Suy niệm Tin Mừng Lễ Đức Mẹ Hồn Xác lên Trời 15-8 Bài 151-176 Đức Maria lên trời, niềm hy vọng của chúng ta

Thứ bảy - 14/08/2021 04:00
Suy niệm Tin Mừng Lễ Đức Mẹ Hồn Xác lên Trời 15-8 Bài 151-176 Đức Maria lên trời, niềm hy vọng của chúng ta
Suy niệm Tin Mừng Lễ Đức Mẹ Hồn Xác lên Trời 15-8 Bài 151-176 Đức Maria lên trời, niềm hy vọng của chúng ta
Suy niệm Tin Mừng Lễ Đức Mẹ Hồn Xác lên Trời 15-8 Bài 151-176 Đức Maria lên trời, niềm hy vọng của chúng ta
--------------------------------
15/8-151: Mẹ lên trời 1
15/8-152: Mừng Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời 3
15/8-153: Lễ Mẹ về Trời 6
15/8-154: Yêu mến Mẹ. 8
15/8-155: Mẹ lên Trời 9
15/8-156: Đức tin của Mẹ. 10
15/8-157: Mẹ lên Trời 11
15/8-158: Mẹ lên Trời 12
15/8-159: Đi vào mầu nhiệm cứu độ. 13
15/8-160: Mẹ lên Trời 14
15/8-161: Maria đến thăm Êlisabét 15
15/8-162: Lễ Đức Maria Hồn Xác Lên Trời 19
15/8-163: Lễ Đức Maria Hồn Xác Lên Trời 23
15/8-164: Mẹ Maria, niềm hy vọng của nhân loại 26
15/8-165: Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời 28
15/8-166: Kinh Kính Mừng. 31
15/8-167: Tôi chỉ yêu người 32
15/8-168: Lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời 34
15/8-169: Lễ Đức Maria Hồn Xác Lên Trời 35
15/8-170: Suy niệm của R. Gutzwiller 39
15/8-171: Chú giải Tin Mừng theo William Barclay. 45
15/8-172: Chú giải theo Fiches Dominicales. 48
15/8-173: Chú giải theo Fiches Dominicales. 52
15/8-174: Chú giải theo Fiches Dominicales. 57
15/8-175: Chú giải Tin Mừng theo Hugues Cousin. 62
15/8-176: Maria diễm phúc hơn mọi người nữ. 64

--------------------------------

 

15/8-151: Mẹ lên trời

 

Trong năm Phụng vụ có bốn ngày lễ lớn. Lễ Giáng sinh để mừng kính Chúa Cha. Lễ Phục sinh 15/8-151


Trong năm Phụng vụ có bốn ngày lễ lớn. Lễ Giáng sinh để mừng kính Chúa Cha. Lễ Phục sinh để mừng kính Chúa Con. Lễ Hiện xuống để mừng kính Chúa Thánh Thần và lễ Lên Trời để mừng kính cái chết và cuộc khải hoàn của Đức Trinh Nữ Maria.

Lễ Mẹ Hồn xác lên trời trước hết khiến chúng ta tưởng nhớ đến cái chết của Mẹ. Đây là một vấn đề gây nên nhiều cuộc tranh cãi và tìm hiểu, Giáo Hội chỉ công bố Mẹ Maria được đưa về trời cả hồn lẫn xác, nhưng không đả động gì tới cái chết của Mẹ. Có người chủ trương rằng: Mẹ Maria được đưa về trời mà không đi qua khung cửa sự chết. Đây là một đặc ân Ngài được hưởng vì như lời thánh Phaolô đã nói: Vì một người mà tội lỗi đã đột nhập vào trần gian và cũng vì tội lỗi đó là cái chết. Tất cả chúng ta đều phải chết vì tất cả chúng ta đều đã phạm tội. Tiền công của tội lỗi đó là cái chết. Mẹ Maria là Đấng vô nhiễm nguyên tội đã đành, mà trong suốt cuộc sống dương thế, Mẹ cũng chẳng vấp phạm và nghiêng chiều về đàng trái, cho nên Mẹ sẽ chẳng phải lãnh nhận hậu quả thảm khốc của tội lỗi là cái chết.

Tuy nhiên phần đông các nhà thần học đều chủ trương rằng: Mẹ Maria đã đi qua cái chết. Lập trường này được dựa trên những lý chứng chắc chắn. Trước hết Mẹ Maria hẳn không muốn cho mình được ưu đãi trong mối liên hệ với Đức Kitô. Đức Kitô đã muốn chịu chết để tẩy xoá tội lỗi nhân loại. Phải chăng Đức Maria là Đấng đồng công cứu chuộc lại muốn khước từ những đau khổ và cái chết hay sao? Cái chết của Mẹ phải là một cái chết an lành, không mang chút lo lắng, sợ hãi và đắng cay. Làm sao Mẹ có thể sợ hãi khi Mẹ không dính bén một chút tội lỗi. Làm sao Mẹ có thể lo lắng trước vị thẩm phán tối cao cũng chính là Đấng Mẹ đã cưu mang trong lòng. Sự ra đi của Mẹ cũng không phải vì đau yếu bệnh tật, nhưng chỉ vì lòng ao ước được kết hiệp với Đức Kitô, Con Mẹ. Ước ao này, kể từ ngày Chúa về trời, mỗi lúc một thêm tha thiết, và khi tới giờ Chúa đã định, tâm hồn Mẹ nhẹ nhàng thoát khỏi những ràng buộc của thể xác mà không gây nên đau đớn như một ngọn nến chợt tắt như một làn hương trầm toả khói nghi ngút.

Mẹ Maria ra đi bình yên, Mẹ chết trong tình yêu mến Chúa. Cái chết loại này đôi khi cũng xảy ra nơi các thánh. Cách đây mấy chục năm tại nhà dòng Phanxicô ở Bavièra, trong một Thánh lễ an táng, có một chị mặt chăm chú nhìn vào chiếc quan tài và khoảng huyệt đào sẵn, dáng điệu thật đăm chiêu như chìm vào những suy tư. Sau cùng chị cho biết những ý tưởng của mình trong giây phút đó như sau: Tôi muốn về trời. Tôi không hề ghen tức. Mỗi khi có một chị em trong dòng chết đi, thì tôi cũng ao ước được như vậy. Trong phòng riêng, ở nhà cơm hay trong lớp học, khắp nơi tôi đều cảm thấy như ở trong tù ngục. Tôi chỉ được thoải mái khi quỳ trước Thánh Thể Chúa vì tại đây tôi được nếm thử niềm hạnh phúc Nước Trời. Lần khác chị nói: Tôi dường như thờ ơ trước tất cả mọi sự. Những điều tôi nghe cũng như những cái tôi nhìn, đều không đem lại cho tôi những thích thú. Tôi có cảm tưởng rằng mình sẽ mất thời giờ nếu không suy tưởng về Chúa. Một tình yêu sâu xa như thế đã hướng dẫn cả cuộc đời chị, cho đến tận giây phút cuối cùng, chị vẫn còn nói: Tôi muốn trở về nhà Cha. Cái chết của chị không thể nào so sánh với cái chết của Mẹ Maria vì đó mới chỉ là một đặc ân dành cho những tâm hồn hoàn toàn hiến dâng và thuộc về Chúa. Tôi muốn trở về nhà Cha. Các thánh thường chết trong niềm ao ước như thế.

--------------------------------

 

15/8-152: Mừng Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời


(Suy niệm của ĐGM. GB. Bùi Tuần)

 

Lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời là một tiếng gọi, Chúa gọi chúng ta, Đức Mẹ gọi chúng ta, những tiếng15/8-152


Lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời là một tiếng gọi, Chúa gọi chúng ta, Đức Mẹ gọi chúng ta, những tiếng gọi này có thể rất đa dạng như.

Hãy tạ ơn Chúa vì đã ban cho Đức Mẹ ơn được lên trời cả hồn lẫn xác.

Hoặc: hãy xin Đức Mẹ cầu bầu cho ta cũng được theo Mẹ lên trời.

Hoặc: Hãy nhớ lại muôn vàn ơn Đức Mẹ đã ban cho ta, hiện nay và từ trước, để ta biết đi vào đúng đường lên trời.

Trong những tiếng gọi khác nhau, tôi thấy có tiếng gọi tôi cho là khẩn cấp. Tiếng gọi đó được diễn tả trong lời sau đây của thánh Phaolô: “Các con hãy biết run sợ lo sao cho mình được cứu độ” ( Pl 2, 12).

Được cứu độ là việc không dễ dàng. Vì thế, nếu chúng ta “biết run sợ lo cho mình” được cứu độ, thì thái độ của chúng ta là rất đúng. Bởi vì Chúa Giêsu khẳng định: “Được mọi sự thế gian, mà phải mất linh hồn mình, thì nào có lợi gì “ ( Lc 9, 25).

Trong niềm tin đó, và với sự run sợ lo cho phần rỗi của mình, tôi xin chia sẻ mấy thực tế, mà tôi thiết nghĩ là rất cần cho phần rỗi.

Những thực tế mà tôi coi là cần cho phần rỗi, sẽ không phải là tránh tội này tội tọ, nhưng là hãy có những lối sống đạo đức. Chúa Giêsu đã truyền dạy một cách rõ ràng về một số lối sống đạo đức, mà Người cho là cần cho phần rỗi.

1/ Sống tu thân

Chúa Giêsu dạy: “Hãy qua cửa hẹp mà vào, vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến diệt vong, mà nhiều người lại đi qua đó. Còn cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm được lối ấy” ( Mt 7, 13- 14)

Với lời cảnh báo trên, Chúa Giêsu đã đề cập đến vấn đề tu thân. Tu thân là sống theo cửa hẹp. Cửa hẹp là những kỷ luật trong thái độ sống, trong cách suy nghĩ, trong cách dùng thời giờ, của cải, sức khỏe và những phương tiện xác hồn, nhất là trong sự vâng lời và trong xét đoán.

Tu thân như thế là một bổn phận đối với mọi người.

Riêng đối với những ai muốn trở thành môn đệ Chúa, thì tu thân phải đi xa, đi sâu hơn nữa. Chúa Giêsu phán: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình theo” ( Mt 16, 24).

Trong một thế giới hưởng thụ, tu thân là một nét đẹp của nền giáo dục.

Đi vào đường hẹp, chính là đi vào đường phát triển con người, vừa theo hướng đi lên với Chúa, vừa theo hướng gặp gỡ con người.

Nó là một nghệ thuật để giới thiệu các giá trị đạo đức.

Nó khẳng định một nền đạo đức sâu sắc đi đôi với việc được sai vào đời, để loan báo Tin Mừng.

Nhất là nó phản ánh phần nào Đức Kitô thành Nadarét. Người đã sống hoàn toàn tự do, nhưng khi lựa chọn đường hẹp tu thân, Người đã cho thấy đường hẹp tu thân là cách mở rộng chân trời cứu độ.

2. Sống thực thi ý Chúa.

Chúa Giêsu phán: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: Lạy Chúa, lạy Chúa là được vào Nước Trời cả đâu. Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào thôi”

“Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng: “Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi chẳng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó sao? Và bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ: Ta không hề biết các ngươi. Xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác.

“Vậy ai nghe những lời Thầy nói đây mà đem ra thực hành, thì ví được như người khôn xây nhà trên đá…Còn ai nghe những lời Thầy nói đây, mà chẳng đem ra thực hành, thì ví được như người ngu dại xây nhà trên cát“ ( Mt 7, 21-26).

Những lời Chúa phán trên đây dạy ta hai điều:

Một là thực hành lời Chúa mới có giá trị, chứ không phải chỉ học hiểu lời Chúa suông đủ.

Hai là khi thực hành lời Chúa, thì phải để ý thi hành đúng ý Chúa. Đúng ý Chúa là làm đúng việc, đúng cách, đúng lúc, đúng tâm tình Chúa muốn có và đúng ý hướng trong sạch trước mặt Chúa.

Đức Kitô diễn tả tình yêu Chúa Cha bằng nhiều cách khác nhau, tuỳ từng giai đoạn. Ba mươi năm ỏ Nadarét thì Người âm thầm. Ba năm đi đây đi đó thì Người công khai làm phép lạ và rao giảng. Tuần lễ cuối đời thì Người tự ý nộp mình chịu mọi đau đớn, nhục nhã.

Đức Mẹ hầu suốt đời nâng đỡ Con mình một cách lặng lẽ.

Như vậy, thực hành đúng ý Chúa đòi phải gắn bó mật thiết với Chúa, để có thể biết được ý Chúa và co sức thực thi ý Chúa.

Thực tế cho chúng ta thấy rằng: Thực hành đúng ý Chúa không phải chỉ do thiện chí của ta, mà ta cũng phải biết rõ việc ta được sai đi. Ai sai ta? Sai đến nơi đâu? Phải đến lúc nào? Nên làm gì ở đó? Chỉ hiểu sơ thế thôi, cũng thấy việc thực thi ý Chúa là việc không dễ dàng. Nhất là thời nay đang xuất hiện nhiều loại thông tin, đúng có sai có; thêm vào đó là nhiều loại ý kiến, tốt có xấu có, nguy hiểm nhất là phát sinh nhiều thứ áp lực, trong ta và ngoài ta. Ai không có bản lãnh và tiêu chuẩn đạo đức vững, sẽ dễ bị choáng váng chao đảo, lạc vào những nẻo đường đưa tới tuyệt vọng.

3/ Sống tin vào Đức Giêsu Kitô.

Cách sống theo Đức Giêsu Kitô trước hết là tin Đức Giêsu là chân lý. Người phán: “Chính Thầy là đường đi, là chân lý và là sự sống” (Ga 14, 6). Tin vào Người như thế là tin Người chính là Ngôi Hai Thiên Chúa, nói tắt là Đức Giêsu Kitô chính là Thiên Chúa.

Vì thế, ta tin mọi điều Người truyền dạy là chân lý cứu độ: “Anh em hãy tin vào Thầy: Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy… Thật, Thầy bảo thật các anh em ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm” (Ga 14, 11-12)

Từ đó, tin vào Đức Giêsu Kitô là giữ lời Người và yêu mến Người: “Ai giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy” ( Ga 14, 21)

Chúa Giêsu còn đưa người đó tới Chúa Cha “Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy, Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha của Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại trong người ấy” (Ga 14, 23).

Khi niềm tin đó đi sâu hơn nữa, người ta được mời gọi gắn bó mật thiết với Chúa Giêsu như cành với cây. Chúa phán: “Thầy là cây nho, các con là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái. Vì không có Thầy, các con chẳng làm gì được” (Ga 15, 5).

Như vậy, tin Chúa Giêsu là giữ lời Người, là yêu mến Người, là gắn bó mật thiết với Người. Niềm tin đó đặt Chúa Giêsu là nền tảng. Ta tin và thực hành điều gì, là vì Chúa Giêsu đã dạy. niềm tin này sẽ cứu ta khỏi những hoang mang thắc mắc, do áp lực dư luận, các nền văn hoá và các phong trào thế tục đặt ra. Nó cũng cứu ta khỏi những hoang tưởng kiêu căng.

Chúng ta vừa điểm qua ba lối sống:

- Sống tu thần
- Sống thực thi ý Chúa.
- Sống tin vào Đức Giêsu Kitô.

Ba lối sống này là những gì Chúa đã nhấn mạnh. Ai giữ ba lối sống đó sẽ cộng tác với ơn Chúa ban cho mình để được cứu rỗi.

Ta có ý thức về ba lối sống đó không? Ta có thường ngày giữ ba lối sống đó một cách nghiêm túc không?

Khi xét minh để trả lời những câu hỏi đó, chúng ta có thể lo sợ. Nhưng chính sự lo sợ ấy sẽ giúp chúng ta khiêm nhường, để sửa mình. Như thế, chúng ta sẽ đáp lại tiếng gọi của Chúa, của Đức Mẹ và của Hội Thánh một cách chân thành. Thiết tưởng đó là một chuẩn bị tốt để mừng lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời.

---------------------------

 

15/8-153: Lễ Mẹ về Trời

 

Có một bà mẹ ẵm đứa nhỏ trên tay, bà nói với nó về Thiên Chúa, là người Cha chúng ta ở 15/8-153


Có một bà mẹ ẵm đứa nhỏ trên tay, bà nói với nó về Thiên Chúa, là người Cha chúng ta ở trên trời. Bấy giờ đứa nhỏ đơn sơ hỏi lại bà: Thưa má, vậy thì ở trên trời, chúng ta cũng có một người mẹ nữa chứ?

Đúng thế, sống trong Giáo Hội, chúng ta như sống trong một đại gia đình. Ở đó chúng ta có những người anh, những người chị và những người em. Ngước mắt nhìn về quê trời, chúng ta có được chính Thiên Chúa là cha của chúng ta. Đồng thời chúng ta cũng có được một người mẹ dịu hiền. Người mẹ dịu hiến ấy là Đức Maria.

Thực vậy, Đức Maria vừa là mẹ Chúa Giêsu, vừa là mẹ của nhân loại, vừa là mẹ của mỗi người chúng ta. Đời sống trong sạch không vương vấn tội lỗi của Mẹ, cũng như những công nghiệp mà Mẹ đã đóng góp vào chương trình cứu độ, đã khiến Mẹ trở nên xứng đáng được Chúa ân thưởng bội hậu, đã đưa về trời cả hồn lẫn xác liền ngay sau khi chết.

Nhìn vào một thửa ruộng thần nông chúng ta thấy được biết bao nhiêu công lao vất vã từ lúc gieo trồng cho đến lúc gặt hái. Chúng ta có thể nói được rằng những hạt lúa chín vàng là kết quả của biết bao nhiêu giọt mồ hôi, của biết bao lao công chăm sóc: Ai ơi bưng bát cơm đầy, dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần.

Cũng vậy, biến cố Mẹ về trời phải chăng cũng chỉ là một kết quả đương nhiên của một cuộc đời trong trắng và chất đầy công nghiệp nơi Mẹ. Một khi những công nghiệp ấy đã chín vàng như những hạt lúa trên ruộng đồng, thì các thiên thần bèn thu lấy mà đem vào kho lẫm của Thiên Chúa.

Trong một bức thư, thánh Phaolô đã bày tỏ ước vọng của mình như sau: Tôi muốn chết đi để được ở cùng Đức Kitô luôn mãi. Trong những ngày còn sống ở trần gian, Mẹ Maria hằng ao ước được kết hiệp mật thiết với Chúa Giêsu, và sau khi Mẹ trút hơi thở cuối cùng, thì ước vọng ấy mới được thực hiện một cách đầy đủ. Cùng với cái chết, bức tường ngăn cách giữa Mẹ Maria và Chúa Giêsu cũng đã sụp đổ để rồi cả hai được kết hiệp mật thiết với nhau.

Cái chết đối với chúng ta là một cái gì cay đắng, bàng hoàng và khủng khiếp vì nó chia lìa hai người bạn thân thương nhất là hồn và xác, đồng thời nó làm cho con người chúng ta bị mục nát và trở về cát bụi. Nhưng với Mẹ Maria thì khác. Cái chết chỉ là một khung cửa qua đó Mẹ tiến thẳng tới nơi gặp gỡ với Chúa Giêsu. Là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội, đồng thời cũng là Đấng đã cưu mang Chúa Giêsu, vì thế thân xác của Mẹ không thể nào trở thành miếng mồi ngon cho tử thần. Do đó Chúa Giêsu đã muốn đưa Mẹ về trời cả hồn lẫn xác, như một bông hoa không bao giờ tàn úa nhưng luôn giữ được màu sắc thắm tươi của mình. Thực vậy, Kinh Thánh thường sánh ví Mẹ với những cánh hoa tỏa hương thơm ngào ngạt. Chẳng hạn với bông hồng, với cánh huệ tươi nở ngay từ lúc ban mai. Mẹ Maria cũng vậy, ngay từ buổi ban mai của cuộc đời, nghĩa là ngay từ những ngày còn tấm bé, trái tim Mẹ đã mở ra để đón nhận hồng ân Thiên Chúa.

Từ những điều vừa chia sẻ, tôi muốn đi tới một kết luận, đó là mỗi người chúng ta trong cuộc sống riêng tư, hãy noi gương bắt chước Mẹ để rồi Mẹ ở đâu, thì chúng ta, những người con cái Mẹ cũng sẽ được ở đó với Mẹ.

---------------------------

 

15/8-154: Yêu mến Mẹ

 

Ngày nọ có một chiếc máy bay bị trục trặc và rơi xuống trong một khu rừng già. Viên phi công 15/8-154


Ngày nọ có một chiếc máy bay bị trục trặc và rơi xuống trong một khu rừng già. Viên phi công tên là Tom Marmon, mặc dù biết rõ khó mà sống sót để trở về quê nhà, nhưng ông vẫn cố gắng. Cuối cùng ông đã được cứu thoát. Các phóng viên báo chí đã hỏi ông nhờ đâu mà đã làm được một việc kỳ diệu như thế. Ông đã trả lời: Nhờ tôi cầu nguyện. Trước sự ngạc nhiên của mọi người, ông đã cắt nghĩa: Tôi đã đọc ít nhầt cả triệu lời kinh Kính Mừng, suốt thời gian dò tìm đường ra. Tôi không đọc nhỏ, nhưng đã đọc thật to với hy vọng có người nào đó sẽ nghe thấy tiếng tôi mà dẫn đường chỉ lối. Nếu không nhờ lòng tin mạnh mẽ này, có lẽ tôi đã không thể nào ra khỏi khu rừng rậm rạp ấy.

Kinh nghiệm của viên phi công cũng đã là kinh nghiệm của hằng triệu Kitô hữu, bởi vì họ cũng đã dành cho Mẹ Maria một chỗ đứng đặc biệt trong tâm hồn và trong cuộc sống của họ. Đó cũng là lý do hôm nay chúng ta vui mừng tụ hợp nhau đây để mừng kính biến cố Mẹ về trời.

Dưới khía cạnh thần học, biến cố này nhắc nhở chúng ta rằng Mẹ Maria hiện đang ở trên trời cả hồn lẫn xác. Bởi vì suốt trong cuộc đời trần gian, Mẹ không hề phạm tội, nên cũng như thân xác Chúa Giêsu, Mẹ đã được chuyển trực tiếp từ trạng thái của con người dương thế sang trạng thái khải hoàn vinh quang trên thiên đàng.

Tuy nhiên dưới khía cạnh thực tiễn, biến cố này nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta cũng sẽ được Chúa đưa về trời cả hồn lẫn xác. Đôi khi chúng ta quên rằng trên thiên đàng, chúng ta vẫn có một thân xác, dĩ nhiên thân xác ấy không phải là thân xác vật chất, mà là thân xác thiêng liêng như lời thánh Phaolô đã xác quyết: Thân xác bị chôn vùi là thân xác hay chết, nhưng khi sống lại, nó sẽ trở thành bất tử. Khi bị chôn vùi, nó xấu xí và yếu đuối, khi sống lại, nó trở thành xinh đẹp và mạnh mẽ. Khi chôn vùi, nó là thân xác vật chất, nhưng khi sống lại, nó trở nên thân xác thần linh.

Điều này dẫn chúng ta đến một điểm thực tiễn khác, đó là Mẹ Maria không ở trên trời một cách thụ động, chỉ biết vui hưởng nhan thánh Chúa. Nghĩa là Mẹ không chỉ ngồi yên chờ đợi chúng ta lên đoàn tu với Ngài. Trái lại, Mẹ vẫn tích cực quan tâm đến chúng ta. Nói cách khác, Mẹ vẫn muốn giúp đỡ chúng ta chiến đấu để được về quê trời.

Vì thế, cũng như viên phi công, chúng ta cần phải chạy đến với Mẹ và kêu cầu Mẹ trợ giúp trong cuộc chiến đấu chống lại sự dữ bao lâu còn sống nơi trần gian, bởi vì như lời thánh Bernado đã nói: Kêu cầu Mẹ chúng ta sẽ không bao giờ phải thất vọng, bước theo Mẹ sẽ không bao giờ bị lầm đường lạc lối.

-----------------------------

 

15/8-155: Mẹ lên Trời

 

Hôm nay chúng ta mừng kính lễ Mẹ hồn xác về trời. Vậy thì về trời có nghĩa là gì? Về trời ở 15/8-155


Hôm nay chúng ta mừng kính lễ Mẹ hồn xác về trời. Vậy thì về trời có nghĩa là gì?

Về trời ở đây không phải là chuyện đi lên hay đi xuống trong một khoảng không gian, mà là một tình trạng hoàn toàn được kết hiệp với Thiên Chúa, được đem vào sự thánh thiện và sự sống của chính Thiên Chúa.

Như thế, về trời trước hết phải là con đường của Đức Kitô, đây là lẽ đương nhiên bởi vì Ngài vốn là một vị Thiên Chúa, nay trở về với ngôi vị của mình. Có khác chăng là cùng với Ngài, có cả thân xác vật chất của mình nữa.

Tiếp đến, đó phải là con đường của Mẹ Maria. Đối với Mẹ thì về trời là hiệu quả của ơn Phục sinh nơi Đức Kitô, vì Mẹ cũng là một thụ tạo cần được cứu độ. Mẹ là người đầu tiên được hưởng hiệu quả trọn vẹn của ơn cứu độ, vì cuộc đời và sự cộng tác của Mẹ làm cho Mẹ được trở nên xứng đáng với đặc ân cao cả ấy.

Sau cùng về trời còn phải là con đường, còn phải là mục đích cuối cùng mà chúng ta phải theo đuổi trong cuộc sống này, như lời thánh Augustinô đã nói: Tâm hồn tôi luôn băn khoăn lo lắng cho tới khi nào được nghỉ yên trong bàn tay yêu thương của Thiên Chúa.

Tuy nhiên, để đạt tới mục đích cuối cùng ấy thì chúng ta phải làm gì? Tôi xin thưa là ngay từ bây giờ chúng ta phải sống gắn bó mật thiết với Đức Kitô và cố gắng thực thi những điều Ngài truyền dạy. Phải làm cho Đức Kitô được sinh ra và lớn lên trong tâm hồn chúng ta cũng như trong tâm hồn những người chung quanh.

Con đường ấy chắc chắn sẽ không phải là một con đường rộng rãi thênh thang với những hoa thơm cỏ lạ. Chính Mẹ Maria cũng đã kinh qua một cuộc đời trần gian đầy gian nan và thử thách như lời ông già Simêon đã nói: Một lưỡi gươm sẽ đâm qua lòng bà. Đúng thế, từ lúc xin vâng trong hoạt cảnh truyền tin cho đến khi đứng dưới chân cây thập giá, cuộc đời của Mẹ là một cuộc đời vâng phục đầy khổ đau, đầy cay đắng, thế nhưng chính những khổ đau này đã làm cho Mẹ được trở nên cao trọng trước mặt Thiên Chúa.

Vì thế, chúng ta hãy ngước mắt trông lên Mẹ để thấy được rằng: Đau khổ sẽ làm cho niềm tin thêm tinh ròng, đồng thơi không có một con đường nào của niềm tin mà không có những gian nan thử thách của nó.

Tuy nhiên, chúng ta tin chắc chắn rằng Đức Maria là Mẹ chúng ta, Ngài sẽ ra tay nâng đỡ và dìu dắt chúng ta trên con đường lữ hành của niềm tin cho đến lúc chúng ta được yên nghỉ trong tình thương của Chúa.

--------------------------

 

15/8-156: Đức tin của Mẹ

 

Hôm nay chúng ta mừng kính lễ Mẹ hồn xác về trời, đó là một ngày vui mừng bởi vì chúng ta 15/8-156


Hôm nay chúng ta mừng kính lễ Mẹ hồn xác về trời, đó là một ngày vui mừng bởi vì chúng ta có được một người mẹ vừa quyền năng vinh hiển, vừa dạt dào tình thương để bầu cử cho chúng ta ở trên trời. Chúng ta hãy hợp ý với Giáo Hội mà cầu xin cho mỗi người biết luôn hướng tâm hồn lên những sự trên trời, để nhờ đó sẽ được chia sẻ phần hạnh phúc với Mẹ. Bởi vì Nước Trời mới thật sự là quê hương của chúng ta, hay như lời một câu dan ngôn đã bảo: Cuộc đời là quán trọ. Trái đất là con tàu chứ không phải là một nơi cư ngụ vĩnh viễn. Vậy thì tại sao Mẹ Maria lại được Chúa dành cho cái đặc ân cao cả ấy?

Tôi chỉ xin trình bày một cách vắn tắt. Sở dĩ Mẹ được như vậy, vì Mẹ là Mẹ Chúa Giêsu, Mẹ liên kết mật thiết với Chúa trong tình thương, Mẹ chia sẻ với Chúa trong đau khổ. Cho nên Mẹ xứng đáng dự phần vinh quang phục sinh với Chúa. Hơn nữa Mẹ còn là Đấng Vô Nhiêm nguyên tội. Tâm hồn và thân xác Mẹ không hề bị hoen ố bởi tội lỗi, chính vì thế mà thân xác Mẹ sẽ không thể bị mục nát trong mồ.

Sau cùng qua đoạn Tin Mừng vừa nghe chúng ta còn tìm thấy nơi Mẹ một đức tin sống động, làm nền tảng cho cuộc đời của Mẹ. Về điểm này, Đức Hồng Y Renau đã viết như sau: Đức tin của Mẹ Maria là một đức tin can đảm và vững chắc. Mẹ đã phải cùng con trốn sang Ai Cập. Bằng cặp mắt yêu thương Mẹ không ngừng theo dõi và nhìn ngắm Chúa trên mọi nẻo đường truyền giáo, để rồi cuối cùng chính Mẹ đã đứng dưới chân cây thập giá. Mẹ là người phụ nữ có đức tin vững chắc không chao đảo, có một đức tin Kitô giáo trưởng thành.

Từ những điều vừa trình bày, chúng ta hãy xin Mẹ luôn cầu bầu cùng Chúa cho chúng ta. Là một người mẹ khi còn ở trần gian, Mẹ đã hiểu được thế nào là tình mẫu tử, thế nào là cõi lòng của một người mẹ, thì bây giờ ở trên trời, Mẹ sẽ cầu bầu để Chúa ban xuống cho chúng ta những ơn huệ cần thiết.

Hơn thế nữa, nếu chúng ta hãy chạy đến với Mẹ và suy gẫm cuộc đời của Mẹ, chúng ta sẽ được những tia sáng nhân đức của Mẹ chiếu soi. Cuộc đời của Mẹ là một lời mời gọi. Nhân đức của Mẹ là một cái gì hay lây lan. Nếu thực tâm tôn kính Mẹ, chúng ta sẽ sống một cuộc sống tin tưởng và phó thác, nhân từ và yêu mến, hy sinh và chấp nhận như Mẹ. Việc chúng ta tôn kính, ca tụng và yêu mến Mẹ sẽ làm cho chúng ta, những người con của Mẹ được tốt lành hơn.

Để kêt thúc tôi xin gợi lên ý tưởng đó là nhờ Mẹ mà chúng ta tiến đến cùng Chúa. Đức Kitô chính là trọng tâm, chính là trung điểm của đời sống chúng ta. Thế nhưng nhờ Mẹ mà chúng ta trở nên giống Chúa, nhờ Mẹ mà chúng ta gắn bó mật thiết với Chúa, nhờ Mẹ mà chúng ta có được một đức tin kiên vững và trưởng thành, nhờ Mẹ mà chúng ta trở nên những Kitô hữu biết chu toàn những bổn phận của mình.

---------------------------

 

15/8-157: Mẹ lên Trời

 

Như chúng ta đã biết Marilyn Monroe là một nữ tài tử nổi tiếng của Mỹ. Cách đây đúng 52 năm 15/8-157


Như chúng ta đã biết Marilyn Monroe là một nữ tài tử nổi tiếng của Mỹ. Cách đây đúng 52 năm, tức là vào ngày 15.8.1962 cô đã chết. Cái chết của cô cho đến ngày hôm nay vẫn còn là một điều bí ẩn. Có thể là cô đã tự tử. Có thể là cô đã bị Mafia hay dòng họ Kennedy giết chết. Cô đã ra đi giữa lúc danh vọng đang lên, tiền bạc đang lắm và thành công đang nhiều. Thế nhưng từ lúc cô nằm xuống cho đến ngày hôm nay, mỗi năm hàng ngàn, hàng vạn du khách đã viếng thăm ngôi mộ của cô tại thành phố Los Angeles và những cánh hồng không ngừng phủ kín nơi an nghỉ của một ngôi sao cô đơn. Viết về cô, người ta đã ghi nhận: Cô không còn là một con người, nhưng đã trở thành một huyền thoại. Cô không còn là một nhân vật, nhưng đã trở thành một thần tượng cho nhiều người. Và hơn thế nữa, mãi mãi cô đã trở thành một câu hỏi được nêu lên cho con người thời nay: Con người bởi đâu mà ra? Con người sống để làm gì? Đâu là ý nghĩa của cuộc đời? Tiền bạc và danh vọng có đủ để đem lại cho con người niềm hạnh phúc đích thực hay không? Trên phần mộ của cô, người ta đọc thấy một hàng chữ như sau: Chúng tôi thông cảm với cô. Bởi vì cô đã không ngừng bị dằn vặt bởi những câu hỏi quá lớn về cuộc sống. Và nhất là, nếu như thiếu vắng một niềm tin vào cuộc sống thì sẽ không còn một chọn lựa nào khác hơn là cái chết.

Còn đối với chúng ta, những người đã có một niềm tin thì sao? Chúng ta không chối cãi: đã là người thì ai cũng phải chết. Cái chết gắn liền với thân phận con người. Nào có ai đã thoát khỏi lưỡi hát của tử thần. Thế nhưng, cũng có người đã chiến thắng được cái chết. Chúa Giêsu đã chết nhưng sau đó Ngài đã sống lại. Mẹ Maria cũng đã chết, nhưng rồi sau đó đã được đưa về trời cả hồn lẫn xác. Với Chúa Giêsu và Mẹ Maria thì cái chết là khởi đầu của niềm hy vọng, là giây phút chúng ta được sinh ra cho cuộc sống vĩnh cửu. Chính cái chết sẽ đem lại ý nghĩa cho cuộc sống, bởi vì có chết thì mới được sống đời đời. Như mùa đông có qua đi thì rồi những đợt nắng xuân hồng mới trở lại. Hạt giống có mục nát, thì mới nẩy mầm, đâm bông và kết trái.

Nếu cái chết của Marilyn là một dấu hỏi được đặt ra về ý nghĩa của cuộc sống, thì cái chết của Mẹ Maria chính là câu trả lời. Qua cái chết để được đưa về trời, Mẹ Maria cho chúng ta thấy ý nghĩa của cuộc sống cũng như của cái chết, để rồi Mẹ trở thành niềm hy vọng cho chúng ta. Cho dù cuộc sống này có nghèo túng, có khổ đau thì nó vẫn có cái giá trị của nó. Bởi vì phải nhờ vào cuộc sống này mà chúng ta mới có thể chiếm lấy niềm hạnh phúc Nước Trời và cái chết chính là nét vẽ cuối cùng hoàn tất cho tác phẩm một đời của chúng ta, để rồi chúng ta sẽ dâng tác phẩm ấy lên Thiên Chúa. Và như vậy, chúng ta sống là để chuẩn bị cho cái chúng ta chết là để được sống đời đời.

-------------------------

 

15/8-158: Mẹ lên Trời

Chúng ta phải hiểu thế nào về tín điều Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời?

 

Một số người trong chúng ta nghĩ tưởng rằng: Đức Mẹ được rước qua chín tầng mây để tới 15/8-158


Một số người trong chúng ta nghĩ tưởng rằng: Đức Mẹ được rước qua chín tầng mây để tới một nơi, gọi là quê trời. Nghĩ tưởng như vậy là lầm, bởi vì Giáo Hội không bao giờ chủ trương một sự chuyển hộ khẩu, một sự thay đổi nơi cư trú, một sự di chuyển trong không gian, trong vũ trụ như thế. Trái lại Giáo Hội muốn chúng ta dựa vào Tin Mừng để tìm hiểu về Mẹ, cho dù Tin Mừng nói rất ít về Mẹ nhưng cũng cho chúng ta một cái nhìn đầy đủ với những đường nét chính yếu về Mẹ.

Thực vậy, Mẹ đã đi vào chương trình cứu độ của Thiên Chúa bằng một lòng tin tưởng vững mạnh. Mẹ đã trở thành người tín hữu đầu tiên với lời xin vâng trong hoạt cảnh truyền tin: Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời sứ thần truyền. Hai chữ tôi tớ muốn diễn tả điều gì nếu không phải là tâm tình khiêm cung và niềm tin mến của Mẹ.

Với lời xin vâng ấy, Mẹ đã mở rộng cõi lòng đón nhận Con Thiên Chúa xuống thế làm người, không phải chỉ trong tâm hồn, mà còn nơi thân xác, nghĩa là trọn vẹn nơi con người của Mẹ. Bởi đó Đức Mẹ cũng là mẹ Con Thiên Chúa làm người, không phải chỉ bằng cách đã cưu mang, đã nuôi dưỡng, mà còn bằng cả tâm hồn, cả cõi lòng cũng như bằng cả cách lắng nghe và thực thi ý Chúa.

Mẹ đã đón nhận và hấp thụ trọn vẹn giáo huấn của Chúa Giêsu. Vì thế, không lời nào có tính cách tuyên dương Mẹ một cách mạnh mẽ cho bằng chính lời của Chúa Giêsu: Ai là mẹ Ta và ai là anh em Ta? Đó chính là những người nghe và làm theo ý Cha Ta.

Mẹ Maria là một người tín hữu trọn vẹn. Mẹ đã lãnh nhận trọn vẹn ơn cứu độ nơi tâm hồn và thể xác. Và như thế, Thiên Chúa cũng sẽ đón nhận Mẹ một cách trọn vẹn, cả hồn lẫn xác qua sự sống lại. Thực ra Thiên Chúa đã hứa ban ơn cứu độ cho tất cả những ai tin nơi Ngài vào ngày sau hết, khi mọi người cùng được sống lại.

Thế nhưng qua tín điều Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, Giáo Hội muốn tuyên xưng điều đã xảy ra nơi Mẹ Maria thì cũng sẽ xảy ra cho mỗi người chúng ta. Từ đó chúng ta rút ra được một kết luận đó là mừng kính Mẹ Hồn Xác Lên Trời một cách thích hợp nhất đó là chúng ta hãy tiếp nối lời xin vâng của Mẹ một cách trọn vẹn, không so đo, không tính toán trước lời mời gọi của Chúa, để xây dựng một xã hội đầy bác ái và yêu thương.

----------------------------------

 

15/8-159: Đi vào mầu nhiệm cứu độ

 

Trong niềm tin của người Công giáo, Đức Maria đã có một vai trò đặc biệt qua chương trình cứu 15/8-159


Trong niềm tin của người Công giáo, Đức Maria đã có một vai trò đặc biệt qua chương trình cứu độ của Thiên Chúa.

Thực vậy Ngài đã được chọn giữa hàng con cái loài người để đón nhận Con Thiên Chúa vào trong thế giới con người và sống cuộc sống con người. Ngài đã khởi sự vai trò của Ngài bằng thái độ xin vâng đầy tin tưởng nơi tình thương của Thiên Chúa khi chương trình ấy còn là một mầu nhiệm. Nhưng thái độ xin vâng và phó thác ấy không thay thế nỗ lực lắng nghe và tìm hiểu. Những lời tiên đoán của các tiên tri về Chúa Giêsu, Con của Ngài, những lời giảng dạy, những thái độ và những việc làm của vị cứu tinh, đều được Đức Maria ghi giữ và suy nghĩ trong tâm trí.

Ngài đã không chỉ bị lôi cuốn vào công trình thực hiện ơn cứu độ xuất phát từ Thiên Chúa, mà Ngài còn đi vào trong mầu nhiệm cứu độ ấy bằng tất cả lòng trí của Ngài. Ngài đã không chỉ đón nhận Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa làm người, ơn cứu độ của Thiên Chúa ban cho con người, nơi thân xác Ngài, mà Ngài còn đón nhận ơn cứu độ ấy trong chính tâm hồn của Ngài. Đức Maria đã trở thành người đầu tiên trong hàng ngũ con người được lãnh nhận trọn vẹn ơn cứu độ của Thiên Chúa. Gạt bỏ những hình thức ông sùng mang nặng tính cách tình cảm và vô bổ, theo tôi nghĩ, cách sùng kính Đức Maria một cách đúng đắn nhất, vẫn là noi gương bắt chước Ngài đón nhận và sống ơn cứu độ của Thiên Chúa trong toàn bộ con người và cuộc sống của chúng ta. Xin vâng trước lời mời gọi của Thiên Chúa, đọc và tìm hiểu thánh ý Chúa, nhất là thể hiện thánh ý ấy trong cuộc sống thường ngày của chúng ta. Như Đức Maria, chúng ta phải đi vào trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa, để trở thành một con người được cứu độ. Thiên Chúa đã ban cho Đức Maria những ân sủng thật lớn lao, trong đó có ơn Hồn xác lên trời, không phải chỉ vì Ngài đã cưu mang và hạ sinh Chúa Giêsu mà còn chính vì Ngài đã nghe và thực hiện lời Chúa, nghĩa là trở thành con người được cứu độ một cách trọn vẹn. Như thế, những ân sủng Đức Maria lãnh nhận được cũng là những ân sủng Thiên Chúa dành cho mỗi người chúng ta. Chúng ta có thể cùng với Đức Maria hát bài ca Ngợi Khen Chúa vì những việc lạ lùng Thiên Chúa đã làm cho Ngài và đang làm cho mỗi người chúng ta.
 
--------------------------------

 

15/8-160: Mẹ lên Trời

 

Bên ngoài Trinh Nữ Maria cũng giống như hầu hết các cô thôn nữ đồng quê chất phác ở Galilêa 15/8-160


Bên ngoài Trinh Nữ Maria cũng giống như hầu hết các cô thôn nữ đồng quê chất phác ở Galilêa. Nhưng bên trong là cả một kho tàng thánh thiện. Và nhất là không ai có thể ngờ: là Mẹ Thiên Chúa.

Sứ thần Gabriel đã chào kính: Mẹ có phước hơn mọi phụ nữ. Trong Kinh Thánh có kể nhiều chuyện về thiên sứ, nhưng không hề ai được thiên sứ cháo trước và chào một cách kính cẩn như với Mẹ: Kính chào Maria. Với Giacaria chẳng hạn, thiên sứ không những không chào mà còn lên giọng nghiêm nghị. Và khi ông tỏ ra bỡ ngỡ: Làm sao có thể được như thế, vì tôi đã già, thì thiên thần liền quở phạt ông: Ngươi sẽ câm cho đến khi mọi sự việc ấy xảy ra.

Với Mẹ thì khác. Khi Mẹ hỏi lại: Làm sao có thể được như thế, vì tôi không biết đến người nam, thì sứ thần đã vội trấn an: Thánh Thần Chúa sẽ ngự xuống trên cô, và quyền lực Đấng Tối Cao sẽ bao trùm cô. Rồi sứ thần còn đưa ra một bằng chứng: Hãy xem Elisabeth, người chị họ của cô. Bà ấy đã già mà cũng đã có thai được sáu tháng, vì đối với Thiên Chúa chẳng có gì khó khăn hết.

Cố nhiên câu vặn hỏi của Mẹ không do lòng thiếu tin tưởng, nhưng do đức hạnh và tinh thần tận hiến thúc bách. Chính vì tư cách siêu phàm ấy Thiên Chúa đã chọn nàng vào một địa vị cao cả: Người con do cô sinh ra sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Và như thế, Mẹ chính là mẹ của Ngôi Lời nhập thể, đồng thời cũng là mẹ chung của toàn thể nhân loại được cứu rỗi, của tất cả những người rồi đây sẽ mang tên Đức Kitô con Mẹ. Bởi vì nhờ Mẹ mà sự sống thần linh được trao lại cho chúng ta.

Hơn thế nữa dưới chân cây thập giá lời Chúa Giêsu còn vang vọng: Này là mẹ con. Này là con mẹ. Phải chăng kể từ giây phút ấy, giây phút của chương trình cứu độ được hoàn tất, cộng tác với Chúa Giêsu, Mẹ đã sinh ra một nhân loại mới, một thế hệ mới.

Và ngày hôm nay Mẹ được Chúa đưa về trời cả hồn lẫn xác để ân thưởng bội hậu. Với chức làm Nữ Vương trời đất, Mẹ dư khả năng để trợ giúp chúng ta. Với chức làm mẹ nhân loại, Mẹ dư tình thương để ra tay cứu vớt, bởi vì người mẹ nào chẳng yêu thương con mình, người mẹ nào mà chẳng muốn cho con mình những sự may mắn tốt lành. Bởi đó hãy tin tưởng và chạy đến với Mẹ như lời kinh chúng ta thường đọc: Xưa nay chưa từng có ai chạy đến cùng Mẹ mà Mẹ từ bỏ chẳng nhận lời.

---------------------------

 

15/8-161: Maria đến thăm Êlisabét


(Lc 1, 39-45)

I. GIẢI THÍCH

 

c. 39 - "Lên đường": Luca là người viết về những cuộc lên đường. Toàn quyển Tin Mừng là một 15/8-161


c. 39 - "Lên đường": Luca là người viết về những cuộc lên đường. Toàn quyển Tin Mừng là một cuộc lên đường của ơn cứu độ từ Nagiarét đến Giêrusalem. Quyển kế tiếp của Luca, Công vụ Tông đồ, lại là một cuộc lên đường khác của ơn cứu độ từ Giêrusalem đến trung tâm của thế giới thời đó là Rôma, để từ đó lên đường tỏa đến toàn thể thế giới.

- Đầu tiên hết là cuộc lên đường của Đức Maria. Người vừa được một niềm vui to lớn (x. bài "Truyền tin" Lc 1,26-38). Mà niềm vui thì không được giữ riêng cho mình, phải chia sẻ với người khác. Do đó Maria lên đường.

- Maria lên đường đi tới đâu? "Tới một thành thuộc miền núi vùng Giuđêa". Có lẽ đây là thành Ain Karim, cách Giêrusalem khoảng 6 km về phía Tây. Nếu đi từ Nagiarét thì phải mất chừng 3 hoặc 4 ngày.

          - Chú ý trạng từ "vội vã": Maria nôn nóng đem niềm vui tới người khác.

c. 40 - Kẻ mà Maria muốn đem niềm vui tới chia sẻ là Êlisabét, vợ của Tư tế Dacaria. Êlisabét và chồng tuy đã rất già nhưng vừa mới được Thiên Chúa cho thụ thai đứa con đầu lòng.

c. 41 - Khi Maria vừa chào Êlisabét thì thai nhi "nhảy mừng" trong lòng bà. Sự thật có lẽ không đến như thế. Ở đây Luca diễn tả theo niềm tin bình dân: những cử động của bào thai là điềm báo trước tương lai của nó. St 25,22 viết rằng, bà Rêbecca mang thai hai đứa con (Êsau và Giacóp). Hai đứa "va chạm nhau" trong bụng mẹ, báo trước sau này chúng kình địch nhau. Còn trong chuyện này, thai nhi "nhảy mừng" trong bụng Êlisabét nghĩa là sau này nó sẽ là người mang tin mừng cho kẻ khác.

Trong chi tiết này, Luca cũng liên tưởng tới trường hợp của Giêrêmia (Gr 1,5), kẻ đã được Thiên Chúa chọn làm ngôn sứ ngay từ trong bụng mẹ.

Tóm lại, chi tiết này có nghĩa là Gioan Tẩy giả được Thiên Chúa chọn làm Tiền hô cho Đức Giêsu.

c. 42 - Khi ấy Êlisabét "kêu lên lớn tiếng": một phản ứng bất thường. Không phải chỉ lên tiếng đáp lại lời chào của Maria, mà "kêu lớn". Trong nguyên ngữ, động từ này có nghĩa là "bắt giọng", giống như người xướng kinh bắt giọng cho cả nhà thờ đọc kinh.

- "Em được chúc phúc giữa các phụ nữ": Cách nói của người Do Thái để diễn tả sự so sánh tối thượng cấp, nghĩa là: "Em là người có phúc nhất trong tất cả các người nữ".

c. 43 - "Mẹ của Chúa tôi": trong xã hội đa thê thời xưa, một ông vua có nhiều vợ, nhưng trong số đó, người vợ nào là mẹ của thái tử (sẽ lên ngôi) là có uy thế nhất. Bà được gọi là "mẹ của Chúa tôi". Như thế, danh hiệu này chỉ người đàn bà uy thế nhất trong nước.

- Thánh Luca cố ý viết câu nói của Êlisabét giống câu nói của ông Ôzia nói với bà Giuđitha (Gđt 13,18-19) "Bà có phúc trong mọi người nữ, và phúc thay Thiên Chúa là Chúa" (so với Lc 1,42: "Em có phúc trong tất cả các người nữ, và phúc thay hoa trái của lòng em"). Ý của Luca là so sánh Maria với bà Giuđitha, và so sánh Đức Giêsu với Thiên Chúa.

c. 45 - "Phúc cho em vì em đã tin": lịch sử cứu độ của dân Israel bắt đầu bằng một hành vi đức tin (Abraham tin Lời Thiên Chúa) (St 12, 1-5); lịch sử cứu độ của cả loài người cũng bắt đầu bằng một hành vi đức tin (của Maria). Và lịch sử cứu độ của mỗi người chúng ta cũng thế.

II - MỘT SỰ SO SÁNH KHÉO LÉO

Chúng ta đã thấy Luca khéo viết lời của Êlisabét cho giống với lời của ông Ôzia khen bà Giuđitha. Ngoài ra Luca còn cố ý viết toàn câu chuyện này giống với chuyện Đavít mang Hòm Bia về Giêrusalem (2.Sm 6). Sau đây là các chi tiết:

1- Hòm Bia tiến về hướng Giêrusalem, ghé nhà của ông Ôbed-Êdom.

* Maria đi từ Nagiarét theo hướng Giêrusalem, ghé nhà Êlisabét.

2- Đavít đã "kêu lên" rằng: làm sao Hòm Bia của Chúa đến nhà tôi được.

* Êlisabét cũng "kêu lên": làm sao mà mẹ của Chúa tôi đến nhà tôi.

3- Nhờ Hòm Bia ghé ở nhà Ôbed-Êdom mà ông này được Thiên Chúa ban phúc.

* Đức Maria ghé nhà Êlisabét khiến gia đình bà (kể cả thai nhi) được phúc.

4- Hòm Bia ở nhà Obed-Êđom 3 tháng;

* Đức Maria cũng ở nhà Elisabét 3 tháng (xem câu 56)

III. BÀI CA MAGNIFICAT: cc 46-56

A. Nguồn gốc

- Về nội dung, bài thơ này góp nhặt nhiều ý tưởng của Cựu Ước (xem các ghi chú bên lề bản dịch: ít là 14 ý tưởng); về hình thức thì tương tự với bài ca của bà Anna (1Sm 2,1-10).

- Tác giả là ai? Có thể là Giáo Hội sơ khai, soạn để hát trong phụng vụ. Luca đã mượn và thích nghi để đặt vào môi miệng của Maria.

- Ý chính: Ngợi khen Thiên Chúa vì đã a/ bênh vực kẻ nghèo hèn và b/ yêu thương Israel. Khi áp dụng bài ca này cho Đức Maria, Luca muốn nói rằng Đức Maria chính là "người nghèo" chân chính nhất và là "Israel" thật.

B. Giải thích

46-47- Phải biết đến bối cảnh là 1Sm 1-2: Bà Anna là vợ chính của ông Elqanah, nhưng bà không có con, trong khi vợ nhỏ của ông lại có con. Người vợ nhỏ này chế nhạo và chọc tức Anna khiến bà vô cùng đau xót. Bà lên đền thờ cầu nguyện. Cuối cùng Thiên Chúa đã nhậm lời cho bà sinh con, tức là Samuen. Anna hớn hở vui mừng vui mừng cất lời tạ ơn chúc tụng Thiên Chúa.

- "Hớn hở vui mừng" cũng là tâm tình của Đức Maria, vì thế Người ngợi khen Thiên Chúa.

46     "Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa":

          - "Linh hồn": các tác giả Thánh Kinh thường nói một phần để chỉ toàn thể. Nói "Linh hồn ngợi khen" là nói toàn thề con người ngợi khen. (xem Mc 14,34 "Linh hồn Thầy buồn đến chết")

          - "Ngợi khen": cũng đong nghĩa với tạ ơn. Ngợi khen là một cách tạ ơn, tạ ơn bằng cách ngợi khen. Trong tiếng Việt, có một kiểu nói chứa dựng cả 2 ý ngợi khen và tạ ơn, đó là "Tán tạ".

48-53         Lý do 1 để ngợi khen: Vì Thiên Chúa đã bênh vực kẻ nghèo hèn, hiện thân cụ thể là Đức Maria.

          - "Kẻ nghèo" (anaw) là một hạng người đặc biệt trong Thánh Kinh. Cái nghèo của họ không phải chỉ có nghĩa kinh tế (không tiền của), mà nhất là theo nghĩa tôn giáo: họ không nương tựa (vì không có, hay đúng ra không muốn có) bất cứ chỗ dựa nào khác (như tiền bạc, quyền lực, tài năng... kể cả uy tín đạo đức của bản thân) ngoài một mình Thiên Chúa. Vì thế chính Thiên Chúa đứng ra làm chỗ nương tựa cho họ, làm Đấng bảo vệ họ. "Kẻ nghèo của Yavê" (anaw Yahweh) là hạng người được Thiên Chúa ưu ái nhất.

- Đức Maria chính là một "kẻ nghèo" được Thiên Chúa ưu ái: a/ Qua biến cố Truyền tin, Chúa đã đoái thương nhìn đến Maria, một thiếu nữ tầm thường ở Nagiarét, khiến Người trở nên biểu tượng của hạnh phúc đến nỗi từ này về sau mọi thế hệ đều khen Người là diễm phúc; b/ Thiên Chúa còn làm cho Maria biết bao điều cao cả: thụ thai đồng trinh, làm mẹ Đấng Messia mà muôn dân hằng trông đợi.

- Sở dĩ Maria được như vậy vì Người có những đức tính của một "kẻ nghèo" đích thực: "kính sợ Ngài", "khiêm nhường", tin tưởng phó thác như một "nữ tì" của Chúa.

54-55         Lý do 2 để ngợi khen: Thiên Chúa đã yêu thương Israel mà Maria cũng là hiện thân:

- Xưa kia Ngài đã nhiều lần hứa với Abraham và các tổ phụ rằng Ngài sẽ cho các ngài có một dòng dõi đông đúc và từ dòng dõi ấy sẽ sinh ra Đấng Messia.

- Những lời hứa đó hôm nay được thực hiện nơi Đức Maria.

--------------------------

 

15/8-162: Lễ Đức Maria Hồn Xác Lên Trời


(Bài giảng của ĐTGM. Têphanô Nguyễn Như Thể - Tổng Giám Mục TGP Huế)

1. Kính thưa cộng đoàn hành hương,

 

Đức Maria đi thăm người chị họ Êlisabet. Chị em gặp nhau, tay bắt mặt mừng.Bỗng chốc, như trong 15/8-162


Đức Maria đi thăm người chị họ Êlisabet. Chị em gặp nhau, tay bắt mặt mừng.

Bỗng chốc, như trong phút xuất thần, Đức Maria được Chúa Thánh Linh gợi hứng, liền cất tiếng ngợi khen cảm tạ Thiên Chúa:

“Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa,
thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi.
Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới;

từ nay hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc”.

Đây cũng là tâm tình ngợi khen tạ ơn của toàn thể Giáo Hội và của cộng đoàn hành hương chúng ta hôm nay, khi cùng nhau cử hành phụng vụ Thánh lễ, mừng kính Đức Mẹ được Thiên Chúa đưa về trời cả hồn cả xác.

a. Những lời cảm tạ ngợi ca đó nói lên tất cả tấm lòng của Đức Mẹ: đó là toát lược cả cuộc đời Mẹ, cả chương trình sống của Mẹ, là con đường tu đức của Mẹ: mãi mãi là người tôi tớ xin vâng, luôn luôn tán tụng tạ ơn Chúa và luôn luôn phó thác trong tay Chúa toàn năng và từ bi.

- Quyền năng và tình yêu Chúa đổ xuống tràn đầy trên Mẹ làm cho Mẹ được khỏi tội tổ tông và được đầy ơn Chúa ngay từ giây phút đầu tiên tượng thai trong lòng bà thánh Anna: “Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới; từ nay hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc”.

- Tình yêu và quyền năng Chúa bao phủ suốt cả đời Mẹ trên từng ý nghĩ, từng tình cảm, từng mỗi hành động, từng mỗi bước đi..., khiến cho lòng Mẹ luôn hướng về Chúa mà tạ ơn và ngợi khen: “Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả... Đời nọ tới đời kia, Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người”.

- Quyền năng và tình yêu Chúa được thi thố một cách đặc biệt tận mức và toàn vẹn nhất trong giây phút Chúa đưa Mẹ về trời cả hồn cả xác.

b. Giờ đây trong giây phút lên trời, những lời ca ngợi bên thềm nhà bà Êlisabét mới được thực hiện một cách hoàn hảo trọn vẹn sung mãn nơi mình Mẹ, mới nói lên hết ý nghĩa và tâm tình của Mẹ đối với Chúa toàn năng và yêu thương.

- Tưởng không có lúc nào lòng Mẹ ngợi khen Chúa một cách say sưa nồng nàn cho bằng giây phút Chúa đưa Mẹ về trời hồn xác: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi”. Mẹ được cứu chuộc toàn vẹn. Một mình Mẹ trong con cái loài người đã chiến thắng hoàn toàn ma quỷ và tội lỗi.

- Tưởng không có khi nào Mẹ cảm thấy thân phận tôi tớ hèn mọn nầy lại được cất nhắc cao trọng cho bằng giây phút Mẹ lên trời.

- Tưởng không có lúc nào Mẹ cảm nghiệm được quyền năng và tình yêu vô biên của Chúa cho bằng trong giây phút Chúa hiển dương Mẹ về trời.

2. Anh chị em thân mến,

a. Đức Mẹ đã đi trước chúng ta qua hết mọi nẻo đường đời của một người dân bình thường nghèo khó:

- nẻo đường đi về Bê-lem không nơi trú ngụ, và phải sinh con trong hang bò lừa;

- nẻo đường lánh cư sang Ai cập đầy tiếng khóc la của các bà mẹ, bởi hài nhi con mình vô tội bị giết;

- đường vào tiệc cưới Cana có tiếng vui cười của thực khách và đôi tân hôn;

- đường lên núi Calvariô, có tiếng nguyền rủa, tiếng roi xé thịt, tiếng búa đóng đinh của các lý hình;

- đường loan Tin mừng Chúa Phục Sinh và đường thẳng lên trời hồn xác trong tiếng reo vui của trời đất, của thần thánh, của loài người.

Đức Mẹ đã sống thánh giữa đời, đã nên thánh qua những chặng đường vui, sáng, thương, mừng.

b. Trong cuộc sống hôm nay, chúng ta cũng đang đi lại những chặng đường của Đức Mẹ: có cả vui, sáng, thương, mừng. Chúng ta lần hạt, tràng chuỗi nơi tay, miệng thầm thỉ, lòng kết hiệp với các mầu nhiệm vui mừng và đau thương cùng vinh quang của Đức Mẹ. Chúng ta cũng lần hạt một cách thiết thực nữa trong cuộc sống hằng ngày, mà tràng chuỗi và những hạt chuỗi giờ đây chính là những hạt mồ hôi, những giọt nước mắt, những khổ đau, những oan ức... và cũng chính là những tiếng vui cười, những tia hy vọng, những niềm hân hoan... Đó là tràng chuỗi sống, đi đôi với việc đọc kinh lần hạt suy niệm của chúng ta.

3. Anh chị em thân mến,

a. Ngày lễ Mẹ lên trời hồn xác hôm nay đem lại cho chúng ta một niềm hy vọng lớn lao. Một người trong nhân loại chúng ta đã toàn thắng ma quỷ và tội lỗi: ma quỷ không thể khống chế được Mẹ Maria trong một giây phút nào hết, tội lỗi không thể để lại một dấu vết nào, một hậu quả tác hại nào trên mình Mẹ hết. Lời tiên báo từ ngàn xưa trong vườn địa đàng, khi Chúa tuyên án ma quỷ lấy hình con rắn cám dỗ, thì hôm nay đã được thực hiện một cách viên mãn: “Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người phụ nữ, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy, dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó” (St. 3,15).

b. Cử hành mầu nhiệm Mẹ lên trời hồn xác là tôn vinh sự thành công mỹ mãn của ơn thánh Chúa nơi Đức Mẹ, là tôn vinh Thiên Chúa đã ban cho Mẹ ơn cứu độ sung mãn, nhờ được hưởng trước công phúc tử nạn của Chúa Giêsu Kitô.

Hình ảnh Mẹ lên trời hồn xác là một Tin mừng lớn lao, loan báo tương lai chung cục của Giáo Hội và của mỗi người chúng ta rồi cũng sẽ được rực rỡ như vậy:

- nếu chúng ta biết sống như Mẹ,

- nếu chúng ta biết liên kết con đường làm người của chúng ta với những chặng đường mà Mẹ đã đi qua một cách tuyệt vời, trong đức tin, đức cậy và đức mến.

4. Anh chị em thân mến,

a. Một trưa mùa hè oi ả, những hành khách trên chiếc xe đò lặng lẽ nhìn ra con đường đơn điệu. Cái nóng nực và chuyến đi buồn tẻ hầu như giam hãm mọi người trong một thứ thinh lặng nặng nề.

Nhưng ở một trạm dừng kia, mọi người bỗng ra khỏi cái uể oải ngái ngủ, để đưa mắt nhìn về một phụ nữ trẻ bước lên xe. Chiếc xe từ từ lăn bánh. Người phụ nữ bắt đầu nói cười và đùa giỡn với đứa con thơ chị đang bồng trên tay. Khuôn mặt vui tươi của người phụ nữ và tiếng cười hồn nhiên của đứa bé đã thu hút sự chú ý của hành khách trên xe. Trong phút chốc, một ngọn gió mát của hiếu kỳ, của liên đới, của tham dự và của sức sống đã đem lại bầu khí tươi mát cho mọi người. Hành khách như bừng tỉnh ra khỏi cơn gà gật ngái ngủ.

Rồi nơi nầy có người bắt đầu nói chuyện. Nơi kia rộn lên tiếng cười rôm rả. Hành khách chuyện trò cười nói càng lúc càng vui vẻ hơn. Bây giờ thì chuyến đi không còn là một cuộc độc hành lầm lì nữa.

Kính thưa cộng đoàn hành hương,

b. Trên chuyến xe cọc cạch và buồn tẻ của thế giới, một người nữ đã bước lên. Tình yêu và sự sống đã bừng dậy. Người nữ ấy chính là Mẹ Maria. Cùng với Chúa Giêsu, Mẹ đã vội vã lên đường, bước lên chiếc xe ì ạch của một thế giới rã rời, để biến nó thành một cuộc hành trình vui tươi và đầy ý nghĩa. Mẹ mang Chúa Giêsu đến cho trần thế, và với Ngài, Mẹ đã biến đổi cuộc hành trình buồn tẻ của thế giới thành một lễ hội của gặp gỡ, của sẻ chia, của hân hoan và tin tưởng. Từ nay, tuyến đường mà nhân loại đang đi sẽ kết thúc bằng một điểm đến rõ rệt: đó là đến cùng Chúa Giêsu là đường đi, là sự thật, là sự sống.

Nào, tất cả chúng ta hãy cùng Mẹ “vội vã lên đường”:

- con đường Tin, Cậy, Mến,
- con đường yêu thương và phục vụ,
- con đường vui mừng và hy vọng.

c. Bài ca nhập lễ hôm nay mời gọi chúng ta ngước mắt nhìn lên Mẹ. Bài ca trích lại mấy lời trong sách Khải Huyền: “Có điềm lạ xuất hiện trên trời: một người Phụ Nữ mình khoác mặt trời, chân đạp mặt trăng, và đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao” (Kh. 12,1).

Dấu lạ vĩ đại nầy vẫn luôn chiếu sáng giữa trời đất và càng chiếu sáng hơn nữa trong những giờ phút đen tối đầy sóng gió bão táp của cuộc đời. Toàn thể Giáo Hội không ngừng ngước mắt nhìn lên dấu lạ nầy, vì đó là dấu chỉ lòng cậy trông vững vàng và là niềm an ủi lớn lao cho Dân Chúa đang bước đi trên đường lữ thứ trần gian (x. LG. 68).

Dấu lạ vĩ đại đó là Mẹ Maria khoan nhân dịu dàng, hằng luôn cầu bầu cho chúng ta trước Tòa Chúa, hằng làm cho chúng ta được sống, được vui và được đầy lòng trông cậy. Amen.

-------------------------------

 

15/8-163: Lễ Đức Maria Hồn Xác Lên Trời


Bài giảng Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời của Đức Cha Giuse Nguyễn Chí Linh, GM. Thanh Hóa nhân dịp Đặt Viên Đá Đầu Tiên xây dựng Vương Cung Thánh Đường La Vang

Trọng kính Đức Khâm sứ Tòa Thánh, Đức Hồng Y, Quý Đức Tổng, quý Đức Cha và toàn thể anh chị em.

 

Lại một lần nữa chúng ta có dịp mừng lễ Đức Maria Hồn Xác Lên Trời tại linh địa La Vang đầy 15/8-163


Lại một lần nữa chúng ta có dịp mừng lễ Đức Maria Hồn Xác Lên Trời tại linh địa La Vang đầy kỷ niệm êm đềm thánh thiêng này. Tâm hồn mỗi người chúng ta rộn lên niềm vui khi nghĩ rằng chúng ta may mắn được làm con của một người Mẹ vô tiền khoáng hậu, được kính trọng nhất trong lịch sử nhân loại.

Chưa một ai đã được tạc tượng tạo ảnh nhiều như Đức Maria. Ở Âu châu, không một ngôi làng nhỏ bé nào không có hình tượng Mẹ; trên thế giới, không một thành phố nào không có nhà nguyện hay linh đài tôn vinh Mẹ.

Lời kinh được đọc nhiều nhất trên hành tinh, lời kinh chưa bao giờ ngừng nghỉ trong lịch sử Giáo Hội, lời kinh của hàng tỉ người công giáo, chính là lời chào bà Isave dành cho Mẹ: "Kính mừng Maria đầy ơn phúc, Đức Chúa Trời ở cùng bà. Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ và Giêsu con lòng bà gồm phúc lạ".

Bài ca được hát nhiều nhất không phải là một bản tình ca lừng danh thế giới, nhưng đáng ngạc nhiên lại là bài ca Magnificat, "Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, Thần trí tôi hớn hở vui mừng" mà tác giả chính là Đức Maria. Mỗi lần một cộng đoàn Giáo Hội cử hành kinh chiều hay dâng lời ơn, bài ca mầu nhiệm ấy lại trổi lên du dương như một kiệt tác bất khả thay thế.

Đối với rất nhiều Kitô hữu Việt Nam, một ngày không có Kinh Kính Mừng không phải là một ngày đúng nghĩa, một ngày không có Kinh Lạy Nữ Vương là một ngày trơ vơ chênh vênh, một ngày không có Kinh Mân Côi là một ngày rời rạc không nhựa sống...Tắt một lời, ngày không có Đức Maria đồng hành không phải là ngày.

Cũng vì những tâm tình thuơng mến đó mà kể từ ngày Mẹ hiện ra an ủi tín hữu lâm nạn vào cuối thế kỷ 18, hàng hàng lớp lớp khách hành hương đã tuôn về đây mỗi lúc một đông. Họ đã kêu cầu Mẹ và Mẹ đã nhận lời. Những tấm bia tạ ơn dày đặc đàng kia phải chăng là bằng chứng tình Mẹ La Vang luôn dạt dào lai láng?

Rõ ràng là theo dòng thời gian, niềm tri ân Đức Mẹ La Vang, tình yêu mến Đức Mẹ La Vang, lòng cậy trông Đức Mẹ La Vang càng ngày càng thiết tha nồng nàn, càng ngày càng tràn trào dâng cao, không gì đủ hùng mạnh để ngăn cản, không gì đủ rộng rãi để chứa đựng.

Thật vậy, thuở ban đầu La Vang chỉ là vùng kỷ niệm của giáo dân trong khu vực giáo xứ Cổ vưu. Nhưng chẳng bao lâu sau, La Vang đã mau chóng trở thành điểm hành hương của Giáo Phận Huế, để rồi năm 1958, đã được chọn làm nơi tổ chức Đại Hội Thánh Mẫu Toàn Quốc, với sự hiện diện của Đức Hồng Y Agagianian, Tổng Trưởng Bộ Truyền Giáo, được Đức Thánh Cha Gioan XXIII chính thức cử làm đặc sứ. Cũng chính vị Cha Chung hoàn vũ này, ngày 22.08.1961, đã nâng nhà thờ La Vang lên bậc "Tiểu Vương Cung Thánh Đường".

Nhiều đoàn hành hương nước ngoài đã đến La Vang, nhất là năm 1998, nhân dịp kỷ niệm 200 Đức Mẹ hiện ra tại đây, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã cử Đức Hồng Y Tổng Giám Mục Hà Nội thay mặt ngài chủ sự thánh lễ.

Gần đây nhất, nhân dịp Năm Thánh 2010-2012 kỷ niệm 350 năm thành lập hai giáo phận Việt Nam đầu tiên, Đức Thánh Cha Beneđitô XVI đã cử Đức Hồng Y Ivan Dias, Tổng trưởng bộ Truyền Giáo làm đặc sứ của ngài để chủ sự lễ bế mạc ngay tại La Vang này.

Đó là bằng chứng cho thấy La Vang không còn là điểm hành hương của riêng Giáo Hội Việt Nam, nhưng đã được Giáo Hội toàn cầu công nhận và thăm viếng.

Vì thế mà trong lòng mỗi người tín hữu dân Việt, trong nước cũng như hải ngoại, lúc nào cũng cháy bỏng ước mơ sẽ có một nơi xứng đáng để tôn kính Mẹ. Giấc mơ lớn dần và đã chính thức trở thành quyết tâm của các đấng Bản quyền: trong cuộc họp thường niên tại Huế ngày 13.4.1961, các Giám Mục miền Nam đã khấn hứa khi hoàn cảnh thuận lợi, sẽ xây cất một Đền Thánh biệt kính Mẹ La Vang, rồi trong thư luân lưu tháng 8 cùng năm, đã long trọng công nhận La Vang là Trung Tâm Thánh Mẫu toàn quốc VN.

Giấc mơ đó hôm nay đang trở thành hiện thực qua nghi thức đặt viên đá đầu tiên.

Chỉ một viên đá đơn sơ nhưng ý nghĩa thật lớn lao. Lớn lao bởi vì nó kết tụ nguyện vọng của tất cả mọi thế hệ Kitô hữu Việt Nam. Lớn lao bởi vì tuy nhỏ bé, nó là biểu tượng tình hiệp thông rộng lớn của mọi thành phần Dân Chúa. Lớn lao bởi vì trên viên đá này chúng ta sẽ ghi lời khấn nguyện tha thiết nhất của Giáo Hội và dân tộc Việt Nam, của cộng đoàn và của từng tâm hồn chúng ta. Và lớn lao hơn nữa là tại nơi tôn nghiêm này, Mẹ chúng ta sẽ "tiến lên như rạng đông", sẽ "đẹp như mặt trăng", sẽ "rực rỡ như mặt trời", sẽ "oai hùng như đạo binh xếp hàng vào trận".

Có lẽ nhiều người tự hỏi: "Mẹ đã về trời sao còn có thể ở lại đây?"

Thật ra, chúng ta thường tưởng tượng cách sai lầm rằng khi lên trời, Mẹ di chuyển trong không gian từ thấp lên cao. Nhưng theo Thánh Kinh, "được đưa lên trời" chỉ có nghĩa là "được sống trong Chúa sau khi lìa đời". Cũng vì vậy mà khi công bố tín điều Đức Maria mông triệu, Đức Thánh Cha Piô XII đã tránh dùng hai chữ "lên trời". Ngài chỉ diễn tả cách đơn sơ rằng: "sau khi hoàn tất cuộc đời tại thế, Mẹ Thiên Chúa đã được đưa về trời cả hồn lẫn xác, trong vinh quang vĩnh cửu..."

Lúc sinh thời tại thế, muốn thăm viếng ai Mẹ phải dùng đôi chân thể xác đi từ chỗ nọ đến chỗ kia. Nay được "đưa vào vinh quang", Mẹ không cần di chuyển nữa. Cùng một lúc, Mẹ có thể thăm viếng bất kỳ ai trong chúng ta, vì Mẹ cũng ở khắp mọi nơi như Chúa và với Chúa.

Rốt cuộc, đối với Kitô hữu, trời không phải là cõi cao xa vời vợi. Trời chính là sự hiện diện của Chúa và của Mẹ. Đặt viên đá đầu tiên xây dựng thánh đường dâng kính Mẹ, chúng ta cũng "đặt viên đá" cho sự hiện diện linh thiêng bền vững của Mẹ tại linh địa này và nơi thâm sâu cõi lòng chúng ta.

Năm xưa, "trong những ngày ấy, Mẹ đã vội vã lên đường..." Hôm nay, Mẹ cũng đon đả đến La Vang này, nơi con cái Việt Nam đang chờ đón Mẹ. Năm xưa, Mẹ "vào nhà Zacaria và chào bà Isave". Hôm nay, Mẹ cũng đến với từng cuộc đời, ân cần hỏi han hoàn cảnh từng người chúng ta. Năm xưa, khi được Mẹ thăm viếng, "Isave đã được tràn đầy Thánh Thần". Lời chào của Maria đã biến ngôi làng Ain Karem thành Lễ Hiện Xuống đầu tiên. Hôm nay, mỗi lần mở miệng chào "Kính mừng Maria đầy ân phúc", cùng với Mẹ, chúng ta cũng mở đường cho Thần Linh Chúa tiến vào Giáo Hội, tiến vào thế giới và tiến vào cõi lòng chúng ta.

Chính nhờ Mẹ đến thăm, tâm hồn Isave đã tràn ngập niềm vui khiến bà tự hỏi: "Bởi đâu tôi được Mẹ Chúa tôi đến viếng thăm? Vì này tai tôi vừa nghe lời Bà chào, hài nhi liền nhảy mừng trong lòng tôi."

Dấu chân thăm viếng của Mẹ đã để lại niềm vui dạt dào trong lòng Isave. Khi hiện ra với giáo hữu bị bách hại tại đây, Mẹ cũng tái tạo niềm tin của họ. Nếu cuộc truy lùng của quan quân triều đình đã biến La Vang thành khu rừng sợ hãi, Mẹ đã thăm viếng và đã biến nó thành cõi yên hàn an vui. Mẹ không hề trừng phạt quan quân đã gây khốn khó cho con cái Mẹ. Mẹ đến chỉ để cứu thoát họ khỏi cảnh truy bức hung tàn. Thông điệp phát đi từ La Vang là thông điệp của hòa bình và của trái tim Từ Mẫu.

Lịch sử của La Vang cũng giống như lịch sử của dân tộc VN. Đã bao lần đồng bào đồng hương con Lạc cháu Hồng vì chưa biết yêu thương nhau nên đã gây cảnh huynh đệ tương tàn, nồi da xáo thịt, biến đất nước thành một khu rừng chém giết sợ hãi.

Lạy Mẹ Maria,

Chúng con xin Mẹ hãy viếng thăm để cứu chúng con khỏi hận thù thương đau. Ước gì hôm nay, tại linh địa này, viên đá đầu tiên chúng con đặt xuống cũng là viên đá yêu thương, khởi đầu một tương lai yên ấm thuận hòa cho quê hương đất nước thân yêu chúng con. Amen.

-----------------------------

 

15/8-164: Mẹ Maria, niềm hy vọng của nhân loại


(Bài giảng lễ Đức Mẹ Lên Trời của ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên)

 

Khi đọc kinh Mân Côi, chúng ta suy ngắm mầu nhiệm thứ bốn của Mùa mừng: “Đức Chúa Trời 15/8-164


Khi đọc kinh Mân Côi, chúng ta suy ngắm mầu nhiệm thứ bốn của Mùa mừng: “Đức Chúa Trời cho Đức Bà lên trời; ta hãy xin ơn chết lành trong tay Đức Mẹ”. Như thế, nhắc đến sự kiện Đức Mẹ được cất về trời là nhắc đến việc Đức Mẹ kết thúc cuộc đời trần thế một cách thánh thiện, trong sự trung tín với Chúa, đồng thời là lời nhắc bảo chúng ta hãy sống tốt lành để chết thánh thiện trong tay Đức Mẹ. Các tín hữu từ thuở Giáo Hội sơ khai vẫn tin rằng thân xác Đức Mẹ không hề hư nát trong huyệt mộ. Bởi lẽ thân xác ấy đã được chọn là ngai tòa cho Đấng Cứu thế. Hơn nữa, Đức Mẹ đã được Chúa yêu thương gìn giữ để khỏi vương tội tổ tông. Nhưng phải đợi 19 thế kỷ sau, điều các tín hữu vẫn tin này mới được chính thức định tín. Ngày 1-11-1950, Đức Giáo Hoàng Piô thứ XII long trọng tuyên bố tại Đền thờ Thánh Phêrô ở Rôma: “Chúng tôi công bố, tuyên xưng và định tín giáo lý đã được Thiên Chúa mạc khải này: Đức Maria trọn đời đồng trinh, Mẹ Vô nhiễm của Thiên Chúa, sau khi hoàn tất cuộc đời dương thế, đã được đưa lên trời hiển vinh cả hồn lẫn xác”.

Trong lời tuyên tín long trọng trên đây, Đức Giáo Hoàng đã nhắc tới cả 4 đặc ân mà Thiên Chúa ban cho Đức Mẹ, tức là ơn vô nhiễm nguyên tội; ơn trọn đời đồng trinh, ơn làm Mẹ Thiên Chúa và ơn được về trời cả hồn và xác. Lời tuyên tín cũng nhấn mạnh đến khái niệm “cả hồn lẫn xác” để cho thấy việc Đức Mẹ được Chúa đưa về trời khác với việc các thánh được hưởng phúc thiên đàng. Bởi lẽ các thánh hay những người công chính, sau khi chấm dứt cuộc đời này thì thân xác bị hư nát trong lòng đất. Thỉnh thoảng ta thấy một số vị thánh sau nhiều chục năm an táng mà thân xác vẫn còn nguyên vẹn, nhưng thân xác ấy vẫn tồn tại trong huyệt mộ mà không được về trời. Việc khẳng định rõ “cả hồn lẫn xác” nhằm diễn tả đó là một ơn ban đặc biệt, vì theo Giáo lý Công giáo, chỉ mình Chúa Giêsu được lên trời kèm theo một thân xác trần thế, vì màu nhiệm nhập thể đã gắn liền thần tính với nhân tính nơi Đức Giêsu. Như thế, sau Chúa Giêsu, chỉ có Đức Mẹ được tiến vào vinh quang trong tình trạng có cả xác và hồn.

Lời Chúa trong ngày lễ Đức Mẹ lên trời diễn tả vai trò của Mẹ trong công cuộc cứu độ và vẻ đẹp mà Thiên Chúa trang điểm cho Mẹ. Phụng vụ thánh lễ Vọng của chiều ngày 14-8, nhắc lại việc di chuyển Hòm Bia Thiên Chúa từ nhà ông Ôvết Êđôm về Giêrusalem (Bài I) và lời khen ngợi của Chúa Giê-su dành cho ai “lắng nghe và tuân giữ Lời Thiên Chúa” (Tin Mừng). Khi đọc đoạn sách trích trong cuốn Sử biên niên, chúng ta liên hệ với lời tuyên xưng trong Kinh Cầu Đức Bà: “Đức Bà là Hòm Bia Thiên Chúa vậy”. Hòm Bia trong Cựu Ước chứa đựng mười Điều Răn của Thiên Chúa, một chút Manna và cây gậy nở hoa của Ông Aaron. Đức Mẹ là Hòm Bia vì đã cưu mang Lời Chúa đã thành xác thịt và thành của ăn nuôi dưỡng muôn người. Vì thế, lời ca tụng của Chúa Giêsu như muốn nhắc những người hiện diện: “Đức Maria – người phụ nữ đã cưu mang và sinh hạ Chúa – rất vinh dự vì cưu mang Đấng Cứu Thế, nhưng còn vinh dự hơn vì Mẹ luôn biết lắng nghe và thực thi Lời Chúa trong cuộc đời.

Phụng vụ trong thánh lễ chính ngày giới thiệu vẻ đẹp của Đức Mẹ. Người phụ nữ được diễn tả trong sách Khải Huyền là hình ảnh Đức Maria. Mẹ được trang điểm bằng mặt trời, mặt trăng và muôn vì tinh tú. Mẹ được giới thiệu như Nữ Vương trời đất để cùng với Đức Giê-su cai trị vũ trụ. Bài ca tạ ơn mà Đức Mẹ cất lên như một lời tôn vinh quyền năng của Chúa, đồng thời cảm tạ tình thương của Ngài dành cho cả nhân loại. Đức Maria đã đại diện cho cả loài người để tạ ơn Chúa, đồng thời tuyên bố thời đại mới đã đến. Đó là thời của ân sủng và tình yêu thương. Đây cũng là thời mà Chúa thực hiện lời hứa đối với ông Abraham và hậu duệ của ông, tức là những ai tin tưởng và cậy trông nơi lòng từ bi của Chúa.

Đức Mẹ đã sống một cuộc đời thật đẹp. Trước hết, đó là ơn của Chúa, nhưng cũng là sự cộng tác của Mẹ. Trong muôn vàn phụ nữ, Chúa đã tuyển chọn Mẹ, một thiếu nữ đơn sơ và thánh thiện. Chúa đã mời gọi Mẹ cộng tác với Chúa để làm cho chương trình cứu độ được thực hiện. Lễ Đức Mẹ lên trời đem đến cho các tín hữu niềm hy vọng vào hạnh phúc vĩnh cửu. Chúa Giê-su đã lên trời để mở cánh cửa Nước Trời cho chúng ta. Đức Mẹ đã lên trời để khẳng định với chúng ta rằng, con người trần thế cũng có thể bước vào cánh cửa mà Chúa Giê-su đã mở, nếu biết lắng nghe và tuân giữ Lời Thiên Chúa. Việc chiêm ngắm Đức Mẹ lên trời “cả hồn lẫn xác” cũng nhắc nhở chúng ta phẩm giá của thân xác con người. Thiên Chúa cứu chuộc con người trọn vẹn, cả hồn và xác. Sau này, Thánh Phaolô khẳng định, thân xác là đền thờ Chúa Thánh Thần. Vì thế, mọi xúc phạm đến thân xác con người cũng là xúc phạm Đấng Tối cao.

Các nghệ nhân thường trình bày Đức Mẹ lên trời bằng những pho tượng hay hình ảnh Đức Mẹ có đông đảo thiên thần vây xung quanh trong làn mây trắng cuồn cuộn, như một cuộc cung nghinh long trọng từ đất lên trời. Hôm nay mừng lễ Đức Mẹ, mỗi tín hữu chúng ta cũng như đang tham dự vào đoàn rước ấy, và chúng ta thầm cầu mong, xin cho chúng ta khi kết thúc cõi đời, được an bình thanh thản. “Đức Chúa Trời cho Đức Bà lên trời; ta hãy xin ơn chết lành trong tay Đức Mẹ”. “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội khi nay và trong giờ lâm tử”. Ước gì những lời kinh đơn sơ ấy luôn được nhắc lại trong trái tim và môi miệng của mỗi người chúng ta. Amen.

-----------------------------

 

15/8-165: Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời


Dẫn vào Thánh lễ và sám hối

 

Hôm nay, Giáo Hội tôn vinh người nữ tỳ khiêm tốn làng Nazareth, qua người nữ này mà trần 15/8-165


Hôm nay, Giáo Hội tôn vinh người nữ tỳ khiêm tốn làng Nazareth, qua người nữ này mà trần thế nhận được ơn cứu độ. Chúng ta hân hoan vì Mẹ Maria được thông phần vinh quang của Con Mẹ trên thiên quốc. Từ trời cao, Mẹ hằng dõi theo chúng ta. Giờ đây, chúng ta hãy hướng về Chúa, Đấng mà Mẹ Maria đã nói là Người giàu tình yêu và thương xót.

Lạy Chúa Giêsu, lòng thương xót Chúa trải qua từ đời này đến đời kia.
Chúa ban dư đầy những điều thiện hảo cho người khiêm nhường.
Chúa nâng dậy những người hèn mọn biết đặt trọn niềm tin vào Chúa.

Dẫn vào các bài đọc

Bài đọc 1: Kh 11,19a; 12,1-6a.10ab

Mô tả trận chiến giữa Thiên Chúa và sự dữ, với chiến thắng cuối cùng thuộc về Thiên Chúa. Đức Maria và Con của Mẹ là trung tâm điểm của cuộc chiến đấu.

Bài đọc 2: 1 Cr 15,20-26
Chúa Kitô là Adam mới, Đấng xoá bỏ những thiệt hại do Adam cũ gây nên. (Giáo Hội nhìn Đức Maria như Eva mới, Đấng huỷ bỏ những thiệt hại do Eva cũ gây nên).

Tin Mừng: Lc 1,39-56

Đức Maria viếng thăm bà Elizabeth, Mẹ đã cất tiếng hát ngợi khen Thiên Chúa vì muôn điều thiện hảo Người đã ban xuống trên Mẹ và trên dân Người tuyển chọn.

CHÚ GIẢI CÁC BÀI ĐỌC

Bài đọc 1: Sách Khải Huyền mô tả trận chiến cuối cùng giữa Thiên Chúa và sự dữ, hình ảnh tượng trưng là con mãng xà (con rắn của sách Sáng Thế). Người nữ tượng trưng cho Giáo Hội, và con trẻ tượng trưng cho Đức Kitô (Đấng Mêsia). Như người nữ trong thị kiến, Giáo Hội phải trải qua đau khổ và bách hại. Những vần thơ cuối trong bài đọc một, ca ngợi chiến thắng của Thiên Chúa và Đức Kitô.

Là Mẹ của Đấng Cứu Thế, Đức Maria là trung tâm của trận chiến giữa Thiên Chúa và những quyền lực sự dữ, mà bài đọc trích sách Khải Huyền nói đến. Cho nên, thật hoàn toàn phù hợp khi Mẹ cùng được thông phần vinh quang chiến thắng (qua biến cố Mẹ lên trời).

Bài đọc trích sách Khải Huyền rất có ý nghĩa trong việc khích lệ các Kitô hữu tiên khởi, những người đang trải qua đau khổ và bị bách hại lúc bấy giờ. Bài đọc cũng khẳng định chắc chắn rằng cuối cùng Thiên Chúa sẽ chiến thắng. Điều này cũng sẽ khích lệ chúng ta. Thiên Chúa dành cho Mẹ Maria một sự quan tâm đặc biệt. Người cũng sẽ quan tâm, chăm sóc chúng ta. Người không tránh cho ta khỏi phải chạm trán với sự dữ, nhưng Người sẽ giúp chúng ta vượt thắng được chúng.

Bài đọc 2: Chúa Giêsu là Adam mới, Đấng mà qua sự vâng phục của Người, đã phục hồi cho chúng ta những ân sủng đã bị lấy đi bởi sự bất tuân phục của Adam thứ nhất. Giáo Hội nhìn thấy nơi Đức Maria như Evà mới, Đấng mà qua sự vâng phục của Mẹ trước Thiên Chúa, đã xóa bỏ những thiệt hại đã gây nên bởi sự bất tuân phục của Eva thứ nhất.

Trong ngày Truyền tin, Mẹ đã nói: "Việc ấy xảy ra cách nào (…). Tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1,34a.38). Mẹ đã đón nhận công việc mà Chúa giao phó cho Mẹ. Ngay cả khi Mẹ không thể nào thấu hiểu hết những ẩn ý trong đó, Mẹ vẫn cứ tin rằng Thiên Chúa sẽ ban cho những sự trợ giúp cần thiết.

Ngày hôm nay, biết bao người đang tìm kiếm sự thành toàn và hạnh phúc qua việc "thực hiện chính mình". Họ tin rằng hạnh phúc hệ tại ở chỗ không bị ràng buộc, cam kết, không phải chịu trách nhiệm về điều gì cả. Đức Maria là một mẫu gương tuyệt hảo cho chúng ta, bởi vì cuộc sống áp đặt trên ta hàng loạt những bổn phận, bổn phận với chính mình, với người khác và với Thiên Chúa. Những ai biết đón nhận bổn phận như Đức Maria đã làm, có thể sẽ không tìm thấy hạnh phúc và sự thành toàn trong cái nhìn trần thế, nhưng trong cái nhìn của Thiên Chúa thì họ thực sự đã đạt được.

Bài Tin Mừng: Sau biến cố Truyền Tin, Mẹ có quyền nghỉ ngơi và tập trung lo cho chính mình. Thế mà thay vào đó, Mẹ đã vội vã lên đường thăm bà chị họ mình là Elizabeth, người cũng đang chờ đợi sự chào đời của đứa con. Cuộc viếng thăm của Mẹ là một nghĩa cử quý báu đối với Elizabeth. Nhưng Mẹ cũng nhận lại được lợi ích từ cuộc viếng thăm này. Đây cũng là điều thường tình trong mọi cuộc viếng thăm. Khi chúng ta đến thăm ai, chúng ta cho rằng bản thân mình đã làm một việc tốt cho người đó. Điều đó đúng. Nhưng chính chúng ta cũng được lợi, ít là chúng ta học được nơi người khác cách thức đối phó với những tình huống khó khăn như thế nào.
Elizabeth dùng những từ ngữ tốt đẹp để khẳng định với Maria: "Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em" (Lc 1,45). Đề tài những ai tin được chúc lành là đề tài trung tâm của Tin Mừng.

Tuy nhiên, vấn đề không đơn giản chỉ là tin mà thôi, nhưng là phải tin và sống theo niềm tin ấy. Đức Maria được chúc phúc, không đơn giản vì Mẹ đã tin, nhưng vì Mẹ đã hành động theo đức tin. Niềm tin tôn giáo nơi Mẹ không phải chỉ là vấn đề tình cảm. Đó là điều đã được biến đổi để trở thành hành động.

Đức tin không luôn luôn đưa đến những sự dễ dãi. Thường thì ngược lại. Đức tin buộc chúng ta phải chiến đấu, mà không bảo đảm rằng có kết quả hạnh phúc. Một người sống đức tin sẽ không bao giờ thoái lui.

Đức Maria là môn đệ đầu tiên và hoàn hảo nhất của Chúa Giêsu. Điều này giải thích tại sao Giáo Hội đề cử Mẹ như mẫu gương cho mọi người chúng ta và tại sao chúng ta lại tôn vinh Mẹ trong thánh lễ hôm nay. Chúng ta cũng sẽ được chúc phúc như Đức Maria, nếu chúng ta lắng nghe Lời Chúa và thực hành lời Người.

-------------------------------

 

15/8-166: Kinh Kính Mừng

 

Vào năm 1917 Đức Mẹ đã hiện ra với ba trẻ nhỏ ở Fatima nước Bồ Đào Nha. Lucia 10 tuổi, Jacinta 15/8-166


Vào năm 1917 Đức Mẹ đã hiện ra với ba trẻ nhỏ ở Fatima nước Bồ Đào Nha. Lucia 10 tuổi, Jacinta 7 tuổi và Phaxico 9 tuổi. Khi các em đang chăn cừu, một luồng sáng chói chiếu trên nền trời; bỗng nhiên Đức Mẹ hiện ra và nói với các em: “Ta từ trời đến”. Từ tháng năm đến tháng mười, Đức Mẹ hiện ra với các em 6 lần, lần hiện ra cuối cùng có phép lạ mặt trời nhảy múa và thánh gia thất hiện ra, trong nhân tính của Chúa ban phép lành cho đám đông. Đức Mẹ mặc áo choàng núi Camelô, hàng ngàn người đã chứng kiến phép lạ và chứng thực sự kiện xảy ra.

Dù bạn tin hay không tin sư kiện Fatima. Bạn hãy chú ý đến những gì em Jacinta làm trong những năm sau đó. Em lên núi và đọc kinh “Kính Mừng”, em ngừng lại từng chữ. Em đọc “Kính Mừng” rồi đợi một tiếng dội lại từ vách núi, chậm rãi và kính cẩn em đọc Kính Mừng Maria một cách say sưa.

Em bé đó được nhận ra, cũng vậy bạn và tôi phải ý thức rằng: những lời Kính Mừng Maria được đem từ trời xuống, phần đầu, “Kính mừng Maria đầy ơn phúc” do sứ thần nói với Maria: Người sẽ làm Mẹ Thiên Chúa, phần nhì “Bà có phúc lạ hơn mọi người phụ nữ và con lòng bà gồm phúc lạ” là lời của Bà Elisabeth được linh ứng từ trời trong bài Tin Mừng hôm nay, phần cuối cùng do Giáo hội của Chúa thêm vào cũng với nghĩa được đem xuống từ trời, như khi Đức Mẹ hiện ra ngày 19.8.1917, Mẹ nói với ba em ở Fatima: “Hãy cầu nguyện cho kẻ có tội”.

“Khi nay và trong giờ lâm tử” rất phù hợp với ngày lễ Đức Mẹ lên trời, nghĩa là vào cuối cuộc đời, Đức Mẹ được rước về trời cả hồn lẫn xác. Chúa Giêsu không muốn để Mẹ thanh sạch của Người phải chịu cảnh hư nát trong mồ. Đó là chân lý vinh quang sáng ngời chúng ta mừng lễ hôm nay.

Cùng với Đức Mẹ, chúng ta vui mừng, chúng ta muốn nói với Người rằng: chúng ta vui mừng, chúng ta muốn nói với Người bằng ngôn ngữ của Người, nhưng tốt hơn vẫn là những lời trong kinh Kính Mừng, những lời từ trời đem xuống. Như Sacinta, chúng ta muốn đọc từng lời với tình mến yêu và kính cẩn. Chúng ta mong được nghe từng tiếng dội từ trời.

Đức Maria lên trời là mầu nhiệm thứ tư mùa mừng của chuỗi Môi khôi. Đức Maria thăm viếng trong câu chuyện bài Tin Mừng hôm nay là mầu nhiệm thứ hai năm sự vui. Sau thánh lễ hôm nay, chúng ta đọc to kinh kính mừng trong chuỗi Môi khôi để kính nhớ hai biến cố vui mừng và vinh hiển trong cuộc đời Chúa Giêsu và mẹ Người.

Lời kinh chúng ta sẽ dội lại từ bàn thờ, nơi đây có Chúa ở cùng chúng ta, nơi dây quả phúc của lòng Đức Mẹ lại càng tái sinh. Nơi đây chúng ta xin được ở trên thiên đàng với mẹ Thiên Chúa. Nơi đây chúng ta cử hành nghi lễ cầu nguyện giải cứu chúng ta là những kẻ tội lỗi. Nơi đây chúng ta nghĩ đến sự chết của chúng ta khi chúng ta cử hành sự chết của con Đức Maria, Chúa chúng ta, Đấng cứu độ chúng ta. Xin Mẹ Thiên Chúa giúp chúng ta cử hành hy lễ của con Mẹ với tất cả những gì chúng ta có.

Xin Chúa chúc lành bạn. Amen.

-------------------------------

 

15/8-167: Tôi chỉ yêu người

 

William Lyon Phelps là một nhà phê bình văn học nổi tiếng, một giáo sư Anh văn tại đại học 15/8-167


William Lyon Phelps là một nhà phê bình văn học nổi tiếng, một giáo sư Anh văn tại đại học Yale từ năm 1901 đến 1933. Những tác phẩm của ông đã hình thành khuynh hướng văn chương Mỹ lúc bấy giờ. Dưới đây là điều ông viết về lễ Đức Mẹ lên trời. Lễ chúng ta mừng hôm nay.

Dù tôi không phải là một người công giáo, tôi luôn luôn dự lễ tại một nhà thờ công giáo trong ngày lễ Đức Mẹ lên trời. Từ năm 1928 nhà thờ công giáo gần nhất ở cảng Custin tiển bang Michigan cách chỗ tôi ở chừng 12 km. Tôi nhớ nhà thờ này mỗi năm trong ngày ấy để tôn kính Đức Mẹ. Nên nhớ rằng: người công giáo không thờ Đức Trinh Nữ. Họ thờ một mình Thiên Chúa nhưng tôn kính Đức Maria và cầu khẩn với Người.

Đây là một người không Công giáo, một giáo sư học vấn cao tại một đại học quan trọng, một nhà văn đáng kính, một nhà phê bình văn học đã bầy tỏ lòng trìu mến Đức Trinh nữ trong ngày lễ lên trời vinh hiển này. Ông viết trên một cột báo được nhiều người đọc, người có tín ngưõng cũng như không tín ngưỡng. Ong Phelps thích ý tưởng Đức Mẹ cất nhắc lên trời. Tôi thích ý tưởng đó, bạn cũng vậy, nhiều người không công giáo cũng vậy, họ yêu mến, ngưỡng mộ Mẹ Thiên Chúa.

Rất nhiều người công giáo, vâng, và không công giáo họ có thể biết rất ít hay không biết gì về thần học liên can đến đức Maria, nhưng họ khâm phục và yêu mến Người.

Hơn nữa, ngoài mọi giáo huấn chính thức của Giáo hội Chúa Kitô, đối với Đức Maria là lòng mến yêu thâm sâu của chúng ta đối với người phụ nữ được lựa chọn trong các người phụ nữ để cho con của Thiên Chúa, Đấng cứu thế Giêsu bản tính của nhân loại.

Tôi có quyền yêu mến Người mặc dù tôi chưa hiểu người đầy đủ. Chúng ta có thể thích một người nào đó dù chúng ta không biết chắc và đầy đủ tại sao chúng ta thích họ. Tỷ dụ chúng ta thích một người phụ nữ, những phụ nữ khác chúng ta không thích. Dĩ nhiên chúng ta thích, thích người này hơn người khác. Một ít người chúng ta thích nhất, trong vài trường hợp, chúng ta thích hay yêu một người phụ nữ nào đó nhất. Tôi có quyền yêu Đức Mẹ Maria hơn tất cả.

Người là một nhân vật lịch sử. Người thực sự hiện hữu, Người được Thiên Chúa Cha và Chúa Thánh Thần yêu thương, Người được Chúa Giêsu, Con của Người cũng là Con của Thiên Chúa yêu thương.

Tôi yêu Người vì Chúa Giêsu yêu Người.
Những nhà thi sĩ nổi tiếng, các họa sĩ, nghệ sĩ yêu mến Người. Những người như William Phelps yêu mến Người. Họ ý thức rằng: đây là một phụ nữ trọn hảo, được chính Thiên Chúa làm cho trọn hảo.

Hôm nay, ngày lễ Mẹ lên trời, chúng ta nói với Mẹ: “Chúng con yêu Mẹ, không phải vì Mẹ được lên trời cả hồn và xác; nhưng vì chính Mẹ, Mẹ đáng yêu hơn mọi phụ nữ”

Xin Chúa chúc lành bạn.

----------------------------

 

15/8-168: Lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời


(Suy niệm của Lm. Vũ Xuân Hạnh)

 

Để chuẩn bị đón mừng ngày lễ Đức Mẹ được đưa lên trời cả hồn và xác, chúng ta cùng nhau ôn 15/8-168


Để chuẩn bị đón mừng ngày lễ Đức Mẹ được đưa lên trời cả hồn và xác, chúng ta cùng nhau ôn lại vị trí của Mẹ chúng ta trong Thánh Kinh. Từ đó, ta biết giục lòng yêu mến Mẹ nhiều hơn và bắt chước Mẹ luôn sẵn sàng vâng theo thánh ý Chúa.

- Từ thủơ đời đời Mẹ đã có chỗ đứng quan trọng trong Tin-Mừng Nguyên-Thủy, ngay khi Evà bị con rắn quyến-rũ phạm tội, đem cái chết đến cho nhân-loại thì Giavê Thiên-Chúa đã phán bảo con rắn: "Bởi ngươi đã làm thế thì ngươi hãy là đồ chúc dữ giữa mọi thú-vật cùng dã-thú hết thảy! Ngươi hãy lê bụng và ăn đất-bụi mọi ngày đời ngươi. Ta sẽ đặt hận-thù giữa ngươi và NGƯỜI ĐÀN-BÀ, giữa dòng giống ngươi và dòng giống nó, dòng giống nó sẽ đạp đầu ngươi còn ngươi sẽ táp lại gót chân!" (Khởi Nguyên 3,14-15).

-Trong suốt bốn ngàn năm mong-đợi Đấng Cứu-Thế, Mẹ đã được các Tiên-Tri trong Cựu-Ước loan-báo sẽ thụ-thai và sinh-hạ một con trai đặt tên là Ê-ma-nu-el, có nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta: "Chính Đức Chúa sẽ cho các ngươi một dấu-lạ: Này một TRINH NỮ sẽ thụ-thai và sinh-hạ một con trai, và Bà sẽ đặt tên con là Ê-ma-nu-e!" (Isaiia 7, 14).

-Tiên-Tri Mica cũng nói về Mẹ và Con của Mẹ: "Người sẽ phó-nộp chúng cho tới thời-kỳ TRINH-NỮ sinh Con và số-sót anh em Ngài về với Israel. Ngài sẽ bền-vững, Ngài sẽ chăn-dắt dựa vào quyền-năng Giavê, nhờ Uy-Danh Giavê Thiên-Chúa của Ngài. Và chúng sẽ được an-cư, vì bấy giờ Ngài sẽ nên lớn-lao cho đến mút cùng trái-đất!" (Mi-ca 5,2-3).

- Tiên-Tri Zacarya cũng tiên-báo về Mẹ: "Giavê phán: Hãy reo lên! Hãy vui-mừng, hỡi NỮ-TỬ SION! Này Ta đến lưu-trú ở giưã ngươi!" (Za-ca-ry-a 2,14).

- Trong ngày Truyền-Tin, Thiên-Sứ Ga-bri-el đã kính-cẩn chào Mẹ: "KÍNH MỪNG MARIA ĐẦY ƠN-PHÚC, Đức Chúa Trời ở cùng Bà, Bà có phúc hơn mọi người nữ!" (Luca 1,28).

- Bà Isave nghe Mẹ chào, được tràn đầy Thánh-Linh, đã hân-hoan lớn tiếng thốt lên: "Trong nữ-giới có EM LÀ NGƯỜI DIỄM-PHÚC, và đáng chúc-tụng thay hoa-quả lòng Em! Và bởi đâu tôi được thế này, là Mẹ Chúa tôi đến thăm tôi? Vì tai tôi vừa nghe tiếng Em chào, thì hài-nhi trong dạ tôi nhảy mừng! Phúc cho Em là người đã tin Lời Thiên Chúa phán sẽ thành-sự!" (Luca 1, 42-45).

- Đang khi Chúa Giêsu giảng-dạy, thì giữa dân-chúng có một bà cất tiếng nói với Ngài: "Phúc cho LÒNG DẠ CƯU-MANG THÀY, và vú đã cho Thày bú!" (Luca 11,27).

- Đứng bên khổ-giá Đức Giêsu có Mẹ Ngài và người chị họ của Mẹ Ngài là Maria vợ ông Clôpát, và Maria người Magđala. Vậy Đức Giêsu thấy Mẹ Ngài và môn-đồ Ngài yêu-mến đứng bên cạnh thì nói với Mẹ: "Thưa Bà, đây là con Bà!". Đoạn lại nói với môn-đồ: "Đấy là Mẹ con!". Và từ giờ đó môn-đồ đã lãnh lấy Bà về nhà mình." (Gioan 19,25-27).

Chúng ta chạy đến với Mẹ để nhờ Mẹ an-ủi, hộ-vực, dìu-dắt, chia-sẻ kinh-nghiệm và bí-quyết nên thánh. Chúng ta chạy đến với Mẹ để nhờ Mẹ cầu thay nguyện giúp với Thiên-Chúa cho chúng ta, tiến-cử chúng ta với Thiên-Chúa, để chắc-chắn một ngày kia chúng ta cũng sẽ gia-nhập hàng-ngũ các Thánh, cùng với Mẹ là Nữ-Vương các Thiên-Thần và các Thánh Nam Nữ chúc-tụng tôn-vinh Thiên-Chúa, Cha chúng ta!

--------------------------------

 

15/8-169: Lễ Đức Maria Hồn Xác Lên Trời


(Suy niệm của Noel Quesson - Trích trong ‘Lời Chúa Cho Mỗi Chúa Nhật’)

 

Ngày lễ này đã được các Giáo Hội Phương Đông và Phương Tây mừng kính trọng thể từ thế 15/8-169


Ngày lễ này đã được các Giáo Hội Phương Đông và Phương Tây mừng kính trọng thể từ thế kỷ thứ V. Đức Giáo Hoàng Piô XII đã xác định Đức Mẹ lên trời như một tín điều của Đức tin ngày 1 tháng mười một 1950. “Đức Mẹ lên trời là đặc ân qua đó Mẹ Vô Nhiễm Nguyên tội của Thiên Chúa được vinh thăng cả hồn lẫn xác khi đời sống trần gian của Mẹ chấm dứt, mà không chờ đến ngày sống lại sau cùng”. Điều này là đức tin của Giáo Hội từ lâu đời, và một chứng cứ, giữa nhiều chứng cứ khác, là cửa kính màu. Đức Maria Ly Trần của nhà thờ chính tòa Angers, vào thế kỷ thứ XII.

“Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi. Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới; từ nay hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc. Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả, danh Người thật chí thánh chí tôn..."

Đức Maria là người nữ đầu tiên "được cứu”. Bài ca ngợi khen, Maglnficat, của Mẹ đã dâng mọi vinh quang lên "Cứu Chúa", Đấng "Toàn Năng". Trường hợp đặc biệt của Đức Maria được Thiên Chúa cho cả hồn lẫn xác đi vào vinh quang của Người, không do bởi công nghiệp của Mẹ nhưng do ân sủng của Con Mẹ là Đức -Giêsu. Mẹ nhận mình là “nữ tỳ bèn mọn" của Đức Chúa. Bài ca ngợi khen của Mẹ không có điều gì như một bài ca của lòng kiêu hãnh. Đó là một thú nhận của lòng khiêm hạ ! Tất cả những gì của Mẹ đều do Thiên Chúa ban cho bội ân sủng và được dâng lại cho Thiên Chúa bằng lời ngợi khen. Chính vì thế lòng sùng kính chân thật Đức Maria luôn hướng chúng ta về mầu nhiệm Đức Kitô. Để hiểu sự vinh thăng của Đức Trinh Nữ, trước tiên chúng ta phải chiêm niệm vinh quang của Đức Giêsu phục sinh.

Đức Giêsu đã chỗi dậy từ cõi chết mở đường cho những ai yên giấc ngàn thu... mọi người nhờ liên đới với Đức Giêsu, cũng được Đức Giêsu cho sống. Nhưng mỗi người theo thứ tự của mình: mở đường là Đức Kitô, rồi khi Đức Kitô quang lâm, thì đến lượt những kẻ thuộc về Người... (Cô-rin-tô 15,20-23).

Trong Đức Giêsu Kitô, "thới kỳ sau hết" đã bắt đầu.

Đó là thời cánh chung, theo cách gọi của các nhà thần học, do chữ "eschaton" = sau hết. Khi chúng ta nói đến thời kỳ sau hết, chúng ta luôn luôn có khuynh hướng nghĩ đến giới hạn cuối cùng, đến giây phút cuối cùng của thời gian mà chúng ta không có phương tiện nào để tưởng tượng và chúng

ta quy chiếu vào một tương lai xa vời nào đó. Hỡi ôi, cám dỗ để chúng ta không quan tâm đến ngày "tận thế" là chúng ta cho rằng tận thế ấy không đến lượt chúng ta.

Nhưng từ "tận thế" hay "thế mạt" theo nghĩa cánh chung đích thật, chỉ ra một thực tại hiện nay "đã bắt đầu”, mặc dù "chưa hoàn tất". Cánh chung theo nghĩa này chính là “mục tiêu” hướng dẫn một hành động ngay khi nó mới bắt đầu. "Đức Kitô đã sống lại... (đứng đầu mọi kẻ sống...tất cả sẽ sống lại... mỗi người theo thứ tự của mình). Trong Đức Giêsu Kitô, chính thực tại tối hậu của Thiên Chúa và thực tại tối hậu của con người đã xuất hiện sự sống lại không chỉ là "tận cùng của các sự vật", nhưng là nền tảng của các sự vật". Trong Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa đã mạc khải cho chúng ta bí mật sâu xa của công trình sáng thế của Người. Chính vì để dẫn chúng ta đến thực tại kỳ diệu của sự sống mà Người đã lên chướng trình cho chúng ta ngay từ khởi điểm. Trong Đức Giêsu sống lại thời sau hết, mục tiêu của lịch sử đã chạm đến chúng ta" (1 Côrintô 10,11).

Bởi ơn đặc biệt, Đức Maria đã đi đến vinh quang ấy và sự phát triển hoàn toàn chính là dự án của Thiên Chúa. Đức Maria có thể nói là "nguyên mẫu” của những gì mà Thiên Chúa đang làm với toàn thể tạo vật. Trong Đức Giêsu Kitô, điều đã đến cho Đức Maria, phải xảy đến với toàn thể Giáo Hội, và với mỗi người chúng ta. Sự biến hóa từ con người phải chết đến con người hằng sống đã hoàn toàn thành tựu trong Đức Giêsu Phục sinh, đã được Đức Maria, mẹ Người tham dự trước. Đối với phần còn lại của nhân loại sự biến hóa ấy đang được tiến hành. Khi mà lịch sử còn diễn tiến thì khuôn mặt chung cuộc, một cách tạm thời, mỗi người chúng ta bị bóng tối sự chết đánh dấu, và chúng ta "Xin mang lấy vào thân cho đủ mức những gian nan thử thách Đức Kitô còn phải chịu vì lợi ích cho thân thể Người là Hội Thánh". (Cô-lô-xê 1,24)

Rồi có điềm lớn xuất hiện trên trời: một người Phụ Nữ, mình khoác mặt trời, chân đạp mặt trăng, và đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao. Bà có thai, đang kêu la đau đớn và quằn quại vì sắp sinh con (Khải Huyền 12, 1-2)

Kêu la... đau đớn và... quằn quại. Khi mà Lịch sử còn tiếp diễn thì đối với chúng ta, nhân loại còn phải chịu khổ như thế. Những bản tin thế giới qua báo chí và truyền hình đem đến cho chúng ta cảnh tượng bi thảm ấy mỗi ngày. Trong ngày mà chúng ta kỷ niệm sự vinh quang và hạnh phúc của Đức Maria, Giáo Hội nhắc nhở chúng ta tình mẫu tử của Đức Maria đau đớn biết chừng nào, khi Mẹ sinh ra chúng ta, dưới chân thập giá.

Như thế mỗi một thử thách của chúng ta là một lần sinh đẻ. Đau khổ của chúng ta hiện nay là sự sinh nở một thế giới mới, cùng với Đức Kitô trên thập giá.
Quả thế, như mọi người vì liên đới với Ađam mà phải chết, thì mọi người nhờ liên đới với Đức Kitô, cũng được Thiên Chúa cho sống. Sau đó mọi sự đều hoàn tất, khi Người đã tiêu diệt hết mọi quân thần, mọi quyền thần và mọi dũng thần, rồi trao vương quyền lại cho Thiên Chúa Cha. Thật vậy, Đức Kitô phải nắm vương quyền cho đến khi Thiên Chúa đặt mọi thù địch dưới chân Người. Thù địch cuối cùng bị tiêu diệt là sự chết. (1 Cô-rin-tô 15, 22-26)

Một số đầu óc bằng lòng với "tính bất tử của linh hồn". Tại sao, họ nói, còn nói đến "xác loài người ngày sau sống lại"?

Vả lại chúng ta tin rằng Ngôi Lời đã trở nên người phàm và trong mỗi Thánh Thể, Đức Giêsu làm cho chúng ta thành Mình Người... và Đức Maria đã được Thiên Chúa cưu mang cả hồn lẫn xác. Đây không phải là một sự tình cờ hay phụ thuộc. "Ai ăn thịt và uống máu tôi thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết" (Gioan 6,39-54). Trong ngày lễ Đức Mẹ Hồn Xác lên trời này, chúng ta phải tìm lại ý nghĩa của “thân xác".

Thân xác chúng ta không phải là một yếu tố bên ngoài, mà là một yếu tố cấu tạo nên chính chúng ta, bởi ý muốn của Đấng Sáng Thế. Triết học hiện đại, về điểm này, trở lại với trực giác của Kinh Thánh và bác bỏ chủ nghĩa nhị nguyên của Descartes. Thay vì nói rằng chúng ta gồm có một linh hồn và một thân xác, đúng hơn nên nói rằng "chúng ta là một thể xác có tâm linh" hoặc "một tinh thần nhập thể". Thánh Tôma Akinô đã nói: "Thiên Chúa đã cho con người tinh thần và bàn tay". Chỉ là một vật, vật chất, mà nó hoàn toàn thấm nhuần trí tuệ và chỉ làm điều mà trí óc tôi sai khiến nó. Ngược lại, tinh thần tôi không thể làm được gì nếu không có bàn tay tôi không có sự phân ly nào giữa hai khía cạnh ấy của nhân tính tôi: không có gì hoàn toàn là thân xác, và cũng không có gì hoàn toàn là tâm linh.

Khi chúng ta nói về "linh hồn", chúng ta không nói về một thứ "sự vật" phân ly và đối lập với thân xác. Chúng ta sử dụng cách nói này để nói rằng "nhân vị -con người" trường tồn qua mọi biến đổi thể chất mà nó chịu nhận qua tiến trình lịch sử của một con người: ông cụ già 80 tuổi này với thân xác mỏi mòn và đau đớn cũng là một người với người trưởng thành 40 tuổi ấy khi xưa đã làm việc nhiều với em bé 10 ngày tuổi đã cựa quậy nhẹ nhàng trong nôi của bé. Thân xác ấy đã biến đổi nhiều. Tuy nhiên, đó cũng là một con người (một nhân vị). Yếu tố thường hằng đó, người ta gọi nó là "linh hồn". Vậy, nói như thế không sai. Nhưng vẫn còn chân lý về người nam và người nữ, theo dó Đấng Tạo Hóa đã làm cho chúng ta có nam và có nữ; chính vì thân xác chúng ta là một phần trong toàn thể căn tính của chúng ta. Đức Giêsu có một thân xác. Và sự sống lại của thân xác không phải là một điều tùy phụ, nhưng là một bộ phận trong kế hoạch của Thiên Chúa.

Chúng ta biết rằng việc Đức Maria lên trời cả hồn lẫn xác nằm trong đường hướng mà Thiên Chúa muốn thực hiện cho tất cả chúng ta. Thiên Chúa muốn tiêu diệt hết mọi quyền lực của sự ác cho đến kẻ thù địch cuối cùng là sự chết.

Hồi ấy, bà Maria lên đường vội vã, đến miền núi, vào một thành thuộc chi tộc Giu-đa. Bà vào nhà Da-ca-ri-a và chào hỏi bà Ê-li-sa-bét. Bà Ê-li-sa-bét vừa nghe tiếng bà Maria chào, thì đứa con trong bụng nhảy lên, và bà được tràn đầy Thánh Thần... (Luca 1, 39-41)

Tin mừng về sự Nhập thể không ngừng đưa chúng ta về những thục tại của thân xác. Ở đây, Chúa Thánh Thần sử' dụng cái bụng của hai người phụ nữ để ban tràn đầy Thần Khí cho nhân loại. Thân xác không phải là một vật xấu xa, nặng nề và đáng khinh. Ai khinh khi thân xác là khinh khi Thiên -Chúa. Ai làm hại thân xác, là làm hại một "hình ảnh của Thiên Chúa". Sự Mông Triệu của Đức Maria đã nẩy mầm từ hạt giống chính là cảnh tượng đáng khâm phục này.

Đức Giêsu, con lòng bà gồm phúc lạ... và phần bà, bà được chúc phúc giữa tất cả những người phụ nữ..."

Thật vậy, chúng ta phải kính trọng sự im lặng cũng như sự kín đáo của Kinh Thánh về lúc cuối đời của Đức Maria. Chúng ta không có bất kỳ chi tiết nào về cái chết của Thánh Nữ Đồng Trinh - Đức Maria đã sống những ngày cuối cùng của cuộc đời Mẹ trong sự vô danh và im lặng.. Như thế nào? Không ai biết được. Không ai kể lại với sự chính xác. Người ta chỉ biết rằng Đức Maria chết "sau Con Mẹ" bởi vì Mẹ đã đứng dưới chân thánh giá nhìn con Mẹ từ trần.

Như Tin Mừng, chúng ta hãy chấm dứt sự suy niệm của chúng ta hôm nay bằng cách chiêm ngắm Đức Maria trên dưới tuổi đôi mươi lên đường vội vã, đi bộ đến miền núi xứ Giu-đê, với đứa con Mẹ cưu mang trong bụng... Mẹ đến nhà người chị họ, để giúp đỡ bà: Mẹ sẽ ở lại đó ba tháng !

Sống với Mẹ Maria thật tốt đẹp biết bao ! Mẹ của Thiên Chúa đã sống trọn đời Mẹ trong tình yêu thương tuyệt đối của Đức Chúa và của những người khác: Ngọn lửa thầm khi nhưng nong nàn không để lại "tro tàn". Giờ mà thân xác Mẹ chết, chính là giờ dâng tiến của lễ tình yêu sau cùng của Mẹ, không để sót cái gì. Trong thân xác hoàn toàn được linh hồn ấy tác động, không còn gì chịu hư nát: Tất cả đã được thêu hoá.

------------------------------

 

15/8-170: Suy niệm của R. Gutzwiller


THĂM VIẾNG (1, 39-45)

1. Những sự kiện

 

Cuộc gặp gỡ giữa bà Êlisabét và Đức Maria mang nhiều ý nghĩa, một khi được liên kết với hai 15/8-170


Cuộc gặp gỡ giữa bà Êlisabét và Đức Maria mang nhiều ý nghĩa, một khi được liên kết với hai khung cảnh Kinh thánh ta thấy ở trên. Êlisabét biểu hiệu Israel: già cả, gia đình tư tế, bị son sẻ tự nhiên, và nhờ phép lạ của Thiên Chúa trở thành người mẹ có con cái sinh ra vị tiền hô của Đấng Cứu Thế. Maria tượng trưng cho Giáo Hội: trẻ trung, trinh tiết, thành người Mẹ nhờ phép lạ của Thiên Chúa, sắp sinh hạ là Đấng Messia, Đấng Cứu độ. Hai người mẹ mà việc làm Mẹ mang một tầm vóc lịch sử, đã tìm gặp nhau và cùng liên kết với nhau đe cùng tụng ca vinh quang Thiên Chúa.

Maria lên đường đến thăm viếng phần vì –một cách rất tự nhiên- muốn thông dự vào biến cố vĩ đại và rồi bày tỏ tâm tình của mình, nhưng cũng vì muốn giúp đỡ và cuối cùng là đón nhận một dấu hiệu Thiên Chúa đã chỉ: như vậy, Mẹ đã đi sâu vào chương trình vĩ đại của Thiên Chúa.

Đằng sau tất cả những cái đó, người ta khám phá ra được sáng kiến, quyết định cá nhân của Mẹ. Một lời nói của Thiên Thần và sự thúc đẩy của ơn thánh đã đủ. Mẹ hiểu và Mẹ hành động. Tin mừng nói thêm là Mẹ vội vã. Ưng thuận thánh Ý Chúa, vâng lời tiếng mời gọi của Ngài thì không được chậm trễ và nặng nề, nhưng vui vẻ và lanh lẹ. Người nào đi theo tiếng gọi của Thiên Chúa và được Thần Khí thúc đẩy, phải bước đi với tâm hồn hài lòng và tinh thần cởi mở, dầu trên con đường đầy khó khăn.

Việc Maria cất bước đâu phải việc tự nhiên. Một thiếu nữ trẻ tuổi tự ý làm một cuộc hành trình dài ba ngày đường, rồi ở lại cả mấy tháng trời xa nhà xa cửa, hẳn phải là cái gì gây kinh ngạc cho người Do thái thời đó- và có thể được coi là quá đáng. Nhưng Maria đã để kệ tất cả nhưng cái nhìn phàm trần đó một khi muốn thực thi Thánh Ý Chúa.

2. Lời nói

Đức Maria đến chào thăm Êlisabét trong căn nhà của Giacaria. Chúng ta không biết đó là lời chào bình thường hay cùng lúc đó truyền đạt sứ điệp thien thần đã cho biết liên quan đến biến cố kỳ diệu kia. Trong mọi trường hợp, lời nói của Đức Maria làm cho Êlisabét và con bà đang mang trong lòng một sự cảm động và nhiệt tình cả về tự nhiên lẫn thần hứng của Thánh Than. Chính vì đó mà khi đáp lại lời chào, bà Êlisabét đã thốt lên với vẻ cảm động sâu xa: Em có phúc hơn mọi người nữ, và hoa quả bởi lòng em thật đáng chúc phúc. Phần đầu của Kinh Kính mừng được Thiên thần Chúa phát biểu, phần sau đã được Êlisabét xướng lên, và do đó bởi lòng thán phục của loài người. Sau này Giáo Hội đã thêm vào phần thứ ba trong ý nghĩa và theo tinh thần của con người tội lỗi.

Kinh Kính mừng như vậy hoàn toàn có nguồn gốc Kinh Thánh và Giáo Hội, đã là một trong những lời kinh đẹp nhất, sâu xa nhất, nhờ nó mà Êlisabét và Cựu ước nôí kết với Đức Maria và Tân ước, tất cả kết thúc bằng lời Giáo Hội, trong đó hết thảy đều quy tụ về.

Hoa quả của lòng Đức Nữ Trinh đã làm nên đối tượng cho việc vinh chúc, chính vì thế ta hiểu được tại sao Đức Mẹ đáng được ca tụng giữa hàng phụ nữ. ….Việc làm Mẹ của Đức Maria là một bí nhiệm của vẻ lớn lao của Mẹ, đồng thời cũng nói lên sự bí mật trong việc sùng kính Đức Mẹ của tất cả những ai suy nghĩ và tin tưởng theo Kinh Thánh.

Và bởi đâu tôi được Mẹ Chúa đến với tôi?. Bà Êlisabét, dù đã cao niên, cũng nhận thức được và tuyên xưng sự nhỏ bé của mình, ngạc nhiên và sung sướng, ca tụng người em họ này Mẹ của Chúa tôi: bà biết trẻ nhỏ nằm trong lòng trinh nữ là ai, và trẻ này sẽ làm Chúa theo hai nghĩa của danh từ. Vì Ngài là Chúa của mọi người, nên cũng là Chúa của Bà và là Chúa là Vua của vị loan tin, của vị tiền hô mà Bà sắp sinh hạ.

Phúc cho em là kẻ đã tin: vì tất cả những gì Chúa đã phán với em, sẽ nên trọn. Đức Maria thật đã cao cả trong sự kiện, và nhiệm vụ làm Mẹ của Chúa; Mẹ còn cao cả xét về cá nhân Mẹ, vì lòng tin vào sức mạnh và quyền năng của Lời Thiên Chúa. Đức tin này hoàn toàn nghịch laị với sự cứng tin của loài người.

Ngay từ khởi đầu lịch sử ơn cứu độ, đức tin đã được biểu hiện như một sự chấp nhận tiêng nói đòi hỏi, ưng chịu, mời gọi, ban ơn sủng, sinh hạ và tạo thành. Ơn Cứu độ đến từ Thiên Chúa, là công việc của Thiên Chúa. Tuy nhiên,con người phải đón nhận bằng sự sẵn sàng vì Thiên Chúa không thể bỏ qua sự cộng tác này. Hoạt động của Thiên Chúa đòi hỏi sự tham gia của con người. Sự tham gia, cộng tác này, chính là lòng tin biểu lộ ra bằng việc làm: đức tin song động, câu trả lời quả quyết của cả con người đáp ứng lời mời gọi của Thiên Chúa.

Êlisabét ca tụng Đức Mẹ, đó là Israel ca tụng Giáo Hội. Đó là việc Cựu ước thừa nhận Tân ước và đó cũng là sự kính trọng của dân cũ của Thiên Chúa đối với dân mới của Ngài.

Toàn cảnh trên đây đã tạo nên nền tảng cho việc sùng kính Đức Mẹ, vì sự sùng kính này rút từ nguồn gốc của lời nói và trình thuật Kinh thánh, diễn tả hai vẻ lớn lao của Đức Mẹ: lớn lao nơi con người và nơi nhiệm vụ của Mẹ, đồng thời lớn lao về tư cách làm Mẹ của Mẹ và sự sẵn sàng nơi đức tin của Mẹ.

Lời ca tụng của bà Êlisabét nối tiếp lời ca ngợi của thiên thần. Cả hai đã được tiep tục qua môi miệng Giáo Hội và môi miệng của tất cả những người thấm thía lời văn cũng như tinh thần của Kinh Thánh và của Giáo Hội, đã không bao giờ để cạn khô lời tán tụng Mẹ đồng trinh của Chúa Giêsu.

KINH NGỢI KHEN (1, 46-56)

Việc loan báo cho Giacaria đã bị mất hút trong im lặng. Giacaria đã thành câm. Êlisabét sống trong âm thầm hoàn toàn, Vị Tẩy giả lớn sẽ vào sống nơi Sa mạc. Trái lại, việc truyền tin cho Đức Maria đã hoàn thành trong vui mừng khôn tả, niềm tươi dịu như màn sương, lan đi như tiếng chim sơn ca tràn ra từ tâm hồn đầy dư. Nguồn nước tinh thần đã vọt ra… Từ một tạo vật lặng lẽ, chỉ biết suy niệm, ít được Tin mừng nhắc tới, đã toả ra cách dồi dào một bài Thánh thi, một bài Thánh ca, một bài Thánh vịnh đầy hoan lạc:

Linh hồn tôi ngợi khen Chúa.

Các nhà chú giải không đồng ý với nhau về các phần khác nhau của kinh Ngợi Khen. Tuy nhiên dựa vào nội dung của bài kinh, người ta có thể phân ra làm ba chu kỳ ý tưởng và ba phần tương hợp.

PHẦN THỨ NHẤT

Áp dụng vào chính Đức Mẹ. Thực ra thì cái nhìn đầu tiên của Đức Maria, không hướng về Ngài ngay đâu, mà là hướng lên Thiên Chúa và chính nơi một mình Thiên Chúa, Đấng vĩ đại nhất, mà Mẹ thấy được nguồn suối dạt dào, mà Mẹ được hân hạnh dự phần.

Linh hồn tôi chúc tụng Chúa. Tất cả mọi lời ca ngợi đều trao về Thiên Chúa. Người nữ tỳ của Chúa ca tụng Chúa mình và hình như Mẹ không thể tìm ra được những tiếng thích hợp. Đấng Tối Cao, Đấng Vĩ đại, đáng được tôn vinh, ngợi khen Đấng Hùng Vĩ, là nhiệm vụ đầu tiên… Đối với người đạo đức, ngước mắt hướng lên Chua biểu hiện một cử chỉ thật hết sức tự nhiên, nó không đè nén mà là nâng cao. Đó là hơi thở của linh hồn. Nó vượt qua những thung lũng tối tăm, những căn lều ngột ngạt để tới những đám mây vĩnh cửu của Thiên Chúa bất biến.

Phụng vụ ưa dùng đại danh từ chúng tôi hơn là tôi. Nhưng Đức Maria giữ cái chỗ của mình trong khiêm hạ. Thiên thần vừa đến nói với Mẹ bằng những lời đầy mỹ miều. Vì thế chính trong thâm tâm Mẹ đã luôn không ngớt ca tụng hồng ân đặc biệt Chúa dành cho Mẹ. Tuyển sinh duy nhất trên đời này có lý do đặc biệt để khoe ân huệ của Đấng đã chọn mình.

Thần trí tôi nhảy mừng trong Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi. Linh hồn và tâm trí hợp nhất với nhau để tụng ca Thiên Chúa. Sự hân hoan của con tim là do bởi tiếng vang vọng của một tin vui. Thiên Chúa là Đấng Cứu độ. Tên của Hài nhi mà Mẹ thụ thai là Giêsu: vậy ra là Giavê là Đấng cứu độ.

Mệnh lệnh về ơn cứu độ đã được thông báo cho Đức Maria: Mẹ là người đầu tiên hân hoan đáp lại tiếng của Thiên Chúa xét như Đấng cứu độ. Mẹ mang Chúa Cứu Thế mà lại không nhảy mừng trước biến cố vĩ đại nhất của lịch sử ơn cưu độ này sao?

Phận nữ tỳ, Người đoái thương nhìn tới. Đức Maria không dám coi mình xứng đáng lôi kéo cái nhìn của Thiên Chúa. Dầu vậy, Thiên Chúa vẫn ghé mắt tới Ngài, không phải với cặp mắt của vị thẩm phán, nhưng vơi cái nhìn đầy xót thương, ưu tuyển và âu yếm.

Dưới ánh sáng thần linh Thiên Chúa, con người nhận ra rõ ràng sự thấp kém và khổ sở của mình. Với con mắt của Chúa, tạo vật thực sự nhận thức về thân phận tôi tớ của mình. Đức Maria tuyên nhận tình trạng nữ tỳ của Mẹ. Trước nhan Chúa, thái độ đó lại mang một ý nghĩa lớn lao: nên đã biến đổi tình cảnh đó để từ nữ tỳ trở thành bà chủ.

Từ nay muôn đời sẽ gọi tôi là người diễm phúc. Tiếng từ nay là một khúc ngoặc trong đời sống của Đức Maria, mà từ trước tới bây giờ không được ai biết đến, ít ý nghĩa đến như ẩn dật: giờ đây dưới ánh sáng rạng ngời của Thiên Chúa bao phủ, Mẹ trở thành đối tượng cho mọi người thán phục và ca ngợi.

Tiếng từ nay cũng là một bước rẽ của lịch sử ơn cứu độ: sự dữ và nỗi thất vọng đã kết thúc vì Đấng Thánh Hoá, Đấng Cứu Độ đã đến, đến bởi Mẹ, Bà Mẹ Đồng Trinh. Vì thế tất cả những ai được nghe về Mẹ, đều đồng thanh tung hô Mẹ diễm phúc. Cái nhìn tiên tri về tương lai này là một sự nhận thức trước về sự tôn sùng Đức Mẹ và sự công chính hoá của Mẹ dựa vào lời chính Chúa linh ứng cho Mẹ. Lơi ca tụng của bà Êlisabét em có phúc vì đã tin chỉ như một câu mào đầu. Còn chính kinh ngợi khen mới thực sự là Thánh vịnh. Được Mẹ cất lên, bài ca này sẽ không bao giờ ngừng, nhưng còn vang vọng từ đời nọ tới đời kia, khi thời gian kết thúc, để rồi sang tới thế giới mà thời gian không có điểm dừng.

Đấng Toàn năng đã làm cho tôi những điều trọng đại, Đức Maria không biết tự hạ giả dối, Ngài cũng không cố chấp chối từ ơn Chúa. Mẹ cũng chẳng tự khoe như cánh hoa nhỏ với hàng dậu dài, cũng chẳng như một cô bé lọ lem nấp nơi xó bếp trong truyện cổ, Mẹ không rút vào bóng tối, thẹn thùng. Mẹ biết rằng tất cả những gì lớn lao nơi Mẹ chỉ do bởi ơn Chua. Sẽ vô ơn nếu không ý thức được điểm đó.

Bởi sức mạnh của ơn thánh, Đấng toàn năng đã thực hiện một phép lạ nơi lòng Mẹ, sự quyền năng này đã vượt thắng vẻ yếu hèn của nhân tính mà với sức riêng không thể thực hiện được ơn cứu sống cho mình. Và cũng chính sức mạnh đó đã thắng nổi Maria, cái nôi của ơn cứu độ.

Danh Ngài là Thánh. Cạnh sự quyền năng của Thiên Chúa, là sự Thánh Thiện đã trở thành hữu hình nơi Ngôi Con nhập thể. Đấng Thánh đã đi vào thế giới vô đạo, danh xưng bị tục hoá của Thiên Chúa, sẽ được đón nghe và trở thành hữu hình. Đấng không-thể-đến-gần đã gần đến.

Ngài đã đập phá rồi sẽ mở cái cửa vốn dĩ không vượt qua được của sự thánh thiện Ngài để con người tội lỗi được lôi kéo đến bằng lời mời gọi và bằng ơn sủng. Thế giới sẽ biến thành đền thánh; cái gì là phàm tục đã mất quyền hiện hữu. Như vậy trong phần thứ nhất, một phản đe Thiên Chúa và cái tôi, đòi sự tôn vinh Thiên Chúa, trong đó cái tôi đã tự mất đi.

PHẦN THỨ HAI

Đức Maria đi từ con người mình tới cả nhân loại. Mẹ biết Mẹ không thụ thai hài nhi cho mình, nhưng là cho tha nhân: tình thương Chúa trải qua bao thế hệ, dành cho ai biết kính sợ Ngài. Đó là đầu đề của phần thứ hai và dạy cho ta biết rằng từ nay ân sủng ban cho tất cả mọi người với điều kiện tiên quyết là có thái độ của người nữ tỳ Thiên Chúa như Đức Maria. Đó là kính sợ Thiên Chúa và sống trước nhan Ngài, Đấng đáng ngợi ca, với một thái độ thán phục.

Luật về ơn sủng biểu thị hiệu quả của nó. Cái gì thấy được nơi Đức Maria cũng có giá trị cho mọi nơi va mọi người. Luật đó được phát biểu như sau: Thiên Chúa ban ơn sủng Ngài cho những nơi nào người ta thấy rằng cần ơn của Ngài. Từ nay, nước Thiên Chúa sẽ là nguồn hân hoan cho ai ý thức sự khốn khó của mình. Điều đó được thể hiện trong ba lãnh vực: ân sủng đến với người khiêm hạ, chứ không phải kiêu ngạo; đến với người yếu thế chứ không phải đầy quyền thế; với người chẳng có gì, chứ không phải quá đầy đủ.

Cánh tay Chúa biểu dương uy lực, dẹp tan phường lòng trí tự kiêu. Kiêu ngạo đích thị là kẻ thù của Thiên Chúa. Nâng mình lên quá cái mình có là đưa mình tới chỗ thấp hèn của mình. Siêu nhân sẽ trở thành hèn nhân. Sức mạnh của Thiên Chúa hẳn đa vượt thắng được những chương trình vô đạo, phát sinh từ lòng trí tự kiêu của những con người nuôi ảo vọng có thể tự cứu rỗi bằng sức riêng của mình. Thiên Chúa sẽ làm tán loạn những ghép nối này và làm cho họ chống lại nhau.

Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao những kẻ khiêm nhu. Hài nhi của người đầy tớ Thiên Chúa đây sẽ lên ngôi Đavít, và những người đang ngồi trên ngai này sẽ lật nhào. Những người chỉ vì danh lợi bạc tiền mà ngồi trên ngai cao, coi mình là quyền năng, hẳn sẽ phải rơi xuống cái thân phận nhỏ bé và dòn mỏng của mình. Những người tự coi mình là vĩ đại đâu thoát được những giờ phút đen tối khi mà cái chết đến đón họ.

Kẻ đói nghèo Chúa ban của đầy dư, người giầu có lại đuổi về tay trắng. Sự đói khát Thiên Chúa sẽ thiêu đốt những tâm hồn nhận biết mình chỉ là hư vô, và cảm thấy chẳng có vật thụ tạo nào có thể thoả mãn khoảng không gian trống vắng của con tim cả. Khi đó Thiên Chúa sẽ đổ đầy và đổ cho tràn trề. Nhưng với người đã no say, đầy dẫy chính mình hay đầy dẫy những sự đời này thì làm sao có chỗ cho ơn chúa đến nữa. Để ơn Chúa hiện diện và tràn đầy, thì con người phải biết cởi mở tâm hồn hướng tới những gì cao thượng. Người đầy ảo vọng, đầy vui khoái, đầy của cải, thực sự họ trống vắng Thiên Chúa. Trái lại, kẻ nào đau đớn vì nỗi trống vắng Thiên Chua của hồn mình là đã sẵn sàng để Chúa đổ tràn: sự sắp sẵn của tâm hồn là điều kiện tiên quyết đối với tác động của Thiên Chúa.

PHẦN THỨ BA

Sau khi ngước lên Thiên Chúa và nhìn sang nhân loại, Đức Maria đưa mắt về dan tộc mình, dân Israel. Vì những gì xẩy ra nơi Mẹ thì trong một nghĩa rộng rãi cũng áp dụng được cho tất cả. Và một cách đặc biệt cho dân Israel, từ nay được nâng lên khỏi chính mình để trở thành Israel tinh thần của một dan mới của Thiên Chúa, của Giáo Hội.

Chúa độ trì Israel tôi tớ: Israel là tôi tớ Giavê; nhưng giờ đây, nhờ Hài nhi Đức Maria cưu mang, mối liên hệ chủ tớ đã được thay thế bằng tình nghĩa ruột thịt. Gia nhân, nhờ Người Con, đã trở thành chính người con. Dân được chọn từ nay mang một ý nghĩa mới. Bây giờ Israel nhất định được lựa chọn, được lựa chọn cách đặc biệt vào trong gia đình của chính Thiên Chúa.

Người nhớ lại tình thương của Người. Thiên Chúa nghĩ đến Israel. Ngài không quên dân Ngài. Vì bản tính của Ngài là trung tín và yêu thương. Sự chọn lựa tuỳ thuộc vào lượng từ bi của Thiên Chúa, chứ không vì công nghiệp của tạo vật. Người ta không được chọn lựa. Ân huệ của Thiên Chúa chiếm ưu thế nơi tác vi của con người.

“Như hứa cùng cha ông từ bao thuở, cho tổ phụ Abraham và con cháu tới muôn đời” Thiên Chúa đã phán thì Ngài giữ lời hứa cả khi Israel đã đơn phương phá vỡ Giao ước. Lời hứa đã phán với cha ông và đã làm trọn nơi con cái. Abraham là cha của tất cả những người tin. Giờ đây tất cả những tín hữu đều thuộc về một dòng dõi có Chúa là Cha đích thực. Abraham, đã son sẻ lâu, rồi mới có được đoàn hậu duệ đông như cát bãi biển và như sao trên trời. Nhưng ở đây nói tới một miêu duệ đặc biệt, một người con nào đó của Abraham và người con đó tồn tại mãi mãi. Như vậy, khi kết thúc, bài Kinh Ngợi-Khen đã ám chỉ tới Đấng Messia như là điểm cuối của Israel: Ngài là sự hoàn tất của Cựu ước và của tất cả các lời hứa, là sự cao cả của Đức Maria, của nhân loại và của dân Israel thực sự. Sự cao cả đó đáng được ca tụng với cả tâm tình: Linh hồn tôi ngợi khen Thiên Chúa.

---------------------------

 

15/8-171: Chú giải Tin Mừng theo William Barclay


Mâu Thuẫn Của Hạnh Phúc: 1,39-45

 

Cả đoạn Kinh Thánh này là một điệu nhạc êm đềm về hạnh phúc của Maria. Không ở đâu chúng 15/8-171


Cả đoạn Kinh Thánh này là một điệu nhạc êm đềm về hạnh phúc của Maria. Không ở đâu chúng ta có thể thấy rõ sự mâu thuẫn của hạnh phúc cho bằng trong cuộc đời của Maria. Maria đã được diễm phúc làm mẹ phần xác Con Chúa. Nhận một đặc ân vĩ đại dường ấy, hẳn lòng mẹ chứa chan niềm vui sâu xa và đầy ngạc nhiên kỳ thú. Nhưng cũng chính hạnh phúc đó sẽ là lưỡi gươm sắc thâu qua lòng mẹ. Điều này có nghĩa là một ngày kia mẹ sẽ nhìn thấy con mẹ treo thân trên cây thập giá.

Việc được Chúa lựa chọn thường có nghĩa là cùng một lúc có cả mau nhiệm vinh hiển lẫn thập giá khổ đau. Thực ra Thiên Chúa không chọn lựa một người đó hưởng an nhàn, sung sướng và vui chơi ích kỷ, nhưng để con người đó hoàn thành một nhiệm vụ lớn lao với tất cả con tim, khối óc và tay chân của mình.

Thiên Chúa lựa chọn con người để sử dụng người đó cho công việc của Ngài. Khi Jeanne dAre biết thì giờ của mình chẳng còn bao lâu, bà cầu nguyện rằng: “Con chỉ còn sống một năm nữa thôi, xin Chúa hãy dùng con tận lực”. Khi nhận ra điều này thì những buồn rầu, đau khổ bởi phục vụ Chúa không còn là cớ để than khóc, nhưng đó là vinh hiển của chúng ta, vì chúng ta đã làm mọi sự và chịu mọi sự vì Chúa.

Khi Richard Cameron sa vao tay quân giặc, chúng liền giết chàng, chàng có hai bàn tay rất đẹp, chúng cắt đôi bàn tay gửi cho cha chàng và hỏi ông có nhận ra hai tay đó chăng. Ông trả lời: “Đó là tay của con tôi, con yêu quí của tôi, ý Chúa là tốt lành, Ngài không bao giờ lừa dối tôi”. Những nước mắt của cuộc đời được chiếu long lanh bởi cảm biết chính sự đó cũng nằm trong chương trình của Thiên Chúa. Một thánh nhân Tây Ban Nha đã cầu nguyện cho dân tộc mình: “Cầu xin Chúa chối từ bình an để ban cho anh em vinh hiển”. Một nhà truyền giáo đã nói: “Chúa Giêsu đến không phải để tạo an nhàn cho cuộc sống, nhưng để làm cho con người trở thành vĩ đại”.

Đó chính là mâu thuẫn của phúc lộc, vì nó đem đến đồng thời cả hai điều: sự vui mừng lớn nhất thế gian cùng với trách nhiệm lớn nhất trên đời.

Bài Ca Kỳ Diệu: 1,46-56

Ở đây chúng ta có một đoạn Kinh Thánh đã trở thành một trong những bài ca lớn nhất của Hội Thánh, Bài Ca Ngợi Khen (The Magnificat). Ý tưởng của đoạn Kinh Thánh này tràn ngập trong Cựu Ước, nó rất giống bài ca ngợi của bà Anna trong Samuen 2, 1-10. Có người bảo tôn giáo là thuốc phiện của dân chúng, những Stanley Jones đã nói: “bài ca ngợi khen này là cuộc cách mạng lớn nhất trong thế giới”.Nó đề cập đến ba phương diện trong cuộc cách mạng của Thiên Chúa;

1. “Dẹp tan phường trí kiêu căng”. Đây là cuộc cách mạng luân lý. Kitô giáo phá tan tính kiêu ngạo. Tại sao? Vì nếu ai sống theo gương Chúa Giêsu thì trút bỏ được những vết tích sau cùng của tính kiêu ngạo. Đôi khi có một sự gì xảy ra, ánh sáng phơi bày, khiến chúng ta phải hổ thẹn. O.Henry đã viết một truyện ngắn như sau: có một chàng trai đã lớn lên trong làng quê. Ở trường làng, chàng ngồi cạnh một cô gái và cả hai đều mến nhau. Về sau chàng ra tỉnh, rồi sa vào đường tội lỗi. Chàng trở thành một tay trộm cắp có tài. Một hôm chôm được cái ví tay của một bà lão, chàng tỏ ra khoái trá về tài nghệ của mình. Nhưng khi chàng trông thấy cô gái quen biết ngày xưa đang từ đầu phố đi đến, vóc dáng dịu dàng, rạng rỡ và ngây thơ, tức khắc chàng thấy rõ mình là một kẻ tội phạm hèn hạ xấu xa. Vì quá xấu hổ chàng chúi đầu vào một cây cột đèn lạnh giá và kêu lên: “Lạy Chúa, xin cho con chết”. Anh ta đã thấy chính mình. Chúa Giêsu có quyền năng khiến con người nhìn thấy chính mình. Đó là một đòn chí tử cho tính kiêu ngạo. Cuộc cách mạng luân lý bắt đầu.

2. “Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường”. Đó là cuộc cách mạng xã hội, kitô giáo hạ những tước vị oai quyền hống hách xuống. Ông Muretus là một học giả lang thang của thời trung cổ. Ông sống cuộc đời nghèo khó tại một thành phố của nước Ý. Ông bị bệnh và được đưa đến một bệnh viện dành cho ke bụi đời. Các bác sĩ bàn luận với nhau bằng tiếng Latinh về bệnh trạng của ông, yên trí rằng ông không thể hiểu được. Họ bàn với nhau vì tên này là một đứa lang thang vô giá trị, nên có thể dùng làm vật thí nghiệm. Muretus nhình thẳng vào họ và trả lời bằng tiếng Latinh rằng: “Đừng coi là vô giá trị một người mà Chúa Cứu Thế đã chết thay cho”. Khi chúng ta nhận thức được Chúa Cứu Thế đã chết cho mọi người thì không thể coi ai là tầm thường được nữa. Các giai cấp trong xã hội không còn nữa.

3. “Kẻ đói nghèo Chúa ban của đầy dư, người giàu có lại đuổi về tay trắng”. Đây là cuộc cách mạng kinh tế. Một xã hội ngoài Kitô giáo là xã hội chiếm đoạt, ở đó mỗi người gắng sức thu góp cho mình càng nhiều trong khi kẻ khác quá ít, ở đây tất cả mọi người đều nhận với mục đích để ban phát.

Trong Bài Ca Ngợi Khen này có sự dịu dàng đáng yêu nhưng trong đó cũng có năng lực mạnh mẽ. Kitô giáo khiến nảy sinh cuộc cách mạng trong lòng người và cách mạng trong thế giới.

Đây là phương diện thứ tư và quan trọng nhất trong cuộc cách mạng của Thiên Chúa: cuộc cách mạng tâm linh. Ngài đã ban ân sủng đặc biệt cho trinh nữ Maria. Cô thiếu nữ trẻ trung, đơn sơ, khiêm nhường của Nazaret hai ngàn năm trước đã nhận được sự thăm viếng kỳ diệu của Chúa. Hồng ân tuyệt diệu đó đã tác động, biến đổi, khiến nàng có thể dâng bài ca chúc tụng Chúa Hằng Hữu. “Thiên Chúa là Đấng cứu độ tôi” (c.47) cho thấy nhận thức quan trọng của Maria: cô là một tội nhân như bao nhiêu người khác, đã làm cuộc cách mạng tâm linh, là nguồn động lực lớn lao giúp cô sáng tác Bài Ngợi Khen tuyệt tác và bất hủ này.

---------------------------

 

15/8-172: Chú giải theo Fiches Dominicales


Đức Maria Lên Trời Hồn Xác

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Liên hệ chặt chẽ với biến cố Truyền tin

 

Vừa tường thuật xong biến “cố truyền tin”, trong đó Luca đã giới thiệu Đức Maria như người tín 15/8-172


Vừa tường thuật xong biến “cố truyền tin”, trong đó Luca đã giới thiệu Đức Maria như người tín hữu đầu tiên, người đáp lại lời Thiên Chúa cách tích cực, thì Luca lúc này trình bày Đức Maria chỗi dậy lên đường, hình ảnh Hội Thánh đem Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô đến cho muôn dân.

"Này đây, sứ thần của Thiên Chúa kết thúc câu truyện, bà Elisabét, người chị bà con với Bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai, bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiến hoi. Để đáp lại dấu hiệu mà thiên sứ đã cho, Maria lên đường mau mắn tiến lên một thành miền núi. Cũng như sau này những người chăn chiên Betlem đáp lại dấu hiệu mà các thiên sử cho, củng vội vã đi xem sự gì đã xảy ra. Theo cách nói rất gợi hình của L.Legrand, chúng ta tiến từ người "tín hữu” đón nhận lời Chúa đến người "tôi tớ" hành động, hay đúng hơn lời Chúa hành động qua người ("L'annonce à Maire", Cerf 1981, Lectio divina số 106, trang 222).

Trong Đức Maria, Lời Chúa đã khởi sự lên đường và cuộc hành trình sẽ đưa Người đến cùng trái đất. Tại sao Maria đến nhà chị họ của bà? Phải chăng là vì bác ái: để giúp đỡ bà Elisabet chăng" Luca không làm thoả mãn tính tò mò của chúng ta; điều mà ông quan tâm không phải là cất truyện hay bài dạy luân lý, nhưng đạo lý mạc khải được chuyển tải nhân dịp cuộc gặp gỡ của hai bà mẹ tương lai này. Về điểm này L.Legrand nói rất chí lý: "Nếu đọc đoạn văn theo mặt chữ, ta hầu như có cảm tưởng rằng Đức Maria chỉ đến đó để nhận lời chào của bà Ehsabet và để hát bài ca Magnificat" (sđd trang 219).

2. Một khung cảnh mạc khải mới

Bước vào nhà ông Giacari, Đức Maria chuyển đến bà chị họ lời chào mà bà đã nhận từ thiên sứ. Và lời chào của Maria khởi động quá trình hoạt động. Khi lời chào vang đến lỗ tai bà Ehsabet, trước cả khi bà này mở miệng, thì con trẻ bà mang trong bụng nhảy mừng, một cuộc nhảy mừng mà bản dịch ra (ngôn ngữ của ta đã làm giảm bớt sắc nét, bởi vì bản Hy Lạp nguyên ngữ có nghĩ "nhảy dựng lên" "múa nhảy" "nhảy cao").

Được đầy Thánh Thần trước khi smh ra. Như thiên sứ đã báo tin cho ông Giacari (1,15), Gioan thấy bừng lên thời đại mới, đã hành động trước thời gian sứ mạng của ông, ông nói tiên tri, nói không phải bằng lời, mà bằng việt nhảy mừng, tiên báo Đấng mà người ta vào thời kỳ cuối trông đợi giờ đây đã xuất hiện. Đầy Chúa Thánh Thần, bà Elisabet hiểu ra ý nghĩa của cú nhảy mừng của con bà trong bụng bà và cuộc gặp gỡ mà bà đang diễm phúc được sống. Bà đã kinh ngạc kêu lên, trong khi nhìn nhận rằng Maria và "quả của lòng bà" là đối tượng của phúc lành Thiên Chúa. Sau đó bằng lời tuyên xưng đức tin, bà tuyên bố rằng con của người em họ mình, chính là Đấng mà thánh vịnh 109 loan báo: là Kitô Đức Chúa; và chào Đức Maria với danh hiệu "Mẹ của Chúa tôi". Sau cùng, sau khi chào mừng "người mẹ", bà tung hô "người tin" bằng công thức chúc phúc: "Em thật có phúc vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì người đã nói với em".

Đây là mối phúc đầu tiên của Phúc âm mà Luca nối kết với một danh hiệu mà ông coi như một tên khác của Maria: "Kẻ đã tin" (Cahier Evangile, số 77, trang 45).

3. Tạ ơn về những việc kỳ diệu

Bài ca "Magnificat" bài suy gẫm đầy hưng phấn của Đức Maria về tất cả những gì đã thực hiện trong Mẹ, thực ra đánh đấu một sự gián đoạn hành động trong chốc lát, giống như khi một ca khúc trữ tình trong một vở kịch opéra, hoặc như khi ca đoàn xen vào trong một vở bi kịch cổ điển, để làm nổi bật ý nghĩa của điều mới xảy ra. Đã từ lâu người ta đã nhận xét rằng: phải chi nhảy từ câu 45 sang 56 thì tư tưởng có sự liên tục hơn. Có lẽ ca khúc này có nguồn gốc độc lập với trình thuật, và chỉ được chêm xen vào sau này. Đặt ca khúc này vào miệng Đức Maria, Luca muốn tỏ bày hình ảnh Đức Maria mà ông mang trong trí óc ông ("Cahiers Evangile" số 77, trang 45).

Câu 46 và 47 chỉ huy toàn bộ bài thơ: đó là một ca khúc tạ ơn.

Nối liền sau là lý do của việc tạ ơn.

a. Trước hết là những sự kỳ diệu mà Thiên Chúa đã làm trong Mẹ: Thiên Chúa can thiệp để làm cho Người trở nên "Mẹ Thiên Chúa". Ở đây bản văn nêu lên sự đối nghịch giữa sự bé mọn của người tôi tớ và sự cao cả của Đấng Quyền năng, làm nên những việc kỳ diệu.

b. Rồi đến những sự kỳ diệu mà Thiên Chúa làm để tỏ lòng từ ái với những người nghèo khó. Ở đây, ca khúc chuyển cách êm nhẹ từ cá nhân (Đức Maria) sang tập thể (dân Israel sự nghèo khó của Maria (1,48) sang nhóm người nghèo khó (1,52), từ người tôi tớ (1,48) sang Israel tôi tớ (1,54) ("Cahiers vangile số 77, trang 47). Những việc kỳ diệu này là những việc nào? Đó là việc tạo dựng, đó là phép lạ xuất thành, đó là ban Lề luật mà nhất là tột đỉnh của các việc kỳ diệu, đó là việc kỳ diệu hoàn thành nơi Đức Maria, việc Con Thiên Chúa sinh ra, nơi Người mọi lời hứa đã được thực hiện. Đấng Messia, Con vua Đavit và Con Thiên Chúa đến, được chấp nhận bằng đức tin, không chỉ là một giáo thuyết; đó còn là một sức mạnh, có sức lay chuyển và đổi thay cả thế giới. Đức Maria xuất hiện ở đây như "phát ngôn viên" của cuộc đảo lộn tình thế, Mẹ giữ vai trò chính yếu của Tin Mừng (Cahiers Evangile số 77, trang 48).

*****

II. BÀI ĐỌC THÊM:

1. Đức Maria người tin đầu tiên, gương mẫu của Giáo Hội, mẹ các người tin (Hội đồng Giám mục Pháp trong cuốn "Catechisme pour adultes, 1991, trang 215-216).

Giữa kinh nguyện Thánh Thể I, "Trong sự hiệp thông của toàn thể Giáo Hội, chúng ta kính nhớ Đức Maria trọn đời đồng trinh. Thật vậy, Đức Maria là chi thể của Giáo Hội, tối cao và độc nhất vô nhị, cũng như mẫu mực và gương sáng phi thường của Giáo Hội trên phương diện đức tin và đức ái (LG 53). Vào cuối Công đồng vạt. II, Đức Phaolô VI đã tuyên bố Đức Maria là "Mẹ Giáo Hội", nghĩa là mẹ của các chủ chăn và mẹ các tín hữu. Giống như một người mẹ, Đức Maria có vai trò đặc biệt trong gia đình mà Mẹ là thành phần, vai trò đã được phác hoạ trong Tân ước. Ngay từ hồi sinh Đức Giêsu, Đức Maria đã được trình bày như người tin đầu tiên, tượng trưng Giáo Hội đang cầu nguyện, "để ghi nhớ mọi sự việc đó là suy gẫm trong lòng" (Lc 2,19). Khi Giáo Hội sinh ra vào buổi sáng lễ Ngũ Tuần ở Giêrusalem, Đức Maria cùng với các môn đệ, đã dùng lời cầu nguyện kẻo ơn Chúa Thánh Thần xuống trên dân Chúa (LG. 59). Bởi vậy, Đấng đã hiện diện trong mầu nhiệm Đức Kitô như người mẹ, thì theo ý muốn của Chúa Con và Chúa Thánh Thần, cũng có mặt trong mầu nhiệm Giáo Hội. Và trong Giáo Hội, Mẹ vẫn tiếp tục hiện diện như người mẹ (Rm. 24). Bởi vậy, khi chiêm ngưỡng sự thánh thiện của Đức Trinh Nữ, Hội Thánh cũng được làm mẹ nhờ lời Thiên Chúa mà Hội Thánh trung thành lãnh nhận: thực vậy, nhờ việc rao giảng và ban phép Thánh tẩy, Hội Thánh sinh hạ những người con được thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần và sinh ra do Thiên Chúa để họ lãnh nhận một đời sống mới và bất diệt (l Ga. 64). Sau cùng, vào ngày lên trời, Đức Maria đã được cất nhắc lên toà vinh hiển trên trời: hình ảnh hoàn hảo của Hội thánh trong tương lai, bình minh của Hội Thánh khải hoàn, Người hướng dẫn và nâng đỡ niềm hy vọng của đoàn dân trên đường lữ thứ (xem kinh Tiền Tụng lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời). "Ngay từ bây giờ, mẹ đã chiếu sáng như dấu chỉ lòng cậy trông và niềm an ủi cho Dân Chúa đang lữ hành" (LG. 68). Tôn kính Đức Maria: đó là gia nhập vào việc tôn sùng của dân Chúa (LG 66) đối với Đức Trinh nữ, đó là gia nhập phong trào lâu đời qua các thế hệ tung hô Mẹ là diễm phúc; đó là sùng bái tôn kính, ngợi khen Đức Maria Mẹ Thiên Chúa. Tất nhiên không phải là việc thờ phượng, vì thờ phượng chỉ dành cho Thiên Chúa. Noi gương Đức Maria: là mở tâm hồn đón nhận ân sủng của Thiên Chúa, là sống đức tin như Mẹ đã sống; là phục vụ như Mẹ đã phục vụ. Đức Maria là gương mẫu, là mẫu mực tuyệt hảo sống đời Kitô hữu. Về điều đó mọi Kitô hữu đều nhất trí. Cầu xin Đức Maria: là phó thác vào tình mẫu tử của Mẹ, kêu xin sự trợ giúp và nâng đỡ, là kêu cầu Mẹ bầu cử cho ta trước mặt Con Mẹ.

2. “Đức Maria, một phụ nữ tuyệt vời” (G. Boucher, trong cuốn "en tre ciel ét terre" bán tại nhà tác giả "Residence de Kérampir, 29820 BOHARS).

Trong quá trình cuộc phiêu lưu lạ đời của Mẹ, Đức Maria được gọi để đương đầu với mầu nhiệm. Một mầu nhiệm với tính cách vượt trội nhất của nó: đó là nhân tính của Thiên Chúa. Bị hoang mang vì ngôn ngừ trong biến cố truyền tin, Mẹ đã đặt tin tưởng vào Thiên Chúa, vào ý định cứu rối của Người. Ngạc nhiên vì cách cư xử của Đức Giêsu lúc 12 tuổi, Mẹ đã suy gẫm sự việc này trong lòng để vâng theo kế hoạch của Thiên 'Chúa về Người. Mẹ lo âu muốn giữ con lại nhà lúc con vào tuổi trưởng thành đừng tiến tới để gặp gỡ lịch sử đời mình. Đau khổ trong lòng vì lời Con phán, nhìn nhận cả nhân loại là gia đình, Mẹ đã tin trong đau đớn. Dầm đề nước mắt Mẹ đã theo Con trên đường nhục nhằn, đánh đập, nhạo báng, khi Con bị án tử và bị dẫn đi đóng đinh. Con tim dập nát, và cả thân xác bầm dập, Mẹ đã chứng kiến, bất lực và đầy yêu mến, cái chết của kẻ tử tù, khi Con bị treo trên cây gỗ thập tự. Trung thành cho đến cùng, Mẹ đã ghi khắc lời trối trăn của Con bị đóng đinh. Mẹ đã lấy tình mẫu tử phục vụ các môn đệ và các tín hữu tiên khởi của Giáo Hội mới được khai sinh. Đức Thiên Chúa ngự tin đến ngay cả trong thân xác, Mẹ đã hoàn tất sứ mạng của mình một cách hoàn hảo.

Tràn ngập Thiên Chúa Mẹ được thông phần vinh quang của Người, cả xác lẫn hồn, trong lời ca tụng Magniflcat muôn thuở. "Mẹ Maria một người phụ nữ tuyệt vời".

--------------------------

 

15/8-173: Chú giải theo Fiches Dominicales


Thăm Viếng và Bài Ca Ngợi Khen

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI

1. Cuộc gặp gỡ giữa hai phụ nữ

 

Trong câu chuyện Truyền tin, Luca vừa trình bày Đức Maria như một Kitô hữu tiên khởi khi nhiệt 15/8-173


Trong câu chuyện Truyền tin, Luca vừa trình bày Đức Maria như một Kitô hữu tiên khởi khi nhiệt thành đáp trả Lời Thiên Chúa, giờ đây, ông lại cho chúng ta thấy Mariạ chỗi dậy lên đường, hình ảnh của Giáo hội ra đi đem Tin Mừng Đức Giêsu Kitô cho mọi người.

Sứ thần Chúa kết luận: "Kìa Êlisabét, chị họ của bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai: bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm muộn..." Biết được tin này, Maria “vội vã lên đường, đến miền núi, vào một thành thuộc chi tộc Giuđa”, cũng như chẳng bao lâu sau, các mục đồng vội vã đi xem chuyện gì đã xảy ra theo lời sử thần đã báo. Theo cách diễn tả rất gợi hình của L. Legrand, chúng ta đi từ "người tín hữu nhận lãnh Lời (TC) đến người "nữ tỳ” hành động hay đúng hơn qua người nữ tỳ đó, Lời (TC) hành động." (‘Truyền tin cho Maria', Cerf, 1 981, Lectio divina số 106, tr.222). Trong Maria, Lời (TC) đã bắt đầu lên đường, và cuộc hành trình này sẽ dẫn Ngài tới tận cùng bờ cõi trái đất.

Tại sao Maria đến nhà chị họ của mình? Có lẽ là vì bác ái: giúp E-li-sa-bét? Thánh Luca không thỏa mãn tính tò mò của chúng ta vì khi kể câu chuyện này, điều ngài quan tâm không phải là một giai thoại, nhưng là sự mạc khải nhân dịp hai người mẹ tương lai này gặp nhau. Về điều này, L. Legrand đã nhận xét đúng: Khi đọc chính bản văn, hầu như chúng ta có thể tin rằng Maria chỉ đến đó để nhận lời chào của ê-li-sa-bét và hát bài ca ngợi khen. " (sách đã dẫn, tr.21 9)

2. và cuộc gặp gỡ giữa hai đứa con họ đang cưu mang

Khi vào nhà Gia-ca-ri-a, Maria chuyển đến chị họ mình lời chào bà đã nhận từ sứ thần. Lời chào của Maria là dấu nối cho tiến trình. Khi lời chào này vang lên bên tai ê-li-sa-bét, con trẻ trong lòng bà đã nhảy mừng ngay trước khi bà mở miệng; theo tiếng Hy lạp, từ "nhảy mừng " có nghĩa: “Nhảy bật lên”, "nhảy lên”, “nhảy múa”.

Như thiên thần đã báo tin cho Gia-ca-ri-a, Gioan được đầy Thánh Thần ngay trước khi sinh" (1,15) nên Gio-an nhận ra thời buổi mới đã ló dạng và thấy trước sứ mạng của mình. Bởi đó, ông đã nói tiên tri về sự xuất hiện của Đấng muôn người trông đợi, không phải bằng lời nói mà bằng cách nhảy mừng.

Được “đầy Thánh Thần" nên E-li-sa-bét hiểu ý nghĩa của việc con bà nhảy mừng trong lòng và cả ý nghĩa của cuộc gặp gỡ là bà đang trải qua.

- Khi cất tiếng thán phục, E-li-sa-bét nhìn nhận Maria và “đứa con trong lòng"được Thiên Chúa chúc phúc.

Rồi, Ê-li-sa-bét tuyên xưng đức tin khi công bố đứa con của cô em họ chính là Đấng Thánh vịnh 109,1 đã loan báo: là Đức Kitô, và bà chào Maria bằng tước hiệu "Mẹ Chúa tôi”.
Cuối cùng, sau khi đã biểu dương chức vị là Mẹ, bà ca tụng lòng tin của Maria bằng công thức chúc phúc: "Em thật có phúc vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì người đã nói với em."; "Đây là mối phúc đầu tiên của Tin Mừng. Mối phúc thánh Luca dành cho một tên khác của Maria: “Người đã tin"' (Cahiers- Evangile, số 77, tr.45).
3. Cuộc gặp gỡ là dịp để Maria ca tụng Thiên Chúa thực hiện những lời đã hứa.

Bài ca "Ngợi khen" là một suy niệm chứa chan tình cảm của Maria về tất cả những gì Thiên Chúa vừa thực hiện nơi Mẹ. Nó thực sự đánh dấu: "theo lối văn kể chuyện... một câu hỏi khiến ai đang hành động cũng phí dừng lại trong giây lát, nó giống như đoạn hát sô-lô trong một vở nhạc kịch opéra, hoặc đoạn ca đoàn hát xen vào trong một vở bi kịch cổ điển. Từ thời xưa, người ta đã lưu ý rằng câu chuyện sẽ gắn bó hợp lý hơn nếu đọc thẳng từ câu 45 qua câu 56. Rất có thể bài ca này có nguồn gốc riêng không có trong câu chuyện nguyên thủy, nhưng đã được thêm vào sau này. Khi đặt bài ca trên miệng của Maria, Luca cho chúng ta thấy hình ảnh đẹp ông có về Mẹ. " ("Cahiers-evangile', số 77, tr. 45)

Các câu 46 và 47 chi phối tất cả phần còn lại của bài ca: đó là một bài ca tạ ơn.

Liền sau đó là lý do tạ ơn:

a/ Trước hết, vì những kỳ công Thiên Chúa đã thực hiện nơi Mẹ: Thiên Chúa đã can thiệp làm cho Mẹ trở nên "Mẹ Chúa". Ở đây Luca diễn tả bản văn đầy cảm hứng này qua sự đối lập giữa lòng khiêm tốn của người "nữ tỳ” và sự cao cả của Đấng "quyền uy”, đã thực hiện những điều kỳ diệu.

b/ Nhưng cũng vì những kỳ công Thiên Chúa đã thực hiện nơi dân nghèo. Và ở đây, bài ca "nhẹ nhàng tự nhiên chuyển từ nhân (Maria) tới tập thể (Israel); từ sự nghèo khó của Maria (1, 48) tới dân nghèo (1, 52); từ người nữ tỳ ( 1,48) tới Israel tôi tớ (1, 54)" ("Cahiers-evangilel số 77, tr.47).

Những kỳ công này là gì? Đó là sự sáng tạo, là phép lạ của cuộc Xuất hành, là Lề Luật, nhưng trên hết, đó là kỳ công đã

hoàn tất nơi Maria: sự giáng sinh của Con Thiên Chúa, nơi Người con này, Thiên Chúa hoàn tất mọi lời đã hứa.

Đón nhận Đấng Cứu Thế đến với lòng tin tưởng không phải một giáo thuyết, nhưng là một sức mạnh chuyển lay nhằm đổi thay và cứu độ thế giới. Ở đây, Maria xuất hiện như: "người phát ngôn về sự đảo ngược tình thế. Sự đảo ngược này là một phần trọng yếu của Tin Mừng." ("Cahiers-evangile", số 77, tr. 48)

*****

II. BÀI ĐỌC THÊM

1. “Thăm viếng: cảnh tượng nói lên niềm vui và ân huệ Chúa Thánh Thần lan toả”.

(nhóm Dombes, "Maria trong chương trình của Thiên Chúa và trong sự các thánh cùng thông công", Bayardlcenturion, 1997, tr. 81-82)

158. Thăm viếng là cảnh tượng nói lên niềm vui và ân huệ Chúa Thánh Thần lan tỏa. Vừa được sứ thần báo tin, Đức Maria vội vã đi thăm người chị họ để chia sẻ với chị mình ơn Chúa Thánh Thần Mẹ vừa lãnh nhận, một ơn huệ đánh dấu sự khai mở một kỷ nguyên mới. Sự thăm viếng của Đức Maria là một hành động đáp trả ân sủng Thiên Chúa đã ban cho Mẹ trong đức tin.

159. Khi Ê-li-sa-bét nhận lời chào của Maria, con trẻ trong lòng bà và Gioan Tẩy Giả đã nhảy lên vui mừng, một cử chỉ diễn tả sự rung động vì được chúc phúc (xem Lc 6,23); trong khi ấy, người mẹ được tràn đầy Thánh Thần đã nói tiên tri. Tiếng nói tiên tri đầu tiên trong Tân ước là tiếng nói của một phụ nữ, cũng như sau này chính phụ nữ là những sứ giả đầu tiên loan báo Tin Mừng Chúa sống lại.

160. Lời tiên tri của Ê-li-sa-bét trước tiên là một lời chúc phúc. Trong tất cả các phụ nữ, Đức Maria là đối tượng được chúc phúc đặc biệt, vì Mẹ là Mẹ Đấng Cứu Thế, Đấng được chúc phúc cách tuyệt hảo. Chính Ê-li-sa-bét đã thực hiện một hành vi đức tin khi nhận ra mẹ của Gtêsu cũng là Mẹ Chúa mình. Bà cũng thốt ra mối phúc đầu tiên, mối phúc về đức tin: Maria có phúc vì đã tin mình sẽ trở nên mẹ Đấng Cứu Thế.

161. Lúc ấy, Đức Maria hát bài ca Ngợi khen. Bài ca này lập lại bài ca của Anna (1 Samuel 2,1-10), lời các tiên tri và các thánh vịnh; trước hết tuy Mẹ nói đến việc của riêng mình nhưng lại bằng lời ca tụng và tạ ơn vượt ra khỏi chính mình, bởi vì điều xảy đến cho Mẹ chính là vì lợi ích cho cả nhân loại từ thế hệ này tới thế hệ kia. Do đó, Mẹ mới công bố mọi thế hệ sẽ khen Mẹ là người có phúc. Giáo hội đã dựa vào những lời này mà ca ngợi kỳ công Thiên Chúa đã thực hiện nơi Đức Maria.

162. Rồi Đức Maria ca ngợi Thiên Chúa vì đã ban sự công chính của Ngài cho nhân loại tội lỗi và vì sự trung tín của Ngài với dân Israel. Mẹ đọc lại lịch sử cứu độ và gắn kết nó với những điều đã xảy ra với mình. Mẹ chiêm ngưỡng chương trình có vẻ nghịch lý của Thiên Chúa, Đấng vữa đến viếng thăm những người khiêm tốn, nghèo khổ và đói khát, để làm trọn lời đã hứa với Abraham nơi họ và qua họ".

2. “Cuộc hội ngộ kín đáo giữa Thiên Chúa và nhân loại”.

(G. Bessière, "Thiên Chúa râr gần. Năm B', DDB, tr. 187-188.)

"Không nên coi Maria là người đặc biệt, ở trên chín tầng trời rồi quên rằng hằng ngày bà vẫn làm bếp, giặt giũ, may vá, hái nho và vả, chuyện trò, cười vui với hàng xóm dưới ánh nắng mặt trời Tin Mừng dù rất ít nói đến bà, cũng kể cho chúng ta biết bà đến thăm người chị bà con có thai đã sáu tháng. Người ta thấy bà “vào trong nhà".

Đứa con Ê-li-sa-bét đang cưu mang "nhảy mừng trong lòng khi Đấng cưu mang Đức Giêsu tất. Hai người phụ nữ, hai đứa trẻ hiện diện: cuộc hội ngộ kín đáo giữa Thiên Chúa và nhân loại cùng thân xác mảnh mai, mỏng dòn. Không có gì lạ lùng: tất cả đều xảy ra ngay trong giây phút trao đổi lời chào và những câu nói đầu tiên.

Và còn cuộc sống rất thực, rất nặng nề mà những lời nhức nhối của bài ca "Ngợi khen" gợi lên. Maria nói bà vui mừng vì Thiên Chúa đã chọn những người hèn mọn, dẹp tan bọn kiêu căng, hạ bệ những ai quyền thế, nâng cao những kẻ khiêm nhu, ban dư đầy cho người đói nghèo, đuổi người giàu trở về tay không... Thiên Chúa đến không phải để duy trì hiện trạng đời sống con người, nhưng khi Ngài đến, mọi tường vách của xã hội sụp đổ và một đời sống khác bắt đầu.

Maria thuộc về những kẻ hèn mọn Thiên Chúa đã chọn. Nơi bà, sự phong phú của Thiên Chúa được thể hiện. Bà là hoa trái của những con người đi lên, là đóa hoa tượt thắm của nhân loại mới.

Ngày mai, bà cũng làm những cử chỉ như vậy. Đi lấy nước, chảy cối xay, nhóm lửa, thăm người bệnh. Và Thần Linh Thiên Chúa yêu mến những cử chỉ này.

Một ngày kia, Thiên Chúa "sẽ đưa bà vào trong vinh quang của Ngài ": Ngài sẽ hoàn tất khát vọng của người công chính khấn nài Ngài đừng để mình lâm cảnh hư nát trong mồ. Nhưng trong cái nhìn và con tim của Maria, Thiên Chúa đang ra đời, khi bà làm trọn bổn phận hằng ngày, khi bà run lên vì giận dữ trước những kẻ kiêu căng và quyền thế, khi bà đòi lại phẩm giá cho những người bé nhỏ và cơm bánh cho người nghèo khổ".

3. "Thiên Chúa của bài ca Ngợi khen”.

( J. Dupont, trong " Ca hiers - Evangile, số 77, " Maria của Tin Mừng; tr. 48 )

"Ơn cứu độ Thiên Chúa hứa ban cho mọi người không loại bỏ những hoàn cảnh cụ thể trong đời sống của họ: Điều thiết yếu đối với Ngài là phải đảo ngược những hoàn cảnh bất công xã hội đã tạo ra cho những người yếu kém và trơ trọi. Thiên Chúa của bài ca Ngợi khen không bay lượn tít thiên cao, xa hẳn thực tại xã hội chính trị: Ngài đứng cùng hàng ngũ với những người nghèo và không có quyền lực. Chính danh dự của tên cực thánh Ngài được hay mất ở điểm này, đó và lòng xót thương của Ngài phải được tỏ lộ qua sức mạnh chống lại cường quyền và người giầu có."

4. "Sự sùng kính Maria cách đích thực”.

(F. Deleclos, trong "Cầm và ăn Lời Chúa”, Duculot-centurion, tr.70.)

Sự sùng kính đích thực dành cho Đức Maria không hệ tại gia tăng và phát triển những lời ngợi khen và thán phục về những ân huệ Mẹ đã nhận lãnh, nhưng là học nơi Mẹ cách trở nên người; có niềm tin và cách là người có niềm tin hơn nữa cần phải nói thêm rằng người ta chỉ có thể đề cập đến đức trinh nữ trong đức tin, nghĩa là qua Mẹ chúng ta tìm chính Thiên Chúa hoặc rõ hơn Đức Giêsu con Chúa". Chính Grignon de Monfort, người nổi tiếng về việc tôn sùng đức Maria, đã viết: “Nêú chúng ta kêu đến Maria, một tiếng vọng trả lời chúng ta: “Đức Giêsu”.

Maria đã theo con đường đầy cam go của con Mẹ và nhiều trang Tin Mừng cho ta thấy để theo con mình với lòng tin, Mẹ đã phải chấp nhận những đau thương xé lòng. Mẹ đã sống bằng đức tin và Ê-li-sa-bét, người chị họ, đã thán phục nhấn mạnh đến điều này khi bà chúc mừng Maria: "Phúc cho em vì đã tin”. Giáo Hội Công đồng Vaticanô II, phụng vụ, đều đi ngược lại với chiều hướng tự nhiên thúc đẩy chúng ta muốn "đề cao Đức Maria một cách quá đáng khi gán cho Mẹ những vầng hào quang quá lạ thườg làm như thế, phải chăng chúng ta đã chẳng đi cùng một chặn đường của Mẹ ! " Đức cha Garrone tự hỏi.

Lộ trình thiêng liêng của Maria có thể là lộ trình của chúng ta. Theo Mẹ, chúng ta tiến gần Đức Giêsu hơn. Có được cái nhìn đức tin của Mẹ, chúng ta sẽ học nhìn Đức Giêsu như chính Mẹ đã chiêm ngắm và từ từ khám phá về Ngài. Như Mẹ, chúng ta có thể tiến triển trong đức tin qua khổ nhọc và niềm vui, qua những khám phá và những việc lạ lùng kỹ diệu, và thường là phải chấp nhận khổ đau cùng những điều không hiểu thấu như Mẹ và Giuse đền thờ (Lc 2,50). Đức cha Garrqne giải thích, cái nhìn của Maria về con mình thực sự tương hợp với những giai đoạn "lớn lên” dần của Đức Giêsu mà Luca đã nói rõ ràng: Maria đã thấy Giêsu: "cùng thêm tuổi càng thêm khôn ngoan và ân sủng trước mặt Thiên Chúa và mọi người..." (Lc 2,52). Do đó, chúng ta sẽ đi đúng đường và suy nghĩ đúng như Maria khi cùng với Mẹ làm lại cuộc hành trình chính Mẹ đã trải qua".
 
-----------------------------

 

15/8-174: Chú giải theo Fiches Dominicales


Thăm Viếng: Một bài ca được cất lên bằng giọng hát

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Một cảnh tượng liên hệ chặt chẽ với biến cố truyền tin.

 

Sứ thần truyền tin rời khỏi Đức Maria sau khi cho Mẹ một dấu chỉ: "Kìa Êlisabét, người họ hàng 15/8-174


Sứ thần truyền tin rời khỏi Đức Maria sau khi cho Mẹ một dấu chỉ: "Kìa Êlisabét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai: bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng…" Ngay lập tức Maria tội vã lên đường ", hình ảnh Hội Thánh đem Tin Mừng của Đức Giêsu-Kitô đến cho muôn dân, "đến miền núi, vào một thành thuộc chi tộc Giuda" Hugues Cousin ghi nhận: "Chủ đề lên đường xuất hiện lần đầu trong câu chuyện mà các nhân vật di chuyển rất nhiều; Lời Chúa bắt đầu cuộc hành trình của mình là cuối cùng, chẳng bao lâu đã được loan báo tới tận Rôma, tượng trưng nơi tận cùng của trái đất" (Cvtđ 18; 28,30-31) ("LEvangile de Luc", Ccnturion, trg 30).

Theo cha Lagrange, chúng ta không biết gì về cuộc hành trình kéo dài khoảng bốn ngày của Đức Maria. Mối quan tâm hàng đầu của thánh sử là quang cảnh khi Maria đến. Một quang cảnh trong đó Luca phối hợp hai chu kỳ mà từ đầu ngài đã khai triển cách biệt nhau: chu kỳ của Gioan và chu kỳ của Đức Giêsu.

2. Nơi định mệnh bí ẩn của hai trẻ sắp sinh ra được mạc khải

Maria vừa nhận lời chào của sứ thần trong biến cố Truyền tin, giờ đây lại chuyển lời chào ấy cho chị họ của mình: "Bà vào nhà ông Giacaria bà chào bà Êlisabét ". Francois Bovon nhận xét: " Có rất nhiều lời chào hỏi trong những chương Tin Mừng này, vì có rất nhiều cuộc gặp gỡ và vì Thiên Chúa can thiệp và khai mở ơn cứu độ qua những tương quan nhân loại." ("L' Evangile selon Saint Luc 1-9 ", Labor et Fỉdcs, trg 86). Lời chào của Maria nối tiếp câu chuyện. Khi đôi tai bà nghe lời chào của Êlisabét, hài nhi trong lòng bà liền nhảy lên vui sướng; dịch như vậy vẫn chưa diễn đạt đúng ý của từ Hylạp có nghĩa: "nhảy lên ", "nhảy lên ", "nhảy múa".

Được đầy tràn Thánh Thần, ngay cả trước khi sinh ra, Gioan đã thấy rạng đông của thời kỳ mới ló dạng và, vì cảm thấy trước sứ vụ của mình, ông đã nói tiên tri, không phải bằng ngôn từ nhưng bằng sự nhảy mừng, rằng Đấng mọi người trông đợi sẽ đến vào thời thế mạt, nay đã hiện diện. Cũng theo F. Bovon: "Thiên Chúa không chỉ dùng lời nói mà còn cả ngôn ngữ của thân thể. "

Được tràn đầy Thánh Thần, Êlisabét hiểu được ý nghĩa sự nhảy mừng của đứa con còn trong bụng mẹ và ý nghĩa cuộc gặp gỡ bà đang sống.

+ Bằng tiếng kêu thán phục, bà nhìn nhận Maria và "hoa trái của lòng dạ mang " được Thiên Chúa chúc phúc.

+ Rồi, với danh nghĩa "Mẹ Thiên Chúa ", bà loan báo đứa con của em mình là Đấng Thánh vịnh 109,1 đã báo trước, chính là Kitô, Đức Chúa.

+ Sau cùng, dưởi hình thức mối phúc, bà ca tụng đức tin của Maria: "Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em. " Thánh Augustinô chú giải: “Maria đã mang thai trong tinh phần trước khi mang thai trong thân xác.”

2. Và nơi Bài ca của Đức Maria, ý nghiã của biến cố được sáng tỏ:

Như bức tranh ghép bằng những bản văn Cựu ước, Bài ca Đức Maria cất lên đóng vai trò gần giống vai trò của một điệu nhạc trong vở ôpêra; nhờ tạm ngừng vở diễn, nó làm sáng tỏ ý nghĩa của biến cố.

Bài ca này được khai triển thành ba đoạn thơ:

- Mở đầu, Bài ca diễn tả lý do Đức Maria ca tụng:

“Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa... Đấng toàn năng đã làm cho tôi biết bao điều kỳ diệu: Danh Người thật chí Thánh".

- Kế đó là minh họa về sự đảo ngược tình thế và giá trị, đánh dấu sự biến chuyển từ thế giới hiện tại sang thế giới mới "Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường. v.v. ".

Để kết luận, Đức Maria công bố rằng sự can thiệp ban ơn cứu độ này là khởi đầu việc hoàn tất lời đã hứa cùng các tổ phụ, dành cho con cháu của Abraham.

Nhưng qua Bài ca của Đức Trinh nữ Maria, chính cộng đoàn Kitô hữu là Hội Thánh cử hành mầu nhiệm của riêng mình; Hội Thánh thấu hiểu, chiêm niệm và ca tụng kinh nghiệm về về ơn cứu độ của Chính mình. L. Monloubou giải thích: "Đức Maria xuất hiện như ca viên lý tưởng của một thánh vịnh mà cộng đoàn Kitô hữu thấu hiểu cách sâu hơn và qua đó, nhận thức rõ ràng hơn ý nghĩa cuộc sống của chính cộng đoàn, khi vừa hát lên thánh vịnh nó vừa nhớ đến Mẹ của Đức Giêsu. Khi ấy, được soi sáng với những lời Đức Maria, Hội Thánh nhìn ngắm đời sống của chính mình; Hội Thánh thấu hiểu hơn nghĩa của cuộc sống ấy. Hội Thánh học để nhận biết rõ ràng hơn chính trong Hội Thánh Thiên Chúa "làm những việc diệu kỳ"; Được Đức Maria dẫn dắt, Hội Thánh dấn thân trên con đường ca ngợi, để chính Hội Thánh nói lên. "Linh hồn tôi ngợi khen Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng trong Thiên Chúa, Đấng cứu độ. Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới ..Danh người là thánh!" (L'Evangilc đe Luc ", Salvator, trg 70)

*****

II. BÀI ĐỌC THÊM

1. Đức khiêm nhường của Đức Maria.

(G. Bouchcr, trong "Leciel sur terrc", trg. 54)

"Hôm đó đã diễn ra một cuộc gặp gỡ đơn giản, bình thường giữa hai con người. Lịch sử không có một ghi nhận nào. Hai người phụ rlữ, hai người mẹ tương lai. Hai người đàn bà hạnh phúc được cưu mang đứa con trong lòng mình. Những đứa con họ không hy vọng có được...”

Đức Maria là trung tâm của câu chuyện. Người chị họ Êlisabét vui mừng đón tiếp em mình. Bà chào Maria, chúc phúc cho Mẹ theo truyền thống dân tộc. Bà công bố Mẹ và đứa con trong lòng được Thiên Chúa chúc phúc.

Chẳng mấy chốc, câu chuyện trao đổi hưởng tới cầu nguyện. Thiên Chúa là trung tâm của lời cầu nguyện ấy. Cuộc nói chuyện của cả hai biến thành lời ca ngợi Thiên Chúa cứu độ.

2. Lời Maria thốt lên là những lời tạ ơn.

Lạy Chúa, Ngài là Đấng kỳ diệu vượt xa hẳn những điều kỳ diệu trên thế giới này. Chúa đã thực hiện điều lạ lùng nơi tôi, một thiếu nữ yếu đuối. Lạy Chúa, toàn năng và là Đức Chúa, Ngài đã kêu gọi nữ tỳ của Ngài dù tôi chỉ là một thiếu nữ, chỉ là một phụ nữ.

Cuộc trao đổi lời chào giữa Maria và Êlisabét diễn tả một cuộc trao đổi khác giữa Thiên Chúa và một phụ nữ, thay mặt cho nhân loại. Maria nhìn thấy vinh quang và thánh thiện của Thiên Chúa tỏ lộ trong giao ước lạ thường này.

Cũng trong chiều hướng ấy, lời cầu nguyện của Maria là lời ca ngợi những ai nhận biết và sẽ nhận biết sự can thiệp quá đỗi lạ lùng, rất khó tin của Thiên Chúa.

Lời cầu nguyện của Mẹ vừa dựa trên những nhận định đầy khôn ngoan về Thiên Chúa, vừa dựa trên những Iý luận về bản tính hay hành động của người. Nhờ đó, tâm hồn Mẹ luôn sẵn sàng vâng theo ý Chúa . Lời cầu nguyện của Mẹ nối kết với Thiên Chúa trên những con đường đầy bất ngờ, trong sự khiêm tốn nhận biết rằng chúng ta hành động là do Thiên Chúa thúc đẩy.

Lạy Mẹ Maria, Mẹ khiêm tốn loan báo những việc kỳ diệu Thiên Chúa thực hiện nơi Mẹ bởi vì những việc ấy không những là các dấu chỉ về hoạt động của Người mà còn nói lên vẻ huy hoàng và sự thánh thiện của Người nữa.

Lạy Mẹ Maria, sự khiêm tốn của Mẹ đã không hủy diệt gì khi loan báo sự hiện hữu của Thiên Chúa làm người và Đấng vĩnh cửu đi vào lịch sử nhân loại.

Lạy Mẹ Maria, sự khiêm tốn của Mẹ chính là nét đơn sơ trong tâm hồn khi Mẹ đón nhận chương trình của Thiên Chúa về Mẹ và về nhân loại một lần cho mãi mãi, dù về phương diện nhân loại, chương trình ấy khó có thể tưởng tượng nổi.

Lạy Mẹ Maria, sự khiêm tốn của Mẹ đã giúp Mẹ có mặt ngay trung tâm ơn cứu độ nhân loại do Thiên Chúa thực hiện và giúp Mẹ nhất tin với lời hứa của Thiên Chúa từ ngàn xưa khi đồng ý trao ban một thân hình cho con Thiên Chúa.

Lạy Mẹ Maria, sự khiêm tốn của Mẹ mở cửa cho sự thần hóa lạ lùng chưa từng có: Mẹ lên trời ngự bên Thiên Chúa.

3. Hình ảnh cuộc biến đổi của chúng ta.

(F. Deleclos, prends ét mang la Parole", Centurion-ducolot, trg 269-270)

Sự sùng kính Đức Maria đích thực không hệ tại việc gia tăng và triển khai những lời ca ngợi và ngưỡng mộ đối với những đặc ân Mẹ đã lãnh nhận, nhưng là học ở Mẹ để trở nên và để là một người tin. Có thể nói thêm được rằng chúng ta chỉ có thể đề cập đến Đức Maria trong đức tin, "nghĩa là qua Me, chúng ta tìm kiếm chính Thiên Chúa, hoặc nói rõ hơn chính Đức Giêsu con Mẹ ". Chính Grignon de Monfort, một người rất nổi tiếng về lòng sùng kính Đức Maria viết rằng: "Nếu chúng ta gọi tên Maria, tiếng vọng trả lời sẽ là Giêsu".

Maria đã học trong cùng một ngôi trường khắc nghiệt như con mình. Nhiều trang Tin Mừng cho chúng ta thấy những đổ vỡ Mẹ gánh chịu để theo bước con mình trong đức tin. Maria đã sống đức tin cách sâu xa. Chính Êlisabét đã đề cao điều ấy một cách tuyệt diệu khi chúc mừng Mẹ: "Phúc cho em vì đã tin ..."

Đức cha Garron tự hỏi, Hội Thánh, Công đồng Vaticanô II và Phụng vụ đều đi ngược lại với khuynh hướng tự nhiên thúc đẩy chúng ta tô vẽ thái quá cho Đức Maria khi gán cho Mẹ những vinh quang kỳ diệu. Với thái độ như vậy chúng ta sẽ tiên tri tận đâu đây".

Lộ trình thiêng liêng của Đức Marià có thể là lộ trình của chúng ta. Tiến bước theo Mẹ, chúng ta đến gần Đức Giêsu. Mặc lấy cái nhìn đức tin của Mẹ , chúng la học theo Mẹ để nhìn ngắm Đức Giêsu như chính Mẹ đã chiêm niệm và từ từ khám phá. Như Mẹ, chúng ta có thể tiến triển qua niềm vui và nỗi khổ, phát hiện và ngạc nhiên, và thường ngay cả nỗi đau khổ và sự không hiểu, như trường hợp Đức Maria và thánh Giuse ở đền thờ (Lc 2,50). Đức cha Garron giải thích, cái nhìn của Maria về con mình rất tương hợp với những giai đoạn kế tiếp nhau của sự "lớn lên" mà thánh Luca đã nói rõ: Maria đã thấy Đức Giêsu "ngày càng lớn lên, thêm những mạnh, đầy khôn ngoan và hằng được ơn nghĩa cùng Chúa ... " (Lc 2,52). Do đó, chúng ta sẽ tôn trọng chân lý của mọi sự và tư tưởng của chính Đức Maria khi cùng với Mẹ làm lại cuộc hành trình mà trưởc kia Mẹ đã không ngừng rảo bước. Chính trong viễn ảnh này, chúng ta có thể đặt biến cố Mông Triệu như một kết luận. Biến cố ấy nói cho chúng ta biết cuộc phiêu lưu của đức tin sẽ kết thúc thế nào. Đức Maria, Hòm Bia của giao ước mới, bước vào vinh quang của Chúa Cha. Đức Trinh Nữ được Thiên Chúa cho hưởng phúc vinh quang, chính là hình ảnh cho tương lai của chúng ta. Bài đọc thứ nhất so sánh Maria với Hòm Bia đích thực, nghĩa là nơi Thiên Chúa ngự, là lều tạm nơi để Lời Chúa và Bánh Thánh. Biến cố Mông Triệu giống như sự đảo ngược tình thế.

Giờ đây, chính Đức Maria được đón tiếp trong Thiên Chúa. Từ nay Mẹ ở trong Người. Chúng ta không còn ở phạm vi ưu đãi, nhưng bước sang phạm vi ơn gọi chung, vì đạt đến Đất Hứa sau cuộc phiêu lưu trên sa mạc là lời Thiên Chúa hứa cho mỗi người trong chúng ta.

---------------------------

 

15/8-175: Chú giải Tin Mừng theo Hugues Cousin


Thăm Viếng: 1, 39-45

 

Cảnh này không có cảnh tương ứng thì không có gì lạ: kết quả của nó là việc thành công sự giao 15/8-175


Cảnh này không có cảnh tương ứng thì không có gì lạ: kết quả của nó là việc thành công sự giao liên giữa chu kỳ của Gioan và chu kỳ của Chúa Giêsu. Việc gặp gỡ của hai phụ nữ mang thai cho phép liên kết hai em bé sắp sinh ra. Trong bố cục của Luca, thực ra vị tiên hô bị tống giam trước khi Chúa Giêsu Kitô đến nhận phép rửa (3,20-21).
Đề tài của cuộc hành trình xuất hiện lần đầu tiên trong một tác phẩm mà các nhân vật di chuyển nhiều: Lời bắt đầu lên đường và cuộc hành trình (mau lẹ) sẽ dẫn Lời đến tận La Mã, tượng trưng cho ranh giới cuối cùng của miền đất có người ở (Cv 1,8; 28,30-31). Việc ngự đến của thần khí tiên tri trên bà Elizabeth chắc chắn muốn nói rằng Thiên Chúa đang hành động; nhưng sự can thiệp thần linh này cần sự thông hiệp và suy tư của những con người; ở đây cũng như ở Cv 10 với cuộc gặp gỡ giữa Phêrô và Conêliô, Lời chính là sự gặp gỡ của các nhân vật.

Thực vậy, vai trò của các nhân vật không hoàn toàn thụ động. Khi đa nhận lời thiên sứ chào, Đức Maria liền chuyển giao lời ấy; và điều đó mở đầu cho tiến trình. Khi lời chào vang đến tai bà Elizabeth, con trẻ sắp sinh nhảy mừng trong dạ mẹ. Em được đầy Thánh Thần như sứ thần đã loan báo (1,15), em bé thấy hừng lên bình minh của thời đại mới và nói tiên tri bằng việc nhảy mừng và không phải bằng lời nói, khi hân hoan nhận ra sự hiện diện của Đấng mà thiên hạ đợi trông vào thời cuối cùng. Được đầy thần khí tiên tri, lúc ấy Elizabeth hiểu được đầy đủ ý nghĩa của việc vừa xảy ra trong lòng dạ bà; bà không chỉ bằng lòng nhận ra rằng Đức Maria và đứa con bà cưu mang là đối tượng cho phúc lành của Chúa. Bà còn tuyên xưng người bà con của mình là Mẹ của Chúa tôi; bà Elizabeth nói bằng chính môi miệng mình điều mà đứa con bà đã xác nhận bằng cách nhảy mừng: con của Đức Maria là Đấng Kitô, Chúa đã loan báo trong Thánh vịnh 110, câu 1 (được trích dẫn bởi Lc 20,41-44 và Cv 2,34-36).

Như vậy tiếng kêu lớn của bà Elizabeth như vậy trước hết có ý nghĩa Kitô học: điều được nói về mẹ lại đến trước sự cao cả của Người Con. Nếu Đức Maria cưu mang Đấng Cứu Thế thì thật sự Ngài được chúc phúc hơn mọi phụ nữ. Tự nó, việc thụ thai đồng trinh đề cao Người Con chứ không phải người mẹ – như “Tin Mừng thời thơ ấu” của Mt 1-2 đã cho thấy. Tuy nhiên, Luca cũng lưu ý đến nhân vật Maria, và qua việc đó ông cho thấy một điều mới mẻ. Lời chúc phúc liên quan tới lòng tin của Đức Maria tự căn bản khác với cô thiếu nữ trong sách tiên tri Giacaria (c. 45) và những câu 42-45 cho phép Luca quy tụ trong Đức Maria hai cái phúc, phúc vì được làm mẹ và phúc vì có lòng tin mà ông tách rời ra trong đoạn 11,27-28. Khi tin rằng các lời của Thiên Chúa sẽ được thực hiện, Đức Maria trở thành mẹ; rõ ràng đức tin của người là thiết yếu để cho những lời ấy được thực hiện. Người là mẫu mực cho những ai nghe lời, là gương mẫu cho tín hữu, là Kitô hữu đầu tiên. Người ta cũng không coi thường việc Luca căn cứ vào lời cầu nguyện và suy tư sau này của Giáo Hội về người trinh nữ thành Nagiaret. Diễn ngữ Mẹ của Chúa chắc chắn cũng là dùng để tôn vinh Đức Maria: théotokos, mẹ của Thiên Chúa, cũng như lời nguyện cầu sẽ làm thành phần thứ hai của kinh “kính mừng”.

Lúc ấy, Đức Maria xướng lên bai thứ nhất trong bốn bài thánh ca của Lc 1-2. Đó là một bức tranh ghép toàn bằng những trích dẫn Cựu ước, theo bản dịch Hy Lạp Bảy Mươi. Như thánh ca của Anna (Sm 2,1-10) được Luca đường như khuôn mẫu, thánh ca ngợi khen này có một điểm nối kết với mạch văn, chỉ có câu 48 nối liền với trình thuật trước đó khi gợi lại một cách kín đáo việc truyền tin. Tuy nhiên, kinh Ngợi khen này có ý nghĩa của nó chính nhờ việc Luca đặt nó vào chỗ này. Vai trò của bản thánh ca này làm ta nghĩ đến vai trò của các giai điệu trong một bản nhạc kịch: cử điệu tạm thời bị ngưng lại và tiếng hát lời ca biểu lộ tâm lý của nhân vật trong cảnh hoặc ý nghĩa của biến cố.

Như bà Anna, người đã thụ thai một cách lạ lùng, Đức Maria bắt đầu bằng việc diễn tả điều Ngài cảm thấy (c. 46-47). Sau đó, tới lý do lời ngợi khen: bởi vì, lúc truyền tin, Người đã nhìn đến sự thấp hèn của nữ tỳ nữ Người và bởi vì, Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi những điều kỳ diệu; lý do này bị gián đoạn giữa chừng bởi cái phúc của người tì nữ (c. 48b). So sánh bới St 30,13 thấy rằng: mọi thế hệ sẽ khen Đức Maria có phúc vì người con mà Ngài đang mang trong dạ chứ không phải do một công nghiệp cá nhân nào. Nhưng đồng thời, dường như Luca đã muốn bày tỏ qua điều diễm phúc này một thái độ tự nhiên của Kitô hữu đối với người mẹ đầy niềm tin của Chúa. Dù thế nao đi nữa, đối với nền tảng này của các suy tư sau đó về Đức Maria, điều đáng chú ý là từ câu này trở đi Thiên Chúa là chủ từ mọi động từ, trừ hai câu trong ngoặc này: Người chỉ được diễn tả là Đấng quyền năng, thánh thiện và nhân từ (c. 48-50).

Những câu 51-53 làm thành phần thứ hai cho thấy cảnh đổi lộn các tình huống và giá trị làm nổi bật bước chuyển từ thế giới này sang thế giới mới. Sự can thiệp cứu độ của Thiên Chúa, được bắt đầu với việc thụ thai con người, là Đấng Mêsia, sẽ ưu tiên xét xử công bình cho người thấp hèn, kẻ bị chà đạp. Đó là một suy tư mà Luca ưa thích và ông sẽ khai triển dài hơn khi trình bày các mối phúc và những nỗi bat hạnh (Lc 6,20-26) để giải thích luận đề này. Chúng ta hãy chỉ ghi nhận rằng bố cục của Luca đã đặt trên môi miệng Đức Maria một ngôn ngữ sẽ làm nổi bật tính cách hiển thị của Vương Quốc trong lời rao giảng của Đức Giêsu.

Trong phần kết, sự can thiệp có tính cách cứu độ bắt đầu thực hiện lời hứa với các tổ phụ, cho con cháu của Abraham (cc. 54-55). Luca cẩn thận không nói trước đến đề tài lương dân vào đạo, cũng như tô điểm cho bài thánh ca màu sắc Kitô học hậu-Phục Sinh.

Đức Maria ở lại nhà bà Elizabeth độ ba tháng. Đối với Luca, khoảng thời gian trong khi Đức Maria xa cách Giuse là một dấu chỉ, dưới mắt độc giả, xác minh cho việc thụ thai đồng trinh. Đồng thời, không có vấn đề Đấng Mêsia hiện diện – dù là trong dạ mẹ – vào ngày vị tiền hô sinh ra! Đức Maria trở về nhà mình.

------------------------

 

15/8-176: Maria diễm phúc hơn mọi người nữ


(Suy niệm của Lm. Đan Vinh)

I. HỌC LỜI CHÚA

Ý CHÍNH:

 

Bài Tin Mừng gồm ba phần như sau: Phần I (39-40): Đức Ma-ri-a vội vã lên đường thăm viếng bà 15/8-176


Bài Tin Mừng gồm ba phần như sau: Phần I (39-40): Đức Ma-ri-a vội vã lên đường thăm viếng bà chị họ Ê-li-sa-bét. Hai bà mẹ đều được chúc phúc vì đã quảng đại đáp lời mời cộng tác vào chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Phần II (41-46a): Thai nhi Gio-an trong dạ mẹ đã hân hoan nhảy mừng đón Thai Nhi Giê-su đến ban ơn cứu độ. Phần III (46b-56): Đức Ma-ri-a dâng lời kinh Ma-nhi-phi-cát ca ngợi tình thương cứu độ của Đức Chúa.

CHÚ THÍCH:

- C 39: + Lên đường vội vã: Chỉ một thời gian ngắn sau biến cố Truyền tin, Đức Ma-ri-a đã vội vã lên đường đến thăm bà chị họ Ê-li-sa-bét (hay cũng gọi là I-sa-ve), mà sứ thần đã cho biết bà mới có thai được 6 tháng. Bà này đã chịu tủi hổ trước mặt người đời, vì bị son sẻ không con. + Đến miền núi, vào một thành thuộc chi tộc Giu-đa: Thành mà Đức Ma-ri-a định tới là một trong mười một địa hạt miền Giu-đê. Nhiếu người nghĩ đó là A-in Ka-rim, cách thủ đô Giê-ru-sa-lem 6 cây số về phía Tây. Con đừong từ Na-da-rét đến A-in Ka-rim dài 150 cây số.

- C 40-41: + bà vào nhà ông Da-ca-ri-a và chào hỏi bà Ê-li-sa-bét: Cuộc gặp gỡ giữa hai bà mẹ chính là cơ hội để thai nhi Giê-su gặp gỡ thai nhi Gio-an là tiền hô của Người. + Đứa con trong bụng nhảy lên: Gio-an Tẩy Giả bắt đầu sứ vụ ngôn sứ bằng động tác nhảy mừng trước Đấng Thiên Sai (Mêsia) đang ẩn mình trong dạ mẹ, giống như vua Đa-vít xưa đã nhảy mừng khi ra đón Hòm Bia Giao Ước. Truyền thống coi sự kiện này là dấu hiệu Gio-an Tẩy Giả được khỏi tội tổ tông truyền. + Bà được đầy ơn Chúa Thánh Thần: Thánh Thần đã tác động khiến bà Ê-li-sa-bét nhận biết cô em họ Ma-ria đang mang Đấng Mê-si-a đến viếng thăm nhà mình.

- C 42-44: + Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc: Bà Ê-li-sa-bét ca tụng Ma-ri-a diễm phúc hơn mọi phụ nữ, vì thai nhi trong lòng Ma-ri-a là Đấng được Thiên Chúa chúc phúc. + Bởi đâu tôi được thân mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này?: “Chúa tôi” ở đây là danh xưng của Đấng Mê-si-a. Nhờ được Thần Khí tác động mà bà Ê-li-sa-bét đã nhận ra Chúa của mình là Thai nhi mà cô em Ma-ri-a đang cưu mang. Danh xưng Đức Giê-su là “Chúa” được Tin Mừng Lu-ca sử dụng đến 40 lần. + Vì này đây, tai tôi vừa nghe tiếng em chào, thì đứa con trong bụng đã nhảy lên vui sướng: Ê-li-sa-bét chia sẻ cho Ma-ri-a sự lạ mà bà vừa cảm nghiệm. Đó cũng là lý do khiến bà nhận biết Đức Ma-ri-a đang cưu mang Thai Nhi Cứu Thế.

- C 45: + Em thật có phúc, vì đã tin: Ma-ri-a đã tin vào những lời Chúa phán với mình khi sứ thần truyền tin sẽ được thực hiện, và trở thành người tín hữu đầu tiên của thời Tân Ước. Ngược lại với ông Da-ca-ri-a chồng bà vì không tin và đòi thấy dấu lạ, nên đã bị câm cho đến khi các điều sứ thần nói xảy ra (x. Lc 1,20).

- C 46-50: +“Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa: Sau khi nghe bà Ê-li-sa-bét khen là có phúc, Ma-ri-a đã quy hướng lời ca khen đó về cho Thiên Chúa trong bài kinh “Ngợi khen Thiên Chúa” (Magnificat). Bài này mô phỏng theo bài ca mà bà An-na là mẹ của ngôn sứ Sa-mu-en, sau khi được Đức Chúa cho sinh con trai và mang đứa trẻ lên Đền Thờ tại Si-lô thời Tư tế Ê-li, để thánh hiến dâng cho Đức Chúa (x. 1 Sm 2,1-10). Kinh này nhấn mạnh hai đìều: Một là người nghèo hèn bé mọn được Chúa bênh vực (x. Xp 2,3; Mt 5,3); Hai là dân Ít-ra-en được Chúa tuyển chọn và yêu thương (x. Đnl 7,6). Đức Ma-ri-a đã hát lên bài ca này để bày tỏ lòng tri ân của mình (cc 46-49) và của toàn dân It-ra-en (cc 50-55), vì nay đã đến thời điểm lời hứa cứu độ của Đức Chúa được thực hiện.

- C 51-55: + Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh: Chúa dùng quyền năng để can thiệp và bênh vực người hèn yếu (x. Tv 118,15-16). + Vì Người nhớ lại lòng thương xót: Cựu Ước thường ghi là “Thiên Chúa nhớ lại” để diễn tả việc Người luôn trung thành với lời hứa và thi hành những lời Ngừơi đã phán qua các ngôn sứ (x. St 8,1; 9,15; Xh 2,24). Lu-ca cũng không quên ghi lại lời chúc tụng như bài ca của Da-ca-ri-a trước đó: “Người nhớ lại lời xưa giao ước” (Lc 1,72).

- C 56: + Ở lại với bà Ê-li-sa-bét độ ba tháng: Ở lại để giúp đỡ bà chị Ê-li-sa-bét, làm các việc nhà thay cho bà trong thời kỳ cuối trước khi bà sinh con. Nhưng Đức Ma-ri-a chỉ phục vụ đúng mức mà thôi. + rồi trở về nhà: Một tuần sau ngày bà Ê-li-sa-bét sinh nở, sau khi con trẻ được đặt tên và chịu phép Cắt Bì để được gia nhập vào dân Ít-ra-en, thì Đức Ma-ri-a đã trở về quê nhà là thành Na-da-rét.

CÂU HỎI: 1) Lý do nào khiến Đức Ma-ri-a vội vã lên đường viếng thăm bà chị họ Ê-li-sa-bét? 2) Truyền thống Công Giáo khẳng định Gio-an Tẩy Giả được khỏi tội tổ tông truyền từ lúc nào? 3) Bà Ê-li-sa-bét được đầy Thánh Thần đã gọi Đức Ma-ri-a bằng tước hiệu gì? 4) Tại sao bà Ê-li-sa-bét khen Đức Ma-ri-a diễm phúc, khác với ông Gia-ca-ri-a chồng bà? 5) Bài kinh “Ngợi khen Thiên Chúa” (Magnificat) có nguồn gốc thế nào trong Cựu Ước và nội dung gồm những gì? 6) Đức Ma-ri-a ở lại nhà bà Ê-li-sa-bét bao lâu và để làm gì?

II. SỐNG LỜI CHÚA:

1. LỜI CHÚA: Bà Ê-li-sa-bét được tràn đầy Thánh Thần đã ca tụng Đức Ma-ri-a rằng: “Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ” (41-42a),… và: “Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em” (45). Bấy giờ bà Ma-ri-a nói: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa” (46).

2. CÂU CHUYỆN:

1) Đức Maria Hòm Bia của Giao Ước Mới:

+ LỊCH SỬ VÀ Ý NGHĨA CỦA HÒM BIA GIAO ƯỚC: Hòm bia hay Khám Giao Ước là một chiếc thùng được làm bằng gỗ keo hình chữ nhật, dài một thước hai, rộng bảy tấc rưỡi và cao bảy tấc rưỡi. Được dát bằng vàng ròng cả trong lẫn ngoài (x. Xh 37, 1-2). Bên trong chứa đựng hai tấm bia ghi Mười điều răn do chính Thiên Chúa viết và ban cho dân It-ra-en qua trung gian của Mô-sê trên núi Khô-rép (x. Xh 20,1-17; Đnl 5,2-21). Về sau Mô-sê còn viết sách Luật và truyền đặt bên cạnh Hòm Bia (x. Đnl 31,24-27). Trên Hòm Bia có một cái nắp đậy được gọi là Nắp Xá Tội. Hai bên đầu nắp có hai bức tượng thần hộ giá (Kê-ru-bim) bằng vàng gò đặt đối diện nhau và cùng cúi mặt xuống nắp. Hai tượng này có cánh giương lên và phủ trên nắp (x. Xh 25,18-20). Chính nơi Hòm Bia này mà Đức Chúa hiện ra nói chuyện với dân Người và đáp lại lời họ kêu xin (x. Xh 25,22; 1 Sm 4,4). Trong cuộc hành trình qua sa mạc, Hòm Bia Giao Ước luôn được khiêng đi trước dẫn đường cho dân Ít-ra-en. Vua Đa-vít đã đem cả Hòm Bia Giao Ước lẫn Lều Thánh về Giê-ru-sa-lem và làm cho thành này trở thành trung tâm của Vương quốc cả về chính trị lẫn tôn giáo. Vua Sa-lô-môn đã đặt Hòm Bia Giao Ước vào nơi Cực Thánh của Đền Thờ sau khi xây dựng xong. Đối với nhà vua cũng như toàn dân, Hòm Bia Giao Ước mang ý nghĩa lãnh đạo và che chở, đồng thời cũng là lời khuyến cáo phải sống theo thánh ý Thiên Chúa đang ngự giữa dân Người. Sau khi đế quốc Ba-by-lon tàn phá Đền thờ Giê-ru-sa-lem vào năm 587 trước Công Nguyên, họ cũng phá hủy cả Hòm Bia Giao Ước. Từ đó tất cả ý nghĩa của Hòm Bia Giao Ước đều chuyển sang Đền Thờ thứ hai và thành thánh Giê-ru-sa-lem, được coi là ngai tòa và là bệ chân của Thiên Chúa.

+ Đức Maria, Hòm Bia của Giao Ước Mới: Trong Tân Ước, Đức Ma-ri-a được công nhận là nơi Thiên Chúa cư ngụ, giống như Hòm Bia của Giao Ươc mới. Nơi Đức Ma-ri-a, quyền năng của Thiên Chúa đã được tỏ hiện, đúng như sứ thần đã nói với Người: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên Bà và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên Bà” (Lc 1,35). Thực vậy, vinh quang Thiên Chúa đã bao phủ trên Ma-ri-a giống như cột mây cột lửa đã rợp bóng trên dân It-ra-en để bang trợ, phù giúp dân vượt qua biển Đỏ về miền Đất Hứa (x. Xh 14,19-20). Trong biến cố Truyền tin, ngay sau lời thưa “Vâng” của Người, Thánh Thần đã tác động làm cho Đức Ma-ri-a thụ thai mà vẫn còn trinh khiết, và Ngôi Lời Thiên Chúa đã nhập vào Thai nhi ấy, trở thành người có xác có hồn giống như chúng ta (x. Lc 1,38), ngoại trừ không có tội. Đó là Mầu Nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể. Tóm lại, Đức Ma-ri-a cũng đựơc ví như Hòm Bia của Giao Ước Mới, nơi mà “Lời Thiên Chúa đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (x. Ga 1,14), và Đức Giê-su trở thành Đấng “Em-ma-nu-en” Nghĩa là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (Mt 1,23). Đức Ma-ri-a là Mẹ cưu mang Hài Nhi Giê-su trong lòng, nên Người cũng được ví như Hòm Bia Thiên Chúa.

2) Mẹ luôn cứu giúp những ai tin cậy kêu cầu:

ĐU-LỚT HAI-ĐƠ (Douglas Hyde) vốn là một người vô tín và thù ghét đạo Công giáo. Ông là chủ bút một tờ báo lớn ở nước Anh. Với tư cách là chủ bút, ông nghiên cứu về Giáo hội để viết những bài phê bình chống đối gay gắt. Tuy nhiên một điều lạ lùng đã xảy ra, là ông càng nghiên cứu về giáo lý bao nhiêu, thì tâm trí ông lại càng thêm tin tưởng vào các chân lý ấy bấy nhiêu. Tuy vậy ông vẫn chưa quyết định dứt khóat tin theo đạo ngay.

Một hôm, trên đường từ nhà đến tòa soạn ở trung tâm thủ đô Luân Đôn, lúc xe lửa đến trạm dừng, Đu-Lớt thấy tấm biển ghi “Nhà thờ Công giáo” ở bên đường, ông liền thử vào bên trong nhà thờ xem sao. Ông ngồi vào hàng ghế ở cuối nhà thờ và rồi thắc mắc tại sao mình lại có mặt ở đây? Bấy giờ ông thấy một cô gái bước vào nhà thờ, nét mặt âu lo buồn khổ. Cô ta đi thẳng đến trước tòa Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp bên trái cung thánh nhà thờ và quỳ dưới hình Đức Mẹ một hồi lâu. Sau đó, cô đứng dậy đi xuống cuối và ra khỏi nhà thờ. Khi cô đi ngang, Đu-lớt nhận thấy nét mặt của cô ta đã bình thản trở lại chứ không còn lo âu sầu não như khi mới bước vào nhà thờ.

Ngay lúc đó Đu-lớt quyết định thử làm theo cô gái là cũng đến quỳ trước ảnh Đức Mẹ. Sau này ông đã viết trong cuốn “tôi tin” (I believed) như sau: “Tôi không biết người ta đã cầu nguyện với Đức Mẹ thế nào? Cuối cùng tôi nghe thấy chính mình sắp nói ra một điều gì đó thích hợp. Tuy nhiên khi bắt đầu thốt ra thì tôi lại thấy lời đó có vẻ kỳ cục làm sao! Nhưng điều này không quan trọng gì. Tôi biết rõ là sự tìm kiếm bấy lâu nay của tôi đã đạt tới đích… Lúc ra khỏi nhà thờ, tôi cố gắng hồi tưởng lại những gì tôi nói và hầu như tôi bật cười khi nhớ lại những lời ấy. Chúng giống hệt những lời ngân lên trong một điệu khiêu vũ!” Cuối cùng Đu-lớt đã đạt tới đức tin vào Chúa Giê-su nhờ lời chuyển cầu của Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp.

3) Những bằng chứng về đặc ân Hồn Xác Lên Trời của Đức Maria:

Ngoài truyền thống hay Thánh Truyền là ký ức tông truyền, Giáo Hội còn dựa trên một số đoạn Thánh Kinh cho thấy Mẹ Thiên Chúa liên kết rất mật thiết với Con Mình và luôn chia sẻ tất cả thân phận của con, để xác tín đặc ân Hồn Xác Lên Trời của Mẹ:

+ “Dòng giống người nữ sẽ đánh vào đầu mi” (St 3,14-15): Câu này có ba cách hiểu: Một là “Sự chiến thắng của dòng giống người đàn bà trên dòng giống con rắn” (Bản văn tiếng Do Thái). Hai là “Người đàn bà sẽ đạp lên đầu mi” (Bản văn tiếng La Tinh), khẳng định vai trò của Mẹ Đấng Mê-si-a trên con rắn hỏa ngục là ma quỷ (x. Kh 12,13.17). Ba là “Người đó sẽ đánh vào đầu mi” (Bản văn Bảy mươi tiếng Hy Lạp), được hiểu là Đức Giê-su, Đấng sẽ chiến thắng con rắn ma quỷ.

+ “Đấng đầy ân sủng, luôn được Thiên Chúa ở cùng” (x. Lc 1,28): Đầy ơn phúc và luôn có Chúa tức là hoàn toàn trong sạch thánh thiện, nên Người không phải chết như loài người chúng ta. “Bà sẽ thụ thai, sinh một con trai và đặt tên là Giê-su” (Lc 1,31): Đức Ma-ri-a được chọn làm Mẹ Đấng Thiên Sai, Đấng sẽ thay vua Đa-vít cai trị Ít-ra-en và triều đại của Người sẽ luôn vững bền.

+ Đức Maria là Evà Mới: Đã cộng tác với Đức Giê-su là A-Đam mới, để vâng phục Chúa Cha (x. Rm 5,12-19; PI 2,6-11). Mẹ đã tích cực cộng tác với Đức Giê-su trong cuộc khổ nạn (x. Ga 19,25), thì cũng được dự phần vào sự phục sinh vinh quang với Người.

4) Từ tín điều Mẹ Thiên Chúa đến Mẹ Hồn Xác Lên Trời:

+ Từ thuở ban đầu, các giáo đoàn tiên khởi đều tôn kính Đức Trinh Nữ Ma-ri-a. Từ những đoạn Thánh Kinh Tân Ước, đến các giáo phụ, rồi Công đồng chung Ê-phê-sô năm 431 đã tuyên bố “Đức Ma-ri-a là Mẹ Thiên Chúa”. Đã có những lễ nói đến lúc chấm dứt cuộc đời của Đức Ma-ri-a như: Lễ Đức Mẹ An Giấc (dormitio), Lễ Đức Mẹ Chuyển Biến (Transitus), Lễ Đức Mẹ Sinh Ra Trên Trời (Natalis), Lễ Đức Mẹ được Nâng Lên Trời (Assumptio).

+ Riêng Lễ Đức Mẹ An Giấc (Dormitio) đã được long trọng cử hành đó đây trong Giáo Hội Đông Phương. Nhất là từ sau Công đồng chung Ê-phê-sô năm 431, nhưng mãi đến thế kỷ thứ 7, lễ này mới được du nhập vào Giáo Hội Tây Phương.

Từ đó về sau nhiều thư thỉnh nguyện của các giám mục, các dòng tu, các nhà thần học được gửi đến Đức Giáo Hoàng để xin Ngài định tín về việc Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời. Trong Công đồng Va-ti-ca-nô I, nhiều nghị phụ cũng yêu cầu Đức Thánh Cha quyết định điều đó, vì theo các ngài thì việc Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời có liên quan mật thiết với đức đồng trinh và chức vụ làm mẹ Đấng Cứu Thế của Ngài. Hơn nữa, vì Mẹ đã được cứu chuộc hoàn toàn, nên cũng phải được tôn vinh toàn diện như lời thánh Phao-lô: “Chúng ta biết rằng: Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh ích cho những ai yêu mến người, tức là cho những ai Người đã biết từ trước, thì Người đã tiền định cho họ nên đồng hình đồng dạng với Con của Người, để Con của Người làm trưởng tử giữa một đàn em đông đúc” (Rm 8,28-29). Dựa theo các thỉnh nguyện thư đó, năm 1946, Đức Pi-ô 12 đã gửi đến mỗi giám mục một lá thư và yêu cầu trả lời như sau: “Đức cha và hàng giáo sĩ, giáo dân trong giáo phận của Đức cha, có xác tín và có muốn công bố việc Đức Ma-ri-a hồn xác lên trời như một tín điều hay không?” Hầu hết các thư trả lời đều đồng ý và thỉnh nguyện như vậy. Thế là vào ngày 1.11.1950, Đức Pi-ô 12 đã long trọng tuyên bố tín điều Đức Ma-ri-a Hồn Xác Lên Trời cho toàn thể Giáo Hội tin kính và mừng chung vào ngày 15 tháng 8 hằng năm.

+ Đức Thánh Cha đã xác quyết: “Thế nên Đức Thánh Mẫu cao cả, ngay từ đời đời và do cùng một quyết định tiền định, đã được kết hợp với Đức Giê-su Ki-tô một cách huyền nhiệm, vô nhiễm khi đầu thai, đồng trinh vẹn sạch khi làm Mẹ, cộng tác quảng đại với Đấng Cứu Thế, Đấng đã chiến thắng hoàn toàn sự tội và các hiệu quả của nó, thì cuối cùng để kết thúc mọi đặc ân ngài đã được, Đức Trinh Nữ cũng đã gìn giữ khỏi bị hư nát ở trong mồ, để nên giống Con Mình. Sau khi chiến thắng sự chết, ngài cũng được tôn vinh trên trời cả hồn lẫn xác, nơi Ngài được sáng láng làm Nữ Vương ngự bên hữu Con mình là Vua bất tử của mọi thời” (trích CGKPV trang 334).

3. SUY NIỆM:

1) Đức Maria là Mẹ Đức Giêsu:

Là Mẹ đã thụ thai và hạ sinh Đức Giê-su: Tin Mừng Lu-ca thuật lại việc Đức Trinh Nữ Ma-ri-a đã được Thiên Chúa tuyển chọn làm Mẹ Đấng Cứu Thế nhờ có Chúa ở cùng, và luôn kết hiệp mật thiết với Người. Sau lời thưa “xin vâng”, Ma-ri-a đã đuợc thụ thai mà vẫn bảo toàn đức trinh khiết nhờ ơn Thánh Thần (x. Lc 1,28-38). Sau đó Ma-ri-a theo “Ông Giu-se từ thành Na-da-rét miền Ga-li-lê lên thành Bê-lem, miền Giu-đê là thành vua Đa-vít, vì ông thuộc về nhà và gia tộc vua Đa-vít. Ông lên đó khai tên cùng với người đã đính hôn với ông là bà Ma-ri-a, lúc ấy đang có thai. Khi hai người đang ở đó, thì bà Ma-ri-a đã tới ngày mãn nguyệt khai hoa. Bà sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ, vì hai ông bà không tìm được chỗ trong nhà trọ” (Lc 2,4-7).

2) Đức Maria là Mẹ Hội Thánh:

+ Tin Mừng Gio-an viết: “Đứng gần thập giá Đức Giê-su có Mẹ Người, chị của Mẹ Người là bà Ma-ri-a vợ ông Cơ-lô-pát, cùng với bà Ma-ri-a Mác-đa-la. Khi thấy Mẹ và môn đệ mình thương mến đứng bên, Đức Giê-su nói với Mẹ Người rằng: “Thưa bà, đây là con của Bà”. Rồi Người nói với môn đệ: “Đây là mẹ của anh”. Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình (Ga 19,25-27).

+ Thánh Phao-lô cũng dạy: “Thiên Chúa đặt Người làm Đầu toàn thể Hội Thánh. Mà Hội Thánh là thân thể Đức Ki-tô, là sự viên mãn của Người, Đấng làm cho tất cả được viên mãn” (x. Ep 1,22b-23); “Người cũng là đầu của thân thể, nghĩa là đầu của Hội Thánh” (Cl 1,18). Như vậy Đức Ma-ri-a là Mẹ của Đức Giê-su là Đầu, thì cũng là Mẹ của thân thể Đức Giê-su là Hội Thánh, trong đó có mỗi tín hữu chúng ta.

+ Người nêu gương khiêm nhường cho các tín hữu qua việc luôn lắng nghe Lời Chúa, tìm hiểu ý Chúa và mau mắn xin vâng (x. Lc 1,30-36). Người cũng nêu gương bác ái khi chủ động thăm viếng bà chị họ Ê-li-sa-bét, đem niềm vui ơn cứu độ đến cho gia đình Gia-ca-ri-a, làm cho thai nhi Gio-an “nhảy mừng’ vì được khỏi tội tổ tông truyền. Sau đó Người còn ở lại 3 tháng để phục vụ, giúp đỡ việc nhà cho bà Ê-li-sa-bét trong ba tháng trước ngày bà sinh con, rồi trở về nhà mình (x. Lc 1,39-56). Người cũng quan tâm đến đôi tân hôn trong bữa tiệc cưới bị thiếu rượu tại thành Ca-na khi cầu thay nguyện giúp đội tân hôn với Đức Giê-su, xin Người can thiệp giúp đôi này. Dù Giờ chưa đến, nhưng Đức Giê-su đã làm dấu lạ đầu tiên là biến nước lã trở thành rượu ngon để giúp họ (x. Ga 2,1-11).

3) Đức Maria là Đấng Đầy Ơn Phúc:

Ma-ri-a đầy ơn phúc và được Chúa luôn ở cùng như lời chào của sứ thần truyền tin (x. Lc 1,28).

+ Ma-ri-a có phúc vì tâm hồn Mẹ trong sạch và luôn kết hiệp với Chúa.

+ Ma-ri-a có phúc vì đã tin: Bà Ê-li-sa-bét đã ca tụng Đức Ma-ri-a rằng: “Em thật có phúc, vì đã tin rằng: Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em” (Lc 1,45).

+ Ma-ri-a có phúc vì được làm Mẹ Đức Giê-su. Là Hòm Bia Giao Ước Mới, Đức Maria chứa đựng chính Ngôi Lời Thiên Chúa làm người, để ở cùng chúng ta (x. Ga 1,14; Mt 1,23).

+ Nhưng nhất là có phúc vì đã trở thành môn đệ Đức Giê-su như Đức Giê-su đã đáp lại lời một phụ nữ khen ngợi người Mẹ đã có công sinh thành nuôi dưỡng Người: “Đúng hơn phải nói rằng: Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa” (Lc 11,27-28). Do đó, Đức Giáo Hòang Phao-lô VI đã gọi Đức Ma-ri-a là “môn đệ tiên khởi và tuyệt hảo nhất của Đức Ki-tô”.

4) Đức Maria được rước về trời để chuyển cầu cho chúng ta:

+ Việc Hội Thánh tuyên bố tín điều “Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời” dạy chúng ta phải ý thức về thiên đàng đời sau. Chúng ta chỉ được lên trời nếu ngay từ đời này đã sống theo Lời Chúa Giê-su và đi con đường đau khổ thập giá của Người như Đức Ma-ri-a xưa.

+ Đức Ma-ri-a lên trời, nhưng luôn cầu bầu cùng Chúa cho chúng ta là con cái Người. Ta hãy xin ơn được chết lành trong tay Đức Mẹ và sau này được hưởng hạnh phúc thiên đàng cùng Mẹ.

+ “Đến với Chúa Giê-su nhờ Mẹ Ma-ri-a” (Ad Jesum per Mariam): Chúng ta cần hiệp cùng Mẹ Ma-ri-a mỗi khi cầu nguyện với Thiên Chúa, noi gương Hội Thánh thời sơ khai (x. Cv 1,14). Ta hãy gắn bó với Mẹ và nhờ Mẹ cầu bầu cùng Chúa ban ơn lành hồn xác cho ta như Mẹ đã làm cho đôi tân hôn tại tiệc cưới thành Ca-na xưa (x. Ga 2,3).

+ Sống đức Tin, Cậy, Mến với Chúa noi gương Đức Mẹ: Tin những Lời Chúa phán, tìm hiểu ý Chúa dạy và xin vâng ý Chúa muốn, chấp nhận mọi may rủi xảy đến cho ta với lòng cậy trông phó thác.

4. THẢO LUẬN: 1) Việc về trời của Đức Mẹ (Lễ Mông Triệu) giống và khác với việc lên trời của Chúa Giê-su (Lễ Thăng Thiên) ra sao? 2) Ngay từ bây giờ chúng ta phải làm gì để sau này cũng được Chúa ban thưởng hạnh phúc lên trời với Mẹ?

5. NGUYỆN CẦU:

1) Lạy Chúa Ba Ngôi Cực Thánh. Hôm nay con cảm tạ Chúa vì Chúa đã thực hiện việc lớn lao nơi Đức trinh Nữ Ma-ri-a, là người con thân yêu và là nữ tỳ hèn mọn của Chúa. Chúa đã thương cho Mẹ trở nên giống Con của mình là Chúa Giê-su: nhờ giữ đức trinh khiết vẹn toàn, tâm hồn không vương chút bùn nhơ tội lỗi; Nhờ biết đặt trọn niềm tin vào lời Chúa phán sẽ được thực hiện; Nhờ luôn xin vâng ý Chúa để trở thành Mẹ Đấng Thiên Sai; Nhờ biết lắng nghe và thực thi Lời Chúa; Nhờ thông phần với nỗi đau khổ của Chúa Giê-su trên đường thánh giá... mà Mẹ Ma-ri-a đã được Chúa ban thưởng bội hậu lên trời cả hồn lẫn xác.

2) Lạy Đức Maria Là Mẹ Rất Nhân Từ. “Xin hãy nhớ xưa nay chưa từng nghe có người nào chạy đến cùng Đức Mẹ, xin bầu chữa cứu giúp, mà Đức Mẹ từ bỏ chẳng nhậm lời”. Hôm nay cùng với Hội thánh hoàn cầu, chúng con long trọng mừng lễ Mẹ Hồn Xác Lên Trời. Xin cho chúng con biết chạy đến với Mẹ trong cơn gian nan thử thách: khi bị thất bại trong việc làm ăn, những khi không biết phải làm gì để vượt qua khó khăn… Trong những giờ phút đau thương ấy, xin cho chúng con biết chạy đến nép mình dưới tà áo Mẹ, để được Mẹ che chở ủi an, để được Mẹ cầu bầu cùng Chúa Giê-su, ban cho chúng con ơn lành hồn xác. Nhất là xin Mẹ đừng để khi nào chúng con đi vào con đường lầm lạc. Xin dạy chúng con luôn lắng nghe Lời Chúa Giê-su con yêu của Mẹ, như Mẹ đã dạy các gia nhân tại tiệc cưới Ca-na: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo” (Ga 2,5).

X) Hiệp cùng Mẹ Maria.- Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con.

----------------------------------

 

Tác giả: Nguyễn Văn Mễn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Báo công giáo
Giáo phận long xuyên
Chuyen ke cho cac gia dinh
Chuyện kể cho các gia đình
http://www.giaoxugiaohovietnam.com/
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây