Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật PS 2-ABC Bài 401-435 Câu chuyện ông Tôma & Lòng thương xót Chúa

Thứ sáu - 22/04/2022 09:20
suy-niem-tin-mung-chua-nhat-ps-2-abc-bai-401-435-cau-chuyen-ong-toma-long-thuong-xot-chua
suy-niem-tin-mung-chua-nhat-ps-2-abc-bai-401-435-cau-chuyen-ong-toma-long-thuong-xot-chua
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật PS 2-ABC Bài 401-435 Câu chuyện ông Tôma & Lòng thương xót Chúa
---------------------------

PS 2-ABC401: Tha thứ là bản chất của Lòng Thương Xót 2
PS 2-ABC402: Tôma. 4
PS 2-ABC403: Đức Giêsu đến đứng giữa các ông. 5
PS 2-ABC404: Thánh Tôma và Lòng Thương Xót Chúa. 8
PS 2-ABC405: Hồng ân đức tin. 12
PS 2-ABC406: Đức tin của Tôma. 16
PS 2-ABC407: Hãy học nơi Chúa Lòng Thương Xót 18
PS 2-ABC408: Phẫn nộ thì dễ - Tha thứ mới khó. 21
PS 2-ABC409: Bài học sự tha thứ. 24
PS 2-ABC410: LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA ĐỨC GIÊSU PHỤC SINH.. 26
PS 2-ABC411: Tin là hồng ân…... 28
PS 2-ABC412: Sự hiện diện của Đức Kitô Phục Sinh. 31
PS 2-ABC413: Suy niệm Chúa Nhật II Phục Sinh. 35
PS 2-ABC414: Suy niệm Lễ kính Lòng thương xót Chúa. 37
PS 2-ABC415: CẢM NHẬN VÀ LÀM CHỨNG CHO LÒNG CHÚA XÓT THƯƠNG.. 39
PS 2-ABC416: LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA ĐỨC GIÊSU PHỤC SINH.. 41
PS 2-ABC417: CHÚA LÀ ĐẤNG GIÀU LÒNG THƯƠNG XÓT.. 43
PS 2-ABC418: SUY NIỆM TIN MỪNG CHÚA NHẬT II PHỤC SINH.. 45
PS 2-ABC419: LẠY CHÚA TÔI 48
PS 2-ABC420: LẠY THIÊN CHÚA CỦA CON! 49
PS 2-ABC421: BÌNH AN CỦA ĐỨC KITÔ PHỤC SINH.. 53
PS 2-ABC422: CHÚA GIÀU LÒNG THƯƠNG XÓT.. 55
PS 2-ABC423: BÌNH AN CHO ANH EM... 57
PS 2-ABC424: CÒN ĐÓ LỜI THẦY.. 59
PS 2-ABC425: TRÁI TIM CHỊU THƯƠNG TÍCH.. 60
PS 2-ABC426: CỦNG CỐ ĐỨC TIN.. 62
PS 2-ABC427: GIÁO HỘI: CỘNG ĐOÀN NHÂN CHỨNG CHO ĐẤNG PHỤC SINH   64
PS 2-ABC428: LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA BIẾN ĐỔI CON NGƯỜI 66
PS 2-ABC429: ƠN BÌNH AN CỦA LÒNG CHÚA THƯƠNG XÓT.. 69
PS 2-ABC430: CHÚA NHẬT 2 PHỤC SINH_C.. 73
PS 2-ABC431: DẤU CHỈ PHỤC SINH! 75
PS 2-ABC432: SỐNG TIN YÊU.. 78
PS 2-ABC433: LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA THIÊN CHÚA KHÔNG BAO GIỜ CHẾT   80
PS 2-ABC434: HÃY TRỞ THÀNH HIỆN THÂN CỦA LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA   83
PS 2-ABC435: SỐNG SỨ MỆNH NHẬN TRAO LÒNG THƯƠNG XÓT.. 85

-----------------------

 

PS 2-ABC401: Tha thứ là bản chất của Lòng Thương Xót


(Suy niệm của Lm. Anthony Trung Thành)

 

Trong Tông Thư “Khuôn Mặt Xót Thương”, Đức Thánh Cha Phanxicô nói: “Trong dụ ngôn về PS 2-ABC401


Trong Tông Thư “Khuôn Mặt Xót Thương”, Đức Thánh Cha Phanxicô nói: “Trong dụ ngôn về lòng thương xót, Chúa Giêsu tiết lộ bản tính của Thiên Chúa như một người Cha không bao giờ bỏ cuộc cho đến khi Ngài đã tha thứ kẻ sai phạm và vượt qua sự từ khước với lòng trắc ẩn và thương xót”.

Thật vậy, tha thứ là bản chất của Thiên Chúa. Trong thời Cựu Ước, biết bao lần dân Chúa phản bội, chạy theo các thần của dân ngoại, nhưng mỗi khi dân biết sám hối quay trở về thì Ngài sẵn sàng tha thứ. Sang thời Tân Ước, Chúa Giêsu luôn dạy về sự tha thứ. Khi Phêrô hỏi Chúa phải tha thứ bao nhiêu lần, có phải bảy lần không? Chúa trả lời “Không phải là bảy lần nhưng bảy mươi lần bảy” (Mt 18,22).

Không những Chúa Giêsu dạy sự tha thứ mà chính Ngài đã thực hành sự tha thứ. Ngài tha thứ cho Phêrô qua cái nhìn đầy trìu mến yêu thương sau khi Phêrô chối Ngài ba lần. Ngài tha thứ cho kẻ trộm lành. Ngài tha thứ cho những người đóng đinh Ngài “Lạy Cha xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34).

Sau khi Phục Sinh, Chúa Giêsu không hề nhắc tới tội của Phêrô, tội bỏ trốn của các Tông đồ. Sự nghi ngờ của ông Tôma. Ngài tha thứ cho họ tất cả. Ngài tha thứ cho Phaolô khi ông trên đường đi lùng bắt các kitô hữu. Nếu Giuđa có lòng thống hối, chắc chắn Chúa cũng sẽ tha luôn. Ngài đã lập Bí tích Giao Hoà để tha thứ tội lỗi cho con người mỗi khi con người phạm tội và biết thống hối ăn năn. Chính trong bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã ban cho các Tông đồ quyền tha tội : “Các con tha tội cho ai thì tội người ấy được tha” (Ga 20,23).

Giáo Hội qua mọi thời đại không những thi hành sự tha thứ cho các tội nhân qua bí tích Giao Hoà mà còn thực hành sự tha thứ trong cuộc sống. Sách Công Vụ Tông đồ cho biết, chính Thánh Phêrô đã sống tinh thần tha thứ của Chúa Giêsu trên Thánh giá khi coi hành động của những người Do Thái và cả của các thủ lãnh của họ như “do không hiểu biết” (Cv 27,25). Thánh Stêphanô đã cầu nguyện xin Chúa tha thứ cho Phaolô (x. Cv 7,60). Muôn vàn gương tha thứ khác của Giáo Hội và các thành viên trong Giáo Hội mà chúng ta không thể kể hết ra đây. Trong thời đại chúng ta có gương tha thứ của Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II: Ngày 13 tháng 05 năm 1981, tên khủng bố Mehmet Ali Agca, người Thổ Nhỉ Kỳ, đã cố ý giết Đức Thánh Cha Gioan Phalô II bằng ba phát súng lục trong một cuộc tiếp kiến chung tại quảng trường thánh Phêrô ở Rôma. Hai năm sau vụ ám sát, vào ngày 23.12.1983, Ngài đã đích thân vào phòng giam thăm tên khủng bố Ali Agca, nói chuyện với y và nhất là tha thứ cho y.

Trong cuộc sống chung, không thể tránh khỏi những va chạm, có những va chạm gây ra đổ máu, chết chóc: Giữa các thành viên trong gia đình; giữa những người làng xóm làng giềng với nhau; giữa bạn bè; giữa những người trong cộng đoàn; giữa những người không quen biết; có những va chạm đến từ những người không cùng quan điểm, tôn giáo với chúng ta, họ ghen ghét vì chúng ta là người kitô hữu...Nhưng trong mọi trường hợp, Chúa và Giáo Hội luôn mong muốn chúng ta phải thể hiện tinh thần tha thứ.

Trong buổi tiếp kiến chung ngày 04 tháng 11 năm 2015, Đức Thánh Cha Phanxicô nhắn nhủ các gia đình sống tinh thần tha thứ cho nhau, Ngài nói: “Gia đình là một thao trường lớn để tập luyện sự trao ban và tha thứ cho nhau, chẳng vậy không có tình yêu nào có thể trường tồn. Trong kinh nguyện mà chính Ngài đã dạy chúng ta, kinh Lạy Cha, Chúa Giêsu dạy chúng ta thưa với Chúa Cha: ‘Xin tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con’. Vào cuối kinh, Chúa bình luận: ‘Thực vậy, nếu các con tha thứ những lỗi lầm của người khác, thì Cha các con trên trời cũng tha thứ cho các con; nhưng nếu các con không tha thứ cho tha nhân, thì Cha các con cũng chẳng tha thứ những lỗi lầm của các con’ (Mt 6,12.14-15). Ta không thể sống mà không tha thứ, hoặc ít là không thể sống tốt đẹp, nhất là trong gia đình. Mỗi ngày chúng ta làm những điều lầm lỗi đối với nhau. Chúng ta phải để ý đến những sai lầm ấy, do sự yếu đuối và ích kỷ của chúng ta. Nhưng điều mà chúng ta được yêu cầu là chữa lành ngay những vết thương chúng ta gây ra cho nhau, nối lại tức khắc những mối dây đã bị đứt đoạn. Nếu chúng ta chờ đợi quá lâu, thì tất cả trở nên khó khăn hơn. Và có một bí quyết đơn giản để chữa lành những vết thương và giải tỏa những lời cáo buộc, đó là đừng bao giờ kết thúc một ngày mà không xin lỗi, không làm hòa giữa vợ chồng với nhau, giữa cha mẹ và con cái, giữa anh chị em, giữa mẹ chồng và nàng dâu! Nếu chúng ta học cách xin lỗi và tha thứ ngay cho nhau, thì chúng ta chữa lành những vết thương và hôn nhân được củng cố, gia đình trở thành căn nhà vững chắc hơn, chống lại được những chấn động do những thói xấu lớn nhỏ của chúng ta gây ra”.

Đối với những người khác, Đức Thánh Cha Phanxicô nói : “Nếu chúng ta học cách sống như thế trong gia đình, thì chúng ta cũng làm như vậy ở bên ngoài, bất kỳ nơi nào chúng ta sống. Nghi ngờ về điều này là điều dễ dàng. Nhiều người, kể cả các tín hữu Kitô nghĩ rằng đó là một điều thái quá. Họ nói: nói thì dễ, thì đẹp, nhưng không thể thực hành được. Nhưng cám ơn Chúa, không phải như vậy. Thực thế, chính khi lãnh nhận ơn tha thứ từ Chúa, mà chúng ta có khả năng tha thứ cho người khác. Vì thế, Chúa Giêsu đã yêu cầu lập lại những lời này mỗi khi chúng ta đọc kinh Lạy Cha, nghĩa là mỗi ngày. Và điều không thể thiếu được, đó là một xã hội nhiều khi tàn ác, có những nơi, như gia đình, trong đó chúng ta phải học tha thứ cho nhau”.

Chúa Nhật kính lòng thương xót Chúa hôm nay, mỗi người chúng ta hãy cảm nghiệm lòng thương xót tha thứ của Chúa. Qua Bí tích Giao hoà, biết bao lần Chúa đã tha thứ tội lỗi cho chúng ta. Từ đó, chúng ta đừng hẹp hòi khi cần phải tha thứ cho anh chị em mình. Bởi vì: Nếu chúng ta không tha thứ lỗi lầm cho người khác, thì Cha chúng ta trên trời cũng sẽ không tha thứ tội lỗi cho chúng ta” (x. Mt 6,15). Amen.

-------------------------------

 

PS 2-ABC402: Tôma


Phúc cho những ai không thấy mà tin.

 

Với đà tiến bộ của khoa học kỹ thuật, con người thường phán đoán dựa vào những gì họ thấy PS 2-ABC402


Với đà tiến bộ của khoa học kỹ thuật, con người thường phán đoán dựa vào những gì họ thấy tận mắt, sờ tận tay, những gì họ cân đo đong đếm, và kiểm chứng được, thì mới chấp nhận. Tôma có lẽ thuộc týp người này. Tuy nhiên có những sự con người tiếp xúc thường xuyên, mà vẫn không hiểu, chẳng hạn như cây cỏ, vạn vật trên hoàn vũ, hoặc một cảnh đẹp, một bông hoa thơm, một trái ngọt... Con người thưởng thức, nhưng vẫn không biết được nguồn gốc sâu xa của chúng.

Đứng trước ngôi mộ rỗng, chúng ta ghi nhận hai thái độ khác nhau: Phêrô thấy mồ rỗng nhưng không tin, còn Gioan đã thấy và đã tin. Trực giác của Gioan cho ta hiểu rằng: Muốn tin, thì thấy mà thôi chưa đủ, còn phải có tình yêu. Như thế, người ta không phải chỉ thấy bằng lý trí, không chỉ thấy bằng đôi mắt, mà còn phải thấy bằng tâm hồn, bằng con tim, như một câu danh ngôn đã bảo: Con tim có những lý lẽ mà lý trí không thể giải thích.

Xét về một phương diện nào đó, chúng ta có thể nói đức tin có những lý lẽ mà lý trí không thể nào giải thích. Đức tin có những lý lẽ mà những ai không tin không thể hiểu được. Chúng ta hiểu được thế giới chung quanh và con người không chỉ bằng lý trí, bằng khoa học, mà còn cả bằng đức tin nữa. Sự kiện Tôma cũng cho chúng ta hiểu được rằng: Đức tin đúng nghĩa trước tiên là do ơn Chúa ban, rồi kế đó, mỗi người phải biến đức tin trở thành một xác tín cá nhân, phải được củng cố bằng chính trải nghiệm bản thân của từng người.

Nói cách khác, người có đức tin đích thực là người đã có một kinh nghiệm bản thân trong mối tương quan giữa mình với Thiên Chúa, là kinh nghiệm cá nhân của riêng mình, do mình xác tín, chứ không phải dựa vào ai khác.

Chính nhờ Tôma, chúng ta được có lời Chúa chúc phúc đầy khích lệ và đầy thuyết phục: Phúc cho những ai không thấy mà tin. Chính vì chúng ta, vì con người ở mọi nơi và trong mọi lúc, mà sự kiện Tôma được ghi lại trong Phúc Âm, để củng cố niềm xác tín của chúng ta vào việc Chúa phục sinh. Cùng với Tôma, chúng ta hãy tuyên xưng rằng: Chúa đã sống lại thật. Alleluia.
 
--------------------------------

 

PS 2-ABC403: Đức Giêsu đến đứng giữa các ông


(Suy niệm của Lm. Trầm Phúc)

 

Chúa Giêsu phục sinh! Một biến cố vô tiền khoáng hậu, đã đảo lộn tất cả mọi sự. Người Công giáo PS 2-ABC403


Chúa Giêsu phục sinh! Một biến cố vô tiền khoáng hậu, đã đảo lộn tất cả mọi sự. Người Công giáo tin vì chúng ta biết Thiên Chúa là ai và Ngài yêu thương chúng ta. Chúng ta tin nhờ những chứng nhân Ngài đã chọn, đã sống với Ngài, đã chứng kiến việc Ngài sống lại. Nhưng những bước khởi đầu của niềm tin này không dễ dàng đối với các tông đồ. Họ phải lần mò trong trong đêm tối, hoài nghi cho đến ngày thứ nhất trong tuần sau tử nạn, Chúa hiện đến với các ông.

“Các cửa đều đóng kín vì sợ người Do Thái”. Một chi tiết nhỏ nhưng quan trọng. Đóng đinh Thầy rồi, các môn đệ cũng không thể yên thân. Nhờ đó các ông tụ họp lại với nhau, chỉ trừ một người vắng mặt.

Chúa Giêsu đến đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em”. Thánh Gioan không nói gì về phản ứng của các môn đệ, chỉ nói: “Họ vui mừng” chứ không hoảng sợ. Chúa Giêsu muốn các ông tin Ngài trước khi gặp Ngài. Vì thế, họ không ngạc nhiên mà cảm thấy như khi Ngài còn ở giữa họ.

“Các cửa vẫn đóng kín”. Ngài vào nhà như thế nào?

Điều này cho thấy, khi sống lại, Ngài không còn lệ thuộc vào vật chất nữa. Ngài vẫn mang lấy thân xác như trước kia, tiếng nói của Ngài bình thường như thuở nào. “Ngài cho các ông xem tay và cạnh sườn Ngài”. Những chứng tích của sự toàn thắng. Ngài chính là Đấng chịu đóng đinh, đã bị đâm thâu; giờ đây, Ngài đã sống lại, là Đấng đang sống và là Sự Sống. Ngài vẫn là con người, đã mang lấy kiếp người đọa đày của chúng ta, đã mệt nhọc, đau khổ như chúng ta, đã bị hành hình, bị con người chà đạp nát tan, nhưng giờ đây, từ một thân thể nát tan, Ngài đã sống lại.

Từ “sống lại” có làm cho chúng ta ngạc nhiên không? Chắc không mấy người ngạc nhiên, vì mọi sự không gì thay đổi, nhưng lại là một dấu lạ tuyệt đỉnh vì chỉ có Ngài mới sống lại: “Ta là sự sống lại và là sự sống”.

Ngài thân tình như ngày nào: “Bình an cho anh em”. Tiếng chào bình an nối kết lại sự gián đoạn mấy ngày qua. Đây là lời chào bình thường thân mật. Nhưng Ngài lặp lại: “Bình an cho anh em”. Đây không còn là lời chào nữa mà là hồng ân: “Ngài là sự bình an của chúng ta”.

Những ngày qua là bối rối, lo âu, sợ sệt, hôm nay bình an đã trở lại. Bình an không như thế gian ban tặng: “Thầy ban bình an của Thầy cho anh em”.

Tội lỗi đã cướp mất bình an của nhân loại. Giờ đây, Ngài chiến thắng tội lỗi trả lại sự bình an cho mọi người. Nhưng bình an này không là một vật quí chúng ta có thể tìm gặp và đem cất, mà là cuộc chiến thắng trên tội lỗi. Chúa Giêsu đã lâm vào cuộc chiến đó và Ngài đã chiến thắng.

Chúng ta muốn được sự bình an đó cũng phải dấn thân vào cuộc chiến cam go chống lại tội lỗi, nhưng chúng ta không cô đơn. Ngài trợ lực chúng ta bằng Thánh Thần của Ngài, Thánh Thần ban ơn tha thứ: “Ngài thổi hơi trên các ông và nói: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần, anh em tha tội ai, người ấy được tha…” Sự toàn thắng của Ngài mang lại ơn tha thứ. Ngài sai chúng ta: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em…” Ngài đã đi trước, chúng ta theo sau với sứ mệnh như Ngài, tiêu diệt tội lỗi, loan báo sứ điệp phục sinh. Ngài tin vào chúng ta như đã tin vào các tông đồ. Chúng ta là những tông đồ của hôm nay. Sứ điệp phục sinh không được dễ dàng chấp nhận. Cần có những chứng nhân đáng tin cậy…

Chúng ta sẽ gặp sự chối từ lịch sự như Phaolô ở quảng trường Aêrôpagô: “Để lần sau chúng tôi sẽ nghe ông…” Chúng ta sẽ gặp bách hại mang nhiều sắc thái tinh vi và khoa học. Nhưng chúng ta không thể dừng bước. Ngài biết Ngài sai chúng ta “như chiên giữa sói”. Ngài biết chứ! Ngài biết rằng thế gian sẽ không tha thứ cho chúng ta, nhưng có Ngài… Ngài vẫn là Đầu và là Cuối của mọi sự. Chúng ta có thể chiến thắng như Ngài: bằng cái chết, Nhưng chúng ta sẽ sống lại như Ngài…

Tôma vắng mặt khi Ngài đến, nhất quyết cự tuyệt không tin anh em.

Tôma không tin, vì việc này quá khó tin. Một người đã chết rồi sống lại, chuyện này chỉ có trong thần thoại.

Tôma không dám tin vì ông đang sống trong một thế giới đầy gian trá. Ông đã trở nên đa nghi. Thầy vô tội mà người ta còn giết được thì tin ai đây?

Anh em đã bỏ Thầy trốn hết thì có thể tin họ được không?
Thầy chết rồi, vết thương trong lòng của Tôma còn rỉ máu. Nỗi tuyệt vọng đang dằn xé tim ông. Cái chết của Thầy quá thê thảm, làm sao tin rằng Thầy sống lại?

Chúng ta thử hỏi Tôma: “Nếu Thầy không sống lại thì sao? Chúng ta sẽ là gì? Những cánh bèo trôi dạt theo ngày tháng, những tử tội chờ ngày lên đoạn đầu đài.

“Nếu Chúa Kitô không sống lại thì lòng tin của anh em thật hảo huyền…

Nếu Đức Kitô không sống lại thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng” (Thánh Phaolô đã nói như thế).

Hóa ra chúng ta tin vào một thây ma, hóa ra chúng ta tôn thờ một bộ xương khô hay sao?

Không, chúng ta tin vững chắc rằng Chúa đã sống lại và chúng ta hãnh diện vì Thiên Chúa của chúng ta hằng sống.

Tám ngày sau, các cửa vẫn đóng kín, Chúa Giêsu đến, đứng giữa các ông, chúc bình an và quay sang Tôma, người anh em cứng lòng có mặt tại đó: “Tôma, đặt ngón tay vào đây… Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin”. Không một lời trách móc, Ngài chỉ giúp Tôma vững tin. Tôma không biết nói sao, chỉ biết kêu lên: “Ôi Chúa của con! Lạy Thiên Chúa của con!” Từ Chúa ở đây là một tiếng kêu đầy yêu mến mang nhiều ý nghĩa. Tôma không thể ngờ được mình được yêu thương như thế! Câu thứ hai mới là lời tuyên xưng đức tin. Chúa cũng nói với chúng ta như đã nói với Tôma: “Đừng cứng lòng nữa”. Chúng ta tin, nhưng chúng ta không tin hết mình. Chúng ta vẫn đứng giữa hai vực thẳm, Thiên Chúa và thế gian. Chúng ta nghiêng ngã, không vững chắc. Đức tin của nhiều người chỉ là thời cơ: bên nào mạnh thì theo. Khi mọi sự thuận lợi, vui mừng, chúng ta ngã theo Chúa, nhưng khi gặp thất bại gian nan, chúng ta nản lòng. Niềm tin chúng ta dao động.

Chúa Giêsu đòi hỏi: Hãy tin thôi! Hơn nữa, giờ đây không còn thấy nữa mà chỉ tin vào những chứng nhân: Không thấy mà tin. Nhờ Tôma, chúng ta được chúc phúc: “Phúc cho ai không thấy mà tin”.

Chúa vẫn đến với chúng ta, như đến với Tôma và các Tông đồ, nhưng dưới một hình thức mới: một tấm bánh. Ngài là Đấng đã toàn thắng sự chết và sống lại. “Ngài không còn chết nữa. Sự chết không còn quyền gì trên Ngài nữa”. Ngài đến để củng cố niềm tin hay chao đảo của chúng ta, Ngài đến để giúp chúng ta dám dấn thân để làm chứng nhân cho Ngài. Ngài cần những chứng nhân đáng tin, vì trong Giáo hội hôm nay có quá nhiều những phản chứng. Người tín hữu hôm nay không thể để cho Giáo hội trở thành một bà lão hơn 2.000 năm tuổi mà là một nàng dâu xinh đẹp của Chúa Kitô. Chúng ta hãy ăn lấy Bánh Hằng Sống, Chúa của chúng ta, Thiên Chúa của chúng ta để có thể đủ can đảm sống tốt giữa một thế giới đồi trụy, gian ác. Chúng ta sống đẹp, sẽ làm cho khuôn mặt của Giáo hội tươi trẻ lại.

“Chúng con đừng sợ, Thầy đã thắng thế gian”.

------------------------------

 

PS 2-ABC404: Thánh Tôma và Lòng Thương Xót Chúa


(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

 

Chúa Nhật II phục sinh Giáo hội tuyên dương lòng thương xót Chúa. Thánh Gioan Phaolô II đã thiết PS 2-ABC404


Chúa Nhật II phục sinh Giáo hội tuyên dương lòng thương xót Chúa. Thánh Gioan Phaolô II đã thiết lập lễ này đáp lại ý Chúa muốn qua thánh nữ Maria Faustina: "Ta muốn ngày lễ kính lòng thương xót là một trợ giúp và là nơi trú ẩn cho mọi linh hồn và nhất là cho những người tội lỗi đáng thương. Trong ngày ấy, lòng thương xót của Ta sẽ rộng mở, Ta sẽ tuôn đổ một đại duơng hồng ân xuống các linh hồn đến gần nguồn mạch lòng thương xót của Ta" (Tiểu nhật ký, số 699). Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II qua đời vào đêm cuối tuần Phục Sinh đầu tiên (ngày 2 tháng 4 năm 2005). Lòng thương xót Chúa đã chiếu một luồng ánh sáng vào cái chết của một vị thánh thời đại.

Lòng thương xót của Chúa được diễn tả qua cuộc thương khó và cái chết của Ngài trên thập giá. Điều quan trọng được Thánh Kinh ghi nhận là thân xác phục sinh của Chúa Giêsu vẫn còn mang thương tích của cuộc khổ nạn, vẫn còn lỗ đinh ở chân tay và vết giáo đâm ở cạnh sườn. Tin Mừng phục sinh là Tin Mừng về các vết thương đã lành nay thành những vết sẹo. Lòng thương xót ghi đậm nét nơi các vết thương trên thân thể Chúa. Vì thế, việc đầu tiên khi hiện ra với các môn đệ, sau khi trao sự bình an, là cho các ông xem các vết thương ở tay và cạnh sườn, các môn đệ vui mừng và bình an.

Lòng thương xót Chúa đối với con người trước và sau phục sinh không thay đổi, vì Chúa Giêsu vẫn là một để cho người ta nhận ra Ngài. Vết thương diễn tả lòng thương yêu của Chúa với con người không thay đổi. Ngài còn khoe và cho phép Tôma lấy tay kiểm tra vết thương.Chúa không che dấu, không tiếc xót dù Tôma có cứng lòng, đòi thực tế phải thấy mới tin.

1. Đức tin của Tôma

Chúa sống lại, các môn đệ không dễ dàng tin, thánh sử Luca kể: “Khi từ mộ trở về, các bà Maria Macđala, bà Gioanna và bà Maria, mẹ ông Giacôbê và các bà khác cùng đi với mấy bà này. Các bà kể cho Nhóm Mười Một và mọi người khác biết tất cả những sự việc ấy. Nhưng các ông cho là chuyện vớ vẫn, nên chẳng tin” (Lc 24,11). Thánh Matthêu thuật lại: khi mấy người phụ nữ báo tin cho các môn đệ: Chúa đã sống lại rồi, các ông cũng hoài nghi. Rồi, “khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi” (Mt 28,17). Riêng Tôma đã nói một câu quyết liệt: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin”. Đây là kiểu tin bằng lý luận kiểm chứng, chỉ tin khi thấy, khi đã có đủ bằng chứng rõ ràng hiển nhiên.

Tôma đại diện cho những người lý luận, cái gì cũng muốn xem tận mắt, bắt tận tay. Chỉ tin những gì thấy được. Chỉ chấp nhận những gì sờ được. Đòi kiểm nghiệm tất cả. Đòi tự mình chứng nghiệm tất cả. Không chỉ tin vào lời nói suông. Tôma không vội tin một cách dễ dàng như bao người khác. Ông là người có tính thực tế của khoa học phải qua kiểm chứng, kiểm nghiệm bằng mắt thấy, tai nghe, tay chân sờ mó đụng chạm hẳn hoi thì mới tin. Đây phải chăng là thái độ khôn ngoan, cẩn thận trước một quyết định hết sức quan trọng của đức tin nơi Tôma? Cám ơn thánh Tôma, vì nhờ ngài mà các môn đệ khác được chứng kiến tỏ tường Chúa sống lại, được nhìn thấy những vết thương ở tay chân và cạnh sườn Người.

Trước khi tin, Tôma phải hoài nghi đã. Tôma chỉ tin những điều hợp lý, những gì ‘thấy được, sờ được'. Đây không phải là thái độ cố chấp của Tôma mà ngược lại là thái độ không nhẹ dạ, không cả tin vội vàng bằng tai nghe. Đó là lối phân tích theo nhận định tự nhiên của con người và cũng là kinh nghiệm sống đức tin của nhiều người chúng ta. Dù sao, đây cũng là một khó khăn riêng tư của Tôma trong việc tin vào Chúa sống lại. Chúa Giêsu hiểu ông, nên đã đích thân đến và giúp cho ông dễ dàng hơn để tin vào Chúa. Ngài mời gọi ông hãy tin vững vàng. Và ông đã nói lên lời tuyên xưng đức tin thật đẹp đẽ, thật trang trọng 'lạy Chúa tôi, lạy Thiên Chúa của tôi'. Cuối cùng, Chúa Giêsu đã ban cho Toma sự bình an và đức tin mạnh mẽ qua sự hoài nghi, để ông tuyên xưng đức tin cá nhân của mình: "Lạy Thiên Chúa của con". Sau khi nhận lãnh Chúa Thánh Thần, Tôma đi rao giảng Tin Mừng khắp nơi. Theo lưu truyền, ông đi rao giảng đức tin và lòng thương xót của Chúa ở Ba tư, Xyri rồi chịu tử đạo ở Ấn Độ.

Thần học gia Hans Kung nói: "người tín hữu không bao giờ nghi ngờ sẽ khó lòng hoán cải một người hoài nghi". Nhà thần học Paul Tillich nói: "sự hoài nghi chín chắn là sự khẳng định của đức tin. Nó chứng tỏ một sự quan tâm rất nghiêm chỉnh". Còn Thomas Merton bảo: "người có niềm tin mà chưa từng trải qua sự nghi ngờ thì không phải là người có niềm tin". Jean Guitton, một nhà triết học người Pháp, nói: "Chính vì nghi ngờ thường trực mà tôi lại có thể tin vững". Thực tế, trên đời có biết bao điều chúng ta không thấy mà vẫn tin, không kiểm tra được mà vẫn phải chấp nhận và sống điều ấy. Sự hoài nghi giúp chúng ta trưởng thành trong đức tin, thúc đẩy ta thắc mắc, tìm hiểu, học hỏi, cầu nguyện, nghiên cứu sách vở (Lm. Pet. Bi Trọng Khẩn).

2. Lòng mến của Gioan

Có hai mức độ tin: mức độ thấp là tin vì thấy,tin dựa vào bằng chứng; mức độ cao là tin mà không cần thấy, tin không dựa trên bằng chứng mà dựa trên tình yêu.Đây là mối phúc thứ 9 như lời Chúa Giêsu nói với tông đồ Tôma: “Phúc cho những ai không thấy mà tin” (Ga 20,28). Không thấy mà tin không có nghĩa là tin một cách mù quáng, vu vơ, không có cơ sở, không có lập trường mà là bằng tình yêu nên đức tin vững mạnh hơn, truởng thành hơn.Thánh Gioan, “người môn đệ Chúa yêu”, bằng tình yêu, Gioan “đã thấy và đã tin” và nhận ra điều mà mọi người khác không nhận ra. Phúc âm kể: khi thấy một bóng người mờ mờ đi trên mặt biển, mọi người khác đều tưởng là ma, chỉ có Gioan là tức khắc nhận ra đó là Thầy mình. Khi Chúa Phục Sinh hiện ra bên bờ biển hồ Tibêria, “các môn đệ không nhận ra” nhưng “ môn đệ được Chúa Giêsu thương mến” đã nhận ra và nói với Phêrô “Chúa đó” (Ga 21, 4-7)…Rõ ràng, con đường tình yêu đi đến niềm tin nhanh chóng hơn, nhẹ nhàng hơn, thoải mái hơn.

Tin mừng Phục Sinh cho thấy: có hai con đường dẫn tới đức tin, một con đường bằng lý luận với những bằng chứng rõ ràng, và con đường thứ hai là dựa vào tình yêu thoạt xem có vẻ tầm thường nhưng thực ra lại nhanh chóng, nhẹ nhàng và cũng không kém phần vững chắc. Chúng ta hãy củng cố đức tin của mình bằng cả hai con đường đó. Phải có những suy nghĩ lý luận thật vững chắc về Chúa, mặt khác chúng ta cũng hãy cố gắng yêu mến Chúa ngày càng nhiều hơn, bởi vì cũng như thánh Gioan, nếu có thêm sức mạnh của tình yêu, chúng ta sẽ được mở mắt để nhận biết những gì mà người không yêu Chúa không nhận biết.

3. Lòng Chúa Xót Thương

Nhân loại thời nay khát khao một “Thiên Chúa tình yêu giàu lòng thương xót” (1Ga 4,8; Ep 2.4) để họ tôn thờ, tựa nương và tìm được ý nghĩa cuộc đời. Năm Thánh Lòng Thương Xót là cơ hội để đào sâu đức tin và canh tân chứng tá Kitô giáo. Lòng thương xót là tình yêu thương, là lòng trắc ẩn với người đau khổ, với người nghèo đói, với người bệnh tật, với người tội lỗi. Nhân loại thời nay cần tình yêu, đây là một dấu chỉ của thời đại.Vì thế, mỗi người tùy vào khả năng của mình hãy đặc biệt quan tâm đến việc thực thi lòng thương xót. Mỗi tín hữu được mời gọi trở thành nhân tố tích cực để sống và làm chứng cho lòng thương xót.

Điều làm nên nét độc đáo của người tín hữu là nhân đức thương xót, thể hiện bằng đạo yêu thương, được bộc lộ nơi bản thân và cuộc đời mỗi cá nhân. Mỗi người trong chúng ta, bằng cách thực thi bác ái, lòng thương xót và tha thứ, có thể trở nên dấu chỉ quyền năng tình yêu của Thiên Chúa có sức biến đổi tâm hồn, đem lại hòa giải và bình an.Trong Tông sắc Misericordiae Vultus (Dung mạo Lòng Thương Xót), ĐTC Phanxicô nói: “Thời đại ngày nay, khi Hội Thánh đang thực thi công cuộc Tân Phúc Âm hóa, lòng thương xót quả là cần thiết để một lần nữa tạo nên nhiệt tình mới và đổi mới các hoạt động mục vụ. Điều tối quan trọng đối với Hội Thánh, cũng như để làm cho lời rao giảng của Hội Thánh đáng tin, chính là sống và làm chứng cho lòng thương xót. Ngôn ngữ và hành động của Hội Thánh cần phải thông truyền lòng thương xót, để đến với trái tim con người và giúp họ gặp thấy lối đường dẫn về Chúa Cha” (số 12). Đáp lại lời kêu gọi của ĐTC Phanxicô, trong Thư gởi cộng đoàn dân Chúa (17.9.2015), HĐGMVN nhấn mạnh: “Mỗi người Công Giáo phải trở thành nhân tố tích cực trong việc xây đắp nền văn minh tình thương và văn hóa sự sống. Không có những chứng nhân của lòng thương xót, xã hội sẽ trở thành một sa mạc hoang vu, cằn cỗi, không sức sống”.

Chúa Phục Sinh cho các tông đồ xem những thương tích cuộc khổ nạn nay đã thành sẹo như mời gọi các ngài chiêm ngắm chính nguồn mạch của Lòng Thương Xót không bao giờ cạn vơi.

Thánh Tôma Aquinô đã cầu nguyện rằng: "Chúa ơi, con không xin được xem thương tích Chúa như ông Tôma tông đồ, nhưng con tuyên xưng Chúa là Chúa của con. Hãy làm cho con luôn tin vào Chúa, cậy trông vào Chúa và yêu mến Chúa nhiều hơn nữa". Người kitô hữu đôi khi không cần trí tuệ để tin vào những thực tại thiêng liêng; không cần giác quan để kiểm soát những dấu chỉ mầu nhiệm trong đạo, mà cần sống bằng lòng mến. Càng yêu mến nhiều thì càng tin chắc. Càng tin vững thì càng bình an. Như vậy, con đường của lòng tin là con đường của lòng mến. “Ai xót thương người, sẽ được Thiên Chúa xót thương” (Mt 5,7).Những ai luôn tin vào sự hiện diện của Chúa Giêsu phục sinh đều luôn sống tích cực và khám phá ra điều kỳ diệu trong những cái tầm thừơng để có khả năng chứng mình về tình yêu và lòng thương xót của Chúa.

-------------------------------

 

PS 2-ABC405: Hồng ân đức tin


(Suy niệm của AM Trần Bình An)

 

Từ 4 tuổi, cậu ấm Nguyễn Văn Thích đã được Thân phụ dạy chữ Hán, rồi lớn lên vác lều chỏng PS 2-ABC405


Từ 4 tuổi, cậu ấm Nguyễn Văn Thích đã được Thân phụ dạy chữ Hán, rồi lớn lên vác lều chỏng thi Hương, đến trường ba thì hỏng (chuẩn bị bằng Cử nhân). Thời gian nầy, cậu Thích cũng học chữ quốc ngữ và chữ Pháp rồi vào trường Pèlerin gọi là «Trường Dòng» do các Sư huynh Lasan điều khiển và giảng dạy, ở Huế. Trường nầy được thành lập năm 1904 và học sinh Nguyễn văn Thích thuộc thế hệ đầu tiên được các Sư huynh truyền dạy kiến thức cả đời lẫn đạo. Nơi đây cậu ấm được học hỏi, trau dồi tiếng Pháp và được khai tâm về Giáo lý Kitô giáo. Không chỉ những lời giảng dạy, mà còn gương sống hy sinh tận tụy của các «Thầy Dòng» đã giúp học sinh con nhà Nho thấy được phần hòa âm tuyệt diệu giữa Nho giáo và ánh sáng Tin Mừng. Về sau, khi Thân phụ là Cụ Thượng Mại chống đối mạnh mẽ đạo Công giáo, thì cậu giải thích cho Thân Phụ rằng chữ TRỜI là THIÊN của Khổng giáo cũng là THIÊN CHÚA của đạo Công giáo. Sau khi trưng dẫn 30 câu trong các sách Nho về chữ THIÊN, thầy Nguyễn Văn Thích trình bày: chữ Thiên đây không phải là bầu trời với trăng sao vằng vặc, hay mặt trời chói lọi, mà là một Ngôi vị thiêng liêng, là Đấng Tạo Hóa Tối Cao và Toàn Năng Toàn Ái.

Nhưng từ lòng Tin vào Đấng Tối Thiện đến thể hiện niềm Tin ấy đối với đứa con một gia đình thâm nho, như gia đình của cụ Thượng Mại là Thượng Thư Bộ Lễ, không phải là chuyện đơn giản. Thời đó Giáo hội Công giáo không chấp nhận việc thờ kính tổ tiên, ngăn cấm người Công giáo thi hành nghi lễ này. Trong khi đó đối với truyền thống đạo đức Việt Nam, chữ HIẾU, với lòng thảo kính tổ tiên, ông bà cha mẹ là thiêng liêng, là nền tảng của đạo làm người. Do đó, Thầy Thích vô cùng khắc khoải, vì trở nên Công giáo sẽ bị xem là bất hiếu, nhất là trong một gia đình nổi tiếng, vị vọng của đất thần kinh. Ông Bà Nguyễn văn Mại khi biết con mình muốn theo đạo Công giáo thì quyết liệt ngăn cản.

Sau 3 năm suy tư, trở trăn và cầu nguyện, cậu ấm Thích chờ thời điểm thuận lợi. Với bằng Cao đẳng Tiểu học và một năm Sư phạm, Thầy Thích được bổ làm trợ giáo tỉnh Khánh Hoà tháng 2-1911. Bốn tháng sau, ánh sáng Đức tin tỏ rạng trong tâm hồn, thúc giục thầy quyết định nhận bí tích Rửa tội để trở nên con cái Thiên Chúa. Linh mục Charles Eugène Saulcoy, tên Việt là Cố Ngoan, ngày 29 tháng 6, tại Nhà thờ Bình Cang, xã Vĩnh Trung, Nha Trang, đã ban phép Thanh Tẩy cho Thầy giáo Thích với tên thánh là Giuse Maria. Được tin sét đánh, cụ Thượng không cầm nổi tức giận, dùng roi gậy đánh nhừ tử «đứa con bất hiếu». Khi cơn gia biến dịu dần với thời gian, Cụ Thượng thân phụ nghĩ đến việc lập gia đình cho con trai đã 26 tuổi. Cụ mời Đức Cha Lý (Cố Allys) đến nhà, xin Đức Cha làm mai mối với con gái Cụ Thượng Công giáo Nguyễn Hữu Bài, để con mình yên phận, không còn gây thêm tai vạ nữa. Ngờ đâu, khi được «hung tin» này, môn đệ của Đức Giêsu lấy quyết định từ giã gia đình qúy tộc…

Một đêm thanh vắng, thầy Giuse Maria hoá trang làm cô gái đội nón lá, mặc áo dài tha thướt ra đi, sáng sớm tháng 9 năm 1917, trực chỉ đến Tiểu chủng viện An Ninh tại Cửa Tùng, tỉnh Quảng Trị. Muốn được nhận vào Tiểu chủng viện thường là 12 đến 14 tuổi, mà thầy Thích đã 26 tuổi thì phải làm sao đây? May mắn là Giám mục Lý (Allys) nắm rõ hoàn cảnh, nên nhận ngay người chủng sinh rất độc đáo nầy, vừa học tiếng Latinh và chương trình đào tạo linh mục, vừa được mời làm giáo sư Pháp văn, Hán văn, Quốc văn cho chủng sinh. Sau 2 năm tu tập vừa làm trò vừa làm thầy nơi đây, thầy giáo «tiểu chủng sinh» được gửi vào Đại chủng viện Phú Xuân, Huế, và 6 năm sau được thụ phong Linh mục ngày 18 tháng 12 năm 1926. (Lm GM Nguyễn Văn Thích, Gương sống đức tin, web GP Nha Trang)

Hành trình đến với Đức Tin của Lm GM. Nguyễn Văn Thích, vốn được các môn sinh tôn xưng là “Hiền Nhân của thời đại,” trải qua bao khó khăn, gian nan, thử thách. Nhưng nhờ ơn Thiên Chúa, ngài đã thủ đắc đức tin và làm rạng danh Nước Chúa qua cuộc đời chứng nhân ngời sáng đạo hạnh, tài năng và đặc sắc.

Trong Tin Mừng Chúa nhật Lòng Thương Xót hôm nay, thánh sử Gioan phác hoạ đôi nét về Đức Tin, qua sự kiện ông Tôma cứng lòng, yêu cầu được xỏ ngón tay vào cạnh sườn Chúa Giêsu Phục Sinh, thì mới chịu khẳng định Người sống lại thật.

Đức Tin vượt giác quan

Bà Maria Mắcđala và quý bà đạo đức đã ra ngôi mộ táng xác Đức Giêsu. Nhưng không còn xác Người, thiên sứ báo tin Người đã Phục Sinh. Nghe tin lạ, hai môn đệ Phêrô và Gioan cũng vội vã chạy đến quan sát. Nhưng ngôi mộ trống rỗng, chỉ còn khăn liệm và khăn trùm đầu xếp gọn ghẽ. Thế mà trong bấy nhiêu người chứng kiến tỏ tường sự việc, chỉ duy nhất Người Môn Đệ Được Chúa Yêu Thương “đã thấy và đã tin” Chúa Giêsu phục sinh. Mặc dầu ai cũng đều sáng mắt, chứng kiến cùng một cảnh ngộ, một sự kiện nhãn tiền, thì tại sao chỉ mình ông Gioan nhận được đức tin?

Qua những dấu chỉ trong thiên nhiên, dấu chỉ từ các sự kiện xã hội, hay những diễn biến lịch sử, Thiên Chúa dẫn dắt vào niềm tin những người hướng thượng, thành tâm và thiện chí. Như ba vị chiêm tinh, khao khát đấng minh quân xuất hiện, đã tìm thấy ngôi sao dẫn đường, đến Bêlem thờ lạy Hài Nhi Giêsu. Như môn đệ Gioan, đã mỹ mãn thành công giải mã dấu chỉ ngôi mộ trống.

Như thế, đức tin không thể nào kiểm chứng, vì vượt qua giác quan, vượt qua cảm nhận thông thường. Đức tin thuộc lãnh vực siêu nhiên, phi vật chất, không thể thấy, nghe, nếm, ngửi, đụng chạm, hoặc cân đo đong đếm. Nếu khoa học kiểm chứng được thì đâu cần đến nhân đức tin. Nói như ông Tôma thì cũng chẳng cần viện đến niềm tin, vì đã là một sự thật hoàn toàn."Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin." (Ga 20, 25)

Vì thế Đức Giêsu mới chúc lành cho ai thực sự có đức tin bền vững, không mảy may nghi ngờ, chao đảo cám dỗ, đầy lửa mến, đức cậy: “Phúc thay những người không thấy mà tin.” (Ga 20, 29)

Đức Tin vượt tri thức

Khi hai môn đệ sầu buồn thê thảm, ê chề thất vọng, lê gót chân trên đường Emmau, đều thiếu lòng tin tưởng, trông chờ vào Chúa, dù đã được loan báo tin vui từ nhiều nguồn.“Ðã hẳn, có vài người phụ nữ trong nhóm chúng tôi đã làm chúng tôi hoảng hồn. Tảng sáng họ đi đến mồ; và không gặp xác Ngài, họ về phân phô là đã thấy thiên thần hiện ra nói rằng Ngài đang sống.  Có vài người trong chúng tôi đã đi tới mồ, và đã gặp thấy y như các phụ nữ đã nói, còn Ngài thì họ không được thấy!" (Lc 24, 22-24)

Không nhờ đến giác quan, mà dựa trên tri thức, suy luận, để lý giải, phân tích, tổng hợp dữ kiện, thì cũng chẳng thể nào lãnh hội được đức tin. Hai môn đệ đã phải thú nhận sự thất vọng sâu xa về đấng đến phục quốc: “Phần chúng tôi, chúng tôi đã hy vọng rằng chính Ngài là Ðấng sẽ giải thoát Israel. Nhưng với ngần ấy cớ sự, nay đã là ngày thứ ba rồi, kể từ khi các việc ấy diễn ra!” (Lc 24, 21) Ba ngày trôi qua sau khi Đức Giêsu tử nạn, sao còn hy vọng được? Sau ba năm theo Đức Giêsu dạy dỗ, các ngài vẫn còn ngộ nhận về sứ vụ cao cả của Người, vẫn còn nặng lòng với vật chất, danh lợi.

Vượt qua tri thức, đức tin chỉ đạt được bằng con đường trái tim, yêu thương. Nhưng phải là tình yêu xả kỷ, bao dung, cho đi, khiêm nhường, trong sáng, vô vị lợi, mến Chúa yêu người, yêu thương, phục vụ những người cùng khổ, khó nghèo, đói rách, bệnh hoạn, tù đầy, bị bỏ rơi, bị xua đuổi, cả đến người thù địch.

Trả lời những người chống đối, Đức Giêsu không ngần ngại công khai nhận xét chính tâm hồn họ chai đá, lạnh nhạt với Chúa, phũ phàng với tha nhân, nên chẳng thể nào tin vào Con Người được sai đến: “Nhưng tôi biết: các ông không có lòng yêu mến Thiên Chúa. Tôi đã đến nhân danh Cha tôi, nhưng các ông không đón nhận. Nếu có ai khác nhân danh mình mà đến, thì các ông lại đón nhận. Các ông tôn vinh lẫn nhau và không tìm kiếm vinh quang phát xuất từ Thiên Chúa duy nhất, thì làm sao các ông có thể tin được?” (Ga 5, 42-44)

Trong thư gửi tín hữu Philípphê, thánh Phaolô đặc biệt nhấn mạnh đến tình yêu, đức mến: “Điều tôi khẩn khoản nài xin, là cho lòng mến của anh em ngày thêm dồi dào, khiến anh em được ơn hiểu biết và tài trực giác siêu nhiên, để nhận ra cái gì là tốt hơn.” (Pl 1, 9-10). Dồi dào lòng mến, nồng nàn yêu Chúa, yêu tha nhân, mới dễ dàng đón nhận được ơn tri thức, cũng như lãnh nhận được đức tin.

Vậy ai yêu Chúa thì vâng theo, hoàn toàn tin tưởng, trông cậy, thực thi Lời Chúa, sẽ được Người thân thương yêu quý, và được hạnh phúc ở lại trong Người, như Đức Giêsu đã long trọng tuyên bố: “Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha của Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy. Ai không yêu mến Thầy, thì không giữ lời Thầy.” (Ga 14, 23)

Thánh Têrêsa Hài Đồng cảm nghiệm tình yêu chân chính thế nào: “Yêu thương trước tiên là ‘mong muốn’, chứ không luôn là ‘cảm thấy.’

Đức Tin từ Lòng Thương Xót

Hai môn đệ đang trên đường Emmau,” bộ mặt ảo não,” đau buồn, xót thương Đức Giêsu chịu tử nạn. Người lặng lẽ hiện ra, “tiến lại gần bên mà đi với họ; nhưng mắt họ bị ngăn ngừa làm sao họ không nhận ra được Ngài.” (Lc 24, 15-16).

Thật phúc đức thay cho hai môn đệ đã vô cùng thương xót Chúa, nên được Chúa thương xót đáp lại.“Phúc cho những ai hay thương xót người, vì họ sẽ được xót thương.” (Mt 5, 7) Chúa Giêsu dùng chính Lời Chúa để giải thích cho các ngài mầu nhiệm phục sinh. “Và khởi từ Môsê và hết thảy các tiên tri, Ngài dẫn giải cho họ những điều đã viết về Ngài trong toàn bộ Kinh Thánh.” (Lc 24, 27)

Cũng vì Lòng Thương Xót, Chúa Giêsu chẳng hề nỡ trách mắng ông Tôma cứng lòng, mà chỉ nhân từ, ôn tồn dạy bảo Tôma: "Ðặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Ðưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Ðừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin." (Ga 20, 27)

Lạy Chúa Giêsu,
xin cho con biết con,
xin cho con biết Chúa.

Xin cho con chỉ khao khát một mình Chúa,
quên đi chính bản thân,
yêu mến Chúa và làm mọi sự vì Chúa.

Xin cho con biết tự hạ,
biết tán dương Chúa và chỉ nghĩ đến Chúa.
Ước gì con biết hãm mình và sống trong Chúa.
Ước gì con biết nhận từ Chúa
tất cả những gì xảy đến cho con
và biết chọn theo chân Chúa luôn.

Xin đừng để điều gì quyến rũ con, ngoài Chúa.
Xin Chúa hãy nhìn con, để con yêu mến Chúa.
Xin Chúa hãy gọi con, để con được thấy Chúa.

Và để con hưởng nhan Chúa đời đời. (Thánh Âu-Tinh, Rabbouni, 120 Lời nguyện của bạn trẻ Việt Nam, Vietnamese Missionaries in Asia)

Kính xin Mẹ Maria, biến đổi chúng con theo gương mẫu Mẹ, luôn biết sống yêu thương, nhân ái, khiêm nhường, đơn sơ và vâng phục, để chúng con có thể xứng đáng hưởng từ Lòng Thương Xót, hồng ân đức tin mạnh mẽ như Mẹ vậy. Amen.

-----------------------------

 

PS 2-ABC406: Đức tin của Tôma


(Suy niệm của Lm. Giuse Đỗ Văn Thụy)

 

Từ lâu, gương mặt của Tôma đã cuốn hút nhiều người. Người ta thường đã nhìn thấy nơi ông PS 2-ABC406


Từ lâu, gương mặt của Tôma đã cuốn hút nhiều người. Người ta thường đã nhìn thấy nơi ông, một con người hoài nghi và Gioan đã giải thích thái độ và cử chỉ của Tôma ra sao. Ông đã không có mặt khi Đức Giêsu hiện ra với các môn đệ, chiều ngày Phục Sinh và khi Ngài đã thổi hơi trên họ. Mặc dù các môn đệ kể lại cho ông điều họ đã nhìn thấy, ông vẫn không tin. Ông đáp: “nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Ngài, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin” (Gn 20,25).

Trong thực tế, Tôma không phải là người hoài nghi, mà là người muốn tự mình cảm nhận tất cả. Ông không bằng lòng với những gì người khác kể lại. Ông còn phải thấy và tự mình sờ chạm và chỉ tin với điều kiện ấy mà thôi.

Gioan mời gọi chúng ta theo gót Tôma để tin vào sự Phục Sinh. Điều kiện mà Tôma đưa ra để tin, chất vấn mỗi người chúng ta.

Tại sao ông lại đặt nặng vấn đề các thương tích của Đức Giêsu, những dấu đinh trên bàn tay và vết đâm nơi cạnh sườn? Có lẽ ông cần đến bằng chứng rằng Đấng Bị Đóng Đinh và Đấng Phục Sinh là một, vì thật lòng mà nói quả là rất khó tin rằng người chết trong những đớn đau khủng khiếp như thế, lại có thể sống lại một hai ngày sau đó. Ông khó lòng chấp nhận rằng Đấng Messia đã chết trên Thập Giá, một cách bất ngờ, khủng khiếp như vậy, cho nên ông cần một bằng chứng rõ ràng để tin vào một Đấng Phục Sinh. Chính vì vậy học giả Merrill Tenney đã nói như sau: “bất chấp việc các môn đệ khác nói đi nói lại rằng Đức Giêsu đã sống lại, Tôma vẫn không tin. Ông biết rõ cái chết của Đức Giêsu, nên ông không dễ tin vào những lời tường thuật về việc Đức Giêsu hiện ra, và khẳng định ông chỉ tin khi nào ông đụng chạm đến thân thể Người. Điều Tôma cần không gì khác hơn là những chứng cứ vật chất. Sự cứng tin của ông là bằng chứng cho thấy sự kiện hiện ra sau Phục Sinh không phải là ảo tưởng vì quá mong nhớ Thầy.”

Tuy bị coi là cứng lòng tin, nhưng Tôma lại đạt tới đỉnh cao của niềm tin Kitô giáo vì không những Tôma tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Mêsia, mà còn ý thức được rằng Đức Giêsu chính là “Ngôi Lời” của Thiên Chúa, do đó ông đã tuyên xưng Đức Giêsu là Thiên Chúa: “Lạy Thiên Chúa của con”. Không chỗ nào trong Tân Ước có được lời chứng mạnh mẽ về Đức Giêsu như ở đây. Qui nạp hai tước hiệu đó vào Đức Giêsu Kitô là điều cốt lõi của niềm tin Kitô Giáo.

Bác sĩ C. Scott Harrison đã đồng cảm với Tôma trong niềm tin này khi thi hành nhiệm vụ của một bác sĩ chuyên khoa giải phẫu bàn tay. Trong một bài báo được phát hành trên toàn quốc, ông viết rằng trong mọi cuộc giải phẫu, ở một điểm nào đó, ông đã phải kêu lên, "Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con!

Câu chuyện đàng công việc giải phẫu xảy ra trong thời gian ông ở Việt Nam. Một tối kia, sau khi mới tốt nghiệp y khoa, ông được gọi đến để lấy một viên đạn từ tay một người lính. Đã vậy, ông phải thi hành điều đó dưới ánh sáng của đèn pin. Cuộc giải phẫu ấy đã làm ông cảm động đến nỗi, sau cuộc chiến, ông quyết định chuyên ngành giải phẫu bàn tay. Vì sự chuyên môn này, nhà phẫu thuật rất thấu hiểu sự đau đớn khủng khiếp gây nên bởi vật gì đó, tỉ như viên đạn, xuyên xé qua xương, bắp thịt, và các thần kinh của bàn tay. Ông nói cứ mỗi lần ông nghĩ về sự đau đớn khủng khiếp mà Chúa Giêsu phải chịu khi bị đóng đinh trên Thập Giá thì ông lại phải nhăn mặt.

Nói về bài Tin Mừng hôm nay, bác sĩ cho biết ông nghĩ rằng lời kêu than của Tôma, "Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con," không chỉ là một lời tuyên xưng đức tin, mà đó còn là lời sửng sốt bàng hoàng khi thấy các bàn tay của Chúa Giêsu bị xé nát và sứt sẹo biết chừng nào. Chỉ lúc bấy giờ Tôma mới thực sự nhận thức được sự đau đớn mà Chúa Giêsu đã chịu trên Thập Giá. Với khám phá này, bác sĩ nói, "vượt quá mức chịu đựng của thánh Tôma."

Bác sĩ C. Scott Harrison đã kết thúc bài viết với lời lẽ xúc động như sau: "mỗi lần tôi giải phẫu và nhìn vào bên dưới lớp da... của bàn tay con người, tôi được nhắc nhở rằng Đức Kitô đã hy sinh bàn tay lành lặn của Người vì tôi. Và, cùng với Tôma, tôi thân thưa, 'Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con.'"

Tóm lại, chúng ta thấy nơi Tôma: ông nhất định không chịu nói là tin khi ông không tin, không bao giớ nói mình hiểu khi chưa hiểu. Ông không hề đè nán sự nghi ngờ. Tôma không thuộc loại người chịu thông qua điều chưa hiểu. Ông muốn biết chắc mọi sự. Một người đòi hỏi chắc chắn thì có đức tin vững vàng hơn kẻ chỉ biết lặp đi lặp lại như con vẹt những điều mình chẳng bao giờ suy nghĩ đến. Chính khi hoài nghi như thế cuối cùng đã đạt đến một đức tin chắc chắn và khi biết chắc, ông sẽ đi đến cùng. Ông nói: “Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con.” Với Tôma không có chuyện nửa với. Ông nghi ngờ vì muốn trở thành người biết chắc và khi biết chắc rồi, ông hoàn toàn vâng phục. Đây chính là điều chúng ta phải học nơi Tôma. Amen.

----------------------------

 

PS 2-ABC407: Hãy học nơi Chúa Lòng Thương Xót


(Suy niệm của Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền)

 

Khi ta nói lòng thương xót, sự thương cảm, lòng trắc ẩn là ta muốn biểu lộ tình yêu của mình với PS 2-ABC407


Khi ta nói lòng thương xót, sự thương cảm, lòng trắc ẩn là ta muốn biểu lộ tình yêu của mình với những nỗi khổ đau cụ thể mà ta gặp trong cuộc sống. Có những lúc tự nhiên không kiềm được cảm xúc khi xem bộ phim hay đến nỗi nước mắt cứ ướt bờ mi. Có những lúc lòng không khỏi xót xa khi thấy cảnh cụ già lưng còng bán vé số giữa trời nắng chang chang. Có những lúc chạnh lòng nhớ cha mẹ gìa đang lam lũ vất vả vì con, khiến trong ta trỗi dậy lòng thảo hiếu muốn đền ơn đáp nghĩa.

Lòng thương xót là nhịp cầu để ta trao ban những nghĩa cử yêu thương đến người ta xót thương. Không có lòng thương xót con người sẽ mãi vô cảm trước những khổ đau, bất hạnh của anh em. Lòng thương xót còn là biểu lộ một trái tim từ tâm để có thể tha thứ cho kẻ làm hại mình, và còn cầu nguyện cho họ ăn năm sám hối.

Mới đây một linh mục đã được giải oan sau 8 năm oan ức trong tù về tội lạm dụng tình dục. Đó là Cha Adam Stanisław Kuszaj đã bị một thiếu niên 16 tuổi vu cáo lạm dụng tính dục.

Năm 2011, giáo quyền đã cấm cha Kuszaj thi hành tác vụ linh mục và cha bị trục xuất khỏi dòng. Cha cũng bị tòa dân sự kết án 6 tháng tù treo. Bị kỳ thị vì lời buộc tội nặng nề và bị bỏ rơi bởi hầu hết những người thân quen, cha chỉ có thể tự lo liệu cuộc sống của mình nhờ đi làm công nhân.

Năm 2016, vụ án đã được mở lại sau khi 3 người bạn của nguyên cáo khai rằng anh ta dựng lên những lời cáo buộc vì cha không giúp đỡ tài chính cho gia đình anh ta nữa. Nguyên cáo được thẩm vấn một lần nữa và các chuyên viên được tòa án hỏi ý kiến đã khẳng định rằng các lời tường thuật của người cáo buộc là không đáng tin. Toà án đã tuyên bố cha vô tội.

Giáo phận Ostrawa-Opava đã rút lại lệnh cấm cha Kuszaj thi hành thừa tác vụ. Về phần mình, cha không hề kết tội người làm hại mình, và cũng không buồn Giáo hội vì đã không tin mình, cha Kuszaj nói: “Tôi chỉ muốn phục vụ con người và Thiên Chúa. Tôi đã mất 9 năm nhưng tôi đã học được nhiều điều”.

Cha đã học được bài học của Lòng Thương xót để có thể chịu đựng sự xỉ nhục và lòng vẫn bình an nhờ luôn bao dung tha thứ.

Phúc âm hôm nay cho thấy dường như sau khi sống lại, Chúa Giê-su không bận tâm tới quá khứ của những người làm hại hay bỏ rơi Chúa. Chúa không hề nhắc tới những chuyện đáng tiếc đã xảy ra. Nơi Phêrô kẻ chối Chúa ba lần. Nơi các môn đệ hèn nhát bỏ chạy trong đêm tối vườn Cây Dầu. Nơi Tôma kẻ bi quan, cố chấp luôn đòi sự kiểm chứng theo lý luận thuần túy nhân loại. Dường như Chúa đã quên hết và còn ban bình an cho các ông. Nếu Chúa sống lại nhưng không tha thứ cho các ông thì đời các ông sẽ ra sao? Liệu rằng các ông có dám ngước mắt nhìn thẳng vào Thầy hay vẫn lấm lét, thẹn thùng đầy lo sợ, bất an như Adam năm xưa trong vườn địa đàng.Chúa đã sống lại và ban ơn tha thứ cho các tông đồ để từ đây các ngài sẽ ra đi rao giảng về Lòng Thương xót Chúa.

Chúa nhật 2 Phục sinh cũng là ngày kính nhớ “Lòng Thương Xót” của Chúa, Giáo hội mời gọi chúng ta: hãy sám hối ăn năn vì những thiếu sót và lầm lỗi của mình. Hãy tin vào tình thương tha thứ của Chúa để sửa đổi bản thân nên hoàn thiện hơn như Cha chúng ta ở trên trời là Đấng hoàn thiện. Xin đừng tiếp tục xúc phạm đến lòng thương xót của Chúa. Xin đừng lợi dụng lòng thương xót của Chúa để tiếp tục sống buông thả trong những đam mê lầm lạc, những quan hệ bất chính, những thói đời gian dối hại người. Một cách đặc biệt là hãy dâng những hy sinh, lời cầu nguyện cho các tội nhân được ơn trở về cùng Chúa. Đó là điều mà Chúa đang chờ đợi nơi mỗi người chúng ta. Vì thế giới hôm nay đang bị tục hoá bởi một trào lưu văn hoá phóng túng và sa đoạ. Người ta phạm tội nhưng không còn ý thức về việc mình làm là tội. Người ta dùng thân xác để kinh doanh kiếm tiền. Hàng đêm vẫn còn đó biết bao cô gái dùng thân xác của mình để đổi lấy đồng tiền dơ bẩn. Hàng đêm vẫn còn đó những chàng trai rải tiền trên thân xác người khác để thoả mãn thú tính của mình. Thế giới tục hoá đã đánh mất sự linh thánh nơi con người là “nhân linh hơn vạn vật”, nên dẫn đến tình trạng sát hại thai nhi như những anh đồ tể giết một con vật vô tri vô giác. Người ta ước tính hàng năm có hàng triệu thai nhi bị sát hại ngay trên quê hương với bốn ngàn năm văn hiến.

Có lẽ ngày nay Chúa đang cần những con người có tâm hồn thanh sạch lòng ngay. Chúa cần những con người như vậy để  vì họ mà Chúa nguôi cơn thịnh nộ trút xuống địa cầu. Điều đó đã được Chúa mạc khải qua thánh nữ Faustina. Ngài muốn có nhiều người chấp nhận lòng thương xót vô bờ bến của Ngài để máu và nước đổ ra từ trái tim bị đâm thâu của Ngài có thể tẩy xoá, rửa sạch tội lỗi, và ban sự sống mới cho những ai tin nhận nơi Ngài. Ngài muốn có nhiều người như thánh nữ Faustina, biết dâng những hy sinh đau khổ của mình như lễ vật tôn thờ Thiên Chúa và cứu thế gian khỏi cơn thịnh nộ của Thiên Chúa.

Chúng ta hãy cùng với thánh nữ Faustina để thưa lên cùng Chúa: “Lạy Chúa, con xin phó thác cuộc đời con, gia đình con và nhân loại hôm nay nơi lòng thương xót của Chúa. Chúng con xin dâng những hy sinh, lời cầu nguyện để bù cho những tội lỗi nhân gian”. Amen.

----------------------------

 

PS 2-ABC408: Phẫn nộ thì dễ - Tha thứ mới khó


(Suy niệm của Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền)

 

Cuộc sống luôn đối diện với những điều không vừa ý và với những người gây tổn thương cho chúng PS 2-ABC408


Cuộc sống luôn đối diện với những điều không vừa ý và với những người gây tổn thương cho chúng ta. Phản ứng thông thường là đáp trả, là ăn miếng trả miếng. Nhưng thực ra, giận dữ phản kháng, trả đũa chẳng hóa giải được điều gì có khi còn làm cho tình huống thêm căng thẳng thêm.

Trên chuyến xe búyt có một đôi tình nhân, chàng trai gắt gỏng, giận dữ nói cô gái: “Nói với em bao nhiêu lần rồi, em vì cái gì mà không nhớ rõ, em làm sao vậy hả?”.

Cô gái kéo áo chàng trai, nhỏ giọng nói: “Em xin lỗi! Anh đừng lớn tiếng trước nhiều người như vậy!”.

Không biết hai người đó xảy ra chuyện gì. Nhưng hành động của chàng trai khiến mọi người đều phản cảm.  Ở nơi công cộng mà nổi nóng như vậy thật mất lịch sự, thật thiếu văn hóa...

Một điều dễ thấy rằng, phẫn nộ thì dễ mà tha thứ lại rất khó khăn. Phẫn nộ thì phá hoại còn tha thứ là xây dựng. Tha thứ chính là hiện thân của tình yêu vĩ đại, của lòng bao dung và từ bi với nhau. Phải có tình yêu vĩ đại lắm mới tha thứ cho kẻ làm hại và gây đau khổ cho mình.

Chúa Ky-tô là hiện thân của tình yêu vĩ đại ấy! Sau cuộc khổ hình Ngài đã sống lại là tin buồn cho những kẻ bắt bớ, đánh đập và đóng đinh Ngài. Ngài sống lại cũng mang lại những hoang mang lo sợ cho những môn đệ đã từng bỏ rơi Ngài để chạy trốn, đã từng chối Thầy đến ba lần... Thế mà sau cuộc phục sinh ấy Ngài không hề tìm đến hỏi tội hay kết án ai. Ngài còn đi bước trước trong tình yêu tha thứ khi trao bình an cho các môn đệ. Nhiều lần và nhiều nơi khi Chúa hiện đến với các môn đệ Ngài đều nói “bình an cho các con”. Ngài hiểu rằng nơi các môn đệ lúc này là tâm trạng hối hận vì việc mình đã làm với Thầy Giê-su. Ngài đã đi bước trước trong tình yêu là nói lời bao dung tha thứ. Có lẽ Chúa sẽ nói: “Ai mà không có lúc lỗi lầm. Hãy can đảm đứng dậy. Thầy không trách tội các con. Hãy vui vẻ bình an”.

Chúa Giê-su trong thân phận con người Ngài cũng hiểu bản tính yếu đuối của con người. Ai mà không lầm lỗi. Ai mà không một lần cần đến sự cảm thông tha thứ nơi anh em. Ai cũng cần sự tha thứ để sửa đổi, để làm mới lại tương giao với nhau. Sự tha thứ của Chúa phục sinh đã làm mới lại tương giao với các môn đệ, để từ đây các ông sẵn sàng chết vì Thầy. Sự tha thứ của Chúa đã làm cho các môn đệ yêu mến Chúa nhiều hơn đến nỗi chỉ vâng lời Thiên Chúa chứ không vâng lời cường quyền trần gian.

Giữa cuộc đời hôm nay cần lắm Lòng Thương Xót dành cho nhau. Nếu cuộc đời cứ “oán báo oán – oán sẽ chập chùng”, và sẽ biến thế giới thành hoang tàn đổ nát. Chỉ có tình yêu tha thứ và lòng bao dung mới xây dựng tình người và dựng xây thế giới ngày một tốt đẹp hơn.

 Chúa Giê-su đã củng cố các môn đệ dựa trên Lòng Thương Xót. Nhờ Lòng Thương Xót ấy mà Ngài đã thay đổi các môn đệ từ nhút nhát và đầy yếu đuối trở thành người can đảm tận trung với Chúa. Hôm nay Chúa cũng đang mời gọi chúng ta hãy có lòng xót thương nhau. Xót thương ngay chính trong gia đình để hàn gắn những nghi kỵ, hiểu lầm, ghen tương. Xót thương ngay chính trong cộng đoàn xứ đạo để sống hiệp nhất cùng nhau loan báo Lòng Thương xót Chúa. Chính Lòng Xót thương sẽ mang lại cho chúng ta bình an hạnh phúc, bởi vì nuôi dưỡng hận thù chỉ tổn hại tâm can chính mình.

Ước gì chúng ta có trái tim bao dung của Chúa để có thể nói lời tha thứ cho nhau và đón nhận anh em chung sống trong hiệp nhất yêu thương. Amen.
 
58.    Định nghĩa Lòng Thương Xót

(Suy niệm của Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền)

Hôm nay lễ lòng thương xót Chúa. Thiết tưởng chúng ta cần hiểu lòng thương xót nghĩa là gì? Thương xót nghĩa là sự biểu lộ lòng xót xa đồng cảm với những hoàn cảnh khó khăn. Lòng thương xót đối với Chúa còn là sự khao khát muốn làm vơi đi những nỗi đau khổ đó. Như vậy, lòng thương xót của Chúa là sự biểu lộ tình thương trước những hoàn cảnh khó khăn của dân Chúa.

Lòng thương xót của Chúa không như con người. Vì con người thương xót nhưng có chọn lựa, có tính toán. Cùng hoàn cảnh nhưng chúng ta thương người này và có thể ghét người kia. Thế nhưng, lòng thương xót của Chúa thì trải rộng cho mọi người. Không toan tính. Không chọn lựa. Ngài yêu thương con người bất kể tình trạng luân lý của họ. Bởi vi, Chúa vẫn yêu thương chúng ta ngay khi chúng ta còn là tội nhân.

Thế nên, lòng thương xót của con người chúng ta thì giới hạn. Chúng ta có thể xót thương kẻ cơ hàn. Xót thương những người già yếu, bệnh tật bị bỏ rơi. Xót thương những trẻ nhỏ bị lạm dụng, bị bóc lột nơi cha mẹ hay người nuôi dưỡng. Và chắc chắn chúng ta sẽ chẳng bao giờ xót thương những phường tội lỗi như: trộm cắp, mại dâm, hay tham ô. Chúng ta thường không thương xót họ mà có khi còn nguyền rủa họ.

Lòng thương xót Chúa thì không giới hạn. Ngài yêu thương mà không cần nhìn xem họ là ai? Ngài chỉ bận tâm đến nhu cầu của con người và ra tay nâng đỡ. Thánh Kinh bảo rằng: Nếu Chúa chấp tội nào ai rỗi được. Thế nhưng, Chúa đã không chấp tội con người, Ngài cũng không giáng phạt theo như tội ta đã phạm. Lòng thương xót của Chúa trải rộng trên con người. Trên người lành cũng như người dữ. Ngài luôn biểu lộ lòng thương xót cho bất cứ ai đến với Ngài. Lòng thương xót ấy không dừng lại ở nơi kẻ yêu Ngài mà còn dành cho cả kẻ ghét Ngài, xỉ nhục và kết án Ngài. Chính trong đau thương khổ nhục mà Ngài vẫn xót thương những kẻ đang hành hạ Ngài khi Ngài cầu nguyện cùng Cha: Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm.

Có lẽ với bản tính con người, chúng ta sẽ thù hận kẻ giết hại chúng ta một cách oan uổng. Có lẽ chúng ta cũng kinh tởm kẻ vô ơn, phản bội với chúng ta. Thế mà, Chúa Giêsu dường như không còn nhớ đến tội lỗi của con dân thành Giê-ru-sa-lem. Ngài đã tha thứ cho kẻ làm nhục Ngài. Ngài cũng tha thứ cho những môn đệ đã bỏ Ngài trong tuần thương khó.

Vâng, khi Chúa sống lại Ngài không tìm ai để trách móc, kêu oan. Và dường như Ngài cũng không bận tâm đến lỗi lầm của các môn sinh. Ngài đã trao bình an cho các môn sinh mỗi khi hiện ra với họ. Ngài biết trong lòng các ông còn một nỗi buồn vì phản bội, vì bỏ rơi Thầy trong gian nguy. Ngài biết sau khi Chúa sống lại lòng các tông đồ còn rối bời hoang mang lo sợ, bất an vì mặc cảm tội lỗi, mặc cảm phản bội Thầy. Chúa đã biết điều đó nên đã đi bước trước để ban bình an cho các ông.

Sứ điệp lễ lòng Chúa thương xót là sứ điệp của yêu thương. Thiên Chúa vẫn tiếp tục xót thương dân Người. Lòng thương xót của Chúa không bị tội lỗi của con người cản trở mà vẫn đong đầy cho những ai đến với Ngài. Lòng thương xót Chúa vẫn xoa dịu những ai đang bất an vì tội lỗi. Lòng thương ấy vẫn đang chữa lành cho những ai đang đau khổ bệnh tật tâm hồn hay thể xác. Lòng thương xót ấy vẫn là căn tính của Thiên Chúa rất yêu thương và xót thương dân Người.

Ước gì mỗi người chúng ta biết tín thác vào lòng thương xót Chúa cho dẫu chúng ta còn mang đầy những vết thương của yếu đuối lỗi lầm. Hãy để cho lòng thương xót Chúa chữa lành những tật nguyền của chúng ta. Ước gì khi chúng ta đã hưởng nếm lòng thương xót vô bờ của Chúa thì cũng biết trao ban lòng thương xót ấy cho anh em. Xin Chúa ban cho chúng ta cũng có một tấm lòng bao dung để gạt qua những thành kiến , những đố kỵ, ghen tương mà đón nhận nhau trong yêu thương chia sẻ. Xin Chúa giúp chúng ta cũng trở thành một chứng nhân cho lòng thương xót của Chúa bằng tình yêu hiến dâng phục vụ tha nhân. Amen.

-----------------------------

 

PS 2-ABC409: Bài học sự tha thứ


(Suy niệm của Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền)

 

Có những lúc chúng ta vô tình làm người khác bị tổn thương, dù muốn dù không chúng ta vẫn PS 2-ABC409


Có những lúc chúng ta vô tình làm người khác bị tổn thương, dù muốn dù không chúng ta vẫn để lại một dấu ấn không đẹp trong lòng của họ. Nhưng điều quan trọng là: Có người khắc nó mãi mãi trong lòng, có người xua tan nó bằng sự bao dung và tha thứ. Thực ra, có bao dung tha thứ, lòng chúng ta mới thanh thản bình an. Có bao dung tha thứ, con người chúng ta mới sống bên nhau trọn đời.

Có hai người bạn đang đi trên một con đường vắng vẻ. Họ trò chuyện. Họ tranh luận với nhau. Vì bất đồng quan điểm nên một trong hai người đã không kiềm chế được bản thân nên đã tát một cái thật mạnh vào má của bạn mình.

Người bạn kia rất đau nhưng không nói một lời nào, anh lặng lẽ viết lên cát dòng chữ "Hôm nay, người bạn thân nhất của tôi đã tát vào mặt của tôi"

Hai người vẫn tiếp tục đi, đến một con sông họ xuống tắm, anh bạn bị tát bị vọp bẻ và suýt chết đuối nhưng may nhờ bạn mình cứu kịp nên thoát chết.

Khi đã hết hoảng sợ, anh viết trên vách đá "Hôm nay người bạn thân nhất đã cứu sống tôi"

Anh chàng kia ngạc nhiên hỏi: "Tại sao khi tôi đánh anh , anh viết trên cát, còn khi tôi cứu anh anh lại viết trên đá??"

Mỉm cười, anh trả lời: "Khi một người bạn làm chúng ta đau, chúng ta hãy viết điều gì đó trên cát, gió sẽ thổi bay chúng đi cùng với sự tha thứ... Và khi có điều gì đó tốt đẹp cho chúng ta, hãy khắc nó lên đá như khắc sâu vào ký ức của trái tim, nơi không ngọn gió nào có thể xoá nhòa được...”

Trong cuộc sống đã có bao nhiêu lần chúng ta ghi lên đá và bao nhiêu lần chúng ta ghi lên cát? Chuyện vui, chuyện buồn luôn xảy đến trong cuộc đời chúng ta. Vui buồn đều sẽ qua đi mau chóng hay âm ỉ lâu dài cũng tùy thuộc vào cách chúng ta đón nhận chúng. Cách tốt nhất để có cuộc sống hạnh phúc là  đừng để cuốn sổ ghi nợ cuộc đời chi chít bởi số lần người khác không làm mình hài lòng. Hãy xóa đi những gì người khác làm cho mình không vui, đừng lưu giấu sự giận giữ, cũng như sự hận thù trong lòng. Chúng ta càng cau có với người khác bao nhiêu thì cuộc đời sẽ cau có với chúng ta bấy nhiêu! Hãy sống và mở rộng lòng mình để gió cuốn đi những ký ức không vui và khắc mãi những điều tốt đẹp người khác đã làm cho mình.

Cuộc sống rất cần sự tha thứ. Tha thứ để sống chung dài lâu với nhau. Tha thứ để sống chung hòa bình với nhau. Sống chung có đụng nên sự tha thứ cần thiết để hàn gắn những đổ vỡ do hiểu lầm, nghi kỵ, ích kỷ gây ra sự rạn nứt tình người.

Tuy nhiên, tha thứ không phải là chuyện dễ. Người tha thứ thường phải trả một giá rất đắt. Lắm khi chúng ta phải quên mình, chịu thiệt thòi hoặc dẹp bỏ tính tự ái của mình để tha thứ cho nhau. Có bà vợ kia, tự ý lấy tiền để hàn hụp làm ăn với bạn. Sau đó bị bạn lừa gạt nên mất số tiền khá lớn. Người chồng biết được việc này thì rất giận vợ cô cùng, nhưng khi thấy vợ thật lòng hối hận và xin lỗi. Người chồng sẵn sàng tha thứ. Từ đó dù cuộc sống có chật vật hơn nhưng họ vẫn vui vẻ cùng nhau vượt qua những khó khăn trong cuộc sống.

Gương tha thứ cao cả nhất mà chúng ta cần học hỏi chính là gương của Chúa Giê-su. Ngài đã tha thứ và tha thứ luôn mãi. Ngài đã tha thứ cho các môn đệ khi họ phản bội Ngài, chối bỏ Ngài. Ngài đã tha thứ khi người ta xỉ vả, đóng đinh Ngài. Ngài vẫn tha thứ khi Ngài sống lại mà có người vẫn còn cứng lòng tin.

Tình thương tha thứ hôm nay được thể hiện qua việc Ngài chúc bình an cho các môn đệ. Ngài không oán trách các ông. Ngài không để bụng tội các ông. Ngài hiện diện không phải để kết án mà để trao ban bình an của sự tha thứ.  Chính tình yêu tha thứ đó, Ngài đã củng cố niềm tin nơi các môn đệ để từ nay họ trở thành kẻ loan truyền tình yêu và sự tha thứ cho nhân trần.

Ước gì chúng ta hãy tha thứ cho nhau như Chúa đã tha thứ khi biết lấy lòng yêu thương, chấp nhận những oan trái mà người khác đã làm cho chúng ta. Tha thứ thật là chấp nhận nhau, đón nhận nhau trong bao dung tha thứ. Tha thứ thật cũng có nghĩa là dù có quyền giận nhưng vẫn vui vẻ tha thứ, dù có quyền trách móc nhưng vẫn nhẫn nại nhịn nhục.

Ước gì chúng ta hãy tha thứ cho nhau vì chính chúng ta cũng có lầm lỗi. Hãy sẵn sàng tha thứ cho vợ, chồng mình, vì ai cũng có những lầm lỗi. Hãy tha thứ cho nhau. Một người luôn sẵn lòng tha thứ, thì không phá hỏng gia đình vì những giận hờn, ghen ghét , nhưng luôn biết dùng tình yêu để cải hóa nhau. Tha thứ cũng phải kèm theo tính nhẫn nại. Một anh chồng nghiện ma túy, người vợ biết tha thứ thì phải nhẫn nại chịu đựng một thời gian dài để anh ta cai nghiện dần dần… Một chị vợ “lắm điều”, ông chồng muốn tha thứ cũng phải chịu đựng một thời gian để chị vợ dần dần nhận thức ra tình yêu thương của chồng mà đổi tính dần dần. Tuy nhiên, hạnh phúc phải hệ tại ở mọi thành viên trong gia đình. Một người có lòng tha thứ thì người kia cũng phải bớt đi những lỗi lầm. Cả hai cùng tôn trọng và xây dựng hạnh phúc cho nhau.

Xin Chúa giúp chúng ta biết thực hành lời Chúa là “hãy tha thứ cho nhau”. Xin cho chúng ta luôn biết đem lại bình an cho nhau. Xìn đừng để những tật xấu làm mất đi tình hiệp nhất với nhau. Xin giúp chúng ta biết noi gương Chúa luôn biết yêu thương và tha thứ cho nhau. Amen.

-------------------------------

 

PS 2-ABC410: LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA ĐỨC GIÊSU PHỤC SINH

 

Ước gì chúng ta được phúc như tông đồ Tôma nhờ lòng thương xót Chúa mà thay lòng đổi dạ, để PS 2-ABC410


TMĐP- Ước gì chúng ta được phúc như tông đồ Tôma nhờ lòng thương xót Chúa mà thay lòng đổi dạ, để không còn chai lì nhưng mang lấy tâm tình của người môn đệ được Thầy cảm thông phận yếu đuối, thương xót thân tội lụy, khi sấp mình thân thưa: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!“ (Ga 20,28) và khiêm hạ, tín thác lắng nghe Chúa nhủ bảo: “Vì đã thấy Thầy, nên con tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!“ (Ga 20,29).

Đã hẳn lòng thương xót của Thiên Chúa đã được thể hiện trước  muôn dân qua mầu nhiệm Thánh Giá của Đức Giêsu chịu đóng đinh, nhưng xem ra Đấng chịu đóng đinh ấy, sau khi sống lại từ cõi chết vẫn không muốn rời xa lòng thương xót bao la, đời đời của Ngài, qua những lần  hiện ra với các môn đệ với thân xác còn nguyên vẹn những thương tích cuộc tử nạn.

Không rời xa lòng thương xót khi Ngài đến và đứng giữa các môn đệ, trong lúc cửa nhà các ông  đóng kín, vì sợ người Do Thái với thân xác còn nguyên vẹn các dấu đinh trên tay chân và dấu đòng hoắm sâu bên cạnh sườn còn rướm máu.

Sở dĩ Đức Giêsu phục sinh đã hiện ra với các môn đệ với thân xác tuy đã sống lại vinh hiển nhưng vẫn loang lổ những thương tích cuộc tử nạn, vì Ngài muốn tỏ cho các ông biết đây mới thực là giờ chiến thắng của lòng thương xót, mới là thời đại huy hoàng của lòng thương xót, mới là mùa rực rỡ hoa Lòng Thương Xót, vì nhờ Lòng Thương Xót vô biên của Thiên Chúa mà sự sống đã hoàn toàn chiến thắng thần chết, và thập giá đã vĩnh viễn chiến thắng địa ngục, như được ghi trong sách Khải Huyền: “Ta là Đầu và là Cuối. Ta là Đấng Hằng Sống, Ta đã chết và nay Ta sống đến muôn thuở muôn đời; Ta giữ chià khóa của Tử Thần và Âm Phủ” (Kh 1, 17-18).

Mang trên mình đầy thương tích của lòng thương xót, Đức Giêsu sống lại từ cõi chết đã không chỉ ban bình an phục sinh của Ngài cho các môn đệ khi nói với các ông: “Bình an cho anh em” (Ga 20,19), như chiến công hiển hách sau trận chiến chống lại ganh ghét, hận thù, bạo lực, mà còn ban ơn tha tội cho mọi người, khi “thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần” (Ga 20, 22), là Thánh Thần Tình Yêu, Thần Khí hoan lạc, hy vọng của Thiên Chúa, và sai các ông ra đi với sứ vụ  thực hiện lòng thương xót của Thiên Chúa, khi nhân danh Thiên Chúa tha tội cho mọi người (x. Ga 20,23).

Lòng thương xót ở Đức Giêsu phục sinh còn được bày tỏ khi Ngài nhẫn nại chịu đựng sự cứng lòng của tông đồ Tôma, người đã khăng khăng phủ nhận sự việc “Chúng tôi đã được thấy Chúa” (Ga 20, 25) của toàn thể anh em, và ngạo nghễ tuyên bố: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin” (Ga 20, 25).

Và lòng thương xót một lần nữa được Đức Giêsu quả quyết là ơn đổi mới tâm hồn, có sức làm cho qủa tim chai đá biến thành qủa tim bằng thịt (x. Ed 36,) khi  âu yếm bảo Tôma: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin” (Ga 20, 27).

Quả thực, phần đông chúng ta ít quan tâm đến những “phép lạ” kín đáo, âm thầm, nhẹ nhàng của lòng thương xót được Chúa thực hiện một cách sống động, cụ thể trong đời sống, qua những người anh em bé nhỏ, yếu đuối ở ngay bên cạnh, mà  chỉ háo hức đi tìm những “điềm thiêng dấu lạ” mang tính ma mị, giả tạo, hoành tráng, ồn ào bên ngoài của thế gian, như Tôma đã cứng lòng không tin vào lời của anh em tông đồ kể cho ông về một Thiên Chúa phục sinh với thân xác còn nguyên vẹn những vết thương của cuộc tử nạn, bởi ông không mong chờ một Thiên Chúa phục sinh “yếu đuối và mang đầy thương tích của lòng thương xót như thế”, nhưng ngóng đợi một Thiên Chúa phục sinh hiển hách, oai hùng, không còn dấu tích tang thương của Thánh Giá lòng thương xót.

Biết Tôma cứng lòng không hẳn vì không tin anh em, nhưng vì điều anh em nói về Thầy trái với điều ông mong ước và suy nghĩ: nếu Thầy thực sự sống lại, Thầy sẽ không còn mang thân xác đầy thương tích của cuộc tử nạn, vì đó là dấu chứng của yếu đuối, thất bại, nên Đức Giêsu đã nói riêng với Tôma: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy”, như muốn nhắc nhở ông: Thầy vẫn mãi mang thân xác đầy thương tích Thánh Giá để nói lên lòng thương xót vô cùng, vô tận, không bao giờ lay chuyển, và tồn tại muôn đời của Thầy để mọi người nhận được ơn cứu sống, nếu tin vào lòng thương xót của Thầy, và chính lòng thương xót ấy đang đổi mới trái tim chai đá, cứng cỏi, ương ngạnh của con.

Ước gì chúng ta cũng được phúc như tông đồ Tôma nhờ lòng thương xót Chúa mà thay lòng đổi dạ, để không còn chai lì thách thức, nhưng mang lấy tâm tình  của người môn đệ đang ngụp lặn trong hạnh phúc được Thầy cảm thông phận yếu đuối, thương xót thân tội lụy, khi sấp mình thân thưa: “Lạy Chúa của con, lậy Thiên Chúa của con!” (Ga 20,28) và khiêm hạ, tín thác lắng nghe Chúa nhủ bảo: “Vì đã thấy Thầy, nên con tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!” (Ga 20,29).

Jorathe Nắng Tím

-------------------------------

 

PS 2-ABC411: Tin là hồng ân…


(Suy niệm của Lm. Vũ Xuân Hạnh)

 

Một giáo lý viên đã lớn tuổi thật thà chia sẻ: Trước kia, khi mới dạy giáo lý dự tòng, cầm cuốn PS 2-ABC411


Một giáo lý viên đã lớn tuổi thật thà chia sẻ: Trước kia, khi mới dạy giáo lý dự tòng, cầm cuốn giáo lý là ông dạy từ đầu đến cuối. Nhưng sau này, ông lại làm ngược lại: dạy phần cuối cùng trước, rồi đi lên dần. Có nghĩa là ông bắt đầu dạy các dự tòng cầu nguyện trước tiên, sau đó dạy về luân lý, cuối cùng mới là phần tín lý.

Ông cho biết lý do vì sao ông lại làm chuyện xem ra ngược đời ấy: “Vì tôi nghĩ, một người mới bắt đầu theo Chúa, họ phải được gặp Chúa trước, để từ đó họ sống với anh em. Vì nghĩ như thế, tôi giúp họ cầu nguyện trước”.

Từ đời sống cầu nguyện bắt đầu chớm nở đó, ông nói với họ về lòng Thiên Chúa yêu thương, về sự hiến thân của Đấng là Thiên Chúa làm người, lòng tha thứ Thiên Chúa dành cho con người…

Khi họ đã có thể hiểu một cách tương đối, ông nói với họ về Điều răn của Thiên Chúa, về tám Mối phúc của Chúa Giêsu.

Sau khi đã bắt đầu hình thành một đời sống Kitô hữu như thế, ông đưa họ vào các chân lý đức tin, qua việc giúp họ hiểu giáo lý, trong đó có niềm tin vào Chúa Phục sinh. Đó là những chân lý rất khó, sẽ càng khó đón nhận hơn, nếu không được chuẩn bị, ít là những điều cần thiết một cách cơ bản.

Ông bảo rằng, Thiên Chúa đã trợ lực cho ông. Chính Người dùng miệng lưỡi của ông mà nói với dân của Người. và cũng chính ơn của Chúa đã đồng hành với anh chị em, để những gì xuất phát từ môi miệng ông, anh chị em có thể hiểu được và tin.

Kể chuyện về người giáo lý viên nói trên để thấy rằng, chúng ta không phải là những kẻ dễ tin. Nhất là thời đại khoa học phát triển đến mức chóng mặt như hiện nay, người ta vịn vào khoa học để giải đáp mọi vấn đề, thì những chân lý đức tin, như vấn đề thân xác sống lại chẳng hạn, càng không dễ dàng chấp nhận.

Anh chị em dự tòng đi học giáo lý, chắc Thiên Chúa phải ban ơn cho họ, để họ tin. Vì một người đã lớn khôn, đã có sự hiểu biết, rất bình thường về năng lực lý trí, bây giờ được nói tới những chân lý đức tin xem ra khá xa xôi, vậy mà họ có thể chấp nhận. Ít là có thiện chí để chấp nhận. Tôi nghĩ, Thiên Chúa phải chuẩn bị cho họ nhiều lắm.

Hôm nay suy niệm Tin Mừng về việc Chúa Phục sinh hiện ra với tông đồ Tôma, tôi thấy cả tôi cũng được Chúa chuẩn bị bằng ơn thánh của người.

Cũng giống như sự chuẩn bị cho các dự tòng và tân tòng, hoặc cũng giống như bản thân thánh Tôma, Chúa đã chuẩn bị cho thánh nhân đón nhận đức tin cách hoàn hảo khi đáp ứng yêu cầu “được xỏ vào lổ đinh, được thọc tay vào cạnh sườn” của Chúa. Để qua cuộc khám phá diện đối diện với Chúa Phục sinh của thánh Tôma, Chúa Phục sinh ban cho tôi một bằng chứng xác thực. Đó là sự chuẩn bị đức tin, Người dành cho tôi, để bây giờ tôi tin Người .
Có người trách thánh Tôma là cứng lòng tin. nhưng riêng tôi, tôi thầm cám ơn thánh Tôma. Cám ơn, vì nơi thánh nhân, tôi thấy chính mình. Bởi không dễ dàng gì, một sớm một chiều tôi tin Chúa sống lại. Tôi cám ơn thánh Tôma do hai lý do:
Lý do thứ nhất: để có được đức tin, chắc chắn tôi cũng sẽ đòi bằng chứng. Chúa Giêsu đã trả lời bằng một bằng chứng mạnh mẽ nhất: cho xem chính thân xác của Người. “Tôma, hãy xỏ ngón tay con vào lỗ đinh trên tay Thầy, hãy thọc bàn tay vào cạnh sườn Thầy”.

Ngày xưa, với một bằng chứng xác thực, Chúa bảo đảm cho đức tin của thánh Tôma đã vậy, ngày nay đó cũng là một bảo đảm cho chính đức tin của tôi. Vì Chúa của tôi đã sống lại thật. Người trả lời cho tôi không phải bằng lời, nhưng bằng thân xác Phục Sinh đích thật của Người.

Lý do thứ hai: Nhờ sự đòi hỏi bằng chứng xác thực của thánh Tôma, tôi biết mình có phúc. Vì Chúa Phục Sinh đã nói: “Tôma, vì con đã xem thấy Thầy, nên con tin, phúc cho những ai không thấy mà tin”.

Từ lời của Chúa Phục sinh, chúng ta vui mừng mà chúc phúc cho nhau: Phúc cho ông, phúc cho bà, phúc cho anh chị em, phúc cho các bạn là những người trẻ, phúc cho các bé thiếu nhi, phúc cho tôi, phúc cho tất cả chúng ta…, vì chúng ta không hề thấy nhưng lòng tin tưởng thì rất lớn lao.

Đặc biệt, trong những ngày này, chúng ta không thể quên các anh chị em tân tòng. Phúc thật, phúc lớn cho những anh chị em tân tòng, những người vừa mới đón nhận đức tin, đặt biệt những anh chị em mới đón nhận đức tin trong dịp lễ Phục Sinh. Họ cũng là những người giống như bạn, như tôi: đã không thấy mà tin.

Các bạn tân, dự tòng thân mến, Giáo Hội đã trao cho chúng tôi kho tàng đức tin. Giáo Hội cũng đã hoặc sẽ trao cho các bạn đức tin ấy. Nếu chúng tôi đã lãnh nhận kho tàng đức tin, đã sống và gìn giữ kho tàng quý giá đó suốt cả cuộc đời chúng tôi. Nếu chúng tôi đã tuyên xưng đức tin và hãnh diện nhận mình là người Công giáo, chúng tôi cũng mong muốn, và cả ước ao tha thiết nữa, các bạn sẽ bền tâm giữ đạo đến giây phút cuối cuộc đời. Vì đức tin mà các bạn vừa có được là do sự chọn lựa của chính các bạn. Chính các bạn quyết định lãnh nhận bí tích rửa tội để vào đạo, chứ không do bất kỳ ai thúc ép.

Tất cả chúng ta, dù là người đã đi đạo từ lâu, hay chỉ mới đi đạo, thậm chí mới được rửa tội đúng một tuần, hay đang là dự tòng, chúng ta mang trong lòng mình một niềm xác tín lớn lao về Chúa Kitô Phục sinh. Bởi đó, chúng ta cũng cưu mang niềm hy vọng phục sinh như Chúa của mình đã phục sinh.

Đức tin vào ơn Phục sinh là niềm xác tín của cả Giáo Hội nói chung. Nhưng rất đặc biệt, vì đức tin ấy cũng đã trở thành niềm xác tín của riêng từng người là con cái của Giáo Hội.

Chúng ta xác tín mạnh mẽ rằng, tin vào ơn Phục sinh là một đức tin đã được chính Chúa chuẩn bị để ta có thể cưu mang và sống suốt cuộc đời của mình. Đức tin vào ơn Phục sinh cũng chính là lời chúc phúc trọng đại dành cho từng người, cho bạn cho tôi.

Bạn ạ, tin bao giờ cũng đòi một bước nhảy vọt, ra ngoài cái có thể thấy hay cảm nhận được. Chúng ta không được phúc thấy Chúa theo kiểu của thánh Tôma. Nhưng chúng ta, rõ ràng nhất là các tân, dự tòng, lại được thấy Chúa qua đức tin của thánh Tôma, của Giáo Hội và của biết bao chứng nhân trong Giáo Hội.

Thông thường, ta vẫn nghĩ thánh Tôma thật là diễm phúc vì được Chúa trả lời cho sự chất vấn về đức tin của thánh nhân. Thánh Tôma cũng như nhiều môn đệ khác, thật diễm phúc vì nhìn thấy Chúa Giêsu Phục sinh cách nhãn tiền.

Nhưng nói cho cùng, tin mà vẫn không thấy, chúng ta vẫn là người có phúc, phúc lớn. Tin mà vẫn không thấy, đó là đức tin mạnh, mạnh vô cùng. Tin mà vẫn không đòi bằng chứng, chỉ cần lời giáo huấn của Giáo Hội, chúng ta đáng hãnh diện về mình, một niềm kiêu hãnh thuộc về một giá trị tuyệt đối.….

--------------------------------

 

PS 2-ABC412: Sự hiện diện của Đức Kitô Phục Sinh


(Suy niệm của Lm. Giuse Maria Lê Quốc Thăng)

Tin mừng Ga 20: 19-31: "Phúc cho những ai không thấy mà tin": Đức tin không dựa trên đôi mắt thể lý nhưng dựa trên chứng tá của những người đã thấy. Chính nhờ đức tin này mà các Kitô hữu kết hợp sâu xa với Đức Kitô phục sinh và được sống nhờ Người.

 

Đức Kitô đã phục sinh, Người đã sống lại ra khỏi mồ. Đây là tin mừng được ghi nhận trong Kinh PS 2-ABC412


Đức Kitô đã phục sinh, Người đã sống lại ra khỏi mồ. Đây là tin mừng được ghi nhận trong Kinh Tin Kính, chúng ta được mời gọi liên kết vững chắc với Đức Kitô phục sinh trong ánh sáng của Thần Khí. Chính sự liên kết trong niềm tin này mang lại cho chúng ta khả năng quảng đại, phong phú của tâm hồn. Chính sự liên kết được chia sẻ trong Giáo Hội mang lại cho cộng đoàn Kitô hữu sức sống và sức mạnh của người đi chinh phục.

I. Tìm Hiểu Lời Chúa

1. Tin mừng: Ga 20, 19-31

Qua sự hiện ra với các môn đệ, Chúa Giêsu củng cố đức tin cho các ông đang còn bị lung lay, yếu đuối và trao phó cho các ông sứ mạng loan báo Tin mừng.

Ngay ở lần hiện ra đầu tiên vào ngày thứ nhất trong tuần (vào chiều ngày Phục sinh), Chúa Giêsu đã thuyết phục các môn đệ nhận biết rằng Người đã phục sinh và đang sống. Sau đó, trước khi rời các ông, Người trao cho các ông quyền tha tội.

Tám ngày sau, Người lại hiện ra với các ông lần nữa, tiến đến với Tôma, người đã vắng mặt ở lần trước và không tin lời các bạn mình nói Chúa đã sống lại. Người xác nhận với ông về điều này. Tôma đã tuyên tín: "Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con". Lời xác quyết long trọng này từ miệng của một người cứng tin nói lên sự hiển nhiên của việc phục sinh. Lời tuyên xưng này là chóp đỉnh của Phúc âm thứ tư. Ở đây hai tước hiệu ' Chúa' (Kyrios) và 'Thiên Chúa' được liên kết chặt chẽ trong cùng một câu để nói lên thiên tính của Đức Kitô. Một công thức mang tính Kitô học.

"Phúc cho những ai không thấy mà tin": Đức tin không dựa trên đôi mắt thể lý nhưng dựa trên chứng tá của những người đã thấy. Chính nhờ đức tin này mà các Kitô hữu kết hợp sâu xa với Đức Kitô phục sinh và được sống nhờ Người.

II. Gợi Ý Suy Niệm

1. Từ kinh nghiệm thể lý đến xác quyết của đức tin: niềm tin vào sự phục sinh của Chúa Giêsu của các môn đệ luôn chuyển từ một kinh nghiệm thể lý sang đức tin thiêng liêng: Gioan tin khi thấy mộ trống, khăn liệm; Maria Mađalêna tin khi nhận ra going nói quen thuộc của Thầy; các tông đồ tin khi thấy lỗ đinh ở tay và cạnh sườn bị đâm thâu của Chúa Giêsu và cuối cùng đòi hỏi của Tôma cho thấy rõ, niềm tin của ông khởi từ mong muốn được thấy Chúa Phục sinh bằng đôi mắt khả giác. Tuy nhiên, từ kinh nghiệm thể lý các Ngài đã tiến tới một bước dài trên hành trình đức tin, các Ngài đã can đảm làm chứng cho niềm tin của mình bằng cái chết. Để rồi từ đây dựa trên chứng cứ của các Ngài là những chứng nhân trực tiếp, đức tin của mỗi Kitô hữu không còn dựa trên cái nhìn khả giác, những kinh nghiệm thể lý nữa mà hoàn toàn là một cảm nghiệm thâm sâu của con tim và là sự dấn thân liều lĩnh bước theo tiếng gọi và ân sủng của Thiên Chúa. Ngày nay, chắc chắn không thể đòi hỏi như Tôma phải thấy Chúa bằng xương bằng thịt mới tin. Đã có cả truyền thống đức tin vững bền của Giáo Hội đủ để tạo nên thế giá cho niềm tin của chúng ta. Thực ra, tin không phải là điều dễ dàng khi mà chân lý đức tin luôn vượt quá trí hiểu của con người và tri thức khoa học của nhân loại. Tuy vậy, trong thực tế có những sự kiện người ta có thể hiểu rõ diễn biến của nó nhưng để chấp nhận lại đòi hỏi phải tin. Ai chẳng biết mỗi con người đều được sinh ra từ một người mẹ, tuy nhiên để khẳng định có là mẹ ruột của mình không thì lại dựa vào niềm tin là chủ yếu, nhất là dựa vào tình yêu. Cho dẫu ngày nay khoa học có thể thử máu, thử gène để biết chính xác, nhưng nếu như thế lại chứng tỏ sự nghi ngờ nào đó và có nguy cơ làm ran nứt tình cảm gia đình.

Với Kitô hữu hôm nay, chúng ta có thực sự tin vào màu nhiệm phục sinh của Chúa Giêsu Kitô theo giáo lý của Giáo Hội hay không? Nhiều người xem ra vẫn thích dựa vào những kinh nghiệm khả giác hơn là tin vào Kinh Thánh, vào lời giảng huấn của Giáo Hội, khi vẫn thích tìm kiếm phép lạ, vẫn thích đổ xô đến những nơi đựơc cho là Chúa Mạ hiện ra???

2. Từ Câu chuyện của Tôma đến cuộc khủng hoảng niềm tin của con người thời nay: Khi Chúa Giêsu hiện ra với các tông đồ, Tôma vắng mặt, ông không tin lời của các bạn. Ông không tin là điều xem ra có vẻ hợp lý. Thấy mới tin mà, điều này rất dễ chấp nhận. Ông không thấy, nên ông nghi ngờ. Thế nhưng, khi ông đã thấy thì ông lại xác quyết đức tin của mình cách mạnh mẽ nhất, xem ra hơn cả các Tông đồ khác. Câu ông tuyên xưng hình như chưa có Tông đồ nào tuyên xưng cả: "Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con". Từ câu chuyện của Tôma ngày xưa nhìn đến con người ngày nay. Với sự tiến bộ vượt bậc của Khoa học kỹ thuật, nếp suy tư, nhìn nhận mọi biến cố cuộc sống theo tư duy khoa học đã ăn sâu vào trong suy tư của con người. Mọi việc đều phải có cơ sở khoa học, phải được chứng minh cụ thể rõ ràng mới có sức thuyết phục. Do đó, thuyết phục người ta tin vào sự phục sinh của Chúa Giêsu là điều có lẽ khó khăn. Ngay cả thời của Thánh Phaolô, khoa học chưa phát triển, nhưng triết thuyết Platon gây ảnh hưởng mạnh mẽ trong đời sống thì chính Ngài cũng không thuyết phục được bao nhiều người của Thành Athène tin theo Chúa (Cv 17, 32-34). Có thể nói được rằng: trong xã hội ngày nay chúng ta đang chứng kiến một cuộc khủng hoảng niềm tin. Người chưa tin ngày càng gia tăng; người mất niềm tin trở nên khô khan nguội lạnh cũng ngày càng gia tăng. Khủng hoảng niềm tin vì nhiều lý do, nhưng có lẽ hơn hết vẫn là não trạng duy khoa học, duy lý trí khiến cho người ta khó tiếp cận được với chân lý đức tin, với mạc khải Kinh Thánh.

Người Kitô hữu hôm nay phải làm chứng cho niềm tin phục sinh của mình; phải nhận ra hoàn cảnh tri thức hiện tại và tâm thức con người hôm nay để có những cách thế phù hợp loan báo Tin mừng. Cách thế hữu hiệu vẫn là sự hiện diện và làm chứng bằng chính đời sống của mình để mọi người thấy được niềm xác tin mạnh mẽ của mình.

3. Từ Niềm tin đến hạnh phúc: Có nhiều người cho rằng Lời Chúa nói với Tôma: "Phúc cho những ai không thấy mà tin" là lời ngụy biện của những kẻ ngu dốt hay của những kẻ cuồng tín. Khi Chúa Giêsu nói câu này không phải Người không quan tâm gì đến việc phù hợp với lý trí và nhận thức của nhân loại, để rồi kêu gọi người ta tin một cách mù quáng. Ở đây Chúa đề cao tính hợp tình. Như trường hợp của Tám Mối Phúc Thật. Hạnh phúc mà Chúa chúc phúc xem ra trái nghịch với lẽ thường tình, với khao khát hạnh phúc của con người. Cũng thế, tin sẽ đưa con người ta đi vào hưởng hạnh phúc của Thiên Chúa. Tin vào Thiên Chúa là bước vào sống thân mật với Người, yêu mến Người. Và yêu mến Người thì sẽ nhận đựơc hạnh phúc vì ở đời tình yêu luôn đi với hạnh phúc. Mối dây liên hệ giữa Tin, Yêu và hạnh phúc luôn là mối dây tương hỗ quyện lấy nhau. Niềm tin chứng tỏ tình yêu càng tin tưởng càng yêu thương, càng yêu thương càng thấy hạnh phúc. Người ta không thể sống mà không tin yêu. Không thể chuyện gì cũng phải thấy mới tin. Có nhiều chuyện không thấy mà vẫn tin: tin vào tình yêu, tin vào tương lai và tin vào tinh người…

Với Kitô hữu tin là cử ngõ đi vào cõi phúc. Tin để chứng tỏ tình yêu Chúa và yêu Chúa chính là hạnh phúc. Cảm nhận đựơc hạnh phúc bởi đức tin không phải bằng giác quan nhưng bằng con mắt đức tin. Đôi mắt xác thịt có thể tăm tối nhưng đôi mắt đức tin sáng tỏ sẽ nhận thấy niềm vui và hạnh phúc vô bờ nơi Thiên Chúa.

III. Lời Cầu Chung

* Lời Mở: Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu đã phục sinh, Người đang hiện diện với chúng ta. Tin tưởng nơi Người chúng ta cùng dâng lời cầu nguyện.

1. Giáo Hội đã nhận lãnh sứ mạng loan báo Tin mừng Phục sinh cho toàn thể thế giới. Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi thành phần trong Giáo Hội, nhất là các Đấng chủ chăn luôn vững mạnh trong đức tin, bền tâm trong đức cạy và sắt son trong đức ái, để trung thành đưa ánh sáng Tin mừng đến với thế giới và con người hôm nay.

2. "Phúc cho những ai không thấy mà tin". Chúng ta cùng cầu nguyện cho những anh chị em khô khan nguội lạnh, những người chưa tin nhận Chúa và chống đối sứ điệp Tin mừng được mở lòng mở trí biết thành tâm tìm kiến chân lý và lẽ sống cao đẹp.

3. "Lạy Chúa Con! Lạy Thiên Chúa của con". Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi người trong cộng đoàn chúng ta luôn mạnh mẽ tuyên xưng đức tin của mình bằng chính đời sống chứng tá theo ánh sáng của Tin mừng.

* Lời Kết: Lạy Chúa Giêsu Kitô Phục sinh, chúng con cảm tạ Chúa đã yêu thương hiện diện và đồng hành cùng chúng con trong cuộc sống. Xin gia tăng đức tin cho mọi người chúng con để ai nấy đều cảm nghiệm từ thẳm sâu cõi lòng sự hiện diện yêu thương mang lại hạnh phúc của Chúa. Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.

--------------------------

 

PS 2-ABC413: Suy niệm Chúa Nhật II Phục Sinh


(Suy niệm của Lm. Alfonso)

Tin mừng Ga 20: 19-31: Chúa nhật II Phục Sinh cũng kính Lòng Thương Xót Chúa. Chỉ có lòng Chúa thương xót mới khiến chúng ta nhận ra Chúa, ơn lành của Chúa.

Suy niệm

 

Vào chiều ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, ….. Các môn đệ Chúa sợ cũng phải thôi, vì PS 2-ABC413


“Vào chiều ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái”. Các môn đệ Chúa sợ cũng phải thôi, vì biến cố khổ nạn và thập giá xảy đến cho Thầy làm các ông rất hoang mang và đau buồn. Hơn nữa, ngay đến Thầy là một người sống tốt, rao giảng đó đây, làm nhiều việc lành và được yêu mến vậy mà những thủ lãnh Do Thái còn đối xử án tử như thế, cho nên các môn đệ Chúa Giêsu khi phải đối diện với sự bách hại ấy càng mất bình an hơn. Các ông nghĩ cách tốt nhất để bảo vệ mình khỏi sự truy lùng của người Do Thái là đóng kín cửa, một số khác thì ẩn mình đi. Có lẽ vì lý do này mà Tôma đã không tụ họp chung với anh em đồng môn ngày hôm sau đó.

Chính trong cảnh tang thương của Thầy mình, các môn đệ tụ họp lại cùng cầu nguyện, an ủi và nâng đỡ nhau. Và Chúa Giêsu phục sinh đã hiện ra vào chiều ngày thứ nhất, đứng giữa các môn đệ và trao ban: “Bình an cho anh em!” Việc Người hiện ra đã xua tan nỗi lo âu và chán nản, bi quan và thất vọng nơi các môn đệ và để lấp đầy con tim bối rối của các ông bằng sự bình an của Đấng chiến thắng sự chết.

Đang lúc ấy, Tôma, còn được gọi với tên Đydimô, ông đi mô giữa lúc Chúa hiện đến giữa anh em nên ông không có được diễm phúc được chứng kiến Chúa phục sinh hiện ra, không nhận được lời Shalom chào chúc bình an của Chúa. Như câu chuyện bó đũa, một chiếc đũa tách riêng ra sẽ dễ bị bẻ gãy. Tôma tách rời ra khỏi anh em nên đức tin của ông đã bị chao đảo, ông cứng lòng tin mặc dầu nghe các bạn kể lại sự kiện Chúa phục sinh. Vì thế, ông vẫn khăng khăng: "Nếu tôi không nhìn thấy vết đinh ở tay Người, nếu tôi không thọc ngón tay vào lỗ đinh, nếu tôi không thọc bàn tay vào cạnh sườn Người, thì tôi không tin". Tôma muốn dựa vào kinh nghiệm giác quan, kinh nghiệm đối diện với người thật việc thật để có thể nhìn nhận Chúa phục sinh.

May phước cho Tôma là ông có một vị Thầy giàu lòng thương xót, nhẫn nại và từ bi nên đã chiều theo ý ông. Chúa Giêsu hiện ra lần nữa vào tám ngày sau, cũng vào ngày thứ nhất để cho ông cơ hội được mãn nguyện, để củng cố đức tin cho cả ông là một trong số những người sẽ trở nên rường cột Hội Thánh sau này. Điều này cũng cho thấy ngày Chúa nhật có một vị trí quan trọng hơn hẳn các ngày. Người hiện ra và lần này bảo chính Tôma: “Tôma, hãy xỏ ngón tay con vào đây, và hãy xem tay Thầy; hãy đưa bàn tay con ra và xỏ vào cạnh sườn Thầy; chớ cứng lòng, nhưng hãy tin". Chúa mời gọi các môn đệ không những tin vì đã thấy mà còn cần phải tiến xa hơn: tin cho dù không được thấy.

Và quả thật, với kinh nghiệm đối diện với Đấng Phục Sinh, Tôma không chần chừ, đã tuyên xưng đức tin cá vị của chính mình: "Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con!" Từ đây, Chúa Giêsu mới mạc khải chân lý này: “Phúc cho những ai đã không thấy mà tin!" Đó là lời chúc phúc cho những môn đệ tương lai, là các Kitô hữu qua các thời kỳ.

Các môn đệ của Chúa được diễm phúc trở nên thị chứng nhân cho Chúa phục sinh. Niềm tin đó đã biến các ngài trở thành những chứng nhân bằng cả cuộc sống và thậm chí cả sự sống của mình. Đó là một sự kiện hiển nhiên mà đức tin Kitô Giáo chúng ta đã không sợ sệt khi đặt nền tảng trên sự thật này. Tuy nhiên, thời đại khoa học thực nghiệm ngày nay dường như khiến mọi thứ cần phải cân-đo-đong-đếm để xác nhận, được kiểm nghiệm mới đáng tin. Vậy chúng ta, những người Kitô hữu sống cách xa biến cố Chúa Phục Sinh 2000 năm, Liệu lời Tin Mừng hôm nay: “Ai không thấy mà tin mới là người có phúc” có còn hữu dụng không, khi lòng tin của chúng ta dựa trên chứng từ của các Tông đồ?

Nhà chú giải Kinh Thánh Dufour cho biết: “Kinh nghiệm mà những chứng nhân tận mắt được hưởng là kinh nghiệm làm nền và không thể được tái diễn: kinh nghiệm ấy được ban cho họ không chỉ vì họ mà thôi, nhưng còn vì những thế hệ tương lai mà lòng tin sẽ dựa vào lời chứng được truyền lại cùng với sức mạnh của Thánh Thần sẽ nối kết tất cả con cái Thiên Chúa nên một trong đức tin vào Chúa Giêsu phục sinh”. Vâng, với ơn đức tin, chúng ta có thể cảm nhận Chúa Phục Sinh giữa cuộc sống thăng trầm của chúng ta. Con đường của lòng tin chúng ta ngày nay là con đường của lòng mến. Lòng tin và lòng mến biện chứng cho nhau, càng tin thì càng yêu mến, và càng yêu mến thì đức tin càng vững chắc. Thánh Tôma Aquinô cầu nguyện: “Chúa ơi, con không xin như Tôma được xem thương tích Chúa, nhưng con tuyên xưng Chúa là Chúa của con. Hãy làm cho con luôn tin vào Chúa, cậy trông Chúa và yêu mến Chúa hơn nữa”.

Chúa nhật II Phục Sinh cũng kính Lòng Thương Xót Chúa. Chỉ có lòng Chúa thương xót mới khiến chúng ta nhận ra Chúa, ơn lành của Chúa, ơn cứu chuộc bằng giá máu của Người để rồi chúng ta mới có thể biến đổi đời sống mình để có thể gặp gỡ được Chúa. Lạy Chúa Giêsu, con tín thác nơi Ngài, xin thương xót chúng con và toàn thế giới. Amen.

-----------------------------

 

PS 2-ABC414: Suy niệm Lễ kính Lòng thương xót Chúa


(Suy niệm của Lm. Inhaxiô Trần Ngà)

 

Lòng thương xót Chúa được thể hiện qua mỗi Thánh lễ hằng ngày. Chúng ta cùng tìm hiểu xem PS 2-ABC414


Lòng thương xót Chúa được thể hiện qua mỗi Thánh lễ hằng ngày.

Chúng ta cùng tìm hiểu xem: Lòng thương xót Chúa dành cho nhân loại đạt tới mức cao nhất, lớn lao nhất vào lúc nào?

Tất nhiên là lòng thương xót của Thiên Chúa được thể hiện đến mức cao nhất, tuyệt vời nhất và lớn lao nhất nơi cuộc thương khó và tử nạn của Chúa Giêsu. Qua biến cố đau thương này, Chúa Giêsu đón nhận vô vàn đau thương khốn khổ để đền tội thay cho nhân loại và Ngài đã chết thay cho muôn người để họ khỏi phải sa hỏa ngục và mở cửa cho họ vào thiên đàng. Đỉnh cao của lòng thương xót Chúa là đây!

Và điều đáng ghi nhớ là cuộc thương khó và tử nạn của Chúa Giêsu không chấm dứt cách đây hơn 2.000 năm, nhưng vẫn còn tiếp diễn, tiếp diễn không ngừng trong các Thánh lễ được cử hành liên tục từng giờ, từng phút suốt dòng lịch sử nhân loại. Giáo lý Hội thánh dạy rằng “Hy tế khổ giá của Đức Ki-tô trên đồi Can-vê kéo dài qua các thời đại cho đến tận thế” (GLHTCG số 1323), “Thánh lễ hiện tại hóa hy tế thập giá của Chúa Giêsu” (GLHTCG số 1366) hay nói dễ hiểu hơn “Hy tế của Đức Ki-tô trên đồi Can-vê năm xưa và Thánh lễ hôm nay chỉ là một, vì chỉ có một Lễ vật duy nhất là Đức Ki-tô; hôm xưa, chính Ngài tự dâng mình trên thập giá, hôm nay, Ngài lại dâng mình nhờ tay linh mục” (GLHTCG số 1323. 1367).

Như vậy, Thiên Chúa thể hiện lòng thương xót bao la không bờ không bến của Ngài qua các Thánh lễ được hiến dâng mỗi ngày.

Thánh lễ là nơi Thiên Chúa thể hiện lòng thương xót vô biên của Ngài qua 3 hồng ân lớn sau đây:

Thứ nhất, Bằng cuộc thương khó và tử nạn của mình được tiếp diễn trong Thánh lễ, Chúa Giêsu hiến dâng thân mình đền tội thay cho chúng ta, chết thay cho chúng ta… để tha thứ tội lỗi cho ta, nhằm cứu ta khỏi sa hoả ngục đời đời (GLHTCG số 1365 [1], 1367 [2] và 1366).

Như thế, qua Thánh lễ, lòng thương xót của Chúa dành cho chúng ta thật là vô biên, vô hạn.

Thứ hai, Vì yêu thương chúng ta vô biên vô hạn, Chúa Giêsu trao ban Thịt Máu Ngài làm lương thực cho ta, để nhờ đón rước Ngài vào lòng, chúng ta được hòa chung nên một với Chúa như giọt nước hòa trong chén rượu, như ao nước nhỏ hòa với đại dương… đúng như lời Chúa phán: “Ai ăn thịt và uống máu Tôi thì ở trong Tôi và Tôi ở trong kẻ ấy (Ga 6, 56). Nhờ đó, Chúa với ta không còn là hai mà chỉ là một và con người bụi đất hèn hạ này được nâng lên làm một với Đấng tối cao.

Thứ ba, Một khi chúng ta được nên một với Chúa qua việc rước mình thánh Ngài, Chúa Giêsu thông ban sự sống cao vời của ba Ngôi Thiên Chúa cho chúng ta; nhờ đó ta được mang sự sống của Thiên Chúa trong ta và được sống đời đời với Thiên Chúa như lời Chúa phán: “Ai ăn thịt và uống máu Tôi thì sẽ được sống đời đời” (Ga 6,54).

Như thế, chẳng còn ơn nào trọng hơn 3 hồng ân trên đây; không có gì cao quý bằng 3 hồng ân tuyệt vời này.

- Vậy thì chúng ta cần phải đến tôn vinh lòng thương xót Chúa ở đâu?

- Tất nhiên là đến với Thánh lễ hằng ngày, vì đây là nơi Chúa Giêsu thi thố lòng thương xót cao vời của Ngài cho tất cả chúng ta.

Vì thế, ai quay lưng lại với Thánh lễ là quay lưng lại với lòng thương xót Chúa; ai thờ ơ không tham dự Thánh lễ là không muốn đón nhận lòng thương xót Chúa.

Lạy Chúa Giêsu,

Không có tình thương nào lớn lao cho bằng tình thương của Ngôi Hai Thiên Chúa nộp mình chịu thương khó, chịu chết trên thập giá để đền tội cho những con người hèn mọn chúng con.

Không có tình yêu nào lớn lao cho bằng tình yêu của Chúa khi trao ban mình máu thánh Chúa cho chúng con để chúng con được hoàn toàn nên một thân mình, một dòng máu với Chúa.

Không có tình yêu nào lớn lao cho bằng tình yêu của Chúa là Đấng đã trao ban sự sống đời đời của Chúa cho chúng con.

Xin cho chúng con biết tìm đến tôn vinh lòng thương xót Chúa trong các Thánh lễ hằng ngày để đón nhận những hồng ân lớn lao phát xuất từ tình thương bao la của Chúa.

------------------
[1] “Trong Thánh lễ, Chúa Ki-tô ban chính thân mình đã tự hiến trên thập giá, ban chính máu Ngài đã đổ ra cho mọi người được tha tội”
[2] “Hy tế này (Thánh lễ) thực sự có giá trị đền tội”

--------------------------------

 

PS 2-ABC415: CẢM NHẬN VÀ LÀM CHỨNG CHO LÒNG CHÚA XÓT THƯƠNG


Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên

 

Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II được gọi là Tông đồ của Lòng Chúa thương xót. Ngài đã PS 2-ABC415


Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II được gọi là Tông đồ của Lòng Chúa thương xót. Ngài đã cổ võ lòng sùng kính Lòng Chúa thương xót và đã có sáng kiến thiết lập ngày lễ kính Lòng Chúa thương xót vào Chúa nhật II Phục sinh hằng năm. Trong một bài giảng về Lòng Chúa thương xót, vị Giáo Hoàng người Ba Lan đã tuyên bố như sau: “Chúng ta hãy cảm tạ Thiên Chúa về Tình Yêu của Ngài, Tình Yêu ấy mạnh hơn sự chết và tội lỗi. Tình Yêu ấy được mạc khải và được thực hành là Lòng Thương Xót, thúc giục mỗi người đáp lại tình yêu với Đấng bị đóng đinh… Với những tâm tình đó, chúng ta cử hành Chúa nhật thứ II sau lễ Phục sinh từ Năm Toàn Xá (năm 2000). Chúa nhật thứ II sau lễ Phục sinh được gọi là Chúa nhật Lòng Thương Xót (Divine Mercy Sunday)”.

Thực ra, giáo huấn về Lòng Chúa thương xót không phải là một khám phá mới của Thánh Gioan Phaolô II. Lòng Chúa thương xót được thể hiện trên từng trang của Kinh Thánh, Cựu ước cũng như Tân ước. Lịch sử Thánh, hay lịch sử Cứu độ ghi lại một chuỗi liên hoàn những phản bội của con người và lòng bao dung của Thiên Chúa. “Ngài là Đấng chỉ nổi giận trong giây lát, nhưng yêu thương suốt cả đời” (Tv 29,6). Hôm nay cũng vậy, con người lãng quên Thiên Chúa, thậm chí muốn gạt bỏ Ngài ra khỏi cuộc đời, nhưng Thiên Chúa vẫn yêu thương, vì yêu thương là bản chất của Ngài. Thánh Gioan Phaolô đã có công khơi gợi lại hình ảnh của Lòng Chúa thương xót, dựa vào nền tảng Kinh Thánh và những mạc khải tư Chúa tỏ cho thánh nữ Faustina, người đồng hương với Ngài, và cũng là người tông đồ được Chúa chọn làm sứ giả của Lòng Chúa thương xót.

Một ngày nọ, Chúa Giêsu đã nói với nữ tu Faustina: “Nhân loại sẽ không có hòa bình cho đến khi biết tin vào Lòng Thương Xót của Chúa” (Nhật Ký, 300). Bối cảnh xã hội hiện tại cho thấy nhiều lo âu: Đại dịch Covid-19 chưa chấm dứt, thì lại nổ ra cuộc chiến tranh tàn khốc tại Ucraina. Trong thời đại vẫn được mệnh danh là thời hoà bình, mà cuộc chiến sát nhân vẫn xảy ra. Mặc dù biết bao lời kêu gọi, phê phán và lên án, cuộc chiến vẫn chưa có dấu hiệu hạ nhiệt, trái lại còn đang nguy cơ leo thang và lan rộng. Tôn vinh Lòng Chúa thương xót và thiết tha cầu nguyện sẽ giúp cho thế giới tìm lại hoà bình. Chúa đã hứa với chúng ta như vậy, qua thánh nữ Faustina.

Thánh Gioan Phaolô II đã gọi Lòng Chúa thương xót là tặng phẩm Phục Sinh. Trong Mùa Chay và Tuần Thánh, chúng ta đã cử hành và suy niệm cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Thập giá diễn tả một cách hoàn hảo Lòng Chúa thương xót. Hình ảnh người Tôi tớ đau khổ của Đức Giavê được mô tả trong sách Ngôn sứ Isaia đã thực hiện nơi Đức Giêsu: Người không còn hình dạng cho chúng ta nhìn ngắm. Người mang lấy trên thân mình tất cả tội lỗi nhân gian. Thiên Chúa đã “đánh phạt” Người (x. Is 52,13-53,12). Quả vậy, trên cây thập giá, Đức Giêsu như một tội nhân khốn khổ và như một người nghèo khó tới mức tột cùng. Dường như Thiên Chúa cũng bỏ rơi Người: “Lạy Thiên Chúa! Lạy Thiên Chúa! sao Ngài bỏ rơi con?” (Mt 27, 46).

Khi tôn vinh Lòng Chúa thương xót, chúng ta hãy nhận ra Người đang hiện diện giữa chúng ta. Đức Giêsu Phục sinh không phải một câu chuyện huyền thoại, cũng không phải một câu chuyện của thời xa xưa. Trái lại, Đấng Phục sinh đang sống và hiện diện giữa chúng ta. Ngỏ lời với người trẻ trong Tông huấn “Chúa Kitô đang sống”, Đức Thánh Cha Phanxicô đã khẳng định: “Chúng ta cần luôn tự nhắc mình là Chúa Kitô đang sống, bởi vì chúng ta có nguy cơ coi Chúa Giêsu Kitô chỉ như một mẫu gương trong quá khứ, như một kỷ niệm, như một Đấng đã cứu chúng ta cách nay hai ngàn năm. Điều này không ích gì cho chúng ta, vì nó sẽ để chúng ta cũ kỹ y như trước, nó sẽ không giải thoát chúng ta. Đấng đổ đầy ân sủng của Người trên chúng ta, Đấng giải thoát chúng ta, Đấng biến đổi chúng ta, Đấng chữa lành và an ủi chúng ta là Đấng đang sống. Người là Đức Kitô Phục Sinh, tràn đầy sức sống siêu nhiên, mặc lấy ánh sáng vô hạn. Vì thế Thánh Phaolô đã nói: “Nếu Đức Kitô đã không sống lại, thì lòng tin của anh em thật hão huyền” (1 Cr 15,17) (số 124).

Tông đồ Tôma đại diện cho trường phái hoài nghi, chỉ tin vào những gì cảm nghiệm bằng giác quan và sẵn sàng thách thức những điều kiện để tin. Cuộc gặp gỡ với Đấng Phục sinh đã cho ông một kinh nghiệm: Không phải chỉ những gì động chạm được bằng chân tay hay nhìn thấy tận mắt, thì mới đáng tin. Hơn nữa, “phúc cho những ai không thấy mà có lòng tin”. Cuộc gặp gỡ này giúp ông tin mà không cần “thấy dấu đinh ở tay Người, xỏ ngón tay vào lỗ đinh, đặt bàn tay vào cạnh sườn Người”. Đứng trước Đấng Phục sinh, những thách thức này trở nên vô nghĩa.

Cùng với Tôma, chúng ta hãy tôn thờ Đấng Phục sinh và tuyên xưng Đức tin: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” Câu tuyên xưng này cũng đồng nghĩa với lời kinh chúng ta vẫn đọc khi tôn vinh Lòng Chúa thương xót: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa!”. Hãy để Đấng Phục sinh đi vào cuộc đời chúng ta, để Người thay đổi tận căn trái tim và hành động của chúng ta. Nhờ được thấm nhuần Lòng Chúa thương xót, người Kitô hữu trở nên chứng nhân của Lòng Chúa xót thương.

-------------------------------

 

PS 2-ABC416: LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA ĐỨC GIÊSU PHỤC SINH


Jorathe Nắng Tím

 

Đã hẳn lòng thương xót của Thiên Chúa đã được thể hiện trước  muôn dân qua mầu nhiệm Thánh Giá PS 2-ABC416


Đã hẳn lòng thương xót của Thiên Chúa đã được thể hiện trước  muôn dân qua mầu nhiệm Thánh Giá của Đức Giêsu chịu đóng đinh, nhưng xem ra Đấng chịu đóng đinh ấy, sau khi sống lại từ cõi chết vẫn không muốn rời xa lòng thương xót bao la, đời đời của Ngài, qua những lần  hiện ra với các môn đệ với thân xác còn nguyên vẹn những thương tích cuộc tử nạn.

Không rời xa lòng thương xót khi Ngài đến và đứng giữa các môn đệ, trong lúc cửa nhà các ông  đóng kín, vì sợ người Do Thái với thân xác còn nguyên vẹn các dấu đinh trên tay chân và dấu đòng hoắm sâu bên cạnh sườn còn rướm máu.

Sở dĩ Đức Giêsu phục sinh đã hiện ra với các môn đệ với thân xác tuy đã sống lại vinh hiển nhưng vẫn loang lổ những thương tích cuộc tử nạn, vì Ngài muốn tỏ cho các ông biết đây mới thực là giờ chiến thắng của lòng thương xót, mới là thời đại huy hoàng của lòng thương xót, mới là mùa rực rỡ hoa Lòng Thương Xót, vì nhờ Lòng Thương Xót vô biên của Thiên Chúa mà sự sống đã hoàn toàn chiến thắng thần chết, và thập giá đã vĩnh viễn chiến thắng địa ngục, như được ghi trong sách Khải Huyền: “Ta là Đầu và là Cuối. Ta là Đấng Hằng Sống, Ta đã chết và nay Ta sống đến muôn thuở muôn đời; Ta giữ chià khóa của Tử Thần và Âm Phủ” (Kh 1, 17-18).

Mang trên mình đầy thương tích của lòng thương xót, Đức Giêsu sống lại từ cõi chết đã không chỉ ban bình an phục sinh của Ngài cho các môn đệ khi nói với các ông: “Bình an cho anh em” (Ga 20,19), như chiến công hiển hách sau trận chiến chống lại ganh ghét, hận thù, bạo lực, mà còn ban ơn tha tội cho mọi người, khi “thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần” (Ga 20, 22), là Thánh Thần Tình Yêu, Thần Khí hoan lạc, hy vọng của Thiên Chúa, và sai các ông ra đi với sứ vụ  thực hiện lòng thương xót của Thiên Chúa, khi nhân danh Thiên Chúa tha tội cho mọi người (x. Ga 20,23).

Lòng thương xót ở Đức Giêsu phục sinh còn được bày tỏ khi Ngài nhẫn nại chịu đựng sự cứng lòng của tông đồ Tôma, người đã khăng khăng phủ nhận sự việc “Chúng tôi đã được thấy Chúa” (Ga 20, 25) của toàn thể anh em, và ngạo nghễ tuyên bố: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin” (Ga 20, 25).

Và lòng thương xót một lần nữa được Đức Giêsu quả quyết là ơn đổi mới tâm hồn, có sức làm cho qủa tim chai đá biến thành qủa tim bằng thịt (x. Ed 36,) khi  âu yếm bảo Tôma: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin” (Ga 20, 27).

Quả thực, phần đông chúng ta ít quan tâm đến những “phép lạ” kín đáo, âm thầm, nhẹ nhàng của lòng thương xót được Chúa thực hiện một cách sống động, cụ thể trong đời sống, qua những người anh em bé nhỏ, yếu đuối ở ngay bên cạnh, mà  chỉ háo hức đi tìm những “điềm thiêng dấu lạ” mang tính ma mị, giả tạo, hoành tráng, ồn ào bên ngoài của thế gian, như Tôma đã cứng lòng không tin vào lời của anh em tông đồ kể cho ông về một Thiên Chúa phục sinh với thân xác còn nguyên vẹn những vết thương của cuộc tử nạn, bởi ông không mong chờ một Thiên Chúa phục sinh “yếu đuối và mang đầy thương tích của lòng thương xót như thế”, nhưng ngóng đợi một Thiên Chúa phục sinh hiển hách, oai hùng, không còn dấu tích tang thương của Thánh Giá lòng thương xót.

Biết Tôma cứng lòng không hẳn vì không tin anh em, nhưng vì điều anh em nói về Thầy trái với điều ông mong ước và suy nghĩ: nếu Thầy thực sự sống lại, Thầy sẽ không còn mang thân xác đầy thương tích của cuộc tử nạn, vì đó là dấu chứng của yếu đuối, thất bại, nên Đức Giêsu đã nói riêng với Tôma: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy”, như muốn nhắc nhở ông: Thầy vẫn mãi mang thân xác đầy thương tích Thánh Giá để nói lên lòng thương xót vô cùng, vô tận, không bao giờ lay chuyển, và tồn tại muôn đời của Thầy để mọi người nhận được ơn cứu sống, nếu tin vào lòng thương xót của Thầy, và chính lòng thương xót ấy đang đổi mới trái tim chai đá, cứng cỏi, ương ngạnh của con.

Ước gì chúng ta cũng được phúc như tông đồ Tôma nhờ lòng thương xót Chúa mà thay lòng đổi dạ, để không còn chai lì thách thức, nhưng mang lấy tâm tình  của người môn đệ đang ngụp lặn trong hạnh phúc được Thầy cảm thông phận yếu đuối, thương xót thân tội lụy, khi sấp mình thân thưa: “Lạy Chúa của con, lậy Thiên Chúa của con!” (Ga 20,28) và khiêm hạ, tín thác lắng nghe Chúa nhủ bảo: “Vì đã thấy Thầy, nên con tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!” (Ga 20,29).

-----------------------------

 

PS 2-ABC417: CHÚA LÀ ĐẤNG GIÀU LÒNG THƯƠNG XÓT


Lm Phêrô Nguyễn Văn Hương

1- Chúa Phục Sinh, chuyện có một không hai

 

Câu chuyện đã xảy ra cách đây hơn 2000 năm mà chúng ta đang tưởng nhớ và cử hành hôm nay PS 2-ABC417


Câu chuyện đã xảy ra cách đây hơn 2000 năm mà chúng ta đang tưởng nhớ và cử hành hôm nay là câu chuyện Đức Giêsu thành Nadarét chết và sống lại, chuyện thật như bịa, chuyện có một không hai trong lịch sử nhân loại, chuyện quá mới mẻ gây ngạc nhiên đến mức không thể tưởng tượng, không thể tin nổi!

Quả thế, sau khi thấy thầy Giêsu bị treo trên cây thập giá và chết một cách nhục nhã đau đớn, các Tông Đồ trong đó có Tôma thất vọng và bỏ cuộc. Niềm tin của họ bị khủng hoảng. Chỉ có con đường duy nhất là “về vườn” để kiếm sống. Việc Chúa sống lại là chuyện “động trời,” không ai dám nghĩ tới.

Tuy nhiên, chính Đấng Phục Sinh đã hiện ra với các phụ nữ, với hai môn đệ trên đường Emmaus, và với nhiều Tông Đồ khác khi họ họp mặt. Trong những lần đó, Tôma (biệt danh là Điđimô) không có mặt. Họ kể lại: “Chúng tôi đã được thấy Chúa” (Ga 20,22). Nhưng Tôma vẫn không tin nếu không trực tiếp nhìn thấy các dấu đinh của Người (x. Ga 20,24). Tám ngày sau, họ lại họp nhau và có Tôma ở đó. Chúa hiện ra và tỏ cho ông thấy các dấu đinh. Tôma mới tin và tuyên xưng: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con” (Ga 20,29).

2- Ý nghĩa của biến cố phục sinh

Qua biến cố phục sinh, chúng ta rút ra những ý nghĩa sau đây:

1) Việc Chúa Giêsu chết bày tỏ tình thương vô bờ bến của Thiên Chúa. Còn việc Chúa sống lại minh chứng quyền năng cứu độ của Người. Thiên Chúa chiến thắng sự dữ và thần chết. Nhờ sự vâng phục, Đức Kitô được Thiên Chúa Cha siêu thăng, tặng ban danh hiệu là “Đức Chúa và là Đấng cứu độ duy nhất và phổ quát” của nhân loại. Ngoài Người ra, không ai đem lại ơn cứu độ cho chúng ta (x. Cv 4,12).

Vì thế, trong Thông Điệp Dives in Misericordia, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nói: “Chúa Giêsu Kitô bị hành hạ và chịu đau khổ vì xót thương chúng ta, thật quá mọi mức độ có thể tưởng nghĩ được. Cả sau biến cố phục sinh, thập giá không ngừng nói về Thiên Chúa là Cha, Ðấng tuyệt đối trung thành với tình thương muôn đời của Người đối với con nguời. Tin vào tình thương này có nghĩa là tin vào lòng nhân từ của Thiên Chúa” (số 7).

2) Đức Kitô Phục Sinh củng cố niềm tin cho các môn đệ và cho chúng ta. Như thánh Phaolô quả quyết: “Nếu Đức Kitô đã không trỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả Đức tin của anh em cũng trống rỗng” (1Cr 15,14). Nếu Chúa không sống lại, sẽ không có Giáo Hội và không có cộng đoàn chúng ta như hôm nay.
3) Đức Kitô Phục Sinh chính là sứ giả của Lòng Thương Xót Chúa. Người mang đến cho các môn đệ và cho chúng ta những ân huệ mới: đó là sự bình an, Chúa Thánh Thần và ơn tha thứ.

Vì thế, mỗi lần Chúa hiện ra đều nói: “Bình an cho anh em” (Ga 20,21). Có Chúa Phục Sinh là có sự bình an. Có bình an là có tất cả. Sự bình an này quý giá, giúp chúng ta vững vàng trước mọi gian nan thử thách.

Đức Giêsu thổi hơi và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần” (Ga 20,22). Chúng ta nhớ lại, khi sáng tạo con người, Thiên Chúa thổi hơi vào Ađam, nhờ đó, ông có sự sống. Cũng vậy, trong những lần hiện ra, Đấng Phục Sinh thổi hơi và ban Thánh Thần cho các Tông Đồ, để họ có sự sống mới. Đây quả là cuộc tạo dựng mới. Chúa Thánh Thần là Quà Tặng của Đấng Phục Sinh. Việc Chúa “thổi hơi và ban Thánh Thần” là ban cho Giáo Hội sự sống mới và sức mạnh mới.

Đấng Phục Sinh còn sai Giáo Hội ra đi với quyền tha tội: “Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha” (Ga 20,23). Tha thứ là dấu chỉ rõ ràng về lòng thương xót vô bờ bến của Chúa, được thể hiện qua bí tích Hòa Giải.

3- Sứ giả lòng Thương Xót Chúa

Chúa Nhật II Phục Sinh là Chúa Nhật kính Lòng Thương Xót Chúa. Một ngày nọ, Chúa Giêsu đã nói với nữ tu Faustina Kowalska, sứ giả của Lòng Thương Xót, rằng: “Nhân loại sẽ không có hòa bình cho đến khi biết tin vào Lòng Thương Xót Chúa” (Nhật Ký, 300). Lòng Thương Xót là tặng phẩm mà Giáo Hội nhận từ Đức Kitô Phục Sinh và trao ban cho nhân loại ngay khi khởi đầu thiên niên kỷ thứ ba. Mầu nhiệm của Lòng Thương Xót đã thay đổi tận gốc số phận của nhân loại.

Thánh nữ Faustina thấy phát ra hai tia sáng từ Thánh Tâm Chúa chiếu tỏa thế gian một cách dịu dàng. Theo lời Chúa giải thích cho thánh nữ: “Hai tia sáng này tượng trưng cho máu và nước.” Máu nhắc lại hy tế trên đồi Golgotha và mầu nhiệm Thánh Thể; còn nước, theo hình ảnh phong phú của thánh sử Gioan, là bí tích Rửa Tội và hồng ân Chúa Thánh Thần (x. Ga 3,5; 4,14). Những tia sáng từ lòng nhân từ Chúa ban là niềm hy vọng đặc biệt cho những ai cảm thấy mình bị đè bẹp dưới gánh nặng của tội lỗi.

Mỗi Chúa Nhật đều là Chúa Nhật Lòng Thương Xót. Mỗi thánh lễ là nguồn mạch của Lòng Thương Xót. Bởi vì, thánh lễ tái hiện cuộc tử nạn và phục sinh của Đức Kitô để đền bù tội lỗi của chúng ta và toàn thế giới. Chúng ta được mời gọi hãy đến với Chúa Giêsu Thánh Thể để đón nhận Lòng Thương Xót Chúa. Hãy đến với bí tích Hòa Giải để lãnh nhận ơn tha thứ của Thiên Chúa. Nếu có ai cảm thấy mình quá yếu đuối và tội lỗi, thì hãy nhớ đến Lòng Thương Xót Chúa bao giờ cũng lớn lao hơn tội lỗi chúng ta. Chỉ có lòng thương xót Chúa ban cho chúng ta hy vọng chỗi dậy và tiến bước. Chúng ta hãy tín thác vào Chúa, đừng bao giờ sợ hãi, đừng bao giờ thất vọng!

Lạy Chúa, nhờ sự chết và sự sống lại, Chúa đã mạc khải Lòng Thương Xót Chúa cho loài người. Chúng con tín thác vào Chúa: Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa, xin thương xót chúng con và thế giới. Amen!

------------------------------

 

PS 2-ABC418: SUY NIỆM TIN MỪNG CHÚA NHẬT II PHỤC SINH


 Lm. Phạm Hồng Thái

 

Chúa nhật II Phục sinh có nhiều tên gọi như “Chúa nhật áo trắng” vì các tân tòng mặc áo trắng PS 2-ABC418


Chúa nhật II Phục sinh có nhiều tên gọi như “Chúa nhật áo trắng” vì các tân tòng mặc áo trắng từ đêm Vọng Phục sinh tới hôm nay, cũng còn gọi “Chúa nhật của ông Tôma” vì Chúa hiện ra cho các tông đồ đặc biệt là cho ông Tôma, còn Đức giáo Hoàng Yoan Phaolô II đặt tên là “Chúa nhật về Lòng Thương xót Chúa”.

          Tin mừng hôm nay ghi nhận hai lần hiện ra của Chúa Giêsu đều vào chiều ngày thứ nhất trong tuần: lần I vào chiều ngày Chúa sống lại và lần II đúng một tuần lễ sau cũng trong khung cảnh như Chúa nhật trước. Vì thế mà ngày nay chúng ta giữ ngày Chúa nhật: Ngày Chúa sống lại và cũng là ngày Chúa hiện ra với tập thể các tông đồ.

          – Lần I: chỉ có 10 tông đồ: Giuđa đã tự tử, Tôma không biết lí do gì vắng mặt. Các tông đồ họp lại trong căn phòng cửa đóng then cài: Tin mừng Gioan nói vì các ông sợ người Do thái, nói rõ hơn là vì sợ giáo quyền Do thái khi đó. Chúa Giêsu  hiện ra đứng giữa các ông. Lúc này thân xác Chúa Giêsu Phục sinh đã trở nên thân xác thần thiêng nên cửa đóng, Chúa vẫn đi qua được. Chúa chúc bình an cho các ông. Điều đặc biệt trong lần hiện ra này là Chúa Giêsu  cho các ông xem tay và cạnh sườn Chúa: xem tay và cạnh sườn tức là Chúa cho xem các vết thương do cuộc tử nạn mà chúng ta thường gọi là năm dấu đinh để cho các tông đồ biết rằng Chúa Giêsu  Phục sinh cũng là chính Chúa Giêsu  đã chịu đóng đinh thập giá. Các ông vui mừng vì được gặp lại và xem thấy Chúa. Chúa Phục sinh là niềm vui cho chính Chúa và Chúa lan tỏa niềm vui đó trước hết cho các tông đồ rồi cho mọi người tin Chúa.

          Trong lần hiện ra đầu tiên cho tập thể các tông đồ, hai lần Chúa chúc bình an cho các ông. Chúng ta liên tưởng tới Đêm Giáng Sinh, các thiên thần Chúa cũng chúc bình an cho người thiện tâm, để rồi cùng với lời chúc bình an, Chúa sai các ông đi trong sứ mạng làm chứng cho Chúa: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con” đồng thời Chúa ban Chúa Thánh Thần qua lời: “Các con hãy nhận lấy Thánh Thần” Các tông đồ nhận Chúa Thánh thần kèm theo quyền được tha tội và quyền cầm buộc: “Các con tha tội cho ai thì người ấy được tha, các con cầm buộc ai thì tội người ấy bị cầm lại” Như vậy Chúa Giêsu hiện ra không chỉ để các ông được nhìn thấy Chúa sống lại mà còn để trao sứ mạng làm chứng, cùng với quyền tha tội cho các tông đồ nữa.

          Lần II: Có ông Tôma. Tôma không tin Chúa Giêsu đã sống lại dù các bạn đã làm chứng: “Chúng tôi đã thấy Chúa”. Ông đòi chính ông phải được kiểm chứng bằng mắt thấy và  tay sờ vào các vết đinh của Chúa. Yêu sách của ông có phần gay gắt nhưng Chúa Giêsu vẫn chấp nhận đòi hỏi này. Chiều Chúa nhật sau, Chúa lại hiện ra cũng trong khung cảnh như chiều Chúa nhật trước: là cửa vẫn đóng kín, Chúa Giêsu vào và đứng giữa các ông cũng với lời chào chúc:”Bình an cho các con”.  Rồi Chúa kêu ông Tôma tới và cho ông làm theo yêu sách của ông như lời Chúa nói: “Hãy xỏ ngón tay con vào đây, và hãy xem tay Thầy; hãy đưa bàn tay con ra và xỏ vào cạnh sườn Thầy; chớ cứng lòng nhưng hãy tin” Tôma đã được thấy Chúa. Chắc chắn ông xúc động vì Chúa yêu thương và quan tâm tới mình. Không biết lúc này ông có làm như ông đã yêu sách không nhưng ông đã tin và xưng ra đức tin bằng lời tuyên xưng rạng rỡ: “Lạy Chúa con, Lạy Thiên Chúa của con” Qua lời này chúng ta thấy không những ông tin Chúa sống lại mà còn tuyên xưng Chúa Giêsu là Chúa và là Thiên Chúa của mình tức là ông nhận ra Thần tính của Chúa Giêsu. Như thế Tôma là người tin Chúa sống lại sau các tông đồ khác nhưng ông lại là người đầu tiên xưng ra Chúa Giêsu là Thiên Chúa.

          Điều rất khích lệ và an ủi cho chúng ta là sau khi Chúa Giêsu chấp nhận lòng tin của Tôma, Chúa hướng về các thế hệ sau khi nói: “Tôma vì con đã xem thấy Thầy, nên con đã tin. Phúc cho những ai đã không thấy mà tin”.

          Ngày nay chúng ta không đòi phải được nhìn thấy Chúa Giêsu  Phục sinh như các tông đồ nhưng chúng ta vẫn tin rằng Chúa Giêsu đã sống lại thật và đó là mối phúc lớn cho chúng ta vì đức tin của chúng ta là đức tin tông truyền tức là do các tông đồ truyền lại. Các tông đồ cả ông Tôma nữa vì là nhân chứng nên họ cần phải nhìn thấy Chúa Giêsu sống lại: như lời thánh Phêrô: “Chúng tôi là những chứng nhân Chúa đã tuyển chọn trước, chính chúng tôi đã ăn uống với người sau khi Người từ cõi chết sống lại (Cv 10,41)”

          Ngày 30/4/2000 nhân lễ phong thánh cho chị nữ tu M. Faustina Kowalska, Đức giáo hoàng Yoan Phaolô II đã tuyên bố Chúa Nhật II Phục sinh sẽ được gọi là Chúa Nhật Lòng Thương Xót Chúa. Nên nhớ năm 1931, thánh M. Faustina được Chúa Giêsu mặc khải về Lòng Thương xót. Chúa dạy chị vẽ tấm hình Chúa mặc áo dài trắng, bàn tay phải dơ lên ban phép lành, bàn tay trái vén mép áo ngực: từ đó thoát ra các tia sáng xám và đỏ tượng trưng bí tích Thánh Thể và bí tích Rửa tội cùng với hàng chữ: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Người”.

           Chúng ta kính nhớ Lòng thương xót Chúa và noi gương Chúa, chúng ta thể hiện Lòng thương xót đối với anh em như lời Chúa dạy: “Phúc cho những ai thương xót người vì họ sẽ được xót thương (Mt 5,7)”. Amen.

----------------------------

 

PS 2-ABC419: LẠY CHÚA TÔI


Lm. JB Nguyễn Minh Hùng

 

Khi nói về thánh Tôma, thường chúng ta hay gán cho ngài là kẻ cứng lòng tin. Chính vì thế PS 2-ABC419


Khi nói về thánh Tôma, thường chúng ta hay gán cho ngài là kẻ cứng lòng tin. Chính vì thế, trong đời thường, gặp một ai còn xa rời đức tin, hay lạnh nhạt khi được nói về đức tin, hay tỏ ra ngoan cố trong việc lười biếng, bỏ bê việc đạo hạnh, người ta thường ví von so sánh họ: “Cứng lòng như Tôma”.

Thật ra, nơi đức tin và lòng mến của thánh Tôma với Chúa, nếu chúng ta chịu khó đào sâu, sẽ thấy đó là cả một bài học vô giá giúp ta sống đức tin của mình.

“Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lổ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi không tin”. Qua câu nói, ta thấy thánh Tôma là người thực tiễn. Thái độ thực tiễn của thánh Tôma là câu trả lời khả dĩ cho đức tin vào Chúa Phục Sinh của thời đại thực nghiệm của chúng ta hôm nay.

Nhờ thánh nhân lên tiếng, ta mới thấy rõ hơn thế nào là sự trăn trở, sự giằng vặt của đức tin mà nỗ lực cá nhân của chính ta có thể đáp lại mạc khải của Chúa.

Cũng chính nhờ thánh nhân, Hội Thánh có một bằng chứng xác thực cho tất cả những ai nghi ngờ về đức tin Phục Sinh của người Công Giáo: Bởi Chúa Giêsu đã đáp ứng đòi hỏi của thánh Tôma: Tám ngày sau, Chúa đã hiện ra với tất cả mọi bằng chứng rõ ràng nhất mà thánh Tôma đã từng đòi hỏi.

Chúa đã đánh đổ thách thức của thánh Tôma, qua đó, Chúa đánh đổ mọi nghi ngờ của con người thực nghiệm thời nay: “Tôma, hãy đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng, nhưng hãy tin”.

Trước bằng chứng hùng hồn về tất cả nơi Chúa Phục Sinh, thánh Tôma đã phải cúi đầu thừa nhận. Thánh nhân tuyên xưng đức tin bằng một lời tuyên xưng long trọng, đầy tư cách cá nhân của chính mình với Chúa Phục Sinh của mình: “Lạy Chúa tôi, lạy Thiên Chúa của tôi”.
Là Kitô hữu, chúng ta đã tin chắc chắn Chúa đã phục sinh. Vậy chúng ta cần sống như người đang thấy Thiên Chúa: sống một cách yêu thương, hòa dịu với mọi người. Ta dẹp bỏ thói ích kỷ, tính tranh giành, vụ lợi.

Ta cần luôn chú tâm xả thân phục vụ những lợi ích chung như thực hành các công tác trong giáo xứ, các công trình phúc lợi của xã hội, thực hành đức bác ái mọi nơi, mọi lúc…

Đặc biệt, qua tất cả công việc, trong hết mọi ngày đời ta, ta luôn nghĩ đến việc truyền giáo, để làm cho mọi người tin Chúa, thờ phượng Chúa.

Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh, xin hãy mở cho chúng con đôi mắt, để chúng con nhận ra Chúa qua tất cả mọi biến cố của đời sống.

Xin làm cho nhiều người còn chưa biết Chúa, được nhận biết và tôn thờ Chúa, nhờ đó, Nước Chúa phát triển khắp nơi trên thế giới này.

Xin cho những ai đã thờ phượng Chúa, nhưng sai lạc trong đức tin, biết mau chóng trở về, nhìn nhận một mình Chúa duy nhất là Đấng có sự sống đời đời mà thôi. Amen.

----------------------------

 

PS 2-ABC420: LẠY THIÊN CHÚA CỦA CON!


Trầm Thiên Thu

 

Chúng ta không thể hiểu thấu thánh ý mầu nhiệm về sự quan phòng và tiền định của Thiên Chúa PS 2-ABC420


Chúng ta không thể hiểu thấu thánh ý mầu nhiệm về sự quan phòng và tiền định của Thiên Chúa. Thật vậy, nếu Bà Êva không ăn trái cấm thì chúng ta không được đón Chúa Giêsu nhập thể và nhập thế, vì vậy Giáo Hội gọi đó là Tội Hồng Phúc; nếu Giuđa không bán Chúa thì chúng ta không được hưởng nhờ Bửu Huyết Vô Giá của Ngài; và nếu tông đồ Tôma không cứng lòng tin thì chúng ta không dám tin chắc rằng Chúa Giêsu đã sống lại thật.

Tất cả là hồng ân. Chúng ta chỉ biết cúi đầu cảm tạ và tuân hành thánh ý Thiên Chúa mà thôi. Có vậy thì tâm hồn mới bình an. Sự bình an luôn là điều cần thiết ở mọi nơi và mọi lúc, nhất là trong xã hội bất ổn, bất an, xáo trộn, rắc rối,… ngày nay.

Rõ ràng nhất là đại dịch vẫn rình rập đêm ngày, chúng ta thực sự bất ổn nhiều phương diện. Được bình an hay không bình an đều có liên quan sự chọn lựa, mà sự chọn lựa lại có liên quan sự tự do. Thánh GH Gioan Phaolô II định nghĩa: “Tự do KHÔNG có nghĩa là LÀM điều chúng ta THÍCH, mà là CÓ QUYỀN LÀM điều chúng ta PHẢI LÀM.” Thánh LM Gioan Kim Khẩu nói: “Sau khi đặt sự thiện và sự dữ trong khả năng của chúng ta, Thiên Chúa đã ban cho chúng ta QUYỀN TỰ DO để lựa chọn. Người KHÔNG CHẤP NHẬN những gì MIỄN CƯỠNG, nhưng ĐÓN NHẬN những gì TỰ NGUYỆN.” Tự do cũng có giới hạn trong phạm vi hợp lý, tự do phải được hiểu chính xác theo ý Chúa. Quả thật, chính sự tự do cũng có giới hạn nhất định của nó.

Lòng Chúa Thương Xót (LCTX) cũng là mầu nhiệm mà chúng ta không thể hiểu bằng trí tuệ phàm nhân. Vì yêu thương đến cùng, Chúa Giêsu chấp nhận mọi đau khổ, mặc dù nhân tính, Ngài cũng rất sợ phải uống chén đắng, Ngài muốn được bỏ qua nhưng Ngài vẫn muốn tuân phục thánh ý Chúa Cha. Và Ngài đã uống cạn “chén đắng” đó. Trên Thánh Giá, Ngài còn chịu mọi sỉ nhục, nhưng Ngài vẫn xin tha thứ cho những kẻ thủ ác.

Và mọi sự đã thay đổi! Thánh LM Gioan Kim khẩu nói: “Cây Thánh Giá là hy vọng của Kitô hữu, là sự sống lại của kẻ chết, là sự hướng dẫn cho kẻ mù lòa, là cây gậy cho người què, là sự an ủi cho kẻ nghèo khổ, là sự kềm hãm của kẻ giàu sang, là sự hành hạ đối với kẻ xấu xa, là sự chiến thắng vượt trên ma quỷ, là người chỉ đạo cho thanh niên, là bánh lái cho người vượt sóng, là cửa biển cho người đi xa, là thành lũy cho người bị vây hãm.”

Chúa Giêsu là Đấng vô tội nhưng đã bị vu cáo, là Đấng Công chính nhưng đã bị kết án, là Đấng chí thánh nhưng đã bị đày ải, là Vua trời đất nhưng đã bị hành hạ nhục nhã và bị đóng đinh chết tất tưởi, là Con Thiên Chúa toàn năng nhưng đã bị thóa mạ, bị chà đạp và bị từ chối, là Ánh Sáng nhưng đã bị tối tăm vây phủ, là Đấng vô cùng cao sang nhưng đã bị trần truồng tủi hổ, chịu chết treo trên hai miếng gỗ, là Sự Sống nhưng đã phải trút hơi thở cuối cùng, là Sự Chết nhưng cũng chính là Sự Sống Lại.

Quyền năng Thiên Chúa thực hiện qua các Tông Đồ, cho chúng ta biết về qua trình thuật Cv 5:12-16: “Nhiều dấu lạ điềm thiêng được thực hiện trong dân nhờ bàn tay các Tông Đồ. Không một ai khác dám nhập đoàn với họ. Nhưng dân thì lại ca tụng họ. Càng ngày càng có thêm nhiều người tin theo Chúa: cả đàn ông, đàn bà rất đông. Người ta còn khiêng cả những kẻ đau ốm ra tận đường phố đặt trên giường trên chõng, để khi ông Phêrô đi qua, ít ra cái bóng của ông cũng phủ lên được một bệnh nhân nào đó. Nhiều người từ các thành chung quanh Giêrusalem cũng lũ lượt kéo đến, đem theo những kẻ ốm đau cùng những người bị thần ô uế ám, và tất cả đều được chữa lành.”

Lời kể ngắn gọn nhưng cho thấy đầy đủ các dạng phép lạ như chính Chúa Giêsu đã làm trong ba năm rao giảng công khai. Ngày nay, các phép lạ thực sự cũng vẫn xảy ra qua lời cầu bầu của các tôi trung của Chúa, chẳng hạn ngay tại Việt Nam có LM P.X. Trương Bửu Diệp. Rất nhiều người hàng ngày đến Tắc Sậy để cầu xin ngài nguyện giúp cầu thay, trong số những người đến cầu xin ngài có nhiều người là dân ngoại. Đó là minh chứng hùng hồn và sống động về tôn giáo do chính Đức Kitô Giêsu thiết lập. LCTX vẫn trải qua từ đời nọ đến đời kia, như lời xác nhận của Đức Maria trong “Bài Ca Ngợi Khen” (Magnificat – Lc 1:50).

Thánh Vịnh gia minh định: “Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.” (Tv 118:2-4) LCTX bao la và không hề thay đổi. Mỗi người trong chúng ta cũng đã, đang và sẽ đón nhận LCTX. Đó là điều không thể chối cãi hoặc phủ nhận, đơn giản nhất là không khí. Thiếu không khí thì chúng ta không thể sống, không khí loãng hoặc đặc lại một chút thì chúng ta cũng chết chắc! Đấng Thương Xót bị khước từ nhưng người ta vẫn phải công nhận, người ta hả hê nhạo cười và coi Ngài là thua cuộc nhưng Ngài đã vinh thắng, Ngài bị giết chết nhưng Ngài đã sống lại: “Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường. Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta. Đây là ngày Chúa đã làm ra, nào ta hãy vui mừng hoan hỷ.” (Tv 118:22-24)

Ngày nay, chúng ta cũng vẫn đồng lõa trong “vụ án Giêsu,” nhưng Đấng Thương Xót vẫn bênh vực và cho rằng chúng ta lầm. (x. Lc 23:34) Thật là diễm phúc, vì thế mà chúng ta không thể không cầu xin: “Lạy Chúa, xin ban ơn cứu độ, lạy Chúa, xin thương giúp thành công. Nguyện xin Chúa tuôn đổ phúc lành cho người tiến vào đây nhân danh Chúa. Từ nhà Chúa, chúng tôi chúc lành cho anh em.” (Tv 118:25-26)

Thánh Gioan, người được Chúa yêu, đã kể lại thị kiến qua trình thuật Kh 1:9-13, 17-19. Đó là ngày của Chúa, ông nghe đằng sau có một tiếng lớn như thể tiếng kèn, nói rằng hãy ghi điều đã thấy vào sách và gửi cho bảy Hội Thánh: Ê-phê-xô, Xi-miếc-na, Péc-ga-mô, Thy-a-ti-ra, Xác-đê, Phi-la-đen-phi-a và Lao-đi-ki-a. Ông quay lại để xem tiếng ai nói thì thấy bảy cây đèn vàng, ở giữa các cây đèn có ai giống như Con Người mặc áo chùng và ngang ngực có thắt đai bằng vàng.

Thánh Gioan xác định: “Lúc thấy Người, tôi ngã vật xuống dưới chân Người, như chết vậy.” Nhưng rồi Người đặt tay hữu lên Gioan và động viên: “Đừng sợ! Ta là Đầu và là Cuối. Ta là Đấng Hằng Sống, Ta đã chết, và nay Ta sống đến muôn thuở muôn đời; Ta giữ chìa khóa của Tử thần và Âm phủ. Vậy ngươi hãy viết những gì đã thấy, những gì đang diễn ra và những gì sẽ xảy ra sau này. Đây là ý nghĩa mầu nhiệm của bảy ngôi sao ngươi đã thấy trên tay hữu Ta, và của bảy cây đèn vàng: bảy ngôi sao là các thiên thần của bảy Hội Thánh, và bảy cây đèn là bảy Hội Thánh.”

Thật là lạ lùng, thật là mầu nhiệm, phàm nhân không thể hiểu nổi. Chính Thiên Chúa toàn năng làm nên mọi sự, biến không thành có. Và tất nhiên Ngài cũng có thể biến có thành không. Ngài toàn năng, hằng hữu, và là Thiên Chúa duy nhất.

Trình thuật Ga 20:19-31 (≈ Mt 28:16-20; Mc 16:14-18; Lc 24:36-49) cho biết về việc Đức Giêsu hiện ra với các môn đệ: Vào chiều ngày thứ nhất trong tuần, tức là chiều ngày phục sinh, nơi các môn đệ ở đều đóng kín các cửa, vì các ông sợ người Do Thái. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và chúc bình an cho họ. Nói xong, Ngài cho các ông xem tay và cạnh sườn. Họ rất vui mừng vì được thấy Ngài nhãn tiền. Rồi Ngài nói với họ: “Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy thì Thầy cũng sai anh em.” Rồi Ngài thổi hơi vào họ và nói: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai thì người ấy bị cầm giữ.” Họ đầy ơn Chúa Thánh Thần và có thể làm những gì Thầy Giêsu cho phép – cử hành các bí tích nhân danh Ngài.

Thế nhưng lúc đó chỉ có 10 môn đệ, vắng mặt Tôma – Điđymô. Các môn đệ khác kể cho Tôma về việc được diện kiến Thầy-Giêsu-phục-sinh, nhưng ông không tin và xác định: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin.”

Một tuần sau, các môn đệ Đức Giêsu lại có mặt trong nhà, có cả ông Tôma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em.” Rồi Ngài bảo ông Tôma đặt ngón tay vào vết thương ở cạnh sườn, nhìn xem tay Ngài, và bảo ông đừng cứng lòng nhưng hãy tin. Nhãn tiền thấy Thầy, ông Tôma vội thưa: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” Có lẽ ông Tôma chẳng dám kiểm chứng đâu. Đức Giêsu bảo: “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!” Đó là mối phúc mà tất cả chúng ta đang thừa kế. Thật là diễm phúc vô cùng!

Lần nào hiện ra với các môn đệ, Chúa Giêsu cũng chúc bình an. Điều đó cho thấy tầm quan trọng của sự bình an. Hằng ngày, khi tham dự Thánh Lễ, chúng ta cũng được mời gọi chúc bình an cho nhau. Bình an là điều cần thiết đối với mọi người, ở mọi nơi và mọi lúc.

Thánh Gioan kết luận: “Đức Giêsu đã làm nhiều dấu lạ khác nữa trước mặt các môn đệ; nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép trong sách này. Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em TIN mà được SỰ SỐNG nhờ danh Người.” Như vậy, tin là bí quyết để được thương xót và được cứu độ. Còn Thánh Phaolô cầu chúc: “Xin Thiên Chúa là Cha và xin Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, ban cho bạn được ân sủng, lòng thương xót và sự bình an.” (2 Tm 1:2)

Có nhiều cách thể hiện LTX, có thể dùng “nguyên tắc 4T” làm tiêu chuẩn: Tín Thác, Thỉnh Cầu, Thương Xót, và Tha Thứ. Cử hành Đại lễ LCTX theo lệnh Chúa Giêsu truyền, mỗi chúng ta cùng chân thành tái xác định: “Jezu ufam Tobie – Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Ngài.” Thương xót là một trong Bát Phúc: “Phúc thay ai xót thương người – Bởi vì sẽ được Chúa Trời xót thương.” (Mt 5:7)

Lạy Thiên Chúa tình yêu, xin giúp chúng con vững tin vào Chúa Giêsu, Ngôi Hai Thiên Chúa, luôn ẩn náu nơi Thánh Tâm Ngài, biết thương xót nhau chân thành. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Phục Sinh, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.

-------------------------------

 

PS 2-ABC421: BÌNH AN CỦA ĐỨC KITÔ PHỤC SINH


Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

 

Vào buổi chiều ngày thứ nhất trong tuần, ngày mà nước mắt chưa vơi, tình thầy trò chưa cạn, ngày PS 2-ABC421


Vào buổi chiều ngày thứ nhất trong tuần, ngày mà nước mắt chưa vơi, tình thầy trò chưa cạn, ngày mà các môn đệ đang cửa đóng then cài vì sợ người Do Thái như Tin Mừng Gioan mô tả. Bỗng Chúa Giêsu, Đấng bị đóng đinh, đã phục sinh! Người đứng giữa những người đang thương tiếc Người, đang khóa mình sau những cánh cửa đóng kín, đầy sợ hãi, đau khổ và nói: “Bình an cho các con!” (Ga 20, 19-21). Người chỉ ra những vết thương ở đôi tay, đôi chân và nhất là của cạnh sườn Chúa bị đâm thâu qua. Đó là những vết thương hằn in trên cơ thể của Người lúc còn sống, ngay cả sau khi sống lại. Người không phải là ma; nhưng thực sự là Thầy của các ông đã chết treo trên thập tự giá và được an táng trong mồ. Trước con mắt ngờ vực của các môn đệ, Chúa lặp lại: “Bình an cho các con!“.

“Bình an cho các con!” (Ga 20, 19-21). Ðây không phải là một lời chào, cũng không phải là một lời cầu chúc đơn sơ, nhưng là ơn quí trọng Chúa Kitô Phục Sinh cống hiến cho các mộn đệ sau khi đã trải qua cái chết thương đau. “Bình an cho các con!” (Ga 20, 19-21). Đây là hồng ân phát sinh từ những vết thương vinh quang, mà Tôma đã tận mắt chứng kiến tám ngày sau, thật không thể nào hiểu nổi và tin được lòng thương xót của Thiên Chúa. Người trao ban bình an cho các môn đệ như lời Người đã hứa: “Thầy ban bình an cho các con, Thầy ban bình an của Thầy cho các con. Thầy ban cho các con không như kiểu thế gian ban” (Ga 14,27). Bình an này là chiến thắng của Chúa Kitô Phục Sinh, hoa trái tình yêu của Thiên Chúa trên sự dữ và tha thứ. Các môn đệ hết sức vui mừng khi Chúa trao ban bình an. Sợ hãi cũng biến mất nơi các ông. Đúng thế, đây là bình an đích thực, bình an sâu thẳm đến từ trái tim xót thương của Thiên Chúa. Cùng với sự trao ban ơn bình an, Đức Kitô Phục Sinh cũng trao Thánh Thần cho các Tông Ðồ để các ngài chuyển cho thế giới ơn tha thứ tội lỗi, ơn mà chỉ có Thiên Chúa mới có thể ban, vì nó đã được trả bằng giá Máu của Chúa Giêsu Con Thiên Chúa (x. Ga 20,21-23). Bình an mang lại sự tha thứ cho các ông và qua các ông, người khác cảm nhận được sự tha thứ của Thiên Chúa.

Chúa Kitô Phục Sinh đã ban tặng cho nhân loại hồng ân tha thứ, những con người lầm lạc đang bị thống trị bởi quyền lực sự dữ, của ích kỷ và sợ hãi. Tình yêu của Thiên Chúa tha thứ tất cả, hòa giải tất cả và tái tạo tâm hồn, mang lại cho chúng nhân niềm hy vọng. Đó là tình yêu có sức biến đổi con tim và ban tặng bình an.

Không hiểu sao buổi chiều hôm ấy, Tôma đi đâu mà vắng mặt lúc Thầy viếng thăm, dẫn đến lời tuyên bố trước anh em rằng: “Nếu tôi không nhìn thấy vết đinh ở tay Người, nếu tôi không thọc ngón tay vào lỗ đinh, nếu tôi không thọc bàn tay vào cạnh sườn Người, thì tôi không tin” (Ga 20,25). Tám ngày sau, Chúa Giêsu lại hiện ra với các ông, có Tôma ở đó. Chúa Giêsu nói với Tôma, mời ông nhìn các vết thương của Ngài và sờ vào chúng, Tôma kêu lên: “Lạy Chúa tôi, lạy Thiên Chúa của tôi” (Ga 20,28). Chúa Giêsu nói: “Tôma, vì con đã xem thấy Thầy nên con đã tin. Phúc cho những ai đã không thấy mà tin” (Ga 20,29). Chúng ta có thể gọi là mối phúc của lòng tin.

Những người đã không trông thấy nhưng đã tin đó là là các môn đệ, các người nam nữ khác của thành Giêsusalem, dù đã không gặp gỡ Chúa Giêsu phục sinh, nhưng đã tin vào chứng tá của các Tông Ðồ và các phụ nữ.

Chúa nhật hôm nay, Giáo hội lặp lại câu Thánh Vịnh mà suốt cả tuần Bát Nhật Phục Sinh toàn thế giới ca vang: “Hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa hảo tâm, vì đức từ bi của Người muôn thủa” (Tv 117, 1). Lòng từ bi mạnh hơn tội lỗi và sự chết, ngày nay, nhân loại vẫn đang tiếp tục thừa hưởng lòng từ bi tuôn trào từ những vết thương vinh hiển và từ Trái Tim của Chúa, nguồn mạch không bao giờ cạn.

Giờ kinh Truyền Tin ngày 11-01-2015, Đức Thánh Cha Phanxicô nói: “Ngày nay chúng ta rất cần đến lòng thương xót, Điều quan trọng là các tín hữu sống lòng thương xót ấy và đem vào các môi trường xã hội khác nhau”. Đức Thánh Cha Phanxicô xác tín rằng, cốt lõi của Phúc Âm là tình thương, (x. Huấn từ 28-3-2014). Vì thế, theo nguyên tắc, tất cả mọi cơ cấu, nguyên tắc, luật lệ và tổ chức của Giáo Hội đều phải làm sao để hướng về và đạt đến đích điểm là tình thương (x. Niềm vui Phúc Âm,26-43). Bởi vậy, trong thực hành, Giáo Hội cần phải là một bệnh viện lưu động để chữa lành, chứ không phải chỉ mở cửa đón nhận tội nhân và nạn nhân trở về mà thôi (x. trả lời Phỏng Vấn 04-12-2014). Ngài muốn Giáo Hội phải đi đến tận rìa mép của xã hội để tìm kiếm các con chiên lạc đáng thương, thậm chí Giáo Hội phải ăn uống với thành phần đàng điếm và thu thuế tội lỗi (Huấn từ bế mạc Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới ngày 18-10-2014).

Chúng ta tự hỏi: Thế giới đang cần gì? Nước Việt nam cần gì? Bản thân chúng ta cần gì? Thưa: Lòng thương xót !

Hàng ngày, trên các phương tiện truyền thông báo chí, chúng ta vẫn nghe chiến tranh tại Ucraina. Vậy nhân loại cần gì? Thưa: Lòng thương xót, chỉ có lòng thương xót của Thiên Chúa mới cứu con người khỏi chiến tranh. Và lòng thương xót Chúa phải đi đôi với lòng thương xót của chúng ta. Tình yêu là tên gọi thứ hai của lòng thương xót. Nếu con người biết yêu thương nhau, thì con người mới xứng đáng lãnh được lòng thương xót của Chúa, và chiến tranh mới lui dần. Con người càng thương xót nhau, càng yêu thương nhau, thì chiến tranh càng bị đẩy lùi. Vì vậy chúng ta phải thành thật nhận lỗi của mình thì chúng ta mới có thể thể hiện được lòng thương xót của chúng ta.

Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh, xin thương xót chúng con và ban bình an cho thế giới. Amen.

----------------------------------

 

PS 2-ABC422: CHÚA GIÀU LÒNG THƯƠNG XÓT


Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

 

Có một người bạn bác sĩ phẫu thuật nói rằng: Tôi đã thấy nhiều người đối phó với cơn đau một PS 2-ABC422


Có một người bạn bác sĩ phẫu thuật nói rằng: Tôi đã thấy nhiều người đối phó với cơn đau một cách rất khác nhau. Một số người tức giận xa lánh Thượng Đế, trong khi những người khác để cho nỗi đau đớn của họ mang họ đến gần Thượng Đế hơn.

Thực ra, không có nỗi đau nào mà chúng ta phải chịu đựng hay trải qua đều vô ích cả. Những điều này rèn luyện chúng ta những đức tính như tính kiên nhẫn, đức tin, sức dũng cảm chịu đựng và lòng khiêm nhường. …

Đối với người Công Giáo thì đây còn là cơ hội nhận ra sự nhỏ bé của chính mình mà biết bám vào Thiên Chúa đầy quyền năng và giầu lòng thương xót. Trong suốt 3 năm rao giảng Tin mừng , Chúa Giêsu không chỉ chữa bệnh như các bác sĩ hay lương y, nghĩa là loại bỏ bệnh tật, ma quỉ ra khỏi con người, nhưng còn mang vào mình, hay nói đúng hơn, Người chữa lành bằng cách mang vào mình mọi bệnh hoạn tật nguyền của con người. Thật vậy, khi chiêm ngắm thân thể nát tan của Ngài trên Thập Giá, chúng ta hiểu được mầu nhiệm “mang vác” này của Đức Giê-su.“Người đã mang lấy các tật nguyền của ta và gánh lấy các bệnh hoạn của ta” (Mt 8,17). Từ nay bệnh tật không còn là một hình phạt nữa, nhưng là sự cứu chuộc. Bệnh tật liên kết chúng ta nên một với Người; bệnh tật thánh hóa, thanh luyện tâm hồn, chuẩn bị cho chúng ta đón nhận một ngày mà Thiên Chúa sẽ lau khô mọi nước mắt và lúc đó sẽ không còn bệnh tật, khóc than và đau khổ nữa.  Và như vậy, nơi Thập Giá, Ngài mang vào mình các thứ bệnh và cả cái chết do hệ lụy của tội Adam nữa, để từ Thập Giá một nguồn ân sủng tuôn trào thành Đại Dương Lòng Thương Xót chữa lành mọi bệnh tật hồn xác cho con người.

Chúa Nhật 2 mùa phục sinh là ngày Đại lễ Kính Lòng Thương Xót Chúa. Chúa Giê-su đã mặc khải cho thánh nữ Faustina về Thánh Tâm Nhân Lành Chúa Giêsu và chọn gọi thánh nữ trở thành một khí cụ của Lòng Thương Xót chữa lành của Chúa. Ngài đã phán với Thánh nữ: “Cha không muốn đoán phạt, nhưng muốn chữa lành và ghì chặt nhân loại đau thương vào Trái Tim lân  tuất của Cha (x. NK 588). Và vào ngày Đại lễ của Cha, ngày lễ kính Lòng Thương Xót Cha, con hãy rảo khắp thế giới và đem các linh hồn đang lả mệt về với suối nguồn thương xót của Cha. Cha sẽ chữa lành và bổ túc cho họ (NK 206).

Như vậy, lễ Kính Lòng Thương Xót Chúa là lễ của niềm vui vì được nhận ra tình thương của Chúa vẫn ấp ủ và theo sát chúng ta trên mọi nẻo đường. Vì Ngài biết rõ ràng và tường tận nỗi đau đớn của từng người chúng ta đang gánh chịu. Ngài sẽ mang lấy các tật nguyền của ta và gánh lấy các bệnh hoạn của ta.  Vậy, chúng ta hãy vững lòng đến với lòng thương xót Chúa, hầu nhận lãnh những ân phúc thiêng liêng từ ân sủng Lòng Thương Xót Chúa tuôn trào từ cạnh sườn nương long Chúa. Hãy dìm mình trong đại dương ân sủng Chúa để được bảo vệ và chữa lành. Và với lòng tin yêu phó thác chúng ta cùng mượn tâm tình của bài hát:”Chúa giầu lòng xót thương” để ca tụng tôn vinh và cầu xin cùng Lòng thương xót Chúa.

Lạy Chúa Giêsu con tin tưởng nơi Chúa.
Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa.
Vì ngoài lòng Chúa xót thương, không còn nguồn hy vọng nào.
Chúng con đặt vào Chúa lòng tín thác của mỗi chúng con.
Nhân loại hôm nay đang trải qua bao là sự dữ.
Con người hôm nay đang sống trong tuyệt vọng lo â.
Chúng con đến kêu cầu Chúa giàu lòng xót thương.
Ngài mở ra con đường, đưa đến tận nguồn suối yêu thương.

-----------------------------

 

PS 2-ABC423: BÌNH AN CHO ANH EM


Lm Vũđình Tường

 

Nhóm Pharise và Kinh Sư phê bình, chỉ trích môn đệ Đức Kitô không giữ luật ăn chay. Đức Kitô PS 2-ABC423


Nhóm Pharise và Kinh Sư phê bình, chỉ trích môn đệ Đức Kitô không giữ luật ăn chay. Đức Kitô đáp,

‘Sẽ có ngày chàng rể bị đem đi, ngày đó, họ mới ăn chay’. Lc 5,35.

Với Đức Kitô, ‘ngày đó’ thường được Đức Kitô nhắc đến là ‘Giờ Ta chưa đến’. Đó là ngày Đức Kitô để cho quân dữ bắt. Đối với tông đồ ‘ngày đó’ là thời gian các ông sống trong than khóc, lo âu, sợ hãi. Sợ lãnh đạo Do Thái bủa lưới, vây bắt đánh đập và giết chết. Đối diện với tương lai đen tối, cộng thêm mặc cảm tội lỗi chối Thầy các ông rất buồn sầu. Nhớ lại trong bữa Tiệc Li, ai cũng can đảm đoan hứa sẽ trung thành với Thầy đến chết. Khi sự việc xảy ra tất cả đều nhanh chân chạy trốn, để mình Thầy bơ vơ giữa bầy lang sói. Các ông hành động theo phản xạ tự nhiên của con người. Gặp nguy hiểm là chạy trốn, tìm đường sống. Đây là hành động hướng dẫn bởi khối óc, không phải của con tim yêu mến.

Sau ba ngày khóc than, các ông nhận lại được sự sống mới. Đức Kitô thương nhớ các ông và các ông thương nhớ Ngài. Sau khi trỗi dậy từ cõi chết, Đức Kitô không phí một phút nào, Ngài tìm gặp môn đệ. Điều này cho thấy môn đệ chiếm một vị trí quan trong trong con tim Đức Kitô. Ngài yêu mến, chăm lo, coi sóc, bảo vệ các ông. Đức Kitô không gặp bất cứ trở ngại nào trong việc kiếm nơi các ông lẩn trốn, và cũng không gặp trở ngại đi qua cửa đóng, then cài. Nghe lời chào bình an, giọng nói quen thuộc, các ông nhận ngay ra Thầy. Điều các ông lo buồn đã không xảy ra. Đức Kitô không hề đá động gì đến việc các ông thất hứa, trốn chạy. Thay vào đó Ngài mang đến cho các ông ơn bình an, hy vọng. Ngài cho các ông xem tay và cạnh sườn để các ông nhận ra Ngài chính là Đức Kitô Phục Sinh, cùng một Đức Kitô trước và sau cuộc khổ nạn. Ơn bình an Đức Kitô trao ban là ơn đặc biệt. Ngài là Đấng duy nhất làm chủ món quà bình an Phục Sinh. Ai nhận được ơn bình an Phục Sinh, con tim người đó cảm thấy thảnh thơi, an bình, thoải mái, tin yêu, tràn đầy hy vọng, bởi ơn đó luân chuyển toàn thể châu thân.

Lời chào ‘Bình an cho anh em’ cho biết con người bằng xương, bằng thịt có thể nhận được ơn bình an Phục Sinh từ trời cao ban tặng. Trước khi sai môn đệ đi truyền rao Tin Mừng Phục Sinh, một lần nữa Đức Kitô nói với các ông,

‘Bình an cho anh em’. Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em.

Nói xong Ngài thổi hơi, ban Thánh Thần cho các ông. Trình thuật Sáng Thế Kí cho biết Chúa tạo dựng con người rồi thổi hơn ban cho con người sự sống. Đức Kitô thổi hơi ban cho môn đệ sức sống mới, đời sống mới. Từ nay các ông trở thành khuôn mặt mới của Đức Kitô. Với con tim mới, các ông là chân, là tay nối dài của Đức Kitô mang Tin Mừng Phục Sinh đến cho muôn dân. Thổi hơi đây chính là ban Thánh Thần, Đấng luôn là bạn đồng hành, hướng dẫn, chỉ bảo, dậy dỗ giúp các ông hiểu sâu hơn về mầu nhiệm Phục Sinh của Đức Kitô.

Lần đầu Đức Kitô hiện ra, vì một lí do nào đó, Thoma vắng mặt. Tuần sau, Ngài lại đến với các ông, và nói với Thoma,

‘Hãy nhìn xem tay Thầy và cạnh sườn Thầy’ Lc 20,27. Thoma thưa ‘Lậy Chúa của con, lậy Thiên Chúa của con’ Gn 20,28.

Câu trên Thoma tuyên xưng niềm tin hai lần. ‘Lậy Chúa của con’ chính là nói về nhân tính của Đức Kitô; ‘Lậy Thiên Chúa của con’ chính là nói về thiên tính của Đức Kitô. Như thế Thoma tuyên xưng Đức Kitô vừa là con người thật, vừa là Thiên Chúa thật.

Đức Kitô hiện ra với môn đệ và điều này thay đổi cuộc sống các ông, đang từ lo âu, buồn phiền, sợ hãi, các ông trở nên con người mới, sức sống mới, niềm tin mới, tương lai tươi sáng trong niềm hy vọng Phục Sinh. Đức Kitô nói với Thoma,

‘Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin’ Gn 20,29.

Chúng ta tin theo Đức Kitô không phải vì thấy mà dựa vào tường thuật, lẫn niềm tin của các tông đồ. Chúng ta là người có phúc, không trực tiếp nghe lời rao giảng của chính Đức Kitô, nhưng nghe, tin theo, nghe lời Đức Kitô Phục Sinh ghi lại trong Kinh Thánh. Nguồn hạnh phúc này trở nên vẹn toàn khi mỗi người trong chúng ta mang con tim mơí, trở thành khuôn mặt Đức Kitô Phục Sinh, trở thành tay, thành chân, nối dài của Đức Kitô Phục Sinh.

------------------------

 

PS 2-ABC424: CÒN ĐÓ LỜI THẦY


Lm. Jos DĐH.

 

Các học trò Khổng Tử, bạch thầy: nếu chậm, chẳng thông minh, sức khoẻ bình thường, liệu có PS 2-ABC424


Các học trò Khổng Tử, bạch thầy: nếu chậm, chẳng thông minh, sức khoẻ bình thường, liệu có tu tập để thành “chánh quả” được không ? Khổng Tử nhìn các học trò rồi nói: dù chậm, không tài giỏi, dù bản thân giới hạn, nhưng ý thức được mình là ai, cứ từng bước từng bước tiến, đừng bỏ cuộc, rồi các con sẽ đến đích thành công, hạnh phúc. Thời nào cũng xuất hiện bậc hiền nhân quân tử, người học trò nói chung là ước muốn thành tài thành danh, tuy nhiên, ở đời vẫn cho rằng: trên bước đường thành công, không thể có dấu chân kẻ lười biếng. Trở nên người hữu ích, được thành “chánh quả”, là điều có thực, khi ta đủ bình tĩnh: biết mình biết ta, trăm trận trăm thắng. (Tôn Tử). Đó cũng là câu trả lời, tại sao yêu thầy mới được làm thầy, tại sao có yêu người mới thấy người yêu ta ? Tại sao lại có câu: tình yêu của bậc cha mẹ không bao giờ già nua, dù năm tháng có trôi qua.

Con người tự nhiên, hướng tới sự hoàn hảo, muốn được sống theo phong cách riêng của mình, vẫn phải chấp nhận một thực tại: có sinh, có tử, có đau khổ, có hạnh phúc, đó là sự thật. Khéo ăn khéo ở, mưu cao, tiền nhiều, chưa chắc đã mang đến cuộc sống như ý, vì thế mà các đấng bậc cho thấy một kinh nghiệm: không phải thực lực, mà là tính kỷ luật đã làm nên những con người vĩ đại. Người Việt chúng ta thì có câu: nhìn lên, không bằng ai, nhìn xuống khối kẻ vất vả hơn ta nhiều, phải chăng có thành công, có nhận ra mình hạnh phúc, tất cả là nhờ cái “kính chiếu hậu” ? Các tông đồ cửa đóng then cài, vì các ông sợ người Do-thái, Đấng phục sinh đã yêu đến cùng, tiếp tục hiện diện trao ban bình an, mở trí mở lòng, chia sẻ niềm vui và sức sống mới cho các học trò. Chúng ta đang nhìn “kính chiếu hậu” theo tinh thần nào ? Gương sáng của cha mẹ ông bà, suy nghĩ về tình Thầy Giêsu vĩ đại, khiếp sợ, mừng vui, khi đối diện với Đấng sống lại từ cõi chết ? Bằng hành động tin yêu, Đấng phục sinh đang xoá tan mọi nghi ngờ, bằng tình hiệp thông cầu nguyện, Đấng phục sinh sẽ ban bình an, thổi sức sống vào tất cả những gì đã chết nơi con người tội lỗi chúng ta.

Còn đó lời Thầy: “khi nào ác ông đưa Con Người lên cao, các ông sẽ nhận biết Ta là ai” ? “Con Người phải chịu nhiều đau khổ, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết và ngày thứ ba sẽ sống lại”. Vâng, có phải bụng đói, ví rỗng, trái tim tan vỡ là tồi tệ nhất không ? Hãy mạnh mẽ tin rằng: túng thiếu, khổ đau, tình phụ, luôn là những bài học quý giá, rèn luyện ta đứng lên, và đi những bước vững chắc hơn đến hạnh phúc ở phía trước. Các tông đồ đóng cửa phòng vì sợ, đóng cửa lòng vì phải chứng kiến một sự thật, Đấng mà đám đông dân chúng đã từng hoan hô, chúc tụng, rồi sau đó họ lại hô to: “đóng đi nó vào thập giá” ! Còn đó những lời yêu thương: “việc Thầy làm bây giờ các con không hiểu, nhưng sau sẽ hiểu. Nếu Thầy là Chúa, là Thầy mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng sẽ rửa chân cho nhau”.

Nếu muốn biết sự thật về lòng thương xót của Thiên Chúa, hãy nhìn lên cây thập giá. Nếu muốn cảm nhận hạnh phúc tình thầy trò, phải vượt qua đau khổ thập giá để đến vinh quang, không thể đi đường tắt. Nếu muốn biết sự chân thật của phụ nữ là gì, hãy để họ khóc. Nếu muốn hiểu đàn ông con trai là gì, hãy để họ say. Nếu muốn biết, tại sao các môn đệ vui mừng vì được xem thấy Chúa phục sinh, lại là khởi đầu cho việc sống niềm tin, hãy đọc tiếp … “Bình an cho các con, như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con. Nói thế rồi, Người thổi hơi và phán: các con hãy nhận lấy Thánh Thần, các con tha tội cho ai, thì tội người ấy được tha, các con cầm tội ai, thì tội người ấy bị cầm lại”. Tình yêu của con người là có qua có lại, mới toại lòng nhau. Đâu phải vô tình mà cha ông ta nói: giầu tình yêu thương và quảng đại sẻ chia, ai chẳng quý, giầu tiền lắm của mà nhân ái với mọi người, ai chẳng mến phục. Tình yêu của Đấng phục sinh là bình an, khai thông mọi bế tắc, là tiếp tục trao ban. Có những người ta yêu mà ta không thể ở bên cạnh họ, có người họ yêu ta, mà ta lại dửng dưng như không hề hay biết.

Còn đó lời Thầy: “Toma, hãy xỏ ngón tay con vào đây, và hãy xem tay Thầy, hãy đưa bàn tay con ra và xỏ vào cạnh sườn Thầy, chớ cứng lòng, nhưng hãy tin”. Đúng, cơ hội giống như bình minh, nếu chờ đợi quá lâu, có thể bạn bị lỡ nhịp. Cuộc sống đẹp là sự cân bằng giữa cho đi và nhận lại, buồn vui, tin và yêu, vẫn là sự tự do thiết thực mà người ta phải bày tỏ, minh chứng. Đấng phục sinh vì yêu, đã đáp ứng đòi hỏi của Toma, đã khích lệ từng tâm hồn đang bị đóng băng vì hụt hẫng trong tình yêu: “phúc cho những ai không thấy mà tin”. Lời mời gọi theo Thầy, tin Thầy, luôn cần thiết: hãy mạnh mẽ lên, mọi khổ đau rồi sẽ qua đi, bão có mùa, mưa có cơn, nắng sẽ lại lên, và cuộc đời sẽ tốt hơn. Đừng nên thắc mắc, tại sao Toma cứng lòng và các tông đồ nhát sợ hèn tin Đấng sống lại từ cõi chết, hãy liên đới tình hiệp thông, vượt qua khổ đau thập giá, chứ không phải không sợ hãi vác thập giá. Amen.

-----------------------------

 

PS 2-ABC425: TRÁI TIM CHỊU THƯƠNG TÍCH


Bông hồng nhỏ

 

Khi bị treo trên thập giá, Thầy Giêsu đã đón nhận tất cả những sỉ nhục, khinh chê, những lời nhạo PS 2-ABC425


Khi bị treo trên thập giá, Thầy Giêsu đã đón nhận tất cả những sỉ nhục, khinh chê, những lời nhạo báng của nhiều hạng người. Thầy cũng đón nhận cả sự cô đơn, đón nhận sự vắng mặt của các môn đệ là những người đã từng sát cánh bên Thầy trong suốt hành trình rao giảng Tin Mừng. Từ trên thập giá, trái tim Thầy bị đâm thâu. Kể từ đó, trái tim ấy đã không bao giờ khép lại.

Sau khi phục sinh, vào chiều ngày thứ nhất trong tuần, Thầy Giêsu đã hiện ra với các môn đệ và ban bình an cho các ông. Thầy không hề nhắc lại chuyện cũ. Thầy không hỏi tại sao các con bỏ Thầy mà đi. Thầy bị bắt, hầu hết các ông đều bỏ chạy thoát thân. Chỉ có ông Phêrô theo Thầy xa xa, nhưng ông cũng đã chối Thầy ba lần. Khi vừa chối Thầy lần thứ ba thì ông nghe có tiếng gà vừa gáy, ông chợt nhớ lại lời Thầy đã nói, ông bắt gặp ánh mắt của Thầy. Ông đã ra ngoài khóc lóc thảm thiết. Chỉ còn người môn đệ mà cảm nhận được tình thương mến của Thầy trung thành bước theo Thầy đến tận đồi Canvê, ông cùng với Mẹ Maria đứng dưới chân thập giá. Không còn Thầy bên cạnh, tông đồ trở thành những con chiên không có chủ chăn.

Các ông đã tự thu mình trong căn phòng đóng kín cửa, vì các ông sợ người Do thái. Chẳng ai trong các ông có thể vượt qua nỗi sợ để ra ngoài. Cửa phòng đóng kín và cửa lòng mỗi người cũng chẳng ai có thể tự mình mở ra được. Thế nhưng, sự hiện diện bất ngờ của Chúa Giêsu phục sinh đã mang lại cho các ông niềm vui và hạnh phúc. Chẳng ai trong các ông đủ can đảm để mở cửa phòng nhưng Chúa phục sinh không bị giới hạn về thời gian và không gian, không bị những cánh cửa ấy chặn lối. Người chủ động đến với các ông và ban bình an cho các ông. Chẳng ai trong các ông từ chối sự hiện diện của Thầy. Được thấy Chúa, lòng các ông được bừng sáng hân hoan. Bóng đêm của sợ hãi đã bị đẩy xa. Người cho các ông xem tay và cạnh sườn là những dấu chứng của tình yêu đến cùng của Người. Trái tim của Thầy đã bị đâm thâu nhưng từ nơi đó, mỗi người đều được nương ẩn, bấp chấp mọi tội lỗi và yếu đuối. Người lại nói với các ông: “Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em”. Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ” (Ga 20, 21-23). Hội Thánh được Chúa Giêsu trao cho quyền tha tội là để lòng thương xót của Thiên Chúa qua đó tuôn chảy xuống nhân loại. Bất cứ ai chạy đến với trái tim từ ái của Chúa Giêsu đều được Người thứ tha muôn vàn tội lỗi. Trái tim Người đã mở ra là để đón lấy từng tâm hồn đầy thương tích của mỗi người.

Khi Chúa phục sinh hiện ra với các môn đệ, có một người môn đệ vắng mặt tên là Tôma. Nghe anh em kể lại việc mình đã được thấy Chúa, ông cứng lòng không tin. Ông quả quyết: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin” (Ga 20, 25). Tám ngày sau, Chúa phục sinh đã hiện ra với ông và cho ông xem tay và cạnh sườn Người. Được thấy Chúa, ông đã hân hoan thốt lên lời tuyên xưng: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” (Ga 20, 28). Chúa Giêsu không mỏi mệt khi chờ đợi, Người không mỏi mệt khi tha thứ tội lỗi cho nhân loại. Trái tim Người đã và đang mang lấy những thương tích của từng người trong chúng ta. Người đã mang thương tích là để ta được chữa lành. Dù cho ai đó có cứng lòng không chịu tin thì Thiên Chúa vẫn chờ đợi và dùng nhiều cách thế để tỏ cho họ nhận biết tình thương của Người. Người đích thân đến với họ và ngỏ lời với họ.

Clive Staples Lewis (1898-1963, văn sĩ Anh, tác giả cuốn Ký sự Namia) đã từng nói: “Thiên Chúa thì thầm trong những lúc ta vui, Người thì thầm trong lương tâm ta. Nhưng Người nói lớn và mạnh trong những đau khổ của ta. Những đau khổ đó là cái loa tăng âm để làm thức tỉnh một thế giới mê ngủ.” Mỗi ngày, ta hãy chú tâm lắng nghe tiếng nói của Thiên Chúa trong khi vui, tiếng nói vang lên từ tiếng lương tâm của ta và trong những lúc ta bị đau khổ giày vò. Hãy để cho Lời của Người đánh thức tâm hồn ta. Hãy hướng nhìn lên trái tim bị đâm thâu của Người, để thấy được cả nỗi đau của ta ở nơi đó. Và chắc chắn, tình yêu của Người sẽ chữa lành cho ta, mang lại niềm vui, bình an cho ta. Hãy hướng nhìn đến những anh chị em đang đau khổ, hãy để cho nỗi đau của họ chạm vào lòng ta và nhìn thấy Chúa Giêsu Kitô chịu đóng đinh đang hiện diện trong họ. Ta hãy trao cho họ tình yêu mà ta đã nhận lãnh từ Thiên Chúa.

------------------------------

 

PS 2-ABC426: CỦNG CỐ ĐỨC TIN


Thiên San

 

Vào chiều ngày thứ nhất trong tuần, Đức Giêsu Phục sinh hiện ra với các môn đệ và ban bình an PS 2-ABC426


Vào chiều ngày thứ nhất trong tuần, Đức Giêsu Phục sinh hiện ra với các môn đệ và ban bình an cho các ông. Trong lần hiện ra này, ông Tôma đã không ở cùng các anh em của mình, bởi vậy ông không được gặp Đức Giêsu Phục sinh – Thầy của ông. Tám ngày sau, Người cũng hiện ra với các ông, ông Tôma cũng ở đó. Gặp Thầy, được nhìn thấy tận mắt và sờ tận tay, Tôma đã phải thốt lên: “ Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” (Ga 20,28). Quả thực ông đã tin, đức tin của ông được củng cố.

Chúng ta chẳng biết tại sao Tôma lại không ở đó với các em của mình. Có thể ông là người can đảm nhất trong số các môn đệ chăng? Trong khi các anh em tụ tập trong nhà cùng nhau, các cửa đều đóng kín vì các ông sợ người Do Thái, thì có thể Tôma đang lang thang đâu đó. Ông không ngồi ì trong nhà như các anh em. Ông dược diễm phúc gặp Thầy của mình. Cả hai lần hiện ra với các môn đệ, Đức Giêsu Phục sinh đều ban bình an cho các ông. Bởi Người biết, sau bao nhiêu biến cố xảy ra, các môn đệ của Người còn sợ hãi, nhát đảm. Các cánh cửa đóng lại hệt như tâm hồn đang đóng lại của các ông. Cái chết của Thầy là một mất mát quá lớn đối với các ông. Có thể rồi đây, người Do thái sẽ tìm bắt các ông y như tìm bắt Thầy Giêsu. Rồi các ông cũng sẽ chết y như Người vậy. Chính Đức Giêsu Phục sinh đã đến phá tan cánh của của sợ hãi, nhát đảm; Người ban sự bình an cho các ông. Chúa Giêsu luôn dành tình yêu thương cho từng người, Ngài chẳng để quên một ai.

“Phúc thay những người không thấy mà tin” (Ga 20, 29). Đó là lời chúc phúc của Đức Giêsu Phục sinh dành cho tất cả chúng ta –  những người “không thấy mà tin”. Thật vậy, chúng ta không có cơ hội được gặp mặt Đấng Phục sinh cách trực tiếp như các Tông đồ xưa. Chúng ta cũng không được nghe thấy giọng nói, nhìn thấy khuôn mặt của Ngài như các môn đệ. Nhưng chúng ta vẫn là những người được chúc phúc. Sau bao nhiêu thế hệ, Tin Mừng của Chúa vẫn được ban cho chúng ta. Có thể nói, lời thách thức của Tôma ngày xưa thật quý. Bởi chính vì sự cứng lòng tin của ông mà chúng ta thêm xác tín hơn về sự hiện diện của Đức Giêsu Phục sinh. Đó không chỉ là một mầu nhiệm chỉ biết lấy đức tin bù lại nhưng nó còn là sự thật được xác thực qua lời các nhân chứng. Đức tin của chúng ta hoàn toàn có cơ sở.

Cuộc sống hôm nay nhiều biến động: những khó khăn, thử thách xảy đến trong cuộc đời chúng ta. Làm thế nào để chúng ta có thể nhận ra sự hiện diện của Đấng Phục sinh trong cuộc đời này? Người có đang ban ơn bình an và củng cố đức tin cho chúng ta như xưa Ngài đã làm với các môn đệ? Tình yêu của Thiên Chúa dành cho nhân loại thật lớn lao. Đó là một tình yêu trọn vẹn, yêu cho đến cùng. Tình yêu của Ngài không chỉ dừng lại ở cái chết trên thập giá. Ngài đã mở ra cho chúng ta cánh cửa của niềm hy vọng tràn trề về sự sống đời sau qua sự Phục sinh của Ngài. Thật vậy, thánh Phaolô đã từng nói: “Nếu Đức Kitô đã không trỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng” (1Cr 15, 14). Nhờ sự phục sinh của Đức Kitô, chúng ta cũng sẽ được phục sinh với Ngài. Cũng bởi nếu chúng ta đặt hy vọng vào Đức Kitô chỉ vì đời này mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người (x. 1Cr 15, 19).

Đức Giêsu Phục sinh vẫn hiện diện với chúng ta hôm qua, hôm nay và mãi mãi. Người dùng các chứng nhân do Người tuyển chọn để loan báo về Tin mừng phục sinh và lời rao giảng của các vị ấy xác thực vì được gặp gỡ, cùng ăn uống với Đấng Phục sinh. Hôm nay, Ngài vẫn ở với chúng ta cách cụ thể qua Bí tích Thánh Thể. Mỗi lần chúng ta rước Chúa Giêsu Thánh Thể vào lòng là chúng ta đang được gặp gỡ chính Chúa Giêsu Phục sinh. Vì biết chúng ta kém lòng tin nên Ngài luôn đến củng cố đức tin cho chúng ta qua nhiều cách thức khác nhau. Xin Chúa Giêsu phục sinh ban cho chúng ta bình an của Ngài và giúp chúng ta can đảm làm chứng cho sự hiện diện của Ngài khi chúng ta sống yêu thương theo lối đường của Chúa.

-----------------------------

 

PS 2-ABC427: GIÁO HỘI: CỘNG ĐOÀN NHÂN CHỨNG CHO ĐẤNG PHỤC SINH


Gm. Giuse Vũ Văn Thiên

 

Nếu trong thời gian Đức Giêsu còn tại thế, cộng đoàn tín hữu chỉ thu hẹp nơi những ai theo Người PS 2-ABC427


Nếu trong thời gian Đức Giêsu còn tại thế, cộng đoàn tín hữu chỉ thu hẹp nơi những ai theo Người để nghe Người giảng dạy, thì sau khi Chúa từ cõi chết sống lại, cộng đoàn ấy đã trở nên mạnh mẽ, đông đảo hơn nhiều. Tác giả sách Công vụ tông đồ diễn tả với chúng ta Giáo Hội như một cộng đoàn nhân chứng cho Đấng Phục sinh (Bài đọc I). Cộng đoàn ấy không còn phân biệt người Do Thái hay dân ngoại, nhưng giang rộng vòng tay đón nhận tất cả những ai thành tâm thiện chí tin vào Đức Giêsu. Số những người tin Chúa gia tăng ngày một đông đảo và họ chuyên tâm thờ phượng Chúa. Với sự kiện Đức Giêsu phục sinh, Giáo Hội bước sang một giai đoạn mới, như một mùa gặt bội thu.
 
Nhờ sự hiện diện của Đấng Phục sinh, các tông đồ có thể làm phép lạ, như Chúa Giêsu khi Người còn ở trần gian. Toàn dân tuốn đến với các ngài, như trước đây họ tuốn đến với Chúa Giêsu để lắng nghe giáo huấn và xin làm phép lạ. Nhờ khả năng làm phép lạ, uy thế của các tông đồ ngày một tăng thêm. Các tông đồ cũng như mọi tín hữu, đều xác tín rằng, Đấng Phục sinh đang hiện diện giữa cộng đoàn và Người làm nên sức mạnh cũng như sự tăng trưởng của Giáo Hội. Thánh Gioan tông đồ, trong một thị kiến, đã thấy Chúa Giêsu, với lời tuyên bố: “Ta đã chết, và nay Ta sống đến muôn thuở muôn đời…” (Bài đọc II).
 
Đối với một số người khác, vấn đề Đức Giêsu phục sinh đang hiện diện giữa cộng đoàn tín hữu cũng gây những tranh cãi và bất đồng ý kiến. Họ muốn được trực tiếp gặp gỡ Đức Giêsu sau khi Người từ cõi chết sống lại. Tiêu biểu cho những người có tư tưởng này là Tôma. Ông là một trong nhóm Mười Hai được Chúa Giêsu chọn từ ban đầu. Vào ngày Chúa từ cõi chết sống lại hiện ra với các tông đồ, Tôma không có mặt ở đó. Nay ông muốn được kiểm chứng. Ông lên tiếng thách đố phải có những bằng chứng trực tiếp thì mới tin.
 
Thiên Chúa là Đấng quyền năng, nhưng thiêng liêng vô hình. Tin là chấp nhận Chúa hiện diện mặc dù không nhìn thấy bằng con mắt thể lý. Mà thực ra, khi đã kiểm chứng được bằng giác quan thì chẳng cần phải tin. Hai ngàn năm đã qua, rất nhiều người tin vào Đức Giêsu, và nhờ Đức tin mà họ nên hoàn thiện. Tuy vậy, cũng có những người không chấp nhận Đức Giêsu như đối tượng của niềm tin. Có thể họ chỉ coi Người như một nhân vật lịch sử, đã sinh ra và đã chết đi như biết bao vĩ nhân khác. Khi hiện ra với các tông đồ và có mặt ông Tôma ở đó, Chúa Giêsu đã đáp ứng những thách thức của Tôma: “Đặt ngón tay vào đây và hãy nhìn xem tay Thày. Đưa tay ra và đặt vào cạnh sườn Thày. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin”. Tôma đã đạt được điều ông thách thức, nhưng ông không dám kiểm chứng trực tiếp như mong muốn trước đó, kể cả khi có lời gợi ý của Thày mình. Ông chỉ còn biết quỳ gối xuống mà tuyên xưng Đức tin, tôn nhận Người là Chúa và là Thiên Chúa. Đó là lời tuyên xưng Đức tin của một người đã hoàn toàn bị chinh phục. Đó cũng là tâm tình sám hối của một người đã chậm tin những chứng từ của anh em mình.
 
Bầu khí sôi động tưng bừng của lễ Phục Sinh đang dần khép lại. Mọi sinh hoạt của các cộng đoàn tín hữu đang trở lại với nhịp sống bình thường. Sứ điệp của Lễ Phục Sinh có nguy cơ bị coi nhẹ, thậm chí quên lãng nơi nhiều người. Ý thức Đức Giêsu phục sinh đang hiện diện nơi cộng đoàn, mỗi tín hữu hãy mở lòng đón nhận Người và thay đổi cuộc sống, nhờ đó thực sự được sống lại với Đức Kitô. Đức Thánh Cha Phanxicô, trong Thánh lễ Vọng Phục Sinh cử hành tại Rôma tối 26-3-2016, đã mời gọi các tín hữu “Hãy mở toang những nấm mộ đóng kín của chúng ta cho Chúa Giêsu bước vào”. Người Kitô hữu, khi tham dự Lễ Phục sinh, phải để cho ân sủng của Chúa biến đổi cuộc đời. Nơi mỗi cá nhân có những ngôi mộ đóng kín. Đó là sự ích kỷ, giận hờn và mâu thuẫn đối với những chị em xung quanh. Đức Thánh Cha diễn giải thêm: “Chúng ta cũng vậy, cũng như Phêrô và các phụ nữ, chúng ta không thể có được sự sống khi cứ mãi buồn phiền, thất vọng, và trở thành tù nhân của chính mình. Nhưng chúng ta hãy mở toang những nấm mộ đóng kín của chúng ta ra cho Chúa – mỗi người chúng ta đều biết những nấm mộ ấy là gì–, để cho Chúa Giêsu bước vào và ban cho chúng ta sự sống; hãy dâng cho Người những viên đá hận thù và quá khứ của chúng ta, những tảng đá nặng nề của những yếu đuối và vấp ngã. Người muốn đến và đưa tay cho chúng ta để kéo chúng ta ra khỏi mối lo lắng. Nhưng tảng đá đầu tiên phải lăn ra trong đêm nay là sự thiếu niềm hy vọng vốn nhốt kín chúng ta vào chính mình. Xin Chúa giải thoát chúng ta khỏi cái bẫy khủng khiếp của những Kitô hữu không có niềm hy vọng, sống như thể Chúa đã không sống lại, như thể các vấn đề của chúng ta là trung tâm của đời sống”.
 
“Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin”. Chúa Giêsu Phục Sinh đang nói với tôi, với bạn và với mọi tín hữu hôm nay. Xin cho chúng ta có niềm tín thác tuyệt đối nơi Chúa, một niềm tín thác không cần bằng chứng, nhưng nhờ cảm nhận bằng trái tim chân thành, nhờ đó, chúng ta sẽ trở nên những chứng nhân của Chúa Phục Sinh giữa lòng thế giới.

-----------------------------

 

PS 2-ABC428: LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA BIẾN ĐỔI CON NGƯỜI


Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

 

Người ta thấy rằng, nhà tù chỉ có thể lấy đi tự do của một tội phạm, nhưng chưa chắc có thể PS 2-ABC428


Người ta thấy rằng, nhà tù chỉ có thể lấy đi tự do của một tội phạm, nhưng chưa chắc có thể giáo dục và thay đổi được cuộc đời con người. Trong nền giáo dục hiện đại, người ta cũng thấy rằng, hình phạt có thể ngăn chặn một số hành vi sai lỗi, nhưng chỉ có tình thương mới có thể cảm hóa và biến đổi được trái tim con người. Lịch sử cho thấy, Thiên Chúa đã dùng sư phạm của tình yêu để giáo dục và giúp con người biến đổi.

Chúa nhật thứ hai Phục sinh được Đức Thánh Giáo Hoàng JP II chọn là Chúa Nhật của Lòng Thương Xót Chúa, vì các bài đọc trong thánh lễ đã để lại vô số dấu chỉ tình thương của Chúa Phục Sinh dành cho các tông đồ và cho chúng ta. Tin Mừng Gioan thuật lại hai cuộc hiện ra của Chúa Phục Sinh. Cả hai cuộc hiện ra này, Chúa Phục Sinh đã thể hiện tình thương đặc biệt của Ngài đối với các tông đồ.

Lần thứ nhật xảy ra vào buổi chiều ngày phục sinh. Lúc đó, các môn đệ của Chúa sống hoàn cảnh hết sức tội nghiệp, đáng thương. Họ như rắn mất đầu, rơi vào tình trạng mất phương hướng và lo sợ, sống khép kín trong ngôi nhà đóng cửa cài then, không giao du, không tiếp xúc với ai. Tình trạng sống buồn bã ấy không khác gì một cuộc sống tuy còn thở nhưng tâm hồn đã chết vì suy sụp sau cuộc tử nạn của Thầy. Chúa Phục Sinh biết hoàn cảnh của các học trò mình. Vì thế, ngay chiều ngày thứ nhất, Ngài đã hiện ra, đứng giữa các ông. Sự hiện diện này như sự hiện diện của một người cha trước mặt con cái, sự hiện diện có sức an ủi và gia tăng niềm vui, nghị lực sống cho các tông đồ.

Món qùa đầu tiên Chúa Phục Sinh trao tặng cho các tông đồ là lời : Bình an cho các con. Đây không phải là một lời cầu chúc như chúng ta vẫn chúc nhau, nhưng đây thực sự là một tình trạng, một ơn được ban cho các tông đồ để biến đổi tâm hồn và cuộc đời các ông. Chúa Giêsu không hề khiển trách các ông về sự nhát đảm, bỏ trốn hoặc chối Chúa trong cuộc khổ nạn. Ngài đã quên hết mọi đau khổ các ông đã gây ra cho Ngài. Lòng thương xót của Chúa khiến Chúa Phục Sinh không kìm hãm được tình yêu. Ngài cho các tông đồ xem tay và cạnh sườn Người, Người muốn cho các ông tận mắt được nhìn thấy dấu vết yêu thương để có thể cảm nhận được tình yêu tột cùng của Ngài.

Món quà tiếp theo là món quà sự sống mới của Chúa Phục Sinh, đó là món quà Thánh Thần, được trao cho các tông đồ. Ngài thổi hơi và phán : Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Nếu như ngày xưa Thiên Chúa đã thổi hơi vào nắm đất để ban cho Adam sự sống, thì hôm nay, Chúa Phục Sinh đã thổi một hơi thở mới là Thánh Thần vào tâm hồn các tông đồ. Hơi thở này là một cuộc tạo dựng mới, làm nên một thế giới mới, con người mới, sức sống mới cho nhân loại và cho vũ trụ. Từ đây, con người và vũ trụ không còn sống con người cũ nữa, nhưng sống với trái tim mới, với con người mới, con người mang sức sống Phục Sinh.

Kế đến, Chúa Phục Sinh đã thể hiện lòng thương xót, thông cảm đối với những giới hạn, yếu đuối của con người, vì thế, Ngài đã trao cho các tông đồ quyền nhân danh Ngài để tha thứ : Các con tha tội cho ai thì người ấy được tha, các con cầm tội ai, thì tội người ấy bị cầm giữ. Tha thứ là thể hiện sâu xa nhất lòng xót thương của Thiên Chúa là Cha. Đức Thánh Cha Fancis đã khẳng định : Tội lỗi không thể ngăn cản được lòng thương xót của Thiên Chúa và Thiên Chúa không bao giờ mệt mỏi để tha thứ cho con người.

Trao ban cho các tông đồ quyền tha thứ, Chúa Phục Sinh muốn các ông trở thành “hiện thân” của Chúa, thành cộng tác viên, người nối dài lòng thương xót và tha thứ của Thiên Chúa cho đến tận thế. Qua các tông đồ, cái chết và sự phục sinh Chúa không dừng lại, nhưng được tiếp tục trao ban cho nhân loại bằng ơn tha thứ và chữa lành của Thiên Chúa. Như thế, tha thứ là hoa quả lớn lao nhất của cuộc phục sinh mà Chúa Giêsu để lại cho Giáo Hội.

Lần hiện ra thứ hai của Chúa Phục Sinh mang tính cụ thể hơn nữa. Lòng thương xót của Thiên Chúa không chỉ là một tình thương chung chung, nhưng là một tình thương đụng chạm đến từng cá nhân mỗi người. Cuộc hiện ra tám ngày sau, có thể nói là cuộc hiện ra dành riêng cho Tôma, một người muốn kiểm chứng cuộc phục sinh của Chúa bằng kinh nghiệm cá nhân : Nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh, nếu tôi không thọc bàn tay vào cạnh sườn Người, thì tôi không tin.  Chúa Phục Sinh như muốn đáp ứng sự khao khát tìm kiếm dấu chỉ đức tin của Tôma. Vì thế, khi hiện ra, Chúa Phục Sinh đã gọi đích danh ông, cho ông có một cơ hội tiếp xúc, đụng chạm đến Đấng Phục Sinh. Ngài nói với ông : Hãy đặt ngón tay con vào đây và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa bàn tay con ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.

Chúa Phục Sinh đã hết sức yêu thương và kiên nhẫn với học trò của mình. Chúa biết rằng, việc đón nhận mầu nhiệm Phục sinh không phải là điều dễ dàng. Chúa đã cho Tôma được xỏ bàn tay vào cạnh sườn của Chúa để có ông có thể đụng chạm đến trái tim thương tích của Ngài. Chạm vào vết thương của Chúa không phải là chạm vào vết đau mà Tôma được chạm vào tình thương của Chúa Phục Sinh. Một khi chạm vào tình yêu, con người được biến đổi. Khi chạm vào lòng thương xót của Chúa, giống như chạm vào một nguồn suối, từ đó mạch nguồn yêu thương của Chúa tuôn trào trên Tôma. Tôma đã đón nhận lời chứng của các tông đồ trong sự hồ nghi, thì giờ đây, với lòng thương xót của Chúa, niềm tin của ông đã đi đến một xác tín cá nhân : Lạy Chúa tôi ! Lậy Thiên Chúa của tôi.

Tin Mừng Gioan còn ghi lại lời chúc phúc của Chúa Giêsu dành cho chúng ta là thế hệ các tín hữu sau các tông đồ : Phúc cho những ai không thấy mà tin. Chúng ta vẫn đang tiếp tục được đón nhận lòng thương xót và đức tin qua các tông đồ và Giáo Hội. Chỉ khi chúng ta thực sự sống trong sự hiệp thông với các tông đồ, sống trong sự bao bọc của Giáo Hội, chúng ta mới có thể đón nhận được đức tin Chúa phục sinh và có thể dễ dàng đón nhận lòng Chúa thương xót qua Giáo Hội.

Tôma trước đây chưa thể đón nhận được mầu nhiệm Phục sinh, bởi vì ông đã tách lìa khỏi cộng đoàn các tông đồ. Vì một lý do nào đó, khi anh em vẫn tụ tập bên nhau chung quanh Simon, thì Tôma đã không hiện diện. Vì thế, khi anh em nói về việc họ đã được gặp Chúa Phục Sinh, được Chúa trao bình an và quyền thực thi lòng thương xót tha thứ, Tôma đã không thể tin. Chỉ sau khi ông quay trở về với anh em, cùng hiệp thông trọn vẹn với Simon và các tông đồ, ông mới có thể đón nhận được mầu nhiệm Phục sinh. Chỉ khi sống trong sự hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội, Tôma mới có thể cảm nhận được lòng thương xót của Chúa, được đụng chạm đến vết yêu thương của Ngài và đi đến xác tín vào Ngài.

Hôm nay cử hành lòng Chúa thương xót, chúng ta cùng cảm nhận và tuyên xưng rằng, mỗi chúng ta đang được Chúa xót thương. Chúa xót thương và chăm sóc cho mỗi người theo từng hoàn cảnh của họ và cho mỗi người được đụng chạm đến tình thương của Chúa. Tuy nhiên, có thể vì chúng ta đã không gắn bó đủ với Giáo Hội, vì đã đánh mất tình hiệp thông với anh em, nên chúng ta chưa nhận ra lòng xót thương của Thiên Chúa. Qua các biến cố xảy ra cho mỗi người, mỗi gia đình, Chúa cũng cho chúng ta được đặt ngón tay vào lỗ đinh, xỏ bàn tay vào cạnh sườn của Chúa, nhưng chúng ta vẫn nghi ngờ sự hiện diện sống động của Chúa trong cuộc đời của mình.

Qua ơn tha thứ Chúa trao cho Giáo Hội, Chúa thể hiện lòng xót thương, sự kiên nhẫn chờ đợi của Ngài. Ngài luôn cho chúng ta có cơ hội để chúng ta quay về với lòng thương xót tha thứ của Chúa. Đừng bao giờ hồ nghi về sự tha thứ của Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là Cha chúng ta. Đừng bao giờ giới hạn lòng thương xót qủang đại của Thiên Chúa, vì lòng thương xót của Thiên Chúa thì vô bờ, không bao giờ bị giới hạn và không bao giờ cạn nguồn. Bí tích Giải tội là nơi Thiên Chúa mượn thánh vụ và môi miệng của các thừa tác viên của Giáo Hội để nói lời yêu thương, thông cảm, tha thứ của Chúa. Vì thế, đừng bao giờ ngại ngùng hoặc từ chối đến với Bí Tích Xót Thương này.

Xin Chúa cho chúng ta luôn khiêm tốn mở trái tim để đón nhận lòng Chúa xót thương và biến chúng ta thành thừa tác viên lòng thương xót của Chúa cho anh chị em chung quanh. Amen.

------------------------------

 

PS 2-ABC429: ƠN BÌNH AN CỦA LÒNG CHÚA THƯƠNG XÓT


Trầm Thiên Thu

 

Sự bình an luôn là điều cần thiết ở mọi nơi và mọi lúc. Tại sao người ta luôn cần ơn bình an? Vì PS 2-ABC429


Sự bình an luôn là điều cần thiết ở mọi nơi và mọi lúc. Tại sao người ta luôn cần ơn bình an? Vì xã hội bất ổn, vì thế giới chiến tranh, vì tâm hồn bất an, vì gia đình xáo trộn, vì cộng đoàn rắc rối, vì các mối quan hệ rạn nứt, vì con người thiếu tình yêu thương, thiếu lòng thương xót,…

Được bình an hay không là có liên quan sự chọn lựa, mà sự chọn lựa lại có liên quan sự tự do. Thế nào là tự do? Phải chăng tự do là muốn làm gì thì làm?

Thánh GH Gioan Phaolô II có định nghĩa rất thú vị: “Tự do KHÔNG có nghĩa là LÀM điều chúng ta THÍCH, mà là CÓ QUYỀN LÀM điều chúng ta PHẢI LÀM”. Còn Thánh LM Gioan Kim Khẩu nhận định: “Sau khi đặt sự thiện và sự dữ trong khả năng của chúng ta, Thiên Chúa đã ban cho chúng ta QUYỀN TỰ DO để lựa chọn. Người KHÔNG CHẤP NHẬN những gì MIỄN CƯỠNG, nhưng ĐÓN NHẬN những gì TỰ NGUYỆN”. Tự do cũng có giới hạn trong phạm vi hợp lý, tự do phải được hiểu chính xác theo ý Chúa.

Cuộc khổ nạn, sự chết và sự phục sinh của Đức Kitô Giêsu liên quan sự tự do và Lòng Chúa Thương Xót (LCTX). Về nhân tính, Chúa Giêsu cũng sợ uống chén đắng nên Ngài xin Chúa Cha bỏ qua, nhưng Ngài không muốn theo ý Ngài mà muốn tuân phục.

Trên Thánh Giá, Chúa Giêsu là Đấng vô tội nhưng đã bị vu cáo, là Đấng Công chính nhưng đã bị kết án, là Đấng chí thánh nhưng đã bị đày ải, là Vua trời đất nhưng đã bị hành hạ nhục nhã và bị đóng đinh chết tất tưởi, là Con Thiên Chúa toàn năng nhưng đã bị thóa mạ, bị chà đạp và bị từ chối, là Ánh Sáng nhưng đã bị tối tăm vây phủ, là Đấng vô cùng cao sang nhưng đã bị trần truồng tủi hổ, chịu chết treo trên hai miếng gỗ, là Sự Sống nhưng đã phải trút hơi thở cuối cùng, là Sự Chết nhưng cũng chính là Sự Sống Lại.

Và thật là kỳ diệu, “Cây Thánh Giá là hy vọng của Kitô hữu, là sự sống lại của kẻ chết, là sự hướng dẫn cho kẻ mù lòa, là cây gậy cho người què, là sự an ủi cho kẻ nghèo khổ, là sự kềm hãm của kẻ giàu sang, là sự hành hạ đối với kẻ xấu xa, là sự chiến thắng vượt trên ma quỷ, là người chỉ đạo cho thanh niên, là bánh lái cho người vượt sóng, là cửa biển cho người đi xa, là thành lũy cho người bị vây hãm” (Thánh LM Gioan Kim khẩu). Mọi sự hoàn toàn đã thay đổi!

Trình thuật Cv 5:12-16 cho chúng ta biết về phép lạ do quyền năng Thiên Chúa thực hiện qua các Tông Đồ: “Nhiều dấu lạ điềm thiêng được thực hiện trong dân nhờ bàn tay các Tông Đồ. Không một ai khác dám nhập đoàn với họ. Nhưng dân thì lại ca tụng họ. Càng ngày càng có thêm nhiều người tin theo Chúa: cả đàn ông, đàn bà rất đông. Người ta còn khiêng cả những kẻ đau ốm ra tận đường phố đặt trên giường trên chõng, để khi ông Phêrô đi qua, ít ra cái bóng của ông cũng phủ lên được một bệnh nhân nào đó. Nhiều người từ các thành chung quanh Giêrusalem cũng lũ lượt kéo đến, đem theo những kẻ ốm đau cùng những người bị thần ô uế ám, và tất cả đều được chữa lành”.

Trình thuật ngắn gọn nhưng cho thấy đầy đủ các dạng phép lạ như chính Chúa Giêsu đã làm trong ba năm rao giảng công khai. Ngày nay, các phép lạ thực sự cũng vẫn xảy ra qua lời cầu bầu của các tôi trung của Chúa, chẳng hạn ngay tại Việt Nam có LM P.X. Trương Bửu Diệp. Rất nhiều người hàng ngày đến Tắc Sậy để cầu xin ngài nguyện giúp cầu thay, trong số những người đến cầu xin ngài có nhiều người là dân ngoại. Đó là minh chứng hùng hồn và sống động về tôn giáo do chính Đức Kitô Giêsu thiết lập.

LCTX vẫn trải qua từ đời nọ đến đời kia, như lời xác nhận của Đức Maria trong “Bài Ca Ngợi Khen” (Magnificat – Lc 1:50). Tác giả Thánh Vịnh cũng đã minh định: “Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 118:2-4). LCTX bao la và không hề thay đổi. Mỗi người trong chúng ta cũng đã, đang và sẽ đón nhận LCTX. Đó là điều không thể chối cãi hoặc phủ nhận, đơn giản nhất là không khí. Thiếu không khí thì chúng ta không thể sống, không khí loãng hoặc đặc lại một chút thì chúng ta cũng chết chắc!

Đấng Thương Xót bị khước từ nhưng người ta vẫn phải công nhận, người ta hả hê nhạo cười và coi Ngài là thua cuộc nhưng Ngài đã vinh thắng, Ngài bị giết chết nhưng Ngài đã sống lại: “Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường. Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta. Đây là ngày Chúa đã làm ra, nào ta hãy vui mừng hoan hỷ” (Tv 118:22-24).

Chúng ta cũng là những người đồng lõa trong “vụ án Giêsu”, nhưng Đấng Thương Xót vẫn đại lượng tha thứ, coi là chúng ta lầm mà thôi (x. Lc 23:34). Thật là diễm phúc cho chúng ta, vì thế mà chúng ta phải tiếp tục cầu xin: “Lạy Chúa, xin ban ơn cứu độ, lạy Chúa, xin thương giúp thành công. Nguyện xin Chúa tuôn đổ phúc lành cho người tiến vào đây nhân danh Chúa. Từ nhà Chúa, chúng tôi chúc lành cho anh em” (Tv 118:25-26).

Trình thuật Kh 1:9-13. 17-19 nói về thị kiến đầu tiên của Thánh Gioan, người-được-Chúa-yêu. Thánh Gioan đã xuất thần vào ngày của Chúa và nghe đằng sau có một tiếng lớn như thể tiếng kèn, nói rằng hãy ghi điều đã thấy vào sách và gửi cho bảy Hội Thánh: Ê-phê-xô, Xi-miếc-na, Péc-ga-mô, Thy-a-ti-ra, Xác-đê, Phi-la-đen-phi-a và Lao-đi-ki-a. Ông quay lại để xem tiếng ai nói thì thấy bảy cây đèn vàng, ở giữa các cây đèn có ai giống như Con Người mặc áo chùng và ngang ngực có thắt đai bằng vàng.

Thánh Gioan cho biết: “Lúc thấy Người, tôi ngã vật xuống dưới chân Người, như chết vậy”. Nhưng rồi Người đặt tay hữu lên Gioan và động viên: “Đừng sợ! Ta là Đầu và là Cuối. Ta là Đấng Hằng Sống, Ta đã chết, và nay Ta sống đến muôn thuở muôn đời; Ta giữ chìa khoá của Tử thần và Âm phủ. Vậy ngươi hãy viết những gì đã thấy, những gì đang diễn ra và những gì sẽ xảy ra sau này. Đây là ý nghĩa mầu nhiệm của bảy ngôi sao ngươi đã thấy trên tay hữu Ta, và của bảy cây đèn vàng: bảy ngôi sao là các thiên thần của bảy Hội Thánh, và bảy cây đèn là bảy Hội Thánh”. Sự lạ quá đỗi, thật là mầu nhiệm, phàm nhân không thể hiểu nổi. Quả thật, Thiên Chúa toàn năng làm nên mọi sự, biến không thành có. Và tất nhiên Ngài cũng có thể biến có thành không.

Tin Mừng hôm nay cho biết về việc Đức Giêsu hiện ra với các môn đệ (Ga 20:19-31 – tương đương Mt 28:16-20; Mc 16:14-18; Lc 24:36-49).

Vào chiều ngày thứ nhất trong tuần, tức là chiều ngày phục sinh, nơi các môn đệ ở đều đóng kín các cửa, vì các ông sợ người Do Thái. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và chúc bình an cho họ. Nói xong, Ngài cho các ông xem tay và cạnh sườn. Họ rất vui mừng vì được thấy Ngài nhãn tiền. Rồi Ngài nói với họ: “Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy thì Thầy cũng sai anh em”. Nói xong, Ngài thổi hơi vào họ và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai thì người ấy bị cầm giữ”. Họ đầy ơn Chúa Thánh Thần và có thể làm những gì Thầy Giêsu cho phép – tức là cử hành các bí tích nhân danh Ngài.

Lúc đó chỉ có mười môn đệ, không có mặt Tôma, cũng gọi là Điđymô. Các môn đệ khác nói với ông Tôma về việc được diện kiến Thầy-Giêsu-phục-sinh, nhưng ông Tôma không tin: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin”.

Sau đó tám ngày, các môn đệ Đức Giêsu lại có mặt trong nhà, có cả ông Tôma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em”. Rồi Ngài bảo ông Tôma đặt ngón tay vào vết thương ở cạnh sườn, nhìn xem tay Ngài, và bảo ông đừng cứng lòng nhưng hãy tin. Nhãn tiền thấy Thầy, ông Tôma vội thưa: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!”. Có lẽ lúc đó ông Tôma chẳng dám đưa tay ra sờ để kiểm chứng đâu. Sau đó, Đức Giêsu bảo: “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!”. Đó là mối phúc mới. Chúng ta đang thừa kế mối phúc này, thật là hạnh phúc biết bao!

Tin Mừng hôm nay cho chúng ta biết rõ là trong hai lần hiện ra với các môn đệ, Chúa Giêsu đã chúc bình an ba lần. Điều đó cho thấy tầm quan trọng của sự bình an. Và hàng ngày, khi tham dự Thánh Lễ, chúng ta cũng được mời gọi chúc bình an cho nhau.

Thánh Gioan kết luận: “Đức Giêsu đã làm nhiều dấu lạ khác nữa trước mặt các môn đệ; nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép trong sách này. Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em TIN mà được SỰ SỐNG nhờ danh Người”. Như vậy, tin là bí quyết để được thương xót và được cứu độ. Còn Thánh Phaolô cầu chúc: “Xin Thiên Chúa là Cha và xin Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, ban cho bạn được ân sủng, lòng thương xót và sự bình an” (2 Tm 1:2).

Thương xót là một trong Bát Phúc: “Phúc thay ai xót thương người – Bởi vì sẽ được Chúa Trời xót thương” (Mt 5:7). Đây là “bộ tứ” (4T) để sống LCTX: Tín Thác, Thỉnh Cầu, Thương Xót, và Tha Thứ. Hôm nay, ngày Đại lễ LCTX, chúng ta cùng nhau chân thành cầu nguyện: “Jezu ufam Tobie – Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Ngài”. Nguyện xin Máu và Nước chảy ra từ Thánh Tâm Chúa Giêsu tẩy rửa linh hồn của mọi người nên tinh tuyền theo lượng từ bi của Ngài!

Lạy Thiên Chúa giàu lòng thương xót, xin giúp con biết tin nhận Chúa Giêsu là Ngôi Hai Thiên Chúa, biết ẩn náu nơi Thánh Tâm Chúa Giêsu, biết thương xót tha nhân và luôn sẵn sàng tha thứ. Xin ban cho con Ơn Bình An đích thực của LCTX. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Phục Sinh, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

--------------------------------------
Khuôn Mặt Thương Xót: https://www.youtube.com/watch?v=v8Vw4VfEgtY

---------------------------

 

PS 2-ABC430: CHÚA NHẬT 2 PHỤC SINH_C


Lm. Antôn

Ông bà anh chị em thân mến.

 

Sau khi Chúa Giêsu Kitô sống lại Người đã hiện ra nhiều lần, khi thì với người này khi thì với PS 2-ABC430


Sau khi Chúa Giêsu Kitô sống lại Người đã hiện ra nhiều lần, khi thì với người này khi thì với người khác, lúc thì ở chỗ này, lúc ở chỗ kia.  Các bài Tin mừng cho chúng ta biết Chúa Giê-su Kitô hiện ra với các phụ nữ đến thăm mộ Chúa vào sáng sớm ngày Chúa phục sinh, trong đó có bà Maria Mađalêna là người có lòng yêu mến Chúa một cách đặc biệt. Sau khi được thấy tận mắt, và được Chúa trao cho sứ mạng loan báo tin vui mừng phục sinh cho các tông đồ và mọi người, bà đã mau mắn chu toàn. Sau đó, Chúa Giê-su Kitô phục sinh đã hiện ra với 2 môn đệ với tâm trạng chán nản và thất vọng đang trên con đường đi Emmau trở về cuộc sống cũ, vì Chúa, là Thầy của mình đã bị đóng đinh và chết một cách nhục nhã trên thập giá. Nhưng sau đó các ông đã nhận ra Chúa khi Người bẻ bánh trong lúc ngồi chung bàn ăn với các ông trong quán trọ. Tâm hồn các ông được sưởi ấm bởi lời Chúa nên các ông đã trở lại loan báo cho các tông đồ biết về sự kiện các ông đã chứng kiến. Bài Tin mừng hôm nay cho chúng ta biết, Chúa Giê-su Ki-tô hiện đã ra với các tông đồ một lần không có sự hiện diện của Tô-ma. Tám ngày sau đó, khi cửa phòng đóng kín, Chúa Giêsu lại hiện ra với các tông đồ một lần nữa có cả Tôma.  Khi hiện ra với các tông đồ, trước hết Chúa Giêsu Phục sinh đã chúc bình an cho họ, và sau đó đã cho Tô ma và mọi người  thấy những vết thương ở tay và cạnh sườn. Sau khi được nhìn tận mắt, Tô ma đã tin Chúa đã sống lại thật, và quì xuống tuyên xưng:  “Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con.”

Chúa sống lại và hiện ra với các môn đệ nhiều lần qua nhiều hình thức, để thứ nhất minh chứng Người đã sống lại thật; thứ hai, Chúa chịu chết và sống lại là một; và thứ ba củng cố niềm tin cho họ, để họ luôn trung thành và can đảm thi hành sứ vụ rao giảng Tin mừng ơn cứu độ cho muôn dân, cũng như trở thành những chứng nhân cho sự thật, cho Chúa Giê-su, là Con Thiên Chúa và là Đấng Cứu Thế.

Ông bà anh chị em thân mến.  Vì có một niềm tin vững chắc vào Chúa Giê-su Ki-tô Phục sinh, cho nên các tông đồ đã trung thành và can đảm thi hành sứ vụ Chúa trao ban như chúng ta vừa nghe trong bài đọc một.  Họ bác ái và quảng đại, hy sinh và can trường làm chứng cho Chúa, và không nao núng trước những sự vu khống, thù hằn, đe dọa, gian khổ và tù đày, để cùng đồng tâm nhất trí, và chung sức xây dựng Giáo hội mà Chúa Giê-su Ki-tô đã thiết lập.  Đời sống yêu thương và hiệp nhất của họ đã thu hút nhiều người tin vào Chúa và giai nhập Giáo hội càng ngày càng thêm phát triển. Niềm tin vào Chúa Giê-su Phục sinh và ơn Chúa Thánh Thần đã làm cho họ can đảm và làm được nhiều phép lạ như Chúa Giê-su đã làm. Họ nhận biết khả năng tự nhiên của họ giới hạn và quá ít, trước quyền năng của Lời Chúa ảnh hưởng vào sự tiếp nhận của người nghe. Nhưng họ tin có Chúa Giê-su Ki-tô Phục sinh trợ sức, hướng dẫn và đồng hành, để lời rao giảng về Mầu nhiệm Thập giá của họ trở thành thần lực.  Và qua những dấu lạ điềm thiêng kèm theo, lời rao giảng Tin Mừng của họ mới có sức mạnh biến đổi tâm hồn người nghe và chữa lành bệnh tật thể xác.  Các tông đồ đã làm được những việc Chúa Giêsu đã làm nhiều lần ngày xưa, và như vậy, Phêrô và các tông đồ khác bây giờ là hình ảnh và là hiện thân của Chúa Giê-su Ki-tô Phục Sinh.

Vì sự hiện ra của Chúa Giê-su Ki-tô Phục sinh, lòng tin của các tông đồ và đặc biệt là của Tô ma được củng cố. Thế nhưng, như chúng ta vừa nghe, chính Chúa Giê-su Phục sinh đã tuyên bố rằng “Phúc cho những ai đã không thấy mà tin.” Hay nói một cách khác, Chúa Giê-su phục sinh muốn nói với tất cả chúng ta đang hiện diện trong ngôi thánh đường hôm nay “Phúc cho chúng con, tuy chúng con không thấy, nhưng chúng con đã tin vào lời Ta nói Ta là Thiên Chúa, Đấng Cứu Thế, đã chết và đã sống lại thật.”

Ông bà anh chị em thân mến. Có lẽ chúng ta từng nghe người khác nói: “Thấy thì mới tin.”  Điều này có nghĩa là họ không tin vào dù chỉ một lời chúng ta nói, vì tin như thế là nhận biết và tin điều gì họ không thấy.  Không thấy thì không tin.  Nhưng đối với người Ki-tô Công giáo chúng ta, và theo Lời Chúa nói, điều ngược lại thì đúng hơn, vì tin sẽ dẫn tới sự nhìn thấy những điều chúng ta sẽ thấy, đó là vinh quang phục sinh Nước Trời.  Nhưng chúng ta phải tin trước.  Chúng ta phải tin vào lời Chúa nói với chúng ta trước điều Chúa nói chúng ta sẽ thấy sau này.  Chúng ta tin vào điều chúng ta nghe hôm nay vì chúng ta quyết định chọn tin vào Chúa Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa, và Lời Chúa mang lại cho chúng ta ơn sủng bình an và sự sống hạnh phúc đời này và đời sau.

Chúng ta nhận biết một trong những sự thử thách to lớn cho đức tin của chúng ta ngày nay là Bí tích Thánh Thể, là sự hiện diện thật sự của Chúa Giê-su Ki-tô trong Thánh Thể. Chúa Giê-su phán bảo chúng ta “Đây là Mình Thầy… Đây là Máu Thầy.”  Vì chúng ta không thể đặt Thánh Thể Chúa dưới lăng kính hiển vi và khám xét, để xem có thấy Chúa thật sự ở trong đó không, cho nên một số người cho là “Đó chỉ là biểu hiệu thôi.”  Hay “Đây chỉ là một sự nhắc nhở mà Chúa Giê-su làm trong Bữa Tiệc Ly thôi.  Không phải là Mình và Máu Chúa thật.”  Tin mừng và Tông truyền của Giáo hội sơ khai xác tín cho chúng ta biết Bí tích Thánh Thể là chính ý định, và là chính thánh ý của Chúa Giê-su cho chúng ta.  Ngày nay chúng ta có thể giải nghĩa sự lơ là của một số người không tham dự Thánh lễ là vì họ đã mất lòng tin nơi Bí tích Thánh Thể.

Ông bà anh chị em thân mến. Lời Chúa nói với Tô-ma trong bài Tin mừng có thể áp dụng cho chúng ta tham dự Thánh lễ hôm nay trong đức tin “Phúc cho những ai không thấy mà tin.”  Và hôm nay cũng là Chúa nhật kính Lòng Thương Xót của Chúa Giê-su Ki-tô.  Vì lòng thương xót nhân loại, Chúa Giê-su đã chịu những sự thương khó, chịu đóng đinh chân, tay vào thập giá, và chịu lưỡi giáo đâm vào cạnh sườn, để máu và nước tuôn đổ ra trở thành nguồn thương xót cho chúng ta và nhân loại. Tin tưởng vào lòng Thương Xót Chúa, chúng ta sẽ luôn vững lòng tin, vững lòng trông cậy và phó thác nơi Chúa, khi gặp những gian khổ, thử thách, hay khi chúng ta phải đối diện với những khó khăn.  Chúa Giê-su Ki-tô Phục sinh cần chúng ta, và cần nhiều người trở thành những chứng nhân và sứ giả cho lòng thương xót của Chúa trong xã hội ngày nay, để chiến thắng những âm mưu của ma quỉ, và để biến đổi đời sống những người không có đức tin hay nghi ngờ.  Xin Chúa Giê-su Ki-tô phục sinh ban nhiều ơn lành cho tất cả chúng ta, để chúng ta tâm đầu ý hợp, yêu thương và hiệp nhất xây dựng Giáo hội của Chúa, và làm sáng danh Người như các tông đồ xưa.

--------------------------

 

PS 2-ABC431: DẤU CHỈ PHỤC SINH!


 P.Trần Đình Phan Tiến

Vâng, thưa quý vị, thưa các bạn,

 

Cuộc Khổ Nạn của Đức Giêsu – Kitô chính là Dấu Chứng Phục Sinh, bởi vì , nếu không có Dấu PS 2-ABC431


Cuộc Khổ Nạn của Đức Giêsu – Kitô chính là Dấu Chứng Phục Sinh, bởi vì , nếu không có Dấu Chứng Tử Nạn, cụ thể là Năm Dấu Thánh, chưa kể Mão Gai, thì không thể là Chúa Giêsu Phục Sinh được. Vâng, niềm tin hay đức tin cần có hai điều kiện là : Mặc Khải và đáp trả. Thiên Chúa đã mặc khải chính Đức Kitô –Giêsu cho chúng ta, đó là điều kiện tiên quyết, điều kiện nầy đã được biểu lộ nhãn tiền qua Chúa Giêsu. Nhưng, để đưa loài người đến được bến bờ cứu độ, hay là giải thoát, tức mầu nhiệm Phục nhiệm Tử Nạn, vì nếu không “chết” thì không thể “sống lại”, có nghĩa là: cuộc Sinh, có nghĩa là Tái Sinh, để được trường sinh. Mặc nhiên, phải có mầu Tử Nạn của Chúa Giêsu phải xảy ra, phải thực hiện , rồi hoàn tất. Nhưng, cuộc Tử Nạn của Chúa Giêsu chính là điều khởi đầu, là chứng cứ, là dấu chứng Phục Sinh, vì nếu không có Dấu Chứng Phục Sinh, thì không thể là Chúa Giêsu chịu Tử Nạn được.Như thế, cho chúng ta thấy cuộc Tử Nạn của Chúa Giêsu luôn hiện hữu sống động và gắn liền với Mầu Nhiệm Phục Sinh, vì: “Cuộc Khổ Hình sinh ơn cứu độ….” , chứ không phải ơn cứu độ sinh ra cuộc khổ hình .

Vâng, thưa quý vị, Tin Mừng Chúa nhật II Phục Sinh ( Ga 20, 19 -31) hôm nay cho chúng ta ý nghĩa đó. Nhưng, trước hết, chúng ta cùng xem lại Tin Mừng hôm nay có hai phần :

 Phần thứ nhất : Từ câu 19 – 23 . Phần nầy có 03 công việc của Chúa Giêsu:
Một là ban Bình An : Bởi vì, Chúa Giêsu đến với các môn đệ bởi sự Phục Sinh của Người, trong bối cảnh các môn đệ lo sợ người Dothai, vì vậy, không gian mà Chúa Giêsu đến với các môn đệ là các cửa đều đóng kín. Chúa Giêsu ”hiện đến” giữa các ông, và điều đầu tiên là Người chúc bình an. Vâng, không gì có thể, trong lúc nầy mà cần thiết bằng ơn “Bình An”. Bình an nầy là bình an Phục Sinh của Đấng Phục Sinh, mặc nhiên, các ông rất hoảng sợ. Hoảng sợ sự có mặt của Chúa Giêsu trong lúc nầy.Nhưng, nói xong Người cho các ông xem tay và cạnh sườn Người. Các môn đệ vui mừng vì xem thấy Chúa. Như vậy, rõ ràng, chứng cứ Phục Sinh chính là:  “tay và cạnh sườn” của Chúa Giêsu .
Hai là ban Dấu Chỉ Thiên Sai : Người truyền sứ vụ Thiên Sai cho các Tông Đồ: “Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em” .( c 21)
Ba là ban Thánh Thần : Nói xong , Người thổi hơi vào các ông và bảo : “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha, anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ” ( c22)
Theo đó, chúng ta thấy Bí Tích Thêm sức và Bí Tích Hòa Gỉai được bắt nguồn từ đoạn Tin Mừng hôm nay. Như vậy, từ Dấu Chứng Phục Sinh, Chúa Giêsu thiết lập hai Bí Tích Thêm Sức và hòa giải.

  Phần thứ hai : Đức Tin của Tôma , hay là Chúa Giêsu biểu lộ Dấu Chứng Phục Sinh.
Phần thứ hai của Tin Mừng ( Ga 20 , 19 -31) hôm nay cho chúng ta hai ý rõ ràng :

Thứ nhất : Lòng tin của thánh Tôma (c 24 -25)
Như chúng ta biết , thánh Tôma là nhân vật làm chứng cho niềm tin vào Chúa Giêsu, nhưng niềm tin ấy là niềm tin “được nhìn thấy” , niềm tin được nhìn thấy là niềm tin không có công lao gì. Căn cứ vào Lời Chúa Giêsu nói :” Vì anh đã thấy Thầy nên anh tin. Phúc cho những ai không thấy mà tin “ ( c 29 b). Nếu ai tin vào Chúa Giêsu như Tôma, thì muôn đời không có được niềm tin, vì làm sao đòi hỏi như Tôma được. Tin như Tôma là Đức Tin được nhìn thấy, Đức Tin được nhìn thấy thì không cần phải tin, vì nó đã được thấy. Điều ấy thường nghịch với đức tin chân thật, vì bản tính của đức tin gồm hai yếu tố căn bản đó là: Thiên Chúa mặc khải và con người đáp trả . Nói đến mặc khải thường là huyền nhiệm, sự cảm nhận, xác tín qua một biến cố nào đó.

Triển khai đức tin của thánh Tôma chúng ta có mấy ý :

-Một là : Thánh Tôma cũng được mặc khải gián tiếp qua các Tông Đồ, nhưng ngài không tin, ngài đòi hỏi được mặc khải trực tiếp, và chính Chúa Giêsu đã mặc khải cho ngài. Và sự đáp trả của ngài là được nhìn thấy. Như vậy, đức tin được nhìn thấy thì không có công phúc.

-Hai là: Đức tin của thánh Tôma góp phần minh chứng cách hiển nhiên Dấu Chứng Phục Sinh của Chúa Giêsu, và ngài làm chứng về Chúa Phục Sinh theo cách riêng của ngài. Qua thánh Tôma, chúng ta có được một Dấu Chứng Phục Sinh xác đáng, cụ thể, bởi một đức tin hiển nhiên. Vâng, tuy mang tiếng là đức tin Tôma, nhưng, chúng ta cám ơn thánh Tôma đã cho chúng ta một cách tin theo chứng cứ, để cho những ai cứng lòng hơn Tôma cũng phải nhìn nhận.

-Thứ hai: Chúa Giêsu biểu lộ Dấu Chứng Phục Sinh (c 26 – 29)

Việc Chúa Giêsu cho các môn đệ xem tay và cạnh sườn của Người, điều đó nói lên Năm Dấu Thánh qua cuộc Thương Khó Tử Nạn của Người luôn gắn liền với mầu nhiệm Phục Sinh, như là Dấu Chỉ không bao giờ phai của ơn Cứu Độ, hay nói cách khác, nếu không có cuộc Tử Nạn, thì không có Phục Sinh. Rõ ràng Dấu Chứng Phục Sinh chính là dấu chỉ bình an và từ đó phát sinh ra ơn Thánh Thần, ơn tha thứ, ơn thiên sai. Như vậy, cho dù là Chúa Giêsu đã chiến thắng tử thần, nhưng các Dấu Thánh Tích Tử Nạn vẫn hiện diện và là bằng chứng Phục Sinh hiển hiện nhất trong chương trình cứu độ bởi Thiên Chúa

Thánh Vịnh 117 hôm nay cho chúng ta biết, Thiên Chúa rất từ bi nhân hậu, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương. Viên đá mà người thợ xây loại bỏ lại trở nên viên đá góc tường.

Chúa Giêsu chính là Tảng Đá của ơn cứu độ, mà Thiên Chúa Cha đã đặt vào toà nhà cứu độ nhân loại. Chúng ta nhận ra điều gì trong đoạn Tin Mừng hôm nay về Lòng Chúa Xót Thương. Đó là Chúa Giêsu đã mở Tay và Cạnh Sườn của Người cho các môn đệ xem. Điều nầy cho thấy, Thiên Chúa quá yêu thương nhân loại, nỗi đau nơi Dấu Thánh còn đó, nơi phát sinh ơn cứu độ và các Bí Tích từ nơi vết thương của Người phát ra cho chúng ta và vì chúng ta. Vâng, đó chính là LÒNG THƯƠNG XÓT , sự bình an, ban Thánh Thần, sứ vụ sai đi, ơn tha tội, đều từ Dấu Chỉ Phục Sinh mà ra. Mà Dấu Chỉ Phục Sinh là nguồn Thương Xót vô tận bởi chính Chúa Giêsu chảy ra.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã yêu thương nhân loại, một tình yêu vô tận chảy mãi không ngừng, đến độ từng những vết thương nơi bàn tay và chân của Chúa vẫn tuôn ra những dòng Máu ân tình, đồng thời nơi Thánh Tâm Chúa vẫn tuôn ra nguồn suối trường sinh là nguồn bình an đích thực cho chúng con. Xin thương tha thứ những bất xứng tội tình của chúng con qua dòng suối ân tình của Chúa, nơi đó chúng con mới tìm thấy hạnh phúc đích thực ./. Amen.

--------------------------------

 

PS 2-ABC432: SỐNG TIN YÊU


Lm. Jos. DĐH

 

Để phân biệt giữa già xấu, và người trẻ đẹp, thật dễ dàng, ta chẳng cần vận dụng đến trí óc PS 2-ABC432


Để phân biệt giữa già xấu, và người trẻ đẹp, thật dễ dàng, ta chẳng cần vận dụng đến trí óc. Nếu kiểm chứng đâu là bóng dáng, giọng nói, người thân của mình, không ai phải nghe nhìn băng ghi hình đến nhiều lần làm gì. Cuộc sống cho chúng ta cảm nhận: nghi ngờ, giận hờn, hoặc ganh tỵ, chính là hậu quả gây nên rắc rối cho mình, tổn hại đến tình yêu thương mà ta đang có. Đời người đâu phải được ngồi đó mãi để thẩm định : hay dở, chất lượng, kỹ thuật, như công việc của “giám khảo”. Thực ra, mỗi người đều phải năng động, đầu tư, nhằm thể hiện rõ vai diễn của mình như “thí sinh” đang bước vào vòng thi chung kết.

Câu chuyện sống lại từ cõi chết, thường khó được chấp nhận trước những người xa lạ với niềm tin tôn giáo, theo họ, đó chỉ là khái niệm mơ hồ. Đức Giêsu là người thật, đã chết thật, ngoài “tình yêu”, người thân cận, người chỉ biết tìm kiếm hưởng thụ, làm sao họ có thể hiểu Đức Giêsu là Thầy, là Chúa, đã sống lại từ cõi chết ? Theo suy xét tự nhiên, không một ai đáng được nhìn, xem, và thấy Đấng Phục Sinh, vì tất cả đều tội lỗi bất xứng, nếu không phải là tình yêu thương của Đấng sống lại mở lòng trí chúng ta.

Khởi đầu nơi những kẻ đang ôm ấp kỷ niệm từng được nghe, được đồng bàn cùng Đức Giêsu, ít là trong tâm trí họ còn nhớ tới Một Đức Giêsu chưa bị treo thập giá, số nhỏ bé đó tạm gọi là chút tin yêu. Đấng phục sinh đã đi bước trước trong tình yêu, “ngôi mộ trống”, “người mặc áo trắng”, “lời dặn dò” qua các phụ nữ, “người khách lạ” trên đường E-mau… Xưa và nay, Đấng phục sinh vẫn là dấu hiệu của tình thương, ai cũng có cơ hội để tìm gặp, để được lớn mãi trong tình yêu Giêsu.

Chiều ngày thứ nhất trong tuần thật ý nghĩa hôm đó, nơi các môn đệ đang hội họp cầu nguyện, đang thể hiện tình yêu hiệp nhất giữa các anh em huynh đệ. Đức Giêsu phục sinh đến giữa các ông, chào chúc bình an, ban Thánh Thần tình yêu, và ban sứ mạng loan báo Tin Mừng Phục Sinh cho các học trò thân thương ấy. Đấng sống lại từ cõi chết, đã cho các môn đệ nhìn xem chân tay và cạnh sườn, Ngài không hỏi tội, không oán trách các học trò điều gì, thay vào đó là tình yêu và ơn ban. Đấng sống lại còn ban phát nhiều thứ ơn cho các môn đệ, nhưng trên hết và căn bản mà các ông dễ cảm nhận hơn đó là “niềm vui Đấng phục sinh”.

Có những qui luật tự nhiên của tạo hóa, mà người ta không thể không thừa nhận : ớt dù cay vẫn ăn cả vỏ, chuối dù ngọt cũng bỏ vỏ ngoài. Đau khổ thập giá, thật đáng sợ, nhưng vì tin yêu, Đức Giêsu đã uống cạn chén đắng, và đã chiến thắng tử thần. Hạnh phúc đời đời, bao giờ cũng dễ nghe, mọi người đều mơ ước. Nhưng phải cùng đi với Đức Giêsu, vượt qua đau khổ thập giá, mới gặp được Đấng phục sinh, thật khó. Sống trong giầu sang phú quí ở đời này, không phải là không có đau khổ nước mắt, sống trong tin yêu mới là bước khởi đầu theo Đức Giêsu làm môn đệ.

Người xưa có câu : tiếng lành tiếng dữ, đồn xa, tiếng lành tiếng dữ, đồn ba ngày đàng. (ca-dao). Đức Giêsu đã mở mắt người mù, mở tai kẻ điếc, mở miệng kẻ câm, làm cho người què đi được, người chết sống lại. Lẽ nào Đức Giêsu chịu đóng đinh thập giá, chịu mai táng trong mồ, và nay sống lại ra khỏi mồ, dư luận đám đông, chứng nhân Tin Mừng, lại không làm vang vọng khắp địa cầu ? Đức Giêsu đã yêu, và yêu đến cùng trên thập giá, vì thế Đức Giêsu sống lại cũng từ cõi chết vẫn là Đấng yêu thương.

Cho dù người cùng thời và chúng ta hôm nay có khắt khe với ông Tôma, nói ông cứng lòng, lên án ông mau cạn tình cạn nghĩa, Đấng phục sinh vẫn thương ông. Dù Tôma yêu Chúa thật trong lòng, hay trong tim ông yêu Thầy giả dối; hoặc ta không đọc hết được ý của Đấng phục sinh khi nói Tôma hãy nhìn, hãy xem vết thương của Thầy, thì Ngài vẫn là Đấng yêu thương. Khi Đức Giêsu đã vượt qua đau khổ thập giá, làm sao thế lực trần gian ngăn cản được Đấng Kitô phục sinh ?

Đối diện với Đấng sống lại, Tôma chiều hôm đó không dám kiểm chứng, hẳn ông không phải là kẻ mạnh miệng xó bếp, thay vì lời xin lỗi, ông chỉ biết thưa lên : “lạy Chúa tôi, lạy Thiên Chúa của tôi”. Tôma, các môn đệ, các phụ nữ hôm xưa, và tất cả chúng ta hôm nay đều bất xứng tội lỗi giống nhau, Chúa tha thứ và còn tha thứ. Đấng phục sinh ban bình an, ban Thánh Thần cho các tông đồ, tất nhiên còn ban cho cả nhân loại chúng ta. Chúa sống lại, cho các môn đệ gặp gỡ Chúa bằng mắt đức tin và mắt phàm trần; tất cả những ai sống hiệp nhất trong tin yêu, mai sau và ngay lúc này, Chúa vẫn hiện diện bên chúng ta. Amen.

----------------------------

 

PS 2-ABC433: LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA THIÊN CHÚA KHÔNG BAO GIỜ CHẾT


Lm. Giuse Trực

 

Ngày 30/04/2000, trong dịp lễ tuyên thánh cho nữ tu Faustina, môn đệ của Lòng Thương Xót, Đức PS 2-ABC433


Ngày 30/04/2000, trong dịp lễ tuyên thánh cho nữ tu Faustina, môn đệ của Lòng Thương Xót, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã quyết định chọn Chúa Nhật 2 Phục Sinh làm Chúa Nhật kính Lòng Thương Xót. Điều hết sức đặc biệt là 5 năm sau, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II được Chúa gọi về cũng vào đêm trước Chúa Nhật thứ 2 Phục Sinh (02/04/2005). Chín năm sau, cũng vào ngày Chúa Nhật thứ 2 Phục Sinh (27/04/2014), Đức Thánh Cha Phanxicô đã long trọng tuyên thánh cho Ngài cùng với Đức Gioan 23. Có thể nói một cách ngắn gọn: Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II là người thiết lập lễ kính Lòng Thương Xót, qua đời vào dịp lễ kính Lòng Thương Xót và được tuyên thánh cũng vào ngày Chúa Nhật kính Lòng Thương Xót.

15 năm sau ngày thiết lập đại lễ kính Lòng Thương Xót, ngày 11/04/2015, Đức Thánh Cha Phanxicô đã ban hành Tông sắc công bố Năm Thánh ngoại thường về Lòng Thương Xót. Năm thánh này đã được khai mạc trọng thể vào ngày lễ Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội (08/12/2015), và sẽ kết thúc vào ngày lễ Chúa Kitô Vua (20/11/2016)

Nhắc lại một vài thông tin như vậy để chúng ta biết mình đang cử hành lễ kính Lòng Thương Xót trong năm thánh lòng thương xót. Vì vậy hôm nay được xem là “cú đúp” của lòng thương xót. Trong “cú đúp” này chúng ta khám phá lòng thương xót của Thiên Chúa vẫn luôn luôn tồn tại.

I. TỪ THÔNG ĐIỆP PHỤC SINH 2016

Hằng năm, cứ vào đại lễ Phục Sinh, dân chúng khắp nơi mong chờ được nghe Thông Điệp Phục Sinh từ Đức Thánh Cha. Năm nay cũng vậy, lúc 10h15 sáng Chúa Nhật 27 tháng Ba, trước hàng trăm ngàn tín hữu đứng chật quảng trường thánh Phêrô, Đức Thánh Cha Phanxicô đã cử hành thánh lễ Phục sinh. Tiếp theo đó là thông điệp Phục sinh Urbi et Orbi gởi dân thành Rôma và toàn thế giới.

Bắt đầu thông điệp này, Đức Thánh Cha đã nhắc lại lời Thánh vịnh 135: “Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương”. Quả thật, cái chết và sự phục sinh của Đức Giêsu Kitô là bằng chứng về lòng thương xót của Thiên Chúa, và lòng thương xót này tồn tại đến muôn đời. Đức Thánh Cha nói: “Lòng Thương Xót của Thiên Chúa không bao giờ chết. Chúng ta cảm ơn Người đã vì chúng ta mà đã bước xuống những chiều sâu của hỏa ngục”.

Vì vậy, ngày cuối cùng của Tuần Bát Nhật Phục Sinh, trong Năm Thánh Lòng Thuơng Xót này, chúng ta mừng lễ kính Lòng Thương Xót, điều đó cho chúng ta xác tín rằng: “Lòng thương xót của Thiên Chúa không bao giờ chết”, vì “Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương”

II. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Từ các bài đọc lời Chúa hôm nay cho chúng ta thấy được hiện thân của lòng thương xót là Đức Giêsu Phục Sinh đã làm mọi cách cho các môn đệ của mình cũng như cho con người đón nhận được Tin Mừng Phục Sinh và cũng là đón nhận Lòng Thương Xót của Chúa Cha.

Theo tác giả Tin Mừng thứ tư, thì những lần hiện ra, những dấu lạ của Đức Giêsu Phục Sinh: “là để anh em tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để nhờ tin mà được sự sống nhờ danh của Người” (Ga 20, 31). Như vậy, 2 lần hiện ra chỉ cách nhau 1 tuần trong bài Tin Mừng hôm nay cũng không ngoài mục đích là để cho các môn đệ, cách riêng là Tôma tin rằng Đức Giêsu Kitô đã sống lại để cho họ được sống đời đời. Đó chính là ơn cứu độ, là Lòng Thương Xót của Thiên Chúa dành cho họ, và từ họ đến với mọi người.

Cũng chính nhờ quyền năng của Đức Kitô Phục Sinh mà “nhiều dấu lạ điềm thiêng đã được thực hiện trong dân, nhờ bàn tay của các Tông Đồ” (Cv 5, 12). Chính vì vậy mà “càng ngày càng có thêm nhiều người tin theo Chúa” (Cv 5, 14).

III.  LÒNG THƯƠNG XÓT KHÔNG BAO GIỜ CHẾT

“Lòng Thương Xót của Thiên Chúa không bao giờ chết”. Chúa làm mọi cách để nhân loại được biết đến tình yêu thương, sự chăm sóc… ơn cứu độ mà Ngài đã dành cho chúng ta, thậm chí như lời của Đức Thánh Cha Phanxicô trong thông điệp Phục Sinh: “vì chúng ta mà Ngài đã bước xuống những chiều sâu của hỏa ngục”. Chiều sâu của hỏa ngục ở đây, Đức Thánh Cha đã phân tích: “Trước những hỏa ngục tinh thần và đạo đức của nhân loại, trước những địa ngục đang mở tung ra trong các tâm hồn và kích động hận thù và cái chết, chỉ có một lòng thương xót vô hạn mới có thể mang lại cho chúng ta sự cứu rỗi. Chỉ có Chúa mới có thể lấp đầy những địa ngục này bằng tình yêu của Người, ngăn cản chúng ta khỏi rơi vào đó và giúp chúng ta tiếp tục cuộc hành trình cùng nhau hướng về vùng đất của tự do và sự sống”.

Lòng thương xót của Thiên Chúa không bao giờ chết. Lòng thương xót của Thiên Chúa vẫn đang hành động trong vũ trụ vạn vật và cuộc đời của mỗi người chúng ta.

IV.  LÒNG THƯƠNG XÓT VẪN ĐANG HIỆN DIỆN

Qua sự thông cảm, tha thứ, và mở cửa.
Những ngày gần đây, trên các phương tiện truyền thông có nhiều tin tức liên quan đến vụ một nghệ sĩ hài khá nổi tiếng ở Việt Nam bị bắt tại Mỹ vì một tội danh cũng khá nhạy cảm. Với tội danh này, anh ta phải đối mặt với bản án 4-5 năm tù giam, hoặc số tiền chuộc lên đến hàng triệu USD. Nhiều người lên tiếng chê bai, chỉ trích, có người còn cho rằng đáng tội… Tuy nhiên cũng có những người lên tiếng thông cảm cho diễn viên hài này, trong đó có một nghệ sĩ đã viết: “Đã là con người, ai cũng có tật xấu… Cùng là người với nhau, hãy cho nhau chút tình người… Tha thứ cho người có lỗi và cho họ con đường sống……. Thay vì bôi nhọ danh dự người khác, tại sao các nhà báo không kêu gọi sự tha thứ và giúp đỡ khi người Việt bị nạn trên xứ người… Đồng thời cũng dạy cho người có lỗi biết sai mà sửa sai… và cho giới trẻ 1 bài học của sự khoan dung… Hãy là những nhà báo có Lương Tâm…Tôi thấy thương anh ta hơn là ghét bỏ anh ta…”

Đúng vậy, chúng ta thích kết án người khác, chúng ta cười hả hê khi thấy người khác có tội, chúng ta sẵn sàng cầm đá ném họ để loại trừ sự xấu ra khỏi cuộc sống chúng ta… Chúng ta quên rằng chính chúng ta cũng là kẻ có tội, và có khi tội chúng ta còn nặng hơn người khác, nhưng nhờ những lý do nào đó mà tội lỗi và sự xấu xa của chúng ta chưa được đem ra ánh sáng, chưa được phơi bày.

Đứng trước tội lỗi của nhân loại, Đức Giêsu đã vác lấy, đưa lên cây thánh giá, và nhờ sự phục sinh của Ngài, tội lỗi của nhân loại đã được tẩy xóa. Đứng trước sai lỗi của mỗi người, Đức Giêsu đã tha thứ và mời gọi họ hãy sửa đổi: “Tôi không kết án chị đâu, chị hãy về và từ nay đừng phạm tội nữa”.

Từ đó Đức Thánh Cha Phanxicô đã mời gọi chúng ta: “Mọi người có tội đã được tha, thì được kêu gọi chia sẻ với tất cả anh chị em của mình đang còn tìm kiếm ơn này, bởi tất cả chúng ta như nhau, đều cần đến lòng thương xót Chúa. Ơn tha thứ làm sạch trái tim và biến đổi đời sống”. Lòng thương xót của Chúa vẫn đang hoạt động qua sự tha thứ liên lỉ cho chúng ta. Hơn thế nữa, nhờ sự Phục Sinh của Chúa, ơn tha thứ này còn có sức mạnh để giúp chúng ta quyết tâm chừa bỏ những tội lỗi của mình.

Qua việc để con người được tự do lớn lên
Lòng thương xót của Chúa còn được thể hiện qua việc tôn trọng tự do của người khác. Ông Tôma đòi đụng chạm đến những vết thương của Chúa mới tin Ngài sống lại. Chúa đã sẵn sàng cho ông làm việc đó. Chỉ một yếu tố đó thôi cũng đủ để thấy lòng thương xót của Chúa không bắt người ta phải lệ thuộc mình, nhưng sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của họ.

Ở chỗ khác, khi Đức Giêsu và các môn đệ của Ngài đi ngang qua thành Samaria, dân làng không đón tiếp các Ngài, Giacôbê và Gioan đòi “khiến lửa từ trời xuống thiêu hủy chúng nó”, Đức Giêsu không cho và còn quở mắng các ông. Ngài khó chịu trước thái độ bắt người khác phải giống mình, phải lệ thuộc mình. Ngài dẫn con người đến sự thật toàn vẹn, nhưng nếu con người không muốn đi theo con đường đó, Ngài cũng không ép buộc. Lòng Thương Xót của Chúa ở chỗ để con người được trưởng thành hơn, được lớn lên mỗi ngày. Ngài chấp nhận những vấp váp, những té ngã của con người, nhưng qua đó, họ nhận ra chỉ có Thầy mới “là đường, là sự thật và là sự sống”.

Lạy Chúa, con cám ơn Chúa vì lòng thương xót của Chúa vẫn dành cho con hôm qua, hôm nay và như vậy mãi đến muôn đời. Lòng Thương xót vẫn hằng thông cảm, tha thứ, và không ngừng mở ra con đường sống cho con. Xin cho con cũng biết thông cảm cho những sai lỗi của người khác, để mở ra cho họ con đường sống. Lòng thương xót của Chúa vẫn luôn tôn trọng tự do và để con lớn lên hằng ngày trong ơn sủng Chúa. Xin cho con biết để những người sống chung với con được lớn lên trong tự do của họ. Trên hết mọi sự xin cho con nhớ rằng: Con không phải là Thiên Chúa. Vì vậy con không có quyền ngăn cản lòng thương xót của Chúa.

------------------------------

 

PS 2-ABC434: HÃY TRỞ THÀNH HIỆN THÂN CỦA LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA


Huệ Minh

 

Sau biến cố tử nạn của Thầy mình, các tông đồ tìm đến với nhau để ở lại với nhau trong sự an PS 2-ABC434


Sau biến cố tử nạn của Thầy mình, các tông đồ tìm đến với nhau để ở lại với nhau trong sự an ủi nhau khi bơ vơ tất bạt vì mất Thầy. Và cũng vì sợ người Do Thái truy lùng như trang Tin Mừng hôm nay thuật lại mà các tông đồ tụ họp trong phòng lầu tại Giêrusalem, đóng cửa và gài chốt bên trong.

Các ông tụ họp nhau lại cầu nguyện để an ủi, nâng đỡ nhau sau cảnh tang thương bi đát trước cuộc tử nạn của Thầy mình,. Bỗng nhiên Ðức Giêsu hiện ra trước mắt các ông để củng cố đức tin gần như bị tàn lụi của các ông.

Tin mừng thuật lại hai lần Đức Giê-su Phục Sinh hiện ra với các môn đệ để củng cố niềm tin của các.

Lần thứ nhất (c 19-25): vào buổi chiều sau khi sống lại, Chúa Phục Sinh đã hiện đến đứng giữa các môn đệ đang hội họp mà không có Tôma. Người cho các ông xem các vết thương nơi bàn tay và cạnh sườn để chứng minh Người đã sống lại sau cuộc tử nạn, rồi thổi hơi ban Thánh Thần và trao quyền tha tội cho các ông.

Lần thứ hai (c 24-29): Tám ngày sau, Chúa Giê-su lại hiện ra với các môn đệ và có Tôma. Người đặc biệt đáp ứng các đòi hỏi của ông. Rồi khi ông đã đạt đến đức tin, thì Người dạy: “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!”.

Riêng có ông Tôma lại tách rời ra khỏi các bạn đồng chí hướng. Do đó đức tin của ông đã bị dập tắt: Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào vết đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi nhất định không tin (Ga 20, 25). May phúc cho ông là chính Ðức Giêsu lại đích thân hiện ra để phục hồi đức tin của ông. Lúc này ông kêu lên: Lạy Chúa của con. Lạy Thiên Chúa của con (Ga 20, 28).

Tôma là người cứng tin, nhưng sau khi đã được gặp gỡ Chúa và đã cảm nghiệm về sự phục sinh của Người, ông đã đạt tới một đức tin sâu xa và vững mạnh nhất, thể hiện qua lời tuyên xưng đức tin : “Lạy Chúa của con. Lạy Thiên Chúa của con !” (Ga 20, 28). Ngang qua Tôma, Chúa Giêsu chúc phúc cho các tín hữu sẽ tin theo Người sau này như sau: “Vì đã trông thấy Thầy, nên con tin. Phúc thay người không thấy mà tin”.

Ngày nay, dẫu rằng không ai trong chúng ta được gặp Chúa Phục Sinh, không trực tiếp nghe lời nói của Người, cũng không được ăn uống tiếp xúc với Người như các Tông đồ xưa, nhưng đức tin của chúng ta sẽ có phúc nếu chúng ta tin vào lời rao giảng của các Tông đồ là những chứng nhân đức tin, là những người không dễ tin nhưng đã từng cảm nghiệm về mầu nhiệm phục sinh như ông Tôma trong Tin Mừng hôm nay.

Do đó, cùng với thánh Grêgôriô chúng ta có thể nói: “Ngón tay đa nghi của Tôma đã trở nên ông thầy của toàn thế giới ; bàn tay đa nghi của Tôma đã dạy cho mọi người một sự thật chắc chắn, đó là thân xác Đức Giê-su Kitô thực sự đã sống lại”.

Trong đời sống thường nhật, ta cần biểu lộ đưc tin bằng việc làm như cầu nguyện, dự lễ, hi sinh, bác ái. Nếu là thiên thần, người ta không cần biểu hiệu. Là loài người có xác, người ta cần biểu lộ đức tin bằng những cử chỉ đạo hạnh như qùi gối, chắp tay, cúi đầu… để khơi dạy tâm tình đạo đức bên trong. Người ta cũng cần những biểu hiệu như tượng ảnh đạo treo trong nhà, hay trong phòng để nhắc nhở cho mình về sự hiện diện của Chúa, Mẹ Maria và các thánh.

Thế giới ngày nay quá nhiều người hoài nghi và không tin tưởng vào Tin Mừng Phục Sinh. Cách thức duy nhất làm cho họ được ơn biến đổi trong lòng tin là làm sao để họ có thể “nhìn thấy” Đức Giêsu và “đụng chạm“ vào Người qua con người nhân bản của các tín hữu, qua lời nói thân thiện lễ độ và lối ứng xử khiêm tốn phục vụ vị tha của chúng ta.

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã nói: “Người thời nay không thích nghe các thầy dạy, mà chỉ thấy các chứng nhân; và giả sử như người ta có thích nghe các thầy dạy, thì các thầy dạy đó trước tiên phải là những chứng nhân”.

Hôm nay cũng là lễ kính “Lòng Thương xót của Chúa” mà Đức Gioan-Phaolô II đã thiết lập ngày 30-4-2000. Chúng ta hãy nhớ đến hình ảnh Đức Giêsu từ bi thương xót do thánh Faustina Kowalska để lại: Người mặc y phục trắng, bàn tay phải ban phép lành, bàn tay trái vén mép áo ngực, từ đó thoát ra các tia sáng xám và đỏ, tượng trưng Bí tích Thánh Thể và Bí tích Rửa Tội. Đức Giêsu là hiện thân Lòng Thương Xót của Thiên Chúa. Chúng ta hãy cùng với thánh nữ Faustina Kowalska thưa với Người rằng: “Lạy Chúa Giêsu, con xin tín thác vào Người !”

Chúng ta hãy trở thành hiện thân của Lòng Chúa thương xót qua lối sống hiệp nhất, chia sẻ nâng đỡ nhau, sẵn sàng tha thứ cho nhau.

--------------------------------

 

PS 2-ABC435: SỐNG SỨ MỆNH NHẬN TRAO LÒNG THƯƠNG XÓT


Dã Quỳ

 

Hôm nay chúng ta mừng Đại Lễ Kính Lòng Thương Xót của Chúa trong chính Năm Thánh Lòng PS 2-ABC435


Hôm nay chúng ta mừng Đại Lễ Kính Lòng Thương Xót của Chúa trong chính Năm Thánh Lòng Thương Xót. Điều này giúp chúng ta sống trong hân hoan vui mừng và cảm nhận sâu hơn về Lòng Thương Xót của Thiên Chúa dành cho chúng ta qua Chúa Giêsu Kitô là dung nhan Lòng Thương Xót của Chúa Cha. Đồng thời ta cũng được mời gọi sống sứ mệnh của lòng thương xót như Thiên Chúa và như Chúa Giêsu đã truyền dạy.

Lòng Thương Xót – đó là chạnh lòng thương với những khổ đau, những phận người yếu hèn tội lỗi. Như người mẹ đầy tình yêu luôn cảm thông, ôm ấp tất cả những đứa con của mình dù chúng lành lặn hay thương tích. Thiên Chúa đã thể hiện lòng thương xót đối với con người ở tột đỉnh khi Ngài luôn “Nhẫn nại và từ bi, giàu ân nghĩa và thành tín.” (x. Xh 34,6) Lòng Thương Xót của Chúa luôn cụ thể như cha mẹ xót thương con cái mình. Với dọc dài lịch sử cứu độ mà chúng ta đã thấy rõ trong Cựu Ước, Thiên Chúa luôn kiên nhẫn trước những bất trung, yếu đuối của dân Ngài, Chúa chạnh lòng thương, ủi an, nâng đỡ, chữa trị, băng bó, giải thoát…(x. Tv 103.146.147) Lòng thương xót ấy đến từ sâu thẳm của trái tim và thể hiện với lòng cảm thông, trìu mến, khoan dung và tha thứ.

Lòng Thương Xót – đó là tha thứ không tính toán. Qua Chúa Giêsu, lòng xót thương tha thứ của Thiên Chúa đã có một khuôn mặt rõ ràng “Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn.”( Lc 5,32) Lòng thương xót của Chúa đã thể hiện cho Giakêu trong ánh nhìn và lời ngỏ Chúa đến nhà ông – nhà người tội lỗi (x. Lc 19, 5-7) và “Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất.”(Lc 19,10) Ánh mắt đầy tình yêu thương xót của Chúa cũng đã hướng về Matthêu để tha thứ và chọn ông theo Chúa dù ông là một tội nhân. Hơn thế nữa, qua dụ ngôn con chiên lạc, đồng bạc mất tìm thấy và người cha nhân hậu, chúng ta càng thấy rõ bản tính của Thiên Chúa thể hiện như một người cha đầy nhẫn nại và xót thương “Sẽ không bao giờ bỏ cuộc nếu như trước đó đã không tha thứ hết mọi tội lỗi và vượt lên trên sự khước từ với cảm thông và lòng xót thương.”( ĐTC Phanxicô) Lòng xót thương của Chúa mạnh hơn sự chết, thắng vượt tất cả mọi rào cản và dạt dào trong tim cho đến nỗi dù cận kề cái chết, Chúa Giêsu vẫn cầu xin Chúa Cha tha thứ cho những kẻ giết Người: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.”(Lc 23,34)

Lòng Thương Xót – đó là sống Bí tích Hòa Giải, Bí tích của sự tha thứ. Lòng Thương xót của Thiên Chúa Cha được biểu lộ trên dung nhan của Chúa Giêsu. Lòng Thương Xót là trung tâm mầu nhiệm đức tin của Kitô hữu. Mỗi người chúng ta được mời gọi bước vào trong mầu nhiệm đức tin với lòng tin tưởng và niềm vui “Nhân danh Chúa Kitô, chúng tôi nài xin anh em hãy làm hòa với Thiên Chúa.”( 2Cr 5,20) Thế nhưng ngày hôm nay, nhiều người đã coi thường và bỏ Bí Tích Hòa Giải, không còn có tâm tình sám hối! Nhất là người ta đã mất lòng tin vào Bí Tích Hòa Giải do không còn cảm thức về tội, thiếu tình yêu và giảm sút niềm tin đối với Thiên Chúa và lòng thương xót của Ngài. Lòng kiêu ngạo đã ngăn chúng ta đến xưng tội với một Linh mục dù ta vẫn biết rằng ngài đã lãnh nhận quyền tha tội từ Hội Thánh mà chính Chúa Giêsu đã ban: “Anh em tha tội cho ai, thì tội người ấy được tha.”( Ga 19, 23) Linh Mục thi hành sứ vụ không bằng danh của ngài nhưng nhân danh Chúa Kitô, Đấng muốn chúng ta được hạnh phúc, được cứu độ, được tràn đầy niềm vui và sự thanh thản.

Làm sao chúng ta có thể sống tốt bí tích chữa lành nội tâm và lớn lên trong đời sống thiêng liêng nếu ta không nhận biết tội lỗi của mình cũng như những thiếu sót về tình yêu làm cho chúng ta xa lìa Thiên Chúa và tha nhân? Chúa Kitô không nhìn chúng ta qua những tội lỗi khi ta xưng thú, nhưng Người nhìn chúng ta với tình yêu “Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy.”( Ga 15,9) Lòng thương xót của Chúa đã biểu lộ trọn vẹn trên cây Thánh giá “Vì Người phải mang những vết thương mà anh em đã được chữa lành.”( 1Pr 2,24) Vậy chúng ta hạnh phúc được đón nhận vòng tay xót thương mở ra từ bí tích Hòa Giải bởi vì tất cả đã được trao ban cho chúng ta: Linh mục, sự tha thứ, ơn xá giải, lòng sám hối. Tất cả là ân huệ nhưng không Chúa dành cho ta.

Đến với Bí tích Hòa Giải, chúng ta xác tín rằng Lòng nhân từ xót thương của  Thiên Chúa thì mạnh mẽ và lớn hơn những yếu hèn tội lỗi của ta. ĐTC Phanxicô đã nhắc chúng ta “Bí tích Hòa giải không phải là một buổi tra tấn, một tòa án nhưng là ‘sự gặp gỡ với Chúa Giêsu và ở đó người ta đụng chạm vào lòng  trìu mến của Người.” Và Ngài cũng nhắn nhủ với các Linh mục giải tội cần phải trở thành dấu chỉ thực sự của Lòng thương xót Chúa, “Trái tim một Linh mục có khả năng được đánh động và mủi lòng… Là thầy thuốc và quan tòa chữa lành và giải án. Nhiệm vụ của Linh mục là ban sự sống mới của Chúa Phục Sinh một cách quảng đại cho anh chị em trong Bí Tích Hòa Giải.”(ĐTC Phanxicô) Chính vì thế, với lòng tin tưởng, chúng ta hãy đặt mình vào trung tâm của Bí tích Hòa giải vì qua Bí tích, chúng ta được chạm tay vào sự lớn lao vô cùng của Lòng Thương Xót Chúa và chúng ta sẽ đón nhận được nguồn suối ân sủng, bình an thực sự trong tâm hồn và khám phá ra ý nghĩa cuộc sống Kitô hữu của chúng ta.

Chúa Kitô Phục Sinh sai các Tông đồ “Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em.” ( Ga 19, 21) Hôm nay đến lượt chúng ta, Chúa cũng mời gọi ta sống và loan báo Lòng Thương Xót của Chúa. Bởi vì Lòng thương xót là tiêu chuẩn mà nhờ đó người ta nhận ra chúng ta thực sự là con cái Thiên Chúa. Chúng ta hãy mở lòng mình ra với những khốn cùng của thế giới và những vết thương đau đớn của anh chị em. Tất cả những cử chỉ, hành động và lời nói của chúng ta cần trở nên thấm đẫm Lòng Thương Xót. Hãy sống cụ thể lòng thương xót qua việc không ngừng yêu thương tha thứ như lời mời gọi của Đức Thánh Cha cho toàn Hội Thánh:”Giáo Hội sẽ không bao giờ trở nên mệt mỏi trong việc giới thiệu Lòng Thương Xót và Giáo Hội luôn kiên nhẫn trong sự ủi an và tha thứ.”( M.Vultus số 25)

Lạy Chúa Giêsu, dung nhan nhân hậu của Chúa Cha, chúng con cảm tạ Lòng Thương Xót vô biên của Chúa đã dành cho chúng con. Xin cho chúng con khi đã lãnh nhận Lòng Thương Xót và ơn Tha thứ của Chúa, chúng con cũng biết không mệt mỏi chia sẻ, trao tặng lòng xót thương tha thứ cho anh chị em mà chúng con gặp gỡ. Amen

--------------------------

Tác giả: Nguyễn Văn Mễn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Báo công giáo
http://www.giaoxugiaohovietnam.com/
Chuyen ke cho cac gia dinh
Chuyện kể cho các gia đình
Giáo phận long xuyên
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây