Suy Niệm Tin Mừng Lễ Hiển Linh Bài 101-150 Chúng tôiđãthấyNgôiSao

Thứ năm - 04/01/2018 10:34
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Hiển Linh Bài 101-150 Chúng tôi đã thấy Ngôi Sao
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Hiển Linh Bài 101-150 Chúng tôi đã thấy Ngôi Sao
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Hiển Linh Bài 101-150 Chúng tôi đã thấy Ngôi Sao
GS-101: NOEL: Chúc Mừng Giáng Sinh. 2
GS-102: LỄ SINH NHẬT ĐẦU TIÊN ĐƯỢC MỪNG THẾ NÀO?. 3
GS-103: SCĐ/78- NOEL - QUÀ TẶNG.. 4
GS-104: SCĐ/81- NOEL - BÌNH AN.. 6
GS-105: SCĐ/83- NOEL- ÁNH SÁNG.. 7
GS-106: Ngôi Lời Là Ánh Sáng Thật 8
GS-107: Lễ Giáng Sinh (Thánh lễ đêm) 9
GS-108: Nhập thể, quà tặng vô giá - Lm. Vũ Xuân Hạnh. 11
GS-109: Thiên Chúa đã yêu thương thế gian - Lm. Đan Vinh. 17
GS-110: ĐÊM GIÁNG SINH.. 19
GS-111: LONG TRỌNG MỪNG ĐẠI LỄ CHÚA GIÁNG SINH.. 20
GS-112: Quà tặng tình yêu - Martin Lê Hoàng Vũ. 27
GS-113: Nhập Thể, một Tin Mừng trọng đại - Lm Phêrô Trần Thanh Sơn. 30
GS-114: ĐỨC GIÊSU, CON THIÊN CHÚA - Lm. Phêrô Trần Thanh Sơn. 33
GS-115: Thiên Chúa đã làm người 36
GS-116: CHÚA TỎ RA.. 38
GS-117: Tin Mừng Giáng Sinh - Lễ Đêm.. 40
GS-118: Xóa khoảng cách - Lễ Ban Ngày. 42
GS-119: Lễ Giáng Sinh (Thánh lễ ban ngày) 46
GS-120: Ánh sáng đã bùng lên trong đêm tối 47
GS-121: NCYT/48 - NOEL : Tình bạn. 51
GS-122: GLCN/A/36 - NOEL : Hữu hình. 52
GS-123: NMS/16 - NOEL : Lễ vật dâng Chúa. 53
GS-124: MNS/18 - NOEL : Đổi đời 55
GS-125: SLC- Đêm An Bình. 56
GS-126: SLCTTY/28- GIÁNG SINH : Nhập thể (Ga 1, 1-18) 59
GS-127: SLCTTY/28- GIÁNG SINH : Hoà Bình (Ga 1, 1-18) 61
GS-128: Lúc Nào Cũng Có Chỗ Cho Thêm Một Người Nữa. 62
GS-129: Đức Kitô, nguồn sống của nhân loại- Lm Trần thanh Sơn. 65
GS-130: Ngôi Lời đã trở nên người phàm- Lm. Phạm ngọc Ngôn. 67
GS-131: Lễ Giáng Sih không còn là ngày lễ của riêng người Kytô. 69
GS-132: THÁNH GIUSE XIN VÂNG! 70
GS-133: VỊ CỨU TINH ĐÃ SINH RA.. 71
GS-134: CHUYỆN: PHÉP LẠ GIÁNG SINH.. 74
GS-135: Hãy Giữ Lấy Niềm Vui Chúa Ở Cùng. 75
GS-136: Hôm nay, Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em.. 78
GS-137: Thiên Chúa Xuống Thế Làm Người 80
GS-138: Mùa Giáng Sinh, mùa lửa trời 82
GS-139: Niềm vui vĩ đại trong hang lừa nhân loại 83
GS-140: Đêm Noel 2004. 85
GS-141: LỄ GIÁNG SINH.. 87
GS-142: CHÚA GIÊSU SINH RA VÀ VIỆC LOAN BÁO CHO MỤC ĐỒNG.. 89
GS-143: LỜI TỰA TIN MỪNG GIOAN.. 95
GS-144: LỄ GIÁNG SINH - Lễ đêm.. 105
GS-145: NGÔI LỜI ĐÃ TRỞ NÊN NGƯỜI PHÀM... 108
GS-146: LỄ GIÁNG SINH.. 112
GS-147: GẶP GỠ BẠN NGHÈO ĐỂ NHẬN ĐƯỢC HOÀ BÌNH.. 118
GS-148: LỄ GIÁNG SINH. 122
GS-149: Sứ điệp Giáng sinh. 126
GS-150: Sự sống Và niềm vui đích thực. 128

 

GS-101: NOEL: Chúc Mừng Giáng Sinh

Tháng 9 năm 1897, một bé gái 8 tuổi tên là Virginia đã viết cho một tờ báo Công Giáo Hoa: GS-101

Tháng 9 năm 1897, một bé gái 8 tuổi tên là Virginia đã viết cho một tờ báo Công Giáo Hoa Kỳ để hỏi về ông già Noel. Câu hỏi của cô bé là: Ông già Noel có thật không? Vài ngày sau, trên mục quan điểm của tờ báo, người ta đọc được câu trả lời của ông chủ nhiệm kiêm chủ bút như sau: "Virginia yêu dấu của bác. Điều trước tiên bác muốn nói với cháu là: các bạn của cháu thật là sai lầm khi bảo rằng không có ông già Noel. Các bạn của cháu đã bị tiêm nhiễm bởi trào lưu hoài nghi. Họ nghĩ rằng chỉ có thể tin được những gì họ thấy tận mắt. Họ nghĩ rằng không có gì có thể có được nếu trí khôn nhỏ bé của họ không hiểu được…Chỉ có đức tin, chỉ có tình yêu mới có thể vén mở được bức màn bí mật của thế giới của chúng ta.”
Lá thư gửi cho cô bé Virginia trên đây đưa chúng ta vào trung tâm điểm của ngày Giáng Sinh: Giáng Sinh là lễ của nhi đồng, bởi vì nhân vật chính của ngày lễ là một Em Bé. Một Em Bé cũng như muôn ngìn em bé sinh ra trên cõi đời này. Em Bé đó chính là niềm vui và hy vọng cho tất cả mọi người. Cùng với Em Bé đó, tất cả các em bé đều mang lại niềm vui cho mọi người trong mùa Giáng Sinh. Bầu khí Giáng Sinh là bầu khí của nhi đồng. Từ hoa đèn, âm nhạc cho đến quà cáp, tất cả đều hướng về các em nhi đồng... Người cho đã vui mà người nhận còn vui hơn: chính các em bé là những người đã dạy cho người lớn biết vui với niềm vui ban phát. Bao lâu con người còn có thể mở cửa tâm hồn, bao lâu con người còn có thể mở rộng bàn tay để ban phát, để chia sẻ thì bấy lâu ông già Noel của hy vọng, của quảng đại, của hân hoan vẫn còn sống mãi trong tâm trí của trẻ em và không biết bao nhiêu người sầu khổ.
Giáng Sinh là ngày của nhi đồng do đó cũng là lễ của hòa bình. Một em bé sinh ra là một hy vọng mới chớm nở. Hy vọng là tên mới của hòa bình. Còn hy vọng là còn muốn xây dựng. Xây dựng trên mầm sống đã đành mà còn xây dựng trên những đổ vỡ, mất mát. Qua hài Nhi Giêsu, tất cả các em bé trên thế giới đang nhắn gửi đến từng người trong chúng ta niềm hy vọng vào thiện chí của con người. Hòa bình là hoa quả của hy vọng. Còn tin nơi con người, chúng ta còn có thể xây dựng hòa bình.

 

GS-102: LỄ SINH NHẬT ĐẦU TIÊN ĐƯỢC MỪNG THẾ NÀO?

- Lm Trần Bình Trọng
Lc 2,15-20
 

Trong đêm Giáng sinh đầu tiên chỉ có ít nhân vật được chứng kiến cảnh hang đá Bê-lem: Đó là: GS-102

Trong đêm Giáng sinh đầu tiên chỉ có ít nhân vật được chứng kiến cảnh hang đá Bê-lem: Đó là Mẹ Maria, thánh Giu-se, các thiên thần, mấy người mục đồng và đàn chiên bò lừa. Lễ Sinh nhật đầu tiên được mừng nơi hang đá máng cỏ của chiên bò lừa, chứ không phải trong nhà, cũng không ở trong khách sạn, hay tại nhà thương. Ngày nay người ta thường làm những cảnh hang đá máng có trông thật đẹp mắt. Tuy nhiên chính cái nơi Chúa Cứu thế sinh ra chỉ là cái hang mục đồng, có thể là dơ bẩn, hôi hám.
Thánh lễ rạng đông của ngày Giáng sinh quen gọi là lễ mục đồng. Phúc âm hôm nay kể lại: Nào ta sang Bê-lem, để xem sự việc đã xẩy ra, như Chúa đã tỏ cho ta biết (Lc 1:15). Tại sao các mục đồng lại nhanh chóng đáp lại sứ điệp của các thiên thần như vậy? Theo thánh kinh thuật lại, thì các mục đồng là những người canh thức để trông giữ đoàn chiên. Nếu họ ngủ thì đã không nhận ra các thiên thần, không nghe được tiếng các thiên thần, và đã không thấy ánh sáng từ trời toả xuống. Các mục đồng là những người đơn sơ chất phác nên đã đặt tin tưởng vào lời các thiên thần, để làm quyết định đi xem hiện tượng kỳ lạ ở Bê-lem. Các mục đồng là những người sống gần gũi với thiên nhiên, nên dễ nhận ra những dấu vết, những kỳ công của Đấng tạo hoá. Họ dễ có cái cảm giác kính sợ, cái cảm giác lạ lùng trước những quyền lực thiên nhiên của tạo hoá như bão tố, sấm sét.. Đó chính là điều mà Phúc âm hôm nay ghi lại: Ánh vinh quang của Thiên Chúa chiếu toả chung quanh, khiến họ kinh khiếp hãi hùng (Lc 2:9). Không phải gắn bó với những ràng buộc vật chất nên khi nghe thấy có hiện tượng lạ, các mục đồng có thể nhẹ gánh ra đi cùng với đàn chiên, không cần phải giàn xếp công việc nhà.
Làm sao mục đồng có thể nhận ra hài nhi mới sinh trong máng cỏ là Đấng cứu thế? Mỗi người có thể tìm ra những câu trả lời khác nhau. Để giúp ta dễ dàng trả lời, ta có thể đặt câu hỏi cách khác. Ai là những người dễ nhận ra sự hiện diện của Chúa trong đời sống? Ai là những người dễ nhận ra những dấu vết, những kỳ công của Thiên Chúa? Người ta phải có tâm hồn hay tạo ra tâm hồn như thế nào để dễ nhận ra sự hiện diện của Chúa. Thời đại và hoàn cảnh ta đang sống không có những điều kiện và môi trường thiên nhiên của người mục đồng để ta dễ dàng nhận ra những dấu vết của Thiên Chúa. Tuy nhiên hàng ngày xung quanh ta vẫn có những dấu vết của việc Thiên Chúa hiện diện. Ta chỉ cần mở mắt tâm hồn là có thể nhận ra được.
Phúc âm hôm nay ghi lại: Các mục đồng trở về vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, về mọi điều họ đã được tai nghe mắt thấy theo như họ đã được loan báo (Lc 2:20). Ước chi hôm nay ta cũng trở về ca tụng Thiên Chúa về những điều ta được nghe và thấy và cảm nghiệm được, sau khi ta đáp trả lại tiếng mời gọi của Chúa để sống và thực thi đức tin.
Còn mẹ Maria mừng lễ sinh nhật đầu tiên ra sao? Thánh kinh nói rất ít về việc mẹ mừng lễ Sinh nhật đầu tiên. Kinh thánh chỉ ghi lại : Còn bà Maria hằng ghi nhớ những sự việc đó và suy đi nghĩ lại trong lòng (Lc 2:19). Mừng lễ Sinh nhật trong lòng có nghĩa là mở rộng tâm hồn đón nhận Chúa cứu thế. Tai ta có thể nghe về chuyện giáng sinh, nhưng chỉ có tâm hồn mới có thể rung động trước màu nhiệm giáng sinh. Sau những ngày giờ bận rộn, sửa soạn mừng lễ Sinh nhật như làm hang đá máng cỏ, trang hoàng nhà cửa, gửi thiệp sinh nhật và quà sinh nhật, ta cần tìm thời giờ thinh lặng để suy niệm về màu niệm giáng sinh. Chỉ trong thinh lặng, người ta mới dễ dàng cảm nghiệm được sự hiện diện của Thiên Chúa và màu nhiệm giáng sinh. Người công giáo trưởng thành không được coi sinh nhật như một biến cố xa xưa không ăn nhập tới nếp sống hiện tại. Người công giáo trưởng thành phải tìm cho ra ý nghĩa đích thực của việc mừng lễ sinh nhật.

 

GS-103: SCĐ/78- NOEL - QUÀ TẶNG

Một đôi vợ chồng trẻ. Gim và Đêla, tuy nghèo tiền của nhưng rất giàu tình yêu. Giáng sinh sắp: GS-103

Một đôi vợ chồng trẻ. Gim và Đêla, tuy nghèo tiền của nhưng rất giàu tình yêu. Giáng sinh sắp tới, Đêla tự hỏi phải tặng Gim món quà gì đây. Nàng muốn tặng chàng sợi dây cho chiếc đồng hồ của chàng. Nhưng nàng không có đủ tiền để mua. Vì thế, nàng nảy sinh một sáng kiến : Nàng có bộ tóc dài mượt mà, óng ả, nàng yêu quí và rất hãnh diện vì nó. Nhưng nàng quyết định cắt bộ tóc đi, và đem bán để mua cho Gim sợi dây đồng hồ.
Hôm áp lễ Giáng sinh, từ phố về, nàng cầm trong tay một chiếc hộp rất đẹp đựng sợi dây đồng hồ mạ vàng mà nàng vừa sắm được bằng mái tóc của mình. Bỗng nhiên Đêla cảm thấy lo lắng. Nàng biết Gim rất quí mái tóc nàng cắt và bán nó đi hay không.
Về đến nhà, Đêla mở cửa và thấy Gim đang đợi nàng. Tay chàng cầm một cái hộp thật đẹp, đựng món quà chàng mới mua để tặng nàng. Khi nhìn thấy mái tóc ngắn của vợ, Gim như muốn khóc, nhưng chàng không nói gì cả. Cố trấn tĩnh, chàng trao cho nàng chiếc hộp xinh xắn. Mở hộp ra, Đêla rất đỗi bàng hoàng. Trong hộp là một bộ lược chải tóc bằng xà cừ rất đẹp. Còn chàng, khi mở món quà vừa nhận được từ tay vợ, Gim cũng ngỡ ngàng không kém :
Chính lúc đó Đêla mới nhận ra rằng Gim đã bán chiếc đồng hồ vàng, món đồ quí nhất của anh, để mua lược chải tóc cho nàng. Phút chốc cả hai đều hiểu rằng họ đã tặng nhau tất cả những gì quí giá nhất.
Nếu có một bài học mà chúng ta có thể rút ra từ việc “tặng quà” của đôi vợ chồng trẻ này, thì đó chính là : khi trao ban cho kẻ khác, người ta lại tìm được chính bản thân và những gì cao quí nhất. Nghĩa là con người chỉ đạt được nhân cách sung mãn bằng sự trao ban vô vị lợi mà thôi.
Đó chính là sứ điệp chạy xuyên suốt Tin Mừng, nhất là trong mầu nhiệm Giáng sinh : “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết nhưng được sống muôn đời”. Qua Con Một yêu dấu, Thiên Chúa muốn ban tặng chính Người cho chúng ta. Người không chỉ hài lòng với món quà vật chất mà Người đã ban tặng như vũ trụ bao la với muôn vàn phúc lộc trong đó, nhưng Người đã đích thân ở giữa nhân loại để chia sẻ cuộc sống con người : “Ngôi Lời đã hóa thành nhục thể, và đã cư ngụ giữa chúng ta”.
Hài nhi Giêsu chính là quà tặng quí giá nhất Thiên Chúa trao ban cho con người.
Hài nhi Giêsu chính là hiện thân sống động của một Thiên Chúa tình yêu.
Hài nhi Giêsu chính là sự tỏ bày tấm lòng vô cùng ưu ái của Thiên Chúa dành cho con người.
Giáng sinh là lễ của tặng quà nhưng cũng còn là lễ của tình yêu. Không phải những quà tặng đắt tiền mới có giá trị, mà chính là những món quà thắm đượm tình yêu. Một món quà dù nhỏ bé nhưng gói ghém tất cả tình cảm mến thương, sự trân trọng, lòng biết ơn, có khi cả sự ngưỡng mộ của mình dành cho người đón nhận, thì đó lại là món quà vô giá.
Có thể nói một cách nào đó, khi tặng quà, chúng ta muốn trao ban chính bản thân, trao ban không cần tính toán, không so đo hơn thiệt, trao ban trọn vẹn. Mẹ Têrêxa Calcutta đã nói : “Kitô hữu là người trao ban chính bản thân mình”. Hài nhi Giêsu sau này khi sắp trao ban mạng sống để cứu chuộc nhân loại đã thốt lên : “Không có tình yêu nào cao quí cho bằng tình yêu của người hiến mạng sống mình vì bạn hữu”.
Quà tặng cao đẹp nhất chúng ta dâng lên Hài nhi Giêsu trong đêm Giáng sinh chính là những nghĩa cử yêu thương chúng ta trao tặng cho anh em.
Chúng ta chỉ có thể lớn lên trong tình yêu Chúa khi chúng ta thực thi những nghĩa cử yêu thương.
Chúng ta chỉ sống đích thực khi chúng ta sống trọn vẹn cho tha nhân.

 

GS-104: SCĐ/81- NOEL - BÌNH AN

Vào dịp lễ Giáng sinh năm 1914, quân Anh và quân Đức đang đối đầu nhau. Binh sĩ ở dưới: GS-104

Vào dịp lễ Giáng sinh năm 1914, quân Anh và quân Đức đang đối đầu nhau. Binh sĩ ở dưới những giao thông hào đầy bùn và chuột. Nửa đêm, một người lính Anh cất lên một bản thánh ca. Chẳng bao lâu sau, tất cả các lính Anh cũng cất tiếng hòa ca. Mọi người đang hát say sưa thì một người hô lớn : “Im. Nghe xem có tiếng gì từ bên kia vọng lại”. Mọi người im lặng lắng nghe. Thì ra những người lính Đức bên kia chiến tuyến cũng đang hát thánh ca mừng Chúa ra đời. Một cái gì đó linh thiêng nối kết những kẻ thù ở hai bên chiến tuyến. Tất cả binh sĩ bỏ chiến hào chạy ùa tới nhau. Họ nắm tay nhau nhảy múa theo điệu hát. Họ chia cho nhau những điếu thuốc, những mẫu bánh. Chiến tranh biến đâu mất. Chỉ còn lại hòa bình. Mọi người rất vui.
Nhưng niềm vui không kéo dài lâu. Tiếng hát, tiếng cười ồn ào đến tai các vị chỉ huy. Các vị này lập tức ra lệnh chấm dứt tất cả, mọi người phải trở lại vị trí của mình. Thế là chiến tranh lại tiếp diễn !
Mỗi lần đến lễ Giáng sinh là người ta nghĩ đến hòa bình, bởi vì trong đêm Chúa Giáng sinh, các thiên thần đã hát “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm”.
Nhưng hòa bình không phải chỉ là không có chiến tranh, không chỉ là ngưng tiếng súng. Hòa bình là hoa trái sinh ra từ những tâm hồn thiện tâm. Nếu tâm không thiện thì không có hòa bình thật. Hòa bình bền vững không phải do thỏa hiệp của những bên đã từng chống đối nhau, mà là ơn ban của Chúa. Trong lễ Giáng sinh, Chúa ban ơn hòa bình cho ta, để rồi ta cũng mang ơn hòa bình ấy ban cho kẻ khác.

 

GS-105: SCĐ/83- NOEL- ÁNH SÁNG

Ở Bắc bán cầu, lễ Giáng sinh diễn ra vào lúc trời tốt nhất. Đây là thời điểm thuận lợi để chúng: GS-105

Ở Bắc bán cầu, lễ Giáng sinh diễn ra vào lúc trời tốt nhất. Đây là thời điểm thuận lợi để chúng ta ngưỡng mộ giá trị của ánh sáng. Bởi vậy, phụng vụ lễ này nói nhiều tới ánh sáng. Chẳng hạn như bài đọc 1 lễ đêm : “Đoàn dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng”.
Mẹ Têrêxa kể rằng lúc ở Melbourne, Australia, một hôm mẹ đến thăm một ông già sống trong một tầng hầm dơ bẩn lộn xộn. Trong phòng ông không có một chút ánh sáng. Trước đây chẳng ai đến thăm ông. Bắt đầu, mẹ Têrêxa quét dọn căn phòng cho sạch sẽ ngăn nắp lại. Nhưng ông cự nự : “Không được đụng đến. Cứ để yên cho tôi”. Mẹ Têrêxa mặc kệ, cứ tiếp tục. Vừa quét dọn, mẹ vừa gợi chuyện nói với ông. Rồi mẹ tìm thấy một chiếc đèn dầu nằm ẩn dưới một đống đồ đạc ngổn ngang. Lau chùi xong, mẹ thấy cây đèn rất đẹp.
- Ông có một cây đèn rất đẹp. Sao bấy lâu nay ông không thắp lên ?
- Thắp lên làm gì ? Có ai đến thăm tôi đâu.
- Vậy nếu nữ tu của tôi đến thăm ông thì ông có hứa sẽ thắp đèn lên không ?
- Xin hứa. Nếu tôi nghe có tiếng ai đến thăm thì tôi sẽ thắp đèn lên.
Sau đó, hai nữ tu của mẹ Têrêxa đều đặn tới thăm ông già. Mỗi lần họ đến thì ông già thắp đèn lên. Tình hình ngày càng tốt đẹp hơn. Một hôm, ông nói : “Các Sơ ạ. Từ hôm nay tôi có thể tự dọn dẹp phòng được rồi. Nhưng xin làm ơn nói lại với bà nữ tu đầu tiên là ngọn đèn bà đã thắp lên trong đời tôi đến nay vẫn còn cháy sáng”.
Có thể nói rằng ngọn đèn đã cứu ông già ấy. Nhưng thực ra thì không phải ngọn đèn, mà là điều mà ngọn đèn ấy tượng trưng, tức là lòng tốt của Mẹ Têrêxa và các nữ tu của mẹ.
Chúng ta đang sống trong một thế giới tối tăm vì chiến tranh, bạo lực, đau khổ v.v… Tất cả chúng ta đều cảm nghiệm được sự tối tăm trong đời mình và trong gia đình mình : buồn phiền, thất vọng, bệnh tật, tội lỗi, cô đơn, chán chường v.v…
May thay ánh sáng Chúa Giáng sinh đã thắp lên trong thế giới vẫn còn cháy sáng. Anh sáng ấy không chỉ lóe lên ở Bêlem một lần rồi tắt ngúm. Nó vẫn còn chiếu sáng giữa những tàn phá, thảm họa, biến động… Đó là một thứ ánh sáng bền vững không bóng tối nào lấn át được. Nó vẫn chiếu sáng cho tất cả những ai tin Ngài và theo Ngài. Suốt 2000 năm qua, những lời Ngài dạy đã ảnh hưởng đến nhân loại hơn tất cả mọi bậc tôn sư nào khác. Những việc Ngài làm còn ảnh hưởng mạnh hơn nữa. Biết bao người từ chốn tối tăm đã tìm đến với Ngài và ra đi trong ngập tràn ánh sáng. Lòng nhân ái của Ngài vẫn tiếp tục chiếu sáng thế giới.
Mỗi người chúng ta phải là nguồn sáng cho thế giới tối tăm này. Nhưng nếu đời ta không là đèn sáng thì làm sao ta chiếu sáng cho người khác được. Sống trong ánh sáng thật là hạnh phúc. Nhưng còn hạnh phúc hơn khi ta là nguồn sáng cho người khác. Chúa đã gọi ta ra khỏi tối tăm bước vào ánh sáng, thì ta phải sống như là con cái của ánh sáng. Hiệu quả của ánh sáng được thấy rõ nhất trong một tấm lòng nhân ái, một cuộc sống chính trực, chân thành.

 

GS-106: Ngôi Lời Là Ánh Sáng Thật

Suy Niệm
 

Máng cỏ luôn làm cho chúng ta rúng động, vì đứng trước máng cỏ là đối diện với một Tình: GS-106

Máng cỏ luôn làm cho chúng ta rúng động, vì đứng trước máng cỏ là đối diện với một Tình Yêu, một Tình Yêu mở ra bao la bát ngát.
Cha đã mở ra bằng cách sai Con xuống thế làm người. Con đã mở ra bằng cách vâng phục ý Cha. Thánh Thần đã mở ra bằng cách tác động nơi lòng Đức Trinh Nữ.
Máng cỏ giúp ta gặp được Tình Yêu của Ba Ngôi. Tình Yêu không lùi bước trước sự khép kín của nhân loại.
Đến Bêlem, chúng ta bắt gặp một Tình Yêu khiêm tốn. Thiên Chúa đã cúi xuống để tặng trao cho con người. Con Thiên Chúa làm người sinh nơi hang súc vật, không một chút hào quang: Ngài sinh ra trong đêm tối; không một chút quyền lực: Ngài là trẻ thơ khóc oe oe. Đấng siêu việt nay chịu giới hạn bởi thời gian. Đấng Tuyệt Đối lại mang một thân xác hữu hạn.
Tình Yêu khiêm tốn không làm chúng ta bị choáng ngợp; không ban bố một cách cha chú, nhưng biết gõ cửa và chờ đợi.
Thiên Chúa giàu sang đã trở nên nghèo để chúng ta được trở nên giàu có (2Cr 8,9).
Gần hai ngàn năm đã trôi qua kể từ khi Ngôi Lời đặt chân trên trái đất. Ngài đã thắp lên ánh sáng trong bóng đêm. Ngài chính là Ánh Sáng chiếu soi mọi người (Ga 1,9). Tiếc thay nhiều người đã chọn bóng tối, vì bóng tối dễ chịu hơn, đồng lõa hơn (Ga 3,19). Bóng tối ở ngoài tôi và bóng tối ở trong tôi.
Ngôi Lời đã đến nhà của Ngài, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận (Ga 1,11). Đức Giêsu còn phải nhập thể cho đến tận thế.
Truyền giáo là làm cho Ngài được sinh ra ở đây, hôm nay, trong dòng văn hoá truyền thống của dân tộc, trong những biến chuyển của đất nước thời mở cửa, trong thế giới đã bước qua năm 2000.
Sống mầu nhiệm Nhập Thể là trở nên một Maria khác, đón nhận Đức Giêsu vào đời mình, cưu mang Ngài, và sinh Ngài cho thế giới. Cuộc sinh hạ nào cũng bắt trắc và đau đớn.
Xin thắp lên một ngọn nến từ Ánh Sáng của Ngôi Lời. Xin gom lại trăm triệu ngọn nến để đẩy lui bóng tối trên mặt đất.
Gợi Ý Chia Sẻ
Ngôi Lời đã làm người và đã sống ở đời. Mầu nhiệm Nhập Thể có làm bạn yêu đời và yêu phận người của bạn hơn không?
Làm sao để Chúa Giêsu được sinh ra trong môi trường bạn đang sống?
Cầu Nguyện
Giữa giá rét của mùa đông, xin cho con gặp Chúa.
Giữa những long đong và bấp bênh của phận người, xin cho con gần Chúa.
Giữa cảnh nghèo khó và trơ trụi, xin cho con thấy Chúa đi với con và hiểu con.
Lạy Chúa Giêsu bé thơ nằm trong máng cỏ, xin cho con cảm được sự bình an của Chúa, ngay giữa những âu lo hàng ngày. Xin cho con đón lấy cuộc đời con với bao điều không như ý. Và cuối cùng, xin cho con dám sống như Chúa vì Chúa đã dám sống như con.

 

GS-107: Lễ Giáng Sinh (Thánh lễ đêm)

VietCatholic News (22/12/2003 )
LỄ GIÁNG SINH
(Thánh lễ đêm))
Tin Mừng : Lc 2, 1-14
“Hôm nay, Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em”
Anh chị em thân mến,
 

Hôm nay toàn thể nhân loại vui mừng hân hoan mừng lễ giáng sinh của Chúa Giêsu Kitô: GS-107

Hôm nay, toàn thể nhân loại vui mừng hân hoan mừng lễ giáng sinh của Chúa Giêsu Kitô -vị cứu tinh nhân loại- ngày nhân loại đợi chờ đã đến, Ngài đã đến trong hang đá Bêlem nghèo nàn, với những con người nghèo nàn chất phác là các mục đồng chăn chiên...
Hôm nay, tất cả mọi dân nước trên địa cầu cất tiếng hoan ca mừng ngày Thiên Chúa giáng trần với những cung điệu vang vang vui tai và thánh thiện...
Hôm nay, trên mọi nẻo đường trong thành phố nhộn nhịp hơn mọi khi, người người tuôn đến nơi những thánh đường để hát mừng Con Thiên Chúa làm người, với tất cả tâm tình hân hoan...
Hôm nay, trong thành phố có những con đường không ánh điện, không nhạc mừng, không hoan ca, bởi vì nơi đó còn có rất nhiều người bất hạnh đang co ro trong cái rét của mùa đông...
Hôm nay, bên cạnh những mân cổ thịnh soạn được chuẩn bị cho ngày Chúa giáng sinh trong gia đình, thì bên ngoài đường vẫn còn có những Chúa Hài Nhi đang đứng nhìn người qua lại, đói meo và hi vọng nơi lòng bố thí của mọi người...
Anh chị em thân mến,
Lời của các thiên thần loan báo cho các mục đồng mà chúng ta vừa đang nghe trong bài Tin mừng hôm nay : “Hôm nay, Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em” vẫn mãi mãi là điệp khúc nhắc nhỡ chúng ta rằng : Đấng Cứu độ đã đến, đang đứng ngoài cửa nhà co ro vì lạnh đang chờ chúng ta mời vào nhà, cùng hưởng niềm vui cứu độ...
Đấng cứu độ đã sinh ra để chúng ta cùng đến chiêm ngưỡng và phục vụ Ngài, Ngài đang hóa thân làm em bé mồ côi đang nằm bên hiên nhà bên vệ đường, Ngài đang hóa thân làm người hành khất âm thầm trong đêm tối trở về căn nhà vắng lặng vì không đủ tiền để trả tiền điện, Ngài đến rồi, đang đứng đó bên cổng nhà thờ, bên gốc cây tủi nhục, nơi xó chợ hôi tanh...
Nhìn vào hang đá, chúng ta thấy nổi bật lên những ánh đèn điện chớp nháy vui mắt đẹp đẽ, những cây thông thật và giả với muôn vẻ màu sắc của dây kim tuyến lấp lánh, lòng chúng ta rộn lên niềm vui ngày Chúa giáng trần, nhưng niềm vui sẽ dâng đầy nếu đêm nay chúng ta tự nguyện trở thành một thiên thần đem vật chất và tinh thần đến phân phát cho những Giêsu Hài Nhi mồ côi, những Maria va Giuse nghèo khổ bên cạnh chúng ta...
Xin Chúa Hài Nhi ban muôn phúc lành cho chúng ta trong đêm thánh này...
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.

 

GS-108: Nhập thể, quà tặng vô giá - Lm. Vũ Xuân Hạnh

(Nhân Lễ Giáng Sinh, suy nghĩ về ơn gọi Linh mục )
 

Người ta nói, bông hồng tượng trưng cho tình yêu. Vì thế, để bày tỏ lòng yêu thương nhau: GS-108

Người ta nói, bông hồng tượng trưng cho tình yêu. Vì thế, để bày tỏ lòng yêu thương nhau, người ta thường trao tặng bông hồng. Cũng chính vì thế, ngày Valentine, ngày Tình yêu, bông hồng, tự lúc nào, trở thành biểu tượng mà không cần giấy mực ký nhận, chỉ có lòng người yêu nhau đã hợp thức hoá cho ý nghĩa ấy. Bởi thế, dù chỉ với một cành hồng, tình vẫn có thể nồng nàn hơn cả với bảo ngọc trân châu. Vì với lòng yêu thương chân thật, dù chỉ một cành hồng, tình vẫn đằm thắm, vẫn kiêu sa hơn bảo ngọc trân châu mà lòng người đầy tính toán, vụ lợi, manh nha chiếm đoạt…
I. NHẬP THỂ VÀ SỰ TỰ HIẾN
Bông hồng đã đẹp. Bông hồng được trao tặng bằng cả một khối tình, lại là một vẻ đẹp không dễ gì thay thế. Nhưng trước sau, đóa hồng vẫn chỉ là một đóa hồng, giá trị của nó vẫn không bao giờ ví được giá trị của chính bản thân người nhận hoặc người tặng. Còn hơn thế, một đóa hồng, dẫu đẹp, sẽ biến đổi theo thời gian như chính lòng người, hôm nay trong vắt, ngày mai có thể vẫn đục …
Hôm nay, trong tư thế của người được lãnh nhận, mọi Kitô hữu đang háo hức chuẩn bị mừng ngày Chúa Giáng sinh. Nói rằng “trong tư thế của người được lãnh nhận” khi chuẩn bị mừng lễ Giáng sinh, là nói đến một ân ban tuyệt diệu mà mầu nhiệm Nhập Thể đã và vẫn tuôn tràn như một dòng chảy không ngơi nghỉ, không suy yếu. Nếu bông hồng là biểu trưng của tình yêu nhân loại thì mầu nhiệm Nhập Thể, một đóa hồng thánh thiện không chỉ là biểu trưng, cũng không đứng chung hàng với tình yêu nhân loại, nhưng là chính Tình Yêu Thiên Chúa, một tặng phẩm vượt trên giá trị của chính bản thân người nhận là toàn thể nhân loại này. Và nếu gọi Tình Yêu phát xuất từ Thiên Chúa là đóa hồng, thì đó chính là đóa hồng vĩnh cửu, đóa hồng mầu nhiệm không bao giờ có thể tàn phai.
Đó còn là một Tình Yêu làm điểm đối chiếu cho mọi tình yêu của nhân loại. Nhân loại hãy nhìn vào Tình Yêu trong mầu nhiệm Nhập Thể để học lấy cho mình bài học quý giá: Thiên Chúa đã phó mình cho trần gian. Vì nơi Thiên Chúa, yêu là tự hiến, là hủy mình. Có hiểu hết sự tự hiến và hủy mình vì yêu trong mầu nhiệm Nhập Thể, ta mới có thể hiểu được làm sao một vì Thiên Chúa cao sang là thế, uy quyền là thế, mạnh mẽ và lớn lao khôn cùng, lại có thể hóa thân nên một con người bé nhỏ, yếu ớt, mong manh. Có hiểu được một tình yêu tự hiến đến mức hủy mình, ta mới hiểu được làm sao một Thiên Chúa lại trở nên trần trụi và nghèo nàn đến thế.
Nếu mỗi người trong chúng ta có nghèo, nghèo lắm, khi sinh ra chắc không ai thiếu thốn, ngay cả một tấm áo che thân, một cái chõng tre, dù cũ kỹ, cũng không có. Khi sinh ra, nếu tệ lắm, có lẽ ta cũng nằm trong một căn chòi… Nhưng Tình Yêu của Đấng làm người đã tự hủy đến mức không những không đòi cho mình bất cứ một điều gì, ngược lại còn trút bỏ hoàn toàn, trút bỏ cho đến mức chối từ cả những điều kiện vật chất căn bản nhất, cần thiết nhất của một con người, đến nỗi sinh ra không phải trong một căn chòi, nhưng còn tệ hơn, sinh ra trong nơi trú ngụ của loài cầm thú; không nằm trong một chiếc nôi, nhưng lại là máng cỏ; không sinh ra trên một chiếc giường nhưng chỉ có cỏ rơm làm chiếu…
Mầu nhiệm Nhập Thể không dừng lại ở sự kiện Giáng sinh. Thiên Chúa làm người còn tiếp tục tự hủy đến giây phút cuối đời. Người đã chấp nhận một cái chết thương đau và ô nhục: bị hành hình như một tên tử tội: chết trần trụi, treo giữa trời, giữa đất, giữa những tên tội phạm, thân thể thâm bầm, đầy thương tích…
Thiên Chúa là Thiên Chúa giàu có. Người quyền năng và mạnh mẽ. Vũ trụ và mọi sự trên trời dưới đất là của Người, thuộc về Người. Một Thiên Chúa giàu có là thế, nhưng khi làm người, đã hiến dâng hoàn toàn, như không còn giữ lại gì cho riêng mình, hiến dâng cả mạng sống. Một Thiên Chúa giàu có đã trở nên nghèo khó đến độ chỉ còn có Tình Yêu.
Như vậy, ngang qua mầu nhiệm nhập thể của Chúa Kitô, Thiên Chúa bày tỏ cho trần gian lòng yêu thương vô cùng của Người. Đó là một Tình Yêu mà ngàn đời, nhân loại cứ kiếm tìm, cứ khám phá, vẫn chưa bao giờ đạt tới, vẫn không hiểu thấu.
Nơi biến cố nhập thể, một mặt chính Tình Yêu và trong Tình Yêu, Thiên Chúa đã trao ban cả một mầu nhiệm vi đại. Mặt khác, chính Tình Yêu đã làm cho Đấng Thiên Chúa làm người, Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, đã hiến dâng lên Thiên Chúa lời “xin vâng” tuyệt hảo, chấp nhận sự tự hủy mình cho trần gian. Lòng vâng phục và sự tự hủy ấy chính là lý do ca ngợi Chúa Kitô của thư Dothái: “Dù là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục; và khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người” (5, 8-9).
Để nối lại hình ảnh quà tặng bông hồng với ý nghĩa lớn lao của mầu nhiệm Nhập Thể, chúng ta cần hiểu rằng, tình yêu chỉ quý giá bởi người yêu dám hiến mình trao dâng, dám tự hủy chính bản thân vì người mình yêu, chứ không phải bởi món quà có thể cầm nắm, dẫu món quà đó là một cành hồng tươi hương thắm sắc. Nói cách khác, quà tặng làm cho tình yêu nên giá trị lộng lẫy và sang trọng, chỉ có thể là quà của sự tự hiến đến hủy mình vì người mình yêu.
Và nếu bông hồng chỉ nói thay cho lời yêu chứ không là chính tình yêu, thì Chúa Kitô hiến mình trong mầu nhiệm Nhập Thể là chính Tình Yêu xuất phát từ Thiên Chúa trao tặng loài người. Đó mới chính là Đóa Hồng vĩnh cửu, Đóa Hồng không bao giờ tàn phai: Một quà tặng vô giá, quà tặng của mọi quà tặng.
II. TẶNG PHẨM CỦA NGƯỜI NGHÈO.
Có một câu chuyện thế này: Vào đêm lễ Giáng sinh, không riêng người Công giáo, nhưng hầu như mọi người, đều đổ ra đường để đi đâu đó mừng đêm tưng bừng, đêm lễ hội. Vì thế mọi ngã đường sớm đông nghẹt. Theo dòng người đông đảo, Tôi - tác giả kể - bước về hướng nhà thờ. Chiếc loa phóng thanh trên đỉnh nhà thờ trổi bản nhạc mừng Chúa Giáng sinh thật vui, không làm tôi chú ý cho lắm. Một cảnh tượng khác đập vào mắt tôi: Một người đàn ông trạc bốn mươi, chắc là bảo vệ nhà thờ, lôi xồng xộc một em bé ra ngoài khuôn viên nhà thờ. Trên tay em là một xấp vé số dày cộm. Vừa lôi em, miệng anh vừa la lối: “Ra ngoài bán, ở đây không phải chỗ!”. Cùng lúc ấy, tôi nghe một giọng nói ấm áp từ phía sau lưng mình: “Này anh, thôi đừng đuổi em bé nữa. Đêm nay Chúa Giáng sinh là để cho em và cho những người cơ nhỡ, bất hạnh, nghèo khó như em. Anh hiểu chứ?”. Phản xạ tự nhiên, Tôi xoay người lại xem giọng nói của ai? À, chiếc áo chùng thâm. Hóa ra một linh mục. Tôi còn nghe cha nói thêm: “Cần phải có những người như em bé này ở trong nhà thờ đêm nay, để họ hiểu rằng, Chúa cũng nghèo lắm, nghèo như chính bản thân họ vậy”.
Vị linh mục bước đi. Người bảo vệ nhìn theo, ánh mắt vẫn chứa đầy một khoảng không im lặng. Chắc anh ta ngỡ ngàng lắm, nhưng cũng thẹn lắm vì vừa mới nhận ra một bài học quý giá. Tôi nhìn lên bầu trời hít thở không khí đêm đông lành lạnh thật sản khoái, chợt nhận ra ánh sao đêm nay sáng và đẹp tuyệt vời …
Có thể khi dẫn chứng bằng câu chuyện và những hình ảnh mà câu chuyện lột tả, sẽ có nhiều ý kiến khác nhau của nhiều người: đồng ý và không chấp nhận, khen hoặc thấy khó chịu; cũng có thể nhận định rằng, anh bảo vệ đúng, vị linh mục chưa đúng… Riêng tôi, chỉ nhằm một chủ đích duy nhất: minh họa cho những gì đã suy nghĩ, để nhấn mạnh đến một điều quan trọng và lớn lao hơn nhiều: Tình Yêu Thiên Chúa nơi mầu nhiệm Nhập Thể.
Nội dung câu chuyện thật ngắn, thật đơn sơ, nhưng tôi thấy chất chứa bên trong nó một vài cảm nhận. Đó là cảm nhận về một quà tặng của Tình Trời được gởi trao cho người trần, một quà tặng tuyệt đối, quà tặng vô giá được ban tặng nhưng không: Thiên Chúa đã trao tặng chính người Con Một dấu ái của Người: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì không phải chết nhưng được sống muôn đời” (Ga 3, 16).
Dù thánh Gioan không nhắc tới cách hiển nhiên hai tiếng “quà tặng”, nhưng khi lặp lại lời của Chúa Giêsu nói với Nicôđêmô: “Thiên Chúa đã YÊU… đến nỗi đã BAN”, thì không là nói bằng ngôn ngữ của quà tặng đó sao. Và trong hai tiếng quà tặng đã hàm chứa tình yêu và sự trao ban. Nơi Thiên Chúa, dù quà tặng chính là một ân ban thần linh diệu kỳ lại quá sức cụ thể nơi một con người mang tên Giêsu Kitô.
Và nơi Thiên Chúa làm người mang tên Giêsu Kitô, đã là Thiên Chúa giàu có, nhưng đã chấp nhận hủy mình để trao dâng tất cả, để tỏ lòng yêu thương, thì lời của linh mục trong câu chuyện kể trên: “Đừng đuổi em bé. Đêm nay Chúa Giáng sinh là để cho em và cho những người cơ nhỡ, bất hạnh, nghèo khó như em”, và “Cần phải có những người như em bé này ở trong nhà thờ đêm nay, để họ hiểu rằng, Chúa cũng nghèo lắm, nghèo như chính bản thân họ vậy”, thật đáng chú ý và đáng suy nghĩ. Cũng vậy, không hề nhắc tới hai tiếng “quà tặng”, nhưng qua lời đối thoại, những kiểu nói: “để cho”, hay “Chúa cũng nghèo như chính họ vậy”, tác giả đã đặt lên môi nhân vật ngôn ngữ của quà tặng, một quà tặng chứa đầy tình yêu.
Nhưng hình như trong lời đối thoại của nhân vật linh mục, chỉ có “những người cơ nhỡ, bất hạnh, nghèo khó” mới đáng lãnh nhận quà tặng Giêsu. Đọc lại Tin mừng của đêm Giáng sinh, ta cũng sẽ thấy rõ điều này. Ngay sau khi Đấng tự hiến mình đã sinh làm người, thiên thần loan tin mừng Giáng sinh. Nhưng lời của thiên thần: “Hôm nay Đấng Cứu Thế giáng sinh cho các ngươi” (Lc 2, 11) không thể nào vang đến dinh tổng trấn Philatô, hoặc ngai vàng vua Hêrôđê hay dinh thượng tế Caipha, lại thuộc về những mục đồng, những người chỉ biết làm quen với cái nghèo, làm bạn với đàn súc vật. Nghèo vật chất đã vậy, họ còn là những người dốt nát, chọn cho mình kiếp sống rày đây mai đó…
Và dấu chỉ của quà tặng vô giá mà thiên thần giới thiệu là gì? Đó là: “Đây là dấu hiệu để các ngươi nhận biết Người: các ngươi sẽ thấy một hài nhi mới sinh, bọc trong khăn vải và đặt nằm trong máng cỏ” (Lc 2, 12). Một dấu chỉ quá đỗi đơn sơ, nghèo hèn. Nhưng chất chứa trong dáng vẻ đơn nghèo, dấu chỉ ấy là một dấu chỉ vi đại, dấu chỉ về một tặng phẩm thần linh: Thiên Chúa làm người!
Hóa ra quà tặng thần linh được dâng tặng, được trao ban, không phải chỉ có những người hèn hạ, khốn khổ mới có thể lãnh nhận. Nhưng Đấng ban tặng chính mình cũng trở nên người nghèo. Chỉ có hiến mình dâng tặng như thế, quà tặng Giêsu mới thật là quà tặng cần thiết và tròn đầy ý nghĩa.
Vậy để đón nhận và hiến dâng trọn vẹn quà tặng của yêu thương, đòi người ta phải có sự trút bỏ bằng một tinh thần nghèo khó, bằng một ý thức hiến mình thực sự, không thể làm khác được. Như vậy chính trong sự nghèo khó, người ta lại trở nên giàu có, vì có chính Thiên Chúa làm tặng phẩm vô giá của mình. Bởi vậy, ta mới hiểu vì sao Chúa Giêsu lại nói: “Phúc cho các ngươi là những người nghèo” (Lc 6, 20).
III. THÁNH HIẾN LÀ DÂNG TẶNG ĐỜI MÌNH.
Đã gọi là quà, quà tặng cần phải trao ban. Quà không trao ban không phải là quà. Quà chỉ có giá trị khi nó được dâng tặng bằng cả tình yêu. Ai đó đã ví von pha chút mỉa mai: “Linh mục ban của thánh và nhận của phàm”. Không biết lời ví von ấy đúng hay không? Nhưng nếu ít nhiều có sự thật, đó không còn là lời nói cho vui, mà trở thành lời bật thốt từ nỗi xót xa. Hơn nữa, nếu đúng như thế thì đời thánh hiến đã bị lệch, bị méo. Bởi thay vì chức linh mục như một quà tặng dâng cho đời, lại trở thành phương tiện để thỏa ích kỷ riêng, để vụ lợi. Nói cho cùng, đó chính là nỗi bi đát. Như vậy, đời thánh hiến chỉ còn là một phương tiện để xây pháo đài của bản thân. Nếu tin mừng đầu tiên của mầu nhiệm nhập thể đã không thể vọng đến dinh tổng trấn và thượng tế, hay đền vua, thì những pháo đài hôm nay, chắc sẽ rơi vào một mối nguy lớn: Thiếu vắng Tin Mừng Tình Yêu, dẫu Tin Mừng ấy vẫn được rao giảng từng ngày, mọi nơi.
Ơn thánh hiến mà bị lạm dụng, có khác chi lời tiên tri Êgiêkiel cảnh báo từ rất xưa: “Đức Chúa là Chúa Thượng phán thế này: Khốn cho các mục tử Israel, những kẻ chỉ biết lo cho mình! Nào mục tử không phải chăn dắt đàn chiên sao? Sữa các ngươi uống, len các ngươi mặc, chiên béo tốt thì các ngươi giết, còn đàn chiên lại không lo chăn dắt. Chiên đau yếu, các ngươi không làm cho mạnh; chiên bệnh tật, các ngươi không chữa cho lành; chiên bị thương, các ngươi không băng bó; chiên đi lạc, các ngươi không đưa về; chiên bị mất, các ngươi không chịu đi tìm. Các ngươi thống trị chúng một cách tàn bạo và hà khắc” (Ed 34, 2- 4).
Suy niệm về ý nghĩa của Tình Yêu Nhập Thể như thế, người linh mục nhận ra mình. Một khi bước theo Chúa Kitô trong đời sống thánh hiến, người linh mục chỉ dám nói mình nên giống Chúa Kitô khi đã có thể sống đời hiến dâng như Chúa Kitô. Ngay cụm từ “Đời sống Thánh hiến”, đủ để nói lên ý nghĩa của sự hiến dâng mình trong chức linh mục.
Nói linh mục dâng mình để sống đời thánh hiến trong chức linh mục là điều không khó. Nhưng trước sau, linh mục vẫn là con người. Linh mục sống đời thánh hiến hoàn hảo như Chúa Kitô không dễ chút nào. Tuy nhiên, khó không có nghĩa là không thể thực hiện, càng không bao giờ được phép đầu hàng. Trong đời sống thánh hiến, đầu hàng không chỉ là thua cuộc, mà còn là đánh mất. Vì không dám và không ý thức đời hiến dâng, linh mục chỉ còn danh chứ không còn thực.
Bông hồng tượng trưng cho tình yêu. Nhưng bông hồng chỉ thực sự làm nên ý nghĩa của tình yêu, khi người ta trao tặng cho nhau bằng cả một khối tình chân thật. Nhưng với Chúa Kitô, hơn cả những mối tình mà ta gọi là chân thật nhất, trong cuộc Nhập Thể, từ thân phận Thiên Chúa trở nên phàm nhân, chấp nhận lặn sâu trong kiếp người để chia sẻ thân phận con người của mỗi chúng ta, Người đã trao tặng cho ta không phải một đóa hồng, mà là một Đóa Hồng vĩnh cửu, một quà tặng vô giá là chính bản thân của Người.
Linh mục được Chúa Kitô mời gọi và bước theo Người. Chỉ có một điều duy nhất làm cho linh mục có thể nên giống Chúa Kitô, sống chính sự sống của Chúa Kitô cách trọn nghĩa, là khi linh mục dám ướm thử đời mình theo khuôn mẫu cuộc đời Chúa Kitô. Đó là biết trút bỏ những ham hố, tham vọng, mưu cầu tư lợi… và tự hủy mình trở nên người phụng sự Chúa, phục vụ con người như Chúa muốn.
Hãy nhớ rằng, một khi Chúa Kitô tự hủy để sống nghèo khó, Người trở nên quà tặng vô giá. Linh mục cũng sẽ trở nên quà tặng khi biết trút bỏ, để sống sự nghèo khó như Chúa.
Vì thánh hiến là dâng tặng đời mình. Linh mục sống đời thánh hiến, nghĩa là linh mục tắm mình trong tình yêu Thiên Chúa để hiến dâng tình yêu đã được thánh hiến của mình trao tặng anh chị em. Nhờ thế, linh mục không chỉ sống mầu nhiệm nhập thể, mà còn làm cho mầu nhiệm ấy thẩm thấu trong đời thánh hiến của mình. Xuyên qua những điều tốt lành ấy, linh mục đã sống hoàn hảo ơn gọi nên thánh trong thánh chức.
Bông hồng trao tặng là để bày tỏ lòng yêu thương. Con người biết hủy mình để dâng tặng tình yêu, lời tỏ tình ấy có giá trị gấp ngàn lần những cánh hồng tươi nở. Nhưng nếu hiến dâng đời mình trong ơn gọi thánh hiến, hơn tất cả mọi lời yêu thương, người linh mục trở thành một con đường tình yêu nối trời cao với trần thế, đưa con người đến với Thiên Chúa, và trao ban chính Thiên Chúa cho con người. Có còn nét đẹp nào có thể sánh bằng nét đẹp của ơn thánh hiến để dâng tặng đời mình như thế!
HƯỚNG VỀ VĨNH CỬU
Sống giữa cộng đoàn dân Chúa và cả những người chưa biết Chúa, linh mục trở thành mẫu gương sống đức tin cho mọi người. Đức tin đòi hỏi người linh mục chấp nhận sự tự hiến mình, mang lại ơn cứu rỗi, trước hết cho mình, sau là anh chị em xung quanh.
Sự tự hiến đòi linh mục chấp nhận thập giá. Đó là những khó khăn, có khi cả đau khổ. Chấp nhận thập giá, linh mục sẽ chấp nhận sống nghèo khó, sống dấn thân như Chúa Giêsu để phục vụ con người, phục vụ Giáo Hội và phụng sự Chúa.
Chấp nhận thập giá, linh mục sẽ biết chấp nhận và thánh hóa sự độc thân của mình, biết chấp nhận và thánh hóa những hiểu lầm, những chống đối đến từ phía người khác. Biết chấp nhận thập giá như thế, người linh mục sẽ không oán hận mà dễ tha thứ hơn.
Chính khi hiến thân trọn vẹn trong thánh chức như thế, linh mục sẽ là một đoá hồng tươi thắm dâng tặng cho đời. Đoá hồng của đời linh mục sẽ biến thành niềm vui mừng, vì một ngày kia, nó sẽ tiễn đưa người linh mục bước vào sự sống của Chúa Kitô, sự sống của chính Thiên Chúa. Vì nếu tội lỗi hôm nay sẽ thành hậu quả vĩnh cửu, cũng vậy, công đức hôm nay sẽ nên phần thưởng đời đời: đó chính là được sống chính sự sống của Thiên Chúa.

 

GS-109: Thiên Chúa đã yêu thương thế gian - Lm. Đan Vinh

Học sống Lời Chúa :
1) Lời Chúa : “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian”
2) Câu chuyện : Thiên Chúa nói bằng ngôn ngữ nào ?
 

Ngày xưa có một chú bé Phi Châu da đen tên là Em-ma-nu-en. Chú ta là người ưa thắc mắc: GS-109:

Ngày xưa có một chú bé Phi Châu da đen tên là Em-ma-nu-en. Chú ta là người ưa thắc mắc. Một hôm chú hỏi thầy giáo : “Thưa thầy, Thiên Chúa nói bằng thứ tiếng của nước nào ?”. Thầy giáo chỉ biết gãi đầu trả lời không biết. Em-ma-nu-en hỏi các người được coi là trí thức trong làng, nhưng họ cũng chẳng biết. Thế là chú ta bỏ làng đi đến các nơi khác để hỏi, nhưng ai nấy cũng chỉ biết nhún vai lắc đầu không biết. Dù vậy chú bé vẫn tin chắc phải có người nào đó biết. Chú ta lên đường đến những nước khác và các đại lục khác với hy vọng thỏa mãn thắc mắc : “Thiên Chúa nói bằng ngôn ngữ gì ?”. Rồi một đêm kia, chú bé đến làng Bêlem nước Do Thái và trú chân trong một cái hang ở giữa cánh đồng Bêlem. Khi bước vào hang, chú nhận ra có một đôi vợ chồng và một hài nhi đang trú ngụ. Nhìn thấy chú bé, bà mẹ trẻ liền nói : “Hân hạnh đón chào Em-ma-nu-en ! Chúng ta đang mong chờ con đấy”. Chú bé ngạc nhiên khi nghe bà này nêu đích danh tên chú và lại còn trả lời cho thắc mắc bấy lâu nay của chú. Bà nói : “Đêm nay chính mắt con đã thấy Thiên Chúa nói bằng ngôn ngữ của tình yêu : “Thiên Chúa quá yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con Một của Ngài” (Ga 3,16)”. Trái tim Em-ma-nu-en trào dâng niềm xúc động. Chú vội quì gối xuống trước Hài Nhi Giêsu, và sung sướng khóc lên. Giờ đây chú đã biết rằng : Thiên Chúa nói bằng thứ tiếng của tình yêu, thứ tiếng mà mọi dân tộc ở mọi thời đại đều hiểu được.
Và thế là Em-ma-nu-en ở lại đó vài ngày để giúp đỡ Đức mẹ và thánh Giuse. Sau đó, đến lúc chú phải chia tay để đi loan báo cho mọi người biết : “Thiên Chúa nói bằng ngôn ngữ của Tình yêu”. Lủi thủi một mình, Em-ma-nu-en vừa rảo bước vừa suy nghĩ : “Nếu tôi muốn kể cho mọi người biết Chúa dùng thứ tiếng nào để nói, thì chính tôi cũng phải nói bằng thứ tiếng Chúa nói, tức bằng ngôn ngữ tình yêu. Bởi đó là thứ tiếng duy nhất mà mọi người trên thế giới đều hiểu được”. Và từ ngày đó, Em-ma-nu-en bắt đầu bằng ngôn ngữ của thiên Chúa tức là ngôn ngữ của tình yêu. Rồi Em-ma-nu-en khám phá một điều kỳ thú : khi chú nói với người ta bằng tiếng nói của tình yêu thì họ cũng sẽ dùng ngôn ngữ tình yêu ấy để nói với nhau. Vậy trên con đường về nhà, chú bé Em-ma-nu-en đã để lại đàng sau chú một chuỗi phố phường làng mạc sống chan hòa hạnh phúc với nhau. Các quốc gia sẵn sàng chia sẻ nguồn lợi tức và kho tàng kiến thức khoa học kỹ thuật cho nhau, các dân tộc đối xử với nhau bằng sự tương kính, các gia đình đều hòa thuận thương yêu nhau, khắp nơi mọi người đều bắt tay nhau trong tình thân ái.
3) Suy niệm
+ Đến Belem, chúng ta gặp được một tình yêu tột đỉnh : Thiên Chúa đã ban người Con Một yêu dấu của Người. Con Thiên Chúa đã sinh ra nơi hang bò lừa không chút hào quang qua việc sinh ra trong đêm tối. Chúa sinh ra không chút quyền lực qua việc trở nên một trẻ thơ yếu đuối. Chúa là Đấng siêu việt mà nay lại chịu giới hạn bởi thời gian. Đấng tuyệt đối mà giờ đây lại mang một thân xác hữu hạn. Chúa yêu thương chúng ta nên không muốn làm cho ta bị choáng ngợp, không ban tặng cách cha chú, nhưng kiên nhẫn gõ cửa và chờ đợi. Thiên Chúa giàu có đã trở nên nghèo hèn để chúng ta được trở nên giàu có (x. 2 Cr 8,9).
+ Đã hai ngàn năm kể từ khi Ngôi Lời nhập thể và chiếu ánh sáng xua trừ bóng đêm tội lỗi. Người là ánh sáng thật, chiếu soi cho mọi người (x. Ga 1,9). Tiếc thay nhiều người đã chọn bóng tối tội lỗi, vì bóng tối xem ra dễ chịu hơn (x. Ga 3,19). Ngôi Lời đã đến nhà của Người, nhưng các gia nhân đã không đón nhận Người (x. Ga 1,11).
+ Đức Giêsu còn phải tiếp tục nhập thể cho đến tận thế. Nhập thể là truyền giáo, là làm cho Đức Giêsu được sinh ra tại đây hôm nay, trong văn hóa truyền thống của dân tộc, trong những biến chuyển của đất nước thời mở cửa, trong một thế giới đã bước qua ngưỡng cửa của năm 2000. Sống mầu nhiệm Nhập Thể là noi gương Đức Maria : Đón nhận Đức Giêsu, cưu mang Người, và trao ban Người cho thế giới. Xin thắp lên một ngọn nến để đẩy lùi bóng tối tội lỗi và sự chết.
4) Thảo luận : Noi gương Ngôi Lời Nhập Thể, bạn sẽ làm gì để góp phần làm cho Tin Mừng được hội nhập vào văn hóa dân tộc Việt Nam hôm nay ? Khi bị người ta từ chối tiếp nhận Tin Mừng, bạn nên phản ứng thế nào ?
Hiệp sống nguyên cầu :
1) Lạy Chúa Giêsu Hài Đồng, hiệp cùng Mẹ Maria và thánh Giuse, con xin thờ lạy Chúa. Chúa đang nằm trong máng cỏ nghèo hèn, nhưng Chúa chính là Đấng tạo thành và ban sự sống cho muôn loài. Chính Chúa đã cho con làm người và muốn ban sự sống đời đời cho con. Dù con yếu đuối tội lỗi, nhưng Chúa vẫn không bỏ mặc con phải ở dưới quyền lực ma quỉ, tội lỗi và sự chết, nhưng đã đoái thương đến cắm lều ở giữa chúng con, cùng đồng hành với chúng con trên mọi nẻo đường cuộc sống, để dẫn đưa chúng con về với Chúa Cha. Chúa đã chiếu ánh sáng Lời Chúa để chỉ đường cho con. Chúa thương con yếu đuối, nên đã ban ân sủng và sự sống, để con trở nên con của Chúa Cha và môn đệ của Chúa.
Lạy Chúa Giêsu, con xin cảm tạ Chúa. Xin giúp con biết đón nhận Chúa vào trong đời con. Chúa đã đến và coi con như người nhà của Chúa. Nhưng con đã từ chối đón nhận vì con đang mải mê tìm kiếm, lo tích trữ cho mình nhiều của cải vật chất, mải lo tìm kiếm danh vọng chức quyền thế gian. Con chưa ý thức rằng : Đời con cần phải có Chúa. Con rất cần tình thương và ân sủng của Chúa bao bọc ấp ủ con. Con cũng cầu nguyện cho thế giới hôm nay biết nhận ra thân phận của mình, biết mình cần đến Chúa. Thế gian đang muốn gạt bỏ Chúa ra ngoài lề mọi sinh hoạt xã hội. Nhưng bóng tối không thể tiêu diệt được ánh sáng. Xin Chúa cho mọi người biết đón nhận Chúa để nhận được ơn cứu độ của Chúa.
2) Lạy Mẹ Maria, xin hãy giúp chúng con gặp được Chúa trong cuộc đời của con. Giữa những long đong vất vả của kiếp người, xin Mẹ giúp con luôn được ở kề bên Chúa. Giữa cảnh đời nghèo khó cô đơn, xin Mẹ giúp con nhìn thấy Chúa đang đồng hành với con và luôn cảm thông nâng đở và an ủi con.
Lạy Mẹ, Hài Nhi Giêsu đang nằm trong máng cỏ kia lại chính là Con Thiên Chúa làm người. Xin Mẹ giúp con nhận được sự bình an của Chúa, ngay giữa những lo âu tìm kiếm miếng cơm manh áo hằng ngày. Xin Mẹ giúp con chấp nhận cuộc sống với bao điều chưa toại ý vừa lòng. Và cuối cùng, xin giúp con dám sống yêu thương như Chúa, vì Chúa đã dám hạ mình sống trọn kiếp người như con.

 

GS-110: ĐÊM GIÁNG SINH

No-en, ngày lễ kỷ niệm Thiên Chúa tặng quà cho thế gian. No-en, ngày lễ Vượt Qua từ đêm tối tiến: GS-110

No-en, ngày lễ kỷ niệm Thiên Chúa tặng quà cho thế gian. No-en, ngày lễ Vượt Qua từ đêm tối tiến ra ánh sáng. Từ đó trở đi, tại hầu hết các nước, No-en là ngày lễ của ánh sáng, vui nhất, phổ biến nhất, tưng bừng nhất, ảnh hưởng sâu rộng nhất đối với trái tim nhân loại, vì No-en nhắc nhở đến “Tặng Phẩm”, đến ân sủng Thiên Chúa đã ban cho thế gian là Đức Giê-su Ki-tô.
Vì vậy ngày ấy người ta cho nhau quà, cha mẹ tặng con cái, con cái tặng cha mẹ, cha mẹ tặng nhau, người khá giả tặng người thiếu thốn. Vì vậy, ngày ấy người ta dễ làm hoà, quên đi những lỗi lầm của nhau; người ta ngưng chiến, vì người ta cảm thấy hơn bao giờ hết, chia rẽ, ghen ghét, tranh chấp là dại dột, điên khùng. Người ta hội nhau để hợp hát lên câu châm ngôn trích trong Bài Ca Thiên Thần: “Bình an dưới thế cho loài người Chúa thương”.
Thật đáng tiếc khi chúng ta thấy trong ngày No-en có một số lạm dụng, một số tập tục ngoài tôn giáo đã chiếm chỗ những tục lệ tôn giáo đáng quý.
Cây thông trang trí với những dải băng màu, những giây đèn nhắp nháy, có đẹp thật, nhưng không được thay thế cho hang đá với những tượng nhỏ người và vật, vì chỉ hang đá mới khiến trẻ em nhớ đến sự kiện lịch sử No-en... Bữa ăn thịnh soạn ngày lễ trọng, là đúng chỗ, vì ngày này tất cả mọi sự phải biểu lộ niềm vui, nhưng tiệc rề-vây-ông xa xỉ, thật ra là một niềm tủi phận cho kẻ nghèo, kẻ không nhà, cho những dân tộc kém mở mang, đáng được giới dư ăn dư mặc rộng tay giúp đỡ nhân dịp lễ Giáng Sinh, khi hồi tưởng cảnh Đức Ki-tô không tìm đâu được một chỗ trong các quán trọ Bê-lem, phải ra đời nằm trong một máng ăn của gia súc.
Chúng ta biết nói gì về sự đột nhập của Ông Già No-en, một nhân vật hoàn toàn bịa đặt của thế kỷ 19, đáng lý phải đem xếp chung với những anh hề chọc cười của những gánh xiếc... Ông ban phát đồ chơi cho trẻ em, người lớn để mặc cho chúng gởi thư xin ông cái này cái nọ, không nghĩ xa đến việc ông chiếm chỗ của Đức Giê-su trong tình quyến luyến của trẻ nhỏ, sau này khi đứa trẻ khôn lớn sẽ có xu hướng coi thường những chân lý quan trọng, cho đó là loại “chuyện ông già No-en”.
Lợi ích của Lễ Giáng Sinh là đem nguồn sáng dọi chiếu vào những tâm hồn ảm đảm. “Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời”. Người ta không chỉ hát mừng kỷ niệm Chúa Giáng Sinh ở Bê-lem, mà chính là hát mừng Đức Ki-tô luôn luôn đến sống giữa chúng ta và trong tâm hồn chúng ta. No-en đối với nhiều người là một cuộc Vượt Qua mới, từ đêm tối tiến ra ánh sáng.
Và rồi tại sông Gio-đan, nơi nhiều người đến xin chịu phép rửa để sạch tội, Đấng Thiên Sai đã được Thiên Chúa thụ phong vương quyền ( x. Mt 3, Lc 3 và Ga 1 ). Kế đó, Đức Giê-su gọi những môn đệ đầu tiên.
Trích FAITES LE PASSAGE, P. THIVOLLIER, bản dịch của cụ Lê Văn Lộc

 

GS-111: LONG TRỌNG MỪNG ĐẠI LỄ CHÚA GIÁNG SINH

 (LỄ ĐÊM)
VietCatholic (Lễ Sinh Nhật Chúa Giêsu)
VÀO ĐỀ
 

Lễ Chúa Giáng Sinh là một đại Lễ và là một Lễ tràn đầy niềm vui và có rất nhiều ý nghĩa: GS-111

Lễ Chúa Giáng Sinh là một đại Lễ và là một Lễ tràn đầy niềm vui và có rất nhiều ý nghĩa đối với mỗi người cũng như đối với toàn nhân loại. Có nhiều cách giúp chúng ta mừng Lễ một cách sốt sáng và ích lợi cho đời sống tâm linh. Cách tốt nhất vẫn là đi sâu vào Lời Chúa để tìm ra sứ điệp của Lời Người mà đón nhận và thực thi. Nhưng thay vì trình bày nội dung các bài Thánh Kinh của Thánh Lễ đêm như thường lệ, tôi xin phép được dùng một phương pháp khác thường được gọi là “Lectio Divina” để tiếp cận với Lời Chúa và đón nhận sứ điệp của Lời ấy. “Lectio Divina” là phương pháp “Đọc, suy niệm Lời Chúa & cầu nguyện”. Chúng ta sẽ đọc, suy niệm Lời Chúa và cầu nguyện với đoạn Phúc âm Lc 2,1-14 là bài Tin Mừng của Lễ đêm Giáng Sinh.

TRÌNH BÀY
Phương pháp “Đọc, suy niệm Lời Chúa & cầu nguyện” sẽ được tiến hành thành 6 bước như sau:
BƯỚC 1.- CHUẨN BỊ - XIN ƠN CHÚA THÁNH THẦN (PREPARATIO)
Ở bước 1 này, chúng ta nên lưu ý những điều sau đây: "Khi mở Sách Thánh, bạn cần ý thức rằng đọc Lời Chúa là để nghe Chúa nói với bạn. Việc lắng nghe này không tùy thuộc ở bạn hay do bạn cố gắng, nhưng do Chúa, Đấng muốn bạn nghe được tiếng Ngài. Vậy bạn hãy lắng nghe Chúa nói qua Lời của Ngài, trong tâm tình khiêm tốn của người nghèo của Thiên Chúa, sẵn sàng đón nhận và thực thi Lời Chúa.
Bạn cũng nên nhớ cuốn sách này không phải của riêng bạn, mà là của cộng đoàn Hội Thánh. Khi cầu nguyện với Lời Chúa, bạn được hòa mình vào truyền thống của Hội Thánh đã có từ bao đời. Dù đọc Lời Chúa một mình đi chăng nữa, bạn vẫn không cô đơn vì được liên kết với bao anh chị em tín hữu khác đã và đang “suy niệm luật Chúa đêm ngày” (Tv 1,2).
Bạn hãy đặt mình trước mặt Chúa để đi vào cuộc đối thoại với Người. Bạn cũng hãy xin Người cử Thánh Thần đến giúp bạn hiểu Lời Chúa; đồng thời đi vào sự thinh lặng nội tâm để đón nghe Lời Chúa.

BƯỚC 2.- ĐỌC & TÌM HIỂU BẢN VĂN (LECTIO)
Bạn hãy đọc chậm rãi từng chữ từng câu một đoạn văn Lc 2,1-14. Không cần đọc lấy nhiều. Đọc đi đọc lại nhiều lần, nhất là những câu ngắn mà bạn thấy hay thấy thích; Bạn có thể lặp đi lặp lại nguyên văn các câu ngắn ấy nhiều lần. Bạn đọc trong tâm tình yêu mến, lắng nghe, tìm hiểu, đón nhận ơn soi sáng và ơn tác động của Thánh Thần. Bạn đọc Lời Chúa trong cầu nguyện, xin Thiên Chúa, xin Chúa Giê-su Hài Nhi nói với bạn, tỏ lộ Ý Ngài cho bạn, chỉ đường vạch lối cho bạn, soi sáng hướng dẫn bạn.
Ở bước 2 này bạn nên dùng phương pháp sau đây gồm 3 việc: (a) quan sát, (b) giải thích và (c) tóm kết, để nắm bắt được nội dung bản văn Lc 2,1-14 và nhận ra sứ điệp của Lời Chúa:
a/ Quan sát bằng cách tự đặt những câu hỏi: Ở đâu? khi nào? // Ai? // Làm gì? // Nói gì?
 Ở đâu
Khi nào?    Ai?   Làm gì?      Nói gì?
Thời ấy (thời ông Quirinô làm tổng trấn xứ Xyri)   Hoàng đế Augustô       ra chiếu chỉ kiểm tra dân số khắp cả thiên hạ   -
-        Ông Giuse Từ thành Nadarét (xứ Galilê) lên thành Bêlem (Xứ Giuđê), cùng với Đức Maria, bạn đời của ông để khai tên.         -
Ở Bêlem    Đức Maria sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, đặt con nằm trong máng cỏ.          -
-        Những người
chăn chiên sống ngoài đồng, thức đêm canh giữ đàn vật. -
Sứ thần      bỗng xuất hiện,
đứng bên những người chăn chiên          -       
-        Vinh quang
Chúa chiếu toả chung quanh những người chăn chiên      -
-        Sứ thần      bảo họ:      "Anh em đừng sợ. Này tôi loan
báo cho anh em một tin mừng
trọng đại cũng sẽ là niềm vui cho
toàn dân: Hôm nay một đấng
Cứu Độ đã sinh ra cho anh em
trong thành Vua Đavít, Người là
Đấng Kitô, là Đức Chúa. Anh em
cứ dấu này mà nhận ra Người:
Anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ
sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ."
-        Đạo binh thiên
quốc cùng với
sứ thần       cất tiếng ca tụng Thiên Chúa:        "Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương"
b/ Giải thích bằng cách bạn tự đặt cho mình những câu hỏi như: ……. có ý nghĩa gì? …….. ám chỉ hay ngụ ý gì? Tại sao? và bạn tìm cách trả lời cho thỏa đáng. Ví dụ:
1. Tại sao hoàng đế Augustô hạ lệnh kiểm tra dân số khắp cả thiên hạ? Và việc kiểm tra dân số khắp cả thiên hạ này có nghĩa gì?
- Kiểm tra dân số khắp cả thiên hạ là kiểm tra dân số trong toàn lãnh thổ của đế quốc Roma thời bấy giờ. Đối với hoàng đế Augustô xưa cũng như đối với các nhà cầm quyền các quốc gia này nay, việc kiểm tra dân số là một việc bình thường, mang tính kiểm kê thực lực để biết nhu cầu và khả năng của đất nước, dân tộc, đế quốc mình trước khi toan tính một kế hoạch hay chương trình gì đó, ví dụ như đem quân xâm chiếm các nước khác hay lên kế hoạch thu thuế cho ngân sách. Bình thường thì dân số càng đông thì nguồn thu từ các sắc thuế càng lớn. Và cũng tùy thuộc vào số dân mà nhà cầm quyền ấn định mức độ các mức thuế cho phù hợp.
Nhưng đối với Thánh Giuse và Đức Maria thì việc kiểm tra dân số của vua Augustô là biến cố khiến các ngài phải từ thành Nadarét (xứ Galilê) đi lên thành Bêlem (Xứ Giuđê) là thành của Đavít vì Giuse là người thuộc dòng dõi Đavít. Nhìn sâu vào sự kiện, chúng ta lịch sử Cứu độ của Thiên Chúa được lồng ghép một cách mật thiết vào lịch sử con người. Nói cách khác, Thiên Chúa thực hiện kế hoạch của Người bằng những con người cụ thể, xuyên qua những biến cố cụ thể.
2.- Tại sao ông Giuse không tìm được chỗ trọ ở Bêlem cho hai người, nhất là cho Maria là người sắp đến ngày sinh con?
- Bêlem chỉ là một thị trấn nhỏ bé. Ong Giuse đã không tìm ra chỗ trọ cho hai người, có thể vì ông bà đến trễ, nên không còn chỗ; cũng có thể là vì ông bà không có nhiều tiền để thuê một phòng, một chỗ trọ trong nhà, nên đành phải “tạm náu” trong nơi trú nắng trú mưa của chiên bò ngoài cánh đồng Bêlem.
3.- Sự xuất hiện của sứ thần bên các người chăn chiên ngoài đồng có ý nghĩa gì?
- Những người chăn chiên được Thiên Chúa ưu đãi cách đặc biệt, khác hẳn với cách quan niệm và cư xử của những người đời. Theo quan niệm của người Do Thái thời Đức Giêsu thì những người chăn chiên bị coi là hạng người ô uế, đáng khinh rẻ, vì họ thường xuyên tiếp xúc với loài vật là loài dơ dáy và vì họ sống bên ngoài, bên lề cộng đoàn nên bị coi là người tội lỗi. Nhưng Thiên Chúa không phán xét con người theo thành kiến hay vẻ bề ngoài. Người cũng không phán xét con người theo mức độ của cải mà con người sở hữu. Thiên Chúa nhìn sâu bên trong và thấy hết gía trị của con người, nhất là của người nghèo. Họ đã bị trăm bề thiệt thòi vì nghèo lại còn bị khinh chê rẻ rúng trong xã hội. Thiên Chúa ưu tiên dành tình yêu thương của Người cho những người này.
4.- Sự xuất hiện của các đạo binh thiên quốc trên bầu trời Bêlem có ý nghĩa gì?
- Sự hiện diện của các đạo binh thiên quốc nói lên sự hiện diện của Thiên Chúa nơi con trẻ vừa sinh ra, được bọc tã nằm trong máng cỏ. Thánh Kinh có truyền thống dùng các hình ảnh: đám mây, tiếng nói từ trời (hay tiếng sấm), sự xuất hiện của đạo binh thiên thần ….. để diễn tả sự hiển dung (Epiphania) của Thiên Chúa.
5.- Lời ca hát chúc tụng của các đạo binh thiên quốc và sứ thần Thiên Chúa“Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương” có ý nghĩa gì?
- Lời ca hát chúc tụng của các đạo binh thiên quốc và sứ thần Thiên Chúa có nghĩa là qua và nhờ trẻ sơ sinh vừa mới sinh ra ở Bêlem mà Thiên Chúa trên trời cao được hiển vinh và loài người được hưởng ơn bình an. Bình an là một hồng ân lớn lao mà Thiên Chúa ban cho loài người, cho hết mọi người không phân biệt mầu da, chủng tộc, giầu nghèo, sang hèn, vì Thiên Chúa yêu thương tất cả mọi người.
6.- Sự kiện Đấng Cứu Thế sinh ra là một trẻ sơ sinh, bọc tã, nằm trong máng cỏ có ý nghĩa gì?
- Sự kiện Đấng Cứu Thế sinh ra là một trẻ sơ sinh, bọc tã, nằm trong máng cỏ có nghĩa là Thiên Chúa làm người đã chọn kiếp sống con người, muốn nên giống như con người trong mọi sự, ngoại trừ tội lỗi: “Đức Giêsu Kitô, vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế” (Pl 2,6-7).
c/ Tóm kết ý nghĩa đoạn văn Lc 2,1-14 bằng hai câu hỏi sau đây:
1.- Trong đoạn Tin Mừng Lc 2,1-14 này, bạn khám phá Đức Giêsu là ai?
- Trong đoạn Tin Mừng Lc 2,1-14 này tôi khám phá ra Đức Giêsu là:
* Một trẻ sơ sinh, nằm trong máng cỏ, được bọc tã như các trẻ sơ sinh khác.
* Đấng Cứu Độ của người Do Thái và của muôn người, muôn dân.
* Đức Kitô (tức Đấng được xức dầu tấn phong).
* Đức Chúa (tức là Đấng thống lĩnh và cai quản muôn dân, muôn nước).
* Đấng đem Niềm Vui và Bình An đến cho loài người, cho mọi người.
* Tình Thương của Thiên Chúa đối với loài người.

2.- Bạn học được điều gì từ đoạn Thánh Kinh Lc 2,1-14 này hay sứ điệp của đoạn văn Thánh Kinh này là gì?
- Từ đoạn Thánh Kinh Lc 2,1-14 này, tôi học được các điều sau đây:
1. Lịch sử Cứu Độ của Thiên Chúa được lồng vào lịch sử của con người và các quốc gia. Xuyên qua lịch sử của con người, của các quốc gia, Thiên Chúa thực hiện kế hoạch yêu thương và cứu độ của Người. Vì thế có thể nói đối với con mắt đức Tin, loài người chỉ có một lịch sử: đó là lịch sử của Thiên Chúa yêu thương và cứu độ.
2. Thiên Chúa đã yêu thương loài người đến độ ban Đấng Cứu Độ cho loài người như lời Phúc âm Gioan: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16). Tất cả nhân loại tức tất cả mọi người: lớn bé, giầu nghèo, sang hèn, không phân biệt mầu da, chủng tộc… đều là đối tượng của tình thương yêu vô bờ bến của Thiên Chúa.
3. Thiên Chúa đã trở thành một trẻ sơ sinh, được sinh ra trong một hoàn cảnh thiếu thốn đủ điều. Cha Charles de Foucauld khi suy niệm về sự tự hạ “bí nhiệm” này của Chúa Giê-su từ Bêlem cho đến Nadarét, đã thốt lên: ”Lạy Chúa, Chúa đã làm người; làm người Chúa đã làm một kẻ rốt hết trong loài người; đó là một cuộc sống từ bỏ đến độ chọn chỗ thấp hèn nhất, Chúa đã hạ mình xuống để sống đời lao động và cơ cực của những người thợ nghèo hèn”. Nhờ đó, mọi người trong loài người đều có thể thấy rằng, dù số phận có hẩm hiu mấy chăng nữa, cũng chưa thấm gì nếu so với Thiên Chúa nhập thể làm người là Đấng đã sinh ra nghèo nàn nơi hang đá Bêlem, đã sống lao động cực nhọc vất vả tại làng Nadarét và đã chết trần truồng tủi hổ trên thập tự giá trên Núi Sọ.

BƯỚC 3.- SUY NIỆM (MEDIATIO)
Trong thinh lặng, bạn tự hỏi trong lòng:
(1) Biến cố Đấng Cứu Độ sinh ra trong hang đá Bêlem, nằm trong máng cỏ, được bọc tã ….. có ý nghĩa gì? Thiên Chúa, Chúa Giê-su muốn nói gì với tôi qua sự kiện này?
(2) Lời sứ thần “Anh em đừng sợ. Này tôi loan báo cho anh em một tin mừng trọng đại cũng sẽ là niềm vui cho toàn dân: Hôm nay một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành Vua Đavít, Người là Đấng Kitô, là Đức Chúa” có ý nghĩa gì? Sứ thần Thiên Chúa có nói với riêng tôi lời ấy không?
(3) Lời chúc tụng của đạo binh thiên quốc cùng với sứ thần “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương” có ý nghĩa gì? Lời ấy có dành cho tôi không?
(4) Thiên Chúa và Chúa Giê-su mời gọi tôi làm gì qua câu chuyện Giáng Sinh này, khi mừng Lễ Chúa Giáng Sinh năm nay?
Cũng chỉ trong thinh lặng của tâm hồn mình, bạn sẽ nghe được tiếng Chúa nói và khám phá ra ý muốn của Chúa và rồi bạn sẽ biết mình phải làm gì.

BƯỚC 4.- CẦU NGUYỆN (ORATIO)
Trong thinh lặng, bạn hãy để Lời Chúa đánh động tâm hồn mình, để Thánh Thần làm dậy lên những tâm tình thờ phượng, ngợi khen, cảm tạ, khát khao, cảm thông, chia sẻ, sám hối ăn năn và quyết tâm sửa đổi. Và bạn hãy dâng lên Thiên Chúa những tâm tình mà Thánh Thần đã khơi lên trong tâm hồn bạn.
* “Lạy Thiên Chúa quyền năng và yêu thương, con xin cảm tạ Chúa đã cho con được đọc, suy niệm Lời Chúa và cầu nguyện với bài Phúc âm Lc 2,1-14 này. Con xin cảm tạ, ngợi khen, chúc tụng Tình Thương và quyền năng của Chúa. Chỉ có Thiên Chúa quyền năng vô biên và yêu thương không cùng mới có thể nghĩ ra được việc để cho Con Một đầu thai làm người, sinh ra là một trẻ sơ sinh, bọc tã, nằm trong máng cỏ như thế!”
* “Lạy Hài Nhi Giê-su, con vui mừng đón chào Chúa đến với con, đem bình an của Thiên Chúa đến cho con. Xin Chúa hãy ngự vào tâm hồn con, xin Chúa hãy đi vào cuộc đời con và ở lại trong đó, vì tâm hồn và cuộc sống con là máng cỏ yêu thích của Chúa.”

BƯỚC 5.- CẦU NGUYỆN CHIÊM NIỆM (CONTEMPLATIO)
Trong thinh lặng tuyệt đối bạn hãy hướng mắt, hướng lòng về Thiên Chúa, về Hài Nhi Giê-su để nhìn ngắm, chiêm ngưỡng, để yêu mến Người. Bạn hãy cố giữ cho tâm hồn trống rỗng, không vướng bận một việc gì khác….. để lòng kề lòng với Thiên Chúa, với Hài Đồng Giê-su. Bạn hãy bắt chước Mẹ Maria và Thánh Giuse không ngừng ngắm nhìn và chiêm ngưỡng Chúa Hài Đồng Giê-su, với tất cả lòng yêu thương trìu mến.

BƯỚC 6.- DẤN THÂN HÀNH ĐỘNG (ACTIO)
Cách “Đọc, suy niệm Lời Chúa và cầu nguyện” chỉ hoàn hảo khi bạn đáp lại lời mời gọi, sự gợi ý của Chúa mà bạn đón nhận được trong quá trình các bước kể trên. Bạn hãy đáp lại lời mời gọi, sự gợi ý của Chúa bằng một quyết tâm. Nhưng quyết tâm ấy phải có một hành động cụ thể kèm theo. Chỉ có quyết tâm không thì chưa đủ, mà phải có việc làm cụ thể, thiết thực mới là nghe và thực thi ý muốn của Chúa.
Một quyết tâm mà bạn có thể chọn là mỗi ngày dành 15 phút để chiêm ngắm Chúa Hài Đồng Giê-su và suy nghĩ về Tình Thương Cứu Độ của Thiên Chúa.
Một quyết tâm khác mà bạn có thể chọn là tìm mọi cơ hội nói về Lễ Chúa Giáng Sinh, nói về Ơn Cứu Độ của Thiên Chúa với những người chưa tin hay yếu tin.
Một quyết tâm khác nữa mà bạn có thể chọn là thể hiện lòng tôn trọng của bạn -bằng lời nói, cử chỉ, thái độ và tâm tình- đối với bất cứ một người nghèo hèn nào sống gần bạn hay có dịp gặp bạn.
19.12.2003
Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

 

GS-112: Quà tặng tình yêu - Martin Lê Hoàng Vũ

(đã giảng cho Thiếu Nhi năm A)
VietCatholic (Lễ Sinh Nhật Chúa Giêsu)
Lễ Giáng Sinh
 
 

Nhà văn Mỹ Sydnay Parter chuyên viết truyện ngắn nổi tiếng có kể một câu truyện cảm động: GS-112

Nhà văn Mỹ Sydnay Parter chuyên viết truyện ngắn nổi tiếng có kể một câu truyện cảm động như sau : Della và Jim là đôi vợ chồng trẻ rất yêu thương nhau. Gần đến lễ Giáng Sinh, họ muốn tặng cho nhau một món quà mà cả hai cùng yêu thích. Thế là người vợ đã bán tất cả những tư trang của cô mà chỉ có 1 đô tám mươi bảy xu. Số tiền ấy không thể mua được thứ gì cho chồng. Ngồi nghĩ ít lâu, chị đi đến tiệm cắt tóc để bán mái tóc dài óng ả tuyệt đẹp của mình mua một món quà cho chồng. Chị mua vể cái dây đeo đồng hồ vì chị biết cái đồng hồ của chồng đã đứt dây từ lâu. Đó là vật gia bảo từ thời ông nội của chồng chị để lại. Nhưng bất ngờ thay, chồng chị cũng đi kiếm một món quà để tặng cho vợ. Anh đã đi bán cái đồng hồ để mua những cái trâm cài đầu cho mái tóc đẹp của vợ. Vậy là họ không thể sử dụng được món quà của nhau, nhưng qua đó hai vợ chồng càng hiểu nhau và yêu nhau hơn.
Lễ Giáng Sinh là ngày mừng biến cố Con Thiên Chúa nhập thể làm người. Nhưng lễ Giáng Sinh cũng là ngày lễ của quà tặng. Đây là dịp cuối năm người ta thường tặng cho nhau những cánh thiệp, những món quà. Kèm theo những món quà người ta còn gởi đến cho nhau những thông điệp chúc mừng. Quà tặng chuyên chở tấm lòng yêu thương của người tặng. Có những món quà đơn sơ nhỏ bé. Có những món quà mà người ta phải tốn một số tiền lớn để mua nó. Một quà tặng được chuyển đi là dấu hiệu người ta còn nhớ đến nhau. Bạn bè tặng quà cho nhau, những người yêu nhau tặng quà cho nhau, cha mẹ tặng quà cho con cái, món quà sẽ vô nghĩa nếu không có người tặng.
Trong lễ Giáng Sinh hôm nay chúng ta lai nói đến một quà tặng khác giá trị hơn. Quà tặng của Thiên Chúa trao ban cho con người. Thật vậy, Đức Giêsu là quà tặng của Thiên Chúa gởi đến cho từng người một. “ Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16) Ngài đem đến cho chúng ta một thông điệp vàng từ Thiên Chúa là Thiên Chúa mãi trung thành yêu thương con người, cho dù con người có từ khước Ngài.
Nhân vật trung tâm của Đêm Giáng Sinh hôm nay là một trẻ thơ vừa mới sinh. Một trẻ thơ như bao trẻ thơ khác trên trần thế. Một trẻ thơ bình thường sinh ra trong một gia đình ấm êm hạnh phúc, có cha mẹ, bà con gia tộc và quê hương đất nước. Phần lớn trong số họ chỉ là những người nghèo nhất trong xã hội. Thế mà họ được đón nhận một Tin mừng lớn lao của toàn thể nhân loại. Họ vinh dự đón nhận quà tặng của Thiên Chúa : “Hôm nay Đấng Cứu Thế đã sinh ra cho anh em, trong thành Vua Đa-vít, Người là Đấng Kitô là Đức Chúa” (Lc 2, 11).
Trẻ thơ Giêsu được sinh ra là Con Thiên Chúa. Đây là điều con người không sao hiểu nổi. Nhưng đây cũng là nền tảng của Mầu nhiệm Giáng Sinh. Trẻ thơ Giêsu vừa mới sinh chính là Con Thiên Chúa đã làm người hoàn toàn giống như mọi người. Ngài bắt đầu cuộc đời từ một trẻ thơ nhỏ bé, yếu ớt. Ngài lớn lên đồng hành và chia sẻ với mọi nổi cay đắng phiền muộn của kiếp người. Ngài hòa nhập với mọi sinh hoạt trần thế của con người. Ngài đã sống trọn vẹn cho con người, trao ban tất cả cho con người.
Chỉ có tình yêu mới giải thích được tất cả những điều đó. Bởi lẽ vì yêu thương Thiên Chúa đã làm người. Ngài thấu hiểu nổi khao khát một Đấng Cứu Thế của dân tộc Israel. Bao nhiêu năm trời mong đơi, hôm nay Đấng Cứu Thế đã giáng sinh. Đức Giêsu là quà tặng vô giá của tình yêu Thiên Chúa gởi đến cho con người. Quà tặng mang tên Giêsu trải qua hơn 2000 năm đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Đức Giêsu đang đến với con người hằng ngày trong từng giây phút của đời sống. Đức Giêsu là quà tặng vượt không gian và thời gian. Dù con người ở bất cứ nơi đâu, Chúa vẫn có thể đến. Dù con người có ngụp lặn trong tội lỗi và chưa bao giờ nghĩ đến Ngài thì Chúa vẫn yêu thương và giữ ý định cứu rỗi con người. Cho đến muôn đời nhân loại chỉ được cứu rỗi nhờ Đức Giêsu Kitô mà thôi. Tình yêu Thiên Chúa là tình yêu cụ thể và sống động. Yêu nhau người ta không chỉ đứng nhìn nhau mà còn biết làm gì đó tốt đẹp cho nhau. Yêu nhau người ta không chỉ diễn tả bằng lời mà còn dùng quà tặng để thể hiện tấm lòng yêu thương. Chính vì yêu thương nên Thiên Chúa tặng ban chính Con Một yêu dấu của Ngài cho nhân loại để nhân loại được cứu rỗi.
Trẻ thơ Giêsu vừa mới sinh ra nơi hang bò lừa tồi tàn ở làng quê nhỏ Bêlem là hình ảnh ấn tượng khó quên trong đêm Giáng sinh. Con người không thể hình dung được một Thiên Chúa tự hạ đến độ từ chỗ cao sang đã xuống làm người với hình hài một trẻ thơ.
Đón nhận quà tặng vô giá là chính Chúa Giêsu chúng ta mới hiểu được ý nghĩa đích thực của quà tặng. Trong dịp lễ Giáng Sinh chúng ta thường mua những món quà đắt tiền để tặng nhau, tuy nhiên giá trị của quà tặng lại tùy thuộc vào tấm lòng của người tặng quà. Cuộc sống sẽ luôn thi vị nếu còn mãi những nghĩa cử tặng quà. Cũng như cuộc sống không thể vắng bóng tinh thần trao ban. Ai trong chúng ta cũng có cái để trao ban. Đó có thể là chúng ta biết dành thời giờ để hỏi thăm, gặp gỡ bà con thân thuộc, người cùng khu xóm và bạn bè. Khi chúng ta biết rộng lòng giúp đỡ vật chất cho những người nghèo, những nạn nhân của thiên tai lũ lụt. Khi chúng ta biết tặng cho những người mình yêu mến như cha mẹ, anh em, bạn bè, người yêu những món quà bất ngờ thắm thiết tình người.
Lạy Chúa Giêsu Hài đồng ! Đêm nay Chúa sinh ra làm người là một tin mừng trọng đại cho toàn nhân loại. Đứng trước Mầu nhiệm Nhập thể chúng con chỉ biết cảm tạ ngợi khen và chúc tụng Chúa. Vì tình Chúa yêu thương nhân loại là vô bờ bến thì làm sao chúng con có thể diễn tả được bằng lời. Xin Chúa dạy chúng con biết trao ban cuộc sống cho tha nhân theo gương Chúa, để suốt cuộc đời chúng con biết sống mình vì mọi người và vì ích chung, ngõ hầu xứng đáng là những người được Chúa Cứu chuộc. Amen
Martin Lê Hoàng Vũ
 
 

GS-113: Nhập Thể, một Tin Mừng trọng đại - Lm Phêrô Trần Thanh Sơn

VietCatholic (Lễ Sinh Nhật Chúa Giêsu)
LỄ CHÚA GIÁNG SINH (LỄ ĐÊM)
Bài đọc 1: Is 9, 2-7
Bài đọc 2: Ti 2, 11-15
Tin mừng: Lc 2, 1-14
“Các ngươi đừng sợ, đây ta mang đến cho các ngươi một tin mừng đặc biệt, đó cũng là tin mừng cho toàn dân: Hôm nay, Chúa Kitô, Đấng Cứu Thế đã giáng sinh cho các ngươi.”
Kính thưa…
 

Lời loan báo Tin mừng của sứ thần cho các mục đồng tại Bêlem cách đây hơn 2000 năm: GS-113

Lời loan báo Tin mừng của sứ thần cho các mục đồng tại Bêlem cách đây hơn 2000 năm, cũng là lời mà Giáo Hội muốn gởi đến từng người chúng ta hôm nay.
Thật vậy, sau bao ngày chờ đợi và chuẩn bị, đêm nay, cộng đoàn chúng ta họp nhau nơi đây để mừng đại lễ Giáng Sinh. Giáng Sinh không chỉ là một ngày lễ của Kitô giáo, nhưng còn là ngày lễ hội của tất cả mọi người trên thế giới. Với việc Nhập Thể của Ngôi Hai Thiên Chúa, lịch sử con người đã bước sang một giai đoạn mới. Giai đoạn của niềm vui và hân hoan khôn tả. Chúng ta vui mừng vì Con Thiên Chúa đã đến và cư ngụ giữa chúng ta trong thân phận của một con người bình thường như chúng ta chỉ trừ tội lỗi (x. Ga 1, 14;
Dt 4, 15). Chúng ta vui mừng vì với việc Nhập Thể của Ngôi Lời, lời hứa cứu độ từ nguyên thuỷ nay đã trở thành hiện thực. Chúng ta còn vui mừng, vì từ nay, chúng ta đã có Con Thiên Chúa cùng đồng hành trong cuộc sống. Chúng ta không còn cô đơn, vất vả một mình trong kiếp sống con người.

1. Tin mừng được giải thoát:
Tin mừng này đối với dân Do Thái, trước hết, đó là tin mừng của ngày được giải thoát khỏi ách nô lệ. Để thấy hết được niềm vui này của dân Chúa, chúng ta cần chú ý đến tâm trạng hoàn cảnh của họ lúc bấy giờ. Lúc đó, dân Do Thái đang sống trong cảnh lưu đày, kiếp sống của người nô lệ. Có lẽ, giờ này ngồi đây, chúng ta không cảm nghiệm được hết nỗi buồn khổ, tủi nhục của kẻ bị lưu đày. Để hiểu rõ tâm trạng này của họ, có lẽ chúng ta cần đặt mình trong hoàn cảnh của họ. Đó là tâm trạng của những người bị đày biệt xứ, không biết lúc nào mới được về lại nơi quê cha đất tổ. Cảm nghiệm nỗi buồn mất nước này, tác giả Thánh vịnh đã phải thốt lên: “Châu lệ là cơm bánh đêm ngày, khi thiên hạ thường ngày cứ hỏi: “Này Thiên Chúa ngươi đâu?” (Tv 42 (41), 4), “Bờ sông Babilon, ta ra ngồi nức nở mà tưởng nhớ Sion; trên những cành dương liễu, ta tạm gác cây đàn. Bọn lính đòi ta hát xướng, lũ cướp này mời gượng vui lên… Bài ca kính Chúa Trời, làm sao ta hát nổi nơi đất khách quê người?” (Tv 137 (136), 1-3a. 4).
Chính giữa nỗi buồn day dứt đó, chúng ta mới thấy hết được niềm hy vọng và vui mừng của dân khi nghe lời loan báo của vị ngôn sứ : “Cái ách nặng nề trên người nó, cái gông nằm trên vai nó, cái vương trượng quyền của kẻ áp bức. .. Chúa sẽ nghiền nát ra, như trong ngày chiến thắng Madian. Bởi lẽ mọi chiếc giày đi lộp cộp của kẻ chiến thắng, mọi chiếc áo nhuộm đẫm máu đào, sẽ bị đốt đi và trở nên mồi nuôi lửa”. Không vui sao được khi họ sắp được trở về quê hương, được giải thoát khỏi ách nô lệ, đựơc trở lại thành một con người tự do. Niềm vui này thật to lớn, không thể nói hết được.
Không chỉ loan báo ngày giải thoát, ngôn sứ còn hé mở cho thấy khuôn mặt của Đấng thực hiện lời hứa giải thoát này: “Bởi lẽ một Hài Nhi đã sinh ra cho chúng tôi, và một người con đã được ban tặng cho chúng tôi. Người đã gánh nhận vương quyền trên vai,…Người sẽ ngự trên ngai vàng của Đavít”. Đây thực sự là một vị vua uy quyền nhưng cũng đầy tình nhân ái: “Thiên hạ sẽ gọi Nguời là “Cố vấn kỳ diệu, Thiên Chúa huy hoàng, Người Cha Muôn Thuở, Ông Vua Thái Bình. Người sẽ mở rộng vương quyền, và cảnh thái bình sẽ vô tận”.
Lời hứa này đã được thực hiện. Dân Chúa đã được hồi hương vào năm -587. Thế nhưng, thực tế, họ cũng chưa hoàn toàn được tự do. Vì thế, dân Chúa vẫn luôn thao thức trông chờ ngày của Đấng Messia đến để thực hiện trọn vẹn lời hứa này. Và với việc Giáng Sinh của Đức Giêsu, niềm vui này đã trở nên hiện thực như lời thánh Phaolô trong thư gởi tín hữu Galata: “Khi thời viên mãn đến, Thiên Chúa đã sai Con của Người sinh bởi người nữ,… ngõ hầu chúng ta được chịu lấy quyền nghĩa tử” (Gl 4, 4-5).

2. Tin mừng được cứu độ:
Như thế, với việc Giáng Sinh của Ngôi Lời, niềm vui được giải thoát giờ đây được trở nên trọn vẹn, thánh sử Luca thuật lại: “Sự việc xảy ra, trong lúc ông bà đang ở đó, là Maria đã tới ngày mãn nguyệt khai hoa, và bà đã hạ sinh con trai đầu lòng. Bà bọc con trẻ và đặt nằm trong máng cỏ”. Chính Hài Nhi bé nhỏ nằm trong máng cỏ đơn sơ đó sẽ là Đấng đem lại ơn cứu độ cho toàn thể nhân loại, như lời các sứ thần loan báo cho các mục đồng: “Các ngươi đừng sợ, đây ta mang đến cho các ngươi một tin mừng đặc biệt, đó cũng là tin mừng cho cả toàn dân: Hôm nay Chúa Kitô, Đấng Cứu Thế đã Giáng Sinh cho các ngươi trong thành của Đavít”. Tin mừng giải thoát này cũng được thánh Phaolô chia sẻ với môn đệ Titô mà chúng ta vừa nghe trong bài đọc hai: “Ân sủng của Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ chúng ta đã xuất hiện cho mọi người.... Người đã hiến thân cho chúng ta để cứu chuộc chúng ta khỏi mọi điều gian ác, luyện sạch chúng ta thành một dân tộc xứng đáng của Người”.
Đức Giêsu sẽ “luyện sạch chúng ta”, nghĩa là khi Đức Giêsu đến, Ngài không chỉ giải thoát chúng ta khỏi ách nô lệ của thân xác, mà quan trọng hơn, Ngài giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi, vì như lời Ngài đã nói: “Phàm ai phạm tội, thì là nô lệ” (Ga 8, 34). Dân Do thái và chúng ta hôm nay, tuy không còn bị lưu đày về thân xác, nhưng tâm hồn chúng ta vẫn chưa được bình an. Chúng ta vẫn còn bị những dục vọng, cám dỗ của tội lỗi chi phối. Chắc từng người chúng ta cũng từng có cảm nghiệm của sự bình an và nhẹ nhõm trong tâm hồn sau khi làm hoà với anh chị em hay sau khi lãnh bí tích Hoà giải. Chính sự giải thoát này mới thực là niềm vui lớn nhất, ngôn sứ Isaia trong bài đọc một cũng đã cất tiếng ca mừng về điều đó: “Dân tộc bước đi trong u tối, đã nhìn thấy sự sáng chứa chan. Sự sáng đã bừng lên trên những người cư ngụ miền thâm u sự chết”. Sự sáng mà ngôn sứ đã loan báo giờ đây đã trở nên hiện thực với việc Giáng Sinh của Đức Kitô: “Bấy giờ trong miền đó có những người mục tử đang ở ngoài đồng và thức đêm để canh giữ đoàn vật của mình. Bỗng có thiên thần Chúa hiện ra đứng gần bên họ, và ánh quang của Thiên Chúa bao toả chung quanh họ”. Ánh sáng của Ngài xóa tan bóng tối của tội lỗi, của sự chết. Với ánh sáng của Thiên Chúa, các mục đồng, những người bị coi là hèn hạ nhất trở thành những chứng nhân đầu tiên cho sự kiện có một không hai trong lịch sử. Sự kiện Con Thiên Chúa làm người.

3. Nhiệm vụ loan báo Tin mừng:
Hôm nay, nhận được Tin mừng của Chúa, từng người chúng ta có bổn phận phải rao truyền Tin mừng đó cho mọi người như lời mời gọi của tác giả thánh vịnh trong bài đáp ca: “Ngày qua ngày hãy loan truyền ơn cứu độ của Người, hãy loan truyền vinh hiển Người giữa mọi nước, và những việc lạ lùng Người giữa các dân”. Chúng ta không thể loan truyền Tin mừng Giáng Sinh bằng những lễ nghi long trọng, đèn hoa rực rỡ tốn kém, hay những bữa tiệc linh đình, vì Chúa chúng ta chỉ chọn một máng cỏ hôi tanh của súc vật để làm nôi khi Ngài sinh ra. Có lẽ cách loan truyền Tin mừng Chúa Giáng Sinh đúng ý và đẹp lòng Thiên Chúa nhất là chúng ta biết sống yêu thương, kính trọng, đề cao, bênh vực con người, nhất là những con người bé mọn, những người bị thiệt thòi, bị bỏ rơi, bị gạt ra bên lề xã hội, đặc biệt là các thai nhi còn nằm trong bụng mẹ. Chúng ta hãy cho các em một cơ hội sống.
Giờ đây, noi gương Đấng đã tự hiến mình làm tấm bánh bẻ ra cho chúng ta được sống. Sau thánh lễ này, khi trở về nhà, chúng ta cũng hãy mở rộng bàn tay và tấm lòng sẵn sàng chia sẻ cho những ai cần chúng ta giúp đỡ, để bất cứ ai tiếp xúc với chúng ta đều nhận ra được tình yêu của Chúa đang đến với họ. Nhờ đó, tất cả chúng ta sẽ hưởng được niềm vui trọn vẹn của ngày lễ Giáng Sinh hôm nay. Amen.
Lm. Phêrô Trần Thanh Sơn

 
 

GS-114: ĐỨC GIÊSU, CON THIÊN CHÚA - Lm. Phêrô Trần Thanh Sơn

VietCatholic (Lễ Sinh Nhật Chúa Giêsu)
LỄ CHÚA GIÁNG SINH (LỄ BAN NGÀY)
Bài đọc 1: Is 52, 7-10
Bài đọc 2: Dt 1, 1-6
Tin mừng: Ga 1, 1-18 (Ga 1, 1-5. 9-14)
Kính thưa…
 

Hôm nay cùng với Giáo Hội, và toàn thể thế giới, chúng ta hân hoan mừng ngày sinh nhật của Đức Giêsu: GS-114

Hôm nay cùng với Giáo Hội, và toàn thể thế giới, chúng ta hân hoan mừng ngày sinh nhật của Đức Giêsu, một Hài Nhi sinh ra nơi máng cỏ của súc vật cách đây hơn 2000 năm. Nếu ngồi lại suy nghĩ theo tự nhiên, có lẽ nhiều người trong chúng ta có thể đặt câu hỏi: Tại sao muôn người trên thế giới lại đi mừng sinh nhật của một con người bé nhỏ như thế? - Câu trả lời cũng thật đơn giản: Bởi vì Hài Nhi Giêsu bé nhỏ nằm trong máng cỏ nghèo hèn trước mắt chúng ta đây chính là Thiên Chúa thật. Với việc Nhập Thể của Ngôi Hai, Con Thiên Chúa đã làm người để đưa từng người chúng ta lên địa vị làm con Thiên Chúa.
Hài Nhi Giêsu đích thực là Thiên Chúa, cũng chính là điều mà Giáo Hội muốn từng người chúng ta xác tín qua phần phụng vụ lời Chúa trong thánh lễ hôm nay.

1. Đức Giêsu, Con Thiên Chúa:
Nếu để ý, chúng ta sẽ thấy Tin mừng Gioan không có trình thuật về thời thơ ấu của Đức Giêsu như Phúc Âm Nhất Lãm. Phải chăng đây là một thiếu sót lớn khi thánh sử chẳng nói gì về nguồn gốc của Đức Giêsu, nhân vật chính yếu trong Phúc Âm của mình. Nhưng đọc kỹ, chúng ta sẽ thấy đây không phải là thiếu sót, nhưng là dụng ý thần học của thánh Gioan. Thánh sử không nói gì về ngày Giáng Sinh của Đức Kitô ở trần gian, nhưng thay vào đó, thánh sử lại có cả một thánh thi dài nói về nguồn gốc thần linh của Đức Giêsu. Đây quả là một bổ túc thật cần thiết khi tìm hiểu về con người Đức Giêsu Kitô, nhờ đó, chúng ta thấy rằng Hài Nhi Giêsu bé nhỏ sinh ra tại nơi ở nghèo hèn của súc vật mà chúng ta vừa mừng kính cũng chính là Thiên Chúa thật. Như thế, cùng với Tin mừng Nhất Lãm, thánh sử Gioan đã cho thấy Đức Giêsu có hai bản tính. Ngài vừa là người thật và cũng là Thiên Chúa thật.
Chính vì lý do đó, mà trong thánh lễ ban đêm, chúng ta vừa nghe đọc đoạn lời Chúa nói về những chi tiết lịch sử xác định sự xuất hiện của Đức Giêsu trong thời gian, thì trong thánh lễ ban ngày này, Giáo Hội lại mời gọi chúng ta lắng nghe lời mở đầu của Tin mừng theo thánh Gioan, để thấy rõ Đức Giêsu được sinh ra trong lịch sử đó, cũng chính là Thiên Chúa hiện hữu từ muôn thuở.
Ngay từ những lời đầu tiên trong Tin mừng của mình, thánh sử Gioan đã xác định bản tính Thiên Chúa của Ngôi Hai: “Từ nguyên thuỷ đã có Ngôi Lời, và Ngôi Lời vẫn ở với Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa”. Ngài cũng chính là Con Thiên Chúa được sinh ra từ trước muôn đời như lời tác giả thư Do thái mà chúng ta vừa nghe trong bài đọc hai: “Con là thái tử của Cha, hôm nay Cha đã hạ sinh Con. Rồi Chúa lại phán: “Ta là Cha Người, và Người sẽ là Con Ta”.
Hơn nữa vì là Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa thật, nên cùng với Chúa Cha, Ngôi Lời cũng là Đấng tác thành vạn vật như lời xác tín của thánh sử Gioan: “Mọi vật đều do Người làm nên, và không có Người, thì chẳng vật chi đã được tác thành…Người vẫn ở trong thế gian, và thế gian đã do Người tác tạo”. Thánh sử còn viết tiếp: “Ngôi Lời đã hoá thành nhục thể, và Người đã cư ngụ giữa chúng tôi, và chúng tôi đã nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang Người nhận được bởi Chúa Cha, như của người Con Một đầy ân sủng và chân lý”. Như thế, Ngôi Lời, Đấng Tạo Hoá, có từ muôn thuở đó, giờ đây đã được sinh ra trong thời gian, làm người ở giữa chúng ta. Đồng thời, với việc Nhập Thể của Ngôi Lời, mạc khải của Thiên Chúa bước sang một giai đoạn mới. Giai đoạn Thiên Chúa trực tiếp nói với con người như lời tác giả thư Do thái chúng ta vừa nghe: “Thuở xưa nhiều lần và dưới nhiều hình thức, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các tiên tri. Trong những ngày sau hết đây, Ngài đã phán dạy chúng ta qua người Con”.

2. Đức Giêsu, Đấng ban ân sủng:
Như thế, Hài Nhi Giêsu nhỏ bé mà chúng ta đang chiêm ngắm nơi máng cỏ đây không những là người thật mà còn là Thiên Chúa thật. Vì là Con Thiên Chúa nên Đức Giêsu có thể nói cho chúng ta biết về Thiên Chúa, bởi vì: “Không ai nhìn thấy Thiên Chúa, nhưng chính Con Một Chúa, Đấng ngự trong Chúa Cha, sẽ mặc khải cho chúng ta”. Mặt khác, vì được sinh bởi Đức Maria, nên Đức Giêsu cũng là con người nên Ngài có thể cảm thông với bản tính mỏng dòn của chúng ta. Do đó, Ngài trở nên Đấng duy nhất có thẩm quyền giao hoà đất với trời, giao hoà con người với Thiên Chúa.
Không chỉ giao hoà, Đức Giêsu còn là nguồn ban ân sủng của Thiên Chúa cho từng người chúng ta, như xác quyết của thánh Gioan: “Chính do sự sung mãn Người mà chúng ta hết thảy tiếp nhận ơn này tới ơn khác. Bởi vì Chúa ban lề luật qua Môisen, nhưng ơn thánh và chân lý thì ban qua Đức Giêsu Kitô”. Nhờ ân sủng của Ngài, chúng ta được giải thoát khỏi ách thống trị của tội lỗi, như lời tác giả thư Do thái chúng ta vừa nghe: “Người Con đó, nâng giữ vạn vật bằng lời quyền năng của mình, quét sạch tội lỗi chúng ta”.
Tóm lại, với việc cho con mình Nhập Thể làm người, Thiên Chúa một lần nữa chứng tỏ tình yêu bao la của Ngài dành cho chúng ta. Chính vì thế, mượn lời tác giả Thánh vịnh trong bài đáp ca, Giáo Hội không ngừng cất tiếng ngợi khen Ngài:“Chúa đã công bố ơn cứu độ, đã tỏ sự công chính Người trước mặt chư dân. Nguời đã nhớ lại lòng nhân hậu và trung thành đối với nhà Israel”.

3. Lời mời gọi loan báo Tin mừng:
Con Thiên Chúa đã làm người để đến ở với chúng ta, ban ơn cứu độ cho chúng ta. Đồng thời, Ngài muốn từng người chúng ta, sau khi đã nhận được ơn Ngài, cũng mau chóng lên đường loan báo và đem niềm vui cứu độ đó cho mọi người. Niềm vui được thông chia, niềm vui sẽ được nhân lên. Cảm hứng điều đó, ngôn sứ Isaia trong bài đọc một đã cất tiếng ngợi khen: “Đẹp thay chân người rao tin trên núi, người rao tin thái bình, người rao tin mừng, người rao tin cứu độ”
Rao tin mừng Ơn cứu độ phải chăng là loan báo ơn giao hoà! Giao hoà giữa đất với trời, giữa loài người với nhau. Ngay từ nguyên thuỷ, tội lỗi đã cắt đứt mối tương giao giữa con người với Thiên Chúa. Do đó, giây phút Nhập Thể của Ngôi Hai chính là lúc trời đất giao duyên, con người được giao hoà lại với Thiên Chúa. Giao hoà là đem lại sự bình an như lời sứ thần loan báo trong đêm Giáng Sinh: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương”. Thiên Chúa đã đoái thương đi bước trước đến với chúng ta để hoà giải chúng ta với Ngài. Nhận được sự hoà giải này của Thiên Chúa, từng người chúng ta cũng phải biết sống hoà giải với anh chị em mình.
Tuy nhiên để thực sự có sự hoà giải này, từng người chúng ta cũng phải làm theo cách Con Thiên Chúa đã làm. Ngài đã đi bước trước đến với chúng ta, chấp nhận bị thua thiệt, sỉ nhục, bị lãng quên khi phải sinh ra trong nơi ở súc vật. Do đó, muốn sống tâm tình hoà giải, chúng ta cũng phải sẵn sàng dẹp bỏ đi những tự ái vụn vặt, chấp nhận bị lãng quên, coi thường để có thể đi bước trước đến làm hoà với anh chị em mình. Những người mình cần làm hoà trước hết là vợ chồng với nhau, là cha mẹ với con cái. Chúng ta cũng cần hoà giải với những người cùng sống, cùng làm việc với chúng ta. Điều này không dễ dàng gì, nhưng suy ngắm mầu nhiệm Con Thiên Chúa Giáng Sinh nơi hang đá bé nhỏ này sẽ là sức mạnh giúp chúng ta thực hiện được sự giao hoà đó. Lúc đó, niềm vui trong ngày Giáng Sinh không dừng ở những lễ hội tưng bừng, những bữa tiệc linh đình, những đèn hoa rực rỡ hôm nay, nhưng sẽ được tiếp tục bởi những nụ cười thân thiện, những ánh mắt thông cảm, những tấm lòng chân thành mở ra của từng người chúng ta đối với nhau. Nhờ đó, tâm hồn chúng ta sẽ thực sự bình an để hưởng trọn vẹn niềm vui của ngày lễ Giáng Sinh không chỉ hôm nay, nhưng tiếp tục và kéo dài trong suốt cuộc sống thường ngày của chúng ta. Amen.
Lm. Phêrô Trần Thanh Sơn

 

GS-115: Thiên Chúa đã làm người

VietCatholic News (20/12/2003 )
Lễ Giáng sinh - Ban Ngày
Ga 1,1-18
 

Bầu khí tĩnh mịch đêm Noen giờ đây nhường chỗ cho những suy nghĩ có tính thần học về Con: GS-115

Bầu khí tĩnh mịch đêm Noen giờ đây nhường chỗ cho những suy nghĩ có tính thần học về Con Một Thiên Chúa làm người.Thánh Gioan viết: "Người đã đến nhà mình nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận" (Ga 1,10). Thánh Gioan đưa nhân loại chú ý đến Hài Đồng Giêsu vừa giáng sinh nơi hang đá Bêlem là trung tâm điểm của vũ trụ và của toàn bộ lịch sử cứu độ.
NGƯỜI CON MỘT DUY NHẤT LÀ ĐỨC GIÊSU KITÔ CON THIÊN CHÚA:
Thánh sử Gioan đã khơi mào Tin Mừng thứ tư của Ngài rằng: "Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời". Viết như thế, Gioan muốn trình bầy cho nhân loại biết chính Thiên Chúa đã tạo thành vũ trụ, vạn vật vàcon người. Ngài là tạo thành mới và khi dùng chữ lúc khởi đầu, thánh Gioan muốn chỉ ra rằng Thiên Chúa là Đấng sáng tạo mọi sự và làm nên lịch sử cứu độ. Thánh Gioan khi dùng chữ lúc khởi đầu để bắt đầu Tin Mừng của Chúa Giêsu và nói tới việc Chúa sinh ra. Gioan muốn nói rõ Thiên Chúa đã sai Con của Ngài là Chúa Giêsu đến trần gian để bắt đầu một sáng tạo mới, một lịch sử mới. Chúa Giêsu không đến để thay sáng tạo và lịch sử cũ mà làm cho chúng nên hoàn hảo, hoàn thiện hơn, làm cho chúng nên mới mẻ hơn. Đoạn tin mừng của thánh Gioan nhắc đi nhắc lại các ngôn từ ánh sáng, sung mãn, ân sủng, chân lý,vinh quang. Khi nhắc tới ánh sáng hẳn thánh Gioan muốn cho nhân loại hiểu rõ những chương đầu của sách khải nguyên khi Thiên Chúa tạo dựng,Thiên Chúa đã làm ra ánh sáng vì vũ trụ, trời đất không có ánh sáng sẽ sống trong tối tăm và lẽ dĩ nhiên, nhân loại sẽ không thể làm được gì. Và khi nhấn mạnh tới ân sủng, vinh quang, chân lý, Thiên Chúa muốn cho nhân loại nhận biết Ngài là món quà quí giá Thiên Chúa trao ban cho nhân loại. Qui chiếu vào Chúa Giêsu, Tin Mừng của thánh Gioan gợi lên việc Thiên Chúa tạo dựng con người, Thiên Chúa chúc lành cho mọi việc sáng tạo của Ngài đã cống hiến cho nhân loại. Như thế, Gioan muốn nhân loại cung chiêm: " Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta" (Ga 1,14). Hài Đồng Giêsu là tạo thành mới, là lịch sử mới.

ƠN ĐÓN NHẬN CHÚA HÀI NHI GIÊSU:
Đọc đoạn Tin mừng của thánh Gioan trong thánh lễ sáng nay, ta cảm thấy như có một sự chua chát, một nỗi buồn man mác nào đó vì Chúa Giêsu đã sinh ra nơi Bêlem, nơi đất nước Do Thái nhưng chính những người Do Thái lại không nhận Ngài. Họ tin vào các ngôn sứ, tin vào Môsê và Gioan tẩy giả. Họ cho rằng Gioan tẩy giả lớn hơn cả Chúa Giêsu. Nhưng chính Gioan tẩy giả lại xác nhận: "Ông đến để làm chứng,và làm chứng về ánh sáng, để mọi người nhờ ông mà tin. Ông không phải là ánh sáng,nhưng ông đến để làm chứng về ánh sáng" (Ga 1,7-8). Và nhân loại vẫn cảm thấy như có một cái gì đó thật xót xa, cay đắng vì: "Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận" (Ga 1,11). Người Do Thái và nhiều người đã bắt chước họ để khước từ Con Thiên Chúa vì theo thánh Gioan họ sinh bởi xác thịt máu huyết, họ đóng lòng lại để không thấy được Thiên Chúa, họ không có lòng khao khát, tâm hồn nghèo khó để đón nhận Chúa, đón nhận ơn sủng của Chúa (Mt 5,1 ). Muốn đón nhận Chúa, con người phải được sinh ra bởi Chúa, nghĩa là có sự sống của Chúa, sự sống mang đầy ắp yêu thương cứu độ, nên Ngài đã sinh ra làm người vì nhân loại, vì con người. Như thế, mừng lễ giáng sinh là con người tiếp nhận một sự sống mới, một cuộc hành trình mới của đức tin trong lịch sử cứu rỗi của Chúa Giêsu Kitô. Giờ đây, trong thánh lễ này, chúng ta hãy chiêm ngắm Hài Đồng Giêsu với tất cả lòng tin của ta vì Chúa Giêsu nhỏ bé, khó nghèo, nhưng cuộc sống của Ngài là cả một ơn huệ tuyệt vời Thiên Chúa trao ban cho con người, cho thế gian, cho nhân loại. Xin Hài Đồng Giêsu giao hòa ta với Ngài và với mọi người để đời ta trở nên ánh sáng cứu độ của Ngài.

GỢI Ý CHIA SẺ:
1. Theo thánh Gioan,Ngôi Lời là gì ?
2. Tại sao dân Do Thái lại không đón nhận Chúa ?
3. Ánh sáng trong Tin Mừng của thánh Gioan làm ta liên tưởng tới gì ?
Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

 

GS-116: CHÚA TỎ RA

Lễ Rạng Đông
VietCatholic News (20/12/2003 )
Lễ Giáng Sinh - Rạng đông
Lc 2,15-20
 

Trời lúc đó vẫn còn nhá nhem tối, các mục đồng dao động, xôn xao tự bảo nhau sau khi các: GS-116

Trời lúc đó vẫn còn nhá nhem tối, các mục đồng dao động, xôn xao tự bảo nhau sau khi các thiên thần bỏ họ về trời: "Nào chúng ta sang Bêlem,để xem sự việc đã xẩy ra, như Chúa đã tỏ cho ta biết" (Lc 2,15). Rồi, vạn vật bừng thức giấc cùng với các mục đồng sau một đêm nghe sự lạ, vẫn còn như ngái ngủ, họ đã lật đật tới Bêlem và họ đã gặp bà Maria, ông Giuse, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng co (Lc 2,16). Và Tin Mừng của thánh sử Luca viết tiếp: "Thấy thế, họ liền kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này" (Lc 2,17).

BIẾN CỐ LẠ LÙNG CỦA MỘT HÀI NHI :
Nếu có gì vẫn còn ấn tượng cho các mục đồng, những kẻ chăn chiên, chăn cừu hiền lành kém may mắn, thường bị người đời coi nhẹ, chắc chắn sự rộn rã, xôn xao, linh thiêng của đêm Noen năm xưa tại cánh đồng khi các mục đồng còn đang nửa ngủ nửa thức đã gây nhiều ngạc nhiên cho các chàng chăn chiên hiền hậu, đơn sơ và thường bị xã hội loại trừ vì bị coi là dốt nát. Nhưng chính các mục đồng lại là những người bé mọn được diễm phúc gặp được Hài Nhi Giêsu, Mẹ Maria và thánh Giuse đầu tiên trong đêm giáng sinh lịch sử. Các mục đồng cứ theo lời sứ thần loan báo trong đêm: "Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân: Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đavít, Người là Đấng Kitô Đức Chúa" (Lc 2,10-11). Và rồi, cái sự lạ như cứ quay cuồng trong đầu óc non trẻ của các kẻ chăn chiên chăn cừu, họ tin lời sứ thần: "Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người: anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ" (Lc 2,12). Các mục đồng đã hối hả như Tin Mừng thánh Luca thuật lại, họ đã gặp Đấng Cứu Thế Giêsu nằm trong máng cỏ Bêlem, và rồi họ vui mừng, ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe, đúng như đã được nói với họ" (Lc 2,20). Hài Nhi Giêsu quả lạ lùng đối với các mục đồng vì biến cố Chúa Giêsu sinh ra luôn làm cho con người phải đối diện với lời Chúa nói với các tông đồ xưa: "Các con nghĩ Ta là ai?" . Cái lạ lùng của đêm Noen năm xưa vẫn là cái lạ lùng của muôn thuở vì nhân loại luôn phải đối diện với những thách đố của thời đại, của muôn thời: "Hài Nhi Giêsu là ai ?". Trả lời vấn nạn ấy trong lòng tin là con người đã sống thực với ý nghĩa cuộc đời của mình. Vâng, cái xôn xao và lời loan báo của sứ thần Thiên Chúa cho các mục đồng về một Hài Nhi Giêsu vẫn là lời giới thiệu của thần Thiên Chúa cho nhân loại, cho con người ở muôn thời…

VÀ RỒI CHÚA ĐÃ TỎ MÌNH RA CHO CÁC MỤC ĐỒNG, CHO CẢ NHÂN LOẠI:
Chúa Hài Đồng Giêsu đã tỏ mình ra cho các mục đồng và như thế, Ngài tỏ mình ra cho toàn thể nhân loại. Tin lời sứ thần, các mục đồng đã mau mắn tìm gặp được Chúa Hài Đồng Giêsu. Quả thực, Chúa đã đến trần gian cách đây hơn hai ngàn năm và đã nhiều lần Chúa gõ cửa lòng mỗi người chúng ta, nhưng liệu ta và nhân loại có sẵn sàng tìm gặp Chúa và để Chúa đản sinh trong trái tim ta không? Chúa chỉ tỏ mình ra cho nhân loại, cho con người, mỗi lần con người có những cử chỉ yêu thương, thông cảm và bác ái đối với nhau. Chúa vẫn tiếp tục nhập thể trong mỗi trái tim con người khi con người biết sống quảng đại, biết đối xử tử tế đối với nhau. Chúa đã bắt đầu công cuộc cứu rỗi nhân loại bằng một sự kiện rất khiêm hạ và cũng khởi đi từ những con người nhỏ bé, yếu hèn : các mục đồng. Chúa tỏ mình ra cho các kẻ chăn chiên và cho chúng ta, cho nhân loại, Chúa đã dùng chính những con người khiêm nhu, nhỏ bé để mạc khải, để vén tỏ con người của mình ra cho thế gian: "Nghe những người chăn chiên thuật chuyện, ai cũng ngạc nhiên" (Lc 2,18).
Mừng lễ giáng sinh, chiêm ngưỡng Hài Đồng Giêsu, nhân loại hãy luôn bắt chước gương của thánh Giuse và Đức Mẹ. Thánh Giuse đã im lặng chiêm ngắm mầu nhiệm lớn lao, Con Thiên Chúa làm người và Mẹ Maria: "…thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng" (Lc 2,19).

GỢI Ý CHIA SẺ:
1. Thái độ của các mục đồng nói gì cho bạn ?
2. Cử chỉ của thánh Giuse và Mẹ Maria giúp bạn có cảm nghiệm nào ?
3. Suy đi nghĩ lại trong lòng gợi cho bạn điều gì ?
Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

 

GS-117: Tin Mừng Giáng Sinh - Lễ Đêm

VietCatholic News (20/12/2003 )
Lễ Chúa Giáng Sinh - Lễ Đêm
Lc2,1-14
 

Đêm hôm nay như có một cái gì đó thật khác lạ, diệu huyền và hết sức êm dịu. Muôn muôn tinh: GS-117

Đêm hôm nay như có một cái gì đó thật khác lạ, diệu huyền và hết sức êm dịu. Muôn muôn tinh tú,muôn vạn vật cùng hoan hỉ reo hò. Bầu trời thức trắng với muôn cơ binh thiên thần hát mừng Chúa Cứu Thế: " Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm"(Lc 2,14). Và rồi, nhân loại chỉ có thể nhận ra Đấng Cứu Tinh khi tâm hồn con người có được bình an. Sự an bình hết sức cần thiết vì không có hòa bình trong tâm hồn,nhân loại và đặc biệt con người sẽ chẳng làm sao nhận ra Vua trời đất.

MỘT SỰ AN BÌNH HẾT SỨC CẦN THIẾT ĐỂ ĐÓN NHẬN ĐẤNG CỨU THẾ:
Giữa một thế giới đầy tiếng ồn ào, đầy giành giật, tranh chấp và thiếu tĩnh mịch. Đêm giáng sinh như có một khoảng cách mênh mông giữa sự ồn ào và sự yên ổn, im lặng. Đêm nay như có sự mâu thuẫn nào đó giữa cái lộng lẫy của những hang đá, máng cỏ tối tân, với muôn ánh đèn lấp lánh, đầy mầu, đầy sắcvà sự đản sinh của Chúa Giêsu năm nào nơi hang đá máng cỏ Bêlem nghèo nàn. Chúa đã sinh ra rồi đó như Tin Mừng của thánh Gioan đã viết: " Ngôi Lời đã làm người"(Ga,14).
Chúa đã đến trần gian. Ngài là tình yêu. Ngài là Lời vô biên đã đến cư ngụ giữa con người (Ga1,14). Con người chỉ có thể nhận ra Hài Đồng Giêsu, Vị Cứu Tinh nhân loại khi tâm hồn con người ở trong trạng thái tĩnh. Chúa đã đến trong cảnh im lặng của một thế giới đang ồn ào, náo động. Và không ồn ào sao được khi Hoàng Đế Augustinô ra lệnh kiểm tra toàn thể dân số? Không nhốn nháo, xôn xao sao được khi các quán trọ không còn lấy một nơi cho thuê trú ngụ tạm đêm. Bầu trời đó đêm năm xưa dát đầy tinh tú và không gian lúc đó trong đêm thâu xem ra tĩnh lặng.Chúa giáng sinh trong cảnh nghèo nàn. Mẹ Maria và thánh Giuse chấp nhận khó nghèo với tâm hồn quảng đại, đơn sơ,khiêm nhượng. Nhân loại đứng trước một gia đình hết sức khó khăn, nghèo nhưng rạng sáng vì nếu đặt gia đình thánh gia dưới lăng kính của lịch sử cứu rỗi thì mọi sự lại trở nên khác hẳn, trở nên hoàn toàn có ý nghĩa siêu vời. Đây là kết quả của cả một lịch sử chuẩn bị lâu dài và là khởi đầu của thời kỳ đạo mới.Thời kỳ chuẩn bị dẫn tới Bêlem và tiếng nói linh thiêng, huyền diệu của đạo mới làm cho nhân loại đọc ra ý nghĩa của biến cố Chúa giáng sinh làm người. Nhưng trên hết, nhân loại chỉ có thể đọc ra được ý nghĩa của biến cố Giêsu làm người khi tâm hồn con người ổn định, bình an và rộng mở.

TIN MỪNG GIÁNG SINH LUÔN MỚI KHÔNG GIÀ CỖI:
Con Thiên Chúa đã làm người và cư ngụ giữa nhân loại (Ga 1,14) và "Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận" (Ga 1,11). Đón nhận giáng sinh với tâm hồn rộng mở, nhân loại sẽ luôn cảm thấy sống trong hoan lạc vì giáng sinh ở Bêlem năm xưa vẫn là giáng sinh hôm nay. Chúa Giêsu đến trần gian nơi dân tộc Do Thái và Ngài đã chấp nhận được sinh ra nơi hang đá Bêlem để mang lại nguồn hạnh phúc cho nhân loại. Tin Mừng Hài Đồng Giêsu mang đến nhân loại năm xưa là sự bình an, niềm vui và trao ban chính Ngài cho nhân loại.Tin mừng ấy ngày hôm nay vẫn hiện thực trong lịch sử nhân loại và Tin Mừng nối tiếp giáng sinh này đến giáng sinh khác vẫn luôn là sứ điệp tình yêu, hòa bình và niềm vui mãi mãi từ thế hệ này tới thế hệ khác. Sứ điệp Tin Mừng giáng sinh vẫn luôn mới mẻ, nó không bao giờ cằn cỗi và tàn phải. Vì Tin Mừng vẫn là một Chúa, một Niềm Vui, một sự an bình mà Hài Đồng Giêsu đã mang lại cho nhân loại, cho toàn thể con người trên khắp cùng bờ cõi trái đất: "…Xin lắng nghe, Ta mang cho các bạn một tin vui lớn lao, cũng là niềm vui được chia sẻ với toàn dân:Hôm nay trong thị trấn của Đavít, Đấng Cứu Thế của anh em đã sinh ra…" (Lc 2,10-11).Tin Mừng mà các thiên thần loan báo cho các mục đồng năm xưa cũng là Tin Mừng đang được trao ban cho nhân loại hôm nay và mãi mãi.

HÃY SỐNG ĐẠO ĐỨC:
Thánh Phaolô khuyên Titô hãy sống đạo đức, công chính, chừng mực (Tt 2,12) để trông chờ ngày hồng phúc, ngày Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa vĩ đại và là Đấng Cứu Độ chúng ta xuất hiện vinh quang (Tt 2,13). Chúa có đó và Tin Mừng đang ở đó, ở đây trong lòng của con người, của nhân loại. Tin Mừng là Đức Kitô Giêsu sẽ trở thành niềm vui, sự hạnh phúc cho con người khi con người biết ăn ở ngay chính, khi con người, khi nhân loại biết từ bỏ ích kỷ bỏ ngỏ cõi lòng cho Chúa nhập thể nơi con người. Lời của thánh Phaolô khuyên Titô cũng là lời Ngài nhắn nhủ toàn nhân loại này. Giáng sinh vẫn mãi mãi là Tin Mừng vĩ đại khi con người biết mặc lấy cho mình sự công chính,mặc lấy chính Đức Kitô.
Lời cầu chúc an bình của muôn vàn thiên thần năm xưa: "Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người Chúa thương" (Lc 2,14) vẫn vang vọng mãi mãi nơi lịch sử nhân loại và nơi tâm hồn của mỗi người.Mừng lễ giáng sinh, nhân loại sẽ đồng thanh nói lên: "Thiên Chúa đã viếng thăm dân người" và như thánh Gioan viết: "Ngôi Lời là ánh sáng thật…và chiếu soi mọi người" (Ga 1,9).

GỢI Ý CHIA SẺ:
1. Bạn có cảm nghiệm gì về Noel ?
2. Tại sao Chúa Giêsu lại sinh ra trong khó nghèo?
3. Tin Mừng giáng sinh có nghĩa gì đối với bạn?
Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

 

GS-118: Xóa khoảng cách - Lễ Ban Ngày

VietCatholic News (20/12/2003 )
Lễ Giáng Sinh 2003 - Thánh lễ ban ngày
 

 Đêm hôm qua, chúng ta vui mừng cử hành lễ sinh nhật lần thứ 2003 của Chúa Giêsu, Đấng: GS-118

Đêm hôm qua, chúng ta vui mừng cử hành lễ sinh nhật lần thứ 2003 của Chúa Giêsu, Đấng là Thiên Chúa đã làm người để cứu chuộc chúng ta. Đêm hôm qua, Con Thiên Chúa làm người, là đêm cả loài người nói riêng, tưng bừng cảm tạ và chúc tụng Thiên Chúa. Đó cũng là đêm cả triều thần thánh, cả vũ trụ nói chung như reo vang bài ca cứu chuộc, tôn thờ và vinh tụng Thiên Chúa tình yêu, một tình yêu vượt trên tất cả mọi trí tuệ, mọi thanh âm.
Và hôm nay, một lần nữa, tiếp nối ý nghĩa của đêm vọng Giáng sinh, chúng ta long trọng tung hô mầu nhiệm nhập thể đã đưa Thiên Chúa đến với con người trong thân phận hèn hạ của một con người: Thiên Chúa đã XÓA một khoảng cách rất dài: khoảng cách THIÊN CHÚA - CON NGƯỜI; Đó cũng là một khoảng cách rất rộng: TẠO HÓA - THỤ TẠO. Và là một khoảng cách rất sâu: TRỜI CAO - ĐẤT THẤP. Một khoảng cách vô cùng lớn như thế, lại được rút ngắn cho đến mức không còn một mảy may nào, không còn gì dù chỉ là một sợi chỉ mỏng: THIÊN CHÚA ĐÃ LÀM NGƯỜI. Một khoảng cách lớn như thế, được rút ngắn vô cùng tận như thế, chỉ có thể được thực hiện nhờ tình yêu và trong tình yêu.
Chỉ bằng một câu ngắn, nhưng thật chính xác, thánh Gioan đã diễn tả đầy đủ tình yêu của Thiên Chúa về một khoảng cách lẽ ra rất diệu vợi, lại không còn khoảng cách: “Ngôi Lời đã hóa thành nhục thể, và Người đã cư ngụ giữa chúng ta”. Ngài đã hóa thành nhục thể, nghĩa là đã làm người! Làm người không phải như một “siêu nhân”. Làm người không phải để khác người. Nhưng như một con người giữa mọi người, như tất cả chúng ta là người. Ngài làm người bằng tất cả và đầy đủ nhất những gì cần thiết để làm nên một con người, những gì mà con người có thể cần, có thể có để trở nên người hoàn hảo, được gọi là CON NGƯỜI. Đúng là một khoảng cách không còn khoảng cách.
Thiên Chúa đã hóa nên nhục thể hoàn toàn giống chúng ta vì một lẽ: Ngài chấp nhận chia sẻ đến cùng kiếp người của mỗi chúng ta. Thánh Gioan đã diễn tả sự chấp nhận chia sẻ này bằng một lối nói rất dễ hiểu: “Người cư ngụ giữa chúng ta”. Làm sao có thể chia sẻ kiếp người, có thể cư ngụ cùng với chúng ta mà lại có thể khác chúng ta được. Không thể nào có một ai đó khác người lại có thể sống chung, sống ngang hàng với những con người, giữa những con người. Một khoảng cách không còn khoảng cách ấy đã để lại một dấu ấn lớn lao: dấu ấn ngàn đời không dễ gì phai nhạt, không dễ gì thay thế, càng không dễ gì trôi tuột hay mất mát. Đó là dấu Tình yêu: Thiên Chúa yêu nhân trần.
Thiên Chúa đã yêu và đã xóa mọi khoảng cách. Thiên Chúa đã yêu, trong tình yêu ấy, không có chỗ cho bất cứ một khoảng cách nào ngự trị, dù nhỏ nhất. Thiên Chúa đã yêu, trong tình yêu mà nhân loại đón nhận từ nơi Ngài, cũng sẽ được Ngài mời gọi hãy dấn thân để xóa mọi khoảng cách. Bởi trong đời thường, đâu đó vẫn còn rất nhiều những khoảng cách của người với người, do lòng người xấu, do tật xấu, đam mê xấu, thậm chi tội lỗi tạo ra, cũng có thể do cuộc sống đắp thành. Những khoảng cách đã được xóa bỏ, để còn lại là lòng kính phục và tôn thờ Chúa, lòng nhân ái và bác ái với anh chị em, lòng biết ăn năn sám hối để đón nhận bình an Giáng sinh.
Và tôi đã thấy, trong những ngày qua, đặc biệt đêm hôm qua có rất nhiều anh chị đã tìm mọi cách để rút ngắn khoảng cách; hay xa hơn: xóa khoảng cách….
Vậy đêm hôm qua, khi cử hành mầu nhiệm Con Thiên Chúa làm người, chúng ta thấy gì? Nhiều lắm. Nhiều điều mà bạn và tôi nhận thấy lắm. Chẳng hạn, nơi đâu người ta cũng trưng bày hang đá thật đẹp. Đèn ở mọi nơi, mọi chỗ chiếu sáng lung linh, hay lập lòe chớp tắt đủ màu, đủ sắc. Đêm lễ Giáng sinh, dẫu cho trời càng lúc càng về khuya, ta vẫn thấy, vẫn nghe trên đường phố, người vẫn tấp nập, và tiếng ồn của giọng nói, của nụ cười, của xe cộ vẫn kéo dài thêm. Không biết những người đã chuẩn cả một không gian lộng lẫy như thế, có chuẩn bị lòng mình mừng Chúa Giáng sinh hay không? Chắc rằng, vẫn còn đó những người chỉ dọn lễ bên ngoài mà quên mất tâm hồn. Bởi đó, chắc cũng không có một khoảng cách nào được rút ngắn.
Không biết đêm ăn mừng đội tuyển đá banh Olympic Việt Nam (U 23) thắng U 23 Malaysia với tỷ số 4-3, người đông đến mức nào, nhưng chắc chắn không trật tự bằng đêm Giáng sinh hôm qua. Và trong dòng người mừng lễ Chúa Giáng sinh, đâu chỉ có giới trẻ thanh thiếu niên (như đêm mừng chiến thắng của Olympic VN), mà còn có cả mọi thành phần, mọi lứa tuổi từ những người già nua tuổi tác đến những em bé còn bế trên tay. Khoảng cách về sự chênh lệch do tuổi tác, có thể nói là đã phần nào rút ngắn, nhưng đó chỉ mới dừng lại việc coi lễ Giáng sinh như đêm lễ hội, vì thế khoảng cách được rút ngắn ấy, vẫn chưa là sự rút ngắn lớn lao gì, dẫu đã có một chút gì khá hơn chuyện ăn mừng chiến thắng đá banh.
Và nếu đêm ăn mừng U 23 Việt Nam chiến thắng, chỉ có tiếng hò la hú hét, tiếng trống, tiếng kèn chiêng, tiếng thau nồi vang rợn trời…, tệ hơn, tiếng xe rú ga lao đi hoà vào những trận đua chí tử, làm náo nhiệt đến náo loạn, thì đêm hôm qua, mừng lễ Chúa Giáng sinh, thú thật, bên cạnh rất nhiều kẻ cơ hội, trong đó đa phần là giới trẻ, chỉ biết đến lễ Giáng sinh như một lễ hội, chộp lấy thời cơ để gieo mình vào trong các dịp tội, thì giữa rừng người mừng lễ Giáng sinh ấy, có biết bao tâm hồn thánh thiện, biết bao tâm hồn chìm đắm trong suy tư và cầu nguyện. Họ cầu nguyện để được ở bên Thiên Chúa, ở với Thiên Chúa và ở trong Thiên Chúa. Nhờ đó, tình yêu giữa Thiên Chúa với những tâm hồn thánh thiện ấy, vốn đã không còn một khoảng cách nào, lại thêm tha thiết, gần gũi, hiệp thông và chìm đắm trong nhau.
Và rất đông, rất đông những anh chị em tín hữu, đã chuẩn bị lòng mình mừng lễ Chúa Giáng sinh từ trước, có khi bằng cả một mùa Vọng. Có người đã tham gia tĩnh tâm mùa Vọng, đã thú nhận những thiếu sót trong đời sống nơi tòa giải tội trước cả nửa tháng, một tuần, hoặc mới vài ngày trước đây.
Trên các ngỏ đường, các góc phố, các xóm ấp, mừng lễ Giáng sinh, biết bao nhiêu người chia sớt cho nhau, cho anh em của mình còn đói nghèo từng ký gạo, từng chén nước mắm, từng gói mì tôm… tất cả những anh chị em sống một niềm tin lớn lao ấy, đã cố gắng hết sức có thể để xóa đi càng nhiều những khoảng cách, càng tốt.
Đêm hôm qua, không ai biết được trên đường phố, trong các gia đình có bao nhiêu ông già Noel phát quà, phát kẹo bánh cho trẻ thơ. Có bao nhiêu giấc mơ đẹp, hiền lành, thân thương mà những ông già Noel gởi lại trong tâm hồn đơn sơ của các em. Hình ảnh ông già Noel là hình ảnh truyền thống ngàn năm, mãi mãi vẫn xinh đẹp, vẫn đáng yêu. Một hình ảnh rất cần thiết để làm ngắn lại những khoảng cách vô hình giữa người giàu và người nghèo; giữa những trẻ em trong đêm đông được diễm phúc cuộn mình trong nệm ấm, chăn em với những đứa trẻ lang bạc, rách bươm và rét mướt. Làm ngắn lại khoảng cách ấy, để tất cả các em dù nghèo, dù giàu, trên thân vẫn có một tấm áo và trên tay vẫn có một món quà. Làm ngắn lại khoảng cách để ai đó, dù không là người hạnh phúc nhất, cũng sẽ được làm người mênh mang hạnh phúc.
Nhưng đâu chỉ có đêm hôm qua, kể cả những ngày trước đó nữa, những trẻ em mồ côi, những trẻ em lang thang vì bị bỏ rơi và nghèo đói, bình thường ta cứ gọi chung là trẻ em bất hạnh, lại là những người sống trong hạnh phúc nhất, không phải vì đã được đầy đủ vật chất, nhưng hạnh phúc nhất vì nhận được thật nhiều tình yêu thương.
Bởi thế, ai biết được có biết bao nhiêu tấm lòng đã đồng hóa việc mừng sinh nhật Con Thiên Chúa bằng cách thắp sáng nỗi hạnh phúc, thắp sáng niềm ấm áp trong lòng anh chị em quanh mình. Thắp sáng như thế là làm cho những khoảng trở nên cách mờ tối, và sẽ không còn nữa. Điều mà đêm ăn mừng chiến thắng Olympic, không hề có…
Đức cha Giuse Vũ Duy Thống, Giám mục phụ tá Sài Gòn, trong bài “Noel: niềm vui và hơn thế nữa” (báo Công giáo và Dân tộc số 1437-1438, ra ngày 12. 12. 2003) đã chia sẻ thế này: “Xin cầu cho mọi người biết sống niềm vui Noel bằng cách mở rộng tâm hồn mình ra mà đón Chúa sinh vào…. Đừng như những quán trọ thênh thang phòng ốc, nhưng lại khép kín với giàu sang, ngổn ngang với quyền lực và sực nức với hơi lạnh đồng tiền, khiến Chúa phải lặng lẽ ra đi. Xin cho mỗi người nên như một Hang đá nhỏ, đơn sơ như đời thường dung dị, nhưng đã ấm áp sẵn chờ đợi Chúa sinh vào…”.
Mặc dù trong những lời chia sẻ của mình, Đức cha Vũ Duy Thống không nói gì đến nỗ lực rút ngắn hay xóa khoảng cách mà chúng ta đang đề cập. Nhưng những chia sẻ ấy, một lần nữa, giúp ta chân nhận rằng, để thu ngắn, nhất là để xóa những khoảng cách, ta phải mở rộng tâm hồn mình để Chúa được sinh ra. Và từ trong tâm hồn có Chúa, có tình yêu của Chúa ngự trị, ta mới có đủ can đảm giết chết thái độ “khép kín với giàu sang, ngổn ngang với quyền lực và sực nức với hơi lạnh đồng tiền". Có như thế, lòng mình mới trở thành Hang đá trao tặng anh chị em, nhằm nối liền những khoảng cách đã từng gây ra biết bao nhiêu xa cách, thậm chí ly cách.
Như vậy, có những khoảng cách trong cuộc đời cần phải xóa đi. Nhưng khoảng cách chỉ có thể được xóa khi lòng người biết mở ra. Lòng người càng mở rộng bao nhiêu, khoảng cách càng thu ngắn và dễ xóa bỏ bấy nhiêu.
Lm. Vũ Xuân Hạnh

 

GS-119: Lễ Giáng Sinh (Thánh lễ ban ngày)

VietCatholic News (22/12/2003 )
LỄ GIÁNG SINH
(Thánh lễ ban ngày)
Tin mừng : Ga 1, 1-18
“Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta”.
Anh chị em thân mến,
 

Hôm nay đúng là ngày lễ Giáng Sinh, ngày đại lễ của toàn thể dân Chúa trên khắp địa cầu: GS-119

Hôm nay đúng là ngày lễ Giáng Sinh, ngày đại lễ của toàn thể dân Chúa trên khắp địa cầu, ngày mở ra một kỉ nguyên mới cho nhân loại bằng việc Con Thiên Chúa giáng trần, Ngài là ánh sáng chiếu soi đêm tối, là vừng thái dương xuất hiện xua tan bóng đêm của ác thần đang thống trị địa cầu.
Chúa Giêsu là ánh sáng của chân lí,
Ánh sáng này đã bừng lên trở thành dấu lạ soi dẫn ba nhà trí thức đi tìm chân lí bởi trời xuống.
Chúa Giêsu là ánh sáng của người thiện tâm,
Ánh sáng này đã làm cho tiên tri Simêon thao thức chờ đợi trước khi trở về cùng tổ tiên, ánh sáng này cũng đã làm cho bà tiên tri Anna cất giọng ngợi ca Hài Nhi cho hết thảy mọi người.
Chúa Giêsu là sáng sáng của người nghèo,
Ánh sáng này đã rực lên giữa bóng đêm lạnh lẽo của miền Bêlem với các mục đồng, ánh sáng đã chiếu soi tận tâm hồn của họ làm họ vui mừng hân hoan đi xem sự lạ mới xãy ra, và họ đã tin và bái lạy ánh sáng của Thiên Chúa là Hài Nhi đang nằm trần truồng lạnh rét trong hang đá.
Chúa Giêsu là ánh sáng của Tình Yêu,
Vì yêu Ngài đã giáng trần, vì yêu Ngài đã trở nên thấp hèn rốt hết trong con cái loài người, vì yêu Ngài đã chịu chết trên thánh giá, vì yêu mà ngài đã nhẫn nại với những tội lỗi của nhân loại, vì yêu mà Ngài đã trở nên ánh sáng cho mọi tình yêu ở trần gian, ai không được ánh sáng tình yêu của Ngài chiếu dọi thì không biết yêu và không biết dâng hiến phục vụ, ai không có ánh sáng tình yêu của Ngài soi sáng thì chỉ có một tình yêu giả dối, hưởng thụ và giai cấp...
Anh chị em thân mến,
Thiên Chúa đã trở nên người phàm và ở giữa chúng ta, nhưng Ngài vẫn là ánh sáng để hướng dẫn và soi sáng cho những tâm hồn biết đi tìm ánh sáng chân thật để thay đổi cuộc sống trì trệ của mình, thay đổi tư tưởng hận thù ghét ghen của mình, thay đổi những cuồng vọng đam mê của mình...
Mừng lễ Chúa giáng sinh là mừng ngày chúng ta được giải thoát khỏi ách thống trị của ma quỷ, là ngày mà Thiên Chúa trao sứ mạng cho mỗi người trong chúng ta hãy trở nên ánh sáng cho mọi người, phản ánh lại ánh sáng chân thật của Ngài cho tha nhân bằng việc làm bác ái, yêu thương và phục vụ anh chị em đồng loại như Ngài đã làm, và như thế, chúng ta đã loan báo cho mọi người biết rằng : Thiên Chúa đang cư ngụ giữa chúng ta, Ngài chính là anh, là chị, là em, là tôi và Ngài chính là tất cả những ai đang hết lòng phục vụ anh chị em mình...
Xin Chúa chúc lành cho tất cả chúng ta.
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.

 

GS-120: Ánh sáng đã bùng lên trong đêm tối

VietCatholic News (23/12/2003 )
Lễ Chúa Giáng Sinh - Lễ đêm
Lc 2,1-14
Thưa quý vị.
 

Theo lịch thời tiết thì hàng năm, có một đêm dài nhất vào mùa đông và một ngày dài nhất vào: GS-120

Theo lịch thời tiết thì hàng năm, có một đêm dài nhất vào mùa đông và một ngày dài nhất vào mùa hè. Năm nay đêm dài nhất xảy ra tuần vừa qua. Mùa đông trời âm u, chúng ta chẳng có mấy ánh sáng. Có lúc trời tối quá, chẳng xem thấy gì cả, nhưng cũng không cần ai nói cho chúng ta hay. Thời buổi văn minh, chúng ta có thể tự lo liệu ánh sáng cho mình, chẳng cần ngoại lực trợ giúp. Tối đến chúng ta có thể thắp sáng suốt đêm thâu cho nhà cửa, trường học, văn phòng, xí nghiệp, bệnh viện,… khi đèn đường bật sáng, các quán rượu, nhà hàng, bãi đậu xe, sân thể thao,… sáng trưng như ban ngày. Như vậy không phải trời thiếu ánh sáng, làm chúng ta bồn chồn lo âu. Đúng hơn những thứ bóng tối khác làm loài người sợ hãi. Đó là bóng tối tâm linh, lương tâm sa đoạ, mất tính người, chẳng còn cảm thức tội lỗi,…
Nhìn quanh mình, trên thế giới ngày nay không thấy mấy tin vui. Bầu trời luân lý, đạo đức xem ra ngày càng suy đồi. Những đám mây khổng lồ vô luân, trác táng, băng hoại, bạo lực vần vũ khắp năm châu, bốn bể. Chẳng nơi đâu còn được chút an lành. Một thành phố nhỏ xíu ở Việt Nam hàng năm đã có hơn hai trăm ngàn thiếu nữ vị thành niên phá thai. Một xóm đạo nổi tiếng lại có tỉ lệ nạo thai cao nhất nước! Các quốc gia Châu Phi đang chìm dần vào lụt hồng thuỷ Aids! Đâu đâu cũng nghe tiếng kêu cứu chết đói, cướp bóc, hối lộ, tham nhũng, nội chiến, áp bức, bóc lột, bệnh tật. Hàng ngày tin từ Apghanistan, Irắc tràn ngập báo chí về số các thương vong, ôm bom tự sát, bắn phá bừa bãi. Hôm qua thôi, một quả bom nổ ở Baghdad giết hại mấy chục trẻ em học sinh vô tội. Trái đất có năm Châu thì Châu nào cũng đầy dẫy hãi hùng. Thí dụ như Châu Mỹ giàu có tài nguyên nhất, vậy mà người ta tính được hàng trăm triệu người nghèo đói, riêng nước Mỹ là ba mươi triệu! Các Châu lục khác con số còn nhiều hơn. Miếng ăn đã vậy, điều kiện sống lại càng tồi tệ hơn. Môi trường ô nhiễm, thiên nhiên bị tàn phá, hệ sinh thái tốt thu hẹp dần nhường chỗ cho con người khai thác, thú vật hoang dã đang bị diệt chủng. Hàng chục năm nay, ai cũng biết không khí chúng ta hít thở có quá nhiều độc hại, bầu trời nóng dần lên, các khoa học gia nhóm họp ở Kyoto, Nhật Bản, đã đề nghị các biện pháp phòng ngừa. Chính phủ Hoa Kỳ thẳng tay bác bỏ, không chấp nhận phần đóng góp của mình! Dĩ nhiên, các nước thuộc thế giới thứ ba nghèo khó phải gánh chịu nhiều hậu quả nhất của việc gia tăng nhiệt độ hành tinh: Lụt lội, hạn hán, mất mùa, đói kém. Và chẳng có công tắc nhiệm mầu nào để bật sáng tình hình, hoặc các nhà bào chế thuốc sản xuất kịp liều lượng an thần “giấu buồn làm vui” cho thế giới. Tuy nhiên, nếu nhân loại can đảm và lương thiện nhìn lên Thượng Đế, hẳn Ngài vẫn xót thương ban ánh sáng để không phải mò mẫm đi trong bóng tối sự chết. Đêm Giáng Sinh hôm nay, chúng ta thành khẩn cầu xin Thượng Đế làm người, ban cho mỗi linh hồn một ngọn nến thần linh để thắp sáng thế giới.
Thực tế, tiên tri Isaia trong bài đọc 1 đã vuốt mặt gượng vui, khi ông được ơn Chúa, loan báo cho dân tộc Israel đang chịu cảnh lưu đày Babylon: “Đoàn dân đang lần bước giữa tối tăm, đã thấy một ánh sáng huy hoàng, đám người sống trong vùng bóng tối, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi” (1,9). Rồi đưa ra lý do: “Chúa đã ban chứa chan niềm hoan hỷ, đã tăng thêm nỗi vui mừng”. Ông viết về quá khứ, nhưng cho cả hiện tại chúng ta ngày nay. Thế sự tuy buồn thảm nhưng mọi sự không thể như vậy mãi. Chúng sẽ qua đi mau chóng và chúng ta có lý do để mừng lễ: Thượng Đế đã xuống cư ngụ giữa loài người. Thực ra bài đọc 1 hôm nay là một bài thơ, bài thơ tạ ơn. Mà thơ thì luôn tràn trề hy vọng. Ngôn sứ đưa ra ba lý lẽ để tạ ơn, mỗi lý lẽ đứng sau một chữ “Vì”. Ngôn sứ Isaia viết về lòng thương xót của Thiên Chúa, cứu chữa tuyển dân thoát ách nô lệ Assyria. Cuối cùng tuyển dân được giải phóng khỏi: “Cái ách đè lên cổ dân, cây gậy đập xuống vai họ, ngọn roi của kẻ hà hiếp, Ngài đều bẻ gãy”. Tuyển dân vui mừng vì được Thiên Chúa giơ tay che chở. Vì thế họ dâng lời tán tạ ngợi khen. Chữ “Vì” thứ ba là trung tâm của tư tưởng bài thơ. Đó là về một sự sinh nở. Đứa trẻ có mặt bảo đảm Thiên Chúa ở với dân tộc Do Thái mà Ngài đã tuyển chọn từ muôn quốc gia. Chẳng có chi vui sướng cho bằng. Những hình ảnh cuối cùng: “Cố vấn kỳ diệu, thần linh dũng mãnh, người Cha muôn thuở, Thủ Lãnh hoà bình” nói lên triều đại vua David, ước vọng to lớn nhất của dân Do Thái, sẽ được thực hiện. Con trẻ mới sinh ra sẽ dõi theo con đường David, làm khí cụ cho Thiên Chúa, vững chắc đem lại công lý, bình an, hạnh phúc cho toàn dân. Những khao khát này đêm nay Chúa Giêsu bé thơ thực hiện cho linh hồn chúng ta. Liệu mỗi người chúng ta có sẵn sàng đón nhận không?
Ngôn sức Isaia khi kể lại việc Chúa giải phóng, ông cũng mong đợi sự đáp trả của tuyển dân, ăn ở đạo đức, ngay chính, để rút ngắn tai hoạ. Ông kêu gọi chúng ta xét lại nếp sống của mình, ngõ hầu tránh được những điều chẳng lành và dâng lời tạ ơn Thiên Chúa, cứu giúp mình qua khỏi những ngõ tối của cuộc sống. Chẳng ai kể xiết những lần mình được cứu thoát, những lần mình đã đi trong đêm tối và đã nhận ra ánh sáng vĩ đại của bàn tay Thiên Chúa! Tiên tri cũng khích lệ chúng ta hy vọng. Những chi Chúa làm trong quá khứ, Ngài vẫn tiếp tục trong hiện tại và tương lai. Ngài vẫn tiếp tục ban ánh sáng “chói lọi” vào hiện tình tối tăm của thế giới, giúp chúng ta thoát khỏi “địa ngục” trần gian. Chúng ta tin rằng nếu đêm nay Ngài ban ánh sáng và sự sống qua con của Ngài, bé thơ Giêsu, thì Ngài cũng ban cho lý do để hoan hỷ mừng lễ. Bởi ánh sáng này sẽ chẳng bao giờ mờ tắt trong trái tim các giáo dân và thế giới, như tiên tri Isaia tuyên bố trong bài đọc thứ nhất.
Các tác giả Phúc Âm có lối kể chuyện đặc biệt về Chúa Giêsu. Các tình tiết câu chuyện bộc lộ những đề tài rộng lớn họ muốn nhắm tới. Thánh Luca trong câu chuyện đêm nay không ngoài thông lệ đó. Chuyện của ông nghiêng hẳn về số phận những người nghèo khó. Hai ông bà Giuse, Maria, những mục đồng, bò lừa là chuyện của những kẻ bất hạnh. Các thiên sứ loan báo tin vui cho họ, tức cho các kẻ khốn cùng của thế giới. Vào thời bấy giờ, mục đồng là kẻ nghèo khó nhất trong xóm làng, họ hay ăn cắp vặt, bị khinh bỉ, xua đuổi và sống lang thang ngoài cánh đồng. Nói cách khác, họ bị dân chúng đẩy ra ngoài lề xã hội, như quan niệm ngày nay. Ngoài ra, công việc hàng ngày không cho phép họ tuân theo các quy định của luật pháp tôn giáo, họ là những kẻ vô đạo, không trung thành với lề luật, hạng mạt kiếp, đáng nguyền rủa. Tuy nhiên sự mau mắn đáp lời Thiên Sứ không chứng minh những điều trên. Ngược lại họ là những kẻ đầu tiên được hưởng lời chúc phúc: “Bình an dưới thế cho những kẻ lòng ngay”. Hoá ra thiên hạ thường nhầm cả đám. Liệu ngày nay chúng ta còn đủ lương tâm trong sạch để đáp ứng Lời Chúa? Liệu chúng ta có đủ can đảm để mau lẹ nghe “tin vui” thiên thần báo? Chúng ta thường dựa vào “xác thịt nặng nề” để dễ bề thoái thác, liệt kê thí dụ thì vô số!
Những người chăn chiên nhận tin mừng trong đêm tối. Tin mừng đó là vĩ đại đúng như tiên tri Isaia loan báo trước: Đấng Cứu Thế sinh ra cho thế gian. Liệu ngày nay chúng ta còn có thể nghe được tiếng vang vọng của vị ngôn sứ nữa không? Thời gian viên mãn đã khởi sự. Thiên Chúa chẳng hề bỏ quên chúng ta trong tăm tối nhưng đã thắp lên một ngọn lửa vĩ đại để chúng ta nhìn tỏ và cùng nhau tiến về nhà mình. Thánh Luca thuật lại câu chuyện Giáng Sinh rất đơn giản. Nhưng ông đã nhìn thấy sự quan trọng của nó đối với tuyển dân Do Thái, ông dẫn nhiều lời Thánh Kinh Cựu Ước để minh chứng Chúa Giêsu thuộc dòng dõi vua David. Cũng như vua David, Chúa Giêsu sinh ra tại làng Belem nhỏ bé. Tuy nhiên vị trí của Chúa rộng lớn hơn và quan trọng hơn nhiều: Toàn thể thế gian. Thánh nhân kể Cesar Augustus lúc ấy là Hoàng Đế thượng vị Rôma và lời của ông ngự trị khắp đế quốc. Ông truyền rằng mọi thần dân phải về quê hương đăng ký, và mọi người vâng lời. Nhưng một Lời khác cũng sinh ra trong đêm nay, nó mặc thân xác như một em bé vô danh, giữa đám dân bị áp bức. Tuy nhiên Lời của em còn ảnh hưởng lớn hơn và bền vững hơn nhiều. Lời của Tin mừng cho khắp nhân loại, đến muôn thuở, muôn đời. Lời của Cesare chẳng thể sánh kịp!
Chuyện Chúa Giêsu giáng trần luôn hấp dẫn và cảm động. Trẻ em yêu thích nghe kể mãi: Máng cỏ, thiên thần, ba vua, các mục đồng, nến sáng, âm nhạc, cây thông xanh tươi, lấp lánh các ngôi sao, quà bánh, thiệp chúc mừng. Ngày hôm sau, mọi thứ dư thừa đều sẽ bị thu dọn và bỏ vào lửa. Người ta nghĩ đến công việc ở sở làm, xí nghiệp, trường học, buôn bán. Đúng ra, Giáng Sinh là lễ hội của người lớn. Những ngày sau lễ mới là môi trường thử nghiệm. Có đúng chúng ta tin vào những điều mình cử hành? Thiên Chúa mặc xác phàm cư ngụ giữa nhân loại? Ngài trở nên một phần của loài người, nối kết với mọi người trong hy vọng, sợ hãi, cố gắng an ở tốt, lành thánh, là bé thơ đúng nghĩa, thanh niên đúng nghĩa, cha mẹ, ông bà, cô chú, chú dì, hàng xóm láng giềng, bạn bè đúng nghĩa. Ngày sau lễ mới là ngày chứng tá của bánh ngọt Giáng Sinh: Khi tiếng hát thiên thần đã lắng, khi các vì sao đã thôi lung linh, khi các mục đồng đã trở về với đoàn vật, thì là lúc công trình giáng thế mới khởi đầu: tìm kiếm linh hồn đã mất, hàn gắn các vết thương, nuôi nấng kẻ đói nghèo, giải phóng tù nhân, xây dựng xã hội, mang hoà bình cho muôn dân, nhạc vui đến hết mọi tâm hồn. Lúc ấy danh Thiên Chúa mới thực sự rạng ngời trên chốn trời cao và an bình mới thực sự ban cho nhân loại lầm than. Amen.
Hoa tư tưởng: Hình ảnh đích thực và trung tâm của Thánh Kinh và mùa vọng, là chúng ta đang sống cảnh lưu đày. Nó tỏ lộ rõ nét chúng ta đang sống kiếp phù du, lạc lõng, ước ao về cư ngụ nơi quê nhà, nơi mình đã bị chia lìa. Giống như dân Do Thái cô đơn trong đất lạ, khát khao đấng Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng loài người. Lễ Giáng Sinh là kết thúc của kiếp sống ấy, được trở về tổ ấm, không phải tổ ấm của tuổi thơ - nó trôi qua vĩnh viễn - nhưng trở về với bàn tay ấm áp, đầy yêu thương của Thiên Chúa. Về nhà với Ngài có nghĩa là Emmanuel với thế giới. Cho nên “vui thoả lòng mừng vui khi đến buổi trở lại quê nhà…” đúng hơn là một ý nghĩa vật chất.
(Celebration, Oct - Dec 1995 p6).
Lm. Jude Sicilliano, OP.

 

GS-121: NCYT/48 - NOEL : Tình bạn

Nhiều thế kỷ trước đây tại nước San Marinese, có một ông vua rất kính sợ Thiên Chúa và: GS-121

Nhiều thế kỷ trước đây tại nước San Marinese, có một ông vua rất kính sợ Thiên Chúa và thương yêu dân chúng. Ông sống chính trực và rất được dân chúng kính trọng, mến phục. Nhà vua không chỉ hài lòng với cuộc sống trên dung lụa của hoàng cung, cũng không chỉ nghe theo lời báo cáo tường trình của các quan cận thần mà thôi. Để biết rõ hơn về hoàn cảnh sống của dân chúng, nhà vua thường hay cải trang đủ cách để có thể đi lại dễ dàng và trà trộn giữa mọi lớp người để không bị theo dõi hoặc chú ý tới. Một hôm nhà vua cải trang với manh áo rách vá chằng chịt như một người hành khất và đến ngồi ăn xin tại một công viên. Nhà vua làm quen với người phu quyét đường thường ngồi nghỉ trên ghế công viên, ăn qua loa nắm cơm nguội dưới ánh nắng mặt trời nắng gắt. Ngày qua tháng lại, nhà vua trở nên như bạn thân của người phu quét đường. Họ chia sẻ từng nắm cơm, ly nước và chuyện trò vui vẻ như hai người bạn thân vậy. Sau cùng vua quyết định nói sự thật và tỏ mình cho người phu quét đường biết mình là ai. Nhà vua còn bảo người phu quyét đường có thể xin điều gì mà anh ta ưa thích nhất như mòn quà kỷ niệm tình bạn thân thiết ấy. Nghe nhà vua tỏ tình thương mến, người phu quét đường trố mắt ngạc nhiên nhìn nhà vua và nói : Thưa hoàng đế, nhà vua đã không quản ngại khó nhọc, khước từ vinh quang của cung điện để đến chia sẻ nắm cơm chén nước và những khó nhọc của bần hèn này. Nhà vua có thể ban tặng cho quan thần những món quà quí giá, nhưng đối với phận hèn này nhà vua đã dành cho món quà lớn nhất là chính mình. Vì thế nếu được, phận hèn này chỉ xin một điều duy nhất, là xin nhà vua đừng cất đi tình bạn mà nhà vua đã dành cho kẻ hèn từ trước tới nay.
Thật vậy, tình bạn là một trong những món quà lớn lao, quí giá nhất mà con người có thể nhận được. Tình bạn là mối dây liên kết vượt hẳn lên trên những mục đích chung của công việc làm, của những lợi lộc hoặc những vấn đề cá nhân. Tình bạn chân thật là sự hiện diện cạnh bạn khi vui cũng như lúc buồn, cho dù không thể tăng thêm niềm vui, cũng chẳng biết làm vơi đi nỗi buồn của bạn. Tình bạn làm cho cuộc sống thêm tươi sáng. Có bạn cuộc đời cũng đỡ bớt cô đơn. Trong Phúc âm, chính Chúa Giêsu cũng đã để cao giá trị của tình bạn khi Ngài nói với các môn đệ rằng : “Thầy đã gọi chúng con là bạn hữu, vì Thầy đã tỏ cho chúng con am tường mọi điều Thầy nghe nơi Cha Thầy”. Cũng vì tình yêu cao quí mà Chúa Giêsu đã tự nguyện đến trần gian mặc lấy thân phận con người . Niềm vui của Chúa Giêsu là trở nên như chúng ta những con người yếu đuối hạn hẹp mà Người đã muốn nâng lên hàng bạn hữu, là trở nên thành phần của đại gia đình nhân loại và cùng đi với chúng ta trên con đường trở về với Thiên Chúa Cha. Đấng Emmaunuel: Thiên Chúa ở cùng chúng ta chính là món quà cao cả nhất. Thiên Chúa ở với loài người, là ý nghĩa sâu xa nhất của mầu nhiệm Giáng Sinh Nhập Thể.

 

GS-122: GLCN/A/36 - NOEL : Hữu hình

Chúng ta không cử hành lễ Giáng sinh như để kỷ niệm một biến cố đã qua, một biến cố tràn: GS-122

Chúng ta không cử hành lễ Giáng sinh như để kỷ niệm một biến cố đã qua, một biến cố tràn đầy hạnh phúc nhưng đã chìm vào dĩ vãng. Vậy đâu là ý nghĩa của ngày lễ hôm nay ?
Trong ngày lễ này, chúng ta xác tín : Thiên Chúa đã trở nên hữu hình đối với chúng ta. Ngài không còn là Thiên Chúa xa lạ, cách ta nghìn trùng nữa. Thiên Chúa đã đến với loài người. Ngài đã đến giữa loài người như một người trong chúng ta, sinh bởi một người phụ nữ, cần đến tất cả sự chăm sóc và âu yếm của mẹ Ngài, thừa hưởng cả một quá khứ gia đình. Việc Ngài sinh ra được bao bọc bởi vài thành viên trong gia đình và những người chất phác có Kitô hữu năng thán phục trước một hài nhi đã ra đời. Ngài đã đến trần thế này để dự phần vào những vui buồn của mỗi người trong chúng ta. Ngài không yêu cầu đặc ân nào ngoài đặc ân được ở giữa những người nghèo. Ngài đã có một chỗ đứng trong dòng tộc với quá khứ và tương lai của dòng họ. Tổ tiên của Ngài là những người chăn nuôi súc vật, những kẻ di dân, những người lao động tay chân và những người đánh giặc. Vài người trong họ đã để lại kỷ niệm xấu vì giết chóc và trộm cướp. Những người khác là những người có đức tin và lòng sùng đạo rất lớn với những nhân đức khiêm tốn nhưng bền bỉ. Chính như vậy đó mà Thiên Chúa đã trở nên hữu hình trong sự giống hệt loài người. Ngài không mặc lấy nhân tính của chúng ta như một bộ y phục. Ngài đã nhập thể và ở giữa chúng ta. Thiên Chúa không ngừng trở nên hữu hình! Lý do của việc con Thiên Chúa nhập thể là “Thông ban ân sủng để cứu độ hết thảy mọi người”. Lý do này không bao giờ bị rút lại. Nó vẫn còn đó và luôn luôn được thể hiện.
Chúng ta không cử hành lễ Giáng sinh như để kỷ niệm một biến cố đã qua mà ta không muốn quên, nhưng đây là lễ đón mừng một hồng ân hiện đang được ban cho loài người. Đôi khi người ta nói về một người mà sự nghiệp đặc biệt lừng lẫy nên người ấy vẫn tiếp tục sống ở giữa chúng ta do ảnh hưởng công việc của họ. Nhưng đó chỉ là một cách biết ơn nhân vật quá cố thôi. Vì người ấy cũng như sự nghiệp của họ không tồn tại mãi mãi được.
Nhưng công trình của Thiên Chúa, ân sủng làm cho chúng ta trở nên con cái của Ngài vẫn luôn luôn được thể hiện. Thiên Chúa đã trở nên hữu hình trong những cách hiện diện với loài người mà Chúa Giêsu đã chọn sau cuộc Phục sinh của Ngài : Cộng đoàn Giáo Hội, sự hiệp thông  giữa các môn đệ của Ngài, là thân mình Ngài, sự hiện diện của lời Ngài nơi những tâm hồn biết lắng nghe trong đức tin, và Bí tích Thánh Thể, hồng ân và dấu chỉ sự hiện diện thật sự của Ngài. Mối tương quan mà những kẻ đã sống với Chúa Giêsu có thể thiết lập với Ngài trong đức tin và đức cậy, cũng có thể được đối với mỗi người chúng ta. Chúa Kitô bao giờ cũng niềm nở và lắng nghe, bao giờ cũng đầy lòng thương xót và luôn sẵn sàng ban sự sống như thế cả.
Lễ Giáng sinh mà chúng ta cử hành với một niềm vui lớn lao cũng thực sự là lễ mừng ngày chúng ta được sinh vào đời sống thiêng liêng mà con Thiên Chúa đến ban tặng cho chúng ta.

 

GS-123: NMS/16 - NOEL : Lễ vật dâng Chúa

Đã biết bao nhiêu đêm như đêm nay đã đến với đời mỗi người chúng ta. Thế mà cứ mỗi lần: GS-123

Đã biết bao nhiêu đêm như đêm nay đã đến với đời mỗi người chúng ta. Thế mà cứ mỗi lần nhìn thấy hang đá, ngắm những trang trí lạ mắt, ánh sáng rực rỡ lung linh , tiếng đàn tiếng hát du dương hớn hở, chung quanh ai nấy ăn mặc, trang điểm xinh đẹp thì tâm hồn chúng ta lại dâng trào niềm vui khôn tả. Chính lúc ngây ngất sung sướng đó, mỗi người chúng ta không thể không đưa mắt chiêm ngắm Chúa Hài đồng xinh xắn mà thương mến mà thầm ước.
Và có lẽ, trong giây phút linh thiêng trang trọng này, ai cũng tự hỏi mình phải làm gì cho Chúa hài đồng vui lòng đây, mình nên dâng cái gì quí nhất đây để tỏ lòng yêu Chúa. Chắc mọi người nghĩ ra nhiều việc hay, tưởng tượng nhiều quà quí hiếm để tiến dâng. Nhưng câu chuyện sau đây muốn trình bày cho chúng ta thấy một món quà Chúa ưa thích nhất :
Số là đúng cái đêm Chúa sinh ra như đêm nay, các thú vật chung quanh Bêlem đều tới mừng Chúa và mỗi con đều dâng Chúa một món quà nhỏ : Chị bò cái dâng sữa, anh Lừa hà hơi sưởi ấm, cậu Khỉ biếu Chúa mấy trái nho, chú Sóc biểu diễn một điệu nhảy đẹp mắt, Bé Vàng khuyên hát một bài du dương, cậu Bướm tình nguyện làm đồ chơi. Chúa Hài đồng vui vẻ nhận tất cả. Đang lúc các thú vui thích quây quần bên Chúa thì chàng Cáo xuất hiện. Mọi thú đều ghét cáo vì nó gian manh xảo quyệt. Chúng chặn đường không cho Cáo đến gần Chúa. Thấy thế, Chúa can thiệp và ra hiệu cho Cáo vào. Cáo đến quỳ bên Chúa thì thầm nói với Chúa một hồi. Thấy Chúa thích thú đến độ đặt hai tay trên đầu cáo tỏ dấu ưng nhận và chúc lành. Riêng Cáo hớn hở, vui tươi lễ phép đứng lên cáo biệt rồi đi thẳng. Những con vật khác tức tối, tò mò hỏi Chúa Cáo đã dâng gì cho Ngài mà Ngài thích thú như vậy. Mỉm cười Chúa đáp :”Cáo đã dâng cái mà ta thích nhất : Đó là những tội lỗi của nó”.
Nghe thế ai mà chẳng bỡ ngỡ vì tưởng gì chứ tội lỗi ai mà chẳng có, lại có rất nhiều. Nhưng có lẽ ai cũng thắc mắc tại sao Chúa lại ưa cái thứ quỉ quái xấu xa đó? Có gì lạ đâu, cứ nhìn vào máng cỏ nghèo hèn, rồi nhìn vào thân phận yếu đuối của ta mà Chúa đã bỏ trời cao xuống trần mang lấy để gánh chịu mọi hậu quả của tội lỗi mà cứu thoát chúng ta. Vì khi ai biết cho Chúa mọi tội lỗi của mình thì người đó đã nhận ra sự hy sinh cao cả và tình yêu vô biên của Chúa.
Và rồi chúng ta tự hỏi cái gì trên cõi đời này làm cho con người phải điêu đứng khổ sở, phải lo lắng bối rối, phải ray rứt hối hận? Dĩ nhiên, tất cả bởi tội mà ra. Hơn nữa, khi Ngôi Hai xuống thế làm người là Ngài mong muốn chúng ta được an vui, hạnh phúc đích thực, nhưng chỉ còn một trở ngại ngăn cản cuối cùng là tội lỗi. Vì thế ai muốn có sự bình an thật thì phải dâng tội cho Chúa vì chỉ có Chúa mới tẩy xóa được chúng và giúp con người trở nên bạn hữu của Ngài.
Vậy khi dâng tội cho Chúa tức là chúng ta dâng trót cuộc đời còn lại của mình để cố gắng chừa cải ăn năn, để chỉ ước muốn làm điều đẹp lòng Chúa. Đổi lại, Chúa sẽ ban cho mỗi người chúng ta một tặng phẩm quí giá : Đó là sự anbình vui tươi của đêm thánh hôm nay đem lại cho mọi người thiện tâm thiện chí.

 

GS-124: MNS/18 - NOEL : Đổi đời

Trời vừa rạng sáng, sao vừa biến và người khách cuối cùng vừa từ giã, mẹ Maria xếp lại đống: GS-124

Trời vừa rạng sáng, sao vừa biến và người khách cuối cùng vừa từ giã, mẹ Maria xếp lại đống rơm và Hài nhi thiu ngủ… Bỗng, cánh cửa của chuồng bò kẹt mở. Một người đàn bà xuất hiện, áo rách rưới, da nhăn nheo đến độ khuôn mặt tóp lại trông dễ sợ. Thấy bà, Mẹ Maria sợ như thể một mụ phù thủy mang xui xẻo đến. May thay, Hài nhi thiếp ngủ, bò lừa đang nhai rơm yên lành. Còn Mẹ Maria không ngớt theo dõi. Mỗi bước chân của bà già đối với Mẹ Maria hình như dài cả thế kỷ. Bà ta vẫn tiếp tục bước và đã đến bên máng cỏ. Bất chợt Bé Giêsu mở mắt nhìn và mẹ Maria hết sức ngạc nhiên khi thấy đôi mắt Con Mẹ và đôi mắt của bà già sao mà giống nhau như thể ánh lên cùng một niềm hy vọng. Đoạn bà già thò bàn tay khẳng khiu vào bọc áo tồi tàn mò tìm một vật gì cất rất kỹ. Mẹ Maria vẫn lo lắng quan sát và các con vật vẫn thản nhiên. Cuối cùng, bà ta hình như đã tìm được và lôi ra khỏi bọc một vật dấu trong bàn tay, rồi trao lại cho Hài nhi. Không biết quà tặng là cái gì và bà già là ai mà có vẻ bí hiểm. Mẹ Maria chỉ thấy chiếc lưng còng cúi xuống khá lâu trên chiếc nôi. Rồi bà già đứng thẳng dậy như trút được một gánh nặng trên hai vai, khuôn mặt rạng rỡ như tìm lại được vẻ trẻ trung cách kỳ diệu. Sau đó, bà ta từ từ rời khỏi nơi Hài nhi và biến mất vào đêm tối. Bây giờ mẹ Maria mới thấy được món quà tặng của bà già và biết rõ bà ta là ai. Thì ra, bà già ấy chính là Eva vừa trao lại cho Hài nhi một trái táo nhỏ. Trái táo của tội nguyên tổ. Và trái táo đó rạng ngời trong đôi tay xinh xắn của Hài nhi như một quả địa cầu của thế giới vừa mới được tái tạo nhờ Hài nhi.
Vậy có thể nói rằng ngay từ khi Ngôi Lời đã hóa thành nhục thể đến ở giữa trần gian thì tất cả mọi tạo vật, kể cả tội nguyên tổ, đều được biến đổi, thăng hoa, ẩn chứa hồng ân cứu độ, phản ảnh tình thương của Thiên Chúa. Đặc biệt, đối với con người nhờ việc Ngôi Hai mặc lấy bản tính của họ nên họ được vinh dự lớn lao là trở thành tạo vật mới đầu tiên ở trong Chúa hài đồng.
Tuy nhiên, bất cứ một cuộc biến đổi nào muốn đi tới thành công mỹ mãn đều phải trải qua ba giai đoạn then chốt này : Một là xác định rõ hướng đi; hai là hợp tác chặt chẽ; ba là kiên trì theo đuổi đến cùng. Nhất là cuộc biến đổi hóa thần từ một bản tính yếu đuối tội lỗi thành một bản tính thần thiêng cao vời lại càng đòi buộc con người nhiều hơn nữa nếu con người muốn hóa thần thành công.
Thứ nhất là hướng đi. Đã là con người ai cũng cảm thấy thân phận mình thật mỏng dòn, yếu đuối, hay hướng chiều theo đam mê sa đọa, lúc nào cũng cảm thấy ray rứt bất an, luôn khao khát tìm kiếm mà không bao giờ được thỏa mãn. Tất cả những biểu hiện đó là do tội nguyên tổ gây ra, khiến con người cứ chìm đắm trong bến mê, thất vọng. Khi phải sống trong một tình trạng khốn khổ đó mà có ai đủ khả năng giải thoát con người khỏi bóng tối đến với ánh sáng, từ bị luận phạt giam tù đến chỗ tự do, từ đau khổ đến bến bờ hạnh phúc, chắc chắn người ta không bao giờ để tuột mất cơ hội ngàn vàng. Đó là Ngôi Hai giáng trần, một hướng đạo tài năng, một ánh sao lạ dẫn đường chỉ lối cho nhân loại được cứu thoát.
Thứ hai là hợp tác. Khi đã xác định được hướng đi mà muốn thành công, hai bên phải biết hợp tác để cùng hành động và hỗ trợ cho nhau. Về phía Chúa, nguyên việc xuống thế, mặc lấy thân phận hư hèn của con người cũng đã đủ để nói lên tình thương và thiện ý của Ngài là muốn cứu thoát tất cả mọi người. Do đó, Ngài không từ chối bất cứ việc gì, ngoại trừ tội lỗi, để giúp con người đi tới hạnh phúc, nên Ngài đã không ngần ngại phó mạng sống và quyền năng của Ngài cho con người sử dụng. Còn về phía con người muốn đón nhận hồng ân cứu rỗi và hạnh phúc vĩnh cửu Chúa ban, đương nhiên phải biết hợp tác với Ngài bằng cách nhiệt tâm, tin tưởng, vâng theo những sự chỉ dẫn của Ngài. Nói khác đi, con người muốn được cứu thoát phải biết tiếp nhận Chúa như là bạn đường, như là khách quí mời vào trọ trong nhà mình để yêu mến, phục vụ Ngài tận tình chu đáo. Tất nhiên, khi có Chúa ở cùng, con người phải từ bỏ mình cùng với những xấu xa, coi ma quỷ như kẻ thù không đội trời chung…
Cuối cùng khi đã quyết chí lên đường theo Chúa để có thể đi đến cuối con đường của hạnh phúc đích thực được thì phải có lòng kiên trì bền vững luôn. Đây là một điều kiện then chốt vì con đường đến với Chúa và cùng đi với Ngài không phải là một con đường thoải mái, dễ dàng, nếu không có chí sắt đá, không có lòng kiên định thì khó mà đi trọn vẹn. Bởi vì, tin tưởng và chấp nhận đi theo Chúa không phải một vài lần là được mà phải chấp nhận suốt đời và cũng không phải lúc nào đời người đều bình yên lặng gió mà là luôn có trở ngại thử thách đủ thứ. Vì thế, chỉ có những ai bám chặt vào Chúa thì kẻ đó mới đến đích bình an.
Chúa vì thương con người đã làm một cuộc đổi đời kỳ lạ từ trời xuống đất, từ Chúa thành người để cứu vớt và đưa con người lên hàng thần thánh. Còn con người muốn được hóa thần phải biết đổi đời từ tối thành ánh sáng, từ hư hèn thành bất diệt.

 

GS-125: SLC- Đêm An Bình

Trong đêm Giáng sinh, sứ thần Chúa đã hát vang trên cánh đồng Bêlem : - Vinh danh Thiên: GS-125

Trong đêm Giáng sinh, sứ thần Chúa đã hát vang trên cánh đồng Bêlem :
- Vinh danh Thiên Chúa trên trời,
  Bình an dưới thế cho người thiện tâm.
Vào buổi sáng ngày Chúa nhật Phục sinh, Chúa Giêsu đã hiện ra và chào chúc các môn đệ :
- Bình an cho các con.
Ngài cũng đã xác quyết :
- Thầy ban bình an của Thầy cho các con.
Vậy sự bình an mà Chúa trao ban cho chúng ta là sự bình an như thế nào ?
Trước hết đó phải là sự bình an trong tâm hồn qua việc giải thoát chúng ta khỏ sự kìm kẹp của tội lỗi, giao hòa chúng ta với Chúa. Thực vậy, sự bình an bên ngoài chỉ có thể được xuất phát từ bên trong, từ tâm hồn, từ cõi lòng mà thôi. Bao lâu chúng ta còn sống trong tội lỗi, trong sự thù địch với Chúa, thì chúng ta còn băn khoăn, còn lo lắng, Chính sự bình an nội tâm này sẽ phản chiếu trên khuôn mặt và trên cuộc sống, làm cho chúng ta được vui mừng và hạnh phúc, dù hiện tại có gặp phải những túng cực và khổ đau. Chính trong chiều hướng ấy, Chúa Giêsu đã phán   hứa:
- Phúc cho những ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.
Cũng trong chiều hướng này, Ngài đã xuống thế làm người để cứu chuộc chúng ta. Ngài đã giải thoát chúng ta khỏi sự kìm kẹp của tội lỗi. Ngài đã bắc lại nhịp cầu đa gẫy, nối liền trời với đất. Ngài đã hòa giải chúng ta với Thiên Chúa. Ngài đã trả lại cho chúng ta địa vị làm con cái Chúa.
Tuy nhiên, sự bình an nội tâm không phải là một quà tặng từ trời rơi xuống, mà hơn thế nữa,  nó còn phải là kết quả của những cố gắng cộng tác với ơn thánh, những nỗ lực tìm kiến và xây dựng nơi chính bản thân mình, bởi vì sự bình an chỉ có cho những người thiện tâm mà thôi.
Sự bình an n ội tâm này còn là nền tảng để chúng ta vun trồng một cách tốt đẹp những mối liên hệ với người chung quanh từ gia đình đến xã hội.
Trước hết là gia đình.
Như chúng đã biết gia đình ngày nay đang lâm vào một cuộc khủng hoảng trầm trọng. Nó như một cây đã bị cắt mất rễ, thì làm sao sống nổi. Gia đình là trái tim nhân loại. Nếu trái tim này mà bị đau yếu, thì làm sao nhân loại được khỏe mạnh. Gia đình phải là sợi dây liên kết đầy yêu thương, phải là nơi cho sự bình an ngự trị, bằng cách quên đi va tha thứ, nhường nhịn và chịu đựng lẫn nhau theo tinh thần Phúc Âm.
Một khi tâm hồn chúng ta đã ổn định qua việc hòa giải với Chúa, thì chắc chắn gia đình chúng ta cũng sẽ được êm ấm qua việc yêu thương nhau. Lúc đó sự bình an sẽ chiếu sáng qua mọi biên giới.
Và như vậy chúng ta đã bước vào lãnh vực xã hội.
Các cụ ta ngày xưa đã bảo :
- Phải tu thân, tề gia, rồi sau đó mới trị quốc và bình thiên hạ.
Cũng trong chiều hướng áy, Đức Hồng Y Feltin đã nói :
- Đây là lúc người tín hữu phải rời bỏ tháp chuông, phải rời bỏ quốc gia nhỏ bé của mình để hướng tới cộng đồng thế giới, bởi vì  tất cả đều là anh em với nhau, cùng có chung một người cha và cùng được dựng nên theo hình ảnh Ngài. Như thế, mọi cuộc chiến tranh đều là những cuộc huynh đệ tương tàn, anh em sát hại lẫn nhau và làm cho máu Đức Kitô phải đổ ra một lần nữa, vì chúng ta đều là những chi thể của Ngài.
Thế nhưng ngày nay, viễn ảnh một cuộc chiến tranh thẳm khốc với những vũ khí tốt tân là như một cơn mộng dữ, luôn ám ảnh và đè nặng trên con người, cùng với nó là những sự tàn phá khủng khiếp nhất. Những phương tiện tự nhiên như hòa đàm, thương nghị mà thôi chưa đủ, chúng ta còn phải cần đến những phương tiện siêu nhiên, đó là sụ cầu nguyện và một cuộc sống được đổi mới theo tinh thần của Chúa.
Có một thi sĩ đã kể lị giấc mơ của mình như sau :
Bấy giờ Thiên Chúa ngự trên tòa và những người quyền thế nhất trần gian bắt đầu xuất hiện. Ngài hỏi Maisen :
- Con đã trao cho dân chúng những gì ?
- Lạy Chúa, con trao cho họ những giới luật.
- Và họ đã làm chi ?
- Họ đã phạm tội.
Ngài hỏi Napoléon, vị vua bách chiến bách thắng :
- Ngươi đem lại cho dân chúng những gì ?
- Lạy Chúa, con đem lại cho họ vinh quang.
- Và họ đã  làm chi ?
- Họ đã bị tủi nhục.
Sau cùng, Ngài hỏi Đức Kitô :
- Con mang đến cho trần gian những gì ?
- Con đã mang đến sự bình an.
- Và họ đã làm chi ?
Đức Kitô không trả lời. Ngài úp mặt vào lòng bàn tay bị mang dấu đanh và Ngài đã khóc.
Đó là một giấc mơ, nói lên một sự thật. Ngày nay hơn bao giờ hết, Chúa Giêsu cũng khóc và giơ hai bàn tay mang những dấu đanh cho chúng ta chiêm ngưỡng, là như dấu ấn của sự hòa bình mà Ngài đã kiến tạo, đã xây dựng.
Hãy trở nên những chiến sĩ hòa bình, khởi đi từ tâm hồn bằng cách tẩy trừ tội lỗi, cho đến gia đình bằng một cuộc sống yêu thương và tha thứ, để rồi lan rộng ra ngoài xã hội, bằng sự hòa giải và cảm thông, để ở mọi nơi và trong mọi lúc, con người luôn được hưởng sự bình an mà Chúa Hài nhi đã đem đến nơi máng cỏ Bêlem.

 

GS-126: SLCTTY/28- GIÁNG SINH : Nhập thể (Ga 1, 1-18)

Thiên Chúa là Tình yêu : chính bản chất của Thiên Chúa là Tình yêu. Khi thời gian đã: GS-126

“Thiên Chúa là Tình yêu : chính bản chất của Thiên Chúa là Tình yêu. Khi thời gian đã viên mãn, qua việc sai Con Một Ngài và Thánh Thần của Tình yêu, Thiên Chúa đã bày tỏ bí mật sâu xa nhất của mình : chính bản thân Ngài là một sự trao đổi đời đời của tình yêu Cha, Con, Thánh Thần, và Ngài muốn chúng ta thông phần vào tình yêu này”.
Hôm nay chúng ta cử hành biến cố vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại : Sinh nhật của Chúa Giêsu Kitô. Sự Giáng sinh của “Đấng Cứu Chuộc thế giới là trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và nhân loại, và chúng ta không thể được cứu độ nhờ Danh nào khác dưới gầm trời này”.
Sự Nhập Thể đó được diễn tả trong bài Phúc âm hôm nay : “Và Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta”. Theo tiếng Hy Lạp chữ “cư ngụ giữa chúng ta” có nghĩa là : “Thiên Chúa cắm lều của Ngài ở giữa chúng ta”. Biến cố vĩ đại này của Thiên Chúa đi vào lịch sử nhân loại trong con người của Hài Nhi Giêsu được gọi là sự Nhập Thể : Thiên Chúa mang lấy thân xác con người.
Nhà huyền bí Kitô giáo An Độ, Sadhu Sundar Singh, đã diễn tả mầu nhiệm Nhập thể của Chúa Giêsu Kitô qua câu chuyện được kể lại sau đây :
Xưa kia một ông vua có vị cố vấn, the Vizier, một người rất hiểu biết và thánh thiện. Đang khi hành hương trên đất thánh ở Palestine, the Vizier đã bị xúc động sâu xa vì câu chuyện của Chúa Giêsu Kitô. Ông đã xin trở thành một Kitô hữu, đã tin vào Đấng Cứu Thế, là Đấng đã đến thế gian để cứu chuộc những con người tội lỗi.
Khi trở về, vua đã thắc mắc và hỏi ông rằng : “Nếu tôi muốn làm bất cứ điều gì, tôi truyền lệnh cho đầy tớ của tôi thì việc đó được thi hành ngay lập tức. Vậy tại sao vị vua của các vua có thể cứu nhân loại bởi một lệnh truyền lại phải đích thân đến trần gian này và nhập thể làm người để làm gì ?” Ông cố vấn xin vua cho một ngày ân huệ trước khi trả lời câu hỏi. Ông cho mời một người thợ mộc rất tài giỏi vào và yêu cầu phải làm một con búp bê, rồi mặc quần áo vào giống y đứa con trai một tuổi của nhà vua, và hôm sau phải mang nó đến cho ông.
Hôm sau, vua và ông cố vấn đang chèo thuyền đi chơi chung với nhau, vua yêu cầu ông phải trả lời câu hỏi. Cùng lúc đó, người thợ mộc cũng đã đến và đứng ở trên bờ sông với con búp bê hình nộm con trai của vua. Đứng dưới thuyền, vua trông thấy và nghĩ rằng đó là con trai của mình. Theo như những hướng dẫn đã được ông cố vấn dặn dò trước, người thợ mộc để cho con búp bê hình nộm rơi xuống nước. Thấy vậy, vua bèn lao xuống để cứu đứa bé đang bị chết chìm. Sau một lúc, ông có vấn mới nói : “Thưa đức vua, ngài không cần phải nhẩy xuống nước. Ngài ra lệnh cho quần thần làm không được sao ? Tại sao chính ngài phải đích thân nhẩy xuống vậy ?” Vua suy nghĩ một lát rồi trả lời : “Đó chính là câu trả lời tại sao, để cứu nhân loại, Thiên Chúa toàn năng đã nhập thể hóa thành con người thay vì thực hiện nó chỉ bằng một lời truyền mà thôi.
“Ngôi Lời trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta”. Giáo Hội dùng từ “Nhập Thể” để nói lên sự kiện Con Thiên Chúa đã mặc lấy bản tính loài người, để thực hiện ơn cứu độ ngay trong bản tính đó. “Nơi Chúa Kitô, chân lý của Thiên Chúa đã được bày tỏ cách trọn vẹn”. “Với sự Nhập Thể của Người, một cách nào đó Con Thiên Chúa đã nên một với mọi người”. Đó là cách biểu lộ tuyệt hảo tình yêu Thiên Chúa đối với con người.

 

GS-127: SLCTTY/28- GIÁNG SINH : Hoà Bình (Ga 1, 1-18)

Với mầu nhiệm xuống thế làm người, Thiên Chúa đã chia sẻ tất cả nhân tính của chúng ta, để: GS-127

Với mầu nhiệm xuống thế làm người, Thiên Chúa đã chia sẻ tất cả nhân tính của chúng ta, để chúng ta cũng được mời gọi tham gia vào thần tính của Ngài như Công đồng Vatican II quả quyết : “Người bày tỏ cho con người thấy bản chất đích thực của chính mình và khám phá ra ơn gọi cao cả của mình”.
Thánh Phaolô khuyên dạy chúng ta sống ơn gọi này theo gương Chúa Giêsu : “Anh chị em hãy có với nhau những tâm tình đã có nơi Chúa Giêsu Kitô : Ngài, với thân phận thần linh, đã không khư khư giữ lấy bậc ngang hàng với Thiên Chúa. Nhưng Ngài đã để mình ra hư vô, nhận lấy thân phận nô lệ và trở thành giống như một người. Và khi cư xử như một người, Ngài còn hạ mình hơn nữa bằng cách vâng phục cho đến chết, và chết trên thập giá”.
“Vương quốc Fanxica là một đất nước thái bình, thịnh vượng. Nhà vua và hoàng hậu lại có diễm phúc sinh được hai hoàng tử khôi ngô tuấn tú, văn võ song toàn và có khí phách dũng cảm của bậc anh hùng. Hai vị hoàng tử này lại thương yêu hòa hợp với nhau, đêm ngày gắn bó với nhau như hình với bóng.
Trong khi đó, vua nước láng giềng là một người cực kỳ nham hiểm và ác độc. Ông này nuôi mối căm thù với vua Fanxica bằng một mối thù truyền kiếp. Lòng căm thù của ông lại càng dâng cao khi thấy vua Fanxica có hai hoàng tử khôi ngô tuấn tú, vũ dũng hơn người, trong khi mình thì không có lấy một mụn con. Vì thế, ông rắp tâm hạ sát hai vị hoàng tử kia cho bằng được.
Vua độc ác biết hai vị hoàng tử thường hay vào rừng săn bắn, nên vua cho người mai phục, giăng bẫy bắt được hoàng tử em. Sau khi hay tin em mình bị mất tích trong rừng, hoàng tử anh một mình một ngựa xông xáo vào rừng tìm em. Không ngờ chính anh cũng bị vua độc ác giăng bẫy bắt được. Tên vua độc ác giam hai anh em vào hai ngục tối biệt lập nên hai hoàng tử không hề hay biết gì về người kia.
Theo thông lệ hằng năm, vào dịp sinh nhật của vua, vua cho tổ chức những cuộc quyết đấu giữa những con ác thú, để chúng phanh thây xé xác nhau làm trò vui cho quan quân và dân chúng. Năm nay, thay vì cho ác thú đấu nhau, nhà vua ác độc bắt hai tù nhân vạm vỡ khỏe mạnh, mỗi người mang một bộ da sư tử trên mình, đeo thêm mặt nạ sư tử, và buộc họ phải quyết đấu cho đến khi một trong hai người phải chết. Ai sống sót sẽ được trả tự do.
Cả đấu trường hò la vang dậy khi quân lính dẫn hai đấu thủ mặc lốt sư tử bước ra. Với thanh mã tấu trên tay, hai con người lốt sư tử xông vào nhau chiến đấu vô cùng ác liệt như hai ác thú say mồi. Đám đông cổ võ hò la vang trời dậy đất. Cuộc chiến kéo dài hơn cả tiếng đồng hồ mà vẫn bất phân thắng bại. Cả hai đấu thủ mệt nhoài, mình mẩy hai người đều đầy thương tích máu me… Nhưng không ai chịu nhường ai. Mỗi người đều dốc hết toàn lực để hạ đối thủ, để dành sự sống, để được trả tự do, để khỏi làm nô lệ suốt đời. Chỉ có chiến thắng hay là chết. Cuối cùng bằng sức mạnh và sự khéo léo, đấu thủ cao người hơn đã vung đao chém xoạc mặt đối phương, làm rơi mặt nạ sư tử, để lộ ra một khuôn mặt rất thân quen !
Anh kinh hoàng tột độ ! Thanh mã tấu trên tay rơi xuống. Anh giật bỏ mặt nạ của mình ra. Hai anh em ồ lên kinh ngạc. Họ bàng hoàng nhận ra nhau. Không ai xa lạ, họ chính là anh em ruột thịt. Họ lao vào nhau, ôm chầm lấy nhau khóc nức nở. Họ đâu ngờ rằng đối thủ mà họ quyết tâm tiêu diệt cho bằng được lại là người anh em rất thân yêu.
Nước mắt tuôn tràn hòa chung với máu. Hai con người bầm dập, mình mẩy đầy máu me ôm nhau khóc tức tưởi. Khóc vì đã coi nhau như kẻ thù, đã đấu tranh với nhau như ác thú; khóc vì đã gây cho nhau bao vết thương đau. Họ vẫn đứng đó, ôm nhau khóc tức tưởi trước hàng ngàn cặp mắt bàng hoàng kinh ngạc của mọi người”.
Chính ma quỉ thù nghịch của Thiên Chúa đã gây nên mọi thứ tội lỗi trên trần gian. Ma quỉ đã đeo cho con người đủ thứ mặt nạ ác thú để chém giết lẫn nhau, và không còn nhận ra nhau là con cái Thiên Chúa nữa.
Chúa Giêsu Giáng sinh, Nhập Thể xuống trần gian để lột mặt nạ ác thú ra khỏi con người, để họ nhận ra nhau là con cái Thiên Chúa, là anh chị em với nhau. Ngài đến để cứu chúng ta thoát khỏi vòng tội lỗi, cạm bẫy gian tà của ma quỉ, khỏi lòng hận thù oán ghét nhau như Công đồng Vatican II diễn tả : “Tình yêu Thiên Chúa đối với chúng ta đã thể hiện trong việc Con Một Thiên Chúa đã được Chúa Cha sai đến thế gian, để một khi hóa thân làm người, Người tái sinh và đoàn tụ toàn thể nhân loại nên một bằng cách cứu chuộc họ”.
Bước vào thế kỷ 21, chúng ta đã chứng kiến những cuộc khủng bố và chiến tranh tàn bạo với những vũ khí tinh vi và kỹ thuật cao hơn. Ước gì chúng ta không đầu hàng bạo lực và oán thù. Nhưng sẽ là những sứ giả của hòa bình và tình yêu. Niềm vui Giáng sinh chính là niềm vui được giải thoát khỏi sự hận thù do ma quỉ mưu đồ.

 

GS-128: Lúc Nào Cũng Có Chỗ Cho Thêm Một Người Nữa

Một cậu bé chín tuổi tên là Wally. Tuy là chín tuổi nhưng cậu chỉ mới học tới lớp hai. Cậu ta to: GS-128

Một cậu bé chín tuổi tên là Wally. Tuy là chín tuổi nhưng cậu chỉ mới học tới lớp hai. Cậu ta to và cao hơn các bạn đồng lớp, tuy thế cậu là một người vụng về và học dốt. Dầu vậy, Wally luôn tỏ ra là một cậu bé luôn sống hy vọng, có thiện chí, luôn vui tươi, biết biện hộ cho sự thiệt thòi, và cũng là người được các bạn mến. Cha mẹ cậu đã khuyến khích con mình tham gia vào hoạt cảnh Giáng Sinh của giáo xứ. Wally muốn đóng vai một chú bé chăn chiên. Thay vì đó, cậu đã được chọn để đóng vai người chủ nhà trọ mà sẽ từ chối Thánh Giuse. Trong lúc tập dượt, Wally đã được dặn dò và chỉ cách để mà cứng rắn với Thánh Giuse. Khi hoạt cảnh được bắt đầu, không có ai gây được nhiều sự chú ý cho bằng Wally. Cậu đã mở tung cánh cửa nhà khách trọ và hỏi một cách hăm dọa, "Muốn gì đó?" "Chúng tôi tìm chỗ để trọ," Thánh Giuse trả lời. "Tìm chỗ khác đi," Wally trả lời một cách cộc cằn. "Trong này hết chỗ rồi." "Làm ơn đi ông chủ tốt," Thánh Giuse nài nỉ, "Đây là vợ của tôi, Maria. Bà ấy đang có thai và rất mệt. Bà cần một chỗ để nghỉ." Sau đó là một khoảng cách thinh lặng trong khi Wally nhìn vào Maria. Người nhắc kịch đứng ở bên trong nhắc Wally cái câu kế tiếp: "Không có chỗ, đi chỗ khác đi!" Tuy vậy, Wally vẫn đứng thinh lặng. Sau đó cặp vợ chồng bị ruồng bỏ quay đầu ra đi. Thấy vậy, cặp lông mày của Wally bỗng nhíu lại có vẻ suy tư, và cặp mắt cậu bắt đầu rơi lệ. Bất chợt, cậu la lên, "Đừng đi! Hai người có thể trọ ở phòng của tôi."
Chúa Giêsu đến trần gian để mở ra cánh cửa trường sinh cho chúng ta, và mời gọi chúng ta hãy chia sẻ mối quan hệ giữa Ngài và Chúa Cha. Trong và qua Chúa Giêsu, Thiên Chúa mời gọi chúng ta đi vào trong Ngài, chỗ mà Ngài sống. Thiên Chúa đang mời gọi chúng ta đi vào Nước Ngài, chỗ mà Ngài đã chuẩn bị cho chúng ta từ muôn thuở, chỗ mà luôn luôn rộng rãi cho tất cả mọi người.
Đấng Tạo Hóa của vũ trụ và nguồn gốc của mọi sự sống muốn chúng ta chia sẻ cuộc sống của Ngài. Đây là một điều tuyệt diệu mà trí óc chúng ta không thể hiểu thấu nổi. Đây là một điều phi thường vượt hơn khả năng của sự suy tư hạn hẹp của chúng ta có thể nắm được. Tuy thế, lời mời gọi đó có ý là để gợi lên một sự trả lời của chúng ta, một sự đáp lời bằng đức tin. Thiên Chúa mong muốn chúng ta đáp lời "Yes!" bằng đức tin.
Lập đi lập lại trong các Phúc Âm, Chúa Giêsu quả quyết với chúng ta đó là linh đạo dẫn chúng ta đến sự sung mãn; đó là cách thức Thiên Chúa tỏ ý muốn của Ngài cho chúng ta; đó là cách mà Đấng toàn năng muốn chữa trị vết thương của chúng ta; làm cho chúng ta nên hoàn hảo, và ban cho chúng ta sự bình an. Nói cách khác, Thiên Chúa yêu thương chúng ta! Một cách thực tế hơn, Đấng Toàn Năng muốn chúng ta đạt được hạnh phúc tuyệt đối. Đó là sứ điệp Tin Mừng hôm nay. Đó là sứ điệp của ngày kỷ niệm Chúa Giáng Sinh. Đó là Tin Mừng Chúa Giêsu đem đến thế giới chúng ta.
Mỗi năm, mỗi khi mùa Giáng Sinh đến, đa số chúng ta thường hay bận rộn với những việc sửa soạn. Chúng ta len lỏi qua các khu shoppings với cái danh sách mua sắm. Chúng ta sửa soạn cây Noel. Chúng ta bị lôi cuốn bởi những bài Thánh ca. Chúng ta trang trí nhà cửa với đèn và giây kim tuyến. Chúng ta bàn bạc để tổ chức bữa ăn thịnh soạn. Đúng, tất cả những cái đó là điều tốt, nhưng nếu chúng ta không cẩn thận, thì chúng ta sẽ đánh mất và quên đi mục đích và nhân vật chính của Mùa Giáng Sinh.
Sứ điệp Giáng Sinh nói với chúng ta rằng Thiên Chúa yêu thương chúng ta, và qua đó chúng ta có thể làm được nhiều chuyện. Trong con mắt của Chúa, chúng ta là những con người quí báu và giá trị. Trong và qua Chúa Giêsu Kitô, qua hang đá Bêlem, qua bờ biển Galilê, qua những ngọn đồi Palestina, qua biến cố biến hình, qua giếng Giacób, qua bữa Tiệc Ly, qua đồi Calvariô, qua ngôi mộ trống, Thiên Chúa nói với chúng ta một điều "Bây giờ con có thấy Cha yêu thương con dường nào chưa?"
Qua máng cỏ Bêlem, Thiên Chúa mời gọi chúng ta hãy chia sẻ cuộc sống của Ngài; trở nên một với Ngài. Chúng ta nghĩ sao về chuyện này? Chúng ta sẽ trả lời làm sao? Câu trả lời, dĩ nhiên, là đi theo Chúa Giêsu. "Ta và Cha Ta là một", Chúa Giêsu phán với các tông đồ (Gn 10:30). Sau đó Ngài tiếp, "Nếu Ta không làm việc của Cha Ta, thì các ngươi đừng tin Ta. Còn nếu Ta làm các việc đó, thì dù các ngươi không tin Ta, ít ra cũng hãy tin các việc đó" (Gn 10:37-38).
Để chúng ta có thể chấp nhận lời mời gọi của Thiên Chúa, chúng ta cần phải bắt chước Chúa Giêsu biết thi hành thánh ý của Chúa Cha. "Con người đến để phục vụ chứ không phải để được phục vụ" (Mk 10:45). Chúa Giêsu đã trao cho chúng ta cái chìa khóa để mở cánh cửa dẫn đến sự sống trường sinh, Ngài phán, "Bấy giờ Đức Vua sẽ phán cùng những người ở bên phải rằng: "Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến viếng thăm" (Mt 25:37-38).
Chúa Giêsu đang nói với chúng ta là chúng ta sẽ không thể nào đạt được sự sống trường sinh, hưởng kiến Thiên Chúa, nhận ra giá trị toàn diện của mình, cứu chữa vết thương lòng, nếu chúng ta không biết nhận ra tình yêu của Thiên Chúa nơi người khác.
Nguyện xin ơn phúc của Mùa Giáng Sinh được âm vang trong trái tim và trong gia đình chúng ta hôm nay! Nguyện xin cho đức tin của chúng ta được đáp trả sứ điệp Giáng Sinh như là một bài hát thánh thót yêu thương vòng quanh thế giới! Nguyện xin cho chúng ta trở nên những người tiền phong biết đem Tin Mừng đến muôn dân!

 

GS-129: Đức Kitô, nguồn sống của nhân loại- Lm Trần thanh Sơn

Hôm nay sau bao ngày tháng chờ đợi, chuẩn bị, cộng đoàn giáo xứ chúng ta cùng với toàn thể: GS-129

Hôm nay, sau bao ngày tháng chờ đợi, chuẩn bị, cộng đoàn giáo xứ chúng ta cùng với toàn thể Giáo Hội, hay đúng hơn, cùng với toàn thể nhân loại, hân hoan mừng kính một sự kiện vĩ đại nhất trong lịch sử con người: đó là Con Thiên Chúa đã làm người.
Từ đây, lịch sử nhân loại bước sang một trang sử mới. Kiếp sống con người không chỉ là một “bể khổ” không lối thoát, nhưng mang một giá trị mới, bởi vì Con Thiên Chúa cũng đã mang lấy thân phận của một con người. Con Thiên Chúa nhập thể để khơi lại nguồn sống cho toàn thể nhân loại, nguồn sống mà con người đã cắt đứt bởi tội lỗi của mình.
Trong các hình thức nô lệ, thì nô lệ cho tội lỗi là tệ hại nhất, vì nó làm cho chúng ta mất đi sự an bình nội tâm. Mặt khác, việc làm nô lệ cho tội lỗi còn nguy hiểm ở chỗ, đó là không có xiềng xích, không có nhà tù bên ngoài, khiến cho từng người chúng ta cứ tưởng rằng mình đang tự do, nhưng thực sự lại đang bị giam cầm, khống chế không thể hành động theo như ý mình muốn, bởi lẽ “há miệng, mắc quai” (x. Rm 7, 15.19). Chúng ta đang làm nô lệ mà không biết mình nô lệ. Do đó, để đem lại sự sống mới cho chúng ta, việc đầu tiên mà Thiên Chúa đã làm đó là giải thoát chúng ta khỏi ách thống trị của tội lỗi.
Thiên Chúa đã giải thoát chúng ta bằng cách tặng ban cho chúng ta Người Con Một yêu dấu của Ngài. Và vào ngày Người Con đó xuất hiện, thì “cái ách nặng nề trên người nó, cái gông nằm trên vai nó, cái vương trượng của kẻ áp bức… Chúa sẽ nghiền nát ra, như trong ngày chiến thắng Mađian”. Đức Giêsu đã đến để phá tan gông cùm, xiềng xích của tội lỗi, trả lại tự do cho chúng ta. Ngài đến để dẫn đưa chúng ta đi từ bóng tối của sự chết đến ánh sáng của sự sống. Chính trong niềm vui đó, ngôn sứ Isaia đã reo lên: “Dân tộc bước đi trong u tối, đã nhìn thấy sự sáng chứa chan. Sự sáng đã bừng lên trên những người cư ngụ miền thâm u sự chết”.
Con Thiên Chúa đến đem lại ánh sáng cho nhân loại đang bước đi trong bóng tối bằng cách hạ mình, để đồng hành với tất cả những ai bị bỏ rơi, bị hắt hủi, bị coi thường. Ngài đến để chia sẻ thân phận con người với chúng ta để không ai còn cô đơn, lẻ loi. Khi suy niệm về Chúa Giêsu sinh ra trong hang bò lừa tại Bêlem và sinh sống tại Nazareth như một người thợ nề kiêm thợ mộc (charpentier), cha Charles de Foucauld, người sáng lập dòng Anh em Tiểu đệ, đã cho rằng: “Sỡ dĩ Thiên Chúa chọn nếp sống tự hạ, chôn vùi, ẩn dật như vậy là vì Thiên Chúa muốn không ai phải mặc cảm với Ngài. Ai cũng có thể thấy rằng hoàn cảnh ra đời và sinh sống của mình rất gần với hoàn cảnh ra đời và sinh sống của Ngài, thậm chí rất nhiều người thấy rằng hoàn cảnh ra đời và sinh sống của mình còn “khá hơn, tốt hơn” hoàn cảnh của Ngài. Nếu Ngài sinh ra trong hàng tư tế, luật sĩ, và chào đời trong lâu đài vua chúa quan quyền, thì rất nhiều người trong nhân loại sẽ thấy có khoảng cách lớn lao giữa Ngài và họ. Họ sẽ không thoải mái khi nghĩ về Ngàivà khi đến với Ngài”. Cha Foucauld kết luận: “Thiên Chúa nhập thể làm người và làm một trẻ thơ như thế là Ngài đã chọn một kiếp sống mà không ai có thể tranh được với Ngài, vì kiếp sống ấy tự nhiên chẳng ai muốn có”.
Hài Nhi Giêsu đã sinh ra trong hang bò lừa ngoài cánh đồng, chứ không phải trong nhà trọ của thị trấn Bê-Lem nhỏ bé, càng không phải trong cung điện của vua chúa quan quyền! Những người đầu tiên được diễm phúc gặp Chúa Hài Nhi cũng không phải là các thượng tế hay các kinh sư, luật sĩ mà là những người chăn chiên chăn bò, sống ngoài lề xã hội và bị tôn giáo Do Thái thời bấy giờ khinh miệt. Ba nhà chiêm tinh Phương Đông được ngôi sao báo hiệu đi tìm “Vua dân Do Thái mới sinh ra” cũng không phải là thuộc dòng giống Israel, càng không thuộc chi tộc Lê-vi hay hàng ngũ các kinh sư, luật sĩ của Đền Thờ! Thiên Chúa đã đến trần gian để đưa những người ở xa, ở ngoài vào gần, vào trong và cảnh tỉnh những người đang ở gần, ở trong coi chừng sẽ bị đẩy ra xa, ra ngoài thế giới của Thiên Chúa! Con Thiên Chúa đã làm người, để nhờ Ngài, con người nhận được sự sống mới và trở nên con Thiên Chúa (x. Cl 1,15-20; Rm 8,1-2.14-17).
Mừng lễ Giáng Sinh là cơ hội thuận tiện để từng người chúng ta cảm nghiệm sâu xa hơn tình yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta. Đồng thời cũng là lời nhắc nhở chúng ta hoán cải đời sống để xứng đáng với tình yêu đó. Cảm nghiệm rõ tình yêu của Thiên Chúa trong cuộc đời mình, thánh Phaolô mời gọi chúng ta: “Ân sủng Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ chúng ta, đã xuất hiện cho mọi người, dạy chúng ta từ bỏ gian tà và những dục vọng trần tục, để sống tiết độ, công minh và đạo đức ở đời này, khi trông đợi niềm hy vọng hạnh phúc và cuộc xuất hiện sự vinh quang của Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa cao cả và là Đấng Cứu Độ chúng ta”.
Con Thiên Chúa đã nhập thể và sống trọn thân phận của một con người. Ngài đã làm người để đem lại cho cuộc sống của mỗi người chúng ta một ý nghĩa. Ngài đã đi vào cuộc sống trần gian, để đem đến cho toàn thể nhân loại một đời sống mới. Phần chúng ta, nhờ phép Rửa tội đã được tái sinh, được nhận sự sống mới của Thiên Chúa. đây là một hạnh phúc tuyệt vời, một hồng ân cao cả nhất mà có lẽ không ai trong chúng ta dám nghĩ tới.
Cuộc sống của chúng ta đã nhận được biết bao hồng ân, nhưng hồng ân sự sống là một trong những hồng ân kỳ diệu nhất. Do đó, điều đầu tiên mà mỗi người chúng ta cần làm đó là dâng lời tạ ơn. Chúng ta cần tạ ơn Thiên Chúa, cho dù cuộc sống vẫn còn đó những khó khăn, vất vả, gian truân. Cho dù ph?i làm việc vất vả, thì chúng ta cũng hãy tạ ơn vì chúng ta không phải thất nghiệp. Nếu chúng ta bị la rầy, thì cũng hãy tạ ơn vì vẫn còn có người quan tâm đến chúng ta. Nếu nóc nhà của chúng ta có bị dột, thì cũng hãy tạ ơn bởi chúng ta vẫn đang có một mái nhà…
Thế nhưng, trong cuộc sống mình, mỗi người chúng ta vẫn chưa sống xứng đáng với những hồng ân đó. Chúng ta còn lệ thuộc nhiều vào bản năng như: lạm dụng tình dục, tìm hưởng thụ. Thậm chí, có nhiều người còn đốt cháy cuộc đời mình bên những làn khói trắng…, để rồi đánh mất đi phẩm giá cao quý từ ban đầu của mình, và dẫn đến biết bao hậu quả tai hại như: phá thai, SIDA, đó là chưa nói đến những đam mê xem ra rất bình thường, mà lắm lúc chúng ta cũng không cưỡng lại được như nhậu nhẹt say sưa, bài bạc… Với kinh nghiệm của mình, chắc hẳn chúng ta cũng nhận thấy rằng: Bao nhiêu lần sám hối, quyết tâm là bấy nhiêu lần chúng ta cảm nghiệm và thú nhận về sự yếu đuối của bản thân.
Do đó, để sống cho xứng đáng với hồng ân đã lãnh nhận, giờ đây trước máng cỏ, mỗi người chúng ta hãy có một quyết tâm và hứa với Hài Nhi Giêsu: bắt đầu từ giờ phút này, chúng ta sẽ xa tránh các tệ nạn xã hội, vượt thắng các đam mê, dục vọng của xác thịt… Đồng thời, mỗi người chúng ta hãy luôn giữ một nét tươi vui trên nét mặt, cho dù cuộc sống có gặp nhiều gian truân, vất vả. Nhờ đó, bản thân chúng ta, gia đình chúng ta thực sự là một biểu hiện của Tin mừng. Như thế, niềm vui mừng của ngày lễ Giáng Sinh sẽ không dừng lại ở ngôi Thánh đường này với những đèn sao rực rỡ, nhưng sẽ tiếp tục theo bước chân của chúng ta mà lan toả đến với mọi người, trên từng nẻo đường trong cuộc sống mỗi ngày. Amen.

 

GS-130: Ngôi Lời đã trở nên người phàm- Lm. Phạm ngọc Ngôn

Tin mừng thứ tư được mở đầu bằng một bài thánh ca mang âm hưởng như một bản nhạc giao: GS-130

Tin mừng thứ tư được mở đầu bằng một bài thánh ca mang âm hưởng như một bản nhạc giao hưởng. Chắc hẳn, để viết nên bản giao hưởng thánh ấy, Thánh sử Gioan, vốn được mệnh danh là người môn đệ Chúa yêu, ngoài tài năng của một văn sỹ, còn là một con người có trái tim chan chứa yêu thương. Có thể nói, với lối trình bày gãy gọn và xúc tích, tác giả -cách nào đó, đã tuyên xưng phả hệ thần linh của Chúa Kytô. Lễ Giáng Sinh là dịp thuận tiện để chúng ta tuyên xưng Ngôi Lời chính là Thiên Chúa từ muôn muôn thưở, nay trở thành xác phàm đến cư ngụ giữa lòng nhân loại.
NGUỒN GỐC HUYỀN NHIỆM CỦA NGÔI LỜI.
Thánh sử Gioan đã nối kết việc Ngôi Lời (Logos) đến giữa nhân loại khai mở cuộc tạo thành mới như những trang đầu của sách Sáng thế. Nếu để ý, chúng ta sẽ thấy, trong sách Sáng thế, Giavê Thiên Chúa sáng tạo vũ trụ trong 6 ngày, ngày thứ 7, Người nghỉ ngơi. Ngôi Lời của Thiên Chúa cũng bắt đầu những sinh hoạt công khai của mình trong 6 ngày và kết thúc bằng phép lạ tại tiệc cưới Cana (x. Ga 1, 19-2,1-12). Điều đó cho thấy, Ngôi Lời từ muôn thưở đã hiện hữu và nhờ có Người, vạn vật mới được hình thành. Thánh Gioan đã dùng động từ “Ẽn" (đã có) để nói rằng từ thưở đời đời, Ngôi Lời đã hiện hữu, một sự hiện hữu vô tận, không chịu sự hạn định của thời gian.
Ngôi Lời không chỉ có từ trước muôn thưở, Người còn được giới thiệu như một người Con luôn hướng về Cha mình. Sự “hướng về” đó cho thấy Ngôi Lời luôn sống mật thiết và vĩnh cửu với Chúa Cha giống như hai người thân luôn hướng về nhau và luôn hiện diện bên nhau. Điều này được thể hiện rất rõ trong suốt cuộc đời trần thế của Chúa Kytô. Tất cả những biến cố xảy ra trong cuộc đời của Người, luôn có dấu ấn của Chúa Cha. Người luôn kết hiệp mật thiết với Chúa Cha, luôn trò chuyện, chia sẻ và tâm sự với Cha của Người.
NGÔI LỜI ĐẾN TRONG THẾ GIAN
Có thể nói Ngôi Lời đến với thế gian bằng nhiều lần và bằng nhiều cách chứ không phải đợi đến khi Người sinh ra nơi hang đá Bêlem. Nhìn vào lịch sử cứu độ, chúng ta sẽ thấy Ngôi Lời đến trong thế gian ngay khi bắt đầu công cuộc tạo dựng. Nếu không có sự hiện diện của Người, chắc chắn vạn vật sẽ không được hình thành. Gioan đã xác nhận rất rõ điều này. Lần đó, không một ai biết sự hiện diện của Người. “Thế gian đã nhờ Người mà có, nhưng lại không nhận biết Người” (1,10); Người cũng đến với “nhà của Người”. Nhà đó chính là dân tộc Dothái mà Người đã chọn làm dân riêng. Lần đó, Người đến trong Lề luật, trong lời của các Ngôn sứ,… để đồng hành với dân tộc này. Nhưng tiếc thay, dân tộc mà Người ưu tuyển chẳng chịu đón nhận Người (1,11); và cuối cùng, Người đến khi mặc lấy xác phàm và ở giữa lòng nhân loại. Người đến trong thân phận của một Hài nhi được hạ sinh trong một hoàn cảnh hết sức khó khăn và nghiệt ngã: sinh ra trong máng cỏ hang lừa nơi đồng không hiu quạnh và lạnh lẽo. Lần này, “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta”.
Ngôi Lời Thiên Chúa đến giữa lòng nhân loại, ở với nhân loại và “cắm lều” giữa lòng nhân loại. Ngày xưa, Giavê Thiên Chúa ở giữa dân Người trên đường từ Aicập về miền đất hứa. Ngày đó, Người hiện diện trong Lều tạm- đó là dấu chỉ cho thấy Giavê Thiên Chúa luôn ở cùng nhân loại.
Ngày nay, Thiên Chúa ở giữa dân Người một cách gần gũi và thân mật. Thiên Chúa hiện diện dưới hình hài của một Hài nhi trong ngày Giáng sinh. Người hiện diện, mặc lấy xác phàm hữu hình để ở giữa loài người, đồng hành với con người hầu đưa con người về với Thiên Chúa.
Quà tặng vô giá mà Thiên Chúa muốn ban tặng nhân loại chính là việc cho Ngôi lời nhập thể, mang lấy thân phận mỏng dòn, yếu đuối của nhân loại. Người đến để chia sẻ với con người, để đồng hành với con người trong mọi hoàn cảnh. Người đến để yêu thương, để gánh lấy tội lỗi của nhân loại và cuối cùng chấp nhận hy sinh thân mình vì nhân loại.
Mừng lễ Giáng sinh, chúng ta không chỉ kỷ niệm một biến cố quan trọng đã xảy ra trong lịch sử nhân loại cách đây hơn 2000 năm, biến cố “Ngôi Lời trở thành xác phàm” và cư ngụ giữa lòng nhân loại; mà còn là dịp để mỗi người chúng ta nhận ra chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa trong dòng lịch sử, trong chính cuộc đời của mỗi người. Lạy Đấng Emmanuel, xin hãy đến và ở cùng chúng con luôn mãi!

 

GS-131: Lễ Giáng Sih không còn là ngày lễ của riêng người Kytô

- Lm. Phạm ngọc Ngôn
 

Lễ Giáng sinh đêm Noel không còn là ngày lễ của riêng người Kytô mà là ngày lễ cho toàn: GS-131

Lễ Giáng sinh, đêm Noel không còn là ngày lễ của riêng người Kytô mà là ngày lễ cho toàn thể nhân loại, mang đến một chiều kích hoàn vũ, đại đồng. Thật thế, trình thuật Tin mừng cho thấy Con Thiên Chúa Giáng sinh không chỉ cho dân tộc Dothái mà còn cho hết mọi dân tộc, cho hết mọi màu da, ngôn ngữ và giai cấp. Chính vì thế, chúng ta hiểu vì sao đêm Noel là đêm của trời đất giao hoà, là đêm an bình, đêm tràn ngập ánh sáng, niềm vui hạnh phúc của hết mọi dân tộc trên toàn thể địa cầu.
Thánh sử Luca mượn yếu tố lịch sử là cuộc tổng kiểm tra dân số của hoàng đế Rôma Augúttô, trị vì từ năm 29BC đến năm 14 AC, để dẫn đến việc Chúa Giêsu hạ sinh tại Bêlem theo như Kinh thánh đã loan báo. Với lệnh tổng kiểm tra này, tất cả những người gốc Bêlem đang làm ăn sinh sống ở phương xa đều phải trở về nguyên quán để kê khai nhân khẩu. Gia đình thánh Giuse lúc đó đang ngụ cư tại Nazarét thuộc miền bắc Galilê cũng phải khăn gói Nam tiến để thực hiện nghĩa vụ công dân của mình. Các ngài đâu biết rằng các ngài đang thực hiện đúng thánh ý của Thiên Chúa về việc hạ sinh của Ngôi Hai Thiên Chúa ngay chính tại quê hương của vua David - tổ tiên của các ngài.
Khác với cảnh hạ sinh của vị Tiền hô vốn được sinh ra trong cảnh ấm cúng của gia đình tư tế có thế giá, Chúa Giêsu sinh ra trong cảnh lạc lõng, bơ vơ giữa muôn vàn khách lạ. Khách lỡ đường đua nhau chen lấn để tìm được một nơi trọ qua đêm, thánh Giuse và bên cạnh là Đức Maria đang bụng mang dạ chửa di chuyển chạm chạp làm sao cạnh tranh được. Thế là đành phải tìm đến tìm hơi ấm của những cọng rơm được những mục đồng chuẩn bị cho đàn chiên và dựa vào hơi thở ấm áp của đàn chiên trong đêm sương giá lạnh. Ngôi Hai Thiên Chúa Giáng sinh trong hoàn cảnh thật khốn cùng.
Hình ảnh Đức Maria trong ngày hạ sinh Chúa Cứu Thế cho chúng ta thấy nơi Mẹ, toát lên lòng yêu thương tuyệt diệu. Mẹ dường như quên hết những tháng ngày mang nặng và quặn đau để sinh con. Mẹ hẳn phải đau lòng lắm khi thấy con mình sinh ra trong hoàn cảnh hết sức bi đát. Chính vì thế, bao khó khăn, bao hiểm nguy đối với Mẹ giờ đây không đáng là gì, Mẹ chịu đựng tất cả để dồn tình yêu của người Mẹ dành cho người con bé bỏng. Tin mừng đã ghi lại cảnh Mẹ chăm sóc Hài nhi Giêsu thật cảm động. “Bà sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ”.
Thế nhưng ngay trong chính hoàn cảnh tưởng chừng bơ vơ, lặng lẽ và u ám ấy, lại bừng lên ánh sáng rạng ngời, tin mừng được loan báo, thiên sứ vui mừng tung hô, cả đất trời cùng mở hội giao duyên chúc mừng Con Thiên Chúa Giáng sinh làm người.
Đấng Cứu thế không chọn cho mình nơi cung điện nguy nga tráng lệ, có kẻ hầu người hạ để sinh ra; Người hạ sinh trong máng cỏ của đàn gia súc, làm bạn với đàn chiên và mọi giống côn trùng rỉ rang bản hợp xướng đưa Người vào giấc ngủ. Những người đầu tiên được đón nhận mạc khải Giáng sinh cũng không phải là những bậc vị vọng tôn giáo hay chính quyền mà là những con người mạt rệp cùng đinh trong xã hội đương thời, những người vốn được xem như những kẻ đầu trộm đuôi cướp- những kẻ chăn chiên. Đây chính là đối tượng của Con Thiên Chúa. Chính Người sau này đã ưu tiên gần gũi, sống thân mật, đồng bàn với họ nhằm cứu thoát họ khỏi mọi sự dữ.
Cả trời đất mừng vui hoan hỷ, tụng ca Thánh danh Thiên Chúa, mừng ngày Ngôi Hai giáng trần. Ngày trọng đại đó, toàn thể vũ trụ được chứng kiến bao thiên sứ của Thiên Chúa không ngớt lời tôn vinh : “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương”. Đất trời mừng vui, mở hội giao duyên. Từ đây một kỷ nguyên mới khai sinh. Đấng Cứu độ đến giữa lòng nhân loại để thi ân giáng phúc và đem bình an cho nhân loại.
Đêm Noel là đêm của vui mừng, là đêm của bình an đêm của hồng phúc đến từ Thiên Chúa. Chúng ta hãy tận hưởng tặng phẩm Thần linh mà Thiên Chúa ban tặng cho chúng ta. Đồng thời chúng ta cũng không quên bắt chước các mục đồng trong đêm Giáng sinh là ra đi đến khắp mọi miền để“tôn vinh chúc tụng Thiên Chúa” và loan báo Tin mừng cho hết mọi người.

 

GS-132: THÁNH GIUSE XIN VÂNG!

Nói đến hai tiếng “Xin Vâng” người ta thường nghĩ ngay đến Đức Maria. Cả cuộc đời Mẹ là: GS-132

Nĩi đến hai tiếng “Xin Vng” người ta thường nghĩ ngay đến Đức Maria. Cả cuộc đời Mẹ l hai tiếng “xin vng” trọn vẹn. Thế nhưng rất ít người nghĩ đến Thnh Giuse. Người đ trỗi dậy đĩn Maria về lm vợ mình. Người đ trỗi dậy đưa Maria v hi Nhi Gisu trốn đi trong đm tối.
Ging Sinh về, ai cũng nơ nức đến xem hang đ nhưng cĩ lẽ rất ít người đến để chim ngắm lời “xin vng” nơi hang đ b nhỏ, gi lạnh.
Đức Maria đ xin vng để mang lấy sứ mệnh lm Mẹ Đấng Cứu Thế. Hi Nhi Gisu đ xin vng để mang lấy sứ mệnh cứu độ Thin Cha đ trao ban. V đy, Thnh Giuse đ xin vng để dng hiến cuộc đời m thầm của mình thực hiện sứ mệnh lm cha nuơi Cha Gisu.
Người đ cng Đức Mẹ quỳ trong hang đ ngho chim ngắm Hi Nhi, đ vội v đưa Đức Mẹ v Cha Gisu ln đường lnh nạn trong đm tối v đ cng Đức Mẹ lặn lội đi tìm Cha Gisu trong đền thờ.
Kinh Thnh khơng nĩi nhiều về Thnh Giuse nhưng trong m thầm, Thnh Giuse đ cng đồng hnh với Mẹ Maria v cả hai đ nuơi nấng, dạy dỗ, chăm sĩc Cha Gisu khi Ngi cịn thơ b. D chỉ l một người thợ mộc bình thường nhưng nơi Thnh Giuse, ta nhận ra cả một niềm tin, sự phĩ thc v vng nghe tuyệt đối cch phi thường.
Nơi gia đình Thnh b nhỏ của mình, Thnh Giuse đ lm tất cả những gì ngi cĩ thể để đem đến cho Mẹ Maria v Hi Nhi Gisu những điều tốt đẹp nhất trong cuộc sống đời thường.
Hy đến hang đ chim ngắm Hi Nhi để thấy tình yu Thin Cha dnh cho con người. Hy Chim ngắm Đức Maria để thấy sự tơn kính v tín thc. V hy chim ngắm Thnh Giuse để thấy cuộc đời ngi từ giy pht ấy l một bản tình ca khơng lời.
BỒ CƠNG ANH

 

GS-133: VỊ CỨU TINH ĐÃ SINH RA

Noel, ngày Lễ vĩ đại.
 

Chúng ta được Giáo hội mời gọi quy tụ lại trong ngày này không phải để dự một lễ hội vui: GS-133

Chúng ta được Giáo hội mời gọi quy tụ lại trong ngày này không phải để dự một lễ hội vui chơi, nhưng là để tưởng niệm một sự kiện quan trọng nhất trong lịch sử nhân loại: Ngày Chúa Giê-su hạ sinh. Con Thiên Chúa đã đến cư ngụ giữa nhân loại. Một trang sử mới của toàn thể nhân loại đã mở ra, trang sử của tình yêu cứu độ.
Với bản văn ghi lại cuộc sinh hạ của Chúa Giê-su, Thánh Lu-ca giúp chúng ta đi vào Mầu Nhiệm Giáng Sinh. Nhưng để nhận biết được Con Thiên Chúa qua dấu chỉ khiêm hạ: một hài nhi mới sinh quấn tã nằm trong máng cỏ, chúng ta cần phải có sự đơn sơ chân thành của trẻ thơ và tinh thần của người khó nghèo.
Trình thuật Chúa Giê-su giáng trần là một trong những trang nổi tiếng nhất của Luca. Việc chào đời của Chúa Giê-su được kể lại qua ba cảnh: diễn tả biến cố ( 1 – 7 ); sứ điệp của các Thiên Thần mạc khải ý nghĩa biến cố cho các mục đồng ( 8 – 14 ) ; Các mục đồng phổ biến sứ điệp ( 15 – 20 ).
Tính cách nổi bật mà Lu-ca muốn nêu lên trong trình thuật này là sự khốn cùng của Con Thiên Chúa. Đấng mà các Thiên thần gọi là Cứu Chúa, là người nghèo giữa muôn người nghèo. Người không được sinh ra trong mái ấm gia đình mà trong chuồng súc vật. Sự nghèo khó mà chính Chúa Giê-su rao giảng, Người đã đón nhận ngay từ ấu thơ. Sự nghèo khó ấy là một dấu chỉ.
Chính trong nỗi khốn cùng và u tối đã bừng lên vinh quang của Thiên Chúa. Toàn bộ phần thứ hai của bản văn nói đến vinh quang của Đấng Thiên Sai, vinh quang được mạc khải cho các mục đồng để họ ra đi loan báo tin vui: Hôm nay Đấng Cứu Thế, Đức Ki-tô đã sinh ra.
1. Chúa Giê-su Giáng Sinh, niềm vui cho người khó nghèo khổ đau:
Theo Thánh Lu-ca thuật lại, thì Chúa Giê-su sinh ra trong cảnh khó nghèo và giữa những người khó nghèo. Các mục đồng, những con người nghèo khó đơn sơ là những người diễm phúc được chọn đại diện cho toàn thể nhân loại đón nhận Chúa Giê-su, Con Thiên Chúa. Thật là một ý nghĩa sâu xa nói lên tất cả ý định yêu thương của Thiên Chúa: Ngài đến để yêu thương mang lại niềm vui và hạnh phúc cho mọi người nhất là những con người bé mọn, bần cùng, khổ đau trong cuộc sống.
Dấu chỉ của Đấng Mê-si-a mà các Thiên Thần báo cho các mục đồng biết là dấu chỉ để nhận thấy một người nghèo giữa họ: Một hài nhi mới sinh nằm trong máng cỏ. Chính sự hạ sinh trong sự khiêm hạ khó nghèo cũng nói lên thông điệp của Thiên Chúa, Ngài đứng về phía người nghèo, sống vì người nghèo khổ.
Một hài nhi yếu hèn sinh ra trong cảnh khốn cùng giữa những con người nghèo hèn mà lại là Thiên Chúa, Đấng Mê-si-a muôn dân mong chờ, thật là điều không thể hiểu nổi. Đó là đường lối của Thiên Chúa, đường lối thể hiện một tình yêu cao vời. Chỉ có tấm lòng đơn sơ, nghèo khó biết sống vì người nghèo khổ mới có thể nhận biết được mà thôi.
2. Từ niềm vui Giáng Sinh đến sứ mạng trao ban niềm vui của Ki-tô hữu:
Các mục đồng đơn sơ mộc mạc không giữ riêng cho mình những gì họ đã chứng kiến. Họ vui mừng hân hoan và kể lại cho mọi người những gì họ đã biết. Niềm vui Giáng Sinh là niềm vui do Chúa ban tặng và niềm vui này sẽ được nhân lên nếu biết trao ban cho nhau. Lắng nghe sứ điệp Giáng Sinh thì phải biết quan tâm đến những anh chị em nghèo khổ, bất hạnh bên cạnh chúng ta.
Niềm vui Giáng Sinh là niềm vui từ Trời mang xuống cho nhân loại lầm than. Mừng Lễ Giáng Sinh thì mỗi người cũng hãy biết ra đi trao ban niềm vui cho anh chị em chung quanh, cho những tâm hồn sầu khổ đang rất cần được cảm thông, được an ủi nâng đỡ.
Ngày nay, Lễ Giáng Sinh đã trở thành một lễ hội vui chơi mang tính quốc tế, vì thế, đây là dịp để mọi người tìm kiếm, tổ chức và mang lại niềm vui cho nhau. Đó cũng là một điều tốt. Thế nhưng, tốt hơn hết là Ki-tô hữu chúng ta hãy đi tìm niềm vui bằng chính việc ra đi trao ban niềm vui cho anh chị em đau khổ, nghèo khó, bất hạnh để họ có được niềm vui, nhờ đó niềm vui Giáng Sinh trong chúng ta sẽ triển nở hơn nữa.
3. Niềm vui Giáng Sinh, niềm vui của tình yêu sự sống:
Một Hài nhi yếu hèn ra đời trong cảnh nghèo khó lại là Đấng mang lại niềm vui và sự sống mới cho toàn thể nhân loại. Giữa cảnh khó nghèo của Bê-lem đã bừng lên ánh sáng, ánh sáng tình yêu mang lại sự sống, sự giải thoát cho dân đang đi trong bóng tối lầm than của kiếp người bi luỵ cho sự chết. Trong ý nghĩa này, thông điệp Giáng Sinh cho thấy: niềm vui Giáng Sinh là niềm vui của một tình yêu sự sống, sự sống của Thiên Chúa. Thiên hạ từ khi nguyên tổ sa ngã luôn phải đối diện, phải bước đi trong bóng tối của tử thần.
Ngày nay, hơn bao giờ hết, nhân loại đang đối diện, đang chung sống, đang bị đẩy vào một nền văn minh của sự chết, của hận thù và bạo lực. Giờ đây biết bao hài nhi vô tội chỉ vì sự ích kỷ của lòng người, của những người cha người mẹ vô tâm mà đã bị giết từ trong trứng nước; biết bao trẻ thơ bị lạm dụng, bị bóc lột, bị hành hạ...
Giờ đây biết bao nhiêu tệ nạn xã hội đã và đang đẩy biết bao người đặc biệt là thanh thiếu niên vào đường trụy lạc hủy hoại sự sống của mình. Giờ đây biết bao người đã và đang làm nạn nhân của chiến tranh, bạo lực khiến họ sống dở chết dở.
Thế thì, vui Giáng Sinh thế nào được giữa cảnh chết chóc này ? Ki-tô hữu chứng nhân của Chúa Giáng Sinh, cần phải mừng Mầu Nhiệm này trong việc hết lòng cổ vũ, phát triển sự sống ngay từ trong gia đình, từ chính bản thân. Chúa đã Giáng Sinh làm người ở giữa nhân loại chúng ta. Hôm nay trong Bí Tích Thánh Thể, Ngài tiếp tục đi vào lòng đời, đi vào lòng mỗi người. Trong niềm hân hoan mừng Lễ Giáng Sinh, chúng ta cùng tiến tới đón Chúa Giê-su Ki-tô Thánh Thể, đón nhận nguồn vui và sự sống bất diệt của Người.
Lạy Chúa Giê-su Hài Đồng, Chúa đã đến trong sự khiêm hạ khó nghèo để mang lại niềm vui Ơn Cứu Độ cho chúng con. Xin cho mọi người chúng con một khi đã biết đón nhận ơn Chúa thì cũng biết ra đi trao ban niềm vui sống cho anh chị em chung quanh, để niềm vui Giáng Sinh của Chúa tuôn đổ dồi dào trong xã hội chúng con. Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.
Lm. LÊ QUỐC THĂNG, lấy từ www.tinvui.org

 

GS-134: CHUYỆN: PHÉP LẠ GIÁNG SINH

Hằng năm cứ đến dịp Lễ Giáng Sinh, Hài Nhi Giê-su thường đi một vòng rảo qua khắp các: GS-134

Hằng năm, cứ đến dịp Lễ Giáng Sinh, Hài Nhi Giê-su thường đi một vòng rảo qua khắp các làng mạc và đô thị để tặng quà cũng như nhận quà và phân phát cho những ai cần đến. Năm nay, tại một đô thị nọ, Ngài đang cần một món quà không dễ tìm ra: đó là một quả tim lành mạnh để thay thế quả tim của một người bệnh đang hấp hối. Bệnh nhân có quả tim gần như ngừng đập này là một nhân vật nổi tiếng trong cả nước: đó là bộ trưởng tài chính ! Tất cả các bác sĩ trong nước đều bó tay. Cuối cùng, họ mới chạy đến với Hài Nhi Giê-su, vì tin tưởng rằng ít ra trong đêm Giáng Sinh, Ngài sẽ làm một phép lạ. Nhưng Hài Nhi Giê-su trả lời với các bác sĩ: "Không phải Ta là người phải làm phép lạ, nhưng chính là lòng quảng đại của một người dâng hiến quả tim của mình".
Tin tưởng ở lòng người, Hài Nhi Giê-su đã đến gõ cửa nhà của thân nhân, bạn hữu của vị bộ trưởng. Họ đang mừng Lễ Giáng Sinh: cây Giáng Sinh của họ đầy những hoa đèn và quà tặng, bàn ăn của họ đầy những thịt rượu và của ngon vật lạ. Họ đang ăn uống say sưa... Vừa thấy Hài Nhi đứng trước nhà, họ tưởng Ngài là một cậu bé vô lại phá đám, cho nên đã tống khứ Ngài đi càng sớm càng tốt. Hài Nhi Giê-su buồn bã bỏ đi...
Nhưng Ngài vẫn chưa thất vọng về tình người. Lần này, Ngài đến gõ cửa của những người thân cận vị bộ trưởng. Họ là những người đã từng bán đứng lương tâm, chối bỏ phẩm giá của mình để tìm kiếm lạy lục một chút cặn bã của vinh hoa, lợi lộc phù phiếm. Hài Nhi Giê-su nghĩ thầm ít ra đây cũng là dịp để họ tỏ lòng biết ơn đối với ông bộ trưởng. Nhưng tất cả đều lắc đầu từ chối, trái tim của họ đang hướng đến người sẽ lên thay thế ông bộ trưởng trong những ngày gần đây.
Hài Nhi Giê-su lại tiếp tục đi gõ cửa từng nhà, nhưng ai cũng đang bận bịu với cuộc vui đêm Giáng Sinh. Ngài đi, đi mãi trong đêm, để rồi mệt lả không còn lê bước nữa. Ngài ngồi xuống bên vệ đường ven đô thị. Ngài đang miên man nghĩ đến tình người thì bỗng dưới ánh đèn đường mờ ảo, một bóng đen thất thểu tiến lại gần Ngài. Con người này xem chừng như không biết Lễ Giáng Sinh là gì. Quần áo bẩn thỉu, dáng đi ngập ngừng. Trên vai của anh đeo lủng lẳng một chiếc đàn vĩ cầm cũ kỹ. Đó là tất cả vốn liếng của một kẻ lãng tử.
Vừa thấy em bé ngồi tiu nghỉu bên vệ đường, anh mới dừng lại, lấy chiếc đàn ra và dạo lên những khúc nhạc du dương, trầm buồn. Bản nhạc bỗng mang lại hy vọng cho Hài Nhi. Trên môi Ngài, một nụ cười bé thơ cũng vừa hé mở. Con người lang thang phiêu bạt này, con người không có lấy một mái nhà để nương náu, không có được một ngày lễ trong cuộc sống, không biết được đêm nay là đêm Giáng Sinh: vậy mà con người ấy có được một trái tim quảng đại sẵn sàng dâng hiến !
Hài Nhi Giê-su đến nắm tay anh, đưa anh vào bệnh viện. Tại đây, với nụ cười tươi nở trên môi, anh để cho các bác sĩ khoét vào lồng ngực của anh để lấy quả tim quảng đại của anh và đặt vào chỗ của quả tim đang thoi thóp của ông bộ trưởng tài chính... Cuộc ghép tim vừa chấm dứt, thì mọi người đã có thể chứng kiến được phép lạ. Ông bộ trưởng với quả tim quảng đại và yêu đời của người lãng tử đứng dậy khỏi giường và bắt đầu ca hát. Ông đã ném đi quả tim chỉ biết rung động vì tiền của, để thay thế bằng quả tim quảng đại biết ca hát, và sẵn sàng tự hiến cho người...
Trích 365 CÂU CHUYỆN CÙNG ĐỌC VÀ SUY GẪM

 

GS-135: Hãy Giữ Lấy Niềm Vui Chúa Ở Cùng

VietCatholic News (19/12/2004 )
SUY NIỆM LỄ GIÁNG SINH - THÁNH LỄ ĐÊM
 

Có thể nói mà không sợ nói ngoa rằng, ai cũng nghe biết lễ Giáng Sinh. Hình như số người: GS-135

Có thể nói mà không sợ nói ngoa rằng, ai cũng nghe biết lễ Giáng Sinh. Hình như số người mừng lễ Giáng Sinh cũng chiếm đa số. Mỗi người một cách thức, mỗi người một thái độ, tùy vào sự hiểu biết, tùy vào niềm tin của cùng tôn giáo, khác tôn giáo hay không tôn giáo, tùy vào lòng yêu mến nhiều hay ít, có khi tùy vào sự nghèo hay sự giàu mà mỗi người đều mừng lễ Giáng Sinh theo cách của mình.
Nhưng dù mừng lễ Giáng Sinh theo kiểu nào, nhìn chung, ta vẫn phải thừa nhận rằng, Giáng Sinh là lễ của niềm vui. Đó có thể là niềm vui vỡ oà trong tình bạn, trong những người yêu nhau được nhận thấy qua những lời chúc, những cánh thiệp làm ấm không chỉ cái lạnh của mùa đông, nhưng còn làm ấm lại cái lạnh của sự cách trở, của niềm thương nhớ. Đó là niềm vui của mọi người trong ánh sáng của những chiếc đèn lồng, của những ánh đèn mờ nhấp nháy, hay của những trẻ em đón nhận quà bánh, những người già yếu, người neo đơn, bất hạnh, tật nguyền được đoái thương… Niềm vui Giáng Sinh đến từng con hẻm, từng góc phố phá vỡ màn đêm bằng muôn vàn ánh sáng, bằng những tiếng ồn của lời nói, của âm nhạc và mọi thanh âm.
Lễ Giáng Sinh không biết tự bao giờ đã trở thành lễ của mọi người, không phân biệt lương - giáo. Quý giá biết bao nhiêu, khi nhận ra ngày Thiên Chúa nhập thể và giáng trần đã đi vào lòng người thế, đã thấm vào tâm hồn mọi người cách hết sức tự nhiên đến nỗi, dẫu cho kẻ thù ghét Thiên Chúa nhất cũng phải im lặng. Cái im lặng ấy cũng là một lời thừa nhận không nói thành lời đấy thôi. Vâng, nhập thể là phải như thế, phải đi vào lòng người đúng với ý nghĩa của “nhập thể”! Người muốn đến trần gian, đi giữa lòng thế giới, cư ngụ trong tâm hồn con người. Bởi vậy, điều Thiên Chúa muốn, tự nhiên xảy ra vượt lên mọi rào cản, mọi gò bó, mọi giới hạn. Vì một lẽ đương nhiên: không ai có thể ràng buộc Thiên Chúa.
Dù sao trong niềm vui Giáng Sinh đang tuôn chảy, ta vẫn phải phân biệt những mức độ của niềm vui ấy. Thực tế, khi nhìn niềm vui đang tràn dâng trong lòng mọi người, tôi nhận thấy có hai thứ niềm vui nhưng chỉ có một là đúng với ý nghĩa niềm vui Giáng Sinh:
1. Niềm vui của những kẻ cơ hội và tội lỗi:Không thiếu những niềm vui Giáng Sinh được tạo ra bằng sự xa hoa, phung phí, ăn chơi, và tội lỗi. Cũng có thể có những kẻ cơ hội chỉ mừng lễ Giáng Sinh như một thứ lễ hội để đàn điếm, quậy phá, phóng túng… Bởi có biết bao nhiêu những quán xá, nhà hàng, vũ trường, khách sạn đón lễ Giáng Sinh rất long trọng, trang hoàng máng cỏ, và cả một không gian nào đó bằng đủ thứ cờ, hoa, đèn và mọi thứ sang trọng, đắc tiền…, nhưng chẳng phải mừng lễ Giáng Sinh, chỉ nhắm một điều duy nhất: lôi kéo lợi nhuận cho mình. Chính vì ham hố lợi nhuận ấy, họ sẵn sàng tạo mọi điều kiện, mọi dịch vụ, mọi kỹ nghệ phục vụ tất cả những đam mê của con người, dù đó là điều đê hèn nhất, xấu xa nhất, bỉ ổi nhất, đáng nguyền rủa nhất. Điều đau lòng là mọi hình thức tội lỗi ấy lại xảy ra đúng và đêm mà ai cũng phải thừa nhận là “Đêm Thánh vô cùng”.
Đêm Giáng Sinh, chắc chắn sẽ có rất nhiều người đổ ra đường để đi đâu đó. Trong dòng người ấy chắc không thiếu những đôi trai gái, những bạn trẻ, cả những người trung niên, những người thừa tiền, lắm của, những người có quyền, có địa vị trong xã hội…, đã dám chi tiền để ném mình vào trong vòng tay của những bóng tối, lẽ ra cần phải xa tránh. Có khi đồng tiền mà họ sử dụng bất chính vào chính đêm Giáng Sinh là những đồng tiền cướp giật trên xương máu, trên sự bóc lột không thương tiếc của bao nhiêu kẻ nghèo khó, lam lũ trong đời thường… Và cũng chính trong Đêm Thánh ấy, họ biến bao nhiêu thân xác con người, nhất là các cô gái, các em bé… thành những món hàng, những món đồ chơi như một thứ xa xỉ phẩm một cách vô liêm sĩ. Đó là chưa kể biết bao nhiêu chàng trai, cô gái thừa sức lao vào những vòng đua nguy hiểm đe dọa chính sự sống của mình và của biết bao nhiêu người vô tội khác…
2. Niềm vui có Chúa ở cùng.Đó là niềm vui miên man, chan chứa và thánh thiện cho tất cả những tâm hồn biết đón nhận Đấng Emmanuel - Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Đó không chỉ là niềm vui đúng đắn mà còn là niềm vui cao sang, trang trọng, đầy tin tưởng. Niềm vui mà chính thiên thần Chúa đã gọi tên là “Tin Mừng Trọng Đại”. Đó là niềm vui của tình yêu vì biết rằng, hôm nay Đấng Cứu Thế đã giáng sinh, không phải vì bất cứ cái gì khác, hay bất cứ lý do nào, nhưng là niềm vui vì biết rằng: “Hôm nay Đấng Cứu Thế đã giáng sinh cho anh em” (Lc 2, 10).
Đó càng là “Tin Mừng Trọng Đại” hơn, là niềm vui lớn lao hơn vì nhận ra niềm tin Đấng Emmanuel - Thiên Chúa ở cùng chúng ta, là niềm xác tín mạnh, một xác tín vượt ra ngoài sức tưởng tượng, dẫu cho đó là sức tưởng tượng của người giàu tưởng tượng nhất. Niềm vui lớn lao này còn là niềm vui khám phá ra Đấng mà bao nhiêu đời, chỉ cái tên thật của Người thôi, còn không ai dám nhắc tới, lại chính là Đấng Thiên Chúa làm người. Đấng mà ngày xưa, Môisen, dù là bạn chí thân, cũng chỉ nhìn thấy sau lưng của Người, lại trở nên một trong những con người ở giữa những con người. Đấng vô hình trở nên hữu hình. Đấng không thể diễn tả trở nên có thể diễn tả. Đấng vô cùng lại đến trong thời gian và chịu sự giới hạn của không gian.
Quả là một niềm vui không niềm vui nào sánh ví, một niềm vui nức lòng, niềm vui vỡ bờ, một niềm vui mà ngôn ngữ không thể diễn tả, chỉ có thể cảm nghiệm bằng nội tâm của những ai sống nhờ đức tin và lòng yêu mến.
Niềm vui có Thiên Chúa ở cùng còn là một niềm vui hết sức cá vị của những ai sẵn sàng mở lòng đón nhận Đấng Emmanuel. Vì Thiên Chúa ở cùng chúng ta, không chỉ là ở cùng trên bình diện nhân loại, như người sống với người, hay như hai người ở bên cạnh nhau. Nhưng đó còn là cuộc gặp gỡ, đối thoại hết sức riêng tư diễn ra trong cuộc đời mỗi người. Người sống trong ta, và ta trong Người đến nỗi trở nên như những gì thánh Phaolô đã vui mừng reo lên: “Tôi sống nhưng không phải tôi mà là chính Chúa Kitô sống trong tôi”. Để được lồng trong nhau giữa ta với Chúa và Chúa với ta đến mức nên một một cách cá vị như thế, chỉ có thể thực hiện được nơi những tâm hồn thành tâm thiện chí, những tâm hồn mà bình an Giáng Sinh sẽ ngự trị đúng như lời thiên thần: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm”. Nói cách khác, đó chính là những tâm hồn chấp nhận mở rộng đón chờ Đấng Emmanuel.
Trong đêm Giáng Sinh và cả nhiều ngày trước lễ Giáng Sinh nữa, ta có thể bắt gặp và có thể bắt gặp nhiều lần những tâm hồn chứa đựng Đấng Emmanuel ngay giữa lòng cuộc sống bộn bề này. Họ là ai? Đó là những người biết lắng mình, chìm đắm trong suy tư và cầu nguyện. Họ cũng là những người khát khao ơn tha thứ của Thiên Chúa nên đã không ngần ngại tham dự nhiều buổi tĩnh tâm mùa vọng và lãnh nhận ơn giải tội từ nhiều ngày trước lễ Giáng Sinh.Niềm vui có Chúa ở cùng đã làm cho họ trở thành những “Ông Già Nôel” chia sớt từng miếng cơm, chém mắm, manh áo, hay dù chỉ là một gói mì tôm… cho bao nhiêu người thiếu thốn, rét mướt. Họ đã sưởi ấm những tâm hồn lạnh lẽo của bao nhiêu người già yếu, neo đơn, bị bỏ rơi… Họ đã thắp lên niềm hy vọng cho bao nhiêu người tuyệt vọng.
Nhờ có Chúa ở cùng, họ đã dang rộng vòng tay chia sớt nỗi vui mừng cho rất nhiều trẻ mồ côi cơ nhỡ. Họ đã không ngại ngùng khi đưa tay đỡ đầng những bện nhân hiểm nghèo, có khi đó là những con bệnh truyền nhiễm, kể cả những anh chị em tâm thần… HỌ, những người mang lấy Đấng Emmanuel trong lòng dạ mình đã góp phần đẩy lùi bóng tối của tuyệt vọng, của cô đơn, của bao nhiêu niềm đau trong cuộc đời… Bởi thế, ta mới nghiệm ra rằng, hình như chỉ có những ai có Đấng Emmanuel ở cùng và biết để cho Người chiếm hữu mình, họ mới có thể đồng hóa việc mừng Con Chúa giáng trần với việc thắp sáng niềm ấm áp trong tâm hồn của anh chị em quanh mình cách vô vị lợi.
Bạn và tôi hãy là những người như thế: biết để Chúa ở cùng và sống chính tình yêu của Đấng Emmanuel trong chính cuộc đời của mình và thể hiện ra nơi anh chị em quanh mình bằng một lòng yêu thương, bao dung và đón nhận. Để cho Chúa ở cùng là một niềm vui lớn. Mừng lễ Giáng Sinh mà đánh mất niềm vui này là đánh mất tất cả mọi ý nghĩa mà lễ này mang lại cho ta. Đó là một niềm vui quý giá trên mọi niềm vui. Đó là một niềm vui thánh thiện không dễ gì có thể đổi chác. Đón nhận niềm vui có Chúa ở cùng trong mầu nhiệm Giáng Sinh, ta sống đúng ý nghĩa của lễ Giáng Sinh, đừng chỉ chưng diện và làm đẹp bên ngoài nhưng tâm hồn thì vẫn cứ còn dơ bẩn.
Lm. VŨ XUÂN HẠNH

 

GS-136: Hôm nay, Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em

VietCatholic News (19/12/2004 )
Bài giảng thánh lễ Đêm Giáng Sinh năm 2004 tại nhà thờ Chánh Toà Long Xuyên.
 

Chúng ta đang mừng lễ Chúa Giáng Sinh I. Theo tôi, chúng ta mừng lễ Chúa Giáng sinh: GS-136

Chúng ta đang mừng lễ Chúa Giáng Sinh.
I. Theo tôi, chúng ta mừng lễ Chúa Giáng sinh, không có nghĩa là chúng ta nhớ lại hoặc kỷ niệm một Noel đã xảy ra hơn 2000 năm trước đây. Mà là chúng ta đón nhận Chúa Giáng sinh đang đến với chúng ta hôm nay. Người thực sự đang đến với bản thân mỗi người chúng ta, đang đến với gia đình chúng ta, đang đến với Quê Hương chúng ta, đang đến với thế giới chúng ta, đang đến với Hội Thánh chúng ta. Người đang đến hôm nay. Người đang đến lúc này.
Tình hình hôm nay nói chung có nhiều điều tốt, nhưng cũng có nhiều điều đáng ngại. Đáng ngại nhất là về mặt bình an và về mặt đạo đức.
Chính trong một tình hình như thế mà Chúa đến với chúng ta.
Người đến vì mục đích gì? Thưa mục đích đó đã được khẳng định trong kinh Tin Kính: "Vì loài người chúng tôi và để cứu rỗi chúng tôi, Người đã trừ trời xuống thế". Nghĩa là Chúa Giáng sinh xuống trần là vì mục đích cứu độ chúng ta. Đó là mục đích chúng ta rất mong chờ.
Mục đích của Chúa Giáng sinh là như thế. Còn hành trình ta đón nhận Người sẽ phải thế nào?

II. Theo tôi, hành trình của chúng ta cũng phải tương tự như hành trình các mục đồng ở Belem xưa. Các mục đồng ở Belem xưa có một hành trình đơn sơ gồm 4 điểm:
1/ Họ lắng nghe thiên thần từ trời báo: "Hôm nay, Đấng Cứu thế đã sinh ra cho anh em" (Lc 2,11).
2/ Nghe vậy, các mục đồng liền vui mừng ra đi. Kinh Thánh nói: "Họ hối hả ra đi" (Lc 2,16).
3/ Đến hang đá, họ ngạc nhiên thấy một Hài nhi nằm trong máng cỏ, trong cảnh nghèo nàn. Tuy vậy, họ tin Hài nhi đó là Đấng Cứu thế. Kinh Thánh kể: "Họ vừa ra về, vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa" (Lc 2,20).
4/ Họ cảm được sự bình an sâu lắng, mà các thiên thần hát khen trước đó: "Bình an dưới thế cho người thiện tâm" (Lc 2,14).
Trên đây là hành trình sơ lược của các mục đồng Belem xưa. Hành trình này cũng đang diễn lại tương tự nơi những ai muốn đón nhận Chúa Giáng sinh hôm nay.
Trong đời tôi, tôi đã gặp vô số trường hợp như vậy.
Trước hết, Chúa báo tin mừng cho họ qua một vài sự việc rất nhỏ. Như một gặp gỡ tốt, một trang sách đạo, một bài giảng gây chú ý, một tấm ảnh Chúa, một vài soi sáng nội tâm vv...
Được gợi ý, họ khát khao đi tìm Chúa. Có nhiều cách tìm, như: Cầu nguyện tự phát, làm quen với người sống đức tin, đi vào nhà thờ, gặp gỡ những người có vài nét như Đức Mẹ và thánh Giuse. Rồi, dần dần, họ được ơn đức tin.
Sau cùng, tâm hồn họ được bình an như một dấu chỉ họ đã có Chúa Cứu thế đến trong lòng họ.
Tất cả mọi chi tiết như thế đều diễn ra một cách âm thầm, không ồn ào, không tốn kém.
III. Tiện đây, tôi xin phép chia sẻ kinh nghiệm của riêng tôi: Chính tôi đã thường được đón Chúa Cứu thế vào lòng tôi và đời tôi, cũng qua những chi tiết tương tự. Điều quan trọng là phải có thiện tâm, thiện chí.
Ơn cứu độ là một ơn rất trọng, Chúa sẵn sàng ban cho mọi người. Nhưng Chúa không áp đặt, không ép buộc ai phải nhận. Ai muốn nhận, thì phải biết lắng nghe tiếng Chúa kêu mời, phải chịu khó lên đường, phải khiêm tốn nhận ra Chúa Cứu thế, cho dù Người đến dưới hình thức nghèo hèn, ẩn dật. Sau cùng phải biết gìn giữ sự bình an Người ban cho.
Anh chị em thân mến,
Lễ Noel trước năm 1955, tôi đã sống trong một tình hình đạo đời gây nhiều lo âu. Tôi đã cầu nguyện rất nhiều, để Chúa Giáng sinh ban ơn cứu độ.
Lễ Noel trước năm 1975, tôi cũng đã sống trong một tình hình đạo đời gây nhiều bất ổn. Tôi cũng đã cầu nguyện rất nhiều, để Chúa Giáng sinh ban ơn cứu độ.
Hôm nay, lễ Noel trước năm 2005, tôi có một cảm tưởng tốt hơn, nhưng cũng không vắng những lo âu về nhiều mặt. Nhất là lo âu cho sự bình an và đời sống đạo đức xã hội, gia đình, Hội Thánh và các cộng đoàn.
Nhưng trong tình hình lo âu, tôi vẫn nghe tiếng thiên thần báo tin "Hôm nay, Đấng Cứu độ đã sinh ra cho anh em" (Lc 2,11).
Tôi mong anh chị em cũng lắng nghe được lời báo đó, biết tìm đến Chúa Cứu thế, biết tin vào Chúa, và biết đón nhận ơn bình an Chúa chia sẻ cho những người thiện tâm, thiện chí.
Với vài tâm tình đơn sơ trên đây, cùng với Đức Cha Già Micae và Đức Cha Giuse, Đức Giám Mục giáo phận, tôi xin thân ái chúc anh chị em một lễ Giáng sinh và một mùa Giáng sinh tốt đẹp nhất.
+ GM JB Bùi Tuần

 

GS-137: Thiên Chúa Xuống Thế Làm Người

VietCatholic News (23/12/2004 )
Thiên Chúa Xuống Thế Làm Người
 

Theo như lời hứa từ muôn thuở trước, nay đến giờ Thiên Chúa thực hiện thánh ý của Ngài: GS-137

 “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta.”
Theo như lời hứa từ muôn thuở trước, nay đến giờ Thiên Chúa thực hiện thánh ý của Ngài: ban cho nhân loại một Đấng Cứu Độ. Đấng ấy chính là Con Một rất yêu dấu của Thiên Chúa, nghĩa là Ngài đã vì quá yêu thương loài người, nên đã chấp nhận chia sẻ cho con người một Ngôi Vị mà Ngài hằng hết mực yêu quí.
Thiên Chúa đã không cho loài người những điều họ mong ước, bởi vì những thứ đó không thực sự có lợi cho hạnh phúc đời đời của họ; nhưng không phải vì thế mà Thiên Chúa đã vô tình hay bỏ mặc loài người trong hoạn nạn của họ. Ngài đã chuẩn bị xếp đặt một chương trình vĩ đại để cứu chữa họ một lần cho mãi mãi. Thiên Chúa từ trên trời cao uy nghi vinh hiển tột bực đã vui lòng hạ mình xuống làm kiếp người phàm, để có thể làm bạn thân gần gũi với loài người. Không những chỉ tự hạ thấp bằng con người, nhưng mà Ngài còn chấp nhận hạ thấp đến rốt cùng ở giữa con người. Ngay từ giây phút đầu đời, Ngài đã cảm nghiệm thấm thía thế nào là sự bơ vơ qua những hất hủi, coi khinh dành một kẻ nghèo không nhà cửa. Ngài đã phải chịu sinh ra đời ở nơi chỉ dành cho súc vật; phải chịu cảnh giá rét của trời đất và của lòng người. Rồi chẳng bao lâu sau đó, bị kẻ quyền thế săn lùng như một con mồi, phải trốn tránh trên hành trình dài đầy gian nan nguy hiểm ngay khi còn non ngày đoạn tháng. Nghĩa là bao nhiêu ganh ghét và bất công người ta có thể gây cho nhau ở đời này thì chính Ngài đã hứng chịu ngay từ những giờ phút đầu tiên của cuộc đời với tấm thân hài nhi yếu đuối. Ngài là Thiên Chúa đã đến để bày tỏ tình yêu thương vĩ đại cho dân Ngài, nhưng họ đã chẳng màng chẳng thiết. Họ xử tệ với Ngài như một hạng người không có quyền sống trên đời này.
Trong xác phàm, Thiên Chúa nhập thể đã thực sự cảm nhận mọi nỗi đau thương cay đắng của loài người đã bị hư hoại vì tội lỗi. Để từ cảm nghiệm sống động này, Thiên Chúa sẽ ban cho loài người một phương linh dược chữa trị tận căn cái mầm mống độc hại cứ tiếp tục hủy hoại loài người. Thiên Chúa ban cho con người đang phải lao đao trong thất vọng một nguồn hy vọng được cứu thoát và chữa lành, phục hồi trạng thái tinh tuyền nguyên thủy một thời đã bị mất. Phương linh dược ấy chính là Tình Yêu cao cả nơi nguồn sống sung mãn của Ngài.
Lm. Phêrô Trần Văn Trợ SJ

 

GS-138: Mùa Giáng Sinh, mùa lửa trời

Khi Đức Giêsu sinh ra tại Bếtlêhem, theo như thánh sử Mátthêu, những nhà Tu Sĩ Trung Đông: GS-138

Khi Đức Giêsu sinh ra tại Bếtlêhem, theo như thánh sử Mátthêu, những nhà Tu Sĩ Trung Đông ghé vào thành phố Giêrusalem hỏi thăm dân chúng trong kinh thành về tông tích của Đông Cung Thái Tử Giêsu. Theo như những nhà Tu Sĩ Trung Đông, từ phương Đông, họ đã nhìn thấy ánh sáng sao của Hài Nhi mới sinh ra. Và họ tìm đến thủ đô chính trị của Palestine để triều bái Ngài. Nhưng rất tiếc, Đông Cung Thái Tử không sinh ra tại thủ đô Giêrusalem, mà tại thôn làng Bếtlêhem (Matt 2:1-12). Dựa theo bài Tin Mừng của ngày Lễ Hiển Linh, chúng ta mới biết khi Ngôi Lời nhập thể, đã xuất hiện trên bầu trời một ngôi sao lạ. Ánh sáng ngôi sao lạ chiếu sáng rực rỡ trên bầu trời mời gọi những nhà Tu Sĩ Trung Đông từ phương Đông lên đường hành hương tìm kiếm tông tích của Hài Nhi Thánh. Khi Ngôi Lời nhập thể, Thiên Đàng rọi sáng ngọn lửa mới chiếu rọi nhân gian đang ngồi trong bóng tối. Mùa Giáng Sinh do đó trở thành Mùa Lửa Trời.
Hồi xưa, khi thế gian chưa có lửa, người ta sống trong đêm đen bóng tối. Nhưng có lẽ vào một giây phút bất ngờ, nhân loại nhìn thấy sấm sét từ trời cao đánh thẳng vào cây khô. Cây khô bừng cháy phát ra những tia lửa bập bùng soi sáng một khoảng thời gian dài sống trong đêm đen của nhân loại. Gió trời nổi lên đốt thêm sáng ngọn lửa của trời. Lửa sắc lem lẻm lần tìm kiếm đường, đốt cháy rơm khô. Lửa rơm cháy bùng. Và thế là bắt đầu từ đó người ta học cách phùng mang trợn má thổi rơm đốt lửa. Lửa của sấm sét, của trời cao thôi không còn lơ lửng cháy trên không trung, nhưng cháy bập bùng trên mặt đất, soi sáng những khuôn mặt tiền sử bán khai. Đêm đêm buông mình ru ngủ nhân loại, cả bộ tộc ngồi quanh đám lửa cháy. Lửa cháy tí tách ấm áp xua tan băng giá của trời mùa thu và đông. Lửa xua tan hoang dại, chặn bước dã thú hùm beo. Bởi lửa, rắn bò xa, hổ chờn vờn không dám nhảy tới. Bởi lửa, sói hoang lìa bầy nằm ngủ ngoan hiền với con người, biến thành chó con vẫy đuôi mừng gọi. Bởi lửa, gấu không còn đe dọa nhân gian khi màn đêm buông phủ kéo màn. Bởi lửa, thịt tươi không còn đỏ máu, nhưng cháy vàng thơm ngon dưỡng nuôi, khiến bộ óc của con người ngày càng tăng trưởng và phát triển. Óc tăng, chất xám phát triển, nét hoang sơ biến mất, hình ảnh của Thiên Chúa nơi con người hiện rõ, ngày thêm tô đậm. Lửa tách biệt con người và thú vật. Bởi có lửa, bởi biết giữ lửa cháy âm ỉ tro than, con người thôi không ăn lông ở lỗ. Họ bắt đầu biết chế tạo vũ khí cung tên lẫy nỏ. Thời kỳ đồ đá trôi vào quá khứ nhường ngôi lại cho thời kỳ đồ sắt đồ đồng.
Hồi xưa, có anh chàng thư sinh nhà nghèo, nghèo đến nỗi trong nhà không có một ngọn đèn dầu. Thế là anh chàng bắt đom đóm gom lại làm đèn trời soi sáng những trang sách thánh hiền. Nhờ những ngọn đèn của trời, nhờ những tia lửa đom đóm sáng soi một khoảng không gian của những trang giấy, chàng thanh niên đi thi, đậu Trạng Nguyên, trở về làng vinh quy bái tổ, võng anh đi trước, võng nàng theo sau.
Hồi xưa, Ngôi Trời nhập thể vào trong cung lòng cô thiếu nữ Maria. 9 tháng 10 ngày trôi qua, Ngôi Lời sinh ra biến thành Lửa Trời chiếu sáng rực rỡ trên bầu trời tối đen, có nhân loại đang lần mò bước đi những bước lạc loài, phiền muộn, và bơ vơ. Và bắt đầu từ khi Lửa Trời he hé cặp mắt nhìn ra, đêm đen không còn tăm tối nữa. Hào quang Lửa Trời chiếu sáng rực rỡ nơi nơi. Lửa Trời xua tan băng giá đêm đông của những tâm hồn nát tan và vỡ vụn vì nghi ngờ và thù hận. Lửa Trời xua tan hoang dại của tội lỗi. Lửa Trời chặn đứng bước chân của hoang thú trong tâm hồn nhân loại. Lửa Trời dẫn dắt chó sói hoang dại biến thành chiên cừu hiền lành. Lửa Trời nướng thơm nồng 5 ổ bánh mì, chiên cháy vàng 2 con cá cho nhân gian. Có lương thực thiên đàng no lòng, chất xám tâm hồn phát triển. Con cháu Adam dần dần lột bỏ làn da Eva, biến thành những con người mới trong Đức Kitô. Bởi có Lửa Trời, thời kỳ đồ đá tội lỗi trôi vào quá khứ, nhường lại ngai vàng cho thời kỳ mùa xuân thiên đàng.
Bởi có Lửa Trời Đom Đóm đốt đèn soi sáng những trang sách của Ngôi Lời, người Kitô hữu miệt mài kinh sách hăm hở lên đường, cố tranh giải Trạng Nguyên trên kinh đô Nước Trời.
Bạn thân,
Hài Nhi sinh ra trong Đêm Cực Thánh chính là Ánh Sáng, là Lửa Trời mà các ngôn sứ đã tiên đoán trong Isa 60:1, “Giêrusalem! Hãy đứng lên! Hãy bừng sáng, bởi ánh sáng của nhà ngươi đã xuất hiện. Vinh quang của Thiên Chúa như bình minh chiếu tỏa rạng ngời trên ngươi”.
Khi Hài Nhi thánh hạ sinh, Lửa Trời đốt sáng cả một cõi trần gian và cả một cõi vũ trụ bao la. Khi Lửa Trời Giêsu nhập thể, tâm hồn của bạn và tôi không còn dầy đặc đêm đen bóng tối nữa.
Lạy Chúa, trong Mùa Giáng Sinh, xin hãy tiếp tục làm Lửa Trời soi đường dẫn lối con đi trên con đường hành hương về lại với chính mình, với tha nhân, và với Chúa.
LM Nguyễn Trung Tây

 

GS-139: Niềm vui vĩ đại trong hang lừa nhân loại

VietCatholic News (24/12/2004 )
(1) Thời ấy, hoàng đế Augúttô ra chiếu chỉ, truyền kiểm tra dân số trong khắp cả thiên hạ. (2) Đây là cuộc kiểm tra đầu tiên, được thực hiện thời ông Quiriniô làm tổng trấn xứ Xyria. (3) Ai nấy đều phải về nguyên quán mà khai tên tuổi. (4) Bởi thế, ông Giuse từ thành Nadarét, miền Galilê, lên thành Bêlem, miền Giuđê, là thành vua Đavít, vì ông thuộc về nhà và gia tộc vua Đavít. (5) Ông lên đó khai tên cùng với người đã đính hôn với ông là bà Maria, lúc ấy đang có thai. (6) Khi hai người đang ở đó, thì bà Maria đã tới ngày mãn nguyệt khai hoa. (7) Bà sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ, vì hai ông bà không tìm được chỗ trong nhà trọ. (Lc 2, 1-7)
Bạn thân mến,
 

Hôm nay một ngày như mọi ngày, nhưng lại khác mọi ngày, vì chúng ta dừng bước để đón nhận: GS-139

Hôm nay một ngày như mọi ngày, nhưng lại khác mọi ngày, vì chúng ta dừng bước để đón nhận một niềm vui vĩ đại, đặc biệt niềm vui này đến từ một hang lừa nhỏ bé và đơn sơ, ở một vùng hẻo lánh xa xôi. Niềm vui đó là gì vậy? Chúng ta cùng chiêm ngắm nhé!
Trong đoạn Phúc Âm của Luca ở trên, chúng ta thấy chỉ có câu 6 và câu 7 nói về hình ảnh Chúa sinh ra. Còn từ câu 1 đến câu 5 là những lời dẫn nhập. Lúc đầu thì chúng ta chẳng thấy lời dẫn nhập này có gì cần chú ý, nhưng suy đi và nghĩ lại chúng ta sẽ thấy rằng:
- Câu chuyện Giáng Sinh của Chúa được lồng vào trong một sự kiện của thế giới, của đế quốc Rôma thời đó, thời của hoàng đế Augúttô. Như vậy, sự việc diễn ra trong hang lừa đơn sơ kia đã được gắn liền với sự kiện kiểm tra dân số trong khắp cả thiên hạ. Điều này làm cho chúng ta nhớ lại lời Thánh Phao-lô nói trong sách Công Vụ tông đồ 26, 26: „Sự kiện này đã không xảy ra trong một xó nào đó“. Vì thế, việc Chúa Sinh ra mang một ý nghĩa và đem lại niềm vui cho toàn cầu, cho tất cả mọi người ở khắp mọi chốn và mọi thời. Vâng, niềm vui vĩ đại trong hang lừa nhỏ bé kia đã trở thành niềm vui vĩ đại của ngôi nhà nhân loại to lớn. Niềm vui đó không chỉ „nhảy mừng“ ở Bethlehem, mà còn ở cả Niederviehbach, ở cả Manila, ở cả Washington. Niềm vui vĩ đại đó đã bay ra từ hang lừa nhỏ bé kia, để đến San Jose, để tới cả Kairo, Sydney và Sàigon. Đâu đâu con người, dù là người tin hay không, đều được phép và cần được đón nhận niềm vui này.
Hôm nay, ngày chúng ta mừng niềm vui Thiên Chúa Giáng Sinh, xin Bạn hãy nhớ rằng, người người nhà nhà và nước nước đang gặp gỡ bạn ở hang lừa đơn sơ kia. Bạn hãy cùng mọi người hát to bài ca của niềm vui nhé!
- Thêm vào đó chúng ta cũng nhận ra rằng, Thiên Chúa Giáng Sinh kia được sinh ra, không chỉ là Đấng Cứu Độ (Kyrios), của dân tộc Do-thái đã chờ mong từ bao ngày, mà Đấng Cứu Độ này sinh ra cho tất cả mọi người. Bên Ngài thì tất cả những ai, dù giàu hay nghèo, dù già hay trẻ, dù tin hay chưa tin, dù là da vàng hay da đỏ, da đen hay da trắng, đều được Ngài cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Với từng người một, Ngài nói rằng: „ Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng". Và kìa, kế bên em bé Giêsu, chúng ta thấy Giuse và Maria, như đang mở vòng tay đón mời tất cả mọi người đến để chiêm ngắm niềm vui vĩ đại kia. Nên xin đừng nại vào bất cứ lý do nào, để cản trở bước đường của niềm vui, đừng bắt người ta phải trả tiền mới được vào dự lễ Giáng Sinh như bên Trung Quốc. Đừng nói rằng, vì phải đối thoại với những tôn giáo khác, mà một số chính trị gia bên Ý đã quyết định không làm những hang đá cho mọi người chiêm ngắm.
Không, niềm vui vĩ đại trong hang lừa nhỏ bé ở Bethlehem, là niềm vui của cả căn nhà to lớn nhân loại. Không ai có quyền cản bước niềm vui này và không ai có quyền làm chủ niềm vui này cho riêng mình.
- Cuối cùng, đứng chiêm ngắm hang lừa đớn sơ kia. Thánh I-Nhã mời gọi chúng ta hãy mường tượng xem, tôi có thể làm gì giúp cho Maria và Giuse trong giây phút đặc biệt này? Bạn có muốn là một người xách nước cho Giuse và Maria để lau chùi hang lừa một chút không? Bạn có muốn cầm tấm khăn giúp Maria, để đón nhận Em Bé Giêsu vào đời, và quấn Giêsu vào trong tã không? Hay Bạn xin đi tìm một chút rươm rạ xung quanh để kết thành một cái nôi cho Em Bé. Hoặc Bạn muốn đi xin một chút ánh lửa để soi rọi và sưởi ấm phần nào hang lừa nhỏ bé kia?
Vâng, Bạn hãy làm những gì Bạn có thể, để chia sẻ niềm vui vĩ đại này nhé!
LM Nguyễn Ngọc Thể, SJ

 

GS-140: Đêm Noel 2004

VietCatholic News (24/12/2004 )
(Bài giảng của GM Bùi Văn đọc Đêm Giáng sinh tại nhà thờ chính tòa Mỹ Tho)
Anh chị em rất thân mến,
 

Đêm nay là đêm vui nhất trong Giáo Hội Công giáo chúng ta, cũng là đêm linh thiêng nhất, vì: GS-140

Đêm nay là đêm vui nhất trong Giáo Hội Công giáo chúng ta, cũng là đêm linh thiêng nhất, vì đêm nay Giáo hội loan báo tin vui cho toàn thể nhân loại, cho mọi người và từng người: Một Trẻ Thơ chào đời để cứu độ nhân loại chúng ta, một Người Con đã được ban tặng cho ta. Đó là Người Con của Thiên Chúa Cha, Đấng ngự trên trời, là con trẻ Mẹ Maria sinh hạ nằm trong máng cỏ.
Thiên Chúa đã ban tặng cho nhân loại món quà lớn nhất và cao quý nhất, là Người Con Yêu Quý và Độc Nhất của Ngài, Niềm Vui và Vinh Quang của Ngài, Người Con đã cùng với Ngài tạo dựng trời đất, và sẽ cùng với Ngài phán xét thế gian. Người Con ấy là Anh Sáng chiếu soi muôn dân đang bước đi trong bóng tối, là Sự Sống cho nhân loại phải chết, là Hạnh Phúc cho mọi người khổ đau.
Theo thư thánh Phaolô, Người Con ấy là một An sủng. Là An sủng lớn nhất từ trước tới nay, là Đấng đem ơn cứu độ đến cho mọi người, Đấng Cứu nhân độ thế. Đối với niềm tin của người công giáo, Người Con ấy là Đức Giêsu Kitô, Đấng duy nhất có khả năng cứu sống chúng ta là những người sinh ra để chết. Chỉ một mình Người ban cho ta sự bất tử mà ta hằng mong ước, vì Người là Thiên Chúa Vĩ Đại. Chỉ một mình Người chia sẻ cho ta sự sống thần linh, vì Người là Đấng Thần Linh đích thực.
Chỉ một mình Người có khả năng giải thoát chúng ta khỏi mọi tội lỗi và sự dữ, bởi Quyền Năng Thánh Thiện của Người. Người là Đấng Kitô, được Chúa Cha xức dầu Thánh Thần, sai xuống trần gian cứu thoát nhân loại. Người là Thầy Dạy Chân Lý, là Minh Sư hướng dẫn chúng ta sống thiện hão, sống chừng mực, công chính và đạo đức, dạy chúng ta và ban cho chúng ta sức mạnh từ bỏ lối sống vô luân với những đam mê trần tục. Người là Thần Y chữa lành các vết thương do tội lỗi và sự dữ gây ra.
Lời của thiên thần trong tin mừng Luca hôm nay loan báo Trẻ Thơ sinh tại hang đá Bêlem là Sứ giả hoà bình, là Hoàng tử của bình an, mang Tình thương của Chúa Cha xuống trần gian, để quy tụ con cái của Chúa Cha tản mác khắp nơi về một mối, làm con cái trong gia đình nhân loại duy nhất mà Người là Con Trưởng. Trẻ Thơ ấy sinh ra để cho nhân loại được sống dồi dào hạnh phúc, làm vinh danh Thiên Chúa Cha trên trời.
Đó là một Tin Vui trọng đại cho mọi người, không phân biệt dân tộc hay giai cấp, giàu có hay nghèo khổ, không phân biệt lập trường hay chính kiến, văn hoá hay tôn giáo. Những con người phận nhỏ như những người chăn chiên ngoài đồng là những người đầu tiên được nghe Tin Mừng về Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế. Sau đó là các nhà chiêm tinh đến từ phương đông, là những người thao thức tìm hiểu vận mệnh của trời đất và con người, những người đại diện cho các nền văn hoá. Tất cả đều đến thờ lạy hài nhi Giêsu.
Anh chị em thân mến, chúng ta cũng hãy đến thờ lạy Chúa Hài Nhi, hân hoan đón mừng Đấng Cứu Thế. Hài Nhi Giêsu ấy đã sinh ra và lớn lên giữa loài người chúng ta, và đã tự hiến để cứu chuộc chúng ta cho thoát khỏi mọi điều bất chính, để thanh luyện chúng ta, khiến chúng ta thành Dân riêng của Người, một dân hăng say làm việc thiện. Mọi người kitô hữu chúng ta đều thuộc về Dân riêng của Chúa, được mời gọi một cách đặc biệt hơn trong đêm nay, hãy hăng say làm việc thiện càng nhiều càng tốt, để làm chứng cho Tình Yêu tự hiến của Chúa.
Chúa Giêsu vì yêu thương nhân loại, đã tự hiến bản thân mình trên thập giá và trong mầu nhiệm Thánh Thể mà chúng ta cử hành, để trở thành lương thực, trở nên bánh hằng sống, bánh bởi trời mà Chúa Cha ban tặng cho loài người. Chúa Giêsu đã tự hiến để chúng ta được thông phần Mình và Máu Chúa, thông phần Sự Sống của Chúa, hiệp thông với Chúa hầu nên một với Chúa Cha trên trời trong Tình Yêu Thần Linh là Thánh Thần Thiên Chúa.
+ GM Bùi văn Đọc

 

GS-141: LỄ GIÁNG SINH

Thánh lễ rạng đông
Lu-ca 2, 15-20
Khi các thiên sứ từ biệt mấy người chăn chiên để về trời, những người này bảo nhau : "Nào chúng ta sang Bê-lem, để xem sự việc đã xảy ra, như Chúa đã tỏ cho ta biết." Họ liền hối hả ra đi. Đến nơi, họ gặp bà Ma-ri-a, ông Giu-se, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ. Thấy thế, họ liền kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này. Nghe các người chăn chiên thuật chuyện, ai cũng ngạc nhiên. Còn bà Ma-ri-a thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng. Rồi các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe, đúng như đã được nói với họ.
 

Điều lạ lùng là đối tượng được Thiên Chúa loan báo Tin mừng vĩ đại nhất lại là các người chăn: GS-141

Điều lạ lùng là đối tượng được Thiên Chúa loan báo Tin mừng vĩ đại nhất lại là các người chăn chiên. Vào thời ấy, giới mục đồng bị những người đạo đức coi khinh. Họ không có đủ khả năng để giữ trọn các chi tiết của bộ luật nghi lễ, họ không thể giữ đúng các nghi thức rửa tay tỉ mỉ và các luật lệ khác. Họ quá bận bịu săn sóc bày chiên, vì thế giới đạo đức chính thống coi họ rất thấp kém. Sứ điệp của Thiên Chúa trước tiên đã đến với họ là những người đơn sơ nơi đồng ruộng.
Nhưng nhóm mục đồng này có lẽ là những mục đồng đặc biệt. Trong Đền Thờ sáng và chiều đều có một con chiên không tỳ vết được dùng làm của lễ dâng lên Thiên Chúa. Để lúc nào cũng sẵn có của lễ vẹn toàn và không tỳ vết ấy, các viên chức cai quản Đền Thờ nuôi riêng những bầy chiên của họ và các bầy chiên này được chăn ở gần Bê-lem. Cho nên chúng ta có thể tin là nhóm mục đồng đó đang coi giữ những bầy chiên dành làm của lễ trong Đền Thờ.
Thật ý nghĩa biết bao khi nhóm mục tử coi sóc bầy chiên của Đền Thờ lại là những người được ngắm xem Con Chiên của Thiên Chúa là Đấng gánh lấy tội trần gian.
Kể từ khi nguyên tổ lỗi phạm điều Chúa cấm, và di truyền tội ác cho con cháu, loài người đều bị nhiễm nọc độc tội lỗi, vô phương cứu chữa, qua trung gian của I-sai-a, Thiên Chúa đưa ra lời kêu gọi : "Nào muôn dân khắp cõi địa cầu, hãy hướng về Ta, thì các ngươi sẽ được cứu độ, vì Ta là Thiên Chúa, chẳng còn Chúa nào khác nữa." (45,22) và 1500 năm sau, Gio-an đã xác minh lời hứa đó : "Vì Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, hầu cho ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời." (Ga 3,16).
Nhân loại tội lỗi của chúng ta hôm nay chỉ có một phương pháp độc nhất để thoát khỏi xiềng xích tội lỗi là đến tìm gặp Chúa Giê-su.
Các mục đồng đang sống trong cảnh tối tăm, bị người đời khinh rẻ, nay được vui mừng hớn hở "vừa đi vừa ca tụng Thiên Chúa, về mọi điều đã được mắt thấy tai nghe" sau khi đã gặp được Hài Nhi trong máng cỏ, qua lời giới thiệu của các thiên sứ. Na-tha-na-en được thoát khỏi các thành kiến cổ hủ để sống một đời sống mới tươi đẹp nhờ lời giới thiệu của người bạn Phi-líp-phê : "Hãy đến mà xem."
Qua bốn sách Tin Mừng và suốt dòng lịch sử 20 thế kỷ qua biết bao cuộc đời đã được đổi thay nhờ đến với Chúa Giê-su.
Vậy những ai mà việc Chúa giáng trần đã tác động mạnh mẽ, những người lĩnh hội được ân huệ của Chúa ra đời không phải là những người cao sang quyền quý, tài rộng học cao hay được xã hội trọng vọng … nhưng chỉ là những người đã đến gặp gỡ Chúa Giê-su, và những người có năng lực nói được với mọi người rằng : Hãy đến xem.
Nhưng đến đâu ? Có phải đến những cung điện nguy nga nổi tiếng nhất do tay phàm nhân xây dựng ? Đến một ngọn núi được dư luận coi là nơi chúc phúc ? Đến đền thờ Giê-ru-sa-lem nơi Xứ Thánh ? Cũng vì những thành kiến đó, những đầu óc chuộng hình thức đó mà các nhà đạo sĩ đã lạc đường và mất ngôi sao hướng dẫn trong một thời gian khá dài. Chúa Giê-su đã phán dạy : "Nhưng giờ đã đến – và chính là lúc này đây – giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong Thần Khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế. Thiên Chúa là Thần Khí và những kẻ thờ phượng Ngài phải thờ phượng trong Thần Khí và sự thật." (Ga 4, 23-24).
Vậy thì đến đâu ? Đến chỗ có Chúa Giê-su. Dầu chỗ ấy là máng cỏ chuồng chiên, là nhà tranh nghèo hèn, điều quan hệ là có Chúa Giê-su ở đó. Một gia đình ở khu ngoại ô Bêtania vẫn nồng ấm yêu thương vì có Chúa Giê-su ở đó hơn là đền thờ Giê-ru-sa-lem nguy nga rực rỡ mà trống rỗng, chỉ chứa đầy những giai tầng trục lợi đầy đủ áo mão oai nghi.
Đến xem gì ? Xem ánh đèn rực sáng long lanh, xem ngôi sao đuôi dài lấp lánh, xem cây thông dính đầy kim tuyến … Xem cung thánh tráng lệ chăng ? Xem nghi lễ huy hoàng chăng ? Xem đoàn người y phục sang trọng chăng ? Không đâu, các điều ấy không đem lại gì có thể cứu rỗi ta, không ban cho ta một đời sống thỏa lòng dài lâu được. Chỉ có Hài Nhi Giê-su và Ngài là Đấng Em-ma-nu-en, Thiên Chúa ở cùng chúng ta.
Bậc đại đức như cụ Si-mê-on xưa, không thỏa lòng vì tuổi cao vóc lớn, đạo cả đức dày, mà thỏa lòng vì mắt đã nhìn thấy Hài Nhi Giê-su. Khi được ẵm Hài Nhi Giê-su trong tay, lòng cụ sung sướng tuôn trào : "Muôn lạy Chúa, giờ đây, theo lời Ngài hứa, xin để tôi tớ này được an bình ra đi. Vì chính mắt con được thấy ơn cứu độ Chúa đã dành sẵn cho muôn dân : đó là ánh sáng soi đường cho dân ngoại, là vinh quang của Ít-ra-en dân Ngài." (Lc, 29-32).
Nhóm mục đồng đã rủ nhau đi xem điều thiên sứ đã loan báo, họ đã gặp được Chúa Hài Nhi và trở thành chứng nhân đầu tiên cho Tin Mừng Đấng Cứu Thế.
Lễ giáng sinh sẽ không đem lại gì cho bạn nếu bạn không gặp được Chúa Hài Nhi, Ngài luôn là Thiên Chúa-ở-cùng-chúng-ta nhưng nếu người không gặp được Ngài lại chính là bạn ?
Gặp được Chúa và rồi loan báo Chúa, đó là việc các người chăn chiên đã làm, họ trở thành chứng nhân đầu tiên của Chúa Giê-su, còn bạn thì sao ?

 

GS-142: CHÚA GIÊSU SINH RA VÀ VIỆC LOAN BÁO CHO MỤC ĐỒNG

LỄ ĐÊM GIÁNG SINH (Lc 2,1-14)
 
 

Những chữ đầu tiên của trình thuật nêu lên danh tánh vị chúa tể thế giới đó là Cesar-Auguste: GS-142

1. Những chữ đầu tiên của trình thuật nêu lên danh tánh vị chúa tể thế giới đó là Cesar-Auguste và nói đến sắc lệnh kiểm tra dân số, đăng ký hộ khẩu toàn thế giới, nghĩa là toàn đế quốc La mã. Sự kiện đăng ký hộ khẩu này đặt ra vài vấn đề lịch sử đến nay chưa giải quyết được. Nhưng việc Luca nhắc đến biến cố này ngay đoạn này của Phúc âm mang nhiều ý nghĩa. Trước hết là ý nghĩa lịch sử: Luca xác định việc giáng sinh của Chúa Giêsu trong toàn bộ lịch sử nhân loại: cũng như các sử gia thời ấy, Luca chú ý đến những mốc thời gian (3,1-2). Tuy nhiên việc đó còn có tầm mức khác nữa. Khi gọi Octave bằng biệt danh thần linh của ông là Auguste, Luca muốn ám chỉ người ngoại giáo tôn thờ hoàng đế như vị thần. Hơn nữa, Luca nhắc đến một hoàng đế trần gian ngay lúc ông sắp công bố tính cách vương đế của Đấng Thiên sai (ông còn nhắc như vậy ở 3,1.22; 9,7-9;18-21;13,31.35;22,25.29-30;x.4,3.6;23,2-3.37.42). Hoàng đế La mã tương phản với Đức Kitô (c.11). César-Auguste truyền lệnh, và Đấng Thiên Sai phải vâng phục. Vâng phục từ lúc mới sinh, Ngài sẽ ra chào đời trong cảnh khốn cùng nơi chuồng bò Belem; cũng vậy, sau này Ngài sẽ bị nộp như một bị cáo cho Philâtô, ông này sẽ kiêu hãnh tuyên bố có quyền trên Ngài (Ga 19,10). Nhưng uy quyền của César ngoại giáo trên Đấng Thiên sai chỉ có tính cách nhất thời. Vinh quang của việc đăng quang Phục sinh (Lc 24,36; Cv 2,36) sẽ làm lu mờ uy quyền này. Và ngay từ bây giờ, các thiên sứ sẽ loan báo như sau: em bé trong máng cỏ là kẻ duy nhất thực sự có những danh hiệu của César: Ngài là vị cứu độ độc nhất, là Chúa duy nhất (c.11), là Đấng duy nhất mang lại bình an cho con người (c.14).
Nếu cuộc kiểm tra dân số, đăng ký hộ khẩu này xảy ra tại Ý Đại lợi, thì chỉ cần người chủ hộ đến trình báo với uỷ ban nhân dân địa phương. Nhưng tại Palestine, chính quyền La mã phải thích nghi với phong tục địa phương, buộc mỗi người đích thân về kê khai và đăng ký tại chính quán của mình. Hình như không phải tất cả dòng dõi Đavit đều phải trở về Bêlem, cũng như Đức Maria không buộc phải theo Giuse.
Thái độ của Giuse thật đầy ý nghĩa (c.4). Trước lệnh của vị hoàng đế ngoại đạo, các đảng viên Zélotes phản kháng (Cv 5,37) các người biệt phái tuân phục. Giuse cũng tuân phục, dù là con cháu Đavit, dù thấy đứa trẻ sắp sinh ra là Đấng Messia Cứu Thế. Thái độ cũa Giuse giống như thái độ của quí tử sau này, “trả lại cho César những gì của César” (Lc 20,25). Ông tiến lên “thành Đavit gọi là Bêlem”. Định thức này chỉ được dùng một lần trong Kinh thánh, vì kinh thánh khi nói đến thành Đavit luôn ám chỉ đó là Giêrusalem (từ 2Sm,7 đến 1Mac 14,36). Qua việc gọi tên Bêlem cách ngoại lệ này, Lc có lẽ muốn cho thấy sắc chỉ Auguste hoàn tất lời tiên tri Mikêa 5,1 chào mừng Bêlem như là thánh đô nơi sinh hạ Đấng Messia. Tư tưởng này, được Mt 2,5-6 và Ga 7,42 nhắc lại, không thấy có trong các bản văn Do thái cổ xưa; các bản văn này hình như không mấy lưu tâm đến sinh quán của Đấng Messia. Do đó, tưởng trên phải xuất phát từ một cách đọc và hiểu Mik 5 của Kitô giáo.
Và đây Đức Maria được nhắc đến ở câu 5. Luca xác định cách tế nhị tình trạng của Đức Maria: bà là người vợ đồng trinh của Giuse, bà đã có thai và các độc giả Lc biết bà mang thai như thế nào. Ân huệ khôn lường của Thiên Chúa không giữ cho thiếu phụ Maria khỏi cảnh khốn khó, đàng đi vất vả, xa vắng gia đình.
Việc chào đời của hài nhi (c.6-7) được tả lại bằng các từ ngữ của St 25,24; cũng như việc chào đời của Gioan (1,57). Khi xác định Chúa Giêsu là con đầu lòng của Đức Maria, không chắc Lc muốn nói Đức Maria sau này còn sinh nhiều con khác ông đã nhấn mạnh nhiều đến tính cách đồng trinh của Đức Maria (1,27-34), ông sẽ còn dè dặt về truyền thống các anh em Chúa Giêsu (mà ông chỉ nhắc đến quí danh trong 8,19-20; Cv 1,14 mà thôi và ông tránh không nói đến trong 4,22; Cv 12,17; 15,13;21,18); ngoài ra người ta biết có nhiều bản văn Do thái nói đến việc một thiếu phụ chết khi hạ sinh đứa con: đầu lòng” của bà. Chắc Lc không muốn dùng kiểu nói trên để xác định địa vị pháp lý của Chúa Giêsu, không phải như là quyền trưởng tư khiến Ngài đáng nối ngôi thiên sai (kề từ thời salomon, không luôn luôn nhất thiết phải là con trưởng nam mới được làm vua, nối ngôi vua Đavit), nhưng như là tính cách được thánh hiến; đây là điểm mà tác giả phúc âm nhắc lại sau này (2,23) khi trích dẫn luật liên hệ đến đứa con đầu lòng (Xac 13,34,19).
Tính cách tôn giáo, thiên linh mà Lc nhấn mạnh trong việc sinh hạ Chúa Giêsu không làm giảm bớt tính cách khốn cùng nghịch thường của nó. Đấng mà thiên sứ sắp gọi là Cứu Thế và Kitô Chúa, là một người nghèo giữa muôn kẻ nghèo. Để dung thân, Ngài không có một mái nhà, nhưng là một chuồng bò, bị vấn trong tã và chỉ được một mình thân mẫu săn sóc; bà phải đặt Ngài trong máng cỏ (x. cc,35) để khỏi bị các thú vật dẫm nát. Sự nghèo khó mà Ngài thường hay giảng dạy, nhất al trong phúc âm Lc, tạo nên cách đặc biệt nổi bật của thời thơ ấu Ngài. Và thiên sứ sẽ cho biết: sự khó nghèo đó là một dấu chỉ (c.12).
Sự nghèo khó trong khi sinh hạ của Chúa Giêsu nổi bật lên khi đem đối chiếu với việc sinh hạ của Gioan tẩy giả: nhà khổ hạnh của sa mạc được sinh ra trong tòa nhà tiện nghi của một vị tư tế, có đông đảo bà con xóm giềng đến chung vui với thân mẫu và phụ giúp (1,58); và người ta nói đến con trẻ trong khắp miền xứ Giuđêa (1,65). Trái lại biến cố Giáng sinh của Chúa Giêsu khốn cùng hơn và không được ai biết đến.
2. Chính trong sự túng cực và tăm tối này đã bừng lên vinh quang của Thiên Chúa và của đấng Messia, một vinh quang khác xa mộng ước của con người. Phần thứ hai của trình thuật sẽ nói đến sự vinh quang được mạc khải cho các mục đồng để họ đi loan báo tin vui. Và chắc Lc muốn trình bày ở đây tiền ảnh của sứ điệp cứu độ mà các tông đồ sẽ rao giảng.
Các sứ giả của Tin mừng này là các mục đồng ở vùng ven Belem (c.8). Nhiều người nhìn thấy trong sự tham gia của họ một ám chỉ đến Đavit, ngày xưa đã là mục đồng ở Belem (1Sm 16,11;17,15; 1Sm 7,8). Nhưng không gì cho thấy Lc đã nghĩ đến biểu tượng đó. Cứ theo các nhãn giới thông thường của ông, thì hình như Lc muốn coi các mục đồng này là những người nghèo mà ông thích nhắc đến. Các thầy Babin trái lại tỏ ra nghiêm khắc với các mục đồng, vì nghề chăm súc vật, không cho họ đi nghe giảng dậy tại các hội đường cũng như tuân giữ lề luật cách nghiêm túc. Trái lại xem họ như những “kẻ nhỏ” mà Chúa Cha ưa mạc khải những mầu nhiệm Ngài cho (10,21), vì họ không bị thói kiêu căng ngăn trở đón nhận ân sủng của Ngài.
Sứ điệp cứu độ được Thiên Chúa (c.9) mang tới. Thiên Thần là một nhân vật cổ điển của CƯ; người đến loan báo sự ra đời của Đấng Messia, như đã loan báo cho Agar biết sẽ sinh hạ Ismael (St 16), cho mẹ Samson biết sẽ sinh ông (Ca 13), hay như đã truyền đạt sứ điệp cứu thoát cho Moisen (Xac 3,2-4,17), cho Ghedeon (Ka 6,11-24). Nhưng lần này thiên sứ xuất hiện trong tính cách siêu việt chưa từng thấy: xung quanh các mục đồng, đã bừng lên vinh quang, cái vinh quang từng biểu hiện sự hiện diện của Thiên Chúa cho Israel trong suốt cuộc xuất hành (Xac 16,10; 24,16-17; Ds 14,10) và khi thánh hiến đền thờ (1V 8,11). Trước sự thần hiện nhiệm mầu mà các tiên tri đã loan báo sẽ xảy ra trong ngày cứu độ (Ez 43,1-12; Is 40,5;60...) các mục đồng đầy lòng kinh hãi (x.1,12.29), y như các tiên tri hoặc các nhà thấu thị lúc được thấy Chúa (Is 6,5; Đn 8,17; 10,7-11). Đây không phải là sự khiếp đảm thường tình, song là một sự sợ hãi linh thánh mà mầu nhiệm Thiên Chúa đã gây ra vì lòng thương xót cũng như vì những đòi hỏi của Ngài.
Lời nói đầu tiên của thiên sứ với các mục đồng, cũng như với Giacaria và Đức Maria(1,13.30) là để đánh tan mọi nỗi sợ hãi Linh thánh của họ (c.10). Các cuộc thần hiển thường đi đôi với việc mời gọi tin tưởng phó thác (St 15,1; 21,17; 16,24; Qa 6,23). Sứ điệp của thiên sứ là một sứ điệp “tin mừng” (1,24.28), là một “Tin mừng” (1,19; 4,17). Được truyền đạt cho các mục đồng, sứ điệp đó thực ra bao hàm tất cả dân Thiên Chúa, vì đề cập đến Đấng Messia từ đây luôn luôn hiện diện; và Lc ông thường dùng động từ “rao giảng Tin mừng”, đánh dấu ở đây khởi điểm của sứ điệp các tông đồ. Chữ rao giảng tin mừng xuất hiện một lần trong Mt, không lần cho Mc, 10 lần cho Lc, không lần cho Ga, 15 lần cho Cv, 2 lần trong Phaolô; Còn chữ “Tin mừng” được Mt dùng đến 4 lần, Mc 8 lần, Lc không lần, Ga không lần, Cv hai lần; Phaolô 60 lần; Lc thích dùng động từ hơn danh từ vì ảnh hưởng của bản Hy lạp, dùng động từ 20 lần và chỉ dùng danh từ 3 lần thôi.
Mầu nhiệm Chúa Giêsu Kitô giờ đây được xác định (c.11) cách rõ ràng và siêu việt, vượt xa bao kỳ vọng của Do thái giáo, cũng như vượt quá ngôn ngữ của các môn đệ Chúa Giêsu trong suốt đời trần thế của thầy mình. Thực vậy, hai trong các tước hiệu được gán cho trẻ mới sinh đã có một âm hưởng thần linh.
Ngài là “Đấng Cứu thế”. Từ ngữ này có lẽ ám chỉ đến tên Giêsu (Đức Giâvê cứu, x. Mt 1,21), gợi lên sự cứu độ đã được trông đợi từ bao lời tiên tri xa xưa về Đấng Messia trong CƯ. Nhưng từ ngữ đó không mấy tương ứng với lới nói xử dụng của kinh thánh: bản Cư Hy-bá thường nói đến Thiên Chúa, sự cứu độ của chúng ta hoặc Thiên Chúa Đấng cứu độ chúng ta, nhưng không dùng danh từ “Đấng cứu thế”; bản Hy lạp có danh từ đó và áp dụng cho Thiên Chúa 35 lần và cho loài người 5 lần (Qa 3,9); 3,15; 12,3; Est 8,12), nhưng không bao giờ áp dụng cho Đấng Messia. các Phúc âm nhất lãm cũng không dám danh xưng đó cho Chúa Giêsu một nơi nào khác, trong lúc nó lại được Lc dùng trong sách Cv (5,31; 13,23) cũng như Phaolô (Ph 3,20; Ep 5,23; 2Tm 1,10; Tit 1,4; 2,13; 3,6), Gioan (4,42 và 1Ga 4,14) và Phêrô (2P 1,1.11; 2,20; 3,2.18). Rõ ràng đây là một danh xưng Kitô giáo được dùng trong các giáo đoàn Hy lạp hóa, để đối lại với các ngoại giáo, đã dùng danh xưng đó để gọi “các thần cứu thế”, và đặc biệt để gọi hoàng đế mà họ tôn thờ như một thần linh. Ở đây Lc dùng tước hiệu đó để công bố Đấng cứu Thế duy nhất đối lại với hoàng đế lương dân.
Tước hiệu “Kitô Chúa” (Christ Seigneur) cũng không kém độc đáo. Bản Kinh thánh Hy Bá thường nói “Đấng Messia của Giâvê” trong 12 trường hợp và được bản Hy lạp dịch là “Đức Kitô của Chúa” Le Christ du Seigneur). Tuy nhiên tước hiệu “Kitô Chúa” được tìm thấy trong Ai cập 4,20 và ca vịnh Salomon 17,36 (bản Hy Lạp); có thể nghĩ rằng 2 đoản văn ấy đã chịu ảnh hưởng kitô giáo. Lc là tác giả phúc âm nhất lãm duy nhất đã thường gọi Chúa Giêsu với tước hiệu “Chúa” (La Seigneur) ở trong phúc âm của ông 14 lần, bên cạnh trường hợp đặc biệt của Mt 21, và 3 và Mc 11,3) cũng như trong Cv (chắc chắn đã dùng tới 40 lần, và có thể tới 66 lần), nhất là trong lời tuyên bố của Phêro nhân dịp lễ hiện xuống, mỗi lời công bố khá tương tự với sứ điệp của Thiên Thần cho các mục đồng: “Thiên Chúa đã đặt ông Giêsu ấy làm Chúa và làm Đấng Kitô” (Cv 2,36), chắc Lc đã vay mượn danh xưng này nơi lời rao giảng của các tông đồ (x. Ph 3,20), trong đó nó đã đượm một âm hưởng thần linh.
Ngoài ra trong sứ điệp của Thiên Thần còn có hai điểm đáng chú ý nữa. Thiên thần loan báo hôm nay hài nhi đã được sinh ra. Qua việc dùng từ ngữ này hai lần trong phúc âm của mình (trong lúc Mt dùng 8 lần) Lc là người duy nhất nhấn mạnh tính cách thời sự của ơn cứu độ (3,22; 4,21; 19,9; 23,43; Cv 13,33; Lc 13,23). Qua đó Lc nói một thời đại mới đang mở ra, một thời đại trong ấy các lời hứa của CƯ sắp thực hiện. Các lời hứa này cũng gợi lên trong danh xưng “thành Đavit” (c.4)
Để làm cơ sở cho lời mạc khải mới được tiết lộ, các mục đồng nhận được một dấu chỉ (c.12) cũng như Giacaria và Đức Maria (1,18-20.36) và cũng như những kẻ được Chúa sai đi ngày xưa (Xac 3,12; 4,1-9; Qa 6,17.36-40; 1Sm 10,1-9; 2V 20,8; Is 7,11.14). Nhưng trong CƯ các dấu chỉ thường có tính cách ngoại thường, vĩ đại, biểu lộ quyền năng Thiên Chúa và qua đó bảo đảm việc thực hiện ơn cứu độ đã hứa. Ở đây, dấu chỉ là một sự kiện hết sức tầm thường: một đứa trẻ mới sinh nằm thảm thương trong máng sức vật. Dấu chỉ đó đủ làm cho các mục đồng hiểu rằng sứ điệp của các Thiên Thần không phải là một giấc mơ. Nhưng dấu chỉ đó cũng là một mạc khải: đứa trẻ ấy là vị Cứu Thế hằng mong chờ và sự khó nghèo của Ngài tỏ cho những ai biết đón nhận lấy Thiên Chúa hoàn thành ơn cứu độ ra sao. Dấu chỉ này tương tự các dấu chỉ mà các vị rao giảng Tin mừng đưa ra để minh xác sứ điệp của mình: thỉnh thoảng họ làm phép lạ (Cv 3,1-10; 5,12.15-16; 9,32-42; 14,8-12; 28,8-9; 2Cr 12,12; Rm 15,19), nhưng họ giới thiệu Đấng Cứu thế bị đóng đinh, một cớ cấp phạm cho người Do thái là những kẻ đòi cho được những dấu lạ nhưng là dấu chỉ hữu hiệu bày tỏ quyền năng và khôn ngoan của Thiên Chúa đối với những ai biết đón nhận nó trong đức tin (1Cr 1,22-25). Trong sự khốn cùng của Hài nhi nằm trong máng cỏ, tỏ lộ ra sự hiện diện có tính cách giải phóng của Thiên Chúa cho những ai biết nhìn xem.
Đột nhiên, ngay sau sứ điệp của Thiên Thần Chúa, toàn thể đạo binh thiên quốc xuất hiện (c.13)(bản Hy Lạp nói là “đạo binh trên trời”, Gr 7,18; 8,2; 1,13...) đạo binh này thi hành vai trò phụng vụ là vai trò hàng đầu của thiên thần trong CƯ (Is 6,3; Gb 38,7; Tv 29,1-2; 103,20-21; 148,1-2) cũng như trong Do thái giáo.
Ca khúc mà họ hát (c.14) có dạng thức Sêmit (song đối, nhiều từ ngữ thánh kinh và đặc ngữ Hy bá). Bài ca tuyên dương vinh quang Thiên Chúa trong chốn thiên quốc siêu nhiên của Ngài. Sự siêu việt nhiệm mầu của Ngài; lời tung hô khải hoàn này sẽ là lời tung hô của các môn đệ Chúa Giêsu (Lc 19,38), và là kinh Gloria in excelsis trong phụng vụ chúng ta ngày nay. Nhưng vinh quang Thiên Chúa là thi ân giáng phúc. Ngài muốn dân Ngài được sự bình an mà NGÀI đã hứa cho ngày cứu độ (Mik 5,4; Is 9,5-6; 11,6; 53,5; 60,17; 66,12) sự bình an này không phải là hòa bình La mã (Pax Romana), một thứ an cư trần tục mà mọi người thời đó đợi chờ hoàng đế ban tặng; nhưng là sự sung mãn đời sống siêu nhiên mà chỉ mình Chúa mới bảo đảm được, vì chỉ có mình Ngài là nguồn mạch ơn cứu độ đích thật. Chỉ Ngài mới có thể ban tặng cách tự do. Trước hết Ngài ban tặng ơn cứu độ cho những người nghèo khó (Lc 10,21) nhưng với kinh nghiệm Lc biết rằng ân huệ này không chối từ một ai, nhưng được trao cho hết mọi người Do thái cũng như lương dân.
Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG
1. Thiên Chúa thường dùng các nguyên nhân đệ nhị xem ra ngẫu nhiên để thực hiện các kế hoạch thiết thân nhất của Ngài. Một biện pháp hành chứng của César Auguste chu tất các lời tiên tri mà ông ta hôm nay: cả đế quốc La mã phải nhốn nháo để Chúa Giêsu sinh ra ở Belem. Chúng ta hãy tin tưởng vào Chúa quan phòng; Ngài luôn có sẵn không gian, thời gian, con người và biến cố để xử dụng. Việc nhìn lại lịch sử giúp cho ta chiêm ngưỡng được chương trình cao cả của Ngài. Trong cuộc đời cá nhân của ta cũng thế.
2. Không có chỗ cho Đức Maria và Giuse. Đó là sự hờ hững thường tình của đám đông: ai nấy chỉ lo cho mình mà không nghĩ đến kẻ khác, không khám phá ra sự khốn cùng hay giàu sang thiêng liêng nơi những người vô danh họ luôn chung đụng. Thiên Chúa đã hướng dẫn các biến cố (kê khai hộ khẩu) để làm cho Chúa Giêsu sinh ra tại Bêlem; nhưng khi Đức Maria và Giuse đến đó, không có gì sẵn sàng để đón tiếp các Ngài. Nhưng cũng chính Thiên Chúa đã khiến có chuyện trắc trở (quán trọ đông người) để dẫn Giuse và Đức Maria đến nơi trú ẩn nghèo nàn, trong đó có máng súc vật, được làm cái nôi đầu tiên cho Chúa Cứu thế và làm dấu chỉ cho mục đồng. Thiên Chúa quan phòng tiên liệu mọi sự, nhưng không luôn luôn phù hợp với ước mong của ta. Tuy nhiên, chính khi Ngài đi ngược lại với ý định của ta, đó lại là lúc Ngài xem ra thực hiện chương trình mầu nhiệm của Ngài tốt hơn cả.
3. Đã hơn một lần Chúa Cứu thế kêu mời ta sống thân mật với Ngài qua giáo hội mẹ ta (đặc biệt trong phụng vụ và bí tích) và qua Đức Maria, Đấng trung thành. Mẹ đã mang Chúa Kitô đến cho chúng ta, để Ngài tỏ mình ra trong con tim và cuộc đời chúng ta. Phải chăng chúng ta đã chất chứa nhiều sự nên đã không thể đón tiếp Ngài ? Tâm hồn chúng ta cũng giống như quán trọ ồn ào, chật ních, vì ham mê lạc thú, vì bận rộn công việc, vì ưu tư cơm bánh hoặc chỉ vì đãng trí. Xem ra chúng ta làm rộn gây rối chúng ta. Vì thế chúng ta không mấy sẵn sàng đón tiếp Ngài cách xứng hợp (Lc 9,51-56; 24,28-32).
4. Đức Maria chấp nhận hoàn cảnh khó khăn không một lời phàn nàn kêu trách. Dù sắp sinh con, và phải ở một nơi bất tiện, Mẹ vẫn sẵn sàng chấp nhận mầu nhiệm của Thiên Chúa quan phòng, theo đó Chúa Giêsu phải sinh ra ở Belem, nghèo nàn và lữ hành, giữa cảnh thiếu thốn, trong vắng lặng của đêm trường.
5. Chúa Giêsu được giới thiệu như là “con đầu lòng” của Đức Maria (c.7). Trước khi được ban tặng cho thế giới, Ngài đã thuộc về Đức Maria và cũng chính Mẹ được Ngài đến với trước tiên, vì Mẹ, nhờ nhận được ân sủng đặc biệt và phong phú, là “người được cứu chuộc trước tiên” (Lummen Ghentium).
6. Chúa Giêsu sinh ra trong đêm vắng (c.8): vì đêm giáng sinh như đêm xuất hành, là đêm giải phóng dân Thiên Chúa.
7. Những người đầu tiên được mời đến thờ lạy Hài Nhi trong máng cỏ là các mục đồng đơn sơ, bị người đồng hương khinh rẻ, có phong tục khá thô lỗ và hạnh kiểm đáng nghi ngờ. Hôm nay, tất cả chúng ta có mặt ở đây cũng đều được mời gọi đến hang đá với các mục đồng, dù chúng ta có công trạng hay tội lỗi. Chúa Giêsu đến cho mọi người, đặc biệt cho các kẻ bần cùng, hèn kém nhất xét về phương diện nhân loại.
8. Giáng sinh cũng là lời tiên báo cuộc xuất hiện lần thứ hai của Chúa Giêsu trong ngày thế mạt. Hãy chuẩn bị đón Ngài trong cuộc tái giáng này bằng cách sống một đời từ bỏ và sẵn sàng tuân hành thánh ý Thiên Chúa, như hài nhi trong máng cỏ, “đã vì chúng ta mà trở nên nghèo khó để chúng ta được giàu sang nhờ sự nghèo khó của Ngài” (2Cr 8,9).

 

GS-143: LỜI TỰA TIN MỪNG GIOAN

LỄ NGÀY GIÁNG SINH A B C
(Ga 1,1-18)
 

Có rất nhiều sách báo đề cập và nghiên cứu Lời tựa này đến hỏi trong một vài trang, chúng ta: GS-143

1. Có rất nhiều sách báo đề cập và nghiên cứu Lời tựa này đến hỏi trong một vài trang, chúng ta không thể thấu triệt được sự phong phú của nó, và còm hơn thế nữa, không thể chú giải nó cách chi tiết và đầy đủ được. Những trang sau đây chỉ mong đưa độc giả vào việc đọc lời tựa này trong đức tin và nhấn mạnh một vài dữ kiện căn bản của sứ điệp được linh ứng mà Giáo hội dùng trong lễ Giáng sinh. Sau một vài lời về Lời tựa Gioan, chúng ta sẽ nghiên cứu nó về phương diện văn thể dầu dễ dàng chú giải sau này. Việc chú giải sẽ giúp chúng ta khám phá ra tại sao Lời tựa này là mạc khải về Đức Giêsu Kitô và là Lời loan báo giao ước mới.
2. Vì quá phong phú, Lời tựa này không để ta xác định vai trò và chỗ đứng của nó trong Phúc âm thứ tư. Tuy nhiên có ba thành ngữ có thể giúp ta phát hiện vai trò và chỗ đứng của nó. Đối với một số tác giả, Lời tựa là một lời mở đầu long trọng của Phúc âm (préface solennelle); văn thể của loại này và việc tiên báo những đề tài chính yếu của Gioan biện minh cho ý kiến này. Đối với những tác giả khác Lời Tựa là lời khai mạc cho phúc âm (ouverture) (như lời khai mạc của một buổi ca kịch), vì những đề tài chính yếu sẽ được dùng lại trong các phần sau (sự sống, ánh sáng, chân lý, vinh quang, con, đức tin, tử hệ thần linh, thế gian, tối tăm...). Sau cùng một số tác giả khác xem những câu 1-18 giá trị hơn cả một lời đề tựa hay một tiền tụng; theo họ, những câu đó chính là phúc âm được nhìn cách tổng hơp và sâu xa; các phần sau chỉ lấy lại sứ điệp đó cách cụ thể và chi tiết, diễn tả việc xuất hiện của Ngôi Lời trong thế gian và việc chọn lựa nhiệm mầu của con khi đối diện Ngài.
3. Theo tư nghĩa, bài tụng ca này được trình bày theo ba đoạn:
1/ Ngôi Lời trong tương quan với Thiên Chúa (c.1-2), với việc tạo dựng (c.3) và với tạo vật (c.4-5).
2/ Ánh sáng đến (c. 6-13)
3/ Nhập thể của Ngôi Lời và giao ước mới (c. 14-18).
Tư tưởng tiến triển dần, từ đoạn này sang đoạn khác, và đạt cao điểm ở điểm cuối. Như thế, đoạn đầu chỉ là một ám chỉ khái quát đến thời gian nhập thể, đoạn hai nói đến việc ánh sáng đến cùng loài người, đoạn ba đề cập đến việc Ngôi Lời ở với loài. Cũng thế, đoạn đầu xác quyết: Ngôi Lời sự sống là ánh sáng cho mọi người. Đoạn hai xác định : Ngài ban cho những kẻ tin được trở nên con cái Thiên Chúa; đoạn ba nói đến những ân điển của giao ước mới, tức là ân sủng và chân lý được trao ban cho chúng ta nhờ việc nhập thể và thực hiện giao ước mới. Còn về việc tiếp nhận Ngôi Lời, đoạn đầu nói rõ ràng: tối tăm không tiếp nhận Ngài, đoạn hai nói lên sự xung khắc giữa việc nhà Ngài không tiếp nhận và việc kẻ tin tiếp nhận Ngài, đoạn ba không bàn đến thái độ từ chối, nhưng chỉ nói đến ân sủng và chân lý được ban nhờ ĐGK.
4. Công thức “từ nguyên thủy”, theo sách Sáng thế khai mào trình thuật Thiên Chúa tạo dựng ánh sáng, sự sống con người nhờ lời của Ngài Gioan lấy lại công thức này để mở đầu cuốn phúc âm của ông, như là trình thuật về việc Thiên Chúa Cha tái tạo cách siêu nhiên thế gian tội lỗi nhờ Chúa Con, lời sống động của Ngài: “Lúc khởi nguyên, Thiên Chúa tạo dựng trời và đất... Thiên Chúa phán: hãy có ánh sáng và ánh sáng xuất hiện ... (St 1,1-26). “Từ nguyên thủy đã có Ngôi Lời”
Khi đọc sáng thế, chúng ta có thể lầm lẫn về bản tính đích thực của lời Thiên Chúa, vì trong trình thuật đó, lời ấy được xem như một thực thể phù du và chóng qua như Lời nói của chúng ta, phát xuất từ hư vô để đóng một vai trò tạm bợ và vụt biến mất.
Thật ra, đối với người Sêmit, lời không bao giờ là một âm thanh suông, phát tán ngay khi ta phát âm. Theo họ , một khi được phát ra, ngay cả lời con người cũng tồn tại như một sức mạnh bí ẩn, luôn hoạt động để phát sinh lời nó nói lên, tốt hoặc xấu; do đó người ta đặc biệt chú trọng đến những lời chúc phúc, chúc dữ, trù ếm. Từ quan niệm ấy, người Do thái xem Lời Thiên Chúa như một thực thể sống động, và do đó như một ngôi vị thần linh, như một tác phẩm toàn năng mà Thiên Chúa dùng để phát biểu đồng thời thực hiện công việc cứu rỗi hay sửa phạt của Ngài: “Như mưa và tuyết xuống từ trời mà không trở lại nữa, song đượm nhuần đất đai, nẩy sinh hạt mầm...Cũng vậy, lời phát sinh từ miệng ta thì chẳng trở về luống công, mà chắc sẽ làm trọn điều ta mong muốn” (Is 55,10-11); ”.. từ trời cao, Lời toàn năng của Ngài phóng ra khỏi ngai tòa; như một chiến sĩ dũng mãnh, Người xông vào giữa một địa cầu bị nguyền rủa; mang mệnh lệnh cố định của Ngài như gươm bén, lời ngừng lại và gieo chết chóc khắp địa cầu” (Kn 18,14-16).
Ở đây Gioan mạc khải cho ta bản tính đích thực của lời ấy. Không phải phát sinh từ hư vô khi tạo dựng và biến mất ngay, lời này “đã hiện hữu” ngay từ khởi thủy của thế gian, như một thực tại hoàn toàn, bất biến. Lời đó chính là Đức Kitô.
Để nói rõ: Lời không phải là một sức mạnh vô ngã được Thiên Chúa tạm thời dùng để thực hiện công cuộc của Ngài, nên thay vì công thức “Lời ở trong Thiên Chúa”, Gioan chuộng công thức “Lời ở với Thiên Chúa” hay có thể dịch ra đúng hơn (x. Ga 10,35): “Lời hướng về Thiên Chúa, luôn hướng về Thiên Chúa” như một ngôi vị hướng về một ngôi vị khác. Là Lời sống động, không thể giản lược vào một vài Lời có tính cách sáng tạo, chóng qua, lời là lời vĩnh cửu hướng về Chúa Cha, Đấng luôn nghe người (Ga 11,42), vì “Lời là Thiên Chúa”, chia sẻ bản tính thần linh với Ngôi Cha.
Qua những công thức vắn gọn trong câu 1-2, tác giả Phúc âm mở ra những viễn tượng bao la về cuộc sống thâm sâu của Thiên Chúa. Thiên Chúa không phải là một ngôi vị độc nhất, chịu thinh lặng đời đời trong nỗi cô đơn vĩnh cửu. Ở bên Thiên Chúa, từ đây được đồng hóa với Chúa Cha, có lời của Ngài, luôn cùng Ngài đối thoại. Phúc âm thứ tự gợi ý một cách vắn gọn nhưng rất phong phú về cuộc đối thoại vĩnh cửu giữa Chúa Cha và Con Ngài (x. Ga 17).
5. CƯ hằng chức tụng Giavê, Đấng tạo dựng thế giới nhờ Lời của Ngài (Tv 33,6) và nhấn mạnh đến phổ quát tính của công cuộc tạo dựng của Đấng là Lời vĩnh cửu của Thiên Chúa; và để làm nổi bật tính cách vĩ đại của công cuộc thần linh này, ông dùng một lối văn chương mà người Semit đều biết đến: phép đối nhẫu (parallélisme antithetique).
Mọi vật đều do Người làm nên.
Và có Người, thì chẳng vật chi đã được tác thành.
Câu này có thể hiểu, cách đơn giản như là Lời xác quyết về vai trò tạo dựng của Ngôi Lời. Nhưng cũng có thể hiểu như là xác quyết về vai trò trung gian của Ngôi Lời trong viêc tạo dựng, nếu ta chú ý đến những từ được dùng và nhớ rằng lời luôn là lời của một người nào đó (x. Dt 1,2). Cách giải thích này, dựa trên mối liên hệ giữa bài ca tụng đức khôn ngoan, không bắt buộc phải theo nhưng cũng có thể chấp nhận, vì vai trò trung gian này không phải không bao hàm việc thua kém; với lại ta cần phải hiểu theo dữ kiện của Gioan về việc bình đẳng các ngôi và về việc nhất trí hành động của Con và của Cha (c.1;10, 30-38). Dù sao, ở đây Gioan xác quyết vai trò tạo dựng của Ngôi Lời, như là dấu chỉ siêu việt tính và biểu trưng lòng tốt của Người: điều này sẽ làm nổi bật tính cách cao cả của việc nhập thể và việc vong ơn bội nghĩa của thế gian.
6. Lời không chỉ là tạo hóa, mà còn là sự sống và ánh sáng của mọi người. Khi viết “điều đã được tác thành nơi Người là sự sống” theo Gioan muốn xác quyết rằng Ngôi Lời là nguồn sống tự nhiên và siêu nhiên của mọi tạo vật, hoặc là nói cho kỹ hơn, ông muốn bảo hiệu quả của sự hiện diện của Người giữa nhân loại là việc tỏ bày và thông truyền sự sống siêu nhiên. Dù sao, lời được trình bày như nguồn sự sống. Hơn nữa, Người chính thật là sự sống, là tiếng này phải hiểu không theo nghĩa sự sống thể lý, nhưng là sự sống “vĩnh cửu”, tức là sự sống siêu nhiên và thần linh theo quan niệm của Gioan (1Ga 1,21; 14,6).
7. Lời cũng chính là sự sáng, không phải là ánh sáng của vũ trụ nhưng là ánh sáng siêu nhiên và thần linh. Người không phải là chính Lời của Thiên Chúa, con mạc khải của Chúa Cha, ánh sáng dẫn dắt nhân loại sao ? Người là “ánh sáng của thế gian” (Ga 8,12): tôi tớ Giavê phải trở nên “ánh sáng cho nhân dân” (Is 42,6); tác giả phúc âm khi gọi Ngôi Lời là “sự sáng của mọi người” chứ không gọi là “ánh sáng của Israel”, Đã ám chỉ đến tính cách phổ quát của sứ mạng Ngôi Lời giữa loài người (c. 7.9.12).
Satan, kẻ nói dối, cha của sự dối trá và tên sát nhân từ khởi thủy (8,44), đã thành công trong việc kéo lôi loài người ra khỏi vùng ảnh hưởng tốt đẹp, sinh động của sự sáng, và đã giết chết sự sống nằm trong họ, để đẩy họ vào tối tăm, nơi thiêng liêng mà Satan và các quyền lực sự dữ ngự trị, nơi nhân loại từ đây sống trong u tối, buồn thảm với cái chết thiêng liêng. Tối tăm chính là thế gian, môi trường độc hại, vương quốc satan khởi đầu của hỏa ngục, tuy nhiên hỏa ngục dự định này không phải là nơi mà ánh sáng không thể đến được; chính tối tăm sẽ khiến sự sáng biểu lộ quyền năng vô định của mình. Sau khi đã chiếu giãi vào môi trường thuận lợi và trong suốt của nhân loại còn vô tội, sự sáng từ đây phải tiến sâu vào môi trường phản động, tỏa sáng đến tận trung tâm của tối tăm, và sức mạnh của sự sáng từ đó sẽ phát ra mạnh hơn nữa.
Từ lúc xuất hiện với tội lỗi, sự sáng không ngừng “rạng sáng trong tối tăm”, và không những từ bên ngoài, nhưng ngay chính từ trong lòng của sự tối tăm thiêng liêng này, ngày càng dày đặc vì tội lỗi. Sự sáng tỏa lan, xua tan tối tăm chết chóc và chiếu giãi sự sống cho những ai tiếp nhận sự sáng (13,36). Nếu có thể giam giữ những ai từ chối sự sáng (12,35), tối tăm không thể cầm giữ, thống trị sự sáng, cho dù luôn thù ghét sự sáng: “tối tăm đã không triệt được sự sáng”. Trận chiến cứ tiếp diễn, nhưng sự sáng làm chủ, vì sự sáng chế ngự tối tăm và không để chúng thống trị; điều đó ám chỉ chiến thắng cuối cùng của Đức Kitô ánh sáng.
Nhưng trong một nghĩa khác nữa, tối tăm không thể “triệt” được sự sáng. Động từ được dùng ở câu 5, katalambanô, và được dịch là triệt có hai nghĩa: một là “triệt hạ”, và đó là nghĩa như chúng ta vừa nói “tối tăm không thể triệt hạ sự sáng”, hai là “thấu triệt”; chính trong nghĩa này mà Gioan ám chỉ đến sự đui mù thiêng liêng của người Do thái, những kẻ không hiểu được sứ điệp và chứng từ của Chúa Giêsu về sự sống vĩnh cửu trong Thiên Chúa.
8. Dù có lối hành văn khác, đoạn hai tiếp nối và làm nổi bật đoạn trước bằng những tương phản. “Có một người được Thiên Chúa sai đến tên là Gioan”, đó là công thức Thánh kinh cổ điển mà phúc âm nhất lãm, đặc biệt Mc, giới thiệu vị tiền hô (Mc 1,4; Mt 3,1; Lc 3,2). Trong đoạn này, công thức đó có một giá trị đặc biệt: đối diện với Lời, ngôi vị thần linh toàn năng “hiện hữu” từ đời đời, đây Gioan, con người tầm thường từ hư vô và được hiện hữu. Sau khi nhấn mạnh tính cách vĩ đại vô song của Đức Kitô, tác giả Phúc âm cố gắng xác định tính cách cao cả của Gioan. Đó là một sứ ngôn đặc biệt với tư cách là chứng nhân của Đức Kitô, chứng nhân đúng nghĩa nhất: ông đã thấy Thánh Thần hiện xuống và ở trên Đức Giêsu, đã chia sẻ cho toàn dân Israel kinh nghiệm và xác tín của mình: “Tôi đã thấy và chứng thực chính Ngài là Đấng Thiên Chúa chọn” (1,34).
Sự cao cả của Gioan là được Thiên Chúa sai và có sứ vụ làm chứng nhân cho sự sáng. Thoạt tiên, ta ngạc nhiên tại sao ánh sáng cần có chứng nhân; thật ra vì ánh sáng này không phải là ánh sáng tự nhiên và lại bị che khuất bởi điều kiện nhập thể nữa (x. Ph 2,7). Nếu trong ý hướng bút chiến chống lại những giáo phái thanh tẩy (sectes baptistens) chỉ muốn dừng lại ở Gioan mà không đi đến Chúa Giêsu, tác giả phúc âm đã nhấn mạnh điều đó để khỏi gây lẫn lộn giữa sự sáng và chứng nhân của người, thì chính ở điểm đó, tính cách cao cả của sứ vụ chứng nhân càng được nổi bật hơn (c.8.15; 1,20; 3,30): vị tiền hô có sứ mạng dẫn đến niềm tin vào đấng là sự sáng mà người ta tìm kiếm.
9. Trong lúc câu 5 bàn về vai trò chiếu soi của lời “từ khởi nguyên trước hoặc sau tội lỗi, thì câu 9, theo văn mạch, chỉ nói đến sứ mạng công khai của Ngôi lời nhập thể: chính Đức Kitô và sứ vụ của Ngài mà tác giả nghĩ đến trong những câu 7-13. Điều này giúp cho ta xác định ý nghĩa và tầm mức đích thật của các câu ấy.
“Lời là sự sáng đích thực, chiếu soi mọi người ...”. Đối với những Do thái, lề luật là ánh sáng thần linh, là phương tiện được Thiên Chúa thiết lập để xua tan tối tăm thiêng liêng của nhân loại, để cứu nhân loại, khỏi tội lỗi và sự chết; một vài đồ đệ của Gioan tẩy giả đã gán cho thầy mình quyền và sứ mạng đó. Tác giả phúc âm phá đổ những cao vọng trên khi nhắc lại những lời tuyên bố khác nhau của chính Đức Giêsu: “Khi ta còn ở thế gian, ta là sự sáng thế gian... chỉ ít nữa, còn có sự sáng giữa các ngươi” (chính 9,4-5; 12,35-36). Dù có dáng vẻ con người tầm thường, yếu đuối, bất lực, Chúa Giêsu chính là ánh sáng đích thực; chỉ mình Ngài có thể kéo mọi người ra khỏi tối tăm, khơi mào và tăng trưởng trong họ sự sống thần linh bằng cách lưu giữ họ trong bầu khí thuận lợi cho việc đón nhận chân lý.
10. “Lời là sự sáng, sáng soi mọi người đến trong thế gian”. Chữ “đến” chắc chắn thuộc về “sự sáng” hơn là “mọi người”. Chúa Giêsu không ngừng nói đến người, đã từ Thiên Chúa đến trong thế gian (8,14; 9,39; 12,46...). Đó là vì lời sự sáng, đã hoàn toàn đến trong thế gian qua việc nhập thể, vẫn tiếp tục đến trong suốt cuộc đời trần thế của Người vì Người luôn phát sinh từ Chúa Cha. Tác giả đã dùng phân từ “đến” để nói lên hai phương diện của việc sự sáng đến trong thế gian: trong suốt đời sứ vụ, Chúa Giêsu là sự sáng, thực sự đã đến và hằng đến từ Thiên Chúa để chiếu soi thế gian tội lỗi.
Dù sự sáng đích thực đã đến trong thế gian, nhưng thế gian không nhận biết sự sáng, nghĩa là không nhìn nhận và không tin ở sự sáng. Nhiều người cho đó là việc dân ngoại từ chối tin vào Đấng là ánh sáng hằng hiện diện trong thế gian từ sau lúc sáng tạo. Kẻ khác cho đó là vấn đề từ chối tin vào sự sáng đã đến trong thế gian qua việc nhập thể. Không luận cứ nào chắc chắn. Dù sao, vì Gioan thường không nói đến sự mạc khải của Lời qua việc sáng tạo nên cách giải thích thứ hai xem ra gần đúng hơn. Từ ngữ “thế gian” ngược lại, là từ ngữ đặc biệt của Gioan. Đôi lúc nó ám chỉ toàn thể vũ trụ tạo vật (17,5.24), thông thường là ám chỉ thế giới và sinh hoạt của con người hoặc đơn giản hơn là toàn thể loài người sống trên mặt đất này (3,16), hay nhóm người chống lại Thiên Chúa và được satan, đầu mục thế gian này hướng dẫn (12,31). Từ đầu cho đến cuối câu 10, tác giả phúc âm lần lượt dùng hết mọi ý nghĩa của từ ngữ “thế gian":
Ngài ở trong thế gian (nghĩa 2)
Và thế gian được Ngài tác thành (nghĩa 1)
Và thế gian không nhận biết Ngài (nghĩa 3)
Khi thế gian được lời tạo dựng, mà lại từ chối không tin vào sự sáng thì quả là một điều quái gở; thế nhưng có một điều quái gở hơn nữa, đó là người nhà không tiếp nhận Ngài. Dân Israel, nhờ giao ước trở nên dân riêng của Giâvê (Xac 19,5-6; Đnl 7,6; 14,1tt; Tv 135,4). Nhờ ơn Giâvê, họ đã chiếm hữu đất hứa cho Abraham (St 17,8). Tuy nhiên, nếu có một số người đã tin vào Ngôi Lời nhập thể (c.12) thì dân Ngài đã từ chối tiếp nhận Ngài, nghĩa là không tin Ngài (c. 11).
Ngược lại, đối với ai tiếp nhận Ngài thì Ngài ban cho họ quyền làm con cái Thiên Chúa. Đầu tiên Gioan nghĩ đến kẻ tin vào ngôi Lời nhập thể khi Ngài đến ở với loài người, nhưng ông cũng nghĩ đến tất cả những ai, từ việc nhập thể trở đi, đã tin hoặc sẽ tin vào Ngài. Đối với tất cả những người ấy, dù là Israel hay không, Ngài ban cho họ quyền thực sự trở nên con cái Thiên Chúa. Nếu tác giả phúc âm dùng chữ “con cái Thiên Chúa” để ám chỉ tử hệ thần linh của tín hữu và dành chữ “con” cho tử hệ thần linh của ĐGK, đó không phải là vì coi thường từ hệ thần linh của tín hữu: vì tử hệ này không chỉ có tính cách ngoại diện và thuần luân lý, nhưng nội tại và thực hữu. Trong lúc dân đầu lòng của Giâvê (Xac 4,22; Kng 18,13) đã từ chối không tin vào ánh sáng tập thể, tất cả những ai tin vào danh Ngài, đều trở nên con cái đích thực của Thiên Chúa, vì họ được sinh ra không phải do máu huyết (yếu tố xác thịt), cũng không do ý muốn xác thịt (bản năng xác thịt), cũng không do ý muốm lăng nhăng (quyết định của người cha), nhưng do bởi chính Thiên Chúa.
11. “Ngôi Lời đã thành xác phàm”. Gioan lấy lại từ ngữ Logos để nhấn mạnh sự đồng nhất ngôi vị giữa Ngôi Lời tự hữu và Đức Kitô, và thay vì chỉ nói Ngôi Lời đã làm người, Gioan tuyên bố: Ngôi Lời đã thành xác phàm. Chữ này không có ý nói đến thân xác, đối nghịch linh hồn, và không có nghĩa xấu như Phaolô thường dùng. Nó ám chỉ đến con người dưới khía cạnh mỏng dòn, yếu đuối, hay chết (Is 40,6; St 6,12tt). Qua đó Gioan nhấn mạnh đến siêu việt tính và thực tại tính của việc hập thể, đồng thời cho cảm nghiệm tình yêu của Thiên Chúa được mạc khải trong biến cố này: Thiên Chúa đến ở cùng chúng ta, làm người trong ĐGK.
Trong CƯ, Thiên Chúa của giao ước luôn tỏ ra như một Thiên Chúa hiện diện với dân Ngài, sống giữa con cái (Xac 25,8) và đề tài này được dùng lại trong những bản văn nói về Vua Thiên sai, như Is 7,14: ” Này đây một trinh nữ sẽ thụ thai và sinh con trai, đặt tên là Emmanuel” (TC ở cùng chúng ta).
Ngôi Lời nhập thể, theo đúng nghĩa là Emmanuel. Ngài chính là ở cùng chúng ta: “Ngài đã lưu trú (eskenôsen) giữa chúng ta”. Gioan giới thiệu Ngài như là nhà tạm hay đền thờ của giao ước mới. Ông dùng động từ Skenôc, theo nguyên ngữ nói lên hành động dựng lều và cư ngụ. Mà động từ này, không tìm thấy ở nơi khác trong phúc âm thứ tư, cũng có nhiều phụ âm như động từ Hybá shâkan, thường được dùng chỉ biệc cư ngụ giữa dân Ngài: cư ngụ trong nhà lều thời xuất hành (Xac 25,8; 29,45; 40,35; Ds 5,3), cư ngụ trong đền thánh Giêrusalem (1V 8,12; Ez 37,27; Ge 4,17; Zec 2,14). Từ căn ngữ này phát sinh ý niệm shakinah (cư ngụ), là một ý niệm trong Do thái giáo, thường diễn tả (mà không làm giảm bớt siêu việt tính) sự hiện diện đầy nhân từ của TC giữa Israel. Rõ ràng là khi chọn từ ngữ Skenôo, tác giả phúc âm muốn bảo rằng Ngôi Lời Nhập thể như là nơi cư ngụ đích thực của TC ở giữa loài người. Ngoài ra việc TC cư ngụ giữa dân Ngài được biểu lộ qua áng mây, đậu bao trùm Nhà Lều và sáng lên ban đêm. Áng mây biểu lộ vinh quang Giâvê (Xac 40,34). Khi đặt kề việc cư ngụ của Ngôi Lời với sự biểu lộ vinh quang Ngài, Gioan chắc đã muốn ám chỉ đến quan niệm kinh thánh này. Ông viết:
Ngài đã cư ngụ (: dựng lều) giữa chúng ta.
và chúng tôi đã được ngắm vinh quang Ngài (c.14).
Sau Lều tạm của thời xuất Ai cập và sau đền Giêrusalem. Giờ đây có Ngôi lời nhập thể: trong Ngài, từ đây TC hiện diện, hiện diện một cách lạ lùng đến nỗi đức tin của dân do thái vào siêu việt tính của Giâvê không cho phép họ ngờ tới. Trong Ngôi Lời biểu lộ chính vinh quang TC, vinh quang mà Ngôi Lời chiếm hữu với tư cách là Con Một được Chúa Cha sai đến.
Vinh quang của Con không hiểu theo nghĩa Hy lạp “danh tiếng” nhưng theo nghĩa Kinh thánh, là sự huy hoàng thần linh, biểu lộ vương quyền thánh thiện và quyền năng của TC. Chính Gioan và các môn đệ khác đã làm chứng cho vinh quang đó, vinh quang được biểu lộ bằng những “dấu chỉ” do Chúa Giêsu thực hiện (2,11; 11,4.40) bằng việc biến hình (Lc 9,32-35) và nhất là bằng việc sống lại.
12. “Vì do từ sự sung mãn của Người mà chúng tôi hết thảy đã nhận lấy...”. Ở đây tác giả nhân danh tất cả các môn đệ để nói lên điều đó: mọi kho tàng thiêng liêng của họ đều bắt nguồn từ Đức Kitô, “Đấng đầy ân sủng và chân lý”. Họ đã “nhận ơn này thay ơn nọ”. Công thức bí ẩn này được sáng tỏ nhờ văn mạch trực tiếp và văn mạch chung. Gioan nói ngay đến lề luật, ân điển của TC (c.17); xa hơn, ông sẽ gợi lại những hồng ân khác của Ngài: hôn lễ nhiệm mầu với Israel (2,1-12) đền thờ bằng đá (2,13-22) con rắn đồng (3,14), Manna (6,31). Tất cả những ân điển này biểu thị ân sủng mà TC trao ban cho Israel. Các môn đệ đã sống dưới chế độ ân sủng này trước khi biết Chúa Kitô. Nhưng giờ đây thay vào ân sủng cổ xưa đó. TC làm cho họ sống dưới một ân sủng mới, đánh dấu bằng những ân huệ trổi vượt: hôn lễ mầu nhiệm với thứ rượu thượng hạng, đền thờ thiêng liêng tạo thành do Chúa Kitô phục sinh, rắn đồng thực sự với cứu rỗi, Manna từ trời ban sự sống thần linh vĩnh cửu.
Qua hai câu vắn gọn, Gioan làm nổi bật tất cả sự dị biệt giữa hai ân sủng đó, giữa lề luật và Đức Kitô. Người Do thái tự hào về lề luật. Họ nghĩ rằng, nơi lề luật, TC trao ban cho họ sự nhập thể cao cả nhất của Lời và sự khôn ngoan của Ngài, ban cho họ bánh và của uống thiêng liêng đặc biệt nhất, ban cho họ nguồn chân lý và sự sống (Đnl 8,3; Tv 119; Ga 5,39...). Theo họ, chính trong lề luật mà ân sủng của TC thành hình cho đến muôn đời.
Chỉ trong một vài tiếng, theo gương Phaolô (Rm 7), Gioan sửa đổi quan niệm nói trên. Dĩ nhiên, lề luật là những ánh sáng tín lý và luân lý mà TC ban cho dân Do thái; là ân huệ TC ban cho Israel, nhưng là một thứ ân điển trong đó có TC không tự hiến thân Ngài mà là ân điển được trao ban qua trung gian Môisen. Chúa Giêsu Kitô (mà sau cùng Gioan mới gọi tên) trổi vượt lề luật xét như là dụng cụ cứu rỗi. Chỉ chính Ngài là Lời đích thực của TC. Ánh sáng đích thực, nguồn sống thần linh duy nhất (c.48); chỉ do một mình Ngài mà ân sủng và chân lý được trao ban cho con người cách hoàn hảo.
Khi truyền đạt lề luật, Môisen đã mạc khải ý định của Thiên Chúa cũng như ưu phẩm chính yếu của Ngài, nhưng không phải chính mầu nhiệm của sự sống thâm sâu Ngài, vì không một ai, ngay cả Môisen cũng nhìn thấy trong chính Ngài. Chỉ mình Đức Giêsu với danh hiệu là Con và Con độc nhất, có đặc ân và hạnh phúc sống không ngừng trong sự thân mật và tình yêu của Chúa Cha, như tựa bên lòng Ngài, và nhờ đó múc lấy tâm sự bí ẩn nhất; hạnh phúc và đặc ân giống như của môn đệ dấu yêu trong bữa tiệc ly, khi dựa vào ngực của Thầy nình (13,23). Duy mình Ngài có thể trình bày Chúa Cha cho chúng ta, minh chứng và giải thích cho chúng ta sự sống mầu nhiệm Ngài: “Con đã tỏ danh Cha, Con đã tỏ Cha cho mọi người (17,6). Đó là mục đích đầu tiên của sứ vụ Ngài: trao ban sự sống cho con người bằng cách làm cho họ “thấy” Cha Ngài (14,9).
Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG
1. Trong suốt lịch sử của mình, Israel từ từ khám phá ra lời của Thiên Chúa. Israel chính là dân được Thiên Chúa phán dạy và điều này đúng ngay từ thời xưa, từ đời Abraham va các tổ phụ, Môi sen, các vua và tiên tri, cho đến các văn sĩ các sách Khôn ngoan. Nhưng qua kinh nghiệm các thế kỷ, dân nhận thấy Lời của Thiên Chúa khác xa lời con người. Không những Thiên Chúa mạc khải một lề luật, một qui tắc sống thích hợp mà Lời Thiên Chúa còn hoạt động, còn là một thực tại sinh động. Lời Thiên Chúa sáng tạo như thể có một khả năng nội tại. Lời sẽ hiệu nghiệm cho đến tận cùng thời gian. Rồi dần dần đào sâu kinh nghiệm thiêng liêng, dân bắt đầu nhân cách hóa Lời. Chính Lời Thiên Chúa tạo dựng, đem lại ý nghĩa cho lịch sử con người và bắt họ phải có thái độ. Nếu con người chấp nhận Lời, khi đó mới có thể sống. Nếu từ chối con người sẽ bị tiêu diệt.
Giữa quãng thời gian mà Thiên Chúa phán cùng Abraham, hứa cho ông một thế hệ đông đảo và hùng mạnh, và việc nhập thể của Ngôi Lời, là 19 thế kỷ. Trong khoảng thời gian đó, dân đã dần dần khám phá ra sự hiện hữu, tầm quan trọng và sự cần thiết của “Lời” và một ngày kia, một tác giả viết nên trang phúc âm chúng ta vừa nghe. Bấy giờ những gì dân chúng biết, những gì các hiền nhân đã loan báo, gì họ mong chờ, đều được lấy lại và đồng thời được biến đổi. Tất cả những khát vọng và ước muốn của dân chúng liên quan đến việc xuất hiện một Đấng Thiên sai, một Đấng Cứu chuộc hoàn vũ và một Lời tối Cao, đều là những khát vọng về sự hiện diện của chính Thiên Chúa đến hòa hợp cuộc sống của con người “Ngôi Lời đã mặc lấy xác phàm...”.
2. Lễ Giáng sinh là khởi đầu một thảm kịch, thảm kịch của dân Do thái và cũng là thảm kịch của mỗi người. Sự sáng đã đến nơi nhà của Người, nhưng tát cả đều chối từ. Tối tăm đã không thể kiến thắng được sự sáng, nhưng tối tăm luôn là một đe dọa đáng sợ giữa lòng nhân loại.
3. Là Ánh sáng, Đức Kitô đến xóa tan tối tăm trong ý nghĩa nào ? Trước tiên, Đức Kitô xóa tan sự ngu dốt. Tự chúng ta, chúng ta không biết gì về Thiên Chúa. “Con Một, Đấng ở trong cung lòng Cha, chính Ngài đã tỏ ra cho biết” (Ga 1,18). Nếu không có ĐGK, chúng ta hầu như không biết gì về TC. không có trực giác nào đẹp nhất về TC có thể vượt giới hạn của con người: với sức riêng, con người chỉ biết có TC và một vài ý niệm mù mờ về bản tính của Ngài. Có bao giờ trí khôn con người dám thốt lên câu “trở thành con cái TC” của phúc âm ? Có bao giờ trí khôn con người có thể tự khám phá “TC đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban con một mình, để những ai tin vào Ngài thì không hư mất nhưng có sự sống đời đời” (Ga 3,16) ?
4. Đức Kitô cũng là ánh sáng. Ngài soi dẫn chúng ta hiểu biết con người. Khi tuyên bố mỗi người đều được kêu gọi làm con cái TC, Đức Kitô đào sâu mối tương quan sâu xa nối kết con người lại với nhau. Các tương quan này có một luật, đó là bác ái. Tình huynh đệ giữa người với người tạo nên mối dây, và nhờ sức mạnh của TC, mối dây này trở nên trong sáng, chiếu sáng và làm nguồn sáng. “Ai yêu anh em mình thì ở trong ánh sáng” (1Ga 2,10). Một bác ái đích thực giữa các tín hữu với nhau và giữa các tín hữu với mọi người, đó là ánh sáng mà họ có nhiệm vụ mang đến cho thế giới hôm nay. Nếu ánh sáng trinh trong, nó sẽ gặp chống đối của tối tăm. Nhưng những ai đón nhận ánh sáng, thì ở trên đường trở nên con cái TC.
5. Lễ Giáng sinh nhắc nhở cho chúng ta là trong Đức Kitô, chính TC “ở giữa chúng ta”, Ngài đã “dựng lều” giữa loài người... “Lều” này không còn là “Lều tạm” che hòm bia giao ước và các bản lề luật nơi dân Do thái CƯ. “Lều” này chính là thân xác Chúa Giêsu Kitô, từ đây được vinh hiển. Ngài là trung tâm của phụng vụ và của tình hiếu thảo chúng ta đối với TC.
6. “Vinh quang của Con Một” (Ga 1,14) từ đây chiếu sáng trong Giáo hội. Trong và nhờ Giáo Hội, vương quốc của Ngài được tỏ rạng trong thế giới. Ngài thiết lập một “vương quốc vĩnh cửu và phổ quát, vương quốc chân lý và sự sống, vương quốc thánh thiện và ân sủng, vương quốc công chính, yêu thương và an bình” (kinh tiền tụng lễ Chúa Kitô vua).
7. Cũng như Gioan tẩy giả là chứng nhân của ánh sáng (Ga 1,6-8) mỗi người chúng ta, theo ơn gọi và khả năng riêng, đều có bổn phận làm chứng nhân trong một phạm vi hạn hẹp hay rộng lớn. Để hoàn thành bổn phận này, chúng ta phải đặt vào đó tất cả những tài nguyên tinh thần, ý chí và con tim chúng ta.
9. Từ lúc “Ngôi Lời hóa thành nhục thể” (Ga 1,14) tất cả tạo vật đều được biến đổi, thăng hoa, được mang Đức Kitô, Phản ảnh của TC. TC trở nên liên đới với tạo vật đến nỗi mặc lấy mọi yếu tố vật chất khi mang một thân xác như chúng ta. Điều này khiến chúng ta phải có lòng tôn trọng và yêu mến vật chất chung quanh chúng ta.
9. TC làm người để con người một cách nào đó trở thành TC, nhờ việc tham dự bản tính. Hãy can đảm tiến vào con đường thần hóa con người chúng ta nhờ ân sủng, bằng cách phát triển giá trị nhân bản của chúng ta đến mức tối đa, để giúp anh em tìm được ơn cứu chuộc, và niềm vui của cuộc sống trong việc gặp gỡ với Đấng “Thần Nhân”.

 

GS-144: LỄ GIÁNG SINH - Lễ đêm

Lu-ca 2, 1-14
Thời ấy, hoàng đế Au-gút-tô ra chiếu chỉ, truyền kiểm tra dân số trong khắp cả thiên hạ. Đây là cuộc kiểm tra đầu tiên, được thực hiện thời ông Qui-ri-ni-ô làm tổng trấn xứ Xy-ri. Ai nấy đều phải về nguyên quán mà khai tên tuổi. Bởi thế, ông Giu-se từ thành Na-da-rét, miền Ga-li-lê lên thành vua Đa-vít tức là Bê-lem, miền Giu-đê, vì ông thuộc gia đình dòng tộc vua Đa-vít. Ông lên đó khai tên cùng với người đã thành hôn với ông là bà Ma-ri-a, lúc ấy đang có thai. Khi hai người đang ở đó, thì bà Ma-ri-a đã tới ngày mãn nguyệt khai hoa. Bà sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ, vì hai ông bà không tìm được chỗ trong nhà trọ.
 

Trong vùng ấy, có những người chăn chiên sống ngoài đồng và thức đêm canh giữ đàn vật. Bỗng: GS-144

Trong vùng ấy, có những người chăn chiên sống ngoài đồng và thức đêm canh giữ đàn vật. Bỗng sứ thần Chúa đứng bên họ, và vinh quang của Chúa chiếu toả chung quanh, khiến họ kinh khiếp hãi hùng. Nhưng sứ thần bảo họ : "Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân : Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa-vít, Người là Đấng Ki-tô Đức Chúa.  Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người : anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ." Bỗng có muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa rằng :
"Vinh danh Thiên Chúa trên trời,
bình an dưới thế cho loài người Chúa thương."
Trước đây hai ngàn năm, có một tin rất lạ lùng, một tin gây chấn động mọi người nghe, tin này không do phát ngôn viên của loài người, nhưng là một thiên sứ, một thiên sứ loan báo trên cánh đồng Bê-lem. Tin này liên hệ đến mọi người sống trong cõi trần từ xưa đến nay và mang lại hạnh phúc toàn diện và vĩnh viễn cho con người ; nội dung tin mừng ấy : "Anh em đừng sợ, này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là Tin mừng cho toàn dân : hôm nay Đấng Cứu Thế đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa-vít, Người là Đấng Ki-tô Đức Chúa."
Chúa Cứu Thế giáng sinh quả thật là một Tin mừng trọng đại. Trên thế giới và qua quá trình lịch sử, có nhiều tôn giáo khác nhau. Vị giáo chủ nào cũng được những người tin theo ngưỡng mộ sùng kính, tuy nhiên không có vị nào là Đấng Cứu Thế, các vị đều được sinh ra làm người, tu luyện đắc đạo, hành đạo, rồi chết như mọi người. Nhân loại cần một Đấng Cứu Thế lạ lùng, nguồn gốc không từ trong nhân loại, sinh tử khác hẳn người phàm. Vì Ngài từ trời giáng sinh, sinh hạ bởi mẹ đồng trinh, ứng nghiệm một lời sấm đã nói bảy trăm năm về trước : "Sự giáng sinh của Chúa Cứu Thế Giê-su diễn tiến như sau : cô Ma-ri-a đã đính hôn với Giu-se, nhưng khi còn là trinh nữ nàng đã thụ thai do Thánh Linh. Giu-se, vị hôn phu của Ma-ri-a là người công chính, quyết định kín đáo từ hôn vì không nỡ để nàng bị sỉ nhục công khai. Đang băn khoăn về việc ấy, bỗng thấy một thiên sứ đến báo mộng : này Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng ngại cưới Ma-ri-a làm vợ, vì cô ấy thụ thai do Thánh Linh. Ma-ri-a sẽ sinh con trai, sẽ đặt tên là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân mình khỏi xiềng xích tội lỗi. Việc xảy ra đúng như lời Chúa đã bảo nhà tiên tri loan báo : này, một trinh nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai đặt tên là Em-ma-nu-en, Thiên Chúa ở cùng chúng ta."
Đó chính là ứng nghiệm về Đức Ki-tô, về Chúa Giê-su giáng sinh tại thành của Đa-vít. Từ xưa tới nay, chưa có một ai được ra đời bằng cách giáng sinh, và có lời tiên tri được ứng nghiệm như Ngài, vậy nên trong muôn dân không có vị cứu tinh là Đức Ki-tô là Chúa như Ngài, muôn dân cần phải có Ngài vì thế việc Ngài giáng sinh tại thành của Đa-vít là một Tin mừng trọng đại cho tất cả nhân loại.
Lại cũng vì loài người ai cũng phạm tội, cũng đau khổ dưới ách tội lỗi và tự mình vô phương cứu thoát.
"Từ trời cao, Chúa nhìn xuống loài người,
xem ai là kẻ có lương tri,
biết kiếm tìm Thiên Chúa.
Người người đã lía xa chính lộ,
chỉ biết theo nhau là chuyện suy đồi.
Chẳng có một ai làm điều thiện,
dẫu một người cũng không." (Tv 14, 2-3)
"Nếu chúng ta nói là chúng ta không có tội, chúng ta lừa dối mình, và sự thật không ở trong chúng ta". (1 Ga 1,8)
Ngày nay khoa học kỹ thuật đã tiến bộ hơn trước nhiều, cung cấp cho con người đủ thứ tiện nghi vật chất, nhưng con người vẫn đau khổ, vẫn không được an vui. Vì sao thế, vì đã phạm tội, vì gánh nặng của tội lỗi cứ đè nặng, vì nọc độc của tội lỗi cứ ám ảnh, lương tâm không được bằng yên. Thế gian cũng đã từng áp dụng nhiều phương pháp : cải cách xã hội, đòi hỏi nhân quyền, khắc kỷ tu thân, nhưng các phương pháp ấy vô hiệu lực. Vì tất cả các phương pháp ấy đều không cất khỏi gánh nặng đang đè nặng trên con người. Duy chỉ có Đấng Cứu Thế mới có khả năng cất khỏi sức nặng tội lỗi đè nặng trên con người.
Vì Ngài chính là "Thiên Chúa ở với loài người", giáng sinh làm người, duy mình Ngài giáng sinh làm người, gánh lấy hết tội lỗi, và chết thay cho tội nhân
"Thật chính Ngài đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta. Chính Người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta tội lỗi, đã phải mang thương tích để chúng ta được chữa lành. Tất cả chúng ta lạc lõng như chiên cừu, lang thang mỗi người một ngả, nhưng Chúa đã đổ trên đầu Người tội lỗi của tất cả chúng ta." (Is 3,4.5)
Và khi Ngài vừa xuất hiện để được Gio-an Tẩy giả giới thiệu : "Đây là Chiên Con Thiên Chúa, Đấng gánh tội trần gian.
Bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta là ngay khi chúng ta còn là tội nhân, Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta (Rm 5,6).
Và chết cũng có nhiều cách, nhưng Đức Ki-tô lại chết cách đau đớn trên thập giá !
Đức Ki-tô đã tự hiến tế như lễ vật vẹn toàn, máu của Người thanh tẩy lương tâm chúng ta khỏi những việc đưa tới sự chết, để chúng ta xứng đáng phụng thờ Thiên Chúa hằng sống (Dt 9,14).
Máu của Đức Ki-tô Con của Người thanh tẩy chúng ta sạch hết mọi tội lỗi (1 Ga 1,7)
Suy gẫm về cái chết của Chúa Giê-su, khiến cho lòng chúng ta vô cùng cảm động, vì Người là Con Thiên Chúa vô tội mà giáng sinh làm người thay cho chúng ta là tội nhân mà chịu chết, gánh lấy hết tội lỗi, khiến lòng chúng ta tràn ngập mừng vui vì Ngài cất đi gánh nặng tội lỗi đè nặng trên chúng ta.
Đấng Cứu Thế, là Đức Giê-su Ki-tô đã từ trời giáng sinh do Đức Ma-ri-a tại thành của Đa-vít, chịu chết trên thập giá tại đồi Can-vê để đền tội cho nhân loại, và Ngài cũng đã sống lại, lên trời, ngự bên hữu Thiên Chúa . Bởi sự sống lại và hằng sống mà Ngài có quyền lực siêu nhiên để làm Đấng Cứu Thế cho muôn dân thiên hạ.
Nhân loại đang đắm chìm trong tội lỗi, mong muốn được Ngài cứu thoát.
Trước Thượng Hội Đồng, Phao-lô tuyên bố : "Ngoài Người ra, không ai đem lại ơn cứu độ, vì dưới gầm trời này không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được ơn cứu độ."
Chính vì chỉ có Chúa Giê-su, Đấng nắm giữ quyền lực siêu nhiên, chiến thắng tội lỗi, sự chết và ma quỷ, sống lại từ cõi chết, được "Thiên Chúa đặt làm Đức Chúa và làm Đấng Ki-tô" (Cv 2,36) và thông ban sự sống đời đời cho những ai đặt niềm tin nơi Ngài để được sống một cuộc sống tự do vui vẻ mà sự giáng sinh của Ngài là một Tin mừng trọng đại.
Tin mừng về Đấng Cứu Thế, về Đấng Ki-tô giáng sinh mà tôi loan báo hôm nay là tin mừng cách đây 2000 năm thiên sứ đã phát thanh tại cánh đồng Bê-lem.

 

GS-145: NGÔI LỜI ĐÃ TRỞ NÊN NGƯỜI PHÀM

VÀ CƯ NGỤ GIỮA CHÚNG TA
LỄ BAN NGÀY (Ga 1,1-18)
1 VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Một bài thánh ca thay cho lời tựa.
 

Mát thêu mở đầu tác phẩm của mình bằng "Cuốn Sách gia phả Đức Giêsu Kitô, con cháu vua: GS-145

Mát thêu mở đầu tác phẩm của mình bằng "Cuốn Sách gia phả Đức Giêsu Kitô, con cháu vua Đavit, con cháu tổ phụ Abraham". Luca mở đầu "Bài tường thuật về những điều đã thực hiện giữa chúng ta " (1.1) của ông bằng một trình bày thứ tự về một vài tình tiết cuộc đời thơ ấu của Đức Giêsu: cuộc đời Đức Kitô cùng một lúc được Luca đưa vào đó để giới thiệu trước Máccô, như ta biết ở Chúa nhật thứ hai Mùa Vọng - lại thích đặt cho cuốn sách của ông cái danh hiệu rất ý nghĩa này: 'Khởi đầu Tin Mừng Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa ".
Còn Gioan như trồi lên khúc nhạo dạo đầu cho Phúc âm của ngài bằng Lời Tựa mang hình thức một bài thánh ca, mà nhiều nhà chú giải nghĩ rằng đã được cộng đồng của Gioan hát trước khi được đem vào làm lời tựa cho Phúc âm thứ tư. Theo kiểu cách "dạo đầu " của một bản giao hưởng - hay đúng hơn theo cách thức chuyển động nhịp điệu để chuẩn bị kết thúc - bài thánh ca này phối trí các chủ đề một cách rất cô đọng.
Alain Marchadour giải thích, "Khi tìm nhập đề cho sách Tin Mừng của mình, Gioan đã chọn và thích ứng bài thánh ca để làm nhập đề trình bày lần lượt những chủ đề chính của Tin Mừng, tựa như phần nhạc dạo đầu của một vở nhạc kịch vậy: Đức Giêsu mà Tin Mừng sắp kể lại thân thế và sự nghiệp khi sống giữa nhân loại, được tác giả trình bày đi từ lịch sử và cuộc sống trần gian đế tới cội nguồn của Người. Người là Ngôi Lời đã có từ khởi thủy và mật thiết với Thiên Chúa đến độ nhà thi sĩ, tác giả của bài thơ quả quyết rằng Người là Thiên Chúa. Vai trò của người vượt ra ngoài phạm vi dân Israel, vì Người là Đấng tác tạo, là Sự Sống và ánh Sáng cho hết mọi người sinh ra ở trần gian này. Việc xuống thế nhờ mầu nhiệm nhập thể đánh dấu việc Ngôi Lời di vào lịch sử, quyết định gặp gỡ con  người và dân Do Thái: từ đó phân ra hai loại người: kẻ thì từ khước như dân Do Thái, người thì đón nhận: đó là cộng đoàn Kitô hữu. Bài thánh ca này kể lại với một vẻ trang trọng hành trình của Ngôi Lời, từ nơi Người là Thiên Chúa (l-2), đến với loài người (3-5), chọn dân Israel (9-}]), rồi nhập thể, (14) cho đến khi trở về với Thiên Chúa, vì Người vốn ở trong cung lòng Đức Chúa Cha " ("Tin Mừng thính Gioan ", Centurion, 1992, trg, 31).
2. ...để tán dương hành trình của Ngôi Lời Thiên Chúa:
Chúng la sẽ lần lượt đi vào từng câu để thấy cách quáng diễn của bài thánh ca.
- Xuất xứ huyền nhiệm của Đức Giêsu, Ngôi lời tác tạo
+ Hai từ đầu tiên "khởi đầu " nối kết việc Đức Giêsu đến, với những chương đầu của sách Sáng Thế. Như thế Đức Giêsu được đọc lại từ khởi đầu của mạc khải: trải dài suốt sách Tin Mừng, Người sẽ được trình bày như "thành quả của mọi mạc khải, là Đấng mạc khải tối cao, là ân huệ cuối cùng của Thiên Chúa, là con đường duy nhất có thể đưa đến ơn cứu độ, là dung mạo Thiên Chúa ở giữa loài người " (A. Marcha~our. Sđd, trg 34).
+ "Ngôi Lời Thiên Chúa  (từ để chỉ Ngôi Hai Thiên Chúa, chỉ có trong Tin Mừng Gioan thôi) trước hết được giới thiệu là có trước từ đời đời, vô cùng mật thiết với Chúa Cha, khác biệt với Chúa Cha, có cùng bản tính Thiên Chúa: "Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa và Ngôi Lời là Thiên Chúa ".
Rồi bài thánh ca tán dương công trình tạo dựng vũ trụ của Đấng là Lời vĩnh hằng của Thiên Chúa: "Nhờ Ngôi Lời vạn vật được tạo thành và không có Người thì chẳng có gì được tạo thành ". Đồng thời Ngôi Lời ban sự sống cho thế gian và cho thế gian hiện hữu.
- Ngôi Lời Thiên Chúa là ánh Sáng và Sự Sống cho mọi người.
  Mặc đầu vẫn hướng về Thiên Chúa và là chính Thiên Chúa, Ngôi Lời từ đời đời vẫn có một tương quan độc đáo với loài người. người không chỉ là Đấng tạo thành; Người ban "Sự Sống " và "ánh Sáng "; Người không chỉ là nguồn mạch mọi sự sống; việc Ngôi Lời hiện diện giữa loài người mang lại hoa trái là biểu lộ và thông ban sự sống siêu nhiên cho con người. Ngôi Lời cũng là ánh Sáng, không phải ánh sáng vật chất của vũ trụ mà là ánh sáng của Thiên Chúa, ánh sáng siêu nhiên soi sáng và hướng dẫn mọi người.
  + Chứng của Gioan Tẩy Giả
  Tương phản khác thường với vẻ trang trọng của những câu đầu của Lời Tựa, giờ đây Gioan Tẩy Giả lên sân khấu: " Có một người. . . " .
Ánh sáng đến trong thế gian có người làm chứng đi trước: Gioan con ông Dacaria. Ông này được nên cao cả là vì đã được Thiên Chúa sai đến và đã nhận lãnh sứ mạng làm chứng cho ánh sáng; với tư cách là Tiền Hô, ông đưa người ta đến với niềm tin vào Đấng là ánh sáng và là Đấng phải nắm giữ mọi địa vị: "ông không phải là ánh sáng, nhưng ông đến để làm chứng về ánh sáng ".
- Ánh sáng đến thế gian
+ Nhưng khi ánh sáng đến thế gian, thì đã vấp phải sự chống đối và khước từ của con người. Thế gian do Ngôi Lời tạo thành đă từ chối ánh sáng, đó đã là một chuyện tai tiếng rồi: "Người ở giữa thế' gian, và thế gian đã nhờ Người mà có, nhưng lại không nhận biết Người ". Còn một xì-căng-đan lớn hơn nữa, đó là: "những người nhà ", dân của Lời hứa, dân của Giao ước "không chịu đón nhận ".
+ Thế nhưng "những ai đón nhận " là người Israel, hay không phải là lsrael, "thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa ".
- Ngôi Lời đã trở nên người phàm.
+ 'Ngôi Lời đã trở nên người phàm ": Gioan đã không viết là Ngôi Lời đã trở nên người; ông cao rao rằng Ngôi Lời đã trở nên người phàm, một từ chỉ toàn diện con người cả xác lẫn hồn, yếu đuối, mỏng giòn, hay hư nát.
+ và cư ngụ giữa chúng ta" (dịch sát chữ là: "đã dựng lều giữa chúng ta"): đối với các độc giả của Gioan lúc ấy, kiểu nói "dựng lều " gợi nhớ ngay đến "nơi cư ngụ của Chúa " giữa dân Người. Sự hiện diện của Thiên Chúa giữa dân Người xưa được biểu tượng bằng Nhà Lều ở sa mạc thời Xuất Hành, rồi bằng Đền thờ Giêrusalem, thì giờ đây được thể hiện một cách trọn vẹn và triệt để nơi Đức Giêsu. Thiên Chúa làm người (cf. Ga. 2.19-22: " Đền thờ Người  muốn nói ở đây là chính thân thể Người ").
+ "Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người ": nơi con người Đức Giêsu, cộng đoàn của thánh Gioan quả quyết rằng họ đã được nhìn thấy vinh quang của Thiên Chúa, nghĩa là nhìn thấy một phẩm chất, một ánh rạng ngời tỏ lộ Thiên Chúa.
- Đức Giêsu Kitô đã tỏ cho thấy Thiên Chúa vô hình.
"Không ai đã thấy Thiên Chúa bao giờ, nhưng Con một là Thiên Chúa và là Đấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha, chính Người đã tỏ cho chúng ta biệt "
J. Perron lưu ý, " Vì ở đầu bài thánh ca đã có nói về Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, nên bài được kếtí thúc bằng nêu lên câu " Con một là Thiên Chúa và là Đấng hằng ở nới cung lòng Chúa Cha ". Đó cũng chính là hành trình cuộc đời của Đức Giêsu như Gioan tóm tắt lại ở phần cuôí Tin Mừng của ngài trong câu: "Biết rằng Người bởi Thiên Chúa mà đến, và sắp trở về cùng Thiên Chúa " (13..3). Nhưng khi lên cùng Đấng mà chỉ có mình Người được biết ("Không ai đã thấy Thiên Chúa bao giờ,ngay cả ông Môsê!,) thì Người muốn đem ta theo Người: "để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó " (14.3). Hơn nữa, Người còn đưa chúng ta vào đời sống riêng tư  mật thiết này: "Ai yêu mến Thầy, thì .sẽ giữ lời Thầy,  Cha của Thầy  sẽ: yêu mến người ấy. Cha của Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy " ( 14.2~ ( "Đọc thánh Kinh" Số 52, trg 34-35). '

II. BÀI ĐỌC THÊM
1. Một lễ Noel đích thực chúng ta mừng hôm nay
(Célébrer", tạp chí C.N.P.L. số 214, trang 41-42).
Phần phụng vụ tiếp theo lễ nửa đêm mang mầu sắc thật trang trọng lạ lùng! Trong Lễ Đêm Tin Mừng Luca chỉ kể lại biến cố Chúa Giáng sinh một cách quá giản dị, còn Gioan thì đưa ra cho ta một bài suy niệm mà mỗi câu mỗi từ là một kỳ công.
Bài tường thuật cha thánh Gioan không giản dị mà mang một tầm vóc vô cùng lớn lao vượt ngoài sự hiểu biết của ta, điều mà không một bản văn nào cho thấy rõ hơn là Lời tựa lạ lùng của Tin Mừng thánh Gioan.
Trong Tin Mừng Gioan, cũng có những bóng tối, nhưng không phải bóng tối của đêm đen, mà là số phận tăm tối của con người.
Trong Tin Mừng Gioan cũng có cảnh thiếu chỗ để đón tiếp Chúa Giêsu, nhưng không phải chỗ trong nhà trọ ở Bêlem xưa nữa, mà chính là những tấm lòng chai đá của những kẻ không đón nhận "Ngôi Lời " của Thiên Chúa.
Trong Tin Mừng Gioan cũng nói đến một sự sinh ra, nhưng đó là sự sinh ra của những kẻ sinh ra bởi Thiên Chúa, vì họ đón nhận Lời và tin vào Lời Noel chúa đức Giêsu (Tin Mừng Luca) trở thành Noel của chúng ta' (Tin Mừng Gioan).
Thế mới chính là một lễ Noel đích thực mà chúng ta phải mừng hôm nay. Đức Giêsu sẽ không bao giờ còn sinh ra ở Bêlem nữa. Sự sinh ra ấy chỉ xảy ra một lần mà thoi để bù lại mỗi ngày Người làm cho chúng ta sinh ra bởi Thiên Chúa, nếu chúng ta tiếp nhận Người; những ai tiếp nhận Người thì Người cho họ sinh ra bới Thiên Chúa. Bí tích Thánh Tẩy cho ta sinh lại làm con Chúa; nhưng đó mới là khởi đầu. Trong mỗi giây phút của đời ta, Lời vẫn cho ta khả năng sinh lại làm con Chúa. Phải chăng Người cũng an ơn ấy nhưng một cách kín đáo, mà chẳng ai đếm nổi, cho bất cứ ai nhìn nhận rằng ánh sáng trong cuộc đời họ mạnh hơn bóng tối.

 

GS-146: LỄ GIÁNG SINH

Ga 1,1-18
 

Đối với tất cả mọi người, Kitô hữu hay không, lễ Giáng sinh là “hang đá”, những mục đồng,: GS-146

Đối với tất cả mọi người, Kitô hữu hay không, lễ Giáng sinh là “hang đá”, những mục đồng, Maria, bé Giêsu. Tất cả đều đúng. Đấy là Tin Mừng của  Thánh lễ Nửa Đêm, và  Thánh lễ Bình Minh, do Luca viết. (Chúng ta đã bắt đầu Tin Mừng này trong hai cuốn sách trước, các năm B và C). Nhưng hôm nay, huyền nhiệm quá phong phú đến nỗi cần có nhiều Tin Mừng là để giúp chúng ta đi sâu hơn trong biến cố đã làm thay đối bộ mặt trái đất, và đang làm rung động lại gần hai nghìn năm sau, các dàn ông và đàn bà thuộc mọi đất nước trên thế giới: Một hài nhi sinh ra. Chúng ta cũng đọc Lời tựa  của  Thánh Gioan (Thánh lễ Ban Ngày)
Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa và Ngôi Lời  là Thiên Chúa. Lúc khởi đầu Người vẫn hướng về Thiên Chúa
Đức Giêsu sinh ra tại Bê-lem, có ngày tháng có nơi chỗ. Nhưng trước đó, lại đã có một sự sinh ra khác, trước khi thời gian bắt đầu. Thánh Gioan, chỉ qua một cái nhảy, đã đưa chúng ta tới "lúc bắt đầu của thế giới". Và chúng ta tuyên xưng theo kinh Tin Kính của đức tin chúng ta: "sinh bởi Chúa Cha từ trước muôn thế kỷ, người là Thiên Chúa, Thiên Chúa thật, sinh ra bởi Thiên Chúa thật". Để nói về huyền nhiệm này, Gioan sử dụng từ "Ngôi Lời" hay "Lời". Qua từ này Gioan gợi lên cho ta thấy rằng nới Thiên Chúa, có một thứ "đối thoại": nói chúng ta cũng thế, trước khi hiện ra bên ngoài, trước khi được phát hiện ra, lời nói của chúng ta đã có bên trong chúng ta, dưới hình thức một tư tưởng, một cuộc nói chuyện bên trong. Đức Giêsu là Lời của Thiên Chúa, sẽ tỏ Thiên Chúa ra", sẽ làm chúng ta trông thấy Thiên Chúa... bởi vì trước hết, người là tư tưởng của Thiên Chúa, và là chính Thiên Chúa.
Trước khi sinh ra bên ngoài, trước khi tỏ mình ra trong hang đá Bêlem, Ngôi Lời đã có trước bên trong Ba Ngôi Thiên Chúa. Khi ngắm nhìn Đức Giêsu sinh ra dưới trần này, ta đừng quên rằng chính, Thiên Chúa tự mạc khải mình ở đó: "Ai thấy ta, là thấy Chúa Cha" (Ga 12,45 - 14,9). 
Hài nhi hang đá nói gì cho tôi? Có phải đó là Lời nào cho tôi? Người mạc khải điều gì cho ta về Thiên Chúa?
 Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người  thì chẳng  có gì được tạo thành.   
Sau sự sinh ra đời đời của Ngôi Lời Thiên Chúa, đây là điều gợi cho thấy về "sự sinh ra thế giới". Nhờ Người vạn vật được tạo thành và không có Người không có gì được tạo thành. Sự biểu hiện đầu tiên của Thiên Chúa chính là sự sáng tạo của Người. Vũ trụ nói cho ta biết Thiên Chúa toàn thể vũ trụ nói với chúng ta về Đấng Sáng tạo. Khi nhìn các tinh tú, bông hoa, trái đất, những kỳ diệu hạt nhân, và các tế bào sống, khi nhìn người đàn ông và người đàn bà, khi nhìn một hài nhi, khi nhìn cuộc sống và ánh sáng... chúng đã có thể cho ta một ý tưởng về Thiên Chúa.
Nếu Người tự biểu hiện, thì Người đã thông truyền một cái gì đó của Người vào trong cái Người sáng tạo. Và một cách tuyệt đối, “không gì" có mà không ở ngoài Người... Đức Giêsu là người sinh ra đầu tiên của tất cả các tạo vật. 
Điều đã được tạo thành ở nơi Người là sự sống và sự sống là ánh sáng cho nhân loại. Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng.
Sau sự sinh  ra đời đời và sự sinh ra thế giới, thì đây, theo những nhân chú giải hay nhất, “sự sinh ra công cuộc cứu độ sự sống và ánh sáng của lời người".  Dịch thuật tốt nhất có lẽ là cách dịch này: "Cái gì được tạo thành nơi Người, đó là sự sống, và sự sống là ánh sáng của con người...". Quả thế từ "sự sống", trong Thánh Gioan, thực sự luôn luôn có nghĩa là cuộc sống vĩnh cửu, "cuộc sống siêu nhiên", cuộc sống Thiên Chúa, và không phải là cuộc sống tự nhiên: "Cái gì được tạo thành nơi Người, chính là sự sống". Đấy là công trình của Đức Kitô: cuộc sống đích thực duy nhất cho con người, chính ở nơi Người, trong sự sinh ra  của  Người ngày lễ Giáng sinh, trong những lời Người, trong các phép lạ của Người, trong sự chết và sự sống lại của Người. Như thế, trong năm tiết đầu tiên, Gioan đã thảo phác cho chúng ta một bức tranh vĩ đại về dự định của Thiên Chúa: Chúa Ba Ngôi, Sáng Tạo, Cứu Độ. Từ muôn thuở, từ bên trong huyền nhiệm tình yêu của Người, Thiên Chúa mơ ước làm cho chúng ta  chia sẻ cuộc sống riêng của Người.
Sáng tạo là một công trình Thiên Chúa hóa tuyệt vời: Đấng hằng sống đã dự định sáng tạo ta những hữu thể hằng sống, và bóng tối không thể chặn được ánh sáng, cái chết và cái xấu không thể có ánh sáng. Giáng sinh! Giáng sinh! sự sống! Ánh sáng!
Có một người được Thiên Chúa sai đến tên là Gioan. Ông đến  để làm chứng, và làm chứng về ánh sáng, để mọi người nhờ ông mà tin ông không phải là ánh  sáng, nhưng  ông đến để làm chứng về ánh sáng.
Trở thành quá cao siêu trong chiêm niệm, tác giả Tin Mừng thứ tư đi lại từ dưới thấp. Bởi vì, trong câu truyện bắt đầu  hôm nay, ông muốn kể về chính lịch sử của Đức Giêsu. Thế mà Đức Giêsu, chính là một sự kiện lịch sử không thể phủ nhận được, đã được chuẩn bị do lời rao truyền của Gioan Tẩy Giả. Ông này chỉ là một người. Ông không phải là ánh sáng (và tác giả Tin Mừng nhấn mạch đến điều này, để không một người nào có thể lạm chiếm địa vị của Thiên Chúa, hay của Đấng Mêsia).
Nhưng rõ ràng Thiên Chúa cần con người. Đức Giêsu đã cần Gioan Tẩy Giả. Và để sinh ra ngày Giáng sinh, người đã cần đến Đức Maria. Khi quyết định “tạo dựng" loài người, có trách nhiệm và có tự do, như một người chia phần trước mặt Chúa, Chúa đã đóng vai loài người. Bình thường, không ai có thể đến với đức tin nơi Đức Giêsu Kitô một cách trực tiếp, mà trước hết thông qua những trung gian con người, qua những môi giới, những chung nhân... nghĩa là qua những người nam và người nữ chuẩn bị trước con đường ánh sáng.    
Này bạn, bạn mừng  lễ Giáng sinh hôm nay, bạn có phải là chứng nhân của lễ Giáng sinh không? Cuộc đời của bạn có mang cùng một sứ điệp như của Đức Giêsu trong máng cỏ không?      
Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người.
Chỉ một mình Đức Giêsu mới tỏ cho chúng ta biết cái nền tảng của các sự vật. Ý nghĩa quyết  định của tất cả.
Trong ngày lễ Giáng sinh, ngày mà nhiều người không có thói quen đến nhà thờ, thì ngày hôm nay đã đi vào đó, điều tốt là ta nên nghe Thánh Gioan nói lại với chúng ta rằng sự kết hợp sáng lạng của Ngôi Lời: lan tỏa đến hết mọi người không trừ ai... Vâng Thiên Chúa nói với cõi lòng của mọi người, bằng một cách mà chúng ta không biết.
Đúng thế, lễ Giáng sinh nói với cõi lòng mọi người. Một làn sóng của lòng nhân ái đổ tràn trên thế giới trong những ngày này. Mỗi người cảm thấy trong đáy lòng mình tiếng gọi phải yêu mến nhiều hơn. Thiên Chúa bị che khuất không ở xa mỗi người chúng ta, bởi vì người là ánh sáng nhỏ bé này thỉnh thoảng chiếu sáng cuộc đời tăm tối của chúng ta.
Người ở giữa thế gian, và thế  gian đã nhờ Người mà có, nhưng lại không nhận biết Người. Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận.
Tất cả Tin Mừng  Thánh Gioan đầy tính cách nước đôi đáng khiếp sợ này: trước mặt Đức Giêsu, có những kẻ theo Người , và những người khước từ...có những  người tin và những người không tin. Bạn mừng lễ Giáng sinh hôm nay, bạn có làm một hành vi đức tin, mà ở đó, bạn có đi thêm một bước nữa theo Đức Giêsu không? Chúng ta có tật hỏi mình có nhận biết Thiên Chúa trong cuộc đời mọi ngày của chúng ta không?
 Chuyện đó không hiển nhiên. Điều đó không dễ dàng: "những người nhà của người đã không nhận biết Người...". Thập giá đã hiện lên trên máng cỏ, được làm cũng bằng chính thứ gỗ đau khổ: con người khước từ tin vào Tình yêu, và thế là khước từ sự sống và ánh sáng..
Còn những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa. Họ được sinh ra không phải do khí huyết, cũng chẳng do ước muốn của nhục thể hoặc do ý muốn của người đàn ông, nhưng do bởi Thiên Chúa.
Như thế trong cùng một bản văn, chúng ta được Chúa mạc khải "sự sinh ra đời đời" của Ngôi Lời, Gioan cũng cho chúng ta biết rằng chính ta, ta có hai sự sinh ra: chúng ta được sinh ra cho loài người phải chết và bị giới hạn bởi cha mẹ chúng ta, "bởi ý chỉ con người", bởi xác thịt và bởi máu, và chúng ta biết rõ tính mong manh liên hệ với thân phận con người của chúng ta... Nhưng đức tin cho chúng ta thấy một sự sinh ra, thuộc về Thiên Chúa; chúng ta sinh ra bởi Thiên Chúa... như thế có một cuộc sống Thiên Chúa ở nơi chính giữa hữu thể mong manh của chúng ta, và cuộc sống này là đời đời như Thánh Gioan không ngừng nói lại (Ga 3,15 - 3,36 - 4,14 - 4,36 - 5,24-39 - 6,27 - 40,47 - 54,68 - 10,28 - 12,25-50 - 17,2-3).
Thế thì điều kỳ diệu, chính là, theo cách giải thích sâu xa nhất về câu nói của Thánh Gioan, có ở tất cả mọi người, như thể hai mức độ sinh ra của  Thiên Chúa, mà Gioan dùng hai kiểu nói sinh ra từ Thiên Chúa... con cái Thiên Chúa  
1."Sinh ra từ Thiên Chúa”, mọi người đều ở trong tương quan đầu tiên về con cái với Người. Không có người đàn ông hay đàn bà nào lại hoàn toàn ở ngoài đời sống mà Thiên Chúa đã ban cho. Như thế cũng không bao giờ có con người hiện hữu mà không có Thiên Chúa ở đó. Thánh Phaolô nói rõ tư tưởng này: những người ngoại giáo, không biết Chúa, cũng từ Chúa mà sinh ra và có thể được cứu thoát trong khi họ thực thi "luật lệ được ghi trong dòng họ" (Gr 1,33; II Cr 3,2-3). Vâng, Thiên Chúa muốn cứu thoát tất cả những ai sinh ra từ Người, và Người ban cho họ ơn cứu độ trong khi giúp họ sống theo lương tâm của họ (Rm 2,14-16).
2."Con cái Thiên Chúa", chính là một giai đoạn khác, dựa trên giai đoạn trước: người ta trở nên con Thiên Chúa nhờ đức tin khi người ta tin vào danh Đức Giêsu. Và ở đây chúng ta có cách nói rất mạnh mẽ mời  gọi những người của Thiên Chúa đã sống một cách ẩn tàng, trở nên những con cái của Người một cách rõ ràng nhờ tình trạng dự tòng và thanh tẩy, nghĩa là bằng cửa ngõ rõ ràng gia nhập Giáo Hội, người dân hữu hình của con cái Thiên Chúa.
Tại sao biết bao người đàn ông và đàn bà, trong ngày lễ Giáng sinh này, bỗng chốc lại muốn "trở lại vào nhà thờ", dù ít khi đến đó? Tại sao họ đến mừng lễ Giáng sinh? Phải chăng họ không tự cảm thấy điều thánh Gioan nói ở đây sao? Phải chăng ở đáy lòng mỗi người không có một ước muốn thầm kín: nếu điều đó là thật sao? Nếu sự thật là chúng ta chỉ là những con người phải chết... nhưng trong chúng ta có một sự sống đời đời chăng? 
Và Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư  ngụ giữa chúng ta. Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang mà  Chúa Cha ban cho Người, là Con một đầy  tràn ân sủng và sự thật
Này đây chúng ta được dẫn trở lại một cách rất cụ thể đến với hài nhi Bê-lem: trong hang bò lừa, trên rơm rác nghèo hèn của con người giống như chúng ta, chúng ta có thể chiêm ngắm “xác thịt" mà Người đã nhận. Vâng, Người đã trở nên mong manh để ban cho chúng ta tính đời đời của Người... Người trở nên phải chết, để ban cho chúng ta tính bất tử của Người  người trở thành người để chúng ta trở thành "những Thiên Chúa", nhử các giáo phụ của Giáo Hội sơ khai đã dám quả quyết như thế. Ở thế giới đã tỉnh ngộ và trải qua cơn khủng hoảng xã hội, nơi mà dường như tất cả đều sụp đổ Thánh Lêon vào thế kỷ IV, chính lúc mà Attila và những quân man di của ông vây hãm nền văn minh Rôma, đã kêu lên trong một bài giảng ngày lễ Giáng sinh: "Oi người Kitô hữu, hãy nhận biết phẩm cách của người, và sau khi đã được làm cho dự phần vào thiên tính, chớ quay trở lại sự thấp hèn ban đầu của ngươi, qua cách ứng xử bất xứng của nòi giống ngươi”.
Ngôi Lời đã hóa thành nhục thể, Người Con độc nhất. Khi nãy, để nói về chúng ta, Gioan đã dùng những từ “tekna Théou", “con cái Thiên Chúa". Nhưng ở đây Người dùng những từ dành riêng cho Thiên Chúa: "Uios Théou”, Con (trai) Thiên Chúa. Tính chất con của Đức Giêsu là "độc nhất". Và để gợi ý cho chúng ta biết về huyện nhiệm mà chỉ có đức tin mới giới thiệu cho ta, ở đó, Gioan dùng một thuật ngữ rõ ràng và có tính mạc khải "eskenoisei" "người đã ở"...mà đáng lẽ ta nên dịch là: "người đã dựng lều” giữa chúng ta. Từ Hy Lạp này đã được dùng trong Bản Bảy Mươi, bản dịch Hy Lạp của Cựu ước để dịch khái niệm Do Thái "Shekinah”, "nhà ở của Thiên Chúa" nơi dân Người... cái "lều của Thiên Chúa” với dân Người ở sa mạc... rồi cái Đền Thờ Giêrusalem, nơi hiện diện thực sự, nơi Vinh Quang của Thiên Chúa. 
Chính từ nay trở đi "nhục thể" của hài nhi Bê-lem là nơi này.
Ông Gioan Tẩy Giả làm chứng về Người, ông tuyên bố : "Đây là Đấng mà tôi đã nói: Người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi"
Trong  đoạn thứ hai về Gioan Tẩy Giả này, tác giả khởi đi lại đến một làn sóng mới trong tư tưởng của ông theo vòng xoáy tròn ốc đi lên, đi lên mãi.
Gioan Tẩy Giả, người cuối cùng của Cựu ước, người cuối cùng trong các ngồn sứ, khẳng định lại sự khác nhau về bản tính giữa ông và Đức Giêsu: chúng ta sinh ra trong thời gian, Đức Giêsu sinh ra trước thời gian. Chúng ta được ban cho một sự "Thiên Chúa hóa" làm cho chúng ta trở nên con cái Thiên Chúa... nhưng Đức Giêsu là Thiên Chúa từ đời đời trước tôi đã có Người.
Từ nguồn sung mãn của Người, tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác. Quả thế lề luật đã được Thiên Chúa ban qua ông Môisê, còn ân sủng và sự thật, thì nhờ Đức Giêsu Kitô mà có.
Lịch sử của Thiên Chúa với loài người là một công trình sung mãn, Tình yêu dạt dào từ ơn này đến ơn khác, tình yêu cho không này đến tình yêu cho không khác, quà tặng này đến quà tặng kia. Luật ban cho Môisê, và tất cả cuộc phiêu lưu của Do Thái xưa, đã là một lịch sử kỳ diệu về tình yêu, lịch sử về Giao ước: hai từ "ơn huệ và sự thật” cho thấy đặc tính hành động của Thiên Chúa là từ đời đời. Nhưng nơi Đức Giêsu thì tràn đầy, có thể nói như thế: đó là sự sung mãn. Loài người, từ nay, có tràn đầy Thiên Chúa! Nơi Đức tin của Đức Maria, gương mẫu của tất cả mọi tin hữu sau này, loài người, tràn đầy Thiên Chúa, sẽ sinh ra Người trong cung lòng của chính mình.
Và ngày nay như muôn thời gian, "toàn thể tạo vật những ngong ngóng chờ đợi ngày Thiên Chúa mạc khải vinh quang của con cái Người... và quằn quại rên la như sắp sinh con" (Rm 8,18-22). Vâng hôm nay, trong lễ Giáng sinh này, ân huệ và sự thật đến, nhờ Đức Giêsu Kitô, đang sinh ra trong cõi lòng nhân loại.
Thiên Chúa chưa có ai thấy cả;  nhưng Con Một vồn là Thiên Chúa và là Đấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha, chính Người đã tỏ cho chúng ta biết.
Vĩ đại biết bao, tình yêu này của Thiên Chúa? Người biết mình siêu việt, vượt trên tất cả mọi thụ tạo. Người không thể được xem như một trong những vật thể trên thế gian này. Nhưng người đã nhập thể nơi Đức Giêsu. Và trong khi nhìn ngắm Đức Giêsu, chúng ta có thể đoán biết Thiên Chúa bị che khuất là gì.
Trong khi lắng nghe Đức Giêsu, chúng ta có thể biết Thiên Chúa lặng lẽ này nghĩ gì và muốn gì...
Đây là lời tựa "của Tin Mừng theo Thánh Gioan, sẽ hòa điệu với tất cả những gì theo sau: nơi Đức Giêsu, Thiên Chúa nói với con người, người bộc lộ bí mật của Người và huyền nhiệm của Người. Ai yêu mến, dù người đó là Kitô hữu hay không, đều được hợp nhất với Thiên Chúa và sinh ra từ Thiên Chúa...Nhưng ai tin vào Chúa Giêsu thì vào trong chốn sung mãn mới, bởi vì người biết Thiên Chúa và trở nên con của Người.
Lạy Chúa trong ngày lễ Giáng Sinh này, xin cho chúng con thuộc về chân trong, thuộc về Giáo Hội của Người, nhờ tình yêu của cuộc sống dâng hiến, và cũng cho chúng con, một cách rõ rệt và hữu hình, thuộc về Giáo Hội của Người nhờ nhiệm tích Thanh Tẩy và Thánh Thể

 

GS-147: GẶP GỠ BẠN NGHÈO ĐỂ NHẬN ĐƯỢC HOÀ BÌNH

CỦA ĐỨC KITÔ
LỄ ĐÊM GIÁNG SINH
Is 9,1-6; Tt 2,11-14; Lc 2,1-14
 

Hôm nay chúng ta kỷ niệm ngày chúa giáng sinh. Ngài đem hòa bình và ơn cứu độ cho chúng và: GS-147

Hôm nay chúng ta kỷ niệm ngày chúa giáng sinh. Ngài đem hòa bình và ơn cứu độ cho chúng và cho tất cả loài người
Vào dịp lễ này, chúng ta vẫn thấy tượng Chúa Hài Nhi trong hang đá, mình quấn khăn vải đơn sơ nằm trên máng cỏ, quỳ bên cạnh là bà mẹ trẻ Maria nghèo nàn và bác thợ mộc Giuse chất phác. Họ đã “không tin được chỗ trong quán trọ" như bài Tin Mừng vừa diễn tả vì họ là những người rất nghèo.
Thế nhưng, chính khi gặp gỡ được những con người nghèo khổ ấy, các mục đồng và đạo sĩ lại cảm thấy vui sướng, bình an. Các thiên thần cũng tụ lại xung quanh họ để hát lên lời ngợi khen:
           Vinh danh Thiên Chúa trên trời,
Bình an dưới thế cho loài người Chúa thương...
Chính hình ảnh này đã gợi ý cho Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II chọn làm chủ đề cho Sứ Điệp của Ngài nhân ngày Hoà Bình Thế Giới cử hành vào ngày 1-1-1993 với đề thi: Nếu bạn muốn hoà bình, hãy đi gặp gỡ những người nghèo”. Sứ điệp ấy vẫn còn giá trị cho chúng ta hôm nay vì người nghèo đang bị bỏ rơi và càng ngày chúng ta càng cảm thấy bất an. Vì thế, chúng ta cùng tìm đến gặp gỡ những người bạn nghèo khổ quanh ta để đón nhận được ơn hoà bình của Chúa Giêsu Kitô.
1. NHƯNG...CÁC BẠN NGHÈO Ở ĐÂU ĐỂ TA GẶP ĐƯỢC HỌ
Vào những ngày lễ như hôm nay, nhìn xung quanh, ta thấy ai cũng ăn mặc lịch sự, gọn gàng. Nhiều người còn có những bộ quần áo thật mới lạ. Nó làm cho ta cảm tưởng là không phải dễ dàng tìm được người nghèo. Rồi chúng ta nghĩ mình sẽ lặn lội đến các vùng thôn quê hẻo lánh hay các khu xóm tối tàn nơi thành thị để tìm được Đức Giêsu ẩn thân nơi những con  người nghèo khổ. Nhưng cậu bé Giêsu ấy thật khó kiếm bởi vì người ta đã quên không tìm ngay trong ngõ ngách nào đó của tâm hồn mình và đã không ngờ rằng Giêsu có thể là chính mình.    
Cảnh sát thành phố Los Angeles ở Mỹ đã từng lùng sục mọi hang cùng ngõ hẻm tối tăm để tìm một em nhỏ tên Thad. Nhiều người ở Mỹ và Canađa đã góp tiền, thực phẩm để tặng cho em khi người ta chuyển đến "Cơ Quan Bảo Vệ Trẻ Em Thành Phố" một bức thư đầy lỗi chính tả của em. Em viết như sau:
“Thưa ông “dà”Noen,
Giáng Sinh nay xin ông giúp đỡ bố mẹ con. Bố con không còn đi làm nửa. Bây giờ nhà con không có nhiều thức ăn. Mẹ con phải cho chúng con ăn những thức ăn đáng lẽ mẹ ăn.
Con muốn được lên “chời” để ở chung với các thiên thần. Ông mang con lên “chời” nhé. Bố mẹ con sẽ không phải mua đồ ăn cho con nữa. Điều đó sẽ làm cho bố mẹ con “sung sướng”. Xin ông mang cho bố con một chỗ làm và ít thức ăn.
Con sẽ không ngủ đâu. Khi ông cho bố con một việc làm và cho mẹ con ít thức ăn, con sẽ đi với ông bà và bầy tuần lộc...
Con gửi lời chúc Giáng Sinh vui vẻ đến ông bà Noen và các chú lùn nữa.
 Ký tên : Thad.
Người ta vẫn chưa tìm ra em Thad y như rất nhiều người Do Thái đã không tìm ra trẻ Giêsu nghèo khó năm xưa. Họ đâu dám đi ra ngoài vì sợ trời lạnh, họ không dám đến những khu nhà tối tăm, bẩn thỉu vì sợ dơ áo, dơ quần. Ho giống như những người giàu thời đại chúng ta chỉ muốn ở yên trong nhà, tự mãn với những nệm êm, chăn ấm, với những bữa tiệc, những cây thống đủ ánh đèn màu, với những chương trình tivi hấp dẫn. Những người giàu ấy sẽ phải khóc vì không nhận được ơn bình an và ơn cứu độ của Chúa Hài Đồng.
2. TRỞ THÀNH NGƯỜI NGHÈO NHƯ CHÚA GIÊSU
Có thể chúng ta cũng đang là những "người giàu sẽ khóc" như họ đấy! Người nghèo thật sự không phải chỉ xét qua bộ, quần áo rách rưới, túp lều tồi tàn bên ngoài nhưng là những người có tinh thần nghèo khó như Đức Giêsu đã dạy. Do đó, ta thấy các vị đạo sĩ dù ăn mặc sang trọng với các lễ vât quý giá như: vàng, nhũ hương, mộc dược... đã có mặt bên cạnh những mục đồng nghèo khổ rách rưới trong hang đá năm xưa để gặp được Giêsu. Ho đều là những người nghèo khó thật sự vì cảm nhận được thân phận yếu đuối của mình nén hoàn toàn tin cậy nơi Chúa cũng như sẵn lòng chia sẻ phúc lộc Chúa ban cho mọi người. Và chỉ những người này mới gặp được Vị Chúa Nghèo của lòng mình.
Còn chúng ta có thể là những "người giàu” bởi vì chúng ta đang sống một cách ích kỷ, chỉ biết hưởng thụ những của cải, sức khoẻ, tài năng Chúa ban mà chẳng chịu chia sẻ cho ai khác. Hơn nữa, chúng ta còn phung phí những ân huệ ấy một cách vô ích. Chúa ban cho ta một ngày có 24 giờ, mỗi giờ có 3.600 giây.
Một nụ cười, một lời nói "Cám ơn", "Xin lỗi", một lời chào bạn bè, chào thầy cô khi đến trường chỉ tốn có 1-2 giây thôi, thế mà không mấy ai biết nở  nụ cười chân thành để làm vui lòng cha mẹ, anh em, chẳng mấy ai biết nó; lời cám ơn, chào hỏi ... cho những người sinh ra mình, nuôi nấng, dạy dỗ mình.Chúng ta giữ mãi sự giàu có, bực bội, giận hờn. Đó không phải là chúng ta đã phung phí thời giờ Chúa ban hay sao?
Sức khoẻ,tài năng Chúa ban nhiều khi ta cũng phung phí như vậy. Biết bao lần ta ngồi xem tivi, video thật khuya mà đáng lẽ ta cần ngủ sớm để bảo đảm sức khoẻ cho công việc, học hành. Bao nhiêu lần ta thức dậy muộn và lười biếng không chịu tập thể dục buổi sáng. Nếu ta bớt giờ xem tivi hay đi chơi để luyện tập, học hành, làm việc, chắc thân xác ta đã khoẻ mạnh hơn, gia đình ta đã hạnh phúc hơn, đất nước ta đã giàu mạnh hơn.
Chúng ta cần phải trở thành những người nghèo thật sự, nghèo khó trong tinh thần, thì mới gặp được những bạn nghèo, mới gặp được Đức Giêsu sinh ra trong hang đá tâm hồn mình và nhận được ơn hoà bình của Chúa.
3. GẶP GỠ CÁC BẠN NGHÈO NHƯ THẾ NÀO?
Gặp gỡ bạn nghèo chẳng phải là ta đến các khu nhà "kinh tế mới" tồi tàn như ở Mả Lạng, Đồng Tiến, Q.I -- Tp-HCM, rồi đưa cho họ ít tiền hay đồ dùng thừa thãi. Gặp gỡ kiểu đó ít có hiệu quả vì rất nhiều bạn nghèo  không phải chỉ thiếu tiền, thiếu áo. Ho còn thiếu văn hoá vì không được học hành, họ thiếu tình thương vì không được cảm thông, họ thiếu niềm vui vì không được nhìn nhận như một người bình đảng trong xã hội, họ thiếu ơn cần độ vì không được nghe. Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô. Ho giống hệt trẻ thơ Giêsu khi xưa bị hất hủi. Còn Giêsu ngày nay vẫn đang cần những nhu cầu cần thiết và nhất là hơi ấm tình người. Chúng ta có thể đem lại gì cho Ngài để đổi lấy bình an?  
Cách gặp gỡ hiệu quả, được Đức Thánh Cha khuyến khích, đó là chúng ta hãy "sống điều độ, chừng mực, đơn sơ" trong cuộc sống hằng ngày. Muốn sống điều độ, ta phải có một thời khoá biểu rõ ràng, ăn uống, ngủ nghỉ, làm việc đúng giờ.
Mỗi sáng, ta nên tập thể dục hay chơi thể thao cho khoẻ. Muốn sống đơn sơ, ta hãy bằng lòng với những cái Chúa ban trong cuộc đời. Hãy nhìn vào hang đá tồi tàn để học bài học nghèo khó đơn sơ của Hài Nhi Giêsu. Ngài dù là Thiên Chúa mà vẫn không đòi sinh ra trong cung điện sang trọng, không đòi phải mặc gấm vóc, lụa là, không đòi giường êm, nệm ấm.
Chính khi chúng ta vui lòng đón nhận những cái bình thường như quà tặng đầy yêu thương của Thiên Chúa, tâm hồn ta sẽ thoát khỏi những mặc cảm tự ti hay tự tôn và nhận được ơn bình an của Chúa. Như thế, muốn gặp gỡ bạn nghèo cho có hiệu quả chúng ta phải phát huy tất cả những khả năng của mình, sử dụng tốt thời gian, sức khoẻ, phương tiện vật chất Chúa ban cho mình để làm vinh danh Chúa và mang lại hạnh phúc cho anh chị em.
KẾT LUẬN
Khi chúng ta cố gắng hết mình như thế, chúng ta giống như cậu bé đánh trống trong bài ca Giáng Sinh ta vẫn hát. Người ta rủ cậu đến chào Vua Giêsu mới sinh và nói phải mang quà đến cho Ngài. Cậu nghèo lắm, chẳng có quà như mọi người nên chỉ biết đánh một điệu trống thật hay cho Chúa Giêsu. Giêsu đã nghe và rất hài lòng. Ngài đã mỉm cười với cậu Giêsu cũng sẽ mỉm cười với chúng ta vì chúng ta đã trở thành người có tinh thần nghèo khó và đã chơi hết sức mình trên chiếc trống nhỏ Ngài ban tặng cho ta trong cuộc đời mình.
Cầu chúc anh chị em một lễ Giáng Sinh an bình đầy ơn thánh Chúa và gặp được Vị Chúa Nghèo như lòng vẫn ước mong.
LỜI NGUYỆN TÍN HỮU
+ Trong Đêm Mừng Chúa Giáng Sinh này, chúng ta hãy dâng lên Chúa Giêsu Cứu Thế hết mọi ngươi Ngài ôm ấp trong lòng khi đến trong cuộc đời.
1. Xin Chúa ban cho mọi người đêm nay mừng Chúa giáng sinh cũng dâng cho Chúa khuôn mặt của mình để tỏ bày tình thương Chúa dành cho nhân loại.
2. Xin Chúa ban cho mọi người đêm nay hát mừng Chúa giáng sinh cũng dâng cho Chúa môi miệng của mình để bênh vực kẻ nghèo hèn và bị áp bức.
3. Xin Chúa ban cho mọi người đêm nay nhìn thấy ánh sao giáng sinh cũng dâng cho Chúa đôi mắt của mình để ngắm nhìn hình ảnh của Chúa nơi mỗi người anh em.
4. Xin Chúa ban cho chúng con đêm nay đón Chúa giáng sinh trong lòng cũng dâng lên Chúa cuộc đời mình để hiến thân xây dựng Hạnh Phúc An Bình cho quê hương.
+ Lạy Cha là Thiên Chúa quyền năng Cha đã yêu thương loài người chúng con đến nỗi ban Chúa Giêsu cho chúng con. Xin lắng nghe lời chúng con nguyện cầu đêm nay để mầu nhiệm giáng sinh được tiếp diễn mọi ngày cho đến tận thế. Chúng con nguyện xin như cũng một Đức Kitô Chúa chúng con.   

 

GS-148: LỄ GIÁNG SINH.

Is 52,7-10 ; Dt 1,l-6;   Ga 1,1-18.
 

Chủ đề của năm phụng vụ 1996 này là “Sám hối và canh tần" để chuẩn bị cho Năm Thánh 2000.: GS-148

Chủ đề của năm phụng vụ 1996 này là “Sám hối và canh tần" để chuẩn bị cho Năm Thánh 2000. Trong tinh thần đó chúng ta tìm cách thống nhất đời sống, nghĩa là quy hướng tất cả con người mình cùng với mọi tài năng, ân sủng và những tương quan đa dạng vào Đức Giêsu Kitô. Ngài là điểm hội tụ duy nhất như thánh Phaolô đã nói:"Mọi sự thuộc về anh em, còn anh em thuộc về Đức Kitô và Đức Kitô lại thuộc về Thiên Chúa"(1 Co,22-23). Cuộc Giáng sinh của Ngôi Lời Thiên Chúa là Đức Giêsu Kitô sẽ cho chúng ta hiểu Ngài đã thống nhất được đời sống của mình ra sao và đã phát huy được sức mạnh để đổi mới các mối quan hệ của con người như thế nào.

I. NGÔI LỜI ĐÃ THỐNG NHẤT ĐƯỢC TOÀN VẸN CONNGƯỜI MÌNH VÀ QUY HƯỚNG TẤT CẢ VỀ CHÚA CHA
Dưới tất động của Chúa Thánh Thần, Ngôi Lời đã nhận lấy thể xác và linh hồn để trở thành một con người mang tên Giêsu. Con người ấy sống vào thời điểm cách chúng ta – gần hai ngàn năm và trong không gian xác định là nước Do Thái.
Dù chỉ là một hài nhi mới sinh nằm trên máng cỏ, trong hang đá tồi tàn nhưng Ngài đã thống nhất được thần tính và nhân tính trong mình để  trở thành vị Người Chúa cao sang, khiến cho muôn thiên thần phải kính cẩn tôn thờ và hát lên lời ngợi ca:
                Vinh danh Thiên Chúa trên trời,
Bình an dưới thế cho loài người Chúa thương.
Bài trích thư gửi tín hữu Do Thái hôm nay đã nói rõ ý đó: “Khi ban Con Một mình cho thế gian, Chúa lại phán rằng: "Tất cả các thiên thần Chúa hãy thờ lạy Người".
1.2 Hơn nữa, Ngôi Lời còn hoà hợp dưới sức mạnh vô biên của tinh thần với những giới hạn của thể xác để trở thành một con người hoàn hảo. Không còn sự sâu xé, giằng co giữa hai đối lực trong cùng một con người đến nỗi thánh Phaolô đã phải thốt lên: “Điều tới muốn thì tôi không làm, còn điều tôi không muốn thì tôi lại cứ làm”.
Không còn sự bất mãn, bạo loạn, phản kháng trong con người trước những ý định của Thiên Chúa.
Vị Người Chúa đó khiêm tốn, hiền hoà, bình an như một em bé mới sinh nằm trong máng cỏ. Em bé ấy không nói lời khước tư không phản kháng như Ađam Evà xưa trong Vườn Địa Đàng. Sự vâng phục và khiêm tốn này còn lên tới tột đỉnh khi em đã trưởng thành để hoàn toàn ý thức và tự nguyện chịu chết trên thập giá vì "vâng theo ý Cha".
1.3 Ngài cũng đã hoà hợp con người mình với sức mạnh của thiên nhiên, của vũ trụ. Những yếu tố vật chất trong thể xác của một em bé yếu đuối không ngăn cản Ngài phát huy quyền lực của con người mới khiến cho vũ trụ quay trở lại tùng phục con người thay vì phân kháng như trước đây. Ngôi sao dẫn đường cho ba đạo sĩ Phương Đông, ngôi sao mà người ta đã phong thần thành sao chiếu mệnh, bây giờ trở thành đứa em nhỏ dẫn đường. Những chú chiên lừa hiền hoà thở hơi sưởi ấm cho hài nhi Giêsu trong hang đá. Đó là những hình ảnh nói lên sự hoà hợp của con người và vũ trụ.
Con người lại phát huy được quyền làm chủ quyền thay Cha trên trời điều khiển muôn loài như Ngài đã nói với Ađam thuở trước. “Hãy làm chủ chim trời, cá biển và mọi sự trên mặt đất”. Sau này quyền làm chủ đó thể hiện rõ ràng khi Đức Giêsu truyền cho bão yên, biển lặng hay khi Ngài làm cho bánh cá hoá nhiều.
1 4. Cuối cùng, vị Người Chúa này đã hoà nhập mình vào gia đình nhân loại để hoà giải mọi con người với nhau. Khi từ chối yêu thương và chỉ biết có mình, con người đã chia rẽ thành những phe phái, tập thể, giai cấp, dân tộc; đã từ chối đi chung với nhau trong những đoạn đường đời. Giờ đây, qua cuộc Giáng Sinh “Ngôi Lời đã làm người và ở giữa chúng ta" để "cho chúng ta có quyền trở nên con Thiên Chúa”. Ngài đã kêu mời tất cả những người con trong đại gia đình Thiên Chúa cùng họp mặt bên nhau.
Vì thế, Tin Mừng được gửi tới những người chăn chiên nghèo khổ, ngu dốt, thô lỗ cũng như các vị đạo sĩ giàu sang, thông thái, lịch thiệp. Họ đã biết rủ nhau, đi chung với nhau để tìm về gặp gỡ Thiên Chúa, nguồn hạnh phúc của đời họ. Ho đã hợp nhất với nhau nhờ một hài nhi yếu đuối nghèo hèn.
Đó là những hình ảnh báo trước sự phát sinh của Giáo Hội từ cạnh sườn bị đâm thâu của. "Ađam mới" để quy tụ mọi người từ muôn dân nước mà tượng trưng cụ thể là các người Do Thái cũng như viên sĩ quan Rôma dưới chân thập giá dù trước mắt họ chỉ là một con người trần trụi, bị hành hình như một tên tử tội. Lúc ấy, cuộc quy tụ toàn thể vũ trụ và nhân loại đưa về cho Chúa Cha mới thật sự hoàn thành theo lời thông báo của Đức Giêsu:  “Mọi sự đã hoàn tất”.

II. CHÚNG TA THỐNG NHẤT ĐỜI SỐNG QUA MẦU NHIỆM GIÁNG SINH.
Suy nghĩ về sự thống nhất và hợp nhất của Đức Giêsu qua mầu nhiệm Giáng Sinh ta cảm thấy mình tràn ngập niềm vui và hy vọng vì chúng ta cũng có khả năng đạt tới sự thống nhất đó. Nếu chúng ta tin vào danh Đức Giêsu, Chúa sẽ sinh lại chúng ta một lần nữa. Nếu chúng ta mở lòng ra đón nhận Giêsu, Chúa sẽ đổ tràn đầy ân sảng và chân lý vào lòng ta như thánh Gioan đã công bố trong Tin Mừng hôm nay. Lúc đó, ta mới thật sự trở thành sứ giả Tin Mừng (bài đọc I) để công bố bình an, đem tin hạnh phúc, loan báo ơn cứu độ cho mọi người, mọi vật mà chúng ta giao tiếp trong chính cuộc sống thường ngày.
2.1. Lúc đó, ta mới cảm nhận được sự bình an dù sống trong cảnh nghèo khó như Giêsu vì không tìm được quán trọ, dù bị hất hủi, bị bở rơi như Giêsu, “Ngài đến nhà mình nhưng các người nhà chồng chẳng chịu đón tiếp”. Ta vẫn tin chắc rằng Cha trên trời luôn luôn săn sóc quan phòng mọi sự tốt đẹp cho ta. Trong cái nhìn vĩnh cửu xuyên thấu thời gian  và không gian của  Cha, thì  những thất bại, bệnh tật, khổ đau, tai nạn,  nghèo khó kia lại có một giá trị cao quý và ích lợi cho ơn cứu độ của ta hơn cả. Từ đó ta mới không cần chạy đến thầy bói toán để xin lá số tử vi hay đặt hy vọng vào quẻ thẻ, con bài sẽ đem lại nhiều may mắn cho mình .
2.2. Lúc đó, ta cũng sẽ không còn mặc cảm, tự ti về những bất toàn của thể xác xấu xí, thấp lùn, vì nước da không trắng trẻo bằng người, vì một nốt ruồi vô duyên nào đó... Đức Giêsu trong thân thể hài nhi yếu ớt và sau này  trong thân xác bầm dập của một tên tử tội vẫn là điều quý giá nhất của Thiên Chúa mà cả vũ trụ này cũng không thể đánh đổi được. Thoát khỏi những mặc cảm, ta sẽ phát huy được những sức mạnh vô biên của tinh thần và thể chất trên vũ trụ vạn vật. Lúc đó, dù chúng ta chỉ ăn chút cơm thường, rau muống, nước tương, như những người nông dân chất phác nhưng ta vẫn mạnh khoẻ, hồng hào, đẹp đẽ vì ta ăn với tất cả tình yêu và lòng biết ơn đối với con người và vạn vật. Với Đức Giêsu sống động trong mình ta sẽ thực hiện được những dấu chỉ lạ lùng để chứng tỏ tình yêu, và ơn cứu độ của Thiên Chúa vì ta thống nhất được tinh thần và thể xác.
2.3 Thêm vào đó, với tâm hồn hiền hoà, khiêm tốn, rộng mở cho mọi người, căn nhà ta trở thành nơi họp mặt của những con người bình an, không còn cãi cọ, tranh giành vì một chút danh, chút lợi nào đó. Con em ta sẽ cảm thấy an lòng, học hành tiến triển vì được sống trong tổ ấm của tình thương. Sẽ không còn những đứa bé phải bới moi thùng rác hằng đêm, hay những cô gái trẻ đứng đường để bán rẻ thân xác mình mỗi tối như những chú chim non vội vã rời tổ để lao vào khoảng không của cuộc đời
Thống nhất được đời sống, ta mới trở thành nhân chứng của Tin Mừng. "Ôi đẹp thay bước chân của người loan tin bình an!".

KẾT LUẬN
Hôm nay, suy niệm về cuộc Giáng Sinh của Đức Giêsu, con người thống nhất được đời sống và hợp nhất được tất cả để đưa về cho Chúa Cha. Chúng ta hãy xin Chúa cho mình biết gắn bó với Chúa Giêsu nhờ Thánh Thần Tình Yêu để trở thành những sứ giả của Tin Mừng Cứu Độ.
Cầu chúc anh chị em một Mùa Giáng Sinh an vui, đầy tràn ân sủng và chân lý của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.

LỜI NGUYỆN TÍN HỮU
+ Hôm nay Thiên Chúa đã bày tỏ tình thương bao la của Người đó với nhân loại. Chúng ta hãy tin tưởng cầu nguyện cho hết mọi người được hưởng nhờ ơn cứu độ.
1. Cầu cho anh chị em Kitô hữu họp Mừng Chúa Giáng Sinh cũng noi gương các mục đồng loan báo Tin Mừng Chúa làm người vì yêu trần thế.
2. Cầu cho các dân tộc và quốc gia chấp nhận ngừng chiến trong ngày Chúa Giáng Sinh tìm ra được những con đường thương thuyết và hòa giải.
3. Cầu cho những con người sinh ra trong cuộc đời nhưng chưa bao giờ nghiệm được ý nghĩa cuộc sống  nghe được những lời yêu thương và hy vọng
4. Cầu cho chúng ta hôm nay cảm thấy Chúa gần mình hơn bao giờ hết sẽ trở thành người gần gũi với mọi người chung quanh.
 + Lạy Chúa là Cha hằng yêu thương chúng con hôm nay Cha ban cho chúng con Người Con Một làm Đấng cứu độ loài người. Xin cho chúng con mỗi ngày được biết Cha nhiều hơn  để yêu mến Cha và yêu mến mọi người nhiều hơn nữa. Chúng con nguyện xin nhờ Đức Kitô Chúa chúng con.

 

GS-149: Sứ điệp Giáng sinh

"Một con trẻ đã sinh ra cho chúng ta, Một người con đã được ban cho chúng ta". Trẻ này sinh GS-149

"Một con trẻ đã sinh ra cho chúng ta,
Một người con đã được ban cho chúng ta".
Trẻ này sinh ra lúc nửa đêm, sinh ra trong một chuồng bò gần thành Belem, trong cánh đồng mới có các mục đồng canh gác đoàn vật. Trẻ em này sinh ra. Có biết bao nhiêu trẻ em sinh ra trên trái đất này : từ Bắc chí Nam, từ Đông chí Tây. Trẻ em này sinh ra như hàng tỉ những người đã sinh ra trên trái đất này là nơi có loài người sinh sống. Ngài đã chào đời, Ngài đã sinh ra từ một phụ nữ như những con người khác.
Một người con đã được ban cho chúng ta, Ngài không chỉ sinh ra từ Đức Maria, nhưng việc Ngài sinh ra là một ơn trọng đại. Ngài bắt đầu sinh ra từ vĩnh cửu. Ngài là con Thiên Chúa Cha vĩnh cửu. Ngài là chứng nhân của mầu nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa.
Một người con đã được ban cho chúng ta. Sinh ra từ Đức Maria, Ngài mang trong mình cuộc sinh ra vĩnh cửu ấy : Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, Anh sáng bởí Anh sáng, Ngài đến để tỏ lộ cho chúng ta biết Thiên Chúa là Cha. Ngài chính là sự mạc khải của Thiên Chúa Cha : "Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi ban Con Một Ngài cho thế gian".
Một người con đã được ban cho chúng ta, để thành bảo chứng của chức làm con Thiên Chúa, để loài người được trở thành con cái Thiên Chúa, trong Ngài và giống như Ngài. Chức làm con ấy đã bắt đầu hiện diện trên trái đất từ một đêm đông năm xưa ở thành Belem.
Nhưng đêm Belem rồi cũng qua đi như bao đêm khác và ngày lại đến, cứ thế đêm ngày nối tiếp nhau. Chẳng lẽ chúng ta tụ họp nhau đây trong một đêm tháng 12 này để chỉ tưởng niệm một biến cố đã thuộc quá khứ của lịch sử, hoặc để kỷ niệm ngày sinh của bất cứ ai đóđã đi vào lịch sử, hoặc để kỷ niệm ngày sinh của bất cứ ai đó đã đi vào lịch sử và dần dần trở thành kỷ niệm hay sao? Một người con đã được ban cho chúng ta. Biến cố này đã có từ gần 2.000 năm nay. Nhưng không thể coi đó như biến cố thuộc quá khứ, bởi vì việc sinh ra ấy xảy ra trong ngày hôm nay, ngày mai và luôn mãi.
Một người con đã được ban cho chúng ta, trên vai Ngài là dấu chỉ vương quyền như tiên tri Isaia đã nói. Người con này là một hồng ân. Và quyền binh của Ngài trên thế giới là thứ quyền bính nào? Đó là quyền bính hoàn toàn khác biệt quyền bính của con người, khác với quyền bính của Hoàng đế Rôma, của Augustô, của Quirinô, của Hêrôđê. Quyền bính của Ngài là quyền binh của ơn cứu độ. "Các người đừng sợ này đây ta báo cho các ngươi một Tin mừng trọng đại, hôm nay trong thành Đavít, Đấng cứu thế đã giáng sinh cho các ngươi, Ngài là Đấng cứu độ thế gian".
Một người con đã được ban cho chúng ta, Ngài là hồng ân cứu độ."Thiên chúa đã yêu thế gian đến nỗi ban chính Con Một mình, để những ai tin vào Ngài thì không phải chết, nhưng được sống đời đời". Chỉ Thiên Chúa mới ban cho con người sự sống mà không biết chết chóc. Chỉ Thiên Chúa mới có thể cứu rỗi con người, qua chính Con Thiên Chúa, Đấng đồng bản thể với Thiên Chúa, Đấng giáng sinh trong đêm Belem.
Đêm Belem ấy giờ đây vẫn tiếp tục, tiếp tục chuẩn bị cho nhân loại bước vào đêm vượt qua Phục Sinh. Giờ đây vẫn còn là đêm Belem, trong chuồng bò gần thành Belem. Đức Maria và thánh Yuse đã được chứng kiến mầu nhiệm Giáng sinh của Đức Kitô, cả hai đang chiêm ngắm trẻ sơ sinh. Cũng trong đêm nay, các mục đồng tử những cánh đồng kế cận tìm đến với Ngài đem theo quà tặng. Cũng trong đêm nay, chúng ta cử hành cùng một mầu nhiệm đó nơi đây, trong nhà thờ này, và như chúng ta, các anh chị em khác cũng sống lại biến cố hạnh phúc này tại nhiều nơi trên trái đất. Cùng với Đức Maria và thánh Yuse, chúng ta hãy cúi mình trước mầu nhiệm sâu thẳm không hề phai nhòa của Thiên Chúa.
Một người con đã được ban cho chúng ta, chúng ta hãy tiếp cận hồng ân cao trọng ấy với niềm vui tràn ngập con tim. Chúng ta hãy cất lên bài ca giáng sinh bằng mọi thứ tiếng nói và ngôn ngữ trên toàn thế giới, bài ca của niềm phấn khởi. Quả thật, một hài nhi đã sinh ra cho chúng ta, một người con đã được ban cho chúng ta. Hãy chúc tụng Chúa từ khắp chốn địa cầu, vì Thiên Chúa đã yêu thương trần gian, Amen.

 

GS-150: Sự sống Và niềm vui đích thực

Ga 1,1 - 18
 

Khi chiếc vệ tinh nhân tạo đầu tiên được phòng lên không gian trong chương trình chinh phục: GS-150

Khi chiếc vệ tinh nhân tạo đầu tiên được phòng lên không gian trong chương trình chinh phục vũ trụ, thì có người nói ngay ra ý định của loài người là muốn đi tìm một mảnh đất mới cho cuộc sống ngày mai. Thế nhưng khi hai phi hành gia đầu tiên của Mỹ đặt chân xuống mặt trăng, họ đã phải ngạc nhiên lẫn thất vọng, vì mặt trăng không như lâu nay người ta vẫn tưởng, đó chỉ là một hành tinh chết, nghĩa là không có không khí cần thiết cho cuộc sống sinh vật. Nay thì con người đang nhắm đến các hành tinh khác, mà gần nhất có lẽ là hoả tinh. Thế nhưng những tin tức gần đây cho biết, các hành tinh đó cũng chỉ là những hành tinh chết mà thôi.
Trái đất của chúng ta đang lâm nguy, đó là một thực tại, không chỉ là một báo động xa vời, vì nếu nhân loại không biết sử dụng trái đất một cách đúng đắn, thì điểm đến chắc chắn sẽ là sự hư nát của loài người, trái đất mỗi ngày sẽ tiến dần đến cõi chết như các hành tinh khác. Liệu có cách nào tạo ra một thứ địa cầu khác để cho loài người được tồn tại không, nếu vì lý do nào đó địa cầu hiện nay không còn là đất sống cho con người nữa ? Mới đây tại Hoà Kỳ, một nhóm tư nhân với sự bảo trợ của chính phủ đã nghĩ ra một kế hoạch táo bạo là xây dựng một môi trường sống hoàn hảo ngay trên trái đất này, và họ gọi đó là bầu sinh quyển được thiết kế như một toà nhà bằng kính với diện tích trên một mẫu đất. Bầu sinh quyển này được bao bọc bằng một lớp kính dầy thật an toàn và tất nhiên khi bên ngoài không thể lọt vào được cũng như không khí tự tạo bên trong cũng được giữ lại thật kín. Người ta đã cho mọc lên trong bầu sinh quyển này mọi thứ cây cỏ cũng như đưa vào đó đủ thứ loại thú. Tóm lại, bầu sinh quyển này là một địa cầu thu nhỏ khá hoàn chỉnh. Đã có 8 người thuộc các quốc tịch khác nhau được chọn làm công dân của địa cầu nhỏ này. Trong hai năm liền, họ không được liên lạc với bên ngoài, họ sống tự túc bằng nguồn lương thực cũng như mọi thứ có sẵn trong địa cầu tí hon này. Nếu thử nghiệm của bầu sinh quyển thành công thì đây sẽ là một triển vọng rất lớn cho nhân loại khi trái đất không còn là đất sống cho nhân loại nữa.
Một bầu sinh quyển cho con người đang chết ngạt vì tội lỗi và thiếu vắng tình yêu, một địa cầu mới cho nhân loại được tồn tại, đó là điều Thiên Chúa thực hiện qua người Con Một Ngài là Chúa Giêsu Kitô. Chúa Giêsu Kitô là căn hầm trú ẩn an toàn cho một nhân loại mới. Ý tưởng ấy có thể loé lên khi chúng ta chiêm ngắm Hài nhi Giêsu trong máng cỏ. Quả thật máng cỏ là hình ảnh của một thế giới an bình, một nhân loại mới được cứu thoát; những mục đồng là đại biểu cho một nhóm người đang dẫy chết bỗng tìm được sự sống và niềm vui đích thực; đàn súc vật đang quì bên Hài Nhi phải chăng không là hình ảnh của một trái đất đang có sự sống, một trái đất trong đó muốn vật không những tìm được đất sống, mà còn được sống chung hòa bình với nhau và với con người. Lời tiên tri ls 11,1 - 10 được thực hiện trong chính máng cỏ của Hài nhi Giêsu : "Sói sống chung với chiên con, bê nằm chung với beo, bò con sư tử và chiên ăn chung với nhau, trẻ con sẽ dẫn dắt các thú ấy."
Còn bức tranh nào đẹp hơn máng cỏ của Hài nhi Giêsu, còn thế giới nào hòa bình hơn thế giới xung quanh máng cỏ, còn bầu sinh quyển nào an toàn hơn máng cỏ. 2000 năm qua, bầu sinh quyển mới là Con Một Thiên Chúa đã được mở ra để đón nhận con người. Thế nhưng nói như thánh Gioan trong Tin mừng hôm nay : "Ngài đã đến nơi nhà Ngài mà người nhà đã không tiếp nhận, nhưng phàm ai tiếp nhận Ngài thì Ngài ban cho họ quyền làm con Thiên Chúa 2000 năm qua, bầu sinh quyển mà Thiên Chúa ban tặng trong Chúa Giêsu Kitô vẫn chưa được nhiều người đón nhận, trái đất vẫn còn lâm nguy, thế giới vẫn còn bị đe dọa bởi biết bao hiểm họa.
Mỗi độ Giáng sinh về, người Kitô hữu lại được thôi thúc để mời gọi mọi người tìm đến với nguồn sống đích thực. Và sứ điệp ấy chỉ được loan báo bằng tinh thần nghèo khó khiêm hạ và hòa bình của các mục đồng trong đêm Giáng sinh mà thôi. Ước gì hơi ấm của an bình và tình người được người Kitô hữu mang đi chia sẻ cho mọi người. Ước gì qua sứ điệp của người Kitô hữu, tiếng hát của các thiên thần trong đểm Giáng sinh được vang vọng trong mọi tâm hồn :
"Vinh danh Thiên Chúa trên trời".
Bình an dưới thế cho người thiện tâm".
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây