Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 2 MV-B Phần II: Bài 51-100: Hãy sửa lối cho thẳng

Thứ ba - 05/12/2017 21:44
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 2 MV-B Phần II: Bài 51-100:  Hãy sửa lối cho thẳng
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 2 MV-B Phần II: Bài 51-100: Hãy sửa lối cho thẳng
MV2-B Phần II: Bài 51-100:  Hãy sửa lối cho thẳng
MV2-B51 SÁM HỐI - DẤU CHỈ SỰ TRỞ VỀ … Joseph Phạm Ngọc Ngôn,Csjb. 2
MV2-B52  HÃY SỬA ĐƯỚNG CHÚA CHO NGAY THẲNG -Lm JB Phan Kế Sự. 2
MV2-B53 HÃY TRẢ LỜI VỚI NHỮNG GIÁ TRỊ CĂN BẢN CỦA ĐỜI SỐNG - Lm. An Phong, OP. 3
MV2-B54  TRỜI MỚI ĐẤT MỚI  - Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, OP. 4
MV2-B55 KẺ DỌN ĐƯỜNG - Lm. Giuse Nguyễn Cao Luật, OP. 5
MV2-B56 ĐƯỜNG NÀO CHO CHÚA Gp. Vĩnh Long. 7
MV2-B57 CẤT LỜI RAO GIẢNG Gp. Vĩnh Long. 8
MV2-B58 DỌN ĐƯỜNG - Gp. Vĩnh Long. 9
MV2-B59 DỌN LÒNG - Gp. Vĩnh Long. 10
MV2-B60. DỌN ĐƯỜNG - Gp. Vĩnh Long. 10
MV2-B61 CON ĐƯỜNG - Gp. Vĩnh Long. 11
MV2-B62 HÃY DỌN ĐƯỜNG CHÚA ĐẾN.. 12
MV2-B63 MÙA VỌNG: MÀU PHỤNG VỤ VÀ TRANG TRÍ. 13
MV2-B64 CON SƯ TỬ TRONG NĂM PHỤNG VỤ MỚI - Lm. Ịaminh Nguyễn Ngọc Long. 14
MV2-B65 MÙA VỌNG - Lm. Giuse Hoàng Kim Toan. 15
MV2-B66 CHỦ ĐỘNG CHUẨN BỊ ĐÓN RƯỚC CHÚA! 18
MV2-B67 SỬA LỐI CHO THẲNG ĐỂ NGƯỜI ĐI ! 20
MV2-B68  Hy sửa lối cho thẳng để Chúa đi 22
MV2-B69 Dọn đường. 23
MV2-B70  Vì Ngài Ở Với Chúng Ta …... 23
MV2-B71. Chúa đến để giải thoát 24
MV2-B72.  Tháo gỡ để giao hòa – Lm. Trần Ngà. 25
MV2-B73.  Tiếng kêu – ĐGM. Nguyễn Sơn Lâm.. 26
MV2-B74. DỌN ĐƯỜNG (CN 2V.B) 28
MV2-B75.  Gioan, con người thật lạ lùng. 29
MV2-B76.  Chuẩn bị đón Chúa đến. 30
MV2-B77.  NAY TRỞ VỀ, VẪN CÒN NHƯ MỚI MẺ…”. 31
MV2-B78. NHỮNG CON ĐƯỜNG VẮNG BÓNG YÊU THƯƠNG.. 33
MV2-B79.  ĐỔI MỚI TRONG CHÚA THÁNH THẦN.. 34
MV2-B80. CON ĐƯỜNG ĐÓN NHẬN TÌNH YÊU.. 36
MV2-B81.  Tiếng Kêu. 37
MV2-B82.  HÃY DỌN ĐƯỜNG ĐÓN CHÚA.. 40
MV2-B83. Chúa Giê-su là “con đường của Đức Chúa”. 40
MV2-B84. Hãy Dọn Đường của Chúa. 41
MV2-B85.  Chúa Nhật II mùa Vọng, B.. 42
MV2-B86.  Hãy sửa lối cho thẳng để Người đi!». 44
MV2-B87. Kinh Thánh:    2 Phê-rô 3: 8-14. 46
MV2-B88.  HÃY DỌN ĐƯỜNG CHO CHÚA.. 47
MV2-B89. BÁC CÔNG NHÂN ÁO CAM... 48
MV2-B90: Chân dung Gioan Tẩy Giả. 48
MV2-B91:  Đón nhận Đức Kitô trong niềm vui 49
MV2-B92: Hãy dọn đường đón Chúa. 50
MV2-B93: Mở đường để làm gì? Đường dẫn tới đâu?. 51
MV2-B94: DỌN ĐƯỜNG CHÚA ĐẾN.. 53
MV2-B95: CHUẨN BỊ. 53
MV2-B96: BIẾN ĐỔI. 54
MV2-B97: DỌN ĐƯỜNG.. 55
MV2-B98: Sứ điệp của Gioan có giá trị nào đối với Kitô hữu chúng ta?. 55
MV2-B99: Lầm lỗi và sám hối 56
MV2-B100:  Con đường của Đức Chúa
 

MV2-B51 SÁM HỐI - DẤU CHỈ SỰ TRỞ VỀ … Joseph Phạm Ngọc Ngôn,Csjb

Mc 1, 1-8
 

Nếu Ngôn sứ Isaia từng mơ đến ngày toàn dân Israel được thoát cảnh lưu đày, mơ về thời thái bình: MV2-B51

Nếu Ngôn sứ Isaia từng mơ đến ngày toàn dân Israel được thoát cảnh lưu đày, mơ về thời thái bình thịnh trị trong vinh quang Thiên Chúa, mơ đến thời mà mọi thung lũng, núi đồi và những nơi lồi lõm hay gồ ghề sẽ được lấp đầy, bạt xuống và làm cho phẳng phiu,… thì nay, mơ ước đó đã trở thành hiện thực khi Gioan Tẩy Giả xuất hiện. Vai trò của Gioan Tẩy Giả rất quan trọng trong công trình cứu độ của Thiên Chúa. Bởi ông không chỉ đơn thuần là “Ngôn sứ của Đấng Tối Cao”, nhưng còn là một hoa tiêu, dẫn đường chỉ lối cho toàn dân hoán cải để đón nhận ơn cứu độ đến từ Thiên Chúa.
Trong Tin mừng, chỉ duy nhất thánh sử Luca đề cập đến nguồn gốc xuất thân của Gioan Tẩy Giả với hàng loạt sự kiện diệu kỳ. Cuộc đời và con người của ông được gắn kết với sứ mạng duy nhất là chuẩn bị cho “Đấng nhân danh Chúa mà đến”. Vì thế, sự hiện diện của Gioan Tẩy Giả báo trước một thời đại mới đang bắt đầu- thời đại thái bình thịnh trị, thời đại muôn dân sẽ được hưởng ơn cứu rỗi của Đấng Thiên Sai.
Vì là người đi trước mang sứ vụ Tiền hô cho Đấng Thiên Sai, Gioan Tẩy Giả không làm gì khác hơn là kêu gọi toàn dân trở về, thanh tẩy nội tâm, lãnh nhận phép rửa để đón nhận ơn cứu độ. Nhiệm vụ của ông được tóm gọn trong hai từ “tẩy giả”- kẻ thánh tẩy, cũng đủ nói lên tính cấp bách cần phải hoán cải trở về. Ông xuất hiện nơi “hoang địa” miền Giuđa, chắc là thung lũng sông Giođan để làm phép rửa cho dân chúng. Bởi chúng ta biết rằng, hoang địa ở đây được hiểu theo nghĩa thần học hơn là theo nghĩa điạ lý, nó phù hợp với lời loan báo của Ngôn sứ Isaia về tiếng gọi xuất phát từ miền hoang địa (x. Is 40, 3).
Là Ngôn sứ, nên lời rao giảng của Gioan Tẩy Giả chỉ xoay quanh việc kêu gọi dân chúng hoán cải trở về, lãnh nhận phép rửa để được ơn tha thứ. Phép rửa của ông không giống với phép rửa trong nghi thức gia nhập đạo Dothái, cũng không giống như phép rửa của nhóm Étxêni và lại càng không như phép rửa của Chúa Giêsu. Chúng ta biết muốn gia nhập đạo Dothái, tân tòng sẽ phải dìm mình vào dòng nước để thanh tẩy mình. Còn ở đây, trong phép rửa của Gioan, kẻ lãnh nhận không thể tự mình dìm vào dòng nước mà phải do chính tay ông thực hiện; phép rửa của Gioan Tẩy Giả cũng không lặp lại hằng ngày như nhóm Étxêni chủ trương là mỗi ngày phải dìm mình vào dòng nước để thanh tẩy mình; phép rửa của ông cũng không giống như phép rửa của Chúa Giêsu. Bởi đơn giản rằng, phép rửa của ông chỉ là sự chuẩn bị cho dân đón nhận phép rửa đến từ Chúa Giêsu. Thế nên, phép rửa của ông không thể tha thứ tội lỗi mà chỉ là chuẩn bị cho ơn tha tội do Chúa Giêsu thực hiện nhờ cái chết và sự Phục sinh của Người. Phép rửa bằng nước của ông không thể sánh với phép rửa bằng Thánh Thần của Đấng Thiên Sai và vì thế, chính Đấng quyền năng này sẽ đem đến cho nhân loại ơn cứu độ.
Chúng ta thấy hiệu quả lời rao giảng của Gioan Tẩy Giả đã được toàn dân hưởng ứng. Dân chúng kéo đến và xin lãnh nhận phép rửa không chỉ vì lời rao giảng hùng hồn của ông, cũng không phải vì tò mò, thấy lạ nên đi theo cho vui, mà còn vì lối sống khiêm hạ, khắc khổ của ông nữa. Vâng, Gioan Tẩy Giả không chỉ rao giảng suông, đời sống nhiệm nhặt của ông cũng đủ minh chứng ông là một Ngôn sứ chính hiệu, là một Êlia mới. Ngày nay chúng ta thấy khoác trên mình bộ áo lông thú trong những ngày mùa đông giá lạnh; hay đi thưởng thức những món ăn như châu chấu hay mật ong nơi nhà hàng sang trọng được xem là mốt thời thượng, mắc tiền mà không phải ai cũng có thể tận hưởng được. Thời Gioan Tẩy Giả, bộ áo da thú được xem là bộ áo của khổ hạnh vì khoác trên mình bộ áo này chẳng khác gì khoác trên đó một chiếc áo dệt toàn đinh nhọn do những sợi lông thú sần sùi cắm vào da thịt. Cuộc sống khổ hạnh của Gioan Tẩy Giả không gì khác hơn là dấu chỉ để kêu gọi mọi người ý thức hơn nữa sự cần thiết phải trở về, cần thiết phải chuẩn bị để đón nhận ơn cứu độ của Thiên Chúa.
“Hãy sám hối để được ơn tha tội”, lời mời gọi của Gioan Tẩy Giả được lặp lại trong Mùa Vọng này như một nhắc nhớ cần thiết cho mỗi người chúng ta. Sám hối phải là một thái độ sống của người Kytô. Sám hối phải là một sự trở về, là sự đổi mới, là sự từ bỏ mọi sự cho phù hợp với những đòi hỏi của Tin mừng. Có được thái độ sám hối như thế, để trong bất cứ hoàn cảnh nào, chúng ta luôn luôn sẵn sàng đón chờ ngày Chúa đến viếng thăm. Chờ đón trong tinh thần sám hối và cầu nguyện chứ không phải là thái độ thụ động, sợ hãi và chán chường. Chờ đón trong hy vọng và bình an, trong hân hoan vui mừng.

Ý thức rằng chỉ có sám hối và trở về nẻo chính đường ngay nơi tâm hồn mỗi người mới là điều cốt yếu chứ không phải là sự trang hoàng lộng lẫy, tốn tiền cho những hang đá, cho những cây Noel. Mùa Vọng chỉ thực sự ý nghĩa khi mỗi người biết cải hoán đời mình, từ bỏ những chướng ngại thế trần cản lối ta đến gặp Đấng Thiên Sai.
Lm Joseph Phạm Ngọc Ngôn,Csjb

Vể đầu trang

MV2-B52  HÃY SỬA ĐƯỚNG CHÚA CHO NGAY THẲNG -Lm JB Phan Kế Sự

Mc. 3,1-3
Con đường thẳng: con đường ngắn nhất, tiết kiệm kinh phí  và sức lực.
Con đường thẳng
: con đường  dễ đi và an toàn nhất.
Con đường thẳng
: con đường của sự thật và dẫn đến sự  sống

 

Cuộc sống mỗi người là quyết định của một sự chọn lựa tự do.Chúa muốn mỗi người trong chúng ta hãy: MV2-B52

Cuộc sống mỗi người là quyết định của một sự chọn lựa tự do.Chúa muốn mỗi người trong chúng ta hãy tự quyết định phần rỗi cho chính mình.Ngài là Người Cha đầy yêu thương và cũng ban đủ mọi phương thế để giúp chúng ta chọn lựa con đường đúng đắn nhất để chúng ta có thể trở về với Ngài.Cũng có những chọn lựa thật đúng đắn,khôn ngoan; nhưng cũng có những chọn lựa lệch lạc, chủ quan dẫn tới những sai lầm,khiến chúng ta ngày càng xa Thiên Chúa,lắm khi trở thành kẻ đối nghịch với Ngài. Lời mời gọi “Hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng” nhắc nhở chúng ta hãy uốn nắn con đường tâm hồn,cách sống cho thích hợp,để sẵn sàng đón chào ngày Chúa đến .
1. Chúa muốn chúng ta “Hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng”, bởi Ngài không thích và không muốn chúng ta đi trong sự quanh co, sống trong sự lừa đảo và lệch lạc. Thiên Chúa,Ngài muốn con cái của Mình luôn sống và đi trong đường lối của Ngài, con đường dẫn đến sự sống.Tiên tri  Isaia đã kêu gọi “hãy lấp mọi hố sâu,bạt mọi núi đồi,nắn lại con đường coong queo,san bằng con đường gồ ghề”. Chúa muốn chúng ta hãy sống trong sự công chính, trong sự thánh thiện và cũng đừng chậm trễ thi hành những giới luật của Chúa, vì “ngày của Chúa đến như kẻ trộm”  . Chúa muốn ta sống trong sự trung thực, thẳng thắn và an toàn của “người hiểu biết”: Ngài chính là đường dẫn đến sự sống.
2. “Hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng” .Chúa đang đến gần và thực sự Ngài đang bên cạnh ,ngày đêm chờ đợi sự sám hối, ăn năn của mỗi người chúng ta.Chúa không muốn chúng ta đánh mất cuộc đời mình bằng “sự ngu xuẩn,thiếu hiểu biết”.Chính Ngài đã sẵn sàng đánh đổi tất cả,để chỉ mong chúng ta sống và đi trong đường lối của Ngài,con đường sự thật dẫn đến sự sống. Điều quan trọng là mỗi người chúng ta biết tự trách mình, nắn lại cho thẳng những gì đang quanh co của gian dối, lừa đảo; lấp đi mọi hố sâu đam mê, ích kỷ, tham vọng; bạt đi mọi gò nổng kiêu ngạo,tự mãn, “sĩ diện rởm”, để tâm hồn chúng ta thật xứng đáng và bình an đón nhận tin mừng cứu rỗi của Chúa.
3.“Hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng” Chúa muốn đến với tất cả  chúng ta bằng con đường thẳng,ngắn nhất, bởi con đường mà Ngài giới thiệu và sống chính là con đường  của tình yêu, của tha thứ và cứu độ. Chính bản thân Ngài đã không chọn lựa con đường nào ngoài con đường của thí mạng,để làm gương cho tất cả chúng ta . Chính khi yêu thương là lúc chúng ta đang đi đúng con đường của Chúa.Chính khi yêu thương và tha thứ cho anh em, là chúng ta đang đến gần hồng ân cứu rỗi và thuộc trọn về Ngài.
Lời mời gọi “Hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng” đang đặt ra cho chúng ta sự lựa chọn :ưu tiên cho những gì thuộc về Chúa , loại trừ ra khỏi tâm hồn chúng ta sự dối trá,lừa gạt,quanh co.Uốn nắn những gì lệch lạc, điều đó luôn đòi hỏi mỗi chúng ta phải nỗ lực hằng ngày để cải thiện cuộc sống, đổi mới cách sống để xứng đáng hơn với tình thương của Chúa.Chúa đã và đang đến thật gần với từng người chúng ta,đừng chậm trễ,đừng ươn hèn trong chính những lẫm lỗi của mình, nhưng can đảm và quảng đại để ngày càng xứng đáng hơn với tình yêu của Thiên Chúa.
Lời cầu nguyện:
Lạy Chúa, Chúa là đường, là sự thật và là sự sống của chúng con.Xin dạy chúng con luôn đi trên con đường công chính và sự thật của Chúa để không bao giờ lạc lối.Xin giúp chúng con can đảm sống và sẵn sàng chịu thiệt thòi để được Chúa yêu thương và tha thứ. Amen.
Lm JB Phan Kế Sự

Vể đầu trang

MV2-B53 HÃY TRẢ LỜI VỚI NHỮNG GIÁ TRỊ CĂN BẢN CỦA ĐỜI SỐNG - Lm. An Phong, OP

Chúa đến, và Ngài sẽ hoàn tất mọi nỗ lực dở dang của con người. Dọn đường cho Chúa đến, đó là góp: MV2-B53

Chúa đến, và Ngài sẽ hoàn tất mọi nỗ lực dở dang của con người. Dọn đường cho Chúa đến, đó là góp phần vào công trình cứu độ của Ngài bằng những việc làm phục vụ, bằng đời sống hoán cải, bằng vun trồng tình yêu thương trong cuộc sống nhân loại. Gioan Tẩy giả đã lớn tiếng kêu gọi : "Hãy dọn sẵn con đường cho Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi"; đó cũng là lời mời gọi để người ta biết trở về những giá trị căn bản của đời sống nhân loại, tìm về với hình ảnh con người như được Thiên Chúa sáng tạo.
Có thể nói, mùa Vọng là thời gian trầm lắng để mỗi người lắng nghe được khát vọng của "mảnh đất trần gian"; của "sa mạc"; của "đồng hoang"; của "thung lũng"; của "đồi núi" đang chiếm cứ trong tâm hồn và trong đời sống xã hội chung quanh mình… khát vọng đó sẽ thúc đẩy người ta mở ra "con đường cho Chúa", "con lộ thẳng băng để Chúa đến".
Con đường cho Chúa là con đường của lòng bác ái; bởi lẽ Thiên Chúa là tình yêu, Ngài chỉ bước đi lên trên con đường "trải đầy tình yêu".
Con đường cho Chúa là con đường của lòng khiêm tốn; bởi lẽ cuộc đời chúng ta, dù có nỗ lực đến đâu, vẫn còn có những dở dang không thể lấp đầy được.
Con đường cho Chúa là con đường bao dung; bởi lẽ chúng ta chẳng bao giờ có thể bắt mọi người phải chiều ý của mình, sống theo kiểu của mình; nhưng mỗi người chúng ta phải sống theo ý Chúa, để có thể hiệp nhất với nhau trong một Thiên Chúa là Cha.
Con đường cho Chúa là "hãy an ủi Dân Ta"; là "hãy ngọt ngào khuyên bảo Giêrusalem"; là "thái bình thịnh vượng cho dân Người"; là "hòa bình công lý đã giao duyên"… Ðó thực là những khát vọng khẩn thiết từ cuộc sống con người, là câu chất vấn của Gioan Tẩy giả với mỗi người chúng ta. Và điều quan trọng mà phụng vụ hôm nay muốn nhắc nhủ chúng ta: tất cả những "khát vọng", những "chất vấn" như thế đều được đặt trong bầu không khí của niềm hy vọng, vì "vinh quang của Chúa sẽ hiện ra, và mọi phàm nhân sẽ được thấy"; vì "có Ðấng quyền thế hơn tôi sẽ đến…".
Lạy Chúa Giêsu, Xin hãy đến!
Xin hãy đến trong tâm hồn đang xao xuyến của con;
Xin hãy đến trong gia đình
còn có những khó khăn của chúng con;
Xin hãy đến trong đất nước Việt Nam
đang nảy sinh bao tội ác nơi giới trẻ,
nơi những người có quá nhiều tiền của
mà không biết sử dụng
để xây dựng cuộc sống con người hạnh phúc hơn;
Xin Chúa hãy đến
và ban bình an,
ban ơn Cứu Ðộ của Ngài cho chúng con.

                                    An Phong, OP

Vể đầu trang

MV2-B54  TRỜI MỚI ĐẤT MỚI  - Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, OP

Bận tâm duy nhất của Hội Thánh là giới thiệu Chúa Kitô cho muôn dân. Càng ngày sứ mệnh đó: MV2-B54

Bận tâm duy nhất của Hội Thánh là giới thiệu Chúa Kitô cho muôn dân. Càng ngày sứ mệnh đó càng quá tải vì nhân số tràn ngập, nhất là tại lục địa Á châu, nơi Ðức Kitô đã sinh ra. Hội Thánh muốn Ðức Giêsu tái nhập thể vào khung cảnh xã hội, văn hóa, chính trị, tôn giáo Á châu. Muốn thực hiện được giấc mộng lớn đó, Hội Thánh cần rất nhiều Gioan Tẩy giả len lỏi vào mọi ngả đường Á châu để biến Giáo hội Á châu cho người châu Á, mà vẫn không đánh mất căn tính Công giáo của mình.
HI VỌNG LỚN LAO
Khởi đầu sứ vụ, Ðức Giêsu đã đến với đồng bào bằng một sứ điệp quen tai người Do thái : "Có tiếng người hô trong hoang địa : Hãy dọn sẵn con đường của Ðức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi." (Mc 1:3; Is 40:3) Kinh nghiệm Giuđa 100 năm cơ cực trước khi Giêrusalem sụp đổ và 70 năm lưu đày đã dạy cho dân biết phải làm gì để chuẩn bị đón Chúa. Giữa những kinh nghiệm cay đắng và chua chát đó, Chúa đã sai ngôn sứ Isaia đến với dân bằng một giọng ngọt ngào : "Hãy an ủi, an ủi dân Ta : Hãy ngọt ngào khuyên bảo Giêrusalem." (Is 40:1-2) Lời an ủi đó có sức làm cho toàn dân phấn khởi, vì nhắc lại giao ước Chúa đã thiết lập với dân Người.
Dân Israel bừng tỉnh trước hình ảnh vô cùng tươi đẹp của Thiên Chúa : "Kìa ÐỨC CHÚA quang lâm hùng dũng, tay nắm trọn chủ quyền... Như mục tử, Chúa chăn giữ đoàn chiên của Chúa, tập trung cả đoàn dưới cánh tay. Lũ chiên con, Người ấp ủ vào lòng, bầy chiên mẹ, cũng tận tình dẫn dắt" (Is 40:10-11). Còn gì ấm áp hơn tình yêu Thiên Chúa ! Bởi vậy, họ rất sung sướng và sẵn sàng nghe theo lệnh ngôn sứ : "Trong sa mạc, hãy mở đường cho ÐỨC CHÚA, giữa đồng hoang, hãy vạch một con lộ thẳng băng cho Thiên Chúa chúng ta. Mọi thung lũng sẽ được lấp đầy, mọi núi đồi sẽ phải bạt xuống, nơi lồi lõm sẽ hóa thành đ ồng bằng, chốn gồ ghề nên vùng đất phẳng phiu" (c.3-5).
Tình yêu Thiên Chúa thật diệu kỳ. Ðể cải hóa con người, Thiên Chúa không tỏ ra uy quyền, nhưng "Người kiên nhẫn đối với anh em vì Người không muốn cho ai phải diệt vong, nhưng muốn cho mọi người tới chỗ ăn năn hối cải." (2Pr 3:9) Không ai có thể kiên nhẫn như Người, vì "đối với Chúa, một ngày ví thể ngàn năm, ngàn năm cũng tựa một ngày." (c.8) Chính nhờ kiên nhẫn như thế, nên Chúa mới giáo dục được dân Chúa và đưa họ vào miền đất hứa. Con người không đủ kiên nhẫn, nên mới thấy như Chúa nuốt hay quên lời hứa. Nếu Người không thực hiện lời hứa, người ta có thể trách Chúa. Nhưng kỳ thực "Chúa không chậm trễ thực hiện lời hứa, như có kẻ cho là Người chậm trễ" (c.9). Cứ nhìn thiên nhiên sẽ thấy cách Thiên Chúa làm việc. Nếu trong thiên nhiên còn kiên nhẫn như thế, làm sao việc cứu rỗi con người Thiên Chúa lại có thể làm một cách hấp tấp được ?
Cuối cùng cái gì phải đến đã đến. Niềm vui toàn thể nhân loại như bùng vỡ. Ðó là lúc "khởi đầu Tin Mừng Ðức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa" (Mc 1:1). Hình ảnh hấp dẫn nhất khai mở giai đoạn mới của nhân loại là "ông Gioan mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da, ăn châu chấu và mật ong rừng" (c.8). Bộ diện đơn sơ đó hàm chứa cả một nội dung sứ điệp lớn lao. Ông đến để "rao giảng kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội." (c.4) Cả 400 năm, từ thời tiên tri Malachi, chưa có ngôn sứ. Thời gian đủ dài để nuôi niềm hi vọng mong chờ đấng Messia. Ðức Giêsu đã xuất hiện đúng lúc đáp ứng niềm hi vọng đó.
Nhưng nếu không chuẩn bị, dân Chúa không thể lãnh nhận niềm hi vọng lớn lao ấy. Bởi vậy Gioan trở thành một biểu tượng của lòng sám hối. Lời kêu gọi của ông hấp dẫn đến nỗi "mọi người từ khắp miền Giuđê và thành Giêrusalem kéo đến với ông. Họ thú tội, và ông làm phép rửa cho họ trong sông Giođan" (c.5). Cảnh tượng nhộn nhịp đó đã nói lên niềm vui của toàn dân khi Thiên Chúa thực hiện lời hứa. "Trong sứ vụ Gioan, phép rửa đã là một dấu chỉ rõ ràng cho thấy con người đã quyết định thay đổi đời sống, từ bỏ lối sống tội lỗi và ích kỷ và trở về với Thiên Chúa." (Life Application Study Bible:1991). Tất cả sức mạnh Thiên Chúa đã thể hiện trong kiên nhẫn và trung tín.
Sức mạnh đó đã được thánh Gioan khám phá nơi con người Ðức Giêsu Kitô. Người chính là Tin Mừng cứu độ, một sức mạnh lớn lao và siêu việt đến nỗi Gioan cảm thấy như bị choán ngợp trước sự xuất hiện của người : "Có Ðấng quyền thế hơn tôi đang đến sau tôi, tôi không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Người." (c.7) Sức mạnh đó không phải chỉ đẩy tới việc sám hối, nhưng đem lại sự sống mới cho muôn dân. Chính Gioan đã xác nhận điều đó : "Tôi đã làm phép rửa cho anh em trong nước ; còn Người, Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần," (c.8) Ðấng tác sinh và tác thánh những ai chờ đợi và sống trong nhiệm cục cứu độ vào thời cánh chung.
NHÌN VỀ TƯƠNG LAI
Thật bất ngờ khi nghe nói Ðức Giêsu là "'Ðấng Cứu Ðộ thế gian sinh ra cho chúng ta,' sinh ra tại Á châu !" (Giáo hội tại Á châu:1999) Thế ra Ðức Giêsu là người Á châu ! Một sự thật đã bị bao nhiêu lớp bụi văn hóa và văn minh Âu Mỹ phủ lấp. Chúng ta phải trả Ðức Giêsu Á châu cho người Á châu. Sau khi đã đi tới tận hang cùng ngõ hẻm Âu Mỹ, Chúa muốn chiếu cố đến mọi nẻo đường tối tăm và lầy lội tại Á châu, trong đó có nước Việt Nam thân yêu chúng ta.
Cho tới nay, sau hơn 2000 năm Ðấng Cứu thế sinh ra tại Á châu, mới hơn hai phần trăm dân số tại đây biết đến Người. Không thể chờ đợi lâu hơn nữa. Càng để lâu, vấn đề càng nhiêu khê và quá tải. Số thừa sai trên lục địa chiếm một nửa dân số thế giới đó chỉ như muối bỏ bể. Mọi thất bại tựu chung chỉ vì thiếu đối thoại và can đảm "chia sẻ chân lý của Chúa Giêsu Kitô với kẻ khác." (Giáo hội tại Á châu:1991) Chúng ta đã nhìn Á châu trong lăng kính Tây Phương. Bao ngộ nhận vẫn tác hại đến công cuộc truyền giáo.
Thời gian quả là một thách đố cho mọi nỗ lực Giáo hội hôm nay ! Ngày nay Giáo hội vẫn cần những Gioan Tẩy giả nói với Á châu bằng ngôn ngữ Á châu, một ngôn ngữ nặng phần tinh thần và tình cảm. Tình cảm như ÐỨC CHÚA đã an ủi dân tộc Israel. Nếu không sống bằng tinh thần, dân Á châu đã bị nghiền nát trước định mệnh khắc nghiệt rồi. Phải học nơi Chúa để có thể kiên nhẫn với những con người đau khổ như vậy. Nếu không bền gan, Ðức Giêsu cũng không thể cứu độ nhân loại (x.2Pr 3:9).
Trong khổ đau, người ta mới cảm thấy nhu cầu cứu độ và có nhiều thắc mắc về kiếp sống nhân sinh. "Chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể kéo con người ra khỏi cuộc sống u mê và trả lời được những vấn đề căn bản của họ" (Zenit 1/12/2002) nơi Ðức Giêsu Kitô. "Nếu mất ý thức về Thiên Chúa, nhân loại khép kín trước tương lai và chắc chắn sẽ không thấy dược viễn ảnh lữ hành trần gian. Tại sao sinh ra, tại sao chết ? Tại sao hi sinh, tại sao đau khổ ? Kitô giáo có câu trả lời trọn vẹn cho những vấn nạn đó. Do đó, Ðức Kitô là niềm hi vọng nhân loại. Người là ý nghĩa đích thực của cuộc sống hiện tại, vì Người là tương lai chắc chắn của chúng ta. Nhờ gặp gỡ Người và chiêm ngắm thánh nhan, chúng ta mới có sức mạnh truyền giáo để thoát ra cuộc sống tăm tối hằng ngày mà can đảm làm chứng cho Người." (ÐGH Gioan Phaolô II: Zenit 1/12/2002) Chỉ trong Lời Chúa và Mình Chúa, Kitô hữu mới có thể thấy "Ðức Chúa quang lâm hùng dũng, tay nắm trọn chủ quyền," (Is 40:10) và chiêm ngưỡng dung nhan vị Mục tử đang "chăn giữ đoàn chiên của Chúa, tập trung cả đoàn dưới cánh tay" (Is 40:11) để thiết lập cảnh "trời mới đất mới, nơi công lý ngự trị" (2 Pr 3:13) cho "mọi người phàm cùng thấy vinh quang Ðức Chúa tỏ hiện" (Is 40:5) khi Con Chúa giáng sinh cứu độ muôn dân.
Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, OP

Vể đầu trang

MV2-B55 KẺ DỌN ĐƯỜNG - Lm. Giuse Nguyễn Cao Luật, OP

Vẫn là một con đường
 

Toàn bộ cuộc sống của dân Do-thái đều có dấu ấn về một quan niệm : đời sống là một cuộc Vượt: MV2-B55

Toàn bộ cuộc sống của dân Do-thái đều có dấu ấn về một quan niệm : đời sống là một cuộc Vượt qua. Quan niệm này được bày tỏ rõ ràng qua những biến cố lớn : Thiên Chúa gọi tổ phụ Áp-ra-ham, dân Do-thái được giải thoát khỏi Ai-cập và lưu lạc 40 năm trong sa mạc, cuộc lên đường rời bỏ đất lưu đày để trở về quê hương ... Trong những biến cố đó, họ luôn phải lên đường và luôn phải vượt qua những chướng ngại làm cản trở bước chân : đó là sa mạc, là dòng sông ... Họ lên đường để đi tới miền đất Thiên Chúa đã hứa ban cho họ, nơi họ vẫn hằng mơ ước.
Sa mạc, dòng sông : những yếu tố này lại xuất hiện trong câu chuyện về ông Gio-an Tẩy Giả và trở thành dấu chỉ cho những ý nghĩa mới : Phép rửa ông Gio-an đề ra cho người Do-thái không phải chỉ là một nghi thức ; trái lại, đó là dấu chỉ bề ngoài cho một hoạt động sâu xa là sự thanh tẩy nội tâm. Qua phép rửa này, ông Gio-an muốn nhắc nhở dân chúng về ý nghĩa sâu xa trong ơn gọi của họ : họ là những người được Thiên Chúa tuyển chọn và họ phải trở nên xứng đáng với ơn gọi đó.
Theo cách hiểu của các Ki-tô hữu thời đầu, từ việc Thiên Chúa kêu gọi dân Ít-ra-en trở thành dân của Người đến sự xuất hiện của ông Gio-an Tẩy Giả và của Ðức Giê-su là một sự liên tục hoàn toàn. Những yếu tố này liên hệ với nhau cách chặt chẽ và bổ sung cho nhau. Ðây cũng chính là điều thánh Mác-cô muốn nhấn mạnh. Trong bài tường thuật của Tin Mừng thứ hai, người ta thấy cả ba khía cạnh quá khứ, hiện tại và tương lai.
Quá khứ : vào cuối thời lưu đày, ngôn sứ I-sai-a đã kêu gọi dân Do-thái lên đường, thực hiện một chuyến du hành mới băng qua sa mạc. Một lần nữa, Thiên Chúa lại đến, mở ra con đường cho dân Người, thúc đẩy họ lên đường đang khi họ là những người đã chịu kết án phải chết.
Hiện tại : ông Gio-an kêu gọi dân trở lại, từ bỏ lối sống cũ và bước vào đời sống mới.
Tương lai : ông Gio-an thoáng thấy được sự xuất hiện của Ðức Giê-su, Vị Cứu Thế. Chính Người sẽ làm sáng tỏ toàn bộ ý nghĩa của cuộc hành trình luôn được lặp lại này. Người là Ðấng sẽ thực hiện cuộc Vượt Qua đích thực, và tận điểm của cuộc hành trình này là ân huệ Thánh Thần.
Qua những suy niệm như thế về ý nghĩa lời rao giảng của ông Gio-an Tẩy Giả, thánh Mác-cô đã hiểu được tất cả mọi điều hàm chứa trong phép rửa. Với Ðức Giê-su, phép rửa chính là cuộc vượt qua đúng nghĩa, nhờ cái chết trên thập giá. Cuộc vượt qua này đòi phải từ bỏ mọi sự, kể cả mạng sống, nhưng cuối cùng, chính cuộc vượt qua này sẽ mở ra con đường dẫn tới cuộc sống viên mãn.
Công việc của kẻ dọn đường
Người ta vẫn gọi ông Gio-an Tẩy Giả là vị Tiền Hô, nhưng có người lại muốn gọi ông là cái máy ủi.
Cách nói như thế không phải chỉ do ý thích muốn chơi chữ. Lý do chính là tính cộc cằn của ông cũng như những ngôn từ mạnh bạo, quyết liệt của ông. Thánh Lu-ca thuật lại ông đã lăng mạ những người đến gặp ông : ông gọi họ là nòi rắn độc.
Một lý do khác nữa là nếp sống kỳ lạ của ông. Con người ông ít có những nét hấp dẫn, như lời tường thuật của các tác giả sách Tin Mừng và hình ảnh do các nhà điêu khắc để lại : một con người mặc áo bằng da thú, ăn châu chấu và mật ong rừng ...
Vị ngôn sứ này quả là một nhân vật lạ lùng. Ðức Giê-su gọi ông là vị ngôn sứ lớn nhất, không phải chỉ vì dáng dấp đặc biệt của một người sống trong sa mạc : là nếp sống khỗ hạnh và đưa ra nhiều yêu cầu, nhưng vì ông đã nhận mình là tiếng nói của Thiên Chúa : ông đến để loan báo và chuẩn bị cho cuộc xuất hiện của chính Thiên Chúa.
Thiên Chúa vẫn luôn là Ðấng Em-ma-nu-en - Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta, một Thiên Chúa đang chuẩn bị cho cuộc xuất hành mới, cuộc xuất hành cuối cùng để đưa nhân loại về quê hương vĩnh cửu. Con người cần phải tạo điều kiện để Thiên Chúa có thể đến và hoạt động nơi họ. Ông Gio-an là người nhắc nhở cho họ về bỗn phận này.
Công việc của ông Gio-an là "đi trước Chúa, mở lối cho Người" (Lc 1,76b) và ông đã dọn lối bằng cách thức tỉnh lương tâm con người, kêu gọi họ thay đỗi lối sống, thúc đẩy họ dẹp bỏ những gò nỗng, lấp những hố sâu, uốn ngay đường cong mà quay về đường công chính.
Thật ra lời kêu gọi của ông Gio-an không phải là mới mẻ : hình thức có thay đỗi, nhưng nội dung vẫn là một từ thời các ngôn sứ. Thiên Chúa vẫn luôn mong muốn con người vươn lên cao hơn, hạnh phúc hơn và xứng đáng hơn với tình yêu thương của Người. Con người luôn phải vượt qua quá khứ để đạt tới tương lai mới. Họ luôn phải khắc khoải trở mình để đón lấy những điều lớn lao Thiên Chúa tặng ban cho họ. Lời kêu gọi của ông Gio-an Tẩy Giả nhắc lại cả một lịch sử dài của lòng yêu thương. Lịch sử này đang đi tới hổi quyết định với sự xuất hiện của Ðức Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa.
Do đó, lời kêu gọi của ông Gio-an có tính cách độc đáo vì chuẩn bị cho thời cuối cùng. Ông đã thoáng thấy một tương lai xán lạn đang được mở ra : nhân loại được giải thoát hoàn toàn khỏi ách nô lệ, và Thiên Chúa sắp đến để thực hiện những sáng kiến cuối cùng. Chính vì vậy ông nói rõ : "sẽ có một Ðấng đến sau tôi, quyền thế hơn tôi" và "tôi làm phép rửa cho anh em bằng nước, còn Người, Người sẽ làm phép rửa cho anh em bằng Thánh Thần" (Mc 1,7-8).
Kẻ dọn đường hiên ngang
Ngày nay, Ðức Ki-tô đã đến và một giao ước mới giữa Thiên Chúa và loài người đã được ký kết, thì nhân vật Gio-an này còn có thể nói gì với con người ? Ông là vị ngôn sứ cuối cùng, một vị ngôn sứ lớn của Cựu Ước, nhưng lại là vị ngôn sứ đầu tiên trong Ki-tô giáo ; ông đã hoàn thành công trình xây dựng cây cầu nối giữa dân Ít-ra-en và dân mới của Thiên Chúa, giữa đợi chờ và xuất hiện. Vậy phải chăng nên xếp ông vào công hàm, vào bảo tàng lưu trữ ?
Chắc chắn là không. Ðiểm nghịch lý trong Lịch Sử Cứu Ðộ là tất cả đã được ban tặng nhưng vẫn còn đang được thực hiện. Có một Tin Mừng đã được viết ra, và có một Tin Mừng khác cũng đang được viết ra. Thiên Chúa đã nói với con người một lần thay cho tất cả, nhưng sự im lặng hiện nay của Người cũng là một cách nói. Do đó, lời kêu gọi của ông Gio-an Tẩy Giả vẫn luôn vang lên như một lời mời gọi, như một sứ mạng.
Như một lời mời gọi. Con người sống trong sa mạc xưa kia cũng đang kêu lên giữa sa mạc của cuộc đời : Anh em hãy ăn năn sám hối, tức là : hãy đi vào sa mạc mà gặp gỡ Thiên Chúa, hãy từ bỏ tất cả để nhường chỗ cho Thiên Chúa. Ðây cũng là điều Thiên Chúa luôn nói với con người, như lời ngôn sứ Hô-sê : "Ta sẽ dẫn ngươi vào sa mạc để cùng ngươi thỗ lộ tâm tình."
Như một sứ mạng. Gio-an đã minh chứng rằng Ðức Ki-tô chỉ có thể xuất hiện trên những con đường đã được chuẩn bị sẵn sàng. Mỗi người phải dẹp đi những trở ngại được dựng nên trên con đường của Ðức Ki-tô. Họ có nhiệm vụ phải đẩy xa khỏi mình cũng như môi trường chung quanh những thành kiến, những thái độ thiếu tình yêu ... Họ có sứ mạng phải dọn đường, phải dành chôỵ cho Ðức Ki-tô xuất hiện : nhỗ đi những mầm mống của bạo lực và chiến tranh, san bằng những ngọn núi là thái độ dửng dưng, lấp đầy những hố sâu là nghi ngờ và cái nhìn xấu xa.
Ông Gio-an đã làm chứng cho niềm tin của ông vào thế giới mới này bằng chính mạng sống của ông. Ông xác tín rằng trong thế giới mới này, những tâm hồn ủ rũ sẽ được nâng dậy và những cõi lòng sôi sục, chia rẽ vì hận thù sẽ được biến đổi trở nên dịu hiền. Ông Gio-an đã là cái máy ủi. Mỗi người chúng ta, theo cách của mình, cũng phải trở thành người ủi đường cho Chúa đến. Và như ông Gio-an, mỗi người chúng ta cũng phải xoá mình đi trước một Ðấng khác, quyền thế hơn chúng ta. Chính Người là ơn cứu độ, là Tin Mừng cho thời đại chúng ta.
lll
Ðức Ki-tô chẳng còn đôi tay
Người chỉ có đôi tay của chúng ta
để thực hiện công trình của Người ngày hôm nay.
Ðức Ki-tô chẳng còn đôi chân
Người chỉ có đôi chân của chúng ta
để đến với con người.
Ðức Ki-tô chẳng còn tiếng nói
Người chỉ có tiếng nói của chúng ta
để công bố về Người.
Ðức Ki-tô chẳng còn sức lực
Người chỉ có sức lực của chúng ta
để hướng dẫn nhân loại đến với Người.
Ðức Ki-tô chẳng còn những bản Tin Mừng
để con người đọc lên.
Nhưng tất cả những gì chúng ta làm
qua lời nói và hành động
đó chính là Tin Mừng được viết ra. M. Pomilio

Lm. Giuse Nguyễn Cao Luật, OP.

Vể đầu trang

MV2-B56 ĐƯỜNG NÀO CHO CHÚA Gp. Vĩnh Long

Mc 1, 1-8
Anh chị em thân mến,
 

Một gia đình công giáo nọ: hai vợ chồng trẻ và một đứa con. Chồng đi dạy, vợ mua bán ở ngoài chợ;: MV2-B56

Một gia đình công giáo nọ: hai vợ chồng trẻ và một đứa con. Chồng đi dạy, vợ mua bán ở ngoài chợ; đứa con tánh tình cũng tốt, học gần hết phổ thông. Công việc làm ăn xem ra thành đạt lắm. Đùng một cái, nghe nói chồng có vợ bé. Vợ buồn rầu một thời gian… cuối cùng xin ly dị. Sau đó, mạnh ai nấy sống! Đứa con theo mẹ vừa đi học vừa phụ bán sạp ngoài chợ. Công việc mua bán phát đạt lắm; lúc này mẹ con mua bán được, nên gần như không tới nhà thờ nữa: “chắp tay lạy Chúa Ba ngôi, cho con bán được con thôi nhà thờ.” Một chiều nọ, bà mẹ đi Honda lên tỉnh có việc làm ăn, nửa đường bị chóng mặt té xuống. Người ta vội vả đem tới nhà thương tỉnh, nhưng chưa đến nơi đã mất rồi…Thật ra theo người công giáo, chúng ta không nói bà mẹ này sẽ phải bị hư mất đời đời. Nhưng rõ ràng, lời thánh Gioan TG nhắc nhở: Người công giáo dọn đường thế nào chờ đón Chúa đến trong cuộc đời của mình đây? Rõ ràng bà mẹ câu chuyện trên, chưa có chẩn bị để sẵn sàng ra đón Chúa. Đây chính là đề tài mà chúng ta suy niệm chúa nhật hôm nay…
a/. Thánh Gioan là ai? Theo kinh thánh, thánh Gioan TG là con trai tư tế Zacaria và bà Isave. Ngài có bà con bạn dì với Chúa Giêsu, được ơn khỏi tội tổ tông ngay trong lòng mẹ, khi Mẹ Maria chào Bà Isave (Lc 1, 36). Đức Mẹ vừa được thiên thần truyền tin sinh Đấng Cứu thế, Mẹ liền lên đường đi thăm Bà Isave, rồi ở lại phụ giúp cho Bà chị họ lúc sinh nở, vì bà chị mang thai lúc tuổi già. Thánh Gioan khi lớn lên được Thánh Thần hướng dẫn, đã vào hoang địa, miền Nam nước Do thái, sống ẩn dật, chay tịnh, ăn chấu chấu, uống mật ong rừng. Đến đầu năm 28 sCN, thánh nhân xuất hiện rao giảng và làm phép rửa chuẩn bị tâm hồn cho dân chúng đón mừng Đấng Cứu Thế và Nước Thiên Chúa. Thánh Gioan làm phép rửa tại vũng lội Bethabara, nơi góc con sông Giođan trước khi đổ vào Biển Chết. Qua năm sau, năm 29 sCN, Hêrôđê cướp vợ của anh mình, ông bị thánh Gioan đả kích dữ dội, nên ông đã bắt thánh Gioan tống ngục, dù nhà vua rất kính trọng thánh nhân. Sau đó, Hêrôđê đã cho chặt đầu thánh Gioan, do mưu mẹo trả thù của bà Hêrođiađê, vợ vua cướp lấy…Cách sống và lời rao giảng của Thánh Gioan, chứng tỏ ngài là vị đại tiên tri, nối kết Cựu ước và Tân Ước, Đấng được sai đi trước Đấng Cứu thế dọn đường cho Chúa...
b/. Cả các sách Cựu Ước lẫn Tân Ước đều xác định: Thiên Chúa sai Gioan Tẩy giả đi trước dọn đường: cho Đấng Cứu thế. Xh 23, 20: “Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, để dọn đường cho Con.” Is 40, 3: “Có tiếng người hô trong hoang địa, hãy dọn sẵng con đường của Chúa…” Mt 3, 3: “Có tiếng hô trong hoang địa, hãy dọn sẵn con đường cho Chúa…” Gn 1, 6: “Có một người được Thiên Chúa sai đến tên là Gioan…Ông đến để làm chứng, để mọi người nhờ ông mà tin.”
Việc Đấng Cứu thế sẽ đến hiển nhiên được các tiên tri loan báo trong Cựu ước; vậy mà ngay cả việc thánh Gioan đi trước dẫn đường cũng đã được nói trước. Ngày hôm nay, với chúa nhật thứ hai mùa Vọng, Hội thánh muốn nhắc đến biến cố Gioan Tẩy giả đi trước mở đường cho Con Thiên Chúa, chính là để nhắc nhở mọi người kitô hữu chúng ta, phải biết tỉnh thức, phải biết đón chờ Đấng Cứu thế, vì bao nhiêu lần Người muốn đến với chúng ta, mà hình như ta chưa sẵn sàng đón nhận. Con Thiên Chúa muốn đến trong tâm hồn ta khi ta lãnh nhận bí tích rửa tội, bí tích Thêm sức, bí tích Thánh thể, vậy mà xem ra ta còn rất thờ ơ, nhiều khi lãnh nhận cách cho có cho rồi… Người còn đến nhiều lần qua các biến cố trong cuộc sống, vui buồn sướng khổ, qua các bệnh tật, qua cả những cái được mất của cuộc đời. Những khi đó, thực ra ta đã sẵn sàng tỉnh thức, chờ đón Chúa cở nào đây?
Một người mẹ công giáo mang thai sinh đôi với hai bé gái bụ bẫm. Khi hai em lên hơn một tuổi, bất ngờ, đứa em nhỏ mang bệnh tim bẫm sinh, cần phải phẩu thuật mới mong cứu được em. Bà mẹ rất lo buồn. Vì thuơng em, bà mẹ đi xin khấn nhiều nơi. Bà nói với Chúa: “lạy Chúa, xin lòng từ bi Chúa thương xót con của con. Thật ra con không có công trạng gì để đòi Chúa phải giúp đở con; con chỉ dựa vào Lòng Thương xót Chúa mà thôi. Nếu Chúa bằng lòng, xin Chúa cho con của con vượt qua ca mỗ bình an. Con sẵn sàng chấp nhận mọi thử thách Chúa gởi đến cho con sau này….”
Thực tế sau này, bà ta bị ung thư nhưng hình như không chấp nhận đau khổ, không chấp nhận ý Chúa cho lắm. Thường tình ở đời, khi chúng ta cầu xin điều gì lợi ích cho mình, người ta sẽ khẩn nài để xin cho được; và khi được chấp thuận chúng ta vui mừng lắm; nhưng khi Chúa đòi mình phải trả lại cho Chúa điều nọ điều kia, người ta sẽ buồn sầu lắm, và ít khi vui lòng tuân theo.
c/. Gợi ý sống và chia sẻ:
Thiên Chúa đã sai thánh Gioan như sứ giả đi trước dọn đuờng, kêu gọi mọi người ăn năn sám hối sửa đổi đời sống, để đón chờ Con Thiên Chúa đến. Mùa Vọng năm nay, ta có muốn thực tâm sửa đổi đời sống mình không? Lời cảnh báo của thánh Gioan dành cho những người cứng lòng, lời đó có đánh động lòng mỗi người chúng ta không? Để đáp lại lời thánh Gioan kêu mời, ta có nghĩ rằng mùa Vọng ăm nay, mình phải khiêm tốn đến tòa cáo giải chân thành xưng thú tội lỗi, khiêm tốn sửa đổi đời sống không?

Vể đầu trang

MV2-B57 CẤT LỜI RAO GIẢNG Gp. Vĩnh Long

Mc 1, 1-8
 

Một trong những sứ mạng chính yếu của Giáo hội là rao giảng: rao giảng về Thiên Chúa cho: MV2-B57

Một trong những sứ mạng chính yếu của Giáo hội là rao giảng: rao giảng về Thiên Chúa cho con người, nhất là rao giảng vềø tình yêu cứu độ của Thiên Chúa cho những ai đang kiếm tìm và khao khát Thiên Chúa.
Thế giới ngày nay dễ làm cho con người lao mình vào việc hưởng thụ và quên mất Thiên Chúa. vì thế, nhiệm vụ rao giảng lại càng cấp thiết hơn bao giờ hết. Nhưng nhiệm vụ rao giảng là của ai? Họ cần được trang bị những gì và rao giảng điều gì? Tin mừng hôm nay cho chúng ta một cái nhìn chuẩn mực trong vấn đề rao giảng.
1. Ai có nhiệm vụ rao giảng?
Rao giảng về Thiên Chúa , về ơn cứu độ của Thiên Chúa cho con người là nhiệm vụ của mọi tín hữu Chúa Kitô. Mọi thành phần Dân Chúa đều có bổn phận tham gia vào việc rao giảng này, dù rằng các Linh mục, tu sĩ, giáo lý viên có trách nhiệm đặc biệt hơn trong vấn đề này.
Có nhiều cách thế rao giảng khác nhau. Chúng ta có thể rao giảng về Thiên Chúa cho con người bằng lời nói, bằng những phương tiện truyền thông đại chúng, nhưng lời rao giảng hùng hồn nhất vẫn là đời sống chứng nhân của từng người chúng ta.
An là một học sinh tiểu học bán trú và là một người Công giáo rất ngoan đạo vì em được giáo dục đức tin từ thưở bé. Chuyện xảy ra là trong một giờ ăn trưa, khi các bạn bè của An ngồi vào bàn ăn và ăn ngay những thức ăn được dọn sẵn. Còn An thì chậm rãi là dấu Thánh giá và thì thầm trong miệng lời kinh Lạy Cha mà em vẫn được dạy đọc trước mỗi giờ ăn. Các bạn bè của An nhìn An một cách tò mò và tỏ vẻ khó chịu. Thế rồi có một đứa bạn của An chạy đến chỗ thầy giáo đang dùng cơm ở phòng kế bên và nói: “Thầy ơi, bạn An đọc thần chú trước bữa ăn đó thầy”. Chờ các học trò ăn xong, thầy giáo gọi An lên hỏi xem em đã làm gì. An bình thản trả lời: “Em chỉ làm dấu thánh giá và đọc kinh Lạy Cha để cám ơn Chúa đã ban cho em bữa ăn thôi”. Thầy giáo cố nén vẻ xúc động và chân thành nói: “An à, em tốt lắm. Em là người can đảm. Em làm cho thầy cảm thấy mình thật xấu hổ, vì thầy cũng là người Công giáo, nhưng thầy chỉ đọc kinh khi ở một mình. Còn khi có ai, thầy cảm thấy mắc cỡ nên không đọc. Từ nay, thầy sẽ noi theo gương của em để tuyên xưng niềm tin của mình”. Câu chuyện rất đơn sơ nhưng thật cảm động. An đã là một cử chỉ rất thiết thực để rao giảng về Chúa Kitô cho người khác và cho những ai còn non kém về niềm tin của họ.
2. Người rao giảng về Chúa cần phải được trang bị những gì?
Chắc chắn một điều là chúng ta không thể cho những gì chúng ta không có. Vì thế, người rao giảng về Chúa thì cần phải có Chúa trong lòng mình, có đức tin vào Chúa thật vững vàng… người rao giảng cần có những cảm nghiệm riêng tư về Chúa, như cảm nghiệm được rõ ràng bàn tay của Chúa đang hành động trên cuộc đời mình, trong vũ trụ, cảm nghiệm được Chúa yêu thương mình cách lạ lùng. . . Họ cũng cần phải có đời sống gương mẫu: sống khiêm tốn, chân thành, thanh thoát, thương người, siêng năng cầu nguyện . . .Thánh Gioan Tẩy giả là một mẫu mực về đời sống gương mẫu này để chúng ta học đòi bắt chước.
3. Rao giảng những gì?
Thánh Gioan Tẩy giả nói về Chúa Giêsu với tất cả tất lòng kính trọng và khiêm hạ của ông để giúp người ta nhận biết về Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa. Thánh Gioan chấp nhận xoá mình đi để làm cho Chúa Giêsu nổi bật lên và lớn lên trong cuộc đời của ngài, như lời ngài đã nói: “ Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại” Gioan tẩy giả đã qui hướng mọi vinh quang, danh dự và thành công về Chúa Giêsu. Ngài đã khiêm hạ tột ùng khi nói: “Tôi không đáng cúi xuống cởi dây giày cho Người”.
Rao giảng về Thiên Chúa đích thực là giúp người khác nhận ra Thiên Chúa quyền năng nhưng rất yêu thương con người, là tìm mọi phương thế để đưa người ta đến với Chúa và quên đi chính mình. Rao giảng là giúp người khác Chúa nhận biết thân phận đích thực của mình, giúp họ sám hối, cải thiện đời sống và hướng lòng về Thiên Chúa.
Noi gương thánh Gioan tẩy giả, chúng ta cần phải ý thức sứ mạng và ơn gọi của mình trong cuộc đời này. Vậy chúng ta hãy biết dùng những phương tiện và khả năng Chúa ban để giúp đỡ Giáo hội trong sứ mạng rao giảng về Chúa cho con người. Chúng ta hãy dùng chính cuộc sống của mình để biến nó thành lời rao giảng sống động về Thiên Chúa cho con người. Muốn thế, chúng ta cần phải biết sống hy sinh trong những chuyện thường ngày; biết sống nhường nhịn nhau, không tham lam, tranh chấp, không nói xấu người khác, nhưng tập nghĩ tốt và nói tốt về người khác. Chúng ta cần tập sống cho đi nhất là cho những ai đang cần đến sự trợ giúp của chúng ta.
Xin Chúa giúp chúng ta biết noi gương thánh Gioan Tẩy giả để nhiệt thành trong vai trò và sứ mạng rao giảng của mình để Chúa được lớn lên trong cuộc đời của từng người Kitô hữu chúng ta. Amen.

Vể đầu trang

MV2-B58 DỌN ĐƯỜNG - Gp. Vĩnh Long

Mc 1, 1- 8
 

Ngày nay, người ta có thể đến gần với nhau hơn nhờ Khoa học kĩ thuật đã phát triển ngành giao thông: MV2- B58

Ngày nay, người ta có thể đến gần với nhau hơn nhờ Khoa học kĩ thuật đã phát triển ngành giao thông. Đường xá ngày càng mở rộng, từ thành thị đến thôn quê. Nhờ đó người ta có thể đi lại dễ dàng và việc liên lạc không còn là vấn đề khó khăn nữa.
Trong tâm tình sống Mùa Vọng, thời điểm mà Giáo Hội mời gọi người Kitô hữu dọn lòng mừng Chúa đến, chúng ta vừa được kêu mời: “hãy dọn đường Chúa, hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng”.
Đường đi cần phải dọn cho trống trãi để giao thông được thuận lợi.Sửa đường cho ngay thẳng để người ta đi lại được dễ dàng.
Ngôn sứ Isaia cho biết mục đích của việc dọn đường và sửa đường là để cho Chúa đến. Con đường được đề cập ở đây là tâm hồn của con người, cụ thể là người Kitô hữu chúng ta. Người Kitô hữu được mời gọi dọn lòng mình chuẩn bị cho Chúa ngự đến.
Nếu nhìn lại kỹ hơn trong lòng mình, ta sẽ nhận thấy có những con đường khác nhau: Con đường u tối: do lòng mình còn sống trong tội lỗi Con đường bị cỏ dại mọc bít lối: vướng mắc đủ thứ tội nặng nhẹ, khô khan việc đạo đức. Con đường gồ ghề quanh co: do lọc lừa gian dối, hiềm thù...
Vì thế, hưởng ứng lời kêu gọi của Isaia, ta hãy mở lòng ra, nhìn lại để dọn lòng mình cho sạch sẽ,.... lấp ổ gà bằng lòng bao dung, tha thứ yêu thương, hãy sửa những quanh co, lọc lừa, gian dối, hiềm thù, bằng lòng khiêm nhượng, yêu thương chân thành.
Đọc bài Tin Mừng hôm nay ta còn thấy hình ảnh của Gioan Tiền Hô, một nhân chứng sống động cho việc dọn đường cho Chúa.
Về việc ăn uống: Ông ăn châu chấu và uống mật ong rừng: một hình ảnh gợi cho chúng ta thấy con người này hoàn tòan sống hài hòa với thiên nhiên, theo thiên nhiên
Về thái độ sống: khiêm nhượng, nhìn nhận sự hèn kém của mình, nổ lực làm hết mình vì Đấng đến sau mình. Ông là mẫu gương sống phục vụ vì Chúa Kitô.
Kêu gọi: sám hối bao gồm nhận biết tội mình, hối tiếc vì đã phạm tội và trông cậy vào ơn Chúa giúp mình sửa đổi.
Những người của ngày xưa đã biết sám hối, nên đã đến lãnh phép rửa của Gioan. Còn chúng ta thì sao?
Hằng ngày, chúng ta có những thời gian, cơ hội để sám hối như những thời gian ta cầu nguyện: sáng, trưa, và trước khi nghỉ đêm. Việc sám hối này đồng thời với việc cảm tạ hồng ân Chúa thương ban cho ta từng phút giây trong cuộc sống. Nhìn lại, cảm ta và định hướng cho cuộc sống mới, cuộc sống có Chúa, cuộc sống có niềm tin, bình an, hy vọng...
Hãy nhìn lại bản thân mình, biết lắng nghe Lời Chúa, khiêm tốn nhìn nhận mình yếu đuối, để dọn lòng mừng Chúa đến, tạo cho mình con đường để Chuá đến với ta.

Vể đầu trang

MV2-B59 DỌN LÒNG - Gp. Vĩnh Long

Mc 1 ,1-8
 

Nhân vật Gioan Tẩy Giả thật đặc biệt, ông là vị ngôn sứ sống vừa cả thời cựu ước lẫn tân ước: MV2-B59

Nhân vật Gioan Tẩy Giả thật đặc biệt, ông là vị ngôn sứ sống vừa cả thời cựu ước lẫn tân ước, sứ mạng được chỉ rõ trong lời sấm : “Có tiếng kêu trong hoang địa” và trong lời tuyên bố: “Gioan đến làm phép rửa trong hoang địa” . Ông được sai đi “dọn đường Chúa, nắn thẳng lối Ngài đi” bằng cách “kêu gọi ăn năn để được tha tội”.. Phép rửa của ông diễn tả sự ăn năn của người lãnh nhận và để ý đến việc tha tội. Kêu gọi ăn năn để đón chờ Chúa đúng là công tác của một sứ giả dọn đường, vì người Do Thái ngoan đạo đều tin rằng Đấng Messia chỉ đến khi dân người từ bỏ tội lỗi.
Ngày nay cũng thế, sự ăn năn thật tâm phải có trước rồi mới lĩnh nhận được những ơn phúc mà Chúa sẵn lòng ban cho kẻ tin nhận Ngài. Sự thành công của Gioan được tả rõ: “cả miền Giuđê và dân thủ đô đến với ông để lãnh phép rửa”. Dĩ nhiên có nhiều người không đến, nhất là các vị có quyền chức đạo đời…Nhưng Marco cho thấy hưởng ứng của dân chúng với phong trào phục hưng mà Gioan phát động, và rồi sau này tấp nập đến với Chúa Giêsu tại sao Gioan lại gây được ảnh hưởng lớn đến vậy ?
Một trong những nguyên nhân vì ông là một người khiêm nhường, trong khi đang là một người rất nổi tiếng và có uy tín, nhưng chỉ dám ví mình như một người đầy tớ xách dép cho người đến sau. Và ông thực sự là người như thế, ông biết được vị trí và công việc của mình. Chính ông tự đánh gía là không xứng đáng với nhiệm vụ làm đầy tớ. Dép chỉ là một miếng da có xoi lỗ, buộc vào bàn chân bằng mấy sợi dây. Đường đi thời xưa rất gồ ghề, vào mùa khô, bụi tích tụ thành từng đống, mùa mưa thì là những con sông ngập bùn. Cởi dép là bổn phận và việc làm của kẻ tôi tớ. Gioan chẳng mong ước gì hơn là được làm bất cứ điệu gì cho Chúa Cứu Thế mà ông đang rao giảng. Ông quên mình, sẵn sàng phục tùng, sẵn sàng chịu lu mờ, hoàn toàn xóa bỏ mình trong thông điệp của ông đã thúc đẩy dân chúng theo ông. Thông điệp của Gioan có hiệu quả vì ông đã hướng sự chú ý của dân vào một điều, một nhân vật cao cả, vượt trổi ông. Ông bảo dân chúng rằng, qua phép rửa ông dìm họ xuống nước, nhưng Đấng đến sau ông sẽ dìm họ trong Thánh Thần. Trong khi nước thanh tẩy thân thể thì Thánh Thần thanh lọc cả đời sống, bản ngã và tấm lòng con người. Có thể dùng một hình ảnh minh họa dễ hiểu: Khi gọi điện thoại qua nhân viên tổng đài, và nếu có sự chậm trễ thì nhân viên tổng đài thường nói: “Tôi sẽ cố gắng bắt liên lạc cho ông”. Khi đã bắt được liên lạc, thì nhân viên tổng dài tự rút lui để đôi bên tiếp xúc với nhau. Mục đích của Gioan là không chiếm lấy trung tâm liên lạc điện thoại mà cố gắng giúp người ta bắt liên lạc được với Đấng trọng đại và quyền phép hơn ông, và người ta nghe ông vì ông không chỉ vào chính mình nhưng chỉ vào Đấng mà mọi người cần đến.
Vậy, đã có người kêu gọi và nhất là mùa vọng đã đến hơn một tuần rồi chúng ta đã chuẩn bị lòng đón Chúa như thế nào? Nhất là con đường trong tâm hồn chúng ta với nhiều chông gai gồ ghề cần phải san cho bằng để chuẩn bị đón Chúa trong mùa Giáng sinh này.
Lạy Chúa, Mỗi năm đến mùa vọng là thời gian để chúng con dọn lòng đón Chúa đến. Xin Chúa Thánh Thần soi sáng cho con biết nhận ra những gồ ghề trong tâm hồn để san cho bằng mà rước Chúa vào lòng. Amen

Vể đầu trang

MV2-B60. DỌN ĐƯỜNG - Gp. Vĩnh Long

Mc 1,1-8
 

Trong những trận lụt vừa qua, ai trong chúng ta cũng được nghe và được biết đến nhiều du: MV2-B60

Trong những trận lụt vừa qua, ai trong chúng ta cũng được nghe và được biết đến nhiều du khách trên đường đã bị tắt nghẹn, xe cộ không đi lại được. Do bởi đường đi bị sạt lở. Nhiều đoạn đường bị nước lũ tàn phá. Nhiều làng bị nước ngập, dân làng muốn thoát ra nhưng không đi được vì đường sá không còn. Nhiều đoàn cứu trợ muốn đến những làng xa xôi, nhưng không có đường đi, nên đành chịu bó tay.
Thưa anh chị em, con đường thật quan trọng vì nó giúp cho người bị nạn có thể thoát ra. Và còn đón nhận được sự cứu trợ, nối liên lạc giữa người với người nữa và…
Anh chị em thấy đó, con đường vật lý mà chúng ta đã cần như vậy. Vậy con đường tâm lý ta còn cần như thế nào nữa đây?
Nếu con đường tâm lý bị hư hỏng thì cho dù có ở sát cạnh nhau, người ta cũng vẫn xa nhau. Giống như vậy, ta cần có con đường thiêng liêng thật tốt để đón Chúa đến. Thật ra Chúa đã đến từ lâu, nhưng ta chưa đón nhận được vì con đường thiêng liêng trong tâm hồn ta đã bị hư hỏng.
Tâm hồn ta có những đỉnh đồi kiêu ngạo luôn muốn nâng mình lên, luôn khoe khoang, không bao giờ chịu thua kém người khác. Tâm hồn ta có những ngọn núi tự ái cao ngất trời xanh, không bao giờ chịu nhận lỗi, không bao giờ chịu tha thứ. Tâm hồn ta có những hố sâu tham lam muốn chiếm đoạt tất cả, thu vén tất cả vào túi riêng. Tâm hồn ta có những hố sâu đam mê, những hố sâu dục vọng, những hố sâu chia rẽ… miệt mài đuổi theo danh, lợi, thú. Tâm hồn ta có những khúc quanh co của sự dối trá, không thành thật với Chúa, không thành thật với người khác và không thành thật với chính mình. Tâm hồn ta có những lượn sóng gồ ghề của những lời nói độc ác, tàn nhẫn. Tâm hồn ta gồ ghề vì thói lười biếng không chịu cố gắng thăng tiến bản thân. Tâm hồn ta gồ ghề vì những phê bình chỉ trích thiếu tính cách xây dựng.
Tất cả những ngọn đồi, những vực sâu, những khúc quanh co, những lượn sóng gồ ghề ấy ngăn chặn Chúa đến với ta. Thưa anh chị em. Hôm nay, Thánh Gio-an Tiền hô mời gọi ta hãy sửa chữa con đường thiêng liêng cho tốt đẹp để đón Chúa Giê-su đến. Hãy bạt đi thói kiêu căng tự mãn. Hãy bạt đi tính tự ái ngang ngạnh. Hãy lấp đi những hố sâu tham lam, chia rẽ, bất hoà. Hãy lấp đi những hố sâu đam mê, dục vọng. Hãy uốn thẳng lại những quanh co dối trá. Hãy uốn thẳng lại những khúc quanh giả hình. Hãy san phẳng những lượn sóng gồ ghề độc ác. Hãy san phẳng những lượn sóng gồ ghề nói hành nói xấu.
Đổi mới con đường thì dễ, nhưng đổi mới con đường tâm hồn không dễ chút nào. Ngoài cố gắng bản thân, Thánh Gio-an Tiền hô đề nghị cho ta 3 cách
Thứ nhất là vào sa mạc. Đây là nơi vắng vẻ giúp ta sống yên lặng. Trong yên lặng, ta dễ gặp gỡ Chúa. Một mình ta đối diện với Chúa. Trong thân mật, Chúa sẽ dạy ta biết Thánh Ý Chúa để ta thi hành. Sa mạc đây được hiểu là những giờ cầu nguyện riêng tư thân mật một mình ta với Chúa.
Thứ hai là mặc áo da thú. Mặc áo da thú có nghĩa là ăn mặc đơn sơ, không chải chuốt. Một tâm hồn mặc áo da thú là một tâm hồn biết sống thực với chính mình, biết nhìn nhận những yếu đuối lỗi lầm và xin Chúa tha thứ. Thái độ đơn sơ khiêm nhường như thế chính là khởi điểm để tiến lên trên con đường thánh đức.
Thứ ba là ăn châu chấu và mật ong rừng. Đây có ý nói về một đời sống khổ chế. Hãm dẹp những tính mê tật xấu, hạn chế những đòi hỏi của thân xác để bắt nó quy phục linh hồn. Giảm bớt những nhu cầu không cần thiết để bồi dưỡng đời sống tâm linh.
Thánh Gio-an Tiền hô đã sống theo 3 điểm này, nên Ngài đã trở thành người mở đường cho Đấng Cứu Thế. Nếu chúng ta biết áp dụng 3 cách này trong Mùa Vọng này, ta sẽ biến tâm hồn ta thành một con đường thẳng tắp cho Chúa Giáng Sinh ngự đến.
Lạy Chúa, xin cứu con khỏi mọi tội lỗi để con xứng đáng đón rước Chúa. Amen.

Vể đầu trang

MV2-B61 CON ĐƯỜNG - Gp. Vĩnh Long

Mc 1,1-8
“ Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước Con, để dọn đường cho Con đến”. (Mc 1,2)
 

Thông thường,trước khi tổ chức một chương trình trại, giao lưu, hay biểu diễn văn nghệ, cao hơn: MV2-B55

Thông thường,trước khi tổ chức một chương trình trại, giao lưu, hay biểu diễn văn nghệ, cao hơn là chuyến viếng thăm của một nguyên thủ quốc gia chẳng hạn, ngoài việc thông báo cho nơi sắp đến biết thời gian và địa điểm, ban tổ chức còn cử một vài đại diện đến nơi để kiểm tra, hay để bàn kế hoạch chương trình. Công việc này có một cái tên rất “quân sự” là đi tiền trạm. Tính chất chương trình càng hệ trọng thì vấn đề đi tiền trạm càng cần thiết.
Có lẽ Mùa vọng nào chúng ta cũng nghe nói đến Gioan Tẩy Giả - một chuyên viên đi tiền trạm cho Đức Giêsu. Tuy nhiên công việc của Ông hơi khác một chúc. Ông không đến để kiểm tra sân bãi, tình hình an ninh, cũng chẳng dựng liều, phát thảo chương trình, mà Ông kêu gọi mọi người hãy tự chuẩn bị cho chính mình. “Hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối thẳng để Người đi”. Bởi vì, nhân vật sắp đến sẽ viếng thăm từng người một.
“Con đường” ở đây không là đại lộ rải nhựa, hay con đường quê lót ximăng, nhưng đó là tâm hồn của chính bản thân chúng ta và “dọn đường” ở đây chính là cải đổi đời sống, tâm hồn của mình.
Những ngày cuối năm, bà con ta hay dọn dẹp, tô sơn lại nhà cửa, tủ bàn… để đón năm mới. Vì ngày Tết sẽ có nhiều người đến thăm, nghèo thì ít ra phải cho sạch sẽ, gọn gàng. Thế, chúng ta đã chuẩn bị gì để đón Vua Giêsu đến với tâm hồn mình? Trong ta vẫn lổm chổm những ghanh đua, dối trá, nền nhà ta vẫn lồi lõm những hận thù, oán hờn. Ngõ Chúa vào nhà ta vẫn bề bộn nhưng biếng lười, nguội lạnh. Chúa đến Ngài sẽ đứng ở chỗ nào đây? Hay Ngài phải lầm lũi quay đi trong nỗi thương xót. Thương cho chúng ta dại dột khước từ Chúa, thương cho Thiên Chúa chẳng ai tiếp rước. Thiên Chúa, dẫu sao, cũng chẳng hại, chỉ tội cho chúng ta bỏ lỡ cơ hội “đổi đời” của mình.
Thiên Chúa đã chẳng ngại thân phận cao sang của mình cúi xuống ôm lấy con người tội lổi thấp hèn chúng ta. Ngài đã đi trước trong cái việc đặt mối liên lạc với con người. Ngài đã tạo nên con đường để đến với chúng ta. Thế nhưng, trong khi Ngài cố gắng bằng mọi cách để đến với thế giới này thì ngược lại chúng ta đã cố tình lãng quên hoặc phá bỏ con đường ấy. Chúng ta xây dựng nên nhiều con đường khang trang, đẹp đẽ. Nhưng không có đường nào để đến với Chúa hoặc để Chúa đến. Và rồi chính chúng, những con đường của tiền của, thú vui, danh vọng.. làm ngẽn lối ta đến với Chúa. Mà cũng đôi lúc ta đi đúng đường rồi mà cũng chẳng gặp được Chúa. Bởi vì chúng ta đi nhưng lòng chúng ta vẫn còn mãi mê với biết bao suy tư khác, thì làm sao có thời gian cho Chúa? Thật chua xót cho một Thiên Chúa đã dại dột yêu thương những con người vô tâm.
Giáo Hội một lần nữa dùng lại lời của Thánh Gioan Tẩy Giả để cảnh báo, mà cũng là để mời gọi nhân thế quay về. Bao nhiêu lần bỏ rơi Thiên Chúa đã quá mất mát. Bao nhiêu lần lạc đường đã quá đủ kinh nghiệm cho một lần trở lại.
Đức Giêsu đang đến thăm nhà chúng ta. Ngài vẩn kiên nhẫn chờ ta “quét dọn”. Đường đến với Ngài vẫn luôn rộng mở. Hãy đến với Ngài. Hãy nguyện cầu với Ngài. Hãy vui vẻ, hân hoan vì thời cơ khổ đã hết.
Gp. Vĩnh Long

Vể đầu trang

MV2-B62 HÃY DỌN ĐƯỜNG CHÚA ĐẾN

Mc 1, 1 - 8
Phanxicô Xaviê

 

Phụng vụ Chúa nhật II Mùa Vọng mời gọi chúng ta chuẩn bị con đường cho Chúa Cứu Thế ngự đến.: MV2-B62

Phụng vụ Chúa nhật II Mùa Vọng mời gọi chúng ta chuẩn bị con đường cho Chúa Cứu Thế ngự đến. Chúa đến là niềm vui cho toàn thể nhân loại. Nhưng để được hưởng niềm vui này, mỗi người cũng như toàn thể nhân loại phải biết dọn đường cho Người.

Dọn đường là nỗ lực hoán cải bản thân, tẩy trừ tội lỗi trong đời sống; đồng thời trong xã hội, cũng cần sự hoán cải tập thể, để tình yêu và chân lý, công lý và hòa bình được ngự trị.

Các chương từ 40-55 trong sách Tiên tri Isaia, được gọi là Sách An Ủi dân Israel. Sau khi Giêrusalem bị thất thủ, dân phải đi đầy sang Babylon, Thiên Chúa dùng Tiên tri Isaia loan báo cho dân Người ngày giải thoát. Vì vậy tiếng hô: "hãy mở một con đường cho Đức Chúa" (Is 40,3) là câu hoàn tất lệnh truyền của Thiên Chúa trước đó: "Hãy an ủi, an ủi dân Ta. Hãy ngọt ngào khuyên bảo Giêrusalem, và hô lên cho Thành: thời phục dịch của Thành đã mãn, tội của Thành đã đền xong" (Is 40,2).

Lời rao giảng của Gioan Tẩy Giả hoàn tất các lời hứa của Thiên Chúa: "Này ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con." (Mc 1,2). Và mở đường cho ơn cứu độ phổ quát. Trước khi là một sứ điệp loan báo, Tin Mừng là một biến cố, một con người cụ thể, Đức Giêsu Kitô: Con Thiên Chúa hằng sống (Mc 15,39).

Mác-cô đã thấy rõ nơi Gioan Tẩy Giả là người thực hiện các điều mà Is 40,3 loan báo. Là người giúp chuẩn bị lòng dân đón chờ Đấng Cứu Thế. Sứ điệp mà ông kêu gọi mọi người chuẩn bị lòng mình đón Chúa đến chính là: sám hối và canh tân cuộc sống.

Lòng ăn năn thống hối đích thực không hệ tại nơi những tình cảm chóng qua, hay những nghi thức bên ngoài. Nhưng phải phát xuất từ chính nội tâm bên trong, từ chính niềm tin mong đợi Chúa đến.

Hơn 2000 năm qua, sứ điệp "dọn đường Chúa đến" vẫn cần thiết cho mọi người qua mọi thời cho đến ngày cuối cùng. Con đường cho Chúa đến là những nẻo đường đời của mỗi tâm hồn, là những hoàn cảnh sống của từng gia đình, là tất cả mọi phương diện sống của toàn thể xã hội.

Sám hối thì phải canh tân cuộc sống, như điều kiện cần và đủ để ơn cứu độ đến được với mỗi người. Gioan có sứ mạng đi trước dọn đường cho Chúa đến. Ông thực thi sứ mạng bằng lời rao giảng sám hối, và chính ông đã thực thi sự sám hối bằng đời sống của mình. Nhìn cách sống, cách ăn mặc của ông, ta thấy toát lên một tinh thần khó nghèo, sám hối thực sự.

Theo thánh Phê-rô: Thiên Chúa chính là Đấng "chậm giận và giàu tình thương". Người không chậm trễ trong việc thực hiện lời hứa, nhưng Người kiên nhẫn chờ đợi chúng ta hối cải. Kitô hữu hôm nay cũng được mời gọi dọn đường cho Chúa đến. Trước hết phải dọn sạch tâm hồn mình, tẩy trừ tội lỗi ra khỏi đời sống bằng bí tích hòa giải. Và trong vai trò Kitô hữu, chúng ta hãy dấn thân vào đời, thanh tẩy khỏi cuộc đời này những tệ nạn, những sai trái, những cái xấu đang hoành hành trong xã hội loài người bằng chính nỗ lực sống và loan báo Tin Mừng.

Xin Chúa hãy thanh tẩy nhân loại trong Thánh Thần. Nhờ đó, những ai được thanh tẩy sẽ thực sự biến đổi hoàn toàn, được nên công chính, nên thánh thiện, và tất cả trở nên tinh tuyền trước mặt Người.


Vể đầu trang

MV2-B63 MÙA VỌNG: MÀU PHỤNG VỤ VÀ TRANG TRÍ

BÀI ĐỌC THÊM 1: CÁC THẮC MẮC VỀ PHỤNG VỤ
Hiểu biết về màu sắc và cách trang trí tại Nhà thờ trong Mùa Vọng cũng có thể giúp chúng ta sống Mùa Vọng ý nghĩa hơn. Lm PX Vũ Phan Long, ofm
 

Tôi có một câu hỏi nhỏ, nhờ giải đáp cho: (1) Trong nghi thức mùa Vọng, ở nhà thờ thường hay: MV2-B63

Hỏi:   Tôi có một câu hỏi nhỏ, nhờ giải đáp cho:
(1) Trong nghi thức mùa Vọng, ở nhà thờ thường hay trưng bày 4 cây nến: 3 cây màu tím, và 1 cây màu  hồng. Ý nghĩa của màu tím và màu hồng là gì, và khác nhau thế nào?
(2) Tại sao mùa Chay cũng dùng chung một màu " tím" nhưng lại có ý nghĩa khác?
(3) Tại sao dùng màu tím mà không thể dùng màu khác?
(4) Cây nến màu hồng được đốt vào tuần lễ thứ 3 mùa Vọng, sao không để đến tuần thứ 4 mới đốt?
Xin cám ơn nhiều. Cầu chúc một mùa Giáng Sinh thánh đức
(Thanh Vu).
Đáp:
Xin trả lời tổng hợp các câu hỏi của bạn.
a) Về màu sắc
Bạn có thể đọc các Quy chế Tổng Quát Sách Lễ Rôma (QCTQSLR) năm 1970 và 2000 (ấn bản thứ ba năm 2001):
FTrong QCTQSLR được Đức Giáo Hoàng Phaolô VI chuẩn nhận qua Tông Hiến "Sách Lễ Rôma" ban hành ngày 3-4-1969 và Thánh Bộ Phụng Tự ký sắc lệnh ngày 26-3-1970:
Số 308: Về các màu sắc của phẩm phục, hãy giữ các tâp quán cổ truyền, nghĩa là:
l Màu tím dùng trong Mùa Vọng (MV), Mùa Chay (MC), cũng có thể dùng trong thần vụ và các thánh lễ cầu cho những người đã qua đời.
l Màu hồng có thể dùng trong các Chúa Nhật Gaudete (CN III MV) và Laetare (CN IV MC).
FTrong QCTQSLR năm 2000 được Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II phê chuẩn ngày 11-01-2000 và Thánh Bộ về Phụng Tự Thánh và Kỷ Luật Bí Tích ban hành ngày 20-4-2000, và trong QCTQSLR của ấn bản thứ ba (editio typica tertia) được Đức Gioan-Phaolô II phê chuẩn trong Năm Thánh 2000 và được xuất bản vào mùa xuân 2001: Nói chung, qui định về màu sắc từ số 345 đến 347 giống như bản được ĐGH Phaolô VI phê chuẩn.
lMàu tím diễn tả một tình trạng chưa trọn vẹn, chưa hoàn tất. Do đó, Giáo Hội dùng làm màu của áo lễ cho MV lẫn MC, bởi vì cả hai mùa Phụng vụ này đều diễn tả một tình trạng chưa trọn vẹn của đời Kitô hữu: trong MV, chúng ta trông chờ Chúa Kitô đến để làm cho đời sống chúng ta nên viên mãn; trong MC, chúng ta hướng đến biến cố sống lại để giải thoát chúng ta khỏi tọi lỗi. Cũng chẳng cần phải tìm một màu cho MV và một màu khác cho MC, bởi lẽ các màu có tính cách biểu tượng và nhằm mục đích sư phạm, nghĩa là nhắc các tín hữu nhớ đến giáo huấn của Hội Thánh là được. Xin đan cử một ví du: Màu đỏ để mừng lễ các thánh tử đạo (đổ máu), nhưng cũng để mừng lễ Chúa Thánh Thần (được tượngt rưng bằng lửa).
lCòn màu hồng thì diễn tả niềm vui. CN III MV và CN IV MC là hai CN “của niềm vui” nên QCTQSLR đề nghị dùng áo màu hồng: CN III MV thì bảo chúng ta rằng chúng ta đã đi được nửa MV, Chúa càng đến gần hơn; CN IV MC thì được coi như là nửa Mùa Chay, nói với chúng ta rằng ngày cứu độ, ngày chúng ta thoát khỏi ách nô lệ tội lỗi, ma quỷ, thế gian và xác thị đã gần rồi, nhờ cái chết và sự sống lại của Đức Giêsu.
b) Về trang trí bàn thờ
Nói chung, về việc trang trí nhà thờ, Giáo Hội để cho chúng ta tự do, miễn là cách trang trí nào đó “cổ võ đức tin và lòng sốt sắng” (QCTQSLR, 289), “tăng cường lòng sốt sắng và nêu bật tính linh thánh của các mầu nhiệm được cử hành” (QCTQSLR, 294).
Riêng ở nhà thờ xứ của bạn, ban trang trí dùng nến màu tím và màu hồng với con số 4 cây cho 4 CN, như nhiều nhà thờ trên thế giới cũng làm, như thế cũng rất gợi ý. Có lẽ người ta đốt cây nến hồng vào CN III MV là để đáp ứng đề nghị của QCTQSLR, và dường như bạn muốn nói là suốt tuần lễ đó, họ cũng đốt cây nến hồng? Như thế càng hay! Nhưng rồi đến CN IV, lại đốt cây tím còn lại hay sao? Như vậy, họ đã giữ quá đúng mặt chữ của Quy Chế, vì Quy Chế không xác định gì đặc biệt cho CN IV! Tuy nhiên, theo thiển ý tôi, nếu đã chọn “chơi màu” như thế, thì nên dùng hai cây nến tím cho 2 CN đầu và dùng hai cây nến hồng cho 2 CN sau. Bởi vì tuy CN IV MV không được gọi là CN “Hãy vui lên”, nhưng kể từ CN III, bầu khí vui tươi đã chan hòa và ngày càng thêm tưng bừng rộn rã. Vào CN III MV, Giáo Hội cho biết lý do “hãy vui lên” là vì  Chúa sắp đến; chẳng lẽ CN IV và tuần IV, điều này lại càng không đúng hay sao? Chẳng lẽ vào thời gian này niềm vui lại không càng dâng cao hơn hay sao? Từ CN IV MV, và từ ngày 17-12, thân thế của Đấng Cứu Thế được giới thiệu rất rõ. Nhưng nói như thế cũng có nghĩa là chúng ta tự do trong lãnh vực trang trí này. Có nơi người ta dùng 4 cây nến 4 màu cho MV, và dĩ nhiên cây hồng luôn dành cho tuần III.
 Cầu chúc bạn một Mùa Vọng thánh thiện và một Mùa Giáng Sinh chan hòa niềm vui thánh do Chúa Hài Đồng mang đến.
Lm PX Vũ Phan Long, ofm

Vể đầu trang

MV2-B64 CON SƯ TỬ TRONG NĂM PHỤNG VỤ MỚI - Lm. Ịaminh Nguyễn Ngọc Long

Theo niên lịch năm mới bắt đầu ngày 01.01., nhưng trong đời sống đức tin của Giáo Hội Công giáo: MV2-B64

Theo niên lịch năm mới bắt đầu ngày 01.01., nhưng trong đời sống đức tin của Giáo Hội Công giáo năm phụng vụ mới bắt đầu không theo ngày tháng nhất định, mà theo chu kỳ lễ nghi phụng vụ, từ Chúa nhật thứ nhất mùa Vọng - thường vào cuối tháng Mười Một hằng năm.
Năm nay, năm phụng vụ mới bắt đầu vào ngày Chúa nhật 30.11.2008. chu kỳ B. Theo chu kỳ phụng vụ B, năm nay Phúc âm theo Thánh Marco là trọng điểm bài đọc Phúc âm trong các ngày lễ Chúa nhật.
Chúa Giêsu đi rao giảng Tin mừng nước Thiên Chúa, nhưng không có bài viết nào để lại. Sau khi Chúa về trời, Giáo Hội do các Thánh Tông đồ điều hành, vì nhu cầu giáo lý, những lời rao giảng của Chúa khi xưa được viết thu tập lại.
Có nhiều sách tập viết về đời sống cùng lời gỉang dạy của Chúa Giêsu, nhưng Giáo Hội Công giáo chỉ nhận bốn sách Phúc âm: Theo Thánh Mathêo, theo Thánh Marcô, theo Thánh Luca và theo Thánh Gioan. Bốn Thánh viết Phúc âm Chúa Giêsu vào những thời điểm khác nhau và Thánh Marcô viết vào khoảng năm 65/66 thế kỷ thứ nhất sau Chúa giáng Sinh
Họ trình thuật lại việc làm cùng Lời giảng dậy của Chúa theo như họ nghe biết hoặc trực tiếp như Thánh Mathêu, Thánh Gioan là tông đồ của Chúa Giêsu; hoặc gián tiếp như Thánh Marcô và Thánh Luca là học trò của Thánh Phêrô và Thánh Phaolô, cùng hiểu ý nghĩa trong ánh sáng được Chúa Thánh Thần hướng dẫn. Vì thế họ viết lại, trình bày Lời Chúa với những trọng điểm khác nhau và theo khung cảnh nền văn hóa thời họ sinh sống
Và cũng do những trọng điểm khác nhau đó, bốn Thánh Sử viết Phúc âm có bốn biểu tượng khác nhau. Những biểu tượng này không phải do họ tự đặt ra cho mình. Nhưng sau này do những nhà nghiên cứu học hỏi về Kinh Thánh,những nhà phân tích, những nhà nghệ thuật về hội họa điêu khắc đặt cho họ.
Biểu tượng cho Phúc âm Thánh Mácô là hình con Sư tử.

Lý do chọn biểu tượng này cho Thánh nhân, vì Ông thuật lại trong sách Tin Mừng ngay phần đầu Sứ vụ cùng bài giảng, Phép Rửa của Ong Thánh Gioan Tẩy Giả trong hoang địa sa mạc như tiếng sư tử gầm: ăn năn sám hối trở về cùng đường ngay nẻo chính thiện, để dọn đường, dọn tâm hồn con người cho Chúa Giêsu, Đấng cứu thế đến (Mc 1, 1-8).
Những ai đã sang du lịch tham quan thắng cảnh thành phố Venise bên Ý, thấy ngay ở trung tâm thành phố ngôi Thánh đường chính tòa cổ kính mang danh hiệu Thánh Marcô thánh sử phúc âm, trong ngoài Thánh đường đều có khắc chạm hình con Sư Tử, ngoài sân công trường trên trụ tháp cao có tượng Sư Tử chạm khác sơn mầu vàng chói có hai cánh. Theo tương truyền, xác của Thánh sử Marco được đưa về đây chôn táng.
Hình con Sư Tử biểu hiệu của Thánh Marco là huy hiệu của nhà thờ chính tòa và của thành phố du lịch nổi trên mặt nước Venise.
Tính theo thời gian, Phúc âm theo Thánh Marcô là Phúc âm được viết sớm trước nhất vào năm 65/66 thế kỷ thứ nhất sau Chúa gíang sinh. Thánh Marcô viết phúc âm bằng chữ Hylạp. Ông muốn trình bày giáo lý cuộc đời Chúa Giêsu trứơc hết cho độc gỉa người ngoại giáo và những người trở lại theo đức tin Kitô giáo.
Qua giáo lý phúc âm, Thánh Marcô muốn khuyến khích họ trong mọi hoàn cảnh, dù có khó khăn đau khổ, luôn vững tâm trung thành với đức tin vào Chúa Giêsu. Trong phần tường thuật cuộc khổ nạn những biến cố sau cùng cuộc đời Chúa Giêsu, Ông thuật lại chi tiết thời gian ngày giờ sự việc xảy ra, và những chi tiết tỉ mỉ như một nhà sử học ăn khớp với nhau.
Mùa Vọng 2008-2009
Lm. Đaminh Nguyễn Ngọc Long

Vể đầu trang

MV2-B65 MÙA VỌNG - Lm. Giuse Hoàng Kim Toan

Hai đặc tính mùa Vọng nhấn mạnh tới hai điều cơ bản: Dọn mình đón nhận Chúa Giáng Sinh: MV2-B65

Hai đặc tính mùa Vọng nhấn mạnh tới hai điều cơ bản: Dọn mình đón nhận Chúa Giáng Sinh và đón chờ ngày Chúa Quang Lâm. Với hai điều cơ bản này đều nhắc tới một thái độ sống duy nhất tỉnh thức và cầu nguyện. Vọng chờ với thái độ sống như trên, chúng ta thấy có sự khác biệt và tương đồng với chữ Vọng trong Phật Giáo được trình bày như sau:
Chữ Vọng:
Vọng được định nghĩa là: Chỗ nơi đặt vị trí quan sát. Hướng tới, nhìn về, tưởng nhớ, trông đợi. (Âm thanh): Từ xa đưa lại. Với ba ý nghĩa trên cũng tạm cho thấy từ ngữ diễn tả những đặc điểm quan trọng và cần thiết dần dà suy gẫm.
Vọng trong Phật Giáo phân thanh hai loại: Vọng ngã và vọng chấp.
Vọng ngã là cái vọng tự nhiên của con người sống kỳ vọng về chính mình: Ước muốn sống lâu hơn, dồi dào hơn về vật chất hay tinh thần hoặc sức khỏe, vọng tới tương lai vọng tới quá khứ. Vọng ngã dẫn tới hệ lụy buốn phiền, sầu não vì cuộc đời không được như ý, tiếc nuối những gì đã qua, đôi khi còn dẫn tới trí trá, lừa dối, ghen tỵ… Vọng ngã gây phiền muộn có khi vì mơ ước có sức khỏe tốt hơn nhưng thân này cứ mang bệnh tật, ước mong khá giả hơn nhưng cứ nghèo túng, có được tiếng tốt hơn nhưng cứ bị người đời cười chê…Kỳ vọng mà không được thì sinh ra phiền muộn, đau khổ.
Vọng chấp là cái vọng so sánh mình với người khác: Không được như người hoặc tự khoe khoang hơn người, cả hai thái độ so sánh đều khập khiễng vì mang những hệ lụy khổ đau phiền muộn. Thái độ so sánh thua kém mang tính mặc cảm tự ty, một đau khổ âm thầm day dứt con người thấp bé, một thái độ khác mang sắc thái tự tôn khiến cản trở không tiếp nhận gì được nơi người khác khiến chính mình tự làm nghèo đi trong cuộc sống.
Lối thoát: Không còn vọng chấp cũng chẳng còn vọng ngã, an nhiên tự tại sẽ xuất hiện. Không còn vọng nên sẽ không còn phải mang những cái đau khổ không đáng có, con đường ra khỏi vọng là con đường quẳng gánh lo âu đi mà vui sống. ví như người đang cầm chén cơm ăn, dù là đang ăn với rau luộc chấm nước mắm, biết mình đang co ăn là cái hạnh phúc của thực tại nhân sinh, nhưng vừa ăn vừa trông vào cái nghèo của mình sẽ dẫn đến đau khổ. Lý thuyết xem ra dễ dàng nhưng khó thực hiện bởi cuộc sống vẫn cứ phải âu lo về cái ăn, cái mặc, đặc biệt hơn vào những giai đoạn khó khăn về kinh tế, làm sao có thể có an nhiên tự tại?
Vọng theo hướng nhìn của Kitô giáo:
Vọng biểu hiện trong hai chiều kích: Tỉnh thức và cầu nguyện.
Tỉnh thức: Hình ảnh biểu trưng cho người tỉnh thức là hình ảnh của người mục tử. Người mục tử không hiểu đơn giản như nhiều người thường nghĩ ngay đến các chú nhỏ mục đồng chăn trâu vài ba con. Người mục tử chăn chiên trong văn hóa du mục là người chăm sóc cả bầy cỡ vài trăm đến vài ngàn con chiên. Tài sản càng lớn thì người chịu trách nhiệm càng cao, vì thế người mục tử là người mang tính chất của người mạnh mẽ, khôn ngoan, cương nghị. Người mục tử có tầm nhìn xa, dự đoán được tương lai, biết xem xét nhiều khía cạnh để có những quyết định tối ưu trong hiện tại. Người mục tử thứ thiệt là người biết chăm sóc cho đoàn chiên của mình, vừa bảo đảm tương lai vừa bảo vệ trong hiện tại. Người mục tử còn được gọi là người canh gác, nhìn đâu là sói, đâu là thỏ, đâu là hiểm nguy thật và đâu chỉ là chướng ngại không đáng. Theo nghĩa người canh gác, người mục tử là người nhận thức rõ ràng, đòi hỏi những con số minh bạch, nói theo ngôn ngữ những nhà đầu tư hôm nay. Chỉ số minh bạch trong kinh tế ngày nay cũng giống như đòi hỏi của người mục tử năm xưa, không dẫn đoàn chiên mình vào những đồng cỏ xen lẫn nhiều bụi rậm, ẩn khuất nhiều bóng tối, đồng cỏ đòi hỏi phải quang đãng, nhìn thấy rõ những gì từ xa đến, bởi vậy người mục tử năm xưa mới chọn cho mình cách thức hướng dẫn là người đi trước, người dẫn đường, chỉ lối, là người chịu trách nhiệm về đàn chiên của mình.
Cầu nguyện: Người tỉnh thức song đồng thời cũng là người sống đời cầu nguyện, bởi vậy tính cách biểu trưng của người mục tử năm xưa còn biểu hiện là cầu nối giữa trời và đất, người liên thông được với trời, người hiểu biết ý trời. Theo Jean Chevalier, người mục tử còn là người đại diện cho các linh hồn con người trên cõi đời này, luôn luôn chuyển dịch, nên người mục tử bao gồm hai sứ vụ bảo vệ và am hiểu, người chuyển cầu và người chịu trách nhiệm.
Chúa Giêsu nhận mình là Người Mục Tử nhân lành (Ga 10, 16), Người Mục Tử mà tất cả các tiên tri đều giới thiệu trước, sẽ đến chăn dắt dân của Người, là Hoàng Tử Bình An Vua Thái Bình.
Con đường của mùa vọng giống như người Phật tử là phát quang đi cái vọng gây phiền muộn, đau khổ, người Kitô hữu được Gioan Tẩy Giả mời gọi: Bạt đi núi cao, lấp lại những hố sâu, sửa ngay những con đường cong queo. Và điểm khác biệt giữa người Kitô hữu và Phật tử là: Người Phật tử phát quang cái vọng để lòng trống trải, an nhiên tự tại xuất hiện, người Kitô hữu sửa lại lối đi để đón nhận chính chúa Giêsu sinh hạ trong tâm hồn và đón nhận Chúa đến trong ngày quang lâm.
Lời kêu gọi của Gioan Tẩy Giả là lời mời gọi thức tỉnh và cầu nguyện theo đúng như hình ảnh “Người Mục Tử Nhân Lành” của mình, với “tay sạch lòng thanh” hội đủ khả năng dẫn hướng đời mình và chịu trách nhiệm về thế giới mình đang sống. Thế giới cần có nhiều người chăn dắt theo gương lành của Chúa Giêsu, để xây dựng thế giới an bình và thịnh trị.
Tỉnh thức và cầu nguyện là thái độ cần thiết cho con người của chúng ta hôm nay, xin cho thế giới chúng ta có thêm nhiều mục tử như lòng Chúa mong muốn.
Lm. Giuse Hoàng Kim Toan

BÀI ĐỌC THÊM 2 :
GiÁo Lý vỀ ThÁnh PhaolÔ

Lòng tin đích thẬt đưỢc biỂu lỘ trong các hoẠt đỘng bác ái
Dưới đây là bản dịch bài Giáo Lý mới thứ mười lăm của ĐTC Bênêđictô XVI về Thánh Phaolô trong buổi Triều Yết Chung ngày 3-12-2008 tại Sảnh Đường Phaolô VI.
”Mầu nhiệm của ánh sáng và sự thiện chiến thắng mầu nhiệm của tối tăm và sự ác. Mùa Vọng mời gọi chúng ta nhận ra sự hiện diện của Chúa Giêsu Kitô suối nguồn ánh sáng và bước vào dòng sông ánh sáng, để trở thanh những người trao ban ánh sáng, tạo dựng hòa bình và làm chứng cho sự thật”
Anh chị em thân mến,
Trong bài giáo lý hôm nay chúng ta sẽ dừng lại trên các tương quan giữa Ađam và Đức Kitô, như thánh Phaolô đã vạch ra trong một trang nổi tiếng của thư gửi tín hữu Roma (5,12-21), trong đó thánh nhân cống hiến cho Giáo Hội các đường nét chính của giáo lý về tội tổ tông. Thật ra khi nói về lòng tin vào sự sống lại trong thư gửi tín hữu Corintô, thánh nhân đã so sánh giữa nguyên tổ và Chúa Kitô: ”Qủa thế, như mọi người vì liên đới với Ađam mà phải chết, thì mọi người nhờ liên đới với Đức Kitô, cũng được Thiên Chúa cho sống... Con người đầu tiên là Ađam được dựng nên thành một sinh vật, còn Ađam cuối cùng là thần khí ban sự sống” (1 Cr 15,22.45). Với văn bản thư gửi tín hữu Roma chương 5,12-21 sự so sánh giữa Đức Kitô và Ađam trở thành chi tiết và soi sáng hơn: thánh Phaolô đi lại con đường lịch sử cứu độ từ Ađam cho tới Lề Luật và từ Lề Luật cho tới Đức Kitô. Trọng tâm của lịch sử đó không phải là Ađam với các hậu qủa tội lỗi của nhân loại cho bằng Đức Giêsu Kitô và ơn thánh, qua Người được đổ tràn đầy trên nhân loại, vượt xa tội lỗi của Ađam và các hậu quả của nó trên cuộc sống con người. Vì thế thánh Phaolô mới kết luận: ”Nhưng ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội” (Rm 5,20).
Trong lòng tin của Giáo Hội ý thức tín điều về tội tổ tông đã chín mùi vì nó gắn liền với tín điều về ơn cứu rỗi và sự tự do trong Chúa Kitô. Do đó không được đề cập tới tội của Ađam và của nhân loại tách rời khỏi bối cảnh ơn cứu rỗi trong chân trời của sự công chính hóa trong Đức Kitô.
Nhưng mà tội tổ tông là gì, thánh Phaolô và Giáo Hội dậy gì về tội tổ tông? Nhiều người cho rằng dưới ánh sáng lịch sử tiến hóa, ngày nay không còn có chỗ cho một tội ban đầu rồi lan tràn trên toàn thế giới nữa. Và hậu qủa là cả vấn đề liên quan tới sự cứu rỗi và Đấng Cứu Thế cũng không còn nền tảng nữa. Như thế có tội tổ tông hay không?
Để có thể đưa ra câu trả lời chúng ta phải phân biệt hai khía cạnh: một khía cạnh kinh nghiệm cụ thể mà mọi người có thể sờ mó được, và một khía cạnh nhiệm mầu liên quan đến nền tảng bản thể học của sự kiện này.
Dữ kiện kinh nghiệm cụ thể đó là sự mâu thuẫn trong chính chúng ta. Một đàng mọi người đều biết là mình phải làm điều thiện, và tận sâu thẳm con người muốn làm điều thiện. Nhưng đồng thời nó cũng cảm thấy sức thúc đẩy làm ngưực lại, đi theo con đường của sự ích kỷ, bạo lực, chỉ làm điều nó ưa thích, cả khi biết làm như thế là chống lại sự thiện, chống lại Thiên Chúa và tha nhân. Trong thư gửi tín hữu Roma thánh Phaolô diễn tả nó như sau: ”Muốn sự thiện thì tôi có thể muốn, nhưng làm thì không; thật vậy sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn thì tôi lại làm” (Rm 7,18-19). Sự mâu thuẫn bên trong con người của chúng ta đó không phải là một lý thuyết. Mỗi người trong chúng ta đều sống kinh nghiệm này hàng ngày. Chỉ cần nghĩ tới các tin tức hàng ngày liên quan tới các bất công, bạo lực, dối trá, trụy lạc thì đủ biết. Chúng ta trông thấy nó mỗi ngày: đó là một sự kiện.
Hậu qủa của quyền lực sự dữ đó trong tâm hồn chúng ta phát triển trong lịch sử thành một dòng sông bẩn thỉu, làm ô nhiễm địa lý của lịch sử nhân loại. Tư tưởng gia người Pháp Blaise Pascal đã nói tới một ”bản tính thứ hai” chồng lên bản tính nguyên thủy của chúng ta. ”Bản tính thứ hai đó” khiến cho sự dữ trở thành bình thường đối với con người.
Kiểu nói ”đó là nhân bản” có hai nghĩa: nghĩa tốt ám chỉ điều mà một người phải làm như là người; nghĩa xấu ám chỉ sự gian dối sự dữ là điều bình thường. Sự dữ xem ra đã trở thành bản tính thứ hai của con người. Chính sự mâu thuẫn đó của con người, của lịch sử khơi dậy ước mong ơn cứu độ. Thật thế, ước mong thế giới này thay đổi là lời hứa tạo dựng một thế giới công bằng hòa bình, tốt lành hiện diện khắp nơi. Chẳng hạn trong lãnh vực chính trị: mọi người đều nói tới việc cần thiết phải thay đổi thế giới, phải tạo ra một thế giới công bằng hơn. Nó diễn tả ước mong một sự giải thoát khỏi sự mẫu thuẫn nội tại đó.
Đức Thánh Cha giải thích sự hiện hữu của sự dữ như sau:
Như thế sự kiện quyền lực sự dữ trong trái tim và trong lịch sử con người là điều không thể chối cãi được. Vấn đề đó là phải giải thích nó thế nào đây? Ngoài lòng tin Kitô ra, trong lịch sử tư tưởng có một mô thức giải thích chính, với các thay đổi khác nhau. Mô thức đó nói rằng con người mâu thuẫn, nó mang trong chính mình sự thiện cũng như sự dữ. Vào thời xa xưa người ta cho rằng ngay từ nguyên thủy đã có hai nguyên lý thiện ác bằng nhau. Đó là thuyết nhị nguyên không thể thắng vượt được. Sự mâu thuẫn trong con người chỉ là phản ảnh sự trái nghịch của hai nguyên lý đó. Trong quan điểm của thuyết tiến hóa vô thần thì ngay từ ban đầu con người đã mang trong mình sự thiện và sự ác rồi. Và lịch sử nhân loại chỉ phát triển mô thức đã có sẵn trong toàn sự tiến triển có trước. Điều mà tín hữu Kitô gọi là tội tổ tông thật ra chỉ là tính cách trộn lẫn sự thiện và sự ác thuộc bản chất con người. Đây là một quan điểm tuyệt vọng: nếu như thế thì sẽ không thể nào chiến thắng được sữ dữ. Và sau cùng thì chỉ có lợi lộc riêng tư là quan trọng. Và mỗi tiến bộ đều cần phải trả bằng một dòng sông sự dữ, và ai muốn phục vụ tiến bộ thì phải trả giá mắc mỏ đó. Nói cho cùng, chính trị được định hướng theo các tiền đề đó: và chúng ta trông thấy các hậu qủa của nó. Rốt cuộc tư tưởng này chỉ có thể tạo ra thái độ sống buồn sầu và vô luân.
Lòng tin như thánh Phaolô trình bầy xác nhận sự tranh đua giữa hai bản chất đó và và sự kiện bóng dáng sự dữ đè nặng trên thụ tạo. Chương 7 và chương 8 của thư gửi tín hữu Roma khẳng định sự hiện hữu của sự dữ. Trái ngược với hai thuyết nhị nguyên và nhất nguyên luận thê lương trên đây, lòng tin cho chúng ta biết có hai mầu nhiệm ánh sáng và một mầu nhiệm bóng tối, bị vây bọc bởi hai mầu nhiệm ánh sáng. Mầu nhiệm ánh sáng thứ nhất cho biết rằng không có hai nguyên lý, một tốt một xấu, mà chỉ có một nguyên lý là Thiên Chúa Tạo Hóa, và đó là nguyên lý tốt, không có bóng tối. Vì thế bản thể không phải là một trộn lẫn lành dữ, mà tự nó là tốt và do đó hiện hữu là tốt, sống là tốt. Đó là tin vui do lòng tin loan báo. Chỉ có một suối nguồn tốt lành là Đấng Tạo Hóa. Và vì vậy sống là một sự thiện, là nam hay nữ là một điều tốt lành, và sự sống tốt lành. Thế rồi có một mầu nhiệm của tối tăm. Sự dữ không đến từ suối nguồn của bản thể, không có từ nguyên thủy. Sự dữ đến từ một sự tự do được tạo dưng, một sự tự do bị lạm dụng.
Đức Thánh Cha nói thêm trong bài huấn dụ: Làm sao có thể xảy ra điều đó được? Đây là điều tối tăm khó hiểu. Sự dữ không có luận lý. Chỉ có Thiên Chúa và sự thiện là có luận lý, vì là ánh sáng. Sự dữ là điều bí nhiệm. Các hình ảnh lớn trong chương 3 sách Sáng Thế: hai cây sự sống và cây biết lành biết dữ, con rắn, con người tội lỗi chỉ giúp chúng ta đoán ra, nhưng không giải thích cái vô luận lý trong chính nó. Chúng ta chỉ có thể ước đoán chứ không giải thích hay kể lại như một sự kiện, vì nó là một thực tại sâu thăm hơn. Nó là một mầu nhiệm của tối tăm. Nhưng tiếp theo là một mầu nhiệm ánh sáng khác: đó là sự dữ là một suối nguồn bị chế ngự. Với ánh sáng của Ngài Thiên Chúa mạnh mẽ hơn. Vì thế có thể thắng vượt được sự dữ. Do đó con người có thể được chữa lành. Sách Khôn Ngoan nói rằng: ”Chúa đã dựng nên các quốc gia có thể chữa lành” (1,14 Volg).
Và điểm sau cùng đó là con người không chỉ có thể được chữa lành, mà đã thực sự được chữa lành. Thiên Chúa đã bước vào lịch sử loài người và chữa lành con người. Ngài đã chống lại suối nguồn dơ bẩn bằng suối nguồn tinh tuyền. Đức Giêsu Kitô bi đóng đanh, Ađam mới, dùng con sông ánh sáng chống lại con sông dơ bẩn. Và con sông này hiện diện trong lịch sử: chúng ta trông thấy nó nơi các thánh lớn nhỏ và các tín hữu đơn sơ. Chúng ta thấy dòng sông ánh sáng chảy ra từ Chúa Kitô hiện diện và mạnh mẽ.
Mùa Vọng là thời gian của sự hiện diện và chờ đời. Ánh sáng hiện diện. Chúa Kitô là Ađam mới ở với chúng ta và ở giữa chúng ta. Chúng ta phải mở mắt ra để trông thấy ánh sáng và bước vào dòng sông ánh sáng. Nhất là chúng ta phải biết ơn sự kiện Thiên Chúa đã bước vào lịch sử như suối nguồn sự thiện. Nhưng Mùa Vọng cũng là thới gian của chờ đợi. Đêm đen của sự dữ vẫn còn dầy đặc. Vì thế cùng với dân Chúa chúng ta cầu xin ”Trời cao hãy đổ sương xuống” và tha thiết cầu xin: lậy Chúa Giêsu xin hãy đến, xin hãy đến trao ban sức mạnh cho ánh sáng và sự thiện; xin hãy đến ở những nơi có sự thống trị của dối trá, không biết đến Thiên Chúa, của bạo lực và bất công. Lậy Chúa Giêsu, xin hãy đến ban sức mạnh cho sự thiện trong thế giới này và giúp chúng con trở thành những người trao ban ánh sáng, tạo dựng hòa bình và làm chứng cho sự thật.
V ĐTC Bênêđictô XVI
Chuyển ngữ Linh Tiến Khải

Vể đầu trang

MV2-B66 CHỦ ĐỘNG CHUẨN BỊ ĐÓN RƯỚC CHÚA!

CHÚA NHẬT II MÙA VỌNG NĂM  (07.12.2008)]
I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ
 

Cách nay khá lâu tôi nhận được một bài rất ngắn của một ai đó gửi cho, với tựa đề là TAM ĐOẠN: MV2-B66

Cách nay khá lâu tôi nhận được một bài rất ngắn của một ai đó gửi cho, với tựa đề là TAM ĐOẠN LUẬN, nội dung như vầy:
“Cả thế giới đều sợ Mỹ vì người Mỹ đã nói là làm,
Thế nhưng người Mỹ lại sợ người Nhật, vì người Nhật làm xong mới nói;
Vậy mà người Nhật lại sợ người Trung Quốc, vì người Trung Quốc không nói cũng làm; Hơn nữa người Trung Quốc là một cường quốc về quân sự, vậy xin hỏi người Trung Quốc sợ ai?
Đó là sợ người Việt Nam, vì người Việt Nam nói một đàng làm một nẻo. Bố ai mà lường được. Ngay cả người Việt nam cũng sợ người Việt Nam nữa là!”
 Trưng dẫn “tâm đoạn luận” trên, tôi không có ý bàn luận đến cách hành xử của dân tộc này hay dân tộc nọ, mà chỉ muốn dùng nó làm phần dẫn nhập cho các bài Thánh Kinh của Phụng Vụ hôm nay, vì Thiên Chúa của Do Thái giáo và của Ki-tô giáo là Đấng Thiên Chúa trung thành với lời hứa, đã nói là làm, làm hơn cả lời hứa nữa.
Vì thế điều quan trọng đối với chúng ta không phải là cứ thụ động ngồi đó mà chờ đợi việc Chúa làm mà là chủ động chuẩn bị đón rước Người!
                                    II. NGHE/ĐỌC LỜI CHÚA TRONG BA BÀI SÁCH THÁNH
2.1 Bài đọc 1: Trích Sách I-sa-ia (Is 40,1-5.9-11): Hãy mở một con đường cho Đức Chúa.
1 Thiên Chúa anh em phán: "Hãy an ủi, an ủi dân Ta: 2 Hãy ngọt ngào khuyên bảo Giê-ru-sa-lem, và hô lên cho Thành: thời phục dịch của Thành đã mãn, tội của Thành đã đền xong, vì Thành đã bị tay Đức Chúa giáng phạt gấp hai lần tội phạm."
3 Có tiếng hô: "Trong sa mạc, hãy mở một con đường cho Đức Chúa,
giữa đồng hoang, hãy vạch một con lộ thẳng băng cho Thiên Chúa chúng ta.

4 Mọi thung lũng sẽ được lấp đầy, mọi núi đồi sẽ phải bạt xuống, nơi lồi lõm sẽ hóa thành đồng bằng, chốn gồ ghề nên vùng đất phẳng phiu.
5 Bấy giờ vinh quang Đức Chúa sẽ tỏ hiện, và mọi người phàm sẽ cùng được thấy rằng miệng Đức Chúa đã tuyên phán."
9 Hỡi kẻ loan tin mừng cho Xi-on, hãy trèo lên núi cao. Hỡi kẻ loan tin mừng cho Giê-ru-sa-lem, hãy cất tiếng lên cho thật mạnh. Cất tiếng lên, đừng sợ, hãy bảo các thành miền Giu-đa rằng: "Kìa Thiên Chúa các ngươi! "
10 Kìa Đức Chúa quang lâm hùng dũng, tay nắm trọn chủ quyền. Bên cạnh Người, này công lao lập được, trước mặt Người, đây sự nghiệp làm nên. 11 Như mục tử, Chúa chăn giữ đoàn chiên của Chúa, tập trung cả đoàn dưới cánh tay. Lũ chiên con, Người ấp ủ vào lòng, bầy chiên mẹ, cũng tận tình dẫn dắt.
2.2 Bài đọc 2: Trích Thư 2 của Thánh Phê-rô (2 Pr 3,8-14): Chúng ta mong đợi trời mới đất mới.
8 Anh em thân mến, một điều duy nhất, xin anh em đừng quên: đối với Chúa, một ngày ví thể ngàn năm, ngàn năm cũng tựa một ngày. 9 Chúa không chậm trễ thực hiện lời hứa, như có kẻ cho là Người chậm trễ. Kỳ thực, Người kiên nhẫn đối với anh em, vì Người không muốn cho ai phải diệt vong, nhưng muốn cho mọi người đi tới chỗ ăn năn hối cải. 10 Nhưng ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm. Ngày đó, các tầng trời sẽ ầm ầm sụp đổ, ngũ hành bốc cháy tiêu tan, mặt đất và các công trình trên đó sẽ bị thiêu hủy.
11 Muôn vật phải tiêu tan như thế, thì anh em phải là những người tốt dường nào, phải sống đạo đức và thánh thiện biết bao, 12 trong khi mong đợi ngày của Thiên Chúa và làm cho ngày đó mau đến, ngày mà các tầng trời sẽ bị thiêu huỷ và ngũ hành sẽ chảy tan ra trong lửa hồng. 13 Nhưng, theo lời Thiên Chúa hứa, chúng ta mong đợi trời mới đất mới, nơi công lý ngự trị.
14 Vì thế, anh em thân mến, trong khi mong đợi ngày đó, anh em phải cố gắng sao cho Người thấy anh em tinh tuyền, không chi đáng trách và sống bình an.
2.3 Tin Mừng theo Thánh Mác-cô (Mc 1,1-8): Hãy sửa lối cho thẳng để Chúa đi.
1 Khởi đầu Tin Mừng Đức Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa:  2 Trong sách ngôn sứ I-sai-a có chép rằng: Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con. 3 Có tiếng người hô trong hoang địa: Hãy dọn sẵn con đường của Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi.
4 Đúng theo lời đó, ông Gio-an Tẩy Giả đã xuất hiện trong hoang địa, rao giảng kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội. 5 Mọi người từ khắp miền Giu-đê và thành Giê-ru-sa-lem kéo đến với ông. Họ thú tội, và ông làm phép rửa cho họ trong sông Gio-đan.
6 Ông Gio-an mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da, ăn châu chấu và mật ong rừng. 7 Ông rao giảng rằng: "Có Đấng quyền thế hơn tôi đang đến sau tôi, tôi không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Người. 8 Tôi thì tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, còn Người, Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần."
III. KHÁM PHÁ DUNG MẠO VÀ GIÁO HUẤN CỦA THIÊN CHÚA
3.1 Dung Mạo của Thiên Chúa (Thiên Chúa là Đấng nào?):
Trong ba bài Sách Thánh hôm nay chúng ta khám phá Thiên Chúa:
* Là Thiên Chúa của Ít-ra-en (cũ và mới): Người quan tâm đến mọi nỗi khổ của dân mà ủi an và thực hiện lời hứa từ ngàn xưa là không để dân Người phải khổ cực và tuyệt vọng; Người mời gọi mọi người chuẩn bị chào đón Người bằng cách sám hối và hoán cải, vì Người không muốn một ai bị diệt vong (bài đọc 1&2).
* Là Chúa Giê-su Ki-tô, Đấng đã được Thiên Chúa Cha sai đến trần gian để cứu vớt dân Người. Chúa Cha đã giao cho Gio-an Tiền Hô sứ mạng dọn đường cho Con Chúa bằng cách kêu gọi mọi người ăn năn sám hối, thay đổi lối sống cho phù hợp với Đấng sẽ đến, với thời đại mới của Nước Thiên Chúa.
            * Là Chúa Thánh Thần, Đấng cùng hành động với Chúa Cha và Chúa Con để giúp con người vững tin vào lời hứa của Thiên Chúa và chủ động chuẩn bị đón rước Sứ Giả mà Chúa Cha sai đến là Đức Giê-su Na-da-rét.
3.2 Giáo Huấn của Thiên Chúa (Thiên Chúa dậy gì hay muốn chúng ta làm gì?):
Giáo huấn hay sứ điệp của Lời Chúa là:
“Hãy dỌn sẴn con đưỜng cỦa ĐỨc Chúa, sỬa lỐi cho thẲNg đỂ NgưỜi đi.”
IV. ĐÁP LẠI THIÊN CHÚA
Để thực hiện giáo huấn của Lời Chúa hôm nay, mỗi người hãy làm 2 việc quan trọng này:
Thứ nhất là nhìn vào đời sống cá nhân, gia đình, cộng đoàn và cộng đồng xã hội để nhận diện những chỗ quanh co, ngoằn ngoèo, lồi lõm cần được uốn  thẳng, cần phải lấp đầy.
Đó có thể là tình trạng tội lỗi hoặc thờ ơ chểnh mảng trong đời sống đạo của cá nhân chúng ta.
Đó có thể là đời sống thiếu công bình và bác ái trong cộng đoàn của chúng ta.
Đó có thể là những bất công, phân biệt đối xử, tham nhũng, cửa quyền, độc đoán, thiếu nhân quyền và dân chủ, tệ nạn xã hội (ma túy, mãi dâm, phá thai, buôn bán trẻ em) trong xã hội chúng ta.
Thứ hai là vận dụng hết mọi khả năng và điều kiện thuận lợi của mình mà làm cho đời sống cá nhân, gia đình, cộng đoàn và cộng đồng xã hội giảm bớt tội ác xấu xa và tăng thêm công bình, bác ái, tôn trọng nhân quyền và phẩm giá con người.
V. CẦU NGUYỆN CHO HỘI THÁNH VÀ THẾ GIỚI
5.1 Có thể dùng làm Lời Nguyện Giáo Dân trong Thánh Lễ:
5.1 «Thiên Chúa anh em phán: "Hãy an ủi, an ủi dân Ta: Hãy ngọt ngào khuyên bảo Giê-ru-sa-lem, và hô lên cho Thành: thời phục dịch của Thành đã mãn, tội của Thành đã đền xong.»  Chúng ta hãy dâng lời cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Thiên Chúa vì Người là Thiên Chúa yêu thương và thứ tha đối với dân của Người là chúng ta.
X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa.  Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.
5.2 «Có tiếng hô: "Trong sa mạc, hãy mở một con đường cho Đức Chúa,
giữa đồng hoang, hãy vạch một con lộ thẳng băng cho Thiên Chúa chúng ta. »
Chúng ta hãy hưởng ứng lời mời gọi của Thiên Chúa để tích cực chuẩn bị đón rước Chúa Giê-su Ki-tô vào trong đời sống cá nhân, gia đình, cộng đoàn và cộng đồng xã hội  và xin Thiên Chúa trợ giúp chúng ta!

X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa.  Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.
5.3 «Mọi thung lũng sẽ được lấp đầy, mọi núi đồi sẽ phải bạt xuống, nơi lồi lõm sẽ hóa thành đồng bằng, chốn gồ ghề nên vùng đất phẳng phiu.» Chúng ta hãy tha thiết cầu xin Thiên Chúa ban ơn để bản thân, gia đình và xã hội được canh tân đổi mới theo Thánh Ý Chúa!
X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa.  Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.
         5.4 « Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con. Có tiếng người hô trong hoang địa: Hãy dọn sẵn con đường của Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi.» Chúng ta hãy cầu nguyện cách riêng cho những người rao giảng Phúc Âm, giảng dậy giáo lý, thánh kinh để họ chu toàn sứ vụ dọn đường cho Chúa!
X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa.  Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.
5.5 «Có Đấng quyền thế hơn tôi đang đến sau tôi, tôi không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Người. Tôi thì tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, còn Người, Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần. »  Chúng ta hãy cầu cho hết mọi người, nhất là cho những người chưa bao giờ nghe đến Danh Giê-su, để họ được ơn gặp gỡ khám phá ra Chúa giữa cuộc sống!
X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa.  Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.
Giêrônimô Nguyễn Văn Nội. 

Vể đầu trang

MV2-B67 SỬA LỐI CHO THẲNG ĐỂ NGƯỜI ĐI !

Chúa nhật 2 Mùa Vọng B
Is 40, 1-5.9-11; 2 Pr 3, 8-14; Mc 1, 1-8

 

Từ thành phố Hồ Chí Minh muốn ra thăm lăng Bác thì phải mất hơn ba mươi giờ đồng hồ. Đoạn.: MV2-B67

Từ thành phố Hồ Chí Minh muốn ra thăm lăng Bác thì phải mất hơn ba mươi giờ đồng hồ. Đoạn đường hơn kém 1.500 km vậy mà mất thời gian dài như vậy. Có dịp ra Hà Nội thực tập mục vụ ngồi trên xe mất 34 tiếng đồng hồ mới đến nơi thấy sao mà nó vất vả quá ! Chưa đi nước ngoài nhưng báo chí và các phương tiện truyền thông cho biết là chỉ cần 5 đến 6 giờ đồng hồ để đi đoạn đường như trên. Như vậy, tính ra ở Việt Nam, cũng một đoạn đường như thế ta phải mất một khoảng thời gian gấp 6 lần. Nếu tính thiệt hại về tiền bạc, kinh tế, ta sẽ thấy tổn hao một con số khổng lồ cho bao nhiêu con người ngồi trên xe di chuyển trên một đoạn đường như thế ! Nguyên nhân do đâu thì ai cũng biết: đó là do đường sá Việt Nam quá kém !

Gần đây thôi, Cần giờ, một huyện ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh, cách thành phố Hồ Chí Minh 60 km nhưng phải đi mất hơn 2 giờ rưỡi đồng hồ. Khi đó, Trung Tâm Mai Hoà – nơi nuôi dưỡng, chăm sóc bệnh nhân Sida giai đoạn cuối cách thành phố Hồ Chí Minh cũng khoảng 60 km nhưng chỉ hơn một giờ đồng hồ là ta có thể đến với Trung tâm. Đoạn đường, xét về địa lý thì khoảng cách như nhau nhưng mà thời gian cần đến của hai nơi lại cách biệt đến một nửa thời gian. Lý do tại sao thì chúng ta cũng hiểu rõ đó là do con đường về Cần Giờ xấu và phải nói là con đường này quá xấu.

Ngay như chúng ta, muốn đi đến đích thì phải có một con đường thật là thẳng, không được quanh co, không có ổ gà hay ổ voi. Đừng càng thẳng,càng đẹp thì chúng ta có cảm giác thích thú vô cùng. Ngược lại, đi trên con đường xấu ta cảm thấy chán và không muốn đi. Phải nói là đường nào cũng đến nơi nghèo để phục vụ nhưng bảo chọn thì ai cũng thích đến Mai Hoà hơn vì đường đến Mai Hoà thẳng và đẹp hơn đường đi Cần Giờ. Đó là tâm lý thường tình của con người thôi.

Thi thoảng có dịp chạy về Sài Gòn ngồi trên xe mà thầm xót xa. Giá như mà những người có trách nhiệm làm con đường này có trách nhiệm hay nói một cách mạnh hơn một chút là có lương tâm thì sẽ làm con đường này tốt hơn và sẽ tu bổ mỗi khi nó có vấn đề. Nếu như đi quen thì sẽ thấy buồn cười. Nếu như mà người ta chịu khó chăm chút, tu sửa khi nó mới bị thôi thì sẽ không có vấn đề nhưng đàng này người ta cứ như cố làm ngơ để cho con đường ngày mỗi ngày xấu đi.

Nghĩ về con đường về Cần Giờ tôi nhớ đến các bài đọc trong Thánh Lễ hôm nay. Các bài đọc trong Thánh Lễ hôm nay vẽ lên hình ảnh của ngày Đức Chúa xuất hiện, ngày vinh quang của Đức Chúa tỏ hiện trên trần gian này. Các bài đọc gợi lên cho chúng ta thái độ, tâm tình mà chúng ta phải có để đón chờ Đức Chúa.

Có hai vấn đề mà chúng ta phải đặt lại trong các bài đọc mà chúng ta nghe hôm nay ?

Chúa có phải là Đấng quyền thế hơn Gioan, đến sau Gioan mà Gioan đã tự nhận là Gioan không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Người. Gioan chỉ cử hành phép rửa bằng nước còn Người thì Người rửa bằng Thánh Thần hay không ?

Vấn đề thứ hai là khi nhận ra Người rửa bằng Thánh Thần rồi chúng ta có dọn đường để mà đón Người hay không ?

Chắc có lẽ không chỉ là dân Do Thái thời Gioan Tẩy Giả không nhận ra Đấng Cứu Độ trần gian đã đến thế gian này nhưng trước đó, thế hệ cha ông của họ đã không nhận ra. Vì cha ông của họ đã không nhận ra Đấng Cứu Độ nên Đức Chúa – Thiên Chúa của họ đã gửi đến nhiều ngôn sứ cảnh báo có, răn đe có, ngọt ngào có để mà bảo họ hãy bỏ đường xưa lối cũ để chỉ còn phụng thờ một mình Đức Chúa là Thiên Chúa duy nhất của họ nhưng họ nào có nghe đâu ? Một trong những ngôn sứ lớn thời Cựu Ước đó là Isaia. Isaia đã nói lên tiếng nói của mình.

Mở đầu sách của mình, Isaia đã lên tiếng kêu ai oán: “Trời hãy nghe đây, đất lắng tai nào, vì ĐỨC CHÚA phán: "Ta đã nuôi nấng đàn con, cho chúng nên khôn lớn, nhưng chúng đã phản nghịch cùng Ta. Con bò còn biết chủ, con lừa còn biết cái máng cỏ nhà chủ nó. Nhưng Ít-ra-en thì không biết, dân Ta chẳng hiểu gì. Khốn thay dân tộc phạm tội, dân chồng chất lỗi lầm, giống nòi gian ác, lũ con hư hỏng! Chúng đã bỏ ĐỨC CHÚA, đã khinh Đức Thánh của Ít-ra-en, mà quay lưng đi”. (Is 1,2-4)

Đó là lời sấm mà Isaia nói với dân của Đức Chúa. Isaia cũng không quên gửi những lời sấm đến với dân ngoại: “Hãy rên siết, vì ngày của ĐỨC CHÚA đã gần kề; ngày đó đến như cuộc tàn phá của Đấng Toàn Năng. Vì thế ai nấy đều rụng rời tay chân, đều sờn lòng nản chí. Chúng kinh hoàng, lên cơn đau, quằn quại, đau thắt như sản phụ. Chúng sửng sốt nhìn nhau, mặt đỏ bừng như lửa. Kìa, ngày của ĐỨC CHÚA đến, ngày khắc nghiệt, ngày của phẫn nộ và lôi đình, ngày làm cho đất tan hoang và tiêu diệt phường tội lỗi, không còn một tên nào ở đó”. (Is 13, 6-9)

Isaia cũng loan báo ngày giải thoát cho Israel mà trong bài đọc thứ nhất chúng ta vừa nghe đấy: Có tiếng hô: "Trong sa mạc, hãy mở một con đường cho ĐỨC CHÚA, giữa đồng hoang, hãy vạch con lộ thẳng băng cho Thiên Chúa chúng ta. Mọi thung lũng sẽ được lấp đầy, mọi núi đồi sẽ phải bạt xuống, nơi lồi lõm sẽ hoá thành đồng bằng, chốn gồ ghề nên vùng đất phẳng phiu”. (Is 40, 3-4)

Isaia mời gọi dân chúng hãy sửa đường đến cho Đức Chúa ngự đến và rồi khởi đầu tin mừng theo Thánh Maccô chúng ta vừa nghe cũng nói đến chuyện sửa lối để Người đến. Và hôm nay, sau những ngày tháng ẩn dật trong hoang địa, cầu nguyện và ăn chay xong Gioan lên đường. Gioan lên đường để thực thi sứ mạng của mình là người hô cho mọi người biết Đức Chúa đến. Gioan kêu gọi mọi người sám hối để đón chờ Người rửa trong Thánh Thần.

Lời của Isaia, lời của Gioan dẫu rằng cách chúng ta quá lâu. Gioan thì hơn 2000 năm còn Isaia thì hơn nữa nhưng mà lời đó hình như vẫn còn như quá mới, quá thiết thực và quá gần với chúng ta. Chúng ta đã để cho lòng chúng ta còn quá nhiều hố sâu, còn quá nhiều đồi núi. Hố sâu, đồi núi đó chính là những hành vi, những lối sống ngược với Tin mừng. Nếu như chúng ta cứ để những cái hố sâu đó ban đầu be bé mà không chịu sửa thì dần già thời gian chúng ta sẽ khó lường được hậu quả. Cũng như trên con đường đi, thoạt đầu nó chỉ là cái lỗ nho nhỏ nhưng nếu như người ta lấp đi thì nó không có phá đường nhưng đàng này người ta làm ngơ. Ngày qua ngày cái ổ gà trở thành cái ổ voi và hết sức vất vả để qua con đường đó và thậm chí đến một lúc nào đó thành một cái vũng thì ta không thể nào qua được.

Chúng ta cũng không quên một điểm nhỏ là khi Gioan tin nhận Đấng Cứu Thế thì Gioan đã thi hành sứ mạng của mình là loan báo Đấng Cứu Thế cho người khác tin nhận như ông. Và đoạn sách ngôn sứ Isaia mà chúng ta vừa nghe cũng mời gọi chúng ta hãy thi hành sứ mạng ngôn sứ của mình: “Bấy giờ vinh quang ĐỨC CHÚA sẽ tỏ hiện, và mọi người phàm sẽ cùng được thấy rằng miệng ĐỨC CHÚA đã tuyên phán." Có tiếng nói: "Hãy hô lên! " Tôi thưa: "Phải hô lên điều gì? " - "Người phàm nào cũng đều là cỏ, mọi vẻ đẹp của nó như hoa đồng nội. Cỏ héo, hoa tàn khi thần khí ĐỨC CHÚA thổi qua. Phải, dân là cỏ: cỏ héo, hoa tàn, nhưng lời của Thiên Chúa chúng ta đời đời bền vững." Hỡi kẻ loan tin mừng cho Xi-on, hãy trèo lên núi cao. Hỡi kẻ loan tin mừng cho Giê-ru-sa-lem, hãy cất tiếng lên cho thật mạnh. Cất tiếng lên, đừng sợ, hãy bảo các thành miền Giu-đa rằng: "Kìa Thiên Chúa các ngươi! " Kìa ĐỨC CHÚA quang lâm hùng dũng, tay nắm trọn chủ quyền. Bên cạnh Người, này công lao lập được, trước mặt Người, đây sự nghiệp làm nên. Như mục tử, Chúa chăn giữ đoàn chiên của Chúa, tập trung cả đoàn dưới cánh tay. Lũ chiên con, người ấp ủ vào lòng, bầy chiên mẹ, cũng tận tình dẫn dắt”. (Is 40 5.9-11)

Chúng ta là những người được Thiên Chúa yêu thương, được Thiên Chúa tuyển chọn và đôi khi chúng ta biết nhiệm vụ loan báo tin mừng của chúng ta nhưng dường như chúng ta cứ phớt lờ đi cái nhiệm vụ ngôn sứ đó của chúng ta. Không chỉ quên đi nhiệm vụ ngôn sứ mà đôi khi chúng ta còn sống làm phai mờ đi hình ảnh đẹp của ngôn sứ.

Lối sống loan báo, ngôn sứ của mình đẹp nhất mà ông Gioan cũng như ngôn sứ Isaia loan báo là gì ? Chúng ta nhớ lại lời của thánh Phêrô tông đồ trong thư thứ hai của Ngài: “Anh em thân mến, một điều duy nhất, xin anh em đừng quên: đối với Chúa, một ngày ví thể ngàn năm, ngàn năm cũng tựa một ngày. Chúa không chậm trễ thực hiện lời hứa, như có kẻ cho là Người chậm trễ. Kỳ thực, Người kiên nhẫn đối với anh em, vì Người không muốn cho ai phải diệt vong, nhưng muốn cho mọi người đi tới chỗ ăn năn hối cải. Nhưng ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm. Ngày đó, các tầng trời sẽ ầm ầm sụp đổ, ngũ hành bốc cháy tiêu tan, mặt đất và các công trình trên đó sẽ bị thiêu huỷ. Muôn vật phải tiêu tan như thế, thì anh em phải là những người tốt dường nào, phải sống đạo đức và thánh thiện biết bao, trong khi mong đợi ngày của Thiên Chúa và làm cho ngày đó mau đến, ngày mà các tầng trời sẽ bị thiêu huỷ và ngũ hành sẽ chảy tan ra trong lửa hồng. Nhưng, theo lời Thiên Chúa hứa, chúng ta mong đợi trời mới đất mới, nơi công lý ngự trị. Vì thế, anh em thân mến, trong khi mong đợi ngày đó, anh em phải cố gắng sao cho Người thấy anh em tinh tuyền, không chi đáng trách và sống bình an” (2 Pr 3, 8-14).

Thánh Phêrô nhắc nhở chúng ta về ngày Chúa đến như kẻ trộm vậy và Thiên Chúa là tình yêu, Ngài không muốn cho ai phải diệt vong. Ngài muốn và Ngài chờ đợi sự hoán cải của con người. Thánh Phêrô mời gọi chúng ta hãy sống làm sao cho tinh tuyền trong những ngày mong đợi Thiên Chúa này.

Là con người mỏng dòn và yếu đuối, đôi khi chúng ta đã khép lòng chúng ta lại, chúng ta không dám mở lòng mình ra để cho Chúa sửa chữa những khuyết điểm những lầm lỗi trong ta. Hôm nay, nghe lời của ngôn sứ Isaia, nghe lời của ông Gioan, nghe lời của Thánh Phêrô để rồi chúng ta cải hoá con người chúng ta để chúng ta đứng vững trước mặt Con Người khi Con Người đến lần thứ hai trong vinh quang.

Chúng ta hãy siêng năng chạy đến Chúa, đặt mình trước mặt Chúa, xin Chúa thương hoán cải con người yếu đuối con người tội lỗi của chúng ta. Chúng ta cũng xin Chúa cho chúng ta cái ơn biết hoán cải để rồi ngày mỗi ngày chúng ta sống chúng ta nhớ đến ngày Đấng Cứu Độ đến lần thứ hai trong vinh quang và chúng ta cũng sống làm sao liệu liệu để dọn con đường cho Chúa đến. Con đường đó chính là sự thánh thiện, lòng tinh tuyền mà Thánh Phêrô mời gọi chúng ta.

Anmai, CSsR

Vể đầu trang

MV2-B68  Hy sửa lối cho thẳng để Chúa đi

CHỦ NHẬT 2 MÙA VỌNG

Tin mừng: Mc 1, 1-8.
Bạn thân mến,

 

Nói có sách, mách có chứng, thánh Mác-cô đã làm như thế khi viết lời mở đầu sách Phúc Âm của: MV2-B68 

Nói có sách, mách có chứng, thánh Mác-cô đã làm như thế khi viết lời mở đầu sách Phúc Âm của mình. Ngài đã mượn lời loan báo của tiên tri I-sai-a để nói về thánh Gioan Tẩy Giả -người dọn đường cho Đấng cứu thế đến. Thánh Gioan Tẩy Giả mặc áo long lạc đà, lưng thắt dây da và ăn châu chấu cùng mật ong rừng, đó chính là chân dung của người dọn đường cho Đấng cứu thế mà người Do Thái cũng như muôn dân trông đợi.

Thánh Gioan Tẩy Giả mặc ao lông lạc đà, còn bạn và tôi hôm nay mặc áo gì? Chắc chắn không phải mặc áo veston để dọn đường cho Chúa, cũng không phải mặc áo dạ hội để loan báo Tin Mừng, và cũng không phải mặc những bộ áo quần mô-đen để loan báo tin vui cứu độ, nhưng cái áo mà bạn và tôi phải mặc đó chính là cái áo Bác Ái, cái áo mà dù cho bạn bên ngoài mặc loại áo quần sang trọng hay nghèo hèn, đều có thể làm chứng cho Chúa Giê-su và dọn đường cho Ngài đến.

Thánh Gioan Tẩy Giả đã thắt lưng bằng dây da. Còn bạn và tôi thì thắt lưng bằng dây hy sinh, dây hy sinh này chính thánh Gioan Tẩy Giả đã thực hành trong suốt quãng đời niên thiếu của mình trong hoang địa để chuẩn bị cho Đấng cứu thế đến. Dây hy sinh của bạn và tôi chính là từ bỏ ý riêng của mình để nhìn thấy ý Chúa trong cuộc sống của mình.

Thánh Gioan Tẩy Giả đã ăn châu chấu và mật ong rừng. Còn bạn và tôi chắc chắn có những lúc thèm ăn những thứ cao lương mỹ vị, khác hẳn với sự khó nghèo của thánh Gioan Tẩy Giả, chính châu chấu và mật ong rừng đã làm cho ngài trỗi vượt trên các kinh sư luật sĩ và người Pha-ri-siêu. Thức ăn của bạn và tôi hôm nay chính là Mình và Máu Thánh của Chúa Giê-su, chính lương thực hằng sống này, làm cho chúng ta trở nên người dọn đường cho Chúa Giê-su đến trong tâm hồn của mọi người.

Bạn thân mến,

Nếu bạn và tôi không trở nên như thánh Gioan Tẩy Giả thì không thể dọn đường cho Chúa đến trong tâm hồn của mình cũng như đến trong tâm hồn của người khác. Khi mà một xã hội chỉ biết hưởng thụ, thì tinh thần của thánh Gioan Tẩy Giả lại nổi bật lên, làm cho mọi người dễ dàng nhận ra chúng ta là người phát quang những cây cỏ dục vọng, ham danh, ham tiền, ham quyền đang mọc chắn cả lối đi, làm cản trở tâm hồn con người ta không thể hướng lòng lên cùng Thiên Chúa và nhìn đến tha nhân.

Trở nên như thánh Gioan tẩy Giả và mặc lấy tinh thần của ngài, là bạn và tôi đã trở nên người phát quang đường sá tâm hồn sạch sẽ, thoáng mát để cho Chúa ngự đến vậy.

Xin Thiên Chúa chúc lành cho chúng ta.

------------------------------
http://www.vietcatholic.net/nhantai
http://360.yahoo.com/jmtaibyjmtaiby@yahoo.com taibytw@hotmail.com

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.

Vể đầu trang

MV2-B69 Dọn đường

Vào một buổi sáng Chúa nhật đẹp trời, Cordell, một con người bệnh tật và đau yếu, được mời: MV2-B69

Vào một buổi sáng Chúa nhật đẹp trời, Cordell, một con người bệnh tật và đau yếu, được mời đến nói chuyện tại câu lạc bộ dành cho những người khoẻ mạnh, giàu sang và gặt hái những thành công sáng chói. Anh đã mở đầu như sau: Tôi biết rằng tôi rất khác biệt với quý vị. Rồi anh trích dẫn lời thánh Phaolô: Nhưng nhờ ơn Chúa mà tôi được như thế này. Suốt 20 phút đồng hồ, anh đã nói về lòng nhân từ của Thiên Chúa được thể hiện trong đời sống của anh. Và rồi anh đã kết luận: Quý vị có thể thành công trong suốt cả cuộc đời và lợi nhuận hàng năm có thể lên tới hàng triệu đồng, nhưng khi ngày giờ đến, ngày mà quý vị nhắm mắt buông tay giã từ cuộc sống và bị vùi sâu dưới lòng đất lạnh, thì quý vị sẽ chẳng khác tôi chút nào. Đó là giây phút mọi người chúng ta đều giống nhau. Tôi không cần tới những gì quý vị đang có trong cuộc sống, nhưng tôi chắc chắn rằng quý vị cần một điều mà tôi đang có đó là Đức Kitô.
Câu chuyện trên làm cho tôi thích thú, bởi vì nó rất thích hợp với bầu khí của mùa vọng. Nó mời gọi chúng ta thử kiểm điểm xem cái gì thực sự quan trọng đối với chúng ta? Cái gì chiếm địa vị ưu tiên trong cuộc sống? Và hơn nữa Đức Kitô giữ vai trò nào trong đời sống chúng ta? Trong giây phút này, Ngài có phải là thần tượng chiếm chỗ nhất trong con tim chúng ta hay không? Như trái đất xoay quanh mặt trời, thì liệu toàn bộ cuộc đời chúng ta có quy hướng về Ngài, có xoay quanh Ngài hay không?
Cũng trong chiều hướng ấy, phụng vụ lời Chúa hôm nay thôi thúc chúng ta hãy đặt lại vấn đề xem: Chúng ta đã đi đúng hay đi sai? Chúng ta đã đặt trọng tâm của cuộc sống vào đâu? Cũng như chúng ta đã xây dựng con người chúng ta trên nền tảng nào?
Tại Luân Đôn có một ngôi nhà nguyện được sử dụng để tưởng niệm những người dân đã bị thiệt mạng trong thành phố do máy bay oanh tạc thời đệ nhị thế chiến. Trong nhà nguyện có 4 cuốn sách lớn, ghi tên sáu ngàn nạn nhân. Mỗi ngày người ta mở một trang, và khi đọc những tên ấy, chúng ta không sao biết được nạn nhân là người nghèo hay giàu, da đen hay da trắng, già hay trẻ, đẹp hay xấu. Bởi vì lúc đó không còn một khác biệt nào nữa. Có chăng sự khác biệt duy nhất đó là bản chất con người mà cá nhân chúng ta đã tạo ra cho mình khi còn sống ở trần gian này. Và như thế, chúng ta phải làm gì nếu như đã không sống đúng với cách thức chúng ta phải sống. Chúng ta phải làm gì nếu như Đức Kitô thực sự đã không chiếm chỗ nhất trong tâm hồn chúng ta. Chúng ta phải làm gì nếu như chúng ta chưa chuẩn bị để gặp gỡ Đức Kitô trong ngày sau hết.
Gioan Tiền Hô hôm nay đã đưa ra những việc cần phải làm ngay, đó là phải ăn năn sám hối, cải tà quy chính và làm lại cuộc đời, nghĩa là hãy dọn đường Chúa đến. Khi tôi là một em nhỏ thì thời gian như bò tới. Khi tôi là một thanh niên thì thời gian như đi tới. Khi tôi là một người trưởng thành thì thời gian như chạy tới. Khi tôi là một người già cả, thì thời gian như bay tới. Còn khi tôi cận kề với cái chết, thì tời gian như đã mất đi. Vậy chúng ta đã làm được những gì để đón mừng Chúa đến?

Vể đầu trang

MV2-B70  Vì Ngài Ở Với Chúng Ta …

(Suy niệm của Jean Ratlé)
Đây là thời đổi mới.
 

Giáng Sinh sắp đến! Bạn có biết không? Đây là thời gian chuẩn bị mừng lễ: Hãy trang hoàng: MV2-B70

Giáng Sinh sắp đến! Bạn có biết không? Đây là thời gian chuẩn bị mừng lễ: Hãy trang hoàng nhà cửa, chuẩn bị một bữa tiệc, chẳng bao lâu nữa sẽ là Giáng Sinh rồi.
Giáng Sinh đã có nơi bạn rồi, bạn có nghe lòng mình hát lên không? Để đón nhận Giáng Sinh, bạn hãy để trào dâng lên nơi mình Giáng Sinh đang có ở nơi bạn, hãy để nó chiếu tỏa ra chung quanh bạn, Giáng Sinh đã có đó rồi.
Thiên Chúa trong thâm tâm.
Nhưng ai sẽ làm nẩy sinh như vậy được niềm hoan lạc trong cuộc đời làm người của bạn? Ô! Bạn biết rằng chính Ngài đã đến, bạn cũng biết rằng Đấng đang đến sẽ có mặt ở đó trong vài ngày nữa. Chỉ có vậy sao? Hãy nghe rõ, còn một ít nữa, tận đáy lòng, hãy nghe tiếng hát của con tim bạn… Bây giờ bạn đã nghe chưa? Phải, chính Ngài đó, chính Ngài là Thiên Chúa đang đến. Ngài đã có mặt ở đó, nơi thâm tâm bạn, Ngài hiện diện, Ngài đến đổi mới bạn, qua trung gian của bạn, quyền năng của Thần Khí Ngài.
Nhìn kìa: Ngài tiến tới như kẻ đi chinh phục, chính Ngài là vị đại thắng. Điều Ngài trao cho bạn là một trời mới đất mới. Một quả đất nơi Công lý và Hòa bình ngự trị, một trái đất giàu tình thương và chân lý.
Hãy lắng nghe tiếng hát của Ngài đang dâng lên, du dương như làn gió nhẹ, sâu thẳm như đêm dài, ấm áp như ngọn lửa. Đó là tiếng hát của Tin Mừng, bạn hiểu chưa?
Niềm hoan lạc trong lòng.
Nhưng có phải bạn chỉ giữ điều này trong trí thôi, lặp đi lặp lại nói mà không thực sự hiểu chăng? Nó phát xuất từ lòng bạn, vậy hãy nghe bằng con tim, lúc đó bạn sẽ hiểu. Vả lại, Chúa nói với con tim của bạn. Ngôn ngữ của Ngài là Tình yêu, và chỉ mình con tim mới hiểu rõ được. Và nếu cuối cùng bạn hiểu được thì cả bạn nữa hãy ra đi chuẩn bị đường nẻo của Chúa.
Nhưng bạn sẽ hỏi: tôi đi đâu? Trước hết hãy đi vì bản thân bạn. Đi trên những con đường đời của bạn, và vạch ra ở đó một con đường bằng phẳng cho Thiên Chúa chúng ta. Nơi bạn, hố sâu hãy lấp cho đầy, núi đồi hãy bạt xuống, nẻo quanh co hãy làm cho thẳng băng và hãy biến đổi những chỗ gồ ghề ra bằng phẳng.
Bạn thấy đấy, trước hết chính nơi bạn mà công việc phải bắt đầu. Bạn phải thay đổi thói quen, những cách làm và những cách nhìn của bạn. Bạn phải tìm cách loại bỏ đi khỏi đời bạn tất cả những gì không thuộc về Thiên Chúa, tất cả những gì giam hãm con tim của bạn. Bạn hãy học biết đừng phán đoán hoặc kết án người đồng loại, cho dù hành động của họ có xấu đi nữa. Vì khi loại trừ họ bạn cũng dứt bỏ Thiên Chúa ở nơi họ nữa. Bạn cũng hãy học biết chia sẻ, vì khi bạn thu góp dư thừa, bạn sẽ làm cho đồng loại thiếu thốn, không có được những gì cần thiết để sống. Bạn hãy học biết tìm kiếm Thiên Chúa khắp mọi nơi, nhất là nơi mà bạn không bao giờ tìm được Ngài, vì con người biết giấu Ngài rất kỹ.
Phá bỏ để xây dựng lại.
Nếu bạn thấy Đấng Cứu Thế chậm đến bạn đừng than phiền vì nếu Ngài hoãn lại hoạt động của Ngài, chính là vì bạn – bởi vì Ngài đang chờ bạn. Là Tình yêu, Ngài không thể chấp nhận để cho ai bị hư mất nhưng ban cho họ tất cả mọi cơ may. Ngài để cho bạn thời gian để bạn hoán cải.
Vì thế bạn đừng sợ, đây là thời gian phá hủy nơi bạn các ngẫu tượng và bàn thờ của Chúa, thời gian xé những bức màn dối trá đã làm cho đời bạn ra u ám. Cất khỏi bạn tất cả những gì chiếm chỗ của Thiên Chúa. Hãy để chỗ cho Ngài xây dựng. Hãy cùng với Ngài tái thiết một con người mới được sinh ra cho thế giới mới mà Ngài mang đến cho bạn. Vì con người cũ không thể đi vào trong thế giới mới được. Hãy đi đến cùng tận con người bạn, tận cùng nỗi nghèo nàn của bạn, nỗi đau khổ làm người của bạn và lúc đó bạn sẽ tìm thấy Ngài, vị Thiên Chúa mà bạn tìm kiếm.
Và khi bạn đã tìm được Ngài rồi thì hãy nhanh chóng đi loan báo Ngài cho tất cả những ai chưa tìm được Ngài, những ai không biết tìm Ngài ở đâu. Hãy đến nói với họ rằng Thiên Chúa đang có mặt và Ngài đang làm những điều mới mẻ cho hết thảy mọi người. Hãy đi nói với họ rằng Ngài yêu thương và chờ đợi họ. Hãy đi nói với họ rằng thế giới mới đã bắt đầu rồi và họ được mời gia nhập vào đó.
Và như bạn thấy, Giáng Sinh đang đến! Và như bạn thấy, Giáng Sinh đã đến rồi, nơi thâm tâm bạn cũng như tận đáy lòng của mọi con người. Đây là lúc Chúa đến đổi mới con người. Vậy hãy mở rộng lòng bạn ra và để cho Ngài đặt bạn dọn tiệc, vì hôm nay đây, Ngài mời bạn đi vào trong thế giới mới mà bạn đợi chờ.

Vể đầu trang

MV2-B71. Chúa đến để giải thoát

Qua ba bài đọc hôm nay, lời Chúa mang đến cho chúng ta một niềm hy vọng là Ngài sẽ đến để giải thoát cho dân: MV2-B71

Qua ba bài đọc hôm nay, lời Chúa mang đến cho chúng ta một niềm hy vọng là Ngài sẽ đến để giải thoát cho dân Ngài trong lịch sử và để tái tạo thế giới trong tương lai. Đồng thời còn vạch cho chúng ta đường lối của Ngài để chúng ta biết phải chuẩn bị như thế nào cho xứng hợp.
Trước hết, Thiên Chúa đã đến trong lịch sử. Như chúng ta đã biết dân Do Thái đã qua cuộc xuất hành đầu tiên khỏi Ai Cập, nhưng về sau họ còn phải trải qua những cuộc lưu đày khác và theo sau là những lần Chúa can thiệp. Tiên tri Isaia hôm nay loan báo cho họ biết là sắp có một cuộc xuất hành mới, khỏi ách thống trị của Babylon: Thời nô lệ đã chấm dứt, tội lỗi đã được ân xá. Đây Chúa là Thiên Chúa các ngươi sẽ đến trong quyền lực, cánh tay Ngài sẽ thống trị. Ngài đến để dẫn dắt họ trở về quê hương các tổ phụ như người mục tử ẵm chiên con trên cánh tay mình và nhẹ tay dẫn dắt các chiên mẹ.
Hơn thế nữa Thiên Chúa đã đến qua Con của Ngài là Đức Kitô. Đức Kitô chính là sức mạnh của Thiên Chúa đến để giải thoát thế gian khỏi tội lỗi như lời Gioan Tiền Hô đã làm chứng: Đấng đến sau tôi nhưng quyền năng hơn tôi, Ngài sẽ rửa các ngươi trong Chúa Thánh Thần. Người là mục tử nhân lành đến tìm kiếm những con chiên lạc.
Và sau cùng, Đức Kitô sẽ đến trong vinh quang. Ngài đã nói nhiều về ngày Ngài sẽ trở lại để phán xét thế gian. Thánh Phêrô đã nói đến thái độ của các tín hữu đầu tiên: Mong đợi ngày Chúa trở lại đến nỗi có người lầm tưởng là Ngài chậm trễ thi hành lời hứa của Ngài. Chắc chắn Ngài sẽ đến nhưng Ngài đã không xác định thời gian vì một ngày của Chúa như ngàn năm và ngàn năm như một ngày. Ngài chưa đến là do sự quan phòng, và vì Ngài nhẫn nại, muốn tất cả mọi người được cứu rỗi.
Thiên Chúa đến như là hậu quả cuộc chuẩn bị của con người. Ngài đã sai các tiên tri như tiếng kêu trong hoang địa loan báo dân Ngài hãy chuẩn bị để Ngài đến giải thoát. Thế nhưng, phải chuẩn bị ra làm sao?
Trước hết mọi người cần phải ăn năn sám hối, tiếp đến là hãy sống thánh thiện và đạo đức mong ngày Chúa đến. Sau cùng là hãy đem Tin Mừng đến cho người khác.
Một du khách rảo qua những danh lam thắng cảnh ở Thuỵ Sĩ, dừng lại trước một vườn hoa đẹp bao quanh một lâu đài, người làm vườn ra đón chào. Du khách hỏi: Cụ ở đây bao lâu rồi? Thưa 24 năm. Có lẽ chủ của cụ ít ở đây? Vâng, tôi chỉ mới gặp có bốn lần thôi, và lần cuối cùng cách đây đã 12 năm. Thế thì ai thưởng thức cảnh đẹp này mà cụ phải mất công chăm sóc kỹ càng như vậy. Thưa ông, tôi làm như chủ tôi đến hôm nay, ngay bây giờ. Ngoài ra, chính khi làm đẹp khu vườn cho chủ, vợ chồng tôi cũng được hưởng cảnh đẹp.
Lời Chúa hằng kêu gọi mọi người trong thế giới hôm nay. Chúng ta cần có thái độ lắng nghe, mở rộng tâm hồn để trở về với Chúa. Và có nhiệm vụ làm cho mọi người cũng biết từ bỏ tội lỗi mà trở về cùng Chúa.

Vể đầu trang

MV2-B72.  Tháo gỡ để giao hòa – Lm. Trần Ngà

Có hai hình thức cản trở khiến con người không đến được với nhau: cản trở bên ngoài và cản: MV2-B72

Có hai hình thức cản trở khiến con người không đến được với nhau: cản trở bên ngoài và cản trở bên trong.
Cản trở bên ngoài có nhiều thứ như lũng sâu, núi cao, đường sá quanh co hiểm trở... đã được tiên tri Isaia đề cập đến trong bài đọc thứ nhất hôm nay.
Lại có những hình thức cản trở khác do chính con người tạo ra để ngăn chận sự thâm nhập của quân thù như người xưa phải xây thành cao, đào luỹ sâu; hay ngày nay người ta dùng hàng rào kẽm gai cài thêm bom mìn để ngăn chặn đối thủ.
Ngoài ra còn có những ngăn cách khác như dòng sông Bến Hải trước đây đã chia cắt đất nước Việt Nam thành hai miền thù nghịch, hoặc bức tường Bá Linh ở Đức chia cắt đất nước nầy thành hai quốc gia đối lập.
Thành luỹ bên ngoài tuy vậy mà dễ vượt qua, còn thành luỹ bên trong tâm tư con người còn khó vượt qua hơn; đó là lòng hận thù, nghi kỵ, giận hờn, ghen tỵ, tranh chấp, cãi cọ, kiêu căng, khép kín... Những thứ thành luỹ nầy tuy vô hình, không đồ sộ, không có bề cao, bề rộng, bề sâu nhưng có khả năng ngăn cách con người rất hiệu quả: Có những gia đình ở kề bên nhau nhưng vì hận hờn ghen ghét nên không hề lui tới với nhau; thậm chí có những anh em ruột thịt mà mấy chục năm trời không nhìn mặt nhau chỉ vì tranh chấp đố kị. Có khi vợ chồng cùng sống chung phòng nhưng tâm hồn hai người cách xa nhau vạn dặm.
Lời Chúa qua miệng Ngôn sứ Isaia (trong bài đọc thứ nhất hôm nay) tha thiết mời gọi chúng ta hãy tháo gỡ những thành luỹ vô hình đó để giao hoà với nhau. "Hãy dọn đường Chúa, hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng. Hãy lấp mọi hố sâu và bạt mọi núi đồi: con đường cong queo hãy làm cho ngay thẳng, con đường gồ ghề hãy san cho bằng..."
Và trong Tin Mừng hôm nay, Thánh sử Mác cô nhắc lại: "Có tiếng kêu trong hoang địa: hãy dọn đường Chúa, hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng".
Dọn đường đón Chúa không là gì khác ngoài việc tháo gỡ những rào cản đang được dựng lên trong lòng ta để người anh em có thể đến được với mình.
Tha nhân là hiện thân của Chúa Ki-tô, là chi thể của Chúa Ki-tô.
Nếu chúng ta không tháo gỡ những ngăn cách để cho tha nhân là hiện thân của Chúa Giê-su đến được với ta, thì chúng ta đang ngăn chặn Chúa đến với mình.
* * *
Cha mẹ trần gian rất đau lòng khi nhìn thấy con cái trong nhà xích mích, chia rẽ và ly tán.
Thiên Chúa là Cha nhân lành cũng vô cùng đau đớn khi con cái Người trên dương thế sống xa lìa chia cắt.
Mỗi người chúng ta là một tế bào, là một chi thể làm nên Thân Thể Chúa Ki-tô. Vì thế, khi để cho hận thù, nghị kị, ganh ghét chia rẽ chúng ta là chúng ta đang chia cắt Thân Thể Chúa. Thế là vô tình Chúa Ki-tô đang bị phanh thây! Chúa Giê-su rất đau lòng vì Thân Mình Người bị chia năm xẻ bảy nên Người tha thiết đòi buộc con cái phải mau tháo gỡ những ngăn cách đó để giao hoà với nhau, để cho Thân Mình Người được lành lặn. Vì thế Người nghiêm khắc đòi buộc những chi thể phân cách hãy mau mau giao hoà: "Nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình" (Mt 5, 23-24).
* * *
Dòng sông Bến Hải cắt đôi đất nước Việt Nam và biến đồng bào Việt Nam thành thù địch trong suốt 21 năm trời cuối cùng đã trở thành gạch nối liên kết hai miền bắc nam.
Bức tường Bá Linh chia cắt Đức quốc thành hai quốc gia thù nghịch suốt 28 năm cuối cùng cũng bị triệt hạ để cho dân tộc Đức được thống nhất và trở nên hùng cường.
Nhiều ngăn cách lớn lao giữa các dân tộc đã dần dần được tháo gỡ.
Vậy biết đến bao giờ những "bức tường" do chính chúng ta dựng lên ngăn cách chúng ta với người khác được tháo gỡ để Thiên Chúa có thể đến với chúng ta?

Vể đầu trang

MV2-B73.  Tiếng kêu – ĐGM. Nguyễn Sơn Lâm

Điểm nổi bật trong các bài đọc hôm nay là tiếng kêu. Khi một âm thanh vang động, thì tiếng: MV2-B73

Điểm nổi bật trong các bài đọc hôm nay là tiếng kêu. Khi một âm thanh vang động, thì tiếng ấy phải phát xuất từ đâu, muốn nói gì và cho ai? Tiếng kếu chúng ta nghe hôm nay phát xuất từ Thiên Chúa qua Gioan Tiền hô loan báo cho ta một sứ điệp: "Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước để dọn đường cho con". Sứ giả Gioan chính là tiếng kêu trong sa mạc: "Hãy dọn đường cho Chúa, chỗ quanh co hãy uốn lại cho ngay thẳng" (Mc 1,1-3).
1. Tiếng kêu của Chúa
Từ ngày xưa cũng như bây giờ, Thiên Chúa vẫn làm phát xuất những tiếng kêu: qua các ngôn sứ, qua tiếng lương tâm và qua cả những trạng huống của đời sống con người. Những tiếng kêu bi thiết trầm thống của mọi thời đại đã vang tới Chúa. Phải chăng chỉ vì vậy mà Chúa mới nhắn bảo các sứ ngôn: "Hãy an ủi, hãy an ủi dân Ta. Hãy nói cho Yêrusalem biết rằng: nó không còn phải mang kiếp tôi đòi nữa và tội lỗi của nói đã được tha" (Is 40,2-2).
Vì thế tiếng kêu của Chúa là một tiếng kêu đặc biệt. Thông thường khi nói tới tiếng kêu, chúng ta quen nghĩ tới kêu cứu, kêu gọi, kêu cầu: kêu cứu vì mình đang lâm nguy; kêu cầu để van xin giúp đỡ; kêu gọi để nhắc bảo phải làm một cái gì. Tiếng kêu của Chúa không hàm nghĩa kêu cứu và kêu cầu, mà chỉ ngụ ý kêu gọi.
2. Chúa kêu gọi ta làm gì?
Để lay động thức tỉnh ta, bắt ta chú ý và chuẩn bị đón nhận một sứ điệp. Tiếng kêu của Gioan tiền hô giữa nơi hoang vắng tiên vàn cũng đánh thức, gây chú ý và quy tụ dân chúng để nghe ông nói.
Sứ điệp của ông cũng tương tự như những điều ngôn sứ trong sách Đệ nhị Isaia đã nói với dân Dothái vào thế kỷ VI, sau khi họ vừa thoát khỏi cảnh lưu đày ở Babylon.
Chúa đã thẳng tay trừng trị Yêrusalem, nhưng giờ đây họ không còn phải làm nô lệ nữa, và tội lỗi của họ đã được tha thứ.
Phải dọn đường cho Chúa trong sa mạc. Chỗ gập ghềnh khúc khuỷu hãy uốn lại cho ngay.
Mọi người sẽ được nhìn thấy vinh quang của Thiên Chúa, vì Người đến với đầy vẻ lẫm liệt oai phong.
Người lãnh đạo dân mình như mục tử chăn dắt đoàn chiên (Is 40,1-5.9-11).
Những năm tháng lưu đày đã giúp họ hồi tâm lại và nhận thức lý do đem tới đau khổ là chính tội lỗi của họ (Is 7,25-28). Từ đó nhóm dậy trong lòng họ những tâm tình sám hối, dẫn đến quyết định dứt khoát với tội lỗi.
Khi làm như thế là họ sửa sang đường lối trong tâm hồn cho ngay thẳng để đón tiếp vinh quang Chúa đến. Đó chính là điều các ngôn sứ nhắm, khi các ngài gióng lên tiếng kêu.
3. Tiếng kêu của Gioan gây nên âm hưởng nào đối với người Do Thái đương thời?
Chắc chắn, tiếng kêu ấy đã khiến họ ngỡ ngàng, băn khoăn và làm cho họ như phải đối diện với một số vấn đề thuộc phạm vi lương tâm và công bình xã hội (Lc 3,7-14). Họ đã chịu phép rửa sám hối, xin ơn tha tội để dọn tâm hồn tiếp nhận Đức Kitô.
Còn đối với chúng ta hôm nay thì sao?
Sứ điệp của sách Đệ nhị Isaia và của Gioan tiền hô vẫn thúc bách chúng ta dọn đường cho Chúa trong sa mạc, nhưng là để đón Chúa Kitô trở lại trong vinh quang. Quả vậy, kinh nghiệm sa mạc của người Dothái trong biến cố Xuất hành khỏi Aicập hướng về Đất Hứa và trên đường hồi cư từ Babylon trở về Quê Hương vẫn mang một giá trị hiện thực cho cuộc sống chúng ta hôm nay. Sa mạc trong lịch sử cứu độ mang những ý nghĩa thần học sâu xa. Chính trong sa mạc con người chịu thử thách và phải chiến đấu để trung thành với Giao ước; cũng chính trong sa mạc, con người được thanh luyện tinh tuyền để xứng đáng với Thiên Chúa trong cuộc gặp gỡ ân tình. Giáo hội hôm nay cũng phải trải qua kinh nghiệm sa mạc bằng cuộc sống chiến đấu và thử thách để minh chứng lòng trung thành với ơn gọi Kitô hữu của mình và để tự thanh luyện xứng đáng gặp lại Đức Kitô đến thiết lập Trời mới Đất mới (2P 3,13).
4. Phải chăng trời mới đất mới chỉ hình thành trong thời viễn lai?
Ngay từ bây giờ Trời mới Đất mới xuất hiện khi mỗi người thi hành sứ điệp dọn đường cho Chúa và biến cõi đời này thành nơi đáng sống hơn. Ở đó mỗi ngày một bớt dần những cảnh bất công tàn ác; ở đó nhân phẩm được kính trọng và các quyền lợi căn bản của con người được bảo đảm; và nhất là ở đó mọi người được hòa giải với Thiên Chúa và với anh em đồng loại. Như thế, vinh quang Thiên Chúa đang xuất hiện giữa thế giới loài người, vì theo thánh Irênê: "Con người là vinh quang của Thiên Chúa". Chúng ta không ngừng xây dựng Trời mới Đất mới để tiến tới ngày viên mãn rực rỡ lúc mà Đức Kitô trở lại hoàn tất lịch sử cứu độ, thu hồi vạn vật về một mối (Ep 1,10) và trao phó vương quyền cho Thiên Chúa Cha, để Người trở nên mọi sự trong mọi người. (1Cr 15,28).
Đó là viễn tượng giúp ta hiểu đúng câu nói của thánh Phêrô trong bài đọc thứ 2: "Ngày đó, các tầng trời sẽ sụp đổ tan tành, lửa, nước, ánh sáng, gió, mây đều cháy tiêu tan, và trái đất với tất cả mọi công trình xây dựng của con người đều bị thiêu đốt" (2P 3,10). Câu đó có nghĩa là chính Đức Kitô sẽ dùng năng lực Thánh Thần và lửa tình yêu nung nấu tất cả, để siêu thăng và biến đổi chúng nên rực rỡ tốt đẹp cách nhiệm mầu chứ không hủy diệt chúng. Đó sẽ là cuộc biến hình hoàn vũ, mà cuộc biến hình trên núi Tabo là dấu chỉ và khởi đầu.
Tiếng kêu của Gioan vọng lại tiếng kêu của Thiên Chúa trong lịch sử cứu độ, đang gọi ta đứng dậy, ngước mắt nhìn lên và hướng về tương lai. Viễn tượng Chúa đến trong vinh quang đem lại cho ta niềm tin, phấn khởi trong cuộc hành trình qua sa mạc của đời sống hiện tại.
Vì thế, tiếng kêu của vị tiền hô là một tiếng kêu mang đầy Hy Vọng và Niềm Vui.
***

BÀI GIẢNG
Chúa nhật hôm nay có thể gọi được là Chúa nhật của vị Tiền Hô, của Gioan Tẩy giả, của "tiếng kêu" dọn đường Chúa đến, và như thế là Chúa nhật của niềm trông đợi chứa chan hy vọng.
Chúng ta ngày nay, xét về mặt xã hội, không còn như Israel ngày xưa. Dân Chúa bấy giờ đang lầm than trong cảnh nô lệ lưu vong. Nhưng xét về nhiều phương diện khác, đời người luôn luôn có những khổ sở. Và chẳng bao giờ nhân loại thấy đã thoát khỏi lầm than, đau đớn... Luôn luôn chúng ta có một số vấn đề không làm đau khổ thể xác thì cũng làm khắc khoải tâm hồn. Và cái khổ là bao giờ những khó khăn hiện tại đối với tâm lý, cũng vẫn là những gò bó khó chịu nhất mà chúng ta muốn cựa quậy, giũ đi cho bằng hết. Trong hoàn cảnh đó tiếng kêu của vị Tiền hô đang muốn khơi lại niềm tin hun đúc niềm cậy, để mọi người chúng ta tìm lại được tinh thần chứa chan hy vọng do Tin Mừng cứu độ mang tới.
Gioan không bịa ra những nguồn tin giả dối, trần tục, vô căn cứ và miễn cho ta những nỗ lực chính đáng. Chính ông cũng không tự xưng là người sẽ giải thoát anh em. Ông chỉ cho chúng ta thấy Đấng Cứu thế đích thực, là Đức Yêsu Kitô. Nói đúng hơn, khi rao giảng, ông bảo mọi người hãy trông cậy vào Đấng sẽ đến sau, Đấng chưa ai thấy, nhưng chắc chắn sẽ đến mà ông chẳng đáng cúi xuống cởi dây giày Người. Gioan không nói viển vông. Đặt niềm tin ở Sách Thánh, căn cứ vào mạc khải của Thiên Chúa, Gioan khẳng định Đấng Cứu thế không phải là phàm nhân, không hành động như các vĩ nhân trong lịch sử. Ngài đến chăn dắt đoàn chiên mình như mục tử; Ngài ẵm chiên con trên cánh tay; ôm ấp chúng vào lòng và nhẹ tay dẫn dắt các chiên mẹ.
Đấng Cứu thế chúng ta trông đợi là như thế. Ngài không có những toan tính trần gian. Ngài là một mục tử hiền lành săn sóc từng con chiên và cả đoàn chiên. Vì thế, chúng ta hãy trút bỏ não trạng trần tục khi khắc khoải đợi chờ Đức Kitô trở lại. Trong bất cứ thử thách nào Đấng Cứu chuộc chúng ta vẫn là Chúa, vì chỉ có Ngài mới đáp ứng được niềm trông cậy của ta.
Niềm trông cậy ấy tạo nên ở nơi ta một thái độ, một tác phong, một nếp sống đặc biệt. Khi người ta ao ước những sự hão huyền hay chờ đợi những giải pháp trần tục, thường người ta dành công việc cứu thế cho người khác; còn chính bản thân người ta chỉ thụ động ỷ lại và biếng nhác. Ngược lại, khi rao giảng Đấng Cứu thế là ai, thì Gioan cũng vạch ra cho mỗi người con đường phải sửa soạn có thể tiếp một vị cứu tinh như thế. Người sẽ rửa ta trong Thánh Thần. Người sẽ thánh hóa tất cả những ai sẵn sàng. Thế nên hết mọi người phải ăn năn thống hối, phải thú tội và sửa lại đường lối xưa nay. Không còn được sống quanh co, lúc thế này khi thế khác. Phải trước sau như một, thi hành một đòi hỏi của sự thánh thiện. Mọi gồ ghề ngăn trở các quan hệ tốt đẹp với tha nhân, phải bạt xuống và san phẳng đi, để tình người và lòng bác ái cứu độ của Đức Kitô đến với hết mọi người. Có như vậy, xã hội mới dần dần huynh đệ hơn, tốt đẹp hơn và chúng ta mới nhìn thấy ơn cứu độ của Chúa trải rộng trên khắp mặt địa cầu.
Không những rao giảng, Gioan còn sống cuộc đời sám hối. Ông ăn châu chấu và uống mật ong rừng. Ông mặc áo lông lạc đà và thắt lưng bằng dây da thú. Ông sống như các thánh nhân thời bấy giờ: không quan tâm đến việc trang điểm bằng các sản phẩm mỹ nghệ, không ăn dùng như những người tưởng chỉ có các thú vui ở đời này. Ngược lại, ông thấy hạnh phúc trong nếp sống gần thiên nhiên, thấy thiên nhiên như tiếng gọi trở về đời sống chất phác và chân thật. Ông coi cuộc đời phù phiếm như đã qua, và trông đợi Trời mới và Đất mới trong đó có công lý sẽ ngự trị.
Tất cả chúng ta không đang được kêu gọi đi vào một nếp sống cụ thể như thế sao? Cả một lối sống phù phiếm như đã qua rồi. Những giờ lao động tiếp xúc với thiên nhiên như đang khiến ta có một nhân-sinh-quan mới: chân thật và đơn sơ hơn. Nhiều nhân đức Phúc Âm như đang có cơ hội được thực thi dễ dàng hơn trước. Chúng ta phải bắt lấy thời cơ, nhờ ơn từ trời xuống, giúp nhau sám hối và đổi đời. Làm được như vậy, là đang san phẳng đường đi cho Chúa đến. Nói đúng hơn, Thánh Thần Chúa ở trong ta đang muốn dùng ta để thay đổi mặt đất này cho công lý ngự trị.
Thánh Thể mà chúng ta cử hành bây giờ cũng chỉ muốn thực hiện những điều đó. Đức Kitô cứu thế mời ta góp phần đời sống sám hối canh tân của chúng ta vào mầu nhiệm Tử nạn của Người, để ơn Phục sinh của Người tràn vào tâm hồn và đời sống chúng ta, dùng nếp sống đổi mới hằng ngày của ta, canh cải mặt đất này tạo nên một Trời mới Đất mới cho tất cả mọi người.
Xin anh em hãy hết mình đi vào mầu nhiệm bàn thờ với những tâm tư quyết liệt như thế.
(Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa của Đức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)

Vể đầu trang

MV2-B74. DỌN ĐƯỜNG (CN 2V.B)

(BĐ1. Is 40,1-5.9-11; BĐ2. 2Pet 3,8-14; PÂ. Mc 3,1-3).
 

Để thực hiện bất cứ một chương trình hay một công trình nào, chúng ta cần phải chuẩn bị. Chuẩn: MV2-B74

Để thực hiện bất cứ một chương trình hay một công trình nào, chúng ta cần phải chuẩn bị. Chuẩn bị càng chu đáo, càng đạt thành công. Để tác thành vũ trụ trong thời gian, Thiên Chúa đã quan phòng cho mọi thụ tạo hiện hữu cách lạ lùng. Vạn vật tiệm tiến phát triển qua thời gian. Để đi vào chương trình cứu độ loài người, Thiên Chúa đã đi vào lịch sử của con người trong thời gian và không gian. Thiên Chúa đã mặc khải mầu nhiệm nước trời từng bước theo sự phát triển và nhận thức của con người. Ngài hướng dẫn lịch sử của một dân tộc được tuyển chọn trong chương trình cứu độ. Từ tổ phụ Abraham, Isaac và Giacob kéo dài cả 2000 năm, cho tới Đấng Cứu Thế xuất hiện. Thiên Chúa là Alpha và Ômega, là cội rễ và là cùng đích. Ngài là chủ thời gian. Mọi loài thụ tạo được tác thành trong thời gian và không gian giới hạn.
Lịch sử của Dân Do-thái cũng là lịch sử của Ơn Cứu Độ. Dân Do-thái trải qua biết bao nhiêu thăng trầm và thử thách. Thiên Chúa luôn luôn thương yêu bao bọc chở che, cho dù lòng dân có đổi thay và phản bội. Chúa phạt rồi Chúa lại tha. Chúa cho an cư lạc nghiệp, rồi Chúa lại phạt phải đi lưu đầy vì tội lỗi phản nghịch và từ bỏ lề luật Chúa. Thế hệ này nối tiếp thế hệ kia đã qua đi. Thiên Chúa luôn giữ lời đã hứa là sẽ ban Đấng Cứu Độ. Ngài sẽ giải thoát dân khỏi vùng âm u sự dữ, tội ác và sự chết. Tiên tri Isaia đã an ủi Dân Thánh là hãy an tâm, vì thời nô lệ đã chấm dứt và tội lỗi đã được ân xá. Giờ đây hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng. Cải biến tâm hồn cho tinh sạch. Sửa chữa lại những vết nhơ lầm lỗi và tránh những thói tục xấu xa. Chúa sẽ ghé mắt đoái nhìn và ban ơn cứu độ.
Chúa dùng các tiên tri để nhắc nhớ qua lời giáo huấn, giảng dạy và kêu mời. Tuy nhiên trong những cơn thử thách và đợi chờ mòn mỏi, những lời kêu gọi của các tiên tri cũng dần bị mờ nhạt và bị coi thường. Vì nhu cầu tâm linh của con người thời nào cũng thế, ưa thích lời loan báo phải nóng bỏng cần được thực hành cụ thể, áp dụng ngay và có hiệu qủa liền. Nhưng Thiên Chúa thì hành động nhẫn nại. Chờ đợi từ dòng dõi này qua dòng dõi khác, bao nhiêu tiên tri xuất hiện và bao nhiêu biến cố đã xảy ra, nhưng dân thánh vẫn chưa được nhìn thấy ơn cứu độ. Cho nên những lời mời gọi thay đổi tâm hồn chuẩn bị để chờ đợi Chúa đến không còn được chú ý và quan tâm nhiều.
Thánh Phêrô tông đồ trong thơ thứ hai đã viết: Không phải Chúa chậm trễ thi hành lời đã hứa. Người hành động nhẫn nại. Một ngày đối với Thiên Chúa như ngàn năm và ngàn năm như một ngày. Thiên Chúa vượt trên thời gian trong lịch sử của một Dân Tộc được hình thành và chuẩn bị để đón Đấng Cứu Thế. Đọc qua lịch sử dân Do-thái, chúng ta mới cảm nghiệm được tình yêu thương của Thiên Chúa bao la hải hà. Thiên Chúa đã nhẫn nại mặc khải cho dân từng bước đi để nhận biết tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi. Cho dù nhiều lần con người có phạm tội tầy đình, phản bội chối bỏ Chúa và tôn thờ thần ngoại bang, Thiên Chúa vẫn kiên nhẫn chờ đợi, mở rộng vòng tay đón về và tha thứ.
Nhìn vào cuộc đời của những vị vua như Saulê, Đavid và Sôlômôn mà chính Chúa đã ưu ái chọn lựa để cai quản Dân Chúa, họ cũng đã nhiều lần sa ngã phạm tội trái lệnh Chúa. Vua Saulê về già đã từ bỏ Chúa và gây thù hành với Đavid. Vua Đavid giầu sang phú quí nhưng lại âm mưu giết hại tướng tài và lấy vợ của ông. Sôlômôn được Chúa cho khôn ngoan và giầu có. Vua có cả 700 bà vợ, 300 nàng hầu. Thế mà vua lại từ bỏ Chúa và theo thờ thần của các bà vợ. Các Vua lập đền miếu cúng bái các tà thần ngoai lai. Chúa chấp nhận tha thứ những yếu đuối và cho các vua tiếp tục cai quản dân thánh. Trong cuộc lữ hành trần thế, chúng ta cũng sẽ gặp rất nhiều cạm bẫy, thử thách và chông gai. Chúng ta phải luôn tỉnh thức để phấn đấu. Chúng ta có thể bị qụy ngã bất cứ lúc nào. Tuổi càng lớn càng có nhiều tham vọng và tính hư tật xấu khó sửa.
Bài Phúc âm, thánh Marcô giới thiệu Gioan Tẩy Giả, người được sai đến để trực tiếp dọn đường cho Đấng Cứu Thế. Gioan mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da thú, ăn châu chấu và uống mật ong rừng. Ông là người sống khắc khổ đến từ hoang địa. Cha mẹ ông Gioan là ông bà Giacaria và Elizabeth. Khi thầy thượng tế Giacaria dâng hương trong đền thờ, đã được thiên thần loan tin rằng vợ ông sẽ sinh một con trẻ và ông sẽ đặt tên là Gioan. Gioan sẽ đi trước Chúa để mở lối cho Đấng Cứu Thế. Gioan đã tu thân tích đức để chu toàn bổn phận của người tiền hô. Gioan đã xuất hiện để rao giảng kêu gọi mọi người chuẩn bị tâm hồn và cử hành phép rửa sám hối. Chính Gioan đã giới thiệu Chúa Giêsu cho dân chúng.
Gioan biết thân phận mình là người tiền hô. Ông đã chấp nhận: Đấng đến sau tôi, quyền năng hơn tôi, tôi không đáng cúi xuống cởi dây giầy cho Người. Gioan đã xuất hiện trong vai trò người sửa đường và khi Chúa Cứu Thế xuất hiện, ông đã từ từ lui vào bóng tối. Ông là chứng nhân cho sự thật và đã chết cho sự thật. Ông xứng đáng là vị tiền hô của Đấng Tối Cao.
Cũng như thời của tiên tri Isaia cách chúng ta 25 thế kỷ, lời kêu mời sám hối cũng sôi bỏng và khơi động giúp nhiều tâm hồn quay về với Chúa. Nhưng rồi lòng người lại cứ chứng nào tật đó và chẳng bao lâu lại tìm về lối mòn cũ. Con người lại đi tìm những hiện tượng hấp dẫn và mới lạ hơn, có mới nới cũ là thế. Họ lại quay lưng lại với các giới luật của Chúa để chạy theo cách sống của dân ngoại.
Hôm nay đây, nơi xã hội chúng ta đang sống cũng lặp lại lịch sử của ngàn năm về trước và xem ra tình trạng cuộc sống còn bi quan hơn. Giáo Hội thay mặt Chúa nhắc nhở chúng ta hàng năm, hàng tháng cần sự sám hối trở về. Đôi khi chúng ta cũng sốt sáng lên được ít ngày rồi qua mùa dọn đường sám hối, sau cùng mọi sự đâu lại vào đấy. Sự thật là thế, nhưng không phải vì vậy mà chúng ta có quyền bỏ cuộc. Vì cuộc sống là sự nối kết qua từng giây, từng phút và từng ngày tháng. Chúng ta đang sống ngày hôm nay trong chương trình cứu độ của Chúa. Ngày hôm qua, có thể chúng ta đã sa ngã, sai phạm và mất lòng Chúa nhưng trong giây phút này, chúng ta ý thức và nhìn vào chính tâm hồn mình. Chúng ta xét mình để biết mình đang ở bậc thang nào trên đường trọn lành và tình trạng tâm hồn chúng ta ra sao? Nhận biết được chính mình, chúng ta sẽ dễ dàng tiếp tục cuộc hành trình nên trọn lành.
Lời mời gọi của thánh Gioan Tẩy Giả là hãy dọn đường Chúa. Mỗi người chúng ta hãy chuẩn bị dọn đường cho Chúa. Suy nghĩ, giả như có vị khách quý nào đến thăm gia đình chúng ta, có lẽ chúng ta cũng dành chút ít thời gian để lau dọn, chuẩn bị phòng ốc và cơm nước để tiếp đón. Chúa sẽ ghé thăm tâm hồn, chúng ta cũng nên chuẩn bị cho Chúa một nơi êm ấm và sạch sẽ để xứng đáng đón mời Chúa. Xưa Chúa đã được sinh ra nơi máng cỏ hôi tanh nghèo nàn vì không ai đón tiếp Chúa. Hôm nay, mỗi người chúng ta hãy mở rộng cửa đón Chúa. Chúa sẽ đến và cư ngụ trong nhà và trong tâm hồn của chúng ta. Xin Chúa ban sự bình an.
Lm. Giuse Trần Việt Hùng
Bronx, New York.
 

MV2-B75.  Gioan, con người thật lạ lùng

(Suy niệm của Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền)
 

Hôm nay chúng ta cùng chiêm ngắm một con người thật lạ lùng. Lạ lùng từ khi được cưu mang. Lạ: MV2-B75

Hôm nay chúng ta cùng chiêm ngắm một con người thật lạ lùng. Lạ lùng từ khi được cưu mang. Lạ lùng trong cách sống. Lạ lùng đến nỗi cha ông là Zacaria đã không tin rằng mình sẽ làm cha vào tuổi bóng đã ngả về chiều. Lạ lùng vì ngay từ trong dạ mẹ ông đã reo lên khi Chúa đến viếng thăm. Lạ lùng vì ông sống khắc khổ nơi rừng vắng. Ông chỉ ăn châu chấu với mật ong. Lạ lùng vì ông được người đời ca tụng nhưng ông đã từ khước tất cả danh vọng chỉ nhận mình là tiếng kêu nơi hoang địa. Cuộc đời ông luôn khiêm tốn nhỏ bé để Chúa được lớn lên. Ông có tên gọi thật khiêm nhường là Gioan.
Tin mừng thánh Luca trình thuật về việc làm của ông cũng thật lạ lùng. "Có tiếng người hô trong hoang địa". Tại sao ông lại hô giữa nơi hoang địa? Hoang địa khô cằn lại lắm hiểm nguy? Hoang địa làm sao có kẻ qua người lại mà ông đến nơi hoang địa để hô vang dọn đường cho Chúa? Thế mà tiếng hô của ông lại đánh động lòng người. Hàng ngàn người đã ăn năn sám hối. Hàng ngàn người tìm đến với ông để canh tân, sửa đổi cuộc đời. Như vậy, hoang địa ở đây có thể không mang nghĩa địa lý. Hoang địa ở đây chính là sa mạc của lòng người. Cuộc đời đã khô cạn tình người. Giữa phố xá đông người nhưng con người vẫn cô đơn, thất vọng, chán chường bởi sự ích kỷ, lạnh lùng trong quan hệ giữa người với người. Đây là "một ngõ vắng xôn xao nằm trong thành phố lớn". Dù rằng thành phố có trăm ngàn ngõ ngách nhưng bởi tính ích kỷ và sự vô cảm nên xã hội vẫn đầy những ngõ vắng cô đơn của cuộc đời. Vâng, cuộc đời trở thành một hoang địa khi tình người đã mất. Khi người ta sống bên nhau nhưng không còn liên đới, chia sẻ với nhau thì con người vẫn cô đơn giữa lòng nhân thế. Cuộc đời trở thành một hoang địa khô cằn nên cuộc đời buồn nhiều hơn vui, nước mắt nhiều hơn nụ cười.
Tiếng hô của ông đi xuyên qua hoang địa lòng người. Ông đề nghị sửa lại lối sống. Đường quanh co hãy uốn cho ngay thẳng. Người quanh co là người sống thiếu chân thật. Người quanh co thường có lối sống gian dối, điêu ngoa, sống lắc lẻo, lừa bịp. Ăn không nói có. Thêm điều đặt chuyện để hại người hại đời. Lối sống như vậy chỉ là một loại phá hoại sự yên ổn của xóm làng và gây chia rẽ khu xóm, chỉ khiến con người xa rời nhau. Làm sao có thể tin tưởng và yêu mến nhau nếu trong giao tiếp thiếu sự chân thành, lại còn thêm điều đặt chuyện? Gioan còn đề nghị phải lấp đầy thung lũng của lòng người. Vì "sông sâu còn có kẻ dò - Lòng người nham hiểm trùng khơi khôn dò". Do vậy, phải lấp đầy thung lũng của những ngăn cách, của những phân biệt giai cấp và nghi kỵ hiểu lầm. Và cuối cùng là hãy bạt đi núi đồi của kiêu căng, tự mãn để nhờ đó mà con người khắp năm châu sẽ nắm tay nhau hát vang câu hát của thanh bình. Đây cũng là cách thức duy nhất để Nước Thiên Chúa hiển trị và ơn cứu độ của Thiên Chúa trải rộng đến muôn tâm hồn.
Vâng thưa anh chị em, thế giới hôm nay vẫn còn đó tiếng kêu đơn độc giữa phố phường. Có biết bao người sống cô đơn lây lất vì thiếu sự cảm thông nâng đỡ của anh em bạn bè. Có biết bao trái tim đang co thắt trong đau khổ vì sự nghi kỵ, kết án, tẩy chay của anh em. Có biết bao cuộc đời đang thất vọng buông xuôi vì sự bỏ vạ, cáo gian, vì sự lừa gạt và hãm hại của đồng loại. Có biết bao giọt nước mắt vẫn rơi rớt trên giòng đời vì vô ơn bội bạc, vì sự bất trung, bất hiếu của những người thân trong gia đình. Và vẫn còn đó, còn rất nhiều những nỗi đau là hệ quả của một thế giới hoang địa khô cằn tình người.
Mùa vọng giáo hội mời gọi chúng ta hãy tỉnh thức để nhận ra tiếng kêu cầu cứu của tha nhân. Hãy yêu mến tha nhân trong tình yêu chân thành, đừng lường gạt lẫn nhau, hãy sống thật lòng với nhau. Hãy xóa đi những hố sâu của nghi kỵ, hiểu lầm để sống cảm thông và tha thứ cho nhau, đừng gây chia rẽ và tạo nên những hố sâu của bất đồng, của oán hận hờn căm. Hãy xan bằng những ngăn cách bởi kiêu căng tự mãn bằng một đời sống hoà hợp với nhau trong tình anh em có chung một cha trên trời.
Ước mong mỗi người chúng ta hãy sửa lại lối sống cho phù hợp với tin mừng cứu độ, để thiết lập một màu xanh yêu thương và ngập tràn niềm vui và hạnh phúc thay cho sự khô cằn của sa mạc tình người.
Nguyện xin Đấng Emmanuel, là Đường là sự thật và là sự sống dẫn dắt chúng ta đi trong hồng ân của Ngài, ngõ hầu mỗi người chúng ta sẽ được hưởng một mùa xuân của hoa công lý và tình thương nở rộ khắp nhân trần. Amen.

Vể đầu trang

MV2-B76.  Chuẩn bị đón Chúa đến

(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Thể Hiện)
 

Bài Tin Mừng hôm nay (Mc 1,1-8) kể lại công việc của ông Gioan Tẩy Giả. Chúa Giêsu chưa xuất: MV2-B76.

Bài Tin Mừng hôm nay (Mc 1,1-8) kể lại công việc của ông Gioan Tẩy Giả. Chúa Giêsu chưa xuất hiện. Nhưng thực ra, từ đầu cho đến cuối bài, mọi chi tiết đều có liên quan đến Người và đều chỉ mang một ý hướng chính yếu là cung cấp những chỉ dẫn về vị thế và nhiệm vụ của Người.
1. Mở đầu là lời công bố Tin Mừng của Hội Thánh: “Khởi đầu Tin Mừng Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa” (c.1). Hạn từ “khởi đầu” (arkhè) có thể được hiểu theo nghĩa thời gian hoặc theo nghĩa nguyên nhân. Hiểu theo nghĩa thời gian, nó chỉ điểm khởi đầu của một chuỗi các biến cố và thực tại. Hiều theo nghĩa nguyên nhân, nó chỉ tính chất nguồn khởi của thực tại được đề cập. Trong c.1 này, arkhè vừa mang nghĩa thời gian vừa mang nghĩa nguyên nhân. Điều được đề cập sẽ vừa là khởi điểm vừa là nguồn khởi của Tin Mừng mà Hội Thánh loan báo.
Nhưng điều được đề cập ở đây là gì? Nói cách khác, hạn từ arkhè ở c.1 quy chiếu về thực tại nào? Cái gì là arkhè của Tin Mừng mà Hội Thánh đang sống và công bố? Ở đây, hạn từ này có thể quy chiếu về phần dẫn nhập của sách Mc, tức là phần kể về giai đoạn chuẩn bị cho sứ vụ của Đức Giêsu (1,2-13); hoặc quy chiếu về toàn bộ cuốn sách. Có lẽ nên ưu tiên hiểu theo cách thứ hai: công trình của Đức Giêsu (mà đỉnh điểm là cái chết và sự phục sinh) chính là khởi đầu, nguồn mạch và nền tảng của Tin Mừng mà Hội Thánh đang sống và công bố.
Tin Mừng được diễn đạt trong hình thức trọn vẹn: Đức Giêsu Nadarét là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa. Ở trung tâm của sứ điệp, như vậy, không phải là một giới luật hay một lời hứa hẹn, mà là một sự kiện thực tế, rằng con người lịch sử – cụ thể Giêsu chính là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa. Lời loan báo này liên quan đến căn tính của Đức Giêsu và cho chúng ta biết Ngài là ai, vừa xét trong vị thế của Ngài đối với nhân loại (“Đấng Kitô”), vừa xét trong tương quan của Ngài với Thiên Chúa (“Con Thiên Chúa”). Đối với nhân loại, Ngài là Đấng Mêsia. Hạn từ này cho thấy một cách rõ ràng công trình cứu độ của Đức Giêsu không bị giới hạn vào cảnh vực cá nhân, mà tác động trực tiếp đến cảnh vực xã hội – cộng đồng, vì Vua Mêsia là vua và là Đấng cứu độ không chỉ của một cá nhân. Đối với Thiên Chúa, Đức Giêsu ở trong tương quan rất đặc biệt: tương quan con thảo. Tất cả những kẻ đến trước đều chỉ là các đầy tớ (x.12,2-5), còn Đức Giêsu là Con yêu dấu của Ngài (x.1,1; 9,7). Mối tương quan này là thực tại riêng biệt của Đức Giêsu, làm cho Người khác hẳn tất cả mọi con người khác trong nhân loại. Mối tương quan này cũng là nền tảng của vị thế và nhiệm vụ của Người đối với thế gian.
Chuẩn bị Lễ Giáng Sinh không phải là chuẩn bị cho một lễ hội vào dịp cuối năm, mà chính yếu và thực chất là chuẩn bị để đón Đấng ấy: Người là Đấng Kitô và là Con Thiên Chúa. Chúng ta phải đọc lời công bố Tin Mừng của Hội Thánh ở câu đề tựa Mc 1,1 trong khung cảnh Mùa Vọng với ý thức đó.
2. Sau câu đề tựa (c.1) là ba đoạn văn nhằm làm sáng tỏ dung mạo của Đức Giêsu trong giai đoạn lịch sử đầu tiên của Người. Bài Tin Mừng hôm nay chỉ gồm đoạn thứ nhất (cc.2-8), nói về hoạt động của ông Gioan Tẩy Giả.
Trước tiên là một lời ngôn sứ được trích dẫn: “Trong sách ngôn sứ Isaia có chép rằng: Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con. Có tiếng người hô trong hoang địa: Hãy dọn sẵn con đường của Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi” (cc.2-3). Với lời trích dẫn này, tác giả Mc muốn làm nổi bật mối liên hệ với sứ điệp của Cựu Ước. Có một sự tương ứng trực tiếp giữa tiếng hô trong oang địa (Is 40,3) với sự xuất hiện của ông Gioan Tẩy Giả trong hoang địa (Mc 1,4). Sự xuất hiện và các công việc của ông Gioan đã được ngôn sứ Isaia loan báo trước, và nơi ông Gioan, chương trình của Thiên Chúa bắt đầu đi vào giai đoạn thực hiện.
Thực ra, dưới danh nghĩa ngôn sứ Isaia, tác giả Mc gộp vào hai bản văn khác nhau: bản thứ nhất (c.2) trích từ Xh 23,20 và Ml 3,1; bản thứ hai (c.3) trích từ Is 40,3. Nhưng trong Mc 1,2 Thiên Chúa ngỏ lời trực tiếp với Đấng đang đến, tức là với Đức Giêsu, chứ không phải với dân Israel. Biến cố Đức Giêsu đến là một biến cố có ý nghĩa đặc biệt; tính chất đặc biệt ngoại thường này được thể hiện trong sự kiện nó được chuẩn bị như là biến cố chính Thiên Chúa đến (Ml 3,1), bởi một sứ giả. Đó là điều hoàn toàn khác biệt, vì không bao giờ có ngôn sứ nào được chuẩn bị như thế. Con đường phải được chuẩn bị ở đây là con đường của Đức Chúa.
Rõ ràng tác giả Mc muốn khẳng định ngay từ khởi đầu rằng nơi Đức Giêsu, chính Đức Chúa đến với dân Người. Một lần nữa, chúng ta được nhắc nhở rằng sự chuẩn bị của chúng ta trong Mùa Vọng này chính là sự chuẩn bị để đón Đức Chúa. Đấng đang đến là Đức Chúa, chứ không phải là một lễ hội, cho dù là lễ hội của Đạo Chúa.
3. Đúng theo lời Kinh Thánh được trích dẫn ở cc.2-3, “Ông Gioan Tẩy Giả đã xuất hiện trong hoang địa” (c.4a). Ông có nhiệm vụ kép: kêu gọi dân chuẩn bị (cc.4-5) và rao giảng về Đấng đang đến (cc.7-8). Những mô tả về cách trang phục và ăn uống của ông Gioan (c.6) giúp cho người ta hiểu rõ hơn về ông và nhiệm vụ của ông.
Trước hết, ông Gioan “rao giảng kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội. Mọi người từ khắp miền Giuđê và thành Giêrusalem kéo đến với ông. Họ thú tội, và ông làm phép rửa cho họ trong sông Giođan” (cc.4b-5). Chuẩn bị đón Đức Chúa, có bốn điều phải làm: sám hối, thú tội, chịu phép rửa và được ơn tha tội. Hai yếu tố đầu nhấn mạnh sự thanh tẩy khỏi tội lỗi; hai yếu tố sau nhấn mạnh sự giao hòa với Thiên Chúa. (Đó cũng phải là hai yếu tố quan trọng trong việc chúng ta chuẩn bị đón Chúa trong Mùa Vọng này và trong suốt cuộc đời). Ông Gioan thành công rực rỡ trong nhiệm vụ: “Mọi người từ khắp miền Giuđê và thành Giêrusalem kéo đến với ông” (c.5). Thực ra, hoạt động của ông Gioan có phần “lập dị. Thứ nhất, ông không đến với người ta như các ngôn sứ đã làm và như chính Chúa Giêsu cũng sẽ làm. Ông ở yên trong hoang địa và mọi người kéo đến gặp ông ở đó. Thứ hai, ông Gioan làm phép rửa trong nước sông Giorđan. Bình thường, nước sông không thể được sử dụng để cử hành việc thanh tẩy theo nghi thức. Vì thế, hàng lãnh đạo tôn giáo giữ khoảng cách với công việc của ông Gioan, và dân chúng đến với ông là đang làm một hành động đặc biệt, vượt khỏi khung cảnh của những thực hành tôn giáo bình thường.
“Ông Gioan mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da, ăn châu chấu và mật ong rừng” (c.6). Cách trang phục này chứng tỏ ông Gioan chỉ sống cho một mình Thiên Chúa thôi. Thức ăn của ông hoàn toàn lấy từ hoang địa, và như thế, cắt đứt liên hệ với những sản phẩm của đất Palestina. Về thắt lưng, Gioan và Êlia là các nhân vật duy nhất trong Kinh Thánh mang thắt lưng bằng dây da, và đó là một nét khu biệt của ông Êlia. Ông Gioan được đồng hóa với ông Êlia và vì thế, mang một tầm quan trọng đặc biệt trong việc loan báo về căn tính của Đức Giêsu, Đấng đang đến. Ông Êlia là ngôn sứ chỉ hoàn toàn phục vụ Thiên Chúa, hướng trọn con người và sinh mệnh của mình về Thiên Chúa, và mọi điều ông làm chỉ là để dẫn dắt dân về với Thiên Chúa. Sự hoàn toàn tập trung vào Thiên Chúa đã là yếu tố đặc trưng làm nên dung mạo của Êlia và làm cho ông trở thành mẫu mực của các ngôn sứ. Thế mà ông Gioan lại được đồng hóa với ông! Điều đó có nghĩa là Đấng mà ông Gioan chuẩn bị dân chúng đón Người, phải là Đấng có một căn tính thật sự đặc biệt. Giống như Êlia, ông Gioan chỉ phục vụ một mình Thiên Chúa. Hành động của ông, vì thế, ngầm cho thấy phẩm giá cao cả của Đức Giêsu và chứng tỏ rằng nơi Đức Giêsu – Con Thiên Chúa, chính Thiên Chúa đang đến với dân Người.
Ông Gioan còn có sứ mạng rao giảng minh nhiên về Đấng đang đến. “Ông rao giảng rằng: “Có Đấng quyền thế hơn tôi đang đến sau tôi, tôi không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Người. Tôi thì tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, còn Người, Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần” (cc.7-8). Rõ ràng là xét cả về quyền năng, cả về vị thế, cả về hành động, Đấng đang đến đều hơn hẳn ông Gioan, cho dù ông được Thiên Chúa sai đến và ông được đồng hóa với ngôn sứ Êlia.
Như vậy, bằng việc kêu gọi dân chuẩn bị, bằng cách trang phục và ăn uống của mình, và bằng lời rao giảng minh nhiên của mình, ông Gioan đã cho ta thấy Đấng đang đến là ai. Đó là chính Đức Chúa.
Trong Mùa Vọng, chúng ta chuẩn bị để đón chính Đức Chúa đến viếng thăm dân Người. Đức Giêsu đến từ Thiên Chúa; nơi Ngài, chính Thiên Chúa đang đến và đón nhận tất cả nhân loại vào trong sự sống thần linh của Người.

Vể đầu trang

MV2-B77.  NAY TRỞ VỀ, VẪN CÒN NHƯ MỚI MẺ…”

 “Nay trở về, vẫn còn như mới mẻ,
Bao mùa thu, hoa vẫn vàng như thế.”
( dẫn từ thơ Xuân Quỳnh )
 

Nhà thơ trở về, đã thấy mọi sự vẫn như thế. Riêng nhà Đạo trở về, để được những gì Chúa nhắn: MV2-B77

Nhà thơ trở về, đã thấy mọi sự vẫn như thế. Riêng nhà Đạo trở về, để được những gì Chúa nhắn gửi khi xưa Ngài đã hứa ? Điều Chúa hứa, là những điều được Thánh Máccô ghi lại ở trình thuật hôm nay.
Trình thuật theo Thánh Máccô kể lại việc Chúa Giêsu trở về, ngài về với Giáng Sinh, về với an bình Ngài từng hứa. Trình thuật, ngay từ đầu, Thánh Máccô đã trích dẫn câu văn rút từ sách Isaya nói về việc người người chuẩn bị đường lối sống để Thiên Chúa trở về với dân con của Ngài vào những ngày sau lưu đày. Dù có ngang qua mọi khổ ải, nhưng người người đều hy vọng về với Đất lành Chúa hứa ban. Đất lành đây, không chỉ là đất miền sỏi đá vật chất, nhưng còn là hành trình nội tâm ngay bên trong sa mạc nhiều đá sỏi. Đó còn là hành trình về với sự Khôn Ngoan được giấu kín.
Với Isaia, hành trình dân con Chúa trở về thật ra chưa hoàn tất. Thật vậy, hành trình của mọi người vẫn còn tiếp tục. Mỗi người và mọi người, cần tạo đường lối tốt lành để ngang qua đó mà dấn bước, trước khi hoàn tất thời lưu đày nơi dân gian. Dân gian, dù người người đã được tái cư, nhưng chưa hẳn là đã thật sự “trở về”. Người ta chỉ trở về thật sự sau khi đã hoàn tất hành trình lưu đày của mình. Chỉ đến lúc đó, người người mới được tỏ bày cho thấy rằng mình là hoa trái được chúc phúc, từ cung lòng thân yêu của Chúa mà thôi.
Chủ đề “ngày trở về” cứ diễn tiến, là ý tưởng làm nền được Thánh Máccô đề ra để mọi người suy nghĩ. Khởi đầu sách Tin Mừng, thánh Máccô có nói: “Như đã viết trong sách Isaya… Tiếng của người hô trong sa mạc: Hãy dọn đường Chúa đi.” ( Mc 1, 1 – 3 ). Đây chính là tin vui mừng về Lời của Chúa theo bút pháp riêng biệt của Thánh Máccô như quyển thứ hai sách Isaya. Tin mừng, theo bút pháp của Isaya, là triển vọng về sự trở lại sau ngày lưu đày. Thánh Gioan Tẩy Giả đã loan báo điều ấy. Và chính Đức Giêsu cũng sẽ theo đường lối ấy mà thực hiện theo cung cách mới, cách thế của một trở về, rất mới mẻ.
 Ở nội dung ngôn từ của Isaya, có ba “thời khắc” cho thấy rõ sự trở về này:
Trước hết, Giavê Thiên Chúa sẽ giải thoát con dân Ngài khỏi quyền lực bức bách từ phía dân ngoại và từ ngẫu thần của họ, nghĩa là ra khỏi nền văn hoá thống trị và hệ thống giá trị có từ đó. Nói tóm lại, thì thời khắc đầu là: thời giải thoát.
Thời khắc tiếp đến, là lúc dân con Đạo Chúa dấn bước dõi theo con đường được Giavê Thiên Chúa vẫn hướng dẫn, thời dấn bước ra đi.
Và cuối cùng, tất cả đều cùng đi và cùng đến với Giêrusalem, đất miền tuyệt diệu có sự hiện diện của Giavê Thiên Chúa như chính Đức Vua. Ở nơi đó, có Nước Trời đến với họ. Chính đó là thời của hiện trạng nay đạt đến.
Thánh Máccô theo cung cách Isaia quyển 2 đề cập đến ba giai đoạn tương tự, ở Tin Mừng:
Giai đoạn một, là thời khắc Chúa Giêsu thực hiện sứ vụ giảng rao “Tin Mừng” ở Galilê. Nơi đây, Chúa chữa lành cho người tật bệnh. Xua đuổi loài quỷ dữ cứ quẩn quanh. Và dân gian quần chúng cứ tuôn đến với Ngài để được cứu. Đây chính là thời “giải thoát” rất rõ nét.
Giai đoạn hai, là giai đoạn Chúa lên đường “đi Giêrusalem” sau sự kiện Thánh Phêrô tuyên xưng nhận biết Chúa là Đấng Mêsia rất Cứu Độ. Chúa quyết định tỏ lộ lý lịch Ngài là Mêsia Đấng chấp nhận khổ đau, sầu buồn để thực hiện điều Chúa Cha muốn. Đã ba lần, Ngài từng nói sẽ đi dần vào cõi chết và sau đó sẽ trỗi dậy từ chốn ấy trong ba ngày. Nghe thế, dân con đồ đệ đã rời bỏ, vụt biến mất. Chỉ những ai ở lại với Ngài, mới biết được đường lối Ngài chịu đựng khổ đau sầu buồn thôi. Và đây là giai đoạn “dấn bước” vào với sự chết và sống lại.
Giai đoạn ba, là giai đoạn cuối cho thấy Chúa đi dần về với Giêrusalem, nơi Ngài chấp nhận sự chết và sống lại vinh hiển. Chính Ngài và dân con Ngài phải “đạt đến” sự chết-và-sống-lại, rất đích thực.
Dẫn chứng trên cho thấy: đây là nét song hành đặc biệt giữa điều được gọi là “Isaia thứ hai” và phần hai của sách Tin Mừng do Thánh Máccô ghi. Con đường dẫn đến Giêrusalem là “dấn bước” mà đi vào và đi tới. Chính động thái song hành này, đã cho thấy chiều kích tự tại, rất đặc biệt.
Ở Isaia quyển hai, đường lối mới ở đây là học cách thi hành trình thuật khôn khéo nhờ đó bất cứ con dân nào ở lại với Chúa, giống như đồ đệ Ngài, đều phải học hỏi để hiểu và biết Giavê Thiên Chúa. Học về Chúa rất chầm chậm. Học với Chúa để tinh thông.
Thánh Máccô còn nhận định: khi Chúa thiết lập hành trình về với Giêrusalem, Ngài đã loại bỏ toàn bộ sinh hoạt của Người Con từng rong ruổi đường dài để hiện thực một sứ vụ cũng rất mới. Và đó là lúc dân gian quần chúng đã vụt biến. Và khi ấy, nhóm đồ đệ Chúa được giáo huấn theo cung cách khác thường, rất đặc biệt. Đặc biệt là học hỏi Chúa rất chầm chậm.
Tựa hồ như ở sách Isaia, đồ đệ Chúa được hướng dẫn để đi theo đường lối mình chưa biết đến vì mù và loà như sách Isaia nói. Các Thánh được hướng đưa và dắt dìu, như Lời Chúa khi xưa nói: “Ta dẫn người mù tối qua những lối chưa tường, trên nẻo đường mới lạ, sẽ dìu họ bước đi. Ta biến đổi bóng tối thành ánh sáng soi họ, và uốn khúc gập ghềnh thành quan lộ thẳng băng. Những điều ấy, Ta sẽ thực hiện, không bỏ sót điều nào” ( Is 42, 16 ).
Chủ đề “mù loà” và hồi phục thị giác đã được Thánh Máccô ghi rất chi tiết ở Tin Mừng do Thánh nhân viết ngang qua hai sự kiện chữa lành: một về người mù thành Bétsaiđa ( Mc 8, 22 – 26 ) và một về người mù thành Giêrikhô ( Mc 10, 46 ). Rõ ràng, đây là phong cách đặc biệt được Thánh Máccô sử dụng rất thường nhật ở trình thuật. Bằng cách này, Thánh nhân vẫn đưa vào phần trước và sau ở đoạn cuối Tin Mừng lời bàn về tính đặc trưng, đặc thù nơi đồ đệ Chúa, bằng một khẳng định: “Anh em có mắt mà không thấy, có tai mà không nghe ư ? ( Mt 8, 18 ). Thật ra thì, đồ đệ Chúa chỉ mù và loà về chiều kích khổ đau Chúa chấp nhận. Đồ đệ dấn bước theo Ngài là những người quyết chấp nhận học hỏi tuy rất chậm về giáo huấn khổ đau sầu buồn Ngài từng chịu.
Giáo huấn này, được Chúa nói trước những ba lần về cuộc thống khổ của Ngài. Đỉnh cao ba đoạn văn này là đoạn 10, câu 42b đến 45, qua đó Thánh Máccô đã lại viết: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người." Tin Mừng còn có đoạn còn qui rõ về cái chết của Chúa, như ở trên. Còn lại, là đoạn 14 câu 24 viết về Tiệc Tạ Từ, trong đó có ghi rõ: “Đây là máu Thầy, máu Giao Ước đổ ra vì muôn người”. Ngoài ra, ở đoạn 10 câu 42, Thánh Máccô đặt song song với đoạn 20 câu 28 của Tin Mừng theo Thánh Mátthêu, để coi đó như biểu hiện một xác quyết.
“Đổ ra vì muôn người”, là xác quyết hiện lên như nhu liệu cuối tìm được ở Tân Ước. Và cả ở lá thư đầu tay Thánh Phaolô viết cho đồ đệ Timôthê như văn bản viết vào cuối thế kỷ đầu, vẫn được coi là đoạn văn tóm kết niềm tin của dân con Đạo Chúa, thời tiên khởi. Tuy tóm kết, nhưng người viết vẫn kêu gọi mọi người hãy cùng Chúa định vị chính mình như những người dám “hy sinh vì muôn người”. Có thể, đây là công thức về niềm tin có từ thời xưa cũ. Xưa và cũ hơn những gì do chính Thánh Máccô từng viết và từng được coi như sử sách đích thực.
Nói cho cùng, chuẩn bị mừng đón ngày Chúa Giáng Hạ còn là nhận chân rằng: dân con đồ đệ từng dấn bước theo chân Chúa phải xác quyết mình sẽ tận hiến mạng sống vì muôn người. Xác quyết cả chuyện dấn thân đi vào con đường khổ đau sầu buồn mà nhận lãnh.
Ở Tiệc Lòng Mến, Bí Tích Thánh Thể, Đức Giêsu vẫn tỏ cho thấy Ngài vẫn làm việc ấy cho ta và với ta. Suốt mọi ngày, từ nay cho đến ngày kết tận của thế giới.
Trong tâm tình cùng Chúa chấp nhận hy sinh vì muôn người, cũng nên về với thơ văn ở đời mà ngâm nga, cảm kích. Cảm và kích bằng dòng thơ:
“Bao mùa thu, hoa vẫn vàng như thế,
chỉ là, em đã khác với em xưa.
Nắng nhạt vàng, ngày đã quá trưa,
Nào đâu, những biển chờ nơi cuối đất.”
( Xuân Quỳnh – Hoa Cúc )
Dù, nắng có nhạt ngày quá trưa, em và anh vẫn đâu nào khác trước. Có khác chăng, chỉ khác mỗi một điểm, là anh và em nay đổi mới, đổi rất nhiều vào ngày Chúa đến, đổi với Hội Thánh, ở muôn nơi, suốt mọi thời.
 Lm. NGUYỄN ĐỨC VINH SANH, bản dịch của MAI TÁ

Vể đầu trang

MV2-B78. NHỮNG CON ĐƯỜNG VẮNG BÓNG YÊU THƯƠNG

Lý tưởng của người Kitô hữu là gì nếu như không chọn lựa Thiên Chúa làm cơ nghiệp cho mình:. MV2-B78

Lý tưởng của người Kitô hữu là gì nếu như không chọn lựa Thiên Chúa làm cơ nghiệp cho mình. Nếu Thiên Chúa bị loại bỏ khỏi con đường ngày ngày cho nhân loại sự sống là đồng nghĩa với việc con người đã chọn lựa sai cùng đích đời mình. Đường là để đi, đi đến một nơi nào đó. Không có điểm dừng cho bất kỳ con đường trần thế, bởi hết lối này sẽ ra sang một nhánh đường khác. Chẳng thế mà nhân loại cứ miệt mài lầm lũi đi trên con đường tham vọng. Không bao giờ đủ cho tất cả những ai chọn lựa thế gian, chọn lựa vật chất làm cùng đích.
Đức Giêsu chính là đường để đưa nhân loại từ đất lên Trời. Ngài đã từ Trời xuống đất để thu hồi khoảng cách con người với Thiên Chúa mà ông bà nguyên tổ xưa đã gây ra, qua mầu nhiệm Giáng Sinh và Khổ Giá của Người. Bước theo Đức Giêsu trên con đường Ngài đã đi, là bước vào mầu nhiệm sự sống.
Mỗi cuộc đường một cuộc đời, nhưng chỉ có một con đường duy nhất mang lại sự sống đó là đường khổ giá. Con đường ấy chính Đức Giêsu đã khai mở và muốn con cái Ngài bước theo. Có rất nhiều phương tiện đưa con người về với nguồn cội, thế nhưng không con đường nào bình an vững chắc bằng con đường yêu thương.
Muốn bước theo Đức Kitô, bạn không thể đi chệch khỏi con đường bác ái. Niềm xác tín vào cùng đích đời mình quan trọng đến chừng nào. Tin tưởng vào con đường tôi đã chọn, cương quyết bước đi đến cùng để đạt tới niềm mong ước bất diệt sẽ giúp nhân loại tìm đến sự sống vĩnh cửu.
Không chỉ trần gian, lòng mỗi người cũng là một con đường. Tùy thuộc vào thái độ sống của từng cá vị mà con đường ấy có nỗi vui buồn khác nhau. Có những tâm hồn, có những con đường cả đời chỉ thấy cô đơn vì ích kỉ, nơi ấy vắng bóng tình yêu thương, sự chân thành, cởi mở. Có những tâm hồn, có những con đường cằn cỗi bởi tham vọng thấp hèn, lầy lội vì đam mê tội lỗi… Những con đường vắng bóng Thiên Chúa, những con đường không có tha nhân hiện diện.

Mùa Vọng là mùa chờ đợi, canh tân, hoán cải. Chờ đợi Chúa đến, mang lại nguồn sống mới, mang lại con đường cứu độ. Nếu như không biết chuẩn bị tâm hồn, chuẩn bị con đường đón chờ Ngài; nếu như tâm hồn mãi chai lì, cố chấp, khép cứng trong tội; nếu như cửa tâm hồn không biết mở toang cho Lời Chúa biến đổi, thì làm sao có chỗ cho Thiên Chúa ngự trị.
Gioan Tiền Hô được sai đến trần gian để thi hành Sứ Vụ Ngôn Sứ, loan báo cho muôn dân biết ơn cứu độ. Lời kêu gọi “Hãy dọn sẵn con đường của Đức Chúa, hãy sửa lối cho thẳng để Người đi” ( Mc 1, 3 ), cũng chính là hồi chuông cảnh tỉnh nhân loại đang đắm chìm trong đam mê, trụy lạc, hãy quay về với Thiên Chúa để được sống. Hãy cải thiện tâm hồn, hầu xứng đáng lãnh nhận ơn cứu độ. Mặc dầu đã bao nghìn năm qua rồi, nhưng lời mời gọi vẫn còn luôn mới mẻ.
Bổn phận ngôn sứ là loan báo Lời Chúa cũng như ơn cứu độ của Người, chứ không phải là người thay thế Thiên Chúa. Thánh Gioan đã khẳng định: “Có Đấng quyền thế hơn tôi, đang đến sau tôi, tôi không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Người… Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần” (Mc 1, 8 ).
Thời kỳ đã đến, ngày giờ Thiên Chúa xuất hiện giải thoát nhân loại khỏi ách tử thần, bóng đêm và tội lỗi. Thiên Chúa đến để trao ban cho nhân loại một sự sống khác, sự sống hạnh phúc bất diệt. Nước mắt đau khổ mất mát sẽ không còn, nhường chỗ cho niềm vui sự sống, bóng tối thần chết đã bị tiêu diệt, khi Ánh sáng chân lý chiếm hữu hoàn cầu.
Lạy Chúa, khao khát chờ mong được cứu độ, được giải thoát khỏi cuộc sống đầy dẫy những bất công, đau khổ, đam mê và tội lỗi là khát vọng muôn thuở của nhân loại. Thế nhưng, khao khát chỉ mà để khát khao, bản thân con ngày ngày vẫn sống chai lỳ trong tội.
Lời cảnh tỉnh của Thánh Gioan hôm nay, thúc giục con hồi tâm nhìn lại con đường mình đang đi. Con đường ấy dường như lâu rồi không có dấu chân Thiên Chúa và cũng vắng bóng tha nhân, đâu đâu cũng chỉ thấy toàn là vết trầy nhuốc nhơ của tội. Xin giúp con biết hồi tâm trở lại, chỉnh đốn tâm hồn, sẵn sàng đợi chờ Thiên Chúa từ trời ngự xuống thăm…
M. HOÀNG THỊ THÙY TRANG

Vể đầu trang

 MV2-B79.  ĐỔI MỚI TRONG CHÚA THÁNH THẦN

Tỉnh thức, cầu nguyện và sẵn sàng trong Mùa Vọng của đời người, nếu đã bắt đầu bằng việc để : MV2-B79

Tỉnh thức, cầu nguyện và sẵn sàng trong Mùa Vọng của đời người, nếu đã bắt đầu bằng việc để lòng mình khao khát Chúa, khao khát điều thiện hảo của Chúa, khao khát nên công chính, thì việc cụ thể tiếp theo là đổi con người cũ thành con người mới.
Con người của ngày hôm nay phải là hoàn hảo hơn con người của ngày hôm qua. Con người phải đổi mới.
Vẫn đang thấy người người tranh nhau thay cũ đổi mới, cho cuộc sống vật chất, các phương tiện sử dụng và điều kiện sống của mình được thoải mái hơn, phù hợp với nhân phẩm hơn.
Vẫn đang thấy người ta đổi mới cách quảng cáo, cách tiếp thị, thay cung cách ứng xử để có khách hàng, để có doanh thu cao, lợi nhuận tăng vọt.
Vẫn đang thấy người ta đổi mới bằng đủ mọi cách để có những hàng hóa hoa mắt, thực phẩm tươi ngon, bất chấp người sử dụng phải chịu hậu quả nguy hại.
Vẫn đang thấy đây đó người ta đang đổi mới đường lối cai trị để cố níu kéo một chút uy tín lem nhem còn sót lại, để cố giữ chiếc ghế quyền bính đang lung lay với ba chân khập khiễng, hoặc để cố khẳng định ngọn đèn bạo lực phải phực đỏ rực lên, ít là một lần trước khi tắt… thở !
Vẫn đang thấy người ta đổi mới vũ khí, đổi mới phi cơ hỏa tiễn, đồng thời với việc đổi mới thuốc ngừa thai, đổi mới phương pháp hút nạo, đổi mới cách giết người.
Vẫn đang thấy nhiều nơi đổi mới luật pháp, đổi án tử hình thành việc chó cán xe xe cán chó, hay một gói thuốc chuột có chủ trương, có chỉ định, có chủ ý, nhưng vô tội vạ.
Ấy là chuyện đổi mới của phàm trần, trong đó có cả chuyện đổi mới của… Satan !
Còn chúng ta, Chúa đang muốn thấy tôi, thấy bạn, thấy những người khát khao Chúa một sự thay đổi tận gốc từ nội tâm sâu thẳm. Hẳn không phải là thay đổi từ cái xấu ít ra xấu nhiều, cái gian ác ít ra gian ác bạo tàn hơn, cái bất công lắt nhắt ra cái bất công khổng lồ… nhưng là thay đổi từ xấu nên tốt, từ gian ra ngay, từ kiêu căng ác độc bạo tàn nên khiêm nhường hiền lành nhịn nhục, từ cung cách của con quỉ dữ Satan nên chân dung của Chúa Giêsu nhân lành.
Thế thì theo đạo Công Giáo, theo Chúa Giêsu, là phải đổi mới con người toàn diện như vậy sao ? Chuyện này nghe mới quá !
Kìa ! Những ông bà đạo dòng kia còn đầy tham sân si, đầy mê tín, lúc khó thì “lạy Chúa lạy Chúa”, lúc ăn nên làm ra thì làm nghểnh cái mặt lên vênh váo, rằng chẳng có Chúa nào cả !
Kìa, những người mang tiếng trí thức Công Giáo kia xưng tên, xưng tuổi, xưng học vị để mà hoạnh họe bắt bẻ chửi bới mạ lỵ Bề Trên trong Giáo Hội mình bằng loại văn chương cực rẻ tiền, chẳng thanh tao, thiếu văn hóa… nếu không nói là không bằng nửa câu ca dao của ông nông dân đen đủi có lòng tự trọng, có trái tim biết yêu. Như thế là đổi mới vai trò Giáo Dân theo Công Đồng Vaticano II đấy sao ? Hay như thế là bị mắc vào quỷ kế của Satan ‘để chúng tự đánh chủ chiên của chúng’ và ‘tự chúng làm tan tác’.
Kìa, vẫn còn những Kitô Hữu Công Giáo dửng dưng hờ hững trước bao nỗi đọa đày cần lòng thương xót chia sẻ, lại hớn hở vui mừng nhập cuộc với cách sống vô cảm mới của những người không có Thiên Chúa, không có linh hồn, không có trái tim và lòng thương xót của con cái Thiên Chúa.
Kìa, vẫn còn những bậc vị vọng im lặng khó hiểu trước những bất công, đàn áp. Sự im lặng của Thiên Chúa hay sự im lặng của con người chờ Thánh Ý Chúa ? Chưa ai dám cả quyết điều gì. Nhưng sự im lặng ấy đã trở nên một thách đố quá lớn đối với Đức Tin và sự Vâng Phục.
Chuyện cần đổi mới không là chuyện mới, nhưng là chuyện của ngàn ngàn năm trước. Ngôn Sứ Isaia đã tiên báo: “Có tiếng kêu trong hoang địa rằng: Hãy dọn đường Chúa, hãy sửa đường Chúa chúng ta trong hoang địa cho ngay thẳng. Hãy lấp mọi hố sâu và hãy bạt mọi núi đồi; con đường cong queo hãy làm cho ngay thẳng, con đường gồ ghề hãy san cho bằng. Và vinh hiển Chúa sẽ xuất hiện, mọi người sẽ được thấy vinh quang Thiên Chúa” ( Is 1, 3 – 5 )
Và đã đến thời ứng nghiệm lời tiên báo ấy, Ông Gioan đến trước Chúa Giêsu, và đã khản cả cổ hét la từ trong hoang địa gió cát hét ra đến phố thị sa hoa: "Hãy dọn đường Chúa, hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng” ( Mc 1, 3 ).
Gần nhất với chúng ta, thiết tưởng, công nghị Tổng Giáo Phận Sàigòn như là một luồng gió mới nhất cho mỗi chúng ta sống đúng Mùa Vọng cuộc đời, và cụ thể sống tinh thần Lời Chúa Chúa Nhật 2 Vọng này: Đổi mới để Hiệp Thông và chu toàn sứ vụ Loan Báo Tin Mừng.
Mục đích của việc dọn đường cho Chúa đến, sửa đường cho Chúa đi, đổi mới để đón Chúa đã được xác định rõ: Hiệp Thông và chu toàn sứ vụ Loan Báo Tin Mừng.
Cuộc đổi mới nhờ ơn Chúa Thánh Thần và lời cầu nguyện.
Cuộc đổi mới để hiệp thông trong gia đình Thiên Chúa, gia đình Giáo Hội, nhờ Lời Chúa và Bí Tích.
Cuộc đổi mới tương quan giữa mọi thành phần Dân Chúa.
Cuộc đổi mới bắt nguồn từ đời sống thánh thiện của các gia đình.
Và cuộc đổi mới dưới sự hướng dẫn của Giáo Hội về xã hội.
Thế thì, theo tinh thần Công Nghị, việc “sửa đường Chúa cho ngay, lấp mọi hố sâu, bạt mọi núi đồi, uốn thẳng đường cong queo, san phẳng lối gồ ghề”, tất cả phải được thực hiện nhờ Thánh Thần và lời cầu nguyện, với ý hướng ngay lành là để hiệp thông và loan báo Tin Mừng. "Anh em phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em, và phải mặc lấy con người mới" ( Ep 4, 23 – 24 ). Và đổi mới ấy phải bắt nguồn từ đời sống cá nhân, gia đình, có tương quan mật thiết tới Giáo Xứ, cộng đoàn, theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần và giáo huấn của Giáo Hội.
Bởi vậy, những cách tỏ bày lòng đạo đức chủ quan, sự nhạy cảm chủ quan trước các vấn đề xã hội, lòng động lòng lo cùng những tiếng nói, bài thơ, bài viết bênh vực Giáo Hội hay chống phá Giáo Hội mang tính chủ quan, thiết tưởng, cũng cần phải nhờ ánh sáng Chúa Thánh Thần soi sáng mà xem lại mức độ hiệu quả hiệp thông và hiệu quả lợi ích cho công cuộc loan báo Tin Mừng. Có hiệu quả gì không hay chỉ mang lại hậu quả đáng tiếc vì cách nào đó chúng ta đang nối giáo cho giặc, cho Satan để chúng hả hê cười nhạo sự phân tán, chia rẽ của con cái Thiên Chúa.
Chúa đang chờ mỗi chúng ta đổi mới trong Chúa Thánh Thần, trong tinh thần Hiệp Thông của Giáo Hội. Thiên Chúa không bao giờ chậm trễ. Nhưng Ngài kiên nhẫn chờ đợi chúng ta “sửa đường Chúa cho ngay, lấp mọi hố sâu, bạt mọi núi đồi, uốn thẳng đường cong queo, san phẳng lối gồ ghề…”
Thánh Phêrô nhắc nhở chúng ta: “Không phải Chúa chậm trễ thi hành lời hứa của Người, như có vài người lầm tưởng, nhưng vì anh em, Người hành động nhẫn nại, Người không muốn ai phải hư mất, nhưng muốn mọi người ăn năn sám hối” ( 2Pr 3, 9 ).
Lạy Chúa, để dọn lòng đón Chúa đến, để sửa đường Chúa đi, xin biến đổi mỗi chúng con nên con người mới nhờ Chúa Thánh Thần, cho chúng con được gặp nhau trong tình hiệp thông và xứng đáng là lời chứng cho Nước Thiên Chúa. Amen.
PM. CAO HUY HOÀNG, 1.12.2011

Vể đầu trang

MV2-B80. CON ĐƯỜNG ĐÓN NHẬN TÌNH YÊU

Có tiếng hô trong sa mạc, hãy mở một con đường cho Đức Chúa…” ( Is 40, 3 ). Những lời của: MV2-B80

“Có tiếng hô trong sa mạc, hãy mở một con đường cho Đức Chúa…” ( Is 40, 3 ). Những lời của Ngôn Sứ Isaia nào được Thánh Máccô lấy lại để mở đầu cho sách Tin Mừng của ngài: “Có tiếng người hô trong hoang địa: Hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi” ( Mc 1, 3 ). Đấng mà chỉ bằng một lời đã dựng nên trời đất muôn vật, Đấng mà không có sự gì là không thể, lại có vẻ như gặp phải khó khăn khi muốn đi vào lòng con người đến nỗi cần phải có một con đường được chuẩn bị. Một hệ luỵ tất yếu vì Người đã dựng nên con người và đã ban cho nó có ý chí tự do. “Thiên Chúa có thể dựng nên tôi không cần có tôi, nhưng Người không thể cứu tôi mà không cần có tôi” ( Thánh Augustino ).
Khi yêu ai thì người ta không chỉ muốn mà còn tìm mọi cách để làm điều tốt nhất cho người mình yêu. Tình yêu của Thiên Chúa đã được Ngôn Sứ Isaia loan báo rằng Chúa đã tha thứ tội lỗi cho dân Người. Thời nô lệ của dân sẽ chấm dứt. Và “như mục tử, Chúa chăn giữ đoàn chiên của Chúa, tập trung cả đoàn dưới cánh tay. Lũ chiên con, Người ấp ủ vào lòng, bầy chiên mẹ, cùng tận tình dẫn dắt” ( Is 40, 1 ). Gioan Tiền Hô rao giảng rằng Ngài chỉ làm phép rửa bằng nước còn Đấng đến sau Ngài sẽ thanh tẩy dân bằng Thánh Thần, tức là bằng chính Tình Yêu của Thiên Chúa.
Chẳng còn gì mà Thiên Chúa đã không làm cho chúng ta, khi Người đã không ngại ngần phú ban chính Con Một vì chúng ta. ( x. Ga 3, 16 – 18 ). Dù có thể làm được mọi sự cho chúng ta, thế mà Thiên Chúa vẫn như bị giới hạn. Tình yêu giả thiết có sự tự do đáp trả. “Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta.” ( Kh 3, 20 ).
Để cho tình yêu đơm hoa, kết trái, Thiên Chúa chờ đợi sự đáp trả của loài người chúng ta. Và một trong những cách thế đáp trả tình yêu của Thiên Chúa mà Lời Chúa trong Chúa Nhật II Mùa Vọng B mời gọi chúng ta, đó là hãy mở cho Người một con đường. Nói đến con đường là nói đến lối đi, cách bước, đúng hơn là nói đến đường đời của chúng ta, cách sống của chúng ta.
“Đồi cao hãy san cho bằng; hố sâu hãy lấp cho đầy…” Những cách diễn tả trên chỉ muốn nhắm mục đích là sửa đường cho ngay và bằng phẳng. Rất có thể có nhiều cách diễn giải mang chiều kích luân lý như là dẹp bỏ sự kiêu căng, cao ngạo, loại trừ những hố sâu ích kỷ, tham lam hay chia rẽ…Đã hẳn cần phải có những sửa đổi trong cách sống của con người, tuy nhiên điều quan trọng và cốt yếu đó là tấm lòng của chúng ta. Đó phải là một tấm lòng khiêm hạ chân thành. Một tấm lòng chân thành trong khiêm hạ là một tấm lòng trung thực, ngay thẳng. Chúa đến để tỏ bày tình yêu với chúng ta, cho chúng ta. Tình yêu đòi hỏi trước tiên sự ngay thẳng và trung thực. Sẽ chẳng còn là tình yêu khi có yếu tố gian dối xen vào. Chính vì thế để mở cho Chúa một con đường, chúng ta cần phải:
Trung thực, thẳng thắn với chính mình:
Mình có sao, mình ra sao thì nhìn nhận vậy. Con người chúng ta vốn thích kẻ khác có cái nhìn tốt đẹp về mình, muốn kẻ khác luợng giá cao về mình. Vì thế chúng ta rất dễ bị cám dỗ thoa son, tô phấn cho bản thân. Và dần dà người ta đâm ra ảo tưởng về chính mình hoặc có cái nhìn không thật, không đúng về bản thân. Cái cám dỗ này này càng mạnh lên mỗi khi chúng ta đã có thêm chút tiền, chút quyền hay chút địa vị.
Rất nhiều lần xét mình, chúng ta thoáng nhận ra con người thật của mình với bao là tham sân si. Ta sám hối ăn năn, ta quyết tâm sửa mình, nhưng rồi đâu lại hoàn đấy. Bệnh thì dễ chữa, nhưng tật thì khó chừa. Sự tái phạm lỗi lầm nhiều lần cũng làm chúng ta dễ có cái nhìn lệch lạc về bản thân. Để có được cái nhìn trung thực về mình thiết tưởng cần đào tạo lương tâm liên lỉ. Các nhà luân lý chỉ cho ta những cách thế để đào tạo lương tâm như là tích cực học hỏi; kiên quyết chừa tội và từ bỏ nết xấu; xa lánh các môi trường xấu, những lý thuyết lầm lạc; siêng năng cầu nguyện và lãnh nhận các bí tích nhất là bí tích Thánh Thể và Bí Tích Giao Hoà…
Trung thực với tha nhân:
Dù biết rằng ta có thể dối lừa một người nhiều lần, có thể dối lừa nhiều người một đôi lần, nhưng ta không thể lừa dối nhiều người nhiều lần, thế mà để can đảm sống thật như chính mình trước mặt tha nhân thì quả là không mấy dễ. Cái nhìn của tha nhân, cái quan niệm của xã hội bên cạnh mặt tích cực vẫn có mặt tiêu cực của chúng, đó là chúng có thể khiến ta sống giả hình. Đức Bênêđictô 16 đã từng nhận định rằng trong các loại hình tình yêu như mẫu tử, phụ tử, huynh đệ, bằng hữu… thì có lẽ tình yêu nam nữ ( cách riêng trong đời sống phu phụ ) là tình yêu đúng nghĩa nhất. Quả thật, trong các mối tương quan nhân loại thì có lẽ người ta dễ sống trung thực với nhau hơn cả đó là trong mối tương quan phu phụ.
Đã là người hẳn ta thật khó mà cởi mở tấm lòng với tha nhân cách sạch sành sanh, nhưng ít ra là không bao giờ chủ ý sống giả hình, sống hai mặt vì chút lợi lộc hay chút hư danh nào đó. Đặc biệt chúng cần loại trừ những mưu mô xảo quyệt gây hại cho tha nhân và xã hội. Chúa Kitô đã từng cảnh báo: “Anh em phải coi chừng men Pharisêu, tức là thói đạo đức giả. Không có gì che giấu mà sẽ không bị lộ ra, không có gì bí mật mà người ta sẽ không biết.” ( Lc 12, 1 – 2 ).
Trung thực với Thiên Chúa:
Chắc hẳn Ađam biết quá rõ rằng Thiên Chúa nhìn thấy mọi sự, biết hết mọi sự, thế mà sau khi phạm tội, ông vẫn tìm cách lánh mặt Thiên Chúa. Rồi đến khi Chúa hỏi tội thì Adam đã đổ lỗi cho bà Evà. Bà Evà lại đổ tội cho con rắn. ( x. St 3, 8 – 13 ). Khi đã trót phạm tội, chúng ta thường bị cám dỗ ẩn mình hoặc tìm cách bào chữa. “Các ngươi vốn mù mà tự cho mình sáng, nên tội các người vẫn còn.” ( Ga 9, 41 ).
Đọc Tin Mừng chúng ta nhận ra sự thật này: con đường đã mở ra để cho Chúa Giêsu đến yêu thương, tha thứ, thi ân cho những người biết khiêm nhu nhìn nhận con người thật của mình, cho dù họ là người tội lỗi hay là người ngoại bang, là người thu thuế hay là kẻ bán thân nuôi miệng. Chính Chúa Giêsu đã từng kể câu chuyện người thu thuế vào Đền Thờ không dám ngẩng mặt lên, chỉ biết cúi đầu đấm ngực nói: “Lạy Chúa xin thương xót con là kẻ tội lỗi”. Và Người đã kết luận rằng người thu thuế này ra về và được nên công chính ( x. Lc 18, 9 – 14 ).
Chúa đến thế gian là để yêu thương con người. Và con đường Chúa đi là con đường của sự thật. Chỉ có sự thật mới giải thoát chúng ta khỏi ách nô lệ thần dữ, khỏi ách nô lệ tội lỗi và giúp chúng ta có khả năng đón nhận tình yêu của Thiên Chúa.
Mọi đường lối Chúa đều là từ bi và ngay chính. “Lạy Chúa, Chúa ở gần bên con, mệnh lệnh Chúa đều là chân lý.” ( Tv 119, 151 ). “Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian này là để làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi” ( Ga 18, 37 ). Cùng với tác giả Thánh Vịnh, ước gì chúng ta chân thành thân thưa: “Đường chân lý, này con đã chọn, quyết định của Ngài con khao khát đợi trông” ( Tv 119, 30 ). Sự thật là nền tảng cho tình yêu nẩy mầm. Sự thật cũng là con đường để tình yêu đi vào, ở lại và đơm bông kết trái. Trung thực với chính mình, trung thực với tha nhân và trung thực với Đấng Tạo Thành là một cách thế tuyệt vời dọn đường cho Chúa đến yêu thương chúng ta.
Một trong những cách thế để giúp sống trung thực với chính mình, với tha nhân và với Thiên Chúa, tức là sống trong sự khiêm hạ, đó là hãy tích cực tập thói quen tốt của cha ông ta xưa là dọn mình chết lành mỗi tối trước khi đi ngủ. “Con chim sắp chết hót tiếng bi ai, người ta sắp chết nói lời lẽ phải.” Đúng hơn khi đối diện với “Giờ Chúa đến” chắc chắn chúng ta không chỉ nói lời lẽ phải mà còn nói lời rất trung thực.
Lm. Giuse NGUYỄN VĂN NGHĨA, Giáo Phận Buôn Ma Thuột

Vể đầu trang

MV2-B81.  Tiếng Kêu

Chúa Nhật 2 Mùa Vọng Năm B
 (Is 40,1-5.9-11; 2P 3,8-14; Mc 1,1-8)
Phúc Âm: Mc 1, 1-8
"Hãy dọn đường Chúa cho ngay thẳng".
 

Khởi đầu Phúc Âm của Đức Giêsu Kitô Con Thiên Chúa. ..... Gioan Tẩy Giả xuất hiện trong hoang : MV2-B81

Khởi đầu Phúc Âm của Đức Giêsu Kitô Con Thiên Chúa. Như có lời Tiên tri Isaia chép rằng: Đây Ta sai Thiên Thần của Ta đến trước mặt ngươi để dọn đường cho ngươi. Có tiếng kêu trong hoang địa rằng: "Hãy dọn đường Chúa, hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng".
Gioan Tẩy Giả xuất hiện trong hoang địa, rao giảng phép rửa sám hối cầu ơn tha tội. Dân cả miền Giuđêa và Giêrusalem tuôn đến với người, thú tội và chịu phép rửa trong sông Giođan.
Lúc đó Gioan mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da thú, ăn châu chấu và uống mật ong rừng. Người rao giảng rằng: "Đấng đến sau tôi, quyền năng hơn tôi, tôi không đáng cúi xuống cởi dây giày Người. Phần tôi, tôi lấy nước mà rửa các ngươi, còn Ngài, Ngài sẽ rửa các ngươi trong Chúa Thánh Thần".
Suy Niệm Chúa Nhật II Mùa Vọng Năm B:
(Is 40,1-5.9-11; 2P 3,8-14; Mc 1,1-8)
Suy niệm: Tiếng Kêu
Điểm nổi bật trong các bài đọc hôm nay là tiếng kêu. Khi một âm thanh vang động, thì tiếng ấy phải phát xuất từ đâu, muốn nói gì và cho ai? Tiếng kếu chúng ta nghe hôm nay phát xuất từ Thiên Chúa qua Yoan Tiền hô loan báo cho ta một sứ điệp: "Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước để dọn đường cho con". Sứ giả Yoan chính là tiếng kêu trong sa mạc: "Hãy dọn đường cho Chúa, chỗ quanh co hãy uốn lại cho ngay thẳng" (Mc 1,1-3).
1. Tiếng Kêu Của Chúa
Từ ngày xưa cũng như bây giờ, Thiên Chúa vẫn làm phát xuất những tiếng kêu: qua các ngôn sứ, qua tiếng lương tâm và qua cả những trạng huống của đời sống con người. Những tiếng kêu bi thiết trầm thống của mọi thời đại đã vang tới Chúa. Phải chăng chỉ vì vậy mà Chúa mới nhắn bảo các sứ ngôn: "Hãy an ủi, hãy an ủi dân Ta. Hãy nói cho Yêrusalem biết rằng: nó không còn phải mang kiếp tôi đòi nữa và tội lỗi của nói đã được tha" (Is 40,2-2).
Vì thế tiếng kêu của Chúa là một tiếng kêu đặc biệt. Thông thường khi nói tới tiếng kêu, chúng ta quen nghĩ tới kêu cứu, kêu gọi, kêu cầu: kêu cứu vì mình đang lâm nguy; kêu cầu để van xin giúp đỡ; kêu gọi để nhắc bảo phải làm một cái gì. Tiếng kêu của Chúa không hàm nghĩa kêu cứu và kêu cầu, mà chỉ ngụ ý kêu gọi.
2. Chúa Kêu Gọi Ta Làm Gì?
Để lay động thức tỉnh ta, bắt ta chú ý và chuẩn bị đón nhận một sứ điệp. Tiếng kêu của Yoan tiền hô giữa nơi hoang vắng tiên vàn cũng đánh thức, gây chú ý và quy tụ dân chúng để nghe ông nói.
Sứ điệp của ông cũng tương tự như những điều ngôn sứ trong sách Đệ nhị Isaia đã nói với dân Dothái vào thế kỷ VI, sau khi họ vừa thoát khỏi cảnh lưu đày ở Babylon.
Chúa đã thẳng tay trừng trị Yêrusalem, nhưng giờ đây họ không còn phải làm nô lệ nữa, và tội lỗi của họ đã được tha thứ.
Phải dọn đường cho Chúa trong sa mạc. Chỗ gập ghềnh khúc khuỷu hãy uốn lại cho ngay.
Mọi người sẽ được nhìn thấy vinh quang của Thiên Chúa, vì Người đến với đầy vẻ lẫm liệt oai phong.
Người lãnh đạo dân mình như mục tử chăn dắt đoàn chiên (Is 40,1-5.9-11).
Những năm tháng lưu đày đã giúp họ hồi tâm lại và nhận thức lý do đem tới đau khổ là chính tội lỗi của họ (Is 7,25-28). Từ đó nhóm dậy trong lòng họ những tâm tình sám hối, dẫn đến quyết định dứt khoát với tội lỗi.
Khi làm như thế là họ sửa sang đường lối trong tâm hồn cho ngay thẳng để đón tiếp vinh quang Chúa đến. Đó chính là điều các ngôn sứ nhắm, khi các ngài gióng lên tiếng kêu.
3. Tiếng Kêu Của Yoan Gây Nên Âm Hưởng Nào Đối Với Người Do Thái Đương Thời?
Chắc chắn, tiếng kêu ấy đã khiến họ ngỡ ngàng, băn khoăn và làm cho họ như phải đối diện với một số vấn đề thuộc phạm vi lương tâm và công bình xã hội (Lc 3,7-14). Họ đã chịu phép rửa sám hối, xin ơn tha tội để dọn tâm hồn tiếp nhận Đức Kitô.
Còn đối với chúng ta hôm nay thì sao?
Sứ điệp của sách Đệ nhị Isaia và của Yoan tiền hô vẫn thúc bách chúng ta dọn đường cho Chúa trong sa mạc, nhưng là để đón Chúa Kitô trở lại trong vinh quang. Quả vậy, kinh nghiệm sa mạc của người Dothái trong biến cố Xuất hành khỏi Aicập hướng về Đất Hứa và trên đường hồi cư từ Babylon trở về Quê Hương vẫn mang một giá trị hiện thực cho cuộc sống chúng ta hôm nay. Sa mạc trong lịch sử cứu độ mang những ý nghĩa thần học sâu xa. Chính trong sa mạc con người chịu thử thách và phải chiến đấu để trung thành với Giao ước; cũng chính trong sa mạc, con người được thanh luyện tinh tuyền để xứng đáng với Thiên Chúa trong cuộc gặp gỡ ân tình. Giáo hội hôm nay cũng phải trải qua kinh nghiệm sa mạc bằng cuộc sống chiến đấu và thử thách để minh chứng lòng trung thành với ơn gọi Kitô hữu của mình và để tự thanh luyện xứng đáng gặp lại Đức Kitô đến thiết lập Trời mới Đất mới (2P 3,13).
4. Phải Chăng Trời Mới Đất Mới Chỉ Hình Thành Trong Thời Viễn Lai?
Ngay từ bây giờ Trời mới Đất mới xuất hiện khi mỗi người thi hành sứ điệp dọn đường cho Chúa và biến cõi đời này thành nơi đáng sống hơn. Ở đó mỗi ngày một bớt dần những cảnh bất công tàn ác; ở đó nhân phẩm được kính trọng và các quyền lợi căn bản của con người được bảo đảm; và nhất là ở đó mọi người được hòa giải với Thiên Chúa và với anh em đồng loại. Như thế, vinh quang Thiên Chúa đang xuất hiện giữa thế giới loài người, vì theo thánh Irênê: "Con người là vinh quang của Thiên Chúa". Chúng ta không ngừng xây dựng Trời mới Đất mới để tiến tới ngày viên mãn rực rỡ lúc mà Đức Kitô trở lại hoàn tất lịch sử cứu độ, thu hồi vạn vật về một mối (Ep 1,10) và trao phó vương quyền cho Thiên Chúa Cha, để Người trở nên mọi sự trong mọi người. (1Co 15,28).
Đó là viễn tượng giúp ta hiểu đúng câu nói của thánh Phêrô trong bài đọc thứ 2: "Ngày đó, các tầng trời sẽ sụp đổ tan tành, lửa, nước, ánh sáng, gió, mây đều cháy tiêu tan, và trái đất với tất cả mọi công trình xây dựng của con người đều bị thiêu đốt" (2P 3,10). Câu đó có nghĩa là chính Đức Kitô sẽ dùng năng lực Thánh Thần và lửa tình yêu nung nấu tất cả, để siêu thăng và biến đổi chúng nên rực rỡ tốt đẹp cách nhiệm mầu chứ không hủy diệt chúng. Đó sẽ là cuộc biến hình hoàn vũ, mà cuộc biến hình trên núi Tabo là dấu chỉ và khởi đầu.
Tiếng kêu của Yoan vọng lại tiếng kêu của Thiên Chúa trong lịch sử cứu độ, đang gọi ta đứng dậy, ngước mắt nhìn lên và hướng về tương lai. Viễn tượng Chúa đến trong vinh quang đem lại cho ta niềm tin, phấn khởi trong cuộc hành trình qua sa mạc của đời sống hiện tại.
Vì thế, tiếng kêu của vị tiền hô là một tiếng kêu mang đầy Hy Vọng và Niềm Vui.
Bài Giảng Chúa Nhật II Mùa Vọng Năm B:
Chúa nhật hôm nay có thể gọi được là Chúa nhật của vị Tiền Hô, của Yoan Tẩy giả, của "tiếng kêu" dọn đường Chúa đến, và như thế là Chúa nhật của niềm trông đợi chứa chan hy vọng.
Chúng ta ngày nay, xét về mặt xã hội, không còn như Israel ngày xưa. Dân Chúa bấy giờ đang lầm than trong cảnh nô lệ lưu vong. Nhưng xét về nhiều phương diện khác, đời người luôn luôn có những khổ sở. Và chẳng bao giờ nhân loại thấy đã thoát khỏi lầm than, đau đớn... Luôn luôn chúng ta có một số vấn đề không làm đau khổ thể xác thì cũng làm khắc khoải tâm hồn. Và cái khổ là bao giờ những khó khăn hiện tại đối với tâm lý, cũng vẫn là những gò bó khó chịu nhất mà chúng ta muốn cựa quậy, giũ đi cho bằng hết. Trong hoàn cảnh đó tiếng kêu của vị Tiền hô đang muốn khơi lại niềm tin hun đúc niềm cậy, để mọi người chúng ta tìm lại được tinh thần chứa chan hy vọng do Tin Mừng cứu độ mang tới.
Yoan không bịa ra những nguồn tin giả dối, trần tục, vô căn cứ và miễn cho ta những nỗ lực chính đáng. Chính ông cũng không tự xưng là người sẽ giải thoát anh em. Ông chỉ cho chúng ta thấy Đấng Cứu thế đích thực, là Đức Yêsu Kitô. Nói đúng hơn, khi rao giảng, ông bảo mọi người hãy trông cậy vào Đấng sẽ đến sau, Đấng chưa ai thấy, nhưng chắc chắn sẽ đến mà ông chẳng đáng cúi xuống cởi dây giày Người. Yoan không nói viển vông. Đặt niềm tin ở Sách Thánh, căn cứ vào mạc khải của Thiên Chúa, Yoan khẳng định Đấng Cứu thế không phải là phàm nhân, không hành động như các vĩ nhân trong lịch sử. Ngài đến chăn dắt đoàn chiên mình như mục tử; Ngài ẵm chiên con trên cánh tay; ôm ấp chúng vào lòng và nhẹ tay dẫn dắt các chiên mẹ.
Đấng Cứu thế chúng ta trông đợi là như thế. Ngài không có những toan tính trần gian. Ngài là một mục tử hiền lành săn sóc từng con chiên và cả đoàn chiên. Vì thế, chúng ta hãy trút bỏ não trạng trần tục khi khắc khoải đợi chờ Đức Kitô trở lại. Trong bất cứ thử thách nào Đấng Cứu chuộc chúng ta vẫn là Chúa, vì chỉ có Ngài mới đáp ứng được niềm trông cậy của ta.
Niềm trông cậy ấy tạo nên ở nơi ta một thái độ, một tác phong, một nếp sống đặc biệt. Khi người ta ao ước những sự hão huyền hay chờ đợi những giải pháp trần tục, thường người ta dành công việc cứu thế cho người khác; còn chính bản thân người ta chỉ thụ động ỷ lại và biếng nhác. Ngược lại, khi rao giảng Đấng Cứu thế là ai, thì Yoan cũng vạch ra cho mỗi người con đường phải sửa soạn có thể tiếp một vị cứu tinh như thế. Người sẽ rửa ta trong Thánh Thần. Người sẽ thánh hóa tất cả những ai sẵn sàng. Thế nên hết mọi người phải ăn năn thống hối, phải thú tội và sửa lại đường lối xưa nay. Không còn được sống quanh co, lúc thế này khi thế khác. Phải trước sau như một, thi hành một đòi hỏi của sự thánh thiện. Mọi gồ ghề ngăn trở các quan hệ tốt đẹp với tha nhân, phải bạt xuống và san phẳng đi, để tình người và lòng bác ái cứu độ của Đức Kitô đến với hết mọi người. Có như vậy, xã hội mới dần dần huynh đệ hơn, tốt đẹp hơn và chúng ta mới nhìn thấy ơn cứu độ của Chúa trải rộng trên khắp mặt địa cầu.
Không những rao giảng, Yoan còn sống cuộc đời sám hối. Ông ăn châu chấu và uống mật ong rừng. Ông mặc áo lông lạc đà và thắt lưng bằng dây da thú. Ông sống như các thánh nhân thời bấy giờ: không quan tâm đến việc trang điểm bằng các sản phẩm mỹ nghệ, không ăn dùng như những người tưởng chỉ có các thú vui ở đời này. Ngược lại, ông thấy hạnh phúc trong nếp sống gần thiên nhiên, thấy thiên nhiên như tiếng gọi trở về đời sống chất phác và chân thật. Ông coi cuộc đời phù phiếm như đã qua, và trông đợi Trời mới và Đất mới trong đó có công lý sẽ ngự trị.
Tất cả chúng ta không đang được kêu gọi đi vào một nếp sống cụ thể như thế sao? Cả một lối sống phù phiếm như đã qua rồi. Những giờ lao động tiếp xúc với thiên nhiên như đang khiến ta có một nhân-sinh-quan mới: chân thật và đơn sơ hơn. Nhiều nhân đức Phúc Âm như đang có cơ hội được thực thi dễ dàng hơn trước. Chúng ta phải bắt lấy thời cơ, nhờ ơn từ trời xuống, giúp nhau sám hối và đổi đời. Làm được như vậy, là đang san phẳng đường đi cho Chúa đến. Nói đúng hơn, Thánh Thần Chúa ở trong ta đang muốn dùng ta để thay đổi mặt đất này cho công lý ngự trị.
Thánh Thể mà chúng ta cử hành bây giờ cũng chỉ muốn thực hiện những điều đó. Đức Kitô cứu thế mời ta góp phần đời sống sám hối canh tân của chúng ta vào mầu nhiệm Tử nạn của Người, để ơn Phục sinh của Người tràn vào tâm hồn và đời sống chúng ta, dùng nếp sống đổi mới hằng ngày của ta, canh cải mặt đất này tạo nên một Trời mới Đất mới cho tất cả mọi người.
Xin anh em hãy hết mình đi vào mầu nhiệm bàn thờ với những tâm tư quyết liệt như thế.
(Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa của Đức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)

Vể đầu trang

MV2-B82.  HÃY DỌN ĐƯỜNG ĐÓN CHÚA

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT
CHÚA NHẬT II MÙA VỌNG, năm B
Mc 1, 1-8
 

Mùa vọng là thời gian, là dịp thuận tiện để trở về với những gì thật nền tảng và đặt Đức Giêsu Kitô : MV2-B82

Mùa vọng là thời gian, là dịp thuận tiện để trở về với những gì thật nền tảng và đặt Đức Giêsu Kitô lên hàng đầu trong cuộc hành trình đức tin của mỗi Kitô hữu. Vâng, để nhận ra Đấng Thiên sai, Đấng Cứu Thế, Thiên Chúa trong suốt thời dài của Cựu ước đã chuẩn bị cho dân của Người đón Đức Kitô. Một cuộc sửa soạn, chuẩn bị lâu, rồi khi tới thời đã định, Thiên Chúa đã dùng Gioan Tẩy Giả, một Vị Ngôn sứ vĩ đại nối kết giữa Cựu ước và Tân ước để chuẩn bị cho Đấng Cứu Thế :” Có tiếng kêu trong hoang địa ; Hãy dọn đường Chúa, hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng “ ( Mc 1, 3 ).   
Gioan Tẩy Giả xuất hiện như một người nghèo ở giữa người nghèo, nhưng lại rất đặc biệt, Ngài không làm một cuộc cách mạng như người ta lầm tưởng, Ngài cũng không đánh Đông dẹp Bắc như người ta mong đợi, Ngài không bắt người ta phải thay đổi đời sống, thay đổi cuộc sống, thay đổi địa vị, nghề nghiệp xã hội, dù họ đang làm những công việc như binh lính, thu thuế, những nghề nghiệp mà thời đó, những hạng người này thường bị coi như tội lỗi, như tiếp tay với ngoại bang để đàn áp người khác và những người này lúc bấy giờ bị khinh thường và bị cho là những còn người ghê gớm. Gioan Tẩy Giả không đòi buộc họ phải bỏ việc làm, bỏ cái nghề họ đang sống, nhưng Ông chỉ thúc giục họ đổi mới đời sống, làm mới tâm hồn để sẵn sàng chờ đón Chúa đến. Gioan đã ăn mặc đơn giản, thức ăn, thức uống là châu chấu và mật ong. Lối sống khắc khổ của Gioan đã trở nên dấu chứng cho mọi người. Gioan kêu gọi người ta sám hối để đón chờ Chúa đến. Ông đã làm gương bằng chính cuộc sống ngay thẳng của Ông. Chính cuộc sống kham khổ, thánh thiện siêu thoát và những lời giảng dạy phù hợp với lối sống của ông đã thu hút biết bao nhiêu người đến với Ông để khiêm tốn thú tội và xin Gioan Tẩy Giả làm phép rửa thống hối hầu đón chờ Đấng Cứu Thế.
Vâng, ngày hôm nay, nhân loại hay nói cách nôm na hơn: mỗi người chúng ta không thể vào sa mạc để thực hiện những điều như Gioan Tẩy Giả đã làm nhưng chắc chắn chúng ta không thể đi con đường nào khác ngoài con đường Gioan Tẩy Giả đã sống, đã mời gọi. Để thực hiện điều Gioan Tẩy Giả đã sống, đã rao giảng, chúng ta chắc chắn không thể sống như mọi người được. Nhiều lúc, người Kitô hữu phải sống khác người bởi vì muốn sống đích thực là môn đệ Chúa nhiều khi họ phải khước từ những dễ dãi, những tiện nghi, những thỏa hiệp để tìm kiếm cái gì sâu xa và bền vững hơn. Người Kitô hữu phải dám sống cái khác thường trong chính cuộc sống bình thường mà mọi người vẫn sống.
Gioan Tẩy Giả đã có sức thu hút nhiều người vì Ông dám lội ngược dòng, dám sống đúng Tin Mừng đòi hỏi. Chúng ta vẫn được mời gọi sống như Gioan Tẩy Giả để chuẩn bị tâm hồn đón chờ Chúa đến.
Để kết luận, xin dùng một câu tuyệt vời của một nhân vật :” Bạn có thể thành công suốt cả cuộc đời, và lãnh cả triệu đô la mỗi năm, nhưng khi ngày giờ đến, ngày mà người ta đóng nắp quan tài của bạn lại, ngày đó bạn chẳng khác tôi chút nào. Đó là lúc mọi người chúng ta đều y như nhau. Tôi không cần tới những gì các bạn đang có trong cuộc sống, nhưng điều duy nhất tôi chắc chắn là : các bạn cần cái tôi đang có, và đó chính là Đức Giêsu Kitô “.
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
1.Gioan Tẩy Giả là ai ?
2.Tại sao Gioan Tẩy Giả lại thu hút được nhiều người ?
3.Sống đúng với Tin Mừng đòi hỏi là sao ?
4.Tại sao lại phải dọn đường chờ đợi Chúa đến ?

Vể đầu trang

MV2-B83. Chúa Giê-su là “con đường của Đức Chúa”

CHÚA NHẬT II MÙA VỌNG
Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Mác-cô 1:1-8)
 

Người ta phải công nhận rằng ở Hoa-kỳ việc xây cất đường xá là số một trên thế giới, các nhà: MV2-B83

Người ta phải công nhận rằng ở Hoa-kỳ việc xây cất đường xá là số một trên thế giới, các nhà thầu thực hiện dự án với tất cả trách nhiệm.  Trái lại việc xây cất đường xá ở Việt Nam thì hết chỗ nói, chưa làm xong đầu này đầu kia đã hư, vì từ lãnh đạo xuống tới những “công ty” đều ăn chặn ăn bớt, xây ít cất nhiều!  “Con đường của Đức Chúa” được ngôn sứ I-sai-a và Gio-an Tẩy Giả nói đến trong bài Tin Mừng hôm nay là con đường nối trời với đất, để Thiên Chúa đến với chúng ta và chúng ta đến với Thiên Chúa.  Đó chính là con đường mang tên Giê-su. 
            Vì là “con đường của Đức Chúa” và “lối thẳng để Người đi” nên dự án làm đường sẽ do chính Chúa phác họa, để Người có thể sử dụng nó mà đến với chúng ta.  742 năm trước khi thực hiện dự án, Chúa đã gọi ngôn sứ I-sai-a và truyền cho ngài loan báo dự án ấy.  Đến khi mở đầu thời Tân Ước, Chúa lại sai ông Gio-an Tẩy Giả đi đến sông Gio-đan công bố việc Thiên Chúa khai mở con đường ấy và mời gọi nhân loại hãy tiếp nhận và đi trên đường ấy mà đến với Người.
            Sứ mệnh của Gio-an quả thực đơn giản, giống như chính con người của ông.  Ông chỉ cần đóng vai trò “hô to” cho mọi người nghe thấy.  Lời hô của ông là kêu gọi người ta sám hối để lên đường, tức là bước vào con đường Giê-su để đến với Thiên Chúa.  Ông Gio-an mượn nghi thức thanh tẩy quen thuộc trong truyền thống Do-thái để làm thành “phép rửa” giúp người ta đánh dấu khởi đầu hành trình sám hối.  Như vậy, sám hối là chuẩn bị “lên đường”, là chuẩn bị đón nhận Đấng sẽ đến và tuyên bố: “Thầy là con đường, sự thật và sự sống”.  Muốn giúp người ta chuẩn bị tâm hồn để đón nhận “Con đường của Đức Chúa”, ông Gio-an phải cho người ta biết giá trị tuyệt đối của con đường ấy.  Đây là nguyên văn những lời ông Gio-an nói về con đường đem lại sự sống:  “Có Đấng quyền thế hơn tôi đang đến sau tôi, tôi không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Người.  Tôi thì tôi đã làm phép rửa cho anh em bằng nước, còn Người, Người sẽ làm phép rửa cho anh em bằng Thánh Thần”.  Ông Gio-an muốn diễn tả giá trị tuyệt đối của Chúa Giê-su, Đấng đang đến sau ông.  Ông chỉ cần so sánh một điều thôi cũng đủ để chứng minh “quyền thế” tuyệt đối của Đấng ấy, đó là việc “làm phép rửa”.  Phép rửa của ông bằng nước chỉ là dấu chỉ kêu gọi, chứ không biến đổi được con người.  Ông chỉ “kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội”.  Còn phép rửa của Chúa Giê-su bằng Thánh Thần mới thực sự “tha tội” và đem lại sự sống mới cho con người, phục hồi cho họ khả năng phi thường để vượt qua những hữu hạn của con người mà đến với vô biên của Thiên Chúa.  Khả năng này đã bị tội lỗi tước đoạt sau cuộc sa ngã của nguyên tổ giờ đây được trả lại cho con người.
            Như thế, nội dung lời giảng của ông Gio-an gồm hai điều:  thứ nhất, kêu gọi người ta sám hối, chuẩn bị tâm hồn đón nhận “con đường của Đức Chúa”;  và thứ hai, giới thiệu Chúa Giê-su là con đường đưa nhân loại đến với Thiên Chúa.
Sống sứ điệp Tin Mừng
            Chúng ta hãy cảm tạ Thiên Chúa Cha đã sai Con Một xuống trần gian để làm “con đường” đưa chúng ta đến với Người.  Chúng ta hãy cám ơn ngôn sứ I-sai-a đã cho chúng ta biết trước về “thánh lộ” ấy (I-sai-a 35:8).  Chúng ta đặc biệt cám ơn thánh Gio-an Tẩy Giả đã mời gọi chúng ta chuẩn bị tâm hồn và cho chúng ta biết giá trị tuyệt đối của Chúa Giê-su, “con đường của Đức Chúa”.
            Tuy nhiên điều quan trọng hơn cả, là chúng ta phải làm sao sử dụng con đường ấy.  Chúa Giê-su đem Thiên Chúa xuống với chúng ta và Chúa Giê-su cũng đem chúng ta lên với Thiên Chúa.  Vậy muốn lên với Thiên Chúa, tất nhiên chúng ta phải liên kết với Chúa Giê-su, để cho Người cầm tay dắt chúng ta đi.  Có liên kết với Chúa Giê-su, chúng ta mới được Thánh Thần của Người biến đổi con người và lối sống chúng ta thành người con đích thực của Thiên Chúa.  Mỗi ngày chúng ta trở nên giống Chúa Giê-su hơn tức là chúng ta đang gần Thiên Chúa hơn một bước vậy.                                                                                              
Lm. Đa-minh Trần đình Nhi

Vể đầu trang

MV2-B84. Hãy Dọn Đường của Chúa

Chúa Nhật II Mùa Vọng B
Mc 1:1-8: “1Khởi đầu Tin Mừng Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa. 2 Như được ghi trong sách ngôn sứ I-sai-a: Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con.3Có tiếng người hô trong hoang địa: Hãy dọn con đường của Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi.
4Nầy Gioan Tẩy Giả đã xuất hiện trong hoang địa, rao giảng phép rửa sám hối để được tha tội.5 Mọi người từ khắp miền Giuđê và thành Giêrusalem kéo đến với ông. Họ thú tội, và ông làm phép rửa cho họ trong sông Giođan.6 Ông Gioan mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da, ăn châu chấu và mật ong hoang.7 Ông rao giảng rằng: “Đấng quyền thế hơn tôi đang đến sau tôi, tôi không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Người.8 Tôi thanh tẩy anh em trong nước, còn Người, Người sẽ thanh tẩy anh em trong Thánh Thần.”
 

Đọc 1:1-8 trong văn mạch của 1:1-13: Loan báo Đức Giêsu Kitô đến, điều đã được chuẩn bị trong: MV2-B84

Đọc 1:1-8 trong văn mạch của 1:1-13: Loan báo Đức Giêsu Kitô đến, điều đã được chuẩn bị trong Cựu Ước qua lời tiên tri Isaia (1:1-3), Gioan, tiên tri chuyển tiếp, loan báo cho dân Tân Ước đấng đang đến và chuẩn bị lòng dân (1:4-8), và Đức Giêsu đến (1:9-13).
Tin Mừng Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa đến được loan báo cách rộng rãi và và hiệu quả, đến nỗi mọi người từ khắp miền Giuđê và Giêrusalem đều nghe biết. Họ tuôn ra từ các miền ấy và đến sông Giorđan với Gioan để chịu phép rửa sám hối (c. 4-5). Gioan rao giảng hai điều: phép rửa sám hối cho dân (c. 4) và Đấng sẽ đến sau ông (c. 7-8). Gioan là hiện thân của Isaia, sứ giả của Thiên Chúa (c. 6).
 Lời hứa trong Cựu Ước về một Đấng Cứu Thế sẽ đến, nay đươc loan báo như một Tin Mừng trọng đại (c.1). Đấng ấy là Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa. Loan báo khởi đầu nầy tóm kết tất cả con người và sứ mạng của đấng đang đến. Đấng nầy khi xuất hiện đầu tiên tại sông Giorđan sẽ chỉ gọi là Giêsu Nazarét (1:9), rồi căn tính của Người sẽ được tiết lộ dần. Đối với con người, đấng ấy sẽ được tuyên xưng là Kitô, Đấng Thiên Sai (8:29), con vua Đavít (12:35) và là vua Israel (15:32). Đối với Thiên Chúa, đấng ấy sẽ được gọi là Con Thiên Chúa (1:1; 3:11), Con yêu dấu (1:11; 9:7), Đấng Thánh của Thiên Chúa (1:24), và cuối cùng là Con Thiên Chúa, đang chết trên thập gía để cứu nhân loại (15:39).
Đứng trước Đấng cao cả như thế, ai mà không thấy mình bất xứng, tội lỗi và cần được thanh tẩy. Thanh tẩy được nhắc đến 4 lần như là việc cần thiết tuyệt đối (c. 4.5.6). Không sám hối và không được thanh tẩy, không thể nhận ra Đấng đang đến là ai. Đó là trường hợp của các Pharisêô (xem 2:7; 2:17). Ngược lại, dân chúng đã  được thanh tẩy, sau biến cố nầy, luôn tuôn đến với Chúa Giêsu, vì nhận ra nơi Người là thầy dạy quyền năng (1:27), là đấng có quyền tha tội (cf. 2:15-17) và là mục tử (xem 6:34). Những ai thú nhận mình tội lỗi, cũng sẽ được Đấng ấy đón nhận: Phêrô được kêu gọi làm tông đồ (Lk 5:8), người thu thuế được tha tội (Lk 18:13), người trộm lành được Nước Trời (Lk 23:40-42). Bởi đó, không chỉ Gioan loan báo phép rửa sám hối, chính Chúa Giêsu cũng kêu gọi sám hối khi chính Người đang đến (1:15) và đến phiên các tông đồ cũng làm như thế (6:12). Sám hối và được thanh tẩy là điều kiện đầu tiên và tuyệt đối mở ra ơn cứu độ từ Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa đang đến.
Đấng đang đến cao trọng hơn Gioan cả phẩm chức lẫn địa vị. Gioan tự nhận hai điều: là một người tôi tớ, dù để chỉ cởi quai dép cho Đấng ấy, cũng không xứng đáng, và phép rửa Đấng ấy sẽ làm thì cao trọng hơn phép rửa ông đang làm, bởi vì được thực hiện trong Thánh Thần, nên có thể tha tội thật sự và đưa đến hiệp thông với Thiên Chúa. 
Chúa Giêsu chưa xuất hiện. Gioan đi trước dọn lòng người. Con người phải sám hối và thanh tẩy, vì đấng đang đến là Đấng Thánh, là Con Thiên Chúa và là Đấng Cứu Độ.
Lm. Luigi Gonzaga Đặng Quang Tiến

Vể đầu trang

MV2-B85.  Chúa Nhật II mùa Vọng, B

(2008)

Cứu độ là việc gặp gỡ giữa Chúa với ta.  Từ trời cao Chúa đến với ta thì dĩ nhiên ta cũng phải: MV2-B85

            Cứu độ là việc gặp gỡ giữa Chúa với ta.  Từ trời cao Chúa đến với ta thì dĩ nhiên ta cũng phải sẵn sàng để đón tiếp Người.  Trong Cựu Ước, ngôn sứ I-sai-a đã gióng lên tiếng hô, kêu gọi dân Chúa hãy chuẩn bị đón tiếp Chúa sau khi “thời làm nô lệ của Thành (Giê-ru-sa-lem) đã mãn, tội của Thành đã đền xong”.  Cũng vậy, trong Tân Ước ông Gio-an Tẩy Giả đã lập lại cùng một sứ điệp của ngôn sứ I-sai-a, mời gọi người ta dọn đường tâm hồn đón Chúa Ki-tô.  Còn thánh Phê-rô lại mở cánh cửa trời mới đất mới cho ta nhìn thấy tương lai vĩnh cửu để ta cố gắng trở nên tinh tuyền.  Đó là chủ đề Lời Chúa hôm nay muốn trình bày.
1.  Con đường Chúa đến với ta (bài đọc Cựu Ước – Is 40:1-5.9-11 và bài Tin Mừng – Mc 1:1-8)
            Gọi là con đường cho cụ thể, chứ thực ra đó chính là tâm hồn ta.  Chúa đi trên con đường tâm hồn để đến với ta.  Hình ảnh cụ thể ấy được sử dụng để mô tả những trạng thái tâm hồn khác nhau, nhưng tựu chung vẫn phải là con đường Chúa đến với ta, vì ngoài ra Chúa không đến bằng bất cứ con đường nào khác.  Vậy ngôn sứ I-sai-a và ông Gio-an Tẩy Giả nói về con đường này với ai và trong hoàn cảnh nào?
            Giê-ru-sa-lem bị thất thủ và cuộc lưu đày Ba-by-lon đã khiến dân Ít-ra-en phải sống những tháng năm tủi nhục, làm tôi đòi cho ngoại bang.  Giữa những khổ đau trăm điều, ngôn sứ I-sai-a đốt lên ngọn nến hy vọng, mở đầu sách An ủi cho dân Ít-ra-en, từ chương 40 đến 55.  Ngài loan báo một tin mừng cho Ít-ra-en, là Đức Chúa sẽ đến với họ, “tay nắm trọng chủ quyền” và “như mục tử, Chúa chăn giữ đoàn chiên của Chúa” (Is 40:10-11).  Tội bất trung của Ít-ra-en đã phải đền bằng cuộc nô lệ phục dịch Ba-by-lon.  Dường như Thiên Chúa để mặc cho Ít-ra-en bị trao vào tay ngoại bang và Người chẳng đoái hoài.  Tuy nhiên đó chỉ là đường lối Thiên Chúa dùng để giúp Ít-ra-en cải tà quy chính và sẽ luôn trung thành thờ phượng Người.  Giờ thì “thời phục dịch của Thành đã mãn, tội của Thành đã đền xong” nên Thiên Chúa quyết định trở lại với Ít-ra-en.  Nhưng trước khi Người đến với Ít-ra-en, họ cần phải chuẩn bị đón tiếp.  Ngôn sứ I-sai-a đóng vai trò làm “tiếng hô trong sa mạc”.  Trong sa mạc thinh lặng, ngay đến tiếng thì thầm cũng còn nghe được, huống chi là tiếng hô lớn.  Sứ điệp của tiếng hô này chỉ vỏn vẹn ý tưởng:  hãy dọn đường tâm hồn cho Chúa đến.
            Địa lý Ít-ra-en quả thực rất thích hợp để diễn tả những trạng thái trừu tượng của tâm hồn.  Ít-ra-en là đất đồi núi, sỏi đá khô cằn, họa hiếm đồng bằng và không có sông ngòi to lớn.  Sa mạc, đồng hoang, thung lũng, núi đồi, lồi lõm, gồ ghề là đặc điểm địa lý Ít-ra-en, nhưng cũng tượng trưng cho những trở ngại tâm hồn dân Ít-ra-en ngăn cản Chúa đến với họ.  Do đó, họ cần phải mở đường, phải loại trừ tất cả những trở ngại tâm hồn cho Chúa đến.  Chúa có thể bất chấp những trở ngại đó mà đến, nhưng việc Chúa đến là cuộc gặp gỡ yêu thương nên không thể là một áp đặt vô nghĩa.  Người đến với họ, nhưng chính họ cũng phải đến với Người.
            Khi rao giảng sám hối trong hoang địa, ông Gio-an là hiện thân tiếng hô trong sách ngôn sứ I-sai-a.  Ông làm sứ giả cho Chúa Giê-su, đi trước Người, kêu gọi người ta chuẩn bị con đường tâm hồn cho Đấng Cứu độ đến với họ.  Kèm theo lời giảng, ông còn thực hành nghi thức làm phép rửa để giúp người ta biểu lộ quyết định sám hối, thay đổi cuộc sống cho thánh thiện để tâm hồn họ trở thành “con đường của Đức Chúa” và “lối thẳng để Người đi”.
            Tiếng hô của ngôn sứ I-sai-a và ông Gio-an Tẩy giả chắc chắn là một thách đố cho ta.  Nó đòi ta phải nhìn lại chính cuộc đời mình để nhận định những trở ngại trên con đường tâm hồn ta.  Những hình ảnh tiêu cực hết sức thực tế như quanh co, gồ ghề, lồi lõm, lũng sâu, đồi cao… đều biểu hiện cho những trạng thái xấu xa của tâm hồn.  Trái lại, những hình ảnh tích cực như đầy đặn, bằng phẳng, thẳng tắp diễn tả những nét tích cực của con đường tâm hồn không trở ngại, sẵn sàng để Chúa đến với ta.  Sự tương phản giữa hai trạng thái tiêu cực và tích cực ấy nói lên việc ta phải làm, giống như muốn bỏ một tính xấu thì phải thay thế bằng một nhân đức.  Thí dụ:  núi đồi phải bạt xuống có nghĩa là muốn diệt trừ tính kiêu căng cần phải tập đức khiêm nhường.  Đó là công việc song song, diệt trừ nết xấu và tập tành nhân đức.  Vấn đề là ta có thực sự lắng nghe tiếng hô của những người muốn giúp ta sửa đổi và can đảm nhìn thẳng vào chính mình hay không.
2.  Ông Gio-an Tẩy giả, gương mẫu sám hối (bài Tin Mừng – Mc 1:1-8)
            Ta đã nghe ông Gio-an Tẩy giả hô lên trong sa mạc kêu gọi người ta sám hối.  Tuy nhiên ta có thể nhận thấy tấm gương sám hối của ông trong lối sống cũng như cách cư xử và thi hành sứ mệnh.  Sám hối tức là thay đổi sao cho tốt hơn.  Đời sống của ông thật giản dị, khó nghèo và thẳng thắn.  Ông có thể thừa hưởng tất cả gia tài giàu có của cha mẹ, nhưng ông lại từ bỏ nếp sống xa hoa và tất cả để chấp nhận đời sống giản dị của vị ẩn sĩ.  Ông có thể giữ lấy thanh thế cho chính mình, vì “mọi người khắp miền Giu-đê và thành Giê-ru-sa-lem kéo đến với ông” (Mc 1:5), nhưng ông xác tín mình cần phải lu mờ đi để cho Chúa Giê-su nổi bật lên (Ga 3:30).  Ông còn khiêm nhượng đến nỗi cho rằng mình “không đáng cúi xuống cởi quai dép” cho Chúa Giê-su.  Lời giảng và phép rửa của ông chắc chắn là một nghi thức đánh động nhiều tâm hồn.  Nhưng ông không vì thế mà kênh kiệu, trái lại ông còn tôn vinh phép rửa của Chúa Giê-su.  “Tôi thì tôi đã làm phép rửa cho anh em bằng nước, còn Người, Người sẽ làm phép rửa cho anh em bằng Thánh Thần” (Mc 1:8).  Nước là chất liệu bên ngoài, làm sao tẩy rửa được tâm hồn.  Cho nên nước không thể so sánh được với Thánh Thần, Đấng thay đổi cả bộ mặt trái đất và tâm hồn con người.  Ông Gio-an có nhiều môn đệ.  Nhưng khi gặp Chúa Giê-su đến xin nhận phép rửa của ông, ông đã giới thiệu Chúa với môn đệ mình và để họ đi theo Người (Ga 1:35-39).  Tóm lại, ông Gio-an đã thay đổi cuộc sống trước khi rao giảng sám hối cho người khác.
3.  Chúa đến mở ra cho ta trời mới đất mới (bài đọc Tân Ước – 2 Pr 3:8-14)
            Nếu ta nghe theo lời giảng của ngôn sứ I-sai-a và ông Gio-an Tẩy giả, chuẩn bị tâm hồn xứng đáng để Chúa đến với ta, chắc chắn sẽ có nhiều điều tốt đẹp và mới lạ nảy sinh, nhưng đặc biệt nhất đó là ta sẽ nhận ra trời mới đất mới như Chúa đã hứa.
            Tin chắc như vậy, thánh Phê-rô Tông Đồ mới nhắn nhủ ta hãy chuẩn bị chu đáo cho “ngày của Chúa”.  Vậy điều gì sẽ xảy ra trong “ngày của Chúa”?  Thánh Phê-rô dùng lối diễn tả khải huyền để nói về ngày ấy:  “Ngày đó, các tầng trời sẽ ầm ầm sụp đổ, ngũ hành bốc cháy tiêu tan, mặt đất và các công trình trên đó sẽ bị thiêu hủy” (2 Pr 3:10).  Thực sự khó mà hiểu được cách diễn tả của thánh Phê-rô về “ngày của Chúa”.  Nhưng chắc chắn một điều, là nếu “muôn vật phải tiêu tan như thế, thì anh em phải là những người tốt dường nào, phải sống đạo đức và thánh thiện biết bao trong khi mong đợi ngày của Thiên Chúa”.  Như vậy, thánh Phê-rô muốn nói rằng:  Muôn vật phải tiêu tan, nhưng ta cần phải tồn tại, và đó là điều Chúa muốn.  “Người kiên nhẫn đối với anh em, vì Người không muốn cho ai phải diệt vong” (2 Pr 3:9).  Mà nếu muốn được tồn tại vĩnh viễn, ta phải là những người thánh thiện đạo đức.  Được sống muôn đời, đó chính là “trời mới đất mới” của ta đó.
Thay vì nói về sám hối như sứ điệp của tiếng hô trong sa mạc, thánh Phê-rô lại nói đến hiệu quả của sám hối:  “Trong khi mong đợi ngày đó, anh em phải cố gắng sao cho Người thấy anh em tinh tuyền, không chi đáng trách và sống bình an” (2 Pr 3:14).  Đúng thế, ta là những người tội lỗi, đáng trách trước mặt Chúa.  Nhưng nếu ta có thực thi sám hối, thì mới có thể biến đổi con người từ trạng thái tội lỗi đến trạng thái tinh tuyền thánh thiện.  Theo cái nhìn của thánh Phêrô, khi ta thực thi sám hối có nghĩa là ta xa dần khỏi “trời cũ đất cũ” để tiến gần đến “trời mới đất mới” vậy.
4.  Sống Lời Chúa
            Sám hối không chỉ là chủ đề của mùa Chay, mà cũng là chủ đề của mùa Vọng nữa, bởi vì cả hai mùa đều đưa ta tới Chúa Ki-tô, Đấng đã giáng sinh, chết trên thập giá và sống lại vinh hiển để cứu độ ta.  Cùng một sứ điệp sám hối đã được ngôn sứ I-sai-a, Gio-an Tẩy giả và Tông Đồ Phê-rô trình bày trong những bối cảnh khác nhau, nhưng đều quy về một mục đích là chuẩn bị đón Chúa đến với ta.  Ta dọn đường tâm hồn cho Chúa đến và khi Người ở với ta, Người cũng chính là Đường dẫn ta về trời mới đất mới là nhà Cha trên trời.
Suy nghĩ:  Tại Hoa-kỳ, công tác làm đường và sửa đường là việc thường xuyên, nhờ đó bốn mùa ta đều có thể đi lại dễ dàng.  Còn con đường tâm hồn để tôi đón Chúa liệu có được sửa sang tu bổ hằng ngày không?  Vào cuối ngày trước khi nghỉ ngơi, tôi có nhìn lại tâm hồn mình để nhận ra những khuyết điểm cần sửa đổi không?  Và sửa đổi làm sao?
Cầu nguyện:  Lạy Thiên Chúa toàn năng ái tuất, xin đừng để chúng con mải mê thế sự, chẳng còn hăm hở đi đón mừng Con Chúa, nhưng xin dạy chúng con biết ham thích những sự trên trời, hầu được cùng Người vui hưởng phúc trường sinh.  Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời.  A-men.  (Lời nguyện Nhập lễ, Chúa Nhật II mùa Vọng).
Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

Vể đầu trang

MV2-B86.  Hãy sửa lối cho thẳng để Người đi!»

Chúa Nhật thứ 2 Mùa Vọng
 (4-12-2005)
 ĐỌC LỜI CHÚA
·   Is 40, 1-5. 9-11: (3) «Trong sa mạc, hãy mở một con đường cho Đức Chúa, giữa đồng hoang, hãy vạch một con lộ thẳng băng cho Thiên Chúa chúng ta. (4) Mọi thung lũng sẽ được lấp đầy, mọi núi đồi sẽ phải bạt xuống, nơi lồi lõm sẽ hoá thành đồng bằng, chốn gồ ghề nên vùng đất phẳng phiu. (5) Bấy giờ vinh quang Đức Chúa sẽ tỏ hiện, và mọi người phàm sẽ cùng được thấy rằng miệng Đức Chúa đã tuyên phán».
·   2 Pr 3, 8-14: (12) Chúa để mắt nhìn người chính trực và lắng tai nghe tiếng họ kêu xin, nhưng Người ngoảnh mặt đi, không nhìn kẻ làm điều ác.
 ·         TIN MỪNG: Mc 1, 1-8
Ông Gioan Tẩy Giả rao giảng
(1) Khởi đầu Tin Mừng Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa:  (2) Trong sách ngôn sứ Isaia có chép rằng: Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con.  (3) Có tiếng người hô trong hoang địa: Hãy dọn sẵn con đường của Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi.
(4) Đúng theo lời đó, ông Gioan Tẩy Giả đã xuất hiện trong hoang địa, rao giảng kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội.  (5) Mọi người từ khắp miền Giuđê và thành Giêrusalem kéo đến với ông. Họ thú tội, và ông làm phép rửa cho họ trong sông Giođan.
(6) Ông Gioan mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da, ăn châu chấu và mật ong rừng.  (7) Ông rao giảng rằng: «Có Đấng quyền thế hơn tôi đang đến sau tôi, tôi không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Người.  (8) Tôi thì tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, còn Người, Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần».
CHIA SẺ
Câu hỏi gợi ý:
 

Chủ đề chính trong lời rao giảng của Gioan Tẩy Giả là gì? Theo ông, để chuẩn bị đón Chúa đến: MV2-B86

1. Chủ đề chính trong lời rao giảng của Gioan Tẩy Giả là gì? Theo ông, để chuẩn bị đón Chúa đến thì chủ yếu phải làm gì?
2.    «Dọn sẵn con đường của Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi» có ý nghĩa gì? Ta phải làm gì cụ thể để thực hiện lời này?
3.    Ta có cần phải «sám hối» và «chịu phép rửa» trong đời sống cụ thể và hiện tại của ta không? Điều đó nghĩa là gì? và muốn thế phải làm gì?
Suy tư gợi ý:
1. Chuẩn bị đón Chúa đến đúng theo cách thức Ngài muốn
Khi đến dọn đường cho Chúa đến, Gioan Tẩy Giả yêu cầu dân chúng: «Hãy dọn sẵn con đường của Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi» (Mc 1,3). Như vậy, ông đã chỉ cho ta cách chuẩn bị tâm hồn để đón Chúa đến với ta, để Ngài có thể ở ngay trong tâm thức ta, biến đổi tâm hồn ta, ban cho ta sức mạnh và tình yêu đích thực để ta thật sự yêu thương và sẵn sàng hy sinh cho tha nhân. Hiện nay, rất có thể ta chưa cảm nhận được Chúa ở với ta, chưa được Chúa biến đổi thật sự nên «con người mới» đầy thần khí, đầy tình yêu và sức mạnh. Sở dĩ như vậy là vì ta chưa thật sự chuẩn bị đúng cách để Chúa đến với ta cùng với sức mạnh và ân sủng của Ngài. Thử nghĩ xem, khi đón một nhân vật quan trọng đến nhà ta (chẳng hạn một vị tổng thống, một giám mục…), không chỉ nói chuyện với ta ở phòng khách, mà còn ăn uống nghỉ ngơi trong nhà ta, thì ta sẽ phải chuẩn bị thế nào cho phải lẽ? Nếu ta không chuẩn bị gì cả, khách đến mà nhà cửa bệ rạc, lôi thôi, bê bối, thì khách sẽ nghĩ thế nào? Làm sao họ có thể hết lòng giúp đỡ ta khi ta tỏ ra không tôn trọng, quý mến, không hết lòng với họ không? Do đó, câu nói trên của Gioan Tẩy Giả là một lời soi sáng rất cần thiết và ích lợi cho ta. Ta cần khai triển câu nói ấy.
2. «Sửa lối cho thẳng để người đi»
Muốn đời sống tâm linh vững vàng để có thể phát triển lên cao, điều hết sức quan trọng là tâm hồn ta phải thật ngay thẳng. Khi làm nhà, người thợ phải xây tường và cột cho thật thẳng đứng. Nếu chúng bị nghiêng, cong, vẹo, thì tòa nhà sẽ không vững: khi bị chấn động, nhà có thể sập đổ. Tòa nhà tâm linh của ta chỉ có thể vững bền và xây lên cao vút nếu nó được xây bằng tấm lòng thẳng băng, những ý tưởng ngay chính, những tâm tình chân thật, không gian dối, quanh quéo, nhiều ẩn ý…
Tâm hồn ngay thẳng là tâm hồn không gian dối. Lòng nghĩ thế nào thì bên ngoài lộ ra thế ấy, không giả bộ, giả hình, đóng kịch. Tâm hồn ngay thẳng là một tâm hồn luôn tôn trọng sự công bằng đối với mọi người, không xử bất công với tha nhân, không để người khác thiệt thòi vì mình. Luôn luôn minh bạch và sòng phẳng về tiền bạc, ơn nghĩa. Người nào đáng khen thì khen ngợi thành thật, không chấp nhận nịnh nọt, bợ đỡ. Thấy người khác hơn mình thì mừng cho họ, không ganh tị, dèm pha hay tìm cách phê bình giảm giá họ. Không chấp nhận những lợi lộc bất chính, không mong được hưởng nhiều hơn những gì mình xứng đáng. Không chấp nhận những phương tiện bất chính hay bất minh để đạt cho được mục đích của mình, v.v… Người ngay thẳng làm việc gì cũng «đường đường chính chính» mà làm. Người ta thường dùng từ ngữ «con người đàng hoàng» để chỉ những con người ngay thẳng, công chính.
3.  Để sống ngay thẳng
Một trong những động lực quan trọng giúp ta sống ngay thẳng mà cũng có thể thúc đẩy vào những con đường quanh co uẩn khúc là những hoài bão, tham vọng, ước muốn cá nhân của ta. Đó là những động lực tự nhiên rất mạnh có thể thúc đẩy ta tìm cách đạt được mục đích đang nhắm đến với bất cứ giá nào. Hoài bão, ước muốn là điều rất tự nhiên trong lòng mỗi người. Tuy nhiên:
– Có những hoài bão hay ước muốn cao thượng, tốt lành, vị tha, chúng là những động lực quý giá nâng cao tâm hồn ta, thúc đẩy ta sống cao thượng, dẫn ta đi trên những con đường ngay thẳng. Người không có những hoài bão hay ước muốn cao thượng khó vượt lên khỏi nếp sống tầm thường của đại đa số con người. Các vị thánh, các vĩ nhân trên thế giới đều là những người có những hoài bão lớn, những ước muốn lớn tốt đẹp, vị tha, chúng thúc đẩy các vị vượt qua mọi trở ngại, khó khăn, yếu đuối để sống một cuộc sống cao đẹp.
– Cũng có những hoài bão hay ước muốn thấp hèn, vị kỷ, muốn «cái tôi» của mình được đề cao, được vinh quang, được hơn hẳn mọi người. Khi những hoài bão hay ước muốn này mạnh mẽ, chúng sẽ thúc đẩy ta vượt qua mọi trở ngại để đạt được mục đích bằng bất cứ phương tiện nào, bất kể tốt xấu. Chúng có thể dẫn ta đi vào những đường lối không ngay thẳng, và làm cho lòng ta quanh quéo, ẩn khúc.
Vì thế, muốn đi đường ngay, muốn cho lòng của ta luôn luôn thẳng, ta phải từ bỏ những tham vọng cá nhân, những ham muốn ích kỷ. Muốn dẹp bỏ những tham vọng cá nhân, những ham muốn ích kỷ, muốn chúng không tự nhiên phát sinh trong lòng ta, ta phải coi thật nhẹ chính «cái tôi» của mình và những gì thuộc về nó. Đó cũng chính là thực hiện việc «từ bỏ chính mình» (Mt 16,24), một điều kiện quan trọng nhất để theo Chúa mà khá nhiều người mang danh theo Chúa chẳng quan tâm đến. Đó chính là «mang lấy ách» Đức Giêsu (x. Mt 11,29-30): hãy mang lấy «ách» này khi tâm hồn chúng ta mỏi mệt vì những gánh nặng của tham vọng cá nhân. Khi bỏ đi những tham vọng cá nhân, tâm hồn ta sẽ luôn luôn bình an, nhẹ nhàng, thoải mái. Nếu biến những tham vọng cá nhân thành những hoài bão vị tha, muốn phục vụ và đem lại hạnh phúc cho tha nhân, thì rất nhiều điều tốt đẹp sẽ đến với ta. Lúc đó có khi ta lại đạt được những điều mà những kẻ đầy tham vọng cá nhân có nỗ lực bao nhiêu cũng không đạt được. Lúc đó ta mới cảm nghiệm được câu «được gấp bội ở đời này» (Lc 18,30) mà Đức Giêsu hứa cho những ai thật sự theo Ngài.
4.  Sám hối và chịu phép rửa
Sau khi Gioan yêu cầu mọi người «sửa lối cho thẳng» để đón Chúa đến, ông hô hào họ sám hối và chịu phép rửa. Trong bối cảnh này, sám hối là hối hận về lối sống quanh co uẩn khúc của ta trong quá khứ để quyết tâm sống một đời sống mới chân thật, ngay thẳng. Chịu phép rửa bằng nước chỉ là một dấu chỉ bên ngoài của một sự «lột xác» hay «hoán cải» thật sự ở bên trong. Không có sự «hoán cải» này thì phép rửa bên ngoài hoàn toàn vô nghĩa, không có một giá trị tâm linh nào cả. Mọi nghi thức tôn giáo bên ngoài phải luôn luôn đi kèm với một thái độ tâm linh bên trong thì chúng mới có giá trị trước Thiên Chúa.
«Phép rửa» hay sự «lột xác» xảy ra trong nội tâm này phải là sự «từ bỏ chính mình», «chết đi “cái tôi” của mình», và thay thế nó bằng chính Thiên Chúa. Đó phải là một «cuộc đảo chính», một «cuộc cách mạng» trong nội tâm ta. «Cái tôi» của ta cần phải được «hạ bệ», không được coi là quan trọng nữa, không còn làm vua cai trị mọi tư tưởng, hành vi hay ý muốn của ta nữa, mà vị vua cai trị lòng ta phải là Đức Giêsu. Ta không còn làm theo lệnh hay ý muốn của ta nữa, mà theo lệnh truyền và ý muốn của Ngài trong mọi giây phút đời sống ta. Lời của Gioan phải thành hiện thực trong «vương quốc» tâm hồn ta: «Có Đấng quyền thế hơn tôi đang đến sau tôi, tôi không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Người» (Mc 1,7). Thực hiện được như thế, ta sẽ trở thành «con người mới» (Ep 4,24), sống theo «tinh thần mới» (Rm 7,6b). Đó chính là lãnh nhận «phép rửa trong Thánh Thần» (Mc 1,8) mà Gioan muốn nói tới.
CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, Gioan Tẩy Giả đã kêu gọi con «sửa lối cho thẳng» để đón Đức Giêsu đến trong tâm hồn con. Nhưng con cảm thấy lòng con chưa được thẳng. Con vẫn tự hào vỗ ngực xưng mình là người theo Đức Giêsu. Nhưng điều kiện căn bản và chính yếu nhất để theo Ngài là «từ bỏ chính mình và vác thập giá mình mà theo» (Mt 16,24) thì con lại chẳng thực hiện và cũng chẳng quan tâm thực hiện. Ai nói động đến con hay động chạm đến quyền lợi con một chút là con phản ứng rất mãnh liệt. Trái lại, tha nhân chung quanh con có bị thiệt hại, bị áp bức, bị chà đạp thì con chẳng thèm quan tâm, chẳng hề phản ứng gì. Trong con, «danh» và «thực» rõ ràng là trái nghịch nhau. Đó là một sự quanh quéo trong lòng con mà người ngoài có thể thấy được khá rõ ràng. Xin giúp con thành thực với chính bản thân mình, để cái «thực» trong con xứng hợp với cái «danh» của con. Có như thế, con mới có thể đón nhận Đức Giêsu, Con của Cha, vào tâm hồn con cách xứng hợp. Xin giúp con thật sự «từ bỏ chính mình» đúng với bản chất mà một người «theo Chúa» phải có.
 Joan Nguyễn Chính Kết

Vể đầu trang

MV2-B87. Kinh Thánh:  2 Phê-rô 3: 8-14

Chúa Nhật trước chúng ta đã có một bài suy niệm với tư tưởng thần học sâu xa của thánh Phao-lô: MV2-B87

Chúa Nhật trước chúng ta đã có một bài suy niệm với tư tưởng thần học sâu xa của thánh Phao-lô, về Chúa Giê-su là hồng ân Thiên Chúa Cha ban cho nhân loại trong kế hoạch cứu rỗi và về thái độ chúng ta phải sẵn sàng đón nhận hồng ân ấy. Hôm nay Phụng vụ Lời Chúa mượn những lời đơn sơ mộc mạc của thánh Phê-rô Tông đồ để nói về ngày Chúa thống trị sẽ đến và lời ngài nhắn nhủ chúng ta hãy sống thánh thiện để góp phần cho ngày ấy mau đến.
 
a)Ngày của Chúa
            Khi diễn tả Ngày của Chúa, Tân Ước thường sử dụng kiểu nói khải huyền với những hình ảnh biến động của trời đất như lửa bốc cháy, động đất, lũ lụt... là những dấu chỉ nói lên thời gian Chúa Ki-tô quang lâm không còn xa. Thiên Chúa Cha tôn vinh Đức Ki-tô và bắt muôn loài muôn vật phải tuyên xưng Đức Ki-tô là Chúa (Pl 2:11). Cho nên Ngày của Chúa cũng có nghĩa là Ngày của Đức Ki-tô (1 Cr 1:8), tức ngày tận thế và Người sẽ trở lại phán xét mọi người.
            Chắc hẳn thánh Phê-rô cũng nhiều lần phải trả lời thắc mắc của tín hữu: khi nào Ngày của Chúa xảy đến? Câu trả lời của ngài rất thực tế: "Đối với Chúa, một ngày ví thể ngàn năm, ngàn năm cũng tựa một ngày" (3:8). Thánh Phê-rô muốn hiểu thời gian đối với Chúa không tính bằng năm tháng ngày giờ của chúng ta. Nói khác đi, Chúa mới là chủ của thời gian, chứ không phải chúng ta. Cho nên nếu chúng ta nghĩ hoặc đợi chờ Chúa đến hôm nay hay ngày mai, năm này hay năm khác, đó là chúng ta lấy thời gian của chúng ta để ấn định cho Chúa. Rồi lại còn có những người cho là Chúa đã chậm trễ thực hiện lời hứa của Người. Thánh Phê-rô liền giải thích: Không phải Chúa chậm trễ đâu, nhưng Người muốn kiên nhẫn đợi chờ chúng ta hối cải đấy. Cho nên thay vì phàn nàn Chúa thì chúng ta phải cám ơn Người vì Người đã tỏ lòng thương xót, không giáng phạt chúng ta ngay lập tức! Người không muốn để cho bất cứ ai phải mất đi (x. Ga 17:12).
            Như thánh Phao-lô đã từng khẳng định Ngày của Chúa chắc chắn sẽ xảy ra, ở đây Phê-rô cũng lập lại cùng một khẳng định ấy.Thường chúng ta quá chú tâm đến chi tiết không cần thiết nên quên đi thực tại cốt yếu, chỉ để ý về ngày giờ đến nỗi khi thấy không xảy ra như mình muốn thì đâm ra nghi ngờ... Nhắc nhở về ý niệm thời gian của Chúa sẽ giúp đưa chúng ta trở lại với thực tại là thế giới cũ của tội lỗi đang qua đi và Chúa Ki-tô Phục sinh đang xây dựng một thế giới mới. Thánh Phê-rô gọi việc xây dựng thế giới mới này là tạo dựng "trời mới đất mới" (3:13).
 b)Ngày của chúng ta
            Chỉ nghĩ về Ngày của Chúa mà không màng gì đến ngày của chúng ta thì quả thực là điều không thể hiểu được! Suy nghĩ về ngày của chúng ta có nghĩa là phải tự hỏi mình:Thời gian chờ đợi Ngày của Chúa là thời gian của chúng ta, là ngày của chúng ta; vậy trong khi chờ đợi Chúa hoặc trong "ngày của chúng ta," chúng ta phải làm gì? Về phía Chúa, Chúa đã chuẩn bị cho Ngày của Người qua việc sai Con Một Người đến để tạo dựng trời mới đất mới và giúp cho công lý ngự trị.Đức Ki-tô đã đến tiêu diệt thế giới cũ là tội lỗi và sự chết.Người tái lập công lý cho nhân loại, phá bỏ hàng rào cách ngăn giữa Thiên Chúa và loài người. Còn chúng ta, như thánh Phao-lô nói, theo kế hoạch của Chúa, chúng ta được mời gọi "hiệp thông với Đức Ki-tô" (1 Cr 1:9) và để cho mình được biến đổi để trở nên tạo vật mới trong Đức Ki-tô.Đó là cách chuẩn bị cho "ngày của chúng ta." Với thánh Phê-rô, ngài muốn diễn tả chiều hướng tích cực của việc chuẩn bị ấy.Ngài nói: không phải chúng ta chỉ mong đợi ngày của Chúa đến, mà chúng ta còn phải "làm cho ngày đó mau đến." Mong đợi không phải là một thái độ thụ động và không làm gì cả, nhưng là phải tích cực làm tất cả những gì theo khả năng mình để không lỡ cơ hội và ở trong tư thế sẵn sàng.Chuẩn bị chu đáo cho "ngày của chúng ta" tức là giúp cho ngày của Chúa mau đến. Nói khác đi, chúng ta có sứ mệnh phải giúp Chúa Ki-tô tạo dựng trời mới đất mới đang khi chúng ta sống ở trần gian này.Bằng cách nào? Câu trả lời:"Anh em phải cố gắng sao cho Người thấy anh em tinh tuyền, không chi đáng trách và sống bình an" (4:14).
            Hai đặc nét của người Ki-tô hữu chuẩn bị cho ngày của mình là:sống tinh tuyền không chi đáng trách và sống bình an. Lấy Đức Ki-tô, "Con Chiên tinh tuyền," làm mẫu mực, Ki-tô hữu cố gắng hằng ngày thực hiện cuộc hối cải, quay lưng lại với tội lỗi và hướng mặt về Thiên Chúa. Ngoài ra, Đức Ki-tô, "Thái tử bình an," đã thiết lập hòa bình giữa Thiên Chúa và nhân loại, mời gọi chúng ta tiếp tục duy trì hòa bình ấy. Sống bình an không có nghĩa là an vui tự tại, nhưng là sống sự bình an mà thế gian không ban được (Ga 14:27), sự bình an là kết quả do việc Chúa Giê-su hòa giải Thiên Chúa với con người. Sống bình an là tiếp tục duy trì quan hệ giữa chúng ta với Thiên Chúa, đừng để cho tội lỗi làm cho chúng ta trở nên thù nghịch với Thiên Chúa.
Câu hỏi gợi ý chia sẻ
            Thánh Phê-rô luôn nhận ra lòng nhân từ của Thiên Chúa đối với chúng ta: "Người kiên nhẫn đối với anh em vì Người không muốn cho ai phải diệt vong." Điều này giúp tôi khám phá được những gì nơi Thiên Chúa?
            Tôi có thể thấy những dấu chỉ nào để nhận ra "trời mới đất mới, nơi công lý ngự trị"? Tôi có tham dự vào những dấu chỉ ấy không? Nếu có thì tham dự thế nào?
            Theo cùng một chiều hướng trình bày như thánh Phao-lô (đọc tiếp từ câu 15 cho đến hết, thánh Phê-rô nhắn nhủ chúng ta:"Anh em hay lớn lên trong ân sủng và trong sự hiểu biết Đức Giê-su Ki-tô là Chúa và là Đấng Cứu độ chúng ta." Tôi hiểu thế nào về việc "lớn lên trong ân sủng và trong sự hiểu biết Đức Giê-su Ki-tô"?
Cầu nguyện kết thúc
            Sau cầu nguyện bộc phát, nhóm có thể cùng đọc kinh sau đây:
"Lạy Chúa Giê-su, nếu ngày mai Chúa quang lâm, chắc chúng con sẽ vô cùng lúng túng.
Thế giới này còn bao điều khiếm khuyết, dở dang, còn bao điều nằm ngoài vòng tay của Chúa. Chúa đâu muốn đến để hủy diệt, Chúa đâu muốn mất một người nào...
Xin cho chúng con biết cộng tác với Chúa, xây dựng một thế giới yêu thương và công bằng, vui tươi và hạnh phúc, để ngày Chúa đến thực là một ngày vui trọn vẹn cho mọi người và cho cả vũ trụ.
Xin nuôi dưỡng nơi chúng con niềm tin vững vàng và niềm hy vọng nồng cháy, để tất cả những gì chúng con làm đều nhằm chuẩn bị cho ngày Chúa trở lại. A-men."
(Trích lời nguyện 48, RABBOUNI)

Vể đầu trang

MV2-B88.  HÃY DỌN ĐƯỜNG CHO CHÚA

CHÚA NHẬT II MÙA VỌNG, NĂM B
Mc 1, 1-8
 

 Có những con đường thẳng tắp, lại có những con đường ngoằn ngoèo. Dù là con đường nhỏ hay con: MV2-B88

Có những con đường thẳng tắp, lại có những con đường ngoằn ngoèo. Dù là con đường nhỏ hay con đường lớn, con đường nhựa hay con đường đất đỏ, sỏi đá, tất cả những con đường đó đều đưa ta tới một nơi nào đó, một đích điểm nào đó. Đường rất cần thiết để đưa con người tới một đích điểm, một nơi chốn, một mục đích. Thánh Gioan Tẩy giả xưa đã nói: " Hãy dọn đường cho Chúa tới ".
 CON NGƯỜI CỦA GIOAN TẨY GIẢ
Nếu nói một cách nào đó, thánh Gioan Tẩy giả là một con người rất kỳ lạ. Kinh Thánh thuật lại rằng Gioan Tẩy giả chỉ mặc áo lông thú, thức ăn của Người là châu chấu và mật ong rừng. Người sống trong hoang địa, rao giảng sự sám hối, ăn năn. Thánh Gioan Tẩy giả không loan báo để nhân loại đón mừng Chúa Giêsu trong hang đá máng cỏ như dân Do Thái xưa. Người rao giảng sự hối cải để xin được ơn tha thứ. Kinh Thánh viết rằng:" Các tội nhân tuôn đến với Gioan Tẩy giả bên dòng sông Giođan để xin Gioan làm phép rửa và xưng thú tội lỗi để xin ơn tha thứ ". Hàng hàng lớp lớp người, đứng dài để được đến lượt mình lãnh nhận phép rửa dưới nước sông Hòa Giang và qua đó họ xưng thú tội lỗi để lãnh nhận ơn tha tội. Thánh Gioan Tẩy giả đi trước, loan báo nhân loại chuẩn bị đón Chúa. Người rao giảng sự hoán cải. Người không phải là Đức Kitô cho dù Đức Kitô cũng đến xin Gioan Tẩy giả rửa tội cho mình. Người đã tự xác nhận:" Tôi chỉ là tiếng hô trong sa mạc ". hoặc có" Đấng đến sau tôi, nhưng tôi không xứng đáng cởi dây giầy cho Ngài ". Gioan Tẩy giả chỉ làm có một nhiệm vụ duy nhất là dọn đường cho Chúa. Hoán cải theo Gioan Tẩy giả là qui hướng về Chúa, nhìn vào Chúa để thấy mình còn quá khiếm khuyết mà cố gắng vươn lên, cố gắng trở nên hoàn thiện và tốt hơn. Thánh Gioan Tẩy giả đã đề nghị cho nhân loại một con đường đẹp để chuẩn bị cho Chúa đến. Con đường đó là sự từ bỏ, hy sinh, rời xa cái vỏ ốc giam hãm con người trong sự ích kỷ, ươn hèn, tội lỗi mà mở lòng ra để đón chờ Chúa, để tiếp rước Chúa. Muốn đón Chúa, tiếp Chúa, con người hay nhân loại phải bạt những nơi cao, hố sâu phải lấp cho đầy, uốn đường cho thẳng tắp. Có chấp nhận ra khỏi con người tội lỗi, nhân loại hay mỗi người mới có cơ hội tốt để dọn đường cho Chúa đến.
 PHẢI CHỌN LỰA CÁCH NHƯ GIOAN TẨY GIẢ LOAN BÁO
Muốn gặp Chúa, muốn làm đẹp lòng Chúa, nhân loại phải chấp nhận những đòi hỏi, những đề nghị của Gioan Tẩy giả. Hoán cải, trở về với Chúa, với anh em là điều kiện tối cần để con người đón gặp được Chúa. Mùa vọng là mùa cải hóa từ tâm, đổi mới tâm hồn để đón gặp Chúa. Nói một cách nào đó như câu chuyện trong" Hoàng Tử bé "( Petit prince) của Saint Exupéry kể về chú chồn được thuần hóa. Con chồn được thuần hóa đã quanh quẩn với người. Nhưng con người còn quí trọng gấp nhiều lần chú chồn, nên hoán cải là điều kiện căn bản để con người ra khỏi tội lỗi nghĩa là được thuần hóa cách thiêng liêng để trở về với Chúa. Con đường luôn có đó, nhưng nó đòi hỏi con người phải biết đi đúng, biết tránh nơi nào có hố, nơi nào trũng sâu. Và trở nên tiếng kêu như Gioan Tẩy giả trong sa mạc xưa là điều cần thiết để tìm gặp được Chúa. Tiếng kêu sẽ trở thành tiếng vọng tình thương để con người đáp trả lại lời mời gọi của Chúa, của Giáo Hội: nên thánh.
Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con một tấm lòng mở rộng, biết tha thứ, biết yêu thương để chúng con có thể tìm gặp Chúa.
 GỢI Ý CHIA SẺ
1.Vai trò của Gioan Tẩy giả là gì ?
2.Bạn nghĩ gì về:" Hãy bạt lối để dọn đường cho Chúa đến ".
 Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Vể đầu trang

MV2-B89. BÁC CÔNG NHÂN ÁO CAM

CHÚA NHẬT II MÙA VỌNG
Mc 1, 1-8
 

Để ý ra, thấy cũng hay: tuần trước, Chúa nhật thứ nhất, Chúa bảo ta phải làm nhiệm vụ hoàn hảo: MV2-B89

Để ý ra, thấy cũng hay: tuần trước, Chúa nhật thứ nhất, Chúa bảo ta phải làm nhiệm vụ hoàn hảo là một người gác dang. Tuần này, Thánh Gioan lại bảo ta phải làm bác công nhân dọn đường.  Chúa cho Gioan vào đời, bằng một sự can thiệp đặc biệt của Ngài: Vì lúc thụ thai, Mẹ Gioan đã lão lắm rồi. Cứ tưởng Gioan sẽ làm một chức vụ gì to lớn lắm, ai ngờ, trách nhiệm Chúa trao cho ông, lại là một trách nhiệm của một người LÀM ĐƯỜNG.
1- Người làm đường.
Đường làm ra, là để đi. Ai cũng muốn đường bằng phẳng và nhẵn nhụi. Con đường nào mà thủ tướng, hay vua chúa sắp đi qua, thế nào cũng được sửa chữa vội vã cho đẹp. Cao cả hơn tất cả mọi vua chúa, hoàng đế, thủ tướng trần thế, chính Thiên Chúa cao cả quyền năng sắp sửa bước vào trần gian. Thánh Gioan được sai đến để làm nhiệm vụ cao cả, là dọn đường cho Ngài. Nhưng Thiên Chúa đến, không phải để tham quan hay đi thị sát mặt trận. Ngài cũng chẳng đến để đặt viên đá đầu tiên cho một công trình hoành tráng nào. Ngài đến là để cứu độ con người, thì con người phải mở rộng cánh cửa tâm hồn, để Ngài có thể vào. Cho nên, Thánh Gioan được sai đến là để đi trước, giục giã mọi người sửa đường. Con đường dẫn vào cõi lòng, là con đường vô hình nhưng có thật. Cũng chính vì vậy, Thánh Gioan không phải là người làm đường đúng nghĩa, mà thực ra, ông chỉ là bộ trưởng bộ giao thông vận tải. Ông đưa ra cho mọi người những chỉ đạo cần thiết, và những phương pháp tối ưu, để mọi người công nhân áo cam biết cách phải làm gì.
2- Người làm đường đích thực.
Vì là con đường vô hình, nên con đường ấy, là con đường riêng của mỗi người. Cho nên, chỉ một mình người ấy mới có thể sửa được đường ấy mà thôi. Nhìn lại, chợt giật mình! Không ngờ, con đường tâm hồn của mình lại xấu đến thế! Những gian dối, những mưu đồ, làm đường tâm hồn của mình thật cong queo. Khó sửa lắm đấy. Những chấp nhất, những giận hờn, những thù hận, làm đường hồn mình có quá nhiều ổ gà, tạo nên những khoảng không xa cách to lớn. Những tự ái, những kiêu ngạo, làm con đường đi vào cõi lòng, quả thật khó đi. Người làm đường mệt đấy; bở mồ hôi hột đấy. Phải đào, phải bạt, phải khiêng, phải nghiến răng cố gắng, mới hi vọng có được một con đường đẹp. Khó và mệt, nhưng nếu muốn Thiên Chúa cứu độ đời mình, thì phải có quyết tâm và cố gắng thật nhiều, chứ biết làm sao được.
Gợi ý suy niệm:
1- Bạn xem lại coi, con đường tâm hồn bạn đẹp hay xấu?
2- Bạn đã chuẩn bị xắn tay áo, để sẵn sàng sửa đường chưa?
 Lm Đaminh Đỗ Văn Thiêm Long Xuyên

Vể đầu trang

MV2-B90: Chân dung Gioan Tẩy Giả

(Suy niệm của P. Trần Đình Phan Tiến)
Thưa quý vị, thưa các bạn.
 

Chân dung là hình ảnh thật của chính người đó. Hình ảnh là sự họa lại rõ nét con người, nhân vật đó.: MV2-B90

Chân dung là hình ảnh thật của chính người đó. Hình ảnh là sự họa lại rõ nét con người, nhân vật đó. Nhưng, chân dung thật sự có ý nghĩa, có giá trị chính là ở phần khuôn mặt, chi tiết là khuôn mặt thật. Nếu thiếu chi tiết nầy, thì không gọi là chân dung. Vì không ai gọi là chân dung, nếu thiếu đi phần gương mặt. Vậy, khi nói đến chân dung, người ta biết được là hình ảnh của ai đó, có gương mặt. (đó là nghệ thuật chụp hình)
Chân dung của Vị Tiền Hô của Đấng Cứu Thế được thánh sử Marco ghi lại thì không có “mặt, mũi” rõ nét, vì đây không phải nghệ thuật chụp hình, cũng không phải hội họa, mà là cách hành văn, gọi là “tả văn.
Vâng, cách hành văn của thánh sử Marco hôm nay cho chúng ta một “chân dung”, một “tính cách” của một con người, được đảm nhận sứ vụ Tiền Hô cho Đấng Cứu Thế.
Vâng, “Có tiếng người kêu trong hoang địa: Hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối ngay thẳng để Ngài đi” (Mc 1, 3).
Vâng, Tin Mừng hôm nay, Chúa Nhật II MV (B) cho chúng ta thấy, Đấng Cứu Thế Giêsu – Kitô, khi từ trời xuống thế, mặc lấy nhân tính để thực thi Thiên Ý được tiền định, để cứu độ nhân loại. Dù từ lúc hạ mình sinh xuống trong máng cỏ Bê-lem, thì Người đã bắt đầu chu toàn Thập Giá. Vì, Thập giá máng cỏ là khởi sự cho Thập giá Golgotha. Như vậy, chân dung thánh Gioan Tiền Hô hôm nay cũng là chân dung Tiền Hô cho Đấng Cứu Thế kế tiếp. Vì chân dung của một vị Tiền Hô là một chân dung nhiệm nhặt, vì: “Ông Gioan mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da thú, ăn châu chấu và mật ong rừng” (c 6). Rõ ràng, chân dung của Vị Tiền Hô thật ngắn gọn, đơn giản. Nhưng, nói lên được sự nhiệm nhặt, sự khắc khổ của một vị ẩn sĩ. Vị ẩn sĩ Tiền Hô không làm lu mờ hình ảnh Đấng Cứu Thế, trái lại, chân dung ấy làm sáng tỏ chân dung Đấng Cứu Thế Giêsu- Kitô, bởi tính cách Gioan Tẩy Giả, là vị Tiền Hô đích thực cho Đấng Cứu Thế. Vì, Ông rao giảng rằng: “Có Đấng đến sau tôi, nhưng quyền thế hơn tôi, tôi không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Người” (c 7). Ông không mạo nhận mình là Đấng Cứu Thế, không lợi dụng vai trò được giao, như vậy sự trung tín, sự chân thật, sự khiêm tốn của Gioan Tiền Hô nói lên tính cách Tiền Hô cho Đấng Cứu Thế, thật là tuyệt vời. Vâng, Gioan Tiền Hô cũng là Gioan Tẩy Giả, Ông đảm nhận Sứ Vụ Tẩy Giả cho đoàn dân, và cũng chính Ông đảm nhận sứ vụ Tẩy Giả cho Đấng Cứu Thế nữa. Nhưng con người thật của Gioan là trung tín với “ơn gọi” của mình một các xác quyết và đúng vị trí. Vì Ông nói: “Tôi đã làm phép rửa cho anh em nhờ nước; còn Người, Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần” (c 8).
Như vậy là quá rõ, chân dung của Vị Tiền Hô Gioan, đồng thời là Vị Sứ Giả của Đấng Cứu Thế, chính là Vị Tẩy Giả đoàn dân bằng nước. Chính là rửa sạch sự bất xứng, để cải tà quy chánh, sám hối ăn năn, nhưng chưa ban được Thánh Thần, Đấng là nguồn sự sống.
Theo đó, chỉ có ba câu trong đoạn Tin Mừng (Mc 1, 1-8), từ câu 6 – 8 nói lên được tính cách, vai trò, sứ vụ của Vị Tiền Hô, cũng là nói lên được chân dung của Gioan Tẩy Giả, một Vị ngôn sứ đích thực của Thiên Chúa. Vì, chiếu theo lời đã chép trong sách ngôn sứ Isaia: “Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con” (c 2)
Như vậy, sứ giả của Thiên Chúa chính là Gioan Tiền Hô, một nhân vật, một tính cách. Một sự thể hiện đức tính “tu” của một phàm nhân làm chứng cho Tin Mừng cứu độ.
Khởi đi từ bài đọc I hôm nay (Is 40, 1-5; 9-11), cho chúng ta một chân dung Tiền Hô thật sự từ ngàn xưa, để minh chứng Đấng Cứu Thế sẽ đến và cứu độ nhân loại bởi: “Bàn tay của Thiên Chúa đã tha thứ gấp hai lần tội lỗi thế nhân” (Is 40, 1b).
Bài đọc II, thư thánh Phê-rô (2Pr 3, 8-14) cho chúng thấy một quang cảnh tràn đầy mùa vọng. Một mùa vọng “… mong đợi trời mới, đất mới, nơi mà công lý ngự trự (c 13). Đoạn nầy thánh Phê-rô cho chúng ta một sự dẫn giải đầy đủ và tròn đầy mùa vọng đích thực. Thánh Phê-rô cho chúng ta biết, Thiên Chúa là Đấng kiên nhẫn, không muốn cho ai diệt vong. Nhưng, khi giờ của Chúa đến như kẻ trộm và sẽ dùng lửa (tức Thánh Thần) mà tiêu hủy hết, kể cả các tầng trời và ngũ hành. Như vậy, rõ ràng tầng trời và các ngũ hành mà con người biết được, cũng chính là những hành tinh, là vật thụ tao bởi tay Thiên Chúa. Muôn vật phải tiêu tan, huống hồ chi là con người. Như vậy, sự còn lại của con người là gì? Há, chẳng phải ân sủng của Thiên Chúa, ơn cứu độ của Đức Giêsu-Kitô sao?
Thánh Vịnh 84 hôm nay, cho chúng ta biết việc cầu xin ơn hoà bình: “Tội dân được Chúa tha rồi. Bao nhiêu tội lỗi tay Ngài thứ tha” (c 3). Rõ ràng ân phúc từ trời cao, từ nơi Thiên Chúa tuôn trào xuống dân.
Rõ ràng, tuần thứ II mùa vọng cho chúng ta một hình ảnh khắc khổ, nhiệm nhặt của một sứ giả Đấng Cứu Thế, một sự kêu gọi sám hối từ chính bản thân ngài, là Gioan Tiền Hô. Theo đó, Giáo Hội mở đầu cho một năm Thánh Hiến, là thời gian dành cho những người tu trì nói riêng và tất cả mọi Kitô hữu nói chung. Như vậy, mẫu gương đẹp theo sau Đức Kitô không gì khác là “Gioan Tiền Hô”, một mẫu gương cho đời sống Thánh Hiến của Giáo Hội.
Lạy Chúa Giêsu, con người mà Chúa khen trong phàm nhân chính là Gioan Tiền Hô, một chân dung mà có một cuộc sống chân thật và để làm chứng cho sự thật. Xin cho mỗi người chúng con biết sống theo gương của Vị Tiền Hô, hầu xứng đáng là những vị tiền hô của Chúa cho nhân thế. Amen.

Vể đầu trang

MV2-B91:  Đón nhận Đức Kitô trong niềm vui

(Văn Chính, SDB chuyển ngữ)
 

Một linh mục trẻ mới chịu chức được gởi đến giúp phụ tá cho một vị cha xứ già tại một giáo xứ : MV2-B91

Một linh mục trẻ mới chịu chức được gởi đến giúp phụ tá cho một vị cha xứ già tại một giáo xứ nọ. Khi đến nơi, vị linh mục trẻ đến chào vị linh mục già và xin ngài những lời khuyên cho công việc mục vụ của mình tại đây: “Thưa cha, con nên giảng về những vấn đề gì?”. Vị linh mục trả lời: “Chỉ giảng khoảng 10 phút thôi”. Vài năm trước đây, tôi đến một giáo xứ tại Pháp để giúp mùa hè, và lời khuyên duy nhất của vị cha xứ tại đó cho tôi cũng là nên giảng và cử hành Thánh lễ ngắn bao có thể vì dân chúng tại đây chẳng có nhiều thời gian. Tôi đã làm theo lời khuyên này. Thế nhưng điều làm tôi thực sự ngạc nhiên là khi được nghe một ban hợp xướng từ Anh quốc đến và trình diễn bài Messia của Handel. Buổi trình diễn được tổ chức ngay tại nhà thờ của giáo xứ, và sau 3 tiếng đồng hồ trình diễn, nhiều người vẫn xin yêu cầu trình diễn thêm. Thú thật, tôi chưa bao giờ nhìn thấy sự vui tươi hơn thế trên khuôn mặt của những người tham dự trong nhà thờ hôm đó, cũng như chưa bao giờ nhìn thấy sự nhiệt tình hơn thế nơi họ. Sau đó, tôi đã hỏi cha xứ: “Làm sao bà con tín hữu lại có thể ngồi yên một chỗ trong hơn 3 tiếng đồng hồ để chăm chú lắng nghe ban hợp xướng với niềm vui như thế, trong khi họ lại chẳng có thái độ tương tự khi lắng nghe Lời Chúa trong thánh lễ? Vị cha xứ chẳng trả lời được.
Vài năm sau, tôi đã có được câu trả lời từ một người bạn hiện đang dạy tại trường giáo lý, và những gì anh nói đã giúp soi sáng cho tôi. Anh nói người ta cần có kinh nghiệm về Thiên Chúa trong cuộc sống của họ trước khi họ có thể lắng nghe Lời Chúa trong niềm vui. Anh cho rằng việc loan truyền Lời Chúa cho những người chưa biết Chúa phải lưu ý tới mối tương giao cá nhân của họ với Chúa, vì người mà chẳng có mối tương giao cá nhân với Thiên Chúa thì cũng tựa như đọc thơ cho một người mà chẳng biết gì về thơ văn cả. Khi ấy, họ sẽ dễ dàng chán và chỉ muốn bỏ đi ngay. Vậy thì, làm thế nào để giúp người ta đi từ tâm trạng chán ngán khi nghe Lời Chúa đến tâm trạng vui tươi và hứng khởi khi nghe Lời Chúa? Với Lời Chúa trong Chúa nhật hôm nay, thánh Gio-an Tẩy Giả đã đưa ra cho chúng ta một mẫu gương.
Khi chúng ta đọc Tin Mừng hôm nay: “Có Lời Thiên Chúa phán cùng con ông Da-ca-ri-a là ông Gio-an trong hoang địa. Ông liền đi khắp vùng ven sông Gio-đan, rao giảng, kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội” (Lc 3,2-3). Trong đoạn văn ngắn này, chúng ta thấy có 3 bước cần thiết để giúp một người đi từ tình trạng lãnh đạm đến tình trạng nhiệt tình trong niềm tin. Ba bước đó là (1) Gio-an đi vào hoang địa, (2) Lời của Chúa đến với ông, và (3) Gio-an bỏ rời hoang địa và đi rao giảng niềm tin. Mỗi người chúng ta cũng phải đi qua ba bước này để đạt đến tình trạng khởi sự sống niềm tin của mình trong niềm vui.
Bước 1: Đi vào Hoang địa. Hoang địa là nơi mỗi người sống một mình với Thiên Chúa. Vào hoang địa nghĩa là bỏ đi những công việc, những bận tâm lo toan thường ngày để gặp gỡ Thiên Chúa trong cầu nguyện, trong việc đọc và suy niệm Lời Chúa. Hoang địa là nơi chúng ta gặp gỡ Thiên Chúa. Chính bản thân mỗi người chúng ta phải làm bước đầu tiên này: đi vào hoang địa, tìm kiếm và gặp gỡ Thiên Chúa.
Bước 2: Để Lời Chúa đến với chúng ta. Một khi chúng ta mở lòng ra với Thiên Chúa trong hoang địa, thì chính Thiên Chúa đến và chiếm ngự tâm hồn chúng ta. Có một vị thánh nói rằng khi chúng ta bước 1 bước để đến với Thiên Chúa, thì chính Người lại bước 2 bước để đến với chúng ta. Với bước thứ 2 này, Thiên Chúa đã có sáng kiến đến với chúng ta, chiếm ngự tâm hồn chúng ta, canh tân đổi mới chúng ta, tô điểm lại hình ảnh của Người nơi chúng ta mà chúng ta vốn được tạo dựng nên giống thế. Một số người gọi đây là việc được “tái sinh”. Khi những việc này xảy ra, chúng ta có thể ở lại một mình với Thiên Chúa cả ngày trong nhà thờ để cầu nguyện, để gặp gỡ Thiên Chúa qua Lời của Người trong Kinh Thánh. Thế nhưng giống như Gio-an Tẩy Giả, chúng ta còn phải tiếp tục sống và thực thi những bổn phận của chúng ta trong gia đình và xã hội nữa.
Bước 3: Rao truyền Niềm tin của mình. Khi đã trải nghiệm những điều tốt lành từ Thiên Chúa trong cuộc sống, chúng ta lại muốn chia sẻ những trải nghiệm này với người khác. Lúc ấy, chúng ta giống như người mặc một chiếc áo “pun” có ghi dòng chữ lớn trên lưng “Wow, Thiên Chúa thật vĩ đại!” để mọi người có thể nhìn vào và cảm nhận được niềm vui, sự an bình tỏa ra từ chúng ta, và rồi họ cũng muốn được nên giống chúng ta, được trở thành bạn hữu của chúng ta. Tiếp đến, chúng ta có thể chỉ họ họ thấy con đường đến với hoang địa để nơi đó, họ cũng được gặp gỡ chính Thiên Chúa. Trải nghiệm về Thiên Chúa cũng tựa như trải nghiệm về tình yêu. Bạn có thể nói cho người khác về tình yêu, nhưng có không thể hiểu được nó cho tới khi chính bản thân họ trải nghiệm.
Trong lời Tổng nguyện của lễ Chúa nhật, chúng ta thưa lên với Thiên Chúa: “Lạy Thiên Chúa toàn năng ái tuất, xin mở rộng tâm hồn chúng con để đón mừng Con Chúa. Xin hãy loại bỏ những gì cản trở chúng con đón nhận Đức Ki-tô trong niềm vui.” Để được như thế, trong Mùa Vọng này, chúng ta cần thực hiện bước thứ 1 để dành cho Thiên Chúa một chỗ trong tâm hồn chúng ta, dành thời gian để cầu nguyện, tham dự Thánh lễ và lắng nghe Lời Chúa.

Vể đầu trang

MV2-B92: Hãy dọn đường đón Chúa

(Suy niệm của Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm)
 

Chúa đã tới và đang tới. Lời Chúa mời gọi con người hãy chuẩn bị để đón Chúa. Hãy dọn đường cho: MV2-B92

Chúa đã tới và đang tới. Lời Chúa mời gọi con người hãy chuẩn bị để đón Chúa. Hãy dọn đường cho Chúa, lấp những chỗ trũng, san bằng những gập ghềnh, để Chúa ngự đến.
1. Chúa đang tới
Chúa tới thăm dân Ngài đang bị lưu đày nơi đất khách quê người. Chúa tới thăm, nghĩa là, Ngài tới để giải thoát họ khỏi cảnh cùng cực. Họ được trở về quê hương. Chúa luôn là Đấng đem niềm vui, hạnh phúc cho dân Ngài. Tin Chúa tới thăm, là tin mừng cho tất cả con dân Ngài.
Con người với bao nỗi khổ, bận tâm, lo lắng. Lo lắng bận tâm cho gia đình với những nhu cầu vật chất và tinh thần. Bận tâm về tương lai và sự nghiệp của mình và của những người thân. Dường như ngày nào cũng có nỗi khổ riêng của ngày đó. Ai có thể giúp mình thoát khỏi những bận tâm khổ não như vậy?
Thiên Chúa là Đấng yêu thương con người. Ngài luôn muốn con người sống bình an hạnh phúc. Ngài có cách giúp con người được hạnh phúc. Ngài đang tới. Ngài tới để an ủi dân Ngài, để giải phóng dân Ngài. Ngài tới để giải phóng mỗi người khỏi khổ não mà mỗi người đang mang vác.
2. Hãy dọn đường cho Chúa tới
Hãy dọn đường cho Chúa tới. Đây là lời mời cho những người sẵn sàng đón nhận Thiên Chúa vào đời mình. Hãy bạt những gập gềnh, sửa những chỗ quanh co. Để Thiên Chúa ngự tới. Khi mỗi người làm điều này, Thiên Chúa đã đang ở với họ rồi. Chính Thiên Chúa giúp họ có đủ can đảm và sức mạnh để vượt trên chính mình, để bỏ tự ái, để đến với người khác.
Hãy cho Chúa một cơ hội, sẽ thấy bên Ngài, người ta tìm được bình an và hạnh phúc. Hãy để Ngài biến đổi mình, để Ngài lo cho những lo lắng của mình, để Ngài săn sóc những người thân và tương lai họ giúp mình. Hãy cho Ngài cơ hội để Ngài giới thiệu về Ngài, để thấy được Ngài thương mình đến độ nào.
Không dọn đường, Chúa vẫn tới, và Ngài vẫn tìm cách để tới với mỗi người. Tuy vậy, nếu mình không đồng ý, thì Chúa vẫn không làm gì được. Ngài luôn là Đấng có sáng kiến để mời gọi mình, để chinh phục mình bằng tình yêu, nhưng con người luôn tự do để từ chối. Mà khi con người từ chối, Thiên Chúa vẫn không chịu thua vì Ngài yêu mình. Ngài tìm cách khác để tiếp cận, làm quen và cảm hóa mình. Ngài luôn có sáng kiến để yêu mình.
3. Thiên Chúa đến với con người qua Đức Yêsu
Đức Yêsu sẽ được sinh ra. Đây là người rất đặc biệt, là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình, là Đấng Thiên Chúa nói với con người, Ngài là Lời của Thiên Chúa cho con người. Ngài rất khiêm tốn, không ai biết Ngài để đón tiếp long trọng. Thân phận của Ngài là thân phận của mỗi người chúng ta. Ngài rất đặc biệt, nhưng khi Ngài còn tại thế, khó có ai biết sự thật về chính Ngài.
Yoan đã được sai đến để chuẩn bị cho Ngài. Yoan giúp dân trở về với Thiên Chúa, để có thể đón nhận Đấng Thiên Sai. Chính Yoan cũng phải tìm kiếm để biết Đấng đó là ai. “Ngài có phải là Đấng phải đến, hay chúng tôi phải chờ Đấng khác?” Đấng phải tới đó, Yoan không đáng cúi xuống cởi dây giầy cho Ngài, nhưng Ngài quá âm thầm đến độ chính Yoan cũng khó biết.
Chúa đã đến. Ngài cũng đang đến với con người. Hãy tỉnh thức và nhạy bén để nhận ra Ngài. Ngài không chỉ đến vào ngày cánh chung và vào giờ chết của mỗi người, nhưng Ngài còn đến với mỗi người từng ngày một cách dễ thương. Hãy tỉnh thức để nhận ra Ngài. Hãy mời Ngài vào lòng mình, để Ngài an ủi, để Ngài lo lắng, để Ngài giúp mình trong mọi chuyện, để mình có thể an nghỉ. Hãy phó thác tất cả cho Ngài. Ngài sẽ làm tất cả, vì Ngài yêu thương mình.
Câu hỏi gợi ý chia sẻ
1. Tuần qua, Chúa có tới với bạn không? Qua trung gian nào?
2. Hôm nay, bạn làm gì để đón Ngài?
3. Xin bạn kể một kinh nghiệm Chúa đến mang niềm vui và bình an cho bạn, nếu được.

Vể đầu trang

MV2-B93: Mở đường để làm gì? Đường dẫn tới đâu?

(Suy niệm của Lm. Giuse Đỗ Đức Trí)
 

Trong những năm gần đây, để phát triển kinh tế đất nước nhiều con đường đã được giải tỏa để mở: MV2-B93

Trong những năm gần đây, để phát triển kinh tế đất nước nhiều con đường đã được giải tỏa để mở rộng, nhiều ngôi nhà đã phải đập bỏ hoặc cắt bớt cho thông thoáng chẳng hạn như đường quốc lộ ngang qua nhà thờ chúng ta đây. Nhiều con đường mới, cây cầu mới được mở ra nối liền các vùng miền, làm cho việc đi lại thuân lợi, vận chuyển hàng hóa dễ dàng và việc đi đến với nhau cũng thuân lợi hơn. Không những thế, người ta còn muốn mở những con đường cao tốc, siêu tốc ví dụ đường cao tôc Trung lương, và chính phủ còn đang mở đường siêu tốc Sài Gòn- Giầu Dây là con đương vận chuyển hàng hóa như boxit, và giảm thời gian đi lại xuống nhiều lần. Dĩ nhiên để có thể gọi là đường siêu tốc, người ta sẽ phải rào chắn đề tránh tối đa tình trạng buôn bán lấn chiếm lề đường, gỡ bỏ tất cả những công trình không phù hợp hoặc làn giảm tâm nhìn, giảm bớt tối đa các ngã ba ngã tư để cho việc lưu thông dể dàng. Không chỉ có những con đường nhằm phát triển kinh tế xã hội, người ta cũng làm những con đường để đón Thủ tướng hoạc Chủ tịch nước về thăm quê hoăc đến thăm một vùng nào đó như thế.
Thưa quý OBACE, hôm nay Lời Chúa của Chúa nhật II mùa vọng cũng đề cập đến vấn đề giải tỏa và làm đường, đây không phải là những con đường quốc lộ, mà là giải tỏa và làm những con đường đi vào trong tâm hồn, con đường đón Chúa đến và đến với Chúa cũng như con đường đến với anh em.
Hình ảnh và lời kêu gọi của Isaia phát xuất từ một thực tế lúc ấy, dân Israel đang chịu cảnh nô lệ, con đường trở về quê dường như xa thẳm và không còn hy vọng, khoảng cách này bị ngăn cản không chỉ bởi sa mạc Arập, mà khoảng cách này còn là khoảng cách trong lòng của họ, khi mà Israel đã lìa xa Thiên Chúa không còn tuân giữ giao ước của Ngài, họ chạy theo lối sống dân ngoại và thay vì cậy dựa vào quyền năng của Thiên Chúa thì họ lại cây dựa vào những liên minh chính trị. Con đường càng trở nên mịt mù hơn khi Israel đã rơi vào tuyệt vọng và nghĩ rằng chắc Chúa đã quên chúng tôi rồi! Trong bối cảnh như thế, Isaia là người đầu tiên chỉ ra và khai thông cho họ con đường hy vọng, hy vọng vào tình thương của Thiên Chúa, hy vọng vào lời hứa cứu độ của Thiên Chúa, khi nhấn mạnh rằng đã đến lúc Thiên Chúa nhìn đến Israel và phục hồi họ, Đấng Cứu độ sẽ đến với họ và sẽ giải phóng họ khỏi cảnh nô lệ nhục nhã.
Tuy nhiên để đón Ngài đến, cần phải mở một con đường, không chỉ là con đường trong sa mạc Arâp, mà là con đường trong sa mạc tâm hồn để đón Thiên Chúa đến. Nơi cao, hãy bạt xuống, thung lũng hãy lấp cho đầy, con đường quanh co hãy uốn cho ngay thẳng, con đường gồ ghề hãy san cho bằng, vì vinh quang của Đức Chúa sẽ tỏ hiện. Đó là một Đức Chúa hùng dũng uy phong song cũng là một Đức Chúa gần gũi yêu thương, Ngài sẽ đem lại hòa bình và hy vọng cho mọi dân mọi nước. Lời của Isaia hôm nay hẳn là một lời tiên báo mang bao niềm vui và hy vọng cho dân Israel, phác họa lên một sự nhộn nhịp, khẩn trương chuẩn bị của hết mọi người chờ đợi Chúa.
Khi Gioan Tẩy giả xuất hiện, một lần nữa lời mời gọi chuẩn bị, dọn đường càng khẩn thiết cấp bách hơn qua lời kêu gọi mạnh mẽ của ông: Có tiếng kêu trong hoang địa hãy dọn sẵn con đường của Đức Chúa, mở lối cho thẳng để Người đi. Gioan không chỉ là người mở đường cho Chúa đến với người khác, mà trước tiên ông là ngời đã mở đường để Chúa đến với ông. Thánh Maccô đã muốn nhấn mạnh điều đó khi giới thiệu về Gioan như một tấm gương sống mùa vọng. Trong lúc mọi người đi tìm một cuộc sông xa hoa và giàu sang thì Gioan lại chọn một cuộc sống thanh đạm giũ bỏ mọi ràng buộc của vật chất, lui vào hoang địa, để mình ông sống thân mật gặp gỡ Thiên Chúa trong cầu nguyện, giửa lúc mọi người đang tìm cách hương thụ, thì Gioan lại chọn ăn chấu chấu và uống mật ong rừng. Con đường trong tâm hồn của Gioan không phải là con đường một chiều mà là con đương hai chiều từ Chúa vào trong tâm hồn ông và từ trái tim ông đến với Chúa. Từ đó cho ông một cái nhìn rất chinh xác về thiên Chúa Đấng ông giới thiệu và cái nhìn chính xác về con người ông. Dù nhiều người kéo đến với ông, dù người ta coi ông như là đấng cứu thế, nhưng ông không bị choáng ngợp trong những lời ca tụng, mà ông vẫn nhìn nhận rằng: Tôi không phải là đấng Cứu Thế, có Đấng quyền năng hơn tôi đang đến sau tôi tôi không đang cúi xuống cởi dây dép cho Ngài.
Khi đã đón được chúa đến với mình, Gioan là người đem Chúa đến cho người khác bằng việc kêu gọi mọi người sám hối, lãnh phép rửa để được ơn tha tội, ơn xót thương. Gioan đã cho dân chúng thấy rằng đây là thời gian, là cơ hội Chúa gia hạn cho hết mọi người, bất cứ ai có một lòng thành tâm sám hối, quyết quay trở về với Thiên Chúa, thì sẽ được tha thứ. Sám hối là phài chấp nhận một sự quay đầu trở lại, một quyết tâm thay đổi dứt khoát, một thái độ hối hận sâu xa, và một quyết tâm sửa chữa sai lầm và sống tốt hơn, hay nói cách khác, để có thể đón Chúa đến trong tâm hồn và trong cuộc đời, cần phải thay đổi từ suy nghĩ đến hành động, từ lời nói đến việc làm trong khiêm tốn.
Thánh Phêrô trong bài đọc hai cho thấy Thiên Chúa không muốn ai trong nhân loại phải bị tiêu diệt đời đời, vì thế Ngài luôn kiên nhẫn và cho mỗi người có cơ hội để làm lại cuộc đời trở nên tốt hơn, sống đạo đức hơn, sống thánh thiện hơn. Vì ngày Chúa đến sẽ là ngày bất thình lình như kẻ trộm ban đêm, một khi mọi người đã chuẩn bị sẵn sàng thì dù đất trời có xụp đổ, dù bão tố có trào dâng, thì – Thánh Phêrô nhấn mạnh- anh em hãy cố gắng sống sao cho Người thấy anh em tinh tuyền không gì đáng trách và sống bình an.
Thưa quý OBACE, mở đường băng qua nhà hàng xóm thì dễ còn băng qua nhà mình thì không dễ, người ta rất dể đồng ý khi những nhà phía bên kia đường phải giả tỏa, còn nhà mình không bị giái tòa. Cũng thế, người ta dể dàng nhìn thấy những sai lỗi của anh em và muốn anh em mình phải thay đổi trong khi chính mình lại không chịu thay đổi, mình cứ muốn bảo vệ quan điểm của mình dù biết là nó không đúng, và loại trừ ý kiến quan điềm của người khác, người ta dễ dành chỉ trích anh em hơn là tim hiểu để thông cảm. Con đường khó mở nhất là con đường đi vào trong căn nhà tâm hồn của mình, vì khi mở con đường này phải chấp nhận đập bỏ những thói quen cũ, những lô cốt kiêu căng và cái tôi ích kỷ, phải uốn nắn lại cách làm ăn gian dối hoặc cách sống giả hình, đế con đường có thể đứa chúng ta đến với Chúa và với anh em.
Con đường cụt là con đường bế tắc, chí có con đường đến với Chúa mới đưa chúng ta đi xa và là con đường mở ra một tương lai hạnh phúc, và con đường đến với anh em lại là con đường sẽ đưa chúng ta đến với Chúa. Tức là chúng ta cần mở ngay trong tâm hôn chúng ta một con đường cao tốc, con đường hai chiều để cho Chúa có thể dễ dàng đến với chúng ta và chúng ta có thể dễ dàng đến với Chúa và đến với anh em.
Giữa một cuộc sông ồn ào hôm nay, hãy mở cho mình và cho gia đình một con đường của thinh lặng và cầu nguyện, hãy tạo ra những khoảng tĩnh lặng trong ngày dành cho việc cầu nguyện riêng và cầu nguyện chung với gia đinh vì không thinh lặng và không cầu nguyện sẽ không nghe, không biết biết phải đi đường nào. Giữa một xã hội dư thừa vật chất lại đói về đời sống thiêng liêng, hãy mở một con đường đến với bàn tiệc thiêng liêng là các Bí tích nhất là Bí tích giải tội và Thánh Thể, Thánh lễ, là con đường an toàn cho phần rỗi linh hồn chúng ta. Giửa một xã hội ích kỷ hưởng thụ, hãy mở ra một con đường bác ái, yêu thương và tha thứ.  Đừng mờ những con đường ở đâu xa, mà hãy bắt đầu giải tỏa ngay trong lòng mình, mở thông đến vợ chồng con cái trong gia đình và thông qua hàng xóm láng giềng của mình.
Nếu mỗi người quyết tâm bắt đầu như thế, Chúa sẽ đên với chúng ta và qua chúng ta đên với mọi anh em chung quanh không chỉ trong Đại lể Giáng sinh này mà Chúa đến với chúng ta mổi ngày và Chúa sẽ đưa chúng ta đến với Chúa trong hạnh phúc Nước trời. Amen.

Vể đầu trang

MV2-B94: DỌN ĐƯỜNG CHÚA ĐẾN

Mc 1, 1 - 8
 

Một lần nọ đang đi trên đường bỗng nhiên nghe tiếng còi hụ dữ dội phía sau quay lại thì thấy có một: MV2-B94

Một lần nọ đang đi trên đường bỗng nhiên nghe tiếng còi hụ dữ dội phía sau quay lại thì thấy có một số người lái xe cơ động chạy tới. Những người này đi tới đâu thì mọi người đi trên đường đầu phải dừng lại và nép vào lề. Đang lúc ngạc nhiên thì tiếp theo một đoàn đua xe đạp chạy tới. Lúc đó tôi mới hiểu ý nghĩa của phái đoàn xe cơ động chạy trước. Những người đó đóng vai trò dọn đường cho đoàn đua xe đạp. Họ đi trước để dẹp đi những cản trở để đoàn đua xe đạp đi qua được dễ dàng.
Mỗi năm vào vọng chúng ta luôn được nghe lời kêu mời của Thánh Gioan Tẩy Giả là hãy dọn sẵn con đường cho Chúa đến. Và chính ông cũng đã và đang đóng vai trò ấy. Thiên Chúa rất muốn đến ở với từng người chúng ta. Muốn được Chúa đến với mình không cách nào khác từng người chúng ta hãy đóng vai trò dọn đường để Chúa đến với mình.
Dọn đường bằng cách lấp đầy những thung lũng, bạt những núi cao ấy và sửa lại những con đường quanh co hiện đang ở trong tâm hồn từng người chúng ta. Đó là những trở ngại khiến cho Chúa không đến được với ta. Những trở ngại ấy ở từng người không ai giống ai. Dù vậy, xin gợi ra một vài trở ngại mà chúng ta thường gặp.
Có khi tâm hồn ta đang gặp trở ngại bởi thung lũng ngăn cách tình người. Sự ngăn cách ấy có thể xảy ra giữa ta với bạn bè hay giữa ta với những người lối xóm. Có khi sự ngăn cách ấy lại xảy ra với chính những người thân thuộc hay chính trong gia đình ta. Có thể nói không gì đáng sợ cho bằng trong một mái nhà mà xảy ra chiến tranh lạnh. Khi đó chuyện ai nấy làm không ai thèm ngó ngàng tới ai. Thậm chí còn có những thái độ và lời nói xúc phạm đến nhau.
Có khi ta lại gặp trở ngại bởi những lời nói và cách sống gian dối. Có lẽ vì ích kỷ và chỉ muốn mọi cái có lợi cho mình nên chúng ta bất chấp tất cả. Chúng ta tìm mọi cách luồn lách và lừa gạt nhau
Có khi tâm hồn ta đang gặp trở ngại bởi núi đồi kiêu căng. Kiêu căng từ trong suy nghĩ đến việc làm. Sự kiêu căng ấy thể hiện ở chổ tự cho mình là nhất và không coi ai ra gì. Nguy hiểm hơn, thái độ này ta lại đem áp dụng với cả Thiên Chúa. Ta xem Thiên Chúa như vị thần tài hay như một nô lệ để ta sai khiến. Ta bắt Chúa phải ban ơn theo ý của mình. Đến khi không được thì đâm ra chán nản rồi bỏ Chúa, bỏ đạo. Đây là thái độ hết sức nguy hiểm.
Như vậy, chắc ai trong chúng ta cũng mong muốn đại lễ Giáng sinh sẽ đem lại niềm vui cho họ đạo và cho gia đình chúng ta. Một niềm vui không chỉ là không khí từng bừng rộn rã bên ngoài mà niềm vui ấy mang tính cách chiều sâu trong tâm hồn. Vậy ngay từ hôm nay mỗi người chúng ta hãy đáp lại lời kêu gọi của Thánh Gioan:
Chúng ta hãy lấp đầy thung lũng ngăn cách bằng việc đến với nhau, quan tâm đến nhau và giúp đỡ nhau.
Chúng ta hãy sửa lại cách sống gian dối bằng cách sống thật với mình và với nhau.
Chúng ta hãy bạt đi núi cao kiêu căng bằng cách sống khiêm tốn với nhau. Nhất là chúng ta hãy biết phó thác và tin tưởng vào tình yêu của Thiên Chúa. Chúng ta hãy biết làm theo ý Chúa chứ đừng bắt Chúa phải theo ý mình. Hãy nhớ Thiên Chúa không bao giờ bỏ ta.

Vể đầu trang

MV2-B95: CHUẨN BỊ

Mc 1, 1 - 8
 

Để đạt một giải thưởng thể thao ở Thế Vận Hội, vận động viên phải tập luyện nhiều năm, nếu không: MV2-B95

Để đạt một giải thưởng thể thao ở Thế Vận Hội, vận động viên phải tập luyện nhiều năm, nếu không nói là tập làm quen với môn loại đó từ lúc thiếu thời mới mong đạt được huy chương cấp quốc tế nhưng cũng là danh dự chóng qua. Để đạt được phần thưởng lớn lao vĩnh cửu, chúng ta càng phải chuẩn bị nhiều hơn. Thiên Chúa sẵn sàng ban cho con người phần thưởng lớn lao, nhưng Ngài muốn con người đón nhận phần thưởng cách xứng đáng. Ngay từ bây giờ, chúng ta lo chăm sóc linh hồn, điều hướng cuộc sống đời này cho đúng đường lối Chúa. Chúa không đến muộn nhưng Chúa muốn chờ đợi mọi người chuẩn bị đón Chúa, không muốn ai phải hư mất.
Xưa kia, trước khi Chúa đến, Ngài sai Gioan Tẩy Giả dọn lòng dân Israel đón Chúa. Ngày nay, Chúa tiếp tục ban ơn và dạy chúng ta dọn lòng đón Chúa qua lời nhắc nhở của các linh mục, qua những biến cố của cuộc sống… các linh mục giúp chúng ta nhớ lời Chúa nói trong Kinh Thánh: hãy dọn lòng đón Chúa, sửa đổi, sống cho ngay thẳng. Chúa cũng nhắc chúng ta trong các biến cố của cuộc sống để chúng ta hướng lòng về Chúa và được gần Chúa hơn. Nhờ Bí tích Giải tội, chúng ta được thanh tẩy trong sạch, xứng đáng lãnh nhận các Bí tích khác nhất là Bí tích Thánh thể mỗi ngày. Và qua các Bí tích, Chúa ban dồi dào ơn phúc để chúng ta nên giống Chúa ngày một hơn, xứng đáng đứng vào hàng ngũ các thánh.
Chúng ta là con cái Chúa, chúng ta không thể để lòng mình mê muội trong những cám dỗ của thế gian như quá coi trọng tiền bạc, địa vị, kiến thức… nhưng luôn nhớ tới Chúa, nhận thức sự hiện diện của Chúa trong thế giới. Chúng ta sống thế nào cho phù hợp với ý Chúa, cho đẹp lòng Chúa và luôn vui mừng vì ơn cứu độ Chúa dành cho mỗi người chúng ta.
Trong việc chuẩn bị đón Chúa, chúng ta rất cần ơn Chúa Thánh Thần. Chúng ta hãy cầu xin với Ngài, năng nhớ tới Ngài, đừng để Ngài phải cô đơn. Chúng ta hãy biết thanh lặng mỗi ngày ít phút, để những lo toan, xô bồ của cuộc sống không làm chúng ta xa Chúa. Những công việc, vấn đề tiền bạc, địa vị, … chỉ là phương tiện cho chúng ta sống đạo. Chúng ta biết để các phương tiện trần thế qua một bên khi cầu nguyện, để lòng lắng nghe tiếng Chúa dạy bảo để đi đúng đường về nhà Cha của mình. Sức mạnh của Chúa Thánh Thần sẽ bổ sức cho chúng ta trên con đường theo Chúa. Chúa thánh Thần dạy chúng ta biết sống đạo, và thực thi thánh ý Chúa cho bản thân mình. Đời chúng ta sẽ bớt khổ nhọc khi đi theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần vì ách của Chúa êm ái, gánh của Chúa nhẹ nhàng. Cái khổ của người có tâm hồn trông cậy sẽ khác với với cái khổ của những người không biết hy vọng. Có Chúa, dù có khó nhọc chúng ta vẫn cảm thấy bình an và hơn nữa , cảm thấy vui sướng vì được giống Chúa Kitô trong niềm tin vào lời hứa của Người.
Gioan lấy nước mà rửa cho người Do thái, còn chúng ta được tẩy rửa trong Chúa Thánh Thần. Do đó, mỗi ngày chúng ta càng trở nên giống Chúa hơn, quãng đại, vị tha hơn theo gương Chúa Giêsu. Chúng ta sẽ nên thánh nếu biết sống theo sự soi dẫn của Chúa.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã đến rồi mà nhiều khi chúng con còn thờ ơ, còn mê muội trong những đam mê thú vui vật chất, chưa ý thức Chúa đang ngự trong lòng mình mỗi khi rước Chúa, chưa xứng đáng với tấm lòng ưu ái của Chúa. Trong mùa Vọng này, chúng con xin Chúa thêm sức cho chúng con biết sửa đổi, biết mở lòng ra đón nhận lời Chúa và sống xứng đáng với tình yêu Ngôi Hai giáng sinh vì nhân lọai.

Vể đầu trang

MV2-B96: BIẾN ĐỔI

Mc 1, 1 - 8
 

Vấn đề thời sự nóng bỏng hiện nay là vấn đề giao thông. Rất nhiều công trình giao thông hiện đại đã: MV2-B96

Vấn đề thời sự nóng bỏng hiện nay là vấn đề giao thông. Rất nhiều công trình giao thông hiện đại đã được thực hiện trong thời gian qua, từ thành thị đến nông thôn đều có những công trình mới, những làng quê xa xôi hẻo lánh, giờ đây cũng được tiếp xúc với nền văn minh hiện đại là nhờ những công trình giao thông, nhờ những con đường thuận tiện và dể dàng. Nhưng niềm vui mừng còn đó, thì những khó khăn cũng liền theo; những con đường hiện đại nhưng lại kém phẩm chất, nhìn bên ngoài, nó tạo niềm vui cho con người một thời gian ngắn, nhưng mang lại những phiền toái và tai nạn thì rất nhiều. Những con đường tốt lành có chất lượng mang lại niềm vui và sự an toàn, còn những con đường kém phẩm chất thì thật là nguy hại.
Trong tâm tình của Mùa vọng, chúng ta vừa nghe lời kêu mời: “Hãy dọn đường Chúa, hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng…”. Dọn đường cho trống để không còn một cản trở hay một chướng ngại vật nào trên có thể gây nguy hiểm. Dọn đường để chuẩn bị những gì cần thiết trên đường, không có những gì bất ngờ xảy đến. Sửa đường Chúa cho ngay thẳng để người đi. Dọn cho trống mới thấy được những gì cần phải sửa, phải thay đỗi và mạnh dạng thi hành thì con đường mới nên hoàn hảo. Sửa chửa tận căn để có con đường thật sự có giá trị vững bền, cái giá trị không cần ai biết đến, nhưng khi Thiên Chúa cần dùng thì nó bảo đảm được chất lượng và giá trị cần thiết. Như thế mới là con đường thật sự cho Chúa đến, con đường mà Gioan Tẩy Giả kêu mời mọi người.
Lời kêu mời của vị Tiền hô đã vang lên hơn 2000 năm qua. Hôm nay một lần nữa lại vang lên như tiếng kêu trong sa mạc vô vọng. Ngày xưa tiếng kêu trong sa mạc, đã được mọi người đáp ứng và chạy đến tỏ lòng ăn năn sám hối. Nhưng ngày nay một lần nữa tiếng kêu mời đó vang lên rồi lại đi vào quên lãng như bao lần khác nữa sao ?
Mỗi người trong chúng nhìn lại xem: đã bao Mùa Vọng đến trong cuộc đời, đã bao lần lời kêu mời của vị tiền hô vang lên, và cũng đã bao lần như thế nó lại qua đi mà không để lại một chút ấn tượng gì trong ta, vì chỉ là tiếng kêu trong sa mạc.
Nhìn lại chính mình: chúng ta vẫn ngồi yên bất động trong cuộc sống hiện tại. Bản thân không có gì thay đổi, vẫn những toan tính, những suy nghĩ, những hành động, những sự nóng vội, những câu nói bất cẩn và không bao giờ chú ý đến những người chung quanh đang cần gì. Biết bao nhiêu lý do của hoàn cảnh làm cho đời sống của mình bị cuốn đi không thể nào dừng lại được. Hiện tại chúng ta không biết mình đang đi về đâu, vì khả năng nghe và nhìn không còn nữa. Hay chúng ta cũng đang đỗi mới để cho mọi người nhìn thấy, qua những cử chỉ bên ngoài như là hưởng ứng phong trào cho vui. Hoặc là lời kêu mời vẫn vang lên, nhưng là lời để cho người khác, còn chính bản thân mình không cần thiết, vì mình tự cảm thấy đã an toàn, và bằng lòng với những gì của hiện tại.
Những người của ngày xưa, họ biết cần phải sám hối, cần thay đổi, nên họ từ khắp nơi mà đến với lời kêu mời. Còn chúng ta những người của thời hiện đại, không lẽ lại phải nghe và thực hiện những gì của ngày xưa sao ? Vậy thì làm sao tiến được? Mặc dù những lời của ngày xưa, nhưng nó vẫn còn là vấn đề thời sự và rất hiện đại.
Nếu chúng ta nghe lời kêu mời và nhìn thấy được những sai lầm của mình trong cuộc sống, dám can đảm từ bỏ những gì không đúng, không phải để biết làm lại cho tốt hơn, khi đó giá trị cuộc đời đang đổi mới và được nâng cao cho bản thân chúng ta.
Nếu chúng ta biết lắng nghe, mà nhìn thấy những yếu đuối, những thiếu sót của cuộc sống, để can đảm hơn, siêng năng hơn, làm tốt những gì cần phải làm, khi đó con đường cuộc sống của bản thân đang được sửa đỗi. Như thế lời mời gọi của năm xưa vẫn còn có giá trị. Như thế Chúa có thể đến được với chúng ta mà không bị một chướng ngại nào ngăn cản. Như thế, một lần nữa Mùa Vọng đến với chúng ta mang một chất lượng có giá trị thật sự. Tiếng kêu của vị tiền hô không còn là tiếng kêu trong sa mạc vô vọng, mà là tiếng kêu đã có lời đáp.
Chúng ta cùng nhau cầu cầu xin Chúa cho mỗi người biết lắng nghe Lời Chúa và can đảm thi hành theo những gì chúng ta lắng nghe.

Vể đầu trang

MV2-B97: DỌN ĐƯỜNG

Mc 1, 1 - 8
Sr Mai An Linh, OP

 

Chúng ta đã bắt đầu Mùa Vọng từ Chúa Nhật trước, nhưng thực ra Chúa Nhật này mới thực là bắt: MV2-B97

Chúng ta đã bắt đầu Mùa Vọng từ Chúa Nhật trước, nhưng thực ra Chúa Nhật này mới thực là bắt đầu Mùa Vọng, vì Tin Mừng hôm nay nhắc nhở chúng ta : Nếu Chúa đã một lần đến thì Ngài cũng sẽ đến lần thứ hai, cho nên Hội Thánh dùng lời của thánh Gioan Tẩy Giả để loan báo Đức Kitô Con Thiên Chúa đã đến và kêu gọi chúng ta phải chỉnh đốn lại đời sống để xứng đáng tiếp rước Chúa.

Sống Mùa Vọng là hướng về việc Chúa ngự đến với lòng khao khát Chúa, ý thức rằng chỉ có Chúa mới có thể can thiệp một cách hữu hiệu vào đời sống chúng ta và sẵn sàng để Ngài hành động. Điều kiện để Chúa đến và hành động là phải dọn đường cho Ngài, tức là nỗ lực chỉnh đốn lại tâm tư, tình cảm, cách ăn ở của ta sao cho phù hợp ý Chúa. Cần bỏ đi đầu óc kiêu căng, tự mãn và tham vọng trần tục, đó là bạt núi đồi, để khiêm tốn tin cậy chờ Chúa. Hãy bỏ đi những âm mưu đen tối, ích kỷ để sống chân thành cởi mở bác ái, đó là nơi cong queo uốn cho ngay. Những gì còn thiếu sót trong nghĩa vụ xã hội, tôn giáo thì hãy nhiệt thành bù đắp lại, đó là lấp mọi hố sâu, bền lòng bền chí trong đời sống đạo và trông chờ Chúa trở lại.

Trong việc chuẩn bị chờ đón Chúa đến thánh Gioan Tiền Hô đã đóng vai trò quan trọng và làm gương về lòng sám hối bằng chính đời sống của ngài, một đời sống khắc khổ và thánh thiện, đây là hình ảnh của những Ngôn Sứ thời Cựu Ước, để loan báo Đấng Cứu Thế, đã được các tiên tri như Malakia và Isaia báo trước với danh hiệu sứ thần hay thiên thần và tiếng kêu trong rừng vắng. Thánh nhân đã chấp nhận danh hiệu ấy nhưng ngài nói: Đấng Cứu Thế còn cao trọng hơn ngài nhiều và ngài không xứng đáng cúi xuống cởi giầy cho Chúa và Chúa sẽ tẩy rửa người ta trong Thánh Thần, đây chính là tâm tình của Mùa Vọng - hướng về việc Chúa trở lại với sự sám hối và canh tân nội tâm - thành thật nhìn vào tội lỗi và nết xấu của mình để khẩn khoản xin Đức Kitô ngự đến cứu độ.

Lời rao giảng của Gioan Tẩy Giả thuật lại các đề tài thần học đã từng được các ngôn sứ đi trước loan báo cho dân Do Thái, đó là: Xưng thú tội lỗi của mình theo nghĩa thừa nhận phần trách nhiệm của mình trong mọi tội lỗi qua lịch sử chồng chất của Israel. Tiếp đến là bầy tỏ lòng thống hối bằng cách khiêm tốn lãnh nhận phép thanh tẩy, và khi được Gioan nhận chìm trong nước là dấu chỉ nhận chìm mọi tội lỗi mọi nhơ nhớp, để rồi bước ra khỏi nước, bắt đầu môt cuộc sống mới, một cuộc sống được giao hòa với Thiên Chúa và được Chúa tha thứ mọi lỗi lầm.

Như thế muốn tìm lại gương mặt trong sáng và hình ảnh Thiên Chúa nơi chính mình, chúng ta phải hoán cải tâm tư và thay đổi đời sống, thay đổi cung cách suy tư hành xử của mình, khước từ tội lỗi khiến chúng ta xa rời Thiên Chúa và làm nhơ bẩn gương mặt rạng ngời của Chúa nơi chúng ta, nói cách khác muốn được cứu độ chúng ta phải cách mạng tấm lòng mỗi ngày. Cách sống của Thánh Gioan Tẩy Giả là một lời mời gọi chúng ta dám can đảm đi ngược dòng, vì nếu chỉ khước từ tội lỗi thôi thì chưa đủ mà còn phải từ bỏ, xa lánh tất cả những gì lôi cuốn và ràng buộc chúng ta vào tội lỗi nữa. Sống trong xã hội chủ trương tiêu thụ, chủ trương sống dễ dãi và buông thả, chúng ta phải có can đảm không chạy theo tâm thức tôn thờ vật chất, tôn thờ khóai lạc, dễ dãi và tiện nghi ấy để không bị sa lầy.

Như vậy hoán cải trước tiên có nghĩa là xa tránh tội lỗi, thế gian và xa tránh tâm thức tục hóa, đây cũng là lời mời gọi của thánh Phêrô trong bài đọc II, vì sống chờ đợi là sống với tinh thần sẵn sàng đổi mới hoàn toàn và để cho Chúa Giêsu đến và ban cho chúng ta muôn ơn. Nếu Chúa chưa đến là do Ngài muốn ban thêm cho chúng ta thời gian để sám hối và Chúa không chỉ đến trong ngày tận thế mà Ngài còn đến rất nhiều lần, đến với từng người, đến để tạo dựng trời mới đất mới trong lòng người. Vì thế, Đức Giêsu vẫn cần những người tiền hô, những người dọn đường. Tin Mừng của Người vẫn còn cần những người nhiệt tình mang đi giới thiệu cho người khác.

Lạy Chúa, lời kêu gọi của Thánh Gioan Tiền Hô xưa vẫn còn vang vọng qua tiếng nói của Hội Thánh “Hãy sửa đường Chúa cho ngay…”. Xin cho chúng con mau mắn đáp lại lời kêu gọi để cùng nhau thi đua sửa soạn tâm hồn, gạt bỏ những hố sâu tỵ hiềm, ghen ghét để ngày Chúa đến chúng con sẽ là những người được xếp vào hàng ngũ đi đón rước Chiên Con. Amen


Vể đầu trang

MV2-B98: Sứ điệp của Gioan có giá trị nào đối với Kitô hữu chúng ta?

Tác giả Máccô mở đầu sách Tin Mừng bằng việc giới thiệu Gioan, vị sứ giả tiền hô của đấng Messia: MV2-B98

Tác giả Máccô mở đầu sách Tin Mừng bằng việc giới thiệu Gioan, vị sứ giả tiền hô của đấng Messia: “Khởi đầu Tin Mừng... Ta sai sứ giả của ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con…” Công việc tiền hô của vị sứ giả đã được xác định rõ, ông phải hô hào mọi người: “Hãy dọn sẵn con đường của Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để người đi!” Thế nhưng tôi vẫn thường tự hỏi: Gioan Tiền Hô có thật sự hiểu rõ Đấng mà ông đang nỗ lực kêu mời mọi người chào đón hay không? Điều này xem ra không được rõ cho lắm; có vẻ như ông vừa hiểu lại vừa không, chính vì vậy mà lời ông kêu gọi chỉ là chung chung, rất dễ gây ngộ nhận về Con Người sẽ đến và sứ điệp Tin Mừng của Ngài.
Điều Gioan tỏ ra biết về đấng Messia, người mà ông có nhiệm vụ tiền hô dọn đường, hoàn toàn bó gọn trong nội dung Cựu Ước, vốn đã rất phổ thông đối với người Do Thái đương thời. Messia - vị Thiên Sai - Đấng Được Sức Dầu phải là một vị đầy quyền uy thống trị, “Có Đấng quyền thế hơn tôi… Tôi không xứng đáng cúi xuống cởi quai dép cho Người”. Đối với một đấng như thế, Gioan kêu gọi dân chúng phải đón tiếp trong sợ hãi và kính phục. Các tác giả Mátthêu và Luca ghi rõ lời ông đe loi, “Ai đã chỉ cho các anh cách trốn cơn thịnh nộ của Thiên Chúa sắp giáng xuống vậy?... Cái rìu đã đặt sát gốc cây: bất cứ cây nào không sinh quả tốt đều bị chặt đi và quăng vào lửa” (Mt 3:7.10). Như vậy lời kêu gọi sám hối của Gioan quả có sức mạnh, nhưng hoàn toàn trong nội dung Cựu Ước, “Hãy dọn sẵn con đường của Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi!” (Is 40:3) Ngay cả khi tuyên bố, “Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần” Gioan vẫn hiểu đó là phép rửa trong sức mạnh của Đức Chúa, vì theo hiểu biết chung của người Do Thái, Thần Khí đơn giản chỉ là biểu hiện sức mạnh của Giavê.
Gioan còn phải tìm hiểu nhiều về dung mạo đích thực của đấng Messia mà ông được gởi tới dọn đường. Điều này đã được Phúc Âm minh chứng, nhiều lần trong suốt cuộc sống ông không ngừng nỗ lực tìm hiểu. Ngày cả tới lúc bị giam cầm trong ngục thất, ông vẫn còn loay hoay trong nghi vấn này và muốn tìm lời giải đáp cho chính mình cũng như cho các môn đệ của ông: “Ngài có thật là đấng phải đến, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác?” Đáp lại Đức Giêsu đã phác lên một dung mạo khác hẳn với hình ảnh ông vốn có về đấng Messia: “Các anh cứ về thuật lại cho ông Gioan những điều mắt thấy tai nghe: người mù thấy được, kẻ què đi được, người chết chỗi dậy, kẻ nghèo được nghe tin mừng” (Lc 7:20.22). Đó là dung mạo của một đấng Thiên Sai đầy từ tâm và cứu vớt, ngược hẳn với Messia uy nghiêm xét xử mà ông từng rao giảng dọn đường. Đức Giêsu hiểu việc thay đối quan niệm như thế là không dễ chút nào, kể cả đối với vị tiền hô đáng kính nể của mình, Người nói thêm: “Và phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi!”
Nếu quả như thế thì một Kitô hữu như tôi khi tiến vào Mùa Vọng phải biết xác định rõ: Đấng mà tôi chuẩn bị đón rước trong thời gian này là ai? Giáo Hội giới thiệu cho tôi sứ điệp và diện mạo của Gioan Tiền hô, “mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da, ăn châu chấu và mật ong rừng”. Thế nhưng tôi đâu phải là người Do Thái của Cựu Ước! Là Kitô hữu của Tin Mừng, tôi biết Đấng mà tôi được kêu gọi đón tiếp lại rất giầu từ tâm và hay thương xót; Người không đến để luận phạt, nhưng đến để cứu vớt và thứ tha. Vì thế việc sám hối và ‘dọn đường… sửa lối cho ngay thẳng…” của tôi sẽ không chỉ vì muốn xứng đáng đón tiếp một đấng cao cả quyền uy, lại càng không phải để ‘tránh cơn thịnh nộ’ vì ‘rìu đã đặt sát gốc’. Tôi nhìn nhận tội lỗi mình vì nhờ đó tôi càng ý thức mình ‘phận nghèo được nghe Tin Mừng’. Đúng hơn chính khi nhìn nhận mình tội lỗi, tôi lại càng tới gần Hài Nhi Giêsu nhân hậu và cứu độ hơn, đồng thời biến việc dọn đường trở thành niềm vui và hy vọng tràn trề. Phải chăng đó mới chính là điều Phụng vụ đang hướng chúng ta tới?
Tuy nhiên, đối với tôi cũng như đối với mọi người, vẫn luôn tồn tại nguy cơ ngộ nhận sứ điệp của Gioan, ngộ nhận ngay cả Tin Mừng Đức Kitô rao giảng, ngộ nhận cả huấn quyền cứu độ của Hội Thánh. Mùa Vọng là thời gian dành cho tôi, trong khi vẫn thành khẩn tiếp nhận sứ điệp sám hối, gia tăng nhận biết diện mạo nhân ái giầu xót thương của một Thiên Chúa đang đến để cứu vớt chứ không phải để luận phạt. Tôi không chỉ vọng về lễ Giáng Sinh, mà phải biến trọn đời sống Kitô hữu tôi thành một Mùa Vọng bất tận; vọng về tình yêu nhân ái của Thiên Chúa, đấng yêu thương tôi. Công việc này thật khẩn trương và vô cùng quan trọng, cho Gioan cũng như cho chính tôi, vì “phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi!”.
Lạy Đấng đang đến và con được mời gọi dọn đường đón tiếp. Xin cho con nhận biết dung nhan hiền dịu Chúa để, cho dầu con người con có bất toàn và tội lỗi đến đâu, với lòng chân thành sám hối, con càng vui mừng tiến ra đón Chúa với cánh tay và trái tim mở rộng; vì biết rằng Hài Nhi giáng sinh là Đấng Cứu Độ chứ không phải là người luận phạt. Xin cho toàn nhân loại cùng con chia sẻ niềm vui Giáng Sinh, trong tâm tình ca khen cảm tạ tình yêu của Thiên Chúa giáng trần. Amen
Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty. SDB

Vể đầu trang

MV2-B99: Lầm lỗi và sám hối

Con người thường có những lỗi lầm. Lỗi lầm khiến con người trở nên xấu xa. Lỗi lầm càng nhiều thì xấu: MV2-B99

Con người thường có những lỗi lầm. Lỗi lầm khiến con người trở nên xấu xa. Lỗi lầm càng nhiều thì xấu xa càng ghê sợ hơn. Thế nên, con người thường có khuynh hướng che giấu tội lỗi của mình. Đôi khi còn đóng kịch để che đậy bản tính xấu xa của mình. Sống giả dạng người tốt để đánh lừa anh em.
-           Có đôi vợ chồng nọ, mới cưới nhau về được khoảng một tuần, anh nói với vợ rằng:
-           Xin em hứa với anh là đừng bao giờ mở cái hộp này ra, bao lâu anh đang còn sống.
-           Người vợ gật gù đồng ý.
-           Sau bốn mươi năm sống chung, gia đình rất hạnh phúc. Một hôm ông đi vắng, bà ở nhà một mình, tò mò lấy cái hộp từ dưới chân giường ra, không hiểu là ông đã giấu cái gì trong hộp. Người vợ nghĩ rằng đã sống với nhau bốn mươi năm, cái gì cũng biết hết rồi, ngoài trừ cái hộp này.
-           Bà liền mở hộp ra xem, và trong hộp có năm vỏ bia, và một trăm hai mươi lăm đồng, năm chục xu. Bà nghĩ rằng chỉ có vậy thôi mà sao ông bí mật thế.
-           Khi Ông đi làm về, bà liền đến tự thú với ông. Và bà hỏi ông rằng, tại sao trong hộp lại có năm vỏ bia? Ông trả lời, năm vỏ bia là tượng trưng cho mỗi lần tôi làm lỗi với bà, thì tôi uống một lon. Người vợ thấy vậy cũng vui vui, vì nghĩ rằng, sống với nhau bốn mươi năm, mà ông chỉ làm lỗi với mình chỉ có năm lần, kể cũng qúa ít.
-           Bà tiếp, vậy còn một trăm hai mươi lăm đồng, và năm chục xu thì sao?
-           Ông đáp, "thì là tiền bán vỏ lon bia chứ gì. "
-           Bà.........."ố trời ơi!!!!!"
Hóa ra tình yêu vẫn có những phản bội. Phản bội vì yếu đuối. Phản bội vì nông cạn. Phản bội có thể xảy đến khi mình thiếu tự chủ, mất kiểm soát tình cảm dễ dẫn đến phản bội với nhau. Nhưng nếu phản bội mãi mà không nhận ra sai lỗi của mình thì thật bất hạnh cho mình và cho gia đình. Điều quan yếu là biết sám hối và đứng dậy sau những lần vấp ngã. Dẫu có muộn màng vẫn hơn. Dẫu có tái phạm vẫn còn sửa chữa vì không cố tình ở lỳ trong tội lỗi.
Thánh Gioan Tẩy Giả  là sứ giả của Thiên Chúa. Ông đến để sửa lại lỗi lầm cho con người. Ông đi trước Chúa để uốn lại lòng dân. Ông dọn lại những gồ ghề trong tâm hồn con người bởi những tham sân si. Ông đưa ra phương án sửa lại lỗi lẫm bằng việc sám hối ăn năn.
Sám là thú nhận lỗi lầm, Hối là hứa từ nay không tái phạm. Sám Hối là thú nhận lỗi lầm, và hứa không tái phạm. Sám hối là hành động của bản thân biết nhìn ra tội lỗi của mình mà sửa đổi, mà canh tân. Không có sám hối sẽ không có những cuộc canh tân làm thay đổi đời sống và môi trường sống. Chính nhờ sám hối và bản thân được thăng tiến, mỗi trường cũng được đổi thay thêm xinh đẹp hơn.
Sám hối là động lực giúp con người hoàn chỉnh bản thân mình. Nhờ sám hối mà ta chỉnh tu lại con người mình thêm xinh đẹp hơn. Madalena đã từng sám hối để từ bỏ con người trắc nết mà biến đổi trở thành người đi theo Chúa. Augustino đã từng sám hối để bỏ đường rộng thênh thang chiều theo tính xác thịt mà biến đổi trờ thành một đại thánh cho Giáo hội. Có rất nhiều những con người đã đổi đời nhờ sám hối mà chỉnh tu lại lối đi của mình theo đường lối Thiên Chúa.
Xin Chúa giúp chúng ta biết nhìn lại những yếu đuối của bản thân mà sám hối ăn năn. Xin giúp chúng ta can đảm thực hiện hành vi sám hối bằng việc thú nhận tội lỗi của mình và tuyên hứa từ nay không tái phạm. Xin Chúa nâng đỡ sự yếu hèn của chúng ta và giúp chúng ta hoàn chỉnh mình mỗi ngày thêm giống Chúa hơn nhờ cuộc canh tâm sám hối từng ngày. Amen
Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Vể đầu trang

MV2-B100:  Con đường của Đức Chúa

Con đường Via Appia được xây dựng từ năm 312 trước Công Nguyên bởi vị Censor khiếm thị Appius: MV2-B100

Con đường Via Appia được xây dựng từ năm 312 trước Công Nguyên bởi vị Censor khiếm thị Appius Claudius. Via Appia là con đường đầu tiên bằng xi-măng lát đá, khởi nguyên của kỹ thuật xây dựng xa lộ trên thế giới.
            Tin Mừng hôm nay, ngôn sứ Isaia kêu gọi: “Hãy dọn sẵn con đường của Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Ngài đi.” (Mc 1, 3) Con đường này không giống như Via Appia lát đá basalt, mà là con đường cải tà quy chánh, cải lão hoàn đồng và cải tử hoàn sinh. Con đường do chính Đức Giêsu thiết kế, xây dựng, hoàn toàn trái ngược với con đường thế gian quen đi.
Con đường cải tà quy chánh
“Ông Gioan Tẩy Giả đã xuất hiện trong hoang địa, rao giảng kêu gọi người ta chịu phép rửa, tỏ lòng sám hối, để được ơn tha tội.” (Mc 1, 4) Nhiệm vụ Tiền Hô của Thánh nhân bắt đầu bằng lời mời gọi ăn năn, sám hối, cải tà quy chánh, trở về con đường công chính của Thiên Chúa đã vạch ra.
Ngôn sứ Gioan giác ngộ mọi người nhận ra tội lỗi vấp phạm, để thay đổi nếp sống, qua chính cuộc sống kham khổ, chay tịnh của ngài trong hoang địa. “Các anh hãy sinh hoa quả, xứng với lòng sám hối.” (Mt 3, 8) Ngài mời gọi cụ thể hóa, hiện thực hóa lòng sám hối, qua nghi thức dìm mình xuống sông, chịu phép rửa. Nếu ngoan cố, chống báng, khước từ, làm lơ, gỉa hình, vờ vịt, hay tỏ ra bất tuân thì: “Cái rìu đã đặt sát gốc cây: bất cứ cây nào không sinh quả tốt đều bị chặt đi quăng vào lửa.” (Mt 3, 10). Khi Chúa quang lâm, thì “Tay Người cầm nia, Người sẽ rê sạch lúa trong sân: thóc mẩy thì thu vào kho lẫm, còn thóc lép thỉ bỏ vào lửa không hể tắt mà đốt đi.” (Mt 3, 12)
Con đường cải lão hoàn đồng
“Không ai có thể thấy Nước Thiên Chúa, nếu không được sinh lại bởi ơn trên.” Đức Giêsu đã phán cùng ông Nicôđêmô, một thủ lãnh Pharisiêu tỉnh thức, thao thức được ơn cứu rỗi. Đức Giêsu công khai nhấn mạnh: “Không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và Thần Khí. “(Ga 3, 3 & 5)
Không phải trẻ hóa thân xác đã trưởng thành. Cũng chẳng phải Đức Giêsu khuyên dùng thuốc men, hóa chất hay phương tiện vật lý nào khác để giữ mãi tuổi thanh xuân, sắc đẹp. Nhưng Người muốn con người trẻ hóa tâm hồn, trở nên trong sáng, ngây thơ, hiền hòa, biết ơn, thân thiết, yêu thương, kính trọng, hiếu đễ các đấng sinh thành và thương mến mọi người.
Chẳng còn chút mưu mô, quỷ quyệt, chẳng còn ganh ghét, đố kỵ, chẳng còn oán thán, cay cú, hận thù. Trái lại, tất cả đều đằm thắm tình yêu, tình cha nghĩa mẹ, tình huynh đệ, sống bổn phận, trách nhiệm, sống bác ái, phục vụ, nhường cơm xẻ áo, như Thánh Gioan Tiền Hô tha thiết, cấp bách kêu gọi dân Chúa: “Ai có hai áo, thì chia cho người không có; ai có gì ăn, thì cũng làm như vậy.” (Lc 3, 11) “Đừng đòi hỏi gì quá mức đã ấn định cho mình.” (Lc 3, 13) “Chớ hà hiếp ai, cũng đừng tống tiền người ta, hãy an phận với số lương của mình.” (Lc 3, 14)
Con đường cải tử hoàn sinh
“Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai liều mất mạng sống vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy.“ (Mt 17, 24-25) Một cuộc sống mới nảy sinh, khi dám quyết định cho cái thân xác yếu hèn chết đi cùng với những ham muốn, đam mê, đòi hỏi, cám dỗ tội lỗi.
Chết đi những tham sân si, danh lợi, địa vị, chức tước, quyền lực. Chết đi những thói đời, luôn tôn sùng “Bò Vàng,” luôn thờ bái vật là của cải, vật chất, tiện nghi, dễ dãi hưởng thụ, thoải mái xa hoa, phù phiếm, hư ảo, mau mục nát, mất đi. Đừng để Thánh Gioan Tiền Hô phải nộ khí xung thiên, gay gắt cảnh báo, như đối với những kẻ đạo đức giả hình thuộc phái Pharisiêu và Sađốc: “Nòi rắn độc kia, ai đã chỉ các anh cách trốn cơn thịnh nộ của Thiên Chúa sắp giáng xuống vậy? Các anh hãy sinh hoa quả sớm với lòng sám hối.” (Mt 3, 7 - 8)
Thiên Chúa quá yêu thương, quá ư giàu lòng thương xót, mới rộng lượng ban cho con người, đổi của giả lấy của thật. Đổi kiếp sống phù du, tạm bợ lấy cuộc sống vĩnh cửu, hạnh phúc viên mãn, nếu biết vâng theo, sống theo đạo Tình Yêu.
“Sống tinh thần con Chúa không phải là ủy mị, thụ động, nhưng là một linh đạo:
Dễ dàng trong sự khó khăn,
Đơn sơ trong sự phức tạp,
Dịu dàng trong cương quyết,
Hùng dũng trong sự yếu đuối,
Khôn ngoan trong sự điên dại.”
“Nếu các con không trở nên như trẻ thơ, các con không được vào Nước Trời.” (Đường Hy Vọng, số 727)
Lạy Chúa Giêsu xin cải hóa tâm hồn chúng con nên công chính, nên trong sáng, nên can đảm, dám chết đi những thói hư tật xấu, để chúng con canh tân đổi mới theo Lời Chúa.
Lạy Mẹ Maria, kính xin Mẹ thương yêu giúp đỡ, dạy dỗ chúng con biết khiêm nhường nhận biết thân phận yếu đuối, thấp hèn. Kính xin Mẹ cầu bầu cho chúng con biết ăn năm sám hối, sửa chữa ngay phẳng con đường đến với Chúa, đến với tha nhân và đón Chúa sắp đến trong Mùa Giáng Sinh 2014 này. Amen.
AM Trần Bình An

Vể đầu trang
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây