Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 1 MV-A Bài 101-150 Hãy Sẵn Sàng

Thứ ba - 26/11/2019 11:53
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 1 MV-A Bài 101-150 Hãy Sẵn Sàng
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 1 MV-A Bài 101-150 Hãy Sẵn Sàng
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 1 MV-A Bài 101-150 Hãy Sẵn Sàng
MV1-A101. Mong Đợi Chúa Xuân. 2
MV1-A102. PHẢI SẴN SÀNG.. 3
MV1-A103. DỌN LÒNG ĐÓN CHÚA.. 6
MV1-A104. Hãy leo lên núi Chúa, tới nhà Thiên Chúa Giacóp". 8
MV1-A105. CHƠ ĐÓN CHÚA ĐẾN THĂM... 11
MV1-A106. Chúa đến. 13
MV1-A107. Đừng ảo tưởng – Lm Ignatiô Trần Ngà. 14
MV1-A108. Sống tỉnh thức – Lm Jos. Tạ Duy Tuyền. 16
MV1-A109. Suy niệm của Ủy Ban Kinh Thánh – HĐGMVN.. 18
MV1-A110: Niềm tin yêu phó thác. 20
MV1-A111: Âm vang mùa vọng. 24
MV1-A112: Một ánh sáng trong đêm tối 26
MV1-A113: HÃY LUÔN SẴN SÀNG.. 27
MV1-A114: CHỜ ĐỢI GIỜ CỦA ĐỨC KI TÔ TRONG HÂN HOAN.. 31
MV1-A115: TỈNH THỨC.. 32
MV1-A116: TỈNH THỨC ĐỂ CHỜ CHÚA.. 35
MV1-A117: ĐỢI CHỜ.. 37
MV1-A118: KHÁT VỌNG CỦA TÌNH YÊU.. 39
MV1-A119: HÃY TỈNH THỨC.. 42
MV1-A120: MẶC LẤY ĐỨC KITÔ.. 43
MV1-A121: CHÚA NHẬT I MÙA VỌNG A.. 45
MV1-A122: Tỉnh thức. 49
MV1-A123: Không một ai biết giò. 50
MV1-A124: CHÚA NHẬT 1 MÙA VỌNG A.. 54
MV1-A125: ĐỢI CHỜ, NHƯNG PHẢI HÀNH ĐỘNG.. 60
MV1-A126: Hãy canh thức để được sẵn sàng. 62
MV1-A127: Dấu chỉ thời đại 64
MV1-A128: Tỉnh Thức để gặp Chúa – An Phong. 66
MV1-A129: Thánh hóa từng giây phút sống. 68
MV1-A130: Tỉnh thức và cầu nguyện. 70
MV1-A131: Suy niệm của Lm. Ignatiô Hồ Thông. 73
MV1-A132: Tỉnh để chờ – Anmai 79
MV1-A133: Để Chúa đến trong cả cuộc đời 83
MV1-A134: Sống tỉnh thức và sẵn sàng. 87
MV1-A135: Chờ đợi trong hy vọng – ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên. 89
MV1-A136: Bất ngờ và thức tỉnh - ĐGM. Giuse Trần Văn Toản. 91
MV1-A137: Chuẩn bị cho một thời đại mới sắp đến. 93
MV1-A138: Sống tỉnh thức. 96
MV1-A139: Chờ và đợi – Anmai, CSsR.. 98
MV1-A140: Chờ đợi trong tỉnh thức - ĐGM Giuse Vũ Văn Thiên. 103
MV1-A141: Tôi vui mừng cùng hoan lạc – Huỳnh Văn Ngọc. 105
MV1-A142: Mùa vọng: Người đến để con tim được vui trở lại 107
MV1-A143: HÃY TỈNH THỨC.. 110
MV1-A144: Thái Độ Mong Chờ Chúa Đến. 112
MV1-A145: CHÚA NHẬT I MÙA VỌNG.. 115
MV1-A146: Tỉnh Thức Và Chờ Đợi 117
MV1-A147: BẤT NGỜ.. 119
MV1-A148: LỜI SỐNG THÁNG 11 NĂM 2016. 122
MV1-A149: BẤT NGỜ CHÚA ĐẾN.. 124
MV1-A150: NỀN HOÀ BÌNH TUYỆT ĐẸP. 126

 

MV1-A101. Mong Đợi Chúa Xuân

Chúa nhật I Mùa Vọng Năm A
 

Cứ mỗi năm, khi mùa đông về mang khí lạnh buốt da, lòng người lại mơ ước xuân sang – mùa: MV1-A101

Cứ mỗi năm, khi mùa đông về mang khí lạnh buốt da, lòng người lại mơ ước xuân sang - mùa xuân nắng ấm với những cành mai vàng rực rỡ. Thời tiết và nhịp sống con người thay đổi hẳn. Mùa xuân luôn mang vẻ huy hoàng của trời đất, mùa hội ngộ giữa người với người... Nhưng mỗi người cảm nhận xuân khác nhau, do lòng mình. Có người vui, chuẩn bị đón xuân từ mấy tháng trước, có người buồn khi nghe nói đến xuân sang...
Con người còn có một mùa xuân khác dù họ ý thức được hay không. Đó là mùa xuân Phụng vụ, luôn đến trước mùa xuân của vũ trụ - mang ý nghĩa: mùa xuân Cứu rỗi, mùa Xuân đích thực, là cùng đích, vượt lên trên hết mọi mùa xuân trần thế, đáng cho con ngừơi mơ ước. Mùa Xuân Cứu rỗi không chỉ là mùa hội ngộ giữa người với người, nhưng còn chính là mùa hội ngộ giữa Trời và đất, giữa Thiên Chúa và con người. Giáo hội dùng mùa Vọng để đón chờ Đấng Cứu Thế, vị Chúa Xuân của sự cứu rỗi sẽ đến:
Trời cao hãy đổ sương xuống,
và ngàn mây hãy mưa Đấng cứu chuộc tôi.

Đây là lộc đầu xuân mà Giáo Hội mong đợi. Đối với mùa xuân này, lòng người đón Xuân cũng rất khác nhau. Có người dửng dưng, có người lo sợ, có người lại náo nức đón chờ. Chúa đã loan báo, mùa xuân ấy sẽ huy hoàng, rực rở, một tương lai hạnh phúc đang chờ; dân mọi nước lũ lượt kéo về Nhà Chúa; mọi người được hưởng thái bình, vì chính Chúa dẫn dắt dân Ngài, không còn chiến tranh, "dân sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày, rèn giáo mác nên liềm nên hái..." Và Chúa hối thúc con người mau thức dậy, bước ra khỏi bóng tối để chuẩn bị đón xuân, và đi theo đường lối Ngài sẽ chỉ cho. Vì đêm sắp tàn, ngày gần sáng; Ngày Chúa đến lại gần hơn, không còn bao lâu... Nếu không sẽ trễ hạn, khi đó sẽ có người vui mừng vì được đưa đi, có người buồn vì bị bỏ lại. Đó là do lỗi của ta không sẵn sàng hoặc lạc đường...
Chúng ta phải ao ước, phải chờ mong và phải chuẩn bị để ngày Chúa đến không như kẻ trộm, nhưng là một ngạc nhiên, thú vị lẫn thán phục và biết ơn, nhảy mừng trước một thế giới mới xuất hiện, và một Đấng yêu thương đang chờ ta trước cổng Thiên đàng... Đây không phải là chuyện đề phòng một biến cố sẽ xãy ra bất ngờ. Vì cái chết cũng như tận thế không chừa một ai. Nhưng vấn đề là lúc ta gặp Chúa như thế nào...
Thật ra Chúa đã đến rồi, từ 2000 năm trước, trong lịch sử nhân loại, đã mở ra một con đường sống để con người gặp Ngài. Nhưng con người kinh nghiệm mình bất toàn, yếu đuối, còn những rào cản của đam mê, ích kỷ, nên chưa đón nhận được Chúa cách trọn vẹn... Do đó họ luôn sống trong mùa vọng nối tiếp mùa vọng, họ chờ mong Chúa đến lần sau hết để lấp đầy ước vọng của họ theo như lời Chúa hứa. Dù vậy họ đã cảm nghiệm được phần nào hạnh phúc được sống trong Chúa, nên họ đặt tất cả trọng tâm đời sống hoàn toàn vào Thiên Chúa. Sự đau khổ và sự chết không còn quan trọng đối với họ; của cải và danh vọng trần gian là gì so với hạnh phúc được sống trong Nhà Thiên Chúa. Họ hoan lạc ngay cả trong đau khổ, vì vinh quang và hạnh phúc mà họ mong đợi quá lớn lao. Hy vọng sinh ra ly thoát và sống tiết độ, gợi lên tình yêu và sẵn sàng hy sinh, luôn tỉnh thức và làm theo ý Đấmg mình yêu. Hy vọng không thể đi đôi với việc say sưa chè chén, phóng túng và ích kỷ, sống trong tội lỗi...
Mỗi năm Giáo Hội lại sống trong mùa Vọng một lần, nung nấu thêm lòng mong chờ; sống lại biến cố Tình Yêu - Thiên Chúa nhập thể làm người - để tăng thêm lòng tin, thêm sức mạnh, hăng hái tiến bước về Nhà Chúa. Sống trong trần gian với tinh thần con cái Thiên Chúa, theo đường lối Chúa đã chỉ cho. Đó là cách chờ đợi mùa Xuân Vĩnh Cửu. Cái nhìn của chúng ta phải vượt qua hiện tại thấu đến tương lai, vượt qua Chúa Nhật I Mùa Vọng để nhìn thấy ánh sáng tưng bừng ngày Chúa Giáng sinh, và đi tới ngày Chúa đến lần sau hết để đưa tất cả tạo vật vào vĩnh cửu...
Sr. Theresa Nguyễn, OP - NS-TTĐM

 

MV1-A102. PHẢI SẴN SÀNG

Chúa nhật 1 mùa vọng năm A
 

Tâm trạng chờ đợi là một tâm trạng nôn nóng, hồi hộp và pha lẫn niềm hy vọng. Tôi nôn nóng: MV1-A102

Tâm trạng chờ đợi là một tâm trạng nôn nóng, hồi hộp và pha lẫn niềm hy vọng. Tôi nôn nóng và hồi hộp chờ đợi giây phút được gặp lại gia đình, người thân sau nhiều năm xa cách. Tôi nôn nóng, chờ đợi về kết quả kỳ thi vừa qua. Tôi nôn nóng, hồi hộp giây phút được gặp gỡ người mình yêu.
Trong đời sống và thế giới tâm linh, Thiên Chúa dường như cũng đã nôn nóng và chờ đợi giây phút được gặp gỡ, giao hòa và đón nhận nhân loại trở về sau khi nhân loại đã sa ngã vì yếu đuối. Ngài đã chuẩn bị cho giây phút nhập thể và giáng trần của Ngôi Hai bằng những chuẩn bị thật kỹ lưỡng. Ngài đã nhẫn nại tìm kiếm cho Ngôi Hai một người mẹ tuyệt vời, không mang tỳ vết tội khiên và tinh tuyền từ lúc đầu thai cho đến ngày được đưa về trời cả hồn lẫn xác. Người phụ nữ diễm phúc ấy đã được Tổng Thần Gabriel chào mừng một cách cung kính trong giây phút truyền tin: “Kính mừng Maria đầy ơn phúc, Thiên Chúa ở cùng trinh nữ. Trinh nữ có phúc hơn mọi phụ nữ” (Lc 1:28). Bên cạnh Mẹ Maria là Thánh Giuse, Đấng được Thánh Kinh ca tụng là người công chính. Thánh Giuse đã là bạn và chồng đồng trinh của Đức Maria. Ngài chính là cha nuôi của Chúa Cứu Thế. Và nhân loại cũng đã tỏ ra nôn nóng, khát khao ngày giờ được Thiên Chúa đến viếng thăm: “Trời cao hãy đổ sương xuống, mây hãy mưa vị cứu tinh” (Is 45:8).
Nhưng khi Thiên Chúa đến với nhân loại, đặc biệt, với dân riêng của Ngài thì họ lại không hay biết. Bởi thế, khi nhắc đến biến cố này, Chúa Giêsu đã tỏ dấu phiền trách họ về thái độ và tâm tư thờ ơ ấy. Thật ra, Con Người, Đức Kitô, đã đến rồi. Ngài đã đến và ở với họ 30 năm rồi, và đang nói với họ nhưng họ vẫn không biết, lý do vì lòng trí họ và cuộc sống họ đang bị chôn bám vào với những dòng sinh hoạt của cuộc sống tự nhiên như dựng vợ, gả chồng, sinh con, đẻ cái, ăn uống say sưa, hăm hở làm giầu, cũng như hàng trăm nhu cầu, đòi hỏi của cuộc sống. Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh của thời gian Noel chuẩn bị vào tầu, và thời điểm của cơn đại hồng thủy để nhắc nhở dân chúng về lối sống ấy, cũng như thái độ họ cần phải sẵn sàng đón chờ sự tái xuất hiện của Thiên Chúa.
Nhưng nếu việc đón chờ Thiên Chúa, giây phút hồi hộp nhưng tràn trề hy vọng ấy lại phủ lấp, che mờ cũng như triệt hạ những chuyện cần thiết và đòi buộc của đời sống con người như việc hôn nhân trọng đại, việc làm ăn, nghề nghiệp, và những đòi hỏi khác, thì liệu Thiên Chúa có là một biểu tượng trái ngược với những gì Ngài đã thiết lập, và đã ban phép cho chúng tồn tại không? Nếu có thì sao gọi là hôn nhân thánh thiện, sao gọi là thánh hóa lao công con người, và sao gọi là chấp nhận hy sinh và thử thách?
Thật ra, thái độ con người của thời đại Noel mà Chúa Giêsu nhắc lại đây không gì khác hơn là thái độ để cho những nhu cầu, bổn phận, và trách nhiệm vật chất lấn lướt và làm mờ nhạt những giá trị tâm linh và đời sống đạo đức. Thái độ và lối sống đề cao những giá trị vật chất. Giá trị và lối sống theo tư tưởng và trào lưu của văn hóa sự chết. Nó có tác dụng làm mờ nhạt hình ảnh của Thiên Chúa trong cuộc sống con người. Làm cho con người quên mất Chúa. Và đó là thái độ chuẩn bị mà Chúa Giêsu và Giáo Hội đã muốn chúng ta hôm nay phải ý thức khi bước vào Mùa Vọng chuẩn bị đón mừng biến cố Vào Đời của Con Thiên Chúa.
Mùa Vọng, mùa mong đợi Đấng Cứu Thế. Thái độ của nhân loại, và của riêng mỗi Kitô hữu trong biến cố đón mừng này, là tâm tình và thái độ sẵn sàng. Thái độ chờ đợi trong hy vọng. Vì Chúa không đến để xét xử, để luận phạt nhưng là để thông cảm, để cứu độ. Isaia đã tiên tri về Ngài bằng một tên gọi bao gồm tất cả niềm vui mừng và hy vọng ấy: Emmanuel: “Người ta sẽ gọi tên Ngài là Emmanuel – nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (Mt 1:23).
“Vậy các con cũng phải sẵn sàng, vì lúc các con không ngờ, Con Người sẽ đến” (Mt 24:44). Đây là một lời nhắc nhở cho mỗi người và mỗi Kitô hữu chúng ta trước thái độ sống và cái nhìn về cùng đích cuộc đời. Chúa không muốn chúng ta chôn bám vào thế giới vật chất và hữu hình này. Ngài thật sự muốn con người được hạnh phúc, một hạnh phúc trường sinh. Chính vì thế, Ngài đã từ trời xuống thế, và ở với con người. Nhưng Ngài thừa biết rằng những liên hệ vật chất, những lo lắng cuộc đời, những lam lũ vất vả được tượng trưng bằng hình ảnh của hai người đàn ông ở ngoài đồng, và hai người đàn bà đang phải xay bột. Cũng như những hưởng thụ của cuộc đời như yêu thương, lấy vợ, gả chồng, và vui chơi say sưa sẽ làm phai mờ giấc mơ thiên đàng, làm lạc lối về của con người. Và vì thế, Ngài nói chúng ta phải tỉnh thức, phải sẵn sàng.
Một người con chờ được đón tiếp cha mình đến thăm mà lại lơ là, ăn chơi, chè chén, ngủ quên thì không thể gọi là người con hiếu thảo, yêu kính cha mẹ.
Một người yêu chờ đợi đón tiếp người yêu mình trong thái độ say sưa, hoặc lại lang thang với người này, người khác, thì không phải là sự đợi chờ của một tình yêu thiết tha và thành thật.
Một người bạn chuẩn bị đón tiếp bạn mình bằng cách ngủ quên, bằng cẩu thả không chuẩn bị cơm nước, hoặc nhà cửa thì tình bạn ấy nhạt nhòa và rất thiếu sót.
Thiên Chúa là cha, là người yêu, và là bạn thân của nhân loại. Được đón tiếp Ngài, được Ngài ghé thăm là một vinh dự và hạnh phúc lớn lao. Mặt khác, Ngài không phải chỉ là một người bạn, một vị khách quí theo cái nghĩa thông thường. Ngài là Thiên Chúa, là Vua khắp cõi trần gian, vì thế bất cứ hình thức đón tiếp nào mang thái độ chiếu lệ, lơ là, quên sót, cẩu thả và bê bối đều không xứng hợp. Do đó, cách đón tiếp nồng hậu, chân thành nhất là đem Ngài vào cuộc sống và sinh hoạt của mình, và trở thành chứng nhân cho tình yêu của Ngài. Chuẩn bị và đón tiếp như thế không chỉ bao gồm trong 4 tuần lễ của Mùa Vọng, vào dịp lễ Giáng Sinh, nhưng là một cuộc gặp gỡ bền chặt và tiếp nối giữa khi vui cũng nhu lúc buồn trong cuộc sống, khi lãnh nhận các bí tích, đặc biệt là bí tích Thánh Thể. Nhất là ngày Ngài đến để đem ta về Thiên Đàng với Ngài, cũng trong ngày sau hết khi mọi người cùng sống lại: “Vậy các con cũng phải sẵn sàng, vì lúc các con không ngờ, Con Người sẽ đến” (Mt 24:44).
T.s. Trần Quang Huy Khanh

 

MV1-A103. DỌN LÒNG ĐÓN CHÚA

Chúa nhật 1 mùa vọng năm A
 

Mùa Vọng là mùa khơi dậy cho con cái Chúa một niềm vui đầy hy vọng và trông đợi Chúa đến: MV1-A103

Mùa Vọng là mùa khơi dậy cho con cái Chúa một niềm vui đầy hy vọng và trông đợi Chúa đến. Sự trông đợi Chúa đây, không phải như các tổ phụ, các tiên tri và dân Do Thái xưa mong đợi Chúa Cứu Thế đến trần gian, vì Chúa Cứu Thế đã đến, Người sinh ra bởi Đức Trinh Nữ Maria tại Belem đã 2000 năm rồi.
Nhưng trong Mùa Vọng, Giáo Hội muốn nhắc nhớ và khuyên nhủ con cái, dọn tâm hồn trong sạch để xứng đáng đón rước Chúa đến với mỗi tâm hồn chúng ta, bằng ơn thánh, bằng tình yêu thương và an bình của Chúa. Đó là món quà đặc biệt nhất Chúa muốn ban tặng cho các con cái ngoan thảo của Chúa trong dịp mừng kỷ niệm Chúa Giáng Sinh sắp tới.
Vậy chúng ta cần phải chuẩn bị thế nào để tâm hồn chúng ta được xứng đáng đón tiếp Chúa đến với chúng ta?
I. HÃY TỈNH THỨC VÀ CHỜ ĐỢI
Trong bài Tin Mừng hôm nay, khi đề cập đến lụt đại hồng thủy thời ông Noe, đang lúc người ta chỉ mải mê ăn chơi xa xỉ, thì bất ngờ đại hồng thủy đến, cuốn đi tất cả; Chúa đã khéo lợi dụng câu truyện này để khuyên nhủ chúng ta: "Vậy các con hãy tỉnh thức, hãy sẵn sàng, vì lúc các con không ngờ, Chúa các con sẽ đến"(Mt 24:44).
Cô Thanh là một cô gái rất ngoan đạo, được sinh ra và lớn lên trong một gia đình gia giáo, được truyền thụ một nền giáo dục đạo hạnh. Lúc nào cô cũng khát khao được gặp Chúa và siêng năng lợi dụng thánh hóa các công việc hằng ngày, nhất là công việc cô đang đảm trách là đứng bán hàng trong một cửa tiệm tạp hóa do cha mẹ cô trao phó. Một đêm kia, đang nằm ngủ, cô được mộng báo là hôm sau cô được Chúa Kitô tới thăm nơi cửa tiệm. Giấc chiêm bao sống động và vui sướng đến nỗi, cô Thanh tưởng rằng câu truyện đó là một thực tại sẽ xảy ra. Thế là ngay sáng hôm sau, khi vừa tới cửa tiệm, cô lo quét dọn, sắp đặt và trang hoàng lịch sự để đón tiếp Chúa tới thăm. Cô Thanh cuống lên giục người phụ tá phất trần, lau bụi, chưng hoa và cho biết hôm nay sẽ đón tiếp một vị Thượng Khách. Cô phụ tá tên là Huyền Vi rất vui vẻ và hăng say trong việc chuẩn bị, để đón tiếp vị Thượng Khách. Huyền Vi chỉ xin một ơn huệ là nhờ cô Thanh lái xe đưa về nhà lo thuốc thang cho bố, rồi sẽ trở lại cửa tiệm ngay chỉ trong vòng 30 phút thôi.
Cô Thanh chia buồn vì bố Huyền Vi bệnh, rất muốn giúp nhưng không thể làm được hôm nay, vì công chuyện quá khẩn cấp trong việc chuẩn bị. Lại nữa, lỡ ra lúc vắng mặt 30 phút vị Thượng Khách tới thì sao. Thế là cả hai đều chăm chú vào việc dọn dẹp chuẩn bị.
Mỗi lần cánh cửa tiệm mở, nghe thấy chuông báo hiệu có người vào là cô Thanh phóng ngay cặp mắt về hướng đó... Nhưng vô hiệu, vì không thấy bóng vị Thượng Khách, ngoại trừ những khách hàng quen thuộc thường lệ, đến trao đổi lời chào thăm và mua bán.
Vào quãng giữa trưa, một người hành khất từ ngoài đường bước vào, thân mình gầy còm hốc hác nấp dưới tấm áo rách tả tơi bẩn thỉu, đầu tóc rối bù tanh hôi. Người xấu số ngửa tay van lơn: "Nhờ ông đi qua, nhờ bà đi lại cho tôi chút cháo đổ vào bụng, đã mấy ngày không cơm..." Cô Thanh cầm mấy đồng cắc dí vào tay ông rồi vội vàng dẫn ra cửa, dường như không muốn kẻ hôi tanh nán lại, lỡ ra vị Thượng Khách bất ngờ tới thăm.
Chiều hôm đó cũng qua đi như mọi ngày. Cửa tiệm vẫn thế, kẻ ra người vào, kẻ đến người đi... trong số đó có một bà quả phụ tìm đến cửa hàng mong được sự giúp đỡ, vì con bà phạm pháp bị bắt giam. Bà ta bối rối lo sợ, chẳng biết kêu với ai. Nghe truyện thương tâm, cô Thanh rất cảm động hết lòng muốn giúp đỡ, nhưng chẳng dám rời cửa tiệm phút nào, vì sợ Chúa đến mà không được gặp.
Đã đến giờ đóng cửa, cô phụ tá ra về, khách hàng hết vãng lai. Đường phố đã chìm ngập trong cảnh hoàng hôn hiu quạnh, nhưng Chúa Giêsu vẫn chưa thấy đến thăm. Ngã lòng vì chờ đợi mỏi mệt, cô Thanh thất vọng ra về nghĩ bụng: "Thật điên rồ chạy theo giấc chiêm bao!"
II. CHÚA ẨN THÂN NƠI KẺ RỐT HẾT
Về tới nhà, sau khi nghỉ ngơi, ăn uống, thu dọn nhà cửa; tới giờ đọc kinh tối như thường lệ và suy niệm Lời Chúa. Tình cờ, cô Thanh mở sách Tin Mừng theo Thánh Matheu đoạn 25, cô đọc thấy những dòng sau đây: "Bấy giờ Vua phán với những kẻ đứng bên phải: "Hãy đến, hỡi những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy lãnh cơ nghiệp Nước Trời, đã dọn sẵn cho các ngươi từ khi tạo thành vũ trụ. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho Ta ăn, Ta khát các ngươi đã cho Ta uống, Ta đau yếu các ngươi đã an ủi, Ta ở tù các ngươi đã thăm viếng". Bấy giờ các kẻ lành thưa lại rằng: "Lạy Chúa, có bao giờ chúng con thấy Chúa đói mà nuôi dưỡng, khát mà cho uống, mình trần mà đã cho mặc? Có bao giờ thấy Chúa đau yếu hay ở tù mà chúng con đã đến thăm viếng Chúa đâu?" Vua đáp lại: "Những gì các ngươi đã làm cho anh chị em hèn mọn nhất của Ta là làm cho chính Ta"(Mt 25:34-40). Cô Thanh hồi tưởng lại những gì xảy ra trong ngày và nghĩ rằng giấc chiêm bao đã thành sự thật... Chúa Giêsu đã đến thăm cửa tiệm hôm ấy mà cô đã không ngờ. Chúa đã đến và Chúa lại đến hằng ngày, qua mỗi người anh chị em chúng ta. Nếu chúng ta biết nhận ra Chúa, nồng hậu tiếp đón Chúa, Chúa sẽ tỏ mình ra cho chúng ta qua mỗi người anh chị em, cho dù là những người hèn mọn nhất trên trần gian.
Kết Luận
Là con cái Chúa, chúng ta hãy lợi dụng Mùa Vọng như một thời cơ thuận tiện, để chuẩn bị tâm hồn xứng đáng đón tiếp Chúa ngự đến với mỗi người chúng ta; bằng cách thực thi Đức Bác Ái, biết nhận ra Chúa, đón tiếp Chúa nơi tha nhân, chia sẻ cơm bánh với những người đói khát, biết cảm thương an ủi những người sầu khổ, nâng đỡ những người yếu đuối, khích lệ những người thất vọng ngã lòng. Hơn nữa, Chúa còn muốn chúng ta hướng tâm hồn lên cao hơn, biết yêu thương cả những kẻ thù nghịch, làm ơn lành cho những kẻ ghen ghét mình, lại cầu nguyện cho những kẻ vu oan cáo vạ, bắt bớ, bách hại chúng ta nữa.
Chu toàn được những điều Chúa muốn trên đây, là chúng ta đã biết chuẩn bị tâm hồn sẵn sàng đón tiếp Chúa đến với chúng ta, bất cứ giờ phút nào. Chúa sẽ sung sướng ngự vào tâm hồn chúng ta như Chúa của sự bình an và nguồn hạnh phúc; ban cho chúng ta được tràn ngập niềm vui sướng Thiên Đàng ngay khi còn ở trần gian này.
Lm. Minh Vận, CMC

 

MV1-A104. Hãy leo lên núi Chúa, tới nhà Thiên Chúa Giacóp"

Chúa nhật 1 Mùa vọng Năm A
 

Vâng, Chúa Kitô thật sự là một Con Người Lịch Sử, là Đấng Thiên Sai, Đấng đến để “cứu: MV1-A104

Vâng, Chúa Kitô thật sự là một Con Người Lịch Sử, là Đấng Thiên Sai, Đấng đến để “cứu dân mình khỏi tội”, đúng như ý nghĩa tên Giêsu của Người đã được thiên thần nói đến khi báo mộng cho Thánh Giuse trong Phúc Âm Thánh Mathêu đoạn 1 câu 21, cũng đúng như sứ mệnh của Người đã được tư tế Giacaria thân phụ của Gioan tiên báo trong Phúc Âm Thánh Luca ở đoạn 1 câu 77. Bởi thế Dân Do Thái của Người nói riêng, hơn ai hết, đã trông đợi Người tới, như được tỏ hiện rõ ràng hơn hết qua việc họ tuốn đến với Gioan Tẩy Giả để xin lãnh nhận phép rửa của thánh nhân, như Phúc Âm theo Thánh Mathêu cho Chúa Nhật thứ hai và thứ ba Mùa Vọng thuật lại, vì họ tưởng Gioan này là Đấng Thiên Sai, như Phúc Âm Thánh Gioan cho thấy ở đoạn 1 từ câu 19 đến 22. Tuy nhiên, cho tới nay, dân Do Thái vẫn trông đợi Đấng Thiên Sai của họ, vẫn sống trong một thời điểm như thời điểm Mùa Vọng Kitô hữu chúng ta hôm nay bước vào đây. Dân Do Thái sở dĩ tiếp tục mông đợi Đấng Thiên Sai của mình vì Con Người Lịch Sử Giêsu cách đây 2001 năm không phải là Đấng Thiên Sai họ đợi trông. Đúng thế, theo dự án cứu độ của Thiên Chúa, Con Người Lịch Sử Giêsu là Đấng Thiên Sai này không phải chỉ đến để “cứu dân mình khỏi tội”, mà còn cứu cả loài người khỏi tội lỗi và sự chết nữa, vì Người là Đấng Cứu Thế, chứ không phải chỉ là Đấng Cứu Tinh Dân Tộc Do Thái như một vị anh hùng thời thế vẫn xuất hiện trong giòng lịch sử của họ thôi. Đó là lý do vừa mở màn cho phụng niên để cử hành Mầu Nhiệm Chúa Kitô, hình ảnh nhân loại nói chung đã được Phụng Vụ Lời Chúa nhắc đến rồi, như bài đọc một của Chúa Nhật thứ nhất Mùa Vọng cho thấy: “Tất cả các dân nước sẽ tuốn về núi của nhà Chúa; nhiều người sẽ tới mà nói: ‘Hãy đến, nào chúng ta hãy leo lên núi Chúa, tới nhà Thiên Chúa Giacóp”, và bài đọc một của Chúa Nhật thứ hai Mùa Vọng cũng cho thấy: “Vào ngày ấy, gốc Jesse mọc lên như một dấu hiệu cho các dân nước thấy, Các Dân Ngoại sẽ tìm kiếm, vì nơi Người cư ngụ sẽ được vinh quang”. Chính Con Người Lịch Sử Giêsu này là Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần “Redemptor Hominis” đã làm sáng tỏ ý nghĩa của bốn tuần lễ Mùa Vọng, một thời đoạn tượng trưng cho 4 ngàn năm toàn thể nhân loại trông đợi Đấng Thiên Sai, Đấng ngay từ đầu lịch sử thế giới đã được Thiên Chúa Hóa Công hứa ban, như Sách Khởi Nguyên ghi nhận ở đoạn 3 câu 15 về giòng dõi người nữ đạp đầu rắn quỉ.
Tuy nhiên, nếu thực sự Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần đã đến rồi, cách đây 2001 năm trước, thì Kitô giáo nói chung và Giáo Hội Công Giáo nói riêng còn cần gì phải cử hành Mùa Vọng để chờ đón Người đến thế gian lần thứ nhất này nữa mà làm gì, còn cần gì phải như Dân Do Thái cho tới bay giờ vẫn đợi trông Đấng Thiên Sai của họ, vì nhân vật Giêsu Nazarét ở giữa họ cách đây 2001 năm, một nhân vật đã hoàn toàn bị họ căm hờn phủ nhận, đến nỗi, họ thà nhận giặc làm vua còn hơn nhìn nhận nhân vật lộng ngôn phạm thượng này (xem Mt 26:65; Jn 19:7), như họ đã tuyên bố thẳng thắn với tổng trấn Philatô: “Chúng tôi không có một vua nào khác ngoài Cêsa” (Jn 19:15)? Thật vậy, theo lịch trình phụng niên, Mầu Nhiệm Chúa Kitô Giáng Sinh và Mầu Nhiệm Chúa Kitô Phán Xét hoàn toàn khác nhau, ở chỗ, một mầu nhiệm mở màn cho phụng niên và một mầu nhiệm kết thúc phụng niên. Thế nhưng, theo bản chất và ý nghĩa của mình, nếu phụng vụ là việc long trọng cử hành Mầu Nhiệm Chúa Kitô, cử hành những gì do Vị Thiên Chúa Làm Người đã thực hiện trong lịch sử loài người, như nhập thể, tử giá và phục sinh, những Biến Cố Thần Linh không thể qua đi như mọi biến cố lịch sử trần gian khác, trái lại, chúng sẽ muôn đời tồn tại như chính vị Tác Giả Thần Linh của chúng, với Tác Hiệu Thần Linh phát sinh từ những Biến Cố Thiên Chúa thực hiện này, thì qua việc cử hành phụng vụ, Chúa Kitô quả thực hiện diện nơi phụng vụ và tác động qua phụng vụ một cách mầu nhiệm.
Bởi thế, bởi “Chúa Kitô quả thực hiện diện nơi phụng vụ và tác động qua phụng vụ một cách mầu nhiệm”, mà khi cử hành Mầu Nhiệm Chúa Kitô trong Mùa Vọng là thời đoạn trông đợi Người đến lần thứ nhất, Giáo Hội chẳng những muốn hướng con cái mình về biến cố Chúa Kitô đến lần thứ hai, mà còn muốn con cái mình, nhờ Phụng Vụ Lời Chúa và Phụng Vụ Thánh Thể, thực sự cảm nghiệm được việc Chúa Kitô đang hiện diện trong Giáo Hội cho tới tận thế, cho tới khi Người đến lần thứ hai. Như vậy, Kitô hữu chúng ta chỉ thực sự Sống Phụng Vụ nói chung và Sống Mùa Vọng nói riêng, khi chúng ta có được Cảm Nghiệm Thần Linh này, một cảm nghiệm về “Ơn cứu độ của chúng ta gần hơn khi chúng ta mới chấp nhận đức tin”, như Thánh Phaolô nhắc nhở một cách sâu xa trong Thư gửi Giáo Đoàn Rôma ở bài đọc thứ hai hôm nay. Đó là lý do, trong cả ba chu kỳ phụng vụ A, B và C, của Chúa Nhật thứ nhất Mùa Vọng, Giáo Hội bao giờ cũng chọn bài Phúc Âm về lời Chúa Giêsu cảnh giác các môn đệ của Người, (chứ không phải cảnh giác chung dân Do Thái hay cảnh giác riêng nhóm Pharisiêu hoặc cảnh giác thành phần thượng tế và kỳ lão lãnh đạo trong dân), về việc “hãy tỉnh thức” chờ Chúa đến. Bài Phúc Âm theo Thánh Mathêu Năm A hôm nay đã chứng thực điều này như sau: “Vậy các con hãy tỉnh thức! Các con không biết được ngày nào Chúa của các con đến”.
Đúng vậy, cho dù Chúa Kitô Cứu Thế đã đến với chung loài người và đang ở cùng Giáo Hội của Người cho tới tận thế, tức cho tới khi Người đến lần thứ hai, thế nhưng, nếu xét về con số, thì 4/5 nhân loại, tức đa số loài người vẫn chưa nhận biết Người, trong khi đó, chính thành phần mang danh Kitô hữu, thành phần 1/5 dân số nhân loại hiện nay đã chính thức chấp nhận Người qua Bí Tích Rửa Tội, cũng đã quay ra chối bỏ Người, một thái độ được bộc lộ tỏ tường nơi thế giới Kitô Giáo Âu Mỹ qua hiện tượng phá sản đức tin bằng văn hóa sự chết hiện nay. Như thế, đối với hầu hết nhân loại, kể cả thành phần ngoài lẫn trong Kitô Giáo, Chúa Kitô Cứu Thế đã trở thành vô nghĩa, không có giá trị gì cả, kể như không có, hay có chăng nữa, cùng lắm cũng chỉ là một nhân vật lịch sử thuần túy vậy thôi, giống hệt như các vị sáng lập những đạo giáo khác vậy. Chính vì để tránh khỏi tình trạng như Tiền Hô Gioan đã cảnh giác dân Do Thái ở Phúc Âm Thánh Gioan đoạn 1 câu 26: “Có một Đấng ở giữa các người mà các người không biết”, một tình trạng chẳng những xẩy ra cho Kitô hữu thời chúng ta, thời 2001 năm sau Chúa Kitô Giáng Sinh, mà còn xẩy ra ngay cho cả Kitô hữu ở vào thời Giáo Hội sơ khai, thời Chúa Kitô vừa mới về trời, Thánh Phaolô đã kêu gọi Giáo Đoàn Rôma rằng: “Anh em biết thời gian chúng ta đang sống đây. Đó là thời giờ anh em phải tỉnh giấc… Đêm qua rồi; ngày gần đến. Chúng ta hãy loại trừ những việc làm tối tăm và hãy mặc lấy khí giới ánh sáng”.
Vâng, đúng thế, chính “những việc làm tối tăm” của Kitô hữu đã khiến cho họ, dù ở bất cứ thời nào, không còn thấy được hay thấy rõ Chúa Kitô “là ánh sáng thế gian” (Jn 8:12) nữa, đúng như Người đã cho Nicôđêmô biết ở Phúc Âm Thánh Gioan đoạn 3 câu 19: “Aùnh sáng đã đến trong thế gian, song con người đã chuộng tối tăm hơn ánh sáng, vì các việc họ làm đều là những việc gian ác”. Mà “những việc làm tối tăm” đây là gì, nếu không phải là những việc liên quan đến đam mê nhục dục, như Chúa Giêsu đã đề cập đến trong Phúc Âm hôm nay khi Người nhắc lại “thời Noe… người ta ăn uống, cưới vợ gả chồng… hoàn toàn không còn để ý gì nữa cho đến khi lụt xẩy đến mà hủy diệt họ”. Trong bài đọc hai hôm nay, Thánh Phaolô cũng khuyên Giáo Đoàn Rôma “anh em hãy loại trừ những việc làm tối tăm” là những việc liên quan đến đam mê nhục dục như sau: “Chúng ta hãy sống một cách đoan chính như giữa ban ngày; đừng chè chén say sưa, đừng dâm ô lăng loàn, đừng cã#i lẫy hờn ghen. Trái lại, anh em hãy mặc lấy Chúa Giêsu Kitô và đừng chiều theo những ước muốn xác thịt”.
Vấn đề thực hành sống đạo: Để có được Cảm Nghiệm Thần Linh về thực tại Chúa Kitô là Lời đã nhập thể 2001 năm trước đây, cũng như về thực tại Người còn đang mầu nhiệm ở với Giáo Hội của Người cho đến tận thế, trước hết, chúng ta cần phải “tỉnh thức”, bằng cách “loại trừ những việc làm tối tăm”, như ý hướng của Thánh Phaolô trong bài đọc hai cũng như của chính Chúa Kitô trong bài Phúc Âm hôm nay huấn dụ. Phải chăng chính lúc chúng ta “loại trừ những việc làm tối tăm” là lúc chúng ta đang “leo lên núi Chúa”, đang lên cao hơn, đang từ từ được tự do thanh thoát hơn, “cho tới khiù được mặc lấy quyền lực từ trên cao” (Lk 24:49), một tầm mức và trạng thái đã được tiên tri Isaia bóng bẩy diễn tả như một “đỉnh núi cao nhất” trong bài đọc thứ nhất hôm nay: “Trong những ngày tới đây, ngọn núi của nhà Chúa sẽ được thiết lập như một đỉnh núi cao nhất, vượt trên các ngọn đồi… Chúng ta hãy leo lên núi Chúa, đến nhà Thiên Chúa của Giacóp”? Phải chăng chỉ khi nào chúng ta leo lên tới ngọn của “đỉnh núi cao nhất” này, tức lúc chúng ta được tràn đầy “quyền lực từ trên cao”, chúng ta mới đến được “nhà Thiên Chúa của Giacóp”, tức mới gặp được “Con Người Giêsu Kitô” (1Tim 2:5), Đấng “đã đến trong xác thịt” (1Jn 4:2), Đấng chính là “Vị Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (Mt 1:23)?
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

 

MV1-A105. CHƠ ĐÓN CHÚA ĐẾN THĂM

(Mt.24:37-44)
 

Có một câu chuyện ngụ ngôn nhiều ý nghĩa, tôi muốn kể cũng anh chị em nhân dịp chuẩn bị đón: MV1-A105

Có một câu chuyện ngụ ngôn nhiều ý nghĩa, tôi muốn kể cũng anh chị em nhân dịp chuẩn bị đón Chúa đến. Chuyện kể rằng: Vào buổi chiều hôm ấy, bác thợ giầy thức giấc thật sớm. Bác quyết định chuẩn bị căn phòng làm việc của mình cho gọn ghẽ, để chờ đón một vị khách qúy là chính Chúa Giêsu, vì trong giấc mộng ban đêm, Ngài đã hiện ra báo cho bác biết, Ngài sẽ ghé thăm ngay hôm nay.
Bác thợ đánh giầy ngồi chờ, tâm hồn tràn ngập hân hoan. Những tia nắng ban mai dọi qua khung cửa làm cho căn phòng ấm áp thêm. Chợt nghe tiếng gõ cửa nhè nhẹ, lòng bác thêm hồi hộp, sung sướng vì được Chúa ghé thăm. Nhưng khi cánh cửa mở ra, người khách đối diện lại là ông đưa thư quen thuộc, tay chân tím bầm, mặt mũi xám ngoách, vì trời cuối đông lạnh buốt. Không nỡ để ông run rẩy ra đi, bác mời ông vô nhà pha trà tiếp khách. Sau khi được sưởi ấm tấm thân, người đưa thư đứng dậy cám ơn rồi ra đi tiếp tục công việc.
Bác thợ giầy trở lại chỗ cũ chờ đón Chúa đến. Nhìn qua khung cửa hàng, bác thấy một em bé đang khóc xướt mướt trước cửa nhà. Bác ra mở cửa gọi nó lại, hỏi nguyên do, nó mếu máo cho biết là nó lạc mất mẹ và không biết đường về. Bác thợ giầy lấy giấy viết vài chữ nguệch ngoạc đặt trên bàn, báo cho người khách qúy biết mình phải đi ra ngoài lo tìm nhà cho em bé. Nhưng tìm đường dẫn em về nhà không phải là chuyện nhỏ. Mãi đến sẩm tối bác mới tìm được và khi trở về nhà thì phố đã lên đèn.
Vừa bước vào đã thấy có người ngồi đợi, nhưng đó không phải là Chúa Giêsu, mà là một người đàn bà tiều tụy, mệt lả vì có con ốm nặng cần giúp đỡ. Bác thợ giầy thấy thế liền vội vàng đến nhà giúp đỡ em bé, đến nửa đêm mới về. Bác lăn vô giường ngủ chẳng kịp thay quần áo.
Thế là một ngày qua đi mà Chúa cũng chưa đến thăm bác nữa. Nhưng trong giấc ngủ vùi vì mệt mã, bác nghe thấy tiếng Chúa nói: "Cám ơn con đã dọn trà cho Ta uống, đã dẫn Ta về nhà, đã săn sóc an ủi Ta đau yếu. Cám ơn con đã tiếp đón Ta hôm nay".
Ý nghĩa câu chuyện quá rõ ràng. Cuộc chờ đón Chúa không phải là một vinh quang trần thế, không phải trong vui vẻ hài hòa, mà Chúa đến trong mọi hoạt cảnh, từ sáng đến trưa, từ trưa tới khuya. Chúa đến qua hiện thân của mọi người ta gặp hàng ngày.
Điều quan trọng là ta có sẵn sàng, có niềm nở, có vui tươi chấp nhận họ với cả sự hy sinh chính mình không. Nén bạc tác động của tình thương, của tình yêu, của tình bác ái chân thành và đầy ý nghĩa muốn như bác thợ giầy mới là tác động đón Chúa cách tích cực. Việc làm ấy mới đem lại lợi lộc gấp trăm.
Hàng năm chúng ta vẫn thích đón mừng Chúa Giáng Sinh, và hàng năm Ngài vẫn gõ của từng quán trọ, từng cửa lòng mỗi người. Nhưng chúng ta tiếp đón Chúa thế nào ? Có đến nỗi Chúa phải sinh ra trong hang lạnh giá lòng chúng ta không ? Và nếu còn như thế, Ngài cũng sẽ tiếp tục nói mãi trong giấc mộng của chúng ta. Hãy mở rộng tâm hồn đón Ngài. Hãy sửa soạn tâm hồn, sửa sang con tim cho ngay chính. Ngài cần tách trà ấm tình cho người lạnh nhạt với chúng ta. Ngài cần cánh tay nâng đỡ những người nhờ vả chúng ta. Ngài cần sự cảm thông tha thứ cho người có lỗi với chúng ta. Ngài cần chúng ta cho đi những gì mình muốn giữ lại. Bao nhiêu nghĩa cử ấy là bấy nhiêu lễ Giáng Sinh đẹp trong đời. Xin hãy suy nghĩ và thực hiện trong những ngày chờ đón Chúa đến. (28.12.2004).
Lm. Thu Băng, CMC

 

MV1-A106. Chúa đến

Mùa Vọng là mùa trông chờ Chúa đến. Chúng ta trông chờ Chúa đến là bởi vì chúng ta không được: MV1-A106

Mùa Vọng là mùa trông chờ Chúa đến. Chúng ta trông chờ Chúa đến là bởi vì chúng ta không được thoả mãn với tình trạng hiện tại của chúng ta. Dầu có tận tâm tận lực, chúng ta vẫn gặp phải không biết bao nhiêu điều trái ý, chẳng hạn như bệnh tật, nghèo đói, cô đơn, chia ly và chết chóc. Chúng ta tin rằng Chúa sẽ đến để lấp đầy những khát vọng chính đáng của chúng ta, đồng thời sẽ mang lại một đời sống hạnh phúc:
Sẽ không còn chiến tranh, thù hận và hao tốn tiền của nữa, vì thời đại của Chúa là thời đại hoà bình. Bản thân Chúa chính là sự bình an như lời các thiên thần hát vang trên cánh đồng Bêlem: Bình an dưới thế cho người thiện tâm.
Thời đại của Chúa là thời đại hòa bình như tiên tri Isaia đã diễn tả: Khi Chúa đến, người ta sẽ lấy gươm mà rèn nên lưỡi cày, lấy giáo mà rèn nên lưỡi hái. Nước này sẽ không còn tuốt gươm ra xông đánh nước kia. Mọi người sẽ chung sống với nhau trong hoà thuận và yêu thương. Sẽ không còn cái cảnh cá đớp cá, người trói người. Sẽ không còn cái cung cách người với người là chó sói của nhau bởi vì tứ hai giai huynh đệ, bốn bể đều là anh em ruột thịt vì cùng là con của Cha trên trời.
Người ta sẽ không còn tranh chấp lừa đảo nhau nữa bởi vì Chúa sẽ dạy chúng ta đường lối của Ngài và chúng ta sẽ tuân theo ý định của Ngài. Mọi mơ ước của con người sẽ được thoả mãn, sẽ trở thành sự thật. Vậy cảnh địa đàng này bao giờ sẽ tới? Bao giờ Chúa mới ban cho chúng ta hoà bình và hạnh phúc đích thực và lâu dài?
Điều đó chúng ta không hay biết bởi vì Chúa đã phán: Vào lúc các con không ngờ thì Con Người sẽ đến. Lúc Chúa đến có thể hiểu là giờ chết của mỗi người chúng ta, hay là ngày tận thế. Chúng ta không biết lúc nào sẽ xảy ra hai việc ấy. Do đó, lo lắng tìm biết lúc nào mình sẽ chết hay lúc nào sẽ là ngày tận thế? Đó là một việc làm luống công và vô ích. Trái lại hãy phó thác tương lai cho Chúa như lời Ngài đã phán: Chớ áy náy về ngày mai. Ngày mai sẽ lo cho ngày mai, ngày nào có sự khốn khổ của ngày ấy, nhưng tiên vàn hãy lo tìm kiếm Nước Trời và sự công chính của Ngài.
Vì thế, nhiệm vụ của chúng ta không phải là tìm biết ngày giờ lìa đời, hay ngày giờ tận thế, nhưng là chuẩn bị tâm hồn để có thể đứng vững trước mặt Con Người, khi Ngài đến. Hay như lời thánh Phaolô đã khuyên nhủ: Chúng ta hãy từ bỏ những hành vi ám muội và mang lấy khí giới của ánh sáng. Chúng ta hãy đi đứng đàng hoàng như giữa ban ngày, không ăn uống say sưa, không chơi bời dâm đãng, không tranh chấp ganh tỵ. Nhưng hãy mặc lấy Đức Kitô và chớ lo lắng thoả mãn những dục vọng của xác thịt.
Có sống như vậy thì khi Chúa đến, chúng ta sẽ được nghe những lời nói đầy êm dịu ngọt ngào và yêu thương của Chúa: Hỡi những người đã được Cha Ta chúc phúc, hãy đến, lãnh lấy phần gia nghiệp Nước Trời, đã được dọn sẵn cho các con từ muôn ngàn thuở trước.

 

MV1-A107. Đừng ảo tưởng – Lm Ignatiô Trần Ngà

Vào dịp cuối năm, Lu-xi-phe triệu tập đại hội đồng quỷ sứ để kiểm điểm tình hình hoạt động suốt: MV1-A107

Vào dịp cuối năm, Lu-xi-phe triệu tập đại hội đồng quỷ sứ để kiểm điểm tình hình hoạt động suốt năm qua.
Quỷ già, quỷ cái, quỷ con đều họp mặt đông đủ và báo cáo cho Quỷ Vương Lu-xi-phe biết tình hình cám dỗ của toàn bầy quỷ sứ.
Nói chung, hoạt động cám dỗ không đạt kết quả như chỉ tiêu đã đề ra và tỉ số người phải xuống hoả ngục xem ra không gia tăng đáng kể.
Vì thế, khi bước qua phần hai của chương trình thảo luận, Quỷ Vương Lu-xi-phe kêu gọi hội đồng quỷ hãy đề ra những chiêu thức cám dỗ hữu hiệu hơn, liệu sao để lôi kéo được nhiều linh hồn sa hoả ngục hơn.
Các quỷ tham gia tranh luận sôi nổi, bày ra nhiều mưu chước nhằm làm cho loài người sa vòng tội lỗi. Ý kiến thì nhiều, nhưng chỉ nêu ra đây một số ý kiến tiêu biểu. Có quỷ đề nghị hãy cám dỗ các bạn trẻ rằng: "Không có Thiên Chúa, không có thiên đàng hoả ngục. Thiên đàng là ảo tưởng do Giáo Hội bày ra để dụ khị loài người; hoả ngục chỉ là sản phẩm do Cha Cố thêu dệt để hù doạ những người yếu bóng vía. Đừng dại dột tin vào Thiên Chúa, vào sự sống đời sau mà phí cả cuộc đời!". Mưu chước nầy cũng chưa thuyết phục nên không được đa số chấp nhận.
Có quỷ thì hiến kế nên thuyết phục người ta biết rằng Đức Giê-su chỉ là hạng phàm phu tục tử, Phúc Âm của Ngài gồm toàn những chuyện bịa đặt viển vông..." nhưng rồi ý kiến nầy cũng không được hưởng ứng.
Cuối cùng có lão quỷ già có tiếng là đa mưu túc kế lên tiếng: "Theo tôi, chúng ta nên cám dỗ thế nầy: "có Thiên Chúa, có thiên đàng hoả ngục, có linh hồn, có sự sống đời sau... (mình phải nói như vậy để người ta tin mình đã, rồi ta sẽ thêm) nhưng bạn hãy nhớ rằng: Đời bạn còn dài mà, bạn chưa chết đâu! Vậy hãy vui hưởng lạc thú đời nầy đi! Đợi đến khi già yếu rồi ăn năn sám hối cũng chưa muộn."
Một tràng pháo tay giòn vang tán thưởng diệu kế của lão quỷ già thâm độc. Thế là hội nghị nhất trí với phương thức cám dỗ được xem là sẽ rất kiến hiệu của lão quỷ già đa mưu.
Hiện nay, hầu như mọi người đều tin theo lời cám dỗ độc hại ấy. Ai cũng tin rằng đời mình còn dài, chưa đến lúc phải ăn năn hối cải. Ngày mai, ngày mốt, ngày kia, ta sẽ sám hối, sẽ cải thiện cuộc đời, còn hôm nay, thì...
Qua bài trích thư gởi tín hữu Rô-ma trích đọc hôm nay (Rm 13, 11-14) thánh Phao-lô kêu gọi chúng ta hãy mau quay về với Chúa, hãy mặc lấy Chúa Giê-su Ki-tô, đừng mơ tưởng đời còn dài rồi cứ đắm mình trong lạc thú:
"Đêm sắp tàn, ngày gần đến. Vậy chúng ta hãy loại bỏ những việc làm đen tối, và cầm lấy vũ khí của sự sáng để chiến đấu. Chúng ta hãy ăn ở cho đứng đắn như người đang sống giữa ban ngày: không chè chén say sưa, không chơi bời dâm đãng, cũng không cãi cọ ghen tương. Nhưng anh em hãy mặc lấy Chúa Giê-su Ki-tô, và đừng chiều theo tính xác thịt mà thoả mãn các dục vọng."
Và Lời Chúa trong Tin Mừng cũng kêu gọi chúng ta hãy tỉnh thức vì giờ Chúa đến thật bất ngờ; vì như "Thời ông Nô-ê thế nào, thì ngày Con Người quang lâm cũng sẽ như vậy. Vì trong những ngày trước nạn hồng thuỷ, thiên hạ vẫn ăn uống, cưới vợ lấy chồng, mãi cho đến ngày ông Nô-ê vào tàu. Họ không hay biết gì, cho đến khi nạn hồng thuỷ ập tới cuốn đi hết thảy. Ngày Con Người quang lâm cũng sẽ như vậy".
"Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến. Anh em hãy biết điều này: nếu chủ nhà biết vào canh nào kẻ trộm sẽ đến, hẳn ông đã thức, không để nó khoét vách nhà mình đâu. Cho nên anh em cũng vậy, anh em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến".
Nếu hôm nay, lúc còn an bình khoẻ mạnh, ta không tưởng gì đến Chúa; đợi đến lúc lâm nguy rồi mới chạy đến với Ngài thì chúng ta xem Chúa có khác gì chiếc phao. Bình thường khi trời quang mây tạnh, mọi sự an lành thì không ai thèm ngó lại chiếc phao, xem nó như cái gì thừa thãi vô tích sự, có thấy nó nằm giữa lối đi thì người ta cũng đá nó sang một bên, không ai thèm đoái hoài. Nhưng khi gặp phong ba bão táp, nguy khốn đến nơi thì tranh nhau giành lấy phao cho bằng được!
Lạy Chúa, Chúa là Chúa Tể quyền năng, là Thiên Chúa tối cao mà chúng con phải phụng thờ suốt đời, ngay cả bây giờ, chứ không phải là chiếc phao cứu mạng chỉ cần dùng lúc gặp gian nguy khốn khó.
Xin cho chúng con đừng khờ khạo tin rằng đời còn dài, hãy tận hưởng đời và mê đắm trong tội mà lãng quên phần rỗi đời đời của chúng con.

 

MV1-A108. Sống tỉnh thức – Lm Jos. Tạ Duy Tuyền

Người Việt Nam có câu "nước tới chân mới nhảy" thì quá trễ. Người Miền Trung đã quá thấm thía: MV1-A108

Người Việt Nam có câu "nước tới chân mới nhảy" thì quá trễ. Người Miền Trung đã quá thấm thía câu nói này qua những ngày tháng lũ lụt kéo dài suốt gần 1 tháng qua. Không có lương thực dự trữ, đa phần phải sống trong cảnh thiếu thốn, bữa no bữa đói. Có những nơi chỉ còn biết trông chờ ở những đoàn cứu trợ từ khắp nơi mang đến. Không ai nghĩ rằng lũ lụt lại quá kinh khủng như vậy. Thế nên, họ vẫn ăn uống, vẫn vui chơi, vẫn không cần tích trữ cho ngày mai. Họ đâu ngờ rằng có những ngày "gạo quế củi châu", khiến họ phải đói khổ cơ hàn, để rồi phải ngửa tay van xin lòng thương xót của người khác. Họ đâu ngờ rằng những gì họ tích luỹ, cất dấu lại bị nước cuốn trôi và trở nên trắng tay lại hoàn trắng tay. Xem ra trên thế gian này chẳng có gì an toàn, chẳng có gì trường cửu. Tất cả đều mong manh, kể cả kiếp người cũng mong manh như loài hoa trước gió, đến độ "một cơn gió thoảng cũng làm nó biến đi. Nơi nó mọc cũng không còn mang vết tích".
Hôm nay, Lời Chúa nhắc nhở chúng ta hãy tỉnh thức đừng để ngày khốn đốn xảy đến mà chẳng hay biết gì, như "thời ông Noe, người ta vẫn ăn uống, vẫn cưới vợ, lấy chồng". Người ta tưởng rằng thế giới mãi mãi là thế, chẳng có gì thay đổi, chẳng có gì phải lo, phải sợ. Chỉ có một mình Noe, ông đã vượt ra khỏi thói quen của mọi người. Một mình ông đóng tàu. Một mình ông chuẩn bị đối phó với tai hoạ sẽ xảy đến cho ông và cho toàn thế giới. Và vì vậy, cũng chỉ một mình ông và gia đình lên tàu, còn những người khác vẫn ăn uống, vẫn đàn hát cho đến khi cơn hồng thủy đến và nhậm chìm vạn vật và hàng triệu sinh linh trên mặt địa cầu.
Mùa vọng là mùa đợi chờ, mùa trông mong. Người ta trông mong quà cáp, thư từ, tiền lương, xum họp gia đình nhân dịp lễ Noel. Người tìn hữu được mời gọi trông mong ngày Chúa quang lâm. Ngày đó sẽ đến, nhưng không biết khoảng thời gian nào. Ngày đó sẽ đến như kẻ trộm. Ngày đó sẽ đến một cách bất chợt và thình lình. Sự khôn ngoan luôn nhắc nhở chúng ta là hãy tỉnh thức để luôn sẵn sàng đón chờ ngày đó sẽ đến.
Ngày xưa có một ông cụ già cố cứu kinh thành Sôđôm khỏi bị Chúa tiêu diệt bằng cách mỗi ngày đi gặp người dân trong thành để cảnh cáo và kêu gọi mọi người tin Chúa, thờ Chúa cho khỏi bị tiêu diệt. Không ai chịu nghe lời ông cụ mà còn chế diễu là mê tín dị đoan nữa. Ông cụ vẫn bền chí đi hết nhà này sang nhà nọ để kêu gọi họ thống hối ăn năn. Thấy chuyện vô tích sự của cụ, nên có người hỏi:
- Tại sao cụ nói cho họ biết làm gì cho mệt. Họ có nghe cụ và thay đổi gì đâu? Nói với họ cũng như nước đổ đầu vịt!
Ông cụ bình tĩnh đáp:
- Có lẽ tôi không thuyết phục nổi ai, cũng không thay đổi được ai đâu. Nhưng làm như thế cũng là giúp tôi, đừng lao vào cuộc sống sa đoạ như họ.
Câu truyện kể trên chỉ là một dụ ngôn. Nhưng trên thực tế ông Lót ngày xưa sống trong kinh thành Sôđôm. Chính là ông già đó.
Trong thư thứ hai của thánh Phêrô có ghi rằng: "Chúa cứu Lót ra khỏi Sôđôm vì ông là người công chính, tâm hồn luôn luôn bị dày vò vì những cảnh đồi bại luân lý diễn ra hàng ngày quanh mình.
Ông Lót sinh sống tại vùng Sôđôma. Khi Sôđôma bị các nước lân bang xâm chiếm, Lót bị bắt đi. Abraham là chú phải ra tay tiếp cứu Lót. Nhưng Lót vẫn về sống ở kinh thành Sôđôma. Khi Chúa quyết định giáng tai họa xuống kính thành Sôđôma, Abraham đã cầu xin Chúa giải cứu, nhưng vì Sôđôma không có đến mười người kính thờ Chúa, nên đã bị tiêu diệt. Trước khi tai họa xảy ra, có hai thiên sứ của Chúa đến giải cứu Lót. Nhưng ông ta vẫn còn lần lữa. Khi đã ra khỏi Sôđôm, bà vợ ông Lót còn ngoái lại nhìn và đã bị biến thành tượng muối.
Vâng, trong thế giới ngày nay, tình trạng sa đoạ và trụy lạc ngày càng nhiều và lan rộng, đến độ người ta cho rằng phải sống đồi trụy mới là tiến bộ. Chẳng hạn như: quan hệ trước hôn nhân, đồng tính luyến ái, ngoại tình, phá thai và các sách báo, phim, băng hình đồi trụy mỗi ngày đều gia tăng, mặc dù cơn đại dịch Sida, aid đã tiêu diệt hàng trăm ngàn người mỗi năm, thế nhưng nhiều người vẫn nhắm mắt làm ngơ, vẫn lao vào cuộc sống hưởng thụ, sa đoạ, bất chấp lề luật, bất chấp tai họa. Cuộc sống sa đoạ đến mức Đức Thánh Cha Gioan Phaolo II đã than thở rằng: "cái đáng buồn của thế giới ngày này, đó chính là mất ý thức về tội, người ta không còn nghĩ đến tội phúc, và cũng chẳng cần nghĩ đến danh dự của phẩm giá con người, người ta chỉ cần thoả mãn nhu cầu dục vọng của mình đến độ bất chấp cả lề luật mà Thượng Đế đã an bài".
Là người tin Chúa sống trong xã hội băng hoại, ta cần cẩn thận. Phải nói về Chúa cho đồng bào mình vì nếu không, chính chúng ta sẽ thay đổi theo chiều đồi trụy. Đó chính là phương cách bảo vệ niềm tin Chúa và đưa người khác đến với Chúa. Nếu không làm như vậy, không mấy lúc mà ta sẽ thay đổi theo với xu hướng tục hoá của xã hội, chứ không phải xã hội chung quanh thay đổi vì ta.
Nguyện xin Chúa giúp chúng ta luôn tỉnh thức trong từng giờ từng phút. Tỉnh thức để vượt ra khỏi những cám dỗ của danh lợi thú, của những đam mê thấp hèn, hầu xứng đáng là người tôi trung luôn cầm đèn dẫn dắt anh em đi trong chân lý và hồng ân của Chúa. Amen.

 

MV1-A109. Suy niệm của Ủy Ban Kinh Thánh – HĐGMVN

(Trích từ ‘http://www.kinhthanhvn.org’)
 

Đức Giêsu đã đến xưa kia, sẽ đến vào ngày Quang Lâm và vẫn đang đến mỗi ngày. Cần biết đón tiếp : MV1-A109

Đức Giêsu đã đến xưa kia, sẽ đến vào ngày Quang Lâm và vẫn đang đến mỗi ngày. Cần biết đón tiếp Người đến dưới bất cứ dạng nào.
Năm Phụng vụ mới lại bắt đầu bằng Mùa Vọng với tâm tình chuẩn bị, đón chờ ngày Chúa đến: Chúa đến trong ngày lễ Giáng Sinh sắp tới, nhưng căn bản là ngày Chúa quang lâm: Chúa sẽ trở lại trong vinh quang vào ngày thế tận, như lời tuyên xưng hằng ngày trong Thánh lễ: Lạy Chúa, chúng con loan truyền việc Chúa chịu chết và tuyên xưng việc Chúa sống lại cho tới khi Chúa lại đến.
1. Israel mong chờ Đấng Thiên Sai (Messia)
Do-Thái, dân tuyển chọn, lúc ấy đang sống trong thời kỳ bi thảm về chính trị, xã hội lẫn tôn giáo. Phương Bắc đã hoàn toàn bị đế quốc Assyri tiêu diệt (721), Phương Nam, tức đất nước Giuđa, sống dưới sức ép của đế quốc Babylone đang hăm he thôn tính. Xã hội đầy những bất công, áp bức và chèn ép: người giàu cứ phè phỡn hưởng thụ trong khi dân nghèo bị bỏ rơi và khốn khổ. Tôn giáo lỏng lẻo, pha trộn, vụ hình thức. Chính trong thời buổi nhiễu nhương và thất vọng ấy, sấm ngôn Nathan (2S 7,14) về việc Thiên Chúa hứa sẽ bảo đảm cho vương triều Đavít được miên trường khơi dậy trong lòng người nỗi mong chờ một vị Thiên Sai thuộc dòng tộc Đavít xuất hiện để giải cứu và phục hưng đất nước. Ngôn sứ Isaia cổ võ thêm cho sự mong chờ ấy bằng lời sấm đầy tràn hy vọng về đấng Emmanuel: “Này đây một trinh nữ sẽ thụ thai và hạ sinh một con trai, đặt tên là Emmanuel” (Is 7,14). Vị ngôn sứ còn loan báo một cuộc hành hương vĩ đại vào thời thiên sai: mọi dân nước trên mặt đất sẽ tiến về Giêrusalem, tập trung quanh Israel, để nhận biết và phụng thờ Giavê (Is 2,2-5; x. Mk 4,1-5). Niềm hy vọng vội tan biến khi Israel bị Babylone xâm lăng và bị lưu đày (587). Nếu trước đây Thiên Chúa đã giải thoát họ khỏi ách nô lệ Ai-Cập, giờ đây Người lại giải thoát họ khỏi cảnh lưu đày để họ được hồi hương tái thiết Đền Thờ và đất nước. Một lần nữa, hy vọng lại dâng cao với sự mong chờ vị Thiên Sai Ngôn sứ mà trước đây Môsê đã từng loan báo (Đnl 18,18). Đấng Thiên Sai Ngôn sứ này là người Tôi trung của Giavê mà Isaia II đã phác hoạ là người được Thiên Chúa tuyển chọn và ban tràn đầy Thần Khí, sẽ phải chịu nhiều đau khổ và chịu chết để cứu độ dân Người. Hy vọng và mong chờ vẫn kéo dài cho đến lúc người ta lại chuyển sang việc mong đợi Con Người, một nhân vật thiên quốc mà Daniel mô tả là Đấng ngồi bên hữu Thiên Chúa, được Thiên Chúa trao cho toàn quyền chung thẩm nhân loại (Dn 7,13-14). Trong từng giai đoạn, Israel lại mong chờ vị Thiên Sai cứu tinh. Niềm hy vọng mong chờ đó đã nâng đỡ dân trong suốt thời kỳ đầy thảm hoạ. Sống là hy vọng và mong chờ. Suốt thời kỳ đầu của Giáo Hội tiên khởi, giữa trăm chiều thử thách, các tín hữu hằng mong chờ ngày Chúa trở lại và tha thiết kêu xin: Maranatha, lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến!
2. Đức Giêsu là Đấng Thiên Sai đã đến hoàn tất niềm mong đợi Cựu Ước
Giữa lúc nhân loại đang chìm sâu trong đêm tối của lầm lạc và tội lỗi, khát mong ơn cứu độ. Khi Israel đang mòn mỏi mong chờ vị Thiên sai đến giải thoát. Một vì sao sáng xé ngang màn đêm. Ánh sáng xuất hiện. Thiên Chúa đã nhập thể đến giữa loài người, mang tên gọi Emmanuel, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta (Mt 1,23). Loài người khát khao cứu độ, nhưng nhận biết mình hoàn toàn bất lực, chỉ còn biết trông đợi ở Chúa. Con người không thể lên được với Thiên Chúa thì Thiên Chúa lại xuống với con người. Thánh Gioan viết: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16). Người Con một ấy chính là Ngôi Lời vĩnh cữu đã trở nên người phàm (Ga 1,1.14), sinh bởi một người nữ và sống dưới Lề Luật để cứu những ai đang sống dưới Lề Luật, hầu cho họ được ơn làm nghĩa tử (Gl 4,4-5). Đó là lần thứ nhất Thiên Chúa xuống trong lịch sử mà ta vui mừng tưởng niệm trong ngày lễ Giáng Sinh. Lễ Giáng Sinh sắp đến, hãy chuẩn bị tâm hồn để đón nhận Chúa đến với ta, mang niềm vui, an bình và cứu độ.
3. Hướng về ngày Quang Lâm
Tưởng niệm không phải chỉ là một hoài niệm quá khứ, nhưng căn bản là hiện tại hoá việc Chúa đến hôm nay trong mỗi giây phút cuộc sống và nhất là hướng lòng về ngày Chúa quang lâm khi niên cùng nguyệt tận để phán xét toàn nhân loại. Lúc ấy Người sẽ phân định sự sống đời đời cho những người lành và án phạt muôn đời cho những kẻ dữ là những ai khi sống nơi dương thế đã chối từ Thiên Chúa để đặt mình dưới quyền thống trị của ma quỷ và tội lỗi.
Ngày Chúa quang lâm thật bất ngờ, không ai biết trước được sẽ xảy đến lúc nào. Vì thế, Chúa dạy phải sẵn sàng tỉnh thức như người đầy tớ khôn ngoan chờ đợi chủ về vào lúc đêm khuya, hoặc như các trinh nữ khôn ngoan chờ đợi chàng rễ đến chậm, như người quản gia trung tín luôn biết chu toàn bổn phận khi chủ vắng nhà. “Hãy cầm đèn cháy sáng trong tay và hãy thắt lưng như người chờ đợi chủ về ”. Hình ảnh Hồng thuỷ và Sôđôma luôn là một cảnh tỉnh con người trong cuộc sống cần biết hướng về ngày thế tận, chứ không phải sống như thể trần gian và hiện tại là tất cả. Cuộc sống hiện tại là một chuẩn bị và xác định cho định mệnh cuối cùng. Chúa Giêsu đã có lần cảnh cáo qua dụ ngôn người giàu khờ dại: “Không phải sự sung túc của cải đời này đảm bảo hạnh phúc đời đời” (Lc 12,15). Thánh Phaolô khuyên: “Đêm sắp tàn, ngày gần đến. Hãy loại bỏ mọi hành vi ám muội và mang lấy khí giới ánh sáng để chiến đấu...” (Rm 13,11-14).
4. Chúa vẫn đến mỗi ngày
Ngày Quang Lâm vào lúc thế tận sẽ rất bất ngờ. Sự chuẩn bị sẵn sàng được xác định qua tư cách biết đón Chúa đến mỗi ngày trong cuộc sống hiện tại. Sách Khải huyền viết: “Phúc cho ai chết trong ân nghĩa của Chúa”. Nhưng để chết trong ân nghĩa thì phải biết sống trong ân nghĩa. Chúa đứng ngoài cửa và gõ; ai sẵn lòng mở, Người sẽ vào và dự bàn tiệc với người ấy.
- Chúa đến và đối thoại với ta trong Kinh Thánh. Hãy biết lắng nghe, suy niệm và thực hành Lời Chúa.
- Chúa đến và ở giữa chúng ta trong Thánh Thể bằng tất cả tình yêu tự hiến, và trở nên Bánh hằng sống nuôi dưỡng ta trên bước đường lữ thứ tiến về nhà Cha. Hãy siêng năng tham dự thánh lễ và rước lễ, hãy chiêm ngắm, tôn thờ và sống bí tích Thánh Thể.
- Chúa đến trong anh em: “Sự gì các ngươi làm cho một anh em bé mọn là làm cho chính Ta” (Mt 25,40). Trọn cuộc đời trần thế của Chúa Giêsu là yêu thương và phục vụ hết tình và hết mình. Người đã rửa chân cho các môn đệ trong bữa Tiệc ly như mẫu gương của sự phục vụ khiêm tốn và vô vị lợi (Ga 13,14-15). Người đã yêu thương đến tận cùng, đến chết trên thập giá. Hãy sống yêu thương và phục vụ vì đó là lề luật quan trọng nhất và là dấu chỉ của người môn đệ Chúa Giêsu (Ga 13,34-35).

 

MV1-A110: Niềm tin yêu phó thác.

(Suy niệm của Lm. Antôn Nguyễn Văn Tiếng)
CON THUYỀN KHÔNG BẾN
 

Trong một lớp giáo lý Rước Lễ Trọng Thể, khi được hỏi: “Con tàu No-ê đã trôi về đâu”, một em : MV1-A110

Trong một lớp giáo lý Rước Lễ Trọng Thể, khi được hỏi: “Con tàu No-ê đã trôi về đâu”, một em học viên tuổi vào đời đã trả lời nhanh: “Dạ, nó trôi lênh đênh như con thuyền không bến”.
Hay! Giữa trời biển bao la, còn đâu là bến bờ, câu trả lời thật thơ mộng và chính xác!
Nhưng đó chỉ là hình ảnh được hiểu theo kiểu “người trần mắt thịt”, thấy sau biết vậy. Con thuyền No-ê không trôi vô định, phó mặc dòng đời tùy hên xui may rủi, kiểu “con thuyền không bến” của người đời: “cũng liều nhắm mắt đưa chân, thử xem con tạo xoay vần đến đâu”. Con thuyền No-ê đã được tạo thành có mục đích, nó trôi nổi giữa dòng đời theo mục đích, và sẽ dừng lại đúng mục đích.
Đó là một cuộc hành trình có khởi điểm, có lộ trình, và có điểm đến. Đó là một cuộc hành trình do Thiên Chúa hoạch định. Đó là ơn gọi vì yêu thương.
Bến cũ không còn an toàn, Thiên Chúa muốn ông No-ê rời bỏ nơi ấy, để đến bến bờ mới của sự sống, nơi sẽ là Trời Mới, Đất mới - một Thế Giới Mới. No-ê đã vâng lời. Ông tin những gì Thiên Chúa nói. Ông vâng phục những gì Thiên Chúa dạy. Ông phó thác mọi sự trong chương trình của Thiên Chúa.
Nên, giữa trời biển bao la, vẫn có một bến bờ mà nếu không có đôi mắt đức tin không thể nào thấy được, đó là bến bờ vô hình đang chờ đợi “con thuyền không bến” của No-ê cập bến: - bến bờ sự sống mới.
Như vậy, cuộc hành trình của con tàu No-ê là một cuộc hành trình hy vọng. Hy vọng những điểu tốt lành Thiên Chúa sẽ trao ban như lời Ngài đã hứa.
CHỜ ĐỢI VÀ HY VỌNG
Chờ đợi luôn chứa đựng hy vọng. Hy vọng đòi hỏi đợi chờ. Có những người tự tử vì họ không còn hy vọng. Họ không còn gì để đợi chờ. Có những người đầy nghị lực vượt gian khổ, vì họ luôn hy vọng điều tốt lành đang ở phía trước. Họ kiên nhẫn đợi chờ. Họ đợi chờ trong hy vọng.
Tháng ngày lênh đênh trên sóng nước bao la của con tàu No-ê là cuộc hành trình chờ đợi trong hy vọng. Mong đợi thấy được ánh mặt trời của ngày mới rực sáng trên mặt đất hồi sinh.
Đó là Mùa Vọng của con tàu Nô-ê. Mùa Vọng của những người luôn được Chúa yêu mến và luôn biết yêu mến Chúa. Những người luôn tỉnh thức để trung thành với niềm tin yêu vào Thiên Chúa.
Muốn có được niềm hy vọng, người ta luôn phải phấn đấu. Không ai đạt được mục đích mà chỉ “nằm há miệng chờ sung”. Để trung thành với niềm tin yêu vào Thiên Chúa đòi hỏi con người luôn nổ lực để tự hoàn thiện bản thân. Phải có hy sinh, đau đớn, khổ luyện, con người mới vươn lên được. “Ngọc kia chẳng giũa chẳng mài. Cũng thành vô dụng, cũng hoài ngọc đi”.
Cuộc sống chỉ để thỏa mãn những thú vui thấp hèn. Theo đuổi những giá trị nhất thời. Hưởng thụ những thứ phàm tục thoáng qua. Buông thả theo bản năng. Mất phương hướng đời người. Không còn cảm nhận được những giá trị cao cả lâu bền. Cuộc sống ấy sẽ thật sự chấm hết trong thế giới tan biến phù hoa ảo ảnh. Vì cuộc sống ấy không nối kết được với nguồn sống vĩnh cửu là Thiên Chúa. “Thời ông Nô-ê thế nào, thì con người quang lâm cũng sẽ như vậy. Vì trong những ngày trước nạn hồng thủy, thiên hạ vẫn ăn uống, cưới vợ lấy chồng, mãi cho đến ngày ông Nô-ê vào tàu. Họ không hay biết gì, cho đến khi nạn hồng thủy ập tới cuốn đi hết thảy. Ngày con người quan lâm cũng sẽ như vậy”. (Mt.24,37-39).
VÀO GIỜ PHÚT KHÔNG NGỜ...
Ở quê tôi, không nhớ rõ năm nào, chỉ biết là trước năm 1975, người ta báo tin một chiến sĩ tên Sang tử trận. Phải mất gần ba ngày sau, gia đình người thân mới đi lãnh xác về được trong chiếc quan tài được hàn chì bên trong cẩn thận.
Thật khó mà tả được hình ảnh người mẹ đau khổ. Bà ôm chiếc quan tài và tha thiết xin được nhìn mặt con lần cuối, nhưng không ai đáp lại nguyện vọng của bà. Vì ai cũng hiểu: chẳng còn hình thù gì nữa để nhìn. Người ta giữ lại chiếc quan tài một đêm để cầu lễ và dự định ngày hôm sau thánh lễ an táng sẽ cử hành lúc 2 giờ chiều.
Buổi sáng ngày dự định chôn cất, lúc ấy khoảng 8g, khi người mẹ còn đang thỉnh thoảng bước lại nhìn di ảnh đứa con trai cưng của mình, thắp vài nén hương trong nước mắt, thì một người ở ngoài đường hối hả chạy vào nhà báo tin: “Mẹ ơi, người ta điện về xã cho biết tên Sang đó không phải là người ở xã của mình, ở nơi khác. Mẹ ơi, anh Sang còn sống! Mẹ ơi, anh Sang còn sống!”.
Người mẹ đứng chết trân, ngỡ ngàng, không biết mơ hay thực, nước mắt tiếc thương chưa kịp khô, những giọt nước mắt vui mừng trào trào ra tuôn dòng trên đôi má nhăn nheo.
Ngay ngày hôm sau, người ta cho anh Sang về phép. Có lẽ ai đó có trách nhiệm trong việc lầm lẫn tai hại này muốn chuộc lại lỗi lầm chăng. Hay muốn bảo đảm chắc chắc rằng người nằm trong quan tài kia không phải là Sang ở gia đình này. Sau đó, người ta đem chôn tạm chiếc quan tài kia ở phía sau ruộng. Gần một tháng sau mới có thân nhân đến tìm mộ.
Mấy ngày sau, tôi đến thăm người mẹ đó. Bà nói câu nào cũng khóc. Khóc rồi cười. Cười rồi lại khóc. Đó là thứ ngôn ngữ diễn tả niềm vui quá sức lớn lao đến mức người ta có thể điên lên được vì hạnh phúc đến quá bất ngờ. Thật không ngờ! Tôi cứng rắn lắm, vậy mà cũng khóc. Tôi khóc vì cảm động trước lòng mẹ...
Ôi, sự sống quý trọng biết bao và là khát vọng muôn thuở của con người!
Tôi chợt nhớ đến hình ảnh của Chúa Giê-su đã xúc động trước đám tang của con trai bà góa thành Na-im (Lc.7,11-17). “Trông thấy bà Chúa chạnh lòng thương và nói: ‘Bà đừng khóc nữa’”. Niềm hạnh phúc của bà mẹ này chắc chắc rất lớn lao và thật không ngờ. “Người chết liền ngồi lên và bắt đầu nói. Đức Giê-su trao anh ta cho bà mẹ”.
Niềm vui ấy không chỉ riêng của bà mẹ thành Na-im và bản thân người chết, mà còn là niềm vui của mọi người. Đó là nỗi khắc khoải chờ mong của mọi người, của kiếp nhân sinh. “Mọi người đều kinh sợ và tôn vinh Thiên Chúa rằng: ‘Một vị ngôn sứ vĩ đại đã xuất hiện giữa chúng ta, và Thiên Chúa đã viếng thăm dân Người ’”. (Lc.7,16).
Đó là niềm vui lớn nhất mà chúng ta chờ đợi. Đó là hy vọng mà chúng ta ấp ủ trọn cả kiếp người.
Cuộc đời của chúng ta có rất nhiều điều không ngờ. Chúng ta là thân cát bụi mà Chúa đã yêu thương chúng ta đến mức không ngờ. Ngài tha thứ chúng ta đến mức không ngờ. Ngài là Thiên Chúa mà chọn cái chết vì chúng ta thật không ngờ. Ngài sẽ đến vào ngày không ngờ. Ngài sẽ đem lại cho chúng ta niềm hạnh phúc không ngờ.
Chỉ có điều, ta đáp lại tình Ngài như thế nào qua cách sống của chúng ta. Nếu ta bước đi vững vàng trong niềm tin yêu Thiên Chúa. Nếu ta biết lắng nghe Lời Chúa. Nếu ta biết chọn lựa những gì thuộc về Chúa. Nào ta còn sợ gì lạc lối. Mặc cho cuộc đời có đổi thay. Sóng gió tư bề bao phủ. Chuyện kinh thiên động địa tràn lan, ta chẳng hề sợ đến “hồn xiêu phách lạc”, vì ta tin vững Thiên Chúa không hề bỏ rơi những ai trung thành và hằng kêu cầu đến Thánh danh Ngài. “Khi những biến cố ấy bắt đầu xảy ra, anh em hãy đứng thẳng và hãy ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu độ” (Lc.21.28).
Có một chút màu trắng trinh nguyên,
Có một chút màu đen bóng tối,
Có một chút màu xanh hy vọng,
Có một chút màu đỏ tình yêu.
Đan quyện lấy nhau.
Pha trộn vào nhau.
Để cho ra màu tím.
Màu Tím Mùa Vọng.
Màu của đợi chờ.
Lạy Chúa,
Cho con cúi xuống, chẳng dám nhìn lên,
Dòng lệ ăn năn khóc đời lầm lỡ.
Cho con ngước lên, dòng lệ òa vỡ,
Trông chờ Chúa thương cứu chuộc đời con. Amen.

 

MV1-A111: Âm vang mùa vọng

(Suy niệm của Lm. Giuse Lê Quan Trung)
 

Thiên tai, địch họa, bão lũ, cuồng phong trong thời gian gần đây đã gieo bao tai ương! Đã gây bao: MV1-A111

Thiên tai, địch họa, bão lũ, cuồng phong trong thời gian gần đây đã gieo bao tai ương! Đã gây bao đổ vỡ! Đã cướp bao sinh mạng! Đã vùi bao mái ấm! Tại trời? Tại đất? Tại đời?
Cuộc sống ngày càng mang tới nhiều nơm nớp lo âu: bạo hành từ gia đình! Bạo lực nơi học đường! Bạo ngược trong cuộc sống! Bạo thiên nghịch địa mất hết nghĩa nhân! Tại Trời? Tại đất? Tại đời?
Đạo đức ngày càng thêm tuột dốc! Nhân cách ngày càng lúc nhạt phai! Lọc lừa ngày một thêm táo tợn! Tình đời ngày tráo trở liên hồi! Nào phải tại trời! Đâu phải tại đất! Cũng chẳng tại đời! Mà tại lòng người không thích lắng nghe lời hay, không muốn đi vào đường thiện, không cùng hòa nhịp yêu thương!
Tất cả những điều bất hạnh ấy đã được vị Mục Tử nhân lành Giêsu cảnh báo từ ngàn xưa: “Hãy tỉnh thức!”(Lc 21,36); “ Sẽ có những điềm lạ trên trời, mặt trăng và các vì sao. Dưới đất, muôn dân sẻ lo lắng hoang mang trước cảnh biển gào sóng thét”(Lc 21,25).
“Hãy tỉnh thức”: - để sống cho ra sống, sống có mục đích, có lý tưởng, cố gắng hoàn thiện đời mình!
“Hãy tỉnh thức”: - để tỉnh táo phân biệt chính- tà; tội- phước; cố gắng thoát kiếp “con”để sống đẹp kiếp “người”!
“Hãy tỉnh thức”: - để làm vui lòng cha, để làm mát dạ mẹ, để gia đình luôn là bến đậu vững chắc trước bão đời đang vùi dập tình thân huyết thống; đang phá tan đạo Hiếu gia phong; đang hủy hoại nếp đời nếp đạo.
Lũ lụt miền trung
Bởi từ lòng tham không đáy, mà chính mình đã gây họa cho nhau: rừng không còn bóng râm ươm mát, giữ nước chặn nguồn, nên lũ trôi nước cuốn là lẽ đương nhiên! Những dãy núi xanh thẫm bị khai thác vô tội vạ, còn biết lấy đâu ra bức bình phong ngăn cơn thịnh nộ của cuồng phong, nên đồi sạt đá lở nào phải tại trời? Nếu đủ tỉnh thức, bao dòng sông đã không ô nhiễm! Bao khí trời đâu mất tinh khôi! Bao kiếp người đâu vương nhiều mầm bệnh!
Do từ lòng tham không đáy, mà chính mình đã giết chết đời nhau: bao cô gái chàng trai, bỗng trở thành món hàng bị bán buôn, trao đổi, bị xóa đi nhân phẩm một thời! Danh- Lợi- Thú đã giết chết đường tương lai rạng rỡ. Đam mê, dục vọng, bạc tiền, quyền lực đã dìm chết bao lứa tuổi mộng mơ!
Rồi cũng từ lòng tham không đáy, nơi được gọi là rèn đúc nền tảng đạo đức làm người, đã đâm thủng cái tâm của bao nhà giáo chân chính: loạn học đường cũng do thiếu Tỉnh Thức từ đầu. Nỗi đau này ai gánh, ai mang?
Mùa Đông se lạnh đang về. Mùa Vọng chờ mong một cuộc hoán chuyển lòng người đã tới. Có mấy ai muốn nghe lời nhắn nhủ đầy yêu thương của Đấng muốn ban mầm sống vĩnh cửu cho mình: “Hãy tỉnh thức đi con! Hãy quay về đi con! Hãy can đảm đi đến tận cùng của sự lột xác, để đời không còn bị trói buộc trong ganh tỵ, trong thù hận, trong ghen tương, trong tính toán tom góp vật chất mà quên rằng: cuộc sống này rồi cũng qua đi nhưng điểm dừng đâu chỉ là cái chết! Nếu nghĩ vậy, con chỉ mới đi hết phần “con” chứ đâu đã hưởng trọn vẹn phần “người”!
Nếu sống phút giây hiện tại như giây phút cuối đời mình: Chắc không mấy ai mãi mê chạy theo danh vọng!
Nếu sáng thức dậy mà biết hoàng hôn chưa xuống thì cuộc đời mình sẽ không thấy ngày mai: chắc chẳng mấy ai đắm chìm trong biển vàng rừng bạc!
Nếu sống mà tỉnh thức như thế, tận thế hay không cũng chẳng còn là nỗi âu lo! Cuộc sống mỗi ngày sẽ trở nên niềm vui hạnh phúc! Nỗi lo lắng cơm- áo- gạo- tiền không còn là gánh trĩu nặng trên vai!
Chúa không cảnh báo, răn đe, mà Chúa đang khuyên nhủ, đang mời gọi, đang mở đường để ta không phải lệch đường, sai lối trên con đường lữ hành hoàn thiện kiếp người! Âm vang đầy yêu thương ấy; lời mời gọi đầy ân tình ấy; có phút nào ta mở rộng tim mình để cảm nhận, để đáp trả, để Chúa có thể vào trú ngụ không đây?

 

MV1-A112: Một ánh sáng trong đêm tối

(Suy niệm của Bernard Lafrenière – BTGH chuyển ngữ)
 

Trong hành trình, ban đêm, trên một con đường xa lạ, chúng ta chỉ cần nhìn thấy một ánh sáng hoặc một: MV1-A112

Trong hành trình, ban đêm, trên một con đường xa lạ, chúng ta chỉ cần nhìn thấy một ánh sáng hoặc một ngôi nhà để cảm thấy được an tâm. Như vậy, khi chúng ta vượt qua những giai đoạn khó khăn, chúng ta tìm một ánh sáng trong đêm tối. Trong ba bài đọc hôm nay, nói về giấc ngủ, đêm tối và ánh sáng.
“Hãy đến – lời tiên tri Isaia nói với chúng ta – hãy bước đi trong ánh sáng của Đức Chúa”. Thánh Phaolô viết: “Giờ đã đến để ra khỏi giấc ngủ... Đêm sắp tàn,ngày đang đến gần…”. Chúa Giêsu nói thêm: “Hãy sẵn sàng: Chính vào giờ các con không ngờ, Con Người sẽ đến…”. Và như để nhấn mạnh tầm quan trọng của thông điệp nầy, Chúa Giêsu đưa ra ba ví dụ, trong đó những người không nghi ngờ gì hết trong khi một biến cố hệ trọng xảy ra.
Trong trình thuật của sách Sáng Thế Ký, một tình huống khác thường sắp sửa đảo lộn nhân loại,nhưng không ai mảy may nghi ngờ, trừ một người tên là Noé. Xung quanh Ông, người cưới hỏi, ăn uống như thể không gì có thể xảy ra. Chỉ có Ông Noé là làm cho mình một con tàu ngay giữa nông thôn. Vả lại, Ông đã rất già yếu và người ta thích chí ngắm ông làm. Chúa Giêsu nói thêm: “Người ta không nghi ngờ gì hết, cho tới khi nạn hồng thủy ập tới chôn vùi tất cả bọn họ: đó cũng sẽ là ngày Con Người đến.
Hai người đàn ông sẽ ở ngoài đồng, làm công việc rất bình thường, giữa thiên nhiên: “một người được đem đi, người kia bị bỏ lại”. Hai người phụ nữ sẽ ở cối xay bột. Người ta vẫn còn tìm thấy những chiếc cối nhỏ Phương Đông được làm với hai hòn đá đặt chồng lên nhau và một hòn có một tay nắm, mà hai phụ nữ ngồi chuyển cho nhau để làm cho viên đá nầy quay. Đây là một công việc rất đơn giản. Cả ở đó nữa, – Chúa Giêsu nói – “một người được đem đi, một người bị bỏ lại”.
Nhưng biến cố nào sẽ chợt xảy đến với chúng ta? Tại sao lại phải thức dậy khi đang ngủ và để cho mình được dẫn đi theo ánh sáng? Muốn hiểu nó, chỉ cần nhìn những người sống xung quanh ta và tự hỏi: “Điều gì làm họ chăm chú vậy?”
Nhiều người an toạ tốt bao nhiêu hay bấy nhiêu trong thế gian chóng qua nầy. Đã hẳn tiện nghi cung cấp cho chúng ta một sự thoải mái nhất định. Nhưng cuộc sống qua đi và không có gì mỏng manh như là những lời hứa của thế gian nầy. Phải thức dậy: Đức Chúa đang đến! Chúng ta phải chỉnh tề khi Nước Thiên Chúa sắp đến!

 

MV1-A113: HÃY LUÔN SẴN SÀNG

Mt 24, 37- 44
1. LỜI CHÚA: "Anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến" (Mt 24,42).
2. CÂU CHUYỆN:
 

Một vị thanh tra kia khi đến thăm một trường tiểu học đã nói với các em học sinh như sau: "Hôm: MV1-A113

1) PHẢI LUÔN TỀ CHỈNH: Một vị thanh tra kia khi đến thăm một trường tiểu học đã nói với các em học sinh như sau: "Hôm nay thầy thấy có nhiều học sinh đã để bàn học lộn xộn mất trật tự, lớp học thì ồn ào và rác rến vung vãi mất vệ sinh. Vậy thầy quyết định sẽ trở lại đây để kiểm tra các em một lần nữa. Từ nay tới hôm thầy trở lại, em nào giữ được bàn học sạch sẽ, sách vở ngăn nắp sẽ được thưởng". Bấy giờ có mấy em hỏi: "Thưa thầy, khi nào thầy sẽ trở lại ạ ?". Thầy đáp: "Thầy sẽ trở lại. Nhưng không cho các em biết ngày giờ chính xác".
Sau khi thầy thanh tra đi, một cô bé liền nói với mấy đứa bạn rằng mình quyết tâm sẽ dành được phần thưởng của thầy. Các bạn khác nghe vậy liền cười ồ chế diễu, vì cô bé này ít khi nào chỉnh tề ngăn nắp. Có bạn hỏi rằng: "Bàn học của bạn chẳng khi nào ngăn nắp tề chỉnh mà bạn lại đòi được lãnh thưởng hay sao ?" Nhưng cô bé trả lời: "Từ ngày mai, mỗi buổi sáng tớ sẽ thu xếp dọn dẹp ngay khi mới đến là sẽ gọn gàng ngay thôi mà". Một bạn lại hỏi: "Thế nếu thầy thanh tra đến vào buổi chiều thì sao ?" Cô bé im lặng suy nghĩ một lát rồi nói: "Thôi, mình nghĩ ra rồi. Như thế là lúc nào mĩnh cũng phải giữ bàn học thứ tự sạch sẽ phải không các bạn ?".
2) KẾ SÁCH CÁM DỖ HOÀN HẢO NHẤT: Một câu chuyện ngụ ngôn về phương cách cám dỗ của ma quỷ như sau:
Có ba tên quỷ con đang trong thời kỳ huấn luyện để đi cám dỗ loài người. Một hôm tên quỷ già thầy giáo yêu cầu lũ quỷ học trò suy nghĩ để tìm ra một kế sách nào hòan hảo nhất để cám dỗ loài người. Tên quỷ thứ nhất thưa rằng: "Tôi sẽ nói với loài người rằng: trên đời này làm gì có Thiên Chúa, nên các ngươi cứ việc ăn chơi thỏa thích theo lòng đam mê của mình". Nhưng tên quỷ già bảo: "Kế sách đó khó thành công lắm, vì dù không thấy Thiên Chúa vô hình, nhưng hầu như mọi người đều cảm thấy sự hiệu hữu của ông ta". Tên quỷ con thứ hai trình bày: "Phần tôi sẽ rỉ tai cho loài người biết: chết đi là hết. Thiên đàng hay hỏa ngục chỉ là sự tưởng tượng để hù dọa họ ăn ngay ở lành mà thôi chứ không có thực! Do đó, các ngươi cứ việc vui chơi thỏa thích, kẻo giờ chết đến thì khi ấy có muốn cũng không thể vui chơi được nữa!". Tên quỷ già gật gù nói: "Kế đó cũng hay đấy. Nhưng có lẽ loài người vẫn biết có quả báo, có thiên đàng để thưởng kẻ lành và hỏa ngục để phạt kẻ dữ". Tên quỷ con thứ ba thì nêu ý kiến này: "Phần tôi, tôi sẽ làm cho con cái loài người tin rằng còn lâu chúng mới chết. Do đó chúng cứ việc thỏa mãn những đam mê lạc thú ở đời. Khi nào nằm liệt giường sắp chết, sẽ ăn năn sám hối cũng chưa muộn!". Nghe xong, tên quỷ già khoái chí cười hô hố. Nó vừa xoa đầu tên quỷ học trò vừa khen lấy khen để: "Trò giỏi lắm. Quả đó là kế sách hay nhất và rất hạp ý ta. Với phương kế này, chắc chắn nước hỏa ngục của chúng ta sẽ ngày càng bành trướng vì sẽ có thêm rất nhiều kẻ gia nhập đó!".
3. SUY NIỆM:
Hôm nay chúng ta bước sang Mùa Vọng năm phụng vụ mới là năm A. Mùa Vọng vừa là thời gian chuẩn bị tâm hồn mừng đại lề Giáng sinh, kính nhớ Con Thiên Chúa đến trần gian lần thứ nhất ban ơn cứu độ cho lòai người, vừa là thời gian để các tín hữu chúng ta trông đợi Chúa Ki-tô sẽ đến lần thứ hai trong uy quyền vinh quang để phán xét chung nhân loại vào ngày tận thế.
1) Phải luôn tỉnh thức sẵn sàng vì Chúa sẽ đến cách bất ngờ:
- Tin mừng Mát-thêu hôm nay ghi lại những lời Đức Giê-su cảnh báo các môn đệ về việc Người sẽ đến cách bất ngờ trong ngày tận thế chung nhân loại và đến với mỗi người trong giờ chết của họ. Người dạy các môn đệ phải có thái độ như sau: « Anh em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến" (Mt 24,14).
- Tuy nhiên, có lẽ dân Do thái lúc đó đều coi thường lời cảnh báo của Đức Giê-su, giống như dân chúng thời tổ phụ No-ê. Ông No-ê đã được Đức Chúa cho biết trước sắp xảy ra cơn lụt đại hồng thủy nên đã chuẩn bị bằng việc miệt mài đóng một con tàu lớn cho ông và gia đình, đang khi những người khác « vẫn ăn uống, cưới vợ lấy chồng, mãi cho đến ngày ông Nô-e vào tàu. Họ không hay biết gì, cho đến khi nạn hồng thủy ập tới cuốn đi hết thảy" (Mt 24,38-39). Chỉ riêng gia đình ông No-ê được cứu thoát nhờ con tàu.  
2) Phải cảnh giác và chăm chỉ làm việc:
- Cảnh giác bằng việc làm : Những người thời ông No-ê đã bị chết trong cơn nước lụt, không phải do họ đã phạm tội, mà chỉ vì họ đã không làm những việc lẽ ra phải làm. Họ làm rất nhiều việc cho cuộc sống vật chất thể xác, nhưng lại không làm gì cho cuộc sống thiêng liêng tinh thần. Số phận của mỗi người được cứu hay không tùy theo họ có chuẩn bị cho cuộc sông đời sau hay không như lời Đức Giê-su: «Bấy giờ hai người đàn ông đang làm ruộng, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại. Hai người đàn bà đang kéo cối xay, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại"  (Mt 24,40-41).
- Chu toàn việc bổn phận: Tỉnh thức sẵn sàng bằng việc chu toàn các việc bổn phận hằng ngày, từ việc nội trợ trong gia đình, học tập tại nhà trường, lao động nơi nhà máy, công sở, buôn bán nơi phố chợ, cày cấy ngoài đồng ruộng... Đức Giê-su cũng cảnh báo các môn đệ đừng quá quan tâm đến các công việc trần gian, mà quên rằng cái chết có thể sẽ bất ngờ đến vào bất cứ lúc nào, giống như "chiếc lưới chụp xuống mọi người sống trên mặt đất" (Lc 21,35). Đức Giê-su nhắc nhở các môn đệ phải có thái độ tỉnh thức sẵn sàng giống như ông chủ nhà kia canh thức không để kẻ trộm đào ngạch khóet vách nhà mình!  
3) Phải luôn tỉnh thức cầu nguyện:
- Bất ngờ sẽ trở thành niềm vui cứu độ: Nếu chúng ta biết "tỉnh thức và cầu nguyện luôn" (Lc 21,36), sẵn sàng ra đón khi Chúa đến thì việc Chúa đến bất ngờ sẽ lại trở thành niềm vui cho chúng ta. Ngày đó, chúng ta sẽ không phải "lo lắng hoang mang trong cảnh biển gào sóng thét" (Lc 21,25), sẽ không "sợ đến hồn xiêu phách lạc" (Lc 21,26), nhưng sẽ "đứng thẳng và ngẩng đầu lên" (Lc 21,28), vì chúng ta sắp được lãnh ơn cứu chuộc của Chúa. 
- Phải luôn tỉnh thức cầu nguyện : Nhiều người sống như mê ngủ. Trong tuần họ lo làm việc để kiếm tiền, rồi đến cuối tuần lại dành thời giờ để đi chơi du lịch leo núi hay tắm biển... mà lơ là các việc đạo đức như cầu nguyện sớm hôm, bỏ dâng lễ Chúa nhật và các lễ buộc, không xưng tội rước lễ... Tỉnh thức là phải chuyên cần cầu nguyện như Đức Giê-su đã cảnh báo ba môn đệ trong vườn Cây Dầu xưa: "Anh em hãy canh thức và cầu nguyện để khỏi lâm vào cơn cám dỗ. Vì tinh thần thì hăng hái nhưng thể xác lại yếu đuối" (Mt 26,41).
4) Phải cấp thời sám hối và sống tốt hơn để đón chờ Chúa đến:
- Cấp thời sám hối không trì hoãn: Trong cuộc sống, chúng ta thường nghĩ rằng mình còn sống lâu, nên không cần phải sám hối ngay, nhưng cứ để đến lúc gần chết sám hối cũng không muộn. Nhưng chần chừ không dứt khoát quay về với Chúa là kế sách cám dỗ hoàn hảo nhất của ma qủi đối với chúng ta. Mùa vọng là thời gian chờ đợi trong tin yêu như con cái chờ đợi người cha thân yêu trở về, chứ không chờ đợi trong sự lo lắng buồn sầu. Người tín hữu chúng ta cần tránh tâm trạng buồn chán lười biếng, nhưng cần hăng say làm việc nhiều hơn và không ngừng cầu xin Chúa ban ơn giúp sức. Hãy làm tất cả những gì có thể làm ngay hôm nay, bắt đầu ngay từ bây giờ và ở đây "hic et nunc".
- Loại trừ các thói hư và sống theo gương Đức Giê-su: Trong những ngày này, chúng ta cần suy gẫm lời thánh Phao-lô: "Đêm sắp tàn, ngày gần đến. Vậy chúng ta hãy loại bỏ những việc làm đen tối, và cầm lấy vũ khí của sự sáng để chiến đấu. Chúng ta hãy ăn ở đứng đắn như người đang sống giữa ban ngày: không chè chén say sưa, không chơi bời dâm đãng, cũng không cãi cọ ghen tương. Nhưng anh em hãy mặc lấy Chúa Giê-su Ki-tô, và đừng chiều theo tính xác thịt mà thoả mãn các dục vọng" (Rm 13,12-14). Nói "mặc lấy Đức Kitô" là quyết tâm loại trừ các thói hư tật xấu như tính tự ái cao, dễ nổi nóng, gian dối, ganh ghét, say sưa, cờ bạc, trai gái, hút sách...  Hãy siêng năng đọc Lời Chúa mỗi ngày và quyết tâm sông noi theo gương mẫu và lời dạy của Đức Giê-su bằng việc năng tự hỏi: "Nếu Đức Giê-su ở trong hoàn cảnh của tôi bây giờ thì Người sẽ làm gì?" rồi quyết tâm làm theo ý Chúa muốn.
4. THẢO LUẬN:
1) Có người nói: "Đời người mau qua chóng hết, nên ta cần phải nếm mọi lạc thú ở đời, để đến giờ chết ta sẽ không còn phải hối tiếc vì cuộc sống quá ngắn ngủi mau qua". Bạn sẽ nói gì với người ấy giúp họ hy vọng vào một cuộc sống vĩnh hằng đời sau ?
 2) Ngay từ hôm nay bạn sẽ làm gì để xây dựng gia đình, xã hội trở thành thiên đàng trần gian, một nơi chan chứa sự công bình, yêu thương và hạnh phúc ?
5. NGUYỆN CẦU:
- LẠY CHÚA GIÊ-SU: Nếu ngày mai Chúa quang lâm, chắc chúng con sẽ vô cùng bối rối. Bối rối vì bản thân chúng con còn nhiều tội lỗi khuyết điểm, vì môi trường và thế giới chúng con đang sống vẫn nhiều dở dang và còn nhiều người chưa nhận biết tin thờ yêu mến Thiên Chúa. Chúa đến không để hủy diệt những kẻ tội lỗi, nhưng muốn họ ăn năn sám hối và được sống.
- LẠY CHÚA THÁNH THẦN, xin cho chúng con luôn thành tâm sám hối để đón nhận ơn thứ tha của Chúa Cha. Xin cho chúng con biết luôn cộng tác với Chúa Giê-su để xây dựng một "Trời mới Đất mới" công bình và yêu thương, an vui và hạnh phúc. Xin giúp chúng con luôn cậy trông vào tình yêu quan phòng của Chúa Ba Ngôi, vì biết rằng tất cả những điều xảy ra đều nhằm thanh luyện và biến đổi chúng con nên tốt hơn, hầu chúng con có thể tích cực góp phần xây dựng thế giới này ngày một công bình, yêu thương và hạnh phúc hơn.
X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A. - Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.
LM ĐAN VINH –HHTM

 

MV1-A114: CHỜ ĐỢI GIỜ CỦA ĐỨC KI TÔ TRONG HÂN HOAN

Mt 24, 37- 44
Lm. Giuse Vũ Tiến Tặng

 

Hôm nay toàn thể Giáo Hội bước vào một năm phụng vụ mới. Năm này được đánh dấu bằng Mùa: MV1-A114

Hôm nay toàn thể Giáo Hội bước vào một năm phụng vụ mới. Năm này được đánh dấu bằng Mùa Vọng. Chúng ta có bốn tuần lễ để chuẩn bị tâm hồn mừng ngày Con Chúa giáng sinh làm người. Ngài được mệnh danh là vị cố vấn kỳ diệu đến để thiết lập một triều đại mới, triều đại của công lý, thái bình và thịnh vượng. Theo cách nói như bài đọc I của sách tiên tri Isaia là vào thời ấy, muôn dân sẽ lũ lượt kéo nhau tiến về nhà Chúa. Ngôi nhà này được xây dựng trên một ngọn núi cao hơn hẳn những ngọn đồi khác. Mọi người cùng đến để nghe huấn lệnh của Thiên Chúa. Một thời đại mới được mở ra và người ta không còn thấy cảnh chiến tranh chém giết nữa. Các khí giới được giải trừ và được chế tạo thành công cụ phục vụ cho việc tăng gia sản xuất.

Câu hỏi được đặt ra là khi nào triều đại này sẽ đến ? Về phía mình, chúng ta phải làm gì để được đón nhận vào vương quốc của tình yêu, hoan lạc và bình an ? Chúng ta sẽ thấy được câu trả lời cho những trăn trở này qua hai bài đọc và Thánh Vinh đáp ca nói chung và bài Tin Mừng theo thánh Luca nói riêng.

Trong thực tế, Đức Giêsu đã đến trong trần gian này lần thứ nhất. Vì vậy để kỷ niệm biến cố giáng sinh, Giáo Hội nhắc nhở chúng ta hướng đến ngày Đức Giêsu Kitô trở lại trong vinh quang cùng với các thiên thần lần thứ hai. Ngày ấy sẽ xảy ra một cách bất thình lình. Nó giống hệt như thời ông Nôê trước đây. Khi ấy, mọi người vẫn cứ lo ăn uống, vui chơi, dựng vợ gả chồng mà không hề biết là ngày đại họa đang đến kề bên. Ngày Chúa đến cũng được ví như giờ của kẻ trộm trong đêm mà chủ nhà không thể ngờ và như vậy chưa có hành động gì để kịp thời ứng phó.

Do đó, chúng ta cần phải sẵn sàng từng giây phút trong ngày đời của mình. Mặc dù ngày Con Người đến được ví von giống như giờ kẻ trộm, nhưng ý nghĩa thì hoàn toàn trái ngược với bản chất gian manh và xảo quyệt của tên trộm. Thực chất, Đức Giêsu khai mở một triều đại công chính, tình thương và vĩnh hằng. Ngài là một nhân vật quan trọng nhất trong cuộc đời chúng ta mà mỗi người cần đón tiết và chuẩn bị chu đáo cho ngày đón tiếp ấy. Được vào vương quốc này là một sự ước ao khao khát của mỗi chúng ta, và cần phải phấn đấu suốt cả cuộc đời của mình, phải đánh đổi tất cả để có thể được vào nơi ấy. Chính Đức Giêsu đã ví vương quốc này như viên ngọc quý mà người lái buôn khi khám phá ra đã không ngần ngại bán hết gia tài của mình để mua cho bằng được viên ngọc ấy. Khi khác, Người cũng ví nước này giống như thửa ruộng có chứa một kho báu mà người phát hiện ra nó cũng đã tìm mọi cách để tậu lấy cho mình thửa ruộng trị giá này (x. Mt 13, 44-46).

Tâm tình khao khát mong mỏi ngày ấy của chúng ta phải được biểu lộ bằng tâm tình phấn khởi vui tươi của dân Chúa khi trẩy hội đền thời Giêrusalem : « Tôi vui mừng khi người ta nói với tôi : « Chúng ta sẽ tiến vào nhà Chúa ». Hỡi Giêrusalem, chân chúng tôi đang đứng nơi cửa thành rồi » (Tv 122 (121), 1-2). Quả thật, chúng ta là những khách hành hương đang trên đường lữ thứ trần gian để tiến về thiên quốc.

Cũng để chuẩn bị cho ngày ấy, thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Rôma đã khuyên nhủ một cách cụ thể hơn, đó là rời bỏ nếp sống cũ của ăn uống say sưa, của thú vui xác thịt, để chọn cho mình đời sống mới phù hợp với thời của ơn cứu độ vốn đang đến gần hơn khi trước. Trọng tâm của đời sống này là mặc lấy Đức Kitô. Khi đã có Ngài trong mình, chúng ta sẽ được biến đổi từ tư tưởng, lời nói, hành động và cả cái nhìn đầy yêu thương lạc quan. Mặc lấy Ngài, chúng ta được mời gọi sống như Ngài đã yêu thương chúng ta. Mặc lấy Ngài là chúng ta được mời gọi thi hành sứ vụ của Người trao phó để loan Tin Mừng cứu độ và làm rạng danh Thiên Chúa. Mặc lấy Ngài là chúng ta tin tưởng vào chiến thắng tội lỗi và sự chết của Con Thiên Chúa và nhờ đó, chúng ta chờ đợi ngày mình sẽ được quy tụ bên bàn tiệc của Con Chiên trong nước trời.

Chờ đón Chúa đến không có nghĩa là chờ đợi trong thụ động. Mỗi ngày sống, chúng ta ý thực được giờ của Chúa đang đến gần hơn trước kia. Quỹ thời gian còn lại giúp chúng ta chuẩn bị tươm tất tâm hồn để đón chờ ngày hồng phúc mà chúng ta vẫn hằng mong đợi. Thời gian ấy giúp ta chuẩn bị một món quà xứng đáng để dâng lên cho Đấng sẽ đến một lần nữa nhân danh Thiên Chúa, trong khi nghe lời khích lệ tràn đầy niềm vui khôn xiết : « Hãy đến, hỡi những kẻ Cha Ta chúc phúc. Hãy đến lãnh lấy phần gia nghiệp là Nước Trời đã được chuẩn bị cho các ngươi từ thuở đời đời » (Mt 25, 34). Đó chính là ý nghĩa và tâm tình của Mùa Vọng mà Giáo Hội mời gọi chúng ta khám phá và sống.


 

MV1-A115: TỈNH THỨC

Mt 24, 37- 44
Lm. Giuse Trần Việt Hùng

 

Mùa Vọng khởi dẫn vào Năm Phụng Vụ mới 2014. Mùa Vọng bắt đầu chu kỳ các bài đọc Chúa: MV1-A115

Mùa Vọng khởi dẫn vào Năm Phụng Vụ mới 2014. Mùa Vọng bắt đầu chu kỳ các bài đọc Chúa Nhật năm A và bài đọc trong tuần năm II (chẵn). Thời gian cử hành các nghi thức phụng vụ hoàn toàn mới trong không gian mới. Người ta thường nói: Không ai tắm hai lần trong một dòng sông. Thời gian đi tới, dòng đời trôi và mọi thụ tạo chung quanh đều thay đổi. Chúng ta có thể quan sát môi trường và hoàn cảnh chung quanh, mọi sự tiếp tục hướng tới không ngừng. Cuộc sống con người cũng thay đổi không ngừng. Suy tư giác ngộ cũng biến đổi. Không ai có thể dậm chân tại chỗ. Cho dù chúng ta không chịu tiến bước, thời gian và không gian vẫn cứ tiến tới. Nếu không tỉnh thức, chúng ta sẽ bị đào thải và lỡ bước. Thánh Phaolô trong thơ gởi cho giáo đoàn Rôma nhắn gởi: Đêm sắp tàn, ngày gần đến. Chúng ta hãy từ bỏ những hành vi ám muội và mang khí giới ánh sáng (Rm 13, 12)

Tiên tri Isaia khơi lên niềm hy vọng cho toàn dân về ngày giờ Chúa đến: Điềm sẽ xảy ra trong những ngày sau hết, là núi của nhà Chúa được xây đắp trên đỉnh các núi, và núi ấy sẽ cao hơn các đồi, và các dân nước sẽ đổ về đó (Is 2,2). Sự mong chờ Chúa đến như người lính gác mong chờ rạng đông. Thời gian chuẩn bị đón chờ Đấng Cứu Thế đòi hỏi sự thanh luyện tâm hồn không phải một sớm một chiều, mà qua nhiều thế hệ liên đới. Chương trình ban ơn cứu độ cho loài người kéo dài cả ngàn năm trước. Dòng dõi này nối tiếp dòng dõi kia cưu mang và hy vọng ngày Chúa đến cứu độ. Tình yêu thương của Thiên Chúa trải dài qua từng giai đọan lịch sử của con người. Thời gian là của Chúa. Ơn cứu độ phổ quát ban cho mọi người trong mọi thời. Dân Do-thái được Thiên Chúa chọn để trở nên máng chuyển ơn lành cứu độ.

Để đón nhận ơn cứu rỗi, mỗi người cần phải tỉnh thức chuẩn bị tâm hồn. Ngày nay, xã hội con người dần bị kéo lôi vào những lối sống thi đua, cạnh tranh và loại trừ. Quan sát các cuộc vận động bầu cử vào các chức bậc trong xã hội, các ứng viên trong các đảng phái phải lợi dụng mọi thủ thuật và thủ đoạn để đánh ngã đối phương. Các ứng cử viên luôn tìm cách để phê bình, chỉ trích và moi móc khuyết điểm của đối phương. Họ tự giới thiệu chính mình như là người thức thời có khả năng quản trị hiệu qủa và nhận thức đúng đắn nhất. Họ dùng những mỹ từ thật đẹp để xấu che, tốt khoe. Là Kitô hữu, chúng ta cũng cần nhận diện và giới thiệu chính mình không phải với người đời, nhưng với chính lương tâm mình qua gương soi là các giới luật của Chúa và của Giáo Hội. Chúng ta nên nhận biết con người mình một cách chân thật trước mặt Chúa. Sự tỉnh thức tâm linh như ánh hừng đông sáng tỏ và xuyên suốt. Chúng ta không chờ đợi ơn cứu độ nơi cuối con đường, nhưng nguồn ơn cứu độ hòa lẫn ngay trong cuộc sống này.

Mỗi người hãy mau giải tỏa những khúc mắc cuộc đời. Cởi gỡ những nút thắt ngay từ trong đời sống cá nhân riêng tư, rồi gia đình và cộng đồng xã hội. Chúng ta không nên chồng chất những gánh nặng thêm nữa cho bản thân mình và người khác. Những cơ nhỡ cuộc đời cũng cần được giải quyết từng bước một. Tìm gỡ rối những vòng cuốn cuộn trong đời sống riêng tư vợ chồng và con cái. Đôi khi các sự cố trong đời sống gia đình rối như tơ vò, nhưng biết rằng mọi sự đều có đầu mối và cánh cửa thoát. Chúng ta đừng uổng phí thời gian trong nghi kỵ, phiền não, chán nản và hiềm thù tiêu cực. Mùa Vọng bắt đầu một hành trình mới, Giáo Hội mời gọi chúng ta can đảm tha thứ bỏ qua, đóng khung truyện cũ lại và tiến tới trong niềm vui của ơn cứu độ.

Xin kể câu truyện rút ngắn của hai ông bà Peter Pringe và Sunny Jacobs. Ông Peter đến từ Irland còn bà Sunny là người Mỹ. Trước khi cưới nhau, mỗi người đã từng bị kết án tử hình oan với tội danh giết cảnh sát. Thời gian trong tù đầy gặm nhấm mòn mỏi cuộc đời của hai người. Ông Peter bị giam tù 15 năm và Sunny là 17 năm. Họ là nạn nhân của những phán quyết sai lầm. Khi ở trong tù, ông Peter chia sẻ: Tôi nhận ra tôi vẫn là tôi. Họ không thể giam cầm tư tưởng, tâm hồn và trái tim tôi. Tôi tự hứa với lòng là sẽ sống trong tù một cách đàng hoàng nhất có thể. Sau nhiều năm biện hộ trắng án, ông được trả tự do và viết cuốn hồi ký 'About Time'. Bên ngoài thế giới đã thay đổi rất nhiều trong suốt 15 năm.

Một trường hợp khác, bà Sunny cũng bị kết án tử hình vì sự tố cáo gian oan. Bà Sunny bị biệt giam trong 5 năm, chờ ngày hành quyết. Bà không hề tuyệt vọng. Bà nói: Họ có thể giữ tôi ở đây, nhưng những gì diễn ra trong bốn bức tường là của riêng tôi. Họ không thể bỏ tù linh hồn tôi. Đây là lời tâm sự trong cuốn hồi ký 'Stolen Time'. Sau khi ra khỏi tù, bà đã phải đối diện một quá trình thích nghi đầy khó khăn. Bà phải học để bắt đầu lại cuộc sống. Hai ông bà đã gặp nhau, yêu nhau và quyết định kết hôn nhắm hướng về phía trước. Họ cảm nghiệm về sự tha thứ và muốn chữa lành vết thương. Bỏ lại đằng sau những ký ức giam cầm, tù đầy, thiệt thòi, cay đắng, uất ức và khổ đau. Họ chọn một thái độ sống lạc quan và không còn cay nghiệt. Cuộc đời trở nên tươi đẹp hơn. Họ đã sống những ngày còn lại trong sự bình an tuyệt vời bên nhau.

Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy sẵn sàng, có nghĩa là Chúa muốn tâm hồn chúng ta luôn sống trong tư thế an bình và thanh thản. Đừng gây gỗ, đừng chìm đắm trong tội lỗi, đừng thù hằn ghen ghét và đừng để mặt trời lặn mà cơn giận vẫn còn. Hãy xóa đi những lầm lỗi và tẩy sạch những vết nhơ bụi trần để tâm hồn được thư thái và an lạc. Sống vui tươi trong mọi khoảnh khắc. Điều này rất quan trọng và có thể áp dụng cho mọi người thuộc mọi lứa tuổi. Kẻ già người trẻ, các thanh thiếu niên cùng trẻ em, ai cũng cần được hưởng một cuộc sống an vui và an lành. Chúng ta không thể tách rời ra khỏi cuộc sống gia đình và cộng đoàn. Mỗi lời chúng ta phát biểu, mỗi việc chúng ta làm và mỗi hành động chúng ta thực hiện đều ảnh hưởng tới người khác. Chúng ta cố gắng đừng gây phiền hà, làm đau lòng và xúc phạm đến tha nhân.

Nhiều khi chúng ta vẫn thức nhưng không được tỉnh táo cho lắm. Đôi khi chúng ta mê lầm lạc bước theo cuộc đời đưa đẩy. Khi tỉnh thức nhìn lại thì các cơ hội tốt đã trôi qua từ thuở nào. Thánh Phaolô đã nhắc nhở: Anh em thân mến, biết rằng thời này là lúc chúng ta phải thức dậy. Vì giờ đây, phần rỗi chúng ta gần đến, hơn lúc chúng ta mới tin đạo (Rm 13, 11). Giáo Hội dùng những chu kỳ thời gian để nhắc nhở, mời gọi và dẫn dắt chúng ta bước vào chính lộ. Chúng ta có cảm nghiệm gì khi Mùa Vọng về? Những tâm tình của những bài hát Mùa Vọng như: Này dân Sion, Chúa ngươi sắp tới...hay bài: Từ trần gian con ngước trông lên, Chúa ơi...có thực sự gợi nhớ trong lòng sự mong ước và chờ đón Đấng Cứu Thế đến hay không? Chúng ta không có những tâm tình đón chờ Chúa đến viếng thăm như những người Do-thái thời xưa, nhưng chờ đón Chúa đến với mỗi tâm hồn.

Chúng ta không biết ngày giờ tận cuối của cuộc đời. Chúa Giêsu nhắc nhở: Vậy các con cũng phải sẵn sàng, vì lúc các con không ngờ, Con Người sẽ đến" (Mt 24, 44). Chúa đến mang sự bình an cho những tâm hồn thiện tâm. Khi có tâm thiện, chúng ta vui mừng đón Chúa trong mọi nơi mọi lúc, ngay cả ngày cuối cuộc đời. Ai trong chúng ta cũng muốn sống vui, sống tốt và sống thánh. Hãy mở cửa tâm hồn đón Chúa Kitô. Khi chúng ta dám mở cửa là chúng ta đang bước tới sự tỉnh thức. Tỉnh thức để đón nhận từng giây phút sống trong sự ý thức và bình an. Hãy an hưởng mọi phút giây trong đời với niềm vui ơn cứu độ.

Lạy Chúa, chúng con mong chờ ngày Chúa đến. Chúa đang đến đem bình an cho tâm hồn. Chúa sẽ đến đón chúng con về chung hưởng niềm hạnh phúc viên mãn. Amen.


 

MV1-A116: TỈNH THỨC ĐỂ CHỜ CHÚA

Mt 24, 37- 44
Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

 

Tỉnh thức, chờ đợi và sẵn sàng là những ngôn từ Kinh Thánh dùng rất nhiều để nói đến tính: MV1-A116

Tỉnh thức, chờ đợi và sẵn sàng là những ngôn từ Kinh Thánh dùng rất nhiều để nói đến tính đột xuất, bất ngờ của việc Chúa đến. Hôm nay, Chúa nhật I Mùa Vọng năm A, lại vang lên điệp khúc này :"...Anh em hãy tỉnh thức, vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em sẽ đến ". Tỉnh thức, sẵn sàng là lời thúc bách, là sự cảnh tỉnh của Thiên Chúa qua Đức Giêsu Kitô đối với nhân loại, đối với con người và đối với mỗi người chúng ta.

Thực tế, Chúa đã đến trần gian từ lâu, cách đây vài ngàn năm. Suốt thời Cựu Ước, Thiên Chúa đã cho biết bao người chuẩn bị để dọn đường cho Con Chúa đến và Chúa đã đến khi Mẹ Maria nói lời " Xin vâng" làm theo ý Thiên Chúa. Tuy nhiên, nhân loại vẫn chưa đón nhận Tin Mừng cách tích cực. Nhiều người sống ngay bên Chúa nhưng vẫn không nhận ra Chúa. Do đó, hằng năm, Giáo Hội vẫn mời gọi mọi người hãy sẵn sàng tỉnh thức để chờ đón Chúa đến.Ở đây việc chờ đợi Chúa đến có hai ý nghĩa : chờ Chúa đến, mừng mầu nhiệm Con Thiên Chúa làm người và ý khác chờ Chúa đến trong ngày sau hết hay là đón đợi ngày, giờ chết của mỗi người.

Trong Tin Mừng, chúng ta đọc thấy những dấu chỉ như kẻ trộm đến bất ngờ, lụt đại hồng thủy thời ông Noe, quả thực không phải là những điều hù dọa con người, hù dọa chúng ta nhưng những dấu chỉ xẩy đến cho chúng ta hay không biết lúc nào, không biết giờ nào vì Chúa đến bất ngờ, đến đột xuất. Chúa Giêsu nói như thế có nghĩa là Ngài vẫn luôn đến, Ngài thường đến, nhưng con người nào ai hay, nào ai nhận biết.

Tuy nhiên, nói như thế, Chúa Giêsu muốn chúng ta hiểu toàn bộ Tin Mừng, toàn bộ lịch sử cứu độ. Chúa đến cách bất ngờ, đột xuất ngay khi chúng ta đang làm việc, sinh hoạt, ăn uống, ngủ nghỉ, học hành, dựng vợ gả chồng ...thì Chúa đến. Điều này nói lên tính bất ngờ, đột xuất của giờ Chúa đến. Thiên Chúa luôn hiện diện giữa nhân loại, giữa con người, giữa chúng ta.

Chính vì thế, chờ đợi không có nghĩa là thụ động nhưng phải luôn làm việc tích cực, ý thức và hoàn toàn tự chủ. Chúa luôn hiện diện.Chúa luôn can thiệp vào đời sống của con người như khi chúng ta đọc Tin Mừng của Chúa. Ngài giúp đỡ mọi người, mọi kẻ ốm đau tật nguyền, nghèo đói, Ngài luôn có mặt...

Ngay thời Chúa Giêsu, có những người đã nhận ra Ngài nhưng có những người làm ngơ, cố tình không nhận ra Ngài...Ngày nay, Chúa vẫn có đó, Chúa can thiệp vào mọi trạng huống cuộc đời của con người, miễn là chúng ta mở to đôi mắt đức tin để nhận ra Ngài. Chúa đã đồng hóa mình với những kẻ khó nghèo, kẻ đói khát, kẻ tù tội, kẻ trần truồng, kẻ cô đơn, già nua, neo đơn vv...những kẻ như thế là hiện thân của Chúa, tuy nhiên chúng ta đã làm ngơ hay cố tình không nhận ra ngài.

Vâng, các dụ ngôn của Chúa Giêsu hôm nay mang tính hết sức thời sự giúp chúng ta suy nghĩ:

Chúa vẫn tiếp tục đến. Nhưng chúng ta phải can đảm chờ đợi. Ngài đến thật bất ngờ, thật đột xuất trong giờ sau hết của chúng ta, bởi vì chúng ta đâu có biết lúc nào chúng ta chết đâu ! Chúa đến như đã đến với năm cô trinh nữ khôn ngoan..." Ta đứng ngoài cửa mà gõ ".

Chúa đến với chúng ta ngay khi chúng ta đang làm việc, vậy như thánh Đaminh Saviô, chúng ta cứ tiếp tục làm việc, cứ tiếp tục chơi khi biết rằng Chúa sẽ đến...Chúa đến gặp chúng ta lúc đó thật hạnh phúc.

Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con luôn biết sẵn sàng, tỉnh thức và cầu nguyện để đón chờ Chúa đến. Xin giúp chúng con biết khôn ngoan như năm cô trinh nữ khôn ngoan mang đèn mà lại mà lại mang dầu, để khi tân lang đến thì thắp đèn sáng để đón chàng rể vào tiệc cưới. Maranatha! Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến. Amen.


 

MV1-A117: ĐỢI CHỜ

Mt 24, 37- 44
Lm Vũ đình Tường

 

Chờ đợi thường xảy ra cho cả người đi lẫn người ở. Cả hai cùng chờ, cùng đợi, mong tin của: MV1-A117

Chờ đợi thường xảy ra cho cả người đi lẫn người ở. Cả hai cùng chờ, cùng đợi, mong tin của nhau. Bởi vì xa nhau, thương nhớ nhau, muốn gặp nhau nhưng không được. Mong, nhớ, thương, yêu được diễn tả qua hành động đợi chờ. Chờ đợi được hiểu là một trong cách diễn tả tình yêu.
Càng mong chờ tha thiết bao nhiêu; tình yêu càng biểu lộ mạnh mẽ bấy nhiêu. Chờ đợi không đồng nghĩa thụ động, ngồi chờ nhưng mong chờ trong tin yêu, hy vọng và cùng cộng tác giúp cho việc mong chờ sớm thể hiện.

Chúa chờ ta

Mùa Vọng là mùa chuẩn bị mừng kỉ niệm ngày Chúa Sinh ra. Chuẩn bị trong tâm tình cảm tạ Chúa đến với nhân loại. Chuẩn bị bằng cách nhìn lại cách ăn, nết ở, nhất là làm cách nào đáp lại tình thương Chúa dành riêng, đặc biệt cho con người. Chúa đến với nhân loại và kiên nhẫn chờ chúng ta đến với Ngài. Kiên nhẫn vì có kẻ làm ngơ; người từ chối; kẻ khác đợi đấng thiên sai khác. Thánh Gioan 3,16 xác quyết rõ ràng nhưng một số không tin.

Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời

Chúa tiên phong

Điều này cho thấy Thiên Chúa yêu chúng ta trước. Ngài không thụ động đợi chờ nhưng tiên phong trong việc sai Con xuống thế. Thiên Chúa yêu chúng ta ngay khi chúng ta chưa biết yêu; chưa biết làm thế nào để đáp lại tình yêu đó. Chúa sai Con Một là Đức Kitô xuống trần gian chỉ cho chúng ta cách đáp trả tình yêu vô biên của Chúa. Ai tin, thực hành chỉ dậy của Đức Kitô được sống an vui, hạnh phúc hoan lạc và sự sống trường sinh.

Lễ Giáng Sinh mừng ngày kỉ niệm Con Chúa xuống trần thực hiện điều Chúa hứa: Dậy nhân loại cách đáp trả tình yêu Chúa. Ngài đến, ở giữa và dậy chúng ta lối sống yêu thương, sống thực thi lời Chúa để nhận sự sống trường sinh. Đức Kitô xuống thế không thụ động ngồi chờ nhưng hăng hái đi tìm chiên lạc. Tìm được vác trên vai mang về. Hình ảnh chủ chiên.

Chúng ta không còn phải mong chờ Chúa đến vì Ngài đã đến trong ngày lễ Giáng Sinh. Nếu có chờ là chờ Chúa đến lần thứ hai trong vinh quang. Hiện tại, người chờ đợi không phải là chúng ta mà chính là Con Thiên Chúa. Đấng đến trần gian chờ đợi chúng ta đáp trả tiếng mời gọi của Chúa, trở về con đường công chính, con đường ngay, lẽ phải. Con đường dẫn đến yêu thương chân thành. Đón nhận tình yêu Chúa, cố gắng sống hy sinh, dâng hiến trở thành người thiện tâm. Trái lại, theo ý riêng, yêu thương theo khuynh hướng xã hội dẫn đến tình trạng trói buộc nhau, kiềm chế nhau. Chê tình yêu chân thật, giải thoát, giao hoà Chúa ban. Ai khôn, ai dại.

Hững hờ
Đại đa số thờ ơ trong việc đáp lại lời mời gọi của Chúa. Kẻ chối bỏ Chúa hiện hữu. Kẻ chấp nhận nhưng đáp lại một cách thờ ơ, coi thường sự sống trường sinh vì họ đặt niềm tin vào khoa học và sáng tạo. Càng ngày càng có nhiều sáng tạo mới, khoa học càng ngày càng tiến bộ. Đời sống được kéo dài hơn. Cung cấp nhiều tiện nghi vật chất nhưng thiếu an bình. Ngày nay con người gặp phải nhiều lo âu, căng thẳng, đè nén trong cuộc sống hàng ngày. Tình trạng này có chiều hướng tăng dần. Lí do đơn giản vì từ chối lắng nghe, sống thực thi lời Chúa. Chối bỏ Chúa chính là chối bỏ tình yêu chân chính. Thay tình yêu chân chính bằng yêu có điều kiện: chức tước, tiền tài, vật chất kèm theo. Chính thứ tình giả tạo do con người sáng chế ra gây nên tình trạng căng thẳng, đè nén. Vì chúng được cấu tạo trên nền tảng lợi nhuận và cảm xúc.

Mặt nạ nghệ thuật
Càng ước ao đi tìm thứ tình yêu nhân tạo càng phải đối điện với căng thẳng, đè nén do chúng tạo thành. Thứ tình yêu ích kỉ coi trọng mạng sống mình, coi thường mạng sống tha nhân. Thứ tình yêu muốn người khác phục vụ mình mà không muốn phục vụ người khác. Thứ tình yêu biến tội phạm thành một thứ nghệ thuật. Dán cho chúng nhãn hiệu nghệ thuật mong tránh mặc cảm tội lỗi. Xúc phạm nhân phẩm con người đội lốt nhãn hiệu nghệ thuật hay chủ thuyết. Người ta sẵn sàng chấp nhận nghệ thuật, cổ võ dù nghệ thuật nghịch giới luật yêu thương Chúa dậy. Nguồn gốc căn bản của tội trong kỉ nguyên tân tiến là thế. Núp bóng nghệ thuật làm điều bất chính, vô luân, giết hại nhau mà vẫn có người chấp nhận và cổ võ. Lời Chúa mong thức tỉnh những tâm hồn ngủ mê. Chúa đi kiếm và kiên nhẫn chờ những người đó đến với Chúa.

Lỗi lầm
Con người tự nhận mình khôn ngoan, sáng suốt. Đúng thế vì Chúa ban ơn khôn ngoan, thông hiểu. Tuy nhiên không phải lúc nào con người cũng biết xử dụng những ơn đó cách khôn ngoan, sáng suốt. Trong nhiều vấn đề, nhiều hoàn cảnh và nhiều lần khác nhau con người đã sai lầm, khi đưa ra những quyết định, chọn lựa làm hại mạng sống đồng loại. Con người sai từ nhận xét đến phê bình, kể luôn cả lề lối suy nghĩ dẫn đến các phán đoán sai lầm, lệch lạc liên quan đến hạnh phúc, sự sống. Công lí của họ nặng lí thuyết hơn công bằng thật. Tự do ngôn luận biến thành tự do nịnh hót. Đạo đức họ đề cao là đạo đức giả hình. Niềm tin họ đề xướng qui vào lợi nhuận. Bỏ qua ơn khôn ngoan, hiểu biết Chúa ban, chạy theo khuynh hướng nuông chiều, thoả mãn các dục vọng xác thịt là lỗi lầm lớn của thời đại mới.

Thời xưa người ta coi thường lời cảnh giác của các ngôn sứ. Ngày nay người ta coi nhẹ lời giảng dậy của Đức Kitô. Người ta dửng dưng, coi thường, thờ ơ giáo huấn của Chúa. Coi Ngài như là một nhà thông thái. Chính lầm lỗi này dẫn họ xa Chúa, không thờ lậy Ngài. Người ta trông chờ khám phá mới, tìm tòi mới hy vọng thay đổi được hoàn cảnh. Phải chăng con người đang ngủ mê, thiếu sẵn sàng trở về, đáp lại lời mời gọi của Chúa. Con Chúa giáng trần đang chờ chúng ta trở về.


 

MV1-A118: KHÁT VỌNG CỦA TÌNH YÊU

Mt 24, 37- 44
Pm. Cao Huy Hoàng

 

Mỗi con người được sinh ra trên trần gian, đều có một khát vọng vô biên. Và nếu định nghĩa con: MV1-A118

Mỗi con người được sinh ra trên trần gian, đều có một khát vọng vô biên. Và nếu định nghĩa con người là một hữu thể gồm nửa cái "con" và nửa cái "người" thì nỗi khát vọng trong hai nửa ấy không chỉ đơn thuần là song song tiến bước, mà còn luôn luôn đối nghịch và mâu thuẩn: một bên là dục vọng và một bên là khát vọng chân chính.

Mùa vọng không dừng lại cách tiêu cực ở một niềm hy vọng vụ lợi về mặt thiêng liêng, về ơn được cứu rỗi, mà là cơ hội để mỗi con người hướng cái khát vọng vô biên của mình đến chính Thiên Chúa. Thông Điệp mới nhất của Đức Thánh Cha có tên "Spe Salvi" và đã được dịch thật chuẩn là "Được Cứu Rỗi nhờ Hy Vọng", chứ không phải là "hy vọng được cứu rỗi", cũng cho thấy tầm quan trọng chủ động nơi chính con người phải hướng cái khát vọng vô biên đến Thiên Chúa. Mùa Vọng năm nay, Giáo Hội lại đón nhận Thông Điệp "Spe Salvi", cho các tín hữu cơ hội tuyệt đẹp để "tái khám phá ý nghĩa niềm hy vọng của mình"- không nhất thiết phải mảy may đặt một thỉnh cầu hay yêu sách nào đối với Thiên Chúa cả, khi đặt trọn niềm tin tưởng hy vọng vào Ngài, vì đặt trọn niềm tin tưởng hy vọng vào Chúa, chính là đáp lại tình thương của Thiên Chúa đã ban cho con người lòng khát khao tìm kiếm Thiên Chúa và đã tỏ mình cho ai thành tâm khát khao tìm kiếm. Với tâm tình ấy, trong suốt mùa vọng, chúng ta có thể sốt sắng cất tiếng thân thưa lời TV 24: "Chúa là khát vọng, là ước mơ đời con. Hồn con hướng tới Ngài, hồn con cậy trông nơi Ngài. Hồn con vươn lên tới Chúa. Hồn con sướng vui trong Ngài" (Tv 24, 1-3). Như thế, mùa vọng là một mùa vui, một mùa yêu, khi niềm hy vọng nỗi mong đợi người mình yêu đã có tín hiệu đến hẹn.

Vào Mùa Vọng với Lời Chúa Chúa Nhật thứ nhất, Tiên tri Isaia xuất hiện giữa lúc dân Thiên Chúa trong cảnh nô lệ khốn cùng, Ngài đã loan báo cho Dân Chúa - và cũng là cho chúng ta- một tin vui, đó là một con đường "lên", "ta cùng lên núi Đức Chúa, lên nhà Thiên Chúa của Giacop, để Người dạy ta biết lối của Người, và để ta bước theo đường người chỉ vẽ..." (Is 2,3). Con đường "lên Thiên Chúa", không thể thực hiện được nếu không có một niềm tin tưởng, một khát vọng chân chính, khát vọng tìm đến Thiên Chúa; càng không thể thực hiện được, nếu chúng ta vẫn đang mê mãi chạy theo con đường dục vọng. Vì thế, thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Roma đã bổ sung cho con đường lên của khát vọng tìm kiếm Thiên Chúa bằng lời khuyên cụ thể: " Đêm sắp tàn và ngày gần đến. Vậy chúng ta hãy loại bỏ những việc làm đen tối, và cầm lấy vũ khí của sự sáng để chiến đấu. Chúng ta hãy ăn ở cho đứng đắn như người đang sống giữa ban ngày: không chè chén say sưa, không chơi bời dâm đãng, cũng không cải cọ ghen tương. Anh em hãy mặc lấy Chúa Giêsu Kitô và đừng chiều theo tính xác thịt mà thỏa mãn các dục vọng" (2Rm 13,12-14). Phải chiến đấu với các khuynh hướng bằng chính khát vọng vươn lên tới Thiên Chúa, nghiêng về phía Thiên Chúa hơn là nghiêng về phía những dục vọng; và để chiến thắng, cần phải mặc lấy đức Kitô, nghĩa là phải thấm nhuần tinh thần của Chúa Kitô trong đời sống. Tinh thần của Chúa Kitô chính là vũ khí của sự sáng mà Thánh Phao lô đề cập đến như phương thế để giúp chúng ta loại bỏ những lôi kéo chúng ta về phía tạo vật, thế tục.

Tình trạng linh hồn luôn khát khao tìm kiếm Thiên Chúa có thể nói là tình trạng tỉnh thức mà Chúa Giêsu nói đến trong trang tin mừng hôm nay. Chúa Giêsu nói: "Trong những ngày trước nạn hồng thủy, thiên hạ vẫn ăn uống, cưới vợ lấy chồng cho đến ngày ông No-ê vào tàu". (Mt 24,38). Một toàn cảnh xã hội loài người đang sinh hoạt hoàn toàn tự nhiên theo cách của con người, không nghe thấy tiếng lòng nhắc đến việc tìm kiếm điều gì vượt lên trên cái tự nhiên ấy, chỉ có mỗi ông No-e biết khao khát tìm kiếm Thiên Chúa, và điều hẳn nhiên đã xảy ra, chỉ có mỗi gia tộc No-e được cứu thoát. Sự cứu thoát mang hình dáng ơn cứu rỗi của Thiên Chúa qua Đức Giêsu Kitô sau nầy. Vì thế, Ngài nói: " Ngày Con Người quang lâm cũng sẽ như vậy". Con Người trở lại với những tâm hồn tỉnh thức: tâm hồn khao khát tìm kiếm Người, để cùng Người vui tiệc thiên thu. Thiết nghĩ, không chỉ có một mùa vọng trong lòng tín hữu, mà suốt đời là một mùa vọng; không chỉ có một lần chiến đấu loại trừ những dục vọng thấp hèn của cái "con" nơi con người, mà cả một đời chiến đấu; không chỉ một lần bước ra khỏi bóng tối của những đam mê thế gian mà còn phải thắp lên một ngọn đèn bằng chính sự rực cháy của lửa tình yêu mến Thiên Chúa trong lòng chúng ta. Thiên Chúa đến với mỗi người, Ngài đang đến, và Ngài muốn cư ngụ giữa lòng con người. Tại sao chúng ta chỉ có thể khao khát tìm kiếm Chúa khi chúng ta rơi vào tình cảnh khốn cùng nhất của cuộc đời như bệnh tật, nghèo túng, nợ nần, gặp tai ương hoạn nạn, trong khi chính Thiên Chúa vẫn luôn yêu thương và khao khát được chúng ta đón nhận, cả khi chúng ta ảo tưởng bình an hay bất hạnh theo cách nhìn của mình.

Thiên Chúa gõ cửa, còn chúng ta mở cửa. Thiên Chúa tỏ tình, và chúng ta đón nhận. Chúng ta chỉ có thể mở cửa cho Thiên Chúa, khi chúng ta thực sự khao khát Ngài. Tôi vẫn thấy những người chờ đợi người yêu đến, vẫn thường mở cửa, thấp thỏm ... trước khi người yêu mình đến, và gõ cửa kia mà. Tôi vẫn thấy có người, trong khi chờ đợi người yêu mình đến, đã chắng làm gì khác ngoài việc viết cả ngàn lần tên người yêu mình trên bàn trên giấy. Sao ta không thể bày tỏ niềm tin, nỗi mong đợi và tình yêu của chúng ta một cách si tình như thế đối với một Thiên Chúa đang yêu ta, yêu tha thiết đến nỗi Ngài vẫn đang gõ cửa, đứng chờ trước cửa...

Như thế tỉnh thức còn là một biểu hiện của tình yêu, và mùa vọng, mùa trông đợi Đáng Cứu Thế giáng sinh cũng là mùa của tình yêu. Giàu nghèo, sang hèn trên đời, ai cũng có những ước ao cả đời người mà chưa bao giờ thực hiện được, người càng sống trong cảnh thiếu thốn vật chất, càng có nhiều ước ao hơn. Điều quan trọng đối với tín hữu là cần "ước ao những sự trên trời". Ước ao một chút no đủ của những người kiếm sống qua ngày trên vĩa hè, nơi gánh cháo lòng, nơi lọn rau, bó chỗi, nơi thúng lạc luộc, nơi tấm vé số... Những ước mơ đơn sơ, nhỏ bé lắm... mà ước ao cả đời, vì lòng yêu đã đặt trọn vào trong những cái qua ngày mà thực tế ấy... làm cho cả cuộc đời trở thành một "mùa vọng" vào những thực tại đáng vô vọng. Và nếu đổi hướng của tình yêu về phía Thiên Chúa, thì chắc chắn những thực tại trần gian kia sẽ không còn là những ước mơ đáng kể có thể làm nhũng nhiểu tâm hồn gây nên những xáo trộn, những bất an không đáng có. Bà bán cháo lòng có thể gặp Chúa ngay trong những người ăn cháo lòng của bà mỗi buổi sáng, vì bà có tình yêu và khao khát tìm Chúa trước khi tìm những đồng tiền lẻ gom được để chu toàn bổn phận với chồng con...

"Anh em hãy sắn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ thì Con Người sẽ đến". Chúa muốn chúng ta sẵn sàng bằng cách luôn sống trong lòng khao khát, mong đợi, yêu mến để phút bất ngờ Chúa đến, không còn là một nỗi lo sợ kinh hoàng như lụt hồng thủy, như một tai nạn, nhưng lại là phút tương phùng, giờ giao duyên của hai lòng yêu gặp gỡ.

Lạy Chúa, trong mùa vọng nầy, và suốt đời vọng của con, xin cho lòng con luôn khao khát được thuộc về Chúa khi còn sống trên đời nầy. Vì ngoài Chúa ra, có nơi nào hạnh phúc. Vì ngoài Chúa ra, có nơi nào bình an. Chúa là khát vọng của đời con, hồn con vươn lên tới Chúa, hồn con trông cậy nơi Chúa và hồn con sướng vui trong Ngài.


 

MV1-A119: HÃY TỈNH THỨC

Mt 24, 37- 44
Lã Mộng Thường

 

Nơi bài đọc thứ nhất trích từ sách tiên tri Isaiah Lời Chúa mời gọi, "Hãy đến, chúng ta hãy lên núi : MV1-A119

Nơi bài đọc thứ nhất trích từ sách tiên tri Isaiah Lời Chúa mời gọi, "Hãy đến, chúng ta hãy lên núi Chúa và lên nhà của Jacob. Người sẽ dạy chúng ta đường lối của Người, và chúng ta sẽ đi theo ý định của Người, vì luật pháp sẽ ban ra từ Sion" (Is. 2:3). Để rồi, "Họ sẽ lấy gươm mà rèn nên lưỡi cày, lấy giáo rèn nên lưỡi liềm. Nước nầy không còn tuốt gươm ra đánh nước kia nữa; người ta cũng sẽ không còn thao luyện để chiến đấu nữa" (2:4).

Thánh vịnh 122 hớn hở cung xưng, "Ôi, tôi sung sướng biết bao khi nghe nói chúng ta sẽ về nhà Chúa."

Lời Chúa qua Phúc Âm phán dạy, "Hãy tỉnh thức vì không biết giờ nào Chúa các con sẽ đến. Nhưng các con phải biết điều nầy là nếu chủ nhà biết giờ nào kẻ trộm đến, hẳn ông ta sẽ canh phòng, không để cho đào ngạch khoét vách nhà mình. Vậy các con cũng phải sẵn sàng, vì lúc các con không ngờ, Con Người sẽ đến" (Mt. 24:42-44).

Lời Chúa đem đến cho muôn dân một tin mừng. Tin mừng sẽ đến với mỗi người nơi hành trình đức tin, hành trình nghiệm chứng Lời Ngài, Phúc Âm, và đó là "Chúa các con sẽ đến." Bởi đó, chúng ta cần tỉnh thức, cần bình tâm nhận định, nghiệm chứng. Chúa Giêsu đã nhắn nhủ những ai theo Ngài qua Phúc Âm, "Các ngươi hãy coi chừng đừng để ai lừa gạt các ngươi. Sẽ có nhiều kẻ đội danh Ta đến nói rằng: Chính là Ta! Và họ sẽ lừa gạt được nhiều người" (Mc. 13:5-6). Nơi Phúc Âm Matthêu, Ngài nhấn mạnh, "Vì sẽ có những Kitô giả, và tiên tri giả chỗi dậy và chúng ban những dấu thiêng lớn lao, và những điềm lạ, đến đỗi, nếu có thể, thì lừa gạt được cả những kẻ đã được chọn. Này Ta đã dặn trước các ngươi đó!" (Mt. 24:24).

Thánh Phao Lô qua thư gửi giáo đoàn Côlôsê cũng nhắc nhở, "Hãy coi chừng đừng để ai lấy cách vật trí tri làm mồi rỗng tuếch đánh bã anh em, thể theo truyền thống người phàm, thể theo nhân tố trần gian, chứ không theo Đức Kitô" (Col. 2:8). Thánh nhân khuyến khích mọi người, "Đừng dập tắt Thần Khí! Đừng khinh thị các ơn tiên tri! Nhưng hãy nghiệm xét mọi sự; điều gì lành hãy giữ lấy! Hãy kỵ điều dữ bất cứ dưới hình thức nào!" (1Thes. 5:19-21).

Không theo Đức Kitô có nghĩa không theo Phúc Âm, không theo lời giảng dạy của Ngài nơi Phúc Âm.

Tóm lại, Đức Kitô, những lời dạy của Ngài qua Phúc Âm là đường, là sự thật, và là sự sống. Chúng ta cần nghiệm chứng, để tâm suy nghiệm từng câu Phúc Âm. Xét lại mọi vấn đề; những gì không hợp, những gì phát xuất từ tham vọng, ước vọng nhân sinh dẫu được coi là tốt lành cũng cần được suy nghiệm có hợp với mình không, có hợp với lời dạy của Phúc Âm hay không. Chắc chắn Đức Kitô sẽ đến thức ngộ những ai chuyên tâm suy nghiệm lời Ngài. Hãy tỉnh thức vì sẽ không ai biết khi nào Con Người đến.


 

MV1-A120: MẶC LẤY ĐỨC KITÔ

Mt 24, 37- 44
Lm Giuse Nguyễn Minh Chánh

 

Con người ngày hôm nay đang sống trong một thế giới mà khoa học phát triển với tốc độ không ngờ: MV1-A120

1/ Con người ngày hôm nay đang sống trong một thế giới mà khoa học phát triển với tốc độ không ngờ, sự cạnh tranh kinh tế thị trường ngày càng sôi nổi, tiện nghi để con người hưởng thụ ngày càng tinh vi hiện đại. Cho dù thế giới này phát triển đến mức độ hoàn hảo nào, cho dù nhân loại được sống trong môi trường với đầy đủ những như cầu mà con người đòi hỏi, thì thế giới này một lúc nào đó cũng có hồi kết thúc, sự hiện diện của con người trên mặt đất cũng có ngày kết cuộc. Đây chính là chân lý đức tin và đó cũng là sự thật của kiếp người trên trần gian.

2/ Chân lý đức tin về cuộc sống tạm bợ trên trần thế đã được mạc khải trong Kinh thánh, trong lời của Đức Giêsu mà chúng ta nghe trong trang Tin mừng hôm nay.

Đức Giêsu cho chúng ta biết ngày chung cuộc của thế giới được xảy ra một cách rất đột ngột, không biết trước thời gian đến lúc nào. Ngày chung cuộc của thế giới được Chúa Giêsu gọi là ngày của "Con Người". Ngày đó là ngày Chúa đến xét xử trần gian, ngày ân thưởng và trừng phạt, ngày tiếp nhận và khai trừ, ngày vui mừng và khóc lóc, ngày hân hoan và tủi nhục.

Khi hướng tâm tình về ngày Chúa đến, khi biết trước về đức công bình của Chúa trong ngày thế mạc, thì đó không phải là lúc chúng ta buông xuôi trong nhịp sống, nhưng đây chính là tiếng gọi thôi thúc mỗi người phải tân dụng thời gian của cuộc sống để thực hành một cách sống phù hợp với Tin mừng. Nhờ vậy khi đến ngày Chúa lại đến trong trần gian thì đó cũng là ngày hạnh phúc cho chúng ta.

3/ Đời sống phu hợp với Tin mừng đó là cách sống mà Thánh Phaolô trong bài đọc II đã khuyên chúng ta: Thánh Phaolô cũng nhắc lại cho chúng ta biết về chân lý đức tin trong ngày cuối cùng của nhân loại, khi ngài hình dung cho chúng biết thế giới này đang đứng trước cảnh màn đêm sắp tàn., và trong khi chờ đón ngày mới thì mỗi người chúng ta cố gắng sống đời sống mới nghĩa là phải "mặc lấy Chúa Kitô".

Theo Thánh Phaolô: " măc lấy Đức Kitô" đó là một đòi hỏi phải biết từ bỏ con người cũ để mang lấy con người mới. Con người mới phải có những suy nghĩ như Đức Kitô, phải có cách sống như Đức Kitô.

4/ Là con người, chúng ta đang sống trên trái đất, thích hướng chiều với những thứ thuộc về trái đất. Vì vậy để sống như Đức Kitô thì đó là một trở ngại cho những suy nghĩ hẹp hòi của bản thân, là cái khó khăn cho những tính toán trong giao tiếp, là sự chua xót cho những hành động hẹp hòi ích kỷ. Thế nhưng nếu chúng ta không can đảm để thành tâm vượt qua cách sống luôn hướng chiều theo những thứ hữu hạn nơi trần gian, thì chúng ta sẽ mất tất cả, và sự sống của chúng ta sẽ không bao giời tôn tại trong ngày của Chúa. Vì trong ngày kết thúc của lịch sử nhân loại, tất cả mọi thứ trên trần gian này như: Tiền của, vật chất, quyền bính..., nó sẽ tan biến đột ngột nhanh chóng. Lúc này chỉ còn có Thiên Chúa là Vĩnh cửu, Đấng tồn tại muôn đời muôn kiếp, chỉ còn có những ai mà trong cuộc sống hiện tại trên trần gian luôn hướng về Chúa, khao khát yêu mến Chúa, can đảm sống như Chúa thì sẽ được tồn tại trong Vương Quốc của Chúa.

5/ Mùa vọng là mùa đợi chờ Chúa đến. Giáo Hội luôn kêu mời chúng ta phải sống những tâm tình để chờ đón Chúa đến trong mùa hy vọng này. Vây tâm tình để chúng ta phải sống trong mùa vọng là hãy bắt đầu đời sống mới trong Đức Kitô. Hãy để Đức Kitô luôn hướng dẫn cuộc đời, hãy bám vào Đức Kitô và đừng bao giờ rời xa Ngài trong khi chúng ta suy nghĩ và trong hành động vì Chúa vì tha nhân. Đây chính là sự chuẩn bị tích cực nhất, sự chuẩn bị theo đúng thánh ý Chúa.

Nếu như trong cơn cuồng phong của bão tố, trong trận lũ lụt của hiểm nguy, mọi người cố tìm mọi cách để bám vào những phương tiện an toàn nhất để cứu sống, và cậy dựa vào những gì vững chắc nhất để bảo vệ cho sinh mạng con người. Thì trong đời sống đạo cũng vậy, trong khi chờ đợi ngày của Con Người đến để xét xử trần gian, ngày mà Thiên Chúa tỏ đức công bình và ngay thẳng trước mặt muôn dân. Và để thoát khỏisự tủi nhục đau khổ muôn đời muôn thuở, ngay từ bây giờ chúng ta hãy bám vào Đức Kitô, hãy mặc lấy Đức Kitô, hãy sống như Đức Kitô, thì chúng ta sẽ được cứu độ. Vì Đức Kitô là Đấng vĩnh cửu, Đấng tồn tại mãi mãi, không lẽ nào trong cuộc sống chúng ta hết lòng tin tưởng vào Đức Kitô, luôn luôn nương tựa vào Đức Kitô mà Ngài nỡ để chúng ta phải tủi hổ trong ngày sau hết.

Lạy Me Maria! Xin Mẹ giúp chúng con luôn cố gắng sống tâm tình mùa vọng bằng đời sống mới trong Đức Kitô Con của Mẹ. Amen.


 

 MV1-A121: CHÚA NHẬT I MÙA VỌNG A

Mt 24, 37- 44
John Nguyễn

 

Qua bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su cho biết Ngài sẽ trở lại trần gian để xét xử nhân loại và: MV1-A121

Qua bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su cho biết Ngài sẽ trở lại trần gian để xét xử nhân loại và cho biết một số điều về ngày ấy như sau:

1. Ngài đến bất ngờ như kẻ trộm:
Đức Giê-su cho biết: «Chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến» (Mt 24,44; Lc 12,40), «Ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm ban đêm» (1 Tx 5,2; 2 Pr 3,10). Sự bất ngờ của kẻ trộm có thể về mặt thời gian - nghĩa là không thể xác định được ngày nào, giờ nào - mà cũng có thể bất ngờ về cách thức: không biết được trộm đến theo cách thức nào, vô nhà bằng lối nào, lấy trộm thứ của cải nào, trộm sẽ giả dạng như thế nào, v.v... rất có thể kẻ trộm lại là người rất quen thuộc với ta, thậm chí là người nhà của ta nữa.

Hãy rút ra bài học từ quá khứ. Mặc dù việc Đức Giê-su đến trần gian đã được báo trước cả mấy trăm năm trước, và được toàn dân Ít-ra-en mong đợi, thế mà khi Ngài đến, chẳng mấy ai nhận ra Ngài. Tệ hơn nữa, họ còn kết án và giết chết Ngài một cách tàn ác. Cách Ngài đã đến khác hẳn với cách mà hầu hết mọi người nghĩ tới trước đó. Cách Ngài đến thật bất ngờ mà người thường không ai có thể tưởng tượng ra nổi. Lời Kinh Thánh báo trước cả mấy trăm năm đều được ứng nghiệm, nhưng ứng nghiệm cách khác hẳn với cách giải thích hay cách hiểu truyền thống.

Ngày Chúa đến lần thứ hai để xét xử nhân loại cũng có thể có nhiều điều hết sức bất ngờ mà con người không thể đoán trước được, không chỉ về thời gian, mà còn về nhiều mặt khác nữa. Có như thế, sự công chính hay gian tà mới lộ diện rõ rệt, vì ở thế gian, sự gian tà rất nhiều trường hợp lại được ngụy trang bằng sự công chính, và tội lỗi lại mang những bộ mặt hết sức thánh thiện. Con mắt thế gian không thể nào khám phá được, nhưng không ai qua mặt được Thiên Chúa. Đức Giê-su đã từng nói về «các ngôn sứ giả, họ đội lốt chiên mà đến với anh em; nhưng bên trong, họ là sói dữ tham mồi» (Mt 7,15). Thánh Phao-lô đã từng vạch mặt những hạng người ấy: «Những kẻ đó là tông đồ giả, là thợ gian xảo, đội lốt tông đồ của Đức Ki-tô. Lạ gì đâu! Vì chính Xa-tan cũng đội lốt thiên thần sáng láng! Vậy có gì là khác thường khi kẻ phục vụ nó đội lốt người phục vụ sự công chính. Chung cục, chúng sẽ lãnh nhận hậu quả công việc chúng đã làm» (2 Cr 11,13-15).

2. Cách phán xử của Ngài công minh không ai ngờ trước được

Nếu Đức Giê-su đến để xét xử trần gian mà không vạch mặt được những giả hình gian dối ấy, nếu Ngài cũng bị hạng người này qua mặt như đã từng qua mặt mọi người trần, thì sự phán xử của Ngài còn gì là công minh nữa? Với tư cách là vị phán trần gian, cách xét đoán của Ngài sẽ phải hết sức công minh, công minh vượt hẳn và khác hẳn cách suy đoán của mọi người. Ngày ấy, biết bao điều bị che dấu thật khôn khéo và kỹ lưỡng, đến nỗi chưa hề có ai biết, sẽ bị đưa ra ánh sáng: «Không có gì che giấu mà sẽ không bị lộ ra, không có gì bí mật mà người ta sẽ không biết» (Lc 12,2), và «những việc tốt thì đã rành rành; mà cả những việc không tốt cũng chẳng che giấu được» (1 Tt 5,25). Chính vì thế mới có những chuyện bất ngờ như: «nhiều kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót, còn những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu» (Mc 10,31; x. Mt 20,16; Lc 13,30).

Nhiều kẻ tưởng mình là công chính hoặc được mọi người tưởng là như thế nhưng lại bị Ngài xét là gian ác, ngược lại có nhiều kẻ tưởng mình thuộc loại xấu đáng kết án hoặc bị mọi người tưởng là như thế, nhưng lại được Ngài xét là công chính. Dụ ngôn người biệt phái và người thu thuế lên đền thờ cầu nguyện (x. Lc 18,9-14) là một thí dụ điển hình cho sự trái ngược ấy. Còn bao nhiêu chuyện trái ngược như thế được biểu lộ trong Thánh Kinh: «Tôi nói cho các ông hay : Từ phương đông phương tây, nhiều người sẽ đến dự tiệc cùng các tổ phụ Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp trong Nước Trời. Nhưng con cái Nước Trời thì sẽ bị quăng ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng» (Mt 8,11-12; nên xem thêm Rm 9,30-32; 10,20). Vì thế, tới lúc ấy, chẳng ai dám tự hào mình công chính, vì càng tự hào thì càng dễ trở nên bất chính do chính sự tự hào ấy: «Ai tưởng mình đứng vững, hãy coi chừng kẻo ngã» (1 Cr 10,12).

Ngày ấy, sẽ có rất nhiều người tưởng mình công chính vì tự thấy mình chưa bao giờ làm một điều gì xấu, lại làm được biết bao việc phúc đức, nhưng lại không được coi là công chính, mà thậm chí ngược lại, vì:

- biết bao nhiêu lần họ đã bỏ qua không làm những việc quan trọng và cần thiết mà đấng bậc họ buộc phải làm

- họ có thói quen thờ ơ trước những đau khổ cùng quẫn của người chung quanh, họ không làm gì cả mà lương tâm chẳng hề cắn rứt

- họ thường xuyên nhắm mắt làm ngơ để mặc bất công hoành hành đang khi mình có khả năng can thiệp hoặc chặn đứng lại được

- họ hay tự hào về những việc tốt lành của mình đồng thời lên mặt khinh chê người khác

Và cũng biết bao người tỏ ra khô khan nguội lạnh nên tưởng mình là bất chính nhưng lại được Chúa xét là công chính, vì:

- đã thực tình sám hối và quyết tâm không bao giờ tái phạm

- khi đụng chuyện cần phải hy sinh cho tha nhân thì đã hy sinh một cách quảng đại, không tính toán, biết quên mình thật sự.

- biết mình yếu đuối, nên luôn luôn tỏ ra khiêm nhường, biết cảm thông với những yếu đuối, sai lầm của mọi người.

3. Số phận con người khi ấy được định đoạt khác nhau

Trong bài Tin Mừng, Đức Giê-su cho biết: «Bấy giờ, hai người đàn ông đang làm ruộng, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại; hai người đàn bà đang kéo cối xay, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại». Chúng ta chưa biết ý nghĩa chắc chắn của hai từ «được đem đi» và «bị bỏ lại», nhưng qua đó, ta biết được số phận mỗi người lúc ấy được định đoạt một cách khác nhau: kẻ «bị» người «được», kẻ khổ người sướng. Tất cả đều tùy thuộc vào cách sống, cách cư xử và hành động của mỗi người ở trần gian: Ngài «cứ theo công việc mỗi người mà xét xử» (1 Pr 1,17; Kh 20,12-13), «sẽ thưởng phạt ai nấy xứng việc họ làm» (Mt 16,27; x. Rm 2,6). Thánh Gia-cô-bê còn cho biết: «Đừng ham làm thầy thiên hạ, vì anh em sẽ bị xét xử nghiêm khắc hơn» (Gc 3,1).

Đó là ngày của công lý. Những kẻ gây bất công sẽ phải đền tội: «Thiên Chúa sẽ trả báo, nghĩa là bắt những kẻ gây gian truân cho anh em phải chịu gian truân» (2 Tx 1,6), «Ai ăn ở bất công sẽ được trả theo điều bất công mình làm; không có chuyện thiên vị» (Cr 3,25). Còn những kẻ đã phải đau khổ và chịu bất công vì Thiên Chúa, vì tha nhân, sẽ được đền đáp: «Anh em sẽ được coi là xứng đáng tham dự Nước Thiên Chúa, chính vì Nước Thiên Chúa mà anh em chịu đau khổ» (2 Tx 1,5).

4. Cần phải tỉnh thức
Vì không ai biết được ngày quang lâm của Chúa xảy đến lúc nào, và xảy ra thế nào, nhưng có điều chắc chắn là sẽ có nhiều điều rất bất ngờ, không ai dè trước được. Chính vì thế, Đức Giê-su đề nghị với chúng ta một thái độ khôn ngoan, đó là phải tỉnh thức. Tỉnh thức có nghĩa là phải sống làm sao để dù Chúa đến vào bất kỳ lúc nào, dưới bất kỳ hình thức nào, hoặc xét xử công minh đến đâu, thì ta vẫn có thể đứng vững trước mặt Ngài. Vậy cần phải tỉnh thức cách nào?

Thái độ tốt nhất trước mặt Thiên Chúa là thái độ tự hủy và yêu thương. Tự hủy là coi nhẹ cái tôi của mình, không coi mình là cái gì quan trọng, không tự hào, không tự cho mình hơn ai, không kết án ai, và cũng không coi ý riêng của mình là sáng suốt, khôn ngoan hơn người. Yêu thương là thể hiện tinh thần tự hủy một cách tích cực hơn, ích lợi hơn cho tha nhân: sẵn sàng hy sinh bản thân vì lợi ích và hạnh phúc của tha nhân. Yêu thương đòi hỏi phải tự hủy như một điều kiện cần thiết. Không thể yêu thương đích thực nếu không tự hủy. Sống tinh thần tự hủy và yêu thương như thế là cầu nguyện đúng nghĩa nhất: cầu nguyện bằng chính cuộc sống, là kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa nơi tha nhân, một sự kết hiệp thực tế và bằng hành động cụ thể. Đó là cách tích cực để ta nên công chính trước mặt Thiên Chúa.

Thiên Chúa xét xử ta khoan hay nghiêm tùy thuộc rất nhiều vào sự khoan nghiêm của ta đối với tha nhân: «Thiên Chúa không thương xót khi xét xử kẻ không biết thương xót. Còn với ai biết thương xót, thì Người chẳng quan tâm đến việc xét xử» (Gc 2,13). Ngài không thể không tha thứ cho những ai luôn luôn tha thứ. Ngài sẽ phải tha thứ vô điều kiện cho những kẻ luôn luôn tha thứ vô điều kiện. Chắc chắn Ngài không thể thua con người về lòng khoan dung. Vả lại chúng ta đã hợp đồng với Chúa như thế khi đọc kinh Lạy Cha, theo sự chỉ dạy của Đức Giê-su: «Xin tha tội cho chúng con như chúng con cũng tha cho những người có lỗi với chúng con» (Mt 6,12; x. Lc 11,4). Khốn cho chúng ta nếu đã hợp đồng với Chúa như thế mà lại không biết tha thứ: «Nếu anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình, Cha của Thầy ở trên trời cũng sẽ đối xử với anh em như vậy» (Mt 18,35). Như thế, luôn luôn tha thứ cho mọi người một cách vô điều kiện, dù lỗi họ có nặng đến đâu, không cần họ phải hối hận hay xin lỗi, là một bí quyết giúp ta hoàn toàn trắng án trong ngày đó, cho dù tội lỗi ta có nặng đến đâu.

Cầu nguyện
Lạy Cha, xin cho con biết sống yêu thương, quên mình, đồng thời biết cảm thông với những đau khổ cũng như những yếu đuối của tha nhân, để con biết ra tay cứu giúp, biết tha thứ những lầm lỗi của họ. Con nghĩ đó là cách tỉnh thức đón chờ Đức Giê-su đến một cách khôn ngoan nhất. Xin cho con thực hiện được những điều ấy, để ngày ấy Cha sẽ hài lòng về con và ngày ấy cũng sẽ là ngày hạnh phúc nhất của con. Amen.


 

MV1-A122: Tỉnh thức

Với Chúa nhật thứ nhất Mùa Vọng, khởi đầu cho Năm Phụng Vụ mới, Giáo Hội muốn đặt chúng ta MV1-A122

Với Chúa nhật thứ nhất Mùa Vọng, khởi đầu cho Năm Phụng Vụ mới, Giáo Hội muốn đặt chúng ta vào trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Thực vậy, nơi Đức Kitô Thiên Chúa đã băng qua các tầng trời, để rồi ngự xuống trần gian. Ngài đã không chỉ can thiệp vào lịch sử, mà còn ở giữa con người, sống với con người và chết cho con người, thể hiện sự giải thoát cho con người khỏi vòng nô lệ tội lỗi. Giáo Hội tin rằng Ngài đã sống lại và lên trời, nhưng vẫn chờ đợi Ngài sẽ trở lại trong vinh quang.
Vì thế, thời hiện tại của chúng ta là một thời chờ đợi, là một mùa vọng kéo dài. Một sự chờ đợi trong hy vọng. Một Mùa Vọng trong hân hoan vui mừng. Thế nhưng, sự chờ đợi ngày hoàn tất công trình cứu độ, sự chờ đợi ngày kết thúc công trình xây dựng một thế giới mới, một thế giới được cứu độ, một thế giới của người Kitô hữu, sẽ không phải là một thái độ thụ động.
Đúng thế, Chúa Giêsu, qua đoạn Tin Mừng hôm nay, đã mời gọi các môn đệ của Ngài phải đề cao cảnh giác và tình thức, để có thể đón nhận Ngài, mỗi khi Ngài viếng thăm, cũng như khi chúng ta phải đối diện với Ngài để tính sổ cuộc đời, lúc chúng ta từ giã cuộc sống này qua cái chết. Và sau cùng, là phải sẵn sàng, khi ngài lại đến trong vinh quang trong ngày sau hết.
Tỉnh thức ở đây là sáng suốt nhận ra những dấu chỉ của sự sống, của sự thật, của sự giải thoát, và của cái sẽ tồn tại mãi mãi trong tất cả những gì tạo nên cuộc sống thường ngày của con người và xã hội: những cuộc gặp gỡ, những lời nói, những phản ứng, những sự kiện, những tin tức chúng ta nhận được.
Người tỉnh thức là người phải suy nghĩ, không theo thói quen, không theo những hình ảnh hay khuôn mẫu có sẵn, ngay cả đối với Kinh Thánh, chúng ta cũng đừng đọc hay suy nghĩ với những hiểu biết đã được người khác mớm cho, nhưng phải đọc với một cặp mặt tò mò và thức tỉnh, với những câu hỏi được đặt ra cho chính bản thân: Lời Chúa muốn nói với tôi điều gì? Và đâu là điều Chúa muốn tôi phải thực hiện?
Có tỉnh thức nhận ra ý Chúa và cố gắng thực hiện trong cuộc sống thường ngày, thì rồi trong sau hết chúng ta mới không bị Chúa loại trừ, nhưng sẽ được chia sẻ niềm hạnh phúc vĩnh cửu với Chúa trên quê hương Nước Trời.

 

MV1-A123: Không một ai biết giò

 (Mátthêu 24, 37-44 – CN  I MV - A)
 1.- Ngữ cảnh
 

Khối diễn từ cuối cùng gồm trọn chương 23 Mt, “Những lời nguyền rủa người Pharisêu”, trước đây: MV1-A123

Khối diễn từ cuối cùng gồm trọn chương 23 Mt, “Những lời nguyền rủa người Pharisêu”, trước đây vẫn được coi như tách biệt, và phân đoạn Mt 24,1–25,46, “Diễn từ cánh chung”: Cả khối từ câu 23,1 đến câu 25,46 làm thành bài diễn từ duy nhất có chức năng nhắc nhở những người trong nhà sống một đời sống trung thực với những hành vi, công bình, nhân ái, dưới ánh sáng của cuộc chiến thắng cánh chung của Thiên Chúa và cuộc phán xét đang đến.  Bài Tin Mừng Mt 24,37-44 nằm trong khối diễn từ cuối cùng này.
          Phụng vụ cho đọc từ c. 37, nhưng có lẽ nên đọc bản văn ngay từ câu 36, vì: 1) Tư tưởng của câu 36 này được trình bày trong cc. 37-44; 2) Hai từ ngữ “ngày và giờ” trong c. 36 được nhắc lại trong cc. 42 và 44 làm thành một lối hành văn “đóng khung”, khiến cả phân đoạn 24,36-44 thành một đơn vị thống nhất. Các nhà chú giải thường cắt phân đoạn ở c. 36 thay vì ở c. 37 như trong bản văn Phụng vụ.
 2.- Bố cục
Bản văn có thể chia thành ba phần:
1) Bài học thời Nôê (24,37-39), với công thức “cuộc quang lâm của Con Người cũng sẽ như vậy” ở c. 37 và c. 39 đóng khung đoạn văn thành một đơn vị; đơn vị này xoáy vào trọng tâm là “ngày Quang Lâm của Con Người”;
2) Cuộc phân rẽ vào ngày Quang Lâm (24, 40-41): Hai câu này vừa là kết luận cho đoạn 37-39, vừa là tiền đề (và cũng là kết luận) cho lời kêu gọi và dụ ngôn ở cc. 42-44;
3) Bài học về canh thức và sẵn sàng (24,42-44), với dụ ngôn “Kẻ trộm đêm khuya”, được đóng khung thành một đơn vị bằng hai công thức tương tự “ngày Chúa của anh em đến” (c. 42) và “giờ Con Người sẽ đến” (c. 44); đơn vị này xoáy vào hai từ cụ thể được tác giả Mt dùng để gọi ngày Quang Lâm, “ngày và giờ”.
 3.- Vài điểm chú giải
- thời ông Nôê (37): Kinh Thánh kể việc Nôê đóng tàu trong sách Sáng thế (6,11-13).
- quang lâm (37.39) (HL: parousía, nghĩa đen là “sự hiện diện”): Trong Mt 24,29-31, Đức Giêsu cho biết rằng Người sẽ trở lại “uy nghi” (= với quyền lực), “ vinh hiển” (= với vinh quang), “ngự giá mây trời” (= trên mây trời). Các hình ảnh đó cho hiểu Người sẽ trở lại trong tư cách Đấng chiến thắng. Đây là một cuộc khải hoàn.
- một người được đem đi, một người bị bỏ lại (40.41): Hai động từ của bản văn Hy-lạp ở thái bị động paralambanetaiaphietai nên phải hiểu chủ ngữ là Thiên Chúa. Dựa theo truyền thống, có thể hiểu: sự kiện các thiên thần “tập hợp những kẻ được [Con Người] tuyển chọn” (c. 31; x. Mc 13,27) cho thấy paralambanetai có nghĩa là “được cứu thoát”, nên phải dịch là “được đem đi”, aphietai, có nghĩa là “bị kết án”, nên phải dịch là “bị bỏ lại”.
- canh thức (42) (HL: grêgoreô): có nghĩa là “không ngủ”. Đây là thái độ Đức Giêsu yêu cầu phải có nơi những người đang trông chờ Người đến (x. Mt 25,13; Mc 13,33-37; Lc 12,35-40). Sự canh thức, ở trong tình trạng “báo động”, giả thiết phải có một niềm hy vọng vững chắc và đòi hỏi tâm trí luôn sẵn sàng (đây cũng là “sự tiết độ”: 1 Tx 5,6-8; 1 Pr 5,8). 
- không biết ngày nào (42): Đức Giêsu vừa khẳng định mạnh mẽ rằng Người sẽ lại đến, vừa nhấn mạnh rằng không ai biết được ngày giờ đó (24,36.42.44). Không ai biết và cũng không ai có thể tính toán để tìm ra ngày giờ ấy cả.  
- kẻ trộm (43): Kinh Thánh dùng hình ảnh tên trộm để nói tới tính bất ngờ của ngày Chúa đến (x. 1 Tx 5,2; 2 Pr 3,10; Kh 3,3; 16,15).
- vào canh nào (43): Một đêm thường được chia thành bốn canh (HL: phylakê): chiều (từ khi mặt trời lặn đến 9g tối), nửa đêm (từ  9g tối đến 12g đêm), khi gà gáy (từ 12g đêm đến 3g sáng) và sáng (từ 3g sáng đến bình minh, khoảng 6g sáng).
- khoét vách (43): Nhà dân Do Thái thời Đức Giêsu thường được làm bằng đất với cành cây khô, nên kẻ trộm có thể lọt vào nhà bằng cách khoét thủng vách tường đất.
4.- Ý nghĩa của bản văn
          Bài Tin Mừng chúng ta đọc hôm nay, nếu không được hiểu đúng, sẽ gây khó khăn cho chúng ta.
Trước tiên, can phải xem Đức Giêsu đang nói về chuyện gì. Tại sao Người đưa vào trong câu chuyện: ông Nôê, hai người đàn ông đang làm việc trên cánh đồng, hai người đàn bà đang xay bột, và một tên trộm? Câu trả lời nằm ở đầu chương 24: ở đây Đức Giêsu đang nói về những dân cư Giêrusalem không muốn hoán cải. Các môn đệ sửng sốt vì những lời Thầy nói, đã hỏi Người hai điều: khi nào chuyện ấy xảy ra và có dấu hiệu báo trước chăng (cc. 2-3). Thay vì trả lời họ, Đức Giêsu dạy họ những điều đến hôm nay vẫn còn giá trị: chúng ta phải luôn luôn canh thức. Rồi Người đưa ra ba ví dụ.
  * Bài học thời Nôê (37-39)
Vào thời Nôê, có hai hạng người: những người chỉ biết hưởng thụ cho bản thân và những người tỉnh thức biết lắng nghe các lời lưu ý.
Những người hoàn toàn để mình bị cuốn hút vào trong cuộc sống trần thế, với những sinh hoạt cụ thể và những phương diện bề ngoài ai cũng thấy được (ăn uống, cưới vợ lấy chồng), thì chỉ biết vui hưởng đời này, không muốn quan tâm đến bất cứ điều gì khác nữa. Vả lại, nạn hồng thủy chỉ được loan báo, chứ chưa xảy ra. Cũng thế, cuộc Quang Lâm của Chúa Giêsu cũng chỉ mới được loan báo, chứ chưa xảy ra. Tính cụ thể của các sự việc trần thế và kinh nghiệm hiện tại dường như thực hữu hơn là bản thân Đức Chúa như Người đã loan báo. Do đó, người ta bị hút vào hiện tại và hoàn toàn không màng đến Người, không nghĩ đến trách nhiệm của mình đối với Người. Dù sao, biến cố quan trọng ấy cũng đã được loan báo, nên chúng ta phải chịu trách nhiệm về tình trạng bản thân khi Người đến. Cần phải luôn canh thức và sẵn sàng.
Bài học là: Vào thời Nôê, nhiều người đã bị chết; vậy những kẻ không chấp nhận Đức Giêsu hoặc tuân theo lời Người, cũng sẽ chết khi thành thánh bị tàn phá. Còn những ai đón nhận sứ điệp của Người, sẽ được cứu độ và sẽ trở thành những người đầu tiên thuộc đoàn dân Người.
 * Cuộc phân rẽ vào ngày Quang Lâm (40-41)
Với ví dụ thứ hai rút ra từ cuộc sống thường ngày, Đức Giêsu cho thấy rằng mọi người bình đẳng trong các sinh hoạt trần thế, và không một hoàn cảnh bên ngoài nào bảo đảm cho người ta có một tư cách xứng đáng cả. Về bề ngoài, không có nét nào phân biệt giữa hai người đàn ông đang làm ruộng, hoặc hai người đàn bà đang kéo cối xay. Tuy nhiên, khi Đức Giêsu quang lâm, sẽ xảy ra một cuộc phân rẽ tận căn: những ai đã sẵn sàng với Người thì được đón vào sống hiệp thông với Người, còn những người khác thì bị loại trừ. Số phận vĩnh viễn của mỗi người tùy thuộc cách thức mỗi người sống với Người trong thời gian này. Từ chỗ thấy rằng mọi người đều có phần công việc và lao khổ, hạnh phúc và bất hạnh, đau khổ và niềm vui, sống và chết, người ta dễ rơi vào ảo tưởng là sự vâng phục hoặc bất phục tùng đối với Thiên Chúa, sự ngay thẳng hay gian tà không hề quan trọng gì cả, là mọi sự đều như nhau, chẳng có ý nghĩa gì, bởi vì mọi sự sẽ kết thúc giống nhau cho mọi người! Đức Giêsu điều chỉnh lối suy tư sai lạc này.
Bài học là: “Anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến” (c. 42).
 * Bài học về canh thức và sẵn sàng (42-44)
Đến đây, Đức Giêsu cho ví dụ thứ ba. Nếu chúng ta biết ngày giờ Chúa đến, hẳn là chúng ta sẽ chuẩn bị và chờ đợi. Nhưng Đức Giêsu dùng dụ ngôn kẻ trộm đêm khuya để báo cho chúng ta rằng Người sẽ đến thật bất ngờ, chúng ta không thể tiên liệu. Do đó, chúng ta phải luôn luôn sẵn sàng, từng giờ từng phút: “Anh em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến” (c. 44).
Tất cả những lời kêu gọi tỉnh thức này có ý nghĩa gì đối với chúng ta hôm nay? Phải chăng Thiên Chúa thật sự đến như một kẻ trộm, và gọi người ta đến mà xét xử vào lúc họ ít sẵn sàng nhất? Thật khó mà đặt lòng tin vào một vị Thiên Chúa như thế! Nếu đây là cách giải thích đúng các lời nói của Đức Giêsu, hẳn là chúng ta sẽ không có một sứ điệp cứu độ, mà chỉ có một lời đe dọa ác độc. Thật ra điều Người muốn nói với chúng ta hoàn toàn khác hẳn.
Trong mỗi khoảnh khắc, chúng ta phải sống một cuộc sống phù hợp với ý muốn của Người và có thể lãnh trách nhiệm trước mặt Người. Chính vì Người không cho thấy tất cả ý định của Người mà chúng ta phải hiểu rằng chúng ta hoàn toàn lệ thuộc vào Người. Sự kiện lúc này Người còn đang ẩn mình và rất “ở yên” không được khiến chúng ta bị lừa. Như thế, điều Đức Giêsu muốn nói với chúng ta hôm nay là Người luôn luôn muốn cứu chúng ta, làm cho chúng ta hạnh phúc, nhưng chúng ta phải luôn ý thức về sự hiện diện của Người.
  + Kết luận
          Theo kinh nghiệm thông thường, người ta cho rằng chính loài người và các sức mạnh thiên nhiên qui định dòng lưu chuyển của từng số phận con người và toàn thể lịch sử nhân loại. Quan niệm này khiến người ta nghĩ rằng sự việc vẫn cứ tiếp tục như thế, trừ phi là xảy ra một tai họa trên toàn thể vũ trụ. Nhưng Đức Giêsu lại đến loan báo rằng Nước Trời đã gần kề, có nghĩa là Thiên Chúa dứt khoát quyết định bung mở quyền chúa tể của Ngài ra (x. 4,17). Điều này sẽ được thể hiện khi Con Người đến với quyền lực và vinh quang Thiên Chúa  (24,30). Khi Người tỏ mình ra vĩnh viễn cho hết mọi người với quyền lực thần linh của Người trước toàn thể thế giới, mỗi người sẽ xuất hiện ra trước mặt Người trong chiều hướng và giá trị đã đạt được. Với biến cố Đức Giêsu đến vĩnh viễn, mỗi người cũng sẽ đạt tới ánh sáng trong bản chất thâm sâu của mình. Mỗi người bị liên kết sâu xa với ngày Đức Giêsu trở lại, do đó phải sống trọn cuộc đời trong chiều hướng này. Và bởi vì không một ai biết chính xác ngày giờ Người trở lại (24,36.42.44), mỗi người cần luôn luôn sống trong tư thế sẵn sàng đón Người khi Người lại đến.
 5.- Gợi ý suy niệm
1. Đức Giêsu khẳng định là không một ai có thể biết được ngày giờ Người trở lại trần gian và tính toán để tìm ra ngày giờ ấy. Do đó, điều hết sức hệ trọng là luôn sẵn sàng cho biến cố ấy, tức là lưu ý đến tính bất xác, tính bất khả tri và bất khả tiên liệu của ngày giờ đó, hầu tránh được lối sống mù quáng. Chúng ta vẫn đang hy vọng Người trở lại. Nhưng đây không phải là một nỗi niềm chờ mong khắc khoải, mà là một xác tín rằng Người cũng là Đấng đã đến và đang đến sống giữa chúng ta: chính Người đang và sẽ đưa lại ý nghĩa chân thật cho cuộc đời và vũ trụ chúng ta.
2. Vì đã được Đức Giêsu dạy là không thể tìm ra đáp án cho các câu hỏi “khi nào và cách nào”, người Kitô hữu chỉ càng chăm chú sống y như thể ngày đó đang đến rồi. Tuy nhiên, canh thức và sẵn sàng không có nghĩa là cứ đưa mắt nhìn về trời! Lời Chúa mời gọi chúng ta quan tâm đến những nhiệm vụ hằng ngày chúng ta đã và sẽ đảm nhận. Sống và làm việc đúng như Người đã giáo huấn chúng ta, đó là cách thức tốt nhất để đón Người vào ngày Người trở lại. Sự canh thức càng có tính thúc bách khi chúng ta không biết giờ cùng tận. Tiếng hô của bài Tin Mừng: “Anh em hãy sẵn sàng! Hãy canh thức!” phải vang lên trong tim của những người đang chờ mong cuộc gặp gỡ vĩ đại.
3. Nhìn bề ngoài, không có dấu chỉ nào giúp phân biệt người đang sống đúng thánh ý Thiên Chúa và người không sống như thế, khi mà ai nấy đều đang sống chìm vào giữa những thực tại trần gian. Do đó, chúng ta không được nhìn vào người khác để lượng định bản thân và nhất là để mình rơi vào một thứ yên tâm giả tạo. Tốt nhất là hãy nhớ lại các giáo huấn Đức Giêsu đã ban cho chúng ta, rà soát xem chúng ta đã đưa ra thực hành như thế nào. Bài Giảng trên núi trong TM Mt chính là một cẩm nang giúp người Kitô hữu sống canh thức và sẵn sàng.
4. Chúng ta nhớ rằng chúng ta luôn luôn lệ thuộc vào Đức Giêsu và chúng ta luôn chịu trách nhiệm trước mặt Người. Đức Giêsu đến vào Ngày Quang Lâm không còn phải là trong tư cách Đấng Cứu thế, nhưng trong tư cách vị Thẩm Phán tối cao. Do đó, ngày Người đến sẽ là ngày giờ của sự thật, bởi vì sẽ là ngày giờ để trả lời (“trả lẽ”) với Người về những nhiệm vụ chúng ta phải chu toàn và là ngày giờ chúng ta được vén mở (= mạc khải) cho hiểu biết mọi sự.
Lm FX Vũ Phan Long, ofm

 

MV1-A124: CHÚA NHẬT 1 MÙA VỌNG A

Is 2,1-5 ; Rm 13,11-14 ; Mt 24,37-44
HÃY LUÔN SẴN SÀNG
I. HỌC LỜI CHÚA
1. TIN MỪNG: Mt 24,37-44
(37) Quả thế, thời ông Nô-e thế nào, thì cuộc quang lâm của Con Người cũng sẽ như vậy. (38) Vì trong những ngày trước nạn hồng thủy, thiên hạ vẫn ăn uống, cưới vợ lấy chồng, mãi cho đến ngày ông Nô-e vào tàu. (39) Họ không hay biết gì, cho đến khi nạn hồng thủy ập tới cuốn đi hết thảy. Cuộc quang lâm của Con Người cũng sẽ như vậy. (40) Bấy giờ hai người đàn ông đang làm ruộng, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại. (41) Hai người đàn bà đang kéo cối xay, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại. (42) Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến. (43) Anh em hãy biết điều này: nếu chủ nhà biết vào canh nào kẻ trộm sẽ đến, hẳn ông đã thức, không để nó khoét vách nhà mình đâu. (44) Cho nên anh em cũng vậy, anh em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến.
2. Ý CHÍNH:
 

Ngày tận thế chắc chắn sẽ đến vào lúc bất ngờ, nên đòi người ta phải luôn tỉnh thức và chuẩn bị sẵn: MV1-A124

Ngày tận thế chắc chắn sẽ đến vào lúc bất ngờ, nên đòi người ta phải luôn tỉnh thức và chuẩn bị sẵn sàng đón Chúa. Như trong nạn lụt hồng thủy thời No-e: chỉ có gia đình No-e vì đã tỉnh thức và chuẩn bị trước bằng việc đóng tàu mới được cứu thoát. Đức Giê-su dạy các môn đệ phải tỉnh thức như chủ nhà thức canh đề phòng kẻ trộm khoét vách nhà mình lúc ban đêm. Tóm lại, cần luôn sẵn sàng đón Chúa đến vào lúc bất ngờ.
3. CHÚ THÍCH:
- C 37-39: + Thời ông Nô-e thế nào, thì cuộc quang lâm của Con Người cũng sẽ như vậy: “Con Người” ám chỉ Đấng Thiên Sai. Đức Giê-su đối chiếu nạn hồng thủy thời Nô-e với cuộc trở lại trong vinh quang của Ngườii vào ngày tận thế để phán xét chung nhân loại hay vào giờ chết để phán xét riêng mỗi người. + Vì trong những ngày trước nạn hồng thủy…: Cuộc quang lâm của Con Người vào ngày tận thế giống như nạn hồng thủy thứ hai. Cũng như thiên hạ thời Nô-e cứ sinh hoạt bình thường mà không quan tâm đến những dấu hiệu của cơn đại họa bất ngờ xảy đến, nên đã chết thê thảm, thì cuộc quang lâm của Vua Thẩm Phán Giê-su trong ngày tận thế cũng sẽ xảy đến cách bất ngờ như vậy.           
- C 40-41: + Hai người đàn ông… Hai người đàn bà…: để diễn tả số phận con người khác nhau tùy theo thái độ tỉnh thức và lối sống của họ, Đức Giê-su đã dùng hai hình ảnh cụ thể minh họa: hai người đàn ông đang làm việc ngoài đồng, hai người đàn bà đang xay chung một cối bột. + Thì một được đem đi, một bị bỏ lại: Người ta có thể cùng làm chung một ngành nghề, nhưng tùy theo cách sống mà số phận đời đời sẽ khác nhau: người này được tiếp nhận, kẻ kia bị bỏ rơi.
- C 42-44: + Hãy canh thức, vì không biết giờ nào…: Để khỏi bị bất ngờ như những người thời Nô-e, các môn đệ phải luôn tỉnh thức sẵn sàng. Tỉnh thức không phải là thụ động chong đèn ngồi chờ, nhưng là tích cực làm việc như người quản gia chu toàn nhiệm vụ cấp phát lương thực cho gia nhân (x. Mt 24,45), như năm cô trinh nữ khôn ngoan mang dầu theo đèn (x. Mt 25,4), như người biết làm lợi gấp đôi số nén bạc được trao (x. Mt 25,20), luôn sống theo tám mối phúc thật (x. Mt 5,3-12), biết quan tâm chia sẻ và phục vụ tha nhân nhất là người nghèo đói (x.Mt 25,34-40). + Cho nên anh em cũng vậy, anh em hãy sẵn sàng…: Các môn đệ phải luôn tỉnh thức và sẵn sàng đón Chúa đến cách bất ngờ như kẻ trộm thường bất ngờ đến.
4. CÂU HỎI:
1) Tại sao phải tỉnh thức để đón chờ Chúa đến ? 2) Đức Giê-su đã dạy môn đệ bài học gì về sự tỉnh thức qua câu chuyện lụt đại hồng thủy thời No-e ? 3) Đức Giê-su đã dùng hai hình ảnh nào để minh họa cho lối sống tỉnh thức của người môn đệ hầu chuẩn bị cho ngày tận thế sẽ đến ? 4) Người môn đệ Chúa phải có lối sống sẵn sàng tỉnh thức thế nào ?
II. SỐNG LỜI CHÚA
1. LỜI CHÚA: “Anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến” (Mt 24,42).
2. CÂU CHUYỆN:
1) PHẢI LUÔN TỀ CHỈNH: Một vị thanh tra kia khi đến thăm một trường tiểu học đã nói với các em học sinh như sau: “Hôm nay thầy thấy có nhiều học sinh đã để bàn học lộn xộn mất trật tự, lớp học thì ồn ào và rác rến vung vãi mất vệ sinh. Vậy thầy quyết định sẽ trở lại đây để kiểm tra các em một lần nữa. Từ nay tới hôm thầy trở lại, em nào giữ được bàn học sạch sẽ, sách vở ngăn nắp sẽ được thưởng”. Bấy giờ có mấy em hỏi: “Thưa thầy, khi nào thầy sẽ trở lại ạ ?”. Thầy đáp: “Thầy sẽ trở lại. Nhưng không cho các em biết ngày giờ chính xác”.
Sau khi thầy thanh tra đi, một cô bé liền nói với mấy đứa bạn rằng mình quyết tâm sẽ dành được phần thưởng của thầy. Các bạn khác nghe vậy liền cười ồ chế diễu, vì cô bé này ít khi nào chỉnh tề ngăn nắp. Có bạn hỏi rằng: “Bàn học của bạn chẳng khi nào ngăn nắp tề chỉnh mà bạn lại đòi được lãnh thưởng hay sao ?” Nhưng cô bé trả lời: “Từ ngày mai, mỗi buổi sáng tớ sẽ thu xếp dọn dẹp ngay khi mới đến là sẽ gọn gàng ngay thôi mà”. Một bạn lại hỏi: “Thế nếu thầy thanh tra đến vào buổi chiều thì sao ?” Cô bé im lặng suy nghĩ một lát rồi nói: “Thôi, mình nghĩ ra rồi. Như thế là lúc nào mĩnh cũng phải giữ bàn học thứ tự sạch sẽ phải không các bạn ?”.
2) KẾ SÁCH CÁM DỖ HOÀN HẢO NHẤT: Một câu chuyện ngụ ngôn về phương cách cám dỗ của ma quỷ như sau:
Có ba tên quỷ con đang trong thời kỳ huấn luyện để đi cám dỗ loài người. Một hôm tên quỷ già thầy giáo yêu cầu lũ quỷ học trò suy nghĩ để tìm ra một kế sách nào hòan hảo nhất để cám dỗ loài người. Tên quỷ thứ nhất thưa rằng: “Tôi sẽ nói với loài người rằng: trên đời này làm gì có Thiên Chúa, nên các ngươi cứ việc ăn chơi thỏa thích theo lòng đam mê của mình”. Nhưng tên quỷ già bảo: “Kế sách đó khó thành công lắm, vì dù không thấy Thiên Chúa vô hình, nhưng hầu như mọi người đều cảm thấy sự hiệu hữu của ông ta”. Tên quỷ con thứ hai trình bày: “Phần tôi sẽ rỉ tai cho loài người biết: chết đi là hết. Thiên đàng hay hỏa ngục chỉ là sự tưởng tượng để hù dọa họ ăn ngay ở lành mà thôi chứ không có thực! Do đó, các ngươi cứ việc vui chơi thỏa thích, kẻo giờ chết đến thì khi ấy có muốn cũng không thể vui chơi được nữa!”. Tên quỷ già gật gù nói: “Kế đó cũng hay đấy. Nhưng có lẽ loài người vẫn biết có quả báo, có thiên đàng để thưởng kẻ lành và hỏa ngục để phạt kẻ dữ”. Tên quỷ con thứ ba thì nêu ý kiến này: “Phần tôi, tôi sẽ làm cho con cái loài người tin rằng còn lâu chúng mới chết. Do đó chúng cứ việc thỏa mãn những đam mê lạc thú ở đời. Khi nào nằm liệt giường sắp chết, sẽ ăn năn sám hối cũng chưa muộn!”. Nghe xong, tên quỷ già khoái chí cười hô hố. Nó vừa xoa đầu tên quỷ học trò vừa khen lấy khen để: “Trò giỏi lắm. Quả đó là kế sách hay nhất và rất hạp ý ta. Với phương kế này, chắc chắn nước hỏa ngục của chúng ta sẽ ngày càng bành trướng vì sẽ có thêm rất nhiều kẻ gia nhập đó!”.
3. SUY NIỆM:
Hôm nay chúng ta bước sang Mùa Vọng năm phụng vụ mới là năm A. Mùa Vọng vừa là thời gian chuẩn bị tâm hồn mừng đại lề Giáng sinh, kính nhớ Con Thiên Chúa đến trần gian lần thứ nhất ban ơn cứu độ cho lòai người, vừa là thời gian để các tín hữu chúng ta trông đợi Chúa Ki-tô sẽ đến lần thứ hai trong uy quyền vinh quang để phán xét chung nhân loại vào ngày tận thế.
1) Phải luôn tỉnh thức sẵn sàng vì Chúa sẽ đến cách bất ngờ:
- Tin mừng Mát-thêu hôm nay ghi lại những lời Đức Giê-su cảnh báo các môn đệ về việc Người sẽ đến cách bất ngờ trong ngày tận thế chung nhân loại và đến với mỗi người trong giờ chết của họ. Người dạy các môn đệ phải có thái độ như sau: « Anh em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến” (Mt 24,14).
- Tuy nhiên, có lẽ dân Do thái lúc đó đều coi thường lời cảnh báo của Đức Giê-su, giống như dân chúng thời tổ phụ No-ê. Ông No-ê đã được Đức Chúa cho biết trước sắp xảy ra cơn lụt đại hồng thủy nên đã chuẩn bị bằng việc miệt mài đóng một con tàu lớn cho ông và gia đình, đang khi những người khác « vẫn ăn uống, cưới vợ lấy chồng, mãi cho đến ngày ông Nô-e vào tàu. Họ không hay biết gì, cho đến khi nạn hồng thủy ập tới cuốn đi hết thảy” (Mt 24,38-39). Chỉ riêng gia đình ông No-ê được cứu thoát nhờ con tàu.  
2) Phải cảnh giác và chăm chỉ làm việc:
- Cảnh giác bằng việc làm : Những người thời ông No-ê đã bị chết trong cơn nước lụt, không phải do họ đã phạm tội, mà chỉ vì họ đã không làm những việc lẽ ra phải làm. Họ làm rất nhiều việc cho cuộc sống vật chất thể xác, nhưng lại không làm gì cho cuộc sống thiêng liêng tinh thần. Số phận của mỗi người được cứu hay không tùy theo họ có chuẩn bị cho cuộc sông đời sau hay không như lời Đức Giê-su: «Bấy giờ hai người đàn ông đang làm ruộng, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại. Hai người đàn bà đang kéo cối xay, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại”  (Mt 24,40-41).
- Chu toàn việc bổn phận: Tỉnh thức sẵn sàng bằng việc chu toàn các việc bổn phận hằng ngày, từ việc nội trợ trong gia đình, học tập tại nhà trường, lao động nơi nhà máy, công sở, buôn bán nơi phố chợ, cày cấy ngoài đồng ruộng... Đức Giê-su cũng cảnh báo các môn đệ đừng quá quan tâm đến các công việc trần gian, mà quên rằng cái chết có thể sẽ bất ngờ đến vào bất cứ lúc nào, giống như “chiếc lưới chụp xuống mọi người sống trên mặt đất” (Lc 21,35). Đức Giê-su nhắc nhở các môn đệ phải có thái độ tỉnh thức sẵn sàng giống như ông chủ nhà kia canh thức không để kẻ trộm đào ngạch khóet vách nhà mình!  
3) Phải luôn tỉnh thức cầu nguyện:
- Bất ngờ sẽ trở thành niềm vui cứu độ: Nếu chúng ta biết "tỉnh thức và cầu nguyện luôn" (Lc 21,36), sẵn sàng ra đón khi Chúa đến thì việc Chúa đến bất ngờ sẽ lại trở thành niềm vui cho chúng ta. Ngày đó, chúng ta sẽ không phải "lo lắng hoang mang trong cảnh biển gào sóng thét" (Lc 21,25), sẽ không "sợ đến hồn xiêu phách lạc" (Lc 21,26), nhưng sẽ "đứng thẳng và ngẩng đầu lên" (Lc 21,28), vì chúng ta sắp được lãnh ơn cứu chuộc của Chúa. 
- Phải luôn tỉnh thức cầu nguyện : Nhiều người sống như mê ngủ. Trong tuần họ lo làm việc để kiếm tiền, rồi đến cuối tuần lại dành thời giờ để đi chơi du lịch leo núi hay tắm biển... mà lơ là các việc đạo đức như cầu nguyện sớm hôm, bỏ dâng lễ Chúa nhật và các lễ buộc, không xưng tội rước lễ… Tỉnh thức là phải chuyên cần cầu nguyện như Đức Giê-su đã cảnh báo ba môn đệ trong vườn Cây Dầu xưa: ”Anh em hãy canh thức và cầu nguyện để khỏi lâm vào cơn cám dỗ. Vì tinh thần thì hăng hái nhưng thể xác lại yếu đuối” (Mt 26,41).
4) Phải cấp thời sám hối và sống tốt hơn để đón chờ Chúa đến:
- Cấp thời sám hối không trì hoãn: Trong cuộc sống, chúng ta thường nghĩ rằng mình còn sống lâu, nên không cần phải sám hối ngay, nhưng cứ để đến lúc gần chết sám hối cũng không muộn. Nhưng chần chừ không dứt khoát quay về với Chúa là kế sách cám dỗ hoàn hảo nhất của ma qủi đối với chúng ta. Mùa vọng là thời gian chờ đợi trong tin yêu như con cái chờ đợi người cha thân yêu trở về, chứ không chờ đợi trong sự lo lắng buồn sầu. Người tín hữu chúng ta cần tránh tâm trạng buồn chán lười biếng, nhưng cần hăng say làm việc nhiều hơn và không ngừng cầu xin Chúa ban ơn giúp sức. Hãy làm tất cả những gì có thể làm ngay hôm nay, bắt đầu ngay từ bây giờ và ở đây “hic et nunc”.
- Loại trừ các thói hư và sống theo gương Đức Giê-su: Trong những ngày này, chúng ta cần suy gẫm lời thánh Phao-lô: “Đêm sắp tàn, ngày gần đến. Vậy chúng ta hãy loại bỏ những việc làm đen tối, và cầm lấy vũ khí của sự sáng để chiến đấu. Chúng ta hãy ăn ở đứng đắn như người đang sống giữa ban ngày: không chè chén say sưa, không chơi bời dâm đãng, cũng không cãi cọ ghen tương. Nhưng anh em hãy mặc lấy Chúa Giê-su Ki-tô, và đừng chiều theo tính xác thịt mà thoả mãn các dục vọng” (Rm 13,12-14). Nói “mặc lấy Đức Kitô” là quyết tâm loại trừ các thói hư tật xấu như tính tự ái cao, dễ nổi nóng, gian dối, ganh ghét, say sưa, cờ bạc, trai gái, hút sách…  Hãy siêng năng đọc Lời Chúa mỗi ngày và quyết tâm sông noi theo gương mẫu và lời dạy của Đức Giê-su bằng việc năng tự hỏi: “Nếu Đức Giê-su ở trong hoàn cảnh của tôi bây giờ thì Người sẽ làm gì?” rồi quyết tâm làm theo ý Chúa muốn.
4. THẢO LUẬN:
1) Có người nói: “Đời người mau qua chóng hết, nên ta cần phải nếm mọi lạc thú ở đời, để đến giờ chết ta sẽ không còn phải hối tiếc vì cuộc sống quá ngắn ngủi mau qua”. Bạn sẽ nói gì với người ấy giúp họ hy vọng vào một cuộc sống vĩnh hằng đời sau ? 2) Ngay từ hôm nay bạn sẽ làm gì để xây dựng gia đình, xã hội trở thành thiên đàng trần gian, một nơi chan chứa sự công bình, yêu thương và hạnh phúc ?
5. NGUYỆN CẦU:
- LẠY CHÚA GIÊ-SU: Nếu ngày mai Chúa quang lâm, chắc chúng con sẽ vô cùng bối rối. Bối rối vì bản thân chúng con còn nhiều tội lỗi khuyết điểm, vì môi trường và thế giới chúng con đang sống vẫn nhiều dở dang và còn nhiều người chưa nhận biết tin thờ yêu mến Thiên Chúa. Chúa đến không để hủy diệt những kẻ tội lỗi, nhưng muốn họ ăn năn sám hối và được sống.
- LẠY CHÚA THÁNH THẦN, xin cho chúng con luôn thành tâm sám hối để đón nhận ơn thứ tha của Chúa Cha. Xin cho chúng con biết luôn cộng tác với Chúa Giê-su để xây dựng một “Trời mới Đất mới” công bình và yêu thương, an vui và hạnh phúc. Xin giúp chúng con luôn cậy trông vào tình yêu quan phòng của Chúa Ba Ngôi, vì biết rằng tất cả những điều xảy ra đều nhằm thanh luyện và biến đổi chúng con nên tốt hơn, hầu chúng con có thể tích cực góp phần xây dựng thế giới này ngày một công bình, yêu thương và hạnh phúc hơn.
X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.
LM ĐAN VINH –HHTM

 

MV1-A125: ĐỢI CHỜ, NHƯNG PHẢI HÀNH ĐỘNG

(CHÚA NHẬT 1 MÙA VỌNG, NĂM A)
Jos. Vinc. Ngọc Biển
 

Mỗi khi Mùa Vọng về, người ta thường nhắc nhau đi tham dự các buổi tĩnh tâm, xưng tội, làm các: MV1-A125

Mỗi khi Mùa Vọng về, người ta thường nhắc nhau đi tham dự các buổi tĩnh tâm, xưng tội, làm các việc bác ái và hy sinh để chuẩn bị đón mừng lễ Chúa Giáng Sinh. Tại sao lại thế? Thưa, vì Mùa Vọng chính là mùa sống lại tinh thần đợi trông Con Thiên Chúa xuống thế làm người để cứu độ nhân loại của dân Dothái xưa, và ngày nay, chúng ta đang đợi chờ Chúa đến với chúng ta lần thứ hai trong ngày quang lâm. Tuy nhiên, đợi trông không có nghĩa là cứ ngồi rồi mong ngóng như con trẻ mong mẹ đi chợ về. Cũng không phải như những người ngủ mê, sống ù lì và há miệng chờ sung rụng. Nhưng đợi trông ở đây gắn liền với hành động, một thứ hành động trong tỉnh thức. Tỉnh thức để biết được đâu là điểm chính yếu, đâu là phụ thuộc, đâu là cái vĩnh hằng, đâu là cái nhất thời. Tỉnh thức cũng là tinh thần của người khôn ngoan biết chọn lựa cái tốt và loại trừ cái xấu. Chờ đợi theo tinh thần của những người tin là hướng về phía “Ánh Sáng” mà tiến bước trong hân hoan.
 
  1. Hãy tỉnh thức và sẵn sàng
Bài Tin Mừng hôm nay, được nối tiếp một loạt giáo huấn của Đức Giêsu về ngày cánh chung; những đau đớn sẽ xảy ra trong ngày đó; ngày đó chắc chắn sẽ xảy ra, nhưng xảy ra ngày nào thì không ai biết (x. Mt 24, 1-36).
Trang Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu nhấn mạnh trực tiếp đến tính bất ngờ của ngày ấy và làm sáng tỏ sự bất định của cái chết khi trích dẫn câu chuyện thời ông Noe: “Những ngày trước đại hồng thuỷ, người ta ăn uống, dựng vợ gả chồng, mãi đến chính ngày ông Noe vào tàu mà người ta cũng không ngờ, thình lình đại hồng thuỷ đến và cuốn đi tất cả” “khi Con Người đến, cũng sẽ xảy ra như vậy” (x. Mt 24, 37-39). Ngày đó sẽ là ngày tách chiên ra khỏi dê, lọc lúa ra khỏi cỏ lùng, là ngày thưởng phạt theo lẽ công bằng. Ai đã chuẩn bị xứng đáng thì sẽ hân hoan, còn ai không sẵn sàng thì bị loại ra, số phận của mỗi người hoàn toàn khác nhau tùy vào thái độ của họ. Chính cái làm nên điều khác biệt đó là biết tỉnh thức hay không! 
Như vậy, tỉnh thức chính là điều kiện cần cho ơn cứu độ. Để chứng minh điều này, Đức Giêsu đã đưa ra hình ảnh hai người đàn ông đang làm ruộng, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại; hai người đàn bà đang kéo cối xay, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại (x. Mt 24, 40). "Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến” (Mt 24, 42). Bởi vì ngày ấy đến như kẻ trộm lúc đêm khuya (x. Mt 24, 43). Như một chiếc lưới bất thần chụp xuống đầu anh em (x. Lc 21,34).   
Quả thật, ngay từ giây phút này, chúng ta phải chuẩn bị cho tốt, để nếu điều đó xảy ra cho chúng ta cách này hay cách khác, ban ngày hay đêm khuya, ta đâu có sợ hãi chi. 
Hãy tỉnh thức, tức là không mê ngủ, nhưng luôn "thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sẵn" để đón Chúa đến bất cứ lúc nào (x. Lc 12,35-48). Tỉnh thức còn là sự trung tín với Chúa bằng việc cầu nguyện không ngừng (x. Lc 18,1), không nhàm chán hay nản chí (x. Lc 18,1). 
Tỉnh thức như: người đầy tớ hoàn thành nhiệm vụ được trao phó (x. Mt 24, 45-51).
Như năm cô trinh nữ khôn ngoan biết phòng xa mang dầu theo (x. Mt 25, 1-13)
Như người được trao vốn và đem kinh doanh sinh lời lãi cho ông chủ (x. Mt 25, 14-30)
Cuối cùng, tỉnh thức bằng cách sống yêu thương và phục vụ theo tinh thần của Chúa (x.Ga 13,6); (Ga 15,13).
Như vậy, tinh thần của Mùa Vọng không phải là đợi chờ trong mòn mỏi, day dứt khôn nguôi nhưng là đợi chờ trong hy vọng. Cũng không phải đợi chờ  mà không làm gì cả, nhưng làm việc trong đợi chờ với thái độ tỉnh thức Và, không phải đợi chờ một ai đó, nhưng là đợi chờ chính Con Thiên Chúa.       
Thánh Phaolô cũng khuyên các tín hữu của mình hãy chuẩn bị sẵn sàng để đón đợi ngày Chúa đến. Ngài đã không khuyên cách chung chung, mà là cụ thể: “Chúng ta hãy từ bỏ những hành vi ám muội và mang khí giới ánh sáng. Chúng ta hãy đi đứng đàng hoàng như giữa ban ngày, không ăn uống say sưa, không chơi bời dâm đãng, không tranh chấp ganh tị”.  Bởi vì “Giờ phần rỗi của chúng ta gần đến… Đêm sắp tàn, ngày gần đến” (x. Rm 13, 11-14).
 
  1. Sống Lời Chúa       
Hãy tỉnh thức là điều mà Đức Giêsu muốn mời gọi mỗi chúng ta. Sứ điệp lời Chúa hôm nay nhắc nhớ chúng ta rằng: đừng dại dột mà chỉ lo cho cuộc sống hiện tại này, đừng bám vào những thứ phù vân, bởi vì phù vân chỉ là phù vân. Phù vân nối tiếp phù vân. Đừng sống như những vật vô tri, không biết lo cho ngày mai. Cũng đừng sống như những người nghĩ mình không bao giờ phải chết. Nhưng hãy chuẩn bị cho tương lai của mình một cuộc sống hạnh phúc thật bằng việc siêng năng cầu nguyện, xưng tội, rước lễ, làm việc bác ái, hy sinh hãm mình, loại trừ cái xấu và thay vào đó là những điều tốt.
Nếu không tỉnh thức nội tâm thực sự, thì những hành vi bề ngoài như làm hang đá, đèn sao sầm uất, trang trí lộng lẫy chỉ là những trò giả tạo, giả hình. Chỉ như cái thùng kêu to là cái thùng rỗng, nhưng thực chất bên trong chẳng có gì. Thật vậy, những hình thức bên ngoài đó chỉ có giá trị khi nó được nội tâm hóa từ bên trong, tức là bên trong đã có và đây chỉ là diễn tả ra bên ngoài mà thôi.
Lạy Chúa, xin cho chúng con mỗi khi Mùa Vọng về, là mỗi dịp chúng con cần thức tỉnh lương tâm; đồng thời biết hành động đúng theo tinh thần của Chúa để được ơn cứu độ trong ngày Chúa đến đón đợi chúng con. Amen.

 

MV1-A126: Hãy canh thức để được sẵn sàng

CHÚA NHẬT I MÙA VỌNG
Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Mát-thêu 24:37-44)
 

Nhắc lại câu chuyện ông Nô-ê vào tàu trước khi nạn hồng thủy ập tới, Chúa Giê-su cho chúng ta : MV1-A126

Nhắc lại câu chuyện ông Nô-ê vào tàu trước khi nạn hồng thủy ập tới, Chúa Giê-su cho chúng ta một hình ảnh sống động diễn tả điều Người muốn nói trong sứ điệp Tin Mừng hôm nay:  Hãy canh thức.  Tiếp theo câu chuyện, Chúa lại nói đến một thực tại về ơn cứu độ xảy ra trong ngày tận thế, là cứ hai người thì một người “được đem đi”, tức là được cứu độ, và một người “bị bỏ lại”, cho nên để được cứu độ:  Hãy sẵn sàng.  Đọc bài Tin Mừng, rất ít khi chúng ta để ý đến dòng chứ nghiêng ở trên đầu bài đọc nói về đại ý của đoạn Kinh Thánh.  Nhưng hôm nay chúng ta thử tò mò đọc lại:  Anh em hãy canh thức để được sẵn sàng.  Đây không phải là một câu Kinh Thánh nguyên vẹn, nhưng đã được sắp xếp lại để làm thành một sứ điệp.  Mục đích chúng ta canh thức là để được sẵn sàng, và như vậy giữa việc canh thức và thái độ sẵn sàng có một liên kết mật thiết.  
Trước hết với câu chuyện ông Nô-ê, chúng ta hiểu tại sao phải canh thức.  Canh thức là không ngủ để đối phó với một biến cố sẽ xảy đến bất ngờ và không báo trước.  Nạn hồng thủy xảy ra thời ông Nô-ê không có dấu hiệu gì để báo trước, nhưng nó “ập tới cuốn đi hết thảy”.  Ngoại trừ ông Nô-ê, gia đình ông và những sinh vật ở trong tàu đã được cứu, bao nhiêu người và các loài vật khác đều đã bị chôn vùi trong nước hồng thủy.  Chúa Giê-su nêu lên tính cách “bất ngờ” của nạn hồng thủy để so sánh với sự kiện Người sẽ bất ngờ trở lại trần gian để phán xét muôn loài trong ngày tận thế.  Vậy nếu ông Nô-ê đã “không ngủ” để lo đóng tàu đón nhận nạn hồng thủy thế nào, thì chúng ta cũng phải “không ngủ” để chuẩn bị tâm hồn đón Chúa đến với mình trong giờ chết.  Thánh Augustinô trước khi trở về với Chúa, ngày kia đã nghe một tiếng nói với mình:  Hãy cầm lấy mà đọc.  Ngài cầm Sách Thánh lên và mở trúng đoạn thư Rô-ma được dùng làm bài đọc II hôm nay: “Đã đến lúc anh em phải thức dậy… Chúng ta hãy loại bỏ những việc làm đen tối, và cầm lấy vũ khí của sự sáng để chiến đấu.  Chúng ta hãy ăn ở đứng đắn như người đang sống giữa ban ngày” (Rô-ma 13:11,12,13).  Đoạn Kinh Thánh đã giúp Augustinô thức tỉnh và quyết tâm bỏ đàng tội lỗi để về với Chúa.  Với đoạn thư này, thánh Phao-lô đã diễn tả thái độ canh thức và “không ngủ” chúng ta cần phải có để đón tiếp Chúa đến bất ngờ.
Mục đích Chúa Giê-su đến là để cứu độ chúng ta, “đem chúng ta đi” về với Chúa Cha trên quê trời.  Nhưng Chúa chỉ đem đi với Người những ai đã sẵn sàng mà thôi, còn những người không sẵn sàng sẽ “bị bỏ lại”.  Vậy thế nào là sẵn sàng?  Nói khác đi, để sẵn sàng, chúng ta phải làm những gì?  Chúng ta hãy trở lại với thư Phao-lô để nghe ngài bảo chúng ta phải làm gì cụ thể:  “Chúng ta hãy loại bỏ những việc làm đen tối…: không chè chén say sưa, không chơi bời dâm đãng, không cãi cọ ghen tương…, đừng chiều theo xác thịt mà thỏa mãn các dục vọng”.  Đó là lối sống của những người đang “ngủ” hoặc đang ở trong bóng đêm.  Để loại bỏ lối sống này, chúng ta phải “ăn ở cho đứng đắn như người đang sống giữa ban ngày” và “mặc lấy Chúa Ki-tô”, nghĩa là mặc lấy một lối sống mới rập theo khuôn mẫu lối sống của Chúa Ki-tô.
Sống sứ điệp Tin Mừng
          Trong cuộc sống hôm nay có quá nhiều điều làm cho chúng ta ngủ mê và quên đi tính bất ngờ của sự kiện Chúa đến xét xử chúng ta trong giờ chết.  Do đó, chúng cũng không thấy là cần thiết phải sẵn sàng để đón nhận cái chết có thể tới bất cứ lúc nào.  Hôm nay bắt đầu cho mùa Vọng, thời gian chuẩn bị đón mừng Chúa giáng sinh, Giáo Hội mượn lời ngôn sứ I-sai-a mời gọi hết thảy chúng ta:  “Đến đây, ta cùng lên núi Đức Chúa, lên Nhà Thiên Chúa của Gia-cóp, để Người dạy ta biết lối của Người và để ta bước theo đường Người chỉ vẽ… Ta cùng đi, nhờ ánh sáng Đức Chúa soi đường”.
          Lối của Chúa, đường Người chỉ vẽ và ánh sáng Đức Chúa soi đường, đó là tất cả những gì chúng ta cần đến để có thể thực hiện được tư thế “canh thức” và “sẵn sàng” chờ ngày Chúa đến.  Vậy đâu là lối và đường của Chúa?  Đâu là ánh sáng của Người?    Chúa Giê-su đã chỉ cho chúng ta thấy Người là con đường, sự thật và sự sống, và Người cũng là ánh sáng trần gian.  Vậy bạn và tôi, chúng ta hãy cùng với toàn thể dân Chúa bước đi trong đường lối của Chúa và dưới ánh sáng của Người!       

Lm. Đa-minh Trần đình Nhi


 

MV1-A127: Dấu chỉ thời đại

Đoạn Tin Mừng sáng hôm nay nói về ngày tận thế sẽ bất ngờ xảy đến. Tất cả những biến cố được MV1-A127 Lượng

Đoạn Tin Mừng sáng hôm nay nói về ngày tận thế sẽ bất ngờ xảy đến. Tất cả những biến cố được mô tả cho thấy rằng trần gian không phải là quê hương vĩnh viễn, thế nhưng mà nhiều người lại dừng chân ở đó. Họ cố gắng tìm tòi vật chất và ra sức xây dựng một thiên đường trần gian. Đó chính là trường hợp của những kẻ mà ngày xưa đã bị dòng nước hồng thuỷ cuốn trôi. Những ai không biết đọc những dấu chỉ thời đại rồi cũng bị những tai hoạ bất ngờ đổ xuống như vậy.
Trong chiều hướng ấy, mỗi người chúng ta hãy tự hỏi: liệu tôi đã nhận ra những dấu chỉ thời đại hay chưa? Liệu tôi có đọc được thánh ý Chúa qua những biến cố xảy ra trên mặt đất này hay chưa? Công đồng Vatican II trong hiến chế Vui mừng và Hy vọng đã viết: Chúng ta đang gán cái ý nghĩa Phúc Âm nào cho những biến cố hiện đại đang tác động trên con người và trên nhân loại?
Trước hết về phía con người. Chúng ta đang chứng kiến sự giảm sút niềm kính trọng đối với nhân vị. Theo một số nhà khoa học thì con người chỉ là kết quả của một sự tình cờ ngẫu nhiên trong đà tiến hoá của vật chất. Với một quan niệm như thế thì con người còn có giá trị gì? Trong khi đó Phúc Âm đặt con người vào trong mối tương quan với Đức Kitô. Con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa. Mặc dù tội lỗi, nhưng đã được Đức Kitô cứu chuộc, để rồi trở nên con cái Thiên Chúa. Sự sống con người là một cái gì linh thiêng. Từ đó chúng ta đi tới một kết luận: chủ nghĩa duy vật hiện nay trong lý thuyết cũng như trọn cuộc sống là một dấu chỉ thời đại thôi thúc chúng ta phải xác định lại phẩm giá con người một cách mạnh mẽ.
Tiếp đến là cộng đồng nhân loại. Trong thế giới ngày nay, chưa bao giờ con người được sử dụng nhiều phương tiện kỹ thuật như ngày nay. Từ phương trời này đến phương trời kia chúng ta có thể liên hệ với nhau chỉ trong giây lát. Phải chăng đó cũng là một dấu chỉ thời đại khiến chúng ta phải tạo cho mình một não trạng phổ quát, một não trạng công giáo bao trùm trên toàn thế giới. Nếu suy nghĩ một chút chúng ta sẽ thấy hiện nay Thiên Chúa đang đi tới con người qua tất cả những phương tiện dễ dàng làm cho con người gặp gỡ nhau.
Ngoài ra những thành công của con người cũng là một dấu chỉ biểu lộ sự phong phú vô biên của Thiên Chúa nơi tạo vật. Thế nhưng uy quyền của con người càng tăng thì trách nhiệm của nó lại càng lớn. Con người sẽ làm việc cho con người, trong một ý nghĩa tích cực, nếu nó duy trì mối liên hệ với Thiên Chúa. Nếu nó xa lìa Thiên Chúa, thì uy quyền càng nhiều, sức phá huỷ của nó càng gia tăng. Trước những chuyển biến xảy ra hằng ngày, liệu chúng ta có tỉnh thức nhận ra sứ điệp Chúa muốn gởi đến hay không?
 
 
 

MV1-A128: Tỉnh Thức để gặp Chúa – An Phong

Thiên Chúa trông đợi ta
 

Bài Tin mừng hôm nay rút từ phần cuối của diễn từ chung cuộc. Như người giữ cửa phải tỉnh thức vì MV1-A128

Bài Tin mừng hôm nay rút từ phần cuối của diễn từ chung cuộc. Như người giữ cửa phải tỉnh thức vì không biết giờ nào trong đêm ông chủ sẽ trở về, người kitô hữu cũng phải tỉnh thức vì không biết khi nào Đức Giêsu đến.
Chúa nhật đầu của năm phụng vụ mới - mùa xuân mới - đến với lời cảnh cáo: "Hãy tỉnh thức". Đó là lời nhắn nhủ cần thiết để làm tươi mới, "xuân hóa" đức tin.
Thông thường, khi ngủ mê, người ta mất liên lạc với thế giới chung quanh, các giác quan ra như đóng lại: tai không còn nghe thấy âm thanh, mắt không còn nhận ra màu sắc; không ngửi, khưng sờ, không nếm... Trong đời sống tâm linh cũng thế, khi linh hồn mê ngủ, người tín hữu sẽ không nhận ra tiếng nói của Chúa, sẽ đóng cửa lòng mình trước những đau khổ bất hạnh của cuộc đời; họ không nhận ra đâu là hạnh phúc đích thực và đâu là điều giả tạo cho chính mình. Đôi khi, phán đoán trở nên "thui chột, điếc lác"; và không còn có thể cảm nếm sự ngọt ngào của tình yêu, sự bình an của Thiên Chúa ban.
Làm thế nào để tỉnh thức đây?
Như một tách cà phê, một câu chuyện hấp dẫn, một cuộc đi dạo, một cuốn sách hay… có thể xua tan cơn buồn ngủ thể xác, thì việc cầu nguyện, đọc và suy niệm Lời Chúa, chia sẻ đức tin với các kitô hữu khác, giúp đỡ người bất hạnh… cũng có khả năng xua tan cơn ngủ mê tâm linh.
Nói khác, một đời sống tâm linh năng động hơn, có những mối tương giao tốt hơn… là thứ thuốc chống lại "cơn buồn ngủ tâm linh".
Như thế, có thể nói, tỉnh thức là khả năng cảm nhận Thiên Chúa trong cuộc sống hàng ngày; nhận ra những tín hiệu thân ái nơi anh chị em; và nghe thấy lời kêu gọi phải nỗ lực xây dựng một cuộc sống tốt hơn.
Chúng ta có thực sự đang tỉnh thức không?
Lạy Chúa Giêsu,
Chúa là chủ của đời con;
Ngày hôm nay Chúa đã đến trong tâm hồn
con qua bí tích Thánh Thể này;
tí nữa đây, Chúa vẫn đến với con
trong các anh chị em của con;
và ngày mai, ngày mốt,
có thể Chúa lại đến với con
trong những người đau khổ bên hàng xóm;
Xin cho con luôn tỉnh thức
để đón Chúa đến mỗi ngày.
Xin cho con biết mở tâm hồn,
để nhận ra Lời Cứu Độ Chúa nói với con.
 
 
 

MV1-A129: Thánh hóa từng giây phút sống

(Suy niệm của Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng)
 

Hôm nay chúng ta bắt đầu năm Phụng Vụ mới: năm Phụng vụ 2013-2014. Cùng với việc mừng “tết” MV1-A129

Hôm nay chúng ta bắt đầu năm Phụng Vụ mới: năm Phụng vụ 2013-2014. Cùng với việc mừng “tết” Phụng vụ, chúng ta cũng đồng thời bắt đầu bước vào mùa Vọng mới.
Mùa Vọng mang hai đặc tính thiết thực: 1. Mùa chuẩn bị mừng lễ Giáng sinh, kính nhớ việc Con Thiên Chúa nhập thể làm người. 2. Mùa mà qua cuộc kính nhớ ấy, mời gọi ta hướng lòng trông đợi Chúa Kitô đến lần thứ hai trong ngày tận thế.
Ngay ngày đầu mùa Vọng, cũng là ngày đầu năm, Hội Thánh, qua Lời Chúa, nhắc nhở ta tinh thần chuẩn bị sẵn sàng cho việc đón chờ ngày Chúa đến. Đó là ngày bất ngờ, ngày đáng sợ như đại lụt hồng thủy xưa:
“Thời ông Noê thế nào, thì ngày Con Người quang lâm cũng sẽ như vậy. Vì trong những ngày trước nạn hồng thuỷ, thiên hạ vẫn ăn uống, cưới vợ lấy chồng, mãi cho đến ngày ông Noê vào tàu. Họ không hay biết gì, cho đến khi nạn hồng thủy ập tới cuốn đi hết thảy. Ngày Con Người quang lâm cũng sẽ như vậy”.
Theo cách viết của thánh Matthêu, những người thời ông Noê chẳng làm gì nên tội. Họ chỉ làm những việc bình thường: “ăn uống, cưới vợ gả chồng”. Họ chết trong cơn nước lụt, không phải là vì họ có tội, mà vì họ không thánh hóa mọi giờ khắc, mọi công việc của mình.
Họ đã không làm mọi việc trong tinh thần cầu nguyện, trong lòng yêu mến Chúa. Đúng hơn, họ làm rất nhiều việc cho cuộc sống thể xác, nhưng không làm việc gì cho cuộc sống linh hồn cả. Họ đã không làm những việc phải làm. Ngược lại, họ chỉ làm những việc không cần thiết.
Chúa Giêsu nhắc nhở ta phải luôn sẵn sàng vì Người sẽ đến bất cứ lúc nào. Sự sẵn sàng của ta không như những người thời Noê, nhưng là theo ý Chúa dạy. Nghĩa là, giữa cuộc sống trần thế còn nhiều bộn bề, nhiều vất vả, lo âu, nhưng ta chỉ tin tưởng phó thác vào Chúa mà thôi. Ta tập cho mình dù làm gì, ở đâu, bất cứ thời gian nào, đều biết thánh hóa giây phút hiện tại, biết hiến dâng chính giờ này, việc này, hoàn cảnh này cho Chúa.
Đức Hồng Y Phanxicô Saviê Nguyễn Văn Thuận, con người của niềm hy vọng, đã nêu gương tuyệt hảo trong việc sống và thánh hóa giây phút hiện tại. Ngài nói: “Con chỉ có một giây phút đẹp nhất: giây phút hiện tại, sống trong tình yêu Chúa cách trọn vẹn; đời con sẽ tuyệt đẹp nếu kết tinh bằng từng giây phút đẹp nhất. Con thấy đơn sơ, không phải khó”. (Đường Hy vọng 997). Đức Hồng Y càng sống niềm hy vọng, ngài càng ra sức thánh hóa phút hiện tại.
Ngày 15/8/1975, vừa khi bị bắt, ngài hụt hẩng, cô đơn vì không còn được thực hành mục vụ của một chủ chăn giáo phận. Nhưng ngay sau đó, Đức Hồng Y nhận ra, một tù nhân như ngài, không thể chờ đợi bất cứ tương lai nào. Ngài quyết định: Chỉ có thánh hóa và sống giây phút hiện tại. Ngài đã làm cho phút hiện tại chất chứa đầy tình thương.
Quá khứ đã qua, tương lai còn phía trước, chỉ có hiện tại nằm trong tầm tay của ta. Phút hiện tại sẵn sàng đồng hành với ta, giúp ta thể hiện mọi tư tưởng, thi hành mọi hành động trong cuộc sống và cho cuộc sống.
Chính khi thăng hoa phút hiện tại bằng cách thánh hóa nó, ta càng cảm nhận bàn tay kỳ diệu của Chúa vẽ thẳng trên những đường cong qua mọi ngày đời ta.
Như Đức Hồng Y, đón nhận lời mời gọi hãy tỉnh thức của Chúa Giêsu, ta hãy triệt để thánh hóa và sống thật tốt giây phút hiện tại của mình. Dù phải trăn trở, vất vả, lo âu, lao nhọc, mồ hôi, nước mắt, ta vẫn thấy Chúa đang hiện diện với mình, và bản thân đang ở trước mặt Chúa, ở trong Chúa.
Sống với Chúa luôn luôn như thế, là ta đang chuẩn bị cho ngày Chúa đến, ngày mà Người mời gọi ta về với Người.
Sống với Chúa luôn luôn như thế, là ta đang sẵn sàng, đang tỉnh thức chờ đợi ngày của Chúa. Từng giây phút sống sẵn sàng và tỉnh thức, cho thấy ta đang sống mãnh liệt niềm hy vọng trong Chúa của mình.
Sống với Chúa mãnh liệt và triền miên như thế, ta không còn sợ ngày tận thế sẽ là ngày bất ngờ với ta, vì luôn luôn có Chúa, luôn luôn hiện diện trong Chúa, chẳng có gì là bất ngờ cả.
Lạy Chúa Giêsu, xin thương xót chúng con và tha thứ mọi tội lỗi, mọi thiếu sót mà trong một năm qua, chúng con đã xúc phạm đến Chúa, đến anh chị em của mình. Xin cho mỗi chúng con, bước vào năm Phụng vụ mới, biết ý thức từng giây phút sống, để chúng con luôn sống cho Chúa và sống trong Chúa. Xin cho chúng con luôn nhận tinh thần tĩnh thức, là sống thánh thiện, sống nhân đức, sống hiến dâng, sống phó thác làm phương cách chuẩn bị cho giờ ra đi của mình.

 

MV1-A130: Tỉnh thức và cầu nguyện

(Suy niệm của Lm. GB. Trần Văn Hào)
 

Mọi người chúng ta đều đã từng kinh qua kinh nghiệm về sự chờ đợi. Một người vợ thức đêm trằn MV1-A130

Mọi người chúng ta đều đã từng kinh qua kinh nghiệm về sự chờ đợi. Một người vợ thức đêm trằn trọc đợi chồng đi xa trở về. Đôi tình nhân đợi chờ giây phút hẹn hò bên nhau với bao rạo rực xao xuyến. Những bạn công nhân tha phương vẫn ngong ngóng đợi chờ ngày tháng qua mau để mong tết đến được về quê xum họp. Có những cuộc chờ đợi với bao xốn xang rộn rã, ngược lại cũng có những phút giây đợi chờ trong tuyệt vọng và chán chường. Dầu sao, bất cứ sự đợi chờ nào cũng làm cho thời gian như chùng lại, từng giờ từng khắc qua đi tựa như cả một thế kỷ dài đằng đẵng. Tất cả đều lệ thuộc vào tâm trạng và thái độ của những kẻ đợi chờ.
Mùa vọng là mùa chờ đợi, điều này ai cũng biết. Nhưng chờ đợi ai, chờ đợi những gì và mong đợi như thế nào, không phải ai cũng biết và thực hành. Các bài đọc Lời Chúa khởi đầu mùa vọng hôm nay sẽ gợi mở để giúp chúng ta thấu triệt những điều ấy.
Chờ đợi Đấng sẽ đến
Hạn từ Adventus (mùa vọng) mang chở ý nghĩa này. Người tín hữu chúng ta đang mong chờ, nhưng không phải chờ đón một biến cố hay một sự kiện sẽ xảy ra. Chúng ta chờ đợi một ‘Con người’. Con người đó là chính Đức Giêsu, Đấng Thiên Chúa làm người và cũng là Đấng Cứu thế. Ngài đã đến trần gian cách đây 2000 năm. Ngài cũng đang đến trong từng biến cố của cuộc sống đời thường chúng ta. Đồng thời Ngài sẽ đến, sẽ trở lại trong ngày chung thẩm để phán xử vũ trụ, khóa sổ trời cũ đất cũ và khai mở một trời mới và đất mới. Trong Tông huấn ‘Tiến về Thiên niên kỷ thứ ba’ (Tertio Milennio Adveniente), Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô 2 đã diễn tả cuộc lữ hành đức tin của chúng ta như một mùa vọng lớn. Mỗi khi cử hành Thánh lễ, Giáo hội khơi dậy cảm thức đức tin và thắp lên niềm hy vọng khi mời gọi chúng ta tuyên tín: “Lạy Chúa, chúng con loan truyền Chúa chịu chết và tuyên xưng Chúa sống lại cho tới khi Chúa đến”. Đức Kitô là đối tượng của đức tin, cũng là điểm quy chiếu của đức cậy giúp chúng ta canh tân mỗi ngày niềm hy vọng của những lữ khách trên con đường tiến về quê hương. Chúng ta vẫn hằng ngày cầu xin Chúa ban bình an, gìn giữ chúng ta khỏi vương tội lỗi, được an toàn giữa những biến loạn, đang khi mong đợi niềm hy vọng hồng phúc, và ngày trở lại của Chúa Giêsu Kitô Đấng Cứu độ chúng ta. Như vậy Giáo hội lữ hành hôm nay đóng vai một tân nương chờ đón đức lang quân của mình. Trong suốt mùa vọng, Giáo hội mượn lời kết trong sách khải huyền để dạy chúng ta thưa lên với Chúa tâm tình cầu nguyện: “Maranatha, lạy Chúa Giêsu xin hãy đến”.
Chờ đợi trong hi vọng
Trên thế giới ngày nay hiện có hai khối người đang sống cùng một niềm hy vọng chờ đợi, đó là tín hữu Do thái và các Kitô hữu. Người Do thái vẫn mong chờ Đấng Messia như lời các ngôn sứ đã loan báo, đặc biệt dựa vào lời tiên báo trong sách ngôn sứ Isaia, nhưng họ không tin nhận Đức Giêsu là Đấng Cứu thế. Còn đối với Kitô hữu chúng ta, Đức Giêsu Kitô chính là Đấng đã đến trần gian để quy tập dân Irael tản mác từ khắp bốn phương và khai lập một vương quốc mới, vương quốc của thời thiên sai. Ngài đã đến để thực hiện kế hoạch cứu độ, và ơn cứu độ này sẽ đạt đến viên mãn trong ngày Người trở lại lần thứ hai để khóa sổ vũ trụ. Mùa vọng là thời gian giúp chúng ta tái hiện tâm thức hy vọng trong chờ đợi. Niềm hy vọng chính là chìa khóa then chốt để chúng ta sống tinh thần của mùa phụng vụ này.
Một triết gia đã nói: “Một tôn giáo không đem lại cho ta niềm hy vọng, không phải là một tôn giáo đáng để chúng ta tin theo”. Đúng như thế, không có hy vọng, chúng ta sẽ bị nhấn chìm trong bóng tối của sự chết và hủy diệt. Một con người có thể sống mà chưa có tình yêu, nhưng không ai có thể tồn tại nếu không hy vọng mình sẽ biết yêu và sẽ được yêu. Trong những năm tháng tù ngục, Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận đã viết cuốn sách tựa đề ‘Con đường hy vọng’ để diễn tả cuộc hành trình đức tin trong những thời điểm đen tối nhất của cuộc đời Ngài. ‘Vui mừng và hy vọng’ cũng chính là khẩu hiệu Ngài chọn khi được tấn phong Giám mục. Niềm hy vọng Ngài nói đến không phải là một mơ ước hão huyền hay mông lung, nhưng đó là một trong ba nhân đức đối thần: Tin - Cậy- Mến, quy chiếu vào chính Đức Giêsu, Đấng đã đến để cho chúng ta được sống và sống dồi dào. Mỗi khi có dịp cử hành Thánh lễ một cách lén lút trong căn phòng chật chội và tối tăm của nhà tù, Ngài vẫn khơi lại nơi mình niềm hy vọng, đặc biệt khi cầm Mình Thánh Chúa trên đôi tay chai sạn với chiếc áo tù sờn cũ. Ánh sáng hy vọng đó là sức mạnh sâu xa, giúp Ngài vượt qua những ngày tháng đen tối nhất.
Cha Teilhard Chardin, một linh mục dòng Tên cũng đã viết: “Ngóng đợi là nhiệm vụ hàng đầu của Kitô hữu, và là nét nổi bật nhất để hiển thị đức tin. Người Kitô hữu luôn phải sống trong sự đợi chờ với niềm tin và hy vọng”. Thái độ chờ đợi của người tín hữu không phải là sự mỏi mòn trong tuyệt vọng giống như một tên tử tội khiếp sợ đợi chờ giây phút bị đem đi hành quyết. Trái lại, chúng ta hãy mặc lấy tâm tình của một cô dâu chờ đón chú rể đến giữa đêm khuya để tiến vào phòng cưới, tham dự ‘Tiệc Cưới Chiên Con’ cùng với Đấng đã chiến thắng tử thần và khải hoàn trong vinh thắng.
Chờ đợi trong tỉnh thức và sẵn sàng
Đây là sứ điệp mà cả ba bài đọc trong phụng vụ hôm nay nhắn gửi đến chúng ta. Trong phần kết luận của bài Tin mừng, sau khi tiên báo về ngày chung thẩm, Chúa Giêsu nhắc nhở: “Vậy anh em hãy canh thức vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em sẽ đến”. Đồng thời Chúa cũng khuyến mời chúng ta đừng ngủ mê trên chè chén say sưa hay những lo toan trần thế, giống như dân chúng thời Noe năm xưa. Trong bài đọc 2, Thánh Phaolô cũng nhắc nhớ dân thành Rôma phải ‘thức dậy’, đừng ngủ mê trên những việc làm đen tối, vì ngày cứu độ đang gần tới. Chúa đến để đem ơn cứu độ cho trần gian. Ơn cứu chuộc được dàn trải trên tất cả mọi người và Đức Giêsu đã tiến nhận cái chết để khai mở nguồn mạch cứu độ bất tận ấy. Nhưng hồng ân cứu độ chỉ thực sự hoàn tất khi Chúa đến lần thứ hai, khai mở trời mới đất mới và thiết lập vương quốc vinh hiển của Ngài. Vì vậy không chỉ trong mùa vọng kéo dài bốn tuần lễ, nhưng trong suốt cả mùa vọng lớn là trọn cuộc hành trình lữ thứ trần thế, chúng ta luôn phải sống với thái độ thức tỉnh và sẵn sàng.
Cách đây gần 30 năm, có một trận động đất dữ dội xảy ra tại California, Hoa kỳ. Một cô gái trẻ bị vùi lấp trong đống đổ nát, và người ta lập tức chuyển ngay cô vào bệnh viện. Trước đây cô ta sống trong một gia đình khá đạo đức, nhưng từ khi lấy chồng, sự giầu có đã làm cô gái lạc mất định hướng cuộc đời mình. Cô ta sống phóng túng như một kẻ vô thần. Nằm trên giường cấp cứu, cô gái cố gắng thu gom hết tàn lực cuối cùng để hỏi bác sĩ: “Liệu tôi có qua khỏi hay tôi còn sống được bao lâu nữa?” Bác sĩ thành thật nói với cô ta rằng ông cố gắng lắm chỉ giúp cô sống thêm được vài tiếng đồng hồ nữa thôi. Nghe nói thế, cô gái ôm mặt khóc nức nở và đau đớn thốt lên: “ Ôi muộn quá rồi”. Có lẽ rất nhiều người trong chúng ta cũng sẽ phải thốt lên câu này khi đối diện trước cái chết. Thánh Gioan Bosco vẫn tổ chức tĩnh tâm hàng tháng cho các học sinh và Ngài gọi đó là ‘Ngày dọn mình chết lành’. Đây không phải là một động thái mang tính tâm lý, nhưng là một việc thực hành trong đức tin. Chúa Giêsu cũng nói với chúng ta hôm nay: “Anh em hãy sẵn sàng vì chính lúc anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến.” ( Mt 24, 44 )
Chúng ta nhớ lại giai thoại về tướng quân Archais của Hy Lạp năm xưa. Ông là một vị tướng giỏi, đánh trận nào thắng trận đó. Sau một trận thắng lớn, ông khao quân lính một bữa tiệc thịnh soạn. Giữa cuộc vui, một sứ giả đem đến cho ông bức thư khẩn và báo tin là ông đang bị mưu sát để biết cách đề phòng. Thay vì mở thư ra đọc và cảnh giác, ông nhét thư vào túi, vẫn tiếp tục nhậu nhẹt và tự nhủ: “Thôi để mai hãy tính”. Ngay đêm đó, ông bị giết chết. Câu chuyện gợi nhắc sứ điệp mà các bài đọc Lời Chúa hôm nay mang chở. Những gì cần phải làm hôm nay, đừng để đến ngày mai.
Kết luận
Thánh Phanxico Salêsiô đã viết “Thời để sống là lúc chúng ta đi tìm kiếm Thiên Chúa. Thời để chết là lúc chúng ta đến gặp gỡ Ngài. Thời vĩnh cửu là lúc chúng ta sẽ chiếm hữu Ngài cách trọn vẹn”. Hôm nay chúng ta bắt đầu bước vào mùa vọng, một mùa vọng nhỏ trong một mùa vọng khác lớn hơn. Mùa vọng là thời gian chúng ta đi tìm kiếm Thiên Chúa và mong đợi Ngài đến. Chúa sẽ đến để đem ta đi vào vĩnh cửu trong sự hiệp thông và gắn kết trọn vẹn với Ngài. Nhưng, ngày mai bắt đầu từ ngày hôm nay. Trời mới và đất mới của ngày mai đang bắt đầu với cuộc sống hiện sinh của chúng ta tại đây và ngay bây giờ. Chúng ta sống làm sao thì sẽ chết như thế. Chúng ta hãy sống theo lời dạy của thánh Phaolô trong bài đọc 2 của phụng vụ hôm nay: “Anh em hãy ăn ở cho đúng đắn như người đang sống giữa ban ngày” (Rm 13,13). Sống giữa ban ngày là thời điểm có ánh sáng mặt trời soi chiếu. Xin ánh sáng của Đức Giêsu là mặt trời công chính luôn tỏa sáng trên tâm hồn mỗi người chúng ta.

 

MV1-A131: Suy niệm của Lm. Ignatiô Hồ Thông

Phụng Vụ Chúa Nhật I Mùa Vọng năm C này là Phụng Vụ của niềm hy vọng. Gr 33: 14-16  MV1-A131

Phụng Vụ Chúa Nhật I Mùa Vọng năm C này là Phụng Vụ của niềm hy vọng.
Gr 33: 14-16
Bài Đọc I là sấm ngôn của ngôn sứ Giê-rê-mi-a đã được một bàn tay vô danh sửa lại, hay nói đúng hơn, hiện tại hóa vào trong thời đại của mình, sau khi vương triều Đa-vít biến mất. Bản văn này chuyển niềm hy vọng Mê-si-a sang Giê-ru-sa-lem, thành đô của Thiên Chúa.
1Tx 3: 12-4: 2
Thánh Phaolô khuyên các Kitô hữu Thê-xa-lô-ni-ca sống trong tư thế sẵn sàng chờ đón ngày Đức Giêsu trở lại trong vinh quang bằng cách thực hành đức ái huynh đệ và thăng tiến trên con đường thánh thiện.
Lc 21: 25-28, 34-36
Tin Mừng được trích từ bài diễn từ của Đức Giêsu về ngày tận thế theo Tin Mừng Lu-ca. Đức Giêsu loan báo cuộc trở lại trong vinh quang của Ngài để khai mạc một thế giới mới; các tín hữu phải chờ đợi ngày này trong niềm tin tưởng chứa chan niềm hy vọng.
BÀI ĐỌC I (Gr 33: 14-16)
Bản văn Gr 33: 14-16 nầy lập lại sấm ngôn của Giê-rê-mi-a ở 23: 5-6, tuy nhiên đoạn cuối đã được một nhà biên soạn vô danh sửa lại sau này: thay vì “Thời bấy giờ, Giu-đa sẽ được cứu thoát, Ít-ra-en được sống yên hàn” (23: 6), thì lại “Trong những ngày ấy, Giu-đa sẽ được cứu thoát, Giê-ru-sa-lem sẽ được an cư lập nghiệp” (33: 16). Việc sửa lại này dâng hiến một lợi ích lớn lao về phương diện lịch sử cũng như tâm lý.
Ngôn sứ Giê-rê-mi-a công bố sứ điệp hy vọng này vào lúc triều đại Đa-vít biến mất trong một cơn phong ba bảo táp dữ dội và xem ra cuốn theo với triều đại này mọi lời hứa về Đấng Mê-si-a thuộc dòng dõi vua Đa-vít.
1. Bối cảnh lịch sử:
Bối cảnh lịch sử được định vị vào năm 597 trước Công Nguyên, khi vua Na-bu-cô-đô-nô-xo, vua Ba-by-lon, xâm chiếm Giê-ru-sa-lem và bắt vua Giơ-hô-gia-khin, hậu duệ của vua Đa-vít, và các thân hào nhân sĩ đi lưu đày; đoạn, mười năm sau đó cướp sạch thành thánh và triệt hạ Đền Thờ.
Trước khi tai họa xảy đến cho đất nước, ngôn sứ Giê-rê-mi-a đã lãnh nhận một sứ mạng khó khăn là báo trước cho các vị lãnh đạo và các thân hào nhân sĩ những biến cố bi thảm này, nếu họ không chịu thay đổi cách ăn nếp ở, thực hành công chính và trung tín với Đức Chúa. Nhưng khi những nỗi gian truân bất ngờ xảy đến, ngôn sứ Giê-rê-mi-a, từ ngôn sứ loan báo những tai họa trở thành sứ giả loan báo niềm hy vọng, khẳng định rằng không có gì mất cả; những lời hứa của Thiên Chúa liên quan đến dòng dõi vua Đa-vít không bị hủy bỏ.
“Này, sẽ đến những ngày” (biểu thức này ngôn sứ Giê-rê-mi-a rất tâm đắc, chắc chắn được mượn ở ngôn sứ A-mốt) Thiên Chúa sẽ cho mọc lên từ dòng dõi Đa-vít một “mầm non” (thuật ngữ này đã là một danh hiệu của Đấng Mê-si-a), Đấng này sẽ trị nước theo lẽ công minh chính trực. Ngôn sứ Giê-rê-mi-a kết thúc sấm ngôn của mình khi trao tặng cho hậu duệ Đa-vít tương lai danh hiệu “Đức Chúa là sự-công-chính-của-chúng-ta”, một trong những danh xưng biểu tượng mà các ngôn sứ thường sử dụng (từ “công chính”  được hiểu theo nghĩa Kinh Thánh là sự thánh thiện của Thiên Chúa).
2. Ý nghĩa của việc sửa lại.
Nhiều thế kỷ trôi qua, nền độc lập không còn được khôi phục và vương triều không còn được tái lập. Dân Thiên Chúa được tổ chức theo thần quyền, chung quanh các tư tế của họ và Đền Thờ Giê-ru-sa-lem được tái thiết. Vào lúc đó, sấm ngôn Giê-rê-mi-a được sửa lại. Vì thế ai xứng đáng đón nhận danh hiệu Mê-si-a “Đức Chúa là sự-công-chính-của-chúng-ta” này, nếu không là Giê-ru-sa-lem, một cách nào đó được nhân cách hóa? Không phải từ nay Thành Thánh là nơi độc nhất mà các lời hứa cứu độ được ký thác sao?
Các nhà chuyên môn có thể ghi niên biểu của việc sửa đổi này vào hậu bán thế kỷ thứ ba trước Công Nguyên, vì bản dịch Hy lạp, bản Bảy Mươi, không biết đoạn văn này. Ấy vậy, bản dịch nầy được thực hiện ở A-lê-xan-ri-a vào những năm 285-246 trước Công Nguyên.
Việc sửa đổi này rất có ý nghĩa. Vào thời đó, dòng dõi Đa-vít bị mất hút vào trong tập thể. Vị thượng tế lãnh nhận lễ xức dầu tấn phong thế vị vua. Trào lưu Mê-si-a vương đế và trào lưu Mê-si-a tư tế được nhập thành một. Thành Thánh Giê-ru-sa-lem là trung tâm độc nhất, dấu chỉ niềm hy vọng vĩnh hằng.
BÀI ĐỌC II (1Tx 3: 12-4: 2)
Thánh Phaolô viết Thư thứ nhất gởi các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca vào đầu năm 51, tức khoảng hai mươi năm sau cái chết của Đức Giêsu. Đây là một văn kiện Tân Ước lâu đời nhất .
Thánh Phaolô viết hai bức thư gởi cho các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca; trong cả hai bức thư, viễn cảnh quang lâm của Đức Giêsu là một trong những chủ đề chính, viễn cảnh nầy đem lại cho những lời khuyến dụ của thánh nhân một cung giọng khẩn thiết. Như vậy, đoạn trích thư này hòa hợp với hai bài đọc còn lại của Chúa Nhật I Mùa Vọng năm C này.
1. Bối cảnh:
Thánh Phaolô đã sáng lập Giáo Đoàn Thê-xa-lô-ni-ca vào năm 50. Thê-xa-lô-ni-ca là thành phố thương mại miền duyên hãi, thủ phủ của miền Ma-kê-đô-ni-a. Đây là thành phố thứ hai thuộc Châu Âu đón nhận sứ điệp Tin Mừng, sau thành phố thứ nhất là Phi-líp-phê (1Tx 2: 2). Việc thánh Phaolô rao giảng thành công đã khiến một nhóm người Do thái ghen tức, họ xúi dục một nhóm người chống đối thánh nhân dữ dội đến mức thánh nhân cùng với hai người bạn đồng hành là Xin-va-nô và Ti-mô-thê đang đêm phải vội vã trốn khỏi thành phố (Cv 17: 5-10). Thánh Phaolô ra đi mang theo nỗi bận lòng của ngài vì phải rời bỏ một giáo đoàn mà ngài vừa mới thành lập mà đức tin của họ vẫn còn non yếu. Vì thế, khi thời thế thuận tiện, thánh nhân đã phái ông Ti-mô-thê viếng thăm giáo đoàn Thê-xa-lô-ni-ca mà chính thánh nhân đã không thể. Khi trở về, ông Ti-mô-thê đem đến những thông tin đầy khích lệ: các tín hữu non trẻ vẫn “đứng vững trong Chúa” (Tx 3: 8), bất chấp những gian truân mà họ phải chịu. Lúc đó, thánh Phaolô ở Cô-rin-tô, với niềm vui và tâm tình cảm tạ tri ân, viết một bức thư chan chứa ân tình, thư thứ nhất gởi các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca.
Thư này gồm hai phần. Đoạn trích hôm nay là một bản lề: chúng ta đọc đoạn kết của phần thứ nhất (3: 12-13) và đoạn mở của phần thứ hai (4: 1-2).
2. Lời nguyện xin của thánh Phaolô:
Phần thứ nhất kết thúc với lời nguyện xin của thánh Phaolô (phần thứ hai cũng vậy). Qua những ngôn từ của lời nguyện xin này, thánh nhân nhắc nhở cho các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca nguyên tắc Kitô giáo tuyệt vời: “Xin Chúa cho tình thương của anh em đối với nhau và đối với mọi người ngày càng thêm đậm đà thắm thiết”. Giáo đoàn đa số là các Kitô hữu gốc lương dân, như mạch văn để cho thấy điều đó, nhưng chắc chắn cũng bao gồm những Kitô hữu gốc Do thái.
Trong Giáo Hội tiên khởi việc sống chung không là vấn đề, nhưng thánh nhân còn đi xa hơn: khuyên các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca không chỉ yêu thương nhau mà còn yêu thương hết mọi người, “ngày càng thêm đậm đà thắm thiết”, lời khuyên này vào hoàn cảnh đó thật quan trọng, tức là các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca phải yêu mến những người bách hại mình, dù phải chịu nhiều nỗi gian truân. Để nâng đỡ và khích lệ họ, thánh nhân nhắc họ nhớ lại tấm lòng mà ngài có đối với họ: “cũng như tình thương của chúng tôi đối anh em vậy”.
Luật yêu thương là con đường thánh thiện, “không có gì đáng chê trách, trước nhan Thiên Chúa là Cha chúng ta, trong ngày Đức Giêsu, Chúa chúng ta, quang lâm cùng với các thánh của Người”.
3. Ngày của Chúa:
Chúng ta ghi nhận rằng ngay từ bản văn Tân Ước đầu tiên này, Đức Giêsu được gọi là Chúa (Đức Chúa), danh xưng mà Cựu Ước dành riêng cho Thiên Chúa. Như vậy, các Kitô hữu tiên khởi đã khẳng định Thần Tính của Đức Giêsu. “Ngày của Chúa” mà các ngôn sứ đã loan báo nay được dùng để chỉ “ngày Quang Lâm”, nghĩa là ngày Đức Giêsu trở lại trong vinh quang cùng với “các thánh của Người”.
Các thánh này là ai? Theo truyền thống Do thái, nhất là truyền thống khải huyền, vào ngày chung thẩm, Đức Chúa được các thiên sứ đứng chầu chung quanh, thường được gọi “các thánh” (x. Dcr 14: 5). Các sách Tin Mừng vang dội lại truyền thống này: “Khi Con Người đến trong vinh quang của Ngài, có tất cả các thiên sứ theo hầu” (Mt 25: 31). Tuy nhiên, thánh Phaolô vừa mới gợi lên sự thánh thiện của các tín hữu, vì thế, không thể không nghĩ rằng thánh nhân liên kết sự hiện diện của những người được tuyển chọn với sự hiện diện của các thiên sứ.
4. Trong ngày của Đức Giêsu:
Đoạn văn này chỉ trích dẫn lời mào đầu của phần thứ hai thư gởi các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca (4: 1-2). Trong lời mào đầu này, thánh Phaolô khuyên bảo các tín hữu hãy kiên vững và thăng tiến trên con đường thánh thiện. Thánh nhân nhắc nhớ giáo huấn của ngài, khi xác định ngài đã truyền đạt cho họ những chỉ thị mà ngài “đã lấy quyền Chúa Giêsu”. Thánh nhân sẽ luôn luôn tự giới thiệu mình chỉ là người trung gian, sứ giả phàm nhân của lời Thiên Chúa.
Mặt khác, thật đáng chú ý là, ngay từ bản văn đầu tiên của thánh Phaolô, xuất hiện biểu thức thường được lập đi lập lại dưới ngòi bút của thánh nhân, biểu thức then chốt phản ảnh hồn tông đồ cũng như cuộc sống nội tâm của thánh nhân: “Nhân danh Chúa Giêsu”: “Nhân danh Chúa Giêsu, chúng tôi xin, chúng tôi khuyên nhủ anh em”. Xa hơn một chút, thánh nhân lập lại đến hai lần “Nhân danh Chúa Giêsu” (5: 12, 18). Phải sống, hành động, suy nghĩ, cầu nguyện “nhân danh Chúa Kitô”. Đây là cách thức duy nhất “làm vui lòng Thiên Chúa”.
TIN MỪNG (Lc 21: 25-28, 34-36)
 Năm Phụng Vụ khởi đầu và kết thúc trên viễn cảnh Đức Giêsu trở lại vào ngày tận thế để thiết lập Triều Đại của Ngài một cách vĩnh viễn và tôn vinh các thánh. Như vậy, vào Chúa Nhật trước, Lễ Chúa Giêsu Vua kết thúc năm Phụng Vụ, năm B, chúng ta đã cử hành vương quyền hoàn vũ của Đức Giêsu. Vào Chúa Nhật I Mùa Vọng này, chúng ta lấy lại sự gợi ý tương tự, nhưng trong viễn cảnh Giáng Sinh. Đức Giêsu đã trở thành phàm nhân và đã hội nhập vào trong cuộc sống nhân loại để hướng dẫn nhân loại đến vận mệnh siêu nhiên của Ngài; Ngài sẽ hoàn thành công trình của mình vào ngày Quang lâm. Tương ứng với sự yếu đuối và khiêm hạ của biến cố Bê-lem lại là quyền năng và sự cao cả của việc “Con Người ngự đến”.
1. Bối cảnh:
Cũng như thánh Mác-cô và thánh Mát-thêu, thánh Lu-ca đặt bài diễn từ về ngày Quang Lâm của Đức Giêsu vào lời giáo huấn sau cùng của Ngài ở Giê-ru-sa-lem, không bao lâu trước cuộc Thương Khó của Ngài. Chúng ta đọc phần cuối của bài diễn từ này.
Trong cả ba Tin Mừng nhất lãm, Chúa Giêsu công bố bài diễn từ này vào dịp Ngài rao giảng về sự sụp đổ Đền Thờ Giê-ru-sa-lem “không còn tảng đá nào trên tảng đá nào” (Lc 21: 6). Viễn cảnh này làm xao xuyến các môn đệ đến độ các ông liên kết nó với viễn cảnh ngày tận thế. Về phần mình, thánh Lu-ca cẩn trọng ghi nhận giữa hai biến cố này có một thời kỳ trung gian, “thời kỳ dân ngoại” ở 22: 24 ngay trước đoạn trích này: “Họ sẽ ngã gục dưới lưỡi gươm, sẽ bị đày đi khắp các dân các nước, và Giê-ru-sa-lem sẽ bị dân ngoại giày xéo, cho đến khi mãn thời của dân ngoại”.
Ở nơi thánh Mác-cô và thánh Mát-thêu, Đức Giêsu công bố diễn từ này trên núi Ô-liu, khi ngỏ lời với các môn đệ, hay chỉ một nhóm nhỏ, theo Mác-cô. Thánh Lu-ca định vị nó vào ở trung tâm Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, nơi mà việc sụp đổ sắp xảy ra (thành thánh Giê-ru-sa-lem và Đền Thờ luôn luôn là trọng tâm của những viễn cảnh sách Tin Mừng Lu-ca). Bên kia các môn đệ, Đức Giêsu ngỏ lời với đám đông; như vậy thành thánh Giê-ru-sa-lem nghe công bố ngày Quang Lâm của Đấng mà nó sẵn sàng giết chết.
2. Truyền Thống Kinh Thánh:
Trong Kinh Thánh, những điềm báo về việc Thiên Chúa can thiệp dứt khoát trong lịch sử, đề tài này xuất hiện rất sớm. Ví dụ như Đức Chúa gieo rắc sự kinh hoàng tại đất Ai-cập trước khi giải phóng dân Ngài (Xh 7: 14-11: 8). Đức Giêsu loan báo ngày tận thế theo cùng tiến trình: “Người ta sợ đến hồn xiêu phách lạc”, trong khi những người công chính “đứng thẳng và ngẩng đầu lên”.
Những điềm trời thường được các ngôn sứ sử dụng để loan báo những án phạt của Thiên Chúa trên các dân ngoại áp bức dân Ít-ra-en, cũng như trên chính dân Chúa chọn khi dân bất trung hay bất chính như Is 13: 10: “Quả vậy, tinh tú bầu trời và các chòm sao sẽ không chiếu sáng nữa, mặt trời vừa mọc lên đã tối sầm, mặt trăng sẽ không còn tỏa sáng”.
Khởi đi từ thế kỷ thứ hai trước Công Nguyên, các sách khải huyền phóng đại những mô tả này bằng những cảnh tượng huyền hoặc được gợi hứng từ Phương Đông (điều này đã để lại dấu vết trên sách Khải Huyền của thánh Gioan). Thể loại văn chương này đưa vào trong Do thái giáo một trào lưu suy luận rộng lớn về “thế giới tương lai” và “kỷ nguyên cánh chung”. Vào thời Đức Giêsu, người ta rất quan tâm đến vấn đề này; chúng ta cũng có thể nói rằng vào lúc đó nhiều thế hệ đã sống trong niềm mong đợi ngày tận thế. Nhiều người Kitô hữu gốc Do thái sống trong niềm mong đợi ngày Quang Lâm của Đức Kitô.
3. Con Người ngự đến:
Thánh Lu-ca gợi lên những hình ảnh truyền thống và quy ước về những xáo động trên đất và biển như khúc dạo đầu “Ngày của Chúa”, vì những hình ảnh nầy diễn tả những vùng vẫy sau cùng của những quyền lực sự ác trước khi chúng bị tiêu diệt; nhưng thánh ký không chú tâm đến những hình ảnh này; ông ngỏ lời với quần chúng ít quen thuộc với thể loại văn chương khải huyền Do thái. Tất cả từ vựng này được sử dụng cốt nhấn mạnh quyền tối thượng của Đấng “ngự trong đám mây mà đến”.
Đức Giêsu đã loan báo nhiều lần rồi cho các môn đệ Ngài cuộc trở lại đầy quyền năng và vinh quang của Ngài dưới danh xưng Con Người; ở đây Ngài đặt cách diễn tả vào trong bối cảnh gốc của nó hầu như theo sát nguyên văn, thị kiến của ngôn sứ Đa-ni-en: “Có ai như một Con Người đang ngự giá mây trời mà đến” (Đn 7: 13). Do đó, danh hiệu mà Đức Giêsu tự nhận cho mình được khám phá với tất cả trương độ ý nghĩa của nó. Như Con Người trong thị kiến của ngôn sứ Đa-ni-en là thủ lãnh “dân thánh của Đấng Tối Cao”, Đức Giêsu mang lấy vận mệnh nhân loại. Vinh quang của Ngài cũng sẽ là tôn vinh tất cả những ai đã tin vào Ngài.
4. Bức tranh bộ đôi:
Thánh Lu-ca đặc biệt nhạy bén trước chiều kích con người về tấn thảm kịch sau cùng; thánh ký đặt hai bức tranh đối lập với nhau: bức tranh về quân vô đạo (chư dân) “sợ đến hồn xiêu phách lạc” và bức tranh về các tín hữu phát hiện giờ mình được cứu độ, giờ mình được giải thoát. Nói cách chính xác, nếu thánh ký không mô tả cuộc quy tụ những người được tuyển chọn, thì những từ ngữ ông sử dụng có một âm vang rất ý nghĩa: “đứng thẳng”, “ngẩng đầu lên”, diễn tả tư thế của những người được sống lại.
5. Biến cố bất ngờ:
Đức Giêsu không bác bỏ những hình ảnh của văn chương khải huyền; nhưng Ngài đề nghị miêu tả Triều Đại của Ngài theo một cách thức khác, khi dựa trên một truyền thống tuy ít được chứng thực nhưng phổ biến: Ngày Quang Lâm của Ngài xảy đến bất ngờ không có dấu hiệu nào báo trước; nó thình lình giáng xuống địa cầu. Đức Giêsu đã gợi lên rồi viễn cảnh này ở nơi các dụ ngôn kêu gọi sự tỉnh thức của Ngài: “Anh em cũng vậy, hãy sẵn sàng , vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến” (Lc 12: 40) và ở nơi việc Ngài so sánh Triều Đại của Ngài với trận đại hồng thủy xảy đến bất ngờ: “Vì ánh chớp lòa chiếu sáng từ phương trời này đến phương trời kia thế nào, thì Con Người cũng là như vậy trong ngày của Người” (Lc 17: 20). Ở đây, Đức Giêsu sử dụng hình ảnh “chiếc lưới bất thần chụp xuống đầu” mà ngôn sứ I-sai-a đã dùng: “Nào kinh hoàng, nào hố sâu, nào dò lưới đang chờ đợi ngươi, hỡi cư dân trái đất” (I s 24: 17). Khi căn dặn các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca, thánh Phaolô cũng theo truyền thống như vậy: “Vì chính anh em đã biết rõ: ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm ban đêm” (1Tx 5: 2), điều nầy không loại trừ thời kỳ gian nan khốn khó sau cùng: “Nhưng ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm. Ngày đó, các tầng trời sẽ ầm ầm sụp đổ, ngũ hành bốc cháy tiêu tan, mặt đất và các công trình trên đó sẽ bị thiêu hủy” (2Pr 3: 10).
6. Tỉnh thức và cầu nguyện:
Đức Giêsu đặt hai truyền thống này bên cạnh nhau: một truyền thống đặt dấu nhấn trên chiều kích hoàn vũ của biến cố, còn truyền thống kia – không loại trừ chiều kích hoàn vũ này – nhấn mạnh sự gặp gỡ thân tình của mỗi cá nhân với Chúa. Từ đó, Đức Giêsu mời gọi hãy tỉnh thức và cầu nguyện. Thánh Lu-ca không bao giờ quên tầm quan trọng của việc cầu nguyện; thánh nhân là thánh ký thường hằng ghi nhận tầm quan trọng quan trọng của lời cầu nguyện trong cuộc đời của Đức Giêsu.
“Anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn”, đây là lời căn dặn sau cùng của Đức Giêsu cho các môn đệ của Ngài; Ngài sẽ lập lại vài giờ sau này ở vườn Ô-liu…

 

MV1-A132: Tỉnh để chờ – Anmai

Chắc ai trong chúng ta cũng đã hơn một lần chờ xe, chờ đò, chờ máy bay ... Kỷ niệm lại về khi MV1-A132

Chắc ai trong chúng ta cũng đã hơn một lần chờ xe, chờ đò, chờ máy bay ...
Kỷ niệm lại về khi nhớ về ngày xưa ở vùng ven biển. Muốn đến nơi cần đến phải qua 2 chuyến phà. Chuyến phà thứ nhất ngày xưa như thế này, vì sợ hao xăng hao dầu nên chạy cầm chừng và rồi những chuyến đò ngang được cập bến phà để chở thêm người ngoài, vừa nhanh vừa tiện. Thế nhưng từ khi báo động đến mức nguy hiểm khi dùng đò ngang đi qua đoạn sông hơn một cây số thì tất cả đò ngang đều bị cấm, Thế là chỉ còn phương tiện duy nhất là phà. Nếu tạm gọi là may mắn vừa chuyến phà thì kịp lên, bằng không thì đành phải đợi. Hôm nào rơi vào ngày Tết ngày Lễ thì lượng người đi tăng gấp đôi ba lần. Như vậy thì chỉ đành chờ và chờ. Tâm trạng người chờ thì lúc nào cũng sốt ruột không biết khi nào đò sang để qua bờ bên kia.
Chờ đò là như thế, chờ xe cũng chẳng khác gì. Vài lần, anh em đi chung với nhau nhưng chẳng hiểu sao có vài anh ngủ quên cả dậy nên xe đã lăn bánh. Thế là lọ mọ dậy và chỉ còn cách duy nhất là ra bến để tìm phương tiện đến nơi cần đến.
Chỉ cần mất tỉnh thức một chút thì lỡ chuyến xe và lỡ chuyến đó. Chuyện này hết sức thực tiễn trong cuộc đời con người.
Mới đây thôi, từ Phát Diệm về Hà Nội để về lại Sài Gòn làm tôi phải sôi ruột. Cơm trễ, 1 giờ trưa khởi hành về Hà Nội, trong khi đó chuyến bay về lại Sài Gòn cất cánh lúc 5 giờ. Quán ăn từ Phát Diệm về Hà Nội khoảng hơn tám mươi cây số nhưng sợ cảnh kẹt xe. 3 giờ kém xe về đến quận Đống Đa. Chờ 10 phút, xe đưa tôi vào sân bay. Vừa ra đường Nguyễn Lương Bằng thì chuyện không mong nó vẫn đến là kẹt xe. Xe này nối xe kia một hàng dài. Thoát khỏi cảnh kẹt xe, tài xế biết gần đến giờ bay nên tăng tốc. Đến sân bay thì hỡi ôi một hàng dài đang chờ để Hải Quan kiểm tra. Đến lượt mình cũng là người cuối cùng bước chân vào máy bay. Một tí nữa coi như phải ở lại Hà Nội để chờ đến ngày mai mới được vào Sài Gòn. Một hành trình đầy kinh hãi!
Ngày hôm nay, bước vào Chúa nhật đầu tiên của mùa Vọng. Sống tâm tình mùa Vọng là chờ mong, đợi chờ Thiên Chúa đến trong cuộc đời chúng ta.
Chúa Giêsu ngày hôm nay mời gọi các môn đệ cũng chính là mời chúng ta sống tâm tình tỉnh thức để đợi Chúa đến.
Trong tâm tình nhắc nhở này, Chúa Giêsu nhắc lại hình ảnh của gia đình ông Nôê ở Cựu Ước. Được báo là sẽ có một trận lụt hồng thủy đến trên mặt đất này để rồi ông Nôê và gia đình ông chuẩn bị đóng một con tàu thật lớn để lên đó tránh lụt. Như lời tiên báo căn dặn, ông đã làm tất cả những gì cần thiết và sẵn sàng để "đối phó" với cơn đại hồng thủy sắp đến. Trong khi đó, những người khác cùng sống cùng thời với ông vẫn cứ vui vẻ để sống chứ không hề bận tâm chuyện gì cả.
Chuyện gì đến sẽ đến. Như trong lời báo, nước ngày mỗi ngày một dâng cao. Và, dĩ nhiên là những ai lên tàu, thậm chí súc vật mới được sống sót sau trận lụt hồng thủy kinh hoàng.
Chuyện hồng thủy trong đời ông Nôê cũng chỉ là cảnh lụt lội. Sau cơn mưa trời lại sáng, sau bão lũ thì mọi sự cũng sẽ trở lại bình thường và con người số gắng lao nhọc để kiếm sống từ hai bàn tay trắng. Dù phải làm lại từ đầu, dù phải xuất phát điểm từ hai bàn tây trắng nhưng con người còn có cơ hội sống để làm lại từ đầu. Những người thời ông Nôê bị cơn lụt cuốn trôi thì muốn làm lại từ đầu như gia đình ông Nôê cũng không làm được vì tất cả đã chết.
Sao bão tố, sau thiên tai con người còn có thể sống. Như những nạn nhân trong cơn bão dữ để đời ở Philippines là một bằng chứng hết sức cụ thể. Còn lại 5 người gia đình người Việt sống trong vùng tâm bão sống sót. Những người này rơi vào cảnh hai bàn tay trắng và phải làm lại từ đầu. Giờ này, họ cũng chẳng mong gì khác ngoài thực phẩm để cứu sống họ sau những ngày tan thương này chứ cũng chưa nghĩ rằng phải vực lại nền kinh tế như xưa. 5 người này may mắn hơn cả ngàn người khác vì họ đã qua đi ngay khi bão đến.
Cuộc đời mỗi người chúng ta cũng thế, chúng ta không chỉ là được báo trước như ông Nôê hay dự báo bão dữ như những cơn bão năm này qua năm khác ập đến. Không phải báo trước mà là thân phận con người đến một ngày nào cũng phải kết thúc.
Chúa Giêsu nói thẳng chứ không mấp mé, không hoa mỹ, không gợi hình gợi ý gì cả. Chúa Giêsu nói thẳng luôn là trong khi hai người đang xay bột thì có một người bị đem đi và một người ở lại, có người đang trồng lúa thì cũng sẽ một người được ở lại.
Chân lý này không ai có thể phủ nhận được vì lẽ ngày mỗi ngày đều diễn ra cái sự thật này, cái chân lý này.
Nếu đến Từ Dũ, chúng ta sẽ thấy nhiều và thật nhiều bà mẹ đang quằn quại trong cơn đau để sinh hạ đứa con yêu của mình. Và, nếu chúng ta đến Đa Phước hay Bình Hưng Hòa, chúng ta sẽ bắt gặp đoàn xe tang nối đuôi nhau đưa người quá cố lên đài hỏa táng. Nhìn như thế, gặp như thế và rồi một ngày nào đó ta cũng như thế chứ không sai.
Chúa Giêsu, trong tâm tình giờ người làm ruộng và người xay bột bị mang đi đó, mời gọi con người, mỗi người, nhất là những người có niềm tin phải tỉnh tức.
Chuyện quan trọng nhất của đời người đó là tỉnh thức. Lý do để chúng ta luôn canh thức là “vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em sẽ đến”. Sự kiện Chúa sẽ đến trong cuộc quang lâm là một thực tại chắc chắn, nhưng đồng thời đó cũng là một thực tại sẽ xảy đến hoàn toàn bất ngờ, vượt ra bên ngoài những dự đoán hay hiểu biết chính xác của con người.
Ngày mỗi ngày, chúng ta vẫn “xay bột”, vẫn “làm ruộng”, tức là vẫn sống trong các thực tại bình thường hằng ngày của cuộc sống con người, nhưng bên trong phải là một sự canh thức đích thực, tức là một sự tham dự thật sự vào số phận và mầu nhiệm của Đức Giêsu. Đó mới là điều quan trọng.
Để minh họa cho tính chất bất ngờ đó của cuộc quang lâm, Chúa Giêsu kể dụ ngôn kẻ trộm đêm khuya: “Anh em hãy biết điều này: nếu chủ nhà biết vào canh nào kẻ trộm đến, hẳn ông đã canh thức, không để nó khoét vách nhà mình” (24, 43). Tân Ước vẫn thường dùng hình ảnh kẻ trộm để nói về tính chất bất ngờ của ngày Chúa đến (1 Tx 5,2; 2Pr 3,10; Kh 3,3; 16,15). Vì tính chất bất ngờ này, các đồ đệ của Chúa được yêu cầu phải luôn luôn hiện diện trong tư thế sẵn sàng đối diện với biến cố đó (c.44), tức là luôn hiện diện một cách tròn đầy trong từng phút giây hiện tại trong sự liên kết mật thiết với cuộc vượt qua của chính Đức Kitô Giêsu. Cuộc quang lâm của Chúa là biến có cứu độ, vì Ngài ngự đến để tập hợp những người được tuyển chọn ( 24, 31), và khi ấy, “kẻ nào bền chí đến cùng kẻ ấy sẽ được cứu độ” (24, 13).
Chúa Giêsu kết luận: “Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em sẽ đến. Anh em hãy biết điều này: nếu chủ nhà biết vào canh nào kẻ trộm đến, hẳn ông đã canh thức, không để nó khoét vách nhà mình.44 Cho nên anh em cũng vậy, hãy sẵn sàng, vì vào chính giờ phút anh em không ngờ, Con Người sẽ đến” (Mt 24.42-44).
Căn cốt của trang Tin Mừng hôm nay là động từ “canh thức” trong câu 42. "Canh thức" có nghĩa là không ngủ, là tỉnh thức. Động từ này xuất hiện trong trình thuật về Chúa Giêsu trong vườn Dầu (26, 38.40.41). Nó diễn tả sự liên đới và đồng nhất hóa với cái chết mà Chúa Giêsu trải qua trong chiều sâu kinh hoàng thật sự của cái chết cứu độ đó. Vậy đây không chỉ là sự không mê ngủ, mà còn là sự nên một với Chúa Giêsu trong mầu nhiệm vượt qua của Ngài. Đây chính là tâm tình lời mời gọi của Chúa Giêsu mời các môn sinh của Ngài cũng như mời gọi mỗi người chúng ta: “Anh em hãy canh thức”.
"Canh thức" như Chúa Giêsu mời gọi có nghĩa là ngồi đó thức và chờ đợi chứ không làm gì cả. Thái độ, tâm tình như thế là tâm tình tiêu cực, tâm tình bi quan và chẳng có ý nghĩa gì với ta cả.
Tâm tình "canh thức" được Thánh Phaolô mời gọi rất rõ qua đoạn thư của Ngài: " ... vì anh em biết chúng ta đang sống trong thời nào. Đã đến lúc anh em phải thức dậy, vì hiện nay ngày Thiên Chúa cứu độ chúng ta đã gần hơn trước kia, khi chúng ta mới tin đạo. Đêm sắp tàn, ngày gần đến. Vậy chúng ta hãy loại bỏ những việc làm đen tối, và cầm lấy vũ khí của sự sáng để chiến đấu. Chúng ta hãy ăn ở cho đứng đắn như người đang sống giữa ban ngày: không chè chén say sưa, không chơi bời dâm đãng, cũng không cãi cọ ghen tương. Nhưng anh em hãy mặc lấy Chúa Giêsu Kitô, và đừng chiều theo tính xác thịt mà thoả mãn các dục vọng.
Xin cho chúng ta sống tâm tình "canh thức" như Thánh Phaolô mời gọi để bất cứ khi nào Chúa đến với đời ta, ta sẵn sàng đón chờ Chúa và Chúa đưa ta vào hưởng hạnh phúc Quê Trời với Ngài.

 

MV1-A133: Để Chúa đến trong cả cuộc đời

(Suy niệm của Lm Giuse Nguyễn Hữu An)
 

Bài đọc 1 trích sách Ngôn sứ Isaia: "Người sẽ đứng làm trọng tài giữa các quốc gia và phân xử MV1-A133

Bài đọc 1 trích sách Ngôn sứ Isaia: "Người sẽ đứng làm trọng tài giữa các quốc gia và phân xử cho muôn dân tộc. Họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày, rèn giáo mác nên liềm nên hái. Dân này nước nọ sẽ không còn vung kiếm đánh nhau, và thiên hạ thôi học nghề chinh chiến. Hãy đến đây, nhà Gicop hỡi, ta cùng đi, nhờ ánh sáng Đức Chúa soi đường" (Is 2,1-5).
Ngôn sứ Isaia ước mơ về một tương lai thế giới hoà bình, không còn đánh nhau, không còn chinh chiến nữa, gươm đao giáo mác trở nên liềm hái làm dụng cụ lao động. Bức tranh về một nền hoà bình tuyệt đẹp: sói với chiên con sẽ cùng nhau ăn cỏ, sư tử cũng ăn rơm như bò (Is 65,25), trẻ con thọc tay vào hang rắn lục ...
Isaia hướng nhân loại về niềm hy vọng: Này đây Ta sáng tạo trời mới đất mới, không còn ai nhớ đến thuở ban đầu và nhắc lại trong tâm trí nữa. Nhưng thiên hạ sẽ vui mừng và luôn mãi hỷ hoan (Is 65,17-18).
Khát vọng của Ngôn sứ Isaia cũng như của nhân loại ngàn đời là một nền hoà bình vĩnh cữu. Chính trong niềm khát vọng ấy mà Tu sĩ Hermann Schaluck, Ofm đã ước mơ đến: Trình Thuật Mới Về Công Việc Sáng Tạo:
- Và Thiên Chúa nhìn thấy cách thức loài người khắp cõi trần, từ Đông sang Tây, từ Nam chí Bắc, không phân biệt nòi giống, nam nữ, đang khởi công liên hệ cùng nhau cách chân tình. Các dân tộc tự chọn giữa họ những người nam nữ tốt lành nhất và gởi họ tới lâu đài trứ danh bằng kính trên hòn đảo Manhattan (Trụ sở Liên Hiệp Quốc), nơi mở cửa đón tiếp tất cả các quốc gia hoàn cầu. Tại đây, họ lắng nghe đối thoại thân mật, thông cảm lẫn nhau và khai triển những dự án cộng đồng.
Và Thiên Chúa phán: "Như thế là tốt". Và đây là ngày đầu tiên của kỷ nguyên mới.
- Và Thiên Chúa nhìn thấy cách các chiến sĩ hoà bình tách biệt các đạo quân đang lâm chiến với nhau, các tranh chấp được dàn xếp bằng lẽ phải và điều đình, chứ không phải bằng khí giới. Các nhà lãnh đạo quốc gia biết lắng nghe tiếng nói của các dân tộc, biết cùng nhau khởi sự coi trọng lợi ích toàn cầu và hoà bình thế giới kết hợp với lợi ích riêng biệt.
Và Thiên Chúa phán: "Như thế là tốt". Và đó là ngày thứ hai của hành tinh mới.
- Và Thiên Chúa nhìn thấy cách loài người bắt đầu yêu chuộng và bảo vệ thay vì khai thác tạo vật: bầu khí quyển với lớp ozon, nước sông, nước biển, trái đất và nguyên liệu cũng như tất cả những gì sinh sống và phát triển tại đó. Và Thiên Chúa cũng thấy rằng bắt đầu loài người không còn thống trị và khai thác lẫn nhau, nhưng tự coi là con một Cha duy nhất và đối xử đồng đều với nhau.
Và Thiên Chúa phán: "Như thế là tốt". Và đó là ngày thứ ba của kỷ nguyên tư tưởng mới.
- Và Thiên Chúa thấy cách loài người khắp hoàn cầu khởi công khám phá và loại trừ các nguyên nhân gây nên đói khát, bệnh tật, dốt nát và nghèo đói bất công. Họ khởi sự san sẻ cùng nhau những gì thuộc về tất cả và vì lợi ích chung và sự sống còn của toàn cầu, họ khởi sự xem xét các khía cạnh tích cực và quan điểm chung của các dân tộc và tôn giáo.
Và Thiên Chúa phán: "Sự việc phải như vậy". Và đó là ngày thứ tư của cuộc sáng tạo mới.
- Và Thiên Chúa thấy cách loài người, với một ý thức hoàn hảo, có trách nhiệm chứ không vì ham muốn quyền lực, khởi sự sử dụng tài nguyên thiên nhiên được giao phó cho mình, đặc biệt là chất đốt rút ra từ lòng đất và năng lượng nguyên tử. Thiên Chúa thấy cách lương tâm họ luôn thức tỉnh thúc đẩy họ tự vấn xem lại các dự án mới mà họ định nghiên cứu có thích hợp với việc phục vụ Thiên Chúa và nhân loại không. Họ từ bỏ ương ngạnh để chủ trương tế nhị, từ bỏ tham lam để chủ trương không vụ lợi, ích kỷ cá nhân và quốc gia để chủ trương tinh thần liên đới.
Và Thiên Chúa phán: "Như thế là tốt". Đó là ngày thứ năm của một thế giới nhân đạo hơn.
- Và Thiên Chúa thấy cách loài người năm châu khởi sự tháo gỡ và phá bỏ các dàn phóng hoả tiễn, các kho bom đạn, vũ khí hoá học, vi trùng cũng như các vệ tinh do thám và hệ thống truy tầm, giải phóng quân đội và vì thế phổ biến trong học đường và chương trình giáo dục những mô hình sư phạm về hoà bình minh bạch và hữu hiệu đến nỗi các cuộc tranh chấp có thể được giải quyết bằng đường lối hoà bình.
Và Thiên Chúa phán: "Tất cả như thế là tốt". Đó là ngày thứ sáu của một bầu trời mới.
- Và Thiên Chúa nhận thấy cách loài người bắt đầu tái nhận biết Ngài nơi mọi sự, Ngài, Thiên Chúa hằng yêu quý sự sống. Họ coi cuộc tranh đấu cho sự sống, cho phẩm giá và cho việc nhìn nhận quyền lợi mỗi cá nhân là một việc phụng vụ Thiên Chúa. Và mỗi lần một trong những ý thức hệ họ sụp đổ, lúc thảo lại một hiến pháp mới, họ ghi vào đó rằng: Ta đừng bao giờ quên lãng Thiên Chúa là nguồn gốc và tận cùng một thế giới công bình và nhân đạo. Và họ nhìn nhận con người được sống và được giải phóng là dấu chỉ của Thiên Chúa trong lịch sử.
Và Thiên Chúa phán: "Bây giờ, tất cả đều trở nên tốt lành". Đó là ngày thứ bảy của việc sáng tạo hoàn cầu. Từ đây hoàn cầu đồng thuộc về nhân loại mới và Thiên Chúa.
Một nền hoà bình đích thực dẫn đưa con người đến "trời mới, đất mới" (Kh 21,1) hiệp thông với Đấng là sự Thật và là Sự Sống. Loại bỏ những việc làm đen tối (Rm 13,13), mặc lấy Chúa Giêsu Kitô (Rm 13,14), nhân loại sẽ xây dựng được nền hoà bình vĩnh cửu. Niềm hy vọng một nền hòa bình vĩnh cửu gắn liền với lòng tin vào Đức Giêsu Kitô, Đấng cứu độ nhân loại bởi lẽ: Kitô giáo là tôn giáo của hy vọng vì dựa trên lời hứa của Thiên Chúa. Thiên Chúa hứa và Ngài sẽ thành tín thực hiện lời hứa. Thiên Chúa thực hiện từng giai đoạn và ngày càng trọn vẹn hơn. Vì thế người Kitô hữu luôn hướng về tương lai chờ đợi lời hứa cứu độ đã được thực hiện trong lịch sử và sẽ hoàn tất sau lịch sử. Chờ đợi hướng về tương lai tức là hy vọng. Hy vọng luôn gắn liền với lòng tin. Không có đức tin hy vọng chỉ là ảo tưởng. Không có hy vọng đức tin sẽ chết khô. Nhờ đức tin chúng ta chọn đúng hướng. Nhưng chỉ có hy vọng mới làm cho ta đi tới cùng đường.Thiên Chúa hy vọng vào con người là để cho con người được hy vọng vào Thiên Chúa, và bởi Thiên Chúa luôn hy vọng vào con người qua những đường đến bất ngờ, nên con người chỉ có cách là hy vọng vào Thiên Chúa qua niềm tỉnh thức không mỏi mệt của mình.
Thiên Chúa là Sự Sống, là Tình Yêu. Đức Giêsu Kitô, Ngôi Lời Thiên Chúa làm Người. Đức Giêsu Kitô chính là Tin Mừng Sự Sống và Tình Yêu.Tin Mừng cứu độ mà Đức Giêsu loan báo cho loài người là Tin Mừng Sự Sống, Tin Mừng Tình Yêu. Ngài luôn mời gọi mọi người thiện tâm chung sức kiến tạo nền văn hoá sự sống và văn minh tình thương.
Năm Phụng Vụ khởi đầu bằng Mùa Vọng. Bài thánh ca quen thuộc ngân vang trong những sinh hoạt đạo đức hàng ngày: Xin cho lòng chúng con luôn mở rộng chờ mong Chúa đến, xin cho lòng chúng con luôn thắm đượm một tình yêu mến, xin cho lòng chúng con luôn ước ao, luôn khát khao, một thế giới sướng vui dạt dào, một thế giới không còn khổ đau.... để Chúa đến trong cuộc đời, để Chúa đến mang ơn trời, nguồn hạnh phúc cho con người, nguồn cứu rỗi cho mọi nơi...
Để đón chờ Chúa đến, cần phải tỉnh thức và cầu nguyện. Chúa Giêsu dạy trong trang Tin Mừng: ngày Con Người đến thật bất ngờ: vào ngày nào, giờ nào không một ai biết. "Lúc Con Người đến" chính là ngày tận thế, ngày Chúa quang lâm, và cũng chính là giờ chết của mỗi người. Ngày ấy chắc chắn phải đến, nhưng nó lại đến một cách bất ngờ. Bất ngờ như trận lụt đại hồng thủy thời ông Noê. Bất ngờ như hai người đàn ông đang làm ruộng, hai người đàn bà đang xay bột, một người bị đem đi, một người để lại. Không ai biết được mình sẽ ra đi lúc nào. Không ai biết được tương lai của mình ra sao. Không ai biết được ngày tận thế. Vào thời ông Noê, trong khi không ai để ý chuyện gì sắp xảy ra, cuộc sống vẫn cứ tiếp tục với những dấu hiệu bình an: "Thiên hạ vẫn ăn uống, dựng vợ gả chồng". Chỉ có ông Noê là người tỉnh thức và sẵn sàng. Vâng lệnh Chúa, ông Noê đóng một chiếc tàu rất lớn. Đang khi đóng tàu, dân chúng chế giễu ông lẩm cẩm. Sau khi hoàn tất, ông và gia đình cùng với súc vật vào tàu, trời bắt đầu sấm chớp và đổ mưa như trút ngày đêm. Lụt đại hồng thủy dâng lên bất chợt. Tất cả đều bị cuốn trôi trong nước lũ. Chỉ còn lại gia đình ông Noê được cứu sống. Chúa đến sẽ bất chợt khi chúng ta đang làm việc, đang sinh sống, đang ăn uống, đang ngũ nghỉ.
Chúa đã đến và vẫn đến mỗi ngày. Để đón chờ Chúa đến, cần phải tỉnh thức và cầu nguyện. Tỉnh thức không "chè chén say sưa", là đừng quá đam mê những hưởng thụ đời này. Tỉnh thức không "lo lắng sự đời", là không quá mê say danh, lợi, thú. Tỉnh thức là biết chuẩn bị cho đời sau bằng cách vươn tâm hồn lên những chân trời cao thượng. Người tỉnh thức sống ở đời này nhưng tâm hồn đã hướng về những giá trị tinh thần vĩnh cửu đời sau. Tỉnh thức để không đánh mất phẩm chất cao đẹp của mình.Cầu nguyện vì tinh thần mau mắn nhưng xác thịt nặng nề. Cầu nguyện để biết tỉnh thức. Vì khi cầu nguyện ta tách ra khỏi sự ràng buộc của thế giới vật chất để vươn tới thế giới tâm linh. Cầu nguyện để xin ơn Chúa giúp. Con người phàm trần xác thịt nặng nề luôn bị trần gian lôi kéo. Chỉ với ơn Chúa giúp ta mới thoát khỏi vòng giam hãm của vật chất để vươn tâm hồn lên thế giới thiêng liêng.
Có tỉnh thức và cầu nguyện để khỏi sa chước cám dỗ và những lôi cuốn mời mọc hấp dẫn trong cuộc đời. Cầu nguyện trong tỉnh thức để luôn sẵn sàng vì không biết ngày giờ Chúa viếng thăm. Có tỉnh thức cầu nguyện ta mới "đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến, và đứng vững trước mặt Con Người". Có tỉnh thức cầu nguyện ta mới khao khát Chúa đến. Có tỉnh thức cầu nguyện, khi Chúa đến ta mới đứng dậy và ngẩng cao đầu lên. Có tỉnh thức cầu nguyện ta mới gặp được Chúa. Có tỉnh thức cầu nguyện ta mới được vào thế giới mới với Chúa.
Tỉnh thức cầu nguyện, ta có thể gặp Chúa ngay bây giờ trong ngày hôm nay. Tỉnh thức cầu nguyện, chắc chắn ta sẽ được gặp Chúa trong ngày cùng tận của thế giới. Chúa sẽ đón ta vào hưởng hạnh phúc trong một thế giới mới hạnh phúc tuyệt đối và không bao giờ tàn lụi.
Mùa Vọng chúng ta trông chờ Chúa hay Chúa trông chờ chúng ta?
Mùa Vọng được khai mở với lời mời gọi của Chúa Giêsu: Hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn. Bước đầu là bước quyết định cho cả một cuộc đời, một chương trình kế tiếp như như sách Nho có câu: Nhất nhật chi kế tại ư thần, nhất niên chi kế tại ư xuân ( Kế hoạch một ngày hệ tại giờ ban mai, kế hoạch một năm hệ tại mùa xuân).
Tỉnh thức và cầu nguyện là thái độ sống của người tín hữu suốt năm phụng vụ.
Xin Chúa cho chúng con như ngọn đèn chầu trong nhà thờ, thức luôn và sáng luôn trước nhan Chúa. Amen.

 

MV1-A134: Sống tỉnh thức và sẵn sàng

(Suy niệm của Lm Giuse Nguyễn Văn Nghĩa)
 

Một năm Phụng Vụ lại đến. Thời gian cứ thế trôi đều theo nhịp dường như chẳng có gì mới dưới trần MV1-A134

Một năm Phụng Vụ lại đến. Thời gian cứ thế trôi đều theo nhịp dường như chẳng có gì mới dưới trần gian này. Đông qua, xuân đến, hạ đi, thu lại về. Hết mùa thường niên, đoàn tín hữu Kitô bước vào mùa Vọng, mùa Giáng Sinh. Tuy nhiên vẫn có đó cái gì mới lạ khi ta bước vào một điểm mốc của thời gian, cho dù đó chỉ là sản phẩm có tính quy ước của con người. Bắt đầu một chu kỳ mới, được gọi là năm dựa trên vòng xoay của vũ trụ nói chung, của thái dương hệ mặt trời và trái đất chúng ta nói riêng hay khởi đầu một chu kỳ lịch sử ơn cứu độ theo niên lịch Phụng vụ Kitô giáo, hẳn nhiên vẫn tiềm tàng một khao khát, ước mơ, hy vọng nào đó. Chắc chắn đó là những hy vọng, mơ ước về nhiều điều tốt đẹp, có thể là hợp lý, phải đạo, cũng có thể là không và không thể loại trừ những ước vọng cao cả.
Bước vào một chu kỳ mới của niên lịch Phụng vụ, Hội Thánh mẹ, trong năm Phụng vụ năm A này có vẻ hơi lạ thường khi mời gọi chúng ta hướng cái nhìn đến ngày chung cục của thế giới, của đời người chúng ta. Bài tin mừng theo thánh Matthêu tường thuật những lời cảnh báo của Chúa Giêsu về tính bất ngờ, đột ngột của cái ngày chung cục ấy. Đồng thời Người kêu gọi các khán thính giả lúc bấy giờ cũng như chúng ta hôm nay rằng hãy tỉnh thức và sẵn sàng. Quy luật tự nhiên giúp ta thêm xác tín rằng sự gì khi đã có khởi đầu thì hẳn có lúc kết thúc.
Vòng đời “thành, trụ, hoại, không” của nhiều vật, nhiều loài hữu hình trước mắt chúng ta là một dấu chứng cho sự kết thúc của vạn vật nói chung và của đời người chúng ta nói riêng. Tuy nhiên điều Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh là tính bất ngờ. Hình ảnh cơn lụt đại hồng thủy thời Noe hay hình ảnh hai người đàn ông đang làm ruộng, hai người đàn bà đang xay bột, thì một người bị đem đi, một người bị để lại, tất thảy đều muốn mô tả sự bất ngờ. Khi nói đến sự bất ngờ người ta thường nói đến hệ quả của nó là sự mất mát, sự thiệt hại hơn là sự may mắn hay là được lợi, cho dù thỉnh thoảng nhiều sự may mắn có xảy đến cách bất ngờ như chuyện trúng số độc đắc. Để tránh những hệ quả xấu, di hại cho hạnh phúc chúng ta đời này, nhất là cho hạnh phúc vĩnh cửu mai sau, Chúa Giêsu lặp đi lặp lại là hãy tỉnh thức và sẵn sàng. Vậy thế nào là thái độ biết sẵn sàng và tỉnh thức? Hội Thánh, qua bài đọc thứ nhất trích Sách Tiên tri Isaia và bài đọc thứ hai trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Roma, muốn trình bày hai phương thế sống tỉnh thức sẵn sàng, xét theo phương diện tiêu cực và tích cực.
1. Sống tỉnh thức sẵn sàng theo phương diện tiêu cực: Hãy loại bỏ những việc làm đen tối. Hãy dứt khoát với việc chè chén say sưa, chơi bời dâm đãng, cãi cọ ghen tương. Không chìu theo tính tự nhiên mà thỏa mãn các dục vọng bất chính, đê hèn. Những hành vi bất chính, những thái độ bất xứng, những việc làm ám muội thường là những thái độ, hành vi, việc làm mà ta ít dám thể hiện công khai và thường không muốn cho ai hay, ai biết, ngoại trừ người đồng lõa, người tòng phạm.
Để sống tỉnh thức sẵn sàng theo nghĩa này thì xin hãy nhớ rằng không có sự gì mà sẽ không bị tỏ lộ. Chúng ta có thể che giấu một người nhiều lần. Chúng ta cũng có thể che giấu nhiều người một vài lần. Nhưng chúng ta khó mà che giấu mọi người nhiều lần. Nhất là chúng ta không thể nào che giấu được Thiên Chúa, Đấng thấu suốt mọi bí ẩn tâm can con người, từn người và mọi người (x.Tv 139)
Để sống sẵn sàng tỉnh thức theo ý hướng này không gì hơn hãy minh bạch hóa các việc làm của ta. Một người không ngần ngại công khai hóa các lời nói, tâm tư và hành động của mình thì sẽ tránh được nhiều sai sót, lỗi lầm. Và nếu có lỡ lầm hay sai sót thì cũng sẽ dễ có cơ hội khắc phục, sữa sai nhờ tha nhân góp ý, nhận định, phê bình.
2. Sống tỉnh thức sẵn sàng theo phương diện tích cực: Lấy gươm đao rèn thành cuốc thành cày; lấy giáo mác đúc thành liềm, lưỡi hái. Một động thái tích cực thật tuyệt vời. Đó là quay ngược 180 độ các xu hướng xấu xa, các việc làm ám muội, các hành vi gian ác. Một ngày kia, người ta hỏi văn hào Bernard Shaw, một văn hào rất thông minh và dí dỏm trong lối ứng xử: Nhờ đâu, và bằng cách nào ngài có được những câu ứng xử vừa thông minh vừa dí dỏm như thế? Có gì đâu. Tôi cứ tưởng tượng ra một câu nói thật ngu ngốc và nhạt nhẽo, rồi tôi tìm cách nói ngược lại.
Ai trong chúng ta lại không có những điểm yếu, những nghiêng chiều bất chính, những thói quen không tốt, chẳng hay, nếu chưa muốn nói là xấu xa? Ai trong chúng ta lại không có những tội lỗi mà nếu công khai ra thì thật ngượng ngùng? Ai trong chúng ta lại không có nhũng lầm lỗi hay tái phạm nhiều lần, khó chữa, khó chừa? Cứ vạch rõ chúng ra rồi hãy làm điều ngược lại. Giả như tôi có tật xấu hay bủn xỉn, keo kiệt về tiền bạc thì ước gì tôi tích cực tập chia sẻ cho tha nhân cách cụ thể bằng những đồng tiền rút từ hầu bao của tôi.
Kinh “Cải tội bảy mối, có bảy đức” chúng ta dường như thuộc nằm lòng. Kinh ấy có ra không phải là để chỉ đọc trong các ngày Chúa Nhật và Lễ trọng mà là để chúng ta sống. Có thể nói một cách chắc chắn rằng những ai sống nội dung kinh “Cải tội bảy mối…” là đang thật sự tỉnh thức và sẵn sàng.
Người đang sẵn sàng và tỉnh thức thì không có gì là đột ngột hay bất ngờ mà là luôn trong tư thế chuẩn bị và đón chờ. Người biết đón chờ trong tư thế chuẩn bị thì hẳn sẽ gặp nhiều may lành khi giờ Chúa đến. Nói đến giờ Chúa gọi thì có thể có người cho là còn xa. Nhưng chắc chắn người biết chuẩn bị và đón chờ thì sẽ gặt hái nhiều kết quả tốt đẹp trong dịp kỷ niệm Chúa Kitô đến thế gian lần thứ nhất là Đại Lễ mừng Chúa Giáng Sinh.

 

MV1-A135: Chờ đợi trong hy vọng – ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên

Mỗi người trong chúng ta đã có lần chờ đợi. Chúng ta chờ đợi một biến cố quan trọng trong đời; MV1-A135

Mỗi người trong chúng ta đã có lần chờ đợi. Chúng ta chờ đợi một biến cố quan trọng trong đời; chờ đợi người đi xa trở về; chờ đợi một tin vui của người thân. Cuộc chờ đợi nào cũng làm chúng ta hồi hộp lo lắng xen lẫn với khấp khởi mừng vui. Trong khi chờ đợi, thời gian dường như trôi đi rất chậm, rất dài.
Mùa phụng vụ đầu tiên trong năm mới có tên là Mùa Vọng hay Mùa Đợi. Chúng ta chờ đợi Chúa đến. Đức Giêsu đã đến hai ngàn năm nay trong lịch sử, nhưng đối với mỗi cá nhân sống trên cõi đời này, thì Người vẫn đang đến. Và thế là, mỗi ngày sống của chúng ta trên trần gian là một ngày chờ đợi để gặp Chúa. Cuộc gặp gỡ này mang màu sắc lạc quan hay bi quan tùy thuộc vào thái độ sống của mỗi người. Đối với ai thành tâm kiếm tìm Chúa thì cuộc gặp gỡ ấy là niềm vui và hạnh phúc. Đối với ai chỉ coi giá trị vật chất đời này là đích điểm, thì cuộc gặp gỡ ấy là sự kết án đau thương.
Để chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ yêu thương giữa Thiên Chúa với con người, Phụng vụ Mùa Vọng mở đầu bằng lời kêu gọi chúng ta hãy tỉnh thức. Chúa Giêsu trích dẫn sự kiện trong lịch sử Thánh Kinh mà người Do Thái nào cũng biết, đó là biến cố Đại Hồng thủy. Khi ông Nôê đóng tàu thì có nhiều người chê cười ông. Nhưng khi nước dâng lên thì họ bị nước cuốn trôi. Chúa kêu gọi mọi người hãy học bài học lịch sử đó như một kinh nghiệm sống, để luôn chuẩn bị sẵn sàng, vì không biết giờ nào và ngày nào sẽ là lúc tận cùng của cuộc sống cá nhân chúng ta. Lúc tận cùng ấy huyền nhiệm và khó hiểu, được diễn tả như việc có hai người đang làm ruộng, hay hai người đang xay bột, một người được để lại và người kia được đem đi. Hay cũng bất ngờ như người chủ đi xa trở về bất chợt, vào lúc những người giúp việc không ngờ.
Tỉnh thức để đón Chúa, người tín hữu cũng được kêu mời tỉnh thức đối với anh chị em mình. Ngày nay người ta nói nhiều đến chứng bệnh vô cảm. Con người trở nên dửng dưng lạnh lùng trước những nhu cầu và nỗi đau của người thân hoặc những người xung quanh. Con đường dẫn ta đến gặp Chúa là con đường được nối kết bằng những việc bác ái ta làm đối với anh chị em mình. Bởi lẽ chúng ta không chỉ đi một mình đơn lẻ để gặp gỡ Chúa, mà ta đi với anh chị em, trong tình mến thân thiện của những người có cùng một Cha trên trời là Thiên Chúa tối cao. Không thể sống tinh thần Mùa Vọng mà lại dửng dưng hay thù ghét anh chị em của mình. Khi Chúa đến gặp ta, Người sẽ xét xử về cách sống của ta đối với những người xung quanh, nhất là những người nghèo khổ và bất hạnh. Như vậy, “tỉnh thức” có nghĩa là quan tâm đến người khác và ân cần giúp đỡ họ.
Lời Chúa trong ngày mở đầu Năm Phụng vụ mang sắc thái của một lời hiệu triệu, kêu gọi mọi tín hữu hãy lên đường tiến về Giêrusalem để đón Chúa. Những hình ảnh được diễn tả trong Bài đọc I cho thấy Giêrusalem là trung tâm điểm của thế giới. Mọi nơi đều hướng về trong niềm vui mừng hân hoan. Đây là sự khai mở một triều đại mới của lịch sử. Chúa đến để chúc phúc cho dân người. Nếu chúng ta lắng nghe lời hiệu triệu này mà đón Chúa, thì cuộc sống của chúng ta sẽ an bình tốt đẹp và nở hoa. Có Chúa hiện diện, sẽ không còn chiến tranh. Con người sẽ “đúc gươm đao thành cuốc thành cày; rèn giáo mác nên liềm nên hái”. Một xã hội thanh bình sẽ được thiết lập nếu ta biết mở rộng tâm hồn để đón Chúa và thực thi giáo huấn của Người.
Hãy thức dạy những ai ngủ mê! Hãy ra khỏi bóng tối của ích kỷ hận thù, để bước vào ánh sáng huyền nhiệm của bác ái thứ tha. Sống theo ánh sáng, đó là một điều kiện không thể thiếu đối với những ai muốn đi theo và làm môn đệ của Đức Giêsu.
Cuộc đời này là sự chờ đợi liên lỉ. Chờ đợi Chúa không giống như tìm kiếm sự may rủi hay một cơ hội có thể đến mà cũng có thể không. Chúng ta chờ đợi Chúa trong sự xác tín vào quyền năng của Ngài, và chắc chắn Người sẽ đến. Cuộc đời này được sánh ví như một con đường. Mỗi người chúng ta đang đi trên con đường đó. Ở cuối của con đường này, Chúa đang chờ đợi chúng ta, vì thế mà sự đợi của chúng ta là chờ đợi trong hy vọng. Chúng ta cũng tin chắc Chúa là Đấng yêu thương, luôn dành những điều bất ngờ cho những ai giữ một lòng trung tín và cậy trông nơi Người.
 
 
 

MV1-A136: Bất ngờ và thức tỉnh - ĐGM. Giuse Trần Văn Toản

Giáo Hội bắt đầu năm phụng vụ với mùa vọng. Đây là mùa đón chờ Chúa đến. Trong bài Phúc Âm của MV1-A136

Giáo Hội bắt đầu năm phụng vụ với mùa vọng. Đây là mùa đón chờ Chúa đến. Trong bài Phúc Âm của Chúa Nhật I Mùa Vọng năm A, Mt 24, 37-44, Chúa Giêsu cảnh báo: “Các con hãy sẵn sàng, vì lúc các con không ngờ, Con Người sẽ đến”. Đây là tính bất ngờ của việc Chúa đến, và vì bất ngờ, nên phải luôn tỉnh thức.
Tính bất ngờ của việc Chúa đến: Trong bài Phúc Âm, Chúa Giêsu trưng dẫn sự kiện xảy ra thời ông Noe: Thời ông Noe thế nào, thì ngày Con Người quang lâm cũng sẽ như vậy. Vì trong những ngày trước nạn hồng thủy, thiên hạ vẫn ăn uống, cưới vợ lấy chồng, mãi cho đến ngày ông Noe vào tàu. Họ không hay biết gì, cho đến khi nạn hồng thủy ập tới cuốn đi hết thảy. Ngày Con Người quang lâm cũng sẽ như vậy(c.37-39). Trong lịch sử thánh, Chúa đã bất ngờ giáng sinh trong máng cỏ như một hài nhi của một gia đình di dân không tìm được quán trọ tại Belem (Mt 2,7). Tính bất ngờ của việc Chúa đến vẫn còn xảy ra trong hiện tại cho đến ngày cánh chung. Vì, một trong những cách mà Chúa ưu tiên chọn lựa để đến với ta hàng ngày là Chúa đến qua những người đói khát, người khách lạ, trần truồng, đau yếu, tù đày (Mt 25,31-46).
Vì bất ngờ nên phải thức tỉnh: Chúa Giêsu so sánh với thái độ thức tỉnh canh chừng kẻ trộm của người chủ nhà: Anh em hãy biết điều này, nếu chủ nhà biết vào canh nào kẻ trộm sẽ đến, hẳn ông phải canh thức, không để nó khoét vách nhà mình đâu. Cho nên anh em cũng vậy, anh em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến(c.43-44). Trong biến cố Chúa đến lần thứ I tại Belem, chỉ một nhóm nhỏ thức tỉnh và đã gặp Chúa. Đó là Mẹ Maria và Thánh Giuse, ông Giacaria và bà Isave, các mục đồng và các nhà đạo sĩ, ông Simeon và bà Anna. Để đợi chờ Chúa đến lần thứ hai trong vinh quang, sách Khải Huyền dạy ta phải thức tỉnh mới lắng nghe được tiếng Chúa gõ cửa đời ta: Hãy nhiệt thành và hối cải ăn năn. Này đây, Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta(Kh 3, 19-20).
Thức tỉnh là sống tốt giây phút hiện tại: Quá khứ là những gì đã qua, tương lai là những gì chưa tới, và ta chỉ có hiện tại để sống. Chính vì thế, ta cần ý thức rằng: thường thì ta không thể thay đổi quá khứ, nhưng có thể phá hủy hiện tại bằng cách quá tiếc nuối quá khứ, và quá lo lắng cho tương lai. Thức tỉnh sống hiện tại là phải sống mỗi ngày như là ngày cuối cùng của đời ta. Vì là ngày cuối cùng, nên phải “cố gắng làm đẹp lòng Thiên Chúa trong mọi sự(2Cr 5,9). Và lời khuyên của Thánh Phaolô luôn là cần thiết và hữu ích: Thưa anh em, chúng ta đừng ngủ mê như những người khác, nhưng hãy tỉnh thức và sống tiết độ (1Tx 5, 4-6)… Hãy từ bỏ những hành vi ám muội… không ăn uống say sưa, không chơi bời dâm đãng, không tranh chấp ghanh tị… chớ lo lắng và thỏa mãn những dục vọng xác thịt(Rm 13,11-14).
Thức tỉnh cần thinh lặng trở lại với lòng mình để thiết lập tương quan với Thiên Chúa: Thường xuyên trở lại với lòng mình trong thinh lặng nội tâm, tâm hồn ta được coi như mảnh vườn thiêng liêng, trong đó, Chúa Thánh Thần như “Bác Làm Vườn” thường xuyên chăm sóc và chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ thiêng liêng giữa ta với Thiên Chúa. Trong cuộc gặp gỡ này, Chúa thức tỉnh hồn ta về khát vọng Thiên Chúa của ta vì ta được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa. Từ khát vọng này, đi đến ý thức rằng không phải ta khát vọng Thiên Chúa trước, mà thực ra, chính Thiên Chúa khát vọng ta, và vì thế Ngài luôn đến tìm ta, chờ đợi ta, và vui thích ở với ta. Mỗi buổi chiều, trong gió hiu hiu, Thiên Chúa đến địa đàng đi dạo và đàm đạo với Adam và Eva (x. Kn 3,8). Đây là lúc ta có thể thốt lên như Thánh Augustinô: Lạy Chúa, Chúa đã tạo dựng con cho Chúa, và tâm hồn con luôn khắc khoải cho đến khi nào con được nghỉ yên trong Chúa mà thôi”. Khát vọng này tạo nên sự thức tỉnh trong cuộc sống, như hơi thở, như nhịp đập của con tim, như dòng máu lưu thông trong thân thể…
Thiết lập tương quan với Chúa để ta cũng thiết lập tương quan với tha nhân: Đó là tương quan của ta với con người thời đại. Người môn đệ Chúa Kitô, theo gương mẫu của Thầy Chí Thánh trong mầu nhiệm Nhập Thể, tìm thiết lập các tương quan bằng chia sẻ cuộc sống với những cảm thông, bao dung, và đồng hành. Hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng của Công đồng Vaticanô II viết: Vui Mừng và Hy Vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô” (số 1). Hơn nữa, người Kitô hữu, còn tìm thiết lập các tương quan bằng tinh thần yêu thương và khiêm tốn phục vụ nhau như Đức Kitô trong mầu nhiệm Nhập Thế: Nếu Ta là Chúa và là Thầy mà còn rửa chân cho các con, các con cũng hãy rửa chân cho nhau”. Nhất là, người môn đệ của Đức Kitô sống theo lý tưởng của Đức Kitô trong mầu nhiệm Vượt Qua, đã hiến thân vì anh chị em, Ta đến không phải để được phục vụ, nhưng là phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho muôn người”. Trong tương quan với tha nhân, không những ta gặp được Chúa mà còn bước theo gương mẫu yêu thương, phục vụ, và tận hiến.
Thiết lập tương quan với Chúa và với tha nhân, để ta cũng thiết lập tương quan với thiên nhiên trong tâm tình ngợi khen, tạ ơn và trách nhiệm: Thông điệp “Chăm sóc ngôi nhà chung Laudato si đã dùng bài ca vạn vật của Thánh Phanxicô để ca tụng Đấng Tạo Thành: Lạy Thiên Chúa của con, chúc tụng Chúa qua người chị của chúng con, Mẹ trái đất, là người nuôi dưỡng và chi phối chúng con, là người sản sinh hoa trái phong phú với biết bao hoa thơm cỏ lạ (số 1). Và số 9 viết: Là Kitô hữu, chúng ta cũng được mời gọi đón nhận thế giới như một bí tích của sự hiệp thông, một cách chia sẻ cùng Thiên Chúa và anh chị em đồng loại trên quy mô toàn cầu…”. Chính trong tương quan với thiên nhiên này, mà ta ý thức ta và thiên nhiên có cùng một nguồn gốc là Đấng Tạo Thành, để ta tận hưởng thiên nhiên như ân phúc của Thiên Chúa, đồng thời ta ý thức trách nhiệm cộng tác với Đấng Tạo Thành để chăm sóc thiên nhiên, hướng về Trời Mới Đất Mới của Nước Thiên Chúa, ngày Chúa Giáng Lâm trong vinh quang.
Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến!

 

MV1-A137: Chuẩn bị cho một thời đại mới sắp đến

(Suy niệm của Lm. Giuse Đỗ Đức Trí – Trích trong “Tin Vui Xuân Lộc”)
Thưa quý OBACE,
 

Các nhà khoa học cho rằng cách đây khoảng 65 triệu năm đã có một thiên thạch rơi trúng trái đất, nó MV1-A137

Các nhà khoa học cho rằng cách đây khoảng 65 triệu năm đã có một thiên thạch rơi trúng trái đất, nó đã làm cho trái đất hoàn toàn thay đổi về khí hậu, địa chất, nó cũng làm tuyệt chủng một số loài sinh vật, chẳng hạn như loài khủng long đã bị biến mất, nhưng đồng thời nó cũng tạo một môi trường mới cho nhiều loài mới xuất hiện và phát triển. Cho đến ngày nay các nhà khoa học và nhiều dân tộc trên thế giới cũng tin rằng trái đất này sẽ trải qua một cuộc biến đổi khác, và nó cũng sẽ hủy diệt những loài nào không còn thích hợp, và chỉ những loài nào thích nghi được thì sẽ tiếp tục phát triển. Còn các nhà tôn giáo lại trình bảy thời kỳ biến đổi này dưới cái nhìn riêng, tùy theo niềm tin của mình.
Giống như sau những ngày oi bức nắng hạn, người ta mong đợi một trận mưa rào, sau những ngày đông băng giá, cây cối ủ rũ, người ta mong đợi những tia nắng ấm mùa xuân và sự đâm chồi nảy lộc của vũ trụ, cũng vậy, hôm nay chúng ta cùng với Giáo Hội bước vào mùa vọng, là mùa Giáo hội mời gọi chúng ta điều chỉnh cuộc sống chuẩn bị tâm hồn để đón chờ một thời đại mới, thời đại của Đấng Cứu Thế, Ngài sẽ đến để đem lại sự hồi sinh cho nhân loại, đem nhân loại vào một thời đại của tình yêu thương và ơn cứu độ.
Tiên tri Giêrêmia sống cách Chúa Giêsu khoảng 500 năm, lúc mà dân tộc Israel đang phải cúi đầu chấp nhận sự đô hộ của quân Babylon, tức là cả một dân tộc đang rơi vào cảnh tăm tối khốc liệt, thì vị tiên tri Đã nhìn thấy một thời đại mới sắp đến đem lại hy vọng cho dân Israel. Chính vì thế Giêrêmia đã dùng hình ảnh của một mùa xuân mới để diễn tả về thời đại ấy: Trong những ngày ấy ta sẽ cho mọc lên một mầm non, một Đấng Công Chính để nối nghiệp Đavit. Chỉ cần nhắc đến chồi non nảy mầm từ nhà Đavít cũng đủ để đem lại hy vọng cho dân Israel trong cảnh lưu đày, vì các tổ phụ các tiên tri đều loan báo rằng một chồi lộc từ nhà Đavit sẽ phục hồi xứ sở, sẽ đem đến hòa bình thịnh vượng cho dân tộc, sẽ cất khỏi họ nỗi nhục nhằn khổ sở. Tiên tri Giêremia còn cho thấy thêm chi tiết: Người sẽ thống trị muôn nước theo lẽ công bình chính trực, trong ngày ấy, Giuda sẽ được cứu thoát, Giêrusalem sẽ được an vui, và người ta gọi tên thành là: Đức Chúa là sự công chính của chúng ta. Với lời tiên báo này thì gương mặt của Đấng Giải Thoát đã rõ dần, dưới triều đại của Ngài, muôn dân muôn nước sẽ được hưởng thái bình thịnh vượng, Giêrusalem lại được muôn dân biết đến như là thành trì của Thiên Chúa, là niềm tự hào của dân tộc.
Đức Giêsu chính là Đấng các tổ phụ các tiên tri đã loan báo, việc Ngài bước vào lịch sử nhân loại này, Ngài đã thay đổi hoàn toàn lịch sử nhân loại và đem đến một thời đại mới, kỷ nguyên mới, thời đại của tình yêu thương và kỷ nguyên ơn cứu độ. Kể từ đây, Thiên Chúa không còn là Đấng ở xa, hay ở trên trời để nhận hương khói của con người nữa, mà là Đấng đã làm người, đến để ở với con người, cùng nói chung một tiếng nói với con người, cùng chung một nhịp đập của con tim và cùng chung một hơi thở với con người, để yêu thương, để nâng đỡ và để cứu con người khoi cảnh nô lệ của tội lỗi và sự chết, để cho con người đựơc sống trong thời đại của ân sủng, thứ tha và chữa lành.
Với sự xuất hiện của Chúa Giêsu, Ngài đã đem đến cho nhân loại một niềm hy vọng và một nếp sống mới. Ngài muốn con người sống theo luật mới của Ngài, là luật của yêu thương chứ không phải là gánh nặng, ngài muốn cho con người tìm được hạnh phúc ngay tại trần gian và nhất là đạt được hạnh phúc nước trời qua con đường của Tám Mối Phúc Thật, qua con đường từ bỏ khỏi sự ràng buộc của vật chất và thế gian, Ngài đem đến một nếp sống của tình yêu thương tha thứ và phục vụ, tha thứ đến bảy mươi lần bảy, và phục vụ như một người đầy tớ. Với triều đại của Ngài, Đức Giêsu đã mở ra cho nhân loại một con đường hy vọng, hy vọng được sống lại và được sống đời đời mà không phải chết, vì Ngài đã dùng cái chết của chính mình hủy diệt âm mưu của ma quỷ, trả lại sự sống và tư cách làm con Thiên Chúa cho chúng ta.
Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu lại mở ra và hướng mỗi người đến một thời đại mới, thời đại vĩnh cửu, thời mà Đức Giêsu sẽ trở lại, thế nhưng trước khi thời ấy xảy ra, thì Ngài đã cho những dấu hiệu báo trước: Những điềm lạ trên trời dưới đất sẽ xảy ra khiến cho người ta hoang mang hoảng sợ, thiên tai động đất và những tai họa khủng khiếp sẽ giáng xuống địa cầu khiến cho người ta hồn xiêu phách lạc. Nhắc đến những sự kiện thiên tai như thế không phải để gây sợ hãi hoang mang cho con người người, Nhưng Ngài chỉ muốn mỗi người nhìn những sự kiện thiên nhiên ấy để chuẩn bị cho riêng mình một tư thế, một tình trạnh và nhưng hành trang cần thiết. Các diễn biến của thiên nhiên giống như một sự chuyển mình của vũ trụ để bước vào một thời đại mới, thời đại của vĩnh hằng của bất tử, Ngày ấy, Ngài sẽ trở lại trong vinh quang của một vị Thiên Chúa và trong quyền uy của một vị thẩm phán. Khi thấy những biến cố ấy xảy ra, anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì ngày cứu chuộc anh em đã đến gần.
Thưa quý OBACE, để có thể đứng thẳng và ngẩng cao đầu trong ngày của Chúa trở lại thì mỗi người cần có một thái độ xứng đáng đó là: hãy đề phòng đừng để lòng mình ra nặng nề bởi chè chén say sưa, bởi lo lắng sự đời. Đó là lời căn dặn đầu tiên của Chúa vì lòng con người hay thay đổi dễ bị lôi kéo bởi tiên bạc của cải danh vọng, hưởng thụ thỏa mãn, cậy dựa vào vật chất, kể cả công ăn việc làm, tất cả những cám dỗ và lôi kéo đó khiến cho tâm hồn chúng ta thành nặng nề uể oải không còn mau mắn tỉnh thức đề đón chờ Chúa, không còn siêng năng chăm chỉ đến với Chúa nữa.
Điều tiếp theo Chúa căn dặn chúng ta: Anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, để có thể đứng vững trước mặt Con Người. Chỉ có những con người tỉnh thức và cầu nguyện mới có thể đứng vững và chống chọi được với những cám dỗ của ma quỷ dục vọng thế gian, vì cầu nguyện là đón nhận được sức mạnh và sự trợ lực từ nơi chính Thiên Chúa. Thánh Phaolô còn giải thích thêm và mời gọi chúng ta: hãy lấy tình yêu thương mà đối xử với nhau, và hãy sống ngay thẳng thật thà đửng để điều gì đáng trách trước mặt Thiên Chúa, và hãy cố gắng không ngừng.
Để đón chờ một thời đại mới mà Chúa cứu thế sẽ mang đến, để có thể đứng thẳng và ngẩng cao đầu chờ ngày Ngài trở lại, chúng ta cần thực hiện những lời Chúa căn dặn hôm nay, phải trở thành con người mới, đừng để mình ngủ quên trong sự thành công và sự kiêu hãnh của mình, mà hãy tỉnh thức để nhận ra tình yêu Thiên Chúa và ân ban của Ngài đang dành cho mỗi người chúng ta. Hãy luôn tỉnh thức bằng việc chuẩn bị cho mình một tâm hồn thanh thản trong sạch trước mặt Chúa, đừng để cho đam mê ăn uống, rượu chè, cờ bạc, dục vọng lôi kéo và chôn vùi cuộc đời chúng ta, cũng đừng để cho sự lười biếng ru ngủ chúng ta, mà hãy kiên trì trong việc cầu nguyện sớm tối, dâng lễ rước lễ mỗi ngày, và hãy làm cho vợ con và gia đình trở thành một tổ ấm yêu thương và đạo đức.
Các bạn trẻ thân mến, tuổi trẻ luôn mong chờ sự đổi mới, Lời Chúa hôm nay thực sự là một lời mời gọi và cũng là một thách thức đối với các bạn, đừng để cho tuổi trẻ trở nên uổng phí, và cũng đừng để tuổi trẻ của mình chìm ngập trong lối sống vô thần, hưởng thụ, ích kỷ, xô bồ, hời hợt của ngày hôm nay, mà hãy bắt tay vào để góp phần biến đổi thế giới và xã hội này. Hãy bắt đầu từ chính bản thân mình, sống con người mới với một niềm vui hân hoan vì mình đã được cứu chuộc, vì mình thuộc về Chúa Kitô; hãy tích cực giới thiệu cho mọi người, cho bạn bè xung quanh về một thời đại mới của Chúa bằng thái độ sống yêu thương quảng đại dám đưa tay ra để giúp đỡ và chia sẻ, dám cúi xuống để phục vụ, dám chịu thiệt thòi để đem đến bình an cho gia đình cả công đồng.
Khi mỗi người và mỗi bạn trẻ dám bắt tay vào làm những việc nêu trên, là chúng ta đang sống tâm tình cùa mùa vọng, là chúng ta đang chuẩn bị đón chờ một thời đại mới mà Chúa Cứu Thế đem đến cho nhân loại chúng ta. Amen.

 

MV1-A138: Sống tỉnh thức

(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn An Khang)
 

Năm phụng vụ mới bắt đầu, khởi đầu là mùa Vọng. Mùa Vọng, mùa mong chờ Chúa đến. Chúa đã MV1-A138

Năm phụng vụ mới bắt đầu, khởi đầu là mùa Vọng. Mùa Vọng, mùa mong chờ Chúa đến. Chúa đã đến lần thứ nhất, trong ngày Ngài Giáng sinh. Ngài sẽ đến lần thứ hai, trong ngày Ngài Quang lâm. Để đón chờ ngày Quang lâm, Đức Giêsu dạy: "Hãy tỉnh thức". Tin mừng Matthêu, có bốn dụ ngôn minh hoạ về sự tỉnh thức: Lụt hồng thuỷ, kẻ trộm, đầy tớ trung tín và mười trinh nữ. Hai dụ ngôn: Lụt hồng thuỷ và kẻ trộm, được chọn cho Chúa nhật thứ I mùa Vọng này.
1. Dụ ngôn Lụt hồng thuỷ
Mở đầu dụ ngôn, Đức Giêsu nói: "Quả thế, thời ông Noe thế nào, ngày Quang lâm, Con Người cũng như vậy".
Quang lâm là gì? Quang là ánh sáng, lâm là đến. Tiếng Hylạp là "Parousia", nghĩa là sự hiện diện. Xưa, trong thế giới La-Hy, người ta dùng từ ấy để chỉ những cuộc đi thăm chính thức của hoàng đế: "Thánh thượng giáng lâm".
Theo Cựu ước, Quang lâm là ngày của Chúa, ngày Đức Chúa can thiệp vào lịch sử thế giới, ngày vinh quang đầy ánh sáng huy hoàng, đến xua đuổi bóng đen tội lỗi bao phủ dân Ngài. Theo Tân ước, Quang lâm là ngày Đức Giêsu đến lần thứ hai, ngày Ngài trở lại trong vinh quang, phán xét người lành kẻ dữ, có các Thiên thần hầu cận.
Lụt hồng thuỷ thời Noe được trình bày như một hình phạt cái tội vô luân của con người. Rachi chú giải: "Sự sa đoạ nhục dục của con người thời Noe, đã đi tới hủy hoại về đạo lý và xã hội, đến nỗi loài người tự huỷ diệt chính mình mà không còn hy vọng sống sót...". Đức Giêsu biết rõ điều đó, biết con người thời đó quá gian ác và vô luân, lòng họ chỉ toan tính những ý đồ xấu xa suốt ngày. Tuy nhiên, Đức Giêsu không nói về tội vô luân, không trách sự sa đọa của những người thời Noe. Ngài chỉ trách một điều: "Họ không biết gì, cho đến khi nạn hồng thuỷ tới cuốn đi hết thảy". Họ có vẻ tin là họ bất tử, ăn chơi trác táng. Mắt họ bị bịt kín không thấy thân phận dòng mỏng con người. Họ phải chịu cái chết "nuốt trôi", để rồi phút chốc khám phá thấy mình không phải là "thần linh". Nếu muốn sống, họ cần phải có Thiên Chúa.
Để diễn tả ngày Quang lâm, Đức Giêsu lấy lời Ngôn sứ Xôphônia: "Đang lúc người ta hăng say với công việc đời thường của mình. Giữa lúc người nông dân đang cầy ruộng, người nội trợ đang xay bột, Chúa đến. Chúa đến bất chợt như chiếc lưới thình lình chụp xuống, như chớp loé từ Đông sang Tây". Và Ngài giải thích: "Bấy giờ, hai người đàn ông đang làm ruộng, một người được đem đi, một người bị bỏ lại. Hai người đàn bà đang kéo cối xay, một người được đem đi, một người bị bỏ lại...". Tại sao thế? Hai người chẳng có gì khác nhau, cùng làm ruộng, cùng xay bột, Chúa biết sự khác nhau của họ: Người sẵn sàng, người không. Bởi thế, Chúa nói: "Anh em hãy tỉnh thức, vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến".
2. Dụ ngôn kẻ trộm
Để nhấn mạnh phải tỉnh thức, Đức Giêsu đưa ra dụ ngôn kẻ trộm: "Anh em hãy biết điều này: Nếu chủ nhà biết vào canh nào, kẻ trộm sẽ đến, hẳn ông phải tỉnh thức". Đức Giêsu không có ý so sánh Ngài với kẻ trộm, chỉ có ý nói sự bất chợt của ngày Quang lâm. Gia chủ nọ, nếu ông biết canh kẻ trộm đến, hẳn ông phải thức, không để nó khoét vách nhà mình. Ngày Quang lâm chắc chắn sẽ xảy ra, nhưng không biết vào ngày nào, vấn đề là phải tỉnh thức.
Tỉnh thức, Đức Giêsu nói đây, chẳng phải là một thái độ tiêu cực, cứ ngồi đấy nôn nóng chờ đợi. Tỉnh thức là trung thành với nhiệm vụ được trao phó, như người quản gia trung tín. Tỉnh thức là chuẩn bị đón Chúa Kitô trở lại, như những trinh nữ khôn ngoan, là yêu sách chu toàn trách nhiệm của mình như những đầy tớ được trao những nén bạc, là bổn phận giúp đỡ các anh em hèn mọn nhất của Chúa Kitô.
Tỉnh thức, Đức Giêsu mời gọi, không phải là sợ hãi, chỉ có những kẻ ngủ mê mới phải sợ hãi, bởi họ không được Chúa đem đi. Lời mời gọi tỉnh thức của Đức Giêsu không chỉ nhắm vào thời sau cùng, còn nhắm tới việc Người đến với mỗi người trong giờ chết. Không ai hay được ngày giờ mình chết, chẳng ai biết cách tính toán, dự phòng. Giờ chết có thể đến thình lình, bất ngờ, đang lúc làm việc, ngủ nghỉ, giải trí. Việc chuẩn bị ngày chết, cũng là việc chuẩn bị ngày Quang lâm. Nếu thực sự quan tâm đến tính cách bất ngờ và bí ẩn của ngày giờ đó, nếu sẵn sàng luôn luôn, chính giờ phút không ngờ, cho dù Chúa có đến, ta vẫn hân hoan vui mừng, bởi giờ cứu rỗi đã điểm, ta sẽ cùng với Chúa tiến vào tiệc cưới nước Trời.

 

MV1-A139: Chờ và đợi – Anmai, CSsR

Tâm trạng mong đợi, chờ mong, trông chờ nó diễn tả nỗi lòng của con người hồi hộp, nao nức mong MV1-A139

Tâm trạng mong đợi, chờ mong, trông chờ nó diễn tả nỗi lòng của con người hồi hộp, nao nức mong điều gì đó quý báu, điều gì đó mang đến cho con người niềm vui, bình an, hạnh phúc. Chắc có lẽ ai ai trong chúng ta cũng mang trong mình ít nhiều sự mong đợi, lòng ngóng chờ niềm vui, niềm hạnh phúc đến với mình. Nhìn những đứa con, đứa cháu trông đợi cha mẹ chúng đi làm về hay nhất là đợi mẹ cháu đi chợ về chúng ta thấy hay làm sao đó!
Chúng biết rằng mẹ của chúng thương chúng nên hễ đi chợ về là không ít thì nhiều chúng cũng sẽ được bọc xôi, gói chè! Vì thế, hễ mẹ chúng đi chợ là y như rằng chúng cứ chờ, cứ đợi. Nhiều khi chúng ra tận ngoài ngõ để chờ niềm vui từ những gói chè tự tay mẹ chúng mang về cho chúng.
Tương tự thế, nhìn những đứa trẻ đi học mẫu giáo, dù là vui với các cô, các bạn. Ở với các cô, chơi chung với các bạn đồng lứa vui lắm chứ! Nào là được ăn chung, chơi chung, đùa chung nhưng hình như chúng vẫn chưa thoả mãn với tất cả những gì mà cô mà bạn mang lại. Vì sao? Vì tất cả những thứ ấy vẫn không mang lại cho chúng niềm vui, niềm bình an đích thực. Chúng biết rằng thời gian ở với cô, với bạn hay là chơi với cô với bạn chẳng hạnh phúc bằng được ở với cha với mẹ nên rằng cha mẹ chúng là nhất trên đời.
Ở nhà có các cháu nhỏ chúng ta sẽ thấy hình ảnh của chúng buồn cười lắm. Sáng thức dậy là ráng nằm nướng trên giường chưa muốn dậy. Phần lười biếng, phần buồn ngủ nhưng phần lớn chính là không muốn xa ba xa mẹ là nguồn vui, nguồn hạnh phúc của chúng. Chúng phải làm mình làm mẩy để được ở nhà với cha và với mẹ.
Rồi thử một buổi chiều nào đó, chúng ta đến các trường mầm non chúng ta nhìn hình ảnh những đứa trẻ đang đứng ngóng đợi cha mẹ chúng dễ thương làm sao đó. Dẫu chưa biết lúc nào ba mẹ đến nhưng mà cứ đến khi cô bảo mẫu bảo các con hãy thay đồ, rửa mặt là chúng không ai bảo ai đi thay đồ và làm vệ sinh thật là nhanh. Chẳng hiểu sao thật là thiêng liêng, thật là bí nhiệm khi nghe cô bảo mẫu nói như thế chúng làm nhanh thoăn thoắt. Thay đồ xong là chạy vụt ra sân để mà đợi mà chờ. Trong giờ học, các cô có thể bảo các cháu làm gì theo ý cô, theo bài học cô dạy nhưng đến giờ đó cô không thể nào điều khiển cháu được vì lẽ giờ đấy chỉ có một điều cần thôi là chờ ba mong mẹ.
Ngược lại với hình ảnh buổi sáng. Giờ làm sao cho nhanh để được nhìn thấy ba mẹ, để được ba mẹ đón về nên chúng không còn thiết tha với búp bê, với đồ hàng, với đồ chơi, với xe, với cộ nữa nhưng chỉ còn thiết tha sao cho mau gặp ba với mẹ mà thôi.
Nhìn lại lịch sử dân Israel ngày xưa chúng ta thấy rõ tâm trạng chờ đợi như những đứa trẻ vậy.
Do sự phản bội bất trung, họ đã bị bắt đưa đi làm nô lệ bên Babilon. Cuộc sống lưu đày không chỉ ràng buộc họ với những cảnh cùng cực, đói rét, gò bó, mà còn có cả những khe khắt trong cuộc sống tinh thần tôn giáo. Cuộc sống ấy sói mòn tinh thần và thể xác, khiến cho niềm tin vào Thiên Chúa không còn đứng vững, có khác nào như những cánh tay rời rã, bàn chân mỏi mòn.
Chờ Chúa đến nhưng thấy lâu quá để rồi họ đi tìm cho họ đủ thứ các loại thần để mà thờ để mà kính. Lịch sử viết lại cho chúng ta những dòng sử của dân Israel như là bài học lớn cho mỗi người chúng ta. Vì đi theo thần này, thần kia để rồi dân Israel cứ lầm lũi đi trong đêm tối.
Chính trong bối cảnh bi thảm đen tối, Giavê Thiên Chúa đã gửi tiên tri Giêrêmia đến loan báo về ngày giờ Thiên Chúa sẽ ra tay tế độ. Ngài còn mặc khải rõ hơn khi cho biết tin mừng ấy sẽ được khởi sự ngay qua một dòng tộc: Đó là dòng dõi vua Đavit: " Trong những ngày đó và trong thời gian đó, Ta sẽ làm nảy sinh cho Đavit một chồi Công Chính". Thế là một triều đại mới, một vận hội mới sẽ đem lại đổi thay cho kiếp đoạ đày đen tối của dân Israel. Từ đây, trật tự được tái lập, hạnh phúc sẽ nở ra và mọi người mọi nhà sống trong cảnh hoà bình thịnh vượng vì Đức Vua hiển trị sẽ xét xử chư dân trong sự khôn ngoan và công chính".
Lời hứa trên đã làm nao nức bao tâm hồn. Thiên Chúa, Đấng luôn trung thành với giao ước đã chẳng thể nuốt lời. Ngài đã cho Con Một Nhập thể làm người để thực hiện những gì đã hứa, nhưng không chỉ cho Israel mà còn cho các dân tộc. Ngài đã làm sống lại và khơi lên niềm tin tưởng khi loan báo cho họ biết rằng: Giờ cứu rỗi, ngày giải thoát đã gần đến rồi. Vì thế, Ngài kêu gọi mọi người hãy biết đọc qua những biến đổi của vũ trụ, qua những thay đổi của tâm hồn, dấu chỉ của ngày cứu độ. Những biến cố như động đất, mất màu, tai ương, ôn dịch, hạn hán cùng với những vật đổi sao dời làm cho lòng người khiếp run kinh hãi. Và còn có biết bao cái ta không mong đợi mà xảy đến: tai nạn, bệnh tật, chết chóc, hiểm hoạ... Tất cả đều có giá trị như là một dấu hiệu, một lời nhắc nhở để ta hướng về ngày giờ của Con Thiên Chúa đang đến.
Chúng ta, nhìn lại chúng ta ngày nay chúng ta thấy hình như chúng ta cũng chẳng khác Israel ngày xưa là mấy. Chúa yêu thương, nâng đỡ, bao bọc, chở che cuộc đời chúng ta như Israel ngày xưa vậy. Thế nhưng mà chúng ta vẫn chưa cảm thấy thoả mãn với tất cả những gì Chúa thương ban cho chúng ta để rồi chúng ta cũng loay hoay mãi trong bóng đêm như dân Israel vậy.
Tiếng kêu ai oán mong đợi Đấng Cứu Thế đến cứu muôn dân được ngôn sứ Isaia thốt lên trong bài đọc thứ nhất mà chúng ta vừa nghe đấy: "Lạy Đức Chúa, Ngài mới là Cha, là Đấng cứu chuộc chúng con: đó là danh Ngài muôn thuở. Lạy Đức Chúa, tạ sao Ngài lại để chúng con lạc xa đường lối Ngài? Tại sao Ngài làm cho lòng chúng con ra chai đá, chẳng còn biết kính sợ Ngài? Vì tình thương đối với tôi tớ là các chi tộc thuộc gia nghiệp Ngài, xin Ngài mau trở lại. Phải cho Ngài xé trời mà ngự xuống, cho núi non rung chuyển trước thánh nhan". (Is 63, 16b-17.19b).
Vì lòng con người chai đá nên Isaia đã kêu lên với Đức Chúa. Ngày hôm nay, chúng ta cũng gào lên với Chúa là vì tình thương của Chúa, xin Chúa mau trở lại để cứu chúng ta.
Lòng chờ mong, lòng mong đợi ấy chúng ta cũng được nghe Thánh Phaolô nói đến trong thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô của Ngài: "Chúng ta mong đợi ngày Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, mạc khải vinh quang của Người".
Và Trong khi chờ đợi, Ngài mời gọi chúng ta hãy sống trong sự tỉnh thức và cầu nguyện như Thánh Maccô thuật lại cho chúng ta trong Tin mừng của Ngài mà chúng ta vừa nghe. Chúa Giêsu, hơn lúc nào hết, Ngài cảnh báo với các môn đệ là phải tỉnh thức luôn luôn. Như những người lính tuần canh, chỉ được gọi là tỉnh thức khi biết luôn đứng với đôi mắt sáng rực nhìn về phía trước. Nói cách khác, như thánh Phaolô khuyên trong thư gửi cho giáo dân thành Thesalonica: Đó là không được để cho lòng trí ra nặng nề và tối tăm, bởi những tiệc chè chén, say sưa, bởi đam mê dục vọng, bởi ảo vọng vật chất. Thay vào đó là phải ra sức thực thi bác ái, yêu thương, mặc lấy một cuộc sống khiêm nhường vì đó là điều đẹp lòng Thiên Chúa và làm cho người ta nên thánh thiện.
Chúng ta biết rằng cuộc đời của chúng ta nó mong manh, nó mỏng dòn, nó yếu đuối lắm nên cuộc đời muốn được đứng vững để đón nhận ân huệ của Chúa, tình thương và ơn cứu độ của Chúa không còn cách nào khác hơn là phải tỉnh thức, vẫn chờ mong Chúa đến như lính canh mong đợi hừng đông như suối mong đợi nước nguồn vậy.
Nhớ lại những đứa trẻ, những thú vui do các cô, các bạn mang lại vẫn không là niềm vui, niềm hạnh phúc đích thực của chúng được. Chúng ta cũng vậy, những lạc thú trần gian: tiền - tình - danh, những thứ ấy vẫn không thể nào bù đắp, không thể nào lấp đầy nỗi khát khao, niềm hạnh phúc đích thực của chúng ta được.
Mùa Vọng, mùa trông đợi lại về. Mùa Vọng như là thời gian, như là cơ hội thuận tiện để nhắc nhớ mỗi người chúng ta đâu là cùng đích, đâu là niềm vui đích thực của chúng ta. Nếu cùng đích của cuộc đời chúng ta là tiền - là danh - là dục thì chúng ta cứ tiếp tục cắm cúi đi tìm chúng. Còn nếu cùng đích, lẽ sống của cuộc đời chúng ta là Chúa thì còn thời gian, còn cơ hội, chúng ta hãy dùng thời gian, dùng cơ hội thuận tiện để biến đổi cuộc đời, để mà luôn tỉnh thức để đón chờ ánh sáng, đón chờ tình yêu vĩnh cửu đến với chúng ta.
Nguyện xin Emmanuel – Đấng Cứu Độ Duy Nhất đến và ở lại trong cuộc đời mỗi người chúng ta để tâm hồn, để cõi lòng cuộc đời chúng ta luôn bình an giữa biết bao nhiêu biến động, bao nhiêu xáo trộn của cuộc đời.
 
 
 
 

MV1-A140: Chờ đợi trong tỉnh thức - ĐGM Giuse Vũ Văn Thiên

Ai trong chúng ta cũng đã có những lúc chờ đợi: chờ đợi một biến cố hoặc một người thân. Chờ đợi bao MV1-A140

Ai trong chúng ta cũng đã có những lúc chờ đợi: chờ đợi một biến cố hoặc một người thân. Chờ đợi bao giờ cũng làm chúng ta hồi hộp, trăn trở, nôn nóng. Những lúc chờ đợi, dường như thời gian trôi chậm hơn. Khi chờ đợi một sự kiện hay một người thân, cũng là lúc chúng ta liên tưởng nhiều về sự kiện hay về người thân đó. Sự chờ đợi càng lâu, niềm vui càng lớn lao và vỡ òa khi gặp gỡ.
Năm Phụng vụ khởi đầu với một thời gian mang tên “Mùa Vọng” hay “Mùa Đợi”. Mùa Phụng vụ này nhắc nhớ chúng ta đợi chờ Chúa đến trong cuộc đời. Thực ra, Thiên Chúa vẫn hiện diện và tỏa ánh vinh quang của Ngài trong cuộc sống, nhưng để gặp gỡ Ngài, mỗi người phải nỗ lực tìm kiếm và mở rộng tâm hồn để đón tiếp Ngài. Những ai thành tâm tìm kiếm và gặp gỡ Chúa sẽ được Ngài hướng dẫn và phù trợ. Có Chúa trong đời, chúng ta sẽ tìm thấy niềm vui và hạnh phúc.
Chúa vẫn hiện diện, như dòng suối vẫn miên man chảy tứ thời bát tiết. Người thành tâm kiếm tìm Chúa sẽ giống như người đến múc nước nơi dòng suối và mang về nhà mình. Sự hiện diện của Thiên Chúa trong đời chúng ta thật lạ kỳ. Bởi lẽ Chúa vừa hữu hình vừa vô hình, vừa hiện diện, vừa vắng mặt. Người tìm được Chúa rồi, lại khao khát tiếp tục tìm Chúa để hiểu biết Chúa hơn, vì gặp gỡ Chúa đem lại sự dịu ngọt và niềm vui hạnh phúc cho tâm hồn. Hiểu như thế, suốt cuộc đời tín hữu chúng ta là một vòng xoay của sự chờ đợi, tìm kiếm, gặp gỡ, rồi lại tìm kiếp tiếp cho đến khi thực sự gặp Chúa trực tiếp, mặt giáp mặt chứ không còn như trong gương. Đó là tình trạng hạnh phúc thiên đàng những ai yêu mến Chúa sẽ được hưởng.
Ngôn sứ Isaia diễn tả niềm mong đợi Chúa của dân Israen (Bài đọc I). Đối với những người Do Thái lưu đày, họ cảm nghiệm được nỗi đau của kiếp nô lệ. Không còn Đền thờ, không còn lễ nghi phục vụ, họ thấy cuộc sống của họ thật vô nghĩa. Họ cần Chúa như con người cần hơi thở, như cỏ cây cần ánh mặt trời. Vắng Chúa, cuộc đời họ sẽ suy tàn, sự nhơ uế sẽ lan tràn khắp chốn. Lời cầu nguyện của vị ngôn sứ cũng là lời than van của dân chúng. Họ cầu xin Chúa đến để nâng đỡ và giải thoát họ, đem cho họ ánh sáng và niềm tin.
Niềm khao khát của Israen cũng là niềm khao khát của thời đại chúng ta. Con người thời nay cậy dựa vào những triết thuyết vô thần và những thành tựu của khoa học để chối bỏ Thiên Chúa. Thay vì tôn thờ Đấng Tạo Hóa, người ta tôn thờ khoa học kỹ thuật vì cho rằng khoa học kỹ thuật có thể trả lời được mọi vấn nạn của cuộc sống. Đức Giáo Hoàng Bênêđitô XVI đã viết:“Chủ nghĩa nhân bản loại trừ Thiên Chúa là một chủ nghĩa phi nhân. Chỉ có thứ nhân bản mở ra cho Tuyệt Đối mới có thể giúp ta cổ võ và đạt được được những hình thức sống xã hội và dân sự - trên bình diện cơ cấu, tổ chức, văn hoá, đạo đức -, bằng cách nó giữ ta khỏi rơi vào tình trạng nô lệ cho những cái mốt, những cái thời thượng”(Thông điệp Bác ái trong Chân lý, số 78). Đây cũng là cám dỗ lớn nhất mà loài người từ thời nguyên thủy đã gặp phải, đó là muốn nên như Thiên Chúa và tin rằng có thể thay thế Ngài (x. St chương 3). Nhân loại của chúng ta hơn bao giờ hết đang cần đến Thiên Chúa. Xã hội Việt Nam của chúng ta hôm nay cho thấy kinh nghiệm rõ về điều này: một khi khước từ Thiên Chúa, hậu quả là cuộc sống đầy bạo lực, giết chóc, tệ nạn xã hội, lừa đảo dối trá, luân thường đạo lý suy đồi.
Lời Chúa hôm nay nói đến nỗ lực cố gắng của chúng ta trong khi chờ đợi Chúa. Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh một người chủ đi xa trao nhà cho đầy tớ coi sóc. Mỗi người một việc, người thì coi ban ngày, người thì gác ban đêm. Ông chủ sẽ về bất cứ lúc nào. Những người coi nhà buộc phải tỉnh thức và thận trọng để lúc chủ về, không những thấy họ còn thức mà còn thấy tài sản còn nguyên vẹn.
Mùa Vọng giống như “nốt nhấn” của bản nhạc cuộc đời. Đây là thời điểm Giáo Hội mời gọi chúng ta xác định vị trí của Chúa trong đời chúng ta cũng như tình trạng tâm hồn của mình. Chúa đang đến trong cuộc đời chúng ta. Lễ Giáng Sinh là một kỷ niệm đẹp của mối tình Thiên Chúa – Con người. Sau bao thế hệ xa cách, nay Thiên Chúa đã chủ động đến với con người. Ngài hạ cố đến gặp gỡ con người và tâm tình nghĩa thiết với họ. Đức Giêsu, Ngôi Lời nhập thể, chính là bằng chứng hữu hình của sự nghĩa thiết ấy.
Chờ đợi trong tỉnh thức, đó là tâm tình của mỗi tín hữu chúng ta trong suốt cuộc đời. Lạy Chúa, xin hãy xé trời mà ngự xuống. Xin hãy đến để nâng đỡ và soi sáng chúng con. Amen.
 
 
 

MV1-A141: Tôi vui mừng cùng hoan lạc – Huỳnh Văn Ngọc

Tôi vui mừng cùng hoan lạc khi người ta đến nói cùng tôi: “Nào ta lên đền thánh Chúa” (Đáp ca, Tv 122) MV1-A141

Tôi vui mừng cùng hoan lạc khi người ta đến nói cùng tôi: “Nào ta lên đền thánh Chúa” (Đáp ca, Tv 122)

Trước năm 1975, tôi được thuyên chuyển vào làm việc tại Phan thiết. Cái cảm giác đầu tiên của tôi tại đây là mùi mắm. Mấy ngày đầu, mùi mắm làm tôi rất khó chịu, ngứa ngáy và buồn nôn. Nhưng dần dà sau vài ba tuần lễ, tôi không còn cảm thấy mùi mắm đâu cà. Thì ra mũi tôi đả quen với mùi mắm rồi.
Thành phố Pittsburgh, PA là thành phố luyện thép lớn nhất nước Mỹ. Lúc đầu khi các nhà máy mới hoạt động, những động cơ khổng lồ phát ra những âm thanh làm rêm tai nhức óc. Dân chúng địa phương ăn không được, ngũ không được, họ rất đồi khó chịu vì tiếng động. Nhưng vì sinh kế, người ta ùn ùn kéo đến lập nghiệp, dần dà họ quen với tiếng động và xem đó như là một loại âm nhạc kích động ru ngủ. Họ đã quen với tiếng động. Bỗng một hôm, đang đêm bị cúp điện, các nhà máy im bặt, mọi người đều thức giấc, hoảng hốt chạy tán loạn.
Xã hội càng văn minh, người ta càng xa dần Thiên Chúa, càng làm mất đi cái “Tính Bản Thiện” mà Thiên Chúa đã ban cho khi tạo dựng con người. Người ta đã mất đi cái cảm giác sợ tội.
Trước đây, trong xã hôi VN, “không chồng mà chửa thế gian chê cười”. Nhưng ngày nay, ‘single mother’ là chuyện thường. Hai người đàn ông lấy nhau, hai người đàn bà cưới nhau rồi đem nhau ra toà làm hôn thú, chúng ta cho là một việc hết sức quái gở, nhưng xã hội coi đó là chuyện thường. Đồng tính luyến ái, ‘gay marriage’, phá thai, thụ thai nhân tạo, ly dị, tự do luyến ái v. v. đã được luật pháp che chở. Giết người vô tội bằng cách ôm bom tự sát mà họ cho là tử đạo, là thánh chiến...
Nhân loại đang đi trong đêm tối. Nhân loại đang trong cơn ngủ mê. Thì đây, tiên tri Isaiah lớn tiếng kêu lên: “Hãy chổi dậy, hởi nhà Gia cóp”. Thánh Phao lồ càng kêu to hơn nữa: “Hãy thức dậy. Đêm đã sắp tàn, ngày đã gần đến. Hãy mặc lấy Đức Giêsu Kitô”. Tiên tri Isaiah còn chỉ cho chúng ta hướng nhìn về tương lai, một vương quốc hoà bình và yêu thương: Gươm giáo biến thành cuốc thành cày, dao mác biến thành liềm thành hái.
Đó là sứ điệp của Mùa vọng, sứ điệp đầu tiên của năm PV chu kỳ A năm 2005, mà giáo hội muốn kêu gọi mọi người hãy tỉnh thức, chuẩn bị chờ ngày Chúa lại đến.
Người lại đến trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết. Nước Người sẽ không bao giờ cùng. Tôi tin xác loài người ngày sau sẽ sống lại và sự sống đời sau”. (Kinh Tin kính).
Thời ông Noe, trong khi mọi người đang lo dựng vợ gã chồng, đang lo ăn uống say sưa, bình chân như vại, xem như không có Thiên Chúa cũng chẳng có đời sau, thì ông Noe lo đóng tàu, mặc dù trời còn đang nắng hạn. Rồi lụt đại hồng thuỷ thình lình ập đến, nhân loại bị chết chìm, ông và gia đình ông đã được cứu thoát.
Đức Giêsu còn đưa ra hai ví dụ khác: Hai người đàn ông cùng cày ruộng ngoài đồng, hai người đàn bà cùng xay bột trong nhà. Họ cùng sống trong một hoàn cảnh, cùng làm chung một công việc, tại sao có người được cứu có người lại không? Thưa vì một người có chuẩn bị và một người không chuẫn bị. Một người có đức tin và một người không tin. Một người làm việc qua loa để lảnh tiền công, để ăn xài, chơi bời trác táng, người kia cũng lảm việc cũng lãnh lương nhưng lòng quy hướng về đời sau và về Thiên Chúa. Tiền của không làm hoa mắt họ. Mũi họ không bị ô nhiễm bởi mùi hôi tanh của tội lỗi, tiếng động cơ nhà máy không làm lấn át tiếng nói lưong tâm và sự bằng yên trong tâm hồn họ.
Đức Giêsu kết thúc lời cảnh cáo bằng dụ ngôn kẻ trộm vào nhà. Nếu bạn biết đêm nay có kẻ trộm muốn vào nhà lấy báu vật của bạn mà bạn lại không thức mà canh chừng sao? Báu vật ấy là gì? Là kho tàng giấu trong ruộng, là viên ngọc quý người thương gia tìm được (Mt 13: 44 - 46). Ấy chính là Đức Giêsu Kitô mà Thiên Chúa đã trao ban cho loài người qua mầu nhiệm Ngôi Hai nhập thể.
Phụng vụ dùng những lời trên đây để khai mạc Mùa vọng, không chỉ nhằm việc đón mừng lễ Giáng sinh nhưng muốn khơi lại niềm tin về Ngày Chúa lại đến và cũng để nuôi dưỡng tâm hồn chúng ta chờ đợi và chuẩn bị.
Chúng ta cần làm sống lại Mầu nhiệm Ngôi Hai nhập thể. Thái độ chờ đợi nầy đòi hỏi chúng ta phài có một tâm hồn trong trắng, cầu nguyện và đón nhận. Đó cũng là thái độ mà chúng ta phải có mỗi khi tham dự thánh lễ. Có Chúa ở trong tâm hồn qua bí tích Thánh thể giúp chúng ta có khả năng đón mừng lễ Giáng sinh và sẳn sàng để được Chúa “đem đi” khi Người lại đến.
Sẵn sàng, như 10 cô trinh nữ khôn ngoan, cầm đèn đi đón chàng rể. Tỉnh thức và sẳn sàng khi Người lại đến để đón ta về nhà Cha và miệng chúng ta sẽ không ngừng hát lên bài thánh vịnh: “Tôi vui mùng cùng hoan lạc khi người ta đến nói cùng tôi: “Nào ta lên đền thánh Chúa. Nào ta lên đền thánh Chúa”.

 

MV1-A142: Mùa vọng: Người đến để con tim được vui trở lại

(Suy niệm của Lm. Giuse Trương Đình Hiền)
1. Bỏ quá khứ lại sau lưng để tiến về phía trước:
 

Ý nghĩa đầu tiên của Mùa Vọng gần như được diễn tả ngay trong tên gọi của tiếng la tinh: Adventus, MV1-A142

Ý nghĩa đầu tiên của Mùa Vọng gần như được diễn tả ngay trong tên gọi của tiếng la tinh: Adventus, Mùa “Đến, mùa Quang lâm”. Vâng, Mùa Vọng chính là thời điểm thích hợp để chúng ta sống tâm tình và thái độ đức tin đón chào cuộc viếng thăm của Thiên Chúa, hay sống với nỗ lực dấn thân thực hiện cuộc canh tân và hoán cải tâm hồn theo những lời mời gọi của Phúc Âm.
Vâng, Lời Chúa chúng ta vừa nghe công bố gần như hết lòng hổ trợ ý tưởng nầy và lôi kéo chúng ta tập chú suy tư và cầu nguyện theo ý hướng đó:
Bài đọc 1 đã trình bày: giữa một hoàn cảnh éo le và đầy tăm tối thất vọng của kiếp sống nô lệ, mất nước, lưu đày, Sứ Ngôn I-sa-i-a loan báo cho dân Ít-ra-en một viễn tượng huy hoàng ở cuối chân trời lịch sử: “Trong tương lai, núi Nhà Đức Chúa đứng kiên cường vượt đỉnh các non cao, vươn mình trên hết mọi ngọn đồi. Dân dân lũ lượt đưa nhau tới, nước nước dập dìu kéo nhau đi…Họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày, rèn giáo mác nên liềm nên hái”.
Tin Vui đó, viễn tượng một thế giới hòa bình an lạc đó chắc chắn không phải là một thứ “tuyên truyền ngẫu hứng” của một tay “thần kinh bất ổn” mà là của chính Thiên Chúa mặc khải qua miệng của vị sứ ngôn được Ngài ra tay tuyển chọn. Và 600 năm sau lời tiên tri đó, Đấng là Em-ma-nu-en, là Hoàng tử Bình An, là Đấng Cứu thế, là Thiên Chúa Làm Người đã xuất hiện, Ngài đến để giải phóng toàn diện lịch sử con người, là qui tụ toàn nhân loại trong một Vương Quốc bao la vĩnh cửu.
Hôm nay, bước vào Mùa Vọng, khai mạc một Năm Phụng vụ mới, Lời Chúa cũng muốn nhắn gởi chúng ta qua chính lời tiên tri ấy. Cũng như dân Ít-ra-en đang sống trong nổi ê chề thất vọng của kiếp phận lưu đầy được nhà sứ ngôn loan tin giải thoát với niềm hy vọng một ngày mai tươi sáng đang đến gần, cộng đoàn chúng ta hôm nay đang được Lời Chúa mời gọi hãy vứt bỏ đi những nổi chán chường, thất vọng của một lối diễn tả đức tin mang đầy dấu vết của nô lệ, của lưu đầy, của sự lựa chọn biếng lười, ích kỷ và vô trách nhiệm. Hãy vứt bỏ đi lối sống buông trôi, lờ lững, không biết tới ngày mai, không dám đối diện với tương lai. Hãy vứt bỏ đi cuộc sống chỉ có biết bon chen, cặm cụi với cái lãi cái lời vật chất, cặm cụi đầu tư bất kể cho những thứ chóng qua mà chẳng tính gì đến chuyện vĩnh hằng tối hậu. Và cũng vứt bỏ đi cái lối sống đạo và hành xử đức tin vụ hình thức, giả tạo, biệt phái và kiêu căng.
Một cuộc vứt bỏ như thế để làm lại cuộc đời trong thánh thiện yêu thương phải chăng là tiêu đích của Hành trình Mùa Vọng, của đức tin Kitô, mà theo theo cách nói của Thánh Phaolô trong thư gởi giáo đoàn Rôma trong bài đọc 2 đó là một cuộc “bừng mắt dậy sau đêm dài của giấc ngủ tội lỗi đen tối”: “Đêm sắp tàn, ngày gần đến. Vậy chúng ta hãy loại bỏ những hành vi đen tối và cầm lấy vũ khí của sự sáng để chiến đấu…”
2. Một cuộc hạnh ngộ để đổi đời.
Nếu “Thiên Chúa của chúng ta không bao giờ cũ", thì cuộc gặp gỡ Ngài, chọn lựa Ngài, đến với Ngài phải luôn là một cuộc “hạnh ngộ” đầy hoan vui và hy vọng, một cuộc hạnh ngộ để làm lại cuộc đời.
Trong trích đoạn Tin mừng hôm nay, Thánh Mát-thêu đã thuật lại một bài giáo lý của Đức Kitô mà nội dung cốt lỏi cũng chính là thể hiện niềm tin bằng lối sống luôn là “sắp sẳn, tỉnh táo như người đang đón đợi khách quí, như kẻ đang nai nịt hành trang lên đường hay như ngôi nhà đang thắp sáng với đầy đủ những con người đang tỉnh thức canh phòng đến độ không còn chỗ hở nào để kẻ trộm thâm nhập”. Đây không phải là chuyện dễ ợt, mà là một cuộc phấn đấu nhọc mệt, là cả một cuộc hành trình cam go và mạo hiểm, một cuộc sống khôn ngoan biết tiên liệu và tỉnh táo đối diện với những “bất trắc đột xuất”, như hình tượng Noe trong biến cố “Nạn Đại Hồng Thủy”, hay hình ảnh canh chừng kẻ trộm trong đêm khuya mà Đức Kitô đã diễn tả.
Câu chuyện vui sau đây là một minh họa cho ý nghĩa trên của Mùa Vọng:
Một người dân thuộc một bộ lạc miền núi được đưa đi thăm một đô thị. Ngay đêm đầu tiên ông đã giật mình thức giấc vì tiếng trống vang cùng khắp đô thị. Người ta cho anh biết đó là tiếng trống báo động về một cuộc hoả hoạn vừa xảy ra tại một khu phố. Chẳng bao lâu cuộc hoả hoạn được dập tắt. Trở về làng, ông đã báo cáo với các chức sắc trong làng như sau: người thành thị có một hệ thống chữa cháy rất kỳ diệu: khi có hỏa hoạn, người ta chỉ cần đánh trống là ngọn lửa được dập tắt ngay tức khắc. Nghe thế, các chức sắc liền sai người đi mua đủ loại trống phát cho dân làng. Không bao lâu sau đó, hỏa hoạn xảy đến trong làng, mọi người đều đem trống ra khua inh ỏi vì tin chắc tiếng trống sẽ xua đuổi được thần lửa. Thế nhưng ngọn lửa vô tình cứ thiêu rụi từ căn nhà này đến căn nhà khác trước cái nhìn ngỡ ngàng thất vọng của mọi người.
Tình cờ ghé thăm bộ lạc và được nghe kể lại, một người dân thành thị giải thích: Các người tưởng tiếng trống có thể dập tắt ngọn lửa ư? Không phải thế. Người ta đánh trống để đánh thức dân chúng và kêu gọi họ tích cực tham gia chữa cháy chứ không phải ngồi đó mà chờ ngọn lửa tắt đâu.
Trong Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu nói đến sự tỉnh thức. Nhưng tỉnh thức không có nghĩa là ngồi đó khoanh tay mà chờ đợi. ("Mỗi ngày một tin vui")
Mùa Vọng khơi gợi lên một cuộc chiến đấu của đức tin, một hành trình sống đạo năng động, ra sức đẩy lùi mọi biểu hiện tiêu cực, tầm thường, máy móc, vụ lợi, vụ hình thức. Chính trong chiều kích tích cực đó mà chúng ý thức rằng:
- Mỗi một lời kinh tôi đọc hôm nay phải là một đối thoại tuyệt vời, thực sự với Thiên Chúa.
- Mỗi một Thánh lễ tôi dâng phải là một cử hành sống động lễ Vượt Qua của chính Chúa Kitô mà tôi được diễm phúc cọng tác và kết hợp với Ngài.
- Mỗi một khi bước tới tòa Giải tội là một lần hoán cải thực sự, một cuộc đổi đời.
- Mỗi một việc bác ái tôi làm, một công tác mục vụ tôi đảm trách, phải là một biểu lộ thực sự của tình yêu, một tình yêu vô vị lợi và quảng đại.
- Mỗi một việc làm cho nhau trong đời thường giữa vợ chồng, con cái, anh em, bạn hữu…không còn là chuyện đải bôi môi mép, lạm dụng và ích kỷ, nhưng tất cả phải là những nghĩa cử của tinh thần trách nhiệm, phục vụ và yêu thương.
Nếu mọi Kitô hữu đều xác tín và hành động như thế, thì Mùa Vọng trở về thật ý nghĩa và cần thiết biết bao ! Khi ấy, Giáo Hội không còn là một tổ chức kềm kẹp sự tự do của tôi, Ngày Chúa Nhật không còn là một bận rộn ngán ngẩm, Tòa Giải tội không còn là một tòa án tàn nhẫn và đáng sợ, và ngay cả bệnh tật chết chóc cũng sẽ trở thành cơ hội để tôi tìm thấy giá trị và niềm vui, như lời chứng sống động của Elena Frings:
Elena Frings là một thiếu nữ mới 20 tuổi nhưng đau tim nặng. Các bác sĩ cho biết cô chỉ còn sống được 6 tháng. Cô bỏ việc làm ở sở để đi làm việc xã hội trong một tổ chức thiện nguyện ở Nam Mỹ. Cô làm việc rất đắc lực và có hiệu quả đến nỗi cô được mời đến New York để thuyết trình. Tại New York cô may mắn gặp một bác sĩ giỏi. Ông này giải phẫu cho cô và chữa cô khỏi bệnh tim. Sau khi khỏi bệnh, cô không quay lại sở làm nhưng quay lại Nam Mỹ với những công việc hàng ngày phục vụ những người khốn khổ, bởi vì điều đã ban cho đời cô có ý nghĩa và đã định hướng cho đời cô không phải là cuộc giải phẫu mà là cảm nghiệm về cái chết gần kề (Christopher Notes).
Vâng, sống Mùa Vọng là sống như thế đó. Bởi chưng Mùa Vọng của Phụng vụ cũng chính là Mùa Vọng của cuộc đời. Đức tin không cho phép chúng ta đầu hàng hay tìm một lối mòn dễ dãi ; cũng không có quyền nhắm mắt đưa chân mặc tới đâu thì tới, hay tìm lãng quên trong hưởng thụ, trong bon chen trong trác táng thả buông…Nhưng đức tin gọi mời chúng ta ngẫng cao đầu tiến về phía trước trong một con tim mới, cõi lòng mới như bài hát của nhạc sĩ Đức Huy: “và con tim đã vui trở lại”:
Và con tim đã vui trở lại, Tình yêu đến cho tôi ngày mai. Tình yêu chiếu ánh sáng vào đời. Tôi hy vọng được ơn cứu rỗi. Và con tim đã vui trở lại. Và niềm tin đã dâng về người. Trọn tâm hồn, Nguyện yêu mãi riêng người mà thôi...
Giờ đây, một cuộc gặp gỡ kỳ diệu đang và sắp xảy ra: Đức Kitô một lần nữa đang đến với chúng ta trong bàn tiệc Tạ ơn nầy: Đức Kitô hôm, qua hôm nay và tận cùng vẫn là Đức Kitô của một Mùa Xuân bất diệt, Đức Kitô mới mãi, trẻ mãi, sinh động và đầy ắp yêu thương. Ngài là Mục Tử nhân lành hôm nay trở về để đưa ta vào đồng xanh suối mát. Chúng ta vui mừng cử hành ngày “Tân Niên Phụng Vụ” trong tâm tình hân hoan, tin tưởng, trong thái độ khiêm tốn tạ ơn. Chúng ta hãy cùng nhau nắm tay mà bước đi trên hành trình Mùa Vọng để tiến vể Đại Lễ Giáng Sinh với tất cả niềm hăng say phấn khởi và nỗ lực đổi mới cuộc đời cho đẹp hơn, thánh hơn, hiệp nhất hơn, yêu thương hơn . Nói cách khác, đây là giờ phút không phải chúng ta hát mà là thực sự sống chính cái ý nghĩa của lời ca Nhập Lễ vừa vang lên lúc khởi đầu: “Con vươn linh hồn lên tới Chúa”. Amen.

 

MV1-A143: HÃY TỈNH THỨC

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi
CHÚA NHẬT I MÙA VỌNG, năm A
Is 2, 1-5  Rm 13-14a   Mt 24, 37-44
 

 Phụng vụ năm A lại bắt đầu bằng Chúa nhật I Mùa Vọng. Trong Tin Mừng  của thánh Matthêu hôm MV1-A143 Dalat

Phụng vụ năm A lại bắt đầu bằng Chúa nhật I Mùa Vọng. Trong Tin Mừng  của thánh Matthêu hôm nay, Chúa cảnh tỉnh nhân loại :” Các con hãy sẵn sàng,  vì lúc các con không ngờ, Con Người sẽ đến “. Chúa cảnh báo chúng ta :” sẵn sàng “ và “ không ngờ “. Ở đây chữ sẵn sàng cho thấy chúng ta phải tỉnh thức và “ không ngờ “ đưa chúng ta vào một tình trạng không đoán trước, không biết trước. Do đó, chúng ta phải có tâm tình chờ đợi Chúa đến một cách đột xuất, bất ngờ vì giờ nào, ngày nào Ngài đến chúng ta không thể biết được, nên chúng ta phải mau mắn, chóng vánh tỉnh thức.
Các bài đọc Chúa nhật I mùa vọng năm A, đặc biệt đoạn Tin Mừng Mt 24, 37 -44 đưa ra hai ví dụ để chúng ta suy gẫm và có thái độ ứng xử  tốt khi chờ đợi Chúa đến. Chúa cho chúng ta hiểu sự kiện ông Noe trước khi nạn hồng thủy xẩy đến,Thiên Chúa đã nói trước nhưng dân chúng không nghe, không tin. Noe cứ kiên nhẫn, cần cù đóng tàu, chuẩn bị tất cả cho một biến cố vô cùng quan trọng mà Thiên Chúa đã báo trước. Dân cứ dựng vợ, gả chồng, cứ ăn chơi phung phí, hoang đãng. Và hồng thủy ập tới, Noe và gia đình cùng toàn thể súc vật được cứu thoát. Còn dân chúng thì bị vùi lấp…Ngày quang lâm tứclà ngày Chúa đến cũng thế…Chính vì thế, nhân loại và tất cả mọi người đều phải tỉnh thức và sẵn sàng. Chúa còn đưa ra nhiều dụ ngôn, nhiều ví dụ để cảnh giác các môn đệ, cảnh giác chúng ta…Ngày của Chúa đến có những người sẽ bị loại trừ, có những người sẽ được nhận vào để chung hưởng hạnh phúc Nước Trời vì khi ấy hai người đang xay bột, một người bị đem đi, một người được cứu vớt. Năm cô trinh nữ khôn ngoan vừa mang đèn, vừa mang dầu, nên được hưởng hạnh phúc cùng tân lang vv… Chúa vẫn đến với chúng ta hằng ngày nhưng mắt thịt của chúng ta đâu có nhìn ra Ngài, thánh Matthêu chương nói về ngày chung thẩm đã cho chúng ta biết Chúa đã đồng hóa với kẻ nghèo, kẻ tàn tật, đui mù, què quặt vv…Chúa đến với chúng ta như người khách lạ, kẻ tù đày, trần truồng.
Chúa tới với nhân loại, đến với con người, đến với chúng ta một cách bất ngờ, nên mọi người luôn phải tỉnh thức. Bởi vì, tỉnh thức như đầy tớ chờ ông chủ đi xa về, hay như chủ nhà không biết lúc nào kẻ trộm đến,nên phải luôn canh chừng sẵn sàng để  khỏi bị mất mát, Chúa đến với con người trong giờ chết cũng vậy, do đó, chúng ta phải tỉnh thức và sẵn sàng, nghĩa là chúng ta phải luôn sống trong ơn nghĩa của Chúa, phải luôn làm đẹp lòng Chúa. Thánh Faustina đã được Chúa cho thấy sự chết và được ra trước mặt Chúa, được Chúa cho thấy trong tích tắc tội lỗi của mình, nên thánh nữ đã hết lòng kính sợ Chúa và quyết tâm từ bỏ tội lỗi. Lòng thương xót của Chúa trải rộng đến mọi người, tuy nhiên, con người phải có thái độ chăm chỉ làm việc như ông chủ đi phương xa trở về mà còn thấy đầy tớ còn thức, chuyên cần phục vụ, cần cù làm việc, chắc chắn ông chủ sẽ trao cho đầy tớ và ủy thác công việc lớn lao hơn nữa, được thừa hưởng sự sống đời đời.
Thực tế, Chúa cho chúng ta sống ở trần gian để chúng ta lập công phúc và sống đạo đức, sống để làm đẹp lòng Chúa. Thời gian ở trần thế này dài hay ngắn là do Chúa ban cho mỗi người. Thời gian ở thế giới này là dịp, là cơ hội cho chúng ta hoán cải, ăn năn sám hối để trở về với Chúa. Mỗi lần sám hối là bước khởi đầu giúp chúng ta nên thánh, giúp chúng ta làm đẹp lòng Chúa. Những công việc tốt khi còn sống là công phúc cho con người chúng ta. Tận thế hay ngày quang lâm, chỉ có Thiên Chúa Cha mới biết. Nên, giờ Chúa đến sẽ vô cùng bất ngờ. Giờ phán xét riêng mỗi người là lúc Chúa gọi con người ra đi đột ngột…Ngôn sứ Isaia trong trích đoạn Is 2, 1-5 cho chúng hay:” Đức Chúa sẽ qui tụ muôn dân cho hưởng hòa bình vĩnh cửu trong Nước Thiên Chúa …Hãy đến đây, nhà Gia-cóp hỡi, ta cùng đi, nhờ ánh sáng Đức Chúa soi đường “. Ơn cứu độ của Chúa chứa chan nơi Đức Kitô do đó chúng ta hãy vui mừng trẩy lên Đền Thánh Chúa như đáp ca vang lên và như lời tung hô Tin Mừng viết :” Lạy Chúa, xin tỏ cho chúng con thấy tình thương của Chúa và ban ơn cứu độ cho chúng con vì “ ngày Thiên Chúa cứu độ chúng ta đã gần hơn “. Chính vì thế, chúng ta phải có tâm tình củaMùa Vọng là “ Tỉnh thức và sẵn sàng “. Chúng ta muốn gặp gỡ Chúa thì từng phút giây trong cuộc sống hiện tại phải là những phút giây sống yêu thương bác ái để làm đẹp lòng Chúa và đẩy lùi mọi tội lỗi, mọi tính hư nết xấu ra khỏi cõi lòng chúng ta. Hãy mặc lấy Chúa Kitô. Hãy từ bỏ con người cũ và mặc lấy con người mới. Đừng chạy theo tính thế tục mà hãy sống thật tốt giây phút hiện tại để chuẩn bị giờ gặp Chúa.
Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con luôn biết chuẩn bị tâm hồn, tỉnh thức và sẵn sàng ra trước mặt Chúa để trả lời về thời gian của chúng con đã làm gì khi còn được Chúa cho sống ở trần gian này. Amen.
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ
1.Ngày Quang Lâm là ngày nào ?
2.Chúa Giêsu có mạc khải ngày tận thế không ?
3.Chúa cảnh giác chúng ta phải có  thái độ nào ?
4.Chúng ta  phải sống giây phút hiện tại làm sao ?        

 

MV1-A144: Thái Độ Mong Chờ Chúa Đến

CHÚA NHẬT I MÙA VỌNG - A
(Mt 24, 37-44)
Kính thưa cộng đoàn,
 

Chúng ta bước vào Mùa Vọng, hay còn gọi là mùa Ad. Mùa Vọng, nguyên nghĩa tiếng Latin là MV1-A144

Chúng ta bước vào Mùa Vọng, hay còn gọi là mùa Ad. Mùa Vọng, nguyên nghĩa tiếng Latin là Adventus, (có nghĩa là đến, quang lâm). Thời thánh Giáo hoàng Grêgôriô I, thời gian chuẩn bị đón chờ Chúa đến trước lễ Giáng Sinh kéo dài bốn tuần được gọi là Mùa Vọng.
Hỏi : Chúa đã đến chưa ? Chúng ta phải khẳng định với nhau rằng : Chúa đã đến rồi. Vậy chúng ta còn mong chờ Chúa nào nữa?
Mùa Vọng Giáo hội đang sống là sống với hai chiều kích : một là tưởng niệm biến cố Nhập thể làm người của Đức Giêsu Con Thiên Chúa khi Ngài sinh bởi Ðức Trinh Mữ Maria ; hai là chờ đợi Chúa trở lại trong vinh quang để “phán xét kẻ sống và người chết”, như chúng ta vẫn đọc trong kinh Tin Kính. Đó là lý do chữ “chờ đợi” được người ta nhắc nhiều đến trong Mùa Vọng. Các lễ nghi cử hành Phụng vụ trong Mùa Vọng, từ màu sắc, các bài đọc, các bài thánh ca đều diễn tả niềm hy vọng với lời cầu xin tha thiết : « Maranatha – Ngài ơi hãy đến, Ngài đến mau đi », và hơn thế nữa dân Do Thái kêu van : « Xin Ngài xé tầng trời mà ngự xuống ».
Vì sống cả hai chiều kích, nên người kitô hữu phải mang tâm tình của dân Cựu Ước và của chính mình ngày hôm nay.
Mùa Vọng trong Kinh Thánh
Các bài đọc Thánh lễ trong Mùa Vọng làm chúng ta nhớ đến sự mong chờ Đấng Cứu Thế đến của Dân Do Thái, Đấng mà ngôn sứ đã loan báo : “Từ gốc tổ Giêsê, sẽ đâm ra một nhánh nhỏ, từ cội rễ ấy, sẽ mọc lên một mầm non. Thần khí Ðức Chúa sẽ ngự trên vị này: thần khí khôn ngoan và minh mẫn, thần khí mưu lược và dũng mãnh, thần khí hiểu biết và kính sợ Ðức Chúa. Lòng kính sợ Ðức Chúa làm cho Người hứng thú, Người sẽ không xét xử theo dáng vẻ bên ngoài, cũng không phán quyết theo lời kẻ khác nói, nhưng xét xử công minh cho người thấp cổ bé miệng, và phán quyết vô tư bênh kẻ nghèo trong xứ sở...” (Is 11, 1-10).
 Phụng vụ Lời Chúa trong Mùa Vọng cũng nhắc lại việc Đức Maria cưu mang và sinh hạ Đấng Cứu Thế : thiên thần Gabriel hiện ra với Đức Maria và báo cho Mẹ biết rằng : “Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Ðấng Tối Cao. Ðức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Ðavít, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Giacóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận (...) Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Ðấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, người con sinh ra sẽ là thánh, và được gọi là Con Thiên Chúa.” (Lc 1, 26-38)
Gioan Tẩy Giả, con trai của Êlisabét và là anh em họ với Chúa Giêsu, xuất hiện trước để loan báo việc Con Thiên Chúa đến, kêu gọi mọi người hoán cải và rao giảng rằng : “Có Ðấng quyền thế hơn tôi đang đến sau tôi, tôi không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Người. Tôi đã làm phép rửa cho anh em nhờ nước; còn Người, Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần” (Mc 1, 1.8 và Ga 1, 19.28)
Như thế, Mùa Vọng kêu gọi người kitô hữu cải hóa nội tâm. Những việc cử hành thánh thường xuyên nhắc nhở chúng ta canh tân niềm tin, vững tin vào tương lai và trở lên men giữa lòng thế giới.
Mùa Vọng 
Trong lịch phụng vụ Công Giáo, Mùa Vọng kéo dài bốn tuần và mỗi Chúa nhật với tên gọi truyền thống đặc thù của nó gồm những lời đầu tiên của bài thánh ca mở đầu :
- Chúa nhật I Mùa Vọng : Ad Te levavi... (= Con nâng tâm hồn con lên tới Chúa, lạy Chúa… )
- Chúa nhật II Mùa Vọng : Populus Sion ... (Này hỡi Dân Sion…)
- Chúa nhật III Mùa Vọng : Gaudete ... (= Anh em hãy vui lên trong niềm vui của Chúa…)
- Chủ nhật IV Mùa Vọng : Rorate ... (= Trời cao, hãy đổ sương xuống, và làm mưa Đấng Công Chính...)
Đức Giêsu dạy chúng ta sống Mùa Vọng
Đức Giêsu đã đến rồi, nên chiều kích thứ nhất của Mùa Vọng nhắc lại cho chúng ta việc Con Chúa đến lần thứ nhất. Trong Tin Mừng hôm nay, chính Đức Giêsu nhắc bảo chúng ta hãy tỉnh thức để sẵn sàng cho lần đến cuối cùng của Ngài (Mt 24, 37-44).
Ðức Giêsu nói về ngày Ngài đến sẽ giống như thời ông Nôe: “Thình lình đại hồng thủy đến và cuốn đi tất cả, thì khi Con Người đến, cũng sẽ xảy ra như vậy” (Mt 24, 37).  Những điều Chúa loan báo trên đây thật quá bất ngờ, vì bất ngờ nên “phải tỉnh thức” là thượng sách.
Chẳng nói đâu xa, năm 2012 người ta đang dự kiến ngày tận thế là ngày 23 tháng 12 tính theo lịch của dân Maya, nhiều người trên thế giới đã lo lắng vì lời đồn đoán ấy, họ đi mua nến, mua dầu, mua mì tôm... Người ta sợ phải lìa bỏ cái thế giới thân yêu này, cho dù nó vẫn còn nhiều khổ não. Trong thời đại của chúng ta không thiếu các thiên tai, chiến tranh, bạo lực. Phải chăng đó là dấu hiệu của ngày tận thế?
Chúa Giêsu xác nhận sẽ có ngày tận thế, nhưng không phải để tan biến thành hư vô. Sẽ có những dấu hiệu làm nhiều người hoang mang sợ hãi, nhưng đối với các tín hữu, đó là dấu hiệu vui mừng vì mình sắp được cứu độ. Chúa mời gọi chúng ta : “ Các con cũng phải sẵn sàng, vì lúc các con không ngờ, Con Người sẽ đến” (Mt 24, 44).
Chuẩn bị lễ Giáng Sinh, mỗi người chúng ta tự hỏi: về phần tôi, tôi đang chờ đợi điều gì? Trong lúc này của đời tôi, con tim tôi đang hướng về điều gì? Lòng tôi có bị vướng vào những hành vi ám muội… ăn uống say sưa, chơi bời dâm đãng, tranh chấp ganh tị… thỏa mãn xác không? (x. Rm 13, 11-14) Trái tim tôi có bị nặng nề bởi những lo âu trần thế không? Những nỗi lo toan về cuộc sống vật chất vắt kiệt sức ta, khiến ta không còn khả năng mở lòng mình ra với Chúa và tha nhân? Trái tim nặng nề nên nhiều người mắc bệnh tim. Trái tim bị kéo xuống cái thực dụng tầm thường ở trên mặt đất, nên con người bị còng xuống, không ngước lên được điều trên cao. Thánh Phaolô bảo chúng ta: “Anh em biết rằng thời này là lúc chúng ta phải thức dậy” (Rm 13, 11). 
Chúa Giêsu dạy chúng ta “hãy tỉnh thức”. Thánh Phaolô khuyên chúng ta: “phải thức dậy” (Rm 13, 11).  Vậy mỗi người chúng ta đây hãy thức tỉnh và cầu nguyện, để khi Con Người là Đức Giêsu ngự đến trên mây trời, Ngài thấy chúng ta đang ở tư thế sẵn sàng, đứng thẳng, không phải xấu hổ cúi đầu, không bị ràng buộc bởi đam mê, nhưng vui sướng vì mình đã không uổng công chờ đợi.
Lạy Mẹ Maria, Mẹ “đầy ân sủng”, Mẹ đã đón nhận Ngôi Lời Thiên Chúa trong lòng, xin giúp chúng con cởi mở tâm hồn đón nhận Chúa Giêsu Con Mẹ.
Lạy Ðấng Cứu Thế là Vua Hòa Bình xin ngự đến. Amen.
 Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
 
 

MV1-A145: CHÚA NHẬT I MÙA VỌNG

Sẵn sàng đón chờ ngày cứu độ trong Nước Thiên Chúa
Sứ điệp Lời Chúa  (Is 2:1-5;  Rm 13:11-14a;  Mt 24:37-44)
 

Đón nhận ơn cứu độ là ý nghĩa cuộc sống của chúng ta trên trần gian.  Khác với những người không MV1-A145

Đón nhận ơn cứu độ là ý nghĩa cuộc sống của chúng ta trên trần gian.  Khác với những người không có đức tin, chúng ta tin vào tình yêu Thiên Chúa và kế hoạch cứu độ của Người.  Tự đời đời, Thiên Chúa đã tiền định một kế hoạch được phác họa do động lực tình yêu, đó là đem nhân loại trở về với Người sau khi chúng đã bị tội lỗi và ma quỷ cướp đi trong công cuộc tạo dựng của Người (Ê-phê-xô 1:3-10).  Như chúng ta biết, tất cả niên lịch Phụng vụ là để khai triển kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa, giúp chúng ta hiểu, đón nhận và cộng tác với kế hoạch ấy.  Trong Phụng vụ Lời Chúa hôm nay, b ài đọc 1 giới thiệu kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa.  Bài đọc Tân Ước cho chúng ta biết “hiện nay ngày Thiên Chúa cứu độ chúng ta đã gần hơn”.  Vì thế, Chúa Giê-su mới kêu gọi chúng ta:  “Anh em hãy canh thức…, anh em hãy sẵn sàng”.
          Tự ngàn xưa, Xi-on hay Giê-ru-sa-lem vẫn được gọi là núi Đức Chúa và Đền Thờ là Nhà Đức Chúa.  Nhưng trong viễn tượng của ngôn sứ I-sai-a, hình ảnh núi và nhà Đức Chúa lại mang một ý nghĩa mới mẻ.  Từ nơi này, Thiên Chúa sẽ thực hiện một kế hoạch đem lại lợi ích cho toàn thể nhân loại.  Mô tả kế hoạch này, ngôn sứ I-sai-a đã vẽ lên một hình ảnh vô cùng ngoạn mục.  Trước hết là mọi dân mọi nước kéo nhau tới để “lên núi Đức Chúa, lên nhà Đức Chúa”.  Người người đều biết mục đích họ lên núi lên nhà Đức Chúa, là để nhận lãnh đường lối và thánh luật của Người.  Đường lối và thánh luật ấy là gì nếu không phải là giới luật yêu thương mà Chúa Giê-su sẽ rao giảng trong suốt sứ vụ của Người?  Khi sống giới luật ấy, người ta sẽ xây dựng Nước Thiên Chúa ngay tại trần gian này.  Viễn ảnh sống hòa bình và yêu thương không phải là giấc mơ không thể thực hiện.  Nhờ sống tình yêu đích thực, nhân loại sẽ hòa giải với Chúa và với nhau.  Yêu thương sẽ “đúc gươm đao thành cuốc thành cày, rèn giáo mác nên liềm nên hái”.  Nền hòa bình không chiến tranh này chính là tiền ảnh của sự bình an vĩnh cửu, “bình an của Thầy” mà Chúa Giê-su đã hứa.  Qua lời ngôn sứ I-sai-a, Thiên Chúa cho thấy ý định của Người là muốn quy tụ toàn thể nhân loại thành một nhà của Người để cho họ hưởng hòa bình vĩnh cửu trong Nước của Người.
          Mặc dù đang ở trong một kế hoạch tuyệt vời của Thiên Chúa, chúng ta vẫn sống như là không có kế hoạch ấy vậy.  Như lời thánh Phao-lô, chúng ta vẫn “ngủ mê”, làm như không biết “ngày Thiên Chúa cứu độ chúng ta đã gần hơn trước kia”!  Chúng ta vẫn có những “việc làm đen tối”, không ý thức là “đêm sắp tàn, ngày gần đến”.  Ngày ám chỉ thời gian cứu độ của Chúa khi Chúa Giê-su đến lần thứ hai và đêm ám chỉ thời gian tung hoành của ma quỷ tội lỗi.  Ngày mà đến thì đêm dĩ nhiên phải ra đi.  Nhưng điều quan trọng đối với chúng ta là chúng ta có ở lại để đón Chúa Ki-tô, hay chúng ta sống buông thả để đi theo Xa-tan.  Ý thức điều này chính là điều thánh Phao-lô mong mỏi nơi các tín hữu Rô-ma nói riêng và nơi tất cả chúng ta nói chung.  Ngài muốn nhắc nhở chúng ta hãy lắng nghe lời kêu gọi của chính Chúa Giê-su.  Chúa Giê-su dạy rằng ngày Con Người quang lâm sẽ đến bất ngờ, tựa như cơn lụt hồng thủy thời Nô-ê đã đến mà không ai hay.  Cho nên “anh em hãy canh thức…, hãy sẵn sàng”.  Chúa còn nói rõ thêm về ý nghĩa của canh thức và sẵn sảng.  Phải canh thức, “vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em sẽ đến”, và phải sẵn sàng, “vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến”.  Đức Giê-su là “Chúa” và là “Con Người” sẽ đến, đó là lý do tuyệt đối và duy nhất để hết thảy chúng ta phải chọn lựa một lối sống canh thức và sẵn sàng!  Người đến để quy tụ chúng ta trong Nước Thiên Chúa, cho chúng ta hưởng bình an vĩnh cửu với Người bên cạnh Thiên Chúa Cha.
Sống sứ điệp Lời Chúa
          Thánh Phao-lô luôn thực tế.  Để giúp ta canh thức và sẵn sàng, ngài không đưa ra những lý thuyết suông, nhưng những thực hành cụ thể, là “chúng ta hãy loại bỏ những việc làm đen tối, và cầm lấy vũ khí của sự sáng để chiến đấu”.  Ngài không quên kể ra một số việc làm đen tối, như chè chén say sưa, chơi bời dâm đãng, cãi cọ ghen tương.  Diễn tả ý nghĩa cầm lấy vũ khí của sự sáng, ngài khuyên chúng ta “hãy mặc lấy Chúa Giê-su Ki-tô”, tức là hãy sống những tâm tình của Chúa Giê-su, mẫu mực của “trưởng tử” nhân loại mới vậy.
          Lm. Đa-minh Trần đình Nhi        

 

MV1-A146: Tỉnh Thức Và Chờ Đợi

CHÚA NHẬT I MÙA VỌNG - A
(Mt 24, 37-44)
 

Hôm nay, toàn thể Giáo hội bước vào Chúa nhật I Mùa Vọng, Năm Mới Phụng Vụ được bắt đầu, MV1-A146

Hôm nay, toàn thể Giáo hội bước vào Chúa nhật I Mùa Vọng, Năm Mới Phụng Vụ được bắt đầu, đặc biệt chúng ta chuẩn bị mừng Lễ Giáng Sinh của Con Một Chúa và bắt đầu lại cuộc lữ hành thiêng liêng hướng về Ðấng Thiên Sai muôn dân mong đợi.
Thiên Chúa là "Ðấng đang ngự đến"; Ngài đã đến giữa chúng ta nơi con người Chúa Giêsu Kitô; Ngài sẽ đến trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết. Mùa Vọng mới bắt đầu, dân Chúa lại được Đức Giêsu Kitô hướng dẫn trong cuộc hành trình mới. Đức Thánh Cha Phanxicô cũng đặt vấn đề : "Hành trình về đâu? Có một đích chung nào không? Ðích ấy là gì? Thiên Chúa đã trả lời thông qua ngôn sứ Isaia: " Trong tương lai, núi Nhà Đức Chúa đứng kiên cường vượt đỉnh các non cao, vươn mình trên hết mọi ngọn đồi. Dân dân lũ lượt đưa nhau tới, Nước nước dập dìu kéo nhau đi. Rằng: "Ðến đây, ta cùng lên núi Ðức Chúa, lên Nhà Thiên Chúa của Gia-cóp, để Người dạy ta biết lối của Người, và để ta bước theo đường Người chỉ vẽ." (Is 2,2-3)
Ðó là một cuộc hành hương của cả vũ trụ hướng về một cùng đích chung, chính là Giêrusalem của Cựu Ước, nơi có Ðền Thờ Ðức Chúa, vì từ đó, dung nhan của Thiên Chúa và giới luật của Người sẽ được ban truyền, và "đền thờ của Thiên Chúa" là chính Người, Ngôi Lời đã làm người: Người hướng dẫn và đặt đích đến cho cuộc hành hương của Dân Chúa; và là ánh sáng chiếu rọi dân Người để họ có thể tiến tới một Vương Quốc của công chính và bình an. Tiên Tri Isaia nói: "Người sẽ đứng làm trọng tài giữa các quốc gia và phân xử cho muôn dân tộc. Họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày, rèn giáo mác nên liềm nên hái. Dân này nước nọ sẽ không còn vung kiếm đánh nhau, và thiên hạ thôi học nghề chinh chiến." (Is 2,4)
Như vậy, hành trình mới nhân loại được Chúa Giêsu hướng dẫn qua dòng lịch sử hướng về sự kiện toàn trong Vương Quốc của Thiên Chúa. Mùa Vọng được ghi dấu đặc biệt bởi sự tỉnh thức và đợi chờ. Tỉnh thức để tích cực làm việc tốt, chờ đợi trong tình yêu thương và hy vọng. Vì thế, chúng ta có thể dùng thời gian này như một lời mời gọi đổi mới một vài khía cạnh cần thiết trong cuộc sống.
Thứ nhất, cần phải tỉnh thức, vì ý nghĩa cuộc sống trên trái đất này là để chuẩn bị cho cuộc sống mai hậu, mà thời gian chuẩn bị là món quà và ân sủng của Thiên Chúa. Ngài không muốn áp đặt tình yêu của mình trên chúng ta, cũng không phải trên Trời: Ngài muốn chúng ta được tự do (vì đây là cách duy nhất của tình yêu). Chúng ta không biết khi nào việc chuẩn bị sẽ kết thúc: "Chúng ta loan báo Chúa Kitô đến và không chỉ có đến mà còn hoàn tất thế giới này" (Thánh Cyrillô thành Giêrusalem). Nỗ lực duy trì một thái độ mới với niềm hy vọng là điều chúng ta phải có.
Thứ hai, chúng ta cần phải tỉnh thức vì thói quen và thoải mái không thích hợp với tình yêu. Lời Chúa nhắc nhở chúng ta rằng, cũng như "trong thời Noe" người ta ăn uống, dựng vợ gả chồng (x.Mt 24,37-38) không có nghi ngờ gì khi mà lụt đại hông thủy đến. Tương tự như thời ông Noe, Đấng xét xử sẽ đến đem người này đi và bỏ người kia lại, thật bất ngờ.
Phải tỉnh thức, Đức Bênêđictô XVI nói : "chỉ có người tỉnh thức mới không cảm thấy bất ngờ". Chúng ta phải chuẩn bị với một tình yêu rực cháy trong tim, như các trinh nữ khôn ngoan cầm đèn đi đón chàng rể. "Kìa chàng rể đến" (Mt 25,6), Chúa Giêsu Kitô sẽ đến vào lúc người ta không ngờ.
Ngày giờ Chúa đến là niềm vui không cùng cho những ai cầm đền cháy sáng trong tay. Người đến như một người cha trong gia đình sống ở phương xa viết thư thăm nhà : Cả nhà cứ đợi, bố sẽ về. Từ từ hôm đó, niềm vui tràn ngập trong gia đình đến: Bố về!  Các thánh là những mẫu gương cho chúng ta, vì các ngài đã sống "trong sự chờ đợi Chúa".
Mùa Vọng giúp chúng ta chờ đợi Chúa đến trong yêu thương và an bình. Thánh Augustinô cho chúng ta một bài học về sự đợi chờ : "Sống sao chết vậy". Nếu chúng ta chờ đợi với tình yêu, Chúa đến, Người sẽ lấp đầy trái tim ta niềm vui chờ đợi Chúa.
"Vậy các con cũng phải sẵn sàng, vì lúc các con không ngờ, Con Người sẽ đến" (x.Mt 24,42). Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI giải thích: "Tỉnh thức có nghĩa là theo Chúa, lựa chọn những gì Chúa Kitô đã chọn, yêu thương những gì Chúa đã yêu, để có một cuộc sống phù hợp với mình. Khi Con Người đến ...Chúa Cha sẽ chào đón chúng ta trong vòng tay yêu thương của Chúa, vì chúng ta giống Con của Ngài".
Noi gương Mẹ Maria, mẫu gương đẹp nhất trong Mùa Vọng về sự chờ đợi và đón nhận Con Thiên Chúa làm Người. Nguyện xin Ðức Nữ Ðồng Trinh Maria giúp chúng ta mở rộng tâm hồn cho Chúa Kitô ngự đến. Amen.

 

MV1-A147: BẤT NGỜ

Cuộc sống luôn có những điều bất ngờ. Điều bất trắc có thể xảy ra bất cứ lúc nào, ngày nay có vẻ MV1-A147 Ephata

Cuộc sống luôn có những điều bất ngờ. Điều bất trắc có thể xảy ra bất cứ lúc nào, ngày nay có vẻ còn dễ xảy ra bất trắc hơn, thế nên tỉnh thức và đề phòng càng phải ở mức cao độ.
Đơn giản và minh nhiên như việc lắp đặt các camera ở các hẻm – cụ thể là tại nhiều con hẻm tại Sàigòn. Trước đây không cần, tại sao ngày nay lại cần ? Câu hỏi đó chứng tỏ mức an toàn kém hơn ngày xưa, do đó mà cần phải cảnh giác cao độ. Mới đây, một phụ nữ tưởng ở trước nhà mình thì không sao, nhưng bất ngờ tên trộm giật túi xách của chị và rú ga chạy mất.
Đời thường đã vậy, đời tâm linh càng phải cảnh giác hơn nữa. Ma quỷ ngày nay cũng tinh quái và ranh mãnh hơn ngày xưa, nó ẩn hiện ngay trên internet – nhất là các mạng xã hội như Facebook hoặc Twitter, chẳng biết đâu là thật hay giả !
Thời gian thấm thoắt, chớp mắt vài cái là hết năm – cả năm thường và Năm Phụng Vụ. Có cuối năm thì cũng có đầu năm. Và Năm Phụng Vụ lại bắt đầu năm mới khi Mùa Vọng đến, nhắc nhở chúng ta kỷ niệm việc mong chờ Con Thiên Chúa nhập thể làm người để cứu độ chúng ta, nhưng Mùa Vọng muốn nhắc nhở quan trọng hơn: mong chờ Chúa Giêsu tái lâm.
Trình thuật Is 2, 1-5 nói về nền hoà bình vĩnh cửu. Loại hòa bình này chỉ có thể đến từ Thiên Chúa. Ngày nay hòa bình trần gian luôn bị đe dọa vì người ta có loại chiến tranh tinh vi: chiến tranh khủng bố. Do đó, mức cảnh giác luôn ở dạng “báo động đỏ”.
Kinh Thánh cho biết: “Đây là điều mà ông Isaia, con ông Amốc, đã được thấy về Giuđa và Giêrusalem. Trong tương lai, núi Nhà Đức Chúa đứng kiên cường vượt đỉnh các non cao, vươn mình trên hết mọi ngọn đồi. Dân dân lũ lượt đưa nhau tới, nước nước dập dìu kéo nhau đi”. Đi đâu ? Vì sao ? Di tản vì tai họa hay chiến tranh ?
Dân Việt nghe đến di tản là khiếp lắm rồi, vì chỉ trong vòng vài chục năm thôi mà dân ta bao lần phải di tản, phải bỏ quê hương, phải rời nơi chôn nhau cắt rốn. Buồn lắm, đau lắm, nhưng cũng đành lòng thôi. Nhưng ở đây, muôn dân nước rủ nhau đi không vì đau khổ mà vì niềm vui, đi đến Miền Hạnh Phúc. Kinh Thánh cho biết: “Đến đây, ta cùng lên núi Đức Chúa, lên Nhà Thiên Chúa của Giacóp, để Người dạy ta biết lối của Người, và để ta bước theo đường Người chỉ vẽ. Vì từ Sion, thánh luật ban xuống, từ Giêrusalem, lời Đức Chúa phán truyền”.
Thật là diễm phúc cho các dân nước được di tản như vậy, có bất ngờ nhưng là điều bất ngờ sung sướng, không thể trì hoãn được. Miền Hạnh Phúc là Miền Bình An, Vùng Tự Do, Khu Thanh Thản, nghĩa là không cần đến bất cứ loại vũ khí, chỉ cần một loại vũ khí duy nhất: Vũ Khí Yêu Thương: “Người sẽ đứng làm trọng tài giữa các quốc gia và phân xử cho muôn dân tộc. Họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày, rèn giáo mác nên liềm nên hái. Dân này nước nọ sẽ không còn vung kiếm đánh nhau, và thiên hạ thôi học nghề chinh chiến. Hãy đến đây, nhà Giacóp hỡi, ta cùng đi, nhờ ánh sáng Đức Chúa soi đường !”
Và để minh chứng được hưởng sự tự do đích thức, mọi người không thể im lặng mà phải bày tỏ niềm hân hoan: “Miệng tôi nói lời hay lẽ phải, lòng gẫm suy câu khéo điều khôn, tai lắng nghe nhịp câu ngạn ngữ, mượn phím đàn giải nghĩa nhiệm mầu” ( Tv 49, 4-5 ). Nói chưa thỏa nên phải mượn âm nhạc để thể hiện. Ôi, vui sướng biết bao !
Thật vậy, tác giả Thánh Vịnh cũng phải thốt lên: “Vui dường nào khi thiên hạ bảo tôi: Ta cùng trẩy lên đền thánh Chúa!” ( Tv 122, 1 ). Và niềm vui mừng đó có thật, rất cụ thể, tuy không thể sờ được nhưng vẫn khả dĩ cảm nhận: “Giờ đây, Giêrusalem, cửa nội thành, ta đã dừng chân” ( Tv 122, 2 ).
Niềm vui sướng tột cùng đó được tác giả Thánh Vịnh mô tả và cụ thể hóa theo từng chi tiết của Đền Thờ Giêrusalem, tòa nhà hữu hình là hiện thân của Tòa Nhà Thiên Quốc: “Giêrusalem khác nào đô thị được xây nên một khối vẹn toàn. Từng chi tộc, chi tộc của Chúa, trẩy hội lên đền ở nơi đây, để danh Chúa, họ cùng xưng tụng, như lệnh đã truyền cho Ítraen. Cũng nơi đó, đặt ngai xét xử, ngai vàng của vương triều Đavít” ( Tv 122, 3-5 ).
Niềm vui giấu kín trong lòng là niềm vui chưa trọn vẹn, niềm vui được chia sẻ sẽ là niềm vui được nhân đôi: “Hãy nguyện chúc Giêrusalem được thái bình, rằng: ‘Chúc thân hữu của thành luôn thịnh đạt’, tường trong luỹ ngoài hằng yên ổn, lâu đài dinh thự mãi an ninh. Nghĩ tới anh em cùng là bạn hữu, tôi nói rằng: ‘Chúc thành đô an lạc’. “Nghĩ tới đền thánh Chúa, Thiên Chúa chúng ta thờ, tôi ước mong thành được hạnh phúc, hỡi thành đô !” ( Tv 122, 6-9 ). Điều này gợi nhớ đến lúc chúc bình an trong Thánh Lễ. Tuy nhiên, có một số người thụ động, không biết vì lý do gì, họ đứng “như tượng gỗ”, không cúi đầu chúc bình an cho ai hết. Ích kỷ hay bất cần ?
Các Kitô hữu, đặc biệt là các tín hữu Công Giáo, được mệnh danh là “con cái của ánh sáng” – tức là con cái của Thiên Chúa, Đấng là Nguồn Ánh Sáng. Chắc chắn cách sống phải khác với những người vô thần hoặc những người chưa chân nhận Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa. Vậy phải sống như thế nào ? Phải yêu thương nhau, và chỉ mắc nợ nhau “trái khoản yêu thương” mà thôi ( x. Rm 13, 8 ).
Thánh Phaolô xác định: “Phải như thế, vì anh em biết chúng ta đang sống trong thời nào. Đã đến lúc anh em phải thức dậy, vì hiện nay ngày Thiên Chúa cứu độ chúng ta đã gần hơn trước kia, khi chúng ta mới tin đạo. Đêm sắp tàn, ngày gần đến. Vậy chúng ta hãy loại bỏ những việc làm đen tối, và cầm lấy vũ khí của sự sáng để chiến đấu” ( Rm 13, 11-12 ). Đó là hai công việc cần phải làm, bởi vì mỗi chúng ta đều là chiến binh của Thiên Chúa, nghĩa là luôn phải chiến đấu với ba thù để bảo vệ Tổ Quốc Thiêng Liêng của chúng ta: Thiên Đàng.
Thánh Phaolô cho biết binh pháp để chúng ta chiến đấu: “Chúng ta hãy ăn ở cho đứng đắn như người đang sống giữa ban ngày: KHÔNG chè chén say sưa, KHÔNG chơi bời dâm đãng, cũng KHÔNG cãi cọ ghen tương. Nhưng anh em hãy mặc lấy Chúa Giêsu Kitô, và đừng chiều theo tính xác thịt mà thoả mãn các dục vọng” ( Rm 13, 13-14 ). Theo đó, chúng ta có thể gọi là Luật-Ba-Không, và luật này cần phải được áp dụng trong cuộc sống – đặc biệt là trong Mùa Vọng này. Và hãy luôn lâm râm khấn nguyện: “Lạy Chúa, xin tỏ lòng từ bi Chúa cho chúng con, và ban ơn cứu rỗi cho chúng con” ( Tv 84, 8 ).
Chiến đấu thì phải tỉnh thức, phải cảnh giác cao độ, vì địch quân có thể bất ngờ tấn công mọi nơi và mọi lúc, bất kể ngày hay đêm. Chúng bắn tỉa hoặc pháo kích thì chúng ta cũng khó biết từ đâu.
Qua trình thuật Mt 24, 37-44 ( tương đương Mc 13, 32-37; Lc 17, 26-30, 35-36 ), Kinh Thánh cho biết lời căn dặn của Chúa Giêsu dành cho chúng ta: PHẢI CANH THỨC và SẴN SÀNG. Hai động thái vô cùng quan trọng !
Chúa Giêsu nói: “Thời ông Nôê thế nào thì ngày Con Người quang lâm cũng sẽ như vậy. Vì trong những ngày trước nạn hồng thuỷ, thiên hạ vẫn ăn uống, cưới vợ lấy chồng, mãi cho đến ngày ông Nôê vào tàu. Họ không hay biết gì, cho đến khi nạn hồng thủy ập tới cuốn đi hết thảy. Ngày Con Người quang lâm cũng sẽ như vậy. Bấy giờ, hai người đàn ông đang làm ruộng, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại; hai người đàn bà đang kéo cối xay, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại”. Rất thẳng thắn và rõ ràng, không hề úp mở, và cũng không khó hiểu chi cả!
Mỗi khi có “sự cố” gì đó xảy ra, đôi khi chỉ là tin đồn, người ta cuống cuồng như gà mắc tóc. Cụ thể là Cơ quan NASA ( National Aeronautics and Space Administration, thường gọi là Cơ Quan Không Gian Hoa Kỳ ) đã dự báo về tình trạng đen tối bao trùm Trời Đất trong ba ngày từ 23 đến 25.12.2012. Và rồi chẳng thấy biến chuyển gì, người ta là “vô tư”. Sau đó, NASA lại xác nhận rằng “Trái Đất sẽ u tối SÁU ngày trong tháng 12 năm 2014”. Và rồi trời đất cũng vẫn bình an vô sự. Ôi dào, mệt quá !
Thi thoảng người ta vẫn có những kiểu đưa tin “giật gân” như vậy, có lẽ người ta muốn “đánh” vào bản tính hiếu kỳ của con người. Không chỉ những chuyện về thiên nhiên, về vật lạ, thú lạ, cây lạ,… mà còn có cả những chuyện người ta cho là “phép lạ”. Chúa cũng rất mệt đối với loài thụ tạo của Ngài thật đấy ! Những điều đáng phải tin thì không chịu tin, chỉ thích những chuyện “lạ mắt, lạ tai”.
Kiểu sống như vậy là hâm hẩm, nửa vời. Nếu vậy thì sao ? Thiên Chúa nói thẳng thắn: “Vì ngươi hâm hẩm, chẳng nóng chẳng lạnh, nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta” ( Kh 3, 16 ).
Chúa Giêsu cũng đã từng bảo chúng ta đừng nhẹ dạ cả tin những tin đồn nhảm nhí, và hôm nay Ngài tiếp tục cảnh báo: “Anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến. Anh em hãy biết điều này: nếu chủ nhà biết vào canh nào kẻ trộm sẽ đến, hẳn ông đã thức, không để nó khoét vách nhà mình đâu. Cho nên anh em cũng vậy, anh em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ thì Con Người sẽ đến”.
Đầy tớ nào sẵn sàng thì không sợ chủ về bất ngờ, dù lúc nào; còn đầy tớ nào ỷ lại thì sẽ không kịp xoay sở đối với tình huống bất ngờ, và mọi sự sẽ được phơi bày. Cuộc sống đời thường đã vậy, cuộc sống tâm linh cũng tương tự.
Lạy Thiên Chúa, xin giúp con biết tỉnh thức và sẵn sàng chờ đón Ngài, cả khi con thức ban ngày và lúc con ngủ ban đêm. Xin giúp con sống viên mãn từng giây phút mà con được Ngài đại lượng trao ban. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.
TRẦM THIÊN THU

 

 MV1-A148: LỜI SỐNG THÁNG 11 NĂM 2016

“Tôi chịu được mọi sự, với Đấng ban sức mạnh cho tôi” ( Pl 4, 13 )
 

Có những lúc chúng ta cảm thấy thoải mái, đầy sức mạnh và mọi sự xem ra dễ dàng và nhẹ nhõm. MV1-A148

Có những lúc chúng ta cảm thấy thoải mái, đầy sức mạnh và mọi sự xem ra dễ dàng và nhẹ nhõm. Những lúc khác chúng ta bị tấn công bởi những khó khăn làm cay đắng ngày sống của ta. Đó có thể là những thất bại nhỏ trong việc mến yêu những người bên cạnh mình, là việc không thể chia xẻ với người khác lý tưởng sống của mình. Hay là những lúc bệnh nạn, thiếu thốn tiền nong, thất vọng gia đình, những nghi ngờ và những đau khổ nội tâm, mất việc làm, tình trạng chiến tranh, chúng ập đến, đè bẹp chúng ta và xem ra không có lối thoát. Điều nặng nề hơn cả trong những cảnh huống này là ta cảm thấy bị bó buộc, phải một mình đối phó với những thử thách cuộc đời, mà không có sự nâng đỡ của người có khả năng đem lại cho ta sự giúp đỡ nhất định.
Có ít người như Tông Đồ Phaolô đã sống hết sức những niềm vui và đau khổ, những thành công và hiểu lầm. Và thánh nhân còn biết can đảm theo đuổi sứ mạng của mình, không đầu hàng sự thất vọng. Có phải thánh nhân là một siêu nhân không ? Không, ngài cảm thấy mình yếu đuối, mỏng dòn, không đủ khả năng, nhưng có được một bí mật, điều mà thánh nhân tâm sự với những người bạn ở cộng đoàn Philípphê: “Tôi chịu được mọi sự, với Đấng ban sức mạnh cho tôi”. Thánh nhân đã khám phá trong chính cuộc sống mình sự hiện diện vững vàng của Chúa Giêsu. Cả khi mọi người bỏ rơi ngài, thánh Phaolô không bao giờ cảm thấy cô đơn: Chúa Giêsu vẫn ở bên ngài. Chính Chúa Giêsu đem lại cho thánh nhân sự an toàn và thúc đẩy ngài tiến lên, đương đầu với mọi nghịch cảnh. Chúa đã hoàn toàn đi vào cuộc sống của thánh nhân, trở nên sức mạnh của ngài.
Bí mật của thánh Phaolô cũng có thể nên bí mật của chúng ta. Tôi có thể chịu được mọi sự, khi trong đau khổ tôi cũng nhận ra và đón lấy sự gần gũi nhiệm mầu của Chúa Giêsu, Đấng hầu như đồng hóa và nhận lấy cho mình đau khổ đó. Tôi có thể chịu được mọi sự, khi tôi sống trong sự hiệp thông thương yêu với người khác, vì lúc đó Chúa Giêsu đến giữa chúng ta, như Người đã hứa ( Mt 18, 20 ), và tôi được nâng đỡ bởi sức mạnh hiệp nhất. Tôi có thể chịu được mọi sự, khi tôi đón nhận và đem thực hành những lời Tin Mừng: những lời đó làm cho tôi nhận ra con đường tôi đã được kêu gọi phải theo mỗi ngày, chúng dạy cho tôi phải sống thế nào, chúng cho tôi niềm tin tưởng.
Tôi sẽ có được sức mạnh để không chỉ đương đầu với những thử thách của riêng tôi, hoặc của gia đình tôi, mà cả những thử thách của thế giới chung quanh. Điều đó xem ra là ngây thơ, ảo tưởng, vì những vấn đề của xã hội và của các quốc gia vẫn còn đó. Và chúng ta cũng có thể chịu đựng “mọi sự” với sự hiện diện của Đấng Toàn năng, “mọi sự” và chỉ có sự thiện mà trong tình yêu thương xót, Người đã nghĩ ra cho tôi và cho người khác qua tôi. Và nếu điều đó không được thể hiện ngay lập tức, thì chúng ta có thể vẫn tiếp tục tin tưởng và hy vọng vào chương trình thương yêu của Thiên Chúa, Đấng trường cửu và cuối cùng Người sẽ chu toàn.
Chỉ cần làm việc “tay đôi”, như chị Chiara Lubich đã chỉ dạy: “Tôi không thể làm được gì trong trường hợp đó, cho người thân đang gặp nguy hiểm hay bệnh nạn đó, trong hoàn cảnh phức tạp đó… Nhưng tôi sẽ làm điều Chúa muốn nơi tôi trong giây phút này: đó là học hành tốt, quét dọn tốt, cầu nguyện tốt, trông nom tốt con cái của tôi… Và Chúa sẽ nghĩ đến việc gỡ rối mớ hỗn độn đó, đến việc an ủi người sầu khổ, đến việc giải quyết cái bất ngờ. Đó là việc làm tay đôi trong sự hiệp thông hoàn toàn, điều đòi nơi chúng ta lòng tin vững vàng vào tình yêu Thiên Chúa đối với con cái của Người và trong cách hành xử của ta, để cho chính Thiên Chúa có thể tin tưởng nơi chúng ta.
Sự tin tưởng lẫn nhau này làm nên những điều lạ lùng. Ta sẽ thấy rằng ở đâu chúng ta không tới được, thì thực sự một Đấng khác đã tới được, Người đã thực hiện tốt hơn chúng ta rất nhiều”.
Lm. FABIO CIARDI, Focolare

 

MV1-A149: BẤT NGỜ CHÚA ĐẾN

Nước từ thượng nguồn bất ngờ đổ về trong chiều 1.11.2016 khiến hàng ngàn hộ dân trên địa bàn  MV1-A149

Nước từ thượng nguồn bất ngờ đổ về trong chiều 1.11.2016 khiến hàng ngàn hộ dân trên địa bàn huyện Cam Lộ ( Quảng Trị ) chìm trong biển nước. Theo đó, mưa lớn trong đêm 31 tháng 10 và sáng 1 tháng 11 đã khiến mực nước sông Hiếu đoạn qua huyện Cam Lộ ở mức báo động 3.
Đến khoảng 7 giờ sáng thì nước ở thượng nguồn bất ngờ đổ về, do nước lên nhanh, nên người dân không kịp sơ tán đồ đạc di chuyển lên cao. Nhiều tài sản của người dân bị cuốn trôi hoặc chìm trong nước. Bà Trần Thị Linh ( 58 tuổi, trú tại khu phố Tây Hòa, thị trấn Cam Lộ ) cho biết: “Sáng nay khoảng 5 giờ thì tôi thấy nước bắt đầu lên nhẹ, đến khoảng 7 giờ thì nước đổ về rất nhiều rồi ngập sâu. Các vật dụng trong gia đình tôi đều bị hư hỏng, cuốn trôi, hơn 10 tấn xi măng không kịp di chuyển cũng bị ngập hư hỏng nặng”.
Thống kê thiệt hại do mưa lũ cho thấy, hầu hết các hộ gia đình tại 4 xã, 14 thôn với khoảng 2.000 hộ bị ngập lụt. Nước lên rất nhanh nên ngập nhiều và tài sản của bà con cũng bị thiệt hại nhiều. Lúa ngoài đồng đã thu hoạch rồi, nhưng về nhà cũng không giữ được. ( Nguyễn Phương, Quảng Trị lũ bất ngờ, hàng ngàn hộ dân bị chìm trong biển nước, Dân Việt ).
Trong một buổi sáng cuối năm 2016 này, bất ngỡ lũ đến Cam Lộ, cuốn trôi tất cả, phần nào tựa trận Hồng Thuỷ thời ông Noê, như Tin Mừng Chúa Nhật 1 Mùa Vọng hôm nay, Đức Giêsu cất tiếng cảnh báo thời mạt thế sẽ đến.
Dấu chỉ 
"Trong thời ông Noê xảy ra thế nào, thì lúc Con Người đến cũng như vậy.” Theo sách Sáng Thế, từ chương 6 đến chương 9, kể về trận Hồng Thuỷ. Ông Noê cùng gia đình là những người công chính. Trong khi thế gian đã ra hư hỏng, đầy bạo lực. Mọi xác phàm đã theo nếp sống sa đọa, gian tà. Vì thế, Thiên Chúa đã ưu ái cứu sống toàn gia đình ông Noê và những thú vật tuyển chọn.
Dấu chỉ hôm nay cũng rất rõ ràng. Sự dữ đang lên ngôi trong nền văn minh chết chóc. Điển hình như truyền thông vốn được coi là tiếng nói lương tâm, vốn phục vụ cho Chân Thiện Mỹ, thì nay trở thành công cụ kín đáo, sắc bén, thâm độc của phe đảng, tài phiệt, tập đoàn, lạm dụng, lũng đoạn, xuyên tạc, cụ thể như vụ truyền thông bẩn ở Việt Nam về thạch tín trong nước mắm truyền thống.
Dấu chỉ hôm nay cũng có gương mặt rất sáng láng, tốt lành, thánh thiện, như Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII, Thánh Giáo Hoàng Gioan -II, Thánh Têrêsa Calcutta. Các Đấng rất tích cực làm chứng nhân cho Đức Giêsu Kitô. Tương tự như các ngài hiệp sức cùng Hội Thánh, đóng con tầu vĩ đại, rộng tay mời gọi mọi người đến ẩn náu an toàn, trước cơn hồng thuỷ cánh chung.
Sẵn sàng
“Khi ấy sẽ có hai người đàn ông đang ở ngoài đồng, một người được tiếp nhận, một người bị bỏ rơi. Và có hai người đàn bà đang xay bột, một người được tiếp nhận, còn người kia bị bỏ rơi.” Đức Giêsu không muốn nói đến xác suất, chỉ có 50% nhân loại được cứu rỗi, mà Người khẩn thiết kêu gọi mọi người hãy luôn tỉnh thức, luôn chuẩn bị và sẵn sàng cho ngày phán xét, khi nhắm mắt xuôi tay. 
Luôn làm tròn bổn phận, trách nhiệm trong từng phút giây là trung thành vâng theo Thánh Ý Chúa. Luôn chu đáo, sẵn sàng như năm cô trinh nữ đem dầu theo đèn, đón chờ chàng rể, luôn siêng năng tích luỹ nhân đức, luôn xả kỷ vị tha, luôn cho đi mọi sự, luôn dấn thân phục vụ mọi người. "Nếu ai muốn theo Thầy, thì hãy từ bỏ mình đi, và vác thập giá mình mà theo Thầy" ( Mt 16, 24 ).
Luôn khiêm nhường xét mình hàng ngày, để nhận biết lỗi lầm, ăn năn sám hối, giao hoà với Chúa và tha nhân. “Anh em hãy thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sẵn. Hãy làm như những người đợi chủ đi ăn cưới về, để khi chủ vừa về tới và gõ cửa, là mở ngay” ( Lc 12, 35-36 ).
Chúa lại đến
“Vậy hãy tỉnh thức, vì không biết giờ nào Chúa các con sẽ đến.” Không ai biết ngày tháng nào mạt thế. Cũng chẳng ai biết được khi nào được Chúa gọi về, hay Chúa đến gõ cánh cửa linh hồn. Nên Đức Giêsu cực lực cảnh báo mọi người hãy luôn chuẩn bị chu đáo cho thời điểm bất ngờ đó. “Vậy các con cũng phải sẵn sàng, vì lúc các con không ngờ, Con Người sẽ đến.” Thánh Phaolô cũng hết sức ráo riết nhắc nhủ tín hữu luôn quan tâm đến cái kết thúc cuộc đời. Nhất mực cần thiết giữ được ngọn lửa thương yêu với tha nhân. “Hãy tỉnh thức, hãy đứng vững trong Ðức Tin, hãy sống cho đáng bậc nam nhi và ăn ở kiên cường. Hãy làm mọi sự vì Đức Ái” ( 1Cr 16, 13-14 ).
“Con hãy sẵn sàng cầm đèn sáng đợi chờ giờ Chúa trở lại, như Chúa muốn, nơi Chúa muốn, lúc Chúa muốn” ( Đường Hy Vọng, số 670 ).
Lạy Chúa Giêsu, xin luôn nhắc nhủ chúng con ý thức cuộc đời mong manh, mỏng dòn, phù vân chóng qua như gió thoảng, mây trôi, để chúng con dám can đảm từ bỏ chính mình, vác thập giá bổn phận hằng ngày, cùng sẵn sàng lắng nghe Chúa gọi về.
Thứ Tư thì ngắm: Đức Chúa Trời cho Đức Bà lên trời. Ta hãy xin ơn chết lành trong tay Đức Mẹ. Amen.
AM. TRẦN BÌNH AN

 

MV1-A150: NỀN HOÀ BÌNH TUYỆT ĐẸP

Năm Phụng Vụ khởi đầu bằng Mùa Vọng. Bài Thánh Ca quen thuộc ngân vang trong những sinh MV1-A150

Năm Phụng Vụ khởi đầu bằng Mùa Vọng. Bài Thánh Ca quen thuộc ngân vang trong những sinh hoạt đạo đức hàng ngày: Xin cho lòng chúng con luôn mở rộng chờ mong Chúa đến, xin cho lòng chúng con luôn thắm đượm một tình yêu mến, xin cho lòng chúng con luôn ước ao, luôn khát khao, một thế giới sướng vui dạt dào, một thế giới không còn khổ đau… để Chúa đến trong cuộc đời, để Chúa đến mang ơn trời, nguồn hạnh phúc cho con người, nguồn cứu rỗi cho mọi nơi
Bài đọc 1 trích sách Ngôn Sứ Isaia: “Người sẽ đứng làm trọng tài giữa các quốc gia và phân xử cho muôn dân tộc. Họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày, rèn giáo mác nên liềm nên hái. Dân này nước nọ sẽ không còn vung kiếm đánh nhau, và thiên hạ thôi học nghề chinh chiến. Hãy đến đây, nhà Giacóp hỡi, ta cùng đi, nhờ ánh sáng Đức Chúa soi đường” ( Is 2, 1-5 ).
Ngôn Sứ Isaia ước mơ về một tương lai thế giới hoà bình, không còn đánh nhau, không còn chinh chiến nữa, gươm đao giáo mác trở nên liềm hái làm dụng cụ lao động. Bức tranh về một nền hoà bình tuyệt đẹp: sói với chiên con sẽ cùng nhau ăn cỏ, sư tử cũng ăn rơm như bò ( Is 65, 25 ), trẻ con thọc tay vào hang rắn lục
Isaia hướng nhân loại về niềm hy vọng: Này đây Ta sáng tạo trời mới đất mới, không còn ai nhớ đến thuở ban đầu và nhắc lại trong tâm trí nữa. Nhưng thiên hạ sẽ vui mừng và luôn mãi hỷ hoan ( Is 65, 17-18 ).
Khát vọng của Ngôn Sứ Isaia cũng như của nhân loại ngàn đời là một nền hoà bình vĩnh cữu. Chính trong niềm khát vọng ấy mà Tu Sĩ Hermann Schaluck, Dòng Phanxicô, đã ước mơ đến: Trình thuật mới về công cuộc Sáng Tạo:
- Và Thiên Chúa nhìn thấy cách thức loài người khắp cõi trần, từ Đông sang Tây, từ Nam chí Bắc, không phân biệt nòi giống, nam nữ, đang khởi công liên hệ cùng nhau cách chân tình. Các dân tộc tự chọn giữa họ những người nam nữ tốt lành nhất và gởi họ tới lâu đài trứ danh bằng kính trên hòn đảo Manhattan ( Trụ sở Liên Hiệp Quốc ), nơi mở cửa đón tiếp tất cả các quốc gia hoàn cầu. Tại đây, họ lắng nghe đối thoại thân mật, thông cảm lẫn nhau và khai triển những dự án cộng đồng.
Và Thiên Chúa phán: “Như thế là tốt”. Và đây là ngày đầu tiên của kỷ nguyên mới.
- Và Thiên Chúa nhìn thấy cách các chiến sĩ hoà bình tách biệt các đạo quân đang lâm chiến với nhau, các tranh chấp được dàn xếp bằng lẽ phải và điều đình, chứ không phải bằng khí giới. Các nhà lãnh đạo quốc gia biết lắng nghe tiếng nói của các dân tộc, biết cùng nhau khởi sự coi trọng lợi ích toàn cầu và hoà bình thế giới kết hợp với lợi ích riêng biệt.
Và Thiên Chúa phán: “Như thế là tốt”. Và đó là ngày thứ hai của hành tinh mới.
- Và Thiên Chúa nhìn thấy cách loài người bắt đầu yêu chuộng và bảo vệ thay vì khai thác các thọ tạo: bầu khí quyển với lớp ozone, nước sông, nước biển, trái đất và nguyên liệu cũng như tất cả những gì sinh sống và phát triển tại đó. Và Thiên Chúa cũng thấy rằng bắt đầu loài người không còn thống trị và khai thác lẫn nhau, nhưng tự coi là con một Cha duy nhất và đối xử đồng đều với nhau.
Và Thiên Chúa phán: “Như thế là tốt”. Và đó là ngày thứ ba của kỷ nguyên tư tưởng mới.
- Và Thiên Chúa thấy cách loài người khắp hoàn cầu khởi công khám phá và loại trừ các nguyên nhân gây nên đói khát, bệnh tật, dốt nát và nghèo đói bất công. Họ khởi sự san sẻ cùng nhau những gì thuộc về tất cả và vì lợi ích chung và sự sống còn của toàn cầu, họ khởi sự xem xét các khía cạnh tích cực và quan điểm chung của các dân tộc và tôn giáo.
Và Thiên Chúa phán: “Sự việc phải như vậy”. Và đó là ngày thứ tư của cuộc sáng tạo mới.
- Và Thiên Chúa thấy cách loài người, với một ý thức hoàn hảo, có trách nhiệm chứ không vì ham muốn quyền lực, khởi sự xử dụng tài nguyên thiên nhiên được giao phó cho mình, đặc biệt là chất đốt rút ra từ lòng đất và năng lượng nguyên tử. Thiên Chúa thấy cách lương tâm họ luôn thức tỉnh thúc đẩy họ tự vấn xem lại các dự án mới mà họ định nghiên cứu có thích hợp với việc phục vụ Thiên Chúa và nhân loại không. Họ từ bỏ ươn ngạnh để chủ trương tế nhị, từ bỏ tham lam để chủ trương không vụ lợi, ích kỷ cá nhân và quốc gia để chủ trương tinh thần liên đới.
Và Thiên Chúa phán: “Như thế là tốt”. Đó là ngày thứ năm của một thế giới nhân đạo hơn.
- Và Thiên Chúa thấy cách loài người năm châu khởi sự tháo gỡ và phá bỏ các dàn phóng hoả tiễn, các kho bom đạn, vũ khí hoá học, vi trùng cũng như các vệ tinh do thám và hệ thống truy tầm, giải phóng quân đội và vì thế phổ biến trong học đường và chương trình giáo dục những mô hình sư phạm về hoà bình minh bạch và hữu hiệu đến nỗi các cuộc tranh chấp có thể được giải quyết bằng đường lối hoà bình.
Và Thiên Chúa phán: “Tất cả như thế là tốt”. Đó là ngày thứ sáu của một bầu trời mới.
- Và Thiên Chúa nhận thấy cách loài người bắt đầu tái nhận biết Ngài nơi mọi sự, Ngài, Thiên Chúa hằng yêu quý sự sống. Họ coi cuộc tranh đấu cho sự sống, cho phẩm giá và cho việc nhìn nhận quyền lợi mỗi cá nhân là một việc phụng sự Thiên Chúa. Và mỗi lần một trong những ý thức hệ họ sụp đổ, lúc thảo lại một hiến pháp mới, họ ghi vào đó rằng: Ta đừng bao giờ quên lãng Thiên Chúa là nguồn gốc và tận cùng một thế giới công bình và nhân đạo. Và họ nhìn nhận con người được sống và được giải phóng là dấu chỉ của Thiên Chúa trong lịch sử.
Và Thiên Chúa phán: “Bây giờ, tất cả đều trở nên tốt lành”. Đó là ngày thứ bảy của việc sáng tạo hoàn cầu. Từ đây hoàn cầu đồng thuộc về nhân loại mới và Thiên Chúa.
Một nền hoà bình đích thực dẫn đưa con người đến “trời mới, đất mới” ( Kh 21, 1 ) hiệp thông với Đấng là sự Thật và là Sự Sống. Loại bỏ những việc làm đen tối ( Rm 13, 13 ), mặc lấy Chúa Giêsu Kitô ( Rm 13, 14 ), nhân loại sẽ xây dựng được nền hoà bình vĩnh cửu. Niềm hy vọng một nền hòa bình vĩnh cửu gắn liền với lòng tin vào Đức Giêsu Kitô, Đấng cứu độ nhân loại bởi lẽ: Kitô giáo là tôn giáo của hy vọng vì dựa trên lời hứa của Thiên Chúa. Thiên Chúa hứa và Ngài sẽ thành tín thực hiện lời hứa. Thiên Chúa thực hiện từng giai đoạn và ngày càng trọn vẹn hơn. Vì thế người Kitô hữu luôn hướng về tương lai chờ đợi lời hứa cứu độ đã được thực hiện trong lịch sử và sẽ hoàn tất sau lịch sử.
Chờ đợi hướng về tương lai tức là hy vọng. Hy vọng luôn gắn liền với lòng tin. Không có đức tin hy vọng chỉ là ảo tưởng. Không có hy vọng đức tin sẽ chết khô. Nhờ đức tin chúng ta chọn đúng hướng. Nhưng chỉ có hy vọng mới làm cho ta đi tới cùng đường.Thiên Chúa hy vọng vào con người là để cho con người được hy vọng vào Thiên Chúa, và bởi Thiên Chúa luôn hy vọng vào con người qua những đường đến bất ngờ, nên con người chỉ có cách là hy vọng vào Thiên Chúa qua niềm tỉnh thức không mỏi mệt của mình.
Thiên Chúa là Sự Sống, là Tình Yêu. Đức Giêsu Kitô, Ngôi Lời Thiên Chúa làm Người. Đức Giêsu Kitô chính là Tin Mừng Sự Sống và Tình Yêu.Tin Mừng cứu độ mà Đức Giêsu loan báo cho loài người là Tin Mừng Sự Sống, Tin Mừng Tình Yêu. Ngài luôn mời gọi mọi người thiện tâm chung sức kiến tạo nền văn hoá sự sống và văn minh tình thương.
Tin Mừng Chúa Nhật I Mùa Vọng dặn dò mỗi người Kitô hữu là “Hãy tỉnh thức và cầu nguyện”. Tỉnh thức để đón chờ ngày tái ngộ với Chúa Kitô. Tỉnh thức không phải là việc dễ dàng. Tự sức ta sẽ khó mà tỉnh thức. Nên phải tha thiết cầu nguyện xin ơn Chúa trợ giúp. Cuộc tái ngộ có thể xảy đến bất ngờ đối với mỗi người và đối với cả nhân loại nên phải luôn tỉnh thức và cầu nguyện.
Tỉnh thức không “chè chén say sưa”, là đừng quá đam mê những hưởng thụ đời này. Tỉnh thức không “lo lắng sự đời”, là không quá mê say danh, lợi, thú.
Luôn tỉnh thức như khi đang lái xe, luôn nhìn trước ngó sau, tay ga vững vàng, chân thắng sẵn sàng, đi đường an toàn.
Tỉnh thức là biết chuẩn bị cho đời sau bằng cách vươn tâm hồn lên những chân trời cao thượng.
Người tỉnh thức sống ở đời này nhưng tâm hồn đã hướng về những giá trị tinh thần vĩnh cửu đời sau.
Tỉnh thức để không đánh mất phẩm chất cao đẹp của mình.
Cầu nguyện vì tinh thần mau mắn nhưng xác thịt nặng nề. Cầu nguyện để biết tỉnh thức. Vì khi cầu nguyện ta tách ra khỏi sự ràng buộc của thế giới vật chất để vươn tới thế giới tâm linh.
Cầu nguyện để xin ơn Chúa giúp. Con người phàm trần xác thịt nặng nề luôn bị trần gian lôi kéo. Chỉ với ơn Chúa giúp ta mới thoát khỏi vòng giam hãm của vật chất để vươn tâm hồn lên thế giới thiêng liêng.
Có tỉnh thức và cầu nguyện để khỏi sa chước cám dỗ và những lôi cuốn mời mọc hấp dẫn trong cuộc đời. Cầu nguyện trong tỉnh thức để luôn sẵn sàng vì không biết ngày giờ Chúa viếng thăm.
tỉnh thức cầu nguyện ta mới “đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến, và đứng vững trước mặt Con Người”.
Có tỉnh thức cầu nguyện ta mới khao khát Chúa đến. Có tỉnh thức cầu nguyện, khi Chúa đến ta mới đứng dậy và ngẩng cao đầu lên. Có tỉnh thức cầu nguyện ta mới gặp được Chúa. Có tỉnh thức cầu nguyện ta mới được vào thế giới mới với Chúa.
Tỉnh thức cầu nguyện, ta có thể gặp Chúa ngay bây giờ trong ngày hôm nay. Tỉnh thức cầu nguyện, chắc chắn ta sẽ được gặp Chúa trong ngày cùng tận của thế giới. Chúa sẽ đón ta vào hưởng hạnh phúc trong một thế giới mới hạnh phúc tuyệt đối và không bao giờ tàn lụi.
Mùa Vọng được khai mở với lời mời gọi của Chúa Giêsu: Hãy tỉnh thức và cầu nguyện.
Bước đầu là bước quyết định cho cả một cuộc đời, một chương trình kế tiếp như như sách Nho có câu: Nhất nhật chi kế tại ư thần, nhất niên chi kế tại ư xuân ( Kế hoạch một ngày hệ tại giờ ban mai, kế hoạch một năm hệ tại mùa xuân ).
Tỉnh thức và cầu nguyện là thái độ sống của người tín hữu suốt Năm Phụng Vụ.
Xin Chúa cho chúng con như ngọn đèn chầu trong Nhà Thờ, thức luôn và sáng luôn trước nhan Chúa. Amen.
Lm. Giuse NGUYỄN HỮU AN
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây