Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 7 TN-A Bài 1-50 Hãy yêu kẻ thù

Thứ năm - 20/02/2020 10:51
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 7 TN-A Bài 1-50 Hãy yêu kẻ thù
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 7 TN-A Bài 1-50 Hãy yêu kẻ thù
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 7 TN-A Bài 1-50 Hãy yêu kẻ thù
TN7-A1: TRẢ ĐŨA.. 2
TN7-A2: Sự công chính của các môn đệ phải vượt hẳn. 5
TN7-A3: THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU.. 9
TN7-A4: SỐNG BẰNG YÊU THƯƠNG.. 11
TN7-A5: Yêu kẻ thù để tha thứ. 14
TN7-A6: CÁC NGƯƠI HÃY NÊN TRỌN LÀNH.. 17
TN7-A7: Tha thứ kẻ thù (RW) 19
TN7-A8: Trở nên con cái Chúa. 21
TN7-A9: Tình yêu vượt ra khỏi mối hỗ tương. 23
TN7-A10: Giơ má kia ra chăng?. 24
TN7-A11: Yêu kẻ thù. 26
TN7-A12: Chúng ta có tiến bộ tí nào không?. 28
TN7-A13: Yêu kẻ thù là thánh. 29
TN7-A14: Chú giải của Noel Quesson. 32
TN7-A15: Chú giải của Fiches Dominicales. 36
TN7-A16: Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt 40
TN7-A17: ĐỪNG BÁO THÙ.. 46
TN7-A18: Hãy Nên Trọn Lành Như Cha Trên Trời 48
TN7-A19: Có phải không thể yêu kẻ thù?. 52
TN7-A20: NÊN HOÀN THIỆN NHƯ CHA TRÊN TRỜI 53
TN7-A21: Yêu Thương Trọn Hảo. 55
TN7-A22: Sống Chữ Nhẫn. 56
TN7-A23: Khôn Ngoan Tìm Được Viên Ngọc Quý. 58
TN7-A24: Hãy Yêu Tha Nhân Như Chính Mình. 60
TN7-A25: HÃY YÊU THƯƠNG KẺ THÙ.. 64
TN7-A26: Chúa Là Ai Con Không Quen?. 72
TN7-A27: ĐỪNG XEM NHAU LÀ KẺ THÙ.. 74
TN7-A28: Chúng Ta Luôn là Con Người 77
TN7-A29: YÊU KẺ THÙ” LÀ CHÂN LÝ TÌNH YÊU CỦA CHÚA.. 79
TN7-A30: PHẢI YÊU KẺ THÙ, NHƯNG.. 81
TN7-A31: SỐNG BẰNG YÊU THƯƠNG.. 84
TN7-A32: YÊU THƯƠNG THA THỨ.. 90
TN7-A33: Có thể thật lòng yêu kẻ thù ?. 91
TN7-A34: YÊU KẺ THÙ – YÊU ĐỒNG LOẠI 92
TN7-A35: CHÚA GIÊ-SU DẠY CHÚNG TA.. 95
TN7-A36: HÃY THA THỨ, ĐỪNG BÁO THÙ.. 97
TN7-A37: Yêu thương tha nhân không giới hạn. 99
TN7-A38: Hãy sống yêu thương và nên trọn lành. 103
TN7-A39: “HÃY YÊU KẺ THÙ VÀ LÀM ƠN CHO HỌ”. 105
TN7-A40: YÊU KẺ THÙ ĐỂ NÊN HOÀN THIỆN.. 109
TN7-A41: Muốn làm con cái Chúa, chúng ta phải yêu kẻ thù. 115
TN7-A42: Lòng bao dung - Lm. Ignatiô Trần Ngà. 117
TN7-A43: CHÚA NHẬT 7 TN A.. 119
TN7-A44: YÊU KẺ THÙ ĐỂ NÊN HOÀN THIỆN.. 124
TN7-A45: THA THỨ.. 128
TN7-A46: YÊU THƯƠNG THÙ ĐỊCH - KHÔNG DỄ CHÚT NÀO.. 131
TN7-A47: LUẬT CỦA TÌNH YÊU TOÀN THIỆN.. 133
TN7-A48: Suy niệm của Lm. Anthony Trung Thành. 134
TN7-A49: Yêu "kẻ thù" như thế nào đây?. 137
TN7-A50: Yêu thương kẻ thù. 140

 

TN7-A1: TRẢ ĐŨA

Mt 5,38-48
A. Hạt giống...
 

Đoạn Tin Mừng này gồm hai bài học : 1. Chúa Giêsu bàn về việc trả đũa (cc 38-42) : - Khuynh: TN7-A1

Đoạn Tin Mừng này gồm hai bài học :
1. Chúa Giêsu bàn về việc trả đũa (cc 38-42) :
- Khuynh hướng tự nhiên là muốn trả đũa, và trả đũa thì thường nặng hơn mức người ta gây cho mình : “Hòn đất ném đi hòn chì ném lại”.
- Cựu Ước hạn chế sự trả đũa đúng với mức thiệt hại người ta gây cho mình : “Mắt đền mắt, răng đền răng”
- Phần Chúa Giêsu, Ngài dạy hoàn toàn không trả đũa.
2. Chúa Giêsu dạy cách đối xử với những kẻ thù ghét mình (cc 43-48) :
- Khuynh hướng tự nhiên là thù ghét kẻ thù ghét mình.
- Cựu Ước cũng không có khoản luật nào dạy yêu thương kẻ thù
- Còn Chúa Giêsu thì dạy : a/ hãy yêu thương kẻ thù ; b/ hãy làm ơn cho kẻ ghét mình ; c/ hãy cầu nguyện cho họ.
B.... nẩy mầm.
1. Không trả đũa, đó không phải là thái độ của kẻ yếu, mà ngược lại đó chính là thái độ của kẻ mạnh. Chỉ người nào rất mạnh mới chế ngự được khuynh hướng trả đũa vốn nằm sẵn trong lòng mình. Người đó còn mạnh về tình thương nữa, vì chỉ có một tình thương rất mạnh mới vẫn tiếp tục yêu thương và không trả đũa kẻ đã xúc phạm mình.
2. Đời nước Tề, có một người nằm mơ thấy có người đem gươm vào nhà ông mắng chửi rồi giận dữ bỏ đi. Ông ta giật mình tỉnh dậy... nhưng không tài nào ngủ lại được nữa. Sáng hôm sau ông nói với một người bạn : Từ thuở nhỏ tới giờ, tôi vốn là người trí dũng. Đến nay 80 tuổi tôi chưa hề bị ai làm nhục. Thế mà đêm qua có người đến làm nhục tôi. Tôi cảm thấy bứt rứt và cố tìm cho gặp được người đó, bằng không tôi phải chết mất.
 Thế là ngay sáng hôm ấy, ông cùng người bạn đi tìm kẻ thù đã khiêu khích mình. 5 ngày trôi qua nhưng ông vẫn chưa tìm được kẻ thù. Tức tối vì bị kẻ thù làm nhục, hậm hực vì không tìm được kẻ thù, ông ta về nhà mất ăn mất ngủ mà chết.
 Cicéron diễn giả Lamã đã nói ”Con người là kẻ thù khủng khiếp nhất của chính mình”. Đúng thế, con người tự tạo cho mình kẻ thù rồi tự tiêu diệt chính mình.  (Trích ”Món quà giáng sinh”)
3. “Anh em đã nghe Luật dạy rằng : Mắt đền mắt, răng đền răng. Còn Thầy, Thầy bảo anh em : đừng chống cự với người ác ; trái lại, nếu bị ai vả má bên phải thì hãy giơ cả má bên trái ra nữa.” (Mt 5,38-39)
Trong trận bóng chung kết tuần vừa qua của trường, tôi tham gia thi đấu cho khoa của mình. Trận đấu diễn ra trong sự vui vẻ và đoàn kết.
Đến phút 20 của hiệp I,  tôi ghi được một bàn thắng. và giây phút đó, trận đấu trở nên sôi nổi hơn nhưng cũng không thiếu sự thô bạo.
Tôi sớm trở thành nạn nhân. Một cái đạp từ phía sau, do cố ý, làm tôi gục xuống. Tuy đau nhưng tôi vẫn gượng cười và tiếp tục thi đấu. Hiệp I gần hết, sự “không may” một lần nữa lại đến với tôi bằng cú lên gối-ngực của chính kẻ đã đạp tôi lần trước. Thế là tôi phải ra sân.
Trận đấu kết thúc với tỉ số 1-1. Người ấy đã đến gặp tôi và xin lỗi.
Chúa ơi, nếu con vì đau mà trả thù ngay trên sân thì ắt sẽ không có sự nhận lỗi và xin lỗi này. Và hận thù sẽ tiếp nối hận thù phải không Chúa ? Con cám ơn Chúa đã giúp con thắng được chính mình. Xin cho con luôn nhớ rằng : “Bạo động chỉ gây thêm bạo động. Chỉ có tình yêu mới mang lại tình yêu.” (Hosanna)
4. Phim ảnh thường kể những chuyện báo thù, coi việc báo thù là bổn phận thiêng liêng : con báo thù cho cha, chồng báo thù cho vợ, anh em báo thù cho nhau, bạn bè báo thù cho nhau v.v. Nhưng gần đây, ngay cả những phim mang nội dung báo thù ấy cũng dẫn đến một ý tưởng kết thúc là báo thù không giải quyết được vấn đề, càng báo thù thì thù càng gia tăng chồng chất. Nghĩa là lương tri con người đã ý thức rằng báo thù không phải là một nghĩa vụ thiêng liêng nhưng là một thảm họa.
5. Trong ngôn ngữ của kitô hữu không nên có tiếng “kẻ thù của mình”, vì kitô hữu không được thù ai cả, chỉ có tiếng “những kẻ thù ghét mình” thôi. Và sứ mạng kitô hữu là cải hóa những người ấy.
Chúa Giêsu dạy ta 3 cấp độ đối xử với họ : yêu thương - làm ơn - cầu nguyện. Nếu ta chưa yêu thương được thì cố gắng lấy ơn báo oán - Nếu như vẫn chưa làm thế được thì tối thiểu hãy cầu nguyện cho họ.
6. Có hai người kia đều bị tên bắn. Người thứ nhất bình tỉnh và nhẹ nhàng nhổ mũi tên ra, băng bó vết thương, vài ngày sau khỏi hẳn. Người thứ hai tức giận, nhổ mũi tên ra nhưng cầm lấy đâm túi bụi vào mình mẩy của mình, đã thế, khi gặp những người thân anh còn đâm họ bị thương nữa.
 Mũi tên chính là lời công kích của kẻ khác. Người khôn cư xử như người thứ nhất, nghe xong bỏ đi. Kẻ dại cư xử như người thứ hai cứ lặp đi lặp lại lời công kích đó và còn thuật đi thuật lại cho những người thân, làm cho bản thân mình và người thân thêm đau đớn vô ích.
7. “Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em” (Mt 5,44)
Có lẽ bạn và tôi đã có lần cảm nghiệm được niềm vui và nỗi đau của sự tha thứ khi tha và được tha.
Thật vậy, chỉ một thoáng vô tình tôi đã có thể trở nên một đối tượng xấu xa trong cái nhìn của tha nhân. Tâm hồn tôi sẽ ra sao, khi bị nhìn bằng đôi mắt lạnh lùng, xa cách, khinh bỉ ?... Và có lần, tôi cũng đã nhìn tha nhân bằng đôi mắt ấy.
Chỉ trong sự Tha Thứ, tôi mới có thể hoạ lại nơi bản thân mình cái nhìn “cảm hoá” của Đức Kitô. Một cái nhìn không chỉ dừng lại ở việc giao hoà, mà còn đi sâu vào lòng người, xoá tan mọi ấn tượng, mặc cảm tội lỗi nơi họ. Một cái nhìn tha thứ đến mức tuyệt đối :”Bảy mươi lần bảy” (Mt 18,22)
Lạy Chúa Giêsu ! xin ban cho con một tâm hồn quảng đại, Một con tim tràn đầy yêu thương, một cái nhìn khoan dung nhân hậu ; để con luôn biết cảm thông thay cho chấp nhất, tha thứ thay cho kết án, yêu thương thay cho thù hận, đem niềm vui nâng đỡ hy vọng, xóa tan nỗi buồn tuyệt vọng đơn côi ; và để trong mọi nơi mọi lúc, cả trong lúc nhục nhã đớn đau vì tha nhân, con vẫn bình tĩnh và can đảm thưa được như Chúa : “Lạy Chúa ! Xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34) (Hosanna)
8. Dick và Dorothy là hai chú bé luôn bị một chú nọ to con bắt nạt. Hai chú tức mà không làm gì được. Ngày nọ, hai chú đọc đoạn Tin Mừng kể chuyện Phêrô hỏi Chúa : “Khi anh em xúc phạm đến con, thì con phải tha bao nhiêu lần  ? có phải 7 lần không ?"-"... Không phải 7 lần, mà là 70 lần 7.” Dick làm tính nhẩm  : “Vậy là Chúa bảo tha 490 lần.” Hai đứa thinh lặng một lúc, rồi Dorothy nói : “Ta hãy mua một cuốn vở, mỗi khi tha cho hắn, mình ghi vào.” Và Dick reo lên : “Sau lần thứ 490, tụi mình sẽ cho hắn biết tay !" (Góp nhặt)
9. Mầm khác :

 

TN7-A2: Sự công chính của các môn đệ phải vượt hẳn

Matthêu 5, 38-48
Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Mắt đền mắt răng đền răng. Còn Thầy, Thầy bảo anh em: đừng chống cự người ác, trái lại, nếu ai vả má bên phải, thì hãy giơ cả má bên trái ra nữa. Nếu ai muốn kiện anh để lấy áo trong của anh, thì hãy để cho nó lấy cả áo ngoài. Nếu có người bắt anh đi một dặm, thì hãy đi với người ấy hai dặm. Ai xin, thì hãy cho; ai muốn vay mượn, thì anh đừng ngoảnh mặt đi.
Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù. Còn Thầy, Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em. Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính. Vì nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì anh em nào có công chi? Ngay cả những người thu thuế cũng chẳng làm như thế sao? Nếu anh em chỉ chào hỏi anh em mình thôi, thì anh em có làm gì lạ thường đâu? Ngay cả người ngoại cũng chẳng làm như thế sao? Vậy anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.
 

Chúa Giêsu đã nói đến sự công chính của các môn đệ Ngài phải vượt hẳn sự công chính của giới: TN7-A2

Chúa Giêsu đã nói đến sự công chính của các môn đệ Ngài phải vượt hẳn sự công chính của giới luật sĩ và biệt phái, phân đoạn Phúc Âm này nói lên đặc điểm của đời sống người kitô hữu cùng hành vi của người môn đệ Chúa Kitô khiến họ khác hẳn người thế gian.
Chúa Giêsu khởi sự bằng cách trích dẫn luật lệ cổ nhất thế gian: mắt đền mắt, răng đền răng, luật ấy gọi là Lex Talionis (luật báo trả). Nó xuất hiện trong bộ luật cổ nhất gọi là luật của Hammurabi, vị hoàng đế trị vì Babylon từ năm 2285-2242 TC. Luật Hammurabi phân biệt cách đối xử kỳ lạ giữa người quí phái và công nhân: nếu một người gây cho người quí phái mất con mắt thì người ấy sẽ phải mất một mắt. Nếu người ấy làm thương tật người quí phái thì người ta sẽ làm thương tật người ấy. Nếu người ấy làm cho người nghèo mất một mắt hoặc phá hoại một tứ chi của người nghèo, người ấy phải trả 1 mina bạc... Nếu người nào làm cho người ngang hàng gãy răng, thì người ta cũng làm cho người ấy rụng lại một răng. Nếu người nào làm một người nghèo gãy một răng thì người ấy phải trả một phần ba mina bạc! Nguyên tắc thật rõ ràng và rất đơn giản: nếu ai làm cho người khác bị thiệt hại điều gì thì người ấy bị thiệt hại tương đương.
Luật đó trở thành một phần nhỏ của đạo đức Cựu Ước. Trong Cựu Ước luật ấy được đề cập không dưới 3 lần: "Còn nếu có sự thiệt hại chi, thì ngươi sẽ lấy mạng đền mạng, lấy mắt đền mắt, lấy răng đền răng, lấy tai đền tai, lấy chân đền chân, lấy phỏng đền phỏng, lấy bầm đền bầm, lấy thương đền thương" (Xh 21,23-25). "Khi một người nào làm thương tích cho kẻ lân cận mình, thì người ta phải làm thương tích cho người đó lại như chính người đó đã làm, gãy đền gãy, mắt đền mắt, răng đền răng. Người ta sẽ làm cho người ấy đồng một thương tích như người ấy đã làm cho người khác" (Lev 24,19-20). "Mắt ngươi chớ có thương xót, mạng đền mạng, mắt đền mắt, răng đền răng, tay đền tay, chân đền chân" (TL 19,21). Những luật này thường được trích dẫn như là những luật không thương xót, man rợ, khát máu của Cựu Ước, nhưng trước khi chỉ trích Cựu Ước thì cần chú ý vài điều:
1. Luật báo trả không những không phải luật khát máu và man rợ, mà chính là khởi đầu của sự thương xót. Mục đích nguyên thủy là để hạn chế sự báo thù. Trong thời Thái cổ, mối tử thù và cừu địch là đặc điểm của xã hội bộ lạc. Nếu người ở bộ lạc này làm hại người ở bộ lạc khác, tức thì toàn thể bộ lạc có người bị hại liền xông vào báo thù toàn thể bộ lạc có người gây hấn, và sự báo thù họ mong muốn là giết chết kẻ thù. Vì thế, luật này có ý hạn chế việc báo thù. Luật qui định chỉ người gây thương tích mới bị hình phạt và hình phạt không được thái quá, mà chỉ tương đương với sự thiệt hại mà người ấy đã gây ra mà thôi. Như vậy, đặt trong bối cảnh lịch sử của nó thì đây không phải là luật man rợ mà là luật của sự nhân từ.
2. Hơn nữa, luật này cũng không cho phép cá nhân thi hành, chính quan án phải ấn định hình phạt và khoản phạt do sự báo thù qui định (Xh 19,18). Luật này cũng không cho cá nhân nào quyền tự trả thù dù chỉ là một cái tát. Luật bao giờ cũng là một hướng dẫn cho quan án trong việc khoản phạt cho bất cứ  hành động bất công hay vũ phu nào.
3. Lại nữa, luật này không bao giờ, ít nhất trong xã hội bán khai, được thực hiện theo nghĩa đen. Các nhà luật học Do thái đã tranh biện rất đúng đắn rằng sự thực hành theo nghĩa đen có thể là đối nghịch với công lý, vì hiển nhiên nó bao gồm sự thay thế một mắt tốt hoặc một răng tốt cho một mắt xấu và một răng xấu. Nên về sau sự thiệt hại được định theo giá tiền và luật Do thái (Baba Kamaa) đã ấn định cẩn thận cách đánh giá sự thiệt hại. Nếu một người gây thương tổn cho người khác thì phải chịu trách nhiệm về năm điều kiện: về thương tích, về đau đớn, chữa lành, mất thời giờ, mất phẩm giá. Về sự tổn hại (thương tích) thì dùng người nô lệ  bán tại thị trường làm tiêu chuẩn. Một người nô lệ trước khi bị thương tích đó giá bao nhiêu , sau khi bị thương tích đó giá bao nhiêu, người gây nên thương tích phải bồi thường theo giá sai biệt đó. Về sự đau đớn, người ta ước định với bao nhiêu tiền thì một người chịu đau đớn về thương tích sẽ chấp nhận và người gây nên vết thương sẽ phải trả số tiền ấy. Về sự chữa lành, người gây thương tích phải trả mọi phí tổn thuốc men cần thiết cho đến chừng lành hẳn. Về sự mất thời giờ thì phải trả đúng với số tiền lương người ấy bị thiệt hại trong suốt thời gian không làm việc được. Nếu người bị thương có đồng lương cao trước đấy, về sau vì vết thương mà phải làm việc ít lương hơn thì cũng phải được bồi thường. Về sự mất phẩm giá, người gây nên thương tích phải trả những phí tổn cho sự hạ nhục và mất thanh danh do vết thương đã gây nên. Loại bồi thường mà luật trả báo (lex talionis) thiết định rất là tiến bộ.
4. Điều quan trọng cần nhớ là luật Trả Báo không phải là toàn thể đạo đức của Cựu Ước. Trong thời Cựu Ước có những nét chấm phá của lòng thương xót:Chớ toan báo thù, chớ giữ sự báo thù cùng con cháu dân mình (Lev 19,18),nếu kẻ thù con có đói hãy cho ăn, có khát hãy cho nó uống (Cn 25,21), chớ nên nói: tôi sẽ làm cho hắn như hắn đã làm cho tôi (Cn 24,29). Như vậy trong Cựu Ước đã có nhiều lòng thương xót.
Vậy, đạo đức thời cổ xưa căn cứ trên luật ăn miếng trả miếng. Thật ra đây là luật lòng thương xót dành cho quan án chứ không phải dành cho cá nhân và không bao giờ luật này được thi hành theo nghĩa đen, nhưng luôn luôn mang âm hưởng của lòng thương xót. Dầu vậy Chúa Giêsu đã phá bỏ chính nguyên tắc của luật đó vì sự báo thù dù có được hạn chế và kiểm soát kỹ đến đâu cũng không có chỗ đứng trong đời sống người kitô hữu.
Vậy, đối với người kitô hữu, Chúa Giêsu hủy bỏ luật lệ cũ và báo thù để giới thiệu tinh thần mới không oán hận, không báo thù. Ngài tiếp tục lấy 3 thí  dụ của tinh thần Kitô giáo trong thực   tiễn.Hiểu những thí dụ này theo nghĩa đen thiển cận, hẹp hòi thì hoàn toàn sai lạc. Bởi vậy rất cần hiểu rõ điều Chúa Giêsu muốn nói:
1. Ngài phán:"nếu ai vả má bên hữu ngươi, hãy đưa luôn má bên kia". Ở đây ý nghĩa không phải chỉ như thế, không phải chỉ là cái vả trên mặt. Giả định một người thuận tay mặt đứng trước mặt người khác và muốn vả má bên phải của người ấy thì phải làm cách nào? Trừ phi người ấy xoay mình và vặn tay hết sức thì mới đánh được, bằng không chỉ có thể vả bằng tay trái. Theo luật các rabi Do thái: tát trái sỉ nhục gấp hai lần tát bằng lòng bàn tay. Búng tay hoặc tát trái mang ý nghĩa ngạo mạn, khinh bỉ và sỉ nhục gấp đôi. Vậy điều Chúa Giêsu muốn phán ở đây là: dù có ai muốn trút vào anh những lời nhục mạ thậm tệ hơn hết, anh cũng không được vì đó mà báo thù, cừu hận. Việc có người tát vào mặt chúng ta, dầu có cũng thật hiếm hoi, nhưng trong cuộc sống, chúng ta lại thường gặp những điều sỉ nhục lớn hoặc nhỏ. Ở đây Chúa Giêsu phán rằng: người kitô hữu chân chính đã học tập không vì bị hạ nhục và cừu hận, không vì một sự xấc láo mà trả thù. Chính người ta đã gọi Chúa Giêsu là kẻ ham ăn uống. Ngài cũng được gọi là bạn với những kẻ thâu thuế và phường đĩ điếm với hàm ý rằng Ngài cũng giống như những kẻ xấu đó. Những tín hữu đầu tiên bị gọi là quân ăn thịt người, là những kẻ đốt nhà, bị cáo là dâm loạn, thô lỗ, trơ trẽn vì sự thờ phượng của họ bao gồm cả bữa tiệc yêu thương.
Thường trong một cộng đoàn, có người cảm thấy hoặc cho rằng mình bị sỉ nhục vì không được mời làm công việc nọ công việc kia, hoặc giữ chức vị họ cho là đáng được. Kitô hữu chính là người quên hẳn việc bị hạ nhục, người đã học từ Chúa mình là chấp nhận mọi sự sỉ nhục mà không đem lòng hận thù hoặc tìm cách báo thù.
2. Chúa Giêsu tiếp tục dạy:"Nếu ai muốn kiện ngươi để lột áo trong, hãy cho họ luôn áo ngoài nữa". Thêm một lần nữa, ở đây ý nghĩa phong phú hơn là hiểu theo nghĩa đen. Áo trong là áo dài giống như cái bao làm bằng vải bông hoặc vải gai mặc ở trong. Người nghèo nhất cũng có áo trong để thay đổi. Áo ngoài là thứ áo lớn, giống như cái mền mặc ở ngoài mà đàn ông thường mặc như áo dài ban ngày và ban đêm thì dùng làm mền. Loại này người Do thái chỉ có một cái. Thật ra luật Do thái cho phép cầm cái áo trong làm tin chớ không được cầm áo ngoài. "Nếu ngươi cầm áo ngoài của kẻ lân cận làm tin thì phải trả cho nó trước khi mặt trời lặn, vì là đồ che thân, mền để ngủ. Nếu người ấy kêu đến Ta, Ta sẽ nghe, vì Ta là Đấng hay thương xót" (Xh 22, 26-27). Không bao giờ được quyền tước đoạt áo ngoài của người khác. Do đó, điều Chúa Giêsu muốn phán ở đây là: người kitô hữu không bao giờ tranh biện về quyền hạn pháp lý, phải coi mình như không có quyền hạn pháp lý nào cả. Có những người luôn luôn bám vào quyền lợi của mình, luôn nắm lấy đặc quyền mình thụ hưởng không cho ai đụng đến, và sẵn sàng kiện chứ không để ai xâm phạm. Ngay trong Hội Thánh cũng luôn có những người như thế. Những người như thế chưa thực sự biết Kitô giáo là gì. Kitô hữu không nghĩ đến quyền lợi nhưng nghĩ đến bổn phận, không nghĩ đến đặc quyền nhưng nghĩ đến trách nhiệm của mình. Kitô hữu là người đã quên hẳn quyền lợi riêng, và người nào liều chết để tranh đấu cho quyền lợi của mình, dù ở trong hay ngoài Hội Thánh thì còn cách xa đường lối Kitô giáo nhiều lắm!
3.Tiếp theo, Chúa Giêsu còn đi xa hơn nữa:"Nếu ai bắt ngươi đi một dặm đường, hãy đi với nó hai dặm". Đây là bức tranh chúng ta ít biết vì nó phát xuất từ một xứ bị chiếm đóng. Chữ "bắt" ở đây có một lịch sử, xuất phát từ người đưa thư. Người xưa có một hệ thống bưu  điện hơi lạ. Mỗi con đường chia thành nhiều chặng, mỗi chặng dài một ngày đường. Tại mỗi trạm đều có lương thực cho người đưa thư, nước và cỏ khô cho ngựa, và ngựa mới để lên đường. Nhưng, nếu chẳng may còn thiếu món nào thì bất cứ một tư nhân nào cũng có thể bị chỉ thị phải cung cấp thức ăn, nơi ở, ngựa, cùng sự trợ cấp, thậm chí chính mình đem sứ điệp đi một dặm đường.
Cuối cùng chữ đó có nghĩa là một sự trưng dụng vào công tác phục vụ quền lực chiếm đóng. Dân của một xứ bị chiếm đóng có thể bị bắt buộc cung cấp lương thực, chỗ ở, mang hành lý. Đôi khi quyền lực chiếm đóng trưng thu một cách tàn bạo và không thương xót. Mọi hình thức đe dọa, áp bức luôn luôn treo trên đầu người dân. Palestine là một xứ bị trị, bất cứ lúc nào người dân Do thái cũng có thể thầy mũi giáo La mã kề cổ và biết rằng mình phải phục vụ người La mã theo phận tôi đòi, như Simon người Syrênê khi vác thập giá của Chúa Giêsu .
Dường như Chúa Giêsu muốn bảo: Giả thử các ông chủ đến cùng ngươi và bắt buộc ngươi phải hướng dẫn hoặc khuôn vác đi một dặm, thì đừng đi một dặm với hậm hực, cay đắng, hãy đi hai dặm với nhã nhặn vui vẻ! Điều Chúa muốn dạy là: Đừng luôn nghĩ về sự tự do của ngươi muốn làm gì tùy ý, hãy luôn nghĩ về bổn phận và đặc ân được phục vụ kẻ khác. Khi một công việc đè nặng trên vai ngươi, dù là công việc vô lý, đáng ghét, đừng làm như một bổn phận cực chẳng đã, nhưng hãy làm cách vui vẻ. Bao giờ cũng có hai cách làm việc: làm ở mức độ tối thiểu không thêm gì, có thể làm để chứng tỏ mình thù ghét công việc, hoặc có thể làm với một nụ cười, một sự nhã nhặn thanh cao, với sự quyết tâm không phải chỉ xong nhưng còn làm tốt và đẹp. Người ta có thể làm không phải chỉ vì phải làm, mà còn làm hơn điều người ta mong đợi. Công nhân không làm đúng mức, người đầy tớ để tâm oán hận, người giúp việc cộc cằn... thì chưa khởi sự có ý niệm đúng về cuộa đời kitô hữu . Người kitô không quan tâm tới việc được làm theo ý mình, chỉ quan tâm tới sự phục vụ, dù đòi hỏi phục vụ đó có vô phép, vô lý và độc đoán.
Vậy những lời giáo huấn này phải đặt trong khung cảnh của bức tranh linh động ở Đông phương. Chúa Giêsu thiết định qui luật quan trọng: kitô hữu không bao giờ cừu hận hoặc tìm cách báo thù sự sỉ nhục nào, dầu đó là một sỉ nhục có tính toán và độc ác đến đâu. Kitô hữu không bao giờ bám vào quyền hạn, cả quyền hạn pháp lý lẫn quyền hạn mình nghĩ mình đương nhiên được hưởng. Kitô hữu không bao giờ nghĩ đến quyền làm theo ý mình nhưng bao giờ cũng nghĩ đến bổn phận cứu giúp.
Vấn đề là: chúng ta đạt đến mức nào trong những tiêu chuẩn đó?

 

TN7-A3: THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU

“Hãy yêu thương kẻ thù”
 

Thiên Chúa phán cùng Moisê rằng: "Ngươi hãy nói cho toàn thể Cộng đồng cơn cái Israel: Các: TN7-A3

Thiên Chúa phán cùng Moisê rằng: "Ngươi hãy nói cho toàn thể Cộng đồng cơn cái Israel: Các ngươi hãy nên thánh, vì Ta là Đấng thánh, là Thiên Chúa của các ngươi".
Thiên Chúa là Đấng siêu việt, là Đấng Thánh. Không có một tì ố, một vế nhơ, như dòng nước trong veo, bầu trời trong sáng tuyệt đẹp. Và Ngài bày tỏ quyền năng và vinh hiển khi Ngài tạo dựng, giải phóng cũng như khi Ngài sát phạt và tha thứ. Tiên tri Isaia như bị chết ngộp khi được cảm nghiệm sự thánh thiện Thiên Chúa trong đền thờ, và tiên tri Ôsê kêu lên: "Đấng Thánh đang ở giữa anh em" (11, 9).
Thiên Chúa muốn cho chúng ta nên thánh, nghĩa là chúng ta phải rửa sạch vết nhơ của Lề luật bên ngoài mà phải thực thi đức công chính, vâng lời và yêu thương (Nhị Luật 6, 4-9), một sự thánh thiện trong mọi bối cảnh sống trong gia đình cũng như ngoài xã hội. "Hãy nên thánh như Ta là Đấng Thánh, Thiên Chúa của các ngươi".
Trong Đạo cũ, người Do Thái thượng tôn đền thờ, “Đền thờ của Thiên Chúa là thánh. Ai xúc phạm tới Đền Thánh thì Thiên Chúa sẽ huyl diệt người ấy”. Trong Đạo mới, Chúa Giêsu tự ví mình là đền thờ hiện diện giữa loài người (Gn 1, 4; 2,19) . Thánh Phaolô trong bài đọc II, còn đi xa hơn nữa, Người nói Kitô hữu là đền thờ của Thiên Chúa, một đền thờ thiêng liêng, và Giáo hội cũng là Đền thờ do Chúa Kitô xây dựng (1Con 3, 10-17) , trong đó người Do thái cũng như dân ngoại đều được mời vào như thành phàn nhiệm thể Chúa. Đừng ai cho mình là khôn ngoan, là đồ đệ Phaolô, Kêpha hay Apollô, nhưng “Anh em tất cả thuộc về Đức Kitô và Đức Kitô thuộc về Thiên Chúa ".
Trên tất cả, Thiên Chúa là anh yêu. Chúa Giêsu đến dể đem lại một tình yêu bác ái gạn lọc mọi nhơ bẩn, mọi lớp vỏ bao quanh như tình máu mủ, dân tộc, gia đinh, quốc gia, lễ giáo chật hẹp. Người xưa bảo: "Mắt đền mắt, răng đền răng”,  người ta xúc phạm mình mức nào, mình có quyền ăn miếng trả miếng, đối xử với họ như họ đã đối xử.
Còn Chúa, Chúa không dạy lấy sự dữ đối lại sự dữ. Chúa dạy lấy sự lành đối vớ sự dữ và hơn thế phải làm sự lành hơn mức đòi hỏi: "Thấy bảo các con: đừng chống cự lại kẻ hung ác, trái lại, nếu ai vả má bên phải của con hãy đưa má bên kia cho nó nữa... Ai xin thì con hãy cho, ai muốn vay mượn, con đừng khước từ”. Chúa có ý nói rằng đức bác ái không có biên giới, không phát xuất từ xác thịt mà từ một tâm hồn yêu mến Thiên Chúa, yêu mến đến từ bỏ mình, đến hy sinh.
Việc hy sinh lớn lao hơn cả là hy sinh tính tự ái của mình, là tha thứ cho kẻ làm nhục ta, là tha thứ cho kẻ thù. Xưa nay, chưa có một đạo giáo nào dạy tha thứ cho kẻ thù. Chúa phán: "Các con nghe dạy rằng: ngươi hãy yêu thương anh em ngươi và thù ghét kẻ làm hại ngươi. Còn Ta, Ta bảo các con: hãy yêu thương kẻ thù”
Người Do thái quan niệm anh em là người đồng hương hay người cảm rinh với đạo. Đối với Chúa Giêsu, anh em là tất cả, làngười Samaritanô, là ngước ngoại bang, là người lạc đạo nữa (Lc 10, 29-37). Chúa biết trái tim con người có thể vượt tính tự ái, mở rộng trái tim và vòng tay đề ôm ấp cả kẻ thù.
Chúa đã tha thứ cho kẻ giết mình, "lạy Cha, xin tha cho chúng" (Lc 23, 3). Khó thật nhưng Chúa ban cho kẻ thật lòng xin ơn biết tha thứ.
Văn hào Henrv Bordeaux kể: Ngày kia, motc nhóm thợ thuyền 20 người được Giáo hoàng Piô XII đến thăm và trò chuyện thân mật. Bỗng có một người thợ quỳ xuống và nói: "Thưa Đức Thánh . Cha đây là cuốn sách con đọc điều dữ và đây là... con dao con muốn ám hại Đức Thánh Cha, con xin lỗi Ngài. " Đức Piô trả lời:"Con ơi, Chúa chúc lành cho con như cha" (lmages  romaines, plon, tre 279)
Lạy Chúa, xin dạy chúng con biết yêu thương thù địch. Làm  lành cho kẻ ghét và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ và vu khống chúng con..., để chúng con nên trọn lành như Cha trên Trời.

 

TN7-A4: SỐNG BẰNG YÊU THƯƠNG

GỢI Ý GIẢNG
1. Thế nào là thánh?
 

Trong các bài đọc hôm nay, chúng ta nghe được hai lời kêu gọi nên thánh như Thiên Chúa: TN7-A4

Trong các bài đọc hôm nay, chúng ta nghe được hai lời kêu gọi nên thánh như Thiên Chúa: "Các người hãy nên thánh, vì Ta là Đấng Thánh" (bài đọc I); "Các con hãy nên trọn lành như Cha các con ở trên trời là Đấng trọn lành" (Bài Tin Mừng).
Thánh là thế nào?
Người ta thường hình dung vị thánh là một người khổ hạnh, xa lánh thế gian, chuyên chăm đọc kinh cầu nguyện... Vì hình dung như thế, người ta ngưỡng mộ các  vị thánh nhưng không thích làm thánh.
Bài đọc I và bài Tin Mừng hôm nay hình dung vị  thánh một cách rất dễ thương, dễ thích: Thánh là người cố gắng giống Chúa. Mà vì Chúa là tình yêu cho nên  thánh là người sống yêu thương, chẳng những yêu thương  những người thân cận với mình, mà còn yêu thương cả những kẻ thù ghét mình.
Một vị thánh như thế, ai mà không thích? Hình ảnh  một vị thánh như thế, ai mà không muốn trở  thành? Và những người thánh như thế, xã hội nào mà không cần đến?
2. "Mắt đền mắt, răng thế răng”. 
Toàn văn của khoản luật trả đũa được ghi trong sách Xuất hành (Xh 21,24) như sau: "Mắt đền mắt, răng đền răng, tay đền tay, chân đền chân, phỏng đền phỏng, bầm đền bầm, sưng đền sưng”.  Mục đích của khoản luật này là tuy cho phép trả đũa nhưng giới hạn sự trả đũa đúng mức bị gây hại: kẻ thù làm mình hư một mắt, mình có thể trả đũa làm cho nó hư lại một mắt (không được hai, nó đánh mình bầm, mình có thể đánh nó bầm lại. (không được hơn)
Một điều đáng buồn là ngay trong thời đại Tân ước này, nhiều người chẳng những chưa giữ được giới hạn tối thiểu của luật Cựu ước mà còn tệ hơn thế nhiều. Họ  sống theo luật "Hòn đất ném đi, hòn chì ném lại". Hãy nhìn tình hình xung đột bên Trung Đông giữa Palestine và Israel; một người của bên này bị bắn tỉa chết là liền, sau đó một làng của bên kia bị máy bay bên này ném  bom. Trên bình diện nhỏ hơn hai đứa trẻ đánh nhau  kéo theo hai gia đình xung đột với nhau; khi hai người  cãi nhau, người này chửi một câu thì người kia đáp lại ba câu; người này nói "Cha mầy" thì người kia đáp lại "Tổ tiên sư mầy"...
Làm thế nào để chấm dứt xung đột? Cách giải quyết "Mắt đền mắt răng đền răng" rất khó dừng lại ở giới hạn hợp lý mà thường có khuynh hướng leo thang trả đũa. Còn nếu giải quyết bằng cách "Hòn đất ném đi hòn chì ném lại" thì xung đột càng leo thang thang hơn.
Đến đây chúng ta mới thấy giáo huấn của Đức Giêsu rất khôn ngoan. Xung đột chỉ chấm dứt được khi một bên chịu nhường nhịn. Nhường nhịn không có nghĩa là mình yếu, mình thua, nhưng là mình đang cố gắng nên thánh như Thiên Chúa ở trên trời là Đấng thánh.
3. Yêu thương kẻ thù không phải là thiện cảm, mà là thiện chí
Martin Luther King là một mục sư da đen, người đã đấu tranh để người da đen không còn bị người da trắng ngược đãi. Ông có một cách hiểu rất dễ chấp nhận về lời Chúa Giêsu dạy "Hãy yêu thương kẻ thù”, như sau: "Trong Tân ước chúng ta thấy từ Agapè được dùng để chỉ tình yêu. Đó chính là tình yêu dồi dào không đòi một đáp trả nào hết. Các nhà thần học nói đó là tình yêu Thiên Chúa được thực hiện nới tâm hồn con người. Khi vươn lên một đỉnh tình yêu như vậy, chúng ta sẽ yêu hết mọi người, không phải vì chúng ta có thiện cảm với họ, cũng không phải vì chúng ta đánh giá cao lối sống của họ. Chúng ta yêu thương họ vì Thiên Chúa yêu thương họ. Đó chính là ý nghĩa lời Đức Giêsu dạy: "Anh em hãy yêu thương kẻ thù”. Phần tôi, tôi sung sướng vì Ngài đã không nói: "Anh em hãy có thiện cảm với kẻ thù của anh em" bởi vì có những người mà tôi khó có thiện cảm nổi.
Thiện cảm là một xúc cảm. Tôi không thể có xúc cảm với người đã ném bom vào gia đình tôi. Tôi không thể có thiện cảm với người bóc lột tôi. Tôi không thể có thiện cảm với người đè bẹp tôi dưới sự bất công. Không, không thể có một thiện cảm nào đối với người đêm ngày de dọa giết tôi. Nhưng Đức Giêsu nhắc tôi rằng tình yêu còn lớn hơn thiện cảm, rằng tình yêu là thiên chí biết cảm thông, có tính sáng tạo, cứu độ đối với hết mọi người"
4. Mảnh suy tư
Khi đọc lịch sử người ta rất buồn, không phải buồn vì những tội ác mà những kẻ ác đã phạm, cho bằng vì những sự trừng phạt mà người lành phải gánh chịu; và một cộng đoàn trở nên hung ác không phải do những tội ác thỉnh thoảng xảy ra cho bằng do thói quen xử dụng hình phạt. (Oscar Wilde)
-Tha thứ giống như cái gì? Giống như mùi hương mà bông hoa tỏa ra khi nó bị giẫm nát.
5. Lời cầu nguyện cuối ngày
Lạy Chúa mỗi ngày khi chúng con đi ngủ là đi vào một cái chết nho nhỏ để chịu một cuộc phán xét nho nhỏ về một ngày vừa qua. Ước gì khi đó từng điều lầm lỗi của chúng con đều đã được tha thứ, và từng điều không thánh thiện của chúng con đều đã được thánh hóa.
Xin đừng để còn một điều gì đi theo chúng con vào giấc ngủ mà chưa được tha thứ và thánh hóa. Có như thế chúng con mới luôn sẵn sàng cho cuộc tái sinh vào cõi đời đời,  chúng con dám nhìn về phía trước với ánh mắt chan chứa tình yêu và hy vọng và có thể đứng vững trước mặt Chúa là Đấng vừa là quan tòa vừa là Đấng cứu độ chúng con, một quan tòa thánh thiện và một đấng cứu độ yêu thương. (Đức Giám Mục Apleton)
6. Chuyện minh họa.
a/ Trả thù
Một thanh niên trong làng bị lăng mạ cách thậm tệ. Anh vội vàng đến mục sư kể cho ông nghe và muốn đi trả thù ngay.
-Tốt hơn, con nên về nhà.
-Nhưng con bị nhục mạ.
-Vậy thì con càng nên về nhà ngay lúc này. Sự nhục mạ cũng giống như bùn.
-Đúng thế. Con sẽ làm sạch nó.
2-Này con, có một điều con có thể học hỏi tốt ngay bây giờ và sau này: Bùn được gạt sạch dễ dàng khi nó khô.
 b/ Tiêu diệt kẻ thù
Một hoàng đế Trung hoa tuyên bố sẽ tiêu diệt hết các kẻ thù. Nhưng ít lâu sau, thần dân thấy nhà vua đi lại ăn uống với kẻ thù trước kia.
-Chẳng phải ngài đã từng nói là sẽ tiêu diệt hết kẻ thù?
-Đúng, ta đã tiêu diệt hết kẻ thù, vì ta đã biến họ thành bạn bè của ta.

 

TN7-A5: Yêu kẻ thù để tha thứ

Lv 19,1-2.17-18: 1Cr 3,16-23; Mt 5,38-48
“Phải nhìn rõ mặt kẻ thù”, "phải phân biệt rõ đâu là bạn, đâu là thù; bạn thì trân trọng, thù thì dứt khoát phải thanh toán", "yêu bạn, ghét thù” : Lẽ thường ở đời là thế.  Nhưng Lời Chúa hôm nay lại dạy ngược lại : không được trả thù (Bài đọc I ), "phải yêu kẻ thù (Bài Tin Mừng). Điều này có vẻ điên rồ, "nhưng hãy trở nên điên rồ để được khôn ngoan thật (Bài đọc 2).
I. ƠN GỌI NÊN THÁNH VÀ TIẾNG GỌI YÊU THƯƠNG CẢ KẺ THÙ
 

Yêu kẻ thù để tha thứ cho họ là điều vô cùng khó khăn. Có những người đến chết vẫn không: TN7-A5

1. Yêu kẻ thù để tha thứ cho họ là điều vô cùng khó khăn. Có những người đến chết vẫn không quên kẻ thù để rồi mối thù đó được truyền qua từ dời này sang đời khác. Chuyện tình "Roméo và Juliettecủa Shakespeare, hoặc tiểu thuyết "Mảnh đất lắm người nhiều macủa Nguyễn Khắc Trường là những câu chuyện nổi tiếng nằm trong bầu khí hận thù truyền kiếp: không trả được mối thù thì đấy là một mối nhục không những cho một cá nhân mà còn nhục cho cả dòng họ? Trả thù, đấy là đòi hỏi của Lẽ công bằng, của lòng tự trọng ! Chính vì thế, tha thứ được coi như là hèn nhát, là đồng loã với tội ác, là để mặc cho kẻ ác tung hoành. Và nếu vậy thì lời Chúa hôm nay thật khó chấp nhận.
2. Thế nhưng người xưa cũng có nhận xét rằng : “oan oan tương báo", nếu cứ lấy ác báo ác thì sự ác sẽ không bao giờ chấm dứt. Chính vì thế, cần có sự tha thứ. Tuy nhiên tha thứ là một chuyện, còn yêu kẻ thù là chuyện khác. Người ta có thể tha thứ, có thể không thanh toán kẻ thù, nhưng không bao giờ yêu kẻ thù cả.
Trái lại, Lời Chúa hôm nay dạy rằng: không những phải tha thứ, mà còn phải yêu mến thật trong lòng và làm ơn cho kẻ thù nữa. Và lí do sâu xa không phải chỉ là để chấm dứt những mối hận thù triền miên từ đời này sang đời khác, mà là vì các tín hữu ý thức mình đã thuộc về Thiên Chúa. Mình phải  là thánh giống như Thiên Chúa là Đấng Thánh : "Các ngươi phải thánh thiện, vì Ta, Đức Chúa, Chúa các ngươi thờ, Ta là Đấng Thánh. Ngươi không được để lòng ghét người anh em ... ngươi không được trả thù ..."
Các tín hữu phải yêu kẻ thù vì ơn gọi nên thánh của mình. Mỗi người được mời gọi trở thành thánh. Và họ nên thánh, trước hết không phải do những hành vi tốt lành, không phải do đời sống luân lí của mình, mà là vì họ được Chúa chọn. Họ đã thuộc về Chúa, được lây nhiễm sự thánh thiện của Ngài. Mà sự thánh thiện của Thiên Chúa lại biểu lộ ra nơi tình yêu không biên giới, nơi lòng thương xót vô bờ : " giữa ngươi, Ta là Đấng Thánh, Ta sẽ không đền trong cơn thịnh nộ" (Hs 11,9).
Thiên Chúa biểu lộ sự thánh thiện của Ngài khi Ngài sẵn lòng tha thứ cho con người là những kẻ vẫn hằng xúc phạm đến Ngài. Ngài sẵn sàng chết để cứu con người là những kẻ vẫn hằng nhục mạ Ngài. Sự thánh thiện của Thiên Chúa đồng nghĩa với yêu thương vô bờ, yêu cả bạn lẫn thù, yêu tận cùng và mãi mãi, yêu để tha thứ đến 70  lần 7, tha thứ không bao giờ thôi.
Các tín hữu đã là thánh nên họ phải biết thể hiện sự thánh thiện của mình trong tình yêu thứ tha luôn mãi như thế.
II. TÌNH YÊU VÀ CHÂN LÍ
 Tuy nhiên, yêu kẻ thù không có nghĩa là đồng loã với sự ác. Tình yêu phải đi dôi với sự Thiện và Chân lí. Tình yêu không chấp nhận sự xấu xa, giả dối. Trả thù là để giúp cho "kẻ thù” của mình trở nên tốt hơn, chứ không phải để dung túng cho những hành vi xấu xa của họ. Cho nên, tha thứ không có nghĩa là lúc nào cũng phải đưa cả hai má cho kẻ thù tát, không phải lúc nào cũng tặng luôn áo ngoài cho kẻ đã cướp mất áo trong của ta! Trong bản văn của Tin Mừng Mátthêu, chủ từ của những động từ "vả má trái", “đưa cả áo ngoài", "đi cả hai dậmđược thánh Mátthêu hữu ý dùng ở số ít là để nói lên một áp dụng cụ thể trong một hoàn cảnh đặc biệt nào đó thôi. Trong một hoàn cảnh khác, người ta có thể trả thù theo một cách kháe
2. Như thế, có nhiều cung cách thế hiện tình yêu tha thứ. Tha thứ có khi là "nhu”, có khi là “cươngđể tạo sức ép giúp cho kẻ thù của mình nên tốt và hạnh phúc hơn. Chính vì lẽ đó, trong cuộc Thương Khó, Chúa Giêsu đã không hề đưa luôn má kia cho tên lính đã tát tai Ngài, mặc dù trên thập giá, Ngài vẫn tha thiết nói lên lời tha thủ bất hủ. Cho nên, có nhiều cách thể hiện sự tha thứ. Điều tiên quyết là phải yêu đi đã: "Hãy yêu đi, rồi làm gì thì hãy làm(Augustinô). Một khi đã biết yêu kẻ thù thì ta sẽ biết thông cảm với họ và sẽ nhận ra chính xác lúc nào cần “nhu” lúc nào cần "cươngđể nâng đỡ, phục vụ họ một cách chân thành, khiêm tốn và có hiệu quả đúng với đòi hỏi của Tình yêu và Chân lí.
 YÊU KẺ THÙ LÀ BẢN CHẤT CỦA ĐỜI SỐNG KITÔ HỮU
1. Ở đây, cũng nên nhìn nhận giá trị của luật cũ Môsê : "Mắt đền mắt, răng đền răng". Vào thời Cựu ước, đây là một tiến bộ lớn. Điều luật này nhằm bảo vệ những  người nghèo khó, cô thân cô thế trước những tàn bạo của kẻ mạnh: người ta chỉ được phép trả thù có giới hạn: một đền một mà thôi.
Trước đó thì dã man và rùng rợn hơn nhiều : ng Laméc nói với các bà vợ : Hãy lắng tai nghe lời ta  vì một vết thương, ta đã giết một người; vì bị sây sát, ta đã giết một đứa trẻ ! Cain dược báo thù gấp bảy, nhưng Laméc thì gấp bay mươi bảy !" (St 4,23-24).
Ngày nay, cách trả thù man rợ như thế không phải đã chấm dứt. Những cuộc thảm sát trong hai cuộc thế chiến, trong cuộc chiến Campuchia, trong những hoạt động của Mafia  cho thấy luật "mắt đền mắt, răng dền răng" vẫn có giá trị nhân đạo của nó.
2. Nhưng tình yêu, sự thánh thiện của Thiên Chúa, không cho phép dừng lại ở chỗ này. Quả vậy nếu cứ đúng theo luật  trên của Môsê, thì toàn thể nhân loại đã bị huỷ diệt từ lâu vì những xúc phạm lớn lao đối với Thiên Chúa. Rất may là sự thánh thiện của Thiên Chúa không chỉ là công bằng mà còn là nhân hậu, thứ tha. Được Thiên Chúa thứ tha cũng có nghĩa là được mang lấy sự thánh thiện của Thiên Chúa vào trong bản chất của mình, để đến lượt mình, các tín hữu cũng phải thể hiện sự thánh thiện sâu xa cốt cán của mình bằng khả năng biết thứ tha, biết yêu thương kẻ thù. Họ phải coi đó là sự khôn ngoan của mình, cho dù trước mắt thế gian, đó là sự điên rồ, dại dột. Đến nỗi nói được rằng: Là Kitô hữu mà không biết yêu kẻ thù thì không còn là Kitô hữu đích danh. Họ đã đánh mất bản chất thâm sâu của mình rồi. Rất đáng nhớ suy tư này của M.Quoist: Hành động duy nhất có thể làm đứt đoạn dây chuyền bạo lực, đó là tha thứ và yêu thương. Ai dám đưa cả má trái mình ra, đó là người mạnh nhất.
Kết luận
Thánh Lễ ta đang dâng là bằng chứng cửa Tình yêu thương xót thứ tha. Con Thiên Chúa đã chết và đã nên lương thực cho chúng ta là những kẻ vẫn thường bội bạc với Ngài. Được nên một với Ngài trong bí tích Thánh Thể, ta cũng không thể làm khác Ngài. Xin tình yêu nhân hậu của Chúa toả sáng trong mọi cung cách, mọi hành vi của ta. Amen .
LỜI NGUYỆN TÍN HŨU
Chủ Tế : Anh chị em thân mến,
Lời Chúa hôm nay dạy ta phải yêu thương kẻ thù như Chúa là Đấng giàu lòng thương xót. Trong tinh thần đó, ta hãy dâng lời cầu xin :
Ý NGUYỆN :
1. Chúng ta hãy cầu xin Chúa cho mọi tín hữu luôn biết tha thứ cho nhau.
2. Chúng ta hãy cầu xin Chúa cho mọi người, mọi dân tộc biết giải quyết mọi xung đột bằng con đường hoà giải
3. Chúng ta cầu xin cho ta biết làm ơn cho chính những kẻ muốn làm hại ta.
Lạy Cha chí thánh, xin sai Thánh Thần Chúa biến đổi trái tim chúng con, để chúng con biết yêu thương nhau bằng chính trái tim của Cha. Chúng con cáu xin nhờ Đức Kitô, Con Cha, Chúa chúng con.

 

TN7-A6: CÁC NGƯƠI HÃY NÊN TRỌN LÀNH

Mt 5, 38-48
Anh chị em thân mến !
 

Phụng vụ Lời Chúa của Chúa Nhật VII Mùa Thường NIÊN hôm nay Giáo Hội mời gọi con cái: TN7-A6

Phụng vụ Lời Chúa của Chúa Nhật VII Mùa Thường NIÊN hôm nay Giáo Hội mời gọi con cái mình hãy thực thi trọn vẹn mệnh lệnh yêu thương mà Chúa Giêsu đã đưa ra cho mọi người tín hữu. Nói cách khác, Thiên Chúa không chỉ kêu mời người tín hữu khai trừ khỏi lòng mình mọi hình thức hận thù và báo oán, mà Ngài còn đòi hỏi họ từ bỏ mọi tâm tình giận dữ, khó chịu đối với các đồng hương, đồng đạo và các khách kiều cư nữa.
Đặc biệt Thiên Chúa mời gọi tín hữu thực hành giới răn cách tích cực là yêu thương người khác như chính mình: "Thương người như thể thương thân". Đó cũng là giới răn mà Chúa Giêsu tặp lại cho các môn đệ sau này như các thánh sử ghi lại. Tuy nhiên, giáo huấn lên đây của sách Lêvi vẫn còn giới hạn tình yêu thương đó trong dân Do Thái.
Xa hơn trong câu 34 của sách Lêvi và đặc biệt trong Tân ước, chẳng hạn như trong Matthêu Mt 5, 43-48, giới răn yêu thương đó phải được thực thi đối với tất cả mọi người, không trừ một ai.
Anh chị em thân mến!
Khi đề cập với chúng ta sống yêu thương đại đồng không biên giới và lòng tha thứ vô biên, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta vượt xa hơn các luật lệ của Cựu ước Luật mắt đền mắt, răng đền răng thường hay được nhắc mắt cách tầm tẫn là luật báo oán. Thật ra, đây là luật nền tảng của Do Thái giáo cũng như của các dân tộc vùng Trung Đông ngày xưa, giúp bảo đảm và tái tập sự công bằng trong các tương quan giữa con người với nhau. Nó có mục đích hạn chế việc báo oán thường bị con người lạm dụng quá trớn. Do đó, ai khinh thường luật công bằng này là làm tổn thương đến chính cơ cấu xã hội.
Về phần Chúa Giêsu, Ngài biết rõ điều đó, nên Ngài không cố ý thảo luận về khía cạnh tư pháp xã hội hay luân lý của điều luật này. Bởi vì kinh nghiệm cho thấy bạo lực chỉ làm phát sinh ra bao lực. Vậy, khi áp dụng luật: "Mắt đền mắt, răng đền răng" con người không giải quyết được những xung khắc trong cuộc sống của mình. Trái lại, nó cứ luẩn quẩn mãi trong vòng ân oán không lối thoát.
Vì thế, Chúa Giêsu đề nghị với chúng ta một thái độ sống thần học, đó là noi gương Thiên Chúa luôn luôn sẵn sàng tha thiết và trao ban ân thánh của Ngài cho tất cả người bất công cũng như người gian ác, cho kẻ tốt cũng như kẻ xấu. Nói cách khác, Chúa Giêsu đề nghị với chúng ta thái độ sống dịu hiền, khiêm tốn, hoàn toàn bất bạo động. Yêu thương tha thứ cho kẻ thù để bẻ gẫy cái bạo lực không lối thoát. Tuy nhiên, luật xưa có dạy con người: "Thương người như thể thương thân", nhưng luật này chỉ dừng lại ở ranh giới công bằng mà chưa đạt tới giới răn yêu thương thật sự theo tinh thần và mẫu gương của Thiên Chúa là Đấng thánh thiện vẹn toàn.
Anh chị em thân mến!
Một trong những đặc thái của yêu thực lòng là tính chất "nhưng không vô vị lợi", nghĩa là Chúa Giêsu muốn chúng ta biết sống như Thiên Chúa, yêu thương trong mọi hoàn cảnh, yêu thương cả những người không có quyền được yêu thương nữa. Chúa Giêsu trưng dẫn Kinh Thánh Cựu ước và biến đổi chúng với tinh thần và cung cách sống mới mẻ mà Ngài đề nghị với chúng ta: "Giơ má trái, cho cả áo trong", yêu thương kẻ thì và cầu nguyện cho họ là kiểu cách mà người Kitô hữu cũng như những môn đệ của Chúa Giêsu cần phải có để phản ứng trước cung cách hành xử bất công gian ác của người khác. Nghĩa là Chúa Giêsu mời gọi chúng ta phản ứng bằng một cử chỉ cao thượng, mắt cử chỉ diễn tả tình yêu vô biên và linh thần bất bạo động. Một cử chỉ có sức mạnh bẻ gãy mọi xiềng xích gian ác và làm phát sinh ra kiểu cách sống tốt lành, thánh thiện và toàn vẹn, xứng đáng với những người con của Thiên Chúa, của Đấng cho mặt trời mọc lên, soi sáng và cho mưa rơi trên kẻ lành và người dữ nữa.
Anh chị em thân mến!
Cách sống như vậy là hoa trái tuyệt diệu nhất của cuộc sống cách mạng tâm lòng theo tinh thần "Tám Mối Phúc Thật" của Chúa Giêsu. Ơn gọi cao quí của Kitô hữu cũng được thánh Phaolô nêu bật trong thư I gởi tín hữu Côrintô (I Cor 3, 16-23). Qua Bí lích Rửa tội Kitô hữu trở thành chi thể của Giáo Hội và là đền thờ của Chúa Thánh Thần.
Vì thế, họ cũng phải sống theo tinh thần con cái Thiên Chúa và sự khôn ngoan của Thiên Chúa, chứ không được theo tinh thần của người trần gian. Khi chia bè kết đảng, hùa người này, hạ kẻ khác, chống đối với nhau và gây phân rẽ trong cộng đoàn là tín hữu sống theo tinh thần của người trần gian. Cái khôn ngoan của con người trần gian là thứ ham muốn ích kỷ và tư lợi, kể cả tư lợi thiêng liêng đã chi phối và lèo tái họ. Khi sống theo cái khôn ngoan và các tiêu chuẩn của trần gian là Kitô hữu biến cộng đồng trở thành một tổ chức trần gian, và như thế là họ đánh phá Giáo Hội và đền thờ của Thiên Chúa.
Họ tưởng rằng, cung cách hành xử theo liêu chuẩn lợi lộc quyền bính và lòng ích kỷ là khôn ngoan, nhưng thật ra đó là ngu dại. Bởi vì các chương trình tiêu chuẩn và phương thế của con người trần gian dẫn đến chỗ đổ vỡ tan nát và thất bại ê chề. Trong khi các chương trình, tiêu chuẩn và phương thế mà Thiên Chúa dùng đi ngược lại cái lôgíc của con người trần gian, nhưng dẫn đến thành công như ý Chúa muốn.
Thưa anh chị em!
Muốn thực hiện ơn gọi làm người và làm con cái Thiên Chúa, người Kitô hữu không được quên rằng, mình là đền thờ sống động của Chúa Thánh Thần. Các thừa tác viên dù có chức gì đi nữa cũng chỉ là dụng cụ, là tôi tớ của Thiên Chúa, do đó tất cả mọi thành phần của Giáo Hội đều thuộc về Chúa Kitô là thủ lãnh tối cao duy nhất của mọi người, là Đấng mà chúng ta tin tưởng tuyệt đối vào Ngài mà giờ đây chúng ta cùng tuyên xưng đức tin với nhau.

 

TN7-A7: Tha thứ kẻ thù (RW)

Đâu là phương thế để làm cho thêm bạn bớt thù trong cuộc sống của mình? Có một bản du: TN7-A7

Đâu là phương thế để làm cho thêm bạn bớt thù trong cuộc sống của mình?
Có một bản du ca tôi rất thích hát, bản du ca ấy có những lời lẽ như thế này: Kẻ thù ta đâu có phải là người giết người đi thì ta ở với ai. Đúng thế, đã là người thì ai cũng có những sai lỗi của mình. Nhân vô thập toàn là thế. Hơn nữa, mỗi người lại có những tính tình và sở thích riêng biệt, bá nhân bá tánh là thế.
Vì vậy, đã sống chung cùng nhau chúng ta không thể nào tránh đi cho hết những va chạm, những bực bội và những buồn phiền, như một câu danh ngôn đã bảo: Hễ ở đâu có hai người sống với nhau, thì ở đó thế nào cũng có sự xích mích và giận hơn.
Nếu suy nghĩ chúng ta sẽ thấy trên đời đâu phải chỉ có một hay hai người làm cho tôi sự mất lòng, làm cho tôi phải nhục nhã và tức giận. Ngay cả đến những người bạn thân tình, ngay cả đến cha mẹ và anh chị em ruột thịt cũng đã nhiều lần làm cho tôi phải bực bội.
Vậy nếu hễ tức giận là báo thù, thì tôi sẽ phải báo thù kẻ lạ cũng như người quen, kẻ ngoài xã hội cũng như người trong gia đình, kẻ bên trái cũng như những người bên phải, kẻ đàng trước cũng như người đàng sau, nghĩa là phải tẩy chay, phải thanh toán hết mọi thứ người trên mặt đất này.
Hơn nữa, xã hội và ngay chính bản thân tôi, sẽ không thể nào được xây dựng trên sự thù oán và đấu tranh, vì thù oán này sẽ nảy sinh ra thù oán khác, như một thứ bệnh truyền nhiễm làm cho xã hội bị sụp đổ, còn bản thân tôi sẽ phải quay quắt khổ đau. Thế nhưng, điều tệ hại nhất, đó là chính bản thân tôi nhiều khi lại là nguyên nhân cho sự thù oán, vì hơn một lần tôi đã sai lỗi, hơn một lần tôi đã gian tham và bất công. Cho nên người đáng phải giết, đáng phải loại trừ lại chính là bản thân tôi. Vì vậy mà bản du ca trên có những lời lẽ được tiếp nối như sau: Kẻ thù ta tên nó là gian ác, tên nó là điêu ngoa, tên nó là tham tàn...
Phương thế hữu hiệu nhất để làm cho thêm bạn bớt thù, không phải là chết giết những kẻ thù ở bên ngoài, vì sự trả thù chỉ là cái vui của những tâm hồn đê tiện, nhưng là phải lột mặt nạ và tận diệt cho bằng được những thói hư tật xấu, là những kẻ nội thù, nằm sẵn trong cõi lòng chúng ta, như người xưa đã dạy: Kẻ thù đích thực thì ở trong tâm hồn, vì đó là những nguyên nhân gây nên thù oán ngoài xã hội.
Cùng với việc uốn nắn sửa đổi những sai lỗi của mình, chúng ta hãy có thái độ khoan dung và tha thứ, cố gắng đi bước trước tiến đến sự hoà giải cùng nhau. Đừng khoan dung với mình mà gay gắt với anh em, trái lại hãy khoan dung với anh em mà gay gắt với chính mình. Cách tốt nhất để khỏi băn khoăn về kẻ thù là hãy làm cho họ trở nên một người bạn, bởi vì thù oán không thể huỷ diệt được thù oán, chỉ có tình thương mới huỷ diệt được nó mà thôi.
Ngày kia thánh Clementê đi vào một tiệm ăn, ngửa tay ra và nói:
- Xin quý ông rộng lượng bố thí cho các em mồ côi một miếng cơm, một manh áo.
Tức thì các thực khách cười lên hô hố một cách khinh bỉ. Sau đó, một anh thợ giày đã nói:
- Một miếng ư, được lắm.
Rồi anh ta uống một ngụm bia, phùng má trợn mắt phun thẳng vào mặt thánh nhân. Chúng ta thử tưởng tượng xem thánh nhân đã phản ứng như thế nào? Có lẽ ngài sẽ giáng cho anh ta một cái tát tai. Nhưng không, ngài vẫn bình tĩnh, rút khăn lau mặt, rồi lại ngửa tay và nói:
- Thưa quý ông, đó là phần của tôi, còn phần của các em mồ côi đâu chưa thấy.
Anh thợ giày bỗng té nhào xuống đất như bị một cú đấm thôi sơn, vì anh ta chẳng bao ngờ tới trên cõi đời nham nhở này mà lại có được một người khích phách như vậy. Anh lòm còm ngồi dậy và lắp bắp nói:
- Tôi... tôi sẽ gởi tặng các em.
Sau đó, anh đã dành một phần sản nghiệp và trao tận tay thánh nhân một số tiền lớn để tạ lỗi.
Hãy tha thứ để rồi bản thân sẽ được Chúa thứ tha.

 

TN7-A8: Trở nên con cái Chúa

(Trích trong ‘Manna’)
Suy Niệm
 

Khi chúng ta suy niệm bài Tin Mừng này thì Xuân đã về trước ngõ. Mùa Xuân làm cho lòng người: TN7-A8

Khi chúng ta suy niệm bài Tin Mừng này thì Xuân đã về trước ngõ.
Mùa Xuân làm cho lòng người rộn rã, cỏ cây chim chóc cũng reo vui với con người. Người ta chúc cho nhau bao điều tốt đẹp. Điều tốt đẹp nhất vẫn là sự bình an trong tâm hồn, sự bình an mua được bằng tha thứ yêu thương.
Khi dạy chúng ta đừng chống cự người ác, Đức Giêsu không đòi loại bỏ cảnh sát và pháp luật; cũng không lên án những cuộc chiến tranh tự vệ. Ngài chỉ muốn mời gọi các Kitô hữu hãy tránh thái độ báo thù, ăn miếng trả miếng.
Tha thứ là ra khỏi vòng luẩn quẩn của oán thù, là mở ra con đường để người kia hoán cải.
Có một vị rất tâm đắc với bài Tin Mừng này, đó là Gandhi, người được dân Ấn-độ coi là đại thánh. Ông là cha đẻ của chủ trương bất bạo động, để giành lại độc lập cho đất nước từ tay người Anh. Ông nói: “Bất bạo động là luật của loài người, bạo động là luật của loài thú.”
Chúng ta thường sợ mang tiếng là hèn nhát, khiếp nhược, sợ kẻ ác thắng thế khi thấy ta lùi bước. Chúng ta ít dám tin vào sức mạnh của Tình Yêu.
Chính Tình Yêu chứ không phải bạo lực mới có thể làm trái tim con người tan chảy.
Đức Giêsu mời gọi ta yêu thương và cầu nguyện cho kẻ thù để trở thành con cái Cha trên trời.
Chúng ta không chỉ trở thành con Cha vào ngày Rửa tội. Chúng ta trở thành con Cha hơn nhờ những hành vi tha thứ yêu thương mỗi ngày.
Chúng ta thật là con, vì giống Cha, Đấng cho nắng ấm, mưa rơi trên kẻ lành người dữ.
Chúng ta thường khó quên một xúc phạm đã qua, những chuyện cũ vẫn làm tim ta đau nhói. Cần nhìn lên Cha trên trời, Đấng để cho cỏ lùng mọc chung với lúa, Đấng mà ta phải nài xin ơn tha thứ mỗi ngày. Chỉ Ngài mới làm ta quên được điều tưởng như không thể quên.
Thế giới hôm nay có nhiều sự ác và người ác. Chúng ta phải tiêu diệt sự ác bằng sự thiện, hoán cải người ác bằng tha thứ yêu thương.
Kitô hữu là người dám đi lại con đường của Đức Giêsu, chấp nhận bị sự ác vùi dập và nuốt chửng, mà trên môi vẫn nói lời tha thứ. Nhưng cuối cùng là phục sinh, là niềm vui, hy vọng.
Chúng ta có dám tin rằng rốt cuộc chân lý, tình yêu và sự thiện sẽ chiến thắng không?
Gợi Ý Chia Sẻ
Bạn có thấy những lời Chúa dạy trong bài Tin Mừng hôm nay là những điều không thể thực hiện được? Có phải đó là thái độ của kẻ yếu nhược và hèn nhát không? Theo ý bạn, Đức Giêsu có dạy ta dung túng, bao che cho sự ác không?
Bạn đã và đang có những “kẻ thù” trong đời bạn, những người làm cho bạn phải đau khổ. Bạn có dám sống theo lời Chúa để tha thứ, yêu thương và cầu nguyện cho họ không?
Cầu Nguyện
Lạy Cha,
Cha đã cho chúng con sống thêm một năm, đi thêm một đoạn đường đời.
Nhìn lại đoạn đường đã qua, chúng con chỉ biết nói lên lời tạ ơn chân thành, vì Cha vẫn cho chúng con sống, và sống trong tình yêu.
Mọi biến cố vui buồn của năm qua đều là những lời mời gọi kín đáo của Cha để thức tỉnh, nâng đỡ và đưa chúng con lên cao.
Tạ ơn Cha vì những gì cuộc đời đã làm cho chúng con, và những gì chúng con đã làm được cho cuộc đời.
Xin cho chúng con sống những ngày tết dân tộc trong tinh thần vui tươi, hoà nhã, và không quên những ai nghèo khổ, cô đơn.
Ước gì những lời chúng con chúc cho nhau là những lời chúc lành xuất phát từ trái tim yêu thương.
Và lạy Cha, năm mới đã đến, trái đất lại xoay một vòng mới quanh mặt trời, chúng con cũng muốn ở lại trong quỹ đạo của Cha, nhận Cha là trung tâm cuộc sống, và nhận mọi người là anh em. Amen.

 

TN7-A9: Tình yêu vượt ra khỏi mối hỗ tương.

(Trích trong ‘Lương Thực Ngày Chúa Nhật’)
 

Khi đề nghị một buổi lễ đọc một đoạn Phúc Âm, Giáo Hội ao ước cho ta làm quen với giáo: TN7-A9

Khi đề nghị một buổi lễ đọc một đoạn Phúc Âm, Giáo Hội ao ước cho ta làm quen với giáo huấn, lối nhìn, cách suy nghĩ, sứ điệp của Chúa Giêsu. Ít nhất người ta cũng có thể nói một điều: là Chúa Giêsu đi ngược lại các phản ứng thuộc bản năng của con người. Không chống lại sự ác nghiệt và yêu mến kẻ thù, đó không phải là những khám phá của sự khôn ngoan sơ đẳng của bản tính nhân loại. Sự táo bạo kêu mời con người thực thi tình yêu hoàn hảo, chỉ có thể xuất phát từ Con Thiên Chúa, Đấng đã nêu gương về một mức độ tình yêu như thế. Nếu Người dám xin ta yêu mến thù địch ta, là vì Thiên Chúa đã yêu loài người trước hết, ngay trong khi họ còn chống lại Người, còn nằm trong tội lỗi. Thiên Chúa chứng tỏ tình yêu Người đối với ta: ấy là khi ta còn tội lỗi, Đức Kitô đã chết cho ta (Rm 5,8). Có những triết thuyết, những tổ chức tôn giáo ngoài Kitô giáo đôi khi đã xích lại gần sự đòi hỏi của Chúa Giêsu nhưng không hề đạt tới được. Phúc Âm quả là một chóp đỉnh duy nhất mà chỉ Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô dám xin ta leo lên. Tình yêu đối với thù địch nằm ở chóp đỉnh ấy. Giới răn của Chúa Giêsu buộc ta không được giản lược tình yêu vào trình độ của mối hỗ tương, trao đổi không vươn xa hơn. Tình yêu tuỳ thuộc ở một sự trao đổi là một tình yêu mong manh. Trái lại, tình yêu mà phát xuất từ sâu thẳm của hữu thể là một sức vọt mạnh mẽ, chỉ lấy tự do mình làm giới hạn. Mà chiến thắng của cái tự do ấy, chính là ở chỗ nó quyết định yêu thương, cả khi gặp cản trở, tức bị từ chối. Chúa nêu gương cho ta về điều này:
1) Chúa muốn điều hay cho những kẻ muốn làm hại Người. Người chịu khổ, chịu chết để những ai bắt Người phải khổ, phải chết được hết đau khổ và chết chóc. Trước sự từ chối tuyệt đối của con người không đáp lại tình yêu – (trước sự từ khước một mối hỗ tương), Chúa vẫn duy trì quyết định tuyệt đối là thương yêu.
2) Tình yêu ấy mặc khuôn mặt của lòng tha thứ. Tình yêu theo Thiên Chúa biết nhìn từ bên trong. Tha thứ là một sự sáng suốt của tình yêu. Lạy Cha, xin tha cho họ, vì ho không biết mình làm gì. Người tự coi là kẻ thù của ta, họ vâng theo những động lực nào? Có lẽ họ là nạn nhạn của sự dốt nát, của những sức mạnh tối tăm làm chủ họ, của tính tình v.v… Không ai nói phải khuyến khích lòng độc dữ của họ, nếu họ tỏ ra nguy hiểm. Điều cấm làm, là trả thù. Điều phải làm theo là yêu mến họ, dầu sao đi nữa, và ao ước sự tốt lành cho họ. Điều này có thể đòi hỏi một sức mạnh tinh thần gần như là khí phách anh hùng. Phải biết thưa với Chúa rằng, nếu Người đòi hỏi phải nên anh hùng, thì Người cũng phải ban đủ sức làm anh hùng.

 

TN7-A10: Giơ má kia ra chăng?

Đây là một thí dụ điển hình để kiếm chứng bài giảng trên núi về chữ nghĩa và tinh thần. Đâu là: TN7-A10

Đây là một thí dụ điển hình để kiếm chứng bài giảng trên núi về chữ nghĩa và tinh thần. Đâu là tinh thần của câu “Hãy giơ má kia ra” là câu làm bất cứ ai cũng nhăn mặt?
Khi chính mình bị một cái tát trong cuộc khổ nạn, Chúa Giêsu đã chẳng giơ má kia ra. Ngài đã đặt kẻ vũ phu đứng trước hành vi của mình: “Nếu ta nói sai, hãy chứng minh điều sai đó: nếu ta nói phải, tại sao lại đánh ta?” (Ga 18,23).
Điều sai lầm đó cứ lao theo từ ngữ như con bò mộng lao vào cái khăn nhử: “Tôi mà giơ má ra à? Để tạo điều kiện cho bạo lực sao?” Đúng ra là Chúa Giêsu muốn điều ngược lại. Khi Ngài nói: “Ngươi đừng đánh trả kẻ dữ dằn”, thì Ngài đã chỉ đích danh, và chúng ta biết phải làm gì đối với một kẻ dữ dằn rồi. nhưng đó là một cái gì vượt xa trên kẻ dữ dằn này cũng như trên cái má rát bỏng của chúng ta. Dưới cái hình ảnh gây ấn tượng này (giơ má kia ra!) ẩn giấu một kế hoạch phi thường: ngăn chận bạo lực gia tăng.
Con ngưới chấp nhận bạo lực như là một dữ kiện không thể bàn cãi vào đâu được. Đánh trả và báo thù dường như là điều tự nhiên, mọi người đều như thế, ngay cả những Kitô hữu tốt cũng vậy. Nếu chúng ta muốn đo lường sự đảo ngược to lớn mà Chúa Giêsu đưa ra, chúng ta hãy mở Kinh thánh ra, Sáng Thế ký 4,24: “Lameck sẽ bị báo thù 77 lần!”. Và chúng ta hãy đặt mình vào địa vị của Phêrô khi được trả lời rằng: “Ngươi hãy tha thứ bảy mươi lần bảy” (Mt 18,22).
Có thể tỏ ra hoàn toàn vô lý, sự đảo ngược này bắt đầu xảy ra thực sự ngay khi chúng ta có can đảm nói không đối với bạo lực của chính chúng ta. Không phải bạo lực của người khác, mà là bạo lực của chúng ta. Khi lái xe, khi làm việc, khi coi truyền hình chúng ta muốn la lên: “Đồ thối tha! Quân sát nhân!” (và con cái có thể nghe được).
- Ngươi hãy im đi, hãy bình tĩnh, đừng đánh trả những người hung dữ, Chúa Giêsu nói.
- Chúa muốn chúng con để cho tất cả những người gàn dở, tất cả những kẻ bạo hành tha hồ hành động hay sao?
Tin Mừng không đơn giản chút nào cả. Sau đây là một câu chuyện đã xảy đến với tôi. Tôi đã chứng kiến hai tên vô lại đi xe máy làm một bà già bị thương nặng khi kéo lê bà ta dưới đất để giật túi xách. Một nỗi oán ghét dâng lên trong lòng tôi. Khi hai cảnh sát đến tôi nghĩ họ phải bắt hai tên đó, tẩn chúng cho tới chết để dạy cho chúng một bài học!
Điều đó chẳng dạy cho chúng một bài học nào cả. Bạo lực không bao giờ dạy cho ai một bài học nào cả. Nó chỉ có kêu gọi thêm bạo lực mà thôi. Tôi đã thấy rõ điều đó chung quanh bà già bị thương tội nghiệp. Chúng ta sẽ nhìn tất cả các thanh niên đi xe máy bằng con mắt thành kiến.
Thánh Phaolô đã đào sâu vấn đề này: “Đừng để mình thua điều ác” (Rm 12,17). Đừng để cho ai cả, từ cậu bé vô lại cho tới tên đồ tể, có khả năng biến đổi bạn thành một con người đầy căm thù. Nếu không, bạn sẽ thua điều ác.
Chúng ta không lúc nào cũng có thể hoàn toàn tự kiềm chế trước một kẻ tàn ác hoặc xảo trá. Nhưng chúng ta có thể chống lại làn sóng bạo lực ở trong ta, chống lại những lời nói và những cử chỉ bạo lực. Chúng ta có thể không cố gắng làm cho sự tự vệ và sự tức giận chính đáng biến thành bạo lực lớn và mù quáng hơn, biến thành sự khinh bỉ, biến thành ước muốn và hành vi báo thù thuần tuý.
Nơi nào một Kitô hữu ngăn chận được việc lan truyền bạo lực bằng cách từ chối làm một mắt xích của chuỗi sự ác, thì nơi đó một thế giới mới sinh ra.

 

TN7-A11: Yêu kẻ thù

(Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’)
 “Anh em hãy yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em, như vậy anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt” (Mt 5,44-45).
 

Anh em hãy yêu thương kẻ thù mình”. Việc này thật đòi hỏi: Nó đảo lộn các suy nghĩ của ta và làm: TN7-A11

“Anh em hãy yêu thương kẻ thù mình”. Việc này thật đòi hỏi: Nó đảo lộn các suy nghĩ của ta và làm mọi người phải thay đổi hướng đi của đời mình!
Bởi vì, đừng dấu diếm nữa, tất cả chúng ta đều có một vài kẻ thù… lớn hoặc nhỏ.
Kẻ thù đang ở đàng sau cánh cửa căn nhà bên cạnh, nơi người đàn bà đáng ghét đó mà tôi thường tìm cách tránh né mỗi làn bà ta sắp sửa cùng bước lên cầu thang. Kẻ thù ở chính nơi người bà con mà cách đây ba chục năm đã đối xử bất công với cha tôi, vì thế tôi không còn chào hỏi nữa. Kẻ thù ngồi ở bàn đàng sau trong lớp học và từ ngày nó tố cáo cho bạn tôi với thầy giáo, không bao giờ bạn nhìn mặt nó. Kẻ thù là người bạn gái đó, vì cô ta đã bỏ bạn để đi với người khác. Kẻ thù là người bán hàng đã đánh lừa bạn. Đó là những người không nghĩ như bạn về chính trị, vì thế ta tuyên bố họ là kẻ thù. Có người coi Nhà Nước là kẻ thù, nên dùng bạo lực đối xử với người đại diện Nhà Nước. Cũng có người nhìn các linh mục và Giáo Hội như là thù địch. Tất cả những người này và vô vàn những người khác mà ta gọi là “kẻ thù” ta phải yêu thương họ.
Phải yêu thương họ sao?
Thưa phải, phải yêu thương họ! Và đừng cho mình có thể làm được bằng cách thay đổi tình cảm oán ghét thành tình cảm nhân hậu hơn.
Mà còn hơn nữa. Bạn hãy lắng nghe lời Đức Giêsu dạy:
“Anh em hãy yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em, như vậy, anh em mới thực sự trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt”.
Bạn thấy không? Đức Giêsu muốn một tình thương thể hiện qua việc cầu nguyện và những hành động cụ thể.
Ở nơi khác, Ngài cũng dạy: “Anh em hãy làm ơn cho kẻ oán ghét mình, chúc lành cho kẻ nguyền rủa mình, cầu cho kẻ nhục mạ mình” (Lc 6,27-28).
Ngài giải thích cho ta lý do tại sao Ngài truyền dạy như vậy, và chỉ cho ta mẫu gương là tình thương của Thiên Chúa, Cha Ngài; Ngài dạy ta làm như vậy cùng hành xử theo gương Chúa Cha.
Điều đó có nghĩa là trên đời ta không còn cô đơn: ta có một người Cha và phải sống như Người. Không những thế, mà Thiên Chúa còn có quyền đòi ta làm như vậy, bởi vì khi ta còn là thù địch của Người, còn sống trong tội lỗi, Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước (x.2Ga 4,19), và sai Con của Người đến với ta, Đấng đã chết cách nhục nhã vì mỗi người chúng ta.
“Anh em hãy yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em, như vậy anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt”.
Bài học ấy chú bé Jery người da đen đã học được ở Washington. Vì có trí thông minh, em đã được nhận vào một lớp đặc biệt gồm toàn thiếu niên da trắng. Nhưng trí thông minh không đủ để làm cho các bạn cùng lớp hiểu rằng em cũng bình đẳng như chúng. Màu da đen đã làm cho tất cả ghét bỏ em, đến độ ngày lễ Giáng Sinh các học sinh tặng quà cho nhau nhưng không thèm để ý tới Jery. Em bật khóc, điều này dễ hiểu! Nhưng khi về nhà em nghĩ đến Chúa Giêsu: “Hãy yêu thương kẻ thù của anh em”, và đồng ý với má, em mua quà vui vẻ tặng cho tất cả những “người anh em da trắng” của mình.
“Anh em hãy yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em, như vậy anh em mới trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt”.
Ngày hôm đó Elizabeth, cô bé có đạo ở thành phố Florence (Italia) thật đau lòng, khi bước lên bậc thang vào nhà thờ dự lễ, vì cô nghe tiếng cười nhạo của một nhóm đồng lứa tuổi. Cho dù muốn chống lại, em mỉm cười và trong nhà thờ em cầu nguyện cho những thiếu niên ấy.
Khi đi ra, các thiếu niên chặn em lại và hỏi lý do tại sao em xử sự như vậy. Em trả lời, mình là người có đạo, nên phải thương yêu luôn luôn. Em nói lên điều đó với niềm xác tín mạnh mẽ.
Chứng ta của em Elizabeth đã được thưởng công: Chúa Nhật sau đó em thấy tất cả các thiếu niên ấy trong nhà thờ, rất chăm chú ở hàng ghế trên cùng. Các thiếu niên chấp nhận Lời Chúa như thế. Do đó các em là người lớn trước mặt Chúa.
Có lẽ ta cũng nên điều chỉnh lại một vài tình trạng, hơn nữa cũng vì ta sẽ được xét xử theo như cách ta xét đoán người khác. Thật vậy, chính ta là người trao vào tay Chúa cái thước mà Ngài phải dùng để đo tình yêu của chúng ta. Ta đã chẳng xin Chúa: “Xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con” đó sao? Vậy ta hãy yêu thương kẻ thù! Chỉ khi xử sự như vậy ta mới có thể sửa chữa lại sự chia rẽ, đạp đổ những hàng rào ngăn cách và xây dựng cộng đoàn huynh đệ.
Điều đó khó khăn sao? Nặng nề sao? Nó không để ta ngủ yên, ngay khi mới nghĩ đến sao? Hãy can đảm lên! Điều đó không phải là quá sức: một nỗ lực nhỏ từ phía ta, rồi 99 phần trăm Thiên Chúa sẽ làm, và… trong tâm hồn ta sẽ dâng trào niềm vui.

 

TN7-A12: Chúng ta có tiến bộ tí nào không?

(Trích trong ‘Mở Ra Những Kho Tàng’ của Charles E. Miller)
 

Dòng giống nhân loại đã làm một tiến bộ vượt bực trong lịch sử gần đây. Hãy suy nghĩ về: TN7-A12

Dòng giống nhân loại đã làm một tiến bộ vượt bực trong lịch sử gần đây. Hãy suy nghĩ về điều tương phản giữa một “toa xe không ngựa kéo và một chiếc xe hơi hiện đại”, hoặc sự khác nhau giữa “chuyến bay đầu tiên ở Kitty Hawk, Bắc Caroline vào năm 1903 và một cuộc du hành bằng máy bay hiện đại”. Vào một trăm năm trước, không người nào có thể tưởng tượng ra rằng người ta có thể ngồi trước một cái hộp, vừa gọi điện vừa nghe được tiếng nói, vừa xem thấy người đang trò chuyện với mình.
Những tiến bộ của chúng ta thật đáng kinh ngạc, nhưng một vấn nạn về luân lý và giáo dục vẫn còn tồn tại và nặng nề hơn cả người sống ở thế kỷ trước hay ba mươi thế kỷ qua. Chúa Giêsu trong Phúc Âm, Người đã ám chỉ tới sách Xuất hành, sách đó thuật lại sự kiện đã xảy ra trước khi Chúa Giêsu sinh ra khoảng một ngàn bốn trăm năm. Đoạn văn mà Người đã trích dẫn như sau: “Mắt đền mắt, răng đền răng”. Điều này có nghĩa là chỉ có mắt mới đền mắt được và chỉ có răng mới đền răng được. Nói cách khác, đây là một sự bào chữa cho một công lý chính xác vào một thời mà nền quân chủ ngự trị, không hè do dự phạt tội chết một người ăn cắp một quả nho trên bàn của vua. Hãy nhớ lại vào những ngày tháng của Chúa Giêsu, nhiều năm sau lời bào chữa này đã trở nên hòa hoãn hơn. Vua Hêrôđê đã không do dự chém đầu Gioan Tẩy Giả bởi vì vị quốc vương dại gái ấy đã làm một lời hứa ngu ngốc với một cô gái nhảy dâm đãng.
Chúa Giêsu tìm kiếm một nền đạo lý cao hơn cho những người đi theo Người. Nơi hình ảnh một bức tranh Người đòi hỏi chúng ta không nên nhấn mạnh đến một sự công lý nghiêm thẳng. Điều đó đang muốn nói đến án lệnh làm cho sự việc nên nghiêm trọng hơn. Chúa Giêsu còn đi xa hơn nữa. Người tuyên bố nếu chỉ yêu thương những người cùng dân tộc với mình thì không đủ. Người ban mệnh lệnh yêu thương ngay cả kẻ thù của mình và cầu nguyện cho những kẻ bắt bớ mình. Những kẻ hoài nghi chế tạo những giáo huấn này. Họ nghĩ rằng Chúa Giêsu là một gã khờ khạo và những giáo huấn của Người là những lý tưởng không thể thực hiện được. Đương nhiên Chúa Giêsu không ngây thơ tí nào, Người rất khôn ngoan. Những lý tưởng Người đưa ra là những mục đích không phải là không đạt tới được. Ít nhất chúng ta cũng như những người có dit đã nghe và chấp nhận sự thách đố của Người: “Các con phải trở nên hoàn hảo như Cha các con ở trên trời là Đấng Hoàn Hảo”.
Thánh Phaolô hỏi chúng ta: “Anh em không ý thức anh em là Đền Thờ Chúa Thánh Thần ư, và Thánh Thần của Thiên Chúa ngự trong lòng anh em sao?”. Một sự khiêm nhượng giả hiệu sẽ không bao giờ làm cho chúng ta quên đi giá trị của mình. Chúng ta xét thấy nhà thờ là nơi thánh thiêng bởi vì đó là nhà của Thiên Chúa. Cùng một cách ấy, chúng ta phải nhận biết sự thánh thiêng của chúng ta vì nó là Đền Thờ của Thiên Chúa. Thánh Thần Thiên Chúa sống động bên trong chúng ta, biến đổi chúng ta nên con cái của Thiên Chúa, củng cố hình ảnh Con Thiên Chúa là Chúa Giêsu nơi chúng ta. Có phải không khi nói với chúng ta rằng chúng ta phải trở nên khác đi, rằng chúng ta không phải tự dối mình bằng việc suy nghĩ theo lối trần tục sao? Chúng ta được kêu gọi để hành động theo những tiêu chuẩn của Thiên Chúa, không phải theo những tiêu chuẩn của xã hội thế trần.
Khi chúng ta đến dự Thánh Lễ, việc đầu tiên chúng ta lắng nghe Lời Chúa, Thánh Kinh sẽ dẫn chúng ta đi đến những lý tưởng và những thách đố. Tiếp đó, chúng ta tham dự Phụng vụ Thánh Thể và chúng ta được lãnh nhận Mình và Máu Chúa. Thánh Thể là nguồn sức mạnh Thiên Chúa ban cho chúng ta để chúng ta tiến bước theo những lý tưởng của Thánh Kinh và để chấp nhận những thách đố ấy. Sẽ không có sự tiến bộ thật sự trong đạo đức nếu chúng ta không sẵn lòng cố gắng, dù vất vả cũng không hề chi để toàn tâm toàn ý với tiếng gọi của Chúa Giêsu là: “Các con hãy trở nên trọn lành như Cha trên trời là Đấng trọn lành”.

 

TN7-A13: Yêu kẻ thù là thánh.

(Trích trong ‘Xây Nhà Trên Đá’ của Lm. ViKiNi)
 

Mở đầu sách Đại học của Nho Giáo đã nêu rõ mục đích là “Đại học chi đạo: Tại minh minh đức,: TN7-A13

Mở đầu sách Đại học của Nho Giáo đã nêu rõ mục đích là “Đại học chi đạo: Tại minh minh đức, tại thân dân, tại chỉ ư chí thiện”.
Kết thúc Hiến chương nước Trời trong bài Tin Mừng hôm nay cũng đặt rõ mục đích là “Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha trên trời... là yêu kẻ thù”.
Nho Giáo ở phương trời Viễn Đông, Kitô giáo ở phương trời Cận Đông, tuy xa nhau hàng ngàn dặm, nhưng tình yêu đâu có khác nhau?
Một đàng muốn con người nên chí thiện ở tại thân dân, thương yêu dân.
Một đàng bảo: “Anh em hãy nên toàn thiện ở tại thương yêu cả kẻ thù”.
Một đàng: “Minh minh đức”, minh là làm sáng tỏ, minh đức là đức sáng láng của Trời; minh minh đức là làm cho đức sáng của Trời sáng tỏ ra, chiếu sáng ra.
Một đàng bảo: hãy cầu nguyện, cốt yếu của cầu nguyện là làm cho danh thánh Cha trên trời hiển sáng, chiếu sáng ra khắp muôn dân. Thiên Chúa là ánh sáng, Đức Kitô là ánh sáng bởi ánh sáng (Ga. 1, 9).
Phần kinh của sách Đại học chỉ có 205 chữ: đây là cương lĩnh, là Hiến chương của Nho Giáo, mục đích đào tạo người học Thánh quân tử, thánh nhân.
Hiến chương nước Trời của Đức Giêsu cũng rất ngắn gọn, vài trăm chữ, nhằm đào tạo con người thành con Cha trên Trời, thành Thánh nhân của Thiên Chúa.
Hai Hiến chương có lẽ chỉ khác nhau ở chỗ: Tin Mừng nói rõ Cha trên trời là Đấng hoàn thiện và hạnh phúc Nước Trời; sách Đại học không nói rõ, nhưng cũng ngầm hiểu: làm cho dân được hạnh phúc là ở tới đích chí thiện; chí thiện chính là Thiên Chúa.
Lời Chúa hôm nay đặt chương trình nên chí thiện, nên chí thánh rất cụ thể.
Bài I (Lv. 19, 1-2; 17-18) Chúa phán dạy: “Các ngươi phải nên thánh”. Nhờ sống thánh thiện, mới tránh được: ghen ghét, oán hận, trả thù; mới biết yêu đồng loại như chính mình. Nền tảng của dân thánh đặt trên: “Ta là Đấng Thánh”.
Ở thời Cựu Ước, trước kỳ lưu đầy, khi nghe nói đến “Đấng Thánh” thì dân nhớ đến Đền Thánh, nhớ đến nơi cực Thánh trong cung thánh, nhớ đến những ngày lễ Thánh, những việc Thánh họ phải làm nơi đền thờ để được nên thánh.
Đến thời lưu đầy đền thờ bị phá hủy, dân bơ vơ, không còn điểm tựa để nhận ra Giavê là Đấng Thánh cho dân nên thánh. Họ phải nhớ lại giới luật giao ước núi Sinai mà Giavê, Đấng Thánh đã ban cho họ. Họ cần sống thực hiện giới luật đó để họ nên thánh như Đấng Thánh đã truyền dạy họ. Họ mới mong Đấng Thánh giải phóng họ khỏi cảnh lưu đầy như Ngài đã giải phóng tổ tiên họ khỏi nô lệ Ai Cập.
Bài II (1Cr. 3, 16-23) Phaolô không nhắc tới đền thờ Giêrusalem, không nhắc đến luật cũ nữa. Tân Ước là thời đại mới, dân Chúa thực sự không nên thánh nhờ đền thờ hay lề luật. Họ nên thánh, họ là dân thánh (1Phêrô 2, 9) nhờ được tái sinh bởi nước và Thánh Thần. Phaolô cho họ thấy: “Anh em là đền thờ Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em” Từ nay họ là chi thể thánh của Đức Kitô “Anh em thuộc về Đức Kitô, Đức Kitô thuộc về Thiên Chúa”
Thánh Phaolô đã cho ta biết rõ, bản chất cốt yếu của thánh thiện, không nhờ đền thờ hoặc bất cứ ai dù là Phaolô... hay luật lệ chỉ nhờ một mình Thiên Chúa: “Chính nhờ Người, với Người và trong Người” đã làm cho ta nên thánh.
Khi đã nhờ Người mà nên thánh, thì chính nhờ Người mà chúng ta mới có thể yêu kẻ thù.
Nhờ Người và như Người, chúng ta sẵn sàng chịu vả má phải và giơ thêm má trái cho họ vả, chứ không như luật dạy: mắt đền mắt răng đền răng. Nhờ Người và như Người, chúng ta không cần che thân, không cần bảo vệ, sẵn sàng chịu bóc lột áo trong cũng như áo ngoài. Nhờ Người và như Người không có hòn đá gối đầu, chúng ta không tiếc xót khi cho vay mượn, không bám gót của cải, dễ dàng cho đi, bỏ đi.
Nhờ Người và như Người đã vác khổ giá, chúng ta sẵn sàng phục vụ công việc như nô dịch, làm phu như ông Simon vô cớ bị quân dữ bắt làm phu vác đỡ thánh giá Chúa. Hơn nữa, còn phải sẵn sàng hy sinh cả mạng sống để yêu kẻ thù.
Như thế, mới được trở nên con Cha, Đấng đã làm cho mặt trời mọc lên soi sáng cho kẻ xấu cũng như người tốt và cho mưa xuống cho kẻ dữ cũng như người lành. Chiêm ngắm những kỳ công bao la đó, Nho gia xưa đã rất ngạc nhiên kêu lên: “Ôi đạo của bậc thánh vĩ đại thay! mênh mông như biển cả, sinh thành, nuôi dưỡng, giáo dục, thánh hóa tất cả vạn vật trong vũ trụ từ đất đi tới trời cực kỳ tốt đẹp: Đại tai thánh nhân chi đạo! dương dương hồ, phát dục vạn vật; tuấn cực vu thiên” (Trung Dung - chương 27)
Thánh như vậy đã “phối hợp với trời đất rộng dầy cao minh: bác hậu phối địa, cao minh phối thiên” (Trung Dung - 26)
Lời Chúa hôm nay giúp chúng ta thấy ba mức độ thánh thiện:
Thánh thiện ở đền thờ, kinh lễ như hạng tư tế, bị Chúa phê: quân này mến Ta bằng môi miệng và lòng nó xa Ta.
Thánh thiện ở giữ trọn lề luật như chàng thanh niên giàu có, nhưng anh thiếu một điều là: hãy về bán những gì anh có mà cho người nghèo, người nghèo là kẻ thù của người giàu.
Thánh thiện ở yêu kẻ thù, yêu kẻ thù mới thực là tình yêu chí thiện, chí thánh phản ánh rõ nét tình yêu Thiên Chúa đã thí mạng sống Con Một cho kẻ thù: kẻ thù của Thiên Chúa là kẻ tội lỗi.
Lạy Chúa, xin thánh hóa tình yêu con, cho con biết yêu mến mọi người, nhất là những người thù ghét, oán hận con. Amen.

 

TN7-A14: Chú giải của Noel Quesson

“Anh em đã nghe luật dạy người xưa rằng….còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết…”
 

Tiếp nối bài giảng trên núi, chúng ta đang ở phần đề thứ năm và thứ sáu trong luật mới. Đức: TN7-A14

Tiếp nối bài giảng trên núi, chúng ta đang ở phần đề thứ năm và thứ sáu trong luật mới. Đức Giêsu đã chống lại những gì đã được nói trước kia hay đúng hơn người kiện toàn chúng. Nhưng cách nói này có một uy quyền chưa từng thấy, nhất là khi người ta biết công thức ở thể thụ động (“luật dạy người xưa” = luật được dạy cho…) là một ngữ điêu trong ngôn ngữ Do thái, được dùng vô vị, để tránh việc sử dụng danh của Thiên Chúa mà người ta không bao giờ nói ra vì lòng tôn kính Người. Nói rõ ra công thức này có nghĩa; “Thiên Chúa đã nói..còn Thầy, Thầy cho anh em biết…”. Cũng thế, công thức “anh em đã được nghe, được dạy…” gợi lại việc đọc trang trọng luật trong phụng vụ ở Hội Đường. Đó là luật thánh, bất khả xâm phạm toả ánh vinh quang của núi Xi-nai. Vậy, Đức Giêsu đã dám chống lại lời của Thiên Chúa, sách kinh Tô-ra bằng những khẳng định riêng Người. Không bao giờ có một ngôn sứ nào đã nói như thế. Vai trò của họ chỉ là truyền đạt lại hay chú giải sứ điệp của Thiên Chúa: "Đức Chúa nói như thế..." Để nói như Đức Giêsu, phải là người điên hoặc là Thiên Chúa.
“Thiên Chúa đã dạy anh em... Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em..." Người ta biết rằng Người đã bị buộc tội phạm thánh.
Nhưng phần tiếp theo sẽ chứng tỏ cho chúng ta thấy rằng đó là một sứ điệp thật sự siêu phàm, một sứ điệp của Thiên Chúa!
Anh em đã nghe Luật dạy rằng: "Mắt đền mắt, răng đền răng". Còn Thầy, Thầy bảo anh em đừng chống cự người ác..."
Tầm thước thời đại của chúng ta... khó mà hiểu được "luật phạt ngang bằng" (loi du talion). Làm thế nào mà Luật của Môsê (Luật của Thiên Chúa) đã có thể phát biểu một luật như thế. Vả lại, luật này đã là một tiến bộ to lớn đối với bản năng: trả thù rất tự nhiên nơi con người. Bởi luật phạt ngang bằng ấy, những luật theo tập quán của Phương Đông Cổ đại (ví dụ: bộ luật Ham mourabi) cố gắng giới hạn những sự trả thù thái quá. Hành động tự nhiên của người bị tấn công là "trả đũa nhiều hơn". Như một bài ca man rợ mà La-méc đã hát: "Ca-in sẽ được báo thù gấp bảy, nhưng La-méc thì gấp bảy mười bảy..." (St 4,24). Vì thế luật ấy đã cố gắng giới hạn bạo lực và khuyến cáo chỉ nên bắt kẻ tấn công chịu sự đối xử giống như người này bắt nạn nhân của hắn phải chịu (Xh 21, 24; Lv 24,20; Đnl 19,21). Hình như chúng ta đã hoàn toàn vượt qua luật này của Kinh Thánh vì nó được viết ra cho một thời- đại khác với thời đại của chúng ta. Than ôi! Nếu như người ta cứ sống mãi theo luật hình phạt ngang bằng! Biết bao thành phố bị ném bom bởi sự “trả thù” thật biết bao cuộc đấu tranh chủng tộc, quốc gia, xã hội trong đó người ta áp dụng điều ngược lại với "luật hình phạt ngang bằng, nghĩa là sự leo thang của bạo lực". Nó áp dụng cho người nào sẽ là người mạnh nhất cho người nào sẽ trả đũa lại những cú đòn đã nhận được! người ta nói một cách ngây thơ về ‘những tương quan lực lượng’ nhưng đó luôn luôn là một bản năng man rợ lâu đời.
Đức Giêsu đã táo bạo mời gọi con người đi đến hoàn thiện của tình yêu Người bảo chúng ta rằng không nên trả thù về mọi việc... không nên đánh trả kẻ hung ác! và vốn là một nhà thuyết giảng cụ thể, đại chúng, Người sẽ cho chúng ta bốn ví dụ:
“Nếu ai vả má bên phải, thì hãy giơ cả má bên trái ra nữa...
Nếu ai muốn kiện anh để lấy áo trong của anh, thì hãy để cho nó lấy cả áo ngoài...
Nếu có người bắt anh đi một dặm, thì hãy đi với người ấy hai dăm...
Ai xin thì anh hãy cho; ai muốn vay mượn thì anh đừng ngoảnh mặt đi..”
Ở đây cũng thế, Tin Mừng không bao giờ cho chúng ta những công thức đạo đức hoàn toàn có sẵn. Điều quan trọng là một "tinh thần" chứ không phải là một "quy tắc". Chính Đức Giêsu, khi đã nhận cái vả của người đầy tớ Thượng Tế, đã không giơ má kia ra! Người đã đáp lại dũng cảm và xứng đáng: "Sao anh lại đánh tôi" (Ga 18,23).
Vả lại người ta không có quyền dựa trên những lời đó của Đức Giêsu để bảo lãnh cho sự bất công, ở đây, chúng ta không có những quy tắc luật pháp có thể áp dụng nguyên xi cho xã hội dân sự: điều này sẽ khuyến khích tình trạng ăn xin, khích lệ bạo lực và tội ác, không bảo đảm sự trừng phạt những kẻ bất lương. Chắc chắn, Đức Giêsu đã không muốn công nhận một tình trạng áp bức bất bình thường khi đòi hỏi những kẻ yếu phải cam chịu. Cũng có những trường hợp mà một môn đệ chân chính của Đức Giêsu phải chiến đấu: cam chịu sự bất công, nhất là sự bất công mà những người khác là nạn nhân, hoàn toàn trái ngược với tinh thần của Đức Giêsu. Sau khi đã nêu ra những khía cạnh đó, hãy để Đức Giêsu tra hỏi chúng ta. Phải, tất cả chúng ta đều phải chiến thắng bản năng trả thù tròng con người của mình. Điều ác sẽ không bị vượt qua khi chúng ta đáp lại nó bằng một sự tàn nhẫn tương đương. Khi người ta trả đũa điều ác bằng điều ác, người ta trở về với vòng tròn hỏa ngục. Thật vậy, điều ác mà chúng ta chịu đựng thật ra vẫn còn ở bên ngoài chúng ta. Nhưng khi người ta đáp trả lại điều ác, điều ác ấy sẽ có thêm một chiến thắng phụ nữa, bởi vì nó đã đi vào lòng chúng ta. Đức Giêsu muốn mở ra một con đường khác cho nhân loại: chiến thắng điều ác bằng điều thiện, dùng tình yêu để đáp lại hận thù.
"Anh em đã nghe Luật dạy rằng: "hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù".
Trong Kinh Thánh, người ta có tìm kiếm một quy tắc như nhưng thế cũng vô ích. Thật vậy, Đức Giêsu muốn ám chỉ thái độ thông thường của toàn thể nhân loại; được diễn tả rất mạnh trong nhiều bài Thánh vịnh về “sự trừng phạt của Chúa”, trong đó lòng thù ghét tội lỗi đi đến chỗ biện minh cho sự thánh chiến: "Lạy Chúa, ước chi Ngài tiêu diệt kẻ gian tà… Lạy Chúa, kẻ ghét Ngài, làm sao con không ghét? Con ghét chúng, ghét cay, ghét đắng, chúng trở thành thù địch của chính con" (Tv 139,19-22). Những thủ bản kinh Thánh ở Qumram có lệnh truyền này: "Ngươi sẽ ghét những đứa con của bóng tối". Vả lại, phải hiểu ở đây trước hết không phải là những kẻ thù của mình mà là những “kẻ thù của Thiên Chúa" tức là những kẻ thù của của nhóm giáo sĩ gồm “con cái của ánh sáng. Vậy sự thù ghét trước hết có ý nghĩa là từ chối ý thức hệ của họ.
"Còn Thầy, Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em. Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính".
Đây là điều mới mẻ cao cả nhất của Tin Mừng. Cho đến bây giờ người ta đã cầu nguyện "chống lại" các kẻ thù của mình (Thánh vịnh 17,13; 28,4; 69,23-29; v.v…) Giờ đây phải cầu nguyện cho họ, nghĩa là để cho họ được hoán cải. Nhưng hãy coi chừng, người ta không thể sống Tin Mừng, bằng cách chỉ ở lại trên bình diện con người. Làm điều mà. Thiên Chúa vừa đòi hỏi chúng ta là đã vượt quá những khả năng của con người. Nếu Đức Giêsu bảo chúng ta yêu mến kẻ thù, chúng ta bởi vì Thiên Chúa là người đầu tiên yêu chúng ta như thế Phải đọc lại đoạn văn nổi tiếng của thánh Phaolô gởi tín hữu Rôm (5,7.8): "Hầu như không ai chết vì người công chính, họa may có ai dám chết vì một người lương thiện chăng. Thế mà Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi”. Khi chúng ta đứng trước một tình yêu thương mà về mặt con người, chúng ta khó sống hoặc không thể sống nổi thì chúng ta không còn ở lại trên bình diện tâm lý, đạo đức và xã hội… mà phải đặt mình trước măt ảnh chuộc tội: Lạy Chúa Giêsu con của Chúa Cha, Chúa đã muốn điều tốt lành cho những người muốn Chúa chịu điều ác... Chúa đã đau khổ và đã chết… Tình yêu chúng kẻ thù chỉ có thể đến từ Thiên Chúa không ngừng thực hiện, ‘Người cho mặt trời của Người mọc lên trên cánh đồng của người vô thần bách hại đạo, cũng như trên khu vườn của các nữ tu Cát Minh’. Bạn có tự hỏi mình phải làm gì để yêu thương người không yêu thương bạn không?
Thiên Chúa đã yêu bạn như thế nào? Bằng cách không ngừng tha thứ cho bạn. Đức Giêsu chỉ dám yêu cầu chúng ta sống tình yêu thương xem ra không thể có đối với kẻ thù bởi vì Người đã sống nó trước tiên: "Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34).
“Vì nếu anh em yêu thương kẻ yêu mình, thì anh em nào có công chi? Ngay cả những người thu thuế cũng chẳng làm như thế sao? Nếu anh em chỉ chào hỏi anh em mình thôi, thì anh em có gì lạ thường đâu? Ngay cả người ngoại cũng chẳng làm như thế sao?
Người đã nói: chúng ta hãy trở thành muối và ánh của thế gian. Vì thế Người mời gọi chúng ta chấp nhận một cung cách hoàn toàn mới về mặt nhân loại là không thể có cắt đứt với mọi cung cách của những người khác. Để bắt chước Thiên Chúa; noi gương Người, chúng ta phải đi đến tận cùng tình yêu ấy vốn không đơn giản là một tình yêu có qua có lại: Tôi yêu thương bạn bởi vì bạn yêu thương tôi, tôi chào bạn bởi vì bạn chào tôi... Đức Giêsu nói, người ngoại cũng chẳng làm như thế. Phần Thiên Chúa; trước sự khước từ tuyệt đối không đáp lại tình yêu, Người vẫn duy trì quyết định tuyệt đối là yêu thương. Theo Đức Giêsu yêu không thể chỉ được giản lược vào bình diện tình cảm, sự lôi cuốn, cảm tính, quyến luyến. Đức Giêsu không chê trách tình yêu đó, mà chúng ta rất cần. Ai có thể sống mà không có sự dịu dàng âu yếm đó? Có điều, Đức Giêsu bảo chúng ta rằng không nên ở lại mãi trong tình yêu đó.
Phải Đức Giêsu bảo chúng ta phải yêu thương kẻ thù của mình. Và chúng ta có sẵn nghệ thuật xoa dịu yêu sách của Tin Mừng, chúng ta nói: ‘Tôi không có kẻ thù...’ Lúc đó, chúng ta phải chấp nhận ánh sáng sống sượng và mạnh mẽ mà Đức Giêsu soi chiếu trên cuộc đời con người đã mang dấu ấn của những xung đột không thể tránh khỏi: Thật ra mọi người không giống tôi đều xúc phạm và làm tôi tổn thương. "Cái làm cho người khác khác tôi", cáo giác tôi và nhắm đến việc loại bỏ tôi... ‘Tính tình ấy rất khác tính tình của tôi’ làm tôi bực dọc giết chết tôi. ‘Cái cách nói năng đó... cái cách cư xử đó...’ làm tôi phát cáu. Bạn đừng chờ đến ngày mai. Ngay trong giây phút này bạn. hãy ngừng ngay suy nghĩ của bạn.... và hãy làm điều Đức Giêsu bảo bạn: Hãy cầu nguyện, dù chỉ trên danh nghĩa cho những người làm bạn bực bội, những người làm bạn đau khổ, những người mà bạn không yêu hoặc những người không yêu bạn.
“Vậy anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện”.
Yêu thương những người không yêu chúng ta... đó là noi gương Thiên Chúa. Hãy làm điều thiện hảo cho những ai làm hại chúng ta, đó là điều linh thánh. "Kitô hữu là gì? Đó không phải là đã đạt đến mục đích cao cả nhất tức tình yêu phổ quát, mà là cố gắng vươn lên tình yêu ấy. Đây không phải là một thứ đạo đức hiền từ nhu nhược dành cho những người có tình cảm bất lực. Chúng ta là những con cái của một Chúa Cha được "ôm ấp tròng lòng của Người" dù là kẻ xấu cũng như người tốt. Trên thập giá Đức Giêsu có quyền nói với chúng ta những yêu sách ấy. Người là Đấng bị người ta vả vào má... bị người ta lột áo trong, áo ngoài... bị người ta đem ra xét xử trong một vụ kiện bất công... bị người ta đem ra xét xử trong một vụ kiện bất công... bị người ta lôi đi hai dặm trên con đường lên núi Can-va-ri-ô. Người là "Đấng bị đóng đinh mà không có lòng thù hận".

 

TN7-A15: Chú giải của Fiches Dominicales

“ANH EM HÃY NÊN HOÀN THIỆN NHƯ CHA ANH EM TRÊN TRỜI LÀ ĐẤNG HOÀN THIỆN”
VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Những áp dụng cụ thể của luật mới…
 

Khi tuyên bố rằng Ngài "đến không phải để hủy bỏ Lề luật và các Tiên Tri, nhưng là để kiện: TN7-A15

Khi tuyên bố rằng Ngài "đến không phải để hủy bỏ Lề luật và các Tiên Tri, nhưng là để kiện toàn”. Trong Bài giảng trên núi, Đức Giêsu mạc khải "sự công chính" mới của Nước Trời hệ tại điều gì: đó không phải là giữ Luật cách hình thức, nhưng là "tự điều chỉnh" theo ý Chúa Cha như Ngài, là sống thông hiệp trong tình yêu và tự do của Người Con như Ngài. Rồi nhờ vào 5 minh họa, Ngài cụ thể hóa "sự công chính” mới này, và cho biết rằng để thực hiện toàn bộ Lề luật người tín hữu phải đầu tư toàn bộ cuộc sống của mình. Cả năm minh họa đều bắt đầu bằng một dạng thức duy nhắt biểu lộ một quyền lực phi thường: ‘Anh em đã nghe người xưa được dạy rằng... Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết’. Ba minh họa đầu tiên trong Phúc âm chúa nhật vừa qua, hai minh họa cuối cùng trong Phúc âm hôm nay.
Minh họa thứ tư nhân nhượng mối tương quan và Để tránh những sự trá thù thái quá ngoài tầm kiểm soát luật báo thù (loi du talion) dự kiến kẻ gây hấn sẽ bị đối xử tương xứng với điều thiệt hại đã gây ra cho nạn nhân "Mắt đền mắt" - nhưng không phải là đền hai mắt, "răng đền răng" nhưng không phải là cả hàm (xem Lêvi) Luật này đã là một tiến bộ thực sự trong việc trấn áp tội phạm.
Phần Đức Giêsu, ngài chủ trương một thái độ rất cá biệt, tương phản hoàn toàn với thái độ bình thường: “Đừng chống cự với người ác". Ngài đòi hỏi các môn đệ phải bẽ gãy vòng xích bạo lực, dù hợp pháp, và được báo thù.
Ba ví dụ sau đều ở ngôi hai số ít:
+ Ví dụ thứ nhắt về "cái tát": "Nếu ai vả má bên phải con, hãy giơ cả má bên trái ra nữa.” Dĩ nhiên không thể hiểu lệnh mâu thuẫn này theo nghĩa đen. Chính Đức Giêsu cũng đã không giơ má khác cho tên đầy tớ tát tai. Ngài hỏi hắn: "Nếu tôi nói sai, hãy cho thấy sai ở chỗ nào. Còn nếu tôi nói đúng, sao anh lại tát tôi?" (Gioan 18,23). Như vậy, đứng trước kẻ gây hấn, người theo Chúa để có một hành vi vừa thách thức vừa làm cho kẻ địch hết chống trả.
+ ví dụ thứ hai về người môn đệ bị người khác có ý định đưa ra tòa và người đó muốn lấy áo trong (tưnique) người môn đệ làm vật thế chấp, nghĩa là áo lót. Đức Giêsu chủ trương: "Hãy để cho nó lấy cả áo ngoài nữa". Trong khi đó, theo Luật, áo ngoài và áo trong là của không thể sang nhượng được của người nghèo; chiếm hữu chúng là xâm phạm đến chính Thiên Chúa (coi Xh 22, 25-26). Khi để bị trần trụi đến cho đi cả áo theo gương Thầy mình, các Kitô hữu biết rằng sự khó nghèo như vậy, họ là những kẻ chiến thắng, bởi vì họ sẽ được lòng thương xót của Thiên Chúa bao bọc.
+ Ví dụ sau cùng là ví dụ về sự "trưng tập", thường được quân đội và các viên chức chánh quyền Rôma dùng để làm việc công ích (một hình thức lao dịch thời đó). Đức Giêsu còn nói thêm. "nếu có người bắt anh đi một dặm, thì hãy đi với người ấy hai dặm". Ngoài bài giảng trên núi, thánh sử Mátthêu chỉ dùng động từ "trưng tập" một lần khác khi quân lính trưng tập Sinon thành Xyrênê, một dân ngoại, lúc đó tượng trưng cho tất cả các thế hệ môn đệ chấp nhận thập giá Đức Kitô.
+ Minh họa thứ năm và cuối cùng nói đến yêu thương kẻ thù. Sách Lêvi viết: "Ngươi sẽ yêu tha nhân như chính mình" (19,18). Như vậy điều này mời gọi con cái Israel sống với nhau bằng tình yêu huynh đệ loại bỏ mọi hận thù oán ghét. Nhưng các Thầy rabbi thuộc những nhóm khác nhau tranh luận mãi về quan niệm tha nhân và nhiều người đã cho nó một nghĩa hạn hẹp: tha nhân là người mà ta có quan hệ tốt đẹp; phân biệt với kẻ thù. Từ đó mà có câu Phúc âm: ‘Anh sẽ ghét kẻ thù’ tuy câu này không có trong Luật, nhưng biểu lộ khá đúng ý nghĩ của rất nhiều người. Ngược lại với tình yêu có tính cách chọn lựa đối tượng này, Đức Giêsu nói đến một tình yêu phổ quát vượt mọi biên giới, đến cả kẻ thù và người bách hại, theo Ngài, đòi hỏi này đặt nền tảng trên cách đối xử của chính Thiên Chúa với mọi người, "Kẻ xấu cũng như kẻ tốt", người công chính cũng như kẻ bất chính".
2. Hệ tại theo gương Chúa Cha:
Câu 48 kết luận toàn thể phần này: “Vậy anh em hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng thiện”.
Như vậy, theo gương Cha và Con của ngài Đức Giêsu, đó là nền tảng và mục đích của Luật mới này. Là người môn đệ của Đức Giêsu, đến lượt chúng ta được mời gọi sống như Con, với Ngài và trong Ngài. Cái mới triệt để của Bài giảng trên núi chính là vậy, chứ không phải trong một giới răn đặc biệt nào.
Cl. Tassin chú giải: "Tính từ “hoàn thiện” tóm tắt ý tưởng về sự công chính hơn (các ký lục và biệt phái) ở câu 20, và sự hoàn thiện này chính là noi theo hành động của Thiên Chúa. Đạo Do Thái đã hiểu "những công việc bác ái xót thương" như những hành vi mà chính Thiên Chúa đã làm gương. Và Hội đường đã chú giải sách Lêvi 22, 28 bằng ngạn ngữ sau: “Như Ta thương xót trên trời thế nào, dưới đất các con cũng hãy thương xót như vậy" Điều này được Luca trình bày bằng những từ như sau: "Hãy xót thương như Cha các con là Đấng xót thương" (6,36). nếu Mátthêu thích tĩnh từ "hoàn thiện" hơn, là vì theo Ngài, lòng thương xót đạt tới mức yêu thương kẻ thù chính là hoàn thiện được Thiên Chúa trông đợi nơi những người của Ngài. Những ai muốn rập theo khuôn mẫu Chúa thì cậy vào Đức Giêsu. Con chí thiết của Thiên Chúa, ngài trao cho các chìa khóa bí mật này". ("Phúc âm Matthêu”, Centurion, 1991, tr. 69-70).
BÀI ĐỌC THÊM.
1. “Bẻ gãy vòng vây bạo lực”: (Đức cha L. Daloz, trong "Nước Trời đến gần", Desche de Brouwer, tr. 58-60).
Đức Giêsu lấy lại qui định của Luật: anh em đã nghe dạy rằng: Mắt đền mắt, răng đền răng... đối với chúng ta điều đó dường như biểu lộ một sự trả thù nghiệt ngã, nhưng trong thực tế, nó lại điều hòa bạo lực và giới hạn ham muốn. Trong một xã hội mà mỗi người thường là quan tòa cho chính mình, đó là một loại luật "tương xứng" trong sự đền trả lại sự xúc phạm, người ta có thể trả thù tới mức độ, không được vượt quá. Trong các quốc gia của chúng ta ngày nay, mỗi người không thể làm quan toà cho chính mình. Chúng ta đã có nhũng cơ quan cảnh sát và tư pháp là những cơ quan duy nhất có quyền bất và trừng phạt những kẻ phạm tội ác. Các hình phạt được xác định rõ bởi một bộ luật. Trong bộ luật này, người ta tìm thấy lại nguyên tắc tương xứng. Như vậy phạm nhân thoát khỏi ham muốn trả thù cá nhâ, người ta lưu ý đến hoàn cảnh, không chỉ tìm cách trấn áp và trừng phạt, mà còn nhằm tìm cách chữa trị và nâng đỡ. Dĩ nhiên, chúng ta ai cũng biết rằng hệ thống tư pháp có những điểm yếu, những trì tre, những sai lầm hay những "vết chàm". Nhưng dẫu sao nó vẫn là một đảm bảo về sự tiến bộ của nhân loại, chứ trong khung cảnh xã hội và pháp lý này mà hôm nay chúng ta đón nhận Lời Đức Giêsu. Và ngay cả ở trong khung cảnh này, Ngài vẫn kiện toàn Luật bằng cách làm cho nó đi sâu vào tâm hồn con người. Có khi ý muốn trả thù không còn biểu lộ qua hành động nữa nhưng vẫn còn bị khích động và khơi gợi lên trong công luận qua các hành vi bạo lực và các vụ kiện. Không dễ gì chống lại được tình cảm tập thể, nhất là khi nó được chia sẻ bởi một đám đông những khán giả trong một thế giới mà tất cả mọi sự đều bị các phương tiện thông tin đại chúng truyền đi. Đàng khác chúng ta dễ ham muốn kêu gọi trả thù và trừng phạt khi chính chúng ta không phải chịu trách nhiệm. Trong xứ sở chúng ta, ngành tư pháp có sứ mạng xã hội vừa bảo vệ, giáo dục vừa làm gương; nhưng cũng vừa sửa đổi, chữa trị vừa giúp tái hội nhập. Lời Đức Giêsu dạy đừng chống cự người ác không cản trở cũng không gò bó sứ mạng này Nhưng còn có một cái gì khác hơn là những biện pháp cần thiết để bảo đảm an an ninh xã hội, một cái gì khác hơn là sự hận thù, ghen ghét, báo án. Đức Giêsu kêu gọi đến cái tốt nhất nơi con người, đôi khi đến cả sự anh dũng để có được một con út thứ tha; chúng tôi có thể làm chứng các Kitô hữu sự tha thứ này cách công khai! Đức Giêsu không cấm chúng ta đòi hỏi những quyền lợi chính đáng. Khi bị viên vệ binh tát tai, chính Ngài đã đòi anh ta giải thích lý do tại sao anh ta hành động như vậy: nếu tôi nói sai, hãy cho thấy sai ở chỗ nào; nếu tôi nói đúng, thì sao lại tát tôi”. (Ga 18, 23). Nhưng nơi vườn Cây dầu Ngài cho phép Phêrô rút kiếm bảo vệ mình và cũng vì Chúa Cha sai các đạo binh thiên thần đến che chở Ngài để mình bị trấn lột, tát tai, đánh đập và đội triều thiên bằng mũ gai. Ngài không hài lòng với lời kêu gọi đừng lấy oán báo oán, lấy lành thắng dữ, lấy tình yêu thắng hận thù. Ngài còn tỏ ra chính mình là con đường thực hiện lời tiên tri về người đầy tớ đau khổ đã không quay lưng, quay mặt tránh những kẻ ra sức làm khổ mình. Ở bất cứ nơi đâu chúng ta sinh sống và theo cách thế của mình, Ngài kêu mời chúng ta đừng đi vào chu kỳ bạo lực, nhưng hãy có đủ sức mạnh tinh thần để đặt một Lôgíc mới trong mối tương quan giữa con người với nhau.
2. “Thứ tha như Thiên Chúa tha thứ cho ta”
“Nếu thực sự thứ tha của Thiên Chúa làm tôi hiện hữu, nếu Ngài ban cho tôi tình yêu Thiên Chúa và khả năng yêu mến, làm sao tôi lại không thể hoán chuyển tình yêu thành thứ tha theo chừng mực, mà tôi có thể làm được đối với những ai đã phản bội, chối bỏ và làm tổn thương tôi? Hoặc tôi không là Kitô hữu và rơi vào lối sống theo câu ngạn ngữ cổ: “mắt đền mắt, răng đền răng”, hoặc tôi muốn sống như là một Kitô hữu, thì lập tức tôi phải nhớ điều loan báo cốt yếu nhất của đức tin: tất cả anh em, đều là những tội nhân đã được thứ tha, tất cả anh em đều là nhũng đứa con của lòng thương xót. Nếu anh em muốn là những Kitô thực sự sống đạo, điều thực hiện đầu tiên, cơ bản nhất, chính là thực hành điều Thiên Chúa đã sống đối với anh em, điều mà Đúc Giêsu đã làm vào lúc Ngài sắp qua đời. Đó là thứ tha. Đó là cách thế duy nhất em làm chứng cho mọi người sự tha thứ ta đã lãnh nhận và nó được trao ban cho tất cả mọi người. Dĩ nhiên sự tha thứ như vậy không thể là sự quá ngây thơ, càng không thể là sự cổ võ cho sự dữ. Để thực sự là tha thứ, nó chỉ có thể phát xuất từ một lương tâm không có ảo tưởng nào về những ác tâm, ô nhục, tội ác của thế gian nào và của lịch sử con người. Tuy nhiên, vượt lên trên không bất hạnh mà người Kitô hữu dấn thân đấu tranh nhân danh công lý, họ còn làm chứng về niềm hy vọng Thiên Chúa đặt sẵn nơi mỗi người, dù là những kẻ phạm tội, nhơ nhớp nhất Như vậy, Thiên Chúa mong muốn tất cả hoán đổi ác tâm và hận thù thành tình yêu. Điều này thật đúng, vì chúng ta chỉ là Kitô hữu do niềm tin và hy vọng như vậy, và chúng ta đang cố gắng hết sức mình sống niềm tin là hy vọng đó nhờ ơn Chúa”
3. “Yêu thương mọi người vì Thiên Chúa yêu thương họ” (Martin-Luther King, trong “Chỉ có một cuộc cách mạng”. Casterman, 1968, tr. 108-109)
Trong Tân ước, chúng ta thấy từ Agapè được dùng để chỉ tình yêu. Đó chính là tình yêu dồi dào không đòi một đáp trả nào hết. Các nhà thần học nói đó là tình yêu hơn Chúa được thực hiện nơi tâm hồn con người. Khi vươn đến một tình yêu như vậy, chúng ta sẽ yêu hết mọi người, không phải vì chúng ta có thiện cảm với họ, không phải vì chúng ta đánh giá cao lối sống của chúng ta yêu thương họ vì Thiên Chúa yêu thương họ, chính là ý nghĩa Lời Đức Giêsu Anh em hãy yêu thương kẻ thù. Phần tôi, tôi sung sướng vì Ngài đã không nói: “Anh em hãy có thiện cảm với kẻ thù của anh em” bởi vì có những người mà tôi khó có thiện cảm nổi, thiện cảm là một xúc cảm. Tôi không thể có xúc cảm với người ném bom vào gia đình tôi. Tôi không thể có thiện cảm với người bóc lột tôi. Tôi không thể có thiện cảm với người đè bẹp tôi dưới sự bất công. Không, không thể có thiện cảm nào đối với người đêm ngày đe dọa giết tôi. Nhưng Đúc Giêsu nhắc tôi rằng tình yêu còn lớn hơn thiện cảm, rằng tình yêu là thiện chí biết cảm thông, có sáng tạo, cứu độ đối với hết mọi người”.

 

TN7-A16: Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt

YÊU THA NHÂN VÔ BỜ BẾN
CÂU HỎI GỢI Ý
1. Các yêu sách của Chúa Giê-su có thể thực hiện được không?
 

Chúng là những chỉ thị, chỉ dẫn hay điều luật? b. Chúa Giêsu ngỏ lời với ai? Với một nhóm: TN7-A16

a. Chúng là những chỉ thị, chỉ dẫn hay điều luật?
b. Chúa Giêsu ngỏ lời với ai? Với một nhóm ưu tú? Với tất cả môn đồ? Thánh Bonaventura phân biệt hai hạng người: hạng của điều luật, hạng của lời khuyên, và cho rằng ở đây Chúa Giêsu nhắm đến hạng thứ hai. Phải nghĩ sao về ý kiến này? Các "lời khuyên" thuộc phần nào trong Tin Mừng?
c. Vài tác giả khác cho rằng nghiêm chỉnh mà nói thì các lời Chúa Giêsu không thể nào thực hiện được. Từ đó họ bảo có hai nền luân lý, một có tính cách hão huyền, do Chúa Giêsu tưởng tượng ra, nhằm thúc đẩy ta ăn năn hoán cải và nhận biết mình là tội nhận; một có tính cách thực tế, tầm thường, công dụng.
Hãy rút ra phần sự thật trong lối giải thích thứ nhất (cánh chung học): Các yêu sách của Chúa Kitô tự chúng có thể thực hiện được không? Ai làm cho chúng có thể thực hiện được? Nếu không thì Diễn từ chẳng trở nên một khảo luận luân lý sao?
2. Tầm mức và giới hạn của Diễn từ trên núi:
a. Phải chăng đó là một chương trình sống xã hội (Tolstoi)? Một chương trình đào tạo Kitô hữu?
b. Phải chăng đó là toàn bộ hiến chương Kitô giáo? Thiếu điều gì chủ yếu trong Diễn từ này không, hoặc trong các yêu sách, hoặc trong lời mặc khải mầu nhiệm Nước Trời?
c. Hãy tìm tương quan giữa luật Chúa Kitô với luật tự nhiên: mối tương quan giữa luật Môisen và luật Chúa Giêsu phải chăng không tương tự với tương quan bản tính-ân sủng và với tương quan thế trần Kitô giáo?
3. Tìm ý nghĩa của câu: "Hãy nên trọn lành như..." (5,48; x. Lv 19, 2; Lc 6, 36). Câu đó phải chăng không nói lên một mệnh lệnh bất khả thực hiện? Giữa sự "trọn lành" và "đức công chính dư dật" (5, 20) có tương quan gì?
***
1. Người ta đã dày công tìm hiểu giáo huấn luân lý Do thái để xem các lời khiển trách của Chúa Giêsu, ví dụ về luật báo thù, có đúng hay không, và để xem tính cách mới mẻ của các yêu sách "mới" của Người hệ tại ở chỗ nào. Kết quả của những cuộc nghiên cứu này không bất lợi mấy cho Do thái giáo. Đối chiếu với mọi giới luật luân lý được Chúa Giêsu phát biểu một cách như khiêu khích, ta có thể trích dẫn nhiều câu tuyên bố của các giáo sĩ cũng nói ít nhiều một chuyện như thế, cũng đạt tới một tầm mức luân lý cao như thế, trên một vài điểm hoặc ít ra cũng rất tương hợp trên nhiều điểm khác. Phải thành thật mà công nhận điều đó. Tuy nhiên việc so sánh ấy làm lệch lạc quan điểm. Vì một trong những đặc điểm của truyền thống trường phái Do thái là thu gộp lại các câu nói khác nhau của các giáo sĩ, đến nỗi có nhiều ý kiến có giá trị luân lý cao đã được đặt bên cạnh các ý kiến khác từng bị Chúa Giêsu tấn công. Thành thử ta phải công nhận Tân ước như là nguồn mạch của mọi quan niệm thông thường ảnh hưởng trên tâm thức nhân gian thời bấy giờ. Sau cùng và đặc biệt, điều quan trọng đối với Chúa Giêsu, đó là một sứ điệp tôn giáo và luân lý tổng hợp, mà tìm cách mới mẻ đã được tỏ bày cùng với giờ của lịch sử cứu rỗi.
2. Trong tất cả các phản đề Chúa Giêsu nêu lên, hiện ra một yêu sách duy nhất, dứt khoát. Điều thiện cần làtn thì phải làm cho trọn vẹn. Ai chỉ làm một phần, với sự hạn chế, cốt cho xong mệnh lệnh bên ngoài, là không làm gì cả. Và để người ta hoàn toàn chú ý tới yêu sách đó, cái yêu sách ăn sâu đến tận tâm hồn, Chúa Giêsu dùng một thể văn đặc biệt: thể văn phóng đại. Câu tuyên bố về việc làm gương xấu và về yêu sách chặt bớt các phần thân thể là một trường hợp rõ ràng. Và ta cũng phải hiểu theo một nghĩa tương tự phán quyết của Chúa Giêsu về sự giận hờn và nhục mạ. Tuy nhiên, đừng lạm dụng hình thức giảng dạy bình dân thông dụng ở phương Đông này, để làm yếu đi các đòi hỏi khách quan mà nó chứa đựng. Vì quả thực Chúa Giêsu buộc phải triệt để xa lánh ngay cả dịp tội, chấp hành tốt tình huynh đệ không chỉ bên ngoài mà còn từ ý tưởng con tim, và từ chối mọi quyền trả thù chính đáng (5, 38- 42).
3. Nố sau cùng này đặc biệt gây ra nhiều vấn đề khó giải quyết. Phải chăng như thế là Chúa Giêsu đã không phá bỏ trật tự pháp lý bên ngoài cần thiết cho đời sống xã hội? Trật tự đó há chẳng bắt nguồn từ Thiên Chúa sao? Và đặc biệt riêng về đoạn văn này, phải chăng nó không tạo nén một nền tảng Kinh Thánh vững chắc cho các luồng tư tưởng chủ hòa hiện thời, những luồng tư tưởng nghiêm cấm mọi hình thức tham chiến. Rồi người bị thiệt thòi cách bất công có thể nại đến toà án không.. Đó là những câu hỏi hóc búa khó trả lời trong vài dòng chữ. Chúng ta hãy tạm đưa ra một vài nhận xét tổng quát ít nhất như những cái mốc đầu tiên của một câu trả lời.
Tất cả các quy định của luật Cựu ước mà Chúa Giêsu trích dẫn, dù chưa thực sự hoàn hảo, cũng đã nói lên một tiến bộ luân lý không thể chối cãi so với luật rừng hay tình trạng man rợ vẫn có khuynh hướng ưu thắng trong đời sống xã hội thời bấy giờ. Tất cả các quy định đó đều nhằm mục đích làm cho đời sống xã hội trở nên công bình và huynh đệ hơn. Thế mà, sở dĩ Chúa Giêsu đến kiện toàn Lề luật Môisen, chính là để kiến lập thêm công bình và huynh đệ giữa con người. Dĩ nhiên, việc kiện toàn luật Môisen chỉ có thể được thực hiện trong chiều hướng triệt để hóa các yêu sách tuyệt hảo nhất của nó. Thành ra mọi lời giải thích học thuyết luân lý của Chúa Giêsu trong Diễn từ trên núi đều phải lưu ý đến bối cảnh tổng quát đó: lối giải thích nào khuyến khích các lạm dụng và có khuynh hướng biến xã hội thành một đàn cừu phó mặc cho lũ sói cắn xé, thì không phù hợp với bồi cảnh này. Vì thế, thái độ bất kháng cự tuyệt đối trước mọi hình thức bạo lực đang hoành hành trong thế giới ngày nay, chỉ tổ khuyến khích việc bóc lột kẻ cô thân yếu đuối, tước đoạt các nhân quyền và làm phương hại phẩm giá con người cách trầm trọng.
Thứ đến, có thể tự hỏi phải chăng Chúa Giêsu chỉ muốn đứng trên bình diện pháp định hoàn toàn. Có nhiều bằng chứng cho thấy phải hiểu ngược lại. Thực vậy, các bản văn pháp luật thường mang tính cách điều độ, dùng từ ngữ chính xác, không có những hình ảnh thái quá hay kiểu nói khoa trương, đầy dấy nhiều điều khoản tiên liệu các luật trừ v.v... Thế mà văn thể Chúa Giêsu dùng trong Diễn từ lại hoàn toàn khác biệt. Người ưa sử dụng kiểu nói đại ngôn. Hãy lấy một trường hợp điển hình: lời khuyên bảo chìa cả hai má cho kẻ vả mặt (5, 39). Hiển nhiên đây không phải là một nguyên tắc về phản lệ chính thức, song chỉ là một ví dụ cố ý phóng đại ra; cũng vậy khi nói phải móc mắt hay chặt bàn tay. Vì trong thực tế, hành động như thế chẳng có hiệu quả gì. Cũng như con mắt bị móc hay bàn tay chặt lìa không thể bảo vệ người tín hữu khỏi bị một gương xấu khác, thì cũng vậy, cái vả má thứ hai chẳng cản ngăn được cái tát thứ ba, hay làm cho người hung ác trở nên thiện cảm. Hơn nữa, chính Chúa Giêsu sẽ đưa ra một lối giải thích hay nhất về câu nói của Người: đó là khi bị tên đầy tớ vả mặt, Người đã chẳng đưa má kia, song nghiêm nghị hỏi nó: "Nếu Ta đã nói không phải, thì hãy làm chứng không phải chỗ nào: còn nếu là phải, sao lại đánh Ta?" (Ga 18, 23). Hãy phân biệt rõ: một đàng là mệnh lệnh, có giá trị đối với mọi người và cho mọi hoàn cảnh, đàng kia là một ví dụ cố ý phóng đại mà chẳng xét đến các điều kiện cụ thể hằng biến đổi luôn. Chúa Giêsu công bố một lý tưởng, chứ không ban hành một đạo luật.
Lại nữa, giả thiết rằng Giáo Hội và xã hội phải tuân theo một quá trình tiến hóa có tính cách năng động, và quá trình này, ít ra trong các nguyên tắc, nhằm tinh luyện ý thức luân lý dưới tác động của Chúa Thánh Thần (như đã xảy ra trong suốt lịch sử Israel), thì có thể Chúa Giêsu đã biết đến một quá trình như vậy và muốn trình bày, trong Diễn từ trên núi, các nguyên tắc năng động sẽ hướng quá trình đó tiến về việc thực hiện ngày càng hoàn hảo một xã hội công bằng và huynh đệ. Trong viễn ảnh ấy, các lời khuyên bảo có tính cách tuyệt đối của Người có lẽ không nhằm đưa ra các mệnh lệnh cụ thể phải thực hiện tức khắc, nhưng đưa ra một đường hướng phải theo để dần dà, với thời gian, sự thiện lướt thắng sự ác.
Hiển nhiên, mọi suy luận trên đây chẳng làm mất đi tính cách khẩn trương của một nỗ lực vô điều kiện nhằm thực hiện các yêu sách luân lý của Chúa Giêsu. Vì Người cũng muốn đưa ra, không phải một bộ luật mới, song là những đường hướng mới và đòi buộc một thái độ cụ thể. Điều đó hiện ra rõ ràng qua cung giọng sai khiến của các phản đề, và được xác định bởi dụ ngôn cuối cùng về việc xây nhà, trong ấy Chúa Giêsu đối chiếu người khôn biết nghe lời Người và đem ra thực hành, với kẻ dại chỉ nghe qua mà thôi. Tuy nhiên, trong cụ thể, việc đem ra thực hành đó cũng bị chi phối bởi nhiều hoàn cảnh. Điều cốt yếu là biết cảm hứng theo lý tường mình nhận ra trong Diễn từ này và chân thành phấn đấu đưa lý tưởng đó vào trong một thế giới mà, mặc dầu bị nhiều thất bại thê thảm, cũng biết cách mù mờ rằng nó phải chọn hoặc luân lý Tin Mừng, hoặc là bị hủy diệt tiêu tan.
CHÚ GIẢI CHI TIẾT
"Mắt thế mắt, răng đền răng": Nguyên tắc báo thù theo đó phạm nhân phải bị bồi thường tương xứng với thiệt hại đã gây nên, vẫn được áp dụng chung chung và từ lâu, trong thế giới văn minh. Nguyên tắc đã xuất hiện trong bộ luật Hammourai 2000 năm trước Chúa Giêsu. Ở đây nó quy chiếu về Xh 21, 24 (x. Đnl 19, 21; Lv 24, 20). Trong bối cảnh Cựu ước, nó nhấn mạnh đến tính cách nghiêm khắc cần thiết của hình phạt, song cũng đánh dấu một bước tiến quan trọng so với chế độ báo thù cá nhân hỗn loạn (xem bài ca man rợ của Lamek trong St 4, 24 chẳng hạn).
"Đừng cự lại người ác": Huấn thị này không nói với các quan tòa là những kẻ phải tìm cho ra phương cách mới để áp dụng luật lệ trường hợp các truyền thống giáo sĩ Do thái), nhưng trái lại ngỏ lời với người bị tổn thương để bảo họ biết phải xử trí ra sao cho hợp với tư cách môn đồ Chúa Kitô. Chúa Giêsu và các Kitô hữu đầu tiên không muốn hủy bỏ pháp chế hiện hành thời đó (như thánh Phaolô, với tư cách công dân Rôma, đã kháng cáo lên Hoàng đế để xin minh oan: Cv 25,11); song các ngài đã đưa vào xã hội một thái độ nhân bản mới làm phát hiện tính cách sơ thiển, hạn chế trong thời gian của các bộ hình luật chính thức hiện hành; các bộ luật này không bị hủy bỏ nhưng đã trở nên lỗi thời vì thái độ cụ thể của các Kitô hữu, là thái độ dù cảm hứng theo một lý tưởng, vẫn để ý tới các hoàn cảnh con người, không gian và thời gian.
“Đi một dặm": Chắc hẳn ví dụ này ám chỉ đến một khổ dịch; binh sĩ và viên chức này xưa có thể buộc một bộ hành nào đó vác một gánh nặng (x. trường hợp ông Simon thành Xyrênê vác thập giá) hoặc đi theo họ để làm con tin hay người dẫn đường.
"Ai xin... ai muốn vay": Lời khuyên gồm hai xác ngôn song song- hầu như đồng nghĩa: việc cho vay mượn thường tương đương với việc bố thí. "Cho đồng loại vay là làm việc từ thiện", Hc 29, 1 khẳng định thế. Giữa người Do thái với nhau, cho vay không được ăn lời (Xh 22, 24; Lv 25, 35- 37; Đnl 15, 7- 11; 23, 20-21 tất cả các bản văn này đều quy chiếu về các "anh em” Do thái) và đến hưu niên (année sabbatique) thì mọi nợ nần và vay mượn đều được tha ít nhất trên lý thuyết (Đnl 15). Làm thế là vì Israel muốn mãi mãi là một dân tộc sống tình anh em. Ở đây hình như Chúa Giêsu muốn nới rộng luật ấy theo nghĩa là người yêu cầu hãy cho vay bất cứ ai xin vay, mà đừng để ý đến chủng tộc hay tôn giáo của họ. Gia đình Israel phải mở rộng cửa nhà mình cho tất cả mọi người.
“Hãy ghét địch thù": Trong lúc mấy phản đề trên kia quy chiếu về các khoản luật đích xác của Cựu ước thì ớ đây lại khác hẳn. Quả vậy, ta chẳng tìm đâu ra trong Cựu ước mệnh lệnh minh nhiên phải ghét địch thù. Có lẽ lời huấn thị chỉ muốn chống lại tư tưởng khá phổ biến trong Do thái giáo suy đồi là: tất cả những ai không thuộc thành phần cộng đoàn quốc gia và tôn giáo đều là thù địch. Đặc biệt trong các bản văn Qumrân, ta thấy tỏa ra lòng khinh miệt ghê gớm đối với "con cái tối tăm"; các Thánh vịnh của Salomon cũng cho nhiều ví dụ tương tự. Thành thử có lẽ trong bối cảnh này, thù địch không phải là đối phương cá nhân bên trong cộng đoàn tôn giáo, cũng chẳng phải là thù địch của quốc gia theo nghĩa chính trị hay quân sự, nhưng là kẻ bách hại đức tin, kẻ thù của cộng đoàn thiên sai do các Kitô hữu đầu tiên thành lập. Trước đó, trong bản 70, chữ echthros đã thường chỉ các thù địch của dân Thiên Chúa (Tv 31, 7; 139, 21 v.v...); lời ám chỉ đến các người bắt bớ trong câu tiếp theo củng cố giả thiết vừa nói; sau cùng các thánh thư cũng cho thấy chữ này thường được dùng theo nghĩa ở thế kỷ thứ nhất (2 Tx 3, 15; Rm 5, 10; Cl 1, 21; Gc 4, 4). Tình yêu nói đây không phải chỉ là chẳng giận hờn, chẳng báo oán nhưng, như trong Cựu ước và Tân ước, luôn luôn là hành động cụ thể, là hiệp thông sống động biểu lộ qua các cừ chỉ rõ ràng (Vd. Lời chào hỏi nơi c.47). Cầu nguyện cho các người bắt bớ không phải là biểu thức duy nhất của tình yêu đó, song chỉ là một trong các cách biểu lộ tình yêu; chữ khi (và) chẳng có nghĩa giải thích nhưng có nghĩa: và đặc biệt. trong khi làm các cử chỉ yêu thương này, có thể ta vẫn mang tâm trạng oán hận hay ác cảm tự nhiên đối với kẻ thù hiện gây cho ta đau khổ. Trong một trường hợp như vậy, dù cố gắng thế nào, cũng khó mà chế ngự các phản ứng nhạy cảm được. Nhưng Chúa Giêsu không đứng trên bình diện tâm lý, và chẳng muốn phân biệt giữa điều cảm thấy và điều ưng thuận như các nhà luân lý học thường làm một cách chính đáng. Người đứng trên bình diện hành lang cụ thể (vd: cầu nguyện, c.44; chào hỏi, c.47), nơi phê phán sau cùng sự chọn lựa sâu xa của con người vượt trên mọi xao động của cảm giác.
"Hãy nên trọn lành, như Cha các ngươi trên trời là Đấng trọn lành": Hình như lời tuyên bố này không chỉ kết thúc đoạn văn về lòng yêu thương thù địch, mà còn kết thúc cả đoạn gồm cc. 17-48 về việc chu tất Lề luật theo quan niệm của Chúa Giêsu. "Câu nói" (logion) rõ ràng cảm hứng từ Lv 19, 2: “Hãy nên thánh, vì Ta là Đấng thánh" và từ Đnl 18, 3: "Ngươi hãy nên trọn. lành trước mặt Chúa là Thiên Chúa của ngươi". Có nhiều cách giải thích nó. Nhưng hình như phải loại bỏ ý tưởng về một sự tương đồng kiểu hữu thể học (xa lạ với tư tưởng Hy bá) hay kiểu luân lý học theo nghĩa tuyệt đối không thể phạm tội là một điều bát khả đối với tạo vật, trừ phi được đặc ân ngoại thường). Thật ra, chủ đề "trọn lành", trong các bản văn Kinh Thánh, diễn tả ý tưởng dấn thân hoàn toàn, thuộc trọn về một mình Thiên Chúa. Đó cũng là ý nghĩa của teleios (trọn lành) được một dùng thêm một lần nữa, trong câu chuyện Chúa Giêsu đề nghị người thanh niên giàu có bán của cải anh ta có và đi theo Người nếu anh muốn nên trọn lành (19, 21). Hạn từ này xem ra liên hệ với hạn từ công chính": người trọn lành là người thực thi tròn đầy Lề luật đã được Chúa Kitô tái giải thích.
KẾT LUẬN
Dù ta có thể nghĩ rằng các thành ngữ Chúa Giêsu dùng trong đoạn văn này có tính cách nghịch lý, thì sứ điệp căn bản vẫn rành rành: môn đồ của Chúa Giêsu được mời gọi hãy yêu thương tất cả mọi người không trừ ai và yêu thương một cách cụ thể, chứ đừng để cho tà ý hay hận thù lấn át tình yêu. Như thế, họ mới tỏ ra mình là con cái đích thật của Cha trên trời.
Ý HƯƠNG BÀI GIẢNG
1. Trong một thế giới bị chi phối bởi luật "do út des" (hòn đất ném đi, hòn chì ném lại), giáo huấn của Chúa Giêsu thật mở ra nhiều viễn tượng mênh mông. Nó giúp ta tránh khỏi cái vòng quỷ quái của toan tính ích kỷ, của hành động vụ lợi, của thù hận đáp trả hận thù. Chỉ tình yêu mới có thể phát sinh tình yêu. Chỉ các Kitô hữu bị thu húat bởi sức mạnh chinh phục của sự dịu dàng nơi Chúa Kitô, mới có thể tạo nên trong thế giới một cuộc cách mạng ôn hòa có sức đánh đổ việc bóc lột người hèn yếu và bạo động quá đáng.
2. Các bản văn này buộc ta tự vấn về mức độ cởi mở của ta đối với kẻ khác. Phải chăng ta chỉ phục vụ, yêu thương cha mẹ và bằng hữu? Khi gặp dịp, ta có biết chấp nhận phiền toái để giúp đỡ những người xa lạ không?
3. Lý tưởng trọn lành của Kitô hữu chẳng phải là lý tưởng tránh phạm tội của Biệt phái, tiết độ của Khắc kỷ, hay vô cảm của Phât giáo. Kitô hữu không nhìn đến bản thân mình nhưng nhìn đến Chúa Cha, không tìm cách trau dồi các nhân đức như người ta vun trồng cây cối hay tìm cách tạc nên bức tượng thiêng liêng của mình, nhưng chỉ cố gắng bắt chước Chúa Cha, bằng cách gieo rắc tình yêu quanh mình. Và so với lòng nhân lành vô biên của Chúa Cha, người Kitô hữu luôn cảm thấy mình thiếu sót.
4. Khi thấy mình hoàn toàn không thể sống tình yêu mà Chúa Giêsu truyền dạy, Kitô hữu liền ý thức rằng chỉ ân sủng của Chúa Thánh Thần mới có thể biến đổi tâm hồn hẹp hòi của mình và làm cho mình nên giống như Chúa Giêsu cầu nguyện trên thập giá: "Lạy Cha, xin tha cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm" (Lc 25, 34).

 

TN7-A17: ĐỪNG BÁO THÙ

Mt 5, 38-48
 

Báo thù là một việc làm phản Kitô giáo. Luật Cựu Ước viết :” Mắt đền mắt, răng đền răng : TN7-A17

Báo thù là một việc làm phản Kit