Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 1 MV-C Phần IV Bài 151-169: Anh em sắp được cứu độ

Thứ bảy - 01/12/2018 10:31
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 1 MV-C Phần IV Bài 151-169: Anh em sắp được cứu độ
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 1 MV-C Phần IV Bài 151-169: Anh em sắp được cứu độ
MV 1-C Phần IV Bài 151-169: Anh em sắp được cứu độ
MV1-C151: SUY NIỆM CN 1 MV C.. 1
MV1-C152: HƯỚNG VỀ NGÀY CHÚA ĐẾN.. 4
MV1-C153: TỈNH THỨC VÀ SẴN SÀNG ĐÓN CHỜ CHÚA LẠI ĐẾN.. 16
MV1-C154: TỈNH THỨC VÀ CẦU NGUYỆN.. 23
MV1-C155: Đức công chính là đường lối Thiên Chúa cứu độ chúng ta. 25
MV1-C156: HÃY TỈNH THỨC.. 27
MV1-C157:  Ki-tô hữu phải làm gì khi sắp được cứu chuộc?. 29
MV1-C158: ANH EM SẮP ĐƯỢC CỨU CHUỘC.. 31
MV1-C159: HÃY TỈNH THỨC, VÌ KHÔNG NGỜ.. 33
MV1-C160: Hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên. 35
MV1-C161: Hãy Đứng Thẳng Lên. 37
MV1-C162: Chúa Nhật I mùa Vọng, C.. 39
MV1-C163: Chúa Nhật I mùa Vọng. 44
MV1-C164: Chúa Nhật I Mùa Vọng, C.. 46
MV1-C165: CHÚA ĐẾN.. 49
MV1-C166: CHÚA NHẬT I MÙA VỌNG, C.. 51
MV1-C167: Chúa Nhật I  Mùa Vọng, năm C.. 54
MV1-C168: CHỦ NHẬT THỨ I MÙA VỌNG 2000. 56
MV1-C169: Chúa Nhật I Mùa Vọng C.. 58
 

MV1-C151: SUY NIỆM CN 1 MV C

Kính thưa anh chị em,

Cùng với toàn thế Giáo Hội, chúng ta chính thức bước vào Mùa Vọng hôm nay.Mở đầu Mùa Vọng MV1-C151

Cùng với toàn thế Giáo Hội, chúng ta chính thức bước vào Mùa Vọng hôm nay.
Mở đầu Mùa Vọng,"Chúa Giêsu bảo chúng ta: “Hãy ngẩng đầu lên vì ơn cứu độ đã đến gần”(Lc 21,28)
1. Thế nào là ngẩng đầu lên và tại sao lại phải ngẩng đầu lên như vậy?
Chúa Giêsu bảo chúng ta phải ngẩng đầu lên vì chúng ta thường hay cúi đầu xuống. Cúi đầu xuống để chỉ nhìn thấy những cái dưới đất, chỉ khao khát, tìm kiếm những cái dưới đất và lấy làm thỏa mãn với những cái dưới đất.
Nói là: “cúi đầu xuống" nhưng thực ra là để cho lòng bị thu hút, bị phong tỏa, bị ràng buộc vào trái đất bởi biết bao sợi giây vô hình, gỡ ra không nổi. Tình trạng này làm tâm hồn chúng ta tê liệt đến nỗi không còn đủ sức cất cánh lên cao, để khao khát, tìm kiếm những gì chân thật, vĩnh cửu, là những cái tạo nên thực chất và ý nghĩa cuối cùng của cuộc đời con người.
Một chú vịt trời theo đàn bay về phương Bắc. Một buổi chiều khi đáp xuống một nông trại, chú vịt trời thấy đàn vịt nhà đang ăn bắp, liền nhảy lên để được ăn. Bữa ăn ngon làm nó không muốn bay theo đàn nữa, nó tự nhủ: để mai mốt mình bay theo cũng không muộn.
Nhưng rồi ngày qua ngày nó vẫn ở với đàn vịt nhà để được nuôi ăn. Mùa thu đến, đàn vịt trời bay từ hướng Bắc xuống hướng Nam: các bạn cũ kêu nó trở về khi bay qua nông trại, chú vịt trời ráng sức dập cánh bay lên, nhưng đôi cánh bây giờ quá yếu, nó chỉ bay được lên nóc nhà rồi lại rơi xuống đất. Đời sống dễ dãi ở đây đã làm nó không thể bay được như xưa. Nó đành đứng nhìn đàn vịt trời bay xa dần.
Từ đó mỗi mùa xuân và mùa thu, chú vịt trời đều thấy các bạn cũ bay qua hướng Bắc rồi trở về hướng Nam. Nhưng nó không thể cất cánh bay theo vì nó đã đánh mất đi khả năng thiên phú của nó để rồi nó yên phận sống dưới đất với đàn vịt nhà trong trang trại!.
Cuộc sống của con người trên trái đất này nhiều khi cũng như thế. Có nhiều người đã để cho mình bị mắc kẹt vào những sự tầm thường mà không gỡ ra nổi.
Đành rằng cuộc sống diễn ra dưới đất thì không thể không yêu mến trái đất này. Phải khai thác, sử dụng trái đất hợp với nhu cầu và lợi ích chính đáng của con người. Mỗi người phải nhận lấy trách nhiệm xây dựng trần thế và gây dựng cuộc đời của chính mình. Điều này chính đáng và cần thiết.
Nhưng như vậy đã đủ chưa? Một chén cơm đầy, một ngôi nhà sang trọng, một trương mục đầy tiền, một chiếc xe hơi lộng lẫy đã đủ để thỏa mãn ước mơ làm người của chúng ta chưa? Có còn cần cái gì khác nữa không?
Chúa Giêsu bảo chúng ta hãy ngẩng đầu lên là muốn thức tỉnh chúng ta. Đừng giam mình trong những giấc mơ nhỏ bé hoặc hão huyền. Đừng bao giờ lấy làm thỏa mãn với những cái dễ dãi, tương đối. Đừng ưa hàng giả. Phải mơ ước những cái thật cao cả. Phải tìm kiếm những gì thực sự đưa tới hạnh phúc chứ không phải chỉ đánh lừa hạnh phúc.
2. Chúa Giêsu Còn Bảo: Ơn Cứu Độ Đã Gần Đến
Thế nào là đã gần đến? Có thể hiểu những chữ đã gần đến theo nhiều nghĩa.
Trước hết, ơn cứu độ đã gần đến có nghĩa là ơn cứu độ thật khẩn trương. Khẩn trương vì quan trọng nhất, cần thiết nhất. Đừng có chần chừ, do dự, thoái thác. Tìm ơn cứu độ phải đứng đầu trong các việc cần làm ngay. Khốn nỗi, trong tâm hồn nhiều tín hữu, nhiều lúc việc khẩn thiết nhất này đã mất tính ưu tiên. Có lẽ nó được nghĩ đến ít nhất vì thường bị coi là phụ thuộc nhất.
Thứ đến, ơn cứu độ đã gần đến cũng có nghĩa là ơn cứu độ luôn ở tầm tay, không bao giờ thiếu. Hễ muốn là có, hễ tìm là thấy... vì Thiên Chúa rộng lượng, lúc nào cũng sẵn sàng ban và ban thật dồi dào. Nhưng xem chừng hồng ân đó chẳng được giá bao nhiêu. Người ta đâu có hăm hở vào Nước Trời như chen chúc nhau vào các rạp hát, các cửa hàng bán hạ giá, xếp hàng dài trước địa điểm phát hàng ngoại nhập.
 Vào năm 160, dưới thời bắt đạo của Hoàng Đế Marc Ausèle Valérien, chồng của thánh nữ Cécilia, và em là Tiburce bị nhốt ngục vì đức tin. Một sĩ quan Maxime được lệnh dẫn các ông ra pháp trường. Mở cửa ngục thất, ông thấy họ quỳ gối dưới đất, mắt ngước lên trời, guơng mặt bình tĩnh phi thường. Tuổi thanh xuân, gia đình sang trọng, vẻ ngây thơ trong trắng và tinh thần nhẫn nhục chịu đựng nơi các tử tội đã khiến người quân nhân rơi lệ.
          - Tại sao ông khóc? – một tù nhân hỏi.
- Tôi khóc vì thấy các bạn trẻ trung, giàu sang, qúy phái mà lại sắp chết .
-  Ông Maxime ạ, đừng tưởng nhầm nữa. Chúng tôi là người công giáo, và một một khi đã giã từ cõi trần này, người công giáo tôi chuyển sang một cuộc sống tươi đẹp hơn, một nơi không có bóng dáng tử thần nữa.
- A! Giả như đúng như lời các bạn nói?
- Nếu ông hứa sẽ giữ đúng niềm tin ngưòi công giáo thì giờ chúng tôi chết, ông sẽ nhìn thấy sự thật tận mắt.
Maxime hứa và khi nhát dao người đao phủ chặt đầu các vị  tuẫn giáo vừa đứt, ông đã thấy linh hồn họ sáng ngời. Sau đó không lâu, chính Maxime cũng đã tìm đến với đức tin van được nhận triều thiên chiến thắng.
3. Khám Phá Niềm Vui
 Có lẽ ít khi chúng ta nghĩ đến niềm vui trong Chúa. Chúng ta cũng thường quên rằng niềm vui là nét tiêu biểu của đời Kitô hữu. Có lẽ bởi vậy mà ít khi chúng ta vui thật, vui sâu xa và lâu bền trong lòng, một niềm vui biến thành bình an. Bình an chính là một tên gọi khác của niêm vui.
Cũng chính vì chúng ta không đặt niềm vui của chúng ta "trong Chúa" nên chúng ta thường đại tìm nguồn vui độc hại ở nơi khác ngoài Chúa. Hậu quả là lo âu, buồn chán của cuộc sống có cơ lấn át bình an, làm cản nghị lực và sức sông, làm chúng ta yếu đi, già đi.
Phụng vụ "Chúa nhật Vui mừng chẳng những gợi lên tính vui tươi của Mùa Vọng mà còn chỉ cho chúng ta thấy nguồn vui vô tận luôn tiềm ẩn trong lòng người tín hữu. Nguồn vui vô tận ấy chính là sự hiện diện của Thiên Chúa trong mỗi tâm hồn.
Cách đây mấy năm, tại Hollywood, có một tài tử điện ảnh đột nhiên ngã bệnh. Sau khi khám cho anh, bác sĩ riêng đã thẳng thắn nói cho chàng tài tử biết: “Tình trạng sức khoẻ của anh bi đát lắm! Chúng tôi cần phải thực hiện một cuộc giải phẫu kéo dài 36 tiếng đồng hồ mới may ra cứu sống anh được”. Về sau, chàng tài tử ấy thực sự thú nhận: “Trong 36 tiếng đồng hồ ấy, tôi đã học được nhiều điều hơn 36 năm trước đó của tôi, và tôi đã cảm nghiệm được niềm vui mà trước đó tôi chưa bao giờ cảm nghiệm được. Tôi khám phá ra rằng tôi chẳng hề sợ chết vì trước đó tôi có thói quen mỗi ngày cầu nguyện với Chúa Giêsu và bây giờ khi phút giây cam go xảy đến, tôi cảm nhận được kết quả của lời cầu nguyện ấy. Chính lúc đó tôi mới khám phá ra rằng nhờ những lần tâm sự, nói chuyện hằng ngày với Chúa Giêsu truớc đó, mà giữa Ngài và tôi chẳng xa lạ gì nhau, chúng tôi đã trở nên đôi bạn chí thân”.
Lạy Chúa Giêsu,
xin cho con nhìn thấy sự hiện diện của Chúa ở bên con dưới muôn ngàn dáng vẻ.

Xin cho con gặp Chúa nơi bất cứ ai là người vì họ có cùng khuôn mặt với Chúa.
Xin cho con khám phá ra Chúa đang hẹn gặp con nơi mọi biến cố buồn vui của đời thường.
Ước gì con thấy Chúa ở khắp nơi, đâu đâu cũng là nhà của Chúa.
Và ước gì con đừng bỏ lỡ bao cơ hội gặp Chúa trên bước đường đời của con. Amen.
Lm Giuse Đinh Tất Quý
 

MV1-C152: HƯỚNG VỀ NGÀY CHÚA ĐẾN

CHÚA NHỰT I VỌNG Năm C
Sợi chỉ đỏ :

Các bài đọc của Chúa nhật này bắt đầu đề cập đến ý tưởng chính của Mùa Vọng, đó là Ngày Chúa MV1-C152

Các bài đọc của Chúa nhật này bắt đầu đề cập đến ý tưởng chính của Mùa Vọng, đó là Ngày Chúa đến.
- Trong bài đọc I (Gr 33,14-16), ngôn sứ Giêrêmia bảo đảm với dân Israel là Thiên Chúa sẽ sai Đấng Messia đến giải thoát họ khỏi cảnh lưu đày. Đó là lần thứ nhất Chúa đến.
- Trong bài Tin Mừng (Lc 21,25-27.34-36), thánh Luca mượn ngôn ngữ khải huyền của Cựu Ước để nói về lần về lần thứ hai Chúa đến, đó là ngày Quang Lâm.
- Và trong bài đọc II (1 Tx 3,12--4,2), Thánh Phaolô dạy tín hữu bồi dưỡng tình yêu để đón Chúa đến lần thứ hai.
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
Anh chị em thân mến
Phụng vụ Mùa Vọng luôn nhắc chúng ta nghĩ tới việc Chúa đến. Lý do là vì chúng ta đang sống giữa hai lần Chúa đến : lần thứ nhất Chúa đến tại Bêlem một cách khiêm tốn âm thầm trong những yếu đuối của thân phận làm người ; lần thứ hai Ngài sẽ lại đến trong vinh quang uy quyền của một Vị Vua nắm quyền cả vũ trụ. Thánh Phaolô nói rằng trong thời gian giữa hai lần đó, cứ mỗi năm trôi qua thì "ơn cứu độ của chúng ta gần hơn khi chúng ta mới tin đạo".
Xin Chúa giúp chúng ta hiểu chúng ta cần Chúa như thế nào để chúng ta tích cực chuẩn bị đón Ngài đến với chúng ta.
II. GỢI Ý SÁM HỐI
- Hôm nay là bắt đầu một năm Phụng vụ mới. Nhìn lại năm cũ, chúng ta nhận thấy có rất nhiều thiếu sót lỗi lầm. Chúng ta hãy xin Chúa tha thứ và ban ơn giúp chúng ta làm lại cuộc đời trong năm mới này.
- Chúa rất thường đến với chúng ta, phần chúng ta thì ít khi đến với Chúa.
- Nhiều khi Chúa muốn đến với tâm hồn chúng ta nhưng Ngài không vào được vì lòng chúng ta đã dành hết chỗ cho những đam mê trần tục.
III. LỜI CHÚA
1. Bài đọc I (Gr 33,14-16)
Giêrêmia là một ngôn sứ đã chứng kiến những trang lịch sử đau buồn nhất của đất nước : dân Chúa bất trung với Ngài ; quân thù vây hãm Giêrusalem ; mất nước ; lưu đày. Là sứ giả của Lời Chúa trong bối cảnh như thế, Giêrêmia bó buộc phải gióng lên những lời nói chói tai để tố cáo tội lỗi của dân mình và tha thiết kêu gọi họ sám hối.
Thế nhưng khi dân đã bị lưu đày, Ngôn sứ đổi giọng. Trích đoạn này nằm trong phần "sứ điệp cứu độ" (các chương 26-35). Ông báo cho dân biết rằng cảnh lưu đày sẽ không kéo dài lâu, vì sẽ tới những ngày Thiên Chúa sẽ gởi đến Một Đấng cứu thoát họ : "Trong những ngày ấy… Ta sẽ cho mọc lên một mầm non, một Đấng Công Chính… Giuđa sẽ được cứu thoát… Giêrusalem sẽ được an cư lạc nghiệp…"
Rõ ràng đây là lời hứa về lần đến thứ nhất của Đấng Messia.
2. Đáp ca (Tv 24)
Bài thơ này là lời cầu nguyện của kẻ đang đau khổ và tỏ bày tâm tình sám hối.
Từ chìa khóa trong trích đoạn được chọn đọc trong Thánh lễ hôm nay là "đường, lối" : đường lối duy nhất để thoát khỏi cảnh khổ sầu và đến được ơn cứu thoát chính là đường lối của Chúa, đường chính trực, đường chân lý, đường yêu thương, đường giao ước…
3. Tin Mừng (Lc 21,25-27.34-36)
Đoạn Tin Mừng này nằm trong Diễn từ chung luận trong đó Chúa Giêsu nói về những việc sẽ xảy ra vào những ngày cuối cùng của thế giới.
1. Các câu 25-28 : nói về ngày tận thế và Quang lâm. Tất cả những thế lực mà xưa nay người ta dựa vào vì coi là vững chắc (mặt trời, mặt trăng, tinh tú, biển...) đều bị lay chuyển để nhường cho quyền lực của Con Người lên ngôi. Trước tình huống đó, "muôn dân" (tức là những kẻ không có đức tin) sẽ lo sợ đến hồn siêu phách lạc, vì chỗ dựa của họ đã bị lung lay, nhưng các môn đệ Chúa thì hãy vui mừng và ngẩng đầu lên chờ đợi Chúa ngự đến.
2. Các câu 34-36 : nói về đến thái độ mà môn đệ Chúa Giêsu phải có.
- Thái độ thứ nhất là chú ý tới việc quan trọng là đón Chúa đến : không nên để mình bị ảnh hưởng bởi những xáo trộn bên ngoài để rồi lo chè chén say sưa hoặc chỉ lo chuyện sống chết, chỉ lo chuyện thế gian... Nếu bất cứ lúc nào cũng nghĩ đến việc Chúa đến thì dù cho có thình lình, đột ngột, họ cũng không ngỡ ngàng.
- Thái độ thứ hai là kiên trì trong việc cầu nguyện liên lĩ : cầu nguyện để xin Ngài mau đến, cầu nguyện để xin ơn đứng vững trước những xáo trộn bên ngoài.
4. Bài đọc II (1 Tx 3,12--4,2)
Thánh Phaolô viết bức thư thứ nhất gửi tín hữu Thêxalônikê trong viễn cảnh Chúa sẽ đến lần thứ hai.
Vì nghĩ rằng Chúa sắp đến rồi, nên các tín hữu Thêxalônikê sống buông thả, lười biếng. Từ đó sinh ra nhiều tệ nạn khác. Thánh Phaolô cho rằng đó không phải là thái độ đúng đắn. Thái độ đúng đắn là phải bồi dưỡng tình thương : "Xin Chúa cho tình thương của anh em đối với nhau và đối với mọi người ngày càng thêm đậm đà thắm thiết… Có như thế thì… anh em mới được bền tâm vững chí không có gì đáng chê trách… trong ngày Chúa Giêsu quang lâm"
IV. GỢI Ý GIẢNG
* 1. Suy nghĩ đầu năm phụng vụ mới
Hoa trên đồi có tàn đi thì cũng nở lại vào năm sau.
Tuổi xuân con người một khi tàn phai thì không bao giờ nở lại.
Mặt trời mọc lên buổi sáng, buổi chiều lặn đi, nhưng sáng hôm sau mọc lại.
Đời người dần trôi về lúc hoàng hôn và không bao giờ có bình minh nào khác.
Tại sao mỗi người chỉ có một đời ? Tại sao con người không có cơ hội khác ?
Thôi đừng thắc mắc và cũng đừng thở than. Hãy ý thức rằng cuộc đời là một món quà tặng ; vì nó chỉ có một nên nó vô cùng quý giá.
Xin Chúa cho chúng con biết tận dụng những cơ hội của đời này, bởi vì chỉ có thế chúng con mới đến được đời sau, một cõi đời không bao giờ tàn úa, một cõi đời mãi mãi sáng tươi.
* 2. Giữa tối tăm bừng lên một tia sáng
Trong bài đọc I, Ngôn sứ Giêrêmia mô tả cuộc sống trong một thời tăm tối bi quan : trong nội bộ dân Chúa thì bất trung tội lỗi ; từ bên ngoài thì hiểm họa xâm lăng lúc nào cũng rình chờ. Thế mà Giêrêmia vẫn có thể thốt lên những lời dự đoán đầy lạc quan : "Trong những ngày đó, Giuđa sẽ được cứu thoát, Giêrusalem sẽ an cư lạc nghiệp". Từ trong tối tăm của hiện tại, Giêrêmia vẫn thấy trước tia sáng của tương lai, bởi vì Giêrêmia tin vào nguồn sáng là Thiên Chúa : "Đức Chúa là sự công chính của chúng ta".
Trong bài Tin Mừng, Chúa Giêsu nói với các môn đệ rằng : "Sẽ có những điềm lạ trên trời…. Dưới đất muôn dân sẽ lo lắng hoang mang… Người ta sợ đến hồn xiêu phách lạc…" Mặc dù vậy, Ngài vẫn bảo môn đệ mình "Anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu chuộc".
Chúng ta đang ở ngưỡng cửa một năm Phụng vụ mới. Nhìn tới tương lai, ai mà không khỏi lo lắng hoang mang vì bao gian truân đang sẵn chờ. Nhưng Lời Chúa hôm nay vẫn bảo chúng ta hãy lạc quan. Vì tương lai chỉ tối tăm mờ mịt khi vắng bóng Thiên Chúa. Còn đối với những người để Thiên Chúa dẫn dắt đời mình thì tương lai sẽ ngày càng tươi đẹp.
* 3. Hướng đi của lịch sử
Theo quan niệm thông thường của người đời, lịch sử đi theo vòng tròn : Hết xuân tới hạ, rồi thu, rồi đông, và sau đó trở lại chu kỳ Xuân Hạ Thu Đông. Theo quan niệm ấy, một năm trôi qua rồi sang năm khác với cũng những cảnh ấy, những việc ấy, những lao nhọc và khó khăn ấy.
Nhưng theo quan niệm Thánh Kinh, lịch sử đi theo đường thẳng và hướng đến một tương lai tốt đẹp do Chúa sắp sẵn cho những ai biết cùng Ngài hành trình trên con đường dương thế. Chính vì nghĩ thế nên Thánh Phaolô nói với tín hữu của Ngài rằng cứ mỗi năm trôi qua thì "ơn cứu độ của chúng ta gần hơn khi chúng ta mới tin đạo".
Hôm nay bắt đầu một năm Phụng vụ mới, chúng ta hãy quyết tâm sẽ đồng hành cùng Chúa trong suốt năm này, để mỗi ngày một tiến gần hơn tới ơn cứu độ.
* 4. Hướng lòng về Ngày Chúa đến
1/ Ý nghĩa mùa Vọng
Hôm nay chúng ta bắt đầu bước vào mùa Vọng. Vọng là hướng về, là chờ đợi. Mùa Vọng là thời gian để chúng ta hướng lòng về ngày Chúa đến, đồng thời chờ đợi Chúa đến. Chúa đến để khai mạc một thời đại mới, thời đại hết sức tốt đẹp hơn, tràn đầy hạnh phúc.
Chúa đến thế gian này hai lần, lần thứ nhất đã đến rồi, và lần thứ nhì chưa đến nhưng chắc chắn sẽ đến. Vì thế, mùa Vọng có hai ý nghĩa :
- Thứ nhất : chuẩn bị đón mừng kỷ niệm biến cố Chúa đến lần thứ nhất cách đây 2000 năm.
- Thứ hai : chuẩn bị đón Chúa đến lần thứ hai. Lần này, chúng ta không biết sẽ xảy ra vào lúc nào. Có thể còn lâu, nhưng cũng có thể đến nơi rồi. Ngài nói Ngài sẽ đến bất ngờ như kẻ trộm.
Tuy nhiên, biến cố quan trọng này vẫn có thể biết trước, nhất là đối với những tâm hồn tỉnh thức, luôn luôn chuẩn bị đón chờ, vì có những điềm báo trước. Thánh Phaolô viết : «Ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm ban đêm. Khi người ta nói : "Bình an biết bao ! Yên ổn biết bao !", thì lúc ấy tai họa sẽ thình lình ập xuống (…) chẳng ai trốn thoát được. Nhưng thưa anh em, anh em không ở trong bóng tối, để ngày ấy như kẻ trộm bắt chợt anh em. Vì tất cả anh em là con cái ánh sáng, con cái của ban ngày» (1 Tx 5,2-5).
2/ Chờ đợi «Trời mới đất mới», một kỷ nguyên tốt đẹp sẽ đến
Mùa Vọng là thời gian thuận lợi để Giáo Hội nhắc nhở chúng ta phải luôn luôn chuẩn bị và sẵn sàng đón chờ Chúa đến. Chúa đến để khai mở một kỷ nguyên mới : «Này đây, Ta sẽ sáng tạo trời mới đất mới» (Is 65,17a ; xem 66,22), nghĩa là một kỷ nguyên thanh bình, hạnh phúc, được ngôn sứ Isaia diễn tả như sau : «Sói sẽ ở với chiên con, beo nằm bên dê nhỏ. Bò tơ và sư tử non được nuôi chung với nhau, một cậu bé sẽ chăn dắt chúng. Bò cái kết thân cùng gấu cái, con của chúng nằm chung một chỗ, sư tử cũng ăn rơm như bò. Bé thơ còn đang bú giỡn chơi bên hang rắn lục, trẻ thơ vừa cai sữa thọc tay vào ổ rắn hổ mang. Sẽ không còn ai tác hại và tàn phá trên khắp núi thánh của Ta, và sự hiểu biết Đức Chúa sẽ tràn ngập đất này cũng như nước lấp đầy lòng biển» (Isaia 11,6-9). Kỷ nguyên này không còn chiến tranh, bất công, hận thù, không còn nước mắt, đau khổ. Mọi người đều thỏa mãn, an vui, hạnh phúc.
Vì thế, ngày Chúa đến là một ngày hết sức vui mừng cho những người sống tốt lành, khiêm nhường, yêu thương người khác. Ngày đó là ngày những người tốt lành hằng mong chờ, vì đó là ngày thiện vĩnh viễn thắng ác, là ngày Thiên Chúa toàn thắng ma quỉ cùng những thế lực xấu xa, là ngày ơn cứu chuộc được thể hiện tràn đầy, viên mãn. Ma quỉ cùng với sự ác, sự chết, đau khổ vĩnh viễn bị tiêu diệt khỏi thế giới người sống, và bị trừng trị đích đáng. Đó là một ngày đáng vui mừng hơn bất kỳ ngày nào !
Nhưng ngày đó cũng là ngày hết sức khủng khiếp cho những kẻ không yêu thương người chung quanh, những kẻ lãnh đạm trước những đau khổ của người khác, những kẻ sống bất lương, kiêu căng, gây tội ác, tạo bất công. Ngày đó Thiên Chúa sẽ hết sức thịnh nộ và không còn khoan nhượng đối với những phường gian ác. Ngài phán với họ : «Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác Quỷ và những kẻ theo nó. Thế là họ ra đi để chịu cực hình muôn kiếp»(Mt 25,41.46).
3/ Ngày đó có thể sắp đến
Kinh Thánh cho biết những điềm sẽ xẩy ra báo trước ngày ấy : các ngôn sứ giả, chiến tranh, đói kém, động đất, lụt lội, các thứ dịch tễ, tai họa… (xem Mt 24,4-8), các tội ác, tình trạng đạo đức giảm sút, lòng người ra khô khan nguội lạnh, tôn giáo thì đa số vụ hình thức mà lơ là điều cốt lõi là mến Chúa yêu người đích thật… Những điềm báo trước đó ngày càng thể hiện rõ rệt trong thời đại chúng ta. Vì thế, ta biết ngày Chúa đến không còn xa lắm, nó có thể sắp đến, một cách bất chợt.
Đức Kitô nói ngày ấy đến như kẻ trộm, điều đó không chỉ có ý nghĩa thời gian (tức vào thời điểm không ngờ được), mà có thể còn là hình thức (cách xảy đến cũng không ngờ được). Nghĩa là Chúa đến có thể theo một cách khác hẳn với cách mọi người thường nghĩ.
Ngày ấy là ngày Chúa phán xét, nên điều hết sức quan trọng là vào ngày ấy, chúng ta phải là người trong sạch, tốt lành, không có gì đáng chê trách trước mặt Chúa, nhất là về lòng yêu thương và cách xử sự đối với mọi người. Khi phán xét, Ngài phán xét ta chủ yếu về điều ấy.
4/ Hãy chuẩn bị sẵn sàng
Vì ta không biết ngày nào Ngài đến, nên khôn ngoan nhất là lúc nào ta cũng nên sẵn sàng. Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Kitô cũng khuyên ta như vậy : «Anh em hãy đề phòng, chớ để lòng mình ra nặng nề vì chè chén say sưa, lo lắng sự đời, kẻo ngày ấy như một chiếc lưới bất thần chụp xuống đầu anh em, vì ngày ấy sẽ ập xuống trên mọi dân cư khắp mặt đất». Chuẩn bị như thế nào ? Đức Kitô khuyên ta : «Anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn».
- Tỉnh thức là luôn luôn tỉnh táo ý thức rằng ngày ấy có thể đến bất kỳ lúc nào, nên lúc nào cũng sẵn sàng như thể Chúa sẽ đến vào ngay ngày mai, hay chốc lát nữa. Thái độ sẵn sàng đó chắc chắn không làm ta thiệt hại, mà giúp ta sống khôn ngoan, hạnh phúc hơn. Hình ảnh hay nhất minh họa sự tỉnh thức là thái độ của người canh kẻ trộm, không dám ngủ thiếp đi một phút nào.
- Cầu nguyện không phải chỉ là đọc kinh, mà là tâm trạng luôn hướng về Chúa, sẵn sàng làm bất cứ điều gì Ngài muốn. Cầu nguyện là hợp nhất với Thiên Chúa trong tâm tình yêu thương, nhất là trong ý hướng và hành động. Hãy luôn luôn muốn và thực hiện những điều Chúa muốn.
Có như vậy, chúng ta mới «đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến, và đứng vững trước mặt Con Người».
***
Lạy Cha, hiện nay, đã có biết bao nhiêu điềm báo hiệu ngày quang lâm của Chúa Giêsu. Ngày ấy có thể đã gần tới. Vì thế, xin Cha giúp con biết chuẩn bị cho ngày ấy, và sẵn sàng để bất kỳ lúc nào Ngài đến, Ngài cũng có thể hài lòng về con, về cách sống của con, về tình thương của con đối với mọi người, và về cách đối xử tốt đẹp của con đối với những người chung quanh con. Xin giúp con luôn tỉnh thức trong tinh thần cầu nguyện, như Chúa Giêsu đã khuyên nhủ mọi người trong bài Tin Mừng hôm nay. Amen (Nguyễn chính Kết)
* 5. "Hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên"
Thời Đức quốc xã thế chiến II. Một thanh niên 17 tuổi bị giam, vượt ngục, bị bắt lại và bị lên án tử, anh viết thư cho cha mình :
   "Thưa ba, con cảm thấy rất khó khi viết bức thư này, nhưng con phải báo cho ba hay là tòa án quân sự đã tuyên cho con một bản án rất nặng. Xin Ba đọc thư này một mình rồi sau đó tìm cách khéo léo kể lại cho má biết... Chỉ vài ngày nữa thôi, lúc 5 giờ sáng thì sự việc sẽ xảy đến... và con sẽ về với Chúa...
Phải chăng đó là một chuyến đi khủng khiếp ?.. Tuy nhiên giờ đây con thấy mình rất gần Chúa và con đang chuẩn bị chết... Con nghĩ điều đó thật là xấu đối với ba hơn là đôùi với con. Vì con biết, con đã xưng hết mọi tội của con rồi. Bây giờ con rất bình an..." (Mark Link kể)
* 6. Tỉnh thức và cầu nguyện
Trong cuộc chiến khốc liệt giữa Pháp và Đức năm 1870, tại một bệnh viện Pháp, có một thương binh vốn là sĩ quan người Đức đang bị bắt làm tù binh. Một hôm, bác sĩ cho biết anh sẽ không qua khỏi vì vết thương ngày càng trầm trọng. Viên sĩ quan tỏ ra bất cần một cách ngạo nghễ và can đảm chờ đợi cái chết.
Chị y tá nữ tu Dòng Nữ Tử Bác ái Vinh Sơn vốn chăm sóc anh từ lâu, ân cần ngỏ ý khuyên anh nên xin gặp một vị linh mục để dọn mình trước khi chết. Anh nhận mình là người Công giáo nhưng đã bỏ đạo từ lâu, nên một mực từ chối lời đề nghị chân thành này.
Chị nữ tu vẫn dịu dàng nói :
- Nếu vậy, tôi sẽ cầu nguyện xin Chúa cho ông mau hồi tâm trở về với Chúa.
Viên sĩ quan mỉa mai :
- Chỉ cực nhọc vô ích mà thôi
Chị nữ tu vẫn kiên nhẫn thuyết phục :
- Thú thật với ông, đã "16 năm" nay, các chị em trong Dòng vẫn luôn cầu nguyện cho một người trở về cùng Chúa.
Viên sĩ quan ngạc nhiên :
- 16 năm rồi cơ à ? Thế người được các chị cầu nguyện chắc "phải là ân nhân của nhà Dòng ?
Chị nữ tu trả lời :
- Cách đây rất lâu, mẹ tôi là người hầu cho một nữ Nam tước người Đức. Trong một lần tôi tới thăm mẹ, bà Nam tước biết tôi là nữ tu nên đã xin cầu nguyện cho con trai bà. Anh đã mất đức tin, sống phóng túng, đam mê danh vọng và quyền lực. Đã 16 năm qua, tôi và cả Nhà Dòng vẫn luôn cầu nguyện cho anh.
Người sĩ quan gặng hỏi :
- Thế mẹ của chị có phải là bà Béate không ?
Chị nữ tu vô càng ngạc nhiên :
- Nhưng tại sao ông lại biết tên mẹ tôi ?
Đến đây thì viên sĩ quan nghẹn ngào thú nhận :
- Thưa chị, tôi chính là Nam tước Charles, con trai của nữ Nam tước mà mẹ chị đã tận tuỵ hầu hạ bấy lâu. Chính tôi là người mà chị và Nhà Dòng đã cầu nguyện cho suốt 16 năm qua.
Có nhiều người sống như không bao giờ phải chết. Có nhiều người sống như thể thế giới sẽ vô tận. Có nhiều người sống như thế gian này đã là thiên đàng. Họ bị ru ngủ bởi những hoan lạc trần thế. Trái tim họ "ra nặng nề, vì chè chén say sưa".
Họ bị Chìm ngập trong những tính toán làm ăn, lo toan cho cuộc sống hiện tại, mà quên tìm lẽ sống thật.
Họ bị cuốn hút bởi đam mê danh vọng, quyền lực mà quên đi có những cái bất ngờ sẽ đến.
Viên sĩ quan trong câu chuyện trên đây là một điển hình.
Cuộc sống con người không thiếu những bất ngờ :
Có những bất ngờ thú vị làm cho chúng ta vui sướng khôn nguôi.
Có những bất ngờ bi thảm khiến chúng ta đau khổ tột cùng.
Mùa Vọng nhắc lại lần đến đầu tiên của Con Thiên Chúa, và kêu gọi chúng ta chuẩn bị lần đến cuối cùng của Người. Ngày đó khi nào xảy đến, chẳng ai biết được. Nó đến bất ngờ như chiếc lưới chụp xuống mọi người sống trên mặt đất" (Lc 21,35). Giữa hai lần ấy có biết bao lần Người bất ngờ đến. Đó là ngày tận cùng của mỗi người chúng ta.
Mùa Vọng là mùa Tỉnh thức
Nếu chúng ta luôn "Tỉnh thức và cầu nguyện" (Lc 21,36), luôn sẵn sàng và thanh thoát, thì việc Người đến sẽ là một bất ngờ thú vị. Ngày đó, chúng ta sẽ không phải "lo lắng hoang mang trước cảnh biển gào sóng thét" (Lc 21,25), chúng ta sẽ không "sợ hãi đến hồn xiêu phách lạc" (Lc 21,26), nhưng sẽ "đứng thẳng và ngẩng đầu lên" (Lc 21,28), vì chúng ta sắp được lãnh ơn cứu độ.
Lạy Đức Ki tô, ngày Chúa đến như vị Thẩm Phán, vũ trụ này sẽ xáo trộn sâu xa, nhưng xáo trộn kinh khủng nhất lại chính là xáo trộn trong cõi lòng.
Xin cho chúng con biết "tỉnh thức và cầu nguyện, để tâm hồn luôn sẵn sàng và thanh thoát. hầu khi Chúa đến sẽ là giây phút được mong đợi, và là một cuộc hạnh ngộ đầy hoan lạc và yêu thương. Amen (TP)
7. Những cây trường xuân
Trong quyển "The legend of the Bells", John Shea kể rằng sau khi tạo dựng các giống cây, Thiên Chúa muốn ban một món quà cho mỗi giống. Nhưng trước đó Ngài muốn làm một cuộc thử nghiệm để xem cây nào xứng đáng nhận món quà nào. Ngài bảo "Ta muốn các ngươi luôn tỉnh thức suốt 7 đêm".
Những cây trẻ rất nôn nao nhận quà nên thức suốt đêm chẳng có gì khó khăn. Tuy nhiên sang đêm thứ hai thì điều ấy không còn dễ nữa. Hoàng hôn vừa buông xuống là một số cây đã ngủ thiếp đi. Đêm thứ ba, số cây ngủ tăng thêm. Và cứ thế. Qua khỏi đêm thứ bảy thì chỉ còn một số cây còn thức, đó là cây tuyết tùng, cây thông, cây vân sam, cây linh sam, cây nhựa ruồi và cây nguyệt quế.
Thiên Chúa rất vui lòng với những cây này. Ngài phán : "Các ngươi đã kiên trì một cách rất đáng khen. Ta ban cho các ngươi món quà đặc biệt là được xanh tươi mãi mãi. Các ngươi sẽ là những cây bảo vệ cho cả khu rừng. Ngay cả khi giá lạnh mùa đông làm cho những cây khác phải chết thì các ngươi và con cháu các ngươi vẫn sống và mãi mãi xanh tươi".
Từ đó trở đi, người ta gọi những cây ấy là những cây trường xuân.
Kitô hữu phải là những cây trường xuân giữa khu rừng nhân loại. Thế giới chung quanh có thể ngủ vùi hoặc dần dà khô héo, nhưng kitô hữu vẫn tỉnh táo, vẫn thức, vẫn mọc lên những chồi xanh tốt bằng cuộc sống chứng nhân của mình. Nói cách khác, kitô hữu vẫn yêu thương giữa một thế giới hận thù, vẫn sống hòa thuận giữa một thế giới đấu tranh, vẫn giữ vững tâm hồn chính trực giữa một thế giới dối gian, vẫn hy vọng giữa một thế giới tuyệt vọng, vẫn tỏa ánh sáng rạng ngời giữa một thế giới tối tăm.
Nói một cách khác nữa, họ là những người thợ, những giáo viên, những y sĩ, những cha mẹ, những con cái v.v. lúc nào cũng tận tuỵ chu toàn trách nhiệm của mình. Họ chính là những cây trường xuân. (FM)
8. Chuyện minh họa về sự sẵn sàng
Một vị đan tu tên là Mésique. Bất trung với ơn gọi, ông đã sống một cuộc đời không mấy tốt đẹp trong nhiều năm. Đột nhiên ông bị bệnh nặng. Thiên Chúa cho ông rơi vào tình trạng hôn mê trong một tiếng đồng hồ. Khi tỉnh dậy ông không nói gì về những điều đã cảm thấy trong thời gian một tiếng đống hồ ấy. Ông xin người ta cho ông ở một mình trong một căn phòng xây kín, và ông đã ở đó suốt 12 năm trời. Hàng ngày, qua một cửa sổ nhỏ người ta đem đến cho ông một chút bánh mì và nước uống. Một hôm người ta tưởng ông đã chết nên phá cửa đi vào thì thấy ông đang hấp hối. Trước mặt các tu sĩ đang vây quanh, ông nói với họ những lời cuối cùng trước khi ra đi : "Anh em thân mến của tôi, người nào luôn khắc ghi vào tâm khảm ý tưởng về sự chết, người đó sẽ không bao giờ phạm tội."
Nói thế rồi, ông tắt thở, để lại cho một người một ấn tượng sâu đậm. (Góp nhặt)
9. Bài giải thích của Thánh Bernard (+ 1153)
Các bạn đừng chỉ nghĩ tới lần Chúa ngự đến để "tìm và cứu những gì hư mất" (Lc 19,10) ; hãy nghĩ tới lần Ngài ngự đến để rước chúng ta đi theo Ngài nữa. Ước gì các bạn hãy suy gẫm sâu xa về hai lần ngự đến ấy, và nghiền ngẫm trong lòng về điều Ngài đã ban cho ta trong lần ngự đến thứ nhất, và điều Ngài hứa sẽ cho ta trong lần ngự đến thứ hai.
"Bởi lẽ thời phán xét đã đến, bắt đầu từ nhà của Thiên Chúa. Nếu việc đó bắt đầu từ chúng ta, thì cuối cùng số phận của những kẻ từ chối không chịu tin vào Tin Mừng của Thiên Chúa sẽ ra sao ?" (1 Pr 4,17) Cuộc chung thẩm sẽ thế nào đối với những kẻ không đứng vững trong cuộc phán xét này ? Tất cả những ai trốn tránh cuộc phán xét bây giờ, tức là cuộc phán xét làm cho thủ lãnh thế gian này bị ném ra ngoài, thì họ phải chờ đợi, hay nói đúng hơn là phải lo sợ cuộc phán xét sẽ làm cho họ cũng bị ném ra ngoài cùng với thủ lãnh của họ. Còn nếu chúng ta chịu phán xét đầy đủ bây giờ thì chúng ta hãy an tâm "mong đợi Chúa Giêsu Kitô từ trời đến cứu chúng ta. Ngài có quyền năng khắc phục muôn loài, và sẽ dùng quyền năng ấy mà biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Ngài" (Pl 3,20-21) "Bấy giờ người công chính sẽ chói lọi như mặt trời trong Nước của Cha họ" (Mt 13,43)
Khi Chúa đến, Ngài sẽ biến đổi thân xác khốn khổ của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Ngài. Nhưng chỉ với điều kiện là trước đó tâm hồn chúng ta đã được biến đổi giống tâm hồn khiêm tốn của Ngài. Chính vì thế mà Ngài đã nói : "Hãy trở nên môn đệ Ta, vì Ta dịu hiền và khiêm tốn trong lòng" (Mt 11,29).
Các bạn hãy khám phá trong đoạn Tin Mừng này hai loại khiêm tốn : một là khiêm tốn về nhận thức, hai là khiêm tốn về tình yêu tức là khiêm tốn trong lòng. Loại khiêm tốn thứ nhất dạy ta biết rằng ta chẳng là gì cả, chúng ta chỉ học biết do chính chúng ta và do sự yếu đuối của chúng ta mà thôi. Với sự khiêm tốn thứ hai, chúng ta chà đạp vinh quang của thế gian, và chúng ta được học biết từ chính Đấng tự huỷ mình đi, mang phận tôi đòi ; khi người ta muốn tôn Ngài lên ngôi thì Ngài lánh đi ; còn khi được gọi chịu mọi thứ hành hạ và nhục hình trên thập giá thì Ngài đã vui lòng tự hiến.
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
Chủ tế : Anh chị em thân mến, nỗ lực sống thánh thiện, lấy tình bác ái huynh đệ mà đối xử với nhau, đồng thời luôn luôn tỉnh thức và không ngừng cầu nguyện, là những việc làm không thể thiếu được trong việc chuẩn bị đón mừng đại lễ Giáng sinh. Với tâm tình thiết tha trông đợi ngày Ngôi Hai Thiên Chúa giáng trần, chúng ta cùng dâng lời cầu xin :
1. Hội thánh có sứ mạng công bố cho toàn thể thế giới biết rằng / Chúa Giêsu Kitô là Đấng cứu độ duy nhất của trần gian / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho mọi nước mọi dân / biết chân thành đón nhận lời công bố của Hội thánh.
2. Trên thế giới ngày nay / nạn kỳ thị chủng tộc vẫn đang hoành hành ở nhiều nơi / đem đến vô vàn đau khổ cho những người bị kỳ thị / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho hết thảy mọi người / biết lấy tình bác ái mà đối xử với nhau.
3. Tửu sắc là nguyên nhân gây ra biết bao đổ vỡ trong đời sống hôn nhân và gia đình / biết bao tội ác trong đời sống xã hội / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho những ai đang đắm chìm trong tửu sắc / biết mau mắn thức tỉnh / đổi mới đời sống / để đem lại hạnh phúc cho những người thân yêu / và nhất là để đón mừng ngày Ngôi Hai xuống thế làm người.
4. Thánh Phaolô khuyên các tín hữu luôn cố gắng sống thánh thiện / nhất là sống bác ái yêu thương trong khi chờ đợi ngày Đức Kitô ngự đến / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết thành tâm lắng nghe / và tích cực thực hiện lời khuyên của vị tông đồ dân ngoại.
Chủ tế : Lạy Chúa là nguồn mọi ơn phúc, chúng con đang thao thức trông chờ ngày Chúa Giêsu Kitô, con Một Chúa hằng ưu ái, xuống thế làm người và ở cùng chúng con. Xin Chúa cho chúng con biết chuẩn bị thật tốt tâm hồn, để xứng đáng đón mừngđại lễ Giáng sinh sắp tới. Chúng con cầu xin
 

MV1-C153: TỈNH THỨC VÀ SẴN SÀNG ĐÓN CHỜ CHÚA LẠI ĐẾN

CHÚA NHẬT I MÙA VỌNG C
Gr 33,14-16 ; 1Tx 3,12-4,2 ; Lc 21,25-28.34-36
I.HỌC LỜI CHÚA
1. TIN MỪNG: Lc 21,25-28.34-36
(25) Khi ấy Đức Giê-su phán cùng các môn đệ rằng: “Sẽ có những điềm lạ trên mặt trời, mặt trăng và các vì sao. Dưới đất, muôn dân sẽ lo lắng hoang mang trước cảnh biển gào sóng thét. (26) Người ta sợ đến hồn xiêu phách lạc, chờ những gì sắp giáng xuống địa cầu, vì các quyền lực trên trời sẽ bị lay chuyển. (27) Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến. (28) Khi những biến cố ấy bắt đầu xảy ra, anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu chuộc”. (34) Vậy anh em phải đề phòng, chớ để lòng mình ra nặng nề vì chè chén say sưa, lo lắng sự đời, kẻo ngày ấy như một chiếc lưới bất thần chụp xuống đầu anh em, (35) vì ngày ấy sẽ ập xuống trên mọi dân cư khắp mặt đất. (36) Vậy anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người.
2. Ý CHÍNH:

Bài Tin mừng hôm nay là một phần trong diễn từ cánh chung của Đức Giê-su và được viết theo MV1-C153

Bài Tin mừng hôm nay là một phần trong diễn từ cánh chung của Đức Giê-su và được viết theo lối văn khải huyền (x. Lc 21,5-36). Trong đó Đức Giê-su cho biết sẽ có những điềm lạ trên trời dưới đất, tiên báo việc Con Người sẽ đến trên đám mây, đầy quyền uy cao cả. Người cũng dạy các tín hữu phải tỉnh thức và cầu nguyện luôn, để chờ đón ngày ấy. Cần tránh sa đà vào các đam mê, để khi Chúa đến bất ngờ, họ sẽ không lo bị phạt, và có thể đứng vững trước mặt Vua thẩm phán Giê-su.
3. CHÚ THÍCH:
- C 25-26: + Sẽ có những điềm lạ trên mặt trời, mặt trăng và các vì sao: Người Do thái thời xưa quan niệm không gian có ba tầng: Trời, đất và biển. Qua câu này, Đức Giê-su muốn dùng những hình ảnh có tính khải huyền, để diễn tả sự can thiệp dứt khoát của Thiên Chúa trên vũ trụ mà Ngài sắp giải thoát chúng khỏi sự dữ (x. Rm 8,19). Vì thế sự rung chuyển của ba tầng trời là dấu chỉ báo hiệu sự sụp đổ của chúng trong ngày tận thế (x. Kh 21,1-8).
- C 27-28: + Con Người: Đức Giê-su xưng mình bằng danh hiệu “Con Người”, vì danh hiệu này thể hiện đúng sứ mệnh Thiên Sai của Người. Danh hiệu Con Người có hai ý nghĩa khác nhau nhưng bổ túc cho nhau: Một là: “Người tôi tớ của Đức Gia-vê” sẽ phải chịu đau khổ để đền tội thay cho nhân loại (x. Mc 8,31); Hai là “Chúa Con sẽ được đưa lên trời ngự bên hữu Chúa Cha” (x. Tv 110,1), và sẽ tái lâm đến trên mây trời vào ngày tận thế, để trở thành Thẩm Phán tối cao xét xử thế gian, và thiết lập một “Vương quyền vĩnh cửu” (x. Đn 7,13-14). +Ngự trên đám mây: Mây được coi như xa giá của Thiên Chúa. Câu này cho biết Đức Ki-tô sẽ ngự đến trong uy quyền và vinh quang như Thiên Chúa. +Anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên: Trong ngày đó, thái độ của các tín hữu sẽ là “đứng thẳng” và “ngẩng đầu lên” trong niềm hy vọng và vui mừng vì sắp nhận được ơn cứu độ. Trong Tân ước, cứu độ không những ám chỉ cuộc Tử nạn và Phục sinh của Đức Giê-su thực hiện trên núi Sọ (x. Rm 3,24-26), mà còn ám chỉ công trình Người sẽ hoàn tất vào lúc cuối thời, khi Người quang lâm và làm cho mọi xác phàm được sống lại (x. Lc 21,28).
- C 34-35: + Đề phòng: Đồng nghĩa với cảnh giác. Đức Giê-su nhắn nhủ các tín hữu phải luôn cảnh giác vì tính cách bất ngờ của ngày tận thế. +Chiếc lưới bất thần chụp xuống: Giờ chết của mỗi người hay ngày tận thế chung toàn nhân lọai ví như chiếc lưới bất thần chụp xuống như ngư phủ chài lưới bắt cá. Việc chụp lưới này mang ý nghĩa là không ai tránh thoát được.
- C 36: + Hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn: Tỉnh thức là không mê ngủ, là luôn ở tư thế “thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sẵn” để chu toàn bổn phận được trao phó (x. Lc 12,35-48). Tỉnh thức còn là sự trung tín với Chúa. “Cầu nguyện luôn” nghĩa là cầu nguyện không ngừng (x. Lc 18,1), không nhàm chán hay nản chí (x. Lc 18,1). Cầu nguyện luôn là cách biểu hiện một đức tin mạnh mẽ sống động. +Đứng vững trước mặt Con Người: Nếu biết tỉnh thức và cầu nguyện không ngừng thì các tín hữu sẽ được cứu khỏi cơn gian nan thử thách sắp xảy đến và có thể đứng vững vào ngày tận thế trước toà phán xét.
4. CÂU HỎI: 1) Sự rung chuyển của ba tầng trời là dấu chỉ tiên báo điều gì sắp xảy đến? 2) Trong Thánh Kinh từ ngữ “Con Người” mang ý nghĩa thế nào? 3) Tại sao Đức Giê-su lại tự xưng là Con Người? 4) Tỉnh thức khác với ngủ mê ra sao? 5) Làm sao có thể cầu nguyện luôn khi người ta phải lo toan quá nhiều công việc hằng ngày?
II.SỐNG LỜI CHÚA
1. LỜI CHÚA: “Chớ để lòng mình ra nặng nề vì chè chén say sưa” (Lc 21,34).
2. CÂU CHUYỆN:
1) TẦM QUAN TRỌNG CỦA NIỀM HY VỌNG TRONG CUỘC SỐNG:
Trong một căn phòng nọ có bốn ngọn nến đang cháy sáng trước bàn thờ. Bỗng cây nến thứ nhất mở miệng than van: “Tôi là biểu tượng của An bình. Thế nhưng thời nay, thế giới đã không có sự bình an hòa thuận: con người không còn biết nhường nhịn nhau và hơi một chút đụng chạm là họ dùng gươm đao súng đạn nói chuyện hơn thua với nhau... Thế rồi ánh sáng của ngọn nến mờ dần và sau cùng tắt ngúm.
Cây nến thứ hai kiền bắt đầu tâm sự: “Tôi là biểu tượng cho Tin yêu. Thế nhưng thời nay, xem ra tôi đã trở nên thừa thãi. Biết bao người sống không tin yêu vào bất cứ ai và bất cứ sự gì! ”. Nói xong cây nến cũng từ từ lịm tắt.
Đến lượt cây nến thứ ba than van: “Tôi là biểu tượng của Hạnh phúc, nhưng đến nay tôi không còn đủ sức để tỏa sáng nữa. Người ta đã gạt tôi sang một bên và không cần biết đến giá trị của tôi nữa. Nhiều người đã quên luôn cả hạnh phúc đời sau mà chỉ tìm hạnh phúc chóng qua đời tạm này”. Dứt lời, ngọn nến liền vụt tắt.
Căn phòng trở nên tối mịt và chỉ còn một ngọn nến thứ tư tiếp tục phát ra ánh sáng yếu ớt. Bất chợt, một cô bé bước vào trong phòng nhìn lên bàn thờ, thấy ba ngọn nến đã tắt, cô liền tự nhủ: “Tại sao ba cây nến Hòa Bình, Tin Yêu và Hạnh Phúc lại bị tắt hết như thế? Cuộc sống của thế giới luôn cần đến ánh sáng từ những cây nến này”.
Bấy giờ cô gái nghe có tiếng nói yếu ớt phát ra từ cây nến thứ tư: “Đừng lo! Tôi là biểu tượng của Hy Vọng. Bao lâu tôi còn cháy sáng dù rất nhỏ bé mong manh, thì nhân loại vẫn hy vọng có lại được nền Hòa Bình, Tin Yêu và Hạnh phúc”. Nghe vậy cô bé liền dùng cây nến Hy Vọng đang cháy leo lét để thắp sáng ba cây nến kia và căn phòng đã chiếu tỏa đầy ánh sáng chan hòa như trước.
Niềm hy vọng rất quan trọng trong cuộc đời mỗi người chúng ta. Khi mọi sự xem ra đã bị tắt ngúm thì chúng ta cũng đừng thất vọng, vì chỉ cần một chút ánh sáng hy vọng là chúng ta vẫn có thể tìm lại được các thứ ánh sáng khác. Vì thế có người đã nói: “Thà thắp lên một ngọn đèn, còn hơn là ngồi đó mà nguyền rủa bóng tối”. Ngọn đèn cháy sáng đó chính là niềm Hy Vọng vào một tương lai tươi sáng sẽ đến.
2) PHẢI LUÔN TỈNH THỨC :
Có một bà già nóng tính, đi trên một chuyến tàu lửa. Khi xe đang xuống dốc, bà liền hỏi tài công:
- Chúng ta có thể dừng lại được không?
Bác tài công trả lời ngay:
- Được chứ, chúng tôi có chiếc thắng điện mà.
Bà già chưa lấy làm thỏa mãn, nên hỏi tiếp:
- Nhưng nếu chiếc thắng điện không ăn, thì bác có thể dừng lại được không?
Bác tài công vui vẻ trả lời:
- Được chứ, chúng tôi còn chiếc thắng tay nữa.
Bà già liền nói:
- Lỡ chiếc thắng tay cũng không ăn thì sao?
Bác tài công vẫn không mất kiên nhẫn:
- Chúng tôi còn một chiếc thắng đặc biệt dành cho những trường hợp khẩn cấp.
Bà già vẫn không an tâm, nên hỏi:
- Nếu cả chiếc thắng đặc biệt này cũng không ăn, thì số phận chúng ta sẽ ra sao?
Bác tài công tỏ vẻ bực bội:
- Nếu chiếc thắng đặc biệt này mà không ăn, thì một số người trong chúng ta sẽ lên thiên đàng, còn một số người khác sẽ xuống hỏa ngục.
Mỗi ngày qua đi là một bước tiến dần đến cái chết, để rồi tới một lúc nào đó, chúng ta sẽ phải ra trước tòa án tối cao để tính sổ cuộc đời với Chúa. Liệu mỗi người chúng ta có sẵn sàng cho phiên tòa định mệnh này hay không ?
3) CON TÀU TI-TA-NIC :
Đêm 15.04.1912 các báo đài trên thế giới đồng loạt đưa tin về con tàu Ti-ta-nic nổi tiếng bị đắm. Bấy giờ tàu này đang chạy trên vùng phía Bắc Đại Tây Dương, không may đụng phải một tảng băng ngầm. Sự va chạm mạnh khiến thành tàu bị lủng một miếng lớn, và bị nước ào vào các khoang trong hầm tàu. Mấy tiếng đồng hồ sau thì con tàu đã bị gãy ra làm đôi và chìm xuống đáy biển, mang theo phần lớn hành khách và toàn bộ thủy thủ đoàn.
Ti-ta-nic là một con tàu vĩ đại: dài 271 mét, rộng 28 mét, cao 22 mét với 8 tầng lầu và mỗi phòng đều có đầy đủ tiện nghi. Trên tàu có phố chợ, hồ bơi, sân chơi thể thao, rạp hát, vườn bông, nhà hàng... Số hành khách có mặt trên tàu khi gặp nạn vào khoảng 1500 người. Hầu hết là các người có địa vị cao trong xã hội như các ông hoàng bà chúa, chính khách, đại phú gia, nghệ sĩ, thương gia... Con tàu Ti-ta-nic này khi hạ thủy đã được đánh giá là có độ an toàn tuyệt đối, thách thức được mọi thời tiết. Nhưng trong thực tế khi mới khởi hành được mấy ngày thì tàu đã gặp phải một tai nạn thảm khốc nhất trong lịch sử hàng hải thế giới.
Gần đây, trong dịp kỷ niệm biến cố đắm tàu Ti-ta-nic, một tạp chí tôn giáo kia, sau khi nhắc lại thảm họa, đã nêu ra câu hỏi để độc giả suy nghĩ như sau: “Giả như chúng ta có mặt trên con tàu Ti-ta-nic khi nó đang bị chìm, thì chúng ta có tiếp tục vui chơi ăn uống khiêu vũ... mà quên rằng mình sắp bị chết chìm hay không?”.
3. SUY NIỆM:
Hôm nay bắt đầu vào Mùa Vọng, là thời gian trông mong Chúa lại đến, chúng ta được nghe Lời Chúa nhắc nhở : “Anh em phải đề phòng, chớ để lòng mình ra nặng nề vì chè chén say sưa, lo lắng sự đời, kẻo ngày ấy như một chiếc lưới bất thần chụp xuống đầu anh em” (Lc 21,34).
1) Cái chết thường đến bất ngờ : Lời Chúa hôm nay cũng nói đến sự bất ngờ này như sau: “Anh em phải đề phòng, kẻo ngày ấy như một chiếc lưới bất thần chụp xuống đầu anh em” (Lc 21,34). Nơi khác Chúa Giê-su cũng nói: “Anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến... Anh em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến” (Mt 24,42.44).
2) Nhưng không hoàn toàn bất ngờ: Vì Chúa vẫn thương yêu chúng ta. Người luôn ban cho chúng ta nhiều tín hiệu báo trước về cái chết, để chúng ta kịp thời chuẩn bị. Mỗi khi thấy một người chết vì bệnh tật hay bị tai nạn... chính là một tín hiệu Chúa gửi tới để nhắc ta về cái chết của mỗi chúng ta. Khi ta không may bị tai nạn té xe bị thương nhẹ, hoăc bị trơn trượt té ngã … Khi phát hiện ra mấy sợi tóc bạc xuất hiện trên đầu, một chiếc răng sâu rất đau phải đi nhổ, đôi mắt ngày càng mờ phải đi cắt kiếng, tay chân bị thấp khớp sưng tấy lên khiến đi lại khó khăn, hay một cơn đau tim nhẹ xuất hiện... Đó chính là những tín hiệu cho thấy sức khỏe chúng ta bắt đầu suy yếu và tiên báo thần chết đang đến gần ! Chúng ta không nên cố tình bịt tai nhắm mắt trước những tín hiệu ấy, nhưng hãy tìm hiểu ý nghĩa của nó và chuẩn bị tâm hồn để sẵn sàng đón chờ giờ chết sẽ đến vào bất cứ lúc nào.
3) Phải làm gì trong Mùa Vọng này ?
- Phải canh thức và đề phòng: Đừng để cho những đam mê lạc thú bất chính, những nhu cầu của thể xác như cơm, áo, gạo, tiền... chi phối chúng ta, làm cho chúng ta quên đi cùng đích cuộc đời của mình là về Nhà Cha trên trời. Trong khi chờ đợi ngày ấy, chúng ta cần phó thác cuộc sống trong tay Chúa Quan Phòng và ưu tiên tìm kiếm Nước Trời như Lời Chúa phán: “Vì thế, anh em đừng lo lắng tự hỏi: Ta sẽ ăn gì, uống gì hay mặc gì đây?” (Mt 6,31). Vậy “trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người. Còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho” (Mt 6,33).
- Phải tỉnh thức và cầu nguyện luôn:
* Tỉnh thức là không “chè chén say sưa”,nghĩa là không quá mê đắm hưởng thụ các đam mê vật chất đời này. Tỉnh thức là không “lo lắng sự đời”, nghĩa là không mê say tìm kiếm những giá trị tạm bợ ở đời này là danh, lợi, thú. Tỉnh thức là biết chuẩn bị cho đời sau bằng cách vươn tâm hồn lên những chân trời cao thượng. Tỉnh thức là tuy đang còn sống trong thế giới vật chất hiện nay nhưng tâm hồn phải hướng về những giá trị thiêng liêng vĩnh cửu đời sau.
* Cầu nguyện: Ta phải cầu nguyện vì “tinh thần thì hăng say, nhưng thể xác lại yếu hèn." (Mt 26,41. Cầu nguyện để luôn thức tỉnh. không mê ngủ, nhưng luôn “thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sẵn” để đón Chúa đến bất cứ lúc nào (x. Lc 12,35-48). Tỉnh thức còn là sự trung tín với Chúa. Cầu nguyện luôn nghĩa là cầu nguyện không ngừng (x. Lc 18,1), không nhàm chán hay nản chí (x. Lc 18,1). Cầu nguyện luôn là cách biểu hiện một đức tin mạnh mẽ sống động. Vì khi cầu nguyện là ta tách lìa khỏi các ràng buộc của thế giới vật chất để hướng tới các sự trên trời. Nhất là cầu nguyện còn để xin ơn Chúa trợ giúp. Vì xác thịt dễ bị các thú vui đam mê lôi kéo. Chỉ khi được Chúa giúp sức, chúng ta mới hy vọng sống siêu thóat, khỏi những quyến luyến lạc thú đời này để vươn tới cuộc sống hạnh phúc vĩnh hằng đời sau.
4) Thực hành Lời Chúa thế nào trong những ngày này ? :
* Năng tưởng nhớ đến Chúa : Chúng ta hãy làm những việc bổn phận thường ngày kèm theo một lời nguyện tắt như : « Lạy Chúa. Con xin làm việc này để cầu cho một người quen được sớm nhận biết tin yêu Chúa ». Mỗi ngày có biết bao giờ phút có thể gặp gỡ Chúa mà chúng ta lại bỏ qua, như: Khi phải ngồi chờ người bạn đến trễ ; Khi dừng xe ở ngã tư để chờ đèn xanh ; Khi món quà mới mua đang được đóng gói; Khi đang trong thang máy để lên phòng làm việc ; Khi đang ngồi máy tính bất ngờ bị cúp điện... Những lúc ấy, thay vì sốt ruột bực tức, chúng ta hãy thưa chuyện với Chúa: “Lạy Chúa Giê-su. Xin dạy con yêu mến Chúa”.- “Lạy Chúa. Xin cho cha mẹ, chồng vợ, con cái, anh em con luôn khỏe mạnh và bình an ”.
 
* Năng đến nhà thờ dự lễ và dọn mình rước lễ mỗi ngày : Khi tham dự thánh lễ, chúng ta sẽ được nghe Lời Chúa, đón nhận được sức sống của Chúa, nhờ đó sẽ ngày một nên hoàn thiện giống như Chúa Cha trên trời (x. Mt 5,48).
* Luôn tỉnh thức đón chờ Chúa đến: Khi tổ chức mừng thọ 60, 70 tuổi… chúng ta cần ý thức ngày giờ Chúa đến có thể đã gần bên cửa. Hãy nhớ rằng khi chết, chúng ta không thể mang theo vàng bạc vật chất trần gian. Chỉ những của cải thiêng liêng như các việc từ thiện bác ái và các đóng góp để “làm cho danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến” mới có giá trị trước tòa Chúa phán xét (x Mt 25,34-40). Do đó ta cần phải cấp thời lo hòan thành những gì đang còn dở dang hoặc các công trình văn hóa muốn lưu truyền cho con cháu. Ngòai ra các bậc làm cha mẹ hay các vị có trách nhiệm lãnh đạo cộng đòan cũng cần làm di chúc. Cần liệu sao để bản di chúc có giá trị pháp lý và ủy thác cho người có uy tín thi hành, hầu tránh tình trạng tranh chấp chia rẽ giữa các thành viên trong gia đình sau khi mình qua đời.
4. THẢO LUẬN : Bạn có đồng ý với lời dạy của thánh nữ Tê-rê-sa : “Làm những việc bình thường bằng một cách thức phi thường” hay không ? Tại sao ? 
5. NGUYỆN CẦU:
LẠY CHÚA GIÊ-SU. Con thường nghĩ mình không có giờ cầu nguyện, không có giờ đi vào sa mạc để trò chuyện với Chúa. Nhưng thật ra sa mạc luôn ở ngay bên và ở trong lòng con. Chỉ cần một chút cố gắng là con có thể tạo ra sa mạc cho mình. Mỗi ngày có biết bao giờ phút có thể gặp gỡ Chúa mà con lại bỏ qua… Xin cho con năng dâng lời nguyện tắt lên Chúa để được sống kết hiệp với Chúa và có sự bình an trong tâm hồn. Thật hạnh phúc cho chúng con nếu khi Chúa đến bất ngờ, mà thấy chúng con đang tỉnh thức cầu nguyện và đang trong tư thế đón chờ Chúa đến.
X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON
LM ĐAN VINH - HHTM 
 

MV1-C154: TỈNH THỨC VÀ CẦU NGUYỆN

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT
 CHÚA NHẬT I MÙA VỌNG, năm C
Lc 21,25-28.34-36

Mùa vọng lại trở về.Chu kỳ Phụng vụ lại bắt đầu. Mùa vọng là mùa chờ đợi, mong chờ lần thứ MV1-C154

Mùa vọng lại trở về.Chu kỳ Phụng vụ lại bắt đầu. Mùa vọng là mùa chờ đợi, mong chờ lần thứ nhất Con Thiên Chúa đến trần gian, nhưng Mùa vọng cũng là mùa chờ đợi Chúa Giêsu quang lâm một cách bất ngờ, đột xuất không ai có thể suy đoán, biết trước được. Lần sau cùng này đến thình lình như :” chiếc lưới chụp xuống mọi người sống trên mặt đất “ ( Lc 21,35 ).
Người ta cứ tưởng rằng ngày tận cùng sẽ xẩy đến lúc này, lúc nọ, năm này, năm kia. Không giữa hai lần chờ đợi, đã có biết bao lần Chúa bất ngờ đến. Đó là ngày chết của mỗi người, của chính chúng ta. Bởi vì, trên thế giới đã có biết bao người giỏi giang, trổi vượt, có biết bao nhà khoa học, bác học muốn biết ngày nào con người chết, ngày nào là ngày tận thế! Tuy nhiên, những người đó đã tốn biết bao công sức, tiền của với biết bao nghiên cứu khoa học, biết bao giả thiết đưa ra với nhiều kết luận, cuối cùng mọi cố gắng của họ đều bó tay. Bao đe dọa, bao lời tiên tri, suy đoán của giáo phái này, giáo phái kia đều trở nên lố bịch, vô ích !Chúa nhật thứ I Mùa vọng năm C, Chúa nói cho con người, cho nhân loại, cho chúng ta về viễn cảnh của ngày phán xét, ngày cánh chung. Chúa cho chúng ta thấy trước những cảnh tượng và những sự việc hãi hùng đến nỗi con người, và chúng ta sẽ sợ hãi, run lên, hồn xiêu phách lạc  khi phải đối diện, đương đầu với những tai họa giáng xuống địa cầu như Tin mừng hôm nay kể ra :” Điềm lạ trên mặt trời, mặt trăng. Dưới đất, muôn dân sẽ lo lắng hoang mang vì biển gào sóng thét…” ( Lc 21,25-26 ).Trước những cảnh tượng khủng khiếp, nhưng xẩy đến bất ngờ, con người không kịp ăn năn, hối cải, không còn cơ hội để làm những việc lành phúc đức để mong Chúa thưởng công. Chỉ có những người biết lắng nghe lời Chúa, thực thi lời Chúa, những người thánh thiện, đạo đức luôn khôn ngoan, sẵn sàng như năm cô trinh nữ khôn ngoan mang đèn mà lại mang dầu theo, hoặc như những đầy tớ nhanh nhẹn, đắn đo kỹ càng, suy nghĩ cẩn thận, luôn chóng vánh, tỉnh thức đón chờ ông chủ đi làm xa về , mới đủ sức, đủ điều kiện thoát khỏi mọi sự việc sắp xẩy ra trong tư thế đứng thẳng và ngẩng đầu cao vì những người này luôn sẵn sàng, cầu nguyện và hết sức tỉnh táo “ đành mất mạng sống “ để sẵn sàng vào dự tiệc với Chúa Giêsu trong Nước Trời.
Vâng, Thiên Chúa yêu thương con người, Ngài không muốn để bất cứ người nào hư mất, nên Ngài đã cho con người, cho chúng ta biết trước cảnh tượng khủng khiếp đó để chúng ta tỉnh thức và cầu nguyện.Tuy nhiên, con người thường dửng dưng cho rằng ngày đó còn lâu, hoặc chưa thể nào xẩy đến được, cứ từ từ không gì phải  vội vàng… Ngày đó không thề là hôm nay cũng không thể là ngày mai…Chính vì thế, họ tỉnh bơ trước lời cảnh tỉnh của Chúa Giêsu. Chúng ta hãy coi chừng vì Chúa cảnh giác chúng ta thật mạnh mẽ và rõ ràng :” Thiên Chúa chính là chủ nhân của cuộc sống vì Ngài là Vua Vũ trụ. Ngài điều khiển mọi sự trên trời, dưới đất “. Chính vì thế, chúng ta phải mau mắn sửa đổi nếp sống, ăn ngay ở lành để canh tân, sám hối, quay trở về với Chúa.
Lạy Chúa Giêsu, Xin giúp chúng con luôn “ tỉnh thức và cầu nguyện “, luôn sẵn sàng đón chờ Chúa đến. Xin ban thêm đức tin cho chúng con để chúng con luôn thanh thoát, mau mắn chờ đón Chúa vì chúng con sắp được lãnh ơn cứu độ. Amen.
 
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
 1.Đức Giêsu báo trước cho con người điều gì ?
2.Chúng ta có biết khi nào Chúa đến không ?
3.Chúa có đến bất ngờ không ?
4.Lần thứ nhất, Chúa đến là lần nào ?
5.Ngày tận cùng của mỗi người chúng ta là ngày nào ?
 

MV1-C155: Đức công chính là đường lối Thiên Chúa cứu độ chúng ta

CHÚA NHẬT I MÙA VỌNG
Lắng nghe sứ điệp Lời Chúa  (Gr 33:14-16;  1 Tx 3:12 – 4:2;  Lc 21:25-28, 34-36)

Cử hành năm phụng vụ là tưởng niệm những việc vĩ đại Chúa làm cho chúng ta trong kế hoạch MV1-C155

Cử hành năm phụng vụ là tưởng niệm những việc vĩ đại Chúa làm cho chúng ta trong kế hoạch cứu độ của Người.  Khởi đầu kế hoạch ấy là sự kiện Chúa đến trần gian qua mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể và kết thúc kế hoạch là việc Chúa Ki-tô trở lại để phán xét muôn loài trong ngày tận thế.  Chúng ta sang một năm phụng vụ mới, bắt đầu bằng mùa Vọng là thời gian chuẩn bị đón mầu nhiệm Giáng Sinh.  Trong thời gian này, Giáo Hội mời gọi chúng ta suy niệm về những lý do và động lực của kế hoạch cứu độ, đồng thời chiêm ngưỡng cách thức Thiên Chúa thực hiện kế hoạch ấy thế nào.  Vậy động lực nào khiến Chúa thương cứu độ chúng ta?  Dĩ nhiên là tình yêu vô điều kiện của Người.  Nhưng Chúa dựa trên đường lối nào để thực hiện kế hoạch cứu độ ấy?  Phụng vụ Lời Chúa hôm nay cho chúng ta câu trả lời:  Thiên Chúa lấy đức công chính của Người để đánh bại sự bất chính của chúng ta, bằng cách sai Con Một đến để phục hồi sự công chính cho chúng ta.
          “Ta sẽ cho mọc lên trong nhà Đa-vít một mầm non, một Đấng Công Chính”.  Tội nguyên tổ đã hủy hoại sự công chính của con người trước mặt Thiên Chúa.  Sự công chính ấy là nền tảng để A-đam đủ tư cách làm “bạn hữu” với Thiên Chúa và được cùng “đi dạo trong vườn” với Thiên Chúa.  Sau khi A-đam và E-va phạm tội bất tuân, Thiên Chúa “trục xuất con người, và ở phía đông vườn Ê-đen, Người đặt các thần hộ giá với lưỡi gươm sáng loé, để canh giữ đường đến cây trường sinh” (Sáng Thế 3:8, 24).  Vì sự bất chính ấy, con người đã mất đi quyền làm con cái đứng thẳng trước mặt Chúa, tệ hơn nữa họ không được đến cây trường sinh, nghĩa là mất đi sự sống đời đời, vì cửa thiên đàng đóng lại và được các thần hộ giá cầm gươm canh giữ.  Tuy nhiên theo Tin Mừng nguyên thủy (Sáng Thế 3:15), Thiên Chúa hứa ban Đấng Cứu Độ và việc thực hiện lời hứa ấy được ngôn sứ Giê-rê-mi-a loan báo:  “Trong những ngày ấy, vào thời đó, Ta sẽ cho mọc lên một mầm non, một Đấng Công Chính để nối nghiệp Đa-vít;  Người sẽ trị nước theo lẽ công bình chính trực”.  Đúng vậy, thời kỳ đã mãn, Thiên Chúa sai Con Một đến trần gian thiết lập một “nước theo lẽ công bình chính trực” để thay thế cho vương quốc do ma quỷ và tội lỗi thống trị.  Sự công chính xưa kia đã bị mất đi do tội bất tuân của A-đam giờ đây sẽ được phục hồi nhờ Chúa Ki-tô, Đấng đã vâng lời Thiên Chúa đến nỗi bằng lòng chịu chết trên thập giá (Phi-líp-phê 2:8). Nước Thiên Chúa đã khai mở:  Thành Giê-ru-sa-lem mang một tên mới là “Đức-Chúa-là-sự-công-chính-của-chúng-ta”;  còn vua Đa-vít Mới là Chúa Ki-tô, tức Đấng Công Chính, sẽ trị nước theo lẽ công bình chính trực, tức là Người sẽ lấy đức công chính của Thiên Chúa mà đưa chúng ta về giải hòa với Thiên Chúa.  Đó là đường lối Thiên Chúa sử dụng để cứu độ chúng ta.
          Chúa Giê-su loan báo việc “Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến”, thì điều này không chỉ hiểu về ngày Chúa Ki-tô đến lần thứ hai để phán xét muôn loài, mà có thể còn ám chỉ ngay việc Chúa đến trần gian lần thứ nhất qua việc Nhập Thể làm người phàm để sống giữa chúng ta.  Đón nhận Người đến lần thứ nhất xem ra còn quan trọng hơn cả việc đón Người trở lại trong ngày tận thế.  Thực vậy, nếu Chúa đến lần thứ nhất để biến đổi thân phận tội lỗi của chúng ta và mời gọi chúng ta sống sự sống mới, mà chúng ta ngoan cố không đáp lại thì việc Chúa đến lần thứ hai sẽ chỉ là để luận tội chúng ta mà thôi.  Vì thế, Chúa Giê-su mới kêu gọi chúng ta “phải đề phòng, chớ để lòng mình ra nặng nề vì chè chén say sưa, lo lắng sự đời…, anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người”.  Ở đây Chúa Giê-su nhấn mạnh đến việc chúng ta phải chuẩn bị để tiếp nhận Nước Thiên Chúa.  Trước hết chúng ta hãy tránh những thái độ tiêu cực như để tâm hồn mình nặng trĩu vì ăn uống say sưa, lo làm giàu và tìm danh vọng.  Ngược lại là những thái độ tích cực như tỉnh thức và cầu nguyện, bởi vì những việc này giúp chúng ta “đủ sức” và “đứng vững”:  đủ sức để chống lại mọi cám dỗ và đứng vững trước những tấn công của ma quỷ và thế gian để luôn trung thành theo Chúa Giê-su đến cùng.
Sống sứ điệp Lời Chúa
          Không phải chỉ chúng ta ngày nay mới lo lắng về Ngày Chúa đến phán xét, nhưng ngay thời các tông đồ, thánh Phao-lô đã khuyên nhủ anh em tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca phải sống làm sao để chuẩn bị cho ngày Chúa đến.  Ngài tha thiết xin họ “phải sống thế nào cho đẹp lòng Thiên Chúa”.  Ngài nhận thấy họ đang sống đúng như vậy, nên ngài vui lắm và ngài khích lệ họ:  “Vậy nhân danh Chúa Giê-su, chúng tôi xin, chúng tôi khuyên nhủ anh em hãy tấn tới nhiều hơn nữa”.  Có phải đây là điều khó thực hiện lắm phải không?  Không đâu, vì thánh Phao-lô quả quyết với chúng ta rằng:  “Chúa sẽ cho anh em được bền tâm vững chí, được trở nên thánh thiện”.  Do đó, sống đẹp lòng Thiên Chúa không phải là công việc chúng ta đơn thương độc mã làm lấy một mình, mà chúng ta còn có Chúa Giê-su đồng hành, có anh chị em trong cộng đồng Giáo Hội nâng đỡ, có ân sủng và các bí tích trợ giúp.  Chúng ta không sợ hãi hay nản lòng, nhưng hãy “đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì ta sắp được cứu chuộc rồi!”  Lạy Chúa Giê-su, Đấng Công Chính, xin hãy đến!
        Lm. Đa-minh Trần đình Nhi
 

MV1-C156: HÃY TỈNH THỨC

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT
CHÚA NHẬT I MÙA VỌNG, năm C
Lc 21, 25-28.34-36

Mùa vọng là mùa chờ đợi, đợi chờ Con Thiên Chúa đến cứu độ nhân loại, cứu rỗi con người. Phụng MV1-C156

Mùa vọng là mùa chờ đợi, đợi chờ Con Thiên Chúa đến cứu độ nhân loại, cứu rỗi con người. Phụng vụ Mùa vọng đặt người Kitô hữu trước thái độ phải có để có thể đón chờ Chúa đến : tỉnh thức. Tỉnh thức theo nghĩa Mùa vọng là nhận ra ý nghĩa, nội dung của thời cứu độ, nhận ra những điềm báo như khởi điểm của thời cứu độ đang đến, và nhờ những điềm báo trước, con người chúng ta sẽ có thái độ thích hợp như Chúa đòi hỏi.
Các bài đọc cho thấy thời điểm và những điềm báo, chẳng hạn bài đọc thứ I, ngôn sứ Giêrêmia cho hay thời cứu độ trong đó nhà Israen và nhà Giuđa sẽ được một vị vua thuộc dòng dõi vua Đavít cai trị, lãnh đạo. Vị vua ấy là vị vua lý tưởng của lịch sử dân Thiên Chúa. Vị vua ấy sẽ   luôn đi theo đường lối của Chúa, biết lắng nghe lời Chúa và thực thi giáo huấn của Chúa theo lẽ công bình và công lý. Vị vua này sẽ không cai trị dân cách tùy tiện như các nhà lãnh đạo bất lương, như các mục tử xấu, nhưng luôn luôn theo đường chính trực của Thiên Chúa. Nhờ vị vua công chính lãnh đạo : cả vua lẫn dân đều làm theo ý Chúa, lúc đó đất nước sẽ an bình, không còn chiến tranh,  không còn chia rẽ vv…Vị vua của thời cứu rỗi sẽ được gọi là vị cứu tinh, là “ Thiên Chúa, Đấng công chính của chúng tôi “. Thực vậy, dân Do Thái tin tưởng rằng khi các vị mục tử không làm tròn trách nhiệm, nhiệm vụ của mình thì chính Thiên Chúa sẽ thực hiện và gửi đến một “ chồi công chính “ của vua Đavít và Ngài sẽ làm cho đất nước an bình.
Bài Tin Mừng của thánh Luca hôm nay là một điềm báo của Chúa Giêsu cho các môn đệ của Ngài đón nhận ý định cứu độ của Thiên Chúa Cha khi Chúa Giêsu loan báo cuộc thương khó, và tử nạn của Chúa Giêsu. Chúa chuẩn bị trước để các môn đệ của Chúa đón nhận những việc lớn lao và quyết định của Chúa Giêsu, vâng phục Chúa Cha để chấp nhận cái chết trên khổ giá, để cứu độ nhân loại, cứu rỗi con người. Việc đó sẽ xẩy ra với chính bản thân của Ngài.
Thánh Phaolô gửi giáo đoàn Thessaloniaca dạy người Kitô hữu phải sống Mùa vọng làm sao để đức tin của mình luôn bừng sáng. Mặc dầu tín hữu Thessalonica đã sốt sắng, đã thánh thiện, họ cần phải sống sao để thánh thiện hơn, sốt sắng, đạo đức hơn. Thánh Phaolô khuyên nhủ chúng ta phải có mối giây thân tình với Chúa và phải yêu thương nhau như Chúa đã yêu thương chúng ta. Sống như thế là mục đích của Mùa vọng và là cốt lõi của Tin Mừng, của thánh thiện.  Tin Mừng của thánh Luca cho chúng ta một cái nhìn bao quát về thời kỳ cứu độ, lớn lao đó. Đoạn Tin Mừng này được viết theo văn chương khải huyền nói đến ngày Chúa đến lần thứ nhất, việc chấp nhận đau khổ, cái chết và nói đến ngày cánh chung. Thời kỳ thứ nhất đến thời tận cùng là thời kỳ của Giáo Hội. Chúa đến để tiêu diệt bóng tối và sự dữ ra khỏi con người. Chính vì thế, Giáo huấn của Giáo Hội khuyên nhủ con người phải tỉnh thức và cầu nguyện để tránh xa những thói hư tật xấu, những đam mê hư đốn của thế gian. Chúa loan báo ngày cánh chung nhưng thực tế Ngài không mặc khải lúc nào. Giờ nào, nhưng Ngài chỉ nói tới những điềm báo, những sự việc sẽ xẩy ra như những hiện tượng : bão lụt, hạn há, chiến tranh, mặt trời, mặt trăng, các vì tinh tú lay chuyển vv…Chúa giũ bí mật về ngày tận thế và kêu gọi con người phải luôn sẵn sàng tỉnh thức và cầu nguyện.
Phụng vụ nhắc chúng ta về việc Chúa đã đến lần thứ nhất trong thế giới, trong lịch sử nhân loại, tuy nhiên Mùa vọng không chỉ để chuẩn bị đón mừng Mầu nhiệm Giáng sinh vì Chúa đã đến từ lâu hơn hai ngàn năm trong lịch sử cứu độ, nhưng là giúp chúng ta tỉnh thức, cầu nguyện, đón chờ ngày cùng tận của mỗi người chúng ta. Giờ đó, Chúa không báo trước cho chúng ta mà đó là một bí mật hoàn toàn.
Chúng ta đón chờ ngày cùng tận không phải với thái độ thụ động, ù lì, nhưng với thái độ tỉnh thức, tích cực như Chúa Giêsu đã dấn thân vào đời, Ngài đã chữa lành bệnh hoạn tật nguyền, làm cho con người bớt đau khổ, Ngài đã đến với mọi lớp người trong xã hội , đẩy xa bóng tối tội lỗi, sự dữ và rao giảng Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Sống Mùa vọng là sống tích cực điều Chúa muốn, điều Chúa dạy là chu toàn sứ mạng Chúa Phục Sinh đã giao cho các môn đệ, cho Giáo Hội và cho chúng ta : rao giảng Tin Mừng khắp mọi nơi và sống yêu thương như Ngài.
 
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
 1Mùa vọng dạy chúng ta những gì ?
2.Tỉnh thức theo nghĩa Tin Mừng là sao ?
3.Viết theo văn chương Khải huyền là sao ?
4.Những điềm báo nói cho chúng ta những gì ?
5.Chúa có mặc khải ngày cánh chung không ? Tại sao ?
 

MV1-C157:  Ki-tô hữu phải làm gì khi sắp được cứu chuộc?

CHÚA NHẬT I MÙA VỌNG
 
Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Lu-ca 21:25-28,34-36)

Giống như bài Tin Mừng theo thánh Mác-cô được đọc trong lễ Chúa Ki-tô Vua vào Chúa Nhật tuần MV1-C157

Giống như bài Tin Mừng theo thánh Mác-cô được đọc trong lễ Chúa Ki-tô Vua vào Chúa Nhật tuần trước, bài Tin Mừng Lu-ca hôm nay cũng kể ra những những dấu hiệu hỗn mang của vũ trụ sẽ xảy tới trước khi Con Người đến.  Tin Mừng Mác-cô loan báo Chúa Giê-su đến thiết lập “trời mới đất mới” cho một thời đại vĩnh cửu dành cho những kẻ được tuyển chọn.  Còn Tin Mừng Lu-ca hôm nay nói về việc Chúa Giê-su đến cứu độ trần gian.  Tội lỗi đã gây xáo trộn cho trần gian và nhân loại.  Trong bối cảnh xáo trộn ấy, Ngôi Lời đến trần gian mặc lấy xác phàm để mở đầu thời đại cứu chuộc, tức Triều Đại Thiên Chúa, và tái lập hòa bình giữa Thiên Chúa với nhân loại.  Trước tin vui ấy, Chúa Giê-su nhắc nhở chúng ta “hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên”.
          Tội lỗi đã cướp nhân loại đi khỏi tay Thiên Chúa để làm nô lệ cho nó.  Nhưng trải qua nhiều thế hệ, Tin Mừng nguyên thủy khi Thiên Chúa hứa với A-đam và E-va rằng miêu duệ họ sẽ đạp giập đầu con rắn giờ đây bắt đầu được thực hiện.  Chúa Giê-su báo tin cho nhân loại biết họ sắp được Thiên Chúa chuộc lại và đưa họ thoát ách nô lệ tội lỗi:  “Anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu độ”.   Đó cũng là thái độ Chúa Giê-su muốn thấy nơi tất cả những ai đang trông chờ Người đến.
          Tại sao chúng ta phải đứng thẳng và ngẩng đầu lên?  Đứng thẳng và ngẩng đầu lên là tư thế của người công chính ở trước mặt Chúa.  Trước khi tổ tông phạm tội, tư thế ấy là quyền của con người khi họ ở trước mặt Chúa.  Nhưng sau tội tổ tông, loài người đã bị tước mất quyền đứng thẳng (justification = jus + stare) trước mặt Chúa và trở thành kẻ thù của Người.  Giờ đây Chúa Giê-su đến để phục hồi cho nhân loại quyền làm con Thiên Chúa và nâng họ dậy để đứng thẳng, ngẩng đầu nhìn lên Thiên Chúa.  Muốn giúp chúng ta luôn giữ được tư thế ấy, Chúa Giê-su đã cho vài lời khuyên thiết thực.  Trước hết, “anh em chớ để cho lòng mình ra nặng nề vì chè chén say sưa”.  Kinh nghiệm thường ngày cho thấy chè chén say sưa rất nguy hiểm vì nó dễ làm mất đi tư cách con người và chức phận của chúng ta.  Không những đời sống bình thường đã vậy, mà ngay đời sống thiêng liêng cũng bị ảnh hưởng nặng nề nữa.  Thứ hai, “anh em chớ để cho lòng mình ra nặng nề vì lo lắng sự đời”.  Chúa dựng nên chúng ta là để “trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người” (Mát-thêu 6:33).  Nếu mắt chúng ta chỉ cúi xuống để tìm kiếm những thứ vật chất dưới đất, thì làm sao chúng ta có thể ngẩng đầu chiêm ngưỡng Chúa và những sự trên trời?  Sau hết là “anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn”, vì nhờ vậy chúng ta mới có thể sống mối tương quan mật thiết với Cha trên trời, Đấng đã sai Con của Người xuống dẫn chúng ta về nhà Cha.  Đặc biệt, qua cầu nguyện chúng ta múc được sức mạnh cần thiết để thắng vượt tội lỗi và cám dỗ đang khi chờ ngày cứu độ của Chúa Giê-su.
Sống sứ điệp Tin Mừng
          Nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa Giê-su, chúng ta được trở nên công chính, làm nghĩa tử của Cha trên trời.  Chúa hằng nhắc nhở chúng ta luôn nhớ thân phận diễm phúc của mình, để như lời thánh Phao-lô nhắn nhủ tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca, “Chúa sẽ cho anh em được bền tâm vững chí, được trở nên thánh thiện, không có gì đáng chê trách, trước nhan Thiên Chúa là Cha chúng ta, trong ngày Đức Giê-su, Chúa chúng ta, quang lâm cùng với các thánh của Người” (1 Tx 3:13).  Thực vậy, thánh Phao-lô hãnh diện về tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca vì họ đã thực hiện được điều ngài đã khuyên bảo, là sống yêu thương và tấn tới trong lối sống ấy.  Đó chính là cách chúng ta chuẩn bị đón Chúa Giê-su lại đến để phán xét chúng ta.  Đặc biệt hơn nữa, chúng ta sắp bước vào Năm thánh ngoại thường kính lòng Thương Xót của Thiên Chúa.  Đáp lời kêu gọi của Đức Thánh Cha Phanxicô, chúng ta hãy cố gắng biết tỏ lòng thương xót với tha nhân như Cha trên trời là Đấng hay xót thương.  Sống xót thương là con đường nên thánh rất nhân bản, thích hợp với hoàn cảnh sống hiện nay trong một thế giới đầy tham lam, chém giết nhau vì hận thù và kỳ thị, mượn danh nghĩa Thiên Chúa để sử dụng bạo lực làm tổn thương và mất phẩm giá của người khác.  Lạy Chúa Giê-su, xin đến cứu độ chúng con!
           Lm. Đa-minh Trần đình Nhi
 

MV1-C158: ANH EM SẮP ĐƯỢC CỨU CHUỘC

 (Lc 21, 25- 28. 34- 36)
 
1. Tóm Lược Ý Chính
Bài Đọc Một: Gr 33, 14- 16

Bài đọc Cựu Ước hôm nay, ngôn sứ Giêrêmia đưa ra hai ý: Thứ nhất: Lời hứa của Thiên Chúa: Thiên MV1-C158

Bài đọc Cựu Ước hôm nay, ngôn sứ Giêrêmia đưa ra hai ý:
Thứ nhất: Lời hứa của Thiên Chúa: Thiên Chúa sẽ thực hiện những điều tốt lành. Ngài sẽ cho mọc lên một chồi non, một Đấng Công Chính để nối nghiệp Đavít. Người sẽ trị nước theo lẽ công minh chính trực. Thứ hai: Niềm Hy Vọng: Giuđa sẽ được cứu thoát, Giêrusalem sẽ được an cư lạc nghiệp.
Bài Đọc Hai: 1Tx 3, 12- 4, 2
Nơi thư thứ nhất gửi giáo đoàn Thexalonica, Thánh Phaolô cho ta ba điểm:
Thứ nhất: Lời Nguyện: Xin Thiên Chúa ban cho tình thương của anh em ngày thêm đậm đà thắm thiết. Thứ hai: Lời Hứa: Thiên Chúa sẽ ban cho anh em bền tâm vững chí, trở nên thánh thiện, không có gì đáng trách trong ngày Đức Giêsu quang lâm. Thứ ba: Lời Khuyên Nhủ: Anh em đã được chúng tôi khuyên dạy phải sống thế nào cho đẹp lòng Thiên Chúa; vậy nhân danh Đức Giêsu, chúng tôi khuyên nhủ anh em hãy tấn tới nhiều hơn nữa. 
Bài Đọc Tin Mừng: Lc 21, 25- 28. 34- 36
Bài đọc Tin Mừng hôm nay chúng ta rút ra bốn ý chính:
Thứ nhất: Sẽ có những điềm là trên mặt trời, mặt trăng, các vì sao, biển gào sóng thét và làm cho con người phải run sợ. Thứ hai: Con Người sẽ đến đầy quyền năng và vinh quang. Thứ ba: Khi  những biến cố ấy xảy ra, những ai đặt niềm tin vào Thiên Chúa sẽ đứng vững và đạt được ơn cứu độ. Thứ tư: Hãy tỉnh thức và cầu nguyện, đề phòng đừng để mình ra nặng nề vì chè chén say sưa, vì lo lắng sự đời.
2. Suy Niệm
Hôm nay, Giáo hội khởi đầu năm phụng vụ bằng Chúa nhật thứ nhất Mùa vọng. Có lẽ, chủ hướng của Giáo hội muốn con cái mình khởi đầu cho một hành trình mới bằng hành trang của hy vọng; Hy vọng vào một thế giới tươi đẹp hơn; hy vọng vào một Giáo hội sống trung thành hơn với Lời Chúa; hy vọng tâm hồn mỗi người sẽ được biến đổi để thật sự trở nên những đền thờ thiêng liêng xứng đáng nơi Chúa ngự; hy vọng mỗi người sẽ đạt được ơn cứu độ mà Thiên Chúa hứa ban.
Vậy phụng vụ Lời Chúa hôm nay, chúng ta cùng nhau suy niệm hai ý:
a. Ơn Cứu Độ Mang Lại Cho Con Người Niềm Hy Vọng
Trước những biến động của đất trời, con người luôn cảm thấy khiếp sợ. Tuy nhiên, với những ai đặt niềm tin vào Thiên Chúa thì đó là một niềm vui và hy vọng, vì biết rằng Thiên Chúa sắp đến cứu độ con người. Quả thực, một khi đặt niềm tin vào ơn cứu độ của Chúa sẽ mang lại cho con người niềm hy vọng, một niềm hy vọng vượt lên trên sự sợ hãi và can đảm đón nhận thực tại cách bình thản. Trong Tông huấn Spe Salvi, đức giáo hoàng Bênêđictô XVI đã nói lên điểm này: “Sự cứu chuộc được trao ban qua việc ban tặng niềm hy vọng cho chúng ta, một niềm hy vọng kiên vững nhờ đó chúng ta có thể đối mặt với thực tại: Chúng ta có thể sống và đón nhận thực tại đầy cam go này, nếu chúng ta hướng nó đến một mục đích và nếu chúng ta có thể ý thức về mục đích này” (Sp, số 1).
Chúa Giêsu đến không phải gây nên sự hủy diệt hay đưa ra những cực hình man rợ. Đúng hơn, Ngài đến là để mang lại cho con người ơn cứu độ. Trong bài đọc một, ngôn sứ Giêrêmia nói lên một Thiên Chúa xót thương, luôn cứu thoát và mang lại cho dân người sự an cư lạc nghiệp: “Trong những ngày ấy, Giuđa sẽ được cứu thoát, Giêrusalem sẽ được an cư lạc nghiệp” (Gr 33, 16). Thánh Phaolô xác quyết: “Thiên Chúa muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý” (1Tm 2, 4). Ý hướng này, chúng ta gặp thấy nơi tư tưởng của đức giào hoàng Phanxicô khi nói về ơn cứu độ của Đức Giêsu trong buổi đọc kinh Truyền tin vào thứ tư hằng tuần, ngày 26/8/2013: “Chúa Giêsu là cửa ngỏ của ơn cứu độ. Cửa ngỏ của Chúa Giêsu không bao giờ đóng kín, mà luôn rộng mở cho tất cả mọi người, không phân biệt một ai, không loại trừ một người nào, và cũng không một đặc ân cho một ai”. Đó là những gì mang lại cho chúng ta niềm hy vọng: hy vọng vì được Thiên Chúa tha thứ, được Ngài đi bước trước để mời gọi chúng ta trở về với Ngài; hy vọng vì ngang qua cuộc đời tạm bợ này, chúng ta sẽ bước vào cõi phúc viên mãn.
b. Yếu Tố Giúp Chúng Ta Sống Trong Hy Vọng: Tỉnh Thức Và Cầu Nguyện
Ơn cứu độ của Chúa không làm cho chúng ta trở nên thụ động, an phận và lười biếng. Những hình thái này chỉ nói lên một con người thất vọng, thiếu hấp lực và khả năng đón nhận ân sủng của Chúa.
Do đó, để cuộc đời được thêu dệt bởi những chuỗi hy vọng, chúng ta cần tỉnh thức và cầu nguyện; hai yếu tố này luôn song hành cùng nhau. Cầu nguyện là cánh cửa mở ra để cho ân sủng Chúa đi vào và biến đổi cuộc đời nên thánh thiện, được bền tâm vựng chí và không có gì đáng trách trong ngày Chúa Giêsu quang lâm (1Tx 3, 13). Đồng thời, cầu nguyện là tiếng chuông lay tỉnh lòng người để giúp họ rủ bỏ những đam mê, vị kỷ hầu chỉ sống cho Chúa và tha nhân. Bởi vì, khi cầu nguyện, chúng ta đặt Chúa làm tâm điểm cuộc đời, làm gia nghiệp và hướng đích cho hành trình chứng nhân.
Như vậy, cầu nguyện là con đường đi vào mối tương quan thân tình với Thiên Chúa và là cánh cửa mở ra với anh chị em. Chúng ta không thể nói tôi luôn bình an, sống trong hy vọng và yêu thương anh chị em hết mực nếu thiếu vắng đời sống cầu nguyện; Vắng bóng Thiên Chúa trong cuộc đời thì tất cả chỉ lá sáo rỗng, là hư vô. Có thể nói, cầu nguyện là cán cân đo lường đời sống nội tâm, khả năng yêu thương và sự bình an. Nói cách khác, cầu nguyện giúp chúng ta thức tỉnh để nhận ra đâu là giá trị đích thực của cuộc sống, những gì là chân thật, cao quý, đáng mến, đem lại danh thơm tiếng tốt và đức hạnh để Thiên Chúa là nguồn bình an luôn ở cùng chúng ta (Pl 4, 8).
Lạy Chúa là cội nguồn hy vọng, xin chiếu vào cuộc đời con ánh sáng tin yêu, sự thức tỉnh và nhiệt tâm cầu nguyện để chúng con luôn sẵn sàng đón chờ Chúa đến trong từng giây phút của cuộc đời. Amen.
             Montfort Nguyễn Xuân Pháp. Ocist
 

MV1-C159: HÃY TỈNH THỨC, VÌ KHÔNG NGỜ

Chúa Nhật 1 Mùa Vọng
(Gr 33,14-16; 1Tx 3,12-4,2; Lc 21,25-28.34-36)
Jos. Vinc. Ngọc Biển

Nhiều người biết ngọn núi lửa Sainte Hélène ở tiểu bang Washington! Ngày Chúa Nhật 18 tháng MV1-C159

Nhiều người biết ngọn núi lửa Sainte Hélène ở tiểu bang Washington! Ngày Chúa Nhật 18 tháng 5 năm 1980, có một nhà địa chất học còn trẻ tên là David Johnston, với 30 bạn tổ chức cắm trại cách quả núi 8 cây số. Lúc ấy là 8 giờ 31 phút sáng Chúa nhật, bỗng dưng một tiếng nổ vang trời động địa, mạnh bằng 500 quả bon nguyên tử nổ cùng một lúc. Các thành phố chung quanh bị chôn vùi dưới trận mưa tro. Johnston co giò chạy, nhưng một dòng sông lửa đã chận đường anh, chôn vùi anh và các bạn anh dưới nấm mồ tro hừng cháy (x. Lm Hồng Phúc, Suy niệm Lời Chúa, năm A, tr 4).
Hôm nay, khởi đầu Năm Phụng Vụ mới, chúng ta cùng với Giáo Hội bước vào Mùa Vọng, để chuẩn bị đón mừng đại lễ Giáng Sinh. Một đại lễ đánh dấu kỷ niệm Con Thiên Chúa xuống thế làm người lần thứ nhất cách đây hơn 2000 năm, tuy nhiên, không chỉ dừng lại ở đấy, mà Giáo Hội muốn chúng ta đi xa hơn nữa để đón chờ Chúa đến lần thứ hai trong ngày quang lâm, ngày tận cùng của cuộc đời ta. Đây là điểm trọng tâm của Mùa Vọng.
Trước tiên,  Mùa Vọng là Mùa Đợi Trông và Hy Vọng: không phải đợi trông trong lo âu sợ sệt, mà là đợi trông trong niềm vui, hy vọng và hân hoan: “Giờ phần rỗi của chúng ta gần đến… Đêm sắp tàn, ngày gần đến”; bởi vì: “Trong những ngày ấy, vào thời đó, Ta sẽ cho mọc lên một mầm non, một Đấng Công Chính để nối nghiệp Đavít; Người sẽ trị nước theo lẽ công bình chính trực” (Gr 33,14-16). Vì thế, chúng ta mong đợi Chúa đến như một người con mong mỏi cha mình đi xa về, và, như mục tử đến với đoàn chiên: “Tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10). Tuy nhiên, để được vui mừng, hân hoan đón chờ Chúa đến cách đúng nghĩa, chúng ta phải chờ đợi trong cầu nguyện vì lời cầu nguyện được ví như dầu của đèn. Thật vậy, đèn sáng được là nhờ có dầu bên trong. “Đèn tâm hồn chúng ta” phải là “đèn bừng sáng” vì có “dầu cầu nguyện”, tức là chúng ta phải luôn cầu nguyện và sẵn sàng chờ đón Chúa, để khi “chàng rể” đến, chúng ta đang trong tình trạng tỉnh thức và tư thế hân hoan đón Người.
Thứ đến, Mùa Vọng còn là mùa chuẩn bị tâm hồn đón Chúa đến lần thứ hai trong vinh quang như kinh tiền tụng II đã tuyên xưng: “Lạy Chúa, chúng con loan truyền Chúa chịu chết, và tuyên xưng Chúa sống lại, cho tới khi Chúa đến”. Nhưng Chúa đến giờ nào, ngày nào, chúng ta không biết, thế nên chuẩn bị ở đây chính là tỉnh thức, bởi lẽ: “Ngày của Chúa sẽ đến bất ngờ, như kẻ trộm lúc đêm khuya” ( 1Tx 5, 2); " Hãy tỉnh thức, vì Con Người sẽ đến phán xét chúng ta vào giờ chúng ta không ngờ" (Lc 12,40). Cảm được điều đó mà ngôn sứ Isaia đã phải thốt lên: “Lạy Chúa, con như người thợ dệt, đang mải dệt đời mình, bỗng nhiên bị tay Chúa, cắt đứt ngay hàng chỉ…” (Is 38,21b).
Tính bất định này đã được Tin Mừng nêu rõ khi Đức Giêsu lấy hình ảnh lụt hồng thủy để nói về sự bất ngờ này trong khi thiên hạ cứ vui chơi nhảy múa, chè chén say sưa, dựng vợ, gả chồng, cho đến khi nước lụt nhận chìm tất cả, chỉ trừ gia đình ông Nôe  được cứu thoát. Hay như hai người đàn ông đang đi làm, một người được đem đi, còn người kia bị bỏ lại. Hai người đàn bà đang xay bột, một người được đem đi, còn người kia bị để lại. Hoặc như người phú hộ, ông có nhiều ruộng nương và hoa lợi, đến nỗi ông quyết định xây nhiều kho mới, lớn hơn. Sau đó, ông ăn chơi, tiêu xài cho đã, nhưng cuối cùng ở tận đỉnh cao của vinh hoa phú quý, người giàu có ấy phải lìa bỏ đời này và phải để lại tất cả. Như vậy: “Mọi sự dầu hay, hay dở, đều không chắc chắn, chỉ sự chết là chắc chắn sẽ xảy đến.” Biết được điều đó để ta luôn sẵn sàng.
Cuối cùng, sống tinh thần Mùa Vọng là sống theo tinh thần của thánh Phaolô trong bài đọc II hôm nay đã khuyên nhủ các tín hữu: anh em hãy ăn ở làm sao cho tốt, cho xứng đáng, hãy đối xử với nhau ngày càng thêm đậm đà thắm thiết. Như thế, Chúa sẽ cho anh em được bền tâm vững chí, được trở nên thánh thiện, không có gì đáng chê trách, trước nhan Thiên Chúa là Cha chúng ta, trong ngày Đức Giêsu, Chúa chúng ta, quang lâm cùng với các thánh của Người (x. 1 Tx 3,12-13). Và, trên hết mọi sự, chúng ta hãy hân hoan đón chờ ngày ấy như một niềm hãnh diện, mặc cho mọi gian nan thử thách: “Khi những biến cố ấy bắt đầu xảy ra, anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu chuộc.” (Lc 21,28).
Như vậy, sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi mỗi người chúng ta hãy tỉnh thức, cầu nguyện và mong chờ ngày Chúa quang lâm:
Không ăn chơi đàn điếm,
Nhưng cầu nguyện mong chờ.
Không lẳng lơ chè chén,
Nhưng chu toàn bổn phận.
Không danh vọng, dục tình,
Nhưng sớm lễ chiều kinh.
Lạy Chúa, trong Mùa Vọng này, xin Chúa cho chúng con luôn ở gần bên Chúa trong tinh thần cầu nguyện, để lắng nghe được tiếng Chúa vang vọng trong tâm hồn chúng con, ngõ hầu chúng con luôn sống đẹp lòng Chúa và sống chan hòa với anh chị em. Ước gì ngày Chúa đến, chúng con luôn đứng thẳng và ngẩng cao đầu, đón mừng ơn cứu độ Chúa thương ban. Amen.
  

MV1-C160: Hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên

CHÚA NHẬT I MÙA VỌNG
Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Lu-ca 21:25-28.34-36)

Giữa một cuộc chiến khốc liệt, hoặc đang ở giữa một cơn bão lốc cực kỳ mạnh, liệu chúng ta có MV1-C160

Giữa một cuộc chiến khốc liệt, hoặc đang ở giữa một cơn bão lốc cực kỳ mạnh, liệu chúng ta có thể ngang nhiên bình chân như vại được không?  Chắc chắn là không, vì lúc ấy chúng ta phải nằm rạp xuống mà tránh lằn đạn, hoặc tìm một nơi ẩn nấp an toàn để tránh bị gió lốc cuốn đi.  Vậy mà sau khi kể ra những hiện tượng kinh hoàng xảy đến trước ngày Quang lâm khiến mọi người hồn xiêu phách lạc, Chúa Giê-su lại bảo chúng ta “hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên”!  Vậy tại sao chúng ta có thể làm theo lời Chúa dạy được?
          Đó là vì khi ấy chúng ta “sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến”, và vì khi ấy chúng ta “sắp được cứu độ”!  Có lẽ thoạt nghe nói những điều kinh khủng sẽ xảy ra, chúng ta đã sợ toát mồ hôi đến nỗi quên mất biến cố chính và đầy an ủi khích lệ sẽ xảy ra tiếp theo, tức là việc Chúa Giê-su sẽ ngự đến.  Khi kể những điềm lạ sẽ xảy ra trên trời dưới đất, Chúa Giê-su chỉ nói đến phản ứng của người ta là “sợ hãi đến hồn xiêu phách lạc”, chứ không nói người ta sẽ bị tiêu diệt do những điềm lạ ấy.  Bởi vì sở dĩ chúng xảy ra không nhằm mục đích giết hết chúng ta, mà chỉ là những dấu hiệu báo trước Chúa Giê-su sẽ đến thôi!  Tuy là những điềm dữ, nhưng lại được Chúa sử dụng để báo việc lành là Chúa đến cứu độ chúng ta.  Vậy nếu chúng là những điềm báo điều lành sắp xảy ra thì tại sao chúng ta không “đứng thẳng và ngẩng đầu lên”, mà lại phải sợ hãi đến nỗi quên cả việc chuẩn bị đón Chúa đến?
          Vì việc Chúa Giê-su đến để cứu độ là một điều lành, nên chúng ta phải chuẩn bị thật chu đáo để đón nhận điều lành ấy.  Và đây là cách chuẩn bị chính Chúa đã đề nghị chúng ta làm.  Người dạy chúng ta phải giữ cho lòng mình nhẹ nhàng và thức tỉnh.  Có hai nguy hiểm làm cho chúng ta thành “nặng nề” và không thức tỉnh được:  chè chén say sưa và lo lắng sự đời.  Chè chén say sưa khiến chúng ta không còn nhớ hoặc nghĩ tới việc Chúa trở lại phán xét nữa.  Còn lo lắng sự đời khiến chúng ta không có thì giờ để chăm sóc cho đời sống thiêng liêng và đạo đức của mình.  Để đối phó với hai mối nguy hiểm này, Chúa Giê-su cho chúng ta hai việc làm tích cực:  tỉnh thức và cầu nguyện.  Tỉnh thức giúp chúng ta đứng vững trước mặt Con Người và cầu nguyện đem lại cho chúng ta sức mạnh để đủ sức thoát khỏi Ngày của Chúa như chiếc lưới bất thần chụp xuống trên đầu chúng ta.
Sống sứ điệp Tin Mừng
          Mong rằng cách “đọc” lời Chúa trong bài Tin Mừng hôm nay như trên giúp chúng ta có một thái độ thích đáng khi chuẩn bị đón Chúa Giê-su trong mùa Vọng này.  Đó là thái độ “đứng thẳng và ngẩng đầu lên”, tư thế của người sống với niềm hy vọng đích thực và chắc chắn.  Niềm hy vọng chắc chắn của chúng ta là tin Chúa Giê-su sẽ cứu độ chúng ta vì tình yêu vô điều kiện của Thiên Chúa.  Chúng ta không cúi rạp xuống vì sức nặng tội lỗi, nhưng chúng ta đã được nên công chính, nghĩa là “có quyền đứng thẳng”          (jus + stare) trước mặt Chúa và đổi căn tính là kẻ thù của Chúa thành căn tính làm con cái Chúa.  Chúng ta ngẩng đầu để sẵn sàng hân hoan đón tiếp Chúa, chứ không phải cúi mặt để tránh cái nhìn phán xét của Chúa.
          Chè chén say sưa và lo lắng sự đời là hai đặc nét của những kẻ thuộc về thế gian và sống không có niềm hy vọng đích thực.  Rảo quanh một vòng phố xá Saigon là chúng ta có thể thấy rõ lối sống ấy!  Chỉ thấy người ta la cà quán nhậu.  Chỉ thấy người ta tấp nập buôn bán chụp giựt.  Trái lại, người con của Chúa có lối sống quân bình.  Họ cũng ăn nhưng không nhậu.  Họ cũng buôn bán làm lụng, nhưng không tham lam lừa lọc;  lo lắng sự đời một phần, nhưng cũng lo lắng việc Chúa hơn một phần, vì Chúa đã dạy:  “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những sự khác Người sẽ thêm cho” (Mát-thêu 6:33).
          Đâu là một vài quyết định thực tế để chúng ta sống mùa Vọng và chuẩn bị tâm hồn?  Đừng tin những điều nhảm nhí tiên đoán ngày giờ tận thế.  Đừng chè chén say sưa, nhưng dành ra chút tiền bạc giúp người nghèo.  Nhất là dành riêng một chút thì giờ mỗi ngày để cầu nguyện hoặc suy niệm lời Chúa.
 
          Lm. Đa-minh Trần đình Nhi
 

MV1-C161: Hãy Đứng Thẳng Lên

Chúa Nhật I Mùa Vọng C
Lc 21,25-28.34-36: 25 “Sẽ có những điềm lạ trên mặt trời, mặt trăng và các vì sao. Dưới đất, muôn dân sẽ lo lắng hoang mang trước cảnh biển gào sóng thét. 26 Người ta sợ đến hồn xiêu phách lạc, chờ những gì sắp giáng xuống địa cầu, vì các quyền lực trên trời sẽ bị lay chuyển. 27 Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Người Con Nhân Loại đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến. 28 Khi những biến cố ấy bắt đầu xảy ra, anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu chuộc.”
34 “Vậy anh em phải đề phòng, chớ để lòng mình ra nặng nề trong chè chén say sưa, lo lắng sự đời, kẻo Ngày ấy như một chiếc lưới bất thần chụp xuống đầu anh em, 35 vì Ngày ấy sẽ ập xuống trên mọi dân cư khắp mặt đất. 36 Vậy anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Người Con Nhân Loại.”

Văn mạch của đoạn Lc 21:25-28.34-36 là giáo huấn của Chúa Giêsu về những biến cố sau cùng MV1-C161

Văn mạch của đoạn Lc 21:25-28.34-36 là giáo huấn của Chúa Giêsu về những biến cố sau cùng của vũ trụ trước khi Người Con Nhân Loại đến (21:5-38). Đoạn 21:25-28 nói đến việc phán xét các dân tộc và việc Người Con Nhân Loại sẽ đến. Đoạn nầy có thể phân chia ra: 1- Các hiện tượng vũ trụ và tác động của chúng trên con người (21:25-26); 2- Người Con Nhân Loại đến mang theo ơn cứu độ (21:27-28). Và đoạn 21:34-36 kêu gọi tỉnh thức và cầu nguyện khi trông đợi Người đến. Đoạn nầy cũng chia có thể phân làm hai dựa trên hai mệnh lệnh (21:34 và 36): 1- Những điều phải tránh (21:34-35); 2- Việc phải làm là cầu nguyện (21:36).
 
Việc Người Con Nhân Loại đến là cao điểm của diễn từ về các biến cố cùng tận. Bối cảnh dẫn nhập vào giáo huấn  của đoạn nầy là lời tuyên sấm của Chúa Giêsu về sự sụp đổ của đền thờ Giêrusalem (x. 21: 4-6; 21;20-24). Đền thờ bị sụp đổ và chiến tranh giữa các dân tộc cùng với những khốn khổ xảy ra trước đó được xem như là giai đoạn chuẩn bị cho Người Con Nhân Loại đến (21:27). Những hình ảnh dùng trong hai câu 21:25-26 được lấy từ Cựu Ước (x. Is 13:9-11; Ezek 32:7-8; Amos 8:9; Hab 3:11; Gioel 2:10, 30-31; 3:15). Chúng mô tả những điều sẽ xảy ra trên trời (c. 25a), trên mặt đất (c. 25b) và nơi con người (c. 26). Những biến cố ấy thật đáng sợ, vì chúng làm cho con người kinh hoàng. Khi so sánh giữa những điều đã xảy ra trước (21:5-24) và sự xuất hiện của Người Con Nhân Loại được mô tả dựa trên bối cảnh của Đaniel 7:13-14, sẽ thấy cách rõ ràng sự tương phản của hai bên. Trong khi các dân tộc gây chiến với nhau và tiêu diệt lẫn nhau để dành quyền bá chủ, vương quyền của Người Con Nhân Loại bao trùm trên mọi dân tộc và họ phải tùng phục Người. Trong khi trời đất cùng quyền lực trong đó và Giêrusalem bị lay chuyển và sụp đổ, vương quyền của Người tồn tại mãi mãi và không bao giờ bị phá hủy (x. Daniel 7:14). Người Con Nhân Loại chính là Con Thiên Chúa. Nhiều lần Luca nói đến việc Người sẽ đến (9:26; 12:40; 17:24, 26, 30; 18:8), và cũng cho thấy các môn đệ của Người ước ao thấy ngày ấy đến (x.17:22-37). Ngày Người đến sẽ là ngày lịch sử trần gian khép lại, cũng là ngày người môn đệ được cứu độ. Người là sự cứu độ của Israel mà nhiều người đang trông đợi (x. 1:68; 2:38; 24:21). Hai mệnh lệnh đầy khích lệ kết thúc đoạn nầy, “Hãy đứng thẳng lên” và “ngẩng đầu lên” (c. 27). Người môn đệ không để mình bị còng lưng nữa do sợ hãi những điều đã xảy ra trong trời đất (x. 13:11); trái lại, phải ngẩng đầu hướng lên trời mà sẵn sàng đón Người đến và cầu xin sự giải thoát (x. 16:23; 18:13). Vậy điều nghịch lý ở đây là một đàng những tai ương sẽ xảy đến vào những ngày tận cùng và mang lại cho họ những đau khổ (21:12-19). Đàng khác, phải có xảy ra như thế, những tai ương ấy mới bảo đảm cho họ là ơn cứu độ toàn vẹn và sau cùng sẽ đến.
 
Giữa hai đoạn nầy dụ ngôn được cây vả chen vào (21:29-33). Đoạn 21:34-36 đưa ra hai mệnh lệnh nữa để xác định thái độ người môn đệ phải có khi trông chờ Người Con Nhân Loại đến. Mệnh lệnh “Hãy đề phòng” (c.34) được hiểu là đề phòng với chính bản thân (x. 12:1; 17:3). Cụm từ “để lòng mình ra nặng nề” ám chỉ Pharaon. Ông nên “cứng lòng”, vì không nghe lời Môsê để cho dân ra đi (Xh 7:14; 8:32). Luca dùng nó với “vì say sưa và lo lắng việc đời” để diễn tả sự nguy hiểm của những thú vui và lo lắng trần gian (x. 8:14). Chúng có thể làm cho người môn đệ ra đần độn và chậm hiểu mà không tỉnh thức và sẵn sàng cho ngày Người Con Nhân Loại đến (x. Mt 26:34; Mc 14:40; Is 24:20). Ngày ấy sập xuống bất thần như cái bẫy (x. Is 24:17); chỉ một sự nguy hiểm không nghĩ đến trước, như những tai họa đã xảy đến thình lình cho Sôđôma (10:12). Mệnh lệnh thứ hai là “Hãy tỉnh thức trong cầu nguyện luôn”. Động từ “cầu nguyện”, “khẩn nài” (deomai) nầy khác với động từ “cầu nguyện” (proseuchomai) theo nghĩa thông thường (1:10; 3:21; 5:16; 18:1.10…). Nó chỉ sự khẩn nài để được mạnh mẽ cả phần thể lý lẫn thiêng liêng (21:36) Các bệnh nhân khẩn nài Chúa Giêsu chữa họ lành (x. 5:12; 8:28.38; 9:38.40). Chúa Giêsu khẩn nài cho Phêrô để đức tin ông khỏi sa ngã (22:32). Chúa Giêsu bảo các môn đệ của Người cũng phải khẩn nài như thế để họ được thoát khỏi những tai ương ấy và có thể đứng trước mặt Người Con Nhân Loại. Như thế, cả trong đoạn nầy, Luca đều kết thúc bằng một lời kêu gọi phải “đứng thẳng” bằng cách tỉnh thức trong khi cầu nguyện luôn để có thể đón Con Thiên Chúa đến và ơn cứu độ của Người (21:28 và 36).
 
Gian nan, khốn khổ hiện tại không thể dập tắt niềm hy vọng vào Chúa Giêsu, Đấng sẽ đến và ban ơn cứu độ cho những ai đang cầu nguyện để đón chờ Người.
 Lm. Luigi Gonzaga Đặng Quang Tiến
  

MV1-C162: Chúa Nhật I mùa Vọng, C

2009

Một ngày mới, một tuần mới hay một năm mới, ta đều mong đợi những gì tốt lành đến với ta MV1-C162

Một ngày mới, một tuần mới hay một năm mới, ta đều mong đợi những gì tốt lành đến với ta.  Do đó ta thường chúc nhau có một ngày tốt đẹp, một năm mới an lành… Chúa Nhật thứ nhất mùa Vọng mở đầu cho một Năm Phụng vụ mới và ta cũng cầu mong Chúa ban những ơn lành cho đời sống thiêng liêng của ta.  Phụng vụ Lời Chúa hôm nay nói với ta về điều tốt lành Chúa thực hiện cho ta, đồng thời cũng dạy ta phải chuẩn bị làm sao để đón nhận điều tốt lành ấy.
 
  1.   Sấm ngôn của Đức Chúa:  “Ta sẽ thực hiện điều tốt lành…”  (bài đọc Cựu Ước – Giê-rê-mi-a 33:14-16)
 
          Thời ngôn sứ Giê-rê-mi-a, Ít-ra-en dân Chúa đang sống kiếp lưu đày nơi đất khách quê người.  Điều họ mong đợi Chúa thực hiện là giải thoát họ khỏi cơn khốn cực và được trở về sống tự do trên quê hương.  Ngôn sứ Giê-rê-mi-a đã nhân cơ hội này nói với họ về điều tốt lành Chúa sẽ thực hiện còn cao quý hơn cả những gì họ ước mong.  Không phải chỉ là một ông vua giúp cho đất nước họ được tự do và phú cường, nhưng là “một Đấng Công Chính sẽ trị nước theo lẽ công bình chính trực”.  Ngôn sứ giúp dân chúng nhìn về một thực tại hoàn toàn khác với thực tại trần thế.  Thực tại trần thế có những điều tốt lành của nó, thí dụ một quốc gia hùng mạnh và an bình, dân cư đông đảo, nền kinh tế vững chắc… Tuy nhiên điều tốt lành Thiên Chúa muốn thực hiện ở đây thuộc về thực tại thiêng liêng, về mối quan hệ giữa nhân loại và Đấng tạo dựng nên họ.  Thực tại ấy đã bị tội lỗi làm tổn thương khiến cho đức công chính của Thiên Chúa không thể ở lại với nhân loại nữa.  Tội lỗi khống chế nhân loại do những hậu quả khốc liệt nó mang lại.
          Đứng trước tình trạng đáng thương ấy, Thiên Chúa sẽ làm gì?  Người muốn “thực hiện điều tốt lành” cho nhân loại.  Như vậy, “điều tốt lành” là Người muốn cứu thoát họ khỏi nanh vuốt của tội lỗi.  Kế hoạch Người sắp đặt để thực hiện điều tốt lành trước hết là “cho mọc lên một mầm non, một Đấng Công Chính để nối nghiệp Đa-vít”, có nghĩa là Thiên Chúa sẽ chọn một người miêu duệ của vua Đa-vít làm người công chính trước mặt Người.  Người miêu duệ ấy không ai ngoài Chúa Giê-su Ki-tô, “con vua Đa-vít”.  Người không nối nghiệp Đa-vít bằng cách làm vua Ít-ra-en và sử dụng phủ việt vương quyền, nhưng Người sẽ thiết lập một triều đại mới, gọi là Triều Đại Thiên Chúa hoặc Nước Trời.  Luật pháp của Triều Đại này không còn là những luật lệ khắc trên bia đá hoặc giấy da, nhưng trên trái tim.  Do đó, “lẽ công bình chính trực” mà Chúa Giê-su sử dụng để trị Nước Thiên Chúa là tình yêu.  Mọi sự phải đặt trên nền tảng tình yêu.  Thiên Chúa vì yêu nhân loại nên đã sai Con Một tới trần gian.  Loài người vì yêu Thiên Chúa và tha nhân nên phải thực thi giới luật yêu thương hết lòng hết sức và hết tâm trí.  Như vậy, con người có thể nhận ra điều tốt lành Thiên Chúa thực hiện sau khi Con Một Người chiến thắng tội lỗi, là họ cảm nghiệm được sự tốt lành của Thiên Chúa và tình huynh đệ của loài người:  “Hãy nghiệm xem Chúa tốt lành biết mấy” (Tv 34:9) và “Ngọt ngào tốt đẹp lắm thay, anh em được sống vui vầy bên nhau” (Tv 133:1).
          Điều tốt lành ấy không phải là giấc mơ, nhưng đã trở thành hiện thực khi Chúa Ki-tô, Đấng Công Chính của Thiên Chúa, đến cư ngụ giữa nhân loại.  Nền móng của điều tốt lành đã vững chắc khi Chúa Ki-tô chu toàn sứ mệnh trên trần gian, còn việc tiếp tục thực hiện vẫn đang diễn tiến và sẽ được hoàn tất vào ngày cánh chung.  “Giu-đa sẽ được cứu thoát và Giê-ru-sa-lem sẽ an cư lạc nghiệp” là hình ảnh nói lên tương lai điều tốt lành ấy được viên mãn.  Tuy nhiên, trong thời gian chờ đợi mọi sự được viên mãn trong Chúa Ki-tô, Thiên Chúa cho ta được quyền cộng tác vào công cuộc xây dựng và hoàn tất việc tốt lành Người đã bắt đầu.  Vì Chúa Ki-tô “trị nước theo lẽ công bình chính trực” nên ta cộng tác bằng cách sống theo lẽ công bình chính trực, tức là theo lẽ tình yêu.  Ta cộng tác bằng cách sống làm sao để mọi người có thể nhận ra rằng “Đức-Chúa-là-sự-công-chính-của-chúng-ta” hoặc “Thiên Chúa là Tình Yêu”.
 
  1.   Điều tốt lành Thiên Chúa thực hiện là cho ta được bền tâm vững chí và thánh thiện trong ngày Chúa Ki-tô quang lâm  (bài đọc Tân Ước – 1 Thê-xa-lô-ni-ca 3:12-4:2)
 
          Nếu ngôn sứ Giê-rê-mi-a nhìn điều tốt lành Thiên Chúa thực hiện về phía Thiên Chúa, thì thánh Phao-lô lại nhìn điều tốt lành ấy về phía chúng ta.  Trước hết, thánh Tông đồ cũng khẳng định rằng điều tốt lành Thiên Chúa thực hiện chính là khôi phục lại chỗ đứng của tình yêu.  Ngài cầu xin cho tình yêu tha nhân được vẹn toàn, bởi vì ngài nhận ra sức mạnh biến đổi của tình yêu.  Thực vậy, nhờ tình yêu, “Thiên Chúa sẽ cho anh em được bền tâm vững chí, được trở nên thánh thiện, không có gì đáng chê trách, trước nhan Thiên Chúa là Cha chúng ta, trong ngày Đức Giê-su, Chúa chúng ta quang lâm cùng với các thánh của Người” (1 Tx 3:13).  Nói tóm lại, đối với Ki-tô hữu, điều tốt lành là tình yêu thay đổi con người họ và giúp họ trở nên thánh thiện giống như Cha trên trời là Đấng Thánh.  Do đó, sống yêu thương là thi hành trọn vẹn Lề Luật (Gl 5:14).  Điều thánh Phao-lô lo lắng cho tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca là họ cần phải lớn lên trong tình yêu thương nhau.  Hai lần ngài lập lại cùng một lời khẩn cầu:  “Nhân danh Chúa Giê-su, tôi khuyên nhủ anh em hãy tấn tới nhiều hơn nữa” (1 Tx 4:1.10).  Dĩ nhiên là tấn tới trong tình yêu thương nhau, vì yêu thương là giây ràng buộc sự toàn thiện và biến đổi con người nên hoàn hảo mỗi ngày một hơn.
          Khuyến khích ta hãy sống yêu thương, vì đó là điều tốt lành Thiên Chúa muốn nhìn thấy nơi ta, thánh Phao-lô còn nêu lên một thời điểm ý nghĩa để ta phải hoàn tất việc biến đổi con người mình, đó là “trong ngày Đức Giê-su, Chúa chúng ta, quang lâm cùng với các thánh của Người”.  Vào thời điểm Chúa Giê-su quang lâm, ta sẽ bị phán xét theo tiêu chuẩn yêu thương.  Vì thế, nếu ta đã “làm điều này cho một trong những anh chị em hèn mọn nhất, đó là ta đã làm cho chính Chúa vậy” và ta sẽ được nhận biết là môn đệ Người.
          Cuối cùng thánh Tông đồ không quên nhắc nhở tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca và cả chúng ta nữa, là ngài “đã lấy quyền Chúa Giê-su mà ra những chỉ thị nào”.  Ngài đã lập lại giáo huấn và chỉ thị của chính Chúa Giê-su đã dạy:  Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.  Chắc hẳn thánh Phao-lô cũng cảm thấy được an ủi thật nhiều đối với tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca, vì “anh em đã được chúng tôi dạy phải sống thế nào cho đẹp lòng Thiên Chúa, và anh em cũng đang sống như thế”.  Họ đã đem lại niềm an ủi cho vị Tông đồ nhờ biết sống yêu thương.  Tuy nhiên đây cũng là một câu hỏi đòi ta phải chân thành trả lời:  liệu ta có đang sống giống như anh chị em tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca không?
 
  1.   Điều tốt lành Chúa Ki-tô loan báo:  “Anh em sắp được cứu độ”  (bài Tin Mừng – Lu-ca 21:34-36)
 
          Trong bài giảng về ngày cánh chung, Chúa Giê-su nói đến nhiều điều khiến ta phải hãi sợ đến hồn xiêu phách lạc.  Nhưng giữa những điều khủng khiếp ấy, Người lại công bố những điều tốt lành có liên quan đến tương lai vĩnh cửu của ta.  Những “điềm lạ” trên trời, dưới đất hay trên biển cả chỉ là những dấu chỉ báo trước Chúa sắp quang lâm.  Mà dấu chỉ không thể quan trọng bằng điều nó biểu hiện.  Thật cũng lạ!  Chúa sử dụng những dấu chỉ gây hãi sợ để báo trước những điều tốt lành sắp xảy đến!  Chắc chắn “Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây trời mà đến” là một Tin Mừng, một niềm an ủi vô cùng lớn lao, nhưng lại xảy ra sau khi người ta chứng kiến những sự kiện kinh hồn bạt vía.  Thực ra văn chương khải huyền chỉ muốn sử dụng những hình ảnh thiên nhiên vĩ đại và đầy sức mạnh để nói lên quyền năng tối cao của Thiên Chúa hoặc Con Người.  Khung cảnh thần hiện tại Xi-nai là một ví dụ điển hình.  Thiên Chúa ngự đến đâu phải làm cho người ta chết, nhưng ban cho họ giới luật để họ được sống.  Cũng vậy, Chúa Ki-tô đến lần thứ hai là để cứu độ ta, nếu ta đã hoàn tất “điều tốt lành” là sống yêu thương suốt quãng đời dương thế.  Vì thế, Người dạy ta:  “Anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu độ” (Lc 21:28).
          “Anh em sắp được cứu độ”.  Điều này không có nghĩa là Chúa Ki-tô sẽ cứu độ ta mà ta chẳng cần phải làm gì cả.  Trái lại, ta phải “đề phòng, chớ để lòng mình ra nặng nề vì chè chén say sưa và lo lắng sự đời”.  Rồi ta còn phải “tỉnh thức và cầu nguyện luôn”.  Thực ra tất cả những lời Chúa căn dặn đều ăn khớp và liên hệ với nhau.  Chỉ lo ăn uống say sưa và lo lắng cho cuộc sống vật chất với danh lợi sẽ làm cho lòng ta trở nên “nặng nề”, không còn nghĩ đến quê hương vĩnh cửu và hạnh phúc đời đời nữa.  Mà những điều làm cho ta trở nên nặng nề lại có sức quyến rũ mạnh mẽ và tinh tế, cho nên Chúa khuyên ta phải “tỉnh thức và cầu nguyện luôn”.  Tỉnh thức để dễ chống lại cám dỗ trần gian và cầu nguyện để xin Chúa ban ân sủng và sức mạnh giúp ta chiến thắng cám dỗ.  Cám dỗ của ma quỷ và thế gian cũng có sức mạnh của nó, khác nào những đột biến thiên nhiên mà ta khó lòng chống cự.  Vì thế ta cần có sức mạnh của Chúa để chiến thắng sức mạnh của ma quỷ tội lỗi.  Cuộc chiến đấu với ma quỷ tội lỗi không hề dừng lại hay bỏ đi, trái lại đeo đẳng trong ta cho đến hơi thở cuối đời.  Do đó, làm sao có thể trung thành với Chúa, “đứng vững trước mặt Con Người”, là việc tự sức riêng ta không thể làm nổi, nhưng phải cậy vào ơn Chúa giúp.
          Mùa Vọng giúp ta chuẩn bị tâm hồn mừng Chúa giáng sinh, nhưng mùa Vọng cũng nhắc nhở ta chuẩn bị ngày Chúa đến phán xét ta nữa.  Nhưng với ý lực nào thì việc Chúa đến lần thứ nhất hay lần thứ hai đều phải là Tin Mừng đối với mọi Ki-tô hữu.  Quan trọng là ta có nhận ra được “điều tốt lành” Chúa muốn thực hiện cho nhân loại nói chung và cho cá nhân ta hay không mà thôi.  Cùng với việc nhận ra ấy, ta có nghiêm túc cộng tác với Chúa Ki-tô để hoàn tất điều tốt lành Chúa đã bắt đầu thực hiện nơi ta hay không.
 
  1.   Sống Lời Chúa
 
          Ta thương dễ chú tâm đến việc chuẩn bị mừng Chúa đến với nhân loại lần thứ nhất mà ít để ý chuẩn bị mừng Chúa quang lâm trong ngày thế mạt.  Lời Chúa hôm nay khẳng định việc Chúa Ki-tô đến với ta là “điều tốt lành Thiên Chúa sẽ thực hiện” cho nhân loại.  Tuy nhiên, đón nhận điều tốt lành ấy đòi hỏi ta phải biết chuẩn bị thích đáng bằng cách tỉnh thức và cầu nguyện.  Cách cụ thể thánh Phao-lô đề ra để giúp ta chuẩn bị là hãy sống làm sao cho “tình thương của anh em đối với nhau và đối với mọi người ngày càng thêm đậm đà thắm thiết”, để tình yêu biến đổi con người của ta mỗi ngày trở nên hoàn thiện hơn.
 
Suy nghĩ:  Chúa Giê-su công bố:  “Anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu chuộc”.  Đáp lời kêu gọi của Chúa, tôi đã làm gì?  Đứng thẳng và ngẩng cao đầu hay chỉ miệt mài lo lắng trần gian hoặc bi quan yếm thế?  Tôi phải sống làm sao cho đúng tư thế của người Ki-tô hữu?
Cầu nguyện:  Lạy Chúa Cha toàn năng, xin cho đoàn tín hữu chúng con, hằng quyết tâm làm việc thiện, mà đón chào Con Chúa đang ngự đến xét xử trần gian.  Nhờ đó, chúng con sẽ được Người cho ở bên hữu và gọi vào hưởng hạnh phúc Nước Trời.  Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, trong sự hiệp nhất của Chúa Thánh Thần đếm muôn đời.  A-men.  (Lời nguyện Nhập lễ, Chúa Nhật I mùa Vọng).
  
Lm. Đaminh Trần Đình Nhi
                            

MV1-C163: Chúa Nhật I mùa Vọng

Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng   (Lu-ca 21:25-28.34-36)
 

Mùa Vọng là mùa chờ đợi và chuẩn bị đón mừng Chúa Giê-su giáng sinh.  Phụng vụ Lời Chúa MV1-C163

Mùa Vọng là mùa chờ đợi và chuẩn bị đón mừng Chúa Giê-su giáng sinh.  Phụng vụ Lời Chúa đều quảng diễn chủ đề này, nhất là bài Tin Mừng.  Vậy bài Tin Mừng hôm nay nói gì với chúng ta?
          Hẳn chúng ta chưa quên câu chuyện Đức Tổng Giám mục Ngô quang Kiệt bị chính quyền Hà Nội âm mưu hạ uy tín của ngài bằng cách cắt xén những lời ngài phát biểu.  Chính quyền chỉ ghi lại lời ngài nói rằng ngài cảm thấy nhục khi cầm tờ hộ chiếu đi ra nước ngoài và bị người ta xăm soi.  Họ cắt xén đi ý chính của lời phát biểu là ngài mong muốn làm sao nước Việt Nam phải hùng cường và ngang hàng với các nước Á châu như Nhật, Hàn quốc…  Họ làm như vậy để lên án ngài là không có lòng yêu nước và dân tộc.  Điểm chính của lời Đức Tổng Giám mục phát biểu là ngài lo lắng cho uy tín và sức mạnh của quốc gia dân tộc mình, chứ không phải là cảm tưởng nhục nhã của cá nhân ngài.  Bỏ quên điều chính mà chỉ chú tâm đến điều phụ, hoặc chỉ chú ý đến tín hiệu mà quên thực tại được biểu tỏ do tín hiệu thì quả là điều không nên làm chút nào.
          Chúng ta cũng có thể rơi vào lỗi lầm giống như vậy nếu đọc bài Tin Mừng hôm nay mà không chú ý đến điểm chính Chúa Giê-su muốn nói với chúng ta.  Vậy trong bài giảng về ngày tận thế, Chúa đề cập tới ba điều sau đây:
-  những đột biến và tai họa thiên nhiên sẽ xảy đến trước khi Chúa đến
-  “Con Người đầy quyền năng ngự trong đám mây mà đến”
-  “anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu độ”.
          Ở đây, điểm chính Chúa muốn công bố là “Con Người đầy quyền năng và vinh quang sẽ ngự trong đám mây mà đến”.  Còn việc xuất hiện những điềm lạ trên trời, dưới đất và trên biển cả chỉ là những tín hiệu báo trước việc Người đến mà thôi.  Vậy mà có nhiều người lại chú ý đến những “điềm lạ” thay vì chú ý đến việc Chúa tới cứu độ ta.  Vì người ta hiểu sai ý nghĩa của những điều Chúa nói, nên thay vì chuẩn bị tâm hồn đón Chúa đến thì họ lại lo chuẩn bị đối phó với những “điềm lạ”.  Thí dụ nào là lo tích trữ gạo, nước và đèn cầy để sống sót được khi có biến cố trời đất tối đen trong ba ngày ba đêm.  Nào là tin rằng còn một đời giáo hoàng nữa là sẽ tận thế.  Người ta tin vào sấm Trạng Trình hoặc Nostradamus nói về tận thế.  Thật đáng buồn!
 
Sống sứ điệp Tin Mừng
          Sau khi công bố sứ điệp Người sẽ đến, Chúa Giê-su dạy chúng ta phải tỉnh thức và cầu nguyện để chuẩn bị đón Người.  Tỉnh thức bằng cách “đừng để lòng mình ra nặng nề vì chè chén say sưa và lo lắng sự đời”.  Cầu nguyện để xin Chúa ban cho chúng ta sức mạnh giúp chúng ta “thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người”.
          Chắc chắn trong mùa Vọng, chúng ta ít nhất phải chọn một số quyết định thực hành giúp mình tỉnh thức và cầu nguyện.  Chúng ta có thể tỉnh thức bằng cách bớt đi một chút ăn uống không thực sự cần thiết để dành chút tiền giúp công cuộc bác ái.  Tỉnh thức bằng cách để ý hơn tới đời sống đạo đức thay vì chỉ biết cắm đầu đi kiếm tiền.  Chúng ta có thể cầu nguyện nhiều hơn khi chọn một ngày trong tuần để tham dự Thánh lễ ngoài việc tham dự Thánh lễ Chúa Nhật, hoặc khi chúng ta thêm một vài phút đọc kinh tối gia đình, nghe một đoạn Kinh Thánh rồi suy nghĩ và cầu nguyện nhờ đoạn Kinh Thánh ấy.
Lm. Dominic TTL
                         

MV1-C164: Chúa Nhật I Mùa Vọng, C

(Lu-ca 21:25-28.34-36)

Chờ đợi luôn bao hàm một thái độ hoặc một tư thế.  Khi chờ đợi một điều vui sắp đến, tôi thấy MV1-C164

Chờ đợi luôn bao hàm một thái độ hoặc một tư thế.  Khi chờ đợi một điều vui sắp đến, tôi thấy nôn nao mong cho ngày giờ vắn lại như em bé đợi mẹ về chợ.  Nhưng khi đợi một tin buồn, tôi muốn thời gian kéo dài vô tận để đừng bao giờ có giây phút hãi hùng xảy tới.  Những tâm lý chờ đợi ấy nhiều khi chi phối khiến ta không biết phải làm gì trong lúc chờ đợi.  Mong đợi Chúa đến là mong đợi được cứu độ.  Nhưng mong đợi làm sao và phải làm gì trong lúc mong đợi là câu hỏi mọi người muốn được trả lời rõ ràng.  Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giê-su cho ta câu trả lời ngắn gọn nhưng vô cùng ý nghĩa.
 
  1.   “Anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu chuộc”
          Trước hết Chúa Giê-su đề cập tới sự kiện Con Người sẽ ngự đến.  Con Người là tước hiệu của Chúa Ki-tô đến để phán xét muôn loài trong ngày cánh chung.  Khung cảnh Người đến được mô tả như một biến cố mang chiều kích vũ trụ.  Qua mạch văn khải huyền, trời đất và biển khơi đều biểu lộ những dấu chỉ của quyền năng Thiên Chúa.  Giống như quang cảnh dân Do-thái xưa được chứng kiến Thiên Chúa ngự đến trên núi Xi-nai trong sấm sét và lửa khói, con người thời cánh chung cũng được thấy những dấu chỉ loan báo Con Người, Đức Chúa của Tân Ước, ngự đến.  Đó là những biến động của toàn thể vũ trụ và trái đất, chứ không chỉ giới hạn trong vùng núi Xi-nai như ngày xưa.  Trước những biến động ấy, “người ta sợ đến hồn xiêu phách lạc, chờ những gì sắp giáng xuống địa cầu”.
          Ta có thể hiểu những biến động này theo nghĩa đen, nhưng tốt hơn, có lẽ nên hiểu theo ý nghĩa biểu tượng, tức là những biến động thuộc phạm vi tâm lý, tình cảm, luân lý và thiêng liêng.  Trong tâm hồn ta là cả một vũ trụ đầy biến động:  những giằng kéo giữa chọn lựa xấu tốt, những lo lắng ưu tư, những nỗi bất hạnh cuộc đời.  Chúng làm cho ta trở thành bi quan, không ngửng đầu lên được và muốn buông xuôi tất cả.  Tệ hơn nữa, chúng khiến ta thất vọng không còn nghĩ đến có Chúa trong cuộc đời.  Thánh Phao-lô đã cảm nhận được thân phận khốn khổ ấy và ngài phải thốt lên:  “Tôi thật là một người khốn nạn!  Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này?” (Rm 7:24).  Rồi ngài lập tức trả lời:  “Tạ ơn Thiên Chúa, nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta” (Rm 7:25).
          Đúng vậy, chỉ có nhờ Chúa Ki-tô ta mới được cứu.  Chỉ có Chúa Ki-tô mới là Đấng cho ta biết chính giữa những biến động ấy Người sẽ đến với ta.  Đấng khiến cho sóng gió im lặng sẽ nói với ta:  “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!” (Mc 6:50).  Người chỉ cho ta một tư thế thích hợp để đối phó với hãi sợ và nao núng:  “Anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu chuộc”.  Chúa Ki-tô bảo đảm ta sắp được giải thoát khỏi bất cứ những gì làm cho ta sợ hãi hoang mang.
 
  1.   “Anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn”
          Trước khi dạy ta phải tỉnh thức và cầu nguyện luôn, Chúa Giê-su nêu lên lý do.  Đó là vì “Ngày ấy như một chiếc lưới bất thần chụp xuống đầu anh em”.  Loài chim không sao thoát khỏi chiếc lưới của thợ săn bởi chiếc lưới không hạ xuống từ từ hay có dấu hiệu báo trước, nhưng vì nó ập xuống quá nhanh và chim chẳng bao giờ đề phòng.
          “Ngày ấy” là ngày gì?  Dĩ nhiên đó là Ngày Con Người đến để chủ sự cuộc phán xét chung.  Nhưng ta cũng thường hiểu Ngày ấy như là thời điểm Chúa đến với từng người trong cái chết của họ.  Nếu cái chết là điểm kết thúc hành trình cứu độ của ta thì “Ngày ấy” quả thực là vô cùng quan trọng, vì ta được cứu độ hay không được cứu độ sẽ được xác định dứt khoát ở thời điểm này.  Do đó ta cần phải chuẩn bị cho ngày đó.
          Điều nguy hiểm là ta không chịu chuẩn bị hoặc chuẩn bị không đúng cách.  Vì nghĩ rằng ngày chết còn xa nên chuẩn bị lúc này làm chi cho mệt!  Thế là thay vì chuẩn bị, ta sẽ lợi dụng lúc này để “chè chén say sưa, lo lắng sự đời”, lo làm giàu, lo leo lên chức cao hơn.  Ta sẽ là “những người chỉ nghĩ đến những sự thế gian” mà quên rằng “quê hương ta ở trên trời” và ta không còn “nóng lòng mong đợi Đức Giê-su Ki-tô từ trời đến cứu ta” (Pl 3:19b-20).
          Vậy để giúp ta tránh mối nguy hiểm ấy, hai điều cần thiết Chúa Giê-su đề ra là hãy tỉnh thức và hãy cầu nguyện luôn.  Tỉnh thức là thái độ biểu lộ những gì đang thực sự sống động trong ta.  Nếu ta cứ tiếp tục giữ vững niềm tin, đức cậy và lòng mến đối với Chúa là ta đang tỉnh thức.  Những điều này rất dễ mai một, rất dễ oải và nhiều khi mất luôn nữa.  Nhưng làm thế nào ta có thể tin mạnh hơn, cậy vững hơn và mến nồng hơn?  Thế là bây giờ ta mới hiểu tại sao Chúa thòng thêm một câu ngắn:  và cầu nguyện luôn.  Từ nối “và” quan trọng lắm đấy!  Ta chỉ tỉnh thức thôi, không đủ.  Phải cầu nguyện luôn nữa.  Nói khác đi, cầu nguyện gắn liền với tỉnh thức.  Cầu nguyện là phương thế để biểu lộ và phát triển lòng tin, cậy, mến, vì khi ta cầu nguyện là ta làm cho lòng tin, cậy, mến sống động lên ở trong ta.
 
  1.   Mong đợi Chúa đến trong viễn tượng truyền giáo
          Mục đích của truyền giáo là đem Tin Mừng cứu độ đến cho mọi người.  Do đó, thao thức mong đợi Chúa đến không chỉ là thao thức của những người đã biết Chúa và có đức tin, nhưng cũng là thao thức của những người chưa được diễm phúc đón nhận Tin Mừng.  Nói khác đi, ta không chỉ mong đợi Chúa đến với ta, mà còn mong đợi Chúa đến với những anh chị em khác nữa.  Nếu ta có bổn phận phải chuẩn bị đón Chúa đến, thì ta cũng có bổn phận giúp đỡ anh chị em đón Chúa đến với họ.  Tính phổ quát của ơn cứu độ có nghĩa là mọi người đều được mời gọi đón nhận ơn cứu độ không loại trừ ai, nhưng tính cách phổ quát ấy cũng nói lên tính cách liên đới được cứu độ.  Đúng vậy, không ai lên thiên đàng một mình, nhưng luôn luôn liên hệ với người khác.  Là chi thể của một Hội Thánh và phần tử của gia đình nhân loại, ta có trách nhiệm chuẩn bị cho mình và cho anh chị em cùng đón chờ Chúa đến.
          Trong tinh thần của Đại hội Truyền giáo Á châu và Năm thánh kỷ niệm 80 năm truyền giáo cho người Dân tộc của giáo phận Đà-lạt, ta ý thức lại ý nghĩa của việc truyền giáo và bổn phận giúp anh chị em đón nhận Chúa.
 
  1.   Suy nghĩ và cầu nguyện
          Chúa Giê-su nói:  “Vì anh em sắp được cứu chuộc”.  Vậy tôi hiểu được cứu chuộc nghĩa là gì?  Hay chỉ hiểu mơ hồ là “được lên thiên đàng”?  Tôi sẽ làm gì trong mùa Vọng này để tìm hiểu ý nghĩa đích thực ơn cứu độ là gì?
          Thánh Phao-lô bảo:  “Nhưng chúng ta, chúng ta thuộc về ban ngày, nên hãy sống tiết độ, mặc áo giáp là đức tin và đức mến, đội mũ chiến là niềm hy vọng ơn cứu độ” (1 Tx 5:8).  Tôi thử suy nghĩ và tìm một vài quyết định để thực thi lời khuyên của ngài.
 
Cầu nguyện:
          “Khi bị bao vây bởi muôn tiếng ồn ào,
          xin cho con tìm được những phút giây thinh lặng.
          Khi bị rã rời vì trăm công ngàn việc,
          xin cho con quý chuộng những lúc được an nghỉ trước nhan Chúa.
          Khi bị xao động bởi những bận tâm và âu lo,
          xin cho con biết thanh thản ngồi dưới chân Chúa
          để nghe lời Người.
          Khi bị kéo ghì bởi đam mê dục vọng,
          xin cho con thoát được lên cao
          nhờ mang đôi cánh thần kỳ của sự cầu nguyện.
          Lạy Chúa,
          ước gì tinh thần cầu nguyện
          thấm nhuần vào cả đời con.
          Nhờ cầu nguyện,
          xin cho con gặp được con người thật của con
          và khuôn mặt thật của Chúa.”
                   (Trích RABBOUNI, lời nguyện 21)
 Lm. Đaminh Trần Đình Nhi
Ngày 24-11-2006
 

MV1-C165: CHÚA ĐẾN

CHÚA NHẬT I MÙA VỌNG, C

 Mùa Vọng trong ngôn ngữ Việt Nam gợi nhắc tâm tình của một sự đợi chờ, chờ Chúa đến. Nhưng MV1-C165

Mùa Vọng trong ngôn ngữ Việt Nam gợi nhắc tâm tình của một sự đợi chờ, chờ Chúa đến. Nhưng thực ra 4 tuần lễ trước ngày mừng Chúa giáng sinh phải gọi là Mùa Chúa Đến, hayMừng Chúa đến. Chúa đã đến, Chúa đang đến và Chúa sẽ đến. Chúa mãi mãi đến  để đồng hành và ở giữa chúng ta đúng thực như tên gọi của Ngài là EMMANUEL, Thiên Chúa Ở Cùng Chúng Ta. Ngài không xa mỗi người chúng ta, vì Ngài luôn đứng trước cửa nhà chúng ta và gõ cửa.(Kh.3,20) Ngài đến để làm rộn lên niềm vui.
 
Cuộc đời mỗi người dù đau thương thật nhiều, nhưng cũng không thiếu những niềm vui nho nhỏ. Vui vì được may mắn, được thành đạt, được yêu thương hay được ủi an và nâng đỡ…Nhưng niềm vui sâu đậm và dấu ấn nhất vẫn luôn là niềm vui có Chúa, niềm vui được làm con Chúa, niềm vui được Chúa yêu thương. Như lời chào của thiên sứ nói với Đức Maria:”Vui lên hỡi người đầy ơn phước, Chúa ở cùng Bà!”.
 
Một thoáng Noel cũng đủ gợi lên trong mỗi chúng ta chút gì đó vừa rộn rã vừa êm đềm. Thánh thót làm sao cung nhạc giáng sinh! Thân thương và trìu mến trước một hang đá giáng sinh! Thanh thoát và an lành của một tiết trời vào đông!. Tất cả đất trời như reo vui và mừng hát vì Chúa đến.
 
Tin mừng Chúa nhật hôm nay diễn tả niềm vui Chúa đến thật mãnh liệt và cụ thể :”Người ta sẽ thấy trên đám mây, Con Người hiện đến đầy quyền năng và uy nghi cao cả. Bấy giờ chúng con hãy đứng dậy và ngẩng đầu lên, vì giờ cứu rỗi chúng con đã gần đến” (Lc. 21, 27-28). Bất kể chiến tranh xảy ra giữa các vì sao, hay trời sập, đất lở…
 
Hành tinh chúng ta đang sống dường như đang bị đe dọa hủy diệt và nhân loại đang sống trong những thời khắc đầy âu lo, thấp thỏm vì thù hận, bạo lực và khủng bố tràn lan. Chính trong bối cảnh này, chỉ có “bước Người đi qua” hay sự “hiện diện của Chúa”, mới thật sự làm cho con người được sống trong an bình và hạnh phúc. Chối từ hay cản trở không cho Chúa đến đồng nghĩa với tai họa và khổ đau. Vì Chúa đến là để làm cho con người được sống và sống dồi dào.(Ga.10,10)
 
Trải qua bao đời, thực tế cuộc sống và niềm tin đã đi sâu vào lòng dân Chúa để đi đến khẳng định rằng:
“Hạnh phúc thay quốc gia
được Chúa làm Chúa tể,
Hạnh phúc thay dân nào
Người chọn làm gia nghiệp” (Tv.32,12)
 
Mở đầu cho năm truyền giáo, chúng ta có sứ mạng làm cho Nước Chúa được lan rộng và mau đến  trong mỗi tâm hồn và bờ cõi đất nước. Những gì làm cản trở bước chân Chúa đến với mọi người, như thái độ, lời nói, cử chỉ và cung cách sống thiếu bác ái, khiêm nhường mà thư mục vụ của Hội dồng Giám mục Việt Nam 2003 lưu ý (MV số 9)ù ; hay lối sống phản Tin mừng mà Lời Chúa cụ thể hôm nay trình bày, như chè chén say sưa, ham mê của cải vật chất thái quá, chúng ta phải mạnh dạn uốn nắn và khắc phục. Quyết tâm như thế, chúng ta không những làm cho Chúa đến gần mà còn thôi thúc bản thân và anh em đến gần Chúa. Kết qủa là niềm vui có Chúavà được Chúa đến viếng thăm sẽ không ai và không gì có thể cướp mất được.
 
Lm. PHAOLÔ DƯƠNG CÔNG HỒ
Chánh xứ Đạ Tẻh – Lâm Đồng
12/2003
 

MV1-C166: CHÚA NHẬT I MÙA VỌNG, C

(Lu-ca 21:25-28,34-36)

Một số người trong chúng ta đã có kinh nghiệm thế nào là nằm bệnh viện.  Bạn hoàn toàn mất MV1-C166

Một số người trong chúng ta đã có kinh nghiệm thế nào là nằm bệnh viện.  Bạn hoàn toàn mất tự do, không thể đi lại tùy ý thích, không thể kiểm soát được gì sau khi mình đã bị gây mê.  Vậy tại sao bạn có thể chịu đựng được tình trạng mất tự do như vậy?  Câu trả lời thật là đơn giản.  Vì bạn tin rằng thời gian ở bệnh viện sẽ giúp cho đời sống mình tốt đẹp hơn.  Bạn có thể chịu đựng được phiền phức, mất tự do, kinh hoàng là vì bạn tin rằng cần phải như vậy mới tốt cho bạn và mai mốt bạn sẽ được tự do sống như trước kia.  Cho nên bạn hướng mắt nhìn về ngày đó mà chịu đựng và kiên nhẫn.  Hình ảnh ấy giúp chúng ta hiểu thế nào là tin tưởng, là đức tin.  Đức tin hướng chúng ta tới một mục đích.  Đức tin cũng giúp chúng ta chấp nhận những phương tiện để đạt tới mục đích ấy.  Đức tin ấy được Chúa Giê-su trình bày hôm nay trong bài giảng của Người về sự sụp đổ của thành Giê-ru-sa-lem, một biến cố báo trước cuộc quang lâm của Người trong ngày tận thế.
 
  1.   Chúa đến, một biến cố đòi hỏi phải có đức tin  
         
Sau khi đã kể ra một số dấu hiệu báo trước và nhắc đến thái độ sợ hãi của nhiều người, Chúa Giê-su khẳng định việc quang lâm của Người:  “Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến” (Lc 21:27).  Trước biến cố Người sẽ đến, trong khi có những người “sợ đến hồn xiêu phách tán” thì Chúa Giê-su lại đưa ra một mẫu người đức tin, đó là “anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu chuộc.”
          Đức tin giúp chúng ta đứng thẳng và ngẩng đầu lên.  Thực là một hình ảnh sống động và chính xác.  Thiếu hoặc mất niềm tin, chúng ta thường đứng ngồi không yên và gục đầu xuống, làm như không muốn đối diện với thực tế.  Khi Ba Vua từ phương Đông tới Giê-ru-sa-lem và hỏi:  “Đức Vua dân Do-thái mới sinh, hiện ở đâu?” thì “vua Hê-rô-đê bối rối, và cả thành Giê-ru-sa-lem cũng xôn xao” (Mt 2:2-3).  Bối rối và xôn xao là vì không có niềm tin.  Trái lại, đức tin cho chúng ta được sức mạnh để đứng thẳng mà không sợ hãi, được can đảm để nhìn lên và đón nhận một thực tại có lợi cho chúng ta, tuy có đòi hỏi chúng ta phải hy sinh mất mát mới chiếm hữu được.
          Nhưng đâu là đối tượng của đức tin, hoặc nói khác đi, là tin điều gì?  Chúa Giê-su trả lời rõ ràng và chắc chắn:  “Vì anh em sắp được cứu chuộc.”  Chỉ những con người thực sự tin rằng mình sắp được cứu chuộc mới có thể ở trong tư thế “đứng thẳng và ngẩng đầu lên” trước cảnh “biển gào sóng thét.”  Chúa Giê-su đã rất nhiều lần lập đi lập lại đối tượng của niềm tin này:  “Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ” (Ga 3:17).  Tin là đặt tất cả sự tín thác vào một thực tại chắc chắn sẽ tới, là chấp nhận sự trung thành của Đấng hứa ban cho chúng ta điều gì.  Vì Chúa Giê-su tin vào sự trung thành của Thiên Chúa sẽ cứu độ chúng ta nên Ngài mới quả quyết với chúng ta:  anh em sắp được cứu chuộc rồi!  Người còn xác nhận rằng chính Người đã đến là để thi hành ý Chúa Cha:  giúp mọi người được sống và sống phong phú.
 
  1.   Chúa đến, một biến cố đòi hỏi sự chuẩn bị
 
          Dù đã báo trước chắc chắn Người sẽ quang lâm, nhưng Chúa Giê-su vẫn nhắc nhở chúng ta phải chuẩn bị thích đáng.  Một trong những tâm trạng thường xảy ra khi phải chờ đợi là bị cám dỗ làm những chuyện không liên hệ đến việc chờ đợi.  Đáng lẽ phải làm những gì để chuẩn bị cho việc Chúa đến, những gì thái độ tỉnh thức đòi hỏi, thì chúng ta lại “để cho lòng mình ra nặng nề” do chè chén say sưa hoặc lo lắng làm giàu.  Tỉnh thức là tư thế căn bản của chờ đợi.  Ngồi trong phòng đợi những chuyến bay từ Việt Nam về, chúng ta mới biết thế nào là tỉnh thức.  Mỗi lần cánh cửa lay động, hé mở là hàng trăm cặp mắt đổ dồn vào đó.  Rồi khi đám hành khách đi ra, người ta lại dớn dác tìm.  Nếu là người thân, người ta sẽ nhận ra ngay từ đằng xa.  Tất cả đều là những biểu lộ của tỉnh thức.  Tỉnh thức cũng là cách nói lên một mối quan hệ.  Trong số những người ngồi trong phòng đợi, hầu hết là những người có quan hệ với hành khách trở về, nên họ tỉnh thức.  Nhưng cũng có một số rất ơ hờ, có thể là những người bạn bè của những người đi đón, hoặc có thể là những người “bị” đi đón.  Chúng ta tỉnh thức đang khi chờ đón Chúa đến, vì Ngày Chúa đến giống như “một chiếc lưới bất thần chụp xuống đầu” và vì chúng ta có mối quan hệ mật thiết với Người.
          Một điều nữa Chúa Giê-su thấy chúng ta cần phải làm, đó là cầu nguyện.    Tại sao cần phải cầu nguyện?  Trả lời câu hỏi, có bản dịch Kinh Thánh ghi là để chúng ta “đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người,” bản dịch khác lại viết là để chúng ta “được xét là đáng thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người.”  Cầu nguyện là sống mối quan hệ với Chúa, hoặc là sống sự thức tỉnh.  Nếu như thế thì cả hai cách dịch đều đúng cả, vì mối quan hệ mật thiết với Chúa là một sức mạnh và là điều kiện xứng đáng giúp chúng ta chịu đựng được sự phán xét của Chúa và được Chúa nhìn nhận là những “người đầy tớ tài giỏi” (Lc 19:17).
 
  1.   Suy nghĩ và cầu nguyện
 
          Thời nào cũng có những người làm trò tiên báo ngày tận thế.  Trước những đe dọa đó, thái độ của tôi có thực sự là thái độ của đức tin không?  Lời Chúa trong bài Tin Mừng hôm nay dạy tôi thái độ nào là của đức tin đích thực?
          Tỉnh thức là sống mối quan hệ với Chúa.  Cầu nguyện cũng là sống mối quan hệ mật thiết với Chúa.  Vậy tôi có chuẩn bị cho ngày Chúa đến bằng cách sống mối quan hệ với Người không?  Sống mối quan hệ ấy như thế nào?
 
          “Lạy Chúa là Đấng chúng con tôn thờ,
          xin cho chúng con hằng tha thiết đợi chờ Đức Ki-tô ngự đến,
          để khi đến gõ cửa, Người thấy chúng con đang tỉnh thức cầu nguyện,
          và hân hoan ca tụng Người.
          Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa,
          hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thở muôn đời.  A-men.”
                             (Lời nguyện nhập lễ, Thứ Hai sau CN I mùa Vọng)
 Lm. Ðaminh Trần Ðình Nhi
30-11-2003
 

MV1-C167: Chúa Nhật I  Mùa Vọng, năm C

(30-12-2003)
Luca 21, 25-28. 34-36
Linh mục Phêrô Trần Đình *
Giáo phận Đàlạt.

 Trời đã đổi mùa. Niên lịch phụng vụ cũng sang trang : mùa vọng đã bắt đầu. Giáo Hội muốn dùng MV1-C167

 Trời đã đổi mùa. Niên lịch phụng vụ cũng sang trang : mùa vọng đã bắt đầu.
Giáo Hội muốn dùng bài Tin Mừng hôm nay để giáo huấn chúng ta : trước tiên là giúp ta hiểu ý nghĩa của mùa vọng, thứ đến dạy ta thái độ cụ thể phải có để sống mùa vọng tốt hơn.
 
1. Ý nghĩa của mùa vọng
 Nói đến mùa vọng người ta nghĩ ngay đây là mùa chuẩn bị tâm hồn để mừng lễ Chúa Giáng Sinh. Các ca đoàn sẽ tập hát, những buổi thống hối cộng đồng sẽ được cử hành, những hang đá sẽ được chuẩn bị. Mùa vọng không chuẩn bị cho lễ Giáng Sinh là gì !. Đúng vậy, nhưng đây là mục đích gần của mùa vọng. Nó chỉ là bàn đạp giúp chúng ta đi xa hơn mà thôi.
 
Thật ra, mục đích chính yếu của mùa vọng là hướng cái nhìn chúng ta về ngày Đức Kitô trở lại. Ngày ấy, Người sẽ đến trên mây trời trong quyền năng và vinh quang. Những hiện tượng như trời rung đất chuyển, biển gào sóng vỗ…mà văn chương khải huyền Cựu ước nói đến và Tin Mừng trích dẫn, tựu trung cũng chỉ là nền trời cho Con Người xuất hiện như Đấng thẩm phán quyền uy mà con người sẽ phải đối diện và trả lẽ về cuộc sống hôm nay.
 
Nếu những hiện tượng lạ lùng là cớ cho con người hãi hùng, hồn xiêu phách lạc (c. 26), thì đối với các tín hữu, đó là ngày cứu độ họ mong chờ. Và thái độ thích hợp là “đứng thẳng và ngẩng đầu lên” (c.28) như thể để đón nhận ơn mưa móc của Chúa : “Trời cao hãy đổ sương xuống, và ngàn mây hãy mưa Đấng cứu đời”.
 
Hiểu như thế, thì mùa vọng chẳng những là mùa mong đợi, nhưng còn phải là mùa nuôi dưỡng nơi ta lòng khát vọng Chúa. Nếu không có tâm tình này, lễ Chúa Giáng Sinh sẽ chỉ còn là một kỷ niệm của quá khứ được ta làm sống lại, chứ không mang lại lợi ích thiêng liêng nào cho ta.
 
Mùa vọng, khi nói đến việc Đức Kitô sẽ trở lại, còn muốn đưa cái nhìn chúng ta “đi xa hơn hiện tại”, giúp chúng ta biết nghĩ về cùng đích đời người - điều mà người ta ít quan tâm hay nghĩ đến - và phải làm gì để hoàn thành định mệnh đời ta.
 
2. Thái độ đối với mùa vọng
 Vì thế, đi vào mùa vọng, Giáo Hội kêu gọi ta hãy có những thái độ thích hợp.
Trước tiên là sự trông chờ và khát vọng Chúa như đã nói trên, nếu không mùa vọng sẽ đi qua một cách vô ích và ơn Chúa cũng không đổ xuống lòng ta.
 
Thứ đến, Chúa dạy ta hãy đề phòng : “chớ để lòng mình ra nặng nề vì chè chén say sưa, lo lắng việc đời…” (c.34). Đó là những cản trở thật sự khiến ta hờ hững đối với Chúa. Một sự thanh thoát của lòng trí và tâm hồn là điều kiện cần thiết để ta có thể gần Chúa và khát vọng Người.
 
Thứ ba là tỉnh thức.
 Trong Kinh Thánh lời kêu gọi tỉnh thức luôn gắn liền với đêm tối và người kẻ trộm (x.Lc 12, 36-40 ; 1 Tx 5, 2-3) để nói đến sự bất ngờ lúc Chúa đến và tư thế sẵn sàng để đón Người. Tỉnh thức ở đây ắt hẳn không phải là chong đèn ngồi đợi, cho bằng là giữ cho lòng mình luôn ở trong trạng thái đẹp lòng Chúa.
 
Và cuối cùng là sự cầu nguyện. Tỉnh thức luôn phải đi liền với sự cầu nguyện. Là bởi vì con người thường yếu đuối hơn mình tưởng. Chỉ có sức mạnh của Chúa mới có khả năng nuôi dưỡng nơi ta sự tỉnh thức liên tục, lòng mong chờ và khát vọng Chúa, đồng thời giúp ta có thể “đứng thẳng và ngẩng đầu lên”.
                             Mùa vọng, như vậy, là mùa hồng ân. Chúng ta hãy có những thái độ xứng hợp để đón nhận ơn Chúa.
 ________________________
* Lm. Trần Ðình là cha quản nhiện Giáo Xứ  Chi Lăng, Ðàlạt.  Ngài xuất thân TCV Simon Hòa, khóa 2, nguyên là giáo sư Triêt Học Ðại Chủng Viện Ðàlạt (1978).  Ngài có một  lối suy niệm rất cô đọng nhưng đơn sơ.  Kể từ nay, Website Simon Hòa hân hạnh được Ngài cộng tác thường xuyên, đặc biệt trong trang Suy Niệm Chủ Nhật.  Xin giới thiệu cùng quí độc giả và cám ơn linh mục giáo sư Phêrô Trần Ðình.
 

MV1-C168: CHỦ NHẬT THỨ I MÙA VỌNG 2000

Lm. Giuse Nguyễn Hữu Duyên
"Chúng con hãy đứng dậy và ngẩng đầu lên".

Một lời mời gọi luôn cần thiết cho anh, cho tôi và cho chúng ta nữa. Vì thực tế cuộc sống thường dúi MV1-C168

Một lời mời gọi luôn cần thiết cho anh, cho tôi và cho chúng ta nữa. Vì thực tế cuộc sống thường dúi đầu chúng ta xuống, chèn ép và nhiều khi ném chúng ta vào vực thẳm. Cơn lốc chứng khoán từ tháng 4 đến nay đã chôn vùi bao mái đầu.
Trong hoàn cảnh nào cũng có những chiếc đầu ngẩng cao ngạo nghễ. Nhưng rồi họ đã biến dạng từ lúc nào chẳng một ai hay. Và chính họ cũng không ngờ mọi sự đã trôi dạt như bọt biển ngoài khơi. Hôm ấy, Ðức Giêsu và các môn đệ đang đứng trước một Giêrusalem lộng lẫy, với ánh chiều tà càng tăng thêm vẻ uy hùng rực rỡ. Và người ta trầm trồ khen ngợi. Phần Ðức Giêsu, Ngài lại nhìn thấy ngày khánh tận thê thảm của Giêrusalem. Trong ngôn ngữ văn chương VN chúng ta cũng có không ít những ghi nhận và coi cõi đời này chỉ là giấc chiêm bao!
Vì thế nếu anh ngẩng đầu lên, thì không phải vì chỉ số chứng khoán tăng vọt. Ðức Giêsu mời gọi anh ngửng đầu lên "vì giờ cứu rỗi chúng con đã gần đến". Ðã biết bao người đã tưởng giờ ấy vào đầu năm 2000 với sự cố Y2K, nhưng chúng ta đã sống đến cuối năm 2000 rồi đó. Kể ra những tiên tri giả đã làm chảy bao giòng máu vàng bạc và dollars cách oan uổng!
Giờ ấy là giờ của "Con Người". Người "Con Ðavid" mà Giêrêmia loan báo. Giờ ấy chính "Người Con" cũng chẳng biết. Nhưng có một điều Ðức Giêsu đã khẳng định chắc ịch, và các tông đồ luôn rao giảng : "Xin Chúa gia tăng và ban cho anh em tràn đầy lòng thương yêu nhau, và thương yêu mọi người như chúng tôi đối với anh em, để lòng anh em được bền vững....trong ngày Ðức Giêsu Kitô Chúa chúng ta ngự đến..." Giờ ấy theo tiên tri iêrêmia là giờ của Ðấng Công Chính. Theo kinh thánh thì Ðấng Công Chính là Ðấng Trung Tín với Giao Ước Người đã thiết lập, và như vậy cũng chỉ là tên gọi khác của Ðấng là Tình Yêu.
Một lần nữa chúng ta trở lại với giòng suy nghĩ : giá trị văn hóa dân tộc là chiếc nôi thích hợp của Tin Mừng. Văn hóa VN không có những công trình kỹ thuật khoa học lớn lao, nhưng lại chất chứa và chuyển tại một tình yêu trung tín, có thể tìm gặp ngay trong những khúc đồng dao :
"Chim có tổ, cáo có hang,
Người ta có nước, có làng - Ai ơi!
Con người có tổ, có tông,
Cái cây có cội, con sông có nguồn."

Chính là cái tình tự dân tộc ấy đã là sức mạnh tồn tại mặc dù trải qua thăng trầm hưng vong của thế cuộc. Tình yêu trung tín cho dân tộc mình vẫn vượt qua những thời gian nô thuộc hằng ngàn năm, cho dù không có trong tay một tiềm năng khí tài kinh tế hay quân sự. Lịch sử Việt Nam là lịch sử của những tình tự dân tộc vậy.
Mang sẵn trong giòng máu Tình Yêu Thiêng Liêng ấy, chúng ta dễ có thể thấy Ðức Giêsu là niềm hy vọng đích thật cho con người, bởi vì Ngài chính là Tình Yêu Làm Người. Bao lâu dân tộc còn tình yêu, dân tộc còn tồn tại, điều ấy được thể hiện đậm nét trong văn hóa dân tộc và nó phải được đẩy lên mức viên mãn trong niềm hy vọng nơi Ðức Giêsu.
Mùa Vọng trở lại, ước gì chúng ta có thể nói với nhau đôi điều về Niềm Hy Vọng của mình cho mọi người.
 

MV1-C169: Chúa Nhật I Mùa Vọng C

Suy niệm chú giải Lời Chúa Chúa Nhật I Mùa Vọng C - Lm. Inhaxio Hồ Thông

Với Chúa Nhật I Mùa Vọng, chúng ta bước vào năm Phụng Vụ mới theo chu kỳ là Năm C. Trong Mùa MV1-C169

Với Chúa Nhật I Mùa Vọng, chúng ta bước vào năm Phụng Vụ mới theo chu kỳ là Năm C. Trong Mùa Vọng này, chúng ta sống lại tâm tình của dân Do thái xưa chờ đón Chúa đến. Nhưng khác với dân Do thái, chúng ta biết rằng Chúa đã đến rồi trong thân phận yếu hèn của kiếp người, hiện nay Ngài vẫn hằng đến với chúng ta mọi ngày cách mầu nhiệm và Ngài sẽ đến sau cùng với chúng ta trong vinh quang, gần nhất vào ngày mỗi người từ giả cuộc sống trần thế này, và xa hơn vào ngày Quang Lâm của Ngài. Vậy, Mùa Vọng vừa chuẩn bị chúng ta mừng kỷ niệm việc Chúa đến lần thứ nhất trong thân phận yếu hèn của kiếp người, vừa giúp chúng ta hướng lòng trông đợi Chúa đến lần thứ hai trong vinh quang của Ngài.
Gr 33: 14-16
Bài Đọc I là sấm ngôn của ngôn sứ Giê-rê-mi-a đã được một bàn tay vô danh sửa lại, hay nói đúng hơn, hiện tại hóa vào trong thời đại của mình, sau khi vương triều Đa-vít biến mất. Bản văn này chuyển niềm hy vọng Mê-si-a sang Giê-ru-sa-lem, thành đô của Thiên Chúa.
1Tx 3: 12-4: 2
Thánh Phao-lô khuyên các Ki-tô hữu Thê-xa-lô-ni-ca sống trong tư thế sẵn sàng chờ đón ngày Đức Giê-su trở lại trong vinh quang bằng cách thực hành đức ái huynh đệ và thăng tiến trên con đường thánh thiện.
Lc 21: 25-28, 34-36
Tin Mừng được trích từ bài diễn từ của Đức Giê-su về ngày tận thế theo Tin Mừng Lu-ca. Đức Giê-su loan báo cuộc trở lại trong vinh quang của Ngài để khai mạc một thế giới mới; các tín hữu phải chờ đợi ngày này trong niềm tin tưởng chứa chan hy vọng.
BÀI ĐỌC I (Gr 33: 14-16)
Bản văn Gr 33: 14-16 nầy lập lại sấm ngôn của Giê-rê-mi-a ở 23: 5-6, tuy nhiên đoạn cuối đã được một nhà biên soạn vô danh sửa lại sau này: thay vì “Thời bấy giờ, Giu-đa sẽ được cứu thoát, Ít-ra-en được sống yên hàn” (23: 6), thì lại “Trong những ngày ấy, Giu-đa sẽ được cứu thoát, Giê-ru-sa-lem sẽ được an cư lập nghiệp” (33: 16). Việc sửa lại này dâng hiến một lợi ích lớn lao về phương diện lịch sử cũng như tâm lý.
Ngôn sứ Giê-rê-mi-a công bố sứ điệp hy vọng này vào lúc triều đại Đa-vít biến mất trong một cơn phong ba bảo táp dữ dội và xem ra cuốn theo với triều đại này mọi lời hứa về Đấng Mê-si-a thuộc dòng dõi vua Đa-vít.
1. Bối cảnh lịch sử:
Bối cảnh lịch sử được định vị vào năm 597 trước Công Nguyên, khi vua Na-bu-cô-đô-nô-xo, vua Ba-by-lon, xâm chiếm Giê-ru-sa-lem và bắt vua Giơ-hô-gia-khin, hậu duệ của vua Đa-vít, và các thân hào nhân sĩ đi lưu đày; đoạn, mười năm sau đó cướp sạch thành thánh và triệt hạ Đền Thờ.
Trước khi tai họa xảy đến cho đất nước, ngôn sứ Giê-rê-mi-a đã lãnh nhận một sứ mạng khó khăn là báo trước cho các vị lãnh đạo và các thân hào nhân sĩ những biến cố bi thảm này, nếu họ không chịu thay đổi cách ăn nếp ở, thực hành công chính và trung tín với Đức Chúa. Nhưng khi những nỗi gian truân bất ngờ xảy đến, ngôn sứ Giê-rê-mi-a, từ ngôn sứ loan báo những tai họa trở thành sứ giả loan báo niềm hy vọng, khẳng định rằng không có gì mất cả; những lời hứa của Thiên Chúa liên quan đến dòng dõi vua Đa-vít không bị hủy bỏ.
“Này, sẽ đến những ngày” (biểu thức này ngôn sứ Giê-rê-mi-a rất tâm đắc, chắc chắn được mượn ở ngôn sứ A-mốt) Thiên Chúa sẽ cho mọc lên từ dòng dõi Đa-vít một “mầm non” (thuật ngữ này đã là một danh hiệu của Đấng Mê-si-a), Đấng này sẽ trị nước theo lẽ công minh chính trực. Ngôn sứ Giê-rê-mi-a kết thúc sấm ngôn của mình khi trao tặng cho hậu duệ Đa-vít tương lai danh hiệu “Đức Chúa là sự-công-chính-của-chúng-ta”, một trong những danh xưng biểu tượng mà các ngôn sứ thường sử dụng (từ “công chính”  được hiểu theo nghĩa Kinh Thánh là sự thánh thiện của Thiên Chúa).
2. Ý nghĩa của việc sửa lại.
Nhiều thế kỷ trôi qua, nền độc lập không được khôi phục và vương triều không được tái lập. Dân Thiên Chúa được tổ chức theo thần quyền, chung quanh các tư tế của họ và Đền Thờ Giê-ru-sa-lem được tái thiết. Vào lúc đó, sấm ngôn Giê-rê-mi-a được sửa lại. Vì thế ai xứng đáng đón nhận danh hiệu Mê-si-a “Đức Chúa là sự-công-chính-của-chúng-ta” này, nếu không là Giê-ru-sa-lem được nhân cách hóa? Không phải từ nay Thành Thánh là nơi độc nhất mà các lời hứa cứu độ được ký thác sao?
Các nhà chuyên môn có thể ghi niên biểu của việc sửa đổi này vào hậu bán thế kỷ thứ ba trước Công Nguyên, vì bản dịch Hy lạp, bản Bảy Mươi, không biết đoạn văn này. Ấy vậy, bản dịch nầy được thực hiện ở A-lê-xan-ri-a vào những năm 285-246 trước Công Nguyên.
Việc sửa đổi này rất có ý nghĩa. Vào thời đó, dòng dõi Đa-vít bị mất hút vào trong tập thể. Vị thượng tế lãnh nhận lễ xức dầu tấn phong thế vị vua. Trào lưu Mê-si-a vương đế và trào lưu Mê-si-a tư tế được nhập thành một. Thành Thánh Giê-ru-sa-lem là trung tâm độc nhất, dấu chỉ niềm hy vọng vĩnh hằng.
BÀI ĐỌC II (1Tx 3: 12-4: 2)
Thánh Phao-lô viết Thư thứ nhất gởi các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca vào đầu năm 51, tức khoảng hai mươi năm sau cái chết của Đức Giê-su. Đây là một văn kiện Tân Ước lâu đời nhất.
Thánh Phao-lô viết hai bức thư gởi tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca. Trong cả hai bức thư, viễn cảnh về ngày Quang Lâm của Đức Giê-su là một trong những chủ đề chính, viễn cảnh nầy đem lại cho những lời khuyến dụ của thánh nhân một cung giọng khẩn thiết. Như vậy, đoạn trích thư này hòa hợp với hai bài đọc còn lại của Chúa Nhật I Mùa Vọng năm C này.
1. Bối cảnh:
Thánh Phao-lô đã sáng lập giáo đoàn Thê-xa-lô-ni-ca vào năm 50. Thê-xa-lô-ni-ca là thành phố thương mại miền duyên hãi, thủ phủ của miền Ma-kê-đô-ni-a. Đây là thành phố thứ hai thuộc Châu Âu đón nhận sứ điệp Tin Mừng, sau thành phố thứ nhất là Phi-líp-phê (1Tx 2: 2). Việc thánh Phao-lô rao giảng thành công đã khiến một nhóm người Do thái ghen tức, họ xúi dục một nhóm người chống đối thánh nhân dữ dội đến mức thánh nhân cùng với hai người bạn đồng hành là Xin-va-nô và Ti-mô-thê đang đêm phải vội vã trốn khỏi thành phố (Cv 17: 5-10). Thánh Phao-lô ra đi mang theo nỗi bận lòng của ngài vì phải rời bỏ một giáo đoàn mà ngài vừa mới thành lập mà đức tin của họ vẫn còn non yếu. Vì thế, khi thời thế thuận tiện, thánh nhân đã phái ông Ti-mô-thê viếng thăm giáo đoàn Thê-xa-lô-ni-ca mà chính thánh nhân đã không thể. Khi trở về, ông Ti-mô-thê đem đến những thông tin đầy khích lệ: các tín hữu non trẻ vẫn “đứng vững trong Chúa” (Tx 3: 8), bất chấp những gian truân mà họ phải chịu. Lúc đó, thánh Phao-lô ở Cô-rin-tô, với niềm vui và tâm tình cảm tạ tri ân, viết một bức thư chan chứa ân tình, thư thứ nhất gởi các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca.
Thư này gồm hai phần. Đoạn trích hôm nay là một bản lề: chúng ta đọc đoạn kết của phần thứ nhất (3: 12-13) và đoạn mở của phần thứ hai (4: 1-2).
2. Lời nguyện xin của thánh Phao-lô:
Phần thứ nhất kết thúc với lời nguyện xin của thánh Phao-lô (phần thứ hai cũng vậy). Qua những ngôn từ của lời nguyện xin này, thánh nhân nhắc các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca nhớ nguyên tắc Ki-tô giáo tuyệt vời: “Xin Chúa cho tình thương của anh em đối với nhau và đối với mọi người ngày càng thêm đậm đà thắm thiết”. Trong giáo đoàn đa số là các Ki-tô hữu gốc lương dân, như mạch văn để cho thấy điều đó, nhưng chắc chắn cũng bao gồm những Ki-tô hữu gốc Do thái.
Trong Giáo Hội tiên khởi việc sống chung không là vấn đề, nhưng thánh nhân còn đi xa hơn: khuyên các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca không chỉ yêu thương nhau mà còn yêu thương hết mọi người, “ngày càng thêm đậm đà thắm thiết”, lời khuyên này vào hoàn cảnh đó thật quan trọng, tức là các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca phải yêu mến những người bách hại mình, dù phải chịu nhiều nỗi gian truân. Để nâng đỡ và khích lệ họ, thánh nhân nhắc họ nhớ lại tấm lòng mà ngài có đối với họ: “cũng như tình thương của chúng tôi đối anh em vậy”.
Luật yêu thương là con đường thánh thiện, “không có gì đáng chê trách, trước nhan Thiên Chúa là Cha chúng ta, trong ngày Đức Giê-su, Chúa chúng ta, quang lâm cùng với các thánh của Người”.
3. Ngày của Chúa:
Chúng ta ghi nhận rằng ngay từ bản văn Tân Ước đầu tiên này, Đức Giê-su được gọi là Chúa (Đức Chúa), danh xưng mà Cựu Ước dành riêng cho Thiên Chúa. Như vậy, các Ki tô hữu tiên khởi đã khẳng định Thần Tính của Đức Giê-su. “Ngày của Chúa” mà các ngôn sứ đã loan báo nay được dùng để chỉ “ngày Quang Lâm”, nghĩa là ngày Đức Giê-su trở lại trong vinh quang cùng với “các thánh của Người”.
Các thánh này là ai? Theo truyền thống Do thái, nhất là truyền thống khải huyền, vào ngày chung thẩm, Đức Chúa được các thiên sứ đứng chầu chung quanh, thường được gọi “các thánh” (x. Dcr 14: 5). Các sách Tin Mừng vang dội lại truyền thống này: “Khi Con Người đến trong vinh quang của Ngài, có tất cả các thiên sứ theo hầu” (Mt 25: 31). Tuy nhiên, thánh Phao-lô vừa mới gợi lên sự thánh thiện của các tín hữu, vì thế, không thể không nghĩ rằng thánh nhân liên kết sự hiện diện của những người được tuyển chọn với sự hiện diện của các thiên sứ.
4. Trong ngày của Đức Giê-su:
Đoạn văn này chỉ trích dẫn lời mào đầu của phần thứ hai thư gởi các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca (4: 1-2). Trong lời mào đầu này, thánh Phao-lô khuyên bảo các tín hữu hãy kiên vững và thăng tiến trên con đường thánh thiện. Thánh nhân nhắc nhớ giáo huấn của ngài, khi xác định ngài đã truyền đạt cho họ những chỉ thị mà ngài “đã lấy quyền Chúa Giê-su”. Thánh nhân sẽ luôn luôn tự giới thiệu mình chỉ là người trung gian, sứ giả phàm nhân của lời Thiên Chúa.
Mặt khác, thật đáng chú ý là, ngay từ bản văn đầu tiên của thánh Phao-lô, xuất hiện biểu thức thường được lập đi lập lại dưới ngòi bút của thánh nhân, biểu thức then chốt phản ảnh hồn tông đồ cũng như cuộc sống nội tâm của thánh nhân: “Nhân danh Chúa Giê-su, chúng tôi xin, chúng tôi khuyên nhủ anh em”. Xa hơn một chút, thánh nhân lập lại đến hai lần “Nhân danh Chúa Giê-su” (5: 12, 18). Phải sống, hành động, suy nghĩ, cầu nguyện “nhân danh Chúa Ki-tô”. Đây là cách thức duy nhất “làm vui lòng Thiên Chúa”.
TIN MỪNG (Lc 21: 25-28, 34-36)
 Năm Phụng Vụ khởi đầu và kết thúc trên viễn cảnh Đức Giê-su trở lại vào ngày tận thế để thiết lập Triều Đại của Ngài một cách vĩnh viễn và tôn vinh các thánh. Như vậy, vào Chúa Nhật trước, trong ngày lễ Chúa Giê-su Vua kết thúc năm Phụng Vụ theo chu kỳ Năm B, chúng ta đã cử hành vương quyền hoàn vũ của Đức Giê-su. Vào Chúa Nhật I Mùa Vọng này theo chu kỳ là Năm C, chúng ta lấy lại sự gợi ý tương tự, nhưng trong viễn cảnh Giáng Sinh. Đức Giê-su đã trở thành phàm nhân và đã hội nhập vào trong cuộc sống nhân loại để hướng dẫn nhân loại đến vận mệnh siêu nhiên của Ngài; Ngài sẽ hoàn thành công trình của mình vào ngày Quang lâm. Tương ứng với việc Chúa đến lần thứ nhất trong sự yếu đuối và khiêm hạ của biến cố Bê-lem lại là việc Chúa đến lần thứ hai trong quyền năng và sự cao cả của việc “Con Người ngự đến”.
1. Bối cảnh:
Cũng như thánh Mác-cô và thánh Mát-thêu, thánh Lu-ca đặt bài diễn từ về ngày Quang Lâm của Đức Giê-su vào lời giáo huấn sau cùng của Ngài ở Giê-ru-sa-lem, không bao lâu trước cuộc Thương Khó của Ngài. Chúng ta đọc phần cuối của bài diễn từ này.
Trong cả ba Tin Mừng nhất lãm, Chúa Giê-su công bố bài diễn từ này vào dịp Ngài rao giảng về sự sụp đổ Đền Thờ Giê-ru-sa-lem “không còn tảng đá nào trên tảng đá nào” (Lc 21: 6). Viễn cảnh này làm xao xuyến các môn đệ đến độ các ông liên kết nó với viễn cảnh ngày tận thế. Về phần mình, thánh Lu-ca cẩn trọng ghi nhận giữa hai biến cố này có một thời kỳ trung gian, “thời kỳ dân ngoại” ở 22: 24 ngay trước đoạn trích này: “Họ sẽ ngã gục dưới lưỡi gươm, sẽ bị đày đi khắp các dân các nước, và Giê-ru-sa-lem sẽ bị dân ngoại giày xéo, cho đến khi mãn thời của dân ngoại”.
Theo thánh Mác-cô và thánh Mát-thêu, Đức Giê-su công bố diễn từ này trên núi Ô-liu, khi ngỏ lời với các môn đệ, hay chỉ một nhóm nhỏ, theo Mác-cô. Thánh Lu-ca định vị nó vào ở trung tâm Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, nơi mà việc sụp đổ sắp xảy ra (thành thánh Giê-ru-sa-lem và Đền Thờ luôn luôn là trọng tâm của những viễn cảnh sách Tin Mừng Lu-ca). Bên kia các môn đệ, Đức Giê-su ngỏ lời với đám đông; như vậy thành thánh Giê-ru-sa-lem nghe công bố ngày Quang Lâm của Đấng mà nó sẵn sàng giết chết.
2. Truyền Thống Kinh Thánh:
Trong Kinh Thánh, những điềm báo về việc Thiên Chúa can thiệp dứt khoát trong lịch sử, đề tài này xuất hiện rất sớm, chẳng hạn như Đức Chúa gieo rắc sự kinh hoàng tại đất Ai-cập trước khi giải phóng dân Ngài (Xh 7: 14-11: 8). Đức Giê-su loan báo ngày tận thế theo cùng tiến trình: “Người ta sợ đến hồn xiêu phách lạc”, trong khi những người công chính “đứng thẳng và ngẩng đầu lên”.
Những điềm trời thường được các ngôn sứ sử dụng để loan báo những án phạt của Thiên Chúa trên các dân ngoại áp bức dân Ít-ra-en, cũng như trên chính dân Chúa chọn khi dân bất trung như Is 13: 10: “Quả vậy, tinh tú bầu trời và các chòm sao sẽ không chiếu sáng nữa, mặt trời vừa mọc lên đã tối sầm, mặt trăng sẽ không còn tỏa sáng”.
Khởi đi từ thế kỷ thứ hai trước Công Nguyên, các sách khải huyền phóng đại những mô tả này bằng những cảnh tượng huyền hoặc được gợi hứng từ Phương Đông (điều này đã để lại dấu vết trên sách Khải Huyền của thánh Gioan). Thể loại văn chương này đưa vào trong Do thái giáo một trào lưu suy luận rộng lớn về “thế giới tương lai”“kỷ nguyên cánh chung”. Vào thời Đức Giê-su, người ta rất quan tâm đến vấn đề này; chúng ta cũng có thể nói rằng vào lúc đó nhiều thế hệ đã sống trong niềm mong đợi ngày tận thế. Nhiều người Ki-tô hữu gốc Do thái sống trong niềm mong đợi ngày Quang Lâm của Đức Ki tô.
3. Con Người ngự đến:
Thánh Lu-ca gợi lên những hình ảnh truyền thống và quy ước về những xáo động trên đất và biển như khúc dạo đầu “Ngày của Chúa”, vì những hình ảnh nầy diễn tả những vùng vẫy sau cùng của những quyền lực sự ác trước khi chúng bị tiêu diệt; nhưng thánh ký không chú tâm đến những hình ảnh này; ông ngỏ lời với quần chúng ít quen thuộc với thể loại văn chương khải huyền Do thái. Tất cả từ vựng này được sử dụng cốt nhấn mạnh quyền tối thượng của Đấng “ngự trong đám mây mà đến”.
Đức Giê-su đã loan báo nhiều lần rồi cho các môn đệ về cuộc trở lại đầy quyền năng và vinh quang của Ngài dưới danh hiệu Con Người; ở đây Ngài đặt danh hiệu này vào trong bối cảnh gốc của nó hầu như theo sát nguyên văn, thị kiến của ngôn sứ Đa-ni-en: “Có ai như một Con Người đang ngự giá mây trời mà đến” (Đn 7: 13). Do đó, danh hiệu mà Đức Giê-su tự nhận cho mình được khám phá với tất cả trương độ ý nghĩa của nó. Trong thị kiến của ngôn sứ Đa-ni-en, Con Người là thủ lãnh “dân thánh của Đấng Tối Cao”. Với tư cách là Con Người, Đức Giê-su mang lấy vận mệnh nhân loại. Vinh quang của Ngài cũng sẽ là tôn vinh tất cả những ai đã tin vào Ngài.
4. Bức tranh bộ đôi:
Thánh Lu-ca đặc biệt nhạy bén trước chiều kích con người về tấn thảm kịch sau cùng; thánh ký đặt hai bức tranh đối lập với nhau: bức tranh về quân vô đạo (chư dân) “sợ đến hồn xiêu phách lạc” và bức tranh về các tín hữu phát hiện giờ mình được cứu độ, giờ mình được giải thoát. Nói cách chính xác, nếu thánh ký không mô tả cuộc quy tụ của những người được tuyển chọn, thì những từ ngữ ông sử dụng có một âm vang rất ý nghĩa: “đứng thẳng”, “ngẩng đầu lên”, diễn tả tư thế của những người được sống lại.
5. Biến cố bất ngờ:
Đức Giê-su không bác bỏ những hình ảnh của văn chương khải huyền; nhưng Ngài đề nghị mô tả Triều Đại của Ngài theo một cách thức khác, khi dựa trên một truyền thống phổ biến: Ngày Quang Lâm của Ngài xảy đến bất ngờ không có dấu hiệu nào báo trước; nó thình lình giáng xuống địa cầu. Trong Tin Mừng Lu-ca, Đức Giê-su đã gợi lên viễn cảnh này rồi ở nơi các dụ ngôn kêu gọi sự tỉnh thức của Ngài: “Anh em cũng vậy, hãy sẵn sàng , vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến” (Lc 12: 40) và ở nơi việc Ngài so sánh Triều Đại của Ngài với trận đại hồng thủy xảy đến bất ngờ: “Vì ánh chớp lòa chiếu sáng từ phương trời này đến phương trời kia thế nào, thì Con Người cũng là như vậy trong ngày của Người” (Lc 17: 20). Ở đây, Đức Giê-su sử dụng hình ảnh “chiếc lưới bất thần chụp xuống đầu” mà ngôn sứ I-sai-a đã dùng: “Nào kinh hoàng, nào hố sâu, nào dò lưới đang chờ đợi ngươi, hỡi cư dân trái đất” (I s 24: 17). Khi căn dặn các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca, thánh Phao-lô cũng theo truyền thống như vậy: “Vì chính anh em đã biết rõ: ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm ban đêm” (1Tx 5: 2), điều nầy không loại trừ thời kỳ gian nan khốn khó sau cùng: “Nhưng ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm. Ngày đó, các tầng trời sẽ ầm ầm sụp đổ, ngũ hành bốc cháy tiêu tan, mặt đất và các công trình trên đó sẽ bị thiêu hủy” (2Pr 3: 10).
6. Tỉnh thức và cầu nguyện:
Đức Giê-su đặt hai truyền thống này bên cạnh nhau: một truyền thống đặt dấu nhấn trên chiều kích hoàn vũ của biến cố, còn truyền thống kia – không loại trừ chiều kích hoàn vũ này – nhấn mạnh sự gặp gỡ thân tình của mỗi cá nhân với Chúa. Từ đó, Đức Giê-su mời gọi hãy tỉnh thức và cầu nguyện. Thánh Lu-ca không bao giờ quên tầm quan trọng của việc cầu nguyện; thánh nhân là thánh ký thường hằng ghi nhận tầm quan trọng quan trọng của lời cầu nguyện trong cuộc đời của Đức Giê-su: “Anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn”, đây là lời căn dặn sau cùng của Đức Giê-su cho các môn đệ của Ngài; Ngài sẽ lập lại vài giờ sau này ở vườn Ô-liu…
Lm. Inhaxio Hồ Thông

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây