Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 4 MV-C Phần II Bài 51-100: Đức Mẹ thăm viếng bà Elisabeth

Thứ tư - 19/12/2018 10:40
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 4 MV-C Phần II Bài 51-100: Đức Mẹ thăm viếng bà Elisabeth
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 4 MV-C Phần II Bài 51-100: Đức Mẹ thăm viếng bà Elisabeth
MV 4-C Phần II Bài 51-100: Đức Mẹ thăm viếng bà Elisabeth
MV4-C51: ĐƯỢC DIỄM PHÚC VÌ BIẾT CỘNG TÁC VỚI THIÊN CHÚA.. 2
MV4-C52: DẤN THÂN.. 3
MV4-C53: CHÚA NHẬT IV MÙA VỌNG C.. 4
MV4-C54: CỘNG TÁC VÀO CHƯƠNG TRÌNH CỦA THIÊN CHÚA.. 6
MV4-C55: BƯỚC THEO MẸ.. 7
MV4-C56: HÒM BIA GIAO ỨƠC MỚI 9
MV4-C57: SỐNG ĐỨC TIN NHƯ MẸ MARIA.. 10
MV4-C58: CHO THÌ CÓ PHÚC HƠN NHẬN.. 13
MV4-C59: ĐEM BÌNH AN ĐẾN CHO MỌI NGƯỜI 16
MV4-C60: MẸ MARIA.. 19
MV4-C61: BUÔNG SÚNG.. 20
MV4-C62: CHÚA VIẾNG THĂM... 22
MV4-C63: PHÚC CHO EM VÌ ĐÃ TIN.. 25
MV4-C64: CHÂN DUNG ĐỨC MARIA.. 27
MV4-C65: CHÚA TỎ MÌNH RA.. 30
MV4-C66: TIN CÓ CHÚA Ở CÙNG.. 32
MV4-C67: HÃY ĐÓN NHẬN CHÚA.. 33
MV4-C68: CHÚA NHẬT IV MÙA VỌNG C.. 34
MV4-C69: Lên đường phục vụ nhân loại 38
MV4-C70: Gặp gỡ Chúa. 39
MV4-C71: Phúc Cho Người Nữ Ấy Đã Tin. 41
MV4-C72: Chúa Nhật IV mùa Vọng. 42
MV4-C73: Chúa Nhật IV mùa Vọng. 44
MV4-C74: MARIA KẺ ĐÃ TIN.. 48
MV4-C75: Chúa Nhật IV Mùa Vọng. 50
MV4-C76: GẶP GỠ.. 54
MV4-C77: CHÚA NHẬT IV MÙA VỌNG.. 57
MV4-C78: “Đức Maria, hòm bia Thiên Chúa ”. 60
MV4-C79: ĐEM CHÚA ĐẾN.. 62
MV4-C80: CHÚA ĐẾN.. 64
MV4-C81: "Bởi đâu tôi được Mẹ Thiên Chúa đến viếng thăm tôi". 65
MV4-C82: CHỦ NHẬT IV MÙA VỌNG - NĂM C, 2000. 67
MV4-C83:  ĐỨC MARIA THĂM BÀ ÊLISABÉT.. 68
MV4-C84: MẸ MARIA, NHÀ THỪA SAI ĐẶC BIỆT.. 72
MV4-C85: DẤU ẤN PHỤC VỤ.. 74
MV4-C86: PHẦN MỀM ĐÁNG NGUYỀN RỦA.. 76
MV4-C87:  CUỘC HẠNH NGỘ.. 79
MV4-C88: BAO MÙA GIÁNG SINH…... 82
MV4-C89:  THÔNG ĐIỆP GIÁNG SINH.. 84
MV4-C90:  Thiên Chúa không ngừng tìm kiếm con người 86
MV4-C91: Con lòng Bà. 88
MV4-C92: MẸ MARIA VỘI VÃ LÊN ĐƯỜNG.. 89
MV4-C93: HẠNH PHÚC TÍN THÁC.. 92
MV4-C94: NIỀM VUI VIẾNG THĂM... 96
MV4-C95: MẸ MARIA VỘI VÃ LÊN ĐƯỜNG.. 99
MV4-C96: MỞ RỘNG TÂM HỒN ĐÓN CHÚA GIÁNG SINH.. 101
MV4-C97:  NIỀM VUI CỦA SỰ GẶP GỠ (Lc 1, 39- 45) 103
MV4-C98:CHÚA NHẬT IV MÙA VỌNG C.. 105
MV4-C99: CHÚA NHẬT IV MÙA VỌNG.. 112
MV4-C100: ƠN PHÚC CỦA NHỮNG KẺ TIN. 114

 

MV4-C51: ĐƯỢC DIỄM PHÚC VÌ BIẾT CỘNG TÁC VỚI THIÊN CHÚA

Lc 1, 39 – 45
 

Quan niệm thông thường ở đời, người có phúc là người có nhiều tiền, có nhiều của cải, được: MV4-C51

Quan niệm thông thường ở đời, người có phúc là người có nhiều tiền, có nhiều của cải, được nhiều người thương mến và kính trọng...Dầu vậy, những điều phúc này có giới hạn và có thời gian của nó. Vì những điều phúc này chỉ với cái nhìn của con người.
Cùng với Giáo Hội chúng ta bước sang Chúa nhật cuối cùng của Mùa vọng năm nay. Lời Chúa trong Tin mừng hôm nay giới thiệu cho chúng ta một mẫu người có phúc theo cái nhìn của Thiên Chúa - cái nhìn của đức tin. “Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em.” (Lc 1, 45). Ðây là lời chào của Bà Isave với Ðức Maria. Chắc chắn, nhờ sự soi sáng của Chúa Thánh Thần nên Bà Isave mới thốt lên được lời chào đầy ý nghĩa đức tin này.
Ðức Maria là người giữ vai trò quan trọng không thể thiếu được trong lịch sử cứu độ. Bởi Mẹ đã hết lòng quảng đại trong tin tưởng để cộng tác với Thiên Chúa trong việc đem ơn cứu độ đến cho toàn thể nhân loại. Do đó, Mẹ quả thật là người diễm phúc không chỉ giữa những người phụ nữ và giữa hết mọi người.
Thiên Chúa có dư khả năng để cứu độ con người nhưng Người không bao giờ thực hiện một mình. Ngài luôn cần có sự cộng tác của con người. Dù rằng sự cộng tác ấy rất nhỏ nhoi chẳng mấy xứng đáng. Cho nên Thánh Augustino đã nói một câu bất hủ: “Ðể sinh ra con thì Chúa không cần hỏi ý kiến của con. Nhưng để cứu độ con Chúa cần phải hỏi ý kiến của con”
Không còn bao lâu nữa cùng với toàn thể Giáo Hội chúng ta mừng Ðại Lễ Giáng Sinh - tưởng niệm việc Con Thiên Chúa xuống thế làm người đem ơn cứu chuộc đến cho nhân loại. Nhờ sự cộng tác tích cực của Ðức Maria mà Con Thiên Chúa đã được sinh ra. Mỗi người chúng ta cũng được kêu mời cộng tác với Thiên Chúa để Hài Nhi Giêsu được sinh ra trong lòng mình cũng như trong gia đình và trong họ đạo chúng ta. Có Chúa Giêsu ở trong và ở với ta thì điều phúc ấy mới bền vững và chắc chắn.

 

MV4-C52: DẤN THÂN

Lc 1, 39-45
 

Chúa nhật III Mùa vọng, lời Chúa giới thiệu cho chúng ta chân dung Gioan Tiền Hô với lời mời : MV4-C52

Chúa nhật III Mùa vọng, lời Chúa giới thiệu cho chúng ta chân dung Gioan Tiền Hô với lời mời gọi tha thiết hãy thay đổi. Hôm nay, Chúa Nhật IV , Giáo hội mời gọi chúng ta hướng về Mẹ Maria với sứ điệp phụng vụ: Hãy dấn thân.
Bước chân đời thường
Tôi quan sát một người nông dân ra đồng để thăm ruộng lúa. Tôi bắt gặp một người ra siêu thị mua thức ăn cho bửa cơm của gia đình. Tôi gặp anh công nhân đến xưởng hằng ngày. Tôi cũng thường thấy rất nhiều khuôn mặt thân quen hằng ngày đi qua con phố trước nhà; đó là các em học sinh dến trường để trao dồi tri thức. Tất cả đều đi trong vội vả, họ đi một cách vô ý thức vì bước chân đã trở thành quán tính. Họ đi để hoàn tất phận vụ của cuộc đời mình. Tôi hiểu, nhưng tôi tự hỏi lòng mình. Trong những bước chân vội vã ấy, có được bao nhiêu bước chân đang tiến về phía trước vì lòng nhân ái?
Bước chân tin Mừng.
Đoạn Tin Mừng hôm nay, ai trong chúng ta cũng nhận ra bước chân của Đức Maria, bước chân của đức ái. Chúng ta cùng xem lại hành trình của Mẹ: Một hành trình dài của một người nữ có thể xem là chân yếu tay mềm, mà lại đang mang thai nữa. Mẹ phải đi trên con đường đồi núi, một quãng đường xa. Chắc chắn là rất khó nhọc, nhưng mẹ đi rất vội vàng, tình trạng xem ra cấp thiết. Thánh Luca muốn gửi cho cúng ta một thông điệp: Chúa đến, hãy đón nhận Chúa và cất bước lên đường vì nhu cầu của tha nhân. Chăm chú nhìn đôi chân của Mẹ, tôi đã thấy Mẹ bước ra khỏi Tin Mừng để đến với con người, phục vụ cho con người. Còn chúng ta, chúng ta đang sống giữa cuộc đời, chúng ta có dám lên đường vì ích lợi của người khác?
Bước chân của Kitô hữu.
Hôm nay, lúc này tôi đang tham dự thánh lễ chúa Nhật thứ IV Mùa Vọng. Như Đức Maria tôi được nhận một biến cố truyền tin quan trọng trong đời. Lời Chúa là sứ điệp truyền tin. Rước Chúa vào lòng là đón nhận Ngôi Lời nhập thể. Chúa đến với tôi, muốn tôi thực hiện một sứ vụ giống như Mẹ. Chúa không muốn tôi giữ Chúa cách kiên cố trong cõi lòng mình. Từ nơi tôi Chúa muốn đến với người mẹ già mà tôi bất kính, người phối ngẫu mà tôi không còn có thể yêu thương, người hàng xóm mà tôi vừa gây một mối bất hoà, người nghèo khổ mà tôi lạnh nhạt, hửng hờ. Chúa muốn tôi giống Mẹ Maria bước chân ra khỏi những trang sách Tin Mừng, ra khỏi nhà thờ sau khi tham dự thánh lễ Chúa Nhật để đến với tha nhân, dấn thân trong việc bác ái.
Thánh Luca cho ta hay sau lời chào của Bà Elizbeth, Mẹ Maria hân hoan trong lòng, cất lời Magnificat ca tụng Thiên Chúa. Hãy theo gương Mẹ, hãy làm một việc bác ái cụ thể nào đó một cách có ý thức. Tôi chắc rằng bạn cũng sẽ nhận được niềm vui thiêng liêng tuyệt vời.
Chúc bạn có được một màu Giáng Sinh với nhiều niềm vui: vui trong chúa và vui với tha nhân.  

 

MV4-C53: CHÚA NHẬT IV MÙA VỌNG C

Lc 1, 39 – 45
 

Trong Mùa Vọng, Giáo Hội mời gọi chúng ta chiêm ngắm những gương mẫu sống đức tin, đón: MV4-C53

Trong Mùa Vọng, Giáo Hội mời gọi chúng ta chiêm ngắm những gương mẫu sống đức tin, đón chờ Chúa đến và sống niềm trông chờ đó, đó là Gioan Tiền Hô và Đức Maria,…Trong Chúa nhật thứ tư này, Giáo hội mời chúng ta chiêm ngắm và học hỏi sứ điệp sống yêu thương nơi Đức Mẹ
Sau biến cố truyền tin, được biết về chị họ Ysave son sẻ mà đang cưu mang Gioan Tiền Hô, Mẹ Maria mau mắn lên đường thăm chị họ. Mẹ không nghi ngờ lời sứ thần, cũng không phải để kiểm chứng lời sứ thần. Mẹ ra đi trong niềm vui, trong niềm tin tưởng, niềm phấn khởi lạc quan. Hơn nữa, Mẹ không ngại khó khăn đường xa đến thăm chị vì Mẹ muốn đến chung vui với chị họ, Vả lại Mẹ còn biết người chị họ cần sự giúp đỡ trong thời gian này. Thái độ mau mắn, không quản ngại đường xa của Mẹ Maria giúp chúng ta nhìn ra tâm hồn bác ái bén nhạy nơi Mẹ trước những nhu cầu của người khác. Mẹ đã thể hiện tình yêu bằng việc ra đi trong thái độ mau mắn. Sự hiện diện của Mẹ không chỉ hạn hẹp trong những giúp đỡ phần xác nhưng còn mang lại hoa trái thiêng liêng: Chị họ Isave ngập tràn niềm vui trong Thánh Thần. Còn trẻ Gioan thì nhảy mừng vui ngay trong lòng mẹ: Bởi đâu tôi được Mẹ Thiên Chúa đến viếng thăm…Tâm hồn bác ái bao la của Mẹ, thật xứng đáng là ngai tòa cho Con Thiên Chúa ngự đến.
Khi nhìn lại mẫu gương quảng đại của Mẹ Maria, chúng ta rút ra cho mình những bài học.
Thứ nhật do chúng ta chưa yêu người đủ. Chưa yêu tha nhân thì không thể đến với tha nhân. Trong điều kiện ngày nay, chúng ta có thể đi được nhiều nơi, gặp gỡ được nhiều người, nhưng chúng ta còn ngại đến với tha nhân. Có biết bao nhiều người đang nghèo đói… chung quanh chúng ta. Vì chúng ta chưa chịu đến với họ do chúng ta chưa nhận ra sự nghèo khổ của cõi lòng mình nên không dám tiếp xúc, đến gần những người nghèo khổ chung quanh chúng ta, họ đói rách, thiếu ăn, thiếu mặc hay ngay cả những người đang đói khát niềm tin, chân lý, sự thiện,…để biết góp phần từng giải quyết những bế tắc của anh em và đem lại cho những người chúng ta gặp gỡ niềm tin tưởng và niềm hy vọng để vui sống.
Thứ hai chúng ta chưa yêu người cho đủ. Bởi vì yêu là liễu lĩnh, không tính toán, là quên mình phục vụ anh em để tình yêu được triển nở, được có cơ hội thăng tiến. Từ đó chúng ta có đủ can đảm để biết mạnh dạn yêu thương, sẳn sàng tha thứ và biết chấp nhận sự thiệt thòi vì mình muốn cho đi, mình muốn tha nhân được lợi ích của sự hy sinh và trao ban.
Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta có biết bao cơ hội để đón nhận và trao ban. Khi chúng ta tra ban tình yêu,cử chỉ bác ái, yêu thương hay hành động giúp đỡ tha nhân, nghĩ tốt, nói tốt cho người khác là chúng ta đón nhận chính nó, đón nhận chính điều chúng ta trao ban. Thiên Chúa mãi mãi vẫn ở bên trên, xa lạ đối với chính mình bởi vì chính chúng ta chưa thể hiện tình yêu thương và như thế chúng ta cũng chẳng cảm nhận được sự yêu thương.
Lạy Chúa, đã bao mùa vọng đến và qua đi nhưng lòng chúng con vẫn thấy lạnh lẽo. Thực ra trong quỹ đạo yêu thương của Chúa không ai bị loại trừ vì Con Thiên Chúa đến làm người để chúng con được trở nên người hơn, nên con cái của Chúa trong sự yêu thương và biết hành động bác ái, biết quảng đại và can đảm dấn thân sống cho tình yêu để sống hạnh phúc.
Xin cho chúng con biết noi gương Đức Maria, đong đầy tâm hồn bằng sự thánh thiện, ân sủng, biết mở lòng đến với người khác như Mẹ. Chỉ như thế, con đường của tâm hồn chúng con mới xứng đáng cho Chúa ngự đến trong mùa Giáng Sinh này, đem cho chúng ta nguồn bình an, hạnh phúc thật sự.

 

MV4-C54: CỘNG TÁC VÀO CHƯƠNG TRÌNH CỦA THIÊN CHÚA

Lc 1, 39 – 45
 

Một linh mục được giáo dân mời dự tiệc tại nhà. Trong suốt bữa tiệc, ngoài tiếng nói cười của: MV4-C54

Một linh mục được giáo dân mời dự tiệc tại nhà.
Trong suốt bữa tiệc, ngoài tiếng nói cười của khách, linh mục thắc mắc mãi vì có tiếng nước chảy róc rách trong nhà đâu đó. Vì là lần đầu đến nhà này, nên ngài không biết nước đó từ đâu chảy, hay là hồ nước trong nhà bị thủng. . .
Sau cùng, không thể giữ thắc mắc mãi, ngài hỏi người giúp bàn. Và người này lịch sự đáp: cách đây khoảng 40 năm, khi người ta đào móng xây nhà này, tình cờ họ khám phá mạch nước ngầm, và đó là tiếng nước chảy từ mạch nước.
Nghe nói thế, vị linh mục ngẫm nghĩ: chính nhờ mạch nước đó mà gia đình giáo dân này khá giả và ngoan đạo. (x. LMTV, Minh Họa Lời Chúa, Tập 1, tr. 63)
Nhờ mạch nước ngầm đó mà gia đình này giáo dân được sung túc. Ðiều đó làm chúng ta nghĩ ngay đến lời sứ thần chào Đức Maria khi truyền tin: kính chào Bà, Bà đầy ơn sủng, Thiên Chúa ở cùng Bà.
Mẹ Maria đón nhận đầy tràn ân sủng của Thiên Chúa, Mẹ là mạch suối bắt nguồn từ Thiên Chúa đem lại niềm vui và hạnh phúc cho những ai năng chạy đến với Mẹ để Mẹ dẫn đưa đến cùng Chúa. Vì hồng phúc, và niềm vui thánh thiện Chúa ban trong tâm hồn Mẹ mà Mẹ vui mừng, muốn được chia sẻ, muốn cao rao danh Chúa cho người khác. Vì lòng kính mến Chúa và yêu thương tha nhân tràn đầy mà Mẹ đã đến với bà Isave để giúp đỡ bà trong những ngày thai nghén.
Ðiều này cho thấy, những ai kính mến Chúa, biết mở lòng ra đón Chúa, biết cộng tác với chương trình yêu thương của Thiên Chúa thì cũng biết yêu thương tha nhân và sẵn sàng phục vụ cho lợi ích của tha nhân trong tâm tình yêu mến Chúa.
Rõ ràng, Ðức Mẹ đem Chúa đến thăm gia đình bà Isave là đem nguồn hạnh phúc đến cho gia đình Isave, khi đó, bà Isave được đầy tràn ơn Chúa Thánh Thần đã kêu lớn tiếng, ca khen Ðức Maria mà cũng là lời chúc tụng Thiên Chúa giàu lòng thương xót. Nhờ Mẹ Maria đem Chúa đến gia đình Isave mà gia đình bà càng được chúc phúc hơn, thánh Gioan Tẩy Giả có lẽ được ơn đặc biệt ngay lúc đó nên biết nhảy mừng Ðấng Cứu Thế lúc còn trong dạ Mẹ. Chính Mẹ là mạch suối nước đem đến niềm vui thánh thiện cho gia đình Giacaria, để rồi khi nhận được hồng ân của Thiên Chúa ban qua Mẹ Maria, gia đình Giacaria biết hy sinh cho Chúa, sẵn sàng dâng đứa con duy nhất của mình cho chương trình của Thiên Chúa. Chính thánh Gioan Tẩy Giả khi lớn lên đã vào tu trong hoang địa, ăn châu chấu và uống mật ong rừng, để rồi khi đến thời Chúa định thì xuất thế, rao giảng, kêu gọi người ta ăn năn, chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để chuẩn bị tâm hồn đón Chúa Giêsu Cứu Thế ngự đến.
Thánh Gioan Tẩy Giả đã biết đáp trả hồng ân Chúa ban cho mình và đã làm chứng cho Chúa tới cùng: chịu chết vì chân lý và nêu gương yêu kính Chúa cho mọi người.
Hôm nay, mỗi người chúng ta cũng được ban đầy hồng ân qua Bí Tích: Rửa Tội, Thêm Sức, Giải Tội… và được rước Chúa vào nhà thường xuyên, chúng ta có biết nhảy mừng đón Chúa như thánh Gioan Tẩy Giả, có biết đem Chúa đến cho mọi người xung quanh để họ cũng được niềm vui, cũng nhận được sự phục vụ của chúng ta. Nhờ vậy, họ nhận ra tình thương Chúa, được chia sẻ cùng một niềm tin với chúng ta và được phần phúc Chúa đã hứa ban cho tất cả những ai tin giữ lời Người.
Xin Chúa cho mỗi người chúng ta biết bắt chước Ðức Mẹ đem Chúa đến cho mọi người và biết phục vụ mọi người theo ơn soi dẫn của Chúa Thánh Thần. Amen

 

MV4-C55: BƯỚC THEO MẸ

Lc 1,39-45
 

Người ta thường nói mùa vọng là mùa của Đức Trinh Nữ Maria điều đó thật chí lý. Nếu G.B và : MV4-C55

Người ta thường nói mùa vọng là mùa của Đức Trinh Nữ Maria điều đó thật chí lý. Nếu G.B và Isaia gương mẫu cho ta trong mùa vọng thì Đức Maria sẽ là gương mẫu tuyệt hảo hơn nữa. Mẹ không chỉ là người dọn đường mà còn là một nhân vật cần thiết cho việc nhập thể theo chương trình của Thiên Chúa an bài. Ta có thể nói được rằng, Giáo Hội tìm thấy nơi Đức Maria thái độ thiêng liêng để cử hành và sống các mầu nhiệm, đặc biệt là mầu nhiệm nhập thể. Vì Đức Maria là mẫu gương biết lắng nghe Lời Chúa và rao giảng lời Người.
1. Lắng nghe lời Chúa với niềm tin mãnh liệt
Có thể tóm lại cuộc đời Đức Mẹ với hai chữ “Fiat”. Nhưng để đạt được hai chữ này cách trọn vẹn, đòi hỏi nơi Đức Maria niềm tin mãnh liệt. Tương tự thời Cựu Ước tổ phụ Áp-ra-ham muốn có một dân tộc đông như sao trên trời, như cát bãi biển, có miền đất hứa làm gia nghiệp thì cũng phải có niềm tin. Đức tin là điều kiện cần, vì nó vừa là khởi điểm vừa là con đường đưa Đức Maria tới địa vị làm Mẹ Thiên Chúa, bởi vì theo lời thánh Augustinô “Đấng mà Mẹ Maria sinh hạ trong đức tin, cũng là Đấng Ngài cưu mang trong đức tin nữa”. Với một niềm tin sâu xa Mẹ đã đáp lại lời sứ thần Gabriel rằng “Đây tôi là nữ tỳ của Chúa xin làm cho tôi như lời sứ thần đã nói”. Thế là từ đấy người nữ tỳ Maria hiển nhiên trở thành Mẹ Thiên Chúa. Nếu nhìn thân sâu hơn, ta thấy Đức Maria đã cưu mang Chúa bằng đức tin nơi tâm hồn trước khi cưu mang thân xác Ngài trong lòng dạ mình bởi quyền năng Chúa Thánh Thần. Chính vì đức tin đó mà Mẹ được gọi là diễm phúc “Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em”. Như vậy nhờ đức tin, Maria đã đóng vai trò chủ động và chứng nhân trong cuộc nhập thể. Hơn nữa, Đức Maria còn ghi sâu những việc xảy ra để suy niệm trong lòng. Mùa vọng là mùa trông chờ Chúa đến, thì Đức Maria là gương mẫu tuyệt vời, Mẹ đã tiếp nhận Chúa, tin tưởng và phó thác. Ước gì mỗi người chúng ta cũng có tấm trạng như Đức Maria trong mùa vọng này, và tin nhận những lời Chúa hứa đã và đang thực hiện ngay trong đời của mình.
2. Con người truyền giáo
Việc Mẹ Maria lên đường thăm người chị họ là điều rất tự nhiên, và cũng muốn giúp đỡ người chị họ trong lúc sinh nở là điều bình thường. Nhưng đàng sau cái bình thường đó là cả một sự phi thường, một sáng kiến và quyết định cá nhân có sự hướng dẫn của Thánh Thần. Chỉ cần một lời tiên báo của Sứ Thần cộng với ơn thánh đã thúc đẩy Mẹ đem Chúa đến cho người khác. Đặc biệt bài phúc âm nói đến hai từ “vội vã” để nói lên một hành động cấp bách và dứt khoát. Một khi đã ưng thuận Thánh Ý Chúa, vâng theo tiếng gọi của Ngài, thì không được chậm trễ và nặng nề, nhưng vui vẻ và lạnh lẹ. Qua Bí Tích Rửa Tội mỗi người chúng ta cũng có trách nhiệm đem Chúa đến cho người khác. Con đường truyền giáo cần những con người nhiệt thành, với những bước chân nhanh nhẹn và một tinh thần cởi mở, dầu trên con đường có nhiều khó khăn.
Việc Mẹ là một thiếu nữ trẻ tự ý làm một cuộc hành trình dài 3 ngày đường, rồi còn ở lại đó mấy tháng trời xa nhà, hẳn phải là một cái gì đó gây kinh ngạc cho người Do Thái thời đó, và có thể bị coi là quá đáng. Nhưng Đức Maria đã bất chấp tất cả, những cái nhìn phàm trần đó một khi đã muốn thực hiện Thánh Ý Chúa. Ngày nay những cái nhìn khó chịu, những lời nói mỉa mai, những hành động khiu khích…. Cũng nhan nhãn nhằm chống đối những con người truyền giáo. Vì thế chúng ta hãy học theo mẫu gương Mẹ Maria chấp nhận tất cả, cũng như Mẹ ngày xưa cũng phải chịu rất nhiều đau khổ khi chấp nhận thi hành Thánh Ý Chúa. Vì khi bước theo Chúa chính là chấp nhận vác thánh giá với Người. Mỗi người đều được Chúa mời gọi và đều được Chúa ban cho Thánh Giá, tùy vào hoàn cảnh tùy vào khả năng. Nhưng điều quan trọng là phải biết thưa “Xin vâng” và thì hành với tinh thần “Vội vã” lên đường như Đức Maria hôm nay, để cùng đem Chúa đến cho người khác trong Mùa vọng này.
Lạy Chúa, ngày nay có rất nhiều người chỉ biết hưởng thụ, mà không biết phục vụ, chỉ nhận mà không biết cho. Xin cho mỗi người chúng con biết rằng mình đã nhận rất nhiều nơi Chúa. Đặc biệt là chính Chúa để chúng con cũng biết đem Chúa đến cho người khác . Amen
 

MV4-C56: HÒM BIA GIAO ỨƠC MỚI

Lc 1,39 - 4
 

Bà Isave nói: “Em là người có phúc nhất trong giới phụ nữ, và con em đang cưu mang cũng thật: MV4-C56

Bà Isave nói: “Em là người có phúc nhất trong giới phụ nữ, và con em đang cưu mang cũng thật hạnh phúc. Bởi đâu tôi được Mẹ Chúa đến viếng thăm?” (Lc 3, 10)
Vua David khi chiếm được thành Giêrusalem, đã sai người đi rước Hòm Bia Giao Ước về trên một cổ xe do bò kéo. Khi tới sân lúa, bò trược chân, Hòm Bia bị nghiêng. Ông Utda vội đưa tay đỡ lấy, bị phạt chết vì ông không phải là tư tế. David nghe tin, sợ không dám đem Hòm Bia về Giêrusalem, mà phải gởi lại ở nhà Obed Êdom. Chúa đã chúc phúc cho ông và cả nhà. Hòm Bia đã ở lại đây ba tháng (2 Sam 6, 10). Câu chuyện bài Tin Mừng chúa nhật hôm nay, cũng là câu chuyện gần như song song với chuyện trên. Kính mời anh chị em cùng suy niệm.
a. Hai câu chuyện này cho ta thấy có những nét song song khá rõ rệt:
1. Cả Hòm Bia Giao Ước và Mẹ Maria, đều tiến về Giêrusalem.
2. Hòm Bia đã lưu lại tại nhà ông Obed Êdom trong ba tháng. Mẹ Maria cũng ở lại nhà Bà Isave ba tháng để giúp đỡ gia đình này.
3. Ông Obed vả cả nhà được chúc phúc. Nhà Bà Isave cũng thế: ông Zacaria hết câm khi thánh Gioan sinh ra – thánh Gioan nhảy mừng trong bụng mẹ và được khỏi tội tổ tông khi nghe lời Mẹ Maria chào – Bà Isave được tràn đầy hạnh phúc. Rõ ràng, thánh Luca muốn so sánh Mẹ Maria như là Hòm Bia giao Ước mới.
b. Hòm Bia giao Ước mới: Thánh Luca muốn nói Mẹ Maria chính là Hòm Bia mới mang Chúa Giêsu đến trong nhà Bà Isave, vì thế cả nhà nầy được chúc phúc. Mẹ Maria nếu muốn mang Chúa đến cho gia đình Bà Isave, chính vì Mẹ có Chúa ở trong mình; điều này chính là điểm căn bản Hội thánh muôn nói cho chúng ta trong chúa nhật thứ IV Mùa Vọng, chúa nhật cận kề lễ Giáng Sinh. Nói một cách khác, kinh thánh muốn xác nhận cho chúng ta; Mẹ Maria chính là Hòm Bia Giao Ước mới, đã cưu mang Con Thiên Chúa trong mình, đã sinh ra Đấng Cứu thế, Mẹ chính là Mẹ Thiên Chúa, Đấng đồng công cứu chuộc trong công trình rổi nhân loại. Đồng thời, kinh thánh cũng muốn nói: Mẹ Maria khi đi thăm Bà Isave, đã đem Chúa đến cho gia đình này; mà Chúa Giêsu, Con Mẹ, chính là nguồn ơn phúc, nên hiển nhiên gia đình này được chúc phúc. Thực ra, khi Mẹ thưa lời: “ Xin vâng”, đó chính là Mẹ đã sẵn sàng mang Chúa Giêsu trong mình, đồng thời Mẹ cũng sẵn sàng mang Chúa đến không chỉ cho gia đình Bà Isave, mà còn cho cả nhân loại nữa…
c. Gợi ý sống và chia sẻ:
1. Qua câu chuyện hôm nay cho ta thấy, Mẹ Maria và Chúa Giêsu, mỗi khi đến đâu, đều cũng là đem hạnh phúc đến cho nơi đó. Mẹ đến thăm Bà Isave, đã đem đem lại hạnh phúc cho thánh Gioan, nhờ đó ông khỏi tội tổ tông ngay trong bụng mẹ. Chúa Giêsu và Mẹ Maria là thế, còn phần chúng ta thì sao? Mỗi lần ta đến với người khác, có phài là một lần ta đem Chúa đến với họ không?
2. Mẹ Maria ở lại với Bà Isave độ 3 tháng, để giúp đở. Chúa Giêsu cũng nói: “Ta đến là để phục vụ, chứ không phải để được phục vụ…” Mẹ Maria và Chúa Giêsu đã sống phục vụ như thế. Còn ta thì sao? Ta có đến là để phục vụ người khác không?
3. Chúa Giêsu đã có mặt trong lần Mẹ Maria đi thăm Bà Isave. Chúa cũng có mặt trong lễ giáng sinh năm nay. Ngài cũng có mặt trong các Bí tích mỗi khi ta lãnh nhận, khi ta rước lễ, khi ta mở tâm hồn mình ra đón Ngài. Thực ra, ta có gặp được Chúa trong cuộc sống của ta chưa?
 

MV4-C57: SỐNG ĐỨC TIN NHƯ MẸ MARIA

Lc 1: 39-45
 

Trong cuộc sống, ai trong chúng ta cũng đã hơn một lần thăm viếng người khác. Và cũng được: MV4-C57:

Trong cuộc sống, ai trong chúng ta cũng đã hơn một lần thăm viếng người khác. Và cũng được người khác viếng thăm. Mỗi lần thăm viếng là một dịp để chúng ta chia sẻ với nhau về niềm vui hay nỗi buồn của cuộc sống. Như thế,  trong từng cuộc thăm viếng, chúng ta muốn thể hiện tình yêu và sự quan tâm dành cho nhau.
Phụng vụ hôm nay trình bày cho chúng ta sự gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người qua sự gặp gỡ hữu hình giữa Chúa Giêsu trong lòng Đức Trinh Nữ Maria và Gioan Tẩy Giả trong lòng bà Elisabeth. Thật vậy, nhận được tin người chị họ là Elizabeth, tuy đã già và mang tiếng là son sẻ, nhưng đã cưu mang được 6 tháng, Mẹ quyết định đi thăm gia đình người chị họ. Mẹ Maria đã vội vã lên đường. Mẹ sẵn sàng cho cuộc thăm viếng. Mẹ đã lên đường để chia sẻ niềm vui với gia đình bà chị họ, Mẹ chia sẻ niềm vui vì có Chúa ngự trong lòng mình. Đồng thời Mẹ cũng muốn san sẻ sự vất vả của người lớn tuổi đang cưu mang. Vì thế, sau khi được truyền tin, Mẹ vội vã lên đường thực hiện một cuộc hành trình dài theo các chuyên gia chú giải nói nó có thể lên đến 150 cây số. Một đoạn đường không mấy ít ỏi và đây  không là chuyến đi dễ dàng! Làm sao tránh khỏi những nguy hiểm, vất vả và mệt nhọc. Nhưng chính tình yêu đã thúc bách Mẹ lên đường. Tình yêu làm cho Mẹ quên mình, quên những hiểm nguy vất vả để chỉ quan tâm đến người khác. Sau đó, Mẹ đã ở lại nhà bà Elizabeth trong một thời gian ba tháng. Như thế, Mẹ Maria đã thể hiện một tình yêu cao độ: dâng hiến chính mình để Thiên Chúa tự do thực hiện chương trình cứu chuộc của Ngài:  "Này tôi là nữ tỳ của Chúa, xin hãy làm cho tôi như lời sứ thần truyền" (Lc 1, 38 ) và Mẹ đã viếng thăm gia đình người chị họ bằng trái tim đầy tình yêu thương bác ái, ra đi cách vội vã, nhanh chóng, không do dự, không tính toán so đo, cứ ra đi trong phó thác.  Do đó, Mẹ Maria luôn sẵn sàng đối với Chúa, Mẹ cũng luôn sẵn sàng đối với tha nhân. Mẹ đã ra đi để phục vụ bà chị họ của mình vì Mẹ thấy ý Chúa trong đó. Hơn nữa, Mẹ thấy đó là nhiệm vụ của mình. Là Mẹ Chúa Cứu Thế, Mẹ có nhiệm vụ phải đem Chúa cho kẻ khác. Lại nữa, Mẹ cảm nghiệm rằng, lòng mình khi được mang Chúa thì hạnh phúc biết bao, bình an biết mấy và phấn khởi dường nào. Mẹ đến, Mẹ đã làm cho cả gia đình Bà Elizabeth sung sướng. Bà Elizabeth phải thốt lên: "Bởi đâu tôi được Mẹ Thiên Chúa đến viếng thăm tôi. Vì này, tai tôi vừa nhge lời em chào, Hài Nhi liền nhảy mừng trong lòng tôi" (Lc 1, 43 - 44). Đó chính là niềm vui và sự bình an đích thực mà Mẹ đã đem đến.
Tình yêu thể hiện qua cuộc thăm viếng bất ngờ hôm nay không chỉ dành riêng cho Đức Mẹ mà dành cho hết thảy mọi người. Qua Đức Maria, Thiên Chúa Tình Yêu đi vào trần gian, đem ơn cứu độ cho con người mà cuộc viếng thăm của Đức Maria dành cho bà Elizabeth là bước khởi đầu. Mẹ Maria thăm gia đình bà chị để chia sẻ niềm vui mà Thiên Chúa dành cho bà Elizabeth và gia đình Dacaria. Mẹ đến với bà chị họ cũng để chia sẻ ân huệ tình yêu lớn lao mà mình vừa nhận được và để thể hiện tình yêu của Mẹ dành cho gia đình bà chị họ.
Tình yêu đích thực đòi hỏi cần được biểu lộ ra bên ngoài chứ không giữ kín cho riêng mình. Cách thể hiện tình yêu đẹp nhất làm cho tình yêu sinh động là: quan tâm, chăm sóc, tìm cách gặp gỡ để tạo nên niềm vui, góp phần xây dựng hạnh phúc cho mình và cho tha nhân. Chúng ta hãy bắt chước Mẹ, bắt chước tâm tình này của Mẹ, không đợi người khác yêu cầu mà hãy biết khiêm nhường quên mình để nhận ra nhu cầu và sẵn sàng đến với tha nhân.
Bên cạnh đó, thăm viếng không chỉ là cách biểu lộ tình người, tình thương, nói lên sự quan tâm mà còn là dịp chúng ta đem Chúa đến với tha nhân. Mang Chúa đến cho tha nhân không có nghĩa chúng ta nói thật nhiều, nói thật hay về Chúa cho họ nghe. Chính sự hiện diện của Mẹ là một lời chứng hoàn hảo về sự hiện diện của Chúa vì chính Mẹ mang chúa trong  lòng mình. Tương tự như vậy, để có thể đem Chúa đến với người khác chúng ta cần có Chúa trong mình. Muốn Chúa luôn hiện diện trong ta đòi hỏi chúng ta phải có một đời sống thân tình với Chúa. Qua kinh nguyện, Thánh lễ, hiệp lễ và qua cuộc sống thì sự hiện diện của chúng ta mới có thể giúp người khác nhận ra sự hiện diện của Chúa. Nên khi nhận ra Chúa, gặp được Chúa, tha nhân sẽ dễ dàng mở lòng để Chúa Thánh Thần thánh hoá và biến đổi họ nên tốt lành thánh thiện hơn.
Chúng ta hãy bắt chước Mẹ Maria. Trước hết chúng ta hãy thể hiện tình người với nhau bằng việc thăm viếng, quan tâm đến nhu cầu của tha nhân nhất là những người đang cần đến chúng ta. Hãy bắt chước Mẹ Maria quên mình và khiêm nhường phục vụ tha nhân. Hy sinh thời gian, đôi khi là vật chất để làm cho cuộc sống này thêm niềm vui, niềm hạnh phúc.
Hãy cưu mang Đức Giêsu trong tâm hồn để như Mẹ ta có thể mang một tâm hồn tràn ngập Chúa đến với tha nhân.  Hơn nữa, chúng ta hãy cố gắng dàn xếp tất cả những gì làm mình phiền muộn, khó chịu để có tâm hồn vui tươi, an bình mừng lễ Chúa Giáng Sinh. Ngoài ra chúng ta sẽ cố gắng là niềm vui của tất cả mọi người nhất là niềm vui sâu xa nơi tâm hồn, chúng ta cố gắng chia sẻ thời giờ, sức lực với người khác, nhất là phục vụ người khác. Cố gắng chia sẻ nụ cười với người khác và cố gắng ủi an, nâng đỡ người khác.
Lạy Mẹ Maria, cám ơn Mẹ đã để lại cho chúng con một mẫu gương tuyệt vời về sự vâng phục thánh ý Chúa và một tinh thần bác ái quên mình vì tha nhân. Chính tình yêu đã thúc đẩy Mẹ làm được những việc cao cả đó, Xin Mẹ đoái thương giúp chúng con bắt chước Mẹ, sống đức tin là vâng theo thánh ý Chúa và sống đượm tình bác ái với tha nhân, quan tâm giúp đỡ họ, giúp họ thêm niềm vui, tìm gặp sự bình an và nhất là gặp gỡ được chính Chúa tình thương. Amen.
 

MV4-C58: CHO THÌ CÓ PHÚC HƠN NHẬN

Lc 1: 39-45
1. LỜI CHÚA: "Cho thì có phúc hơn là nhận" (Cv 20,35).
2. CÂU CHUYỆN:
 

Một hôm vào buổi chiều áp lễ Giáng Sinh, một sinh viên trẻ cùng đi với vị giáo sư đến thăm các: MV4-C58

Một hôm vào buổi chiều áp lễ Giáng Sinh, một sinh viên trẻ cùng đi với vị giáo sư đến thăm các trẻ em bất hạnh trong viện mồ côi ngòai thành. Vị giáo sư này thường được các sinh viên gọi thân mật bằng tên "người bạn của sinh viên" vì sự thân thiện và tốt bụng của ông. Trên đường đi, thầy trò đi ngang qua một nông trại, thấy một đôi giày cũ nằm bên vệ đường gần cổng một nông trại. Có lẽ đây là đôi giày của một bác nông dân nghèo làm việc tại đây. Anh sinh viên liền nói với vị giáo sư: "Bây giờ sắp đến giờ tan sở. Em sẽ giấu đôi giày của ông ta vào chỗ khuất rồi thày trò chúng ta sẽ núp quan sát xem thái độ của ông ta thế nào khi bị mất đôi giày. Chắc là sẽ vui lắm đây". Vị giáo sư liền khuyên can: "Này anh bạn trẻ. Chúng ta đừng bao giờ cười vui trên nỗi đau của người khác. Trái lại, theo thầy nghĩ: em được Chúa cho có dư tiền bạc. Chắc em sẽ tìm thấy một niềm vui lớn lao hơn nhiều qua việc chia sẻ với người nghèo này đấy. Vậy em hãy đặt vào đôi giày của ông ta hai đồng tiền và chờ xem phản ứng của ông ta khi bất ngờ nhận được món quà Giáng Sinh". Anh sinh viên làm theo lời dạy, rồi cả hai cùng đến núp sau gốc cây gần đó.
Chẳng mấy chốc đã thấy một người từ trong nông trại đi chân không đến nơi để giày. Ông ta xỏ chân vào một chiếc giày và phát hiện ra vật lạ. Ông dùng tay moi ra một đồng tiền năm đô-la. Với vẻ ngạc nhiên, ông chăm chú nhìn đồng tiền rồi lật qua lật lại như không tin vào mắt mình. Rồi ông nhìn chung quanh tìm xem ai đã làm điều này nhưng không thấy. Ông bỏ đồng tiền vào túi áo, và tiếp tục xỏ chân kia vào chiếc giày còn lại. Vẻ ngạc nhiên của ông tăng thêm gấp đôi khi phát hiện đồng tiền thứ hai bên trong chiếc giày kia. Với cảm xúc tràn ngập trong lòng, ông liền quì gối ngước mặt lên trời dâng một lời nguyện tạ ơn Thiên Chúa. Ông cám ơn bàn tay vô hình hào phóng nào đó đã mang lại món quà thiết thực ngay trước lễ Giáng Sinh, cứu gia đình ông qua cơn túng quẫn: vợ đang bị đau phải nằm liệt giường mấy ngày nay và ba đứa con nhỏ dại bụng đói đang chờ bố đi làm mang tiền về nhà.
Anh sinh viên lặng người đi vì xúc động. Hai dòng lệ tự nhiên chảy xuống hai bên má khiến anh vội đưa tay gạt đi. Vị giáo sư liền lên tiếng nói: "Bây giờ em có thấy vui hơn nhiều nếu như em mang ông ta ra làm trò cười hay không?" Chàng thanh niên trả lời: "Đúng. Cám ơn giáo sư. Giáo sư đã dạy cho em một bài học mà có lẽ em sẽ không bao giờ quên được. Bây giờ em mới hiểu ý nghĩa thực sự câu nói của Chúa Giê-su mà hồi nhỏ em đã học qua nhưng chưa hiểu: "Cho thì có phúc hơn là nhận" (Cv 20, 35).
3. SUY NIỆM:
Cuộc viếng thăm của Đức Ma-ri-a trong Tin Mừng hôm nay cho chúng ta nhiều bài học.
1) Bài học bác ái yêu thương:
Tình yêu thực sự đòi phải biểu lộ bằng hành động: Đức Ma-ri-a đã nêu gương bác ái yêu người bằng hành động đi bước trước đến thăm bà chị họ Ê-li-sa-bét khi vừa nghe tin bà có thai trong lúc tuổi già. Cũng vậy, mỗi tín hữu chúng ta cũng cần phải biểu lộ tình bác ái yêu thương tha nhân bằng việc làm cụ thể: đến thăm những người đang gặp khó khăn như các bệnh nhân đau liệt giường, các cụ già neo đơn, những người chưa nhận biết Chúa, các đôi vợ chồng bất hoà hay đang sống hôn nhân bất hợp pháp... để chia sẻ, đáp ứng nhu cầu cả về thể xác lẫn tinh thần.
2) Bài học loan báo Tin Mừng:
- Đức Ma-ri-a đã mau mắn lên đường đến thăm bà chị họ để loan báo tin vui cứu độ cho gia đình bà. Cuộc viếng thăm này hợp với sấm ngôn của I-sai-a: "Đẹp thay trên đồi núi, bước chân người loan báo Tin mừng, công bố bình an, người loan tin hạnh phúc, công bố ơn cứu độ" (Is 52,7a).
- Đem Chúa đến cho người mình thăm viếng, không có nghĩa là phải nói nhiều về Chúa. Đức Ma-ri-a chỉ mang sự quan tâm phục vụ gia đình Gia-ca-ri-a. Khi mang hận thù ganh ghét đến cho tha nhân là chúng ta đã gây sự chia rẽ bất hoà và đau khổ đến cho họ. Ta chỉ có thể đem Chúa là tình thương đến khi ta giúp hòa giải các tranh chấp và chia sẻ niềm vui ơn cứu độ cho họ noi gương Đức Ma-ri-a. Vừa nghe lời chào của Ma-ri-a đang cưu mang Đấng Cứu Thế, thai nhi Gio-an liền nhảy mừng vì nhận được ơn cứu độ.
3) Bài học chia sẻ niềm vui và chân thành phục vụ: Khi thăm viếng, Ma-ri-a đã không trao tặng món quà vật chất nhưng mang sự phục vụ chân tình cho gia đình này. Rồi chính Mẹ cũng lại nhận được sự đỡ nâng tinh thần: thêm xác tín về lời sứ thần truyền tin khi tận mắt chứng kiến bà chị họ lớn tuổi hiếm muộn mà giờ đây đã có thai được sáu tháng. Mẹ cũng ngỡ ngàng khi nghe bà Ê-li-sa-bét được Thánh Thần soi sáng đã nhận ra vai trò Mẹ Đấng Thiên Sai của mình. Chính niềm vui và những lời chúc phúc của bà Ê-li-sa-bét đã khiến Đức Ma-ri-a cất lên lời kinh ngợi khen cảm tạ hồng ân Thiên Chúa.
4) Bài học cho và nhận: Bác sĩ Tom Dolly, người đã hy sinh cả cuộc đời đến ở giữa chốn rừng thiêng nước độc bên Lào vào đầu thế kỷ này, đã phát biểu rằng: "Không ai nghèo đến độ không có một thứ gì đó để trao tặng tha nhân". Thực vậy, một người ăn xin ư? Anh ta vẫn có thể cho chúng ta cơ hội để thể hiện sự chia sẻ quảng đại của chúng ta đối với anh. Một người tàn tật ốm đau cũng có thể mời gọi chúng ta bày tỏ cảm thông và nâng đỡ. Một kẻ thù cũng có thể cho chúng ta cơ hội tập sự nhẫn nhịn để chịu đựng xỉ nhục và lòng bao duntg quảng đại để tha thứ... Phải, bất cứ ai cũng có thể đem lại cho chúng ta một điều gì đó. Vấn đề là chúng ta có nhận ra và có mở lòng đón nhận những món quà đó hay không.         
5) Bài học về công tác thăm viếng Mùa Giáng Sinh: Trong những ngày này, mỗi người chúng ta nên tiết kiệm để dành tiền thăm viếng bác ái chia sẻ. Những phần quà cho các người nghèo dịp lễ Giáng Sinh mang nhiều ý nghĩa, diễn tả rõ nét về "Thiên Chúa là tình yêu" (1 Ga 4,8). Khi đi thăm viếng chia sẻ quà tặng cho người nghèo, là chúng ta đã đem Chúa là tình thương, mang sự bình an, niềm vui và hạnh phúc đến cho họ, giúp họ được ơn cứu độ noi gương Đức Ma-ri-a.
4. THẢO LUẬN:
1) Trong những ngày áp lễ Giáng Sinh này, chúng ta có thể trao tặng cho người khác món quà gì đây: Một cánh thiệp No-en với những lời chúc mừng tốt đẹp nhất? Một cái bắt tay thân ái với một người mới quen? Một nụ cười vui vẻ, một ánh mắt cảm thông hay một sự lắng nghe đối với những người đang gặp tai ương hoạn nạn?...
2) Bạn quyết tâm sẽ tặng món quà gì cho những người thân và những kẻ bất hạnh trong mùa Giáng Sinh hồng phúc này.
5. NGUYỆN CẦU:
- Lạy Chúa Giê-su. Xin giữ gìn nơi con trái tim của trẻ thơ, tinh tuyền và trong ngần như dòng suối. Xin ban cho con trái tim đơn sơ, mau quên những nỗi buồn phiền do tha nhân đem lại. Một trái tim hào hiệp dám dấn thân và dễ cảm thông với tha nhân. Một trái tim trung thành và quảng đại, không quên ơn và không báo oán. Xin ban cho con trái tim hiền hậu và khiêm tốn: Yêu mà không mong được yêu lại, biết quên mình để Chúa được lớn lên trong anh em. Một trái tim luôn khắc khoải tìm làm vinh danh Chúa và chỉ yên nghỉ khi được chết trong ơn nghĩa Chúa.
- Lạy Chúa. Trong những ngày này, xin cho con biết mở rộng lòng để sẵn sàng trao tặng cho tha nhân những món quà vật chất hay tinh thần. Xin cho con biết nghĩ tới những bệnh nhân liệt giường lâu ngày không tiền thuốc thang chữa trị, những người già cả neo đơn và những trẻ em lang thang bụi đời vì không có một mái ấm gia đình để về... Xin cho chúng con biết đem tình thương và niềm vui của Chúa đến cho họ, để giúp họ cũng được chia sẻ niềm vui ơn cứu độ với chúng con.
X. Hiệp cùng Mẹ Maria
Đ. Xin Chúa nhậm lời chúng con. 
LM ĐAN VINH    www.hiephoithanhmau.com.
 

MV4-C59: ĐEM BÌNH AN ĐẾN CHO MỌI NGƯỜI

CHÍNH LÀ RƯỚC CHÚA VÀO TÂM HỒN
Lc 1: 39-45
 

Mikka làm ngôn sứ vào thế kỷ thứ 8 trước Kỷ Nguyên T.C. Thành Giêrusalem bị bao vây bởi : MV4-C59

Mikka làm ngôn sứ vào thế kỷ thứ 8 trước Kỷ Nguyên T.C. Thành Giêrusalem bị bao vây bởi quân Assur. Trong hoàn cảnh này ngôn sứ Mikka nói về hòa bình. Đây không phải chỉ là một thì vẫn mộng mơ đẹp để chứng tỏ sự mơ ước cho tương lai, mà là lời của Thiên Chúa hứa hòa bình qua miệng của một ngôn sứ mà những người nghe ông Mikka nghĩ như là không thể nào thành tựu được.

Hiện nay, cũng như thời ông Mikka, thế giới đang hỗn loạn. Vậy chúng ta có tin lời hứa của ngôn sứ hay không?: là sẽ có một vương đế an cư "cho đến tận cùng mặt đất". Mikka không phải là ngôn sứ độc nhất loan báo điều này. Các ngôn sứ khác đều nói đến ao ước hòa bình, một ao ước mà Thiên Chùa sẽ ban. Trong phúc âm hôm nay, bà Elizabet không chỉ nói với bà Maria, mà cả với chúng ta là những người đặt niềm tin vào Lời của Thiên Chúa. "Phúc thay cho Em là người đã tin vào lời Thiên Chúa, Ngài sẽ hoàng thành trên Em".

Lời Thiên Chúa hứa qua miệng ngôn sứ Mica đã được thực hiện "Chính Ngài là sự bình an". Đức tin của chúng ta vào Chúa Giêsu được biểu hiện qua quyết định hành động theo đức tin, mà chúng ta là đại sứ của sự bình an mà Đấng đã hứa sẽ đem đến. Lễ Giáng Sinh đã đến gần. Và đó là thời giờ ấm áp đã được loan báo. Và có lẽ đó là dành cho các em trẻ.

Nhưng, đối với chúng ta, những người lớn, chúng ta là đại sứ cho Đấng mà ngôn sứ Mica đã hứa: "Chính Ngài là sự bình an". Giờ đây đến lúc chúng ta mừng lễ Giáng Sinh với tinh thần người đem bình an đến, cũng như ông Mikka nói về Đấng sẽ sinh ra ở Bêlem. Hãy nhìn chung quanh, thử hỏi chúng ta làm sao thi hành đức tin được. Ở nơi nào và với ai để chúng ta nói lên lời tha thứ; chúng ta là người giúp giải hòa; Lời nói nhẹ nhàng cho những ai đang lớn tiếng; hành động chính trực cho những người bị áp bức và không nói lên được?

Trong bài sách của Mikka có chủ đề về người "bé nhỏ". Đó là chủ để được lặp đi lặp lại nhiều lần trong Kinh Thánh: như sự hiện diện của Đấng Tối Cao sẽ được cảm thấy như nhỏ bé "Hỡi Belam Ephrata nhỏ bé nhất trong hàng các bộ tộc Giuda. Chính từ nơi người sẽ xuất hiện cho Ta Vị thống lĩnh Israel". Dân Israel đời ông Mikka mơ ước bình an và chúng ta cũng vậy. Sự việc đem đến bình an khởi đầu bằng việc nhỏ bé ngay trong nơi chúng ta đang sinh sống.

Việc đó không có vẻ lớn lao gì trong phúc âm hôm nay. Một phụ nữ trẻ tuổi đang mang thai (có thể bị gọi là người mẹ không chồng) vội vả đi thăm để giúp đỡ một phụ nữ bà con lớn tuổi đang mang thai đã làm ngạc nhiên tất cả mọi người. Thật là một cảnh bình thường trong nước và rất phổ biến trong các gia đình. Trong xã hội có bao nhiêu phụ nữ đang mang thai hợp lại để giúp đỡ nhau. Đây là khung cảnh chúng ta nhận thấy nếu chúng ta không nghe câu chuyện Đi Thăm Viếng qua đức tin. Chúng ta nhìn lại tường thuật của thánh Luca kể về bà Elizabet và bà Maria gặp nhau có vẻ như là Tân Ước gặp Cựu Ước. Tất cả các lời hứa của các ngôn sự đã đến thời kỳ hiện thực.

Câu chuyện hai người phụ nữ đang mang thai gặp nhau là điều hợp với việc chúng ta sắp mừng Chúa Giesu sinh ra trong hai ngày nữa. Mặc dù chúng ta sắp gần lễ Giáng Sinh, câu chuyện này vẫn là câu chuyện của Mùa Vọng. Bà Maria là hình ảnh giúp chúng ta chiêm ngưỡng và học hỏi trong Mùa Vọng. Chúng ta học nơi bà Maria niềm tin vào Thiên Chúa trong khi chúng ta kiên nhẫn chờ đợi Ngôi Lời Nhập Thể trong đời sống chúng ta: đó là khi chúng ta trở nên dịu dàng hơn, tha thứ hơn, bớt nóng nảy, biết hòa giải hơn, và cảm thông hơn. Hôm nay bà Elizabet không chỉ nói với bà Maria, mà nói cả với chúng ta nữa. "Phúc cho Em đã tin vào Lời Thiên Chúa truyền, Ngài sẽ thực hiện trên em".

Thiên Chúa sẽ hiện diện với chúng ta dưới nhiều hình thức trong lúc chúng ta cố gắng đại diện cho hòa bình của Ngài: bắt đầu với những người trong gia đình, rồi đến những người thân cận chúng ta. Đây không phải là việc lớn, nhưng Ngài để ý đến những cố gắng của chúng ta và luôn ở với chúng ta, vì Thiên Chúa hoạt động trong chúng ta qua những hành vi nhỏ bé. Hôm nay chúng ta có hai câu chuyện trong Kinh Thánh nhắc nhở chúng ta điều này: là ngôn sứ Mikka nói việc nhỏ bé ở Bêlem là việc một Vị vua thuộc dòng vua David sẽ xuất hiện qua lời chào mừng của bà Elizabet lớn tuổi, với bà Maria, người phụ nữ trẻ tuổi.

Chúng ta đã thấy biết bao nhiêu tranh ảnh về sự gặp gỡ giữa hai người phụ nữ này. Thật là những bức tranh tuyệt đẹp và yên tĩnh. Đâu có bức tranh nào diễn tả sự lo sợ trong câu chuyện. Bà Elizabet, người phụ nữ lớn tuổi gọi là không thể có con, nghĩa là bà ta có thể bị láng giềng cười chê. Chồng bà có thể bị mất thể diện vì không được phúc có con nối dõi tông đường. Bởi thế, bà Elizabet có thể bị trách móc chứ không phải ông Zacaria bị cuời chê là bị Thiên Chúa phạt. Người nam gieo hạt giống, và đồng ruộng là người nữ bị chê trách là không làm cho hạt giống nảy mầm.

Bà Maria cũng có thể bị cười chê. Câu chuyện bà Maria bắt đầu với nỗi xấu hổ. Bà Maria đi thăm bà Elizabet lại càng thêm xấu hổ hơn nữa. Vì một phụ nữ không bao giờ ra đi mà không có người nam đi theo để che chở. Việc Maria tự động ra đi một mình có thể xem như là có điều gì xấu đang dấu.

Vậy bây giờ chúng ta cảm thấy gì trong câu chuyện này? Chúng ta đang ở cùng bà Elizabet và bà Maria: như người ngoài cuộc, như người không được xem là đạo đức tốt, như người bị giảm giá vì tuổi tác (hoặc già quá, hoặc trẻ quá), người bị hiểu lầm, hay người sống một đời không rõ ràng, người có hoàn cảnh, người bị thiên vị giới tính, người bị gia đình ruồng bỏ, người không vô giá trị trong mắt kẻ khác, hay người không đủ khả năng tự lo cho mình những điều tốt?

Câu chuyện bà Maria đi thăm bà Elizabet mời gọi chúng ta nghe và đặt niềm tin vào tín mừng là chúng ta được Thiên Chúa đón nhận. Vì Thiên Chúa Nhập Thế xuống trần gian bởi thân xác của một phụ nữ xem như người ngoài cuộc. Người con của một phụ nữ lớn tuổi gọi là không có con được, và không được hưởng phúc của Thiên Chúa, lại là người loan báo tin mừng của Vị Thiên Chúa Nhập Thế đó.

Lời Thiên Chúa ở trong chúng ta "là Lời sống động, hữu hiệu"(Dt 4:12). Một khi chúng ta đón nhận Lời đó sinh lại trong chúng ta trong mùa lễ này, chúng ta sẽ đem thể xác vào Lời đó bằng cách chống lại sự dữ, là che chở cho những người yếu hèn nhỏ bé như bà Elizabet và bà Maria trong xã hội chúng ta.

Để đáp lại bài phúc âm hôm nay chúng ta nhận bà Maria là người hướng dẫn chúng ta đi thăm bà Elizabet, là người sống bên lề lễ Giáng Sinh, là những người mẹ nuôi con một mình, là người di trú, là người bị gia đình ruồng bỏ, là người trong tần lớp thấp nhất của xã hội, hay nơi chúng ta làm việc v.v... Chúng ta hãy vội vã đi thăm viếng cùng với bà Maria.
Lm Jude Siciliano, OP
Chuyển ngữ: FX. Trọng yên, OP

 

MV4-C60: MẸ MARIA

Lc 1: 39-45
 

Chúa nhật IV mùa vọng luôn đề cập đến vai trò của Mẹ Maria. Mà không nói về Mẹ làm sao được: MV4-C60

Chúa nhật IV mùa vọng luôn đề cập đến vai trò của Mẹ Maria. Mà không nói về Mẹ làm sao được khi Mẹ được Thiên Chúa chọn lựa để làm Mẹ của Chúa Giêsu. Mẹ đã biểu lộ tinh thần Giáng Sinh một cách nổi bật. Đó là việc thăm viếng bà chị họ Êlisabeth.

Tin Mừng thuật lại Mẹ đã thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần. Điều mà con người xem ra không thể làm được. Tuy nhiên, đối với Thiên Chúa không việc gì mà Người không thể làm được. Để làm nổi bật sự kiện siêu vời này. Thiên Thần đã loan báo cho Mẹ Maria hay bà chị họ của Mẹ Maria là bà Êlisabeth cũng mới thụ thai con trong lúc tuổi già. Mặc dầu cả hai ông bà đều cao niên, tuổi tác đã già vv...Được Chúa Thánh Thần cho biết về bà chị họ của mình, Mẹ đã không chần chừ, Mẹ đã không nghĩ bản thân của mình, nhưng Mẹ đã nghĩ đến việc bà chị họ là Êlisabeth đang cần đến Mẹ trong khi bà thai nghén. Thánh sử Luca đã cho chúng ta hay Mẹ đã lên đường ngay, Mẹ đã vội vã đi đến nhà bà Êlisabeth, Mẹ mong mau đến nhà bà chị họ để giúp đỡ bà đang mang thai con trong lúc tuổi già. Mẹ biết rằng tuổi già yếu luôn cần có người ở bên cạnh để chia sẻ, cảm thông và giúp đỡ. Mẹ Maria đã cho mọi người thấy sự chân thành, tế nhị và tử tế, quảng đại của Mẹ đối với bà chị họ. Mẹ không khư khư ích kỷ chỉ lo cho mình Mẹ, nhưng Mẹ đã chứng tỏ tinh thần Giáng Sinh đối với con người, đối với mọi người. Mẹ đã chứng tỏ Mẹ luôn sẵn sàng, luôn mau mắn phục vụ trong tin yêu mọi người, đặc biệt là phục vụ bà chị họ của mình. Mẹ đã ở lại để giúp đỡ bà chị họ của mình ba tháng.

Vậy, những lý do nào đã khiến Mẹ Thiên Chúa vội vã lên đường thăm bà chị họ sau khi Mẹ đã nói lời Xin Vâng làm theo ý của Thiên Chúa. Chúng ta có thể nói lên hai lý do chính yếu sau đây: Đức Mẹ ra đi để chia sẻ niềm vui, một niềm hân hoan lớn lao bởi vì ân huệ cao quí nhất Thiên Chúa dành cho Đức Mẹ. Đây cũng là niềm vui vì Mẹ có dịp cùng bà Êlisabeth ca tụng, ngợi khen Thiên Chúa vì đặc ân quí giá Thiên Chúa tặng ban cho Đức Mẹ và người chị họ Êlisabeth. Đức Mẹ không giữ niềm vui cho riêng mình, nhưng đã chia sẻ niềm vui cứu độ cho những người khác. Đức Mẹ ra đi truyền giáo, đem Đấng Cứu Thế đến cho bà chị họ, gia đình ông Giacaria và đặc biệt cho Gioan Tẩy Giả. Chính vì thế mà Tin Mừng thuật lại Gioan Tẩy Giả đã nhảy mừng trong lòng của bà Êlisabeth. Đức Mẹ đã đem niềm vui cho cả gia đình ông bà Giacaria và một cách nào đó, Đức Mẹ cũng nhận được niềm vui nơi gia đình của ông bà Giacaria. Lý do khác nữa là lòng bác ái yêu thương đã thức đẩy Đức Mẹ đi thăm bà chị họ Êlisabeth. Bà Êlisabeth sống neo đơn vì hai ông bà Giacaria đã già nua cần có người giúp đỡ, đặc biệt trong khi thai nghén. Đức Mẹ đã đóng vai trò người giúp đỡ.

Do đó, chúng ta luôn phải noi gương bắt chước Mẹ Maria vì ở đâu, nơi đâu, lúc nào, người khác cũng muốn được an ủi, vỗ về, cảm thông có nghĩa là muốn nhận được niềm vui. Thánh Phaolô đã viết: " Hãy vui với người vui.Hãy khóc với người khóc ". Đem niềm vui cho người khác, cảm thông với người khác là chúng ta đã giới thiệu Chúa Giêsu cho họ và một cách nào đó, chúng ta đã làm việc truyền giáo. Chúng ta cũng noi gương bắt chước Mẹ trong việc thực thi bác ái, trong việc phục vụ mọi người. Vâng, sống trong xã hội là sống liên đới, sống với người khác, nên, gia đình chúng ta, cá nhân chúng ta phải mở rộng, hướng ra ngoài, đừng ích kỷ, đừng cục bộ, hãy thăm viếng, chia sẻ, và cảm thông với người khác, nhiều người đang cần chúng ta, nhiều người đang muốn được chúng ta nâng đỡ, an ủi, cảm thông giúp đỡ, đừng đóng lòng lại mà hãy mở tung cửa lòng để đón nhận, chia sẻ. Đó là việc truyền giáo. Đó là việc loan báo Tin Mừng. Chúng ta đừng làm ngơ giả điếc, đừng giả mù nhưng hãy mở lòng ra để giúp đỡ mọi người. Bác ái không phân biệt bất cứ ai, không phân biệt bất cứ người nào.

Mẹ Maria đã nêu gương cho mọi người chúng ta bằng thái độ phục vụ hết mình bà chị họ.

Việc thăm viếng của Mẹ đã mở ra một chân trời mới, một tương lai mới mẻ nhất vì nhờ Con Thiên Chúa làm người, Thiên Chúa đã gặp gỡ con người và con người lại được phúc gặp gỡ Thiên Chúa. Maranatha! Lạy Chúa Giêsu xin mau đến.

Lạy Chúa, Chúa đã dùng lời thiên sứ truyền tin mà cho chúng con biết thật Đức Kitô, Con Chúa, đã xuống thế làm người. Xin đổ ơn thánh đầy lòng chúng con, để nhờ công ơn Con Chúa chịu khổ hình thập giá, Chúa cũng cho chúng con được sống lại hiển vinh. Amen ( Lời nguyện nhập lễ Chúa nhật IV Mùa Vọng ).

Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
 

MV4-C61: BUÔNG SÚNG

Lc 1: 39-45
 

Hội bảo vệ quyền lợi người yêu súng và những người mê súng lí luận họ cần nó để phòng thân: MV4-C61

Hội bảo vệ quyền lợi người yêu súng và những người mê súng lí luận họ cần nó để phòng thân và bảo vệ mình. Lí luận nghe hợp lí và êm tai nhưng thực tế cho thấy khác xa những gì lí luận. Bởi vì không phải lúc nào con người cũng tự chủ được chính mình, nhất là khi nóng giận, quá buồn hay cô đơn. Đó là chưa kể đến những người đầu óc không bình thường hay sống trong tâm trạng thù hằn.

Vụ thảm hại trẻ em vô tội mới đây xảy ra tại Newtown, Connecticut, bên Hoa Kì cho thấy rõ những hiểm nguy của việc giữ vũ khí trong tay. Hai mươi bốn vụ thảm sát đẫm máu xảy ra trong vòng bảy năm qua. Điều nghịch lí là khi một số người tranh đấu cho quyền giữ và xử dụng vũ khí cá nhân được tôn trọng thì quyền lợi người khác bị xâm phạm, nhất là trẻ em. Không phải quyền lợi các em bị hại mà là sinh mạng, sự sống của con người.

Người lớn có nhiệm vụ bảo vệ trẻ nhỏ khỏi hiểm nguy, giúp chúng sống an toàn trong nhà cũng như ngoài đường. Luật cho phép cầm giữ và xử dụng vũ khí làm tổn thương đến nhiệm vụ bảo vệ các em. Để bảo vệ người vô tội khỏi bị chết oan, việc buông súng là cần thiết. Muốn buông súng việc đầu tiên cần làm là từ bỏ một phần tư lợi, í riêng, quyền lợi riêng của cá nhân, từ bỏ luận điệu có quyền hay được quyền làm điều đó. Từ bỏ ít tư lợi cá nhân để đại chúng được nhiều điều lợi là điều tốt lành, nên làm và đáng khuyến khích. Ích lợi này không mới lạ gì vì trong Kinh Thánh có nhiều tấm gương sáng chói, được đề cao, trở thành ngày lễ kính quan trọng trong Giáo Hội. Khi đám đông hỏi ông Gioan họ phải làm gì, ông kêu gọi họ đặt lợi ích chung trên tư lợi. Gioan không phải chỉ kêu gọi người khác làm điều đó mà bản thân ông thực hành trước lời kêu gọi kia. Ông vui lòng từ bỏ mọi sự để phục vụ dân Chúa.

Tôi là tiếng người hô trong hoang địa, hãy sửa đường cho thẳng để Đức Chúa đi Gn 1,23

Đó là niềm vui của Thầy, niềm vui ấy bây giờ đã trọn vẹn. Người phải nổi bật lên, còn Thầy phải lu mờ đi Gn 3,30


Mấy ai vui khi thấy kẻ đến sau nổi bật lên, còn mình từ từ chìm vào quên lãng. Đức Kitô cũng mang tâm tình ấy khi Ngài tuyên bố Ngài đến không phải để làm theo í riêng mà làm theo í Đấng sai Ngài đến

Vì tôi tự trời mà xuống, không phải để làm theo í tôi, nhưng để làm theo í Đấng đã sai tôi. Mà í của Đấng đã sai tôi là tất cả những kẻ Người đã ban cho tôi, tôi sẽ không để mất một ai, nhưng sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết Gn 6,38

Đức trinh nữ Maria cũng từ bỏ í riêng để thực thi í Chúa khi thưa xin vâng cùng Thiên Thần.

Vâng tôi đây là nữ tì của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói Lc 1,38

Đức Trinh Nữ được gọi là người có phước vì Ngài từ bỏ tự lợi để công lợi được thể hiện

Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, vì người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc Lc 1,42

Từ bỏ tư lợi cho công lợi được lợi hơn là điều tốt lành vì nó mang phúc lợi cho nhiều người. Thánh Gioan Tẩy Giả, Đức Trinh Nữ và Đức Kitô đều từ bỏ í riêng, tư lợi để í Chúa được thể hiện qua cuộc đời mỗi người và những từ bỏ này trở thành lịch sử ơn cứu độ. Đức Kitô từ bỏ í riêng để í Chúa Cha được thực hiện. Ngài chọn xuống thế, sinh trong chuồng bò vách tan, cửa trống và sống giữa những kẻ nghèo nhất trong số những kẻ nghèo. Chính việc từ bỏ í riêng này làm lên lịch sử của ngày lễ Kính trong mùa Giáng Sinh. Không có việc từ bỏ sẽ chẳng có Giáng Sinh.

Lm Vũđình Tường
 

MV4-C62: CHÚA VIẾNG THĂM

Lc 1: 39-45
 

Lễ Giáng Sinh đã đến gần, người đời như muốn làm cho biến cố hồng phúc cứu độ này thành một: MV4-C62

Lễ Giáng Sinh đã đến gần, người đời như muốn làm cho biến cố hồng phúc cứu độ này thành một thứ lễ hội với đủ thứ trang trí và hoạt động náo nhiệt, rộn ràng...

Không như cách thức thế gian, người tín hữu háo hức chờ đợi và hướng đến đêm hồng phúc bằng thái độ đức tin được hướng dẫn bởi lời Chúa thuật lại cuộc viếng thăm của Đức Trinh Nữ Ma-ri-a dành cho gia đình bà chị họ Ê-li-sa-bét.

Thoạt nghe thì đây là cuộc viếng thăm giữa hai chị em, giữa hai bà mẹ đang mang thai, nhưng sâu xa thì đây là cuộc Thiên Chúa viếng thăm dân của Người.

I. CHÚA CHA

Số là bà Ê-li-sa-bét từng mang tiếng là hiếm hoi. Bà đã đến tuổi cao niên mà chẳng có được một mụn con. Thế nhưng trong lần vào đền thờ để lo việc tế tự theo phiên của nhóm mình, ông Gia-ca-ri-a, chồng của bà đã được sứ thần Gáp-ri-en báo tin sau thời gian phục vụ ở đền trở thờ về ông và bà sẽ có con; và hiện nay bà Ê-li-sa-bét đang cưu mang thánh Gio-an Tẩy Giả (x. Lc1, 5-25).

Phần Đức Trinh Nữ Ma-ri-a, một thiếu nữ không hề biết đến chuyện vợ chồng, nhưng do quyền năng của Chúa Thánh Thần, Đức Trinh Nữ cũng đang cưu mang Người Con vĩ đại. Người là: Con Đấng Tối Cao, là Đấng Thánh, là Con Thiên Chúa, sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến vô cùng vô tận (x. Lc 1, 30-35).

Cả hai người phụ nữ đều nhận được sự can thiệp kỳ diệu của Thiên Chúa và đã bày tỏ lòng tin:

- Được cưu mang thánh Gio-an Tẩy Giả, bà Ê-li-sa-bét cảm nhận chính Thiên Chúa đã viếng tăm cuộc đời của bà, đã thương giải thoát bà khỏi nỗi hổ nhục bà phải chịu trước mặt mọi người (x. Lc 1, 25).

- Được cưu mang Con Thiên Chúa nhập thể làm người, Trinh Nữ Ma-ri-a đã thưa vâng và dâng lời chúc tụng Thiên Chúa đã làm Chúa Người những điều cao cả (x.Lc 1, 46-55).

Như vậy, cuộc gặp gỡ giữa hai bà mẹ đang mang thai là dấu chứng quyền năng Thiên Chúa viếng thăm và can thiệp trên con người "đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được" (Lc 1, 37).

II. CHÚA THÁNH THẦN

Hai người mẹ tràn đầy ân sủng và tìm đến nhau. Cùng với sự hiện diện của Đức Trinh Nữ Ma-ri-a là sự hiện diện của Chúa Thánh Thần.

Chúa Thánh Thần đã ban niềm vui, sự hân hoan sốt sắng lạ thường cho gia đình bà Ê-li-sa-bét:

- ban tình yêu để bà vui vẻ đón tiếp Thân Mẫu Thiên Chúa.

- soi sáng cho bà nhận biết ân huệ của người em họ và hồng ân nơi Người Con của Đức Trinh Nữ "Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc" (Lc 1, 42),

- thúc đẩy để bà thốt lên lời chân thành "bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này?" (Lc 1, 43).

- hướng dẫn để bà xác tín phẩm chức của Đức Trinh Nữ Ma-ri-a là "Thân Mẫu Chúa" (Lc 1, 43).

- tràn ngập trên người con của bà tuy mới chỉ là một thai nhi nhưng đã "nhảy lên vui sướng" (Lc 1, 43)..

Chúa Thánh Thần đã dẫn dắt gia đình bà E-li-sa-bét nhận biết chương trình của Thiên Chúa " không ai biết được những gì nơi Thiên Chúa, nếu không phải Thần Khí của Thiên Chúa" (1 Cr 2, 11). Trong chương trình ấy, con người gặp gỡ Đấng Cứu Thế.

III. CHÚA GIÊ-SU

Thân mẫu Thiên Chúa đã viếng thăm người chị họ đang mang thai người con trai sẽ được đặt tên là Gio-an. Cùng đồng hành với Đức Trinh Nữ là người con đang được cưu mang trong dạ Ngài sẽ được đặt tên là Giê-su.

Gio-an nghĩa là được Thiên Chúa thương, được Thiên Chúa cứu.

Giê-su nghĩa là Đấng Cứu Thế.

Vậy, bên ngoài là cuộc gặp gỡ của hai người mẹ, nhưng sâu xa là cuộc gặp của hai người con. Đấng Cứu Thế gặp gỡ con người được Chúa thương. Đấng Cứu Thế hạ mình thẳm sâu nương nhờ trong lòng người mẹ nhân loại để con người được Chúa xót thương "nhảy lên vui sướng" (Lc 1, 43).

Thực thi thánh ý Chúa Cha (x. Dt 10, 7), Chúa Giê-su Cứu Thế đã viếng thăm dân của Chúa. Người sẽ dựa vào uy lực và uy danh Đức Chúa, đem lại hòa bình (x. Mk 5, 3- 4) giải thoát dân Người khỏi quyền lực của sự dữ, khỏi sự chết, khỏi mọi nỗi ô nhục mà đưa vào vương quốc vĩnh cửu vô biên, đầy tràn sự thật và sự sống, đầy tràn ân sủng và thánh thiện, đầy tràn tình thương công lý và bình an... hầu hưởng niềm vui hạnh phúc, niềm vui được cứu độ.

Lễ Giáng Sinh đã đến gần, người thế gian đang chờ đợi một lễ hội; người tín hữu xác tín về Thiên Chúa viếng thăm cứu độ dân của Người trong sự cộng tác của một nhân vật tuyệt vời: Đức Trinh Nữ Ma-ri-a.

Nhờ Mẹ, người tín hữu thấm sâu chương trình của Thiên Chúa Ba Ngôi. Chúa Cha quyền năng, với Người "không có gì là không thể làm được". Chúa Thánh Thần sẽ soi dẫn cho con người nhận biết Thiên Chúa. Trong hành trình ấy, con người gặp gỡ Chúa Giê-su Con Thiên Chúa làm người để cứu độ con người thoát khỏi tội lỗi và sự chết.

Nguyện xin ân sủng của Chúa Giê-su Ki-tô Chúa chúng ta, tình yêu của Chúa Cha và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng chúng ta.

Niềm vui giáng sinh là vậy!

Lm . Jb Nguyễn Minh Phương, C.Ss.R
 

MV4-C63: PHÚC CHO EM VÌ ĐÃ TIN

Lc 1: 39-45
 

Con người sống được là nhờ có niềm tin; vì thế khi mất niềm tin người ta dễ tử tự. Cũng vậy, người: MV4-C63

Con người sống được là nhờ có niềm tin; vì thế khi mất niềm tin người ta dễ tử tự. Cũng vậy, người Kitô hữu lớn lên và phát triển cũng là nhờ có đức tin. Tuy nhiên đức tin không tự ta tìm kiếm mà có nhưng do Thiên Chúa ban và con người làm cho dức tin đó lớn lên. Đức tin là mấu chốt để được hạnh phúc, để được chúc lành, để phép lạ được thực hiện như chúng ta đã thấy nơi viên đội trưởng ngoại giáo (Mt.8,13), nơi người đàn bà băng huyết (Mt.9,22), nơi 1nh mù ( Ga.6), nơi người phụ nữ ngoại giáo Canaan ()....có rất nhiều trường hợp khác trong Tin Mừng. Và bài TinMừng hôm nay Phụng vụ Lời Chúa cho chúng ta thấy đức tin của Đức Maria đến nỗi bà Elizabeth phải kêu lên " phúc cho em vì đã tin".

Thật vậy, ngay từ khởi đầu cuộc đời nhập thể của Đức Giêsu, lúc thụ thai trong lòng Mẹ. Mẹ đã chứng tỏ đức tin của Mẹ bằng việc phó thác hoàn toàn vào tay Thiên Chúa. Mặc dù Mẹ chưa hiểu được chương trình của Thiên Chúa bao nhiêu nhưng Mẹ vẫn lên tiếng " này tôi là nữ tỳ của Chúa, xin hãy thực hiện nơi tôi những gì lời Chúa phán". Và trong Thánh Kinh, nhân vật được coi là " cha của những kẻ tin" đó là Abraham. Ông chấp nhận bỏ thành Ur mà đi đến nơi Thiên Chúa chỉ, dù là chưa biết nơi ấy ở đâu. Ông bỏ nơi ở đã ổn định định để ra đi trong vô định và bấp bênh, có thể chết dọc đường. Thế nhưng ông có chết thì vẫn có những người thân cùng chết...Còn Đức Maria, khi thưa tiếng " xin vâng" là Mẹ đang chờ đợi một cái chết một mình, đang chờ những bàn tay cầm đá trong tay chuẩn bị ném lên người Mẹ, trong khi Mẹ không thể tự bào chữa, cũng không thể tự bộc bạch với thánh Giuse.

Như thế, đức tin của Đức Mẹ hơn hẳn Abraham: Mẹ tin rằng Thiên Chúa có cách của Thiên Chúa sẽ làm nơi Mẹ. Tin rằng Chúa đã thay đổi hướng đi của cuộc đời Mẹ và Mẹ đã chấp nhận thì Chúa cũng có cách để thực hiện và đưa cuộc đời Mẹ vào chương trình cứu độ của Người. Mẹ chấp nhận lên đường, làm một cuộc phưu lưu với Chúa, và Mẹ đã đi từ cuộc phưu lưu này đến cuộc phưu lưu khác. Từ việc sinh con Chúa trong cảnh cơ hàn đến việc mất con. Từ những hành động rất bình thường ở Nazareth cho tới khi đứng dưới chân Thập Giá. Tất cả những hành trình ấy thật khó hiểu trước con mắt loài người, nhưng Mẹ đã làm một cuộc phưu lưu với Chúa trong tin yêu và phó thác.

Mẹ xứng đang với danh hiệu " Mẹ có phúc vì đã tin" và xứng đáng với tước hiệu " Mẹ Thiên Chúa" khi cưu mang Đấng Cứu Thế. Cung lòng Mẹ đã trở nên mái ấm đầu tiên để con Thiên Chúa bước vào, và Đấng ấy đã thánh hóa Gioan Tẩy Giả trong cuộc viếng thăm linh thánh mà chúng ta vừa nghe bài Tin Mừng tường thuật. Trong cuộc hạnh ngộ ấy Thánh Thần linh ứng cho người chị họ nhận ra điều kỳ lạ nơi người em mà chúc vinh, để rồi Mẹ cảm nhận sâu xa hồng ân của Thiên Chúa ban tặng mà dâng lời ngợi ca Thiên Chúa. Vâng, chính cuộc sống lòng tin và phó thác của Mẹ đã đem lại ân phúc cho chúng ta.

Mẹ được chúc phúc vì đã tin và niềm tin của Mẹ được minh chứng bằng việc đem Đức Giêsu đến cho cho gia đình ông Giacaria cho Gioan Baotixita được khỏi tội nguyên tổ, và Mẹ ở lại để phục vụ bà Isave. Đồng thời niềm tin của Mẹ được thể hiện trong cách sống thường nhật và nên gương mẫu cho các bà mẹ, Mẹ luôn suy đi nghĩ lại những biến cố để tìm ra Thánh Ý Chúa, không to tiếng, không lo lắng sợ hãi, nhưng kiên cường cho tới đỉnh đồi Calve dưới chân Thập Giá. Cách sống Lời Chúa của Mẹ là như thế, còn chúng ta đã sống Lời Chúa thế nào ? Đã đem Chúa đến cho anh em mình chưa? Chúng ta đang sống trong năm " Sống đạo hôm nay", vậy chúng ta hãy nhìn gương mẫu sống đạo nơi đức Maria để thực hành.

Lạy Chúa, xin cho mỗi người chúng con biết sống đạo thực hành như Đức Maria để chứng tỏ cho mọi người là đức tin của chúng con sống động và đang lớn lên.

Sr Mai An Linh OP
 

MV4-C64: CHÂN DUNG ĐỨC MARIA

Lc 1: 39-45
 

Dịp lễ Giáng sinh, một nữ sinh nội trú kia xin mẹ cô một chiếc gương lớn và đẹp. Bà mẹ gởi đến: MV4-C64

Dịp lễ Giáng sinh, một nữ sinh nội trú kia xin mẹ cô một chiếc gương lớn và đẹp. Bà mẹ gởi đến cho cô một bức ảnh tuyệt xinh của Đức Trinh Nữ. Bức ảnh được đóng khung kỹ càng và có ghi dòng chữ như sau: "Đây sẽ là tấm gương soi của con mỗi ngày!" Món quà này gây ấn tượng mạnh lên thiếu nữ. Và từ đó, cứ mỗi buổi tối, cô quỳ xuống trước bức ảnh Đức Mẹ và hỏi: "Má ơi, hôm nay con có làm vui lòng Má không? Con đã noi gương Má ở điểm nào?"

Câu chuyện Tin Mừng hôm nay, cũng ở ngưỡng cửa ngày Giáng sinh, phác họa cho chúng ta chân dung của Đức Maria cũng để chúng ta soi vào. Khuôn mặt của Thân Mẫu Chúa hiện lên trên nền của một ngôi làng vô danh thuộc "miền núi Giuđa", được truyền thống Kitô giáo đồng hóa với làng Ain Karim (suối nước của vườn nho), cách Giêrusalem vài kilômét. Và người vẽ khuôn mặt đó chính là bà Elisabét. Qua những lời ca của bà, đã hiện lên chân dung có thể nói là chính xác và sống động nhất về Mẹ. Chúng ta sẽ dừng lại trên những lời này. Rồi cũng tại đây, chúng ta sẽ thấy tâm hồn Mẹ qua bài ca tuyệt diệu của Mẹ, bài ca ngợi khen vị Thiên Chúa của những kẻ nghèo khó, rốt cùng, hèn mọn, bị áp bức.

1. Hạnh phúc vì được chúc lành

Những lời của Elisabét nói cho đúng chẳng phải là một bài ca, tuy nhiên vẫn chứa đựng một đoạn thánh thi xây dựng trên một lời chúc tụng và một mối phúc: "Em được chúc tụng hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng đáng chúc tụng... Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em!". Đây là một thánh thi mini, rất mạnh mẽ sống động; đàng khác, nó còn mang tính "tiên tri": Luca đã nhấn mạnh rằng khi thốt lên nó, Elisabét "được đầy Thánh Thần", Đấng từng tác động các ngôn sứ trong lời loan báo của họ.

Bài ca khai mở với lời "chúc tụng" mà sau đó đã được đưa vào kinh Kính mừng. Lấy lại một kiểu nói dùng trong Cựu Ước cho những phụ nữ vĩ đại như Đêbôra và Giuđitha, Êlisabét biểu dương chức làm mẹ thần linh của Maria như dấu chỉ cao nhất của việc Thiên Chúa "chúc lành", nghĩa là hiện diện và hành động giữa chúng ta cũng như bên trong lịch sử chúng ta. Đối với Thánh Kinh, phúc lành được bày tỏ đặc biệt trong sự sống và sức sinh sản; nơi Đức Maria đã xuất hiện Sự Sống tuyệt hảo xóa bỏ sự cằn cỗi và chết chóc. Mẹ quả là một phúc lành của trời cao!

Bài ca của Elisabét tiếp tục với một chuyển động thứ hai, cũng là chúc tụng, nhưng dưới dạng câu hỏi, một câu hỏi long trọng, có lối ám chỉ rất mãnh liệt đối với người hiểu biết Cựu Ước: "Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này?" Tư tưởng này gợi nhớ một đoạn Kinh Thánh thời danh liên quan đến việc việc chuyển hòm bia giao ước về Giêrusalem, thủ đô mới của Đavít: "Hòm bia Đức Chúa đến với tôi thế nào được?" (2Sm 6,9). Vậy việc Đức Maria viếng thăm được trình bày như hòm bia mới của Đức Chúa đến. Và như hòm bia ở nhà ông Ôvết Êđôm đã mang lại phúc lành cho nhà ông (x. 2Sm 6,11-12), Đức Maria cũng là phúc lành mang đến cho ngôi nhà nhân loại và cho ai đón nhận Mẹ vào nhà mình.

Tước hiệu Đức Maria nhận từ Êlisabét -"Thân Mẫu Chúa"- rõ ràng là tước hiệu cao nhất và đúng nhất, như sẽ được tuyên bố trong Công đồng Êphêsô năm 431. Thánh Ambrôsiô đã viết: "Đức Maria không phải là Thiên Chúa trong đền thờ nhưng là đền thờ của Thiên Chúa". Chính vì thế truyền thống Kitô giáo sẽ biểu dương Mẹ như là "Sion mới" và "Hòm bia Giao ước mới" ("Đức Bà như Hòm bia Thiên Chúa vậy". Kinh cầu).

2. Hạnh phúc vì được tin Chúa

Cuối cùng, bài ca của bà Êlisabét nói lên một "mối phúc", mối phúc đầu tiên của Tin Mừng: "Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em!". Đây là tiếng kêu sẽ trở thành dây dẫn (sợi chỉ đỏ) của cả một thông điệp về Đức Maria của Đức Gioan-Phaolô II: Mẹ Đấng Cứu Thế. Quả thế, trong thông điệp này, Đức Thánh Cha có viết: "Trong câu Em thật có phúc vì đã tin được bà Êlisabét thốt lên, chúng ta gần như có thể tìm thấy một chìa khóa mở cho chúng ta thấy thực tại thâm sâu của Đức Trinh Nữ".

Đức Maria là tín hữu tuyệt hảo, khác với ông Dacaria cứng lòng, cha của vị Tẩy giả. Việc mang thai Hài nhi là do tác động của Thánh Thần, bởi đó vượt quá các quy luật sinh lý đơn giản của máu thịt và phải được hiểu cùng đón nhận trong đức tin, kể cả từ phía Đức Maria. Quả thế, đối với Luca, Mẹ sẽ trở thành biểu tượng của đức tin vì "hằng ghi nhớ mọi sự ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng". Đức Maria kết hợp nơi mình hai mối phúc mà thoạt nhìn có vẻ tách biệt nhau, hai mối phúc mà một ngày kia sẽ lại vang dội trong đời Đức Giêsu. Lúc ấy, một phụ nữ trong đám đông đã kêu lên: "Phúc thay bà mẹ đã cưu mang và cho Thầy bú mớm!". Và Đức Giêsu đã đáp lại: "Đúng hơn phải nói rằng: Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa" (Lc 11,27-28). Trong Đức Maria cả hai mối phúc này đan vào nhau vì Mẹ sinh Đức Kitô cách thể lý, sau khi mang trong dạ, nhưng cũng đón nhận Người trong đức tin như là sự hiện diện của Thiên Chúa và là Lời thiện hảo của Thiên Chúa.

Đức tin vào những chuyện phi thường vừa xảy ra (Mẹ mang thai cách mầu nhiệm, bà chị họ mang thai cách lạ lùng) khiến một niềm vui to lớn tràn ngập Mẹ, thúc đẩy Mẹ, niềm vui được tin, niềm vui được đi vào thời cứu độ và được làm người khai mở thời này: "Tôi là nữ tỳ của Chúa".

Như đã bừng sáng niềm vui được chúc phúc, cuộc Thăm viếng cũng bừng sáng niềm vui được tin. Bà Êlisabét tới tấp thốt lên những tiếng hân hoan vui mừng như đã thấy. Rồi Đức Maria sẽ dùng kinh Magnificat, bài ca hân hoan của mình để đáp lại.

Niềm vui rất đặc biệt ấy của đức tin, Luca cho thấy bắt nguồn từ đâu: Thần Khí. Thần Khí đã đến trên Đức Maria, ngập tràn bà Êlisabét, và vào dịp Hiện xuống, sẽ đổ đầy các Tông đồ. Người ngập tràn chúng ta khi chúng ta tin và công bố Đức Giêsu là Chúa, nghĩa là Đấng Mêsia, Đấng Cứu Thế, nhưng là Đấng Mêsia mà chẳng có người Do thái nào đã có thể tưởng tượng: Con Thiên Chúa, được Người ban tặng cho chúng ta.

Đức tin và niềm vui của chúng ta tùy thuộc sức mạnh của xác tín này. Chúng ta sa lầy trong nhiều chuyện phụ thuộc, chúng ta tranh luận giữa kitô hữu với nhau vì những chi tiết thay vì cảm nghiệm tới cùng và lan truyền điều chủ yếu, mạc khải kỳ diệu: Hài nhi sắp sinh bởi Đức Maria là Con Thiên Chúa. Một bài ca khác sẽ bật lên sau bài Magnificat: đó là bài Benedictus: "Chúc tụng Đức Chúa là Thiên Chúa Israen, đã viếng thăm cứu chuộc dân Người" (Lc 1,68).

Thiên Chúa thân hành viếng thăm chúng ta! Có lắm điều phải tin: cuộc Phục sinh của Đức Giêsu, sự hiện diện của Người trong Thánh Thể, việc tha thứ tội lỗi, chiến thắng cuối cùng của sự sống trên đau khổ và sự chết... Nhưng chúng ta sẽ tin dễ dàng và vững chắc vào tất cả những điều đó nếu bám rễ trong điều khó nhất: tin Thiên Chúa đã đến trên con đường chúng ta: "Chúng tôi đã thấy các bước chân của Thiên Chúa bắt gặp các bước chân của loài người".

Để Người đến bắt chuyện với chúng ta, phải có Đức Maria đã. Không gì có thể khiến chúng ta sùng kính Mẹ hơn là thấy Mẹ hạnh phúc vì được tin và được ban tặng Hài nhi, một hạnh phúc lớn tới độ đã khiến bao niềm vui bùng vỡ. Quả vậy, nói về Đức Maria, Công đồng Vatican II đã có thành ngữ tuyệt vời này: "Mẹ đã đem Sự Sống đến cho thế gian" (Hc Giáo Hội 53). Chính cái đó đã khiến đứa con của bà Êlisabét nhảy mừng, và chính cái đó cũng khiến chúng ta nhảy mừng trước Đức Maria: Mẹ là sự Viếng thăm của Thiên Chúa, Mẹ đem đến cho chúng ta Sự Sống, vốn đã trở nên cho chúng ta sự sống của một con người.

Nếu việc tin vào điều đó khiến chúng ta hân hoan, thì chớ che khuất nỗi hân hoan này. Chớ gì trong những lần thăm viếng, khi mà sự tiếp xúc có thể thực hiện với một mức độ sâu xa nào đó, ai đó sẽ nhảy mừng khi nghe chúng ta, hay có lẽ chỉ khi nhìn chúng ta: "Lúc bạn giã từ ai sau một lần thăm viếng, làm sao để lại một cái gì đó của Thiên Chúa trong lòng họ" (Mẹ Têrêxa). Một cái gì đó của Thiên Chúa vì chúng ta thực sự sống theo tinh thần của Người chứ không phải tinh thần thế gian.

Lm. Phêrô Phan Văn Lợi
 

MV4-C65: CHÚA TỎ MÌNH RA

Lc 1: 39-45
 

Cuộc viếng thăm của Đức Maria hôm nay không phải là một cuộc thăm viếng bình thường giữa: MV4-C65

Cuộc viếng thăm của Đức Maria hôm nay không phải là một cuộc thăm viếng bình thường giữa chị em với nhau, vì cuộc viếng thăm nầy có một tầm quan trọng đặc biệt.

Bà Isave được đầy Chúa Thánh Thần.

ChúaThánh Thần soi sáng cho Isave nhận ra Con Thiên Chúa và Mẹ Người nơi Đức Maria đang mang thai. Như thế trong lịch sử cứu độ, đây là lần đầu tiên Chúa tỏ mình ra cho loài người qua Isave cũng như con bà là Gioan Tẩy giả mà bà đang mang thai : "Bà có phúc hơn mọi người phụ nữ và con lòng bà được chúc phúc. Bởi đâu tôi được Mẹ Thiên Chúa đến viếng thăm tôi ! Vì nầy tai tôi vừa nghe lời bà chào, hài nhi liền nhảy mừng trong lòng tôi".

Vai trò của Chúa Thánh Thần trong việc Chúa tỏ mình ra với loài người là rất quan trọng. Nếu Isave không đầy Chúa Thánh Thần thì cuộc viếng thăm lần nầy cũng chỉ là một cuộc viếng thăm tầm thường, vì tình nghĩa giữa hai người chị em họ với nhau mà thôi. Nhưng đây là một cuộc viếng thăm của Ngôi Hai đã xuống thế làm người và của Mẹ Người.

Luca muốn cho thấy việc Ngôi Hai xuống thế là công việc của cả Thiên Chúa Ba Ngôi: Chúa Cha sai Con, Ngôi Con xuống thế và Chuá Thánh Thần soi sáng cho loài người biết sự hiện diện của Ngôi Hai.

Sau nầy, trong công trình cứu chuộc của Chúa Giêsu, Chúa Thánh Thần có một chỗ đứng rất quan trọng :
· -Thần Khí Chúa xuất hiện khi Đức Kitô chịu phép rửa(Lc..3)
· -Thần khí dẫn Đức Giê-su vào hoang địa(Lc.4,1);
· -Thần khí Chúa ngự trên tôi(Lc.4)...

Ngày nay cũng thế, chúng ta chỉ có thể nhận ra sự hiện diện của Chúa Giêsu trong Giáo Hội, trong kẻ khác trong người nghèo, trong các biến cố..., nhờ sự soi sáng của Chúa Thánh Thần. Chúa Giêsu hứa với các Tông Đồ: "Chúa Thánh Thần sẽ cho chúng con biết mọi sự".

Phúc cho bà là kẻ đã tin...

Lời tung hô của Isave hôm nay làm ta liên tưởng đến lời Chúa Giêsu nói về Đức Maria mẹ Người sau nầy, khi có người ngợi khen: "Phúc cho vú đã cho Thầy bú", Chúa trả lời: "Kẻ nghe và giữ lời Thiên Chúa thì có phúc hơn".Nhưng ai là kẻ đã nghe và giữ lời Thiên Chúa hơn Đức Maria ? Đức tin của Đức Mẹ là cơ sở để cho Thiên Chúa chọn Mẹ làm Mẹ của Con Thiên Chúa. Đức Mẹ luôn tin và trông cậy vào lời của Chúa. Đức Mẹ đã cưu mang Chúa trong đức tin trước khi cưu mang Chúa trong lòng Mẹ.

Nếu nhờ đức tin của Đức Mẹ mà Con Thiên Chúa đên trong lòng Ngài cũng như đến với con người, thì hôm nay, muốn cho Chúa đến trong chúng ta, chúng ta cũng phải có một niềm tin như Đức Mẹ. Sống Mùa vọng là sống niềm tin vào lời Chúa. Và nếu Đức Mẹ được chúc phúc vì có Chúa Giêsu trong lòng thì, chúng ta hôm nay cũng thế, chúng ta chỉ có thể được Thiên Chuá chúc phúc khi chúng ta cưu mang Chúa bằng đức tin trong lòng chúng ta, và rước lấy Chúa trong Bí Tích Thánh Thể.

Đức Mẹ là gương mẫu của tinh thần Mùa Vọng trong Giáo Hội cũng như nơi mỗi người chúng ta.

Niềm vui

Thấy một linh mục lớn tuổi mà luôn luôn sống vui vẻ, có người ngạc nhiên hỏi:
-Sao cha lại có thể luôn sống vui vẻ được như thế ?
Người linh mục già trả lời:
-Tôi luôn vui vẻ là bởi vì tôi nghĩ rằng, trong muôn vật muôn loài Chúa đã dựng nên, thì loài người là quí nhất, thế mà tôi lại được làm người. Đó la niềm vui thứ nhất. Người ta sinh ra đời, có nhiều người đui què, tàn tật, chết non, mà tôi đến gần 70 tuổi mà vẫn lành lặn mạnh khỏe. Đó là điều vui thứ hai. Nhiều người hiện nay phải đói khát rách rưới, thế mà tôi chưa phải nhịn đói ngày nào. Đó là niềm vui thứ ba. Bao nhiêu người thất học, dốt nát, mà tôi lại được học hành, tuy không thông thái giỏi dang gì. Đó là niềm vui thứ tư. Ơn gọi linh mục là một ơn Chúa ban cho ai tùy ý Người, không phải muốn là được, thế mà tôi lại được làm linh mục của Chúa. Đó là niềm vui thứ năm...Và nếu chịu khó suy nghĩ thì còn biết bao nhiêu niềm vui khác nữa. Làm sao mà tôi không vui được. Niềm vui lớn nhất là tôi tin Chúa thương tôi.

Lm. Damien OFM
 

MV4-C66: TIN CÓ CHÚA Ở CÙNG

Lc 1: 39-45
 

Trại tù Humaita ở Ba Tây là một trại tù hơi khác thường. Công việc cai quản gần bốn trăm tù nhân: MV4-C66

Trại tù Humaita ở Ba Tây là một trại tù hơi khác thường. Công việc cai quản gần bốn trăm tù nhân thay vì được trao cho các nhân viên chính phủ, thì lại do một số Kitô hữu đã tình nguyện lãnh nhận công tác phục vụ những tù nhân này. Ngoài ra, còn một điều khác thường thứ hai và đáng kể hơn. Mỗi trại tù thường có phòng biệt giam để giam giữ những tội phạm ngang bướng. Tại trại Humaita, phòng biệt giam này ngày nay chỉ có một "tội phạm." Sau cánh cửa sắt, là một bàn thờ, với hoa tươi, một tượng Thập Giá, và một biểu ngữ: "Estamos juntos" (chúng ta cùng có nhau).

Người "tội phạm" biệt giam đây chính là Chúa Giêsu, và cây thánh giá của Người là một nhắc nhở hùng hồn cho mọi tù nhân rằng Chúa Giêsu đã chịu án tù cho mọi người và Người vẫn luôn ở đó với họ. Vì nhận ra tình Chúa yêu thương họ mà các tội phạm tại Humaita đã chấp nhận được cảnh tù đầy của họ.

Hai ngàn năm trước đây, khi Mẹ Maria đến thăm bà chị họ Isave, bà này đã chúc khen Đức Mẹ vì Đức Mẹ đã tin rằng những điều Chúa hứa sẽ được thực hiện. Đọc trong Thánh Kinh, Đức Mẹ biết Thiên Chúa hứa sẽ ban Đấng Cứu Thế cho nhân loại. Khi Tổng thần Gabrien đem tin mừng đến cho Đức Mẹ, với niềm tin vững vàng vào lời Chúa, Mẹ đã thưa lên lời xin vâng: "Này tôi là tớ nữ Chúa, tôi xin vâng như lời thiên thần truyền" (Lk 1:38). Với niềm tin này của Mẹ Maria, Chúa đã nhập thể làm người để cứu nhân loại thoát khỏi gánh nặng của tội lỗi. Chúng ta đang gần kề giây phút mừng kỷ niệm ngày Chúa đến trong Đại Năm Thánh Cứu Độ. Nhưng trong khi cùng với toàn thể nhân loại hân hoan mừng ngày rất thánh này, chúng ta cần dừng lại để tự hỏi mình xem Chúa Kitô đã đến ngự trị trong lòng tôi chưa?

Đêm Giáng Sinh thường được gọi là đêm an bình. Chúa Giêsu, Vua Bình An, đã đến để ban lại cho nhân loại sự bình an hạnh phúc mà nguyên tổ đã đánh mất. Nhưng tôi đã được hưởng sự bình an đó chưa? Hay là lương tâm vẫn còn bị đè nặng bởi tội lỗi, bởi những bất công, hận thù, chia rẽ... Nếu vậy, thì ích gì cho tôi, nếu Chúa đến trần gian để ở với con người, để cứu độ con người, và để ban bình an cho mọi người, nhưng riêng tôi lại không được dự phần?

Khi có Chúa ở cùng, có thể là Chúa sẽ không cất đi mọi đau khổ chúng ta đang gặp phải trong cuộc sống. Điều Chúa hứa là Người sẽ ban cho chúng ta được sự bình an trong tâm hồn, sẽ chúc phúc, và sẽ ở bên chúng ta để phù trì chúng ta trong mọi giây phút của cuộc đời. Khi sinh ra trong cảnh bần cùng, sinh trưởng trong một gia đình nghèo khó, và sau cùng chết khổ nhục trên thập tự giá, phải chăng là Chúa muốn nói trong bất cứ cảnh huống nào của cuộc đời, Chúa luôn ở bên để chia sẻ kiếp sống làm người với chúng ta. Điều quan hệ là chúng ta có dám tin là Chúa đang hiện diện trong cuộc đời của mình không? Có dám tin là Chúa có đủ quyền năng để cứu chuộc chúng ta, và sẽ giải thoát chúng ta khỏi mọi cảnh cùng quẫn mà chúng ta đang gặp phải hay không? Nếu có được niềm tin đó, thì cũng như những tù nhân tại Humaita, cho dù chúng ta vẫn còn bị giam hãm bởi những bất công trong xã hội, những hận thù ghen ghét, chúng ta vẫn tìm được sự bình an trong tâm hồn.

Vậy trong những giây phút còn lại trước giờ phút hồng phúc của đêm nay, chúng ta hãy xin Đức Mẹ ban cho chúng ta lòng tin của Đức Mẹ. Chúng ta hãy xin Đức Mẹ chuẩn bị tâm hồn chúng ta để đón tiếp Chúa đến với tâm hồn mình. Mẹ Maria có phúc vì đã tin lời Chúa hứa ban Đấng Cứu Thế sẽ được thực hiện, và như lời Tổng thần Gabrien, Mẹ có phúc vì Mẹ có Chúa ở cùng Mẹ. Xin Mẹ ban cho chúng ta cũng có được niềm tin đó, để chúng ta cũng được tiếp rước Chúa đến với tâm hồn chúng ta. Có vậy, chúng ta mới cảm nghiệm được đêm Giáng Sinh thực sự là Đêm Bình An.

Lm. Gioan M. Cao Vũ Nghi, CM
 

MV4-C67: HÃY ĐÓN NHẬN CHÚA

Lc 1: 39-45
 

Mầu nhiệm Nhập thể là là mầu nhiệm Ngôi Lời được cưu mang. Khi chấp nhận làm người, Con Thiên Chúa: MV4-C67

Mầu nhiệm Nhập thể là là mầu nhiệm Ngôi Lời được cưu mang. Khi chấp nhận làm người, Con Thiên Chúa cần một người mẹ.Và Ngài được thụ thai cách nhiệm mầu trong lòng trinh nữ. Nói một cádch khác: Để chương trình cứu độ được thành công, Thiên Chúa cần sự cộng tác của con người. Mặc dù khi dựng nên con người, Thiên Chúa không cần hỏi ý kiến, nhưng để cứu chuộc, Thiên Chúa cần con người cộng tác bằng hành động cụ thể đó là đón tiếp Ngài. Tin Mừng hôm nay ghi nhận Đức Maria như một mẫu gương đã đón nhận Thiên Chúa.

Thật vậy, Đức Maria đã đón nhận Thiên Chúa bằng lời xin vâng. Nhờ đó mà Đấng thi hành thánh ý của Thiên Chúa mới ngự xuống trong cung lòng Mẹ. Lời xin vâng này của Đức Mẹ, không phải chỉ là một ưng thuận bên ngoài, nhưng xuất phát từ một người có niềm tin vững chắc vào Lời Chúa: "Phúc cho bà là kẻ đã tin rằng Lời Chúa phán cùng Bà sẽ được thực hiện" (Lc 1,45). Nói một cách khác, hai tiếng xin vâng của Đức Mẹ, phát xuất từ một nếp sống, đã có những nhân đức và tư cách khả dĩ lôi kéo được sự chú ý đặc biệt của Thiên Chúa, đã khiến Thiên Chúa tuyển chọn Mẹ hơn bất cứ phụ nữ nào khác.

Và Đức Maria là người có diễm phúc không phải chỉ trong hay giữa các phụ nữ mà còn hơn hết mọi phụ nữ. Bởi vì Con Mẹ đang cưu mang trong lòng chính là nguồn hạnh phúc. Nhưng hạnh phúc của Mẹ lệ thuộc vào hạnh phúc của Con và do Con mà có, vì Con trong lòng Mẹ là Đấng Thánh, là Con Đấng Tối Cao, là Con Thiên Chúa và là chính Thiên Chúa; cũng chính do nguồn hạnh phúc đó mà bà Elisabeth được tham dự vào hạnh phúc vì được Mẹ Thiên Chúa đến viếng thăm; hơn nữa hài nhi mới được 6 tháng trong lòng bà cũng cảm nhận được hạnh phúc tràn đầy nên cũng nhảy mừng khi mẹ mình vừa nghe lời Đức Maria chào.

Đức Maria như một đại diện nhân loại đã đón nhận Thiên Chúa một cách hoàn hảo. Mẹ là gương mẫu cho tất cả những người muốn đón nhận Chúa. Vấn đề đặt ra hôm nay là : chúng ta đã chuẩn bị đón nhận Chúa như thế nào trong lần kỷ niệm ngày giáng sinh này? Có phải chỉ là những chuẩn bị quà bánh, đèn sao, máng cỏ,...mà thôi? Bởi vì Đức Maria đã đem Chúa Giêsu đến cho chúng ta thì chúng ta cũng phải đón nhận bằng chính cuộc sống mình.

Lm. Anthony Việt Toàn
 

MV4-C68: CHÚA NHẬT IV MÙA VỌNG C

Lc 1: 39-45
1. Viếng thăm là một hành động biểu lộ tình thương
 

Vừa nghe sứ thần truyền tin cho biết bà Ê-li-sa-bét có thai được sáu tháng, Maria liền vội vã lên: MV4-C68

Vừa nghe sứ thần truyền tin cho biết bà Ê-li-sa-bét có thai được sáu tháng, Maria liền vội vã lên đường đến thăm bà. Bà Ê-li-sa-bét sống ở miền núi, chắc chắn cuộc hành trình của Maria lên miền núi để thăm người bà con không tránh được mệt nhọc, vất vả.

Chắc chắn việc Đức Maria đến thăm bà Ê-li-sa-bét là do sự thúc đẩy của yêu thương. Ngài không đến thăm thì bà Ê-li-sa-bét chẳng trách Ngài được, lý do là bà ấy đâu biết rằng Ngài biết bà mang thai. Vả lại chính Ngài cũng đang mang thai, mà đường xá lại xa xôi. Chính tình thương đã thúc đẩy Ngài đi, vì Ngài rất giàu tình thương. Và cũng chính vì giàu tình thương mà Ngài xứng đáng làm Mẹ của Đức Giêsu, là hiện thân của tình yêu Thiên Chúa.

Tình yêu đòi hỏi phải biểu lộ ra, chứ không giữ kín bên trong. Một tình yêu giữ kín, không được biểu lộ thành hành động, không phải là một tình yêu đích thực. Tương tự như lời thánh Giacôbê: «Đức tin không có việc làm là đức tin chết» (Gc 2, 26). Cũng vậy, tình yêu không việc làm, không được biểu lộ là tình yêu chết. Tình yêu phải được biểu lộ ra thành sự quan tâm, chăm sóc, năng tìm cách gặp gỡ người thân, làm cho người thân trở nên tốt đẹp, hạnh phúc hơn. Câu tục ngữ «Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo, thất bát sông cũng lội, cửu thập đèo cũng qua» có nghĩa như thế!

Tình yêu đích thực đòi hỏi phải năng gặp nhau, nhất là những lúc người mình yêu có chuyện vui hoặc buồn. Đức Phật nói: «Yêu mà không được ở gần nhau thì sẽ đau khổ». Tục ngữ có câu: «Nhất nhật bất kiến như tam thu hề!». Vì thế, đi thăm viếng nhau là đòi hỏi của tình yêu đích thực, là biểu lộ sự quan tâm đến nhau. Vì thế, chúng ta hãy năng thăm viếng những người chúng ta yêu mến. Mà đã là người Kitô hữu, tất nhiên chúng ta có rất nhiều người mình phải yêu mến, nhất là những người lâm cảnh đau khổ, túng thiếu, những người lâm vào thế kẹt, những người cần chúng ta tới thăm viếng hơn cả. Trong gia đình tự nhiên cũng như trong Gia đình Khôi Bình, đến thăm nhau là một cách tuyệt vời để biểu lộ tính gia đình, tình huynh đệ, tình yêu thương của Kitô giáo.

2. Đến thăm để đem Chúa đến cho người mình thương

Khi Đức Maria đến thăm bà Ê-li-sa-bét, thì Ngài cũng đem Chúa đến cho bà ấy. Nhờ Đức Maria mang Chúa đến, nên không chỉ bà Ê-li-sa-bét vui mừng, mà hài nhi trong bụng bà cũng vui theo, đến nỗi phải «nhảy lên» trong bụng mẹ. Và chắc chắn cũng chính vì Đức Maria mang Chúa đến, mà niềm vui của bà Ê-li-sa-bét và hài nhi mới tăng lên một cách lạ thường như thế. Sự hiện diện của Đức Maria cùng với bào thai Giêsu còn biến đổi hai mẹ con bà Ê-li-sa-bét, khiến hai người được tràn đầy Thánh Thần, và nhận ra được sự hiện diện của Thiên Chúa nơi Đức Maria, đồng thời tin vào Thiên Chúa vững mạnh hơn.

Đến thăm không chỉ là một phương cách biểu lộ tình yêu, nói lên sự quan tâm, mà còn là một dịp thuận lợi để đem Chúa đến cho người mình thăm viếng. Nhờ ta đem Chúa đến, mà niềm vui của người được thăm tăng lên gấp bội, và họ nhận lãnh được Thánh Thần nhờ sự hiện diện của Chúa do ta mang đến. Chính Thánh Thần của Chúa trong ta sẽ thánh hóa, biến đổi họ nên tốt lành, thánh thiện, chứ không phải ta.

Đem Chúa đến cho người mình thăm viếng, không có nghĩa là mình nói thật nhiều thật hay về Chúa cho họ nghe. Rất nhiều người nói về Chúa rất nhiều rất hay, nhưng thật sự không mang Chúa trong mình. Chúa là tình thương, mình chỉ mang Chúa đến cho họ, khi chính mình yêu thương họ thật sự, bằng một tình yêu chân thực. Đức Maria có nói gì về Chúa với bà Ê-li-sa-bét đâu! Mình chỉ mang Chúa đến cho họ, khi mình đến với họ với ý muốn làm hiện thân của Chúa.

3. Hãy là hiện thân của Chúa khi đi thăm viếng

Thiên Chúa vì yêu thương nhân loại vô cùng, nên Ngài đã đến với con người trong lịch sử, cách đây 2000 năm, để cứu độ và đem hạnh phúc đến cho mọi người, cho từng người. Khi còn tại thế, Ngài đã đến thăm nhiều người, săn sóc nhiều người, cải hóa nhiều người, biểu lộ tình yêu thương cho nhiều người. Nhưng vì nhập thể làm người, Ngài bị giới hạn trong không gian và thời gian, Ngài chỉ sống tại thế có 33 năm, chỉ quanh quẩn trong đất nước Do Thái, và chỉ có thể tiếp xúc được với một số rất ít người. Nhưng tình yêu vô biên phổ quát của Ngài khiến Ngài muốn tiếp xúc với tất cả mọi người trên trần gian, để phục vụ, săn sóc họ, từng người một. Ngài không thể làm điều đó bằng chính thân xác của Ngài. Vì thế, Ngài muốn nhờ chính chúng ta làm điều ấy. Ngài muốn trở thành chính bản thân chúng ta để làm những công việc ấy, và chúng ta có thể giúp Ngài được toại nguyện ý đó.

Ngài muốn dùng chính bản thân chúng ta để thăm viếng những người chúng ta quen biết, yêu thương. Ngài muốn an ủi, vỗ về, khuyến khích, khuyên lơn, cảnh tỉnh họ bằng miệng lưỡi của ta. Ngài muốn săn sóc, làm việc phục vụ họ bằng chính bàn tay của ta. Ngài muốn yêu thương họ bằng chính trái tim của ta. Ngài muốn quan tâm tới họ bằng chính tâm trí của ta. Qua ta, Ngài muốn biểu lộ tình thương vô biên của Ngài cho họ. Muốn thế, Ngài mong muốn ta trở thành hiện thân của yêu thương, thứ yêu thương bằng hành động chứ không phải chỉ bằng lời nói. Ta có là hiện thân của tình thương, thì ta mới trở nên hiện thân của Ngài. Và chính lúc ấy, ý muốn của Ngài là yêu thương phục vụ họ mới được thỏa mãn hoàn toàn.

Vấn đề là ta có muốn trở nên hiện thân của Ngài hay không. Ngài không bao giờ muốn ép buộc ta, thúc bách ta, nhưng luôn luôn mời gọi ta. Ta có nghe thấy tiếng Ngài mời gọi không? Nếu có, hãy đáp lại lời mời ấy một cách quảng đại. Đó là cách chứng tỏ cụ thể nhất rằng ta yêu mến Ngài. Yêu mến Ngài thì phải yêu thương giống như Ngài, chứ không phải yêu Ngài bằng cách dâng lên Ngài thật nhiều thánh lễ, đọc thật nhiều kinh kệ, và quỳ hàng giờ trước nhà tạm. Nếu ta yêu Ngài thật sự, thì hãy yêu Ngài, phục vụ Ngài trong những người anh chị em gần gũi ta.

Ngài đã chẳng từng nói: «Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: "Lạy Chúa! Lạy Chúa!" là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ những ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời mới được vào mà thôi!» (Mt 7,21). Mà ý muốn của Thiên Chúa là: «Thầy ban cho anh em một điều răn mới, là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em» (Ga 13,34). Về việc dâng quá nhiều lễ tế, đọc kinh kệ quá nhiều mà thiếu lòng yêu thương nhau, Thiên Chúa đã dùng miệng ngôn sứ Isaia để nói lên sự chán ngấy của Ngài: «Ngần ấy hy lễ của các ngươi, đối với Ta nào nghĩa lý gì? Lễ toàn thiêu chiên cừu, mỡ bò mập, Ta đã ngấy (...) Thôi đừng đem những lễ vật vô ích ấy đến nữa. Ta ghê tởm khói hương, ta chịu không nổi những ngày đầu tháng, những ngày sabát, ngày đại lễ, không chịu nổi những người cứ phạm tội ác rồi lại cứ lễ lạc linh đình (...) Khi các ngươi dang tay cầu nguyện, Ta bịt mắt không nhìn, vì tay các ngươi đầy những máu...» (Is 1,11-15; xem bài đọc 2 được nêu ở trên). Chỉ có tình yêu đích thực mới làm Chúa hài lòng!

Cầu Nguyện:

Lạy Chúa, xin giúp con trở thành hiện thân của Chúa để giúp Chúa phục vụ mọi người qua chính bản thân của con. Xin cho con biết quan tâm đến niềm vui, nỗi khổ, và nhu cầu của từng người sống chung quanh con. Xin giúp con biết hy sinh thì giờ cho dù rất quí báu của con để năng đến gặp gỡ họ, thăm viếng họ, hầu nhờ đó thông cảm được những nỗi vui buồn và nhu cầu của họ. Xin giúp con biết sẵn sàng chia vui sẻ buồn và tìm mọi cách để thỏa mãn những nhu cầu chính đáng của họ. Amen.

John Nguyễn
Nguồn vietcatholic.org
 

MV4-C69: Lên đường phục vụ nhân loại

CHÚA NHẬT IV MÙA VỌNG
Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Lu-ca 1:39-45)
 

Theo dõi một cuộc chạy đua đường dài trong vận động trường, hồi hộp nhất vẫn là vòng cuối cùng: MV4-C69

          Theo dõi một cuộc chạy đua đường dài trong vận động trường, hồi hộp nhất vẫn là vòng cuối cùng.  Chúng ta bước vào vòng đua cuối cùng của mùa Vọng, nên hãy nhìn vào những “vận động viên” đã thắng giải để noi gương bắt chước các ngài là Chúa Giê-su và Mẹ Ma-ri-a.  Bài đọc thứ hai trình bày Chúa Giê-su là vị Thượng Tế tối cao của Thiên Chúa đang lên đường đến trần gian.  Còn bài Tin Mừng mô tả Mẹ Ma-ri-a hành trình đi thăm bà chị họ Ê-li-sa-bét và Gio-an là thai nhi trong lòng bà.  Từ những cuộc lên đường này, chúng ta suy nghĩ về hành trình đức tin của chúng ta trong Năm Đức tin.
          Điều làm chúng ta ngưỡng mộ nhất về cuộc lên đường của Mẹ Ma-ri-a và Chúa Giê-su trong lòng Mẹ, đó là để thực thi thánh ý Thiên Chúa.  Lời thưa “xin vâng” của Đức Ki-tô (Do-thái 10:9) và của Mẹ (Lu-ca 1:38) đã phối hợp với nhau trong cuộc viếng thăm lịch sử khi các ngài đến gặp gỡ bà Ê-li-sa-bét và Gio-an.  Chúa Giê-su lên đường đến trần gian để “hiến dâng thân mình làm lễ tế” trên thập giá.  Còn Mẹ Ma-ri-a lên đường để bắt đầu đem Chúa đến cho nhân loại.  Cuộc viếng thăm của Mẹ Ma-ri-a và Chúa Giê-su còn là một hành động liên kết giữa Thiên Chúa và con người, giữa ân sủng và đặc tính nhân bản, giữa tình yêu Thiên Chúa được nhập thể nơi Chúa Giê-su và tình yêu nhân loại được thể hiện nơi Mẹ Ma-ri-a.  Do đó, khi chúng ta biểu lộ tình thương yêu đối với nhau cũng là lúc Thiên Chúa biểu lộ tình yêu của Người.
          Một cuộc viếng thăm liên kết tình Chúa với tình người như vậy chắc chắn sẽ đem lại hoa trái.  Hoa trái đầu tiên là kẻ được viếng thăm nhận ra những hạnh phúc Thiên Chúa ban.  Nào là hạnh phúc cho chính mình vì “được Thân Mẫu Chúa và người con được chúc phúc đến với mình”.  Nào là hạnh phúc cho “đứa con trong bụng” đang nhảy lên vì vui mừng.  Và hoa trái quý giá nhất, đó là hạnh phúc nhận ra phẩm giá của người khác: “Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em”.
          Cuộc viếng thăm được mô tả qua những hành vi và động tác thật đơn sơ và dễ thương.  Trước hết đó là một chuyến đi “vội vã”, vì Mẹ muốn mau mắn chia sẻ những gì mình đã lãnh nhận từ Thiên Chúa.  Cuộc viếng thăm chân tình, biểu lộ qua những cử chỉ tự nhiên như “nhảy lên, kêu lớn tiếng, bỡ ngỡ, khâm phục, lời khen tặng chân thật”.  Nhưng những cử chỉ bộc phát ấy không chỉ nói lên tình người, mà còn diễn tả một đức tin sâu xa, được tác động do Chúa Thánh Thần nữa.  Quả thực đây là một cuộc viếng thăm gương mẫu chúng ta có thể đặt làm tiêu chuẩn cho tất cả những cuộc viếng thăm của chúng ta khi đến với những người anh chị em.
Sống sứ điệp Tin Mừng
          Có khi nào chúng ta hồi tưởng lại một cuộc viếng thăm của chúng ta khi đến với người khác, thí dụ một người bà con ở xa, một người thân đang nằm trong bệnh viện, một đứa con đang trọ học sống xa nhà và xa cả Chúa, hoặc một người già neo đơn đang ở trong nhà dưỡng lão không?  Trong một cuộc viếng thăm, chúng ta hãy cư xử giống như Mẹ Ma-ri-a, không cần phải dùng những lời lẽ khách sáo của người đời, nhưng là biểu lộ tình yêu đích thực, tình Chúa và tình người.  Ở đây, chúng ta không nghe thấy Mẹ nói điều gì, nhưng chắc chắn qua cử chỉ của Mẹ Ma-ri-a, bà Ê-li-sa-bét đã đọc và nghe được tất cả những tâm tình chan chứa trong Mẹ.
          Cuộc viếng thăm của chúng ta cũng phải phối hợp giữa hành vi nhân bản và hành vi đức tin.  Một lời kinh trước khi chúng ta lên đường, một lời cầu ngắn chúng ta chia sẻ với người già neo đơn, một lời nguyện thầm hay lời khuyên dịu dàng nhưng thẳng thắn và khích lệ cho đứa con đã lâu ngày không đến nhà thờ… chắc chắn sẽ đem Chúa đến với người khác.  Cuộc viếng thăm của chúng ta cũng phải mang đến niềm vui cho người khác, giống như Gio-an nhảy lên trong bụng mẹ, như bà Ê-li-sa-bét không kềm nổi vui mừng nên đã “kêu lớn tiếng”.  Quan trọng hơn cả, cuộc viếng thăm của chúng ta sẽ đem người khác đến với Chúa, để họ có thể nhận ra Chúa “sẽ thực hiện những gì Người đã nói” với họ.
 Lm. Đa-minh Trần đình Nhi 

 

MV4-C70: Gặp gỡ Chúa

Trong đêm khuya, người đàn ông đứng một mình trên đỉnh đồi heo hút. Đó là một đêm tuyệt đẹp. MV4-C70

Trong đêm khuya, người đàn ông đứng một mình trên đỉnh đồi heo hút. Đó là một đêm tuyệt đẹp. Bầu trời đầy sao. Tâm hồn ông thật thanh thản và bình an. Ông cảm nhận được rằng cuộc đời là một ơn huệ. Và ông đã cho biết: Chính trong đêm hôm ấy trên đỉnh đồi cao, ông đã bắt đầu tin vào Thiên Chúa. Các nhà tâm lý học thường gọi cảm nghiệm trên đây là “khoảng khắc cao điểm”. Đó là lúc mà chỉ trong thoáng chốc, chúng ta nhận ra một thế giới mới vô cùng to lớn và xinh đẹp. Từ đó, chúng ta đi vào đoạn Tin Mừng hôm nay.
Thực vậy, Phúc Âm đã ghi lại: Vừa nghe lời Maria chào, thì hài nhi trong bụng bà Isave liền nhảy mừng. Một đứa bé đạp trong bụng mẹ là điều rất bình thường. Thế nhưng, khi kẻ lại chi tiết này, hẳn thánh Luca muốn coi đó như là một cảm nghiệm được sự hiện diện của Chúa Giêsu, cũng như một chào đón mà Gioan muốn dành cho Ngài.
Trong Phúc Âm, chúng ta cũng ghi nhận được những khoảng khắc cao điểm như thế. Chẳng hạn như sau mẻ lưới lạ lùng, Phêrô đã quỳ xuống và thưa lên cùng Chúa: Lạy thầy xin hãy tránh xa con, vì con chỉ là một kẻ tội lỗi. Nói cách khác, Phêrô đã cảm nghiệm được sự tốt lành thánh thiện của Chúa. Lần khác, sau khi Chúa Giêsu biến hình trên đỉnh Tabôrê, thì từ đám mây có tiếng phán: Này là Con ta yêu dấu, đẹp long Ta mọi đàng. Các con hãy vâng theo lời Ngài. Khi nghe thế, ba môn đệ thân tín liền sấp mặt xuống đất, lòng vô cùng sợ hãi. Hay nói cách khác, trong phút giây ngắn ngủi ấy, các ông đã cảm nghiệm được chiều kích thẳm sâu của Chúa Giêsu.
Ngày nay, nhiều người vẫn được Chúa ban cho những khoảng khắc cao điểm như thế. Chẳng hạn như Paul Nagai. Ông đã cảm nghiệm được sự sống vĩnh cửu qua cái nhìn của người mẹ trong cơn hấp hối. Chẳng hạn như Paul Claudel đã cảm nghiệm được tình thương của Thiên Chúa qua tiếng hát trong buổi kinh chiều của ngày lễ Giáng sinh. Chẳng hạn như Phanxicô Xaviê đã cảm nghiệm được giá trị của linh hồn qua lời nhắc bảo của Ignatio: Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn, thì nào có ích lợi chi?
Cảm nghiệm về Đức Kitô thì không máy móc nào có thể chế tạo được. Không chiếc vi tính nào có thể lập trình, cũng không thể cứ muốn là được. Vì đây là một quà tặng Ngài trao ban. Chúng ta cần phải mở rộng cõi lòng để lãnh nhận.
Và Mùa Vọng chính là thời gian thuận tiện để chúng ta thự hiện việc làm này. Đây là lúc chúng ta phải tự chấn chỉnh lấy mình, để chào đón Đức Kitô trong cuộc đời chúng ta. Nếu chúng ta biết mở rộng cõi lòng cho Ngài, thì ngày diễm phúc ấy sẽ đến và lúc đó chúng ta sẽ thực sự cảm nghiệm được niềm hạnh phúc, sự bình an và tình yêu thương mà Ngài sẽ đem đến khi viếng thăm chúng ta.

 

MV4-C71: Phúc Cho Người Nữ Ấy Đã Tin

Chúa Nhật IV Mùa Vọng
Lc 1,39-48a: 39 Trong những ngày ấy, Maria chỗi dậy và vội vã lên đường, đến miền núi, vào một thành của Giuđa. 40 Bà vào nhà ông Dacaria và chào bà Êlisabét. 41 Khi bà Êlisabét vừa nghe tiếng bà Maria chào, thì đứa con trong bụng nhảy lên, và bà Êlisabét được đầy tràn Thánh Thần, 42 bấy giờ bà kêu lớn tiếng và nói rằng: “Em được chúc phúc nhất giữa mọi người phụ nữ, và hoa trái của dạ em cũng được chúc phúc. 43 Bởi đâu tôi được thân mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này? 44 Vì ngay khi tiếng chào của em đến tai tôi, hài nhi trong bụng tôi đã nhảy lên vui sướng. 45 Phúc cho người nữ ấy đã tin rằng sẽ được thực hiện những gì Người đã nói với người ấy.”
46 Và Maria nói: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, 47 thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi. 48 Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới; từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc.”
 

Tin mừng của Chúa nhật hôm nay gồm đoạn nói về cuộc gặp gỡ giữa Êlizabéth và Maria (1:39-45): MV4-C71

Tin mừng của Chúa nhật hôm nay gồm đoạn nói về cuộc gặp gỡ giữa Êlizabéth và Maria (1:39-45) và một phần của bài ca Magnificat (1:46-48a); đầy đủ phải là 1:46-56. Cấu trúc của đoạn 1:36-45 có thể như sau: - Hành trình của Maria (1:39-40a); - Maria chào và hiệu quả của lời chào (1:40b-41a); -  Êlizabéth chúc tụng Maria (1:41b-45); - Maria chúc tụng Thiên Chúa (1:44-55); Maria trở về nhà mình (1:56).
Trong hai câu nhập đề (1:39-40a), Luca đã dùng đến ba động từ chuyển động “chỗi dậy”, “lên đường”, “vào trong (nhà)”, và bốn lần giới từ “trong”: “trong miền núi”, “trong thành Giuđa”, “vào trong”, “trong nhà Zacaria” để diễn tả việc Maria lên đường thăm Êlizabéth, sự vội vã của nó và sự tập trung vào điểm phải đến nhanh của hành trình là gặp Êlizabéth (x. Cvtđ 14:21; 21:1; 25:8). Maria lên đường lần nầy một mình, khác với những lần cùng với Giuse đi về Bêthlêhem và lên đền thờ (2:4-5.22.41). Mẹ “lên đường” theo ý muốn của Thiên Chúa và chương trình của Người, nên mẹ vội vã. Mẹ đã đến nhà ông Zacaria để gặp Êlizabéth.
Cuộc gặp gỡ của hai người được mô tả xoay quanh tiếng chào và hiệu quả của nó (1:41 và 44). Hai câu 1:41 và 44 song đối với nhau; chỉ khác nhau là câu 1:41 được diễn tả theo lối gián tiếp; trong khi câu 1:44 là trực tiếp bởi Êlizabéth. Chúng kẹp giữa hai câu 1:42 và 43 để làm nổi bật hai câu ấy lên. Hai câu 1:42-43 vừa là lời ca ngợi mô tả hành động của Thiên Chúa trên Maria và con của mẹ, vừa được xem như là nguồn mạch mang đến niềm vui và hạnh phúc cho Êlizabéth và con của bà. Maria đã chào không chỉ bằng cử chỉ mà cả bằng lời. Trong chương 1 nầy có nhiều lời chào khi thiên thần gặp Maria (1:28-29) và Maria gặp Êlizabéth (1:40-41.44). Lời chào của thiên sứ được ghi lại (1:28); trong khi lời chào của Maria không được tường thuật lại, vì Luca quan tâm hơn đến hiệu quả của lời chào nầy. Trong Luca, động từ “nhảy mừng” chỉ xuất hiện ở đây và trong kết luận của đoạn nói về các mối phúc. Động từ nầy luôn ở thể aorist, chỉ một biến cố đã xảy ra trong quá khứ. “Các con hãy nhảy mừng, vì phần thưởng của các con rất lớn ở trên trời” (6:23). Mệnh lệnh “Hãy nhảy mừng” được xem như là kết quả diễn tả sự vui mừng vì đã có được phần thưởng ở trên trời; do đó cũng là kết quả của sự chúc phúc (6:20-22). Cũng thế, hài nhi trong dạ của Êlizabéth đã nhảy mừng vì mẹ Chúa và con của mẹ đã đến thăm, được xem như một phần thưởng từ Thiên Chúa. “Trong dạ” chỉ ngay giây phút ban đầu của một sự sống. Gioan Tẩy giả cũng đã được đầy tràn Thánh Thần ngay từ đầu (x. 1:15). Êlizabéth, người mẹ và hài nhi trong dạ gắn liền với nhau như một. Maria đến nhà bà (1:43), và tiếng chào vừa đến tai bà, “bà nghe”, thì hài nhi liền nhảy mừng (1:41.44). Hai hành động liên tiếp và tác động lên nhau. Ngược lại, sự chúc phúc cho người con cũng chính là cho bà (x. 1:43; 1:25; 11:27).
Lời chúc tụng Maria và con của mẹ gồm hai câu thơ song song bắt đầu bởi một động từ chung ở thể thụ động “chúc phúc” (1:42-43). Thể thụ động của động từ ở đây được hiểu là chính Thiên Chúa hành động. Người chúc phúc cho cả mẹ lẫn con; chứ không phải là một lời chúc từ Êlizabéth. “Giữa các người nữ” tương đương với “nhất trong mọi người nữ” trong cách nói của người do thái thời ấy. Như thế, lần nữa Luca cho thấy sự gắn bó chặt chẽ trong ân phúc giữa mẹ và con (x. 11:44). Lời của Êlizabéth còn tiếp ở câu 1:45, nhấn mạnh đến niềm tin của Maria. Lời nầy làm liên tưởng đến sự cứng lòng tin của Zacharia chồng bà: “Ông phải bị câm, vì ông không tin” (x. 1:20). Maria đã tin vào lời thiên sứ (x. 1:38) và điều nầy đã mang lại cho mẹ sự chúc phúc. Lời của Êlizabéth về lòng tin của Maria mở ra lời của mẹ trong Magnificat: cắt nghĩa với kinh nghiệm bản thân cách hành động của Thiên Chúa và đường lối của Người.
Thiên Chúa làm tất cả và Người chúc phúc cho những ai tin vào điều Người nói.
Lm. Luigi Gonzaga Đặng Quang Tiến

 

MV4-C72: Chúa Nhật IV mùa Vọng

Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Lu-ca 1:39-45)
 

Trong cuộc đời chúng ta có nhiều cuộc viếng thăm để lại trong lòng kỷ niệm êm đẹp và nhớ mãi : MV4-C72

          Trong cuộc đời chúng ta có nhiều cuộc viếng thăm để lại trong lòng kỷ niệm êm đẹp và nhớ mãi không quên.  Phụng vụ Lời Chúa hôm nay nói đến những cuộc viếng thăm đặc biệt.  Bài đọc I (Mi-kha 5:1-5a) nói về cuộc viếng thăm của “Đấng thống trị Ít-ra-en” đến với Bê-lem, thành nhỏ nhất trong xứ Giu-đê.  Bài đọc II (Do-thái 10:5-10) suy niệm về cuộc viếng thăm của Chúa Giê-su Ki-tô “đến để thi hành thánh ý Chúa” qua cái chết trên thập giá.  Đặc biệt bài Tin Mừng kể lại cuộc viếng thăm giữa con người với con người, nhưng lại có sự hiện diện vô cùng ý nghĩa của Thiên Chúa.
          Trước hết việc Đức Mẹ viếng thăm bà chị họ Ê-li-sa-bét là cuộc viếng thăm có mục đích rõ ràng.  Nhiều khi chúng ta đi đâu đó, tiện đường ghé lại thăm một người bạn, kể cũng đáng quý rồi, tuy cuộc viếng thăm ấy không được chuẩn bị từ trước.  Nhưng cuộc viếng thăm của Mẹ Ma-ri-a chắc chắn đã được chuẩn bị kỹ.  Mặc dù Mẹ “chỗi dậy, vội vã ra đi tiến lên miền núi”, nhưng không thể vội đến độ thiếu chuẩn bị.
          - Chuẩn bị hành trang:  cuộc hành trình từ Na-da-rét miền bắc xuống Ein Karem gần Giê-ru-sa-lem ít nhất cũng mất ba ngày đường bộ.  Một thiếu nữ trẻ, nhưng chu đáo, biết phải làm những gì cho ba ngày đường ấy.  Nhưng không chỉ những thứ cần thiết đi đường, mà có lẽ cả những gì Đức Mẹ nghĩ sẽ sử dụng để giúp đỡ cho bà chị họ đứng tuổi có thai lần đầu trong đời.
          - Chuẩn bị tinh thần và tâm hồn:  sắp xếp vật dụng cho chuyến đi là quan trọng, nhưng chúng ta tin chắc việc Mẹ Ma-ri-a chuẩn bị tinh thần và tâm hồn còn quan trọng hơn.  Đây là cuộc viếng thăm sau một biến cố trọng đại xảy ra cho Mẹ và cho toàn thể nhân loại:  Ngôi Hai Thiên Chúa ngự xuống trong lòng Đức Mẹ để cứu độ nhân loại.  Có hai động lực chính thúc đẩy Mẹ làm cuộc viếng thăm này:  a) Trước hết là vì tình người.  Đức Mẹ cảm thông với hoàn cảnh khó khăn của bà chị Ê-li-sa-bét mang thai trong lúc tuổi già.  Ông Da-ca-ri-a có lẽ chẳng biết làm gì hơn ngoài việc cầu nguyện và “đấm ngực” hối hận vì không tin lời sứ thần!  Cho nên vai trò của Đức Mẹ cần thiết trong lúc này.  b) Sau là vì tình Chúa.  Đức Mẹ cảm nghiệm được tình Chúa yêu thương Mẹ và yêu thương nhân loại.  Cho nên Mẹ thấy có bổn phận phải đi viếng thăm để chia sẻ niềm vui của Thiên Chúa và nhân loại với người khác.  Người đầu tiên được Mẹ viếng thăm và chia sẻ chính là bà Ê-li-sa-bét.  Đức Mẹ chuẩn bị như thế nào?  Bằng sống đức khiêm nhường và tâm tình cảm tạ Thiên Chúa.  Chính nhờ việc chuẩn bị tâm hồn của Mẹ, chúng ta mới có được bài ca “Ngợi khen” tuyệt diệu:  Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi…
          Kết quả cuộc viếng thăm là cả hai mẹ con bà Ê-li-sa-bét đều nhận ra mình được chúc phúc, mẹ thì “bởi đâu tôi được Mẹ Thiên Chúa đến viếng thăm tôi?”, còn con thì “nhảy mừng trong lòng tôi”.  Quả thực cuộc viếng thăm này tiếp nối cuộc viếng thăm của Thiên Chúa đến viếng thăm chúng ta.
Sống sứ điệp Tin Mừng
          Có khi nào chúng ta lắng tâm lại để nhận ra giá trị của những cuộc viếng thăm trong đời chúng ta không, hoặc chúng ta được viếng thăm, hoặc chúng ta đi viếng thăm người khác?  Nhưng đặc biệt nhất vẫn là những cuộc viếng thăm của Chúa, khi chúng ta cầu nguyện, rước lễ đón “Chúa ngự vào nhà”, đọc và suy niệm Kinh Thánh…  Nhưng liệu chúng ta có “nhảy mừng” như hài nhi Gio-an hay chúng ta cứ để Chúa gõ cửa mà không chịu mở tâm hồn đón Người?

 

MV4-C73: Chúa Nhật IV mùa Vọng

Nhìn thiên hạ chuẩn bị mừng lễ Giáng Sinh, ta có cảm tưởng lễ Giáng Sinh hiện thời không còn giống: MV4-C73

          Nhìn thiên hạ chuẩn bị mừng lễ Giáng Sinh, ta có cảm tưởng lễ Giáng Sinh hiện thời không còn giống với lễ Giáng Sinh đầu tiên nữa, từ hình thức cho tới tinh thần.  Những hình ảnh khiêm nhượng, đơn sơ, nghèo hèn đã bị thay thế bằng những nhộn nhịp, tốn phí và tục hóa mất rồi.  Vẫn trong tinh thần chuẩn bị đích thực, Lời Chúa hôm nay trình bày những mẫu người khiêm nhường đích thực.  Bài trích sách ngôn sứ Mi-kha giới thiệu “một vị có sứ mạng thống lãnh Ít-ra-en” mà lại xuất thân từ Bê-lem, nơi nhỏ bé nhất Giu-đê.  Thư Do-thái nói về Chúa Ki-tô khiêm tốn, đến chỉ để thực thi ý Thiên Chúa.  Còn bài Tin Mừng nêu lên tấm gương khiêm nhượng của Mẹ Ma-ri-a, Mẹ Thiên Chúa.  Khiêm nhượng là con đường Chúa đến với ta và cũng là đường ta đến với Chúa.
 
  1.   Thân phận khiêm nhượng của Bê-lem và “vị có sứ mạng thống lãnh Ít-ra-en”  (bài đọc Cựu Ước – Mi-kha 5:1-4a)
          Địa linh nhân kiệt, đất thiêng nảy sinh người tài là quan niệm thông thường của người đời.  Nhưng điều này không đúng với trường hợp của thành Bê-lem và Chúa Giê-su, “vị có sứ mạng thống lãnh Ít-ra-en”.  Thực vậy, nơi Chúa Giê-su sinh ra và nơi Người lớn lên đều không được người Do-thái xếp vào hạng địa linh, vì Bê-lem thì “nhỏ bé nhất trong các thị tộc Giu-đa” (Mk 5:1), còn Na-da-rét thì “từ Na-da-rét, làm sao có cái gì hay được!” (Ga 1:46).  Thiên Chúa chọn con đường khiêm nhu để đến với nhân loại, lấy Bê-lem làm nơi xuất hiện đấng thống lãnh Ít-ra-en.  Cả nơi chốn lẫn người xuất hiện đều mang những nét khiêm tốn.
          Trước hết là Bê-lem, “thành của vua Đa-vít”.  Tuy có tiếng như vậy, nhưng thực tế Bê-lem chẳng có gì để giữ người ta lại.  Đa-vít làm vua, sống tại Giê-ru-sa-lem nên Bê-lem cũng hầu như bị quên lãng.  Dân chúng thưa thớt, người ta tản mát đi tìm những nơi đô thị để sinh sống.  Gia đình thánh Giu-se và gia đình Đức Mẹ là một thí dụ điển hình.  Họ bỏ Bê-lem không biết từ đời nào, để lên miền bắc sinh sống tại Na-da-rét.  Bởi vậy từ bao nhiêu năm Bê-lem cũng vẫn chỉ là “nhỏ bé nhất trong các thị tộc Giu-đa”.  Bé nhất trước mắt người đời, nhưng lại lớn nhất và quan trọng nhất trước mắt Thiên Chúa vì Bê-lem nằm trong đường lối khiêm nhu của Người.
          Nếu Bê-lem đã được chọn để tỏ ra đường lối khiêm nhu của Thiên Chúa, thì “vị thống lãnh Ít-ra-en” xuất thân từ Bê-lem cũng sẽ là người lãnh đạo đi theo cùng đường lối ấy để đưa nhân loại đến hòa bình đích thực.  Ít-ra-en biểu tượng cho nhân loại trước thời cứu độ và Ít-ra-en Mới là Giáo Hội Chúa Ki-tô.  Ta hãy nghe lời Đức Chúa nói về vị lãnh đạo Ít-ra-en Mới, tức là Chúa Giê-su, Đấng Cứu Độ.  “Nguồn gốc của Người có từ thời trước, từ thuở xa xưa”.  Thánh sử Gio-an cũng nói đến nguồn gốc ấy trong lời tựa Tin Mừng:  “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời” (Ga 1:1).  Nhiệm vụ của vị thống lãnh là đưa “những anh em sống sót trở về với con cái Ít-ra-en”.   Những “anh em sống sót” đây chính là những người được Chúa Giê-su cứu độ và đưa về làm con cái Thiên Chúa.
          Nhưng làm thế nào vị thống lãnh sẽ đưa ta trở về với Thiên Chúa?  Bằng con đường tắt là sử dụng quyền năng Thiên Chúa để ép buộc mọi người về làm con cái Chúa hay sao?  Không phải vậy.  Nhưng “Người sẽ dựa vào quyền lực Đức Chúa, vào uy danh Đức Chúa, Thiên Chúa của Người mà đứng lên chăn dắt họ” (Mk 5:3).  Đó chính là đường lối Chúa Giê-su đã theo khi Người thi hành sứ vụ rao giảng Tin Mừng cứu độ.  Người thi hành sứ vụ chăn dắt bằng cách hoàn toàn dựa vào Thiên Chúa, khiêm tốn thi hành thánh ý Thiên Chúa Cha và để cho Thần Khí Thiên Chúa hướng dẫn trong mọi sự.  Chúa Giê-su khẳng định:  “Tôi không tự mình làm bất cứ điều gì, nhưng Chúa Cha đã dạy tôi thế nào, thì tôi nói như vậy” (Ga 8:28).
 
  1.   Lòng khiêm nhượng của Chúa Ki-tô:  Này con đây, con đến để thực thi ý Ngài  (bài đọc Tân Ước – Do-thái 10:5-10)
          Đoạn sách ngôn sứ Mi-kha trình bày Đấng Cứu Độ là vị thống lãnh Ít-ra-en chăn dắt họ trong tinh thần khiêm nhượng tin tưởng vào quyền năng Thiên Chúa; còn bài đọc trích thư Do-thái lại trình bày Đấng Cứu Độ đến trần gian để “thực thi ý Thiên Chúa, hiến dâng thân mình làm lễ tế” (Dt 10:10).
          Trước hết, đoạn thư nêu lên lý do tại sao Chúa Ki-tô “vào trần gian”.  Người đến với nhân loại theo ý định của Thiên Chúa.  Mà ý định của Thiên Chúa là thay đổi phương thức đền tội.  Trong Cựu Ước, việc đền tội được thực hiện bằng hy lễ và hiến tế, bằng máu chiên bò lễ toàn thiêu và lễ xá tội.  Giờ đây Thiên Chúa “không ưa” chúng nữa, vì chúng không thực sự “xóa bỏ tội lỗi trần gian” được, mà chỉ nhắc nhớ người ta phải trở về với Thiên Chúa thôi.  Cho nên Thiên Chúa muốn thay thế “những thứ của lễ được dâng tiến theo Lề Luật truyền” ấy bằng “một thân thể”, thân thể của Ngôi Hai xuống thế làm người.
          Đến trần gian với một thân thể được Thiên Chúa tạo dựng (Dt 10:5) và với mục đích để thực thi thánh ý Thiên Chúa, Chúa Giê-su “đã hiến dâng thân mình làm lễ tế, chỉ một lần là đủ” (Dt 10:10).  Điều này cho ta thấy rõ ràng tinh thần và ý lực của việc Người giáng sinh là lòng khiêm nhượng.  Trong thư gửi tín hữu Phi-líp-phê, thánh Phao-lô đề cao lòng khiêm nhượng của Chúa Giê-su khi Người đến trần gian, trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, vâng lời cho đến chết trên thập giá (Pl 2:6-8).  Như vậy, sau hơn hai ngàn năm mừng Chúa Giê-su ra đời bằng những cách phô trương bề ngoài, người ta đã làm mất đi tinh thần và ý nghĩa khiêm nhượng của biến cố Giáng Sinh rồi!  Giáng Sinh không dừng lại đó, nhưng là bước khởi đầu của con đường cứu độ xóa bỏ tội lỗi trần gian.  Tinh thần khiêm nhượng và khó nghèo của Giáng Sinh được tiếp nối bằng sứ vụ rao giảng Tin Mừng với lòng nhiệt thành vì công việc nhà Chúa nung đốt, sau cùng tinh thần khiêm nhượng phục tùng ấy đạt tới đỉnh cao qua cái chết trần truồng trên thập giá.  Nói khác đi, con đường khiêm nhượng vâng phục của Chúa Giê-su bắt đầu từ Bê-lem, rảo bước khắp miền Pha-lét-tin và thành toàn trên thập giá.  Mong sao đoạn thứ Do-thái trong Phụng vụ Lời Chúa hôm nay nhắc nhở ta hãy trở về với tinh thần đích thực của biến cố Giáng Sinh, để ta chú trọng hơn đến việc chuẩn bị tâm hồn thay vì những trang hoàng vô bổ và thương mại.
 
  1.   Mẹ Ma-ri-a và bà Ê-li-sa-bét, gương mẫu chuẩn bị mừng Chúa giáng sinh  (bài Tin Mừng – Lu-ca 1:39-45)
          Bài Tin Mừng Lu-ca kể lại cuộc thăm viếng lịch sử của Mẹ Ma-ri-a với bà chị họ Ê-li-sa-bét tại Ein Karem.  Có tính cách lịch sử, vì là cuộc gặp gỡ giữa hai bà mẹ đặc biệt biểu tượng cho thời Cựu Ước kết thúc và thời Tân Ước khởi đầu.  Nhưng hai bà mẹ ấy lại có cùng một tâm tình trước công trình cứu độ của Thiên Chúa, tâm tình khiêm nhượng và cảm tạ.
          Khi thiên sứ truyền tin thụ thai Ngôi Lời Nhập Thể, Mẹ Ma-ri-a được biết bà chị họ Ê-li-sa-bét tuy lớn tuổi nhưng đã có thai được sáu tháng.  Mẹ chuẩn bị lên đường thăm viếng bà Ê-li-sa-bét.  Cuộc thăm viếng có nhiều mục đích:  chia sẻ với tin mừng của bà chị, ở lại để giúp đỡ bà cho tới ngày sinh, nâng đỡ tinh thần của bà khỏi suy sụp, đem Chúa đến cho người khác.  Ta cứ tưởng tượng khung cảnh một gia đình của hai người lớn tuổi, một người mới bị câm, một người “chưa quen” với tình trạng có thai.  Họ gặp khó khăn về đủ phương diện, nhất là vấn đề ngôn ngữ.  Có lẽ bà Ê-li-sa-bét cũng chẳng biết đọc biết viết để vợ chồng có thể nói với nhau bằng cách viết trên bảng (Lc 1:63).  May mắn thay, đã có Mẹ Ma-ri-a hiện diện để giải quyết mọi khó khăn!
          Qua câu truyện thăm viếng này, điều giúp ta đi vào Mầu nhiệm Giáng Sinh chính là những tâm tình khiêm nhượng và cảm tạ Thiên Chúa của hai bà mẹ.  Những lời đón chào của bà Ê-li-sa-bét và nhất là bài ca Ngợi khen (Magnificat) của Mẹ Ma-ri-a đã lột tả được hết những tâm tình ấy.  Trước hết, cung cách của Mẹ Ma-ri-a lên đường là “vội vã đi đến miền núi”.  Tại sao lại phải vội vã nếu không phải là vội vã của “bước chân người ra đi loan tin mừng”?  Mẹ đến mau với bà chị họ, không phải để khoe khoang mình mới “lên chức” Mẹ Đấng Cứu Độ, nhưng là để phục vụ.  Mẹ sống tinh thần phục vụ để sau này dạy Con mình cũng phải đến để phục vụ (x. Mc 10:45).  Bài đọc Tân Ước hôm nay (Dt 10:5-10) đã cho ta thấy tinh thần phục vụ của Chúa Giê-su như thế nào.
          Điểm dễ thương của câu truyện này là trước những lời chân tình và khiêm tốn của bà Ê-li-sa-bét, ta không thấy Đức Mẹ nói gì ngoài những lời ngợi khen và cảm tạ Chúa trong bài ca Magnificat.  Chắc chắn Mẹ không “bối rối” như khi sứ thần truyền tin.  Nhưng chúng ta có thể tưởng tượng ra khuôn mặt Đức Mẹ hơi hồng lên vì bẽn lẽn trước lời khen thật thà của bà chị, ánh mắt reo vui hướng về trời cao cảm tạ Thiên Chúa.  Mẹ cảm tạ Chúa không chỉ cho riêng mình, nhưng cho hết thảy nhân loại.         Những lời chân tình của bà Ê-li-sa-bét xuất phát từ một tâm hồn thực sự khiêm tốn, nhìn nhận những gì Thiên Chúa làm cho bà và đứa con trong bụng qua cuộc viếng thăm của cô em Ma-ri-a.  Cả hai bà đều thấy được tình yêu và ơn phúc của Thiên Chúa dành cho mình và cho nhân loại.  Cả hai đều bày tỏ lòng khiêm nhường tin tưởng vào công việc Chúa làm trong công trình cứu độ, lật đổ triều đại của tội lỗi để thiết lập Triều Đại Thiên Chúa.  Mẹ Ma-ri-a đã thay mặt cho toàn thể nhân loại, cất lời ngợi khen và cảm tạ Thiên Chúa bắt đầu thực hiện kế hoạch lấy tình yêu và khiêm nhượng để phá tan sức mạnh của ghen ghét và kiêu căng.
 
  1.   Sống Lời Chúa
          Qua gương mẫu của Mẹ Ma-ri-a, Giáo Hội mời gọi ta hãy trở về với tinh thần đích thực của biến cố Giáng Sinh.  Tinh thần ấy là khiêm nhượng, cảm tạ và tin tưởng vào sức mạnh Tình yêu Thiên Chúa.  Cuộc viếng thăm của Mẹ Ma-ri-a cũng thúc giục ta hãy chia sẻ ơn cứu độ với mọi người, nhất là những người chúng ta thường tiếp cận, tại gia đình, sở làm, cộng đoàn…, để giúp mọi người cùng với ta nhận ra mình là những người được chúc phúc, thánh hóa và cứu độ nhờ Chúa Giê-su đã sinh ra, đã thi hành sứ vụ rao giảng và đã chết trên thập giá.
Suy nghĩ:  Bà Ê-li-sa-bét đã nhận ra ơn phúc Chúa ban cho bà vì được Thân Mẫu Chúa đến viếng thăm.  Trong cuộc sống, tôi có luôn luôn nhận ra những ơn phúc Chúa ban về mọi phương diện không?  Trước những ơn phúc muôn vàn đó, tôi có khiêm nhượng ngợi khen và cảm tạ Chúa không?  Tôi làm gì để biểu lộ tâm tình ngợi khen và cảm tạ Chúa?
Cầu nguyện:  Lạy Chúa, Chúa đã dùng lời thiên sứ truyền tin mà cho chúng con biết thật Đức Ki-tô, Con Chúa, đã xuống thế làm người.  Xin đổ ơn thánh đầy lòng chúng con, để nhờ công ơn Con Chúa chịu khổ hình thập giá, Chúa cũng cho chúng con được sống lại hiển vinh.  Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con.  A-men.  (Lời nguyện Nhập lễ, Chúa Nhật IV mùa Vọng).
Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

 

MV4-C74: MARIA KẺ ĐÃ TIN

CHÚA NHẬT IV MÙA VỌNG, năm C
Lc 1, 39-45
 

Chúa nhật thứ 4 mùa vọng vẫn được gọi là Chúa nhật dành riêng để nói về Đức Trinh Nữ Maria. Và: MV4-C74

Chúa nhật thứ 4 mùa vọng vẫn được gọi là Chúa nhật dành riêng để nói về Đức Trinh Nữ Maria. Và không nói đến Mẹ sao được khi Mẹ giữ một vai trò rất quan trọng trong lịch sử cứu rỗi. Quả thật, cả một chặng dài của Cựu Ước, Thiên Chúa đã chuẩn bị cho dân chờ đón Đấng Thiên Sai và trải qua ba Chúa Nhật mùa vọng, Giáo Hội đã thúc giục con người hãy tỉnh thức, cầu nguyện, ăn năn sám để dành cho Chúa một cơ hội. Thánh Gioan Tẩy Giả là vị  ngôn sứ nối kết giữa Cựu Ước và Tân Ước, đã gióng lên tiếng hô trong sa mạc kêu gọi mọi người sẵn sàng đón chờ Chúa đến:” Đồi núi phải san cho bằng, hố sâu phải lấp cho đầy, chỗ quanh co phải uốn cho ngay thẳng…và rồi mọi người sẽ thấy Đấng Cứu Độ “. Đức Maria không những đã chuẩn bị tâm hồn thật sẵn sàng, nhưng Mẹ còn dám tin vào Lời Chúa hứa nên Mẹ đã được tràn đầy ơn phước…
MARIA ĐÃ DÁM TIN VÀO LỜI CHÚA HỨA : Đức Trinh Nữ Maria lớn lên và cũng như mọi người thiếu nữ Do Thái hồi đó : Maria đã đính hôn với Giuse. Tuy nhiên, Maria đã có ý định dâng mình cho Chúa, Mẹ muốn thực hiện ước nguyện ấy một cách trọn vẹn, vì thế, Mẹ muốn khấn giữ mình đồng trinh. Chúa có con đường của Chúa và Chúa luôn hướng dẫn con người theo ý định của Ngài. Maria là người được Thiên Chúa yêu thương, sủng ái. Do đó, Thiên Chúa đã tuyển chọn Mẹ để thực hiện ý định cứu độ của Ngài. Chính vì thế, Thiên Chúa đã sai sứ thần Gabrien đến truyền tin cho Mẹ, sứ thần vào nhà trinh nữ và nói :” Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ơn sủng, Đức Chúa ở cùng bà “. Nghe lời ấy, bà rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì.
( Lc 1, 28-29 ). Hiểu được ý Mẹ. Sứ thần liền nói :” Thưa bà Maria, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa. Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu “ ( Lc 1, 30-31 ). Maria thưa với sứ thần : “ Việc ấy sẽ xẩy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng “ ( Lc 1, 34 ). Sứ thần đáp :” Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa “ ( Lc 1, 35 ). Mẹ Maria tuy hoang mang, bối rối, nhưng khi nghe lời sứ thần giải thích Mẹ dù chưa hiểu rõ ý Chúa nhưng Mẹ đã mau mắn, thưa cùng sứ thần :” Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói “ ( Lc 1, 38 ). Mariađã có một thái độ tuyệt vời, lời xin vâng của Mẹ đã nói lên lòng tin thâm sâu của Mẹ. Mẹ đã nói lời xin vâng  và chính lời xin vâng này đã đem lại sự an bình cho  Mẹ. Maria đã sẵn sàng đón nhận sứ mạng cao cả Thiên Chúa trao ban cho Mẹ. Mẹ đã xác tín sâu thẳm vào lời xin vâng của Mẹ. Mẹ đã tin tưởng tuyệt đối vào công trình cứu độ mà Thiên Chúa đang làm cho nhân loại. Mẹ đã đáp trả lời mời gọi của Thiên Chúa với tất cả lòng tin sâu thẳm của mình.
NIỀM VUI CỦA MẸ CŨNG LÀ NIỀM  HẠNH  PHÚC CỦA NHÂN LOẠI : Nói lời xin vâng, Maria đã không giữ niềm vui cho riêng Mẹ nhưng Mẹ đã hối hả đi lên triền núi để thăm người chị họ là Êlizabét cũng vừa mang thai được sáu tháng trong lúc tuổi già :” Kìa bà Êlizabét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai : bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng” ( Lc 1, 36 ). Maria và bà chị họ đã gặp nhau. Hai bà Mẹ tương lai hớn hở vui mừng và hai người con trong bụng hai bà cũng hân hoan vui sướng. Tin Mừng thuật lại :” Bà Êlizabét vừa nghe tiếng bà Maria chào, thì đứa con trong bụng nhảy lên “ Lc 1, 41 ). Được tràn đầy Chúa Thánh Thần, bà Êlizabét liền kêu lớn tiếng và nói rằng:” Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc “ ( Lc 1, 42 ). Qua Chúa Giêsu và thánh Gioan Tẩy Giả tất cả còn đang ngự trong cung lòng của hai bà Mẹ. Giao Ước cũ đã gặp được Giao Ước mới. Cuộc viếng thăm của Mẹ Maria đã mở ra một chân trời mới. Nhờ Con Thiên Chúa làm người, Thiên Chúa đã gặp con người và con người lại được gặp gỡ Thiên Chúa. Tuy nhiên, cuộc gặp gỡ cuối cùng của con người mới là cuộc gặp gỡ quyết định cho số phận của mỗi người. Liệu con người có dám thưa với Chúa rằng mỗi lần chúng con viếng thăm nhau, mỗi lần chúng con gặp người nghèo, người đau khổ, người cô đơn, người rách đói, người bị cầm tù, người bị thử thách là chúng con gặp chính Chúa không ? Vâng, Mẹ Maria đã dám tin, đã tin và Mẹ đã dám phiêu lưu đi vào con đường cứu độ của Thiên Chúa. Mẹ đã nhận lời chúc mừng của bà chị họ Êlizabét đã khiến Mẹ cảm nghiệm thật sâu xa hồng ân tuyệt vời Thiên Chúa tặng ban cho Mẹ và Mẹ đã hân hoan, hạnh phúc, vỡ òa trong niềm vui sâu thẳm bằng lời kinh chúc tụng:
“ Magnificat “…Linh hồn tôi ngợi khen Chúa.
Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ giúp chúng con biết dọn tâm hồn sẵn sàng chờ đón Chúa đến trong đêm Giáng Sinh và chờ ngày Chúa trở lại trong vinh quang vào ngày cùng tận cuộc đời của mỗi người chúng con. Amen.
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

 

MV4-C75: Chúa Nhật IV Mùa Vọng

(Lu-ca 1: 39-45)
 

Chuẩn bị tâm hồn người ta để đón tiếp Chúa Giê-su là sứ mệnh của ông Gio-an.  Giới thiệu Chúa: MV4-C75

          Chuẩn bị tâm hồn người ta để đón tiếp Chúa Giê-su là sứ mệnh của ông Gio-an.  Giới thiệu Chúa cho người khác biết và theo là việc làm nói lên lòng khiêm nhượng và chân thành của sứ mệnh ấy.  Nhưng còn một người có sứ mệnh cao cả nhất liên hệ tới việc đưa Chúa đến với người khác thì không ai hơn ngoài Mẹ Ma-ri-a.  Cuộc viếng thăm của Mẹ đến với bà chị họ Ê-li-sa-bét không chỉ là một cuộc viếng thăm của con người với nhau, nhưng nó còn mang chiều kích lịch sử cứu độ thể hiện sứ mệnh của Đấng Em-ma-nu-en, Thiên Chúa ở cùng chúng ta.  Cuộc viếng thăm ấy cũng trở thành mẫu gương mỗi Ki-tô hữu phải noi theo để chu toàn sứ mệnh truyền giáo mà Mẹ Ma-ri-a đã thực hiện với tính cách một Ki-tô hữu tiên khởi.
 
  1.   “Bà Ma-ri-a lên đường, vội vã đi đến miền núi”
          Sau khi chấp nhận lời sứ thần truyền tin và cưu mang Đấng Cứu Thế, Mẹ Ma-ri-a trở thành “Thân Mẫu Chúa tôi” như danh xưng mà bà Ê-li-sa-bét đã dùng để thân thưa với Mẹ.  Ki-tô hữu nghĩa là có Chúa Ki-tô.  Do đó Mẹ Ma-ri-a là một Ki-tô hữu đích thực trên cả hai phương diện thể xác lẫn tinh thần.  Mẹ có Chúa Ki-tô trong lòng, một Chúa Ki-tô là “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1:14).
          Có Chúa Ki-tô không có nghĩa là sở hữu một cái gì đó như ta có nhà, có xe hơi, có nữ trang..., nhưng là có tất cả những gì thuộc thần linh và con người, như trong kinh Tin Kính ta tuyên xưng Chúa Ki-tô là Thiên Chúa thật và người thật.  Có Chúa Ki-tô là có những gì cốt yếu và sống còn của cuộc đời ta, vì Người là “đường, sự thật và sự sống” của ta (Ga 14:6).  Hoặc diễn tả theo lối nói của thánh Phao-lô:  “Với tôi, sống là Đức Ki-tô” (Pl 1:21), hoặc “chính tôi đã được Đức Ki-tô Giê-su chiếm đoạt” (Pl 3:12).  Ki-tô hữu không chỉ là cái tên, nhưng là một thực tại sống động gồm có sự hiện diện của Chúa ở trong ta và hiện diện của ta ở trong Người.
          Mẹ Ma-ri-a có Chúa Ki-tô, vị Truyền giáo tối cao được Thiên Chúa Cha sai đến gian trần.  Do đó, sứ mệnh của Người cũng là sứ mệnh của Mẹ, là đến với mọi người.  Không cần phải đợi đến ba mươi năm sau Chúa Giê-su mới khởi hành truyền giáo, nhưng Người đã nhờ đôi chân yếu mềm của Mẹ, tình yêu tha nhân nồng nhiệt của Mẹ... để đến với Gio-an và bà Ê-li-sa-bét.  Hẳn là Mẹ đã thấu hiểu được lòng nhiệt thành truyền giáo của Con, nên Mẹ “vội vã đi đến miền núi, vào một thành thuộc chi tộc Giu-đa”.  Ta có thể tưởng tượng cảnh Mẹ Ma-ri-a trên hành trình truyền giáo này qua hình ảnh được ngôn sứ I-sai-a mô tả:  “Đẹp thay trên đồi núi bước chân người loan báo tin mừng, công bố bình an, người loan tin hạnh phúc, công bố ơn cứu độ và nói với Xi-on rằng:  Thiên Chúa ngươi là Vua hiển trị” (Is 52:7).
 
  1. Cuộc gặp gỡ ơn cứu độ
Lâu ngày chị em không gặp gỡ, giờ đây tay bắt mặt mừng.  Tuy nhiên thánh Lu-ca đưa ta vượt qua những tình cảm thường ngày để chiêm ngưỡng một thực tại thiêng liêng, đó là niềm vui vì được ơn cứu độ.  Niềm vui ấy khởi đi từ lời chào có thần lực làm cho một thai nhi nhảy mừng lên trong lòng mẹ.  Khách chào là người đã được sứ thần gọi là “niềm vui, đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng” (Lc 1:28), giờ đây lại đem chia sẻ niềm vui, ân sủng và chính Thiên Chúa với người chị em, thì làm sao đứa con trong bụng người chị em lại không nhảy mừng lên được!  Cả hai mẹ con bà Ê-li-sa-bét có lý do để vui mừng, là  được Thiên Chúa viếng thăm.  Cuộc viếng thăm này là một ân phúc Thiên Chúa ban cho họ qua Mẹ Ma-ri-a và Chúa Giê-su.  Nhận ra được niềm vui là một thực tại thiêng liêng, họ cũng nhận ra được những người đem lại niềm vui là ai.  Cả hai mẹ con khách viếng thăm đều là những người được Thiên Chúa chúc phúc.
Trực giác của một bà mẹ lúc nào cũng bén nhậy.  Chỉ một cử động nhỏ của thai nhi trong bụng cũng đủ cho bà nghĩ tới một thực tại tâm lý của em bé.  Ở đây, bà Ê-li-sa-bét cảm nghiệm được niềm vui của con bà vì em được gặp gỡ những người bà coi là được Thiên Chúa chúc phúc đặc biệt.  Bà đã “được đầy Thánh Thần” qua lời chào của người em họ, nên khi nhắc đến việc được Thiên Chúa chúc phúc là bà đã nghĩ đến chức phận của những người được chúc phúc, tức là sứ mệnh cứu thế của Chúa Giê-su và thiên chức làm Mẹ Thiên Chúa của Đức Ma-ri-a.  Từ đó, bà Ê-li-sa-bét nhận ra thân phận mình và bà thốt lên:  “Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này?” 
Một bài học bà Ê-li-sa-bét học được từ cuộc thăm viếng này là bài học đức tin.  Nếu ông chồng Da-ca-ri-a của bà là người thiếu đức tin trong cuộc truyền tin trong Đền Thờ, thì trái lại, Mẹ Ma-ri-a là gương mẫu đức tin cho mọi Ki-tô hữu.  Bà phát biểu:  “Em thật có phúc, vì đã tin...”
 
  1.   Sứ mệnh lên đường truyền giáo của Ki-tô hữu
          Xét bản chất cuộc viếng thăm của Mẹ Ma-ri-a đến với bà Ê-li-sa-bét, đó quả thực là việc đem Tin Mừng đến cho người khác.  Tin Mừng cứu độ là chính Chúa Giê-su đã được Đức Mẹ đem đi từ Na-da-rét qua miền đồi núi và đến thành phố nơi bà Ê-li-sa-bét cư ngụ.  Sau đó Mẹ Ma-ri-a đã cống hiến cho trần gian vị Sứ giả Tin Mừng khi Mẹ để cho Chúa Giê-su lên đường thi hành sứ vụ rao giảng Tin Mừng.  Mẹ đã sống lý tưởng của Ki-tô hữu đích thực, là có Chúa Ki-tô và ban tặng cho tha nhân tất cả những gì mình có.
          Xét lại danh nghĩa Ki-tô hữu là xét lại sứ mệnh của ta.  Nếu ta thực sự có Chúa Ki-tô, trở nên giống Chúa Ki-tô, thuộc về Chúa Ki-tô, sống theo gương Chúa Ki-tô... ta mới có thể nhận mình là Ki-tô hữu.  Nếu không thì đó thật là mỉa mai và đúng là hữu danh vô thực vậy.
          Chuẩn bị tâm hồn cử hành mầu nhiệm Giáng Sinh là nhìn vào mẫu gương Mẹ Ma-ri-a, nhất là tinh thần truyền giáo của Mẹ, để ngay bây giờ ta được “đầy Ân Sủng” tức là đầy Chúa Ki-tô, thì ta mới có thể đem chia sẻ Ân Sủng ấy cho anh chị em ta.
 
  1.   Suy nghĩ và cầu nguyện
          Tưởng tượng tôi được theo Đức mẹ đi thăm viếng bà Ê-li-sa-bét, tôi sẽ nghe Đức Mẹ nói gì với tôi và ngắm nhìn tư cách của Mẹ tôi nhận ra được những điểm nào?
          Mỗi khi rước lễ là mỗi lần Chúa ngự đến nhà linh hồn tôi.  Vậy tôi có được những tâm tình của Gio-an và bà Ê-li-sa-bét không?
          Trong viễn tượng truyền giáo, tôi sẽ theo gương Mẹ Ma-ri-a thi hành sứ mệnh như thế nào?  Ai là những Gio-an và Ê-li-sa-bét của tôi hôm nay?
Cầu nguyện
          “Lạy Mẹ Ma-ri-a,
          khi đọc Phúc Âm,
          lúc nào chúng con cũng thấy Mẹ lên đường.
          Mẹ đi giúp bà I-sa-ve, rồi đi Bê-lem sinh Đức Giê-su.
          Mẹ đưa con đi trốn, rồi dâng Con trong đền thờ.
          Mẹ tìm Con bị lạc và đi dự tiệc cưới ở Ca-na.
          Mẹ đi thăm Đức Giê-su khi Ngài đang rao giảng.
          Và cuối cùng Mẹ đi theo Ngài đến tận Núi Sọ.
          Mẹ lên đường để đáp lại một tiếng gọi
          âm thầm hay rõ ràng, từ ngoài hay từ trong,
          từ con người hay từ Thiên Chúa.
          Chúng con thấy Mẹ luôn đi với Đức Giê-su
          trong mọi bước đường của cuộc sống.
          Chẳng phải con đường nào cũng là thảm hoa.
          Có những con đường đầy máu và nước mắt.
          Xin Mẹ dạy chúng con
          đừng sợ lên đường mỗi ngày,
          đừng sợ đáp lại những tiếng gọi mới của Chúa
          dù phải chấp nhận đoạn tuyệt chia ly.
          Xin giữ chúng con luôn đi trên đường Giê-su
          để chúng con trở thành nẻo đường khiêm hạ
          đưa con người hôm nay đến gặp gỡ Thiên Chúa.”
                             (Trích RABBOUNI, lời nguyện 51)
Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

 

MV4-C76: GẶP GỠ

Chúa Nhật 4C Mùa Vọng.
Mk 5:1-4a
Lc 1:39-45
Dt 10:5-10
 

Mùa hồng ân đang bao trùm khắp trái đất. Cuộc gặp gỡ đất trời đang diễn ra ngay trong tâm hồn mỗi : MV4-C76

Mùa hồng ân đang bao trùm khắp trái đất. Cuộc gặp gỡ đất trời đang diễn ra ngay trong tâm hồn mỗi người. Cuộc gặp gỡ hôm nay giữa Đức Maria và bà Elizabeth mạc khải niềm vui sâu thắm và tột cùng Thiên Chúa có thể ban cho con người lớn lao tới mức nào.

NIỀM VUI GẶP GỠ.
Bà Elizabeth đang sống những ngày an nhàn tuổi già. Nhưng Thiên Chúa đã đoái thương tới tình cảnh nỗi nhục vì hiếm muộn của bà.  Thật là một bất ngờ giữa hoàn cảnh tuyệt vọng như thế. Niềm vui lớn lao đã đến với bà không phải vì được sinh con mà thôi. Trái lại, người con sinh lúc tuyệt vọng lại đem niềm hi vọng lớn lao cho gia đình và cả nhân loại nữa. Nếu không có người con đó, chắc chắn nhân loại sẽ không đón nhận được niềm vui cứu độ do Đức Giêsu đem lại. Ông là Tiền Hô cho Đấng Cứu thế.
Sứ mạng của ông đã được chuẩn bị từ ngàn đời.   Rõ nhất là khi Đức Maria đến viếng thăm bà Elizabeth.   Dù còn trong bụng mẹ, Gioan đã không thể ngăn cản được niềm vui khi giáp với Đấng Cứu thế.   Chính Thánh Linh đã tác động những bước chân kỳ diệu của ông để có thể diễn tả niềm vui lớn lao đó.   Thân mẫu ông đã cảm thấy điều đó khi đón chào Đức Maria : “Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này ?   Quả thật, này tai tôi vừa nghe tiếng em chào, thì đứa con trong bụng đã nhảy lên vì vui sướng.” (Lc 1:43-44)   Niềm vui đến dồn dập.   Bà không biết cảm tạ như thế nào, chỉ biết nói theo ơn linh hứng của Thánh Linh.   “Bà được đầy  Thánh Thần.” (Lc 1:41)   Bởi thế, bà mới có thể ca tụng Đức Maria sớm hơn tất cả mọi người : “Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc.   Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này ?” (Lc 1:42-43)   Đức Maria xứng đáng được ca tụng như thế, vì chính Mẹ đã “lên đường, vội vã đi đến miền núi, vào một thành thuộc chi tộc Giuđa,” (Lc 1:39) sau khi được thiên thần báo tin về việc lạ Thiên Chúa đã làm cho gia đình Giacaria.
Bà Elizabeth không hiểu hết những điều mình đã nói.   Nhưng Thánh Linh biết việc mình phải làm.   Người đã đạo diễn cho cuộc gặp gỡ lịch sử này. Nói khác, chính Người là động lực nối kết các mối tương quan và là niềm vui cho mọi cuộc gặp gỡ.   Bởi vậy trong cuộc gặp gỡ giữa Đức Maria và bà Elizabeth chỉ thấy toàn những lời chào mừng, chúc phúc.   Niềm vui tràn ngập trong ơn vũ lộ Thánh Linh.  Niềm vui cánh chung đã đến Bà Elizabeth vui sướng kêu lên : “Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em.” (Lc 1:45)  Thiên Chúa đã chúc phúc cho niềm tin tuyệt vời của Mẹ và đã ân thưởng Mẹ bằng một tặng phẩm vô cùng lớn lao là chính Thánh Linh.   Niềm tin đã quyết định cho cuộc đời Mẹ và số phận toàn thể nhân loại.   Nhờ Me,ï toàn thể nhân loại được chúc phúc.   Mẹ con ông Gioan là những người đầu tiên đón nhận hồng phúc cao cả đó.
Đâu là hồng phúc đến từ niềm tin của Đức Maria ?   Chính bà Elizabeth đã trả lời: “Người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc.” (Lc 1:42)   Người chính là trái phúc thay thế cho “trái của cây cho biết điều thiên điều ác” (St 2:17).   Trái phúc sẽ trả lại sự sống đích thực cho nhân loại.   Thật vậy, “chúng ta được thánh hóa nhờ Đức Giêsu Kitô đã hiến dâng thân mình làm lễ tế, chỉ một lần là đủ.” (Dt 10:10)   Người đã được chuẩn bị làm lễ tế ngay từ khi còn trong bụng Mẹ.   Vì “khi vào trần gian, Đức Kitô nói : Chúa đã không hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể.” (Dt 10:5)   Thân thể đó hôm nay đã được Mẹ đưa đến nhà Giacaria để ban ơn cứu độ cho Gioan trước tiên.   Dù còn trong bụng mẹ, Gioan cũng đã cảm nghiệm được ơn giải thoát vô cùng lớn lao.   Oâng muốn đạp tung bụng mẹ mà ra ngoài.   Sở dĩ ơn cứu thoát có thể đến với ông vì nhờ thân xác, Đức Giêsu đã học được cách vâng phục Thiên Chúa, như Người đã thốt lên ngay từ trong cung lòng Trinh Nữ : “Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài.” (Dt 10:7)
Bài học vâng phục này Đức Giêsu sẽ còn phải học mãi với Đức Maria và trong mọi hoàn cảnh trên đường thi hành sứ mạng, nhất là trên cây thập giá.   Lúc nào Người cũng sẵn sàng thưa với Chúa Cha : “Này con đây, con đến để thực thi ý Ngài.” (Dt 10:9)   Điệp khúc được nhắc lại không ngừng, cho tới khi “Người bãi bỏ các lễ tế cũ mà thiết lập lễ tế mới” (Dt 10:9) trong máu “giao ước mới.” (Lc 22:20)  Giao ước mới này sẽ nối lại cuộc tình giữa đất trời.  Vì “chính Người sẽ đem lại hòa bình,” (Mk 5:4a) bắt nguồn từ chính thân xác Người.  Mặc dù thân thể mỏng dòn, Đức Giêsu “sẽ dựa vào quyền lực Đức Chúa, vào uy danh Đức Chúa, Thiên Chúa của Người mà đứng lên chăn dắt” (Mk 5:3) toàn thể nhân loại.  “Vì bấy giờ quyền lực Người sẽ trải rộng ra đến tận cùng cõi đất,” (Mk 5:3)  dư sức bảo đảm cho họ được “an cư lạc nghiệp” (Mk 5:3) đến muôn ngàn đời.  “Vì Thiên Chúa đã muốn nhờ Người mà làm cho muôn vật được hòa giải với mình, đem lại bình an cho mọi loại dưới đất và muôn vật trên trời.” (Cl 1:19.20)

CUỘC GẶP GỠ THẦN KỲ.
Khung cảnh gia đình nhỏ bé nhà Giacaria hôm nay chứng kiến tất cả những nét vĩ đại nhất của hồng ân cứu độ.   Cuộc gặp gỡ thật êm đềm giữa hai phụ nữ miền quê.  Cuộc gặp gỡ thần kỳ giữa đất trời mà chỉ một mình Gioan cảm nghiệm sâu xa khi bỗng dưng được thoát khỏi nguyên tội ngay từ trong lòng mẹ.   Dư âm cuộc gặp gỡ đó còn mãi tới hôm nay.   Giáo Hội đã noi gương Đức Maria đến gặp gỡ thế giới.   Giáo Hội đã mở ra một chiều hướng đối thoại với mọi người trong mọi lãnh vực tôn giáo, xã hội, văn hóa.   Cũng như Đức Maria, nếu không cưu mang Đức Giêsu, Giáo Hội không thể tạo được thành quả thiết thực.   Nếu có niềm tin như Đức Maria, chắc chắn chúng ta cũng “vội vã” hăm hở đến gặp gỡ người anh em.   Nhưng cho đến nay, nhiều người vẫn còn thờ ơ trong cuộc đối thoại liên tôn.   Điển hình theo Đức Hồng Y Etchegaray, chủ tịch ủy ban Trung Ương Năm Thánh, “dù có những tiến bộ vượt bậc, quan hệ giữa Kitô giáo và Do thái giáo vẫn còn rất mong manh và tinh thần bài Do thái vẫn chưa hoàn toàn bị loại bỏ.” (VietCatholic 21/12/2000)   Sau gần 40 năm đối thoại, nhận xét đó nói lên một sự thật rất cay đắng.   Cuộc đối thoại giữa anh em Kitô đã tới đâu ?   Nhưng nên nhớ “trong một thế giới đang đưa ra những nguyên tắc đạo đức hoàn toàn chủ quan, và tự thấy là không thể đói phó nổi với bạo động và thù hận, tất cả những người con của Abraham cần trở nên những chứng nhân can đảm cho quyền uy tuyệt đối của Thiên Chúa.” (Etchagaray, VietCatholic 21/12/2000)
Bạo động và hận thù vẫn còn đó, nhất là tại vùng đất Á châu đa văn hóa và tôn giáo.   Không phải vô tình Thiên Chúa chọn sinh ra tại miền đất Á châu, nơi hứa hẹn nhiều cuộc gặp gỡ kỳ thú.  Bạn đã bắt đầu cùng với “Đức Maria lên đường, vội vã đi đến” với những anh em khác văn hóa và tôn giáo ngay trên miền đất mầu mỡ ấy chưa ?   Chỉ có cuộc gặp gỡ trong niềm tin sâu xa vào Thiên Chúa mới đẩy lùi những bạo lực và hận thù.
  Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, OP

 

MV4-C77: CHÚA NHẬT IV MÙA VỌNG

(Lu-ca 1: 39-45)
 

Chuẩn bị để Chúa giáng sinh tại tâm hồn ta đi theo nhịp độ từng bước của bốn tuần lễ mùa Vọng.  Trước : MV4-C77

        Chuẩn bị để Chúa giáng sinh tại tâm hồn ta đi theo nhịp độ từng bước của bốn tuần lễ mùa Vọng.  Trước hết Phụng vụ Lời Chúa Chúa Nhật I mùa Vọng mượn lời giảng của Chúa Giê-su nói về thành Giê-ru-sa-lem sẽ sụp đổ và công bố ơn cứu độ tới gần, để giúp chúng ta xác tín Chúa Giê-su là Đấng Cứu Chuộc và muốn tiếp nhận Người, chúng ta cần phải có đức tin.  Chúa Nhật II và III, qua lời giảng và sứ vụ của Gio-an Tẩy Giả, Giáo Hội mời gọi chúng ta nhìn nhận nhu cầu cần phải sám hối và mỗi người phải tìm cho mình một phương thức và hoàn cảnh riêng để thực thi việc sám hối này.  Bước sang Chúa Nhật IV, Phụng vụ Lời Chúa giới thiệu với chúng ta một gương mẫu tuyệt hảo chuẩn bị đón Chúa đến, đó là Đức Trinh Nữ Ma-ri-a, Đấng đã cưu mang Chúa Cứu Thế và là Hòm bia Thiên Chúa mang Chúa đến cho anh chị em, qua nghĩa cử đi thăm người chị họ Ê-li-sa-bét.  Vậy Đức Ma-ri-a đã làm gì cho việc chuẩn bị này?
 
 
  1.   Mẹ Ma-ri-a lên đường vội vã    
        Sau biến cố Truyền Tin, Mẹ Ma-ri-a vội vã lên đường viếng thăm người họ hàng là bà Ê-li-sa-bét cũng đã mang thai được sáu tháng.  Tại sao Đức Mẹ phải vội vã?  Chính “lòng nhiệt thành vì nhà Chúa” đã thúc giục Mẹ mau mắn đem Tin Mừng cho người khác.  Ta có thể tin chắc rằng lòng nhiệt thành của Đức Mẹ phải là nguồn phát sinh và đào tạo nên lòng nhiệt thành của người con yêu dấu là Giê-su.  Chúa Giê-su đã được huấn luyện trong trường truyền giáo Na-da-rét dưới sự dẫn dắt của Mẹ Người, sau đó Người đã lên đường đi tới khắp miền Pha-lét-tin rao giảng, làm phép lạ và hoàn tất sứ vụ qua cái chết tủi nhục trên thập giá.  Tất cả đều do “lòng nhiệt thành vì nhà Chúa.”
        Lòng nhiệt thành luôn giúp ta nhận ra tính cách khẩn trương của những gì ta phải làm.  Bà Ê-li-sa-bét đã mang thai sáu tháng rồi.  Mẹ Ma-ri-a tính nhẩm:  ít ra cũng mất hơn tuần lễ đi từ Na-da-rét “đến miền núi” (A-in Ka-rim cách Giê-ru-sa-lem 6 cây số), nên chỉ còn khoảng ba tháng để giúp đỡ cho gia đình bà Ê-li-sa-bét.  Ông Da-ca-ri-a đã già và bị câm không nói được, còn bà Ê-li-sa-bét đã lớn tuổi (Lc 1:18), nên họ lại càng cần có người giúp đỡ.  Lòng nhiệt thành giúp Mẹ Ma-ri-a vui vẻ chấp nhận công việc của một người đầy tớ, vì sau này Mẹ sẽ có một người con “đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mc 10:45).
 
 
  1.   Mẹ Ma-ri-a chào hỏi bà Ê-li-sa-bét
        Thánh Lu-ca không ghi lại Mẹ Ma-ri-a đã nói hoặc có những cử chỉ nào khi “chào hỏi” bà Ê-li-sa-bét.  Nhưng nếu xét những kết quả đem lại do việc chào hỏi ấy, ta có thể tưởng tượng ra được những ân cần và đầy thương yêu Đức Mẹ đã biểu lộ với người chị họ của mình.  “Bà Ê-li-sa-bét vừa nghe tiếng bà Ma-ri-a chào, thì đứa con trong bụng nhảy lên, và bà được tràn đầy Thánh Thần” (Lc 1:41).
        Chào hỏi mà ta thấy trong đời sống hằng ngày, nhất là tại Hoa-kỳ, thường mang tính cách máy móc.  Nói mà không ý thức mình đang nói gì.  Vẫy tay cũng giống như vẫy xe taxi thôi.  Vì thế những chào hỏi ấy chẳng gây được thay đổi gì nơi ta.  Trái lại, vòng tay ôm hôn của Mẹ Ma-ri-a phải thể hiện vòng tay tình yêu Thiên Chúa, lời nói dịu dàng của Mẹ phải là thứ ngôn ngữ của Tình Yêu, ánh mắt của Mẹ phải rực lên lửa yêu thương của Thiên Chúa, và trái tim của Mẹ phải rộn ràng những nhịp đập của Đấng “yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một” (Ga 3:16).  Đối với Mẹ Ma-ri-a, chào hỏi là đem tất cả những gì mình đã được chúc phúc để chia sẻ với người mình chào hỏi (xem Lc 1:42).  Ân phúc của Thiên Chúa cần được chia sẻ qua những gặp gỡ trong đời sống hằng ngày của ta.  Ta đã nhận được tất cả từ Thiên Chúa thì ta cũng phải cho lại anh chị em.  Đó là luật “chào hỏi” Đức Mẹ đã học từ nơi Thiên Chúa.
        Nhưng có lẽ hiệu quả lớn nhất do việc chào hỏi của Mẹ Ma-ri-a là đã giúp cho bà Ê-li-sa-bét cũng nhận ra được chính mình.  “Bởi đâu tôi được phúc này là Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi như vậy?” (Lc 1:43).  Phúc đến từ Thiên Chúa và Con Một Người.  Tuy nhiên, Mẹ Ma-ri-a là máng thông ơn Thiên Chúa và bà Ê-li-sa-bét đã nhận ra được tất cả những điều đó.  Như thế, cuộc viếng thăm của Mẹ Ma-ri-a không còn là một cuộc viếng thăm bình thường nữa, nhưng đã trở thành một ân phúc cho bà Ê-li-sa-bét rồi.
 
 
  1.   Suy nghĩ và cầu nguyện
        Tôi có tâm tình nào khi chuẩn bị đón Chúa trong mùa Giáng Sinh này?  Mẹ Ma-ri-a đã dạy tôi làm gì qua cuộc Mẹ viếng thăm bà Ê-li-sa-bét?
        Khi thấy một người cần giúp đỡ, tôi có vội vã đến với họ hay tôi tính toán hơn thiệt?
        Trong những giao tiếp với những người chung quanh, tôi có chia sẻ những gì tôi đã lãnh nhận được từ nơi Chúa không?  Làm thế nào giúp tôi ý thức được vai trò chuyển thông ân phúc của Chúa cho anh chị em?
 
        “Lạy Mẹ Ma-ri-a,
        khi đọc Phúc Âm,
        lúc nào chúng con cũng thấy Mẹ lên đường.
        Mẹ đi giúp bà I-sa-ve, rồi đi Bê-lem sinh Đức Giê-su.
        Mẹ đưa Con đi trốn, rồi dâng Con trong đền thờ.
        Mẹ tìm Con bị lạc và đi dự tiệc cưới ở Ca-na.
        Mẹ đi thăm Đức Giê-su khi Ngài đang rao giảng.
        Và cuối cùng Mẹ đã theo Ngài đến tận Núi Sọ.
 
        Mẹ lên đường để đáp lại một tiếng gọi
        âm thầm hay rõ ràng, từ ngoài hay từ trong,
        từ con người hay từ Thiên Chúa.
        Chúng con thấy Mẹ luôn đi với Đức Giê-su
        trong mọi bước đường của cuộc sống.
        Chẳng phải con đường nào cũng là thảm hoa,
        Có những con đường đầy máu và nước mắt.
 
        Xin Mẹ dạy chúng con
        đừng sợ lên đường mỗi ngày,
        đừng sợ đáp lại những tiếng gọi mới của Chúa
        dù phải chấp nhận đoạn tuyệt chia ly.
        Xin giữ chúng con luôn đi trên Đường Giê-su
        để chúng con trở thành nẻo đường khiêm hạ
        đưa con người hôm nay đến gặp gỡ Thiên Chúa.”
                        (Trích RABBOUNI, lời nguyện 51)
 Lm. Ðaminh Trần Ðình Nhi

 

MV4-C78: “Đức Maria, hòm bia Thiên Chúa ”

Chúa nhật IV Mùa Vọng năm C
Lm Phêrô Trần Đình. Dalat
 Phụng vụ Lời Chúa Mùa Vọng thật thâm trầm.
 

Với Gioan Tiền Hô, chúng ta được mời gọi hãy hoán cải, chuẩn bị đường cho Chúa đến. Với Đức: MV4-C78:

Với Gioan Tiền Hô, chúng ta được mời gọi hãy hoán cải, chuẩn bị đường cho Chúa đến.
Với Đức Maria, chúng ta được kêu mời hãy trở thành “hòm bia Thiên Chúa”, nghĩa là làm sao để lòng ta xứng đáng là “hang đá” cho Chúa ngự.
Hãy thong thả đọc lại những lời Tin Mừng hôm nay để hiểu.
 1. Đức Maria, “hòm bia Thiên Chúa”
 Thánh sử Luca muốn trình bày Đức Maria như “hòm bia Thiên Chúa” hay “khám giao ước”. Đọc Lc 1, 39-45 song song với II S 6 ta sẽ nhận ra điều đó.
Ngày xưa, sau khi bình định giang sơn, Vua Đavít đã ra lệnh rước khám Giao ước về Giêrusalem. Khám được đặt trên một “cỗ xe mới” và kiệu đi. Đavít và toàn thể nhà Israel nhảy mừng trước khám. Và khám ngụ lại nơi đâu thì Chúa đã chúc lành cho nơi đó.
Tin mừng Luca thật sự muốn trình bày Đức Maria là “khám giao ước” hay “hòm bia của Thiên Chúa”. Thử lẩy ra vài yếu nét để hiểu.
a/ Khi đến sân lúa của Nakôn, Uzza giơ tay tới khám Thiên Chúa mà nắm lại, vì bò kéo hỏng chân. Nộ khí Thiên Chúa bốc cháy trên Uzza và đánh ông tại chỗ. Đavít cảm thấy khiếp sợ và nói : “ khám của Giavê đến nhà tôi làm sao được được ?” (2 Sm 6, 9)
Khi nghe lời thiên thần truyền tin rằng mình sẽ làm Mẹ Đấng Cứu Thế, Đức Maria cũng đã thưa với thiên thần với lời lẽ tương tự : “Việc ấy sẽ xảy ra làm sao được ?” (Lc 1, 34).
 Xem ra bà Elisabet cũng đã sững sờ khi thấy Đức Maria xuất hiện : “Bởi đâu tôi được thế này là Mẹ Chúa tôi đến với tôi” (Lc 1, 43; x. 2 Sm 6, 9). Bà đã nhìn thấy nơi Đức Mẹ hình ảnh của “khám giao ước” hiện thân.
b/ Vì sợ, Đavít không dám rưốc khám vào nhà ông, nhưng để khám tại nhà Obed-Edôm. Và khám “đã lưu lại nhà Obed-Edôm người thành Gát ba tháng” (2 Sm 6, 11).
Đức Maria cũng viếng thăm chị họ Eâlisabet và “đã lưu lại với Elisabet chừng ba tháng” (Lc 1, 56).
 Rõ ràng, Luca muốn trình bày Đức Maria như “hòm bia Thiên Chúa”, như “khám giao ước”.
 Trong Tông Huấn Marialis Cultus, Đức Phaolô 6 đã hiểu như vậy : Thánh Thần đã biến Đức Trinh Nữ Maria thành “nhà ở của Đức Vua hay chốn nghỉ ngơi của Ngôi Lời, Đền Thờ hoặc Nhà tạm của Chúa, hòm bia giao ước hoặc hòm bia thánh hoá” (M.C 26).
 Kinh cầu Đức Bà hữu lý khi gọi Đức Maria là “hòm bia giao ước vậy”.
 2. Những “hòm bia Thiên Chúa” hôm nay
 a. Khi trình bày Đức Maria là “hòm bia Thiên Chúa”, Thánh sử Luca muốn nói rằng Thiên Chúa vẫn tiếp tục hiện diện ở giữa dân Người, một sự hiện diện khiêm nhường và kín đáo. Đó là nét nghịch thường của mầu nhiệm Nhập Thể. Sự hiện diện của Người được bày tỏ qua một con người : Đức Maria.
 b. Đàng khác khi đặt bài Tin Mừng này vào trong ngày Chúa Nhật cuối cùng của Mùa Vọng, có lẽ Giáo Hội muốn dạy chúng ta, một cách nào đó, hãy trở thành “hòm bia”, “nơi” xứng đáng để Thiên Chúa cư ngụ.
 Mùa Giáng Sinh, nếu không để ý, người ta sẽ dễ quan tâm đến những yếu tố bên ngoài nhiều hơn mà xem nhẹ yếu tố bên trong. Những hang đá sẽ được trang hoàng lộng lẫy, với những đèn đóm muôn mầu muôn sắc. Đã đành những yếu tố bên ngoài cũng cần thiết, nhưng nếu thiếu sự chuẩn bị bên trong thì Chúa vẫn sẽ không sinh xuống lòng chúng ta và như vậy việc Chúa đến nào có ích gì !.
 Nếu ngày xưa, hòm bia là nơi chứa đựng thập giới, thì Đức Maria là hòm bia khi ngài là nơi tiếp nhận Chúa, bởi cõi lòng ngài hoàn toàn thanh sạch, rất xứng đáng là nơi Chúa ngự. Hôm nay Chúa cũng mời gọi chúng ta hãy trở nên “hòm bia”, nghĩa là nơi xứng đáng để ngài ngự xuống.

 

 MV4-C79: ĐEM CHÚA ĐẾN

CHÚA NHẬT IV MÙA VỌNG, C
 

Mùa vọng là mùa “CHÚA ĐẾN” (CN I); để Chúa đến không trì hoãn, con người cần phải dọn:  MV4-C79

Mùa vọng là mùa “CHÚA ĐẾN” (CN I); để Chúa đến không trì hoãn, con người cần phải dọn “ĐƯỜNG CHÚA ĐẾN” (CN II); khi Chúa lên đường đến với thế giới, cả nhân loại hân hoan “MỪNG CHÚA ĐẾN” (CN III); và niềm vui Chúa đến không chỉ giữ cho riêng mình, mà còn phải “ĐEM CHÚA ĐẾN” (CN IV) cho mọi người và mọi thời.
 Phụng vụ Chúa nhật thứ tư mùa vọng hôm nay giới thiệu Đức Maria như ngưới đem Chúa đến cho con người và cụ thể là cho gia đình bà chị họ là Isave. Maria đã không chút chần chừ, Mẹ đã vội vã ra đi tiến lên miền núi đến nhà Giacaria, để ‘Lời Hằng Sống’ phát thành ‘Tiếng Của Người Hô’từ trong dạ mẹ : “ Bởi đâu tôi được Mẹ Thiên Chúa đến viếng thăm “ (Lc.1, 43).
 Được Chúa viếng thăm đã là một hồng ân và hạnh phúc biết chừng nào, như hai mẹ con Gioan tiền hô, nhưng đem Chúa đến cho người khác thì còn cao cả và kỳ diệu hơn nhiều, như Đức Maria đã ngây ngất trong Thần khí với bài ca Magnificat. Khi đặt hài nhi Giêsu nằm trong máng rơm và giới thiệu cho các mục đồng, Mẹ đã nghẹn ngào không nói nên lời, cứ suy đi ngẫm lại trong lòng, còn các mục đồng thì không ngớt lời ca tụng và tôn vinh Thiên Chúa (Lc. 2, 19-20). Ngày Mẹ đem dâng Chúa vào đền thờ để cho Simêon và Anna chiêm ngắm và bồng bế, hai vị lão ông và lão bà đã ngập tràn hạnh phúc, ’sướng muốn chết được’!(Lc. 2,22-38). Ngày nay ở trên trời, Mẹ vẫn mãi mãi được tôn vinh như là Người Đem Chúa Đến cho nhân loại qua cách nói: “Per Mariam ad Jesum”! “Qua Mẹ đến với Giêsu”!
 Sứ mạng đem Chúa đến không chỉ dừng lại nơi Mẹ Đấng Cứu Thế, mà còn là bổn phận cho tất cả những ai xưng mình là kytô hữu. Kytô hữu không chỉ là một tên gọi, một tước hiệu, mà còn là một phẩm cách, một thực chất của những người có Chúa Kytô, những người mang Chúa Kytô và mong mỏi đem Chúa đến cho mọi người. Trong Tin mừng Thánh Gioan, Chúa Giêsu nói : “ Ai thấy Tôi là đã thấy Chúa Cha “ (Yn. 14,9). Người Kytô hữu chính danh và luôn sống hiệp nhất với Chúa, phải xác tín và tự hào nói với người khác :  Ai thấy tôi là đã thấy Chúa Giêsu ! Bởi vì  “tôi sống nhưng không còn phải là tôi sống, mà là chính Chúa Kytô sống trong tôi” (Ga. 2,20).
 Biết bao người thời nay đã gặp và thấy Chúa Giêsu một cách sống động nơi các kytô hữu rất bình dị như chúng ta, như nơi một Têrêsa Calcutta chẳng hạn. Không ngờ Chúa lại gần gũi, dễ mến và dễ đến đến thế !
 Thiên Chúa quả thực là Thiên Chúa của người sống (Mt. 22,32), của những người đang sống như chúng ta hôm nay. Những người mà xã hội chứng nhận là ‘người thật, việc thật’, những người sống ‘tốt đời, đẹp đạo’ và nhiều lúc dám lội ngược dòng để không không làm lu mờ các giá trị ngàn đời của phúc âm.
 Bước vào năm truyền giáo và sống trong một thế giới có nhiều dấu hiệu khước từ Thiên Chúa, thì người đem Chúa đến cho anh em, như Đức Maria, trước tiên phải cảm nghiệm một cách sâu sắc trong hoan lạc của Thánh Thần về niềm vui có Chúa thật sự trong lòng mình, đồng thời người đem Chúa đến cho thời đại hôm nay phải trải rộng tình yêu, sự bình an và lòng bao dung đối với mọi người. Người đem Chúa đến cũng chính là người không ngừng kêu xin :” Maranatha!
 Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến !” (Kh. 21,20). Xin Chúa hãy đến với con và đến với mọi người !.
 LINH MỤC PHAOLÔ DƯƠNG CÔNG HỒ
CHÁNH XỨ ĐẠ TẺH – LÂM ĐỒNG

 

MV4-C80: CHÚA ĐẾN

CHÚA NHẬT IV MÙA VỌNG, năm C,
Lc 1, 39-45
 Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
 

Mùa vọng là mùa chờ đợi. Tin Mừng của thánh Luca 1, 39-45 đưa nhân loại vào những giờ áp của ngày: MV4-C80

Mùa vọng là mùa chờ đợi. Tin Mừng của thánh Luca 1, 39-45 đưa nhân loại vào những giờ áp của ngày Con Thiên Chúa, Đức Giêsu Kitô được sinh ra trong hang đá Bêlem. Sự mong chờ, đợi trông tưởng chừng như mòn mỏi không bao giờ tới thực tế đã xẩy ra trong lịch sử cứu độ, trong lịch sử nhân loại. Sự xuất hiện của Đức Trinh Nữ Maria đang mang thai bởi phép Chúa Thánh Thần, vội vã đi thăm bà chị họ là bà Êlisabét cũng đang mang thai trong lúc tuổi già,minh chứng cho nhân loại mầu nhiệm Con Thiên Chúa làm người để ở giữa nhân loại, ở giữa con người, thực sự đã diễn ra trong lịch sử. Emmanuen nghĩa là Thiên- Chúa- ở- cùng đã thực hiện rốt ráo lời ngôn sứ Isaia loan báo trước cho nhân loại ngong ngóng đợi chờ.
 Tin Mừng của thánh Luca sáng nay cho thấy sự gặp gỡ của hai người phụ nữ, hai người chị em họ thật lạ lùng. Êlisabét, một người có tuổi, sống trong tình trạng son sẻ tưởng chừng không bao giờ có con. Còn Maria, giữ mình đồng trinh cũng có nghĩa là không sinh con. Son sẻ và đồng trinh đồng nghĩa với hết dòng sự sống. Quan niệm của người Do Thái: son sẻ và đồng trinh là chết. Chết là hết còn sự sống. Vậy, không sinh nở là người coi như đã chết. Tuy nhiên, trường hợp của Mẹ Maria và bà  Eâlisabét là những trường hợp đặc biệt, lạ lùng dưới tác động của Thiên Chúa và Chúa ThánhThần Trên thập giá cái chết của Chúa Giêsu mang lại sự sống mới cho nhân loại.Đồng trinh của Mẹ là một cái chết, nhưng dưới tác động, dưới sức mạnh của Chúa Thánh Thần, cái chết đã biến thành sự sống mới:” Thánh Thần sẽ đến trên bà, và quyền năng Đấng tối cao rợp bóng trên bà. Bởi thế, trẻ sắp sinh sẽ được gọi là thánh, là Con ThiênChúa
(Lc 1, 35 ).
 Cuộc gặp gỡ của hai người phụ nữ thánh trong trình thuật Tin Mừng của thánh Luca mang một ý nghĩa thật cao vời. Hai người Mẹ đều được Thiên Chúa để ý, tuyển chọn để góp phần vào công cuộc cứu độ nhân loại. Cuộc gặp của bà Eâlisabét và ĐứcTrinh Nữ Maria không chỉ là cuộc gặp gỡ, hội ngộ giữa hai người Mẹ, nhưng thực ra là cuộc gặp  gỡ của Gioan Tẩy Giả và Chúa Giêsu. Gioan đã thi hành sứ mạng ngôn sứ của mình khi nhẩy mừng trong bụng mẹ và lời chúc tụng của bà Eâlisabét cất lên   là lời khen ngợi Đấng cứu tinh đã đến trong thế gian ngang qua cung lòng trinh khiết của Đức Maria. Như vậy, cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và Gioan là cuộc gặp gỡ giữa Đấng tạo hóa và nhân loại.
 Mẹ Maria đã đon đả đi thăm bà chị họ Isave là để thông báo cho bà chị họ niềm vui mình cũng mới nhận được và để chia sẻ niềm hạnh phúc mà người chị họ của Mẹ là người son sẻ, nay đã được Thiên Chúa yêu thương, để ý và chúc lành cho mang thai. Maria tới thăm bà Isave với tinh thần phục vụ và giúp đỡ. Mẹ Maria đã noi gương Con Mẹ đến để phục vụ, chứ không đến để được hầu hạ, được giúp đỡ. Mầu nhiệm nhập thể chính là Mầu Nhiệm Con Thiên Chúa đến trần gian là để phục vụ, ở với con người để chia sẻ, để gánh tội cho con người và hy sinh phục vụ nhân loại cho đến chết Mùa vọng mời gọi con người  đến với Chúa Giêsu giáng sinh nơi hang đá Bêlem, chấp nhận sự khó nghèo để gần gũi con người. Mùa vọng cũng gọi mời con người đến với nguồn hạnh phúc là tình yêu của Chúa cứu thế làm người, nhưng cũng đồng thời hướng con người đến với Đấng thi thố quyền năng và đồng hóa với những con người khó nghèo, bé mọn. Mùa vọng là mùa của đợi chờ nhưng tràn đầy hy vọng như các mục đồng, như các đạo sĩ đã tìm được Chúa Hài Đồng nơi hang đá Bêlem dưới tiếng mời gọi của các thiên thần và theo ánh sao...
 Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con được biết noi gương Mẹ Maria mà sống âm thầm chờ đợi Chúa với tất cả con tim và niềm hy vọng sâu xa.
 GỢI Ý CHIA SẺ:
 
  1.      Vai trò của Mẹ Maria trong lịch sử cứu độ ?
  2.       Maria đi thăm bà Isave để làm gì ?
  3.       Bạn có thích đi thăm người khác không? Tại sao ?
 

MV4-C81: "Bởi đâu tôi được Mẹ Thiên Chúa đến viếng thăm tôi"

Lc 1, 39-45
SUY NIỆM
Linh Mục Giuse Nguyễn Hữu Duyên

 

Trong cuộc sống đức tin, chúng ta sẽ luôn gặp một thách đố: Dường như chúng ta luôn mãi chỉ là : MV4-C81

Trong cuộc sống đức tin, chúng ta sẽ luôn gặp một thách đố: Dường như chúng ta luôn mãi chỉ là những hạt bụi bên lề xã hội. Đó cũng là số phận của những "số sót" trong Israel như Elisabeth, Giuse và Maria. Lời Chúa hôm nay muốn nói với chúng ta.
Bê-Lem trước đây 2000 năm vào thời Đức Giêsu vẫn chỉ là Bê-Lem thời Mikêa : nhỏ bé và ít ai biết tới, tuy đó là quê cha đất tổ của David. Nhưng nếu giòng tộc hoàng vương này, với tất cả quyền lực trong tay cũng không thể làm cho mảnh đất nhỏ bé này tồn tại được, thì Thiên Chúa vẫn cho nó một chỗ đứng vững chãi trong Giao Ước yêu thương của Người. Lời tiên tri Mikêa, và mầu nhiệm Nhập Thể chẳng phải là cho chúng ta đó sao ?
 Vì thế "những hạt bụi bên lề xã hội" như chúng ta cần nói lên niềm hy vọng của mình. Tín thư Do Thái là tiếng nói của "số sót" ấy. Trong Đức Giêsu Kitô, con người ngay từ lúc vào đời cho đến lúc ra khỏi trần gian này chính là một kẻ bị gạt ra ngoài cõi nhân sinh, mỗi người như chúng ta có thể ngẩng cao đầu : bởi vì Thiên Chúa không ưng nhận những công trạng, những của lễ do bàn tay con người, những cái mà anh cũng như tôi luôn luôn thiếu thốn, mà Người chỉ chấp nhận với tất cả sự qúy trọng chính con người trần trụi và đơn thành, cái mà chúng ta dường như chẳng bao giờ thiếu.
 Tuy nhiên con người trần trụi và đơn thành, tự nó chẳng phải là một của lễ, cho nên chẳng thiếu gì những con người khốn cùng đã trở thành cơn ác mộng cho nhân loại. Người ta phải đọc lại Tin Mừng. Elisabeth, Maria, Giuse hiểu rất sâu sắc chính là Thánh Thần tự hiến trong những trần trụi và đơn thành của con người để biến đổi nó thành Lời Tạ Ơn yêu thương. Vì thế, các Ngài đã chấp nhận trở nên cảnh vực Thần Linh cho Giao Ước của Thiên Chúa hoạt động và đơm bông kết trái trong lòng dạ và trong cuộc sống. Chính là Thánh Thần réo gọi và đáp trả trong sự mỏng dòn của một thai nhi, mà làm cho nó thi hành sứ mạng tiền hô ngay trong lòng dạ mẹ mình. Vì thế lời của Elisabeth là khẳng định của một niềm tin : "Phúc cho Bà là kẻ đã tin...". Chính niềm tin ấy tiêu diệt sự son sẻ và đưa sự trần trụi và đơn thành vào sự sống sung mãn. Tín thư Do Thái đã nói cách thật chí lý "chúng ta được thánh hóa nhờ việc hiến dâng Mình Chúa Giêsu Kitô..." bởi vì chính trong sự Hiến Dâng ấy mà Thánh Thần được tuôn tràn từ cạnh sườn Người chảy chan hòa trên chúng ta.
 Nếu cuộc sống của chúng ta chỉ là chạy theo đà sống của xã hội, thì qủa thật anh cũng như tôi chúng ta đã bị đào thải từ lâu rồi.
Đức Kitô, Đấng chúng ta yêu mến và tín thác, và Thánh Thần lại ưa chọn sự trần trụi để quyền năng của Thiên Chúa được rực rỡ
vinh quang. Và chính điều này cho chúng ta một chỗ đứng trong gia đình và trong xã hội nữa. Mùa vọng đã sắp chấm dứt : niềm vui của chúng ta chính là sự trần trụi của mình.

 

MV4-C82: CHỦ NHẬT IV MÙA VỌNG - NĂM C, 2000

Đây là những lời của Dân Do Thái kêu gào Thiên Chúa đến cứu độ họ khỏi ách tội. Họ biết rằng họ: MV4-C82

"Lạy Chúa là Chúa Tể càn khôn, xin phục hồi chúng con, xin tỏa ánh tôn nhan rạng ngời, để chúng con được ơn cứu độ" (Tv 80, 19). Đây là những lời của Dân Do Thái kêu gào Thiên Chúa đến cứu độ họ khỏi ách tội. Họ biết rằng họ cần được giải thoát khỏi thần dữ đang ngự trị trong lòng họ.
 Dân Do Thái không phải không biết đến lời hứa trong Cựu Ước. Họ biết rằng Thiên Chúa sai Đấng Cứu Độ đến cho họ. Một nhân vật vĩ đại có thể đem đến cho họ sự bình an của Thiên Chúa quyền năng. Một nhà cai trị, một mục tử có thể hướng họ đến sự công chính của Nước Trời. Qua các ngôn sứ, Thiên Chúa sẽ ban Đấng Cứu Độ cho Dân Ngài qua lòng một trinh nữ. Ngài không đòi hỏi nơi họ những hy lễ và hiến tế nhưng là một tâm hồn rộng mở và vâng phục. Ai xứng đáng có tâm hồn trong trắng hơn Chúa Giêsu và Mẹ Maria? Thánh Phaolô trong thư gửi Tín Hữu Do Thái đã giải thích về việc sinh hạ của Chúa Giêsu là để kiện toàn lời Thánh Vịnh 40: "Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể" (Dt 10, 5). Mẹ Maria cũng thế, Mẹ đã dâng hiến trọn vẹn con người mình để phụng sự Thiên Chúa và Thiên Chúa đã gìn giữ Mẹ khỏi vướng nhiễm nguyên tội. Mẹ đã vâng lời dâng hiến cung lòng mình để mang đến cho nhân loại Đấng Cứu Tinh. Khi Mẹ cất lời chào chị họ mình là Elizabeth, chính sự hiện diện của Giêsu Ngôi Hai Thiên Chúa trong lòng Mẹ đã tỏ hiện cho Elizabeth và thai nhi trong lòng bà. Elizabeth được tràn đầy Thánh Thần qua lời chào của Mẹ và thai nhi trong lòng bà đã nhảy mừng vì Mẹ Thiên Chúa đến viếng thăm.
 Thiên Chúa cũng đã đến viếng thăm chúng ta. Một cách tương tự, chúng ta được đón nhận Chúa Thánh Thần qua bí tích Rửa Tội vì công nghiệp Chúa Giêsu đã thực hiện cho chúng ta trên Thập giá. Tất cả mọi công việc chúng ta làm ngay cả những sự hy sinh lớn lao cũng nên vô ích nếu lòng chúng ta không hướng về Chúa. Chúa Thánh Thần sẽ giúp chúng ta mở lòng mình để đón nhận Chúa Giêsu cách trọn vẹn và nhờ thế chúng ta sẽ có sự an bình và niềm vui bất tận mà thế gian không ai có thể đem lại cho chúng ta. Trong khi chúng ta đợi chờ để thông phần vào việc cử hành sinh nhật của Chúa Giêsu, chúng ta hãy cùng vui mừng với các thiên thần và nhất là Mẹ Maria trong ngày trọng đại đã được tiên báo từ rất lâu này. Chúng ta hãy tin như Mẹ Maria rằng tất cả những điều Thiên Chúa muốn làm cho mỗi người chúng ta là làm chúng ta nên thánh.
 Mẹ Maria là "người được chúc phúc giữa các người phụ nữ" vì sự tin tưởng và vâng phục Thiên Chúa. Chúng ta hãy xin Mẹ giúp chúng ta biết đón nhận và yêu mến con Mẹ với tất cả tấm lòng của chúng ta. Xin Mẹ hãy ở bên chúng ta mỗi khi chúng ta cử hành và lãnh nhận các Bí Tích Chúa Giêsu đã để lại cho chúng ta.

 

MV4-C83:  ĐỨC MARIA THĂM BÀ ÊLISABÉT

Bài Tin Mừng Lc 1, 39 – 45 cho thấy biến cố Đấng Mêsia ngự đến đã được thực hiện như thế nào: MV4-C83

Bài Tin Mừng Lc 1, 39 – 45 cho thấy biến cố Đấng Mêsia ngự đến đã được thực hiện như thế nào và mầu nhiệm cứu độ được diễn tả trong biến cố đó ra sao. Để thăm viếng v à ban tặng Ơn Cứu Độ cho nhân loại, Thiên Chúa đã ưu ái chọn Đức Maria. Con người Đức Maria, lòng tin của Mẹ, sự tuân phục của Mẹ, tình mẫu tử của Mẹ... đã là những “lối nẻo” Thiên Chúa chọn để viếng thăm và cứu độ chúng ta. Trung tâm sứ điệp của bài Tin Mừng này, vì thế, tập trung nơi Đức Maria, Mẹ của Chúa Giêsu.
Vừa khi Đức Maria chào bà Êlisabét, bà liền được đầy tràn Thánh Thần và kêu lớn tiếng. Tâm hồn bà Êlisabét tràn ngập một niềm vui khôn tả. Và bà cất lời chào Đức Maria.
Chắc chắn niềm vui mà bà Êlisabét đang trải nghiệm không phải chỉ là một niềm vui bình thường của một người phụ nữ được một người họ hàng đến thăm, mà chính là niềm hân hoan thánh thiện của thời đại Đấng Thiên Sai đến thực hiện chương trình cứu độ của Thiên Chúa.
Có một niềm vui mới mẻ ùa vào trần gian do mầu nhiệm Con Thiên Chúa nhập thể. Thiên sứ của Thiên Chúa, trong khung cảnh của biến cố Con Thiên Chúa đến trần gian, đã luôn tự trình bày về mình như là sứ giả của niềm vui, và là niềm vui của thời cứu độ. Với ông Dacaria, thiên sứ nói: “Ông sẽ được vui mừng hớn hở và nhiều người cũng sẽ được mừng vui” ( 1, 14 ). Lời đầu tiên mà thiên sứ Gabriel thưa với Đức Mẹ trong biến cố truyền tin là lời “Mừng vui lên !” Và với các mục đồng, thiên sứ nói: “Này tôi loan báo cho anh em một tin vui lớn lao” ( 2, 14 ). Phần Đức Maria, ngay từ giây phút đầu tiên nói lời “Fiat”, Mẹ đã được trải nghiệm một niềm vui sâu xa khôn tả. Tất nhiên niềm vui của Mẹ không phải là một cái gì đó dễ dãi và có sẵn, mà là một thực tại lớn dần theo thời gian. Niềm vui ấy sẽ trở nên ngày càng sống động hơn, sâu sắc hơn và thâm trầm hơn, sau một quá trình chín muồi dần. Một trong những thời điểm đặc biệt mà chúng ta thấy niềm vui đó của Đức Mẹ như vỡ oà, là thời điểm Đức Mẹ cất lên bài ca Magnificat tán dương Thiên Chúa, trong cuộc viếng thăm bà Êlisabét này ( 1, 46 – 47 ).
Đặt trong chuỗi những niềm vui đó, chúng ta có thể nói: chắc chắn niềm vui khiến bà Êlisabét thốt lời ca ngợi Đức Maria trong bài Tin Mừng này, phải có một ý nghĩa đặc biệt và thuộc về cảnh vực của mầu nhiệm Thiên Chúa cứu thế gian. Khi Đức Maria đến thăm bà Êlisabét, Mẹ mang đến cho bà niềm vui thánh thiện và sâu sắc ấy, vì Đấng mà Mẹ đang cưu mang chính là Đấng cứu độ nhân loại.
Trong niềm hân hoan đó, bà Êlisabét nói với Đức Maria: “Em được chúc phúc” ( c. 42b ).
Theo lối nói đặc biệt trong Kinh Thánh, “em được chúc phúc” tức là “Thiên Chúa đã chúc phúc cho em”. Thực tại đầu tiên mà bà Êlisabét nhận ra nơi Đức Maria chính là ơn phúc Thiên Chúa đã thực hiện nơi Mẹ: “Thiên Chúa đã chúc phúc cho em”. Luôn luôn, chính hành động của Thiên Chúa mới là yếu tố căn bản và có tính quyết định. Theo gương bà Êlisabét, chúng ta chỉ có thể tôn kính Đức Mẹ một cách đúng đắn nếu chúng ta chiêm ngưỡng Mẹ không phải nơi chính Mẹ, mà là trong tương quan với Thiên Chúa.
“Chúc phúc” theo nghĩa riêng biệt của hạn từ, là công trình của một mình Thiên Chúa mà thôi. Và nó có nghĩa là: ban cho Sự Sống, giữ gìn trong Sự Sống, mang đến sự viên mãn của Sự Sống. Thiên Chúa là Chúa của Sự Sống, mỗi thụ tạo đều “mắc nợ” Ngài về chính Sự Sống của mình. Nhưng Thiên Chúa chúc phúc cho Đức Maria một cách đặc biệt, khi Ngài tạo nên nơi Mẹ một Sự Sống Thần Linh, mới mẻ và hoàn hảo. Đó là chính Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa đang nhập thể làm người nơi cung lòng Mẹ.
Khi nói Đức Maria được chúc phúc “hơn mọi người phụ nữ” ( c. 42b ), bà Êlisabét muốn nói rằng: Thiên Chúa, Chúa của Sự Sống, đã làm nên nơi Đức Mẹ Sự Sống vô cùng đặc biệt, và Người đã làm điều đó không giống như Người đã làm nơi bất cứ người phụ nữ nào khác. Mọi sự sống đều tuỳ thuộc vào Thiên Chúa, theo đúng quy luật mà Người đã đặt trong tạo thành. Chính bà Êlisabét cũng đang mang thai, tức là chính bà cũng đang được Thiên Chúa chúc phúc, đang được Thiên Chúa gây nên nơi mình một sự sống là cậu Gioan Tẩy Giả. Trong tư cách là một phụ nữ cao niên và son sẻ, bà đang trải nghiệm nơi chính mình tính cách đặc biệt của phúc lành của Thiên Chúa. Nhưng đứa con bà đang mang trong bụng vẫn là con của bà và con của ông Dacaria. Trái lại, Đức Maria trở thành một người mẹ theo một cách thức hoàn toàn khác lạ so với mọi phụ nữ trên trần gian, vì Sự Sống đang tượng hình nơi Mẹ hoàn toàn là do một sự can thiệp độc đáo, đặc biệt và sáng tạo của Thiên Chúa. Khi ta đọc lời kinh Kính Mừng “Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ”, là chúng ta suy gẫm về mầu nhiệm lạ lùng đó nơi Đức Mẹ.
Tiếp đó, bà Êlisabét nói một cách rõ ràng: người con mà Đức Maria đang cưu mang trong thai được chúc phúc ( c. 42c ). Nói cách khác, Thiên Chúa đã chúc phúc cho người con mà Đức Maria đang cưu mang. Người ban cho Đấng ấy sự sống và sức mạnh. Mầu nhiệm ấy xảy ra thế nào, chúng ta sẽ chỉ có thể hiểu được khi đi đến điểm cuối cùng của cuộc sống Đức Giêsu. Với mầu nhiệm Phục Sinh, Ngài chiến thắng hoàn toàn sự chết và trở nên nguồn Sự Sống vĩnh cửu. Nhờ Ngài, Thiên Chúa tự mạc khải theo một nghĩa tròn đầy, rằng Người là Đức Chúa của Sự Sống và Người ân ban phúc lành lớn lao nhất của Người là Sự Sống đời đời. Đó là công trình của Thiên Chúa. Người đã dùng Đức Maria để đem vào trần gian này chính Đấng sẽ chiến thắng sự chết và mang đến Sự Sống vĩnh cửu. Phần mình, Đức Maria góp phần vào công trình cứu độ bằng việc cưu mang và hạ sinh chính Đấng sẽ đem lại Sự Sống thật cho nhân loại, Sự Sống vĩnh cửu.
 Bà Êlisabét còn đi xa hơn nữa khi tuyên bố rằng người con mà Đức Maria đang cưu mang ấy chính là Đức Chúa: “Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này ?” ( c. 43 ). Đức Maria đang cưu mang Con Đấng Tối Cao ( 1, 32 ), Con Thiên Chúa ( 1, 35 ). Vì thế, Mẹ là “Thân Mẫu của Đức Chúa”, nơi Mẹ, Đấng là Con Đấng Tối Cao đang bắt đầu cuộc sống thế tạm của mình. Đứng trước mặt Đấng là Mẹ của Đức Chúa ấy, bà Êlisabét ý thức ngay sự bất xứng của mình. Bà hân hoan vì cuộc viếng thăm của Người, nhưng đồng thời cũng ý thức một cách rõ ràng rằng bà không thể và không bao giờ đồng hàng với Đức Maria được. Có một sự khác biệt quá lớn lao và hoàn toàn giữa Đức Mẹ và bà Êlisabét. Nhưng tất nhiên sự khác biệt ấy đã không hề ngăn cản Mẹ hiệp thông và hân hoan cùng với bà Êlisabét.
Cuối cùng, bà Êlisabét nói về thái độ Đức Tin của Đức Maria: “Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em” ( c. 45 ).
Đức Maria có phúc. Đó cũng là điều mà thiên sứ Gabriel đã nói khi truyền tin cho Đức Mẹ. Thiên sứ Gabriel đã không gọi Mẹ bằng tên riêng “Maria”, mà gọi là “đầy ân sủng”. “Có phúc” hay “đầy ân sủng” là những lối nói mạc khải cho chúng ta biết Thiên Chúa đã thực hiện điều gì nơi Đức Maria và do đó, Đức Maria đã trở nên điều gì đối với chính Thiên Chúa. Thiên Chúa đã làm cho Mẹ được tràn đầy ân phúc; Người đã ban cho Mẹ tất cả vẻ duyên dáng nhờ những ân điển của Người; Người đã làm cho Mẹ trở thành vô cùng đáng yêu trong mắt Người; và vì vậy, ân huệ của Người và tình yêu của Người luôn hướng về Mẹ; Người bị hấp dẫn bởi vẻ duyên dáng của Mẹ, vẻ duyên dáng do chính Người tạo nên bằng các ân huệ thiêng liêng của Người. Đức Maria đã xứng đáng được Thiên Chúa lưu tâm và yêu mến. Thiên Chúa làm cho Mẹ được tràn đầy ân phúc, đến nỗi tình yêu và sự quan tâm của Người lại bị thu hút bởi chính vẻ duyên dáng của Mẹ, vẻ duyên dáng mà ân sủng của Người đã làm nên.
Và đó thực sự là một mầu nhiệm của mối tương quan giữa Thiên Chúa với Đức Maria: làm sao Thiên Chúa vĩ đại vô biên và toàn năng khôn lường, lại đã nghiêng mình một cách đặc biệt như thế trên cô thôn nữ Nadarét và đã làm cho cô thôn nữ ấy trở nên xứng đángvới tình yêu của Người như vậy ?
Về phần mình, Đức Maria đã ứng đáp với tình yêu vô cùng đó của Thiên Chúa bằng một Lòng Tin tuyệt vời: Mẹ đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với Mẹ ( c. 45 ). Thái độ trước hết và trên hết của Mẹ là thái độ của một người tin tưởng hoàn toàn vào Thiên Chúa. Mẹ đã đón nhận lời Thiên Chúa với tất cả lòng tin. Mẹ hoàn toàn tin tưởng vào quyền năng và lòng trung tín của Thiên Chúa. Mẹ thực hiện sứ mạng của mình trong lòng tin. Chưa hiểu được tất cả, chưa khám phá được tất cả, chưa nhận biết được tất cả, nhưng Mẹ hoàn toàn tin vào lời Thiên Chúa, tin vào tình yêu Thiên Chúa, tin vào quyền năng Thiên Chúa.
Tóm lại, trong bài Tin Mừng hôm nay, lời tung hô của bà Êlisabét đã khắc hoạ cho chúng ta những đường nét chính yếu trong dung mạo của Đức Maria: “Đấng được chúc phúc”, “Thân Mẫu của Đức Chúa”, “Đấng có phúc” và “Đấng hoàn toàn tin vào Thiên Chúa”.
Trong tư cách là Đấng được chúc phúc, Đức Mẹ nói cho chúng ta biết rằng Đấng mà Mẹ sắp sinh ra cho nhân loại chính là Sự Sống Thần Linh, là Con Thiên Chúa làm người để đem lại cho chúng ta sự sống viên mãn của chính Thiên Chúa.
Trong tư cách là Thân Mẫu của Đức Chúa, Đức Mẹ nói cho chúng ta biết rằng Đấng mà Mẹ sắp sinh ra cho nhân loại chính là Đức Vua Mêsia và là Con Thiên Chúa, Đấng cầm quyền sinh tử.
Trong tư cách là Đấng tràn đầy ơn phúc, Đức Maria nói cho chúng ta biết rằng Thiên Chúa vĩ đại vô biên và toàn năng khôn lường đang nhìn đến nhân loại với tất cả sự ưu ái của Người, mà vì thế, Người đã làm cho Mẹ trở thành cung lòng tuyệt vời để Con Thiên Chúa ngự đến khi viếng thăm nhân loại.
Trong tư cách là một con người hoàn toàn tin vào Thiên Chúa, Đức Maria nói cho chúng ta biết rằng Lòng Tin chính là điều căn bản và chính yếu mà chúng ta phải có khi đón Con Thiên Chúa nhập thể cứu độ nhân loại.
Lm. NGUYỄN THỂ HIỆN, DCCT

 

MV4-C84: MẸ MARIA, NHÀ THỪA SAI ĐẶC BIỆT

Trong những ngày này, niềm vui chuẩn bị mừng Đại Lễ Giáng Sinh đang tràn ngập trên thế giới: MV4-C84

Trong những ngày này, niềm vui chuẩn bị mừng Đại Lễ Giáng Sinh đang tràn ngập trên thế giới. Niềm vui ấy vượt ra khỏi không gian và thời gian. Vượt lên trên những khoảng cách tôn giáo, tín ngưỡng, giai cấp, thành thị hay thôn quê. Tất cả nhằm chuẩn bị cho đại lễ Giáng Sinh sắp tới. Đấy là niềm vui theo kiểu thế gian. Còn với chúng ta là người Kitô hữu, thì niềm vui đích thực trong việc chuẩn bị đón mừng Chúa Giáng Sinh nằm ở đâu ?
Phụng vụ Lời Chúa hôm nay tường thuật việc Đức Maria lên đường thăm viếng bà Êlisabét. Đây là một cuộc thăm viếng mang tính sứ vụ: Đức Maria tràn ngập niềm vui, bởi vì ngay tại cung lòng của Mẹ, một Đấng Cứu Độ mà toàn dân mong chờ đang ở đó. Niềm vui ấy dẫn  Mẹ đến thái độ tôn thờ, yêu mến. Niềm vui ấy, Mẹ đã không giữ lại cho riêng mình, Mẹ đã ra đi và đem niềm vui ấy cho người khác. Mẹ là người loan Tin Mừng đệ nhất. Mẹ là nhà thừa sai đầu tiên đem Chúa đến cho người khác không phải bằng lời, mà bằng chính nội dung Tin Mừng, đó là chính Chúa Giêsu.
Để thực hiện được điều đó, Mẹ đã chấp nhận gian khổ, hy sinh, băng rừng vượt núi, đến thăm bà chị họ của mình: “Ngày ấy, Maria trỗi dậy, vội vã ra đi tiến lên miền núi, đến một thành xứ Giuđêa. Bà vào nhà ông Dacaria và chào bà Êlisabét”; Mẹ đã ra đi, chấp nhận gian khổ vì tình yêu, vì tinh thần phục vụ: “ở lại với bà Êlisabét độ ba tháng” để phục vụ người chị đã cao niên. Đây quả là một hình ảnh đẹp của người thừa sai. Mẹ xứng đáng được gọi là người có phúc: “Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc” ( Lc 1, 43 ).
Hình ảnh Đức Maria viếng thăm bà Êlisabét còn diễn tả thật rõ nét hình ảnh hòm bia Thiên Chúa trong Cựu Ước. Nếu xưa kia, Hòm Bia Thiên Chúa ngự lại 3 tháng tại nhà ông Ôveđ Êđom, thì giờ đây, ngay tại cung lòng Mẹ Maria, Mẹ cũng đang mang trong mình Hòm Bia Thiên Chúa là chính Đức Giêsu, và Mẹ cũng lưu lại 3 tháng tại nhà bà Êlisabét. Nếu xưa kia, khi Hòm Bia Thiên Chúa lưu lại tại nhà ông Ôvét Êđom và đã ban cho gia đình ông nhiều ơn phúc, thì giờ đây, Mẹ Maria cũng mang tin vui và bình an của Chúa đến cho gia đình ông Dacaria rất nhiều. Việc trẻ Gioan nhảy mừng trong lòng bà Êlisabét đã chứng minh điều đó. Trong tâm hồn Mẹ có Chúa, và Mẹ đã không muốn giữ Chúa lại cho riêng mình. Mẹ đã chia sẻ niềm vui ấy với người khác. Chấp nhận gian khổ, hy sinh vì tinh thần phục vụ.
Như vậy, Lời Chúa hôm nay mời gọi mỗi người chúng ta hãy noi gương Mẹ Maria: khi đã có Chúa trong tâm hồn, thì hãy mau mắn lên đường đem Chúa đến cho người khác. Hãy loan báo Tin Mừng, mang tin bình an, tin hạnh phúc, để thay thế cho hận thù. Sẵn sàng phục vụ và chia sẻ tình yêu đến với mọi người, dẫu có gặp những trở ngại trông gai.
Mong thay, trong những ngày cận kề đón mừng Ngôi Hai Giáng Sinh, chúng ta hãy gạt bỏ những rào cản như: hận thù, chia rẽ, kiêu ngạo, ghét ghen, dối gian, bất an, hầu cho tâm hồn được thanh thoát, thánh thiện và trong sạch để xứng đáng đón Chúa ngự đến. Đồng thời, noi gương Mẹ Maria, khi tâm hồn đã có Chúa, chúng ta sẵn sàng vượt qua mọi gian khó hiểm nguy và lên đường đem Chúa đến cho người khác. Khi ta làm được như thế, Chúa Hài Nhi sẽ lớn lên trong tâm hồn chúng ta qua những cử chỉ yêu thương và phục vụ hằng ngày.
Lạy Chúa Giêsu, chúng con sắp rước Chúa ngự vào trong tâm hồn chúng con qua Bí Tích Thánh Thể, xin Chúa thanh tẩy tâm hồn chúng con, để tâm hồn chúng con xứng đáng được Chúa ngự đến như xưa Chúa đã ngự xuống trong cung lòng Mẹ Maria.
Xin cho chúng con luôn biết mang Chúa đến cho người khác và sẵn sàng hy sinh phục vụ vì hạnh phúc của tha nhân, hầu cho mọi người cảm nhận được niềm vui, bình an và hạnh phúc khi có Chúa ở cùng và sống với họ. Lạy Đấng “Emmanuel”, xin ngự đến. Amen.
Tu Sĩ JV. NGỌC BIỂN

 

MV4-C85: DẤU ẤN PHỤC VỤ

Chúa Giêsu giáng sinh làm người để CƯ NGỤ giữa chúng ta ( Ga 1: 14 ), để YÊU THƯƠNG: MV4-C85:

Chúa Giêsu giáng sinh làm người để CƯ NGỤ giữa chúng ta ( Ga 1: 14 ), để YÊU THƯƠNG chúng ta, để CHIA SẺ mọi nỗi vui buồn với chúng ta, nói chung là để PHỤC VỤ chúng ta. Một vị Chúa Tể càn khôn mà khiêm hạ đến vậy sao ?
Chúa Giêsu nói: “Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em. Và ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em” ( Mt 20, 26 – 27; Mc 10, 43 – 44 ). Ngài không nói suông, không “chỉ tay năm ngón”, không ra lệnh, mà Ngài làm thật: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người” ( Mt 20, 28; Mc 10, 45 ).
Như vậy, phục vụ là “điểm son” của đức tin. Vị Khai Sinh đức tin của chúng ta ( Dt 12, 2 ) đã hoàn toàn phục vụ người khác, thậm chí là rửa chân cho các đệ tử của mình ( x. Ga 13, 4 – 10 ). Cuộc đời Ngài luôn từ bỏ tất cả vì vinh quang Nước Trời và phục vụ mọi người. Ngài không tìm ý riêng mà tìm ý của Chúa Cha, Đấng đã sai Ngài ( x. Ga 5, 30 ). Các Tông Đồ, từ Thánh Phêrô tới Thánh Phaolô, cũng đều là những người phục vụ. Gương của Đức Giêsu, của các Tông Đồ và các môn đệ thời sơ khai đều coi trọng sự phục vụ.
Sự phục vụ là điều tự nhiên đối với các Kitô hữu khi họ bắt đầu đánh giá cao những gì đã được làm cho họ. Khi chúng ta dành tình yêu cho Đức Kitô càng sâu đậm, chúng ta càng mong muốn phục vụ Ngài – phục vụ tha nhân là phục vụ chính Ngài. Chính đức tin trưởng thành khiến chúng ta bắt chước Đức Kitô mọi cách. Ngài đã yêu thương và phục vụ để chúng ta yêu thương và phục vụ. Chúng ta hành động vì người khác trước, ngay cả trong những việc chúng ta cảm thấy không thoải mái.
Chương 2 trong sách Công Vụ nói nhiều đến việc phục vụ. Người ta phục vụ nhau bằng cách bán những gì mình sở hữu để giúp người nghèo ( Cv 2, 42 – 47 ). Động thái đó vẫn tiếp tục trong thời kỳ đầu của Giáo Hội: “Không một ai coi bất cứ cái gì mình có là của riêng, nhưng đối với họ, mọi sự đều là của chung. Trong cộng đoàn, không ai phải thiếu thốn, vì tất cả những người có ruộng đất nhà cửa, đều bán đi, lấy tiền, đem đặt dưới chân các Tông Đồ. Tiền ấy được phân phát cho mỗi người, tuỳ theo nhu cầu” ( Cv 4, 32, 34 – 35 ), đó là “đặc điểm” để nhận biết các Tông Đồ. Thời gian trôi qua, Giáo Hội phát triển và vẫn luôn được khuyến khích phục vụ ( x. Rm 12, 11; Gl 5, 13; Dt 12, 28; 1Pr 4, 10 ).
Thật lợi ích cho các Kitô hữu biết coi việc phục vụ là điều cần thiết, Chúa Giêsu đã phục vụ chúng ta hết mình thì rất đáng để chúng ta phục vụ người khác. Tự bản chất, phục vụ là hy sinh. Những vĩ nhân được thế giới khâm phục và ca tụng cũng đều là những người biết sống vì người khác, luôn sẵn sàng phục vụ người khác.
Chắc hẳn chúng ta đã nhiều lần tự vấn: “Chúa Giêsu muốn gì ở tôi ?” Chắc chắn Thiên Chúa chỉ trả lời chân thật, ngắn gọn và thẳng thắn: “Mọi thứ. Đừng giữ lại thứ gì cho riêng mình”. Và Ngài đã làm gương: “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu” ( Mt 8, 20; Lc 9, 58 ). Vậy đó!
Chúng ta đã “quen tai” với lời kêu gọi của Đức Kitô: “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ khác, Người sẽ thêm cho” ( Mt 6, 33 ). Vì “quen tai” và vì “biết tỏng” nên chúng ta thấy bình thường, thậm chí có thể là “vô tác dụng”. Chúng ta cũng “quá biết” chuyện người thanh niên giàu có muốn nên trọn lành, anh ta đã giữ mọi giới luật từ nhỏ, Chúa Giêsu nói: “Anh chỉ thiếu có một điều, là hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi” ( Mc 10, 21 ). Nghe vậy, anh ta “sa sầm nét mặt và buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải” ( Mc 10, 22 ). Chúa Giêsu luôn nói rất thật, không hề bóng gió, và Ngài nói riêng với từng người như vậy. Chính của cải và gia đình lại là “chướng ngại vật” ( x. Mc 10, 29 – 31; Lc 14, 26 ), những thứ đó cần thiết và là “vật bất khả ly”, nhưng lại khiến chúng ta không thể phục vụ Chúa đúng mức !
Lời Chúa có lúc làm chúng ta vui, nhưng thường thì Lời Chúa làm chúng ta “đau” và khiến chúng ta “khó chịu” lắm ! Tại sao ? Vì Lời Chúa “cản trở” công việc của chúng ta, “cản lối” những hoạch định tương lai của chúng ta, “cản mũi kỳ đà” những dự tính của chúng ta. Và chúng ta lý luận là phải có thời gian dành riêng cho mình. Chúng ta cho rằng Chúa đòi hỏi quá đáng. Chúng ta nghĩ rằng chúng ta tham dự những buổi Phụng Vụ ở Nhà Thờ, đọc kinh ở nhà, thăm viếng bệnh nhân, tham gia các hội đoàn, đi làm từ thiện, dâng cúng tiền xây dựng Nhà Thờ, học lớp Kinh thánh, tìm hiểu Giáo Huấn Xã Hội Công Giáo, học khóa Thần Học… Thế là đủ lắm rồi ! Vì thế, chúng ta có thể ảo tưởng, tự mãn nguyện với những gì mình làm mà hóa kiêu ngạo, đôi khi có thể chỉ vì mình mà cứ tưởng vì Chúa !
Phục vụ Đức Kitô là việc quan trọng hơn mọi thứ khác. Đó là bổn phận và trách nhiệm của chúng ta với Chúa, phải là “ưu tiên số một”. Bởi vì chúng ta đều là tôi tớ, tước vị hay chức vị chỉ mang tính xã hội, ai cũng chỉ là người mắc nợ qua Máu Thánh mà Ngài đã đổ ra để cứu độ chúng ta thoát khỏi ách tội lỗi và sức mạnh của bóng tối ( x. Cl 1, 13 ). Chúng ta đã được cứu thoát bằng giá rất đắt ( 1Cr 6, 20; 1Cr 7, 23 ) vì đó là “giá máu” của chính Đức Kitô, Thiên Chúa Ngôi Hai ( Cv 20, 28 ). Mục đích của chúng ta là trở thành “đầy tớ tài giỏi và trung thành” ( x. Mt 25, 21 ), là những người sẽ được Thiên Chúa trọng thưởng ( x. 2 Tm 4, 6 – 8 ).
Quả thật, chúng ta chẳng là gì, vì chúng ta quá yếu đuối ! Chúng ta sẽ không bao giờ có thể đền đáp Ơn Cứu Độ mà Thiên Chúa dành cho chúng ta. Mãi mãi chúng ta không thể thanh toán hết món “nợ máu” đó. Hãy khiêm nhường thú nhận tội lỗi để xin Thiên Chúa xót thương, chắc chắn chúng ta sẽ không phải thất vọng. Phục vụ nhau là cách đền tội và tuân lệnh Đức Giêsu đã truyền. Đó là Công Lý và Hòa Bình !
Từ hang Bêlem tới đỉnh đồi Canvê, cuộc đời Chúa Giêsu trải dài và in đậm dấu ấn PHỤC VỤ.
Lạy Chúa Giêsu, chúng con xấu hổ quá !
TRẦM THIÊN THU, 12.2012

 

MV4-C86: PHẦN MỀM ĐÁNG NGUYỀN RỦA

Có một định nghĩa về máy vi tính mà tôi rất lấy làm tâm đắc: “Máy vi tính gồm 2 phần: phần cứng: MV4-C86

Có một định nghĩa về máy vi tính mà tôi rất lấy làm tâm đắc: “Máy vi tính gồm 2 phần: phần cứng là phần có thể thay thế, còn phần mềm là phần chỉ có thể… nguyền rủa !” Thật vậy, làm bạn với máy vi tính mười mấy năm nay, tôi không nhớ đã “nguyền rủa” nó bao nhiêu lần: khi thì lỗ hổng trong hệ điều hành, khi thì virus “nhai” mất một vài files hệ thống, khi thì xung đột giữa 2 phần mềm ứng dụng… Tôi thường khâm phục các programers vì họ biết thiết lập các chương trình riêng để ứng phó đối với những lỗi hệ thống. Vậy mà, tôi cũng từng chứng kiến nhiều programers… vò đầu bứt tai ! Biết là vậy, thế mà không ai có thể loại trừ máy vi tính khỏi cuộc sống hiện nay. Thậm chí, nhiều người còn không thể tưởng tượng nổi một cuộc sống thiếu… máy vi tính !
Trong đời sống thực tế cũng tương tự, người ta cố chạy đua để “lập trình” cho mình một cuộc sống hoàn hảo:
Chọn cho mình một trường Đại Học thật “hot” để ra trường dễ kiếm việc.
Ra trường rồi, phải “chạy chỗ” để có cái job dễ hái ra tiền.
Lập gia đình phải chọn ý trung nhân thuộc loại thành đạt hoặc “con ông cháu cha” để bảo đảm tương lai.
Lên kế hoạch đi du lịch đây đó để “thỏa chí tang bồng” trước khi… vướng bận con cái.
Lập biểu đồ dinh dưỡng để con cái phải thông minh và cao lớn.
Đầu tư giáo dục sao cho con cái phải trở thành thần đồng.
Tính toán sao cho cuộc sống phải được bảo đảm bằng các thứ bảo hiểm, tài khoản hoặc cổ tức, cổ phiếu…
Chuẩn bị hẳn một trang trại để vui thú điền viên lúc tuổi già…
… Tôi cũng rất khâm phục những người này, họ sắp xếp từng li từng tí cho nẻo đời của họ không sai chạy mảy may. Thế rồi, một biến cố xảy ra ! Không ít người đã lâm vào nỗi chán chường, tuyệt vọng… Thỉnh thoảng, chúng ta lại được nghe một tin nóng hổi: diễn viên này, ca sĩ nọ, đại gia kia… tự vẫn. Mới đây là một giám đốc đài truyền hình tự treo cổ khi con gái ( cũng đang làm trong đài truyền hình này ) bị bắt để điều tra về vụ “lạm dụng tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản”. Thì ra, chương trình tôi lập ra “hoàn hảo” quá nên khi bị một lực nào đó tác động vào, chắc chắn nó sẽ… thành thảm họa ! Ngược lại, những chương trình “chập chờn” có khi lại đón nhận những tác động đó như một Ân Sủng.
Đức Maria chắc không hề có một “chương trình hoàn hảo” cho riêng mình, Mẹ cũng từng ước ao được dâng mình cho Chúa nhưng bằng cách nào thì có lẽ chưa mường tượng ra được. Mẹ luôn trông chờ Chúa tác động vào cuộc đời của Mẹ. Chỉ có luôn sống với tâm trạng đó Mẹ mới sẵn sàng thốt lên: “Xin hãy làm mọi sự cho tôi như lời sứ thần truyền”.
Ở cái thời mà tội ngoại tình còn bị ném đá đến chết thì một thiếu nữ chấp nhận mang thai khi chỉ mới đính hôn quả là một sự can đảm và phó thác vô điều kiện. Hẳn Mẹ cũng thấy được những khó khăn thử thách đang chờ đón Mẹ ở phía trước, nhưng Mẹ vẫn sẵn sàng đón nhận như một Hồng Ân mà không hề có chút miễn cưỡng, bởi vì ngay sau đó, mẹ đã cất tiếng ngợi khen Chúa bằng lời kinh Magnificat: “Linh hồn tôi ngợi khen Chúa… vì Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi những điều cao cả” ( Lc 1, 46b. 49a ).
“Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính vì danh dự của Người. Lạy Chúa, dầu qua thung lũng âm u con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng” ( Tv. 23, 3 – 4 ). Tôi có anh bạn thường sáng tác nhạc Thánh Ca, anh thích dùng từ “Chúa dìu con” hơn là “Chúa dẫn dắt con”. Vì theo anh, chữ “dìu” nghe nhẹ nhàng và không mang tính áp đặt như “dẫn” hay “dắt”, và vì “Chúa dìu” nên chỉ cần ta hơi miễn cưỡng một chút là đã nằm ngoài tầm tay của Chúa rồi !
Vì vậy, chúng ta phải luôn sống trong tâm thế buông lỏng để được Chúa “dìu” đi trên đường ngay nẻo chính như Chúa đã “dìu” Mẹ Maria đi trong ân sủng. Nhờ vậy mà Mẹ được tôn vinh là “Đấng đầy ân phúc” như trong phần đầu kinh Kính Mừng mà chúng ta vẫn đọc. Nguồn gốc ân phúc ấy phát xuất từ chính Đức Tin của Mẹ như lời bà Êlisabét đã chào mừng Mẹ: “Phúc cho Em vì đã tin rằng lời Chúa phán cùng Em sẽ được thực hiện” ( Lc 1, 45 ).
Lời Chúa phán cùng tôi có chắc sẽ được thực hiện như bản “lập trình” của tôi ? 
“Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng” ( Mt 12, 28 – 30 ). Nghe thật êm ái, du dương, thơ mộng ! Nhưng thôi, một chuyến du lịch cho đầu óc thư giãn vẫn thiết thực hơn.
“Vì vậy Thầy bảo cho anh em biết: đừng lo cho mạng sống: lấy gì mà ăn; cũng đừng lo cho thân thể: lấy gì mà mặc. Mạng sống chẳng trọng hơn của ăn, và thân thể chẳng trọng hơn áo mặc sao ? Hãy xem chim trời: chúng không gieo, không gặt, không thu tích vào kho; thế mà Cha anh em trên trời vẫn nuôi chúng. Anh em lại chẳng quý giá hơn chúng sao ? Hỏi có ai trong anh em, nhờ lo lắng, mà kéo dài đời mình thêm được dù chỉ một gang tay ?” ( Mt 6, 25 – 27 ). Cũng hay đấy, cũng đẹp đấy ! Nhưng nghe như chuyện “trời sinh voi, trời sinh cỏ”. Liệu cỏ có mọc kịp cho voi ăn không ? Cứ thủ thân cho nó yên tâm !
“Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở ra cho. Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì sẽ thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở ra cho. Có người nào trong anh em, khi con mình xin cái bánh, mà lại cho nó hòn đá ? Hoặc nó xin con cá, mà lại cho nó con rắn ? Vậy nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình những của tốt lành, phương chi Cha anh em, Đấng ngự trên trời, lại không ban những của tốt lành cho những kẻ kêu xin Người sao ?” ( Mt 7, 7 – 11 ). Không dám đâu ! Tôi chưa nghe nói ai nhờ cầu nguyện mà có được tivi, tủ lạnh, nhà lầu, xe hơi cả... Thôi, tự kiếm tiền mà sắm cho chắc ăn !
“Và phàm ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái hay ruộng đất, vì danh Thầy, thì sẽ được gấp bội và còn được sự sống vĩnh cửu làm gia nghiệp” ( Mt 20, 29 ). Tôi cũng chưa thấy ai trung thành theo Chúa mà… giàu ! Sự sống vắn vỏi đời này còn chưa có thì nói gì “sự sống vĩnh cửu” !
Tôi đành làm người “vô phúc” vì không dám tin Lời Chúa phán cùng tôi được thực hiện, chứ không dám “liều mạng” như Mẹ Maria. Tôi cũng lựa chọn những điều như bất cứ người vô thần nào lựa chọn. Tôi bám vào “phần mềm” của đời tôi để thỉnh thoảng lại… “nguyền rủa” vì tôi chẳng biết tin vào cái gì ! Một “hộp thoại” hiện ra, tôi “vò đầu bứt tai” không biết nên “Yes”, “No” hay “Cancel”… Chẳng có gì bảo đảm rằng tôi sẽ không còn bị hành hạ bởi cái program đáng nguyền rủa này ! Chương trình quét virus bản quyền của tôi bỗng chốc trở thành vô dụng. Nó còn ngớ ngẩn nhận nhầm file .exe của tôi là virus nữa chứ ! Tôi chưa cảm nhận được làm Người Diễm Phúc như Mẹ Maria sung sướng dường bao nhưng tôi đã thấm thía nỗi niềm của kẻ “vô phúc”…
Lạy Chúa Giêsu, chúng con xin chúc tụng Chúa vì đã đem Lời Hằng Sống xuống thế gian. Khốn nỗi, Lời Chúa chưa sinh ơn ích gì cho chúng con chỉ vì chúng con còn quá cứng lòng.
Xin Chúa khấng ban Ơn Đức Tin cho chúng con, để cho dù Đức Tin chúng con chỉ nhỏ bé như hạt cải, chúng con cũng dũng cảm tin rằng lời Chúa phán cùng chúng con sẽ được thực hiện, và chúng con sẽ được chung chia diễm phúc với Mẹ Maria là thầy dạy Đức Tin cho chúng con. Amen.
Pio X LÊ HỒNG BẢO

 

MV4-C87:  CUỘC HẠNH NGỘ

Cha Jerôme Pattyn mới hơn 70 tuổi, nhưng vì sức khỏe yếu kém, cha xin về hưu sớm. Từ đó cha dâng: MV4-C87

Cha Jerôme Pattyn mới hơn 70 tuổi, nhưng vì sức khỏe yếu kém, cha xin về hưu sớm. Từ đó cha dâng hiến cuộc đời còn lại để thăm viếng các bệnh nhân ở nhà thương Stella Maris ở Makassar, Indonesia. Cha nói: “Tôi thích công tác tông đồ này. Nó giúp tôi cảm thấy hữu ích vì còn làm cái gì đó cho tha nhân. Các người bệnh mong chờ tôi đến an ủi họ. Lời cầu nguyện củng cố Đức Tin và giúp các bệnh nhân sẵn sàng chấp nhận bệnh tật. Lời cầu nguyện còn trao ban sức mạnh và nâng đỡ tâm lý khiến việc chữa trị được hữu hiệu và nhanh chóng.”
Một hôm, cha Jerôme gặp một bệnh nhân Hồi Giáo sùng đạo. Anh ta bị ”đứng tim”. Anh để ý thấy người bệnh Công Giáo cùng phòng, được chữa trị ”khẩn trương”, đã mau chóng bình phục, sau khi được cha Jerôme thường xuyên viếng thăm. Cha cầu nguyện và cùng bệnh nhân Công Giáo cầu nguyện chung. Anh Hồi Giáo nhờ người mời cha Jerôme đến thăm và cầu nguyện cho mình. Khi cha Jerôme giải thích với anh rằng người bệnh kia là tín hữu Công Giáo, anh nói:
“Không sao hết ! Chỉ có một Thiên Chúa duy nhất cho hết mọi người: Hồi Giáo, Công Giáo và các tôn giáo khác. Tôi nhận thấy Thiên Chúa nhậm lời quí vị cầu xin. Vậy xin ngài cũng cầu nguyện cho tôi với, hầu tôi được khỏi bệnh.” Dĩ nhiên, cha Jerôme sốt sắng cầu nguyện cho anh. Và người bệnh Hồi Giáo đó được khỏi bệnh thật. Anh hết sức tri ân.
Cha Jerôme cho biết chính phong trào Canh Tân trong Thánh Linh gợi ý khiến cha dành thời giờ thăm viếng bệnh nhân và cầu nguyện cho họ. Mỗi khi đến nhà thương, cha thân mật bắt tay chào thăm tất cả từ các bác sĩ, y tá đến các nhân viên thiện nguyện và các bệnh nhân. Cha quen biết mọi người và ai ai cũng quý mến cha. Trung bình mỗi ngày cha Jerôme viếng thăm khoảng 60 bệnh nhân. Vì thế cha không thể ở lại lâu với từng người, trừ những người đang hấp hối hoặc lâm vào cảnh tuyệt vọng…
Quả thật, cha Jerôme Pattyn mang niềm HY VỌNG, lòng TIN TƯỞNG, sự NHẪN NHỤC đến cho các bệnh nhân. Cha thoa dịu đau khổ và gieo rắc NIỀM VUI cho mọi người, không trừ ai. ( “Chronica CICM” n.5, Juin/2003, trang 145-148, Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt ).
Bài Tin Mừng hôm nay, Đức Mẹ Maria đi thăm bà Êlisabet, đã có thai được 6 tháng, dù đã cao niên, như bà Sara, vợ ông Abraham.
Vâng Phục và Chia sẻ
Trong cuộc đời, ai cũng đều có nhu cầu được chia sẻ niềm vui, cũng như nỗi buồn. Niềm vui sẽ được nhân lên và nỗi buồn sẽ vơi đi. Như cha Jerôme Pattyn đã ân cần chia sẻ nỗi đau đớn của các bệnh nhân, khiến họ được an ủi, có thể mau mắn vượt qua bạo bệnh.
Mẹ Maria khi hay tin bà Êlisabet dù đã cao niên mà vẫn được thọ thai, nhờ quyền năng Thiên Chúa, liền vội vã lên đường, đến miền núi, vào một thành thuộc chi tộc Giuđa, để chia vui với bà ( x. Lc 2, 39 ). Theo các nhà chú giải, thì nơi đó là một trong mười hạt của miền Giuđê, có thể là Ain Carim, cách Giêrusalem 6km về phía Tây.
Không quản đường xa vất vả, dốc đá cheo leo, nắng nóng nghiệt ngã, nguy hiểm thú dữ, hay cướp bóc rình rập, Mẹ vẫn can đảm và hăng hái dấn thân đi thăm bà Êlisabet, vâng phục theo Thánh Ý Thiên Chúa, qua sứ thần bày tỏ. Mặt khác, Mẹ bày tỏ lòng khiêm cung, lẫn thái độ kính cẩn, hiếu đễ với bà chị họ cao niên.
Chúc Tụng và Ngợi Khen
Được tràn đầy Thánh Thần khi thụ thai, Mẹ Maria đến thăm chào hỏi bà chị Êlisabet, cùng chia sẻ Thánh Thần: Bà Êlisabet vừa nghe bà Maria chào, thì đứa con trong bụng nhảy lên, và bà được tràn đầy Thánh Thần, liền kêu lớn tiếng và nói rằng: “Em được chúc phúc hơn mọi người nữ, và người con em cũng được chúc phúc” ( Lc 2, 41 – 42 ).
Lời chúc tụng của bà Êlisabet đã trở nên phần đầu Kinh Kính Mừng, ngợi khen Đức Mẹ, mà ngày nay chúng ta vẫn thường lập lại lời chào cao quý, đầy ý nghĩa và sâu sắc đó.
Thánh Gioan Tiền Hô còn đang trong bụng, đã thể hiện vai trò Ngôn Sứ, bằng cách hân hoan, vui sướng, nhảy lên chào đón Chúa Giêsu, cũng đang còn ẩn mình trong lòng dạ Mẹ Maria. Còn bà Êlisabet tạm thời làm phát ngôn viên thay cho con, là ông Gioan Tiên Hô. Bà thay thế ông Gioan chúc tụng Đức Maria và Chúa Hài Đồng Giêsu
Cảm tạ và Tri Ân
Trong tâm tình cảm tạ và tri ân, bà Êlisabet đã cất tiếng biểu lộ lòng biết ơn vô hạn, khi được diễm phúc Đức Thánh Mẫu và Chúa Giêsu đến chia vui, cùng thăm viếng. Nhờ tràn đầy Thánh Thần, bà Êlisabet mới có thể nhận ra Chúa của mình, đang ở trong cung lòng Đức Thánh Mẫu, Đức Maria Mẹ Thiên Chúa.
“Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này ? Vì này đây, tai tôi vừa nghe tiếng em chào, thì đứa con trong bụng đã nhảy lên vui sướng. Em thật có phúc vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em” ( Lc 2, 43 – 45 ).
Trái ngược với lòng nghi ngờ của ông Dacaria, khi được Sứ Thần báo tin sắp có con, Mẹ Maria đã hoàn toàn Tin Tưởng và Vâng Phục, ngay khi Sứ Thần Gabriel loan báo được cưu mang Đấng Cứu Thế. Do vậy, bà Êlisabet đã hết lòng ngợi khen Đức Mẹ Maria, đã làm đẹp lòng Chúa. Cũng như biết ơn Mẹ đến viếng thăm. Một vinh dự đặc biệt, một cảm nhận tri ân sâu sắc vô cùng.
Bà Êlisabet được Mẹ Thiên Chúa đến thăm, mà đã hoan hỉ sung sướng đến thế. Trong khi các Kitô hữu bây giờ còn có cơ hội vinh dự gấp bội, đó là được hân hạnh rước Mình Máu Chúa ngự vào lòng hằng ngày. Một cuộc hạnh ngộ quý giá biết chưng nào ! Ôi hạnh phúc nào hơn ?
“Tông Đồ bằng tiếp xúc: “Phải chăng tâm hồn chúng tôi sốt mến khi nói chuyện với Người dọc đường ?” Con không nghĩ rằng, mỗi cuộc tiếp xúc là một công tác Tông Đồ sao ? ( Đường Hy Vọng, số 323 )
Lạy Chúa Giêsu dấu yêu, xin cho con luôn biết hiệp thông cùng Bà Êlisabet ngợi khen, chúc tụng và cảm tạ tri ân Thiên Chúa, mỗi khi con được đón rước Chúa Thánh Thể vào lòng.
Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ dẫn dắt con đến cùng Chúa Giêsu hàng ngày, hàng giờ, hàng phút, để con luôn luôn được sống trong hồng ân cứu độ. Amen.
AM. TRẦN BÌNH AN

 

MV4-C88: BAO MÙA GIÁNG SINH…

Năm nào cũng vậy, cứ đến độ mùa đông về, hầu hết khắp mọi nơi trên hoàn vũ người người nô nức: MV4-C88

Năm nào cũng vậy, cứ đến độ mùa đông về, hầu hết khắp mọi nơi trên hoàn vũ người người nô nức đón chào Lễ Giáng Sinh. Không biết từ bao giờ, Giáng Sinh đã trở thành một lễ hội lớn trong nhân loại, không phân biệt tôn giáo, sắc tộc, giai cấp… Giáng Sinh chính là niềm vui lớn của nhân loại.
Lễ Giáng Sinh, hay Noel, Emmanuel, Christmas cũng chính là lễ kỷ niệm Chúa Giêsu sinh ra đời, mang niềm vui, niềm hy vọng đến cho nhân loại. Theo dòng lịch sử, con người đã trông chờ một Đấng Cứu Thế đến thay đổi bộ mặt trái đất, giải thoát họ ra khỏi ách kìm kẹp, đô hộ, áp bức của thế lực sự dữ, bóng tối và sự chết.
 Như lời đã hứa, Thiên Chúa ban chính Con Một của Ngài đến trần gian, khai mở con đường cứu độ, đưa nhân loại về với nguồn sự sống vĩnh cửu. Đó chẳng phải là một niềm vui trọng đại và lớn lao hay sao ?
Thiên Chúa đã ghé mắt trông nhìn đến những tiếng khẩn nài kêu cứu của con người trước những đau khổ, mất mát, đói nghèo và bất công trong cuộc sống. Ngài đã ban cho nhân loại một vị Vua Hòa Bình và Công Chính, một Đức Vua Toàn Năng và Hằng Sống. Sự giáng thế của Ngài là một sự kiện lịch sử trọng đại, đã vén mở bức màn bí mật về Thiên Chúa và khai thông con đường dẫn đến Sự Sống vĩnh cửu. Nếu như trước đây, nhân loại chỉ mãi đắm chìm trong tội lỗi và sự ác, thì ngày nay đã có một Đấng Cứu Tinh, Ngài đến thay đổi bộ mặt trái đất, đưa con người đến cuộc sống hạnh phúc đích thực.
Thế nhưng, cái thế giới hạnh phúc vĩnh cửu mà Thiên Chúa ban tặng ấy, không phải ở trần gian. Trần thế chính là con đường đưa họ đạt đến nước hằng sống mà thôi. Con Thiên Chúa đến không phải để thiết lập một vương quốc trần thế, nhưng là thiết lập một Vương Quốc Công Bình Bác Ái trong tâm hồn con người. Không thể có hạnh phúc nơi một thế giới đầy đủ, sa hoa về của cải vật chất, danh vọng, bạc tiền… nhưng thiếu tình thương nơi trái tim nhân loại.
Việc cứu độ của Thiên Chúa đã được thực hiện. Ngài đã đến để sống và làm tất cả những gì Ngài có thể khiến cho con người hạnh phúc. Thế nhưng, vấn nạn hệ tại lòng đáp trả của nhân loại. Người đã hiểu sai đường lối và mục đích của Thiên Chúa, kẻ thì nắm bắt, hiểu biết nhưng không muốn tin, không muốn sống… vì ngại phải bỏ mình, ngại hy sinh !
Vẫn còn không ít những con người hiểu sai đường lối Thiên Chúa. Họ vẫn kêu trách, oán than trước những đau khổ, bệnh tật và mất mát. Họ trông đợi vào những phép lạ nhãn tiền chứ không học hỏi con đường, cách thức đón nhận đau khổ, nghèo đói theo thánh ý như chính Con Thiên Chúa đã sống và dạy con người sống. Quả thật, Con Thiên Chúa đến gánh mọi tội lỗi trần gian không phải để đánh đổi cho họ có một cuộc sống thế trần giàu sang, sung túc, không bao giờ phải đau khổ và phải chết, nhưng là để dạy cho con người học biết vâng phục và yêu mến. Chính Ngài đã sống và dạy cho nhân loại cách thức đón nhận đau khổ như một phương thế giúp họ đạt đến cuộc sống vĩnh cửu.
Không niềm vui nào lớn lao hơn niềm vui của chính Con Thiên Chúa làm người, nói cho nhân loại biết về chính Ngài và Vương quốc của Cha Ngài. Không niềm vui nào cao cả hơn niềm vui của người được Con Thiên Chúa đến ở với mình, sống trong mình và cứu độ mình. Vậy mà, không hiểu tại sao nhân loại vẫn không vui, họ vẫn không thể vui ? Phải chăng Đức Kitô không phải là điều nhân loại chờ đợi và mong mỏi.
Con người sẽ phải đau khổ và phải chết nếu như đi chệch ý muốn Thiên Chúa. Tất cả những ai biết mở rộng trái tim, giang rộng vòng tay đón nhận ơn cứu độ và can đảm bước theo con đường Ngài đã đi, sẽ không còn phải chết và đau khổ bao giờ. Vì chưng, cái chết và mọi nỗi khổ đau của họ lúc này đã trở thành linh dược chữa lành những vết thương tội lỗi của họ.
Lạy Chúa, đã bao mùa Giáng Sinh qua đi, nhưng mỗi Giáng Sinh là một Giáng Sinh, Đức Giêsu lại Giáng Sinh trong tâm hồn con, khai mở con mắt linh hồn đã mờ đục trong tội lỗi và sự dữ. Bao năm trôi qua, bao mùa Giáng Sinh đã đến, thế mà trái tim con vẫn nguội lạnh hơn băng tuyết, những giọt nước mắt của hận thù, khổ đau đã làm khô cứng tảng băng ích kỷ lạnh lùng trong lòng.
Xin đốt lên trong lòng con, chỉ cần một ngọn nến ấm áp của tình yêu thương, chỉ cần một ánh sao sáng của ơn cứu độ, cũng đủ giúp con can đảm bước kiên trung bước đi đến cùng trên con đường dương thế. Hơn bao giờ hết, tâm hồn con còn nghèo nàn, trống trải lắm. Cả một cõi lòng tan tác, trống rỗng vì cơm áo gạo tiền, không có đủ nhân đức, sự hy sinh và tình yêu thương để xứng đáng đón Chúa vào lòng. Nhưng con tin Ngài vẫn đến, Ngài vẫn chọn một nơi trú ngụ trong tâm lòng con, cho con sự sống, cho con niềm vui và hy vọng.
Ước gì, con cũng sẽ là một Mùa Giáng Sinh của Chúa, đầy niềm vui và hạnh phúc bên những sống quanh con, cứ như là không còn Mùa Giáng Sinh khác vậy…
M. HOÀNG THỊ THÙY TRANG

 

MV4-C89:  THÔNG ĐIỆP GIÁNG SINH

Nhiều ngày trước Lễ Giáng Sinh năm 1223, Thánh Phanxicô Assisiô dự định sẽ làm mọi ngừơi trong: MV4-C89

Nhiều ngày trước Lễ Giáng Sinh năm 1223, Thánh Phanxicô Assisiô dự định sẽ làm mọi ngừơi trong thành phố Greccio sống lại sự kiện sinh hạ của Chúa Giêsu, không chỉ bằng việc nghe công bố Tin Mừng, nhưng còn bằng việc diễn lại biến cố ấy. Để mọi việc có kết quả, Thánh nhân nhờ một người bạn tên là John chuẩn bị tất cả những thứ, mà sau này được coi là hang đá Bêlem đầu tiên trong lịch sử về Lễ Giáng Sinh. Người bạn tốt bụng của Thánh Phanxicô đã làm tất cả những gì Thánh nhân đề nghị, tại nơi Thánh Lễ đêm Giáng Sinh sẽ được cử hành ( Ảnh Greccio, nước Ý, nơi có Hang Đá Giáng Sinh đầu tiên do sáng kiến của Thánh Phanxicô ).
Vào chính đêm vọng Giáng Sinh, tất cả những nhân vật và đồ vật như: người sẽ đóng vai Mẹ Maria, Thánh Giuse, những mục đồng cùng nhiều chiên cừu, một con bò, một con lừa và một máng cỏ chứa đầy cỏ khô đã sẵn sàng. Tuy nhiên, trong chiếc máng đầy cỏ lại hoàn toàn không có gì hơn. Anh bạn John của Thánh Phanxicô đã không tìm ra một bà mẹ dám cho mượn con của mình. Lạ lùng thay, điều này không làm cho Thánh nhân lo lắng.
Trong Thánh Lễ, khi Thánh Phanxicô đang hát Tin Mừng bằng một giai điệu du dương, mọi người nhìn thấy một trẻ thơ đang nằm bình yên trong vòng tay ngài. Khi kết thúc bài Tin Mừng Giáng Sinh, ngài nhẹ nhàng đặt bé thơ vào trong máng cỏ trước sự vui sướng của mọi người. ( Theo Word and Life, XIII, 4 )
Qua bài Tin Mừng theo Thánh Luca hôm nay, trình thuật lại biến cố Giáng Sinh trọng đại, Chúa Giêsu muốn gủi đến con người Thông Điệp Giáng Sinh thật cô đọng và sâu sắc.
Vâng phục
Mẹ Maria là mẫu gương sáng chói về nhân đức Vâng Lời. Mẹ mau mắn tuân phục theo Sứ Thần Gabrien phán truyền. Mẹ hăng hái đi thăm bà chị Elisabét. Mẹ phục tùng kết bạn với Thánh Giuse. Mẹ tùng phục luật lệ, cùng Thánh Giuse về Bêlem để chấp hành việc kiểm tra dân số, dù nặng nhọc thai nghén cuối kỳ.
“Thời ấy, hoàng đế Augustô ra chiếu chỉ, truyền kiểm tra dân số trong khắp thiên hạ… Ai nấy đều về thành của mình để khai tên tuổi. Bởi thế, ông Giuse cũng từ thành Nadarét, miền Galilê, lên thành vua Đavit, gọi là Bêlem, miền Giuđê, vì ông thuộc gi đình và dòng tộc vua Đavit. Ông lên đó khai tên cùng với bà Maria, là người đã thành hôn với ông, lúc ấy bà đang có thai” ( Lc 2, 1 – 5 ).
Mẹ luôn tuân theo Thánh Ý Chúa, qua các dấu chỉ. Mẹ không mảy may thắc mắc, nghi ngờ hay lưỡng lự. Một thái độ Vâng Phục tuyệt đối.
Khó nghèo
“Khi hai người đang ở đó, thì bà Maria đã tới ngày mãn nguyệt khi hoa. Bà sinh con đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt trong máng cỏ, vì hai ông bà không tìm được chỗ trong nhà trọ” ( Lc 2, 6 – 7 ). Trong cảnh bần cùng, Đôi Bạn Thánh chẳng một lời thán oán, kêu ca hay buồn phiền vì thiếu thốn của cải, vật chất, vì bị khinh miệt, khước từ, vì lâm vào hoàn cảnh khó khăn nghiệt ngã.
Trái lại Mẹ và Thánh Cả chấp nhận tinh thần khó nghèo, như một kho tàng vô giá, giải thoát khỏi kiếp nô lệ cho tiền bạc, của cải, vật chất tiện nghi, khỏi mọi dục vọng thấp hèn. Như thế, tinh thần khó nghèo đem tự do cho nhân phẩm, giải phóng con người khỏi vật chất, để có thể dễ dàng hướng tâm hồn lên tới Thiên Chúa.
Trong sạch
Đức Trinh Nữ Maria thụ thai bới phép Đức Chúa Thánh Thần là một mầu nhiệm, tôn vinh sự Trong Sạch vẹn tuyền. Me Maria kết bạn với Thánh Giuse thành một Thánh Gia, gương mẫu cho mọi gia đình. Ở đó Tình thương chế ngự các đam mê thấp hèn, những dục vọng cá nhân, những toan tính ích kỷ, những đố kỵ nhỏ nhen.
Mẹ đã không hề oán thán sự bạc bẽo bất nhân của dân thành Bêlem. Trái lại, Mẹ còn cầu xin Chúa thưởng công họ đã hất hủi, không cho ở trọ, nhờ thế mới tìm được hang đá bò lừa. Tâm hồn Mẹ trong suốt như bảo ngọc.
Chúa Giêsu Hài Đồng giáng sinh trong hoàn cảnh khốn cùng của kiếp người, không tiện nghi tối thiểu, không thân bằng quyến thuộc, không trợ giúp ý tế, không có sự quan tâm của xã hội, xóm giềng. Chỉ có vài mục đồng nghèo khó đến mừng vui chào đón. Ngày nay, người ta mừng Chúa Giáng Sinh, mà vẫn tiếp tục bỏ quên Người trong nơi băng giá, cô đơn, quên đi thông điệp Giáng Sinh, để vui vẩy tiệc tùng, quà cáp, chúc tụng lẫn nhau.
Mẹ Maria nghèo khó, không tiền không bạc, có lúc không nhà cửa, không ghế bàn. Mẹ không biết giảng, nhưng Mẹ có món quà quý nhất để cho Mục tử Bêlem, Ba đạo sĩ phương Đông, Simeon và Anna ở Đền Thánh. Mẹ đã thinh lặng cho họ Chúa Giêsu, món quà mà chỉ Mẹ có, món quà ấy giảng thay cho Mẹ, vì đó là Ngôi Lời. ( Đường Hy Vọng, 932 )
Lạy Chúa Giêsu Hài Đồng, đã giáng sinh trong cảnh bần cùng, xin dạy cho con biết sống nghèo khó, vâng phục, và trong sạch như Thánh Gia đã làm gương mẫu, để con xứng đáng hưởng ơn Cứu Độ.
Lạy Mẹ Maria, xưa đã can đảm cùng Thánh Cả Giuse phó thác mọi sự cho Chúa Quan Phòng, xin dạy cho con vững lòng luôn tin cậy vào Đấng Toàn Năng. Amen.
AM. TRẦN BÌNH AN

 

MV4-C90:  Thiên Chúa không ngừng tìm kiếm con người

(Trích trong ‘Suy Niệm Lời Chúa’ – Radio Veritas Asia)
 

Có một người đàn ông nọ khao khát đi tìm gặp gỡ Chúa. Ông đi khắp nơi để thọ giáo những bậc thánh: MV4-C90

Có một người đàn ông nọ khao khát đi tìm gặp gỡ Chúa. Ông đi khắp nơi để thọ giáo những bậc thánh hiền, ông cặm cụi đọc sách, nghiền ngẫm nhưng vẫn không tìm được Chúa. Ngày nọ, ông đến ngồi thơ thẩn bên một dòng sông nhìn dòng nước trôi lững lờ, ông nhìn thấy một con vịt mẹ và một đàn con đang bơi lội. Đàn vịt con tinh nghịch muốn rời mẹ để ra đi kiếm ăn riêng. Để tìm con này đến con nọ, vịt mẹ phải lặn lội đi tìm đàn con mà không hề tỏ dấu giận dữ hay thất vọng. Nhìn thấy cảnh vịt mẹ cứ mãi đi tìm con như thế, người đàn ông mỉm cười và đứng dậy trở về quê hương. Ông chợt khám phá ra một chân lý và ông thốt lên: Tôi đã đi tìm Chúa và cuối cùng tôi đã khám phá ra rằng chính Thiên Chúa đang đi tìm tôi.
Con vịt mẹ không ngừng đi tìm kiếm con của mình, đó là hình ảnh nói lên chính tình yêu của Thiên Chúa. Thiên Chúa không ngừng đi tìm kiếm con người. Qua bài dụ ngôn "người con hoang đàng" quen thuộc mà chúng ta có dịp lắng nghe trong Mùa Chay này, Chúa Giêsu cũng mạc khải cho chúng ta tình yêu cao vời ấy của Thiên Chúa. Thiên Chúa đã tạo dựng cho chúng ta có tự do. Thiên Chúa muốn đối xử với chúng ta như một con người trưởng thành. Đó là điều mà Chúa Giêsu muốn nói lên qua hình ảnh một người cha không muốn khăng khăng giữ lấy đứa con, mà trái lại chia gia tài cho nó, để nó được tự do sử dụng tất cả những gì thuộc về nó. Mà dẫu cho người con có lên đường đi tạo lập một cuộc sống riêng tư, người cha vẫn không ngừng ngóng trông, theo dõi và chờ đợi đứa con. Ông khắc khoải từng giây từng phút. Ngày ngày ông ra trước ngõ để ngóng trông. Và khi người con vừa xuất hiện từ đằng xa, người cha đã chạy đến ôm chầm lấy con và hôn lấy hôn để, rồi ông lại sai gia nhân mặc áo đẹp cho cậu con, xỏ nhẫn, đeo giày cho cậu và mở tiệc ăn mừng. Có lẽ trong văn chương nhân loại từ cổ chí kim chưa có một áng văn nào đẹp cho bằng hình ảnh trên đây. Thiên Chúa yêu thương đến độ tìm kiếm, ngóng trông con người từng giây từng phút, Thiên Chúa yêu thương đến độ sẵn sàng tha thứ tất cả lỗi phạm của con người, để phục hồi nó hoàn toàn trong thân phận cao quý của một con người.
Đó là tất cả Tin Mừng của Kitô giáo. Thánh Gioan đã tóm tắt tất cả chân lý ấy bằng câu nói: "Thiên Chúa là tình yêu". Thiên Chúa không mong gì hơn nơi con người, là con người nhận biết được tình yêu ấy. Không gì xúc phạm đến Thiên Chúa cho bằng khi con người khước từ tình yêu của Ngài. Chúa Giêsu đã kể câu chuyện dụ ngôn về người con hoang đàng trở về, nhưng điểm nhắm của Người lại là người con cả, hiện thân của những người biệt phái. Đây là hạng người tự cho mình là những kẻ yêu mến Chúa, tuân giữ các giới răn của Ngài, nhưng kỳ thực họ lại tỏ ra lời phát biểu của người anh cả trong bài dụ ngôn. Anh ta nói: "Đã bao năm con hầu hạ cha, không hề trái lệnh cha một điều nào, vậy mà không bao giờ cha cho con riêng một con bê nhỏ để ăn mừng với chúng bạn. Còn thằng con của cha kia, sau khi phung phí hết tài sản của cha với bọn đàng điếm nay trở về, thì cha lại sai làm thịt bê béo ăn mừng nó". Quả thật, những người biệt phái tuân giữ không sai chạy tất cả mọi luật lệ của Chúa, nhưng họ chỉ tuân giữ lề luật trong tinh thần sợ sệt cứng ngắt và giả hình, bởi vì họ không cảm nhận được tình yêu của Thiên Chúa. Và bởi vì không cảm nhận được tha nhân là người anh em ruột thịt của mình. Khước từ Thiên Chúa, con người cũng khước từ anh em của mình. Không cảm nhận được tình yêu của Thiên Chúa, con người cũng không muốn san sẻ tình yêu với người anh em. Tin Mừng hôm nay quả thực là một quảng diễn về hai giới răn cơ bản trong đạo của chúng ta đó là: Mến Chúa Yêu Người. Người ta không thể mến Chúa mà không yêu tha nhân.
Mùa Chay qua bí tích hòa giải, Giáo Hội mời gọi chúng ta cảm nhận một cách sâu sắc tình yêu vô bờ của Thiên Chúa. Thiên Chúa luôn dang rộng cánh tay để ôm ấp, để vỗ về và tha thứ cho chúng ta. Và tình yêu vô bờ của Người Cha ấy chờ đợi gì nơi chúng ta hơn là chúng ta biết nhìn ra nơi tha nhân, người anh em của chúng ta, để chúng ta cũng yêu mến và tha thứ không ngừng.
Nguyện xin Đấng đã chết để mạc khải cho chúng ta bộ mặt tình yêu của Chúa, giúp chúng ta biết đón nhận tình yêu ấy trong từng giây phút của cuộc sống và san sẻ tình yêu ấy với mọi người anh em chúng ta.

 

MV4-C91: Con lòng Bà

Trong một buổi chia sẻ Lời Chúa giữa các bà mẹ, sau khi nghe đọc đoạn Tin Mừng chiều hôm nay MV4-C91

Trong một buổi chia sẻ Lời Chúa giữa các bà mẹ, sau khi nghe đọc đoạn Tin Mừng chiều hôm nay, thì một bà đã đặt câu hỏi: Khi mang thai, có chị nào biết rõ con mình sẽ ra sao hay không? Dĩ nhiên không phải chỉ biết nó là trai hay gái, mà còn phải biết khi khôn lớn, nó sẽ như thế nào? Tất cả đều mỉm cười và lắc đầu không thể nào biết rõ được tương lai của đứa bé. Họ chỉ cầu mong cho nó được khoẻ mạnh và nên người.
Thực vậy, không một bà mẹ nào lại biết chắc con mình ngày mai sẽ ra sao ngoại trừ Đức Maria. Chỉ còn một vài ngày nữa là Người Con của Mẹ sẽ được sinh ra và cùng với Mẹ chúng ta đi thăm người chị họ là bà Elisabeth. Chính bà chị họ này cũng biết người con ấy như thế nào, khi bà nói cùng Mẹ: Bởi đâu tôi được diễm phúc là Mẹ cua Chúa tôi đến viếng thăm. Và ngày cả Gioan trong lòng bà Elisabeth cũng hay biết vì Gioan đã nhảy mừng hớn hở.
Chúng ta hẳn còn nhớ câu chuyện truyền tin được đọc trong ngày lễ Vô Nhiễm. Thiên thần nói với Đức Maria rằng Ngài sẽ là Mẹ Thiên Chúa. Và Con của Mẹ là Đấng cao trọng. Người sẽ là Con Thiên Chúa, sẽ là một vị vua và nước của Ngài sẽ trường tồn. Và như thế, hẳn Mẹ đã biết được Người Con của Mẹ sẽ như thế nào? Vậy tại sao Giáo Hội lại đặt bài Tin Mừng này vào Chúa nhật thứ IV, Chúa nhật cuối cùng của mùa Vọng, gần kề với lễ Giáng Sinh?
Lý do thật tự nhiên và đơn giản. Bởi vì đã gần tới giờ của Mẹ và chúng ta, những người con của Mẹ, cùng chia sẻ niềm vui mừng và hy vọng với Mẹ. Mẹ đã biết Người Con của Mẹ sẽ ra sao.
Chúng ta cũng thế, nhờ đức tin, chúng ta cũng biết Ngài là ai và Ngài sẽ đến viếng thăm chúng ta một cách đặc biệt trong đêm giáng sinh. Chúng ta biết Ngài là Thiên Chúa, mặc dầu Ngài chỉ là một hài nhi bé nhỏ và yếu đuối. Chúng ta biết Ngài là Đấng thánh thiện tuyệt vời, mặc dầu bên ngoài Ngài giống như chúng ta mọi đàng. Ngài là Thiên Chúa thật và là người thật. Cùng với Mẹ Maria chúng ta biết Ngài là Đấng cao trọng. Cao trọng trong tình yêu, cao trọng trong hành động cũng như trong lời nói. Ngài như một bông sen trổi vượt trên đám bùn nhơ. Ngài là Đức Giêsu Kitô, Đấng cứu chuộccứu chuộc của chúng ta. Mẹ Maria biết Người Con của Mẹ là ai và chúng ta cũng biết như thế.
Sự hiểu biết này sẽ giúp chúng ta hân hoan chia sẻ niềm vui mừng và hy vọng với Mẹ. Bởi vì ngày sinh nhật của Đức Kitô sẽ đem lại cho chúng ta sự an bình và hạnh phúc.

 

MV4-C92: MẸ MARIA VỘI VÃ LÊN ĐƯỜNG

Vào thời Cha Thánh Piô thành Pietrelcina ( 1887-1969 ) còn sống, một thanh niên Mỹ đến gặp Cha. Đó là MV4-C92

Vào thời Cha Thánh Piô thành Pietrelcina ( 1887-1969 ) còn sống, một thanh niên Mỹ đến gặp Cha. Đó là anh William Martin, tục danh là Bill, sau này trở thành Tu Sĩ Cappuccino với tên Dòng là Giuseppe Pio. Lúc ấy là 2 giờ chiều. Anh đứng nơi hành lang với Cha Piô, chờ đợi tháp tùng Cha xuống Phòng Thánh, để Cha ngồi tòa giải tội cho các tín hữu Công Giáo, tuôn đến từ khắp muôn phương.
Cha Piô giữ thinh lặng đắm chìm trong suy tư chiêm ngắm và không hề bị khuấy động bởi những gì diễn ra chung quanh. Anh Bill cũng thế, anh trầm lắng trong ý nghĩ riêng tư. Hay nói đúng hơn, anh đang hồi tưởng những chặng đường trải qua.
Năm ấy anh Bill từ Brooklyn của thành phố New Yorkbên Hoa Kỳ, đến Ý để học về nghệ thuật diễn xuất trữ-tình-ca. Một hôm anh có dịp đến thành phố San Giovanni Rotondo và trọ nơi Đan Viện các Tu Sĩ Cappuccini. Đây là Tu Viện Cha Thánh Piô đang sống. Theo chương trình, anh Bill sẽ dừng lại Tu Viện trong vài ngày. Nào ngờ khuôn mặt thánh thiện dịu hiền của vị Tu Sĩ Cappuccinô mang tên Piô, lôi cuốn quyến rũ anh. Từ đó anh thường xuyên ghé Tu Viện. Rồi nhận thấy các Tu Sĩ Cappuccini người Ý phải khó nhọc, bận rộn với các thư từ tới tấp, đến từ năm châu bốn biển, với đủ mọi ngôn ngữ khác nhau, anh Bill ra tay phụ giúp. Anh phụ trách các thư từ viết bằng Anh ngữ.
Trong bầu khí đượm đầy tính chất thiêng liêng, anh Bill bắt đầu hướng đến siêu việt. Anh không còn cảm thấy thu hút bởi việc học hành, đến độ quên mất mục đích tại sao mình lại có mặt trên đất Ý. Anh xin cha phụ trách nhà trọ cho phép anh tham dự vào các sinh hoạt của Tu Viện, để có chút kinh nghiệm về cuộc sống tu trì. Sau vài tháng sống thử, các Bề Trên chấp nhận anh vào số các tập tu và anh được khoác áo tu sinh. Chính trong chiếc áo tu sinh, mà hôm ấy anh Bill đứng cạnh Cha Thánh Piô.
Trong thinh lặng, anh hồi tưởng chặng đường đưa anh đến cuộc thay đổi hôm nay. Anh nhớ lại lời Linh Mục Giải Tội, Cha Clemente thành Postiglione, nói với anh trong lần gặp vừa qua: “Sau ơn thánh Bí Tích Rửa Tội thì Ơn Gọi vào đời sống thánh hiến là Ơn Thánh cao cả nhất mà Thiên Chúa ban cho một thọ sinh.” Anh thắc mắc tự nhủ: “Vậy ai đã có thể cầu bầu cùng Chúa ban cho mình Ơn Gọi trọng đại dường này ?”
Tâm trí anh muốn tìm kiếm vị ân nhân để có thể nói lời tri ân. Phải chăng là Đức Nữ Trinh Rất Thánh Maria ? Bởi vì ông ngoại anh, ngay khi anh còn bé, đã giao phó anh cho các Nữ Tu Kín của Đan Viện gần nhà, để các chị cầu nguyện cho anh. Hay là Cha Piô đứng cạnh anh đây, chính Cha cầu nguyện cho nét lôi cuốn của Cha nơi anh trở thành hiện thực ? Vừa khi anh William Martin nghĩ như thế, tức khắc anh thấy Cha Piô ngừng ngay việc lần hạt Mai Khôi và quay sang anh. Cha nhìn anh và chỉ nói vỏn vẹn: “Đức Bà !”
Với câu nói này, Cha Piô muốn khẳng định với anh Bill hai điều chắc chắn. Thứ nhất, Cha được Chúa Thánh Linh ban ánh sáng để có thể đọc những điều kín ẩn, trong nội tâm của những anh chị em, đang sống chung quanh Cha. Thứ hai, Cha muốn xác quyết rằng: “Chính Đức Nữ Trinh Rất Thánh Maria là Đấng Trung Gian ân thánh !” ( Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt,”Il Settimanale di Padre Pio” ).
Chúa Thánh Linh đã soi sáng cho Cha Thánh Piô biết chính Đức Mẹ Maria đã chủ động đến với William Martin, dẫn chàng can đảm bỏ lại mọi sự thế gian, tiến lên dâng hiến cuộc đời cho Chúa. Hôm nay Chúa Nhật 4 Mùa Vọng, Tin Mừng tường thuật Mẹ Maria cũng chủ động đến thăm bà Êlisabét. Cả hai người đều tràn đầy ơn Chúa Thánh Linh trong niềm vui mừng và hy vọng.
Ra đi
Chúa Thánh Linh đã ngự xuống Mẹ Maria, hướng dẫn cuộc đời Mẹ dấn thân vào việc Đồng Công Cứu Chuộc của Thiên Chúa. Mẹ không còn sống ẩn mình bình lặng, êm ả, nương thân kín đáo chốn quê quen thuộc, mà hăng hái cất bước, ra đi theo tiếng gọi.
“Maria trỗi dậy, vội vã ra đi tiến lên miền núi, đến một thành xứ Giuđêa. Bà vào nhà ông Dacaria và chào bà Êlisabét.“ Với Chúa Thánh Linh, Mẹ trỗi dậy thoát ra khỏi nếp sinh hoạt thường nhật bình dị trong gia đình, thoát khỏi những ràng buộc vật chất lẫn tinh thần, mà can đảm đổi mới cuộc đời. Mẹ sẵn sàng bước vào cuộc phiêu lưu tràn đầy hy vọng, nhưng lắm chông gai, thử thách và đau khổ, mà sau này ông Simeôn, người công chính tràn đầy Chúa Thánh Linh, đã tiên báo: “Một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn bà” ( Lc 2, 35 ).
Ra đi còn là từ bỏ mình, bỏ lại tiện nghi, nhu cầu, ham muốn, đam mê, cũng như ý riêng, để vâng theo Thánh Ý Chúa, hiến dâng toàn thể thân xác và tâm hồn cho Chúa và cho tha nhân. Đến với bà chị họ xa lắc xa lơ, năm thì mười họa mới gặp, chẳng phải dễ dàng và đơn giản. Mẹ chẳng quản ngại đường xá xa xôi, cách trở, nguy cơ bắt cóc, cướp bóc, khủng bố, chết chóc. Mẹ vẫn cứ vội vã ra đi, không hề do dự, không cân nhắc, cũng chẳng cần trang thiết bị, nai nịt tận răng như lính đặc nhiệm, vì Mẹ được tràn đầy Chúa Thánh Linh, còn lo lắng chi. “Vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi, Người đã đoái thương nhìn tới phận nữ tỳ hèn mọn” ( Lc 1, 47-48 ).
Phó thác hoàn toàn, một mình Mẹ cấp tốc lên đường khi nghe sứ thần Gabriel báo tin vui bà chị Êlisabét mang thai đã được sáu tháng. Con đường từ Nadarét đến nhà bà Êlisabét ở Ain Carim, gần Giêrusalem, khoảng 150 cây số vời vợi, không làm Mẹ chùn chân. “Đi, đi, đi mãi, đi quyết liệt, đi không nhượng bộ, cũng như không ai đi với người lui. Không nhược bộ cho xác thịt. Không nhượng bộ cho lười biếng. Không nhượng bộ cho ích kỷ” ( Đường Hy Vọng, số 12 và 13 ).
Phục vụ 
Mẹ ra đi chẳng phải để tìm kiếm lợi danh, hay công bố, khoe khoang, kiêu hãnh được hồng ân làm Mẹ Thiên Chúa, mà để âm thầm, yêu thương phục vụ, phản ảnh sứ vụ phục vụ cao cả của Con Mẹ, đang được Mẹ cưu mang. Mẹ đã thực hiện trung thành Lời Chúa: “Ta đến không phải để được phục vụ nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” ( Mt 20, 28 ).
Phục vụ quan trọng nhất là đem Chúa đến tha nhân, chia sẻ với người khác hồng ân Chúa Thánh Linh. “Và khi bà Êlisabét nghe lời chào của Maria, thì hài nhi nhảy mừng trong lòng bà, và bà Êlisabét được đầy Chúa Thánh Thần.” Mẹ Maria đem Đức Giêsu đến thăm mẹ con ông Gioan Tiền Hô, khiến hài nhi Gioan vui sướng mừng rỡ và bà Isave được thánh hoá, hân hoan tràn đầy Chúa Thánh Linh.
“Chúng ta cũng phải bắt chước Mẹ Maria như thế, nếu chúng ta muốn trở nên một cộng sự viên thực sự của Chúa Giêsu. Chúng ta phải đón nhận Chúa Giêsu, chúng ta phải đón nhận tình yêu thương và sự thiện hảo của Ngài, và lòng chúng ta phải cháy lên một sự khao khát, muốn đem Chúa Giêsu trao ban cho người khác.” ( Lm. Phêrô Trần Công Thuận dịch, Tâm hồn tràn ngập niềm vui, José Luis Gonzales Balado, Mother Teresa ).
Từ tấm gương Đức Mẹ Maria ra đi phục vụ, đem Chúa đến tha nhân, cũng như dẫn dắt, mời gọi tha nhân trở về với Chúa. “Đức Giáo Hoàng Phanxicô có khái niệm chủ yếu một Giáo hội “đi ra”, một Giáo Hội làm “sứ mệnh” phải tập trung vào sứ điệp chính yếu của Phúc Âm, và đây phải là cánh đồng để chiến đấu. Đó là ý nghĩa của Năm Lòng Thương Xót mà Đức Phanxicô khai mạc ở Rôma ngày 8.12.2015, ngài nhắm rõ ràng, đối với giáo hữu là sự trở lại với Chúa Kitô, đối với những ai chưa biết Chúa Kitô, thì phải có “lòng thương xót”. ( Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch, Theo Đức Phanxicô, Giáo Hội đã nói quá nhiều về đạo đức, Jean-Marie Guénois, lefigaro.fr )
Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con biết trỗi dậy mỗi ngày, rũ bỏ những cám dỗ xác thịt, thế gian, luôn tỉnh thức ăn năn, sám hối, canh tân, đổi mới, để sẵn sàng chào đón Chúa ngự đến, như bà Êlisabét đã chuẩn bị tâm hồn trong sạch, để long trọng tiếp rước Mẹ Maria và Con Mẹ đến thăm viếng.
Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ luôn nhắc nhủ chúng con noi theo Mẹ, biết khiêm nhường, sẵn sàng “Xin Vâng”, chân thành đón rước Chúa và đưa Chúa đến với tha nhân. Amen.
AM. TRẦN BÌNH AN

 

MV4-C93: HẠNH PHÚC TÍN THÁC

Ngôn ngữ nào cũng có dạng chủ động và thụ động. Về thể thụ động, Việt ngữ rất độc đáo vì có thể diễn tả MV4-C93

Ngôn ngữ nào cũng có dạng chủ động và thụ động. Về thể thụ động, Việt ngữ rất độc đáo vì có thể diễn tả hai dạng – tích cực hoặc tiêu cực. Điều gì tốt thì nói là “được”, điều gì xấu thì nói là “bị”. Ví dụ: được thưởng hoặc bị phạt, được khen hoặc bị chê,... chứ không ai nói ngược lại ( bị thưởng, bị khen; được phạt, được chê ). Ngoại ngữ không thể diễn tả rõ nét “thụ động” như Việt ngữ.
Trong đời thường, ai biết tin và dám tin là người can đảm, không ảo tưởng, đặc biệt là vấn đề đức tin. Đó là một dạng hạnh phúc mà người đời khó hiểu hoặc không thể hiểu nổi, thậm chí còn bị coi là ngu xuẩn. Chúa Giêsu dạy chúng ta đừng nhẹ dạ cả tin vào bất cứ phàm nhân nào mà hãy vững tin vào Ngài: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Ngài”.
Đức tin trừu tượng mà cụ thể: “Đức tin không có hành động là Đức Tin chết” ( Gc 2, 26 ). Thánh Gioan Bosco nói rằng: “Chính Đức Tin hoàn thành tất cả mọi sự”. Vâng, Đức Tin rất quan trọng. Thánh Tiến Sĩ Thomas Aquino lý luận: “Công hiệu của năng lực cầu nguyện đến từ Đức Ái, nhưng năng lực để cầu nguyện cho được hiệu quả là do Đức Tin và Đức Cậy”. Còn Thánh Tiến Sĩ Têrêsa Avila kết luận: “Tất cả tội lỗi đều do thiếu Đức Tin mà ra”.
Ngày xưa, phát ngôn viên Mikha đã tin tưởng công bố lời của Thiên Chúa: “Hỡi Bêlem Épratha, ngươi nhỏ bé nhất trong các thị tộc Giuđa, từ nơi ngươi, Ta sẽ cho xuất hiện một vị có sứ mạng thống lãnh Ítraen. Nguồn gốc của Người có từ thời trước, từ thuở xa xưa. Vì thế, Đức Chúa sẽ bỏ mặc Ít-raen cho đến thời một phụ nữ sinh con. Bấy giờ những anh em sống sót của người con đó sẽ trở về với con cái Ítraen” ( Mk 5, 1-2 ). Thiên tài và nhân tài có thể xuất thân từ một nơi không vị vọng, bình thường. Đừng tưởng nhân tài là con nhà giàu, con cha cháu ông, hoặc ở nơi đô hội. Không, thậm chí còn ngược lại. Xưa nay đã cho chúng ta thấy rõ điều đó. Tài năng có thể lóe lên bất cứ lúc nào hoặc bất cứ nơi nào. Hiển nhiên nhất là từ Bêlem, nơi có thể coi là “khỉ ho, cò gáy”, vậy mà lại là nơi xuất hiện Đấng Cứu Thế.
Đấng đó là người như thế nào ? Ngôn Sứ Mikha cho biết: “Người sẽ dựa vào quyền lực Đức Chúa, vào uy danh Đức Chúa, Thiên Chúa của Người mà đứng lên chăn dắt họ. Họ sẽ được an cư lạc nghiệp, vì bấy giờ quyền lực Người sẽ trải rộng ra đến tận cùng cõi đất” ( Mk 5, 3-5 ). Vô cùng kỳ diệu, quá đỗi lạ lùng !
Danh Ngài vượt trên mọi danh hiệu, đến nỗi khi nghe đến Tôn Danh Ngài, mọi loài đều nể phục, ngay cả ma quỷ cũng phải khiếp run. Những người tin vào Tôn Danh Ngài thì chân thành cầu nguyện: “Lạy Mục Tử nhà Ítraen, Ngài là Đấng chăn giữ nhà Giuse như chăn giữ chiên cừu, xin hãy lắng tai nghe! Ngài là Đấng ngự trên các thần hộ giá, xin giãi sáng hiển linh cho dòng dõi Épraim, Bengiamin và Mơnase được thấy. Xin khơi dậy uy dũng của Ngài, đến cùng chúng con và thương cứu độ” ( Tv 80, 2-3 ). Ngài đã đến, đang đến, và sẽ đến, đến để giao hòa đất với trời, đến để cứu nhân độ thế.
Không chỉ trong Mùa Vọng, mà suốt cả cuộc đời này, chúng ta luôn ngưỡng vọng và khẩn khoản nài xin Ngài ghé mắt thương xót – đặc biệt là trong Năm Thánh Lòng Thương Xót này ( từ 8.12.2015 tới 20.11.2016 ): “Lạy Chúa Tể càn khôn, xin trở lại, tự cõi trời, xin ngó xuống mà xem, xin Ngài thăm nom vườn nho cũ, bảo vệ cây tay hữu Chúa đã trồng, và chồi non được Ngài ban sức mạnh” ( Tv 80, 15-16 ).
Xin sẽ được, tìm sẽ thấy, gõ sẽ mở ( Mt 7, 7; Lc 11, 9 ), Chúa Giêsu đã hứa chắc như vậy. Vấn đề còn lại là chúng ta phải kiên trì mà tin tưởng khẩn cầu, đồng thời phải quyết tâm thành tín với Thiên Chúa: “Xin giơ tay bênh vực Đấng đang ngồi bên hữu là con người được Chúa ban sức mạnh. Chúng con nguyền chẳng xa Chúa nữa đâu, cúi xin Ngài ban cho được sống, để chúng con xưng tụng danh Ngài” ( Tv 80, 18-19 ).
 Thiên Chúa là Thánh Phụ giàu lòng thương xót, thích tha thứ chứ không muốn trừng phạt. Nếu bị phạt là tại người đó cố chấp mà thôi. Lòng thương xót của Thiên Chúa lớn hơn mọi tội lỗi của cả thế gian này kia mà, thế thì chẳng có tôi gì mà Ngài không tha, điều kiện đơn giản là “chân thành sám hối”. Chỉ cần một lời van xin là Ngài tha tất tần tật. Bằng chứng là trên Đồi Canvê, ngay trong cơn hấp hối, Chúa Giêsu đã tha thứ mọi tội lỗi cho gã Dismas – một tướng cướp “khét tiếng” nhưng chợt hóa “tốt lành” ( Lc 23, 43 ). Cả đời anh ta cướp bóc, coi trời bằng vung, cuối cùng gã Dismas “cướp” được cả Lòng Chúa Thương Xót và “cướp” luôn cả Nước Trời. Anh ta thực sự khôn ngoan vì biết tín thác vào Lòng Chúa Thương Xót. Tình Chúa bao la, vô biên và kỳ diệu là thế đấy. Nếu Thiên Chúa chấp tội, không một phàm nhân nào được cứu độ. Vì thế, đừng bao giờ mất niềm tin vào Lòng Chúa Thương Xót !
Thánh Phaolô phân tích: “Khi vào trần gian, Đức Kitô nói: Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể. Chúa cũng chẳng thích lễ toàn thiêu và lễ xá tội. Bấy giờ con mới thưa: Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài, như Sách Thánh đã chép về con” ( Dt 10, 5-7 ). Thiên Chúa có mọi sự, Ngài không cần gì cả, Ngài chỉ muốn chúng ta “xin vâng” trong mọi sự – vui hoặc buồn, sướng hoặc khổ, vừa ý hoặc trái ý – để “ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên Trời”. Thế thôi !
Thánh Phaolô giải thích chi tiết: “Trước hết, Đức Kitô nói: Hy lễ và hiến tế, lễ toàn thiêu và lễ xá tội, Chúa đã chẳng ưa, chẳng thích, mà đó chính là những thứ của lễ được dâng tiến theo Lề Luật truyền. Rồi Người nói: Này con đây, con đến để thực thi ý Ngài. Thế là Người bãi bỏ các lễ tế cũ mà thiết lập lễ tế mới. Theo ý đó, chúng ta được thánh hoá nhờ Đức Giêsu Kitô đã hiến dâng thân mình làm lễ tế, chỉ một lần là đủ” ( Dt 10, 8-10 ).
Chúa Giêsu luôn thể hiện phong cách “khác người”, luôn sống “ngược đời”, nhưng luôn rạch ròi: Tỉnh Táo, Thật Thà, Thẳng Thắn. Người ta không đủ hiểu Ngài nên đôi khi bị “sốc”, khó chấp nhận. Các Tư Tế, Kinh Sư, Thông Luật, nhóm Sađốc và Pharisêu đều là những hạng người như vậy. Còn chúng ta thì sao ? Khó nói hay không dám trả lời ?
Trình thuật Lc 1, 39-45 ngắn gọn, nhấn mạnh đến lòng tin của Đức Maria. Điều đó cho chúng ta biết chắc rằng lòng tin ( tín thác ) là niềm hạnh phúc lớn lao và cần thiết. Thật vậy, Chúa Giêsu đã có lần xác định với Tông Đồ Tôma: “Phúc thay những người không thấy mà tin !” ( Ga 20, 29 ).
Thánh Luca cho biết: Hồi ấy, sau khi được Sứ Thần Gáprien truyền tin và báo tin người chị cũng vừa thụ thai cách lạ lùng, Cô Maria vội vã lên đường, đến miền núi, vào một thành thuộc chi tộc Giuđa. Cô vào nhà Anh Dacaria và chào hỏi Chị Êlisabét. Chị Êlisabét vừa nghe tiếng Cô Em Maria chào thì đứa con trong bụng nhảy lên, và Chị được đầy tràn Thánh Thần, liền kêu lớn tiếng và nói: “Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc. Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này ? Vì này đây, tai tôi vừa nghe tiếng em chào thì đứa con trong bụng đã nhảy lên vui sướng. Em thật có phúc, vì đã TIN rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em” ( Lc 1, 42-45 ).
Đức Maria mau mắn trong mọi trường hợp và thể hiện rõ nét qua trạng từ “vội vã”. Đức Maria NGHE Thiên Sứ nói và TIN ngay, và rồi ĐI ngay. Không đắn đo, không tính toán, dù đường sá xa xôi, thời đó khó đi chứ không như ngày nay. Đức Maria đi thăm Người Chị không chỉ để chia vui mà chính là để giúp đỡ Người Chị, vì cùng là phận nữ nhi, Đức Maria biết các thai phụ gặp nhiều khó khăn, cực nhọc đủ thứ, rất cần người khác giúp đỡ trong thai kỳ, nhất là những ngày cuối thai kỳ.
Hài Nhi Gioan “gặp” Thánh Nhi Giêsu qua bụng mẹ mà vẫn không thể trì hoãn niềm hạnh phúc, thế nên Hài Nhi Gioan đã nhảy mừng trong lòng mẹ. Chị Êlisabét, mẹ của Cậu Bé Gioan, cũng không thể không bày tỏ niềm hạnh phúc ngay khi vừa gặp mặt Cô Em, vì Cô Em vừa trở nên Mẹ của Thiên Chúa. Hạnh phúc vô cùng lớn lao !
Chị Êlisabét thật diễm phúc vì được làm Mẹ của “người mở đường” cho Đấng Cứu Thế, và được coi là “người cao trọng hơn mọi người đã lọt lòng mẹ” ( Mt 11, 11; Lc 7, 28 ). Nhưng Cô Em Maria còn diễm phúc hơn vì được làm Mẹ của Thiên Vương Kitô, Đấng đem bình an và công lý đến cho nhân loại. Đức Maria diễm phúc vì có lòng tin tuyệt đối vào Thiên Chúa, nhờ tín thác tuyệt đối mà Đức Maria mau mắn và sẵn sàng xin vâng theo Thánh Ý Thiên Chúa quan phòng và tiền định.
Lạy Thiên Chúa, thật hạnh phúc và vui mừng biết bao vì Đấng Thiên Sai sắp sửa đến giải thoát nhân loại khỏi ách tội lỗi, khỏi vòng kim cô của ma quỷ, đồng thời chia sẻ thân phận con người với chúng con, dạy chúng con cách thực thi lòng thương xót và biết đường lên Trời. Xin giúp chúng con biết thương xót như Chúa Cha nhân từ, dám sống “khác người” và chia sẻ mọi sự với tha nhân. Xin Thánh Mẫu Thiên Chúa giúp chúng con biết tuân phục và tín thác tuyệt đối vào Thiên Chúa. Chúng con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.
TRẦM THIÊN THU

 

MV4-C94: NIỀM VUI VIẾNG THĂM

Tin Mừng Chúa Nhật 4 Mùa Vọng năm C cho chúng ta chân dung của hai người phụ nữ diễm phúc: Đức MV4-C94

Tin Mừng Chúa Nhật 4 Mùa Vọng năm C cho chúng ta chân dung của hai người phụ nữ diễm phúc: Đức Maria, Mẹ Đấng Cứu Thế và Êlisabét, mẹ Gioan Tiền Hô.
Cuộc gặp gỡ giữa hai người mẹ chứa chan niềm vui. Bà Êlisabét vui mừng vì được Mẹ Thiên Chúa đến viếng thăm. Đức Maria vui mừng vì được Thiên Chúa đoái thương; Mẹ nhìn thấy ơn cứu độ mà cả dân tộc của Mẹ mong chờ, niềm vui được tham dự vào chương trình cứu độ của Thiên Chúa, niềm vui có Đức Giêsu ở cùng; Để có được niềm vui này, Mẹ đã có một niềm tin tuyệt đối vào lời hứa ơn cứu độ của Thiên Chúa đối với dân tộc Mẹ. Thánh Gioan Baotixita vui mừng “hoan ca” trong lòng mẹ. Những niềm vui ấy hoà chung làm thành một lễ hội hân hoan tạ ơn Thiên Chúa. Những niềm vui ấy là do ơn Chúa Thánh Thần ban tặng.
Suy niệm về cuộc gặp gỡ kỳ diệu của hai bà mẹ cho chúng ta những bài học bổ ích.
Đức Maria đi thăm người chị họ Êlisabét. Dù đường sá xa xôi, vất vả, qua miền đồi núi, Mẹ yêu thương nên vẫn lên đường viếng thăm vì yêu thương. Chính tình thương đã thúc đẩy bước chân Mẹ. “Đẹp thay trên đồi núi, bước chân người loan báo Tin Mừng, công bố bình an, người loan tin hạnh phúc, công bố ơn cứu độ” ( Is 52, 7 ). Hình ảnh Đức Maria đang cưu mang Đấng Cứu Thế, băng ngàn để loan báo tin vui cũng chính là hình ảnh Isaia đã loan báo từ xa xưa.
1. Cuộc viếng thăm lịch sử
Đây là cuộc gặp gỡ giữa hai người mẹ, hai người con đang được cưu mang cũng là giữa hai giao ước cũ và mới.
- Giữa hai người mẹ: Đức Maria thăm viếng đem niềm vui có Chúa cho gia đình người chị họ. Ở lại phục vụ người chị trong thời gian mang thai sinh con. Êlisabét được ơn Thánh Thần đã xưng tụng Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa và đã ca tụng đức tin của Đức Mẹ.
- Giữa hai người con: Nghe lời chào của người mẹ cưu mang Đấng Cứu Thế, con trẻ Gioan trong lòng Êlisabét nhảy mừng vui sướng.
- Giữa hai Giao Ước: Cuộc viếng thăm của Đức Mẹ là cuộc gặp gỡ giữa hai Giao Ước. Thời đại mới mở ra Giao Ước mới. Con Thiên Chúa làm người khai mở Giao Ước của thời đại ân sủng và tình yêu.
2. Cuộc viếng thăm tình yêu
Tình yêu đòi hỏi phải biểu lộ ra chứ không giữ kín bên trong. Một tình yêu giữ kín, không được biểu lộ thành hành động thì không phải là một tình yêu đích thực. Tình yêu phải được biểu lộ ra thành sự quan tâm, chăm sóc, năng tìm cách gặp gỡ, giúp đỡ, hy sinh cho người thân, làm cho người thân trở nên tốt đẹp, hạnh phúc hơn.
Tình yêu đích thực đòi hỏi phải năng gặp nhau, nhất là những lúc người mình yêu có chuyện vui buồn. Tục ngữ có câu: “Nhất nhật bất kiến như tam thu hề !” ( một ngày không gặp nhau thì dài như ba năm ). Do đó, đi thăm viếng nhau là đòi hỏi của tình yêu đích thực, là biểu lộ sự quan tâm đến nhau.
Đức Mẹ là mẫu gương tuyệt vời. Năng thăm viếng những người chúng ta yêu mến. Những người bệnh tật, già cả, những người nghèo khổ, đau khổ, những người khô khan thờ ơ, những gia đình rối rắm bất hoà… Họ rất cần đựơc thăm viếng. Đến thăm nhau là một phương cách tuyệt vời để biểu lộ tình huynh đệ, tình yêu thương của đạo Chúa.
3. Niềm vui thăm viếng
Khi đến thăm bà Êlisabét, Mẹ đem Chúa đến cho người thân của mình. Nhờ Mẹ mang Chúa đến, nên không chỉ bà Êlisabét vui mừng mà hài nhi trong lòng bà cũng vui theo mà “nhảy lên” hân hoan. Nhảy mừng diễn tả niềm vui. Đây là niềm vui ơn cứu độ. Sự hiện diện của Đức Maria mang đến niềm vui và còn có sự biến đổi khiến hai mẹ con bà Êlisabét được tràn đầy Thánh Thần, và nhờ đó nhận ra được sự hiện diện của Thiên Chúa nơi Mẹ. Gia đình Bà Êlisabét là gia đình đầu tiên được Chúa Cứu Thế viếng thăm. Đây là gia đình diễm phúc đón nhận niềm vui ơn cứu độ.
Đến thăm nhau không chỉ là một phương cách biểu lộ tình yêu, nói lên sự quan tâm, mà còn là một dịp thuận lợi để đem Chúa đến cho người mình thăm viếng. Nhờ ta đem Chúa đến mà niềm vui của người được thăm tăng lên gấp bội, và họ nhận lãnh được Thánh Thần.
Đem Chúa đến cho người mình thăm viếng, không có nghĩa là mình nói thật nhiều thật hay về Chúa cho họ nghe. Đức Maria có nói gì về Chúa với bà Êlisabét đâu ! Chúa là tình thương, ta chỉ mang Chúa đến cho tha nhân, khi chính ta thật sự yêu thương họ bằng một tình yêu chân thực. Đến với nhau bằng tình thương, bằng niềm vui là sự gặp gỡ có Chúa hiện diện rồi. Khi người ta mang hận thù oán ghét, ý nghĩ đen tối đến với nhau thì nảy sinh bất hoà chiến tranh và đau khổ. Ta chỉ mang Chúa đến cho tha nhân khi ta đến với ý muốn làm hiện thân của Chúa đối với họ, và coi họ cũng là hiện thân của Chúa đối với mình.
Thiên Chúa yêu thương nhân loại nên đã ban tặng Con Yêu Dấu là Đức Giêsu. Người đến với con người trong lịch sử, cách đây hơn 2.000 năm. Người đem ơn cứu độ và đem hạnh phúc đến cho mọi người, cho từng người. Khi còn tại thế, Đức Giêsu đã đến thăm nhiều người, nhiều gia đình. Người quan tâm chăm sóc chữa lành những bệnh nhân. Người giảng dạy và ân cần với những người nghèo. Ngưòi cải hóa nhiều tội nhân. Người biểu lộ tình yêu thương cho mọi người.Đức Giêsu muốn chúng ta tiếp nối công việc của Người.
Một trong những vấn đề mục vụ hàng đầu của Linh Mục là thăm viếng các Tín Hữu. Khi đến một Giáo Xứ mới, công việc đầu tiên của Linh Mục là đi thăm tất cả các gia đình trong Giáo Xứ. Như mục tử với đoàn chiên, Linh Mục biết tình hình chung, biết hoàn cảnh mọi gia đình trong xứ. Từ đó có kế hoạch mục vụ để mang lại hiệu quả thiết thực cho cộng đoàn.
Các Tu Sĩ, các hội đoàn trong Giáo Xứ có những thời giờ thăm viếng mục vụ. Đến với các bệnh nhân, người già cả, người nghèo, gia đình rối, gia đình bất hoà luôn được coi là việc tông đồ. Đem Chúa đến với anh chị em của mình là niềm vui và là sứ mạng của người tín hữu.
Những tuần lễ Mùa Vọng, mỗi người trong Xứ Đạo tiết kiệm chi tiêu để làm việc bác ái. Những phần quà ân tình chia sẻ cho các gia đình nghèo trong Đêm Giáng Sinh thật ý nghĩa, diễn tả tình yêu và sự quan tâm đến người khác. Đức Maria viếng thăm phục vụ và đem Chúa đến với gia đình bà Êlisabét. Đó là hình ảnh tuyệt đẹp và là mẫu gương cho mọi tín hữu noi theo. Dành thời giờ quý báu để thăm nhau. Chia sẻ tình thương và đem niềm vui có Chúa cho tha nhân luôn là sứ vụ của người tín hữu.
Lạy Chúa, xin giúp chúng con biết quan tâm đến niềm vui, nỗi khổ, và nhu cầu của từng người sống chung quanh chúng con. Xin giúp chúng con biết hy sinh thì giờ cho dù rất quí báu để năng đến gặp gỡ, thăm viếng nhau, hầu nhờ đó thông cảm được những nỗi vui buồn và nhu cầu của anh chị em. Xin giúp chúng con biết sẵn sàng chia vui sẻ buồn và tìm mọi cách để giúp đỡ những nhu cầu chính đáng của họ. Amen.
Lm. Giuse NGUYỄN HỮU AN

 

MV4-C95: MẸ MARIA VỘI VÃ LÊN ĐƯỜNG

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
CHÚA NHẬT IV MÙA VỌNG, năm C
Lc 1, 39-45
 

Chúa nhật hôm nay là Chúa nhật Mùa vọng, Chúa nhật cuối cùng của Mùa vọng. Chúa nhật này MV4-C95

Chúa nhật hôm nay là Chúa nhật Mùa vọng, Chúa nhật cuối cùng của Mùa vọng. Chúa nhật này có thể nói được là Chúa nhật của Đức Mẹ. Bởi vì phụng vụ hôm nay, đặc biêt đoạn Tin Mừng của thánh Luca cho chúng ta thấy vai trò của Mẹ Maria. Sự xuất hiện của Mẹ khi Mẹ đang mang thai bởi phép Chúa Thánh Thần làm nổi bật gương mặt của Mẹ. Mẹ đã vội vã lên đường thăm chị họ là bà Êlisabeth cũng đang mang thai lúc tuổi già.Sự có mặt của hai người phụ nữ đang có thai, đặc biệt Mẹ Maria cho thấy mầu nhiệm Con Thiên Chúa xuống thế làm người để ở giữa nhân loại, ở giữa con người đã thực sự diễn ra trong lịch sử.
Sự gặp gỡ giữa Mẹ Maria và bà Isave rất lạ lùng. Mẹ đã đem niềm vui cho bà chị họ, bởi vì Isave đã mang tiếng là son sẻ, khi bà và chồng đã cao niên,.Quan niệm của người Do Thái lúc đó rất mù mờ về sự chết, nên họ chỉ muốn có con cái, cháu chắt nối dõi tông đường. Bà Êlisabeth mang thai cũng rất nhiệm lạ khi Giacaria được sứ thần loan báo về việc vợ ông sẽ mang thai.Ông đã không tin vì cho rằng ông đã già và vợ ông đã cao niên.Tuy nhiên, việc gì con người không thể làm được, Thiên Chúa làm được tất cả.Niềm tin thâm sâu Mẹ Maria đã đặt vào Thiên Chúa, giờ này càng được củng cố và khơi dậy vì bà Êlisabeth cũng đang mang thai con trong lúc tuổi già. Việc Mẹ Maria đến thăm bà chị họ là dịp để hai hài nhi gặp gỡ nhau trong niềm tin sâu xa. Gioan Tẩy Giả đã nhảy mừng trong lòng bà Êlisabeth bởi vì Gioan đã gặp gỡ chính Hài nhi là Đấng Cứu Độ.Maria đã hiểu rõ hơn việc Mẹ cưu mang Chúa Giêsu vả do tác động của Chúa Thánh Thần, Mẹ Maria đã ngợi khen tung hô Thiên Chúa. Đàng khác, bà Isave đã chúc mừng Mẹ Maria và khen Mẹ là Đấng đầy ơn phúc. Mẹ được đầy ơn phúc vì chính Thiên Chúa đã chọn Mẹ và cắt nhắc Mẹ lên, Thiên Chúa đã ban cho những đặc ân cao quí mà không ai ở trần gian có thể có được. Mẹ Maria hiểu rõ, biết mình được diễm phúc vì Mẹ đã dám tin Lời Thiên Chúa :” Này tôi là nữ tỳ Thiên Chúa, sẽ hãy thực hiện cho tôi theo như lời thiên thần truyền “. Cuộc gặp gỡ giữa Mẹ Maria và bà Êlisabeth giúp Mẹ Maria vững tin hơn vào kinh nghiệm mình đã được gặp gỡ Thiên Chúa. Và cũng chính cuộc gặp gỡ này đã thực sự cho nhân loại hiểu, đây là cuộc gặp gỡ giữa Đấng Cứu Thế và Gioan Tẩy Giả là Đấng tiền hô. Gioan Tẩy Giả là Ngôn sứ cuối cùng của Cựu Ước, Ngài nối giữa Cựu Ước với Tân Ước.
Mẹ Maria đã thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần.Đây là mầu nhiệm sâu thẳm. Mẹ đã cưu mang Đấng Cứu Thế và việc gặp gỡ giữa Mẹ Maria và bà Êlisabeth cho thấy ơn cứu độ Mẹ đang mang cung lòng trinh khiết là Chúa Giêsu, Đấng Mêsia, đến để sống giữa con người, sống giữa loài người.Mẹ Maria đã tới và ở lại phục vụ bà chị họ. Ngược lại, chính Mẹ cũng nhận được sự phục vụ của bà chị họ và gia đình của bà chị họ. Sau này Chúa Giêsu khi dạy dỗ các môn đệ, Ngài đã cho họ biết :” Ngài đến để phục vụ, chứ không đến để được hầu hạ “. Bài học ấy Mẹ Maria và Con Thiên Chúa đã thực hiện ở đây, trong những giờ phút đầu tiên của mầu nhiệm nhập thể làm người của Con Thiên Chúa. Mầu nhiệm Con Thiên Chúa làm người, chính là Con Thiên Chúa đến giữa nhân loại, đến giữa con người không phải để tìm vinh quang cho mình, nhưng là để phục vụ và phục vụ cho đến giọt máu cuối cùng trên thập giá.
Phụng vụ Mùa Vọng mời gọi chúng ta đến với Con Thiên Chúa làm người nơi hang đá Bêlem, đến với nguồn ơn cứu đô, tuy nhiên, mùa Vọng cũng mời gọi chúng ta đến gặp gỡ Đấng Cứu Thế như các muc đồng xưa. Bởi vì, Đấng Cứu Thế thi thố quyền năng của mình nơi những con người thấp cổ bé họng, nơi những người bị bỏ rơi, vất vưởng, bơ vơ. Bởi vì, chính Chúa đã đồng hóa mình với những con người khó nghèo, những con người bị hất hủi vv…Chính Con Thiên Chúa đã không chọn lầu son gác tiếc, đền đài nguy nga, đồ sộ để sinh ra nhưng Ngài đã chọn hang đá khó nghèo để sinh ra và gặp gỡ những trẻ mục đồng khó nghèo đầu tiên. Giáng sinh sắp tới, Giáo Hội mời gọi chúng ta gặp gỡ Chúa Giêsu trong Thánh Lễ, trong Bí Tích Thánh Thể.
Lạy Mẹ Maria, Mẹ đã nói lời xin vâng để cưu mang Chúa Giêsu trong cung lòng thanh khiết. Xin Mẹ giúp chúng con luôn biết nói lời xin vâng làm theo ý Chúa trong cuộc sống của mình.Amen.

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
1.Chúa nhật IV Mùa Vọng có thể gọi là Chúa nhật dành cho ai ?
2.Tại sao Mẹ Maria lại đi thăm viếng bà chị họ Êlisabeth ?
3.Cuộc gặp gỡ giữa Mẹ Maria và bà chị họ Êlisabeth nói lên điều gì ?
4.Mẹ Maria đã nói lời xin vâng để làm gì ?
5.Tâm tình của ÔBACE phải có trong Mùa Vọng ?

 

MV4-C96: MỞ RỘNG TÂM HỒN ĐÓN CHÚA GIÁNG SINH

Suy niệm Chúa Nhật IV Mùa Vọng - C
 (Lc 1, 39-45)
 

Sau khi đã ngưng nghỉ nhìn lại chặng đường đã qua với niềm vui vì những gì đã đạt được, nay lễ MV4-C96

Sau khi đã ngưng nghỉ nhìn lại chặng đường đã qua với niềm vui vì những gì đã đạt được, nay lễ Giáng sinh đã gần kề, tâm hồn chúng ta rạo rực hẳn lên, thôi thúc chúng ta phải làm hết sức những gì có thể để hưởng trọn vẹn niềm vui ngày Con Chúa ra đời.
Lời của ngôn sứ Mikha lôi kéo chúng ta hướng nhìn về Belem, châu thành bé nhỏ của nước Giuđê, chứng tá của một biến cố vĩ đại : “Hỡi Bêlem Ephrata, ngươi nhỏ nhất trong trăm ngàn phần đất Giuđa, nhưng nơi ngươi sẽ xuất hiện một Đấng thống trị Israel, và nguồn gốc Người có từ nguyên thuỷ, từ muôn đời” (Mk 5,1). Một ngàn năm trước Chúa Kitô giáng sinh, Bêlem đã là sinh quán của Ðavít đại vương, mà Kinh Thánh trình bày như là tổ tiên của đấng Mêsia. Tin Mừng thánh Luca thuật lại rằng, Chúa Giêsu đã sinh ra tại Bêlem bởi vì ông Giuse, chồng của bà Maria, “thuộc dòng dõi Ðavít” phải trở về nơi ấy để kiểm tra dân số, và chính vào lúc đó Maria đã hạ sinh Hài Nhi Giêsu (x. Lc 2,1-7).
Hôm nay thánh Luca tiếp tục giới thiệu cho chúng ta hai nhân vật là Đức Maria và người chị họ là Isave như hai mẫu gương tiêu biểu cho người thủ đắc niềm vui vì có Chúa, đồng thời mời gọi chúng ta cần phải có thái độ nội tâm xứng đáng giống hai bà với đức tin năng động, để chiêm ngắm sự kiện nhập thể và giáng sinh của Con Một Chúa.
Isave, với sự khiêm tốn chân thành, “được đầy Chúa Thánh Thần, bà kêu lớn tiếng rằng: “Bà được chúc phúc giữa các người phụ nữ, và Con lòng Bà được chúc phúc! Bởi đâu tôi được Mẹ Chúa tôi đến viếng thăm tôi?” (Lc 1,41-43). Nhờ tin mà Isave được Chúa Thánh Thần mách bảo cho biết, Maria người em họ mình là mẹ Thiên Chúa của bà. Bà cũng không ngần ngại tuyên xưng niềm vui của đức tin với Đức Maria : “Phúc cho Bà là kẻ đã tin” (Lc 1,45).
Đây là một thái độ đức tin mà chúng ta phải sống trong những ngày này. Noi gương Đức Maria và bà Isave, với một đức tin năng động. Chúng ta phải bày tỏ lòng biết ơn và niềm vui có đức tin của chúng ta. Giống như Đức Maria, chúng ta phải thể hiện bằng việc chúng ta làm. “Maria chỗi dậy, vội vã ra đi tiến lên miền núi, đến một thành xứ Giuđêa. Bà vào nhà ông Dacaria và chào bà Isave” (Lc 1,39-40), để chúc mừng và giúp đỡ người chị họ (Lc 1,56).
Thật là hữu ích cho những ngày này, chúng ta suy tư về trình thuật cuộc găp gỡ lịch sử giữa hai bà mẹ đang mang thai là Đức Maria và bà chị họ là Isave. Hai bà mẹ tràn ngập niềm vui. Niềm vui của Đức Maria là niềm vui có Thiên Chúa ở cùng. Niềm vui ấy lan tỏa sang bà Isave. Bà Isave vui với niềm không ai có được là Mẹ Thiên Chúa đến viếng thăm. Chính lời chào của Mẹ Maria, kẻ đã tin, làm cho Isave ngập tràn vui sướng, đến hài nhi cũng nhảy mừng trong lòng bà (x. Lc 1, 39-45).
Quả là một mầu nhiệm tuyệt vời! Gioan chưa sinh ra, ông đã cất lời tiên báo; thậm trí ông còn chưa thể cất tiếng khóc chào đời, ông đã bắt đầu nghe bằng hành động; sống đời rao giảng về Thiên Chúa; chưa thấy ánh áng, ông đã chỉ cho người ta thấy mặt trời; ông còn chưa lọt lòng mẹ đã nhanh nhẹn thi hành sứ mạng tiền hô, đi trước Chúa và loan báo cho mọi người biết: Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội của trần gian (Ga 1, 29).
Có người hỏi : Thưa ông Gioan, hãy nói cho chúng tôi biết, lúc ông còn trong dạ mẹ, làm thế nào để ông thấy được và nghe được? Làm thế nào để ông nhìn thấy mọi sự của Thiên Chúa? Làm thế nào ông có thể nhảy mừng trong dạ mẹ vì vui sướng? Gioan trả lời : đây là mầu nhiệm vĩ đại được hoàn thành, là hành động vượt quá sự hiểu biết của con người. Luật tốt hảo tôi phải đổi mới trong trật tự thiên nhiên vì người phải đổi mới trong trật tự siêu nhiêu. Tôi đã thấy, ngay cả khi tôi chưa sinh ra, vì tôi cám thấy chứa đựng Mặt Trời công chính (Ml 3, 20). Tôi cảm nhận được bằng thính giác, bởi vì đi vào thế giới. Tôi là tiếng kêu trước của Ngôi Lời. Tôi kêu lên, vì tôi thấy Đấng tạo dựng vũ trụ nhận thấy thân phận con người. Tôi nhảy mừng,vì tôi nghĩ rằng Đấng Cứu Chuộc thế gian đã mặc lấy xác phàm. Tôi là Tiền Hô đi trước Người và làm chứng cho Người.
Đức Maria với niềm vui diễm phúc ngập tràn, vì Mẹ đã tin, đức tin của Mẹ hệ tại việc lắng nghe Lời Chúa để phó thác cho Lời của Chúa trong thái độ hoàn toàn sẵn sàng trong tâm trí. Qua lời thưa “Xin vâng” tràn đầy niềm tin, Mẹ ý thức rằng, chính Thiên Chúa yêu cầu và Mẹ hoàn toàn tín thác nơi Chúa và phó thác cho tình yêu Chúa.
Biết bao lần Chúa đi qua cuộc đời chúng ta và bao nhiêu lần Chúa gửi một thiên thần đến với chúng ta : bao nhiêu lần chúng ta không ý thức điều đó, vì chúng ta quá bận rộn và chìm đắm trong những công việc của mình.
Ngày hôm nay, cũng như vào thời Chúa Giêsu, lễ Giáng sinh là lời đáp trả của Thiên Chúa cho nhân loại đang cầu mong hòa bình. Ngôn sứ nói về đấng Mesia như là “Người sẽ đem lại hòa bình cho chúng ta”. Phần chúng ta, chúng ta hãy mở rộng cửa để đón tiếp Người. Chúng ta hãy học hỏi Ðức Maria và thánh Giuse cũng như bà Isave : nhờ đức tin, chúng ta hãy phục vụ kế hoạch Thiên Chúa. Mặc dù không hiểu biết tường tận kế hoạch ấy, nhưng chúng ta hãy ký thác cho Thiên Chúa là Ðấng khôn ngoan và tốt lành. Tiên vàn chúng ta hãy tìm Nước Chúa, và Chúa Quan phòng sẽ giúp đỡ chúng ta. Chúng ta hãy sửa soạn tâm hồn để có một chỗ xứng đáng, nơi Chúa Giêsu Hài Ðồng cảm thấy mình được đón tiếp với đức tin và tình thương!
Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

 

MV4-C97:  NIỀM VUI CỦA SỰ GẶP GỠ (Lc 1, 39- 45)

1 Tóm Lược Các Bài Đọc
Bài đọc một: Mk 5, 1- 4
Từ nơi Bêlem Epratha, Thiên Chúa sẽ cho xuất hiện một vị có sứ vụ thống lãnh Israel. Bây giờ những người sống sót sẽ trở về. Người sẽ dựa vào uy danh Thiên Chúa mà đứng lên chăn dắt họ. Họ sẽ an cư lạc nghiệp, vì bấy giờ quyền lực của Người sẽ trải rộng đến tận cùng cõi đất. Chính Người sẽ mang lại hòa bình.
Bài đọc hai: Dt 10, 5- 10
Khi vào trần gian, Đức Giêsu nói: Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, Chúa cũng chẳng ưa thích lễ toàn thiêu và lễ xá tội. Bây giờ con liền thưa, này con đến để thực thi ý Ngài. Thế là Đức Kitô bãi bỏ lễ tế cũ, mà thiết lập lễ tế mới. Nhờ đó, chúng ta được thánh hóa nhờ Đức Giêsu Kitô đã hiến dâng mạng sống làm lễ tế, chỉ một lần là đủ.
Bài đọc Tin Mừng: Lc 1, 39- 45
Hôm ấy Đức Maria vội vã lên đường, đến một miền núi thuộc chi tộc Giuđa. Bà vào nhà ông Dacaria và chào bà Elisabet. Vừa nghe tiếng Đức Maria chào thì đứa con trong bụng bà Elisabet nhảy lên vui sướng và được đầy tràn Thánh thần, bà lớn tiếng nói: Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ và người con em cưu mang cũng được chúc phúc. Em thật có phúc vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em.
2. Suy Niệm
 

Kinh Kính Mừng mà chúng ta vẫn đọc thường ngày là một lời kinh tuyệt đẹp giúp tâm hồn mỗi MV4-C97

Kinh Kính Mừng mà chúng ta vẫn đọc thường ngày là một lời kinh tuyệt đẹp giúp tâm hồn mỗi người luôn hướng về Chúa và không ngớt lời ca tụng tình thương cứu độ của Ngài. Lời kinh này được rút ra từ lời của bà Elisabet đã vui sướng thốt lên khi được Mẹ Maria viếng thăm: “Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em cưu mang cũng được chúc phúc” (Lc 1, 42). Mẹ Maria đến viếng thăm bà Elisabet không chỉ mang theo mình tình thương máu mủ, mà trên hết, mang Chúa đến cho nhà chị họ. Nhờ đó, bà Elisabet rất đỗi vui mừng, và hài nhi trong bụng cũng mừng vui khôn xiết, đến nỗi “nhảy lên” trong bụng mẹ. Sự hiện diện của Mẹ Maria cùng với thai nhi Giêsu đã biến đổi hai mẹ con bà Elisabet, khiến cả hai được đầy ơn Chúa Thánh thần vì nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa nơi cuộc đời mình.
Tới đây, chúng ta cùng nghe thánh Ambrosia nhận nói thật sâu sắc về biến cố này: “Bà Elisabet là người đầu tiên nghe tiếng nói, nhưng Gioan lại là người đầu tiên cảm nhận được ân sủng. Bà mẹ theo lẽ tự nhiên, nhưng cậu con trai nhảy mừng vì lẽ mầu nhiệm. Bà mẹ đón nhận Đức Maria đến thăm, còn người con lại cảm thấy Chúa ngự đến. Phụ nữ tiếp đón phụ nữ, con trẻ tiếp đón con trẻ. Hai bà mẹ nói với nhau những lời thân ái, còn hai người con lại hoạt động ở bên trong làm cho các bà tăng thêm lòng yêu mến và nhờ phép lạ đó, dưới sự thúc đẩy của hai người con, các bà cất tiếng ca tụng Thiên Chúa”. Niềm vui của bà Elisabet và thai nhi Gioan có được không do bởi sự quan tâm đặc biệt của Mẹ Maria, mà là nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa nơi Mẹ; điều này mang lại niềm vui đích thực và sự bình an.
Trong chiều hướng đó, Chúa cũng muốn mỗi người đến với người khác bằng hành trang của Tin Mừng yêu thương. Có thế, chúng ta mới tránh được những cuộc gặp gỡ vô bổ, và có nguy cơ đưa đến chia rẻ, hiềm khích nhau. Thực tế phũ phàng này, chúng ta vẫn thường thấy trong cuộc sống: có những cuộc gặp gỡ chỉ để lợi dụng nhau, có những cuộc gỡ chỉ biết nói xấu về người khác,  có những lần gặp gỡ để rồi cùng nhau dẫn đến con đường tội lỗi. Những hệ lụy tiêu cực của các lần gặp gỡ này là do thiếu vắng sự hiện diện của Thiên Chúa. Chúng ta gặp nhau chỉ để bàn thảo những gì có lợi cho bản thân, hay bới móc những tật xấu để hạ nhục người khác. Sở dĩ có như thế, vì chúng ta đã đặt Thiên Chúa vào một gốc khuất của cuộc sống để rồi trong các dư tính, gặp gỡ thiếu đi tiếng nói của Ngài.
Là Kitô hữu, chúng ta được mời gọi nhìn lại mẫu gương tuyệt vời của Mẹ Maria: mang Chúa đến với những người mình gặp gỡ bằng một tình yêu chân thật để xoa dịu những nỗi đau nơi tâm hồn và thể xác hầu giúp họ tìm lại sự an bình, niềm vui nội tâm và xây dựng cuộc sống có ý nghĩa. Thiên Chúa muốn dùng bản thân chúng ta để đến với tất cả mọi người: đến với những người thân thuộc để giúp đỡ và thương yêu; đến với  những ai đang mê muội để khuyên lơn, cảnh tỉnh họ; đến với những người đau khổ để vỗ về và khuyến khích; đến với những người bệnh tật, già yếu neo đơn để đồng hành và chăm sóc họ; đến với những con người tội lỗi để dẫn đưa họ về nẻo đường cứu độ. Qua chúng ta, Thiên Chúa muốn yêu thương người khác bằng trái tim của mình, muốn biểu lộ tình yêu cho họ. Nói cách khác, Thiên Chúa muốn chúng ta trở thành hiện thân của tình yêu trao ban, của sự bao dung và tha thứ với tất cả sự chân thành và quảng đại.
Lạy Chúa, xin cho mỗi bước đi của chúng con đều để lại nơi cuộc đời này những dấu vết của hy vọng, tha thứ, của sự bình an và hạnh phúc để trong mọi sự Thiên Chúa được tôn vinh.
                                                        Montfort Nguyễn Xuân Pháp. Ocist

 

MV4-C98:CHÚA NHẬT IV MÙA VỌNG C

Mk 5,2-4a ; Dt 10,5-10 ; Lc 1,39-45
THĂM VIẾNG CHIA SẺ THỂ HIỆN LÒNG CHÚA THƯƠNG XÓT
I HỌC LỜI CHÚA
1. TIN MỪNG: Lc 1,39-45
(39) Hồi ấy, Bà Maria lên đường vội vã, đến miền núi, vào một thành thuộc chi tộc Giu-đa. (40) Bà vào nhà ông Dacaria và chào bà Êlisabét. (41) Bà Êlisabét vừa nghe tiếng bà Maria chào, thì đứa con trong bụng nhảy lên, và bà được tràn đầy Thánh Thần, (42) liền kêu lớn tiếng và nói rằng: “Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc”. (43) Bởi đâu tôi được Thân mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này? (44) Vì này đây, tai tôi vừa nghe tiếng em chào, thì đứa con trong bụng đã nhảy lên vui sướng. (45) Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em”.
2. Ý CHÍNH:
 

Sau khi được sứ thần cho biết bà chị họ là Êlisabét đã có thai, Đức Maria đã vội vã lên đường thăm MV4-C98 Đalat

Sau khi được sứ thần cho biết bà chị họ là Êlisabét đã có thai, Đức Maria đã vội vã lên đường thăm viếng. Cuộc viếng thăm của Maria vừa đem lại niềm vui cho gia đình Dacaria, vừa nói lên đức bác ái cụ thể của Đức Maria đối với bà chị họ, khi bà sắp tới ngày sinh con. Cuộc gặp gỡ cũng đem lại ơn cứu độ của Đấng Mêsia cho thai nhi Gioan, thể hiện qua sự kiện nhảy mừng trong lòng mẹ. Nhờ được Thánh Thần soi sáng, bà Êlisabét đã nhận ra cô em Maria chính là Mẹ của Đấng Thiên Sai và bà đã ca tụng Maria diễm phúc vì đã tin vào Lời Chúa.
3. CHÚ THÍCH:
- C 39-40: + Đức Maria vội vã lên đường : Sự vội vã của Đức Maria nhằm diễn tả lòng yêu mến, muốn đi thăm viếng để chúc mừng bà chị họ và cũng chia vui với chị ơn được làm mẹ như một ơn Chúa ban đang khi bà không còn chút hy vọng có con. Ngòai ra, Mẹ còn muốn giúp đỡ bà chị họ “nay đã có thai được sáu tháng” qua việc “ở lại với bà Êlisabét độ ba tháng”. Ở lại để giúp đỡ bà cho đến khi đứa con chào đời. + Bà vào nhà ông Dacaria và chào bà Êlisabét: Người Do thái có nhiều cách chào: Thần dân chào vua chúa thì xuống ngựa và đến sấp mình trước mặt nhà vua (x. 1 Sm 20,41; 25,23); Nếu hai bên là thân thuộc nghĩa thiết hay có quan hệ thầy trò thì sẽ chào hỏi bằng cách ôm hôn nhau (x. 1 V 19,20; Lc 22,47). Lời chào thông thường là “Shalom”, nghĩa là chúc “Bình an ở với anh” hay “Giavê ở cùng anh” (x.Ga 20,19). Trong Tin Mừng hôm nay sứ thần Gáprien đã chào Đức Maria: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng Bà” (Lc 1,28). Do việc chào hỏi dài dòng mất nhiều thời gian, nên Đức Giêsu đã chỉ thị môn đệ đừng chào hỏi ai dọc đường khi đi làm công tác truyền giáo (x. Lc 10,4).
- C 41-42: + Đứa con trong bụng nhảy lên: Có lẽ thai nhi Gioan chỉ co đạp liên hồi trong bụng khiến bà Êlisabét tưởng như em đang nhảy mừng hân hoan khi gặp thai nhi Mêsia (x. Lc 1,14), giống như vua Đa-vít nhảy mừng trước Hòm Bia Giao ước (x 2 Sm 6,14). + Và Bà được đầy Thánh Thần: Nhờ được ơn Thánh Thần soi sáng, bà Êlisabét đã nhận biết bào thai cô em họ đang cưu mang chính là Đấng Thiên Sai. + Em được chúc phúc: Bà Êlisabét ca tụng Đức Maria là người có phúc hơn mọi phụ nữ, vì đã cộng tác với Thiên Chúa trong chương trình cứu độ loài người.
- C 43-45): + Thân mẫu Chúa tôi: Trong Thánh kinh, danh hiệu “Chúa tôi” thường dành riêng cho Đức Chúa, tuy nhiên cũng có lần danh hiệu này được gán cho Đấng Thiên Sai. Danh xưng “Thân Mẫu Chúa tôi” về sau trở thành nền tảng để Hội Thánh tôn vinh Đức Maria là “Mẹ Thiên Chúa“ (Theotokos), và hình thành phần thứ hai của Kinh Kính Mừng: “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời…”. Về danh xưng này, khi hiện ra với các mục đồng ở Belem vào ngày Chúa Giáng Sinh, sứ thần đã nói như sau: “Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đavít. Người là Đấng Kitô Đức Chúa” (Lc 2,11). Trong Tin mừng Luca, danh xưng Đức Chúa của Đức Giêsu được nói đến 40 lần. + Em thật có phúc vì đã tin: Tin Mừng Luca đã quy tụ hai ơn phúc của Đức Maria vào trong lời chúc tụng của bà Êlisabét: một là phúc được “làm Mẹ Đấng Cứu Thế” và hai là phúc “đã tin những lời Chúa phán” (x Lc 1,42-45). Về sau trong lúc Đức Giêsu giảng đạo, một phụ nữ cũng ca ngợi thân mẫu của Ngừơi: “Phúc thay người mẹ đã cưu mang và cho Thầy bú mớm” và Đức Giêsu liền bổ túc thêm: “Đúng hơn phải nói rằng: Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa” (Lc 11,27-28). Nơi Đức Maria hai phúc này liên kết thành một: ngay khi tin mọi lời Thiên Chúa phán sẽ được thực hiện, Đức Maria lập tức trở thành Mẹ của Đấng Cứu Thế. Có thể khi nói câu này, bà Êlisabét đã liên tưởng đến sự nghi ngờ cứng tin của ông Giacaria chồng bà trước đó (Lc 1,20.45).
4. CÂU HỎI:
1) Người Do thái có mấy cách chào và thường chào hỏi nhau thế nào?
2) Thai nhi Gioan nhảy mừng trong lòng bà Êlisabét vào lúc nào, nhảy mừng ra sao và để làm gì?
3) Lý do nào làm cho bà Êlisabét nhận biết Đức Maria là Mẹ Đấng Kitô Đức Chúa ? 
4) Bà Êlisabét ca tụng Đức Maria có phúc vì lý do gì?
II SỐNG LỜI CHÚA
1. LỜI CHÚA: “Cho thì có phúc hơn là nhận” (Cv 20,35).
2. CÂU CHUYỆN:
1) CHIA SẺ TÌNH THƯƠNG CÁCH CỤ THỂ TRONG MÙA GIÁNG SINH:
Một hôm vào buổi chiều áp lễ Giáng Sinh, một sinh viên trẻ cùng đi với vị giáo sư đến thăm các trẻ em bất hạnh trong viện mồ côi ngòai thành. Vị giáo sư này thường được các sinh viên gọi thân mật bằng tên "người bạn của sinh viên" vì sự thân thiện và tốt bụng của ông. Trên đường đi, thầy trò đi ngang qua một nông trại, thấy một đôi giày cũ nằm bên vệ đường gần cổng một nông trại. Có lẽ đây là đôi giày của một bác nông dân nghèo làm việc tại đây. Anh sinh viên liền nói với vị giáo sư: "Bây giờ sắp đến giờ tan sở. Em sẽ giấu đôi giày của ông ta vào chỗ khuất rồi thày trò chúng ta sẽ núp quan sát xem thái độ của ông ta thế nào khi bị mất đôi giày. Chắc là sẽ vui lắm đây". Vị giáo sư liền khuyên can: "Này anh bạn trẻ. Chúng ta đừng bao giờ cười vui trên nỗi đau của người khác. Trái lại, theo thầy nghĩ: em được Chúa cho có dư tiền bạc. Chắc em sẽ tìm thấy một niềm vui lớn lao hơn nhiều qua việc chia sẻ với người nghèo này đấy. Vậy em hãy đặt vào đôi giày của ông ta hai đồng tiền và chờ xem phản ứng của ông ta khi bất ngờ nhận được món quà Giáng Sinh”. Anh sinh viên làm theo lời dạy, rồi cả hai cùng đến núp sau gốc cây gần đó.
Chẳng mấy chốc đã thấy một người từ trong nông trại đi chân không đến nơi để giày. Ông ta xỏ chân vào một chiếc giày và phát hiện ra vật lạ. Ông dùng tay moi ra một đồng tiền năm đô-la. Với vẻ ngạc nhiên, ông chăm chú nhìn đồng tiền rồi lật qua lật lại như không tin vào mắt mình. Rồi ông nhìn chung quanh tìm xem ai đã làm điều này nhưng không thấy. Ông bỏ đồng tiền vào túi áo, và tiếp tục xỏ chân kia vào chiếc giày còn lại. Vẻ ngạc nhiên của ông tăng thêm gấp đôi khi phát hiện đồng tiền thứ hai bên trong chiếc giày kia. Với cảm xúc tràn ngập trong lòng, ông liền quì gối ngước mặt lên trời dâng một lời nguyện tạ ơn Thiên Chúa. Ông cám ơn bàn tay vô hình hào phóng nào đó đã mang lại món quà thiết thực ngay trước lễ Giáng Sinh, cứu gia đình ông qua cơn túng quẫn: vợ đang bị đau phải nằm liệt giường mấy ngày nay và ba đứa con nhỏ dại bụng đói đang chờ bố đi làm mang tiền về nhà.
Anh sinh viên lặng người đi vì xúc động. Hai dòng lệ tự nhiên chảy xuống hai bên má khiến anh vội đưa tay gạt đi. Vị giáo sư liền lên tiếng nói: "Bây giờ em có thấy vui hơn nhiều nếu như em mang ông ta ra làm trò cười hay không?" Chàng thanh niên trả lời: "Đúng. Cám ơn giáo sư. Giáo sư đã dạy cho em một bài học mà có lẽ em sẽ không bao giờ quên được. Bây giờ em mới hiểu ý nghĩa thực sự câu nói của Chúa Giêsu mà hồi nhỏ em đã học qua nhưng chưa hiểu: "Cho thì có phúc hơn là nhận" (Cv 20, 35).
2) NHỮNG AI CẦN ĐƯỢC THĂM VIẾNG ? :
Một hôm Mẹ Têrêsa Canquýtta đi thăm một bệnh viện dành cho những người cao tuổi giàu có ở nước Anh mới được xây dựng. Bệnh viện có nhiều phòng ốc khang trang sạch đẹp, được trang bị bằng nhiều loại máy hiện đại, tương xứng với số tiền viện phí to lớn mà người nhà các bệnh nhân phải trả. Thái độ và cung cách phục vụ của các y bác sĩ và nhân viên phục vụ nói chung đều nhã nhặn lịch sự, nhưng mẹ thấy có điều kỳ lạ và đã lên tiếng hỏi vị bác sĩ hướng dẫn đoàn khách tham quan như sau:
- Thưa bác sĩ, tại sao tôi thấy khi đoàn mình đi ngang qua các phòng bệnh, thì đều thấy mọi bệnh nhân đang nằm trong phòng đều quay mặt ra ngoài nhìn vậy?
Viên bác sĩ trả lời:
- Dạ thưa dì, là do các bệnh nhân trong bệnh viện này đều thuộc lớp người giàu có. Họ được con cái đưa vào nằm ở đây để nhờ chúng tôi chăm sóc sức khỏe. Họ không thiếu đồ ăn thức uống và thuốc men chữa bệnh. Nhưng cái họ thiếu nhất là tình thân ruột thịt. Họ luôn mong con cháu hay người thân đến thăm viếng, nhưng hầu như rất ít có người đến thăm, trừ khi đã chết.
Hội Thánh luôn khuyến khích các tín hữu đi thăm những người già cả neo đơn, bệnh tật, các tù nhân, người nghèo khó và tất cả những ai cần được sự trợ giúp, để an ủi động viên họ. Còn mỗi tín hữu chúng ta sẽ làm gì để thăm viếng tha nhân trong những ngày Mùa Giáng Sinh Năm Thánh kính Lòng Chúa Thương Xót này ?
3. THẢO LUẬN: Bạn sẽ tặng món quà gì cụ thể cho người thân trong gia đình, nhân viên cộng tác với mình và những người nghèo khó bất hạnh trong mùa Giáng Sinh Năm nay.
4. SUY NIỆM: BÀI HỌC TỪ CUỘC THĂM VIẾNG CỦA ĐỨC MARIA:
Tin Mừng thuật lại cuộc viếng thăm của Đức Maria cho chúng ta nhiều bài học giúp chúng ta sống tinh thần chia sẻ của Mùa Vọng để chuẩn bị đón mừng Chúa Cứu Thế đến trong ngày Giáng Sinh, và trong Năm Thánh kính Lòng Chúa Thương Xót này như sau:
1) Thăm viếng là một hành động chia sẻ tình thương:
- Tình yêu thực sự trong tâm hồn đòi phải được biểu lộ ra ngoài bằng hành động: Đức Maria đã thể hiện đức bác ái cụ thể bằng việc đi bước trước đến thăm bà chị họ Êlisabét khi vừa hay tin bà có thai trong lúc tuổi già và cái thai đến nay đã được sáu tháng.
- Trong Năm Thánh này, mỗi người chúng ta cũng cần hành động bác ái cụ thể: đi thăm chia sẻ vật chất cho các bệnh nhân đau liệt tại tư gia, thăm viếng tặng quà các cụ già neo đơn tại tư gia hay viện dưỡng lão, thăm hàng xóm người lương trong khu xóm, thăm các đôi vợ chồng bất hoà có nguy cơ ly hôn hay đang trong tình trạng rối… để chia sẻ và đáp ứng phần nào nhu cầu.
2) Hãy quảng đại cho đi và biết khiêm nhường nhận lãnh:
- Bác sĩ Tom Dolly, người đã hy sinh cả cuộc đời đến ở giữa chốn rừng thiêng nước độc bên Lào vào đầu thế kỷ này, đã phát biểu rằng: “Không ai nghèo đến độ không có một thứ gì đó để trao tặng tha nhân”. Thực vậy, một người ăn xin ư? Anh ta vẫn có thể cho chúng ta cơ hội để thể hiện sự chia sẻ quảng đại của chúng ta đối với anh. Một người tàn tật ốm đau cũng có thể mời gọi chúng ta bày tỏ cảm thông và nâng đỡ. Một kẻ thù cũng có thể cho chúng ta cơ hội thực tập nhẫn nhịn chịu đựng sự xỉ nhục và thể hiện lòng bao dung để tha thứ vô điều kiện... Phải, bất cứ ai cũng có thể đem lại cho chúng ta một điều gì đó. Vấn đề là chúng ta có nhận ra chân lý này và có sẵn sàng mở lòng đón nhận những món quà quý giá đó hay không.
- Có nhiều người do tự ái cao và thói sĩ diện hão nên chỉ muốn ban phát cho đi mà không muốn nhận lại. Tuy nhiên, chúng ta hãy ý thức rằng: “Có đi có lại mới toại lòng nhau”. Chỉ khi chấp nhận nguyên tắcmứng xử: “quảng đại cho đi và khiêm nhường nhận lãnh” thì quan hệ đôi bên mới được bình đẳng và tình cảm hai người mới được bền lâu. Sự nhận lại ở đây không nhất thiết phải là quà tặng hay tiền bạc tương xứng như trong quan hệ bạn bè thân quen, mà có thể là tình cảm chân thành, lời nói biết ơn như trong quan hệ gia đình hay hai bạn trẻ đang yêu…
3) Thăm viếng là thi hành sứ vụ loan báo Tin Mừng:
- Sau khi nghe sứ thần cho biết tin vui của bà chị Êlisabét, Đức Maria đã vội vã lên đường để chia sẻ niềm vui ơn cứu độ cho gia đình bà. Ngôn sứ Isaia cũng đã tuyên sấm về cuộc hành trình thăm viếng này của Đức Maria như sau: “Đẹp thay trên đồi núi, bước chân người loan báo Tin mừng, công bố bình an; Người loan tin hạnh phúc công bố ơn cứu độ” (Is 52,7a).
- Khi đi thăm viếng bà chị họ, Đức Maria đã “đi bước trước” đến với bà, không đòi bà phải mời như ngày nay người ta thường nói: “Ăn có mời, làm có khiến !”. Đối với Đức Maria: Chính tình thương đã thôi thúc vội vã lên đường đi thăm Mẹ khi vừa nghe sứ thần cho biết tin vui của bà. Qua đó cho thấy Mẹ đã thực hiện đức ái qua thái độ cảm thông chia sẻ như lời dạy của thánh Phaolô: “Vui với người vui, khóc với người khóc” (Rm 12,15). Sự thăm viếng của Mẹ đã lập tức mang lại hiệu quả: thai nhi Gioan đã giãy đạp trong dạ mẹ vì được khỏi tội tổ tông truyền, như bà Êlisabét đã thốt lên ca tụng: “Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc… Vì này đây, tai tôi vừa nghe tiếng em chào, thì đứa con trong bụng đã nhảy lên vui sướng” (Lc 2,42-44).
4) Thăm viếng chia sẻ là phương cách truyền giáo hữu hiệu hôm nay:
- Mùa Giáng Sinh trong Năm Thánh Lòng Chúa Thương Xót này, mỗi người chúng ta hãy dành ra một số tiền để chia sẻ các trẻ em bụi đời, các người già cả neo đơn, các bệnh nhân liệt giường không tiền thuốc thang chữa trị, các người mù què câm điếc bất hạnh… noi gương Thiên Chúa là Đấng giàu lòng từ bi thương xót như lời Thánh vịnh: “Chúa là Đấng Từ Bi và Nhân Hậu, Người đại lượng và chan chứa tình thương” (Tv 103,8).
- Chính hành động thăm viếng chia sẻ cụ thể và phục vụ “Chúa Giêsu đang bị bỏ rơi” nơi những người bệnh tật nghèo hèn, sẽ giúp họ dễ dàng nhận biết và tôn vinh “Thiên Chúa là Tình Thương” (1 Ga 4,8), và nhận được niềm vui ơn cứu độ của Chúa như lời Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ: “Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời” (Mt 5,16).
5. NGUYỆN CẦU:
LẠY CHÚA GIÊSU. Xin giữ gìn nơi con trái tim của trẻ thơ, tinh tuyền và trong ngần như dòng suối. Xin ban cho con trái tim đơn sơ, mau quên những nỗi buồn phiền do tha nhân đem lại. Một trái tim hào hiệp dám dấn thân và dễ cảm thông với tha nhân. Một trái tim trung thành và quảng đại, không quên ơn và tránh báo oán. Xin ban cho con trái tim hiền hậu và khiêm tốn: Dấn thân yêu thương mà không mong được đáp trả, luôn quên mình để Chúa được lớn lên trong anh em như thánh Gioan Tẩy Giả đã nói với các môn đồ: “Người phải nổi bật lên, còn thầy phải lu mờ đi” (Ga 3,30).
LẠY CHÚA. Trong những ngày này, xin cho con biết mở rộng lòng để chia sẻ trao tặng cho tha nhân những món quà vật chất cũng như tinh thần. Xin cho con biết nghĩ tới những bệnh nhân liệt giường lâu ngày không tiền thuốc thang chữa trị, chia sẻ những món quà cho những cụ già không người thân thích trong các trại dưỡng lão, những trẻ em lang thang sống tạm bợ dưới  những cầu đường vì không có một mái ấm để đi về... Xin cho chúng con biết chia sẻ tình thương và niềm vui ơn cứu độ của Chúa Giáng Sinh đến cho họ.
X) HIỆP CÙNG MẸ MARIA.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON
LM ĐAN VINH - HHTM

 

 MV4-C99: CHÚA NHẬT IV MÙA VỌNG

Chia sẻ tình yêu Thiên Chúa
Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Lu-ca 1:39-45)
 

Mẹ Ma-ri-a được sứ thần tuyên dương là người có phúc, tức đầy tràn tình yêu Thiên Chúa.Còn bà Ê-li-sa-bét MV4-C99

Mẹ Ma-ri-a được sứ thần tuyên dương là người có phúc, tức đầy tràn tình yêu Thiên Chúa.         Còn bà Ê-li-sa-bét cũng là người có phúc, vì tình yêu Thiên Chúa đã cứu thoát bà khỏi nỗi tủi nhục son sẻ.  Giờ đây hai bà mẹ tương lai gặp gỡ nhau, nhìn nhận tình yêu Thiên Chúa đã tuôn đổ xuống tâm hồn họ, nên đem hết tâm tình cảm tạ Chúa.  Mặc dù đóng vai trò rất quan trọng trong kế hoạch cứu độ của Chúa, nhưng hai người luôn khiêm nhường và dành tất cả công trạng cho ân sủng Chúa hoạt động nơi mình.  Gương mẫu chia sẻ tình yêu Thiên Chúa của hai người được biểu lộ qua cuộc gặp gỡ vô tiền khoáng hậu có thể dạy chúng ta cách chuẩn bị đón Chúa và nhất là đem Chúa đến với người khác.
          Con đường từ Na-da-rét lên Giê-ru-sa-lem không dễ dàng đối với một thiếu nữ mới mang thai.  Mọi động thái của Mẹ Ma-ri-a trong chuyến đi này đều đầy ắp tình yêu thương.  Tại sao Mẹ phải “vội vã lên đường đi đến miền núi, vào một thành thuộc chi tộc Giu-đa”?  Là vì quá yêu thương người chị họ Ê-li-sa-bét.  Chị đã lớn tuổi mà lại mang thai thì chắc là cần nhiều sự giúp đỡ.  Yêu thương chị, nên Mẹ Ma-ri-a phải “vội vã” đi.  Tình yêu đã thắng vượt đường xa mệt nhọc.  Tình yêu lúc nào cũng vội vã, mong chóng được gặp người yêu.  Hơn nữa Mẹ vội vã để chia vui với chị Ê-li-sa-bét, đồng thời đem Tình Yêu Thiên Chúa nhập thể là bào thai mới hiện diện trong Mẹ đến với chị.  Bà Ê-li-sa-bét đã nhận được phần thưởng do sự vội vã của Mẹ Ma-ri-a, đó là:  “Vừa nghe tiếng bà Ma-ri-a chào, thì đứa con trong bụng nhảy lên, và bà được đầy Thánh Thần”.  Thế là cả hai mẹ con bà Ê-li-sa-bét đều nhận được ân sủng Chúa.  Bào thai Gio-an thì “nhảy lên”, một cử chỉ biểu lộ niềm vui.  Còn bà mẹ thì được đầy Thánh Thần.
          Những gì đã xảy ra cho bà Ê-li-sa-bét và con bà nói lên cách chia sẻ tình yêu Thiên Chúa của Mẹ Ma-ri-a.  Mẹ không đến với quà cáp lỉnh kỉnh.  Mẹ không nói năng ba hoa ra điều là Mẹ của Đấng Cứu Thế.  Mẹ chỉ cần một lời chào thôi.  Làm sao chúng ta có thể hình dung được cung cách của Mẹ khi cất tiếng chào chị mình!  Một lời chào đầy khiêm tốn, nhưng lại chứa chan tình yêu.  Mẹ đang mang Tình Yêu trong lòng mà!  Mẹ đang mang Bình An trong lòng, bình an mà thế gian không thể ban được.  Còn bà Ê-li-sa-bét sau khi được đầy Thánh Thần đã nhận biết chức phận của người em đến thăm mình.  Phải, Ma-ri-a không còn là đứa em bé nhỏ nữa, nhưng cô đang là “Thân Mẫu Chúa tôi”!  Thánh Thần còn giúp bà nhận ra Ma-ri-a là người có đức tin vô cùng lớn lao nữa.  Bà không ganh tị với em, trái lại còn coi cuộc thăm viếng này như một ơn phúc đặc biệt.  Được làm mẹ như lòng hằng mong mỏi đã là một phúc lớn, giờ đây lại được Chúa và Mẹ Chúa đến thăm thì quả là một ân phúc không gì sánh được.
          Thánh Lu-ca không kể ra những việc làm của Mẹ Ma-ri-a trong thời gian gần ba tháng tại nhà bà Ê-li-sa-bét, nhưng chúng ta có thể tưởng tượng ra được.  Chắc chắn không phải là những việc lớn lao, mà là nhỏ nhặt trong nhà.  Tuy nhiên, những việc nhỏ ấy lại được thực hiện với tình yêu mang chiều kích của Thiên Chúa!  Đối với Mẹ, làm những công việc này chính là cách cụ thể chia sẻ tình yêu Thiên Chúa vậy.
Sống sứ điệp Tin Mừng
          Do Lòng Thương Xót, Thiên Chúa đã viếng thăm nhân loại qua việc Người sai Con Một xuống trần gian.  Cảm nhận lòng thương xót của Chúa dành cho mình một cách đặc biệt, Mẹ Ma-ri-a đã đón nhận và đi chia sẻ với chị Ê-li-sa-bét.  Mẹ không chỉ giúp đỡ chị mình trong những công việc phần xác, mà chắc chắn Mẹ cũng nâng đỡ khích lệ tinh thần chị nữa.  Càng gần ngày sinh, bà Ê-li-sa-bét càng cảm thấy sợ hãi lo lắng.  Sự hiện diện của Mẹ Ma-ri-a đã nói lên một cách cụ thể lòng thương xót của Thiên Chúa, giúp cho bà Ê-li-sa-bét được can đảm và kiên nhẫn chờ đợi đứa con chào đời.
          Để chuẩn bị đón nhận lòng thương xót của Thiên Chúa qua biến cố Giáng Sinh, mỗi người chúng ta cũng có thể trông lên gương của hai bà mẹ thánh thiện trong bài Tin Mừng hôm nay, để chúng ta trở thành những dụng cụ của Lòng         Thương Xót!   
Lm. Đa-minh Trần đình Nhi

 

MV4-C100: ƠN PHÚC CỦA NHỮNG KẺ TIN.

Trong Tin Mừng, chúng ta có câu chuyện về cuộc thăm viếng của Đức Maria đối với bà Elizabeth MV4-C100

Trong Tin Mừng, chúng ta có câu chuyện về cuộc thăm viếng của Đức Maria đối với bà Elizabeth, người chị họ của Mẹ. Trong suốt cuộc thăm viếng này, bà Elizabeth đã nói những lời nói đẹp đẽ, mang tính cách xác nhận và củng cố đối với Mẹ: “Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em”.
Chủ đề về ơn phúc của những kẻ tin xuyên suốt bài Tin Mừng. Đối với kẻ tin, những điều tuyệt vời sẽ xảy ra. Sau đây là vài ví dụ:
Đức Giêsu nói với viên đại đội trưởng “Ông cứ về đi. Ông tin thế nào, thì được như vậy!”, và người đày tớ của ông ta đã được chữa lành (Mt 8,13). Đối với người phụ nữ bị băng huyết, Người nói “Này con, cứ yên tâm, lòng tin của con đã cứu chữa con”. Và ngay từ lúc đó, máu của bà ngưng không chảy ra nữa (Mt 9,22). Đối với hai người đàn ông bị mù, Người nói “Các anh tin thế nào, thì được như vậy!”, và họ đã được nhìn thấy trở lại (Mt 9,29).
Bạn có thể nói rằng chủ đề chính của Tin Mừng là ơn phúc của những kẻ tin. Tất cả lời rao giảng của Đức Giêsu đều có mục đích là nhằm khơi gợi lòng tin trong tâm hồn con người. Tuy nhiên, điều này không đơn giản chỉ là vấn đề về lòng tin, nhưng là tin tưởng và hành động dựa trên lòng tin đó. Đây là một vấn đề về việc lắng nghe và thực hành Lời Chúa –chấp nhận rủi ro, và hy sinh vì Lời Chúa. “Trừ phi bạn hành động một cách phù hợp, đừng ngại nhìn nhận rằng bạn tin tuởng” (Catherine de Hueck Doberty).
Đôi khi, bạn nghe thấy có người nào đó nói “Điều này thật dễ dàng đối với bạn, vì bạn có lòng tin mạnh mẽ”. Nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Lòng tin không luôn luôn làm cho mọi sự trở nên dễ dàng. Trên thực tế, nhiều khi trái ngược lại. Bởi vì chúng ta có lòng tin, nên chúng ta lại từ chối không chịu từ bỏ. Lòng tin thúc đẩy chúng ta phải kiên nhẫn, phải đấu tranh, thường không được đảm bảo có được kết quả là hạnh phúc. Một người có lòng tin thì không bao giờ thoái lui.
Đức Maria được chúc phúc, bởi vì không những Mẹ đã tin, mà còn hành động theo lòng tin của mình nữa. Ngay sau khi sứ thần đến thăm, Mẹ vội vã thăm viếng bà Elizabeth. Từ điểm này, chúng ta nhận thấy rằng lòng tin tôn giáo nơi Mẹ không phải chỉ là vấn đề cảm xúc. Nhưng Mẹ đã chuyển lòng tin đó thành hành động cụ thể.
Đức Maria chính là người môn đệ đầu tiên và hoàn hảo nhất của Đức Giêsu. Đây là nguyên nhân tại sao Giáo Hội đặt Mẹ làm một tấm gương cho chúng ta. Chúng ta cũng sẽ được chúc phúc, nếu giống như Đức Maria, chúng ta biết lắng nghe và thực hành Lời Chúa.
Lễ Giáng Sinh là một dịp trợ giúp lớn lao đối với lòng tin của chúng ta. Bằng cách nào đó, chúng ta nhận thấy trong dịp Lễ Giáng Sinh, chúng ta dễ dàng tin tưởng nơi Thiên Chúa hơn, so với bất cứ thời gian nào, bởi vì trong thời gian này, chúng ta cảm thấy Thiên Chúa rất gần gũi với chúng ta, và rất yêu thương chúng ta.
Điểm cốt lõi của Tin Vui chính là Thiên Chúa đã tự mình hiện diện với chúng ta, trong cuộc sống của một Đấng đi trên trái đất này. Thật vậy, chính Đấng này, Đức Giêsu, là Con Thiên Chúa, đã hiện diện một cách đích thực. Trong ngày Lễ Giáng Sinh đầu tiên, có cả những người tin lẫn những kẻ không tin. Tin Mừng nhấn mạnh đến ân sủng của những người tin vào Tin Vui.
Lễ Giáng Sinh làm cho chúng ta đi vào một tương quan thân mật với Thiên Chúa. Và Lễ Giáng Sinh cũng kêu gọi chúng ta cởi mở tâm hồn mình ra cho nhau. Và trong khi cởi mở tâm hồn mình ra cho nhau, chúng ta cũng đang cởi mở chính mình, để đón nhận “niềm vui lớn lao” đã được các thiên sứ loan báo cho những mục đồng.
MỘT CÂU CHUYỆN KHÁC
 Những người rao giảng có khuynh hướng nhấn mạnh đến sự vắng mặt của Đức Kitô trong ngày Lễ Giáng Sinh, và lấy làm tiếc vì sự thương mại hoá của ngày lễ này. Sự thương mại hoá mang lại rất hiệu quả. Trong ngày Lễ Giáng Sinh, tốt hơn là nên nhấn mạnh đến sự hiện diện của Đức Kitô, và giúp cho mọi người tìm thấy Người trong ngày lễ này.
Việc cử hành Lễ Giáng Sinh của chúng ta có nhiều tầng lớp. Trong một bài viết ở báo The Tablet (tháng 12, năm 1998). Anthony Philpot đã đồng nhất một số tầng lớp này.
Tầng lớp trên cùng là từ người tiêu thụ trong ngày Lễ Giáng Sinh, mà từ đó, những ngày này, không có được lối thoát nữa – họ cứ nhất định phải có những bài hát Lễ Giáng Sinh, những con tuần lộc, Ông già Nôen, và việc năng nổ mua bán tất cả mọi loại hàng hoá. Điều này làm gia tăng tính hám lợi nơi những đứa trẻ, tạo ra sự lo lắng về việc chi tiêu quá mức, và gây mệt mỏi cho người lớn. Đó là một ngày Lễ Giáng Sinh với một cốt lõi rỗng tuếch.
Kế tiếp là tầng lớp Charles Dickens –những tấm thiệp mô tả phong cảnh ngập tuyết, cảnh ồn ào của lò sưởi, gà tây, bánh mận, bánh thịt… Đó là một ngày Lễ Giáng Sinh của cảnh gia đình tụ họp với nhau, của sự thành tâm nơi tất cả mọi người, của tấm lòng nhân ái và cởi mở. Đối với họ, có nhiều điều để nói về những giá trị này. Hầu hết mọi người đều có phần đóng góp vào lối giải thích này về Lễ Giáng Sinh. Nhưng khi không có lòng tin, thì rốt cuộc Lễ Giáng Sinh là gì? Chỉ là một yếu tố kích thích nhỏ nhoi, một vài cách diễn tả sốt sắng, là việc cho và nhận một số quà tặng. Và rồi tất cả mọi sự đều trôi qua giống như lúc trước vậy.
Tầng lớp thứ ba là của máng cỏ, mà đối với chúng ta, đó là cách diễn tả về ngày Lễ Giáng Sinh. Đây là tầng lớp của vở kịch về cảnh Chúa Giáng Sinh, mà đối với tất cả mọi người, việc diễn tả đơn giản về ngày lễ này có thể gây xúc động sâu xa.
Tầng lớp thứ tư và mang tính cách sâu sắc nhất, chính là tầng lớp thiêng liêng. Đây là câu chuyện về một Hài Nhi đã được sinh ra như thế nào tại đất nước Israel, cách đây 2000 năm. Nơi con người của Hài Nhi này, Con Thiên Chúa đã mặc lấy bản chất của chúng ta trên chính mình Người, và đã đi vào thế giới của chúng ta, trong sự yếu đuối và tình yêu thương của. Người đến để nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta là con cái Thiên Chúa, và được tiền định một cuộc sống đời đời.
Người ta có khuynh hướng gạt bỏ, hoặc thậm chí còn kết án ba tầng lớp đầu tiên, và coi như tầng lớp thiêng liêng mới là một tầng lớp đích thực duy nhất. Điều này dựa trên giả thiết rằng tầng lớp thiêng liêng và tầng lớp vật chất đối nghịch lại với nhau. Nhưng không phải là như vậy. Đạo Công giáo bao gồm cả tinh thần lẫn vật chất. Không thể có Lễ Giáng Sinh chỉ thuần tuý có yếu tố tinh thần mà thôi.
Điều mà chúng ta phải làm, đó là tìm ra được sự liên kết giữa nơi thị trường trần tục, và nội dung thiêng liêng của ngày lễ. Nhiều cảnh mua bán xảy ra trong ngày Lễ Giáng Sinh tạo thuận lợi cho việc trao tặng quà, những việc làm tốt đẹp, niềm vui và sự khẳng định các mối quan hệ trong gia đình –đưa đến kết quả trong việc cho và nhận.
Cách thế này giúp chúng ta nhận thấy tương quan gần gũi giữa tinh thần và vật chất, giữa những sự việc trên trời và dưới thế này. Chúng ta phải học hỏi được phương cách nào hoà nhập được cả hai yếu tố này. Vấn đề cốt lõi của tôn giáo chính là: Phải làm thế nào để hoà hợp được về mặt thiêng liêng và vật chất, xác thịt và tinh thần, bên trong và bên ngoài, bề mặt và bản chất.
Có những người cứ khăng khăng là cần phải có sự phân chia rõ ràng giữa thần thánh và con người, giữa yếu tố thánh thiêng và yếu tố trần tục, giữa linh hồn và thể xác. Nhưng chúng ta sẽ không tìm được điều đó trong ngày Lễ Giáng Sinh. Trong ngày này, những yếu tố đó đan xen với nhau, đến nỗi dường như chúng trở nên một, và cùng là một yếu tố.

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây