Suy Niệm Tin Mừng Lễ Giáng Sinh ABC Bài 251-300 ĐấngCứuđộđãsinhra

Thứ ba - 19/12/2017 10:17
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Giáng Sinh ABC Bài 251-300 ĐấngCứuđộđãsinhra
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Giáng Sinh ABC Bài 251-300 ĐấngCứuđộđãsinhra
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Giáng Sinh ABC Bài 251-300 Đấng Cứu độ đã sinh ra
GS-251: BÌNH AN.. 2
GS-252: Lễ Giáng Sinh – Lễ Rạng Đông. 4
GS-253: NGÔI LỜI ĐÃ LÀM NGƯỜI 8
GS-254: NGÔI LỜI LÀM NGƯỜI 9
GS-255: NHỮNG BÀI HỌC CỦA MẦU NHIỆM GIÁNG SINH.. 12
GS-256: ĐẶT NẰM TRONG MÁNG CỎ.. 14
GS-257: Giáng Sinh – Lễ Nửa Đêm.. 16
GS-258: THÁNH LỄ BAN NGÀY.. 18
GS-259: Lễ Giáng Sinh, Lễ Ban Ngày. 19
GS-260: LỄ CHÚA GIÁNG SINH NĂM 2000. 21
GS-261: HÃY QUA BÊLEM MÀ XEM... 22
GS-262: Bệnh Giêsu. 25
GS-263: Ngôi Lời đã trở nên người phàm - Ga 1,1-8. 26
GS-264: CHÚA ĐÃ SINH RA.. 29
GS-265: NGÔI LỜI ĐÃ LÀM NGƯỜI 31
GS-266: ÁNH SÁNG ĐỨC KITÔ.. 32
GS-267: Lên Đường. 37
GS-268: Lễ Giáng Sinh, năm A.. 39
GS-269: CHÚA SINH RA : MỘT SỰ KỲ DIỆU.. 41
GS-270: TIN VUI GIỮA GIỜ TUYỆT VỌNG.. 43
GS-271: HÀI NHI GIÊSU, HÃY CUNG KÍNH CHIÊM NGẮM NGƯỜI 45
GS-272: Lễ Giáng Sinh. 47
GS-273: ĐÊM BÌNH AN.. 50
GS-274: Những nghịch lý trong biến cố Giáng Sinh. 53
GS-275: GIÁNG SINH – LỄ NỬA ĐÊM... 57
GS-276: LỄ NỬA ĐÊM... 61
GS-277:  GIÁNG SINH 2001. 62
GS-278: LỄ GIÁNG SINH 2001. 64
GS-279: Một hài nhi đã sinh ra cho chúng ta. 66
GS-280: Hòa mình chung sống. 69
GS-281: Cây Thập giá trong mầu nhiệm Giáng Sinh. 71
GS-282: Giáng Sinh và niềm vui an bình. 74
GS-283: MỘT HÀI NHI MỚI SINH.. 77
GS-284: CON CHÚA LÀM NGƯỜI 79
GS-285: Lời đã hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta. 80
GS-286: Thiên Chúa ở cùng chúng ta. 85
GS-287: Đêm Ánh Sáng ĐGM Ngô Quang Kiệt 86
GS-288: MẶC KHẢI VÀ MẦU NHIỆM GIÁNG SINH.. 88
GS-289: CỦA TRỜI ĐẤT, CỦA MUÔN NGÀN Ý NHỊ…... 90
GS-290: ĐÔI DÒNG SUY TƯ.. 93
GS-291: ÁNH SÁNG BỊ ĐÁNH CẮP. 96
GS-292: THIÊN CHÚA GIÁNG SINH TRONG MỘT GIA ĐÌNH.. 98
GS-293: Con người - Lc 2,1-20. 100
GS-294: Vì Ngài Ở Với Chúng Ta  - Lc 2,1-14. 101
GS-295: NƠI CON TRẺ ĐANG NẰM TRONG HANG BÒ LỪA.. 103
GS-296: Lễ Giáng Sinh. 106
GS-297: Chúa giáng trần (Ga 1, 1-18) 112
GS-298: Suy niệm của Lm. Trương Đình Hiền. 114
GS-299: Bài giảng của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II 119
GS-300: Emmanuel, Thiên Chúa Ở Cùng Chúng Ta". 122

 

GS-251: BÌNH AN

Thánh Lễ Đêm Giáng Sinh
Is 9:1-6
Lc 2:1-14
Tt 2:11-14
 

Niềm vui trào dâng trong những tâm hồn đang mong đợi Chúa.   Chúa đã đến để mọi người thấy: GS-251

Niềm vui trào dâng trong những tâm hồn đang mong đợi Chúa.   Chúa đã đến để mọi người thấy thế giới vẫn còn chan chứa niềm hi vọng.   Tình yêu và hòa bình là những giấc mơ có thể thực hiện được.   Con người có thể thắng lướt mọi trở lực, vượt qua mọi nỗi sợ để vươn mình thành con người tự do trong một miền đất chan hòa ánh sáng.
CHÚA GIÁNG SINH.
Đức Giêsu đã gặp những khó khăn rất lớn lao ngay từ giây phút đầu đời.  Quyền lực và tiền bạc đã trở thành sức mạnh khủng khiếp muốn đè bẹp thân phận Người.   “Thời ấy, hoàng đế Augustô ra chiếu chỉ, truyền kiểm tra dân số trong khắp cả thiên hạ.” (Lc 2:1)   Mọi người phải phục lệnh hoàng đế.   Bởi vậy, “ông Giuse cũng từ thành Nazareth, miền Galilê, lên thành vua Đavid, gọi là Bêlem, miền Giuđê” để “khai tên cùng với bà Maria là người đã thành hôn với ông, lúc ấy bà đang có thai.” (Lc 2:4,5)  Cuộc hành trình  dài 70 dặm đó không dễ dàng tí nào đối với “bà Maria đã tới ngày mãn nguyệt khai hoa.” (Lc 2:6)  Nhưng lệnh hoàng đế ai dám chống cưỡng ?!
Quyền lực chính trị chi phối kinh khủng.   Nhưng mãnh lực đồng tiền cũng không kém.  Tới giai đoạn cuối cùng đầy nguy hiểm nhất cho cả mẹ lẫn con, “hai ông bà không tìm được chỗ trong nhà trọ.” (Lc 2:7)   Lúc đó, tâm trạng hai ông bà như thế nào ?   Giuse có hối hận vì đã trót nghe lời thiên thần khuyên ông nhận Maria làm vợ không ?   Chẳng phải là tác giả bào thai, nhưng lại phải mang hết trách nhiệm !   Nếu không có đức tin, chắc chắn ông Giuse đã thất vọng tràn trề. 
Nhưng hỏi có ai mạnh tin bằng thánh Giuse ?   Giữa cơn gian truân cùng cực đó, ông vẫn bám chặt vào lời Thiên Chúa hứa: “Này ông Giuse, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần.   Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ.” (Mt 1:20-21) Lời Chúa đã trở thành sức mạnh cho ông lướt thắng mọi thử thách.   Trong lịch sử dân Chúa rất nhiều người công chính đã được Thiên Chúa trấn an.  Chẳng hạn, ông Giacaria được sứ thần an ủi : “Này ông Giacaria, đừng sợ.” (Lc 1:13)    Chính Đức Maria cũng cảm thấy an tâm khi nghe sứ thần nói : “Thưa bà Maria, xin đừng sợ.” (Lc 1:30)   Rõ ràng người công chính luôn tràn ngập bình an trong tâm hồn.   Không một thế lực bên ngoài nào có thể đụng tới tâm của họ.
Đức Giêsu cũng vượt lên trên nỗi sợ thường tình của con người.   Tâm hồn Người tràn ngập bình an ngay cả khi gặp thử thách.   Chẳng hạn, trước khi Đức Giêsu bắt đầu cuộc đời công khai, ông Gioan Tẩy Giả đã minh chứng : “Tôi đã thấy Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống và ngự trên Người.” (Ga 1:32)   Chính Thần Khí giúp Người vượt qua thách đố đầu đời.  Thực vậy, trước khi bắt đầu cuộc đời công khai, “Đức Giêsu được Thần Khí dẫn vào hoang địa, để chịu quỷ cám dỗ.” (Mt 4:1)   Chính Thần Khí bảo đảm sự bình an trong tâm hồn Đức Giêsu, khiến quỷ dữ không thể lay chuyển được Người.   Chính Thánh Linh đã làm cho thánh Giuse và Đức Maria thắng được bạo lực và sức mạnh của đồng tiền.   Người dẫn dắt người công chính thoát ngàn nỗi gian truân.
Nét công chính cũng tìm thấy nơi các người chăn chiên.   Bởi vậy, họ cũng được Chúa mạc khải cho thấy sức mạnh bảo đảm cho con người thoát khỏi mọi hiểm nguy trên đời.   Đang chăn chiên ngoài đồng, “bỗng sứ thần Chúa đứng bên họ, và vinh quang của Chúa chiếu tỏa chung quanh, khiến họ sợ hãi kinh hoàng.  Nhưng sứ thần bảo họ : ‘Anh em đừng sợ.’” (Lc 2: 10)   Họ lấy lại được bình tĩnh rất nhanh vì nguồn bình an đã giáng sinh: “Này tôi loan  báo cho anh em một Tin Mừng trọng đại, cũng sẽ là niềm vui cho toàn dân : Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đavid, Người là Đấng Kitô, là Đức Chúa.” (Lc 2:10,11)  Người đến giải thoát người nghèo khổ khỏi mọi nỗi lo sợ và đạt tới nguồn bình an bất tận.
BÌNH AN CHO NGƯỜI CÔNG CHÍNH
Nguồn bình an ấy không phải là cái gì xa lạ.   Trái lại dấu rất quen thuộc với cảnh đời nghèo hèn. Thật vậy, “cứ dấu này mà nhận ra Người : anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ.” (Lc 2:12)  Dấu chỉ sao tầm thường quá vậy.   Dấu chỉ kiếm đâu chẳng thấy !   Cái tầm thường vẫn giấu ẩn một nét không tầm thường.   Chỉ có những ai tràn ngập ánh sáng Thánh Linh mới đọc ra dấu chỉ đó.  Lời sứ thần không xa rời thực tế nghèo khổ, không mạc khải một chân lý xa vời.  Tin vào lời một sứ thần, các người chăn chiên lần bước đến với Chúa Hài Nhi.  “Bỗng có đạo binh thiên quốc đông đảo hợp với sứ thần cất tiếng ca tụng Thiên Chúa rằng :Vinh danh Thiên Chúa trên trời, Bình an dưới thế cho loài người Chúa thương.” (Lc 2:13-14)
Đấng làm cho Thiên Chúa được vinh danh trước các triều thần Thiên Quốc, nay đã trở thành nguồn bình an cho con người, đối tượng của tình yêu Thiên Chúa.   Phải có cả một đạo binh thiên thần mới hát vang cả góc trời sự thật lớn lao đó.   Trong khi đó lời trấn an chỉ cần một ngôn sứ nói lên.   Những người nghèo như thánh Giuse, Đức Maria và các người chăn chiên đã đi từ tình trạng không còn sợ hãi đến nguồn bình an vô cùng lớn lao, nguồn bình an đem lại sự hòa hợp đất trời và nối kết con người với nhau.   Sợ hãi đẩy con người tới chỗ rối loạn, kinh hoàng.   Bình an đem lại sức sống mới và trật tự mới.
Bình an đó hôm nay vẫn chưa tìm thấy ngay trên miền đất chôn nhau cắt rốn của Chúa.    Con người vẫn sống trong hồi hộp, lo âu, kinh hoàng, chỉ vì họ chưa nhận ra nhau là anh em, đã được mời gọi để hưởng nguồn bình an và trở nên con Thiên Chúa  !   Họ còn cậy dựa vào tiền bạc, khí giới, quyền lực để giải quyết vấn đề hòa bình.     Chỉ người công chính mới tìm được giải pháp cuối cùng cho vấn đề.  Dù lâm vào cảnh loạn lạc, chết chóc, họ vẫn luôn nghe  tiếng trấn an của thiên sứ : “Đừng sợ !” bởi vì nguồn bình an đã giáng sinh trong lòng họ.
Trong cuộc đời thường, chúng ta cũng có những nỗi sợ vu vơ.   Sợ mất mặt nếu phải làm hòa với kẻ thù ghét mình.   Sợ mất tiền bạc, thời giờ nếu phải hi sinh cho Giáo Hội hay công cuộc truyền giáo.  Sợ bị làm phiền nếu phải ra tay giúp đỡ người nghèo khổ, bệnh tật, già nua.   Nhưng nếu được “vinh quang của Chúa chiếu tỏa chung quanh” (Lc 2:9) hay tận tâm hồn, chắc chắn chúng ta sẽ thấy được nguồn bình an đang biến đổi mọi sự từ bên trong.   Người đến nói với chúng ta “đừng sợ !” và “hãy sống bình an !”
Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, OP

 

GS-252: Lễ Giáng Sinh – Lễ Rạng Đông

(Lu-ca 2: 15-20)
 

Thánh lễ Nửa Đêm cho ta chiêm ngưỡng khung cảnh Thiên Chúa đến với con người trong lịch: GS-252

          Thánh lễ Nửa Đêm cho ta chiêm ngưỡng khung cảnh Thiên Chúa đến với con người trong lịch sử nhân loại và ý nghĩa cứu độ của biến cố ấy.  Còn bài Tin Mừng của Thánh lễ Rạng Đông mang tính cách suy niệm, trình bày những người đầu tiên được chứng kiến Thiên Chúa làm người và phản ứng của họ trước tình yêu cứu độ của Thiên Chúa.  Mẹ Ma-ri-a, thánh Giu-se và các người chăn chiên đại diện cho lớp người nghèo khó của nhân loại đã có những tâm tình nào khi đứng trước Tình Yêu nhập thể của Thiên Chúa?  Những việc làm của họ không những phản ảnh những tâm tình cá nhân, mà còn trở nên những mẫu gương giúp ta biết phải làm sao đáp lại tình yêu cứu độ của Thiên Chúa.
 
  Hành trình đức tin tới Bê-lem
          Từ cánh đồng chăn chiên tới Bê-lem khoảng cách không bao xa, chỉ vài ba cây số.  Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là hành trình ấy dễ dàng.  Làm sao dám bỏ cả đàn chiên lại một mình?  Hơn nữa giữa đêm đông lạnh lẽo và tối tăm, đi lại thật ngại ngùng.  Những người chăn chiên ở Do-thái ngày xưa không được liệt vào số những người tốt.  Họ thường bị khinh dể vì nghề nghiệp, bị nghi oan là hay cái thói trộm cắp.  Do đó, đối với họ “sang Bê-lem để xem sự việc đã xảy ra, như Chúa đã tỏ cho biết” không phải là việc đơn giản.  Điều sứ thần báo cho họ là một điều khó tin được.  Đấng Cứu Độ là Đấng Ki-tô, là Đức Chúa mà lại là một trẻ sơ sinh bọc tã và nằm trong máng cỏ!  Nhưng đó là dấu hiệu sứ thần đã nói cho họ biết.  Dấu hiệu là cái giúp ta nhận ra một thực tại khác, thí dụ vương miện là dấu hiệu của hoàng đế.  Nhưng ở đây, một trẻ sơ sinh nghèo nàn nằm trong máng cỏ bò lừa thì làm sao có thể là dấu hiệu của Đấng Cứu Độ, Đấng Ki-tô, Đức Chúa được!
Đức tin luôn đòi hỏi một thái độ liều lĩnh trong sự khiêm tốn chấp nhận thế giá của người khác.  Điều các thiên sứ loan báo không thể tin được.  Nhưng họ có đủ sự khiêm tốn để nhìn nhận quyền năng và tình thương của Chúa, nên họ xác tín điều sứ thần loan báo là điều chính “Chúa đã tỏ cho họ biết”.  Như thế, từ lúc các thiên sứ nói với họ cho tới lúc rời họ, họ đã có một “bước nhảy vọt của đức tin”, liều lĩnh đi tới quyết định:  “Nào ta sang Bê-lem, để xem sự việc đã xảy ra, như Chúa đã tỏ cho ta biết”.
Tiếp theo quyết định là thái độ vội vã của họ.  “Họ liền hối hả ra đi”.  Chắc ta còn nhớ thái độ ấy của Mẹ Ma-ri-a sau khi sứ thần truyền tin cho Mẹ đã được thánh sử Lu-ca ghi lại:  “Bà Ma-ri-a lên đường, vội vã đi đến miền núi” (Lc 1:39).  Động lực của vội vã hối hả đều do lòng tin, hay nói khác đi, lòng tin đã khiến cho Mẹ Ma-ri-a và các người chăn chiên nhận thấy không thể trì hoãn, nhưng cần phải mau chóng đáp trả.
Cuối cùng họ đã đến Bê-lem và gặp được những gì sứ thần đã báo tin.  Thánh Lu-ca không ghi lại chút nào về cuộc gặp gỡ ấy.  Có lẽ ngài muốn tôn trọng những riêng tư của mỗi nhân vật đang chăm chú hướng nhìn vào “Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ”.
  “Đến nơi, họ gặp bà Ma-ri-a, ông Giu-se, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ”
          Tột đỉnh hành trình đức tin của những người chăn chiên là ở đây.  Ta thắc mắc không biết Bà Ma-ri-a và ông Giu-se đang chăm sóc cho Hài Nhi hay đang đắm mình trong suy tư và chiêm ngưỡng Hài Nhi?  Chắc là các ngài đang chiêm ngưỡng Hài Nhi, vì Hài Nhi đã được đặt nằm trong máng cỏ rồi.  Tuy nhiên điều ấy không quan trọng.  Ta nên hiểu dụng ý của thánh Lu-ca khi ngài lập lại hai lần “hài nhi đặt nằm trong máng cỏ” (Lc 2:12 và 16).  Hình ảnh trẻ sơ sinh nằm trong máng cỏ chiên bò không phải là một hình ảnh lý tưởng.  Nhưng thánh sử muốn ghi lại một biểu tượng vô cùng ý nghĩa.  Máng cỏ là chỗ chứa đựng nguồn sống và lẽ sống của chiên bò thế nào, thì cũng là nơi đặt nằm Chúa Giê-su Hài Đồng, nguồn sống mới của nhân loại như vậy.  Hiểu được ý nghĩa biểu tượng ấy, ta sẽ không còn ngạc nhiên khi nghe Chúa Giê-su qua bài diễn từ của Người về bánh trường sinh trong hội đường Ca-phác-na-um:  “Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy” (Ga 6:57).
          Trong những giờ phút chiêm niệm này, cùng với Mẹ Ma-ri-a và thánh Giu-se, các người chăn chiên đang nhớ lại từng lời của sứ thần:  “Anh em đừng sợ.  Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân:  Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa-vít, Người là Đấng Ki-tô Đức Chúa.  Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người:  anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ”.  Bao nhiêu câu hỏi có thể đặt ra, nhưng giờ phút này không phải là lúc trả lời bằng trí óc, mà bằng những đầu gối quỳ phục bên Hài Nhi, để họ hoàn toàn sống sự hiện diện của Đấng Cứu Thế và sự hiện diện của chính họ.
  “Họ liền kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này”
          Từ chiêm niệm đi tới hành động, đó là con đường của đức tin.  Đức tin được biểu lộ qua hành động.  Các người chăn chiên hành động bằng cách kể lại câu truyện Hài Nhi Giê-su cho những người họ gặp tại miền đất Do-thái.  Cũng như ngày nay ta nói trong Đại Hội Truyền giáo tại châu Á:  chúng ta kể lại câu truyện Chúa Giê-su cho người dân châu Á.  Đó là cách rao giảng Tin Mừng, ngày xưa hay hôm nay thì cũng theo cùng một phương thức kể truyện.  Dĩ nhiên không chỉ kể bằng lời, nhưng quan trọng hơn bằng cuộc sống hằng ngày.
          Các người chăn chiên tiếp tục hành trình đức tin của họ.  Họ “ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa”.  Những nẻo đường họ đi qua, dù chỉ là nẻo đường quen thuộc trở về với bổn phận coi sóc đàn chiên, cũng sẽ là những nẻo đường để họ sống và biểu lộ lòng tin vào ơn cứu độ Thiên Chúa đã ban cho họ.
  Suy nghĩ và cầu nguyện
          Nhìn ngắm hang đá được trang hoàng tại nhà thờ hay tại nhà, tôi có chú tâm vào “Hài Nhi nằm trong máng cỏ” hay chỉ thấy hoa đèn rực rỡ?  Tôi có được dăm ba phút để suy niệm về những danh hiệu của Hài Nhi và ý nghĩa biểu tượng của máng cỏ không?
          Tôi sẽ kể câu truyện Chúa Giê-su cho những người tôi gặp, trong gia đình, nơi sở làm... như thế nào?
Cầu nguyện
          “Giữa giá rét của mùa đông,
          xin cho con gặp Chúa.
          Giữa những long đong
          và bấp bênh của phận người,
          xin cho con gần Chúa.
          Giữa cảnh nghèo khó và trơ trụi,
          xin cho con thấy Chúa đi với con và hiểu con.
          Lạy Chúa Giê-su bé thơ nằm trong máng cỏ,
          xin cho con cảm được sự bình an của Chúa,
          ngay giữa những âu lo hằng ngày.
          Xin cho con đón lấy cuộc đời con
          với bao điều không như ý.
          Và cuối cùng,
          xin cho con dám sống như Chúa
          vì Chúa đã dám sống như con”.
                             (Trích RABBOUNI, lời nguyện 59)
Lm. Đaminh Trần đình Nhi

 

GS-253: NGÔI LỜI ĐÃ LÀM NGƯỜI

LỄ GIÁNG SINH 2006
THÁNH LỄ BAN NGÀY
Ga 1, 1-18
 

Thánh lễ sáng nay không còn mầu sắc của sự nhộn nhịp ban đêm với muôn ánh đèn lấp lánh,: GS-253

Thánh lễ sáng nay không còn mầu sắc của sự nhộn nhịp ban đêm với muôn ánh đèn lấp lánh, với muôn tiếng ca của các thiên thần:” Vinh danh Thiên Chúa trên trời . Bình an dưới thế cho người thiện tâm”. Phụng vụ lễ giáng sinh ban ngày mời gọi con người đi sâu hơn vào mầu nhiệm Chúa làm người hơn là sự kiện Chúa sinh ra.
NGÔI LỜI ĐÃ LÀM NGƯỜI : Dõi theo chân các mục đồng, người Kitô hữu ở muôn thời đều nhận ra sự kiện giáng sinh :” Một Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ “ ( Lc 2, 16 ). Đây là câu chuyện về đêm giáng sinh, đêm Con Thiên Chúa đản sinh, đêm các mục đồng hối hả đi tìm Hài Nhi Giêsu khi nghe thiên thần báo tin:” Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân: Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đavít, Người là Đấng Kitô Đức Chúa”( Lc 2, 10-11 ). Đức Giêsu Kitô là quà tặng Thiên Chúa trao ban cho loài người, cho thế g iới :” Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời “ ( Ga 3, 16 ). Hài Nhi Giêsu là món quà cao quí tuyệt vời Thiên Chúa tặng ban cho nhân loại. Giêsu Kitô là hiện thân đích thực của Thiên Chúa tình yêu. Hài Đồng Giêsu là cõi lòng vô biên đầy trìu mến Thiên Chúa dành riêng cho con người. Thiên Chúa đã không chỉ hài lòng với vạn vật, vũ trụ bao la với muôn điều kỳ thú, diệu kỳ Ngài trao ban nhưng không cho nhân loại, cho con người, nhưng Thiên Chúa muốn sai Con của Người đến cư ngụ giữa loài người để sống với, sống vì, sống cho con người ngoại trừ tội lỗi :” Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta. Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật “ ( Ga 1, 14 ).
MẦU NHIỆM GIÁNG SINH : Thánh Gioan mở đầu Tin Mừng của Ngài với cụm từ” Lúc khởi đầu “, điều này làm cho chúng ta liên tưởng tới sách Khởi Nguyên:Những trang đầu của sách này nói về việc sáng tạo của Thiên Chúa Giavê. Thiên Chúa đã tạo dựng vũ trụ, vạn vật, con người và lịch sử. Thánh Gioan khi nói về “ lúc khởi đầu “ cho Tin Mừng của Ngài, Ngài muốn nói tới một tạo thành mới, một lịch sử mới do Con Thiên Chúa khởi đầu. Ngài làm cho lịch sử cũ và tạo thành cũ trở nên mới mẻ. Thánh Gioan thường nhắc tới ánh sáng, sung mãn, vinh quang, chân lý.  Mầu nhiệm giáng sinh là Con Thiên Chúa đã trở nên Người-Chúa-Thật và cư ngụ giữa con người, giữa loài người với tất cả sự mới mẻ của tạo thành mới, lịch sử mới, sự sống mới :” Không ai đã thấy Thiên Chúa bao giờ; nhưng Con Một là Thiên Chúa và là Đấng ở nơi cung lòng Chúa Cha, chính Người đã tỏ cho chúng ta biết” ( Ga 1, 18 ).
NOI THEO GIÊSU HÀI ĐỒNG : Trong mầu nhiệm giáng sinh, chúng ta đã nhìn thấy mầu nhiệm tình yêu của Con Thiên Chúa làm người. Tình yêu của Chúa Giêsu là tình yêu tự hiến, tình yêu từ bỏ và hy sinh. Tình yêu của Ngài là tình yêu phục vụ: “ đến để phục vụ chứ không phải để được phục vụ “. Tình yêu của Ngài là tình yêu thập giá “ Khi nào Ta được đưa lên khỏi mặt đất, Ta sẽ kéo mọi người lên cùng Ta “. “ Không có tình yêu nào cao vời bằng tì nh yêu của người hiến mạng sống vì người mình yêu” ( Ga 15, 13 ).
Chiêm ngắm Hài Nhi Giêsu nơi hang đá máng cỏ là ta hiến dâng cho Ngài những nghĩa cử yêu thương của ta. “ Người phải lớn lên còn tôi phải nhỏ lại “, thánh Gioan Tẩy Giả đã thốt lên điều đó. Nhỏ lại trong những yếu hèn, đẩy lùi tội lỗi, tính ích kỷ, tham lam, ganh ghét để Chúa  lớn lên trong con người chúng ta.
Noi gương Giêsu Hài Đồng, chúng ta chỉ có thể sống đích thực làm con của Ngài khi chúng ta sống trọn vẹn những nghĩa cử yêu thương, bác ái của chúng ta.
Sống cho tha nhân là chúng ta đã để cho mầu nhiệm giáng sinh lớn lên trong trái tim của chúng ta. Lạy Hài Đồng Giêsu, xin giúp chúng con biết trao ban như Chúa đã trao ban. Amen.
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
ngày 7-9-2006

 

GS-254: NGÔI LỜI LÀM NGƯỜI

Thánh Lễ Giáng Sinh Ban Ngày
Is 52:7-10
Ga 1:1-18
Dt 1:1-6
 

Hòa bình vẫn chưa đến. Tự do còn xa tầm tay. Thiên Chúa làm người đã chia sẻ tất cả khổ: GS-254

Hòa bình vẫn chưa đến. Tự do còn xa tầm tay. Thiên Chúa làm người đã chia sẻ tất cả khổ đau đó của nhân loại. Nhưng qua đó, Người cũng muốn mạc khải một con đường ngắn nhất đi đến hòa bình và tự do : làm Con Thiên Chúa.
MẠC KHẢI VĨ ĐẠI
Tin Mừng Gioan đã làm một cuộc cách mạng vĩ đại khi lật ngược tất cả cái nhìn Cựu Ước. Trong khi Sáng Thế Ký quả quyết Thiên Chúa tạo dựng vạn vật từ hư vô và con người từ bụi đất (St 1-2), Tin Mừng Gioan mạc khải : “Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành” (Ga 1:3). Nghĩa là, con người và vạn vật được tạo dựng từ tình yêu Thiên Chúa. Cái nhìn Gioan thật sâu sắc. Sáng Thế Ký chỉ nhìn hời hợt bên ngoài, chứ không đi sâu vào tận nền tảng cấu tạo nên vạn vật. Tột đỉnh và nền tảng cuộc tạo thành chính là Ngôi Lời. Thật vậy, “không có Người, thì chẳng có gì được tạo thành” (Ga 1:3).  Người chiếm một địa vị then chốt, không thể thay thế nổi vì “điều đã được tạo thành ở nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại” (Ga 1: 4). Tất cả đều lệ thuộc vào Người.
Người xuống trần thế như đi vào nhà mình. Nhưng thật là bi đát :  “ Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận” (Ga 1:11). Chính cái bi đát này đã gây nên bi kịch cho đời Người.   “Người ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Người mà có, nhưng lại không nhận biết Người” (Ga 1:10). Càng không nhận biết Người, thế gian càng rơi vào tăm tối, vì “Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người” (Ga 1:9).  Không ai có thể than trách vì ánh sáng Người đã không chiếu tới. Chỉ vì không đón nhận ánh sáng, nên thảm kịch mới xảy ra khắp nơi.
Trái lại, “những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa” (Ga 1:12). Họ được cứu khỏi tăm tối và đưa vào miền ánh sáng nhờ “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1:14). Người đã dùng tất cả “vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người” (Ga 1:14), để biến con người thành con Thiên Chúa. Nhờ đó, “tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác” (Ga 1:16). Ơn trước tiên là chúng ta được đón nhận vào gia đình Thiên Chúa. Nơi đây, chúng ta được hạnh phúc tôn nhận Thiên Chúa là Cha. Khi được gia nhập gia đình Thiên Chúa, chúng ta được hoàn toàn giải thoát khỏi bến mê tăm tối và xích xiềng nô lệ, vì tất cả sức mạnh chúng ta là “Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật” (Ga 1:14).
TỰ DO LÀM CON CHÚA
Làm con Thiên Chúa, chúng ta sẽ hoàn toàn tự do.  Chúng ta sẽ tìm lại được bản chất con người đích thực. Tất cả chúng ta đều là anh em, vì cùng thuộc về gia đình Thiên Chúa. Trong nhà Chúa, chúng ta sẽ thừa hưởng tất cả hồng ân Thiên Chúa đã hứa và thực hiện nơi công cuộc cứu độ của Đức Giêsu Kitô. Bình an sẽ tràn ngập cõi lòng và cuộc đời chúng ta vì “trước mặt muôn dân, Đức Chúa đã vung cánh tay thần thánh của Người : ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta” (Is 52:10) . Không một sức mạnh nào đè bẹp nổi, vì ngay giữa những gian truân cùng cực, chúng ta luôn có “Đức Chúa an ủi dân Người” (Is 52:9).
Từ nhà Chúa, muôn sứ giả Tin Mừng ra đi loan báo ơn cứu độ cho muôn dân. Họ là những người tình nguyện đáp lại tiếng mời gọi của Thiên Chúa.  Họ có thể là những người đang hi sinh trong những công tác Hội đồng Mục vụ, Tài chánh, đoàn thể, ca đoàn v.v.   Họ là những tu sĩ đang cúi xuống xoa dịu vết thương đau của những người nghèo khổ tật nguyền. Họ là các vị thừa sai đang băng mình trên những miền đồi núi, rừng thiêng nước độc để gieo vãi Tin Mừng cho muôn dân. Họ có thể là các giáo sư hay các nhà giảng thuyết đang miệt mài ngày tháng trong các phòng ốc hay các giảng đường để tìm mọi cách loan truyền Tin Mừng Nước Chúa. Họ là những bạn trẻ đang hăng say dấn thân vào những công tác xã hội hay bác ái. Tất cả đều là những chiến sĩ can trường xông pha vào trận chiến chống lại bất công, áp bức, nghèo đói, bệnh tật. Mục tiêu lớn nhất đời họ là xây dựng hạnh phúc và tự do đích thực cho đồng loại.
Thế giới hôm nay đang cần những người xây dựng một nền văn hóa sự sống, chống lại văn hóa sự chết.  Văn hóa sự chết đã tạo nên một thế giới đầy “các trẻ em bị bạo lực, làm nhục và bỏ rơi, người nữ bị hãm hiếp và bóc lột, những người trẻ, người lớn và người già bị loại trừ, hàng hàng lớp lớp nhưng người bị đi đày và tị nạn, bạo lực và xung đột tại nhiều nơi trên thế giới” (Gioan Phaolô II, VietCatholic 27/12/2000). Khủng khiếp hơn nữa, “ngày nay, mỗi ngày hằng trăm ngàn trẻ em ở Mỹ, ở Việt Nam, ở Trung quốc, ở Âu châu và các nơi khác bị các loại luật pháp mỵ dân xúm lại bóp cổ, đục bể óc, đâm chết trong cung lòng người mẹ ‘bao la như biển Thái Bình’” (Nguyễn Việt Nam 24/12/2000). Trước sức mạnh thần chết đó, những chiến sĩ văn hóa sự sống làm sao đương đầu ?
Nhưng cũng như Đức Giêsu, “ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng” (Ga 1:5), các chiến sĩ đó vẫn mạnh mẽ lên đường. Họ đang tạo nên bức tranh tuyệt vời như Isaia vẫn mơ ước : “Đẹp thay trên đồi núi bước chân người loan báo Tin Mừng, công bố bình an, người loan tin hạnh phúc, công bố ơn cứu độ” (Is 52:7). Họ ra đi vì niềm tin tuyệt đối vào sức mạnh ánh sáng. Đức Giáo Hoàng mạnh mẽ khẳng quyết : “Dù cho bóng tối có xuất hiện dầy đặc như thế nào đi nữa, niềm hi vọng chúng ta về sự chiến thắng của Aùnh sáng đã xuất hiện trong đêm thánh này tại Bêlem còn mạnh mẽ hơn” (VietCatholic 27/12/2000). Aùnh sáng đó đã trở thành niềm hi vọng cho một nhân loại đang khao khát tự do và hoà bình.
Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, OP

 

GS-255: NHỮNG BÀI HỌC CỦA MẦU NHIỆM GIÁNG SINH

LễĐêm Giáng Sinh
Đọc Luca 2, 1-14
 Linh mục Phêrô Trần Đình, Dalat
 “Ai hãy làm thinh, chớ nói nhiều” (Hàn mặc Tử).
 

Lễ Giáng Sinh dầu được diễn ra trong bầu khí vui tươi rộn rã nhưng, tự thân, mầu nhiệm ấy thật: GS-255

Lễ Giáng Sinh dầu được diễn ra trong bầu khí vui tươi rộn rã nhưng, tự thân, mầu nhiệm ấy thật thâm trầm. Muốn cảm nghiệm được phần nào ý nghĩa của nó, phải yên lặng mà suy nghĩ và sẽ thấy rằng mầu nhiệm này dạy chúng ta biết bao nhiêu bài học lớn lao.
 1. Giáng Sinh, mầu nhiệm tự huỷ của con Thiên Chúa.
 Chẳng phải ngẫu nhiên khi Thánh Luca đã viết những lời lẽ thật trang trọng sau đây :
“Này tôi loan báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng sẽ là Tin Mừng cho toàn dân : Hôm nay một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành Vua Đavít. Người là Đấng Kitô, là Đức  Chúa”.
 Và nếu cứ theo lẽ thường tình của lời loan báo ấy, chúng ta sẽ có hồi tiếp theo nơi một cung điện rực rỡ, ấm áp thơm tho, có kẻ hầu người hạ lăng xăng và Hài Nhi vừa được sinh ra sẽ được bao phủ bằng gấm vóc lụa là giữa tiếng chúc mừng của mọi người.
 Thế nhưng, việc Đức Giêsu sinh ra hoàn toàn khác với những gì con người có thể tưởng tượng. Hài Nhi Giêsu, Đấng mà thiên thần gọi là Đức Chúa, là tin mừng trọng đại, khi sinh ra đã được mẹ bọc trong tã và đặt nằm trong máng cỏ. Hang đá Giáng Sinh mọi thời, dầu được trang trí bằng những ánh đèn rực rỡ muôn mầu muôn sắc, vẫn muốn trình bày một Đức Giêsu sinh ra khó nghèo giữa các chiên lừa sưởi ấm.
 Đường lối của Thiên Chúa bao giờ cũng nhiệm lạ và ngược đời, đòi hỏi chúng ta phải yên lặng ngắm nhìn và suy tư.
 Ngày xưa, khi suy nghĩ về việc Giáng Sinh của Đức Giêsu, có người đã tự hỏi :”Tại sao Thiên Chúa lại làm người ?” (Cur Deus homo ?). Là bởi vì, để cứu chuộc nhân loại, Thiên Chúa có thể hành động bằng những cách thế oai phong lẫm liệt, tại sao Người lại chọn việc cứu chuộc nhân loại bằng cách thế khó hiểu khi chấp nhận sinh ra như một con người bé nhỏ và tầm thường như thế ?. Thưa là vì Thiên Chúa không muốn con người đi vào con đường của Adong và Evà ngày xưa, những con người kiêu ngạo và bất tuân đã kéo theosự chết của muôn người. Để cứu chuộc loài người, Thiên Chúa đã đi ngược chiều với nguyên tổ bằng sự hạ mình và vâng phục.
 Vâng, mầu nhiệm Giáng Sinh là mầu nhiệm của một Vị Thiên Chúa hạ mình đến tột cùng. Thánh Phaolô  đã nhận ra chân lý ấy : “Thiên Chúa vốn giàu sang đã trở nên nghèo, để vì sự nghèo khó ấy, Người làm cho con người được giàu sang” (2 C 8, 9).
Mầu nhiệm Giáng Sinh quả thật là mầu nhiệm của một Vị Thiên Chúa tự huỷ.
 2. Mầu nhiệm Giáng Sinh, mầu nhiệm của một Vị Thiên Chúa trở nên vừa tầm với mọi hạng người
 Nếu Chúa sinh ra trong một cung điện nguy nga, có người canh giữ cẩn mật thì ai dám đến với Chúa và như vậy Người chẳng phải là Chúa của mọi người. Chúa phải sinh ra thấp hèn để có thể gần gũi với mọi hạng người. Vì thế,  những chú mục đồng, hạng người bị xã hội khinh khi, cũng vui  mừng khôn xiết vì cảm nghiệm được rằng Người là Chúa của họ nữa.
 Chúa phải sinh ra thấp hèn như vậy để Người trở nên vừa tầm với mọi người, để Người hiểu được thế nào là đắng cay của kiếp sống làm người, những ưu tư trăn trở của mọi họ. Thơ gởi tín hữu Do thái đã nói : “Chúng ta có một vị thượng tế có khả năng cảm thông với mọi người”.
 3. Những dấu chỉ về Chúa hôm nay
 Con người mọi thời xem ra ưa chuộng những dấu chỉ giàu sang và quyền lực, còn dấu chỉ về Chúa mà các thiên thần mách cho các mục đồng là : “Một hài nhi sơ sinh mình quấn tã, đặt nằm trong máng cỏ”.
 Một dấu chỉ của sự bé nhỏ, khiêm nhường thẳm sâu : Đấng sinh ra mọi người lại đã được loài người sinh ra. Chúa đã biểu dương quyền năng qua sự yếu đuối. Thập giá sẽ là một dấu chỉ khác về sự yếu đưới bất lực và dấu chỉ ấy đã khởi sự từ hôm nay, nơi máng cỏ.
 Chính vì thế, người kitô hữu muốn sống đức tin phải nhìn thấy Chúa qua những ai bé nhỏ nghèo hèn. Có những Đức Giêsu đen đủi, bơ vơ tất tưởi, phiền muộn … mà ta vẫn gặp thấy mỗi ngày trên những nẻo đường ta đi. Nhờ Chúa sinh ra khó hèn mà ta biết yêu thương họ nữa.
 Mầu nhiệm Giáng Sinh, như vậy, đem chúng ta đi vào cuộc sống đời thường của con người, để những vui mừng và hi vọng, ưu sầu và lo lắng của họ cũng phải liên hệ đến chúng ta.

 

GS-256: ĐẶT NẰM TRONG MÁNG CỎ

Lễ Giáng Sinh C (Lễ Đêm)
Lc 2,1-14:  1 Thời ấy, hoàng đế Augustô ra chiếu chỉ, truyền kiểm tra dân số trong khắp cả thiên hạ. 2 Đây là cuộc kiểm tra đầu tiên, được thực hiện thời ông Quiriniô làm tổng trấn xứ Xyria. 3 Ai nấy đều phải về nguyên quán mà khai tên tuổi. 4 Bởi thế, ông Giuse từ thành Nadarét, miền Galilê lên thành vua Đavít tức là Bêlem, miền Giuđê, vì ông thuộc gia đình dòng tộc vua Đavít. 5 Ông lên đó khai tên cùng với người đã thành hôn với ông là bà Maria, lúc ấy đang có thai. 6 Khi hai người đang ở đó, thì bà Maria đã tới ngày mãn nguyệt khai hoa. 7 Bà sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ, vì không có chỗ cho hai ông bà trong phòng trọ.
 8 Trong vùng ấy, có những người chăn chiên sống ngoài đồng và thức đêm canh giữ đàn vật. 9 Bỗng sứ thần Chúa đứng bên họ, và vinh quang của Chúa chiếu toả chung quanh, khiến họ kinh khiếp hãi hùng. 10 Nhưng sứ thần bảo họ: “Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân: 11 Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đavít, Người là Đấng Kitô Đức Chúa. 12 Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người: anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ.” 13 Bỗng có muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa rằng: 14 “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương.”
 

Nằm trong tiết đoạn Tin mừng của thời Thơ ấu (1:5-2:52), đoạn 2:1-14 thuật lại câu chuyện: GS-256

Nằm trong tiết đoạn Tin mừng của thời Thơ ấu (1:5-2:52), đoạn 2:1-14 thuật lại câu chuyện giáng sinh của Chúa Giêsu. Câu chuyện nầy nối tiếp trình thuật truyền tin (1:26-56), trong đó nhấn mạnh đến thuộc về dòng dõi Đavít của Chúa Giêsu; trong khi ở đây, tính thiên sai của Người được nêu bật (2:11). Bố cục của đoạn có thể được phân chia như sau: - Bối cảnh lịch sử (2:1-5); - Cảnh giáng sinh (2:6-7); Cảnh các mục đồng (2:8-14). Đoạn 2:1-7 làm thành một bản văn thống nhất và chia làm hai phần rõ rệt dựa trên cụm từ “xảy ra vào” (egeneto de en) (2:1.6).
Trong phần nhập đề về bối cảnh lịch sử (2:1-5), có thể phân chia cách chi tiết như sau: - Dưới triều hoàng đế Augustô, lệnh kiểm tra dân số được cống bố (2:1-2); - Lệnh nầy được áp dụng cho mọi người (2:3); - Giuse và Maria nằm trong hoàn cảnh ấy (2:4-5). Kiểm tra dân số là lý do để đưa gia đình Giuse và Maria từ thành Nazaréth về thành Bêthlêhem, như mọi người phải về lại nguyên quán của mình để làm chuyện đó (2:1.2.3). Nazaréth là nơi cư ngụ, còn Bêthlêhem mới là nguyên quán của Giuse. Các ngài đã làm xong việc nầy như mọi người (2:5). “Đi lên đó” (2:4) thường chỉ “đi lên vùng Juđa”, nhất là đi lên Giêrusalem vì vùng ấy cao hơn vùng Galilêa (x. 2:42; 18:10.31; 19:28). Trong Cựu ước, Bêthlêhem không phải là thành của Đavít, mà thành Giêrusalem (x. 2 Sam 5:7, 9; 6:10.12.16; 2 V 9:28; 12:22). Nhưng Bêthlêhem là nguyên quán của Đavít (1 Sam 16; 17:12.58), là nơi sẽ phát sinh một thủ lãnh thuộc dòng dõi Đavít (Mic 5:2). Xét theo diễn tiến trình bày, Luca đi từ một không gian rộng lớn, rồi thu hẹp lại dần và cuối cùng tập trung vào “thành Đavít” (2:4): từ “toàn cõi” (2:1), đến “Galilêa”, rồi “Nazaréth” và “Giuđa” đến “Bêthlêhem” (2:4). Trong cách trình bày các nhân vật, Luca cũng làm như thế. Trung tâm điểm phải đến của trình thuật là “Hài Nhi được đặt nằm trong máng cỏ (2:7). Đây cũng là điểm hẹn và dấu chỉ mà các thiên sứ loan báo cho các mục đồng (2:11-12).
Trong đoạn về giáng sinh (2:6-7), Giuse và Maria đã đến nơi “ở đó”. Maria đã “đủ ngày”, nghĩa là đã đủ thời gian để sinh con (x. 1:57). Bà đã “sinh con trai đầu lòng của bà” (2:7a). Động từ “tiktô” (sinh con) rõ ràng chỉ sự sinh con tự nhiên (x. 1:31.57; 2:6.7.11). Trong các tin mừng, chỉ Luca dùng chữ “prôtotokos” (con đầu lòng) một lần và ở đây (2:7). Trong Cựu ước, chữ nầy chỉ “sản phẩm đầu tiên” bởi ruộng đồng hoặc súc vật (Xh 22:28tt; 34:19; Ds 18:15tt;  Đnl 15:19tt), đều phải được dâng cho Thiên Chúa. Trong Xh 4:22, Israel được gọi là “con đầu lòng của Ta”, chỉ tương quan mật thiết, yêu thương và tuyển chọn giữa Israel với Thiên Chúa. Vì thế, Israel nhận biết Thiên Chúa là Cha của họ. Một vị vua cũng được gọi là “con đầu lòng” của Thiên Chúa (x. Tv 89:27). Trong các sách khác của Tân ước, chữ nầy áp dụng duy nhất cho Chúa Giêsu Kitô (Col 1:15.18; Rôm 8:29; Do thái1:16; và Kh 1:5, ngoại trừ câu Do thái 12:23 chỉ những người Kitô hữu. Vậy, Chúa Giêsu được gọi là “con đầu lòng”, nên Người được hiến dâng cho Thiên Chúa (2:23), và Người có một tương quan đặt biệt với Chúa Cha: “con của Đấng Tối Cao”, và được Chúa Cha “đặt trên ngai vua Đavít” (1:23). Như thế, khái niệm “con đầu lòng” không được đặt tương quan thứ tự với anh chị em trong một gia đình, mà chỉ với Thiên Chúa.
 “Hài Nhi được quấn khăn và được đặt nằm trong máng cỏ” là tâm điểm của trình thuật nầy (2:12.16). Maria đã làm việc nầy cho Hài Nhi (2:7). Quấn khăn là hành vi của tình yêu và chăm sóc mà người mẹ làm cho người con mới sinh yếu ớt, không thể tự sống và lo lắng cho chính mình (x. Êzek 16:4; Khôn Ngoan 7:4). Máng cỏ (phatnç) theo nghĩa chung là nơi chứa thức ăn cho súc vật (2:7.12.16); có khi chỉ cái chuồng súc vật (13:15). “Katalyma” (2:7), từ động từ có nghĩa là “dừng lại, nghỉ ngơi và cư ngụ” (9:12; 19:7), chỉ một cách uyển chuyển bất cứ nơi nào có thể ngụ qua đêm. Trong Luca 22:11, hạn từ nầy chỉ “phòng dành cho khách” của một gia đình mà Chúa Giêsu mượn để cử hành lễ Vượt qua với các môn đệ của Người (22:11; Mt 14:14). Bên cạnh đó, Luca dùng một cách phân biệt hạn từ “pandocheion” để chỉ “quán trọ” theo nghĩa riêng của nó (10:34). Do đó,
điều có thể nói dựa trên bản văn là: - Maria đã đặt Hài Nhi trong máng cỏ và - hai ông bà không có chỗ trong phòng dành cho khách ngụ qua đêm, chứ không phải là quán trọ. Ở Palestina thời ấy, ở vùng quê chuồng súc vật được làm trong một cái hang bên trong một căn nhà: chỗ súc vật ăn và phòng ở kề cận nhau chung trong một phòng. Cũng có những chuồng súc vật thấp hơn phòng ở và nằm lộ thiên. Còn máng ăn thường bằng đá đẽo. “Hài Nhi được quấn khăn và đặt nằm trong máng cỏ” là dấu chỉ để nhận ra Đấng Cứu Thế. Người là Chúa Kitô (2:11). Dấu hiệu là một biểu hiện thấy được, như máng cỏ, hài nhi (2:12), biến động nơi mặt trời, mặt trăng và ngôi sao (x. 21:15; 23:8). Dấu hiệu còn mang khía cạnh khác là minh chứng Thiên Chúa đang hiện diện và hành động trong thế giới nầy (x. 11:30). Do đó, Hài Nhi trong máng cỏ là dấu hiệu vừa xác định đó là Đấng Cứu Thế cao cả, vừa cho thấy sự hạ mình của Người. Người là dấu hiệu duy nhất của sự cứu độ (x. 11:30).
 Sự cứu độ theo nghĩa thông thường cách nào đó gắn liền với một vị hoàng đế. Trong thời hoàng đế Augustô, Đấng Cứu Thế đã ra đời (2:11). Sự cứu độ đã đổi thay ý nghĩa, dân chúng phải được kiểm kê lại vì Chúa Kitô (Vua) đã sinh ra và mở đầu vương quốc của Người từ mãnh đất khiêm tốn rộng lớn bằng cái máng cỏ.
Luigi Gonzaga Đặng Quang Tiến

 

GS-257: Giáng Sinh – Lễ Nửa Đêm

Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Lu-ca 2:1-14)
 

Mặc dù thánh Lu-ca đặt biến cố Giáng Sinh trong cuộc kiểm tra dân số của hoàng đế Au-gút: GS-257

          Mặc dù thánh Lu-ca đặt biến cố Giáng Sinh trong cuộc kiểm tra dân số của hoàng đế Au-gút-tô, nhưng lời sứ thần Chúa loan báo Tin Mừng cho những người chăn chiên lại nói đến hiện tại:  “Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa-vít, Người là Đấng Ki-tô, là Đức Chúa”.  Thời gian và biến cố này, mỗi chi tiết của sứ điệp đều mang ý nghĩa đặc biệt, không chỉ với những người chăn chiên được sứ thần loan báo, nhưng với mọi người ở mọi thời và mọi nơi.
          Trước hết là biến cố giáng sinh của Đấng Cứu Độ, Người là Đấng Ki-tô, là Đức Chúa.  Thiên sứ đã nêu ra liên tiếp ba danh hiệu của Chúa Giê-su giáng sinh.  Ba danh hiệu ấy nói lên con người và sứ mệnh của Chúa Giê-su.
- Là Đấng Cứu Độ, Chúa Giê-su có sứ mệnh xóa bỏ tội lỗi nhân loại.  Người sẽ giải phóng con người khỏi ách nô lệ tội lỗi, biến đổi thân phận con người từ thù địch của Thiên Chúa trở thành con cái của Thiên Chúa.
-  Nhưng muốn thi hành và chu toàn sứ mệnh ấy, Chúa Giê-su phải đóng vai trò của Đấng Ki-tô hoặc là Đấng Mê-si-a, nghĩa là người Tôi trung của Thiên Chúa, sẵn sàng chấp nhận con đường khổ giá và cái chết để đền bù tội lỗi nhân loại.
-  Đức Chúa hay Chúa chúng ta là danh hiệu đi liền với thánh danh Giê-su Ki-tô, ám chỉ quyền chủ tể và vương đế của Chúa Giê-su là do Thiên Chúa ban, vì Người là nguyên lý quy về một mối để đưa muôn vật muôn loài về với Thiên Chúa.  “Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu… Và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: ‘Đức Giê-su Ki-tô là Chúa’” (Pl 2:9.11).
Như vậy, tin mừng do thiên sứ loan báo nhắc nhở chúng ta phải biết Đấng chúng ta mừng sinh nhật của Người là ai và có sứ mệnh gì.  Sứ mệnh thiêng liêng và cao cả của Người đòi hỏi chúng ta phải chuẩn bị tâm hồn sao cho thích hợp, chứ không phải là những chuẩn bị trang hoàng hào nhoáng bề ngoài.  Thiên sứ còn nói rõ:  Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em.  Có nghĩa là chúng ta cũng ở trong số những anh em đó, vì ơn cứu độ là ơn phổ quát.
Ngoài ra, trạng từ chỉ thời gian Hôm nay cho chúng ta thấy việc cứu độ luôn diễn tiến trong hiện tại, nơi mọi người muốn tiếp nhận ơn cứu độ ở đây và bây giờ.  Do đó, mừng Chúa Giáng Sinh không chỉ là nhớ về một kỷ niệm, nhưng là mở lòng đón nhận Chúa đến trong tâm hồn chúng ta và để Người biến đổi con người chúng ta mỗi ngày nên hoàn hảo hơn.
Sống sứ điệp Tin Mừng
          Thiên sứ đã loan báo Tin Mừng Chúa giáng sinh và cho các người chăn chiên một dấu hiệu để giúp họ nhận ra Hài Nhi Giê-su.  Dấu hiệu về Hài Nhi thật là đơn sơ, dễ nhận:  một trẻ sơ sinh bọc tã nằm trong máng cỏ.  Chắc chắn họ đã gặp được Chúa theo dấu hiệu ấy, vì sau đó “họ ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa”.
          Hình ảnh những người chăn chiên tìm đến Hài Nhi Giê-su cũng phải là hình ảnh chúng ta tìm gặp Chúa trong cuộc đời.  Chúa Giê-su lịch sử giáng sinh vào ban đêm.  Còn Chúa Giê-su Cứu Độ sẵn sàng “sinh ra” trong tâm hồn chúng ta bất cứ lúc nào chúng ta mở lòng đón tiếp Người, khi chúng ta cầu nguyện, khi chúng ta giúp đỡ người khác, khi chúng ta dự Thánh Lễ và rước Chúa vào lòng.  Gặp Chúa rồi, chúng ta còn phải “vừa đi (trong cuộc đời) vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa nữa”.
 Lm. Dominic TTL

 

GS-258: THÁNH LỄ BAN NGÀY

 BÀI ĐỌC I: Is 52, 7-10
"Khắp cùng bờ cõi trái đất sẽ nhìn thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta"
 BÀI ĐỌC II: Dt 1, 1-6
"Chúa đã phán dạy chúng ta qua người Con"
 PHÚC ÂM: Ga 1, 1-18
"Ngôi Lời đã hóa thành nhục thể, và Người đã cư ngụ giữa chúng tôi"
 SUY NIỆM
 "Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời, Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Lúc khởi đầu, Người vẫn hướng về Thiên Chúa. Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta" (Ga 1, 1-14)
 

Phần mở đầu trong Tin Mừng Gioan được đọc trong cả hai Thánh Lễ Giáng Sinh và bảy ngày sau GS-258

Phần mở đầu trong Tin Mừng Gioan được đọc trong cả hai Thánh Lễ Giáng Sinh và bảy ngày sau Giáng Sinh. Đây là bản văn mạc khải mầu nhiệm Giáng Sinh trong chiều kích sâu và rộng nhất - Sự sống vĩnh hằng của Thiên Chúa và chương trình của Ngài được đã được Ngài mạc khải và chia sẻ sự sống ấy với con người qua mọi biến cố trong lịch sử ơn cứu độ. Khi chúng ta lặng ngắm hài nhi Giêsu, chúng ta được mời gọi tham dự vào chương trình vĩnh hằng của Thiên Chúa được mang đến qua sự giáng sinh của Đức Kitô giữa chúng ta.
 Từ khởi thủy đã luôn có sự thông phần của sự sống và tình yêu trong Thiên Chúa. Người Con duy nhất của Thiên Chúa là Ngôi Hai Thiên Chúa, Ngài vẫn hướng về Thiên Chúa (Ga 1, 2). Ngài vẫn đón nhận sự sống và tình yêu của Cha và và cho lại Cha một cách trọn hảo. Khi Thiên Chúa tạo dựng trời đất, Ngài ước muốn thông chia sự sống và ánh sáng của Con Ngài. Aùnh sáng của Thiên Chúa trong thế gian đã luôn gặp phải những đối nghịch. Sự thật bị khước từ, lời của Thiên Chúa bị lãng quên và bị hắt hủi và con người đã chạy theo những tạo vật khác thay vì chọn lựa Thiên Chúa. Mặc cho sự chống đối từ các thế lực thần dữ và bóng tối, chương trình của Thiên Chúa "Ngôi Lời đã trở nên người phàm" vẫn không bị hủy bỏ. Sự cố này đã được lập lại trong mọi biến cố quanh việc hạ sinh của Chúa Giêsu. Không người nào còn chỗ trọ qua đêm cho Giuse và Maria. Con Thiên Chúa gíang sinh trong máng bò lừa. Ngài được đón tiếp và chúc mừng bởi những người nghèo khó và khiêm hạ trong lòng, nhưng bị kẻ giàu sang và quyền thế khước từ. Vua Hêrôdê lùng giết. Nhưng "sự sáng đã chiếu rọi chốn tối tăm".
 Quyền năng của Thiên Chúa đã được mạc khải trong sự yếu đuối của con người như thế nào? Chúng ta hãy dẹp bỏ những ý tưởng của con người về sự cao cả để đón nhận sự thật và tình yêu của Thiên Chúa qua hài nhi Giêsu, chúng ta sẽ thực sự cảm nghiệm thế nào là ân sủng của Ngôi Hai Thiên Chúa trong cõi lòng thâm sâu của chúng ta. Những ai đón nhận Con của Ngài, "họ sẽ nên con cái của Thiên Chúa". Còn cách nào hay để trung thành trong ân sủng hơn là chiêm ngắm Cha và Con của Ngài. Khi chiêm ngắm hài nhi Giêsu trong máng cỏ, chúng ta hãy tự tưởng tượng rằng mình đang cư ngụ với Ngài trong cung lòng sâu thẳm của Thiên Chúa. Ước mong món quà tặng vô giá của Thiên Chúa là chính người Con duy nhất của Ngài sẽ được mỗi người chúng ta đón nhận một cách trọn vẹn trong ngày Giáng Sinh này.
 Giáng Sinh 2003

 

GS-259: Lễ Giáng Sinh, Lễ Ban Ngày

 “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta”
Đọc Gioan 1, 1-18
 Linh mục Phêrô Trần Đình, Dalat
 

Trong thánh lễ sáng nay, các bài đọc, nhất là bài Tin Mừng, còn muốn tiếp tục đào sâu mầu: GS-259

Trong thánh lễ sáng nay, các bài đọc, nhất là bài Tin Mừng, còn muốn tiếp tục đào sâu mầu nhiệm Con Thiên Chúa làm người : “Ngôi Lời đã trở nên người  phàm và cư ngụ giữa chúng ta”.
 Một kế hoạch lâu dài
 Qua câu nói này, Tin Mừng muốn nhấn mạnh rằng : Ngôi Lời nhập thể, làm người là để ở với con người, bởi vì danh hiệu của Người là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta.
 Một sự thật không nhỏ, bởi vì đó là cả một kế hoạch lâu dài của Thiên Chúa, khởi đi từ “Tin Mừng nguyên thuỷ” (x. St 3, 15) cho đến lời tiên báo về “một trinh nữ sẽ sinh con và đặt tên là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (Ys 7, 14; x. Mt 1, 23).
 Thiên Chúa của kitô giáo không phải là Thiên Chúa của các triết gia, một Thiên Chúa của lý luận, nhưng là một Thiên Chúa muốn ở giữa loài người, muốn đồng hành cùng con người, muốn đảm nhận tất cả những gì thuộc thân phận con người, bởi vì : “Điều gì không được đảm nhận, sẽ không được cứu độ” (Irênê).
 Một sự kiện kinh hoàng
 Sự kiện Thiên Chúa ở cùng nhân loại là một sự kiện kinh hoàng. Thật vậy, trước khi nói đến việc Con Thiên Chúa “cư ngụ giữa chúng ta”, thánh sử Gioan đã dài dòng mô tả địa vị thần linh của Người : “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời…và Ngôi Lời là Thiên Chúa”. Cho nên, việc Con Thiên Chúa lưu trú giữa nhân loại là sự kiện mãi mãi làm ta không hết ngạc nhiên.
 Thánh Irênê đã diễn tả sự kiện này bằng những lời lẽ sống động như sau : “Ngôi Lời của Thiên Chúa đã đến ở với loài người và đã trở nên con của loài người, để làm cho loài người quen nhận biết Thiên Chúa và làm cho Thiên Chúa quen ở với loài người” (Bài đọc kinh sách ngày 19-12).
 Nếu được phép suy nghĩ theo kiểu nhân loại, chúng ta có thể nói rằng : tự bản chất, Thiên Chúa không quen ở với loài người, bởi vì giữa Thiên Chúa và con người là cả một khoảng cách mênh mông vô tận, không thể vượt qua, nếu Thiên Chúa không thật sự cố ý xoá nhoà khoảng cách ấy bằng cách cúi xuống trên thụ tạo.
 Tiếng reo vui của con người
 Thế nhưng, vì yêu thương nhân loại,Thiên Chúa đã làm mọi sự ngoài suy tưởng của con người. “Ngôi Lời đã làm người” : nếu hiểu cho chính xác thì đó còn là tiếng reo vui của con người, kinh ngạc khi bắt gặp Thiên Chúa đang cư ngụ giữa  cõi nhân sinh này, một tiếng reo hò sung sướng, xoá bỏ và làm dội lại tiếng mỉa mai của con người khi nhận ra rằng mình trần trụi : “Adam đã trở thành một người trong chúng ta rồi đây” (St 3, 22).
 Dấu chỉ của cõi vô hình
 Cuối cùng, tự bản chất, con người chỉ quen sống với những gì cụ thể, khó vươn tới những gì vô hình. Nhưng Thiên Chúa vì “đã lưu trú giữa chúng ta”, nên từ đó con người mới có cả gan nói rằng “chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha đã ban cho Người, là Con Một tràn đầy ơn sủng và sự thật” (Ga 1, 14).
Như thế, Ngôi Lời đã sống giữa nhân gian như một dấu chỉ hữu hình về Đấng vô hình, dấu chỉ đưa con người về với Cha là cội nguồn của vạn sự và cũng từ đó Người phát xuất.
 Có suy nghĩ như thế, chúng ta mới thấy cần phải cảm mến Chúa khi “õlưu trú giữa chúng ta” đã làm mọi sự tốt đẹp cho chúng ta và vì chúng ta.

 

GS-260: LỄ CHÚA GIÁNG SINH NĂM 2000

Lm. Giuse Nguyễn Hữu Duyên
 

Mỗi khi Giáng Sinh về, có lẽ ai cũng thấy lòng mình rộn rã. Cho dù ở cương vị làm cha, làm mẹ: GS-260

Mỗi khi Giáng Sinh về, có lẽ ai cũng thấy lòng mình rộn rã. Cho dù ở cương vị làm cha, làm mẹ chúng ta cũng không tránh khỏi những băn khoăn khi đồng tiền trong nhà không được rủng rỉnh đôi chút : bởi vì nghĩ đến con cái không có được những gì chúng ước mơ trong ngày lễ, chẳng cha mẹ nào có được niềm vui trọn vẹn.
 Dù sao những tâm tư ấy cũng nói lên một điều : lễ Giáng Sinh là ngày lễ Gia Đình. Nhiều cộng đoàn tu cũng chỉ có thể tụ họp đông đủ 1 lần trong năm vào đêm Giáng Sinh. Tôi không thể hình dung được một lễ Giáng Sinh mà không có sự đoàn tụ.
Thế nhưng, nhìn vào thế giới chúng ta đang sống, khoanh vùng bản đồ, chúng ta sẽ thấy là chiến tranh, nghèo đói đã xé nát bao gia đình, bao cộng đồng nhân loại ! Đêm nay có lẽ hơn một nửa nhân loại không biết tới niềm vui đoàn tụ! Tin Mừng Giáng Sinh vẫn phải tiếp tục được rao giảng.
 Đó là Tin Mừng về NGƯỜI CHA : "Thiên Chúa đã yêu thương nhân loại đến nỗi đã ban Con Một Người". Người Con mà từ đời đời Người đã nói "Con là Con Cha yêu dấu, Con đẹp lòng Cha mọi đàng". Người Con khi đến trong thế gian đã loan báo cho mọi người điều được dấu kín trong lòng Cha : "Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, không muốn một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư đi". Và hơn thế nữa vì "Cha đã yêu thương họ như Cha đã yêu thương Con". Tất cả mầu nhiệm ấy đối với anh và tôi qủa thật là Tin Mừng, là Niềm hy vọng lớn lao.
 Đó cũng là Tin Mừng về NGƯỜI CON : "Con xin thánh hiến chính mình con cho họ, để nhờ sự thật, họ cũng được thánh hiến". Người Con qủa thật bằng sự hiến thánh này đã làm cho TIN MỪNG về CHA thành hiện thực. Niềm hy vọng của chúng ta giờ đây được chuyển vào trong Người Con, vì "Không ai biết Cha trừ ra Con". Điều ấy trở thành Tin Mừng là vì "Ai thấy Con là thấy Cha", mà về Người Con ấy thì Gioan qủa quyết là "Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta. Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật." Và thực tiễn là Người Con đã đồng bàn với anh và tôi, những kẻ tội lỗi.
 Đó cũng còn là Tin Mừng về Thánh Thần: vì như chính Đức Giêsu đã khẳng định về chúng ta những kẻ tin vào Người Con, là những người sinh ra bởi quyền năng Thiên Chúa "Tôi bảo thật ông : không ai có thể vào nước Thiên Chúa nếu không sinh ra bởi nước và Thánh Thần." "Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên đem lại sự sống đời đời". Mơ ước của con người chúng ta từ muôn thế hệ là được "thần hóa" giờ đây đã nên cụ thể trong Người Con.
 Dù nhìn dưới góc độ nào, Tin Mừng vẫn là Tin Mừng về CHA-CON và TÌNH CHA-CON ấy. Tin Mừng của đoàn tụ, và là đoàn tụ của những con người bị bỏ rơi, bị đầy đoạ về lại tình Cha-Con ấy nhờ Thánh Thần.
 Ước mong tất cả chúng ta sống lễ hội đoàn tụ gia đình theo Tin Mừng Giáng Sinh mà tôi vừa chia sẻ.

 

GS-261: HÃY QUA BÊLEM MÀ XEM

Lễ Giáng Sinh C (Rạng Đông)
Lc 2:15-20: 15 Và khi các thiên thần đã từ giã họ mà về trời, mục đồng bảo nhau: "Chúng ta hãy qua Bêlem mà xem điều đã xảy ra, và Chúa đã khấng tỏ cho ta biết". 16 Họ hối hả đi đến và đã gặp Maria và Yuse cùng hài nhi đặt nằm trong máng cỏ. 17 Thấy rồi, họ nói ra cho biết điều họ đã được phán dạy về Hài nhi. 18 Và mọi người nghe đều kinh ngạc về các điều mục đồng đã thuật lại cho mình. 19 Còn Maria thì bà giữ kỹ mọi điều ấy và hằng suy đi nghĩ lại trong lòng. 20 Rồi các kẻ mục đồng lui về tôn vinh và ca ngợi Thiên Chúa vì mọi điều họ đã được nghe và thấy, chiếu theo lời đã phán dạy họ.
 

Đoạn nầy nằm trong văn mạch câu chuyện giữa các thiên thần và mục đồng (2:8-20), sau mô: GS-261

Đoạn nầy nằm trong văn mạch câu chuyện giữa các thiên thần và mục đồng (2:8-20), sau mô tả việc hạ sinh của Chúa Giêsu (2:1-8). Sau lời thiên thần báo tin, các mục đồng vội vã đến Bêlem, và tìm thấy Hài nhi (2:15-21). Ngay sau đoạn nầy, Luca thuật lại câu chuyện xảy ra tại đền thờ Giêrusalem, nơi Chúa Giêsu được trình dâng lên sau tám ngày (2:21-38). Rồi cha mẹ đưa Ngài về lại Nazaréth (2:39-40). Phần cuối cùng của chương hai là trình thuật Chúa Giêsu lên Giêrusalem lần đầu tiên, khi Ngài lên 12 tuổi (2:41-52). 
                   Câu chuyện giữa các thiên thần và mục đồng (2:8-20) phân thành hai màn: thiên thần xuất hiện từ trời và loan báo Đấng Kitô sinh ra trong thành Đavít (2:8-14), và các mục đồng ra đi tìm đến Bêlem (2:15-20). Từ “các mục đồng”, poimçn, (cc. 8 và 20) và “vinh quang”, doxa, (c. 9) - “tôn vinh”, doxazô, (c. 20) đóng khung câu chuyện. Vinh quang của Thiên Chúa đã đến và hiện diện giữa họ. Họ đã thấy và tôn vinh Ngài. Chủ đề của đoạn là việc loan báo Đấng Cứu Thế đến và phản ứng của người đón nhận. Luca dùng các từ ngữ liên quan đến vương quyền như “thành Đavít”, “Đấng Cứu Thế” “Đấng Kitô”, và nhất là “vinh quang”, “vinh quang trên cao thẳm”, “tôn vinh” và bình an dưới thế”. Các mục đồng tìm đến và đã thấy “Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ” (c. 16) mà thiên thần đã loan báo như một dấu hiệu (c. 12). Dấu hiệu nầy quy chiếu ngược lên về màn hạ sinh của Chúa Giêsu được mô tả rất ngắn gọn chỉ trong một câu (c.7): “bà vấn Hài Nhi trong khăn và đặt nằm trong máng cỏ”. Việc tìm thấy nầy kết thúc đoạn.
          Trong đoạn 2:15-21 Luca chú trọng đến việc khám phá Hài Nhi và phản ứng trước sự việc nầy; bởi đó ông dùng các từ ngữ thuộc giác quan nhiều lần, vì chúng liên qua đến một dấu hiệu hữu hình, như laleô, “nói” (cc. 15.17.18.20), rçma, “sự việc” (cc. 15.17.19), oraô, “thấy” (cc. 15.17.20). Nhân vật chính của đoạn là các mục đồng. Họ ước muốn xem thấy điều đã được loan báo (c. 15), và khi đã thấy, họ sẽ loan báo cho người khác (c. 20). Đoạn 2:15-20 làm thành một đơn vị duy nhất, và có thể chia thành hai phần: - Khám phá của các mục đồng (2:15-17); - Các phản ứng  (2:18-20). Từ poimenes, “mục đồng”:  họ đi đến Bêlem (c. 15) và trở về (c. 20) đóng khung phần nầy.
Khám Phá của Các Mục Đồng (2:15-17)
Sau ghi nhận các thiên thần ra đi, Luca mô tả cuộc gặp gỡ của các người thiện tâm đầu tiên (c. 14), là các mục đồng với Hài Nhi. Các mục đồng là người đầu tiên nhìn thấy vinh quang của Thiên Chúa nơi Hài Nhi. Lời các mục đồng nói với nhau gồm hai phần: “Chúng ta hãy qua Bêlem” và “chúng ta hãy xem điều đã xảy ra mà Chúa đã tỏ cho chúng ta biết”. Phần thứ hai là lý do thúc đẩy hành động của phần thứ nhất. Hai động từ dierchomai, “đi qua”, và horaô, “thấy”, ở thể cầu khẩn (subjunctive) chỉ sự khích lệ nhau giữa các mục đồng; heôs, “cho đến” chỉ một khoảng cách và đích đến. Luca không cho biết chiều dài lộ trình, mà thái độ của các mục đồng trên lộ trình ấy (c. 16). Họ muốn đi đến Bêlem cách vội vã để nhìn thấy Hài Nhi. “Bçthleem” là tên gọi khác của “kinh thành Đavít” (cc. 4.11). “Sự việc”, rçma mà các muốn thấy là “lời” của các thiên thần về Đấng Cứu Thế mà họ đã nghe, liên quan đến họ và toàn dân (cc. 10-12). Các mục đồng sẽ làm một hành vi tương tự là nói cho dân chúng về Đấng Cứu Thế khi họ đã thấy tận mắt (c.20). “Sự việc” nầy bây giờ họ nhận ra là bởi Chúa, ho kurios. Chúa làm cho họ biết, gnôrizô, sự cứu độ bắt đầu ngay từ việc sinh hạ của Đấng Kitô (cc. 15.17). Vậy sự việc đã được loan báo và đã xảy ra. Phản ứng đầu tiên trước sự việc nầy là quyết định ra đi để tìm gặp.
          Phản ứng tiếp theo là các mục đồng “vội vã ra đi”, steudô (c. 16). Tin mừng Luca ghi nhận sự vội vã của ba người: Đức Maria (1:39), các mục đồng (2:16) và Giakêu (19:5.6), và trong cả ba lần đều liên quan đến sự ân cần muốn gặp Chúa Giêsu. Họ vội vã đến một nơi, và ở đó họ gặp một Đấng chứ không phải một nơi chỗ: ở Bêlem có Đấng Cứu Thế, tại nhà Giakêu Chúa Giêsu đến. Động từ “tìm gặp”, “khám phá”, aneuriskô, chỉ được dùng ở đây và Cv 21:4, có đối tượng là người. Các mục đồng đã tìm thấy “Maria, Giuse và Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ”. Đến lúc nầy các mạo từ xác định đi trước brephos, “Hài Nhi” và phanç, “máng cỏ” ám chỉ điều đã được loan báo trước (2:7.12).
          Việc khám phá nầy đóng khung lại bằng các hạn từ đã được dùng ở câu 15: “các mục đồng”, “thấy”, “sự việc”, “nói”, “tỏ cho biết” (c. 17). Tuy nhiên ở đây có hai sự khác biệt so với câu 15. Động từ gnôrizô “tỏ cho biết” bây giờ có chủ ngữ là các mục đồng, chứ không phải là Chúa nữa. Đối tượng của hành động nầy vẫn là “lời”, “điều trình bày”, rçma, đã được nói cho họ. Và Luca không cho biết ngay trong câu nầy đối tượng gián tiếp của hành động nầy là ai, mà chờ sang câu 18.
          Các Phản Ứng (cc. 18-20)
          Các câu nầy mô tả các phản ứng trước biến cố “Hài Nhi vấn khăn đặt nằm trong máng cỏ”: những người nghe (c. 18), Maria (c. 19) và các mục đồng (c. 20).
          “Những người nghe”, pantes oi akousantes, là những người được kể lại (2:18; 1:66). Họ là dân chúng nói chung. Họ không chứng kiến tận mắt sự việc. Động từ thaumazô có liên hệ bởi gốc với động từ theaomai, “thấy”, chỉ sự kinh ngạc do việc thấy gợi lên. Trong trình thuật về việc đặt tên cho Gioan, người kinh ngạc là người tham dự nghi lễ hôm ấy (1:63), và người nghe kể lại là những người sống chung quanh vùng Giuđêa (1:65-66); thế mà những người nầy lại nhận ra hành động của Thiên Chúa trên trẻ nầy, “Vì bàn tay Chúa  đã trên trẻ nầy”. Ở những nơi khác trong tin mừng Luca, chỉ người chứng kiến tận mắt mới có thái độ kinh ngạc. Họ kinh ngạc vì nhận ra những hành động quyền năng của Thiên Chúa được thực hiện qua Chúa Giêsu (1:66; 2:33; 4:22; 8:25; 9:43; 11:14; 20:26; 24:12). Ở đây Luca ghi nhận là những người nghe kinh ngạc. Họ kinh ngạc về “Hài Nhi vấn khăn đặt nằm trong máng cỏ” (2:7.12.16), theo như lời thuật lại của các mục đồng. Các mục đồng đã trở thành một chứng nhân sống động. Qua lời họ, người nghe nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa trong Hài Nhi nầy. Vậy một hành động hoặc hiện diện của Thiên Chúa có thể gây kinh ngạc cho con người; và trong thái độ nầy con người đã gặp được Thiên Chúa rồi.
          Maria cũng có phản ứng trước lời thuật lại của các mục đồng (c. 19). Maria không kinh ngạc, vì mẹ đã được loan báo về Hài Nhi nầy. Tuy nhiên, Maria mở lòng đón nhận lời của các mục đồng, vì mẹ chưa biết tất cả. Luca ghi nhận phản ứng của Maria trong hai dịp khác nhau: tại đây (2:19), và trong đền thờ (2:51). Trong cả hai trường hợp cụm từ “tất cả các điều ấy…. trong tâm hồn mẹ” được giữ lại. Syntçreô, “cất giữ cách cẩn thận trong tâm trí”; symballô, “đặt lại với nhau”, “đánh giá”, “suy đi nghĩ lại”. Rçma, “lời”, mà các mục đồng thuật lại là lời hoặc sự việc liên quan đến Hài Nhi (2.15.17.19). Các điều họ thông tin cho biết về Hài Nhi thì Maria chưa hề nghe biết. Hài Nhi được gọi là “Đấng Cứu Độ”, “Đấng Kitô” và “Chúa” (2:11). Các tước hiệu nầy nhấn mạnh sứ vụ cứu độ của Ngài; trong khi trong ngày truyền tin Maria chỉ nghe nói đến “Con Đấng Tối Cao” và “vương quyền Đavít” (1:32). Mẹ giữ cẩn thận các lời ấy và suy đi nghĩ lại trong tâm hồn để có thể hiểu tường tận.
          Tương phản với thái độ của Maria là giữ các điều ấy trong lòng của Maria, các mục đồng ra về trong tôn vinh và ca ngợi Thiên Chúa (c. 20). Những điều thiên thần loan báo đã thành hiện thực. Luca dùng thường động từ doxazô, “tôn vinh” vào cuối mỗi trình thuật về phép lạ để cho thấy thái độ của những người được chữa lành. Họ luôn luôn “tôn vinh Thiên Chúa”: người bại liệt (5:25tt); người chết (7:16); người phụ nữ còng lưng (13:13); người phong hủi (17:15); người mù (18:24). Trong hành động của Chúa Giêsu, họ nhận ra Thiên Chúa đã đến và cứu độ dân Ngài (x. 4:15.16-21). Như thế các mục đồng tôn vinh và ca ngợi Thiên Chúa vì họ đã nghe và thấy “Đấng Cứu Độ”, “Đấng Kitô”, “Chúa” đến giữa họ trong “Hài Nhi vấn trong khăn đặt nằm trong máng cỏ”. Sự hiện diện và hành động của Ngài chính là “Thiên Chúa đã viếng thăm và cứu độ dân Ngài” (7:16).
          Lời thiên thần loan báo liên kết toàn bộ trình thuật. Lời về Đấng Cứu Độ giáng trần. Lời nầy loan ra lớn dần: thiên thần- mục đồng- dân chúng. Bởi thấy tận mắt như các mục đồng hay nghe kể lại như dân chúng, lời hay sự kiện nầy đều làm cho người lãnh nhận đầy niềm vui, vì Thiên Chúa và vinh quang của Ngài đã bao trùm mọi người.
 
 

GS-262: Bệnh Giêsu

Cách đây hơn 20 thế kỷ, một biến cố đã xảy ra và đã làm cho cuộc sống của nhân loại được: GS-262

Cách đây hơn 20 thế kỷ, một biến cố đã xảy ra và đã làm cho cuộc sống của nhân loại được phong phú. Đúng thế. Vào một đêm đông, một hài nhi nhỏ bé đã được sinh ra trong tăm tối. Nhưng rồi ba mươi năm sau, người ta lại thấy Ngài xuất hiện đi trên các nẻo đường như một ánh lửa khác thường của nhân loại. Ngài đã mời gọi thay đổi cả thế giới. Ngài đã lật đổ mọi thứ nặng nề trì trệ của cơ chế cũng như của tôn giáo.
Đối với Ngài, không có những bức hàng rào ngăn cách những gia đình, dòng tộc, phe nhóm và quốc gia. Ngài khơi dậy nơi mọi người sự ân cần của tình thương. Ngài đã nói năng thân mật với Thiên Chúa cao cả như một người con. Nơi nào Ngài đến, thì hệ thống đẳng cấp bị sụp đổ. Người nghèo được vui mừng. Người bệnh tật và bất hạnh thấy được bảo đảm. Người cuối hết trở thành kẻ thứ nhất. Ngài đã tái sinh ông nhà giàu dính cứng trong tiền bạc bất chính, người đàn bà hư hỏng, nhà thông luật nặng hình thức và thậm chí cả viên sĩ quan của nhà vua. Một sự sống chưa từng có đã bừng lên nơi những con người này, để nhờ đó, biến đổi cả cuộc sống xã hội và xây dựng một thế giới mới đầy tình thương.
Và như chúng ta đã biết: Ngọn lửa nhân bản và yêu thương ấy đã chỉ có một thời. Những kẻ quyền hành của thế giới cũ đã liên minh chống lại Ngài. Hài nhi sinh ra trong hang đá Bêlem năm nào đã bị đóng đinh trên thập giá. Ngài đã chết sau ba giờ hấp hối, vì đã muốn biến đổi thế giới, vì đã muốn khai sinh một nhân loại mới. Dọc theo các thế kỷ, từ đó cho đến nay, nhiều người đã quên mất Ngài, thậm chí trong số đó có cả những người mang danh hiệu Kitô hữu.
Thế nhưng, tinh thần của Đức Kitô không ngừng lây lan trong tâm hồn chúng ta, hay như một người Hồi giáo đã nói: Con người mang một cái bệnh gọi là bệnh Giêsu, thì không bao giờ có thể lành được. Ngày nay cũng vậy, Ngài có những người bạn nhiệt tình của mình. Tôi nghĩ đến những người trong đêm giáng sinh thay vì đi dự một tiệc rượu, đã tới thăm viếng những người đau yếu, nghèo túng và chia sẻ với họ một phần quà nho nhỏ. Tôi nghĩ đến những ông bác sĩ sau khi tốt nghiệp, thay vì mở phòng mạch tại thành phố, thì đã đi phục vụ không công tại những nơi xa xôi heo lánh. Tôi nghĩ đến những người dâng hiến cả cuộc đời cho những kẻ phong cùi cay cực. Thay vì lãng quên hay chạy trốn, họ đã tiến lại gần và tự hiến. Họ đã là những phản ánh trong sáng nhất cho tình thương của Ngài.
Thế nhưng tới đây thì một câu hỏi được đặt ra: Vậy thì Thiên Chúa ở đâu cho chúng ta tìm kiếm, hay Ngài chỉ còn là một kỷ niệm xa xưa? Cựu Ước kể lại rằng, đang khi Đavit dự tính xây cất một đền thờ cho Thiên Chúa, thì Ngài đã viếng thăm tiên tri Nathan và nói với ông: Ta chẳng bao giờ ở trong nhà kể từ ngày Ta đem con cái Israel ra khỏi Ai Cập. Chính ta sẽ xây cho Đavit một ngôi nhà. Nhà của Đavit và vương quốc của Đavit hằng tồn tại trước mặt Ta.
Như thế chúng ta thấy Thiên Chúa không phải chỉ ở trong các đền thờ mà còn ở trong chính con người. Hay như thánh Gioan đã viết: Thiên Chúa đã làm người và ở giữa chúng ta. Vậy thì Ngài đã thực sự hiện diện nơi bản thân chúng ta hay chưa, và hơn thế nữa chúng ta đã thực sự tìm gặp được Ngài nơi những người chung quanh, nhất là nơi những người anh em bệnh tật, đau khổ và nghèo túng hay chưa?

 

GS-263: Ngôi Lời đã trở nên người phàm - Ga 1,1-8

(Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’)
 

Cảnh sát thành phố Los Angeles ở Mỹ đã từng lùng sục mọi hang cùng ngõ hẻm tối tăm để tìm: GS-263

Cảnh sát thành phố Los Angeles ở Mỹ đã từng lùng sục mọi hang cùng ngõ hẻm tối tăm để tìm một em nhỏ tên Thad. Nhiều người ở Mỹ và Canađa đã góp tiền, thực phẩm để tặng cho em khi người ta chuyển đến “Cơ quan Bảo vệ Trẻ em Thành phố” một bức thư đầy lỗi chính tả của em. Em viết như sau:
“Thưa Ông “dà” Noen, Giáng Sinh này xin ông giúp đỡ bố mẹ con. Bố con không còn đi làm nữa. Bây giờ nhà con không có nhiều thức ăn. Mẹ con phải cho chúng con ăn những thức ăn đáng lẽ mẹ ăn…
Con muốn được lên “chời” để ở chung với các thiên thần. Ông mang con lên “chời” nhé. Bố mẹ con sẽ không phải mua đồ ăn cho con nữa. Điều đó sẽ làm cho bố mẹ con “xung xướng”. Xin Ông mang cho bố con một chỗ làm và ít thức ăn…
Con sẽ không ngủ đâu. Khi Ông cho bố con một việc làm và cho mẹ con ít thức ăn, con sẽ đi với Ông và bảy tuần lộc… Con gởi lời chúc Giáng Sinh vui vẻ đến Bà Noen và các chú lùn nữa.
Ký tên: Thad.
Người ta vẫn chưa tìm ra em Thad y như rất nhiều người Do Thái đã không tìm ra trẻ Giêsu nghèo khó năm xưa. Họ đâu dám đi ra ngoài vì sợ trời lành, họ không dám đến những khu nhà tối tăm, bẩn thỉu vì sợ dơ quần áo. Họ giống như những người giàu thời đại chúng ta chỉ muốn ở yên trong nhà, tự mãn với những nệm êm, chăn ấm, với những bữa tiệc, những cây thông đủ ánh đèn màu, với những chương trình tivi hấp dẫn. Những người giàu ấy sẽ phải khóc vì không nhận được ơn bình an và ơn cứu độ của Chúa Hài Đồng.
Chúng ta không cần tìm kiếm ở đâu xa xôi, vì Ngôi Lời đã làm người và ở giữa chúng ta. Quả thức, Thiên Chúa không phải chỉ làm người giả hiệu, mà Ngài đã cắm lều ở giữa chúng ta. Để nhận ra điều đó, chúng ta hãy bước đến hang đá. Hẳn nhiên đó chỉ là biểu tượng. Nhưng là một biểu tượng nhắc nhớ một biến cố lịch sử duy nhất. Một cảnh sống nghèo nàn, thanh bạch đến thiếu tất cả, giữa một đêm tối không đèn, không đóm, nơi một góc trời không tên không tuổi. Hai người bạn trẻ, hai người lao động đơn sơ nằm nhờ trên đống rơm giữa những con vật hiền lành. Một hài nhi mới sinh trong một cuộc hành trình bất đắc dĩ. Nhưng Thiên Chúa đó! Thiên Chúa không yêu thương chúng ta từ trời cao. Ngài đã đến cắm lều ở giữa chúng ta, trong da thịt Đức Giêsu Nazarét. Điều mà không ai có thể tưởng tượng ra, đó là Thiên Chúa liên đới trọn vẹn với số phận mạt kiếp của chúng ta. Thiên Chúa đang ở giữa chúng ta, như là một người nghèo nhất tại Bêlem trước khi trở thành người rốt hết trên thập giá. Giáng Sinh nhắc nhớ cuộc gặp gỡ thân tình có một không hai đó giữa Thiên Chúa và con người như một huyền nhiệm, như một trao đổi kỳ diệu.
Và như vậy, thưa anh chị em, chúng ta thấy Thiên Chúa “người” hơn chính chúng ta. Ngài ở dưới đất. Đừng đi tìm Ngài trên khung trời cao! Chúng ta là như vậy đó: Khi tình yêu quá lớn, nghĩa là quá khiêm tốn thì chúng ta lại không dám nhận ra, không dám chấp nhận. Chúng ta không chấp nhận để cho Thiên Chúa yêu thương chúng ta đến mức Ngài đến gặp chúng ta trong huyền nhiệm Nhập Thể của Ngài. Nhưng dù chúng ta có muốn hay không, thì từ nay Thiên Chúa đã đi vào cuộc sống của ngõ hẹp, của chuồng chiên bò, của hang đá, máng cỏ.
Và nếu Thiên Chúa đã tự hạ gần gũi như vậy, tầm thường như vậy, thì không có gì xảy ra trong đời thường của chúng ta lại ở ngoài ánh sáng thần linh của Thiên Chúa, “ánh sáng cho nhân loại, ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và ánh sáng ấy là sự sống”. Khi đất này đã được sự hiện diện yêu thương của Thiên Chúa trong Đức Giêsu bao trùm, thì đất này đã là túp lều của Con Thiên Chúa nhập thể. Mọi đóng góp cho đất này đã trở thành nơi ở, chẳng những ở được mà còn ở tốt cho Thiên Chúa và cho con cái loài người của Ngài, là một điều không ai được khước từ nếu không muốn phủ nhận niềm tin của mình và mầu nhiệm Giáng Sinh. Không có con người nào là con người bị loại ra ngoài tình yêu của chúng ta nếu chúng ta không muốn cho đức ái chỉ là chữ viết trên giấy. Không có cảnh đời nào là cảnh đời chúng ta phải chạy trốn, nếu chúng ta thật sự muốn sống lòng cậy trông của mình. Chúng ta thường đi gặp Chúa ở ngoài cuộc sống cụ thể, hằng ngày, trong khi Thiên Chúa đã nhập thể làm người trong cuộc sống cụ thể hằng ngày đó.
Chính vì thế mà những người Mỹ, những người Canađa, những cảnh sát ở thành phố Los Angeles vẫn chưa tìm ra được em Thad khi họ nhận được bức thư em gởi cho ông già Noen. Bởi em Thad là hiện thân của bao nhiêu em bé và gia đình nghèo đói trên trái đất này, nơi Thiên Chúa đã làm người và cư ngụ ở giữa chúng ta trong những gia đình, những em bé khốn khổ đó.
Anh chị em thân mến, tôi không tin là chúng ta có thể gặp được Chúa trong nhà thờ nếu đã không gặp cho được Ngài trong cuộc sống qua một khuôn mặt nào đó, như khuôn mặt của các em bé mồ côi, khuôn mặt của những ông già bà cụ cô thân cô thế, khuôn mặt của những con người ốm đau, bệnh tật, của những người nghèo đói, của những người bị bỏ rơi, bị loại trừ, thiếu vắng tình thương… Bởi vì, đối với chúng ta, cụ thể mà nói, quê hương này là nơi Thiên Chúa làm người để anh em đồng bào chúng ta không phân biệt giai cấp, được làm con Chúa; là nơi Thiên Chúa hẹn gặp chúng ta; là nơi chúng ta phải gặp Ngài qua chứng từ về ánh sáng, để nhờ ánh sáng anh em đồng bào chúng ta sẽ nhìn thấy Ánh sáng của Tình thương, Ánh sáng của sự sống.

 

GS-264: CHÚA ĐÃ SINH RA

LỄ CHÚA GIÁNG SINH,
Lễ đêm 24/12
Lc 2, 1-14
 

Ngày nay hầu hết các nơi trên thế giới dù có đạo hay không, một cách nào đó người ta đều: GS-264

Ngày nay hầu hết các nơi trên thế giới dù có đạo hay không, một cách nào đó người ta đều mừng lễ Giáng Sinh. Có thể nói Giáng Sinh đã trở thành ngày lễ Quốc Tế. Người Kitô hữu hay không tin đều vui Giáng Sinh, nhưng không phải tất cả mọi người mừng vui Giáng Sinh đều gặp được Đấng Cứu Thế : Giêsu.
Đọc Tin Mừng của thánh Luca 2,1-14 chúng ta nhận thấy rõ ràng điều này. Thánh sử Luca thuật lại đêm đầu tiên Con Thiên Chúa làm người, những chi tiết như sự xuất hiện của thiên sứ Gabrien, tiếng hát của muôn cơ binh thiên thần ca ngợi Đấng Cứu Độ Giêsu “ Vinh danh Thiên Chúa trên trời. Bình an dưới thế cho người thiện tâm “, đêm Giáng Sinh của Chúa Giêsu vẫn là một đêm thật bình lặng, một đêm êm ả như mọi đêm. Tuy nhiên sự xôn xao, náo động, rộn ràng không phải do Chúa Giêsu được sinh ra mà lại là lệnh kiểm tra dân số của Hoàng Đế Augustô buộc mọi người đang tạm trú, cư trú ở nơi khác phải trở về quê quán của mình để khai lại tên tuổi. Hài Đồng Giêsu được Mẹ Maria đản sinh, đặt trong máng cỏ đơn hèn có gì làm người khác phải chộn rộn, xôn xao ? Vâng, ngay các mục đồng, những trẻ chăn chiên ở trong vùng quê nơi những cánh đồng hoang vu nếu không có lời loan báo của các sứ thần, có lẽ họ cũng chẳng làm sao nhận ra được Hài Đồng Giêsu là Đấng Cứu Thế.
Đêm nay, chúng ta hướng về Bêlem với đức tin sống động. Hướng về Bêlem không phải bằng óc tưởng tượng phong phú, nhưng bằng chính con mắt đức tin để thấy Đấng Cứu Thế Giêsu, một trẻ sơ sinh đang nằm trong máng cỏ. Đây là Tin Mừng trọng đại. Một Tin Mừng được loan báo trước tiên cho những kẻ thấp cổ bé họng, những kẻ thấp hèn, những trẻ chăn dê, chăn cừu. Và đây cũng là dấu hiệu và thái độ của Chúa Giêsu loan báo trước cho sứ mạng loan báo Tin Mừng cứu độ của Ngài sau này.
Lễ Giáng Sinh đích thực là lễ của tình yêu. Bởi vì Chúa Giêsu là Tình Yêu như thánh Gioan đã định nghĩa. Chúa Giêsu là quà tặng vô giá Thiên Chúa đã trao ban cho nhân loại :” Thiên Chúa đã yêu thương nhân loại đến nỗi sai Con Một Ngài đến thế gian “. Đây là Tin Mừng vĩ đại và là một Mầu Nhiệm của lòng tin. Chúa Giêsu đến trần gian xua tan bóng tối tăm, chiếu ân sủng của Ngài cho nhân loại. Nên, những kẻ gặp được Ngài chỉ có thể là những kẻ khó nghèo, đơn sơ và khiêm nhượng. “ Lạy Cha là Chúa trời đất, Cha đã không mạc khải cho những kẻ thông thái mà đã mạc khải cho những kẻ khó nghèo, bé mọn “. Đó là điều kỳ diệu, nhưng đó cũng là Mầu Nhiệm của Tình Thương và là Mầu Nhiệm của lòng tin. Nếu Chúa Giêsu đã sinh ra trong một lầu đài hay trong một vương quốc sang trọng giầu có, đầy uy nghi và đầy vẻ bề thế hoành tráng sang trọng thì chắc chắn đêm Giáng Sinh đã diễn ra cách khác: “Không có máng cỏ khó nghèo, đơn sơ và lại thiếu cả bóng Thập Giá nữa…”.
Vâng, mán cỏ nghèo hèn lại là sự chọn lựa của Con Thiên Chúa xuống thế làm người và thấp thoáng sau máng cỏ đơn sơ lại là cây Thập Giá cứu độ. Do đó, Máng cỏ và Thập lại là một sự gắn kết không thể tách rời, đồng thời là sự chọn lựa duy nhất của Chúa Giêsu  giáng thế.
Lễ Giáng Sinh là quà tặng vô giá của Thiên Chúa trao ban cho nhân loại, trao ban cho con người. Chúa Giêsu Con Thiên Chúa làm người đã đem lại cho thế giới, cho nhân loại, cho con người một Tin Mừng lớn lao : “ Thiên Chúa chính là Cha của chúng ta “. Và chúng ta là anh chị em với nhau.
Lễ Giáng Sinh mời gọi thế giới, mời gọi con người hãy trở về với máng cỏ nghĩa là hãy quan tâm tới những người nghèo như Tin Mừng Giáng Sinh được loan báo đầu tiên cho những người nghèo. Chính những trẻ nghèo, vô học, cùng cực đã gặp được Chúa Giêsu. Điều này đưa chúng ta đi đến thách đố của Mầu Nhiệm Giáng Sinh. Thách đố này được một thi sĩ vô danh nào đó diễn tả cách rất tinh tế như sau :
“ Khi bài ca của các thiên thần ngừng bặt,
khi ngôi sao trên bầu trời đã đi khỏi,
khi các vua chúa và hoàng tử đã ở nhà,
khi các mục đồng và các đàn súc vật trở về,
thì công việc Giáng Sinh mới bắt đầu :
“để tìm lại những gì đã mất,
để hàn gắn những gì đã gẫy,
để người đói được ăn no,
để tù nhân được giải phóng,
để các nước xây dựng lại,
để đem lại hòa bình đến với mọi người,
để hòa nhạc bằng trái tim”.
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi   DCCT

 

GS-265: NGÔI LỜI ĐÃ LÀM NGƯỜI

THÁNH LỄ GIÁNG SINH BAN NGÀY,ngày 25/12
Ga 1, 1-14
 

Thánh lễ sáng nay không còn vẻ xôn xao, chộn rộn như lễ Giáng Sinh ban đêm. Bởi vì, những: GS-265

Thánh lễ sáng nay không còn vẻ xôn xao, chộn rộn như lễ Giáng Sinh ban đêm. Bởi vì, những ánh đèn, những đèn sao được nhường chỗ cho việc chiêm ngắm Hài Nhi Giêsu. Hài Nhi Giêsu là ánh sáng rạng ngời chiếu soi trần gian trong đêm tăm tối. Ngài là ánh sáng thật, ánh sáng chân lý và sự sống. Thánh Gioan đã viết :” Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người “ ( Ga 1, 9 ).
Giáng Sinh là một huyền nhiệm, là một biến cố vĩ đại, một biến cố có một không hai trong lịch sử nhân loại bởi vì “ Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một để những ai tin vào Con cua Người thì khỏi phải chết nhưng được sống muôn đời “ ((Ga 3, 16 ). “ Một Hài Nhi đã sinh ra cho ta, một người con được ban tặng cho ta. Vương quyền đặt trên vai Ngài. Người ta gọi Ngài là sứ giả Thiên Chúa “ ( Is 9, 5 ). Hài Nhi mà Mẹ Maria sinh ra, vấn tã và đặt nằm trong máng cỏ chính là sứ giả của hòa binh. Nhìn hình hài, dáng vẻ bên ngoài xem ra Hài nhi Giêsu mảnh khảnh và yếu, nhưng ngôn sứ Isaia đã thoáng thấy đó là Vị Vua cao sang, Vi Vua nhân ái, là Thiên-Chúa-Ở-Với-Con-Người. Ngài là Thiên Chúa cứu độ, đến để giải thoát dân của Người. Hài Nhi Giêsu là Ngôi Lời làm người và là chính Thiên Chúa :” Ngài đã thành xác phàm ở giữa chúng tôi. Chúng tôi đã nhìn thấy vinh quang của Ngài, vinh quang như của Con một tự nơi Cha, tràn đầy ân sủng và chân lý “. Vâng, vinh quang của Hài Nhi Giêsu nơi hang Bêlem, là vinh quang của Thiên Chúa, nên những ai tin vào Ngài cũng sẽ được gọi là con của Thiên Chúa. Chính vì thế, thánh Gioan đã viết : “ Anh em hãy xem Thiên Chúa yêu thương chúng ta dường nào đến nỗi chúng ta được gọi là Con Thiên Chúa, và thực sự là thế “.
Giáng Sinh là một Mầu Nhiệm bởi vì chúng ta sẽ nhận ra giá trị tuyệt hảo của món quà Thiên Chúa trao tặng cho nhân loại, cho con người. Món quà ấy chính là Hài Đồng Giêsu, Vị Vua cứu độ nhân loại đến nỗi Phụng Vụ đã hát lên :” Toàn thể trái đất đã nhìn thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa. Hãy hát lên bài ca mới mừng Chúa, vì Ngài đã làm những việc kỳ diệu. Alléluia, Alléluia “.
Thánh Lễ Giáng Sinh ban ngày mời gọi chúng ta :” Ngày Thánh đã dọi chiếu trên chúng ta. Hỡi các dân, hãy đến thờ lạy Chúa, vì hôm nay ánh sáng chan hòa đã tỏa chiếu trên địa cầu. Đó là ánh sáng của Con Một Thiên Chúa, để tất cả chúng ta được nhìn thấy và trở nên Con Thiên Chúa “.
Được làm Con Thiên Chúa, được học hỏi Giáo lý và những giáo huấn của Ngài, chúng ta phải sống thế nào cho xứng hợp với địa vị làm Con Thiên Chúa. Và làm được điều đó, chúng ta phải quyết tâm giũ bỏ những ham muốn thế tục, đẩy xa tội lỗi,tránh xa những mờ tối, giũ bỏ cuộc sống ích kỷ, hẹp hòi của chúng ta, luôn mặc lấy Đức Kitô và tham gia vào Thập Giá của Chúa. Thiên Chúa ban cho chúng ta Con Một của Người để từ nay chúng ta sống tình con thảo với Ngài, chúng ta không còn sợ hãi, không còn e dè và từ đây, Thiên Chúa là Cha của chúng ta, chúng ta là con của Ngài.
Phụng Vụ Thánh Lễ Giáng Sinh ban ngày đưa chúng ta vào tâm điểm : Hài Nhi Giêsu, Vị Vua cứu thế và Ngài chính là Con Một của Thiên Chúa tặng ban cho nhân loại, cho chúng ta.
Thánh Lễ hôm nay củng cố lòng tin của chúng ta, để chúng ta sống tình con thảo với Chúa và ngước nhìn lên ánh sáng cứu độ đã chiếu soi rạng rỡ trên nhân loại và mong mỏi mỗi ngày chúng ta càng nên đồng hình đồng dạng với Người Con mà Thiên Chúa đã yêu thương trao ban cho nhân loại là Hài Nhi Giêsu cứu độ nhân loại.
Xin Hài Nhi Giêsu giúp chúng con càng ngày càng nên giống Ngài và giúp chúng con sống mật thiết với Thánh Thể vì Thánh Thể chính là Đức Giêsu. Amen.
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT

 

GS-266: ÁNH SÁNG ĐỨC KITÔ

Trầm Thiên Thu
VINH DỰ ĐỨC CHÚA TRÊN TRỜI MÃI MÃI
THÁI HÒA LOÀI NGƯỜI DƯỚI ĐẤT NƠI NƠI
 

Đó là lời hát của Ca đoàn Thiên thần vang vọng từ chốn cửu trùng trong Đêm Hồng Ân (Lc 2:14), khi GS-266

Đó là lời hát của Ca đoàn Thiên thần vang vọng từ chốn cửu trùng trong Đêm Hồng Ân (Lc 2:14), khi Vương Nhi Giêsu mặc xác phàm và hạ sinh nơi hèn hạ nhất. Một Vua Nghèo nhưng lại đầy quyền lực và giàu có nhất. Ngài muốn dạy chúng ta bài học sống khó nghèo, sống khiêm nhường, sống yêu thương, thực sự quan tâm chăm sóc và chia sẻ với những người nghèo hèn nhất trong xã hội, bằng hành động cụ thể chứ không bằng lời nói suông. Chính Ngài tự nguyện trở nên Vị Vua Nghèo Nhất – Đệ Nhất Hàn Vương.
Bài Thánh Ca của Ca Đoàn Thiên Thần chứa một triết lý thâm thúy. Vế thứ nhất “Vinh Danh Thiên Chúa trên trời” là điều tất nhiên, nhưng vế thứ nhì là điều chúng ta cần suy nghĩ: “Bình an dưới thế cho người thiện tâm”. Nếu chúng ta chưa được bình an vì chúng ta chưa thiện tâm. Chỉ những ai thiện tâm thì mới được Chúa thương, tức là được bình an tâm hồn. Bình an tâm hồn và bình an thể lý khác nhau. Có bình an thể lý chưa chắc có bình an tâm hồn. Có thể cuộc sống của chúng ta gặp khó khăn, bị bách hại, bị tù đày, bị phiền phức nhiều thứ,… nhưng vẫn có điều chắc chắn là tâm hồn luôn được bình an. Đó mới là bình an đích thực cần thiết.
Lịch sử đã có bằng chứng minh nhiên: Các vị tử đạo không hề bình an về thể lý vì họ bị voi giày, ngựa xéo, lăng trì, xử trảm,… và chết thê thảm, nhưng tâm hồn họ vẫn luôn bình an, bởi vì họ làm đúng lương tâm, đúng giáo huấn của Thiên Chúa.

SÁNG NGỜI NIỀM TIN
Cứ mỗi lần kỷ niệm Con Thiên Chúa giáng sinh, người ta lại thấy vang lên ca khúc “Mùa Sao Sáng” của NS Nguyễn Văn Đông, với lời thoại mở đầu là lời thơ của Thi sĩ Kiên Giang: “Lạy Chúa, con là người ngoại đạo, nhưng tin có Chúa ngự trên cao”.
Mặc dù không là Thánh Ca, nhưng ca khúc “Mùa Sao Sáng”vẫn nghe như thánh ca, giai điệu vừa đẹp vừa nhẹ nhàng và ca từ cũng đẹp: “Một mùa sao sáng, đêm Noël Chúa sinh ra đời. Người hẹn cùng tôi ngày về khi đất nước yên vui. Quỳ lạy Mẹ Maria, lòng Mẹ từ bi bao la, tấu khúc nhạc lên xin ơn trên ban cho nhà Nam. Từ mùa Đông trước qua mùa Đông tiếp theo sau này, người bạn còn đi mà niềm tin vẫn thắm trên môi… Lớp lớp đoàn chiên quyết sáng danh Chúa trên trời cao… Lạy Mẹ đồng trinh ban ơn, người Việt cùng thương nhau hơn, đất nước này đây sáng đức tin Chúa trên trời cao”. Trong niềm vui mừng Chúa giáng sinh, tác giả không quên cầu xin Đức Mẹ ban ơn, nếu không là tín hữu Công giáo thì khó có thể có tâm tình với Đức Mẹ như vậy.
Không biết ông có niềm tin Kitô giáo hay không, nhưng các ca từ ông viết nghe đầy “chất” Công giáo. Phải chăng ông là người ngoại đạo nhưng luôn hướng về Chúa, luôn tin rằng “lớp lớp đoàn chiên quyết sáng danh Chúa trên trời cao” và “đất nước này đây sáng đức tin Chúa trên trời cao”? Ca từ nói về nỗi day dứt trong thời chiến nhưng ngày nay vẫn thấy phù hợp, bởi vì tuy chiến tranh bom đạn không còn nhưng có dạng chiến tranh khác vẫn xảy ra hàng ngày đâu đó trên quê hương Việt Nam nhỏ bé này.
Tuy nhiên, Niềm Tin vẫn sáng ngời soi đường dẫn lối, và đó cũng là một cách rao truyền Ơn Cứu Độ, thật là “đẹp thay trên đồi núi, bước chân người loan báo tin mừng, công bố bình an, người loan tin hạnh phúc, công bố ơn cứu độ và nói với Sion rằng Thiên Chúa ngươi là Vua hiển trị” (Is 52:7). Chúng ta luôn sống “đời vọng” vì vững lòng tín thác vào Thiên Chúa: “Trước mặt muôn dân, Đức Chúa đã vung cánh tay thần thánh của Người: ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta, người bốn bể rồi ra nhìn thấy” (Is 52:10).
Trong niềm tín thác tuyệt đối, Thánh Vịnh gia đã cất cao lời tuyên xưng: “Hát lên mừng Chúa một bài ca mới, vì Người đã thực hiện bao kỳ công. Người chiến thắng nhờ bàn tay hùng mạnh, nhờ cánh tay chí thánh của Người. Chúa đã biểu dương ơn Người cứu độ, mặc khải đức công chính của Người trước mặt chư dân; Người đã nhớ lại ân tình và tín nghĩa dành cho nhà Ít-ra-en. Toàn cõi đất này đã xem thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta. Tung hô Chúa, hỡi toàn thể địa cầu, mừng vui lên, reo hò đàn hát. Đàn lên mừng Chúa khúc hạc cầm dìu dặt, nương khúc hạc cầm réo rắt giọng ca. Kèn thổi vang xen tiếng tù và, tung hô mừng Chúa, vị Quân Vương!” (Tv 98:1-6).
Thật hạnh phúc khi chúng ta được kế thừa đức tin Công giáo từ bao đời nay. Và quả thật, ánh sáng đức tin đã, đang và sẽ chiếu sáng dẫn đường cho chúng ta suốt cuộc lữ hành trần thế này. Chính ánh sáng đó cũng đã soi đường cho các mục đồng và các đạo sĩ năm xưa. Ánh sáng Đức tin liên quan Lòng Thương Xót.
SÁNG NGỜI LÒNG THƯƠNG XÓT
Mùa Giáng Sinh là Mùa Sao Sáng, Mùa Bình An, Mùa Yêu Thương, Mùa Hồng Ân Cứu Độ, đồng thời cũng là Lễ Hội không chỉ riêng ai – cả Kitô giáo và không Kitô giáo. Nhịp điệu Giáng sinh có gì đó rất độc đáo, khiến lòng người vừa lắng đọng vừa chộn rộn. Nỗi mong chờ càng rút ngắn, lòng người càng nôn nao, vì không ai lại không hạnh phúc khi được gặp “người mình yêu quý nhất”, huống chi được gặp chính Đấng Cứu Độ, vị đại ân nhân của mình.
Thời điểm Chúa Giêsu giáng sinh được người ta gọi theo Anh ngữ là CHRISTMAS. Chữ Christmas tạo thành bởi chữ CHRIST (Đức Kitô) và tiếp vĩ ngữ MAS (lễ). Do đó, Christmas nghĩa là Lễ Giáng Sinh (mặc nhiên hiểu là Chúa Giêsu giáng sinh). Tương tự, chúng ta cũng có Candlemas– tức là Lễ Nến (Lễ Đức Mẹ Dâng Chúa Giêsu, sau Lễ Giáng Sinh 40 ngày).
Thật kỳ lạ, người ta dùng “mốc” Chúa Giêsu giáng sinh để tạo nên công lịch (dương lịch), và rồi cả thế giới cũng đồng ý sử dụng. Ngay cả những người vô thần cũng phải công nhận như vậy. Tại sao? Bởi vì người ta thấy hoàn toàn chuẩn lý, chứ không chỉ là “đa số hơn tiểu số”. Không chỉ vậy, người ta còn gọi Năm Dương Lịch là “Year of our Lord”, nghĩa là “Năm của Chúa” (sát nghĩa là “Chúa của chúng ta”). Thật là kỳ diệu quá!
Chắc chắn rằng từ cổ chí kim, trên thế giới này không có vị lãnh đạo nào hoặc vị lập đạo nào được cả thế giới đón nhận minh nhiên như vậy. Tạ ơn Chúa và thật hãnh diện khi chúng ta được nhận ra Chúa Giêsu là Ánh Sáng của Thiên Chúa và Ánh Sáng soi chiếu thế gian.
Thánh Phaolô cho biết: “Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử” (Dt 1:1). Trực tiếp chứ không qua trung gian ngôn sứ nào khác. Thánh Tử là Chúa Giêsu, là Ngôi Hai Thiên Chúa, là Đấng Yêu Thương (1 Ga 4:8 & 16). Thánh Phaolô nói rằng Ngài phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa. Người là Đấng dùng lời quyền năng của mình mà duy trì vạn vật Ngài là Đấng tẩy trừ tội lỗi, Ngài ngự bên hữu Đấng Cao Cả trên trời, Danh hiệu Ngài được thừa hưởng, cao cả hơn danh hiệu các thiên thần bao nhiêu thì Ngài lại trỗi hơn họ bấy nhiêu (Dt 1:3-4).
Xưa nay Thiên Chúa chưa hề nói với vị thiên thần nào như đã nói với Đức Giêsu: “Con là Con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra Con. Ta sẽ là Cha Người, và chính Người sẽ là Con Ta” (Dt 1:5). Khi đưa Trưởng Tử Giêsu vào thế giới loài người, chính Thánh Phụ cũng đã minh định: “Mọi thiên thần của Thiên Chúa phải thờ lạy Người” (Dt 1:6).
Chúa Giêsu là Trưởng Tử, là Huynh Trưởng, là Sư Phụ, là Mặt Trời Công Chính. Giáo huấn của Ngài giản dị và ngắn gọn nhưng hàm súc và thâm thúy: Yêu thương. Tất cả chỉ tóm gọn là mến Chúa và yêu người. Nghĩa là yêu thật, phải chứng tỏ bằng hành động chứ không nói suông. Như Thánh Giacôbê xác định:“Đức tin không có việc làm là đức tin chết” (Gc 2:17 & 26). Lời nói gió bay, làm thì mới đáng tin! Người ta rất sợ những người mang họ “hứa”. Đối với dụ ngôn Phú hộ và Ladarô (x. Lc 16:19-31), có lẽ người ta nghe riết có thể hóa… nhàm, nhưng đó là chuyện có thật chứ không là tiểu thuyết hoặc viễn tưởng. Chúa rất thực tế khi thể hiện lòng xót thương và dạy người ta yêu thương nhau, vì Ngài bảo không thể cho hòn đá khi người ta cần bánh hoặc cho con rắn khi người ta cần cá (Mt 7:9).
Mỗi khi thấy dân chúng lầm than vất vưởng, Ngài luôn chạnh lòng thương (x. Mt 9:35-37), và rồi Ngài đã thể hiện tình thương ấy rất nhiều lần và rất cụ thể. Ngài đã làm sáng ngời tình yêu thương ở bất cứ nơi nào Ngài tới, chúng ta là môn đệ của Ngài thì cũng phải chiếu loại ánh sáng ấy cho hết mọi người, mọi nơi. Trong thời cánh chung này, Chúa không sai ai mà đích thân Ngài đến để minh chứng tình yêu, để ban phát Lòng Thương Xót, đồng thời Ngài cũng thúc giục mọi người noi gương Ngài mà thể hiện Lòng Thương Xót với tha nhân như Ngài vậy. Trao tặng hoàn toàn miễn phí và vô điều kiện, đối với cả kẻ thù nữa. Ánh sáng Tình yêu dẫn tới Nguồn sáng Cứu độ.
SÁNG NGỜI ƠN CỨU ĐỘ
Con Người Giêsu chính là Ngôi Hai Thiên Chúa. Thánh Gioan xác định: “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Lúc khởi đầu, Người vẫn hướng về Thiên Chúa. Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, không có Người thì chẳng có gì được tạo thành” (Ga 1:1-3). Ngôi Lời đó đã hóa thành nhục thể, mặc xác phàm, trở nên hoàn toàn giống phàm nhân – trừ tội lỗi. Thật vậy, “điều đã được tạo thành ở nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại. Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng” (Ga 1:4-5). Chính Ngôi Lời Nhập Thể là Ánh sáng chiếu soi muôn dân, là Ánh sáng Cứu độ.
Trước đó 6 tháng, Thiên Chúa đã sai Gioan đến để làm chứng về Ánh sáng, dù ông không là ánh sáng, mà chỉ để mọi người nhờ ông mà tin (x. Ga 1:6-8). Thánh Gioan là “nhân vật quan trọng” (VIP – very important person) bởi vì ông là người đi tiên phong để mở đường sửa lối cho Cứu Chúa Giêsu. Ông là vị “ngôn sứ giao thời” – ngôn sứ cuối cùng của Cựu ước và là ngôn sứ nối kết với Tân ước. Trọng trách của ông rất đặc biệt, nhưng ông biết có một “siêu VIP” chính là Đức Kitô, đến sau mà có trước, như ông giải thích: “Người đến sau tôi nhưng trổi hơn tôi, vì Người có trước tôi” (Ga 1:15).
Trình thuật Phúc Âm hôm nay nhắc đi nhắc lại 5 lần danh từ “Ngôi Lời” và 8 lần danh từ “ánh sáng”. Hơn ai hết, Thánh Gioan biết rõ Ngôi Lời vô cùng quan trọng, vì “Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người” (x. Ga 1:9).
Tuy nhiên, có 9 người thôi mà lại có tới 10 ý kiến, Phúc Âm gọi dạng đó là “lúa và cỏ lùng”, người đời gọi là “vàng thau lẫn lộn”. Thế nên, “Ngài Ở GIỮA thế gian, và thế gian đã NHỜ Ngài mà có, nhưng lại KHÔNG nhận biết Ngài. Ngài ĐÃ ĐẾN nhà mình, nhưng người nhà CHẲNG chịu đón nhận” (Ga 1:10-11). Quả thật, đó là một lời cảnh báo rất cấp bách đối với mỗi chúng ta ngày nay!
Thật vậy, chỉ những ai thực sự tiếp nhận Ánh sáng Đức tin và Ánh sáng Yêu thương thì mới xứng đáng lãnh nhận Ánh sáng Cứu độ. Chúng ta thật diễm phúc vì chính Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta – Emmanuel, chúng ta cũng đã được nhìn thấy vinh quang của Ngài là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật. Và rồi tất cả chúng ta còn được lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác. Nếu chúng ta đã “được cho không thì cũng phải cho không như vậy” (Mt 10:8). Đó là công bình. Tất cả là Hồng ân (Rm 4:16) thế nên tất cả phải “miễn phí” hoàn toàn theo Tôn Ý của Chúa Giêsu.
Thánh “phượng hoàng” Gioan nói: “Ai giữ lời Ngài dạy, nơi kẻ ấy tình yêu Thiên Chúa đã thực sự nên hoàn hảo” (1 Ga 2:5). Quả thật, “bạn rất khôn ngoan vì bạn mang Chúa Giêsu đến cho những tâm hồn chưa nhận biết Ngài” (Cn 11:30). Giáng sinh là bài học về sự nhập thế, là lên đường, là vào đời, là ra khơi,… để có thể đích thân đến với nhau, trao cho nhau nụ cười thân ái, bắt tay nhau thân thiện. Đó là cách kiến tạo hòa bình giản dị nhưng rất cụ thể.
Lạy Thiên Chúa, xin thương tha thứ, bởi vì chúng con là những tội đồ (Lc 18:9-14), lâu nay vẫn câu nệ đủ thứ, chưa thực sự thể hiện đức ái đúng như Ngài mong muốn. Xin giúp chúng con chiếu tỏa Ánh sáng Đức Kitô trong hoàn cảnh sống của mỗi chúng con, xin giúp chúng con can đảm và nhiệt thành dấn thân thực sự chỉ vì muốn làm sáng danh Ngài chứ không vì ý đồ riêng tư nào khác, nhờ vậy chúng con mới khả dĩ tận hưởng sự bình an đích thực trong cuộc sống. Chúng con cầu xin nhân danh Chúa Hài Đồng, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

 

GS-267: Lên Đường

Ngày 25 Tháng 12
Lễ Chúa Giáng Sinh
Thánh Lễ Rạng Đông
 (Ys 62,11-12; Tt 3.4-7; Lc 2,15-20)
 Phúc Âm: Lc 2, 15-20
"Các mục tử đã gặp thấy Maria, Giuse và Hài Nhi".
 

Khi các thiên thần biến đi, thì các mục tử nói với nhau rằng: "Chúng ta sang Bêlem và coi xem sự: GS-267

Khi các thiên thần biến đi, thì các mục tử nói với nhau rằng: "Chúng ta sang Bêlem và coi xem sự việc đã xảy ra mà Chúa đã cho chúng ta được biết". Rồi họ hối hả tới nơi và gặp thấy Maria, Giuse và Hài Nhi mới sinh nằm trong máng cỏ. Khi thấy thế, họ đã hiểu ngay lời đã báo về Hài Nhi này. Và tất cả những người nghe, đều ngạc nhiên về điều các mục tử thuật lại cho họ.
Còn Maria thì ghi nhớ tất cả những sự việc đó, và suy niệm trong lòng. Những mục tử trở về, họ tung hô ca ngợi Chúa về tất cả mọi điều họ đã nghe và xem thấy, đúng như lời đã báo cho họ.
 Suy Niệm:
(Ngày 25 Tháng 12 Lễ Chúa Giáng Sinh - Thánh Lễ Rạng Đông)
(Ys 62,11-12; Tt 3.4-7; Lc 2,15-20)
Theo chân các mục đồng, chúng ta lên đường đi gặp Chúa và bắt chước họ, chúng ta hân hoan về những điều mắt thấy tai nghe.
 A. Lên Đường
Nghe lời các thiên thần, các mục đồng rủ nhau: "Nào ta hãy đi tới Bêlem!". Và họ đã vội vã lên đường. Những ai quen biết Tin Mừng Luca có thể nhận thấy ngay ở đây một cái gì vọng lại việc Đức Maria đi thăm bà Êlisabét. Ngày ấy, Đức Maria cũng được sứ thần nhà trời báo tin việc bà chị họ cưu mang do quyền phép của Thiên Chúa. Luca kể: sứ thần vừa ra đi là Đức Maria đã vội vã lên đường. Ở đây cũng vậy, các thiên thần vừa khuất mắt, các mục đồng đã vội vã rủ nhau đi Bêlem. Trong cả hai trường hợp, cũng một thái độ vội vã, nhanh nhẹn thi hành Ý Chúa. Và động lực thúc đẩy chính là lòng tin đơn thật, trong trắng mà chỉ những người mà Phúc Âm gọi là nghèo khó mới có được.
Nhưng không phải là không có một sự khác biệt giữa Đức Maria và các mục đồng. Luca nhận xét rất sâu sắc. Các mục đồng cũng như các người nghe họ, cũng như họ hàng bà con của Yoan Tẩy Giả trước đây (Lc 1,63) và như các thính giả của Chúa sau này (4,22; 8,25...) đứng trước các việc kỳ diệu của Chúa và giáo huấn với các phép lạ của Người, họ chỉ biết ngạc nhiên bỡ ngỡ. Họ bị xúc động mãnh liệt và không thể không thốt ra những lời chúc tụng hoặc thuật lại cho người khác nghe. Nhưng duy một Đức Maria "giữ kỹ mọi điều ấy và hằng suy đi nghĩ lại trong lòng". Thái độ của Người mới thật là thái độ của người đã tin, của người đã nhận thấy kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa trong khi mọi người khác chưa nhận ra. Kế hoạch mới khởi sự và chưa hiển hiện hết, nên đời người có lòng tin phải suy đi nghĩ lại. Chứ thái độ ngạc nhiên, bỡ ngỡ trên hãy còn hời hợt và mau qua.
Như vậy, với bài Tin Mừng hôm nay, Luca như muốn nhắn nhủ mọi người về thái độ phải có trước mầu nhiệm Giáng sinh. Mau mắn tin vào việc Chúa làm và ngạc nhiên chúc tụng Ngài như các mục đồng đã làm, thật là tốt! Đặc biệt trong Mùa Giáng sinh này, chúng ta hát thánh ca dâng Chúa Hài Nhi cũng rất phải, vì Phụng vụ dưới đất phải liên kết với Phụng vụ trên trời, tiếng chúc tụng của mục đồng phải hợp hoan với tiếng ca của các thiên thần. Nhưng tất cả sẽ mau qua và hời hợt, nếu chúng ta không bắt chước thái độ của Đức Maria, suy đi nghĩ lại trong lòng và khi đó việc lên đường của chúng ta hôm nay không phải để đi đến Bêlem hay máng cỏ, nhưng là để đi vào trong thâm cung của lòng mình, để thấy ơn Chúa Giáng sinh đang làm gì cho chúng ta.
 B. Ơn Giáng Sinh
Lời sách Isaia khi đó sẽ thấm thía. Chúng ta không còn là thành đô bị bỏ rơi, nhưng đã được tìm kiếm; chúng ta đã được Chúa cứu chuộc và trở nên thánh thiện. Người đến, quả để ân thưởng chúng ta. Chúng ta trước đây xa lạ với Chúa. Tệ hơn thế nữa, chúng ta đã thù địch với Người, nên bị bỏ rơi trong cảnh tội lỗi lầm than. Trái tim mỗi người như thiếu tình yêu, hay quá lộn xộn vì dục vọng. Nay Chúa cứu chuộc đến với ta, để mang tình yêu của Người tới. Người tìm kiếm ta để ta không còn bị bỏ rơi. Và thánh Phaolô bảo, Người đến rửa sạch tội lỗi, để Thánh Thần của Người tràn ngập lòng ta, hầu ta được kế thừa sự sống đời đời.
Nhận thấy ơn Giáng sinh như vậy, không ai được phép chỉ chạy theo những niềm vui tự nhiên của Mùa Giáng sinh; nhưng còn phải có thái độ trầm lặng như Đức Maria, suy tư trước cảnh Chúa trở thành Hài Nhi, để thấy thiên tính đã hiện thân trong xác thể thế nào, hầu muốn đem chất siêu nhiên của Chúa vào trong cuộc đời cụ thể của ta. Muốn làm công việc ấy, rõ ràng ta phải tìm hiểu nhiều về Chúa, phải đọc Thánh Kinh nhiều và nhất là phải có lòng tin sâu xa như Đức Maria.
Lòng tin ấy, ta cũng phải có ngay trong lúc này để đi vào Thánh Lễ; nếu không, làm sao ta có thể cảm nghiệm được đây là mầu nhiệm Mình Máu Thánh Chúa cứu chuộc chúng ta. Nhờ việc suy đi nghĩ lại về ơn Thánh Thể chúng ta sẽ chịu, chúng ta sẽ thêm ý thức về Lòng nhân ái của Thiên Chúa chúng ta. Người hằng muốn ban Thánh Thần để nhập thể trong ta, biến cuộc đời của ta nên đời sống của Người, để Người tiếp tục cứu độ trần gian, nối dài mầu nhiệm Giáng sinh cứu đời ở thời đại ta.
 (Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa của Đức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)

 

GS-268: Lễ Giáng Sinh, năm A

(Lễ Rạng Đông)
Lc 2:15-20: 15 Và khi các thiên thần đã từ giã họ mà về trời, mục đồng bảo nhau: "Chúng ta hãy qua Bêlem mà xem điều đã xảy ra, và Chúa đã khấng tỏ cho ta biết". 16 Họ hối hả đi đến và đã gặp Maria và Yuse cùng hài nhi đặt nằm trong máng cỏ. 17 Thấy rồi, họ nói ra cho biết điều họ đã được phán dạy về Hài nhi. 18 Và mọi người nghe đều kinh ngạc về các điều mục đồng đã thuật lại cho mình. 19 Còn Maria thì bà giữ  kỹ mọi điều ấy và hằng suy đi nghĩ lại trong lòng. 20 Rồi các kẻ mục đồng lui về tôn vinh và ca ngợi Thiên Chúa vì mọi điều họ đã được nghe và thấy, chiếu theo lời đã phán dạy họ.
 

Đoạn 2:15-20 nằm trong trình thuật về việc giáng sinh của Chúa Giêsu (2:1-20). Theo sau đoạn : GS-268

Đoạn 2:15-20 nằm trong trình thuật về việc giáng sinh của Chúa Giêsu (2:1-20). Theo sau đoạn nầy là trình thuật cắt bì cho Người (2:21-40). Xem thêm văn mạch của đoạn nầy trong bài chú giải Lễ Giáng Sinh 2:1-14 (Lễ Đêm). Bố cục của trình thuật giáng sinh 2:1-20: - Bối cảnh lịch sử của việc Chúa Giêsu giáng sinh (2:1-5); - Cảnh giáng sinh (2:6-7); - Thiên sứ loan báo (2:8-14) và các mục tử tìm đến (2:15-20). Đoạn tin mừng nầy thuật lại việc các mục tử tìm đến nơi Chúa sinh ra và phản ứng của họ. Có thể phân chia bố cục của đoạn nầy như sau: - Các mục tử ra đi để xem điều được loan báo (2:15); - Họ đã thấy và nhận biết (2:16-17); - Hiệu quả lời loan báo lại của họ (2:18-19); - Họ ngợi khen Thiên Chúa về điều đã thấy (2:20). Chữ “poimçn”, “mục tử” đóng khung đoạn nầy (2:15.20). Trước tiên họ ra đi để tìm xem điều đã được thiên sứ loan báo (2:15). Khi ra về, họ loan báo cho người khác và ngợi khen Thiên Chúa về những điều ấy (2:20). Những từ quan trọng “rhçma”, “sự việc” (2:15.17.19); “laleô” “nói”, “loan báo” (2:15.17.18.20); “thấy” (2:15.17.20).
Các mục tử ra đi để xem (2:15). Sau khi các thiên sứ lên trời, các mục tử rủ nhau đến Bêthhem, để xem điều đã được loan báo. “Đi sang” chỉ một khoảng cách từ nơi họ ở đến Bêthlem. Bêthlem nầy chính là  “thành Đavít” đã được loan báo (2:11). Luca dùng cách nói “Chúa (kurios) cho biết điều nầy” để chỉ điều nầy liên qua đến sự cứu độ. Họ đã được loan báo về Đấng Cứu Thế (2:11). Điều nầy “rhçma” ở đây là đã trở thành một hành động “Hài Nhi được đặt nằm trong máng cỏ” (2:16; 2:7.12). Điều các mục tử đã nghe (2:15) thúc đẩy họ ra đi tìm kiếm và nhận biết sau đó (2:17).
Họ đã thấy và nhận biết (2:16-17). Việc họ “hối hả”, speudô, cho thấy lòng ước ao nhìn thấy điều kỳ diệu của Thiên Chúa. Họ vội vã vì muốn nhìn thấy Đấng Cứu Thế đến với họ (x. 1:39; 19:5-6). Họ đã tìm thấy dấu hiệu “Hài Nhi được đặt nằm trong máng cỏ” (2:12). Động từ “aneuriskô” chỉ việc khám phá sau khi tìm kiếm. Luca không nói họ đã tìm kiếm như thế nào, mà chỉ cho biết sự việc tìm kiếm đã hoàn thành. Bởi “thấy” họ đã “nhận biết” đúng như điều Chúa đã cho họ biết (2:17).
Hiệu quả lời loan báo của họ (2:18-19). Trước khi nói đến phản ứng và thái độ của các mục tử sau khi đã tìm ra Đấng Cứu Thế, Luca đề cập đến phản ứng của những người nghe các mục tử thuật lại sự kiện, “Họ kinh ngạc trước những điều đã nghe” (2:18). Và phản ứng của Mẹ Maria, “ghi nhớ những điều ấy trong lòng” (2:19). “Họ kinh ngạc”, thaumazô, Luca thường dùng động từ nầy chỉ ấn tượng mạnh mẽ nơi những người chứng kiến những điều kỳ diệu của Thiên Chúa (1:21.63; 4:22; 9:43; 11:14). Phần mẹ Maria, Luca không nói đến sự kinh ngạc, “giữ tất cả những sự việc ấy và suy ngắm trong lòng”. “Syntçreô” “gìn giữ cách cẩn thận”. Matthêô dùng động từ nầy chỉ việc bầu da mới gìn giữ rượu mới khỏi chảy đổ ra ngoài (x. Mt 9:17). Symballô “gặp nhau” “bàn thảo” “đánh giá” (14:31; Cv 4:5; 17:18; 18:27; 20:14). Như thế, mẹ Maria ghi nhận và đánh giá tất cả những gì mẹ nghe các mục tử thuật lại và những gì mẹ đang thấy.
Họ ngợi khen Thiên Chúa về những điều đã thấy (2:20). Những gì các mục tử muốn thấy (2:15), họ đã thấy (2:20); những gì họ đã nghe loan báo, nay đã được chứng kiến. Họ ca ngợi Thiên Chúa như các thiên sứ đã làm (2:13). Thông thường tất cả những điều gì Thiên Chúa làm cho con người đều khiến con người ca ngợi Người (5:25; 7:16; 13:13; 17:15; 18:43; 23:47; Cv 11:18).
Hài Nhi vấn khăn đặt nằm trong máng cỏ là trung tâm của trình thuật. Chung quanh Người là Maria và Giuse, và các mục tử; qua lời các mục tử những người khác cũng biết đến biến cố nầy. Tin mừng về Hài Nhi nầy được loan tin bằng lời nói (2:15.17.18.20), và đã làm dậy lên niềm vui và ca ngợi nơi những người nầy, vì hôm nay Đấng Cứu Thế đã sinh ra cho chúng ta.
Lm. Luigi Gonzaga Đặng Quang Tiến

 

GS-269: CHÚA SINH RA : MỘT SỰ KỲ DIỆU

LỄ CHÚA GIÁNG SINH
(LỄ ĐÊM)
Lc 2,1-14
 

Đêm nay khắp thế giới mừng Chúa sinh ra. Bài hát :” Đêm Thánh “ như có một sức lôi cuốn thật: GS-269

Đêm nay khắp thế giới mừng Chúa sinh ra. Bài hát :” Đêm Thánh “ như có một sức lôi cuốn thật kỳ điệu, thật linh thánh. Đêm Thánh vô cùng giây phút tưng bừng, đất với trời se chữ đông…Lời ca thúc bách con người đi về Bêlem để tìm gặp và  cung chiêm Hài Đồng Giêsu.
CHÚA SINH RA : MỘT HỒNG PHÚC.MỘT QUÀ TẶNG TUYỆT VỜI
Chúa giáng sinh đem lại hòa bình, một sự thay đổi lớn lao. Công đồng Vaticanô II tuyên bố về ý nghĩa của việc Chúa Kitô ngự đến :” Bởi vì, chính Con Thiên Chúa khi  Nhập Thể, một cách nào đó đã kết hợp với tất cả mọi người. Người đã làm việc với bàn tay con người đã suy nghĩ bằng trí óc con người, đã hành động với ý chí con người, đã yêu mến bằng quả tim con người. Sinh bởi Trinh Nữ Maria. Người đã thực sự trở nên một người giữa chúng ta, giống chúng ta mọi sự ngoại trừ tội lỗi…Người còn mở ra con đường mới để nếu chúng ta theo thì sự sống và cái chết sẽ được thánh hóa và có một ý nghĩa mới “ ( Hiến chế về Giáo Hội trong thế giới ngày nay,số 22 ). Việc Chúa Giêsu được Mẹ Maria sinh ra mang lại cho nhân loại, cho thế giới một ý nghĩa mới : thế giới tràn ngập niềm vui và tình thương. Chúa Hài Nhi Giêsu là một hồng phúc tuyệt vời, một quà tặng quí giá nhất Thiên Chúa tặng ban cho mỗi người, cho nhân loại. Do đó, giáng sinh đưa ta về Bêlem bằng đức tin thẩm sâu để thấy rằng Con Thiên Chúa đã đản sinh, mặc lấy thân phận yếu đuối của con người chúng ta. Người đã ban cho bản tính hay chết của chúng ta một giá trị bất tử.
CHÚA SINH RA  ĐEM ƠN CỨU ĐỘ CHO NHÂN LOẠI : Bài thánh ca bất hủ “Đêm Thánh”( Silent Night ) diễn tả một cái gì đó thật linh thánh, thật diệu kỳ. Chúa sinh ra không phải trong cung điện nhà vua, không sinh ra nơi cao sang, giầu có. Người được sinh hạ trong bầu khí cứu độ nơi các nhà thờ trên thế giới, đặc biệt trong nhà thờ giáo xứ chúng ta. Lời tung hô trên không trung của các thiên thần trong đêm giáng sinh năm xưa :” Vinh danh Thiên Chúa trên trời. Bình an dưới thế cho người thiện tâm “ vẫn như đang hiện thực trước mắt chúng ta trong đêm thánh hôm nay. Chúa giáng sinh để nhân loại được an bình và để ơn cứu độ nơi Người chan chứa. Chúa đến để nâng mọi sự lên cùng Người và dẫn chúng ta ra khỏi chốn lưu đầy để về cùng Cha.
VẪN LÀ CÁI NAO NAO CỦA NHỮNG TÂM HỒN NGAY THẲNG : Đêm giáng sinh như có một cái gì đó thật huyền diệu nhưng cũng thật thực tế và việc Chúa sinh ra như đang xẩy ra ngay trước mắt chúng ta. Chúa Hài Đồng Giêsu đang nằm đó, trong hang đá máng lừa, Mẹ Maria và thánh Giuse đang cung chiêm sự lạ lùng và Mẹ vẫn suy đi nghĩ lại về sự lạ lùng ấy. Các mục đồng đang hối hả đi về Bêlem theo tiếng thiên thần loan báo đễ tìm gặp Hài Đồng Giêsu. Tất cả đều lạ lùng. Tất cả đều mới. Tất cả đều ngạc nhiên. Những con người nghèo, các mục đồng đơn sơ, ngay chính là những người đã gặp được Con Thiên Chúa làm người. Con người thành tâm thiện chí trong đêm giáng sinh này vẫn cảm thấy thật nao nao, vẫn như có một cái gì thật linh thiêng thúc giục họ đi tìm Hài Đồng Giêsu để chiêm ngắm Người.
Nhân loại vẫn còn biết bao người làm ngơ với biến cố Con Thiên Chúa làm người. Họ thờ ơ, họ lãnh đạm và họ bịt tai, nhắm mắt để dứt khóat không nhận ra Vua vũ trụ làm người. Chỉ có những con người đơn thành, tay sạch, lòng ngay, chỉ có những người nghèo khao khát ơn cứu độ, chỉ có những mục đồng mới hối hả đi tìm gặp Hài Đồng Giêsu.
Lạy Chúa Hài Đồng Giêsu xin giúp chúng con biết lắng nghe tiếng các thiên thần như các mục đồng khi xưa để mau mắn, chóng vánh, hối hả đi tìm gặp Chúa Hài Đồng. Amen.
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT

 

GS-270: TIN VUI GIỮA GIỜ TUYỆT VỌNG

Lễ Giáng Sinh Rạng Đông
 

Hình ảnh Giáng Sinh giăng mắc khắp nơi.  Niềm vui bừng lên khắp mặt đất.  Đây là cơ hội lớn: GS-270

Hình ảnh Giáng Sinh giăng mắc khắp nơi.  Niềm vui bừng lên khắp mặt đất.  Đây là cơ hội lớn để khám phá ý nghĩa sâu đậm trong biến cố Con Thiên Chúa nhập thể, chứ không phải để ngắm những nhân vật hay cảnh sắc muôn màu trong hang đá Bêlem.
NGÔN NGỮ NGƯỜI NGHÈO.
Nhìn vào hang Bêlem, chúng ta thấy các mục đồng đang nối đuôi sau các nhà hiền sĩ đến thờ lạy Chúa Hài nhi.  So với các hiền sĩ, mục đồng kém xa về mọi phương diện học thức, địa vị, tiền bạc, của cải.  Cùng với Đức Maria và thánh Giuse, họ thuộc về giai cấp cùng đinh trong xã hội.  Họ không có gì để hi vọng, ngoại trừ Thiên Chúa.   Bởi vậy, Thiên Chúa mới dành cho họ tất cả những vinh dự lớn lao nhất.  Đúng như Đức Giêsu đã tiên báo: “Kẻ nghèo được nghe Tin Mừng.” (Mt 11:5)  Quả thế, họ là những người đầu tiên đón nhận mạc khải của Thiên Chúa: “Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đavít, Người là Đấng Kitô Đức Chúa.” (Lc 2:11) 
Không thể không hành động khi đã đón nhận lời Thiên Chúa mạc khải.   Bởi thế, các người chăn chiên đã lên đường.   Dấu chỉ duy nhất để nhận ra Đấng Cứu Độ là “một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ.” (Lc 2:12)    Tuy thế, các mục đồng vẫn tin.  Họ đã thấy lời thiên sứ ăn khớp với thực tại, mặc dầu trái ngược với mộng tưởng.   Thiên sứ đã không làm cho họ thất vọng.  Thiên sứ đã nói thật !   Sự thật đó đã phát sinh niềm tin sâu xa nơi cõi lòng đơn sơ, chất phác của họ.   Chính niềm tin đó đã khiến họ thành những vị tông đồ đầu tiên loan báo Tin Mừng cho nhân loại, kể cả Đức Maria và thánh Giuse.   Tâm hồn những người loan báo Tin Mừng chắc chắn không thể ủ rũ héo tàn.   Trái lại tâm hồn họ nở rộ niềm vui như chính Tin Mừng họ công bố.   Lên tới tột đỉnh, niềm vui sẽ biến thành lời ca tụng.   Bằng chứng, sau khi làm cho mọi người ngạc nhiên vì hồng ân cứu độ, “các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa,” (Lc 2:20) vì đã thỏa lòng ước mong.   Nếu chỉ nhìn thấy dấu chỉ lộng lẫy và oai hùng cân xứng với địa vị Đấng Cứu Độ, chắc họ đã không thể khám phá được hồng ân Thiên Chúa.   Chỉ người nghèo mới có thể hiểu được người nghèo !   Thiên Chúa đã đến và “cư ngụ giữa chúng ta,” (Ga 1:14) như một Hài Nhi đơn sơ nghèo hèn.  “Thiên Chúa đồng hóa với những người thấp cổ bé họng, người nghèo khổ, bị đàn áp, và vô gia cư,” (The New Interpreter’s Bible 1995:66)  để ơn cứu độ không trở thành xa lạ đối với họ.
Sau khi nghe Tin Mừng vĩ đại, “họ liền hối hả ra đi và gặp bà Maria, ông Giuse, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ.” (Lc 2:16)   “Thấy vậy, họ kể lại điều họ đã được nghe nói về Hài Nhi này,” (Lc 2:17)   Khi chứng kiến cảnh tượng ấy, các người chăn chiên không hề ngạc nhiên “vì mọi điều họ đã được tai nghe mắt thấy theo như họ đã được loan báo.” (Lc 2:20).   Trái lại, “tất cả những ai nghe đều ngạc nhiên về những gì các người chăn chiên nói cho họ biết.” (Lc 2:18)   Ngạc nhiên vì thực không bằng mộng.   Ngạc nhiên vì niềm vui quá bất ngờ và hồng ân quá lớn lao.  Trong số những người nghe mục đồng, chỉ có Đức Maria mới “ghi nhớ tất cả những điều ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng” (Lc 2:19) về lời thiên sứ.   “Không những là nữ tì Chúa, Đức Maria còn âm thầm suy gẫm về ý nghĩa của những biến cố lạ lùng này.” (The New Interpreter’s Bible 1995:66)   Từ hôm truyền tin (x. Lc 1:31-33), Mẹ đã không ngừng nỗ lực khám phá ý nghĩa lời thiên sứ  (x. Lc 2:51).   Đó là “dấu chỉ cho thấy Đức Maria cũng phải trải qua một hành trình đức tin (x. Lc 8:19-21; 11:27-29; Cv 1:14).  Đức Maria là một tín hữu gương mẫu.” (The New Jerome Biblical Commentary 1990:683)   Càng ngày Mẹ càng thấy “Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói.” (Lc 1:45)    Bởi thế, không gì có thể ngăn cản Mẹ tin vào lòng thương xót vô điều kiện của Thiên Chúa.   Chính Đức Maria (x. Lc 1:46-55), và ông Dacaria (x. Lc 1:68-79) đã hết lời ca tụng hồng ân vĩ đại đó.
          Mẹ chính là  “thiếu nữ Xion, là ‘cô gái đắt chồng’, là ‘Thành không bị bỏ.’” (Is 62:11-12)   Mẹ đã lọt vào mắt xanh Thiên Chúa.   Bởi thế, Mẹ đã được diễm phúc thấy được niềm hi vọng lớn lao khi nghe : “Kìa ơn cứu độ ngươi đang tới.” (Is 62:11)   Ngay từ đầu Tin Mừng Luca, Thiên Chúa đã mạc khải cho nhân loại tất cả tấm lòng đầy xót thương vô bờ bến.   Quả thực, “Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta, biểu lộ lòng từ bi và nhân ái của Người, không phải vì chúng ta đã làm những việc công chính, mà là vì Người thương xót.” (Tt 3:4-5)   Dù vô tội, Đức Maria đã cảm nghiệm tất cả tấm lòng trời bể đó của Thiên Chúa.    Thật vậy, nếu “Thiên Chúa đã đổ đầy tràn Thánh Thần trên chúng ta, nhờ Đức Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng ta,” (Tt 3:6) Đức Maria chắc chắn càng đi sâu vào tấm lòng Cha nhân ái, vì Mẹ “đầy ân sủng,” (Lc 1:28) trổi vượt hơn chúng ta ngàn trùng.   Bằng chứng, không ai có thể ngợi ca hồng ân Thiên Chúa tuyệt vời như Mẹ trong lời kinh Magnificat.   Đó là một lời kinh hòa bình vì chan hòa lòng thương xót, lẽ công chính và ơn cứu độ của Thiên Chúa.
NỖ LỰC XÂY DỰNG HÒA BÌNH.
Ngay giữa những thử thách trăm bề, Đức Maria vẫn luôn “suy đi nghĩ lại” về tất cả hồng ân lớn lao phát xuất từ tấm lòng từ bi Chúa.   Bởi vậy, Mẹ xứng đáng làm người giới thiệu Hoàng Tử Hòa Bình cho thế giới.   Chính lúc hạ sinh Con Chúa trong khung cảnh nghèo hèn, Mẹ nghe văng vẳng bên tai lời “sứ thần cất tiếng ca tụng Thiên Chúa rằng : ‘Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương.’” (Lc 2:13-14)   Mẹ là tín hữu gương mẫu, vì Mẹ đã tặng hiến thế giới Hoàng tử hòa bình. “Là Kitô hữu, chúng ta phải lớn tiếng loan báo sứ điệp hòa bình phát xuất từ máng cỏ Bêlem hơn lúc nào hết.” (ĐGH Gioan Phaolô II, CWNews 19/12/2001)  Nếu không hoàn thành sứ mạng cao cả đó, chúng ta đánh mất căn tính Kitô hữu của mình. Thật vậy, phải “xây dựng hòa bình,” chúng ta mới xứng đáng “được gọi là con Thiên Chúa.” (Mt 5:9)
Chính vì thế, dù đang sống giữa cảnh dầu sôi lửa bỏng, các nhà lãnh đạo 13 Giáo hội Kitô tại Giêrusalem vẫn có thể gởi sứ điệp Giáng Sinh 2001 cho dân Chúa.   Nội dung sứ điệp cho thấy, “hi vọng mạnh hơn bạo động, niềm vui lớn hơn ‘đau khổ và nỗi buồn’ vì món quà Thiên Chúa gởi đến nhân loại là Đức Giêsu đã sinh ra trong máng cỏ Bêlem.” (CWNews 19/12/2001)   Trong cuộc vật lộn với tử thần, Thiên Chúa luôn luôn chiến thắng, vì “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4:8) mạnh hơn sự chết.    Các nhà lãnh đạo khuyến khích dân chúng đừng rời bỏ thánh địa, vì nếu niềm hi vọng đôi khi bị trù dập vì những biến cố hằng ngày, họ phải “đứng vững trong đức tin, một đức tin bắt nguồn từ miền đất tràn ngập niềm vui Kitô trong con tim anh chị em.” (CWNews 19/12/2001)   Bởi vậy, trước bao nhiêu tính toán chính trị chằng chéo nhau trên đất thánh, 13 vị thượng phụ và các vị lãnh đạo đó đã quyết tâm : “Bất chấp mọi đau khổ, chúng tôi muốn hân hoan cử hành lễ Giáng Sinh năm nay” (CWNews 19/12/2001) tại đất thánh Giêrusalem để kỷ niệm ngày Hoàng Tử Hòa Bình giáng thế.
Hôm nay Hoàng Tử Hòa Bình vẫn muốn nhập thể vào cõi lòng nhân thế, để “sự sống con người được tháp thân vào dòng sống của Thiên Chúa.” (ĐHY Darío Castrillĩn Hoyos, VietCatholic 18/12/2001)   Chỉ khi nào “hội nhập vào sự bao la và vĩnh hằng của Thiên Chúa, và tái khám phá ý nghĩa thánh cho chính sự hiện hữu của mình,” (ĐHY Darío Castrillĩn Hoyos, VietCatholic 18/12/2001) con người mới có thể tìm thấy hòa điệu tuyệt vời và bối cảnh trong sáng cho nền hòa bình, xây dựng trên sự tôn trọng những giá trị đích thực của nhau.
Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, OP
 
 

GS-271: HÀI NHI GIÊSU, HÃY CUNG KÍNH CHIÊM NGẮM NGƯỜI

THÁNH LỄ CHÚA GIÁNG SINH
(  LỄ BAN NGÀY )
Ga 1, 1-18
 

Cái nao nao diệu kỳ của đêm Noel đã nhường lại cho việc chiêm ngắm Hài Nhi Giêsu.Những tiếng: GS-271

Cái nao nao diệu kỳ của đêm Noel đã nhường lại cho việc chiêm ngắm Hài Nhi Giêsu.Những tiếng nhạc, những ánh đèn điện lung linh giờ đây như dừng lại để con người, loài người, nhân loại thờ lạy một Chúa-Làm-Người với thân phận con người đang nằm trong hang đá và rồi từng người sẽ nhận ra Chúa Hài Đồng một vị Chúa từ trời đã mặc xác phàm làm người để sống với, sống vì, sống cho con người. Thánh Gioan đã viết:” Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người”(Ga 1, 9 ).
TÌNH YÊU CHÍNH LÀ CON THIÊN CHÚA LÀM NGƯỜI: Thánh Gioan cũng viết:” Ngôi Lời là Thiên Chúa “( Ga 1, 1 ).Tình yêu đã làm nên mọi sự. Do tình yêu mà Ngôi Lời đã làm người. Tình yêu đã làm nên mọi sự diệu kỳ, mọi sự kỳ diệu và lạ lùng. Thánh Gioan viết :” Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một để những ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết nhưng được sống muôn đời “ ( Ga 3, 16 ). Chúa Giêsu Hài Đồng chính là Tình Yêu từ trời xuống, đã phá tan màn đêm u tối, thắp sáng lung linh thế gian này bằng chính tình yêu cứu độ của Người. Đúng như lời ngôn sứ Isaia đã loan báo:” Dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng hu hoàng; đám người sống trong vùng bóng tối, nay được ánh sáng bừng lên chiếu dọi “ ( Is 9, 1 ). Con Thiên Chúa đã làm người và đang ở giữa nhân loại, ở giữa con người. Emmanuen nghĩa là Thiên- Chúa-ở-cùng-chúng-ta.
HÀI ĐỒNG GIÊSU LÁ ÁNH SÁNG THẬT : Con người mang thân phận tội lỗi không thể tự mình tỏa sáng, không thể tự mình chiếu soi, dọi sáng. Chỉ mình Hài Đồng Giêsu, Người là ánh sáng thật, ánh sáng chân lý, mới có thể chiếu tỏa ánh sáng thần linh của Người vào tâm trí con người để con người nhận biết Thiên Chúa là Cha đầy tình yêu thương, giầu lòng nhân ái và tha thứ. Chỉ mình Giêsu làm người mới có thể thắp sáng tron trái tim con ngưới ánh lửa cứu độ, ánh lửa cứu rỗi. Và đó là mục đích của Con- Thiên -Chúa –Làm- Người. “ Không ai thấy Thiên Chúa bao giờ; nhưng Con Một là Thiên Chúa, và là Đấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha, chính Người đã tỏ cho chúng ta biết “( Ga 1, 18 ).
HÀI ĐỒNG GIÊSU BAN HỒNG ÂN VÀ SỰ SỐNG MỚI : Làm người, Con Thiên Chúa cư ngụ giữa loài người, hòa đồng với mọi người ngoại trừ tội lỗi. Qua Người, loài người nhận được biết bao hồng phúc, Người ban sự sống mới cho con người. Chúa Giêsu Hài Đồng tới trần gian để ban sự sống vĩnh cửu cho con người. Xưa Ađam vì phạm tội đã làm cho loài người, đã làm cho con người phải chết. Chúa Giêsu ban sự sống đời đời cho nhân loại.  Chúa Hài Đồng chiếu tỏa ánh sáng trọn hảo vào linh hồn của mỗi người. Ánh sáng của Chúa Giêsu là chính Thiên Chúa. “ Tôi là ánh sáng thế gian, ai theo tôi, sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng ban sự sống “ ( Ga 8, 12 ).
Chiêm ngắm Hài Nhi Giêsu :” Là Đường, Là Sự Thật, Là Sự Sống “, “ Là Ánh Sáng “ đó là cung chiêm Con Thiên Chúa làm người. Chiêm ngắm Hài Đồng Giêsu là tin nhận Chúa đến để cứu độ con người.
Lạy Chúa Hài Đồng Giêsu, xin cho chúng con luôn sẵn sàng chiêm ngưỡng Chúa vì Chúa lá ánh sáng, là tình yêu của chúng con. Amen.
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

 

GS-272: Lễ Giáng Sinh

(Lễ đêm)
2007
 

Mỗi buổi sáng khi hừng đông bắt đầu ló rạng ở chân trời thì bóng tối cũng dần dần tan biến: GS-272

Mỗi buổi sáng khi hừng đông bắt đầu ló rạng ở chân trời thì bóng tối cũng dần dần tan biến.  Tuy nhiên cảnh tượng xảy ra từ từ nên ta ít để ý tới sự thay đổi từ bóng tối chuyển sang ánh sáng.  Thánh Lễ Ban Đêm của đại lễ Giáng Sinh diễn tả cuộc đột biến từ đêm tối tội lỗi sang chói lọi huy hoàng của mặt trời công chính, cảnh tượng chỉ xảy ra một lần duy nhất để khởi đầu cho một triều đại, Triều Đại Thiên Chúa.  Cuộc đột biến này chắc hẳn phải ghi ấn tượng sâu đậm trong tâm hồn Ki-tô hữu khi Giáo Hội hằng năm cử hành biến cố Thiên Chúa giáng trần.  Vậy Lời Chúa nói gì với ta về cuộc tỏ hiện của Ánh Sáng giữa đêm tối, của Ân Sủng giữa cảnh vực tội lỗi và của Thiên Chúa giữa nhân loại?
   “Một trẻ thơ đã chào đời để cứu ta, một người con đã được ban tặng cho ta” (Bài đọc Cựu Ước – Is 9:1-6)
          Ngôn sứ I-sai-a nhìn thấy cảnh tượng vô cùng sống động của một cuộc đổi thay cục diện thế giới.  Nhân loại sống trong cảnh tối tăm, áp bức và chiến tranh.  Bỗng nhiên ngoài sự mong đợi của mọi người, ánh sáng bừng lên, không còn cảnh hà hiếp kẻ yếu đuối và chiến tranh điêu tàn nữa.  Tất cả thay đổi xảy ra trong nháy mắt khi “một trẻ thơ chào đời để cứu ta và một người con đã được ban tặng cho ta” (Is 9:5).
          Nhưng “trẻ thơ” và “người con” ấy là ai mà lại có thể biến đổi thân phận của toàn thể nhân loại như vậy?  Nếu tham dự các thánh lễ từ ngày 17 đến 24 trước lễ Giáng Sinh, ta nhận thấy mỗi lời Tung hô Tin Mừng đều nêu lên một danh hiệu của Chúa Cứu Thế:  Khôn ngoan của Đấng Tối cao, Thủ lãnh nhà Ít-ra-en, Mầm non từ gốc Gie-sê, Chìa khóa nhà Đa-vít, Đức Em-ma-nu-en, Vua muôn nước, Vầng đông.  Tuy nhiên ở đây ngôn sứ I-sai-a sử dụng bốn danh hiệu để nói về hài nhi và sứ mệnh em sẽ thi hành.  Đó là Cố vấn kỳ diệu, Thần linh dũng mãnh, người Cha muôn thuở và Thủ lãnh hòa bình.
          Mục đích Hài Nhi Cứu Thế chào đời là để cứu ta.  Ta là “đoàn dân đang lần bước giữa tối tăm” và là “đám người sống trong vùng bóng tối”.  Người là Vầng đông xuất hiện xua tan bóng tối.  Ta là những kẻ bị tội lỗi thống trị với “ách đè lên cổ” và “gậy đập xuống vai”.  Người là Thần linh dũng mãnh đập tan sức mạnh của Xa-tan.  Với sứ mệnh cứu độ, Hài Nhi Giê-su sẽ đóng những vai trò khác nhau để dẫn đưa ta trong hành trình trở về nhà Cha.  Như một vị Cố vấn kỳ diệu, Người dạy ta biết sống theo đường lối của Thiên Chúa, tức là sống theo Thánh Thần.  Là Thần linh dũng mãnh, Người gìn giữ ta và giúp ta chống lại mọi thứ thần dữ hằng lôi cuốn và cám dỗ ta trong cuộc sống.  Với vai trò là người Cha muôn thuở, Người dạy dỗ và khích lệ ta biết luôn sống trong chức phận làm con cái Thiên Chúa.  Là Thủ lãnh hòa bình, Người dẫn ta vào cuộc sống đầy yêu thương, yêu mến Thiên Chúa và yêu thương anh chị em.
          Tất cả những điều trên đều nằm trong kế hoạch của Thiên Chúa.  Tuy nhiên ngôn sứ I-sai-a không quên nhắc nhở ta rằng:  “Vì yêu thương nồng nhiệt, Đức Chúa các đạo binh sẽ thực hiện điều đó”.  Yêu thương bao giờ cũng là động lực duy nhất của mọi việc Thiên Chúa làm.
   “Ân sủng của Thiên Chúa đã được biểu lộ, đem ơn cứu độ đến cho mọi người” (bài đọc Tân Ước – Tt 2:11-14)
          Thánh Phao-lô có lối suy tư thần học tuyệt vời để nói về biến cố Đấng Cứu Thế xuất hiện.  Ngài gọi biến cố Con Một Thiên Chúa đến với nhân loại là “Ân sủng của Thiên Chúa”.  Ngày Đức Ki-tô giáng sinh là lúc Thiên Chúa biểu lộ ân sủng của Người.
          Nhưng điều độc đáo là thánh Tông đồ đã không diễn tả Ân Sủng như một điều trừu tượng, mà là một Ân Sủng bằng xương bằng thịt, cũng giống như Tin Mừng Gio-an đã khẳng định “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1:14).  Ân Sủng ấy là chính Đức Ki-tô, Đấng đã đến để rao giảng Tin Mừng và “dạy chúng ta phải từ bỏ lối sống vô luân và những đam mê trần tục, mà sống chừng mực, công chính và đạo đức ở thế gian này”.  Người đã chu toàn sứ mệnh cứu thế để thể hiện lời ngôn sứ I-sai-a:  “Vì yêu thương nồng nhiệt, Đức Chúa các đạo binh sẽ thực hiện điều đó”.  Thực vậy, tất cả cuộc đời trần thế của Đức Ki-tô là để nói lên tình yêu Thiên Chúa đối với nhân loại và để kêu gọi con người phải luôn lấy tình yêu làm chủ động cho đời sống.  Người dạy ta sống đời yêu thương bằng gương mẫu của chính Người khi Người “tự hiến để cứu chuộc chúng ta cho thoát khỏi mọi điều bất chính”.
          Sứ mệnh của Đức Ki-tô là quy tụ “chúng ta thành Dân riêng của Người, một dân hăng say làm việc thiện”.  Đường lối của Thiên Chúa đi theo từng bước.  Đầu tiên là Người chọn Áp-ra-ham làm đầu một dân được tuyển lựa giữa muôn dân.  Rồi từ dân tuyển lựa ấy, Người ban cho nhân loại Đấng Cứu Thế, để Đấng Cứu Thế sẽ làm “trưởng tử” của dân Ít-ra-en Mới.  Tuy nhiên ta đừng quên dân Ít-ra-en Mới phải là “một dân hăng say làm việc thiện”, cũng như ngôn sứ I-sai-a đã mô tả vương quốc mới của vua Đa-vít là vương quốc “kiên cố vững bền trên nền tảng chính trực công minh”.
   “Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa-vít, Người là Đấng Ki-tô, là Đức Chúa” (bài Tin Mừng – Lc 2:1-14)
          Lời tiên báo của ngôn sứ I-sai-a và suy niệm của thánh Phao-lô về biến cố Chúa Cứu Thế đến trần gian giúp ta nhận biết được Thiên Chúa yêu thương ta như thế nào.  Lời tin mừng của sứ thần Chúa đã lập lại tất cả những điều các ngôn sứ loan báo:  Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa-vít.  “Hôm nay” là ngày hồng phúc Thiên Chúa ở cùng chúng ta, Em-ma-nu-en, ngày Thiên Chúa ban tặng cho ta người con và ngày vinh quang của Người tỏ hiện.  Thời điểm “hôm nay” luôn mang tính chất hiện tại, áp dụng cho mọi thời kể từ ngày Thiên Chúa làm người.  Cũng thế, “thành vua Đa-vít” không còn là Bê-lem nhỏ bé trong nước Do-thái nữa, nhưng đã vượt giới hạn không gian để trở thành “vương quốc của vua Đa-vít” hoặc “Triều Đại Thiên Chúa” lan tràn tới mọi tâm hồn.
          Lời sứ thần cũng gắn liền với lời ngôn sứ I-sai-a nói về “một trẻ thơ” hoặc “một người con”.  Cũng chỉ là “một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ”, chứ không phải một vị hoàng tử trong cung điện huy hoàng.  Nhưng lại là một trẻ sơ sinh sẽ “gánh vác quyền bính trên vai” để thiết lập hòa bình vô tận và sẽ trở thành “lương thực” Thiên Chúa đặt trong máng để nuôi sống nhân loại.  Nếu lương thực của Chúa Giê-su là “thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy” (Ga 4:34), thì lương thực của nhân loại được đặt trong máng cỏ cũng sẽ là thi hành những điều Chúa Giê-su đã dạy ta qua lời giảng và lối sống của Người.
          Đối với ta là loài người trần thế, biến cố Thiên Chúa giáng trần là để cứu độ ta và biểu lộ tình yêu của Thiên Chúa.  Đối với triều thần thiên quốc, biến cố ấy là cơ hội để đạo binh thiên quốc ca tụng Thiên Chúa và tôn vinh tình thương của Người, đồng thời cũng là cơ hội cho tất cả những ai muốn kiếm tìm bình an đích thực, bình an của một quan hệ mật thiết và mới mẻ giữa Thiên Chúa với con người.  “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương”.
 
  Sống Lời Chúa
          Giáng Sinh là một biến cố vĩ đại, không phải vì vẻ huy hoàng trần thế, nhưng vì sự cao vời của tình yêu Thiên Chúa.  Hài nhi sinh ra quan trọng không phải vì gốc gác vua chúa, nhưng vì sứ mệnh em sẽ gánh vác và thực hiện sau này.  Thiên Chúa đã từng đến với nhân loại trong sấm sét và khói lửa tại Xi-nai và dân Chúa sợ hãi bạt hồn khiếp vía.  Nhưng lần này, Người đến trong đơn sơ khó nghèo, chan chứa tình yêu thương, là “tin mừng trọng đại và niềm vui cho toàn dân”.  Các bài đọc giúp ta hiểu ý nghĩa tại sao Chúa đến với ta.  Người đến để cứu độ ta bằng cách giải thoát ta khỏi ách nô lệ tội lỗi và dạy ta sống đời sống mới.  Người đến khai mở một triều đại mới, triều đại của những người được Thiên Chúa đem về làm con cái Người và sẽ cho hưởng phần gia nghiệp với Con Một Người là Đức Ki-tô.
Suy nghĩ:  Ngôn sứ I-sai-a cũng như sứ thần Chúa đã gọi biến cố Giáng Sinh là “niềm hoan hỷ chứa chan” và “niềm vui cho toàn dân”.  Tôi có cảm nghiệm được ý nghĩa đích thực của niềm vui sâu xa này không?  Hay tôi cũng chỉ thấy niềm vui giả tạo và chóng qua của những ngày lễ lạc tầm thường như bao người khác?  Có khi nào tôi quỳ bên Hài Nhi để thấy lòng mình chan chứa niềm vui được cứu độ và được Thiên Chúa ở cùng không?
Cầu nguyện:  Lạy Chúa, Chúa đã sáng tạo con người cách kỳ diệu, lại còn phục hồi phẩm giá con người cách kỳ diệu hơn nữa;  xin ban cho chúng con được chia sẻ chức vị làm con Chúa với Đức Ki-tô là Đấng đã chia sẻ kiếp người với chúng con.  Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời.  A-men.  (Lời nguyện nhập lễ Thánh lễ Ban ngày).
Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

 

GS-273: ĐÊM BÌNH AN

LỄ CHÚA GIÁNG SINH, THÁNH LỄ ĐÊM
Lc 2, 1-14
 

Đêm hôm nay như có một cái gì đó thực diệu  kỳ, êm đềm và nhiệm lạ. Muôn vật, muôn tinh tú trên: GS-273

Đêm hôm nay như có một cái gì đó thực diệu  kỳ, êm đềm và nhiệm lạ. Muôn vật, muôn tinh tú trên bầu trời đều nhất loạt rợp tiếng tung hô một con người, một vị Chúa, một Đấng cứu tinh xuất hiện. Mà không hân hoan, vui sướng và hạnh phúc sao được khi muôn cơ binh trên trời, cùng các thiên thần hát mừng Vua Cứu Thế:” Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm” ( Lc 2, 14 ). Và rồi, sự kỳ lạ và hết sức mầu nhiệm: “ loài người , con người chỉ có thể nhận ra Đấng Cứu Thế khi tâm hồn mọi người có được sự bình an. Hòa bình, an bình trong tâm hồn là điều hết sức cần thiết để con người có thể nhận ra Vua trời đất.
 HÒA BÌNH TÂM HỒN LÀ ĐIỀU TỐI Ư CẦN THIẾT ĐỂ ĐÓN NHẬN CHÚA GIÊSU:
Đức Hồng y Etchaygaray đã nói một câu rất ấn tượng và chí lý:” Người ta dễ nghe thấy tiếng cây rừng bị đốn ngã hơn là nghe thấy tiếng của triệu triệu hạt giống đang cố vươn mình ngoi lên mặt đất “. Tiếng ồn, tiếng máy, tiếng xe luôn huyên náo giữa một thế giới văn minh, tiên tiến. Con người trong thế giới hôm nay thường bị cuốn hút bởi muôn ngàn tiếng ồn ào mà quên đi sự tĩnh mịch, ít để ý tới thinh lặng và sự lắng đọng của tâm hồn. Đêm giáng sinh như có một khoảng cách, một ranh giới mênh mông giữa sự huyên náo, đầy động tĩnh và sự im lặng, tĩnh mịch. Đêm nay như có một cái gì đó thật mâu thuẫn giữa cảnh xa hoa, tráng lệ của thành phố, của các quán trọ với cảnh nghèo nàn của hang Bêlem. Đêm nay cũng thật khác lạ giữa cảnh ấm cúng của các gia đình có lò sưởi và cảnh rét mướt của hang bò lạnh buốt Bêlem giữa cánh  đồng hoang vu, hiu quạnh. Bài thánh ca nổi tiếng của cố nhạc sĩ Hải Linh:” Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời” vẫn vang lên thánh thót, thúc giục mọi người có lòng tin hãy mau mau đến thờ Vị Cứu Tinh Giêsu vừa mới đản sinh nơi hang bò lừa trong đêm đông lạnh giá. Chúa đã sinh ra rồi đó như lời của thánh sử Gioan đã viết:” Ngôi Lời đã làm người”. Hài Đồng Giêsu đã đến thế giới, đã vào trần gian: Người là Tình Yêu, là Lời vô biên đã trở thành xác phàm và cư ngụ giữa con người”( Ga 1, 14 ). Nhân loại và mỗi người chỉ có thể nhận ra được Hài Đồng Giêsu, Vị Cứu Chúa khi tâm hồn con người ở trong tình trạng yên tịnh, khi con người có sự an bình và đầy thanh  thoản để lắng nghe tiếng nhẹ nhàng của muôn triệu hạt giống đang âm thầm ngoi đầu lên mặt đất để tiếp tục sự sống. Chúa đã đến nhân loại trong bầu khí hết sức yên ổn, thanh tịnh của một đêm đông  nhẹ nhàng, kỳ diệu giữa một thế giới đang ồn ào, náo động, tranh dành và thiếu hòa bình. Mà không xốn xáo, giao động sao được khi Hoàng Đế Augustô ra lệnh kiểm tra nhân khẩu toàn thể đất nước Do Thái lúc đó ?
 Không nhốn nháo, hốt hoảng sao được khi mọi quán trọ đều đầy ắp người không còn một chỗ trống trong các nhà trọ để khách đi đường tạm trú cho qua đêm, rồi lại tiếp tục lên đường về quê ? Bầu trời đêm Noen dát đầy tinh tú và cảnh vật lúc đó xem ra hoàn toàn thinh lặng, cái im lặng đến khó hiểu của một đêm đông diệu kỳ, nhiệm lạ.
 Chúa giáng sinh trong cảnh nghèo nàn, rét mướt. Thánh Giuse và Mẹ Maria chấp nhận cảnh cơ cực nghèo nàn với tâm hồn đơn sơ, khiêm nhượng và hết sức quảng đại trong đức tin thẩm sâu, mạnh mẽ. Nhân loại đứng trước một gia đình xem ra hết sức khó khăn về vật chất: nghèo nàn và thiếu phương tiện nhưng gia đình thánh gia  lại tỏa sáng đức tin và hết sức thánh thiện. Sở dĩ, gia đình thánh gia: Chúa Giêsu, Mẹ Maria và thánh Giuse luôn chiếu sáng đức tin vì ba Đấng đã hoàn toàn sống theo ý Thiên Chúa Cha. Do đó, nhân loại đã nhìn thấy vinh quang của Hài Đồng Giêsu trong lịch sử cứu độ, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con Một đầy  tràn ân sủng và sự thật ( Ga 1, 14 b ). Đây quả là một công trình lâu dài chuẩn bị nhân loại đi về Bêlem và tiếng nói linh thiêng, huyền diệu, hết sức nhiệm mầu của đạo mới làm cho nhân loại đọc ra được ý nghĩa của biến cố Chúa Giêsu giáng sinh làm người. Nhưng trên hết, nhân loại chỉ có thể đọc ra được ý nghĩa Con Thiên Chúa làm người khi tâm hồn con người có sự an bình đích thực:” sự bình an trong đêm giáng sinh mà các thiên thần đã loan báo cho các mục đồng và toàn thể nhân loại: “ Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm” ( Lc 2, 14 ).
 TIM MỪNG GIÁNG SINH VẪN LUÔN LUÔN MỚI MẺ VÀ TRONG SÁNG:
Đêm Noen xưa và giáng sinh muôn thời vẫn là một Tin Mừng bởi vì Tin Mừng là Đức Giêsu. Do đó, lúc nào Chúa cũng luôn mới mẻ đối với con người, đối với loài người.
Thánh Gioan đã viết:” Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận”( Ga 1, 11 ). Chúa Giêsu đã đến với dân tộc Do Thái trong hang bò lừa Bêlem, nhưng chính những người được coi là người ở trong, người nhà lại khước từ Ngài vì họ đã không nhận ra Ngài là Tin Mừng, là Tình Yêu, là Đức Chúa. Tin Mừng ấy, ngày hôm nay vẫn tái diễn trong lịch sử cứu độ và Tin Mừng nối tiếp Tin Mừng trong những kỷ niệm giáng sinh vẫn luôn là sứ điệp tình yêu, hòa bình, hạnh phúc. Tin Mừng ấy vẫn luôn mới mẻ, vẫn luôn hợp thời, không cằn cỗi. Tin Mừng ấy vẫn là một Chúa Hài Đồng, một Vua Giêsu, một Đấng cứu độ đã giáng sinh cách nay hơn hai ngàn năm, Tin Mừng ấy luôn luôn mới, luôn luôn tỏa sáng:”…Xin lắng nghe, Ta mang cho các bạn một tin vui lớn lao, cũng là niềm vui được chia sẻ với toàn dân: Hôm nay trong thị trấn của Đavít, Đấng cứu thế của anh em đã sinh ra…”( Lc 2, 10-11)
Sứ điệp yêu thương các thiên thần loan báo cho các mục đồng khi xưa cũng là sứ điệp an bình, hiệp nhất đang được trao ban cho nhân loại, cho thế giới và cho con người hôm nay và mãi mãi.
 TIN MỪNG MỜI GỌI CON NGƯỜI:
Đối diện với Tin Mừng, con người chỉ có thể nhận ra Hài Đồng Giêsu khi con người sống đạo đức, công chính, chừng mực ( Tt 2, 12 ). Thánh Phaolô quả có lý và rất chân thành khi Ngài nói:”…Tôi coi mọi sự là rơm rác, so với mối lợi tuyệt vời là biết Đức Kitô “. Chúa cứu độ có đó và Tin Mừng của Ngài vẫn luôn hiện diện trong thế giới, nơi loài người, trong cõi thâm sâu của từng con người khi con người biết mở lòng để đón nhận Đức Giêsu Kitô và giáo lý của Ngài. Lời khuyên của thánh Phaolô cho Titô:” hãy sống đạo đức, công chính, chừng mực” cũng là lời mở ngỏ của người đối với mọi người trên trần thế này. Noen vẫn luôn mãi là Tin Mừng vĩ đại cho toàn thể nhân loại khi con người, loài người biết bỏ ngỏ cõi lòng để đón nhận Chúa và mặc lấy Đức Giêsu Kitô.
Mừng lễ giáng sinh, nhân loại và mỗi người sẽ đồng thanh nói lên:” Thiên Chúa đã viếng thăm dân người” và như thánh Gioan viết” Ngôi Lời là ánh sáng thật…và chiếu soi mọi người”( Ga 1, 9 ).
 Xin cho Tình Yêu giáng sinh đậu lại nơi tâm hồn của mỗi con người để con người đón nhận sự an bình của đêm bình an mà Chúa Giêsu Kitô đã tặng ban cho nhân loại.
 Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

 

GS-274: Những nghịch lý trong biến cố Giáng Sinh

Lễ Đêm Giáng Sinh
 (24-12-2004)
ĐỌC LỜI CHÚA
Is 9, 1-6:  (5) Một trẻ thơ đã chào đời để cứu ta, một người con đã được ban tặng cho ta.
  Tt 2, 11-14:  (12) Chúng ta phải từ bỏ lối sống vô luân và những đam mê trần tục, mà sống chừng mực, công chính và đạo đức ở thế gian.

  TIN MỪNG: Lc 2, 1-20
Đức Giêsu sinh ra tại Bêlem
(1) Thời ấy, hoàng đế Augúttô ra chiếu chỉ, truyền kiểm tra dân số trong khắp cả thiên hạ.  (2) Đây là cuộc kiểm tra đầu tiên, được thực hiện thời ông Quiriniô làm tổng trấn xứ Xyri.  (3) Ai nấy đều phải về nguyên quán mà khai tên tuổi.  (4) Bởi thế, ông Giuse từ thành Nadarét, miền Galilê lên thành vua Đavít tức là Bêlem, miền Giuđê, vì ông thuộc gia đình dòng tộc vua Đavít.  (5) Ông lên đó khai tên cùng với người đã thành hôn với ông là bà Maria, lúc ấy đang có thai.  (6) Khi hai người đang ở đó, thì bà Maria đã tới ngày mãn nguyệt khai hoa.  (7) Bà sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ, vì hai ông bà không tìm được chỗ trong nhà trọ.
 (8) Trong vùng ấy, có những người chăn chiên sống ngoài đồng và thức đêm canh giữ đàn vật.  (9) Bỗng sứ thần Chúa đứng bên họ, và vinh quang của Chúa chiếu toả chung quanh, khiến họ kinh khiếp hãi hùng.  (10) Nhưng sứ thần bảo họ: «Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân:  (11) Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đavít, Người là Đấng Kitô Đức Chúa.  (12) Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người: anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ».  (13) Bỗng có muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa rằng:  (14) «Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương».
(15) Khi các thiên sứ từ biệt mấy người chăn chiên để về trời, những người này bảo nhau: «Nào chúng ta sang Bêlem, để xem sự việc đã xảy ra, như Chúa đã tỏ cho ta biết».  (16) Họ liền hối hả ra đi. Đến nơi, họ gặp bà Maria, ông Giuse, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ.  (17) Thấy thế, họ liền kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này.  (18) Nghe các người chăn chiên thuật chuyện, ai cũng ngạc nhiên.  (19) Còn bà Maria thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng.  (20) Rồi các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe, đúng như đã được nói với họ.
 
CHIA SẺ
Câu hỏi gợi ý:
 

Tại sao Đức Giêsu không sinh ra trong cảnh giàu sang, uy quyền cho xứng với địa vị Con Thiên: GS-274

  Tại sao Đức Giêsu không sinh ra trong cảnh giàu sang, uy quyền cho xứng với địa vị Con Thiên Chúa, mà lại sinh trong cảnh thấp hèn nhất của con người?
  Toàn dân Do Thái đều trông đợi Đấng Cứu Thế đến, thế mà khi Ngài đến, Ngài lại không báo cho ai, kể cả những người chính thức đại diện cho dân, mà chỉ báo cho các mục đồng, là những kẻ hèn kém nhất trong dân?
   Những người quyền thế trong dân về tôn giáo cũng như xã hội khi biết Đức Giêsu sinh ra tại Bêlem, họ đã làm gì? phản ứng thế nào? Tại sao họ phản ứng như vậy? Não trạng của họ đúng đắn và hợp với đường lối của Thiên Chúa không?
Suy tư gợi ý:
  Hoàn cảnh ra đời của Đức Giêsu
Theo thông lệ đã bao đời, cứ 14 năm một lần, hoàng đế Rôma lại ra lệnh kiểm tra dân số trên toàn đế quốc để có cơ sở thu thuế và tuyển lính. Mọi người dân đều phải về nguyên quán mình để khai hộ khẩu. Vì Bêlem là nơi sinh trưởng của vua Đavít, tổ tiên Giuse, nên ông phải đưa Maria vợ mình đang mang thai từ Nadarét về đấy khai hộ khẩu. Hành trình từ Nadarét về Bêlem khoảng 80 dậm (130 km). Vì phương tiện di chuyển quá đơn sơ, hai vợ chồng nghèo phải vất vả lắm mới tới nơi. Nơi đất lạ, vì nghèo không tìm được chỗ trọ, hai vợ chồng phải tá túc đỡ ở một chuồng súc vật ngoài đồng cỏ. Không may, Maria đã đến ngày sinh con, hai vợ chồng nghèo đành phải sinh con ngay tại nơi trọ nghèo nàn ấy.
  Đức Giêsu chấp nhận cảnh thấp hèn ngay từ khi sinh ra đời
Không có gì nhục nhã và đau lòng cho bằng phải ra đời trong một chuồng súc vật, chẳng những thiếu đủ mọi thứ mà còn dơ bẩn, hôi hám! Thử hỏi: cả 80 triệu dân Việt, một dân tộc hiện đang bị xếp vào loại nghèo khổ nhất thế giới, đã có mấy người phải sinh ra trong cảnh tệ hại như thế? Thế mà Đức Giêsu, Con Thiên Chúa vô cùng cao sang, cũng chính là Vua Vũ Trụ, lại phải sinh ra trong hoàn cảnh như thế! Tuy nhiên, tất cả mọi việc xảy ra đều nằm trong chương trình của Thiên Chúa, đều ứng nghiệm những gì các ngôn sứ đã loan báo mấy trăm năm trước về Đấng Cứu Thế.
Đang khi nhân loại ai cũng tìm sự giàu sang, quyền thế, địa vị, danh dự cho mình và người thân mình, thì Thiên Chúa Cha lại tìm sự nghèo khó, thấp hèn, nhục nhã cho Người Con vô cùng yêu quí của mình. Suốt đời mình, Đức Giêsu cũng hành động tương tự: đang khi nhân loại ai cũng tìm đủ cách đưa mình lên thật cao, thì Đức Giêsu lại tìm đủ cách để tự hạ mình xuống thật thấp. Chính vì con người cứ muốn tự đưa mình lên thật cao và sẵn sàng đè người khác xuống nên nhân loại mới phát sinh ra muôn vàn giống tội và phải chịu biết bao khổ ải. Vì thế, muốn cứu chuộc nhân loại, Đấng Cứu Thế phải hành động ngược lại khuynh hướng tội lỗi ấy là tự hạ mình xuống thật thấp để nâng mọi người lên. Đúng như thánh Phaolô nói: «Người vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có»  (2Cr 8, 9). Để cứu rỗi nhân loại, nếu Thiên Chúa đã phải theo đường lối ấy, thì những kẻ muốn cộng tác với Ngài trong công cuộc cứu rỗi, lẽ nào đi ngược lại đường lối ấy mà lại thành công được? Nghĩa là nếu cứ thích mình được đề cao, thích sống trên đầu trên cổ người khác, thì cứu rỗi được ai?
  Những kẻ được loan báo về việc giáng sinh của Đức Giêsu
Có sự nghịch lý quá lớn trong việc Con Thiên Chúa vô cùng cao sang lại chấp nhận cảnh vô cùng nghèo hèn để giáng sinh hầu cứu chuộc con người. Tuy nhiên vẫn còn một nghịch lý rất lớn khác trong biến cố này. Khi Ngài sinh ra thì toàn dân Do Thái – kể cả giới lãnh đạo Do Thái giáo (các thượng tế, tư tế, kinh sư, luật sĩ…) – đang trông chờ và mong đợi Đấng Cứu Thế mà các ngôn sứ đã từng loan báo trước đó mấy trăm năm. Mấy trăm năm toàn dân mong đợi, thế mà khi Đấng Cứu Thế đến, Thiên Chúa đã chẳng sai các thiên sứ đến báo tin cho các vị chức sắc cao cấp trong tôn giáo Do Thái cũng như nhà cầm quyền Do Thái, là những người chính thức đại diện cho tuyển dân của Ngài. Mà chỉ báo tin cho các mục đồng, đại diện cho hạng người hèn kém nhất trong tôn giáo và trong xã hội! Quả thật, dưới con mắt loài người, Thiên Chúa tỏ ra «chẳng biết điều» tí nào! Ngài chẳng biết cách xử sự theo kiểu loài người! Tại sao vậy?
Đối với Thiên Chúa, kẻ có giá trị trước mắt Ngài là những tâm hồn đơn sơ chân thành, sẵn sàng đón nhận chân lý, chứ không phải là những người có chức tước trong xã hội hay tôn giáo, dù có cao cấp đến đâu! Hãy thử xét xem thái độ của các mục đồng và những kẻ quyền thế thời đó. Các mục đồng khi được báo tin, thì hối hả đến và thờ lạy Đấng Cứu Thế vừa sinh. Họ có thể tin ngay rằng đứa bé yếu đuối và nghèo nàn kia, được sinh ra trong cái chuồng súc vật của họ, chính là Đấng Cứu Thế muôn dân đang trông đợi. Cho dẫu chính họ, những kẻ thấp hèn nhất trong xã hội và tôn giáo, cũng không bao giờ nỡ sinh con mình ở cái nơi dơ dáy thấp hèn ấy! Tuy nhiên, cảnh thấp hèn ấy không phải là điều cản trở họ tin. Bài Tin Mừng cho biết niềm tin và thái độ của họ sau khi gặp hài nhi Giêsu: «Các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa».
Còn những kẻ quyền thế trong xã hội và tôn giáo thì sao? Họ không thể tin được điều ấy. Não trạng họ rất khác với các mục đồng! Làm sao họ có thể tin và chấp nhận được Đấng Cứu Thế của toàn dân lại sinh ra thấp hèn như vậy! Mà dẫu họ có được báo tin, họ cũng chẳng thèm đến với Đấng Cứu Thế thấp hèn và nghèo nàn ấy làm gì! Người khác phải đến với họ, chứ làm gì có chuyện họ phải đến với người khác, trừ trường hợp người khác đó giàu sang hay có địa vị cao hơn họ! Cứ xem phản ứng của họ thì biết: Khi được các nhà chiêm tinh phương Đông tới báo tin Đấng Cứu Thế đã sinh ra thì vua Hêrôđê và những nhà lãnh đạo tôn giáo đã làm gì? Hêrôđê thì cho quân đi tìm giết con trẻ Giêsu ngay, bất chấp phải giết oan bao đứa trẻ khác. Các vị thượng tế và kinh sư thì cũng chỉ ngồi nhà chờ các nhà chiêm tinh đến cho biết kết quả, mặc dù biết rất rõ Đấng Cứu Thế phải sinh ra tại Bêlem. Và khi các nhà chiêm tinh không trở lại, họ cũng bỏ qua luôn.
   Hai thái độ khác nhau
Truyền thống Kitô giáo cho rằng Tổng lãnh Thiên thần Luxifer vì không chấp nhận được Con Thiên Chúa nhập thể làm người, nghĩa là Thiên Chúa mà lại sống trong thân phận hèn kém hơn mình, nên đã phản loạn chống lại Thiên Chúa. Não trạng đó cũng là não trạng của rất nhiều người, kể cả các Kitô hữu bình dân và cao cấp! Mặc dù Đức Giêsu làm nhiều phép lạ tỏ tường, được dân chúng tin theo rất đông, nhưng giới lãnh đạo tôn giáo Do Thái xưa không thể chấp nhận được Ngài là Đấng Cứu Thế. Tại sao? Vì họ thấy Ngài là người nghèo hèn (x. Mt 8,20), thất học (x. Ga 7,15), lại nói và làm rất nhiều điều ngược lại quan niệm của họ, như lỗi luật ngày sábát (x. Mt 12,1-14; Lc 6,6-11; ...), không chịu ăn chay (x. Mt 9,14), ăn không rửa tay (x. Mt 15,1-2; Lc 11,38), giao thiệp với những hạng người tội lỗi (x. Mt 9,10-11; Lc 5,29-30), v.v… Họ cho rằng họ là chân lý, nên ai nói hay hành động khác với họ đều sai. Nếu nhưng người ấy có quyền phép thì đó là quyền phép ma quỷ (x. Mt 9,34; 12,24).
Đối với họ, chỉ những điều mà người có uy quyền trong tôn giáo nói mới là chân lý thôi! Chân lý không thể phát xuất từ môi miệng những hạng bình dân, thấp kém trong xã hội hay tôn giáo được. Do đó, khi các ngôn sứ xuất hiện – thường xuất thân từ giới bình dân, nghèo hèn – thì đều bị họ chê bai và ném đá vì những lời nói mà họ cho là ngang ngược (x. Mt 23,37; Lc 6,23). Họ chỉ ca tụng và ưu đãi những ngôn sứ giả là những người có uy quyền, lại nói vừa lòng họ, lọt lỗ tai họ (x. Lc 6,26). Cũng vậy, khi Đức Giêsu đến, những mặc khải mới về chân lý của Ngài không sao lọt tai họ được, nên họ phải tìm cách trừ khử cho bằng được!
Ngày nay, con người – kể cả các tín đồ trong mọi tôn giáo – vẫn thường có não trạng như thế. Người có thế giá trong tôn giáo nói bất cứ điều gì cũng được họ cho là đúng, là có giá trị, cho dù họ thấy có gì đó không hợp lý. Cũng có khi họ mù quáng đến độ không thể thấy được sự bất hợp lý trong những lời nói đó. Còn những người bình dân, thấp hèn mà nói, thì dù có hợp lý đến đâu, cũng đều vô giá trị. Chính vì thế, nếu thời nay những ngôn sứ của Thiên Chúa có đến, chắc chắn cũng các vị cũng phải đồng số phận hẩm hiu với những ngôn sứ các thời đại trước thôi! Và dẫu chính Đức Giêsu có đến lần nữa, Ngài cũng sẽ bị đối xử tương tự. Ngài lúc nào cũng vẫn là «viên đá vấp phạm» (x. Rm 9,33; 1Pr 2,8) cho nhiều người. Nhưng phúc thay những ai không vấp phạm vì Ngài! (x. Mt 11,6; Lc 7,23)
 
CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, xin cho con nhận thức rằng người được Thiên Chúa sai đến, dù có thấp hèn đến đâu cũng vẫn là người của Thiên Chúa. Xin cho con ý thức được rằng chân lý dù được phát biểu bởi trẻ con hay người thấp hèn dốt nát cũng vẫn là chân lý. Còn sai lầm dù được phát biểu bởi kẻ cao sang quyền thế cũng vẫn là sai lầm. Đừng để con đồng hóa lý của kẻ mạnh, kẻ có quyền với chính chân lý. Để nhờ đó, con có thể nhận ra Cha nơi những anh em nghèo hèn chung quanh con, và nhận ra chân lý dẫu được phát biểu bởi những người mà con cho thấp kém.
Joan Nguyễn Chính Kết

 

GS-275: GIÁNG SINH – LỄ NỬA ĐÊM

(Lu-ca 2: 1-14)
 

Viết về một biến cố vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại, Đấng Cứu Thế giáng sinh, không: GS-275

          Viết về một biến cố vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại, Đấng Cứu Thế giáng sinh, không phải là một điều dễ dàng.  Làm sao có thể diễn tả biến cố ấy trong mọi chiều kích, từ lịch sử cho tới ý nghĩa thần học, từ phạm vi nhỏ bé của gia đình Giu-se – Ma-ri-a cho đến gia đình nhân loại rộng lớn?  Thế mà thánh sử Lu-ca đã gợi ý đầy đủ để ta có thể tiếp tục suy niệm từng khía cạnh của biến cố Con Một Thiên Chúa làm người, tưởng như không bao giờ cạn nguồn.  Hôm nay ta chiêm ngưỡng hình ảnh Mẹ Ma-ri-a và Chúa Giê-su con trai đầu lòng của Mẹ tại Bê-lem.
  Bà Ma-ri-a đã tới ngày mãn nguyệt khai hoa
          Có khi nào ta nghĩ đến những nét đẹp của một phụ nữ đang mang thai không?  Đó là những nét đẹp của một người đang mang sự sống trong bụng mình.  Bà ấy là người đầy tràn tình yêu, lúc nào cũng nghĩ đến, để ý chăm sóc và đặt tất cả hy vọng vào đứa con mình đang cưu mang.  Bà đang sống tình yêu đích thực, yêu “hết lòng, hết sức lực và hết tâm trí”.  Một bà mẹ bình thường đã cao đẹp như vậy, thì Mẹ Ma-ri-a, Đấng đang cưu mang Con Thiên Chúa (Lc 1:35) còn cao đẹp đến mức nào!
          Bà mẹ nào cũng mong đứa con ra đời bình an để được mẹ tròn con vuông.  Nhưng niềm mong đợi đôi khi cũng mang nhiều ý nghĩa khác nhau.  Có bà mẹ mong đợi đứa con ra đời để chấm dứt những cực nhọc của thời gian mang thai.  Nhưng thường các bà mẹ mong đợi để được thấy tận mắt niềm hy vọng của mình, hoa trái tình yêu của mình.  Mẹ Ma-ri-a cũng có thật nhiều lý do để mong đợi.  Trước hết Mẹ muốn được chiêm ngưỡng tận mắt quyền năng của Chúa Thánh Thần và của Đấng Tối Cao, không phải qua những kỳ công tạo dựng, mà là qua một hài nhi yếu ớt hoàn toàn trông cậy vào sự chăm sóc của Mẹ.  Quyền năng cao cả ấy đã hạ mình, thu nhỏ lại trong đôi tay che chở của Mẹ.  Mẹ sẽ được vinh dự chăm sóc cho Con Thiên Chúa mà Mẹ đã nhận làm Con của Mẹ.  Mẹ chờ đợi để với tính cách làm mẹ, được gọi tên “Giê-su”, tên mà sứ thần đã giải thích cặn kẽ:  “Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao...  Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận.”  Có lẽ nét đẹp nhất trong sự chờ đợi của Mẹ là được nhìn thấy kết quả của lòng vâng phục thánh ý Thiên Chúa.  “Xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.”
          Thời điểm mãn nguyệt khai hoa bao giờ cũng thật quan trọng.  Chỉ một chút nữa thôi, niềm hy vọng cá nhân của Mẹ, đồng thời cũng là niềm hy vọng của toàn thể nhân loại sẽ được thể hiện.  Còn gì linh thiêng bằng thay mặt cho toàn thể nhân loại, Mẹ đón nhận Tình Yêu Thiên Chúa Nhập Thể, niềm Hy Vọng cứu rỗi và Đấng Em-ma-nu-en – Thiên Chúa ở cùng chúng tôi.  Nếu ta có thể diễn tả thời điểm từ biến cố Truyền Tin đến biến cố Giáng Sinh là một lời nguyện liên tục của Mẹ Ma-ri-a, thì thời điểm “đã đến ngày mãn nguyệt khai hoa” phải là cao điểm của lời nguyện ấy.  Cầu nguyện đích thực bao giờ cũng sinh hiệu quả.  Như vậy, lời cầu nguyện của Mẹ Ma-ri-a đã thực sự đem Đấng Cứu Thế đến cho nhân loại.
 
  “Bà sinh con trai đầu lòng”
          Theo cách suy nghĩ bình thường, ta hiểu ngay nếu Chúa Giê-su là “con trai đầu lòng” thì chắc Mẹ Ma-ri-a còn có ít ra một hoặc những người con khác nữa!  Hiểu như vậy là chưa đi vào ý nghĩa đích thực của Kinh Thánh.  Từ “con trai đầu lòng” đã được thánh Lu-ca sử dụng với những hàm ý thần học sâu sắc, chắc chắn không có ý nói Chúa Giê-su còn có những đứa em ruột khác, nhưng có ý nói Người là con trai đầu lòng của nhân loại được dâng hiến cho Thiên Chúa và hoàn toàn thuộc về Người như sách Xuất Hành đã ấn định (Xh 13:2,12,15).  Tư tưởng này làm sáng tỏ vai trò và trách nhiệm của Chúa Giê-su, Đấng gánh lấy tội lỗi nhân loại và sẽ hiến thân làm lễ hy sinh chuộc tội nhân loại.
          Nếu ta hiểu từ “con trai đầu lòng” theo chiều hướng Ki-tô học của thánh Phao-lô, thì vai trò của Chúa Giê-su, “trưởng tử của nhân loại mới”, lại càng được sáng tỏ hơn nữa.  Thực vậy, trong các thư Rô-ma 8:29, Cô-lô-xê 1:15-18, Do-thái 1:6 và sách Khải Huyền 1:5, Chúa Giê-su được gọi là “trưởng tử giữa đàn em đông đúc, trưởng tử sinh ra trước mọi loài thọ tạo, trưởng tử trong số những người từ cõi chết sống lại, và Trưởng Tử được Thiên Chúa đưa vào thế giới”.  Với những danh hiệu ấy, Chúa Giê-su được tôn vinh là Con Thiên Chúa và con đầu lòng của cuộc tạo dựng mới sau khi Người đã đánh bại thần chết, tội lỗi và quyền lực của ma quỷ.
          Người con trai đầu lòng này ra đời có nghĩa là khởi đầu cho một nhân loại mới, chứ không phải cho riêng Mẹ Ma-ri-a.  Việc Giáng Sinh của Người đã được thánh Lu-ca chiêm ngưỡng như một cuộc tạo dựng mới, để theo hình ảnh của Chúa Ki-tô là trưởng tử, mọi người được mời gọi hãy biến đổi con người của mình theo khuôn mẫu ấy, trở nên đồng hình đồng dạng với Người (Rm 8:29; Pl 3:12).  Việc được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa (St 1:37) giờ đây đã được cụ thể hóa qua việc được biến đổi theo khuôn mẫu Đức Ki-tô, một phương thức hợp với tầm tay của nhân loại và ai cũng có thể thực hiện được.
          Hiểu theo ý nghĩa ấy, Giáng Sinh sẽ là lời mời gọi mỗi người hãy cố gắng trở thành một người em trong số đàn em đông đúc của Chúa Ki-tô.  Ta phải làm thế nào để đạt được mục đích Thiên Chúa đã đặt để cho đời ta?  Chúa Giê-su, qua lối sống, lời giảng và gương mẫu của Người, sẽ dạy ta, miễn là ta biết chấp nhận Người và làm môn đệ Người.
 
  Suy nghĩ và cầu nguyện
          Mẹ Ma-ri-a cưu mang Chúa Giê-su cho toàn thể nhân loại.  Tôi có đem Chúa đến cho anh chị em không?  Làm sao cho những người chung quanh nhận biết ơn cứu độ của Thiên Chúa qua lối sống của tôi?
          Giáng Sinh có thực sự là cơ hội để tôi chiêm ngưỡng Tình Yêu Thiên Chúa nhập thể không?  Tôi “nhìn” thấy gì qua hình ảnh Hài Nhi Giê-su?  Tôi đáp lại với những tâm tình nào?  Tôi học được gì qua những tâm tình của Mẹ Ma-ri-a?
          Tôi ý thức thế nào về hồng ân được làm “em” của Anh Cả Giê-su trong gia đình Thiên Chúa?
 Cầu nguyện:
          “Giữa giá rét của mùa đông,
          xin cho con gặp Chúa.
          Giữa những long đong và bấp bênh của phận người,
          xin cho con gần Chúa.
          Giữa cành nghèo khó và trơ trụi,
          xin cho con thấy Chúa đi với con và hiểu con.
          Lạy Chúa Giê-su bé thơ nằm trong máng cỏ,
          xin cho con cảm được sự bình an của Chúa,
          ngay giữa những lo âu hằng ngày.
          Xin cho con đón lấy cuộc đời con
          với bao điều không như ý.
          Và cuối cùng,
          xin cho con dám sống như Chúa
          vì Chúa đã dám sống như con.”
                             (Trích RABBOUNI, lời nguyện 59)
 Lm Đaminh Trần đình Nhi

 

GS-276: LỄ NỬA ĐÊM

"Một Người Con đã được ban tặng cho ta."
          Anh chị em rất thân yêu,
 

Chúng ta vừa đi qua một hồi tưởng lịch sử trong giờ canh thức, và dù đem hết cố gắng theo sát thực: GS-276

          Chúng ta vừa đi qua một hồi tưởng lịch sử trong giờ canh thức, và dù đem hết cố gắng theo sát thực tại, chúng ta cũng không thể nào khéo léo, tài tình bằng thánh sử Luca đã làm sống lại ký ức Đêm Cực Thánh này qua đọan Tin Mừng chưa tới 1 trang giấy. Sự khéo léo và tài tình của thánh ký là đã chuyển tải trọn vẹn nội dung nhiệm mầu của biến cố.
          Đọc Luca chúng ta gặp lại được tâm hồn Dân Chúa mà Isaia phải vay mượn những hình ảnh văn chương tiên tri và khải huyền để diễn tả. Đọc Luca, chúng ta còn cảm nếm được những gì Phaolô phải dùng những suy tư thần học cứu độ với những từ ngữ uyên thâm. Nói đúng hơn, không phải Luca có những tài nghệ phi thường, nhưng Luca chỉ trở về với chính thực tại của biến cố và để chính biến cố lôi cuốn ông.
          Trước hết Luca nhìn biến cố trong bối cảnh tòan diện : Dân Chúa thật cơ cực vì thân phận nô lệ ngọai bang. Cuộc tổng điều tra dân số đủ để diễn tả những khổ nhục và số phận bị bóc lột tàn bạo. Vì nó là phương thế hữu hiệu nhất áp đặt quyền và chính sách khống trị. Không còn bóng tối nào dày đặc hơn bao trùm trên dân tộc khi "người con kế thừa giang sơn tổ tiên" lại phải sinh ra nằm trong máng cỏ súc vật giữa đồng không mông quạnh. Cũng chẳng còn cảnh ly tán nào triệt để hơn, làm tê liệt và phân hóa tình nghĩa và sức sống dân tộc, khi "người con" không tìm được chỗ trong qúan trọ. Dân tộc ấy trong đọan tin mừng dường như không còn ai khác , chỉ còn lại những mục đồng sống giữa thảo nguyên. Những con người chưa bao giờ được kể là có quyền lợi và trách nhiệm của một công dân, xét cả về mặt tôn giáo. Tính hiện thực của Tin Mừng rõ ràng có tính hấp dẫn hơn Isaia cũng như Phaolô . Tính hấp dẫn còn gặp thấy trong khẳng định của sứ thần về dấu chỉ của Đấng Cứu Độ, của Đức Kitô, của Đức Chúa "Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người : anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ."
          Anh chị em rất thân yêu, chúng ta cần tập trung mọi tâm tư vào dấu chỉ lạ lùng, nếu không muốn nói là kỳ quặc này. Giữa lòng một dân tộc bị áp bức trong xích xiềng nô lệ, giữa từng giòng thác người bị lọai trừ, thì Đấng Cứu Độ lại chính là người chia sẻ trọn vẹn cùng một số kiếp làm người của họ, với tất cả lịch sử, khổ đau và hy vọng. Mỗi con người bị lột trần ấy đã minh nhiên được Đức Kitô nhận là "Dấu chỉ" cho Người. Quan điểm cứu thế của nhân lọai thì thật phức tạp và đa dạng, nhưng phải nói rằng chỉ duy một mình Đức Kitô lựa chọn con đường trở nên người con, người anh em của dân nô lệ cách triệt để. Sự lựa chọn không chỉ là một màn trình diễn thóang qua, nhưng là cả cuộc đời và chỉ kết thúc với cái chết như là một tử tội nô lệ. Vì vậy hết mọi người bất kể họ là ai, cách đặc biệt, những con người trên lục địa Á Châu, đều thấy mình có thể là "Dấu Chỉ" cua "Người Con", "Người anh em" ấy. Hay nói theo Luca "Người Con được ban tặng" cho họ.
Sự lựa chọn ấy đừng nói nhà cầm quyền Roma, hay các quyền lực đạo đời thời ấy không chấp nhận, mà cho đến tận hôm nay, trong thế giới, vẫn tồn tại một sự kỳ thị đối với người Châu Á, những người nghèo khổ và trần trụi. Thậm chí ngay cả chính chúng ta, là linh mục, là tu sỹ, là tín hữu giáo dân, là tôi hay là anh chị em, nếu thành thật với chính mình, phải nói là hôm nay, tôi cũng như anh chị em cũng chưa dám hết lòng lựa chọn.
Điều mà thánh Luca muốn nói nhiều hơn và coi đó là thước đo tính siêu việt và quyền năng của lựa chọn cứu độ này, chính là dấu chỉ tỏa chiếu niềm vui an bình và hoan lạc như là ánh sáng, như là một bản trường ca vô tận. Nó lôi cuốn chẳng những những kiếp người bị vứt bỏ, mà cả đạo binh thiên quốc cũng reo lên theo niềm vui an bình và hoan lạc ấy. Sự lựa chọn không còn là lựa chọn khổ đau vì khổ đau nữa, mà là trở nên kiếp người để có thể yêu thương và chiếu gĩai niềm vui và an bình của tình yêu đến cùng. Và qủa thực bản trường ca bình an ấy được những con người nghèo ở Palestine, ở Roma và trên khắp thế giới, trải qua 2000 năm, vẫn không ngừng tiếp tục hợp xướng. Nó đã là chìa khóa hình thành một thế giới mới trong yêu thương và an bình.
Đó là con đường cứu thế của Đức Kitô. Con đường đem yêu thương cho người phận nhỏ.
          Chúng ta không thể loan báo tin mừng cứu độ nếu không chấp nhận trở thành "người con" "người anh em" một cách triệt để như Đức Giêsu đối với mọi người. Mầu nhiệm Nhập Thể và Giáng Sinh phải là mầu nhiệm của chúng ta mỗi ngày.
          Nguyện xin ơn Giáng Sinh luôn tràn đầy nơi Quý Cha, Quý Tu Sỹ Nam Nữ, nơi mỗi gia đình và tất cả anh chị em, để Tin Mừng Bình An được công bố trên quê hương thân yêu của chúng ta.
Lm. Giuse Nguyễn Hữu Duyên

 

GS-277:  GIÁNG SINH 2001

LỄ RẠNG ĐÔNG
          Anh chị em rất thân yêu,
 

Trong cơ cấu Phụng Vụ Lễ Giáng Sinh, biến cố Ngôi Lời Nhập Thể được hình dung như Mặt Trời: GS-277

          Trong cơ cấu Phụng Vụ Lễ Giáng Sinh, biến cố Ngôi Lời Nhập Thể được hình dung như Mặt Trời Công Chính là nguồn ánh sáng và sự sống cho nhân lọai. Dân Chúa trong cõi u tịch của đêm tối dầy đặc đang canh thức chờ đợi buổi Rạng Đông. Và đây bình minh tới, từng tia sáng chiếu rọi và xé tan màn đêm, và họ say sưa ngắm nhìn hồng ân.
          Thánh Luca dường như bị lôi cuốn vào thái độ ấy của những tín hữu ở buổi bình minh của Giáo Hội trong bản tường thuật của ông: ông đã từng thấy ở mọi nơi, người ta hối hả đến với Giáo Hội, cách riêng trong các hành trình truyền giáo của Phaolô. Chính trong những gặp gỡ như thế, người ta "kể lại điều đã được nói tới về Hài Nhi này".
Tuy nhiên kinh nghiệm trên vạn nẻo hành trình truyền giáo cũng cho Luca thấy trong những huyên náo nhộn nhịp con người không dễ tìm được niềm tin vào Hài Nhi. Bởi vì cái hiện tượng "một Hài Nhi được đặt nằm trong máng cỏ" có dáng dấp một câu chuyện thần thọai cổ tích kia chẳng nói lên được gì, nếu nó không được liên kết với "điều đã được nói tới...".
Ở đây, Luca cho thấy vai trò của mỗi người trong biến cố đều là những vai trò không thể thay thế, bởi vì mỗi người đều đã nhận được "một điều đã được nói tới", và "ai cũng ngạc nhiên" khi được nghe chính họ thuật lại. Rõ ràng phải khẳng định là không ai hơn Đức Maria, và thánh Giuse, những con người được tham gia trực tiếp vào biến cố, nhưng dưới cái nhìn của Luca, chính các Ngài cũng phải "ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng", những kỷ niệm có được khi "nghe các người chăn chiên thuật chuyện".
Vì thế, hết mọi kẻ tin, và những ai tham dự vào việc loan báo Tin Mừng phải tập trung mọi cố gắng của mình làm sống lại cảnh đón Bình Minh nơi các tín hữu tiên khởi, trong đó có Giuse và Maria. Trong "ghi nhớ mọi kỷ niệm", và "suy đi nghĩ lại trong lòng" mỗi người sẽ khám phá ra như Phaolô "Không phải vì tự sức mình chúng ta...nhưng vì...nhờ phép rửa ban ơn Thánh Thần" mà "chúng ta được tái sinh và đổi mới", và "được thừa hưởng sự sống đời đời".
Anh chị em rất thân yêu,
Chính vì con đường đi đến niềm tin vào Hài Nhi của những thế hệ đầu tiên được Luca trình bày trong tường thuật Tin Mừng, cũng có nghĩa nó là một chân lý của Tin Mừng, nên Giáo Hội luôn xác tín và công bố. Lời công bố long trọng trở thành "Luật Cầu Nguyện" như chúng ta thấy trong cơ cấu mọi cử hành Phụng Vụ, trong đó Phụng Vụ Lời Chúa luôn là thành phần cấu tạo căn bản. Việc nghe Lời Chúa, suy niệm Lời Chúa, thinh lặng đón nhận... là những yếu tố cấu thành Phụng Vụ, mà bỏ qua nó, người ta hủy họai chính cử hành thánh. Chúng ta đừng quên "Luật Cầu Nguyện" cũng là "Luật Đức Tin", và khi không tôn trọng và yêu mến Phụng Vụ Lời Chúa trong các cử hành phụng vụ, không phải người ta hủy họai một cử hành, nhưng là hủy họai chính lòng tin của mình. Chúng ta cần nhắc lại, theo Luca mỗi người đều có vai trò không thể thay thế. Và khi đảm nhận trọn vẹn vai trò của riêng mình, mỗi người đóng góp phần cốt yếu làm nên "Rạng Đông" của "Mặt Trời Công Chính" vậy.
Chúng ta sẽ vô cùng kinh ngạc, vì điều đã xảy ra từ 2000 năm trước lại được tái hiện cách rực rỡ ở 2000 năm sau: Biến cố "đã được nói tới" ở bên ngòai mọi cơ chế, ngòai đền thờ, cho những con người đã bị lề luật lọai trừ. Điều đó khẳng định chính thực tại văn hóa xã hội của mỗi dân tộc mỗi thời đại đều đã đón nhận được "một điều...về Hài Nhi". Và hết mọi người đang chờ đợi những tường thuật đúng với thực tại văn hóa xã hội và thời đại của họ. Trong Thương Hội Đồng Giám Mục Á Châu, Đức Thánh Cha và Giáo Hội tòan cầu "rất xúc động khi nghe tường thuật về ...Giáo Hội...tại Trung Quốc...tại Nam Hàn...cũng như sự kiên định cách khiêm tốn của cộng đòan công giáo tại Việt Nam..." và Đức Thánh Cha kết luận "Quang cảnh một chân trời mới, đầy hứa hẹn ấy, tôi thấy đang được thực hiện tại Châu Á này, nơi Đức Giêsu đã chào đời và Kitô giáo được khai sinh."
Lm. Giuse Nguyễn Hữu Duyên

 

GS-278: LỄ GIÁNG SINH 2001

LỄ BAN NGÀY
          Anh chị em rất thân yêu,
 

Với ánh sáng rực rỡ của Mặt Trời Công Chính, chúng ta có thể vượt qua hình hài bé bỏng của một: GS-278

          Với ánh sáng rực rỡ của Mặt Trời Công Chính, chúng ta có thể vượt qua hình hài bé bỏng của một Hài Nhi để lên tới ngọn nguồn của Mầu Nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể.
          Trước hết cùng với thánh ký tác giả tín thư Do Thái và thánh sử Gioan chúng ta cần dừng lại nơi ý tưởng đối với các Ngài là nổi bật và quan trọng: "Nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân lọai" hay nói như Phaolô "vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Người Con Một". Mầu Nhiệm Giáng Sinh trước tiên là giáo huấn của Thiên Chúa. Với những tổ chức mua sắm, vui chơi, gỉai trí, lễ lạc, hội hè, ngày nay, người ta đã chẳng còn quan tâm đến mục đích cơ bản ấy.
          Giáo huấn đầu tiên là về nguồn gốc con người và vũ trụ. Những gì mà Tin Mừng nói về biến cố Nhập Thể và Giáng Sinh cho thấy Đức Giêsu là người thật theo ý muốn của Thiên Chúa, là người trong sự thánh thiện và vinh quang của Con Thiên Chúa, theo đó đã nhận lấy nơi Thiên Chúa tất cả sự hiện hữu và sự sống. Nói theo thánh Gioan "được sinh ra, không phải do khí huyết, cũng chẳng do ước muốn của nhục thể". Nhìn vào Đức Giêsu phải nói như Gioan "Chúng tôi đã nhìn thấy vinh quang Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật". Đấy cũng phải là sự thật của mỗi con người sinh ra trong trần thế. Tông Huấn Giáo Hội tại Á Châu cũng viết rằng "Chỉ qua Đức Giêsu, con người mới có thể biết được sự thật về chính mình. Cuộc sống nhân lọai trọn vẹn của Đức Giêsu, dành tất cả cho việc yêu mến và phục vụ Chúa Cha cũng như lòai người, đã cho chúng ta thấy ơn gọi của mỗi người là đón nhận tình yêu và đáp lại bằng chính tình yêu của mình. Trong Đức Giêsu chúng ta ngỡ ngàng khi thấy con tim nhân lọai có khả năng vô hạn để yêu Chúa và yêu người, ngay cả khi phải đau khổ..." "Lúc ấy, trong Đức Giêsu, chúng ta mới khám phá ra sự cao cả và phẩm giá của mỗi người chúng ta tuyệt vời tới mức nào trong trái tim của Thiên Chúa, Đấng đã tạo dựng con người theo hình ảnh Ngài; và chúng cũng tìm thấy đó là nguồn gốc sinh ra thọ tạo mới, mà chúng ta đã trở thành nhờ ơn Ngài." Qua lời dạy của Công Đồng Vaticanô II "nhờ sự Nhập Thể, Con Thiên Chúa đã kết hiệp một cách nào đó với mỗi con người." Giáo Hội tại Á Châu đã thấy được "nguồn mạch cuối cùng đem lại niềm hy vọng và sức mạnh cho các dân tộc Á Châu giữa bao chiến đấu và bất trắc của cuộc sống. Khi con người biết đáp lại bằng lòng tin sống động vào qùa tặng tình yêu của Thiên Chúa, thì sự hiện diện của Ngài mang lại yêu thương và bình an..." Theo Tông Huấn thì đó chính là món qùa lớn lao nhất mà Giáo Hội có thể tặng cho Châu Á : "Niềm tin của Giáo Hội vào Đức Giêsu vừa là một món qùa tặng Giáo Hội nhận được, vừa là món qùa để chia sẻ".
          Vì thế, anh chị em rất thân yêu, các dân tộc Châu Á, vốn "cho thấy trong cái hồn Á Châu có một thiên hướng tâm linh bẩm sinh và sự khôn ngoan đạo đức" đang chờ được kiện tòan trong Đức Giêsu Kitô. "Các nghị phụ Thượng Hội Đồng nhìn nhận họat động của Chúa Thánh Thần nơi các xã hội, văn hóa, tôn giáo Á Châu, nhờ các họat động đó mà Chúa Cha chuẩn bị tâm hồn các dân tộc Á Châu để đón nhận sự sống sung mãn nơi Đức Kitô."Tuy nhiên, thật là nghịch lý khi nhiều người Á Châu có khuynh hướng nhìn Đức Giêsu như là một người Tây Phương hơn là một ngưới Á Châu dù Ngài sinh ra trên chính mảnh đất Á Châu. Đấy là một thách đố. Vì thế để loan báo Đức Kitô cho người Châu Á, cần phải nỗ lực khám phá lại diện mạo Á Châu của Ngài trong đó nổi bật là chính mẫu mực loan báo Tin Mừng của Ngài cho dân tộc mà Ngài thương yêu và phục vụ.
          Một nỗ lực như thế thật xứng với lời ca tụng của Isaia "Đẹp thay trên đồi núi, bước chân người loan báo tin mừng, công bố bình an, người loan tin hạnh phúc, công bố ơn cứu độ... họ sẽ được thấy tận mắt Đức Chúa đang trở về Xion".
Lm. Giuse Nguyễn Hữu Duyên

 

GS-279: Một hài nhi đã sinh ra cho chúng ta

Suy niệm lễ Giáng Sinh
 

Lễ Giáng Sinh và Năm Mới 2008 đã gần đến. Nhân dịp này xin gởi đến bạn lời nguyện chúc chân: GS-279

Lễ Giáng Sinh và Năm Mới 2008 đã gần đến. Nhân dịp này xin gởi đến bạn lời nguyện chúc chân thành : Nguyện xin Chúa Giêsu là Vua Hoà Bình ban xuống trên bạn và gia đình niềm vui và sự bình an, vi Ngài Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Khi có Chúa ở cùng, chắc chắn mọi ngày trong đời sống đều là thời gian của ân sủng và tình thương.
MỘT HÀI NHI ĐÃ SINH RA CHO CHÚNG TA
(Is 9,1-6) Trong các trình thuật ngôn sứ của Cựu Ước, Is 9,1-6 là lời sấm thích hợp rõ ràng đã khơi lên mầu nhiệm Giàng Sinh. Vào năm 734-732, các đạo quân Assyrie đánh chiếm vùng rộng lớn của vương quốc Miền Bắc, đất nước rơi vào ách nô lệ lầm than (x.2V15,29). Vương quốc Giuđa Miền Nam bé nhỏ chỉ giữ được một phần độc lập nhờ chấp nhận quyền bảo hộ của vương quốc Assyrie. Dân chúng phải nếm nhục nhằn của cảnh tôi đòi (Is 8,23). Sự tang tóc và cảnh tôi mọi làm cho những miền này trở thành “miền tăm tối”. Gợi lại hình ảnh “một dân đi trong tối tăm” (Is 9,1), ngôn sứ nghĩ đến một đoàn người bị phát lưu đang tiến về miền đất lưu đày. Nhưng Thiên Chúa sẽ ra tay cứu thoát Dân Người, sẽ ban tặng “một quyền bính rộng lớn” và “một nền hoà bình vô tận trên ngai Đavit và vương quốc của Người” (Is 9,6). Niềm hy vọng của dân tộc về một vương quốc lý tưởng được thực hiện bởi một Hài Nhi “ vì một trẻ thơ chào đời để cứu ta, một người con đã ban tặng cho ta. Người gánh vác quyền bính trên vai, danh hiệu của Người là Cố Vấn kỳ diệu, Thần Linh dũng mãnh, người cha muôn thửơ. Thủ Lãnh hoà bình.” (Is 9,5).
Lời sấm trên đây là một ám chỉ về việc sinh ra của một vị thừa kế ngai báu và sự thực hiện “dấu Emmanuel” đã được nói đến trong (Is 7,14). Đối với ngôn sứ, việc Đấng sinh ra này đã là một biểu lộ quan phòng về sự vững bền của lời hứa cho triều đại Đavit (x. 2Sm 16). Giữa những thảm cảnh và nổi khắc khoải của quốc gia, Isaia đã tuyên xưng niềm tin của mình vào việc xuất hiện của vị vua lý tưởng. Niềm tín thác của ngôn sứ vào lòng trung tín của Yahvê thật lớn lao. Trái với những kẻ chán chường, những kẻ hoài nghi hay những người chỉ muốn tìm sự trợ lực nơi những liên minh trần thế, vị ngôn sứ nhắc lại tính hiện thực trường tồn của sự lựa chọn : bất chấp những nổi thăng trầm hiện tại, niềm tin của Isaia vào Thiên Chúa Giao Ước đã làm cho ông dự đoán thấy sự viên mãn đáng mong ước của quốc gia.
Bài thơ Is 9,1-6 được linh hứng nên đã được đem vào dòng liên tục của truyền thống Kinh Thánh; nó chuẩn bị cho những mạc khải sau này và soi sáng cho niềm hy vọng của Dân Chúa về Đấng Thiên Sai. Bài thơ loan báo sự xuất hiện của Chúa Giêsu và vương quốc thiêng liêng của Người. ( theo Joseph Ponthot “Un enfant nous est né”). Phụng vụ ngày lễ Giáng sinh đã ưu tiên chọn lựa bài thơ Isaia nhằm hướng cộng đoàn về Tin mừng trọng đại : Hôm nay Đấng Cứu độ đã sinh ra cho anh em trong thành Vua Đavit, Người là Đấng Kitô Đức Chúa (Lc 2,11). Dấu chỉ để nhận ra Người là : Một trẻ sơ sinh bọc tả, nằm trong máng cỏ (Lc 2,12). Từ nay,Thiên Chúa không còn đến với con người qua trung gian, giai đoạn ông chủ vườn nho không còn sai đầy tớ hay người giúp việc đi kêu mời, nhưng là sai người con duy nhất (Lc 19,10-15), giai đoạn Con Một Thiên Chúa được tặng ban cho nhân loại. Tình yêu Thiên Chúa không chỉ là lời hứa mà bằng chính nghĩa cử cao đẹp “Giêsu-Đấng Cứu Thế” nhập thể theo thánh ý Chúa Cha và vì yêu thương nhân loại. Từ nay, lời hứa cứu độ đã được thực hiện nơi Một Hài Nhi đã sinh ra. Lời hứa ngọt ngào từ thưở địa đàng khi Nguyên Tổ sa ngã đánh rơi khỏi tầm tay trái táo hạnh phúc (St 3,15). Rồi trải qua hàng ngàn năm bằng sự loan báo của các Ngôn sứ, Thiên Chúa vẫn mãi lời hứa tình yêu cứu độ. Một Hài Nhi đã sinh ra là điểm nhấn vĩ đại đành dấu lịch sử Tình Yêu Thiên Chúa.
Đứng trước hang đá máng cỏ, nơi có Hài Nhi, Đức Mẹ, Thánh Giuse, các mục đồng, các bò lừa, chắc hẳn mỗi người luôn tự hỏi :
-Tại sao Thiên Chúa lại chọn sinh ra bởi Maria, một thôn nữ vô danh tiểu tốt mà không chọn sinh ra bởi một công chúa thuộc hoàng tộc giàu sang phú quý?
-Tại sao lại chọn Giuse làm cha nuôi, một bác thợ mộc quá đỗi tầm thường ?
-Tại sao Chúa lại không chọn sinh ra nơi cung điện nhà vua lầu son gác tía mà lại chọn sinh ra nơi hang bò lừa ?
-Tại sao Chúa lại không chọn sinh ra ở thủ đô Giêrusalem huy hoàng tráng lệ mà lại chọn sinh ra ở làng Bêlem bé nhỏ ?
-Tại sao Thiên Chúa làm người và làm một trẻ thơ ? Và còn nhiều câu hỏi tại sao trước Một Hài Nhi đã sinh ra. Tìm cách giải đáp là tìm cách tiếp cận mầu nhiệm Nhập Thể, mầu nhiệm Giáng Sinh. Thiên Chúa toàn năng, toàn trí, Thiên Chúa siêu việt muốn tự bộc lộ mình là một Thiên Chúa yếu ớt, bé nhỏ, mong manh, không quyền lực, không sức mạnh trong tay, cần được che chở, bảo vệ cũng như cần được chăm sóc dưỡng nuôi. Thiên Chúa làm người và làm một trẻ thơ chính là để yêu thương và hoà đồng, trở nên dễ gần gũi, ai cũng có thể gặp Ngài, ai cũng có thể tìm thấy niềm vui và bình an nơi Ngài.
Theo Thánh Kinh, biến cố lớn nhất đánh dấu lịch sử nhân loại là Thiên Chùa làm người vì tình yêu. Bởi đó : “Nếu bạn đi tìm những bài học luân lý, tìm cách đối nhân xử thế, tìm thầy dạy luân thường đạo nghĩa, tìm định giá cho đời sống nhân bản, bạn hãy đến học cùng Đức Khổng Tử. Nếu bạn tìm một hệ thống triết học vững chắc nhằm cải đổi thế giới hay một chuỗi suy tư có thứ tự lớp lang, mời bạn tìm học nơi triết gia Platon. Nếu bạn tìm con đường tu vĩ đại để thành chánh quả, xin giới thiệu bạn tìm đến Đức Phật. Còn nơi thầy Giêsu Chí Ái, bạn sẽ tìm thấy một tình yêu chân chính, tình yêu của một Thiên Chúa hoá thân làm người, sống như con người để chia sẽ và thông cảm với con người, “tình yêu của người hy sinh tính mạng vì người mình yêu”. Tình yêu ấy là cuộc “cách mạng tình thương” đã canh tân thế giới Hy-La, đã biến đổi tận gốc rễ và lột xác những con người cũ, đã đem đến cho con người một thang giá trị mới, một xã hội mới. Tình yêu ấy làm triển nở, sung mãn và làm cho sống vĩnh hằng”. (x. Nội san liên tu sĩ, số 24, trang 32). Một Hài Nhi đã sinh ra vào một đêm đông giá rét trong hang bò lừa ngoài đồng hoang nghèo hèn, dưới mắt người đương thời không những bình thường mà còn tầm thường hơn những hài nhi khác. Nhưng sự chào đời của Hài Nhi này lại là một niềm vui cao cả, một sự kiện đặc biệt của lịch sử nhân loại, là sự “hoàn tất” Lời Hứa của Thiên Chúa, là trung tâm của nhiệm cuộc cứu độ của Thiên Chúa, là đỉnh cao và là chủ đích của Thánh Kinh. Một Hài Nhi đã sinh ra mang một ý nghĩa hiện sinh sâu sắc : Thiên Chúa trở nên một trẻ thơ. Ngắm nhìn trẻ thơ Giêsu trong máng cỏ nghèo hèn, chúng ta nghĩ tới bao trẻ thơ sinh ra hôm nay đang chịu cảnh đói nghèo thiếu thốn. Thiếu thốn vật chất, thiếu thốn tình thương. Thiếu thốn nhà cửa, thiếu thốn một mái gia đình. Giá lạnh của rét mướt và giá lạnh bởi thiếu vòng tay ôm ấp vỗ về. Hài Nhi Giêsu ấm áp trong tình thương của cha mẹ, bàn tay nâng niu của Đức Mẹ, ánh mắt âu yếm của Thánh Giuse. Đó là bầu khí gia đình đầm ấm. Gia đình là chiếc nôi êm ái vỗ về giấc ngũ trẻ thơ. Gia đình là lương thực bồi bổ, là thành trì bảo vệ tuổi thơ. Không có cảnh nghèo nào khốn cùng hơn cảnh trẻ thơ thiếu tình thương. Không có mái nhà nào rách nát hơn cảnh gia đình tan vỡ. Không có mùa đông nào lạnh giá hơn mùa đông của trái tim. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã gặp gỡ các gia đình – Năm Thánh với các Gia Đình diễn ra tại Roma ngày 14-15/10 năm 2000, trong khung cảnh Năm Toàn Xá. Chủ đề được Hội Đồng Giáo Hoàng Đặc Trách Gia Đình đưa ra trao đổi suy tư là “Con cái là mùa xuân của gia đình và xã hội”. Vào buổi bình minh của ơn cứu độ, sự ra đời của một Hài Nhi – Đấng Cứu Độ được công bố như một tin mừng trọng đại (Lc 2,10-11). Niềm vui gắn liền với sự ra đời của Đấng Thiên Sai như vậy đã trở nên như nền tảng và sự viên mãn của niềm vui đi kèm theo sự ra đời của bất cứ trẻ em nào (x.Ga 16,21). Nếu đúng thực một em bé là niềm vui không những cho cha mẹ mà cũng là niềm vui cho Hội Thánh và cho toàn thể xã hội nữa, thì cũng đúng thực, vào thời đại chúng ta, tiếc thay, có nhiều trẻ em ở những miền khác nhau trên thế giới, đang phải chịu đau khổ và bị đày đoạ : các em chịu đói và khổ cực, phải chết vì bệnh tật và thiếu dinh dưỡng, các em ngã xuống vì là nạn nhân của cuộc chiến tranh, các em bị cha mẹ bỏ rơi và bị kết án sống màn trời chiếu đất, bị tước mất sự ấm cúng của gia đình, các em phải chịu nhiều hình thức bạo hành và áp bức do người lớn gây nên. Vì thế, Đức Thánh Cha mời gọi các gia đình hãy hướng về Thánh Gia : gia đình Nazareth cũng chiếu toả một ánh sáng hy vọng trên thực tế của gia đình ngày nay. Tại Nazareth đã sinh ra mùa xuân đời sống nhân loại của Con Thiên Chúa, ngay lúc Người đã chịu thai bởi công trình của Chúa Thánh Thần trong cung lòng trinh khiết của Đức Maria. Giữa những bức tường của ngôi nhà Nazareth luôn mở rộng tiếp đón mọi người, tuổi thơ của Đức Giêsu đã diễn ra trong niềm vui như thế, mầu nhiệm này dạy cho mỗi gia đình hãy sinh sản và giáo dục con cái mình bằng cách cộng tác cách kỳ diệu vào công trình của Đấng Tạo Hoá và đem lại cho thế giới, nơi mỗi người con một nụ cười mới. ( x. phần dẫn nhập).
Một Hài Nhi đã sinh ra là Đấng Cứu Thế, là Tin mừng trọng đại cho nhân loại. Nguyện xin Hài Nhi Giêsu giúp chúng con được ơn đón nhận Tin mừng sự sống như một hồng ân luôn mới mẻ, niềm vui cử hành hồng ân ấy với lòng biết ơn trong suốt cả cuộc đời; xin cho chúng con lòng can đảm làm chứng cho Tin mừng sự sống cách bền bỉ và tích cực, để cùng với tất cả mọi người thiện chí xây dựng nền văn minh chân lý và tình thương, hầu chúc tụng và tôn vinh Thiên Chúa, Đấng Tạo Hoá hằng yêu thương sự sống. Amen ( Lời cầu nguyện trong Thông điệp Tin mừng sự sống).
LM. Giuse Nguyễn Hữu An

 

GS-280: Hòa mình chung sống

(Ga 1-18)
Suy niệm lễ Giáng Sinh
 

Sau lời giới thiệu của Đức Giám mục đặc trách quần đảo Molokai, cả nhà thờ xôn xao, thì: GS-280

Sau lời giới thiệu của Đức Giám mục đặc trách quần đảo Molokai, cả nhà thờ xôn xao, thì thầm to nhỏ. Đoạn mọi ngươì đứng lên trông như những thây ma còn sống, như những quái thai mất hẳn dáng người, lần lượt từng người một, tiến đến bên cha Damien để sờ vào mặt, vào tay, vào áo quần của Cha khiến Cha sởn cả tóc gáy. Thấy thế, Đức Giám mục mới cắt nghĩa cho cha Damien hay rằng những người phong cùi này không thể tưởng tượng được một người ở phương xa, không huyết thống bà con gì với họ mà tự nhiên đến đây phục vụ họ. Họ không tin vào mắt mình nên mới đến sở mó vào cha coi thử cha mắt bệnh như họ không.
Và rồi cuộc sống đã minh chứng không những chỉ riêng với những người phung cùi ở đảo Molokai mà còn với toàn thể mọi người rằng Cha Damien đã hòa đồng cùng ăn cùng ở ở cùng làm và cùng chế tmột thứ bệnh như họ. Đó là một tấm gương mà ai cũng cảm phục ca ngợi hết lòng.
Hôm nay chúng ta cũng đã chứng kiến tận mắt một cuộc giới thiệu về một con người đến cắm lều và cư ngụ giữa chúng ta để chia sẻ ngọt bùi, gánh vác mọi nỗi oan khiên đau khổ của chúng ta, thế nhưng chúng ta đâu có xôn xao ngạc nhiên và vui sướng như những người phong cùi ở đảo Molokai, đâu có muốn sờ mó đụng chạm đến Người để chiêm ngưỡng ái mộ.
Hơn nữa sự hòa mình chung sống của CON NGƯỜI này với chúng ta đâu phải chỉ diễn ra trong phạm vị giữa con người với con người mà thôi, nhưng vượt lên trên một mức độ khó hiểu giữa vô cùng với hữu hạn, giữa thánh thiện tuyệt đối giữ vô cùng với hữu hạn, giữa thánh thiện tuyệt đối với tội lỗi xấu xa, giữa Đấng Tạo Hóa với loài thụ tạo. Ngoài ra sự hòa mình này không phải chỉ thu hẹp ảnh hưởng trên một số người nhỏ, nhưng với toàn nhân loại, không phải chỉ cảm thông bên ngoài hay giúp đỡ giới hạn, nhưng hoàn toàn cho đi, hoàn toàn phục vụ, hoàn toàn yêu thương đến cùng.
Là Kitô hữu, chúng ta không lạ gì CON NGƯỜI đó, không thể không biết cuộc hòa mình chung sống đó. Điều quan trọng mà mỗi người chúng ta có thể thực hiện là cố gắng bắt chước kiểu sống đó để hoàn thiện cuộc sống của mỗi người ở trần gian này. Muốn hòa mình chung sống vừa hữu ích cho bản thân vừa phục vụ đắc lực cho người khác thì điều kiện tiên quyết là phải có một tình yêu tận hiến hết mình, vô vị lợi như Chúa Hài Đồng:
+ Chúa Kitô đã nhập thể và sống giữa trần thế, giữa đồng loại thì người Kitô hữu không được chối bỏ hay chạy trốn khỏi cảnh huống đời mình, nhung phải cùng ăn cùng làm cùng sống, cùng xây dựng với mọi người để người ta nhận ra dung nhan Đấng Cứu Thế.
+ Chúa Kitô vừa là người vừa là Thiên Chúa nghĩa là người kitô hữu hòa mình chung sống để phục vụ, trao ban, nhưng không bán rẻ lương tâm, không a dua theo hay đồng lõa theo điều xấu xa.
+ Chúa Kitô vừa ánh sáng soi đường vừa là chân lý dẫn lối thì người kitô hữu phải là nhân chứng niềm tin trong mọi môi trường sống của nghề nghiệp, của chức vụ và của những giao tế hằng ngày.
Để kết luận mỗi người chúng ta tự hỏi nếu Đức Kitô sống cuộc sống của tôi hôm nay thì Ngài sẽ làm gì, nói gì? Đây là vấn nạn thiết yếu như là kim chỉ nam để tôi cố sống năm nay.
Quê Ngọc, Đừng Chế Giễu Chúa, tập một.

 

GS-281: Cây Thập giá trong mầu nhiệm Giáng Sinh

Suy niệm lễ Giáng Sinh
 

Có lẽ sẽ gây ngạc nhiên nhiều cho không ít người khi nói: "Cây thập giá trong mầu nhiệm: GS-281

Có lẽ sẽ gây ngạc nhiên nhiều cho không ít người khi nói: "Cây thập giá trong mầu nhiệm giáng sinh". Người ta quen nhắc đến thập giá, suy nghĩ về thập giá trong mùa chay, đặc biệt là tuần Thánh. Người ta cũng chỉ quen suy niệm về thập giá khi nhìn vào đau khổ, hoặc đối diện với đau khổ. Không biết có mấy ai nhìn thập giá khi đặt mình sống mầu nhiệm giáng sinh? Bởi vì từ những lời Kinh Thánh đến phụng vụ của Giáo Hội; từ tâm thức của Giáo Hội đến đời sống của xã hội đều nhìn mùa giáng sinh bằng ánh mắt của niềm vui tưng bừng. Niềm vui ấy đối với đa số người hình như còn lấn át cả đêm phục sinh. Như vậy nói đến thập giá trong mầu nhiệm giáng sinh có phải là lạc điệu?
1- Neu hiểu thập giá là sự đau khổ thì: Thập giá đã xuất hiện từ ngàn xưa
" Ngày nguyên tổ bị tước mất hạnh phúc nguyên khởi ở địa đàng do tội, thì ngay ở điểm bị tước mất hạnh phúc đã là thập giá. Hạnh phúc tột cùng bị thay thế bằng bất hạnh quá sức: Đất để canh tác thì bị nguyền rủa, phải đổ mồ hôi, sót con mắt mới có bánh ăn; lao nhọc cả một đời rồi sẽ chết, sẽ trở về bụi đất (St 3, 8- 19).
Nhưng cũng từ sự mất mát ấy, bình minh ơn cứu độ bắt đầu ló dạng: Lời Thiên Chúa hứa cứu chuộc được phác khởi: "Ta sẽ đặt mối thù giữa dòng giống ngươi (kẻ chủ mưu của tội) và dòng giống người phụ nữ. Dòng giống đó sẽ đánh vào đầu người" (St 3, 15).
" Trải dài trong lịch sử Cựu ước, ơn cứu chuộc không ngừng được nhắc đi, nhắc lại mãi cho đến thời cận Tân ước, đặc biệt là thời sách tiên tri Isaia ra đời. Trong đó Thiên Chúa báo trước ơn cứu chuộc đã đến gần, Thiên Chúa sẽ tha thứ tội lụy muôn dân, bình an sẽ sớm đến. Nhưng để chuộc lại sự bình an cho muôn dân, thập giá bắt đầu xuất hiện nơi khuôn mặt người Tôi trung chịu đau khổ.
2- Nếu hiểu thập giá là sự bình an thì: Thì thập giá đã xuất hiện trong mầu nhiệm giáng sinh
Và đến lúc ơn cứu chuộc của lời hứa bắt đầu được thực hiện, lúc mà Đức Maria, một người mẹ trần gian sinh ra Đấng là Thiên Chúa của mình, Thiên Chúa của vũ trụ và gọi Đấng ấy là con, thì ngay chính lúc ấy, thiên thần lại hát vang trời: "Vinh danh Thiên Chúa trên trời bình an dưới thế cho người Chúa thương".
Dẫu cho khi Thiên Chúa làm người, trần gian được bình an, ơn cứu chuộc mà Thiên Chúa chuẩn bị từ xa xưa trở thành sự thật, được cụ thể nơi một con người mang tên Giêsu, thì thập giá cũng đã xuất hiện từ đó: Thiên Chúa làm người đã sinh ra, nhưng không phải trong đền đài, không phải nơi cung điện nhà vua, cho nên ai tìm Thiên Chúa làm người ở những nơi sang trọng ấy sẽ không gặp Người. Bằng chứng là ba nhà đạo sĩ đã đến cung điện vua Hêrôđê và đã không gặp Người. Thiên Chúa làm người sinh ra ở chốn nghèo hèn, chỉ có hang đá làm nhà, máng cỏ làm nôi. Thiên Chúa làm người trong thân phận của một bé thơ yếu đuối…
Thập giá vẫn tiếp tục xuất hiện trong mầu nhiệm giáng sinh. Khi mà tiếng hát "Vinh danh Thiên Chúa trên trời bình an dưới thế cho người Chúa thương" của thiên thần còn chưa dứt, thì Đức Maria đã bồng con chạy trốn vì bạo vương Hêrôđê đang tìm giết hại. Và ông ta đã giết thật, dù không thể giết Thiên Chúa, thì cũng đã giết hàng loạt trẻ em do thái.
Thập giá đã xuất hiện từ ngàn xưa. Thập giá vẫn xuất hiện trong cuộc đời. Bởi đó thập giá ngang qua mầu nhiệm giáng sinh không là điều khó hiểu. Hướng tới niềm vui của mùa giáng sinh, mà nghĩ đến "cây thập giá trong mầu nhiệm giáng sinh" cũng là điều dễ hiểu. Điều quan trọng là làm sao tìm được bình an khi vác thập giá cuộc đời?
3- Nếu hiểu thập giá là sự cứu chuộc thì: Bình an thập giá cần trong đời người
Trong niềm vui lớn lao của mầu nhiệm giáng sinh, vẫn xuất hiện bóng dáng của thập giá, thì trong đời thường chắc chắn không vắng bóng thập giá.
Nói đến thập giá là nghĩ ngay đến đau khổ, là bất an, dằn co, thiếu thốn… Vậy làm sao để đạt được bình an?
Lời Chúa Giêsu nói trong bữa tiệc ly soi dẫn chúng ta: "Thầy ban BÌNH AN CỦA THẦY cho các con. Thầy ban KHÔNG NHƯ THẾ GIAN ban tặng" (Ga 14, 27). Cũng gọi là bình an, sao lại phân biệt "của Thầy", "của thế gian"? Vậy "bình an của Thầy" là bình an gì, như thế nào mà lại "không như thế gian"?
Suy nghĩ về thập giá trong mầu nhiệm giáng sinh, cho ta khám phá ra "bình an của Thầy".
Qua lời thiên thần, Thiên Chúa làm người đã ban bình an. Cùng lúc ban bình an ấy, Người cũng dạy ta vác thập giá mà chính Người đã chấp nhận từ thuở mới sinh làm người. Hóa ra bình an mà Chúa Giêsu dạy là bình an thập giá.
Trong bữa tiệc ly, trước lúc chịu tử nạn, Chúa ban bình an cho các môn đệ để các ông đủ nghị lực đối diện với cuộc tử nạn của Người, càng là bằng chứng cho thấy bình an của Chúa là bình an thập giá. Cũng chính vì thế mà nó không giống bình an thế gian ban tặng.
Bình an thập giá cũng là một thái độ nội tâm. Một thứ bình an của tâm hồn có thể chấp nhận và chịu đựng mọi thử thách trong cuộc sống. Người đời thường nghĩ, bình an là khi họ hạnh phúc, họ vui tươi, không vướng vào đau khổ. Bình an ấy cần, nhưng không bền vững: nay còn, mai mất. Chỉ có bình an nội tâm mới bền vững. Nó quan trọng và cần thiết. Thập giá trong cuộc đời là một thực tế. Muốn trốn chạy cũng khó thoát. Có được bình an nội tâm thì đối diện với thập giá, ta sẽ bình tĩnh hơn, đón nhận dễ dàng hơn. Bình an nội tâm để đón nhận thập giá, không những giúp ta bớt chán nản, không phàn nàn Thiên Chúa, mà ngược lại còn vững niềm tin hơn, vững lòng trông cậy hơn.
Trong mầu nhiệm giáng sinh, nếu Chúa Giêsu chấp nhận thập giá của Người, thì Đức Maria, thánh Cả Giuse cũng chung vai vác thập giá cùng đi bên cạnh con mình. Dẫu gian nan, Mẹ Maria, thánh Cả Giuse vẫn một lòng tin tưởng trẻ thơ ấy là Chúa, và vẫn một lòng yêu mến Thiên Chúa đến cùng.
Chấp nhận bình an của thập giá, và theo Chúa trong lòng tin và tình mến như thế, thập giá cuộc đời sẽ trở thành phương thế cứu chuộc ta.
4- Linh mục, người trao ban bình an
Sống giữa cộng đoàn dân Chúa và cả những người chưa biết Chúa, linh mục trở thành mẫu gương sống đức tin cho mọi người. Đức tin đòi người linh mục chấp nhận thập giá để sống bình an: bình an của thập giá - bình an trong tâm hồn, sẽ giúp linh mục thông cảm với anh chị em, làm cho linh mục gần gũi mọi người, mọi người cũng sẽ không ngại ngần khi cần gặp linh mục.
Chấp nhận bình an thập giá linh mục sẽ chấp nhận sống nghèo khó, sống dấn thân như Chúa Giêsu để phục vụ con người, phục vụ Giáo Hội và phụng sự Chúa.
Bình an thập giá sẽ làm cho linh mục dễ nên thánh hơn khi biết chấp nhận và thánh hóa sự độc thân của mình, biết chấp nhận và thánh hóa những hiểu lầm, những chống đối đến từ phía người khác. Biết chấp nhận thập giá như thế, người linh mục sẽ không nuôi oán hận, mà dễ tha thứ hơn.
Mỗi lần dâng thánh lễ, dang tay ban bình an cho anh chị em của mình, linh mục hãy trao ban bằng tất cả tâm hồn bình an mà mình đã gắn bó với Chúa sau khi đã chìm đắm trong cầu nguyện, và giờ đây nài xin Thiên Chúa tuôn đổ bình an ấy xuống trên anh chị em. Linh mục cũng hãy ý thức rằng, mình cần có bình an nội tâm sâu lắng để trở thành nơi nương tựa và nâng đỡ đức tin cho những anh chị em gặp bất an trong cuộc sống của họ. Linh mục hãy dâng thánh lễ một cách ý thức và sốt sắng để thánh lễ trở thành nơi gặp gỡ bình an thực sự giữa cộng đoàn dân Chúa.
5- Một lời cầu nguyện
Lạy Chúa Giêsu, xin cho con ý thức từng ngày để đừng xây cung điện, đền đài trong tâm hồn mình là mọi thứ tham vọng: tham vọng quyền lực, tham vọng vật chất, tham vọng dục tính, tham vọng nổi nang. Herôdê vì ngự trong cung điện giàu sang quý phái và xây cho mình quá nhiều đền đài tham vọng, cho nên ông trở thành kẻ vô tâm, độc đoán đến nỗi độc ác. Chúa không ngự trong những cung điện, đền đài ấy.
Vì thế, lạy Chúa Giêsu, xin cho con biết xây dựng lòng mình thành hang đá Bêlem, một hang đá tâm hồn khiêm nhu, nghèo hèn, không tiếng tăm, không quyền lực, biết xa lánh những cám dỗ thấp hèn. Với tâm hồn hang đá như thế, con tin, Chúa sẽ yêu thích ngự vào.
Lạy Chúa Giêsu, ngay trong mầu nhiệm giáng sinh, Chúa đã làm đảo ngược tất cả: cung điện dù nguy nga đến đâu, đền đài dù tráng lệ cách mấy, lại không có chỗ chứa đựng Đức Chúa được tuyên xưng là Chúa các chúa, Vua các vua; Còn hơn thế nữa: là Vua vũ trụ! Vậy mà chỉ cần một hang đá Bêlem khiêm cung lại có thể chứa đựng Đấng quyền năng vô biên ấy. Hóa ra hang đá trở thành cung điện, còn cung điện chỉ là một thứ hang đá nghèo.
Và như thế, khi chiêm ngắm mầu nhiệm giáng sinh và nhận ra thập giá trong mầu nhiệm ấy, chúng con hiểu được rất nhiều về ý nghĩa của sự giàu trong cái nghèo. Hiểu được như thế lòng chúng con rất bình an, một sự bình an nội tâm để chúng con mạnh mẽ tiếp tục dấn bước giữa đời. Amen.
Lm. Vũ Xuân Hạnh 2008

 

GS-282: Giáng Sinh và niềm vui an bình

Lễ Giáng Sinh 2007
 

Mỗi độ Giáng sinh về, không phân biệt gì tôn giáo, mọi người hầu như ai ai cũng nao nức kiếm: GS-282

Mỗi độ Giáng sinh về, không phân biệt gì tôn giáo, mọi người hầu như ai ai cũng nao nức kiếm tìm cho mình một ý nghĩa nào đó trong mùa Giáng Sinh. Và điều mà mọi người nghe nói tới nhiều nhất đó là niềm vui an bình.
Thật vậy, nếu Giáng Sinh không đem lại cho ta một ý nghĩa tinh thần trên, thì việc cử hành những nghi lễ, việc tổ chức và trang hoàng bên ngoài không có ý nghĩa.
Có gì hào hứng của một đêm trường giữa mùa Đông giá lạnh để mà vui? Tuyết rơi, lạnh lẽo và giá buốt. Những cái đó chỉ làm cho con người thêm tê cóng và rét run. Ai có thể vui được trong hoàn cảnh như thế.
Có gì hấp dẫn trước một cái hang bò lừa ngoài đồng quê Belem để mà tưởng nhớ? Chật chội, hôi tanh, và ẩm thấp. Những thứ này chỉ là dấu hiệu của nghèo nàn, túng thiếu. Và đây chính là hình ảnh, là kỷ niệm không mấy may mắn cần quên mau để có can đảm nhìn về phía trước mà vui sống.
Và có gì khác người nơi một Hài Nhi mới sinh nằm trong máng cỏ, bên Hài Nhi là thân mẫu và nghĩa phụ mà cả hai đều là nghèo nàn. Hình ảnh một gia đình nghèo, là hình ảnh mà có lẽ chúng ta ngày nay được nhìn thấy nhiều nhất; đặc biệt, tại các nước kém mở mang và đang bị chiến tranh tàn phá. Chính vì cái nghèo đó, mà Giuse và Maria đã bị từ chối, bị ruồng bỏ một cách phũ phàng, bất đắc dĩ phải tạm trú ở một cái hang giữa đồng không mông quạnh. ). Và trong hoàn cảnh ấy, Ngôi Lời hạ sinh và làm người! Hình ảnh nghèo túng, cơ cực và bị ruồng bỏ ấy thánh Luca đã ghi lại như sau: "Trong khi ông bà ở đó bà đã tới đủ ngày tháng. Bà sinh con trai đầu lòng, quấn trong tả và đặt nằm trong máng cỏ, bởi các quán trọ đều đầy người, nên không còn chỗ cho hai ông bà" (Luca 2:7). Không còn chỗ cho cặp vợ chồng nghèo và trong hoàn cảnh thai nghén như Giuse và Maria, chứ chưa chắc không còn chỗ cho những cặp vợ chồng giầu có, sang trọng!
Sinh hoạt xã hội con người thời đại nào cũng giống nhau: "trọng phú khinh bần". Một cách tương tự, và ngay trong xã hội hôm nay cũng đã có nhiều em bé được sinh ra trong những hoàn cảnh túng thiếu, nghèo khổ của cha mẹ mà cả mẹ lẫn con đều không được ai đoái hoài tới. Không phải tìm kiếm đâu xa, ngay trên đất nước, nơi ta đang sinh sống, nhân vị và nhân phẩm con người cũng đang bị chà đẹp và coi thường. Nhiều phụ nữ, em nhỏ gái đã bị bán để trở thành những con vật làm nô lệ tình dục. Do ảnh hưởng của "nền văn hóa sự chết", hằng triệu triệu thai nhi đã bị giết hại, bị loại bỏ ngay trong lòng mẹ mình. Những hình ảnh này mỗi khi nhìn thấy hoặc nghĩ tới đã làm nhiều người thiện chí phải xúc động, nghẹn ngào!
Như thế, niềm vui của Giáng Sinh rõ ràng mang ý nghĩa tâm linh. Một ý nghĩa vượt trên những lý lẽ và lối giải thích thông thường của con người. Một ý nghĩa dẫn ta về với những giá trị siêu nhiên, vĩnh cửu. Chính trong đêm Chúa hạ sinh, ca đoàn thiên quốc đã ca mừng Đấng Cứu Thế giáng trần như sau: "Vinh danh Thiên Chúa trên trời cao thẳm." Và đồng thời mừng chúc những ai đang thành tâm, thiện chí mong mỏi, chờ đợi Đấng Thiên Sai: "Bình an dưới thế cho người thiện tâm" (Luca 2: 14).
Món quà mà Thượng Đế ban cho nhân loại trong đêm Ngôi Hai giáng trần là sự bình an. Và nó chỉ tới với những ai thiện tâm: "Bình an dưới thế cho người thiện tâm" (Luca 2: 14). Bình an và người thiện tâm. Tâm hồn thiện chí và niềm vui bình an. Đó là hai mặt của đồng tiền. Là điều kiện và cũng là hoa trái của món quà thiên quốc mà Chúa Giêsu Hài Đồng tặng ban cho nhân loại. Không có thiện chí, không thành tâm con người không cảm nghiệm và không thấu hiểu, yêu quí và hạnh phúc với món quà này. Ngược lại, món quà này cũng không có trong những tâm hồn thiếu thiện chí. Vì đây không phải là thứ hạnh phúc, thứ hòa bình do trí tưởng tượng của con người, và nó đến như những gì mà con người đang mơ ước hay đang kiếm tìm. Một thứ hạnh phúc và hòa bình được định nghĩa như không còn chiến tranh, không còn khủng bố, không còn bất công, không còn tham nhũng, và không còn bạo lực, không còn bị khống chế hay tù tội. Một thứ hạnh phúc căn cứ vào sự giầu có, danh giá, và quyền lực. Hay một thứ hạnh phúc dựa vào sức khỏe, sắc đẹp, sự thông minh, và thành công.
Thực ra bình an không phải là hòa bình, và cũng không phải là hạnh phúc. Bình an là nguyên nhân, còn hòa bình và hạnh phúc là kết quả. Tâm hồn bình an là tâm hồn có hạnh phúc. Tâm hồn bình an là tâm hồn có hòa bình. Thế giới với những biến loạn, và xã hội với nhiều tệ trạng như hiện nay là kết quả của một lối sống và tâm hồn thiếu bình an.
Bình an có thể sánh ví như một tảng đá nằm bên bờ đại dương. Nó có thể bị sóng gió va chạm, xô đẩy, nhưng nó vẫn nguyên vị trí và không hề bị giao động. Bình an cũng giống như một cây kim nằm sâu dưới lòng đại dương. Trên mặt đại dương có thể có sóng gió, có thể có cuồng phong, nhưng cây kim vẫn không giao động và không thay đổi vị trí ở dưới đáy đại dương.
Bình an chính là cái làm cho con người hạnh phúc và sảng khoái tâm hồn, cũng như mạnh khỏe thể xác. Người có bình an luôn luôn sống vui, sống hạnh phúc với chính mình. Người có bình an luôn sống hòa bình với người khác trong mọi hoàn cảnh, mọi biến cố của cuộc đời. Họ có thể gặp đau khổ, có thể gặp túng thiếu, có thể không phải là người học rộng, hiểu nhiều hay có địa vị lớn lao trong xã hội. Nhưng trên hết, họ sống hạnh phúc với chính những gì mà họ có. Và như vậy, đối với một tâm hồn bình an thì cuộc sống này là cuộc đời đáng sống, và thế giới này chính là nơi đang cho con người nhiều cơ hội và hoàn cảnh để sống hạnh phúc, hòa bình.
Về điểm này, cả tâm lý và tâm linh đều trùng hợp khi khẳng định rằng tâm hồn bình an là một tâm hồn được chúc phúc. Tâm hồn bình an cũng là tâm hồn yêu chuộng và có hòa bình. Dĩ nhiên là không phải bằng những của cải, hoặc những điều con người có thể đo đếm hoặc cân nhắc được. Nhưng là bằng những giá trị tinh thần.
Nhiều người muốn có bình an. Nhiều người kiếm tìm an bình. Nhưng theo Tomas A'Kempi, ít người thực thi an bình. Vì nói tới sự bình an tâm hồn, là nói tới việc tuân thủ các trật tự của xã hội, của lương tri con người và của niềm tin tôn giáo một cách trưởng thành và có ý thức. Đây cũng là định nghĩa hòa bình hay bình an theo quan điểm triết học của Tomas A'quinas.
Giáng Sinh và niềm vui an bình. Chúa Giêsu đã giáng trần hơn 2000 trước, và món quà trao tặng nhân loại, Ngài vẫn không lấy lại. Dường như có vẫn quanh quẩn đây đó trong chính cuộc đời của mỗi người, và của lịch sử nhân loại. Tiếng hát các thiên sứ trong đêm mừng Chúa giáng trần phải chăng là một thức tỉnh để mỗi người và con người tìm được món quà đó. Ngay hôm nay và trong ngày kỷ niệm Chúa Giáng Trần, ngày 25 tháng 12 năm 2007 này: "Vinh danh Chúa cả trên trời. Bình an dưới thế cho người thiện tâm" (Luca 2: 14).
T.s. Trần Quang Huy Khanh 2007

 

GS-283: MỘT HÀI NHI MỚI SINH

Lễ Giáng Sinh
 

Một hài nhi mới sinh, bọc trong khăn vải và đặt nằm trong máng cỏ” (Lc 2: 12), thì có gì mà lạ: GS-283

“Một hài nhi mới sinh, bọc trong khăn vải và đặt nằm trong máng cỏ” (Lc 2: 12), thì có gì mà lạ lùng, gây ngạc nhiên. Có gì mà được coi là “tin mừng cho toàn dân” (Lc 2: 11). Không lẽ việc cha mẹ hài nhi nghèo đến độ phải trú ngụ tại một chuồng nuôi súc vật là một hình ảnh gây ngạc nhiên? Hoặc không lẽ nhìn thấy một trẻ sơ sinh trong cảnh nghèo túng, đang co ro, rét mướt trong tấm khăn mỏng, nằm giữa cái máng chứa rơm, cỏ cho bò, lừa ăn là một hiện tượng khiến cho mọi người phải vui mừng?
Thật thế, hài nhi được sinh ra trong cảnh nghèo hèn ở một chuồng nuôi súc vật, đang khóc những tiếng khóc đầu đời giữa đêm trường lạnh giá ấy chính là niềm vui của mọi người: “Đây, ta báo cho các ngươi một tin mừng đặc biệt, đó cũng là tin mừng cho toàn dân” (Lc 2: 10). Vì Hài Nhi đó không phải là một trẻ nhỏ tầm thường như những trẻ nhỏ tầm thường khác, mà là Ngôi Hai Thiên Chúa nhập thể giáng trần để giải thoát nhân loại: “Hôm nay trong thành Đavít Đấng Cứu Thế, Chúa Kitô đã sinh ra cho các ngươi” (Lc 2:11). Ngài chính là Đấng muôn dân trông đợi. Đấng mà thiên thần đã nói với Giuse trong giấc mộng: “Hỡi Giuse, con vua Đavít, đừng sợ nhận Maria về nhà làm bạn mình: vì Maria mang thai là bởi phép Chúa Thánh Thần: bà sẽ hạ sinh một con trai mà ông sẽ đặt tên là Giêsu: vì chính Ngài sẽ cứu dân mình khỏi tội” (Mt 1: 20-21).
Nhưng liệu tin mừng ấy có thu hút được sự chú ý của nhân loại như thiên thần đã nói với các mục đồng, và các mục đồng thuật lại cho mọi người hay không? Và liệu nhân loại có đón nhận tin mừng trọng đại ấy bằng một tâm tình nồng nàn và tha thiết như Maria, Giuse, Ba Vua và các mục đồng hay không? Có lẽ là không, vì sau khi nghe báo tin, các mục đồng đã đến Bêlem, gặp được hài nhi, hiểu được điều mà thiên thần đã loan báo, nhưng Thánh Kinh đã chỉ ghi nhận: “Tất cả những ai đã nghe các mục đồng thuật lại đều lấy làm bỡ ngỡ” (Lc 2:18). Bỡ ngỡ đến độ không thể tin rằng một hài nhi sinh ra trong bối cảnh nghèo như thế mà lại bảo là Đấng Cứu Thế, và sự có mặt của hài nhi lại được coi là một tin mừng cho toàn dân. Tin được điều này mới là chuyện lạ. Và phải chăng đó là lý do duy nhất khiến những ai nghe các mục đồng thuật lại biến cố giáng sinh của Hài Nhi đều hoang mang và bỡ ngỡ.
Thật vậy, cư dân Giêrusalem đã tỏ ra rất bỡ ngỡ về tin đồn ấy, nhất là khi họ truyền tai nhau tin Ba Vua Đông Phương đang có mặt tại Giêrusalem và cũng đang dò hỏi về tin tức của hài nhi: “Vua dân Do Thái mới sinh ra ở đâu. Chúng tôi thấy ngôi sao của Ngài xuất hiện và chúng tôi đến để triều bái Ngài” (Mt 2:2). Tuy nhiên, đây chỉ là cái xao động, ngỡ ngàng ngược lại với tâm trạng vui mừng, an bình như thiên thần đã loan báo. Một hình thức ngỡ ngàng, xao động vì tò mò, và vì ghen tị như vua Hêrôđê. Ông không những ngỡ ngàng, sửng sốt mà còn âm mưu tìm giết hài nhi.
Tóm lại, trong bối cảnh Thánh Kinh thật lại, ngoài Giuse, Maria, các mục đồng, Ba Vua, và sau này có Simêon và Anna, không ai trong dân chúng lúc bấy giờ tại Giêrusalem đã sung sướng, vui mừng và thiết tha đón nhận tin vui ấy. Điều này phản ảnh những lời các thiên thần đã hát trong đêm Ngài giáng trần: “Vinh danh Chúa Cả trên trời. Bình an dưới thế cho người thiện tâm” (Lc 2:14).
Thiên tâm. Đây chính là chìa khóa mở ra chân trời hạnh phúc. Yếu tố để đón nhận bình an, món quà quí giá mà Hài Nhi đã mang xuống cho nhân lọai từ trời cao. Đây cũng chính là lý do đã khiến cho Giuse, Maria, Ba Vua, các mục đồng cung kính thờ lậy, và hạnh phúc với niềm vui thiên đàng khi chiêm ngắm Hài Nhi trong máng cỏ. Là lý do giúp các ngài vượt qua được tầm nhìn của cặp mắt trần thế, để khám phá ra nơi Hài Nhi một Thiên Chúa mặc xác phàm con người. Và đó là điều mà muôn dân phải vui mừng vì giờ giải thoát đã đến. Đấng đã đến để giải thoát nhân loại khỏi ách thống trị của tội lỗi là chính Hài Nhi đó.
Ngược lại, vì không có thiện tâm, vì thiếu thiện tâm nên Hêrôđê, các thượng tế, kinh sư, ký lục, và cả dân Giêrusalem lúc bấy giờ đã xôn xao, lo lắng trước tin Hài Nhi giáng trần. Hêrôđê là người đầu tiên từ chối tin mừng ấy. Điều mà thiên thần, Giuse, Maria, các mục đồng và Ba Vua cho là tin mừng, thì Hêrôđê lại cho là một tin dữ. Và vì thế, ông đã ra tay lùng bắt để giết chết tin mừng ấy. Thế là tin mừng đã trở thành một tin dữ. Niềm vui đã trở thành nỗi buồn. Bình an đã trở thành bất an. Ba Vua đã âm thầm trở về bản quán mình. Giuse đã đem Maria và Hài Nhi qua Ai Cập lánh nạn. Các mục đồng đã trở lại với những việc làm thường ngày bên đoàn vật của họ. Bầu trời Bêlem tưng bừng với ánh sáng và đàn ca của các thiên thần nay đã trở nên vắng lặng và buồn tẻ. Tất cả chỉ vì lòng dạ con người vắng bóng thiện tâm mà Hêrôđê là một thí dụ.
Thiên Chúa đã thương yêu nhân loại, thương yêu từng người trong chúng ta. Ngài không còn chờ đợi thêm được nữa, nên đã giáng trần để ở giữa và ở với con cái loài người, để cứu chuộc và đem con người về lại với vai trò làm con Thiên Chúa. Và đây chính là tin mừng trọng đại đối với toàn dân và mỗi người. Nhưng ngày nay liệu cũng sẽ có mấy ai đón nhận được tin mừng ấy. Có mấy người nhìn và hiểu được con trẻ sơ sinh kia chính là Cứu Chúa của mình. Là người sẽ giải thoát mình khỏi tội. Là Đấng Cứu Thế muôn dân đang mong đợi.
Muốn tin nhận Ngài, muốn nhìn ra Ngài, chúng ta phải như Maria tin rằng “lời Chúa phán sẽ được thực hiện”. Như Giuse đã “thực hiện như lời Thiên Thần Chúa truyền”. Như các mục đồng đã “hối hả tới nơi và gặp thấy Maria, Giuse và Hài Nhi”. Tóm lại, chúng ta phải bắt chước đức tin và lòng mến mạnh mẽ của Maria và Giuse. Phải có tâm hồn đơn sơ và thành thật như các mục đồng mới hy vọng khám phá và tìm gặp được Chúa, mới đón nhận được bình an mà Ngài đã hứa ban, và mới có thể trở thành những kẻ rao giảng, nói về Ngài cho tất cả anh chị em mình: “Đây, ta báo cho các ngươi một tin mừng đặc biệt, đó cũng là tin mừng cho toàn dân, hôm nay Đấng Cứu Thế, Chúa Kitô đã sinh ra cho các ngươi trong thành Đavít. Và đây là dấu để các ngươi nhận biết Ngài: một hài nhi mới sinh, bọc trong khăn vải và đặt nằm trong máng cỏ” (Lc 2: 10-12).
T.s. Trần Quang Huy Khanh

 

GS-284: CON CHÚA LÀM NGƯỜI

Lễ giáng sinh
 

Trong ngôi nhà thờ (Holy House of Loreto) Đức Mẹ tại Loreto, nước Ý có chữ đề: “Hic Verbum: GS-284

Trong ngôi nhà thờ (Holy House of Loreto) Đức Mẹ tại Loreto, nước Ý có chữ đề: “Hic Verbum caro factum est - Ngôi Lời đã nhập thể làm người”. Tuy ngôi nhà đơn sơ nhưng chứa chấp Con Thiên Chúa làm người, nghĩa là Ngôi Hai Thiên Chúa mặc xác con người, trở nên một Con Trẻ do quyền năng của Chúa Thánh Thần. Một Ngôi Vị Thiên Chúa biến thành người phàm. Ngài là Thiên Chúa mặc xác loài người. Công Đồng Nicê năm 325 đã tuyên nhận “Ngài là Thiên Chúa được sinh ra, chứ không được sáng tạo”. Công Đồng Ephêsô tuyên xưng rằng: “Ngôi Lời đã kết hợp với thân xác để trở thành Con Người”. Tóm lại: Đức Tin dạy chúng ta phải luôn tin nhận Chúa Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật.
Một số người lạc giáo chủ trương Chúa Giêsu chỉ có bản tính Thiên Chúa. Công Đồng Chalcedon đã công bố: “Chúa Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật và là người thật. Ngài đồng bản tính với Chúa Cha và đồng thể với nhân loại, ngoại trừ tội lỗi. Được Chúa Cha sinh ra từ đời đời và được sinh ra bởi Đức Mẹ Thiên Chúa vì chúng ta và để cứu rỗi chúng ta”. Công Đồng Vatican II đã xác định: “Con Thiên Chúa đã làm với 2 bàn tay, đã suy nghĩ với trí tuệ con người, hành động với ý chí con người và yêu mến với trái tim con người. Ngài giống chúng ta ngoại trừ tội lỗi” (GS 22.2). Tóm lại: Giáo Hội tuyên xưng: một cách thể lý là Chúa Giêsu là Thiên Chúa thật và là người thật. Ngài là Con Thiên Chúa làm người, là anh em chúng ta nhưng vẫn là Thiên Chúa chúng ta.
Trong ánh sáng của ngàn năm thứ ba (2004) năm sinh nhật Chúa, chúng ta hãy sửa soạn một món quà tinh thần là chuẩn bị Mừng Chúa Hài Nhi “Món quà tinh thần khiêm nhượng, đơn sơ, bác ái, món quà mà Chúa Giêsu thích nhất là nhìn nhận Ngài là Thiên Chúa và là người thật”. Năm nay mừng sinh nhật Chúa chúng ta đừng quên sắm cho Chúa món quà trọng ấy (26.12.2004).
Lm. Thu Băng, CMC

 

GS-285: Lời đã hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta

Đại lễ Chúa Giáng Sinh
 

Về thời điểm Giáng Sinh: Theo lịch Philocalian năm 336, lịch tiêu biểu cho sinh hoạt của người: GS-285

Về thời điểm Giáng Sinh: Theo lịch Philocalian năm 336, lịch tiêu biểu cho sinh hoạt của người Rôma, ngày 25-12 là ngày Lễ Giáng Sinh (natus Christus in Betleem Judeae). Đó là lý do có thể tin rằng ngày 25-12 được chọn là ngày Lễ Giáng Sinh để thay cho một ngày lễ của dân ngoại trong mùa đông, đó là lễ "Thần Dương Bất Bại" (Natalis Solis Invicti). Tuy nhiên, cho đến mãi thế kỷ thứ sáu, ngày 25-12 mới được cả Đông Tây công nhận và cùng cử hành.
Về Thánh Lễ Giáng Sinh: Hiện Giáo Hội cử hành 4 Thánh Lễ (kể cả Thánh Lễ Vọng) để mừng Biến Cố Giáng Sinh của "Lời đã hóa thành nhục thể". Dựa vào truyền thống cử hành mừng sinh nhật Chúa Cứu Thế ở Giêrusalem từ các thế kỷ đầu, Giáo Hội ở Rôma đã cử hành 2 Thánh Lễ từ thế kỷ 7 và 3 Thánh Lễ từ thế kỷ 12. Sau đó, 3 Thánh Lễ này được ghép cho một ý nghĩa đặc biệt tùy theo thời điểm cử hành mỗi lễ. Thánh Lễ Nửa Đêm để kính Chúa Kitô là Lời được nhiệm sinh đời đời từ Cha, Thánh Lễ Rạng Đông để kính Người là Ánh Sáng thế gian được hạ sinh bởi Mẹ Maria, và Thánh Lễ Ban Ngày để kính Người là Vua được sinh vào tâm hồn con người.
Nhận Thức Đại Lễ Giáng Sinh
Theo Dự Án Cứu Rỗi của Thiên Chúa, Phụng Niên có thể được chia làm 3 phần tiêu biểu cho 3 Mùa Phụng Vụ chính:
Phụng Niên Phần Nhất: cử hành phụng vụ mầu nhiệm "Chúa Kitô: Sự Sống Tỏ Hiện", gồm có thời điểm Mùa Vọng, Đại Lễ Giáng Sinh, Mùa Giáng Sinh và Mùa Thường Niên Hậu Giáng Sinh;
Phụng Niên Phần Hai: cử hành phụng vụ mầu nhiệm "Chúa Kitô: Sự Sống Thông Ban"', gồm có thời điểm Mùa Chay, Tuần Thánh (nhất là Tam Nhật Thánh), Đại Lễ Phục Sinh và Mùa Phục Sinh;
Phụng Niên Phần Ba: cử hành phụng vụ mầu nhiệm "Chúa Kitô: Sự Sống Tái Sinh", bao gồm Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, Mùa Thường Niên Hậu Phục Sinh, và Lễ Chúa Kitô Vua.
Nếu chủ đề của chung Phụng Niên Phần Nhất, bao gồm Mùa Vọng, Đại Lễ Giáng Sinh, Mùa Giáng Sinh và Mùa Thường Niên Hậu Giáng Sinh, là "Chúa Kitô: Sự Sống Tỏ Hiện", thì "Chúa Kitô: Sự Sống Tỏ Hiện" đây là ai và ra sao?.
"Chúa Kitô: Sự Sống Tỏ Hiện" là ai?
Người chính là "Lời đã hóa thành nhục thể" (Mùa Vọng)
Người cũng chính là Đấng "ở giữa chúng ta" (Đại Lễ Giáng Sinh).
"Chúa Kitô: Sự Sống Tỏ Hiện" ra sao?
"Chúng ta đã được thấy vinh hiển của Người" (Mùa Giáng Sinh, chóp đỉnh của mùa này là lễ Hiển Linh),
"Vinh hiển của Người Con Duy Nhất đến từ Cha, đầy ân sủng và chân lý" (Mùa Thường Niên Hậu Giáng Sinh, bắt đầu là lễ chịu phép rửa của Chúa Giêsu, "Con yêu dấu đẹp lòng Cha mọi đàng": "đầy ân sủng và chân lý" ).
Theo nội dung của chung Mùa Phụng Vụ thứ nhất, dưới chủ đề: "Chúa Kitô: Sự Sống Tỏ Hiện" này, Mùa Vọng là mùa mở đầu cho cả Phụng Niên để Giáo Hội tưởng niệm "Lời đã hóa thành nhục thể".
Trong Mùa Vọng, Giáo Hội hướng về mầu nhiệm "Lời đã hóa thành nhục thể", để dọn lòng cho con cái, qua việc Giáo Hội cử hành Đại Lễ Giáng Sinh, ý thức được thực tại "Lời ở giữa chúng ta", nhờ đó, "Chúa Kitô: Sự Sống Tỏ Hiện" càng ngày càng linh động và toàn vẹn hơn nơi chung Giáo Hội cũng như nơi từng chi thể của Giáo Hội.
Qua các bài đọc của cả 4 Thánh Lễ được Giáo Hội chọn lọc cho phần Phụng Vụ Lời Chúa để cử hành Đại Lễ Giáng Sinh, con cái Giáo Hội nhận thấy được 4 ý chính sau đây:
1. "Lời ở giữa chúng ta": Tính cách (Thánh Lễ Vọng)
2. "Lời ở giữa chúng ta": Thể thức (Thánh Lễ Nửa Đêm)
3. "Lời ở giữa chúng ta": Hoàn cảnh (Thánh Lễ Rạng Đông)
3. "Lời ở giữa chúng ta": Thân thế (Thánh Lễ Ban Ngày)
Thánh Lễ Vọng Giáng Sinh: "Lời ở giữa chúng ta": Tính cách nhiệm hôn.
Nếu "Lời đã hóa thành nhục thể", như Giáo Hội trong Mùa Vọng chiêm ngưỡng, là một ngôi vị có hai bản tính, vì Ngài như "nụ hoa nở ra từ các rễ của chồi Đavít" (bài đọc 1 Mùa Vọng năm A), thì "Lời ở giữa chúng ta", được Giáo Hội long trọng cử hành Đại Lễ Giáng Sinh để tưởng nhớ, chẳng khác gì "như người thanh niên lập gia đình với người trinh nữ... như chàng rể hoan hỉ nơi hôn thê của mình" (bài đọc 1).
Thật vậy, biến cố Thiên Chúa Giáng Sinh chính là Đại Lễ Thành Hôn của chính Đấng Hóa Công với nhân loại là tạo vật của Ngài: "Đấng Xây Dựng ngươi cưới lấy ngươi... Thiên Chúa hân hoan nơi ngươi" (bài đọc 1). Thế nhưng, để sửa soạn cho Đại Lễ Thành Hôn Siêu Nhiệm này, Thiên Chúa đã phải tự ngỏ ý muốn đính hôn với loài người ngay từ đầu, khi Ngài công bố bản án nguyên tội (x.KN 3:15).
Như thế, Cuộc Hôn Nhân Thần Linh này được thực hiện đúng "theo lời hứa của Thiên Chúa, Thiên Chúa đã làm cho phát sinh từ miêu duệ của con người này (Đavít) một Đấng Cứu Thế là Giêsu" (bài đọc 2), "gọi là Đức Kitô được sinh ra bởi bà (Maria)" (Phúc Âm).
Lạy Cha chúng con ở trên trời, Cha là "Thiên Chúa đã chứng tỏ tình yêu của (Cha) đối với chúng (con), trong khi chúng (con) đang là những tội nhân..." (Rm.5:8), do đó, chúng con không thể nào không cùng với tất cả loài người nói chung, nhất là với Giáo Hội là Nhiệm Thể của Chúa Kitô nói riêng, hoan hỉ chúc tụng Cha: "Lạy (Cha), (chúng con) sẽ ca ngợi tình thương của (Cha) đến muôn đời" (đáp ca).
Thánh Lễ Nửa Đêm: "Lời ở giữa chúng ta": Thể thức giáng sinh.
"Lời đã hóa thành nhục thể" quả là việc Thiên Chúa cưới lấy loài người, thụ tạo của Ngài, tức là mầu nhiệm thần tính ngôi hiệp với nhân tính nơi con người của Đức Giêsu Kitô: "người con trai... được bọc trong khăn... nằm trong máng cỏ" (Phúc Âm).
Thiệp cưới loan báo về Đại Lễ Nhiệm Hôn Thần Linh được cử hành "ở Bêlem", "thành Đavít" (Phúc Âm) này chính là "một Tin Mừng" (Phúc Âm) do chính "Thiên Thần Chúa hiện ra... loan báo cho các người (mục đồng) cũng như cho toàn dân (Do Thái)" (Phúc Âm). Bởi vì, "con trẻ được bọc trong khăn nằm trong máng cỏ" ấy chính là "Đấng Cứu Thế, là Đức Kitô và là Chúa đã giáng sinh cho các người" (Phúc Âm).
Bởi thế, Tin Mừng Giáng Sinh này chính là Tin Mừng loan báo "ân sủng của Thiên Chúa đã xuất hiện, cung hiến cho tất cả mọi người ơn cứu chuộc" (bài đọc 2).
Lạy Cha chúng con ở trên trời, như "dân bước đi trong tăm tối đã nhìn thấy ánh sáng vĩ đại' một ánh sáng chiếu soi trên những người ở trong miền đất u minh" (bài đọc 1), chúng con cùng nhau hân hoan cảm tạ Cha là "Thiên Chúa, Đấng Cứu Chuộc (chúng con)" (Lk.1:47), Đấng đã yêu thương chúng con đến trở thành "Thiên Chúa ở với chúng con"(Phúc Âm Vọng Giáng Sinh). Ôi, loài người diễm phúc: "Hôm nay Đấng Cứu Thế đã giáng sinh cho chúng ta, Người là Đức Kitô, Chúa chúng ta" (đáp ca).
Thánh Lễ Rạng Đông: "Lời ở giữa chúng ta": Hoàn cảnh làm người.
Khách đầu tiên được mời đến dự Lễ Cưới Thần Linh của Thiên Chúa làm người chính là thành phần nghèo hèn nhưng chân thành trong dân Do Thái, đó là các mục đồng: "Các mục đồng đã hối hả đến nơi, thấy Maria, Giuse và thấy hài nhi đang nằm trong máng cỏ" (Phúc Âm).
Như thế, hoàn cảnh "Lời ở giữa chúng ta", như các mục đồng thấy, trước hết là hoàn cảnh ở trong một gia đình, có cha (Thánh Giuse) và có mẹ (Trinh Nữ Maria). Ngoài ra, "Lời ở giữa chúng ta" còn chọn Giáng Sinh trong máng cỏ và về đêm, một hoàn cảnh hoàn toàn gần gũi với các mục đồng, thành phần nghèo hèn, đối tượng tiêu biểu của Phúc Âm cũng là mục tiêu chính yếu của Chúa Cứu Thế (x.Is.61:1 và Lk.4:18). Phúc Âm Thánh Lễ Giáng Sinh Nửa Đêm đã nhắc đến chi tiết "các mục đồng ở trong vùng (tức gần địa điểm Chúa Giáng Sinh) thay phiên canh thức trông coi đàn vật ban đêm" đã nói lên thân phận gần gũi giữa họ với hoàn cảnh của "Lời ở giữa chúng ta".
Lạy Cha chúng con ở trên trời, "khi lòng từ ái và tình yêu của (Cha) là Cứu Chúa của chúng (con) xuất hiện, (Cha) đã cứu chúng (con), không phải vì các việc công chính chúng (con) làm, mà là do tình thương của (Cha). (Cha) đã cứu chúng (con) bằng phép rửa tân sinh và nhờ việc đổi mới bởi Thánh Linh. Thần Linh này (Cha) đã đổ xuống trên chúng (con) nhờ Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Thế của chúng (con)" (bài đọc 2), "Lời hóa thành nhục thể và ở giữa chúng con". Là "thành phần được Chúa cứu độ... được gọi là dân thánh" (bài đọc 1), hợp với Giáo Hội, chúng ta hãy cùng nhau tuyên tụng: "Hôm nay sự sáng đã chiếu giãi trên chúng ta và Chúa đã giáng sinh cho chúng ta" (đáp ca).
Thánh Lễ Ban Ngày: "Lời ở giữa chúng ta": Thân phận Thần Linh.
"Người con trai... được bọc trong khăn... nằm trong máng cỏ" (Phúc Âm Lễ Nửa Đêm) mà "các mục đồng đã hối hả đến nơi trông thấy" (Phúc Âm Lễ Rạng Đông), không phải thuần túy chỉ "là con vua Đavít, con Abraham... được sinh ra bởi bà Maria" (Phúc Âm Lễ Vọng Giáng Sinh), mà chính là "Lời ở nơi Thiên Chúa và là Thiên Chúa... Lời đã hóa thành nhục thể ở giữa chúng ta" (Phúc Âm).
Vì là "phản ảnh vinh quang của Cha, là hiện thân đích thực của hữu thể Cha" (bài đọc 2), mà "Lời ở giữa chúng ta" chính là "đường lối" (Jn.14:6) Thiên Chúa muốn sử dụng để "nói với chúng ta trong thời sau hết này" (bài đọc 2). Như thế, "Lời ở giữa chúng ta" chính là "đường lối" tuyệt hảo nhất để Thiên Chúa có thể trực tiếp mạc khải trọn vẹn mình cho loài người, tạo vật của Ngài. Bởi vì: "Chưa có ai từng được thấy Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa là Con duy nhất hằng ở nơi Cha đã mạc khải Ngài ra" (Phúc Âm).
Lạy Cha chúng con ở trên trời, Cha đã sai Con Cha "đầy ân sủng và chân lý" (Phúc Âm) đến với chúng con như một "Đấng mang tin vui, trong việc loan báo an bình, mang tin mừng và loan báo ơn cứu độ" (bài đọc 1), nhờ đó, nhân tính loài người của chúng con mới được ngôi hiệp với thần tính của Người, để có thể trở nên như "bước chân trên các núi non" (bài đọc 1), bước chân cao cả tuyệt vời được sai đi để loan truyền tình thương của Cha cho chung mọi tạo vật và cho riêng loài người: "Khắp nơi bờ cõi địa cầu đã nhìn thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta" (đáp ca).
Hiện Thực Đại Lễ Giáng Sinh
Đại Lễ Giáng Sinh là thời điểm Giáo Hội cử hành Phụng Vụ để tưởng niệm biến cố "Lời đã hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta". Phần Chúa Giêsu, tuy đã về trời, nhưng "luôn ở lại với (Giáo Hội) cho đến tận thế" (Mt.28:20). Do đó, qua Phụng Vụ của Giáo Hội để mừng Đại Lễ Giáng Sinh, "Chúa Kitô: Sự Sống Tỏ Hiện" là "ánh sáng thực chiếu soi tất cả mọi người đã đến trong thế gian" (Phúc Âm Lễ Ban Ngày) sẽ "chiếu giãi sự sáng" (đáp ca Lễ Rạng Đông) đặc biệt nơi chi thể của Giáo Hội mà Người là Đầu (x.Eph.1:22'5:23).
Còn đối với mỗi Kitô hữu, chung Phụng Niên và riêng mỗi Mùa Phụng Vụ chính là thời gian "ơn cứu độ gần hơn lúc mới chấp nhận đức tin" (bài đọc 2 Chúa Nhật 1 Mùa Vọng năm A), tức gần họ hơn lúc họ mới lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội.
Thế nhưng, người Kitô hữu cần phải tránh khỏi tình trạng đáng tiếc là "có một Đấng ở giữa qúi vị mà qúi vị không biết" (Phúc Âm Chúa Nhật 3 Mùa Vọng năm B). Ngược lại, họ còn cần phải làm sao để thực sự cảm nghiệm "thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa" (Phúc Âm Chúa Nhật 2 Mùa Vọng năm C), được tỏ ra nơi "Chúa Kitô: Sự Sống Tỏ Hiện", qua việc Giáo Hội long trọng cử hành biến cố "Lời đã hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta" trong dịp mừng Đại Lễ Giáng Sinh.
Là "dân bước đi trong tăm tối đã nhìn thấy ánh sáng vĩ đại" (bài đọc 1 Lễ Nửa Đêm), là "thành phần được Chúa cứu độ... là dân thánh" (bài đọc 1 Lễ Rạng Đông), trên thực tế, người Kitô hữu lại càng phải cố gắng hơn nữa, trong việc làm sao để có thể sống đạo giống như thành phần tiêu biểu được trời cao mời đến tham dự Đại Lễ Nhiệm Hôn Thần Linh ở Bêlem xưa. Đó là thành phần "các mục đồng trở về, tôn vinh và chúc tụng Thiên Chúa, đối với tất cả những gì họ đã nghe và đã thấy" (Phúc Âm Lễ Rạng Đông).
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

 

GS-286: Thiên Chúa ở cùng chúng ta

Ngày 20 tháng 3 năm 1811, dân thành Balê đã được nghe 101 phát đại bác chào mừng hoàng: GS-286

Ngày 20 tháng 3 năm 1811, dân thành Balê đã được nghe 101 phát đại bác chào mừng hoàng tử Napoleon Francois Joseph Charles vừa mở mắt chào đời tại điện Tuileries. Vừa sinh ra, bé đã được vua cha đặt làm Vua Thành Rôma, và một tương lai thật huy hoàng đang đón chờ bé. Nhưng chỉ 5 năm sau, Hoàng đế Napoleon thất thủ tại Waterloo, và bị đi đầy ở đảo St. Helena. Bé Napoleon đã được đưa về sống với ông ngoại là vua Francis I, nước Áo. Trong những năm sau đó, chàng thanh niên Napoleon đã phung phí hết tuổi xuân trong ăn chơi ca hát, để rồi qua đời năm 21 tuổi vì bệnh phổi. Bao hứa hẹn của ngày mới sinh, tất cả đều tan theo mây khói.
Hôm nay, toàn thể nhân loại hân hoan mừng ngày sinh nhật của Chúa Giêsu. Tuy rằng, trong ngày Chúa sinh ra, người ta không bắn đại bác để chào mừng Chúa, và ngoài Mẹ Maria, Thánh Giuse, và một số mục đồng, có lẽ sự kiện Chúa sinh ra chẳng được ai quan tâm chú ý. Nhưng đó lại là một ngày thật trọng đại cho cả nhân loại. Ngày trọng đại đó đã được Thiên Chúa chuẩn bị từ ngàn xưa. Đã được hứa ban qua các đời: "Này đây một trinh nữ sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và tên con trẻ sẽ gọi là Emmanuel -- Thiên Chúa ở cùng chúng ta" (Is 7:14).
Đó quả thật là ngày trọng đại, vì ngày này khởi đầu chương trình cứu độ nhân loại của Thiên Chúa. Từ sau ngày nguyên tổ phạm tội, nhân loại hằng ngóng trông, chờ mong tới ngày Đấng Cứu Thế đến để giải thoát con người khỏi ách thống trị của tội lỗi.
Đó là ngày trọng đại, vì là ngày Ngôi Lời Thiên Chúa được ban cho nhân loại. Ngài đến để mạc khải cho con người biết về Thiên Chúa, về tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi. Ngôi Lời Thiên Chúa đã đến để ban lời hằng sống, để dạy con người những nguyên tắc sống, giúp con người sống một cuộc đời hạnh phúc và ý nghĩa. Và Ngôi Lời Thiên Chúa đã đến, để qua lời Ngài, tội lỗi được tha thứ, quỉ dữ bị xua đuổi, và tật bệnh được chữa lành.
Đã qua hai ngàn năm ơn cứu độ được ban cho nhân loại, nhưng nhìn vào thế giới chúng ta đang sống, xem ra nhiều người con chưa mở cửa tâm hồn để tiếp nhận Chúa Kitô; chúng ta còn thấy một xã hội với đầy những vô luân, một thế giới bao phủ bởi bóng tối của chiến tranh, hận thù, bạo động. Ngày hôm nay, một lần nữa, chúng ta được nhắc nhớ Ơn Cứu Độ, ơn giải thoát của Thiên Chúa đã được ban cho nhân loại. Và vì thế, chúng ta sống trong hy vọng. Hy vọng vì giữa những tăm tối của thế giới, chúng ta tin rằng, Thiên Chúa đang ở cùng chúng ta. Không như những hứa hẹn của người đời, hứa mà không thực hiện được, lời hứa của Thiên Chúa sẽ mãi mãi trường tồn. Ơn Cứu Độ của Thiên Chúa, Lời của Ngài, vẫn còn đang tiếp tục ban cho chúng ta. Và đó là niềm hy vọng của chúng ta khi mừng Lễ Giáng Sinh hôm nay.
Lm. Vũ-Nghi, CMC- NSTTDM 2005

 

GS-287: Đêm Ánh Sáng ĐGM Ngô Quang Kiệt

Đêm Giáng Sinh chìm trong lớp lớp bóng tối dày đặc.
 

Bóng tối tự nhiên của một đêm mùa đông ảm đạm. Bóng tối cay đắng của đêm dài nô lệ khi đất: GS-287

Bóng tối tự nhiên của một đêm mùa đông ảm đạm. Bóng tối cay đắng của đêm dài nô lệ khi đất nước chìm trong ách thống trị ngoại bang. Bóng tối âm thầm nhẫn nhục của những kiếp người nghèo hèn lam lũ. Bóng tối âm u trong túp lều lúc nhúc súc vật hôi tanh. Bóng tối u mê của tội lỗi nhơ nhớp.
Giữa màn đêm dày đặc, Hài nhi Giêsu xuất hiện như một làn ánh sáng rực rỡ.
Đó là ánh sáng tình yêu.
Tình yêu vốn là một ngọn lửa vừa chiếu sáng vừa sưởi ấm. Hài nhi Giêsu là kết tinh tình yêu của Thiên chúa dành cho nhân loại. Tình yêu đã đi đến tận cùng vì đã trao ban cho nhân loại món quà cao quí nhất không gì có thể so sánh được. Trao ban Đức Giêsu là cho tất cả, không còn có thể cho thêm gì nữa. Đức Giêsu là hiện thân của tình yêu Thiên chúa đi tìm con người. Thiên chúa đã hạ mình thẳm sâu để xuống gặp con người. Thiên chúa đã tìm thấy con người trong những khốn cùng tột độ của nó. Thật lạ lùng, Thiên chúa quá yêu thương đến độ kết hợp với sự khốn cùng của nhân loại. Thiên chúa đã cưới lấy bản tính nhân loại. Bóng đêm nhân loại nhận được ánh sáng của Thiên chúa. Bóng đêm khổ đau nhận được ánh sáng yêu thương. Anh sáng Thiên chúa soi sáng kiếp người tăm tối. Ánh sáng Thiên chúa sưởi ấm cho nhân loại lạnh lẽo.
Đó là ánh sáng niềm tin.
Ánh sáng Giáng Sinh chiếu toả trên những tâm hồn thiện chí. Đêm nhân gian vẫn còn mê đắm. Nhưng vẫn có những tâm hồn thiện chí tỉnh thức. Đó là những tâm hồn bé nhỏ nghèo hèn. Đó là những cuộc đời khiêm tốn sống âm thầm trong bóng tối. Đó là những người nghèo của Thiên chúa. Đó là thánh Giuse, Đức Maria. Đó là Ba Vua. Đó là các mục đồng. Khiêm nhường nên các ngài sẵn sàng đón nhận thánh ý Thiên chúa. Tỉnh thức nên các ngài nhạy bén đón nhận những dấu chỉ Thiên chúa gửi đến. Thiện chí nên các ngài hăng hái lên đường ngay khi nhận được tín hiệu. Đơn sơ nên các ngài nhận được ánh sáng. Hê rô đê và Giêrusalem chìm trong mê đắm nên ngôi sao đã tắt. Trái lại "vinh quang của Chúa chiếu toả chung quanh các mục đồng". Và ngôi sao xuất hiện dẫn đường cho Ba Vua. Anh sáng đã bao phủ các ngài. Anh sáng đã dẫn đưa các ngài đến bên máng cỏ. Anh sáng đã khiến các ngài nhìn thấy "một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ" và các ngài đã tin.
Đó là ánh sáng hy vọng.
Hài nhi Giêsu là hạt giống bé bỏng Thiên Chúa gieo vào thế giới. Những tâm hồn thiện chí là mảnh đất phì nhiêu. Những người nghèo của Thiên chúa âm thầm kiên trì chờ đợi. Những tâm hồn thiện chí như Ba Vua ngước mắt lên trời tìm kiếm. Niềm khao khát đã được đáp ứng. Đã đến mùa Thiên chúa gieo hạt. Hạt mầm thần linh gieo vào xác phàm sẽ thần hoá cả nhân loại. Hạt giống Giêsu sẽ triển nở thành cây cao bóng cả cho muôn loài trú ngụ. Mặt trời bé nhỏ Giêsu sẽ trở thành mặt trời chính ngọ soi chiếu đêm tối nhân gian. Anh bình minh Giêsu hứa hẹn một ngày mới chan hoà ánh sáng. Với Hài nhi Giêsu, một thời đại mới khởi đầu: những người bé nhỏ được nâng lên, những người nghèo hèn được kính trọng. Giêsu chính là hạt mầm hy vọng Thiên chúa gieo vào thế giới.
Đó là ánh sáng Tin Mừng.
Được thắp lửa, những tâm hồn thiện chí trở thành những ngọn đuốc, không chỉ sáng lên niềm vui, niềm tin, niềm hy vọng, mà còn chia sẻ ánh sáng với những người chung quanh. "Họ kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này". Tin Mừng được loan đi. Niềm vui lan tới mọi tâm hồn. Ánh sáng bừng lên phá tan đêm tối.
Hài nhi Giêsu như mầm cây vừa nhú. Mầm cây cần bàn tay ân cần chăm bón để vươn thành cổ thụ cành lá xum xuê. Hài nhi Giêsu như ngọn nến đem ánh sáng vào đêm tối. Ngọn nến cần được nhiều bàn tay liên đới chuyền nhau cho ánh sáng lan rộng.
Xin cho con được trái tim của các mục đồng biết mở lòng ra đón nhận ánh sáng và biết đem ánh sáng của Chúa đi khắp nơi, để đêm tối trần gian được ngập tràn ánh sáng huy hoàng của Chúa.
Để có một tình mến Chúa hoàn hảo, cần phải liên lỉ đặt ý chí của
mình dưới Thánh Ý của Thiên Chúa (S.Alphonse)
God's Child

 

GS-288: MẶC KHẢI VÀ MẦU NHIỆM GIÁNG SINH

Vào thời điểm Chúa Giêsu giáng thế, có nhiều mục đồng và nhiều nhà chiêm tinh, nhưng: GS-288

 Vào thời điểm Chúa Giêsu giáng thế, có nhiều mục đồng và nhiều nhà chiêm tinh, nhưng chỉ một ít trong số họ lại nhận được mặc khải hồng ân. Liên quan đến những bí nhiệm này, trong Tin Mừng Thánh Mátthêu, Chúa Giêsu có nói “Con xưng tụng Cha, vì Cha đã dấu không cho những người hiền triết và khôn ngoan biết những điều ấy, mà lại mặc khải cho những kẻ bé mọn” ( Mt 11, 25 ). Như vậy, khiêm hạ là điều kiện cần để nhận được sự thông tri từ Đấng Tối Cao.
Dạng thức mặc khải
Thiên Chúa là Đấng vượt trội trên hiểu biết và ngôn ngữ loài người. Ngài còn là Thiên Chúa ẩn dấu. Trong Cựu Ước, Is 45, 15 ghi: “Lạy Thiên Chúa của Israel, lạy Đấng Cứu Độ, Ngài quả thật là Thiên Chúa ẩn mình”. Thiên Chúa là thần trí, con người lại là nhục thể, Thiên Chúa thì tinh tuyền, con người thì tội lỗi. Hai thuộc tính trái ngược đã tạo nên hai bức tường ngăn cách, làm con người quá khó để tiếp cận Thiên Chúa. Nếu không được chỉ dẫn trực tiếp hay gián tiếp của Thiên Chúa, con người rất dễ giải thích sai lầm về Ngài. Các phương thức mà Thiên Chúa sử dụng để biểu lộ quyền năng, tình yêu, ý định, tương lai cho con người được gọi là mặc khải. Mặc khải có thể là ở dạng siêu nhiên hay tự nhiên.
Thiên Chúa sáng tạo ra vũ trụ, con người và trao cho con người được làm chủ nó, qua các công trình này Người đã gián tiếp biểu lộ mình cho con người, đây là mặc khải tự nhiên. Hơn nữa, Ngài còn mong muốn tỏ ra các mầu nhiệm, nhắm hướng dẫn con người hiểu được bản tính sâu xa và những dự định khác của Ngài cho cuộc sống tương lai của con người. Sự biểu lộ này là mặc khải siêu nhiên.
Trong Kinh Thánh, các mặc khải siêu nhiên có thể xuất hiện dưới dạng các thị kiến, các ơn soi sáng, giấc mơ và thỉnh thoảng trong khi suy niệm Kinh Thánh.
- Đức Maria được gặp thiên thần Gariel truyền tin ( Lc 1, 26 ), ông Dacaria trong lúc lo việc tế tự trước nhan Thiên Chúa thì gặp sứ thần cho biết vợ ông sẽ sinh đứa con trai ( Lc 2, 11 ). Thánh Phêrô được Chúa Giêsu khen trong ( Mt 16, 17 ) "Này anh Simon con ông Giôna, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Ðấng ngự trên Trời. Thánh Gioan thông qua các lần xuất thần, được sứ thần mặc khải để ghi chép sách Khải Huyền... là các mặc khải ở dạng thị kiến, soi sáng.
- Thánh Cả Giuse được sứ thần báo mộng ( Mt 2, 20 ), ba nhà chiêm tinh đến bái lạy Đức Giêsu hài nhi, được báo mộng đừng trở về gặp vua Hêrôđê ( Mt 2, 12 ), Đanien trong sách tiên tri ( Đn 2, 19 ) “Bấy giờ ông Daniel được mặc khải điều bí nhiệm ấy trong giấc chiêm bao ban đêm... là các mặc khải dạng giấc mơ.
- Tiên tri Đanien còn được mặc khải trong khi cầu nguyện, suy niệm Kinh Thánh ( Đn 9, 21 ) “Tôi còn đang dâng lời cầu nguyện, thì Gabrien, nhân vật tôi thấy trong thị kiến ban đầu, bay sà xuống bên tôi vào lúc dâng hiến lễ ban chiều. Ngài đến ngỏ lời với tôi và nói: Này Đanien, nay ta đi ra để giúp ngươi được am tường”.
Biểu lộ khiêm tốn về mặc khải
Mặc khải bắt đầu trong Cựu Ước, đạt đến đỉnh cao trong Tân Ước, khi Thiên Chúa cho Ngôi Hai xuống thế làm người để Ngôi Lời ở giữa chúng ta. Trong Tân Ước, mặc khải của Thiên Chúa lại được biểu lộ qua lời nói và những hành động của chính Chúa Giêsu.
Dù con người đã được Thiên Chúa mặc khải dưới nhiều hình thức, nhiều lần, qua nhiều thế hệ, nhiều trung gian là các ngôn sứ và ngay cả qua Người Con một yêu dấu, các mặc khải vẫn còn nhiều ẩn dấu với những biểu lộ rất khiêm tốn so với một Đấng là chúa tể càn khôn.
Trong mầu nhiệm Giáng sinh, khi cho Ngôi Lời nhập thể làm người, Thiên Chúa lại chọn một không gian hoang vắng, nghèo khó và thời điểm mùa đông băng giá để sinh ra. Ngài chọn người cha nuôi là bác thợ mộc và người Mẹ là cô thôn nữ bình dị. Sống trong thầm lặng 30 năm, 3 năm đi rao giảng. Thậm chí, ngay cả khi chiến thắng cái chết bằng sự Phục Sinh, Ngài vẫn biểu lộ vinh quang viên mãn cho một nhóm nhỏ các môn đệ, chứ không cho cả thế gian.
Thiên Chúa lại dùng hình thức mặc khải siêu nhiên cho các người chăn cừu trong vùng Bêlem đến chia sẽ niềm vui Ngôi Hai giáng trần và mặc khải tự nhiên qua một vì sao, cho ba nhà chiêm tinh đến bái lạy Hài Nhi Giêsu.
Các mục đồng không thể nhìn ngôi sao để biết một vị Vua mới được sinh ra, họ cần một sự bày tỏ rõ ràng từ các thiên thần. Các nhà chiêm tinh, với vốn kiến thức, có thể phát hiện Vua dân Do Thái qua dấu chỉ của một ngôi sao. Nhưng sau đó, các vị được tiếp tục dẫn dắt bởi ngôi sao dẫn đường tới nơi Hài Nhi sinh ra và được báo mộng để chọn lối khác để về nhà – nghĩa là được nhận mặc khải siêu nhiên. Chính mặc khải siêu nhiên giúp họ chuyển từ nhận biết một Vua Do Thái đến vị Vua cả Trời Đất.
Lạy Chúa Giêsu Hài Đồng, chúng con không thể nhận biết tình yêu mà Ngài đã dành cho chúng con nếu Ngài không tỏ ra và chúng con không quyết tìm kiếm. Chúng con sẽ không đi đến đúng hang đá nơi Ngài sinh ra để cùng hát bài Alleluia, nếu sau khi dấn thân, Ngài vẫn không cho chúng con một ngôi sao dẫn đường giữa mênh mông các lối đi trên trần thế.
G. TUẤN ANH, Giáng Sinh 2011

 

GS-289: CỦA TRỜI ĐẤT, CỦA MUÔN NGÀN Ý NHỊ…

 “Của trời đất, của muôn ngàn ý nhị,
 và tình ta sáng láng như trăng thanh.”
( dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử )
 

Trời ý nhị. Tình sáng láng. Là, để đón chào Đức-Chúa-Niềm-Vui nay giáng hạ làm người. Đón: GS-289

Trời ý nhị. Tình sáng láng. Là, để đón chào Đức-Chúa-Niềm-Vui nay giáng hạ làm người. Đón và chào, để nói lên tình tự tươi vui “của trời đất”. Tình tự đây, là tình thể hiện nơi “máng cỏ” cho muôn loài. Niềm-Vui-Đức-Chúa giáng hạ, là truyền thống có từ thời thánh Phanxicô Át-xi-di, nhân chuyến thăm thế giới Hồi giáo trở về, thánh nhân đã thiết lập ở Ý, lễ hội sinh động cho mọi người, ở muôn nơi.
Hội lễ Niềm-Vui-Đức-Chúa nay giáng hạ làm người, là mừng sự kiện Chúa trở thành Người-Phàm sống sẻ san Niềm-Vui vẫn có ở Nước Trời. Có sứ điệp của máng cỏ nay nhắn nhủ người người hãy sống vui ở bên nhau, và với nhau. Sứ điệp, còn bảo cho mọi người biết yêu thương mà vui hưởng đời người có Chúa-làm-người. Có anh em quần tụ nơi máng-thế-giới. Sứ điệp, cũng tỏ bày cho người người biết Đức-Chúa-Niềm-Vui nay đến khoả-lấp mọi đớn đau, sầu buồn của mọi người. Sứ điệp, cuối cùng còn cho thấy Đức-Chúa-Niềm-Vui muốn dân con mình đừng nên nhìn mọi người như nỗi khó để đối phó. Mà như Niềm-Vui-Đức-Chúa đã giáng-hạ sẽ giúp mọi người thắng vượt nỗi khổ ta trực diện.
Về với máng cỏ của Đức-Chúa-Niềm-Vui giáng-hạ, ta hãy cứ tưởng tượng và thay thế các chú bò/ lừa hôm đó, bằng khủng long to đùng dù loài này biến mất đã 65 triệu năm. Khủng long đây, có là loài thú “hoành tráng” mấy đi nữa, dù đã biến mất đi, chúng vẫn có thể xuất hiện trở lại, để ta biết rằng: chúng cũng đâu thấy được đảm bảo tương lai mai ngày, nói gì đến loài người. Tức, loài nào rồi cũng biến mất như khủng long to đùng, nay tuyệt chủng. Nay, Hài-Nhi-Đức-Chúa xuất hiện trở về lại, mang đến cho muôn người niềm yêu thương đằm thắm đến với dân gian.
Cứ tưởng tượng thêm, ta sẽ không còn thấy mục đồng hiện diện bên máng cỏ nữa, mà chỉ là kẻ bàng quan tượng trưng cho vua quan lãnh chúa có ở đó, để Hài Nhi Thánh Ái vui vẻ mà cười nhẹ. Tưởng tượng nhiều hơn nữa, ta sẽ liên tưởng đến kịch bản nọ, trong đó có chàng Jimmy Chăn Bò rất lãng tử chẳng quan tâm/chăn dắt bất cứ ai. Thêm vào đó, là Fred StarGazer, tay chiêm-tinh-gia chuyên ngắm nghía sao trời lãng đãng có biệt danh là Chàng Mag ( chữ tắt của Đạo Sĩ rất “Ba Vua” ). Còn lại là người thứ ba tên Fatso đồng nghĩa với Phát Phì ở tiếng Việt. Hài Nhi Thánh Ái hôm ấy đã trỗi dậy cười đùa với ba bốn vị trong bối cảnh đời thực. Ai cũng tự do thả hồn theo bước thăng trầm sầu/vui nơi đời sống. Và Hài-Nhi Thánh Ái đã hoà nhập với họ để cùng vui như thế.
Suy về máng cỏ đời người, người đời sẽ thấy loài khủng long to đùng và kẻ bàng quan cùng nhau tung tăng múa nhảy. Nhảy múa với khủng long ư ? Phải chăng đó là màn múa nhảy ở xứ miền động đất có núi lửa nổ bùng ? Liên tưởng nhiều thêm nữa, người người sẽ thấy kẻ bàng quan nay tham gia múa nhảy với cuộc đời, không còn hãi sợ bất cứ thứ gì, nhưng đã biết cười đùa lớn tiếng, nói to lên. Liên tưởng thêm, người bàng quan tham gia cuộc nhảy/múa rồi cũng sẽ phục sức đầy sắc mầu của vui tươi, an hoà. Chừng như họ là những vị chuyên tấu hài hay sao đó, chính vì thế tay chân họ vừa tung tăng múa và nhảy vừa tung lên cao rất nhiều thứ, đủ mọi thứ, như: banh quần vợt đầy sắc mầu hoan hỷ. Đôi lúc có vị hụt hẫng chẳng chụp được banh nỉ, nhưng cũng chẳng lấy đó làm điều, bởi hầu hết mọi tung ném đều đạt mục tiêu, rất đúng cách.
Trong số các nhân vật ấy, duy nhất chỉ thấy có một vị bắt chụp được hết mọi thứ dù banh nỉ có tung cao lên cao tít ở cõi không. Bởi, Anh đứng đó trên máng cỏ, hầu có thể bắt chụp mọi thứ của mọi người. Anh ở trên đó, khi mọi sự đã chứng tỏ mọi sự nay theo đúng ý của Anh. Anh chẳng hề rời bước khi mọi sự cứ từ từ diễn tiến rồi xảy đến. Anh chính là thành phần của mọi sự và trong mọi sự. Giống bất cứ ai và những loài hiện có ở nơi đó. Anh chính là Hài Nhi Chí Ái luôn ưa thích mọi sự, cả những thăng trầm cuộc đời, nơi con người. Và, Anh mãi mãi sẽ thế. Tên Anh là Giêsu, đích thị làng Nadarét, chốn nhân gian.
Về với máng cỏ, ắt hẳn có người sẽ liên tưởng đến cảnh trí thật vui hết ý về trò chơi nơi cuộc đời giống như thế, nên sẽ hỏi: sao Chúa lại giáng hạ làm người ở với người. Và, câu trả lời chắc chắn là: Ngài làm thế, để được vui nhiều hơn chốn vĩnh cửu miền nào đó !
Cử hành Tuần Thánh và hội Lễ Phục Sinh, dân con người mình hẳn suy nghĩ nhiều về nỗi chết cũng như sự sống lại của Chúa. Khi ấy, người người hẳn sẽ nghiêm trang những suy và tưởng về chính mình. Bởi, Chúa có chết đi và sống lại chốn miên trường, chính là để ban niềm an vui vĩnh cửu cho mỗi người và mọi người. Để, ơn cứu độ Ngài đến với con người. Và, nhiệm tích Vượt Qua – tức nhiệm tích thánh thiêng Ngài lướt vượt mọi thứ qua cái chết để rồi Ngài lại về với sự sống có trỗi dậy. Đó, là giải pháp cuối cho mọi dự tính của riêng ta.
Hội lễ Đức-Chúa-Niềm-Vui nay giáng hạ lại không như thế. Theo cung cách nào đó, có thể nói: đây là tưởng thưởng trội vượt nhu cầu thiết yếu để qua đó Chúa cứu độ trần gian là ta đây. Nhằm cứu rỗi chúng ta, hết mọi nhà, Ngài còn làm nhiều hơn thế. Làm nhiều, để ban cho ta Niềm-An-Vui lớn hơn cả nhận thức biết rằng mình được cứu thoát. Vui đây, là vui niềm trở nên một với Chúa ở đây. Bây giờ. Niềm vui có Đức-Chúa-là-Niềm-Vui luôn ở lại với ta, bây giờ và ngay đây. Đó chính là an vui niềm phúc hạnh gửi đến cho ta. Đó lại là Niềm-Vui-Có-Chúa giúp ta lướt vượt được nhiều thứ, chí ít là khốn khó.
Lễ hội Chúa Giáng hạ, nay là mạc khải Chúa xác định thêm một lần nữa cho ta. Xác định, để ta vui với Niềm-Vui Chúa giáng hạ ở với cuộc đời, là thế giới. Sự thể này, còn to lớn hơn sự sống. Bởi, nó không bị ràng buộc hoặc kiểm soát bởi bất cứ quá trình nào từ cuộc sống hoặc do bởi nhu cầu sống ở nơi ta. Và, cũng chẳng còn gì để nghi ngờ nữa về tương lai mai ngày của chính ta, và mọi người. Lễ hội Chúa-giáng-hạ-làm-người nay tiêu dùng cả và thế giới ta đang sống. Nhưng chính ta lại không bị thế giới tiêu dùng làm tan đi chính con người mình. Đức-Chúa-là-Niềm-Vui đang vui hưởng ngoạn sự kiện làm người ở với ta đến độ Ngài yêu cầu ta hãy đạt lấy niềm vui thần thánh có Đức Chúa. Vui như thế, để ta không cần phải chờ đợi gì nữa, vì đã đạt chốn thiên đường ở đây, ngay bây giờ. Thiên đường thực tế là đây. Ở lễ hội Giáng hạ này. Lễ hội, có máng cỏ. Có thiên đường là đây, chốn đời người.
Sự việc, xem ra có vẻ khác thường. Đúng thế. Đức-Chúa-là-Niềm-Vui nay giáng lạ, là việc rất khác lạ. Chúa hiện diện ở với ta, dù ta lại không trông chờ hoặc ngóng đợi, đó vẫn là sự thật rất hiện thực của Niềm-Vui nhập thể và nhập thế. Niềm-Vui-Đức-Chúa xuống thể làm người, là Ngài mạc khải tỏ lộ chính Niềm-Vui bằng xương thịt như ta; nhưng, chừng như ta không nghĩ Chúa như thế.
Chắc cũng cần đến đấng bậc lành thánh như bậc hiển thánh Phanxicô thành Atxidi dạy cho ta biết điều ấy. Cần dạy để ta thấy được rằng người người ở trần thế, vẫn rất vui. Vui, với Niềm-Vui-của-Đức-Chúa để ta hoà lẫn với mùa lễ rất Giáng hạ. Chắc chắn bậc hiển thánh Phanxicô sẽ không về tay không khi ngài đặt chân viếng máng cỏ và để giờ nguyện cầu. Chắc chắn bậc hiển thánh sẽ ra đi vui hưởng cuộc đời lành thánh với chúng nhân cùng bạn bè người thân. Ta vẫn rất cần bậc lành thánh dạy ta thêm lần nữa, Đức-Chúa-là-Niềm-Vui nay giáng hạ.
Lễ hội Niềm-Vui-Chúa giáng hạ, khiến tất cả được mời gọi vui hưởng thế giới của niềm vui, như trẻ bé. Hội lễ Chúa Giáng Hạ ta mừng kính hôm nay đều có nghĩa Đức-Chúa-là-Niềm-Vui đến với thế giới gian trần, nơi máng cỏ cuộc đời hoặc ngay trong nhà. Đức-Chúa-Niềm-Vui là thế đó, rất vui. Hôm nay.
Trong niềm an vui phấn khởi của mọi người, tưởng cũng nên về với lời thơ vui mà ngâm tiếp:
 “Chúng ta tiến, em ơi, thành thanh khí.
 Cho tan ra hoà hợp với tinh anh.
 Của trời đất, của muôn ngàn ý nhị,
 Và tình ta, sáng láng tự trăng thanh.”
 ( Hàn Mặc Tử - Sáng Láng )
Sáng láng ấy. Tinh anh này. Vẫn là Niềm-Vui-Chúa-giáng-hạ để ta tiến. Tiến cho tan, ngõ hầu hoà hợp với niềm vui chung của thế giới, của muôn ngàn ý nhị. Như trăng thanh. Tâm tình. Đầy ý tứ.
 Lm. NGUYỄN ĐỨC VINH SANH, bản dịch của MAI TÁ

 

GS-290: ĐÔI DÒNG SUY TƯ

Noel năm 1914, trong bối cảnh thế giới phải oằn mình gánh chịu những thương đau do thế: GS-290

Noel năm 1914, trong bối cảnh thế giới phải oằn mình gánh chịu những thương đau do thế chiến thứ I, nhưng một điều tuyệt vời đã xảy ra nơi chiến tuyến được nhà sử học người Pháp Yves Buffetaut lược ghi như một kỷ niệm đẹp.
Ngày 24.12.1914, phía quân đồng minh gồm Anh và Pháp, bên kia là những người lính Đức cùng chuẩn bị đón Noel. Càng về đêm cái lạnh như muốn làm tê cứng những đôi tay thiện xạ, đang phải ôm những nòng súng, để bảo vệ mạng sống cho chính bản thân, gia đình và quê hương đất nước của mỗi bên. Dưới bầu trời đêm, những ánh sao như đang nhảy múa hòa với bài Thánh Ca Silent Night ( Đêm An Bìn h ), được phát ra từ chiếc máy thu thanh của quân đồng minh. Nikolaus Sprink, tên của một người lính Đức, miệng cất vang bài Silent Night, chân chầm chậm bước ra khỏi láng trại tiến về nơi còn đó những xác người nằm rải rác giữa hai chiến tuyến.
Một điều lạ kỳ đã xảy ra, ba viên chỉ huy: Audebert ( Pháp ), Gordon ( Anh ) và Horstmayer ( Đức ), không ai bảo ai cùng bước ra nơi người lính Đức đang hát một cách say sưa, họ thỏa thuận với nhau một cuộc hưu chiến tạm thời, điều không thể thực hiện trong lúc “dầu sôi lửa bỏng”, họ cùng đồng ý cho phép tất cả các binh sĩ của hai phía cùng vui Noel, tuy trước đó ít phút họ đang là những kẻ thù không đội trời chung. Như quên đi hận thù, lý tưởng của người chiến binh, họ mời nhau ăn uống, khoe thư ảnh gia đình, tổ chức đá bóng giao hữu, chúc nhau những điều tốt đẹp.
“Vinh Danh Thiên Chúa Trên Trời, bình An Dưới Thế Cho Người Thiện Tâm” ( Lc 2, 14 ), lời của muôn vàn Thiên Sứ cất vang trong Đêm Thánh, không chỉ dừng lại hoặc đóng khung nơi bản văn Tin Mừng, nhưng đã và đang lan tỏa tới những người lính nơi chiến tuyến.
Tuy giữa những xác người còn nằm đó vì chiến tranh, hận thù, xa xa vẫn còn những tiếng đạn réo, bom rơi; còn đó tiếng những khóc não lòng của người phụ nữ mất chồng, mất con, những tiếng khóc ai oán của trẻ thơ vì thiếu bầu sữa mẹ, thiếu vắng tình cha, những tiếng rên la của binh sĩ bị bom đạn lấy đi một phần thân thể.
Thế nhưng, những điều đó, không thể nào át được tiếng reo hò nhảy múa, trong hạnh phúc và bình an của những binh sĩ trong đêm Noel 1914, đêm mà cả nhân loại hân hoan kỷ niệm ngày Con Thiên Chúa, Vua Bình An giáng trần.
Vào thời đại ta đang sống, có thể nói, như đã ăn sâu vào nhịp sống của nhân loại, mỗi độ Giáng Sinh về dù đang sống trong cảnh binh đao, loạn lạc, hay cảnh thái bình, dù sống trong đói nghèo, cơ cực, hay đang sống đời sống gấm vóc lụa là, dù khỏe mạnh, hay đang mang trong thân xác những căn bệnh trầm kha, dẫu đang sống trong đời sống ngập tràn tội lỗi, bê tha hay đang sống trong đời sống ân sủng, dù tin nhận hay khước từ, thậm chí bổ báng Thiên Chúa, … như một dàn hợp xướng không lồ, tất cả triệu triệu trái tim hòa cùng một nhịp đập, cùng một niềm vui.
Để rồi, nhân ngày Lễ Giáng Sinh người ta trao tặng cho nhau những cánh thiệp, những lời chúc, những món quà. Nhân loại như quên đi cái nhọc nhằn, khổ đau của kiếp nhân sinh; người ta tạm gác lại những hận thù, tranh chấp, để cùng nhau vui hưởng một mùa Giáng Sinh thật ý nghĩa, thật vui và hạnh phúc. Quả như lời Thánh Vịnh xưa mô tả: “Tín nghĩa ân tình nay hội ngộ, hoà bình công lý đã giao duyên. Tín nghĩa mọc lên từ đất thấp, công lý nhìn xuống tự trời cao” ( Tv 85, 11 – 12 ).
Vâng ! Tất cả những điều trên được khởi đi từ Thiên Chúa, Đấng giàu Lòng Xót Thương. Vì một chữ “Yêu”, Đức Giêsu đã xuống trần giữa đêm khuya giá lạnh, trong bần hàn, cơ cực, trong âm thầm và lặng lẽ mặc lấy thân phận kiếp người, sống như người trần thế ngoại trừ tội lỗi ( Pl 2, 6 – 7 ), để cùng với con người “se một chữ đồng” ( đồng cam, cộng khổ ), những mong đem lại cho con người bình an và hạnh phúc, như lời tiên báo của Ngôn Sứ Isaia: “Ngươi sẽ được Đức Chúa đem lòng sủng ái, và lập hôn ước cùng xứ sở ngươi. Như trai tài sánh duyên cùng thục nữ, Đấng tác tạo ngươi sẽ cứu ngươi về. Như cô dâu là niềm vui cho chú rể, Ngươi cũng là niềm vui cho Thiên Chúa ngươi thờ” ( Is 62, 4 – 5 ).
Còn gì hạnh phúc hơn, khi ta chỉ là phàm nhân, đời sống như hoa đồng cỏ nội sớm nở tối tàn, luôn yếu đuối và bất toàn, luôn vô ơn và ích kỷ lại được Thiên Chúa sủng ái, từ trời cao Ngài xuống kết duyên cùng ta, trao ban cho ta niềm vui và sự sống vĩnh cửu của Ngài.
Vì thế, trong ngày cùng với toàn thể Giáo Hội mừng đại lễ Giáng Sinh, ngoài việc ta cất cao lời ngợi khen, cảm tạ tình thương của Thiên Chúa dành cho ta, kế đến cũng nhắc nhở, mời gọi ta cộng tác với Thiên Chúa, để qua ta, Ngài “se một chữ đồng” với những anh em cùng khổ quanh ta, đặc biệt là những anh em chưa nhận biết nơi đời sống của mình, còn đó một Người Cha, Người Bạn, một Vị Thiên Chúa trung tín và từ tâm, nhân hậu và khoan dung luôn ở cùng để đồng hành, che chở, gìn giữ, nhất là Ngài luôn mong chờ tất cả con cái phàm nhân đến và ở lại với Ngài, cùng với Ngài vui hưởng phúc bồng lai.
Để những điều đó trở thành hiện thực trong đêm Giáng Sinh, và trong cuộc đời ta. Trước tiên ta noi gương Mẹ Maria, Thánh Cả Giuse biết cất lên lời xin vâng, biết viết những nét chữ của bác ái và yêu thương, thông cảm và thứ tha, hiến thân và phục vụ mọi người, từ trong mái ấm gia đình trở đi; kế đến là học theo tấm gương của những chú mục đồng đơn sơ, mau mắn lên đường tiến về hang Bêlem thờ lạy, sưởi ấm cho Hài Nhi Giêsu.
Cuối cùng ta học nơi ba nhà Đạo Sĩ, vận dụng sự khôn ngoan, thông thái nhận ra dấu chỉ và lời mời gọi của Thiên Chúa qua các biến cố vui buồn của cuộc sống, qua những người chung quanh, rời bỏ nhưng đam mê, lợi danh, kiến tạo cho mình những món quà như: Đức Tin mạnh tựa vàng qua tôi luyện, lòng Cậy Trông tựa mộc dược tinh tuyền, Đức Mến tựa nhũ hương thơm ngát để lên đường thờ lạy và dâng tặng Chúa Hài Nhi.
Vâng ! Nói thì rất dễ nhưng để thực hành được như lòng ta ước mong thì không phải dể khi ta đang sống giữa thời đại hôm nay, một thời đại mà Đức Chân Phước Gioan Phaolô II đã cảnh báo: “Thời đại của nền văn minh sự chết”, thời đại của chủ nghĩa hưởng thụ, chủ nghĩa “makeno” ( mặc kệ nó ), thời đại mà ma quỷ rủ rê ta bằng những hình thức rất ngọt ngào, rất ấn tượng thì dễ gì ta có thể noi gương, có thể sống như Mẹ Maria, Thánh Cả Giuse, các Mục Đồng và ba nhà Đạo Sĩ.
Ca dao tục ngữ Việt Nam có câu: “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”. Vì thế, nếu ta không đến và ở lại với Hài Nhi Giêsu qua Lời của Ngài trong Tin Mừng, kín múc nguồn ánh sáng, sức sống, sức mạnh vô biên nơi Bí Tích Thánh Thể như lời giới thiệu của Thánh Gioan: “Ngôi lời là ánh sáng thật, ánh sáng đã đến thế gian và chiếu soi mọi người…Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta….Từ nguồn sung mãn của Người, tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác…” ( Ga 1, 9 – 16 ).
Lạy Chúa Hài Đồng Giêsu, Vua của sự Bình An ! Con cảm tạ Chúa, vì yêu con Chúa đã xuống trần mang lấy kiếm phàm nhân như con, đem lại cho con niềm vui, sự bình an, luôn đồng hành với con trong từng ngày sống.
Chúa Hài Đồng ơi ! Con xin lỗi Chúa, vì bao nhiêu tuổi đời là bấy nhiêu lần Lễ Giáng Sinh đi qua đời con, nhưng con quá thờ ơ, con chỉ chú trọng những gì bên ngoài như ngắm nhìn hang đá, tham dự Thánh Lễ thuần túy như một lễ hội, vui với gia đình và bạn bè, con chưa bao giờ cảm nhận ra, vì yêu con mà Chúa đã sinh ra trong cảnh nghèo hèn cơ cực, chính vì không cảm và không nhận ra, nên con đã sống không tốt với mọi người, nhất là những người cùng khổ.
Xin Chúa giúp con để từ chính giây phút này con sống tốt hơn, ngoan hơn, biết mở lòng ra với mọi người, bắt đầu từ mái ấm gia đình trở đi. Có như thế thì ngày Lễ Giáng sinh mới thực sự có ý nghĩa và đem lại cho con sự bình an đích thực của Chúa. Amen.
Anton LƯƠNG VĂN LIÊM, Sàigòn 18.12.2011

 

GS-291: ÁNH SÁNG BỊ ĐÁNH CẮP

Thế giới ngày đầu tạo dựng là một thế giới bình an của vườn địa đàng. Vạn vật, vũ trụ sống: GS-291

Thế giới ngày đầu tạo dựng là một thế giới bình an của vườn địa đàng. Vạn vật, vũ trụ sống chan hòa trong bàn tay điều khiển quan phòng của Thiên Chúa. Thế nhưng, ánh sáng tinh tuyền ấy đã bị mất đi bởi tội. Từ khi tội lỗi xuất hiện, bóng đêm bao phủ hoàn cầu, sự dữ tràn ngập gieo ngàn đau thương tang tóc.
Nếu trần gian là một bóng tối khổng lồ, thì con người trong đó đều là những nạn nhân của tội, chẳng khác gì những kẻ mò mẫm đi trong tối tăm mà không có người dẫn lối chỉ đường. Nguyên nhân gây nên tội chính là việc bất tuân lệnh Chúa. Hậu quả của tộ chính là sự chết. Nhân loại đã bước vào ngõ cụt, tưởng chừng như không còn lối thoát.
Yêu thương nhân loại, Thiên Chúa đã không cam lòng nhắm mắt làm ngơ trước đau khổ của con người. Không thể vừa tạo dựng lại vừa bỏ rơi, yêu thương – Ngài đã yêu thương đến cùng. Mặc dầu con người sa ngã phạm tội, phản bội chống đối nhưng Thiên Chúa vẫn luôn luôn tha thứ.
Ánh sáng nguyên thủy đã bị thế lực Sự Ác cướp đoạt, bóng tối tràn ngập thế gian, che mờ ánh sáng Chân Lý, nhưng Sự Thiện bao giờ cũng toàn thắng. Đức Giêsu, Ngài là nguồn Ánh Sáng đích thực, ánh sáng Chân Thiện Mỹ, Ngài đã đến để hóa giải mọi bất công, xỏa bỏ mọi tỗi lỗi và giải thoát tất cả những ai đang bị ách tử thần giam giữ.
Không có ánh sáng, cuộc đời không có lối thoát. Nhân loại rất cần ánh sáng để sống. Nếu thế giới chỉ là một bóng đêm thì vạn vật và con người trong đó đã không còn tồn tại. Thế nhưng, ánh sáng hào quang của trần gian chỉ là thứ ánh sáng hão, một thứ ánh sáng tạm bợ. Riêng Đức Kitô là Nguồn Sáng thật, ánh sáng vĩnh cửu mà bất kỳ ai soi vào trong đó đều có thể tìm thấy được chính mình.
Cuộc sống hiện đại ngày càng được nâng cao. Vũ trụ ngày càng có nhiều ánh sáng. Ánh sáng khoa học, ánh sáng kỹ thuật… nhưng quan trọng hơn cả vẫn là ánh sáng Chân Lý. Nguồn ánh sáng ấy là kim chỉ nam dẫn lối đưa đường để nhân loại truy tìm về Nguồn Sự Sống vĩnh cửu.
          Đâu là Nguồn Sáng thật và đâu là ánh sáng giả tạo để khỏa lấp tội lỗi và sự ích kỉ đê hèn. Ánh sáng của Đức Kitô là Nguồn Ánh Sáng phát xuất từ Thiên Chúa. Các tiên tri, ngôn sứ đã dùng cả mạng sống của mình để minh chứng cho nguốn ánh sáng này, nhưng bản thân họ không phải là sự sáng.
Chỉ có Đấng là Ánh Sáng mới có thể ban sự sáng. Nhân loại chỉ là loại thụ tạo được trao ban và giao phó trách nhiệm chia sẻ ánh sáng Chân Lý cho mọi người. Chỉ có Đấng là Thiên Chúa mới có thể nói về Thiên Chúa. Chỉ có Đấng chính là Thiên Chúa mới rao giảng Lời Thiên Chúa cũng như Tình Yêu vĩnh cửu của Ngài cách trọn vẹn. Thụ tạo, vạn vật, tất cả cũng chỉ là kẻ được tạo thành, là người được lãnh nhận, không có quyền ban phát mà chỉ có thể sẻ chia. Nào ai đã diện kiến thiên nhan Thiên Chúa bao giờ, chỉ có Đấng ở trong cung lòng Chúa Cha, chính Người mới tỏ cho chúng ta biết ( x. Ga 1, 18 ).
Lạy Chúa, tạ ơn Ngài đã giáng trần, trả lại ánh sáng nguyên tuyền đã bị đánh cắp thuở khai sinh. Mặc dầu đang ở trong bóng tối trần gian, giữa những thế lực sự dữ và tội ác, nhưng con không hề nao núng, lo sợ, bởi vì Đức Kitô, nguồn Áng Sáng thật đưa con đến cội nguồn hạnh phúc bất diệt.
Xin cho con biết đặt niềm tin vào con đường mình đang bước, với Ánh Sáng Chân Lý đưa đường. Xin đừng để con sa lạc vào chước bẫy của những thứ ánh sáng giả tạo bên ngoài, ánh sáng của danh vọng, chức quyền, đam mê, tham vọng… mà đánh mất đi nguồn sáng chân lý trong trái tim mình, một giá trị vô cùng lớn lao.
Xin cho đôi mắt con được sáng, trái tim chan hòa ánh sáng vĩnh cửu, để cuộc đời con trở nên ngọn sáng nho nhỏ, vừa đủ sáng, đủ ấm áp, đủ yêu thương, đem lại an bình cho những người thân cận bên con.
M. HOÀNG THị THÙY TRANG

 

GS-292: THIÊN CHÚA GIÁNG SINH TRONG MỘT GIA ĐÌNH

Ôn một kỷ niệm: Mừng Chúa Giáng Sinh năm 2000, Giáo Xứ tôi chọn chủ đề “THIÊN CHÚA: GS-292

Ôn một kỷ niệm: Mừng Chúa Giáng Sinh năm 2000, Giáo Xứ tôi chọn chủ đề “THIÊN CHÚA GIÁNG SINH TRONG MỘT GIA ĐÌNH” làm ý lực chính cho mọi sinh hoạt chuẩn bị trong Giáo Xứ, trong các Giáo Họ và các gia đình như: Đêm Canh Thức, các hang đá ở Nhà Thờ xứ, Nhà Thờ họ, và các gia đình.
Chiều 21 tháng 12, năm ấy, các Giáo Họ, chi họ, các đoàn thể đã hoàn thành các hang đá chung quanh nhà thờ. Xảy ra là, một chi họ có sáng kiến mới, làm hang đá rất tân thời: chỉ một ngôi sao lạ chiếu sáng giải lụa từ trên cao xuống với hàng chữ “HÔM NAY CHA ĐÃ SINH RA CON” và cuối giải lụa ấy là một HÀI NHI đang nằm trên nắm rơm, đôi mắt tuyệt đẹp, nụ cười hiền lành, giơ đôi tay rộng ra như đón lấy mọi người.
Cha sở bảo: “Rất đẹp, rất ý nghĩa, rất đúng thần học, nhưng chưa đúng với chủ đề chung của Giáo Xứ”. Mấy người thiết kế mẫu hang đá này hơi buồn lòng, nhưng rồi ông phó chủ tịch giải thích: “Các anh biết đó, mấy tuần nay cha sở đã triển khai đề tài “THIÊN CHÚA GIÁNG SINH TRONG MỘT GIA ĐÌNH” và qua các bài giảng, Ngài đã làm nổi bật ý nghĩa Thiên Chúa làm người qua “cung lòng Mẹ Maria”, dưới sự “bảo bọc chân thành của Thánh Giuse”. Thiên Chúa xuống trần gian trong “một gia đình rất trần gian”. Hang đá của mấy anh không có Thánh Giuse, Đức Mẹ, chẳng có chuồng bò, mái che, hàng rào, con bò, con bê, lu nước, mục đồng… nên Ngài không vui lắm”.
Đêm 24, trong thánh lễ, Cha sở rất vui mừng nhìn thấy hang đá tân thời kia có thêm Đức Mẹ, Thánh Giuse và những con bò con bê… xinh đẹp. Ngài đã giảng một bài đầy xúc động về “Thiên Chúa đã Giáng Sinh làm người” vì “yêu con người” nhưng “nhờ cộng tác của con người”.
Giáng Sinh năm nay, 2011, nhân vì kỷ niệm 30 năm tông huấn “Familiaris Consortio” “Về những bổn phận của Gia Đình Kitô Hữu”, mà các Giáo Phận đang họp, hội, học về tông huấn này, gợi lên trong tôi một hoài niệm đẹp về cha cựu quản xứ và về chuyện năm 2000, đồng thời cũng khởi hứng cho tôi chút suy tư bé nhỏ.
Thiết tưởng, với quyền năng của Thiên Chúa, Ngài có thể xuống thế làm người cách long trọng, hùng vĩ, để thiên hạ nhận biết và thờ kính Ngài. Tại sao Ngài phải chọn cách xuống thế như một trẻ sơ sinh qua cung lòng một người nữ và trong một gia đình bần hàn. Hẳn là Ngài đã khiêm tốn thực hiện đúng như lời các tiên tri loan báo từ xa xưa trước, và muốn mặc cho đời sống gia đình một ý nghĩa cao quý.
Vâng, Ngài đã làm người trong một gia đình. Một Maria tin tưởng và khiêm tốn “xin vâng” để Thiên Chúa được nhập thể. Một Giuse chấp nhận từ bỏ ý riêng để chấp nhận ý trời thật thanh cao thánh khiết. Một Con Thiên Chúa làm con người từ phôi đến thai đủ chín tháng mười ngày trong bụng mẹ, để mẹ mang nặng, đẻ đau, cho con bú, mớm con ăn, ru con ngủ, thuốc chữa bệnh cho con, thao thức với con những đêm trời trở gió…
Và vì gia đình của Chúa không khác gì những gia đình trần gian, nên đã có những mục đồng như những người hàng xóm đơn sơ, thân thương, có lòng yêu trẻ con, có niềm vui đích thực khi nghe một con trẻ khóc tiếng chào đời… Các bà, các mẹ trong Giáo Xứ hẳn đã có những kinh nghiệm đau đớn và vui mừng lúc sinh con, thì ắt hẳn hiểu được tâm tình của người Mẹ mang tên Maria trong phút bi tráng ấy. Các ông, những người làm cha hẳn đã âu lo và sung sướng thế nào khi nghe tiếng oa oa con trẻ, thì ắt hẳn cũng hiểu tâm trạng của một người cha, người chồng mang tên Giuse kia. Những người làm cha mẹ hẳn đã trải nghiệm niềm vui khi được bà con lối xóm sẻ chia chúc mừng khi chúng ta có một người con ra đời.
Có thể nói, nhìn vào toàn cảnh Giáng Sinh của Con Thiên Chúa, mỗi tín hữu, không kể ở bậc độc thân hay hôn nhân gia đình đều phải hân hoan vui mừng và hãnh diện vì “Thiên Chúa ở giữa chúng ta”, “Thiên Chúa ở giữa dân Người”, và “Thiên Chúa ở trong gia đình” như một thành viên trung tâm của khổ đau và hạnh phúc, trung tâm của “giáo hội tại gia”, trung tâm của “trường giáo dục Đức Tin”, trung tâm của “sứ mạng loan báo tin mừng”. Và nếu đã chọn Chúa Giáng Sinh là trung tâm, thì ắt hẳn giá trị của mỗi nhân vị được trân quí đúng mức như các thành viên gia đình của Chúa đã thể hiện: một Giuse bảo toàn ơn gọi đồng trinh của Đức Maria, một Maria trung thành dâng hiến cho Thiên Chúa và luôn quí trọng người bạn đời Chúa gửi đến, một Giêsu với niềm hiếu kính mến yêu.
Người sống bậc độc thân cũng bắt đầu từ gia đình và cảm nếm được ý nghĩa thiêng liêng mà Cha Mẹ đã cộng tác với Thiên Chúa qua việc nhận lấy con cái như quà tặng giáng sinh. Người sống bậc gia đình đang đi vào ơn gọi cao cả mà Thiên Chúa Giáng Sinh đã chọn và mặc lấy cho gia đình một ý nghĩa siêu phàm, thiêng thánh, để nơi gia đình, phải là một hang đá, một máng cỏ sống động cho Thiên Chúa Giáng Sinh.
Đêm Giáng Sinh, phải là đêm bình an nhất, đêm hạnh phúc nhất, cho mỗi người, cho mỗi gia đình, vì chính Con Thiên Chúa đã đến làm người trong một gia đình. Ngài thấu hiểu tất cả và Ngài đã biến nỗi đau tột cùng của các gia đình thành hạnh phúc tuyệt vời nhất khi ngộ ra: THIÊN CHÚA ĐANG GIÁNG SINH TRONG GIA ĐÌNH CHÚNG TA.
Nguyện xin cho chúng con đích thực là Giuse, là Maria, là Giêsu trong hang đá đơn sơ nghèo hèn của chúng con, trong nhà của chúng con với tình thương mến, lòng tôn trọng các nhân vị, với ý thức sứ mạng làm ánh sao Giáng Sinh và nhất là với niềm tin yêu phó thác.
PM. CAO HUY HOÀNG, 21.12.2011

 

GS-293: Con người - Lc 2,1-20

Ngày nay, con người là một vấn đề được chú ý nhiều nhất. Càng ngày những công trình bác ái: GS-293

Ngày nay, con người là một vấn đề được chú ý nhiều nhất. Càng ngày những công trình bác ái càng được phát huy sâu rộng. Càng ngày người ta càng cảm thấy sự tôn trọng và thăng tiến con người là một yếu tố cần thiết làm nên văn minh, cũng như làm cho dân giàu nước mạnh. Lý tưởng mà con  người mơ ước và theo đuổi mỗi ngày một cao đẹp và phong phú hơn. Từ đó, chúng ta đi vào mầu nhiệm giáng sinh.
Thực vậy, với mầu hiệm giáng sinh, thì yếu tố con người cũng là yếu tố hàng đầu. Bởi vì cái giá mà Thiên Chúa đã trả để giải quyết vấn đề con người chứng tỏ con người thực là quan trọng. Đúng thế, trong kinh Tin Kính chúng ta vốn hằng tuyên xưng: Vì loài người chúng tôi và để cứu rỗi chúng tôi, Người đã từ trời xuống thế.
Theo thánh Gioan diễn tả, thì Ngôi Lời đã hoá thành nhục thể. Thiên Chúa đã xuống thế, mặc lấy thân phận con người, hoà mình vào những thực tại của kiếp người. Và để chia sẻ cuộc sống con người, Ngài đã trở nên giống chúng ta, ngoại trừ tội lỗi. Thiên Chúa đã bước xuống phận con người, để con người được tiến lên ngôi Thiên Chúa.
Ngài đã cùng với những người thành tâm thiện chí phấn đấu đẩy lùi những gì là xấu xa và phát huy những gì là tốt đẹp, xứng với phẩm giá con người.
Như thế, con người chính là đối tượng của mầu nhiệm giáng sinh, chính vì mỗi người chúng ta mà Ngài đã đến, đến để giúp chúng ta tìm được hạnh phúc ở đời này và đời sau. Hơn thế nữa, cũng chính vì con người mà Ngài đã đổ ra cho đến giọt máu cuối cùng trên thập giá, để cứu chuộc chúng ta, tha thứ cho chúng ta, trả lại cho chúng ta địa vị làm con cái Chúa, đã mất đi vì tội lỗi và cho chúng ta được thừa hưởng phần sản nghiệp Nước Trời.
Mỗi khi chúng ta giúp đỡ người khác, nhất là những người ngheo túng và khổ đau, thì đó là chúng ta đã cộng tác với Chúa, hay nói một cách mạnh mẽ hơn, thì đó là chúng ta đã giúp đỡ cho chính Chúa vậy.
Cái nhìn lạc quan trên đây giúp chúng ta phấn khởi để cùng nhau tích cực góp phần giải quyết vấn đề con người hôm nay, nhất là những kẻ bị xã hội ruồng bỏ. Nếu chúng ta biết rằng vấn đề con người là quan trọng đến nỗi chính Thiên Chúa đã phải dấn thân, đã phải nhập cuộc để giải quyết, thì bất cứ ai thiện chí góp phần vào đều đáng được kể là cộng tác với Thiên Chúa, dù người đó không cùng một quan điểm, không cùng một niềm tin với chúng ta.

 

GS-294: Vì Ngài Ở Với Chúng Ta  - Lc 2,1-14

(Suy niệm của Camille Gagnon)
Đây là thời gian hoan lạc.
 

Từ vài tuần lễ nếu không phải là vài tháng chúng ta đã dự tính và tổ chức lễ Giáng Sinh: GS-294

Từ vài tuần lễ nếu không phải là vài tháng chúng ta đã dự tính và tổ chức lễ Giáng Sinh: Chúng ta sẽ đi đến nhà ai, ai sẽ đến nhà chúng ta. Điều này đối với nhiều người là một mối bận tâm lớn, để sắp xếp mọi cuộc gặp gỡ và mọi lời mời. Thậm chí thời tiết cũng ảnh hưởng đến những lo toan của chúng ta: Có bão là các cha mẹ trẻ tuổi sẽ không lên đường được vì sẽ quá nguy hiểm cho trẻ thơ. Rồi những tuần sau, khi nhà sẽ đầy người, niềm vui sẽ lớn lên: “Ôi, tôi rất vui được gặp bạn!” – “Ôi, cuối cùng bạn đã đến rồi!” – “Thật mừng là bạn có thể đến được!”.
Ở đây, trong nhà thờ chúng ta có thể lập lại một lời gì giống như vậy trong suốt mùa Vọng: “Vì Ngài ở với chúng ta! Vì Chúa Giêsu ở với chúng ta”. Lời này đã trở thành khẩu hiệu cho việc chuẩn bị lễ Giáng Sinh. Nhưng tối nay, những lời ngắn gọn này thốt ra như một tiếng kêu của con tim: “Lạy Chúa Giêsu, vì Chúa ở với chúng con, chúng con cũng ở với Chúa. Nơi nhà Chúa, tối nay người ta đi viếng thăm nhau. Chúa đến nơi nhà chúng con và chúng con đi đến nhà Chúa! Con ở đây, vì Chúa cũng ở đây nữa!”.
Tiếp khách.
Thường lệ khi khách đến, người ta tiếp đón, hỏi han một chút. Người ta hỏi thăm có điều gì mới không và khi có một em bé cùng đi người ta quan tâm kỹ hơn, vuốt ve ân cần hơn. Tại sao chúng ta hết thảy không đón tiếp Chúa Giêsu như vậy?
Quả thật, chính với tư cách một hài nhi mà Ngài đến viếng thăm: “Đức Maria hạ sinh một con trai đầu lòng, quấn tã và đặt nằm trong máng cỏ”. Nhưng hài nhi này đến viếng thăm chúng ta với những nét đặc biệt, mang một niềm hy vọng rất đặc biệt, như bài đọc thứ nhất đã nói: Ngài sẽ là “cố vấn tuyệt vời”, Ngài sẽ là “quyền năng của Thiên Chúa”, “Nguồn sự sống đời đời”. Ngài sẽ là “một mầm mống bình an”. Một hài nhi như vậy thật là quí báu. Trong một gia đình, đây là một phúc lành thật sự làm cho mọi người vui mừng.
Không có Ngài, chẳng có gì như vậy được.
Chăm sóc một em bé vài tiếng đồng hồ, thời gian một cuộc viếng thăm ngắn ngủi, không đòi hỏi nhiều lắm. Nhưng khi người ta đến ở lâu, ở mãi, làm cho gia đình tăng số, lúc đó sự việc trở nên nghiêm túc hơn. Mỗi lần một người nào khác đến ở bên cạnh chúng ta, điều này sẽ mang lại bao nhiêu sự thay đổi! Phải thay đổi bao nhiêu thói quen.
Đêm nay, Chúa Giêsu đến ở luôn nơi chúng ta. Ngài tự mời để trở nên thành phần cuộc sống của tôi và Ngài chờ mong nhận được những sự chăm sóc, quan tâm, tình thương. Ngài cũng chờ mong ta để Ngài lớn lên, phát triển. Các bạn thấy không, xúc động khi tiếp đón “bé Giêsu” có ích gì nếu ta không để chỗ cho Ngài lớn lên, phát triển đến nỗi chiếm cả cuộc đời của chúng ta, tới độ Ngài trở thành Chủ của chúng ta như một bài ca cổ xưa đã nói: “Thầy chí thánh của chúng ta vừa mới sinh ra cho chúng ta”. Vì ta phải ý thức: chấp nhận Thiên Chúa đến viếng thăm tức là chúng ta phải dấn thân vào những nẻo đường đầy yêu sách. Ngay đêm nay, điều đó muốn nói rằng đối với người này hay người khác trong chúng ta phải quên đi một cuộc tranh chấp và tăng thêm thiện chí. Phải đi một hay hai bước thêm nữa. Việc Thiên Chúa đến viếng thăm cũng mang lại cho chúng ta một sự ngạc nhiên rất lớn nữa. Quả thật, Ngài không đến một mình, Ngài kéo theo một đám người không mấy danh giá. Một câu hỏi vang lên đặc biệt mạnh trong đem Giáng Sinh này: “Nhưng lạy Ngài có khi nào chúng tôi đã nuôi nấng, đón tiếp, viếng thăm Ngài đâu? Có khi nào chúng tôi đã không làm điều đó?”. Anh chị em đã biết rõ câu trả lời rồi. Khi ta để Chúa Giêsu lớn lên, Ngài thực sự mang gương mặt của những người đàn ông đàn bà của ngày hôm nay, và rất thường là những gương mặt của những người nghèo nhất và xấu số nhất.
Đây là thời hoan lạc.
Nhưng đêm nay, chỉ với một con tim tươi trẻ mà chúng ta mới có thể nhận ra những lần Thiên Chúa đến viếng thăm trong cuộc đời chúng ta và để cho niềm hoan lạc bùng lên. Phải, ta có thể nói: Không có Ngài cuộc đời của chúng ta không thể như vậy được. Vì bao nhiêu niềm vui đã nhận được và cho đi, bao nhiêu tình nhân ái đã trổ hoa trong lòng con người vì Hài Nhi này. Hài Nhi mà người ta để cho lớn lên trong nội tâm mình.
Chính nhờ thế mà chúng ta có thể kêu lên: “Vì Ngài ở với chúng con, nên đây là thời gian hoan lạc!”.

 

GS-295: NƠI CON TRẺ ĐANG NẰM TRONG HANG BÒ LỪA

  THIÊN CHÚA ĐÃ CHIẾU TỎA VINH QUANG NGÀI
Bài giảng Thánh Lễ Nửa Đêm trong đêm áp lễ Giáng Sinh 2005 của Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI tại Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô.
 

Thiên Chúa phán cùng tôi: Con là con Cha, hôm nay Cha đã sinh ra con”. Với những lời: GS-295

“Thiên Chúa phán cùng tôi: Con là con Cha, hôm nay Cha đã sinh ra con”. Với những lời này trong Thánh Vịnh thứ hai, Giáo Hội bắt đầu Thánh Lễ Vọng Giáng Sinh, ở đó, chúng ta cử hành việc hạ sinh của Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Chuộc chúng ta nơi hang bò lừa tại Belem. Thánh vịnh này là một phần của lễ nghi trao vương miện của những vị hoàng đế Giuđa. Dân Isreal, qua cách thức tuyển chọn, bằng một cách thế đặc biệt đã tự coi mình là con của Thiên Chúa, được Ngài nhận làm dưỡng tử. Như một hoàng đế là đại diện của một dân tộc, việc lên ngôi báu của mình cũng được xem như một hành động trang trọng của việc thừa nhận do Thiên Chúa, bởi đó, vị hoàng đế trong một cách thức đặc biệt tham dự vào mầu nhiệm của Thiên Chúa. Trong đêm Belem, những lời này hơn nữa còn là một dẫn giải của hy vọng hơn là một thực tại hiện hữu., mang một ý nghĩa mới và bất ngờ. Con Trẻ đang nằm trong máng cỏ đó chính là Con Thiên Chúa. Thiên Chúa không đời đời cô độc, nhưng hơn thế là một tiếp nối của tình yêu và sự trao ban hỗ tương. Ngài là Cha, Con và Thánh Thần.
Nhưng hơn thế nữa: Trong Đức Giêsu Kitô, Con của Thiên Chúa, Thiên Chúa đã hóa thân làm con người. Chúa Cha đã nói với ngài: “Con là Con Ta.” Đời đời “hôm nay” của Thiên Chúa đã xuống với cái hôm nay thời gian của thế giới và đã nâng cái hôm nay tạm thời của chúng ta thành cái hôm nay đời đời của Thiên Chúa. Thiên Chúa quá vĩ đại mà đã thể trở thành nhỏ bé. Thiên Chúa quá quyền năng mà đã tự biến mình thành mỏng dòn và đến với chúng ta như một trẻ thơ bất lực, để nhờ đó chúng ta có thể yêu mến ngài. Thiên Chúa quá tốt lành đến nỗi ngài có thể tự hủy bỏ vinh quang thiên tính của mình, và ngự xuống trong một hang bò lừa, để chúng ta có thể tìm gặp ngài, để sự tốt lành của ngài có thể chạm đến được với chúng ta, trao ban nó cho chúng ta và tiếp tục hoạt động qua chúng ta. Đây chính là Lễ Giáng Sinh: “Con là con Ta, hôm nay Ta đã sinh ra con”.
Thiên Chúa đã trở nên một con người trong chúng ta, nhờ đó chúng ta có thể trở nên một với ngài và nên giống như ngài. Như một dấu chỉ, ngài đã chọn hình hài Con Trẻ nằm trong máng cỏ: Điều này cho biết Thiên Chúa như thế nào. Làm thế nào chúng ta biết được ngài. Và nơi mỗi con trẻ ấy đã chiếu sáng phần nào hào quang của “hôm nay” đó, của sự gần gũi của Thiên Chúa mà chúng ta yêu mến và nhờ đó, chúng ta phải khuất phục - nó chiếu sáng trên mọi trẻ em, ngay cả những em còn trong lòng mẹ.
Chúng ta hãy lắng nghe một câu khác từ phụng vụ của đêm thánh này, trích từ sách Tiên Tri Isaia: “Một luồng sáng lớn đã chiếu soi cho những người còn đi trong bóng tối” (Isaia 9:1). Từ ngữ “ánh sáng” xâm nhập toàn phụng vụ của Thánh Lễ đêm nay. Nó cũng được thấy ở đoạn trích thư Thánh Phaolô gửi Titô: “Ân sủng của Thiên Chúa đã xuất hiện” (2:11). Từ ngữ “đã xuất hiện” trong nguyên ngữ Hy Lạp đồng nghĩa với những từ trong tiếng Do Thái là “một luồng sáng đã chiếu soi”: “xuất hiện” này – “hiển linh” này – là một sự xâm nhập của ánh sáng Thiên Chúa trên một thế giới bị chìm ngập trong tối tăm và những vấn nạn không thể giải quyết.. Rồi Tin Mừng liên kết vinh quang Thiên Chúa xuất hiện với các mục tử và “chiếu sáng quanh họ” (Luca 2:9). Nơi đâu vinh quang Thiên Chúa xuất hiện, ánh sáng tràn ngập trái đất. Thánh Gioan nói với chúng ta rằng “Thiên Chúa là ánh sáng và trong ngài không có bóng tối” (1 Gioan 1:5). Ánh sáng là căn nguyên của sự sống.
Nhưng trước hết, ánh sáng mang ý nghĩa hiểu biết; có nghĩa là sự thật, như trái ngược với bóng đêm của tình trạng lỗi lầm và khinh xuất. Ánh sáng cho chúng ta sự sống, nó dẫn đường chúng ta đi. Nhưng ánh sáng, như một nguồn của sức nóng, cũng có nghĩa là tình yêu. Ở đâu có tình yêu, ánh sáng chiếu soi vào thế giới; ở đâu có hận thù, thế giới còn nằm trong tối tăm. Trong hang bò lừa ở Belem nơi đó đã xuất hiện nguồn sáng vỹ đại mà thế giới đang mong chờ. Nơi Con Trẻ đang nằm trong hang bò lừa, Thiên Chúa đã tỏ vinh quang ngài – vinh quang của tình yêu, mà nó tự ban phát, tuớc bỏ chính mình khỏi mọi cao cả để chỉ cho chúng ta con đường tình yêu. Ánh sáng của Belem không bao giờ bị dập tắt. Quan mọi thời đại nó đã động chạm đến mọi người nam nữ, “nó đã chiếu tỏa quanh họ”.
Bất cứ ở đâu con người đặt niềm tin vào Con Trẻ ấy, đức ái cũng triển nở – bác ái đối với những người khác, sự quan tâm âu yếm đến với những ai yếu đuối, đau khổ, ân sủng của sự tha thứ. Từ Belem một nguồn sáng, tình yêu, và sự thật chiếu tỏa qua muôn thế hệ. Nếu chúng ta nói về những vị thánh – từ thánh Phaolô, Augustinô, tới thánh Phanxicô và Đaminh, từ thánh Phanxicô Xavie và thánh Têrêsa d’Avila đến Mẹ Têrêsa Calcutta – chúng ta thấy sự ngập lụt của thiện hảo này, con đường của ánh sáng này luôn được thắp sáng một cách mới mẻ do mầu nhiệm của Belem, bởi việc Thiên Chúa trở thành một Con Trẻ. Nơi Con Trẻ ấy, Thiên Chúa đã đảo ngược sự dữ của thế giới này với sự thiện của chính người. Ngài kêu gọi chúng ta bước theo Con Trẻ đó.
Bên cây thông Giáng Sinh, những người bạn Áo quốc của chúng ta đã đem về ngọn lửa cháy sáng từ Belem, như để nói rằng mầu nhiệm thật của Giáng Sinh là ở trong chính ánh sáng chiếu ra từ Con Trẻ này. Nguyện xin ánh sáng từ bên trong ấy chiếu tỏa trên chúng ta, và thắp sáng trong tim chúng ta ngọn lửa của sự thiện hảo của Thiên Chúa; ước gì mọi người chúng ta, bằng tình yêu thương của mình, mang ánh sáng đến cho thế giới! Chúng ta hãy giữ ngọn lửa ánh sáng trao ban khỏi bị vụt tắt bởi những cơn gió lạnh của thời đại chúng ta! Chúng ta hãy canh giữ nó một cách thành tín và trao ban nó cho những người khác. Trong đêm nay, khi chúng ta hướng về Belem, chúng ta hãy cầu xin một cách đặc biệt cho nơi sinh trưởng của Đấng Cứu Thế của chúng ta và cho những ai đang sống và chịu đau khổ tại đó. Chúng ta hãy thành khẩn nguyện cầu cho nền hòa bình ở Thánh Địa: Xin hãy nhìn đến, Lậy Chúa, từ phần đất của thế giới này, quê hương của ngài, cũng là phần đất rất thân thương của ngài! Chớ gì ánh sáng của ngài chiếu soi trên đó! Chớ gì nó hiểu được hòa bình!
Từ ngữ “bình an” đem chúng ta lại ý nghĩa thứ ba của phụng vụ đêm thánh này. Con Trẻ được tiên báo bởi Isaia được gọi là “Hoàng Tử Thái Bình” Vương quốc của Ngài được gọi là vương quốc “muôn thuở thái bình”. Các mục đồng trong Tin Mừng đã nghe được tin vui: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời cao thẳm” và “bình an dưới thế....” mà đã có lần chúng ta thường đọc: “cho người thiện tâm”. Ngày nay chúng ta đọc “cho người Chúa yêu”. Sự thay đổi này có nghĩa gì? Phải chăng thiện tâm không còn quan trọng nữa? Tốt hơn, chúng ta nên hỏi: Ai là người được Chúa yêu, và tại sao Ngài yêu thương họ? Chúa cũng có những sở thích? Ngài chỉ yêu một số người, trong khi bỏ qua những người khác?
Tin Mừng trả lời những câu hỏi này bằng cách chỉ cho thấy một số người được Chúa yêu. Đó là những người, giống như Đức Maria, Giuse, Ziacaria, Simêon, và Ana. Những cũng có hai nhóm người nữa: các mục đồng và những người thông thái từ phuơng Đông, những “đạo sỹ”. Đêm nay, chúng ta hãy nhìn vào các mục đồng. Họ là những người như thế nào? Trong thế giới ở vào thời điểm của họ, những mục đồng bị coi rẻ, họ bị coi là vô dụng, và không được công nhận như những nhân chứng trước toà án. Nhưng thực tế, họ là ai? Chắc chắn một điều, họ không phải là những vị đại thánh, theo như từ ngữ chúng ta dùng để nói về những người với nhân đức anh hùng. Họ là những tâm hồn đơn sơ. Tin Mừng chiếu giãi ánh sáng trên một đặc tính mà sau này, qua những lời của Chúa Giêsu, mang một tầm quan trọng đặc biệt: Họ canh giữa đoàn vật của mình trong đêm. Nhưng cũng rất thật trong một ý nghĩa sâu thẳm: Họ sẵn sàng đón nhận lời của Thiên Chúa. Cuộc sống của họ không gắn liền với chính nó; trái tim họ rộng mở. Bằng một hình thức nào đó, tự trong thẳm sâu, họ đang chờ đợi ngài.
Việc canh thức của họ là một hình thức sẵn sàng – một thái độ sẵn sàng để lắng nghe và ra đi. Họ đang mong đợi ánh sáng dẫn đường cho họ. Đây là những gì quan trọng đối với Thiên Chúa. Ngài yêu thương mọi người, bởi vì mọi người là tạo vật của ngài. Nhưng một số người đã đóng cửa lòng của họ; họ không có cửa để qua đó tình yêu của ngài có thể vào được. Họ nghĩ rằng họ không cần Chúa, và họ cũng không muốn ngài. Một số người khác, những người từ một quan điểm luân lý mà có lẽ tuy nhiều xấu xa và tội lỗi, ít nhất cũng đã cảm nhận được sự thống hối. Họ đang mong đợi Chúa. Họ nhận thức rằng họ cần sự tốt lành của ngài, mặc dù họ không có một ý niệm rõ ràng về ý nghĩa này. Trong trái tim ngưỡng vọng của họ, ánh sáng Thiên Chúa có thể ngự trị, và với ánh sáng ấy, là sự bình an của ngài. Thiên Chúa kiếm tìm những tâm hồn có thể chứa đựng và ra đi ban phát sự bình an của ngài. Chúng ta hãy cầu xin để ngài không nhìn thấy tâm hồn chúng ta đóng kín. Chúng ta hãy phấn đấu để trở thành nguồn ban phát sống động sự bình an của ngài – trong thế giới hôm nay.
Riêng đối với những Kitô hữu, từ ngữ “bình an” có một ý nghĩa riêng rất đặc biệt: Nó đã trở thành tên gọi của Thánh Thể. Ở đó sự bình an của Đức Kitô ngự trị. Trong tất cả mọi nơi ở đâu Thánh Thể được cử hành, một hệ thống bình an vỹ đại tỏa rộng trên khắp thế giới. Những cộng đoàn vây quanh Thánh Thể làm nên vương quốc của bình an cũng rộng lớn như thế giới tự nó vậy. Khi chúng ta cử hành Thánh Thể, chúng ta bắt gặp chúng ta đang ở hang Belem, trong “ngôi nhà của bánh”. Chúa Kitô trao ban chính ngài cho chúng ta, và để làm thế, đã ban cho chúng ta sự bình an. Ngài ban nó cho chúng ta để chúng ta có thể mang ánh sáng bình an trong ta và trao ban nó cho những người khác. Ngài ban nó cho chúng ta để chúng ta cũng có thể trở nên những kẻ kiến tạo hòa bình và xây dựng hòa bình trên thế giới. Và vì thế chúng ta cầu xin: Lậy Chúa, hãy hoàn tất lời ngài đã hứa! Ở đâu có bất hòa, xin hãy ban sự bình an! Ở đâu có hận thù, xin hãy làm cho tình yêu nở rộ! Ở đâu có tối tăm bao trùm, xin chiếu sáng! Xin làm cho chúng con trở thành người công bố bình an của Chúa! Amen.
T.s. Trần Quang Huy Khanh, chuyển ngữ

 

GS-296: Lễ Giáng Sinh

Lễ Giáng Sinh, một trong hai Đại Lễ của Phụng Niên. Thật vậy, trọng nhất trong một Phụng Niên: GS-296

Lễ Giáng Sinh, một trong hai Đại Lễ của Phụng Niên. Thật vậy, trọng nhất trong một Phụng Niên là Đại Lễ Phục Sinh, một Đại Lễ được sửa soạn bằng 1 Mùa Chay, 1 Tuần Thánh và được mừng trọng thể kéo dài cả một Tuần Bát Nhật kể từ chính Đại Lễ Phục Sinh này, rồi sau đó có 3 Lễ Trọng trực tiếp liên quan đến Mầu Nhiệm Phục Sinh ấy là Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, Lễ Chúa Ba Ngôi và Lễ Mình Máu Thánh Chúa, Đại Lễ Giáng Sinh cũng thế, cũng có cả một Mùa Vọng để sửa soạn, một tuần Lễ Bát Nhật trước Giáng Sinh, từ ngày 17 đến 24, và được mừng kéo dài cả một Tuần Bát Nhật Giáng Sinh, rồi sau Lễ Giáng Sinh còn có 3 Lễ Trọng liên quan trực tiếp đến Mầu Nhiệm Giáng Sinh, đó là Lễ Thánh Gia, Lễ Mẹ Thiên Chúa và Lễ Hiển Linh.
Về ý nghĩa và mối liên hệ giữa hai biến cố trọng đại này, không thể nào có biến cố Phục Sinh nếu không có biến cố Giáng Sinh, biến cố “Lời đã hóa thành nhục thể” (Jn 1:14). Cả hai biến cố Giáng Sinh và Phục Sinh đều liên quan tới thân xác con người, một thân xác đã được Thiên Chúa là Thần Linh sử dụng để tỏ mình ra khi hóa thân làm người, và là một thân xác, nhờ đó, nhờ mầu nhiệm Ngôi Hiệp, mầu nhiệm nên một với Thần Tính của Chúa Kitô, đã được biến đổi linh thiêng bởi biến cố Phục Sinh, và trở thành phương tiện cho Ngài thông mình ra, tức thông ban sự sống của Ngài, qua các Bí Tích Thánh. Bởi thế, nếu biến cố Giáng Sinh cho thấy dung nhan con người của Thiên Chúa thế nào, thì biến cố Phục Sinh cũng cho thấy dung nhan Thiên Chúa của con người như vậy.
Có thể nói, nhờ văn minh Tây Phương, một nền văn minh được đồng hóa với văn minh Kitô Giáo, và được hình thành bởi văn minh Kitô Giáo, và là một nền văn minh Tây Phương đã lan tràn khắp thế giới, mà Lễ Giáng Sinh đã trở thành Ngày Vui của toàn thể nhân loại, Ngày Tết của thế giới. Thế nhưng, tận thâm cung những thứ vui nhộn về ngày Lễ này và của ngày Lễ này là cả một mầu nhiệm vô cùng cao trọng và siêu việt mà chỉ có đức tin mới có thể thấu nhập được. Nếu triết lý không thể nào giải đáp được lý do tại sao có Biến Cố Giáng Sinh, như nó vẫn không thể nào hiểu nổi tội lỗi và sự dữ bởi đâu mà có, thì khoa học kỹ thuật lại càng không thể nào hiểu nổi Biến Cố Giáng Sinh đã xẩy ra như thế nào, như nó vẫn mù tịt về nguồn gốc hư vô của mọi sự! Cho dù thần học Kitô giáo, căn cứ vào Mạc Khải Thần Linh, có thể nhận thức được lý do của Biến Cố Giáng Sinh và biết được cách thức xẩy ra Biến Cố Giáng Sinh, nhưng thần học gia cũng phải có đức tin mới có thể, như các mục đồng và 3 vua, chấp nhận Con Trẻ Bêlem là Con Thiên Chúa. Sau đây là câu truyện về biến cố Giáng Sinh được Mẹ Maria tỏ cho nữ tu Maria D’Agreda biết.
Khi Mẹ Maria đã gần tới ngày sinh hạ Ngôi Lời Nhập Thể, Hoàng Đế Roma ban bố sắc lệnh truyền mọi người dân trong toàn Đế Quốc phải ghi tên vào sổ kiểm tra tại quê tổ của mình. Thánh Giuse rất phiền lòng về sắc lệnh đó. Khi loan tin cho Mẹ Maria, nhưng Mẹ nói với Thánh Cả: "Vua Cao Cả Trên Trời chỉ huy mọi biến cố ở trần gian, nên ta cứ tin tưởng phó thác mặc Ngày hướng dẫn: Niềm cậy trông của chúng ta không bị đánh lừa đâu". Mẹ biết rõ Con Mẹ sẽ sinh ra tại Belem, nhưng Mẹ không nói ra, vì nếu không có lệnh Chúa truyền, Mẹ chẳng bao giờ tiết lộ một bí mật nào của Thiên Chúa. Thánh Cả Giuse, vẫn còn ái ngại cho tình trạng của Mẹ. Một đàng Ngài muốn Đức Mẹ cứ ở nhà, để Ngài đi một mình, lấy lẽ rằng lệnh vua chỉ buộc có gia trưởng, đàng khác, Ngài không thể không có Mẹ ở bên. Ngài rất lo ngại nếu Mẹ sinh nở khi mình vắng nhà, ai sẽ phục vụ Mẹ. Nhưng Thánh Cả không phải là một người kép đức tin, Ngài vừa xin mẹ cầu nguyện cho biết Thánh Ý Chúa, vừa quyết định sẽ theo Mẹ về quê tổ. Vâng theo Ý Thánh Cả, Mẹ Maria liền cầu xin Chúa. Chúa trả lời: "Con cứ đi với tôi tớ Giuse của Cha, Cha sẽ hết tình hiền phụ trợ lực con luôn". Rồi ngay trước mặt Mẹ, Mẹ ra lệnh cho một nghìn thiên thần vẫn hầu cận Mẹ phải đặc biệt ân cần phục dịch Mẹ trong cuộc hành trình này. Chúa lại truyền cho 9 nghìn tháp tùng Mẹ, ngay khi Mẹ vừa khởi hành. Mẹ thưa lại với Thánh Giuse lời Chúa đáp. Thánh Cả đầy niềm hân hoan. Dầu vậy, Ngài vẫn còn lo ngại ít nhiều về những hoàn cảnh có thế xảy ra khi đi đường mệt nhọc, nhất là Ngài sợ lỡ ra ngay trên đường hành trình mà Mẹ buộc phải lâm bồn chăng. Nhưng Mẹ trấn an Ngài: "Chúa đã phù hộ ta, ta cứ hoàn toàn cậy trong Chúa, để mặc Chúa lo liệu mọi sự cho ta".
Thế là đôi bạn Thánh định ngày lên đường. Thánh Giuse phải đi mượn mãi mới được một con lừa nhỏ, bởi vì những con dùng đi đường được, người ta đã mượn và đi cả rồi. Mẹ biết trước sẽ vắng nhà lâu, nên đã xếp dọn chu đáo tất cả, và nhờ một người hàng xóm trông nhà giúp cho tới khi các Ngài trở về. Lúc khởi hành, Mẹ qùy gối xin Thánh Giuse ban phép lành. Tất nhiên là Thánh Cả cố sức chối từ, nhưng rốt cuộc cũng phải nhường ý Đức Nữ Vương khiêm nhượng. Ngài chúc lành cho Mẹ với hết niềm tôn kính. Rồi đến lượt Ngài, Ngài phủ phục trước mặt Mẹ, xin Mẹ chúc lành cho nhân danh Con Mẹ đang cưu mang trong lòng. Bấy giờ là mùa đông, cuộc hành trình vì đó trở nên mệt nhọc. Nhưng Mẹ Maria chỉ lưu ý đến Chúa Thai Nhi, và cố sức bắt chước Con Mẹ trong mọi việc Con Mẹ làm. Mười ngàn Thiên Thần tháp tùng đôi bạn Thánh, đã hiện ra như người, với một ánh sáng rực rỡ hơn mặt trời, cho nên dầu gặp đêm tối Mẹ và Thánh Cả cũng được sáng soi như ban ngày vậy. Cha Hằng Hữu còn sai nhiều thiên thần khác xuống mang tin cho Người Con Duy Nhất Nhập Thể Của Ngài, cho Mẹ Maria và nhận tin của hai vị.
Các thiên thần đó tấu lên nhiều ca vịnh chúc mừng vinh quang của hai Mẹ Con. Mẹ và Thánh Cả Giuse cũng hát lên nhiều ca khúc ngợi khen Đấng Tối Cao. Nhưng không phải như thế mà cuộc hành trình không gian khổ. Nhiều người mà đôi bạn Thánh gặp trên đường đi đã gây phiền hà cho Mẹ Maria rất đoan trang nghiêm cẩn, vốn rất ít lời. Mà thực ra Mẹ cũng chẳng nói với ai nếu không cần thiết thật. Vì đôi bạn Thánh có vẻ nghèo nên các hàng quán không tiếp đón tử tế. Họ để hai vị phải nằm ngoài cửa, hoặc có lần còn dồn hai vị xuống những căn phòng bỏ đi đầy nhơ bẩn; cả đến có chỗ bắt hai vị phải chung với xúc vật. Những con vật này còn không bất nhân bằng con người, chúng tránh chỗ và qùy phục đấng sáng tạo của chúng đang ngự trong lòng Mẹ. Tuy nhiên, các Thiên Thần vẫn canh giữ đôi bạn Thánh: Lúc Mẹ đàm đạo với các vị, Thánh Giuse nằm nghỉ một chút theo lời Mẹ xin. Nỗi đau khổ nhất của Mẹ là tình trạng linh hồn của những người Mẹ gặp thấy. Mẹ nhìn suốt thấu tâm hồn họ, nên Mẹ cầu nguyện cho tất cả để xin ơn bền vững cho người lành. Ơn cải đổi cho tội nhân, một số tội nhân này, mặc dầu được Mẹ cầu nguyện cho nhưng cũng phải hư mất vì họ không chịu đón nhận Ơn Chúa ban. Nhìn thấy họ sẽ trầm luân như vậy, nhất là Đức Micae vẫn luôn ở bên hữu Mẹ, nâng đỡ Mẹ trên tay. Dầu phải chịu giá rét, tuyết sa, Mẹ cũng không dùng quyền Chúa ban mà truyền lệnh cho chúng đừng gây phiền cực cho Mẹ. Mẹ vui lòng chịu đựng để bắt chước Con Chí Thánh Mẹ đang đón chờ đau khổ.
Sau năm ngày dài vất vả trên đường, Thánh Giuse và Mẹ đến Belem vào khoảng 4 giờ chiều thứ bảy. Thánh Giuse và Mẹ đi hết nhà nọ sang nhà kia xin tạm trú, nhưng người ta đều xua đuổi. Cả những chỗ thân thuộc bà con cũng khinh chê hất hủi. Lúc đi ngang qua trụ sợ ghi danh, đôi bạn Thánh vào ghi tên và nộp phần thuế của mình rồi lại đi tìm chỗ trọ. Tính ra trước sau đã có hơn 50 nhà Hai Ngài đến xin trọ qua đêm mà không được.
Bấy giờ vào khoảng 9 giờ đêm. Thánh cả Giuse vừa mệt mã, vừa buồn sầu; Ngài nói với Mẹ: "Lúc này, lòng tôi tan nát, hẳn là có một Mầu Nhiệm nào của Chúa trong sự vô tâm của những người cùng khốn nhất. Tôi sẽ đưa Đức Nữ đi đâu bây giờ? không biết có còn nơi nào tạm ở được nữa, ngoài một các hang đá mà tôi đã thấy ở ngoài thành". Mẹ Maria trả lời: "Xin Thầy đừng buồn vì không tìm được nơi nào tốt hơn cho Con Chí Thánh chúng ta. Trái lại xin cùng tôi tạ ơn Ngài vì đã có ý định như thế. Nơi Thày vừa nói đó rất hợp với sự nghèo nàn là kho tàng của Ngài, sự nghèo nàn mà chúng ta phải yêu mến. Thôi ta cứ vui lên mà đi ra hang".
Những Thiên Thần sáng chói như đuốc dẫn lối cho đôi bạn Thánh ra hang đá. Hang này không có ai ở. Nó khốn nạn đến nỗi ở Belêm bấy giờ dù đầy dẫy người, nhưng không ai thèm ra trú ở nơi đó. Khi vào tới hang, Mẹ và Thánh Cả liền qùy xuống, vui mừng tạ ơn Chúa với một niềm vui trên trời. Mẹ cầu xin Chúa thưởng công cho những người ở Belem đã hất hủi Mẹ vì họ không cho trú nhờ mà hai vị mới được hạnh phúc tạm ẩn trong các hang này. Nhất là Mẹ đã hiểu được Thánh Ý Thiên Chúa ngay từ tạo thiên lập địa, đã chuẩn bị cái hang nghèo nàn ấy làm nơi sinh hạ cho đấng cứu chuộc muôn dân. Hang được khoét tự nhiên trong một núi đá cứng và lồi lõm, rất bất tiện, nên người ta chỉ dùng làm nơi cho trâu bò nằm nghỉ tạm, chứ chẳng ai nghèo đến nỗi phải vào đó.
Mẹ bắt tay ngay vào việc quét dọn hang cho sạch sẽ, ít bất xứng với Con Chí Thánh của Mẹ hơn. Thánh Giuse đòi phần việc ấy cho mình. Nhưng bỗng dưng các Thiên Thần dàn hàng ngũ như một đội quân danh dự sửa sang lại hang đá, phút chốc nên sạch sẽ gọn gàng, sực nức hương thơm lạ lùng. Tiết trời lạnh lắm nên Thánh Giuse nhóm lên một đống lửa, xin Đức Thánh Nữ Trinh dùng với mình một chút lương thực. Vốn tuân phục, Mẹ nhận lời mời ngay. Nhưng Mẹ vẫn trầm mặt với mầu nhiệm sắp thể hiện. Sau khi chuyện vãn với bạn Thánh mình một lúc, Mẹ dục Thánh Giuse đi nghỉ. Thánh Giuse cũng mời Mẹ đi nghỉ, và lấy áo Ngài mang theo trải trên một cái máng khá rộng đặt trên nền đá hang để làm chỗ nghỉ đêm cho Mẹ. Còn Ngài rút lui ra 1 góc phía cửa. Ở đấy, Ngài được xuất thần ngay không còn hay biết gì bên ngoài cho tới lúc Mẹ Maria lên tiếng gọi Ngài.
Riêng phần Mẹ, không những Mẹ cũng xuất thần ngay, như vậy, mà còn được thị kiến thấy Thiên Chúa cách chói lọi vinh quang, làm cho các Thiên Thần cũng sững sờ không hiểu. Mẹ được thấy lại tất cả những kiến thức Mẹ nhận được trong các cuộc thị kiến trước, và nhận thêm nhiều kiến thức mới trong lòng Thiên Chúa vô cùng. Mẹ nhìn thấy rõ những lý do cao cả nhất, những mục đính tuyệt vời trong các việc lạ lùng Thiên Chúa làm, cả về phía Đấng Sáng Tạo, cả về phía Thụ Tạo. Phủ phục trước Ngai Thiên Chúa, Mẹ dâng lên những lời ca tụng và cảm tạ cho Mẹ và cho toàn thể loài người. Mẹ cũng hạ mình rất sâu thẳm cầu xin Chúa ban cho mình những ân sủng đặc biệt để xứng đáng chu toàn nhiệm vụ làm Mẹ Ngôi Lời Nhập Thể mà Mẹ sắp sửa được bế trên tay và cho bú sữa. Trong khi Mẹ tự hạ xuống tới hư vô như vậy Thiên Chúa nâng Mẹ lên tới Ngài và nói với Mẹ rằng: "Con chính là Mẹ thật của Con Cha, nên con cứ xử với Con Cha như con thật mình với tư cách người Mẹ thật”.
Sau hơn một thời tham hưởng thị kiến đó, lúc dùng lại được giác quan, Mẹ cảm thấy Thai Nhi Thiên Chúa chuyển động trong cung lòng đồng trinh của Mẹ. Chuyển động ấy không hề gây cho Mẹ một đau khổ nào, mà còn sản ra trong linh hồn Mẹ tràn đầy hân hoan những hiệu quả tuyệt vời trong thân xác đã nên thiêng liêng của Mẹ, mà tâm trí con người không thể hiểu được. Mẹ trở nên xinh đẹp lộng lẫy, xem ra không còn phải là một thụ tạo ở dưới đất nữa. Gương mặt Mẹ giãi sáng như mặt trời huy hoàng; phong thái Mẹ uy nghi khôn sánh, và trái tim Mẹ rừng rực tình yêu nồng cháy hơn cả. Lúc ấy Mẹ đang qùy trong máng cỏ, chắp tay trước ngực, mắt ngước lên trời, hồn trí cắm chặt vào Thiên Chúa, toàn thân Mẹ trở nên như Thiên Chúa. Chính lúc đó là lúc Mẹ sinh hạ Ngôi Lời Nhập Thể Làm Người. Ngài sinh ra giữa lúc nửa đêm vào ngày Chúa Nhật, năm 5199 từ khi sáng tạo.
Chúa sinh ra khỏi lòng Mẹ, nhưng không hề làm Mẹ tổn hại hay nhơ ố gì; trái lại, còn Thánh Hiến Đức Khiết Trinh của Mẹ với nhiều rực rỡ hơn, như một tia sáng của mặt trời thấu qua thủy tinh càng làm cho thủy tinh nên lộng lẫy. Chúa không phải lụy phục luật thiên nhiên chút nào trong hoàn cảnh này. Vì đã đầu thai hoàn toàn tinh sạch. Sự đẹp đẽ, vinh quang của Linh Hồn Ngài dãi chiếu trên thân xác Ngài rất huy hoàng chói ngợp, như sau này khi biến hình trên núi Tabôrê. Thiên Chúa muốn cho Mẹ Maria nhìn thấy Ngài lần đầu tiên trong ánh sáng vinh hiển đó, để Mẹ cảm thấy càng phải tôn kính Ngài hơn, và để, trong những ánh nhìn khoái lạc ấy, mắt Mẹ được một phần thưởng vì đã trung tín nhắm lại trước hết mọi sự vật trần gian.
Hai vị tổng thần của Triều Đình Thiên Quốc là Đức Michae là Đức Gabriel mặc hình người tham dự quang cảnh lạ lùng ấy. Hai vị nâng Chúa Hài Nhi trên tay mình khi Ngài vừa sinh ra, và nâng lên cho Mẹ Maria trong lúc thân mình Ngài chói lọi ánh sáng, như Linh Mục nâng bánh Thánh lên sau khi truyền phép cho Giáo Dân qùy gối tôn thờ. Lúc đó Con và Mẹ nhìn nhau, xuyên thấu vào nhau vì yêu mến. Chúa nói với Mẹ: "Mẹ ơi, Mẹ hãy trở nên tương tự như con đây. Vì hữu thể nhân loại mà Mẹ tặng Con, Con muốn ngay từ hôm nay tặng Mẹ, một hữu thể khác cao cả hơn, tương tự như hữu thể của Con qua khuôn mẫu hoàn toàn". Mẹ trả lời: "Con hãy lôi cuốn Mẹ đi, Mẹ sẽ chạy theo hương thơm của con". Mẹ Con Đấng Cứu Thế trao đổi cho nhau những lời trong sách diễm ca. Đồng thời với lúc Chúa Hài Nhi chuyện trò với Mẹ Ngài, Ngài mở cho Mẹ thấy nội tâm linh hồn của Ngài, để Mẹ bắt chước và nên giống như Ngài, tùy khả năng của Mẹ. Ta chớ quên rằng ân huệ này vẫn tiếp tục ban cho Mẹ suốt cuộc đời Mẹ. Sau đó, Mẹ nhìn thấy Thiên Chúa Ba Ngôi hiện diện, và nghe thấy lời phán với Mẹ: "Đây là Con rất yêu dấu Ta, Ta chỉ hài lòng nơi Ngài". Mẹ Maria thưa lên: "Lạy Cha Hằng Hữu, một lần nữa, xin Cha chúc phúc lành cho Con, để Con chu toàn nhiệm vụ làm Mẹ và làm Nữ Tì của Con Cha". Đấng Tối Cao phán: "Con hãy tiếp nhận Con duy nhất của Cha. Và đừng quên rằng khi Cha đòi lại, Con phải dâng tế cho Cha. Trong khi chờ đợi, con hãy làm Mẹ dưỡng nuôi Ngài, và tôn kính Ngài như Thiên Chúa của Con". Mẹ xin nài: "Xin Cha ban ân sủng xuống trang điểm cho con, để con đáng được Con của Cha và Chúa của con đoái nhận làm nữ tì Ngài; để con phục vụ Ngài cho đẹp lòng Ngài; và để một thụ tạo hèn mạt là con đây được ẵm Đấng Sáng Tạo của con, Thầy Dạy của con trên tay và lấy sữa nuôi Ngài".
Sau những cuộc trao đổi ấy, Hài Nhi-Thiên Chúa không giãi ánh vinh quang trong Linh Hồn Ngài ra Thân Xác nữa, nhưng xuất hiện trong tình trạng tự nhiên. Mẹ Maria lúc đó vẫn quì gối, rước lấy Con của Mẹ từ tay hai Tổng Thần. Khi đã ẵm Con trong tay, Mẹ nói với Con Mẹ: "Con rất yêu dấu dịu dàng của Mẹ, hãy nhận Mẹ làm nữ tì hầu hạ Con, và bổ khuyết cho chỗ thiếu sót của Mẹ. Con rất dấu yêu, Con muốn Mẹ xử với Con thế nào, hãy cho Mẹ nên như thế để đúng ý Con muốn". Mẹ lại một lần nữa thân với Cha hằng hữu rằng: "Lạy Đấng Sáng Tạo vũ trụ, đây là bàn thờ và Hi Lễ đẹp mắt Chúa. Xin Chúa dủ thương ghé mắt nhìn đến những người tội lỗi. Con được hạnh phúc này cũng là nhờ họ một phần nào. Cho nên sẽ không bao giờ con không yêu thương họ và săn sóc họ". Rồi, nhìn tới khắp mọi người, Mẹ nói với họ: "Đừng sợ, cứ lại gần đây: tay Mẹ đang ẵm Con Thiên Chúa rất hiền từ. Hãy đến để được sống". Sau cùng, quay lại Con Mẹ, Mẹ nói: "Phần Con, hỡi kho tàng chí ái của linh hồn Mẹ, Con hãy hôn Mẹ đi và đón nhận nụ hôn Mẹ đặt trên Con". Rồi Mẹ nâng niu vỗ về Con Mẹ hết sức yêu đương như Con Mẹ từng đợi chờ.
Mười ngàn thiên thần ngây ngất trước cảnh tượng đó, các Ngài mặc hình người phục xuống thờ lạy Đấng Sáng Tạo làm người của mình. Hơn nữa, tất cả các thiên thần cũng đều hiện diện lúc Chúa Ba Ngôi đặc biệt đến tham dự cuộc sinh hạ Đấng Cứu Chuộc; tất cả đều đồng thanh xướng lên ca ngợi Chúa bài tân ca này: "Sáng danh Thiên Chúa trên các tầng trời cao thẳm, và hòa bình cho những người lòng ngay dưới đất".
Chính vào lúc đó, Mẹ Maria lên tiếng gọi Thánh Giuse; Ngài đang được xuất thần, được mặc khải cho biết những mầu nhiệm đang thể hiện. Ngài sử dụng giác quan lại, và đối tượng đầu tiên Ngài nhìn thấy đó là Hài Nhi-Thiên Chúa đang nằm trên tay Mẹ Maria, áp mặt vào lòng Mẹ. Ngài hạ mình sâu thẳm thờ lạy Chúa trên bàn thờ sống động là vòng tay đồng trinh của Mẹ. Ngài kính cẩn hôn chân Chúa với một nguồn vui tràn trề ngất ngây đến nỗi chết, nếu Chúa không thêm sức cho Ngài.
Sau việc tôn thờ đó, Mẹ Maria xin phép Con mình để ngồi xuống, vì cho tới bấy giờ Mẹ vẫn quì. Thánh Giuse mang khăn áo đến, Mẹ nhận lấy cuốn cho Hài Nhi-Thiên Chúa với một tâm hồn rộng mở, một niềm kính cẩn, một sự tế nhị không thể tả, rồi Mẹ đặt Chúa trong máng cỏ bằng đá mà Mẹ đã phủ lên một lớp rơm và cỏ khô. Trong lúc đó, theo lệnh Chúa, một con bò từ ngoài đồng chạy vào, hợp sức với con lừa nhỏ Mẹ đem theo, cả hai phục xuống trước Đấng Sáng Tạo chúng, thở hơi cho bớt lạnh. Ở đây đã thể hiện lời tiên tri Isaia: "Con bò con lừa nhận ra được chủ mình, còn Israel không nhận biết Ngài".
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

 

GS-297: Chúa giáng trần (Ga 1, 1-18)

Từ nguyên thủy đã có Ngôi Lời, và ... . . . Chưa từng có một lời văn nào diễn tả về cuộc: GS-297

"Từ nguyên thủy đã có Ngôi Lời, và Ngôi Lời vẫn ở với Thiên Chúa, và Ngôi Lời vẫn là Thiên Chúa." Chưa từng có một lời văn nào diễn tả về cuộc nhập thể của Chúa Giêsu một cách hào hùng và trang trọng như thế. Một Thiên Chúa toàn năng đã mặc lấy xác phàm loài người chúng ta. Ngài là sự sống và là ánh sáng thế gian (Ga 1,4). Thánh Gioan nói cho ta biết trong và qua Chúa Giêsu, Thiên Chúa mặc khải cho chúng ta về tình yêu của Ngài đối với nhân loại. Thế nhưng ở ngay giữa đoạn Thánh Kinh huyền nhiệm đó, chúng ta đọc thấy câu, "Ngài đã đến nhà các gia nhân Người và đã không được đón nhận." Sau đó, Thánh Gioan lại tiếp, "Chúng tôi đã nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang Người nhận được bởi Chúa Cha, như của Người Con Một đầy ân sủng và chân lý" (Ga 1,14). Ở đây, Thánh Gioan nhấn mạnh về mầu nhiệm tình thương bao la của Thiên Chúa. Cho dù có bị chối từ, Ngài vẫn đến để trao ban tình thương cho chúng ta. Thánh Gioan đã viết tiếp rằng những ai đón tiếp Ngài thì Ngài ban cho họ được quyền làm con Thiên Chúa.
Ở đây, chúng ta hãy tự đặt ra cho mình một câu hỏi, "Làm sao để chúng ta có thể được quyền làm con Thiên Chúa? là công dân Nước Trời?" Câu trả lời chúng ta tìm thấy ngay trong Phúc Âm.
"Hãy để những trẻ nhỏ đến cùng Thầy". Chúa Giêsu đã phán với các môn đệ. "Nước Thiên Chúa thuộc về những kẻ giống như chúng. Hãy tin Ta, nếu ai không đón nhận Nước Thiên Chúa giống như chúng thì chẳng được vào Nước Trời" (Lc 18:16-17). Thật đáng tiếc là trong cuộc sống thực tế, chúng ta đang phải cảm nghiệm những cực đoan của xã hội. Mừng Giáng Sinh không có nghĩa là chúng ta được giải thoát khỏi cái thế giới đầy hỗn độn này. Hôm nay chúng ta tụ tập nơi đây để chia sẻ niềm vui và nỗi khổ của nhau. Chúng ta không thể phủ nhận sự hiện diện của những thử thách và gian nan trong cuộc sống của mỗi cá nhân. Có lẽ một số các bạn bây giờ đang phải khổ não phiền muộn. Một số người trong chúng ta đang suy tư về sự hiện hữu của mình. Các nước đang chiến tranh với nhau. Nhiều người đang phải đói khổ. Những tên khủng bố đang ngầm phá. Các nước lớn đang dự trữ vũ khí nguyên tử để hăm dọa nhau. Thế nhưng giữa những điều tiêu cực đó, sứ điệp của Giáng Sinh nói với chúng ta rằng Thiên Chúa sẽ toàn thắng và sự dữ không thể thắng được Ngài. Không bao giờ!
Trong giây phút linh thiêng của ngày Lễ Giáng Sinh, các bạn hãy để cho tâm hồn mình mở rộng để bình an của Chúa đổ tràn vào. Hãy trở nên những trẻ nhỏ. Hãy thưa tiếng "Xin Vâng" với Thiên Chúa. Ngài sẽ làm tất cả. Ngài sẽ tẩy rửa và chữa lành chúng ta, và ban cho chúng ta sự sống mới. Ngài còn chỉ cho chúng ta con đường công chính dẫn đến ơn cứu độ. Ngài sẽ ban cho chúng ta sức mạnh để chúng ta có thể chu toàn nhiệm vụ của chúng ta.
Khi chúng ta còn đang nói về câu truyện Giáng Sinh, thì có lẽ chúng ta còn phải tưởng nghĩ đến một phần của câu truyện Giáng Sinh nữa là phần Đức Maria đang ngồi trên lưng con lừa đi bên cạnh Thánh Giuse trên con đường gồ ghề lởm chởm từ Galilêa đến Giuđêa. Khi đến Bethlehem, thì cả hai đều phải đối diện với một sự tủi khổ đó là cái nghèo. Chuyện xảy ra cách đây hai ngàn năm cũng đang xảy ra ngày nay. Nếu các bạn có tiền, các bạn có thể tìm được chỗ ở khách sạn, cho dù khách sạn đó có ghi câu "hết chỗ" (No Vacancy). Thánh Giuse và Đức Mẹ đều không có tiền nên cả hai đã đi ra cánh đồng và ở trọ trong một hang bò lừa. Sau khi sinh ra, Gia Đình Thánh Gia còn chưa được ổn định. Vua Hêrôđê đã lùng bắt Chúa Giêsu để giết, và cả ba Đấng Thánh lại phải chạy trốn sang Ai-Cập. Những chuyện bất công, lừa dối, giết chóc, kiêu căng, nghèo khổ... tất cả đều có đầy đủ trong câu truyện Giáng Sinh. Giáng Sinh không chỉ là một cuộc vui mừng đượm bằng những cây thông, gói quà, kẹo ngọt... nhưng là một sứ điệp rằng Chúa Giêsu đã xuống thế gian với chúng ta để chia sẻ cho chúng ta tình yêu bao la của Ngài. Tình yêu của Ngài ở với chúng ta trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời.
Xin các bạn hãy lãnh nhận lấy Chúa Hài Đồng để Ngài ban cho các bạn sức mạnh và tình yêu để các bạn có thể chia sẻ những ơn ấy cho người khác.
Xin kính chúc tất cả các bạn được an hưởng một mùa Giáng Sinh đầy tràn ơn bình an và hạnh phúc của Chúa Hài Đồng!

 

GS-298: Suy niệm của Lm. Trương Đình Hiền

Có một bài ca Giáng Sinh bất hủ mà mỗi độ Giáng Sinh về chúng ta đều nghe vọng lại cách:  GS-298

Có một bài ca Giáng Sinh bất hủ mà mỗi độ Giáng Sinh về chúng ta đều nghe vọng lại cách thân thương quen thuộc: Bài Đêm Thánh Vô Cùng. (Silent night, Holy night). Vâng Đêm nay quả thật là Đêm Thánh. Bởi vì đêm nay, hầu như tất cả mọi người, không phân biệt già trẻ lớn bé, tín ngưỡng hay vô thần, tin Chúa hay tin Phật…đều đỗ nhau ra đường, tuôn đến các Thánh đường, các tụ điểm sinh hoạt văn hoá, để chung một niềm vui: Vui Noel, để rạo rực một tâm tình: tâm tình Giáng Sinh.
Nhưng nếu lễ Noel chỉ đem lại cho mỗi người chúng ta chỉ một niềm vui thoáng qua, một hạnh phúc chóng tàn, như cái bóng hạnh phúc ảo ảnh trong ánh lửa của cô bé bán diêm trong câu chuyện “Cô bé bán diêm” của văn hào Andecxen, để rồi sau đó, đêm Noel qua đi, những bài ca Giáng Sinh ngừng lại, ánh sáng của sao lạ, hang đá máng cỏ vụt tắt, rồi tất cả lại quay về với một đời thường tăm tối, đắng cay, thất vọng, khổ sầu…thì việc đón mừng Giáng Sinh của chúng ta chẳng khác nào tiếp đón một người khách xa lạ, khách đi rồi mà chẳng để lại nơi tâm hồn ta, nơi mái nhà ta, nơi cuộc sống ta một dư âm nào, một kỷ niệm nào, và nhất là, một chuyển biến nội tâm nào.
Không, trong phút giây đặc biệt nầy, tôi xin mời gọi ông bà và anh chị em hãy cùng tôi khám phá những ý nghĩa sâu xa của mầu nhiệm Giáng Sinh, để niềm vui đêm nay, ánh sáng đêm nay, âm thanh đêm nay, không chỉ loé sáng lên để rồi vụt tắt lịm như những que diêm của Cô bé bán diêm xấu số cùng với cái chết thương tâm của cô giữa trời tuyết lạnh; nhưng phải được nối dài, phải được vang vọng trên mọi nẽo đường cuộc sống của chúng ta.
I. GIÁNG SINH: MỘT MẦU NHIỆM ĐẾN TỪ THIÊN CHÚA
Thiên Chúa làm người: Phải chăng đây là một khẳng định táo bạo, một sự lừa bịp, một tuyên truyền láo khoét? Không, với mỗi người Kitô hữu chúng ta, “Thiên Chúa làm người” đó là một xác tín cơ bản, một niềm tin căn cốt đã ăn sâu trong hồn, đã thuộc lòng trên môi miệng và đã được cử hành, nhắc nhớ trên từng cây số của cuộc sống. Chân lý nầy lại được một lần nữa long trọng cử hành trong chính đêm nay, được tuyên xưng trong Kinh Tin Kính của Thánh lễ nầy “ Vì loài người chúng tôi, và để cứu rỗi chúng tôi, Người đã từ trời xuống thế. Bởi phép Chúa Thánh Thần, Người đã nhập thể trong long Trinh Nữ Maria và đã làm người”.
Nhưng với những người không chia sẻ cùng một niềm tin với chúng ta, thì quả thật “mầu nhiệm Thiên Chúa Làm Người” quả là một thách đố, nếu không nói là xa lạ và ảo tưởng. Điều nầy cũng đễ cảm thông thôi; vì, cách đây 2000 năm, cho dù được các Sứ ngôn tiên báo, cho dù được Sách Thánh thông tin xa gần, dân Do Thái vẫn không hề chấp nhận được “Một Đấng Cứu Thế” sinh ra trong hang lừa máng cỏ, một Đấng Emmanuel con của gia đình Bác Thợ Mộc Giuse và Bà Maria ở làng quê Nadarét. Với tâm thức chung của họ lúc bấy giờ, và cũng là tâm thức của nhiều người trong nhân loại hôm nay, Thiên Chúa phải là một “Ông Trời” toàn năng trên các tầng mây, một Thượng Đế uy nghi lẫm liệt trên cõi vĩnh hằng; nếu Ngài có “hạ cố làm người”, thì cũng phải làm người trong cung cách của một vị đế vương oai hùng lẫm lẫm nơi gác tía lầu son, nơi cung đình tráng lệ, chứ làm gì có một “Ông Trời sinh ra trong thân phận của một Em Bé khóc oa oa vấn tả nằm trong máng chiên lừa bao quanh chỉ có mấy chú mục đồng khổ nghèo kiết xác. Cũng vì quan niệm như thế mà địa chỉ đầu tiên Ba Nhà Đạo Sĩ Phương đông tìm đến để kiếm tìm Đấng Cứu thế là Thủ đô Giêruxalem nơi cung điện của đại vương Hêrôđê. Nhưng nơi đó làm gì có Đấng Cứu thế giáng sinh. May mắn, nhờ “Sao Lạ dẫn đường, các Đạo sĩ đã tìm gặp Đấng Emmanuel nơi hang lừa máng cỏ ngoài đồng vắng Bêlem, trong thân phận của một em bé nghèo hèn yếu đuối. Vâng, nếu không có “Anh sao lạ”, nếu không có “thiên thần hiện ra loan báo Tin vui”, nghĩa là, nếu không có sự “mặc khải”, sự dẫn đưa của Thiên Chúa, thì loài người chúng ta không ai có thể khám phá, nhận biết được mầu nhiệm Thiên Chúa làm người. Chúng ta sẽ mãi mãi ngủ vùi trong một giấc ngủ triền miên của sự lầm lạc, cách xa và mù tối về sự hiện diện của Thiên Chúa làm người. Thật cần thiết biết bao “ánh sao mặc khải của Thiên Chúa”.
II. GIÁNG SINH: VÌ YÊU THIÊN CHÚA CHIA SẺ PHẬN NGƯỜI.
Nhưng làm sao Thiên Chúa lại phải làm người, và làm người trong thân phận nghèo nàn, tăm tối, thấp hèn?
Để hiểu phần nào chân lý nầy, chúng ta có thể mượn câu ca dao của Việt Nam:
“Yêu nhau trăm sự chẳng nề,
Một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng”.
Một trăm chỗ lệch: Giữa chúng ta, giữa con người với Thiên Chúa không phải chỉ có “một trăm chỗ lệch” nhưng là cách xa muôn trùng. Bởi vì Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng, toàn thiện, toàn mỹ, còn chúng ta chỉ là thân phận tạo vật do bàn tay Người tác tạo. Sự cách biệt đó càng lớn, càng sâu, càng cách xa vời vợi khi con người phản bội, chối từ Ngài, mà Lời Chúa trong Sách Sáng Thế đã nói với chúng ta qua câu chuyện “bi kịch ăn trái cấm nơi vườn địa đàng”.
Tuy nhiên, Thiên Chúa cao xa quyền năng đó, lại là một “Thiên Chúa nhân từ” và giàu lòng thương xót, một Thiên Chúa luôn nhớ lại lòng khoan dung. Chính vì tình yêu bao la đó, mà Thiên Chúa đã không đành bỏ mặc con người trong khoảng cách xa vời vợi, trong thân phận mồ côi lạnh lùng, trong sự lạc loài cách biệt. Thánh sử Gioan đã nói: “Thiên Chúa đã yêu thương con người đến đổi đã ban Con Một xuống trần…” (Ga 3,16).
Thiên Chúa làm người để con người được ơn cứu rỗi, hay như lời một Giáo Phụ: “Thiên Chúa làm người để con người được làm Chúa”. Nói cách khác: Thiên Chúa muốn nâng con người lên, đem con người vào vị trí cao cả mà ngay từ đầu Thiên Chúa đã muốn tác tạo: đó là giống hình ảnh Người. Đúng là “một trăm chỗ lệch…”
Vâng, chúng ta chỉ hiểu được, chỉ chấp nhận được mầu nhiệm Giáng Sinh nầy trong chiều kích TÌNH YÊU, trong ý nghĩa tình yêu.
- Giáng sinh: đó là tình yêu của Thiên Chúa
- Giáng sinh: đó là tình yêu của Thiên Chúa hiện thực trong lịch sử con người.
- Giáng sinh: đó là tình yêu của Thiên Chúa được thể hiện cách trọn vẹn và hết mình. Cho nên, mừng mầu nhiệm Giáng Sinh chúng ta mừng hai ý nghĩa, hai tác động có liên quan mật thiết:
- Thiên Chúa làm người và con người được nâng lên
- Là ngày “chúng ta tái diễn cuộc vào đời của Thiên Chúa “, là dịp chúng ta ý thức “Hồng ân vĩ đại, cao cả của mỗi người chúng ta vì chúng ta được mời gọi làm con Thiên Chúa, được chia sẻ vinh quang thần linh của Thiên Chúa.
III. GIÁNG SINH: THIÊN CHÚA DẪN LỐI ĐƯA ĐƯỜNG
Nhưng khẳng định trên, chân lý trên, có ích gì cho xã hội hôm nay, cho mỗi người chúng ta hôm nay? Vâng, đã hơn 2000 năm rồi, Thiên Chúa đã làm người, đã cứu chuộc chúng ta bằng chính cái chết và sự sống lại của Ngài, bằng chính Giáo Hội mà Ngài thiết lập để qui tụ nhân loại và ban ơn cứu độ là chính Thánh Thần của Thiên Chúa…thì thế giới vẫn còn nguyên đó với chiến tranh đầu rơi máu đỗ, với chết chóc hận thù, với bịnh tật khổ đau…Để hiểu tại sao như thế, chúng ta phải trở về với chính những Lời Chân Lý được công bố hôm nay:
Bài đọc 1, trích sách Sứ ngôn I-sa-ia đã vang vọng những lời tuyệt đẹp: “Đoàn người bước đi trong tăm tối, đã nhìn thấy ánh sáng bao la, ánh sáng bừng lên trên những miền âm u sự chết…vì một Hài nhi đã sinh ra cho chúng ta, một Người con đã được ban tặng cho chúng ta”
Trong khi đó, bài Tin mừng Luca, với giọng văn lịch sử mang phong cách Hy lạp, tác giả Luca đã làm bật nổi biến cố Giáng Sinh với những lời và bối cảnh thật ấn tượng: “Trong vùng ấy có những người chăn chiên sống ngoài đồng…bổng sứ thần Chúa trong vinh quang sáng láng hiên ra loan báo rằng: “Anh em đừng sợ. Nầy tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là niềm vui cho toàn dân: là hôm nay, trong thành vua Đa-vít, Đấng Cưứ thế đã giáng sinh…”
Vâng, giữa cảnh nô lệ, lưu đày nước mất nhà tan khi đế quốc Assur thôn tính Ít-ra-en vào khoảng 700 năm trước Công Nguyên, vị tiên tri thi sĩ I-sa-ia đã tiên báo “ một Đấng Emmanuen sẽ được một Trinh nữ sinh ra”… và 700 năm sau, trong buổi bình minh của thiên niên kỷ đầu tiên của công nguyên, cũng lại là một đất nước Ít-ra-en tan nát dưới quyền đô hộ của Rôma, sứ thần đã loan Tin Mừng vĩ đại cho các mục đồng ở Bê-lem: “Đấng Cứu thế đã giáng sinh”.
Với những lời tiên báo đó, với những sứ điệp vui mừng và hy vọng về một Đấng Cứu thế ra đời đó, quả thật loài người đã có được những gì, đã chứng kiến được, đã cảm nhận thật sự điều gì đã xảy ra? Có hay không Một Đấng Cứu thế như lòng họ hằng mơ ước? Có hay chăng một Vị Vua oai hùng lẫm liệt đăng quang trở về chấp chính để an bang tế thế? Có hay chăng một Đấng Cứu tinh mang lại no cơm ấm áo, đất đai biên giới mở rộng thênh thang, quyền uy chính trị trãi trên ngàn dân nước?
Không! Hoàn toàn trái ngược hẳn:
- Thay vì một hoàng tử sinh ra trong gác tía lầu son, Đâng Cứu Thế lại là một em bé sinh ra trong hang lừa máng cỏ.
- Thay vì một Đế vương chấp chính oai phong trên ngai vàng lẫm liệt, Đấng Cứu Thế lại được Chúa Cha giới thiệu với loài người đang khi chen lẫn giữa đám dân đen tụ tập cùng nhau sám hối bên bờ sông Gio-đan.
- Thay vì công bố giữa triều đình oai nghi những đề cương kinh tế chính trị xã hội bài bản, Đấng Cứu thế lại rao giảng một Tin Mừng “Tám Mối Phúc Thật” chỉ thích hợp cho những kẻ nghèo khổ bất hạnh.
- Thay vì chinh phạt với vó ngựa, gưom đao để mở rộng cõi bờ, sát phạt muôn dân, Đấng Cứu thế lại chấp nhận một bản án bất công và chịu tử hình Thập Giá, một cái chết dành riêng cho hàng nô lệ…
Quả thật, sự xuất hiện và cuộc đời của Chúa Giêsu, Đấng Cứu thế mãi mãi là một thách đố để chúng ta tin nhận, là một huyền nhiệm để chúng ta đi tìm. Nếu hôm nay, chúng ta đến đây, chúng ta cử hành mầu nhiệm Giáng Sinh nầy, chúng ta tìm kiếm một “Ông Giêsu” chỉ với mục đích là được no cơm ấm áo, chỉ với một ước nguyện là được tiền tài danh vọng và những bảo đảm vật chất…thì có lẽ chúng ta sẽ ra về trong thất vọng. Bởi vì Tin Mừng Giáng Sinh, Chân lý của Đức Kitô, con đường nhân sinh của Kitô giáo không đề nghị cho chúng ta những giải pháp trần tục đó, những hứa hẹn vật chất chóng tàn đó. Bởi vì Đức Kitô và Tin Mừng của Ngài tuyệt đối không phải là một ý thức hệ, một chủ nghĩa, một học thuyết chính trị-kinh tế. Bởi vì Chúa Giêsu hôm qua, hôm nay và mãi mãi duy nhất là Đấng Cứu Độ, là Đấng, như lời kinh thánh “ trong Bài đọc 2 vừa được công bố hôm nay “đã tự hiến để cứu chuộc chúng ta cho thoát khỏi mọi điều bất chính, và để thanh luyện chúng ta khiến chúng ta thành dân riêng của Người, một dân hăng say làm việc thiện” (BĐ 2), là Đấng qui tụ nhân loại thành anh em trong gia đình Thiên Chúa để dẫn tất cả vượt qua kiếp sống trần gian tiến về hạnh phúc vĩnh hằng.
Cũng chính vì lẽ đó, “Hiến chương Nước Trời” được Ngài vạch ra như nẽo đường dẫn tới cõi phúc chân thật lại là những giá trị xem ra thật ngược đời, nhưng cũng thật anh hùng và đòi hỏi: Tinh thần khiêm hạ khó nghèo, hiền lành nhân ái, hy sinh để chia sẻ và cho đi, yêu thương để xây dựng hòa bình, không ngừng biết khoan dung để tha thứ…
Chính cuộc đời 33 năm trần thế của Ngài, cho dù không để lại một công trình kiến trúc vĩ đại, không một tác phẩm văn chương uyên bác, không một sáng chế khoa học diệu kỳ…thì 20 thế kỷ qua vẫn là cột trụ của nhân loại, là hy vọng của muôn thế hệ, là điểm tựa cho muôn ức triệu tâm hồn. Từ máng cỏ Bê-lem cho tới đỉnh đồi Núi Sọ, cuộc đời của Chúa Giê-su duy nhât chỉ là một định nghĩa đúng đắn nhất về tình yêu: Yêu là cho đi và cho đi đến cùng: Thiên Chúa trở nên nghèo hèn, tự hiến để con người được cứu độ vinh quang; Thiên Chúa chấp nhận làm “hạt lúa gieo vào trần gian mục nát”, để con người ngẩng cao đầu đứng lên tìm được hạnh phúc vĩnh hằng. Đó cũng chính là ý nghĩa cuối cùng của mầu nhiệm được cử hành hôm nay: mầu nhiệm Thiên Chúa làm người, mầu nhiệm Thiên Chúa ở cùng chúng ta, mầu nhiệm Nhập thể - Giáng Sinh.
Kết luận: Như vậy, chúng ta đón nhận và sống mầu nhiệm Giáng Sinh như thế nào đây cho đầy đũ ý nghĩa và mang giá trị hiện thực? Để thay cho câu trả lời tôi xin kể một câu chuyện nhỏ: “Tiệm tạp hóa bên kia ngọn đồi”
Khi ánh mặt trời vừa ló dạng, có một chàng thanh niên đứng đợi trước cửa hàng tạp hóa bên kia ngọn đồi. Chờ mãi mà cửa vẫn chưa mở. Sắp sửa định bỏ đi, thì bổng có tiêng mở cửa và một thiên thần xuất hiện:
- Anh cần gì? Tôi là chủ ở đây.
- Ở đây Ngài có bán hòa bình không?
- Tôi bán tất cả.
- Con muốn mua hòa bình đem vào nơi chiến tranh, mua an hòa đem vào nơi tranh chấp, mua chân lý đem vào chốn lỗi lầm…
- Còn mua gì nữa nào?
- Con muốn mua ánh sáng chiếu vào nơi tối tăm, mua niềm vui đem vào chốn u sầu…Con muôn mua tất cả những gì để thế giới không còn khủng bố, chiến tranh, bạo lực, hận thù, ghen ghét, để mọi người hít thở trong không khí trong lành, huynh đệ yêu thương…Vâng con muốn mua được những liều thuốc chữa được mọi bệnh tật, mọi người được no cơm ấm áo…
- Thiên thần từ tốn đáp: Nầy anh, ở đây không bán quả. Thượng Đế giao cho tôi chỉ bán hạt giống thôi…
Thưa ông bà và anh chị em. Sứ điệp Giáng Sinh hôm nay cũng là “Hạt Giống” Tin mừng được trao gởi cho mỗi người chúng ta. Hạt giống của Niềm vui và bình an, hạt giống của yêu thương và chia sẻ, hạt giống của hy sinh và tận hiến, hạt giống của tha thứ và khoan dung, hạt giống của huynh đệ và đoàn kết…Đó chính là những hạt giống mà Con Thiên Chúa đã trao tặng khi xuống thế làm người và muốn chúng ta sinh hoa kết trái. Ước gì niềm vui và ân sủng của Giáng Sinh năm nay sẽ ở lại nơi tâm hồn mỗi người chúng ta và biến đổi cuộc đời chúng ta thành nhứng chứng nhân của hòa bình và công lý, của bác ái yêu thương, của khoan dung tha thứ, của phục vụ quên mình. Và như thế, chiến tranh bạo lục, khủng bố hận thù, ghét ghen tranh chấp, đói khát nghèo nàn…sẽ bị đẩy lùi để nhường chõ cho một thế giới tốt đẹp hơn, anh bình hơn, vui tươi và hạnh phúc hơn như lời sấm của Sứ Ngôn I-sa-ia trong bài đọc thứ nhất hôm nay: “Bởi lẽ mọi chiếc giày đi lộp cộp của kẻ chiến thắng, mọi chiếc áo nhuộm thắm máu đào sẽ bị đốt đi làm mồi nuôi lửa. Vì Một Hài đã sinh ra cho chúng ta, một Người Con đã được ban tặng cho chúng ta”.
Giờ phút nầy, lời sấm ngôn đó không còn là một lời tiên báo nữa, vì chút nữa đây, chúng ta sẽ được chia sẻ chính thịt máu Ngài được ban tặng cho chúng ta. Chúng ta chỉ biết tri ân và cảm tạ, hân hoan và yêu mến. Amen.

 

GS-299: Bài giảng của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II

(Lc 2,1-14)
HÔM NAY ĐẤNG CỨU THẾ ĐÃ GIÁNG SINH CHO CHÚNG TA
***
 

Hôm nay Đấng Cứu Thế đã Giáng Sinh cho chúng ta. Lời loan báo Chúa Giáng Sinh vang lên: GS-299

Hôm nay Đấng Cứu Thế đã Giáng Sinh cho chúng ta. Lời loan báo Chúa Giáng Sinh vang lên đêm nay, lời loan báo xa xưa và luôn mới mẻ. Lời loan báo vang lên cho những ai đang tỉnh thức, cho những mục đồng tại Bêlem cách đây 2,000 năm, nó vang lên cho những ai đang sống theo đòi hỏi của Mùa Vọng, và một khi đã tỉnh thức trong đợi chờ, sẵn sàng đón nhận sứ điệp vui mừng được hát lên trong Thánh Lễ hôm nay: "Hôm nay Đấng Cứu Thế đã Giáng Sinh cho chúng ta".
Dân Kitô đang tỉnh thức, toàn thể thế giới đang tỉnh thức trong đêm Giáng Sinh này. Trong những ngày này, dường như Giáo Hội không bao giờ ngừng lặp lại rằng:"Hôm nay Đấng Cứu Thế Giáng Sinh cho chúng ta". Lời rao giảng này có tích chứa sức mạnh không bao giờ cạn để canh tân, nó vang dội trong Đêm Thánh này một cách mạnh mẽ đặc biệt. Đây là Giáng Sinh của đại năm thánh, kỷ niệm sống động của hai ngàn năm của Chúa Kitô, kỷ niệm cuộc sinh hạ kỳ diệu, một biến cố đã ghi dấu điểm khởi đầu mới của lịch sử. "Ngày hôm nay Ngôi Lời đã làm người và sống giữa chúng ta".
Ngày hôm nay trong đêm cực thánh này, thời gian được mở ra đến cõi đời đời, bởi vì Ngài, Lạy Chúa Kitô, Ngài đã từ trời cao mà sinh xuống giữa chúng con. Ngài sinh xuống trần gian từ cung lòng của một người nữ đã được chúc phúc hơn mọi người nữ. Ngài là con của Đấng Tối Cao, sự thánh thiện của Ngài đã thánh hóa thời gian của chúng con một lần vĩnh viễn luôn mãi, những ngày tháng, những thế kỷ, những ngàn năm. Với sự Giáng Sinh của Ngài, Ngài đã làm cho thời gian trở thành cái hôm nay của ơn cứu rỗi.
Hôm nay Đấng Cứu Thế đã Giáng Sinh cho chúng ta. Đêm nay chúng ta cử hành mầu nhiệm Bêlem, mầu nhiệm của một đêm đặc biệt cách nào đó nằm trong thời gian vừa đồng thời vượt qua thời gian, trong cung lòng của Đức Nữ Đồng Trinh một Con Trẻ đã sinh ra, một máng cỏ đã trở thành cái nôi cho Đấng là sự sống đời đời.
Lễ Giáng Sinh là lễ của sự sống, bởi vì Ngài, Lạy Chúa Giêsu, khi đến trong thế gian như một người trong chúng con, Ngài đã chúc phúc cho giờ Ngài đã sinh ra, một giờ nói lên cách tượng trưng cho mầu nhiệm của cuộc sống con người, vừa liên kết những đau khổ của sự sinh hạ với niềm hy vọng, liên kết đau khổ với niềm vui. Tất cả những điều này đã xảy ra tại Bêlem, một người mẹ đã sinh con, một con người đã sinh ra trong trần gian, đó là con người, đó là mầu nhiệm của Bêlem.
Với niềm cảm xúc trong tâm hồn, tôi nghĩ lại những ngày hành hương năm Thánh của tôi bên Thánh Địa, tâm trí tôi trở lại với hang đá nơi tôi được dịp dừng lại cầu nguyện. Tôi hôn kính trong tinh thần, hôn kính miền đất được chúc phúc kia nơi phát sinh niềm vui không bao giờ tàn cho thế giới. Tôi lo âu cho những nơi Thánh và đặc biệt là thành Bêlem nơi mà buồn thay vì hoàn cảnh chính trị khó khăn không thể nào diễn ra Lễ Nghi Giáng Sinh với sự long trọng như mọi khi. Tôi mong muốn sao cho trong đêm nay, những cộng đoàn Kitô tại đó cảm thấy được tình liên đới tràn đầy của toàn thể Giáo Hội đối với họ.
Thưa anh chị em rất thân mến tại Bêlem,
Chúng tôi gần gũi với anh chị em với lời cầu nguyện thật sốt sắng. Cùng với anh chị em, chúng tôi rung động vì số phận của toàn vùng Trung Đông.
Nguyện xin Thiên Chúa lắng nghe lời chúng ta khẩn cầu. Ước chi từ quảng trường này, trung tâm của thế giới Công Giáo được vang lên một lần nữa với sức mạnh được canh tân, vang lên lời loan báo của các thiên thần, của các mục đồng: "Vinh danh Thiên Chúa trên trời cao và hòa bình dưới thế cho mọi người được Chúa yêu thương".
Niềm hy vọng của chúng ta không thể nào bị lung lay, cũng như không thể nào thiếu đi sự khâm phục những gì chúng ta đang cử hành. Ngày hôm nay, Đấng ban hòa bình cho thế gian Giáng Sinh. Hôm nay Đấng Cứu Thế Giáng Sinh cho chúng ta. Ngôi Lời nằm khóc trong máng cỏ, Ngài được gọi là Giêsu, nghĩa là Thiên Chúa Cứu Rỗi, bởi vì Ngài sẽ cứu dân Ngài khỏi mọi tội lỗi.
Không phải trong một lâu đài mà Đấng Cứu Chuộc sinh ra, Đấng có sứ mạng thiết lập lại Vương Quốc đời đời và phổ quát. Ngài sinh ra trong một chuồng loài vật và sống giữa chúng ta, Ngài thắp lên trong thế giới ngọn lửa tình yêu Thiên Chúa và ngọn lửa này sẽ không bao giờ tắt. Ước chi ngọn lửa này cháy lên trong các tâm hồn như một ngọn lửa tình bác ái hữu hiệu, tình bác ái trở thành sự tiếp đón, nâng đỡ cho biết bao anh chị em bị thử thách bởi sự nghèo cùng và đau khổ.
Lạy Chúa Giêsu mà chúng con chiêm ngắm trong cảnh nghèo hèn tại Bêlem, xin hãy làm cho chúng con trở nên những chứng nhân của tình yêu Chúa, của tình yêu đã thôi thúc Ngài cởi bỏ vinh quang của Thiên Chúa để sinh ra sống giữa con người và chịu chết vì chúng con, xin Ngài hãy đổ vào chúng con Thánh Thần của Ngài, ngõ hầu ân sủng của mầu nhiệm Nhập Thể khơi dậy nơi mỗi tín hữu sự dấn thân góp sức cách quảng đại hơn, phù hợp hơn với sự sống mới do Bí Tích Rửa Tội trao ban. Xin hãy làm cho ánh sáng của đêm hôm nay sáng hơn ban ngày, chiếu sáng trên tương lai và hướng dẫn những bước tiến của nhân loại trên con đường hòa bình.
Đức Thánh Cha kết thúc bài giảng của Ngài với lời nguyện:
Lạy Chúa, Hoàng Tử của Hòa Bình, Đấng Cứu Chuộc đã Giáng Sinh vì chúng con, xin hãy đồng hành với Giáo Hội Chúa trên con đường đang mở ra dẫn đưa Giáo Hội bước vào ngàn năm mới.
(Bài giảng Lễ Giáng Sinh của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II)

 

GS-300: Emmanuel, Thiên Chúa Ở Cùng Chúng Ta"

Lễ Noel là lễ của chia sẻ, lễ của bác ái. Chia sẻ không chỉ cơm bánh, gạo tiền cho anh em: GS-300

Lễ Noel là lễ của chia sẻ, lễ của bác ái. Chia sẻ không chỉ cơm bánh, gạo tiền cho anh em nghèo khó mà còn chia sẻ tình người cho anh em đang sống chung quanh chúng ta. Vì con người sống cần cơm bánh để lớn lên và cũng rất cần tình thương để tồn tại. Chính vì lẽ đó, mà khi nhập thể làm người Chúa Giêsu đã không chọn sinh ra trong cung điện nguy nga, trong hoàng thân quốc thích. Ngài đã sinh ra trong cơ hàn, trong một gia đình lao động bình thường giữa chúng sinh. Ngài còn đồng hoá mình với những con người nghèo đói cơ hàn, những con người bị ngược đãi, bị bỏ rơi. Chính Ngài đã từng nói rằng: "Hỡi những kẻ được cha Ta chúc phúc hãy vào hưởng Nước Trời là gia nghiệp đã dành sẵn cho các ngươi, vì khi ta đói, ta khát, ta trần truồng, bị bỏ rơi, tù đầy, ngược đãi các ngươi đã cho ăn, cho uống và tiếp đón ân cần". Ngài đã đồng hoá mình với những người khổ đau để con người biết vì Ngài mà biết thương nhau, biết vì Ngài mà phục vụ lẫn nhau, biết vì Ngài mà hy sinh cho nhau, mà đón nhận lẫn nhau trong yêu thương và tha thứ.
Thế nhưng, giữa cuộc đời hôm nay vẫn còn đó những con người bị loại trừ, vẫn còn đó những ánh mắt thiếu cảm thông, những cái nhìn tẩy chay của con người dành cho nhau. Xem ra Thiên Chúa vẫn bị khước từ. Ai cũng biết rằng Thiên Chúa là Emanuel đang ở cùng chúng ta, nhưng chúng ta vẫn cố tình loại trừ lẫn nhau, vẫn đang tìm cách xua đuổi anh em của mình một cách bất khoan dung. Ai cũng biết rằng xúc phạm đến nhau là xúc phạm đến Chúa, thế nhưng, có mấy ai đã vì Chúa mà nhịn nhục lẫn nhau, đã vì Chúa mà sống khoan dung, tha thứ cho nhau. Đôi khi, chính cách đối xử bất khoan dung đó đã khiến anh em không có cơ hội để sửa đổi và làm lại cuộc đời.
Người ta kể rằng: Trong một xóm đạo nhỏ ở một miền quê hẻo lánh, có một thanh niên nổi tiếng ăn chơi, trộm cắp được người đời đặt cho biệt hiệu: "Hiền bụi đời". Với thành tích, trộm cắp và gây mất trật tự thôn xóm, anh đã bị tập trung cải tạo. Thời gian anh cải tạo là thời gian xóm làng bình an. Người ta cảm thấy hạnh phúc khi không có anh. Cho đến khi nghe tin Hiền bụi đời sắp trở về xóm nhỏ này sau thời gian dài trong trại giam. Người dân xem ra chẳng vui mừng mà còn lo sợ. Lâu lâu người ta lại nghe tiếng búa, tiếng đục cửa của một nhà nào đó đang sửa lại cửa nẻo để chống trộm. Hôm ấy, hắn trở với khuân mặt rạng rỡ của kẻ chuẩn bị bước vào một cuộc sống mới để cải tà quy chính, một cuộc sống lương thiện như bao người khác. Đối với hắn, dường như mọi thứ đều thay đổi trong mắt hắn. Vui vui, hắn tiến về phía Dì Năm hủ tiếu, nơi đang diễn ra câu chuyện sôi nổi của những người dân trong xóm. Nhưng rồi nụ cười của hắn chưa kịp nở đã vội tắt ngấm. Mọi người im bặt khi hắn tới. Những ánh mắt dè chừng, những nụ cười ngượng gạo, cáo lui. Không lâu sau đó, hắn lại bị bắt vì một vụ cướp của. Trong khẩu cung, hắn khai: "Vì muốn trả thù đời".
Vâng, Hiền bụi đời đã tiếp tục cuộc sống trộm cắp vì sự loại trừ của đồng loại. Anh không được đón nhận trong cuộc đoàn. Anh bị khước từ bởi lầm lỗi quá khứ. Chính thái độ bất khoan dung của thôn xóm đã tạo nên một Hiền bụi đời để trả thù đời.
Hôm nay ngày lễ giáng sinh, là dịp để chúng ta nhắc lại với nhau, Con Thiên Chúa đã làm người và ở giữa chúng ta. Ngài đang cần chúng ta yêu thương. Ngài đang cần chúng ta giúp đỡ. Ngài đang cần chúng ta đón nhân. Ngài đang cần chúng ta dành cho Ngài cái nôi đón nhận trong sâu thẳm lòng mình. Ngài đang cần chúng ta dành cho Ngài những cọng rơm hy sinh của nhịn nhục, của bác ái vị tha làm ấm áp lòng Ngài. Ngài đang cần chúng ta dành cho Ngài hơi ấm của tình thương chia sẻ với tấm lòng quảng đại, nhiệt thành như các mục đồng năm xưa.
Nguyện xin Đấng Emanuel chúc lành cho những nghĩa cử yêu thương cùa chúng ta. Nguyện xin Ngài đón nhận những hy sinh nhịn nhục và bác ái vị tha của chúng ta dành cho nhau như là dành cho chính Ngài. Và cầu chúc cho mỗi người chúng ta biết đón nhận nhau như là đón nhận Đấng Emmanuel ở cùng chúng ta để nhờ đó mà chúng ta biết trao cho nhau những nghĩa cử ấm áp tình người và chan hoà tình nhân ái bao dung. Amen.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây