Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật Lễ Thăng Thiên ABC Bài 451-463 Chúa lên Trời - Ngày quốc tế truyền thông

Thứ hai - 17/05/2021 04:52
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật Lễ Thăng Thiên ABC Bài 451-463 Chúa lên Trời - Ngày quốc tế truyền thông
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật Lễ Thăng Thiên ABC Bài 451-463 Chúa lên Trời - Ngày quốc tế truyền thông
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật Lễ Thăng Thiên ABC Bài 451-463 Chúa lên Trời - Ngày quốc tế truyền thông

------------------------------
LênTrời-451: TRỞ NÊN CHỨNG NHÂN TÌNH YÊU.. 1
LênTrời-452: CHÚA LÊN TRỜI MỞ CHÂN TRỜI MỚI 4
LênTrời-453: QUÊ HƯƠNG CHÚNG TA Ở TRÊN TRỜI 5
LênTrời-454: CÓ CHÚA CÙNG HOẠT ĐỘNG.. 8
LênTrời-455: CÙNG NGƯỚC LÊN TRỜI 10
LênTrời-456: HỢP NHẤT.. 11
LênTrời-457: HƯỚNG VỀ CHÚA CHA.. 12
LênTrời-458: Mừng lễ Chúa Giêsu lên trời 14
LênTrời-459: CHÚA ĐI DỌN CHỖ CHO CHÚNG TA.. 16
LênTrời-460: QUÊ HƯƠNG.. 18
LênTrời-461: KHAI MỞ GIAI ĐOẠN MỚI 20
LênTrời-462: THẦY ĐI ĐÂU?. 22
LênTrời-463: CHÚA VỀ TRỜI TRAO SỨ MỆNH.. 26

------------------------------
 

nTrời-451: TRỞ NÊN CHỨNG NHÂN TÌNH YÊU


 Lm. Xuân Hy Vọng

Anh chị em rất thân mến,
 

Chúng ta đã cùng Giáo hội hân hoan mừng đón Chúa Phục Sinh và giờ đây giống như mười một LênTrời-451


Chúng ta đã cùng Giáo hội hân hoan mừng đón Chúa Phục Sinh và giờ đây giống như mười một Tông đồ, có lẽ chúng ta lòng cũng buồn rười rượi, bịn rịn phải nói lời chia tay với Chúa Giê-su vì hôm nay Người lên trời, và ngự bên hữu Thiên Chúa Cha. Nhưng con thiết nghĩ nỗi buồn này được lấp đầy với niềm vui chan chứa, và ngôn từ chia tay này được thay thế bằng lời trấn an đầy xác tín của Chúa Giê-su Ki-tô với các môn đệ và với mỗi người chúng ta: Thầy sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế (Mt 28, 20). Các bài đọc hôm nay chúng ta vừa nghe, đặc biệt trình thuật ngắn gọn của Thánh Sử Mác-cô về sự kiện Chúa Thăng Thiên cho chúng ta thấy: Mác-cô không đơn thuần thuật lại chuyện Đức Giê-su được đưa lên trời, ngự bên hữu Chúa Cha, mà còn nhắn nhủ mỗi người chúng ta hãy nhớ “bài sai” của Chúa Giê-su gửi cho mọi người tin nhận vào Người rằng: “Các con hãy đi khắp thế gian loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo, ai tin và chịu phép rửa sẽ được cứu độ; còn ai không tin sẽ bị kết án” (Mc 16, 15-16). Nói cách khác, mỗi người chúng ta được Chúa mời gọi và được sai đi làm chứng nhân cho Chúa tình yêu trong mọi hoàn cảnh sống, mọi thời đại và mọi lãnh vực.

Trước tiên, chúng ta nên hỏi bản thân: ai là chứng nhân cho Thiên Chúa tình yêu? Và chứng nhân cho Chúa là người như thế nào? Thông thường, anh chị em nghe quý cha, quý sơ, quý thầy được nhận bài sai đi truyền giáo, phục vụ ở nơi này hay nơi khác, ở quê hương hay trên một vùng đất xa lạ nào đó, chứ ít ai nghe giáo dân được sai đi?!! Nghĩ như vậy cũng là điều dễ hiểu, nhưng chúng ta nên biết rằng: khi được chịu Bí tích Rửa tội, chúng ta được trở nên người thuộc về Chúa Ki-tô (Ki-tô hữu), người được thông phần vào sứ vụ tiên tri, tư tế và vương đế của Ngài; còn nữa, chúng ta cam kết từ bỏ mọi âm mưu đen tối của tội lỗi, ma quỷ và hứa sống tín thác hoàn toàn nơi Thiên Chúa qua việc sống đức tin và làm chứng cho Chúa qua đời sống hằng ngày. Như vậy, chứng nhân cho Thiên Chúa tình yêu chính là mỗi một người Ki-tô hữu chúng ta, là những người được khắc sâu trong tâm khảm mình ấn tín thánh thiêng không bao giờ phai mờ, là người mặc lấy thánh danh Ki-tô hay là người mang tên Ki-tô hữu. Như bài đọc 1 trích trong sách Công Vụ Tông Đồ, Chúa Giê-su khẳng định: các tông đồ sẽ được lãnh nhận sức mạnh của Thánh thần khi Người ngự xuống trên các ông. Bấy giờ các ngài sẽ là chứng nhân của Thầy Chí Thánh Giê-su tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp các miền Giu-đê, Sa-ma-ri-a cho đến tận cùng trái đất (x. Cv 1,8). Chứng nhân của Thiên Chúa tình yêu là người được Thánh thần thúc giục, nâng đỡ, ban sức mạnh, can đảm, quả quyết, dũng cảm ra khỏi con người yếu đuối, sợ sệt, nhút nhát của mình, vứt bỏ những thú vui trần tục, thói quen đam mê mà dám tuyên xưng vào Thiên Chúa đã yêu thương nhân loại đến nỗi trao ban Con Một yêu dấu của mình để cứu độ con người tội lỗi (x. Ga 3, 16). Còn gì đẹp hơn, cao cả hơn tình yêu của một Thiên Chúa trao ban chính sự sống mình cho chúng ta dù chúng ta bất xứng, vô ơn!

Như vậy, anh chị em chúng ta phải khẳng định một điều: đã là người Ki-tô hữu, tất cả chúng ta đều là chứng nhân của Chúa Ki-tô. Tuy nhiên, chúng ta sẽ làm chứng cho ai và cho điều gì? Một câu hỏi dường như không cần thiết và có lẽ hơi dư thừa, nhưng nếu nhìn vào cuộc sống gia đình, lịch sử bản thân,những thăng trầm, và bước ngoặt lớn trong đời sống đức tin của mỗi người, chúng ta sẽ nhận ra: lắm lúc chúng ta không làm chứng cho Chúa tình yêu và cho Chân lý. Lý do thì ôi thôi vô số, hơn cả 1001 lý chứng để biện hộ, biện minh hay giải trình. Thay vì làm chứng cho Chúa Ki-tô đã yêu thương tôi, đã chết cứu chuộc tôi, tôi lại làm chứng cho “cái tôi”, cho “bản ngã” tự kiêu của mình. Thay vì làm chứng cho lòng thương xót, lòng bao dung tha thứ của Thiên Chúa dành cho tôi, tôi lại làm chứng cho sự cứng nhắc, hành vi lên án và ghen ghét đối với chính mình và đối với tha nhân. Thay vì làm chứng cho cử chỉ khoan dung, chờ đợi và vòng tay rộng mở của Chúa dành cho con người tội lỗi như tôi, tôi lại làm chứng cho lối suy nghĩ kết án, xua đuổi và tách biệt của mình đối với anh chị em trong cộng đoàn; và còn vô vàn nhiều điều khác mà đáng lẽ chúng ta phải làm chứng, nhưng vì sự yếu đuối, chúng ta đã nhiều lần thỏa hiệp với điều bất chính hoặc cho tư lợi cá nhân. Là con cái Chúa, chúng ta phải sống trong sự thật, làm chứng cho chân lý, nhưng lắm lúc chúng ta lại làm chứng gian. Chính vì nhận biết con người thật mỏng manh, yếu đuối và dễ sa ngã như vậy, thánh Phao-lô đã nhắn nhủ chúng ta qua bài đọc II, thư gửi giáo đoàn Ê-phê-sô: “Anh em được ban thần khí khôn ngoan và mạc khải để nhận biết Người. Xin cho mắt tâm hồn anh em được sáng suốt, để anh em biết thế nào là trông cậy vào ơn Người kêu gọi, thế nào là sự phong phú gia nghiệp vinh quang nơi các thánh…” (Ep 1, 17-18). Lời nguyện xin của thánh Phao-lô cho tín hữu Ê-phê-sô cũng chính cho mỗi người Ki-tô hữu chúng ta. Thật không sai khi chúng ta nhận mình yếu đuối, nhưng với ơn Chúa, chúng ta trở nên can đảm làm chứng cho Ngài. Chẳng chút gì sai khi chúng ta nhận biết mình mù quáng trước lợi danh, tiền, tài, tình, tham vọng và đam mê, nhưng với Thần khí khôn ngoan, đôi mắt tâm hồn của chúng ta sẽ trở nên sáng suốt, can trường đứng về phía chân lý và làm chứng nhân cho tình yêu đích thật, làm chứng tá cho Thiên Chúa.

Anh chị em rất thân mến, chúng ta đã biết mỗi một người trong chúng ta được Thiên Chúa mời gọi trở nên chứng nhân cho tình yêu Chúa và cho chân lý. Tuy nhiên, sống trong một thế giới đầy chuyển biến như ngày nay, chúng ta phải sống chứng tá như thế nào? Một niềm vui an ủi chắc chắn cho các Tông đồ, cho Giáo hội và cho chúng ta, đó là: mặc dù Chúa Giê-su vinh hiển lên trời, nhưng Người luôn đồng hành, ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế. Bằng chứng cụ thể, mỗi ngày Ngài hiện diện qua bí tích Thánh thể, trao ban chính sự sống Người cho chúng ta. Trong mọi phút giây, những khi ta quỵ ngã vì phạm tội, Ngài đồng hành với chúng ta qua bí tích Giải hòa để ban ơn tha thứ và bình an cho ta. Khi ta ốm đau bệnh tật phần hồn cũng như phần xác, Ngài đỡ nâng và cảm thông với ta, v.v…Những cảm nghiệm này, tiên vàn các Tông đồ là nhân chứng hùng hồn nhất “…phần các ông, các ông đi rao giảng khắp mọi nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông và củng cố lời rao giảng bằng những phép lạ kèm theo” (Mc 16, 20).

Trong đời sống mục vụ và truyền giáo ở xứ sở hoa anh đào này, con cũng được nhiều anh chị em chia sẽ: làm sao sống giữ vững đức tin ở đất nước phồn thịnh Nhật Bản này; làm sao sống chứng tá cho Tin Mừng và rao truyền Nước Chúa cho những người chưa tin nhận Chúa, v.v…Và câu chuyện đó luôn kết thúc bằng bốn chữ “khó lắm cha ơi”. Thật sự, bản thân con cũng đồng cảm với quý ông bà, anh chị em; nhưng cũng nên khẳng định một điều: “khó không có nghĩa là không thực hiện được”. Nếu mỗi người chúng ta cố gắng bắt đầu làm chứng tá cho Chúa từ những việc làm bé nhỏ nhất, cử chỉ yêu thương, vị tha, sống hài hòa và hiệp thông với nhau. Và rồi từ tình yêu thương trong cộng đoàn dù bé nhỏ ấy sẽ như hương hoa lan tỏa khắp nơi. Hơn nữa, nếu chúng ta luôn tin tưởng rằng: chúng ta không ‘đơn thân độc mã’ sống chứng tá cho Tình yêu, nhưng các anh chị em khác đang cùng với ta và nhất là Chúa Ki-tô Phục Sinh luôn đồng hành, nâng đỡ ta trên bước đường trở nên nhân chứng Tình yêu như tâm tình trong một bài hát sinh hoạt “Phao-lô trồng, A-pô-lô tưới, Thiên Chúa sẽ cho mọc lên. Tôi trồng, anh tưới, Thiên Chúa cho bông lúa vàng”.

Với niềm tin xác tín vào Chúa Ki-tô, Con Thiên Chúa đã chịu chết cho nhân loại vì tình yêu. Và hôm nay Ngài lên trời, về cùng Chúa Cha, nhưng Ngài luôn ở cùng chúng ta cho đến ngày tận thế, chúng ta xin Chúa giúp sức cho mỗi người biết ý thức, can đảm trở nên chứng tá cho tình yêu mà Ngài đã dành cho chúng ta.

Chung lời ngợi khen Chúa Con,
Hân hoan thờ kính sắt son một niềm.
Ứng viên của Chúa tình yêu
Nhiệt tâm, nhiệt huyết, đìu hiu xa rời,
Gần gũi, gắn bó đầy vơi
Nghị lực Thần khí, biển trời cậy trông.
Hoạt động hăng say vun trồng,
Ân sủng chan chứa tình nồng thánh ân
Người người chung sức tảo tần,
Ra đi làm chứng, xếp vần yêu thương. Amen.

-------------------------
 

nTrời-452: CHÚA LÊN TRỜI MỞ CHÂN TRỜI MỚI


Lm. Nguyễn Xuân Trường
 

Chúa Giêsu lên trời mở ra những chân trời mới cho chúng ta: Phận người không chỉ ở nơi đất LênTrời-452


Chúa Giêsu lên trời mở ra những chân trời mới cho chúng ta: Phận người không chỉ ở nơi đất thấp mà còn vươn tới tận trời cao. Đạo Chúa không chỉ giới hạn ở 1 quốc gia mà mở ra cho toàn thiên hạ.

Phận người vươn tới trời cao. Chúa Giêsu đã từ trời xuống thế làm người. Thế rồi, con người Giêsu đã chịu chết, sống lại và lên trời ngự bên hữu Chúa Cha. Đó là tin mừng vĩ đại cho loài người: Thân phận con người từ nay không dừng lại nơi đất thấp, mà vươn tới trời cao. Chúa mở ra cho toàn thể loài người một chân trời hy vọng được hưởng sự sống vinh quang đời đời trên trời. Phận người không phải là an nghỉ nơi huyệt mộ trong lòng đất, nhưng là vui sống hạnh phúc trên trời với Thiên Chúa. Phải chăng vì thế mà Chúa đã tạo dựng con người trong tư thế: Đầu đội trời, chân đạp đất. Sống nơi đất thấp, nhưng con người lại luôn hướng lên trời cao. Đất cho ta sinh sống, nhưng Trời mới cho ta lẽ sống.

Đạo Chúa lan tỏa thiên hạ. Khi Chúa Giêsu còn ở trần gian, thì Đạo Chúa mới chỉ giới hạn ở 1 quốc gia, nhưng khi Chúa lên trời, thì Đạo Chúa đã mở ra toàn thiên hạ khi Ngài truyền cho các môn đệ: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo.” Như vệ tinh cần phải bay lên trời thì mới phủ sóng rộng toàn cầu, Chúa Giêsu lên trời cũng phủ sóng Tin Mừng khắp thế giới. Vệ tinh trên trời cần các thiết bị dưới đất tiếp nhận tín hiệu rồi truyền sóng, Chúa lên trời cũng cần các môn đệ của Ngài truyền sóng Tin Mừng, ra đi làm chứng nhân cho Chúa. Hãy ra đi lan tỏa Đạo Chúa khắp thiên hạ.

Và như thế, không phải đợi sau khi chết chúng ta mới được về trời với Chúa, mà ngay khi đang sống dưới đất chúng ta cũng đã được vui hưởng niềm vui Nước Trời khi loan báo và làm chứng Tin Mừng yêu thương. Bởi vì, đâu có tình yêu thương ở đó có Đức Chúa Trời. Amen.

-----------------------------
 

nTrời-453: QUÊ HƯƠNG CHÚNG TA Ở TRÊN TRỜI


Lm Phêrô Nguyễn Văn Hương
 

Hôm nay chúng ta cử hành lễ Chúa Giêsu lên trời. Trong bài đọc I tác giả sách Công Vụ Tông LênTrời-453


Hôm nay chúng ta cử hành lễ Chúa Giêsu lên trời. Trong bài đọc I tác giả sách Công Vụ Tông Đồ miêu tả biến cố này như sau: “Nói xong, Người được cất lên ngay trước mắt các ông, và có đám mây quyện lấy Người, khiến các ông không còn thấy Người nữa. Và đang lúc các ông còn đăm đăm nhìn lên trời phía Người đi, thì bỗng có hai người đàn ông mặc áo trắng đứng bên cạnh và nói: Hỡi những người Galilê, sao còn đứng nhìn trời? Đức Giêsu, Đấng vừa lìa các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời” (Cv 1,9-11).

Có thể nói rằng đây là sự miêu tả bên ngoài của biến cố. Thánh Phaolô trong bài đọc II nói đến ý nghĩa ẩn dấu bên trong của biến cố này. Theo ngài, “Thiên Chúa đã đặt tất cả dưới chân Đức Kitô và đặt Người làm đầu toàn thể Hội Thánh” (Ep 1,22). Như thế, lễ Lên Trời cử hành sự đăng quang vinh hiển của Chúa Kitô như là Chúa của hoàn vũ.

1- Lên trời nghĩa là gì?

Trong biến cố này, lời nhắc nhở của hai thiên thần mặc áo trắng làm chúng ta nhớ đến những lời của những người vô thần thường nói với các Kitô hữu: “Sao các ông còn đứng nhìn trời?” Thật vậy, triết gia Hegel đã từng mỉa mai rằng: “Người Kitô hữu đã hoang phí những kho tàng quý báu ở dưới đất khi mải mê hướng về trời.” Karl Mark cũng cho rằng: “Các Kitô hữu đã phỏng chiếu lên trời những khao khát không được thỏa mãn của họ ở dưới đất này.” Vì thế, thánh lễ hôm nay thúc đẩy chúng ta suy tư về việc “hướng về trời.” Đây là một hạn từ được các bài đọc Kinh Thánh nói tới.

Triết gia Platon, một trong những người thầy vĩ đại nhất của nhân loại, đã nói về ý nghĩa thiêng liêng của trời. Ông để lại vũ trụ quan của mình qua dụ ngôn về cái hang. Platon hình dung loài người là một đoàn người tù nhân bị trói chặt trong một hang động u tối. Họ quay mặt vào vách tường ở dưới đáy động. Vì bị trói chặt, đám người không thể nhìn ra cửa hang, cũng không thể đi ra ngoài hang. Bên ngoài cửa hang là cả một thế giới được Platon cho là Chân, Thiện, Mỹ. Trong thế giới đó có vô số thứ tốt lành mà ông gọi là thế giới các Ý Tưởng (Ideas). Theo ông, tất cả các ý tưởng đều tuyệt đẹp, vĩnh cửu và bất biến. Các vị thần là những sinh linh hay siêu nhân có thể nhận biết tất cả những ý tưởng đó. Thương loài người bị cầm tù, các thần làm một bản sao một số ý tưởng để mang vào hang cho loài người xem. Chúng giống như những con rối hay búp bê, được làm bằng vật liệu nào đó, chúng thực là những con rối, nhưng không phải là cái thực của hình mẫu lý tưởng. Để cho mọi người trong hang nhìn thấy chúng, các thần đốt lửa đằng sau để chiếu bóng của con rối lên bức tường. Nhờ ánh sáng mà người ta thấy được bóng của các con rối.

Như thế, theo Platon, thế giới vĩnh hằng với các ý tưởng chân thiện mỹ, vĩnh cửu, là mẫu mực của mọi sự vật trong tự nhiên. Thế giới tự nhiên, vật chất với những con rối, đối tượng được các thần sao chép từ các ý tưởng. Thế giới của các cái bóng những con rối là hình ảnh về những sự vật khách quan theo cảm nhận chủ quan của con người. Platon nói rằng đây là điều kiện của con người chúng ta ở trong thế giới. Thế giới này chỉ là một hang. Những điều mà chúng ta tin rằng là thực chỉ là bóng của thực tại ở đằng kia, ở trên trời. Chúng là sự bắt chước của thực tại trên trời. Vì thế, cần phải thoát khỏi thân xác là ngục tù nhốt chúng ta trong thế giới vật chất với những ảo tưởng, để “thoát khỏi hang tối” mà nhận biết thực tại đích thực. Vì thế, Platon hiểu rằng trời là quê hương vĩnh cửu của con người, chứ không phải là một không gian địa lý nào đó xa xôi trong vũ trụ này. Trời có ý nghĩa hoàn toàn khác, ở ngoài không gian và thời gian. Ông gọi đó là “thế giới của các ý tưởng” hay thế giới bên kia.

Danh họa Raffaello đã tóm tắt một cách tuyệt hảo ý tưởng của Platon trong một bức tranh nổi tiếng gọi là “Trường Athens.” Trong đó, chúng ta thấy hai nhà triết gia vĩ đại cổ, một Platon và một Aristotes, đại diện cho hai thái độ đối lập nhau. Với bàn tay chỉ xuống dưới, Aristotes nói rằng thực tại là ở trên mặt đất và sự hiểu biết của chúng ta phải khởi đi từ những sự vật mà chúng ta thấy và đụng chạm; còn Platon với ngón tay chỉ lên trời lưu ý rằng thực tại ở trên cao, trên trời.

Ngày hôm nay, tất cả chúng ta ít nhiều là những người theo Aristotes, ai cũng có cái nhìn và chú ý đến trần gian. Chúng ta cần bổ túc bởi cái nhìn của Platon.

Nếu chúng ta sống tình yêu mang tính “platonist,” nghĩa là tình yêu này có tính thiêng liêng hơn, hướng thượng hơn và lý tưởng hơn, lúc đó, cả trong tình yêu, tình yêu của chúng ta có ý nghĩa hơn, có giá trị hơn. Bởi lẽ, chúng ta thấy rằng mối nguy hiểm lớn nhất là hạ giá tình yêu khi chỉ giảm thiểu nó ở trong phạm vi thuộc thể lý, cảm xúc và tính dục.

2- Sự khác biệt của Kitô giáo về trời

Có những đoạn Kinh Thánh xem ra như phác họa lại khuôn mẫu của Platon để nhìn các sự vật như được miêu tả từ dụ ngôn cái hang. Nhân vật trong bức tranh của Raffaello với ngón tay chỉ về trời chính là hình ảnh rất đẹp về thánh Phaolô khi ngài nói: “Anh em đã được trỗi dậy cùng với Đức Kitô, nên hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa. Anh em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới” (Cl 3,1-2).

Như vậy, Đức tin Kitô giáo có phải là một dạng cập nhật tư tưởng Platon chăng? Đức Giêsu đến không mang lại gì mới mẻ chăng? Không, chúng ta phải nói rằng có một sự khác biệt nền tảng; trời trong mạc khải Kitô giáo không phải là trời như Platon quan niệm. Kitô giáo không quan niệm thế giới theo sơ đồ không gian trên/dưới, hoặc trên cao/dưới thấp, nhưng với lược đồ thời gian hiện tại/tương lai. Khi chúng ta nói về trời, chúng ta không hiểu rằng đó là một không gian ở trên chúng ta, nhưng là một biến cố trước mặt chúng ta, hướng về biến cố đó chúng ta tiến bước. Biến cố này chính là sự trở lại vinh quang của Chúa Kitô, sự trở lại lần thứ hai (parusia) là “trời mới đất mới.”

Đó là lý do tại sao hai thiên thần nhắc nhở các Tông Đồ không hướng nhìn lên trời mà phải hướng về sự trở lại của Chúa Kitô: “Đức Giêsu, Đấng vừa lìa các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời.” Liên quan đến điều này, thánh Phaolô nói: “Còn chúng ta, quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giêsu Kitô từ trời đến cứu chúng ta” (Pl 3,20). Kinh Thánh nói rằng: “Vì trên đời này, chúng ta không có thành trì bền vững, nhưng đang tìm kiếm thành trì tương lai” (Hr 13,14).

Có ai đó sẽ nói: “Nhưng đâu có gì khác biệt?” Quả thật, có sự khác biệt lớn lao! Đối với cái nhìn của Platon, thế giới này không còn giá trị của nó. Thế giới này là một cái hang, nghĩa là một nhà tù. Nên ông dùng hai từ trong tiếng Hy Lạp khi nói: thân xác (soma) là một ngôi mộ (sema). Hãy chạy trốn, thoát khỏi thế giới này. Không có ơn cứu độ nơi thân xác và thế giới, nhưng chỉ khi con người rời khỏi thân xác và thế giới này mới có ơn cứu độ.

3- Hướng về sự trở lại của Chúa Kitô

Đối với người Kitô hữu không như thế, Kitô giáo không phải theo nhị nguyên luận như Platon. Thân xác không chỉ đơn giản là “phương tiện” hoặc là “tù ngục” cần phải trốn thoát. Thân xác con người được Thiên Chúa tiền định để tham dự vinh quang phục sinh với linh hồn. Sự phục sinh và sự lên trời của Đức Kitô minh chứng cho chúng ta chân lý này. Chúng ta được hạnh phúc “trong chính thân xác mình,” như đức tin đảm bảo điều đó cho chúng ta. Cuộc gặp gỡ với Chúa Đấng sẽ đến và “ra đi để được ở với Đức Kitô” (Pl 1,23), Người chính là “trời, là thiên đàng đối với người Kitô hữu chúng ta.”

Hơn nữa, nếu thế giới này thuộc về Thiên Chúa, được tạo dựng bởi Người, thì nó cũng được cứu độ (x. Rm 8,19), do đó, chúng ta không được tách khỏi vận mệnh thế giới, nhưng đóng góp để gìn giữ và xây dựng thế giới này đẹp hơn, tốt hơn và nhân bản hơn. Chúng ta có bổn phận phải làm cho những điều kiện sống ở đời này tốt hơn. Đức tin dạy chúng ta khi trông chờ Đức Kitô đến và hướng về tương lai không cho phép chúng ta an nhiên tự tại trong sự lười biếng hay bỏ bê bổn phận xây dựng xã hội trần thế. Thời gian được ban cho chúng ta để “làm điều thiện cho mọi người” (Gl 6,10) như thánh Phaolô dạy. Vì thế, “không được lãng phí những kho báu dưới đất khi hướng về trời.”

Nếu trời đối với chúng là “Chúa đến,” như thế, chúng ta phải luôn tỉnh thức, bởi vì Người đang đến lúc này trong phép Thánh Thể, trong người nghèo, trong người đau khổ, cô đơn. Chúng ta hãy tỉnh thức để đón Chúa đến với cặp mắt không chỉ nhìn lên, nhưng còn phải biết nhìn xuống để nhận ra Chúa nơi anh chị em của mình. Amen!

------------------------------
 

nTrời-454: CÓ CHÚA CÙNG HOẠT ĐỘNG


Bông hồng nhỏ
 

Trước khi về trời, Chúa Giêsu phục sinh hiện ra căn dặn các môn đệ của mình và ban cho các LênTrời-454


Trước khi về trời, Chúa Giêsu phục sinh hiện ra căn dặn các môn đệ của mình và ban cho các ông lệnh truyền: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo. (Mc 16, 15). Lệnh truyền ấy đã hối thúc muôn tâm hồn miệt mài ra đi trên cánh đồng sứ vụ. Họ hăm hở ra đi truyền rao Tin Mừng. Từng thế hệ nối tiếp nhau, không có khó khăn hay gian khổ nào có thể cản bước tiến của họ, vì trong tâm hồn họ và bên cạnh họ luôn có Thầy Giêsu hiện diện.

Ta cũng là người môn đệ của Chúa, đã lãnh nhận hồng ân đức tin và được ơn cứu độ. Ta sẽ ra đi truyền rao Tin Mừng bằng cách nào đây?

Khi muôn người tông đồ của Chúa ra đi, can đảm đến những vùng đất truyền giáo xa xôi, họ mang ánh sáng của Tin Mừng đến cho những “người mù” chưa nhận biết Chúa; cũng có những tâm hồn không có cơ hội cất bước đến vùng truyền giáo, nhưng tâm hồn họ đầy tràn nhiệt huyết rao giảng Tin Mừng. Có ai ngờ rằng, một nữ tu dòng kín như Chị thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu lại trở nên một vị thánh bổn mạng cho các xứ truyền giáo. Cũng có những con người ngày đêm âm thầm gieo vãi hạt giống đức tin và Thiên Chúa vẫn không ngừng chúc lành cho những hạt giống ấy. Thầy Giêsu đã khẳng định rằng: “Nhân danh Thầy, họ sẽ trừ được quỷ, sẽ nói được những tiếng mới lạ…” (Mc 16, 17). Nếu như ta bắt đầu một công việc tốt lành nào đó và ý thức rằng ta đang làm trong tình yêu Giêsu, đang nhân danh Thầy mà thực thi tình yêu thì chắc hẳn chính Thầy sẽ chúc lành cho công việc ta làm. Từ những việc nhỏ nhặt nhất như cho một em bé ăn, chăm sóc một người bệnh, tiếp chuyện một người và nhiều việc không tên khác, nếu như ta đặt trọn tình yêu thì tình yêu chân thành của ta gửi đến họ, họ sẽ cảm nhận được.

Cũng vậy, khi ta sống cuộc đời mình với từng phút giây luôn ý thức có Chúa cùng hoạt động với ta thì quả thật là một niềm hạnh phúc lớn lao. Các Tông đồ cũng đã trải qua từng phút giây hạnh phúc tuyệt vời. “Còn các Tông Đồ ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng.” (Mc 16, 20). Đâu là dấu lạ sẽ kèm theo để xác nhận lời ta rao giảng đây? Đó chẳng phải là nụ cười hồn nhiên trong sáng của những bé thơ bên cạnh ta, hay đơn giảng chỉ là một ánh mắt tin tưởng của một bà cụ được ta dẫn qua đường, … Niềm vui và hạnh phúc chân thành ta trao ban sẽ còn lưu lại trong trái tim những người ta gặp gỡ. Không phải chính tài năng của ta đã đem lại cho họ điều đó nhưng là chính tình yêu Giêsu cháy bừng trong ta đã thắp lửa hạnh phúc cho họ.

Lạy Chúa Giêsu yêu mến! Chúa đã lên trời nhưng Chúa vẫn còn ở lại với chúng con luôn mãi nơi Bí tích Thánh Thể. Xin cho con từng ngày đón nhận Chúa bằng cả tâm hồn mình và luôn dâng hiến chính mình cho Chúa. Lạy Chúa! Chúa đã muốn đến với con và cùng con đến với mọi người. Con tạ ơn Chúa! Amen.

----------------------------
 

nTrời-455: CÙNG NGƯỚC LÊN TRỜI


Anna Cỏ May
 

Cuộc đời là cay đắng. Cuộc đời thật là chông gai. Cuộc đời như những cơn sóng có lúc vỗ mạnh LênTrời-455


Cuộc đời là cay đắng. Cuộc đời thật là chông gai. Cuộc đời như những cơn sóng có lúc vỗ mạnh dồn dập, có lúc gợn nhẹ và có lúc lặng lẽ, nhẹ nhàng thướt tha. Xưa kia các môn đệ  chẳng phải trải qua những thăng trầm ấy khi sống cùng với Thầy sao?

Khi mới theo Thầy Giêsu, các môn đệ có những ước mơ hoài bão và dự tính cho tương lai. Trong khoảnh khắc Thầy Giêsu chưa đi vào cuộc Vượt Qua, các môn đệ có cuộc sống thân mật, vui vẻ cùng Thầy. Các ông được Thầy Giêsu yêu thương và nâng đỡ, được đồng bàn mỗi ngày. Mọi người xung quanh cũng vui và kính nể các ông. Thế rồi, giờ đã tới, Thầy Giêsu đi vào cuộc sóng gió, thì các môn đệ nhận thấy hoang mang, lo sợ và chạy tán loạn. Các ông không dám đối diện với sự thật đang diễn ra và bắt đầu khép mình lại trong bốn bức tường. Ngày ngày, các ông sống trong sự buồn rầu, bóng tối thì thỏa sức bao phủ, chiếm lấy tâm hồn và lòng trí các ông. Rồi, một luồn tia sáng chiếu soi căn phòng đã đánh tan bóng tối ấy. Ánh sáng ấy là sự sống của Thầy Giêsu.

Từ lúc ấy, các ông bắt đầu tiếp xúc với Thầy trong nhịp sống xuất hiện bất ngờ và biến đi bất ngờ. Dầu là vậy, các môn đệ vẫn được Thầy Giêsu giảng dạy và khơi nguồn sức sống nơi tâm hồn, trái tim mỗi ngày. Thầy mời gọi các môn đệ hãy đi khắp tứ phương thiên hạ loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo. (x. Mc 16,15). Thầy Giêsu còn mời gọi các môn đệ hãy mở lòng ra, hãy sống lại và thoát ra khỏi sự u buồn, sợ hãi và hãy vui lên, ra đi loan báo Tin Mừng, loan báo mầu nhiệm Đức Kitô đã chết và đã sống lại vinh quang. Các môn đệ sẽ ra đi trong ân sủng của Thầy Giêsu là trừ được quỷ, nói những tiếng mới lạ cùng đặt tay trên những bệnh nhân. (x. Lc16,17-18). Sau khi nói những lời ấy nơi ngọn núi cao, Thầy Giêsu được các Thiên Thần rước lên trời. Còn các môn đệ lòng đầy hân hoan. Bên trong các môn đệ bây giờ đã có một tình yêu siêu thoát và tâm trạng nặng nề không còn là gánh nặng nữa. Những ngày qua, các môn đệ đã đi vào dĩ vãng thì từ nay các ông hướng tất cả tâm trí về sứ mạng của Thầy trao ban với một lòng tin yêu nhiệt thành; và được chứng kiến việc Thầy rước lên Trời như đã thôi thúc các môn đệ tìm kiếm những điều trên cao, nơi Thầy đang ngự bên hữu Chúa Cha.

Thầy Giêsu phải ra đi, phải về Trời thì Thầy mới sai Chúa Thánh Thần và chính Chúa Thánh Thần sẽ tác động nơi các môn đệ và hướng dẫn cho các ông. Đó cũng là những tâm tình và vẻ đẹp tình yêu của Thiên Chúa mà Hội thánh đã mừng lễ Thăng Thiên, lễ vui tươi và trông cậy. Nào, chúng ta hãy hân hoan mừng lễ Chúa Thăng Thiên, cùng lắng nghe và thực hành sứ mạng của mình trong mỗi ngày sống như các môn đệ.

Lạy Chúa, xin cho con đừng u mê và mải mê trần thế mà cùng hướng lên Trời. Xin cho mỗi người chúng con thi hành sứ mạng là bổn phận hằng ngày một cách vui tươi, nhiệt thành. Nhờ đó, trong ngày sau hết chúng con cũng được rước lên Trời với Thầy. Amen.

----------------------------------
 

nTrời-456: HỢP NHẤT


Lm. Giuse Trần Việt Hùng
 

Giê-su ngước mắt nguyện cầu, Lạy Cha chí thánh, khấu đầu khấn van. Những người Cha đã LênTrời-456


Giê-su ngước mắt nguyện cầu,
Lạy Cha chí thánh, khấu đầu khấn van.
Những người Cha đã trao ban,
Kết đoàn hợp nhất, chung đàn chiên con.
Xin Cha gìn giữ chúng con,
Không ai bị mất, héo hon loại trừ.
Trừ ra môn đệ thoái hư,
Trọn lời Kinh Thánh, riêng tư phản Thầy.
Khi còn dưới thể tỏ bày,
Vui mừng phấn khởi, khi Thầy ra đi.
Những điều Con đã thực thi,
Từ Cha ban xuống, phát huy rạng ngời.
Chúng còn hiện diện trong đời,
Người ta ghét bỏ, một thời gian nan
Vì chúng không thuộc thế gian,
Xin Cha thánh hóa, ban tràn ân thiêng.

Chúa Giêsu tha thiết cầu nguyện cùng Chúa Cha để xin cho chúng ta được ơn hợp nhất nên một. Chúa không cầu xin để cất nhắc con cái ra khỏi thế gian mà vẫn sống trong thế gian, nhưng không ai bị hư mất. Sống giữa thế gian là sống giữa một xã hội xô bồ. Chúng ta phải chiến đấu từng ngày với những cơn cám dỗ, những khó khăn và phải phấn đấu không ngừng.

Không ai có thể bảo đảm được rằng mình sẽ luôn đứng vững và sống thánh thiện. Cuộc đời mỗi ngày là một thách thức mới và những nhu cầu đòi hỏi mới. Ai có thể nói, tôi bấy nhiêu tuổi rồi, tôi vẫn kiên vững trong niềm tin, trong sạch trong việc làm, dịu hiền trong các cư xử, thật thà trong mọi lời nói và trong trắng trong tâm hồn. Hãy ý tứ! Chúng ta cần cầu nguyện luôn để được đứng vững trước mặt Chúa.

Chúa Giêsu cầu nguyện cho chúng ta sống giữa thế gian mà không bị nhiễm tội thế gian. Chúa biết trước các môn đệ của Chúa sẽ phải đối diện với muôn vàn thách thức ở đời. Chúa không còn hiện diện bên cạnh để nâng đỡ và ủi an. Chúa đã xin Chúa Cha sai Thánh Thần Chân Lý đến để phù trợ. Chúa quan tâm đến sự hợp nhất giữa anh em, sự kiên trì trong niềm tin và bảo toàn trong sự thật. Chúa không cầu nguyện để họ khỏi bị đau khổ và bắt bớ nhưng cầu cho họ được sự kiên trì.

Giáo Hội Công Giáo cũng đã trải qua biết bao thăng trầm. Nhiều cuộc chia rẽ đưa đến phân biệt Giáo Hội Đông Phương và Tây Phương, ly giáo, Chính Thống Giáo, thệ phản Tin Lành có trên 700 Giáo phái khác nhau, rồi các nhóm riêng tư muốn tự lập trong Giáo Hội. Sự hợp nhất nên một rất quan trọng. Giáo Hội muốn hợp nhất nhưng con người lại không muốn. Ai cũng khư khư nghĩ mình là đúng nhất, tốt nhất và truyền thống nhất. Để rồi tự tách mình ra khỏi thân thể mầu nhiệm của Chúa Kitô. Chúng ta hãy nhìn về Chúa Kitô, Ngài chính là trung tâm điểm của thế giới.

Chúng ta cứ tiếp tục truyền rao lời chân lý của Chúa trong bất cứ hoàn cảnh nào. Mỗi người có cách rao giảng và sống lời Chúa riêng biệt. Truyện kể có một bà cụ già sống dưới chế độ vô thần đã viết thơ cho cháu ở Hoa Kỳ. Lá thơ nào bà cũng viết Phúc âm. Cháu nghĩ là lời khuyên của bà ngầm chứa điều gì. Sau đã nhận ra rằng bà có ý viết và cho người kiểm duyệt được đọc. Biết đâu lời Chúa sẽ thay đổi tâm hồn của họ.

Chúng ta đang sống trong một thế giới hưởng thụ. Rất khó để nhận ra đâu là chân lý và đâu là sự dữ vì xã hội bị dẫn đi vào con đường tục hóa. Hãy cầu nguyện để chúng ta vững vàng trong niềm tin. Tiếp tục sống chứng nhân cho chân lý giữa dòng đời.

-----------------------------
 

nTrời-457: HƯỚNG VỀ CHÚA CHA


Lm Giuse Hoàng Kim Toan
 

Chúa Giê su lên trời đánh dấu một lịch sử mới của nhân loại. Từ nay, trong Chúa Ba Ngôi có LênTrời-457


Chúa Giê su lên trời đánh dấu một lịch sử mới của nhân loại. Từ nay, trong Chúa Ba Ngôi có một con người, như nhà thần học Romano Guardini đã nhận định. Dù con người vẫn đang sống dưới thế này, nhưng cuộc sống luôn được quy hướng về Chúa Cha, vì con người đã có mặt ở nơi Chúa Con đang ngự bên hữu Chúa Cha.

Cuộc sống luôn hướng về.

Con người tín thác vào Chúa luôn là con người “sống trong thế gian mà không thuộc về thế gian” (Ga 17, 16). Là một lữ hành trên hành trình về với Chúa Cha, nên con người tin Chúa luôn xác tín quê hương đích thực là trên trời.

Một hành trình sống trong trần gian không thuộc về thế gian, mời gọi người tín hữu “Tiên vàn mọi sự hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, các điều khác Người sẽ ban cho sau” (Mt 6, 33). Không quá mải mê trần thế mà quên mất thiên đàng, vì thiên đàng ở ngay trong trần thế khi xây dựng được sự công chính và trật tự, an sinh, bình an.

Xin Chúa giữ gìn.

Thế gian bị lên án là một thế gian của sự tham lam, hưởng thụ, kiêu căng, loại trừ Thiên Chúa, tranh giành sự sống của người khác, làm mất phẩm giá của con người… Một thế gian đầy bất công, giả dối, lường gạt và vơ vét… Trong lời nguyện hiến tế, Chúa Giêsu  cầu nguyện cùng Chúa Cha: “Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần” (Ga 17, 15).

Đấng được Chúa Cha ban cho con người là Chúa Thánh Thần, Đấng giữ gìn con người tin vào Chúa Giêsu khỏi ác thần. Đấng làm cho người tín hữu được sáng tỏ trong chân lý, vững mạnh trong đức tin, sẵn sàng sống giữa thế gian mà không thuộc về thế gian.

Mưu chước của thế gian vô lường, người tín hữu dù là con cái sự sáng nhưng lại dễ bị mắc bẫy và thường thật thà lại thua thiệt, Chúa Giêsu trong câu truyện người quản lý bất lương nói: “Vì con cái đời này, khi đối xử với đồng loại, thì khôn khéo hơn con cái sự sáng” (Lc 16, 8) 

Chúa hứa ban gấp trăm đời này và đời sau, có ý nghĩa gì cho cuộc sống người tín hữu, khi thường sống giữa những sự dữ? Sống lương thiện không dễ dàng! Ra đường thì nạn mãi lộ, đồng lương không bằng đồng lậu, ngay thẳng thì ra bên ngoài, không nịnh hót, bè phái thì không có chỗ dung thân… Chính vì những khó khăn như vậy, người Kitô hữu cần nhờ đến Chúa Thánh Thần soi dẫn và trợ lực. Đấng xoay chuyển sự dữ ra sự lành. Đấng làm cho mọi sự đều có thể, như Thánh Phaolô, ngài xác tín khi đương đầu với khó khăn: “Ơn Ta đủ cho ngươi”  (2Cor 12, 9).

Hướng về và ở lại trong Chúa Cha qua đời sống kinh nguyện.

Đời sống kinh nguyện của người Kitô hữu khác hẳn với kinh nguyện khác. Trong mọi lời cầu nguyện đều ở trong Thiên Chúa, chứ không ở bên ngoài kêu cầu đến. Chúa Thánh Thần luôn hoạt động làm cho lời cầu nguyện được ở trong Chúa Giêsu và dâng lên Chúa Cha, Thánh Phaolô viết cho người tín hữu Galat: “Để chứng thực anh em là con cái, Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên: “Áp-ba, Cha ơi! ” (Ga 4, 6).

Lời kinh nguyện dù đọc dưới hình thức cá nhân nhưng vẫn là kinh nguyện của cộng đoàn. Người tín hữu không đơn độc trên đường lữ hành về nhà Cha. Luôn có Chúa Giêsu là Đấng đồng hành, có Chúa Thánh Thần là sức mạnh hỗ trợ khi chân mệt gối mỏi. Cùng nhau tiến bước trong Chúa Thánh Thần, kết hợp cùng Chúa Giêsu. Kinh nguyện trở nên hơi thở cho đời sống, để sống dồi dào và sống vững mạnh trong niềm phó thác và trông cậy.

Cầu nguyện là ở trong Chúa, nên không chỉ là nguyện xin mà thường là tạ ơn. Những ơn lành mọi điều thiện hảo đều từ Chúa Cha ban cho, hết ơn này đến ơn khác, “tôi có là gì, cũng là nhờ ơn Thiên Chúa” (1Cor 15, 10). Tạ ơn như thế là hướng về nguồn cội của người tín hữu, đưa hoàn vũ này hướng về Chúa.

Chúa Giêsu về trời, mang theo con người nhân loại về cùng Chúa Cha, nhờ Chúa Thánh Thần, con người được tham dự vào mầu nhiệm Thiên Chúa. Xin cho chúng con sống sức sống vui tươi, mạnh mẽ, tươi trẻ trong Chúa để gắng làm cho xã hội đang sống được tốt hơn, con người sống hạnh phúc hơn, nhiều người nhận biết Chúa.

-----------------------------
 

nTrời-458: Mừng lễ Chúa Giêsu lên trời


SUY NIỆM CHÚA NHẬT 7 PHỤC SINH_B

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nam
 

Phụng vụ lời Chúa hôm nay hướng về biến cố Chúa Giêsu lên trời ngự bên hữu Thiên Chúa Cha LênTrời-458


Phụng vụ lời Chúa hôm nay hướng về biến cố Chúa Giêsu lên trời ngự bên hữu Thiên Chúa Cha sau khi hoàn tất công việc cứu độ nhân loại qua sự chết và sự Phục Sinh của Người. Ơn cứu độ có tính phổ quát, Chúa muốn cứu độ tất cả mọi người. Vì thế trước khi về trời, Chúa Giêsu đã trao cho các tông đồ sứ mạng tiếp tục công việc của Người là rao giảng Tin mừng cho muôn dân: “Anh em hày đi khắp tứ phương thiên hạ loan báo Tin mừng x cho mọi loài thụ tạo”. Vì thế, qua bài Tin mừng, chúng ta thấy viễn tượng Truyền Giáo của giáo hội.

    Mừng lễ Chúa Giêsu lên trời hôm nay giáo hội muốn chúng ta xác tín vào sự sống đời sau, vào quê hương Nước Trời, hạnh phúc Thiên Đàng là nơi các Thánh được hưởng hạnh phúc trong Thiên Chúa, nơi dành riêng cho những người được Thiên Chúa ân thưởng: “Trời là nơi Thiên Chúa ngự, là nhà, là quê hương của ta” (GLHTCG 2795). Quê trời là nơi vĩnh cửu, diễm phúc mà con người hướng tới trong khi chu toàn trách nhiệm xây dựng và phát triển quê hương trần gian (GLHTCG 373).

    Như thế theo sách GLHTCG, thì Thiên Đàng là quê hương vĩnh cửu của chúng ta, nhưng trần thế là con đường dẫn tới quê hương hạnh phúc đó. Quê hương Thiên Đàng tùy thuộc vào cuộc hành trình trần thế của người Kitô hữu. Chỉ đứng đó mà ngóng nhìn thiên đàng, thì có lẽ là không bao giờ ta tới thiên đàng được. Muốn tới được thiên đàng thì trước hết phải đi hết con đường dương thế bằng cách chu toàn nhiệm vụ của mình ở đời này, thực hành lời Chúa, sống bác ái yêu thương, giúp đỡ những người nghèo khổ… Bài đọc 1, sách Cv đã ghi lời sứ thần: “Hỡi những người xứ Galilê, sao còn đứng đó mà nhìn trời”. Các thiên thần nhắc các tông đồ trở về với nhiệm vụ hằng ngày, đó là việc ra đi loan báoTin mừng cho muôn dân để tất cả mọi loài thọ tạo đều được hưởng hạnh phúc Nước Trời.

    Thiên đàng là mục đích tối hậu và là sự hoàn thành các nguyện vọng sâu xa nhất của con người, là tình trạng vinh phúc tuyệt hảo và vĩnh viễn (GLHTCG 1024). Như thế, Thiên đàng là mục đích, cứu cánh của con người, nơi mà tất cả chúng ta phải hướng tới là quyết tâm phấn đấu đạt được quê hương nước Trời. Nếu kết thúc cuộc sống trần gian chúng ta không đạt được Thiên đàng, thì chúng ta là người bất hạnh nhất. Chúa Giêsu đã có lần nói: “Lời lãi cả thế gian này, mà thiệt mất linh hồn thì được ích lợi gì”.

Ngày nay trong một xã hội văn minh, kinh tế thị trường, của cải vật chất phong phú, người ta chủ trương hưởng thụ, tục hóa, muốn loại bỏ Thiên Chúa, không tin có sự sống đời sau… Họ không muốn ngước mắt nhìn trời vì quá mỏi cổ, vì mải mê thực tại trần gian: tiền tài, danh vọng, địa vị, thú vui vật chất. Họ muốn xây dựng một thiên đàng tại thế. Nhiều người kitô hữu hôm nay cũng có thái độ vô thần, thờ ơ bổn phận tôn thờ Thiên Chúa, có thái độ duy vật coi của cải trần gian là mục đích cuộc đời, chết là hết!

    Biến cố Chúa lên trời là câu trả lời cho con người trong xã hội hôm nay: chúng ta sẽ được lên trời hưởng hạnh phúc vinh quang muôn đời trong nhà Cha nếu chúng ta trung thành tin theo Chúa và thực thi lời Chúa.

    Những ngày sống lữ hành trần gian là để đi vào Nước Trời, chúng ta phải cố gắng phấn đấu đạt cho bằng được, luôn đi tới đích. Đường vào Nước Trời thiên niên vạn nạn. Kinh thánh nói: “Người ta phải dùng sức mạnh, và chiếm lấy Nước Trời. Ai bền đỗ đến cùng mới được cứu độ”. Tất cả mọi thành công, hạnh phúc trên đời đều phải trả giá rất mắc, đòi hỏi nhiều cố gắng, công lao, vất vả…

    Mừng lễ Chúa Thăng Thiên nhắc nhở chúng ta: luôn hướng về quê hương thật là Nước Trời và sống đạo thật tốt để sau này được về nhà Cha hưởng hạnh phúc Thiên đàng. Đồng thời mời gọi chúng ta đi sâu vào thế giới loan báo Tin mừng cho mọi người bằng cuộc sống chứng nhân, bằng cuộc sống lương thiện, cuộc sống tốt đẹp của mình trong xã hội hôm nay.

-----------------------------
 

nTrời-459: CHÚA ĐI DỌN CHỖ CHO CHÚNG TA


Lm. I-nha-xi-ô Trần Ngà
 

Hôm nay, cùng với toàn thể Hội thánh Chúa trên khắp hoàn cầu, chúng ta hân hoan mừng Chúa Giê-su LênTrời-459


Hôm nay, cùng với toàn thể Hội thánh Chúa trên khắp hoàn cầu, chúng ta hân hoan mừng Chúa Giê-su lên trời vinh hiển. Sự kiện Chúa lên trời chứng tỏ cho chúng ta biết trần gian chỉ là quán trọ còn quê thật của chúng ta ở trên thiên quốc.

Chúa Giê-su lên trời để dọn chỗ cho chúng ta như lời Ngài nói: “Thầy đi dọn chỗ cho anh em.  … và Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó”  (Ga 14, 3).

Chết là bước vào đời sống mới

Có người cho rằng: Chết là hết, không có sự sống đời sau, không còn gì hết.

Tuy nhiên, theo giáo huấn của Hội thánh Công giáo: Chết không phải là chấm dứt nhưng là bắt đầu một cuộc sống mới.

Đời nầy và đời sau là hai giai đoạn của một cuộc sống

Hôm nay, con lăng quăng ngo ngoe trong vũng nước, nhưng mai đây nó sẽ hoá thành muỗi, giã từ vũng nước và bay sang môi trường khác.

Hôm nay, con sâu còn nằm yên trong tổ kén; mai đây, nó hoá bướm bay lượn đó đây.

Hôm nay, hạt lúa bị chôn vùi trong bùn đất, tưởng sẽ mục nát đi, ai ngờ mấy tháng sau nó hoá thành bụi lúa sum suê mang nhiều bông hạt…

Con lăng quăng mạt hạng kia, con sâu tí ti hèn hạ kia hay hạt lúa bé nhỏ kia… còn có đời này và đời sau, không lẽ con người là tác phẩm tuyệt vời được Thiên Chúa dựng nên theo hình ảnh Ngài lại chỉ có đời này mà chẳng có đời sau?

Thực ra, hôm nay, con người ở trọ trên mặt đất, nhưng mai đây sẽ từ giã nhà trọ trần gian để bước vào một thế giới khác.

Như thế, chết không phải là bị tiêu diệt, nhưng là biến đổi. Thánh Phaolô viết:“Chúng ta sẽ không chết, nhưng hết thảy chúng ta sẽ được biến đổi… vì chưng cái hư hoại nầy sẽ mặc lấy bất hoại, đồ chết dở nầy sẽ mặc lấy trường sinh bất tử” (I Cor 15, 51. 53).

Chúa Giê-su dạy có sự sống đời sau

Khi những người thuộc phái Xa-đốc đến chất vấn Chúa Giê-su về cuộc sống đời sau, Chúa Giê-su khẳng định là có. Ngài dạy rằng có “những người được xét là đáng được hưởng phúc đời sau thì không còn chết nữa. Họ giống như các thiên thần” (Lc 20, 36).

Trong dụ ngôn về ngày phán xét cuối cùng, Đức Giê-su cũng tỏ cho thấy kẻ dữ thì “phải ra đi để chịu cực hình muôn kiếp, còn những người công chính ra đi để hưởng sự sống muôn đời” (Mt 25,46). Như thế, Chúa Giê-su khẳng định không những có cuộc sống đời sau mà còn cho biết cuộc sống đó sẽ kéo dài “muôn đời muôn kiếp.”

Ngoài ra, Chúa Giê-su còn báo cho ta biết có sự sống đời sau khi đoan hứa rằng: “Anh em hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở… Thầy đi dọn chỗ cho anh em.  … và Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó” (Ga 14, 1-2). 

Ngoài những lời dạy của mình, Chúa Giê-su còn lấy cả cuộc đời của Ngài để minh chứng có cuộc sống đời sau. 

Cuộc khổ nạn của Chúa Giê-su chứng tỏ có sự sống đời sau

Sở dĩ Chúa Giê-su nộp mình chịu khổ nạn, chịu chết trên thập giá cách đau thương tủi nhục là để đền tội và chết thay cho muôn dân, nhờ đó nhiều người được hưởng hạnh phúc mai sau trên thiên đàng.

Nếu không có cuộc sống đời sau, không có thiên đàng, hoả ngục, con người chết rồi là hết, và sau khi chết, ai cũng chỉ còn là tro bụi như ai… thì cuộc khổ nạn của Chúa Giê-su là hoàn toàn vô ích; cái chết đau thương của Chúa Giê-su trên thập giá chẳng mang lại lợi ích gì cho bất cứ ai. Chẳng lẽ Ngôi Hai Thiên Chúa lại chịu khổ nạn và chịu chết cách vô ích sao?

Chính vì để mang lại cuộc sống hạnh phúc vĩnh cửu đời sau cho muôn người, Chúa Giê-su đã không ngại nộp mình chịu chết để cứu muôn người được sống. Điều nầy chứng tỏ cuộc sống mai sau hoàn toàn có thực.

Lạy Chúa Giê-su,

Chúa lên trời là để dọn chỗ cho chúng con, để bày tỏ cho chúng con biết đời này chỉ là quán trọ và đời sau mới là chốn định cư muôn thuở muôn đời.

Xin cho chúng con luôn bước theo đường lối Chúa, tức là sống theo lệnh Chúa truyền, nhất là tuân giữ cho trọn luật yêu thương, để mai đây được đoàn tụ vĩnh viễn với Chúa trên thiên quốc.

-----------------------------
 

nTrời-460: QUÊ HƯƠNG


Lm. Jos. DĐH.
 

Có những niềm vui vỡ oà, nước mắt cứ rơi, mà tuôn rơi hoàn toàn vì sung sướng. Tại phòng cách LênTrời-460


Có những niềm vui vỡ oà, nước mắt cứ rơi, mà tuôn rơi hoàn toàn vì sung sướng. Tại phòng cách ly ở sân bay, rất nhiều cuộc chia tay: đi định cư, đi đoàn tụ gia đình, đi du học, dù tương lai rực sáng đầy hứa hẹn, ấy vậy mà lệ vẫn trào tràn đến khó hiểu. Khóc hay cười, vui hay buồn, đó có phải là cảm xúc chung của những ai mang trái tim bằng thịt, trái tim biết rung nhịp yêu thương ? Cuộc sống có khổ đau, có hạnh phúc, có những lúc đi xa, có những ngày đoàn tụ, có nước mắt nụ cười, không làm chúng ta ngạc nhiên, bởi vì tương quan yêu thương của chúng ta với gia đình, quê hương, bao giờ cũng quan trọng. Vì chưa khôn ngoan, hay do chưa đặt tình yêu vào việc bổn phận, nhiều người đang sống theo một lập trình cứng ngắc, họ thường bị xếp vào loại rô-bốt không hồn ; nếu làm việc tuỳ hứng, không lưu tâm đến kết quả, lại bị suy xét là kẻ thiếu trách nhiệm.

Tình yêu thương giữa Đấng phục sinh và các học trò, không phải là có hay không, nhiều hay ít, dù các môn đệ lúc đó chưa hiểu cảnh biệt ly rồi sẽ ra sao, nhưng các ông có quyền hy vọng vào tình yêu của Đấng đã sống lại từ cõi chết. Thông thường, chúng ta vẫn cho rằng người khôn ngoan là người biết tận dụng thời giờ, công sức của mình cách hiệu quả nhất ; người cơ hội là người biết đối phó theo từng hoàn cảnh: gió chiều nào theo chiều đó. Người môn đệ theo Đức Kitô, ngoài việc sống có kỷ luật, làm việc có khoa học, có mục đích, họ còn phải sống đức yêu thương, hiệp thông. Không biết nhờ kinh nghiệm, hay do muốn khích lệ con cháu sống lạc quan hơn, cha ông chúng ta có câu: trai khôn lắm nước đái, gái khôn lắm nước mắt.

Sinh ra làm người, ai cũng có gia đình, có quê hương tổ quốc, sinh ra trong Hội thánh, người tín hữu luôn được ý thức quê hương thật phải là nơi không còn đau khổ, là nơi hạnh phúc. Mừng Chúa về trời, trở về quê hương, là dịp để người kitô hữu xác thực rõ hơn về ơn gọi làm môn đệ Đức Kitô, ơn gọi đặc biệt không có chia tay, không có nước mắt, ơn gọi thuần tuý là tình yêu và hiệp thông. Về trời, về bên Chúa Cha, không phải như một quan chức “mãn nhiệm”, không phải như vận động viên hết tuổi thi đấu, Đức Giêsu cho thấy: có một quê hương thật. Tuy chúng ta không còn thấy Đấng phục sinh hiện diện cách hữu hình, nhưng tình yêu và sứ mạng mới của Đức Kitô lại rõ ràng cụ thể nơi những ai đang sống tinh thần môn đệ của Ngài. “Các ông đi rao giảng khắp mọi nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và củng cố lời giảng dạy bằng các phép lạ kèm theo”.

Quê hương mà hôm nay Đức Giêsu trở về có phải là vương quốc không phân biệt giai cấp, không còn cảnh giầu nghèo bổng lộc nhiều hay ít, không còn quy định: con vua thời lại làm vua ? Khác với truyền thống: tre già măng mọc, con chị nó đi, con dì nó lớn, Đức Giêsu không cắt đặt, bổ nhiệm, một vài đối tượng theo cảm tính, thay mặt Ngài lên làm vua làm chúa. Đức Giêsu đưa ra lệnh truyền: “các con hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, rao giảng Tin mừng cho mọi loài thọ tạo, ai tin và chịu phép rửa, thì sẽ được cứu độ”. Tất cả những ai tin và ở trong Đức Giêsu đều trở thành kitô hữu, trở nên môn đệ, được gọi là thần dân của Nước Trời, của quê hương thật, nếu họ cùng hiệp thông và sống giáo huấn của Đức Kitô.

Quê hương là gì hả mẹ, mà cô giáo dạy phải yêu, quê hương là gì hả mẹ, ai đi xa cũng nhớ nhiều. (Đỗ Trung Quân). Nhà thơ dạt dào tình cảm, ông đặt lời yêu và nỗi nhớ nơi tình mẹ con, tình thầy trò, ông đã thành công, đã mang lại nhiều cảm xúc cho nhiều đối tượng, dù tác giả chỉ hướng độc giả tới quê hương trần gian. Hôm nay đây và mai sau, người kitô hữu chúng ta còn hướng tới quê hương thật, hạnh phúc thật, và còn mơ ước đạt tới quê hương thật. Đức Giêsu hôm xưa không hỏi, không mong các học trò trả lời quê hương thật là gì, Ngài cũng không nói quê hương thật chỉ có tình yêu và nỗi nhớ. Dù có hứa hẹn về phép lạ cho những người đã tin: “nhân danh Thầy, họ sẽ trừ quỷ, nói được các thứ tiếng mới lạ”. Tuy nhiên đời sống và sứ mạng tông đồ của những người tin luôn là một khám phá mới, thế nào là quê hương thật.

Chúa về trời, hay Chúa về quê hương thật, là cuộc chiến thắng thế gian, là vinh quang của Đấng Kitô, nhưng cũng là niềm tin, là khởi đầu, là mệnh lệnh lên đường cho tất cả những ai muốn được là môn đệ Đức Kitô. Tình yêu thật, quê hương thật, hạnh phúc thật, chỉ rõ ràng khi mỗi người tín hữu: tin và sống trọn vẹn với tình hiệp thông mà từng giây phút trong ngày chúng ta hằng tuyên xưng: nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần. Chúa thăng thiên, Chúa trở về quê hương thật, sự ly biệt hôm đó cho thấy người đi kẻ ở không có nước mắt, tất cả như muốn nói tình yêu không có xa mặt cách lòng, không vô cảm, tình yêu thật sẽ tồn tại và sống động khi các học trò tin Thầy là Đức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống. Amen.

-------------------------
 

nTrời-461: KHAI MỞ GIAI ĐOẠN MỚI


Lm Trịnh Ngọc Danh
 

Qua thời gian hơn một tháng, chúng ta đã mừng lễ Phục Sinh của Đức Kitô, đã ca tụng Đức Kitô LênTrời-461


Qua thời gian hơn một tháng, chúng ta đã mừng lễ Phục Sinh của Đức Kitô, đã ca tụng Đức Kitô là ánh sáng thế gian, đã thắp lên cây nến phục sinh bằng những tiếng hát Alleluia, đã nghe các chứng nhân thuật lại những lần hiện ra của Đấng Phục sinh. Cây nến phục sinh rồi sẽ cất đi, những bài hát alleluia sẽ ít được nghe hơn. Đúng là lễ Thăng Thiên có một chút u buồn và luyến tiếc: “ Hỡi những người Galilê, sao còn đứng đó nhìn lên trời? Đức Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến như các ông đã thấy Người lên trời.” ( Cv 1: 11) . Thôi, đừng đứng đó mà tiếc nuối, u sầu! Hãy trở về thực tại với nhiệm vụ mới.

Ngày Đức Giêsu được rước lên trời, không phải là ngày chấm dứt nhiệm vụ ở trần thế để về nơi Ngài đã ra đi. Sau một thời gian đi gieo lời hằng sống, thiết lập và xây dựng môt nền móng đạo đức dựa trên tình yêu và bác ái công bằng và sau khi sống lại từ cõi chết, Ngài đã được Chúa Cha tôn vinh, được vào trong vinh quang của Chúa Cha với quyền cai trị vũ trụ, và ngự bên hữu Thiên Chúa.

Đức Giêsu lên trời, đánh dấu sự kết thúc giai đoạn thi hành sứ vụ ở trần thế và mở ra một giai đoạn mới qua vai trò của Giáo Hội đưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh thần, một giai đoạn chuyển tiếp  giữa thế giới hữu hình và vô hình, từ một vùng đất nhỏ hẹp với một thế giới rộng lớn, từ một dân tộc với một cộng đồng nhân loại.

Đức Giêsu lên trời không có nghĩa là Ngài hết hiện diện nơi trần gian, nhưng là một sự thay đổi. Ngài không hiện diện bằng xương bằng thịt như trước kia, nhưng hiện diện bằng quyền năng, bằng Thánh Thần và bằng sự quan phòng. Ngài không còn bị lệ thuộc về không gian và thời gian.

Sự kiện Đức Giêsu lên trời chứng tỏ cho chúng ta thấy được mục đích của cuộc hành trình trên dương thế của chúng ta sẽ đi về đâu. Ngoài trái đất, còn có một thế giới linh thiêng, ngoài cuộc sống trần gian chóng qua còn có cuộc sống vĩnh cửu. Chúa Giêsu về trời cho chúng ta một niềm hy vọng vào cuộc sống mai sau như lời Ngài đã nói: Thầy đi để dọn chỗ cho anh em, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó với Thầy.Ngài về trời nhưng Ngài không để con người mồ côi. Ngài hứa sẽ ban Đấng Phù trợ đến và quyền năng để cùng con người hành động và lướt thắng trở ngại.

Nhưng để được ở với Thầy,được vào trời mới, đất mới, thì việc trước tiên chúng ta phải làm là hoàn tất những công việc được giao phó. Nhiệm vụ đó là loan báo Tin Mừng, làm chứng về tình yêu Thiên Chúa.  Thiên Chúa cần sự cộng tác của con người. Con người là cánh tay nối dài của Thiên Chúa trong chương trình cứu độ loài người.Vì thế, trước khi về trời, Ngài đã truyền lệnh cho các môn đệ: “ Anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ, anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất.” ( Cv 1: 8)

Việc Thầy Giêsulên trời không làm cho các môn đệ buồn sầu, chán nản; ngược lại, các ông lại vui mừng phấn khởi vì các ông tin rằng có Chúa cùng đồng hành và cùng hoạt động với họ. Các ông được trang bị sức mạnh của Chúa Thánh Thần, cùng với khả năng làm những dấu lạ như sẽ trừ được qủy, nói được những tiếng mới lạ, sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc, cũng chẳng sao, và nếu đặt tay trên những người bệnh, thì những người này sẽ được khỏe mạnh.

Mừng lễ Chúa Giêsu lên trời cũng là dịp Giáo hội nhắc nhở chúng ta về trách nhiệm rao giảng Tin Mừng cho hết mọi người, mọi nơi. Chúa sẽ cùng đồng hành, cùng hoạt động với chúng ta. Chúa Giêsu, sau khi hoàn tất nhiệm vụ ở trần gian, Ngài đã về trời. Mỗi người Kitô hữu chúng ta cũng phải nổ lực hòan tất nhiệm vụ Chúa đã giao phó cho hết mọi người, mọi nơi bằng chính cuộc sống của mình “ cho đến tận cùng trái đất” để rồi chúng ta cũng sẽ được rước lên trời trong vinh quang của Thiên Chúa.

----------------------------------
 

nTrời-462: THẦY ĐI ĐÂU?


Lam Thy
 

Suy niệm Lời Chúa lễ Chúa thăng thiên (CN VII.PS-B: Cv 1, 1-11; Ep 1, 17-23. Mc 16, 15-20) LênTrời-462


Suy niệm Lời Chúa lễ Chúa thăng thiên (CN VII.PS-B: Cv 1, 1-11; Ep 1, 17-23. Mc 16, 15-20), thấy tình hình các môn đệ bộc lộ tinh thần hoang mang lo lắng, cứ “đăm đăm nhìn lên trời phía Người đi” (Cv 1, 10). Tâm trạng băn khoăn đó khiến kẻ viết bài này bỗng nhớ lại bữa Tiệc Ly, khi Đức Giê-su nói với các môn đệ về vấn đề Người phải chịu khổ hình chết treo trên thập giá đến ngày thứ ba thì sống lại và đi về với Chúa Cha trên thiên quốc. Không chỉ người Do Thái thắc mắc và được Đức Ki-tô trả lời “Nơi tôi đi, các người không thể đến được”; mà còn khiến ông Phê-rô tò mò: “Thưa Thầy, Thầy đi đâu vậy?” Đức Giê-su trả lời: “Nơi Thầy đi, bây giờ anh không thể theo đến được; nhưng sau này anh sẽ đi theo.” (Ga 13, 33-36).

Lời tiên báo của Đức Giê-su đã trở thành hiện thưc: Tháng 8 năm 64, hoàng đế Nero bắt đầu bách hại Đạo Chúa, Phê-rô bị bắt và bị kết án đóng đinh ở Rô-ma. Vào khoảng tháng 10/64, đang khi chạy trốn để tránh khỏi nhục hình, ngài đã gặp Chúa Giê-su và hỏi: “Lạy Chúa, Chúa đi đâu?” (“Quo vadis, Domine?”), Chúa Giê-su trả lời: “Thầy vào thành Rô-ma để chịu đóng đinh một lần nữa”). Hiểu được ẩn ý của Chúa, Phê-rô đã quay trở lại thành Rô-ma để chịu kết án (chịu hình phạt “đóng đinh ngược” và tử nạn vào khoảng tháng 12/64 – Giáo hội ấn định lễ kính vào ngày 28/12; mãi tới năm 248, Giáo hội quyết định chính thức lễ kính 2 thánh Phê-rô và Phao-lô vào ngày 29/6).

Tâm trạng Thánh Phê-rô cũng là tâm trạng chung của các Tông đồ và rộng ra là của các Ki-tô hữu, của loài người. Nếu có khác chăng là khác ở cách ứng xử. Như Thánh Tô-ma thì cũng dịp này ngài hỏi lại Đức Giê-su: “Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường?” (Ga 14, 5); nhưng đến sau Phục Sinh, ông vẫn không tin Thầy mình đã sống lại (“nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh, thọc bàn tay vào cạnh sườn Người thì tôi không có tin” – Ga 20, 25), chỉ đến tám ngày sau đó, Người hiện ra và nói: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” (Ga 20, 27), Tô-ma mới thực sự tin. Riêng Thánh Phê-rô tuy có hay thắc mắc, nhưng khác người ở một điểm là trong lòng nghĩ sao thì nói ra như vậy, không hề giấu giếm, che đậy. Và nhất là khi được Thầy giải thích thì ngay lập tức Thánh Phê-rô tin tưởng và làm theo Lời dạy của Người.

Xin được trở lại với các bài đọc hôm nay: Bài đoc 1 (Cv 1, 1-11) tường thuật mầu nhiệm thăng thiên: Đức Giê-su Ki-tô dặn bảo các Tông đồ xong, thì Người được cất lên trời, ngự bên hữu Chúa Cha. Tâm trạng các môn đệ hẳn nhiên là hoang mang lo sợ, bởi Người Thầy – mà cho đến giờ phút này các ông vẫn còn bán tín bán nghi (“Khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi” – Mt 28, 17) – lại một lần nữa nói một cách khó hiểu. Vừa mới nói “Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”, thì ngay lập tức “Người được cất lên ngay trước mắt các ông, và có đám mây quyện lấy Người, khiến các ông không còn thấy Người nữa.” Cái mâu thuẫn của hiện tượng này khiến các Tông đồ cứ mải miết “đăm đăm nhìn lên trời phía Người đi”.

Tâm lý thông thường của con người là vậy, cũng chẳng có gì đáng trách. Sống bằng và sống với giác quan: phải nhìn thấy tỏ tường (thị giác), nghe thấy rõ ràng (thính giác), sờ mó cầm nắm được (xúc giác), biết được mặn nhạt (vị giác), ngửi được mùi hương (khứu giác). Do đó, Thầy vừa nói Thầy sẽ ở với mình cho đến ngày tận thế, thì ngay sau đó Thầy lại đi mất hút, bảo sao khỏi ngỡ ngàng, hụt hẫng, nếu không muốn nói là lo sợ, đau đớn, buồn rầu. Chính vì thế nên các ngài chỉ lo nhìn theo bóng Thầy, với tâm trạng vừa hoài nghi, vừa chán nản, chẳng còn tin tưởng vào đâu đựoc nữa. Niềm tin lại một lần nữa bị thử thách, quên mất những điều Thầy vừa truyền dạy. Cũng vì biết rõ con người là thế, nên Thiên Chúa đã phải sai thiên sứ đến cảnh tỉnh: “Hỡi những người Ga-li-lê, sao còn đứng nhìn lên trời? Đức Giê-su, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời.” (Cv 1, 11).

Người đời vẫn thường nói: Có tin thì mới theo và có theo thì mới biết tỏ tường để niềm tin được củng cố vững vàng hơn. Các Tông đồ đã tin vào Đức Giê-su Ki-tô nên khi được mời gọi thì lập tức đi theo, bỏ cả cha mẹ, vợ con, nghề nghiệp. Cứ nhìn vào hình ảnh anh chàng thanh niên giàu có, thì đủ hiểu đức tin quan trọng như thế nào. Anh ta muốn theo Đức Ki-tô, nhưng vì vẫn chưa tin tưởng cho lắm nên khi nghe Người bảo về bán hết của cải chia cho người nghèo thì ỉu xìu như mèo bị cắt tai, bỏ đi một nước. Và vì thế “Đức Giê-su nói với các môn đệ của Người: “Thầy bảo thật anh em, người giàu có khó vào Nước Trời. Thầy còn nói cho anh em biết: con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa.” (Mt 19, 16-24).

Đến như các Tông đồ đã tin mới đi theo Thầy, vậy mà ròng rã 3 năm theo Thầy đi khắp đó đây, chứng kiến biết bao nhiêu việc làm và nhất là những phép lạ chứng tỏ Thầy là Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa thật, thậm chí còn tuyên xưng, còn đấm ngực thề không chối Thầy, vậy nhưng đến cơn thử thách thì lại hoài nghi, lại nửa tin nửa ngờ, lại chối Thầy tới 3 lần trong một đêm (Mc 14, 66-71). Hoá cho nên mới có vụ một Tô-ma khi nghe Thầy nói: “Thầy đi đâu, thì anh  em biết đường rồi” thì thắc mắc liền: “Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường?” (Ga 14, 4-5). Thêm một Phi-líp-phê đặt một câu hỏi bộc lộ rõ tâm trạng chưa tin tưởng Thầy mình là Con Thiên Chúa, nên khi nghe Thầy nói: “Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy. Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha Thầy. Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đã thấy Người.” Phi-líp-phê mới thưa: “Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện.” (Ga 14, 6-7).

Ở Việt Nam xưa có câu “nhìn lên chẳng bằng ai, nhìn xuống cũng còn chán vạn kẻ không bằng mình”, ý nói nhìn lên thì thấy thua kém nhiều người dễ sinh thất vọng, nhưng nhìn xuống thì lại được an ủi vì thấy còn nhiều người thua kém mình. Nòi cách khác, đây là một châm ngôn sống: Có nhìn lên thì cũng cần nhìn xuống. Nhìn lên thấy thua kém sẽ hun đúc chí tiến thủ (chớ đừng thất vọng), nhìn xuống để mà sống (tránh khỏi thất vọng). Nhưng nếu cứ nhìn lên hoài thì chắc chắn từ thất vọng sẽ đi tới tuyệt vọng, hết sống nổi; mà giả thử cứ nhìn xuống không thôi, thì sẽ trở thành tự kiêu tự mãn, rồi cũng không thoát khỏi tội đầu tiên trong 7 mối tội đầu (kiêu ngạo). Trường hợp các Tông đồ cứ mải miết nhìn lên mãi với nỗi thất vọng Thầy đã bỏ đi, thì liệu các ngài sẽ ra sao? Thiên sứ đã can thiệp đúng lúc, nhắc nhở các ngài đừng nhìn lên trời nữa mà hãy nhìn xuống (nơi các ngài đứng là trên đỉnh núi), để thấy được còn biết bao nhiêu sinh linh đang trông chờ được như các ngài (một cách khéo léo nhắc nhở các ngài nhớ lại Lời Thầy truyền dạy mà đến với muôn dân).

Rõ ràng là Đức Giê-su Ki-tô Chúa chúng ta đã hoàn tất sứ mạng Chúa Cha trao phó, Người được cất lên trời ngự bên hữu Chúa Cha, nhưng như thế không có nghĩa là Người rời bỏ các môn đệ – những bạn hữu của Người – mà là “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”. Nghe Lời dạy này, không phải chỉ các Tông đồ tiên khởi nghĩ rằng Chúa Giê-su sẽ ở cùng các ngài một cách cụ thể như thời gian trước khi bước vào cuộc khổ nạn; mà ngay đến cả chúng ta hiện nay cũng vẫn cho rằng đó chỉ là lời an ủi suông. Chúng ta đã quên mất một điều là khi suy niệm về Thánh Kinh, cần chú ý đến cả hai phương diện: “nghĩa chiểu tự” và “nghĩa thiêng liêng”. Trong “nghĩa thiêng liêng” lại cần chú ý đến “nghĩa ẩn dụ”, “nghĩa luân lý” và “nghĩa loại suy” (xc. Tông huấn Lời Chúa “Verbum Domini” ” (1).

Vâng, hãy nhìn lên dõi theo con đường Giê-su, cố gắng hiểu cho được việc làm của Đức Ki-tô (nghĩa chiểu tự: biến cố “thăng thiên”); để từ đó tin vào mầu nhiệm cứu chuộc (nghĩa ẩn dụ) qua Lời Chúa: “Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó. Và Thầy đi đâu, thì anh em biết đường rồi.” (Ga 14, 1-4). Và hãy nhìn xuống bản thân mình cùng với anh em mình để mà thực thi sứ vụ do chính Người Thầy Chí Thánh truyền dạy trước khi về trời (nghĩa luân lý). Chỉ có như thế mới mong vươn tới cứu cánh Nước Trời (nghĩa loại suy) là mục đích cuối cùng của hành trình thực thi sứ vụ một Ki-tô hữu.

Tuy nhiên, cũng rất cần phải ghi nhớ lời dạy của ĐGH Bê-nê-đic-tô XVI: “Như thế, muốn tái khám phá hành động qua lại giữa các nghĩa khác nhau của Sách Thánh, điều chủ yếu là phải nắm chắc việc bước từ chữ viết qua tinh thần. Đây không phải là một bước tự động, tự phát; đúng hơn, cần phải vượt quá (transcended) chữ viết: “lời Chúa không bao giờ đơn thuần là một với chữ viết trong bản văn. Muốn nắm được lời của Người, phải có một sự vượt quá (chữ viết) và một diễn trình tìm hiểu, được hướng dẫn bởi chuyển động bên trong của toàn bộ tác phẩm, và do đó, phải trở thành một diễn trình sống.” (“Tông huấn Lời Chúa”, mục “Cần phải vượt quá “chữ viết”). Như vậy, có thể nói mầu nhiệm thăng thiên nhắc nhở mọi Ki-tô hữu 2 điều: 1- Chúa Giê-su về trời – 2- Chúng ta phải làm sao để được về trời với Chúa, vì đấy mới là quê hương đích thực. Vâng, hãy nhìn lên và cầu nguyện để hiểu được mầu nhiệm thăng thiên, và hãy nhìn xuống để sống Lời Chúa cách cụ thể với mục đích tối hậu là chiếm hữu và giúp anh em cùng chiếm hữu Nước Trời. Ước được như vậy.

Ôi! Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, xin cho cộng đoàn chúng con biết hoan hỉ vui mừng mà dâng lời cảm tạ, vì hôm nay, Con Một Chúa đã lên trời vinh hiển. Là Thủ lãnh, Người đã đi trước mở đường dẫn chúng con vào Nước Chúa khiến chúng con là những chi thể của Người nắm chắc phần hy vọng sẽ cùng Người hưởng phúc vinh quang. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thủa muôn đời. Amen.

———————————

Chú thích: (1) Tông huấn Lời Chúa “Verbum Domini”, PHẦN MỘT: LỜI CHÚA – Mục “Nghĩa chiểu tự và nghĩa thiêng liêng” (số 37) đã giải thích rõ ràng: “Tuy nhiên, cần phải nhớ rằng thời các giáo phụ và thời trung cổ, mọi hình thức chú giải, kể cả hình thức chiểu tự, cũng đều được tiến hành trên căn bản đức tin, mà không nhất thiết phải phân biệt giữa nghĩa chiểu tự và nghĩa thiêng liêng. Về phương diện này, người ta có thể nhắc tới 2 câu thơ trung cổ diễn tả mối tương quan giữa các nghĩa khác nhau của Sách Thánh: “Littera gesta docet, quid credas allegoria,/ Moralis quid agas, quo tendas anagogia” (Chữ đen nói tới việc làm; Ẩn dụ nói về đức tin; Luân lý nói tới hành động; Loại suy nói về số phận ta).” (xc thêm GL/HTCG số 115, 116 và 117).

--------------------------------
 

nTrời-463: CHÚA VỀ TRỜI TRAO SỨ MỆNH


LOAN BÁO TIN MỪNG CHO HỘI THÁNH

Lm. Đan Vinh

I.  HỌC LỜI CHÚA

TIN MỪNG: Mc 16,15-20.

(15) Người nói với các ông: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo. (16) Ai tin và chịu phép Rửa sẽ được cứu độ. Còn ai không tin, thì sẽ bị kết án”. (17) Đây là những dấu lạ sẽ đi theo những ai có lòng tin: Nhân danh Thầy, họ sẽ trừ được quỷ, sẽ nói được những tiếng mới lạ. (18) Họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc, thì cũng chẳng sao. Và nếu họ đặt tay lên những người bệnh, thì những người này cũng được mạnh khỏe. (19) Nói xong, Chúa Giê-su được rước lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa. (20) Còn các Tông đồ thì ra đi rao gảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng.

Ý CHÍNH:
 

Đức Giê-su trước khi về trời đã trao cho các Tông đồ tiếp tục sứ mệnh rao giảng Tin Mừng cho LênTrời-463


Đức Giê-su trước khi về trời đã trao cho các Tông đồ tiếp tục sứ mệnh rao giảng Tin Mừng cho mọi tạo vật, để ai tin và chịu phép rửa thì được trở nên con Thiên Chúa và được hưởng ơn cứu độ của Chúa Giê-su. Còn những kẻ không tin thì sẽ bị kết án là bị loại khỏi Nước Trời. Chúa còn hứa hỗ trợ các tông đồ bằng việc ban quyền làm phép lạ Sau đó Chúa Giê-su đã được rước lên trời. Còn các Tông đồ thì đi rao giảng Tin Mừng khắp nơi với sự trợ giúp của Người.

CHÚ THÍCH:

– C 15-16:

+Anh em hãy đi: Lệnh truyền này chỉ được công bố sau biến cố Phục Sinh cho thấy: mầu nhiệm Phục Sinh là nền tảng cho sứ mạng rao giảng Tin Mừng.

+Khắp tứ phương thiên hạ: Trong thời gian 3 năm rao giảng Tin Mừng, Đức Giê-su chỉ được sai đến cùng các con chiên lạc của nhà Ít-ra-en. Nhưng sau khi Phục Sinh, Người lại trao sứ mạng phổ quát “loan báo Tin mừng cho mọi loài thụ tạo”.

+Loan báo Tin Mừng: Theo Hy ngữ, Tin Mừng ( Eu-ag-ge-li-on) là một “tin vui, tin mừng”. Có thể hiểu Tin Mừng Đức Giê-su theo hai nghĩa: Một là “chính Tin Mừng được Đức Giê-su công bố. Hai là “Tin Mừng về Đức Giê-su”, Đấng ban ơn cứu độ nhờ mầu nhiệm chết và sống lại của Người.

+Cho mọi loài thọ tạo: Mọi loài thọ tạo mang ý nghĩa cánh chung, nghĩa là mọi dân mọi nước (x. Mt 28,19), Chúa sẽ biến đổi mọi tạo vật nên Trời Mới Đất Mới vào ngày Tận Thế (x. Kh 21,1). +Ai tin và chịu phép Rửa sẽ được cứu độ: Tin là mở lòng đón nhận Đức Giê-su là Đấng Cứu Thế Con Thiên Chúa. Chịu phép Rửa là nhận ơn tha tội và ơn tái sinh để nên con người mới và nên dưỡng tử của Thiên Chúa. Nhờ đó họ sẽ được sống đời đời.

+ Còn ai không tin thì sẽ bị kết án: Thực ra, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian không phải để lên án, nhưng để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ (x Ga 3,17). Nhưng kẻ không tin thì đã bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh Con Một Thiên Chúa. Họ giống như cành nho bị tách lìa khỏi thân cây là Đức Giê-su, nên bị khô héo và sẽ bị quăng vào lửa hỏa ngục đời đời (x. Ga 15,5-6).

+Còn những người không tin Đức Giê-su nhưng không do lỗi của họ thì có được ơn cứu độ không?: Những ai tuy không biết Đức Ki-tô, nhưng theo lương tâm ăn ở ngay lành, thì Chúa sẽ lo liệu cho họ có đủ phương tiện cần thiết để được rỗi linh hồn. Chỉ những kẻ cố tình theo phe ma quỷ làm điều gian ác và không chịu hồi tâm sám hối thì chắc chắn sẽ phải xuống hỏa ngục. Vì hỏa ngục được lập ra để dành cho ma quỷ và những kẻ đi theo chúng (x. Mt 25,41).

– C 17-18:

+Đây là những dấu lạ sẽ đi theo những ai có lòng tin: Ngay trong thời gian giảng đạo, khi sai các Tông đồ đi thực tập truyền giáo, Đức Giê-su đã ban cho các ông quyền trên các thần ô uế để xua trừ chúng và chữa lành các bệnh hoạn tật nguyền trong dân (x. Mt 10,1-5). Giờ đây trước khi về trời, Đức Giê-su lại trao quyền làm các dấu lạ cho các ông.

+Nhân danh Thầy, họ sẽ trừ được quỷ, sẽ nói được những tiếng mới lạ. Họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc, thì cũng chẳng sao. Và nếu họ đặt tay lên những người bệnh, thì những người này sẽ được mạnh khỏe: Khi viết Tin Mừng (khoảng năm 65), Thánh Mác-cô đã nghe biết các phép lạ do các Tông đồ thực hiện. Chẳng hạn: Vào lễ Ngũ Tuần, các ông đã được đầy ơn Thánh Thần, bắt đầu nói các thứ tiếng khác lạ (x. Cv 2,4). Thánh Thần cũng ngự xuống trên gia đình Co-nê-li-ô và cho họ nói các thứ tiếng lạ (x. Cv 10,44-46). Nhiều dấu lạ điềm thiêng được thực hiện trong dân nhờ bàn tay các Tông đồ (x. Cv 5,12). Tông đồ Phê-rô đặt tay trên bệnh nhân hoặc chỉ cần bóng của ông phớt qua đã đủ để họ được lành bệnh, và thần ô uế cũng phải xuất ra (x. Cv 5,15-16). Còn tông đồ Phao-lô thì chữa lành một người bị bại chân tại Lýt-ra (x. Cv 14,8-10); Tại đảo Man-ta, Phao-lô đã bị rắn độc bám vào tay và cắn mà không hề hấn gì (x. Cv 28,1-6); Ông cũng đã cầu nguyện và đặt tay chữa lành nhiều bệnh nhân (x. Cv 28,8-9); Ngay cả chiếc áo ông đã mặc qua cũng có năng lực làm cho cơn bệnh biến đi và tà thần phải xuất ra (x. Cv 19,11; 20,9-12).

– C 19-20:

+Chúa Giê-su được rước lên trời: Như Ê-li-a thời Cựu Ước đã “lên trời trong cơn gió lốc”(2 V 2,11), thì thân xác Chúa Giê-su cũng được rước lên trời trên các tầng mây, và từ nay Người không còn lệ thuộc vào không gian thời gian như khi còn sống nữa.

+Và ngự bên hữu Thiên Chúa: Đức Giê-su đã được Chúa Cha tôn vinh (x Đn 7,13-14), được vào trong vinh quang của Chúa Cha, với quyền cai trị vũ trụ (x. Mt 28,18; Ep 1,21-22).

+ Thiên Đàng là gì? Thiên Đàng ở đâu? Ta phải làm gì để được lên Thiên Đàng?:

** Thiên Đàng hay Địa Đàng (Hy ngữ là Pa-ra-dei-sos) có nghĩa là Hoa viên hay vườn đầy hoa tươi cỏ lạ (x St 2,8). Địa đàng là một khu vườn hoan lạc nơi mà con người được sống trong hạnh phúc. Nhưng nguyên tổ lòai người là ông Ađam và bà Evà đã liên kết với nhau phạm tội kiêu ngạo, cãi lệnh Chúa mà ăn quả cây bị cấm, nên hai ông bà đã bị đuổi ra khỏi Địa đàng, bị lọt vào trần gian là thung lũng đầy nước mắt, gai góc và đau khổ (x. St 3,7.16-19). Tuy nhiên, Thiên Chúa cũng hứa sẽ ban Đấng Cứu Thế đến khôi phục lại tình trạng nguyên thủy cho con người (x. St 3,15). Ngài sẽ biến nơi đau khổ lưu đầy này thành Thiên đàng hoan lạc và hạnh phúc như thuở ban đầu (x. Ed 36,35 ; Is 51,3).

+ Ra đi rao giảng khắp nơi: Các Tông đồ đã vâng lời Chúa Giê-su, đi rao giảng Tin Mừng, làm chứng cho Đức Giê-su tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp các miền Giu-đê, Sa-ma-ri, và cho đến tận cùng trái đất (x. Cv 1,8). + Có Chúa cùng hoạt động với các ông…: Từ đây, Chúa Ki-tô sẽ luôn hiện diện trong Hội thánh (x Mt 28,20). Người ban Thánh Thần cho Hội thánh để tha tội cho người ta giống như Người đã làm (x Ga 20,21-22). Người cũng hứa ban cho Hội thánh làm được những việc lớn hơn Người là đi rao giảng cho các dân tộc nhờ Thánh Thần (Ga 14,12).

CÂU HỎI:

1) Mầu nhiệm Phục Sinh có tầm quan trọng thế nào đối với sứ mệnh được sai đi? Các Tông đồ được Chúa sai đến với những ai?

2) Tin Mừng Đức Giê-su có những nghĩa nào?

3) Phải có những điều kiện nào để được hưởng ơn cứu độ của Đức Giê-su?

4) Những ai chắc chắn sẽ bị kết án sa hỏa ngục? Những người chưa có đức tin, nhưng theo lương tâm ăn ở ngay lành có được hưởng ơn cứu độ không?

5) Trong thời gian giảng đạo, khi sai môn đệ đi thực tập truyền giáo, Đức Giê-su đã ban cho các ông những quyền nào?

6) Trước khi về trời, Đức Giê-su đã trao sứ mệnh loan Tin Mừng cho các Tông đồ kèm theo những dấu lạ nào?

7) Lời Chúa phán về các dấu lạ kèm theo lời rao giảng của các Tông đồ đã ứng nghiệm thế nào thời Giáo Hội Sơ Khai?

8) Thời Cựu Ước, ngôn sứ nào được rước lên trời? Thời Tân Ước hai nhân vật nào cũng được lên trời? Chúa Giê-su thăng thiên khác với việc mông triệu của Đức Ma-ri-a ra sao?

9) Một người lương dân luôn ăn ngay ở lành mà chết thì có được hưởng ơn cứu độ không?

10) So sánh lời Chúa Giê-su trong Tin Mừng Mát-thêu “Hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ…”(x Mt 28,19) với Lời Chúa được ghi trong sách Công Vụ “Hãy nên chứng nhân của Thầy…” (x Cv 1,8) giống và khác nhau ra sao?

11) Sau khi lên trời, Chúa Giê-su còn ở với Hội thánh nữa không?

12) Từ đây, Chúa Thánh Thần được ban cho Hội thánh để làm gì?

II. SỐNG LỜI CHÚA

LỜI CHÚA: “Chúa Giê-su được rước lên trời ngự bên hữu Thiên Chúa” (Mc 16,19):

CÂU CHUYỆN:

1) GIÁ TRỊ CỦA NIỀM TIN VÀO MỘT CUỘC SỐNG VĨNH HẰNG ĐỜI SAU:

Một vị Tù trưởng của một bộ tộc Phi Châu đau nặng gần chết. Ông cho gọi ba người con có khả năng nắm giữ chức vụ tù trưởng của ông đến bên giường và nói:

– Một trong ba người chúng con sẽ kế vị ta. Để biết xem ai xứng đáng, các con hãy lên đỉnh núi thiêng của bộ tộc chúng ta tìm mang về một linh vật nào quý giá nhất.

Mấy ngày sau người con thứ nhất trở về mang theo một bức tượng bằng vàng ròng.

Người con thứ hai cũng mang về một viên ngọc to quý có giá trị lớn.

Còn người con thứ ba thì trở về với hai bàn tay không.

Ngạc nhiên, viên tù trưởng hỏi anh ta: “Linh vật quý giá nhất con mang về đâu?”

Anh ta bình tĩnh trả lời:

– Thưa cha. Khi leo lên tới đỉnh núi thiêng và đi tìm kiếm báu vật như cha căn dặn, thì con đã khám phá ra phía sau rặng núi thiêng có một rặng núi khác. Con vượt qua thì đã tìm thấy một miền đất mới rất phì nhiêu mầu mỡ, có suối nước trong, cây cỏ xanh tươi với nhiều loài thú sinh sống. Theo con nghĩ nếu bộ tộc chúng ta sống ở miền đất này thì sẽ trở nên hùng cường.

Nghe vậy viên tù trưởng rất vui và nói:

– Cha rất mừng khi đã tìm ra người thừa kế chức vị tù trưởng bộ tộc là con. Con đã đem về cho chúng ta báu vật vô giá chính là niềm hy vọng vào một tương lại tươi đẹp về một cuộc sống ấm no hạnh phúc.

Không ai biết trước cuộc sống của mình ra sao sau khi chết. Chỉ mình Đức Giêsu, là Con Thiên Chúa từ trời xuống thế làm người, mới mạc khải cho chúng ta biết quê hương thực sự của chúng ta là nước trời đời sau: Một Trời mới Đất mới như sau: “Bấy giờ tôi thấy trời mới đất mới, vì trời cũ đất cũ đã biến mất, và biển cũng không còn nữa. Và tôi thấy Thành Thánh là Giê-ru-sa-lem mới, từ trời, từ nơi Thiên Chúa mà xuống, sẵn sàng như tân nương trang điểm để đón tân lang. Rồi tôi nghe từ phía ngai có tiếng hô to: “Đây là nhà tạm Thiên Chúa ở cùng nhân loại, Người sẽ cư ngụ cùng với họ. Họ sẽ là dân của Người, còn chính Người sẽ là Thiên-Chúa-ở-cùng-họ. Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất.” (Kh 21,1-4).

2) THIÊN ĐÀNG Ở ĐÂU?

Ngày 5-9-1961, Liên Xô đã phóng một phi thuyền mang theo một người lên không gian và bay được ba vòng chung quanh trái đất. Sau đó trong một cuộc phỏng vấn, Tổng Bí thư Krouchev đã nói với ký giả của tờ New York Time của Mỹ như sau: ” Để điều tra trên trời có Thiên đàng thật như người ta nói hay không, chúng tôi đã gửi một thám tử lên không trung là: YOURI GARARINE. Anh ta đã đi vòng quanh quả địa cầu mà chỉ trông thấy những bóng đen dầy đặc, không thấy Thiên đàng ở đâu cả. Sau đó chúng tôi lại gửi một thám tử khác lên: GERMAN TITOV. Chúng tôi đã bảo anh ta: “Hãy bay lâu hơn một chút nữa. Có lẽ Gagarine chưa thấy Thiên đàng vì chàng chỉ mới bay có một tiếng rưỡi thôi. Vậy chuyến này anh hãy nhìn cho kỹ”. Titov đã trẩy đi, rồi trở về và anh xác nhận lời tuyên bố của Gagarine là sự thật: “Hư vô! Chỉ có Hư vô!” Rồi sau đó Krouchev kết luận: “Vì thế chúng tôi không tin có đời sau”.

Đó là cái nhìn của một người vô tín theo chủ nghĩa duy vật. Cái nhìn đó không phải là cái nhìn của người có đức tin như chúng ta.

Trong kinh Tin Kính các tín hữu chúng ta cũng tuyên xưng đức tin vào Chúa Giê-su và cuộc sống Thiên đàng, về một Nước Trời hằng sống như sau: “Người lên trời, ngự bên hữu Chúa Cha, và Người sẽ lại đến trong vinh quang, để phán xét kẻ sống và kẻ chết, Nước Người sẽ không bao giờ cùng”.

3) THIÊN ĐÀNG Ở NGAY TRONG CUỘC SỐNG ĐỜI THƯỜNG:

Người Pha-ri-sêu hỏi Đức Giê-su bao giờ Triều Đại Thiên Chúa đến. Người trả lời: “Triều Đại Thiên Chúa không đến như một điều có thể quan sát được. Và người ta sẽ không nói: “Ở đây này! hay “Ở kia kìa! , vì này Triều Đại Thiên Chúa đang ở giữa các ông.” (Lc 17,20-21).

Thời Trung cổ, có hai tu sĩ tình cờ đọc thấy trong một cuốn sách cổ chép rằng: ở tận cùng trái đất sẽ có một nơi mà trời đất gặp nhau. Họ quyết định ra đi tìm cho bằng được điểm gặp nhau ấy và thề quyết sẽ không trở về nhà nếu không tìm ra nơi ấy, vì họ đã đọc được trong quyển sách cổ rằng tại điểm giao nhau giữa trời và đất, một cánh cửa sẽ mở ra và họ sẽ nhìn thấy Thiên Chúa tỏ tường. Họ vượt thác băng rừng, không quản ngại hy sinh. Cuối cùng thì họ cũng đứng trước giao điểm ấy. Với tất cả xúc động, họ đưa tay gõ vào cánh cửa hẹn hò, cánh cửa mở ra và họ bỡ ngỡ nhận ra đó chính là căn phòng của mình. Họ chợt hiểu rằng nơi gặp gỡ giữa trời và đất, nơi hẹn hò giữa Thiên Chúa và con người không gì khác hơn là chính cuộc sống hằng ngày của họ.

4) TRUYỀN GIÁO LÀ THẮP LÊN NGON ĐÈN YÊU THƯƠNG TRONG LÒNG NGƯỜI:

Mẹ Têrêxa Can-quýt-ta vốn là một nữ tu người Anbani, được sai đến phục vụ người nghèo tại Ấn độ. Đến Ấn độ, thấy những người nghèo khổ quá tội nghiệp. Biết bao người hấp hối ờ ngoài lề đường. Sau khi chết xác liền bị quẳng vào đống rác như một con vật. Biết bao trẻ thơ bị bỏ rơi. Biết bao gia đình sống chui rúc trong các căn nhà ổ chuột. Biết bao người sống đói khát không đủ cơm ăn áo mặc hằng ngày. Mẹ Tê-rê-sa đã lăn xả vào việc phục vụ người nghèo.

Một hôm Mẹ đi thăm một ông già cô đơn trong căn lều tồi tàn. Bước vào lều Mẹ động lòng thương cảm. Vì tất cả đồ đạc chỉ là một mớ giẻ rách. Căn lều bụi bặm bẩn thỉu ngoài sức tưởng tượng. Và nhất là ông già thu mình lại không muốn giao tiếp với ai. Mẹ chào hỏi ông cũng không buồn trả lời. Mẹ xin phép dọn dẹp căn lều ông cũng làm thinh. Đang khi dọn dẹp, Mẹ thấy trong góc lều có một cây đèn dầu bụi bám đen đủi. Sau khi lau chùi, Mẹ kêu lên: “Ô, cây đèn đẹp quá”. Ông già nói: “Đó là cây đèn tôi tặng vợ tôi ngày cưới. Từ khi bà ấy chết, tôi không bao giờ đốt đèn nữa”. Thấy ông đã cởi mở, Mẹ Têrêxa liền đề nghị: “Thế ông có bằng lòng cho các chị nữ tu mỗi ngày đến thăm và đốt đèn cho ông không?” Ông đồng ý. Từ đó mỗi buổi chiều, các chị tới thăm ông, dọn dẹp nhà cửa, nói chuyện với ông. Ngọn đèn cháy sáng ấm áp trong căn lều. Ông trở nên vui vẻ hơn. Ông đã đến thăm mọi người và được mọi người đến thăm. Cuộc đời của ông đã vui trở lại.

Trước kia cuộc đời ông tăm tối không phải vì ông không thắp đèn. Nhưng vì ngọn đèn trong trái tim ông đã tắt. Trái tim khép kín nên ông mất niềm tin vào con người, vào cuộc sống. Ông nhìn mọi người như thù địch. Từ ngày các nữ tu đến đốt đèn đời ông vui lên, sáng lên. Đời ông sáng lên không phải vì có ngọn đèn dầu hoả soi sáng. Nhưng vì trái tim ông bừng sáng. Ngọn đèn tâm hồn ông rạng rỡ. Tâm hồn ông cởi mở và ông nhìn thấy mọi người là anh em. Thứ ánh sáng ấy ta thấy trong Phúc Âm. Khi người Samaritano nhân hậu cúi xuống săn sóc, băng bó vết thương cho người bị nạn bên đường. Hai người nhìn nhau. Một làn ánh sáng loé lên. Và họ nhận ra nhau là anh em.

Hôm nay Hội Thánh cầu nguyện cho công cuộc loan báo Tin Mừng và mời gọi chúng ta góp phần vào việc truyền giáo. Không gì bằng ta hãy noi gương Mẹ Têrêxa, thắp lên ngọn lửa tin yêu trong lòng mình, đem ngọn lửa yêu thương phục vụ đi soi sáng khắp nơi. Thế giới sẽ bừng sáng và mọi người sẽ nhìn nhận ra nhau là anh em.

SUY NIỆM:

1) Đức Giê-su nhiều lần nói đến trời cao: Trời hay Thiên đàng là nơi Thiên Chúa ngự. Chẳng hạn : Trong kinh Lạy Cha, Chúa Giê-su dạy ta cầu nguyện với Thiên Chúa Cha là Đấng ngự trên trời (x. Mt 6,9) ; Người cũng dạy: “Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời” (Mt 5,16.45).

2) Đức Giêsu đã từ trời mà đến: Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống để rồi lại trở về trời (x. Ga 3,13 ; 6,62). Người là Bánh Hằng Sống từ trời xuống, là bánh đem lại sự sống cho thế gian (Ga 6,33).

3) Đức Giê-su đã được rước lên trời: Sau khi sống lại, Đức Giê-su tuyên bố Người đã được ban “mọi quyền năng trên trời dưới đất” (x. Mt 28,18), “Người là vị Thượng Tế thánh thiện, vẹn toàn, vô tội, tách biệt khỏi đám tội nhân và được nâng cao vượt các tầng trời” (x. Dt 7,26), và đã vào chính cõi trời, để giờ đây đứng trước mặt Thiên Chúa chuyển cầu cho chúng ta (x. Dt 9,25). Qua hình ảnh được rước lên trời, Chúa Phục Sinh sẽ không còn hiện ra với các tông đồ như trong thời gian 40 ngày qua. Từ đây, Người sẽ hiện diện cách thiêng liêng, không bị lệ thuộc vào thời gian và không gian như Người đã hứa: “Thầy sẽ ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20).

4) Niềm hy vọng lên Trời của chúng ta: Chúa Giê-su lên trời là để dọn chỗ cho các môn đệ và Người sẽ trở lại lần thứ hai để đem họ về với Người (x. Ga 14,2-3). Thiên đàng là nơi trú ngụ của Thiên Chúa mà thánh Phao-lô đã cảm thấy vui thoả khi được chiêm ngắm những thực tại khôn tả (x 2 Cr 12,4); Là Vương Quốc dành cho những người công chính được hưởng hạnh phúc muôn đời (x. Mt 25,34.46). Đây là Nước Trời do Đức Giê-su thiết lập ở trần gian và sẽ phát triển cho tới tầm mức viên mãn vào ngày Tận Thế khi Người tái lâm, trở lại lần thứ hai trong uy quyền vinh quang. Thiên Đàng còn là nơi dành cho tội nhân có đức tin vào Chúa Giê-su và có lòng sám hối cậy trông vào lòng thương xót của Đức Giê-su, như kẻ trộm lành cùng chịu chết với Chúa trên cây thập giá khi xưa (x. Lc 23,43).

5) Để được vào Thiên đàng với Đức Giê-su sau này, các tín hữu phải làm gì ngay từ hôm nay?

-MỘT là tin Chúa Giê-su là Đấng Cứu Thế Con Thiên Chúa và được tái sinh bởi nước và Thánh Thần trong phép rửa tội.

-HAI là phải ăn năn sám hối tội lỗi, từ bỏ các đam mê bất chính và quyết tâm chừa cải các thói hư tật xấu.

-BA là phải sống giới răn yêu thương là mến Chúa yêu người bằng cách năng nghĩ đến tha nhân, khiêm tốn phục vụ, quảng đại chia sẻ cơm áo cho những người bệnh tật nghèo đói để trở nên môn đệ đích thực của Đức Giê-su.

-BỐN là phải đi con đường hẹp và leo dốc, từ bỏ ý riêng mình để vâng phục ý Thiên Chúa, sẵn sàng vác thập giá là các tai nạn gặp phải trong cuộc sống hằng ngày.

-NĂM là phải biết dùng của cải vật chất Chúa ban để phụng sự Chúa và phục vụ tha nhân hầu mua lấy Nước Trời đời sau.

-SÁU là phải chu toàn sứ mệnh tông đồ truyền giáo, nghĩa là làm chứng cho Chúa bằng đời sống gương sáng ngay từ trong gia đình và ra ngoài xã hội.

NGUYỆN CẦU

LẠY CHÚA GIÊ-SU. Hôm nay chúng con mừng đại lễ Thăng Thiên. Chúng con thật vui mừng và hãnh diện tuyên xưng Chúa chính là Đấng Cứu Thế và là Con Thiên Chúa. Chúa lên trời ngự bên hữu Thiên Chúa để mở đường về trời cho chúng con, để dọn chỗ cho chúng con và đến ngày tận thế Chúa sẽ trở lại để đem chúng con lên trời với Chúa. Xin cho chúng con ý thức rằng: “Quê hương chúng con ở trên trời, nơi đó chúng con sẽ gặp Đấng Cứu Chuộc là Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng con”, để dù đang sống giữa thế gian, nhưng chúng con không thuộc về trần gian. Xin cho chúng con biết dùng của cải đời này để sắm cho mình kho báu thiêng liêng trên trời, bằng việc chia sẻ cơm bánh cho những người đói khát, quần áo cho những kẻ rách rưới, chữa lành các bệnh nhân đau liệt, thăm viếng an ủi những người đau khổ thể xác cũng như tâm hồn, giúp tội nhân ăn năn sám hối trở về với Chúa… như kinh “thương người” đã dạy.

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

------------------------

 

Tác giả: Nguyễn Văn Mễn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

http://www.giaoxugiaohovietnam.com/
Chuyen ke cho cac gia dinh
Chuyện kể cho các gia đình
Giáo phận long xuyên
Báo công giáo
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây