Suy Nệm Tin Mừng Lễ Giáng Sinh ABC Bài 151-200 Đấng Cứu thế đã si

Thứ ba - 19/12/2017 09:46
Suy Nệm Tin Mừng Lễ Giáng Sinh ABC Bài 151-200 Đấng Cứu thế đã sinh ra cho chúng ta
Suy Nệm Tin Mừng Lễ Giáng Sinh ABC Bài 151-200 Đấng Cứu thế đã sinh ra cho chúng ta
Suy Nệm Tin Mừng Lễ Giáng Sinh ABC Bài 151-200 Đấng Cứu thế đã sinh ra cho chúng ta
----------------
GS-151: VINH DANH THIÊN CHÚA TRÊN TRỜl 2
GS-152: MÙA CỦA TÌNH THƯƠNG TRẢI RỘNG. 4
GS-153: NỬA ĐÊM BỪNG SÁNG.. 5
GS-154: ĐẤNG  CỨU THẾ ĐÃ RA ĐỜI 7
GS-155: MÔT TRẺ VỪA SINH NẰM TRONG MÁNG CỎ.. 8
GS-156: BÌNH AN DƯỚI THẾ.. 10
GS-157: THIÊN CHÚA ĐÃ BAN CHO THẾ GIAN CON MỘT CỦA NGƯỜI 11
GS-158: Chúa Giêsu là sự sống. 13
GS-159: VINH DANH THIÊN CHÚA TRÊN TRỜI 15
GS-160: THIÊN CHÚA GIÁNG SINH LÀM NGƯỜI !! 16
GS-161: Quà tặng tình yêu, hay Tấm biển chỉ đường cho nhân loại đi tới 20
GS-162: Chắc phải có họ hàng, bà con gì với Chúa. 26
GS-163: Đêm Bình Anna. 31
GS-164: MẦU NHIỆM THIÊN CHÚA GIÁNG SINH.. 33
GS-165: Bài hát Giáng Sinh đầu tiên. 36
GS-166: Bò Lừa trong hang đá. 37
GS-167: Thinh Lặng Chiêm Ngắm Máng Cỏ. 39
GS-168: Đêm đen cuôc đời trở thành Đêm Thánh. 40
GS-169: Chúng tôi cần đem theo gì cho Ngài, Lạy Chúa Kitô?. 42
GS-170: TÌNH YÊU ĐIÊN KHÙNG.. 44
GS-171: MUNICH ! 45
GS-172: CHÚA XUỐNG TRẦN CỨU THẾ …. 47
GS-173: LỊCH SỬ: NHÂN MÙA GIÁNG SINH: TÌM HIỂU VỀ NGÀY SINH.. 48
GS-174: DIỆU NHIỆM GIÁNG SINH, NGUỒN ÁNH SÁNG VĨNH HẰNG.. 55
GS-175: Emmanuell - Thiên Chúa ở cùng với chúng ta. 59
GS-176: LỄ GIÁNG SINH - THÁNH LỄ BAN NGÀY.. 61
GS-177: Dấn thân. 64
GS-178: Bình an từ trời 67
GS-179: Niềm vui của thuở ban đầu. 68
GS-180: Đêm Thánh – Karl Rahner 70
GS-181: Nghèo. 73
GS-182: BÀI GIẢNG THÁNH LỄ NỬA ĐÊM GIÁNG SINH.. 76
GS-183: BẢN THÁNH CA KỲ LẠ.. 80
GS-184: Noel: Lễ nhập cuộc –ĐGM Vũ duy Thống. 83
GS-185: Sứ điệp vinh quang và bình an. 86
GS-186: Ánh sáng nào soi chiếu trong ta?. 88
GS-187: Vinh danh Thiên Chúa trên trời – ĐTGM Ngô quang Kiệt 89
GS-188: Lời ngỏ của Tình Yêu - ĐTGM Ngô quang Kiệt 91
GS-198: Ngạc nhiên. 93
GS-190: Đừng thờ lầm.. 95
GS-191: Chúa giáng trần. 96
GS-192: Đêm Ánh Sáng - ĐTGM. Giuse Ngô quang Kiệt 98
GS-193: Bình an dưới thế cho loài người Chúa thương. 100
GS-194: Chiêm ngắm Ngôi Lời 101
GS-195: Con đường Thiên Chúa đi đến với nhân loại 103
GS-196: Đánh mất cơ hội ngàn vàng. 105
GS-197: TIN MỪNG TRỌNG ĐẠI! 107
GS-198: Sức mạnh - Lc 2,1-20. 111
GS-199: Suy niệm của R. Gutzwiller 112
GS-200: Chuẩn bị chỗ cho niềm vui. 115

-------------------
 

GS-151: VINH DANH THIÊN CHÚA TRÊN TRỜl


Lc 2, 1-14

Anh chị em thân mến!

 

Có nhiều lễ Giáng Sinh, trước hết là lễ "hội giáng sinh", đây là lễ hội được thương mại hóa và: GS-151


Có nhiều lễ Giáng Sinh, trước hết là lễ "hội giáng sinh", đây là lễ hội được thương mại hóa và quảng cáo rầm rộ trong các trung tâm thương mại hơn là trong các trung tâm giáo đường, đó cũng là lễ giáng sinh của xã hội tiêu thụ hơn là của Chúa Giêsu. Lễ giáng sinh này không có người sinh ra, không có Chúa Giêsu sinh ra mà cũng chẳng có những tâm hồn được sinh lại trong hoán cải và ân phúc. Kế đó là lễ giáng sinh của những kỷ niệm, đó là lễ giáng sinh của những bài thánh ca buồn đại loại như: "Ngày một mùa Noel nữa ",hay "đêm nay Chúa xuống dương gian, anh lại nhớ người yêu”.

Giáng Sinh trở thành lễ hội, cho nên cũng là lễ của những người đến nhà thờ mỗi năm một tần, một tần không phải để mừng sinh nhật của Chúa Giêsu, mà để nhớ lại những kỷ niệm của thời thơ ấu. Dĩ nhiên, lễ hội của những tín hữu Kitô mỗi năm đến nhà thờ một tần cũng là lễ Giáng Sinh của những người ngoại đạo ra đường và đến nhà thờ để nhìn ngắm hoa đèn hơn là nhìn ngắm Con Thiên Chúa làm người.

Ngày 25. 12, lễ của thần mặt trời trong đế quốc Ta-mã đã nhường chỗ cho lễ Giáng Sinh của Kitô giáo. Ngày nay, trong chiều hướng ngược lại thì xem ra lễ Giáng Sinh đích thực của Kitô giáo ngày càng nhường chỗ cho các thứ lễ hội giáng sinh của ngoại giáo mới, một thứ lễ giáng sinh không có Chúa Giêsu sinh ra nữa. Thế chỗ cho Chúa GiêSu có lẽ chỉ còn lại âm nhạc, các buổi tiệc, những ngày nghỉ hè và du lịcho Thế chỗ cho Thiên Chúa sinh ra làm người, có lẽ chỉ còn lại những ông già Noel không đến để kêu gọi tình yêu thương và lòng quảng đại, mà chỉ kích thích lòng ham muốn và tính ích kỷ của con người.

Trước những lễ giáng sinh phàm tục ấy, chúng ta được mời gọi trở về với lễ Giáng Sinh nguyên thủy ở Belem. Lại đây, chúng ta sẽ nghe lại lời loan báo của tiên tri Isaia: "Một Hài Nhi đã sinh ra cho chúng ta". Chúng ta không cần phải nhọc công đi tìm một dấu chỉ vĩ đại các thiên sức đã tặp lại sức điệp ấy của tiên tri Isaia cho các mục đồng: "Này ta báo cho các ngươi một tin vui, một Hài Nhi mới sinh được vấn trong tã và đặt trong một máng cỏ ".

Chúng ta cần phải mở tròn đôi mắt để chăm chú nhìn vào một Hài Nhi đã sinh ra cho toàn thể nhânloại. Để đến gặp gỡ con người, Thiên Chúa chọn một con đường khiêm hạ, Ngài làm hiệu cho chúng ta bằng sự nghèo hèn, bé mọn. Ngài đến với chúng ta trong một thơ nhi bất lực mỏng manh. Ngài nói với chúng ta bằng tiếng khóc và nụ cười của một thơ nhi. Ngài đến với chúng ta với dấu hiệu của khiêm hạ, nhỏ bé, nghèo hèn. Bởi vì Ngài là "Tình Yêu ", Ngài là "Emmanuel - Thiên Chúa ở với chúng ta", và Ngài muốn gắn liền và ở với chúng ta dưới cuộc đời đầy khổ lụy của chúng ta.

Là một Hài Nhi nằm trong máng cỏ dành cho súc vật, Ngài đã trở thành niềm an bình cho tất cả những người thiện tâm. Ngài đến như một Hài Nhi để nói với mọi người rằng: "Ngài yêu thương mọi người và từng người ". Từ nay, tất cả những ai biết mở rộng tâm hồn để đón nhận tình yêu của Ngài và chia sẻ tình yêu ấy với mọi người, họ sẽ cảm nhận được niềm vui và sự an bình đích thực trong tâm hồn.

Anh chị em thân mến!

Như vậy, Giáng Sinh không chỉ đến mỗi năm một tần với tiếng nhạc du dương, với hoa đèn sáng rực trong nhà thờ, và lại càng không phải chỉ đến mỗi năm một tần trong các khu phố sầm uất, trong các buổi tiệc tùng, lễ hội. Giáng Sinh không thể là một câu chuyện được kể mỗi năm một tần, một ngày lễ tưng bừng ở khởi đầu và chấm dứt trong buồn tẻ. Giáng Sinh là mỗi tần con người biết mở rộng tâm hồn để đón nhận Chúa đang đến trong từng biến cố của cuộc đời. Giáng sinh là mỗi tần con người biết nhìn vào những dấu hiệu âm thầm và ngay cả những mất mát của cuộc sống để luôn được dấy lên niềm hy vọng. Giáng sinh là mỗi tần con người biết đập vỡ vỏ ốc sợ hãi và ích kỷ của mình để tìm đến với người khác. Giáng Sinh là mỗi tần con người biết mở rộng tâm hồn để cảm thông và chìa đôi tay ra để san sẻ sớt chia với mọi người. Giáng Sinh như vậy sẽ không chỉ đến mỗi năm một tần, cũng chẳng đến riêng với các tín hữu Kitô. Giáng Sinh đến với mỗi người và với tất cả những ai thiện tâm thiện chí biết mở rộng tâm hồn để đón nhận Ngài đang đến trong từng phút giây của cuộc sống và trong từng người anh em.


 

GS-152: MÙA CỦA TÌNH THƯƠNG TRẢI RỘNG.


VỌNG LỄ GIÁNG SINH
Trong Mùa vọng đầy kỷ niệm này, ít ra chúng ta hãy ý thức tình trạng tội lỗi của mình và của: GS-152

Trong Mùa vọng đầy kỷ niệm này, ít ra chúng ta hãy ý thức tình trạng tội lỗi của mình và của nhân loại để cùng với Giacaria cảm tạ hồng ân Thiên Chúa. Chúng ta cảm tạ Chúa, là chúng ta để Chúa ngự trong hang đá máng cỏ của lòng mình, chúng ta đừng đặt Ngài ở cửa lòng. Chúng ta có bằng lòng dành cho Ngài một chỗ trọ dù nhỏ bé ? Một máng cỏ Bêlem xưa vô tri mà còn đón nhận được Chúa huống chi chúng ta linh ư vạn vật.

Mùa Giáng sinh năm nay những không có ý nghĩa thật sự nếu chúng ta không có gì để tạ ơn Thiên Chúa. Cảm tạ ơn Chúa trong điều may điều rủi là dấu con Chúa trửơng thành. Mùa Giáng sinh này sẽ không có ý nghĩa thật sự, nếu không sống thật sự trong tâm hồn chúng ta hôm nay.

Mùa Giáng sinh trở về làm cho muôn lòng người dao động, rạo rực, xôn xao. Trong lịch sử nhân loại, chưa có một ngày sinh ra nào được mừng kỷ niệm thật đều đặn liên tục suốt hai ngàn năm như vậy. Hôm nay đây, chúng ta còn một ngày nữa là mừng Chúa Giáng sinh, không ai bảo ai, dù lương hay giáo, dù ở chân trời góc biển nào cũng thấy xốn xang một niềm vui lâng lâng dâng tràn như có một cái gì kỳ diệu trong sáng tươi mát cho mọi cõi lòng tràn bờ tâm hồn.

Đối với những em bé đang đòi hỏi sinh ra và lớn lên và làm người để sống bình an trong tình thương, thì ngày Giáng sinh là ngày hun nóng tâm tình hy vọng nở hoa ấy. Cho nên mùa Giáng sinh cũng là mùa trao gửi tình thương đặc biệt cho những em bé rủi ro sinh ra trong những gia đình nghèo “không có quán trọ” như một Giêsu bị từ chối. Chúng ta nghĩ gì và nghĩ sao về một tương lai mà 20 năm nữa đây chẳng hạn, quê hương này lúc ấy thuộc về những em nhỏ sinh ra hôm nay. Còn lúc ấy chúng ta đã chìm đi trong già nua cho tre già măng mọc.

Nói như vậy là để nhắc nhở chúng ta với nhau: tuổi thơ cần có tình thương sưởi ấm cuộc đời, cần có gia đình để làm nền tảng vốn liếng, cần có cha mẹ đùm bọc yêu thương. Được như thế là được tất cả, vì Hài nhi Giêsu cũng đã được sinh ra như thế dù trong hoàn cảnh thiếu thốn của hang lừa hôi hám mất vệ sinh, ấy thế mà tình yêu đã làm nên “Con Đấng tối cao”. Đứng trước mỗi em bé chúng ta có thể nghĩ đó là một hài nhi Giêsu nhập thể được không ? Nghĩ như vậy chúng ta sẽ kính trọng và giáo dục chúng nên người tốt của xã hội tương lai. Chúng ta nhớ lấy, kế trăm năm không bằng gì bằng trồng người. Một người con xứng đáng, có khả năng hữu ích cho nhân loại còn ích lợi hơn cả mỏ vàng.

Đối với người lớn, mùa Giáng sinh là mùa tha thứ, bình an, mùa của nhân đạo. Ở những nơi có cuộc giao tranh, người ta đề nghị “hưu chiến” để mọi tâm hồn lắng đọng lại mà đón nhận ơn lộc bình an. Như vậy là quí hóa lắm. Nhân loại sẽ nghèo đi nếu đánh mất lễ Giáng sinh, và ngược lại sẽ giàu thêm ít là giàu hình ảnh nếu như còn Noel.

Cho nên, mùa Giáng sinh là mùa của tình thương trải rộng chân trời, là mùa của con người gặp mình và gặp gỡ anh em. Người ta ngưng tay nghĩ việc để bước về nghỉ ngơi của máng cỏ gia đình. Xin cho mỗi gia đình là một máng cỏ Bêlem. Xin đừng tưởng là máng cỏ làm bằng giấy bồi với mấy con bò bằng đất hôi hám...

Thưa mỗi người phải là một nhân vật trong hang Bêlem đó. Trong hang đá ấy có người cha, người mẹ, và bầy con. Tất cả trở nên một như xưa ở Belem. Tất cả đã được trói buộc với nhau bằng tình thương. Chỉ có tình thương mới làm nổi một hang Bêlem. Hang bêlem có màu sắc, có tiếng hát và nhất là có tâm hồn. Nơi Belem, cả ba tâm hồn đan dệt nhau, dung hòa nhau nên một, “ba cây chụm lại nên hòn núi cao”. Bao giờ gia đình cũng vẫn là một nền tảng, nền tảng cuối cùng  của nhân loại. Cho nên, Thiên Chúa đã không ngần ngại ẩn mình trong một gia đình nhân loại.

Xin cho mỗi người chúng ta là một viên đá, viên đá cuội biết xếp lại với nhau mà thành hang Bêlem. Xin cho mỗi người chúng ta là một ánh sáng, ánh sáng màu làm đẹp cộng đoàn Thiên Chúa và nhân loại. Đó là ý nghĩa của câu “vinh danh Thiên Chúa...”. Chúng ta phục vụ cho phúc lợi của mọi người. Đó là chúng ta góp phần vào sự bình an của mọi tâm hồn. Tâm hồn chúng ta chỉ được bình an khi sống và phục vụ nước Chúa, cho đồng loại và là “tôi tớ” của mọi người. Vì mọi người đều là chi thể của một thân thể và là hình ảnh của Thiên Chúa yêu thương.


 

GS-153: NỬA ĐÊM BỪNG SÁNG


LỄ ĐÊM GIÁNG SINH

 

Thánh lễ Giáng sinh đêm nay mang một ý nghĩa tượng trưng đặc biệt. Màn đêm tượng trưng: GS-153


Thánh lễ Giáng sinh đêm nay mang một ý nghĩa tượng trưng đặc biệt. Màn đêm tượng trưng cho một cuộc xuất hành vượt khỏi Ai cập, nghĩa là nhân loại vượt qua tội lỗi để trở về bến cứu độ. Dân Do thái đi mò mẫm trong sa mạc là hình ảnh con người còn mò mẫm trong đên tối dày đặc khắc khoải đi tìm một luống sáng.

Vâng chỉ một ánh sáng, một tia sáng sóng sánh quét lên trong đêm tối, chúng ta sẽ tìm được một lối đi và về tới chốn. Đời con người không phải chỉ đi tìm một tia sáng mà là đi tìm một nguồn sáng. Nguồn sáng ấy chính Thiên Chúa, Đấng đã phán “Ta là ánh sáng” (Gio 8,12). Chúng ta cần tới ánh sáng của Chúa trong khi chúng ta đi trong đêm tối của dục vọng, của tội lỗi, của trần gian lữ thứ, của nghi kỵ, của cô đơn tuyệt vọng...

Xin đừng quên rằng bên cạnh chúng ta hằng có những tia sáng, tia sáng của lý trí, của con tim, của lương tâm trung thực, của lịch sử  và của kinh nghiệm, của giáo dục, của đức tin, của cộng đoàn anh em đang sống bên chúng ta. Vậy cớ sao chúng ta chịu ngụp lặn trong bóng tối dày đặc của lầm lũi mãi ư ? Phải chăng đêm tối và ánh sáng là hai con đường song song không bao giờ gặp nhau. Đau khổ hơn nữa là hai con đường song song nhưng ngược chiều nhau. Bản tính của ánh sáng là phá tan đêm tối. Còn đêm tối ghét ánh sáng, sợ ánh sáng. Chỉ có tâm hồn nào cố chấp mới u tối mù mịt mà thôi.

Có ba loại người không thấy ánh sáng là người mù không còn khả năng, người ngủ và người cố tình nhắm mắt. Kinh thánh nói khi Giuda ra đi nộp thầy thì trời liền tối và tối hoắc (Gio 13,30). Nhưng cũng không tối đêm trong lòng của Giuda lúc ấy. Vậy thì không ai điếc cho bằng kẻ cố tình điếc. Ta cố khép lòng chai đá trước ơn Chúa (Kh 3,20). Chúng ta như con rùa thụt lùi sau lớp vỏ của mình mà chẳng có chi bảo đảm cả. Dù quãng đời chúng ta quên Chúa, nhưng Thiên Chúa hằng đi tìm chúng ta, như tìm một chiên lạc thao thức. Thiên Chúa đã từng đi tim Adong, Cain, Thiên Chúa đã bước một buớc thật với nhân loại.

Trong những lần mạc khải Thiên Chúa từng đi đến với con người trước hết. Ngày truyền tin thiên sứ đã đến với Đức Mẹ, đã hỏi ý kiến Đức Mẹ trước. Nơi máng cỏ, Thiên Chúa vĩnh cửu đã trở lại giữa thời gian tạm bợ. Thiên Chúa đã mặc lấy thời gian để con người có hy vọng mặc lấy vĩnh cửu của Thiên Chúa. Đó là trời cao soi bóng vực thẳm. Trời cao lấp đầy vực thẳm đã từng ngăn cách. Từ đây loài người không còn phải đi tìm đâu xa một vị Thiên Chúa trên cột mây trong hương khói nữa, trong lều tạm, nhà xếp, trong hòm bia, trong bụi gai hay trên đỉnh núi Sinai nữa. Thiên Chúa đã xuống thế làm người mặc lấy một thân xác yếu hèn của loài người hay chết. Ngài cũng được sinh ra, cũng đói khát, vui buồn lam lũ như mọi người, cùng lắm là lo lắng trước cái chết như bao người.

Nhưng hôm nay, chính nhờ cuộc sinh ra này mà thay đổi các xác hồn nhân loại. Ngôi lời nhập thể là tiếng nói cuối cùng, là câu nói cuối cùng, là câu nói đẹp nhất, vàng son nhất vì bêlem là khởi đầu của mọi lời chân lý. Thời gian Bêlem được bao bọc bằng vĩnh cửu. Mọi nước mắt của chúng sinh trở thành viên ngọc Nước trời. Đêm tối thành bình minh chói ngời.

Ước gì đêm nay là đêm hồng phúc, là đêm bình an cho mỗi người, cho từng người, từng gia đình, từng người con dù xa mặt nhưng gần lòng, cõi lòng không xa. Vì họ cũng một niềm tin, một nhịp đập trước câu chúc phúc: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời...”


 

GS-154: ĐẤNG  CỨU THẾ ĐÃ RA ĐỜI

 

Lời thiên sứ nói với mục đồng: “Đừng sợ, này ta đem Tin Mừng cho các ngươi, một tin lạ lùng: GS-154


Lời thiên sứ nói với mục đồng: “Đừng sợ, này ta đem Tin Mừng cho các ngươi, một tin lạ lùng trọng đại cho muôn dân, là hôm nay Đấng cứu thế Giáng sinh trong thành David” (Lc 2,10), một bản tin vắn gọn, nho nhỏ mà gây một niềm vui trọng đại cho nhân loại và ở lại mãi mãi với mọi người chúng ta.

Niềm vui trọng đại ấy lại phát xuất từ một quê hương nhỏ bé, mất hút trong lịch sử và địa dư so sánh với Giêrusalem. Niềm vui ấy phát xuất từ một em bé nghèo nàn yếu ớt. Niềm vui ấy phát xuất từ một không gian im lặng cô tịch của một đên thâu. Nhưng đêm ấy Giáng sinh phải là một đêm lịch sử, vì tất cả lịch sử đều lấy đây làm mốc thời gian cho lịch sử nhân loại, cho ngày sinh tử của từng người và cho đến tận thế. Chúng ta gọi đêm nay là đêm khởi điểm của một nguồn sáng chói lọi. Người ta còn gọi là một cuộc tạo dựng mới hay một cuộc tạo dựng thứ hai, vì đổi mới hẳn con người về với Thiên Chúa. Con người được nâng lên hẳn làm con Thiên Chúa.

Chúng ta hãy thử tưởng tượng đêm nay, một đêm Giáng sinh ... (78), bao nhiêu thánh đường thắp sáng với bao nhiêu nến điện tưng bừng, bao nhiêu tiếng chuông ngân vang, bao nhiêu hang đá, bao nhiêu bài ca, bao nhiêu bông hoa, bao nhiêu nhưng tác phẩm Giáng sinh, bao nhiêu thiệp chúc mừng và nhất là bao nhiêu lòng người hướng về Bêlem, về với máng cỏ đơn nghèo với bao lời cầu nguyện. Tất cả là chứng tích hùng hồn của một lòng tin, ít ra là một niềm tin vào Đấng cứu độ. Chúng ta có thấy có một cuộc sinh ra nào được người ta biết đến và kỷ niệm đều đặn hàng năm suốt hai mươi thế kỷ như Chúa Giêsu chưa ? Và Giáng sinh năm nay (19_) vẫn còn rung động con tim thổn thức như những mục đồng của Giáng sinh đầu tiên từ hang đá Bêlem nhỏ bé xưa. Chúng ta hãy nhìn đến Belem khác như những gia đình côi cút, những nơi dưỡng lão, những nhà tình thương, những người phong cùi, những cô nhi quả phụ... đêm nay Chúa hài nhi đang hiện thân nơi họ, “Xin cho họ nở được một nụ cười bình thật sự của Chúa là bình an cho kẻ lòng ngay dưới thế, cho kiếp làm người”.

Cũng chính đêm nay, nếu như niềm tin còn bừng cháy nơi lòng người thì sứ điệp bình an vẫn tới với mọi người. Hôm qua cũng như hôm nay, thế kỷ đầu tiên cũng như lúc này, con trẻ Giêsu vẫn uy quyền và trìu mến quảng đại, là mẫu số chung của mọi người, vẫn là khuôn vàng thước ngọc đo mọi chân lý... từ những mục đồng, một đời lam lũ đến những nhà đạo sĩ đã đến múc nguồn nơi máng cỏ Bêlem.

Nơi Bêlem này, người ta có thể nhìn thấy một người Mẹ, Mẹ Maria, một loài thụ tạo bên cạnh một Đấng tạo hóa. Họ là một mẹ một con. Mẹ tròn con vuông. Rồi đây, trên bước đường đời, ai cần hơn ai. Mẹ hay con ? Cả hai cần nhau. Thiên Chúa tạo dựng nên con không cần có con, nhưng ... (Th. Auggustinô). Nơi Maria, người ta nhớ đến hình ảnh đám mây của Elia báo hiệu mùa mưa cho mùa màng. Mẹ là rạng đông cùng mặt trời. Mẹ là cầu vồng nối đất và trời. Mẹ là con thuyền Noe không chìm trong Hồn thủy. Mẹ là tháp ngà xây trên đá, là bụi gai cỡ Maisen không bao giờ cháy, vì chính mẹ đã hạ sinh Đấng ba lần chí thánh. Ít ra sự thánh thiện tuyệt đối kia cũng thông truyền sang cho mẹ. Nơi Belem, lá lành đùm lá rách. Sự chí thánh đùm bọc sự thánh thiện. Nguồn tình yêu đã hun nóng cho tương lai mịt mù hoang sơ.

Phải rồi người con của mẹ đến trần gian có một mục đích... nếu bác tài xế hay một phi công mong ước đem hành khách tới bến bình an, thì hài nhi con Mẹ phải là một phi tiêu muốn đem cả nhân loại về tới bến cứu độ, “Lạy cha, những người cha ban cho con, thì con ở đâu họ ở đó” (Gio 14,3).

Ước gì mỗi lòng hôm nay là một hang Belem nho nhỏ, chật hẹp đi nữa nhưng lung linh ơn thánh, đầy ánh sáng Đức tin và sự nghiệp bác ái. Xin cho con là cọng rơm khô của Belem, để chúng con sưởi ấm cho anh em đồng loại, là nệm ấm cho êm lòng quê hương... “cho đẹp đời tốt đạo”.


 

GS-155: MÔT TRẺ VỪA SINH NẰM TRONG MÁNG CỎ

 

Hãy tưởng tượng như đêm nay là đêm Giáng sinh đầu tiên xảy ra tại Bêlem. Belem là nơi dầu: GS-155


Hãy tưởng tượng như đêm nay là đêm Giáng sinh đầu tiên xảy ra tại Bêlem. Belem là nơi dầu tiên, nôi chôn nhau cắt rún của một vị Thiên Chúa toàn năng, toàn thiện, toàn phúc đã chịu khó xuống thế làm người. Ngài đã chịu cảnh sinh bờ đẻ bụi để đi vào thế giới loài người. Kinh thánh mô tả Chúa Giêsu đã sinh ra trong cảnh đơn nghèo của một gia đình lao động không nhà cửa, không quán trọ. Phúc âm theo thánh Luca nói “Con trẻ sơ sinh bọc trong mảnh bào thưa nằm trong máng cỏ” (2,7.12.16). Cái nghèo của Chúa là dấu chỉ cho các mục đồng tìm ra Đấng cứu thế (2,16). Chúa lớn lên trong khung cảnh nghèo của miềm quê Nazareth (2,51) và sống bằng đôi tay thợ mộc. Đời Chúa đi truyền giáo không có một chỗ tựa đầu (9,58).

Đây là một vị Thiên Chúa từ bỏ trời cao sang (Ph 2,7) để đến ở giữa con người và bằng lòng nhận cái nghèo làm điểm tựa. Trong cuộc sống, nghèo là một nỗi lòng, nghèo là một cái buồn. Buồn này kéo theo những buồn khác như những mắt xích của một dây chuyền dài. Nghèo là một tương lai mù mịt. Nghèo là một ngõ cụt chẳng ai muốn vào đó. Ai lỡ vào rồi thì tìm dủ cách để thoát ra. Thế mà Chúa ơi, Chúa sinh ra trong một thân phận nghèo khổ. Đói nghèo cực khổ lắm, Chúa không biết sao ? Vừa trong túng thiếu, vất vả, nhọc nhằn, vừa bị người ta khinh bỉ, thiệt thòi dủ thứ. Chúa chọn cảnh nghèo nàn chi vậy. Nếu Chúa không phải là Chúa, thế nào người ta cũng chê là dại dột. Nhưng dần dà chúng con đã hiểu. Vâng chỉ có Chúa thánh thiện, khôn ngoan và yêu thương vô cùng mới dám “dại” như thế. Thật vậy, việc Chúa chôn thân phận nghèo chính là nguồn an ủi lớn lao cho con.

Trước hết với cuộc sống nghèo, Chúa đã cơ cực chia sẻ cuộc đời túng thiếu của con Chúa nơi trần gian này. Chúa chia sẻ thực sự bằng cách Chúa sống với mọi người nghèo, trong cảnh nghèo, như người nghèo và cho người nghèo. Nhìn hang Bêlem, chúng ta thấy Chúa còn nghèo hơn chúng ta nữa. Nhưng nhờ đó, con cảm thấy Chúa gần gũi con như một người bạn, như một người thân. Chẳng ai dám chia sẻ đời nghèo của con để sống gần và sống trong chính con như Chúa. Có Chúa cùng cảnh ngộ và đồng bệnh, chúng con bớt tủi thân.

Ngoài ra, sự Chúa chọn thân phận nghèo còn dạy chúng con giá trị của khổ lụy. Chúng con không thể lên trời bằng con đường khác với đau khổ. Đau khổ không thiếu, chỉ cần chúng ta chịu những đau khổ ấy với tâm tình mến Chúa và khao khár tìm Chúa, tức khắc đau khổ biến thành người bạn, đau khổ trở thành ách êm ái, làm nấc thang đưa con về trời.

Cũng nhờ đó, chúng con mới nhận ra rằng cảnh nghèo không thể kéo dài hơn cuộc sống trần gian, nó chỉ tạm bợ rồi sẽ qua đi. Tất nhiên, chúng con phải cố gắng nỗ lực xoay sở làm ăn để có thể đủ sống xứng đáng là người và nhất là người con của Chúa. Nhưng nếu cái nghèo cứ bám riết lấy đời chúng con, thì xin cho chúng con biết lợi dụng nó để biến thành phương tiện làm giàu gia nghiệp nước trời cho chúng con.

Lạy Chúa, mùa Giáng sinh năm nay chúng con chung một lời cầu xin cho chúng con đi tìm Chúa như Chúa đã đi tìm chúng con nơi hang lừa Bêlem.


 

GS-156: BÌNH AN DƯỚI THẾ


“Bình an dưới thế cho người thiện tâm” (Lc 2,14)

 

Đấy là lời ca của thiên sứ hát cho nhân loại nghe. Lời ca ấy đã trở thành bất hủ, bất diệt cho mỗi: GS-156


Đấy là lời ca của thiên sứ hát cho nhân loại nghe. Lời ca ấy đã trở thành bất hủ, bất diệt cho mỗi thánh lễ, và đặc biệt trong thánh lễ Giáng sinh sáng nay.

Lời ca đó, chúng ta nghe không biết bao nhiêu ngàn lần. Hồi còn nhỏ xíu, chúng ta đã nghe những lời chúc ấy giữa trái tim của cuộc đại chiến. Lớn lên anh em đã đọc lời đó, anh em đã đọc lời đó giữa cuộc cách mạng Mùa thu. Trưởng thành, anh em đã đọc lấy lời ấy trong khói lửa binh đao chinh chiến. Và hôm nay tất cả chúng ta được diễm phúc đọc lên lời ca của trời ấy trong cảnh đạp lúa thanh bình thống nhất. Và đấy là bàn tay quan phòng đạ8 biệt của Thiên Chúa.

 Giờ đây nghĩ lại có người cho rằng: mình chán ghét và chán chường những gì là chiến tranh, muốn tiêu hủy đi mọi đau thương. Nhưng chính qua cảm nghĩ ấy, chúng ta mới chợt thấy rằng nếu như chúng ta cứ hận thù, nếu chúng ta căm giận óan ghét thì chính mình lại là người bất an, chính mình lại là người phá hòa bình. Như vậy thì ra trách nhiệm việc đánh mất bình an không phải bắt đầu từ người khác mà lại bắt đầu từ chính mình. Vậy khởi điểm xây dựng hòa bình là chính lòng mình thôi.

Xây dựng bình an sao đây ? Thiên sứ bảo như thế này: “Bình an dưới thế cho người lòng ngay”. Người lòng ngay là người lòng tốt, lòng vàng, lòng công chính, hòa thuận. Đó là người được chúc phúc trong bát phúc (Mt 5,9), là người chiếm hữu được nước trời (Tv 85,11. 119,165), là người được chính Chúa đem đến cho sự bình an sau phục sinh: “Bình an cho các con” (Lc 24,36). Người có lòng ngay được chúc phúc là người có tấm lòng thành thật, là người một lòng một dạ thờ Chúa, người không có hai lòng, người không thay đổi lòng dạ. Người có lòng ngay là người tôn trọng quyền lợi người khác, là người chu toàn bổn phận đối với Chúa và tha nhân. người lòng ngay là người yêu thương mọi người. Là người cho đi, cho đi bằng yêu thương, bằng ước muốn, bằng thái độ, việc làm và tiền của.

Và vì yêu thương là cho đi sự tốt lành, nên chúng ta phải biết tha thứ, chịu dựng, thông cảm, không phán đoán xấu, không nói hành bôi nhọ một ai. Do đó thiện tâm hay lòng ngay đòi hỏi phải khiêm nhường, phải từ bỏ và thiệt thòi nhiều lắm. Hãy nhìn hình ảnh của một em bé ngây thơ vô tội không ác ý, không thù hằn, không kiêu căng và ích kỷ. Chúa Giêsu hài nhi trong máng cỏ là cả một hình ảnh của sự non yếu, hiền dịu và khiêm hạ đó.

Hãy nhìn về máng cỏ, một trẻ thơ như mỉm cười giữa những con vật vô tri ngơ ngác mà chính tay Ngài đã tạo dựng. Hãy nhìn kỹ đôi tay đưa ra như lời mời gọi. Đôi tay ấy làm nghề thợ mộc. Đôi tay ấy sẽ chúc lành cho bày trẻ và làm phép lạ. Nhưng cũng chính đôi tay ấy sẽ giang thẳng trên thánh giá để đón tội nhân loại.

Lẽ ra Thiên Chúa có thể nhập thể với hình vóc của một người lớn khỏe mạnh như cỡ Samson, hoặc có thể mang hình ảnh của một thiên sứ nào đó. Nhưng Ngài đã từ chối tất cả để mặc lấy thân phận yếu đuối của con người để thông cảm yếu đau, vui buồn, cô đơn như kiếp con người. Thiên Chúa có thể chỉ phán một lời để có thể cứu nhân độ thế. Nhưng Ngài đã không làm như vậy. Và đó là một thánh ý nhiệm mầu. Một vị lãnh tụ đồng cam khổ mới làm cho người ta tin theo. Dù sao đó cũng là con đường của Thiên Chúa. Chúa Giêsu là con đường (Gio 14,6). Chúa Giêsu là Ngôi Lời của Thiên Chúa. Mỗi người của chúng ta là một lời nói của hang Bêlem với hai chữ Bình an.


 

GS-157: THIÊN CHÚA ĐÃ BAN CHO THẾ GIAN CON MỘT CỦA NGƯỜI


LỄ GIÁNG SINH

 

Nói đến tình yêu là nói đến Giáng sinh, và ngược lại nói đến lễ Giáng sinh là nói đến tình: GS-157


Nói đến tình yêu là nói đến Giáng sinh, và ngược lại nói đến lễ Giáng sinh là nói đến tình yêu. Giáng sinh không có nếu không có tình yêu tinh thần của lễ Giáng sinh, vì vậy là tinh thần yêu thương, tinh thần ấy bắt nguồn từ câu Kinh thánh quen thuộc, vì Đức Chúa trời “yêu thương thế gian đến nỗi ban con một mình cho nhân loại” (Gio 3,16). Tất cả ý nghĩa Giáng sinh được gói ghém trong câu Kinh thánh này. Thiên Chúa yêu thương trần gian và tình yêu ấy có minh chứng bằng cụ thể, bằng hành động. Trước hết chúng ta hãy xem tình yêu của Thiên Chúa ra sao và xem thử Ngài hành động như thế nào ?

Tình yêu của Thiên Chúa là tình yêu vị tha, không phân biệt mà phổ quát cho hết mọi người. Thường thường khi con người chúng ta iêu là vì vật đó đáp ứng lại một nhu cầu của chúng ta. Một người yêu ta thì ta yêu lại. Người đó đem lại phúc lợi thỏa mãn thì ta yêu thích, và ngựơc lại một vật hay một người nào đó làm hại ta thì ta không thể thích được. Đó là tình yêu của loài người giới hạn cạn cợt. Còn tình yêu của Chúa là tình yêu vị tha, bất chấp mọi điều kiện, bất chấp mọị hoàn cảnh. Tình yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta ngay cả khi chúng ta có tội. Nếu như Chúa yêu chúng ta vì chúng ta làm điều tốt điều đẹp thì chẳng bao giờ chúng ta đáng được Chúa yêu cả, vì chẳng bao giờ chúng ta tốt đủ cho Chúa yêu. Đó cũng là ý nghĩa của câu: “Chẳng có gì phân ly chúng ta khỏi tình yêu Thiên Chúa” (Rm 8,35).

Nếu Chúa đã yêu chúng ta thì bất chấp chúng ta là người như thế nào, chắc chắn không có gì khiến cho tình yêu ấy thay đổi. Một câu đã nói: “Thiên Chúa yêu thương thế gian” (Gio 3,15) nói lên tất cả tính chất và đối tượng của tình yêu nơi Thiên Chúa. Tình yêu của Chúa rộng lớn và không giới hạn. Câu nói “Thiên Chúa yêu thương thế gian” nghĩa là bao gồm tất cả mọi người mà từ Đông sang Tây và từ Tây sang Á, tất cả đều ca tụng tình yêu Thiên Chúa hôm nay.

Nhưng tình yêu của Chúa không phải là thứ tình yêu lý thuyết, nói suông. Tình yêu của Chúa là tình yêu cụ thể, cụ thể rõ ràng trong hành động. Hành động ấy là Chúa đã ban con một mình cho nhân loại, cũng như khi chúng ta yêu ai, thường người ta tặng cho người mình yêu một kỷ vật nào đó. Tình yêu thật sự được thể hiện trong việc ban cho và dâng hiến. Thiên Chúa của chúng ta cũng thế. Chúa ban cho chúng ta những gì chúng ta cần... Điều mà chúng ta cần chính là sự cứu rỗi, và sự cứu rỗi chỉ có thể hoàn thành qua việc Chúa nhập thể làm người. Nhập thể và chịu chết để cứ loài người đó là đường duy nhất Thiên Chúa đến với nhân loại. Và đó là cách duy nhất để thể hiện tình yêu của Ngài đối với chúng ta “Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi...”.

Chúng ta hiểu nổi chứ ? Hãy giả sử như anh chị em có một con trai duy nhất, quí nhất đời và có người nào đó đòi xin rước lấy đứa nhỏ mà nuôi thì thử hỏi anh chị em nghĩ sao ? Như vậy, chúng ta mới hiểu được Thiên Chúa đã yêu thương và ban con một Ngài cho chúng ta là yêu hết cỡ. Điều quí hóa nhất là tặng ban cho chúng ta. Thiên Chúa yêu, yêu chúng ta là những người bất toàn và đầy tội lỗi. Và tình yêu ấy được thể hiện trong việc trao ban Ngôi Hai giáng thế.

Tình yêu chỉ có nghĩa khi tình yêu được đền đáp bằng tình yêu. Có những loại tình yêu độc chiều đơn phương, nhưng đó là những thứ tình yêu cụt để tự an ủi mình tôi. Chứ tình yêu thật bao giờ cũng là tình yêu hai chiều Chúa ban cho và chúng ta phải đáp ứng. Chúa đời hỏi chúng ta đáp đền tình yêu ấy. Hòn đất ném đi... Thiên Chúa đã ném hòn chì.

Điều mà Chúa muốn ta làm cho Ngài trong tình yêu là tin vào Ngài. Tin đây là chấp nhận, là nhờ cậy, là trao phó hoàn toàn vào tay Thiên Chúa. Tin đây cũng còn là một nghĩa là thôi đi đừng tự cao tự cậy vào sức riêng mình nữa, chỉ cậy nhờ vào Chúa thôi và chỉ có đức tin như thế mọi vấn đề mới được giải quyết. Đức tin trao gửi đó chính là món quà Giáng sinh năm nay.


 

GS-158: Chúa Giêsu là sự sống


Gioan 1,1-18.

 

Trong một bản đại hòa tấu, nhà sọan nhạc thường bắt đầu bằng cách giới thiệu những nhạc đề: GS-158


Trong một bản đại hòa tấu, nhà sọan nhạc thường bắt đầu bằng cách giới thiệu những nhạc đề ông sắp khai triển trong toàn nhạc phẩm. Đó là việc Thánh Gioan đang làm. Trong Phúc âm thứ tư sự sống là điều cơ bản nhất làm cơ sở xây dựng sách ấy. Đây là chủ đề chính mà Phúc âm này nhằm khai triển và trình bày.

Phúc âm theo Thánh Gioan bắt đầu và kết thúc bằng sự sống. Ngay phần mở đầu, chúng ta đọc thấy Chúa Giêsu là sự sống, và ở phần kết, chúng ta thấy mục đích của tông đồ Gioan khi viết Phúc âm là để người ta tin “Tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, con Thiên Chúa, và để anh em tin và được sống nhờ danh Ngài”. (20,31). Đây là từ ngữ được Chúa Giêsu lặp đi lặp lại. Ngài lấy làm tiếc vì người ta không đến với Ngài để được sự sống (5,40), chính Chúa Giêsu tuyên bố, sở dĩ Ngài đến là để cho người ta được sống, và được sống phong phú (10,10). Ngài tuyên bố Ngài ban sự sống cho loài người để họ chẳng bao giờ còn chết nữa, vì chẳng ai cướp nổi họ khỏi tay Ngài(10,28). Chính Ngài tự xưng mình là đường đi, chân lý và sự sống(16,6). Trong Phúc âm này, từ ngữ sự sống xuất hiện hơn ba mươi lăm lần, động từ sống xuất hiện hơn mười lăm lần. Vậy khi đề cập đến sự sống Thánh Gioan muốn nói gì ?

1. Một cách đơn giản ông cho biết sự sống là đối nghịch với sự hủy diệt, sự lên án và sự chết.

Thiên Chúa sai con Ngài đến để người tin nhận Ngài sẽ khỏi chết, nhưng được sự sống đời đời(3,16). Người nghe và tin thì được sự sống đời đời và không bị định tội(5,24). Có sự tương phản giữa việc sống lại để được sống, và sống lại để bị đoán phạt(5,29). Những người được Chúa Giêsu ban sự sống sẽ chẳng bao giờ phải chết nữa(10,28). Trong Chúa Giêsu người ta được an toàn trong đời này và cả đời sau. nếu không tin Chúa Giêsu và nhận Ngài là Chúa Cứu Thế, không mời Ngài ngự vào lòng làm vua, thì chúng ta không thể được coi là đang sống. Người sống một cuộc đời không có Đáng Cứu Thế thì chẳng bao giờ tồn tại, chỉ hiện hữu chứ không hề biết sống là gì. Chúa Giêsu là người duy nhất khiến cuộc đời đáng sống, và đã liên kết với Ngài thì cái chết chỉ là tấu khúc mở đầu cho cuộc sống viên mãn hơn.

2. Nhưng Gioan biết chắc chắn rằng dầu Chúa Giêsu là Đấng đem sự sống đến thì đấng ban sự sống đến vẫn là Thiên Chúa .

 Gioan dùng đi dùng lại thành ngữ Thiên Chúa hằng sống như kinh Thánh vẫn dùng. Thánh ý của Thiên Chúa Cha, Đấng sai Chúa Giêsu đến, là để mỗi người có thể thấy Chúa Giêsu, tin vào Ngài hầu được sự sống(6,40). Sở dĩ Chúa Giêsu là Đấng ban sự sống, vì Đức Chúa Cha đã đóng ấn chuẩn phê trên Ngài(6,27). Ngài ban sự sống cho số người mà Đức Chúa Cha đã ban cho Ngài(17,2). Đằng sau mọi điều đó có Thiên Chúa. Dường như Thiên Chúa phán: “Ta dã tạo dựng loài người để họ được sống thật. Do phạm tội họ không còn sống nữa, họ chỉ hiện hữu. Ta đã sai Con Ta đến để họ biết được sự sống thật là gì.”

3. Chúng ta phải hỏi sự sống là gí ?

Phúc âm Gioan nhắc đi nhắc lại thành ngữ sự sống đời đời. Chữ thánh Gioan dùng và được dịch ra đời đời là aionios. Nhưng dầu cho sự sống đời đời có khác đi chăng nữa, nó không thể chỉ có nghĩa là một đời sống cứ kéo dài mãi mãi. Một đời sống kéo dài mãi mãi có thể sẽ trở nên sự nguyền rủa khủng khiếp, vì người ta vẫn thường mong được giải thoát khỏi cuộc sống này. Trong sự sống đời đời phải có cái gì vượt xa sự tồn tại của đời sống, phải có một phẩm chất nào đó của sự sống.

Người ta không muốn sống, trừ phi phải có một đời sống như phế nào đó. Vậy chúng ta phải tìm thấy đầu mối của vấn đề đó ở đây. Aionios là một hình dung từ được dùng nhiều lần để mô tả Thiên Chúa. Theo ý nghĩa đích thực của từ ấy, chỉ một mình Thiên Chúa là Aionios, nghĩa là vĩnh hằng mà thôi. Do đó sự sống dời đời là đời sống chỉ biết những gì là thanh thản, là an lạc, là quyền năng của sự sống của chính Thiên Chúa. Khi Chúa Giêsu ban sự sống đời đời cho loài người, Ngài mời gọi loài người bước vào chính sự sống của Thiên Chúa vậy.

4. Làm thế nào để chúng ta bước vào đời sống ấy ?

Chúng ta được sống như thế nhờ tin nhận Chúa cứu Thế Giêsu. Từ ngữ tin xuất hiện trong Phúc âm thứ tư không dưới bảy mươi lần. “Ai tin con thì được sự sống đời đời”(3,36). Chúa Giêsu phán: “Hễ ai tin Ta thì được sự sống đời đời”(6,47). Y muốn của Thiên Chúa là loài người nhìn thấy Chúa Con và tin vào Ngài, thì được sống đời đời(5,24). Chữ tin của Thánh Gioan có nghĩa gì ? có hai điều:

a. Chúng ta phải nhìn nhận rằng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa.

Ong ngụ ý chúng ta phải quyết định theo Chúa Giêsu. nếu Chúa Giêsu chỉ là một người, không có lý do gì khiến cho chúng ta phải mặc nhiên tuyệt đối vâng theo những đòi hỏi của Ngài. ta phải tự suy nghĩ cho ra xem Chúa Giêsu là ai. Chúng ta phải nhìn vào Ngài, nghiên cứu về Ngài, suy nghĩ về Ngài Cho đến khi chúng ta buộc phải kết luận về Ngài rằng Ngài không ai khác hơn là Con Thiên Chúa
 
  Nhưng trong việc này còn có cái vượt hẳn niềm tin lý trí.
Tin Chúa Giêsu có nghĩa là nhìn nhận lời của Ngài. Có nghĩa là chấp nhận các mệnh lệnh của Ngài như những điều bắt buộc tuyệt đối, tin những gì Ngài phán là đúng không chút nghi ngờ, và hành động với niềm tin quyết mình không thể làm gì khác hơn là nắm lấy từng lời, từng tiếng của Ngài.

Theo Thánh Tông đồ Gioan, tin có nghĩa là lý trí xác tín rằng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, là sự tin cậy của tấm lòng rằng mọi điều Chúa Giêsu phán là đúng, và đặt nền tảng của mọi hành động trong đời sống chúng ta trên sự bảo đảm không lay chuyển của lời Ngài. khi làm như vậy, chúng ta thôi tồn tại, và bắt đầu sống. Như thế chúng ta biết sự sống thật sự có nghĩa gì.


 

GS-159: VINH DANH THIÊN CHÚA TRÊN TRỜI


Bỗng có đạo binh thiên quốc đông đảo hợp với sứ thần cất tiếng ca tụng Thiên Chúa rằng: “VINH DANH THIÊN CHÚA TRÊN TRỜI BÌNH AN DƯỚI THẾ CHO LOÀI NGƯỜI CHÚA THƯƠNG”  (Trích Bài Phúc Âm Lễ Đêm Giáng Sinh, Lc 2,14).
 
Suy niệm

 

Lời hát của các thiên thần chính là sứ điệp của Chúa từ trời cao gửi xuống. Lời hát này nối kết: GS-159 FB


Lời hát của các thiên thần chính là sứ điệp của Chúa từ trời cao gửi xuống. Lời hát này nối kết đất với trời. Lời hát này ràng buộc Thiên Chúa với con người.

Tại sao “Vinh danh Thiên Chúa trên trời” phải đi liền với “Bình an dưới thế cho người Chúa thương”? Thưa vì Thiên Chúa yêu thương con người, Thiên Chúa tự ràng buộc mình với con người.

Vì yêu thương nhân loại, Con Thiên Chúa đã xuống thế làm người. Vì yêu thương nhân loại, Ngài tự nguyện trở nên một trẻ thơ yếu ớt. Vì yêu thương nhân loại Ngài tự nguyện làm con của loài người, sinh ra bởi một người phụ nữ. Vì yêu thương nhân loại, Ngài đã muốn trở nên một thành viên trong gia đình nhân loại, có một gia đình như những người khác.

Thiên Chúa đã tự nguyện làm một người như chúng ta. Thiên Chúa tự đồng hóa với con người đến nỗi từ nay ai khinh miệt một con người là khinh miệt chính Chúa, ai bạc đãi một con người là bạc đãi chính Chúa, ai hà hiếp một con người là hà hiếp chính Chúa. Ai xúc phạm đến con người là xúc phạm đến Chúa.

Hang đá Bêlem là một lời mời gọi tha thiết và cấp thiết cho tương lai nhân loại. Thiên Chúa hóa thân làm một trẻ sơ sinh để mời gọi ta hãy biết tôn trọng sự sống. Thiên Chúa sinh ra làm một trẻ thơ yếu đuối để mời gọi ta hãy biết yêu thương những người bé nhỏ, yếu hèn. Thiên Chúa sinh ra trong cảnh nghèo hèn để mời gọi ta hãy biết nâng đỡ những người nghèo khổ. Thiên Chúa sinh ra làm con Đức Mẹ Maria để mời gọi ta hãy biết kính trọng phụ nữ. Thiên Chúa sinh ra trong một gia đình để mời gọi ta hãy biết bảo vệ những truyền thống tốt đẹp đem lại hạnh phúc cho gia đình.

Lời mời gọi này có tính chất quyết định không những cho hạnh phúc chóng qua mà còn cho hạnh phúc vĩnh cửu của con người.

Vì ai tôn trọng con người là tôn trọng chính Chúa. Ai phục vụ con người là phục vụ chính Chúa. Như lời Chúa đã dạy: Mỗi lần ta cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc, viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc, là ta làm cho chính Chúa (x. Mt 25).

Như thế lễ Giáng Sinh là lễ của của phẩm giá con người. Chúa xuống trần để nâng cao phẩm giá con người. Chúa làm nguời để con người được kính trọng. Con người cao quí vì đã được nâng lên làm con Thiên Chúa.

Như thế lễ Giáng Sinh là lễ của niềm vui. Vui vì con người được Thiên Chúa  yêu thương. Vui vì con người được nâng lên địa vị cao trọng. Hôm nay khi đọc kinh Tin Kính đến câu “Vì loài người chúng tôi và để cứu rỗi chúng tôi, Người đã từ trời xuống thế” ta hãy quì gối trước tình yêu cao cả của Chúa dành cho ta. Quì gối đề suy niệm sự cao cả của con người vì được Chúa yêu thương.

Đức Cha Giuse Ngô Quang Kiệt, Tổng Giám Mục Hà Nội. 


 

GS-160: THIÊN CHÚA GIÁNG SINH LÀM NGƯỜI !!


I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ

 

Lễ Giáng Sinh là Lễ của Tình Thương và Niềm Vui đối với hết mọi người, nhất là đối với: GS-160


    Lễ Giáng Sinh là Lễ của Tình Thương và Niềm Vui đối với hết mọi người, nhất là đối với những người nghèo và những người sống bên lề xã hội. Nhưng Lễ này cũng bị nhiều người hiếu lầm ý nghĩa và biến thành một dịp để vui chơi. Với chúng ta là Kitô hữu, thì cách Mừng Lễ tốt nhất là chiêm ngắm Chúa Hài Đồng Giêsu trong máng cỏ nơi hang đá Bêlem và suy niệm những Lời Thánh Kinh nói về Người là Chúa Cứu Độ nhân loại.

II. LẮNG NGHE & TÌM HIỂU LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH

2.1 Lắng nghe Lời Chúa trong ba bài Thánh Kinh

(1) Bài đọc 1: Is 9,1-6: Ơn giải thoát.

     (1) Dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng; đám người sống trong vùng bóng tối, nay được ánh sáng bùng lên chiếu rọi. (2) Chúa đã ban chứa chan niềm hoan hỷ, đã tăng thêm nỗi vui mừng. Họ mừng vui trước nhan Ngài như thiên hạ mừng vui trong mùa gặt, như người ta hỷ hoan khi chia nhau chiến lợi phẩm. (3) Vì cái ách đè lên cổ dân, cây gậy đập xuống vai họ, và ngọn roi của kẻ hà hiếp, Ngài đều bẻ gẫy như trong ngày chiến thắng quân Mađian. (4) Vì mọi giầy lính nện xuống rần rần và mọi áo choàng đẫm máu, sẽ bị đem thiêu, làm mồi cho lửa. (5)  Vì một trẻ thơ đã chào đời để cứu ta, một người con đã được ban tặng cho ta. Người gánh vác quyền bính trên vai, danh hiệu của Người là Cố Vấn kỳ diệu, Thần Linh dũng mãnh, người Cha muôn thuở, Thủ Lãnh hòa bình. (6) Người sẽ mở rộng quyền bính, và lập nền hòa bình vô tận cho ngai vàng và vương quốc của vua Đavít. Người sẽ làm cho vương quốc được kiên cố vững bền trên nền tảng chính trực công minh, từ nay cho đến mãi muôn đời. Vì yêu thương nồng nhiệt, ĐỨC CHÚA các đạo binh sẽ thực hiện điều đó.

(2) Bài đọc 2: Tt 2,11-14: Đời sống mới.

         (11) Quả thế, ân sủng của Thiên Chúa đã được biểu lộ, đem ơn cứu độ đến cho mọi người. (12) Ân sủng đó dạy chúng ta phải từ bỏ lối sống vô luân và những đam mê trần tục, mà sống chừng mực, công chính và đạo đức ở thế gian này. (13) Sở dĩ như vậy, là vì chúng ta trông chờ ngày hồng phúc vẫn hằng mong đợi, ngày Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa vĩ đại và là Đấng Cứu Độ chúng ta xuất hiện vinh quang. (14) Vì chúng ta Người đã tự hiến để cứu chuộc chúng ta cho thoát khỏi mọi điều bất chính, và để thanh luyện chúng ta thành Dân riêng của Người, một dân hăng say làm việc thiện.

(3) Bài Tin Mừng: Lc 2,1-14: Đức Giêsu ra đời. Những người chăn chiên đến viếng thăm.

       (1) Thời ấy, hoàng đế Augustô ra chiếu chỉ, truyền kiếm tra dân số trong khắp cả thiên hạ (2) Đây là cuộc kiểm tra đầu tiên, được thực hiện thời ông Quiriniô làm tổng trấn xứ Xyri. (3) Ai nấy đều phải về nguyên quán mà khai tên tuổi (4) Bởi thế ông Giuse từ thành Nagiarét, miền Galilê lên thành vua Đavít tức là Bêlem, miền Giuđê, vì ông thuộc gia đình dòng tộc Đavít. (5) Ông  lên đó khai tên cùng với người đã thành hôn với ông là bà Maria, lúc ấy đang có thai. (6) Khi hai người đang ở đó, thì bà Maria đã tới ngày mãn nguyệt khai hoa. (7) Bà sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ, vì hai ông bà không tìm được chỗ trong nhà trọ.

        (8) Trong vùng ấy, có những người  chăn chiên sống ngoài đồng và thức đêm canh giữ đàn vật. (9) Bỗng sứ thần Chúa đứng bên họ, và vinh quang của Chúa chiếu tỏa chung quanh, khiến họ kinh khiếp hãi hùng (10) Nhưng sứ thần bảo họ: "Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân: (11) Hôm nay một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đavít, Người là Đấng Kitô Đức Chúa. (12) Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người: anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ." (13) Bỗng có muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa rằng:

                                     (14) Vinh danh Thiên Chúa trên trời,
                                 bình an dưới thế cho loài người Chúa thương."

2.2 Trong ba bài Thánh Kinh trên, chúng ta khám phá ra Thiên Chúa là Đấng nào?   

      (1) Thiên Chúa mà ngôn sứ Isaia công bố là "một trẻ thơ đã chào đời để cứu ta, một người con đã được ban tặng cho ta. Người gánh vác quyền bính trên vai, danh hiệu của Người là Cố Vấn kỳ diệu, Thần Linh dũng mãnh, người Cha muôn thuở, Thủ Lãnh hòa bình". Sứ mạng được giao cho Người là "mở rộng quyền bính, và lập nền hòa bình vô tận cho ngai vàng và vương quốc của vua Đavít. Người sẽ làm cho vương quốc được kiên cố vững bền trên nền tảng chính trực công minh, từ nay cho đến mãi muôn đời." 

      (2) Thiên Chúa mà Thánh Phaolô muốn nói với đồ đệ Titô và hết thẩy các tín hữu là Đấng đã ban dồi dào ân sủng, đã ban ơn cứu độ cho mọi người. Người là Thiên Chúa vĩ đại và cứu độ sẽ xuất hiện vinh quang nơi Đức Giêsu Kitô trong ngày quang  lâm.

       (3) Thiên Chúa mà Thánh Luca muốn giới thiệu với thế giới là Thiên Chúa đã giáng sinh làm người, làm một trẻ sơ sinh được bọc tã nằm trong máng cỏ,  nhưng lại các thiên thần hát ca chào đón. Chính Hài Nhi Giêsu bé bỏng ấy là Đấng đem Tin Mừng trọng đại đến cho nhân loại, là Đấng Cứu Độ chúng sinh, là Đấng Kitô Đức Chúa, là chính Thiên Chúa xuống thế làm người để đem bình an và Tình Thương đến cho mọi người, nhất là cho những người bé mọn và bị gạt ra ngoài lề xã hội như các mục đồng ở Bêlem xưa.

2.3 Qua ba bài Thánh Kinh trên, Thiên Chúa muốn gửi sứ điệp gì cho chúng ta?   

     Sứ điệp của Lời Chúa hôm nay là chúng ta hãy đón mừng Đấng Thiên Chúa gửi đến, tức đón mừng HÀI NHI GIÊSU. Đón mừng một cách hân hoan, tin tưởng, không sợ hãi và tích cực bằng cách tìm hiểu và suy gẫm về Ý NGHĨA của Mầu Nhiệm Thiên Chúa Giáng Sinh làm người và làm một trẻ sơ sinh (1).    

III. SỐNG LỜI CHÚA HÔM NAY

   Là khi chúng ta thực hiện được hai việc quan trọng này:

    1. Cảm tạ, ngợi khen, chúc tụng Thiên Chúa Cha, Con và Thánh Thần về Ơn Cứu Độ mà Thiên Chúa đã ban cho nhân loại trong Mầu Nhiệm Giáng Sinh của Ngôi Lời Thiên Chúa xuống thế làm người.

    2. Tôn trọng và bảo vệ sự sống và phẩm giá con người, nhất là của trẻ thơ, phụ nữ và những kẻ thấp kém trong xã hội.

IV. CẦU NGUYỆN

     Lạy Thiên Chúa Cha là Đấng đã ban Con Một là Hài Nhi Giêsu cho nhân loại, chúng con cảm tạ, chúc tụng và ngợi khen Cha!

     Lạy Chúa Hài Đồng Giêsu, Chúa đã đến để ban cho mọi người Ơn Bình An, Ơn Giải Thoát và Ơn Thay Đổi Cuộc Sống. Xin Chúa ban Ơn Bình An của Chúa cho thế giới ngày hôm nay, một thế giới đang khát khao Hòa Bình mà lại sống cận kề hơn bao giờ hết với chiến tranh, hủy diệt.

     Lạy Chúa Hài Đồng Giêsu, Chúa đã được Mẹ Maria sinh ra là một trẻ sơ sinh để dạy chúng con về giá trị thiêng liêng của sự sống, của trẻ thơ, phụ nữ và những người bất hạnh và bị thiệt thòi trong xã hội. Xin Chúa hãy giải thoát mọi người và bản thân chúng con khỏi cảnh tối tăm, ích kỷ, đam mê, tội lỗi để mọi người biết quí trọng sự sống, trẻ thơ, phụ nữ và những người bé nhỏ! Amen.

Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.

Sàigòn ngày 11.12.2005.
----------------------
Chú thích:
(1) Đức Tổng Giám mục Hà Nội, Giuse Ngô Quang Kiệt, đã quảng diễn cách tuyệt vời  ý nghĩa của Lễ Chúa Giáng Sinh như sau:
      “Vì yêu thương nhân loại, Con Thiên Chúa đã xuống thế làm người. Vì yêu thương nhân loại, Ngài tự nguyện trở nên một trẻ thơ yếu ớt. Vì yêu thương nhân loại Ngài tự nguyện làm con của loài người, sinh ra bởi một người phụ nữ. Vì yêu thương nhân loại, Ngài đã muốn trở nên một thành viên trong gia đình nhân loại, có một gia đình như những người khác.

      “Thiên Chúa đã tự nguyện làm một người như chúng ta. Thiên Chúa tự đồng hóa với con người đến nỗi từ nay ai khinh miệt một con người là khinh miệt chính Chúa, ai bạc đãi một con người là bạc đãi chính Chúa, ai hà hiếp một con người là hà hiếp chính Chúa. Ai xúc phạm đến con người là xúc phạm đến Chúa.

       “Hang đá Bêlem là một lời mời gọi tha thiết và cấp thiết cho tương lai nhân loại. Thiên Chúa hóa thân làm một trẻ sơ sinh để mời gọi ta hãy biết tôn trọng sự sống. Thiên Chúa sinh ra làm một trẻ thơ yếu đuối để mời gọi ta hãy biết yêu thương những người bé nhỏ, yếu hèn. Thiên Chúa sinh ra trong cảnh nghèo hèn để mời gọi ta hãy biết nâng đỡ những người nghèo khổ. Thiên Chúa sinh ra làm con Đức Mẹ Maria để mời gọi ta hãy biết kính trọng phụ nữ. Thiên Chúa sinh ra trong một gia đình để mời gọi ta hãy biết bảo vệ những truyền thống tốt đẹp đem lại hạnh phúc cho gia đình.

       “Lời mời gọi này có tính chất quyết định không những cho hạnh phúc chóng qua mà còn cho hạnh phúc vĩnh cửu của con người.

       “Vì ai tôn trọng con người là tôn trọng chính Chúa. Ai phục vụ con người là phục vụ chính Chúa. Như Lời Chúa đã dạy: Mỗi lần ta cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc, viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc, là ta làm cho chính Chúa (x. Mt 25).

       “Như thế Lễ Giáng Sinh là lễ của của phẩm giá con người. Chúa xuống trần để nâng cao phẩm giá con người. Chúa làm nguời để con người được kính trọng. Con người cao quí vì đã được nâng lên làm con Thiên Chúa.

       “Như thế Lễ Giáng Sinh là lễ của niềm vui. Vui vì con người được Thiên Chúa  yêu thương. Vui vì con người được nâng lên địa vị cao trọng”.


 

GS-161: Quà tặng tình yêu, hay Tấm biển chỉ đường cho nhân loại đi tới


THÁNH LỄ ĐÊM GIÁNG SINH (2005)

Thiên Chúa Giáng Sinh : "Quà tặng tình yêu" hay "Tấm biển chỉ đường cho nhân loại đi tới"

Giảng Lời Chúa :

Kính thưa ông bà và anh chị em,

 

Chuyện kể rằng : trong cuộc chiến tranh Pháp - Phổ (1870-1871), vào một ngày Giáng sinh: GS-161


Chuyện kể rằng : trong cuộc chiến tranh Pháp - Phổ (1870-1871), vào một ngày Giáng sinh tại mặt trận ác liệt, một lính Pháp bỗng nhảy lên khỏi chiến hào, hát to lên bài Cantique de Noel (Thánh ca đêm Noel) của nhạc sĩ người Pháp - Adolphe Adam - bản carol rất quen thuộc của người Pháp. Từ bên kia chiến tuyến, không có phát đạn nào của lính Phổ đã bắn vào anh ấy. Và thật bất ngờ, một lính Phổ cũng đã vụt đứng lên khỏi chiến hào đáp lại bằng bài carol cổ truyền của Phổ : bài Vom himmel hoch (Từ Thiên đường trên cao) – do Martin Luther viết. Trong khoảnh khắc đặc biệt nầy, một sự kiện hi hữu đã xảy ra : khi hai bài hát của hai anh lính chiến đối địch vang lên, toàn thể các chiến hào lặng im phăng phắt và sau đó là một tràng pháo tay vang dội thay thế cho những tiếng bom đạn gào thét trước đó…

Sự kiện trên, quả thật, đã hiện thực hóa nội dung của tựa đề một bài thánh ca Noel bất hủ mà chúng ta đã nghe gần như quen thuộc mỗi độ Giáng Sinh về : bài Holy Night, Silent Night, Đêm thánh thiện, Đêm an bình. Vâng, đêm nay chính là Đêm rất thánh, đêm nay chính là Đêm an bình. Đêm mà như cách diễn tả của sứ ngôn Isaia, một nhà tiên tri Do Thái xuất hiện trước Chúa Cứu Thế khoảng 700 năm đã tiên báo ngày giáng sinh của Đấng Thiên Sai bằng những hình ảnh sống động mà chúng ta vừa nghe công bố : “Đoàn người bước đi trong tăm tối, đã nhìn thấy ánh sáng bao la, ánh sáng bừng lên trên những miền âm u sự chết…Vì mọi giày lính nện xuống rần rần và mọi áo choàng đẫm máu sẽ bị đem thiêu, làm mồi cho lửa. Vì một Hài nhi đã sinh ra cho chúng ta, một Người con đã được ban tặng cho chúng ta” (BĐ 1). Và như thế, ý nghĩa đầu tiên mà chúng ta có thể tìm gặp trong huyền nhiệm Giáng Sinh để suy nghĩ và cầu nguyện, để tìm nơi đây một ý nghĩa cho cuộc sống đó chính là :

1. Thiên Chúa Giáng Sinh : Tấm biển chỉ đường cho nhân loại đi tới :

Để hiểu được chân lý nầy, chúng ta phải trở về với chính những Lời Chân Lý được gởi gắm trong trong cử hành Phụng vụ Lời Chúa hôm nay mà trọng tâm chính là trích đọan Tin Mừng Luca vừa được công bố :

v Thật vậy, bài Tin mừng Luca, với giọng văn lịch sử mang phong cách Hy lạp, tác giả Luca đã làm bật nổi biến cố Giáng Sinh với những lời và bối cảnh thật ấn tượng : “Trong vùng ấy có những người chăn chiên sống ngoài đồng…bổng sứ thần Chúa trong vinh quang sáng láng hiên ra loan báo rằng : “Anh em đừng sợ. Nầy tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là niềm vui cho toàn dân : là hôm nay, trong thành vua Đa-vít, Đấng Cưứ thế đã giáng sinh…”

Phải chăng có một sự trùng hợp nào đó giữa biến cố Giáng sinh của Chúa Giêsu cách đây 2000 năm và lời tiên báo của sứ ngôn Isaia trước biến cố nầy 7 thế kỷ ?

Thật vậy, giữa cảnh nô lệ, lưu đày nước mất nhà tan khi đế quốc Assur thôn tính Ít-ra-en vào khoảng 700 năm trước Công Nguyên, vị tiên tri thi sĩ I-sa-ia đã tiên báo “một Đấng Emmanuen sẽ được một Trinh nữ sinh ra”… và 700 năm sau, trong buổi bình minh của thiên niên kỷ đầu tiên của công nguyên, cũng lại là một đất nước Ít-ra-en tan nát dưới quyền đô hộ của Rôma, sứ thần đã loan Tin Mừng vĩ đại cho các mục đồng ở Bê-lem : “Anh em đừng sợ. Nầy tôi loan báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng sẽ là niềm vui cho toàn dân : hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa-Vít”.

Với những lời tiên báo đó, với những sứ điệp vui mừng và hy vọng về một Đấng Cứu thế ra đời đó, quả thật loài người đã có được những gì, đã chứng kiến được, đã cảm nhận thật sự điều gì đã xảy ra ? Có hay không Một Đấng Cứu thế như lòng họ hằng mơ ước ? Có hay chăng một Vị Vua oai hùng lẫm liệt đăng quang trở về chấp chính để an bang tế thế ? Có hay chăng một Đấng Cứu tinh mang lại no cơm ấm áo, đất đai biên thùy mở rộng thênh thang, quyền uy chính trị trãi trên ngàn dân nước ?

Không ! Hoàn toàn trái ngược hẳn :

- Thay vì một hoàng tử sinh ra trong gác tía lầu son, Đấng Cứu Thế lại là một em bé khóc oa oa sinh ra trong hang lừa máng cỏ, mà thi sĩ linh mục Trăng Thập Tự trong bài thơ Giáng Sinh mới nhất với tựa đề “Và Lời đã làm người” đã diễn cảm bằng những dòng thơ mượt mà thi vị :

Miên trường thinh lặng chợt oe oe,
Rạn vỡ đêm sâu, đuốc lập loè.
Lời chưa biết nói nên Lời khóc,
Gọi chào nhân thế giữa canh khuya….
Hãy đến mà nghe Lời Hằng Hữu,
Đang cười, đang ngỏ ý tinh khôi.
Lời đang muốn nói, Lời đang thử
Mở miệng – và Lời mấp máy môi.

- Thay vì xuất thân từ dòng tộc vương triều, lớn lên trong lụa là nhung gấm, Đấng Cứu thế chỉ là một chàng thanh niên “Con Bác thợ mộc Giuse” suốt 30 năm với đục chàng cưa búa…

Và sau 30 năm âm thầm ẩn dật chốn quê mùa Na-da-rét, Con Thiên Chúa, Đấng Thiên Sai đã xuất hiện.

- Thay vì một Đế vương chấp chính oai phong trên ngai vàng lẫm liệt, như dự kiến và ước mơ của trăm vạn cõi lòng dân Do Thái, Đấng Cứu Thế lại được Chúa Cha giới thiệu với loài người đang khi chen lẫn giữa đám dân đen tụ tập cùng nhau sám hối bên bờ sông Gio-đan.: “Đây là Con Ta yêu dấu, các ngươi hãy nghe lời Người”.

- Thay vì công bố giữa triều đình oai nghi những đề cương kinh tế chính trị xã hội bài bản, Đấng Cứu thế lại rao giảng một Tin Mừng “Tám Mối Phúc Thật” chỉ thích hợp cho những kẻ nghèo khổ bất hạnh. “Phúc cho ai khó nghèo vì Nước trời là của họ…”

- Thay vì chinh phạt với vó ngựa, gưom đao để mở rộng cõi bờ, sát phạt muôn dân, Đấng Cứu thế lại chấp nhận một bản án bất công và chịu tử hình Thập Giá, một cái chết dành riêng cho hàng nô lệ…

Quả thật, sự xuất hiện và cuộc đời của Chúa Giêsu, Đấng Cứu thế mãi mãi là một thách đố để chúng ta tin nhận, là một huyền nhiệm để chúng ta đi tìm. Nếu hôm nay, chúng ta đến đây, chúng ta cử hành mầu nhiệm Giáng Sinh nầy, chúng ta tìm kiếm một “Ông Giêsu” chỉ với mục đích là được no cơm ấm áo, chỉ với một ước nguyện là được tiền tài danh vọng và những bảo đảm vật chất…thì có lẽ chúng ta sẽ ra về trong thất vọng não nề. Bởi vì Tin Mừng Giáng Sinh, Chân lý của Đức Kitô, con đường nhân sinh của Kitô giáo không đề nghị cho chúng ta những giải pháp trần tục đó, những hứa hẹn vật chất chóng tàn đó. Bởi vì Đức Kitô và Tin Mừng của Ngài tuyệt đối không phải là một ý thức hệ, một chủ nghĩa, một học thuyết chính trị-kinh tế. Bởi vì Chúa Giêsu hôm qua, hôm nay và mãi mãi duy nhất là Đấng Cứu Độ, là Đấng, như lời kinh thánh “ trong Bài đọc 2 vừa được công bố hôm nay “đã tự hiến để cứu chuộc chúng ta cho thoát khỏi mọi điều bất chính, và để thanh luyện chúng ta khiến chúng ta thành dân riêng của Người, một dân hăng say làm việc thiện” (BĐ 2), là Đấng qui tụ nhân loại thành anh em trong gia đình Thiên Chúa để dẫn tất cả vượt qua kiếp sống trần gian tiến về hạnh phúc vĩnh hằng.

Cũng chính vì lẽ đó, “Hiến chương Nước Trời” được Ngài vạch ra như nẽo đường dẫn tới cõi phúc chân thật lại là những giá trị xem ra thật ngược đời, nhưng cũng thật anh hùng và đòi hỏi : Tinh thần khiêm hạ khó nghèo, hiền lành nhân ái, hy sinh để chia sẻ và cho đi, yêu thương để xây dựng hòa bình, không ngừng biết khoan dung để tha thứ…

Chính cuộc đời 33 năm trần thế của Ngài, cho dù không để lại một công trình kiến trúc vĩ đại, không một tác phẩm văn chương uyên bác, không một sáng chế khoa học diệu kỳ…thì 20 thế kỷ qua vẫn là cột trụ của nhân loại, là hy vọng của muôn thế hệ, là điểm tựa cho muôn ức triệu tâm hồn. Vâng, Thiên Chúa Giáng Sinh chính là “Tấm biển chỉ đường” để dẫn dắt nhân loại cùng nhau tiến về quê hương vĩnh cửu.

Cũng từ ý nghĩa đó, chúng ta lại nhận ra rằng :

2. Thiên Chúa Giáng Sinh : Một quà tặng tuyệt vời của Thiên Chúa tình yêu :

Thật vậy, để định nghĩa về Thiên Chúa, hình như không có cụm từ nào chính xác hơn, sâu sắc hơn cụm từ được Thánh Tông Đồ Gioan, Người môn đệ được Chúa Giêsu thương mến cách đặc biệt, đã sử dụng trong tín thư mặc khải mà chính Ngài nhờ ơn linh hứng đã viết ra : “Thiên Chúa là Tình Yêu”. Và để cắt nghĩa “bản chất” yêu thương nầy của Thiên Chúa, Thánh Gioan lại đã viết rằng : “Thiên Chúa đã yêu thương nhân loại đến độ đã trao ban Người Con Một”. Tình yêu đích thực đó chính là “ban tặng”, là “cho không biếu không”, là biến mình thành một “quà tặng” để hiến dâng mà không bao giờ đòi hỏi đáp đến, trả giá, và càng không có chuyện so đo tính toán. Nếu Thiên Chúa tính toán, so đo trong tình yêu của Ngài dành cho chúng ta, chắc chắn Ngài không chọn làm một công dân của một dân tộc cứng đầu và phản bội như Ít-ra-en, không chọn làm quê hương một Đất nước khô cằn sỏi đá như vùng đất Pa-les-tin, không chọn sinh ra vào một giai đoạn lịch sử đầy nhiểu nhương phân hóa với một Triều đình bù nhìn bán nước như triều đình của Vua Hêrôđê, không chọn sống chung với một thế hệ đồng bào mà niềm tin tôn giáo đã ươn hèn, sai lệch và biến chất theo kiểu “Pharisiêu”. Nếu Thiên Chúa đã so đo tính toán trong mối tình cứu độ thì dại gì chọn sinh trong hang lừa máng cỏ, bị xua đuổi khước từ, bì săn lùng tàn sát…Dại gì, chung đụng với phường thu thuế, đĩ điếm để phải mang tiếng mang tăm! Dại gì chọn kiếp sống lang thang “đầu đường xó chợ” đến độ “không có viên đá gối đầu”, dại gì đối lập với giáo quyền và thế quyền để phải bị tróc nả, khai trừ, ném đá và nhất là, dại gì chấp nhận lãnh một bản án bất công chết tủi nhục trên thập giá, trong khi chính mình có đầy đủ quyền uy không phải chỉ để làm vài dấu lạ cò con như cho kẻ què đi, kẻ mù thấy, phung hủi được sạch, nước hóa rượu ngon, mấy chiếc bánh và vài con cá có thể nuôi mấy ngàn người…mà còn có thể một lời phán ra là “cải từ hoàn sinh”, là trấn áp cuồng phong bảo táp, là làm khiếp đảm ngã nhào cả một đạo binh trong đêm Ngài bị trao nộp…

Nếu ngày xưa, qua miệng các sứ ngôn Thiên Chúa đã từng dạy rằng : “Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình, hay chẳng thương đứa con mình đã mang nặng đẻ đau ? Cho dù nó có quên đi nữa, thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ!” (Is 49,15).

Để ấn chứng cho lời đoan hứa của Đấng được mệnh danh là “Giàu lòng nhân ái và rất mực khoan dung”, Thiên Chúa hình như không còn cách nào khác là phải “trở thành quà tặng tình yêu để trao ban chính mình cho nhân loại”. Và một “khi thời gian tới lúc mãn kỳ”, Thiên Chúa Ngôi Hai đã đích thân “bỏ ngai trời xuống thế”. Từ máng cỏ Bê-lem cho tới đỉnh đồi Núi Sọ, cuộc đời của Chúa Giê-su duy nhất chỉ là một định nghĩa đúng đắn nhất về tình yêu : Yêu là cho đi và cho đi đến cùng : Thiên Chúa trở nên nghèo hèn, tự hiến để con người được cứu độ vinh quang; Thiên Chúa chấp nhận làm “hạt lúa gieo vào trần gian mục nát”, để con người ngẩng cao đầu đứng lên tìm được hạnh phúc vĩnh hằng. Thiên Chúa đã chấp nhận hy sinh và tự hiến để nhân loại tội lỗi được cứu độ vinh quang. Hay như cách nói so sánh đối xứng của một Vị Giáo Phụ : “Thiên Chúa làm người để con người được làm chúa”. Đó cũng chính là ý nghĩa cuối cùng của mầu nhiệm được cử hành hôm nay : mầu nhiệm Thiên Chúa làm người, mầu nhiệm Thiên Chúa ở cùng chúng ta, mầu nhiệm Nhập thể - Giáng Sinh.

Chính vì thế, cuộc cử hành đêm nay, Đêm Thánh vô cùng nầy, lại chính là cơ hội để anh và tôi, để chị và em, để tất cả chúng ta hân hoan vui mừng lãnh nhận chính quà tặng của Thiên Chúa, không phải thứ quà tặng rẻ tiền trong những chiếc vớ của ông già Noel mang đến, mà là quà tặng tình yêu tuyệt vời là chính Thiên Chúa, là hồng ân cứu độ, là Tin Mừng giái thoát, là Nước Trời. Nói đến quà tặng tình yêu tôi chợt nhớ đến câu chuyện “quà tặng đêm Giáng Sinh của đôi vợ chồng trẻ” mà có lẽ không ít người đã từng nghe kể :

Có một cặp vợ chồng nọ vì quá nghèo, không có tiền để mua quà tặng cho nhau nhân dịp Giáng Sinh về. Sau nhiều đêm suy nghĩ, người vợ bèn quyết định bán mái tóc dài óng ả xinh đẹp của mình để mua một sợ giây đồng hồ cho chồng, vì sợi dây đeo đồng hồ của chàng đã bị đứt mà chưa có tiền mua sợi mới!

Trong khi đó mái tóc xinh đẹp của người vợ đã làm cho người chồng băn khoăn trăn trở mãi : Lấy gì để mua được một chiếc lược ngà mà vợ mình hằng ao ước để chải lên mái tóc mây óng ả kia ? Và chàng quyết định bán chiếc đồng hồ quí của mình để mua cái lược ngà cho vợ...

Ðêm Giáng sinh cả hai sung sướng trao tặng quà cho nhau. Khi mở ra cả hai kinh ngạc đến sững sờ... Hỡi ơi nàng đâu còn mái tóc đẹp để chải với chiếc lượt ngà ! Và chàng cũng chẳng còn chiếc đồng hồ để đeo bằng sợi dây vàng tuyệt đẹp !... Thế nhưng, hai trái tim, hai cõi lòng đã mở ra và nhận của nhau món quà Giáng Sinh chưa bao giờ đẹp đến thế. Họ đã cùng ôm nhau khóc, khóc trong yêu thương dạt dào, khóc trong ân tình hạnh phúc vì họ đã khám phá ra rằng : hy sinh dâng hiến cho nhau là món quà Giáng Sinh đẹp nhất, quí hóa nhất, và cũng vững bền nhất cho cuộc đời của ho.

Kính thưa ông bà và anh chị em,

Trong Mùa Giáng Sinh nầy, Hội Thánh thường mượn lời của sứ ngôn I-sa-ia để hát lên : “Một Hài Nhi đã sinh ra cho chúng ta, Một Người Con đã ban riêng cho chúng ta…”. Hài Nhi Giêsu, Con Một Thiên Chúa mà cách đây hơn 2000 năm trước đã giáng sinh làm người, đã khóc oa oa trong hang đã lạnh, đã sống nhờ chút sửa của người Mẹ đồng trinh Maria, đã mĩm cười trong hơi ấm của những chú chiên lừa được các mục đồng dẫn tới…đó chính là quà tặng tình yêu tuyệt vời nhất, thâm sâu nhất, vĩ đại nhất của Thiên Chúa ban tặng cho chúng ta. Tuy nhiên có nhận được hay không, có gặp gỡ được Ngài hay vẫn nghìn trùng xa cách, có tin nhận tôn thờ hay lãnh đạm thờ ơ…đó lại là kết quả của hồng ân và sự chọn lựa tự do của mỗi người. Nếu 2000 năm trước Tin Mừng Giáng Sinh đã được các thiên sứ loan báo vang dội khắp trời Bê Lem để đánh thức các mục đồng, và nếu Ánh Sao lạ Giáng Sinh đã dẫn lối đưa đường ba Đạo sĩ Phương đông tìm về máng cỏ để kính bái Hài Nhi Cứu Thế, thì hôm nay và từng ngày cuộc sống, Tin Mừng ấy, ánh sao lạ ấy vẫn vang dội khắp trời, vẫn bừng lên sáng rực. Tin mừng ấy, Sao Lạ ấy chính là Hội Thánh, chính là Lời Chúa, chính là các Bí tích mà chúng ta vẫn thường tham dự, chính là Thánh Lễ Tạ Ơn mỗi ngày được dâng trên bàn thờ trần thế. Tin mừng ấy, Sao lạ ấy cũng chính là anh, là chị, là em, là tất cả chúng ta. Mỗi người chúng ta phải biến cuộc đời mình, gia đình mình, cộng đoàn mình thành Tin Mừng Giáng Sinh, thành một Quà Tặng Giáng Sinh, quà tặng của sự hy sinh, yêu thương và phục vụ. Chỉ khi nào chúng ta sống trọn vẹn những ý nghĩa và đòi hỏi đó thì huyền nhiệm “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”, huyền nhiệm “Thiên Chúa Nhập Thể làm người”, mới không trở thành một công thức tín điều chỉ để tuyên xưng ngoài đầu môi chót lưỡi, mà là một xác tín để cử hành, để sống ắp đầy ý nghĩa. Bởi vì, như chính Chúa Giêsu đã từng khẳng định : “Ta đến để chúng được sống và sống phong phú”. Amen. Merry Christmas ! Merry Christmas !

Giuse Trương Đình Hiền


 

GS-162: Chắc phải có họ hàng, bà con gì với Chúa


LỄ GIÁNG SINH BAN NGÀY (05)

“Chắc phải có họ hàng, bà con gì với Chúa”

Dẫn nhập đầu lễ : Anh chị em thân mến,

 

Hôm nay Hội Thánh long trọng kính mừng mầu nhiệm Nhập Thể-Giáng Sinh trong chiều kích: GS-162


Hôm nay, Hội Thánh long trọng kính mừng mầu nhiệm Nhập Thể-Giáng Sinh trong chiều kích sâu xa và cao cả nhất với ánh sáng của một ngày mới đang bừng dậy, cùng với niềm vui bao la của muôn vạn trái tim đang reo vui vì hồng ân cứu rỗi. Chúng ta hân hoan vui mừng vì như lời Thánh Lê-ô Cả chú giải về ý ngjĩa của mầu nhiệm Giáng Sinh đã nhấn mạnh trằng : “Hôm nay Đấng Cứu Độ chúng ta đã giáng sinh, chúng ta hãy vui mừng. Chúng ta không được phép buồn khi mừng ngày sự sống xuất hiện. Ngày kỷ niệm nầy phá tan sự sợ hải trước cái chết và ban cho chúng ta niềm hân hoan được sống đời đời” (Bài đọc 2 Giờ Kinh Sách Lễ Giáng Sinh).

Giờ đây, để xứng đáng lãnh nhận niềm vui của ơn cứu độ, niềm vui thánh thiện của mầu nhiệm Giáng Sinh, xứng đáng cử hành mầu nhiệm thánh, chúng ta hãy thú nhận tội lỗi.

Bài Giảng Lời Chúa :

Dẫn nhập : Kính thưa ông bà và anh chị em, các bạn trẻ thân mến,

Đứng trước vẽ uy nghi và sâu lắng của mầu nhiệm Nhập Thể Giáng Sinh, đã có không biết bao nhiêu bài thơ và khúc nhạc đã được bao thế hệ loài người sáng tác, diễn cảm, trình bày. Linh mục thi sĩ Xuân Ly Băng trong bài thơ “Say Noel” đã có những lời “:

Thấy chăng em ? đêm hôm nay mầu nhiệm
Đến muôn đời cắt nghĩa mãi không ra
Nghe chăng em ? trong ánh sáng bao la
Nhạc tình yêu reo vang nguồn nhập thể!
Trong khi đó thi sĩ linh mục Nguyễn Xuân Văn lại trình bày mầu nhiệm Con Chúa giáng sinh bằng hình ảnh và ngôn ngữ của “dáng đứng Việt Nam” qua những câu lục bát ru con được đặt trên môi của Đức Maria :
Nàng bừng tỉnh giấc mơ nồng
Vội vàng ríu gối quỳ bồng Con yêu.
Hôn lên vầng trán mỹ miều,
Ngân nga mấy khúc dặt dìu ru con :
Con ơi con ngủ cho ngon,
Để rồi thức tỉnh nước non mai ngày.
Con ơi con ngủ cho say,
Đời còn trăm đắng ngàn cay hẹn chờ…
(Sứ điệp Tình Thương)

Như vậy, thật là cần thiết để giờ đây chúng ta cùng suy nghĩ với nhau, cùng chia sẻ cho nhau những ý nghĩa thâm sâu của mầu nhiệm chúng ta đang cử hành, đang tái diễn và đang dấn thân đem vào hiện thực cuộc sống.

1. Nhập Thể : Một tình yêu hành động

Như chúng ta đã chia sẻ với nhau trong thánh lễ Đêm Giáng Sinh. Chỉ có thể cắt nghĩa được huyền nhiệm Nhập Thể-Giáng Sinh bằng hai tiếng TÌNH YÊU. Tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người, tình yêu của Thiên Chúa ban tặng món quà cao quí nhất là chính Con Một, tình yêu của Thiên Chúa xót thương và tha thứ không bỏ mặc con người dưới quyền sự chết để nâng con người lên… Thế nhưng đó không là một tình yêu chỉ bằng lời nói suông mà là một hiện thực, một dấn thân, một hành động. Cũng chính trong ý nghĩa “Lời Hành Động” đó mà các bài đọc Lời Chúa được công bố hôm nay đều đồng thanh diễn tả tính cách năng động của “Lời” : Bài đọc 1 : Sứ ngôn I-sa-i-a đã kêu lên : “đẹp thay trên đồi núi bước chân người loan tin mừng, công bố bình an, người loan tin hạnh phúc, công bố ơn cứu độ…Kìa nghe chăng quân canh gác của ngươi cùng cất tiếng reo hò vang dậy; họ sẽ được tân mắt thấy Đức Chúa đang trở về Xi-on…Hởi Giê-ru-sa-lem điêu tàn hoang phế hãy đồng thanh bật tiếng reo mừng…”. Trong khi đó, bài đọc 2 thư Do Thái lại trình bày :”Đã lắm phen bằng nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy Cha ông…vào thời sau hết Thiên Chúa đã phán dạy qua Thánh Tử…”. Và đặc biệt nhất Thánh Gioan trong bài Tựa Tin Mừng của Ngài đã khẳng định một cách rõ ràng như một câu định nghĩa : “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta”…

Vâng, Thiên Chúa Nhập Thể Giáng Sinh chính là một tình yêu hành động, một tình yêu không dừng lại ở một “lời nói suông” nhưng là một “LỜI THÀNH NHỤC THỂ”.

Nếu Thiên Chúa trong lịch sử đợi chờ đã nhiều lần can thiệp, nhiều lúc hành động để cứu dân qua những điềm thiêng dấu lạ, thì đã đến lúc, Thiên Chúa xuất hiện, Thiên Chúa dấn thân, Thiên Chúa biểu lộ chính bản thân Ngài, chính cuộc sống Ngài, chính trái tim của Ngài, chính nổi đau và cái chết, chính sự sống lại vinh quang của Ngài. Thánh Gioan đã cảm nhận đuợc chân lý nầy khi Ngài viết lại trong thư thứ nhất của Ngài :”Điều vẫn có ngay từ lúc khởi đầu, điều chúng tôi đã được nghe, điều chính mắt chúng tôi đã được thấy và chiêm ngưỡng, điều chính tay chúng tôi đã được chạm đến, đó là lời sự sống. Quả vậy, sự sống đã xuất hiện chúng tôi đã nhìn thấy và xin làm chứng, chúng tôi loan báo cho anh em sự sống đời đời : sự sống ấy vẫn hướng về Chúa Cha và nay xuất hiện cho chúng tôi” (1 Ga 1,1-2).

Như vậy, tin nhận mầu nhiệm Nhập Thể-Giáng Sinh, đón nhận Con Chúa xuống thế làm người đối với chúng ta hôm nay đó là chấp nhận “sự can thiệp của Thiên Chúa trong mọi biến cố của đời mình”, là đón nhận sự hiện diện và hoạt động của Chúa Kitô trong giữa lòng cuộc sống. Và như thế, cho dù những khúc nhạc Noel hôm nay có ngừng tắt, cho dù những ánh đèn rực sáng của Giáng Sinh có tàn lụi, cho dù những trang trí hang đá máng cỏ có được dẹp đi…thì trên mỗi chặng đường của cuộc sống, đức tin của chúng ta vẫn là sự bắt đầu mới mẻ, việc sống đạo của chúng ta lại là một cuộc lên đường, trái tim của chúng ta là một cuộc thắp sáng tin yêu, cõi lòng chúng ta là một đổi mới trong khiêm hạ hoán cải., đôi tay chúng ta là một rộng mở để khoan dung và phục vụ…Tin và sống mầu nhiệm Nhập Thể-Giáng Sinh là thế đó. Bởi vì nếu Giáng Sinh-Nhập Thể là một “tình yêu hành động” của Thiên Chúa dành cho chúng ta, thì sống mầu nhiệm ấy chính là một “tình yêu hành động” của chúng ta đáp trả dành cho Thiên Chúa và dành cho con người.
Và như thế, chúng ta có thể khẳng định một điều mà không sợ sai lầm đó là : chính khi con người hành động theo mệnh lệnh tình yêu và cung cách yêu thương của Thiên Chúa, con người sẽ thuộc về Thiên Chúa, giống Thiên Chúa; hay như cách nói của chính Chúa Giêsu : “bà con với Thiên Chúa” : “Mẹ tôi và anh em tôi, chính là những ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành” (Lc 8, 21).

2. Nhập Thể : Một tình yêu sẵn sàng tự hủy

Thế nhưng hành động của tình yêu và vì tình yêu bao giờ cũng đòi phải trả một giá đắt. Và giá đắt cuối cùng chính là hy sinh thân mình, là chấp nhận “chết”, là trở thành “lễ dâng”, trở thành “hy tế’. Nói cách khác, yêu cho tới cùng có nghĩa là “phải xóa mình đi”, phải “tự hủy” (Kenose) như chính Đức Kitô đã khẳng quyết : “Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13). Và chính Đức Kitô đã hiện thực hóa lời khẳng quyết đó bằng chính cái chết tủi nhục trên thập giá.

Nhập Thể-Giáng Sinh đó chính là tình yêu lớn nhất, tình yêu trên mọi tình yêu. Tình yêu của Đấng tự xóa bỏ tước phận Thiên Chúa cao sang để hạ cố mang phận bạc con người (Pl 2,6-7), “Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2, 8). Nhưng, cũng từ sự “tự hủy”, từ sự hạ cố xóa mình trọn vẹn đó mà “Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trỗi vượt trên muôn ngàn danh hiệu” (Pl 2, 9). Chính trong ý nghĩa nầy mà Thánh sử Tông Đồ Gioan đã không ngần ngại gọi cái “GIỜ” của Đức Kitô, cái “GIỜ” Đức Kitô được tôn vinh thật sự (Ga 13,31), chính là cái “GIỜ” của sự cô độc thập giá (Ga 16, 32), là cái “GIỜ” để bị “Treo lên”, cái “GIỜ” của “hạt lúa mì trong lòng đất mục nát đi” (Ga 12,24). Và để cắt nghĩa rõ hơn tư tưởng nầy, chị Chiara Lubich, đã ccàu nguyện với những lời thâm thúy :

Để chúng con được ánh sáng, Chúa đã trở nên mù loà.
Để chúng con được hiệp nhất, Chúa đã chịu xa cách Chúa Cha.
Để chúng con được khôn ngoan, Chúa đã trở nên "dốt nát".
Để chúng con được trở nên vô tội, Chúa đã trở thành người "tội lỗi".
Để chúng con hy vọng, Chúa đã hầu như tuyệt vọng.
Để Thiên Chúa ở trong chúng con, Chúa đã cảm nghiệm tình trạng bị xa cách Thiên Chúa.
Để chúng con chiếm hữu thiên đàng, Chúa đã cảm nghiệm hoả ngục.
Để cho chúng con được vui sống trên mặt đất nầy giữa hàng trăm anh chị em, Chúa đã chịu cảnh bị gạt bỏ khỏi trời đất, khỏi loài người và thiên nhiên.

Chúa là Thiên Chúa, là Thiên Chúa của con, là Thiên Chúa của tình yêu thương vô bờ bến của chúng con (CNHV trg. 148-149

Ngày hôm nay chúng ta đang cử hành mầu nhiệm Giáng Sinh-Nhập Thể cho dù với cung cách rực rỡ tráng lệ của hoa đèn ca nhạc đông vui mang tính lễ hội, thì điểm đến, tiêu đích cuối cùng vẫn chỉ là : “Một hài nhi đã sinh ra cho chúng ta, một Người Con đã được ban tặng cho chúng ta” (Ca Nhập Lễ); là một Em bé Giêsu yếu ớt nằm trong máng chiên lừa, một chàng thanh niên thợ mộc Giêsu con bác mộc Giuse, một Thầy Giêsu đi chân trần nghèo nàn, đói mệt trên những nẽo đường cát bụi xứ Pa-les-ti-na đến độ “không có chỗ dựa đầu” (Lc 9,58), là một tử tội Giêsu bị kết án đóng đinh thập giá giữa hai tên trộm cướp…và hôm nay trên bàn thờ nầy, là chính Chúa Kitô chấp nhận làm “tấm bánh ly rượu” để rở nên máu thịt nuôi sống muôn người.

Đón nhận một Chúa Giêsu như thế đó chính là thái độ, là cung cách, là tâm tình cần thiết để biểu lộ và sống mầu nhiệm Giáng Sinh-Nhập Thể, mầu nhiệm của “sự tự hủy của Thiên Chúa”, mầu nhiệm của tình yêu hiến thân cho đến chết, hy sinh cho tới cùng. Sống mầu nhiệm Nhập Thể-Giáng Sinh hôm nay là biết không ngừng tự xóa mình đi, là biết không ngừng thực thi ý Chúa cho dù trăm đắng nghìn cay, là biết khiêm tốn quỳ xuống để rửa chân cho anh em cho dù phải hy sinh và tủi nhục, là trung thành từng ngày với lý tưởng phúc âm cho dù phải dập vùi thử thách, là can đảm thực hành Lời Chúa trong từng nghĩa cử nhỏ nhoi, là chấp nhận đoạn tuyệt để trở về cho dù con tim tan nát…Sống mầu nhiệm Giáng Sinh – Nhập Thể hôm nay là biết mĩm cười chấp nhận cái tối tăm vất vả của đời sông gia đình nhưng vẫn sáng lên niềm tin yêu hy vọng; là biết sẵn sàng dấn thân trong giữa chốn chợ đời bon chen tất bật, nhưng vẫn sáng lên sự liêm khiết của phúc âm; là không nản lòng trước bênh tật, không sợ hải phải sinh và nuôi dạy con cái, là chung thủy từng ngày trong giao ước lứa đôi, là an bình phó thác trong tay Cha khi xui tay nhắm mắt…

Kết luận :

Tất cả những gì chúng ta chia sẻ cho nhau hôm nay mãi mãi vẫn là thách đố, mãi mãi vẫn là ước nguyện để mãi mãi là một cuộc lên đường, cũng như lễ Giáng Sinh năm nay rồi lại sẽ trở về để tái diễn để nhắc nhớ. Chính vì thế, chúng ta chỉ biết cầu nguyện cho nhau sống được và thực hiện thêm nữa lời mời gọi hôm nay của chân lý Nhập thể-Giáng Sinh. Cầu nguyện cho nhau biết sống đáp đền tình yêu của Thiên Chúa và không ngừng thực thi mệnh lệnh yêu thương của Ngài để mãi mãi là môn sinh của Chúa Giêsu, là “bà con với Đấng Cứu Thế, là phản ảnh dung mạo của Thiên Chúa tình yêu, như ngụ ý của câu chuyện nhỏ mùa Giáng Sinh có tựa đề “Bà có phải là Chúa không?” của Dan Clak :

Vào một buổi tối giá rét mùa Giáng sinh, một đứa bé khoảng sáu, bảy tuổi đứng trước một cửa hiệu. Đứa bé không có giày, còn quần áo thì rách rưới. Một phụ nữ trẻ đi ngang qua và nhìn thấy niềm khao khát trong đôi mắt xanh xao của nó. Cầm tay đứa bé dẫn vào tiệm, bà mua cho nó đôi giày mới và một bộ quần áo ấm.

Đưa bé ra khỏi tiệm, người đàn bà nói: “Bây giờ cháu có thể về nhà và chúc cháu một Giáng sinh vui vẻ”.

Đứa bé ngước nhìn người đàn bà và hỏi: “Thưa bà, bà có phải là Chúa không?”.

Người đàn bà cúi xuống nhìn đứa bé và đáp: “Không, con ạ, ta chỉ là một trong những đứa con của Chúa”.

Đứa bé nói: “Cháu nghĩ chắc bà phải có họ hàng, bà con gì với Chúa”.

Ước gì toàn thể mỗi người chúng ta hôm nay biết sống làm sao và sống thế nào để đều có thể được một ai đó cũng nói với mình một câu tương tự : “Tôi nghĩ ông, bà, anh chị chắc phải có họ hàng, bà con gì với Chúa”. Amen.

LM. Giuse Trương Đình Hiền


 

GS-163: Đêm Bình Anna


Lễ Giáng Sinh Thánh Lễ Đêm : Lc 2, 1-14

“Vinh danh Thiên Chúa trên trời, Bình an dưới thế cho người Chúa thương”

 

Lễ đêm Giáng Sinh, người Công Giáo Trung Quốc gọi là Đêm Bình An. Tên gọi rất có ý nghĩa: GS-163


Lễ đêm Giáng Sinh, người Công Giáo Trung Quốc gọi là Đêm Bình An.

Tên gọi rất có ý nghĩa, và quả thật là như vậy, vì đêm Bình An chính là đêm mà Con Thiên Chúa đã làm người vì yêu thương nhân loại.

Đêm nay được gọi là Đêm Bình An, vì là đêm đánh dấu một kỉ nguyên mới cho nhân loại : kỉ nguyên của tình yêu.

Đêm Bình An có các thiên thần bởi trời xuống hát mừng và loan báo tin vui cứu độ cho người nghèo, người công chính...

Đêm Bình An có ánh sao lạ dẫn đường cho muôn dân nhận biết dấu chỉ tình yêu của Thiên Chúa đối với loài người.

Đêm Bình An là đêm mà trời hoan ca và đất hát mừng, vì tất cả đều được đổi mới bởi Đấng Làm Người.

Đêm Bình An người người vui mừng, vì ơn cứu độ đã đến...

Đêm nay, toàn thể nhân loại, không phân biệt màu da tín ngưỡng đều hoan ca vui vẻ và hát mừng Thiên Chúa Giáng Sinh, từ các cửa hàng sang trọng cho đến các sạp buôn bán nhỏ, chúng ta đều thấy được không khí của Bình An, của Hoà Bình, người người chen chúc mua sắm mùa giáng sinh, trên khuôn mặt mỗi người đều rạng lên nét hân hoan và nếu quan sat kỉ, chúng ta sẽ thấy hình như tâm hồn của họ đổi thay, mà cái đổi thay dễ thấy nhất chính là họ rất dễ dàng thông cảm bỏ qua những lỗi lầm cho nhau, bởi vì tâm hồn họ tràn ngập sự bình an của ngày Giáng Sinh.

Đêm nay là Đêm Bình An, là đêm của Hoà Bình, bởi vì như lời tiên tri Elia nói : “Một trẻ thơ chào đời để cứu ta, một người con đã được ban tặng cho ta, danh hiệu Người là Cố Vấn kì diệu, Thần Linh dũng mãnh, người Cha muôn thuở, Thủ Lãnh hoà bình” (Is 9, 5). Trẻ thơ ấy chính là Chúa Giêsu, Ngài là ánh sáng chiếu soi đêm tối, đem lại cho đêm một sự bình an.

Đêm là tội lỗi, là chết chóc, là thù hận;
Ánh sáng là bình an, là sự sống, là tình yêu,
đi trong ánh sáng, chúng ta thấy anh em mình cũng có những ưu điểm hơn mình, đi trong ánh sáng, chúng ta cũng rất dễ dàng nhìn thấy những thói hư tật xấu của chúng ta, vì ánh sáng chiêu soi cho cả người tốt cũng như người không tốt...

Ánh sáng đã chiếu soi trần gian từ rất lâu rồi, nhưng vì cứ mãi mê trong những ánh đèn mờ của hưởng thụ và thích những nơi tăm tối, nên nhân loại vẫn chưa nhận ra được ánh sáng đích thực đang chiếu soi trên trần thế, ánh sáng ấy chính là Đức Giêsu Kitô, ánh sáng ấy chính là Lời của Ngài.

Đêm nay là Đêm Bình An, là đêm mà ma quỷ và mọi thế lực của nó đều sửng sờ kinh ngạc, vì ánh sáng đã đến, vị cứu tinh nhân loại đã đến để xua tan bóng đêm thống trị địa cầu, ánh sáng ấy chính là Đức Kitô.

Mừng Chúa Giáng Sinh cũng có nghĩa là mừng Ơn Cứu Độ đã đến, chúng ta –những người Công Giáo- đã chuẩn bị cho việc giáng trần của Con Thiên Chúa trong những ngày tháng của mùa vọng, chúng ta chuẩn bị tâm hồn theo lời mời gọi của thánh Gioan Tiền Hô : sửa đường lối cho ngay thẳng, tức là sửa đổi cuộc sống của minh cho phù hợp với tinh thần Phúc Am; chúng ta cũng chuẩn bị tâm hồn như Đức Trinh Nữ Maria : sống phục vụ người thân cận với tất cả tâm tình khiêm tốn. Và giờ đây chúng ta đang vui mừng hân hoan kỉ niệm Con Thiên Chúa làm người đang chọn tâm hồn của mình thành nơi sinh hạ của Ngài.

Đêm Bình An rồi cũng sẽ qua đi, và con người sẽ trở lại với công việc thường ngày của mình, nhưng chúng ta quyết tâm biến mỗi giây phút của mình trở thành đêm Bình An, nghĩa là chúng ta sống thật hoà bình với người thân cận của chúng ta. Sống thật hoà bình tức là diễn tả lại việc Con Thiên Chúa làm người cho mọi người thấy, đó chính là lòng khiêm hạ của một tâm hồn đầy ắp tình yêu thương của Thiên Chúa...

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.


 

GS-164: MẦU NHIỆM THIÊN CHÚA GIÁNG SINH

 

Có lẽ mấy ngày hôm nay chúng ta cùng nhau suy niệm mầu nhiệm Giáng sinh với tâm hồn: GS-164


Có lẽ mấy ngày hôm nay chúng ta cùng nhau suy niệm mầu nhiệm Giáng sinh với tâm hồn tràn đầy niềm tin yêu và hi vọng. Tin vào tình thương Thiên Chúa đoái thương chúng ta qua mầu nhiệm Nhập Thể của Chúa Giêsu, hi vọng vào cuộc hành trình mùa vọng để giúp chúng ta sống mầu nhiệm Nhập Thể trong ơn gọi Kitô hữu.

Ngày xưa, Evà đã nghe lời 'con rắn' ăn trái táo. Để rồi, trái táo định mệnh ấy đã khiến nhân loại phải ngập chìm trong bóng đêm của tội lỗi. Thì hôm nay, Mẹ Maria- Evà mới, đã đạp dập đầu 'con rắn'; Mẹ đã hạ sinh Hài Nhi Giêsu mang an bình và hi vọng tới cho nhân loại. Xin mời các thày cùng tìm hiểu mầu nhiệm Nhập thể qua ba ý tưởng sau:

Tội lỗi và ơn sủng
Cội nguồn của tội lỗi theo Thánh Kin

h là do sự kiêu ngạo của nguyên tổ Ađam và Evà. Hai ông bà đã bị con rắn tức ma quỷ xúi dục kiêu ngạo muốn bằng Thiên Chúa khi ăn trái cấm. Từ đó trái đất trở nên cằn cỗi, con người đau khổ bất hạnh, quằn quại chờ ngày được giải thoát. Tội lỗi đó chỉ nhờ Con Thiên Chúa mới giải thoát được. Con người phạm tội bị đuổi ra khỏi vườn địa đàng, nhưng Thiên Chúa không bỏ rơi con người, Ngài hứa ban chương trình cứu độ con người. Mầu nhiệm cứu rỗi đã được mạc khải cho chúng ta nơi Chúa Hài Nhi Giêsu, màu nhiệm ấy gắn liền với lời thưa 'xin vâng' của Mẹ Maria.

Chúng ta đang sống tâm tình mùa vọng, mùa của hi vọng, chờ đợi và tỉnh thức. Đó chính là Ơn tình thương mà Thiên Chúa đã dành để cho trần thế chúng ta. Chính dân tộc Do thái đã sống trong sự chờ đợi và hi vọng đó, qua dòng lịch sử của dân tộc, chính Thiên Chúa đã mạc khải cho con người chúng ta biết được ý nghĩa của ước mơ và hi vọng. Vì vậy, qua các ngôn sứ, tiên tri trong Cựu Ước đều loan báo niềm hi vọng và chờ đợi này. Sự chờ đợi và hi vọng qui về Đức Giê-su Kitô. Nhìn một khía cạnh nào đó, chính chúng ta không khỏi suy tư: tại sao sự khao khát mong chờ như vậy mà khi Chúa Cứu Thế đến, họ lại không nhận ra Ngài? Phải chăng đó cũng là thảm trạng khi con người chúng ta đã không nhìn nhận ra sự hiện diện của Ngài?

Mầu nhiệm Nhập thể của Chúa Giêsu Kitô

Chúng ta nói đến thời điểm viên mãn "Ngôi Lời đã hoá thành nhục thể và ở giữa chúng ta" là thời điểm trọn vẹn là vì đây chính là thời gian hoàn tất mạc khải của Thiên Chúa Ba Ngôi. Thiên Chúa đã quá yêu thương thế gian đến độ ban tặng Con Một Ngài (Ga 3,16). Chính nơi Ngôi Lời nhập thể, mà Thiên Chúa đã hoàn toàn tự ý tỏ mình và ban chính mình cho con người chúng ta. Ngài cũng mạc khải đầy đủ con người cho chính con người. Nhờ Chúa Giêsu, con người chúng ta mới biết sự thật về chính mình. Cuộc sống hiến thân trọn vẹn để yêu và phục vụ Chúa Cha và con người của Chúa Giêsu đã là mẫu gương tuyệt hảo cho chúng ta dấn bước noi theo. Ngôi Lời nhập thể là tuyệt đỉnh thời gian viên mãn đối với Ba Ngôi Thiên Chúa: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

Cuộc tái tạo mới

Hài nhi Giêsu đã trở nên một sự tái tạo mới, sự tái tạo khởi đi từ sự tha thứ và yêu thương của Thiên Chúa Ba Ngôi. Màu nhiệm Nhập thể của Con Thiên Chúa và mầu nhiệm Cứu độ Ngài thực hiện cho mọi người làm nên trọng tâm sứ điệp của đức tin Kitô giáo. Từ thế kỉ này đến thế kỉ khác, Hội thánh công bố điều ấy, đang khi tiến bước giữa những thách đố của thế giới qua bao thế kỉ, và Hội thánh uỷ thác cho con cái mình như kho tàng quí giá để gìn giữ và chia sẻ cho người khác. Nơi Đức Giê-su kitô, Đấng sinh ra tại Belem, Thiên Chúa nhận lấy thân phận con người, để chúng ta có thể đến được với Thiên Chúa và để thiết lập giao ước với loài người và con người giao ước liên đới với nhau.

Các thày thân mến,

Lại một lần nữa, Giáng sinh trở về với chúng ta, cũng vẫn những khung cảnh nhộn nhịp của loài người mừng lễ Giáng sinh. Trong màu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa nhập thể, chúng ta đã chuẩn bị dâng lên Chúa món quà nào? Phải chăng chúng ta chỉ nhìn đến những món quà vật chất dù nhỏ bé mà quên đi những giá trị tinh thần của màu nhiệm Nhập thể, nhất là trong cuộc sống quá ồn ào náo nhiệt với những vất vả lo toan, bệnh tật, khổ đau, khủng hoảng của ơn gọi gia đình, khủng hoảng của cả ơn gọi tu trì. Vậy chúng ta đã làm gì cho Chúa để trở thành sự đổi mới tâm hồn của chúng ta?
Ngày nay, người ta nói nhiều đến thương mại hoá Giáng sinh, trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Phải chăng thế giới ngày nay đang chứng kiến một hình thức bùng nổ việc mua bán hình ảnh giáng sinh đối với mọi người, mọi quốc gia? Mầu nhiệm Giáng sinh hình như bị thay thế bằng những hình thức đổi chác mua bán. Chúa Giêsu đến để biến đổi thế giới tội lỗi thành thánh thiện, biến đổi lòng gian tham thành yêu thương chia sẻ, mang những giá trị tinh thần cao cả cho thế gian đang đam mê hưởng thụ vật chất. Thế nhưng, hôm nay, thế giới lại đang biến công trình cứu chuộc của Chúa Giêsu Kitô chỉ còn là hình ảnh của ông già Noel mặc bộ đồ đỏ đi phát quà cho trẻ em và những người thiếu thốn.

Có người đã thắc mắc với tôi điều đó, nhưng tôi lại bảo rằng: muốn gì đi nữa đó phải chăng cũng là một phương thức truyền giáo đối với Giáo hội Việt Nam. Vì những người ngoài Kitô giáo vẫn quan niệm: ngày Giáng sinh là ngày của sự gặp gỡ: gặp gỡ tình yêu, gặp gỡ tình bạn, gặp gỡ để khám phá các nhà thờ Công giáo, đó cũng chính là khởi đầu của một hành trình tìm kiếm sự hiểu biết, phải chăng cũng là một khởi đầu trong hành trình tìm kiếm niềm tin của người trẻ hôm nay? Như vậy, trách nhiệm tái tạo ý nghĩa màu nhiệm Nhập thể ở chính nơi mỗi chúng ta, những người đang sống ơn gọi Kitô hữu, ơn gọi trở nên tông đồ của Chúa. Hãy nắm bắt những dấu chỉ của thời đại, để đương đầu với những thách đố của thời đại hôm nay và bằng niềm tin và nghị lực của mình để tái tạo nên hình ảnh và màu nhiệm Nhập thể của Chúa, để ơn cứu độ của Chúa Giêsu dần dần đi vào những tâm hồn thiện tâm. Để đạt được điều đó, nhiều khi chúng ta phải trả giá những giá thật khắt khe và thiệt thòi trước mắt người không có niềm tin, nhưng đó lại là khởi đầu cho một cuộc hành trình mới, cuộc hành trình khám phá đức tin của mình, để làm mới lại tâm hồn mình, một tâm hồn được tái tạo bởi ân sủng và tình thương của Hài Nhi Giêsu. Với tâm tình đó, chúng ta cùng cầu chúc cho nhau được tràn đầy ơn Chúa Hài Nhi để biến đổi con người chúng ta trở nên hình ảnh của Thiên Chúa yêu thương trong cuộc sống và ơn gọi của chúng ta. Amen.

(Nguồn: www.daichungvienhanoi.com)
LM Giuse Đặng Đức Ngân


 

GS-165: Bài hát Giáng Sinh đầu tiên


Bài hát Giáng Sinh đầu tiên

"Vinh danh Thiên Chúa trên trời,
bình an dưới thế cho loài người Chúa thương." (Lc 2, 14)

 

 Bài hát Giáng Sinh đầu tiên trong lịch sử không phải do con người sáng tác, mà do các Thiên: GS-165


„Bài hát Giáng Sinh đầu tiên trong lịch sử không phải do con người sáng tác, mà do các Thiên Thần, như Luca đã nêu lên trong phúc âm. Nhịp điệu ấm áp của Giáng Sinh trong mọi thời đại được lấy hứng từ bài hát này:

„Vinh danh Thiên Chúa trên trời,

bình an dưới thế cho loài người Chúa thương.“

Bài hát này đưa ra một thước đo và giúp chúng ta hiểu được ý nghĩa đích thực của Giáng Sinh. Bài hát nêu một từ ngữ, mà con người trong thời đại chúng ta chú ý tới nhiều nhất. Đó là Bình An, trong thánh kinh là Schalom. Chúng ta dịch là Bình An, nhưng thực sự từ này có ý nghĩa nhiều hơn là sự yên lành không có chiến tranh. Từ ngữ này còn diễn tả tình trạng tốt của mọi sự trong cuộc sống con người, như là sự chữa lành; là một thế giới, mà trong đó niềm tin và tình thân yêu giữa anh chị em đang hiện diện, một thế giới không có thiếu thốn, không có mưu mô thủ đoạn và dối trá.

An Bình trên trái đất - Đó là đích đến của Giáng Sinh. Nhưng điều đầu tiên Giáng Sinh cần có là sự Vinh Danh Thiên Chúa. Nếu Thiên Chúa không được Vinh Danh, thì không có Bình An.

Đây chính là bài học về sự Bình An từ Bét-le-hem: Bình An của con người đến từ sự Vinh Danh Thiên Chúa. Trước khi con người và sự cứu rỗi con người được nhắc đến, thì đầu tiên cần phải nhắc đến là sự Vinh Danh Thiên Chúa. Sự Vinh Danh Thiên Chúa không phải là một điều giành cho bất cứ cá nhân nào, mà đó là một thực tại công khai. Vinh Danh Thiên Chúa là một món quà quý cho tất cả.
Ở nơi đâu Thiên Chúa không được Vinh Danh, thì con người không thể sống trong vinh quang được. Giáng Sinh luôn kết nối với Bình An của con người, vì Vinh Quang của Thiên Chúa được rạng sáng ở giữa muôn người trong bầu khí Giáng Sinh.“ (Benedikt XVI. Joseph Ratzinger, Der Segen der Weihnacht, Meditationen, Herder Verlag, Freiburg 2005, S. 84-85)

Bạn thân mến,

Như vậy, Lễ Giáng Sinh chúng ta mừng có một ý nghĩa thật sâu sa.

Chúng ta đã giành cả một mùa Vọng để chuẩn bị lễ Giáng Sinh, có nghĩa là chúng ta đã lấy thời gian để chuẩn bị Vinh Danh Thiên Chúa. Vâng, làm sao Thiên Chúa không được tôn vinh, khi Ngài giáng thế? Ai lại không Vinh Danh Thiên Chúa, khi giây phút thiêng liêng đã khởi đầu, giây phút mà Thiên Chúa đã giải nghĩa chữ Yêu?

Vì thế, chúng ta không chỉ mừng lễ Giáng Sinh trong thinh lặng, mà lễ Giáng Sinh cần được mừng rộn rã lên, tình yêu Thiên Chúa cần được ca ngợi lên, và chính Thiên Chúa cần được Vinh Danh, qua những lời hát mừng vui, đến từ những tâm hồn chứa chan vui mừng. Có như vậy, thì tâm hồn của muôn người và thế giới của nhân loại này sẽ được sống trong bình an. Thực vậy, ai càng tôn vinh Thiên Chúa là Chúa của tình yêu, là chủ của muôn người, thì tâm hồn người đó sẽ càng bình an.

Vì thế, hợp với ca đoàn các Thiên Thần trên trời, và với muôn tâm hồn trên trái đất, hôm nay chúng ta cùng cất lên lời ca ngợi Vinh Danh Thiên Chúa:

"Vinh danh Thiên Chúa trên trời,
bình an dưới thế cho loài người Chúa thương."

Lm. Nguyễn ngọc Thế sj


 

GS-166: Bò Lừa trong hang đá


Bò Lừa trong hang đá

“Con bò còn biết chủ, con lừa còn biết cái máng cỏ nhà chủ nó.
Nhưng Ít-ra-en thì không biết, dân Ta chẳng hiểu gì.” (Is 1,3)

 

 Có một hình ảnh rất dễ thương trong hang đá, nơi Hài Nhi Giêsu sinh ra. Đó là những chú Lừa: GS-166


Có một hình ảnh rất dễ thương trong hang đá, nơi Hài Nhi Giêsu sinh ra. Đó là những chú Lừa và Bò mà thánh Phan-xi-cô thành Assisi đã nhắc đến, và từ đó luôn được đặt vào trong bối cảnh Giáng Sinh, dù rằng trong Tân Ước không nói tới. Sau đây chúng ta cùng đọc những suy tư của Đức Thánh Cha về hình ảnh Bò Lừa trong hang đá:

“Trong thực tế, tôi muốn gợi nhớ lại Hài Nhi và hoàn cảnh Hài Nhi đã sinh ra như thế nào tại Bét-le-hem: Với những khó khăn vất vả mà Hài Nhi Giêsu đã phải chịu. Tôi muốn ngắm nhìn Em Bé với con mắt thật của mình, Hài Nhi nằm trong hang lừa như thế nào, ngủ trên rơm rạ và giữa Bò Lừa ra sao.”

Bò Lừa thực sự không phải là những sản phẩm của lòng đạo đức. Mà qua niềm tin của Giáo Hội vào sự hiệp nhất giữa Cựu Ước với Tân Ước, Bò Lừa đã trở thành biểu tượng gắn liền với Giáng Sinh. Isaia đã nhắc đến Bò Lừa trong chương thứ nhất: “Con bò còn biết chủ, con lừa còn biết cái máng cỏ nhà chủ nó. Nhưng Ít-ra-en thì không biết, dân Ta chẳng hiểu gì.” Các Giáo Phụ đã nhìn thấy lời tiên tri trong đoạn này của Isaia. Lời tiên tri hướng về một Dân mới của Thiên Chúa gồm cả Do Thái lẫn dân ngoại.

Trước tôn nhan Thiên Chúa, tất cả nhân loại, Do Thái lẫn dân ngoại, cũng như Bò và Lừa không biết và cũng chẳng hiểu gì. Nhưng chính Hài Nhi trong máng cỏ đã mở đôi mắt của tất cả ra, nhờ đó mà giờ đây tất cả đã nhận ra chủ mình là ai, cũng như nghe được tiếng nói của chủ...

´Bò Lừa biết chủ, nhưng Ít-ra-en, dân Ta, thì không biết`. Hôm nay ai là Bò là Lừa và ai là dân của Chúa chẳng hiểu biết gì? Căn cứ vào đâu để nhận ra được Bò Lừa, cũng như nhận ra “dân Ta”? Nhưng tại sao những thụ tạo không có lý trí lại nhận ra, và những thụ tạo đầy đủ lý trí lại đui mù chẳng biết chi? Để tìm được câu trả lời đúng đắn chúng ta phải cùng với các Giáo Phụ đi lùi về biến cố Giáng Sinh.

Ai không nhận ra? Đó là Hê-rô-đê. Ông ta chẳng hiểu biết gì, khi người ta nói cho ông nghe về Con Trẻ, mà ngược lại với lòng ham quyền của mình và thêm vào đó là lệnh lùng bắt của ông đã làm cho đôi mắt của ông thêm mù tối (Mt 2,3). Với Hê-rô-đê, cả Giêrusalem cũng chẳng nhận ra. Và cả những người mặc gấm vóc lụa là cũng chẳng nhận ra (Mt 11, 8) Rồi những thầy dạy, những nhà chuyên môn cắt nghĩa Thánh Kinh, những người thuộc từng đoạn từng câu của Thánh Kinh cũng chẳng hiểu biết gì (Mt 2,6)

Ai nhận ra? Đó là “Bò Lừa”, là các mục đồng, là những nhà chiêm tinh, là Maria và Giuse... Trong hang lừa này những người thuộc về giới thượng lưu sang trọng và giỏi giang không tìm thấy chỗ gối đầu, mà Bò Lừa đã tìm thấy nơi náu ẩn của mình.

Còn chúng ta thì sao? Phải chăng vì chúng ta quá sang trọng và giỏi giang, nên chúng ta đứng quá xa với hang lừa này?” (Benedikt XVI. Joseph Ratzinger, Der Segen der Weihnacht, Meditationen, Herder Verlag, Freiburg 2005, S. 64-70)

Bạn thân mến,

Mời Bạn cùng tôi đứng ngắm nhìn hang lừa và chuồng Bò, nơi Chúa Giêsu sinh ra. Giờ đây, khi đọc tâm tình của Đức Thánh Cha, chúng ta cũng nên tự hỏi mình xem, chúng ta có nhận biết Thiên Chúa đang nằm kia không? Chúng ta có hiểu được mầu nhiệm tình yêu cao cả của Thiên Chúa không? Chúng ta có cảm thấy mình có một chỗ trong hang lừa kia không? Tương quan của chúng ta với Hai Nhi bé nhỏ kia ra sao? Gần gũi, thân thiện hay xa lánh và lạ lẫm? Biến cố Giáng Sinh này có ý nghĩa gì đối với chúng ta?

Lm. Nguyễn ngọc Thế sj


 

GS-167: Thinh Lặng Chiêm Ngắm Máng Cỏ


Thinh Lặng Chiêm Ngắm Máng Cỏ

 

Thi hào người Tây Ban Nha Migele des Punamuno, sinh năm 1864 và qua đời năm 1936 có để: GS-167


Thi hào người Tây Ban Nha Migele des Punamuno, sinh năm 1864 và qua đời năm 1936 có để lại dòng suy tư sau đây:

Báo chí không hề đá động đến cuộc sống âm thầm của những người không làm nên lịch sử. Hằng ngày, từng giờ trên khắp thế giới, cứ mỗi khi mặt trời lên, họ lại thức giấc ra đồng để làm công việc âm thầm và tăm tối mỗi ngày và muôn thuở. Một công việc như thế cũng giống như công việc của những tảng san hô chìm sâu giữa lòng đại dương. Ðây là công việc xây nền đắp móng để cho những hòn đảo của lịch sử được nhô lên. Chính trong thinh lặng mà âm thanh mới được sống lọt. Chính từ cái khối người bao la thinh lặng ấy mới trồi lên được những người có tiếng nói trong lịch sử.

Quí vị và các bạn thân mến,

Những dòng suy tư trên đây của thi hào Migele des Punamuno không thể không gợi lên cho chúng ta khung cảnh thinh lặng trong máng cỏ, nơi Hài Nhi Giêsu đang ngủ say dưới ánh mắt chiêm ngắm của Mẹ Maria và Thánh Cả Giuse. Thinh lặng là luật của máng cỏ. Cả ba nhân vật mà chúng ta chiêm ngắm bên máng cỏ đều thinh lặng.

Quả thực, nếu đặt vào trong cuộc sống 33 năm của Ngài, thì phần lớn quãng đời của Ngài chỉ là thinh lặng. Là Lời của Thiên Chúa ngỏ với con người. Chúa Giêsu nói bằng thinh lặng nhiều hơn bằng những lời rao giảng của Ngài. Phải chăng cũng chỉ trong thinh lặng mà con người mới có thể nghe được lời của Chúa. Thinh lặng cũng là luật sống của Mẹ Maria. Thánh Luca đã tóm gọn cuộc sống của Mẹ trong câu: Và Mẹ Maria đã ghi nhớ tất cả mọi sự và suy niệm trong lòng. Nếu Tin Mừng còn ghi lại một vài câu nói của Mẹ Maria thì tất nhiên hoàn toàn thinh lặng là những lời phát biểu của Thánh Cả Giuse. Ngay giữa lúc được thiên thần hiện đến trong giấc mộng để báo tin về Mẹ Maria cưu mang Ngôi Hai Thiên Chúa. Thánh Giuse xem chừng cũng không nói một lời nào, và nhất là Ngài cũng âm thầm biến khỏi cuộc đời còn lại của Mẹ Maria và Chúa Giêsu lúc nào cũng không ai hay biết.

Thánh Cả Giuse quả là vị thánh của thinh lặng. Chiêm ngắm Chúa Hài Nhi bên cạnh Mẹ Maria và thánh cả Giuse có lẽ chúng ta cũng được mời gọi để sống thinh lặng. Chỉ trong thinh lặng của máng cỏ chúng ta mới hiểu được ý nghĩa của cuộc sống âm thầm từng ngày của chúng ta. Chúng ta thuộc về cái khối người thinh lặng bao la, ngày ngày lặng lẽ sống mà không hề được ai nhắc tới. Không được ai nhắc tới nhưng nếu không có cái khối người âm thầm lặng lẽ ấy thì cũng chẳng bao giờ có lịch sử. Thi hào Migele des Punamuno gợi lên cho chúng ta hình ảnh cái khối san hô chìm sâu dưới lòng đại dương. Ngày qua ngày, trong âm thầm lặng lẽ, khối san hô ấy tích tụ lớn dần và trổi lên thành những hòn đảo xanh tươi giữa lòng đại dương. Lịch sử nhân loại được hình thành từ những công lao âm thầm của khối người vô danh mà mỗi người chúng ta là thành phần. Như hạt giống được âm thầm gieo vào lòng đất, những vất vả phấn đấu và khổ đau từng ngày của chúng ta là nền móng vững chắc cho lịch sử của nhân loại được hình thành và tiến tới. Chỉ trong niềm tin, chúng ta mới nhận ra được những đóng góp âm thầm ấy. Chỉ trong ánh sáng của máng cỏ chúng ta mới nhìn thấy được giá trị của những hy sinh âm thầm của con người. Chỉ trong thinh lặng của máng cỏ, chúng ta mới lắng nghe được những hạt giống của tin yêu và hy vọng đang nảy mầm.

Lạy Chúa, xin cho ánh sáng của mầu nhiệm nhập thể chiếu rọi vào tâm trí của chúng con. Và nhờ những thực tại chóng qua ở đời này, chúng con biết nhận ra những giá trị vĩnh cửu của Nước Trời.

Xin cho những hạt giống chúng con âm thầm gieo vải từng ngày được trổ bông chín vàng trong ngày mùa sau hết. Amen.

Đ.Ô. Phêrô Nguyễn Văn Tài


 

GS-168: Đêm đen cuôc đời trở thành Đêm Thánh


 “Dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng;
đám người sống trong vùng bóng tối, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi.”
(Is 9,1)

 

Ngày 25.12 trong lịch của Do Thái là lễ hội Chanukka, lễ hội Ánh Sáng. Lễ này nhắc nhơ: GS-168


 “Ngày 25.12 trong lịch của Do Thái là lễ hội Chanukka, lễ hội Ánh Sáng. Lễ này nhắc nhớ rằng, chính trong ngày này vua Antiochius người Sy-ri đã dựng bức hình trong đền thờ Giêrusalem, và bắt dân chúng thờ mình như là một thần thánh. Ông ta đã biến ngày này trở thành một lễ hội.

Cũng chính trong ngày này vào năm 165 trước công nguyên, Giuđa Ma-ca-bê đã dẹp bỏ bàn thờ của thần ngoại trong đền thờ Giêrusalem.

Ngày lễ hội này sau đó đã trở thành ngày lễ hội mừng đền thờ được thanh tẩy, ngày mà Vinh Danh Thiên Chúa đã có lần bị bôi nhọ được phục hưng, và mọi người bắt đầu cao rao lời tôn vinh Thiên Chúa. Bắt đầu từ ngày này, người Do Thái đã mừng sự tái sinh, cũng như sự tái lập quốc gia của mình. Đây là giây phút mà dân tộc Do-Thái lại có thể thờ lạy Thiên Chúa của họ một cách đàng hoàng.

Ngoài ra, tuần lễ từ 25-31.12 còn là tuần lễ trước thềm năm mới, nên sự tái sinh mang ý nghĩa sâu sa hơn: Sự tái sinh này là một cách diễn tả sự bắt đầu mới của công trình sáng tạo, với niềm hy vọng về thời gian tràn đầy tự do. Vì thế, mà vào chính ngày 25.12, năm 100 trước công nguyên, sự sinh ra của Đấng Messia đã được ngóng trông. Vì từ Đấng Messia người ta hy vọng rằng, Ngài sẽ dạy dỗ loài người, biết thờ phượng Thiên Chúa thế nào cho phải đạo. Ngài sẽ đem lại sự tự do. Trong thời của Chúa Giêsu, người ta đã bắt đầu mừng lễ này như lễ của Ánh Sáng theo như lời của tiên tri Isaia:

“Dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng;
đám người sống trong vùng bóng tối, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi.”
(Is 9,1)

(Benedikt XVI. Joseph Ratzinger, Der Segen der Weihnacht, Meditationen, Herder Verlag, Freiburg 2005, S. 85-88)

Bạn thân mến,

Như vậy, hôm nay chúng ta không chỉ mừng ngày Thiên Chúa Giáng Sinh, mà chúng ta còn mừng ngày nhân loại được tái sinh, mừng ngày Ánh Sáng bừng lên chiếu soi muôn người đang lần bước giữa tối tăm. Một biến cố vĩ đại của Thiên Chúa. Ngài Giáng Sinh để đem lại Ánh Sáng, Ngài Giáng Sinh để mang lại tự do. Cho ai vậy? Cho con người, những người mà Thiên Chúa đã yêu thương từ thuở ban đầu, khi Ngài sáng tạo họ. Vâng, sự sáng tạo của tình yêu vẫn không bao giờ mất đi vẻ đẹp yêu thương. Dù cho đời người có nhiều vết nhơ, tạo vật có tự tạo ra nhiều bóng đêm, thì tình yêu của Thiên Chúa vẫn không bao giờ bị nhơ nhớp, và đêm đen không bao giờ có thể phủ lấp được ánh sáng của tình yêu.

Karl Rahner đã có lần thốt lên rằng: “Ánh Sáng này mạnh hơn tất cả mọi đêm đen. Chúng ta chỉ cần tin thôi, thì đêm đen của cuộc đời chúng ta sẽ trở thành đêm thánh.”

Vậy hôm nay, chúng ta hãy cùng vui mừng đón nhận Ánh Sáng Tình Yêu có sức tái sinh nhân loại, có sức làm mới đời người! Với tất cả tâm tình, chúng ta cùng với Isaia mừng vui, khi ông với con mắt của một vị tiên tri, nhìn thấy trước Ánh Sáng là chính Hài Nhi bừng lên chiếu rọi:

“Chúa đã ban chứa chan niềm hoan hỷ, đã tăng thêm nỗi vui mừng.
Họ mừng vui trước nhan Ngài
như thiên hạ mừng vui trong mùa gặt,
như người ta hỷ hoan khi chia nhau chiến lợi phẩm.“( Is 9,2)


 

GS-169: Chúng tôi cần đem theo gì cho Ngài, Lạy Chúa Kitô?


Chúng tôi cần đem theo gì cho Ngài, Lạy Chúa Kitô?

“Mọi ơn lành và mọi phúc lộc hoàn hảo đều do từ trên, đều tuôn xuống từ Cha là Đấng dựng nên muôn tinh tú.” (Giacôbê 1,17A)

 

 Một điều cũng cần được nhắc đến trong dịp Giáng Sinh. Ịó là quà tặng, là của lễ. Trong: GS-169


 “Một điều cũng cần được nhắc đến trong dịp Giáng Sinh. Đó là quà tặng, là của lễ. Trong những hoạt cảnh Giáng Sinh chúng ta đã thấy các mục đồng tự hỏi rằng, họ cần đem theo gì cho Hài Nhi...

Trong nghi thức của Giáo Hội Đông Phương, đề tài này cũng được nhắc đến nhưng sâu sắc hơn, như trong một khúc ca: “Chúng tôi cần đem theo gì cho Ngài, Lạy Chúa Kitô, vì Ngài đã được sinh ra như một con người trên trái đất này? Mỗi một tạo vật của Ngài xin đem đến cho Ngài một chứng từ của lòng biết ơn: Các Thiên Thần với tình yêu của họ; bầu trời với muôn ngàn ánh sao; các nhà thông thái với lễ vật dâng tiến; các mục đồng với sự thán phục vô vàn; trái đất với hang đá thô sơ kia; sa mạc với máng lừa nhỏ bé. Còn con người chúng tôi xin đem đến cho Ngài một trinh nữ, một người Mẹ.”

Mẹ Maria là quà tặng của nhân loại giành cho Chúa Kitô. Điều này cũng có nghĩa rằng: Thiên Chúa không chờ đợi nơi con người điều gì khác, mà điều Ngài đợi chờ là chính con người. Thiên Chúa không muốn nhận bất cứ phần trăm nào của chúng ta, mà là chính con tim của chúng ta, sự hiện diện của chúng ta. Ngài muốn được chính niềm tin của chúng ta, và qua niềm đó chính sự sống của chúng ta, và từ sự sống này là những hành động bác ái được nhắc đến trong ngày tận thế: Thức ăn, quần áo cho người nghèo khổ, sự cảm thông và tình yêu chia sẻ, lời an ủi và sự hiện diện đầy ủi ai cho những người đang gặp hiểm nguy, những anh chị em mới trở về, những người bị bỏ rơi và những kẻ thất bại.

‚Chúng tôi cần đem theo gì cho Ngài, Lạy Chúa Kitô?’ Chắc chắn chúng ta đưa đi rất ít cho Ngài, trong khi đó giữa chúng ta với nhau thì lại trao đổi những món quà đắt tiền, mà những món quà đó không xuất phát từ tâm lòng, và cũng không diễn tả được tấm lòng biết ơn cao quý.

Chúng ta hãy thử đưa theo chính niềm tin của mình và chính bản thân mình như là món quà cho Hài Nhi Giêsu. Món quà đó có thể rất đơn sơ được gói gọn trong một tâm tình: “Con tin Ngài, lạy Chúa, xin hãy nâng đỡ lòng yếu tin của con.” Và trong dịp Giáng Sinh này, chúng ta đừng quên nhiều anh chị em bất hạnh, mà trong họ Đức Kitô đang đau khổ. (Benedikt XVI. Joseph Ratzinger, Der Segen der Weihnacht, Meditationen, Herder Verlag, Freiburg 2005, S. 92-93)

Bạn thân mến,

Trong ngày mừng sinh nhật của Đức Kitô, chúng ta nhận ra rằng, chính Đức Kitô là món quà, là ơn lành hoàn hảo mà Chúa Cha đã ban cho chúng ta và muôn tạo vật: “Mọi ơn lành và mọi phúc lộc hoàn hảo đều do từ trên, đều tuôn xuống từ Cha là Đấng dựng nên muôn tinh tú.”

Còn phần chúng ta thì mừng ngày Sinh Nhật của Thiên Chúa như thế nào đây? Thật cụ thể chúng ta hãy hỏi chính bản thân mình: “Phần tôi, tôi sẽ đưa theo món quà gì, của lễ gì tặng cho Hài Nhi Giêsu?” Hay nói khác đi: “Hài Nhi Giêsu đang cần gì nơi tôi vậy?”

Phải chăng đó là:

Sự hiện diện và niềm tin của tôi. Sự sống trọn vẹn của tôi theo tinh thần của Tin Mừng.

Một lời an ủi giành cho kẻ sầu khổ. Giây phút lắng nghe giành cho người đang bối rối.

Sự hiệp thông chia sẻ với kẻ đang khổ đau. Một chén cơm trao cho người đang đói.

Một bàn tay giang ra nâng đỡ kẻ mới ngã.....

Chúng ta cùng suy nghĩ và chọn lựa một của lễ Bạn nhé! Ước gì của lễ của chúng ta trao cho Hài Nhi Giêsu được hoàn hảo và phát xuất từ Cha trên trời như thánh Giacôbê nói, và phát xuất từ chính tấm lòng đơn sơ nhưng chân thành của chúng ta.

Lm. Nguyễn ngọc Thế sj


 

GS-170: TÌNH YÊU ĐIÊN KHÙNG

 

Mầu Nhiệm Giáng Sinh” là câu nói rất quen thuộc, nhưng cũng rất phong phú về ý nghĩa ma: GS-170


 ‘Mầu Nhiệm Giáng Sinh’ là câu nói rất quen thuộc, nhưng cũng rất phong phú về ý nghĩa mà chúng ta không múc hết được.

Tôi nhớ khi còn ở tiểu học, mỗi dịp đến lễ Giáng Sinh, thầy giáo hay dì phước thường dẫn chúng tôi vào viếng hang đá và cắt nghĩa :

«Chúa Giêsu nghèo lắm, Ngài là Thiên Chúa cao sang nhưng đã sinh ra làm trẻ thơ cùng cực, rét lạnh hơn mọi trẻ nhỏ khác. Chúa hành động như vậy là để cứu chuộc loài người, để yêu thương loài người…; Còn đức Mẹ, người đầy niềm tin và khiêm tốn, dịu dàng và sốt sáng qùy chầu Chúa Hài Đồng, Người là Mẹ Chúa Giêsu, và vì Chúa Giêsu là Thiên Chúa nên Mẹ cũng được gọi là Mẹ Thiên Chúa, là người dồng công cứu chuộc với Chúa Giêsu… Còn thánh Giuse, vốn được gọi là vị thánh thầm lặng, Ngài lo cho Chúa Giêsu và Đức Mẹ như một người gia trưởng tốt lành và nhiệt tâm… Đến lượt các mục đồng, họ là những ngưới dân nghèo, làm việc vất vả như ba má chúng tôi, nhưng họ có lòng thành, có đời sống lương thiện, nên họ được diễm phúc các Thiên Thần báo tin Chúa Cứu Thế ra đời, và được dẫn tới thờ lạy Ngài… Các con chiên vây quanh máng cỏ, các thiên thần chắp tay kính chầu, miệng vui tươi như hát vang lời ‘Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm’…» Vì được nghe nhiều lần, tôi hầu như thuộc lòng những lời giáo lý trên đây. Lớn lên, cho tớI khi về Đại Chủng Viện tôi mới thấy những lời đó thật qúy giá.

Bởi vì nhờ những khái niệm khai tâm, những cắt nghĩa đơn sơ đó, tôi đã được dẫn vào Mầu Nhiệm Giáng Sinh : Mầu nhiệm tình yêu Thiên Chúa Đối với loài người. Tôi nhớ một câu nói khá mạnh của linh mục Đông Anh, giáo sư Thánh Kinh Đại Chủng Viện Xuân Bích. Ngài bảo ‘Đó là tình yêu điên khùng mà chỉ mìnhThiên Chúa là người yêu mới hiểu hết được’. Tôi cũng cảm nghiệm được phần nào Mầu Nhiệm Giáng Sinh qua lời Thánh Gioan :

«Thiên Chúa là tình yêu… Tình yêu của Thiên Chúa thật rõ ràng ở chỗ, không phải chúng ta yêu mến Thiên Chúa trước, nhưng chính Ngài đã yêu thương chúng ta trước và đã sai Con của Ngài là Chúa Giêsu sinh xuống trần gian cứu chuộc chúng ta» (1Ga 4,8-9).

Thánh Phanxicô khó khăn là người sáng chế ra hang đá, có lẽ cũng là người đầu tiên dạy chúng ta cầu nguyện mỗi khi đi viếng hang đá như sau :

«Lạy Chúa Giêsu Hài Đồng, con xin hợp với Mẹ Maria, thánh Giuse, các Thiên Thần, các mục đồng, và cả những con chiên bé nhỏ, sấp mình thờ lạy Chúa. Con tin thật Chúa là Đấng Cứu Thế, là Con Thiên Chúa, Chúa sinh xuống trần gian vì yêu loài người, vì muốn cho loài người biết tình thương của Thiên Chúa. Tình yêu của Thiên Chúa vô lường và cao vời sâu thẳm, sức con không thể hiểu thấu. Xin Chúa Hài Nhi chan đầy tình yêu của Thiên Chúa nơi con, để trong tình yêu của Chúa, con cảm nghiệm được tình Chúa thương con và mọi người… Lạy Chúa Hài Đồng, xin dẫn con vào mầu nhiệm Tình Yêu của Thiên Chúa, cũng là Mầu Nhiệm Giáng Sinh con đang được sống» Amen. (revue La Famille Chrétienne, 12.2001, tr. 7).

Nguồn www.giaoxuvnparis.org

Đ.Ô. Mai Đức Vinh


 

GS-171: MUNICH !

 

Munich 1972 ! Với người Palestine: chưa đánh được người thì mặt đỏ như vang; đánh được: GS-171


Munich 1972 ! Với người Palestine: chưa đánh được người thì mặt đỏ như vang; đánh được người rồi, thì mặt vàng như nghệ. Người Do-thái đâu dễ cho qua ! Cái chết rình rập. Cái chết treo lơ lững !

Munich 1972 ! Với người Do-thái: Nỗi đau khôn nguôi, mối thù bất cộng đái thiên với lời thề nợ máu phải trả bằng máu. Vết thương lở loét khó lành !

Munich của Mùa Giáng Sinh năm 2005 ! Bộ phim Munich mô tả lại cuộc trả thù đẫm máu ấy !

Bộ phim Munich của đạo diễn Steven Spieberg ( đạo diễn bộ phim lừng danh Bản Danh Sách Schindler – Schindlers‘s list ) không chỉ kích thích tò mò của bao nhiêu khán giả ở Mỹ cũng như trên tòan thế giới vì nội dung của bộ phim, nói về cuộc săn lùng báo-thù của Mossad ( cơ quan mật vụ lừng danh của Israel ) đối với những người thuộc Tổ Chức Tháng Chín Đen Palestine, những kẻ đã gây ra một vết nhơ khó lòng tha thứ, khi giết hại các vận động viên Do-thái ở Thế Vận Hội Mùa Hè Munich năm 1972, mà còn bởi thời điểm mà Steven Spielberg chọn để ra mắt bộ phim này: ngày 23 tháng 12 tới đây, tức là một ngày trước Đêm Giáng Sinh, Đêm Chúa Giê-su Xuống Thế mang hòa bình đến cho nhân loại.

Cho dù nội dung thật sự của bộ phim chưa được tiết lộ, và người ta chỉ biết nó được xây dựng từ cuốn sách “Báo thù: Câu chuyện thật của đội chống khủng bố Israel” ( Vengeance: the true story of an Israeli counter-terrorist team ), của tác giả George Jonas, nhưng những người thuộc cả hai phía Israel và Palestine đã từng nhúng tay vào việc giết hại dã man cũng như phục thù rùng rợn, đều không tin rằng nội dung bô phim có thể công bằng và trung thực. Người ta chỉ biết: trước những nghi hoặc ấy, đạo diễn Steven Spielberg ( gốc Do-thái ) đã nói trong cuộc phỏng vấn duy nhất dành cho tờ Time ( số ra 12.12.2005 ) rằng bộ phim của ông là “một lời cầu nguyện cho hòa bình”, bởi theo ông: ”kẻ thù lớn nhất không phải là người Palestine hay người Israel. Kẻ thù lớn nhất trong vùng đất này, chính là sự không khoan nhượng”.

Ở điểm này, Steven Spielberg có lý ! Không chỉ ở Vùng Trung Đông luôn nóng bỏng sôi sục hận thù, mà ngọn lửa hận thù, nghi kỵ, đang hoành hành trên khắp trái đất, mà nguyên nhân sâu xa bắt nguồn từ sự không khoan nhượng của con người: những cá nhân luôn tranh chấp và ăn thua đủ, cho dù lắm khi ý thức rõ mình sai. Cái lý của kẻ mạnh được ngụy trang kỹ, nhưng sự đe dọa thì không hề được che dấu; bên cạnh đó, những phe nhóm đặt lợi ích tinh thần và vật chất của mình lên hàng đầu và buộc đối phương phải nhường bước, điều mà họ dư biết sẽ không đạt được, trừ phi sử dụng bạo lực hoặc áp-đặt quyền “kẻ mạnh hơn” trên đối phương, khi chưa thể tiêu diệt.

Ở một bình diện cao hơn, là các quốc gia. Người ta liên kết với nhau không phải chỉ để tăng trưởng kinh tế, mà chủ yếu là có thêm “tỷ trọng” chính trị. Liên Hiệp Quốc, tổ chức lớn nhất hành tinh, dần dà trở thành đấu trường cho những quyền lợi mâu thuẫn nhau và không khoan nhượng ! Quyền lợi và cả quyền hành được hợp pháp hóa nơi đây. Những quốc gia thấy mình ở “chiếu dưới”, bèn sử dụng tối đa những lần phát biểu để biến chúng thành diễn đàn tha hồ công kích, thóa mạ mà không kiêng sợ, e dè bất kỳ áp lực nào. Hận thù được công khai hóa. Trong thâm tâm, chẳng còn ai ngây thơ tin vào mục tiêu và khả năng dàn xếp, đem lại Hòa Bình của Liên Hiệp Quốc, ngoại trừ những lợi ích vật chất, cụ thể như y tế, giáo dục, lương thực được hưởng !

Ta hãy chờ xem và hãy mong được như lời của vị đạo diễn. Nhưng dù là như thế, thì vẫn chỉ là một lời... cầu nguyện. Cái cốt yếu vẫn là sự thức tỉnh của những người trong cuộc, mà hận thù “truyền kiếp” sẽ không đến mức “không đội trời chung”, nếu như không có những thế lực luôn giật dây kích động bạo lực, để đạt được những ý đồ kinh tế chính trị vô cùng đen tối, khiến cho những nỗ lực hòa giải phi thường và đầu thiện ý thiện chí như của các vị Giáo Hoàng, đều chỉ nhận được sự đồng tình và... chấm hết ! Cũng chỉ vì sự không khoan nhượng !

Cái tai nghe chỉ giúp con người tiếp nhận vào trí não, để rồi từ đó những bài tính phức tạp xuất phát từ những tính toan không khoan nhượng, ích kỷ, không bao giờ xuất phát từ lòng kính trọng yêu mến đồng loại ( mà đối với họ, chỉ là những người cùng màu cờ, cùng chủng tộc, thậm chí là cùng tôn giáo ) và cũng chẳng bao giờ quy về con người với nhân phẩm, tự do và quyền con người phải được tôn trọng ! Con tim và đạo đức không có một vị trí nào trong các tính toan !

Noel. Ngày Vua An Bình nhập thể. Ngày Chúa ban tặng Hòa Bình cho những người thiện tâm. Không thể chỉ là “một lời cầu nguyện Hòa bình” như đạo diễn Steven Spielberg tuyên bố hoặc mong muốn, bởi chính dự định tung bộ phim vào áp ngày Lễ Giáng Sinh cũng đã là một tính toán chiến lược, mà lợi nhuận được đặt lên hàng đầu. Và khi điều gì được đặt lên trên cả ước vọng ( “lời cầu nguyện Hòa Bình” như vị đạo diễn nói ), thì ước vọng đó dừng lại ở một lời tuyên bố. Vẫn chỉ là một bộ phim với nhiều tham vọng cá nhân.

Chưa kể đến lượt chúng ta phải cầu xin, để làm sao sau khi bộ phim được công chiếu, sẽ không trở thành động cơ mới thổi bùng lại hận thù và khi ấy, không chỉ hình ảnh của Munich 1972 được khơi lại một cách sống động, mà chính Giê-ru-sa-lem, nơi tụ hội của ba tôn giáo trên thế giới, là Thiên Chúa Giáo, Do-thái Giáo và Hồi Giáo, sẽ trở thành bãi chiến trường, để hận thù tha hồ hoành hành, ngự trị, giải quyết những gì mà Munich 1972 chưa thực hiện được rốt ráo – giết và trả thù – và được Munich 2005 khơi lại !

CVK NGUYỄN THẾ BÀI, Đi Tìm Đáp Số Tình Yêu 132 ( Noel 2005 )


 

GS-172: CHÚA XUỐNG TRẦN CỨU THẾ ….

 

Văn hào Guenter Eich có viết một vở kịch nhan đề: "Festiamus, Người Tử Đạo", với đại ý như: GS-172


CHUYỆN 1: Văn hào Guenter Eich có viết một vở kịch nhan đề: "Festiamus, Người Tử Đạo", với đại ý như sau: Festiamus là người tốt lành, đơn sơ hiếm có. Mặc dù sống giữa những người gian ác, chàng vẫn luôn luôn cư xử đoan chính, giàu lòng thương đối với những kẻ bần cùng.

Sau khi chết, chàng bay tới Thiên Đàng. Ở đó, sau khi làm quen với các Thánh, chàng để mấy ngày để đi kiếm cha mẹ, anh em và những bạn hữu xưa, nhưng không thấy ai. Chàng liền hỏi các Thánh, nhưng không ai trả lời. Cuối cùng, Thánh Phê-rô bảo: “Cha mẹ và bạn hữu con, họ hàng con, ngày xưa đều ăn ở gian ác, nên bây giờ họ đều ở dưới kia kìa, dưới hỏa ngục ấy !”

Nghe tới đây, Festiamus liền hiểu ngay, chàng cáo biệt các Thánh và xin với Thánh Phê-rô: “Con không thể ở nơi đây được khi còn nhiều người phải chịu đau khổ dưới kia...” Rồi chàng rời bỏ Thiên Đàng, xuống Hỏa Ngục để thăm cha mẹ, bạn hữu với những người thân yêu khác. Chàng làm điều đó với tất cả xác tín rằng khi một người vô tội từ trời cao đến và sống với những người bị kết án, cùng chia sẻ thân phận của họ, thì người đó có thể phá tung địa ngục và vòng phong tỏa của quỷ ma.

Câu chuyện nêu trên không thể nào có thật, nhưng xét trên một khía cạnh, nó nói lên mầu nhiệm Giáng Sinh của Chúa Cứu Thế, Ngài đã từ trời cao xuống trần trong thân phận con người, sinh ra trong máng cỏ để chia xẻ kiếp người với mọi người. Ngài đã chịu chết thay cho con người để cứu chuộc họ ra khỏi xích xiềng tội lỗi và ma quỷ, đưa con người ra khỏi chốn hư mất mà vào sự sống muôn đời trên Thiên Quốc.

CHUYỆN 2: CHÚA GIÊ-SU NHẬP THỂ CỨU ĐỘ NHÂN LOẠI

Có một người hỏi một học giả Á Đông nổi tiếng là người xác tín vào Thiên Chúa rằng: “Tại sao ông là người học cao hiểu rộng, đã biết đến nơi đến chốn về các tôn giáo, về các triết lý cao siêu của Á Đông mà ông lại đón nhận Tin Mừng như vậy ?”

Vị học giả trả lời: “Tôi vốn dĩ giống như một người chìm tàu giữa đại dương, sóng cả dập vùi, sức người có hạn. Các vị lãnh đạo tôn giáo khác đã dạy tôi rằng: Con phải bơi lội theo phương pháp này, tập dưỡng sức theo phương pháp nọ. Nhưng các lý thuyết ấy không cứu vớt tôi ra khỏi biển sâu. Chỉ có Chúa Giê-su, Ngài đã nhảy xuống biển và liều chết để cứu vớt tôi, vì vậy tôi tin vào Ngài.”

Trích NỐI LỬA CHO ĐỜI tập


 

GS-173: LỊCH SỬ: NHÂN MÙA GIÁNG SINH: TÌM HIỂU VỀ NGÀY SINH

 CỦA CHÚA GIÊ-SU KI-TÔ

 

Tại Hoa Kỳ, cứ sau lễ Tạ Ơn ( Thanksgiving ) nhiều gia đình và nhà hàng bắt đầu trang hoàng: GS-173


Tại Hoa Kỳ, cứ sau lễ Tạ Ơn ( Thanksgiving ) nhiều gia đình và nhà hàng bắt đầu trang hoàng trong nhà, cũng như trước cửa nhà để chuẩn bị vào mùa Lễ Lớn: Đại Lễ Giáng Sinh và năm mới sắp tới. Một cách đơn giản chúng ta thường hiểu Lễ Giáng Sinh là ngày lễ mừng “Sinh Nhật” ( Birthday ) của Chúa Giê-su và ngày 25 tháng 12 năm 2005 này là sinh nhật thứ 2005 của Chúa Giê-su. Tuy nhiên, nghiên cứu lịch sử về ngày lễ này, chúng ta thấy có những điều không hẳn đơn giản như vậy.

Một chút lịch sử Ơn Cứu Độ

Theo truyền thống Do-thái mà nền tảng là Thánh Kinh Cựu Ước, sau khi tổ tông ( Thủy tổ ) loài người là ông A-đam và bà E-va sa ngã phạm tội, liền bị mất ân nghĩa với Thiên Chúa ( St 3, 23 ). Tuy nhiên vì “Thiên Chúa đã dựng nên con người theo hình ảnh của Chúa” ( St 1, 27 ) Ngài không để con người phải án phạt đời đời, nên Ngài đã hứa ban một Đấng Cứu Thế đến để cứu chuộc tội lỗi nhân loại ( St 3, 15 ) và danh hiệu của Ngài là “Đấng Cứu Tinh” ( Messiah ). Nguyên ngữ trong tiếng Do-thái thì “Messiah” có nghĩa là “Đấng được xức dầu”.

Theo thói tục của người Do-thái thì ai được chọn làm “Vua”, làm “Ngôn Sứ” ( Prophet ), làm thầy “Tư Tế” đều được phong chức chính thức bằng việc xức dầu thánh ( dầu ô-liu ) trên đầu. Danh từ “Messiah” chuyển dịch qua tiếng Hy Lạp là “Christos”. Danh từ “Christos” chuyển sang tiếng La-tinh là “Christus” và sang tiếng Pháp, tiếng Anh là “Christ”, Tiếng Việt Nam ( theo các bản dịch Thánh Kinh của Công Giáo, và các sách đạo đức ) chuyển dịch là “Ki-tô” ( hay Ki-tô ).

Theo Do-thái Gíáo thì đấng “Messiah” ( Ki-tô ) chưa tới cứu độ Dân Ngài. Hàng năm người Do-thái vẫn đến bên bức “Tường Khóc” để cầu nguyện xin “Đấng Cứu Độ” đến.

Theo Ki-tô Giáo thì “Đấng Ki-tô” đã Giáng Sinh, và khi Ngài sinh ra thì được đặt tên là “Giê-su” ( Jesus ) theo như lời sứ thần truyền tin cho Ma-ri-a, mẹ Ngài, đã báo trước ( x. Lc 1, 31 và 2, 21 ). Danh từ “Giê-su” theo nguyên ngữ Do-thái có nghĩa là “Đấng Thiên Chúa Cứu Độ”, sau đó hiểu là “Đấng Cứu Độ” ( Savior ). Vì Chúa “Giê-su” chính là “Đấng Ki-tô” Thiên Chúa đã hứa, nên tên Ngài thường được gọi là “Giê-su Ki-tô”. Thánh Phao-lô trong các thư gửi các Giáo Đoàn thường dùng danh hiệu “Giê-su Ki-tô”.

Chúng ta cũng nên lưu ý là vào thời xưa một người chỉ có “tên gọi”, chưa có “tên họ” và “tên đệm”; nhưng có những “tên hiệu” ghép vào “tên gọi” trong một số trường hợp, nhất là trường hợp của các vua chúa hay các “Danh Nhân”. Theo Kinh Thánh, Chúa Giê-su cũng được gọi là “Emmanuel” hay “Immanuel” ( Lc 1, 23 ). Danh từ “Emmanuel” trong tiếng Do-thái có nghĩa là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”. Danh hiệu “Emmanuel” đã được Ngôn Sứ I-sai-a ( 740 – 687 BC ) nói đến ( x. sách I-sai-a ).

Chúa Giê-su sinh ra năm nào ?

Năm Thiên Chúa Giáng Sinh làm người được kể là năm thứ nhất theo lịch chung chúng ta dùng hiện nay; như thế sinh nhật của Ngài đã chia đôi lịch sử nhân loại.

Theo lịch sử Thánh Kinh thì từ “tạo thiên lập địa” đến năm Chúa Giáng Sinh được gọi là “Thời Kỳ Cựu Ước” và từ năm Chúa Giáng Sinh trở về sau được gọi là “Thời Kỳ Tân Ước”. Theo lịch chung chúng ta dùng hiện nay thì trước thời Chúa Giáng Sinh gọi là trước “Công Nguyên”, thường ký hiệu là B.C. “Before the birth of Christ” và từ năm Chúa Giáng Sinh cho đến ngày “tận thế” thì gọi là sau “Công Nguyên” thường ký hiệu là A.D. “Anno Domini” “Theo năm của Thiên Chúa”.

Như vậy, ngày 25 tháng 12 năm 2005 này chúng ta mừng sinh nhật thứ 2005 của Chúa Giê-su Ki-tô. Tuy nhiên vì các nhà làm lịch lúc