Suy Niệm Tin Mừng Lễ Hiển Linh ABC Bài 351-380 Chúng tôi đã thấy Ngôi Sao của Người

Thứ bảy - 02/01/2021 10:10
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Hiển Linh ABC Bài 351-380 Chúng tôi đã thấy Ngôi Sao của Người
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Hiển Linh ABC Bài 351-380 Chúng tôi đã thấy Ngôi Sao của Người
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Hiển Linh ABC Bài 351-380 Chúng tôi đã thấy Ngôi Sao của Người
---------------------------------------

Bavua 351: Sân khấu cuộc đời 2
Bavua 352: Dõi theo ánh sao. 4
Bavua 353: CHÚA NHẬT  LỄ HIỂN LINH NĂM B.. 6
Bavua 354: Ánh sao của Lòng Thương Xót 9
Bavua 355: Ánh sao của sẻ chia và đồng hành. 11
Bavua 356: Ánh sao lạ - Lm. Giuse Đỗ Văn Thụy. 14
Bavua 357: Chúng tôi đến bái lạy Người 17
Bavua 358: Tỏa sáng sáng bằng bái ái 20
Bavua 359: Chúa Hài Nhi cần gì?. 22
Bavua 360: ÁNH SÁNG CỦA NGÔI LỜI THIÊN CHÚA.. 23
Bavua 361: CON TRẺ GIÊSU LÀ VUA DÂN DO THÁI 25
Bavua 362: Món quà của Artaban - Lm. Mark Link, SJ. 29
Bavua 363: Sân khấu cuộc đời 31
Bavua 364: HÃY BỪNG SÁNG.. 34
Bavua 365: ÁNH SÁNG CỦA NGÔI LỜI THIÊN CHÚA.. 36
Bavua 366: NIỀM TIN LÊN ĐƯỜNG.. 38
Bavua 367: BƯỚC THEO ÁNH SÁNG.. 41
Bavua 368: TRỞ NÊN NGÔI SAO DẪN ĐƯỜNG.. 42
Bavua 369: NIỀM VUI CHO DÂN NGOẠI 44
Bavua 370: KHOẢNG XA KHOẢNG GẦN.. 46
Bavua 371: DẤU LẠ GIÊSU.. 50
Bavua 372: LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA ĐƯỢC TRAO BAN CHO MỌI DÂN TỘC   52
Bavua 373: ÁNH SÁNG CHỈ LÒNG THƯƠNG XÓT.. 55
Bavua 374: TÌM VÀ GẶP. 58
Bavua 375: CHÚA NHẬT LỄ HIỂN LINH_C.. 63
Bavua 376: CHỈ CÓ THIỆN TÂM... 66
Bavua 377: THÁNH GIUSE VÀ CHUYẾN THĂM CỦA BA VUA TỚI BÊLEM... 68
Bavua 378: LỄ BA VUA HAY LỄ HIỂN LINH.. 71
Bavua 379: HÀNH TRANG TRÊN HÀNH TRÌNH TÌM CHÚA: SỰ ĐƠN SƠ! 75
Bavua 380: HÃY ĐỂ THIÊN CHÚA TỎ MÌNH! 77

----------------------

 

Bavua 351: Sân khấu cuộc đời

 

Chúng ta vừa mừng sinh nhật lần thứ 2020 của Đức Giêsu. Nói đến lần thứ 2020, thì có nghĩa Bavua 351


Chúng ta vừa mừng sinh nhật lần thứ 2020 của Đức Giêsu. Nói đến lần thứ 2020, thì có nghĩa là phải có lần thứ nhất. Như vậy, chúng ta lấy mốc thời gian nào để tính là năm thứ nhất. Câu trả lời là dựa vào năm Đức Giêsu sinh ra. Như vậy, biến cố Đức Giêsu ra đời là khởi đầu của một kỷ nguyên mới trong lịch sử nhân loại. Dù ngày hôm nay, các chuyên viên có tính lại là năm Chúa Giêsu sinh ra không phải là năm thứ 1, nhưng Ngài được sinh ra vào khoảng năm thứ 6 trước Công nguyên. Đấy là vì ông Denise thuộc thời Trung cổ tính sai. Dẫu vậy, nhưng trong tâm trí của ông Denise và cũng như của tất cả nhân loại đều lấy ngày Chúa Giêsu giáng sinh là trung tâm của lịch sử. Ngài đã bước vào lịch sử của nhân loại và làm xoay chiều lịch sử ấy. Ngài mặc cho lịch sử trần tục của con người một ý nghĩa mới, lịch sử cứu độ. Từ đây, Thiên Chúa đã làm người và ở với con người. Thiên Chúa đã từ trời cao xuống trần gian để cho con người trần gian được bước lên trời. Đất với trời đã giao duyên!

Hôm nay, chúng ta mừng lễ Chúa Hiển Linh, nghĩa là chúng ta mừng kính việc Đức Giêsu bày tỏ vinh quang của Ngài cho 3 nhà đạo sĩ Đông phương và cũng là cho tất cả chúng ta. Nhưng biến cố ấy thay vì trở thành niềm vui cho hết nhân loại thì lại trở thành tin buồn và thảm hoạ cho một số người. Tại làm sao lại có chuyện ấy xảy ra? Có phải vinh quang của Thiên Chúa không có sức mang lại hạnh phúc cho con người không? Có phải Thiên Chúa đã chịu thua sự nhẫn tâm của con người rồi chăng? Ngày Chúa Giêsu sinh ra, các Thiên thần đồng thanh tung hô rằng: "Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương", nhưng xem ra việc Chúa Giáng trần chỉ mang lại tai hoạ cho con người mà thôi!

Thiên Chúa của chúng ta là Thiên Chúa của tình yêu. Ngài yêu thương hết thảy con người cho dẫu rằng con người có nhận ra điều đó hay không? Chúa không muốn biến con người thành những cổ máy Robot, nên đã trao cho họ tự do. Và vì lạm dụng tự do, nên con người đã chống lại Thiên Chúa; coi Thiên Chúa như đối thủ của mình, như người tranh giành hạnh phúc của mình. Thật là một điều đáng buồn cho con người.

Chúa Giêsu vẫn sinh ra cho con người dẫu rằng con người có đón tiếp Ngài hay không? Và quả thực, con người đã chối từ Ngài ngay từ giây phút đầu tiên của cuộc đời dương thế của Ngài. Nhưng Ngài chấp nhận tất cả và chịu sinh ra trong cảnh nghèo nàn nhất của kiếp người. Nhà bảo sanh là chuồng bò, chiếc nôi là máng cỏ, thời tiết là giữa mùa Đông giá rét run người. Người ta không muốn đón tiếp Chúa vì Chúa đến trong thân phận của người nghèo khổ và quá âm thầm.

Hơn nữa, ngày mà Chúa tỏ vinh quang cho nhân loại thì lại trở thành ngày buồn thảm: Hêrôđê bối rối vì sợ bị chiếm ngôi, các gia đình có con trẻ từ 2 tuổi trở xuống ở vùng Giuđêa và các vùng lân cận phải một trận khóc than thảm thiết vì con trẻ của họ bị giết! Lý do là vì sự độc ác của con người, cụ thể là vua Hêrôđê. Vua Hêrôđê là đại diện cho tất cả những con người ham hố quyền lực trên thế giới. Họ sẵn sàng gây ra bao nhiêu đau khổ, chết chóc cho nhân loại để bảo vệ uy quyền cho mình. Ngày nào trên thế giới còn có những con người ham hố quyền lực thì ngày đó nhân loại còn phải chịu đau khổ và chết chóc.

Sân khấu lịch sử cuộc đời còn có vai của những con người trong vai các kinh sư và luật sĩ. Họ thông thạo Thánh kinh, biết rõ nhiều vấn đề nhưng họ sợ cực khổ, sợ mất mát, ngại hy sinh nên đem những hiểu biết của mình chôn vùi trong tủ kính. Vì thế, những hiểu biết của họ không giúp ích gì cho ai và cũng chẳng mang lại lợi ích gì cho bản thân họ. Họ là hạt giống có lớp vỏ vàng óng. Họ cố bảo vệ lớp vỏ của mình cho thật đẹp và không chịu làm trở thành thân phận của hạt giống, phải chịu thối đi để sinh ra trăm nghìn bông hạt mới. Vì thế, mãi mãi họ là hạt lúa cô đơn, hạt lúa vàng vô ích và sẽ có ngày sẽ hư mất.

Nhưng cũng may là thế giới này cũng còn có những con người khát khao tìm kiếm chân lý như 3 nhà Đạo sĩ Phương Đông. Nếu không, thì cuộc đời này sẽ biến thành nghĩa trang lạnh lùng, đầy dẫy những xác chết, và trái tim con người sẽ hoá đá! Hình ảnh 3 nhà Đạo sĩ Phương Đông trở thành mẫu mực cho những ai khao khát sự thật và sự sống. Khi nhận ra được ánh sáng chân lý rồi, thì họ không ngần ngại hy sinh, sẵn sàng chịu cực khổ, mất mát và nguy hiểm để lên đường tìm kiếm. Và những cố gắng của họ đã được đền bù xứng đáng. Họ đã được Thiên Chúa đong đầy sự khao khát của họ. Vì "Phúc cho ai biết khao khát nên trọn lành và tìm kiếm chân lý, vì họ sẽ được Thiên Chúa ban cho được đầy no".

Mừng lễ Chúa Hiển Linh hôm nay, chúng ta hãy tự kiểm lại chính mình xem chúng ta đang có trong mình hình ảnh của ai? Của Hêrôđê, của những Kinh sư hay của ba nhà Đạo sĩ Phương Đông? Chúng ta có phải là những người đang ham hố quyền lực để sẵn sàng tiêu diệt, loại trừ người khác để bảo vệ uy thế và chỗ đứng cho mình không? Hay chúng ta lại là những người Kinh sư, thông thạo Thánh kinh, biết rất nhiều về Lời Chúa nhưng lại không làm theo và không màng gì đến những Lời ấy? Hay chúng ta là những Nhà Đạo sĩ đang khao khát và kiếm tìm chân lý, để khi nhận ra được chân lý đang soi dẫn cuộc đời của mình thì sẵn sàng chấp nhận mọi gian nan, hy sinh mọi sự để lên đường tìm kiếm chân lý? Phúc cho chúng ta nếu chúng ta đang mang trong mình hình ảnh của những nhà Đạo sĩ Phương Đông ngày xưa!

----------------------

 

Bavua 352: Dõi theo ánh sao


(Suy niệm của Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT)

 

Cứ mỗi lần mừng lễ Hiển Linh, tôi lại mường tượng một ánh sao hiện ra trên bầu trời và như Bavua 352


Cứ mỗi lần mừng lễ Hiển Linh, tôi lại mường tượng một ánh sao hiện ra trên bầu trời và như ba nhà đạo sĩ dõi theo ánh sao đó dẫn họ tới hang đá Bêlem tìm gặp Hài Đồng Giêsu. Rồi có một dạo khi ánh hỏa châu còn lóe trên nhiều nơi, tôi lại nghĩ đường đi tới Chúa có muôn vạn nẻo, nhưng chỉ có một con đường duy nhất để thấy và gặp được Chúa là con đường hẹp, con đường thập giá.

Năm xưa ấy, cách đây hơn 2.000 năm, có một ánh sao lung linh thắp sáng dẫn đường, chỉ lối cho ba nhà đạo sĩ đi tìm Con-Thiên-Chúa-Làm-Người. Ánh sao ấy theo như Tin Mừng Mt 2,1-12 viết cứ ẩn hiện và rồi dừng ngay nơi hang đá Bêlem để ba nhà đạo sĩ tới cung chiêm Vua Giêsu.Thoạt đầu, họ đến Giêrusalem và hỏi: " Đức Vua dân Do Thái mới sinh hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi bái lạy Người " ( Mt 2, 2 ). Hêrôđê bối rối trước tin báo của ba nhà đạo sĩ. Ông lo âu và cả thành Giêrusalem cũng xôn xao, náo động.Sở dĩ Hêrôđê sợ sệt, bối rối, âu lo vì Ông là con cáo già e sợ uy quyền, ngai vàng của mình sẽ bị lung lay. Ông rất sợ bị lật đổ khi nghe tin Chúa Giêsu sinh ra. Giêrusalem không đón nhận Chúa dù rằng: " Ngôi Lời đã làm người và cư ngụ giữa mọi người" ( Ga 1, 14 ).

Vâng, cả Hêrôđê và cả dân kinh thành Giêrusalem đều không được Thiên Chúa soi sáng, đều không được Chúa Thánh Thần tác động. Họ không thể nhận ra Hài Đồng Giêsu là Vua nhưng là Vua Hòa Bình:" Nước của Ngài không thuộc thế gian này ". Do đó, họ xao xuyến, hoang mang đến cùng tột. Hêrôđê và triều thần của Ông, cùng bàn dân thiên hạ vẫn không hiểu Hài Đồng Giêsu với hình hài một trẻ thơ, khiêm hạ, khó nghèo, Hài nhi ấy chỉ là Vua theo nghĩa thiêng liêng: Ngài là Chúa muôn loài, muôn vật, Ngài là Vua vũ trụ và vua con người.Do đó, Hêrôđê sợ hãi mất ngôi vì Ông nghĩ nông cạn, hời hợt theo cái nhìn trần gian. Thay vì đón chờ, đi tìm để cung chiêm, thờ lạy Vua Giêsu.Hêrôđê lại cho triệu hồi tất cả các thượng tế và kinh sư trong dân lại, rồi hỏi cho biết Đấng Kitô sinh ra ở đâu ( Mt 2, 4 ). Hêrôđê hỏi kỹ càng không phải để đến tìm gặp Chúa để thờ lạy Chúa nhưng để mưu đồ tiêu diệt một vị Vua thiêng liêng mà Ông lầm tưởng là sẽ đứng lên để chiếm đoạt ngôi báu của Ông. Chính vì thế, khi Ông bị các nhà đạo sĩ không trở lại nữa, Ông đã nổi cơn thịnh nộ ra lệnh cho tru diệt hết những trẻ em từ hai tuổi trở xuống.Ông tưởng làm thế là thoát được món nợ và ngai báu của Ông sẽ vững bền thiên thu...Ông đã lầm và Ông đã quá ác độc.Ông đã là con người thật tầm thường. Ba nhà đạo sĩ lại theo ánh sao và gặp được Hài Đồng Giêsu.

Chúa đã dùng ánh sao lạ để dẫn đưa ba nhà đạo sĩ phương Đông tới hang đá Bêlem để gặp Hài Đồng Giêsu, Mẹ Maria và thánh cả Giuse. Với ơn soi sáng của Thiên Chúa, với sự tác động của Chúa Thánh Thần, tất cả như bừng sáng vì họ vào nhà, thấy Hài Nhi và thân mẫu của Người là bà Maria, họ liền sấp mình thờ lạy Người. Rồi họ mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến ( Mt 2, 11 ). Thiên Chúa đã dùng một ánh sao để dẫn đường cho ba nhà đạo sĩ tìm gặp Người. Thiên Chúa cũng dùng các thiên thần để báo tin cho các mục đồng tới Bêlem để gặp Con-Thiên-Chúa-Làm-Người. Ba nhà đạo sĩ phương Đông đã thực sự gặp được Chúa bởi vì họ có lòng thành, tâm hồn trong sạch, đôi bàn tay tinh khiết. Họ đã thương Chúa, kính Chúa thực tình và họ đã cung tiến, dâng cho Chúa những báu vật của quê hương họ. Họ đã được Chúa đoái thương và chấp nhận.

Xưa chúa tỏ mình ra bằng ngôi sao lạ để các nhà đạo sĩ tìm được nơi Chúa sinh ra. Ngày nay, Chúa vẫn tiếp tục tỏ mình ra cho nhân loại bằng nhiều kiểu, nhiều cách. Chúa đã nói với con người, với loài người, với thế giới qua vẻ đẹp của vũ trụ, qua những khám phá, những tiến bộ của khoa học kỹ thuật, những cử chỉ, những thái độ thành tâm thiện chí của con người. Chúa vẫn đi tìm con người hơn là con người đi tìm Chúa. Bao kỳ công của thế giới, bao vẻ đẹp của vũ trụ là bấy nhiêu ánh sao dẫn đường chỉ lối để con người tìm gặp được Chúa. Bao nhiêu cử chỉ tế nhị, thân thiện, bao nhiêu việc bác ái là bấy nhiêu ngôi sao lạ đưa đường dẫn lối để con người đi tìm gặp Chúa.

Hãy bừng sáng Giêrusalem...Hãy bừng sáng, đây là lời khuyên người môn đệ Chúa hãy làm lan tỏa niềm vui được thấy Chúa cho những người chung quanh. Hãy trở nên men, nên muối cho đời, hãy trở nên men đạo đức cho thế giới, cho mọi người. Người môn đệ Chúa phải chiếu sáng cuộc hành trình đức tin của người khác như ngôi sao lạ Bêlem, ngôi sao mà ba nhà đạo sĩ thấy thì hết sức vui mừng vì họ tìm được Chúa.

Lạy Chúa Giêsu, xin hãy tỏ ra cho chúng con thấy được Chúa như xưa Chúa đã dùng ánh sao Bêlem để dẫn đường chỉ lối cho ba nhà đạo sĩ gặp được Chúa Cứu Thế. Amen.

----------------------

 

Bavua 353: CHÚA NHẬT  LỄ HIỂN LINH NĂM B


(03/01/2021)

---ooOoo---

“Và khi tiến vào nhà, họ đã gặp thấy Hài Nhi và Bà Maria Mẹ Người,
và họ đã quỳ gối xuống sụp lạy Người.
Rồi, mở kho tàng ra, họ đã dâng tiến Người lễ vật:
vàng, nhũ hương và mộc dược”

I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ:

 

Lễ Chúa Hiển Linh (còn được gọi là Lễ Ba Vua) mang ý nghĩa hết sức quan trọng của Kitô giáo Bavua 353


Lễ Chúa Hiển Linh (còn được gọi là Lễ Ba Vua) mang ý nghĩa hết sức quan trọng của Kitô giáo, vẫn được gọi là đạo Công Giáo vì là tôn giáo đón nhận hết mọi người làm tín đồ, không phân biệt mầu da sắc tộc. Thế nhưng Kitô giáo lại thừa kế di sản của Do-thái giáo là tôn giáo của dân Israel được chọn làm dân riêng của Thiên Chúa và  xem Thiên Chúa là Thiên Chúa riêng của mình. Với sự xuất hiện của Con Thiên Chúa là Chúa Giêsu, Thiên Chúa công bố Người là Chúa của muôn dân (chứ không chỉ là Chúa của dân Israel mà thôi). Sự kiện ba vua (hay ba nhà chiêm tinh hay đạo sĩ) Phương Đông tìm đến Bêlem bái lạy Hài Nhi Giêsu và tiến dâng cho Người lễ vật hoàng gia có nghĩa là Thiên Chúa tỏ mình ra cho dân ngoại tức Thiên Chúa được dân ngoại nhìn nhận là Vua, là Chúa của mình như dân Israel vậy.

II. LẰNG NGHE LỜI CHÚA TRONG BÀI PHÚC ÂM Mt 2,1-12: Khi Chúa Giêsu sinh hạ tại Bêlem thuộc xứ Giuđa, trong đời vua Hêrôđê, có mấy nhà đạo sĩ từ Đông phương tìm đến Giêrusalem. Các ông nói: "Vua người Do-thái mới sinh ra hiện đang ở đâu? Chúng tôi đã nhận thấy ngôi sao của Người ở Đông phương, và chúng tôi đến để triều bái Người". Nghe nói thế, vua Hêrôđê bối rối, và tất cả Giêrusalem cùng với nhà vua. Vua đã triệu tập tất cả các đại giáo trưởng và luật sĩ trong dân, và hỏi họ cho biết nơi mà Đức Kitô sinh hạ. Họ tâu nhà vua rằng: "Tại Bêlem thuộc xứ Giuđa, vì đó là lời do Đấng Tiên tri đã chép: Cả ngươi nữa, hỡi Bêlem, đất Giuđa, không lẽ gì ngươi bé nhỏ hơn hết trong các thành trì của Giuđa, vì tự nơi ngươi sẽ xuất hiện một thủ lãnh, Người đó sẽ chăn nuôi Israel dân tộc của Ta".

Bấy giờ Hêrôđê ngầm triệu tập mấy nhà đạo sĩ tới, cặn kẽ hỏi han họ về thời giờ ngôi sao đã hiện ra. Rồi vua đã phái họ đi Bêlem và dặn rằng: "Các khanh hãy đi điều tra cẩn thận về Hài Nhi, rồi khi đã gặp thấy, hãy báo tin lại cho Trẫm, để cả Trẫm cũng đến triều bái Người". Nghe nhà vua nói, họ lên đường. Và kìa ngôi sao họ xem thấy ở Đông phương, lại đi trước họ, mãi cho tới nơi và đậu lại trên chỗ Hài Nhi ở. Lúc nhìn thấy ngôi sao, họ hết sức vui mừng. Và khi tiến vào nhà, họ đã gặp thấy Hài Nhi và Bà Maria Mẹ Người, và họ đã quỳ gối xuống sụp lạy Người. Rồi, mở kho tàng ra, họ đã dâng tiến Người lễ vật: vàng, nhũ hương và mộc dược. Và khi nhận được lời mộng báo đừng trở lại với Hêrôđê, họ đã qua đường khác trở về xứ sở mình.

III. SUY NIỆM LỜI CHÚA TRONG BÀI PHÚC ÂM Mt 2,1-12: Có hai nội dung trong bài Phúc Âm

3.1 Con Trẻ Giêsu là Vua dân Do-thái:  Từ nhiều thế kỷ trước Thánh Kinh Cựu Ước đã loan báo sự xuất hiện của Vua dân Do-thái sẽ sinh ra từ dòng dõi Đavít để cai trị dân theo đường lối của Thiên Chúa. Nay Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể làm người đã chào đời tại Bêlem là một thành nhỏ bé xứ Giuđa. Đó chính là Hài Nhi Giêsu,  con bà Maria. Tin Mừng Mátthêu ghi lại:  “Khi Chúa Giêsu sinh hạ tại Bêlem thuộc xứ Giuđa, trong đời vua Hêrôđê, có mấy nhà đạo sĩ từ Đông phương tìm đến Giêrusalem. Các ông nói: "Vua người Do-thái mới sinh ra hiện đang ở đâu? Chúng tôi đã nhận thấy ngôi sao của Người ở Đông phương, và chúng tôi đến để triều bái Người".

3.2 Con Trẻ Giêsu là vua của muôn dân: Do-thái và dân ngoại: Trong Cụu Ước Thiên Chúa đã nhiều lần biểu lộ (mạc khải) Người là Thiên Chúa không chỉ của dân Israel mà của mọi dân  mọi nước và mọi người, nhưng dân Israel đã không ghi nhớ mặc khải quan trọng ấy.  Qua việc ba đạo sĩ Phương Đông (tượng trưng cho các dân ngọai) tìm đến Giêrusalem để bái lạy vua dân Do-thái, Thiên Chúa tái khẳng định Chúa Giêsu là vua cùa mọi dân mọi nước và mọi người. 

3.3 Sứ mạng của Vua Giêsu: là quy tụ muôn dân muôn nước muôn người trong Vương Quốc của Thiên Chúa để hết mọi người phụng thờ và tôn vinh Thiên Chúa là Thần Linh duy nhất của nhân loại. Vì yêu Thiên Chúa đã dựng nên vũ trụ vạn vật và con người. Cũng vì yêu Thiên Chúa muốn mọi người đuợc cứu độ trong Con của Người là Chúa Giêsu Kitô.

IV. THỰC THI LỜI CHÚA TRONG BÀI PHÚC ÂM Mt 2,1-12:

4.1 Càm tạ Thiên Chúa và Chúa Giêsu: Đó là điều đầu tiên mà các Kitô hữu có thể và phải làm. Thiên Chúa đã ban cho loài người một Vị Vua hiên lành và thánh thiện để Người cai trị loài người theo đường lối của Thiên Chúa. Ân huệ lốn lao ấy người Kitô hữu cảm tạ ngợi khen và chúc tụng Thiên Chúa và Vua Giêsu suốt đời cũng chưa xứng.

4.2 Tuyên xưng Chúa Giêsu là Vua muôn dân: Đó là điều thứ hai mà các Kitô hữu có thể và phải làm. Thiên Chúa đã dựng nên hết mọi người, đã cứu độ hết mọi người trong Chúa Giêsu Kitô thì Kitô hữu chúng ta phải tuyên xưng Người là Vua muôn dân, là Chúa các chúa. Đó là lô gích của sự việc và là lẽ sống cùa chúng ta.

V. CẦU NGUYỆN VỚI LỜI CHÚA TRONG BÀI PHÚC ÂM Mt 2,1-12:

KHAI MỞ:  Lạy Thiên Chúa là Cha của Chúa Giêsu Kitô và là Cha của chúng con, chúng con cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Cha vì Cha đã ban Con Một Cha là Chúa Giêsu cho lòai người chúng con để Người cai trị muôn dân muôn nước theo đường lối của Cha. Xin Cha lắng nghe lời cầu xin tha thiết của chúng con. 

Ý VÀ LỜI CẦU NGUYỆN:

1.- «Khi Chúa Giêsu sinh hạ tại Bêlem thuộc xứ Giuđa, trong đời vua Hêrôđê, có mấy nhà đạo sĩ từ Đông phương tìm đến Giêrusalem. Các ông nói: "Vua người Do-thái mới sinh ra hiện đang ở đâu? Chúng tôi đã nhận thấy ngôi sao của Người ở Đông phương, và chúng tôi đến để triều bái Người»  Chúng ta hãy dâng lời cầu xin Chúa cho hết mọi người trên thế giới này được ơn khát khao găp được Thiên Chúa và Con của Người là Chúa Giêsu Kitô sinh ra ở Bêlem.

Xướng: Chúng ta cùng cầu xin Chúa!  Đáp: Xin Chúa nhận lời chúng con!

2.- «Nghe nói thế, vua Hêrôđê bối rối, và tất cả Giêrusalem cùng với nhà vua. Vua đã triệu tập tất cả các đại giáo trưởng và luật sĩ trong dân, và hỏi họ cho biết nơi mà Đức Kitô sinh hạ»  Chúng ta hãy dâng lời cầu xin Chúa cho Đức Giáo Hoàng Phanxicô, cho các Hồng Y, Giám Mục, Linh Mục, Phó Tế và Tu Sĩ Nam Nữ để các vị ấy tích cực tìm kiếm Chúa Giêsu Kitô Con Thiên Chúa để giới thiệu Ngài cho mọi người.

Xướng: Chúng ta cùng cầu xin Chúa! Đáp: Xin Chúa nhận lời chúng con!

3.- «Họ tâu nhà vua rằng: "Tại Bêlem thuộc xứ Giuđa, vì đó là lời do Đấng Tiên tri đã chép: Cả ngươi nữa, hỡi Bêlem, đất Giuđa, không lẽ gì ngươi bé nhỏ hơn hết trong các thành trì của Giuđa, vì tự nơi ngươi sẽ xuất hiện một thủ lãnh, Người đó sẽ chăn nuôi Israel dân tộc của Ta» Chúng ta hãy dâng lời cầu xin Chúa cho các Kitô hữu trong cộng đoàn giáo xứ chúng ta và trong các cộng đoàn giáo xứ khác, để mọi người mở lòng đón nhận vua Giêsu và sống trong Vương Quốc của Người.

Xướng: Chúng ta cùng cầu xin Chúa! Đáp: Xin Chúa nhận lời chúng con!

4.- «Và khi tiến vào nhà, họ đã gặp thấy Hài Nhi và Bà Maria Mẹ Người, và họ đã quỳ gối xuống sụp lạy Người. Rồi, mở kho tàng ra, họ đã dâng tiến Người lễ vật: vàng, nhũ hương và mộc dược»  Chúng ta hãy dâng lời cầu xin Chúa cho tất cả mọi người được ơn gặp Hà Nhi Giêsu là Vua muôn vua.

Xướng: Chúng ta cùng cầu xin Chúa! Đáp: Xin Chúa nhận lời chúng con!

LỜI KẾT:

Lạy Thiên Chúa là Cha của Chúa Giêsu và là Cha của chúng con, chúng con xin chúc tụng ngợi khen và cảm tạ Cha, vì Cha đã ban cho chúng con Vua Giêsu để Người cai trị chúng con theo đường lối của Cha.

Xin Cha ban Thánh Thần và sức mạnh của Ngài cho chúng con để chúng con đón nhận Vua Giêsu và gia nhập Vương Quốc của Người.

Cũng xin Cha ban Thánh Thần và sức mạnh của Ngài cho chúng con để chúng con giới thiệu Vua Giêsu cho những người chung quanh chưa nhận biết Người.

Chúng con cầu xin, nhờ công nghiệp Chúa Giêsu Kitô Con Cha, Chúa chúng con, là Đấng đã đến, đang đến và sẽ đến để mọi người được làm con Cha. Amen.

Sàigòn ngày 02 tháng 01 năm 2021

Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

----------------------

 

Bavua 354: Ánh sao của Lòng Thương Xót


(Suy niệm của Lm. Joshepus Quang Nguyễn)

 

Lúc 12g trưa 25-12 Đại lễ Mừng Chúa Giáng Sinh, Đức Thánh Cha Phanxicô đã công bố Sứ Bavua 354


Lúc 12g trưa 25-12 Đại lễ Mừng Chúa Giáng Sinh, Đức Thánh Cha Phanxicô đã công bố Sứ điệp Giáng sinh cùng với Phép lành Urbi et Orbi. Đức Thánh Cha nói rằng: “Chúng ta hãy mở lòng ra đón nhận ân sủng trong ngày hôm nay, là chính Đức Kitô. Chúa Giêsu là “ngày” rực rỡ xuất hiện nơi chân trời của nhân loại. Một ngày của lòng thương xót, ngày mà Thiên Chúa Cha chúng ta đã mặc khải lòng nhân từ vô biên của Ngài cho toàn thế giới. Một ngày của ánh sáng, xua tan bóng tối của sợ hãi và âu lo. Một ngày của hoà bình, ngày để gặp gỡ, đối thoại, và trên hết, để hoà giải. Một ngày của niềm vui: một “niềm vui lớn lao” cho người nghèo, người thấp hèn và cho tất cả mọi người”. Cho tất cả mọi người bất luận lương hay giáo.

Qủa thế, trong bài đọc 1 Tiên tri Isaia khẳng định với dân Do thái xưa và chúng ta hôm nay rằng: “Bừng sáng lên! Vì ánh sáng của ngươi đến rồi. Vinh quang của ĐỨC CHÚA như bình minh chiếu toả trên ngươi. Kìa bóng tối bao trùm mặt đất, và mây mù phủ lấp chư dân; còn trên ngươi ĐỨC CHÚA như bình minh chiếu toả, vinh quang Người xuất hiện trên ngươi. Chư dân sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi, vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước” (Is 60,1-3). Rồi hôm nay, ba Vua trên đường tìm đến thờ lạy Chúa Cứu Thế Giáng Sinh. Ba Vua là những người phương xa, không có Đạo. Các Ngài tìm đến Chúa theo ánh sáng của ngôi sao lạ, ánh sáng của Lòng Thương Xót Chúa. Theo ánh sao, các Ngài đến được Giêrusalem và ánh sáng của Lời Chúa các Ngài đã đến gặp được Chúa Giêsu, dung nhan của Lòng Thương Xót đang nằm trong máng cỏ. Vâng, chính Đức Giêsu là ngôi sao của Lòng Thương Xót Chúa dẫn tất cả chúng ta, mọi nước mọi dân đi vào một con đường mới, con đường chói ngời ngọn lửa đức mến là lòng thương xót. Qủa thế, trong bài đọc 2, Thánh Phaolô quả quyết: “Trong Đức Ki-tô Giê-su và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Do-thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa” (Ep 3,6).

Ngày nay có rất nhiều người đang tìm đến Lòng Thương Xót Chúa. Nhiều người muốn biết Chúa Giêsu Kitô để theo Ngài. Nhưng họ không biết đường biết hướng. Cũng như ba Vua, họ cần có những ánh sao của Lòng Thương Xót soi đường dẫn lối. Nhưng ngày nay Chúa không còn dùng ngôi sao xuất hiện trên trời, nhưng muốn mỗi người chúng ta trở thành một vì sao soi của Lòng Thương Xót dẫn mọi người đến với Chúa. Để là ngôi sao của Lòng Thương Xót trước hết và trên hết chúng ta phải có ánh sáng Lòng Thương Xót mà chúng ta nhận tự nơi Thiên Chúa qua Chúa Giêsu, chính là Lời và hành động của Ngài, có nghĩa là trở nên đồng hình đồng tư tưởng, lời nói và việc làm với Ngài. Người Kitô hữu chỉ sống, làm chứng và loan báo Lòng Thương Xót khi chính cuộc sống của chúng ta có Lòng Thương Xót của Chúa tức là “Hãy thương xót như Chúa Cha”.

Trong Tông Sắc Dung Nhan Lòng Thương Xót, Đức Thánh Cha Phanxicô nói rằng: “Chúa Giê-su đã xác định rằng, Lòng Thương Xót không phải chỉ là một nét đặc trưng nơi hành động của Thiên Chúa. Nói cho đúng hơn, Lòng Thương Xót còn là tiêu chuẩn, mà nhờ đó người ta nhận ra những ai thực sự là con Thiên Chúa. Như vậy, chúng ta được kêu gọi để thực thi Lòng Thương Xót, bởi chính Lòng Thương Xót cũng đã được biểu lộ với chúng ta rồi. Để thực thi lòng thương xót, chúng ta hãy nghe Lời của Chúa Giê-su, Đấng đã làm cho Lòng Thương Xót trở thành một lý tưởng sống cũng như trở thành tiêu chuẩn cho sự chính xác nơi việc làm chứng của Đức Tin chúng ta: “Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương” (Mt 5,7)” (số 9§3). Xót thương người đó là cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc, cho khách đỗ nhà, viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc, chôn xác kẻ chết, chuộc kẻ làm tôi, lấy lời lành mà khuyên người, dậy dỗ kẻ mu muội, yên ủi kẻ âu lo, răn bảo kẻ có tội, tha kẻ dể ta, nhịn kẻ mất lòng ta, cầu cho kẻ sống và kẻ chết. Những hành vi thương xót này chính là ánh sáng chiếu soi người ta nhận ra chúng ta là môn đệ và Đạo Chúa một cách nhanh nhất và hữu hiệu nhất, đó là phương thế Chúa Giêsu đã dạy: “cứ dấu này mà người ta nhận biết Chúa là anh em thương xót nhau”. Chân Phước Mẹ Têrêxa Calcutta không phải là nhà thần học lỗi lạc, không phải là giảng thuyết hùng hồn rao giảng về Đạo Chúa, Mẹ chỉ là một bà Nữ tu đơn sơ, khó nghèo, lận lội leo neo lang thang trên đường phố tìm kiếm những người nghèo, bệnh tật ốm đau, những người bị bỏ rơi, những người khuyết tật khốn khổ, những người thân tàn ma dại, những người sắp chết để chăm sóc, yêu thương, an ủi và phục vụ họ đến hơi thở cuối cùng. Những cử chỉ yêu thương của Mẹ đã chiếu tỏa ánh sáng tình yêu thương xót của Chúa một cách hùng hồn và nhanh nhất cho mọi người không chỉ trên đất nước Ấn độ mà cả thế giới.

Ước gì qua Lời Chúa, nhờ Mình và Máu Chúa mà chúng ta sắp rước lấy, xin Chúa cho chúng ta can đảm đẩy lui bóng tối của hận thù, ghen ghét, kỵ thị và bất công. Đồng thời biết giữ gìn ngọn lửa thương xót mà Chúa đã thắp lên trong lòng chúng con để từng phút giây của cuộc sống biết thương xót nhau ngõ hầu khắp nơi trong gia đình, giáo xứ, Giáo phận, Giáo hội và xã hội ngập tràn ánh sáng tình yêu thương xót của Con Thiên Chúa giáng sinh. Amen.

---------------------------

 

Bavua 355: Ánh sao của sẻ chia và đồng hành


(Suy niệm của Lm. Joshepus Quang Nguyễn)

 

Trong Sứ điệp Giáng sinh năm nay, Đức Thánh Cha nói rằng như các mục tử, những người đầu Bavua 355


Trong Sứ điệp Giáng sinh năm nay, Đức Thánh Cha nói rằng như các mục tử, những người đầu tiên chạy đến hang đá, chúng ta cũng ngạc nhiên trước dấu chỉ mà Thiên Chúa đã ban. Hài Nhi được Đức Trinh Nữ Maria sinh ra cho chúng ta, đã nói gì với chúng ta? Đó là Thiên Chúa là Người Cha tốt lành luôn đồng hành và sẻ chia thân phận với chúng ta vì vậy tất cả chúng ta là anh em của nhau. Vì thế, chúng ta hãy mở lòng ra đón nhận ân sủng trong ngày hôm nay, là chính Đức Kitô. Chúa Giêsu là “ngày” rực rỡ xuất hiện nơi chân trời của nhân loại. Một ngày của tình yêu Thiên Chúa thể hiện, ngày mà Thiên Chúa Cha chúng ta đã mặc khải lòng nhân từ vô biên của Ngài cho toàn thế giới. Một ngày của ánh sáng, xua tan bóng tối của sợ hãi và âu lo. Một ngày của hoà bình, ngày để gặp gỡ, đối thoại, và trên hết, để hoà giải. Một ngày của niềm vui: một “niềm vui lớn lao” cho người nghèo, người thấp hèn và cho tất cả mọi người.

Qủa thế, Lời Chúa trong bài đọc 1, Tiên tri Isaia khẳng định với dân Do thái xưa và chúng ta hôm nay rằng: “Bừng sáng lên! Vì ánh sáng của ngươi đến rồi. Vinh quang của ĐỨC CHÚA như bình minh chiếu toả trên ngươi. Kìa bóng tối bao trùm mặt đất, và mây mù phủ lấp chư dân; còn trên ngươi ĐỨC CHÚA như bình minh chiếu toả, vinh quang Người xuất hiện trên ngươi. Chư dân sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi, vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước” (Is 60,1-3). Rồi hôm nay, ba vua trên đường tìm đến thờ lạy Chúa Cứu Thế Giáng Sinh. Ba vua là những người phương xa, không có Đạo, các Ngài tìm đến Chúa theo ánh sáng của ngôi sao lạ, đó là ánh sáng của tình yêu cứu độ của Thiên Chúa luôn đồng hành và sẻ chia. Vâng, chính Đức Giêsu là ngôi sao của tình yêu Thiên Chúa luôn sẻ chia và đồng hành dẫn tất cả chúng ta, mọi nước mọi dân đi vào một con đường mới, con đường chói ngời ngọn lửa đức mến và sẻ chia để rồi đến bến bờ bình an, hạnh phúc và sự sống đời đời. Như Lời Chúa trong bài đọc 2, Thánh Phaolô quả quyết: “Trong Đức Ki-tô Giê-su và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Do-thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa” (Ep 3,6).

Cho nên, khi thấy được vì sao của Chúa Giêsu xuất hiện, các nhà Đạo sĩ chuẩn bị lễ vật và hăm hở đăng trình đến để sẻ chia với vị Vua mới ra đời. Các ông lên đường với một cuộc hành trình mang tính cách phiêu lưu, tiến tới một nơi vô định nhưng có ánh sao đồng hành dẫn lối cho các ông đi. Tin Mừng cho thấy cũng đã có lúc không còn ánh sao nữa và các ông đã phải hỏi thăm về nơi các ông phải tới với những người không quen, người ta không biết nhưng khi mở Thánh Kinh, tức Lời Chúa đồng hành dẫn lối các ông đến Belem gặp được Chúa Hài Nhi, các ông đã sấp mình thờ lạy, và dâng lễ vật với lòng hân hoan toại nguyện. Các nhà đạo sĩ chia sẻ với vua Giêsu bằng những lễ vật dâng tiến: vàng, nhũ hương và mộc dược. Vàng để chỉ Hài Nhi Giêsu là vua, nhũ hương để chỉ Hài Nhi Giêsu là Chúa và mộc dược để chỉ đến cái chết đau khổ của Hài Nhi Giêsu sau này.

Chúng ta hôm nay được Chúa thương cứu độ và đồng hành, vậy hãy mau mắn đến với Chúa Hài Nhi để chia sẻ với Ngài bằng việc dâng những lễ vật của chúng ta: Trước hết là vàng, đó là lòng yêu mến chân thật của chúng ta, một lòng yêu mến tinh ròng, cao cả và mãnh liệt như lời Ngài đã xác định: “Hãy kính mến Thiên Chúa hết tâm hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi”. Vàng đây cũng chính là đức tin trung kiên của chúng ta, không vì một lý do, một hoàn cảnh nào làm chao đảo hay lung lay để rồi đi đến chỗ phản bội, tội lỗi hay tuyệt vọng. Tiếp đến, chúng ta hãy dâng sẻ chia cho Chúa nhũ hương, đó chính là tâm tình thờ lạy của chúng ta đối với Thiên Chúa trong Đức Kitô. Thực vậy, trong những nghi thức phụng vụ, nhũ hương thường được dùng khi đọc Phúc âm, khi dâng Mình Thánh, khi chầu Thánh Thể. Qua hình ảnh nhũ hương chúng ta tìm thấy một niềm tin tưởng mãnh liệt vào bản tính Thiên Chúa của Đức Kitô. Đây không phải là một niềm tin tưởng có tính cách giáo điều hay lý thuyết mà là một niềm tin tưởng sống động và mãnh liệt, vì Đức Kitô là Thiên Chúa đang ở giữa chúng ta và trở nên lương thực nuôi sống linh hồn chúng ta qua Bí tích Thánh Thể, cũng như đang giảng dạy chúng ta qua lời Ngài trong Phúc âm. Nhũ hương còn là những lời kinh cầu nguyện của chúng ta, như thánh vịnh đã viết: “Lạy Chúa, xin cho lời con nguyện cầu tựa hương thơm bay lên tôn nhan Chúa”. Sau cùng chúng ta hãy chia sẻ cho Chúa Hài Nhi là dâng mộc dược, đó là niềm tin tưởng vào Đức Kitô bị đóng đinh, mà bây giờ được tái diễn qua thánh lễ dâng trên bàn thờ, mộc dược còn là những hy sinh trong cuộc sống: hãy chấp nhận những khổ đau vì lòng yêu mến Chúa và bấy giờ những đau khổ của chúng ta sẽ góp phần vào những đau khổ của Đức Kitô để làm chứng cho Chúa.

Ba nhà đạo sĩ đã đồng hành với nhau đến thờ lạy Chúa dù có gặp khó khăn trăm bề nhưng vượt qua tất cả vì “một cây làm chẳng nên non, cây chụm lại nên hòn núi cao”. Trong đời sống đức tin chúng ta cũng vậy, là Kitô hữu chúng ta hãy đồng hành bên nhau còn để nâng đỡ, nương tựa và dìu nhau mà tiến bước, như Kinh Tin Kính, dẫu tín hữu tuyên xưng mang tính cá nhân “Tôi tin”, nhưng không là đơn độc một mình giữa nhà thờ trống vắng mà là giữa cộng đoàn Phụng Vụ một ngày lễ trọng, nên bỗng lấp lánh như thể đồng thanh tuyên tín “Chúng tôi tin”. Tôi và chúng ta chỉ là những cách biểu lộ khác nhau của cùng một niềm tin đón nhận đồng hành với nhau trong hành trình đức tin này.

Ước gì qua Lời Chúa của lễ Hiển Linh hôm nay, xin Chúa cho chúng ta nhận ra rằng hành trình đức tin của chúng ta luôn có Chúa tỏ mình qua việc sẻ chia và đồng hành với chúng ta, chúng ta hãy tiếp nhận hồng ân Thiên Chúa, biết chấp nhận thử thách và biết đón nhận đồng hành sẻ chia của Chúa để đời sống đức tin của chúng ta sống động, mạnh mẽ và chân thật. Vậy, khi chúng ta được Chúa tỏ mình như thế, chúng ta cũng cần lên đường chia sẻ, đồng hành và gặp gỡ những người chưa biết Chúa, nhất là những gia đình đang gặp khó khăn để giới thiệu Hài Nhi Giêsu cho họ để họ biết và đón nhận Hoàng Tử bình an vào trong cuộc của họ, Ngài sẽ làm cho họ bình an như chúng ta. Amen.

-----------------------------

 

Bavua 356: Ánh sao lạ - Lm. Giuse Đỗ Văn Thụy


Tin mừng Mt 2:1-12: Các đạo sĩ lên đường và đã gặp Chúa vì lòng họ khao khát. Khao khát chân lý nên đêm đêm họ không ngừng quan sát bầu trời tìm kiếm ánh sao, vì thế cả một bầu trời bao la, chỉ một ánh sao lạ xuất hiện...

 

Một cuộc thăm dò trên tuần báo Newsweek ngày 5 tháng 12 năm 2004, với câu hỏi: “Thế giới hôm Bavua 356


Một cuộc thăm dò trên tuần báo Newsweek ngày 5 tháng 12 năm 2004, với câu hỏi:

“Thế giới hôm nay sẽ trở nên tốt hay xấu hơn nếu không có Chúa Giêsu”

Và được kết quả như sau:

- 61% cho rằng thế giới hôm nay sẽ xấu xa và tan tác hơn nếu như không có Chúa Giêsu.

- 47% nói rằng sẽ có nhiều cuộc chiến tương tàn hơn, nếu như Chúa Giêsu không tồn tại trên thế giới này.

- 63% nói rằng sẽ có ít lòng nhân ái hơn.

- 58% cho rằng sẽ có ít lòng khoan dung hơn nếu như không có Chúa Giêsu.

- 59% cho biết hạnh phúc cá nhân sẽ bị mất đi

- 38% tin rằng sẽ có nhiều sự chia rẽ về tôn giáo nếu như thế giới này không có Chúa Giêsu.

- 26% cho rằng thế giới cũng giống như vậy nếu có hay không có Chúa Giêsu.[1]

Tại sao lại có những kết quả trái ngược như thế?

Trở lại lịch sử, chúng ta thấy: Ngay khi Chúa Giêsu mới giáng sinh thì đã có ba nhóm người tiêu biểu cho ba thái độ của nhân loại đối với Chúa Giêsu trong suốt dòng lịch sử. Ba thái độ đó là:

1. Con người và phản ứng của Hêrôđê

Hêrôđê có một cá tính kinh khủng, ông đa nghi một cách điên khùng, ông là người luôn luôn ngờ vực, càng về già ông càng đa nghi đến độ có kẻ đã gọi ông là “ông già sát nhân”. Ông nghi ai là đối thủ tranh chấp quyền hành thì người ấy liền bị loại trừ ngay. Ông đã giết vợ là Marianne cùng mẹ nàng là Alexandra. Con cả là Antipater và hai con trai khác là Alexander và Aristobulus cũng bị ông sát hại luôn. Hoàng đế Rôma là Augustus đã cay đắng nói rằng: “Làm con heo của Hêrôđê còn an toàn hơn làm con trai ông ta” (câu nói bằng tiếng Hy Lạp dí dỏm hơn, vì tiếng Hy Lạp hus là con heo và huios là con trai). Bản chất man rợ của Hêrôđê còn được thấy rõ hơn trong những việc chuẩn bị của ông trước khi qua đời. Khi được bảy mươi tuổi biết mình sắp chết, ông rút về thành Giêrikhô, thành xinh đẹp nhất của ông, rồi truyền lệnh bắt một số người nổi danh nhất trong thành Giêrusalem, vu khống rồi hạ ngục. Ông truyền lệnh phải giết hết những người ấy khi ông lâm chung, vì ông biết rằng khi ông chết chẳng ai thèm than khóc, nên nhất định phải làm sao cho có nước mắt đổ ra lúc ông chết.

Chính vì ganh ghét và thù địch, Hêrôđê sợ Hài Nhi sẽ can thiệp vào quyền thế và ảnh hưởng của mình, nên đã quyết tâm tiêu diệt Hài Nhi.

Ngày nay cũng vậy, vẫn còn nhiều người quyết tâm tiêu diệt Chúa Giêsu, vì họ chỉ thấy Ngài là người xen vào đời sống họ, không cho họ làm theo điều mình thích nên họ muốn giết Ngài. Người nào chỉ ước ao làm theo ý thích của riêng mình thì không bao giờ cần Chúa Giêsu và luôn tìm cách loại trừ Ngài.

2. Phản ứng của các tư tế và các Kinh Sư

Họ hoàn toàn dửng dưng, đối với họ chẳng có chuyện gì thay đổi. Họ chỉ quan tâm đến lễ nghi tế tự trong đền thờ và những thảo luận về luật lệ, đến nỗi họ hoàn toàn không để ý gì đến Chúa Giêsu. Ngài chẳng có nghĩa gì đối với họ. Ngày nay vẫn còn những người chỉ quan tâm đến việc riêng của mình đến nỗi Chúa Giêsu trở thành vô nghĩa, không đáng quan tâm.

3. Con người và phản ứng của các nhà đạo sĩ

Danh hiệu của những người này là Magi, một chữ rất khó dịch. Theo Herodotus (1,101,132), Magi nguyên là một chi phái Mêđi. Người Mêđi là một phần dân thuộc đế quốc Ba Tư. Họ cố gắng lật đổ người Ba Tư đem chính quyền về cho người Mêđi. Mưu toan thất bại, từ đó người Magi từ bỏ mọi tham vọng quyền hành và trở nên chi phái tư tế. Các Magi đối với dân Ba Tư cũng giống như các thầy Lêvi đối với dân Israel. Họ trở thành thầy dạy và giáo dục cho các vua Ba Tư. Tại Ba Tư không được dâng lễ vật nếu không có một Magi hiện diện, họ là người của sự thánh thiện và khôn ngoan. Những người Magi này rất giỏi về triết học, y khoa và khoa học tự nhiên.

Với thái độ thành tâm thờ phượng, họ ao ước được đặt nơi chân Chúa Giêsu những tặng phẩm cao quý nhất. Khi một người đã nhận ra tình yêu của Thiên Chúa trong Chúa Giêsu thì họ sẽ đắm chìm trong sự kinh ngạc, yêu mến và ca tụng Ngài.[2]

Quả thế, các đạo sĩ đã gặp Chúa vì họ đã lên đường. Dù không biết đến lời tiên, không biết đến lời hứa, không thuộc Thánh Kinh, nhưng khi thấy ngôi sao lạ, họ đã lên đường ngay tức khắc. Lên đường nói lên thái độ ngoan ngoãn tuân theo ơn Chúa soi sáng. Lên đường nói lên thái độ dấn thân. Lên đường nói lên lòng cương quyết đi tìm. Lên đường là chấp nhận gian khổ để đạt được điều mơ ước.

Các đạo sĩ lên đường và đã gặp Chúa vì lòng họ khao khát. Khao khát chân lý nên đêm đêm họ không ngừng quan sát bầu trời tìm kiếm ánh sao, vì thế cả một bầu trời bao la, chỉ một ánh sao lạ xuất hiện, họ đã nhận ra. Khao khát chân lý nên khi Chúa vừa tỏ mình qua dấu hiệu ngôi sao, họ đã vội vã theo sát dấu ánh sao đi tìm. Khao khát gặp Chúa nên khi ánh sao vụt biến mất, họ đã không nản lòng, quyết tâm dò hỏi cho được.

Các đạo sĩ đã gặp Chúa vì tâm hồn họ đơn sơ thành thực. Đi tìm Chúa chứ không tìm bản thân. Đi tìm Chúa để thỏa lòng khao khát chân lý chứ không để thỏa mãn những tham vọng đen tối. Đi tìm Chúa để thờ lạy Chúa chứ không vì lợi lộc cá nhân. Với tâm hồn đơn sơ, họ đã nhận ra ý Chúa, dù ý Chúa chỉ nhẹ nhàng qua một ánh sao. Với tâm hồn đơn sơ, họ đã nhận ra chính Chúa, dù Chúa có ẩn thân dưới hình dáng một em bé yếu ớt nghèo nàn, trong khung cảnh rất tồi tàn của chuồng bò hôi hám.[3]

Nhìn vào các đạo sĩ, nếu chúng ta khao khát và quyết tâm tìm Chúa, chắc chắn chúng ta sẽ gặp được Chúa trong cuộc đời chúng ta. Amen.
----------------------
[1] Báo Công Giáo và dân tộc, số 1487-1488, trg. 53
[2] William Barclay
[3] TGM Giuse Ngô Quang Kiệt, Lễ Hiển Linh

-------------------------

 

Bavua 357: Chúng tôi đến bái lạy Người


(Suy niệm của Lm. Trầm Phúc)

“Vua Do Thái mới sinh ra ở đâu? Chúng tôi đã thấy ngôi sao của Người xuất hiện bên phương đông…” (Mt 2,2)

 

Một dấu lạ, một ngôi sao lạ xuất hiện, và dưới cặp mắt của ba nhà đạo sĩ này, là một điềm lành Bavua 357


Một dấu lạ, một ngôi sao lạ xuất hiện, và dưới cặp mắt của ba nhà đạo sĩ này, là một điềm lành, vì theo cách hiểu của người thời bấy giờ, một vị vua cao cả đã ra đời.

Một con người xuất hiện trên trần gian, thì trên trời xuất hiện một vì sao. Đó là ngôi sao hộ mạng cho người đó. Ngôi sao càng sáng, càng to thì người đó sẽ là một vĩ nhân hay một vị vua.

Qua dấu hiệu của vì sao lạ, ba đạo sĩ đã lên đường tìm kiếm người được ngôi sao đó hộ mạng, vì chưa từng thấy một ngôi sao nào sáng và to như thế.

Cuộc tìm kiếm không kém gay go. Các ông phải vào Giêrusalem để hỏi thăm vì đến gần thành Giêrusalem, ngôi sao bất thần biến mất. Các ông tưởng rằng đã đến nơi rồi, vì Giêrusalem là kinh thành của Đức Đại Vương. Kinh Thánh Do Thái mà các ông đã nghiên cứu cũng nói đến “ngôi sao của Ngài sẽ mọc lên”.
Phải tìm kiếm thôi.

Dân thành Giêrusalem tò mò đổ xô ra xem phái đoàn của các đạo sĩ. Hỏi thăm thì không ai biết có vị vua nào mới sinh mà chỉ có ông vua già là Hêrôđê. Các đạo sĩ đến đền vua và hỏi thăm. Nghe điều đó, vua Hêrôđê giật mình vì ông rất sợ mất ngôi. Vua nào mới sinh?

Ông là người Do Thái và cũng biết Kinh Thánh. Ông cho mời các tiến sĩ ở Đền thờ đến và hỏi Đấng Kitô sinh ra ở đâu. Họ cho biết là tại Bêlem vì có lời chép rằng: “Phần ngươi, hỡi Bêlem, ngươi không phải là thành nhỏ nhất của Giuđa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Israen dân Ta sẽ ra đời” (Mt 2,6). Vua Hêrôđê cho quí đạo sĩ biết và căn dặn: “Các khanh hãy đi điều tra cẩn thận về hài nhi và khi đã tìm được, các khanh hãy cho trẫm hay vì chính tôi cũng muốn đến triều bái Ngài”.

Yên lòng, các đạo sĩ ra đi, nhưng lạ thay! Ngôi sao lạ lại xuất hiện. Vui mừng khôn tả, các vị đã đi theo ngôi sao mãi đến Bêlem… và họ đã tìm được người họ muốn tìm.

Thay vì tìm được một em bé trong một lâu đài sang trọng, các ông chỉ tìm thấy một trẻ em nghèo nàn trong một căn nhà nhỏ, không có gì là sang trọng.

Nhưng họ đã tin. Tại sao họ có thể tin được em bé nghèo nàn tả tơi đó là một vị vua cao cả. Do dáng vẻ thông minh lạ thường của em chăng? Cũng có thể, nhưng theo thông thường thì không ai dám nhìn nhận em bé nghèo nàn đó là một vị vua mới ra đời, chỉ vài tháng tuổi.

Chúng ta phải nhận rằng Thiên Chúa đủ quyền phép để cho người ta nhận ra vinh quang của Ngài trong những dáng vẻ hết sức nhỏ hèn.

Các mục đồng, nhờ lời báo của các thiên thần thấy một em bé mới sinh nằm trong máng cỏ. Các đạo sĩ chỉ có ánh sao, nhưng họ đã nhận ra em bé nghèo nàn kia là một vị vua cao cả, vì nhờ một ánh sáng bên trong mà chúng ta gọi là đức tin.

Vì thế Giáo hội gọi biến cố này là biến cố hiển linh. Thiên Chúa đã tỏ vinh quang của Ngài qua một em bé nghèo nàn, cho các dân ngoại.

Thánh Phaolô đã dạy trong thư gởi giáo đoàn Rôma: “Con người có thể nhận biết Thiên Chúa qua tạo vật…” huống chi ở đây, ánh sao lạ cũng là một yếu tố hướng dẫn con người đến với Chúa.

Các vị đạo sĩ đã tin và để diễn tả niềm tin đó, họ tặng cho em bé những món quà quí họ đã dự trù mang theo, đó là vàng, nhủ hương và mộc dược. Người ta đã tìm ý nghĩa của các tặng vật ấy, nhưng điều đó không quan trọng. Giáo hội đọc thấy ý nghĩa của biến cố này như một sự tỏ hiện vinh quang Chúa cho các dân ngoại.

Chúa Giêsu đến trong dân Do Thái, nhưng không đến chỉ cho riêng dân Do Thái mà cho tất cả nhân loại. Ngài đến để cứu vớt toàn thể nhân loại mà chúng ta là một phần. Ngài đến cho mọi người, nhưng mấy người đã nhận ra Ngài? Thánh Gioan đã nói: “Người đã đến nhà Người, nhưng người thân không chấp nhận Người”.

Vì không ai chấp nhận Ngài, nên Ngài đành phải chọn hang đá Bêlem. Cả thế giới mênh mông của Ngài chỉ dành cho Ngài một máng cỏ.

Thế giới hôm nay cũng như hôm qua đã không tiếp nhận Ngài và hơn nữa lại loại trừ Ngài, xem như một vật cản không cho họ sống theo ý muốn của họ. Thế giới hôm nay mang tâm trạng của Hêrôđê, chỉ mong tiêu diệt Thiên Chúa để tự do cho mình làm bá chủ hoàn cầu. Nhiều người đã nói rằng rồi đây khoa học sẽ giải quyết tất cả mọi vấn đề, sẽ đem lại hạnh phúc cho con người mà không cần Thiên Chúa.

Trong thực trạng của thế giới hôm nay, không có vấn đề gì được giải quyết, và hạnh phúc vẫn vắng mặt. Chúa đem đến tình thương, nhưng con người từ chối để đi vào hận thù, bạo lực. Chúa đem bình an, nhưng con người chỉ muốn chiến tranh. Chúa đem sự sống và hạnh phúc, nhưng con người tìm đủ cách để tiêu diệt lẫn nhau và đưa nhau vào hố sâu của tuyệt vọng.

Sống trong một thế giới hỗn loạn và bất an, chúng ta hãy tạ ơn Chúa vì những hồng ân Chúa ban. Dù cuộc sống không tha thứ cho chúng ta, dù bao nhiêu khó khăn vây bọc chúng ta, nhưng chúng ta không bi quan mà càng tin tưởng mãnh liệt hơn: “Chúa là nơi con nương ẩn… Chúa là thành lũy bảo vệ con… Chúa là mục tử chăn dắt con…” (Thánh vịnh).

Chúng ta được yêu thương che chở như thế, hãy làm bất cứ cái gì, với bất cứ giá nào giúp anh em chúng ta, những người chưa biết được tình thương của Chúa, để họ cũng được hưởng nhờ hồng ân như chúng ta.

Mọi Kitô hữu Hãy trở thành những vì sao, dù nhỏ thôi, nhưng có thể thấy được, để hướng anh em chúng ta đến với nguồn tình yêu.

“Ta là ánh sáng thế gian… Anh em là ánh sáng thế gian…”

Chúa Giêsu muốn như thế. Đừng để cho lời ấy mất đi giá trị của nó.

Ánh sáng là yêu thương, là khiêm tốn phục vụ, là quên mình để nghĩ đến kẻ khác. Ánh sáng này phải luôn chiếu sáng trong cuộc sống chúng ta, để “mọi người nhìn thấy những việc lành chúng con làm mà ngợi khen Cha chúng con ở trên trời”.

Chúng ta có sẵn sàng dấn thân sống yêu thương và phục vụ không?

Chúa Giêsu ở Bêlem, nhỏ hèn đã mời gọi ba đạo sĩ đến với Ngài, phần chúng ta hãy tiếp tục mời gọi mọi người đến với Ngài, bằng nhiều cách khác nhau. Mỗi người một hoàn cảnh, mỗi người một môi trường nhưng chúng ta chỉ có chung một sứ mệnh: làm cho Chúa được yêu thương hơn.

Chúng ta chinh phục thế giới, không phải bằng vũ khí, bạo lực, mà bằng tình yêu. Khí giới của chúng ta, xem ra chẳng là gì nhưng rất hiệu năng. Nhưng chúng ta có sử dụng thứ vũ khí đó không? Chúng ta không cần những loa phóng thanh cực mạnh, cũng không cần những mánh lới tuyên truyền hay những phương tiện quảng cáo rầm rộ. Chúng ta cứ âm thầm yêu thương.

Sau 20 thế kỷ, Kitô giáo chỉ có một phần tám nhân loại tin Chúa. Chúng ta còn một vùng đất mênh mông chưa nhận ra tình thương của Chúa, chúng ta có cảm thấy buồn không?

Tình Yêu đang bị loại trừ. Tương lai của thế giới mịt mù và hiểm họa của một cuộc tận diệt càng ngày càng rõ nét hơn.

Con người hôm nay đang bị chóa mắt vì những thành công kỹ thuật của mình mà quên mất tình yêu của em bé Bêlem đang vẫy gọi.

Chúng ta hãy đến ăn lấy tình yêu đang kêu mời. Chúa đã trở nên bánh cho chúng ta. Ngài đang mong chờ chúng ta dám ăn lấy Ngài để cùng với Ngài cứu vớt anh em chúng ta. Chúng ta hãy đến và hãy biến cuộc sống chúng ta thành lời yêu thương như Ngài.

---------------------------

 

Bavua 358: Tỏa sáng sáng bằng bái ái


(Suy niệm của Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

 

Có một bài hát sinh hoạt đã diễn tả con người như là một ánh sao sáng cho nhau. “Đếm ánh sao Bavua 358


Có một bài hát sinh hoạt đã diễn tả con người như là một ánh sao sáng cho nhau. “Đếm ánh sao đêm tôi gọi người. Hồng xanh xanh hồng xanh trắng xanh. Ngôi sao xanh kia chính là anh. Ngôi sao vàng chính là chị đây. Không có ngôi sao nào là ngôi sao đen”.

Thực vậy, sao thì phải tỏa sáng. Sao có nhiệm vụ phá tan bóng đêm thì đương nhiên sẽ không có ngôi sao đen. Cuộc đời con người là “nhân chi sơ tính bản thiện” thì cũng phải tỏa sáng bằng những việc tốt, việc thiện. Con người đi trong tối tăm của sự ác, của tội lỗi là con người đang đánh mất căn tính thiện của mình. Con người chỉ là người khi sống theo lẽ phải, theo luân thường đạo lý mà Thượng Đế đã an bài.

Là người ky-tô hữu, Chúa Giê-su còn mời gọi chúng ta phải tỏa sáng bằng hành động yêu thương: “Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy: là anh em có lòng yêu thương nhau”. Yêu thương không phải trên đầu môi chót lưỡi, nhưng yêu thương biến thành hành động phục vụ. Việc phục vụ bác ái như màu cờ sắc áo, như ngọn đèn chiếu tỏa để mọi người xung quanh nhận ra chúng ta là môn đệ của Chúa Giêsu.

Phục vụ theo tinh thần ky-tô giáo là phục vụ vô vị lợi, phục vụ quảng đại mà không cần đền đáp như trong lời Bài Ca Phục Vụ, tác giả Mi Trầm đã trình bày: “Phục vụ là cho không, phục vụ là quên mình, phục vụ không đòi đền đáp, phục vụ ơn nghĩa không chờ”. Phục vụ với tinh thần là cho không, là quên mình ấy quả thực là một ngọn đuốc thiêng chiếu sáng cho thế gian còn đầy bóng tối của ích kỷ, của chia rẽ, của hận thù.

Ba Vua năm xưa đã nhờ ánh sao để đến triều bái Chúa. Muôn dân hôm nay rất cần ánh sao yêu thương nơi người tín hữu tỏa sáng để dẫn dắt anh em đến với Chúa. Nhưng tiếc thay, cuộc sống của chúng ta vẫn chưa phản chiếu tình yêu của Chúa ra bên ngoài. Chúng ta đã sống thiếu tình yêu, thiếu lòng bác ái, bao dung với nhau. Chúng ta vẫn còn mang thù hận, ghen tương với nhau. Nhiều người vẫn chưa có thiện cảm với đạo Công giáo vì chúng ta chưa sống tin mừng qua việc xây dựng tình hiệp nhất, công lý và bình an. Chúng ta vẫn sống chia rẽ, lỗi công bình, gây mất bình an qua lời nói châm chọc, kết án, bỏ vạ cáo gian anh em mình.

Đời sống của chúng ta dù ít dù nhiều luôn có ảnh hưởng trên người khác. Nhất là các bậc cha mẹ, thầy cô luôn tác động mạnh trên lối sống của con trẻ. Có biết bao gương lành của người lớn đã làm nên những con người phi thường cho nhân thế. Nhưng cũng có biết bao gương xấu của cha mẹ hay các nhà giáo dục đã làm cho biết bao con người sa đoạ hay lạc lối.

Xã hội luôn cần gương sáng để đẩy lùi bóng tối. Xã hội luôn cần những ánh sao sáng cho bầu trời thêm trong xanh. Xin cho đời sống chúng ta luôn là ánh sao dẫn về chân thiện mỹ tình thương. Xin đừng để những lối sống tội lỗi của chúng ta trở thành gương mù cho anh em. Amen.
 
--------------------------

 

Bavua 359: Chúa Hài Nhi cần gì?


(Suy niệm của Lm. Jos. Tạ Duy Tuyền)

 

Con người chúng ta thích sĩ diện nhưng lại bỏ quên đồng loại. Thích lễ hội nhưng bỏ qua công Bavua 359


bình bác ái. Thích tiếng khen nhưng lại bàng quan với cái khổ của anh em. Thế nên, người xưa có câu:

“Sống thì chẳng cho ăn
Khi chết làm văn tế ruồi”.

Có một lần đi thăm bệnh nhân ở một vùng sâu miền núi. Bệnh nhân đau đã lâu và thấy trong nhà không có gì đáng giá ngoài con heo trong chuồng.Tôi hỏi chủ nhà sao không bán con heo lấy tiền chữa bệnh cho bà, để con heo làm gì?

Chủ nhà bảo: để con heo ấy phòng khi bà nó chết thì có cái mà mổ để đãi khách?

Rồi ông nói tiếp: "Ở quê nhà nào cũng phải vậy cha ạ".

Rồi ông kể: khi trong nhà có người già yếu bệnh nặng khó qua khỏi, con cháu trong nhà phải chuẩn bị trước một con heo nuôi trong chuồng. Nếu không nuôi heo kịp, có thể vay mượn heo của bà con họ hàng trong xóm mổ thịt trước, sau đó nuôi con heo khác trả nợ cũng được. Đây là truyền thống mình không làm thì họ cười cho...!

Có lẽ người bệnh sẽ không vui khi người thân lo xa mà không lo gần. Bỏ hình mà bắt bóng nên chẳng có giá trị trên tình người.

Hôm nay nhân ngày lễ Ba Vua, tôi nhớ tới câu chuyện được kể rằng: có một bé gái cùng với mẹ đi viếng hang đá. Bà mẹ giải thích cho em rằng ba nhà Đạo Sĩ dâng tiến của lễ cho Chúa Hài Nhi là vàng, nhũ hương và mộc dược. Cô bé nhìn Hài Nhi trong máng cỏ một cách cung kính rồi quay sang hỏi mẹ: Tại sao họ không mang đến cho Chúa Hài Nhi một cái giường nhỏvới mùng mền?

Quả thực, sự kiện Chúa Giêsu sinh ra nơi hang lừa, máng cỏ đã khơi dậy lòng trắc ẩn của tình người.Chúa đến trong nghèo nàn để mời gọi chúng ta cùng chia sẻ tâm tình với những người cùng khổ nghèo đói. Nhu cầu thực tế của cuộc sống là miếng cơm manh áo và nơi chỗ nương thân. Chúa Hài Nhi Giêsu đã chạm đến cái cùng cực của thân phận con người. Từ đó, Chúa mời gọi chúng ta: "Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy."(Mt 25, 40).

Và hôm nay Hài Nhi Giê-su vẫn đang giáng sinh nơi những mái gia đình có hoàn cảnh khó khăn và khổ đau.

Nơi đó có những con người đang thiếu thốn cái ăn, cái mặc, Chúa Hài Nhi đang mời gọi chúng ta hãy làm điều thiết thực là mang cơm ăn áo mặc hơn là những nhà hát ngàn tỉ hay những trung tâm tráng lệ, đền đài nguy nga.
Nơi đó có những con người đang đau khổ bởi đau ốm bệnh tật triền miên mà tiền thì lại thiếu. Chúa hài nhi đang mời gọi chúng ta hãy cúi xuống những mảnh đời bất hạnh ấy để cùng chung tay giúp họ vượt qua những lúc nguy nan.
Nơi đó có những người đang cô đơn ngay chính trong gia đình của mình, vì vợ chồng thiếu đối thoại và cảm thông, Chúa hài nhi đang mời gọi chúng ta hãy vì Chúa mà quan tâm tới nhau để chia sẻ gánh nặng cuộc đời cho nhau.
Nơi đó có những người đang ở tạm bợ nơi những khu nhà ổ chuột hay chỉ là phòng trọ chật hẹp đầy thiếu thốn, Chúa hài nhi đang mờ gọi chúng ta hãy tạo tình liên đới để không ai mặc cảm về những thiếu thốn của mình.
Vâng, Chúa đang hiển linh một cách cụ thể nơi những mái tranh nghèo đầy thiếu thốn. Chúa Hài Nhi đang mời gọi chúng ta đến triều bái Người, cùng dâng cho Người những phương tiện cuộc sống hơn là những đền đài nguy nga ngay giữa dân nghèo. Hãy sống thiết thực khi cho cơm, cho áo người nghèo hơn là những khu nhà cao sang lạnh vắng tình người. Hãy viếng thăm dân nghèo nơi chính mái tranh nghèo khó của họ hơn là đánh trống phô trương trong các ngôi nhà hội nghị máy lạnh xa hoa...
Ước gì mỗi người chúng ta hãy là những đạo sĩ dám dấn thân bước tới với những gia đình khổ đau nơi những mái nhà đơn sơ, chật hẹp, thiếu thốn để niềm vui Chúa giáng sinh được mang đến cho mọi người. Amen.

-----------------------------------

 

Bavua 360: ÁNH SÁNG CỦA NGÔI LỜI THIÊN CHÚA


Suy Niệm Tin Mừng Lễ Hiển Linh

 

Đức Giêsu là Ánh Sáng muôn dân, Ánh Sáng cho muôn dân được thấy đường ngay nẻo chính, Ánh Bavua 360


TMĐP- Đức Giêsu là Ánh Sáng muôn dân, Ánh Sáng cho muôn dân được thấy đường ngay nẻo chính, Ánh Sáng cho mọi người được nhận ra Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ, Ánh Sáng soi đường chỉ lối cho nhân loại tìm gặp Thiên Chúa là Nguồn Vui vĩnh cửu, Hạnh Phúc đời đời.


Hầu như ai cũng thích ánh sáng và sợ bóng tối: căn phòng sáng sủa vẫn thích hơn góc tối mù u, nắng ấm ban mai vẫn thích hơn những ngày vắng bóng mặt trời, và không gì ngao ngán, bực bội hơn những buổi tối cả khu phố bị cúp điện, và nhà nhà, người người phải chìm trong bóng tối.

Nhưng không phải ánh sáng nào cũng chiếu sáng, ngọn đèn nào cũng ấm áp, vui tươi, vì có những ánh sáng làm chói mắt, những luồng sáng làm sợ hãi, run rẩy, những ánh đèn làm thui chột, mù lòa như ánh sáng phẫn nộ từ đôi mắt đe dọa của  cán bộ chấp pháp,  như luồng sáng trấn áp, khai thác lột trần từ những bóng đèn cao thế trong phòng hỏi cung, tất cả như muốn lập tức đốt cháy cuộc đời nghi can.

Khác với những ánh sáng khủng bố, tiêu diệt, các bài đọc phụng vụ trong lễ Hiển Linh hôm nay cho chúng ta thấy: Đức Giêsu là Ánh Sáng muôn dân, Ánh Sáng cho muôn dân được thấy đường ngay nẻo chính, Ánh Sáng cho mọi người được nhận ra Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ, Ánh Sáng soi đường chỉ lối cho nhân loại tìm gặp Thiên Chúa là Nguồn Vui vĩnh cửu, Hạnh Phúc đời đời.



Và Ánh Sáng của Ngôi Lời Thiên Chúa ấy đã được loan báo từ hàng ngàn năm trước trong Cựu Ước qua miệng các ngôn sứ, như ngôn sứ Isaia đã tuyên sấm:  “Đứng lên, bừng sáng lên! Vì ánh sáng của ngươi đến rồi. Vinh quang của Đức Chúa như bình minh chiếu tỏa trên ngươi” (Is 60,1-2).

Chính ánh sáng vinh quang của  “Thiên Chúa làm người” đã toả chiếu và  bao phủ các mục đồng trong đêm Giáng Sinh và dắt họ đến gặp Hài Nhi “sơ sinh bọc tã nằm trong máng cỏ” (Lc 2,12); chính ánh sáng vinh quang của “Emmanuen – Thiên Chúa ở cùng chúng ta” đã hướng dẫn các đạo sĩ từ phương xa đến Bêlem bái lậy Đấng Kitô, Đức Vua dân Do Thái, đồng thời mở lối mới cho các vị trở về nhà  an toàn, mà không trở lại Giêrusalem gặp vua Hêrôđê, vì ông này có lòng dạ nham hiểm đã sắp đặt kế hoạch truy lùng, sát hại Hài Nhi Giêsu, phòng xa nguy cơ bị tiếm ngôi (x. Mt 2,1-12).

Thánh Phaolô, người có kinh nghiệm thiêng liêng rất đặc biệt về Ánh Sáng của Thiên Chúa, trên đường bách hại các người theo đạo. Sách Công vụ Tông Đồ kể lại: “Đang khi ông đi trên đường và đến gần Đamát, thì bỗng nhiên có một luồng ánh sáng từ trời chiếu xuống bao phủ lấy ông. Ông ngã xuống đất và nghe có tiếng nói với ông: “Saun, Saun, tại sao ngươi bắt bớ Ta?” Ông nói: “Thưa Ngài, Ngài là ai?” Người đáp: “Ta là Giêsu mà ngươi đang bắt bớ” (Cv 9,3-5). Ánh sáng ấy đã biến đổi ông từ kẻ bách hại các Kitô hữu trở thành Tông Đồ Dân Ngoại.

Nhờ kinh nghiệm bản thân được ánh sáng kêu gọi và biến đổi, tông đồ Phaolô là người hiểu rõ hơn ai hết  “mầu nhiệm Đức Kitô”, mà chính thánh nhân đã khẳng định khi viết: “Anh em đọc thì có thể thấy rõ tôi am hiểu mầu nhiệm Đức Kitô thế nào” (Ep 3, 4), và mầu nhiệm ấy chính là “Trong Đức Kitô Giêsu và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Do Thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa” (Ep 3,6).



Vâng, Lễ Hiển Linh là lễ của Ánh Sáng, lễ tràn ngập Ánh Sáng của Ngôi Lời Thiên Chúa toả chiếu vinh quang của Ngài trên tất cả chúng ta. Ngài là Ánh Sáng thế gian (x. Ga 8,12), Ánh Sáng muôn dân, muôn nước, “Ánh Sáng soi đường cho dân ngoại” (Lc 2, 32), Ánh Sáng của Lời Hứa cứu độ, Ánh Sáng cảnh tỉnh, thương xót, chữa lành, xóa tội, như Ngài đã ban ánh sáng cho người mù bẩm sinh. Và chính Ngài là Ánh Sáng làm cho chúng ta được biết Ngài, trở lại với Ngài, yêu mến và  hiệp nhất với Ngài trong một Thân Thể là Hội Thánh, đồng thời biến đổi chúng ta thành những người mang ánh sáng của Ngài cho đời tăm tối, và làm chứng Ngài là Ánh Sáng của Tình Yêu thương xót, cứu độ.

Xin Ngôi Lời Thiên Chúa ban cho tâm hồn mỗi người chúng ta Ánh Sáng bình an của Ngài, như lời hứa của Đấng Cứu Thế nhân hậu được các thiên thần hát giữa ánh sáng  huy hoàng của vinh quang Thiên Chúa trong đêm Giáng Sinh: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, Bình an dứới thế cho người Chúa thương” (Lc 2,14).

Jorathe Nắng Tím

------------------------------

 

Bavua 361: CON TRẺ GIÊSU LÀ VUA DÂN DO THÁI


CHÚA NHẬT LỄ CHÚA HIỂN LINH NĂM C (02/01/2022)

"Và khi tiến vào nhà, họ đã gặp thấy Hài Nhi..,
và họ đã quỳ gối xuống sụp lạy Người…
Họ đã dâng tiến Người lễ vật: vàng, nhũ hương và mộc dược."

I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ

 

Lễ Chúa Hiển Linh (hay Lễ Ba Vua) là Lễ mừng biến cố hay sự kiện Chúa Giêsu Hài Nhi được Bavua 361


Lễ Chúa Hiển Linh (hay Lễ Ba Vua) là Lễ mừng biến cố hay sự kiện Chúa Giêsu Hài Nhi được ba nhà đạo sĩ (hay ba nhà chiêm tinh hay ba nhà thiên văn học hay ba Vua) từ Phương Đông tìm đến Bêlem xứ Giuđê để triều bái Chúa Giêsu là Vua (người Do-thái) mới sinh ra và dâng tiến những lễ vật hoàng gia (là vàng, nhũ hương và mộc dược) để tỏ lòng tôn kính và suy phục của mình. Nói cách khác Lễ Chúa Hiển Linh là Lễ Thiên Chúa tỏ mình ra cho dân ngoại. Vì thế mà Lễ Chúa Hiển Linh mang một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong cuộc đời trần thế của Con Thiên Chúa làm người và của Kitô giáo chúng ta. Vậy chúng ta hãy dành thời gian và tâm hồn để suy gẫm về ý nghĩa của Lễ ấy.

II. LẰNG NGHE LỜI CHÚA TRONG BÀI PHÚC ÂM Mt 2,1-12: Khi Chúa Giêsu sinh hạ tại Bêlem thuộc xứ Giuđa, trong đời vua Hêrôđê, có mấy nhà đạo sĩ từ Ðông phương tìm đến Giêrusalem. Các ông nói: "Vua người Do-thái mới sinh ra hiện đang ở đâu? Chúng tôi đã nhận thấy ngôi sao của Người ở Ðông phương, và chúng tôi đến để triều bái Người". Nghe nói thế, vua Hêrôđê bối rối, và tất cả Giêrusalem cùng với nhà vua. Vua đã triệu tập tất cả các đại giáo trưởng và luật sĩ trong dân, và hỏi họ cho biết nơi mà Ðức Kitô sinh hạ. Họ tâu nhà vua rằng: "Tại Bêlem thuộc xứ Giuđa, vì đó là lời do Ðấng Tiên tri đã chép: Cả ngươi nữa, hỡi Bêlem, đất Giuđa, không lẽ gì ngươi bé nhỏ hơn hết trong các thành trì của Giuđa, vì tự nơi ngươi sẽ xuất hiện một thủ lãnh, Người đó sẽ chăn nuôi Israel dân tộc của Ta".

Bấy giờ Hêrôđê ngầm triệu tập mấy nhà đạo sĩ tới, cặn kẽ hỏi han họ về thời giờ ngôi sao đã hiện ra. Rồi vua đã phái họ đi Bêlem và dặn rằng: "Các khanh hãy đi điều tra cẩn thận về Hài Nhi, rồi khi đã gặp thấy, hãy báo tin lại cho Trẫm, để cả Trẫm cũng đến triều bái Người". Nghe nhà vua nói, họ lên đường. Và kìa ngôi sao họ xem thấy ở Ðông phương, lại đi trước họ, mãi cho tới nơi và đậu lại trên chỗ Hài Nhi ở. Lúc nhìn thấy ngôi sao, họ hết sức vui mừng. Và khi tiến vào nhà, họ đã gặp thấy Hài Nhi và Bà Maria Mẹ Người, và họ đã quỳ gối xuống sụp lạy Người. Rồi, mở kho tàng ra, họ đã dâng tiến Người lễ vật: vàng, nhũ hương và mộc dược. Và khi nhận được lời mộng báo đừng trở lại với Hêrôđê, họ đã qua đường khác trở về xứ sở mình.

III. SUY NIỆM LỜI CHÚA TRONG BÀI PHÚC ÂM Mt 2,1-12: 

3.1 Sự kiện ba nhà đạo sĩ từ Phương Đông tìm đến Giêrusalem hỏi về vua Do-thái mới sinh ra ở đâu: Ba nhà đạo sĩ hay ba nhà chiêm tinh hay ba nhà thiên văn học hay ba vua là ba nhà thông thái thời bấy giờ chuyên nghiên cứu về các vị tinh tú trên bầu trời. Nhờ sự nghiên cứu ấy mà họ nhận ra ngôi sao lạ và ý nghĩa của nó. Họ đến từ Phương Đông là miền dân ngoại đối với người Israel. Họ tìm đến Giêrusalem để tìừa m vua người Do-thái mới sinh ra. Họ tìm thông tin ở triều đình vua Hêrôđê và những người thông thái của dân Israel. Họ đã tới nơi và gặp được Con Trẻ Giêsu và Mẹ Người là Đức Maria. Họ bái lạy Người và tiến dâng Người lễ vật châu báu là vàng, nhũ hương và mộc dược. Ba lễ vật ấy vửa mang tính giá trị thực tế vừa mang tính biều tượng (ám chỉ cuộc táng xác CHúa trên đồi Canvê 33 năm sau)

3.2 Vua Hêrôđê và các đại giáo trưởng và luật sĩ Israel: Trái ngược với sự nôn nóng và tích cực tìm kiếm vua người Do-thái mới snh ra của ba nhà đạo sĩ Phương Đông là sự thờ ơ của những nhà lãnh đạo Israel và sự độc ác nham hiểm của vua Hêrôđê. Những nhà lãnh đạo Israel biết nơi Đấng Mêsia sinh ra nhưng không muốn tìm đên nơi ấy. Còn vua Hêrôđê thì âm mưu giêt Trẻ Thơ và lửa gạt ba nhà đạo sĩ bằng những lời lẽ khôn ngoan lễ độ.

IV. THỰC THI LỜI CHÚA TRONG BÀI PHÚC ÂM Mt 2,1-12:  

4.1 Chúng ta hãy đón nhận và sống theo ơn soi sáng của Thiên Chúa: Không phải là những nhà thông thái như ba đạo sĩ Phương Đông nhưng chúng ta cũng nhận được ơn soi sáng của Thiên Chúa nhiều lần trong đời. Chúng ta hãy làm theo những soi sáng ấy để nhận ra Thiên Chúa và những chân lý của cuộc đời.

4.2 Chúng ta hãy tiến dâng cho Hài Nhi Giêsu những lễ phẩm hảo hạng nhất: Là những người đã nhận ra Chúa Hài Nhi Giêsu (là Con Thiên Chúa, là vua Israel) chúng ta hãy noi theo ba nhà đạo sĩ tiến dâng cho Người những lễ phẩm hảo hạng nhất mà chúng ta có: tài năng sức khỏe, thời gian, của cải vật chất v.v.. vì Người xứng đáng với sự tiền dâng ấy của chúng ta.

V. CẦU NGUYỆN VỚI LỜI CHÚA TRONG BÀI PHÚC ÂM Mt 2,1-12:     

Lạy Thiên Chúa là Cha chúng con, chúng con cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Cha vì Cha đã ban cho chúng con Con Một Cha là Chúa Giêsu Kitô, là Đấng đã sinh ra và tỏ mình ra cho ba nhà đạo sĩ Phương Đồng tai Bêlem. Xin Cha nghe lời chúng con cầu xin.

Ý VÀ LỜI CẦU NGUYỆN

1.- «Khi Chúa Giêsu sinh hạ tại Bêlem thuộc xứ Giuđa, trong đời vua Hêrôđê, có mấy nhà đạo sĩ từ Ðông phương tìm đến Giêrusalem. Các ông nói: "Vua người Do-thái mới sinh ra hiện đang ở đâu? Chúng tôi đã nhận thấy ngôi sao của Người ở Ðông phương, và chúng tôi đến để triều bái Người»  Chúng ta hãy dâng lời cầu xin Thiên Chúa ban cho tất cả mọi người ơn khát khao tìm kiếm Đấng Cừu Thế mà Thiên Chúa gửi đến cho loài người. 

Xướng: Chúng ta cùn g cầu xin Chúa! Đáp: Xin Chúa nhận lời chúng con!

2.- «Nghe nói thế, vua Hêrôđê bối rối, và tất cả Giêrusalem cùng với nhà vua. Vua đã triệu tập tất cả các đại giáo trưởng và luật sĩ trong dân, và hỏi họ cho biết nơi mà Ðức Kitô sinh hạ. Họ tâu nhà vua rằng: "Tại Bêlem thuộc xứ Giuđa, vì đó là lời do Ðấng Tiên tri đã chép: Cả ngươi nữa, hỡi Bêlem, đất Giuđa, không lẽ gì ngươi bé nhỏ hơn hết trong các thành trì của Giuđa, vì tự nơi ngươi sẽ xuất hiện một thủ lãnh, Người đó sẽ chăn nuôi Israel dân tộc của Ta» Chúng ta hãy dâng lời cầu xin Thiên Chúa cách riêng cho Đức Giáo Hoàng Phanxicô, cho các Hồng Y, Giám Mục, Linh Mục, Phó Tế và Tu Sĩ Nam Nữ để các vị ấy nhiệt thành giúp người khác tìm ra Chúa Giêsu Kitô là Đấng đã sinh ra ở Bêlem.

Xướng: Chúng ta cùng cầu xin Chúa! Đáp: Xin Chúa nhận lời chúng con!

3.- «Bấy giờ Hêrôđê ngầm triệu tập mấy nhà đạo sĩ tới, cặn kẽ hỏi han họ về thời giờ ngôi sao đã hiện ra. Rồi vua đã phái họ đi Bêlem và dặn rằng: "Các khanh hãy đi điều tra cẩn thận về Hài Nhi, rồi khi đã gặp thấy, hãy báo tin lại cho Trẫm, để cả Trẫm cũng đến triều bái Người»  Chúng ta hãy dâng lời cầu xin Chúa cho các Kitô hữu trong cộng đoàn giáo xứ chúng ta và trong các cộng đoàn giáo xứ khác, để mọi Kitô hữu sống chân thực trong lời nói và trong việc làm của mình

Xướng: Chúng ta cùng cầu xin Chúa! Đáp: Xin Chúa nhận lời chúng con!

4.- «Nghe nhà vua nói, họ lên đường.Và kìa ngôi sao họ xem thấy ở Ðông phương, lại đi trước họ, mãi cho tới nơi và đậu lại trên chỗ Hài Nhi ở. Lúc nhìn thấy ngôi sao, họ hết sức vui mừng. Và khi tiến vào nhà, họ đã gặp thấy Hài Nhi và Bà Maria Mẹ Người, và họ đã quỳ gối xuống sụp lạy Người. Rồi, mở kho tàng ra, họ đã dâng tiến Người lễ vật: vàng, nhũ hương và mộc dược»  Chúng ta hãy dâng lời cầu xin Chúa cho tất cả các Kitô hữu biết trân quý đức tin và mạc khải mà Thiên Chúa đã ban cho họ trong/qua Hội Thánh.

Xướng: Chúng ta cùng cầu xin Chúa! Đáp: Xin Chúa nhận lời chúng con!

LỜI KẾT:

Lạy Thiên Chúa là Cha của Chúa Giêsu và là Cha của chúng con, chúng con xin chúc tụng ngợi khen và cảm tạ Cha, vì Cha đã ban Con Một Cha là Chúa Giêsu Kitô cho nhân loại chúng con. Người đã tỏ mình ra với ba nhà đạo sĩ Phương Đông, đại diện cho các dân tộc chưa nhận biết Chúa 

Chúng con xin Cha ban Thánh Thần cho chúng con để Người giúp chúng con mạnh dạn rao truyền Con Trẻ  Giêsu cho những người chưa biết Chúa. Chúng con cầu xin vì danh Chúa Giêsu Kitô, Con Cha và Chúa chúng con  Amen.

Sàigòn ngày 01 tháng 01 năm 2022
Giêrônimô Nguyễn Văn Nội 

----------------------------

 

Bavua 362: Món quà của Artaban - Lm. Mark Link, SJ


Chủ đề: "Món quà to tát nhất dâng lên cho Vua các vua chính là cuộc sống đầy tình yêu thành tín và phụng sự tha nhân"

 

Henry van Dyke có thuật lại câu chuyện nhan đề The Other Wise Man (Một nhà đạo sĩ khác) Bavua 362


Henry van Dyke có thuật lại câu chuyện nhan đề The Other Wise Man (Một nhà đạo sĩ khác), kể về nhân vật thứ tư là người đáng lẽ đã cùng ba nhà đạo sĩ kia đi tìm vị vua vừa sinh ra. Nhân vật này tên là Artaban. Trong lúc chuẩn bị lên đường, Artaban mang theo một túi đựng đá quí để dâng tặng Ấu vương. Thế nhưng trên đường đến gặp 3 vị thông thái kia để cùng đi, Artaban lại dừng chân để giúp một người nghèo khổ và thế là ông ta bỏ mất cơ hội theo kịp các vị kia. Tuy nhiên ông vẫn tiếp tục kiên trì dừng lại giúp đỡ những ai gặp khốn khó. Cuối cùng, ông cho đi tất cả số đá quí của mình. Kết cuộc là Artaban đã trở nên già nua nghèo khổ. Và ông chẳng bao giờ thực hiện được giấc mơ gặp được vị vua các vua để đặt túi đá quí của ông dưới chân Ngài.

Câu chuyện The Other Wise Man có thể kết thúc ở đây, nhưng nếu chỉ có thế thì đây quả là một câu chuyện đáng buồn vì nó kể chuyện một người chưa thực hiện được giấc mộng lớn của đời mình. Nhưng may thay câu chuyện đã không kết thúc ở đây. Một ngày kia Artaban đang ở trong thành Giêrusalem, cả thành phố đầy xôn xao, náo nhiệt vì nhà cầm quyền sắp sửa hành hình một tội nhân. Khi Artaban nhìn thấy tội nhân, trái tim ông đập lên thình thịch. Linh tính báo cho ông biết đây chính là vua các vì vua mà ông đã suốt đời tìm kiếm. Nhìn cảnh tượng trước mắt Artanban cảm thấy trái tim như bị tan vỡ ra, nhất là vì ông chẳng có thể làm được gì để giúp đỡ vị vua ấy. Thế nhưng thật kỳ diệu thay khi Artanban nghe tiếng vị vua ấy nói cùng ông:

"Này Artanban, đừng buồn khổ nữa. Suốt đời ông đã từng giúp đỡ Ta. Khi Ta đói ông đã cho Ta ăn, Ta khát, ông đã cho ta uống, Ta trần trụi ông đã cho Ta mặc, Ta là khách lạ, ông đã đón ta vào nhà".

***

Câu chuyện về Artanban cũng là câu chuyện của nhiều người thời đại này. Giống như Artanban, khi bắt đầu vào đời, nhiều người cũng đã từng mơ ước làm được một điều gì cao cả. Nhưng thời gian trôi qua, những hoàn cảnh dồn dập xảy đến vượt quá khả năng kiếm soát của họ khiến họ không thực hiện được những giấc mơ của mình, để rồi cuối cùng những ước mơ ấy tan biến đi. Chẳng hạn như một thiếu nữ đã từng mơ ước đi theo nghề thương mại hoặc mỹ thuật, nhưng trước khi bắt đầu nghề nghiệp của mình thì cô lại gặp và lấy một người đàn ông nào đó. Chẳng bao lâu sau, họ bắt đầu cuộc sống gia đình, thế là mộng ước của thiếu phụ ấy dần dần nhạt mờ giống như trường hợp của Artanban. Thiếu phụ ấy cuối cùng chỉ còn biết dâng trọn thời giờ cho cái gia đình trẻ trung của mình.

Câu chuyện này có thể kết thúc ở đây, và nếu thế, đây là một câu chuyện đáng buồn, vì nó kể chuyện một phụ nữ chưa bao giờ thực hiện được hoài bão lớn lao của đời mình. Tuy nhiên, câu chuyện không kết thúc ở đây. Nó chỉ kết thúc vào một ngày trong tương lai, khi Chúa Giêsu nói với người phụ nữ điều Ngài đã nói với Artanban: "Suốt đời con đã giúp đỡ Ta; điều gì con làm cho gia đình con, chính là con làm cho Ta".

Hoặc chúng ta hãy xét đến trường hợp một thanh nhiên có tài. Chàng mơ ước leo lên được địa vị cao trong công ty của chàng. Vì thế chàng làm việc chăm chỉ và hy sinh mọi thứ. Thế nhưng đột nhiên xảy ra sự cố trục trặc gây cản trở bước tiến của chàng dù chàng chẳng hề lầm lỗi chi, đó chẳng qua là việc xui xẻo mà thôi. Tuy vậy, chàng thanh niên vẫn tiếp tục sống lương thiện, làm việc chăm chỉ và trung tín. Câu chuyện có thể kết thúc ở đây, nhưng nếu chỉ có thế thì đây là một chuyện buồn, vì nó đề cập đến một chàng trai không bao giờ thực hiện được giấc mộng to tát của đời mình. Thế nhưng câu chuyện không kết thúc ở đây. Nó sẽ chỉ kết thúc vào lúc Chúa Giêsu nói với chàng ta điều mà Ngài đã nói với Artanban: "Suốt đời con đã giúp đỡ Ta, vì điều gì con đã làm một cách lương thiện và trung tín, tức là con đã làm cho Ta".

Ngoài ra ta còn có thể nêu ra một câu chuyện có thực về một thanh niên tên là Tony. Chàng du lịch khắp thế giới và xuất hiện thường xuyên trên sân khấu lẫn truyền hình với tư cách là tay trống trong một nhóm ca nhạc nổi tiếng khắp thế giới. Rồi một ngày nọ, Tony cảm thấy được Chúa gọi làm linh mục. Khi chàng rời bỏ nhóm ca nhạc để vào chủng viện. Nhiều người cho rằng chàng là kẻ điên khùng. Câu chuyện có thể kết thúc ở đây, nhưng nếu như vậy thì đây là một câu chuyện buồn về một gã thanh niên để cho mộng ước vuột khỏi tầm tay mình. Tuy nhiên câu chuyện không kết thúc ở đây. Hiện Tony đang làm linh mục tại gíao phận Dallas. Chàng sống rất hạnh phúc. Một ngày kia, Chúa Giêsu cũng sẽ nói với chàng như đã từng nói với Artanban: "Hỡi Tony, suốt đời con đã giúp đỡ Ta, điều gì con làm cho giáo dân trong xứ, chính là con đã làm cho Ta".

Như thế, Lễ Ba Vua nhắc nhở chúng ta rằng tất cả chúng ta đều có một món quà để dâng tặng cho vị vua các Vua. Và câu chuyện "Một nhà đạo sĩ khác" (The Other wise Man) nhắc chúng ta nhớ rằng món quà của chúng ta còn quí giá hơn những món quà của Ba Vua, bởi vì món quà chúng ta dâng không phải chỉ là tặng phẩm trao dâng một lần như vàng, như nhũ hương, mộc dược, mà chính là món quà liên lỉ của tình yêu và tinh thần phục vụ tha nhân. Nhiều người sẽ cho rằng chúng ta điên rồ khi tặng dâng những món quà này, nhưng chẳng qua là vì họ không biết được màn cuối của câu chuyện khi mà Chúa Giêsu sẽ nói với chúng ta như Ngài đã từng nói với Artanban: "Hãy đến đây, hỡi những người được Cha Ta chúc phúc, hãy vào hưởng vương quốc dành sẵn cho các con từ thuở khai thiên lập địa, vì xưa Ta đói các ngươi cho Ta ăn, Ta khát các ngươi cho Ta uống, Ta là khách lạ các ngươi đã đón tiếp Ta. Vì bất cứ điều gì các ngươi làm cho một trong những kẻ bé mọn này…. của Ta, là các ngươi đã làm cho chính Ta" (Mt 25: 34-35-40).

Chúng ta hãy kết thúc với lời "nguyện xin lòng quảng đại" của thánh Ignatio de Loyola:

Lạy Chúa, xin dạy con biết sống quảng đại, biết phục vụ Chúa cho xứng đáng, biết cho đi mà không hề tính toán, biết chiến đấu mà không sợ thương tích, biết làm việc mà không tìm an nghỉ, biết xả thân mà không tìm một phần thưởng nào khác ngoài việc biết mình đã thi hành Thánh Ý Chúa. Amen".

-----------------------------

 

Bavua 363: Sân khấu cuộc đời

 

Chúng ta vừa mừng sinh nhật lần thứ 2021 của Đức Giêsu. Nói đến lần thứ 2021, thì có nghĩa Bavua 363


Chúng ta vừa mừng sinh nhật lần thứ 2021 của Đức Giêsu. Nói đến lần thứ 2021, thì có nghĩa là phải có lần thứ nhất. Như vậy, chúng ta lấy mốc thời gian nào để tính là năm thứ nhất. Câu trả lời là dựa vào năm Đức Giêsu sinh ra. Như vậy, biến cố Đức Giêsu ra đời là khởi đầu của một kỷ nguyên mới trong lịch sử nhân loại. Dù ngày hôm nay, các chuyên viên có tính lại là năm Chúa Giêsu sinh ra không phải là năm thứ 1, nhưng Ngài được sinh ra vào khoảng năm thứ 6 trước Công nguyên. Đấy là vì ông Denise thuộc thời Trung cổ tính sai. Dẫu vậy, nhưng trong tâm trí của ông Denise và cũng như của tất cả nhân loại đều lấy ngày Chúa Giêsu giáng sinh là trung tâm của lịch sử. Ngài đã bước vào lịch sử của nhân loại và làm xoay chiều lịch sử ấy. Ngài mặc cho lịch sử trần tục của con người một ý nghĩa mới, lịch sử cứu độ. Từ đây, Thiên Chúa đã làm người và ở với con người. Thiên Chúa đã từ trời cao xuống trần gian để cho con người trần gian được bước lên trời. Đất với trời đã giao duyên!

Hôm nay, chúng ta mừng lễ Chúa Hiển Linh, nghĩa là chúng ta mừng kính việc Đức Giêsu bày tỏ vinh quang của Ngài cho 3 nhà đạo sĩ Đông phương và cũng là cho tất cả chúng ta. Nhưng biến cố ấy thay vì trở thành niềm vui cho hết nhân loại thì lại trở thành tin buồn và thảm hoạ cho một số người. Tại làm sao lại có chuyện ấy xảy ra? Có phải vinh quang của Thiên Chúa không có sức mang lại hạnh phúc cho con người không? Có phải Thiên Chúa đã chịu thua sự nhẫn tâm của con người rồi chăng? Ngày Chúa Giêsu sinh ra, các Thiên thần đồng thanh tung hô rằng: "Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương", nhưng xem ra việc Chúa Giáng trần chỉ mang lại tai hoạ cho con người mà thôi!

Thiên Chúa của chúng ta là Thiên Chúa của tình yêu. Ngài yêu thương hết thảy con người cho dẫu rằng con người có nhận ra điều đó hay không? Chúa không muốn biến con người thành những cổ máy Robot, nên đã trao cho họ tự do. Và vì lạm dụng tự do, nên con người đã chống lại Thiên Chúa; coi Thiên Chúa như đối thủ của mình, như người tranh giành hạnh phúc của mình. Thật là một điều đáng buồn cho con người.

Chúa Giêsu vẫn sinh ra cho con người dẫu rằng con người có đón tiếp Ngài hay không? Và quả thực, con người đã chối từ Ngài ngay từ giây phút đầu tiên của cuộc đời dương thế của Ngài. Nhưng Ngài chấp nhận tất cả và chịu sinh ra trong cảnh nghèo nàn nhất của kiếp người. Nhà bảo sanh là chuồng bò, chiếc nôi là máng cỏ, thời tiết là giữa mùa Đông giá rét run người. Người ta không muốn đón tiếp Chúa vì Chúa đến trong thân phận của người nghèo khổ và quá âm thầm.

Hơn nữa, ngày mà Chúa tỏ vinh quang cho nhân loại thì lại trở thành ngày buồn thảm: Hêrôđê bối rối vì sợ bị chiếm ngôi, các gia đình có con trẻ từ 2 tuổi trở xuống ở vùng Giuđêa và các vùng lân cận phải một trận khóc than thảm thiết vì con trẻ của họ bị giết! Lý do là vì sự độc ác của con người, cụ thể là vua Hêrôđê. Vua Hêrôđê là đại diện cho tất cả những con người ham hố quyền lực trên thế giới. Họ sẵn sàng gây ra bao nhiêu đau khổ, chết chóc cho nhân loại để bảo vệ uy quyền cho mình. Ngày nào trên thế giới còn có những con người ham hố quyền lực thì ngày đó nhân loại còn phải chịu đau khổ và chết chóc.

Sân khấu lịch sử cuộc đời còn có vai của những con người trong vai các kinh sư và luật sĩ. Họ thông thạo Thánh kinh, biết rõ nhiều vấn đề nhưng họ sợ cực khổ, sợ mất mát, ngại hy sinh nên đem những hiểu biết của mình chôn vùi trong tủ kính. Vì thế, những hiểu biết của họ không giúp ích gì cho ai và cũng chẳng mang lại lợi ích gì cho bản thân họ. Họ là hạt giống có lớp vỏ vàng óng. Họ cố bảo vệ lớp vỏ của mình cho thật đẹp và không chịu làm trở thành thân phận của hạt giống, phải chịu thối đi để sinh ra trăm nghìn bông hạt mới. Vì thế, mãi mãi họ là hạt lúa cô đơn, hạt lúa vàng vô ích và sẽ có ngày sẽ hư mất.

Nhưng cũng may là thế giới này cũng còn có những con người khát khao tìm kiếm chân lý như 3 nhà Đạo sĩ Phương Đông. Nếu không, thì cuộc đời này sẽ biến thành nghĩa trang lạnh lùng, đầy dẫy những xác chết, và trái tim con người sẽ hoá đá! Hình ảnh 3 nhà Đạo sĩ Phương Đông trở thành mẫu mực cho những ai khao khát sự thật và sự sống. Khi nhận ra được ánh sáng chân lý rồi, thì họ không ngần ngại hy sinh, sẵn sàng chịu cực khổ, mất mát và nguy hiểm để lên đường tìm kiếm. Và những cố gắng của họ đã được đền bù xứng đáng. Họ đã được Thiên Chúa đong đầy sự khao khát của họ. Vì "Phúc cho ai biết khao khát nên trọn lành và tìm kiếm chân lý, vì họ sẽ được Thiên Chúa ban cho được đầy no".

Mừng lễ Chúa Hiển Linh hôm nay, chúng ta hãy tự kiểm lại chính mình xem chúng ta đang có trong mình hình ảnh của ai? Của Hêrôđê, của những Kinh sư hay của ba nhà Đạo sĩ Phương Đông? Chúng ta có phải là những người đang ham hố quyền lực để sẵn sàng tiêu diệt, loại trừ người khác để bảo vệ uy thế và chỗ đứng cho mình không? Hay chúng ta lại là những người Kinh sư, thông thạo Thánh kinh, biết rất nhiều về Lời Chúa nhưng lại không làm theo và không màng gì đến những Lời ấy? Hay chúng ta là những Nhà Đạo sĩ đang khao khát và kiếm tìm chân lý, để khi nhận ra được chân lý đang soi dẫn cuộc đời của mình thì sẵn sàng chấp nhận mọi gian nan, hy sinh mọi sự để lên đường tìm kiếm chân lý? Phúc cho chúng ta nếu chúng ta đang mang trong mình hình ảnh của những nhà Đạo sĩ Phương Đông ngày xưa!

----------------------------

 

Bavua 364: HÃY BỪNG SÁNG


Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên

 

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay mở đầu bằng một lời hiệu triệu rất long trọng, qua lời ngôn sứ Isaia Bavua 364


Phụng vụ Lời Chúa hôm nay mở đầu bằng một lời hiệu triệu rất long trọng, qua lời ngôn sứ Isaia: “Hãy đứng lên, bừng sáng lên, Giêrusalem”. Nội dung của bài sách thánh thứ nhất cho ta thấy một bầu khí sôi động, hùng hồn như lệnh triệu tập của một đại lễ, hay một cuộc tổng động viên. Giêrusalem không còn vẻ tĩnh lặng đơn điệu của ngày thường, mà trở nên điểm quy tụ của cả thế giới. Mọi vương quyền trên thế giới đều đến đây để phủ phục tôn thờ Đấng Tối Cao. Mọi sản vật quý hiếm từ mọi miền đều được chuyển tải về đây để dâng tiến Thiên Chúa, Đấng tạo dựng muôn loài. Những đoàn lạc đà nhiều chưa từng thấy, đến nỗi che rợp đất. Lạc đà là phương tiện giao thông của thời đó. Khi nói đến số lạc đà nhiều như vậy, có nghĩa là khách thập phương đông vô kể, từ muôn phương đang tiến về thành Thánh. Giêrusalem chói ngời, rạng rỡ, như cô dâu được trang điểm kỹ lưỡng, toả hào quang đến mọi miền xung quanh.

Vì lý do gì mà Giêrusalem bừng sáng đến thế? Đó là vì Đấng Cứu thế đã xuất hiện. Lời ngôn sứ Isaia bảy trăm năm trước đó đã được ứng nghiệm. Đấng Cứu thế đã hạ sinh. Người là Vua các vua và là Chúa các chúa. Thánh lễ hôm nay được gọi là lễ Hiển Linh. Từ này thường được dùng trong Kinh Thánh Cựu ước để diễn tả việc Thiên Chúa xuất hiện. Mỗi khi Ngài xuất hiện, hoặc để tỏ quyền năng tuyệt đối của Ngài, hoặc để cứu giúp dân Do Thái đang gặp tai ương hoạn nạn. Việc Thiên Chúa hiển linh cũng nói lên sự quan tâm chăm sóc đối với Dân được tuyển chọn. Trong lịch sử Cứu độ, nhiều lần Chúa đã hiển linh để cứu giúp dân Do Thái. Như thế, lễ Hiển Linh giới thiệu với chúng ta: Đức Giêsu là Vua của các vua. Người là Đấng muôn dân mong đợi. Ba nhà đạo sĩ, mà chúng ta quen gọi là ba vua, đã từ phương xa đến để chào kính và tôn thờ vị Vua mới sinh. Ba loại lễ phẩm: vàng, nhũ hương, mộc dược cho thấy ba vị này đến từ ba miền khác nhau của phương Đông. Các nhà chú giải Kinh Thánh giải thích: vàng là lễ vật tặng các vua chúa ; nhũ hương là lễ vật dâng tiến các thần linh ; mộc dược là thuốc thơm để tẩm liệm thi hài người quá cố, như một lời tiên báo Chúa Giêsu sẽ chịu chết để cứu độ nhân loại.

Khi mừng lễ Hiển Linh, Giáo hội cũng giới thiệu cho chúng ta: Đức Giêsu là Đấng Cứu độ toàn thể nhân loại. Người cũng là Vua vũ trụ. Vương quốc của Người là vương quốc tình yêu, công bình và bác ái. Chúa nhật cuối cùng của năm Phụng vụ, chúng ta đã suy tư về tước vị Vua của Chúa Giêsu. Qua Chúa Giêsu và nhờ Chúa Giêsu, ơn Cứu độ được đề nghị cho toàn thể thế giới, chứ không giới hạn nơi dân tộc Do Thái như quan niệm của Cựu ước. Thực tế hôm nay đã chứng minh: trên khắp hoàn cầu, mọi quốc gia và lãnh thổ, Đức tin vào Chúa Giêsu được tuyên xưng và loan truyền. Hệ thống tổ chức của Giáo hội như các Giáo phận, các Dòng tu, các Giáo xứ, các Cộng đoàn đã chứng minh có Chúa hiện diện và điều khiển Giáo hội. Giáo hội của Chúa bao gồm mọi màu da, mọi ngôn ngữ, mọi văn hoá, mọi truyền thống. Giáo hội như một vườn hoa mênh mông với ngàn hương sắc khác nhau. Tất cả đều có chung một Phép rửa, một Đức tin, một Phụng vụ. Chất men Tin Mừng đã thấm nhập nơi mọi nền văn hoá và mọi dân tộc. Thánh Phaolô đã diễn tả trong thư gửi giáo dân Êphêsô như sau: « Trong Đức Giêsu Kitô và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại cùng được thừa kế gia nghiệp với người Do Thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa muốn » (Bài đọc II).

Thánh vịnh 71 được hát lên trong phần Đáp ca đã diễn tả tình thương bao la hải hà của Thiên Chúa: « Người giải thoát bần dân kêu khổ, và kẻ khốn cùng không chỗ tựa nương, chạnh lòng thương ai bé nhỏ khó nghèo… Mạng sống dân nghèo, Ngài ra tay tế độ”. Tác giả Thánh vịnh cũng ca ngợi vinh quang sáng ngời của vị Tân Vương: Triều đại Người, đua nở hoa công lý, và thái bình thịnh trị. Người làm bá chủ từ biển này qua biển nọ, từ Sông Cả đến tận cùng trái đất ». Đức tin Kitô giáo đã nhận ra vị Tân Vương này là Hài nhi Giêsu sinh hạ tại Bêlem năm xưa.

Nếu ơn Cứu độ của Thiên Chúa qua Đức Giêsu Kitô có tính phổ quát, thì bất kể ai, nếu thành tâm thiện chí thì đều được Thiên Chúa đón nhận vào gia đình của Ngài. Dưới cái nhìn của người Do Thái, ba nhà đạo sĩ được coi là những « người ngoại », nhưng họ có trái tim chân thành và thiện chí đi tìm Chân lý. Các ông đã vượt qua đường trường với bao nguy hiểm, để tìm cho bằng được vị Vua mới sinh. Những khó khăn không làm các ông nhụt chí và bỏ cuộc, kể cả khi không nhìn thấy ngôi sao dẫn đường. Cuộc tìm kiếm của ba nhà đạo sĩ phần nào phác họa đời sống đức tin của người Kitô hữu chúng ta. Bởi lẽ tin là một cuộc lên đường tìm kiếm liên lỉ, là một chuỗi liên tục những khám phá bất ngờ. Những ai nỗ lực tìm kiếm Chúa sẽ gặp được Ngài. Đức tin trước hết đòi chúng ta phải biết chấp nhận những hy sinh. Các nhà đạo sĩ là những người trí thức uyên thâm. Họ đã chấp nhận rời bỏ quê hương lên đường vì nhận ra thông điệp của ngôi sao lạ. Trong đời sống đức tin, muốn được gặp Chúa, chúng ta cũng phải chấp nhận từ bỏ lối sống không phù hợp với giá trị Tin Mừng. Khi các nhà đạo sĩ không còn nhìn thấy ngôi sao, họ không nản lòng, nhưng kiên trì tìm hiểu để thấy hướng đi cho mình. Mục đích được gặp vị Vua mới sinh đã cho các ông quyết tâm vượt qua mọi khó khăn gian khổ. Các ông nêu gương cho chúng ta về sự kiên nhẫn và hy vọng. Quả thế, trong hành trình tìm kiếm Chúa, có những lúc chúng ta cảm thấy nản chí vì những thử thách gian nan. Sự kiên trì và cậy trông chắc chắn sẽ giúp ta tìm thấy Chúa và gặp gỡ Ngài.

Khi các nhà đạo sĩ cảm thấy đứng trước ngõ cụt của hành trình tìm kiếm vị Vua mới sinh, các ông đã vào Giêrusalem. Ở đây, các chuyên gia đã khảo cứu Kinh Thánh và tìm được lời giải đáp. Nhờ hướng dẫn trong lời ngôn sứ Mika (x. Mk 5,1), các ông tiếp tục lên đường và cuối cùng đạt được điều nguyện ước của mình. Ngày hôm nay, Chúa vẫn đang ngỏ lời với chúng ta trong Kinh Thánh. Nội dung Kinh Thánh là một câu chuyện tình giữa Thiên Chúa và con người. Muốn tìm kiếm Chúa, ta phải chuyên tâm học hỏi và suy niệm Lời Chúa được ghi lại trong Kinh Thánh. Lời Chúa là ánh sáng chỉ đường cho chúng ta trên bước đường đời. Chuyên tâm suy niệm và sống Lời Chúa sẽ giúp ta sống thánh thiện trọn lành.

“Hãy bừng sáng!”. Đây là lời mời gọi ngôn sứ Isaia gửi đến thành thánh Giêrusalem. Đây cũng là lời nhắn nhủ mà Giáo Hội gửi đến các tín hữu nhân dịp lễ Hiển Linh hôm nay. Đức Kitô là Ánh sáng muôn dân. Thiên Chúa đã phán qua lời ngôn sứ Isaia: « Này đây Ta đặt con làm ánh sáng muôn dân, để con đem ơn cứu độ của Ta đến tận cùng cõi đất » (Is 49,6). Lời này đã được thực hiện nơi Đức Giêsu Kitô. Người là ánh sáng trần gian. Người đến để dẫn dắt nhân loại bước ra khỏi u tối của tội lỗi và của quyền lực sự chết. Nhờ Bí tích Thanh tẩy, mỗi Kitô hữu tiếp nhận ánh sáng của Đức Kitô, để rồi trong cuộc sống thường ngày, họ trở nên ánh sáng, phản ánh sự thánh thiện của Thiên Chúa giữa cuộc đời còn nhiều tăm tối. Trở nên ánh sáng để soi sáng cho bản thân. Trở nên ánh sáng cũng để giúp người khác từ bỏ tội lỗi, nên con người hoàn thiện nhờ thấm nhuần giáo huấn của Chúa Giêsu. Ba nhà đạo sĩ đã nhờ ánh sao soi đường để đến thờ lạy Hài nhi Giêsu, Vua muôn dân. Ơn gọi của người tín hữu là trở nên ngôi sao toả sáng trong cuộc đời. Chúng ta đang sống trong Giáo Hội, tức là sống trong thành thánh Giêrusalem mới. Nếu cá nhân mỗi tín hữu toả sáng, thì Giáo hội của Chúa cũng sẽ toả sáng và làm điểm quy tụ cho muôn dân hướng về.

Thưa anh chị em, như ba nhà đạo sĩ, chúng ta hãy đến thờ lạy Chúa Giêsu, tôn vinh Người là lý tưởng của cuộc đời chúng ta. Nhờ lòng yêu mến và chuyên tâm tuân giữ Lời Chúa Giêsu, chúng ta sẽ trở nên giống như Người. Đó là vinh dự, đồng thời cũng là bổn phận của người Kitô hữu trong bối cảnh cuộc đời hôm nay.

-----------------------------

 

Bavua 365: ÁNH SÁNG CỦA NGÔI LỜI THIÊN CHÚA


Jorathe Nắng Tím

 

Hầu như ai cũng thích ánh sáng và sợ bóng tối: căn phòng sáng sủa vẫn thích hơn góc tối mù Bavua 365


Hầu như ai cũng thích ánh sáng và sợ bóng tối: căn phòng sáng sủa vẫn thích hơn góc tối mù u, nắng ấm ban mai vẫn thích hơn những ngày vắng bóng mặt trời, và không gì ngao ngán, bực bội hơn những buổi tối cả khu phố bị cúp điện, và nhà nhà, người người phải chìm trong bóng tối.

Nhưng không phải ánh sáng nào cũng chiếu sáng, ngọn đèn nào cũng ấm áp, vui tươi, vì có những ánh sáng làm chói mắt, những luồng sáng làm sợ hãi, run rẩy, những ánh đèn làm thui chột, mù lòa như ánh sáng phẫn nộ từ đôi mắt đe dọa của  cán bộ chấp pháp,  như luồng sáng trấn áp, khai thác lột trần từ những bóng đèn cao thế trong phòng hỏi cung, tất cả như muốn lập tức đốt cháy cuộc đời nghi can.

Khác với những ánh sáng khủng bố, tiêu diệt, các bài đọc phụng vụ trong lễ Hiển Linh hôm nay cho chúng ta thấy: Đức Giêsu là Ánh Sáng muôn dân, Ánh Sáng cho muôn dân được thấy đường ngay nẻo chính, Ánh Sáng cho mọi người được nhận ra Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ, Ánh Sáng soi đường chỉ lối cho nhân loại tìm gặp Thiên Chúa là Nguồn Vui vĩnh cửu, Hạnh Phúc đời đời.

Và Ánh Sáng của Ngôi Lời Thiên Chúa ấy đã được loan báo từ hàng ngàn năm trước trong Cựu Ước qua miệng các ngôn sứ, như ngôn sứ Isaia đã tuyên sấm:  “Đứng lên, bừng sáng lên! Vì ánh sáng của ngươi đến rồi. Vinh quang của Đức Chúa như bình minh chiếu tỏa trên ngươi” (Is 60,1-2).

Chính ánh sáng vinh quang của  “Thiên Chúa làm người” đã toả chiếu và  bao phủ các mục đồng trong đêm Giáng Sinh và dắt họ đến gặp Hài Nhi “sơ sinh bọc tã nằm trong máng cỏ” (Lc 2,12); chính ánh sáng vinh quang của “Emmanuen – Thiên Chúa ở cùng chúng ta” đã hướng dẫn các đạo sĩ từ phương xa đến Bêlem bái lậy Đấng Kitô, Đức Vua dân Do Thái, đồng thời mở lối mới cho các vị trở về nhà  an toàn, mà không trở lại Giêrusalem gặp vua Hêrôđê, vì ông này có lòng dạ nham hiểm đã sắp đặt kế hoạch truy lùng, sát hại Hài Nhi Giêsu, phòng xa nguy cơ bị tiếm ngôi (x. Mt 2,1-12).

Thánh Phaolô, người có kinh nghiệm thiêng liêng rất đặc biệt về Ánh Sáng của Thiên Chúa, trên đường bách hại các người theo đạo. Sách Công vụ Tông Đồ kể lại: “Đang khi ông đi trên đường và đến gần Đamát, thì bỗng nhiên có một luồng ánh sáng từ trời chiếu xuống bao phủ lấy ông. Ông ngã xuống đất và nghe có tiếng nói với ông: “Saun, Saun, tại sao ngươi bắt bớ Ta?” Ông nói: “Thưa Ngài, Ngài là ai?” Người đáp: “Ta là Giêsu mà ngươi đang bắt bớ” (Cv 9,3-5). Ánh sáng ấy đã biến đổi ông từ kẻ bách hại các Kitô hữu trở thành Tông Đồ Dân Ngoại.

Nhờ kinh nghiệm bản thân được ánh sáng kêu gọi và biến đổi, tông đồ Phaolô là người hiểu rõ hơn ai hết  “mầu nhiệm Đức Kitô”, mà chính thánh nhân đã khẳng định khi viết: “Anh em đọc thì có thể thấy rõ tôi am hiểu mầu nhiệm Đức Kitô thế nào” (Ep 3, 4), và mầu nhiệm ấy chính là “Trong Đức Kitô Giêsu và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Do Thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa” (Ep 3,6).

Vâng, Lễ Hiển Linh là lễ của Ánh Sáng, lễ tràn ngập Ánh Sáng của Ngôi Lời Thiên Chúa toả chiếu vinh quang của Ngài trên tất cả chúng ta. Ngài là Ánh Sáng thế gian (x. Ga 8,12), Ánh Sáng muôn dân, muôn nước, “Ánh Sáng soi đường cho dân ngoại” (Lc 2, 32), Ánh Sáng của Lời Hứa cứu độ, Ánh Sáng cảnh tỉnh, thương xót, chữa lành, xóa tội, như Ngài đã ban ánh sáng cho người mù bẩm sinh. Và chính Ngài là Ánh Sáng làm cho chúng ta được biết Ngài, trở lại với Ngài, yêu mến và  hiệp nhất với Ngài trong một Thân Thể là Hội Thánh, đồng thời biến đổi chúng ta thành những người mang ánh sáng của Ngài cho đời tăm tối, và làm chứng Ngài là Ánh Sáng của Tình Yêu thương xót, cứu độ.

Xin Ngôi Lời Thiên Chúa ban cho tâm hồn mỗi người chúng ta Ánh Sáng bình an của Ngài, như lời hứa của Đấng Cứu Thế nhân hậu được các thiên thần hát giữa ánh sáng  huy hoàng của vinh quang Thiên Chúa trong đêm Giáng Sinh: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, Bình an dứới thế cho người Chúa thương” (Lc 2,14).

----------------------------

 

Bavua 366: NIỀM TIN LÊN ĐƯỜNG


 Lm. Thái Nguyên

 

Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một” (Ga 3,16), nên Ngài không chỉ tỏ mình cho dân Bavua 366


“Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một” (Ga 3,16), nên Ngài không chỉ tỏ mình cho dân Israel, mà còn tỏ mình cho mọi dân nước, để ai tin thì đều được đón nhận ơn cứu độ.

Đoạn Tin Mừng hôm nay kể về các nhà chiêm tinh đi tìm kiếm Đấng cứu tinh vừa mới giáng sinh, họ như đại diện cho các dân ngoại nhận ra dấu chỉ lạ lùng của thiên nhiên. Matthêu viết theo lối văn khải huyền của người Do thái, nên không thể hiểu mọi chi tiết theo nghĩa đen.

Tuy nhiên, Thiên Chúa có thể dùng sự xuất hiện của một vì sao để báo hiệu cho các nhà chiêm tinh biết Con Ngài đã chào đời. Qua những dấu chỉ kỳ diệu hay đơn sơ trong vũ trụ, họ nhận thấy lời mời gọi lên đường để tìm kiếm vị Cứu Chúa của muôn dân. Chấp nhận lên đường là chấp nhận bỏ lại tất cả để bước đi trong đêm tối, chỉ còn dựa vào ánh sao của niềm tin khi tỏ khi mờ. Họ chỉ gặp được Chúa sau khi trải qua nhiều gian nan thử thách trên đường, và chỉ nhận ra Chúa với cái nhìn đức tin mạnh mẽ, nhất là khi đứng trước cảnh hang lừa tồi tàn. Thiếu đức tin, người ta vẫn thấy Chúa nhưng không nhận ra Ngài.

Các nhà chiêm tinh từ ngàn dặm xa xôi đã lên đường tìm Ðấng Cứu Thế, đang khi Hêrôđê và hàng lãnh đạo Do thái giáo cũng được báo tin, thì lại bình chân như vại. Bởi lẽ các luật sĩ hay biệt phái chỉ thao thức về lề luật; các thượng tế chỉ lo nghi lễ trong đền thờ; các kỳ lão chỉ bận tâm về truyền thống. Họ là những người lãnh đạo tôn giáo nhưng lại tự mãn và khép kín trong những cơ chế an toàn và cứng nhắc. Còn vua Hêrôđê thì toan tính để khai trừ vị vua mới sinh.

Thời nay vẫn có những triết gia chủ trương bất khả tri, coi Thiên Chúa chỉ là một phạm trù siêu việt, nếu Ngài có hiện hữu thì cũng không ăn nhập gì đến thế giới loài người. Vẫn có những nhà khoa học và những người chủ trương vô thần phủ nhận những gì là thần linh, họ cho điều huyền nhiệm cũng chỉ là huyền thoại. Vẫn không thiếu những kẻ có quyền thế tìm cách trù dập chân lý. Đối với họ, vũ trụ thiên nhiên như một đối tượng để nghiên cứu và khống chế, chứ không mang tính siêu nhiên, càng không như một dấu chỉ về sự hiện diện của Thiên Chúa.

Nhưng cũng trong thời đại này, dù không là Kitô hữu, vẫn có biết bao người đang rong ruổi tìm kiếm Thiên Chúa. Có ánh sáng nào đó soi chiếu trên đường đời của họ, khiến họ miệt mài phục vụ trong mọi lãnh vực, nhằm nâng cao đời sống tinh thần và góp phần kiến tạo một xã hội tốt đẹp hơn, hướng con người đến những giá trị tâm linh, vĩnh cửu.

Còn chúng ta thì sao? Nếu không tỉnh thức, ta dễ tự mãn với những điều mình hiểu biết về Thiên Chúa, chẳng còn thao thức tìm Ngài, nên cũng chẳng quan tâm gì đến những dấu chỉ hay thời điềm. Dường như đời sống đức tin đã được gói gọn trong các câu kinh và nghi thức. Những gì sâu xa nhất cũng đã được hệ thống hóa trong các cử hành phụng vụ, nên ta cảm thấy quá đầy đủ, không cần nhận ra Chúa nơi điều gì khác.

Cần có lòng khao khát chân lý và sự thiện hảo như các nhà chiêm tinh, để ta can đảm ra khỏi mình, ra khỏi những an toàn và tiện nghi đang trói buộc mình hằng ngày, để thấy Chúa đang tỏ mình qua mọi biến cố của đời sống. Trong ý nghĩa đó, Đức Thánh Cha Phanxicô đã mời gọi các tín hữu hãy ra khỏi chính mình để tìm đến với tha nhân: “Theo Chúa Giêsu, có nghĩa là học cách ra khỏi chính mình, để đi gặp tha nhân… nhất là những người xa cách nhất, những người bị lãng quên, những người đang cần được cảm thông, cần an ủi, giúp đỡ… Theo Chúa Giêsu, đòi ta phải ra khỏi lối sống đức tin mệt mỏi chỉ theo thói quen, ra khỏi cám dỗ co cụm trong những khuôn khổ của mình, và rốt cuộc là khép kín với chiều kích hoạt động đầy sáng tạo của Thiên Chúa”[1].

Vì thế, Đức Thánh Cha mạnh mẽ khuyến khích chúng ta:“Hãy lên đường cống hiến cho mọi người sự sống của Chúa Kitô”[2].

 Cầu nguyện

Lạy Chúa!
Chúa không chỉ tỏ mình cho Israel,
mà còn tỏ mình cho mọi dân mọi nước,
Chúa vẫn làm sáng lên những ánh sao,
không phải chỉ ở trên trời cao,
mà chính yếu là trong lòng người thế,
để cho thiên hạ luôn biết nẻo tìm về.

Chúa đặc biệt tỏ mình cho những ai,
có tâm hồn đơn sơ và ngay chính,
biết sống công bình và bác ái yêu thương,
không quá vấn vương bám víu vào trần thế,
không bị đam mê và lắng lo kiềm chế,
để sống cuộc đời trong tâm thế hồn nhiên.

Như các nhà chiêm tinh đi tìm Chúa,
xin cho con biết ra khỏi mình,
ra khỏi định kiến và lười biếng tinh thần,
ra khỏi tiện nghi và tự mãn bản thân,
để nhận ra Chúa nơi đời sống tha nhân,
và qua dấu chỉ của thiên nhiên vạn vật.

Xin cho con dám sống niềm tin lên đường,
luôn can trường và chấp nhận đau thương,
để sau khi vượt qua nhiều gai chướng,
được gặp Chúa ở cuối cuộc hành hương,
là niềm vui hạnh phúc chốn thiên đường,
mà lòng con vẫn hằng luôn mong ước.

Cho con nên dấu chỉ của Chúa ở mọi nơi,
là ánh sao giữa đời trong đêm tối,
để âm thầm luôn dẫn lối đưa đường,
là ánh sao hiền lành và khiêm nhượng,
ánh sao phục vụ với tất cả tình thương,
tỏa sáng an bình của Chúa Giáng Sinh. Amen.

—------------------------

[1] Buổi tiếp kiến chung đầu tiên của Đức Thánh Cha Phanxicô 27-3-2013.

[2] Đức Thánh Cha Phanxicô: Tông huấn Niềm Vui Tin Mừng, s. 48.

--------------------------

 

Bavua 367: BƯỚC THEO ÁNH SÁNG


Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

 

Khi còn nhỏ, chúng ta học cách xua đi bóng tối bằng cách vặn ngọn đèn lên. Đèn càng sáng thì Bavua 367


Khi còn nhỏ, chúng ta học cách xua đi bóng tối bằng cách vặn ngọn đèn lên. Đèn càng sáng thì bóng tối càng bị đẩy lùi. Ánh sáng còn xóa tan những sợ hãi do không gian tăm tối mang lại. Quy luật tự nhiên là ánh sáng và bóng tối không thể cùng lúc chiếm ngự cùng một chỗ. Một là chúng ta ở trong bóng tối, hai là ở trong ánh sáng. Và trong thế gian này, bóng tối thì không bao giờ ở xa. Nó luôn luôn ở ngay bên cạnh, chờ đợi cơ hội để xâm chiếm.

Bóng tối có khi đồng lõa với sự dữ. Bóng tối của không gian làm cho con người trì trệ và ngưng mọi hoạt động. Bóng tối của sự dữ làm cho con người sợ hãi có khi mất lý trí, ý chí và tự do.

Điển hình là bóng tối của Covid đã và đang bao trùm trái đất suốt hai năm qua. Bóng tối Covid gây bao đau thương của chết chóc, chia ly. Bóng tối của Covid để lại bao tổn thương tinh thần lẫn vật chất.

Nhân loại lúc này đang cần ánh sáng để đẩy lùi sự dữ. Nhưng lực bất tòng tâm. Ánh sáng con người vẫn chưa đủ để xua tan bóng tối của sự dữ.

Hôm nay Giáo Hội mời gọi chúng ta hãy cùng Ba Vua bước theo ánh sao dẫn chúng ta tìm gặp Đấng là Ánh Sáng cho trần gian. Vâng, Hài Nhi  mới sinh ra trong Đêm Cực Thánh chính là Ánh Sáng, là Lửa Trời mà các ngôn sứ đã tiên báo trong Is 60:1, “Giêrusalem! Hãy đứng lên! Hãy bừng sáng, bởi ánh sáng của ngươi đã xuất hiện. Vinh quang của Thiên Chúa [giờ đây] như bình minh chiếu tỏa rạng ngời trên ngươi”.

Ánh sáng nơi máng cỏ Belem đã mang lại niềm vui cho Ba Vua để họ bước ra khỏi bóng tối của u mê, của lầm lại để đến với ánh sáng chân lý và sự thật. Khi Ba Vua lên đường vẫn gặp những cản trở của bóng tối nhưng họ kiên trì vượt qua. Điều quan trọng là sau khi đã gặp Đấng cứu thế thì họ đã chuyển sang lối khác mà về. Nghĩa là không còn đi trên con đường cũ của bóng tối sự dữ.

Mừng lễ Chúa hiển linh xin Chúa soi sáng cho chúng ta can đảm bước ra khỏi bóng tối của lòng mình còn đầy tham sân si và tội lỗi. Xin cho chúng ta cũng biết đi theo ánh sáng của Chúa để ra khỏi những bóng tối của phe nhóm, bè phái để sống hiệp nhất và yêu thương.

Chúa giáng sinh luôn mời gọi con người hãy để ánh sáng của Chúa bao phủ trên cuộc đời chúng ta. Hãy bước ra khỏi bóng tối để nhờ có ánh sáng sẽ thay đổi đời sống. Nhờ ánh sáng con người được sống trong tự do của con cái Thiên Chúa. Và nhờ ánh sáng của Ngôi Lời Thiên Chúa chúng ta được chữa lành mọi thương tích tội Adam để trở nên con cái của Chúa. Nhờ ánh sáng của Chúa sẽ xua tan bóng tối của sự dữ đang bủa vây chung quanh. Đồng thời cũng hãy trở thành kẻ dẫn đường cho anh em bước đi trong áng sáng của Tin mừng Chúa.

Mừng lễ Chúa hiển linh chúng ta hãy xin ánh sáng của Chúa xua tan bóng tối sự dữ Covid trên địa cầu. Xin Chúa mang lại ánh sáng bình an và hy vọng cho cuộc đời chúng ta. Amen.

--------------------------------

 

Bavua 368: TRỞ NÊN NGÔI SAO DẪN ĐƯỜNG


Bông Hồng Nhỏ

 

Hôm nay, ta được theo chân của ba nhà chiêm tinh tìm đến bái lạy Hài Nhi Giêsu. Hành trình đi Bavua 368


Hôm nay, ta được theo chân của ba nhà chiêm tinh tìm đến bái lạy Hài Nhi Giêsu. Hành trình đi tìm Chúa của ba nhà đạo sĩ hôm nay cho ta nhiều bài học.

Tin Mừng cho thấy ba nhà chiêm tinh đã thấy ngôi sao ở phương đông. Ngôi sao xuất hiện là một điềm báo lạ lùng. Họ hứng khởi ra đi, lòng tràn đầy hy vọng, tràn đầy tin tưởng mình sẽ gặp được một vị vua vĩ đại vừa mới sinh. Ngôi sao dẫn đường cho họ. Đường nhiều gian nan, khó khăn nhưng họ vẫn ra đi. Tin Mừng không nói rõ là họ đã đi trong bao lâu nhưng ta cũng có thể hình dung những khó khăn mà họ gặp phải: đường xa, có đoạn đường bằng phẳng và cũng có lắm đoạn gập ghềnh sỏi đá; có lúc trời mát mẻ nhưng cũng có những ngày trời nắng nóng hay mưa rơi; có khi bước đi mà ánh mắt dõi nhìn ngôi sao dẫn đường nhưng cũng có khi phải lần trong đêm tối. Họ không biết rõ điểm đến của mình ở đâu. Họ chỉ có ngôi sao trên trời dẫn lối. Trời và đất thì cách xa ngàn trùng nhưng họ vẫn chẳng chùn bước chân. Mặt đất rộng bao la, đâu sẽ là nơi họ sẽ dừng chân? Nói khác đi, đâu mới là nơi có Hài Nhi hiện diện? Đây là bài học đầu tiên ta nhận được, đừng dừng bước vì những khó khăn nhưng cứ hướng lên ánh sao mà đi.

 Họ gặp rất nhiều người nhưng chẳng ai biết tin về vị vua mới sinh. Cuối cùng họ đã đến thành Giêrusalem, vào đúng dinh của vua Hêrôđê. Họ hỏi về vị vua mới sinh. Tin mừng ấy khiến cho vua Hêrôđê bối rối và cả thành Giêrusalem thì xôn xao. Vua Hêrôđê liền triệu tập những kinh sư đến để hỏi xem vua mới sinh phải sinh ra ở đâu. Các kinh sư mở Kinh Thánh trích dẫn chính xác: “Tại Bêlem, miền Giuđê, vì trong sách ngôn sứ, có chép rằng: “Phần ngươi, hỡi Bêlem, miền đất Giuđa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giuđa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Ítraen dân Ta sẽ ra đời” (Mt 2, 5-6). Vua Hêrôđê như ngồi trên đống lửa, ngai vàng của ông đang bị đe dọa. Ông bí mật vời các nhà chiêm tinh đến, hỏi cặn kẽ về ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện. Rồi vua phái các vị ấy đi Bêlem và dặn rằng: “Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Người” (x. Mt 2, 7-8). Con đường dẫn đến với Hài Nhi mới sinh chỉ in dấu chân của ba nhà chiêm tinh, và chỉ có họ mới thực sự được gặp Đấng họ hằng khao khát kiếm tìm. Bài học thứ hai ta nhận được là sau hành trình gian khổ, ta sẽ gặp được điều ta mong đợi.

Trong cuộc đời mình, ta cũng nhận thấy có những ngôi sao dẫn đường, giúp ta tìm đến với Chúa. Ngôi sao đầu tiên đó chính là mẹ của ta. Chính mẹ là ngôi sao đầu tiên đưa ta đến với Chúa. Bằng chính đời sống đạo đức, những yêu thương âm thầm, mẹ đã dạy ta những lời kinh đơn sơ, mẹ cõng ta đến nhà thờ, mẹ gieo vào tâm hồn ta ước mơ sống đời tu. Lúc ta gặp khó khăn trong việc học, chính mẹ là người đã động viên ta, thắp lên ước mơ trong lòng ta, để ta không bỏ dở việc học. Mẹ luôn âm thầm đi phía sau để nâng đỡ từng bước chân của ta. Ngôi sao thứ hai đó chính là người cha đã khuất của ta. Người đã luôn nhắc ta chỉ một điều: “Bám vào Chúa nghe con, đừng buông ra”. Ngôi sao ấy đã khuất bóng nhưng ánh sáng vẫn chiếu rọi nơi tâm hồn ta, đưa ta tìm về bên Chúa mỗi ngày. Bước vào đời tu, ta được hướng dẫn và đồng hành từ những vị huấn luyện, các ngài như những ngôi sao sáng chỉ lối cho ta tìm gặp Chúa. Dù cho nhiều lúc trời mưa hay bão tố, ngôi sao bị che khuất thì ta vẫn luôn tin rằng, kiên trì bước theo Chúa ta sẽ gặp được Người.

Lạy Chúa Giêsu! Chúa đã dùng ngôi sao để chỉ dường cho ba nhà chiêm tinh, cho họ được đến thờ lạy Chúa. Chúa đã tỏ mình cho dân ngoại được biết. Chúa mời gọi con hãy tìm kiếm Chúa mỗi ngày, và trở nên một ngôi sao dẫn đường cho người khác tìm đến với Chúa. Bằng chính đời sống chứng tá khiêm nhường phục vụ, yêu thương tha thứ của mình, con sẽ chiếu sáng như vì sao xưa kia đã dẫn đường cho những nhà chiêm tinh đến thờ lạy Chúa. Con được đọc và hiểu Kinh Thánh, con có khao khát tìm kiếm Chúa nhưng con phải đi xa hơn nữa, đó là lên đường như ba nhà chiêm tinh. Bao lâu con biết nỗ lực vượt qua mọi gian nan, kiên trì tìm kiếm Chúa thì chính Chúa sẽ tỏ mình cho con, cho những người đang sống cùng con. Amen.

----------------------------

 

Bavua 369: NIỀM VUI CHO DÂN NGOẠI


Thiên San

“Đức Vua dân Do thái mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy ngôi sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người.” Câu hỏi của các nhà chiêm tinh đến từ phương Đông đã làm náo động cả thành Giêrusalem và nhất là làm náo động tâm hồn vua Hêrôđê. Các ông đã theo dấu của “ngôi sao lạ” để thực hiện một hành trình dài. Cuối cùng, “ngôi sao lạ” dẫn họ đế tận nơi Hài Nhi ở. Họ liền sấp mình thờ lạy Người (x. Mt 2, 1-12).

 

Qua sự kiện các nhà chiêm tinh từ phương Đông tìm đến bái lạy vị vua mới sinh, chúng ta có Bavua 369


Qua sự kiện các nhà chiêm tinh từ phương Đông tìm đến bái lạy vị vua mới sinh, chúng ta có thể thấy rằng, Tin Mừng Giáng Sinh là tin mừng dành cho dân ngoại. Hành trình của họ quả gặp nhiều khó khăn. Chỉ một dấu từ “ngôi sao lạ”, họ mạnh dạn thực hiện một cuộc hành trình dài. Điều gì đã thôi thúc họ làm điều đó? Họ vào hoàng cung để hỏi tin tức. Dĩ nhiên, sự thường thì vua chúa phải sinh ra trong cung điện, đền đài của vua. Điều đó thật dễ hiểu. Tưởng chừng như họ có thể gặp được Vị Vua mới sinh nhưng họ đã không tìm thấy vị vua ấy nơi cung điện của vua chúa. “Xin quý ngài đi dò hỏi tưởng tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi để tôi cũng đến bái lạy Người” (Mt 2, 8). Sau khi được vua Hêrôđê ngỏ lời như vậy, họ liền ra đi. Họ tiếp tục đi dưới sự dẫn đường của “ngôi sao lạ”, lòng mừng rỡ vô cùng (x. Mt 2, 10).

Không tìm thấy Vị Vua mới sinh ở đền đài vua chúa, các ông lại được gặp một Hài Nhi mới sinh nơi máng cỏ nghèo hèn. Thật khó tin, Vua mà lại sinh nơi nghèo hèn đến thế. Vừa bước vào cửa, mùi ẩm mốc, mùi của các súc vật, rơm rạ bốc lên. Không một chút do dự, họ liền tiến đến và bái lạy Người. Chúng ta có thể hình dung được khung cảnh lạ lùng này không? Họ mở bảo tráp lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến (Mt 2, 11). Không biết, đã bao lần họ thực hiện chuyến đi tương tự. Có thể, mỗi lần nhìn thấy một “ngôi sao lạ” xuất hiện, họ đều thực hiện một chuyến đi như thế. Nhưng chuyến đi lần này thật đặc biệt. Đặc biệt về nơi chốn và cách thức vị vua được sinh ra. Sau đó, họ được báo mộng là đừng trở lại gặp vua Hêrôđê nữa nên đã đi lối khác mà về xứ mình.

Khi theo dõi hành trình của ba nhà chiêm tinh, chúng ta như được hòa mình vào niềm vui của họ. Con Một Thiên Chúa, Vị Vua mới hạ sinh tỏ mình ra cách đơn sơ nghèo hèn nơi máng cỏ Bêlem. Chúng ta được mời gọi đi sâu hơn vào kinh nghiệm gặp gỡ với Vị Vua ấy trong biến cố Giáng sinh để cảm nhận được tình yêu bao la Ngài dành cho mỗi người chúng ta. Tình yêu ấy không chỉ dành cho một ít người, một vài dân tộc nhưng dành cho cả nhân loại. Thiên Chúa nhân từ đến trần gian nhưng sự thật là Ngài đã bị từ chối. Như lời thánh Gioan đã từng nói: “Người đã đến nhà mình nhưng ngời nhà chẳng chịu đón nhận” ( Ga 1, 11). Trong hoàn cảnh này, có thể nói, các nhà chiêm tinh đã an ủi Thiên Chúa của chúng ta biết dường nào khi họ diễn tả được lòng yêu mến, ái mộ của mình qua một chuyến đi đầy vất vả. Thiên Chúa đã đến với dân ngoại và phải chăng Người đã được họ đón nhận?

Chúng ta tiếp tục được mời gọi nhìn về hành trình cuộc đời của mình. Chúng ta có đang hăm hở đến với Thiên Chúa mỗi ngày? Ngài vẫn luôn đến với mỗi người chúng ta qua nhiều cách thức khác nhau. Thỉnh thoảng, Ngài dùng các dấu lạ để hướng dẫn chúng ta hệt như “ngôi sao lạ” đã dẫn các nhà chiêm tinh vậy. Có khi, Ngài âm thầm, đơn sơ nhỏ bé, khiêm tốn đến với chúng ta qua bí tích Thánh Thể. Chúng ta có đang khao khát đi đến để được đón rước Người mỗi ngày? Mỗi khi không nhận đợc một “dấu lạ” nào của Ngài, chúng ta có kiên trì để tiếp tục cuộc hành trình như các nhà chiêm tinh? Khi đã gặp được Ngài, chúng ta đừng ngần ngại, hãy dâng lên Ngài những gì mình có. Ngài sẽ thương đón nhận của lễ mọn hèn của chúng ta. Bởi chúng ta cũng là dân ngoại được Thiên Chúa đoái thương, là “ôliu dại đã được tháp nhập vào đó và cùng được hưởng sự sống dồi dào từ rễ cây ôliu chính” (x. Rm11, 17).

----------------------------

 

Bavua 370: KHOẢNG XA KHOẢNG GẦN


Trầm Thiên Thu

 

Sao Thiêng Dẫn Đường Tới Hang Đá, Đạo Sĩ Theo Hướng Tìm Thánh Nhi. Khoảng cách xa Bavua 370


Sao Thiêng Dẫn Đường Tới Hang Đá
Đạo Sĩ Theo Hướng Tìm Thánh Nhi

Khoảng cách xa hay gần là một khái niệm, không nhất thiết giống nhau – dù nghĩa đen hay nghĩa bóng. Về không gian, chỉ vài km có khi người ta lại cảm thấy xa hơn cả ngàn km. Cụ thể như giữa năm 2021, khi dịch bệnh lên tới đỉnh cao, cả hàng chục ngàn người phải tháo chạy khỏi Saigon mà người ta không hề ngần ngại, mặc dù đường đi cách trở – có người đi trăm km, có người đi cả ngàn km; có người phải lội bộ, có người đi xe đạp hoặc chiếc xe máy “cùi” mà thôi.

Thấy mà ngán ngẩm, nhưng với họ cũng chỉ là “chuyện nhỏ.” Cái khó ló cái khôn. Khi xác định vấn đề và quyết tâm, người ta không e ngại hoặc lo sợ gì nữa, nhất là khi bản năng sinh tồn thức dậy. Khi muốn thì người ta tìm ra phương tiện, khi không muốn thì người ta tìm ra đủ lý do để thoái thác và biện hộ.

Điều đó đã được chứng minh. Ngày xưa, có những con người khôn ngoan thông thái đã thực sự quyết tâm khi nhận ra một ánh sao rất lạ lùng. Chúng ta quen gọi họ là ba vua, nhưng thật ra không chỉ có ba người mà nhiều người, họ không phải là những quốc vương mà là các đạo sĩ, chiêm tinh gia, người khôn ngoan,… ở các nơi khác nhau từ Đông phương xa xôi. Họ đã phát hiện và theo dấu Ánh Sao Lạ đến diện kiến Vương Nhi Giêsu cùng với Song Thân của Ngài tại hang đá Belem đơn nghèo.

Họ đã làm những gì cần làm: quên mình và tiến dâng những gì quý giá nhất. Người ta thông tuệ nhờ tìm hiểu và học hỏi để biết những gì cần thiết, không cần biết những gì không cần thiết. Khôn và dại đôi khi bị hiểu lẫn lộn. Triết gia La Rochefoucauld nói: “Có ba thứ ngu dốt: không biết điều phải biết, biết không rõ ràng điều đáng biết, và biết điều không nên biết.”

Hiểu và biết “gần” nhau mà khác nhau. Hiểu nhưng có thực hiện hay không, đó mới thực sự là vấn đề. Tốt hay xấu là nguyên do bởi chính mình. Dựa vào Phúc Âm thứ nhất – Tin Mừng theo Thánh sử Mátthêu, và các nghiên cứu về lịch sử tôn giáo, có các chi tiết và các điểm khác biệt từ câu chuyện về các đạo sĩ. Có 4 điểm chính cần biết để hiểu: [1] Họ là người Ba Tư đến từ vùng đất bán thần thoại Shir – liên quan Trung quốc cổ đại. [2] Không chỉ ba mà cả chục đạo sĩ đến viếng thăm Hài Nhi Giêsu. [3] Ba đạo sĩ được mô tả là hậu duệ của Seth, con trai thứ ba của Ông Tổ Adam. Theo quy ước, người ta đồng ý gọi tên họ là Balthasar, Gaspar và Melchior. [4] Họ thuộc một giáo phái có niềm tin vào việc cầu nguyện thầm lặng nên đã chờ đợi rất lâu để có thể nhận thấy Ngôi Sao Lạ xuất hiện, và họ tin đó là dấu hiệu báo về một vị Thiên Tử.

Lịch sử là lịch sử. Sự thật là sự thật. Vấn đề quan trọng là TIN NHẬN Hài Nhi là Thiên Chúa, là Chúa Tể càn khôn, một trẻ sơ sinh nhưng là Đấng tạo dựng muôn loài và chính mình – dù chúng ta đã già nua rồi. Như Gioan Tẩy Giả xác định: “Người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi.” (Ga 1:15 và 30)

ĐẾN NƠI CẦN ĐẾN

Thiên Chúa đã hứa ban Ngôi Con từ ngàn xưa, và giờ đây Ngôi Hai xuất hiện. Lời hứa ứng nghiệm tỏ tường. Là tội nhân, nhưng chúng ta được Đức Giêsu tháo gỡ gông cùm tội lỗi và phục hồi cương vị là con cái Chúa. Ngôn sứ Isaia kêu gọi: “Đứng lên, bừng sáng lên! Vì ánh sáng của ngươi đến rồi. Vinh quang của Đức Chúa như bình minh chiếu tỏa trên ngươi. Kìa bóng tối bao trùm mặt đất, và mây mù phủ lấp chư dân; còn trên ngươi, Đức Chúa như bình minh chiếu tỏa, vinh quang Người xuất hiện trên ngươi.” (Is 60:1-2) Thế thì thật hạnh phúc – đối với cả nhân loại và riêng từng người. Niềm vui khôn tả!

Không chỉ vậy, tội nhân chúng ta còn được Ngài quan tâm đặc biệt: “Con trai từ phương xa tới, con gái được ẵm bên hông.” (Is 60:4) Hài Nhi sinh ra nơi hang chiên lừa hôi tanh trong đêm tối ở cánh đồng hoang vu Belem kia lại chính là Vương Nhi, là Thái Tử của Thiên Hoàng, là Đấng Cứu Thế. Ngài đến để giao hòa đất trời, đồng thời cũng để “xét xử dân Ngài theo công lý, và bênh vực quyền lợi kẻ nghèo hèn.” (Tv 72:6)

Các vua chúa trần gian được tiền hô hậu ủng, nhưng Thiên Vương Giêsu lại ĐẾN ĐỂ PHỤC VỤ chứ không được phục vụ. Ngài đến KÊU GỌI tội nhân sám hối ăn năn, (Lc 5:32) TÌM và CỨU những gì đã mất, (Lc 19:9) và BAN SỰ SỐNG dồi dào cho mọi người. (Ga 10:10) Nhân loại không thể hiểu cách Ngài thực hiện nhưng đó là sự thật minh nhiên, vả lại tư tưởng của Thiên Chúa không phải là tư tưởng của phàm nhân, đường lối của chúng ta không phải là đường lối của Ngài. (Is 55:8)

Chính Hài Nhi bé nhỏ nơi máng cỏ kia là Tạo Hóa, triều đại Ngài rực rỡ những đóa công lý và thái bình thịnh trị vĩnh viễn, (Tv 72:7) mọi quân vương phủ phục trước bệ rồng, muôn dân nước phụng sự Ngài. (Tv 72:11) Ngài toàn năng nhưng rất nhân từ, luôn theo sát đồng bào, tận tụy với đám dân nghèo, công lý và sự thật được bảo vệ tới cùng, để “giải thoát bần dân kêu khổ và kẻ khốn cùng không chỗ tựa nương, chạnh lòng thương ai bé nhỏ khó nghèo. Mạng sống dân nghèo, Ngài ra tay tế độ.” (Tv 72:12-13) Ngài là Vua các vua, là Chúa các chúa.

Các hiền triết nhận biết có một “dị nhân” vừa xuất hiện, họ không quản ngại đường xa, mau mắn và quyết tâm lên đường tìm kiếm. Chính ánh sao đã dẫn đường và dừng lại trên một hang chiên lừa xơ xác. Không ai có thể ngờ được, nhưng họ đã tin thật đó là Đấng họ muốn tìm kiếm.

Chúng ta thật may mắn, không phải đoán già đoán non vì đã được biết đó là mầu nhiệm. Thánh Phaolô cho biết: “Về kế hoạch ân sủng mà Thiên Chúa đã uỷ thác cho tôi, liên quan đến anh em. Người đã mặc khải để tôi được biết mầu nhiệm Đức Kitô.” (Ep 3:2-3) Thật đặc biệt, vì “Thiên Chúa đã không cho những người thuộc các thế hệ trước được biết mầu nhiệm này, nhưng nay Người đã dùng Thần Khí mà mặc khải cho các thánh tông đồ và ngôn sứ của Người.” (Ep 3:5) Và mầu nhiệm đó là: trong Đức Kitô Giêsu và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Do Thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa. (Ep 3:5-6) Một lần nữa, chúng ta lại thật may mắn và hạnh phúc vì được thừa kế gia nghiệp của Thiên Chúa, nên một thân thể và cùng chia sẻ với Ngài.

Khắp nơi ánh sáng tỏa lan Ánh Sáng Ngôi Lời. Ngôn sứ Isaia hân hoan mời gọi: “Đứng lên, bừng sáng lên! Vì ánh sáng của ngươi đến rồi. Vinh quang của Đức Chúa như bình minh chiếu toả trên ngươi. Kìa bóng tối bao trùm mặt đất, và mây mù phủ lấp chư dân; còn trên ngươi Đức Chúa như bình minh chiếu toả, vinh quang Người xuất hiện trên ngươi.” (Is 60:1-2) Ánh bình minh xua tan bóng đêm đen, ánh sáng tiêu diệt bóng tối. Điều đó chỉ có thể là ánh sáng vĩnh cửu, ánh sáng đến từ Thiên Chúa.

2. LÀM VIỆC PHẢI LÀM

Thời đó là lúc vua Hêrôđê trị vì miền Giuđê. Các đạo sĩ đến Giêrusalem và hỏi: “Đức Vua dân Do Thái mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người.” (Mt 2:1-2)

Nghe vậy, vua Hêrôđê kinh ngạc, cả thành Giêrusalem cũng xôn xao. Là vua nên Hêrôđê sợ có kẻ nổi loạn để tiếm ngôi, ông liền triệu tập tất cả các thượng tế và kinh sư trong dân lại, rồi hỏi cho biết Đấng Kitô phải sinh ra ở đâu. Họ trả lời: “Tại Bêlem, miền Giuđê, vì trong sách ngôn sứ, có nói về miền đất Giuđa, nơi vị lãnh tụ chăn dắt Israel sẽ ra đời.” (Mt 2:6) Thế là vua Hêrôđê bí mật vời các đạo sĩ và hỏi cặn kẽ về ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện, rồi ra vẻ tốt lành: “Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy thì về báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Người.” (Mt 2:8) Nghe nhà vua nói thế, họ an tâm ra đi mà không hề biết vua Hêrôđê có mưu đồ đen tối.

Họ không chỉ là những người thông thái mà còn giàu có. Họ thấy Hài Nhi Giêsu nơi máng cỏ, bên cạnh chỉ có hai người nghèo và lũ chiên lừa mà họ vẫn không thất vọng, vẫn thực sự mãn nguyện. Y như truyện cổ tích vậy. Tuy nhiên, đó là sự thật minh nhiên. Và rồi họ đã dâng những lễ vật cao quý nhất mà họ đã chuẩn bị sẵn sàng. Sau đó, họ được báo mộng là đừng trở lại gặp vua Hêrôđê nữa, nên họ đã đi lối khác mà về xứ mình.

Họ đã nỗ lực tìm kiếm Chúa Giêsu, gặp và tin, can đảm vào đời, tìm cách tránh “ác nhân” Hêrôđê, nỗ lực hành động tích cực và sống tốt lành. Sống tốt không chỉ là “làm lành, lánh dữ” mà còn phải tích cực hành động để bảo vệ công lý cho tha nhân – và cho chính mình. Kinh Thánh cho biết: “Một ánh sáng rạng ngời sẽ chiếu soi khắp mười phương đất; từ viễn xứ, người trăm họ kéo đến với ngươi. Và dân cư tận chân trời góc biển sẽ tới hát mừng danh thánh Chúa, tay bưng lễ vật dâng tiến Vua Trời. Muôn thế hệ sẽ làm cho ngươi hoan hỷ, và tên ngươi, thành được Chúa chọn, sẽ lưu truyền hậu thế đến ngàn năm.” (Tb 13:13)

Belem bé nhỏ nhưng chợt hóa thành nơi tràn ngập ánh sáng kỳ diệu – ánh sáng của Hồng Ân, của Đức Tin, của Yêu Thương, của Lòng Thương Xót, của Hòa Bình, của Chân Lý, của Hạnh Phúc, của Sự Sống, của Vĩnh Cửu, của Công Lý, của Tự Do,… Belem bé nhỏ mà vĩ đại vì là nơi Thiên Chúa chọn để Đấng Thiên Sai giáng sinh làm người và thực hiện kỳ công cứu độ của Ngài.

Thực sự vô cùng nguy hiểm đối với kẻ vừa ngu ngốc vừa thâm độc mà lại có quyền hành nữa. Hêrôđê mưu mô vì sợ người khác “chạm” đến cái ngai vàng của mình, vì cái ghế đó liên quan quyền lực và lợi lộc. Thời nay cũng chẳng thiếu những dạng người hoặc bóng dáng như Hêrôđê. Họ là những kẻ có mặt người mà dạ thú, chỉ sợ mất chức, mất quyền, tìm mọi cách “cố thủ” để bảo vệ “chiếc ghế” chứ chẳng có ý tốt lành gì, cố ý giữ phần tư lợi chứ chẳng là phục vụ người khác. Loại người Hêrôđê ngày nay còn độc ác và nguy hiểm hơn chính Hêrôđê ngày xưa. Biết mà làm như không biết đối với những kẻ khoác lác thì đó là khôn ngoan thực sự.

Các đạo sĩ không chỉ khôn ngoan, thông thái, mà họ còn thành tín với tầm nhìn đức tin rất sáng chói và sâu xa, bởi vì họ thực sự tin nhận Hài Nhi Giêsu là Ánh Sáng Thật, Nguồn Sống Thật, Thiên Chúa Thật. Đúng vậy, Hài Nhi Giêsu là Vị Cứu Tinh duy nhất của nhân loại. Với niềm xác tín, Thánh Piô Năm Dấu đã cầu nguyện: “Xin Chúa đến tái sinh trong linh hồn con và ở lại mãi mãi.”

Lạy Thiên Chúa nhân lành và toàn năng, xin ban tầm nhìn tâm linh cho chúng con, để chúng con thấy Ngài nơi mọi người, nhất là nơi những con người đau khổ; xin giúp chúng con theo chân các đạo sĩ đi tìm Chúa và hành động cụ thể; xin thanh lọc tâm trí chúng con để không lây nhiễm mọi sự dữ, biết phân định đúng ý Ngài. Lạy Mẹ Maria và Thánh Giuse, xin nguyện giúp cầu thay suốt chặng đường đời lữ hành. Chúng con cầu xin nhân danh Chúa Giêsu Hài Đồng, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.

-------------------------

 

Bavua 371: DẤU LẠ GIÊSU


Lm. Jos. DĐH

 

Mạo hiểm để hy vọng sớm nổi danh nổi tiếng, hoặc có chí khí làm ăn để thoát nghèo, những thành Bavua 371


phần như vậy ở đâu chúng ta cũng gặp. Cất bước lên đường tìm kiếm danh, lợi, thú, khao khát gặp “bụt thần” để xin điều ước, chắc chắn vẫn còn là câu chuyện “thời sự” đối với xã hội hôm nay. Ra trường đời “cọ sát” với : thật-giả, tốt-xấu, mưu-mô, tranh đấu-bình đẳng…., cho đến khi biết trở về với cõi lòng mình, phải chăng được như thế là nhờ gặp thấy dấu lạ ?

Ba đạo sĩ từ Đông phương lên đường tìm kiếm dấu lạ, không phải vì mưu cầu vật chất, không có ý củng cố sức mạnh tinh thần, nhưng họ vẫn phải đối diện với nguy hiểm, lung lạc mục đích khám phá dấu lạ. Các vị Đạo sĩ nhờ được trang bị số kiến thức cần thiết để biết nhìn trời, nhìn sao, nhất là đủ khôn ngoan, để không bỏ lỡ cơ hội xem bằng mắt, bắt bằng tay dấu lạ Hài Nhi. Các mục đồng, các đạo sĩ, không thể tự biết tìm đến Belem, nếu không có dấu lạ chỉ đường, cả triều thần Hêrôđê và chúng ta hôm nay, đều cần đến sự tác động của dấu lạ mang tên Giêsu.

Quyết định làm một chuyến hành hương tới Belem, ngoài ý chí, nghị lực, các đạo sĩ còn cần có thao thức và ước muốn dấn thân, lên đường. Thực ra, tới Belem không phải chỉ có một con đường, hang đá ở nhà thờ, ở gia đình và hang đá ở cõi lòng mỗi người vẫn là nơi thích hợp hơn cả, để con người gặp gỡ Hài Nhi Giêsu. Điều kiện chung cho xưa và nay vẫn là khao khát chân lý, là thể hiện được niềm tin như các nhà đạo sĩ, như các mục đồng. Hôm nay đây, bằng mắt đức tin, bằng tinh thần cầu nguyện, người ta vẫn sáng lên niềm vui, hạnh phúc, khi chấp nhận để tình yêu Giêsu đi vào mọi ngõ ngách đời mình.

Nhiều người cho rằng : một con én không làm nên mùa xuân; nhưng chỉ cần một tác động nhỏ của lắng nghe, nhiều xung đột vẫn được hàn gắn, hóa giải. Nhờ dấu lạ từ điềm trời, các mục đồng, các đạo sĩ, họ được dẫn tới Belem gặp gỡ Hài Nhi, chỉ đơn giản như vậy, nhưng tâm hồn của họ khi nhìn, xem, thấy “Trẻ Giêsu”, đều hiểu đó là dấu lạ tình thương, là ơn cứu độ. Cảnh cơ hàn ở Belem năm xưa được nồng ấm lên nhờ tình người, ở đó không ồn ào náo nhiệt do mưu kế làm ăn, nhưng âm hưởng chúc tụng tôn vinh được chung nhịp với tiếng hát thiên thần vang hòa.

Hài Nhi Giêsu đã trở dấu lạ Tin Mừng cho người nghèo khó, Hài Nhi Giêsu biến đổi các đạo sĩ từ người “đứng chót” thực sự lên hàng đầu nhận biết ơn cứu độ. Dấu lạ từ Belem đã tỏa ánh quang cho khắp muôn dân nhận biết Ngôi Lời Nhập Thể Làm Người, qua các mục động và các đạo sĩ “hang đá Belem”, “tình yêu cứu độ” bắt đầu mở ra cho muôn dân thiên hạ. Mắt sáng tinh thông là cơ may cho con người, nhưng tỏ tường đến độ dám làm một hành trình “thờ lạy Vua người Do-thái”, hẳn không phải là tình cờ, mà trước hết là nhờ tinh yêu.

Ngày hôm nay, việc gặp gỡ thờ lạy Giêsu không cần phải có kiến thức “thiên văn”, không cần phải hàng đêm nhìn lên bầu trời trông chờ “sao lạ”. Đúng hơn, “dấu lạ Giêsu” đang biến mọi đối tượng trở nên tình yêu của Ngài. Các mục đồng, các đạo sĩ phát hiện dấu lạ từ trời, họ đều nhanh chóng lên đường, và rồi họ thật vui mừng hạnh phúc khi gặp Hài Nhi. Mỗi chúng ta hôm nay, khi phát hiện Đức Giêsu là tình yêu bởi trời, nhất định phải khẩn trưởng gặp gỡ Ngài, nếu không niềm vui ơn cứu độ rồi cũng chỉ là chuyện tưởng tượng, chóng qua mà thôi.

Ngày hôm nay, người Kitô hữu được soi dẫn làm việc bổn phận đối với Chúa và Hội Thánh, nhưng nếu thiếu đi sự quyết tâm, chúng ta cũng chỉ là những luật sĩ biệt phái sống trong chờ đợi theo ý mình, lý thuyết mơ hồ. Gặp được niềm vui, thấy được con đường dẫn tới hạnh phúc là mừng, nhưng nếu không dấn thân để có Chúa để được biến đổi, để đức tin trở thành hành động, thì hoàn toàn vô ích, thất bại.

Muốn gặp Hài Nhi Giêsu, các đạo sĩ không thể ngồi nhà ung dung chờ đợi, các ngài đã lên đường, đã hành động bằng lý trí của người trưởng thành. Hành trình của các đạo sĩ có lúc sao ẩn, sao hiện, nhưng dấu lạ của tình thương không thay đổi, dù chặng đường gặp Hài Nhi của chúng ta hôm xưa và hôm nay có gian truân khác nhau. Thiên Chúa yêu thương loài người, các đạo sĩ đến Belem họ có vàng, mộc dược nhũ hương, các mục đồng đến Belem chỉ có tấm lòng, do đó bất cứ thành phần nào, đến gặp Chúa đều vui mừng hạnh phúc với tình yêu cứu độ.

Con vua thời được làm vua, chúng ta thường nghĩ như thế, nhưng tiền nhân chúng ta còn cho biết có chí thì nên, có tâm thì được. Đó phải là thao thức lên đường gặp gỡ Chúa, dù hành trình mỗi người có khổ đau, hiểm nguy giăng mắc có khác nhau, nhưng tình yêu vẫn là động lực, là dấu chỉ tự do của mỗi người. Cuộc sống của người Kitô hữu chúng ta chính “dấu lạ Giêsu”, khi mà mỗi chúng ta đều làm cuộc lên đường chia sẻ, giúp nhau gặp gỡ tình yêu ơn cứu độ mà Thiên Chúa ban tặng nhân loại. Amen.

-----------------------------

 

Bavua 372: LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA ĐƯỢC TRAO BAN CHO MỌI DÂN TỘC


Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

 

Có một giai đoạn, nhiều người nghĩ rằng, Thiên Chúa là độc quyền của người tín hữu. Vì thế Bavua 372


Có một giai đoạn, nhiều người nghĩ rằng, Thiên Chúa là độc quyền của người tín hữu. Vì thế, các sinh hoạt tôn giáo gần như là sinh hoạt khép kín trong những người đồng đạo. Trải qua một thời gian dài, người Công Giáo chỉ sống thu mình trong các sinh hoạt của mình, xem nhẹ việc bổn phận giới thiệu Chúa cho anh chị em dân ngoại, vì quên rằng, Thiên Chúa cũng là Chúa của mọi dân tộc. Ngày nay, đại lễ Chúa Giáng Sinh đã trở thành ngày vui chung của nhiều người, nhiều dân tộc, trong đó, nhiều người dù không tin, hoặc không theo Chúa vẫn cảm nhận được niềm vui mỗi khi lễ Giáng sinh về.

Công đồng Vaticano II đã thúc đẩy Giáo hội bước ra ngoài với thế giới và để thế giới có thể dễ dàng bước vào Giáo hội. Thiên Chúa không còn là điều cấm kỵ, nhưng được giới thiệu dưới nhiều hình thức để mọi người có thể nghe biết về Thiên Chúa. Đặc biệt những năm vừa qua, các vị chủ chăn đã không ngừng mời gọi, thúc đẩy mọi tín hữu phải đi ra khỏi sự êm ấm, khỏi nếp sống cũ, thói quen cũ của mình để đem Chúa đến với anh em. Thiên Chúa không bao giờ chịu dừng chân, Ngài cũng không chấp nhận bị nhốt kín trong các nghi lễ. Lòng thương xót của Thiên Chúa không bị giới hạn bởi những người có đạo, nhưng lòng thương xót của Ngài còn được tuôn đổ xuống trên tất cả mọi người, kể cả những người chưa biết Chúa.

Lễ Chúa Hiển Linh hôm nay muốn nhấn mạnh đến tình thương và lòng quảng đại của Thiên Chúa đối với toàn dân, tình yêu thương của Thiên Chúa không bị giới hạn bởi không gian và thời gian. Ngày xưa, tiên tri Isaia đã nhìn thấy trước cảnh huy hoàng của vinh quang Thiên Chúa tràn ngập khắp địa cầu. Giêrusalem là nhà của Thiên Chúa ở giữa loài người trở thành nơi các dân tộc, các quốc gia quy tụ về. Thiên Chúa làm cho Giêrusalem vươn vai đứng dậy đón nhận vinh quang của Thiên Chúa và cũng là nơi chiếu toả vinh quang Thiên Chúa. Các dân tộc sẽ từ muôn phương đổ về Giêrusalem để tôn thờ, quy phục Thiên Chúa : Đức Chúa như bình minh chiếu tỏa trên ngươi, các chư dân sẽ tiến về phía ngươi, các vua chúa sẽ hướng về ánh bình minh của ngươi. Thiên Chúa sẽ làm cho Giêrusalem trở nên phú túc phì nhiêu : Các lạc đà từng đàn che rợp đất, các dân tộc từ Sơva kéo đến, mang theo vàng bạc và trầm hương. Cái nhìn của Isaia cho thấy Giêrusalem không còn là của riêng Israel, Thiên Chúa không còn bị giới hạn trong dân Do Thái nữa mà Thiên Chúa là Thiên Chúa của mọi dân tộc.

Thánh Matthew đã thấy tình thương cứu độ của Thiên Chúa được trao ban cho dân ngoại qua đại diện là các đạo sĩ từ phương Đông tìm đến với Hài Nhi Giêsu. Nếu như với dân Do Thái, Thiên Chúa đã dùng các tổ phụ và các tiên tri để chuẩn bị cho dân đón nhận Đấng Cứu Thế, thì đối với dân ngoại, Thiên Chúa lại dùng những dấu chỉ và sự kỳ diệu của thiên nhiên để đưa họ đến với Ngài. Các đạo sĩ là các nhà chiêm tinh của Phương Đông, vùng đất có nhiều truyền thống tôn giáo. Các vị này đã nhận ra sự khác thường trong vũ trụ, đó là sự xuất hiện của một ngôi sao lạ. Theo truyền thống của Phương Đông, mỗi con người sinh ra đều gắn liền vận mệnh của mình với một vì sao. Khi thấy xuất hiện trên bầu trời một ngôi sao toả sáng khác thường, các đạo sĩ nghĩ đến vận mệnh của một vị quân vương vừa mới xuất hiện. Với lòng tin đơn sơ như thế, họ đã rủ nhau lên đường để tìm kiếm vị vua của người Do Thái mới sinh.

Sự kiện này cho thấ, tình yêu và lòng quảng đại của Thiên Chúa dành cho dân ngoại, Ngài không giới hạn lòng thương xót vào một số người, nhưng Ngài để cho lòng thương xót ấy tuôn tràn trên toàn thể nhân loại. Bằng nhiều cách, Thiên Chúa đã tạo cơ hội cho dân ngoại cũng được hưởng tình thương của Chúa. Tuy nhiên, hành trình tìm đến với Đấng giàu lòng thương xót là một hành trình nhiều gian nan, thử thách và chỉ những ai kiên trì mới có thể gặp được Thiên Chúa.

Hành trình của các đạo sĩ là một hành trình đi tìm ánh sáng đức tin. Để có thể gặp được Thiên Chúa, họ phải chấp nhận ra khỏi sự êm ấm của bản thân, từ bỏ những ràng buộc của công việc, gia đình để lên đường. Các ông đã phải trải qua hành trình rất xa và gian nan, có những lúc ánh sao như vụt tắt, nhưng các vị không chán nản thất vọng, trái lại, các ông đã tìm đến cung điện của Hêrôđê để hỏi về vị vua mới sinh hiện ở đâu. Khi được chỉ cho biết tại Belem, đất Giuđa, các đạo sĩ lại tiếp tục lên đường, ngôi sao lại xuất hiện như để khuyến khích các ông. Các ông đã tìm đến nơi. Họ vào nhà, thấy Hài Nhi và thân mẫu là bà Maria, họ liền sấp mình thờ lậy người. Các đạo sĩ bước vào nhà, là ngôi nhà nơi Thánh Gia đang sống, nhưng ngôi nhà ấy còn là hình ảnh ngôi nhà Giáo hội, là nơi Thiên Chúa đang hiện diện. Các đạo sĩ là những người dân ngoại đã tìm được Chúa Giêsu, họ được mời gọi bước vào nhà của Chúa để ở nơi đây, họ cùng với mọi người tôn thờ Thiên Chúa, được chung hưởng tình yêu và hạnh phúc với Thiên Chúa.

Các đạo sĩ đã mở kho báu để dâng cho Thiên Chúa vàng, nhũ hương và mộc dược. Với những lễ vật này, họ đã thể hiện lòng tin và sự tôn thờ của mình dành cho Thiên Chúa tối cao. Gặp gỡ Đấng là Tình yêu, đón nhận được lòng thương xót từ nơi Thiên Chúa, các đạo sĩ đã không giữ lại riêng cho mình, các ông được thúc đẩy để sống một lối sống khác, bước đi trên con đường khác để đem lòng thương xót Chúa về cho quê hương xứ sở mình.

Khác với các đạo sĩ là nhưng người lên đường tìm kiếm, Hêrôđê và các thượng tế, đại diện giới lãnh đạo và cả dân chúng đã tỏ ra vô cảm trước tin vui Thiên Chúa Giáng sinh. Mặc dù khi nghe tin Vua dân Do Thái mới sinh, họ có một chút phản ứng, nhưng lại là phản ứng tiêu cực. Phản ứng này xuất phát từ những tâm hồn thiếu vắng tình yêu, nhưng đầy tràn ghen tị, kiêu căng và hận thù. Họ sợ rằng, vị Vua mới sinh sẽ tranh giành quyền lực của họ, sẽ gây ảnh hưởng hơn họ, vì thế, họ tìm cách để triệt hạ Ngài bằng tất cả các thủ đoạn độc ác, được mặc dưới cái vỏ tốt lành. Họ bí mật lên kế hoạch thà giết lầm hơn bỏ sót, nhưng bên ngoài, họ vẫn nói với các đạo sĩ : Các ngài hãy đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, khi đã tìm thấy, xin báo lại cho chúng tôi, để chúng tôi cũng đến bái lậy Người. Một khi con người không có tình yêu thương, thiếu vắng Thiên Chúa trong tâm hồn, thì họ sẽ hành xử gian dối, độc ác như thế.

Thiên Chúa yêu thương, Ngài muốn cho mọi dân tộc trên thế giới tin và đón nhận tình yêu của Ngài. Ngài dùng nhiều cách thế để đưa họ đến với Ngài và đưa tình yêu của Ngài đến với họ. Tuy nhiên, Ngài vẫn muốn dùng mỗi chúng ta là những người được hưởng tình yêu thương của Chúa, phải tiếp tục đem tình yêu ấy đến cho những anh em khác chưa nhận biết Chúa.

Theo Đức Thánh Cha Fancis, việc đem Chúa cho anh em không phải là một chương trình quảng cáo hay tuyên truyền, cũng không phải là một cuộc rao bán như bày hàng trong siêu thị, mà phải là cảm nghiệm từ trong tâm hồn về tình thương của Chúa để sống và thể hiện tình thương ấy trên gương mặt, trên hành động và cả cuộc đời của mình. Khi mỗi người Kitô hữu sống trong hạnh phúc vì được Chúa yêu như thế, mọi người sẽ bị thu hút bởi cách sống vui và sống hạnh phúc của chúng ta, họ sẽ tìm đến với Chúa.

Điều Chúa mong đợi chúng ta khi đón nhận lòng thương xót của Thiên Chúa là nói về việc Chúa đã yêu và đã làm cho mình. Nói cho họ về một Thiên Chúa giàu lòng thương xót, một Thiên Chúa chạnh thương và Ngài cũng là Cha của mỗi chúng ta, Ngài muốn mỗi người quay về sống trong tình yêu thương chăm sóc của Ngài.

Giống như các đạo sĩ trở về quê với một con người đã được biến đổi, vì được gặp gỡ, đụng chạm đến lòng thương xót của Chúa, mỗi chúng ta cũng sẽ phải sống một nếp sống khác. Chúng ta sẽ không thể nói về Chúa nếu chúng ta không chịu thay đổi để nên giống Chúa, cũng như không thể nói về Chúa khi chúng ta vẫn sống theo con người cũ, thói quen cũ. Lời nói và cuộc sống của chúng ta chỉ có thể trở nên đáng tin khi chúng ta để cho Chúa biến đổi chúng ta mỗi ngày.

Qua việc tham dự Thánh lễ và các Bí tích, Thiên Chúa thêm sức mạnh cho chúng ta, giúp ta trở nên ngoan ngoãn để cho Lời Chúa uốn nắn và biến đổi nên con người mới, trở nên chứng nhân của lòng Chúa xót thương. Amen.

-------------------------

 

Bavua 373: ÁNH SÁNG CHỈ LÒNG THƯƠNG XÓT


Lm. Giuse Trực

 

Bài hát “Ngày ánh sáng” của nhạc sĩ Nguyên Kha gợi cho chúng ta về hình ảnh của ngày lễ hôm Bavua 373


Bài hát “Ngày ánh sáng” của nhạc sĩ Nguyên Kha gợi cho chúng ta về hình ảnh của ngày lễ hôm nay: “Hôm nay muôn dân đã được thấy ánh sáng. Hôm nay Thiên Chúa đã viếng thăm dân Người. Người là Vua uy quyền, là Vua vinh quang, Vua Thái Bình, Vua muôn đời”.

Rõ ràng “ánh sáng đã đến thế gian để chiếu soi mọi người”. Ánh sáng này không chỉ chiếu soi cho dân tộc Do Thái, mà còn cho muôn dân, để “những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa”. Ánh sáng đó chính là Lòng Thương Xót của Chúa Cha.

I. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài Đọc I: Is 60, 1-6
Cách Chúa Giêsu 765 năm, Isaia đã loan báo cho Israel về “vinh quang của Đức Chúa như bình minh chiếu tỏa trên ngươi”. Nhờ vinh quang này mà: “Mặt mày ngươi rạng rỡ, lòng dạ ngươi hớn hở tưng bừng”.

Tin Mừng: Mt 2, 1-12
Vinh quang đó được thiên thần loan báo cho các mục đồng, để rồi họ lên đường tìm kiếm và gặp được ánh sáng nơi hang đá Belem.

Vinh quang đó hôm nay các nhà chiêm tinh ở tận phương Đông đã nhận ra và đã lên đường tìm kiếm: “Chúng tôi đã thấy ngôi sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người”.

Tuy nhiên cũng có những người biết rõ vinh quang đó nhưng họ không đón nhận mà còn tìm cách để tiêu diệt, cụ thể là vua Hêrôđê.

Qua phụng vụ Lời Chúa hôm cho chúng ta thấy rõ điều mà Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói đến nhiều lần trong Năm Thánh này, đó là “dung mạo Lòng Thương Xót”, được thể hiện nơi Đức Giêsu Kitô qua hình ảnh Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ. Dung mạo đó hết sức đơn sơ, gần gũi. Tuy nhiên dung mạo đó lại được ánh sáng của Chúa soi dẫn cho “mọi nước, mọi dân được nhìn thấy”. Vì vậy, ánh sáng này cũng chính Lòng Thương Xót của Chúa, giúp chúng ta nhận ơn cứu độ cho cuộc đời mình.

II. THÁI ĐỘ TRƯỚC ÁNH SÁNG CỦA CHÚA

Đứng trước ánh sáng chỉ đường của Chúa, con người sẽ có hai thái độ.

Đón nhận

Thái độ của các nhà chiêm tinh ở tận phương Đông đã nhận ra vì sao lạ chính là vị cứu tinh nhân loại, nên mặc dù họ là những người ngoại giáo, họ đã không quãng ngại từ bỏ tất cả để đi tìm. Từ đây, ánh sáng này mới là ánh sáng thật, ngôi sao này mới là ngôi sao chân lý… Họ sẵn sàng từ bỏ cuộc sống đang vốn bình yên của mình để đến bái thờ một Hài Nhi do ánh sao lạ chỉ đường. Chắc chắn khi trở về quê nhà, đối tượng niềm tin của họ sẽ thay đổi, từ trước đến giờ có thể họ thờ những vị thần huyền bí của họ, nhưng hôm nay họ đã suy phục Hài Nhi Giêsu; cuộc sống của họ cũng sẽ không còn như xưa, niềm vui, tình liên đới đã tác động đến họ.

Không đón nhận

Đối nghịch với các nhà chiêm tinh, các thượng tế, các kinh sư của người Do Thái thuộc lòng câu kinh thánh: “Phần người, hỡi Bê lem, miền đất Giuđa, ngươi đâu phải là thành phố nhỏ nhất của Giuđa, vì người là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Israel dân Ta sẽ ra đời”, nhưng họ không nhận ra Vị Cứu Tinh nhân loại đã sinh ra tại đó.

Hêrôđê sau khi biết rõ một Hài Nhi đã giáng sinh tại Bêlem, thay vì đến tôn thờ, ông đã bày mưu để tiêu diệt vị cứu tinh, dẫn đến một thảm hỏa là cuộc thảm sát các trẻ sơ sinh dưới 2 tuổi.

Như vậy, đứng trước ngôi sao lạ chính là ánh sáng của Chúa, sẽ có những người đón nhận và được thay đổi, nhưng cũng có những người không đón nhận nên họ cứ cố chấp và ở lì trong tình trạng cũ của mình.

III.  THÁI ĐỘ TRƯỚC LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA

Lòng Thương Xót Chúa tồn tại từ đời nọ trãi qua đời kia, đặc biệt Lòng Thương Xót đó rộng mở trong Năm Thánh này. Thế nhưng con người chúng ta đã có thái độ nào trước Lòng Thương Xót của Chúa?

Đón nhận

Rất nhiều người đã nhận ra Đức Giêsu Kitô là quà tặng Lòng Thương Xót của Chúa Cha, nên họ đã “Tín thác vào Ngài” một cách tuyệt đối.

Dĩ nhiên họ đón nhận Lòng Thương Xót này với một tâm hồn thánh thiện, đơn sơ, trong sáng giống như các đạo sĩ phương Đông, chứ không phải với những lệch lạc để tìm kiếm dấu lạ hoặc thỏa óc hiếu kỳ.

Họ đến với Lòng Thương Xót để được tha thứ các tội lỗi với lòng thống hối ăn năn chân thành qua Bí tích Giải tội. Họ đến với Lòng Thương Xót để được gia tăng sức mạnh qua Bí tích Thánh Thể. Họ đón nhận Lòng Thương Xót để cuộc đời của họ được thay đổi theo chiều hướng tốt đẹp hơn.

Vì vậy, thể hiện cụ thể của những người đón nhận Lòng Thương Xót là họ biết quý chuộng và tìm kiếm những giá trị linh thánh, biết sợ hãi để tránh xa những điều sai lỗi.

Không đón nhận

Tuy nhiên cũng còn nhiều người chưa đón nhận Lòng Thương Xót Chúa. Nguyên nhân chính yếu là vì họ còn sống trong lợi lộc của riêng mình. Đó là nguyên nhân vì sao Hêrôđê tìm cách tiêu diệt Hài Nhi Giêsu.

Nếu đón nhận Chúa họ sẽ phải mất mát nhiều thứ: tiền bạc, chức tước… Nếu sống theo những gì Chúa chỉ dạy đòi hỏi họ phải hy sinh. Ví dụ như không được tìm lợi ích cho mình bằng những phương tiện xấu, không được sống trong đam mê dục vọng, dù đó là thầm kín, không được sống cho riêng mình…

Họ chỉ nghĩ đến những cái “mất” mà không nhìn thấy cái “được”. Cái “được” lớn nhất của việc đón nhận Chúa, bước theo Chúa là được Chúa xót thương để sống hạnh phúc với Chúa đời đời. Còn ngược lại, họ tìm để “được” những giá trị trần gian, nhưng rồi họ sẽ mất tất cả.

Chúng ta phó thác cho Lòng Thương Xót Chúa tất cả những ai đang mãi mê với những giá trị chóng qua.

Chúng ta xin Chúa cho lòng chúng ta đừng vướng bận bởi những giá trị phù vân.

“Sự sáng đã bừng lên”. Lòng Thương Xót Chúa đang mở ra. Xin Chúa cho chúng con biết lên đường tìm kiếm để cuộc đời chúng con được biến đổi.

------------------------

 

Bavua 374: TÌM VÀ GẶP


Trầm Thiên Thu

 

Các nhà chiêm tinh mau mắn và không ngại gian khó trên hành trình tìm kiếm Thiên Chúa, và Bavua 374


Các nhà chiêm tinh mau mắn và không ngại gian khó trên hành trình tìm kiếm Thiên Chúa, và họ đã gặp được Ngài. Họ đã dâng tiến Chúa những gì quý giá nhất. Đó là một Hành Trình Đức Tin.

Hêrôđê không gặp được Chúa vì độc ác, nham hiểm, ích kỷ, tham quyền cố vị, ưa hình thức, trọng địa vị, khoái chức tước, thích quyền lực để hành hạ người khác.

Lễ Hiển Linh trước đây được gọi là lễ Ba Vua. Thực ra không chỉ có ba người mà nhiều người, họ cũng không phải là các Quốc vương mà là các đạo sĩ, các nhà thông thái, các chiêm tinh gia. Họ từ Đông phương xa lắc xa lơ, và với con mắt “nhà nghề”, họ đã nhận biết có Ánh Sao Lạ xuất hiện, chắc chắn có sự kiện rất lạ. Ngôi sao này kỳ lạ đến nỗi họ đã phải tức tốc lên đường tìm hiểu cho rõ ngọn nguồn, nghĩa là họ đã được Ơn Chúa tác động, nhưng điều quan trọng là họ mau mắn làm theo linh hứng của Chúa Thánh Thần. Họ cứ đi theo dấu Ánh Sao Lạ dẫn đường họ đến Belem, họ được diện kiến chính Vương Nhi Giêsu và Song Thân của Ngài ngay tại nơi hang đá xa xôi, hẻo lánh, lại còn hôi tanh nữa.

Hiển linh là Thiên Chúa tỏ cho nhân loại biết Hài Nhi Giêsu là Thiên Tử, là Đấng Thiên Sai, là Đấng Cứu Thế. Các đạo sĩ đại diện nhân loại nhận biết và thờ lạy Con Thiên Chúa. Lời cầu nguyện “xin cho Danh Cha cả sáng” đã và đang trở nên hiện thực.

Từ hàng ngàn năm trước, Thiên Chúa Cha đã hứa ban Ngôi Con, và nay đã ứng nghiệm đúng như lời hứa đó: Ngôi Hai mặc xác phàm làm người và ở giữa nhân loại. Ngài làm người để chia ngọt sẻ bùi với thân phận con người của chúng ta. Quả thật, đó là “độc chiêu” mà Thiên Chúa dùng để tỏ mình ra cho muôn dân.

Chúng ta chỉ là những kẻ nô lệ tội lỗi, nhưng “nô tì kiếp” của chúng ta được chính Đức Giêsu đến tháo gỡ mọi gông cùm của tội lỗi, và còn được thừa nhận là con cái của Thiên Chúa. Ngôn sứ Isaia kêu gọi: “Đứng lên, bừng sáng lên! Vì ánh sáng của ngươi đến rồi. Vinh quang của Đức Chúa như bình minh chiếu toả trên ngươi. Kìa bóng tối bao trùm mặt đất, và mây mù phủ lấp chư dân; còn trên ngươi, Đức Chúa như bình minh chiếu toả, vinh quang Người xuất hiện trên ngươi” (Is 60:1-2). Ánh Sáng đó là vinh quang Thiên Chúa, Ánh Sáng đó là Đức Kitô giáng sinh tại Belem, và từ nay, Ánh Sáng đó luôn chiếu tỏa khắp nơi, bóng tối phải lùi bước ở bất cứ nơi nào có Ánh Sáng.

Thật hạnh phúc biết bao! Chúng ta không chỉ được giải thoát và trở nên con cái Thiên Chúa, mà chúng ta còn được Ngài quan tâm, chăm sóc, nâng niu, chiều chuộng. Quả thật, chúng ta không thể không vui mừng hớn hở, mặt mày rạng rỡ, cõi lòng rạo rực, vui còn hơn ngày hội hoặc lễ, tết.

Và vì vậy, “chư dân sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi, vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước. Đưa mắt nhìn tứ phía mà xem, tất cả đều tập hợp, kéo đến với ngươi: con trai ngươi từ phương xa tới, con gái ngươi được ẵm bên hông” (Is 60:3-4). Trong số chư dân đó có chúng ta, những con dân nước Việt bé nhỏ, và trong số những người Việt, chúng ta lại được diễm phúc làm con cái của Thiên Chúa. Vâng, Ánh Sáng Đức Kitô đã và đang chiếu sáng dọc suốt đất nước hình chữ S thân yêu của dân Việt chúng ta.

Thật kỳ diệu biết bao! Đúng như ngôn sứ Isaia đã tiên báo: “Trước cảnh đó, mặt mày ngươi rạng rỡ, lòng ngươi rạo rực, vui như mở cờ, vì nguồn giàu sang sẽ đổ về từ biển cả, của cải muôn dân nước sẽ tràn đến với ngươi. Lạc đà từng đàn che rợp đất, lạc đà Ma-đi-an và Ê-pha: tất cả những người từ Sơ-va kéo đến, đều mang theo vàng với trầm hương, và loan truyền lời ca tụng Đức Chúa” (Is 60:5-6).

Hài Nhi sinh ra nơi hang chiên lừa hôi tanh trong đêm tối ở cánh đồng hoang vu Belem kia lại chính là Tân Vương Nhi, là Thái Tử của Thiên Hoàng. Ngài đến để giao hòa đất với trời, đồng thời cũng để “xét xử dân Ngài theo công lý, và bênh vực quyền lợi kẻ nghèo hèn” (Tv 72:6). Các vua chúa trần gian được tiền hô hậu ủng, kẻ hầu người hạ, nhưng Ông Vua Nghèo Giêsu lại đến để phục vụ chứ không được ai phục vụ, Ngài “đến không để kêu gọi người công chính mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn” (Lc 5:32), Ngài “đến để tìm và cứu những gì đã mất” (Lc 19:9), và Ngài “đến để cho con người được sống dồi dào” (Ga 10:10). Cách làm của Vua Nghèo quá “khác người”, nhân loại không thể hiểu hết, thậm chí là không muốn hiểu! Tại sao? Vì Chúa biết tỏng tư tưởng chúng ta thế nào, như Ngài đã nói “toạc móng heo”: “Tư tưởng của Tôi không phải là tư tưởng của quý vị, và đường lối của quý vị không phải là đường lối của Tôi” (Is 55:8).

Thế nhưng triều đại của Vua Nghèo lại “đua nở hoa công lý và thái bình thịnh trị tới ngày nao tuế nguyệt chẳng còn” (Tv 72:7), để rồi “mọi quân vương phủ phục trước bệ rồng, muôn dân nước thảy đều phụng sự” (Tv 72:11). Ngài là Vua các vua, là Chúa các chúa, nhưng Ngài vô cùng nhân từ, Ngài luôn theo sát đồng bào, Ngài luôn tận tụy với đám dân nghèo, Ngài cương quyết bảo vệ công lý, bảo vệ sự thật. Ngài không chỉ tay năm ngón, Ngài trực ngôn và hành động để “giải thoát bần dân kêu khổ và kẻ khốn cùng không chỗ tựa nương, chạnh lòng thương ai bé nhỏ khó nghèo. Mạng sống dân nghèo, Ngài ra tay tế độ” (Tv 72:12-13).

Vương Quốc của Thiên Chúa là vương quốc hòa bình, mọi công dân đều sống trong cảnh thanh thản, vô ưu, vô sầu, và luôn tận hưởng niềm hạnh phúc thực sự.

Từ khắp nơi, không trừ nơi nào, ngay cả những vùng sâu vùng xa nhất, từ “các hải đảo xa xăm, hàng vương giả sẽ về triều cống Ngài, những vua chúa cũng đều tới tiến dâng lễ vật, mọi quân vương phủ phục trước bệ rồng, muôn dân nước thảy đều phụng sự” (Tv 72:10-11). Đức Kitô là Vua Công Lý, “Ngài giải thoát bần dân kêu khổ và kẻ khốn cùng không chỗ tựa nương, chạnh lòng thương ai bé nhỏ khó nghèo. Mạng sống dân nghèo, Người ra tay tế độ” (Tv 72:12-13). Đó là điều mà Giáo hội đang rất quan tâm, được trình bày qua Giáo huấn Xã hội Công giáo, nhất là từ Công đồng Vatican II.

Thánh Phaolô nói: “Hẳn anh em đã được nghe biết về kế hoạch ân sủng mà Thiên Chúa đã uỷ thác cho tôi, liên quan đến anh em. Ngài đã mặc khải để tôi được biết mầu nhiệm Đức Kitô như tôi vừa trình bày vắn tắt trên đây” (Ep 3:2-3). Tông truyền là một trong bốn đặc tính của Giáo hội Công giáo, và đó cũng là mối dây liên kết các chi thể trong Nhiệm Thể Đức Kitô, đồng thời cũng là tình liên đới với nhau – kể cả với người không cùng tôn giáo.

Thánh Phaolô giải thích rõ ràng: “Mầu nhiệm này, Thiên Chúa đã không cho những người thuộc các thế hệ trước được biết, nhưng nay Ngài đã dùng Thần Khí mà mặc khải cho các thánh Tông Đồ và ngôn sứ của Ngài. Mầu nhiệm đó là: trong Đức Kitô Giêsu và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Do-thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa” (Ep 3:5-6). Vì thế, chúng ta không có lý do gì để “chảnh” hoặc kỳ thị người khác, dù người đó là ai.

Thánh sử Mátthêu kể: Khi Đức Giêsu ra đời tại Bêlem, miền Giuđê, thời vua Hêrôđê trị vì, có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông đến Giêrusalem, và hỏi: “Đức Vua dân Do-thái mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người” (Mt 2:2). Nghe tin ấy, vua Hêrôđê mới tá hỏa tam tinh, như bị sét đánh ngang tai, vì tâm bất chính nên ông bối rối, và cả thành Giêrusalem cũng xôn xao. Nhà vua liền triệu tập tất cả các thượng tế và kinh sư trong dân lại, rồi hỏi cho biết Đấng Kitô phải sinh ra ở đâu. Họ đều trả lời: “Tại Bêlem, miền Giuđê”. Đúng như trong sách ngôn sứ có chép rõ ràng: “Phần ngươi, hỡi Bêlem, miền đất Giuđa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giuđa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Ítraen dân Ta sẽ ra đời” (Mt 2:6).

Bấy giờ vua Hêrôđê bí mật vời các nhà chiêm tinh đến, hỏi cặn kẽ về ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện, rồi vua phái các vị ấy đi Bêlem và dặn: “Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Ngài” (Mt 2:7). Nghe chừng tử tế quá! Miệng nam mô mà bụng một bồ dao găm. Đây là loại “đểu thật” chứ không “đểu giả”, lọc lừa và mánh khóe một cách tinh vi, người khác khó có thể nhận ra, khi biết bị lừa thì “chuyện đã rồi”. Động thái của vua Hêrôđê cũng nhắc chúng ta xem lại lời ăn tiếng nói và hành động của mình có “lệch pha” hay không, vì ai cũng có thể nói hay về mình, muốn chứng tỏ mình “tốt lành” nhưng thực ra lại đang mưu mô thâm hiểm.

Nghe nhà vua nói thế, họ ra đi, vì họ ngay lành nên cứ tưởng ông vua này cũng tốt lành. không hề biết vua Hêrôđê “khẩu Phật, tâm xà”, mưu mô và thâm độc, chỉ muốn bảo vệ “cái ghế toàn năng” của mình thôi! Họ đâu ngờ rằng hôn quân Hêrôđê chẳng dễ dãi cho họ đi như vậy đâu, ông ta tính “đường dài” hơn, chơi “nước cờ” cao hơn. Chứ nếu ông ta không tính xa thì hẳn ông ta đã bỏ tù họ hoặc lệnh cho họ bị “cẩu đầu trảm” rồi.

Ra khỏi hoàng cung, ngôi sao họ đã thấy ở phương Đông lại dẫn đường cho họ đến tận nơi Hài Nhi ở, rồi mới dừng lại. Lạ thật! Trông thấy ngôi sao, họ mừng rỡ vô cùng. Vào trong hang đá, thấy Hài Nhi với thân mẫu là Cô Maria, họ liền sấp mình thờ lạy Hài Nhi. Sau đó, họ “nựng” Bé Giêsu và trò chuyện rôm rả với Song Thân của Bé. Có lẽ lúc này lũ mục đồng vẫn tíu tít bên Bé Yêu Giêsu, không muốn rời xa…

Giả sử nếu là chúng ta là các đạo sĩ, chưa chắc chúng ta muốn bước vào, thậm chí có thể kéo nhau quay về cho nhanh, và có thể “chạy mất dép” chứ chẳng chơi đâu! Nhưng thật lạ, các đạo sĩ là những người không chỉ thông thái, có học thức, mà còn giàu có nữa. Họ thấy Bé Giêsu oe oe ngọ nguậy trong máng cỏ, bên cạnh chỉ có hai Cô Chú “nhìn thấy thương”, nghèo kiết xác, và lũ chiên lừa “ngu ngơ” chẳng biết ất giáp gì, có lẽ mới đầu họ cũng “xì xầm” bàn tán với “mắt chữ O, miệng chữ A”, nhưng họ vẫn không hề thất vọng và tin thật rằng Trẻ Sơ Sinh kia là “dị nhân” mà họ muốn tìm gặp, rồi họ can đảm bước vào triều yết Hàn Vương và kính chào Hàn Phu Thê. Thật khó tin, y như cổ tích vậy. Tuy nhiên, đó lại là chuyện hoàn toàn có thật, không phải hư cấu do óc tưởng tượng của con người. Và rồi không chỉ vậy, các đạo sĩ còn dâng những lễ vật cao quý nhất mà họ đã chuẩn bị và đem theo. Quá đỗi diệu kỳ!

Ngày nay, chúng ta được dạy cho biết đó là mầu nhiệm, không thấy cảnh Hàn Gia lúc đó nên chúng ta đã tin. Chứ nếu tận mắt chứng kiến thì chắc chúng ta không thể và không dám tin Em Bé có tên là Giêsu kia lại chính là Ngôi Hai Thiên Chúa giáng thế làm người. Vậy là chúng ta may mắn. Thánh Phaolô viết: “Về kế hoạch ân sủng mà Thiên Chúa đã uỷ thác cho tôi, liên quan đến anh em. Người đã mặc khải để tôi được biết mầu nhiệm Đức Kitô” (Ep 3:2-3). Thật đặc biệt, vì “Thiên Chúa đã không cho những người thuộc các thế hệ trước được biết mầu nhiệm này, nhưng nay Người đã dùng Thần Khí mà mặc khải cho các thánh Tông đồ và ngôn sứ của Người” (Ep 3:5). Thánh Phaolô giải thích: “Mầu nhiệm đó là: trong Đức Kitô Giêsu và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Do Thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa” (Ep 3:5-6).

Một lần nữa, chúng ta lại thật may mắn và hạnh phúc vì được “thừa kế gia nghiệp” của Thiên Chúa, nên “một thân thể” và “cùng chia sẻ” với Thiên Chúa. Vì thế, mỗi chúng ta đều phải “xắn tay áo lên và hành động”. Đó là sống Đức Tin cụ thể, tức là thực hành lòng thương xót và thể hiện lòng nhân từ như Thiên Chúa Cha.

Các hiền sĩ được báo mộng là đừng trở lại gặp vua Hêrôđê nữa, thế nên họ đã đi lối khác mà về xứ mình. Họ lại tiếp tục nhận được ơn Chúa. Chắc lúc này họ mới nhận thấy mình thực sự may mắn vì thoát khỏi “nanh vuốt” của ông vua dã tâm Hêrôđê. Việc Chúa làm thật là kỳ diệu!

Các đạo sĩ đã nỗ lực tìm gặp “dị nhân” Giêsu cho bằng được, gặp rồi thì họ tin, can đảm bước vào đời, họ tránh “ác nhân” Hêrôđê là cách hành động tích cực và sống tốt. Sống tốt không chỉ là “làm lành, lánh dữ” mà còn phải tích cực hành động để bảo vệ công lý cho tha nhân. Các đạo sĩ là bài học cảnh giác cho chúng ta đề phòng ngày nay, khi mà sự ác đang hoành hành khắp nơi.

Lạy Thiên Chúa chí minh và chí thiện, xin giúp chúng con biết noi gương các đạo sĩ, luôn miệt mài tìm kiếm Chúa và can đảm hành động đúng đắn. Xin “ánh sao” Ý Chúa luôn soi đường dẫn lối chúng con suốt hành trình trần thế, để chúng con thực hiện mọi sự theo đúng Tôn Ý Ngài trong từng nhịp thở. Xin cho chúng con trở thành những ánh sao sáng để người khác có thể nhận biết Chúa, xin giúp chúng con biết mau mắn và kiên trì tìm kiếm Chúa, và gặp được Chúa ngay trên cuộc lữ hành trần gian này, nhất là được gặp Chúa trên Nước Trời mai sau.

Lạy Đức Mẹ Maria và Đức Thánh Giuse, xin thương nguyện giúp cầu thay. Xin giúp chúng con sống ngay thẳng, tâm địa tốt lành, không nhìn người khác bằng nhãn quan suy đoán theo thiên kiến. Tất cả vì sáng danh Chúa chứ không vì vinh danh chúng con hoặc tư lợi.

Chúng con cầu xin nhân Danh Đấng Thiên Sai, Thiên Chúa của chúng con. Amen.

--------------------------

 

Bavua 375: CHÚA NHẬT LỄ HIỂN LINH_C


Lm. Antôn

Ông bà anh chị em thân mến.

 

Lễ Chúa Hiển linh hôm nay có nghĩa là Thiên Chúa mạc khải cho chúng ta biết tình yêu, lòng thương Bavua 375


Lễ Chúa Hiển linh hôm nay có nghĩa là Thiên Chúa mạc khải cho chúng ta biết tình yêu, lòng thương xót và ơn cứu độ của Ngài qua sự nhập thể của Ngôi Hai Thiên Chúa. Vì yêu thương nên Thiên Chúa đã khiêm nhường sinh xuống trần, mặc lấy thân phận yếu hèn của con người, và sống giữa chúng ta.

Bài Tin mừng hôm nay cho chúng ta biết câu chuyện ba nhà đạo sĩ từ Phương Đông xa xôi, bây giờ là quốc gia I-ran, được ngôi sao trên bầu trời dẫn lối chỉ đường vượt núi đồi, khó khăn và nguy hiểm, tìm đến Belem và gặp Hài Nhi Giêsu đang nằm trong máng cỏ, có sự hiện diện của Đức Maria và thánh Giuse. Chúng ta có thể hình dung được trạng thái của các đạo sĩ trong những giây phút đầu tiên gặp gỡ. Có lẽ các đạo sĩ ngạc nhiên và ngỡ ngàng với khung cảnh khó tin trước mắt, không phải là nơi cung điện nguy nga hay cao sang quyền quí và đủ mọi tiện nghi. Nhưng một điều chắc chắn là các ông không lầm lạc. Như các mục đồng chăn chiên đã được thiên thần loan báo và chỉ dẫn, các ông nhận ra và tin thật đây là Vị Vua, Đấng Cứu Thế, vì đã được Kinh thánh cho biết và ngôi sao sáng dẫn đường. Sau đó các đạo sĩ đã tâm tình thờ lạy và dâng lễ vật trân quí cho Chúa.

Chúng ta biết trong ngày Ngôi Hai Thiên Chúa giáng sinh xuống trần đã không được dân Ngài đón tiếp. Họ đã từ chối khiến Ngài phải sinh ra trong một nơi ở của súc vật, đúng như Tin mừng thánh Gioan nói: “Ngài đã đến nơi nhà của Ngài, mà người nhà đã không tiếp nhận Ngài.” Vì sự từ chối của dân Chúa, tình yêu ơn cứu độ giờ đây được ban cho dân ngoại, mà ba đạo sĩ từ Phương Đông xa xôi là đại diện, như lời báo trước của ngôn sứ I-sa-i-a: “Chư dân sẽ lần bước tìm về sự sáng của ngươi, và các vua hướng về ánh bình minh của ngươi.”

Như thế, ông bà anh chị em thân mến, với sự giáng sinh nhập thể của Chúa Giê-su, Ngôi Hai Thiên Chúa, tình yêu, lòng thương xót và ơn cứu độ không còn bị giới hạn trong một dân tộc hay một miền đất nào nữa, nhưng được ban cho hết mọi người. Đây là một mầu nhiệm và là hồng ân của Thiên Chúa. Tình yêu Thiên Chúa là một tình yêu không biên giới, không phân biệt và ban cho hết mọi người, người tốt người xấu, người lành kẻ dữ, cho tất cả mọi người trần thế. Tình yêu cao cả của Thiên Chúa bao la, không biên giới, không giới hạn, và hằng tuôn đổ xuống trên mọi người. Thiên Chúa tiếp tục mạc khải tình yêu và hồng ân của Ngài cho chúng ta, và chúng ta nhận biết có người sẳn sàng tiếp đón, và có những người từ chối. Tuy nhiên, để đón nhận được tình yêu và hồng ân cao quí đó, mỗi người chúng ta cần mở rộng tâm hồn để tiếp nhận, và chúng ta có thể học được nơi ba vị đạo sĩ những phương cách để tiếp nhận.

Phương cách thứ nhất mà chúng ta có thể học được nơi các đạo sĩ là tấm lòng khao khát chân thật tìm kiếm Chúa, tìm kiếm sự mạc khải cũng như thánh ý Chúa trong Kinh thánh cho chúng ta. Chúng ta thấy các đạo sĩ có lòng khao khát tìm kiếm Vị Vua, cho nên các ngài đã dùng thời giờ học hỏi nghiên cứu Kinh Thánh để biết ngày giờ, nơi chốn và dấu chỉ. Chúng ta nhận biết mặc dù ở tận Phương Đông xa xôi và giữa bầu trời đầy sao, các đạo sĩ vẫn liên tục tìm kiếm, học hỏi để phát hiện vị sao lạ giữa muôn ngàn tinh tú. Và để nhận ra rõ và chắc chắn ngôi sao này là điềm báo vị Vua mới sinh ra, các đạo sĩ đã phải dựa vào Kinh Thánh trong sách Dân số đã cho biết “Một ngôi sao mọc lên từ Gia-cóp, một vương trượng xuất từ Israel” (Ds 24, 17)

Phương cách thứ hai mà chúng ta học được nơi các đạo sĩ để tiếp nhận tình yêu và hồng ân của Chúa là sự kiên nhẫn. Chúng ta biết trong cuộc hành trình tìm đến, ngôi sao dẫn đường đột nhiên biến mất làm cho các đạo sĩ lo sợ và phân vân “Không biết có nên tiếp tục cuộc hành trình hay trở lại quê nhà?” Họ đã phải hỏi những người Do thái: “Vua người Do thái mới sinh hiện đang ở đâu? Chúng tôi đã nhận thấy ngôi sao của Người ở Đông phương, và chúng tôi đến để triều bái Người.” Các đại giáo trưởng và luật sĩ người Do thái đã cho các đạo sĩ biết qua lời Thánh Kinh: “Tại Be-lem, thuộc xứ Giuda, vì đó là lời do Đấng tiên tri đã chép.”   Sự kiên nhẫn và lòng nhiệt thành của họ đã được đền đáp xứng đáng “Và kìa ngôi sao họ xem thấy ở Đông phương lại đi trước họ, mãi cho tới nơi và đậu lại trên chỗ Hài Nhi ở. Lúc nhìn thấy ngôi sao, họ hết sức vui mừng.”

Phương cách cuối cùng mà chúng ta có thể học được nơi các đạo sĩ là: ý chí lên đường hành động, hay thực hành Lời Chúa chỉ dạy. Các đạo sĩ biết Kinh thánh và nhìn thấy ngôi sao chỉ đường, nhưng tất cả những điều đó sẽ không ích lợi gì, nếu họ không lên đường thực hành cuộc hành trình tìm đến. Họ biết cuộc hành trình xa xôi, khó khăn và nguy hiểm, nhưng với ý chí kiên cường tìm đến Vị Vua, cho nên họ đã chỗi dậy lên đường, thực hành lời Kinh thánh chỉ dạy. Các đạo sĩ tin sẽ được trợ giúp để tìm gặp được người mong ước.

Ông bà anh chị em thân mến. Trong lúc tôi đọc, suy nghiệm câu chuyện ba đạo sĩ tìm kiếm Chúa, bất thình lình tôi nghĩ đến những điểm tương đồng trong việc chúng ta đến tham dự Thánh lễ hàng tuần. Tôi tin tất cả chúng ta được chính Chúa Ki-tô chỉ dẫn trong Tin mừng, cũng như thôi thúc chúng ta tìm đến với và gặp Chúa trong Bí tích Thánh Thể, để tiếp nhận thánh ý Chúa trong Lời Chúa, và hồng ân tình yêu của Chúa trong Thánh Thể. Chúng ta tin Lời Chúa là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống cho chúng ta trong cuộc hành trình đức tin nơi trần gian đầy những sự khó khăn, thử thách và nguy hiểm, và Thánh Thể là nguồn sức mạnh bảo tồn ý chí giúp chúng ta can đảm vượt qua. Đời sống đức tin của chúng ta là một cuộc hành trình đi tìm Chúa. Trong cuộc đi tìm, ta phải có tấm lòng chân thành khao khát, kiên nhẫn và thiện chí như ba đạo sĩ, và phải can đảm thực hành Lời Chúa chỉ dẫn, biết phấn đấu chấp nhận hy sinh gian khổ, biết kiên trì không nản lòng bỏ cuộc khi gặp thử thách. Ba đạo sĩ không thể đến với Chúa nếu không có ngôi sao dẫn đường.

Hôm nay, Chúa muốn mỗi người chúng ta là một ngôi sao sáng, loan báo và chia sẻ tình yêu thương của Chúa, đưa dẫn những tâm hồn thiện chí đến với Chúa. Hãy là ngôi sao sáng toả ánh sáng lòng thương xót của Chúa đến những người sống chung quanh chúng ta, để qua ánh sáng tình yêu và thương xót Chúa, mọi người sẽ nhận biết và tìm về với Thiên Chúa là ánh sáng chân thật, và tiếp nhận ơn cứu độ của Chúa.

Nhân dịp đầu năm mới 2016, xin cầu chúc tất cả ông bà anh chị em có một đời sống đức tin trong sáng như ngôi sao sáng để đưa dẫn nhiều tâm hồn đến với Chúa.

------------------------------

 

Bavua 376: CHỈ CÓ THIỆN TÂM...


+ ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên

 

Nhà bác học Newton, sau khi làm ra kính viễn vọng, sau khi quan sát vũ trụ và sau khi nhìn thấy Bavua 376


Nhà bác học Newton, sau khi làm ra kính viễn vọng, sau khi quan sát vũ trụ và sau khi nhìn thấy mọi huy hoàng rực rỡ vẻ đẹp diệu kỳ của muôn thụ tạo, đã thốt lên: Tôi thấy Thiên Chúa ở đầu kính viễn vọng của tôi.

Ông là một người thông thái. Ông làm khoa học, nhưng khoa học của ông là khoa học của đức tin. Khác một số người, bởi khi nghiêng cứu khoa học, họ chối từ đức tin, chối bỏ Thiên Chúa, Đấng là nguồn cội của mình, của mọi loài thụ tạo.

Câu chuyện của Newton có phần giống câu chuyện của ba nhà đạo sĩ mà Tin Mừng lễ Hiển Linh giới thiệu nhằm giúp chúng ta suy niệm. Thánh Mathêô cho biết, ba nhà Đạo Sĩ lần theo ánh sao lạ trên bầu trời để tìm gặp Chúa. Khi đến thủ đô Giêrusalem, họ dừng lại tại đền vua Hêrôđê vì ngỡ, Thiên Chúa làm người phải sinh ra ở nơi sang trọng, đài các.

Nhưng không, Thiên Chúa làm người mà Hêrôđê sợ Ngài tranh giành ngôi vua của mình, chẳng màn chi đến vinh hoa trần thế, chẳng thèm một chút bã phù phiếm thế gian.

Hêrôđê, kẻ có quyền trong dân Chúa, kẻ nắm giữ kho tàng mạc khải, kẻ thuộc nằm lòng truyền thống đức tin. Xung quanh ông có quá nhiều những cố vấn. Dù họ sẵn sàng giúp ông thấu hiểu Kinh Thánh và Lề Luật của Thiên Chúa, nhưng lòng ông không hề có Chúa mà chỉ có mọi thứ đam mê trần thế thống trị.

Cả những thượng tế, kinh sư thông hiểu Thánh Kinh, họ giảng giải thật hay cho Hêrôđê, nhưng chỉ là lý thuyết. Họ tìm Đấng Cứu Thế trong sách vở, nhưng không tin Thiên Chúa hiện diện giữa cõi đời. 

Còn các Luật sĩ chỉ thao thức về lề luật. Các Thượng tế chỉ nhạy bén về đền thờ. Tất cả họ cùng chung những điểm giống nhau, đó là: Hiểu biết về luật Chúa, về Kinh Thánh, gìn giữ đền thờ là nơi thờ phượng Thiên Chúa, được dân chúng kính trọng, được hưởng lợi lộc từ tôn giáo… nhưng thật trớ trêu, thật nghịc lý: Tất cả họ đều xa cách Thiên Chúa, giuột mất ơn cứu độ.

Lòng Hêrôđê và cả hoàng triều của ông chỉ đầy thủ đoạn, độc ác, tranh giành, say sưa trong vinh quang trần thế. Đến muôn đời, Hêrôđê không bao giờ gặp được Đấng mà lẽ ra mình phải tôn thờ, phải thần phục. Cả hoàng triều của ông sẽ chẳng bao giờ gặp được Đấng Thiên Chúa làm người, mặc dù Đấng ấy giáng trần sát cạnh hoàng triều của ông.

Còn các Đạo Sĩ, dù thuộc thành phần dân ngoại và rất xa xôi về mặt địa lý cũng như sự hiểu biết mạc khải, lại mặc lấy đức tin trong nghiên cứu khoa học của mình. Họ đã lên đường đi tìm, không chỉ hiện tượng thiên nhiên, nhưng qua hiện tượng thiên nhiên, họ tìm kiếm Đấng Minh Quân của lòng mình và của trần thế. Họ tin tưởng Ngài là Đấng Cứu Chuộc. Lòng thành đã đưa họ đến với Chúa Hài Nhi.

Đối với kẻ kiêu ngạo, tự phụ, ngôi sao chỉ là ngôi sao, nhưng đối với người khôn ngoan, khiêm tốn, đó là một dấu chỉ để nhận ra Thiên Chúa. Dù ngôi sao có sáng, nhưng lòng các đạo sĩ còn sáng hơn ánh sao. Họ đã lên đường, đã vượt qua bao nhiêu gian lao, đã đối mặt bao nhiêu mạo hiểm. Họ đã đến hang Bêlem, đã quỳ trên nệm rơm mà khấu đầu thờ lạy Thiên Chúa làm người trong thân phận mong manh của một hài nhi.

Ánh sáng của tâm hồn, ánh sáng của lòng tin đã cho họ gặp Chúa. Họ đã chiêm ngắm một trẻ sơ sinh chưa thể hỏi han hay đối đáp điều gì. Nhưng họ tin, đó là Đấng Cứu Chúa của mình. Họ tiến dâng Ngài tặng phẩm và tâm hồn để chứng tỏ sự thần phục của thế gian. Tặng phẩm là vàng, nhũ hương, mộc dược. Vàng, vì Hài Nhi là vua. Nhũ hương, vì Ngài là Tư Tế. Mộc dược, Ngài sẽ chết như mọi người.

Thời nay cũng thế, đầy dẫy những người học rộng, nghiêng cứu giỏi, hoạt bát, tinh ranh… Thế giới không thiếu gì những triết gia lý luận sắc bén, những người vô thần có quyền to lộng đẹp, những chánh trị gia lãnh nhiều chức tước tha hồ thao túng trong bàn tay sắt, nhiều nhà khoa học tài giỏi, nhiều người thành đạt trong nhung lụa, nhiều người đỗ đạt hết bằng cấp này đến bằng cấp khác… Họ được thế gian coi là xuất chúng, uyên thâm...

Nhưng họ thuộc nòi giống Hêrôđê. Có mấy ai trong họ đã nhìn thấy ánh sáng từ trời cao chiếu soi cõi lòng người. Có mấy ai trong họ đã nhìn thấy bất cứ một ánh sáng nào của lòng tin, của con đường về hạnh phúc trường cửu...

Dòng dõi của Hêrôđê kiêu ngạo, cho tới muôn đời vẫn không tìm thấy Thiên Chúa, vẫn sống trong u tối, vẫn là những kẻ ngu dốt dù họ đầy những tri thức thực nghệm…

Mừng lễ Hiển Linh, suy niệm lại việc Chúa tỏ mình cho dân ngoại qua những đại diện là các Đạo Sĩ, chúng ta học lấy bài học khiêm nhường. Xin Chúa ban cho chúng ta một tình yêu nồng nàn, một đức tin đơn sơ, một cõi lòng mềm dẻo sẵn sàng để Chúa uốn nắn thành những con người biết tha thiết đi tìm Chúa qua tất cả mọi thời gian sống, nơi mọi hoàn cảnh, mọi biến cố của đời mình.

Thiên Chúa chỉ là Thiên Chúa của tất cả mọi người đơn sơ, tâm thành, hướng thiện mà thôi. Ba Đạo Sĩ đã cúi mình bước vào hang đá để kính thờ Hài Nhi không ngai vàng, không quyền lực, nghèo đến nỗi phải sinh ra nơi hang lừa, máng cỏ… Các Đạo Sĩ có tình yêu, có lòng sốt mến, có sự chân thành. Họ đã gặp Đấng là Thiên Chúa của lòng họ.

Chỉ có thiện tâm mới có thể gặp Thiên Chúa, Chân Lý trường tồn của đời người...!

----------------------------

 

Bavua 377: THÁNH GIUSE VÀ CHUYẾN THĂM CỦA BA VUA TỚI BÊLEM


Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

“Khi đã đến ngày lễ thanh tẩy của các ngài theo luật Môsê, bà Maria và ông Giuse đem con lên Giêrusalem, để tiến dâng cho Chúa, như đã chép trong Luật Chúa rằng: "Mọi con trai đầu lòng phải được gọi là của thánh, dành cho Chúa"… Khi hai ông bà đã làm xong mọi việc như Luật Chúa truyền, thì trở về nơi cư ngụ là thành Nadarét, miền Galilê” (Lc 2:22-23,39).

 

Tuy nhiên, rất có thể, Thánh Gia lại hành trình đến Bêlem với ý định ở lại đó vĩnh viễn. Vì không Bavua 377


Tuy nhiên, rất có thể, Thánh Gia lại hành trình đến Bêlem với ý định ở lại đó vĩnh viễn. Vì không phải Bêlem thực sự là nơi sinh và quê hương của Chúa Giêsu đó sao? Hơn nữa, Bêlem nằm gần Giêrusalem, một điều kiện có lợi cho Thánh Gia về nhiều mặt. Hơn nữa, khi trở về từ Ai Cập, Thánh Giuse một lần nữa có ý định định cư tại Bêlem.

Thánh Gia có lẽ đã ở Bêlem khoảng một năm thì khá bất ngờ có những người lạ đến Giêrusalem, những bậc Hiền Sĩ từ Phương Đông. Với câu hỏi thẳng thắn: “Đức Vua dân Do thái mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao của Ngài xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Ngài” (Mt 2:2), những bậc Hiền Sĩ từ Phương Đông đã đưa Hêrôđê và tất cả thành Giêrusalem vào một cơn “bối rối và xôn xao” (Mt 2:3). Hêrôđê, lão già bạo chúa khát máu, trong pháo đài của Đavít, không tìm thấy giải pháp nào tốt hơn hơn là hỏi Tòa Công luận về nơi sinh của Đấng Mêsia, trong sự kích động gian trá và xảo quyệt của mình. Ông đã truyền đạt câu trả lời cho những Bậc Hiền Sĩ, rằng Bêlem là mục tiêu của cuộc tìm kiếm của họ, và bảo họ đi tìm Chúa Hài đồng: “Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Ngài. Nghe nhà vua nói thế, họ ra đi. Bấy giờ ngôi sao họ đã thấy ở phương Đông…” (Mt 2:8), vốn là niềm vui sướng chân thành của họ, “lại dẫn đường cho họ” (Mt 2:9), và dưới sự hướng dẫn của ánh sao ấy, các đạo sĩ đã đến được Bêlem.

Đất nước của Những Bậc Hiền Nhân này nằm ở phía đông Giuđê. Họ là những nhà quý tộc, Magi, những người cai trị bộ tộc vốn có thể có được những cuốn sách thánh thiêng. Điều đó đã giúp có mối tương quan mật thiết với trời cao, đến nỗi, khi một vị thần sáng chói lạ thường xuất hiện trên bầu trời, họ sẽ rời nhà của họ ra đi nhằm bày tỏ tấm lòng tôn kính đối với vị Vua và Đấng Mêsia mới sinh. Trên thực tế, ngôi sao đã xuất hiện vào thời điểm Đấng Cứu Độ sinh ra hoặc ít lâu sau đó, và họ coi việc làm theo hướng dẫn do Trời Cao gửi đến là nỗ lực chính trong cuộc đời của họ. Ít nhất, sự xuất hiện của ngôi sao trên máng cỏ của Đấng Cứu Độ khiến chúng ta suy niệm về mục đích sâu xa nhất của họ. Vì vậy, họ đến Bêlem và tìm thấy nơi ở của Trẻ thơ được ngôi sao chỉ ra cho họ, như thể ánh sao đó là một người đầy kinh nghiệm sành sõi chì vẽ cho họ.

Cùng với những người hầu cậnvà những con vật chuyên chở đồ đạc của họ, họ có thể đã đến trú tại một quán trọ của thị trấn, và sau đó gửi người đến Thánh Gia để hỏi xem liệu họ có thể được phép đến thăm Thánh Gia hay không, vì họ đã đến theo sự hướng dẫn của một ngôi sao để tôn thờ Trẻ thơ. Thánh Giuse đã đón tiếp các người hầu cận theo cách ân cần của mình. Và giờ đây chính các vị vua xuất hiện cùng với những người hầu cận của họ, những người đi theo sau mang theo những món quà quý giá mà họ đã lấy ra từ trong những chiếc rương và từ trong những chiếc túi bên yên ngựa; vì ở Phương Đông, có tục lệ là không ai được đến trước mặt một vị hoàng tử với tay không. Mẹ Maria, theo cách đơn giản và thuận tiện của mình, đã chuẩn bị cho cuộc đón tiếp các bậc Hiền Nhân, Mẹ ôm Chúa Hài Đồng trong lòng mình trên vạt áo. Khi nhìn thấy Trẻ thơ thánh, các vị vua đã xếp thành một vòng tròn phủ phục trước mặt Ngài; và với đức tin sâu sắc, với sự tôn kính và sự khiêm cung, cùng với tình yêu và niềm vui sâu thẳm trong trái tim của họ, họ đã tôn thờ Ngài và dâng lên Ngài cả bản thân và mọi thần dân của họ.

Sở hữu một tinh thần cao quý, sáng suốt và cõi lòng thực sự của hoàng tộc vương giả, họ không bị xao xuyến trước sự việc bất bình thường là Giêrusalem không biết gì về Chúa Hài Đồng, hoặc trước nơi cư ngụ đơn sơ và nghèo khó của Chúa Hài Đồng và của cha mẹ của Ngài. Họ không mấy quan tâm đến những biểu hiện bên ngoài và chỉ làm theo những chỉ bảo của trái tim đơn sơ và đức tin của họ như Chúa đã dạy họ. Vì thế, trong tinh thần đó, họ lấy ra những lễ vật mà những người hầu cận đã sắp xếp trong các tráp quý giá đang để trên thảm, và dâng lên Chúa Hài đồng - vàng, nhũ hương và mộc dược. Những món quà vốn mang trong mình sự huyền bí, tượng trưng cho sự sẵn sàng, đức tin, tình yêu và sự tôn thờ của họ, và tiêu biểu cho thần tính, vương quyền và sứ vụ Cứu Thế của Trẻ thơ bé.

Đấng Cứu Độ thơ bé thần thánh nhìn cảnh tượng trước mặt Ngài một cách hiền từ, biết rõ ý nghĩa của những món quà, và trả lại tất cả cho họ và cho thần dân của họ cùng với mọi ơn phúc tràn đầy, xem họ như những người lính canh tuyến trước và là hoa trái đầu tiên của Dân ngoại. Rất có thể sau đó các đạo sĩ đã ngồi xuống hàn huyên với Mẹ Thiên Chúa và Thánh Giuse. Hai Đấng khoản đãi họ bằng một sự giản dị đáng ngưỡng mộ bằng cách kể cho họ nghe những hoàn cảnh thân tình hơn về việc Đấng Cứu Độ đến như thế nào. Đây là dịp đầu tiên Mẹ Thiên Chúa hướng dẫn thế giới dân ngoại, và Thánh Cả Giuse đã chia sẻ trong bài huấn từ đó. Các đạo sĩ trở thành Kitô hữu và mang Đức tin chân chính về đất nước của họ.

Vì vậy, họ đã rời khỏi Hài Nhi, Mẹ Maria và Thánh Giuse với lòng biết ơn mãnh liệt, sự hài lòng và vui mừng chân thành. Tuy nhiên, họ đã không quay trở lại Giêrusalem. Trong một giấc mơ, họ nhận được lệnh thánh thiêng phải tránh Giêrusalem trên đường trở về nhà, vì Hêrôđê đã quyết tâm hủy diệt Trẻ thơ. Và vì vậy, ngay trong đêm đó, các đạo sĩ cùng với những người tùy tùng hướng về phía nam dọc theo con đường dẫn qua sông Gioócđan. Những gì họ đã thấy, đã học và đã trải qua đáng công khó họ đã bỏ ra. Họ đã hoàn thành nhiệm vụ của cuộc đời mình.

Mẹ Maria và Thánh Giuse vô cùng vui mừng trước chuyến viếng thăm đáng chú ý này của Những Bậc Hiền Nhân. Thánh Giuse rất thích thú và vui mừng trước những người thánh thiện có tính cách rất giống Ngài. Trước hết, Ngài vui mừng vì điều đó sinh ích lợi cho Mẹ Maria và người Con yêu dấu của Ngài. Vinh dự lớn lao đã được tỏ lộ cho các Ngài. Lẽ khôn ngoan của Đông Phương đã đến để tỏ lòng tôn kính đối với trí khôn thần thánh của Trẻ thơ không lời này. Vương quyền của Trẻ thơ có vẻ như yếu đuối này đã tỏ lộ một cách vinh quang biết bao! Ngay vừa sinh ra và bắt đầu trị vì, mặc dù nghèo khó, thì Ngài đã có được vàng bạc, của cải và đã kêu mời được các tôi tớ và những người tôn thờ Ngài từ những vùng đất xa xôi; Trời và đất vâng lời Ngài, và sự giáng trần của Ngài gây kinh hoàng cho những kẻ thù của Ngài.

Sự kiện này là đỉnh núi Tabor trong thời thơ ấu của Chúa Kitô. Chẳng phải Thánh Giuse đã vui mừng ngất ngây và cất tiếng nói theo lời của Thánh Phêrô: “Lạy Ngài, chúng con ở đây, thật là hay! Nếu Ngài muốn, con xin dựng tại đây ba cái lều” (Mt 17:4) sao? Hơn nữa, chẳng lẽ không người nào có thể phân biệt được mầu nhiệm ơn gọi này của dân ngoại vốn ám chỉ một cách thức Thánh Giuse được mời gọi làm quan thầy cho các sứ vụ dành cho dân ngoại sao?

Vị trí cao quý mà Thánh Giuse đã nắm giữ trong mầu nhiệm này, mà bản thân mầu nhiệm đó là một dấu chỉ báo trước về sự tôn vinh Ngài trong tương lai của Giáo hội Dân ngoại, được thể hiện một cách tinh tế và thành công nhất trong một bức tranh khảm thế kỷ mười ba tại Nhà thờ Đức Bà ở Paris, trong đó thánh Giuse được mô tả. trong một khu vực riêng dưới mái hiên, đứng tựa trên cây trượng của mình với thái độ chiêm niệm và dường như sẵn sàng đón nhận sự tôn kính thích hợp của riêng mình từ những vị Hiền Sĩ. Một họa sĩ sau này thuộc trường phái ấn tượng, Fra Angelico, đã vẽ chân dung Thánh Giuse thực sự đã tham dự vào cuộc hàn huyên thân tình với một trong những vị vua và có ý định hướng dẫn vị vua này về Đức tin một cách nghiêm cẩn.

Trong một bức tranh khác của cùng nghệ sĩ tài năng thiên phú đó, Thánh Giuse, hân hoan với sự quí giá của món quà vương giả, được cho thấy đang mở một trong những chiếc tráp chứa món quà đó, mà Ngài có thể dâng cho Hài Nhi Thánh như một biểu hiện của niềm tin tưởng của toàn thế giới dân ngoại đặt cọc trước nơi Đấng Cứu Độ Thơ Bé, vì Thánh Giuse là bổn mạng của họ.

-------------------------

 

Bavua 378: LỄ BA VUA HAY LỄ HIỂN LINH


Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

 

Lễ BA VUA là tên gọi cũ. Hiện nay gọi là LỄ HIỂN LINH, tức lễ kỷ niệm ba nhà đạo sĩ đến Bavua 378


thờ lạy Chúa Hài Đồng Giêsu, cũng được hiểu là lễ Chúa Tỏ Mình Cho Dân Ngoại. Chúa tỏ mình cho dân ngoại thế nào? Làm sao để nhận ra Chúa?

CHÚA SINH RA THEO CỰU ƯỚC

Nghe các bài đọc về phụng vụ trong lễ Ba Vua ai cũng cảm động vì cảnh tráng lệ huy hoàng nơi thị thành, ánh sáng chan hòa chiếu tỏa khắp phố phường, muôn nhà muôn nơi như tiên tri Isaiah mô tả. “Hỡi Jerusalem, hãy vùng dậy trong huy hoàng. Ánh sáng của ngươi đã đến, vinh quang Thiên Chúa chiếu rọi trên ngươi. Hãy trông kìa, bóng tối bao phủ tràn lan mặt đất, mây mù bao phủ muôn dân. Nhưng Thiên Chúa chiếu sáng trên ngươi và trên ngươi là vinh quang Thiên Chúa…” (Is 60:1-6). Các dân ngoại từ những phương trời xa xôi đã đến nhờ ánh sáng chiếu toả trên thành Jerusalem hướng dẫn. Họ mang theo tặng vật cùng với con trai con gái của Thị Trấn Thánh! Mặc dù bóng tối bao phủ muôn dân, nhưng vinh quang Thiên Chúa đã bừng sáng chiếu tỏa như ánh bình minh ban mai. Làm sao chúng ta có thể diễn tả đầy đủ và đúng mức nỗi vui mừng hân hoan của chúng ta khi đón chào Thiên Chúa Ra Đời!

CHÚA GIÁNG SINH THEO TÂN ƯỚC

Câu chuyện Tin Mừng thánh Mátthêu kể về Ba Vua được sao trời dẫn đường đến thờ lạy Chúa Hài Đồng (Mt 2:1-12) chúng ta phải nghĩ đến một cuộc phấn đấu căm go đang lấp ló khi mà Thiên Chúa tỏ mình cho muôn dân qua Chúa Kitô. Đọc câu chuyện thật cẩn thận và để ý một chút, chúng ta sẽ thấy câu chuyện không đơn thuần chỉ nói về một hài nhi, mà là câu chuyện khá bi thảm của một người lớn. Chiến trận đã đề ra và quân đội đã sẵn sàng. Một hài nhi vô tội vừa chào đời thì đồng thời cũng phải đối đầu với chết chóc do quyền lực thế gian. Chúa Giêsu đã là mối đe dọa đối với Hêrôđê và mọi thế quyền. Một đàng là ngai vàng của một ông vua trần thế, một đàng là vương quyền tôn giáo của nhiều người..….

CUỘC HÀNH TRÌNH CỦA BA VUA ĐI TÌM CHÚA

Tại quê hương xa vời, ở những miền đất xa lạ, ba nhà đạo sĩ có thể bình thản sống hưởng thụ cảnh vua chúa quan quyền một cách thoải mái, nhưng họ băn khoăn cảm thấy bồn chồn trong lòng như thiếu thốn một cái gì. Thế là họ bằng mọi cách chấp nhận mọi khó khăn hiểm nguy lên đường làm cuộc hành trình viễn xứ để tìm cho ra chân lý sự sống. Môt viễn tượng đầy hứa hẹn. Ba nhà đạo sĩ đã làm một cuộc hành trình dài, phải đối diện với biết bao nghịch cảnh trên đường tìm kiếm lý tưởng. Khác với những kẻ chăn chiên nghèo hèn ở ngay tại chỗ. Nhưng chúng cũng gặp những nghịch cảnh, những phương tiện giúp chúng chuẩn bị tâm hồn đón nhận sứ điệp của các thiên thần. Chúng đã phải vượt qua mọi sợ hãi tiến bước về Bethlehem để gặp Chúa Hài Đồng.

Đối với ba vua, cuộc hành trình đi về Bethlehem khó khăn hơn nhiều vì đường xá xa xôi hiểm trở. Không phải là một cuộc hành hương du lịch vui chơi, có tính lãng mạng mà chúng ta thường thấy nơi quang cảnh hang đá máng cỏ ngày nay. Ba vua không là những người mộng tưởng hay những nhân vật, biểu tượng bất thường về tôn giáo. Các ngài là những người thực tâm quyết định hy sinh cả tiền bạc, thời giờ, nghị lực và, có thể cả mạng sống mình để tìm cho ra được chân lý, người có thể đem lại hòa bình đích thực.

CỰU ƯỚC, JERUSALEM LÀ DẤU CHỈ DÂN NGOẠI NHẬN BIẾT CHÚA

Ba vua đã không bị lạc trên đường tới Jerusalem. Thị trấn hoa lệ này cũng không làm cho cuộc hành trình của các ông bị ngưng trệ. Nhưng, từ Jerusalem, có sao trời hướng dẫn, họ đã đổi hướng đi Bethlehem. Những nhân vật này từ phương Đông, là những người ngoại quốc, họ được hướng dẫn không phải do sự khôn ngoan và hiểu biết về thiên văn nhờ các vì sao, mà còn được chỉ bảo bởi Cựu Ước. Ý nghĩa của cựu ước rất quan trọng. Chúa Kitô đã kêu gọi muôn dân của mọi quốc gia, dân ngoại cũng như Do Thái là phải theo Người. Có thể nói rằng Jerusalem và Cựu Ước chính là điểm mốc khởi hành đối với dân ngoại trên đường hành hương đi tìm Niềm Tin vào chúa Giêsu Kitô. Dân chúng trong thị trấn vĩ đại này, ngay cả chính vua Hêrôđê cũng đã là dụng cụ chỉ đường cho ba nhà đạo sĩ tìm đến với Chúa Kitô.

ĐIỂM KHỞI HÀNH CỦA CHÚNG TA ĐI TÌM CHÚA

Việc này có ý nghĩa gì đối với cuộc hành hương đi tìm sự thật, Chúa Giêsu Kitô của chúng ta ngày nay? Dĩ nhiên Cựu Ước phải là trung tâm điểm của cuộc hành trình của chúng ta. Phải chăng những thị trấn của chính chúng ta, tâm hồn chúng ta với những hỗn loạn và nghi hoặc, lại không được dùng làm điểm khởi hành đi tìm niềm tin của chúng ta hay sao?

Trung tâm điểm của toàn thể câu chuyện Tin Mừng với những tương phản ở ngay chính Hài Nhi Giêsu ở Bethlehem. Đó là Niềm Vui. Hêrôđê e ngại, sợ dân chúng “quá vui”. Anh em đừng sợ, tôi báo tin mừng trọng đại cho anh em, cũng là tin mừng cho muôn dân. (Lc 2:10). Theo Tin Mừng thánh Mátthêu thì chúng ta không biết cái gì đã xẩy ra cho ba vua khi họ trở về xứ sở họ, có thể chắc chắn rằng họ đã thay đổi đường đi. Họ thay đổi tâm hồn, vì họ đã khám phá ra Sự Thật. Họ thấy ở Jerusalem và Bethlehem không có một Chúa cho riêng nước này hay nước nọ, cũng không có một tiên tri mới, nhưng là một Thiên Chúa, đấng Cứu Chuộc nhân loại đã hiện hình làm người bằng xương bằng thịt. Đấng Cứu Thế, Niềm Vui của nhân loại.

Cuối cùng, ba vua đã đi theo con đường riêng của mình trở về nước, bởi vì họ không còn bị mê hoặc hồ nghi nữa. Họ cảm thấy ngỡ ngàng vì nỗi vui mừng quá lớn, và ngôi sao dẫn đường cho họ lại hiện ra tiếp tục dẫn lối cho họ đi. Đây không phải chỉ là dấu hiệu của thời đại Chúa Giêsu sinh ra, mà còn là dấu chỉ của thời đại ngày nay cho chúng ta. Khi chúng ta tìm được niềm vui lâu bền giữa vòng tròn quanh quẩn với những buồn rầu, nghi hoặc, thất vọng, dửng dưng và vô nghĩa…thì cách duy nhất phải làm là chúng ta quỳ gối và tôn thờ Chúa Kitô.

Lạy Ba Vua (Gaspar, Melchior và Balthasar), xin hãy chúc bình an và ban lòng khiêm tốn tràn đầy tâm hồn chúng tôi, gia đình chúng tôi! Khi chúng tôi nghe thấy tiếng gọi của tử thần, của sợ hãi và nghi hoặc, chớ gì chúng tôi có được can đảm tiếp tục đi theo con đường của chúng tôi….và vui mừng, bởi vì chúng tôi đã thấy và đã kinh qua sự huy hoàng cao cả của Thiên Chúa.

ĐÔI LỜI KẾT

Để kết thúc, xin muợn lời Thánh nữ Têrêsa Bênêđícta Thánh giá làm lời suy niệm về mầu nhiệm Chúa Giáng Sinh:

“Quì gối chung quanh hang đá là hình ảnh của Ánh Sáng: Những đứa trẻ đơn sơ dịu dàng, những mục đồng đầy tin tưởng, những ông vua khiêm cung, Stephen, môn đệ nhiệt tình, và Gioan, môn đệ của tình yêu, tất cả những người đã nghe theo tiếng gọi của Chúa. Họ là kẻ thù của đêm tối cố chấp và mù quáng: các thánh sử là những người thực sự biết đấng Cứu Chuộc nhân loại sinh ra ở đâu và lúc nào, nhưng các ngài sẽ không đưa ra kết luận là: ‘Chúng ta hãy về Bethlehem,’ Vua Herod là người muốn giết Chúa. Con đường tỏa đi từ Chúa Hài Đồng nơi máng cỏ…..”

Có người chọn con đường đi đến Sự Sống, có người chọn con đường đi đến Sự Chết. Ngày nay khi chúng ta rời xa máng cỏ Chúa Hài Đồng là Vua, xin hãy hy sinh hiến mình cho lý tưởng của cuộc sống là trung tâm điểm của niềm vui Giáng Sinh. Nhất quyết đi theo con đường LÝ TƯỞNG, con đường của NIỀM TIN vào Chúa Kitô đã sinh ra làm người và chịu chết trên thập giá, không để cho thế quyền lung lạc chạy theo thế quyền và bả vinh hoa bội phản Chúa.

-----------------------------

 

Bavua 379: HÀNH TRANG TRÊN HÀNH TRÌNH TÌM CHÚA: SỰ ĐƠN SƠ!


Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

 

Đọc bài Phúc Âm của Chúa Nhật Lễ Hiển Linh xong, tôi cứ thắc mắc là tại sao những nhà chiêm Bavua 379


Đọc bài Phúc Âm của Chúa Nhật Lễ Hiển Linh xong, tôi cứ thắc mắc là tại sao những nhà chiêm tinh, những khoa học gia, những nhà thiên văn học người Do Thái ở gần ngay Bethlehem lại không khám phá ra sự xuất hiện của ngôi sao lạ, mà chỉ có ba nhà chiêm tinh ở tận bên Phương Đông thấy mà thôi?

Có phải những nhà chiêm tinh ở Phương Đông thông minh, nhạy bén và tinh mắt hơn những chiêm tinh gia và những nhà thiên văn học người Do Thái chăng? Tôi không nghĩ như vậy!

Thế nhưng sau khi đọc qua đoạn Kinh Thánh của thánh Mátthêu kể về cuộc hành trình của ba nhà chiêm tinh tới Bethlehem thì tôi mới khám phá ra một lý do khiến Thiên Chúa chỉ tỏ mình ra cho ba nhà chiêm tinh ngoại giáo tận bên phương Đông: Đó là sự ĐƠN SƠ của các ngài. Thánh sử Mát-thêu chỉ ra ba điểm đơn sơ của các ngài!

• Khi thấy ánh sao chỉ đường biến mất, thì họ đã đi vào hoàng cung để hỏi vua Hê-rô-đê đang trị vì rằng:“Đức Vua dân Do-thái mới sinh, hiện ở đâu?” (Mt 2:2). Hỏi như vậy thì có khác nào nói với Hê-rô-đê rằng Hài Nhi kia mới là vua đích thực của dân Do Thái, còn ông là vua...giả mạo!

• Khi nghe vua Hê-rô-đê dặn dò “Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Người" (Mt 2:8), thì ba vị chiêm tinh gia lập tức tin vào lời của nhà vua. Nếu thiên thần không báo mộng rằng“tìm lối khác mà về xứ của mình” (Mt 2:12) thì ba ông chiêm tinh này chắc chắn sẽ quay về báo cho nhà vua biết nơi Hài Nhi Giê-su đang ở.Chưa hết, khi họ đến gặp Hài Nhi nằm trong máng cỏ, họ không thắc mắc, cũng chẳng đặt vấn đề tại sao vua dân Do Thái lại ở một nơi lạnh lẽo và nghèo hèn như vậy? Nhưng đã “sấp mình thờ lạy Người… mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến [Hài Nhi]” (Mt 2:11).

Bạn thân mến, rõ ràng là Thiên Chúa đã tỏ mình ra cho ba nhà chiêm tinh, là vì họ là những người rất đơn sơ. Chính Chúa Giê-su cũng đã khẳng định, chỉ những ai có tấm lòng đơn sơ, hiền hậu và khiêm hạ thì mới được Ngài mạc khải cho biết những màu nhiệm nước Trời mà thôi! “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn” (Lc 10:21). Khi bạn và tôi sống đơn sơ, thành tâm và trung tín trong việc đi tìm Chúa thì chắc chắn Ngài sẽ tỏ mình ra cho tôi và bạn thấy rõ sự hiện diện của Ngài trong từng biến cố vui buồn của cuộc đời.

Thế nhưng, thú thật với bạn, sống một đời sống đơn sơ giữa một thế giới đầy dẫy những phức tạp và đảo điên này thì không phải là chuyện dễ dàng! Người ta sẽ cười nhạo, chê bai chúng mình là khờ khạo, khinh thường và nhìn chúng mình bằng những ánh mắt không mấy thân thiện.

Thế nhưng xin bạn đừng quên, những người sống đơn sơ và khiêm nhu là những người hạnh phúc, họ sẽ gặp nhiều sự lành lắm. Thật đấy! Người có tâm hồn đơn sơ thì...

• Ít có kẻ thù. Bạn cứ nghĩ mà xem, ai mà lại chấp nhất mấy người sống đơn sơ và bị coi là khờ khờ chứ?

• Sống trong an vui và hạnh phúc bởi vì người có tâm hồn đơn sơ không phải mệt óc lo cho những chuyện trả thù, trả đũa và chẳng để bụng giận dỗi ai cả, hễ nằm xuống là...ngủ.

• Được Thiên Chúa yêu thương và ban cho khả năng nhận ra sự hiện diện của Ngài trong những biến cố vui buồn, trong những thăng trầm khổ ải và cả trong những biến đổi đau thương của cuộc sống.

Xin hãy cố gắng sống thật đơn sơ, càng đơn sơ bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu:

• Đừng thêm đừng bớt, đừng bịa đặt thêm mắm thêm muối, đừng cho thiên hạ ăn bánh vẽ với thịt lừa nhưng “hễ có thì phải nói có, không thì phải nói không” (Mt 5:37).

• Đừng khoe khoang, đừng vênh váo trong những lúc thành công, khi được người khác khen ngợi, tán tụng... nhưng hãy thưa với Chúa một cách thật đơn sơ: “Lạy Chúa, con chỉ là đầy tớ vô duyên, chỉ làm việc bổn phận của con mà thôi!” (Lc 17:10).

• Khi phạm lỗi, khi làm sai, xin hãy chân thành nói: “XIN LỖI.” Khi phạm tội, hãy chạy ngay đến với Chúa qua bí tích Giải Tội và thưa với Ngài: "Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha” (Lc 15:18).

Cầu chúc bạn thành công trong việc tập luyện sống một đời sống đơn sơ. Nếu chúng mình cậy trông vào ơn Chúa và cố gắng luyện tập thì chắc chắn sự đơn sơ sẽ ở với chúng mình bởi vì con người do Thiên Chúa làm nên, vốn rất đơn sơ và ngay thẳng (GV 7:29). Xin Chúa chúc lành và ban cho bạn niềm vui, sự hạnh phúc trong tuần lễ của năm mới 2022 này.

-----------------------------

 

Bavua 380: HÃY ĐỂ THIÊN CHÚA TỎ MÌNH!


Thomas Aq. Trầm Thiên Thu

 

Trình thuật Tin Mừng hôm nay kể lại việc tìm kiếm của các nhà khôn ngoan thông thái, còn được Bavua 380


Trình thuật Tin Mừng hôm nay kể lại việc tìm kiếm của các nhà khôn ngoan thông thái, còn được gọi là các chiêm tinh gia. Họ chuyên nghiên cứu sao trời và tin rằng mỗi người chúng ta có một ngôi sao chiếu mệnh. Và vào đúng lúc Đức Giê-su sinh ra thì họ đã nhìn thấy một ngôi sao lạ xuất hiện trên bầu trời và theo kinh nghiệm dựa trên sự hiểu biết của họ thì ngôi sao đó ám chỉ một con người sẽ làm thay đổi bộ mặt thế giới mới được sinh ra. Họ đã theo dấu ngôi sao lên đường tìm kiếm và thờ lậy.

Như những người tìm kiếm, chúng ta cảm phục sự hy sinh, lòng can đảm, vượt qua bao gian khổ trên hành trình tìm kiếm của các nhà chiêm tinh. Nhưng thật ra, điều mà chúng ta cần để ý là qua biến cố này chúng ta nhận ra việc Thiên Chúa tỏ mình cho muôn dân, chứ không còn chỉ riêng cho dân Do Thái mà thôi. Nguồn ơn cứu độ được ban cho mọi người.

Như vậy, thưa anh chị em.

Biến cố tỏ mình của Đức Giê-su cho muôn dân hôm nay giúp chúng ta nhận ra chiều kích tràn đầy của Mầu Nhiệm Giáng Sinh. Giáng Sinh dù thế nào vẫn chỉ là cuộc viếng thăm của Thiên Chúa dành cho dân Israel, dân riêng của Ngài. Với Lễ Hiển Linh, mầu nhiệm đó đạt đến mức toàn diện. Thiên Chúa sinh ra làm người và tỏ mình cho muôn dân muôn nuớc, bao gồm cả chúng ta. Việc tỏ mình là sáng kiến của Thiên Chúa, không ai có thể yêu cầu hay buộc Ngài phải làm chuyện đó. Nhưng, nếu chúng ta không nhận biết, không đón nhận và không loan báo cho nhau thì quả là một điều thiếu sót. Như thế, biến cố này còn đóng một vai trò thật quan trọng trong hành trình niềm tin và cách sống đạo của chúng ta.

Hành trình tìm kiếm của các nhà chiêm tinh không dễ dàng. Dù có ngôi sao dẫn đuờng, nhưng ngôi sao lúc ẩn lúc hiện. Cũng có lúc các ông bị mất dấu; không phải do các ông đi lạc; nhưng ngôi sao không xuất hiện thì biết lối nào để đi. Trong hoàn cảnh đó, họ không hề thất vọng; tiếp tục tìm kiếm bằng cách dò hỏi những ai đã được tiên báo về sự xuất hiện của con trẻ Giê-su. Họ đã hỏi các thượng tế và kinh sư về thời gian và nơi chốn của vị lãnh tụ, đấng chăn dắt dân Thiên Chúa sẽ ra đời.

Với chi tiết này chúng ta thấy rằng các nhà lãnh đạo tôn giáo thời đó cũng là những người khôn ngoan thông thái. Họ còn hiểu biết đạo Chúa. Thế mà, những điều họ biết là cái biết của lý trí, dựa theo kinh điển mà không hề cất bước đi tìm cho nên cái khôn ngoan của họ, những điều họ biết cũng chẳng giúp gì cho họ. Còn Vua Hê-rô-đê cũng biết; nhưng điều nhà vua biết không đem vua lại gần Chúa; trái lại cái biết đó lại là nguyên nhân khiến cho vua lo sợ. Phát sinh từ nỗi sợ hãi hoang tưởng, sợ mất quyền hành; vua đã tìm cách tiêu diệt và giết hết những ai là mầm mống đe doạ sẽ lật đổ ngai vàng của ông. Cho dù như thế, nhưng Thiên Chúa vẫn dùng họ như dụng cụ khai lối chỉ đường cho người khác. Thiên Chúa luôn soi sáng cho những ai tha thiết tìm ơn cứu độ, cho dù trên hành trình tìm kiếm, nhiều lúc chúng ta cảm thấy ánh sáng khi ẩn, khi hiện, đường đi không rõ và tương lai lại mịt mù.

Ngoài ra, sự việc tỏ mình của Thiên Chúa trong thân phận của trẻ thơ Giê-su hôm nay chỉ trọn vẹn khi Người đã cho đi tận cùng cuộc sống của mình. Chính việc cho đi và tự hiến sau cùng của Đức Giê-su mới là cuộc tỏ mình huy hoàng nhất về chân tuớng đích thật của Người qua biến cố Phục Sinh. Vào ngày đó, con người của Đức Giêsu được bao phủ trọn vẹn thần tính của Thiên Chúa. Và cũng chính nhờ ơn Phục Sinh mà chúng ta nhận ra thần tính của Đức Chúa. Các môn đệ là nhân chứng về cuộc Hiển Linh Phục Sinh. Niềm tin của chúng ta hôm nay cũng dựa vào lời chứng của các tín hữu tiên khởi; đó chính là: Thiên Chúa đã tỏ mình trong thân phận con người của Đức Giêsu, Người đã ở giữa chúng tôi và chúng tôi đã thấy vinh quang của Người từ Chúa Cha mà đến.

Như vậy, với trình thuật Hiển Linh, Thiên Chúa tỏ mình cho mọi người biết rằng: trong Chúa không ai là người ngoài cuộc hết. Tất cả đều được mời gọi đón nhận và làm chứng về ơn cứu độ. Ai ai cũng đựợc diễm phúc làm con của Ngài. Ai ai cũng được mời gọi sống để tỏ bầy sự hiện diện của Thiên Chúa. Đây chính là hồng ân và sứ mạng mà Thiên Chúa đã trao ban cho chúng ta.

Thưa anh chị em,

Thiên Chúa đã làm người, đã tỏ chân tướng đích thật của Ngài cho chúng ta nhận biết. Nhưng chúng ta đã làm gì để tỏ ra cho người khác nhận biết sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc sống mình? Cũng có lúc chúng ta cảm thấy Chúa rất gần gũi, Người đang ở sát bên mình và thúc giục chúng ta ra đi để chu toàn sứ mạng. Với ý ngay lành chúng ta tuởng như là Chúa rất cần chúng ta để làm cho Danh Người cả sáng. Nhưng thực tế lại khác, có những giây phút buồn chán khi đối diện với muôn ngàn khó khăn khiến chúng ta dễ có khuynh hướng buông xuôi và bỏ cuộc… Trong hoàn cảnh như thế, chúng ta lại gán cho Chúa ý nghĩ của mình là Chúa bỏ rơi con. Thật ra, Thiên Chúa không chán nản, không hề thất vọng về ta. Ngài luôn luôn dùng đủ mọi cách thức để bộc lộ, lôi kéo và hướng dẫn chúng ta.

Vì thế, giống như hành trình tìm kiếm của các nhà chiêm tinh, trong cuộc sống chúng ta cũng nhận ra dấu của ngôi sao, các dấu chỉ thời đại mà Chúa dùng để soi sáng và mời gọi chúng ta. Tất cả đều là ánh sáng của Chúa. Ngay cả có những lúc ánh sao bị biến mất thì Chúa lại dùng đường lối khác, như những con người giống Hê-rô-đê và những vị học giả thông thái am tường đạo Chúa. Thiên Chúa vẫn dùng họ, không chừa một ai, để hỗ trợ, động viên, nhắn gửi cho các nhà chiêm tinh và mỗi người chúng ta một sứ điệp là ta vẫn đáng tin, đừng chán nản, hãy tiếp tục lên đuờng và căng buồm ra khơi.

Như vậy, sứ mạng làm cho người khác nhận ra Thiên Chúa nơi mình không nằm xa và ở ngoài khả năng của chúng ta. Nó nằm ngay trong bản thân, giữa gia đình, qua mối dây liên hệ giữa vợ chồng và con cái, giữa các kẻ tin và người không tin, giữa những ai đủ can đảm để cho Mầu Nhiệm Nhập Thể của Thiên Chúa tỏ mình qua các việc làm như:

Trao cho nhau nụ cuời, dành cho nhau các câu nói cảm thông hơn là trách móc, ghen tỵ và oán than nhau.

Đến với nhau bằng trái tim biết rung động để khoan hồng, dung thứ và đón nhận những thiếu sót và bất toàn của nhau.

Mở rộng đôi tay nhân ái để đón tiếp hơn là loại bỏ, hất hủi và xua đuổi nhau.

Nói chung, đó là các việc nói lên hành trình tìm kiếm và thực thi Lời Chúa bằng chính cuộc sống mình. Tất cả đều là lời mời gọi, là các cơ hội để Thiên Chúa được tỏ mình qua lối sống chứng nhân, tuy bình thường nhưng lại chứa đựng quyền năng và sức mạnh của Thiên Chúa nơi mình.

Cầu xin cho mọi người có lối sống nêu trên để qua đó, chúng ta có nhiều cơ hội bộc lộ thân thế và nguồn ơn cứu độ của Người cho muôn dân. Amen!

------------------------------
 

Tác giả: Nguyễn Văn Mễn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Chuyen ke cho cac gia dinh
Chuyện kể cho các gia đình
Báo công giáo
Giáo phận long xuyên
http://www.giaoxugiaohovietnam.com/
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây