-20

Có một người đi hành hương đất thánh, khi trở về, ông ta đã mua một bộ tượng sinh nhật gồm: GS-198

Có một người đi hành hương đất thánh, khi trở về, ông ta đã mua một bộ tượng sinh nhật gồm Chúa Giêsu, Đức Mẹ và thánh Giuse. Thế nhưng, trước khi lên máy bay tại phi trường Tel Aviv, người ta đã kiểm soát từng bức tượng một, bằng quang tuyến X. Nhân viên hải quan đã xin lỗi và nói:
- Chúng tôi có nhiệm vụ bảo đảm rằng không hề có chất nổ trong những bức tượng này.
Lúc bấy giờ, ông khách hành hương đã thầm nghĩ:
- Phải chăng họ biết được rằng bộ tượng này còn chất chứa một năng lượng khả dĩ làm nổ tung cả thế giới. Vậy thì nguồn năng lượng ấy là như thế nào? Đó không phải là nguồn năng lượng vô biên của Thiên Chúa, Đấng đã tạo dựng nên vũ trụ vật chất này trong thoáng chốc và có thể hủy diệt nó bằng một cái búng tay. Năng lượng mà ông khách hành hương muốn nói tới, chính là năng lượng của Tình yêu mà Ngài đem theo khi đến với nhân loại trong đêm Sinh Nhật đầu tiên tại Bêlem.
Thực vậy, năng lượng ấy được gồm tóm trong Tin Mừng Giáng Sinh, trong sứ điệp mà Ngài muốn nhắn gửi chúng ta. Tin Mừng ấy, sứ điệp ấy như thế này:
- Thiên Chúa, mặc dầu là Đấng quyền năng vô song, nhưng đồng thời Ngài cũng là một người Cha đầy lòng nhân từ và khoan dung, Ngài đã yêu thương và chăm sóc đến mỗi người chúng ta… Và để giải thoát chúng ta khỏi sự kìm kẹp của tội lỗi, khỏi án phạt đời đời, Ngài đã sai chính Con Một Ngài xuống thế để ở cùng chúng ta và cứu độ chúng ta.
Tuy nhiên, để loan báo Tin Mừng ấy, để công bố sứ điệp ấy, Ngài đã không đến như một ông hoàng với cung điện lộng lẫy, với binh đội hùng mạnh, nhưng Ngài đã đến như một hài nhi bé bỏng và yếu đuối, con của một gia đình nghèo nàn và túng thiếu. Ngài đã trở nên một người giống như chúng ta, cũng bơ vơ lạc lõng, cũng vất vả mệt mỏi, cũng biết đau, biết đói, biết khát… Cũng đã bị nhạo cười và hất hủi, thậm chí còn phải chịu một cái chết ê chề và nhục nhã nhất.
Khi đến, Ngài đã không được các vua chúa, các vị lãnh đạo thế giới chào đón, mà chỉ được các mục đồng, những kẻ thuộc giai cấp thấp hèn nhất đến viếng thăm. Ngài đã đồng hóa mình với những người nghèo khổ và túng thiếu, thậm chí ngay cả với những kẻ tội lỗi.
Những điều trên đây khiến chúng ta nghĩ tới quyền năng mà Ngài đem vào thế giới này. Bởi vì tư tưởng và đường nẻo của Ngài không giống với tư tưởng và đường nẻo của chúng ta. Phải chăng đó chính là điểm đặc sắc, điểm thách đố mà mầu nhiệm Giáng Sinh đã gây nên. Sự thách đố này được diễn tả qua một bài thơ có nội dung như thế này:
- Khi ánh sao trên trời chợt tắt, khi các mục đồng và ba nhà đạo sĩ đã ra về, thì công cuộc Giáng Sinh mới thực sự bắt đầu: để tìm lại những gì đã mất, để hàn gắn những gì đã rạn vỡ, để dựng lại những gì đã gãy đổ. Người đói được ăn, kẻ khát được uống, tù nhân được giải phóng và hòa bình thực sự trở về với mọi người.
Kể từ đêm Giáng Sinh đầu tiên cho tới ngày hôm nay, trải dài hơn hai ngàn năm, sức mạnh tình yêu của Thiên Chúa được biểu lộ nơi hài nhi Giêsu, không ngừng làm nổ tung và biến đổi bộ mặt thế giới. Sức mạnh ấy đã san bằng mọi giai cấp. Sức mạnh ấy đã phá đổ mọi bất công. Sức mạnh ấy đã giành lại những quyền lợi cho đàn bà và trẻ em. Sức mạnh ấy đã hủy diệt mọi thù oán…Tuy nhiên điều quan trọng hơn cả, đó là sức mạnh tình yêu của mầu nhiệm Giáng Sinh đã tác động như thế nào đến bản thân và đến cuộc sống riên tư của mỗi người chúng ta?

 

GS-199: Suy niệm của R. Gutzwiller

NGÀY CHÚA GIÁNG SINH (2, 1-20)
 

Việc truyền tin Chúa Giêsu nhập thể đã là lạ lùng vì tính cách trái ngược giữa vẻ khiêm hạ bên: GS-199

Việc truyền tin Chúa Giêsu nhập thể đã là lạ lùng vì tính cách trái ngược giữa vẻ khiêm hạ bên ngoài với sự cao cả bên trong. Tính cách trái ngược này lại còn lạ lùng và nổi bật hơn nơi việc Người sinh ra.
1) Chúa Giáng Sinh.
Việc Giáng Sinh không xảy ra tại Nagiarét như thường tình, nhưng là tại Bêlem, và không phải do một lời nói chính thức của thiên thần mà bằng mmột biến cố hoàn toàn trần thế, nghĩa là do sắc chỉ của Hoàng Đế Rôma. Như vậy Chúa Giêsu ngay từ ngày mở mắt chào đời đã tỏ ra phục luỵ quyền hành thế trần, như một kẻ yếu thế phải chịu khuất phục kẻ mạnh hơn. Tuy nhiên, đó là công việc của Thiên Chúa, vì người ta sẽ thấy rằng ở đây hành động của con người không ai ngờ lại phục vụ cho kế hoạch của Thiên Chúa. Hoàng đế Augustô ra lệnh kiểm tra nhân số trong đế quốc lớn lao của ông để gom thế giới lại thành một, biết rõ quân số, bảo đảm được sự thu thuế mà ông cần dùng tới với những chương trình vĩ đại của ông. nhưng thực tế, quyền năng thế tục đó bên ngoài hình như kìm kẹp Chúa Giêsu, thì chỉ là dụng cụ của quyền năng Thiên Chúa và qua đó, chương trình Cứu độ được hoàn thành.
 Như vậy Chúa Giêsu đã giáng sinh tại Bêlem trong thành cảu Đavít, như Tin Mừng đã nhấn mạnh điều đó. Chính nơi đây, Đavít khi còn là mục đồng, được gọi về hiến Thánh, thì giờ đây, cũng chính ở đây, người con đích thực của Đavít lại sinh ra, Đấng chăn chiên thực sẽ chăn dẫn bầy chiên Thiên Chúa, Ngài là Đấng được ưu tuyển ngay trong bản chất thâm sâu của Ngài và như Đấng Messia, Đấng Thiên tử, Đấng được xức dầu.
Sắc lệnh của Hoàng đế Augustô còn kéo theo một hậu quả khác, đó là việc giáng sinh của Chúa Giêsu được tác thành và lồng vào lịch sử thế giới. Người ta xác định được nơi chốn và thời kỳ xảy ra việc đó. Đây là một biến cố lịch sử đích thực (chứ không phải là chuyện hoang đường hay thần thoại) có chỗ đứng trong không gian và thời gian. Bên cạnh Hoàng đế Augustô, muốn mang lại cho thế giới cơm no áo ấm, với thứ ‘hoà bình của Rôma’, thì Chúa Giêsu đúng là vị Cứu tinh thực sự của vũ hoàn vì đã mang đến ‘bình an của Thiên Chúa’.
Tuy thế, ở Bêlem, không còn chỗ cho Ngài, nên phải sinh trong chuồng bò lưà. Khi nói Chuá không có chỗ trong quán trọ, điều đó có thể hiểu là, thực sự thì những người lang thang, không còn chỗ ở trong quán đó. Nhưng cũng có ý nói, và đúng hơn, quán trọ là nơi những người khách lạ tạm trú, thì không phải là nơi xứng hợp đối với mầu nhiệm Thánh Chúa sinh ra. Vậy Chúa sẽ đến thế trần, không mái nhà, trong cảnh đơn côi và nghèo nàn của chuồng bò lừa. Nôi của Ngài là cái máng khô, đục vào ngay trong tảng đá để cho bò lừa ăn. Tin Mừng đặc biệt nhấn mạnh tới việc Hài nhi được bọc trong khăn. Cho thấy rằng bên cạnh cảnh nghèo hèn còn có nhân tính hoàn toàn, cùng với tất cả sự yếu đuối của tính con người.
Con đầu lòng của Thiên Chúa, hay nói cho gọn là Con Một Thiên Chúa đã đến thế gian này như là một trẻ nhỏ. Khung cảnh thật đơn giản, thanh bạch, nghèo hèn. Sự đơn giản và nghèo hèn này ai sánh được; tuy vậy, lại chẳng có biến cố nào đáng kể hơn, và tất cả mọi phú túc sẽ được trao cho Đấng vừa sinh ra. Trước nhan Chúa, đâu cần vẻ hào nhoáng bên ngoài với tất cả những gì liên hệ tới nó. Mà phải trái lại, cái vẻ bên ngoài càng lui đi thì mới càng thấy rõ vẻ lớn lao bên trong. Tất cả những gì phồn vinh, giả tạo, khoa trương, chỉ có bên ngoài thôi thì đi ngược lại bản tính của Chúa Giêsu ngay từ giờ đầu tiên của ngày Giáng Sinh của Ngài cho tới lúc cuối cùng với cái chế nghéo hèn và trần trụi trên cây thập tự.
2) Loan báo tin Chúa Giáng Sinh.
Các mục đồng là những người đầu tiên nhận được sứ điệp. Israel là dân của các mục tử và Chúa Giêsu chính là Đấng chăn giữ nhân loại mới. Những hạng quyền quý sao hiểu được vẻ cao trọng này, người giàu thì chạy theo của cải, còn người thông thái thì lại hiểu sai về sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Vì thế những người được gọi đầu phải là những người chăn chiên khiêm hạ, nghèo nàn, và là ít học chốn quê mùa.
Nội dung của sứ điệp là một lời loan tin vui tóm trong ba danh hiệu: Đấng Cứu Thế, Đấng xức dầu và là Chúa. Ngài là Đấng Cứu thế, vì Ngài đến giải phóng những người không thể tự giúp mình khỏi cảnh đau thương. Ngài là Đấng xức dầu vì bản tính nhân loại của Ngài đã được thánh hiến bằng dầu Thánh của Thiên Chúa: Ngài trở thành Tư tế, tiên tri và Vua cả. Và Ngài là Chúa vì mọi quyền năng trên trời dưới đất đã được ban cho Ngài.
Thật là một dấu chỉ lạ lùng: ‘Các ngươi sẽ thấy một Hài nhi đặt nằm trong máng cỏ’. Điều nhỏ bé sẽ biểu thị vẻ lớn lao, yếu hèn –vẻ quyền năng và nghèo khổ– cảnh giàu sang. Việc Chúa Giêsu sinh ra làm đảo lộn những cái chúng ta đã biết cho tới khi đó, và làm biến đổi các thực tại thần thiêng nhờ các phạm trù khác và ứng dụng chúng vào các quy luật khác.
Sứ điệp kết thúc bằng ca khúc của các Thiên thần gồm hai phần, mà mỗi phần gồm ba yếu tố song song với nhau. Ở phần thứ nhất ta thấy có ‘trời, vinh danh và Thiên Chúa’. Phần hai có ‘thế trần, hoà bình và con người’.
Thiên Chúa ở trên trời sẽ đón nhận danh dự và vinh quang, vì vinh quang của Ngài vẫn dấu kín, sẽ bộc lộ nhờ Con Ngài. Còn chính Chúa Giêsu, mà mọi tác động của Ngài đều mang dấu vô biên sẽ có thể thực sự tôn vinh Thiên Chúa mà không một tạo vật nào có thể làm được. Bây giờ ở dưới thế, bình an sẽ ngự trị vì trời và đất giao hoà trong ơn thánh. Và tất cả những điều ấy có được là do lòng từ ái của Thiên Chúa ban cho nhân loại nhờ Thiên Chúa Nhập Thể.
Như vậy bài ca của các Thiên Thần là điệp ca trang trọng của Thánh vịnh về đời sống Chúa Giêsu, bài ca mang nặng ý nghĩa của một biến cố vĩ đại đang được thực hiện trên sân khấu cuộc đời này. Hơn cả một lời cầu chúc hay lời nguyện xin. ‘Chúc tụng Thiên Chúa’ đó là một lời loan báo và cũng là một lời tuyên ngôn vệ một sự kiện: vinh danh dâng lên Thiên Chúa và an bình ban xuống nhân loại. Giờ cứu độ đã điểm, công việc cứu rỗi đã bắt đầu vì Chúa hoàn vũ đã sinh ra.
Và đây là kết quả đầu tiên, các mục đồng quyết định đón nhận lời loan báo trong niềm tin và đi theo lời đó. Sau khi tìm kiếm, họ đã thấy Đức Maria, Thánh Giuse, và Hài nhi. Sự kiếm tìm đã không bõ công; họ đã ngạc nhiên, đầy thán phục.
Qua sự im lặng, người Mẹ trẻ đã cho thấy sự hân hoan được diễn tả trong bài Thánh ca ngợi khen của Mẹ nay nhường chỗ cho một sự suy niệm đầy an bình, và việc các mục đồng trở về với đời sống thường nhật quen thuộc giúp chúng ta nhận ra được là việc khám phá ra Chúa không có nghĩa là phải có sự thay đổi hoàn cảnh bên ngoài, nhưng là sự biến đổi sâu xa trong lòng.
Vì thế, trong cảnh trí này, nổi bật một sự mâu thuẫn:
Chúa Giêsu bị che dấu nay lại tỏ hiện, bị hạ xuống, nhưng rồi được tôn vinh; trao cho hai tạo vật yếu đuối săn sóc, nhưng được các thiên thần canh giữ; yếu hèn thực đó, nhưng lại là vị cứu tinh nhân loại. Hoàn toàn là người trong mọi sự, nhưng rạng ngời ánh quang của Thiên Chúa.
Trình thuật Kinh thánh nhấn mạnh trên sự mâu thuẫn này là giới thần thiêng đã đi sâu vào sự thấp hèn của nhân loại, nhưng qua đó lại chiếu ngời lên để tôn vinh Thiên Chúa.

 

GS-200: Chuẩn bị chỗ cho niềm vui.

Những tình tiết chung quanh sự việc Đức Giêsu Giáng Sinh là nguồn đề tài cho rất nhiều thiên: GS-200

Những tình tiết chung quanh sự việc Đức Giêsu Giáng Sinh là nguồn đề tài cho rất nhiều thiên khảo sát thông thái, là cảm hứng bất tận cho những suy niệm thiêng liêng và thi ca hướng thượng. Những nhà uyên bác muốn xem bản văn của thánh Luca như một thiên ký sự trong đó thực tế lịch sử được thích ứng với một mẫu tín ngưỡng dân gian bắt rễ ở những công thức kinh điển Cựu Ước. Sự suy–niệm thiêng liêng đã biết nhận ra trong ký sự ảnh hưởng của thuyết hiện thực lịch sử, vừa nhân bản vừa có tính chất thần linh, khi thuyết này được áp dụng, để khảo sát sự việc Thiên Chúa đến trong nhân loại. Dù sao, những công trình khảo cứu bác học và sự suy niệm thiêng liêng cũng gặp nhau ở điểm cùng xác nhận tính chất chắc chắn của những sự kiện sau đây: bà Maria và ông Giuse đã đến Bêlem, nơi đây Đức Giêsu Cứu Thế đã Giáng Sinh, cũng tại đây những kẻ đầu tiên đã tin vào sự loan báo lớn lao này.
Thánh Luca viết bản văn này khoảng thời gian rất lâu sau biến cố. Lúc ông soạn bộ Phúc âm mang tên ông thì sự kiện Phục sinh và Hiện xuống đã xảy ra rồi. Giáo Hội sơ khai đặt ra kinh nguyện theo sát kinh nghiệm thiêng liêng thu thập được. Có thể là Giáo Hội đã tuyển trong khối tài liệu phong phú về biến cố Giáng Sinh để lựa lấy những điều nào hợp với kinh nghiệm nhất: Vinh danh dâng lên Thiên Chúa và bình an được ban cho loài người dưới thế đã được thánh Luca trích ra để dùng từ một kinh nguyện phụng vụ, chính bản kinh này bắt nguồn ở mầu nhiệm tổng quát Giáng Sinh, Vượt qua và Hiện xuống. Ngày nay khi chúng ta mừng một biến cố xảy đến trong lịch sử Đức Giêsu, điều lợi ích cho ta là chớ lãng quên toàn bộ Mầu Nhiệm Đức Kitô, Con Chúa xuống thế làm người, để nhờ tác động của thần trí Người, Đức Kitô thực hiện trong Giáo Hội sứ mạng làm vinh danh Chúa Cha và cứu rỗi nhân loại anh em Người. Xin lấy một ví dụ thực tế để gợi ý. Lĩnh ơn hoà giải qua bí tích giải tội, và tham dự sốt sắng thánh lễ tạ ơn – đó là những nguồn vui thật sự vào dịp Giáng Sinh. Ngoài ra, thi vị hoá ngày lễ và nô nức mừng lễ, cả hai chỉ là bộ áo phủ ngoài. Chúng ta có thể dừng lại ở hai chủ đề suy niệm:
1) Thiên sứ được Chúa sai đến bảo cho những mục đồng biết: Ta loan báo cho anh em một niềm vui lớn, nó cũng sẽ là niềm vui chung cho toàn dân. Đây là một niềm vui đáp ứng một hy vọng. Từ bao thế kỷ; não trạng Israel được duy trì và bồi dưỡng bởi các ngôn sứ, dựa vào niềm trông đợi Đấng Cứu Thế sẽ đến. Niềm vui này cũng là niềm vui chung cho toàn dân, chỉ có thể xuất phát từ Đấng Cứu Thế. Sứ điệp thiên thần mang đến cho những ai có tâm hồn như trầm xuống trong niềm trông đợi Đức Kitô mà Thiên Chúa hứa ban cho trần thế. Điều này gợi ra một câu hỏi: trong tâm hồn ta, có dọn dẹp chuẩn bị một chỗ cho niềm vui được Thiên Chúa loan báo không? Chúng ta có những ước vọng nào? chúng hướng về đâu? Trong chúng ta có hay không một chỗ dành cho sự mong mỏi đợi chờ Chúng ngự đến để Người tác động mạnh hơn nữa? Thiên Chúa không thể loan báo cho chúng ta một niềm vui, nếu chúng ta không cần đến Người. Tuy nhiên, nếu nhờ đức tin mà chúng ta phát hiện và ngẫu nhiên cảm thấy điều sau: chỉ Thiên Chúa mới có thể ban phát tràn đầy ơn phúc cho chúng ta, thì ta phải hiểu rằng chính đức tin chuẩn bị chúng ta tiếp nhận những sự loan báo Tin Mừng.
2) Hôm nay một Đấng Cứu Thế được sinh ra cho anh em. Dù cam phận hay nổi loạn con người bị cưỡng bách phải nhận định điều này: đời sống cá nhân tiến dần đến cõi chết, đến chỗ tiêu tan bản thể. Cam phận hay nổi loạn, cả hai đều chứa đựng đau khổ. Đấng đem đến cho nhân loại phương thế hữu hiệu để vượt thắng chết và sự trầm luân, chúng ta tôn Người là Đấng Cứu Thế. Đấng Cứu Thế được các thiên thần loan báo không chỉ đến phải cứu con người khỏi định mệnh phải chết, mà còn ban cho con người sự sống của Thiên Chúa. Não trạng thời hiện đại hướng tới chỗ xui giục một số người nào đó đành chịu rơi vào cõi chết – và xô đẩy một số khác nổi loạn cuồng nộ. Là tín đồ của Chúa, ta hãy ý thức rằng ta cần được cứu rỗi. Hãy từ khước sự can tâm nhận lấy hư vô. Mặt khác ta hãy đến với Đấng Cứu Thế, trình bày một niềm riêng tư của mình, chứ đừng có vun tưới cho những sự nổi loạn vô ích và ngu dại. Hãy hiệp thông với hành động của Chúa Cứu Thế chúng ta.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây