Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 2 MV-A Bài 1-50 Sám Hối

Thứ năm - 05/12/2019 08:57
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 2 MV-A Bài 1-50 Sám Hối
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 2 MV-A Bài 1-50 Sám Hối
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 2 MV-A Bài 1-50 Sám Hối
MV2-A1. Chiếc rìu sát gốc cây. 2
MV2-A2. Hãy sám hối 4
MV2-A3. SLC/8- Ăn năn sám hối 6
MV2-A4. SLC/8- Ăn năn sám hối 7
MV2-A5. Gioan Tiền Hô. 8
MV2-A6. NCYT/9 – Đường nào. 10
MV2-A7. GLCN/A/18 – Hoà bình. 11
MV2-A8. Suy Niệm của JKN.. 13
MV2-A9. Dọn đường cho Chúa- Lm. Bùi công Huy. 16
MV2-A10. Chuẩn Bị Đón Nhận Nước Trời- Lm. Bùi mạnh Tín. 18
MV2-A11. Xin Cho Con Biết Lắng Nghe- Lm. Bùi quang Tuấn. 19
MV2-A12. Thống Hối- Lm. Gioan Cao vũ Nghi 21
MV2-A13. Lời khuyên duy nhất- Lm Phạm quốc Hưng. 22
MV2-A14. Hãy ăn năn thống hối- Trần minh Đức. 25
MV2-A15. Hãy sám hối 26
MV2-A16. Hãy dọn đường Chúa. 28
MV2-A17. Xác quyết Thiên Chúa đang sống- Lm. Đinh tất Quý. 30
MV2-A18. Một lối sống, một lối nghĩ của Tin Mừng. 33
MV2-A19. Nước trời - Nhóm Đồng Hành. 35
MV2-A20. Anh em hãy sám hối- Lm. Jos. Phạm ngọc Ngôn. 36
MV2-A21. HÃY CẢI THIỆN ĐỜI SỐNG! 38
MV2-A22. Dọn đường. 42
MV2-A23. GIẤC MƠ THỜI THÁI BÌNH.. 43
MV2-A24. Hãy ăn năn và tin vào Phúc Âm.. 47
MV2-A25. CUỘC THAY ĐỔI TOÀN DIỆN.. 49
MV2-A26. Giờ G sắp đến ngay bây giờ. 51
MV2-A27. HÃY CHUẨN BỊ CHO CHÚA ĐẾN.. 54
MV2-A28. TRỞ VỀ CÙNG CHÚA. 57
MV2-A29. HÃY SÁM HỐI VÌ NƯỚC TRỜI ĐÃ GẦN ĐẾN.. 59
MV2-A30. Đấng sẽ đến - Gm Batôlômêô Nguyễn Sơn Lâm.. 60
MV2-A31. Anh em hãy sám hối 63
MV2-A32. LÀM VIỆC THIỆN ĐỂ ĐỀN BÙ TỘI LỖI XƯA.. 67
MV2-A33. LỜI KÊU GỌI SÁM HỐI - Lm Trần Bình Trọng. 67
MV2-A34. HÃY ĂN NĂN THỐNG HỐI - Trần Minh Đức. 69
MV2-A35. CON ĐƯỜNG HÔM NAY - Lm Nguyễn Ngọc Tỏ. 70
MV2-A36. HÃY TẨY VẾT XÂM ĐI !/ Cha Mark Link. 72
MV2-A37. XÂY DỰNG NƯỚC THIÊN CHÚA - Lm. Carrolo Hồ Bạc Xái. 75
MV2-A38. TƯ CÁCH CỦA VỊ TIỀN HÔ - ĐC. J.B. BÙI TUẦN.. 79
MV2-A39. ĐẤNG CỨU ĐỘ ĐÃ GẦN ĐẾN? - Lm. CAR. HO BAC XÁI 80
MV2-A40: Thái độ của Phêrô. 88
MV2-A41. CÕI PHÚC - CS/37. 90
MV2-A42. VINH QUANG - STM/71. 91
MV2-A43. THẬP GIÁ - CSTM/68. 93
MV2-A44. PHIÊU LƯU - SCĐ/102. 95
MV2-A45. BIẾN HÌNH SÁNG LÁNG - Lm. VIKINI 96
MV2-A46. Xin cho con biết lắng nghe. 97
MV2-A47. HOA QUẢ CỦA LÒNG SÁM HỐI! 99
MV2-A48. Các sứ điệp của Gioan Tiền Hô- ĐTGM Ngô quang Kiệt 103
MV2-A49. Mùa Vọng: Mùa màu tím – ĐGM Vũ duy Thống. 105
MV2-A50. Món “ăn năn” – ĐGM Vũ duy Thống. 108

 

MV2-A1. Chiếc rìu sát gốc cây

Có bao giờ chúng ta nghĩ đến những hình phạt mà Thiên Chúa sẽ đổ xuống trên nhân loại này: MV2-A1

Có bao giờ chúng ta nghĩ đến những hình phạt mà Thiên Chúa sẽ đổ xuống trên nhân loại này hay không ? Xã hội chúng ta đang sống chìm ngập trong tội lỗi, thế nhưng nhiều người lại không nhận ra điều đó.
Trước kia, lề luật của Thiên Chúa được coi là khuôn vàng thước ngọc, được coi là tiêu chuẩn hướng dẫn cho mọi hành động, từ gia đình cho tới học đường, từ làng xã cho đến quốc gia và quốc tế. Đâu đâu người ta cũng nói đến Thượng đế, đến Ông Trời, đến Thiên Chúa. Kẻ làm điều ác sẽ bị mọi người cảnh cáo, khinh bỉ và có khi còn bị loại trừ. Dĩ nhiên không phải vì thế mà tội lỗi biến đi, nhưng ít ra còn có những người can đảm dám nói lên tiếng nói của lương tâm, phủ nhận tội ác, không dung túng cũng như không đứng về phe tội ác.
Trái lại, trong thời buổi hiện nay phạm tội nhiều khi còn được coi là một hành động anh hùng và nếp sống vô luân trở thành một nếp sống  bình thường. Đã có những người cho rằng không phạm tội mới là bất bình thường. Có người chưa dám phạm tội, nhưng lại khoác lác như mình đã phạm tội để cho thiên hạ phải nể phục. Đã có những người tuyên bố  rằng :
- Thời vàng son của tự do đã tới, con người được thoải mái sống theo bản năng, muốn làm gì thì làm.
Từ đó, lòng trung thành với tình yêu bị phai mờ. Sự ngay thẳng bị rút vào bóng tối. Tham nhũng hối lộ là chuyện thường ngày. Kẻ lường gạt được coi là khôn ngoan. Người ta không cho kẻ gian ác bị tống ngục là điều chính đáng, nhưng chỉ tiếc là hắn ta thiếu khôn ngoan. Ngay cả những nơi trước kia nền luân lý được coi là khắt khe nhất, thì bây giờ cũng đã bị bóng tối che phủ.
Biết bao nhiêu tội nhân không hề biết dừng bước trên con đường tội lỗi. Ho ung dung bước đi, đến nỗi cảm thấy áy náy nếu không phạm tội, đúng như lời Đức Thánh Cha Piô XII đã cảnh cáo :
- Tội nặng nhất của con người thời nay, đó là họ đã mất ý thức về tội lỗi.
Hình như càng văn minh, con người càng phạm nhiều tội ác. Ngày xưa chỉ có một ngọn tháp Babel, chứ ngày nay không biết có bao nhiêu ngọn tháp như thế ? Chúng ta có nghĩ rằng mình đang sống ngoài vòng tội lỗi hay cũng đang lặn ngụp trong đó ? Chúng ta có ghi nhận những lời cảnh cáo của Chúa hay không ? Ngài sẽ làm gì khi thấy chúng ta như những con thiêu thân lao mình vào lửa ?
Nếu đã nói nhiều về tình thương của Chúa, thì hôm nay chúng ta cũng phải nói về cơn thịnh nộ của Ngài. Thực vậy, tình yêu không phải chỉ được biểu lộ qua những ân huệ trao ban, mà còn được biểu lộ qua những hình phạt sửa dạy. Kinh Thánh cũng đã cho thấy :
Một trận đại hồng thủy đã vùi dập nhân loại thuở ban sơ đang chìm đắm trong tội lỗi.
Một dân tộc Do Thái, dù đã được chọn làm dân riêng của Thiên Chúa, thế mà khi phản bội, Ngài cũng không ngần ngại trừng phạt họ một cách đích đáng, khiến bản thân họ bị tàn sát bởi những dân tộc hùng mạnh và đất nước họ bị đổ vỡ tan hoang.
Chúng ta liệu có xứng đáng hơn những người thời ông Noe, liệu chúng ta có trung thành hơn những người Do Thái hay không ? Chưa chắc đâu, bởi vì tội ác đã lên ngôi và Thiên Chúa sẽ trừng phạt :
- Cây nào không sinh trái thì sẽ bị chặt và quăng vào lửa.
Nói tới đây, hẳn chúng ta sẽ liên tưởng đến những trái bom nguyên tử đang treo lơ lửng  trên đầu nhân loại. Một trái bom loại này ngày xưa đã hủy diệt cả một thành phố như Hiroshima, còn hôm nay chỉ trong nháy mắt có thể san bằng cả một lục địa. Đúng là gậy ông đập lưng ông.
Thực vậy, chính tội ác của chúng ta đã làm nên những trái bom khủng khiếp ấy, để rồi một ngày kia chúng ta sẽ phải cúi đầu lãnh nhận hậu quả thảm khốc của nó.
Tuy nhiên, ngày xưa cũng như hôm nay, Thiên Chúa luôn tìm kiếm và cứu vớt những người kính sợ Ngài. Nếu ngày xưa tám người trong gia đình ông Noe được cứu thoát trên chiếc tàu do tay ông đóng lấy, thì hôm nay, chúng ta  hãy biết sám hối trở về cùng Chúa, để nhờ đó thoát khỏi án phạt của Ngài, vì này đây, chiếc rìu đã được đặt sát gốc cây.

 

MV2-A2. Hãy sám hối

(Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’)
 

Mùa Vọng là hướng tới tương lai. Các tiên tri là những người đã nhìn thấy tương lai. Các tiên tri: MV2-A2

Mùa Vọng là hướng tới tương lai. Các tiên tri là những người đã nhìn thấy tương lai. Các tiên tri lãnh sứ mạng loan báo cho Dân Chúa một tương lai huy hoàng, một niềm hy vọng phấn khởi vào thời đại Thiên Sai Cứu Thế sắp đến.
Tiên tri Isaia trong Bài đọc 1 hôm nay đã mô tả thời đại Thiên Sai như một thời đại thái bình, bằng những hình ảnh thật là thi vị: “Chó sói chung sống với chiên con, sư tử gặm cỏ với bò và trẻ em chơi chung với rắn lửa…”. Đó là cảnh thơ mộng của vườn Địa Đàng với những con thú dữ nằm kề bên thú hiền mà không cắn xé nhau. Tiên tri Isaia muốn nói đến một thời đại chung sống hoà bình trên trái đất. Ở đây không nhằm vào các con thú cho bằng nói đến con người, nói đến các dân tộc trên trái đất mà tiên tri Isaia sánh ví với các con thú hiền và các con thú dữ đã trở thành bạn hữu thân thiết, thành anh em. Thời đại hoà bình ấy sẽ đến, khi mọi người đều nhận biết Thiên Chúa và từ Thiên Chúa, con người tìm đường để đi đến với nhau. Còn đối với Gioan Tẩy Giả, vị tiên tri cuối cùng, thì thời đại của Đấng Thiên Sai Cứu Thế là thời kỳ thịnh nộ, thời phán xét của Thiên Chúa đối với dân Israel. Gioan Tẩy Giả kêu gọi Dân Chúa hãy sám hối tội lỗi. Khác hẳn với giọng điệu dịu hiền trong Tin Mừng của Chúa Kitô, Gioan Tẩy Giả còn đưa ra “cái rìu và cái nia” để hù doạ dân chúng: “Đây cái rìu để sẵn dưới gốc cây: cây nào không sinh trái tốt, sẽ bị chặt đi và quẳng vào lửa”. Và đây nữa: “Tay Ngài cầm cái nia, Ngài sẽ rê lúa trong sân. Lúa chắc hạt thì thu vào kho lẫm, còn lúa lép thì làm mồi cho lửa, thứ lửa không hề tắt!”. Lời rao giảng của vị tiên tri cuối cùng này vang lên theo một cung điệu thắm thiết: “Hãy sám hối vì Nước Trời đã đến gần”. Gioan Tẩy Giả tố cáo sự giả hình của lối sống đạo thuần tuý bên ngoài. Ông chống lại óc vụ luật, thái độ tự mãn, tự trấn an mình là con cháu Abraham. Gioan Tẩy Giả kêu gọi sự hối cải đích thực, đòi hỏi sự phát sinh hoa trái bên ngoài.
Đấng Thiên Sai đã đến và đã đến từ lâu. Kỷ nguyên mới đã mở ra. Muốn gặp gỡ Ngài cùng với triều đại của Ngài, chúng ta phải cấp tốc “bố trí” lại cõi lòng và cuộc đời của mình.
Trong phim “Người giàu cũng khóc”, mãi lâu lắm Luis mới khám phá ra Mariana chính là ánh sáng của đời mình. Sự khám phá này vẫn chưa tức thì đem lại hạnh phúc cho anh. Một quá khứ lôi thôi, với những tật xấu cùng những hậu quả xã hội của nó vẫn dai dẳng ngăn cản không cho anh bắt đầu một đời sống mới như anh hằng mơ ước khi yêu Mariana. Phải bố trí lại cách sống, phải sửa chữa lại những hậu quả xưa cũ, phải vượt qua rất nhiều khó khăn, Luis mới hội đủ điều kiện cần thiết để xây dựng một cuộc sống yêu thương hạnh phúc trong lành.
Cũng thế, không phải khi Đấng Thiên Sai xuất hiện là mọi ước vọng của con người lập tức được mãn nguyện. Bởi vì, con người vẫn có khả năng từ chối Đấng Thiên Sai, và trong thực tế vẫn thường xuyên từ chối chính bản thân của Đấng Thiên Sai, cũng như khước từ con đường Ngài đề nghị cho con người. Cõi lòng ngổn ngang tù túng của con người phải được sắp xếp bố trí lại. Mọi chướng ngại như đồi cao, hố sâu phải được san bằng, lấp đầy, thì bước chân của Đức Kitô mới tiến vào được. Lời của Gioan Tẩy Giả đã vang lên trong chiều hướng này: “Hãy dọn đường cho Chúa, hãy làm việc lành phúc đức để chứng tỏ lòng ăn năn sám hối”.
Lại quay về với cuốn phim quen thuộc: Khi biết chắc Mariana và Leonardo hứa hôn với nhau, chàng Luis rơi vào cơn hoảng loạn. Trước tình thế có thể mất Mariana vĩnh viễn, anh lao vào cuộc như điên dại. Anh không thể làm khác, vì anh quá yêu Mariana, anh không thể sống thiếu nàng.
Trong tầm nhìn của đức tin, đối với ta, Đức Giêsu còn hơn hẳn Mariana đối với Luis. Vì Ngài là tất cả niềm hy vọng, là trọn vẹn tương lai, và cũng là sự sống hiện tại của ta. Ngài phải là tình yêu tha thiết của ta, thúc đẩy ta cấp tộc “bố trí” lại cuộc đời mình, để cuộc chung sống giữa ta với Ngài có thể thực hiện được và thực hiện ngay bây giờ, không trì hoãn. Cuộc sống chung này sẽ mở ra một kỷ nguyên êm đềm tươi thắm diệu kỳ mà ta phải cấp bách đạt được bằng bất cứ giá nào. Sự chậm trễ trong việc thay đổi cách sống là dấu chứng ta chẳng hề yêu Ngài, và như vậy thì thật là không có gì tệ hại hơn. “Cái rìu đã đặt sẵn dưới gốc cây”: không có tình yêu Đức Giêsu, cây sẽ không sinh trái và chỉ còn có một cách là đốn ngay đi mà quăng vào lửa.
Anh chị em thân mến. Lời mời gọi của Chúa Nhật 2 Mùa Vọng là tiếng kêu “Hãy sám hối” của Gioan Tẩy Giả. Sám hối ở đây đồng nghĩa với Kitô hoá, nghĩa là “hãy để Đức Kitô chiếm hữu con tim của ta, hãy để cho Ngài cuốn hút ta vào một kỷ nguyên mới”. Muốn vậy, hãy hâm nóng tình yêu và cấp tộc bố trí lại cõi lòng cũng như cách sống của mình.
Chúng ta lại sắp được nên một với Đức Giêsu trong Thánh lễ hôm nay, điều đó càng đòi hỏi chúng ta sửa sang lại tâm hồn ngay bây giờ và trong từng giây phút cuộc đời. Rồi thì những điều kỳ diệu sẽ đến đáp ứng cho mọi khát vọng khôn nguôi của chúng ta.

 

MV2-A3. SLC/8- Ăn năn sám hối

Cách đây không lâu có một bài báo viết về một chương trình rất đặc biệt. Chương trình nói về: MV2-A3

Cách đây không lâu có một bài báo viết về một chương trình rất đặc biệt. Chương trình nói về việc tẩy xóa những vết xăm không còn muốn giữ lại trên thân mình, đặc biệt là những dấu xăm có liên hệ đến băng đảng của các bạn trẻ. Một điều rất ngạc nhiên xảy ra là sau khi bài báo xuất hiện, đã có trên 1000 lá thư từ các bạn trẻ khắp nơi gửi về tòa soạn hỏi thêm chi tiết về chương trình. Nhờ sự đáp ứng đáng kể đó mà một cơ quan giáo dục tại Los Angeles đã phối hợp với một hãng truyền hình địa phương sản xuất một cuốn phim gọi là “Untatoo You” – “Tẩy vết xăm cho bạn”.
Cuốn phim nói về những nguy hiểm của việc xăm mình và trình bày sự khó khăn của việc tẩy đi những dấu xăm nhỏ trên những cánh tay, khuôn mặt, và những vết xăm lớn hơn trên ngực và sau lưng. Các tài tử đóng phim này chính là những bạn trẻ đã xăm mình. Họ nói một cách thành thật về lý do tại sao lúc ban đầu họ đã xăm, và bây giờ tại sao họ lại muốn tẩy xóa đi. Sau cùng, cuốn phim đã chiếm được giải thưởng quốc gia, và bây giờ đã được phát hành trên khắp nơi.
Câu chuyện đằng sau cuốn phim  nói với chúng ta một điều quan trọng. Trong cuộc đời chúng ta đã làm những điều mà bây giờ cảm thấy ăn năn sám hối và muốn tẩy xóa đi. “Xưa anh em là bóng tối, nhưng bây giờ, trong Chúa, anh em lại là ánh sáng. Vậy anh em hãy ăn ở như con cái ánh sáng”.
Giống như những người trẻ vui mừng khi khám phá ra cách tẩy xóa những dấu xăm không còn muốn giữ nữa, chúng ta, những người Kitô hữu, cũng vui mừng vì Chúa Giêsu Kitô đã cho chúng ta một cách để tẩy xóa tội lỗi của mình. Chính Ngài đã đến để xóa tội trần gian. Chính Ngài đã lập ra Bích tích Hòa giải để tẩy xóa tội lỗi ta.
Chủ đề chính của Chúa nhật thứ II mùa vọng hôm nay là sự sám hối chân thành và lòng ăn năn trở về với Thiên Chúa. Sự sám hối chân thành được thể hiện bằng những thái độ, sự lựa chọn và cách sống phù hợp với những giảng huấn của Chúa Giêsu và Giáo Hội. Điều này được thực hiện trong Bí tích Giải tội với những tên gọi khác nhau như Bí tích của sự trở lại, Bí tích sám hối, Bí tích của ơn tha thứ, Bí tích hòa giải.
Trong tiếng Hy Lạp chữ sám hối, metanoia, vừa có nghĩa một cảm xúc hối tiếc về những tội lỗi quá khứ làm xúc phạm đến Thiên Chúa, vừa là việc xét mình tỉ mỉ những tội đã phạm, từng tội một, để xin Chúa tha thứ, vừa là một sự đòi hỏi hoán cải sâu xa trong tâm trí và cuộc sống.
Sự biến đổi cuộc sống là dấu chỉ của lòng sám hối đích thật. Phải thay đổi cách suy nghĩ, cách cư xử, và cách hành động. Giáo Hội vừa thánh thiện, vừa gồm những tội nhân. Như một thành phần trong Giáo Hội, chúng ta chưa là thánh, nhưng đang được kêu gọi để trở nên thánh, và luôn được mời gọi để thay đổi.
Nhưng trong quá trình hoán cải, giống như thánh Augustinô, đôi khi chúng ta cũng có khuynh hướng cầu xin với Chúa : “Lạy Chúa, xin hãy thay đổi con, nhưng xin thay đổi con từ từ thôi”. Chúng ta cũng còn muốn giữ lại một điều gì đó dính bén với tật xấu, thói quen tội lỗi và trần gian. Sự do dự chần chừ trong việc thay đổi cuộc sống như thế thường xảy ra trong đời sống thiêng liêng của con người. Hay tệ hơn nữa chúng ta lại còn có những cảm xúc hối tiếc giả tạo, đánh lừa chính mình nữa.

 

MV2-A4. SLC/8- Ăn năn sám hối

Lời kêu gọi của Gioan Tẩy giả thật rõ ràng : hãy nhận lấy trách nhiệm về những hành động của: MV2-A4

Lời kêu gọi của Gioan Tẩy giả thật rõ ràng : hãy nhận lấy trách nhiệm về những hành động của mình. Phải phục hồi lại cảm giác luân lý trong lời nói và việc làm. Phải nhìn thấy sự khác biệt giữa sự giả trá và lòng chân thành. Phải có bằng chứng hiển nhiên rằng mình thành thật ước muốn thay đổi cuộc sống. Một sự sám hối chân thành sẽ phát sinh hoa trái đạo đức : “Hãy sinh hoa quả xứng với lòng sám hối”.
Hôm nay thánh Gioan Tẩy giả cũng giảng dạy cho những người Kitô hữu ở thế kỷ 21 đang hờ hững và lạt lẽo với đời sống tinh thần. Ngài thách thức họ phải vứt bỏ những cái mặt nạ giả hình, dối trá, và gian tà bằng sự chân thành sám hối có sức mạnh biến đổi cuộc sống, và trở về với Thiên Chúa. Vì chỉ có lòng sám hối chân thành và ngay thực mới phát sinh được hoa trái đạo đức và mang lại ơn cứu độ như thánh Grêgôriô thành Nazianzê đã nói : “Các giáo phụ đã có lý để gọi sự sám hối là ‘một phép rửa tội gian khổ’. Bí tích sám hối này cần cho ơn cứu độ của những người phạm tội sau khi chịu phép rửa tội…”
Mùa vọng là thời gian để phục hồi lại đời sống tinh thần lạt lẽo của chúng ta và đặt Thiên Chúa lên hàng ưu việt trong thái độ sống và trong các chọn lựa. Đối với Kitô giáo, không có sự hoàn thiện nào mà không đòi hỏi một sự sám hối chân thành.

 

MV2-A5. Gioan Tiền Hô

Để hiểu được vai trò và sứ mạng của Gioan tiền hô, chúng ta hãy nhìn vào bối cảnh xã hội của: MV2-A5

Để hiểu được vai trò và sứ mạng của Gioan tiền hô, chúng ta hãy nhìn vào bối cảnh xã hội của người Do Thái thời bấy giờ.
Thực vậy, thời bấy giờ là thời đô hộ của đế quốc La mã, thời ra oai tác quá của Hêrôđê, thời dân Do Thái tìm mọi cách để được giải phóng.
Giữa lòng dân tộc và đặc biết tại thủ đô Giêrusalem, nhiều phe nhóm đã được hình thành với những khuynh hướng và lập trường khác biệt nhau.
Trước hết là nhóm Biệt phái. Nhóm này phát sinh từ thời Macabêô, qui tụ chừng sáu ngàn người, trong đó có một vài tư tế, các tiến sĩ luật, ký lục và thường dân. Nhờ trung thành với lề luật và truyền thống của cha ông, họ trở nên những nhà lãnh đạo tinh thần của dân chúng. Do đó, họ có một ảnh tưởng đáng kể về phương diện tôn giáo và luân lý. Riêng trong lãnh vực chính trị, họ bênh vực sự tự trị của dân tộc Do Thái và tỏ ra dè dặt đối với việc tiếp xúc với người La mã.
Bên cạnh họ là nhóm Sađucêô, con cháu của Sađốc, vị thượng tế thời Salomon. Vì thế họ làm thành phái các tư tế vì qui tụ những gia đình tư tế khá giả. Họ chấp nhận các phong tục Hy Lạp và thích nghi với chế độ thống trị của đế quốc La Mã. Về phương diện tôn giáo, họ chối bỏ truyền thống và niềm tin về sự sống lại, sự hiện diện của các thiên thần cũng như sự quan phòng của Thiên Chúa.
Ngoài ra, chúng ta cũng cần phải ghi nhận nhiều khuynh hướng cực đoan, chẳng hạn nhóm Zélote, là một đảng phái chính trị và tôn giáo quá khích, được Giuđa người xứ Galiêa thành lập vào năm thứ sáu với ước vọng hình thành một quốc gia thần quyền, trong đó chỉ mình Đức Giavê mới là vua dân Do Thái, đồng thời chủ trương dùng bạo lực để bẻ gẫy ách thống trị của đế quốc La mã. Họ từ chối đóng thuế và lánh vào hoang địa để chuẩn bị một cuộc thánh chiến. Và cuộc thánh chiến này đã bùng nổ vào năm 66.
Ngược lại, những người phái Esseni cũng vào hoang địa, nhưng để âm thầm sửa soạn cho một cộng đồng thiên sai của giao ước.
Chính trong môi trường đa diện ấy, khuôn mặt Gioan xuất hiện như một con người đang cực lực kêu gọi toàn dân Israel hãy ăn năn sám hối và quay trở về cùng Thiên Chúa.
Vậy lời kêu gọi của ông có ý nghĩa  gì ?
Đối với Gioan, lời kêu gọi ấy xác quyết rằng :
- Sự nong chờ của toàn dân đã đến ngày toại nguyện.
Cũng như những người đương thời, ông tin rằng :
- Niềm chờ mong sẽ được toại nguyện khi Đấng Thiên sai xuất hiện, Đấng mà ông giới thiệu như vị thẩm phán của thời sau hết…
Thực vậy, giữa thời Gioan rao giảng và thời sau hết, giữa lúc bấy giờ và ngày cuối cùng chỉ còn chỗ cho một biến cố duy nhất, đó là việc quang lâm của Đấng sẽ đến để chấm dứt mọi sự.
Cũng như các vị tiên tri đi trước, Gioan tố cáo sự giả hình và thái độ tự mãn của người Do thái chỉ vì mình là con cháu Abramham.
Thế nhưng, đức tin không phải là một di sãn của giống nòi, của chủng tộc, nhưng là một cuộc dấn thân đích thực, một cuộc tự đặt lại vấn đề không lúc nào nguôi.
An phận  trong ơn gọi là một cạm bẫy không ngừng đối với dân Do thái,trong lúc sự hối cải đích thực đòi hỏi phải luôn canh tân và đổi mới.
Thái độ của người Do thái phải chăng cũng là thái độ của chúng ta, những người luôn tự hào :
- Tôi là người đạo gốc, tôi là người đạo dòng, tôi giữ đạo từ bé, tôi luôn thuộc về Giáo Hội, tôi xưng tội rước lễ thường xuyên và như vậy đã bảo đảm cho tôi phần rỗi linh hồn.
Gioan trả lời :
- Không phải là như thế.
Chính Chúa Giêsu cũng xác quyết :
- Thiên Chúa có thể biến những hòn đá trở nên con cháu Abraham…Và như vậy trong ngày sau hết, con cháu trong nhà sẽ bị loại ra ngoài.
Thực vậy, danh hiệu người có đạo mà thôi không đủ để miễn cho chúng ta bổn phận phải sám hối ăn năn, phải uốn nắn sửa đổi những thói hư tật xấu, nhờ đó thăng tiến bản thân và đổi mới cuộc đời. Bởi vì sống là bơi ngược dòng nước, nếu không cố gắng bơi, chúng ta sẽ bị dòng nước là những đam mê tội lỗi cuốn trôi.

 

MV2-A6. NCYT/9 – Đường nào

Một hôm, cột đèn điện xanh đỏ giữa công trường chính tại một thành phố lớn kia nổi hứng trở: MV2-A6

Một hôm, cột đèn điện xanh đỏ giữa công trường chính tại một thành phố lớn kia nổi hứng trở nên như điên dại. Trong chốc lát, cả ba bóng đèn xanh, đỏ, vàng đều tỏa ra một thứ ánh sáng màu xanh lơ. Người đi đường trở nên lúng túng, phân vân không biết phải đi hay phải dừng lại. Nhìn trước nhìn sau, đâu đâu người ta cũng chỉ nhìn thấy một mầu xanh lơ, không khác chi bầu trời xanh thăm thẳm vậy.
Trong lúc mọi người dừng lại ngơ ngác muốn hiểu sự lạ kỳ này có ý nghĩa gì, thì những người mất kiên nhẫn bắt đầu la lối, người lái xe hơi bóp còi inh ỏi, người chạy xe đạp cũng rung chuông rùm beng vì cũng muốn đi trước. Những người có tính khôi hài bắt đầu nói cười với nhau:
Đèn mầu xanh, có lẽ đã bị ai ăn cắp đem sơn nhà nghỉ mát của họ ở miền quê nào đó rồi.
Còn màu đỏ, có lẽ ai đã lấy đem sơn cá vàng trong hồ nước rồi.
Biết màu vàng họ lấy làm gì không? Để pha loãng dầu đem bán hốt bạc của thiên hạ. Sau cùng, giữa đám người đông đảo hỗn độn, một bác cò xuất hiện đến giữa ngã tư công trường, giơ tay làm hiệu cho xe cộ và khách bộ hành qua lại. Người đứng chờ, kẻ tiến bước. Trong khi đó, mấy chú thợ điện cũng chạy lăng xăng tìm công tơ và hộp điện trung ương để sửa chữa và nối lại các mối dây. Trước khi cúp điện, cột đèn xanh lơ chỉ kịp thốt lên một câu:
Thật tội nghiệp cho những người khách đi đường mù quáng, mình ra hiệu đường tự do về trời cho họ, thế mà họ lại không biết đọc. Giá như họ biết đọc dấu hiệu của màu đèn mới này, có lẽ họ đều có thể bay bổng về trời cả rồi, nhưng tiếc là không một ai có đủ can đảm để cất cánh bay bổng lên.
Câu chuyện thần thoại trên đây muốn nói lên một ý nghĩa sâu xa. Đèn điện đường màu xanh lơ ám chỉ một bất ngờ, một sự bất ngờ giữa các sự việc đều đặn như thoi đưa của nếp sống hằng ngày, nó báo hiệu sự khám phá bất ngờ về một chiều kích mới của cuộc sống. Thế nhưng, vì đã quá quen thuộc với nếp sống đều đặn họ không biết nhận ra cái mới mẻ. Như những người lái xe rất lành nghề, họ chỉ biết cúi đầu trên bánh tay lái, chỉ biết nhìn xuống đường đi, họ đành để mình chịu đóng kín trong cái hộp sắt với những cửa sổ bằng kiếng, họ chỉ bận tâm đến công ăn việc làm, đến tiền bạc, danh vọng và trăm ngàn thứ lo lắng hằng ngày.
Bóng đèn điện đường xanh đỏ  bỗng dưng đổi màu xanh lơ, là như lời cảnh tỉnh đánh thức họ khỏi cảnh nhàm chán hằng ngày, như muốn nói với họ: Hãy dừng lại, hỡi những người đang đi đường, các ngươi đang bỏ mất một kho tàng quí giá. Trên trần gian này không chỉ có đất mà thôi, hãy nhìn lên cao còn có trời nữa. Tiếc thay, lời thức tỉnh đó quá yếu ớt, chỉ trong nháy mắt đã bị tắt lịm, đã bị tan biến trong làn gió nhẹ.
Tin mừng Phúc âm, chính là lời thức tỉnh nhẹ nhàng đó, nó vang dội khắp nơi, nhưng chỉ ai biết dừng lại, biết đưa mắt nhìn lên cao mới nhận ra tiếng đó được. Đó là những người có thiện chí đi tìm kiếm chân lý và sự thật, những người không chỉ đóng kín trong thế giới vật chất, nhưng còn biết khao khát những gì cao thượng và bất diệt. Biết tìm kiếm chiều kích thánh thiêng của đời sống con người nữa..
Lạy Chúa, hôm nay con muốn nhớ đến những người đang sống xa Chúa, những người mù quáng khẳng quyết rằng không có Thiên Chúa. Những người tin rằng họ là những con vật được khép kín với trời cao, nhưng thực sự họ lại là những người  khát vọng trời cao hơn cả mà họ không biết, hoặc không dám tự thú nhận, có lẽ họ đang chờ đợi một cái gì đó đem xuống cho họ một niềm vui, nhóm lên trong tâm hồn họ một niềm hy vọng đích thực.
Lạy Chúa, ước chi tất cả đời sống con có thể là một tia lửa, cho dù thật nhỏ bé, nhưng đủ để nhóm lên niềm hy vọng trong tâm hồn những người còn sống xa Chúa, vẫn còn hững hờ, dửng dưng, vẫn còn chưa nhận biết những dấu hiệu của tình thương vô biên của Chúa. Amen.

 

MV2-A7. GLCN/A/18 – Hoà bình

Ai trong chúng ta chẳng đôi khi mơ ước một thế giới tốt đẹp hơn? Một thế giới không có lầm: MV2-A7

Ai trong chúng ta chẳng đôi khi mơ ước một thế giới tốt đẹp hơn? Một thế giới không có lầm than, một thế giới trong đó những con người và các quốc gia sống hòa thuận với nhau, một thế giới của công lý và hòa bình. Lòng con người vẫn ấp ủ khát vọng dai dẳng này nhưng luôn luôn bị các sự kiện trấn át, luôn luôn bị thực tế phũ phàng bóp nghẹt.
Các nhà chính trị sử dụng khát vọng sâu xa này để thu được nhiều phiếu. Ngày xưa tổng thống Johnson hứa “làm cho sa mạc trổ hoa và cho đại dương hết mặn”. Những người khác thì nói về “Xã hội công bằng”, “Hòa giải dân tộc”. Tất cả đều hứa một thế giới tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn. Một số cử tri tin vào những lời hứa này và về sau đã bị thất vọng; còn những người khác thì vẫn không tin.
Vào thời của ông, Isaia không phải là một nhà chính trị. Ông là ngôn sứ. Nghĩa là lời của ông cũng có giá trị cho cả ngày nay nữa. Ông cũng dựa trên khát vọng sâu xa và dai dẳng của chúng ta về một thế giới tốt đẹp hơn. Một thế giới không hận thù, không bạo động, một thế giới không còn gây hấn, một thế giới được hòa giải.
Isaia mô tả cho một thứ thiên đàng được tìm lại. Trong mười hàng, ông phác họa cho chúng ta vài hình ảnh chớp nhoáng của thế giới tốt đẹp hơn đó. Sói và chiên con ở một chỗ với nhau; một cậu bé dẫn bê và sư tử con ra đồng cỏ; gấu con và bò cái ở chung với nhau; sư tử ăn rơm; một đứa bé hai tuổi thọc tay vào hang rắn lục.
Những tấm ảnh này trong thế giới tốt đẹp của Isaia đều mang cùng một đặc điểm, đó là sự thay đổi. Gấu, chó sói, rắn lục, sư tử đã thay đổi nếp sống. Chúng đã mất đi tính bạo động, hung hãn của chúng. Chúng không còn là thú dữ nữa. Con sư tử đã biến đổi đến nỗi ăn rơm, đàng khác bò cái, bê, cừu con cũng thay đổi. Chúng không còn sợ hãi nữa, vì đã hết thú dữ rồi. Isaia mô tả cho một cuộc thuần hóa toàn bộ các thú vật. Nhưng lại chẳng phải ông muốn nói những điều ấy để ám chỉ về con người sao?
Ta suy nghĩ một chút. Ta hãy tự hỏi chúng ta phản ứng thế nào trước thế giới tốt đẹp mà ngôn sứ Isaia trình bày đây. Chúng ta đón nhận bản văn này thế nào? Một số người sẽ nói :”Đẹp đẽ thật… Nhưng liệu có đúng như vậy, liệu điều này có thể xảy ra không?” Họ chỉ thấy những chuyện đó toàn là mơ mộng đạo đức hão huyền thôi. Hoàn toàn không tưởng, không chú ý đến thực tế của thế giới này đầy dẫy xung đột, nơi mà bạo lực càng ngày càng lan rộng. Những kẻ khác dứt khoát từ chối ý nghĩ về một thế giới tốt đẹp hơn, một thế giới của công lý và hòa bình, vì mơ mộng như vậy là nguy hiểm và tai hại. Điều này chỉ làm cho con người yếu đi trong cuộc đấu tranh của mình mà thôi.
Với tư cách là tin hữu, chúng ta không thể ủng hộ những ý kiến này, cũng không thể tạo cho mình những thái độ như thế. Bản văn của Isaia là lời Chúa buộc chúng ta tin. Thế giới của công lý và hòa bình là dự án của Thiên Chúa dành cho con người. Và Thiên Chúa đã bắt đầu thực hiện nó nơi Chúa Giêsu Kitô.
Ngài yêu cầu chúng ta là những tín hữu tham gia vào công cuộc này. Để có thể cộng tác với Ngài, chúng ta phải hoán cải nhiều hơn nữa.
Dụ ngôn của Isaia cho chúng ta thấy loài thú được thuần hóa, được hoán cải. Đối với chúng ta hoán cải trước hết là đón nhận, chấp nhận dự án của Thiên Chúa về một thế giới công bằng và huynh đệ. Chúng ta chấp nhận hy vọng rằng một ngày nào đó sẽ có một thế giới như thế, bất chấp tất cả những thực tại cho thấy điều ngược lại. Chúng ta luôn lạc quan… Nhân danh đức tin Kitô của chúng ta.
Thứ hai, hoán cải là trở nên công bằng và huynh đệ hơn tại nơi chúng ta đang sống : Gia đình, khu xóm, môi trường làm việc. Chính ở những nơi đó mà chúng ta được mời gọi xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn. Công lý nói trên là công lý của Thiên Chúa, không phải chỉ trả lại cho mỗi người những gì thuộc về họ mà thôi, vì có những người không có quyền gì cả. Đây là thăng tiến những người yếu kém nhất, những kẻ thiếu thốn đủ loại. Như Thiên Chúa, người kitô hữu có lòng ưu ái đối với những kẻ yếu kém.
Mỗi người trong chúng ta phải nhận biết điều Thiên Chúa mời gọi mình làm tại nơi mình đang có mặt. Nhưng đối với mọi người có đức tin thì ý tưởng của Francoise Gaudet-Smet vẫn có giá trị : “Người ta không chờ đợi những ngày tốt đẹp hơn, người ta phải tạo nên những ngày đó”. Thánh lễ chúng ta đang cử hành đây sẽ ban cho chúng ta sức mạnh để làm việc này.

 

MV2-A8. Suy Niệm của JKN

Câu hỏi gợi ý
 

Gio-an Tẩy Giả kêu gọi chúng ta sám hối để đón Chúa đến. Nhưng để sám hối một cách hữu: MV2-A8

1. Gio-an Tẩy Giả kêu gọi chúng ta sám hối để đón Chúa đến. Nhưng để sám hối một cách hữu hiệu và nền tảng, chúng ta cần thay đổi cái gì?
2. Để đón Chúa đến và để được cứu rỗi thì việc lãnh nhận bí tích rửa tội để trở thành Ki-tô hữu đã đủ chưa? Còn thiếu điều gì nữa?
3. Gio-an yêu cầu mọi người «sửa lối cho thẳng». Chúng ta phải thực hiện lời yêu cầu ấy một cách cụ thể như thế nào?
Suy niệm
1. Điều căn bản nhất trong việc sám hối là điều chỉnh lại quan niệm của mình theo Tin Mừng
«Hãy sám hối vì Nước Trời đã đến gần». Câu nói ấy của Gio-an Tẩy Giả cho thấy: nếu Nước Trời sắp đến thì con người cần phải sám hối. Sám hối là gì? Sám hối trước tiên là nhận ra mình đã phạm sai trái, lầm lỗi hay có tội, đồng thời hối tiếc vì thấy được hậu quả tai hại của chúng, sau đó quyết tâm thay đổi, sửa chữa, không tái phạm nữa. Nhưng điều quan trọng cần sám hối và sửa sai chính là quan niệm của mình. Quan niệm sai lầm sẽ dẫn đến tư tưởng và hành động sai lầm. Nhưng nhận ra quan niệm hiện có của mình là sai lầm là một điều hết sức khó: ai cũng cho quan niệm của mình là đúng. Vì có cho là đúng thì mình mới dùng nó làm căn bản để tư tưởng và hành động. Tuy nhiên, có một tiêu chuẩn để biết quan niệm của mình đúng hay sai, đó là đối chiếu nó với quan niệm của Thiên Chúa, được bầy tỏ trong Tin Mừng qua Đức Giê-su.
Chẳng hạn, rất nhiều Ki-tô hữu quan niệm sai lầm về đạo đức, về sự thánh thiện. Họ nghĩ đạo đức thánh thiện là siêng năng làm các «việc đạo đức». Đối với họ, các «việc đạo đức» chủ yếu là tham dự thánh lễ, xưng tội, rước lễ, đọc kinh (chung hoặc riêng), lần chuỗi, bỏ tiền vào nhà thờ, v.v… Và khi siêng năng làm các việc ấy, họ cảm thấy an tâm về phần rỗi của mình vì nghĩ rằng mình là một người đạo đức, mặc dù họ thường cư xử thiếu tình nghĩa với những người chung quanh, mặc dù những «việc đạo đức» ấy chẳng ảnh hưởng bao nhiêu đến cách sống và hành xử của họ.
Quan niệm như thế quả rất khác với quan niệm của Tin Mừng. Theo Tin Mừng, người đạo đức là người biết quên mình, biết coi nhẹ «cái tôi» và quyền lợi riêng của mình, biết vượt thắng bản năng ích kỷ để yêu Chúa và thương tha nhân hữu hiệu hơn, sẵn sàng hy sinh, chịu thiệt chịu khổ vì tình yêu ấy. Đạo đức thật sự phải được thể hiện cụ thể qua cách sống, cách cư xử đầy công bình và bác ái với mọi người. Các «việc đạo đức» như tham dự thánh lễ, lãnh nhận các bí tích… chỉ là những phương tiện đem lại ơn Chúa và sức mạnh để ta thật sự yêu Chúa và tha nhân bằng những hành động cụ thể. Nếu ta không nhắm thực hiện sự yêu thương ấy như là điều cốt yếu nhất của đạo đức, mà lại coi những «việc đạo đức» kia là chính yếu, thì những «việc đạo đức» ấy trở nên phản tác dụng. Chúng có thể thành cớ để ta tự mãn và lên mặt với mọi người, đang khi thực tế trước mặt Chúa ta chẳng có giá trị gì. Còn biết bao nhiêu quan niệm sai lầm khác ảnh hưởng tai hại đến đời sống tâm linh của ta…
Vì thế, để sám hối, không gì quan trọng và nền tảng bằng lấy ánh sáng Tin Mừng để chỉnh đốn lại những quan niệm sai lầm đang chi phối tư tưởng và cách hành động của ta. Tư tưởng và hành động mà sai trái chính là vì quan niệm chưa đúng. Khi đã sửa đổi quan niệm cho đúng, tự khắc tư tưởng và hành động cũng sẽ đúng theo. Điều này đòi hỏi ta phải dành nhiều thì giờ đặt mình trước mặt Chúa để suy nghĩ, phản tỉnh và tự xét.
2. Đừng tự hào mình là người Ki-tô hữu
Biết bao người cảm thấy an tâm về phần rỗi đời đời của mình, đồng thời tự hào trước mặt mọi người vì mình là Ki-tô hữu, là tín đồ của một tôn giáo do chính Thiên Chúa thiết lập… Nhưng Gio-an Tẩy Giả đã cảnh cáo bọn kinh sĩ: «Đừng tưởng có thể bảo mình rằng: “Chúng ta đã có tổ phụ Áp-ra-ham”. Vì, tôi nói cho các anh hay, Thiên Chúa có thể làm cho những hòn đá này trở nên con cháu ông Áp-ra-ham». Điều quan trọng là «hãy sinh hoa quả để chứng tỏ lòng sám hối», «cái rìu đã đặt sát gốc cây: bất cứ cây nào không sinh quả tốt đều bị chặt đi và quăng vào lửa». Như vậy, điều quan trọng và cần thiết để được cứu rỗi không phải là chuyện có là Ki-tô hữu hay không, mà là có sống tinh thần Ki-tô hữu, tức tinh thần yêu thương của Đức Ki-tô hay không.
Nếu Thiên Chúa có thể biến những hòn đá thành con cháu Áp-ra-ham, thì cũng có thể biến chúng thành những Ki-tô hữu. Điều Thiên Chúa đòi hỏi ta chính là tình yêu, là hoa quả tất yếu của lòng sám hối. Và tình yêu ấy cũng phải sinh hoa kết trái thành hành động, để đem lại bình an, hạnh phúc và những điều tốt đẹp khác cho những người chung quanh ta, cho Giáo Hội và xã hội. Tôi rất thích tư tưởng sau đây của Raoul Follereau: «Thiên Chúa không thích những bàn tay tinh sạch nhưng trống rỗng cho bằng những bàn tay tuy hơi dơ nhưng lại đầy quà dâng lên Ngài». Ngài đòi hỏi chúng ta nếu có 5 nén thì phải làm lợi thành 10 nén, nếu chỉ có 2 thì cũng phải làm thành 4 (x. Mt 25,14-30, Lc 19,12-27). Nếu không sinh hoa kết trái, chúng ta chỉ là những Ki-tô hữu «hữu danh vô thực». Chúng ta cần phải tỏ ra mình là người Ki-tô hữu qua cách hành xử của chúng ta trong mọi tình huống và qua cách cư xử của chúng ta đối với mọi người. Phải làm sao để người khác nhìn thấy Chúa Ki-tô và tinh thần của Ngài trong cách sống của chúng ta.
3. Sứ điệp của Gio-an: «Hãy sửa lối cho thẳng để Ngài đi
Gio-an dùng lời của ngôn sứ I-sa-i-a để nói lên sứ điệp của mình: «Hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, hãy sửa lối cho thẳng để Ngài đi». «Đường» và «lối» ở đây chắc chắn không hiểu theo nghĩa vật chất, mà chủ yếu theo nghĩa tâm linh. Nghĩa là tâm hồn chúng ta phải thật thẳng, không quanh quéo. Thiên Chúa của chúng ta là một Thiên Chúa của Công Lý, Ngài ưa thích sự công minh chính trực, đường đường chính chính, luôn luôn sáng tỏ. Ngài rất ghét sự quanh co, mờ ám, dối trá. Tuy rất ghét sự xấu, sự ác, nhưng Ngài vẫn sẵn sàng tha thứ cho người xấu người ác khi họ hối cải. Điều Ngài ghét thậm tệ là sự xấu ác được che đậy bằng cái vỏ thánh thiện, đạo đức. Ta thấy: Đức Giê-su cũng như Gio-an Tẩy Giả không hề kết án hay chửi rủa những người tội lỗi như bọn đĩ điếm, thu thuế. Đối tượng để các Ngài kết án và chửi rủa là:
- những hạng đạo đức giả hình kiểu «khẩu Phật tâm xà»: «bên ngoài thì có vẻ công chính trước mặt thiên hạ, nhưng bên trong thì toàn là giả hình và gian ác» (Mt 23,28), «rửa sạch bên ngoài chén đĩa, nhưng bên trong thì đầy những chuyện cướp bóc và ăn chơi vô độ» (23,25).
- những người có chức có quyền trong đạo Do Thái nhưng đã dùng những chức quyền ấy chẳng phải để bênh vực người nghèo, người bị áp bức, mà trái lại để hà hiếp bóc lột họ: «họ nuốt hết tài sản của các bà goá, lại còn làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ» (Mt 23,14). Những người này đã coi tôn giáo như một cơ hội thuận lợi giúp mình thăng quan tiến chức hầu có thể sống trên đầu trên cổ người khác.
Các Ngài chửi rủa họ một cách thậm tệ, có thể nói là cạn tàu ráo máng: nào là «Nòi rắn độc kia!» (Mt 3,7), nào là «mồ mả tô vôi, bên ngoài có vẻ đẹp, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế» (Mt 23,27), v.v…
Vì thế, để đón Chúa đến, người Ki-tô hữu phải tránh tất cả mọi thứ quanh quéo trong tâm hồn, lời nói và hành động. Không dùng những xảo thuật như treo đầu dê bán thịt chó, lập lờ đánh lận con đen, tráo trở, có nói không không nói có, nói một đằng làm một nẻo. Trái lại, cần phải có tâm hồn ngay thẳng: «hễ “có” thì phải nói “có”, “không” thì phải nói “không”. Thêm thắt điều gì là do ác quỷ» (Mt 5,36). Khi phải lên tiếng thì cứ theo công tâm mà nói, không thiên lệch bên nào, không nói lấy được cho mình, cho phe của mình, cho tôn giáo của mình. Điều chúng ta phải bênh vực là công lý và tình thương, chứ không phải một đối tượng nào khác. Nếu có bênh vực người nghèo thì không phải vì họ nghèo, mà vì họ thường là nạn nhân của bất công. Đừng để cho quyền lợi cá nhân hay tập thể chi phối lời nói và hành động của ta, làm ta mất đi sự trong sáng và công tâm của mình. Đừng nói quá nhiều quá hay, mà làm thì quá ít quá dở; đó cũng là một thứ thiếu thẳng thắn.
Là người Ki-tô hữu, môn đệ của Đức Giê-su, chúng ta phải hành xử làm sao để mọi người có thể tin vào lương tâm, vào lời nói của chúng ta, nhất là những người chính thức mang danh theo Chúa. Nếu không, chúng ta sẽ làm ô danh Đức Giê-su và tôn giáo mà chúng ta theo. Đó là cách tốt nhất để đón Chúa đến trần gian, nhất là đến trong tâm hồn mình.
Cầu nguyện
Lạy Cha, chúng con đang đón chờ Đức Giê-su trở lại trần gian lần thứ hai. Xin cho chúng con biết đón Ngài đến bằng sự sám hối, bằng một sự thay đổi hữu hiệu, mà quan trọng nhất là thay đổi quan niệm. Xin cho chúng con quan niệm mọi sự giống như Đức Giê-su đã quan niệm, được bày tỏ trong các sách Tin Mừng. Xin cho chúng con biết yêu những gì Ngài yêu như sự ngay thẳng, công bình, trong sáng, và ghét những gì Ngài ghét như sự giả hình, quanh co, che đậy. Để càng ngày chúng con càng nên hoàn hảo, giống Ngài hơn. Amen.

 

MV2-A9. Dọn đường cho Chúa- Lm. Bùi công Huy

Chúng ta vẫn thường coi việc sám hối và hoán cải như là những điều kiện tiên quyết để kết hợp: MV2-A9

1. Chúng ta vẫn thường coi việc sám hối và hoán cải như là những điều kiện tiên quyết để kết hợp với Chúa. Cái tiến trình nhỏ bé ấy có thể ví như một vốc bột giặt dùng để tẩy rửa quần áo cho sạch vậy. Quan niệm như thế chẳng khác gì coi việc hoán cải hoàn toàn là do nỗ lực riêng của chính chúng ta, trong khi việc Chúa đến lại hoàn toàn do sáng kiến của Thiên Chúa
Việc Chúa Nhập thể nguyên nó đâu cần chúng ta sám hối, chúng ta hoán cải. Như một em bé vốn đang trong vòng tay âu yếm của mẹ, nó dở chứng muốn buông ra để được tự do trên đất, rồi lại muốn tự chỗi dậy, nhưng làm sao được vì nó bé bỏng quá. Lúc ấy, người mẹ lại phải cúi xuống bồng nó lên và ôm nó vào lòng. Cũng thế, tội lỗi khiến cho con người xa rời Thiên Chúa và hoán cải làm cho con người trở về với Chúa. Việc hoán cải hay sám hối này chẳng qua chỉ là dấu chỉ cho thấy Thiên Chúa cúi xuống và ôm lấy chúng ta. Như thế, chính Thiên Chúa là tác nhân của việc chúng ta hoán cải. Và việc Chúa Giáng sinh chẳng qua cũng chỉ là điều kiện tiên quyết để tình yêu của Thiên Chúa được hiển hiện. Khi ấy, sám hối như là ánh sáng báo hiệu sự xuất hiện của Đấng Cứu Thế. Như ánh sáng chiếu soi trên khắp ngọn đồi, xua tan mọi bóng mờ tăm tối, sự tha thứ của Thiên Chúa cũng đáng tan mọi quá khứ u tối và còn lôi cuốn cơn khát khao gặp gỡ chính nguồn mạch của sự tha thứ.
2. Như thế, lý lịch Kitô hữu hay bằng chứng phép Rửa tội không đủ cho chúng ta gặp được Chúa: “Các anh đừng tưởng có thể nghĩ bụng rằng chúng ta đã có tổ phục Áp-ra-ham”... để gặp được Chúa, bản thân chúng ta phải xác tín : chúng ta vốn hoàn toàn xa cách Thiên Chúa và đang xa rời vòng tay của Thiên Chúa. Ai có thể gần Chúa được nếu như Chúa không dủ lòng xót thương và nếu chúng ta không biết khẩn cầu lòng thương xót đó. Thánh Phao-lô trong Phụng vụ Lời Chúa hôm nay đã chẳng nhắc nhở chúng ta về lòng trung thành và lòng thương xót của Thiên Chúa đó sao? Chính vì thế, chẳng có công trạng riêng tư nào của chúng ta cân xứng với lòng thương xót ngàn đời của Thiên Chúa, bởi chính Ngài là nguồn kiên nhẫn và an ủi của chúng ta mà chúng ta phải khẩn cầu.
3. Như Gioan Tẩy giả, hôm nay, đến lượt mình, chúng ta cũng phải trở nên những “tiền hô” dọn đường cho người khác. Được liên kết với nhau trong Mầu nhiệm Thánh Thể, chúng ta cũng phải liên đới với nhau trong Mầu nhiệm Nhập thể. Lời mời gọi này mời gọi chúng ta, những Kitô hữu, phải trở nên những người dẫn đường chỉ lối cho người khác đến gặp được Chúa. Trong gia đình, nơi xí nghiệp, tại công sở... hay bất cứ nơi đâu, chúng ta phải trở nên những người phục vụ cho sứ mạng đó.
Là “tiền hô” của Đấng Cứu Thế, chúng ta phải nên như những dấu chỉ loan báo Đấng Cứu Thế qua lối sống của chúng ta hay cách xử thế của chúng ta đối với những người chúng ta có dịp gặp gỡ. Khi ấy, chúng ta như ngọn lửa nóng cháy chiếu sáng và sưởi ấm môi trường sống của chúng ta với họ. Và khi ấy, chúng ta không có mối quan tâm nào khác ngoài việc ước ao và nỗ lực làm cho tha nhân ngày một lớn lên hơn và hạnh phúc hơn.
Sống như thế, chúng ta sẽ thấy ơn cứu độ của Đấng Cứu Thế đang thực sự triển nở trong mọi người : “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ đi”.

 

MV2-A10. Chuẩn Bị Đón Nhận Nước Trời- Lm. Bùi mạnh Tín

Để mang lại kết quả, mỗi công việc cần được chuẩn bị kỹ lưỡng và thích hợp. Thiếu chuẩn bị: MV2-A10

Để mang lại kết quả, mỗi công việc cần được chuẩn bị kỹ lưỡng và thích hợp. Thiếu chuẩn bị hay chuẩn bị không đúng cách sẽ trở thành nguyên nhân của những thất bại. Đón nhận Nước Trời là công việc rất quan trọng vì liên quan đến định mệnh mai sau của nhân loại.
Trong bài giảng hôm nay, Gioan Tiền hô đề ra cho chúng ta hai khía cạnh của việc chuẩn bị : tiêu cực và tích cực.
Tiêu cực: Cản trở lớn lao nhất trong việc đón nhận ơn Cứu độ là các khuynh hướng xấu và tội lỗi. Thật vậy, chính các khuynh hướng xấu đã đẩy con người xa lìa Thiên Chúa, làm con người lạc hướng và quên hẳn cuộc gặp gỡ quan trọng của mình với Thiên Chúa. Chính tội lỗi đã tạo nên bức tường ngăn cách giữa con người và Thiên Chúa, một hố sâu giữa thân phận nhân loại và Ơn Cứu độ. Chúa Giêsu đã từng nói:Chỉ những tâm hồn trong sạch mới nhìn thấy Thiên Chúa. Nhưng thật đáng tiếc, các khuynh hướng xấu và tội lỗi đã dần dần làm lu mờ tâm hồn con người, đánh mất sự trong sạch nguyên thủy. Gioan Tiền hô đã cụ thể hóa thái độ tiêu cực này bằng hình ảnh con rắn độc hay một cây cằn cỗi không sinh hoa trái.
Tích cực: Sau khi dẹp bỏ những cản trở, con người sẽ dễ dàng nhìn thấy đích điểm cần tiến tới, rồi hăng hái bước đi, bước đi về phía Nước Trời, về phía ơn Cứu độ. Nói cách cụ thể, nhân loại phải đến gặp Thiên Chúa, Đấng không còn xa lạ và cao vời ở một thế giới thần thánh nào đó, nhưng đã nhập thể hóa thân làm người mà Gioan tuyên bố: “Đấng ấy sẽ đến sau tôi, quyền năng hơn tôi, và tôi không đáng cởi dây giầy cho Ngài. Chính Đấng ấy sẽ thanh tẩy anh em...” Bước về phía Nước Trời, có nghĩa là chúng ta cần tích cực trong cuộc sống Đức Tin của mình: cầu nguyện, tham dự các Bí tích, chia sẻ cơm áo cho tha nhân, sống hòa hợp và tạo niềm cảm thông với người khác, v..v..
Công việc chuẩn bị này cần được thực hiện liên tục để tạo nên tư thế “sẵn sàng”, vì chúng ta không biết ngày nào giờ nào Con Người sẽ đến, như ông chủ đi xa bỗng trở về, như tân lang xuất hiện lúc nửa đêm. Nói theo kiểu của Gioan : “Cái rìu đã đặt sẵn gốc cây.”
Mùa Vọng này chính là thời gian thuận tiện, thời gian cứu rỗi, để mỗi người chúng ta, theo lời kêu gọi của Gioan và sự trợ giúp của Thiên Chúa, mạnh dạn dẹp tan mọi cản trở và những ràng buộc bất chính, rồi hăng hái nhanh bước tiến về phía Đức Kitô để lãnh nhận Nước Trời.

 

MV2-A11. Xin Cho Con Biết Lắng Nghe- Lm. Bùi quang Tuấn

“Tiếng của người hô trong sa mạc: Hãy dọn đường Chúa, hãy bạt lối Người đi” (Mt 3:3)
 

Tại sao tiếng hô lại được cất lên trong sa mạc mà không phải là thành thị, phố xá hay phòng trà: MV2-A11

Tại sao tiếng hô lại được cất lên trong sa mạc mà không phải là thành thị, phố xá hay phòng trà, chợ búa, nơi người ta đang quây quần đông đúc hay vui chơi tội lỗi? Tiếng hô phải được cất lên chính những nơi này mới có người nghe, mới mong có kẻ hồi đầu qui chánh, sửa đường bạt lối, làm nên nẻo chính đường ngay cho Đấng Thiên Sai chứ.
Gioan sống trong sa mạc. Tiếng hô của ông vang lên giữa vùng hoang vắng.
Không biết chốn trời không mông quạnh thế kia thì tiếng hô được mấy ai chú ý. Tiếng hô vang. Vang lên mãi. Nhưng trong nơi trống vắng thì ai nghe cho!
Phải chăng Gioan đã hô lên cho chính mình? Nếu thế thì lời kêu gọi “Hãy dọn đường Chúa, hãy bạt lối Người đi” trước tiên phải là lời nói với chính mình.
Nhờ biết hô với chính mình trước hết nên Gioan đã có sức lôi kéo từng đoàn người từ khắp xứ Giuđê đến với ngài, để nghe tiếng ngài hô, và chịu làm theo lời răn dạy. Nhờ hô với chính mình mà tiếng hô đã vang đến tận khắp các vùng Giêrusalem, xâm nhập tới cõi lòng của bao kẻ sa đoạ khô khan.
Không phải chỉ sau khi nghe tiếng hô của Gioan mới bắt đầu có người ăn ăn hối cải, chịu thanh tẩy để dọn đường cho Chúa đến. Đúng hơn, từ hoang vắng của sa mạc và trong nơi tịch liêu của cõi lòng, Gioan đã nghe tiếng hô “hãy dọn đường cho Chúa đến” phát ra. Lời đó vang đi dội lại trong lòng ông, thúc bách ông nối dài tiếng hô bằng cách ra đi “dọn lòng người cho Chúa đến.”
Cho nên, Gioan chính là người đã dọn đường lòng mình trước nhất. Vì biết lắng nghe những điều mình hô nên tiếng hô của mình có người đáp lại. Sự lắng nghe không chỉ bằng thính giác, nhưng còn bằng tâm hồn. Và từ tâm hồn mới phát sinh những thái độ sống. Một đứa trẻ “biết nghe” không cứ phải là một đứa trẻ có thính giác tốt, song là một đứa trẻ biết ghi tâm lời nói của bố mẹ, thầy cô, và thực thi.
Những gì phát xuất từ con tim cũng đều mang sắc thái của tình yêu và sự sống.
Thế ra, không biết lắng nghe bằng con tim thì con tim sẽ không thể cất lời. Và nếu lời cất lên không phát xuất từ con tim, lời đó sẽ chẳng mang hiệu quả gì. Thomas Merton đã từng nhận xét:
“Nếu đời ta cứ phun ra những lời vô ích
Chẳng bao giờ ta nghe được bất cứ điều gì,
Chẳng bao giờ ta trở nên bất cứ điều gì,
Chẳng bao giờ ta trở nên bất cứ cái gì.
Thế rồi,
Vì cứ nói mãi trước khi có cái gì để nói,
Ta trở thành người không biết nói.”
Không biết nói hoặc nói điều vô ích mà cứ bắt người khác lắng nghe thì chỉ tạo nên những cực hình, phản kháng.
Nhiều gia đình bất an, nhiều cộng đoàn bất thuận, nhiều quốc gia bất hoà chỉ vì có kẻ không biết nói. Nguyên do là thiếu lắng nghe, sự lắng nghe của tâm hồn. Tâm hồn không nghe được vì còn ngổn ngang đây đó nhiều chướng ngại của tự ái, ích kỷ, kiêu căng, tự mãn...
Lắm khi ta than thở: Chúa không chịu nghe tiếng tôi. Nhưng thử hỏi: Chúa không nghe tiếng tôi hay vì tôi không nghe được tiếng Ngài? Rồi khi nghe được tiếng Chúa, liệu tôi có chấp nhận để tiếng ấy nhồi nắn biến đổi đời mình chăng?
Nhiều lúc tôi buồn vì người ta không chịu nghe điều tôi muốn nói. Nhưng thử hỏi: họ không nghe tiếng lòng của họ? Mà nghe tiếng lòng người khác sao được khi chính tôi lại bịt tai tâm hồn? Âm thanh của lời tôi nói sẽ chẳng truyền lan nếu nó không phải là Lời đã vang dội lại trong sa mạc lòng mình.
Có nghe được tiếng nói nơi lòng mình mới mong đổi được đời mình. Có đổi được đời mình mới làm thẳng đường cho Chúa đến. Chúa đến trong đời tôi để rồi qua tôi Ngài đến với người khác.
“Hãy dọn đường Chúa, hãy bạt lối Người đi.” Tôi muốn hô vang lời ấy cho mọi người nghe. Nhưng trước hết, tôi bắt chước thánh Gioan, đi vào sa mạc cuộc đời, tức là bước vào nơi thanh vắng và tĩnh lặng của nguyện cầu, nơi đó tâm hồn tôi sẽ nghe được tiếng nói của trời cao. Tiếng ấy sẽ dần dần lớn mạnh, cho đến khi oà vỡ và tuôn chảy đến muôn tâm hồn.
Phải chăng đó chính là thái độ sống mà Tin Mừng mùa Vọng năm nay muốn tôi mặc lấy.

 

MV2-A12. Thống Hối- Lm. Gioan Cao vũ Nghi

Đứng trước tình trạng của một quốc gia không còn nhận biết hồng ân Thiên Chúa, Tổng thống: MV2-A12

Đứng trước tình trạng của một quốc gia không còn nhận biết hồng ân Thiên Chúa, Tổng thống Abraham Lincoln đã chỉ định ngày 30 tháng 4 năm 1863 là Ngày Toàn Quốc Chay Tịnh, Hãm Mình, và Cầu Nguyện. Trong dịp này, Tổng thống Lincoln đã nói: “Chúng ta đã được lãnh nhận biết bao ơn phúc của trời cao. Qua nhiều năm, chúng ta được sống trong bình an và thịnh vượng. Đất nước chúng ta đã phát triển về dân số, thế lực, và kinh tế, như chưa từng có trong lịch sử nhân loại. Nhưng chúng ta đã quên Thiên Chúa... Với một trái tim đầy ắp tự mãn, chúng ta mộng tưởng rằng những gì chúng ta có là do sự khôn ngoan vượt mực của mình. Say sưa trong sự thành công của mình, chúng ta không còn thấy sự cần thiết của ơn thánh Chúa, và trở nên kiêu hãnh đến nỗi không còn cảm thấy nhu cầu phải cầu nguyện với Đấng đã tác thành nên mình. Vì vậy, chúng ta cần phải hạ mình xuống trước Đấng mà chúng ta đã xúc phạm, phải xưng thú tội chung của quốc gia, và cầu xin ơn thương xót và tha thứ.”
Đó cũng là lời kêu gọi của Thánh Gioan Tẩy giả đối với mỗi người chúng ta trong những ngày chuẩn bị mừng kỷ niệm ngày Ngôi Hai Thiên Chúa nhập thể làm người: “Hãy ăn năn thống hối, vì Nước Trời đã gần đến.” Nhưng phải chăng, cũng như các tiên tri trong thời Cựu Ước, chúng ta không muốn nghe những lời kêu gọi này. Chúng ta không muốn nghe là vì chúng ta đã quá chán ngán khi nghe những lời này, hay cũng có thể vì chúng ta không muốn phải bỏ đi nếp sống thoải mái, bỏ đi những đam mê, tật xấu, và phải ép mình để tuân theo những điều Chúa dạy, và cũng có thể vì chúng ta thấy chúng ta có tội lỗi gì đâu mà phải ăn năn thống hối.
Mới đây, khi nhìn vào hiện trạng của thế giới, mục sư Billy Graham đã có nhận xét sau đây: “Chúng ta đang mắc phải một chứng bệnh trầm trọng. Chứng bệnh này không liên quan đến vấn đề chủng tộc, không phải là cảnh nghèo khó, và cũng không phải là chiến tranh. Chứng bệnh trầm trọng này liên quan đến trái tim của chúng ta. Chúng ta cần một trái tim đổi mới.” Chúng ta cần một tấm lòng dám nhìn thẳng vào sự thật về con người của mình. Nhưng đối với con người, đây là một vấn đề thật khó khăn. Người Rôma có những cách xử tử tội nhân thật man rợ, như đóng đinh vào thập giá, dùng người để làm đuốc, hay...nối kết người sống với người chết. Họ lấy giây buộc người bị xử tử dính liền với một người đã chết: mặt đối mặt, tay liền tay. Sức sống của người tử tội tiêu hao một cách mau chóng, để rồi cũng đồng hóa với người chết. Con người chúng ta có lẽ phần nào cũng vậy. Khuyết điểm tội lỗi đã ăn liền với con người của mình, đến nỗi cho dù muốn thoát ly, chúng ta cũng không thể tự giải thoát mình được. Nhưng chúng ta đã có ơn phù trợ của Thiên Chúa. Ngài đã kêu gọi chúng ta hãy ăn năn thống hối trở về với Ngài, thì chắc chắn Ngài sẽ ban ơn cho chúng ta. Điều quan trọng là chúng ta muốn.
Lời Chúa đến với chúng ta hôm nay là cơ hội để chúng ta trở về với tâm hồn mình, để chúng ta ý thức rõ ràng hơn những lỗi tội nào đang làm cho chúng ta xa cách Chúa, để chúng ta bắt đầu con đường trở về với Thiên Chúa trong tâm tình ăn năn thống hối, và nhất là để chúng ta có một thái độ khác đối với Thiên chúa. Ngày nay, nhiều người nhận mình là Kitô hữu, nhưng trong hành động họ lại sống như Thiên Chúa không hiện hữu. Những người này tỏ ra họ không cần ơn phù trợ của Chúa và bất chấp những giáo huấn của Ngài. Một cách nào đó, có lẽ cũng có những lúc chúng ta sống như vậy, và vì thế, với tấm lòng ăn năn thống hối, chúng ta hãy bỏ đi thái độ tự kiêu, tự mãn, và thay vào đó, là tấm lòng thảo hiếu tin tưởng vào tình thương của Thiên Chúa là Cha chúng ta ở trên trời. Ngài đã tạo dựng chúng ta, đã cứu chuộc chúng ta, và đã ban tràn đầy ơn phúc cho chúng ta. Trong thời gian qua, chúng ta đã bội bạc với tình yêu thương của Ngài, thì giờ đây chúng ta hãy đền bù bằng tấm lòng thảo hiếu mến yêu. Chíng tấm lòng thảo hiếu mến yêu này sẽ giúp cho chúng ta có được một tấm lòng ăn năn thống hối thật, và giúp chúng ta bền vững trong ơn nghĩa Chúa.

 

MV2-A13. Lời khuyên duy nhất- Lm Phạm quốc Hưng

“Hãy hối cải, vì nước trời đã gần”
 

Truyện ngắn Lời Khuyên Duy Nhất đăng trên Nguyệt San Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp từ số tháng: MV2-A13

Truyện ngắn Lời Khuyên Duy Nhất đăng trên Nguyệt San Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp từ số tháng 12/1996-05/1997 là một truyện giả tưởng thuật về việc Chúa Giêsu đích thân đến giảng tĩnh tâm vào mùa Vọng 1999 ở một giáo xứ của người Việt Nam tại Hoa kỳ, để giúp mọi người chuẩn bị bước vào đệ tam thiên niên kỷ.
Vì được cha xứ cho biết chính Chúa Giêsu sẽ đến giảng tĩnh tâm cho giáo xứ vào tối thứ bảy 27/11/1999, áp Chúa nhật thứ nhất của mùa vọng dẫn vào năm 2,000, mọi người trong xứ đều thu xếp công việc để đến tham dự. Ai nấy đều cảm thấy mình bị đánh động mãnh liệt khi lắng nghe những lời giảng dạy từ môi miệng của chính Chúa Giêsu. Sau khi nghe Chúa giảng, một số người muốn xin Chúa cho họ một lời khuyên để làm hành trang cho cuộc sống mới của họ sau khi gặp gỡ Chúa.
Lời khuyên duy nhất mà Chúa nói với mọi người - từ những người mang tiếng là xấu xa tội lỗi như cậu Johnny Lê, cô Tư Ngựa và ông Sơn Rô đến những người được tiếng là đạo đức thánh thiện như “bà Năm xướng kinh”, từ giáo dân trong xứ đến cả cha xứ và cha phó - chính là những lời Chúa đã nói với mọi người khi bắt đầu cuộc đời truyền giáo công khai của Người. Đó là: “Hãy hối cải và tin vào Tin mừng”. Và ai nấy đều cảm nhận rằng đó chính là lời khuyên thích đáng nhất, cần thiết nhất, và ích lợi nhất cho họ.
Với Johnny Lê, hối cải nghĩa là phải bỏ lối sống đi hoang và băng đảng để trở về nhà giúp mẹ, học hành tử tế và sống đạo tích cực qua việc xin làm huynh trưởng đoàn thiếu nhi.
Với Tư Ngựa, hối cải nghĩa là phải trở về làm hòa với cha mẹ, bỏ lối sống lang chạ để bắt đầu một cuộc đời trong sạch.
Với ông Sơn Rô, hối cải nghĩa là đóng cửa sòng bài, sàn nhảy, bỏ luôn lậu cần sa, không tiếp tụd mướn bọn cao bồi cướp phá uy hiếp các cửa tiệm của bà con đồng hương, bồi thường các thiệt hại đã gây cho người khác, và trở về sống với vợ con và sinh hoạt cùng giáo xứ.
Với “bà Năm xướng kinh”, hối cải nghĩa là phải từ bỏ hình ảnh một Thiên Chúa khó tính và khắc nghiệt để tin tưởng nơi một Thiên Chúa đầy lòng khoan dung từ ái; phải tìm sự an bình nội tâm bằng cách cậy trông nơi tình thương vô cùng của Chúa và công nghiệp Chúa Kitô chứ không phải dựa vào các việc thiện của riêng mình.
Với ông chủ tịch hội đồng giáo xứ, hối cải nghĩa là phải bỏ đi sự tự ái, tính sợ dư luận gièm pha, để dấn thân cho lợi ích chung.
Với cha phó, hối cải nghĩa là phải từ bỏ lối nhìn Giáo hội với con mắt thế gian, phải cố gắng sống theo các Giáo huấn chân thực tốt lành của Giáo hội chứ không đòi Hội thánh phải thay đổi Giáo huấn cho phù hợp với lối sống của mình, và phải gia tăng lòng yêu mến gắn bó với Mẹ Maria và Hội thánh.
Với cha xứ, hối cải nghĩa là phải tận lực quan tâm làm đẹp lòng Chúa hơn là tìm cách lấy lòng dân chúng, phải sống như một ngôn sứ chứ không phải một chính khách, phải quan tâm đến việc truyền giáo chứ không được tự thỏa vì sự sung túc điều hòa của giáo xứ.
Câu truyện kết thúc bằng việc chính cha xứ đã thực hiện lời khuyên ấy trước tiên qua việc ngài xin xưng tội cùng cha phó khi đồng hồ điểm 12:00 AM, giờ bắt đầu Chúa nhật thứ nhất mùa vọng dẫn vào năm 2000.
Cũng như Chúa Giêsu đã kêu gọi mọi người phải hối cải và tin vào Tin mừng trong truyện Lời Khuyên Duy Nhất, trong Tin mừng hôm nay, thánh Gioan Tiền hô đã kêu gọi mọi người “Hãy hối cải, vì nước trời đã gần bên.”
Lời mời gọi hối cải của Gioan mà Giáo hội muốn chúng ta lắng nghe trong phụng vụ Chúa nhật tuần này tiếp tục lời mời gọi phải tỉnh thức và sẵn sàng của chính Chúa Giêsu như chúng ta đã được nghe trong Phúc âm tuần trước. Đây là một sự nối tiếp rất hợp lý và cần thiết. Thực vậy, chúng ta sẽ không cảm thấy phải mau mắn hối cải, phải thay đổi tâm hồn và cải thiện đời sống, nếu chúng ta không tỉnh thức để nhận ra sự hèn yếu, tội lỗi và bất toàn của mình, nếu chúng ta không nhận ra tính cách khẩn cấp của sứ điệp Tin mừng.
Cái đẹp của truyện ngắn Lời Khuyên Duy Nhất trên đây là trong đó con người cảm thấy chính mình là người tội lỗi cần phải hối cải hơn cả, không phải là ai khác những lại chính là cha xứ, người từng được bà con trong xứ khen là hiền lành, khiêm nhường và thánh thiện.
Những người không nhận ra nhu cầu phải hối cải thường lại là những người cần phải hối cải hơn cả. Tin mừng hôm nay nói đến việc những người biệt phái và Sađốc đến với Gioan và xin thanh tẩy. Họ là những người thường được tiếng là đạo đức trong dân và tự hào là con cháu Abraham, nhưng họ đã bị Gioan gọi là “nòi rắn độc” đáng “cơn thịnh nộ” của Chúa. Ngài còn cảnh cáo họ phải gấp rút ăn năn thống hối vì “lưỡi rìu đã sẵn gốc cây; cây nào không sinh quả lành sẽ bị chặt và quăng vào lửa.”
Nhiều lần chúng ta được nhắc nhở phải cầu nguyện cho những người tội lỗi được ơn ăn năn trở lại, cho những người chưatin Chúa, chưa biết Chúa, chưa yêu Chúa, được ơn tin Chúa, biết Chúa, và yêu Chúa. Đó là điều chúng ta phải luôn ghi nhớ và thực hiên trong liên hệ yêu thương đối với người khác.
Nhưng điều chúng ta phải ghi nhớ và thực hiện hơn cả đó là chúng ta phải thành thực xét mình trước mặt Chúa là Đấng thánh thiện tuyệt đối và là Đấng đã mời gọi chúng ta nên thánh, để nhận biết và xác quyết rằng chính chúng ta là những người tội lỗi cần phải hối cải hơn cả, chính chúng ta là những người cần đến lòng thương xót của Chúa hơn cả. Chúng ta phải nhận ra rằng mình chưa thực sự biết Chúa và yêu Chúa cách hoàn hảo như Chúa muốn nơi chúng ta. Vì thế, chúng ta phải có tinh thần khiên cung thống hối trong mọi nơi mọi lúc vì “không có ai tốt lành trừ phi có một Thiên Chúa” (Mc 10:18).
Cha giáo tập của tôi trước đây, cha Andrew Costello, CSsR, trong cuốn sách của Ngài mang tựa đề “Thank God - It's Friday” có viết như sau: “Người phải hối cải chính là người đang ngồi trong chỗ tôi ngồi, đang ở trong làn da của tôi, đang suy tưởng với khối óc của tôi.”
Chính tôi là người phải hối cải hơn cả, phải hối cải trước hết.
Nếu tôi là người đang sống trong tội lỗi như ngoại tình, tà dâm, gian dối, bất công, tham lam, ghen ghét, tị hiềm, tôi phải gắng chừa bỏ và xa lánh dịp tội.
Nếu tôi là người đang lãnh đạm thờ ơ, đang khô khan nguội lạnh và biếng nhác trong đời sống đức tin, tôi phải sốt sắng nhiệt thành và siêng năng hơn.
Nếu tôi là người có cảm nghĩ lệch lạc và thiếu sót về Chúa Kitô và Hội thánh của Người, tôi phải ra công học hỏi để hiểu biết và yêu mến Chúa và Giáo hội một cách đúng đắn và đầy đủ hơn.
Nếu tôi chưa dấn thân vào việc tông đồ, chưa hề giúp người khác biết Chúa và yêu Chúa, tôi phải nổ lực trong việc giúp những người khác cũng biết Chúa và yêu Chúa.
Bao lâu còn sống ở trần gian, bấy lâu tôi còn phải nỗ lực hối cải liên lỉ cho đến lúc tôi được Chúa biến đổi để nên giống hệt Chúa Kitô và nên một với Người trong cõi vĩnh hằng của Chúa Ba Ngôi.
Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ “cầu cho chúng con là kẻ có tội” biết nhìn nhận sự yếu đuối, tội lỗi, và thiếu sót của mình, nhất là biết cậy trông ở ân sủng và lòng thương xót Chúa, để nỗ lực cải thiện đời sống không ngừng đùng như lời Chúa khuyên dạy chúng con. Amen.

 

MV2-A14. Hãy ăn năn thống hối- Trần minh Đức

Qua báo chí, truyền hình chúng ta thường nghe nói tới những chuyện rủi nhiều may ít: nơi này: MV2-A14

Qua báo chí, truyền hình chúng ta thường nghe nói tới những chuyện rủi nhiều may ít: nơi này phong ba bão tố, lụt lội; nơi kia hạn hán, mất mùa, chiến tranh. Ngoài những tại nạn xe cộ, còn có tai nạn máy bay, thậm chí còn đụng nhau trên bầu trời bao la nữa! Sắp tận thế chăng? Khắp nơi đều cho thấy những dấu hiệu bất ổn về mọi phương diện, nhất là về an ninh và kinh tế. Nhưng nhiệm vụ của chúng ta không phải là ngồi cắt nghĩa điềm thiêng dấu lạ, mà là giữa một thế giới hỗn độn chúng ta sáng suốt nhận ra dấu chỉ của thời đại và lời kêu gọi sám hối ăn năn. Tất cả mọi sự đều tuỳ thuộc vào đó.
Năm xưa, Gioan Tẩy Giả đã xuất hiện trong một hoàn cảnh cụ thể. Gioan được kêu gọi và sai đến với dân Do thái. Sứ mạng của Gioan luôn gắn liền với khởi điểm của cuộc đời công khai của Đức Giêsu. Điều này được tất cả bốn tác giả Phúc Âm nói đến. Sứ mạng của Gioan được thánh Mátthêu trình bày tóm tắt qua bài Phúc Âm Chúa nhật hôm nay. Ngài nhấn mạnh tới lời kêu gọi sám hối ăn năn hơn là phép Rửa. Có thể nói, phép Rửa của Gioan Tẩy Giả là dấu chỉ dành cho những người đã nhận biết lỗi lầm của mình, đồng thời sẵn sàng thống hối ăn năn.
Sám hối trước hết là từ bỏ nếp sống giả hình, nếp sống "khẩu phật tâm xà": môi miệng đọc hết kinh này qua kinh khác nhưng lòng dạ đầy những toan tính xấu xa; ngoài xã hội thì khuyên người khác ăn ngay ở lành còn riêng mình thì lại sống bê tha, khuyên mọi người hãy thương mến nhau nhưng sau lưng thì toàn đi nói xấu kẻ khác.
Sám hối có nghĩa là từ bỏ những hình thức suy tôn tạo vật, những hình thức ỷ lại vào danh vọng, tiền tài. Đừng nghĩ rằng đậu được bằng bác sỹ kỹ sư thì tự cho mình là bậc thông thái, biết hết mọi chuyện. Đừng nghĩ rằng mình sinh ra trong một gia đình giầu có, muốn gì cũng được. Đừng nghĩ mình là con nhà gia giáo, là con ông cháu cha, có quyền ngồi xét đoán kẻ khác. Giống như thái độ kiêu căng tự phụ của dân Do thái xưa; họ nhìn đời bằng nửa con mắt, vênh vang tự đắc, khinh khi người khác vì nghĩ rằng mình là con cháu Ápraham.
Sám hối không có nghĩa chỉ là nhìn nhận lỗi lầm của mình nhưng phải dẫn tới việc sửa đổi đời sống như Gioan đã nói: "Hãy làm việc lành cho xứng với lòng thống hối", và cụ thể như thánh Phaolô khuyên: "Anh em hãy tiếp rước nhau như chính Đức Giêsu đã tiếp nhận anh em".
Sám hối ăn năn chính là ngưỡng cửa bước vào "trời mới đất mới" mà tiên tri Isaia đã diễn tả: sói sống chung với chiên con; beo nằm chung với dê; trẻ con măng sữa sẽ vui đùa kề hang rắn lục, ... Khi vợ chồng con cái yêu thương hoà thuận với nhau, khi con người sẵn sàng trở về làm lành với Thiên Chúa thì cuộc sống sẽ trở thành một mảnh thiên đường. Chúng ta không cần phải đợi sau khi chết mới được hưởng phúc thiên đàng, nhưng ngay trong lúc này nếu như chúng ta muốn, chúng ta có thể biến cuộc sống thành thiên đường. Hạnh phúc thiên đàng có nghĩa là sự hiệp thông của con người với Thiên Chúa và giữa con cái loài người với nhau.
Để có thể sám hối ăn năn, chúng ta phải nhận ra lời mời gọi của Thiên Chúa. Một tấm lòng hỗn độn, đầy những lo âu và tham vọng chắc chắn không thể nào nhận ra. Lời kêu gọi của Gioan Tẩy Giả phát xuất từ sa mạc. Cũng vậy, chỉ khi trong tâm hồn có một chỗ trống, có nghĩa là sẵn sàng dẹp bỏ mọi âu lo bận rộn qua một bên, trở về với lòng mình trong thinh lặng, chúng ta mới nhận ra tiếng Chúa. Chính lúc đó Thánh Thần của Thiên Chúa sẽ làm việc trong chúng ta. Ngài sẽ ban cho chúng ta sự khôn ngoan và thông suốt để phân biệt đâu là công minh chính trực, đâu là gian tà, phân biệt đâu là lúa, đâu là rơm. Ngài sẽ tăng sức giúp chúng ta đạt tới đích điểm.

 

MV2-A15. Hãy sám hối

Nước Trời đã gần, Đấng Mêsia sắp đến: đó là điều Gioan đã hô to trong hoang địa miền Giuđê: MV2-A15

Nước Trời đã gần, Đấng Mêsia sắp đến: đó là điều Gioan đã hô to trong hoang địa miền Giuđê. Đối với ông, Đấng Mêsia thật là vị Thẩm phán đáng sợ. Chính Ngài sẽ tách biệt người lành với kẻ dữ, như người ta phân biệt thóc mẩy với thóc lép, "thóc mẩy thì thu vào kho, thóc lép thì bỏ vào lửa". Ngày Đấng Mêsia đến cũng là ngày Thiên Chúa thịnh nộ. Rìu đã sẵn, cây không sinh quả thì bị chặt đi. Người ta sẽ phải chịu phép rửa trong lửa hồng. Chính vì thế Gioan khẩn trương mời gọi dân chúng sám hối. Thực tế cho thấy Đức Giêsu không phải là Đấng Mêsia kinh khủng như ông nghĩ.
Tuy nhiên lời mời gọi sám hối của Gioan vẫn còn nguyên giá trị. Chúng ta không sám hối vì bị đe dọa và sợ hãi, nhưng vì biết mình được Thiên Chúa yêu thương nơi Đức Giêsu.
Mùa Vọng là mùa sám hối để đón Chúa đến. Chúa đã đến âm thầm ở Bêlem. Chúa sẽ đến khải hoàn vào ngày tận thế. Chúa vẫn đang đến với chúng ta mỗi ngày qua các bí tích và các biến cố lớn nhỏ.
Để chuẩn bị Hội Thánh mừng Năm Thánh 2000, Đức Thánh Cha đã chọn chủ đề cho năm 1996 là Sám hối và Canh tân.
Sám hối là nhìn nhận mình đã gieo rắc bao gương mù khiến khuôn mặt Đức Giêsu trở nên khó tin. Sám hối là tự vấn về những hành động gây chia rẽ các anh em Kitô hữu với nhau. Sám hối là ăn năn về những cử chỉ thiếu khoan dung, về việc đôi khi dùng bạo lực để bắt người khác chấp nhận chân lý. Sám hối là nhìn nhận phần trách nhiệm của mình trước bao sự ác của thế giới hôm nay.
Đây không phải là việc của cá nhân, nhưng là việc của cả Hội Thánh. Một Hội Thánh có can đảm sám hối là một Hội Thánh đang vươn tới sự thánh thiện.
Chúng ta cần nghe lại những lời nhắc nhở của Gioan. Ông kéo chúng ta ra khỏi sự tự mãn: "Đừng tưởng mình có cha là Apraham" (Mt 3,9). Đừng tưởng mình đương nhiên được vào Nước Trời.
Gioan mời mọi người xưng thú tội lỗi (Mt 3,6).
Sông Giođan đã thành nơi con người làm hoà với Thiên Chúa.
"Hãy dọn đường cho Chúa đến"
Hội Thánh và mỗi Kitô hữu là những con đường, để Chúa đến với nhân loại và để nhân loại đến với Chúa.
Ước gì đó là những con đường thẳng và phẳng phiu, để ai cũng muốn đi và đi tới đích.
Gợi Ý Chia Sẻ
Đức Thánh Cha mời gọi Hội Thánh sám hối và canh tân.  Bạn có thấy giáo xứ, gia đình hay nhóm của bạn làm điều gì ngược với tinh thần Đức Kitô và gây gương mù cho người khác không?
Bạn nghĩ gì về đời sống của bạn?  Hiện nay, bạn thấy mình cần hoán cải và canh tân về những điểm nào?
Cầu Nguyện
Lạy Chúa Giêsu, sám hối không phải là điều dễ dàng, bởi lẽ chúng con không đủ khiêm tốn để nhận mình lầm lỗi.
Chúng con ngỡ ngàng khi thấy Chúa là Đấng vô tội mà lại đứng chung với các tội nhân, chờ Gioan ban phép rửa.
Chúa đã muốn nên bạn đồng hành với phận người mỏng dòn yếu đuối chúng con.
Xin cho chúng con biết thường xuyên điều chỉnh lối nghĩ và lối sống của mình, tỉnh táo để khỏi rơi vào ảo tưởng, thành thật để khỏi tự dối mình.
Ước gì Chúa ban cho chúng con ơn hoán cải, dám đi đến những hành động cụ thể, và chấp nhận những cắt tỉa đớn đau.
Nhưng xin đừng quên ban cho chúng con niềm vui của Giakêu, hạnh phúc vì được tự do và được yêu mến.

 

MV2-A16. Hãy dọn đường Chúa

Ba nhân vật quan trọng trong Kinh Thánh được Giáo Hội nhắc đến trong Mùa vọng để giúp: MV2-A16

Ba nhân vật quan trọng trong Kinh Thánh được Giáo Hội nhắc đến trong Mùa vọng để giúp chúng ta chuẩn bị đón chờ Chúa đến là tiên tri Isaia, thánh Gioan Tiền Hô và Mẹ Maria. Không những các Ngài đã đón Chúa đến trong cuộc đời mình, mà các Ngài còn giúp cho mọi người khác biết cách để đón chờ Chúa đến.
Bài đọc thứ nhất của cả bốn Chúa Nhật Mùa vọng đều trích lại sứ điệp tràn đầy hy vọng của tiên tri Isaia. Trong cảnh sống nhiều thử thách và bóng tối đau thương dường như thể Thiên Chúa không có mặt, như bỏ rơi con người. Tiếng nói đầy hy vọng của tiên tri Isaia vang lên loan báo Thiên Chúa sắp đến thực hiện lời Ngài đã hứa, là thiết lập lại sự công bằng và hòa bình.
Thời của chúng ta đang sống tuy cách xa thời của tiên tri Isaia, nhưng vẫn cần lắng nghe và hy vọng vào sứ điệp của tiên tri Isaia. Con người có âm mưu loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi con người, nhưng phần Thiên Chúa thì Ngài không thể vì thế mà bỏ mặc con người với những thảm cảnh do chính con người tạo nên, như họ muốn loại trừ Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống của mình. Quyền năng vô cùng của Thiên Chúa luôn luôn có cách thế để vượt thắng những điều tiêu cực trong lịch sử con người và chương trình cứu rỗi vẫn được Ngài thực hiện.
Tiên tri Isaia đã loan báo cho dân Israel đang gặp thử thách ngày xưa và cho chúng ta ngày nay về dung mạo của Thiên Chúa Cứu Chuộc sắp đến là vị Thiên Chúa mà con người cần đến, với những lời được trích lại trong bài đọc thứ nhất của Chúa Nhật thứ hai Mùa vọng; "Chúa lấy công minh mà xét xử người nghèo" (x. Is 11,1-10). Đó là những đường nét chính của một vị Thiên Chúa cứu rỗi mà con người mọi thời đại cần đến, một vị Thiên Chúa công bằng trong xét đoán và giàu tình yêu thương, vì Ngài đến để thiết lập cuộc sống hoà bình và hoà hợp cho con người. Cuộc sống ấy được tiên tri Isaia loan báo bằng hình ảnh môi sinh, trong đó sói sống chung với chiên, trẻ nhỏ dám tiếp xúc với các thú dữ. Đó là hồng ân cao cả Thiên Chúa ban cho con người được sống trong cảnh thái bình hoà hợp. Nhưng từ phía con người, họ không được sống ỷ lại để mặc Thiên Chúa muốn làm sao thì làm, nhưng họ phải biết thay đổi cuộc sống của mình mà trở về với Thiên Chúa, đón nhận hồng ân Ngài ban.
Trong viễn tượng này, bài Tin Mừng Chúa Nhật thứ hai Mùa vọng nhắc lại sứ điệp của thánh Gioan, kêu gọi con người hãy thực sự trở về với Thiên Chúa bằng hành động thiết thực, chứ không phải bằng lời nói suông cho qua lần. Qua đó chúng ta có thể lưu ý đến những lời sau đây ghi lại điểm chính của sứ điệp là: "Hãy ăn năn và sám hối".
Sự ăn năn sám hối là bước đầu tiên không thể bỏ qua được trên con đường trở về với Thiên Chúa. Cần dứt khoát, không được chần chờ kéo dài thời gian mãi được: "Cái rìu đã đặt sẵn dưới gốc cây". Hơn nữa, trong số những người đến nghe Gioan rao giảng và muốn thực hiện việc ăn năn trở lại, có những người biệt phái và các văn nhân thuộc phái Sađu, họ bị thánh Gioan trách nặng lời: "Hỡi nòi rắn độc kia, ai bảo các ngươi trốn cơn thịnh nộ hòng đổ xuống trên đầu các ngươi. Hãy làm việc lành cho xứng với sự thống hối".
Dù là ai hay trong địa vị nào đi chăng nữa, thì ai ai cũng là kẻ có tội và cần sự ăn năn thống hối, cần thật lòng trở về cùng Thiên Chúa. Chúng ta hãy kiểm điểm lại cuộc sống của mình xem trong ta còn có trở ngại nào ngăn cản không cho Chúa đến trong chính chúng ta và trong xã hội mà chúng ta đang sống.
Chúng ta hằng ngày hãy đọc kinh Lạy Cha: "Lạy Cha chúng con ở trên trời, chúng con nguyện Danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến...". Lời chúng ta cầu xin cho Nước Cha trị đến sẽ chỉ là lời nói suông hay chỉ là lời nói theo thói quen bao lâu chúng ta không thực sự canh tân đời sống mình: "Hãy ăn năn thống hối, vì Nước Trời đã gần đến".

 

MV2-A17. Xác quyết Thiên Chúa đang sống- Lm. Đinh tất Quý

Hằng năm cứ mỗi lần mùa vọng trở về là chúng ta có dịp gặp lại một trong những khuôn mặt: MV2-A17

Hằng năm cứ mỗi lần mùa vọng trở về là chúng ta có dịp gặp lại một trong những khuôn mặt rất đặc biệt của Tin Mừng. Tôi muốn nói đến Gioan Tẩy Giả
I. Hồi ấy Gioan xuất hiện trong hoang địa miền Giu-đê-a
Ông xuất hiện với một cung cách rất đặc biệt. Tin Mừng nói về Ông như sau: "Ông mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da thú, ăn châu chấu và uống mật ong rừng".
Chúng ta tự hỏi: Tại sao ông lại làm thế? Phải chăng ông lập dị, muốn khác người? Không, ông không lập dị muốn khác người. Ông làm thế là vì ông mang một sứ mệnh cao cả. Ông từ bỏ hết mọi thứ mà người đời thường tìm kiếm để sống và chết cho sứ mệnh của mình.
a/ Ăn - Mặc
- Làm người ai mà chẳng muốn ăn ngon mặc đẹp? Gioan có đủ và còn có dư điều kiện để làm việc đó. Ông là người con duy nhất của một gia đình giầu có. Cha mẹ ông là người có địa vị, có thế giá trong xã hội. Vì cha của Gioan thuộc giai cấp tư tế. Thế nhưng Gioan đã hy sinh. Của ăn thức uống của ông không phải là những thứ cao lương mỹ vị.? Tin Mừng cho chúng ta biết ông ăn châu chấu và thêm vào đó có một chút mật ong trong rừng.
Áo mặc của ông cũng không phải là thứ đắt tiền. Tin Mừng bảo ông áo ông mặc làm bằng lông da thú, một thứ áo mặc thường dùng của những người mục tử nghèo khó. Đôi dép ông mang ở dưới chân cũng thế. Tất cả đầu bằng da thú - vừa sẵn có vừa rẻ tiền.
b/ Về cuộc sống thường ngày của ông thì Thánh Luca bảo ngay từ thuở còn niên thiếu ông đã chọn chốn hoang vu làm nơi cư ngụ cho mình. Ông tự nguyện sống một cuộc sống khắc khổ khó khăn như thế để tự rèn luyện mình nên một con người sắt đá hầu có đối mặt, đương đầu với những thách đố do sứ mệnh của ông đòi buộc.
Claude Tassin nói về ông như thế này:"Ông không lập dị nhưng ông coi thường những tiện nghi vật chất. Ông muốn sống hoàn toàn tự do, không để cho mình bị ràng buộc vào bất cứ một thứ gì mà người trần thế coi trọng". Ta có thể tóm lại trong bằng một ít tiếng sau đây: Ông muốn sống siêu thoát để ông được tự do hành động theo sứ mạng của mình.
II. Bây giờ, chúng ta hãy nghe lời ông tuyên bố:
a/ Những lời ông tuyên bố thật quan trọng. Nó liên hệ đến một Đấng mà các tiên tri trước ông đã loan báo.
- Ông nói với mọi người: "Nước Trời đã kề bên" Hãy ăn năn sám hối. Hãy dọn đường Chúa - Sửa đường Chúa cho ngay thẳng".
- Ông cảnh cáo nặng lời đối với những người có nhiều thành tích bất công: "Hỡi nòi rắn độc. Dừng hòng tránh cơn thịnh nộ của Thiên Chúa - Cái rìu đã để sẵn gốc cây - Thiên Chúa sẽ cầm nia mà sảy sân lúa của Người rồi thu lúa vào kho còn rơm thì Người đốt đi.
- Ông khuyên mọi người hãy làm việc lành cho xứng với lòng sám hối.
b/ Nhiều người đã đến với ông. Nghe những lời ông giảng. Họ cảm thấy bức xúc nơi cõi lòng. Họ đã thành khẩn sám hối và để cụ thể hóa những khát vọng muốn đổi mới của mình, họ đã xin ông làm phép rửa sám hối cho họ.
- Tất cả những việc đó chỉ nhắm duy nhất có một điều đó là được nhận ra Đấng mà ông nói:"Người đến sau tôi nhưng có trước tôi. Phần tôi tôi không xứng đáng cúi xuống cởi dép cho Người"
III. Áp dụng.
a/ Đấng mà Gioan loan báo Ngài đã đến rồi. Đó là Đức Giêsu Kitô Chúa của chúng ta.
Chúng ta đã biết rõ nơi Ngài đã sinh ra
Chúng ta đã biết những nơi Ngài đã sống
Chúng ta đã biết những lời Ngài đã dạy dỗ chúng ta
Chúng ta đã biết những việc Ngài đã làm
Chúng ta đã biết những đau khổ Ngài đã chịu?
Chúng ta đã biết cái chết đau thương của Ngài ỡ trên cây Thánh giá
Chúng ta đã biết sự Phục sinh vinh hiển của Ngài
Trước khi về trời, Ngài còn tuyên bố một lời mà tất cả chúng ta vẫn không thể quên: "Thầy sẽ ở với chúng con mọi ngày cho đến tận thế"
b/ Ngài vẫn ỡ giữa chúng ta những rất nhiều người trong chúng ta vẫn không nhận ra Ngài. Tại sao thế?
Có nhiều lý do nhưng trước hết có một lý hết sức quan trọng đó là con người hôm nay quá bám víu vào những giá trị của trần thế.
* Đây là một trong những kinh nghiệm mà Jacque Maritain và Réxa là 2 triết gia của Pháp vào đầu thế kỷ này kể lại. Họ là những con người xết về phương diện trần thế thì quả thực họ không thiếu một thứ gì trên đời. Họ rất yêu thương nhau, đã tích trữ cho mình được một gia sản khếch xù ít có ai sánh bằng, thế nhưng họ vẫn cảm thấy cuộc đời thật vô nghĩa. Họ thiếu một cái gì đó mà họ vẫn chưa tìm ra. Thế rồi một hôm họ cùng nhau đến một công viên. Và chính từ trong công viên này mà họ đã đi tới một quyết định rất táo bạo ít có ai dám làm như thế. Họ thề với nhau rằng nếu trong một năm mà họ không tìm ra được một ý nghĩa cho cuộc sống của mình thì họ sẽ cùng nhau tự tử. Rất may, sau 12 tháng, họ đã tìm ra. Ý nghĩa ấy nằm trong hai tiếng Yêu thương và ân sủng của Thiên Chúa.
Họ đã thực sự gặp được Thiên Chúa, cảm nghiệm được Tình yêu của Thiên Chúa trong cuộc đời của mình. Từ đó trở đi hai người dùng cả quãng đời còn lại 50 năm trời để làm chứng cho một cuộc đời có Chúa ở cùng.
Trong một tác phẩm "Thủ lãnh của thế gian" nổi tiếng của mình, Bà Réxa đã viết những lời rất cảm động này: "Ma quỉ đã tung ra một màng lưới ảo tưởng trên chúng ta. Màng lưới này tuy vô hình nhưng rất mãnh liệt. Nó làm cho chúng ta yêu thích những giây phút chóng qua hơn vĩnh cửu. Nó khuyên dụ chúng ta chạy theo sự vô định hơn là chân lý. Nó bảo chúng ta rằng ta chỉ có thể yêu mến tạo vật bằng cách thờ lạy nó mà thôi." Và chính vì thế mà người ta không thể nhận ra được sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc đời của mình.?
* Thứ đến như Gioan nói trong bài Tin Mừng hôm nay: Muốn thấy Chúa, muốn gặp được Ngài con người phải dẹp qua một bên những chướng ngại làm cho con đường gặp gỡ không được khai thông. Gioan đã nói đến hố sâu của hận thù, nói đến nuí cao của kiêu ngạo, nói đến quanh co của những nẻo đường bất chính gian dối.
Một hôm thần dữ Satan triệu tập tất cả các sứ giả của mình lại để sai đến trần gian với sứ mạng duy nhất này là giải thích cho con người biết Thiên Chúa đã chết rồi.
Các sứ giả ra đi. Nhưng không bao lâu sau tất cả đều trở về. Thần dữ Satan ngạc nhiên hỏi:
- Tại sao các ngươi thực hiện công tác nhanh như thế? Hay là có chuyện gì trục trặc?
Các sứ giả đồng thanh đáp:
- Thưa Ngài, chúng tôi không còn việc gì để làm nữa. Bởi vì tất cả những nơi chúng tôi đi quan trên trần gian, nơi nào con người cũng sống như thể Thiên Chúa đã chết rồi. Họ hận thù, chém giết nhau, gian tham, trộm cắp. Không có gì xấu mà con người không làm. Dù nhiều người vẫn còn xưng mình là kẻ tin Thiên Chúa, nhưng cách sống của họ không hề biểu lộ niềm tin này mà ngược lại như là loan báo Thiên Chúa đã chết rồi. Như vậy chúng ta đâu cần tốn công thuyết phục con người nữa.
Đó là những chướng ngại ngăn cách làm cho Chúa và con người không thể gặp nhau.
Con người sống như Thiên Chúa đã chết. Đó là một thảm cảnh đáng thương cho tất cả mọi người nhất là những người còn bảo rằng mình vẫn tin có Chúa. Sống mà coi như Thiên Chúa đã chết thì làm sao có thể "GẶP" được Ngài.
Xã hội chúng ta, đất nước, quê hương chúng ta đang cần những chứng nhân của Chúa.
Mỗi người chúng ta đều có sứ mệnh làm chứng cho Thiên Chúa hằng sống. Chúng ta phải dùng chính cuộc sống tốt lành của mình để xác quyết Thiên Chúa đang sống và hành động trong trần gian này. Amen.

 

MV2-A18. Một lối sống, một lối nghĩ của Tin Mừng

Lm. Giuse Nguyễn hữu An
 

Trong "Người phu quét lá" Lm. Nguyễn Khảm đã ví von đời Linh mục như người phu quét: MV2-A18

Trong "Người phu quét lá" Lm. Nguyễn Khảm đã ví von đời Linh mục như người phu quét lá. Ngài mượn bài hát của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn để diễn tả đời Linh mục : "Người phu quét lá bên đường. Quét cả nắng chiều quét cả mùa thu"
Người phu quét lá, hàng ngày dù mưa dầm hay nắng hạn vẫn luôn có mặt từ sáng sớm tinh sương trên mọi nẻo đường thành phố để dọn đường sạch sẽ cho ngàn ngàn con người sắp đi qua. Linh mục mỗi ngày cũng dọn đường tâm hồn cho con người đi đến với Thiên Chúa và để Thiên Chúa đến với con người. Trong ý nghĩa đó có thể nói Gio-an Tiền Hô cũng là "Người phu quét lá" dọn đường cho Chúa Cứu Thế đến với nhân loại.
Chúa nhật II Mùa vọng, Giáo hội giới thiệu cho chúng ta khuôn mặt của Gio-an Tẩy Giả, vị Ngôn sứ cuối cùng của Cựu Ước. Sau 5 thế kỷ vắng bóng Ngôn sứ, nay Gio-an xuất hiện với sứ mạng dọn đường cho Đấng Cứu Thế. Cuộc đời của Gio-an là một thiên anh hùng ca: bất khuất trước cường quyền và bao dung với tội nhân.
Gio-an có một cuộc sinh ra kỳ lạ, một lối sống khác thường. Gio-an chọn con đường tu khổ chế : ăn châu chấu với mật ong rừng, uống nước lã và mặc áo da thú, sống nơi hoang địa vắng người trơ trụi. Nhưng chính nơi đó mà Gio-an đã lớn lên và trưởng thành trong sự gặp gỡ thâm trầm với Thiên Chúa.
Càng lúc Gio-an càng ý thức về sứ mạng của mình, nhưng ông đã kiên nhẫn đợi chờ nhiều năm tháng cho đến ngày ông nghe thấy Thiên Chúa ngỏ lời với ông. Lời của Chúa đưa ông ra khỏi hoang địa để đến gặp gỡ con người qua mọi vùng ven sông Giođan. Lời Chúa ông nghe đã trở thành Lời Chúa ông công bố. Tiếng Chúa gọi ông đã trở thành tiếng ông mời gọi mọi người.
Gio-an đã sống trong dòng lịch sử của Đạo và Đời : Thời hoàng đế Ti-bê-ri-ô, hai Thượng tế Khan-na và Cai-pha, một Phi-la-tô tham lam tàn bạo -Tổng trấn Giu-đê-a, một Hêrôđê tiểu vương Ga-li-lê-a -kẻ giết Gio-an sau này. Gio-an đã đón nhận toàn bộ dòng lịch sử ấy để làm trọn sứ mạng Tiền Hô, Dọn Đường cho Đấng Cứu Thế.
Gio-an đã kêu gọi dân chúng "Hãy sám hối vì Nước trời đã gần đến". Ông đã mạnh dạn mời gọi mọi hạng người, từ kẻ cao sang quyền thế cho đến người dân thường : hãy sống cách ngay chính theo địa vị của mình để sẵn sàng đón Chúa đến.Không thể tiếp tục sống như xưa nữa. Đã đến lúc phải đổi đời, đổi lối nhìn, đổi lối nghĩ. Phải sửa lối cho thẳng để Chúa đi. Dân chúng lũ lượt đến với ông, họ thú tội và ông làm phép rửa cho họ trong sông Gio-đan. Đúng là Gio-an đang "quét dọn" tâm hồn mọi hạng ngưòi cho sạch sẽ tội lỗi xứng đáng đón Đấng Cứu Thế.
Đường quan trọng nhất là đường đi vào cõi lòng. Mỗi người chúng ta không ít thì nhiều đều có những đồi núi kiêu ngạo, những thung lũng ích kỷ hẹp hòi, những cây cầu tự ái khoe khoang, những mấp mô ghồ ghề trong mối quan hệ với người khác như kỳ thị, gian dối, thiếu công bằng, nói hành nói xấu. Cũng có bao lối nghĩ quanh co, có bao tính toán lệch lạc, có những lũng sâu tăm tối thiếu vắng ánh sáng tình yêu.
Sửa cho thẳng, lấp cho đầy, uốn cho ngay,san cho phẳng, bạt cho thấp. Đó là sứ điệp mà Thánh Gio-an gởi đến cho chúng ta trong Mùa vọng này, giúp chúng ta dọn lòng mình thành đại lộ thênh thang mở về Chúa Cứu Thế. Điều đó cũng chẳng dễ dàng chút nào vì nó thường gây đau đớn. Không phải trong Mùa vọng chỉ đi xưng tội qua loa sau khi xét mình 5-10 phút cho yên ổn lương tâm, mà quan trọng là một lối sống, một lối nghĩ của Tin Mừng : Uốn nắn những quanh co, san phẳng gò cao hay hố thẳm và dẹp bỏ chướng ngại trong tâm hồn từng ngày? để có chổ cho Chúa đến và ở lại.
Gio-an Tiền Hô là một Ngôn sứ bất khuất, bao dung và khiêm tốn , chỉ một tâm nguyện là làm "Người phu quét lá" dọn lòng người khác cho Chúa đến. Mỗi người chúng ta cũng theo mẫu gương của Gio-an trở thành "Người phu quét lá" cho chính tâm hồn mình, cho gia đình mình và rồi cho người khác nữa. Dọn đường cũng chính là lên đường theo Chúa Cứu Thế, cho nên dọn đường cho Chúa vừa là một hồng ân vừa là trách nhiệm đòi hỏi mỗi người thi hành nghiêm túc trong cuộc sống hàng ngày của mình.

 

MV2-A19. Nước trời - Nhóm Đồng Hành

Chi Tiết Hay
 

Chữ "nước trời" được dùng đến 32 lần trong Phúc Âm thánh Mathêu, điều đó nói lên sự quan: MV2-A19

Chữ "nước trời" được dùng đến 32 lần trong Phúc Âm thánh Mathêu, điều đó nói lên sự quan trọng của danh từ này. Vương quốc ở đây diễn tả một vương quyền sống động, chứ không phải chỉ muốn nói đến một nơi chốn hoặc một nhóm người.
Chỗ ở của Gioan trong hoang địa cũng giống như cuộc hành trình để được thanh tẩy của dân Do Thái từ Ai Cập qua miền Đất Hứa, từ nô lê đến tự do. Quần áo của Gioan bằng lông lạc đà và dây da thú chứng tỏ sự giản dị và cũng giống quần áo của tiên tri Êlia (2V 1:8). Người ta tin rằng một tiên tri tương tự như Êlia sẽ đến vào trước ngày tận thế. Thức ăn của Gioan (châu chấu và mật ong rừng) là thức ăn căn bản của người nghèo, và cũng là thức ăn mà Samson dùng; Samson là ngưòi tranh đấu chống bất công và áp bức.
Người biệt phái Pharisêu và văn nhân Saduxê là những người rất được kính trọng trong giáo đoàn. Người biệt phái (được nhắc đến 29 lần trong Phúc Âm thánh Mathêu), có nghĩa là "phân cách", nghĩ rằng họ hơn những người khác vì họ giữ luật rất kỹ càng. Còn những người phái Saduxê thì được coi là những người thuộc dòng dõi thầy cả thượng thẩm Zadok trong thời các vua David và Solomon. Họ đa số là những người giàu có và có thế lực, vì vậy họ không thích những người làm cách mạng như Gioan. Đối với những người hãnh diện về gốc gác của mình mà bị gọi là "nòi rắn độc" là một điều sỉ nhục vô cùng. Loại rắn rất độc này nhìn giống như cành cây khô. Thánh Phaolô đã từng bị rắn độc này cắn trong khi đi kiếm củi.
"Rửa tội" theo tiếng Hy Lạp có nghĩa là "nhúng vào trong chất lỏng." Nước, lửa và gió đều được coi là "chất lỏng". Vì vậy Gioan làm phép rửa trong nước, nhưng Chúa Giêsu làm phép rửa trong lửa và gió. Phép rửa này có thể mạnh mẽ đến làm chết người, và làm liên tưởng đến hình ảnh của sự chết và sự sống lại.
Một Điểm Chính
SÁM HỐI
Sám hối có nghĩa là "nghĩ lại", là sự thay đổi trong trái tim và trong lý trí giúp nhận ra những gì được coi là quan trọng và không quan trọng trong cuộc sống, để đem lại một sự thay đổi trong cách sống, hoặc là "sinh hoa quả". Nó không có nghĩa là một sự ân hận sâu xa về một quá khứ mà bây giờ đã qua khỏi tầm tay. Sám hối là điều đầu tiên Chúa Giêsu khuyên dạy mọi người (Mt 4:17), và là sứ điệp Chúa Giêsu giao cho các tông đồ đi rao giảng (Mc 6:12).
Suy Niệm
Đâu là tiêu chuẩn để tôi tự đánh gía trị con người của tôi? Có phải là dựa trên giai cấp của tôi trong xã hội, hoặc là dựa trên việc làm của tôi cho Giáo Hội?
Nấc thang giá trị hiện tại của tôi là gì? Chúa kêu mời tôi nhìn thế giới của tôi một cách khác biệt hơn như thế nào?
Khi được rửa tội, trong tôi những gì phải chết đi và những gì bắt đầu đời sống mới?

 

MV2-A20. Anh em hãy sám hối- Lm. Jos. Phạm ngọc Ngôn

Cùng với Thánh Gioan Tẩy Giả, chúng ta đang ở trong hoang địa miền Giuđê- nơi truyền: MV2-A20

Cùng với Thánh Gioan Tẩy Giả, chúng ta đang ở trong hoang địa miền Giuđê- nơi truyền thống cho rằng Thánh nhân đã sống, rao giảng và làm phép rửa. Hình ảnh nổi bật của vị Tiền hô không chỉ bằng lời rao giảng hùng hồn thu phục nhân tâm mà còn là những lời khuyên đôi khi đanh thép nhưng chân thành.
TỪ SÁM HỐI …
Thánh Gioan Tẩy Giả xuất hiện trong hoang địa, lời nói đầu tiên của ông chính là một lời mời gọi khẩn thiết : “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần”. Gioan Tẩy Giả chính là vị Tiền hô của Thiên Chúa. Công việc của ông không gì khác hơn là lời mời gọi, là tiếng hô vang vọng trong núi rừng Giuđê, kêu gọi con người trở về với Thiên Chúa, chuẩn bị tâm hồn cho xứng đáng để đón chờ Đấng Thiên Sai của Thiên Chúa sẽ đến.
Rõ ràng trong lời rao giảng, Gioan Tẩy Giả nhấn mạnh đến sự sám hối ăn năn. Tuy nhiên, sám hối như thế nào, áp dụng ra sao, … là điều không dễ dàng chút nào. Động từ Hy lạp metanoein để chỉ sự chuyển hướng nội tâm, trở về với Thiên Chúa. Sự trở về, sự chuyển hướng hay còn có nghĩa là thống hối, ăn năn (metanoia) không chỉ ở những hành vi bên ngoài mà còn thể hiện một sự thay đổi tận bên trong, một sự chuyển biến nội tâm. Như thế, sám hối, tức là thay đổi tận gốc rễ con người mình, trở về với Thiên Chúa từ trong sâu thẳm tâm hồn cho đến lối sống được thể hiện ra bên ngoài. Nói khác đi, sám hối chính là hành vi từ bỏ đời sống tội lỗi, từ bỏ những tính hư tật xấu để tin vào Thiên Chúa và bước theo đường lối Người.
ĐẾN NHỮNG LỜI CẢNH TỈNH
Nhìn vị Tiền hô của Thiên Chúa qua cung cách ăn mặc (mặc áo lông lạc đà, thắt dây da), qua cách sống (ăn châu chấu và mật ong rừng) cũng như lời rao giảng hùng hồn kêu gọi con người hãy trở về với Thiên Chúa, khiến cho không ít người có ấn tượng khá mạnh mẽ về ông. Vâng, Gioan Tẩy Giả không chỉ rao giảng bằng lời mà còn thể hiện qua lối sống khổ hạnh, tiết chế. Chính vì thế, khi nghe ông rao giảng, từ khắp nơi, người ta kéo đến với ông để thú tội, để chịu phép rửa, để xin ông một lời khuyên cho đời sống của họ. Đến đây, chúng ta thấy Gioan Tẩy Giả còn là một vị lương y về tâm linh tài ba khi ông “chẩn đoán và bốc thuốc” chính xác cho từng con bệnh. Ông mạnh mẽ lên án những người Pharisêu và Sađốc; ông không ngần ngại gọi họ là “nòi rắn độc chạy trốn cơn thịnh nộ của Thiên Chúa”; nhưng đồng thời, ông cũng nhẹ nhàng ân cần khuyên họ “hãy sinh hoa quả xứng với lòng sám hối”.
Ông cảnh báo họ về lòng tự phụ, tự mãn vốn cho mình là con cháu Apraham, thì đương nhiên được Thiên Chúa cứu độ. Ông báo cho họ biết rằng trước mặt Thiên Chúa, họ chẳng có chút giá trị gì. Bởi từ những hòn đá vô hồn kia, Thiên Chúa có thể làm nên “con cái Apraham”. Ông nhắc nhớ họ, điều trọng yếu không phải là dựa vào thế giá của ông này bà nọ, nhưng hãy dựa vào Thiên Chúa bằng cách trở về nẻo chính đường ngay.
Yếu tố thời gian với sự hối hả thúc giục vì “Nước Trời gần đến”, cũng chính là điều mà Gioan Tẩy Giả muốn nhắc nhở mọi người. Hình ảnh “chiếc rìu đặt sẵn gốc cây”, cũng như hình ảnh về “cái nia của người rê lúa trong sân” cho thấy sự cần thiết, sự gấp rút của thời gian khiến cho con người phải cải thiện đời sống, uốn nắn, chỉnh sửa lại những chỗ lồi lõm, u tối trong tâm hồn, hầu tránh được những điều đáng tiếc có thể xảy đến.
“Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần”. Lời mời gọi của Thánh Gioan Tẩy Giả không chỉ gửi đến cho dân chúng miền Giuđê mà còn gửi đến cho tất cả chúng ta. Và như thế, Mùa Vọng chỉ thật sự có ý nghĩa khi mỗi người chúng ta biết lắng nghe tiếng nói của Thiên Chúa, lắng nghe giáo huấn của Giáo hội để từ đó dọi chiếu vào mọi ngõ ngách của tâm hồn, của cuộc sống hầu có thể uốn nắn, chấn chỉnh và hoàn thiện để trọn tâm hồn và đời sống chúng ta luôn ở trong tư thế sẵn sàng, không gì đáng trách trong ngày Thiên Chúa Giáng lâm.

 

MV2-A21. HÃY CẢI THIỆN ĐỜI SỐNG!

TRIỀU ĐẠI THIÊN CHÚA ĐÃ ĐẾN - Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh
 

Nếu chủ đề của Chúa Nhật Thứ Nhất Mùa Vọng Năm A tuần trước là “Hãy leo lên núi Chúa: MV2-A21

Nếu chủ đề của Chúa Nhật Thứ Nhất Mùa Vọng Năm A tuần trước là “Hãy leo lên núi Chúa, tới nhà của Thiên Chúa Giacóp” , mà “leo lên núi Chúa”, như bài chia sẻ tuần trước cho thấy, là “hãy loại trừ những việc làm tối tăm” theo lời khuyên của Thánh Phaolô trong bài đọc hai tuần trước, chúng ta mới có thể gặp được Chúa Kitô, “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”, thì lời kêu gọi của tiên tri Isaia trong bài đọc một tuần trước đã nên trọn nơi lời kêu gọi của Gioan Tẩy Giả trong bài Phúc Âm hôm nay: “Hãy cải thiện đời sống! Triều đại Thiên Chúa đã đến”. Căn cứ vào mối liên hệ sâu xa nơi hai lời kêu gọi hết sức tương hợp với nhau này, một trong Cựu Ước và một trong Tân Ước, chúng ta có thể chuyển dịch ý nghĩa của hai lời mời gọi này như sau: “Hãy leo lên núi Chúa” tức là “hãy cải thiện đời sống”, và “tới nhà của Thiên Chúa Giacóp” tức là “Triều đại Thiên Chúa đã đến”.

Thật vậy, như bài chia sẻ tuần trước đã nhận định, theo tiến trình cứu độ, Mùa Vọng là thời điểm trông đợi Chúa Kitô đến cứu thế, song theo ý nghĩa phụng vụ, Mùa Vọng là thời điểm cảm nghiệm thần linh, cảm nghiệm Đấng đã thực sự đến trong thế gian và không ngừng ở cùng Giáo Hội cho đến tận thế, bởi vậy Mùa Vọng của Giáo Hội Chúa Kitô cũng hướng về biến cố Chúa Kitô lại đến trong vinh quang. Thế nhưng, làm sao chúng ta có thể cảm nghiệm thần linh, có thể thực sự nhận biết Chúa Giêsu Kitô là Lời Nhập Thể, là Thiên Chúa Làm Người, cho dù Người có đang ở với mỗi người chúng ta bằng Thánh Sủng, và có ở cùng Giáo Hội bằng Thần Linh của Người, nếu chúng ta không “leo lên núi Chúa”, tức không “cải thiện đời sống”. Bởi vì, “nhà của Thiên Chúa Giacóp” ở trên ngọn của “đỉnh núi cao nhất”, nơi chúng ta “thuộc về hạ giới” (Jn 8:23) không thể tới được, thậm chí không thể thấy được, nếu chúng ta không muốn hay không chịu khó “leo lên núi Chúa”. Thật vậy, “nhà của Thiên Chúa Giacóp” đây là gì, nếu không phải là nhân tính của Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa Làm Người, một ngôi nhà không phải do tay người ta làm ra, mà là do chính Thiên Chúa, “là do Chúa Thánh Thần”, như thiên thần báo mộng cho Thánh Giuse biết trong Phúc Âm của Chúa Nhật Thứ Tư Năm A Mùa Vọng hai tuần tới đây. Nếu “Thánh Thần sẽ xuống trên trinh nữ và quyền phép Đấng Tối Cao sẽ bao phủ trinh nữ; bởi thế trẻ thánh được sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa”, như Phúc Âm Thánh Luca trình thuật ở đoạn 1 câu 35, thì quả thực “nhà của Thiên Chúa Giacóp”, một ngôi nhà đã được dựng lên bởi “quyền phép Đấng Tối Cao”, chính là ngôi nhà đã được xây cất ở trên ngọn của “một đỉnh núi cao nhất vượt trên các ngọn đồi”. Và nếu “trẻ thánh được sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa” đây chính là Đấng, cũng theo lời thiên sứ cho biết ở Biến Cố Truyền Tin trong Phúc Âm Thánh Luca đoạn 1 câu 32-33: “Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngôi báu Đavít tổ phụ Người. Người sẽ cai trị nhà Giacóp đến muôn đời và triều đại Người sẽ vô tận”, thì một khi “nhà của Thiên Chúa Giacóp” được xây cất trên ngọn của “đỉnh núi cao nhất” bấy giờ cũng là lúc “Triều đại Thiên Chúa đã đến”, như lời Gioan Tiền Hô loan báo trong bài Phúc Âm hôm nay.

Thế nhưng, nếu thực sự “Triều đại Thiên Chúa đã đến”, hay nếu Thiên Chúa Đã Làm Người, tại sao không ai trong dân Do Thái biết, không ai thấy, ngoại trừ một số rất hiếm, như tư tế Simêon và nữ tiên tri Anna như được Phúc Âm theo Thánh Luca thuật lại ở đoạn 2 câu 28-38? Phải chăng vì “nhà của Thiên Chúa Giacóp” này xây trên “đỉnh núi cao nhất”, hết sức khó thấy. Đúng thế, Thiên Chúa Nhập Thể là một mầu nhiệm, do đó, nếu không có ơn Chúa đặc biệt, con người không thể nào nhận ra Người, dù Người có thực sự ở giữa họ, như lời Tiền Hô Gioan khẳng định với dân Do Thái ở Phúc Âm Thánh Gioan đoạn 1 câu 26: “Có một Đấng ở giữa các người mà các người không biết”. Vậy mà tại sao Gioan Tiền Hô lại biết và loan báo cho dân chúng biết, trong khi chính ngài đã thẳng thắn tuyên bố với dân chúng trong Phúc Âm Thánh Gioan đoạn 1 câu 31 rằng: “Thú thực, tôi không biết Người, mặc dù tôi đến lấy nước mà rửa để Người có thể tỏ mình ra cho dân Yến Duyên”? Trong khi tuyên bố “thú thực, tôi không biết Người” như thế, trong bài Phúc Âm hôm nay, Gioan Tiền Hô lại nói rất rõ về thân phận và vai trò của “Đấng đến sau” mình. Về thân phận của Đấng “tôi không biết”, Gioan Tiền Hô tiết lộ: “Tôi lấy nước mà rửa cho các người hoán cải, nhưng Đấng đến sau tôi là Đấng quyền thế hơn tôi. Tôi không đáng xách dép cho Người”; về vai trò của Đấng “tôi không biết”, Gioan Tiền Hô cũng đã nói rõ: “Người là Đấng sẽ rửa các người trong Thánh Thần và trong lửa… Người sẽ dọn sạch sân lúa của Người, thóc thì Người thu vào kho, còn rơm thì Người cho vào lửa không hề tắt mà đốt đi”. Quả thực Đấng “tôi không biết” của Gioan Tiền Hô đã đến “rửa trong Thánh Thần và trong lửa”: Người đã “rửa trong Thánh Thần”, qua việc Người “thổi hơi” trên các tông đồ sau khi sống lại từ trong kẻ chết, để các vị “nhận lấy Thánh Thần”, như Phúc Âm theo Thánh Gioan thuật lại ở đoạn 20 câu 22; và Người cũng đã “rửa trong lửa”, qua biến cố “những lưỡi như lửa xuất hiện tản ra đậu trên đầu mỗi một vị. Tất cả đều được đầy Thánh Thần. Các vị bắt đầu nói tiếng lạ và hiên ngang rao giảng theo Thần Linh thúc đẩy”, như được Thánh Ký Luca thuật lại trong Sách Tông Vụ ở đoạn 2 câu 3.

Phúc Âm cho thấy khi Gioan Tiền Hô đang kêu gọi dân Do Thái “cải thiện đời sống” và làm phép rửa thống hối cho họ ngài chưa thực sự tận mắt thấy Đấng “tôi không biết”, thậm chí cho đến lúc thánh nhân làm phép rửa cho Người, và thấy được những dấu chứng tỏ và chứng thực về “Đấng đến sau” mình, như ngài cho biết trong Phúc Âm Thánh Gioan đoạn 2 câu 32-34: “Tôi đã thấy Thần Linh như chim bồ câu từ trời xuống đậu trên Người. Tuy nhiên, tôi không biết Người. Đấng đã sai tôi lấy nước mà làm phép rửa đã bảo tôi rằng ‘Khi nào ngươi thấy Thần Linh xuống và đậu trên ai thì người ấy là Đấng rửa trong Thánh Thần’. Nay tôi đã tận mắt thấy và làm chứng ‘Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn’”. Tuy nhiên, theo Phúc Âm Thánh Mathêu ở đoạn 3 câu 13 và 14, ngay trước khi Đấng “tôi không biết” của Gioan Tiền Hô chịu phép rửa bởi ngài, thánh nhân hình như đã linh cảm được Người chính là “Đấng đến sau” mình rồi, nên thánh nhân đã từ chối làm phép rửa cho Người: “Tôi phải được Ngài rửa cho mới đúng, chứ đâu có chuyện Ngài lại đến xin tôi!”. Vấn đề ở đây là tại sao Gioan và chỉ có một mình Gioan bấy giờ linh cảm thấy Vị Thiên Chúa Làm Người trước khi làm phép rửa cho Người, và chẳng những nhận ra Vị Thiên Chúa Làm Người mà còn làm chứng cho Vị Thiên Chúa Làm Người này sau khi làm phép rửa cho Người, trong khi đó, đám dân chúng đông đảo đang kéo đến với thánh nhân, gồm có cả thành phần thông luật, thông Kinh Thánh, như phái Pharisiêu và Sađucê trong bài Phúc Âm hôm nay, không hề nhận ra Người?

Vẫn biết, nguyên do trước hết và trên hết khiến cho Gioan Tiền Hô có thể linh cảm thấy và nhận ra Vị Thiên Chúa Làm Người là vì, theo thánh nhân nói, như vừa được trích dẫn, “Đấng đã sai tôi lấy nước mà làm phép rửa đã bảo tôi”, thế nhưng, Đấng sai thánh nhân đến “lấy nước mà làm phép rửa” đây là ai? Vào lúc nào? Tại đâu? Sao thánh nhân lại tin vào Đấng ấy? Không ai biết, và chính ngài cũng không tiết lộ một tí gì về những chi tiết này. Về vấn đề nguồn gốc sứ vụ của Gioan Tiền Hô đây cũng đã được Chúa Giêsu đặt ra cho thành phần trưởng tế và kỳ lão lãnh đạo trong dân Do Thái ở Phúc Âm Thánh Mathêu đoạn 21 câu 24 thế này: “Phép rửa của Gioan bởi đâu mà có?” Nhưng họ không trả lời được, nói rõ hơn, họ không muốn trả lời, hay nói chính xác hơn, họ không dám trả lời, như Phúc Âm theo Thánh Mathêu cùng đoạn tiếp tục thuật lại như sau: “Nếu chúng ta đáp là bởi ‘thần linh’ thì hắn sẽ vặn chúng ta rằng ‘thế thì tại sao các người không tin vào phép rửa này?’ Bằng nếu chúng ta bảo bởi ‘loài người mà thôi’, chúng ta không thể nào lại không sợ dân chúng, vì toàn thể dân chúng đều coi Gioan như là một vị tiên tri vậy”. Đến đây, qua sự kiện thành phần lãnh đạo dân Do Thái bấy giờ lập luận để giải đáp về nguồn gốc phép rửa của Gioan, chúng ta mới thấy được lý do chủ quan tại sao Gioan Tiền Hô có thể tự mình linh cảm thấy “Đấng đến sau” khi vừa thấy Người đến xin thánh nhân làm phép rửa cho, trước khi thánh nhân nhận ra Người căn cứ vào chính mạc khải từ “Đấng đã sai tôi lấy nước mà làm phép rửa”.

Thật vậy, nếu lý do dân Do Thái nói chung và thành phần lãnh đạo dân chúng là Hội Đồng Do Thái bấy giờ nói riêng không nhận biết Chúa Giêsu là Đấng Thiên Sai, cho dù họ đã tận tai nghe lời Người giảng dạy vô cùng khôn ngoan cũng như đã tận mắt chứng kiến các phép lạ Người làm, chỉ vì họ muốn chối bỏ sự thật, không muốn chấp nhận sự thật, thì lý do chủ quan khiến Gioan Tiền Hô cảm nhận được ngay Vị Thiên Chúa Làm Người, đó là vì thánh nhân đã sống trong sự thật và tìm kiếm sự thật. Do đó, cho dù “toàn thể dân chúng” có trọng vọng thánh nhân “như một vị tiên tri”, thậm chí tưởng ngài là “Đấng Thiên Sai” (xem Jn 1:25), thánh nhân đã thành thực tuyên bố: “Tôi không phải là Đấng Thiên Sai” (Jn 1:20). Vì sống trong sự thật như thế, nên có lần nghe thấy các môn đồ của mình nói đến sự kiện dân chúng kéo tới xin Chúa Giêsu làm phép rửa cho đông hơn thánh nhân (xem Jn 3:26), thánh nhân liền nói: “Ngài phải được nổi nang hơn còn tôi cần phải lu mờ đi” (Jn 3:30). Gioan Tiền Hô tự mình chẳng những đã sống trong sự thật như vậy, mà còn mạnh mẽ rao giảng sự thật và cương quyết làm chứng cho sự thật nữa. Thánh nhân đã mạnh mẽ rao giảng sự thật, ở chỗ, như Phúc Âm hôm nay thuật lại, khi ngài lên tiếng khiển trách “nhiều người Pharisiêu và Sađucê đến xin chịu phép rửa: ‘Đừng có mà tự phụ cho rằng Abraham la cha của mình. Tôi bảo cho các người hay Thiên Chúa có thể biến chính những hòn đá này thành con cái Abraham cũng được… Cây nào không sinh hoa kết trái sẽ bị chặt đi và quặng vào lửa”; chưa hết, thánh nhân chẳng những rao giảng mà còn hiên ngang “làm chứng cho sự thật” (Jn 5:33) nữa, ở chỗ, ngài đã lên tiếng phản đối việc hôn nhân bất chính của Hêrôđê và vì thế đã bị mất đầu, như Phúc Âm Thánh Mathêu thuật lại ở đoạn 14, câu 4 và 11.

Vâng, cho dù Thiên Chúa Làm Người có thực sự tỏ mình ra, tỏ mình ra hoàn toàn nhất, đích thực nhất, hiển nhiên nhất nơi Con Người Giêsu Nazarét, và cho dù con người có được soi động cho biết những dấu hiệu đích thực để có thể chắc chắn nhận ra Ngài, nhận ra “Sự Thật”, chẳng hạn như trường hợp Gioan Tẩy Giả qua “Đấng đã sai (ngài) lấy nước mà làm phép rửa”, hay như trường hợp của thành phần lãnh đạo dân Do Thái trước vấn nạn Chúa Giêsu đặt ra cho họ về ngồn gốc phép rửa của Gioan Tẩy Giả, tự mình con người vẫn cần phải thành tâm tìm kiếm sự thật và sống trong sự thật nữa mới có thể nhận ra Người. Vì Người đã quả quyết với Philatô ở Phúc Âm Thánh Gioan đoạn 18 câu 37: “Lý do Tôi được sinh ra, lý do Tôi đã đến trong thế gian là để làm chứng cho sự thật. Ai tìm kiếm sự thật thì nghe thấy tiếng Tôi”. Cho dù thành phần tìm kiếm sự thật này chưa gặp được Người là chính “Sự Thật” (Jn 14:6), nơi họ cũng đã có sẵn tính chất là chiên của Người rồi, và bởi thế họ đã có khả năng làm chiên của Người nữa, khả năng nghe được tiếng chủ chiên của mình, khả năng nghe được “Sự Thật”, nhận biết “Sự Thật” khi được “Sự Thật” tỏ mình ra cho, vì Chúa Giêsu đã tuyên bố trong Phúc Âm Thánh Gioan đoạn 10 câu 27 và 16: “Chiên Tôi thì nghe tiếng Tôi, Tôi biết chúng và chúng theo Tôi”; “Tôi còn những chiên khác chưa thuộc về đàn này. Tôi phải dẫn dắt cả chúng nữa, và chúng sẽ nghe thấy tiếng Tôi. Sẽ chỉ có một đàn chiên và một chủ chiên”.

Vấn đề thực hành sống đạo: Nếu Mùa Vọng chẳng những là thời điểm đợi trông Chúa Kitô đến lần thứ hai mà còn là thời điểm để Kitô hữu chúng ta cảm nghiệm được thực sự Chúa Kitô đã đến rồi và đang ở nơi mỗi một người chúng ta bằng Thánh Sủng cũng như ở cùng Giáo Hội cho đến tận thế bằng Thần Linh của Người, và nếu muốn thực sự cảm nghiệm được Vị Thiên Chúa Làm Người này nơi mỗi người cũng như trong Giáo Hội, Kitô hữu chúng ta cần phải như Gioan Tiền Hô sống trong sự thật, mà Sự Thật lại chính là Chúa Giêsu, Đấng Thiên Sai, Thiên Chúa Làm Người, vậy sống trong sự thật phải chăng là tuyệt đối tin tưởng rằng Thiên Chúa thực sự đã Làm Người, và vì hoàn toàn tin tưởng nơi Vị Thiên Chúa Làm Người như vậy, Kitô hữu chúng ta sẽ không dám sống ngược lại với Đường Lối Nhập Thể của Người là khiêm nhượng, thanh bần, phục vụ và chịu đựng khổ đau, tóm lại, chúng ta luôn phải biết “bỏ mình đi và vác thập giá mà theo Thày” (Mt 16:24)?

(Tin Mừng Sự Sống www.tinmungsusong.org buổi phát thanh thứ sáu mươi lăm, Chúa Nhật 9/12/2001,
bài chia sẻ này cũng sẽ được phổ biến trên Màn Điện Toán Toàn Cầu www.ThoiDiemMaria.net, một website sẽ ra mắt vào Ngày Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội 8/12/2001, xin kính mời ghé thăm)


 

MV2-A22. Dọn đường

Mt 3,1-12
A. Hạt giống...
 

Ý tưởng chính của Lời Chúa hôm nay là “dọn đường”: 1. Ngôn sứ Isaia cho biết mục đích của: MV2-A22

Ý tưởng chính của Lời Chúa hôm nay là “dọn đường” :
1. Ngôn sứ Isaia cho biết mục đích của việc dọn đường là “để Ngài (Chúa) đi”. Đi đâu ? Đi đến với con người, cụ thể là đến với mỗi người chúng ta.
2. Gioan Tiền hô kêu gọi thính giả mình dọn đường bằng cách sám hối.
3. Chính Gioan Tiền hô dọn đường bằng cách giới thiệu Chúa Giêsu cho người khác.
B.... nẩy mầm.
“Con người là con đường của Giáo Hội” (Đức Gioan Phaolô 2). Nhưng có nhiều con đường rất khác nhau :
- Con đường giăng kẽm gai là con đường của những kẻ thù hận nhau, ngăn chận những tương giao qua lại.
- Con đường đầy ổ phục kích : con đường của những kẻ cạnh tranh nhau, chờ cơ hội để hại nhau.
- Con đường sa mạc nóng bỏng : con đường của những kẻ khô khan việc đạo.
- Con đường quanh co : con đường của những kẻ lọc lừa gian dối.
- Con đường hầm u tối : con đường của những kẻ sống trong tội lỗi.
- Con đường cỏ dại mọc đầy : con đường của những kẻ không vướng mắc tội nặng nhưng còn rất nhiều tội nhẹ.
- v.v. và v.v.
2. Nội dung chính trong lời kêu gọi của Gioan Tiền hô là “Hãy sám hối”. Sám hối bao gồm nhận biết tội mình, hối tiếc vì đã phạm tội, và trông cậy vào ơn Chúa giúp mình chừa bỏ nó. Thiếu một trong ba yếu tố đó thì không phải là sám hối thật. Giuđa biết tội, hối tiếc vì tội và... chỉ có thế thôi, nên đã đi treo cổ chết. Thánh Phêrô cũng biết tội, cũng hối tiếc tội, nhưng còn trông cậy vào ơn Chúa nên đã trở lại với tình thương của Ngài.
3. Ông rất ngạc nhiên khi đọc báo thấy người ta loan tin rằng ông vừa mới chết. Ông lại giật mình khi bài báo nói về ông như một người chuyên chế tạo vũ khí giết người để phục vụ chiến tranh. Chẳng lẽ giá trị đời ông là thế sao ? Vậy là ông quyết định thay đổi cách sống và việc làm. Ông ấy chính là Alfred Nobel, người đã lập ra giải Nobel để thưởng cho những ai có công xây dựng hòa bình cho thế giới.
Sám hối là thay đổi : đổi cách suy nghĩ, từ đó đổi cách sống.
5. Mầm khác :

 

MV2-A23. GIẤC MƠ THỜI THÁI BÌNH

Khi đọc sách lịch sử, hoặc đọc báo mỗi ngày, chắc hẳn là nhiều lần chúng ta phải xấu hổ: MV2-A23

Khi đọc sách lịch sử, hoặc đọc báo mỗi ngày, chắc hẳn là nhiều lần chúng ta phải xấu hổ vì mình đã làm người. Lịch sử loài người thế nào? Thưa là  chiến tranh, chiến tranh và chiến tranh. Bao nhiêu là chết chóc, bao nhiêu là sợ hãi, bao nhiêu là nước mắt. Một triết gia đã than: Homo homini lupus! (Con người là sói dữ của con người)
Các nhà du hành vũ trụ là những người đầu tiên được nhìn thấy trái đất từ bên ngoài. Từ ngoài vũ trụ nhìn vào họ thấy trái đất như một gia đình đông đúc cùng cư ngụ trong một mái nhà chung. Một nhà du hành kể: ngày thứ nhất trong vũ trụ, mọi người chúng tôi ai cũng nhìn xuống tìm đất nước của mình; ngày thứ hai tìm lục địa của mình, và ngày thứ ba ai nấy đều ý thức mình cùng chung một trái đất. 
Trên đây là hai cái nhìn vào trái đất và loài người: một cái nhìn từ bên ngoài và một cái nhìn từ bên trong.
Trong bài đọc I, Ngôn sứ Isaia cũng dùng một cái nhìn từ bên ngoài để mô tả cảnh thái bình mà ông nghĩ sẽ được thực hiện vào thời đại Messia: “Sói sống chung với chiên con, beo nằm chung với dê, bò con, sư tử và chiên sẽ ở chung với nhau; con trẻ sẽ dẫn dắt các thú ấy. Bò con và gấu sẽ ăn chung một nơi, các con của chúng nằm ngủ chung với nhau; sư tử cũng như bò đều ăn cỏ khô; trẻ con vừa thôi bú sẽ thọc tay vào hang rắn độc; các thú dữ ấy không làm hại ai, không giết chết người nào...”
Đức Giêsu chính là Đấng Messia. Khi Ngài đến, Ngài đã thiết lập thời đại thái bình ấy. Thánh Marcô kể rằng trong 40 ngày ở hoang địa, Đức Giêsu đã sống chung một cách hòa thuận với các dã thú, và các thiên sứ hầu hạ Ngài (Mc ,2). Giáo Hội thời sơ khai cũng là một cảnh thái bình. Sách Công vụ tông đồ viết: Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau và để mọi sự làm của chung. Họ đem bán đất đai của cải, lấy tiền chia cho mỗi người theo nhu cầu. Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Đền thờ. Khi làm lễ Bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ. Họ ca tụng Thiên Chúa và được toàn dân thương mến (Cv 3,44-47).
Nhưng rồi cảnh thái bình ấy đã dần dần biến mất: con người đối xử với nhau còn tệ hơn dã thú, thay vì chia sẻ cho nhau thì lại tranh dành với nhau, thay vì tất cả đồng tâm nhất trí thì mỗi người một ý không ai chịu ai... Trong Mùa Vọng, chúng ta hãy nỗ lực tái tạo cảnh thái bình ngày xưa, ít ra là trong gia đình mình, trong khu xóm mình, trong tập thể mà mình đang sống.
2. Thông cảm, tiếp rước và phục vụ
Khi Thánh Phaolô muốn dạy các tín hữu phải sống với nhau thế nào để cộng đoàn Giáo Hội của họ thực sự là một cuộc sống hạnh phúc trong Nước Chúa, Ngài đã chỉ họ 3 việc: thông cảm nhau, tiếp rước nhau và phục vụ nhau.
-Thông cảm: phải chăng lý do khiến người ta buồn giận nhau, chỉ trích nhau, kết án nhau... là vì người ta không thông cảm cho nhau?
-Tiếp rước: phải chăng nguyên cớ của những cạnh “mạnh ai nấy sống”, “đèn nhà ai nhà nấy sáng”, “sống chết mặc bây”... là vì người ta không tiếp rước nhau?
-Phục vụ: phải chăng nguồn gốc của những chèn ép, tranh dành, ích kỷ... là vì người ta không phục vụ nhau?
 Thử tưởng tượng một tập thể mà ai nấy đều thông cảm, tiếp rước và phục vụ mọi người khác. Cảnh tượng sẽ chẳng kém gì giấc mơ thái bình của ngôn sứ Isaia và bức tranh tuyệt vời của cộng đoàn tín hữu sơ khai.
3. “Hãy dọn đường Chúa”
“Hãy dọn đường Chúa”, đó là lời Thánh Gioan Tiền hô kêu gọi.
Xin được phép gợi lên một vài suy nghĩ hơi thú vị về những con đường.
Thánh kinh có nói tới nhiều con đường:
-Con đường dân Do thái đã đi qua trong sa mạc: một con đường quanh co đi hoài đi mãi suốt 40 năm lang thang để tìm về Đất Hứa.
-Con đường từ Giêrusalem xuống thành Giêricô: một con đường hiểm trở đầy những ổ phục kích của bọn cướp, Chúa Giêsu đã kể dụ ngôn về một người lữ hành đi qua con đường đó bị bọn cướp đánh dở sống dở chết.
-Con dường của Chúa Giêsu và các tông đồ một lần kia di ngang qua xứ Samaria ngoại đạo: một con đường đã bị chặn lại không cho đi vì những thành kiến thù nghịch giữa hai dân tộc. 
-Con đường thập giá của Chúa Giêsu: một con đường khổ đau rải rác những giọt máu của Đấng Cứu thế.
-Con đường về làng Emmau mà có lần sau phục sinh, hai môn đệ của Chúa Giêsu đã cùng Ngài sánh bước: một con đường mù sương che mắt khiến hai ông  không nhận ra Thầy mình.
-Và con đường là chính Chúa Giêsu “Ta là Đường, là sự thật và là sự sống.
Những con đường trong Thánh kinh ấy, thực ra là hình bóng của những con đường trong đời người: trong cuộc đời, có:
 -Có những con đường chăng dây kẽm gai: con đường của những kẻ thù hận nhau, nó ngăn chặn những tương giao qua lại.
-Có những con đường đầy ổ phục kích: con đường của những kẻ cạnh tranh nhau, chờ cơ hội để khai thác nhau, lợi dụng nhau, làm hại nhau.
-Có những con đường hầm u tối: con đường của những kẻ lọc lừa, gian dối.
-Có những con đường quanh co trong rừng rậm: con đường của những kẻ lén lút sống trong vòng tội lỗi.
-Có những con đường gồ ghề lồi lõm: con đường  của những kẻ mang một tật xấu thâm căn cố đế, hoặc kiêu căng, hoặc hà tiện, hoặc đam mê sắc dục...
-Có những con đường cỏ dại mọc đầy: con đường của những kẻ không vướng mắc tội nặng nhưng còn rất nhiều tội nhẹ.
-Có những con đường sa mạc cát nóng: con đường của những kẻ khô khan việc đạo
-Và cũng có những con đường cái quan thẳng tắp: con đường bình an của những kẻ đạo hạnh, ngày càng tiến nhanh về Chúa.
Cuộc đời mỗi người chúng ta là một con đường: con đường hai chiều đưa ta đến với Chúa và Chúa đến với ta, hay đưa ta đến với tha nhân và tha nhân đến với ta.
-Đó chính là con đường mà Chúa Giáng Sinh muốn đi, đi để đến với ta, và qua ta để đến với tha nhân: đến để mang cho ta và cho anh em ta muôn ơn lành: ơn bình an, ơn hạnh phúc, ơn đạo hạnh.
4. Hội Thánh là tôi
*Hội Thánh có nhiều khuyết điểm và gương xấu, nhưng Hội Thánh có lời hứa của Chúa. Hội Thánh là một phép lạ liên lỉ. Tuy nhiên đừng vì thế mà phơi bày khuyết điểm và gương xấu cho mọi người. Cũng đừng vì đó mà tha hồ làm gương xấu để Chúa phải làm phép lạ mỗi ngà y (ĐHV 264)
Nữ tu đời Ang Hattei, trong tác phẩm “Jesus caritas” có thuật lại câu chuyện như sau:
Trước Công đồng Vaticanô II, một hôm có người bạn vô thần tôi yêu mến đã nhận định với tôi rằng: Hội Thánh là một thế lực tiền bạc, là điểm tựa của các nhà độc tài và đại tư bản. Ông ta thắc mắc về các vị lãnh đạo Hội Thánh độc đoán và phe phái, về các tín hữu tự cho mình là tốt mà hành động xấu xa, về các Linh mục lo lắng thụ hưởng và làm giàu... Tôi kiên nhẫn lắng nghe ông rồi nói: “Tôi đã làm gì mà anh hạ nhục tôi như vậy?”, ông ta sừng sỏ bảo: “Tôi sỉ nhục cô ư? Nhưng tôi đâu có nói gì cô! Không nói gì cô mà cũng chẳng nói gì về một người bạn nào của cô cả, như Linh mục X, hay chị Y chẳng hạn. Tôi nói đến Hội Thánh cách chung mà!” Tôi trả lời: “Hội Thánh cách chung là tôi, Hội  Thánh cách chung là tất cả những người mà anh chỉ trích, những kẻ mà anh loại trừ. Họ trộn lẫn với nhau một cách không thể phân ly được. Hội Thánh cách chung là họ, là tôi là tất cả những người ấy”. Ông bạn tôi từ đó không bao giờ còn thắc mắc với tôi về Hội Thánh. Và nhiều lần trước mặt tôi ông còn tìm cách làm nổi bật những dấu hiệu tích cực về sự hiện diện của Hội Thánh trong thế giới này nữa. (ĐHY NVT, Trên đường lữ hành)

 

MV2-A24. Hãy ăn năn và tin vào Phúc Âm

Matthêu 3, 1-12
 

Sự xuất hiện của Gioan giống như tiếng phán của Thiên Chúa  thình lình vang lên. Lúc bấy: MV2-A24

Sự xuất hiện của Gioan giống như tiếng phán của Thiên Chúa  thình lình vang lên. Lúc bấy giờ người Do thái buồn bã nghĩ rằng tiếng nói của các tiên tri không còn nữa. Trải qua bốn trăm năm không hề có tiên tri nào, suốt bốn thế kỷ dài đằng đẵng, tiếng nói tiên tri hoàn toàn yên lặng. Nhưng trong Gioan tiếng nói tiên tri lại  đang vang lên. Vậy đặc điểm của sứ điệp Gioan rao giảng là gì? Trong tất cả các lời giảng của Gioan, điều đòi hỏi cơ bản là :”ăn năn”. Đó cũng là sứ điệp cơ bản của Chúa Giêsu : “Các ngươi hãy ăn năn và tin vào Phúc Âm”. Chúng ta cần tìm hiểu ăn năn là gì và yêu cầu cơ bản của Vua và người dọn đường của Ngài là gì. Điều đáng chú ý là Chúa Giêsu và Gioan đều dùng chữ ăn năn mà không có lời giải thích. Cả hai đều coi chữ này như một từ ngữ chắc chắn mà người nghe sẽ biết và hiểu rõ ý nghĩa.
Chúng ta hãy xem người Do thái dạy thế nào về sự ăn năn. Đối với người Do thái , ăn năn là trọng tâm của mọi đức tin tôn giáo, mọi sự liên hệ với Thiên Chúa . Ăn năn là điều kiện duy nhất và bất khả thay thế để được Thiên Chúa tha thứ, phục hồi ân huệ của Ngài. Sự tha thứ và ân huệ ấy không bao giờ phụ lòng ăn năn chân thành! “Thiên Chúa hoàn toàn tha thứ tội lỗi của người ăn năn, là lẽ đạo chủ yếu của người Do thái “(Moore). Các rabi dạy rằng sự ăn năn rất là vĩ đại vì nó đạt đến ngai vinh quang của Thiên Chúa. Học giả Montefiore đã viết: “Ăn năn là mối ràng buộc hòa giải lớn giữa Thiên Chúa và loài người”.
Luật Pháp được lập hai ngàn năm sau cuộc sáng tạo, nhưng các rabi Do thái dạy rằng sự ăn năn là một trong những điều sáng tạo trước cả luật pháp. Có sáu điều quan trọng là: ăn năn, thiên đàng, địa ngục, ngai vinh quang của Chúa, đền thờ thánh trên trời, và Danh của Đấng Cứu Thế. Họ nói: “Một người bắn mũi tên có thể tới vài trăm thước nhưng sự ăn năn tới được cả ngai Thiên Chúa “.
Câu truyện danh tiếng sau đây của các rabi Do thái cho thấy sự ăn năn được đặt vào hàng đầu: “Ai giống như Thiên Chúa là thầy dạy các tội nhân về sự ăn năn?”Họ hỏi Khôn Ngoan: “Hình phạt dành cho tội nhân là gì?” Khôn Ngoan đáp: “tai họa đuổi theo kẻ có tội” (Kn 13, 21). Hỏi Tiên Tri thì được đáp: “Linh hồn nào phạm tội thì sẽ chết” (Ez 18,4). Hỏi Luật Pháp, Luật Pháp trả lời: “Người ấy phải dâng của lễ” (Lv 1, 4). Người ta hỏi Thiên Chúa thì Người đáp: “Ngươi hãy ăn năn để được sự chuộc tội. Hỡi các con, điều Ta đòi hỏi nơi các con là gì? Hãy tìm kiếm Ta và được sống”. Cũng vậy, đối với người Do thái, cổng duy nhất để trở về với Thiên Chúa là cổng ăn năn.
Từ ngữ Do thái dùng để chỉ sự ăn năn cũng rất hay. Đó là danh từ của động từ có nghĩa là quay lại. Ăn năn là bỏ điều dữ và quay lại cùng Thiên Chúa , thay đổi cách ăn nết ở, cải tạo đời sống luân lý và tôn giáo của toàn dân tộc hoặc của cá nhân. Học giả Montefiore đã viết: “Đối với các rabi, bản chất của sự ăn năn là ở chỗ hoàn toàn thay đổi tâm trí, từ đó đem lại sự thay đổi trong cuộc sống và trong cách cư xử”. Maimonides, một học giả Do thái danh tiếng trong thời trung cổ định nghĩa sự ăn năn như sau: “Ăn năn là gì? Là tội nhân lìa bỏ tội và khai trừ nó ra khỏi tư tưởng mình, hoàn toàn quyết định trong tâm trí sẽ không tái phạm nữa như có chép rằng: “kẻ ác khá bỏ đường mình, người bất nghĩa khá bỏ các ý tưởng của nó”.
Nhiều lần Kinh Thánh nói về sự quay lưng lại tội lỗi và trở lại cùng Chúa. Êzêkiel chép: “Thật như Ta hằng sống, ta chẳng vui khi kẻ dữ chết, nhưng vui vì nó bỏ đường lối của mình mà được sống. Sao các ngươi muốn chết, hỡi nhà Is-ra-en ?” (33,11). Giêrêmia viết: “Xin Chúa cho tôi trở lại, thì tôi sẽ được trở lại vì Giavê là Chúa Trời tôi” (31,18). Ôsê chép: “Hỡi Is-ra-en, hãy trở lại cùng Đức Giavê Chúa ngươi” (14,1).
Từ những điểm kể trên, rõ ràng trong Do thái giáo, sự ăn năn tự nó đã có một đòi hỏi đạo đức đó là từ bỏ tội lỗi mà đến cùng Chúa với một sự thay đổi tương xứng trong hành động. Khi Gioan đòi hỏi người nghe phải kết quả xứng đáng với sự ăn năn thì đòi hỏi đó hoàn toàn nằm trong truyền thống dân tộc. Có một lời cầu nguyện thật đẹp thường được đọc trong các nhà hội: “Lạy Cha, xin làm cho chúng con trở lại với Luật Pháp Ngài. Lạy Vua, xin kéo chúng con đến phục vụ Ngài, hãy đem chúng con trở lại trong sự ăn năn hoàn toàn trước sự hiện diện của Ngài. Chúng con ca ngợi Chúa, vì Ngài vui thích sự ăn năn” . Nhưng sự ăn năn đó phải được minh chứng qua nếp sống thay đổi.
Bình luận về sách Giona, một rabi viết: “Hỡi anh em, Kinh Thánh không chép Chúa Trời thấy bao bị và sự ăn chay của người Ninivê, nhưng Người thấy việc làm của họ là từ bỏ con đường gian ác”. Các rabi cũng dạy: “Đừng như kẻ ngu dại khi phạm tội rồi thì dâng của lễ mà không ăn năn. Nếu có người nói rằng; tôi cứ phạm tội rồi ăn năn, cứ phạm tội rồi ăn năn, thì người ấy không còn được phép ăn năn nữa”. Người ta liệt kê năm hạng tội nhân không được tha thứ, trong đó có “những người phạm tội để ăn năn và những người vừa mới ăn năn xong lại tái phạm”. Họ nói: “Một người cầm một vật nhơ bẩn trong tay, thì dù có rửa bằng nước của cả đại dương tay vẫn không sạch, nhưng ném vật dơ bẩn đó đi thì chỉ một chút nước là xong”. Các giáo sư Do thái cũng thường nêu chín qui tắc ăn năn tức chín điều cần yếu cho sự ăn năn thật. Chín điều này họ thấy chép trong Isaia: “Hãy rữa đi, hãy làm cho sạch, hãy tránh những điều ác trước mắt Ta, đừng làm sự dữ nữa, hãy học làm lành, tìm kiếm sự công bình, hãy đỡ đần kẻ bị hà hiếp, làm công bình cho kẻ mồ côi, bênh vực cho người góa bụa” (1, 16-17).
Trong Huấn ca, con của Sirach viết: Đừng nói “Tôi phạm tội, có việc gì xảy đến cho tôi đâu?” Vì Chúa là Đấng khoan nhân. Đừng dại dột tin vào của lễ chuộc tội, rồi cứ tiếp tục thâm vào tội, và đừng nói “Thiên Chúa giàu lòng thương xót, Ngài sẽ tha thứ vô số tội lỗi cho tôi”, vì Ngài là Thiên Chúa của tình thương lẫn của thịnh nộ, Ngài sẽ giáng thịnh nộ trên kẻ phạm tội. Đừng trì hoãn việc trở lại cùng Chúa và đừng lần nữa ngày này qua ngày khác” (5, 4-7). Tác giả viết tiếp: “Một người đụng đến xác chết bị ô uế đi tắm để được tinh sạch nhưng lại rờ đến xác chết ấy nữa thì tắm rửa có ích gì? Cũng vậy, một người kiêng ăn vì đã phạm tội nhưng lại tái phạm thì ai sẽ nghe lời cầu xin của người ấy? Kiêng ăn và hãm mình của người ấy có ích gì? (34,25).
Người Do thái chủ trương sự ăn năn thật không chỉ biểu hiện bằng một cảm xúc buồn thảm mà thật sự thay đổi đời sống. Đây cũng là quan niệm của người kitô hữu . Người Do thái chủ trương kết quả chứng minh cho sự ăn năn thật, người kitô hữu cũng thế.
Còn một niềm tin cuối cùng của người Do thái về sự ăn năn và  chắc chắn đó là điều Gioan phải nghĩ tới, đó là: nếu Is-ra-en thật sự ăn năn hoàn toàn, dù chỉ trong một ngày, thì Đấng Messia sẽ đến. Chỉ tại lòng người cứng cỏi khiến cho sự sai phái Đấng Cứu Chuộc xuống thế phải trì hoãn lại.
Ăn năn chính là trọng tâm của đức tin Do thái mà cũng là trọng tâm của đức tin Kitô giáo, vì ăn năn là quay lưng lại với tội lỗi để đến với Thiên Chúa , để sống cuộc đời Ngài muốn chúng ta sống.
“Vậy hôm nay, hãy nghe lời Chúa phán, chớ cứng lòng..

 

MV2-A25. CUỘC THAY ĐỔI TOÀN DIỆN

“Anh em hãy ăn năn hối cải"
 

Xưa nay, các Tiên tri là những phát ngôn nhân của Thiên Chúa. Thiên Chúa dùng con người: MV2-A25

Xưa nay, các Tiên tri là những phát ngôn nhân của Thiên Chúa. Thiên Chúa dùng con người đề nói cho loài người và nói theo từ ngữ loài người vào thời điểm của họ. Vì chế, sứ điệp của mỗi tiên tri mang dấu hiệu của thời gian, của dân tộc, của xứ sở, của tính tình vị ngôn sứ. Họ nói về tương lai nhưng họ không phải là sử gia tương lai. Họ nhìn thấy một phần nào đó sự xuất hiện của Đấng Messia và được ơn soi sáng về sự việc ấy.
Vì thế, Gioan Tiền hô, Tẩy giả, đến giảng trong hoang địa hôm nay, không biết hết về Đấng Messia, Đức Giêsu quê thành Nagiaret (Mt 11 , 2-6) . Nhưng sứ mạng cao cả của Người là nhận ra Đấng Thiên sai của Thiên Chúa giữa đám đông dân chúng.Đó là Đấng phải đến. Và ngàn đời, Gioan sẽ là Đấng tiền hô, Đấng giơ tay chỉ đường cho nhân loại đến với Thiên Chúa. Matheô gồm tóm tất cả lời giảng đanh thép của Gioan trong câu sau đây: “Anh em hãy ă năn thống hối”. Và đó là câu châm ngôn căn bản của Tin Mừng.
Theo nghĩa Thánh Kinh, ăn năn trở lại là như thế nào ? Là một cuộc thay đổi toàn diện trong tư tưởng, trong hành động, trong việc làm, một hướng đi, một đời sống mới. Không phải chỉ như người bộ hành xoay mặt ngó lui thấy mình đi lầm đường rồi thôi, mà phải đi trở lại để vào đúng con đường chính. Tôi chỉ trở lại thật sự, khi tôi quyết định đổi cả não trạng, cả nguyên tắc cuộc sống và đem ra thực thi trong việc làm. Trong tích truyện các cuộc trở lại lớn, chúng ta nhận thấy có một cuộc chiến đầy đau khổ kéo dài nhiều khi trong nhiều tháng nhiều năm để Chúa thanh lọc. chiếm hữu con người được Chúa kêu gọi trở lại như Charles de Foucad, Eve Lavachière.
Chướng ngại vật lớn lao hơn cả trên con đường “trở lại" là sự tự phụ tự mãn, cho rằng mình không cần đến một ơn cứu độ nào cả mình có thể tự cứu lấy rình nhờ tài năng học vấn dòng tộc. Gioan nhìn thấy một số đông biệt phái và văn nhân cũng đến xin chịu phép rửa, thật lòng hay giả dối, đã lớn tiếng tuyên bố. “Các người hãy làm việc lành cho xứng với lòng thống hối; chớ  tự phu nghĩ rằng: tổ tiên chúng tôi là Abraham.Vì ta bảo cho các hay: Thiên Chúa quyền năng có thể khiến những hòn đá trở nên con cái Abraham. Câynào không sinh trái tốt, sẽ phải chặt đi và bỏ vào lửa. Phải chăng qua nhận lời khiển trách nặng nề ấy, Matheô còn muốn ám chỉ các vị lãnh đạo của các cộng đoàn Ki tô hữu. Tinh phần Pharisêu khó mà lột bỏ tận gốc rễ, quá lệ thuộc kinh điển tập tục từ Đức Tin khó vươn lên phát sinh nhiều hoa trái.
Vậy ơn trở lại là sự thật lòng đì tìm Chúa, tìm hiểu trúng thực tế Chúa muốn cho ta thực thi. Rồi có mộc sự đáp ứrg chân thật và nhiệt thành. Nên thánh là thực thi là sống đức Bác ái thương yêu. Đó là “giềng mỗi sự trọn lành” (Col. 3, 14). Đó là chu toàn cả lề luật (Rom. 13, l0)
Giáo hội đã tôn phong Chân phước cho Bà Josephine Bakhita gốc Sudan. Vốn !à một người nô lệ, bị bắt cóc bán qua mua lại 5 lần; tớ Ý, người được trở lại chịu phép Rửa tội, và đáp lại giống Chúa tới mức bác ái cao siêu. 25 năm trong dòng Nữ Tư Bác ái, trong công việc thường nhất là nấu bếp, khâu vá và gác cổng, Chị đã tận tâm giúp đỡ người nghèo và đau khổ, sống khiêm nhượng, đơn sơ, luôn nở nụ cười, được mọi người địa phương cảm mến và gọi:  Mẹ đen của chúng tôi " (1869-1947)
Lạy Chúa xin cho chúng con được ơn “trở lại”

 

MV2-A26. Giờ G sắp đến ngay bây giờ

Mt 3,1-12
 

Hôi ấy... Ta hãy ngờ vực. Ta đừng bị lầm lẫn. Cách nói này không chỉ là câu nói tầm thường: MV2-A26

Hôi ấy...
Ta hãy ngờ vực. Ta đừng bị lầm lẫn. Cách nói này không chỉ là câu nói tầm thường chuyển tiếp theo thói quen. Nhưng ngày mà Mát-thêu muốn nói đến là những ngày quyết định... Có một sự khẩn trương đang đến gần. Ngày mai thì quá trễ rồi. Đó là ngày N, đó là giờ G sắp đến ngay bây giờ.         
Ông Goan Tẩy Giả đến rao giảng trong hoang địa miền Giu-đê rằng:
Nếu ta đọc Mát-thêu như những người đọc ông ban đầu, không biết đến Tin Mừng Luca (trong đó Gioan Tẩy Giả đã choán hết thời thơ ấu của Đức Giêsu), thì mọi chuyện diễn ra ở đây như thể chúng ta đang chứng kiến một "khởi đầu tuyệt đối". Hồi ấy, Gioan Tẩy Giả đến". Giáo Hội sơ khai khi ấy bắt đầu Tin Mừng trực tiếp bằng hoạt động của Gioan Tẩy Giả (Cv 10,37; Mc 1,4 ; Ga 1,19). Những "Tin Mừng thời thơ ấu” chỉ được đưa vào sau này, như một thứ dẫn nhập thần học trước.
Ta hãy thử tưởng tượng mình vào trong sa mạc này ở bên bờ sông  Gio-đan .  
Tất cả lịch sử Kitô giáo bắt đầu bằng tiếng kêu của Gioan:   
“Anh em hãy sám hồi vì Nước Trời đã đến gần”.  
Đấy là chuyện "khẩn trương". Đấy là "Tin Mừng"! Thiên Chúa sắp ngự trị. 
 Ta đang ở vào mùa thu năm 27, có thể như thế. Ta khó tưởng tượng ra một "tiếng kêu như thế sẽ gợi ra chuyện gì. Đối với những người vào thời đó, thì nó có tác dụng như một trái bom. Đấy là một chàng điên nói... hay nếu đúng thế thì đấy là cả một sự chờ đợi hững  hực của Do Thái sắp được mãn nguyện: một "chồi non của cội nguồn Đa-vít sẽ nảy sinh" "một nhánh lá, một hy vọng điên cuồng"... người sẽ dùng công lý phán xét những kẻ bé mọn"... "một nền hòa bình phổ quát và dứt khoát sẽ thành hình trên mặt đất: sói sẽ ở với chiên, sư tử và bò cùng ăn cỏ với nhau, trẻ thơ sẽ vui đùa trên ổ rắn hổ mang"... “sẽ không còn sự ác nữa"..: "mọi người sẽ nhận biết Thiên Chúa!"  (Is 11,1-10)
Chính đó là Tin vui: đấy là "Tin Mừng", là "loan báo tốt lành"... "eu-angelion" trong tiếng Hy Lạp, "besôrâ" trong tiếng Do Thái. Đó là "tin lành", mà trong hai năm Đức Giêsu đến lượt Người bắt đầu kêu lên. Đó chính là cùng một thứ tin vui mà Đức Giêsu rao giảng (Mt 4,17). Thiên Chúa đến gần rồi. Thiên Chúa ở giữa người ta, Thiên Chúa ở trên đường đi. Nước người đang đến gần! Hãy đến! Hãy đến! Chớ chi Nước người ngự đến, chớ chi tình yêu Người đến? Chớ gì hòa bình đến? Chớ chi công lý đến! Tất cả những của cải mà loài người khát mong...
Tất cả đều ở đó? Gioan Tẩy Giả nói: Ta hiểu rằng cái "tin" này không thể để cho ai còn dửng dưng được. Còn tôi, tôi có phải là một người khát khao không? Tôi có biết phát hiện ra trong thế giới thực tế mỗi ngày, tất cả những khát vọng sâu xa này không? Cái "mong chờ" này không ?
Nhưng chú ý! Chú ý! Gioan Tẩy Giả kêu lên. Đừng chỉ mong chờ, khát khao suông. Hãy xây dựng "Nước Thiên Chúa" này, hãy làm đi. Đi đi, lên đường đi, hãy năng động, hãy sám hối... hãy thay đổi!
Gioan chính là người đã được ngôn sứ I-sai-a nói tới: “Có tiếng người hô trong sa mạc. Hãy dọn san con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho  thẳng để người đi"
Lạy Chúa, chúng con được giải ngũ, chính chúng con, so với những người kia, thế đấy! Chúng con đã làm dịu bớt Tin Mừng. Chúng con đã làm cho Tin Mừng thành một sức mạnh "truyền thống", "bảo thủ” quá khứ. Và khi đó chính là niềm hy vọng lớn lao của quần chúng muốn biến đổi xã hội. Thế thì chúng ta hãy cứ lạ lùng trước các chủ nghĩa vô thần hiện đại đã đến tiếp sức khi chúng ta bỏ chạy: "đó là cuộc đấu tranh cuối cùng, chúng ta hãy tập hợp lại và ngày mai cuộc đấu tranh quốc tế sẽ là loài người?", là Kitô  hữu, chúng ta có say mê xây dựng một thành thị mới không? Chúa chúng ta không phải chỉ "ở trên cao”, người "ở phía trước"... Người đến, người gần quá rồi... bạn hãy làm cho Người đến, hay dọn đường cho Người!
Ông Gioan mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da, lấy châu chầu và mật ong rừng làm thức ăn.
Đó là một "tay cứng cỏi", một “anh chàng nổi tiếng”, cái gã đó, đã kêu lên: "hãy sám hối". Chính bản thân anh, anh ta  đã bắt đầu thực hiện. Anh ta sống một cuộc đời đạm bạc, sơ khai, hợp với môi sinh một cách lành mạnh từ lâu rồi. Không có vấn đề béo phì, nhồi máu cơ tim, hay dư cholesterol!
Khi đó người ta từ Giêrusalem và khắp miền Giu-đê đến với ông...
Chốn hoang mạc này đang đầy nghịt những đám đồng! Nó sống lại! Chốn hoang mạc ở chỗ bờ sông Giođan này trở thành một trung tâm, khởi động một phong trào từ khắp nơi: Từ thành thị (Giêrusalem) ở phía Tây... miền thôn dã (Sông Gio-đan!) ở phía Đông...
Họ thú tội và ông làm phép rửa cho họ trên  sông Gio-đan 
Vàng  đúng là hoang mạc tâm hồn bỗng nhiên bắt đầu sống lại... trong khiêm tốn và sám hối. "Thay đổi xã hội" không,  chưa đủ (nhưng cũng phải  thay đổi) nhưng phải "thay đổi chính bản thân mình"... Thời gian của Mùa Vọng trước hết không phải thời  gian bày ra những mặt hàng đầy thực phẩm và tặng phẩm. Chính là thời gian trở về lòng mình... Thời gian Mùa Vọng trước hết không phải thời mơ mộng của những bé ngoan: đó là thời gian "phải quyết định"... Đối với truyền thống Kinh Thánh lớn, “sám hối", chính là quay trở lại hoàn toàn để đi theo chiều hướng ngược lại với chiều người ta đã đi  theo. Tiếng La-tinh "conversio", từ đó mới có tiếng "conversion", phiên dịch tiếng Hy Lạp "metanoia", có nghĩa theo sát chữ là "thay đổi =meta... não trạng = noia". Và hai từ này phiên dịch tiếng Do Thái "shub", đặc trưng về rao giảng có tính ngôn sứ. Mùa Vọng năm nay, đối với tôi, phải chăng sẽ là một thời gian “trở lại", một thời gian "canh tân", một thời gian “thay đổi" một thời gian "sám hối"?  Hay là phải chăng tôi cứ tiếp tục cuộc đời rong ruổi của tôi, đôi chân rúc vào tôi giày bố xó nhà, và ngồi ghế bành thoải mái bên tách cà phê? Khi nghe loan báo "tin mừng về Nước Thiên Chúa đã gần kề, người người thời đó chạy bộ tuốn  đến hoang mạc, và nhận ra tội lỗi của mình. Còn chúng ta ngày nay thì sao? Phải chăng lương tâm của ta có lẽ không bị va chạm với tội lỗi . Chúng ta có lẽ bị mù quáng chăng? Có lẽ chúng ta thiếu một sự trong sáng cơ bản nhất? Để chuẩn bị cho con đường Giáng sinh, ta có "nhận ra" điều xấu trong ta không? Và đón nhận "nhiệm tích thánh tẩy thứ hai" , nhiệm tích kỳ diệu của hòa giải không! Hay là có lẽ ta giống như người Pha-ri-sêu và Xa-đốc chăng?
Thấy nhiều người thuộc phái Pha-ri-sêu và phái Xa-đốc đến chịu phép rửa, ông nói với họ rằng: "Nòi rắn  độc kia, ai đã chỉ cho các anh cách trốn cơn thịnh nộ của Thiên Chúa sắp giáng xuống vậy? Các anh hãy sinh hoa, kết quả để chứng tỏ lòng sám hối". Đừng tưởng có thế bảo mình rằng: “chúng ta đã có tổ phụ Apraham”. Vì tôi nói cho các anh hay, "Thiên Chúa có thể làm cho những hòn đá này trở nên con cháu ông Apraham".
Khi có một điều gì hoàn toàn mới đang bắt đầu đối với tất cả những người sáng suốt, thì một số người nào đó lại không "động đậy", dù một cách lầm lẫn, họ đã trấn an mình bằng những điều chắc chắn: nhưng cứ xem kìa, chính họ, chẳng có gì thay đổi nơi họ, họ thuộc "chủng người được tuyển chọn".
Họ tưởng là mình "tự do". Họ không nhận thức được rằng họ chịu ảnh hưởng của "một người khác", một người bí nhiệm chống lại dự tính về Nước Thiên Chúa trên họ: một người "không được nhận dạng" . "Ai" đã chứng minh cho bạn cách thoát khỏi Thiên Chúa? Kẻ đối phương là người không lộ mặt đối mặt, nhưng hành động không cho ai biết. Gioan Tẩy Giả đã lột mặt nạ của  hắn: chính là con Rắn từ thời E-va, đã xúi đàn ông và đàn bà cứ ăn trái cấm không có gì liều lĩnh đâu... và đã biến đổi một cách tinh ma tất cả những người nghe nó thành "nòi rắn" (St 3,15), thành "nòi rắn độc" (Mt 3,7). Không "trở lại", thì chính là thần phục "nòi kia"
Cái rìu đã đặt sát gốc cây: bất cứ cây nào không sinh quả tốt đều bị chặt đi và quăng vào lửa.
Khẩn cấp! Khẩn cấp! Ta hãy mau lên!
Chỉ nữa giây, lưỡi dao sắc bén của cây rìu sẽ làm cho cây đổ máu  và  hạ nó xuống, để quăng vào lửa, cái cây vô ích kia, không sinh hoa trái. Và chúng ta hé thấy số phận của "cây vả không sinh sản", trên đường Giêrusalem, hai năm sau (Mt 21,18). Lạy Chúa, xin giúp con sản sinh được những quả "tốt".
Tôi, tôi làm phép rửa cho các anh trong nước đế giục lòng  các anh sám hối. Còn Đấng đến sau tôi thì quyền thế hơn tôi, tôi không đáng xách dép cho Người. Người sẽ làm phép rửa cho các anh trong Thánh Thần và Lửa.
"Người ngự đến... còn mạnh mẽ hơn" (X. Mc 1,7 ; Lc 3,16) ở nơi Gioan Tẩy Giả người cuối cùng trong các ngôn sứ đấy không phải là một tuyên ngôn khiêm tốn: "Tôi không đáng là đầy tớ của Người...", chính là một tuyên ngôn đức tin: "Người ngự đến, đó là một linh thể" đó là: “Vua" của Nước Thiên Chúa, đó là phán quan thời thế mạt, đã mặc lấy "cơn lôi đình của Thiên Chúa chống lại cái ác.
Tay người cầm nlà, người sẽ rê sạch lúa trong sân: thóc mẩy thì thu vào kho lẫm, còn thóc lép thì bỏ vào lửa không hề tắt mà đốt đi.
Những hình ảnh Kinh Thánh truyền thống để chỉ về ngày phán xét!... Cuộc phán xét chỉ dành cho một mình Thiên Chúa! Và tất cả bối cảnh của truyện kể buộc chúng ta phải nhận diện "Người" ngự đến là chính Đức Giêsu! Tuyên ngôn thuộc lãnh vực thần học. Sân rê lúa là nơi phân biệt hẳn "lúa mì" và "trấu”. Một thứ thì đem vào lẫm, còn thứ kia chỉ đáng bỏ vào lửa. Xấu và Tốt không thể đánh đồng với nhau. Ai có dị ứng khi “xưng thú tội lỗi mình", nếu người đó nhận thức ra, hắn sẽ đắn đo khi phải nhận cái trọng lượng nhẹ nhõm của cái vỏ trấu phù du, thay vì làm "lúa mì".

 

MV2-A27. HÃY CHUẨN BỊ CHO CHÚA ĐẾN

Is 11,1-10 ; Rm 15, 4-9.; Mt 3,1-12
 

Để đáp ứng lời kêu gọi của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong Tông thư "Tiến tới Thiên: MV2-A27

Để đáp ứng lời kêu gọi của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong Tông thư "Tiến tới Thiên Niên Kỷ thứ ba", Hội Đồng Giám Mục Việt Nam mới đây đã phổ biến một thi liệu mục vụ nhằm chuẩn bị Mừng Năm Thánh 2000. Một trong những bước chuẩn bị đó là chân thành sám hối. Thật vậy, tài liệu mục vụ đã ghi nhận rằng:"Hội Thánh dù là thánh thiện, vì được tháp nhập vào Đức Kitô, nhưng vẫn không ngừng sám hối: Hội Thánh luôn nhìn nhận trước mặt Thiên Chúa và loài người những tội lỗi của con cái mình. Hội Thánh không thể “bước qua ngưỡng cửa hy vọng" của thiên niên kỷ mới mà không thôi thúc con cái mình thanh luyện với lòng sám hối vì những lầm lỗi, bất trung, chia rẽ, trí trệ. Ý thức lại những sa sút của ngày hôm qua là một hành vi trung thành và can đảm, giúp củng cố đức tin của chúng ta, cho chúng ta thấy được những cám dỗ và khó khăn của hôm nay và chuẩn bị cho chúng ta đương đầu với chúng (Tài liệu mục vụ chuẩn bị Mừng Năm Thánh 2000 số 19).
Như vậy, để chuẩn bị mừng 2000 năm Chúa Cứu Thế giáng trần, Hội Đồng Giám Mục mời gọi chúng ta hãy chuẩn bị bằng cách sám hối, sám hối trên bình diện cá nhân (mỗi Kitô hữu) và trên bình điện tập thể (Giáo Hội).
Trong ngày Chúa Nhật II Mùa Vọng hôm nay, thánh Gioan Tẩy Giả cũng kêu gọi hãy chuẩn bị cho Chúa đến. Nhưng chuẩn bị như thế nào đây?
I. TRƯỚC HẾT LÀ CHUẨN BỊ TRÊN BÌNH DIỆN CÁ NHÂN
Trên bình diện cá nhận, chuẩn bị có nghĩa là: “Phải sám hối vì nước Trời đã đến gần". Điều gì, chứ sám hối ai lại chẳng biết. Trong mỗi Thánh lễ, đều có phần sám hối. Đặc biệt vào Mùa Vọng, Mùa Chay, nhà thờ nào lại không kêu gọi sám hối, xét mình xưng tội? Nhiều nơi lại còn tổ chức tĩnh tâm, làm đêm canh thức chuẩn bị đón Chúa. Như vậy đã đủ chưa? Xin thưa là chưa đủ. Hỏi rằng ai đạo đức và nghiêm túc tuân giữ luật Chúa cho bằng nhóm Pharisêu thế mà tại sao khi họ đến xin Gioan Tẩy Giả làm phép rửa để tỏ lòng sám hối, họ lại bị Gioan nặng lời quở trách: "Loài rắn độc kia, ai đã chỉ cho các anh cách tránh cơn thịnh nộ của Thiên Chúa sắp giáng xuống vậy?". Thì ra, những người Pharisêu đến chịu phép rửa để "thực hiện một nghi thức hầu trấn an lương tâm”, chứ đâu gửi gắm trong đó sự hoán cải thực lòng. Mà chẳng phải chỉ có người Pharisêu hôm xưa, không ít người Kitô Hữu hôm nay cũng xét mình, cũng xưng tội để chu toàn luật Hội Thánh "Xưng tội trong một năm ít là một lần ", theo kiểu “tấp tểnh người đi, tớ cũng đi” rồi an tâm vững dạ!
Không! Sám hối không chỉ là hối tiếc những hành vi quá khứ, lại càng chẳng phải là thực thi cho đủ một Ngài thức bên ngoài theo luật định, nhưng là thay lòng đổi dạ, và hoa trái của sám hối chính là làm những việc lành phúc đức. Theo nguyên tắc: xem quả biết cây, cứ kiểm điểm về nếp nghĩ, về cách sống của mình mà chúng ta biết mình có sám hối thực sự theo lời Gioan Tẩy giả kêu gọi hay là không. 
II. THỨ ĐẾN LÀ CHUẨN BỊ TRÊN BÌNH DIỆN TẬP THỂ
Nếu trên bình diện cá nhân, chuẩn bị đón Chúa có nghĩa là sám hối thực lòng, thì trên bình diện tập thể, chuẩn bị đón Chúa có nghĩa là: "Hãy dọn sẵn con đường cho Chúa, hãy sửa lối cho thẳng để Ngài đi". Hoặc noi theo ngôn ngữ hiện đại, là hãy cùng nhau tạo mọi điều kiện thuận lợi để Nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.
Trong bài đọc I, bằng một thứ ngôn ngữ bóng bẩy và sinh động, ngôn sứ Isaia loan báo Chúa sẽ đến để thiết lập thế giới mới. Đấy là một thế giới trong đó Thiên Chúa đập tan bọn cường hào, giết chết phường gian ác, Ngài xét xử công minh cho người thấp cổ bé miệng và bênh đỡ kẻ nghèo hèn. Đấy là một thế giới, trong đó thái bình thịnh trị sẽ tồn tại đến muôn đời chẳng còn chiến tranh giữa người với người, thậm chí thú dữ cũng chẳng ăn thịt những con vật hiền lành và giết hại trẻ thơ. Tuy nhiên đây là một thứ ngôn ngữ thi ca nhằm nói lên rằng, có một sự hoà hợp tuyệt vời giữa con người với vạn vật và giữa vạn vật với nhau.
Quả thực ngôn sứ Isaia đã vẽ nên  một thế giới lý tưởng mà tự thâm tâm ai cũng hằng chờ đợi và mơ ước. Nhưng người Kitô hữu không chỉ chờ đợi và mơ ước cách thụ động, mà cần phải nỗ lực phấn đấu để lấp đầy những hố thẳm chênh lệch bất công, phải uốn lại cho ngay những cơ cấu, những tập tục và não trạng gây chia rẽ hận thù. Bởi vì, xét cho cùng, nếu không có được những cơ chế công bằng và hợp lý, tức là chưa có được những điều kiện khách quan để Nước Trời có thể đến với mọi người. 
III. CUỐI CÙNG CHUẨN BỊ CÁ NHÂN LÀ KHỞI ĐIỂM CHO CHUẨN BỊ TẬP THỂ
Cha ông ta vẫn bảo: "Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ". Có nghĩa là muốn trị quốc bình thiên hạ thì trước hết phải tu thân. Kinh nghiệm cho thấy rằng nguyên nhân tạo nên bất công và chiến tranh, đó chính là cái ác tội lỗi ăn rễ trong tâm hồn con người. Thành thử ra việc thúc đẩy cho Nước Chúa mau đến phải khởi đi từ chính tâm hồn con người có nghĩa là phải ra khỏi cái tôi chật hẹp ích kỷ của mình, để đến cùng anh em với trái tim chân thành và đôi tay rộng mở. Chẳng vậy mà trong phần mở đầu của bản Công ước quốc tế nhầm thành lập tổ chức Unesco, tức là tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên Hiệp Quốc, người ta đã khẳng định rằng: "Chính phủ các nước tham gia Công ước này, nhân danh nhân dân nước mình mà tuyên bố rằng: chiến tranh nảy sinh trong đầu óc con người,vậy chính trong đầu óc con người, cần phải dựng nên các phòng tuyến hòa bình... Một nền hòa bình chỉ xây dựng trên các hiệp định kinh tế và chính trị giữa các chính phủ, không thể lôi cuốn sự tham gia nhất trí lâu dài và chân thành của các dân tộc. Vì vậy nền hòa bình ấy phải được thiết lập trên cơ sở đoàn kết trí tuệ và tinh thần của nhân loại".
Qua lời khẳng định của bản Công ước quốc tế trên, ta thấy rằng sự chia rẽ hận thù, ngay cả chiến tranh nóng, chiến tranh lạnh, là những nhân tố làm cản trở sự phát triển của Nước Trời, chúng đều phát xuất từ tâm hồn con người. Cho hay muốn gầy dựng hòa bình, thì điều kiện cần thiết và ưu tiên là thay đổi cõi lòng. Và đấy là gì, nếu không phải là sự chuẩn bị trên bình diện cá nhân, tức chân thành sám hối?
Kết luận
Tóm lại, chuẩn bị đón Chúa trên bình diện cá nhân và tập thể, chỉ là sự phân biệt trong phạm vi lý trí, còn trên thực tế cả hai có liên hệ mật thiết với nhau, như hai mặt của cùng một tâm tình trông mong Chúa đến. Sự chuẩn bị cá nhân bằng cách sám hối thực lòng sẽ gây âm vang trong lòng xã hội.
Ngược lại, một cơ cấu công bằng và hợp lý, sẽ là môi trường thuận lợi để cá nhân được nâng cao phẩm giá và lòng nhân ái được phát huy. Đây chính là cách chuẩn bị theo lời kêu gọi của Gian Tẩy Giả trong Chúa Nhật II Mùa Vọng hôm nay. Và phải chăng đấy cũng là cách chuẩn bị tốt đẹp, để kỷ niệm năm thứ hai ngàn việc Chúa Cứu Thế giáng trần, theo lời mời gọi của các vị chủ chăn trong Giáo Hội
LỜI NGUYỆN GIÁO DÂN
Chủ tế: Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta theo chân Thánh Gioan Tiền Hô "Dọn sẵn con đường cho Chúa, sửa lối cho thẳng để Ngài đi". Chúng ta hãy cầu nguyện cho hết mọi người đang chuẩn bị cho Chúa một con đường.
1. Cầu cho các anh chị em Kitô hữu khai mở những con đường hiệp nhất trong Giáo Hội Chúa Kitô Xin Chúa củng cố niềm tín vào sự trợ lực của Thánh Thần.
2. Cầu cho các nhà chính trị khai mở những con đường hòa giải giữa các dân tộc. Xin Chúa ban thêm lòng kiên nhẫn, không sẵn lòng trước mọi khó khăn.
3. Cầu cho những người thiện chí khai mở những con đường thân ái và yêu thương giữa những kẻ đơn côi khốn cùng. Xin cho họ được tiếp sức bởi nhưng tấm lòng nhân ái.
4. Cầu cho tất cả chúng ta đây dám mở những con đường sám hối đi vào mọi ngõ ngách của lòng mình nơi Thiên Chúa vẫn còn vắng bóng.
+ Lạy Chúa, Chúa kêu gọi chúng con xây dựng một thế giới mới yêu thương, hòa bình và thánh thiện. Xin nâng đỡ chúng con  trung thành bước đi theo Lời Chúa mà dọn đường cho Con Chúa đến, Người hằng sống và hiển trị muôn đời.

 

MV2-A28. TRỞ VỀ CÙNG CHÚA.

Trong khi thực hiện bức họa nổi tiếng “Bữa Tiệc Cùng cùng”, Leonardo da Vinci đã cãi vã: MV2-A28

Trong khi thực hiện bức họa nổi tiếng “Bữa Tiệc Cùng cùng”, Leonardo da Vinci đã cãi vã với một người bạn. Ong mắng nhiếc người bạn với những lời gay gắt và những cử chỉ dọa nạt. Khi cuộc cãi cọ đã qua, ông trở lại công việc đang làm là vẽ khuôn mặt Chúa Giêsu. Ông không thể vẽ được một nét. Cuối cùng, ông nhận ra được sự lo lắng phiền lòng. Ông liền bỏ bút vẽ đấy, đi tìm người bạn mà ông đã xúc phạm, và xin người ấy tha thứ cho mình, thế rồi ông trở về xưởng vẽ và bình tĩnh vẽ khuôn mặt Chúa Giêsu.
Như ông Leonardo da Vinci, chúng ta đang cố gắng đặt Chúa Kitô vào kiệt tác của chúng ta, là lễ Giáng sinh. Chúng ta muốn Chúa Giêsu ở trung tâm cử hành Giáng sinh. Chỉ còn vài tuần nữa là tới ngày sinh nhật của Chúa Kitô. Chúng ta nghe tiếng mạnh mẽ của Thánh Gioan Tiền hô trong bài Tin Mừng hôm nay: “Hãy ăn năn thống hối vì nước trời gần đến”. Vậy đâu là những liên kết giữa sự thống hối và việc chuẩn bị cho Chúa Kitô đến ?
Bạn hãy trở lại lúc thánh Gioan nói những lời này. Dân được Chúa tuyển chọn đã nóng lòng mong đợi Đấng Thiên sai, cũng như chúng ta mong đợi Ngài đến trong Lễ Giáng sinh. Trở ngại lớn nhất cho việc Chúa Kitô đến, đó là tội lỗi; sự bất phục tùng ý Chúa. Để dọn đường cho Chúa, chúng ta phải từ bỏ tội lỗi. Tóm lại, chúng ta phải thống hối.
 - Chính Leonardo da Vinci không thể vẽ được mặt Chúa Cứu Thế khi ông cảm thấy mình còn tội lỗi xúc phạm đến người khác, nên bạn và tôi cũng không thể đặt Chúa Kitô vào bức họa Giáng sinh bao lâu chúng ta chưa thống hối vì đã bất tuân phục Chúa.
Thống hối nghĩa là hối hận về điều đã làm hay không làm, để chứng tỏ quyết định đổi mới. Thống hối nghĩa là có một cái nhìn mới, một thái độ mới, nó bao gồm những trở về với Chúa .
Chúng ta phải làm điều đó để lễ Giáng sinh trở thành có ý nghĩa cho bạn và tôi, như Chúa muốn. Chúng ta đã làm những gì mất lòng Chúa ? Có phải là chửi rủa, bỏ dự thánh lễ, chè chén say sưa, giận dữ, thiếu sự thanh sạch, gian dối, nói hành ? Chúng ta đã bỏ những điều  làm vui lòng Chúa: có phải là bỏ cầu nguyện, không học hỏi giáo lý của Chúa trong Kinh Thánh, không thông cảm với người khác, bỏ giúp đỡ người thiếu thốn bất hạnh ? Làm những điều Chúa không muốn, không làm điều Chúa muốn, đó là những hàng rào ngăn cản Chúa Giêsu đến với chúng ta, đặc biệt vào lễ Giáng sinh này. Từ bỏ tội lỗi như Leonardo da Vinci đã làm, bạn sẽ nhìn thấy Chúa Kitô rõ ràng hơn.
Người công giáo chúng ta có một phương thế đặc biệt để thống hối; đó là bí tích giải tội hay là hòa giải, và người công giáo đích thực sẽ nỗ lực sử dụng phương thế thống hối trước lễ Giáng sinh. Sự xưng tội không chỉ là tẩy trừ tội lỗi; nó còn đem lại cho chúng ta ân sủng, phù giúp chúng ta xa lánh tội lỗi, củng cố chúng ta phục vụ Chúa một cách chân thành hơn. Bạn hãy xưng tội sớm đi ! Thống hối ngay bây giờ !
Lòng thương xót, sự tha thứ, lòng thống hối tội lỗi, đó là những chủ đề của lễ Hy Tế dâng lên Cha trên trời, là Máu Chúa Kitô đổ ra để tha tội.
Xin Chúa chúc lành  cho các bạn.

 

MV2-A29. HÃY SÁM HỐI VÌ NƯỚC TRỜI ĐÃ GẦN ĐẾN

Mt 3. 1-12
Anh chị em thân mến !
 

Tôi xin được bắt đầu bài chia sẻ Tin Mừng hôm nay với câu chuyện thần thoại Tây Phương: MV2-A29

Tôi xin được bắt đầu bài chia sẻ Tin Mừng hôm nay với câu chuyện thần thoại Tây Phương sau đây kể lại cuộc họp của thủ lãnh Satan với các đệ tử. Họ họp nhau để tìm kế hoạch phá hoại con người. Sau nhiều giờ bàn luận, Họ đến trình cho thủ lãnh Satan những kế hoạch như sau:
Người thứ nhất nói rằng: Tôi sẽ bảo cho mọi người từ nay không còn vấn đề tội lỗi nữa, nhưng thủ lãnh Satan trả lời không được, vì hằng ngày trên truyền hình cũng như báo chí, con người được nhìn thấy và được nghe nói đến biết bao nhiêu là tội ác xảy ra như giết người, hận thù v.v... Thêm vào đó, lương tâm con người luôn nhắc nhở cho họ biết về hành động xấu của họ. Bởi vậy, dù mình có nói thế nào đi nữa thì con người cũng vẫn không tin vào lời mình nói là không còn tội lỗi nữa đâu.
Người thứ hai nói: Tôi sẽ nói cho con người là từ nay sẽ không còn hình phạt nào cho con người đã phạm tội nữa, nhưng thủ lãnh Satan đáp: Không được, mình không thể lường gạt con người được, bao lâu có luật là bấy lâu còn có hình phạt cho những ai lỗi phạm. Con người biết rõ luật của Thiên Chúa và hình phạt đi kèm, mình không thể lường gạt họ dễ dàng như vậy đâu.
Người thứ ba đưa ra kế hoạch: Tôi sẽ nói với họ đừng lo làm gì, làm cho họ cứ chần chờ mãi trong tội lỗi của họ. Mới nghe đến đó vị thủ lãnh Satan vội vàng kêu lên : "Đúng vậy! Kế này tuyệt vời ". Hãy làm sao cho con người chần chờ dời lại ngày giờ của họ phải ăn năn trở lại, và như thế chúng ta mới làm cho họ không trở tay kịp khi chúng ta xuất hiện chộp lấy họ.
Anh chị em thân mến!
Đây là một câu chuyện tưởng tượng cho qua giờ, nhưng nó không khỏi thức tỉnh mỗi người chúng ta. Thái độ chần chờ không trở lại thống hối ăn năn trở về cùng Chúa, thái độ sống không nóng, không lạnh trong đời sống thiêng liêng là một chướng ngại nguy hiểm coi thường ơn cứu rỗi của Thiên Chúa. Lương tâm chúng ta nhìn nhận mình là kẻ tội lỗi, chúng ta biết rõ luật và hình phạt của Chúa dành cho những ai cố tình lỗi phạm, nhưng chúng ta cứ chần chờ hứa với Chúa rồi thấy uổng quá, bèn rút lui và kéo dài thời gian, vì cho rằng mình còn thời giờ sau này. Nhiều người còn biểu lộ thái độ chần chờ của mình là đợi cho đến phút cuối cùng ra trước tòa Chúa trong giờ chết thì ăn năn cấp tốc cũng còn kịp.
Lời kêu gọi của thánh Gioan Tẩy Giả mang tính cách khẩn cấp, tức là không còn thời giờ để chần chờ nữa : "Cây rìu đã đặt dưới gốc cây, nếu không sinh trái sẽ bị chặt đi ". Chúng ta không thể lường gạt Chúa qua việc bày tỏ tâm tình thống hối cho qua tần vì bị áp lực, vì thấy kẻ khác làm mình cũng làm theo để không bị chê cười. Những người Pharisiêu và Sa đốc đến xin lãnh phép rửa của Gioan, Gioan đã nghiêm khắc cảnh tỉnh: "Hãy chứng tỏ sự ăn năn thống hối đó bằng những hành động cụ thể bên ngoài".
Vậy sự ăn năn thống hối là bước đầu tiên để bước vào sự thánh thiện. Hãy làm việc lành cho xứng với sự thống hối, Đó là lời kêu gọi của Gioan: "Chớ tự phụ nghĩ rằng tổ tiên chúng tôi là Abraham, vì ta nói cho các ngươi hay, Thiên Chúa quyền năng có thể khiến cho những hòn đá này trở thành con cái Abraham".
Dù là ai hay trong địa vị nào đi chăng nữa, mỗi người chúng ta ai ai cũng là kẻ tội lỗi và cần ăn năn thống hối thật lòng mà trở về cùng Thiên Chúa. Chúng ta hãy kiểm điểm lại cuộc sống của mình trước nhan Chúa, xem trong ta còn có trở ngại nào làm cản ngăn không cho Chúa đến trong chính chúng ta và trong xã hội mà chúng ta đang sống. Chúng ta hằng ngày đọc kinh Lạy Cha: "Lạy Cha chúng con ở trên trời" là chúng ta cầu xin nước Cha trị đến và lời cầu xin này sẽ là lời nói suông, bao lâu chúng ta không thực sự canh tân đời sống mình: "Hãy ăn năn thống hối vì Nước Trời đã gần đến ".
Lạy Chúa, xin hãy cất khỏi chúng con tất cả những gì làm cho chúng con xa lìa Chúa, và xin ban cho chúng con tất cả những gì cần thiết và hữu ích để giúp chúng con đến với Chúa. Xin gìn giữ đức tin của mỗi người chúng con mà giờ đây chúng con cùng nhau tuyên xưng qua kinh Tin Kính.

 

MV2-A30. Đấng sẽ đến - Gm Batôlômêô Nguyễn Sơn Lâm

Ys 11:1-10; Rm 15:4-9; Mt 3:1-12
 

Các bài Kinh thánh hôm nay cho chúng ta hiểu rõ hơn về Đấng sẽ đến và khuyên chúng ta có: MV2-A30

Các bài Kinh thánh hôm nay cho chúng ta hiểu rõ hơn về Đấng sẽ đến và khuyên chúng ta có thái độ thích hợp với Người.

A.ĐẤNG SẼ ĐẾN
Bài sách Isaia tiếp nối tư tưởng Chúa nhật 1 Mùa Vọng : khi Đấng Thiên Sai đến, Ngài sẽ phân xử mọi nước và thiết lập thời đại thái bình. Hai tư tưởng này sẽ được khai triển thêm. Khi xét xử, Đấng Thiên Sai tỏ ra nhân ái một cách đặc biệt với những người nghèo khó. Còn đối với hạng bất nhân vô đạo, thì hơi thở của Ngài sẽ làm họ tiêu tan. Đang khi ấy, những nét tả về thời đại thái bình thật là thi vị. Người ta quên sao được hình ảnh: chó sói sống chung với chiên non, sư tử gặm cỏ như bò và trẻ em giỡn với rắn lửa mà chẳng hề chi?

Tuy nhiên chủ yếu của bài sách Isaia hôm nay không nhằm quảng diễn những tư tưởng của Chúa nhật trước. Nhà Tiên tri còn muốn đi xa hơn và nói một cách cụ thể hơn. Ngay những hàng chữ đầu tiên đã đề cập tới “chồi sẽ xuất từ gốc Yêssê”; và câu kết còn nhắc lại danh hiệu ấy. Tức là với bài sách Isaia hôm nay, Phụng vụ muốn cho chúng ta hiểu hơn về Đấng sẽ đến sau này. Ngài thuộc tộc Yêssê, thân phụ của Đavít. Ngài sẽ là “Con Vua Đavít”. Ngài sẽ đến đầy Thánh Linh, đến nỗi không nơi nào trong Kinh thánh nói đến bảy ơn Chúa Thánh thần như trong đoạn Isaia này. Ngài sẽ xét xử mọi người, và rộng rãi cách đặc biệt với người nghèo khó. Ngài sẽ lập thời đại thái bình và muôn dân sẽ đến thỉnh ý Ngài.

Nhưng người nào trong tộc Đavít sẽ là Đấng Thiên Sai? Gioan Tẩy Giả trong bài Tin Mừng hôm nay đã trả lời cho dân Israel. Họ tuốn đến với ông. Họ xin ông làm phép rửa cho họ. Họ chấp nhận cả những lời khiển trách nặng nề. Nhưng Yoan vẫn chưa bằng lòng. Ông bảo mọi người phải thống hối thêm, để chịu được phép Rửa bởi Thánh Thần và bằng lửa. Chịu rửa bằng nước chưa phải là khó. Chịu rửa bằng lửa sẽ đau đớn hơn vì lửa mới làm cho những dơ bẩn ở trong chảy ra, đang khi nước chỉ rửa được những bụi bặm bám ở ngoài. Thế mà Đấng sẽ đến là Đấng đầy Thánh Thần. Ngài còn khỏe hơn Yoan, tức là đầy Thần lực hơn, đầy thánh thiện hơn, đầy đòi hỏi hơn, Ngài sẽ quan sát mọi người và thấu đạt tâm can như người sàng thóc hay rê lúa. Không ai lọt được sự phán xét của Ngài.

Như vậy, cả bài tiên tri Isaia, cả bài Tin Mừng Matthêô đều muốn cho chúng ta hiểu hơn về Đấng sẽ đến. Ngài sẽ là Đấng xét xử mọi người. Đó là viễn tượng về ngày thế mạt hơn là về ngày Giáng sinh. Chủ yếu của Mùa Vọng vẫn là hướng lòng chúng ta về Ngày Con Người sẽ đến trong những ngày sau hết. Tuy nhiên Mùa Vọng cũng hướng ta nhìn vào Ngày Chúa Giáng sinh như tương lai gần, để chuẩn bị tương lai cuối cùng. Và chúng ta cũng phải nhìn thấy việc Chúa sinh ra như để phán xét mọi người.


B.ĐẤNG PHÁN XÉT
Nhiều người thường nghĩ chỉ có phán xét khi linh hồn lìa xác về trước Tòa Chúa và đặc biệt lúc sống lại sau hết, mọi người sẽ phải trình diện trước mặt Đấng Chí Công. Nhưng không phải! Cả Isaia, cả Yoan không nghĩ như vậy đâu. Theo các ngài, khi Đấng Cứu Thế đến, dù là đến trong thế gian để làm công việc cứu chuộc, Ngài đã là Đấng Thẩm Phán Chí Công rồi.

Cụ già Simêon chia sẻ quan niệm đó. Nhìn thấy Hài Nhi ở trong Đền thờ, ông đã cất tiếng loan báo: Trẻ này sẽ làm cớ cho nhiều người bổ nhào và chỗi dậy, nghĩa là hư đi hay được cứu rỗi.

Và thật sự hễ Đức Kitô đến nơi nào là ở chỗ đó có người tin theo và có người chống đối. Giáo lý Ngài truyền ra tức khắc làm cho nhiều kẻ thấy chói tai và nhiều người khác đón nhận như Tin mừng cứu rỗi. Ở nơi thân mật với các tông đồ, Ngài đã khiến Yuđa trở thành tên phản phúc và các người dân chài kia trở nên kẻ đi chài lưới người.
Ở nơi công cộng trên đỉnh đồi Núi Sọ, Ngài cũng làm cho một tên trộm phải lộng ngôn, đang khi người trộm khác được vào nơi an nghỉ.

Đấng Thiên Sai là Đấng Xét Xử. Bản chất Ngài là vậy, vì như Isaia và Yoan nói: Ngài là Đấng đầy Thánh Linh. Mà Thánh Linh là tình yêu. Đấng Thiên Sai mang tình yêu Thiên Chúa nhập thế giáng trần vì Chúa Cha đã yêu loài người đến nỗi đã ban Con Một Ngài cho ta. Đức Kitô là Tình yêu của Chúa Cha gửi đến cho loài người. Và tình yêu không chấp nhận dửng dưng. Người ta chỉ có thể đáp trả lại bằng yêu thương hay bằng từ khước, vì dửng dưng đã là từ khước rồi.

Thế nên, đang khi dọn mình mừng lễ Chúa Giáng sinh, chúng ta phải sẳn sàng đón nhận Đấng đến để phán xét, để phân biệt những người yêu mến Người và những kẻ từ chối Người. Và như vậy cũng là sẵn sàng để đón nhận Đấng sẽ đến phán xét sau này. Chúng ta phải biết ơn Isaia và Yoan. Cả hai đã cho chúng ta hiểu điều đó. Có điều hai ông dường như mâu thuẫn với nhau: Isaia nói đến một Đấng phán xét dịu dàng, còn Yoan lại trình bày Ngài như người sàng thóc, để bỏ trấu vào lửa. Dung hòa hai ông thế nào? Chúng ta phải nghe ai?

C.THÁI ĐỘ ĐẠO ĐỨC
Thật ra, như lời thư Rôma nói, mọi điều đã viết xưa kia, thì đã được viết để dạy dỗ ta. Thế nên ta không tìm cách bỏ mất điều nào. Đấng phán xét của Isaia sở dĩ sẽ phân xử công minh cho người hèn yếu và đoán định ngay chính cho kẻ nghèo hèn, là vì Ngài không phân xử theo mã mắt thấy hay đoán định phỏng chừng tai nghe. Ngài thắt đai lưng bằng công chính và nịt hông bằng tín thành. Nghĩa là Ngài là Đấng chính trực và thông suốt. Đứng trước một Đấng Thiên Chúa thánh thiện như vậy, và nhất là phải dọn đường cho Ngài tới giữa một dân tộc còn nhiều tội lỗi, Yoan không thể làm khác hơn là kêu gọi người ta ăn năn thống hối. Ông là người mà tiên tri Isaia đã ám chỉ. Ông tiếp nối sứ mệnh của Isaia. Nhà tiên tri đã báo trước rất xa về Đấng xét xử sẽ đến. Yoan biết Đấng đó đã gần đến rồi. Chính ông đã phải sống cuộc đời tu hành khắc khổ với thức ăn, áo mặc khác thường để mong được cứu độ. Lời ông giảng phát xuất từ đời sống chân thật, khiến người nghe chấp nhận như lẽ đương nhiên phải vậy. Chúng ta không thể nói ông đòi hỏi hơn Isaia hay một tiên tri nào khác. Cả ông lẫn Isaia chỉ nói lên một sự thật: Đấng đang đến sẽ xét xử rất công minh. Thế nên ai nấy hãy thống hối tội lỗi.

Thánh Phaolô không những được kinh nghiệm của Isaia và của Yoan, ngài còn đã được biết về cuộc đời của Đức Yêsu. Ngài thấy các việc lành Cựu Ước dạy làm chưa đủ để giúp ta được ơn thánh hóa. Các của lễ đền tội ngày xưa không đủ sức xóa bỏ tội lỗi. Duy chỉ có lòng thương xót của Chúa. Việc ta thống hối tội lỗi vẫn cần, nhưng tha thứ vẫn là hành vi hoàn toàn quảng đại của Chúa. Mà rõ ràng Chúa muốn quảng đại. Chúa muốn cứu cả giới cắt bì lẫn lương dân. Ngài muốn thi hành lòng thương xót cho mọi người miễn là người ta muốn đón nhận. Và chỉ ai muốn tha thứ mới đón nhận ơn tha thứ. Có tìm được mảnh đất thích hợp, ơn Chúa mới kết quả như hạt giống rơi vào đất tốt. Thế nên trong ngày Phụng vụ giới thiệu cho ta biết, Đấng sẽ đến là Đấng đến để xét xử, thì không những Giáo hội muốn cho ta thi hành việc thống hối tội lỗi; nhưng để ta chắc chắn nhận được ơn cứu độ thứ tha, dùng lời Thánh Phaolô, Giáo hội khuyên ta hãy có thái độ chấp nhận nhau, tha thứ cho nhau và sống thuận hòa với nhau. Bức họa về thời đại thái bình trong bài sách Isaia thúc giục chúng ta xây dựng một nếp sống xã hội thuận hòa để chứng tỏ Nước Chúa đã đến giữa chúng ta và chúng ta sẵn sàng cho Ngày Ngài trở lại.

Chúng ta sẽ sống thuận hòa trong mọi ngày chờ đón Chúa đến. Chúng ta cần tinh thần hoà thuận ngay trong lúc này để đi vào Thánh lễ, vì nếu khi mang lễ vật tới bàn thờ mà nhớ đang còn xích mích với ai, hãy đặt của lễ đó, về làm hòa đã rồi sẽ trở lại dâng của lễ sau.
Xin Chúa cho tâm hồn chúng con được thật sự bình an để dâng lễ vật này. Nghĩa là xin Chúa tha thứ những nỗi bất hòa giữa chúng con, để hôm nay dâng lễ vật bình an này về, chúng con sẽ nỗ lực xây dựng xã hội thuận hòa để chờ đón Chúa.

 

MV2-A31. Anh em hãy sám hối

Gợi ý để sống và chia sẻ Tin Mừng
 

Điều nổi bật trong lời giảng của ông Gioan Tẩy Giả chính là lời ông khuyến cáo thính giả “Anh: MV2-A31

Điều nổi bật trong lời giảng của ông Gioan Tẩy Giả chính là lời ông khuyến cáo thính giả “Anh em hãy sám hối vì Nước Trời đã đến gần” (c.2). Lời đó Đức Giêsu sẽ lặp lại nguyên văn (Mt 4,17). Ta thấy ngay tầm quan trọng của việc sám hối trong Kitô giáo.
Sám hối là để tin vào Tin Mừng về Nước Thiên Chúa

Ngay trong Cựu Ước, sám hối đã là đề tài thường xuyên của các ngôn sứ. Lịch sử của dân Do thái chứa đầy những thất tín đối với Giavê Thiên Chúa. Thất tín cá nhân gây gương mù gương xấu; thất tín tập thể mang lại hậu quả bi đát hơn vì khiến nhà Ít-ra-en sụp đổ (2V 17,7-18). Trọn chương 16 của sách ngôn sứ Êdêkien là một bản buộc tội khắt khe, trong đó Giavê ra lệnh cho vị ngôn sứ này vạch trần những điều ghê tởm của Giêrusalem. Một đàng các ngôn sứ đòi từng cá nhân phải sám hối về hành động xấu của mình (Is 30,15; 55,7; Gr 18,11; Ed 18,30-32). Đàng khác, toàn dân được kêu gọi ăn năn trở về cùng Chúa (Ed 18,30-32). Sám hối chính là suối nguồn của sự sống mới cho linh hồn (Ed 18,27), và là điều làm đẹp lòng Giavê Thiên Chúa (Ed 18,23). Các ngôn sứ nhấn mạnh về lòng thương xót vô cùng của Thiên Chúa tạo dựng, là Đấng muốn cho tội nhân ăn năn trở lại để được sống (Is 30,15; x.Hs 2,9).

Trong Tân Ước, lời rao giảng của ông Gioan Tẩy giả chủ yếu là lời mời gọi sám hối (Mc 1,4). Riêng Đức Giêsu, chính Người tự xưng là thầy thuốc đến chữa trị bệnh nhân tức tội nhân, để họ được lành mạnh, là được sám hối và trở về cùng Chúa. Người nói rõ “Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” (Mt 9,15) ăn năn trở lại cùng Chúa.

Sám hối đáp lại lòng thương xót của Thiên Chúa

Ba dụ ngôn về lòng thương xót của Thiên Chúa trong Tin Mừng Luca cho thấy tầm quan trọng của sám hối. Dụ ngôn nào cũng cho thấy hình ảnh một Đấng Thiên Chúa tích cực hoạt động để đưa tội nhân trở về. Khi một con chiên bị lạc thì người mục tử bỏ 99 con chiên không lạc nơi bìa rừng, để đi tìm chiên lạc đó. Tìm được rồi, người mục tử liền vác chiên lên vai mà đưa về để ăn mừng. Người đàn bà đánh rớt một đồng tiền cũng thắp đèn, lục lọi tìm cho ra tiền bị rớt và cũng tổ chức ăn mừng. Riêng người cha nhân hậu trong dụ ngôn thứ ba, còn phấn đấu để con cả sám hối, làm hoà cùng con thứ đi bụi về, để gia đình được an vui, đầm ấm. Điều được nhắc đi nhắc lại là trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối (Lc 15,7 và 10). Như vậy, niềm vui của thiên đàng là do sám hối thực hiện ở dưới đất.

Lời chia sẻ sau đây cho thấy ơn sám hối tiếp tục nảy sinh hoa trái trên mặt đất, nhiều khi bất ngờ, nhưng lắm lúc qua ảnh hưởng giây chuyền.

Gương sám hối hôm nay

“Rất sớm, tôi đã được cho biết bố tôi chết khi tôi còn thơ ấu. Mẹ tôi khi tái giá, nghĩ rằng tôi nên sống nơi cô nhi viện là hơn cả. Tôi còn nhớ nguyên mỗi năm về thăm gia đình hai lần, tôi đâu có được đón tiếp niềm nở.

Tới tuổi 14, tôi buộc lòng phải giã từ nơi tôi được nuôi nấng. Tốt hơn, tôi nên tự lực cánh sinh thay vì là gánh nặng cho người mẹ đã sinh ra tôi, và người bố nuôi. Dù sao tôi cũng không cảm thấy có sự luyến tiếc về phía mẹ tôi và bố nuôi tôi.

Tôi tiếp tục đi học và tự kiếm sống bằng những việc không tên, cho tới khi tôi may mắn có việc làm tại một khách sạn cạnh Địa Trung Hải.
Một chàng trai tới hầu bàn nơi khách sạn, tỏ ra là một người hết sức dễ thương. Bản thân tôi rất thích anh ta, nhưng kinh nghiệm chua chát về tình bạn trong quá khứ khiến tôi khựng lại, vì tôi nghĩ tình bạn đích thực chỉ là một giấc mơ, chẳng bao giờ trở thành hiện thực. Điều bất ngờ là chính chàng trai ấy (tên thật là Saverio, tạm gọi là Sang) tìm gặp tôi và bộc lộ cho tôi biết những vấn đề riêng tư. Tuần lễ sau đó, Sang mời tôi tới chơi gia đình anh vào cuối tuần. Tôi đồng ý đi, chỉ vì địa chỉ gần nơi ở của người trước kia tôi định kết hôn; tôi thầm ước ao gặp lại người yêu cũ.

Cuộc thăm viếng cuối tuần hấp dẫn đến nỗi tôi chẳng còn bận tâm gặp bạn cũ nữa. Sang giới thiệu tôi với hai chàng trẻ. Mấy người này thật khác xa những người tôi gặp từ trước đến nay. Lý do có lẽ vì họ rất cởi mở, lạc quan và sẵn sàng chấp nhận tôi trong tình trạng hiện có của tôi. Thế là tôi muốn gặp lại họ mỗi tuần; đi đi về về tới đó, chẳng thành vấn đề.

Mùa hè tới, tôi được nghỉ ít ngày thì cũng dành để ở lại với họ. Đó chẳng phải là những ngày thư giãn, vì họ làm việc cật lực để phục vụ người nghèo, trẻ em thiểu năng và tàn tật. Tôi tự nhiên dấn mình vào việc phục vụ tha nhân mà lấy làm vui.

Tôi thấy những người bạn ấy đi nhà thờ nên tôi cùng đi với họ vì không muốn sống tách rời, mặc dầu thời gian lâu, tôi đã gạt bỏ Thiên Chúa và tôn giáo sang một bên. Có phải các bạn tôi có một bí quyết nào đó ảnh hưởng trên tôi? Không phải như vậy. Họ cho tôi biết họ thuộc về một phong trào có chủ trương giúp các thành viên thực thi Phúc Âm. Qua tiếp xúc với hết bạn này đến bạn khác của Phong trào, tự nhiên tôi trở thành thành viên của một tập thể rất đông những người giúp nhau sống Lời Chúa. Tôi thấy cần phải biết Chúa hơn.

Phúc Âm trở nên hấp dẫn đối với tôi một cách lạ thường. Câu Phúc Âm đánh động tôi cách mãnh liệt là câu “Bất cứ điều gì anh em làm cho một trong những kẻ bé nhỏ nhất của tôi là anh em làm cho chính tôi” (Mt 25,40). Tôi nhớ lần đầu tiên nghe câu nói đó tôi bị xúc động mạnh đến nỗi thay vì trở về nhà, tôi đã đi lang thang quanh thành phố, vì muốn giúp đỡ bất cứ ai tôi gặp trên đường. Và đó là điều tôi đã thực hiện, như khi gặp một người say rượu, một người xỉu vì ma tuý, một người lạc bước vì không nhớ gì nữa, một cụ già không có nhà ở...

Nhưng tảng băng giữa tôi và mẹ tôi đòi thời gian và cơ hội mới tan dần. Lần ấy, tôi đã tháp tùng mẹ tôi về thăm ngoại để mẹ tôi được vui lòng. Chính đó là cơ hội để một người cậu bật mí cho tôi biết bố tôi còn sống ở Hoa Kỳ. Cậu tôi nói: “Ông mới đưa vợ và người con trai về thăm Italia cách đây ít lâu mà!” Để chứng minh, cậu còn đưa tôi coi tấm ảnh của bố tôi. Tôi đã giấu không cho mẹ biết chuyện đó. Về sau biết chuyện, mẹ tôi còn can ngăn không muốn tôi gặp bố tôi. Mẹ tôi nói: “Ổng làm cho mẹ đau khổ và bỏ rơi con nên gặp ông có ích chi?” Nhưng các bạn trong Phong trào lại nghĩ khác. Họ giúp tôi nhận ra tôi thuộc gia đình rộng lớn hơn nhiều, đó là gia đình con Chúa, trong đó mọi người phải được hoà giải và yêu thương nhau. Vậy tôi đã hẹn gặp bố tôi. Lời đầu tiên tôi nghe bố tôi nói với tôi là: “Mọi lỗi lầm đều do mẹ mày mà ra!” Phản ứng về phía tôi là: “Thưa bố, bố con ta cần tìm hiểu nhau trong hiện tại mà thôi. Bố có đồng ý, con mới ở lại gặp bố. Còn nếu bố tiếp tục đổ lỗi cho người này người kia, con xin giã từ bố.”

Liền sau đó, là những giây phút tuyệt đẹp trong gặp gỡ. Bố tôi đã dốc hết bầu tâm sự với tôi là con. Bố chân thành đến nỗi ngỏ lời xin tôi tha cho bố tôi, về hành động vô trách nhiệm, là đã bỏ rơi hai mẹ con...

Sáu năm đã trôi qua, kể từ những giây phút cảm động đó. Kể từ đó, tôi đã hoà giải được với hầu hết những người bà con để được bình an.

Một số câu hỏi gợi ý

1. Trong ba dụ ngôn về lòng thương xót của Thiên Chúa, bạn nghĩ dụ ngôn nào có sức mạnh giúp người ta sám hối trở về cùng Chúa hơn cả: Dụ ngôn con chiên bị mất (Lc 15,4-7)? Dụ ngôn đồng bạc bị đánh mất (Lc 15,8-10)? Dụ ngôn người cha nhân hậu (Lc 15,11-32)?

2. Bạn tâm đắc gì về bước đường sám hối của chàng thanh niên bị bố bỏ rơi như chính anh chia sẻ ở trên: sám hối nhờ tình bạn tối? Nhờ dấn thân phục vụ người nghèo? Nhờ thực thi Lời Chúa? Nhờ Phong trào giúp đưa Lời Chúa ra thực thi? Cảm động nhất là khi người bố xin con tha cho bố vì bố đã bỏ rơi hai mẹ con?


 

MV2-A32. LÀM VIỆC THIỆN ĐỂ ĐỀN BÙ TỘI LỖI XƯA

 Lm P. Hà Ngọc Đoài
Is 11:1-10; Rom 15:4-9; Mt 3:1-12
Suy niệm: "Hãy ăn năn thống hối, vì nước trời gần đến."(Mt 3:1)
 

Suốt giòng lịch sử dân Do Thái, trong mọi giai đoạn của cuộc hành trình ở trần gian, Chúa luôn: MV2-A32

Suốt giòng lịch sử dân Do Thái, trong mọi giai đoạn của cuộc hành trình ở trần gian, Chúa luôn sai các sứ gỉa đến để thức tỉnh và kêu gọi họ hãy sống đời công chính với tâm hồn trong sạch. Đến thời Tân Ước từ hai ngàn năm trước đây, Gioan Tảy Gìa đã mạnh dạn lên tiếng kêu gọi mọi hạng người. Từ kẻ cao sang quyền thế cho đến người thường dân hãy sống theo đýa vị của mình một cách ngay chính để sẵn sàng đón nhận Chúa đến bất cứ lúc nào. Tiếng gọi đó luôn cần thiết và cấp bách. Ngay trong thời đại này, Đức Thánh Cha dùng hết thì giờ của mình đi thăm các dân tộc, đặc biệt những quốc gia xâm phạm đến nhân quyền và coi thường luân lý. Ngài kêu gọi các cường quốc thay vì chế tạo vũ khí nguy hiểm, hãy rộng tay kiến tạo hòa bình và nâng cao gía trị giáo dục con người. Lời Ngài nói đi đôi với việc Ngài làm. Khi các lãnh tụ của các quốc gia đi đến đâu họ thường hội họp bàn luận rất nhiều giờ, nhưng kết qủa thì ít. Còn Đức Thánh Cha đi đến đâu thì mang Chúa đến đó qua thánh lễ trọng thể, nhờ đó ơn Chúa thấm nhuần các tâm hồn để họ được đổi mới tận đáy lòng. Khi tâm hồn mọi người biết chuyển hướng về với Thiên Chúa, thì ánh bình minh của nước trời và sự cứu rỗi đang đến gần.

Thực hành: "Sự công chính và nền hòa bình viên mãn sẽ triển nở trong triều đại Người."(TV 71:7) Chỉ có công chính và hoà bình thực sự lâu dài khi mọi người sống với nhau như công dân nước trời. Nơi đâu dân sống theo tinh thần Kitô giáo, nơi đó có sự hiện diện của nước trời. Xin Chúa dùng con như khí cụ loan Tìn Mừng của Chúa.
(NS Dân Chúa Úc Châu)


 

MV2-A33. LỜI KÊU GỌI SÁM HỐI - Lm Trần Bình Trọng

Is 11:1-10; Rom 15:4-9;Mt 3:1-12
 

Cách đây hơn 2000 năm trong sa mạc, Gioan Tiền hô rao giảng phép rửa sám hối, loan báo: MV2-A33

Cách đây hơn 2000 năm trong sa mạc, Gioan Tiền hô rao giảng phép rửa sám hối, loan báo cho dân chúng: “Hãy ăn năn sám hối vì nước Trời đã gần đến.”(Mt 3:1) Tưởng cũng nên nhắc lại phép rửa của Gioan không phải là Bí tích rửa tội, nên không có công hiệu tha tội, mà chỉ là một nghi thức sám hối để sửa soạn cho dân chúng tiếp nhận Đấng Cứu thế. Phép rửa của Gioan là cái đường phân giới giữa Cựu Ước và Tân Ước, giữa luật Do thái và luật Phúc âm. Ông ta loan báo Chúa sắp đến để thiết lập vương quốc của Người, để hoàn thành những mong đợi của dân chúng từ bao thế kỷ.

Sứ điệp đó đã làm dân chúng hài lòng muốn nghe, vì từ bao nhiêu thế kỷ, họ bị đặt dưới ách thống trị của quyền lực ngoại bang là người Ba tư, người Aicập, người Syria, và người La mã. Mặc dù bị ức hiếp, dân chúng vẫn hy vọng, Chúa sẽ không bỏ rơi họ. Vì thế sứ điệp Gioan rao giảng làm họ khoái tai. Gioan gợp lại cho họ cái cuộc trở về của dân Do thái, khỏi ách nô lệ bên Balylon, cũng như bên Ai cập.

Nhóm người Biệt phái cũng đến xin Gioan làm phép rửa, nhưng họ không chịu ăn năn sám hối. Họ không chịu san bằng núi đồi kiêu căng tự phụ và tính giả hình. Họ không muốn lấp đầy những hố sâu của tính thờ ơ, lãnh đạm. Những giá trị trần thế đã làm che mắt họ, đến nỗi họ không chịu được cái ý tưởng sám hối. Họ tự coi mình là công chính hóa. Vì thế mà Gioan đã cảnh giác họ một cách nặng lời: “Hỡi loài rắn lục! Ai biểu các ngươi trốn lánh cơn thịnh nộ hòng đổ xuống trên đầu các ngươi.” (Mt 3:7) Sám hối mang theo nghĩa thánh kinh mang hai ý nghĩa: một là việc đền bù tội lỗi quá khứ, hai là việc hoán cải đời sống hiện tại để người ta có thể đứng vững trong tương lai.

Sám hối đòi hỏi một cuộc đổi mới toàn diện. Sám hối bắt đầu bằng một tác động khiêm tốn, một việc nhận thức rằng mình mắc tội lỗi, và việc quyết định trở về với Chúa. Nhiều người cho rằng họ không cần sám hối vì họ không trộm cướp, không ngoại tình, không giết người, không bỏ lễ Chúa Nhật. Tuy nhiên, nếu đi sâu vào nội tâm, thì mỗi người cần sám hối, mỗi người cần loại bỏ những rác rưởi trong tâm hồn. Lời kêu gọi sám hối trong Phúc âm hợp cho mọi thời đại, mọi hoàn cảnh và mọi lớp người. Công đồng Vaticanô II trong Hiến chế về Phụng Vụ có khẳng định: “Giáo hội rao giảng tin mừng cứu độ cho dân ngoại để họ nhận biết và thờ phượng Thiên Chúa, và cải tạo đời sống.” Tuy nhiên Công đồng cũng xác nhận trong cùng một văn kiện là “đối với những người đã tin, Giáo Hội cũng tiếp tục rao giảng đức tin và sám hối.”

Sám hối là từ bỏ đường tội lỗi, trở về với Chúa. Sám hối phải là việc biến đổi thực sự trong tâm hồn, cần thiết cho tất cả mọi người. Sám hối không phải là việc đổi mới bên ngoài, nhưng là việc hoán cản nội tâm, có ảnh hưởng sâu rộng trong tâm hồn. Tâm tình sám hối rất là quan trọng trong đời sống thiêng liêng của người tín hữu. Có được cái tâm tình sám hối, người ta sẽ nảy sinh ra hai tâm tình khác nữa. Đó là tâm tình khiêm tốn, coi mình là yếu hèn tội lỗi. Và chỉ khi nào người ta coi mình là yếu hèn tội lỗi, người ta mới cần Chúa và đi tìm Chúa. Có được tâm tình sám hối, người ta sẽ nảy sinh ra cái tâm tình thứ hai là tâm tình biết ơn, biết ơn Chúa đã đoái thương tha thứ tội lỗi cho mình, và đoái thương đến thân phận yếu hèn của mình. Và có được tâm tình sám hối rồi, và nhưng tâm tình đi theo là tâm tình khiêm tốn và biết ơn, người ta sẽ dễ dàng khám phá ra sự hiện diện của Chúa trong đời sống và cảm thấy vui sống đức tin.
(NS Dân Chúa Mỹ Châu)


 

MV2-A34. HÃY ĂN NĂN THỐNG HỐI - Trần Minh Đức

Chúng ta đang tiến dần đến năm 2000. Qua báo chí, truyền hình chúng ta thường nghe nói tới: MV2-A34

Is 11,1-10; Rm 15,4-9; Mt 3,1-12
Chúng ta đang tiến dần đến năm 2000. Qua báo chí, truyền hình chúng ta thường nghe nói tới những chuyện rủi nhiều may ít: nơi này phong ba bão tố, lụt lội; nơi kia hạn hán, mất mùa, chiến tranh. Ngoài những tại nạn xe cộ, còn có tai nạn máy bay, thậm chí còn đụng nhau trên bầu trời bao la nữa! Sắp tận thế chăng? Khắp nơi đều cho thấy những dấu hiệu bất ổn về mọi phương diện, nhất là về an ninh và kinh tế. Nhưng nhiệm vụ của chúng ta không phải là ngồi cắt nghĩa điềm thiêng dấu lạ, mà là giữa một thế giới hỗn độn chúng ta sáng suốt nhận ra dấu chỉ của thời đại và lời kêu gọi sám hối ăn năn. Tất cả mọi sự đều tuỳ thuộc vào đó.

Năm xưa, Gioan Tẩy Giả đã xuất hiện trong một hoàn cảnh cụ thể. Gioan được kêu gọi và sai đến với dân Do thái. Sứ mạng của Gioan luôn gắn liền với khởi điểm của cuộc đời công khai của Đức Giêsu. Điều này được tất cả bốn tác giả Phúc Âm nói đến. Sứ mạng của Gioan được thánh Mátthêu trình bày tóm tắt qua bài Phúc Âm Chúa nhật hôm nay. Ngài nhấn mạnh tới lời kêu gọi sám hối ăn năn hơn là phép Rửa. Có thể nói, phép Rửa của Gioan Tẩy Giả là dấu chỉ dành cho những người đã nhận biết lỗi lầm của mình, đồng thời sẵn sàng thống hối ăn năn.

Sám hối trước hết là từ bỏ nếp sống giả hình, nếp sống "khẩu phật tâm xà": môi miệng đọc hết kinh này qua kinh khác nhưng lòng dạ đầy những toan tính xấu xa; ngoài xã hội thì khuyên người khác ăn ngay ở lành còn riêng mình thì lại sống bê tha, khuyên mọi người hãy thương mến nhau nhưng sau lưng thì toàn đi nói xấu kẻ khác.

Sám hối có nghĩa là từ bỏ những hình thức suy tôn tạo vật, những hình thức ỷ lại vào danh vọng, tiền tài. Đừng nghĩ rằng đậu được bằng bác sỹ kỹ sư thì tự cho mình là bậc thông thái, biết hết mọi chuyện. Đừng nghĩ rằng mình sinh ra trong một gia đình giầu có, muốn gì cũng được. Đừng nghĩ mình là con nhà gia giáo, là con ông cháu cha, có quyền ngồi xét đoán kẻ khác. Giống như thái độ kiêu căng tự phụ của dân Do thái xưa; họ nhìn đời bằng nửa con mắt, vênh vang tự đắc, khinh khi người khác vì nghĩ rằng mình là con cháu Ápraham.
Sám hối không có nghĩa chỉ là nhìn nhận lỗi lầm của mình nhưng phải dẫn tới việc sửa đổi đời sống như Gioan đã nói: "Hãy làm việc lành cho xứng với lòng thống hối", và cụ thể như thánh Phaolô khuyên: "Anh em hãy tiếp rước nhau như chính Đức Giêsu đã tiếp nhận anh em".

Sám hối ăn năn chính là ngưỡng cửa bước vào "trời mới đất mới" mà tiên tri Isaia đã diễn tả: sói sống chung với chiên con; beo nằm chung với dê; trẻ con măng sữa sẽ vui đùa kề hang rắn lục, ... Khi vợ chồng con cái yêu thương hoà thuận với nhau, khi con người sẵn sàng trở về làm lành với Thiên Chúa thì cuộc sống sẽ trở thành một mảnh thiên đường. Chúng ta không cần phải đợi sau khi chết mới được hưởng phúc thiên đàng, nhưng ngay trong lúc này nếu như chúng ta muốn, chúng ta có thể biến cuộc sống thành thiên đường. Hạnh phúc thiên đàng có nghĩa là sự hiệp thông của con người với Thiên Chúa và giữa con cái loài người với nhau.

Để có thể sám hối ăn năn, chúng ta phải nhận ra lời mời gọi của Thiên Chúa. Một tấm lòng hỗn độn, đầy những lo âu và tham vọng chắc chắn không thể nào nhận ra. Lời kêu gọi của Gioan Tẩy Giả phát xuất từ sa mạc. Cũng vậy, chỉ khi trong tâm hồn có một chỗ trống, có nghĩa là sẵn sàng dẹp bỏ mọi âu lo bận rộn qua một bên, trở về với lòng mình trong thinh lặng, chúng ta mới nhận ra tiếng Chúa. Chính lúc đó Thánh Thần của Thiên Chúa sẽ làm việc trong chúng ta. Ngài sẽ ban cho chúng ta sự khôn ngoan và thông suốt để phân biệt đâu là công minh chính trực, đâu là gian tà, phân biệt đâu là lúa, đâu là rơm. Ngài sẽ tăng sức giúp chúng ta đạt tới đích điểm.
(NS Dân Chúa Âu Châu)


 

MV2-A35. CON ĐƯỜNG HÔM NAY - Lm Nguyễn Ngọc Tỏ

Chúa nhật II mùa Vọng, thánh Gioan Tẩy giả kêu gọi chuẩn bị cho Chúa đến. Nhưng chuẩn: MV2-A35

Mt.3, 1-12
Chúa nhật II mùa Vọng, thánh Gioan Tẩy giả kêu gọi chuẩn bị cho Chúa đến. Nhưng chuẩn bị như thế nào? Sứ điệp “bốc lửa” của vị Tiền hô Đấng Cứu Thế thật rõ ràng, mạnh mẽ: Nếu ai không đáp lại tình yêu Thiên Chúa bằng các việc làm cụ thể, thực sự, thì sẽ trở thành vô dụng và bị luận phạt.
Những con đường
Trên phương diện giao thông có đường bộ, đường thuỷ, đường sắt, đường hàng không, đường liên tỉnh, đường quận nối liền huyện, đường xã đến ấp...Ở bình diện linh đạo có “con đường thơ ấu thiêng liêng” của thánh nữ Têrêsa Hài đồng, có “con đường tình thương của Mẹ Têrêsa Calcutta, con đường hoà nhập với vạn vật của thánh Phanxicô Assisi...
Trong Giáo Hội hôm nay, Đức Gioan Phaolô II nói: “Con người: con đường của Giáo Hội”. Biết đâu trên bình diện cá nhân còn có con đường quanh co của những kẻ lọc lừa gian dối. Con đường gồ ghề của tính toán tham lam ích kỷ. Con đường kéo kẽm gai của những kẻ hận thù, ngăn chận những tương giao qua lại. Con đường đầy ổ phục kích của những người cạnh tranh chờ cơ hội hại nhau. Con đường mòn rừng già hay sa mạc nóng rát của người khô cằn việc đạo, mang danh “có đạo” chứ không “sống đạo”. Con đường hầm u tối của những kẻ chai lỳ sống trong tội lỗi. Con đường cỏ dại của người không vương tội nặng nhưng rất nhiều tội nhẹ...
Sám hối và sinh hoa quả
Thánh Gioan Tẩy giả kêu gọi: “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã gần đến” và ngài khuyến dụ hành vi cần có: “Các anh phải sinh hoa quả là làm việc lành phúc đức để chứng tỏ lòng ăn năn sám hối” (Mt 3,2.8).
Sám hối không chỉ là hối tiếc những hành vi quá khứ, cũng chẳng phải là thực thi cho đủ một nghi thức hầu trấn an lương tâm, theo kiểu “tấp tểnh người đi tớ cũng đi” rồi vững dạ an tâm. Nhưng sám hối là nhận biết tội mình. Và thay lòng đổi dạ. Theo nguyên tắc: xem quả biết cây, xem việc biết ngừơi, cứ kiểm điểm về sự suy nghĩ, về cách sống của mình mà chúng ta biết mình có sám hối thực sự theo lời Gioan Tẩy giả kêu gọi hay không.
Hoa trái của sám hối chính là làm những việc lành phúc đức. Ngôn sứ Isaia bằng ngôn ngữ bóng bẩy và sinh động đã vẽ nên một thế giới lý tưởng mà tự thâm tâm ai cũng đợi chờ và mơ ước (Bài đọc 1).
Nhưng người Kitô hữu không chỉ chờ đợi và mơ ước thụ động, mà cần phải nỗ lực phấn đấu để lấp đầy những hố thẳm chênh lệch bất công, phải uốn lại cho ngay những cơ cấu, tập tục, não trạng gây chia rẽ hận thù, phải xây dựng những con đường tràn ngập niềm vui, hy vọng và đầy tình thương.
Con người sống không tương lai là con người thiển cận khô cằn, nhưng con người chỉ sống vơí tương lai là con người hão huyền. Hãy biết nối kết giữa tương lai và hiện tại, giữa hy vọng và thực tế. Đừng chỉ hướng mắt về tương lai xa vời huyền ảo, nhưng hãy nhìn vào tờ lịch ngày hôm nay. Nhìn vào đồng hồ với việc bổn phận của ta lúc này.
Không cần khiêm tốn lắm, tôi cũng nhận ra ngay mình còn nhiều yếu kém, lỗi lầm. Thiên Chúa luôn bao dung, tha thứ. Nhưng tôi có sẵn sàng sám hối và sinh hoa quả, đổi mới không? Vấn để dễ trả lời trên lý thuyết. Còn thực tế...? Tôi đã trải qua bao mùa Vọng rồi? Nhưng tôi đã sám hối, đã chuẩn bị tâm hồn xứng đáng để Chúa Kitô sinh ra và lớn dần lên trong tôi...? Hay tôi chưa cảm thấy sự kết hợp với Chúa và lớn lên trong Chúa?
 “Lạy Chúa Thánh Thần, xin Ngài giúp con dọn đường cho Con Chúa đến”.
CHỨNG TỪ: NGƯỜI KITÔ HỮU DỌN ĐƯỜNG CHO CHÚA ĐẾN- Đàm Đáng/ CG&DT
Báo Công giáo và Dân tộc số 1185, trang 12.
Có lẽ người dân Xóm Chiếu (phường 16, quận 4 TP.HCM) đã quá quen thuộc hình ảnh có một nàng dâu cõng người mẹ chồng liệt nửa thân người đi xin thuốc, khám bệnh. Đó là chị Đỗ Thị Mai - giáo dân giáo xứ Xóm Chiếu. Chị kể: Chị lấy chồng vào năm 1992. Niềm vui của nàng dâu về nhà chồng chưa được bao lâu, thì bốn tháng sau mẹ chồng đâm ngã bệnh. Căn bệnh quái ác tai biến mạch máu não khiến cho bà bị liệt nửa thân. Mặc dù bà vẫn nghe, vẫn biết nhưng lại không nói được. Anh Lễ, chồng chị ngồi bên xen vào: “Từ đấy mọi sự đổ lên đầu bà xã tôi. Một tay cô ấy lo tất cả. Còn tôi công việc thợ hồ thì bữa đực, bữa cái”.
Mỗi sáng dù nắng hay mưa, sau khi chăm sóc mẹ chồng xong là chị lộc cộc đạp xe đạp đi làm mướn, làm thuê. Buổi trưa chị lại đạp về để nấu cơm, chăm sóc cho mẹ chồng và đứa con duy nhất của anh chị. Công việc thầm lặng này kéo dài năm này sang năm khác. Được hỏi chị nghĩ gì khi được thành phố tuyên dương là “Người con hiếu thảo”. Chị cười, nụ cười thật dung dị. “Chuyện có gì to tát đâu anh. Tôi luôn xem mẹ chồng như là mẹ ruột của mình. Bổn phận làm con là phải làm được những việc như thế chứ”.
Bà Thuận, mẹ chồng chị nãy giờ ngồi nghe câu chuyện của chúng tôi. Dù biết rằng bà không nói được nhưng tôi vẫn cố tình hỏi bà về người con dâu của bà. Bà chỉ gật đầu những khi tôi hỏi. Một dòng nước mắt chực rơi trong khoé mắt già nua. Bà đưa tay quẹt nước mắt ngăn không cho nó rơi xuống.

 

MV2-A36. HÃY TẨY VẾT XÂM ĐI !/ Cha Mark Link

 Chủ đề : Chúa Giêsu muốn đi vào cuộc đời chúng ta. Đáp lời kêu gọi của Thánh Gioan Tẩy Giả, chúng ta hãy mở lòng mình cho Chúa Giêsu.
 

Cáh đây ít năm, một tay viết báo nọ có đưa ra một chương trình ngộ nghĩnh liên quan đến việc: MV2-A36

Cáh đây ít năm, một tay viết báo nọ có đưa ra một chương trình ngộ nghĩnh liên quan đến việc tẩy xóa các vết xâm trên mình mà người ta không còn muốn để nữa, đặc biệt là những vết xâm của băng này nhóm nọ trên khắp thân thể các bạn trẻ. Bài báo vừa xuất hiện, ai nấy đều ngạc nhiên khi thấy trên cả ngàn lá thư của các bạn trẻ trên toàn quốc ồ ạt gởi tới yêu cầu cho biết thêm chi tiết về chương trình trên.
Vì sự đáp ứng nhiệt tình này, khu học Xá Los angeles và công ty truyền hình địa phương liền sản xuất ra một cuốn phim nhan đề : Untattoo you (hãy tảy vết xâm của bạn đi). Cuốn phim kể lại những ngày nguy hiểm của tục xâm mình và cho thấy việc tẩy xóa những vết xâm nhỏ nơi cánh tay và nơi mặt, cũng như các vết xâm lớn nơi ngực và lưng thực khó khăn biết bao. Các diễn viên trong phim là chính các người trẻ. Họ thẳng thắn trình bày lý do tại sao trước đây họ xâm mình và tại sao bây giờ họ lại muốn tẩy xoá những vết xâm ấy đi.
Cuốn phim trên đã đoạt giải thưởng quốc gia và hiện đang được trình chiếu trên toàn quốc.
Câu chuyện đằng sau cuốn phim Untattoo You làm nổi bật một chủ điểm quan trọng, đó là tất cả chúng ta đã từng gây ra những điều mà giờ đây chúng đang hối tiếc và muốn xoá đi . Điều này không chỉ đúng cho đám người trẻ mà đối với đám người cao niên thì càng đúng hơn nữa. Chẳng hạn chỉ cần tôi ngưng nói trong nửa phút thì tôi dám chắc là tất cả anh chị em đang có mặt trong giáo đường này có thể nhớ lại cả đến nửa tá sự việc mình đã làm và mong ước xoá đi nếu có thể được.Điều bi đát hơn hết trong việc này là rất nhiều người hối tiếc về những gì mình đã làm, nhưng hiện không biết mình phải làm thế nào đây.Vì thế họ vẫn sống trong lầm lạc. Bất cứ lúc nào niềm ân hận hay ý thức tội lỗi hiện lên, họ liền cố gắng hết sức xua đổi chúng ra khỏi tâm trí. Nhưng thường thì việc này kết thúc trong thảm bại.
Tiểu thuyết gia lừng danh Somerset Maugham đã nói thay cho phần đa số những người này như sau : ‘Tôi đã phạm những điều rồ dại. Lương tâm tôi nhạy cảm về một số hành vi trong cuộc sống mà tôi không thể nào quên hoàn toàn được: Phải chi tôi có may mắn được là một người công giáo thì tôi có thể trình bày những điều rồ dại ấy nơi toà cáo giải để rồi sau khi làm việc đền tội do linh mục chỉ định, tôi sẽ nhận được sự tha tội, và như thế vĩnh viễn tôi sẽ xua đuổi được những điều dại ấy ra khỏi trí lòng tôi’.
Lời xác quyết trên của Somerset Maugham giúp những người công giáo chúng ta thấy rằng chúng ta quả là thực hạnh phúc biết bao.Nếu như khám phá ra phương cách tẩy xoá đi những vết xâm mà họ không còn muốn để trên người nữa, đám thanh niên vui mừng biết chừng nào, thì người công giáo chúng ta cũng phải vui mừng như thế khi được Chúa Giêsu ban cho phương cách tẩy sạch tội lỗi của chúng ta. Đây là lý do khiến Giáo hội hằng năm đều dành riêng cả một mùa vọng để nhắc chúng ta món quà to tát mà Chúa Giêsu đã tạo ra cho chúng ta, đồng thời Ngài thúc giục chúng ta hãy sử dụng món quà ấy! Điều này không chỉ mang lại bình an cho tâm trí chúng ta mà còn giúp chúng ta chuẩn bị cho ngày mà chúng ta sẽ phải trình diện trước mặt Chúa để chịu phán xét về những gì mình đã làm và những gì mình đã bỏ xót khi chúng ta còn sống trên trần gian này. Mùa vọng nhắc cho chúng ta nhớ rằng các bài Kinh Thánh hôm nay không chỉ ngỏ riêng với đám dân chúng thời đó mà  còn ngỏ cho tất cả mọi người thuộc bất cứ thời đại nào, kể cả anh chị em và tôi : “Hãy dọn đường cho Chúa, hãy từ bỏ tội lỗi các ngươi”. “Đấng sẽ đến sau tôi cao trọng hơn tôi nhiều”.
Nói một cách cụ thể thì những lời trên có ý nghĩa đối với anh chị em cũng như đối với tôi ? chúng cũng mang cùng một ý nghĩa đối với chúng ta giống như đối với đám dân Do Thái thời Chúa Giêsu, nghĩa là chúng ta phải nhìn nhận tội lỗi của mình, trình bày với Chúa xin người tha thứ để nhờ đó có một cuộc sống hoàn toàn mới mẻ trong Chúa Giêsu. Câu chuyện có thực sau đây được đăng trong cuốn sách nhan đề:  Basic christianity (cộng đồng Kitô giáo nền tảng) của John Stott là một thí dụ tuyệt đẹp minh họa những gì các bài đọc Kinh Thánh hôm nay mời gọi chúng ta :
Stott kể lại rằng có một tối chủ nhật nọ có một Thanh niên quỳ gối xuống bên giường ngủ của mình: Đây không phải là một hành vi ngẫu hứng mà là kết quả của một thời gian tìm kiếm tâm linh rất nghiêm chỉnh. Cậu quả quyết rằng thời gian đã chín mùi để cậu mở rộng tâm hồn mình một cách trọn vẹn đối với Chúa Giêsu Kitô. Quỳ gối trong bóng tối căn phòng mình. Cậu tự vấn lương tâm, nhìn nhận từng tội lỗi mình và cám ơn Chúa vì Ngài đã tha thứ cho mình những tội lỗi ấy. Ngày hôm sau cậu viết vào nhật lý của mình :
“Hôm qua quả là  một ngày trọng đại... này đây, Chúa Giêsu đứng trước cửa và gõ. Tôi đã nghe lời Ngài và hiện giờ Ngài đã bước vào nhà tôi. Ngài đã tẩysạch và đang chủ trì căn nhà này”.
Và ngày hôm sau cậu lại viết thêm : “Hôm nay tôi thực sự cảm thấy một niềm vui mênh mông mới mẻ, niềm vui sống bình an với thế gian và tiếp xúc thân mật với Chúa...Qủa thực trước đây tôi chưa hề nhận biết Ngài”.
Stott tiếp tục kể rằng những đoạn trích này rút ra từ Nhật ký riêng của ông. Ong chính là chàng thanh niên trong câu chuyện. Stott chia sẻ kinh nghiệm của mình với độc giả vì ông họ cũng cảm nghiệm được niềm vui và an bình như ông bằng cách mở rộng toàn vẹn tâm hồn cho Chúa Giêsu. Stott kết thúc câu chuyện của mình bằng cách mời gọi độc giả gấp sách lại, quỳ gối xuống, tự vấn lương tâm, nhìn nhận từ tội lỗi của mình và cảm tạ Chúa Giêsu vì Ngài luôn sẵn sàng tha thứ cho những tội lỗi ấy.
Mùa vọng mời gọi chúng ta điều chỉnh mọi sự cho đúng đắn với Chúa, và tự chuẩn bị không hẳn chỉ để chúc mừng cuộc giáng sinh thứ nhất của Chúa Giêsu mà còn để chúc mừng cuộc giáng lâm sau cùng của Ngài nữa.
Chúng ta hãy vui mừng cảm tạ Chúa Giêsu vì Ngài đã ban cho chúng ta một phương cách tẩy xoá quá khứ lầm lỗi để bắt đầu khởi sự trở lại. Đó là cách thức tốt nhất mà bí tích giải tội mang lại cho chúng ta.
Để kết thúc chúng ta hãy lập lại lời cầu nguyện viết ra cách đây gần 1600 năm do một kitô hữu tên là Origen. Xin anh chị em yên lặng hiệp ý cùng tôi :
“Lạy Chúa, đôi chân con dơ bẩn và bụi bặm. Xin chúa hãy đổ nước vào chậu rồi đến rửa chân cho con như Chúa đã từng rửa cho các tông đồ tại bữa tiệc sau cùng. Con biết rằng cầu xin Chúa điều này quả là táo bạo, nhưng vì con sợ lời Chúa cảnh cáo Phêrô khi Ngài bảo ông : “Nếu Ta không rửa chân cho con thì con không thể làm bằng hữu của Ta. Vậy lạy Chúa Giêsu, xin hãy rửa chân cho con bởi vì con muốn được làm bằng hữu của Chúa hơn bất cứ sự gì khác trên trần gian này.”

 

MV2-A37. XÂY DỰNG NƯỚC THIÊN CHÚA - Lm. Carrolo Hồ Bạc Xái.

CHỦ ĐỀ: XÂY DỰNG NƯỚC THIÊN CHÚA TRONG CÔNG TRÌNH VÀ BÁC ÁI “HÃY DỌN SẴN CON ĐƯỜNG CHO CHÚA”
I DẪN VÀO THÁNH LỄ
 

Lời Chúa trong chúa nhật vừa qua hé mở cho chúng ta thấy một tương lai tốt đẹp đang sẵn: MV2-A37

Lời Chúa trong chúa nhật vừa qua hé mở cho chúng ta thấy một tương lai tốt đẹp đang sẵn chờ chúng ta, và kêu gọi chúng ta hãy tỉnh thức sẵn sàng để đón nhận nó. Lời Chúa hôm nay cho chúng ta thấy rõ hơn tương lai tốt đẹp ấy chính là Nước Thiên Chúa. Trong nước này, chính Thiên Chúa sẽ trực tiếp cai trị và mọi công dân sẽ sống rất hạnh phúc trong công bình và bác ái.
Theo cơ bản, Giáo Hội chính là Nước Thiên Chúa. Tuy nhiên, trên thực tế Giáo hội vẫn chưa thực sự là Nước Thiên Chúa vì ở một số phương diện vẫn còn rất nhiều lỗi lầm sai sót. Bởi đó mỗi người trong Giáo Hội cần phải xám hối sửa đổi cuộc sống mình để Giáo Hội ngày càng xứng đáng là Nước Thiên Chúa hơn.
II GỢI Ý SÁM HỐI
Công dân Nước Thiên Chúa phải phục quyền Thiên Chúa là vua của mình. Nhưng chúng ta thường không vâng phục Thiên Chúa.
Công dân Nước Thiên Chúa phải sống hòa thuận với nhau. Nhưng chúng ta thường bất hòa với nhau.
Công dân Nước Thiên Chúa phải tích cực xây dựng và mở mang Nước Thiên Chúa. Nhưng chúng ta rất thờ ơ với trách nhiệm này.
GỢI Ý GIẢNG
1.Giấc mơ thái bình
Khi đọc sách lịch sử, hoặc đọc báo mỗi ngày, chắc hẳn là nhiều lần chúng ta phải xấu hổ vì mình đã làm người. Lịch sử loài người thế nào? Thưa là chiến tranh, chiến tranh và chiến tranh. Bao nhiêu là chết chóc, bao nhiêu là sợ hãi, bao nhiêu là nước mắt. Một triết gia đã than: Homo homini lupus  ! (con người là sói dữ của con người)
Các nhà du hành vũ trụ là những người đầu tiên được nhìn thấy trái đất từ bên ngoài. Từ ngoài vũ trụ nhìn vào, họ thấy trái đất như một gia đình đông đúc cùng cư ngụ trong một mái nhà chung. Một nhà du hành kể: ngày thứ nhất trong vũ trụ, mọi người chúng tôi ai cũng nhìn xuống tìm đất nước của mình; ngày thứ hai tìm lục địa của mình, và ngày thứ ba ai nấy đều ý thức mình cùng chung một trái đất.
Trên đây là hai cái nhìn vào trái đất và loài người: một cái nhìn từ bên ngoài và một cái nhìn từ bên trong.
Trong bài đọc I. Ngôn sứ  Isaia cũng dùng một cái nhìn từ bên ngoài để mô tả cảnh thái bình mà ông nghĩ sẽ được thực hiện vào thời đại Messia: “Sói sống chung với chiên con, beo nằm chung với dê, bò con, sư tử và chiên sẽ ở chung với nhau; sư tử cũng như bò đều ăn cỏ khô; trẻ con vừa thôi bú sẽ thọc tay vào hang rắn độc ; các thú dữ  ấy không làm hại ai; không giết chết người nào..”
Đức Giêsu chính là Đấng Messia. Khi Ngài đến, Ngài đã thiết lập thời đại thái bình ấy. Thánh Marcô kể rằng trong 40 ngày ở hoang địa. Đức Giêsu đã sống chung một cách hòa thuận vơí các dã thú, và các Thiên sứ hầu hạ Ngài (Mc 1,12). Giáo hội thời sơ khai cũng là một cảnh thái bình. Sách Công vụ tông đồ viết : “Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau và để mọi sự làm của chung. Họ đem bán đất đai của cải, lấy tiền chia cho mỗi người theo nhu cầu. Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Đền thờ. Khi làm lễ Bẻ Bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ. Họ ca tụng Thiên Chúa và được tòan dân thương mến” (Cv 3,44-47)
Nhưng rồi cảnh thái bình ấy đã dần dần biến mất: con người đối xử với nhau còn tệ hơn dã thú, thay vì chia sẻ cho nhau thì lại tranh dành với nhau. Thay vì tất cả đồng tâm nhất trí thì mỗi người một ý không ai chịu ai…Trong Mùa Vọng, chúng ta hãy nỗ lực tái tạo cảnh thái bình ngày xưa, ít ra là trong gia đình mình, trong khu xóm mình, trong tập thể mà mình đang sống.
2. Thông cảm, tiếp rước và phục vụ
Khi Thánh Phaolô muốn dạy các tín hữu phải sống với nhau thế nào để cộng đòan Giáo Hội của họ thực sự  là một con đường: con đường hai chiều đưa ta đến với Chúa và Chúa đến với ta, hay đưa ta đến với tha nhân và tha nhân đến với ta.
3. Con đường trong Thánh Kinh:
Con đường thập giá của Chúa Giêsu : một con đường khổ đau rải rác những giọt máu của Đấng Cứu Thế.
Con đường về làng Emmau mà có lần sau Phục Sinh, hai môn đệ của Chúa Giêsu đã cùng Ngài sánh bước: Một con đường mù sương che mắt khiến hai ông không nhận ra Thầy mình.
Và con đường là chính Chúa Giêsu “Ta là Đường, là sự thật và là sự sống”.
Những con đường trong Thánh Kinh ấy, thực ra là hình bóng của những con đường trong đời người, trong cuộc đời:
- Có những con đường chăng dây kẽm gai: con đường của những kẻ hận thù nhau, nó ngăn chận những tương giao qua lại.
- Có những con đừơng đầy ổ phục kích: con đường của những kẻ cạnh tranh nhau, chờ cơ hội để khai thác nhau, lợi dụng nhau, làm hại nhau.
Có những con đường hầm u tối : con đường của những  kẻ lọc lừa, gian dối.
- Có những con đừơng quanh co trong rừng rậm : con đừơng của những kẻ mang một tật xấu thâm căn cố đế, hoặc kiêu căng, hoặc hà tiện, hoặc đam mê sắc dục…
- Có những con đường cỏ dại mọc đầy: con đường của những kẻ không vứơng mắc tội nặng nhưng còn rất nhiều tội nhẹ.
- Có những con đừơng sa mạc cát nóng: con đường của những kẻ khô khan việc đạo.
- Và cũng có những con đường cái quan thẳng tắp: con đường bình an của những kẻ đạo hạnh, ngày càng tiến nhanh về Chúa.
Cuộc đời mỗi người chúng ta là một con đường: con đường hai chiều đưa ta đến với Chúa và Chúa đến với ta, hay đưa ta đến với tha nhân và tha nhân đến với ta.
- Đó chính là con đường mà Chúa Giáng Sinh muốn đi, đi để đến với ta, và qua ta để đến với tha nhân: đến để mang cho ta và cho anh em ta muôn ơn lành: ơn bình an, ơn hạnh phúc, ơn đạo hạnh.
4.Hội thánh là tôi
Hội Thánh có nhiều khuyết điểm và gương xấu, nhưng Hội Thánh có Lời hứa của Chúa. Hội Thánh là một phép lạ liên lỉ. Tuy nhiên đừng vì thế mà phơi bày khuyết điểm và gương xấu cho mọi người. Cũng đừng vì đó mà tha hồ làm gương xấu để Chúa phải làm phép lạ mỗi ngày (ĐHV 264)
Nữ tu đời Ange Hatei, trong tác phẩm “Jesus caritas” có thuật lại câu chuyện như sau:
Trước Công đồng Vaticanô II, một hôm có người bạn vô thần tôi yêu mến đã nhận định với tôi rằng: Hội Thánh là một thế lực tiền bạc, là điểm tựa của các nhà độc tài và đại tư bản. Ong ta thắc mắc về các vị lãnh đạo Hội Thánh độc đoán và phe phái, về các tín hữu tự cho mình là tốt mà hành động xấu xa, về các Linh mục lo lắng hưởng thụ và làm giàu … tôi kiên nhẫn lắng nghe ông rồi nói : “Tôi đã làm gì mà anh hạ nhục tôi như vậy?” Ong ta sừng sỏ bảo: “ Tôi sỉ nhục cô ư ? Nhưng tôi đâu có nói gì cô! Không nói gì cô và cũng không nói gì về một người bạn của cô cả, như Linh mục X, hay chị Y chẳng hạn. Tôi nói đến Hội Thánh cách chung mà!” Tôi trả lời: “Hội Thánh cách chung là tôi, Hội Thánh cách chung là tất cả những người mà anh chỉ trích, những kẻ mà anh loại trừ. Họ trộn lẫn với nhau một cách không thể phân ly được. Hội Thánh cách chung là họ, là tôi, là tất cả những người ấy”. Ong bạn tôi từ đó không bao giờ thắc mắc với tôi về Hội Thánh. Và nhiều lần trước mặt tôi ông còn tìm cách làm nổi bật những dấu hiệu tích cực về sự hiện diện của Hội Thánh trong thế giới này nữa (ĐHY NVT, trên đường lữ hành)
Chuyện: THUẬT SỐNG:TIẾNG VỌNG RỪNG SÂU
Có một cậu bé ngỗ nghịch thường bị mẹ khiển trách. Ngày nọ giận mẹ, cậu chạy đến một thung lũng cạnh khu rừng rậm. Lấy hết sức mình, cậu thét lớn: “Tôi ghét người”. Từ khu rừng có tiếng vọng lại: “Tôi ghét người”. Cậu hoảng hốt quay về, sà vào lòng mẹ khóc nức nở. Cậu bé không sao hiểu được tự trong rừng lại có người ghét cậu. Người mẹ nắm tay con, đưa cậu trở lại khu rừng. Bà nói: “Giờ thì con hãy hét thật to: Tôi yêu người”. Lạ lùng thay, cậu vừa dứt tiếng thì có tiếng vọng lại: “Tôi yêu người”. Lúc đó người mẹ mới giải thích cho con hiểu: “Con ơi, đó là định luật trong cuộc sống của chúng ta. Con cho điều gì, con sẽ nhận điều đó. Ai gieo gió thì gặt bão. Nếu con thù ghét người thì người cũng thù ghét con. Nếu con yêu thương người thì người cũng yêu thương con”
HOA HỒNG TẶNG MẸ
Anh dừng lại tiệm bán hoa để gửi hoa tặng mẹ qua đường bưu điện. Mẹ anh sống cách chỗ anh khoảng 300km. Khi bước ra khỏi xe, anh thấy một bé gái đang đứng khóc bên vỉa hè. Anh đến và hỏi nó sao lại khóc.
- Cháu muốn mua một hoa hồng để tặng mẹ cháu – nó nức nở – nhưng cháu chỉ có 75 xu trong khi giá một hoa hồng đến 2 đôla.Anh mỉm cười và nói với nó: - Đến đây, chú sẽ mua cho cháu. Anh liền mua hoa cho cô bé và đặt một bó hồng để gửi cho mẹ anh. Xong xuôi, anh hỏi cô bé có cần đi nhờ xe về nhà không. Nó vui mừng nhìn anh và trả lời: “Dạ, chú cho cháu đi nhờ đến nhà mẹ cháu. Rồi nó chỉ đường cho anh lái xe đến một nghĩa trang, nơi có một phần mộ vừa mới đắp. Nó chỉ ngôi mộ và nói: - Đây là nhà của mẹ cháu. Nói xong, nó ân cần đặt nhánh hoa hồng lên mộ.
Tức thì anh quay lại tiệm bán hoa, hủy bỏ dịch vụ gửi hoa vừa rồi và mua một bó hồng thật đẹp. Suốt đêm đó, anh đã lái một mạch 300km về nhà mẹ anh để trao tận tay bà bó hoa.
Hương lòng: Xin Thánh Thần Chúa uốn nắn lòng trí chúng con, để chúng con ngoan ngoãn vâng theo sự chỉ dậy của Chúa. Dọn đường cho Chúa đến bằng sống bác ái yêu thuơng. Sống tình Chúa và tình người hơn.

 

MV2-A38. TƯ CÁCH CỦA VỊ TIỀN HÔ - ĐC. J.B. BÙI TUẦN

Bài Tin Mừng Chúa nhựt hôm nay nêu gương một người đã tích cực chờ đợi Chúa, đó là Gioan: MV2-A38

Bài Tin Mừng Chúa nhựt hôm nay nêu gương một người đã tích cực chờ đợi Chúa, đó là Gioan Tẩy giả :
- Ông sống trong hoang địa với một lối sống giản dị và thanh đạm.
- Ông tích cực dọn đường cho Chúa bằng lời rao giảng kêu gọi sám hối.
- Ông nôn nóng mau được thấy ngày Chúa đến, nên đã sai các môn đệ đến hỏi Chúa Giêsu.
Chính vì thế, ông đã được Chúa Giêsu hết lời khen ngợi : “Trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gioan tẩy giả”. Tuy nhiên Ngài nói thêm là những người sống vào thời Tân Ước còn “cao trọng” – nghĩa là có phúc – hơn Gioan.
Ngày xưa Đấng Cứu Độ cần có Gioan dọn đường, thì ngày nay cũng vẫn thế. Việc này ngày nay được gọi là “Tiền phúc âm hóa”. Việc “tiền phúc âm hóa” tạo những điều kiện thuận lợi cho mãnh đất, để khi hạt giống phúc âm gieo xuống thì mọc lên ngay. Vậy tôi sẽ làm công việc tiền phúc âm hóa này cho những ai ? Và làm bằng cách nào ?
 Gioan tẩy giả đã tự dọn con đường lòng mình bằng cuộc sống trong sa mạc, nghĩa là trong một khung cảnh thinh lặng. Tôi cũng chỉ có thể gặp Chúa và nghe được tiếng gọi của Ngài nếu tôi biết đi vào “sa mạc” bằng tĩnh tâm, cầu nguyện và không để mình bị xáo trộn bởi những lo lắng sự đời.
Gioan đã tỏ lòng xám hối bằng lối sống giản dị và thanh đạm. Nhờ vậy mà ông có được sức mạnh chống lại những cám dỗ nơi mình và sự dữ nơi người khác, cho dù phải tù đày, hy sinh tính mạng. Trước những cám dỗ thật hấp dẫn và thử thách đầy phức tạp trong hoàn cảnh xã hội hôm nay, chúng ta càng cần có cuộc sống giản dị và thanh đạm để không bị cuốn hút vào cuộc sống văn minh hưởng thụ cách ích kỷ đầy cạm bẫy này.
Gioan Tẩy Giả đã sai môn đệ tới gặp gỡ Chúa, nhờ đó họ đã nhận ra Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế và đi theo Ngài. Chẳng những tôi phải dọn đường cho Chúa đến với bản thân tôi, mà cũng phải dọn con đường cho Chúa đến với anh chị em tôi bằng cách giúp cho họ gặp gỡ được Đức Kitô qua Lời Chúa, qua phụng vụ Bí tích, qua những biến cố trong cuộc sống, và nhất là qua đời sống yêu thương phục vụ tha nhân của tôi. Tôi có quan tâm đến điều này không ? Và tôi đã làm được những gì rồi ?

 

MV2-A39. ĐẤNG CỨU ĐỘ ĐÃ GẦN ĐẾN? - Lm. CAR. HO BAC XÁI

Trich SOI CHI DO –
“ THẦY CÓ ĐÚNG LÀ ĐẤNG PHẢI ĐẾN KHÔNG ?” (Mt 11,3 )
I.DẪN VÀO THÁNH LỄ
 

Trong Mùa Vọng, lễ phục của chủ tế màu tím. Nhưng hôm nay chủ tế mặc lễ phục màu hồng: MV2-A39

Trong Mùa Vọng, lễ phục của chủ tế màu tím. Nhưng hôm nay chủ tế mặc lễ phục màu hồng, màu vui mừng ! bởi vì hôm nay Lời Chúa loan báo cho chúng ta một tin hết sức vui mừng: Chúa sắp đến viếng thăm chúng ta!
Nhưng không phải là Chúa đã đến ở Bêlem cách nay khoảng 2000 năm hay sao? Tại sao lại nói là Chúa sắp đến? Thưa quả thực ở Belem Chúa đã đến với trần gian, nhưng chưa đến với tâm hồn mọi người. Mà điều Chúa thíêt tha mong muốn nhất không phải là đến một nơi nhưng là đến với con người.
Chỉ còn hơn một tuần lễ nữa thôi là chúng ta lại mừng lễ Giáng Sinh, kỷ niệm lần đầu tiên Ngôi Hai Thiên Chúa đến trần gian. Nhưng phải chăng là một lần nữa Chúa chỉ đến trong hang đá lạnh lẽo, mà không đến được với tâm hồn mỗi người chúng ta?
Trong thánh lễ này, chúng ta hãy lắng nghe Lời Chúa dạy chúng ta phải làm gì để Chúa có thể đến tận tâm hồn chúng ta.
II. GỢI Ý SÁM HỐI
Đã bao nhiêu lần Chúa muốn đến thăm viếng tâm hồn chúng ta, nhưng bấy nhiều lần Ngài đều không đến được vì cánh cửa tâm hồn chúng ta đã khóa chặt.
Chúng ta mong chờ biết bao người đến thăm chúng ta, như những người thân, những người mang lại lợi lộc vật chất. Nhưng rất ít khi chúng ta mong chờ Chúa đến.
Thậm chí nhiều lần chúng ta còn xua đuổi Chúa.
III. GỢI Ý GIẢNG
Nhìn bề ngoài thì xem ra con người thời nay rất đầy đủ. Nhưng nếu đi sâu đến tận đáy lòng, ta mới thấy nhiều khoảng trống mênh mông rất cần được lấp đầy:
- Khoảng trống “siêu vật chất” : Mặc dù tiền bạc của cải, tiện nghi .. nói chung là vật chất – có rất nhiều, nhưng lòng người vẫn luôn thấy thiếu. Chỗ thiếu vắng này không thể lấy tiền mà mua được, không thể lấy vật chất mà lấp đầy được.
- Khoảng trống  “ tình yêu” : người ta sống với nhau vì quyền lợi. Ai có lợi cho tôi thì tôi đến; ai không có lợi thì tôi thờ ơ, ai không còn có lợi thì tôi bỏ, ai có hại thì tôi tìm cách diệt trừ… Hình như tình yêu không có chỗ trong lòng người.
- Khoảng trống “vĩnh hằng” :mọi thứ mà người thời nay có đều chỉ là tạm bợ, kéo dài lắm cũng chỉ là “trăm năm trong cõi người ta”. Con người cần cái gì đó dài hơn, lâu hơn, mãi mãi.
Những khoảng trống ấy thật là mênh mông, và không ai ngoài Chúa có thể lấp đầy. Con người thời nay đang rất cần Chúa.
Đừng nóng vội
Trước một vấn đề cần giải quyết, người ta chia thành hai hạng khác nhau:
- Những người nóng vội: muốn giải quyết ngay tức khắc, bằng cách nào cũng được, kết qủa thế nào cũng được.
- Những người kiên nhẫn : tìm hiểu kỹ vấn đề, suy nghĩ cách giải quyết thỏa đáng nhất, chờ có đủ điều kiện thuận lợi nhất.
Phần Thiên Chúa. Ngài không nóng vội nhưng rất kiên nhẫn, bởi vì Ngài muốn cứu chữa tận căn, muốn cải tạo con người, muốn canh tân thế giới.
Phần mỗi người chúng ta, cũng chớ tìm những giải pháp nhanh chóng mà hời hợt, nhưng hãy kiên nhẫn kiên nhẫn điều trị tận gốc căn bệnh của mình, kiên nhẫn cải tạo từng mặt cuộc sống của mình , và kiên nhẫn góp phần canh tân thế giới.
“Hay chúng tôi còn phải đợi một Đấng nào khác?”
Tuy Gioan là một ngôn sứ và còn là vị Tiền hô, nhưng câu hỏi này của ông lại rất “phàm trần” : Ong nghĩ rằng Đức Giêsu là Đấng Mesia Thẩm phán. Nhưng khi thấy Ngài chẳng xét xử và trừng trị ai thì ông nghĩ tới “một Đấng nào khác”
Nhưng chúng ta còn “phàm trần” hơn Gioan nhiều:  Dù đã biết Đức Giêsu chính là Đấng Messia, nhưng chúng ta không đủ tin nơi Ngài, chúng ta hứơng về nhiều “đấng messia khác”; messia tiền bạc, messia thế lực, messia lạc thú…
Tuyên ngôn Dominus Jesus khẳng định rằng Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ duy nhất, ngoài Ngài ra chẳng có đấng messia nào cả. Không hết lòng tin tưởng vào Đức Giêsu là “vấp ngã”, chạy theo những đấng messia khác cũng là “vấp ngã”. Vì thế Đức Giêsu đã khuyến cáo: “phúc cho ai không vấp ngã vì Ta”
Một cây sậy phất phơ trước gió
Gioan Tẩy giả không phải là một cây sậy phất phơ trước gió, vì Gioan không phải là người yếu đuối nhu nhược dễ uốn mình trước áp lực và dư luận.
Nhưng hình ảnh cây sậy phất phơ trước gió có thể dạy ta nhiều điều:
Nó vừa mềm vừa nhẹ nên gió thổi nó nghiêng về hướng nào cũng được.
Nhưng nó lại rất mạnh: giông to gió lớn có thể xô ngã những cây cổ thụ to lớn, nhưng không thể bứng gốc cây sậy nhỏ bé này.
Lạy Chúa.
Xin dạy chúng con hiểu rằng sức mạnh ở trong sự yếu đuối và dịu dàng.
Xin dạy chúng con khôn ngoan biết khi nào phải cong xuống và khi nào phải trụ vững vàng
4. Chuyện minh họa
a/ Ong có phải là Chúa Giêsu không?
Một nhóm thương gia dự một cuộc họp. Người nào cũng báo trước với vợ con là sẽ về nhà đúng giờ ăn bữa tối. Nhưng cuộc họp kéo dài hơn dự định. Tan buổi họp, ai nấy hối hả chạy ra xe buýt. Một người xô phải quầy  bán táo của một cậu bé, táo rơi tứ tung. Nhưng không ai dừng lại để lượm giúp cậu. Rồi mọi người đều lên được xe búyt, thở phào nhẹ nhõm.
Nhưng ít giây sau, một người trong nhóm cảm thấy bứt rứt về chuyện cậu bé bán táo. Ong xuống xe trở lại chỗ cũ. Ong thấy cậu bé đang vất vả mò tìm từng trái táo, để lượm lại. Thì ra cậu bị mù ! tội nghiệp quá, ông giúp cậu lượm lại từng quả cho đến hết. Một số qủa bị giập. Ong móc túi dúi vào tay cậu bé một món tiền, rồi ra đi. Cậu bé bán táo hỏi với theo “Ong có phải Chúa Giêsu không?”
Theo một nghĩa nào đó, ông ta là Chúa Giêssu. Thời nay đang cần có nhiều Chúa Giêsu như thế.
B/ Đối phó với Đấng Messia
Ngày kia đang lúc trời mưa như trút nước, một người chủ nông trại giàu có từ đồng trở về nhà và than phiền với giọng đầy lo lắng:
- Rebecca, nghe đâu trong thành người ta đang kể một câu chuyện kinh khủng lắm: Đấng Messia đã đến giữa chúng ta!
Người vợ hỏi :
Có gì mà kinh khủng hả? Tôi tưởng đó là chuyện tuyệt vời chứ. Sao mà ông hoảng hốt vậy?
Người chồng lớn tiếng than:
- Tôi hoảng hốt ư ? sao biết bao năm trời vất vả lao nhọc, chúng ta mới được giàu có với bầy súc vật hàng ngàn con, với những kho lẫm đầy ắp và cây cối nặng trĩu quả. Thế mà, bà biết không, chúng ta sắp phải bỏ hết để đi theo Ngài.
Bà vợ ôn tồn như muốn an ủi ông:
- Thôi, bình tĩnh đi ông. Chúa là Thiên Chúa nhân lành. Ngài biết rõ người do thái chúng ta đã luôn luôn phải chịu đau khổ, chúng ta phải đương đầu với Pharaon, Hâman, Hitler.. nghĩa là luôn luôn với một kẻ nào đó. Mà, phải không? Thế thì Ngài cũng có cách đối phó với Đấng Messia chứ ! Anthony de Mello, Lời Kinh của Con Ech)
CHUYỆN MINH HOẠ: Sự tha thứ đích thực
 Liền sau thế chiến II chấm dứt, Coritanbun với những vết sẹo trên thân thể, tàn tích của những khổ hình Bà phải chịu trong trại tập trung Đức quốc xã, đã đi khắp Âu châu rao giảng sự tha thứ cho những kẻ đã  làm hại mình.
 Thế nhưng vào một Chúa nhựt nọ, sau khi kêu gọi mọi người hãy tha thứ cho nhau trong một nhà thờ của thành phố Munich, bước ra ngoài Bà bất ngờ đối diện với một khuôn mặt quen thuộc. Đó là dung mạo của người lính đã hành hạ bà và hàng ngàn nữ tù nhân khác trong trại tập trung. Những tiếng than khóc, những cảnh tra tấn, rồi những tiếng kêu trả thù nổi dậy mạnh mẽ trong tâm trí Bà.
 Lúc đó người đàn ông tiến lại khiêm tốn đưa tay ra vừa muốn bắt tay bà vừa nói : “Thưa Bà, tôi rất cảm ơn những lời tốt đẹp của Bà kêu gọi sự tha thứ. Xin Bà tha thứ cho tôi”. Bà Coritanbun như chết điếng người, vì trước đây bà đã cầu nguyện và quyết tha thứ thật sự, nhưng giờ đây đối diện với con người cụ thể đã tra tấn mình, bà đứng lặng im, tay không thể nào bắt tay người đến xin bà tha thứ.
 Sau này vào năm 1971 khi kể lại biến cố ấy trong tập sách ”Nơi ẩn trốn”, bà đã cho biết ”Trong giây phút thinh lặng đó, tôi đã cố gắng dâng lên Chúa lời nguyện : Lạy Chúa, Chúa thấy con chưa thể tha thứ cho  người đã hành khổ con. Xin Chúa hãy ban cho con những tâm tình của Chúa để con có thể tha thứ như Chúa”. Và chính trong lúc đó Bà đã hiểu rằng con người chỉ có thể tha thứ cho nhau khi nhìn nhận tình yêu thương và sự tha thứ của Thiên Chúa. (Trích ”Món quà giáng sinh”)
LỜI NGUYỆN GIÁO DÂN
Dẫn vào cầu nguyện: “Hãy sinh hoa kết quả để chứng tỏ lòng sám hối” [1]. Đó là lời mời gọi đầu tiên mà Giáo Hội muốn gởi tới Dân Chúa hôm nay. Ta cầu xin Chúa giúp đỡ để đời ta mang lại nhiều hoa trái, nên sốt sắng nguyện xin.
1. Đất đai / sông núi hùng vĩ / là hình ảnh đẹp và hấp dẫn, / cho nên người xa quê hương về nước / lòng không khỏi nôn nao. / Thánh vịnh gia / như muốn gợi lên sự nôn nao đó / khi mô tả Triều đại Vị Cứu Tinh / như một mùa nở rộ hoa công lý / và thái bình thịnh trị đến muôn đời [2]./ Ta hãy xin Chúa ban ơn giúp sức / để càng tiến vào Mùa Vọng / đời ta càng nở rộ hoa trái / đáp lại lời mời gọi của Chúa. Chúng con cầu xin Chúa...
2. Lời mời gọi của Chúa hôm nay/ xuyên qua cuộc rao giảng của ông Gio-an Tẩy Giả / nơi hoang địa / là Hãy dọn sẵn con đường của Đức Chúa / sửa lối cho thẳng để Người đi [3]./ Lời mời gọi ấy / trở nên sống động / và hiện tại / qua Thư Chung năm 2001 của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam / gởi cộng đồng Dân Chúa./ Ta hãy xin Chúa giúp đỡ / để ta mang lại hoa trái đáng kể / bằng cách sống / và làm chứng / cho Đức Ki-tô / là Đấng Cứu Độ trần gian. Chúng con cầu xin Chúa...
3. Ai cũng ước ao sống hạnh phúc / Chúa Giê-su đến lấp đầy khát vọng đó của con người. / Nơi Người chỉ có yêu thương, tha thứ, / chỉ có bao dung và rộng mở./ Không có bất cứ điều gì / có thể ngăn cách Người với bất cứ ai, / dù là tiền bạc, tiện nghi hay địa vị xã hội. / Bằng một cuộc sống tinh ròng, / trong suốt / Người đến lãnh đạo loài người trở về với Thiên Chúa / và trở về với tình người. / Đó là Nước của Thiên Chúa / được khai trương nơi Đức Giê-su Con Thiên Chúa làm người / để trở nên người anh em với ta. / Ta hãy xin Chúa Thánh Thần thúc đẩy ta, lôi cuốn ta / để ta hưởng hạnh phúc Chúa ban. Chúng con cầu xin Chúa...
4. Hoa trái đầu tiên / là việc ta hoán cải / để tin vào Tin Mừng của Nước Thiên Chúa đã đến với ta. / Ta hãy xin Chúa giúp sức / để ta thể hiện ơn hoán cải đó / bằng cách nhìn nhận những vấn đề / kinh tế, chính trị, xã hội, giáo dục / không như những người ngoại cuộc [4], / khởi đi từ vấn đề giáo dục con em ta / làm sao cho hôm nay tốt đẹp hơn hôm qua. Chúng con cầu xin Chúa...
5. Nước Thiên Chúa phải trở nên sống động trong lòng Hội Thánh / giữa các thành phần Dân Chúa. / Ta hãy xin ơn Chúa Thánh Thần giúp sức / để ta biết khiêm tốn lắng nghe / biết trao đổi yêu thương / và chính ta trở nên tiếng nói hy vọng / khơi nguồn cho cuộc đối thoại với rất nhiều người trong cũng như ngoài Hội Thánh. Chúng con cầu xin Chúa...
6. Trong Mùa Vọng / ta hãy chạy đến với Đức Mẹ Mân Côi / xin Mẹ cầu bầu cùng Chúa cho ta / có sự bén nhạy về yêu thương / để ta nhiệt thành mến Chúa và yêu người trên con đường chính Chúa Giê-su lãnh đạo ta. Chúng con cầu xin Chúa...
Kết thúc: Lạy Chúa, Chúa là thân nho, chúng con là nhành nho. Xin thương giúp chúng con sống gắn bó với Chúa, để bảo đảm đời sống chúng con mang lại hoa trái. Chúng con cầu xin nhờ Đức Ki-tô Chúa chúng con.
Nhóm tác giả “CÙNG NHAU TÌM HIỂU VÀ CHIA SẺ ĐỜI SỐNG TIN MỪNG”
CHỨNG TỪ: DÁM NHẬN LỖI
Georges Washington, tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ, người có công đưa nước Mỹ đến độc lập, tự do và phồn thịnh. Georges cũng nổi tiếng là người luôn biết phục thiện và yêu sự thanh liêm. Một ngày kia, khi còn nhỏ, cậu Georges ra vườn làm cỏ, vô tình chặt đứt mất cây anh đào mà bà mẹ rất quý.
Cha cậu thấy cây anh đào bị chặt, liền hỏi: “Con có biết ai là người chặt cây anh đào không ?” Georges suy nghĩ rồi trả lời: “Chính con là người chặt cây anh đào, xin cha cứ phạt con !
Và Georges rất ngạc nhiên khi nghe cha nói: “Điều con làm là một điều lỗi, nhưng con đã chữa được điều lỗi đó là khi con dám nhận lỗi”.
Trích NỐI LỬA CHO ĐỜI số 8
CÂU TRUYỆN1: Đức Thích Ca Và Vua Pacitrice
Bằng lòng với chính mình, của cải vật chất không hẳn mang lại hạnh phúc.
Một hôm, Đức Thích Ca đi vào thủ đô của vua Pracitrice, nhà vua đã đích thân ra đón Ngài, nhà vua là bạn của thân phụ Đức Thích ca, ông đã theo dõi sự giác ngộ và cuộc sống khắc kỷ của Đức Thích ca, cho nên khi gặp Ngài ông đã cố gắng thuyết phục Ngài từ bỏ cuộc sống lang tháng khất thực và trở về cung điện. Nhà vua nghĩ mình đang làm một nghĩa cử cho một người bạn thân của mình.
Sau khi nghe những lời tuyết phục của nhà vua, Đức Thích ca nhìn sâu vào mắt của nhà vua và nói: "Xin Ngài hãy thành thật mà nói với tôi. Trong tất cả những thú vui mà Ngài đang có, Ngài có thực sự được một ngày hạnh phúc không? " Vua Pracitrice cuối nhìn xuống đất và giữ thinh lặng ".
CÂU TRUYỆN 2 : An Bánh Với Chúa
    Chuyện xảy ra tại một công viên nọ như sau:
    Một cậu bé nghe nói về Chúa, nó không biết Chúa là ai. Một hôm, nó quyết định tự mình đi tìm gặp Chúa, với cái cặp nhỏ có đựng một ít bánh và nước ngọt, nó liền tìm đến một công viên bên cạnh nhà. Vừa bước vào công viên, cậu bé đã gặp ngay một bà lão đang ngồi trên ghế đá, cụ bà say sưa nhìn ngắm mấy con bồ câu đến nhặt thức ăn. Cậu bé liền đến ngồi bên cạnh bà rồi mở cặp lấy nước và bánh ra, không chút do dự, cậu bé liền lấy nước và bánh mời bà cụ, cụ bà vui vẻ đón nhận và mỉm cười với nó. Nụ cười của bà lão đẹp đến độ cậu bé muốn nhìn lại một lần nữa, nó liền lấy lon nước ra và lại mời bà. Một lần nữa, bà lão đón nhận và mỉm cười với nó. Chưa bao giờ cậu bé cảm thấy hân hoan bằng lúc này. Cả buổi chiều hôm đó bà cháu ngồi bên nhau chia sẻ từng miếng bánh, mỉm cười với nhau mà không cần phải nói với nhau lời nào.
    Chiều đến sợ cha mẹ sốt ruột cậu bé đứng lên ra về, nhưng đi được một quãng nó chợt quay lại chạy đến bá cổ bà lão rồi hôn vào má bà lão. Cụ bà đáp trả cái hôn ấy bằng một nụ cười đẹp hơn bao giờ hết. Khi cậu bé vừa mở cửa bước vào nhà, người mẹ nhận ra ngay trên mặt nó niềm vui mà bà chưa từng thấy bao giờ. Người mẹ liền hỏi con:
  -  Hôm nay con làm gì mà vui thế ?
Nó đáp:
   - Hôm nay con đã ăn uống với Chúa.
Người mẹ ngỡ ngàng chưa biết nói gì, thì cậu bé nói tiếp:
    - Má biết không, con chưa bao giờ thấy ai có nụ cười đẹp như Chúa.
Trong khi đó với niềm vui rộn rã trong tâm hồn, cụ bà cũng ra về. Nhận ra vẻ thanh thản khác thường trên gương mặt của người mẹ, người con hỏi:
    - Hôm nay mẹ làm gì mà vui thế ?
Người đàn bà trả lời:
    - Mẹ đã ăn bánh với Chúa.
Và trước sự ngỡ ngàng của người con, bà lão nói tiếp:
    - Con biết không, Chúa trẻ hơn là mẹ nghĩ.
Lm ĐINH TẤT QUÝ
CÂU TRUYỆN3:
Nếu Chúa Giê-su đến thăm nhà bạn một cách bất ngờ, tôi tự hỏi bạn sẽ làm những gì ?
Tôi biết bạn sẽ sửa soạn căn phòng đẹp nhất dành cho vị thượng khách này. Và bạn sẽ mời Ngài dùng những thức ăn ngon nhất. Rồi bạn sẽ quả quyết là rất vui mừng vì được đón tiếp Ngài trong nhà bạn và đây là một niềm hạnh phúc không gì sánh bằng.
Nhưng thử hỏi, khi Ngài đến liệu có thấy bạn đang đứng dang tay đón Đấng từ Trời ngự xuống không ? Hay bạn phải thay trang phục, hay dấu đi vài tạp chí, rồi vội đặt cuốn Kinh Thánh vào chỗ đáng lẽ phải đặt. Bạn có tắt nhạc và hy vọng Ngài chưa nghe thấy không ?
Còn nữa, bạn có ước ao giá mà minh đừng vừa thốt ra những lời nóng nảy, to tiếng với hàng xóm không ? Bạn có cất đi những bản nhạc của trào lưu hiện đại rồi thay vào đó những bài Thánh Ca không ? Bạn có dám để cho Ngài đi thăm khắp nhà bạn không ?
Rồi tôi tự hỏi, nếu Đấng Cứu Thế ở cùng bạn một hay hai ngày thì bạn có tiếp tục làm những gì bạn thường làm, nói những gì bạn thường nói không ? Cuộc sống của bạn có tiếp diễn ngày qua ngày như trước kia chăng ? Cách nói năng giữa các thành viên trong gia đình có đổi khác chút nào không ? Bạn có thấy thật khó nói lời tạ ơn Chúa trước mỗi bữa ăn không ? Bạn có hát những bài quen thuộc và xem các sách báo hay chương trình ti-vi bạn thường xem không ? Bạn có dám nói cho Ngài biết món ăn tinh thần của bạn là gì không ?
Và bạn có đồng ý để Giê-su đồng hành đến tất cả những nơi bạn định đến hay sẽ phải cắn răng thay đổi kế hoạch của những ngày Ngài sống với bạn ? Bạn có sẵn sàng cho Ngài gặp những bạn bè thân thiết nhất của bạn không, hay bạn lại mong họ đi vắng cho đến khi cuộc viếng thăm của Chúa kết thúc ?
Bạn có sung sướng vì có Chúa ở với bạn bây giờ và mãi mãi không, hay sẽ thở phào nhẹ nhõm khi Ngài cất bước ra đi ? Thật thú vị, nếu biết bạn sẽ làm gì khi Chúa Giê-su, trong thân phận con người, Ngài đang đến cùng bạn...
MỘT BẠN TRẺ HÀ-NỘI

 

MV2-A40: Thái độ của Phêrô

Qua đoạn Tin mừng hôm nay, chúng ta cùng nhau chia sẻ về thái độ của Phêrô. Qua đoạn Tin: MV2-A40

Qua đoạn Tin mừng hôm nay, chúng ta cùng nhau chia sẻ về thái độ của Phêrô.
Như chúng ta đã thấy : trước sự hiện diện của Maisen và Elia cùng với ánh vinh quang bao phủ, Phêrô đã vui mừng hớn hở thưa lên :
- Lạy Thày, được ở đây thì tốt lắm. Nếu Thày muốn, chúng con xin làm ba lều.
Thế nhưng sau đó, cũng chính Phêrô đã lên tiếng can ngăn Chúa khi Ngài tiên báo về những khổ đau sẽ phải chịu, để rồi Ngài đã phải nặng lời quở trách :
- Hỡi Sa tan, hãy xéo đi, ngươi chỉ biết những việc thuộc về trần thế mà chẳng biết chi những việc thuộc về Thiên Chúa.
Rồi cũng chính Phêrô trong sân nhà thày cả thượng phẩm đã chối Chúa ba lần chỉ vì câu hỏi bâng quơ của một đứa nữ tỳ. Phải chăng thái độ của Phêrô cũng là thái độ của người đời như tục ngữ đã nói :
- Khi vui thì vỗ tay vào,
  Đến khi hoạn nạn thì nào thấy ai.
Đúng thế, khi chúng ta có tiền và có quyền thì cũng thường có nhiều tình. Người xưa đã từng bảo :
- Bần cư chung thị vô nhân vấn, phú tại sơn lâm hữu khách tầm. Nghèo mà ở ngay giữa phố chợ thì cũng chẳng ai thăm, còn giàu mà ở tận chỗ núi cao rừng thẳm, thì vẫn khối người tìm đến.
Hay như tục ngữ cũng nói :
- Thấy người sang bắt quàng làm họ.
Thế nhưng khi tiền hết và quyền hết thì tình  cũng thường chắp cánh bay cao :
- Hết cơm hết gạo hết ông tôi.
Không những hết tình mà đôi khi vào lúc sa cơ thất thế, những kẻ trước kia đã hàm ơn, không chừng sẽ trở mặt, phản lại chúng ta, giậu đổ bìm leo, để rồi chính chúng ta sẽ phải âm thầm và cay đắng ghi nhận :
- Thế thái nhân tình gớm chết thay,
  Nhạt như nước ốc bạc như vôi.
Hay lẩm bẩm kêu trách :
- C’est la vie, đời là thế.
Tuy nhiên chúng ta đừng vội trách người cũng như đừng vội trách đời, mà hãy trách chính bản thân chúng ta trước, bởi vì đó cũng chính là thái độ của chúng ta đối với những tha nhân và nhất là đối với Thiên Chúa.
Thực vậy, kinh nghiệm cho hay : Khi gặp được may mắn và hạnh phúc chúng ta dường như cảm thấy Thiên Chúa thật gần gũi, thật dễ thương, thế nhưng khi gặp phải những gian nguy thử thách, những đớn đau buồn phiền, chúng ta lại cảm thấy Thiên Chúa thật xa vời và độc địa như lời thơ cổ :
- Trẻ tạo hóa đành hanh chi ngán,
  Chết đuối người trên cạn mà chơi.
Rồi từ đó chúng ta bực bội tức tối và lên tiếng nguyền rủa Thiên Chúa. Nói cách khác, chúng ta chỉ  muốn bước theo Chúa lên đỉnh Taborê, chứ không muốn bước theo Chúa lên đỉnh Canvê. Chúng ta chỉ muốn cắm lều trong vinh quang, chứ không muốn đóng đinh mình vào thập giá. Chúng ta đã nhìn đau khổ qua cặp kính màu đen tuyệt vọng, chúng ta kéo lê thập giá chứ không vui vẻ vác lấy và coi thập giá như phương tiện cứu độ.
Tuy nhiên, chúng ta phải nhớ rằng :
- Đỉnh Can vê mới chính là nơi để Chúa Giêsu chu toàn sứ mạng cứu độ của mình, mới chính là nơi để Ngài gieo mầm phục sinh cho nhân loại.
Là môn đệ của Chúa chúng ta không có một con đường nào khác ngoài con đường thập giá, như lời Ngài đã nói :
- Ai muốn theo ta, phải từ bỏ mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo ta.
Chúng ta không dừng lại tại thập giá và khổ đau, nhưng cùng với Đức Kitô tiến vào vinh quang và phục sinh. Vì thế, mặc dù vai vác thập giá nhưng mắt chúng ta vẫn luôn hướng tới trời cao. Trời cao, sự sống và hạnh phúc phải là điểm kết thúc cho con đường thập giá. Những hy sinh chúng ta gặp phải sẽ kết thành cây thập giá đời thường, nếu chúng ta trung thành vác lấy, cây thập giá đời thường ấy sẽ là con đường dẫn chúng ta tới vinh quang phục sinh.

 

MV2-A41. CÕI PHÚC - CS/37

Trong cuộc đời này, có nhiều người đã đi tìm cái chết cho mình. Trong ấy có những người: MV2-A41

Trong cuộc đời này, có nhiều người đã đi tìm cái chết cho mình. Trong số ấy có những người giàu sang quyền quí, và cũng có những người nghèo khổ bần cùng. Người giàu sang quyền quí sau khi hưởng thụ mọi thú vui của cõi đời, đã chỉ thấy một sự trống rỗng trong tâm hồn, một sự vô vị của cuộc sống nên tìm đến cái chết như muốn nói lên rằng họ tuyệt vọng về cuộc đời. Những người nghèo khổ bần cùng suốt đời phải làm thân trâu ngựa. Họ không đủ sức chịu đựng những nhọc nhằn, những tủi nhục của kiếp tôi mọi nên cũng đã tìm đến cái chết như tìm một sự giải thoát cho cuộc đời. Dù chết trong hoàn cảnh nào thì cả người giàu lẫn người nghèo kể trên đều có một lý do chung và lý do mạnh nhất đã đẩy đưa họ tới chỗ chào thua cuộc đời. Lý do đó là vì họ “Sống mà không có lý tưởng để vươn tới, không có niềm tin vào ngày mai ở bên kia cuộc đời”. Đối với họ, đời người chỉ thu gọn lại trong những tháng năm của cuộc sống này và chết là hết, không còn gì.
Nhưng người Kitô hữu không thể nghĩ thế. Người Kitô hữu biết rằng mình có một cõi phúc để đi về sau khi cuộc đời này chấm dứt. Cõi phúc ấy được báo trước qua cuộc biến hình đầy vinh quang huy hoàng của Chúa Giêsu. Cõi phúc ấy đã làm cho ba đệ của Chúa Giêsu ngây ngất đến độ ông Phêrô đã phải thốt lên rằng : “Thầy ơi, chúng con được ở đây htì sướng lắm”. Những chưa được. Cõi phúc ấy nằm ở cuối cuộc hành trình đời người, và các tông đồ cũng như mỗi người chúng ta chỉ có thể đi vào cõi phúc ấy sau khi đã đi hết lộ trình cuộc đời của mình. Khổ một nỗi hành trình cuộc đời của người Kitô hữu không phải là xa lộ thênh thang, bằng phẳng, nhưng lại là một con đường khúc khuỷu, quanh co, đầy chông gai sỏi đá. Nó giống như con đường lên núi Sọ của Chúa Giêsu. Và vì thế mà nhiều người, trong đó có cả chúng ta đã không dám bước vào. Thành công nào trong đời cũng có cái giá phải trả. Chúa Giêsu chỉ có thể bước vào vinh quang của ngày Phục Sinh sau khi đã đi vượt qua con đường đau khổ, con đường thập giá. Người đã can đảm vượt qua được con đường ấy và đã đi vào cõi phúc. Người mời gọi và chờ đợi chúng ta cùng đi vào cõi phúc ấy với Người : “Ai muốn theo tôi, hãy bỏ mình, vác thấp giá mình hằng ngày mà theo tôi”. Không có con đường thứ hai, không có con đường tắt nào khác dẫn tới cõi phúc ngoài con đường Chúa Giêsu đã đi. Bước sang năm mới có lẽ ai trong chúng ta cũng có một kế hoạch làm ăn, và chúng ta có thể mường tượng ra những thành công sẽ đến. Những thành công ấy sẽ là động lực thúc đẩy chúng ta làm việc, chấp nhận mưa nắng dãi dầu, chấp nhận thức khuya dậy sớm v.v… Đạt được cõi phúc trường sinh chính là một thành công lớn nhất và chugn cuộc của đời sống con người, nhưng chẳng biết nó có đủ hấp dẫn để lôi kéo ta, để giúp ta chấp nhận những hy sinh, từ bỏ, chấp nhận lấy những thập giá trong đời sống mình hay không ? Nếu không thì quả là đáng tiếc.

 

MV2-A42. VINH QUANG - STM/71

Thầy Lazarô Phiền là truyện ngắn được một tác giả Công giáo, ông Nguyện : Trọng Quảng MV2-A42

Thầy Lazarô Phiền là truyện ngắn được một tác giả Công giáo, ông Nguyện Trọng Quảng sáng tác vào năm 1887 và được xem là chuyện ngắn đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam.
Tên của nhân vật có thể gợi lên cả cuộc đời của vị tu sĩ này là một chuỗi những ngày khổ đau, những phiềm muộn. Mẹ ông qua đời vì bệnh dịch tả năm ông mới được qua tuổi. Năm ông lên mười hai tuổi, cùng với ba trăm tín hữu Công giáo khác, cha ông đã bị Văn Thân thiêu sống trong ngục, tay chân bị phỏng nặng nhưng cậu bé đã cố lết ra ngoài và được cứu thoát. Một sĩ quan Pháp thương tình đưa ông lên Sài Gòn và giới thiệu cho một gia đình Việt Nam giàu có. Cùng với người con trai trong gia đình này, Lazarô Phiền đã được cho ăn học đến nơi đến chốn, sau khi được thành tài, được bổ nhiệm đi làm thông ngôn, hai người thương nhau như là anh em ruột thịt. Tình nghĩa giữa hai người bạn lại càng thắm thiết hơn là chính gia đình của người bạn này đã đứng ra lo chuyện gia đình cho Lazarô Phiền, những niềm vui của cuộc sống hôn nhân không được trọn vẹn, bởi vì có một người đàn bà khác vì yêu Thầy mà không được đáp trả cho nên đã tìm cách hãm hại Thầy.
Qua hai lá thư giả mạo của người đàn bà này, Lazarô Phiển nghi ngờ người vợ của mình có tư tình với người bạn thân của mình, cho nên không làm chủ được cơn ghen, ông đã lập mưu giết người bạn và dùng thuốc độc để sát hại vợ mình. Hai cuộc mưu sát đã được tính toán một cách tài tình, cho nên kẻ sát nhân đã tránh được lưới của pháp luật. Thế nhưng về phần mình thì Lazarô Phiền ngày đêm bị tòa án của lương tâm cắn rứt. Cuối cùng ông xin vào tu trong một Tu Viện ở Sài Gòn. Sau sáu năm tu luyện, Lazarô Phiền được thực sự trở thành một Tu sĩ, mọi người trong tu viện đều thầm khâm phục sự thánh thiện của Thầy, nhưng riêgn Thầy vì không bao giờ xưng thú hành động sát nhân của mình, cho nên đêm này cũng không bao giờ được sự bình an trong tâm hồn. Phải cho đến lúc lâm bệnh nặng và ngày trước khi qua đời, Thầy mới xin phép nhà Dòng cho về thăm quê hương ở Bà Rịa, tìm đến vị linh mục Chánh Xứ để xưng tội. Chỉ sau khi cảm nhận được ơn tha thứ của Chúa, Thầy mới nhắm mắt lìa đời và ra đi trong bình an.
Câu chuyện trên đây có thể mang lại cho chúng ta một ánh sáng để nắm bắt được bài học của việc Chúa Giêsu biến hình trên núi Tabore mà hôm nay Giáo Hội cho chúng ta lắng nghe. Có trải qua đau khổ và sự chết mới được vào vinh quang phục sinh, đó là bài học mà Chúa Giêsu muốn dạy cho ba người môn đệ thân tín khi cho các ông chứng kiến vinh quang của Ngài trên núi. Thế nhưng cùng với bài học này, Chúa Giêsu cũng muốn bày tỏ một chân lý khác, đó là con người chỉ có thể tìm thấy hạnh phúc và bình an đích thực khi sống thực trọn vẹn về Thiên Chúa mà thôi.
“Đây là Con Ta yêu dấu, đẹp lòng Ta, còn ngươi hãy nghe Lời Người”. Chúa Giêsu rất đẹp lòng Chúa Cha, bởi vì Ngài đã vâng phục Chúa Cha, cho nên đã đón nhận cuộc sống cùng tất cả những hệ lụy của cuộc sống là đau khổ và cuối cùng là cái chết trên thập giá. Bí quyết của Chúa Giêsu chính là sống cho Chúa Cha, sống thuộc trọn về Chúa Cha, sống vâng phục Thiên Chúa Cha qua cuộc sống vâng phục và vâng phục cho đến chết.
Chúa Giêsu đã vạch ra cho nhân loại bí quyết của hạnh phúc và bình an đích thực khi sống và thuộc trọn về Thiên Chúa mà thôi. Đây là chân lý nền tảng cả cuộc sống mà Giáo Hội muốn mời gọi chúng ta đào sâu mỗi khi chúng ta trở lại với Mùa Cha. Cầu nguyện, ăn chay, hãm mình, thực thi bác ái, những thực hành này không nhằm một mục đích nào khác hơn là nhắc nhở chúng ta rằng, cùng đích của cuộc sống không là cuộc đời tạm bợ này nhưng là sự sống vĩnh cửu, nhờ sự kết hiệp với Chúa chúng ta đã có thể cảm nghiệm được ngay từ trần gian này.
Kinh nghiệm hàng ngày không ngừng nói với chúng ta rằng, tiền của, quyền bính, danh vọng, lạch thú, không bao giờ mang lại hạnh phúc đích thực cho con người. Có tất cả mọi sự nhưng thiếu vắng Thiên Chúa trong tâm hồn thì con người không bao giờ có được hạnh phúc và bình an đích thực trong tâm hồn. Trái lại, khi sống cho Chúa, sẵn sàng như Tổ phụ Abraham, từ bỏ mọi ràng buộc để được sống trọn cho Chúa thì con người mới thực sự sống sung mãn và tìm được bình an trong cuộc sống.
Mùa chay chúng ta được Giáo Hội mời gọi để duyệt xét sự chọn lựa căn bản của chúng ta, trong khi mưu tìm cuộc sống chúng ta có đặt Chúa vào trọng tâm của cuộc sông hay không ? Chúng ta có sẵn sàng từ bỏ tất cả những gì làm cho chúng ta xa lìa Chúa không ? Chúng ta chỉ thực sự hạnh phúc và an vui nếu chúng ta trả lời một cách khẳng định cho những câu hỏi nền tảng ấy.

 

MV2-A43. THẬP GIÁ - CSTM/68

Anh chị em có biết tại sao khi nghe hai chữ thập giá, chúng ta không thấy sởn gai ốc, và có: MV2-A43

Anh chị em có biết tại sao khi nghe hai chữ thập giá, chúng ta không thấy sởn gai ốc, và có khi còn dửng dưng nữa, trong khi các môn đệ Chúa Giêsu nghe nói đến thập giá thì nổi da gà, và ông Phêrô run rẩy can ngăn Chúa đừng đi tới đó? Có lẽ vì chúng ta chỉ nhìn thấy những cây thập giá bằng vàng, bằng bạc, bằng đồng, bằng gỗ quí nhẵn bóng hay bằng xi măng tô đá rửa, đá mài, nên hình ảnh mà hai chữ thập giá gợi lên trong chúng ta không có gì đáng sợ. Còn các môn đệ Chúa thì trái lại, các ông chưa bao giờ thấy những cây thập giá bằng vàng, bằng bạc… và hai chữ này không chỉ gợi lên một cây khổ giá trần trụi, mà gợi lên hình ảnh một con người quằn quại, tuyệt vọng trong đau đớn và nhục nhã ê chề, lơ lửng giữa trời và đất, giữa sống và chết, trước những cái nhìn thù ghét và khinh bỉ, trước những con mắt tò mò và dửng dưng. Chính vì thế mà các tông đồ rùng mình sợ hãi khi Chúa Giêsu nói đến thập giá.
Nhưng Chúa Giêsu không phải là ông thầy dễ dãi hay nhu nhược. Chúa vẫn nói thẳng, nói thật và Chúa đòi ai theo Chúa phải nhìn thẳng vào thập giá và chấp nhận nó: “Ai muốn theo Thầy, hãy bỏ mình đi, vác thập giá của mình hằng ngày mà đi đằng sau Thầy”. Ông Phêrô vừa thay mặt anh em tuyên xưng Ngài là Đức Kitô, Con Thiên Chúa, thì Ngài lại nói đến thập giá. Thập giá Chúa nói ở đây như mặt sau của tấm huân chương. Rồi sau đó Chúa lại đưa ba môn đệ thân tín lên núi, cho các ông thấy vinh quang  chói lòa của Ngài và sự có mặt làm chứng của Môi-sê và Êlia : một vị đã được Chúa dùng để giao ước Sinai, còn vị kia thì được Chúa trao nhiệm vụ tái lập giao ước Sinai.
Chúng ta có thể đảo lại thế này : sau khi chỉ cho các môn đệ thấy cây thập giá làm cho các ông run sợ, Chúa Giêsu lật cho các ông thấy đằng sau cây thập giá có gì. Cũng vậy, sau này, trên đường Emmau, chúng ta thấy Chúa quở trách hai môn đệ thất vọng bỏ đi, vì các ông chỉ thấy mặt trước mà không thấy mặt sau của cây thập giá: “Chẳng phải là Đức Kitô phải chịu đau khổ để vào trong vinh quang của Ngài sao?”.
Nếu ôm lấy cây thập giá và thỏa mãn với nó thì đúng là một kẻ điên khùng hoặc bệnh hoạn. Không, Chúa Giêsu không kêu gọi chúng ta trở nên điên khùng, bệnh hoạn. Chúa đã nhận lấy thập giá như đường tới vinh quang. Đàng sau thập giá là vinh quang mà chỉ có đức tin mới cho chúng ta thấy được. Chúa không gọi chúng ta vác thập giá đi một mình, nhưng là đi theo sau Chúa, vì chỉ có đi theo Chúa, chúng ta mới tới được vinh quang ở phía sau cây thập giá.
Cuộc sống có những lúc êm đềm thanh thản, có những ngày tưng bừng hoa lá, nhưng cũng lắm khi cảm thấy tất cả nỗi ê chề của cây thập giá sù sì và những lời độc địa, chát chúa của khách qua đường. Chúng ta cảm thấy nỗi cô đơn của kẻ bị treo lơ lửng giữa trời và đất. Chúng ta khát khô cổ muốn có một lời an ủi, một chút cảm thông, nhưng quanh chúng ta chỉ có thờ ơ và thinh lặng, hoặc tệ hơn nữa, chỉ có phỉ báng và xua đuổi. Những lúc ấy chúng ta mới cảm thấy tất cả sự rùng rợn của cây thập giá. Có khi chúng ta cảm thấy chán nản muốn buông xuôi tất cả. Chúng ta cảm thấy như Chúa Giêsu đã cảm thấy và phải kêu lên: “Lạy Chúa, nhân sao Chúa bỏ con…”.
Những lúc ấy chúng ta phải vận dụng sức mạnh của lòng tin, hết ánh sáng đức tin, để thấy được đằng sau cây thập giá. Chúng ta hãy nhìn thẳng vào Đấng đang vác thập giá đi đằng trước chúng ta, chớ rời mắt xa Ngài. Nhưng chúng ta đừng chờ tới lúc đó mới nhìn vào Ngài. Chúng ta phải giữ tầm nhìn luôn hướng về Ngài trong mọi nơi, mọi lúc, mọi việc. Chúng ta hãy làm tất cả với Ngài, vì Ngài và trong Ngài. Nếu chúng ta biết sống với Ngài trong niềm vui, chúng ta cũng biết sống với Ngài trong nỗi buồn. Nếu chúng ta biết sống trong Ngài khi hạnh phúc, chúng ta cũng biết sống trong Ngài lúc đau khổ. Nếu chúng ta biết sống với Ngài trong ngày hội, chúng ta cũng biết sống với Ngài giữa cô đơn. Nếu chúng ta biết sống trong Ngài lúc đầy tiền của, chúng ta cũng biết sống trong Ngài khi trắng tay…
Điều chúng ta cần ghi nhớ là chúng ta đừng mang thập giá một mình. Chúng ta sẽ không bước nổi đâu, và nếu chúng ta có đem tất cả sự kiêu hãnh của con cái Ađam mà lết đi được thì cũng chẳng ích lợi gì, cây thập giá của chúng ta chỉ là cây gỗ chết mà thôi. Bởi vì cây thập giá chỉ trở nên xanh tươi và đầy hoa trái khi nó mang con Thiên Chúa, nguồn mạch sự sống: “Nếu chúng ta cùng chết với Ngài, chúng ta sẽ sống với Ngài”.
Như vậy, Chúa Giêsu hiển dung là để củng cố đức tin của các môn đệ. Bởi vì Chúa thấy các môn đệ quá sợ các đau khổ, không chấp nhận cuộc khổ nạn của Ngài, nên Chúa đã hé mở vinh quang của Nước Thiên Chúa cho các ông thấy để đem lại cho các ông một niềm tin và một hy vọng vào ngày mai. Do đó, việc Chúa hiển dung cũng dạy bảo cho các môn đệ biết : phải trải qua đau khổ rồi mới vào vinh quang. Chính Thầy của các ông là Con Thiên Chúa, mà còn phải chịu đau khổ mới bước đến vinh quang thì các ông cũng phải đi theo con đường đó : không thể đến cõi hằng sống mà không phải qua đau khổ, thử thách.
Sống ở đời, không ai trong chúng ta tránh được những đau khổ chúng ta gọi là những thánh giá mà Chúa muốn chúng ta vác. Dù trong bậc nào vẫn phải vác thánh giá của mình. Ngay chính lúc này, mỗi người chúng ta đều cảm thấy những lo âu, những buồn phiền, những khổ đau… Tất cả đều là thánh giá. Nếu biết vác cho nên, với một thái độ khiêm ngường, với lòng cậy tin, thì Chúa sẽ ở bên chúng ta, và sẽ thưởng công cho chúng ta. Những công phúc tuy vô hình, chúng ta không trông thấy, nhưng chúng sẽ là những hạt men, những hạt giống sẽ nở ra trong đời sau và trong thế hệ con cháu chúng ta.

 

MV2-A44. PHIÊU LƯU - SCĐ/102

Muốn đi theo tiếng Chúa gọi, Abraham đã phải bỏ quê hương và những người thân. Muốn: MV2-A44

Muốn đi theo tiếng Chúa gọi, Abraham đã phải bỏ quê hương và những người thân. Muốn đi theo Chúa, các môn đệ phải từ bỏ mình và vác thập giá hằng ngày. Để loan báo Tin mừng, các tông đồ đã phải chịu biết bao gian khổ.
Họ đã bỏ rất nhiều. Bù lại họ được gì? Abraham nhận được lời Chúa hứa ban cho một dòng dõi đông đảo, các môn đệ được Đức Giêsu cho thoáng thấy vinh quang ở cuối cuộc hành trình, và người tông đồ được hứa “tên các con được ghi trong sổ trời”. Tin theo những lời hứa về một tương lai xa vời như thế đúng là phiêu lưu. Thông thường, người khôn ngoan không nên phiêu lưu, thà giữ lấy cái hiện tại tuy bình thường nhưng chắc chắn, còn hơn bỏ nó để theo đuổi một tương lai chỉ mới có trong lời hứa. Nhưng đó là lối cư xử giữa loài người với nhau vì loài người thì rất khó tin. Nhưng đối với Thiên Chúa thì rất đáng phiêu lưu như vậy, vì đã có nhiều bằng chứng cho thấy lòng trung tín thực hiện lời hứa của Ngài. Hơn nữa, Ngài có kêu gọi chúng ta từ bỏ để phiêu lưu theo Ngài cũng chỉ vì Ngài muốn đưa chúng ta trở về hạnh phúc thuở ban đầu mà thôi. Thực ra phiêu lưu theo Chúa không phải là phiêu lưu, chỉ cần có đức tin vào lòng trung tín của Chúa là có bảo đảm.
Rất nhiều người đã dám phiêu lưu như vậy : Abraham (2 lần : bỏ quê hương, giết con một). Đức Maria (khi thưa vâng lời Thiên thần), các môn đệ (lập tức bỏ thuyền, bỏ lưới và gia đình để theo Đức Giêsu”.
- Tại sao? Vì đạo là đường, con đường Thiên Chúa dẫn dắt để chúng ta từ tối tăm tới ánh sáng, từ cõi chết đến cõi sống. Trong Thánh kinh, mỗi lần Chúa gọi ai thì Ngài đều bảo họ lên đường đi theo Ngài.
- Mà muốn lên đường thì phải từ bỏ, vì hành trang càng gọn nhẹ thì bước hành trình càng nhanh. Thiên Chúa đã bảo với Abraham: “Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi”.
- Hành trình đức tin luôn bao hàm ý nghĩa phiêu  lưu : Abraham hành trình lên đường nhưng không biết mình sẽ đi tới đâu, ông chỉ biết mình đang đi theo sự hướng dẫn của Thiên Chúa: “Đến đất mà Ta sẽ chỉ cho ngươi”.
Rất nhiều tín hữu chỉ lo gìn giữ những tín điều giáo lý và các lễ nghi. Đó chỉ là giữ đạo chứ không phải sống đạo.
Hình ảnh con rùa : nếu nó cứ rụt đầu rút chân vào vỏ thì xem ra an toàn đấy nhưng nó cứ mãi ở lì một chỗ, không bao giờ tiến đến đâu cả. Chỉ khi nào nó dám thò đầu thò chân ra để bước, thì tuy có thể gặp nguy hiểm đấy, có thể bị đau đấy, nhưng có thế nó mới tiến được.

 

MV2-A45. BIẾN HÌNH SÁNG LÁNG - Lm. VIKINI

Đức Giêsu biến hình trên núi, truyền thống tin đó là núi Tabor, cách Nazaret độ 9 cây số: MV2-A45

Đức Giêsu biến hình trên núi, truyền thống tin đó là núi Tabor, cách Nazaret độ 9 cây số, nằm trên biên giới ba chi tộc : Issachar, Zabulon và Nephtali. Họ coi Tabor là núi thánh và thường lên đó để tế thần.
Đức Giêsu dẫn các môn đệ lên đó không phải để tế thần hay cắm trại như các hướng đạo sinh. Người lên đó để cho các môn đệ thấy rõ chỉ có Người là Thiên Chúa tối cao, không còn thần linh nào khác.
Trong cảnh trời cao lồng lộng, mây xanh thăm thẳm, Người trầm tư cầu nguyện với Chúa Cha trong tình thân mật thắm thiết. Bỗng toàn thân Người sáng chói rực rỡ, các môn đệ vô cùng kinh ngạc : Họ không thể ngờ được rằng hằng ngày Thầy đi với mình, sống với mình, ăn uống thanh đạm, quần áo thô sơ như mình, lao động cực khổ như mình, sao bây giờ Thầy sáng láng lạ lùng như thế. Hơn nữa, cả Môsê và Elia đến hầu chuyện Thầy. Môsê đã sống cách các ông hơn 1.200 năm, một bậc vĩ nhân của Thiên Chúa đã lãnh đạo giải phóng dân Chúa thoát ách nô lệ Ai cập suốt hơn 500 năm để về đất Hứa. Elia, một đại tiên tri sống trước Phêrô hơn 800 năm, đã giải phóng dân tộc khỏi ách tà thần Baal. Nếu bây giờ dân chúng được thấy Môsê như các ông, họ sẽ ngạc nhiên sung gướng vô cùng, vì các trang sử vẻ vang nhất của dân tộc đã tôn vinh các ngài là đại ân nhân của họ, là đại thánh của Thiên Chúa, là hình bóng Đấng Cứu thế. Đang triền miên say đắm trong cảnh thiên đường đó, tự nhiên Phêrô thốt lên như đứa trẻ : “Lậy Thầy chúng con ơ đây sướng lắm, con xin làm ba lều, Thầy một lều, Môsê một, Elia một”. Mơ ước của Phêrô là ước mơ của mọi người trần mắt thịt, làm sao dám cả gan đòi sớm hưởng thiên đường ? Một tiếng nói từ trời đáp lại: “Đây là Con Ta yêu dấu, rất đẹp lòng Ta, các ngươi hãy vâng lời Người”. Nghe thế các ông đã lăn ra chết ngất. Xác phàm thấp hèn yếu đuối chưa có thể chịu đựng nổi hào quang rực rỡ nơi thiên tính của Chúa Giêsu. Họ phải thay da đổi thịt, phải chết đi, mặc lấy con người mới, họ mới xứng đáng hưởng ánh sáng huy hoàng của Đức Giêsu sẽ làm cho họ biến hình rực rỡ mãi mãi.
Muốn đổi mới chỉ có cách duy nhất là “Hãy nghe lời Người”. Abraham dã nghe lời Người bằng mọi giá để biến hình từ kẻ dân ngoại đã trở thành tổ phụ dân Chúa. Môsê đã nghe lời Người, dù là kẻ chạy trốn Pharaon, đã biến hình thành kẻ lãnh đạo, trở lại đòi Pharaon phải thả dân ra cho đi về quê hương. Elia đã nghe lời Người trở thành tiên tri, giải thoát dân khỏi bàn tay man rợ của nữ hoàng thờ thần Baal. Đến lượt Phêrô, Giacôbê, Gioan dù là dân chài, đã biết nghe lời Người, được biến hình thành những tông đồ vĩ đại. Phaolô, kẻ bắt đạo, đã biết nghe lời Người, đã biến hình thành tông đồ cho muôn dân.
Những con người xác phàm đó, đã được biến hình rực rỡ muôn thuở, đang kêu gọi chúng ta, với bất cứ giá nào, dù phải gặp gian nan đau khổ, hãy nghe lời Người, chúng ta mới được biến hình trong vinh quang đời đời.
Lạy Chúa, “ở đây thì sướng lắm”, nhưng muốn được hạnh phúc muôn thuở đó tiên vàn Con Người phải qua đau khổ thì mới tới vinh quang”. Đó là luật ngàn đời cho bất cứ ai muốn được vinh quang chân chính.

 

MV2-A46. Xin cho con biết lắng nghe

(Lm. Bùi Quang Tuấn)
“Tiếng của người hô trong sa mạc: Hãy dọn đường Chúa, hãy bạt lối Người đi” (Mt 3:3)
 

Tại sao tiếng hô lại được cất lên trong sa mạc mà không phải là thành thị, phố xá hay phòng trà, MV2-A46

Tại sao tiếng hô lại được cất lên trong sa mạc mà không phải là thành thị, phố xá hay phòng trà, chợ búa, nơi người ta đang quây quần đông đúc hay vui chơi tội lỗi? Tiếng hô phải được cất lên chính những nơi này mới có người nghe, mới mong có kẻ hồi đầu qui chánh, sửa đường bạt lối, làm nên nẻo chính đường ngay cho Đấng Thiên Sai chứ.
Gioan sống trong sa mạc. Tiếng hô của ông vang lên giữa vùng hoang vắng.
Không biết chốn trời không mông quạnh thế kia thì tiếng hô được mấy ai chú ý. Tiếng hô vang. Vang lên mãi. Nhưng trong nơi trống vắng thì ai nghe cho!
Phải chăng Gioan đã hô lên cho chính mình? Nếu thế thì lời kêu gọi “Hãy dọn đường Chúa, hãy bạt lối Người đi” trước tiên phải là lời nói với chính mình.
Nhờ biết hô với chính mình trước hết nên Gioan đã có sức lôi kéo từng đoàn người từ khắp xứ Giuđê đến với ngài, để nghe tiếng ngài hô, và chịu làm theo lời răn dạy. Nhờ hô với chính mình mà tiếng hô đã vang đến tận khắp các vùng Giêrusalem, xâm nhập tới cõi lòng của bao kẻ sa đoạ khô khan.
Không phải chỉ sau khi nghe tiếng hô của Gioan mới bắt đầu có người ăn ăn hối cải, chịu thanh tẩy để dọn đường cho Chúa đến. Đúng hơn, từ hoang vắng của sa mạc và trong nơi tịch liêu của cõi lòng, Gioan đã nghe tiếng hô “hãy dọn đường cho Chúa đến” phát ra. Lời đó vang đi dội lại trong lòng ông, thúc bách ông nối dài tiếng hô bằng cách ra đi “dọn lòng người cho Chúa đến.”
Cho nên, Gioan chính là người đã dọn đường lòng mình trước nhất. Vì biết lắng nghe những điều mình hô nên tiếng hô của mình có người đáp lại. Sự lắng nghe không chỉ bằng thính giác, nhưng còn bằng tâm hồn. Và từ tâm hồn mới phát sinh những thái độ sống. Một đứa trẻ “biết nghe” không cứ phải là một đứa trẻ có thính giác tốt, song là một đứa trẻ biết ghi tâm lời nói của bố mẹ, thầy cô, và thực thi.
Những gì phát xuất từ con tim cũng đều mang sắc thái của tình yêu và sự sống.
Thế ra, không biết lắng nghe bằng con tim thì con tim sẽ không thể cất lời. Và nếu lời cất lên không phát xuất từ con tim, lời đó sẽ chẳng mang hiệu quả gì. Thomas Merton đã từng nhận xét:
“Nếu đời ta cứ phun ra những lời vô ích
Chẳng bao giờ ta nghe được bất cứ điều gì,
Chẳng bao giờ ta trở nên bất cứ điều gì,
Chẳng bao giờ ta trở nên bất cứ cái gì.
Thế rồi,
Vì cứ nói mãi trước khi có cái gì để nói,
Ta trở thành người không biết nói.”
Không biết nói hoặc nói điều vô ích mà cứ bắt người khác lắng nghe thì chỉ tạo nên những cực hình, phản kháng.
Nhiều gia đình bất an, nhiều cộng đoàn bất thuận, nhiều quốc gia bất hoà chỉ vì có kẻ không biết nói. Nguyên do là thiếu lắng nghe, sự lắng nghe của tâm hồn. Tâm hồn không nghe được vì còn ngổn ngang đây đó nhiều chướng ngại của tự ái, ích kỷ, kiêu căng, tự mãn...
Lắm khi ta than thở: Chúa không chịu nghe tiếng tôi. Nhưng thử hỏi: Chúa không nghe tiếng tôi hay vì tôi không nghe được tiếng Ngài? Rồi khi nghe được tiếng Chúa, liệu tôi có chấp nhận để tiếng ấy nhồi nắn biến đổi đời mình chăng?
Nhiều lúc tôi buồn vì người ta không chịu nghe điều tôi muốn nói. Nhưng thử hỏi: họ không nghe tiếng lòng của họ? Mà nghe tiếng lòng người khác sao được khi chính tôi lại bịt tai tâm hồn? Âm thanh của lời tôi nói sẽ chẳng truyền lan nếu nó không phải là Lời đã vang dội lại trong sa mạc lòng mình.
Có nghe được tiếng nói nơi lòng mình mới mong đổi được đời mình. Có đổi được đời mình mới làm thẳng đường cho Chúa đến. Chúa đến trong đời tôi để rồi qua tôi Ngài đến với người khác.
“Hãy dọn đường Chúa, hãy bạt lối Người đi.” Tôi muốn hô vang lời ấy cho mọi người nghe. Nhưng trước hết, tôi bắt chước thánh Gioan, đi vào sa mạc cuộc đời, tức là bước vào nơi thanh vắng và tĩnh lặng của nguyện cầu, nơi đó tâm hồn tôi sẽ nghe được tiếng nói của trời cao. Tiếng ấy sẽ dần dần lớn mạnh, cho đến khi oà vỡ và tuôn chảy đến muôn tâm hồn.
Phải chăng đó chính là thái độ sống mà Tin Mừng mùa Vọng năm nay muốn tôi mặc lấy.

 

MV2-A47. HOA QUẢ CỦA LÒNG SÁM HỐI!

 [CHÚA NHẬT II MÙA VỌNG NĂM A (09.12.2007)]
I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ
 

Mùa Vọng là thời gian chuẩn bị đón rước Chúa cũng có nghĩa là thời gian Sám Hối hay nói rõ MV2-A47

Mùa Vọng là thời gian chuẩn bị đón rước Chúa cũng có nghĩa là thời gian Sám Hối hay nói rõ hơn là Mùa Sinh Hoa Kết Quả chứng tỏ Lòng Sám Hối. Vì chưng trong tương quan với Thiên Chúa, thì dân Ít-ra-en thời I-sai-a cũng như thời Gio-an Tẩy Giả và thời Thánh Phao-lô bao giờ cũng ở trong tình trạng thiếu sót, lỗi phạm và bất trung. Còn chúng ta là các Ki-tô hữu của thế kỷ XXI, chúng ta có khá hơn hay cũng giống như họ?  Chúng ta có cần phải chứng tỏ lòng Sám Hối bằng Hoa Quả đẹp lòng Chúa không? Mỗi người hãy đặt mình trước mặt Chúa và hãy chăm chú lắng nghe Lời Người để biết mình phải làm gì?
II. NGHE/ĐỌC LỜI CHÚA
2.1 Bài đọc 1: Is 11,1-10: Vị minh quân dòng dõi vua Đa-vít
                  1 Từ gốc tổ Gie-sê, sẽ đâm ra một nhánh nhỏ, từ cội rễ ấy, sẽ mọc lên một mầm non. 2 Thần khí ĐỨC CHÚA sẽ ngự trên vị này: thần khí khôn ngoan và minh mẫn, thần khí mưu lược và dũng mãnh, thần khí hiểu biết và kính sợ ĐỨC CHÚA. 3 Lòng kính sợ ĐỨC CHÚA làm cho Người hứng thú, Người sẽ không xét xử theo dáng vẻ bên ngoài, cũng không phán quyết theo lời kẻ khác nói, 4 nhưng xét xử công minh cho người thấp cổ bé miệng, và phán quyết vô tư bênh kẻ nghèo trong xứ sở. Lời Người nói là cây roi đánh vào xứ sở, hơi miệng thở ra giết chết kẻ gian tà. 5 Đai thắt ngang lưng là đức công chính, giải buộc bên sườn là đức tín thành. 6 Bấy giờ sói sẽ ở với chiên con, beo nằm bên dê nhỏ. Bò tơ và sư tử non được nuôi chung với nhau, một cậu bé sẽ chăn dắt chúng. 7 Bò cái kết thân cùng gấu cái, con của chúng nằm chung một chỗ, sư tử cũng ăn rơm như bò. 8 Bé thơ còn đang bú giỡn chơi bên hang rắn lục, trẻ thơ vừa cai sữa thọc tay vào ổ rắn hổ mang. 9 Sẽ không còn ai tác hại và tàn phá trên khắp núi thánh của Ta, vì sự hiểu biết ĐỨC CHÚA sẽ tràn ngập đất này, cũng như nước lấp đầy lòng biển. 10 Đến ngày đó, cội rễ Gie-sê sẽ đứng lên làm cờ hiệu cho các dân. Các dân tộc sẽ tìm kiếm Người, và nơi Người ngự sẽ rực rỡ vinh quang.
2.2 Bài đọc 2: Rm 15, 4-9: Thiên Chúa trung thành với lời hứa và biểu lộ lòng thương xót. 
                4 Quả thế, mọi lời xưa đã chép trong Kinh Thánh, đều được chép để dạy dỗ chúng ta. Những lời ấy làm cho chúng ta nên kiên nhẫn, và an ủi chúng ta, để nhờ đó chúng ta vững lòng trông cậy. 5 Xin Thiên Chúa là nguồn kiên nhẫn và an ủi, làm cho anh em được đồng tâm nhất trí với nhau, như Đức Ki-tô Giê-su đòi hỏi. 6 Nhờ đó, anh em sẽ có thể hiệp ý đồng thanh mà tôn vinh Thiên Chúa, là Thân Phụ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta.  7 Vậy, anh em hãy đón nhận nhau, như Đức Ki-tô đã đón nhận anh em, để làm rạng danh Thiên Chúa. 8 Thật vậy, tôi xin quả quyết: Đức Ki-tô có đến phục vụ những người được cắt bì, để thực hiện những gì Thiên Chúa đã hứa với tổ tiên họ, đó là do lòng trung thành của Thiên Chúa. 9 Còn các dân ngoại có được tôn vinh Thiên Chúa, thì đó là do lòng thương xót của Người, như có lời chép: Vì thế giữa muôn dân con cất lời cảm tạ, dâng điệu hát cung đàn ca mừng danh thánh Chúa.
2.3 Bài Tin Mừng: Mt 3,1-12: Ông Gio-an Tẩy Giả rao giảng
                1 Hồi ấy, ông Gio-an Tẩy Giả đến rao giảng trong hoang địa miền Giu-đê rằng: 2 "Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần."
           7 Thấy nhiều người thuộc phái Pha-ri-sêu và phái Xa-đốc đến chịu phép rửa, ông nói với họ rằng: "Nòi rắn độc kia, ai đã chỉ cho các anh cách trốn cơn thịnh nộ của Thiên Chúa sắp giáng xuống vậy? 8 Các anh hãy sinh hoa quả để chứng tỏ lòng sám hối. 9 Đừng tưởng có thể bảo mình rằng: "Chúng ta đã có tổ phụ Áp-ra-ham." Vì, tôi nói cho các anh hay, Thiên Chúa có thể làm cho những hòn đá này trở nên con cháu ông Áp-ra-ham. 10 Cái rìu đã đặt sát gốc cây: bất cứ cây nào không sinh quả tốt đều bị chặt đi và quăng vào lửa. 11 Tôi, tôi làm phép rửa cho các anh trong nước để giục lòng các anh sám hối. Còn Đấng đến sau tôi thì quyền thế hơn tôi, tôi không đáng xách dép cho Người. Người sẽ làm phép rửa cho các anh trong Thánh Thần và lửa. 12 Tay Người cầm nia, Người sẽ rê sạch lúa trong sân: thóc mẩy thì thu vào kho lẫm, còn thóc lép thì bỏ vào lửa không hề tắt mà đốt đi."
III. KHÁM PHÁ DUNG MẠO VÀ GIÁO HUẤN CỦA THIÊN CHÚA
3.1 Dung Mạo (Chúa là ai?): Trong ba bài Sách Thánh hôm nay chúng ta khám phá Thiên Chúa là:
* Đấng, vì Yêu Thương và Quan Phòng, đã phái vị minh quân (vua thông sáng) đến để cai trị dân và thiết lập một nền hòa bình đích thực và trường cửu giữa người với người, giữa dân với dân. Đấng ấy từ dòng dõi Đa-vit, vì thế đuợc gọi là chồi non của Gie-sê.
* Đấng, vì Yêu Thương và Quan Phòng, đã sai Chúa Giê-su Ki-tô đến cứu dân và đã gửi Gio-an Tẩy Giả đến trước để dọn đường cho Chúa Cứu Thế bằng việc kêu gọi mọi người ăn năn sám hối và làm phép rửa cho họ.
* Đấng, vì Yêu Thương và Quan Phòng, đã đón nhận chúng ta trong Con của Người là Chúa Giê-su Ki-tô để chúng ta được thứ tha và làm vinh danh Chúa bằng lời chúc tụng và đời sống bác ái huynh đệ.
3.2 Giáo Huấn (Chúa dậy gì hay Chúa muốn chúng ta làm gì?): Qua ba bài Sách Thánh hôm nay, giáo huấn hay sứ điệp của Lời Chúa là: “sinh hoa quả để chứng tỏ lòng sám hối.”
IV. ĐÁP LẠI THIÊN CHÚA
Thiên Chúa mời chúng ta đáp lại Tình Thương và sự chờ đợi của Người bằng hai cách như sau:
4.1 Sống với Chúa là Thiên Chúa Yêu Thương và Quan Phòng, là Chúa Tể của Lịch Sử Cứu Độ, là Cha của Chúa Giê-su Ki-tô, là Đấng muốn cho mọi người được cứu rỗi. Sống với Chúa bằng tâm tình biết ơn, tùng phục, khiêm cung và không ngừng hoán cải.
4.2 Thực thi Ý Chúa hay Giáo Huấn của Chúa là SINH HOA QUẢ.
Cụ thể là:
(a) Tìm kiếm và hiểu biết Thiên Chúa mỗi ngày mỗi hơn, bằng cách siêng năng lắng nghe Lời Chúa, liên lỉ cầu nguyện và tích cực sống đức  ái (Bài đọc 1),
(b) Đồng tâm nhất trí với những người trong cộng đoàn, chấp nhận mọi người chung quanh vì mọi người đều là con cái của Chúa và đều được Chúa cứu chuộc như mình (Bài đọc 2),
(c) Khiêm nhường, hoán cải và chịu Phép Rửa trong Thánh Thần của Chúa Giê-su Ki-tô để nên tạo vật mới, sống dưới sự hướng dẫn của Thần Khí (Bài Phúc Âm).
Mỗi người thử kiểm điểm xem mình đã và đang sống như thế nào trước các đòi hỏi trên?
V. CẦU NGUYỆN CHO HỘI THÁNH VÀ THẾ GIỚI
         (Có thể dùng làm Lời Nguyện Giáo Dân trong Thánh Lễ)
5.1 Chúng ta hãy cầu nguyện cho Đức Thánh Cha Bênêđitô XVI, các Hồng Y, Giám Mục, Linh Mục, Phó Tế, Tu Sĩ Nam Nữ để các vị chu toàn trách nhiệm lãnh đạo và giúp đỡ các tín hữu biết sinh hoa quả sám hối và hoán cải để đón mừng Thiên Chúa giáng trần và đang ở giữa trần gian.
          X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa. Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.
5.2 Chúng ta hãy cầu nguyện cho hết mọi dân tộc trên thế giới, nhất là cho các dân tộc đang phải khốn khổ vì chiến tranh, hận thù, đói khổ để họ được ơn bình an và thịnh vuợng của Thiên Chúa ban.
          X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa.  Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.
5.3 Chúng ta hãy cầu nguyện cho những người đang sống trong u mê, tội lỗi để họ được ơn ăn năn, sám hối và thay đổi cuộc sống hầu được ơn cứu độ Thiên Chúa ban.
          X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa.  Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.
5.4 Chúng ta hãy cầu nguyện cho chính chúng ta là những người phải sinh hoa quả thiêng liêng trong đời sống tin, cậy, mến; phải được thanh tẩy trong Thánh Thần để sống khiêm nhường và hoán cải, đáp lại tình thương vô biên của Thiên Chúa.
          X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa.  Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.
         Giêrônimô Nguyễn Văn Nội. 
         Garden Grove (CA/USA) 28.11.2007

 

MV2-A48. Các sứ điệp của Gioan Tiền Hô- ĐTGM Ngô quang Kiệt

CÁC SỨ ĐIỆP CỦA GIOAN TIỀN HÔ
 

Các nước đang phát triển có hướng đô thị hóa rất mạnh. Dân quê bỏ đồng ruộng ra thành thị. Chính  MV2-A48 FB

Các nước đang phát triển có hướng đô thị hóa rất mạnh. Dân quê bỏ đồng ruộng ra thành thị. Chính phủ lo đô thị hóa nông thôn. Càng phát triển, người ta càng có khuynh hướng tiêu thụ rất mạnh: ăn sang, mặc đẹp. Vậy mà Phúc Âm hôm nay đưa ra hình ảnh thánh Gioan Tiền Hô, một người sống trong sa mạc, ăn châu chấu, uống mật ong rừng, mặc áo da thú. Phải chăng là Phúc Âm đã lỗi thời, đi ngược với đà tiến hóa của nhân loại?
Để trả lời cho vấn nạn này, trước hết ta hãy cùng nhau đào sâu những sứ điệp Phúc Âm được nhắn gửi qua đời sống của thánh Gioan Tiền Hô. Thánh Gioan Tiền Hô tự nhận mình chỉ là tiếng kêu trong sa mạc. Đây không phải là một tiếng kêu vô hồn vô nghĩa. Nhưng là tiếng kêu có nội dung, là những sứ điệp gửi đến loài người.
1) Sứ điệp thứ nhất mà thánh Gioan Tiền Hô muốn nhắn gửi ta, đó là: hãy vào sa mạc.
Vào sa mạc là sống với thiên nhiên, sống hòa hợp với đất trời, bảo vệ cây cỏ, dã thú. Trong nền văn minh tiêu thụ hiện nay, người ta khai thác tối đa nguồn tài nguyên thiên nhiên mà không nghĩ đến tái tạo. Thiên nhiên đang bị hủy diệt, rừng xanh đang lâm nguy, súc vật đang kêu cứu. Trong bối cảnh ấy, sứ điệp của thánh Gioan Tiền Hô có giá trị như một thức tỉnh con người trước sức tàn phá của nền văn minh tiêu thụ.
Vào sa mạc là tìm nơi yên tĩnh mà nghỉ ngơi. Vì các đô thị lớn đã hoàn toàn bị ô nhiễm: ô nhiễm vì tiếng động, ô nhiễm vì khói xăng, ô nhiễm vì rác rưởi, ô nhiễm vì bụi bặm.
Thế nhưng sứ điệp của thánh Gioan Tiền Hô vượt lên trên những nhu cầu của xã hội, của sức khỏe để nhắm vào đời sống tâm linh con người. Nhịp sinh hoạt trong xã hội công nghiệp càng ngày càng tăng tốc độ. Con người luôn luôn vội vã đuổi theo công việc. Vì thế dễ rơi vào tình trạng sống hời hợt bề mặt. Không có thời giờ lắng xuống bề sâu. Vào sa mạc tâm linh, tức là tạo cho mình một thời gian và một không gian yên tĩnh. Dứt lìa những bận bịu lo toan trong cuộc sống để trở về với mình, đối diện với lòng mình.
Sa mạc không có đường đi. Nên người đi vào sa mạc sẽ đi theo con đường Chúa chỉ dẫn. Như xưa dân Do Thái lang thang 40 năm trong sa mạc, không biết đường đi, chỉ biết đi theo áng mây cột lửa nên đã tìm thấy đường đi về với Chúa, đã gặp được Chúa, đã thành dân của Chúa. Như tiên tri Êlia chạy trốn trong sa mạc đã chẳng tìm được đường thoát thân. Nhưng đã được Chúa chỉ cho con đường hy vọng. Như Chúa Giêsu ăn chay cầu nguyện 40 đêm ngày, nên đã tìm thấy con đường của Chúa Cha là hy sinh, khiêm nhường, sống trọn tình con thảo.
Cũng vậy, người vào sa mạc tâm linh sẽ gặp mình và trong sâu thẳm lòng mình sẽ gặp được Chúa. Vì Chúa còn thân thiết với ta hơn chính bản thân ta. Vì Chúa còn sâu xa hơn chính nội tâm ta.
2) Sứ điệp thứ hai mà thánh Gioan Tiền Hô muốn nhắn gửi ta, đó là: hãy sống khổ hạnh.
Ta tưởng sống khổ hạnh đã đi vào quá khứ. Thực ra các nước văn minh đang đi vào con đường của thánh Gioan Tiền Hô. Một trong các vấn đề lớn của người phương tây hiện nay là giữ sao cho khỏi lên cân, để khỏi bị cholesterol, để khỏi bị chứng bệnh xơ cứng động mạch, để ngăn chặn bệnh tiểu đường, để khỏi bị mỡ bao tim, người ta đã phải kiêng ăn, bớt uống.
Ăn uống đơn sơ đạm bạc không những có lợi cho sức khỏe mà còn giúp ta tiết kiệm để chia sớt với những vùng thiếu ăn, thiếu mặc. Nhưng vượt lên trên tất cả sức khỏe thân xác lẫn đạo đức liên đới xã hội, nếp sống khổ hạnh trước hết và trên hết nhắm phục vụ đời sống tâm linh. Ăn uống là nhu cầu căn bản của con người. Nó thuộc về bản năng sinh tồn. Ăn uống đứng đầu các khoái lạc. Khi làm chủ được ăn uống, người khổ hạnh cũng dễ tiến tới làm chủ được bản thân. Chế ngự được bản năng ăn uống, ta sẽ dễ chế ngự được tham, sân, si khác trong con người. Đó là bước khởi đầu trên con đường đức hạnh dẫn ta đến gặp Chúa và trở nên thân thiết với Chúa.
3) Sứ điệp thứ ba mà thánh Gioan Tiền Hô muốn nhắn gửi ta, đó là: hãy sám hối.
Phải sám hối vì con người là lầm lỗi, là xa lạc. Các thánh chính là những vị không ngừng sám hối để đổi mới bản thân cho phù hợp với những đòi hỏi của Tin Mừng.
Phải sám hối vì đó là điều kiện tiên quyết để đón nhận Tin Mừng, để được vào Nước Trời.
Có hai đặc tính giúp xác định một sám hối đúng nghĩa:
Đặc tính thứ nhất là triệt để. Sám hối không phải là ngồi đó mà than khóc. Nhưng là thay đổi đời sống. Không phải thay đổi một phần mà thay đổi trọn vẹn. Là đổi mới hoàn toàn. Sám hối phải triệt để như dân thành Ninivê, bỏ hết việc ăn chơi, bỏ đàn hát, đọc kinh cầu nguyện, xức tro, mặc áo nhặm. Sám hối phải triệt để như Phaolô, bỏ hẳn ngựa, gươm, bỏ hẳn nếp sống cũ, bỏ hẳn con đường cũ, để tin nhận Đức Kitô, sống một nếp sống hoàn toàn mới. Sám hối phải triệt để như Giakêu, bán hết gia tài, đền bồi gấp bốn, chia sẻ với người nghèo…
Đặc tính thứ hai là cấp bách. Không từ từ do dự vì thời giờ đã tới hồi cấp bách. Cái rìu đã đặt sẵn ở gốc cây. Cái sàng đã đặt sẵn ở sân lúa. Cây không sinh trái sẽ bị đốn ngay. Trấu sẽ bị sàng lọc ra ngoài.
Như vậy, con người và sứ điệp của thánh Gioan Tiền Hô không hề lỗi thời. Những sứ điệp sa mạc, sứ điệp khổ hạnh và sứ điệp sám hối vẫn luôn hiện thực. Những sứ điệp ấy soi sáng con đường ta đi, phải tu sửa để gặp được Thiên Chúa Cứu Độ. Cuộc đời gương mẫu của thánh nhân là sức nóng vừa lôi cuốn vừa thúc giục ta. Vì thế Chúa Giêsu đã khen Ngài là “ngọn đèn chiếu sáng và tỏa nóng”. Ánh sáng của Ngài báo hiệu một bình minh chói lọi huy hoàng. Sức nóng của Ngài dẫn ta đến tận nguồn lò lửa. Lò lửa ấy sẽ chiếu sáng, sẽ đốt cháy mọi trái tim trong tình yêu và sẽ thanh luyện ta nên tinh tuyền. Bình minh ấy, lò lửa ấy chính là Mặt Trời Công Chính, là Chúa Giêsu mà chúng ta đang chờ mong trong đêm tối cuộc đời này. Amen.
GỢI Ý SUY NIỆM
1) Thánh Gioan Tiền Hô chuyển đến ta những sứ điệp nào?
2) Đối với bạn, sứ điệp nào cấp bách hơn cả?
3) Cấp bách và triệt để là hai đặc tính của sám hối Phúc Âm. Bạn có quyết tâm làm lại cuộc đời của mình hoàn toàn và ngay hôm nay không?
4) Bạn đã bao giờ cảm nghiệm niềm vui thiêng liêng do cầu nguyện, sám hối và tự chế chưa?

 

MV2-A49. Mùa Vọng: Mùa màu tím – ĐGM Vũ duy Thống

(Nút Vòng Xoay)
 

Nếu Chúa Nhật thứ nhất Mùa Vọng, với lối nhìn viễn cảnh, người ta thấy sáng lên dung mạo: MV2-A49

Nếu Chúa Nhật thứ nhất Mùa Vọng, với lối nhìn viễn cảnh, người ta thấy sáng lên dung mạo của Thiên Chúa, Đấng hằng hy vọng vào con người, đồng thời cũng nhận ra dáng đứng của tín hữu là biết hy vọng vào Thiên Chúa bằng lòng tỉnh thức, để Mùa Vọng được gọi là mùa xanh lên niềm hy vọng thì Chúa Nhật thứ hai Mùa Vọng, với lối nhìn cận cảnh, người ta lại thấy Phụng Vụ được diễn tả bằng một màu khác, không còn êm ả mướt xanh nữa mà đã đi vào lắng đọng tím màu để Mùa Vọng cũng gọi được là mùa màu tím.
Tím không ở chân trời nắng xế; tím không ở dòng sông Giođan chiều về nơi Gioan Tẩy Giả làm phép Rửa; tím cũng không ở sắc phục linh mục bước ra dâng lễ, mà tím ở tâm can những tín hữu biết chân thành ăn năn lầm lỗi bao ngày qua để thấy trong lệ sa màu tím của lòng mình. Mùa Vọng đích thực là mùa của màu tím sám hối.
Nhưng làm sao để lòng sám hối diễn tả được nỗi lòng Mùa Vọng, hay nói lên được sắc màu hy vọng? Trả lời câu hỏi này tức là cùng lúc phải xét đến những đặc tính sám hối của Mùa Vọng.
1) Sám hối mang màu hy vọng không cúi gập trên những lầm lỗi của mình mà hướng mở về tình thương Thiên Chúa.
Đối với nhiều người, sám hối cũng đồng nghĩa với lòng hối hận, tức là nhận thức về thân phận tội lỗi của mình, ý thức về những lỗi lầm mình đã phạm và buồn vì mình đã làm xấu cuộc đời mình đi. Tất nhiên, lòng hối hận như thế tự nó có một ý nghĩa nhất định, nhưng nếu chỉ có thế và chấp nhận dừng lại như thế, rõ ràng là có khuynh hướng co cụm lại và cúi gập trên những lầm lỗi của mình. Hối lỗi thì ít mà xem ra hận mình lại nhiều, để rồi khi tự mình vùng vẫy trong tình huống mất thăng bằng ấy, người ta dễ bị rơi xuống vực sâu thất vọng, giống như con muỗi sa vào lưới nhện càng vùng vẫy càng bị xiết chặt, và giống như những kẻ sa vào vũng lầy càng ngoi ngóp càng bị lún sâu.
Thực ra, hối hận chỉ là một thành phần trong hành vi sám hối, hay đúng hơn là khởi điểm của cả một tiến trình trở về mà Thiên Chúa chính là cao điểm và kết điểm. Chính vì đối diện với Thiên Chúa mà tôi biết mình có tội và cũng vì hướng đến Thiên Chúa mà tôi hối hận tìm về. Người ta vẫn bảo sám hối là hai mắt nhìn của con người nội tâm: một mắt nhìn vào mình để nhận ra những tội lụy của một đời xa vắng đã dẫn tới sa ngã rồi xa lìa tình thương Thiên Chúa và mắt khác nhìn vào Thiên Chúa để thấy nơi Ngài một tình yêu như tấm lòng người cha, như trái tim người mẹ bao dung thương xót mà xin ơn làm lại cuộc đời.
Hai con mắt, hai hướng nhìn nhưng vẫn chỉ là một lòng sám hối mang màu hy vọng. Thiếu một trong hai, sắc màu hy vọng đều bị nhạt nhòa. Sẽ là thất vọng nếu chỉ nhìn tội mình mà quên nhìn tình Chúa và sẽ là vô cùng ảo vọng nếu chỉ nhìn tình Chúa mà quên nhìn tội mình; nhưng sẽ là hy vọng dâng đầy cho những ai vươn lên tình yêu Thiên Chúa khởi đi từ lòng sám hối tội lỗi của mình. Hình như trong lời kêu gọi “Hãy sám hối” đã có tiếng giục giã “Hãy hy vọng”, và sở dĩ Gioan Tẩy Giả kêu gọi sám hối hôm nay là bởi vì đã có niềm hy vọng dọn đường chờ mong Chúa đến.
2) Sám hối mang màu hy vọng không dừng lại trong nội vi tâm thức mà biết tỏa rộng lên cả cuộc đời.
Đối với một số người khác, sám hối là một cách nói ám chỉ một chuyển biến từ một tình trạng cũ và xấu đến một tình trạng mới và tốt hơn, nhưng hối lỗi chỉ là một chuyển biến xảy ra trong nội vi ý thức của cuộc sống tâm hồn, cùng lắm cũng chỉ được diễn ra bằng những nghi thức đã được quy định. Thế thôi. Rõ ràng cách nhìn như thế quả là không ổn. Không ổn ở chỗ nó quá máy móc, làm như cứ tham dự một số nghi thức sám hối là đương nhiên mình được thanh tẩy bất kể đời sống của mình ra sao; và không ổn ở chỗ nó quá nội giới, làm như sám hối chỉ là một thứ tâm lý liệu pháp nào đó theo kiểu kể tội trong gió, gió thổi bay đi là xong.
Sám hối Mùa Vọng đâu phải là thứ sám hối như thế, mà thật ra phải là thứ sám hối toàn diện đúng mức với lòng hối cải, vốn bao gồm hai động tác cơ bản đan xen: “hối” có nghĩa là hối lỗi và “cải” là kiểu nói tắt của chữ cải thiện. Nếu hối lỗi là lời đoạn tuyệt với quá khứ tội lụy, thì cải thiện là lời quyết tâm dấn bước vào một tương lai tươi mới. Và đến khi sám hối trở thành một thói quen ăn sâu vào trong nhịp sống để nỗ lực chuyển đổi không ngừng lên những tình trạng tốt hơn thì đó chính là một cuộc lột xác đổi đời; không giống như đổi đời xe đời máy mà là đổi đời sống cách sống với những hệ lụy cụ thể không thể lần lữa chần chừ được.
Không phải vô tình mà Gioan Tẩy Giả bảo những kẻ đến với ông là “Hãy làm việc lành cho xứng với lòng sám hối” nhưng qua đó ngài cho thấy lòng sám hối đích thực của Mùa Vọng chính là tích cực đổi mới ngay trong đời sống cụ thể của mình.
3) Sám hối mang màu hy vọng biết vượt qua những động tác để trở thành một thái độ sống.
Đối với một số người khác nữa, sám hối thường được quan niệm như một cao trào chỉ bùng lên một năm vài lần vào những dịp lễ đặc biệt như cách phân bổ Lịch Công Giáo hiện nay, tức là xuân thu nhị kỳ: một lần vào Mùa Vọng để dọn lòng mừng lễ Giáng Sinh cho sốt sắng và lần nữa vào Mùa Chay để tỏ bày sự thông công vào lễ Phục Sinh cho phải đạo, “Xưng tội một năm ít là một lần và chịu Mình Thánh Đức Chúa Giêsu trong Mùa Phục Sinh”.
Xem ra cách thực hành sám hối như vậy cũng có những nét cụ thể nhất định, nhất là lại phù hợp với đại đa số giáo dân vốn đầu tắt mặt tối chạy vạy với cuộc sống kinh tế gia đình hoặc xã hội. Nhưng từ căn bản có cái gì đó chưa ổn. Một mặt quá gắn liền động tác sám hối với việc đón nhận Bí tích Hòa Giải sẽ dẫn tới ý nghĩ rằng khi mình không nhận Bí tích Hòa Giải thì mình cũng chẳng cần đến sám hối nữa; và mặt khác coi sám hối chỉ như một động tác diễn ra trong khoảnh khắc sẽ tới lúc nghĩ rằng sám hối chỉ là điều kiện ắt có và đủ cho việc xưng tội chứ không như một thái độ thường xuyên phải có trong đời Kitô hữu.
Thực ra sám hối mang màu hy vọng không đơn thuần là một động tác cho bằng là một thái độ. Sám hối là một thành phần của đời sống đức tin, nhưng lại gói ghém và len lỏi vào mọi ngõ ngách của toàn bộ cuộc sống đức tin ấy. Chả thế mà Gioan Tẩy Giả khi trả lời cho đám đông về việc thực thi sám hối đã mở ra cho họ một nhãn giới thật rộng bao gồm cả việc thực thi công bình và sống tình bác ái. “Quanh co uốn cho ngay, gồ ghề san cho phẳng, hố sâu lấp cho đầy, nơi cao phải bạt thấp” đâu phải chỉ là chuyện dọn dẹp đường xá, mà đã trở thành chuyện khai quang tâm hồn để nhìn thấy ơn Thiên Chúa cứu độ. Cũng thế, việc chia cơm sẻ áo đâu phải chỉ là chuyện cứu trợ, mà đích thực đã là cách diễn tả cụ thể của lòng sám hối chờ mong Chúa đến.
Tóm lại, sám hối mang màu hy vọng là sám hối tìm về tình thương Thiên Chúa, chấp nhận thay đổi cuộc đời và biết để cho ơn tha thứ thấm đẫm vào mọi ngõ ngách của cuộc sống đức tin. Đó là sám hối Mùa Vọng chuẩn bị đón lễ Noel, nhưng đó cũng là thái độ thường xuyên của đời tín hữu. Và cũng vì có sám hối như vậy, Mùa Vọng đúng nghĩa chính là mùa màu tím từ bên trong ra bên ngoài và từ ngôn ngữ tới hành vi. Chúc mọi người những ngày Mùa Vọng thật sốt sắng.

 

MV2-A50. Món “ăn năn” – ĐGM Vũ duy Thống

(Làm Nụ Hoa Trắng)
 

Có một món ăn các nhà hàng nhiều sao không quen thết đãi, nhưng những quán ăn tôn giáo lại: MV2-A50

Có một món ăn các nhà hàng nhiều sao không quen thết đãi, nhưng những quán ăn tôn giáo lại xem như đặc sản của mình. Món ăn ấy người đời không quen thưởng thức, nhưng kẻ có đạo lại tìm đến ăn như một thứ lương thực sớm tối. Món ăn ấy không có trong thực đơn của những đầu bếp trứ danh nhưng luôn gặp thấy trên bàn ăn của Giáo Hội lữ hành. Món ăn ấy đơn giản lắm nhưng lại là món ăn có đầy đủ mọi hương vị chua cay mặn chát ngọt bùi của quá khứ hiện tại tương lai. Món ăn chữa bệnh nhưng đồng thời cũng là món ăn bổ dưỡng tâm linh. Món ấy là món gì?
Thưa đó là món “ăn năn sám hối”, một món ăn màu tím truyền thống của Chúa Nhật thứ hai Mùa Vọng, cũng là món ăn hữu ý được nhìn qua trang Tin Mừng hôm nay. Nhưng để tránh dị ứng hoặc phản ứng phụ, đồng thời để tận hưởng những hiệu quả bổ dưỡng, trang Tin Mừng đề nghị ta những động tác quan trọng để hưởng dùng món “ăn năn sám hối”.
1) Động tác thứ nhất là chân thành nhìn nhận tội lỗi của mình.
Đây là động tác mở đầu trong tiến trình ăn năn sám hối, cũng là động tác mở đầu cho bất cứ một sinh hoạt phượng tự nào khi con người tiếp cận với Thiên Chúa: ta vừa mở đầu Thánh Lễ với tâm tình thú tội ăn năn. Chính Chúa Giêsu ngày trước cũng đã mở đầu sứ vụ công khai của Người bằng lời kêu gọi không quên “Hãy sám hối và tin vào Phúc Âm”. Và ngay Gioan Tẩy Giả cho dẫu trong hoang địa nắng cháy khô cằn chẳng có gì ăn, cũng hô vang đồi núi: Hãy ăn năn sám hối vì Nước Trời đã đến gần trong không gian và cũng vì Nước Trời đã gần đến trong thời gian.
Động tác “nhìn nhận tội lỗi” trong mắt nhìn của những kẻ xa lạ với Tin Mừng có thể là một thứ tâm lý xa rời thực tế theo kiểu “không ai bắt lỗi ngu gì mà thú nhận”; nhưng đối với những kẻ tin vào Phúc Âm đó lại là hai mắt nhìn của một tấm lòng chân thành: một mắt nhìn vào mình để nhận ra thân phận mình tội lụy và một mắt nhìn lên Chúa để nhận lấy lòng thương bao dung tha thứ của Ngài. Ta nhận mình có tội bởi ta đã nhìn vào tình thương của Chúa từ hồi nào. Ta nhận ra Chúa yêu ta bởi ta đã nhìn thấy từng ngày lỗi tội của mình.
Như vậy, “nhìn nhận tội lỗi” chính là động tác mở đầu của món “ăn năn sám hối”, cũng là động tác mở về tình thương của Thiên Chúa và mở vào kho tàng thiêng liêng chất chứa ơn tha thứ do Thiên Chúa thết đãi con người. Tự căn bản, xưng thú tội lỗi của mình cũng là tuyên xưng vào lòng thương xót của Thiên Chúa.
2) Động tác thứ hai được gặp thấy trong lời kêu gọi của Gioan Tẩy Giả: “Hãy làm việc lành cho xứng với lòng sám hối”.
Có thể có ai đó ngẩn ngơ thầm nghĩ: “Ơ hay, cái ông Gioan Tẩy Giả này mới thật là ngớ ngẩn, sám hối như trong động tác thứ nhất tự nó đã là một việc lành rồi, cần phải làm thêm việc lành khác nữa sao? Vẽ chuyện!”. Xin thưa rằng ông Gioan Tẩy Giả không ngớ ngẩn đâu, ngược lại, trong lời kêu gọi đơn giản của ông đã hàm chứa những ý nghĩa đẹp đến độ ngẩn ngơ cho một lòng ăn năn tích cực và đích thực.
Lòng ăn năn tích cực không dừng lại trong ý thức nhìn nhận tội lỗi của mình, bởi nếu chỉ có thế nó có nguy cơ biến dạng thành một thứ dày vò lương tâm bất bình bất ổn bất an bất toàn; hay thành một thứ hối hận theo tự điển tra ngược, là “hối thì ít mà xem ra hận lại nhiều!”. Không phải thế, lòng ăn năn tích cực là cả một tâm tình sống ơn tha thứ, sống do ơn tha thứ và cũng sống cho ơn tha thứ, có nghĩa là một sức sống được chuyển dịch một cách cụ thể qua những việc lành mọi lúc mọi nơi cho Chúa và cho anh chị em mình.
Đó cũng là lòng ăn năn đích thực không đồng hóa với một thứ tình cảm chợt đến chợt đi, bởi nếu chỉ có thế nó có nguy cơ biến dạng thành một thứ cảm tình vị kỷ theo kiểu làm việc lành cho “sướng”, thế thôi, trong khi lòng ăn năn đích thực gọi đến một phẩm cách, một trách nhiệm. Gioan Tẩy Giả không bảo làm việc lành cho “sướng” mà hãy làm việc lành cho “xứng” với lòng sám hối.
3) Động tác thứ ba để thưởng thức món “ăn năn”, đó là khiêm tốn đợi chờ Đấng đang đến.
Đấng ấy không phải là người xa lạ, mà là một THỰC KHÁCH viết hoa viết đậm của mọi Kitô hữu quanh bàn “ăn năn”. Đấng ấy là Đức Kitô đã đến lần thứ nhất trong lịch sử với ngả nghiêng cây Thập Tự, sẽ đến lần thứ hai ngày cánh chung với sự công chính và nền hòa bình viên mãn, và Người đến từng ngày cho tất cả những ai khiêm tốn đợi chờ với lòng sám hối.
Thảo nào trang Tin Mừng hôm nay nói nhiều đến từ ngữ “dọn đường và sửa đường”. Dọn đường bởi vì Đấng ấy đang trên đường đến với ta và sửa đường “quanh co uốn cho ngay, gồ ghề san cho phẳng, hố sâu lấp cho đầy, nơi cao phải bạt xuống” là bởi vì Người chỉ thích đến với ta trên đường công chính.
Hiểu như thế, ăn năn không phải là ăn điều gì khác hơn là ăn chính Đấng đang đến: Chúa Kitô. Chính Người là đích điểm của việc sám hối. Vắng Người là thiếu tất cả: việc sám hối có thể co cụm lại như một thứ nghi thức thực hiện cho yên lương tâm; nhưng có Người là có tất cả: việc sám hối bấy giờ sẽ trở nên một mạch nguồn sức sống mới trong Thánh Thần. Nói cách khác, lòng người sám hối Mùa Vọng ví tựa những căn phòng, quá ngổn ngang chật hẹp, Chúa Kitô sẽ không thể chen chân bước đến; nhưng ngược lại biết dọn dẹp sạch sẽ thẳng ngay, Người sẽ ung dung tìm vào như vào trong căn hộ của mình.
Tóm lại, dẫu chẳng phải là “người có tâm hồn ăn uống” mà chỉ vì cái phong phú và lắt léo của tiếng Việt, nên đã xin chia sẻ Phúc Âm hôm nay qua dạng thức của một món ăn: món “ăn năn sám hối” với ba động tác: nhìn nhận tội lỗi, thực hiện việc lành và chờ đợi Chúa đến; một cách trực tiếp là họa lại lời Gioan Tẩy Giả vang lên trong trang Tin Mừng, một cách gián tiếp là lòng hẹn lòng hãy tìm đến món “ăn năn” qua việc sống Bí tích Hòa Giải.
Đó không phải là món ăn mới nhưng luôn có diệu cảm mới dành cho những ai biết ăn đúng cách. Đó không phải là món ăn lạ, nhưng luôn là những phép lạ tâm linh dành cho những ai biết ăn đúng liều lượng. Đó không phải là món ăn đặc sản chỉ thết đãi trong thời gian cao điểm như Mùa Vọng Mùa Chay, mà là món quanh năm ngày tháng mở cửa cho hết mọi người bất kể giàu nghèo lớn bé. Đó không phải là món ăn cầu kỳ trong các nhà hàng quý tộc, mà thực ra là một nhịp cầu vô cùng kỳ diệu dẫn ta ra khỏi tình trạng tối tăm và dẫn ta bước tới đời sống thánh ân.
Mười năm trước khi kinh tế còn khó khăn, trên đường đi hằng ngày thấy xuất hiện những tấm bảng hiệu nhận phục hồi những cơ phận máy móc, tôi đã có ý nghĩ nên ghi trên tòa Hòa Giải một tấm bảng hiệu nhận “phục hồi sự sống các tâm hồn”. Hôm nay, thời kinh tế mở cửa, trên đường từ chợ Bến Thành về đây thấy nhan nhản những bảng hiệu của các quán ăn đặc sản, từ Hương phố tới Hương đồng, từ Hương xưa tới Hương rừng lao xao. Tôi nghĩ có lẽ phải ghi trên tòa Hòa Giải tấm bảng khác thôi: Hương thiêng đặc sản tâm hồn, món “ăn năn” dẫn đến nguồn thánh ân.
------------------------
[1] Mt 3,8.
[2] Tv 71,7.
[3] Mt 3,3.
[4] Thư Chung 2001, số 9.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây