Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 3 MV-C Phần III Bài 101-148: Tôi phải làm gì?

Thứ bảy - 15/12/2018 08:43
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 3 MV-C Phần III Bài 101-148: Tôi phải làm gì?
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 3 MV-C Phần III Bài 101-148: Tôi phải làm gì?
MV 3-C Phần III Bài 101-148: Tôi phải làm gì?
MV3-C101: Chúa Nhật III mùa Vọng. 2
MV3-C102: VUI  LÊN ANH  EM ! 6
MV3-C103: Chúa Nhật III Mùa Vọng. 8
MV3-C104: CHÚA NHẬT III MÙA VỌNG, C.. 12
MV3-C105: “Hãy vui lên”. 16
MV3-C106: MỪNG CHÚA ĐẾN.. 17
MV3-C107: Sứ Điệp Của Gioan Tẩy Giả. 19
MV3-C108: CHỦ NHẬT THỨ III MÙA VỌNG.. 23
MV3-C109: CHÚNG TÔI PHẢI LÀM GÌ?. 24
MV3-C110: Thời điểm BI THUỐC LÀO MẦU NHIỆM... 28
MV3-C111: VÌ NGƯƠI, CHÚA SẼ NHẢY MÚA TƯNG BỪNG.. 31
MV3-C112: NIỀM VUI TIN MỪNG.. 35
MV3-C113:  NÀO TA VUI LÊN.. 40
MV3-C114: THIÊN ĐÀNG LÀ THẾ ĐÓ ! 42
MV3-C115: CHÚA NHẬT VUI 44
MV3-C116: Phải làm gì?. 46
MV3-C117: Chuẩn bị. 47
MV3-C118: Công chính – Lm. Giuse Trần Việt Hùng. 48
MV3-C119: BÍ QUYẾT CỦA HẠNH PHÚC.. 50
MV3-C120: Niềm vui 52
MV3-C121: Tôi phải làm gì - ViKiNi 53
MV3-C122: Chúng tôi phải làm gì?. 56
MV3-C123: Thay đổi 59
MV3-C124: Hãy canh tân cuộc sống của mình. 60
MV3-C125: Niềm vui làm cho con người tươi trẻ. 62
MV3-C126: Chúng tôi phải làm gì?. 65
MV3-C127: Hãy vui lên. 67
MV3-C128: Đấng Thánh Israel thật cao cả – Cố Lm. Hồng Phúc. 71
MV3-C129: Chúng tôi phải làm gì?. 73
MV3-C130: Loan báo Lòng Thương Xót 75
MV3-C131: BÍ QUYẾT CỦA HẠNH PHÚC.. 76
MV3-C132: Vui luôn trong Chúa! - Lm. Phạm Quốc Hưng. 79
MV3-C133: Mừng vui lên - JM. Lam Thy ĐVD. 83
MV3-C134: Sống công bình, bác ái và tôn trọng tha nhân. 86
MV3-C135: Thánh Thần và Lửa - P. Trần Đình Phan Tiến. 87
MV3-C136: Vui trong hy vọng đợi chờ. 90
MV3-C137: Chúng tôi phải làm gì?. 93
MV3-C138: Suy niệm của Trầm Thiên Thu. 95
MV3-C139: Hãy sinh những hoa quả hối cải 98
MV3-C140: Thắp sáng đức tin. 104
MV3-C141: HÃY SỐNG TRONG NIỀM VUI! 105
MV3-C142: HÃY VUI LÊN.. 108
MV3-C143: Hãy sống Đạo cách vui vẻ. 110
MV3-C144: ĐIỀU PHẢI LÀM ĐỂ HỐI CẢI 112
MV3-C145: VAI TRÒ CỦA GIOAN TRONG CHƯƠNG TRÌNH CỨU ĐỘ.. 114
MV3-C146: HÃY SỐNG TRONG NIỀM VUI! 116
MV3-C147: Lạy Chúa, con phải làm gì để sám hối?. 119
MV3-C148: BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NHI 121

 

MV3-C101: Chúa Nhật III mùa Vọng

Mỗi khi chờ đợi điều gì tốt, ta thường có hai tâm tình:  một là lòng thấy vui vẻ phấn khởi, và hai là: MV3-C101

Mỗi khi chờ đợi điều gì tốt, ta thường có hai tâm tình:  một là lòng thấy vui vẻ phấn khởi, và hai là mình phải làm sao để tiếp nhận điều tốt ấy cho xứng đáng.  Đây cũng là hai tâm tình gặp thấy trong Phụng vụ Lời Chúa hôm nay, ngày Chúa Nhật được mệnh danh là Mừng vui lên.  Mừng vui lên vì Đức Chúa “đã rút lại án lệnh phạt Ít-ra-en” theo lời ngôn sứ Xô-phô-ni-a.  Thánh Phao-lô thì đem niềm vui vì Chúa Ki-tô đến vào trong đời sống Ki-tô hữu.  Còn Gio-an Tiền hô quan tâm đến việc tiếp tục chuẩn bị tâm hồn đón Chúa đến bằng cách thực hiện cuộc sám hối.  Như thế, vui vì Chúa đến không thể là một cảm nghĩ hời hợt, nhưng phải nằm trong bối cảnh chuẩn bị tâm hồn để sám hối.
 
  1.   Niềm vui của Ít-ra-en dân Chúa  (bài đọc Cựu Ước – Xô-phô-ni-a 3:14-18a)
          Phần bốn của sách ngôn sứ Xô-phô-ni-a ghi lại những lời Đức Chúa hứa với Ít-ra-en.  Dĩ nhiên đó là những lời Chúa hứa sẽ thực hiện điều tốt lành cho dân Người.  Mặc dù Thiên Chúa hạch tội Giê-ru-sa-lem và những người lãnh đạo, nhưng vì lòng nhân từ, Người không bỏ rơi dân Ít-ra-en và sẽ cho họ được hồi hương sau những ngày lưu đày.
          Nhiều vị ngôn sứ như I-sai-a, Giê-rê-mia… đã nhắc đến cảnh tượng lưu đày, thí dụ dân chúng lầm lũi đi trong bóng tối, ngồi than khóc bên sông Ba-by-lon mà thương nhớ Giê-ru-sa-lem.  Kiếp sống lưu đày đối với Ít-ra-en chính là “án lệnh” Thiên Chúa phạt họ vì lòng bất trung, không thờ phượng Chúa cho xứng đáng mà chạy theo các thần ngoại và lối sống dân ngoại.  Lòng người Ít-ra-en lúc nào cũng nặng nề sợ hãi, không còn tiếng cười mà chỉ còn tiếng nức nở thở dài.  Tương lai được trả tự do và hồi hương vẫn mù mịt.  Bỗng nhiên họ nhận được tin vui:  Đức Chúa đã rút lại án lệnh và sẽ đưa họ trở về Giê-ru-sa-lem.  Làm sao ta tưởng tượng nổi cảnh tượng vui mừng của những người được trả tự do.  Ngôn sứ Xô-phô-ni-a đã thấy trước được niềm vui ấy.  Ngài không chỉ loan báo tin vui ấy, mà còn như cùng sống niềm vui ấy với dân tộc mình nên lời lẽ vô cùng sống động.
          Trước hết là lý do tại sao Ít-ra-en phải reo vui và hò vang lên.  Ngôn sứ kể ra một chuỗi lý do:  vì Đức Chúa đã rút lại án lệnh, vì Người đã đẩy lui quân thù của Ít-ra-en, vì Đức Vua của Ít-ra-en đang ở giữa họ và vì Người sẽ không giáng tai ương nào trên họ nữa.  Tóm lại, tất cả những lý do này hoặc những điều này đều là do Thiên Chúa thực hiện cho Ít-ra-en.  Do đó, xét cho cùng Thiên Chúa là lý do, là tác nhân làm cho Ít-ra-en có được niềm vui cứu độ.
          Tuy nhiên điều khiến ta ngạc nhiên hơn nữa, đó là khi làm như vậy cho Ít-ra-en, Thiên Chúa cũng vui, cũng hãnh diện vì Ít-ra-en, cũng “nhảy múa tưng bừng như trong ngày lễ hội”.  Chỉ có tình yêu thương đích thực mới hành động như vậy.  Cha mẹ tuy sửa phạt con cái nhưng cảm thấy thật đau lòng.  Thiên Chúa vui gì đâu khi Ít-ra-en phải sống khổ sở kiếp lưu đày.  Giờ đây Người phục hồi mọi sự cho Ít-ra-en, nhất là niềm vui, thì Người như trút được nỗi lòng.  Tuy nhiên đối với Người, Ít-ra-en vẫn cần được thay đổi, cho nên “vì ngươi, Chúa sẽ vui mừng hoan hỷ, sẽ lấy tình thương của Người mà đổi mới ngươi” (Xp 3:17).  Tình thương sẽ là động lực và sức mạnh biến đổi tâm hồn người Ít-ra-en, để họ gắn bó với Chúa hơn nữa.  Chắc chắn diễn trình đau khổ bước đến niềm vui của Ít-ra-en cũng phải là diễn trình xảy ra cho mỗi tâm hồn Ki-tô hữu mỗi khi Chúa phục hồi niềm vui cho họ và giúp họ lớn lên trong tình cha con với Người.
 
  1.   Niềm vui của Ki-tô hữu  (Bài đọc Tân Ước – Phi-líp-phê 4:4-7)
          Niềm vui sống của Ki-tô hữu đã được thánh Phao-lô diễn tả hết sức đơn sơ, nhưng cũng vô cùng thâm thúy.  Niềm vui sống ấy phải được thể hiện trong một khung cảnh thích hợp. 
Về thời gian, vui sống là lý tưởng của Ki-tô hữu vì “Chúa đã gần đến” (Pl 4:5).  Thánh Tông đồ thường nói đến thời điểm Chúa gần đến, không phải để đe dọa, nhưng luôn coi đó là một động lực lạc quan giúp Ki-tô hữu cố gắng sống cuộc sống tích cực.  Khi viết cho tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca, ngài đã quyết liệt lên án những người sống thụ động, không chịu làm gì cả và chờ đợi Chúa quang lâm với một thái độ tiêu cực, nếu không nói là buông xuôi để sống theo dục vọng và thú vui người đời.  Thời gian ta sống trên đời là thời gian chờ đợi Chúa đã gần đến, nhưng cũng là thời gian để ta cộng tác với kế hoạch cứu độ của Chúa, để biến đổi chính mình mỗi ngày tốt hơn và cùng với mọi người biến đổi vũ trụ này thành trời mới đất mới.
Về không gian, vui sống là cuộc sống chung với mọi người trong môi trường sống hằng ngày tại gia đình, sở làm, cộng đoàn, Giáo Hội và đất nước.  Trong môi trường sống ấy, ta sẽ gặp rất nhiều điều lung lạc niềm vui của ta.  Có thể chúng làm cho ta mất bình tĩnh hoặc đóng cửa lòng lại.  Khi ấy, ta hãy nhớ lời thánh Phao-lô dạy:  “Sao cho mọi người thấy anh em sống hiền hòa rộng rãi” (Pl 4:5).  Nếu ta gặp phải những hoàn cảnh khó khăn, không biết phải giải quyết thế nào, thánh Tông đồ bảo ta:  “Anh em đừng lo lắng gì cả, nhưng trong mọi hoàn cảnh, anh em cứ đem lời cầu khẩn, van xin và tạ ơn, mà giãi bày trước mặt Thiên Chúa những điều anh em thỉnh nguyện” (Pl 4:6).  Ngài dạy ta cách cầu nguyện rất là thực tế.  Sau cùng ngài không quên cho ta biết điều cần thiết để được sống vui, là phải có “bình an của Thiên Chúa”, thứ bình an chỉ có Chúa mới ban cho ta mà thôi.  “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy.  Thầy ban cho anh em không như thế gian ban tặng.  Lòng anh em đừng xao xuyến, cũng đừng sợ hãi” (Ga 14:27).  Nếu Chúa Ki-tô là chính sự bình an của, thì muốn có bình an để vui sống ta cần phải “được kết hợp với Đức Ki-tô Giê-su” (Pl 4:7).
 
  1.   Để lãnh nhận niềm vui ơn cứu độ, “chúng tôi phải làm gì?”  (bài Tin Mừng – Lu-ca 3:10-18)
          “Chúng tôi phải làm gì?”, đó là câu hỏi chung của tất cả những ai đến xin ông Gio-an cho họ một lời khuyên để họ thực hiện sám hối và sẵn sàng đón nhận Đấng Cứu Độ.  Trả lời họ, ông Gio-an không đưa ra những nguyên tắc cứng ngắc, những chương trình qui mô, nhưng là một điểm chính cần phải làm ngay trong môi trường sống của họ.  Ai cũng có “vấn đề hoặc trục trặc” trong hoàn cảnh sống của chính mình.  Cho nên muốn giải quyết vấn đề hay trục trặc là phải giải quyết ngay trong hoàn cảnh ấy.
          Những người đương thời với ông Gio-an Tiền hô đã đến xin ông giúp họ có câu trả lời để đi tìm niềm vui được cứu độ.  Liệu những Ki-tô hữu hôm nay có nhận thấy cần phải đi tìm niềm vui ấy hay không?  Từ tuổi thơ ấu và học giáo lý, ta đã thường nghe nhắc đến “hạnh phúc thiên đàng”.  Nhiều khi ta chỉ lờ mờ hiểu hạnh phúc thiên đàng là nơi ta phải cố gắng tới sau khi ta chết, phải cố gắng mà “lên thiên đàng”.  Thực ra hạnh phúc thiên đàng chính là khi ta đã có trọn vẹn niềm vui được cứu độ.  Như thế, niềm vui được cứu độ hoặc thiên đàng đã bắt đầu ngay từ cuộc đời trần gian này rồi.  Sống ở đây và trong lúc này, ta đang xây dựng con đường lên thiên đàng bằng cách lắng nghe Chúa trả lời câu hỏi ta hỏi Chúa: “Lạy Chúa, con phải làm gì?” và thực hành điều Người dạy.  Khi ban cho ta câu trả lời là Chúa đặt ta trong một sự lựa chọn:  phải làm theo lời Chúa, theo quy luật Tin Mừng, hay cứ làm theo lối sống cũ và tội lỗi của ta.  Nếu ta làm theo Chúa dạy, ta đã sống niềm vui được cứu độ, hoặc nói khác đi, là nếm được một chút hạnh phúc thiên đàng rồi đấy.
          Trong đoạn thứ hai của bài Tin Mừng hôm nay, ông Gio-an Tiền hô mô tả công việc Chúa Giê-su cứu độ:  “Tay Người cầm nia rê sạch lúa trong sân:  thóc mẩy thì thu vào kho lẫm, còn thóc lép thì bỏ vào lửa không hề tắt mà đốt đi” (Lc 3:17).  Đây là việc Chúa cứu độ toàn thể nhân loại.  Nhưng nếu đem áp dụng vào đời sống cá nhân Ki-tô hữu, ta thấy cũng rất thích hợp.  Chúa Giê-su hiện diện trong cuộc sống cá nhân tôi.  Người dẫn dắt tôi trên con đường cứu độ bằng cách cầm nia mà rê sạch lúa trong đời sống thiêng liêng của tôi.  Người thu lấy những hạt thóc mẩy làm cho đời sống đạo đức của tôi được thăng tiến tốt đẹp, đồng thời Người cũng giúp tôi loại đi những hạt thóc lép là những khuyết điểm và tội lỗi của tôi. 
Hoặc ta cũng có thể chiêm ngưỡng hình ảnh Chúa Giê-su “sẽ làm phép rửa cho anh em bằng Thánh Thần và bằng lửa” (Lc 3:16).  Trọn cuộc đời ta, ta hãy để cho Chúa tiếp tục làm phép rửa cho ta bằng tinh thần của Người, bằng lối sống của Người và bằng lửa yêu mến của Người.  Nói khác đi, ta hãy để cho tinh thần và tình yêu của Chúa Ki-tô tiếp tục thay đổi lối sống của ta để ta được trở nên giống như Người.  Khi ta đáp lại tình yêu của Người và hấp thụ tinh thần của Người là ta đang để cho Người rửa sạch ta trong tiến trình Ki-tô hóa.   Người đang giúp cho niềm vui được cứu độ của ta tới mức độ thành toàn là hạnh phúc thiên đàng vậy.
 
  1.   Sống Lời Chúa
          Ki-tô hữu chúng ta nhiều khi hoang mang về tương lai vĩnh cửu và không ý thức mình đang trên con đường được Thiên Chúa cứu độ.  Do đó ta có thể dần dần đi tới tình trạng buông xuôi và không còn sống theo những điều Chúa và Giáo Hội dẫn dắt nữa.  Phụng vụ Lời Chúa hôm nay thắp lại ánh sáng đức tin và niềm cậy trông vào ơn cứu độ Chúa Giê-su đem đến cho ta.  Cứu độ không chỉ là một hành vi đơn độc, nhưng là cả một hành trình có vui có buồn, có gian nan thử thách và có niềm an ủi vì Chúa nâng đỡ ta.  Tuy nhiên ta hãy nhìn vào đích điểm của hành trình là niềm vui được cứu độ và sống “kết hợp với Đức Ki-tô Giê-su” như thánh Phao-lô dạy.  Đó chính là điều giúp ta thấy ý nghĩa đích thực của cuộc đời trần gian và vững lòng tiến bước trong tinh thần “reo vui lên” của người Ki-tô hữu.
Suy nghĩ:  “Chúng tôi phải làm gì?”, đó là câu hỏi giúp ta mỗi ngày mỗi thay đổi nên tốt hơn trong cuộc sống.  Tôi có hỏi câu hỏi ấy mỗi tối khi làm việc xét mình và cầu nguyện xin Chúa giúp tôi sống tốt hơn không?  Nếu cần loại bỏ một tính xấu hay tập một tính tốt, tôi có thói quen hỏi mình phải làm gì không?  Đặc biệt trong những ngày cuối cùng của mùa Vọng này, tôi phải làm gì để làm quà tặng cho Chúa Giê-su nhân ngày sinh nhật của Người?
Cầu nguyện:  Lạy Thiên Chúa từ bi nhân hậu, này dân Chúa đem tất cả niềm tin đợi chờ ngày lễ Sinh Nhật Đấng Cứu Thế.  Xin hướng niềm vui chúng con về chính nguồn hoan lạc của mầu nhiệm Giáng Sinh cao cả để tâm hồn chúng con hoàn toàn đổi mới, mà họp mừng ngày cứu độ đã gần kề.  Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con.  A-men.  (Lời nguyện Nhập lễ, Chúa Nhật III mùa Vọng).
Lm. Đaminh Trần Đình Nhi   

 

MV3-C102: VUI  LÊN ANH  EM !

Chúa Nhật 3C Mùa Vọng.
Xp 3:14-18a
Lc 3:10-18
Pl 4:4-7
 

Đời là bể khổ hay là một Tin Mừng ?  Chắc chắn không ai có thể phủ nhận niềm vui trong cuộc đời.: MV3-C102

Đời là bể khổ hay là một Tin Mừng ?  Chắc chắn không ai có thể phủ nhận niềm vui trong cuộc đời.   Thử tưởng tượng cuộc đời hoàn toàn vắng bóng niềm vui, còn ai muốn sống nữa không ?    Nhưng niềm vui phát xuất từ đâu ?   Niềm vui dễ hay khó ?  
NGUỒN SUỐI HOAN LẠC.
Thánh Gioan Tẩy giả vui chừng nào khi thấy kết quả tốt đẹp gặt hái từ những bài giảng bên bờ sông Giođan.   Nghe ông nói, mặc dù có những điều trái tai, họ vẫn “lũ  lượt tuốn đến xin ông Gioan làm phép rửa” (Lc 3:10) như một dấu chỉ lòng sám hối.  Sám hối không chỉ là một hành động thiêng liêng, nội tâm, nhưng được thể hiện ra bên ngoài bằng những hành vi rất cụ thể, thực tế, đụng chạm đến miếng cơm, manh áo của con người.  Sám hối có nghĩa là sống công bình và bác ái hơn. 
Lần lượt các thành phần dân chúng hỏi ông phải làm gì để hoán cải cuộc sống, tìm lại được bình an và xứng đáng với ơn cứu độ sắp tới.  Oâng đã có những chỉ dẫn sống động cho từng hạng người trong hoàn cảnh cụ thể. Chắc chắn thực tế những hạng người đó chẳng được lợi gì khi thi hành những chỉ dẫn đó.  Được lợi gì cho những người dư ăn dư mặc phải chia cơm sẻ áo cho người khác ?  Những người sở thuế không còn được ăn hối lộ ?   Những quân nhân chỉ sống với số lương ba cọc ba đồng ?
Rõ ràng cái lợi vật chất không thể tìm thấy trong những hi sinh đó.   Nhưng những cử tọa của Gioan Tẩy giả đã sẵn sàng thực thi công bình xã hội để cho người nghèo và người bị áp bức thấy được ngày mai.   Công chính đã ngự trị, chắc chắn bình an sẽ đến với muôn người, trước tiên với những người đã biết lấp đầy hố sâu, san phẳng núi đồi, sửa lối quanh co, lồi lõm. Cuộc sám hối tập thể của những người nắm quyền trong dân chứng tỏ những bất ổn đã dày vò lương tâm họ từ trước tới nay.   Bên ngoài tưởng chỉ những người yếu thế mới có lợi.   Nhưng thực tế, họ là những người có lợi nhất, vì chiếm lại được hạnh phúc đích thực từ sự bình an trong lương tâm.  Cuộc đời họ sẽ chan hòa niềm vui từ khi khám phá ra nền tảng đích thực của hạnh phúc.  Hạnh phúc vẫn là điều sâu kín nhất, mầu nhiệm nhất.
Sau khi dân chúng đã sám hối, tới lượt ông Gioan Tẩy giả nói về con người đích thực của mình.   Danh tiếng ông lên cao đến nỗi “ai nấy đều tự hỏi : biết đâu ông Gioan lại chẳng là Đấng Mêsia !” (Lc 3:15)   Một người đang ở ưu thế tuyệt đối như thế không dễ gì nhường địa vị cho một người vô danh tiểu tốt đến sau.   Bao nhiêu quyền lợi có thể đến với Gioan nếu ông biết khai thác lòng ngưỡng mộ của toàn dân.   Nhưng không.   Oâng dã hoàn toàn từ bỏ tất cả.   Bởi đó, cuộc đời ông tràn ngập niềm vui vì đã hoàn thành sứ mạng “loan báo Tin Mừng cho” toàn dân (Lc 3:18)   Oâng đã khiêm tốn thú nhận : “Phần tôi, tôi làm phép rửa cho anh em bằng nước, nhưng có Đấng quyền thế hơn tôi đang đến, tôi không đáng cởi quai dép cho Người.   Người sẽ làm phép rửa cho anh em bằng Thánh Thần và bằng lửa.” (Lc 3:16)    Một lời thú nhận rất đáng khâm phục.  Oâng tự nhận không bằng một tên nô lệ.   Oâng đã tìm thấy được bình an và niềm vui khi khám phá thấy sự thực về mình.   Ai cũng thấy sức mạnh của Gioan Tẩy giả là phép rửa.  Nhưng phép rửa của ông chỉ có tính cách bên ngoài, cùng lắm gợi lên lòng sám hối ăn năn.   Còn phép rửa của Đức Giêsu hoàn toàn thấm nhập vào tận tâm hồn.   Không gì có thể tồn tại trong lửa. Thánh Thần chính là lửa sẽ thiêu đốt tận tâm can.
Không những thế, Thánh Thần còn đẩy sứ mạng của Đức Giêsu đến mức toàn hảo tột cùng.   Mức toàn hảo đó được thực hiện trong tình yêu.   Quả thực, Gioan Tẩy giả chỉ dừng lại ở lãnh vực luân lý.   Đạo thật khô khan và nặng nề với những luật điều cứng ngắc.   Đức Giêsu không thỏa mãn với giới hạn chật hẹp đó.   Luân lý trở thành truyện nhỏ.   Đạo không dừng lại ở đó.   Thật vậy, mức độ phóng tới chính Người đã vạch ra : “Anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.” (Mt 5:48) Luân lý mới dừng lại ở mức hoàn thiện con người.   Làm cách nào đạt tới mức hoàn thiện của Chúa Cha, nếu không có sức mạnh Thánh Linh ?

NIỀM VUI ÒA VỠ.
Chỉ có Thánh Linh mới có thể biến bể khổ này thành một Tin Mừng và qui tụ tất cả vào trong gia đình Thiên Chúa.   Mọi người sẽ là anh em vì cùng có một Cha.   Tình yêu sẽ là động lực thúc đẩy mọi người sống cho nhau.  Hạnh phúc không phát sinh từ những toan tính ích kỷ hay những nỗ lực qui ngã.   Trái lại, con người chỉ thực sự hạnh phúc khi biết phục vụ lẫn nhau. Từ đó, niềm vui sẽ òa vỡ trong mọi cảnh ngộ cuộc đời.  Chính vì thế, thánh Phaolô dám nói với tín hữu Philipphê : “Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa.   Tôi nhắc lại : vui lên anh em !   Sao cho mọi người thấy anh em sống hiền hòa, rộng rãi, Chúa đã gần đến.” (Pl 4:4-5)   Niềm vui này không ai cướp mất được !   Vì  “Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi đang ngự giữa ngươi, Người là Vị cứu tinh là Đấng anh hùng.” (Xp 3:17)   Thế nên, dù đau khổ trăm bề, Kitô hữu luôn được trấn an : “Đừng sợ, chớ kinh hãi rụng rời.” (Xp 3:16)  
Hạnh phúc không tìm thấy nơi những bảo đảm vật chất bên ngoài.  Hạnh phúc nằm ngay trong tâm hồn.   Thật thế, “Triều Đại Thiên Chúa đang ở giữa các ông.” (Lc 17:21)   Chỉ cần trở vào nội tâm, con người có thể tìm gặp Thiên Chúa.   Chính trong tâm hồn con người sẽ diễn ra một đại hội. “Vì ngươi, Chúa sẽ vui mừng hoan hỷ, sẽ lấy tình thương cuả Người mà đổi mới ngươi.   Vì ngươi, Chúa sẽ nhảy múa tưng bừng, như trong ngày lễ hội.” (Xp 3:17-18a)   Hình ảnh  tuyệt vời này đủ diễn tả tất cả niềm vui lớn lao của người tín hữu.
Niềm vui ấy chính Đức Maria đã cảm nghiệm sâu xa trong bài kinh Magnificat.  Chính “Đức Mẹ dạy chúng ta muốn mang hòa bình và niềm vui đến cho thế giới, trước tiên cần nồng hậu tiếp đón vị Hoàng Tử Hòa Bình đến trong tâm hồn chúng ta.  Và nguồn vui là chính Đức Đức Giêsu Kitô vậy.” (ĐGH Gioan Phaolô II, VietCatholic 19/12/2000)
Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, OP
 

MV3-C103: Chúa Nhật III Mùa Vọng

(Lu-ca 3: 10-18)
 

Câu truyện ông Gio-an Tiền hô được tiếp tục với bài Tin Mừng hôm nay.  Trong Chúa Nhật trước, Phụng: MV3-C103

Câu truyện ông Gio-an Tiền hô được tiếp tục với bài Tin Mừng hôm nay.  Trong Chúa Nhật trước, Phụng vụ Lời Chúa giới thiệu thân thế, sứ mệnh và sứ điệp của ông Gio-an.  Tiếng hô trong hoang địa là cách nói để diễn tả cường độ mạnh mẽ lời hô của ông, chứ không có ý nói là tiếng hô chìm vào tĩnh mịch của sa mạc.  Vậy tiếng hô ấy đã vang động khắp nơi và người người muôn ngả lũ lượt kéo về miền ven sông Gio-đan để xin ông Gio-an một lời khuyên thực tế cho việc sám hối của họ.  Ai ai cũng hỏi ông cùng một câu hỏi:  Thưa ngài, tôi phải làm gì đây?  Đáp lại, ông Gio-an cho mỗi người một câu trả lời ngắn gọn và đi thẳng vào vấn đề, vào nhu cầu sám hối của họ.  Nói khác đi, ông Gio-an đã giúp những người thời ấy và những người hôm nay ý thức nhu cầu sám hối và tìm những việc làm cụ thể để thực thi sám hối.

 
  1.   Nhu cầu sám hối

          Nếu Đức Giáo Hoàng Pi-ô XII đã nói lên hiểm họa luân lý thời nay là con người không còn ý thức về tội lỗi nữa, thì điều kế tiếp sẽ là con người nghĩ rằng không cần phải sám hối hoặc thay đổi.  Ngay thời ông Gio-an, ông đã nói lên cái não trạng không cần sám hối của nhiều người.  Trong số “đám đông lũ lượt kéo đến xin ông Gio-an làm phép rửa”, ngoài những người thành tâm sám hối ra lại có những người Pha-ri-sêu và Xa-đốc (xem Mt 3:7) coi phép rửa của ông như một thứ bùa phép giúp họ tránh cơn thịnh nộ của Thiên Chúa.  Họ đến xin ông rửa không phải để bắt đầu một hành trình sám hối nội tâm, nhưng để tỏ ra họ lành thánh trước mặt người khác.  Họ luôn mang thái độ cao ngạo, giống hệt như người Pha-ri-sêu cầu nguyện trong Đền Thờ vậy.  Họ đâu thấy cần phải đấm ngực gục đầu thưa với Chúa:  Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi (Lu-ca 18:9-14).
          Ông Gio-an vạch ra cái cao ngạo của họ.  Họ cậy mình là con cháu tổ phụ Áp-ra-ham.  Ngày nay cũng thiếu gì những người như vậy.  Người ta tự hào mình là dân đạo gốc, là những người hăng say làm việc tông đồ, là những người Công giáo đạo đức...  Gốc gác như thế thì cần gì phải sám hối.  Sám hối là dành cho những kẻ tội lỗi.  Tôi không phải là kẻ tội lỗi!
          Nhưng sám hối đâu phải chỉ là ăn năn tội lỗi, mà là một hành trình quay lưng lại với tội lỗi và tiến lên hướng mặt về Thiên Chúa.  Hoặc nói theo sứ điệp rao giảng của Chúa Giê-su, là hãy thay đổi và tin vào Tin Mừng (Mc 1:15).  Chúa còn dùng một hình ảnh cụ thể diễn tả sự sám hối:  “Thầy bảo thật anh em:  nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ em, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời” (Mt. 18:3).  Trẻ em là hình ảnh đơn sơ và trong trắng, gần giống như con người A-đam nguyên thủy trước khi phạm tội.  Ta cần phải trải qua một cuộc đổi đời, cởi bỏ khỏi tội lỗi và những tác hại của nó để “trở lại mà nên như trẻ em”.  Ta cũng được nghe cùng những lời thiên sứ nói với những người chăn chiên tại Bê-lem:  “Anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ” (Lc 2:12).  Vậy thì được mời gọi hãy trở lại mà nên như trẻ em có nghĩa là ta được mời gọi mỗi ngày một thay đổi để nên giống như “Trẻ Em nằm trong máng cỏ” là Chúa Giê-su vậy.

 
  1.   Cần có những việc làm cụ thể để thực thi sám hối   
          Ông Gio-an có những câu trả lời cho các câu hỏi “Chúng tôi phải làm gì?”, rõ ràng, ngắn gọn và rất trực tiếp.  Ông không lý thuyết dông dài, nhưng nhìn thẳng vào vấn đề của từng người.  Đó chính là bí quyết của sám hối. 
Có rất nhiều điều cần thay đổi.  Nhưng quan trọng là phải làm sao thay đổi từ gốc.  Kinh nghiệm nhổ cỏ giúp ta nhận ra bí quyết này.  Khi nhổ cỏ ba lá, ta đừng vội thấy đâu nhổ đó.  Trông nó như một đám cỏ lan rộng, nhưng thực ra chỉ có một gốc chính.  Ta lần theo những dây lan nhỏ tìm tới cái rễ chính, đào sâu xuống tận chân rễ và từ từ kéo lên tất cả đám cỏ.  Sám hối cũng vậy.  Cần nhìn rõ vấn đề thay đổi từ điểm chính nào để bắt đầu.  Sau khi đã nhận ra phải bắt đầu từ đâu, ta cần có những hành động cụ thể và ở trong tầm tay.  Thí dụ, để trả lời đám dân chúng, ông Gio-an bảo họ hãy sống tinh thần chia cơm sẻ áo.  Chỉ một điều thôi, nhưng là điều cốt yếu và thực tế.
Việc sám hối bao giờ cũng có hai mặt:  đừng làm điều này và hãy làm điều kia.  Không phải là hai điều hoàn toàn khác biệt, trái lại liên hệ mật thiết với nhau.  Nết xấu và nhân đức bao giờ cũng là hai điều tương phản nhau, thí dụ yêu thương và thù ghét, chăm chỉ và lười biếng...  Như vậy, muốn làm điều này ta phải bỏ điều kia.  Ông Gio-an khuyên đám binh lính:  “Anh em chớ hà hiếp ai, cũng đừng tống tiền người ta, nhưng hãy an phận với số lương của mình”.
Hành trình sám hối là một hành trình liên tục suốt cuộc đời, có lúc tiến nhưng cũng có khi lùi.  Ta cứ làm hết sức mình, còn bao nhiêu là phần của Chúa.  Vậy Chúa sẽ cộng tác thế nào với ta trong hành trình sám hối của ta?

 
  1.   Vai trò thanh luyện của Chúa Thánh Thần
          Ông Gio-an biết giới hạn của ông.  Ông chỉ làm phép rửa bằng nước, một nghi thức đem lại một hiệu quả rất hạn hẹp.  Nhưng ông lại chỉ cho ta thấy một “Đấng quyền thế” sẽ giúp ta thay đổi trong Thánh Thần và lửa.  Đấng ấy là Chúa Giê-su.  Người sẽ giúp ta được thanh luyện trong Thánh Thần.
          Ta không thể thực hiện cuộc sám hối theo tinh thần riêng của ta, nhưng trong tinh thần của Chúa Ki-tô, tức là trong Thánh Thần.  Sự hiện diện của Thánh Thần là cần thiết, nếu không có Người, ta sẽ không biết đi về đâu trong hành trình sám hối.  Chúa Ki-tô đã thi hành sứ mệnh thanh tẩy trần gian trong Thánh Thần (Lc 4:1), thì ta cũng phải “trở về và nên như trẻ thơ” trong sự hiện diện của cùng một Thánh Thần.  Thánh Phao-lô tông đồ còn diễn tả cuộc sám hối trong Thánh Thần một cách cụ thể hơn khi ngài nói về “đời sống mới trong Thánh Thần”, hay nói khác đi, thực thi sám hối nghĩa là từ bỏ con người cũ tội lỗi của ta để sống đời sống mới trong Thần Khí của Chúa Ki-tô.

 
  1.   Suy nghĩ và cầu nguyện
          Có khi nào tôi thấy mình không cần phải thay đổi gì hết không?  Nếu có thì tại sao?  Làm thế nào để xác tín nhu cầu phải sám hối?
          Trong mùa Vọng này, tôi đưa ra một điều cần phải thay đổi nhất và phương thức thực hiện sự thay đổi ấy.  Mỗi buổi tối trong giờ xét mình, tôi kiểm điểm lại điều dốc lòng và cầu nguyện xin Chúa giúp tôi tiếp tục.

Cầu nguyện
          “Lạy Chúa Giê-su,
          sám hối không phải là điều dễ dang,
          bởi lẽ chúng con không đủ khiêm tốn để nhận mình lầm lỗi.
          Chúng con ngỡ ngàng
          khi thấy Chúa là Đấng vô tội
          mà lại đứng chung với các tội nhân,
          chờ Gio-an ban phép rửa.
          Chúa đã muốn nên bạn đồng hành
          với phận người mỏng dòn yếu đuối chúng con.
          Xin cho chúng con biết thường xuyên điều chỉnh
          lối nghĩ và lối sống của mình,
          tỉnh táo để khỏi rơi vvào ảo tưởng,
          thành thật để khỏi tự dối mình.
          Ước gì Chúa ban cho chúng con ơn hoán cải,
          dám đi đến những hành động cụ thể,
          và chấp nhận những cắt tỉa đớn đau.
          Nhưng xin đừng quên ban cho chúng con
          niềm vui của Gia-kêu,
          hạnh phúc vì được tự do và được yêu mến.”
                             (Trích RABBOUNI, lời nguyện 89)

Lm. Đaminh Trần đình Nhi

 

MV3-C104: CHÚA NHẬT III MÙA VỌNG, C

(Lu-ca 3: 10-18)
 

Sau khi đã trích dẫn đoạn Tin Mừng Lu-ca giới thiệu thân thế và sứ vụ của ông Gio-an Tẩy Giả: MV3-C104

        Sau khi đã trích dẫn đoạn Tin Mừng Lu-ca giới thiệu thân thế và sứ vụ của ông Gio-an Tẩy Giả (Chúa Nhật II mùa Vọng), Phụng vụ Lời Chúa hôm nay tiếp tục sử dụng đoạn kế tiếp ghi lại những lời khuyên ông Gio-an nói với đám đông.  Đây cũng chính là những điều cụ thể ông đề nghị người ta hãy làm mà sửa đường dọn lối để đón Chúa đến.  Đám đông dân chúng đến với ông để xin lãnh nhận phép rửa.  Nhưng trước khi lãnh nhận, họ cần phải biết ý nghĩa của nghi thức ấy.  Nhận phép rửa không phải là chạy theo một phong trào, bởi vì thời ấy cũng có những nghi thức tương tự.  Phép rửa của ông Gio-an chỉ là một dấu chỉ nói lên một quyết định của tâm hồn, một khởi đầu cho một hành trình mới, tức là hành trình của những nguời muốn trở về làm con Thiên Chúa.  Do đó, quyết định phải trưởng thành, nghĩa là sau khi đã nhận phép rửa hoặc đã quyết tâm sám hối, thì phải làm sao “sinh những hoa quả xứng với lòng sám hối.”  Khi trả lời những lớp người tiêu biểu cho dân chúng Ít-ra-en đến hỏi ngài mình phải làm gì, ông Gio-an đã đi thẳng vào vấn đề của họ.  Câu trả lời của ông cũng có thể là câu trả lời dành cho mỗi người chúng ta.
 
 
  1.  Tôi phải làm gì?
        Cùng một câu hỏi được lập lại cho từng lớp người đến với ông Gio-an sau khi họ nghe ông giảng về việc sám hối.  Nhưng đó cũng là câu hỏi mỗi người Ki-tô hữu cần phải lập lại từng ngày mỗi khi nhìn lại cuộc sống mình và muốn được thăng tiến trong đời sống tâm linh.  Khi tự hỏi “Tôi phải làm gì?” tức là ta đã dựa trên những gì không tốt đẹp thuộc dĩ vãng để phóng cái nhìn về tương lai và sẵn sàng làm một điều gì đó tốt đẹp hơn.  Như vậy trước hết ta phải chấp nhận nhu cầu cần thay đổi hoặc cải tiến.  Biến đổi con người mình mỗi ngày một tốt hơn đó là đáp lại lời gọi nên thánh mà Cha trên trời đã nhắc nhở ta:  “Anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5:48).  Sở dĩ ông Gio-an phải ngăm đe đám đông đến xin làm phép rửa:  “Cái rìu đã đặt sát gốc cây” bởi vì họ cho là mình không cần phải sám hối.  Họ tưởng họ có thể tránh né được cơn giận của Chúa, hoặc cậy mình là con cái Chúa và nghĩ có đời nào Chúa lại trừng phạt họ.
        Chấp nhận nhu cầu sám hối là bước căn bản để bắt đầu hành trình đổi mới con người.  Ta biết ta cần phải làm một điều gì đó để đổi mới.  Điều gì đó không phải là cái gì hoàn toàn mới lạ mình chưa từng thấy, trái lại, là những gì gắn liền với cuộc sống thường ngày của ta.  Là những gì đáng lẽ ta đã làm, nhưng hoặc vì quên, hoặc vì ngại phải hy sinh, hoặc vì không có lợi gì cho ta nên ta đã bỏ qua.  Thí dụ như khi ta phung phí đồ ăn mà không biết chia sẻ với những người nghèo đói trên thế giới, khi ta có không phải chỉ hai cái áo nhưng là hàng chục hàng trăm cái áo đủ kiểu đủ mốt treo đầy mấy phòng quần áo mà không muốn dành ra một vài đồng để bỏ vào quỹ người nghèo.  Ông Gio-an không bảo những người thu thuế và lính tráng phải thay đổi nghề nghiệp, nhưng họ phải sống sao cho đúng với danh nghĩa của mình:  thu thuế thì phải công bằng chứ đừng gian lận, binh sĩ thì đừng cậy có khí giới trong tay mà lên mặt hà hiếp dân chúng.
 
 
  1.   Con đường sám hối còn phải tiếp tục mãi
        Có thể nhiều người ngộ nhận sứ vụ của ông Gio-an.  Họ đã cảm nghiệm nơi họ một thay đổi đáng kể nhờ lời giảng và phép rửa của ông.  Họ muốn dừng lại ở đây và coi như thế là đủ rồi.  Nhưng ông Gio-an thẳng thắn cho họ biết ông và phép rửa của ông chưa phải là đích tới của sám hối, mà chỉ là một phương tiện giúp người ta bắt đầu lên đường đi đến đích tới.  Đích tới ấy là Đấng Mê-si-a đích thực, Đấng quyền thế hơn Gio-an và “sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần và lửa.”
        Để làm sáng tỏ ý niệm về Đấng Mê-si-a, ông Gio-an đã giải thích thêm cho dân chúng hiểu.  Thời ấy, người Do-thái thường hiểu Đấng Mê-si-a theo ý nghĩa chính trị, tức là một vị đến giải phóng quốc gia khỏi ách nô lệ.  Ngay cả một số môn đệ Chúa Giê-su cũng lầm tưởng như vậy (Lc 24:21; Cv 1:6).  Còn ông Gio-an thì cho ta một hình ảnh rõ ràng về Đấng Mê-si-a và sứ vụ của Người.
        Trước hết, Đấng Mê-si-a sẽ đến trong một tư thế dũng mạnh.  Không phải dũng mạnh do lực lượng quân đội và vũ khí như một ông vua trần gian, nhưng dũng mạnh vì “được đầy tràn Thánh Thần” để lãnh đạo một vương quốc của ơn cứu độ.  Chính Người sẽ đánh bại Xa-tan và hủy diệt quyền lực của nó.  Thánh Mác-cô diễn tả khởi đầu cuộc chiến đó:  “Không ai vào nhà một người mạnh mà có thể cướp của được, nếu không trói người mạnh ấy trước đã, rồi mới cướp sạch nhà nó” (Mc 3:27).  Vậy khi thắng cám dỗ của Xa-tan trong hoang địa, Chúa Giê-su đã “trói” nó lại rồi, sau đó Người trở về Ga-li-lê để bắt đầu sứ vụ cứu thế, và trong quyền năng Thánh Thần, Người sẽ dần dần “cướp sạch nhà nó.”  Thánh Lu-ca sau này cũng ghi lại tư thế dũng mạnh của Chúa Giê-su qua lời Chúa nói về cuộc chiến giữa Người với quỷ vương Bê-en-dê-bun:  “Nhưng nếu có người mạnh hơn đột nhập và thắng được người ấy, thì sẽ tước lấy vũ khí mà người ấy tin tưởng và sẽ đem phân phát những gì đã lấy được” (Lc 11:22).
        Thánh Gio-an Tẩy Giả còn mô tả sứ vụ của Đấng Mê-si-a qua hai hành động tiêu biểu:  làm phép rửa trong Thánh Thần và lửa, và cầm nia rê sạch lúa trong sân.  Qua phép rửa trong Thánh Thần được khai diễn vào ngày Chúa Thánh Thần hiện xuống, Chúa Giê-su sẽ làm cho nhân loại được trở thành những người con Chúa.  Ta sẽ được rửa bằng “máu và nước” trào ra từ trái tim Người.  Ta cũng sẽ được ở “trong Thánh Thần,” tức là được “đầy tràn Thánh Thần” như Chúa Giê-su.  Chúa Giê-su sẽ dùng lửa Thánh Thần mà thanh luyện nhân loại, tạo dựng một nhân loại mới cho Chúa Cha.  Cũng vậy, giống như người cầm nia rê sạch lúa trong sân, Chúa Giê-su sẽ tiêu diệt dần dần quyền năng và ảnh hưởng của Xa-tan trong thế giới, để “thóc mẩy thì thu vào kho lẫm, còn thóc lép thì bỏ vào lửa không hề tắt mà đốt đi.”  Thế giới cũ là sân lúa gồm cả thóc mẩy lẫn thóc lép.  Chúa Giê-su sẽ tạo dựng một “trời mới, đất mới” qua sứ vụ cứu thế của Người.
        Như vậy, khi rao giảng sám hối, làm phép rửa, và giải thích về vai trò của Đấng Mê-si-a, ông Gio-an Tẩy Giả đã mở ra cho ta một viễn tượng mới:  ơn cứu rỗi đã đến gần, hãy thay đổi lối sống để tiếp nhận Tin Mừng là chính Đức Ki-tô và sứ vụ cứu thế của Người, và tiếp tục cuộc thay đổi đó cho tới ngày Người đến gặp ta vào giờ sau hết.
        Bí tích Rửa tội cho ta danh phận làm con Thiên Chúa để ta bắt đầu cuộc hành trình biến đổi trong quyền năng Thánh Thần.  Cuộc biến đổi ấy phải được thể hiện từng giây từng phút cuộc đời, trong lời nói, suy nghĩ và hành động của ta, theo khuôn mẫu là chính Chúa Giê-su, người Con Một và Con Yêu Dấu của Chúa Cha, để khi Đấng Mê-si-a đến phán xét trong ngày cánh chung, ta cũng được ở trong số “thóc mẩy được thu vào kho lẫm” vĩnh cửu.
 
 
  1.   Suy nghĩ và cầu nguyện
        Nếu tôi hỏi thánh Gio-an Tẩy Giả tôi phải làm gì, ngài sẽ trả lời thế nào với tôi?  Tôi có một chương trình nào để thực hiện lời khuyên của ngài không?
        Tôi có hồi tâm mỗi ngày trước khi đi ngủ để nhìn lại ngày sống của mình và hỏi Chúa:  “Con phải làm gì để tốt hơn?” không?  Tôi có chú tâm vào một điểm nào đặc biệt (loại trừ một nết xấu, tập một nhân đức) và dành một thời gian để thực hiện điểm đó không?  Cách thức thực hiện như thế nào?
        Chúa Ki-tô dũng mạnh đến với tâm hồn tôi và cho tôi được đầy tràn Thánh Thần.  Nhưng tôi có cộng tác với Người để việc biến đổi nên con người mới nơi tôi được thể hiện không?  Tôi tìm thấy nơi Chúa Giê-su gương mẫu nào để biến đổi theo lời Người mời gọi:  “Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1:15)?
 
        “Lạy Chúa,
        khi đến với Chúa,
        con tháo bỏ đôi giày:  những tham vọng của con,
        con cởi bỏ đồng hồ:  thời khóa biểu của con,
        con đóng lại bút viết:  các quan điểm của con,
        con bỏ xuống chìa khóa:  sự an toàn của con,
        để con được ở một mình với Ngài,
        lạy Thiên Chúa duy nhất và chân thật.

                Sau khi được ở với Ngài,
        con sẽ xỏ giày vào để đi theo đường của Chúa,
        con sẽ đeo đồng hồ để sống trong thời gian của Chúa,
        con sẽ mang kính vào để nhìn thế giới của Chúa,
        con sẽ mở bút ra để viết những tư tưởng của Chúa,
        con sẽ cầm chìa khóa lên để mở những cánh cửa của Chúa.”
                - Graham Kings
                  (Trích RABBOUNI, lời nguyện 27)

Lm. Ðaminh Trần Ðình Nhi

 

MV3-C105: “Hãy vui lên”

Chúa Nhật III Mùa Vọng năm C
Đọc Luca 3, 10-18
 

Chúa Nhật III Mùa Vọng được gọi là “Chúa Nhật Niềm Vui”. Những bài đọc Kinh Thánh cũng: MV3-C105

Chúa Nhật III Mùa Vọng được gọi là “Chúa Nhật Niềm Vui”. Những bài đọc Kinh Thánh cũng như phụng vụ muốn chúng ta suy nghĩ theo hướng này.
 1. “Tôn giáo là tiếng thở dài…”. Ông Karl Marx đã phát biểu như vậy. Đúng sai còn là chuyện phải bàn. Chỉ có điều, là người kitô hữu, Chúa muốn ta phải sống sao cho vui, đẩy lui những “tiếng thở dài” trong cuộc sống mà chính chúng ta đôi khi vô tình hay hữu ý đã gây ra.
 Ai mà lại không muốn có niềm vui, nhưng làm sao để có niềm vui ?. Câu trả lời thật không đơn giản, bởi vì mỗi người có một cảnh ngộ khác nhau. Tuy nhiên, thiết tưởng cũng có những mẫu số chung cần phải thực thi.
 2. Muốn có niềm vui phải có tâm hồn an bình. Thật chẳng phải vô lý mà trong đêm Chúa giáng trần, thiên thần cầu chúc cho nhân loại được “bình an”. Cứ nhìn vào thế giới hôm nay sẽ rõ : điều mà nhân loại thiếu hơn cả đó là sự  an bình. Có ngày nào qua đi mà lại không có cảnh máu chảy đầu rơi ?. Làm sao vui được khi phải sống trong cảnh binh đao khói lửa ?. Rồi giữa người với người, một cách nào đó, người ta cũng gây ra những cuộc “chiến tranh” khi thì nóng khi thì lạnh.
 Tuy nhiên,  cõi lòng chúng ta mới thật sự là nơi mất an bình hơn cả. Vì thế Ông Gioan Tiền Hô kêu gọi hãy sửa lại những con đường. Những con đường ấy không phải là những con đường chạy bên ngoài nhưng là chính cõi lòng chúng ta, hang ổ của tội lỗi. Bao giờ cũng vậy, chính tội lỗi làm cho con người xao xuyến, cô đơn và mất an bình.
 3. Muốn có niềm vui phải biết yêu thương và chia sẻ : “Ai có hai áo hãy chia cho người không có, ai có gì ăn cũng hãy làm như vậy”. Đây là một nghịch lý nhưng cũng là một sự thật hiển nhiên. Cho là mất, điều này đã rõ, nhưng lại nhận được một niềm vui sâu xa vì đã cho, đã quên mình, đã sống quảng đại và chia sẻ.
 Ở Palestine có hai biển : Biển Hồ và Biển Chết. Cả hai đều tiếp nhận nước của sông Giođan. Biền Hồ quanh năm nước trong xanh và có nhiều cá, du khách thích qua lại nơi đây. Còn Biển Chết là nơi không ai muốn lui tới, trừ khi bắt buộc phải đi qua. Do đâu mà có sự khác biệt ấy?. Thưa là vì Biển Hồ Galilê tiếp nhận nước của sông Giođan rồi chảy sang những chỗ khác nữa. Còn Biển Chết tiếp nhận nước nhưng không chảy đi đâu, chỉ giữ lại cho mình nên gọi là Biển Chết. Nơi đây chẳng những khách tham quan không thích lui tới mà thậm chí cá mú cũng không thể sống được.
 Đây là một hình ảnh rất thi vị dạy mỗi người chúng ta cách thế để tạo niềm vui cho chính mình.
 4. Muốn có niềm vui phải bằng lòng với chính mình. “Hãy bằng lòng với đồng lương của mình”. Ông Gioan Tiền Hô đã nói với binh lính như vậy. Ở đời thì ai mà chẳng thích lương cao, lương thấp thì cuộc sống vì thế mà đôi khi phải khổ sở và thiếu thốn. Chỉ có điều con người rất nhiều khi mất niềm vui vì cứ so sánh với kẻ khác rồi đâm thèm thuồng và nhiều khi dẫn đến sự tội.
 5. Muốn có niềm vui phải chấp nhận “nhỏ đi”. Ít ai nghĩ và muốn nghĩ như vậy. Chính Gioan Tiền Hô dạy ta. Gioan là vị tiên tri vĩ đại. “Trong số những người đàn ông sinh ra từ lòng mẹ, chưa có ai lớn hơn ông”, vậy mà khi Đấng Cứu Thế xuất hiện, ông đã chấp nhận rút lui vào bóng tối : “Người phải lớn lên còn tôi phải nhỏ lại”. Và Gioan gọi đó là niềm vui của ông (x. Ga 3, 29). Người ta thường cảm thấy vui khi biểu dương chính mình, mấy ai cảm thấy vui khi bị nhỏ đi. Gioan đã sống điều đó. Đây là một khám phá ngược với mọi suy tưởng của con người.
 Cho hay, để có được niềm vui chân thật, phải biết sống những điều nghịch lý trong đời.
 Lm. Phêrô Trần Ðình
Giáo xứ Chi Lăng, Ðàlạt


 

MV3-C106: MỪNG CHÚA ĐẾN

CHÚA NHẬT III MÙA VỌNG C
 

Chúa đến làm rộn rã tiếng cười và niềm vui. Ngài ví như chàng rể làm ngay ngất cô dâu và thực: MV3-C106

Chúa đến làm rộn rã tiếng cười và niềm vui. Ngài ví như chàng rể làm ngay ngất cô dâu và thực khách trong ngày hôn lễ. Khách dự tiệc không thể ăn chay và buồn ràu bao lâu chú rể còn ở giữa mọi người (Mt. 9,15). Hình ảnh tiệc cưới, trinh nữ đi đón lang quân… thường được dùng trong kinh thánh để mô tả niềm vui trong nước Thiên Chúa đọng lại trên khuôn mặt Chúa Kytô là chàng rễ sánh duyên cùng trinh nữ là hội thánh.
 Chúa nhật thứ ba mùa vọng hôm nay đuợc gọi là chúa nhật màu hồng hay chúa nhật của niềm vui. Chúa càng đến gần thì lòng người càng háo hức và trào dâng niềm vui khôn tả. Thánh Phaolô mời gọi: “Anh em hãy vui luôn trong Chúa! Tôi nhắc lại một lần nữa: anh em hãy vui lên, vì Chúa đã gần đến” (Ph. 4,4-5).
 Để có được niềm vui thanh thoát và tuyệt vời trong ngày Chúa đến, người kytô hữu phải biết chờ đợi trong sự hành thiện, một sự ‘đợi – làm’, chứ không phải ‘đợi xuông’. Người ta không thể ngối chờ Chúa trong phòng khách, vừa hút thuốc, vừa nhai kẹo và ngái ngủ trên salon, nhưng phải đợi Chúa trong tư thế của người lính canh gác tiền đồn hay của người gia nhân đợi chủ vừa huýt sáo vừa làm việc.
 Tất cả mọi người trong xã hội, theo gợi ý của tin mừng và nói theo ngôn ngữ thời đại: nhân dân, cán bộ và các lực lượng vũ trang đều phải tự đặt cho mình câu hỏi : “Chúng tôi phải làm gì trong khi chờ đợi Người đến ?”. Dĩ nhiên mỗi người phải làm trọn bổn phận của mình, nhưng điều cần lưu ý hơn cả là phải biết sống quảng đại yêu thương, giữ sự công bằng và tôn trọng phẩm giá người khác. Những lời Chúa dạy tưởng như đã xưa nhưng nghe chừng lại rất sống động và hiện đại trong bối cảnh sống của chúng ta hôm nay : dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh….Làm tốt tất cả những điều ấy thì qủa thực nước Chúa không xa mỗi người chúng ta và khi Chúa đến thấy mọi người tích cực làm việc như thế thì thật phúc cho chúng ta. Lúc bấy giờ mỗi người sẽ trở thành thượng khách, được tiếp đãi ân cần và trọng thị, còn Chúa sẽ là người hầu bàn, đi đi, lại lại để sẵn sàng phục vụ ‘các thượng đế’ (Lc. 12.35-40). Niềm vui tiếng cười cứ mãi dòn tan thâu đêm suốt sáng.
 Niềm vui mong chờ Chúa đến không chỉ là niềm vui của người chờ đợi là chúng ta, mà còn là niềm vui của người mong đến là chính Chúa. Đây chính là niềm vui ‘song hỷ’ của trai tài gái sắc trong đêm tân hôn. Thật vậy, tiên tri Sophonia đã diễn cảm niềm vui diệu vời ấy bằng những khúc hoan ca :
                “ Hỡi thiếu nữ  Sion, hãy cất tiếng ca!
                   Hỡi Israel, hãy hoan hỉ !
                   Hỡi thiếu nữ Giêrusalem,
                   hãy hân hoan và hãy nhảy mừng hết tâm hồn !
                   Người hân hoan vui mừng vì ngươi,
                   Người cảm động yêu thương ngươi, và vì ngươi,
                   Người sung sướng reo mừng” (Sô. 3, 14.17).

 Thật là an ủi và hạnh phúc cho chúng ta và cho cả chính Chúa ! Vì không chỉ có chúng ta háo hức trông chờ Chúa đến, mà chính Chúa còn nôn nao từng giây từng phút muốn đến với con người và mong mãi mãi được ở lại với họ.
Mừng Chúa đến là mừng cho chúng ta và mừng cho Chúa nữa.
 Linh mục PHAOLÔ DƯƠNG CÔNG HỒ
CHÁNH XỨ ĐẠ TẺH – LÂM ĐỒNG


 

MV3-C107: Sứ Điệp Của Gioan Tẩy Giả

Nghe:
· Xp 3, 14-18a: Ngày ấy, người ta sẽ bảo Giêrusalem: Này Sion đừng sợ, chớ kinh hãi rụng rời. Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi đang ngự giữa ngươi, Người là vị Cứu Tinh, là Đấng Anh Hùng. Vì ngươi, Chúa sẽ vui mừng hoan hỉ, sẽ lấy tình thương của Người mà đổi mới ngươi.
· Pl 4, 4-7: Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa. Tôi nhắc lại: Vui lên anh em! Sao cho mọi người thấy anh em sống hiền hòa rộng rãi, Chúa đã gần đến. Anh em đừng lo lắng gì cả. Nhưng trong mọi hoàn cảnh, anh em cứ đem lời cầu khấn, van xin và tạ ơn, mà giãi bày trước mặt Thiên Chúa những điều anh em thỉnh nguyện
 
TIN MỪNG: Lc 3, 10-18
Sứ Điệp Của Gioan Tẩy Giả
 Khi ấy, có đám đông người Do Thái hỏi Gioan Tẩy Giả rằng: Chúng tôi phải làm gì đây? Ông trả lời: Ai có hai áo, thì chia cho người không có; ai có ăn, thì cũng làm như vậy?. Cũng có những người thu thuế đến chịu phép rửa. Họ hỏi ông: Thưa thầy, chúng tôi phải làm gì?. Ông bảo họ: Đừng đòi hỏi gì quá mức đã ấn định cho các anh. Binh lính cũng hỏi ông: Còn anh em chúng tôi thì phải làm gì. Ông bảo họ: Chớ hà hiếp ai, cũng đừng tống tiền người ta, hãy an phận với số lương của mình.
Hồi đó, dân đang trông ngóng và trong thâm tâm, ai nấy đều tự hỏi: Biết đâu ông Gioan lại chẳng là đấng Mêsia!. Ông Gioan trả lời mọi người rằng: Tôi, tôi làm phép rửa cho anh em trong nước. Nhưng có Đấng mạnh thế hơn tôi đang đến, tôi không đáng cởi quai dép cho Người. Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần là lửa. Tay Người cầm nia rê sạch lúa trong sân: thóc mẩy thì thu vào kho lẫm, còn thóc lép thì bỏ vào lửa không hề tắt mà đốt đi. Ngoài ra, Ông còn khuyên dân nhiều điều khác nữa mà loan báo Tin Mừng cho họ.
 Ngẫm:
 Câu hỏi gợi ý:
 

Những việc Gioan Tẩy Giả đề nghị làm để tỏ lòng sám hối liên quan đến ai đến Thiên Chúa hay: MV3-C107

1. Những việc Gioan Tẩy Giả đề nghị làm để tỏ lòng sám hối liên quan đến ai đến Thiên Chúa hay đến tha nhân?
2. Theo tinh thần của Gioan Tẩy Giả, để chuẩn bị đón Chúa đến, chúng ta nên làm gì? Cần thực hiện những gì?
 
Suy tư gợi ý:
1. Những việc phải làm để sám hối đón chờ Chúa đến
Khi được hỏi rằng phải làm gì để tỏ lòng sám hối, Gioan Tẩy giả trả lời với những người bình thường: ai có hai áo, thì chia cho người không có; ai có ăn, thì cũng làm như vậy. Đó là những việc làm bác ái. Còn với những người bị coi là tội lỗi, ông khuyên: Chớ hà hiếp ai, cũng đừng tống tiền người ta, hãy an phận với số lương của mình, hoặc Đừng đòi hỏi gì quá mức đã ấn định cho các anh. Đó là những điều liên quan đến luật công bằng. Ta thấy những việc Gioan Tẩy giả đề nghị làm để tỏ lòng sám hối không phải là những việc phải làm đối với Thiên Chúa, mà chỉ là những việc phải làm đối với tha nhân.
 Điều này khiến chúng ta phải chỉnh lại tư tưởng hay thái độ của chúng ta. Vì khi nghĩ đến ăn năn sám hối, là ta nghĩ ngay đến sự khô khan nguội lạnh của ta đối với việc thờ phượng Chúa, với việc xưng tội, đi lễ, rước lễ. Ít người nghĩ đến cách sống, cách ăn nếp ở hay cách ăn nói của mình đã làm cho khác phải khó chịu, không bằng lòng, hoặc đã có những hành động gây thiệt hại cho họ. Càng ít người nghĩ đến những trường hợp mình gặp những người đau khổ, khốn khó, cần được cứu giúp hay nâng đỡ, mà mình đã làm lơ, bỏ qua, không làm gì cả, mặc kệ họ ra sao thì ra với nỗi đau khổ, cùng khốn của họ.
 
2. Tinh thần yêu thương, bác ái đối với tha nhân
Kitô giáo là đạo yêu thương. Cốt tủy lề luật của Kitô giáo là thể hiện tình yêu của mình đối với tha nhân. Thánh Phaolô viết: Tất cả Lề Luật được nên trọn trong điều răn duy nhất này là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình (Gl 5, 13b-14). Cho nên điều khiến chúng ta xa rời Thiên Chúa, đi ngược lại tinh thần Đức Kitô, và không phù hợp với bản chất Kitô hữu chính là những hành động thiếu tình thương của chúng ta đối với tha nhân.
 Như thế, có thể ta không hề làm một điều gì bất công, hay một hành động xấu nào, nhưng ta vẫn chưa được Thiên Chúa hài lòng và chúc phúc, ta chưa trở nên người Kitô hữu đích thực, là vì ta chưa có những hành vi yêu thương người khác thật sự. Yêu thương ai đòi hỏi ta phải quan tâm tới chính người ấy, tới những nhu cầu thiết thực của họ, đồng thời cố gắng đáp ứng những nhu cầu ấy của họ. Lãnh đạm với họ, không quan tâm tới họ, không biết họ cần gì, và không làm gì để giúp đỡ họ, để khiến họ nên tốt hơn, hạnh phúc hơn, thì không phải là yêu thương họ. Và như thế là chưa sống tinh thần bác ái yêu thương của Đức Kitô.
 Biết bao người trong chúng ta tự hào mình là Kitô hữu, thậm chí cho mình là một Kitô hữu tốt! Nhưng nếu thử hỏi: ta có luôn cố gắng trở nên hữu ích cho những người chung quanh, có quan tâm tới nhu cầu của những người sống bên cạnh ta, và tìm cách thỏa mãn những nhu cầu chính đáng của họ, làm họ bớt khổ, bớt xấu hơn không? Có lẽ nhiều người trong số chúng ta, những người tự hào mình là Kitô hữu, sẽ trả lời không!. Chúng ta cần nghĩ lại: những người bị chúc dữ ngày phán xét trong Mt 25, 41-46 không hề bị kết án hỏa ngục vì đã làm một điều chi sai trái, mà chỉ vì đã không làm những gì tha nhân cần họ làm. Những điều đó, tha nhân tự cảm thấy không có quyền đòi hỏi họ làm, nhưng Thiên Chúa lại đòi hỏi những đối tượng của Nước Trời phải làm những điều ấy như điều kiện tiên quyết để là công dân Nước Trời.
 
3. Tinh thần công bằng
Để những việc bác ái, yêu thương có giá trị trước Thiên Chúa, chúng ta phải có tinh thần công bằng trước đã. Nếu ta saün sàng gây bất công cho người khác, saün sàng vì quyền lợi của mình mà làm người khác đau khổ, thiệt thòi, thì rõ ràng là ta không hề yêu họ. Lúc đó, những hành vi có vẻ yêu thương người khác của ta dù có to tát vĩ đại đến đâu, cũng chỉ là những hành động giả dối bên ngoài, xuất phát từ lòng ham danh - muốn được tiếng là có lòng yêu thương người khác - chứ không phải do có tình yêu đích thực bên trong thúc đẩy ta làm.
 Gioan Tẩy Giả đã khuyên những người thu thuế và lính tráng phải thực thi công bằng, không được gây bất công cho ai. Nhân mùa Vọng, ta thử xét mình xem ta đã có tinh thần công bằng đối với mọi người chưa. Khi mượn tiền hay mượn đồ đạc của ai, ta có quyết tâm trả cho bằng được và trả đúng kỳ hạn không? Khi hợp đồng với ai điều gì, ta có thực hiện đúng những điều khoản mà ta đã đồng ý sẽ thực hiện trong hợp đồng không? Khi làm trong các xí nghiệp, công ty, ta có làm hết giờ, và làm hết năng lực của mình như mình đã chấp nhận lúc xin việc không? Ta có thực hiện những điều ta đã hứa với người khác không? Ta có hối lộ hay nhận hối lộ, cho dù dưới hình thức rất tế nhị là một món quà không? Ta có công bằng đối với con cái, hay với những người dưới quyền ta không? Ta ỷ mình là người trên buộc họ phải làm những điều ta không có quyền ép buộc chăng? Ta có thể thành thật tự nhủ với lòng mình rằng: mình rất xứng đáng được mọi người tín nhiệm, người khác có thể giao tiền bạc, của cải của họ cho mình mà không sợ bị thiệt thòi, mất mát hay thất thoát không?
 Dấu hiệu đích thực của người Kitô hữu là sống bác ái (xem Ga 13,35). Vì thế, không thể là người Kitô hữu đích thực nếu không sống bác ái. Nhưng công bằng lại là nền tảng của bác ái. Không thể có bác ái thật sự khi chưa thực thi công bằng. Vì thế, một người Kitô hữu không tôn trọng và thực thi công bằng, saün sàng gây bất công hay để mặc cho bất công lộng hành, thì chỉ là Kitô hữu một cách hữu danh vô thực mà thôi!
 
4. Tinh thần tôn trọng sự thật
Khi thấy Gioan kêu gọi sám hối và làm phép rửa, nhiều người nghĩ rằng ông chính là đấng Mêsia, là vị Cứu Tinh của dân tộc mà các ngôn sứ đã loan báo. Điều đó chắc chắn cũng làm cho Gioan cảm thấy thích thú. Nhưng Gioan không chấp nhận để cho người ta hiểu lầm như thế, ông đã đính chính rõ ràng: có Đấng mạnh thế hơn tôi đang đến, tôi không đáng cởi quai dép cho Người. Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần là lửa.
 Tôn trọng sự thật là một hình thức của công bằng. Mọi người đều có quyền biết sự thật khi sự thật ấy không phải là điều bí mật cần thiết phải dấu diếm, hay khi biết sự thật thì không có gì gây thiệt hại cho họ hoặc người khác. Người Kitô hữu phải là người gương mẫu trong việc tôn trọng sự thật.
 
Nguyện:
 Lạy Đức Kitô, chúng con đang đón chờ Chúa đến. Vì thế, chúng con quyết tâm thực hiện tinh thần yêu thương của Chúa, một cách cụ thể là quan tâm đến tha nhân, đến những nhu cầu thực tế của họ, đặc biệt những người gần gũi chúng con nhất. Chúng con cũng quyết tâm quảng đại hơn trong việc tìm cách thỏa mãn những nhu cầu của họ. Nhưng căn bản hơn cả, chúng con quyết tâm thực thi công bằng, và cố gắng làm cho xã hội chúng đang sống trở nên công bằng và hợp lý hơn. Amen.
 (Anrê Nguyễn hữu Nghĩa)  

 

MV3-C108: CHỦ NHẬT THỨ III MÙA VỌNG

NĂM C
Lc 3, 10-18 "Còn chúng tôi, chúng tôi phải làm gì"
Linh mục Giuse Nguyễn Hữu Duyên
 SUY NIỆM
 

Chắc là niềm vui của Đại Hội Simon-Hòa IV vẫn còn âm vang trong anh và gia đình? Ở quê hương: MV3-C108

Chắc là niềm vui của Đại Hội Simon-Hòa IV vẫn còn âm vang trong anh và gia đình? Ở quê hương thì ngày 12.12 cũng là ngày cử hành năm thánh với các Chủng Sinh. Nhìn vào những khuôn mặt rạng rỡ của anh chị em tuốn về những ngày đó, chúng ta hiểu được lời kêu gọi của Thánh Phaolô "Anh em hãy vui luôn trong Chúa! Tôi nhắc lại một lần nữa : Anh em hãy vui lên". Niềm vui những ngày ấy, niềm vui của những con người đã từng theo đuổi cùng một lời gọi : niềm vui có gốc gác nơi Chúa. Không có niềm vui nào để lại trong lòng ta và cuộc sống ta âm hưởng rộng lớn và bền bỉ hơn niềm vui thật giản đơn ấy. Đức Cha Phaolô đã khẳng định như vậy khi chọn cho mình khẩu hiệu "Chúa là Nguồn Vui". Thánh Phaolô đã cho thấy là "Bình an của Thiên Chúa vượt mọi trí hiều". Những ngày đại hội cho chúng ta cảm nếm ý nghĩa chân thật của Lời Chúa.
 Những tháng ở gần anh em bên đó, tôi cũng có nhiều cơ hội để đến một số trung tâm giải trí, nhìn từ bên ngoài thì có cảm nghĩ là lời tiên tri Sophonia đang được thể hiện ở đó : người người như thác lũ tuốn về, hoan hỉ reo vui, nhảy mừng...tôi cũng thả bộ trên cầu bãi biển Cali nhìn dọc theo bờ những niềm vui dường như bất tận. Nhưng nó vẫn không che khuất được những lo nghĩ và căng thẳng trong lòng mỗi con người ở đó, họ vẫn còn có những bài toán nan giải đeo bám họ.
 Gioan thật chí lý khi khiêm tốn xác minh phép rửa của ông chỉ là phép rửa trong nước : nó chỉ có thể đụng chạm tới da thịt, không thể gột rửa tâm hồn con người. Thậm chí, ngay cả những việc làm ông đề nghị cho từng hạng người, những việc làm ấy cũng chỉ là giai đoạn chờ đợi. Những niềm vui chúng ta phải trả giá đắt : ở Las Vegas, ở các Tours du lịch, ở những bãi biển... tất cả chỉ kích thích cho da thịt rung lên, nhưng cái ẩn kín của tâm hồn thì dường như càng thêm u uất... Cũng như Gioan, cũng như những người nghe Gioan hôm ấy, mọi nỗ lực tìm kiếm niềm vui và bình an của chúng ta tất cả cũng chỉ là những thoáng lửng trôi ngang qua cuộc đời trăm đắng nghìn cay.
Và Gioan loan báo Phép Rửa trong Thánh Thần, Phép Rứa gạn lọc tất cả để niềm vui thấm nhập tận cõi u minh của tâm hồn. Điều chúng ta cần thấy trong tất cả lời loan báo này : những cố gắng của con người như của chính Gioan không phải là vô ích, tất cả là điều kiện và sẽ tồn tại nếu như nó được dấn vào trong quyền năng của Thánh Thần. Sự khiêm tốn của Gioan mở toang mọi cánh cửa hiện sinh cho lửa Thánh Thần trở nên Lời Loan Báo Tin Mừng. Sự khiêm tốn được đồng hóa với sự đảm nhận hiện sinh trong lòng tin và niềm hy vọng vào Đấng Quyền Năng sẽ đến.
 Niềm vui của những ngày Đại Hội là niềm vui của những con người đã một lần nghe tiếng gọi của Đấng yêu thương mình, và muốn có Người đồng hành trong cuộc sống hôm nay. Niềm vui ấy sẽ tròn đầy nếu như chúng ta biết như Gioan làm cho Đức Kitô bước vào "sân lúa" của Người. Điều ấy sẽ thành hiện thực, nếu như trong ngày gặp gỡ, chúng ta đã biết đứng sang một bên và ân cần giới thiệu Đức Kitô cho anh chị em mình. Đó cũng chính là niềm vui của mùa vọng của Giáo Hội, của tập thể cộng đoàn Simon-Hòa ngay từ thưở ban đầu. Không lẽ nào lại chẳng là niềm hy vọng của chúng ta hôm nay ?
 12/2000

 

MV3-C109: CHÚNG TÔI PHẢI LÀM GÌ?

1. “Vậy chúng tôi phải làm gì?” (Lc. 3:10).
2. “Lạy Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời” (Mt 19:16).
3. “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sống đời đời” (Lc 10:25.

 

Ba câu hỏi trên mang cùng một ý nghĩa, đó là những người hỏi muốn tìm được câu trả lời cho phần: MV3-C109

Ba câu hỏi trên mang cùng một ý nghĩa, đó là những người hỏi muốn tìm được câu trả lời cho phần rỗi đời đời của mình. Và những người hỏi đại diện có một số chính trong nhân loại. Thành phần thuộc giới bình dân, thương gia và quân nhân. Thuộc giới dư giả tiền bạc, giầu sang và có thế lực. Và thành phần thuộc giới trí thức và hiểu biết. Phần rỗi ấy, sự sống đời đời ấy là nhận biết Đức Kitô là Con Thiên Chúa, Đấng đã đến trong thế gian và đã chết để cứu độ nhân loại
Về người được hỏi, thì câu hỏi đầu tiên dành cho Gioan Tiền Hô, còn lại hai câu, trực tiếp đặt vấn đề với Chúa Giêsu.
Đại diện thành phần bình dân gồm những người nghèo khổ, bần cùng, một số thuộc thành phần quân nhân đã hỏi Gioan Tiền Hô. Trong khi đó, đại diện giới giầu có và trí thức lại hỏi chính Chúa Giêsu. Nhưng nếu Gioan đã trở lời trực tiếp những vấn nạn của những người hỏi ông, thì với Đức Kitô ngài đã không trực tiếp trả lời những câu hỏi ấy mà lại muốn chính những người đã hỏi ngài phải suy nghĩ về những gì mình đã hỏi. Qua hình thức trả lời của Gioan Tiền Hô và của Chúa Giêsu, chúng ta nhận ra điều này, đó là chân tướng của những chứng nhân Tin Mừng, và thái độ cần phải có khi gặp gỡ Thiên Chúa.
1. Chứng nhân Tin Mừng
Ngày nay nếu có ai muốn tìm gặp Chúa, muốn biết về Chúa thì họ phải làm gì? Dĩ nhiên, họ có thể tự mình học hỏi, tham vấn và tìm hiểu, như trường hợp người luật sỹ và anh nhà giầu đã hỏi Chúa về con đường phần rỗi. Nhưng thử hỏi những thành phần cao trong xã hội và trí thức này được bao nhiêu, do đó, phần còn lại vẫn là đông đảo những người chân lấm tay bùn, nghèo hèn, thất học, và lao động vất vả kể cả thành phần quân nhân.
Những người đến với Gioan Tiền Hô, họ đã được ông trả lời và bảo họ: “Ai có hai áo, hãy cho người không có, ai có của ăn, cũng hãy làm như vậy” (Lc 3:10). Với những người thu thế, ông khuyên họ: “Các ngươi đừng đòi hỏi gì quá mức đã ấn định cho các ngươi” (Lc 3: 13. Và đối với những quân nhân, ông đã trả lời họ: “Đừng ức hiếp ai, đừng cáo gian ai, các ngươi hãy bằng lòng với số lương của mình” (Lc 3:14).
Đối với anh nhà giầu, Chúa Giêsu lại đặt ra một điều kiện. Có lẽ vì thấy lòng dạ anh hẹp hòi, và tham lam. Tâm trí anh kiêu căng tự phụ. Cũng có thể vì thái độ chỉ muốn nghe cho biết của anh mà Chúa Giêsu đã muốn dò hỏi anh bằng cách bảo anh phải về bán hết tài sản anh có, bố thí cho những kẻ nghèo và đến theo ngài. Và như Thánh Ký đã ghi là anh đã lặng lẽ rút lui. Anh vừa muốn chiếm hữu được Thiên Chúa, vừa muốn làm chủ của cải vật chất và sự giầu sang của thế gian.
Riêng đối với những đầu óc học rộng hiểu nhiều, biết rõ lề luật như người luật sư đã hỏi ngài, Chúa Giêsu không muốn có câu trả lời trực tiếp. Ngài đã dẫn chứng con đường dẫn vào nơi hằng sống ấy bằng câu truyện người Samaritanô hiền hậu.
Nhưng có lẽ điều mà ít khi chúng ta để ý đó là thái độ dân chúng đối với Gioan mà Thánh Ký đã ghi: “Vì dân chúng đang mong đợi và mọi người tự hỏi trong lòng về Gioan rằng: Có phải chính ông là Đức Kitô chăng?” (Lc 3:15). Đây là cốt lõi của đời sống chứng nhân. Chúng ta tự hỏi: “Tại sao những người đến với Gioan lại tưởng ông là Đấng Thiên Sai?” Và: “Cái gì đã làm cho những người đến với ông tưởng ông là Đấng Thiên Sai?” Đây là điều mà tất cả những ai muốn trở thành nhân chứng cho Đức Kitô cần phải học hỏi, đó là câu ông nói với dân chúng trong khi họ tưởng rằng ông là Đức Kitô: “Tôi lấy nước mà rửa các ngươi, nhưng Đấng quyền năng hơn tôi sẽ đến, tôi không xứng đáng cởi dây giầy cho Người. Chính Người sẽ rửa các ngươi trong Thánh Thần và lửa” (Lc 3:16).
Đó là điều khiến người khác tưởng ông là Đấng Thiên Sai. Không phải vì ông có tài hùng biện. Cũng không phải vì ông đã làm được những việc cao cả. Nhưng là ông đã đóng trúng vai của một nhân chứng: Không cao ngạo, huênh hoang. Không khoe tài, khoe sắc. Không kể mình là cao trọng, đạo đức đến nỗi nếu thiếu mình thì mọi chuyện đều hỏng, đều không xong, và không ai có thể thay thế được.
Tóm lại, nếu lúc này có ai hỏi chúng về Đấng Cứu Thế, Đấng Thiên Sai thì chúng ta cũng không thể nào làm chứng hay hơn Gioan đã làm. Đó là tấm lòng chân thật và khiêm cung. Gioan chỉ muốn Đức Kitô nổi nang, và được mọi người nhận biết. Ông tự nhận mình chỉ là kẻ dọn đường, và còn tầm thường hơn một kẻ dọn đường, là không xứng đáng cởi dây giầy cho ngài.
Như vậy chúng ta không những phải là chứng nhân cho Đức Kitô mà chúng ta còn phải là chứng nhân của chính mình. Bằng cách sống và hành động để qua chúng ta, người khác nhận ra Chúa. Và chính chúng ta cũng phải nhận ra ngài để có thể hoàn tất sứ mạng chứng nhân của mình.

2. Thái độ khi đến với Chúa
Theo trình thuật của Thánh Ký, Gioan đã không giới thiệu Đấng Thiên Sai với mọi người khi thấy họ chưa sẵn sàng. Khi họ chưa làm được điều mà họ cần làm để xứng với những gì họ đang tìm kiếm. Ở đây thái độ chuẩn bị, và tìm cầu ơn cứu độ được lồng vào những hành động bác ái đối với tha nhân và tấm lòng khiêm nhường.
Những người đến với Gioan đều là những người thiện tâm, mặc dù họ có đôi lỗi lầm. Và vì thế, ông đã đưa điều kiện để họ đạt được nước Trời, để thấy Đấng Thiên Sai, đó là những hành động bác ái cụ thể. Gioan đã rất thực tế nói với những người đến với ông và đang muốn qua ông tìm gặp Đấng Thiên Sai. Cho một chiếc áo dư. Bố thí một đồng hay năm, mười xu. Bình an với chính mình. Đừng hà hiếp, bóc lột người. Tất cả là luật công bình và bác ái. Và tất cả là hướng về tha nhân một cách cụ thể.
Nhưng người giầu có và luật sỹ thì không được Chúa Giêsu đối xử như vậy. Ngài không giải thích về những hành động bác ái cụ thể mà họ cần phải làm để chiếm hữu nước Trời, vì những người này đã tự cho mình hiểu biết, nhưng thực sự lại không sống với điều mình hiểu biết. Chưa sống thật với mình thì làm gì có khả năng để sống với tha nhân. Không rộng lòng với tha nhân làm sao có thể mở rộng lòng mình để đón nhận Ơn Cứu Độ.
Nhân loại đang nô nức mong chờ ngày kỷ niệm Chúa giáng trần. Thật ra, ngài đã giáng trần và đã đến với nhân loại hơn 2000 năm trước, và Gioan cũng đã làm chứng về ngài. Nhưng chúng ta đã đón nhận ngài vào cuộc đời mình như thế nào. Ánh sáng của ngài có chiếu tỏa nổi qua cuộc đời và con người bằng xương thịt của chúng ta đây để qua đó người khác có thể nhận biết và yêu mến Đức Kitô không? Nếu không thì việc chuẩn bị, cũng như việc mừng kỷ niệm ngài giáng trần hoàn toàn mang tính nhân loại, hình thức và vô nghĩa. Nó sẽ làm cho biến cố Giáng Trần của Con Thiên Chúa thành một lễ hội vui chơi, tưng bừng và náo nhiệt. Chúa Giêsu chẳng được gì, và cũng chẳng ai nhìn ra ngài giữa những rộn ràng và chuẩn bị tốn kém, cũng như giữa những hình thức đón tiếp mà chính ngài cũng đã biết rằng nó không dành cho ngài. Trong đêm Giáng Trần, Ngài vẫn trơ trọi một mình bên trong hang bò tanh hôi, lạnh lẽo. Bên trong chiếc nôi bằng máng bò lừa ăn cỏ. Quanh ngài lại cũng chỉ vài mục đồng nghèo khó và mấy con lừa, con chiên, con bò vây quanh thở chút hơi ấm cho ngài giữa đêm trường rét mướt.
Và chúng ta có cần phải hỏi Chúa hay hỏi Gioan câu: “Chúng tôi phải làm gì” không?
T.s. Trần Quang Huy Khanh

 

MV3-C110: Thời điểm BI THUỐC LÀO MẦU NHIỆM

 "Người sẽ làm phép rửa cho anh em
bằng Thánh Thần và bằng lửa."

 

Nhật báo The Times-Picayune ở vùng New Orleans vào dịp cuối năm đã cho thấy trước nhiều biến: MV3-C110

Nhật báo The Times-Picayune ở vùng New Orleans vào dịp cuối năm đã cho thấy trước nhiều biến cố lớn có thể xảy vào thế kỷ này. Những người lạc quan thì bảo chẳng có gì phải sợ cả. Đừng có lo bò trắng răng. Vì kìa, thị trường kinh tế Việt Nam có chiều thay đổi; tên kẻ thù Liên Sô vĩ đại đã trở thành anh bạn con nhà lành.
Nhưng một số người bi quan thì ưa nói tới điềm ngày tận thế. Nào là thiên tai bão lụt động đất nhiều quá. Nào là khí hậu mùa hè nóng quá, mùa đông lạnh quá. Nào là xã hội hỗn loạn đảo điên quá. Nào là sợ một khối đá khổng lồ từ một ngôi sao nào vỡ ra rơi vào trái đất thì đúng là "các tầng đất" rung chuyển chết không kịp ngáp. Nào là sợ mấy tay quá khích khủng bố sẽ chế bom bẩn bằng vi trùng độc không thuốc nào trị được!
CON NGƯỜI SỢ GÌ NHẤT VÀO THẾ KỶ NÀY?
Ông Joel Cohen tác giả cuốn sách "Trái Đất Có Thể Nuôi Sống Được Bao Nhiêu Người" thì cho rằng nỗi lo nhất trong thiên niên kỷ thứ ba là vấn đề tăng thêm quá đông người. Dân số thế giới sẽ từ 6 tỷ tăng lên tới 8 tỷ, rồi 10 tỷ, và vọt lên 12 tỷ! Đào đâu ra đồ ăn, quần áo và nơi ở cho bằng ấy người!
Lớp khí ozone bao quanh trái đất đang mỏng dần vì các hóa chất chlorofluorocarbon đã ăn thủng một lỗ lớn ở nam bán cầu. Ngày 10 tháng 12 năm 1995 giải Nobel về hóa học được trao cho ba nhà bác học khảo cứu về lớp khí này là các ông Mario Molina, Sherwood Rowland và Paul Crutzen. Từ năm 1974 nhiều người đã nói tới lớp khí này bị các chất ga CFC từ những bình xịt, tủ lạnh v.v... ăn mỏng ra, khiến cho khí hậu trở thành nóng lạnh bất thường, vì tầng ozone loãng quá không chắn được sức nóng mặt trời, và không chặn hết được tia tử ngoại nữa nên dễ sinh ung thư.
Trước đây nhiều nhà buôn chống lại lý thuyết về ozone vì sợ không bán được hàng. Nhưng nay thì các nhà bác học đã chứng minh rành rành! Thì chính con người tạo ra cái bệnh ung thư, mát dây, chạm điện, vì làm mất trật tự của thiên nhiên. Mình đang phải tự trả giá. Hèn chi mấy năm qua xẩy ra nhiều hiện tượng lạ: mùa hè ở miền Bắc phía Chicago chết nóng cả mấy trăm mạng; mùa đông lại lạnh quá làm thần chết cũng bận rộn quá chừng. Cũng còn may là hiện nay nhiều phong trào bảo vệ môi sinh đang cổ võ để vào đầu thế kỷ tới sẽ có nhiều đạo luật khắt khe cấm những đồ dùng mang hóa chất. Và như vậy, các nhà khoa học tiên đoán là vào khoảng năm 2050 thì lớp khí ozone sẽ trở lại bình thường.
Các nhà địa chất tiên đoán về một cuộc động đất lớn có thể sẽ theo khe nứt Andreas ở biên giới Arizona mà hất cả bang California ra khơi Thái Bình Dương cho chìm nghỉm luôn. Theo cái nhìn của Hội Nghị về Thời Tiết của Liên Hiệp Quốc mới nhất thì vào năm 2100, khí hậu trên toàn cầu sẽ tăng lên hơn bây giờ 3 độ F. Như vậy thì các vùng nông nghiệp sẽ phải thay chuyển nhiều, các trận bão sẽ nhiều hơn và mạnh hơn. Ông Leatherman đứng đầu Viện Nghiên Cứu về Duyên Hải ở đại học Maryland cho biết rằng vì băng đá ở bắc cực sẽ tan thêm và nước tràn xuống biển và sẽ làm tăng mức nước biển lên 20 inches. Lúc đó thì quả là chưa tận thế, nhưng những quốc gia đất thấp như Bỉ, Hòa Lan, Belize, Bangladesh sẽ biến mất. Và khoảng một ngàn năm nữa, tức vào năm 3000, thì băng đá sẽ còn tan thêm không có cách nào cản được, mực nước biển sẽ tăng lên thêm 30 feet nữa, và những thành phố thấp ở ven Đại Tây Dương và vùng Vịnh Mễ Tây Cơ có thể bị xóa tên khỏi sổ bộ đời.

NỖI BUỒN THẾ KỶ
Những lời tiên đoán thì nhiều lắm. Nếu sợ quá thì chẳng dám ra khỏi nhà. Nhưng nỗi sợ lại chạy cả vào trong nhà mới là điều đáng sợ nhất. Trong báo Time ngày 28.8.1995, Robert Wright đã nhận định về hiện trạng “Nỗi Buồn Thế Kỷ 20” khi mà người Âu Mỹ đang bị cái vòng “văn minh” quay cho xây xẩm mặt mày:
“Trong cuộc sống hằng ngày, có những lúc thật sự có một cái gì không ổn: hoặc là chúng ta bị đè nặng bởi một náo động quá lớn do công việc hằng ngày; hoặc bị làm chai lì vì cảm giác bị xã hội cô lập; hoặc sa lầy trong một tâm tư về cuộc sống vô nghĩa. Cũng có khi bị đảo lộn bởi một tình trạng lo lắng không sao giải tỏa; hoặc không còn cảm thức được ý nghĩa của thời gian vì phải ngụp lặn trong những tuần lễ làm việc dài dài. Dù cho nguồn gốc của những căng thẳng tinh thần là gì, thỉnh thoảng chúng ta vẫn có cảm tưởng đời sống hiện thời không phải là những gì chúng ta mong ước mà chỉ là những gì chúng bị áp đặt.” (Robert Wright, Time)
Mấy nhà tâm lý về tiến hóa (evolutionary psychology) cho biết lý do: vì cấu trúc xã hội xoay cấp tốc quá, khác với cấu trúc di truyền tự nhiên của thân tâm nên sinh bấn loạn. Đưa một hình ảnh bình dân dễ hiểu: một người bị quay một chục vòng rồi buông ra là lảo đảo té xuống ngay, là vì cái nhịp độ ở ngoài và trong cơ thể không đi được với nhau. Cũng giống như một người lần đầu tiên đi tàu, bị nhiều đợt sóng nhồi. Nhịp sóng và nhịp cơ thể không quen nhau thành ra say quá sức.
Như vậy có nghĩa là cấu trúc của xã hội, hay cái nền văn minh này đang bất ổn, không tự nhiên, không hợp cho con người bình thường. Cả một xã hội bị bệnh. Thế giới ngày nay là một môi trường khó sống, thuận lơi để các bệnh tâm thần phát sinh. Con người của thế kỷ này nhiều thô bạo hơn là vị tha hiền hòa. Thân tâm con người không hợp với kiểu sống kỹ thuật quá cao, quá thành thị, mỗi người một hộp vuông tách biệt cô đơn, quá đòi hỏi với những tiêu chuẩn và người mẫu trong Tivi nên con người luôn cảm thấy bất ổn và bất mãn.

TIN VUI GỬI NGƯỜI HÚT THUỐC LÀO
Trong cơn rối loạn và khốn khổ, nhiều người tìm nhiều lối giải thoát khác nhau. Đây là một lối "giải thoát" thật độc đáo với điếu thuốc lào của một người đi tù lao động có tên là Châu Còm:
"Giờ giải lao, vứt cuốc, ngồi bệt xuống đất làm một bi. Hít vào, ếm trong phổi thật lâu cho khói thuốc ngấm vào máu chạy lên đầu. Lâng lâng, mơ màng, ngửa mặt nhìn trời cao mênh mông, ngọn gió mát vuốt ve da thịt, mùi đất thơm nồng, con người như thoát khỏi chốn trần ai ô trọc, quên cả nhọc nhằn, quên cả vợ con, quên cả thân phận mình. Ôi, bi thuốc lào giúp ta bay bổng vào cõi hư vô. Khói thuốc lào sạch ưu phiền, biến hận thù thành nhẫn nhục, để đấy, để đấy, ta không quên những ngày hôm nay, ta không quên lũ chúng mày! Ôi, khói thuốc lào yêu dấu, chỉ có mi an ủi được ta, thông cảm ta, khuyến khích ta, giúp ta vững tinh thần, vững hùng khí, chờ một ngày mai…"
Chả riêng gì người đi tù mới muốn tìm lối thoát. Người Âu Mỹ cũng đang nhớn nhác đi tìm một giải pháp cho cuộc sống quá căng. Không thì điên mất. Họ đi học món yoga của Ấn, luyện nhân điện cho sức rắn lửa bò lên đủ bẩy huyệt đạo; sang Nhật học ngồi thiền hít vào thở ra cho cân bằng tâm sinh lý; đi Tàu học vũ thái cực theo nhịp trời đất cho bớt cái nhịp náo loạn của xã hội quay cuồng. Có người tìm vào làng của dân Amish để học lối sống giản đơn, đi Do thái để sống theo lối liên hệ cộng đồng của những Kibbutz. Tìm cho ra một cái xã hội nào thuận lợi, lối sống nào hợp nhịp cho con người để giữ được thăng bằng chứ.
Giữa những lo sợ tăm tối và rối loạn, Đức Kitô Thiên Chúa làm người mới thật là câu trả lời. Đặt Chúa vào trung tâm điểm thì mọi mảnh vụn rời rã sẽ gắn lại được với nhau. Đó là phép mầu của đời sống.
Giữa những tang thương, người Do Thái đang náo nức vọng chờ một lối thoát, một vị Thiên Sai. Vì thế họ hỏi Gioan Tẩy Giả: Chúng tôi phải làm gì? Có phải chính ông là Đức Kitô, Đấng đến giải thoát không? Và ông đã quả quyết:
"Đấng quyền thế hơn tôi đang đến, tôi không đáng cởi quai dép cho Người . Người sẽ làm phép rửa cho anh em bằng Thánh Thần và bằng lửa."
Quả thực, giữa những đòn phép kinh tế và những mưu đồ "toàn cầu hóa" kéo ghì con người xuống không sao vươn lên được, một Tin Vui lớn được báo: Hãy vui lên. Kìa Đấng giải thoát đời mình đang đến. Con người đang khấp khởi chờ đợi được ban thần lực mới, đầy lửa Thánh Thần, để có sức mọc cánh bay lên trong một nhãn quan mới.

PHÚT TỊNH TÂM
Vâng, con tin nhận Chúa là Cứu Chúa đời con. Xin Chúa giáng sinh vào lòng con, mang đến cho con tia sáng mới tràn trề hy vọng để con bước đi với đầu cao mắt sáng, vượt qua mọi lo sợ bất an của cuộc sống. Tông thư "Đệ Tam Thiên Niên" là một thời điểm cho con thấy rằng chỉ có một cách là tìm được Chúa Kitô trong cuộc sống. Ngài đã làm người ở giữa con người. Ngài là khởi thủy và là cùng đích đời sống:
“Sự kiện Ngôi Lời vĩnh cửu, trong sự toàn mãn của thời gian đã mặc lấy thân phận của tạo vật, đem lại cho biến cố của Bê-lem cách đây 2000 năm một giá trị hoàn vũ lạ lùng, Nhờ Ngôi Lời, thế giới của các tạo vật được xuất hiện như một hoàn vũ, nghĩa là một vũ trụ được xếp đặt trong trật tự. Và cũng chính Ngôi Lời khi nhập thể, làm mới lại trật tự hoàn vũ nơi các tạo vật.”
Lm. Dũng Lạc Trần Cao Tường

 

MV3-C111: VÌ NGƯƠI, CHÚA SẼ NHẢY MÚA TƯNG BỪNG

Theo tờ Time, Warren Buffett từng có một lời khuyên mà theo đó, mọi người nên đầu tư càng MV3-C111

Theo tờ Time, Warren Buffett từng có một lời khuyên mà theo đó, mọi người nên đầu tư càng nhiều càng tốt vào một thứ mà ai cũng có. Theo tỉ phú 85 tuổi, không có khái niệm “quá mức” cho các khoản đầu tư. Đó chính là bản thân bạn.“Đầu tư càng nhiều càng tốt vào bản thân bạn. Vì bạn chính là tài sản lớn nhất, ” Warren Buffett nói.
Theo nhà đầu tư huyền thoại, chỉ khi bạn thực sự đầu tư vào bản thân, bạn mới có lợi nhuận một cách tốt nhất. Warren Buffett chia sẻ: “Bạn chỉ có một khối óc và một cơ thể. Chúng sẽ tồn tại cả cuộc đời này. Hiện tại, chúng vẫn còn có thể hoạt động tốt trong nhiều năm, nhưng nếu không được chăm sóc, chúng sẽ dần hỏng hóc như một chiếc xe sau 40 năm nữa.”
Một vài cách đơn giản để bồi bổ cho lý trí, cơ thể và tâm hồn là đọc sách, báo, nghĩ ra những ý tưởng mới; luyện tập thể dục, ăn thức ăn tốt, uống nhiều nước, ngủ ngon;cầu nguyện, hoặc đơn giản chỉ là đối xử tốt với người khác.
Hãy bắt đầu từ việc nhỏ: nghĩ ra một thói quen tích cực mà bạn có thể bắt đầu làm ngay từ hôm nay, và thực hiện nó. Sau đó, bạn làm lại việc đó một lần nữa vào ngày mai. Một khi đã nắm vững các thói quen, bạn sẽ tự nhiên thực hiện chúng mỗi ngày và cảm thấy tốt hơn.
 Một trong những bí mật lớn nhất trong thành công của Warren Buffett là ông không bao giờ ngừng học hỏi. Charlie Munger, Phó chủ tịch tập đoàn đầu tư Berkshire Hathaway của Warren Buffett từng nói về tỉ phú Buffett: “Warren Buffett đã trở thành một nhà đầu tư giỏi hơn rất nhiều, so với ngày mà tôi vừa gặp ông ấy, và cá nhân tôi cũng vậy. Nếu chúng tôi ngừng học hỏi ở bất cứ giai đoạn nào, kết quả chúng tôi đạt được có lẽ tệ hơn thế này nhiều. Vậy nên luật chơi ở đây là không ngừng học.”
Tham gia hội thảo, hội nghị, du lịch, gặp mặt đối tác, lắng nghe nhiều hơn, đặt câu hỏi và học trực tuyến là những cách học sau khi rời ghế nhà trường khá hiệu quả. Nhà đầu tư 85 tuổi có lần cho biết: “Tôi dành rất nhiều thời gian, gần như là mỗi ngày, chỉ để ngồi xuống và suy nghĩ. Đây là chuyện rất hiếm thấy trong giới kinh doanh Mỹ. Tôi đọc nhiều hơn và nghĩ nhiều hơn, để rồi ít ra quyết định chóng vánh hơn nhiều người trong giới doanh nhân. Tôi làm thế vì tôi thích kiểu cuộc sống này.” ( Thu Thảo, Lời khuyên đầu tư đắt giá nhất của Warren Buffett, Thanh Niên ).
Trong các lời khuyên của tỷ phú Warren Buffett, đáng chú ý hơn cả là bồi dưỡng tâm hồn bằng cầu nguyện và nhân ái, có nghĩa là sám hối, hòa giải, gần gũi với Chúa và thương yêu tha nhân. Chắc chắn đầu tư vào đây sẽ đem lại hiệu quả tuyệt vời nhất.
Với niềm hy vọng đó, Chúa Nhật hôm nay thường được gọi là Chúa Nhật Hồng, với áo lễ màu hồng của Linh mục chủ tế, kêu gọi: "Hãy vui lên ! Gaudete !” Khởi đầu, Ca Nhập Lễ hân hoan: “Hãy vui lên, tôi nhắc lại, anh em hãy vui mừng lên; vì Chúa đã đến gần.” Đấng Thiên sai sắp sửa đến với nhân loại, vì Lòng Thương Xót Chúa đã thứ tha những ai biết ăn năn, sám hối lỗi lầm ( Pl 4, 4-5 ).
Trong Tin Mừng hôm nay, dân chúng lũ lượt kéo nhau vào hoang địa, tìm nghe ngôn sứ Gioan Tiền Hô cảnh báo. Họ luân phiên hỏi phải làm gì để đáp ứng lời kêu gọi sám hối, xứng đáng chào đón Đấng Cứu Thế. Ngài trả lời hãy thực thi công lý và tình thương.
Công lý
Trả lời cho những người thu thuế và binh lính, vốn là hạng người bị dân Do Thái bấy giờ cho là tội lỗi, miệt thị và tẩy chay ra khỏi sinh hoạt tôn giáo thánh thiêng, ngôn sứ Gioan Tiền Hô không bảo họ từ bỏ nghề nghiệp, mà chỉ yêu cầu họ đổi mới tâm hồn, thay đổi thái độ, ứng xử, dứt khoát chừa bỏ thói xấu, :"Các ngươi đừng đòi gì quá mức đã ấn định cho các ngươi.“  "Đừng ức hiếp ai, đừng cáo gian ai; các ngươi hãy bằng lòng với số lương của mình."
 Hãy tôn trọng giữ đức công bằng, khôi phục công lý và sự thật. Hãy làm đúng vai trò, chức năng, vai trò giới hạn của mình, không gian tham, nhũng nhiễu, hối lộ, không lạm dụng chức quyền thủ lợi, không lộng hành quấy nhiễu, không vu oan cáo vạ, không ra tay đàn áp, bắt bớ, dọa nạt, hành hạ, hà hiếp dân chúng. Trái lại, cần sống đúng đắn bổn phận, quyền hành, làm tròn trách nhiệm đã lãnh nhận, cũng chính là vâng theo Thánh Ý Chúa.“Bổn phận là ý Chúa trong phút giây hiện tại” ( Đường Hy Vọng, số 17 ).
Không ai là một hòn đảo. Mỗi người mỗi hoàn cảnh, nghề nghiệp, chức vị, đều có thể liên đới sống với người khác thân thiện và tốt lành, nếu tôn trọng công bằng, công lý và sự thật. Nhưng lòng vị kỷ, tham lam, háo lợi, háo danh đã bất chấp công bằng, đạo đức, sẵn sàng chà đạp người khác, coi tha nhân là bậc thang tiến thân. Vì thế ngôn sứ Gioan Tiền Hô mới kêu gọi ai sám hối, hãy cố gắng canh tân tâm hồn, đổi mới nhận thức và hành động cụ thể.
Báo cáo mới đây của Ngân hàng Credit Suisse cho biết khoảng cách giàu - nghèo trên thế giới tiếp tục mở rộng, với 1% dân số giàu nhất sở hữu tổng tài sản lớn hơn tài sản của 50% dân số trên toàn cầu, theo như báo Wall Street Journal ngày 14-10-2015 đưa tin. Như thế, mức chênh lệch giàu nghèo quá lớn, ngẫu tượng tiền tài đã chiến thắng khải hoàn, công bằng đành phải đội nón ra đi.
Mặt khác, một phần ba lương thực cho cuộc sống bị phung phí và “lương thực bị bỏ đi, cũng là cướp từ bàn ăn của người nghèo” ( Đức Giáo Hoàng Phanxicô, Laudato Si, số 50 ). Sự công bằng chỉ có thể tái thiết lập, khi nhân loại tỉnh thức, biết nghe lời Ngôn Sứ Gioan Tiền Hô, nhân ái hào phóng nhường cơm sẻ áo cho những người thiếu thốn:"Ai có hai áo, hãy cho người không có; ai có của ăn, cũng hãy làm như vậy."
Tình thương
Tùy hạng người mà Ngôn Sứ Tiền Hô khuyên nhủ cải thiện phù hợp. Với người dân đã sống công bình, tôn trọng công lý, thì ngài khuyến khích bước thêm đường nhân đức: Quan tâm đến tha nhân, tìm hiểu nhu cầu của họ, bác ái, chia sẻ của cải vật chất lẫn tinh thần trong tình yêu thương vô vị lợi. “Cho thì có phúc hơn là nhận” ( Cv 20, 35 ).
Đức Giêsu mãi không ngừng kêu gọi mọi người hãy có lòng nhân ái, noi theo tấm gương Thiên Chúa luôn tràn đầy lòng thương xót, tình yêu thương quảng đại vô song. “Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng Nhân Từ” ( Lc 6, 36 ).
Hơn nữa, Người còn đòi hỏi cần độ lượng, khoan dung và yêu thương cả người thủ ác, thù địch. “Anh em hãy yêu kẻ thù, hãy làm ơn và cho vay mà chẳng hề hy vọng được đền trả. Như vậy, phần thưởng dành cho anh em sẽ lớn lao, và anh em sẽ là con Đấng Tối Cao, vì Người vẫn nhân hậu với cả phường vô ân và quân độc ác” ( Lc 6, 35 ).
Lòng nhân phải được biểu lộ cụ thể qua hành động chia sẻ, tương thân, tương ái, chứ không thể môi mép, đãi bôi, đạo đức giả. “Anh chị em hãy đồng tâm nhất trí, thông cảm với nhau, hãy yêu thương nhau như anh em, hãy ăn ở nhân hậu và khiêm tốn” ( 1Pr 3, 8 ). Bởi bác ái, lòng nhân chính là làm chứng nhân cho Đức Kitô giàu lòng thương xót, cũng như là một dấu chỉ rõ rệt cho tha nhân biết mình đích thực là tín hữu Kitô. “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy: là anh em có lòng yêu thương nhau” ( Ga 13, 35 ).
“Hãy yêu thương nhau không bằng lời nói, mà bằng việc làm. Hãy yêu thương nhau bằng tay mặt, mà tay trái không biết. “Hãy yêu thương nhau như Thầy yêu thương chúng con” ( Đường Hy Vọng, số 755 ).
"Vì ngươi sám hối trở lại, Chúa sẽ nhảy múa tưng bừng" ( Xp 3, 18a ). Ôi lạy Chúa vô cùng cao sang, nhân ái và khoan dung. Cả thiên cung thảy đều vui mừng khi thấy bất cứ ai ăn năn trở lại tình thương của Chúa. “Giữa triều thần Thiên Chúa, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối” ( Lc 15, 10 ). Xin Chúa ban hồng ân, mở lòng chúng con, biết khiêm nhường thống hối, chuẩn bị xứng đáng chào đón Chúa đến.
Kính xin Mẹ Maria, cầu bầu cho chúng con biết sám hối tội lỗi và sống trung thực Tin Mừng, qua hành động dấn thân, yêu thương an ủi, chia sẻ, giúp đỡ tha nhân, không những vật chất, tinh thần mà cả đến mạng sống chúng con. Amen.
AM. TRẦN BÌNH AN

 

MV3-C112: NIỀM VUI TIN MỪNG

Chúa Nhật 3 Mùa Vọng thường được gọi là Chúa Nhật của Niềm Vui. Lời kêu gọi "hãy vui lên" MV3-C112

Chúa Nhật 3 Mùa Vọng thường được gọi là Chúa Nhật của Niềm Vui. Lời kêu gọi "hãy vui lên" được lặp đi lặp lại trong các bài đọc. Đây là Niềm Vui trong Chúa, Niềm Vui có Chúa. Cuộc sống sẽ vui tươi hạnh phúc khi chúng ta có Chúa trong cuộc đời của mình. Niềm vui Tin Mừng tràn ngập tâm hồn và đời sống tất cả những ai gặp gỡ Chúa Giêsu. Những ai tiếp nhận đề xuất cứu rỗi của Người đều được giải thoát khỏi tội lỗi, buồn sầu, trống rỗng và cô đơn nội tâm. Với Chúa Kitô, niềm vui luôn luôn trổ sinh như mới”. ( x. Tông Huấn Niềm Vui Tin Mừng ).
Đức Thánh Cha Phanxicô luôn luôn thao thức đối với việc sống và rao giảng Tin Mừng. Trong buổi đọc Kinh Truyền Tin vào trưa Chúa Nhật 1.2.2015, ngài khích lệ các tín hữu hãy có thói quen hàng ngày đọc và suy niệm Lời Chúa để cho Lời Chúa biến đổi tâm hồn, cuộc sống của mình. Ngài mời gọi mọi người dám ra khỏi mình để đem Tin Mừng đến các vùng ngoại biên. Theo ngài, Niềm Vui chính là vẻ đẹp của Tin Mừng.
Niềm Vui Tin Mừng là Niềm Vui trong Chúa và có Chúa ở giữa chúng ta.
1. Niềm Vui trong Chúa
Chủ đề Phụng Vụ Chúa Nhật 3 là ‘Niềm Vui’. Bài đọc 1 và bài đọc 2, mời gọi Dân Chúa hãy vui lên. Vui vì Thiên Chúa sắp đến thực hiện Ơn Cứu Độ. Người đến để tha thứ, để hòa giải, để cứu thoát dân khỏi nô lệ tội lỗi và ma quỉ ( Bài đọc 1 ). Thánh Phaolô khẳng định niềm vui đó là niềm vui trong Chúa: “Anh em hãy vui luôn trong Chúa”. Niềm vui trong Chúa là niềm vui có được từ nơi Thiên Chúa. Hãy vui và vui luôn mãi trong Niềm Vui của Chúa. Niềm vui này không chỉ là một tình cảm, nhưng phát sinh những hoa trái cụ thể trong cuộc đời: sống hiền hòa rộng rãi với mọi người, không phải lo lắng gì cả, vì có gì thì cứ trình bày với Chúa, lòng trí luôn được bình an.
Niềm Vui là nét tiêu biểu của người Kitô hữu, là mong ước của mọi người. Sống ở đời ai cũng mong mình có được Niềm Vui sống và nỗ lực đi tìm Niềm Vui. Người Kitô hữu xác tín rằng, Niềm Vui đích thực chỉ có nơi Thiên Chúa. Một khi biết mình đã có Chúa thì mọi âu lo buồn phiền sẽ không còn. Càng khám phá ra sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc đời, càng gia tăng Niềm Vui Sống. Càng gặp gỡ Chúa trong cuộc sống, Niềm Vui Sống càng sâu sắc bền vững. Niềm Vui trong Chúa luôn là một niềm vui gia tăng sức mạnh cho tâm hồn trước những nghịch cảnh, đau khổ của kiếp người. Niềm Vui trong Chúa cũng là niềm vui biến đổi đau thương thành hạnh phúc. Niềm Vui trong Chúa giúp cho mỗi người có nghị lực vươn lên vượt qua nghịch cảnh. Đức Cha Bùi Tuần viết: “Niềm vui cần nhất và quý nhất là Niềm Vui có Chúa là Tin Mừng trong lòng mình”.
Là con người, ai cũng mơ ước và đi tìm Niềm Vui Sống. Ngày nay, có nhiều người mải miết tìm kiếm những thú vui xác thịt, thú vui thụ hưởng vật chất. Có những niềm vui mà sau đó người ta cảm thấy trống rỗng buồn phiền và chán nản. Có những niềm vui mà sau đó người ta mệt mỏi và thất vọng. Có những niềm vui mà sau đó người ta lo âu hối hận. Còn người Kitô hữu đi tìm niềm vui trong Chúa. Niềm vui này là dấu hiệu của bình an nội tâm, của sự hài lòng, của tự tín, là dấu hiệu cho thấy rằng người ta đang cảm thấy được an toàn, được đón nhận, được yêu mến. Một người Kitô hữu mà sống bi quan chán chường, thất vọng buông xuôi, ấy là dấu hiệu có điều gì đó không ổn về đức tin.
Niềm vui là dấu hiệu của hạnh phúc. Một tâm trạng an vui thường xuyên và sâu xa, niềm an vui không loại trừ gian nan, thử thách và đau khổ. Người Kitô hữu biết mình được thương yêu, được đón nhận và tha thứ. Họ biết mình đang tiến về đâu. Cái gì có thể làm cho họ sợ hãi ? Gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, chết chóc chăng ? Hay là ma quỉ, hay những sức mạnh vô hình nào chăng ? Hay là tội lỗi của ta chăng ? Thánh Phaolô trả lời khẳng khái: Không ! Tôi không sợ vì không có gì tách tôi ra khỏi tình yêu của Ðức Kitô được, trái lại trong tất cả những thử thách ấy, tôi toàn thắng nhờ Ðấng đã yêu mến tôi ( x. Rm 8, 35-38 ).
2. Niềm vui hoán cải
Để có được niềm vui trong Chúa, điều căn bản là phải tin tưởng gắn bó cuộc đời với Chúa, phải thực lòng yêu mến Người. Chính niềm tin và tình yêu dành cho Thiên Chúa thúc đẩy con người hoán cải khi lầm lỗi. Bài Tin Mừng hôm nay kể câu chuyện hoán cải tuyệt vời. Sau khi nghe lời kêu gọi sám hối của Gioan Tẩy Giả, nhiều người tỏ vẻ phục thiện, sẵn sàng cải đổi nếp sống sai lạc của mình. Phải làm gì để hoán cải. Phải làm gì để có hạnh phúc, có niềm vui ?
Nhiều người đến xin Gioan những lời khuyên thiết thực: "Chúng tôi phải làm gì đây ?" Tùy từng người mà Gioan khuyên bảo:
- Đối với dân chúng: “Ai có hai áo, hãy cho người không có, ai có của ăn cũng hãy làm như vậy”.
- Đối với người thu thuế: “Các ngươi đừng đòi gì quá mức đã ấn định cho các ngươi”.
- Đối với các quân nhân: “Đừng ức hiếp ai, đừng cáo gian ai, các ngươi hãy bằng lòng với số lương của mình”.
Gioan không có ý khuyên người ta phải bỏ việc đang làm nhưng ngài dạy họ phải làm việc thật tốt đúng với bổn phận đã được lãnh nhận, không những họ phải trở thành người biết yêu thương mà còn phải trở nên những người đáng mến và dễ thương. Câu trả lời của Gioan cho mỗi hạng người có một hành động khác nhau, nhưng tựu trung đều nhắm tới việc hoán cải. Ơn hoán cải hướng đến đời sống bác ái, công bằng với người khác. Ơn hoán cải mang lại niềm vui biết trao ban.
Có một cuộc đối thoại độc đáo giữa một người Tân Tòng và một người chưa có niềm tin như sau:
- Anh đã theo đạo Công giáo rồi sao ?... Vâng, nói đúng hơn là tôi theo Đức Kitô.
- Vậy xin hỏi anh, Ông Giêsu sinh ra ở quốc gia nào ?... Rất tiếc là tôi quên mất chi tiết này.
- Thế khi chết ông ta được bao nhiêu tuổi ?... Tôi cũng nhớ không rõ nên chẳng dám nói.
- Vậy ông ta đã thuyết giảng bao nhiêu bài ?... Tôi không biết.
- Quả thật anh biết quá ít, quá mơ hồ để có thể quả quyết là anh đã theo đạo...
- Anh nói đúng một phần. Tôi rất hổ thẹn vì mình đã biết quá ít về Đức Kitô. Thế nhưng điều mà tôi biết rất rõ là thế này: Ba năm trước tôi là một người nghiện rượu sáng say chiều xỉn, nợ lút đầu lút cổ, gia đình tôi xuống dốc trầm trọng, bao nhiêu của cải tôi đều nướng vào các cuộc men say tuý luý. Mỗi tối, khi trở về nhà, vợ con tôi đều tức giận, buồn tủi và xấu hổ. Thế mà bây giờ tôi đã dứt khoát bỏ rượu và đã cố gắng trả được hết nợ, gia đình tôi đã tìm lại được hạnh phúc. Vợ tôi, các con tôi ngóng trông và vui mừng đón đợi tôi sau khi tôi đi làm về. Những điều này, không ai khác hơn chính là Đức Kitô đã làm cho tôi và đó là tất cả những gì tôi biết về Người.
Niềm vui Thiên Chúa ban chỉ dành cho những ai đón nhận được ơn đổi đời. Từ một người hẹp hòi ích kỷ trở thành người quảng đại dấn thân, biết sống bác ái yêu thương mọi người. Từ một người lạm dụng quyền hành hà hiếp bạo lực trở nên người dễ mến đáng yêu, được mọi người kính trọng. Từ người cơ hội, tham lam thủ đoạn chiếm đoạt của cải người khác khiến họ phải oán giận nguyền rủa trở thành người biết sống công bằng. Ơn hoán cải và niềm vui được biến đổi sẽ là khởi đầu để người ta đón nhận Ơn Cứu Độ.
3. Niềm Vui Tin Mừng
"Tin Mừng có nghĩa là tin mang đến niềm vui. Tin Mừng luôn là một lời mời gọi con người sống vui tươi. Tin Mừng là một lời xác nhận cao cả cho giá trị của thế giới và giá trị của con người. Bởi vì Tin Mừng là chính sự mạc khải sự thật về Thiên Chúa. Thiên Chúa là nguồn mạch nguyên thủy của niềm vui và hy vọng cho con người” ( x. Bước qua ngưỡng cửa hy vọng ). Tin vào Tin Mừng của Chúa Giêsu, chúng ta luôn có niềm vui và hạnh phúc.
Niềm Vui Tin Mừng đến từ nội tâm. Mỗi ngày, người tín hữu tìm được Niềm Vui khi đến Nhà thờ, khi đi tham dự Thánh Lễ: “Tôi vui mừng khi người ta nói với tôi: ta hãy đi đến nhà Đức Chúa” ( Tv 122, 1 ).
Niềm Vui Tin Mừng vì được sống trong lòng Giáo Hội. Giáo Hội như người mẹ, ôm ấp và chở che mọi người, đón nhận và đỡ nâng tất cả: “Ngọt ngào tốt đẹp lắm thay, anh em được sống sum vầy bên nhau” ( Tv 133, 1 ).
Niềm Vui Tin Mừng nhờ sống phó thác vào Chúa. Còn gì phải lo lắng nếu chúng ta có Chúa dẫn đường ? Còn gì phải sợ hãi nếu chúng ta có Chúa là Đấng che chở ? Niềm phó thác nơi Chúa sẽ giúp chúng ta tự tin hơn trong cuộc sống: Lạy Chúa là Chúa Tể càn khôn, gặp được lời Chúa, con đã nuốt vào. Lời Chúa trở thành hoan lạc cho con, thành niềm vui của lòng con, vì con được mang danh Ngài ( Gr 15, 16 ).
Niềm Vui Tin Mừng đối với người tín hữu là sự bình an của một trẻ thơ trong vòng tay mẹ: “Như trẻ thơ nếp mình lòng mẹ, trong con, hồn lặng lẽ an vui” ( Tv 131, 2 ).
Niềm Vui Tin Mừng là được sống kết hợp mật thiết với Đức Kitô. Thánh Phaolô nhấn mạnh đến cách sống hiền hòa rộng rãi, yêu thương và sẵn sàng tha thứ. Để thực hiện được điều này, ngài tha thiết mời gọi phải khiêm nhường cầu khẩn và tạ ơn. Có như thế, bình an của Thiên Chúa mới giữ cho lòng trí của chúng ta được kết hợp với Đức Giêsu Kitô được.
Niềm Vui Tin Mừng là hoa trái của Chúa Thánh Thần. Được Thánh Thần tác động, Đức Giêsu hớn hở vui mừng và nói: “Lạy Cha là Chúa tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha” ( Mt 11, 25-26; Lc 10, 21 ).
Niềm Vui Tin Mừng còn là chia sẽ trao ban. Niềm vui được nhân lên khi chia sẻ. Đi từ trái tim đến trái tim, hoa trái của bác ái thật là dịu ngọt đối với cả người cho lẫn người nhận. Hoa trái dịu ngọt chính là hạnh phúc. Hạnh phúc là niềm vui. Khi người ta vui thì hạnh phúc. Khi người ta hạnh phúc thì người ta vui. Rất đơn sơ, thật dễ hiểu. Hạnh phúc là niềm vui của mỗi người và mọi người trong gia đình chung sống với nhau. Những niềm vui làm thành cuộc đời. Niềm vui làm cho mỗi tâm hồn trở nên ấm cúng.
Niềm Vui chỉ thực sự có khi có Tình Yêu. Khi không có tình yêu thì không có niềm vui thực sự. Và đặc biệt khi được Tình Yêu của Thiên Chúa tiếp sức, con người ta lúc nào cũng có thể rạng rỡ tươi cười, mặc dù có khó khăn mặc dù có đau khổ, gương mặt luôn biểu lộ hạnh phúc bởi vì lúc nào trái tim cũng dào dạt yêu thương.
Niềm Vui Tin Mừng không phải là niềm vui của những thành công, của những thanh thế, của những hoạt động. Càng không phải là niềm vui do có nhiều phương tiện vật chất và được nâng đỡ của xã hội. Niềm Vui Tin Mừng là có trong lòng mình chính Chúa Giêsu khiêm nhường tự hạ và yêu thương để cứu chuộc loài người. Niềm Vui Tin Mừng ấy là động lực chính khiến chúng ta can đảm làm chứng cho Chúa qua chính con người và cuộc sống của chúng ta. Con người chúng ta sẽ là con người hiền lành khiêm nhường đầy yêu thương tự hạ. Cuộc sống của chúng ta sẽ là cuộc sống hy sinh, phấn đấu, để được phục vụ như Chúa Hài nhi Giêsu và như Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên Thánh Giá.
Lễ Giáng Sinh, Lễ Tình Yêu Nhập Thể đang đến gần. Niềm Vui Giáng Sinh là niềm vui được thức tỉnh, sám hối và hoán cải để canh tân đời sống. Đó là niềm vui trong nội tâm và diễn tả qua đời sống luôn chu toàn bổn phận hằng ngày của mình, yêu thương phục vụ mọi người.
Lm. Giuse NGUYỄN HỮU AN

 

MV3-C113:  NÀO TA VUI LÊN

Vui lên” là chủ đề của Chúa Nhật thứ 3 Mùa Vọng. Hôm nay Phụng Vụ Giáo Hội đang màu tím MV3-C113

“Vui lên” là chủ đề của Chúa Nhật thứ 3 Mùa Vọng. Hôm nay Phụng Vụ Giáo Hội đang màu tím chuyển sang hồng thể hiện rõ nét của niềm vui, vui vì những gì đã đạt được trong chặng đường thứ nhất của Mùa Vọng, nay nghỉ một chút để nhìn lại chặng đường đã qua với niềm vui, và lấy thêm đà mới chuẩn bị mừng ( Chúa Giáng Sinh ), nên Giáo Hội mời gọi con cái mình “Gaudete – Hãy vui lên”.
Với lời thánh ca du dương phỏng theo lời của Thánh Phaolô: Anh em hãy vui lên trong niềm vui của Chúa. Vui như Ngôn Sứ Isaia nói: “Tôi hớn hở vui mừng trong Chúa, và lòng tôi hoan hỉ trong Chúa tôi” ( Is 61, 10 ). Lời nguyện nhập lễ hôm nay đưa chúng ta vào chính niềm vui thiêng thánh ấy: “Lạy Chúa, xin đoái xem, này dân Chúa đem tất cả niềm tin đợi chờ ngày lễ Sinh Nhật Đấng Cứu Thế. Xin hướng niềm vui chúng con về chính nguồn hoan lạc của mầu nhiệm Giáng Sinh cao cả để tâm hồn chúng con hoàn toàn đổi mới mà họp mừng ngày cứu độ đã gần kề” ( Lời nguyện nhập lễ CN 3 Mùa Vọng ).
Những lời trên làm tâm hồn chúng ta rạo rực hẳn lên, dẫn chúng ta bước vào mầu nhiệm của niềm vui Ơn Cứu Độ. Nghe những lời loan báo của Xôphônia chúng ta không thể không vui: “Hỡi thiếu nữ Sion, hãy cất tiếng ca ! Hỡi Israel, hãy hoan hỉ ! Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy hân hoan và nhảy mừng hết tâm hồn !” ( Xp 3, 14-15 ). Cũng sứ điệp của niềm vui, Thiên Thần chào Đức Maria: “Hỡi Bà đầy ơn phúc, hãy vui lên” ( Lc 1, 26 ). Lý do chính để thiếu nữ Sion vui là có: “Chúa là Thiên Chúa ngươi, là Đấng mạnh mẽ ở giữa ngươi, chính Người cứu thoát ngươi. Người hân hoan vui mừng vì ngươi. Người cảm động yêu thương ngươi, và vì ngươi, Người sung sướng reo mừng” ( Xp 3, 16-18 ).
Xôphônia muốn chúng ta phải vui mừng, không có lý do gì để thất vọng, nản chí, buồn sầu, dù tình trạng ta phải đương đầu có thế nào đi nữa, chúng ta chắc chắn về sự hiện diện của Chúa, nguyên sự hiện diện ấy cũng đủ để làm cho tâm hồn ta hân hoan.
Trong thư gửi tín hữu thành Philiphê, Thán